Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết thêm ngày 30 septembre 1993)

Post by Sơn râu 15 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 31

Về Hai Tiếng Tiều Ở Sốc Trăng Đến Nay Còn Ít Ai Cắt Nghĩa: Bồ-Kề

Xin thưa lại: “Trong bài viết nơi trước, tôi đã nói “Bồ-kề” là “Bất-hảo” của người Triều Châu, nhưng nay tôi gẫm lại và dám quả quyết: “Bồ-kề” không phải tiếng Triều chi cả, và rõ lại có lẽ đó hai tiếng “Bồn-kèn” ở Sài Gòn thuở những năm 1910-1911 hoặc trước đó vài mươi năm, và Bồ-kề như vậy là Bồn-kèn (kiosque à musique) do Tây khi mới qua họ xây tại Bồn Nước ngày nay trước hãng Charner cũ, và Bồn kèn nầy mắt tôi đã thấy, vẫn là một bệ xây đá xanh tám góc vuông vức, mỗi chiều thứ năm trong tuần, họ sai sơn-đá đem kèn đem trống đến và tấu nhạc võ lên,…

– ông bà nhà quê lớp xưa để lại thành ngữ “đánh mũi dích” (musique)

– thơ Huỳnh Mẫn Đạt: “… nhạc Tây hơi trổi lạ…”

– thơ cỡ Bùi Hữu Nghĩa: “Tò-le kèn thổi tiếng năm ba…”

và như vậy tôi dám chắc ở Sốc Trăng trẻ nhỏ lớp tôi những năm lối 1910-1911, có thằng Hên là con ý Bang Chu, ý nầy dắt nó lên Sài Gòn dạo chơi và nó mua về Sài Gòn thứ bánh kẹp chocolat hiệu Netslé (ở Sài Gòn mang về và mang theo hai tiếng Bồn-kèn mà nó lặp lại và biến ra “Bồ-kề” là như vậy…)

Tiếng Tàu, tiếng Quảng (Quảng Đông) và tiếng Triều (Triều Châu) của tôi, là những tiếng học đường học xá, nhưng tôi dám chắc vẫn có căn có bổn.

Nhắc lại: đồng dao hay câu do thằng Hên dạy chúng tôi hát thuở ấy: “Ác-táp-lách xi-cu-la Canh-ti-nả Bồ-kề” là tiếng Tây ba-trợn, “la tablette de chocolat Catinat Bồn-kèn”.

Cũng vào những năm 1911, Cách mạng xảy ra bên nước Tàu lật đổ nhà Thanh, thì tại Sốc Trăng nhóm người Tàu cũng dẹp tục cúng cô hồn tháng 7 (lễ vong xá cô hồn) và thay thế vào lễ giựt giàn là lấy tiền cúng ma cho vào kết (caisse) hội từ thiện (lập nhà thương, trường học, tiếp tế, v.v…); chớ trước 1911 ấy thì vẫn có lễ cúng cô hồn tháng 7 ở Sốc Trăng. Tôi còn nhớ Sốc Trăng có ba nhóm người Tàu, thì có ba nghĩa địa chôn:

• nghĩa địa dành cho người Phước Kiến, đường Bãi Xàu, (ông Tiêu ốm nhom);

• nhóm Quảng Đông, nghĩa địa cũng ở đường qua Bãi Xàu và ông Tiêu cũng ốm teo…

• nhóm Tiều, nghĩa địa ở trên đường đi ra Đại Ngãi, thì ông Tiêu (Tiêu-diện ma-vương), mới thật là cao lớn, dình dàng, cao gần gần ba mét, áo giáp xanh lè tực rỡ, tay cầm cây giản thật lớn, lẫm liệt oai phong, trên mão có hình Phật Bà Quan Âm để trị bớt tánh hung Tiêu-diện, cho bớt ăn thịt hồn ma bóng quỉ, và đáng ghê sợ hơn cả là ông Tiêu nầy le lưỡi dài tới bụng!

Nay tôi nhớ lại, và nhắc lại nghe chơi, để trẻ sắp nhỏ trong nhà được biết, quãng những năm 1910-1911, từ Sốc Trăng muốn lên Sài Gòn phải đi thuyền, theo ghe chài chở lúa, hoặc đi tàu thủy (lối 1920 v.v…) chớ đường bộ chưa có.

Khi lên tới Sài Gòn, nhà ngủ Nam chưa có, phải tìm nhà quen hoặc là nhà tiếp khách của Ba Tàu, và thuở đó ở Sài Gòn và Chợ Lớn, vẫn người Tàu gần như làm chủ, vì nhà nước Tây nhắm mắt chỉ lo thâu thuế, và đã để chệt khách muốn làm chi chi cũng được. Tây giao cho bảy bang (Thất phủ miếu, thờ Quan Đế) mà kỳ thật nói bảy bang nhưng đếm chỉ có Phước Kiến (chành lúa, người Phước Kiến), Hẹ (Ha-kas, ít người chuyên bán và làm thịt thú: dê, trừu, bò…), Tiều (Triều Châu, làm rẫy, làm mướn – coolie gánh lúa), và Quảng (Quảng Đông); buổi ấy người Tàu khác, như Bắc Kinh, Tô Châu chưa có, và mỗi năm rằm tháng giêng, rằm tháng 7, rằm tháng 8 và rằm tháng 10, những lễ Tàu ấy thường ở đường lớn (Quảng-tống-Cái, rue de Canton), (đường Thủy-binh, rue des marins), đều có làm lễ cúng tháng 7 cô hồn rất lớn (với bọng bằng tre bằng giấy hoa hòe xanh đỏ, gọi “Thổ lâu”), và mỗi khi như vậy thì ở Sốc Trăng người Tàu hưởng ứng theo và bang Triều Châu, còn gọi “bang Tư” (thứ 4), lúc ấy bang-trưởng là Lưu Liễu, (người Tiều mẹ Việt). Bang Tư nầy quen giao thiệp với mấy ông mấy thầy trong tòa bố tòa án, và quen tánh ăn to xài lớn, (sanh nghiệp là chứa bài, vì vậy sau khi bị hạ và bị đâm chết lối năm 1946), bang Tư nầy tổ chức cúng cô hồn tháng 7 rất trọng thể, nơi nghĩa địa (nhị tì) mướn đến hai gánh hát Tiều, một “thùng xanh hay thùng đỏ”, tiếng Tiều là ánh-láng, xe-láng, (láng là rương, áng là đỏ, xe là thanh, xanh); còn gánh khác nữa là gánh thùng sơn màu đen gọi “ô-láng” của bà bang Bủi Thiêm nhà ở châu thành, ngay khu chợ Sốc Trăng do hai người con trai là chủ gánh hát (tôi quên tên) và em của chủ gánh hát là cũ Cụi, (cũ là Cựu, cậu, và Cụi là Quế), cũ Tư Cụi nầy là công tử nửa mùa, hai người con gái nay còn cô Hai (vợ Xã Liên) và cô Ba Ba, nay có chồng và ở đường Nguyễn Thông (Sài Gòn). Mỗi rằm tháng 7 ở Sốc Trăng ấy là một ngày lễ vui lớn, nay không còn gặp nữa, và ở nghĩa địa Tiều nơi đường đi Đại Ngãi nầy, vui và đông nghẹt khách dạo chơi, quán bán cháo Tiều, bán vịt luộc, hủ tíu cá, quán bán chả giò, nem bún, vân vân, đếm không xiết và vui không chỗ nói…

Ở Sài Gòn cũng như ở Sốc Trăng, nhạc tây chưa có, chỉ có kèn lính tập (clairon) còn nhạc Tàu thì tôi nhớ có: trống Bắc-cấu (trống Quảng Đông) và “Tùa-lầu-cấu” (Đại-lão-cổ) là trống nhạc Tiều, phèng la, chục chõa Quảng, và hát Tiều ở nghĩa địa Tiều ở Sốc Trăng. Tôi nhớ họ hát sáng đêm và vẫn hai rạp hát chọn một tuồng tích và hát thi đua với nhau, tiếng Tiều là hát “siêu-tạo”, cứ gánh thùng đen hát Tam Quốc thì gánh nọ cũng đổi lớp và hát Tam Quốc y theo, đôi bên bầy ra thí võ trên sân khấu rồi kình chống nhau, kéo nhau xuống sân cỏ rồi đánh vật với nhau đổ máu trầy da và đúng ngày rằm cúng ngọ xong thì bày ra thí giàn, quẳng thẻ gỗ từ trên giàn cho người đứng dưới tranh giành lấy thẻ ấy vào miễu cho ủy ban tổ chức coi theo số thẻ cây mà phát thưởng, và những vật thưởng ấy gồm cốm nếp, thịt heo tươi, lễ vật cúng kiếng cho hồn ma (bánh ếch, bánh tét, v.v…) và nhứt là rau muống kết làm giỏ tre gọi “đụng”, “đụng” đây là tiếng chuyên môn, theo chính tả Lê Ngọc Trụ diễn là vật góp mua từng con (heo), cắt xả, rã ra miếng lớn, chia nhau, nhưng đây là thịt chặt từng đùi, từng miếng lớn kết lại trong “đụng” ngoài che bằng rau muống, và như vậy đụng rau muống thí giàn ở Sốc Trăng những năm 1910-1911 đó vẫn bị dân giành giựt nhau dữ hơn đụng bánh trái khác. Và xin cho tôi nói tha cầu biệt dạng, vừa rồi tôi có xem chớp diễn tivi tuồng Hồng Lâu Mộng của hãng Hồng-kông, tôi rất bất mãn và không tiếp xem đến mãn tuồng, tuy vậy tôi được phép cho ý kiến và tôi bất mãn vì hãng phí mấy trăm triệu đôla mà diễn lại vẫn không tuân theo niên kỷ đời Tào Tuyết Cần viết về đời Thanh Khương Hi, Kiền Long, vì Tương Hi Phụng, công tử Do Hồng (Bảo Ngọc) làm sao uống trà trong tách (tasse Hong-kong đời nay), và cách ăn mặc y phục bất tuân thời đại và Bảo Ngọc (19 tuổi đã có vợ, đi thi đỗ cao và bỏ nhà đi tu…) mà diễn viên trong phim theo tôi là kép trộng tuổi, đẹp trai xứng đáng thật nhưng niên kỷ chưa đúng, riêng các tiểu thơ, tỷ tấc, con đòi, Tạp Nhân, Bảo Thoa, v.v… theo tôi là gái 16, 17 còn trong phim đều trộng tuổi hơn tuy rằng vẫn là người đẹp. Tôi nói dông dài và muốn chờ xem nếu có thể được là chờ xem phim sẽ quay lại và giữ đúng nề nếp tục lệ hơn.

Theo tôi, đời nào vẫn nên giữ và diễn lại cho gần đúng vào đời ấy thì mới gọi là “làm văn hóa”. Hồng Lâu Mộng còn tin thần thánh ma quỉ, và năm 1910-1911, ở Sốc Trăng còn tin á-rặc, tin ông Tà, ngày nay người Miên dùng thuốc Tây và như vậy tôi cho là “đã lạc ông Bổn” và đã mất căn cội.

Đã lỡ sa đà xin sa đà luôn và cho nói luôn, chuyện cũ nhớ lại, năm 1921, quan năm colonel Đỗ Hữu Chẩn đem xác em là quan ba Đỗ Hữu Vị về làm lễ an táng tại vườn Bà Lớn đường Nguyễn Trãi ngày nay, lúc đó đường nầy mang tên Frères Louis và còn tre mọc đầy hai bên lề đường và vẫn còn trải đá ong. Ngày đem xác từ tàu đậu nơi bến Nhà Rồng (Messageries Maritimes), trường Chaseloup có biệt phái một tốp học sanh và tôi được cử thay mặt 2è année, theo các anh lớp 3è và 4è và lớp quartier européen, cả thảy độ bốn, năm chục đứa, có thầy gác (surveillant) dẫn ra trường, đi bộ xuống bến tàu rồi theo xe chở quan tài, cuốc bộ dọc theo đường Catinat, tới Frères Louis rồi đến vườn (nghĩa trang họ Đỗ Hữu), nghe đọc diễn văn rồi cuốc bộ về trường; chung qui đi bộ trên mười cây số đường mà không thấy rằng dài, và nay nhớ lại, sao dời vật đổi, họ Đỗ Hữu đã lu mờ, chính bộ sắc-phục chức capitaine aviateur, nỉ đen nút xi vàng của Đỗ Hữu Vị, tôi vẫn thấy cất giữ chung với áo triều phục bông bạc màu xanh da trời của Nguyễn Thông, viện bảo tàng có còn giữ lại hay là đã dẹp đâu rồi?

Nơi đường Nguyễn Trung Trực ngày nay, đời thuộc địa Tây gọi rue Filippini, ngày nay ban đêm đi còn rùng rợn, vì có bụi da xum xuê thật lớn, lá xào xạc như có ma theo chờ nhát kẻ gan thỏ; đọc sách cũ nhớ có kể lại Filippini nầy (1834-1887) vốn là quận trưởng (préfet) bên Pháp, qua đây bổ nhiệm làm thống đốc Nam kỳ, chẳng may qua đời ở Sài Gòn và làm đám ma thật lớn, định chở xác về xứ, và trối trăng làm linh-xa, bàn đưa thật cao và khi di táng, bắt mé nhánh cây để đừng vướng ngọn linh-xa và đã mé nhánh quá trớn và mé thế nào, khiến những người Pháp dọc theo đường dời linh-xa đều phàn nàn và cho rằng lễ tánh vượt bực, và về sau nhựt báo Tây kể lại đúng là một trò cười vì dường như xác đã dời về xứ âm thầm từ trước. Rõ lại Filippini đã làm rộn dân chúng lúc chết hơn là lúc sống.

Ở đây đã sáng suốt giữ lại những con đường đầy ân tình cũ: Pasteur, Calmette, trường Marie Curie; tưởng cũng nên nhắc ơn Yersin đã cho ta nghỉ mát Đà Lạt… và nhớ lại nhà trứ-danh thảo-mộc-học Pierre (1833-1905) tôi đã từng thấy một bia đá xinh xinh nơi vườn bách-thảo, nay có còn hay chăng? Tội nghiệp cho ông, ông bỏ công sưu tầm, nghiên cứu Cam-bốt, Nam kỳ Thủy-chân-lạp, Xiêm-quốc Thái Lan, vùng Đông Mã-lai-á, xong rồi về nước Pháp, trải nửa đời người, từ 1879 đến 1899, soạn được bộ Thảo-mộc-học danh vang hoàn cầu, ông được cấp mỗi năm 6.000 francs để ông tiếp tục soạn sách nghiên cứu, thế mà hội đồng quản hạt rị mọ viết thơ đòi ông phải nạp trong năm hoàn toàn bộ sách ấy bằng không sẽ bị truất chút bổng cấp ấy, ông thua buồn trả lời nước Anh vẫn cấp mỗi năm 60.000 francs để ông Hooker nghiên cứu cũng như ông nhưng về thảo mộc của Ấn Độ, thơ ông gởi năm 1903 cho hội-đồng quản-hạt mà không quản-lượng ấy, để qua năm 1905, ông từ trần, với mớ tuổi 72, và với câu đau đớn, tôi xin chép lại đây: “Me reposer? me reposer? je n’en ai pas le temps la vie est si courte!” và tôi dịch: “Đâu có thời giờ cho tôi nghỉ? Đời cụt ngẳn kia mà!”

Làm tàng nói về đường lộ lên Tây, xin nói luôn: Đời thuộc địa Pháp, nới xóm Lò Heo cầu Ông Lãnh cũ, có một đường ngắn từ Douaumont qua Galliéni tên “Belland”. Nhớ lại, người Tiều làm nghề trồng rau, ta gọi “Chệt Rẫy”, nay lão Tây nầy phải gọi là gì? Lão có công năm 1897 mua hột giống từ Ceylan Sri Lanka (Si-ri-lan-ca ngày nay), mua 1.000 hột cao su về răm giống ở Suối Giao, chỉ mọc 37. Không ngả lòng, qua 1899, mua 1.000 nữa, nhưng phen nầy cho 600. Belland mừng quá, qua năm 1901 đặt mua 15.000 rồi 1902 cũng 15.000 nữa và được tuần tự 4.300 rồi 9.000 cây cao su con. Và từ 1904, liên tiếp đất nầy có vườn trồng hévéas cho mủ như bây giờ đã thấy. Nhớ thêm và tức cười, có một Tây chủ vườn cao su to lớn ở Biên hòa, Bà Rịa gì đó, một bữa nọ, lão ta đến khu có mấy chục gốc cổ thụ cao su, (chỗ trước kia là bộ Văn hóa của Ngô Trọng Hiếu đó mà), cây đã quá già, không ai lấy mủ, mủ ứ lại, gốc nổi u nổi nần như cổ nổi bướu của mấy bà già thầy lể thầy giác… Có người tọc mạch hỏi “Cây nầy là gì?”. Lão lắc đầu trả lời: “Không biết!”. Mà trời đất ôi, ông cha ông lấy nước chúng tôi, hút máu rúc rỉa tận cốt tủy chúng tôi, suốt tám chín chục năm, ông được sai qua đây làm chủ vườn mà không nhìn ra cây nầy, hèn chi ông Giáp cho các ông một bài học ở Điện Biên Phủ, cũng vừa!

Trên đây tôi nhắc ông Piere, chủ đầu tiên của vườn Bách thảo. Bia đá ghi công ông nơi vườn, không biết còn mất thể nào, còn con đường ở Đa-kao, mang tên của ông, sau đổi tên là đường Phạm Đăng Hưng, rồi nay là đường Mai Thị Lựu. Mỗi lần tôi đi trên đường nầy, để đến nhà bạn Vĩnh Bảo nghe tranh nghe kìm, tôi nhớ và ngậm ngùi cho ngôi chùa nay gọi “Phước Hải Tự” mà cơ khổ, đó đâu phải là chùa thờ Phật mà đó là “Ngọc Hoàng điện” kia mà. Tôi chưa từng vào trong và không biết thay đổi thế nào? Duy theo tôi, đổi mà làm chi, giữ lại như cũ có lẽ thâm thúy và cao kiến hơn. Tôi còn giữ của nơi nầy một viên gạch do một sư già cho năm trước, gạch màu trắng y như màu sành sứ Giang Tây, vuông vứt do đúng 20 phân bề dài, 10 phân bề ngang, và 5 phân ½ bề gáy, viên nào y như viên nấy, tôi tâng tiu dùng làm gối nằm để xứng với sập «”uí phi sàng” nơi nhà, mỗi khi đi mây về gió, thì gợi lại cảnh một khu u tịch của cái chùa mà vẫn là điện Ngọc Hoàng nầy. Tôi quên nói cho rõ hơn: viên gạch có một cạnh phủ lớp men xanh thật dày, và lớp men xanh ấy, là viền xanh bắt chỉ của khu u tịch nầy. Một bữa, trời chạng vạng nhá nhem, cũng không hiểu vì duyên cớ gì tôi lọt vào chốn nầy, tôi đang ngắm nghía lằn hồi-văn thật xanh thật khéo trên vách tường đã rêu phong nọ, dưới chơn vách là một bụi tre ngà lốm đốm màu vảy đồi mồi, lá múa lơ thơ, đong đưa hai cây quạt lá cũ treo nhún-nhắn bên cạnh mấy chùm tóc rối phất phơ theo chiều gió, một mụ Bắc sồn sồn lom khom đang lăm lăm vái van khấn nguyện gì đó, à phải rồi, chỉ còn một hôm nầy nữa, ngày mai nầy là sang Tết năm mới, quạt kia, mớ tóc kia quạt để cho mát, tóc rối gỡ ra treo đây cầu mong hết rôi rắm vào đầu xuân nhựt, mụ đang trút cỗi mớ sầu tư, tôi lật đật và khép nép tránh chỗ cho lời khấn của mụ được như nguyện, trong chùa hay điện, nghe dội ra ba tiếng chuông và trống buổi kinh chiều. Mụ ôi, than thở mà chi, đời vẫn là đời, và đời nầy ai lại khỏi mang mển chút ưu tư riêng, tôi mảng nghĩ xa gần, thoạt nhìn lại sau lưng, mụ sồn sồn không thấy nữa, chỉ thấy ba đóm nhang nhá nhem, một luồn hương nhẹ thoảng; phải chăng ba hồi chiêu mộ, một vũng tang thương, sẽ gội sạch trong buổi năm tàn tháng hết nầy.

(viết xong 1-10-1993)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply