Biển đảo Bình Định

vnexpress.net

Huỳnh Phương

Thứ bảy, 17/4/2021, 02:08 (GMT+7)

Phố biển Quy Nhơn, Bãi Trứng, Nhơn Hải, Hòn Khô, đồng muối Đề Gi… mang đến vẻ đẹp biển đảo đầy sắc màu và cuốn hút du khách.

Toàn cảnh Quy Nhơn huyền ảo trong làn sương mây lúc 19h – ảnh trong bộ ảnh “Vẻ đẹp biển đảo Bình Định” do nhiếp ảnh gia Nguyễn Phước Hoài thực hiện. Nhờ đam mê nhiếp ảnh, Nguyễn Phước Hoài (1986) quê ở TP Quy Nhơn từng giành giải nhất cuộc thi “Hành trình di sản Heritage Vietnam Airlines 2018”, giải nhì cuộc thi “Môi trường và Cuộc sống 2018”, giải ba cuộc thi “Eye of Dragon 2019”.

Bình Định thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có tiềm năng phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển đảo do có đường bờ biển dài 134 km. Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại I năm 2010, là điểm đến hút khách du lịch, vào top điểm đến do các tạp chí, báo quốc tế lựa chọn.

Năm 2015, Quy Nhơn được tạp chí Rough Guides của Anh bình chọn là điểm đến hàng đầu Đông Nam Á. Năm 2017, tờ Guardian của Anh cũng chọn nơi này vào top 10 điểm đến nghỉ dưỡng mùa đông. Tháng 6/2020, Quy Nhơn đồng thời vào top 20 điểm đến hàng đầu thế giới năm 2020 do Hostelworld xếp hạng.

Một trong những nơi thu hút nhiếp ảnh gia chọn sáng tác ảnh tại Bình Định là Bãi Trứng, cách trung tâm Quy Nhơn khoảng 2 km về phía đông nam. Bãi Trứng thuộc khu du lịch Ghềnh Ráng, có vô số hòn đá xếp chồng lên nhau, nhẵn như trứng chim khổng lồ. Anh Phước Hoài cho biết qua kỹ thuật chụp phơi sáng, Bãi Trứng trở nên ảo diệu hơn vào lúc bình minh.

Kè chắn sóng phủ rêu xanh chạy dọc bãi biển ra tận cửa biển Đề Gi, xung quanh là làn nước xanh ngọc như tranh vẽ. Du khách có thể đi từ khu kinh tế Nhơn Hội đến xã Cát Tiến, rồi theo tuyến ĐT 639 chạy dọc biển là tới Đề Gi thuộc xã Cát Cánh, huyện Phù Cát.

Đến đây, du khách được trải nghiệm đời sống ngư dân qua hoạt động đánh bắt thủy sản, mua hải sản tươi, đa dạng như tôm, cá măng, mú, sò huyết, nghêu, ngao, ghẹ… hoặc thưởng thức ngay món gỏi cá mai.

Tác giả bộ ảnh cho biết chụp panorama 30 tấm để thấy được toàn cảnh những cánh đồng muối ở Đề Gi. Bãi biển ở đây có nét đặc trưng riêng khi tiếp giáp với vùng đầm đón nước từ sông La Tinh và các khe núi ở Lạc Phụng, núi Bà chảy vào rồi đổ ra cửa biển. Người dân quanh vùng lấy nước đầm – nước lợ để làm muối.

Bóng của những người dân cào muối như bức tranh nghệ thuật trên đồng. Cánh đồng muối Đề Gi trải rộng trên diện tích hàng chục ha, với những ô chữ nhật xếp ngay hàng thẳng lối. Mỗi ô có diện tích khoảng 100 m2, cứ 5 ô nước mới có một ô muối.

Làng chài Nhơn Hải và Hòn Khô, với những mái nhà đầy sắc màu khi được nhìn từ trên cao. Nhơn Hải có nhiều dịch vụ dành cho du khách như nhà hàng, khách sạn hoặc homestay. Trước Covid-19 khách nước ngoài thường chọn lưu trú dài ngày ở đây để tận hưởng nắng gió vùng biển và tìm hiểu đời sống làng chài.

Đảo Hòn Khô, nằm cách Quy Nhơn khoảng 6 km, như tấm bình phong che chắn cho làng chài Nhơn Hải. Du khách thường đi tour trong ngày, thuê ca nô ra đảo chỉ 10 phút và giá 350.000 đồng/ người. Ở Hòn Khô, khách có thể lặn ngắm san hô, rong biển, thuê phao bơi, chơi môtô nước và ăn hải sản.

Với lợi thế cảnh quan hiếm có cùng hệ sinh thái biển đa dạng, Nhơn Lý được xem như một thiên đường biển đảo của Bình Định, trong đó hai địa điểm không thể bỏ qua là Eo Gió và Kỳ Co.

Eo Gió có đặc thù địa hình nhìn hõm như yên ngựa, nằm giữa hai mỏm núi cao sát biển, nên người dân địa phương từ lâu đặt cho cái tên Eo Gió. Dưới chân Eo Gió là Bãi đá Đẻ nhiều màu sắc và kích thước. Bên cạnh là những rạn san hô hiện lên giữa làn nước trong vắt.

Kỳ Co mới được phát triển du lịch gần đây, được mệnh danh là “Maldives của Bình Định”, mang vẻ đẹp nguyên sơ của biển xanh, cát trắng, nắng vàng. Nhìn từ trên cao, Kỳ Co như một dải cát vàng óng giống như vầng trăng khuyết hiện ra trên biển.

Mẻ lưới sớm ở Nhơn Lý nhìn từ trên cao tựa như “hoa lưới”. Ngư dân hành nghề kéo lưới này thường trúng đậm lộc biển khi đánh bắt cá nục và cá cơm.

Ngư dân chèo thuyền thúng đánh cá trên vùng biển Nhơn Hải, bên dưới là rừng rong mơ màu vàng nâu. Cây rong mơ thường sống bám vào các rạn san hô, tảng đá ngầm dưới biển, khi cây phát triển dài và già nổi lên mặt nước tạo thành bãi lớn, có độ cao khoảng 40 – 60 cm. Quá trình bắt cá như trên được thực hiện cẩn thận để không làm hư hại rong. Cá sau khi đánh bắt về được người dân chế biến thành thức ăn nuôi mực lá.

Mùa lúa chín vàng nằm bên cánh đồng điện gió ở bán đảo Phương Mai. Trước đây, Phương Mai vốn là nơi hoang vu thì ngày nay, bán đảo chuyển mình, phát triển du lịch nhờ tận dụng được ưu thế cảnh quan đẹp và được đầu tư hạ tầng, các dự án. Du khách đi từ trung tâm Quy Nhơn qua cầu Thị Nại, rẽ trái theo quốc lộ 19B, sau đó đi thẳng khoảng 10 km thấy những cánh quạt gió khổng lồ. Đây là dự án quạt gió gồm 6 trụ tua bin trải dài trên diện tích 122 ha tại khu kinh tế Nhơn Hội.

Sau khi chạy xuyên những đồi cát dọc bán đảo Phương Mai, khoảng 20 km là đến xã Nhơn Lý với địa hình đa dạng, một mặt giáp biển, ba mặt là núi đồi.

Đến Nhơn Lý du khách đừng quên ghé thăm các làng chài Lý Chánh, Lý Hòa, Lý Lương và Lý Hưng. Nhìn từ trên cao, các ngôi nhà trong làng chài san sát như phố, đường trong làng cũng dốc lên xuống và nhỏ xíu. Tất cả các con đường chính của thôn đều hướng ra biển, bám theo các con dốc. Nhà cửa phân bố theo từng tầng rải đều theo độ dốc của lối đi, cảm giác như không cản trở tầm nhìn ra biển của các căn nhà phía sau.

Xa xa Nhơn Lý là các tàu bè đậu san sát ở Bãi Bấc. Đây chính là bờ bắc của Nhơn Lý. Vòng cung biển khổng lồ này trải dài từ Eo Gió, kéo dài đến tận Trung Lương, Cát Tiến.

Ảnh chụp bữa sáng ở chợ phiên Hà Giang đạt giải quốc tế

vnexpress.net

huỳnh Phương (theo Guardian)

Bữa sáng Đồng Văn, ẩm thực đường phố Hội An hay chăn vịt ở đầm Trà Ổ nằm trong số các ảnh đạt giải Pink Lady Food Photography.

Cuộc thi nhiếp ảnh ẩm thực uy tín quốc tế Pink Lady Food Photography do Anh tổ chức từ năm 2011.

Năm 2021, cuộc thi thu hút hơn 10.500 ảnh đến từ 70 quốc gia trên thế giới, kết quả chung cuộc được công bố trực tuyến trên YouTube vào ngày 28/4, trong đó có nhiều tác phẩm chụp tại Việt Nam.

“Bữa sáng ở chợ phiên” chụp tại Đồng Văn, Hà Giang của tác giả Nguyễn Hữu Thông đạt giải nhất hạng mục ảnh Food at the Table (Ẩm thực trên bàn). Nguyễn Hữu Thông (1987), quê ở Việt Yên, Bắc Giang cho biết vùng cao nguyên đá Đồng Văn cuốn hút du khách từ phong cảnh cho tới nhịp sống văn hóa, ẩm thực. Người dân vùng cao thường tới các phiên chợ để trao đổi hàng hóa, nên dậy sớm để đi chợ và ăn sáng.

Nguyễn Hữu Thông còn một tác phẩm khác được chọn triển lãm ở danh sách chung cuộc là “Bữa ăn mùa đông” của một gia đình trên vùng cao Hoàng Su Phì, Hà Giang.

Bức ảnh “Thưởng thức” của tác giả Trần Việt Văn đạt giải nhất hạng mục Street Food (Ẩm thực đường phố), chụp tại phố cổ Hội An. Ngoài trải nghiệm thăm viếng các ngôi nhà cổ, du khách còn được thưởng thức ẩm thực đường phố. Mì Quảng, cao lầu, bánh mì, tào phớ, chè sen… là những món ăn không thể bỏ qua khi đến phố Hội.

Nguyễn Phước Hoài quê ở Quy Nhơn cũng là tác giả ảnh “Lưới cá” được chọn triển lãm ở hạng mục Bring home on the Harvest (Ngày mùa về nhà). Nhìn từ trên cao, lưới đánh cá có hình dạng tựa như “hoa” trên vùng biển Phú Yên. Loại cá thường đánh bắt ở vùng biển này là cá cơm. Ban ngày, khi phát hiện đàn cá cơm ở độ sâu khoảng 30 – 40 m, các ngư dân sẽ dùng lưới bủa vây bắt.

Tác phẩm “Mùa thu hoạch vải thiều” do nhiếp ảnh gia tác giả Nguyễn Hữu Thông chụp tại Bắc Giang trong hạng mục Ngày mùa về nhà. Đây là một bức nằm trong bộ ảnh “Sắc màu nhịp sống vùng cao” của anh.

Tác phẩm “Cho vịt ăn” của tác giả Nguyễn Phước Hoài (1986), chụp trên khu vực đầm Trà Ổ, Phù Mỹ, Bình Định đạt giải nhì hạng mục Food in the Field (Thức ăn trên đồng). Trà Ổ còn gọi là Châu Trúc, một đầm nước lợ tự nhiên nằm ở phía đông bắc huyện Phù Mỹ.

Cảnh thu hoạch muối chụp tại Việt Nam của tác giả Chin Leong Teo (Singapore) được chọn triển lãm ở hạng mục Food in the Field.

Tác giả người Anh Lawrence Worcester chụp những hành khách mua trái cây qua cửa sổ toa tàu xe lửa đạt giải ba hạng mục Street Food (Ẩm thực đường phố).

Tác phẩm “Nếm” của tác giả Li Huaifeng (Trung Quốc) đạt giải nhất hạng mục “Food for the Family” (Thức ăn cho gia đình). Bức ảnh cho thấy một gia đình nhỏ đang quây quần, chia sẻ niềm vui khi chuẩn bị bữa ăn vào ngày nắng ấm tại tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Múa lân

namkyluctinhorg.com

Huỳnh Quốc Minh

Germany

(Bài viết nầy đã được đăng trong Nội San số  Xuân năm 2008,  của Hội Ái-Hữu NÐC & LNH Mỹ-Tho Âu-Châu ở Paris-France)

Hồi còn nhỏ, cứ mỗi lần Tết đến là tôi vui thích vô cùng! Mừng vui vì được dịp mặc áo quần mới còn thơm mùi vải, được Ba Má cho những bao lì xì dầy cộm màu đại hồng, bên trong có nhiều tờ giấy bạc mới toanh trị giá khác nhau, được xếp lại làm ba còn thơm phức mùi mực in của kho bạc để tha hồ ăn hủ tiếu trừ cơm, uống nước đá thoải mái mà không sợ bị la rầy. Cũng nhân dịp Tết, ba rạp ciné được phân biệt “đẳng cấp” thấy rõ tại tỉnh lỵ Mỹ-Tho, đều thi nhau chiếu thêm vài xuất đặc biệt trong ngày những phim hay, để đáp ứng nhu cầu khán giả tăng vọt. Rạp Ðịnh-Tường có máy lạnh ở dãy phố quán bar khang trang ngoài bờ sông đường Trưng-Trắc, thường có phim Pháp với những cặp tài tử nổi tiếng được giới trung lưu và học sinh ái mộ. Rạp hát Vĩnh-Lợi trong chợ thì hầu như không thể thiếu những phim kiếm hiệp Ấn-Ðộ, mà phim càng đánh kiếm nhiều thì càng thu hút được đông đảo khán giả bình dân. Còn bên rạp Viễn-Trường xập xệ kém vệ sinh trên đường Ðinh Bộ-Lĩnh đi xuống Chợ Cũ, chuyên chiếu phim “thập cẩm” và hát lại nhưng phim cũ cho giới lao động xem. Rạp nầy hay chiếu thường trực hai phim chung một xuất mà vẫn luôn ít người.

Nhắc đến ba ngày Xuân thì phải nói đến pháo. Ngoài những loại pháo thông thường như pháo tiểu, còn gọi là pháo chuột, pháo trung, pháo đại, pháo bông thì có thêm pháo chà. Ðó là loại pháo có dạng sần sùi gần như hình bầu dục màu chocolat nhạt, lớn hơn ngón tay cái một chút được quấn đơn sơ bằng miếng giấy dầu như cục kẹo, bên trong là một viên đá sỏi được bao bọc bởi một lớp thuốc nổ có pha trộn với chất lưu huỳnh. Chất nổ nầy khi bị va chạm hay mạ sát thì sẽ gây ra tiếng nổ nhỏ có một ít tia lửa và khói xẹt ra tẹt-tẹt nghe rất vui tai. Mỗi một lần nổ thì chất thuốc sẽ tan biến hao mòn dần cho đến khi lòi ra viên sỏi. Loại pháo chà nầy không được ưa chuộng nên ít người biết đến và thường bán trong các tiệm tạp hóa. Cách chơi là thảy viên pháo chà lên cao cho rơi xuống nền gạch bông trong nhà, hay mặt đường bằng đá trên vỉa hè, hoặc dùng tay cầm  viên pháo chà quẹt mạnh xuống đất để cho gây ra tiếng nổ.
Nói đến pháo mà không nhắc đến lân thì quả là một điều thiếu xót. Vào cuối thập niên 50, không phải thành phố nào cũng có múa lân trong mấy ngày Tết. Ở Chợ-Lớn thì khỏi phải nói, vì có nhiều khu China-town của người Hoa. Tỉnh Mỹ-Tho lúc bấy giờ xuất hiện hai đoàn lân múa rất hay và khá nổi tiếng. Ðó là đoàn của chú Lưu Chấp toàn người Quảng-Ðông và đoàn của chú Ngô Văn Long thì có xen lẫn một số người thuộc nước Triều-Châu.

Trưởng đoàn lân là chú Lưu Chấp, niên kỷ chưa đến tứ tuần, tóc húi cua, dáng người mập mạp khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, có bộ râu chữ bát và cặp mắt trong sáng với lông mài đậm nét, biểu lộ một con người nhà võ đầy dũng khí. Gia đình chú Lưu Chấp ở đối diện với chợ cá, trong xóm lao động phía bên kia bờ sông. Hàng năm cứ vào đầu tháng chạp âm lịch, chú Lưu Chấp thường chiêu mộ khoảng 20 con em gia đình người Hoa có mức thu nhập thấp, tuổi trung niên có, nhưng đa số là thanh thiếu niên để chuẩn bị cho đoàn lân trong dịp Tết. Hồi nhỏ, tôi cũng thường sang võ đường gần nhà chú để xem tập luyện võ nghệ. Ðó là một gian nhà thô sơ xập xệ hình chữ nhật rộng chừng 60 mét vuông, mái lợp bằng lá dừa gần như bị bỏ hoang. Giờ giấc tập võ thường là buổi chiều và tối, nhất là ngày cuối tuần thì giờ tập dài hơn.

Là một võ sư nổi tiếng trong giới Hoa-Kiều lúc bấy giờ tại thành phố Mỹ-Tho, chú Lưu Chấp truyền bá lại những đường nét võ thuật cho các môn sinh của mình tùy theo tuổi tác và khả năng. Trong lúc tập dợt thì có tiếng trống và chập-chõa đánh nhịp theo từng hồi, ăn khớp với những động tác đường quyền, đường côn đang tung tăng nhảy múa một cách thật hào hứng của võ sĩ. Chú Lưu Chấp kiên nhẫn chịu khó chỉ dẫn cho môn đệ mình từng thế võ. Khi thì múa với những thế tự vệ một người, lúc thì hai người đánh nhau tay không, rồi bằng gậy gộc đến đao to kiếm dài, bằng cây mâu nhọn sắc bén với cái thuẩn chống đỡ bằng kim loại và nhất là những màn công phá độc đáo của người võ sĩ hào hiệp, phải chống chọi với hai, ba, bốn người có hung khí bén nhọn thật nguy hiểm. “Văn ôn vũ luyện”, nên những màn “nhu thắng cương, nhược thắng cường” nầy cần phải dầy công tập dợt mới thành thạo, bởi những đòn đánh trả quyết liệt thật ngoạn mục của người hiệp sĩ độc hành.

Ngoài phần huấn luyện võ nghệ cho tất cả thành viên, chú Lưu Chấp còn chỉ giáo cho một số đệ tử nghệ thuật múa lân, mà người múa cần phải khỏe và có sức chịu đựng dẻo dai, vì chiếc đầu lân khá lớn và không phải là nhẹ. Còn người duỗi đuôi hai tay phải biết cách căng ngang đuôi lân mà quạt lên thả xuống cho đều, để chạy nhảy nhịp nhàng nương theo kịp thời người múa phía trước mình. Tội nghiệp cho người duỗi đuôi dài của lân phải khum lưng mà nhìn xuống mặt đất suốt trong khi lân múa, vì thế mà hai người múa lân thường được thay thế liên tục. Tiếng trống múa lân được đánh nhanh có phần hùng dũng hơn tiếng trống đánh từng chập khi tập luyện võ nghệ. Gia đình Ba Má tôi trước năm 1975 có tiệm buôn bán ở đường Trưng-Trắc gần chợ cá cạnh bờ sông. Trong những ngày cuối năm giữa màn đêm thanh vắng, tôi thường nghe tiếng trống tập võ của đoàn lân chú Lưu Chấp, từ xa xa bên kia bờ sông vọng lại mà lòng cảm thấy rộn ràng vì ngày Tết sắp đến.

Ðoàn lân thứ nhì được đánh giá là hay hơn của chú Lưu Chấp, từ cung cách múa lân cho đến đánh võ, cũng như nghệ thuật lúc lân leo lên cây tre cao “ăn tiền”. Trưởng đoàn là võ sư Ngô Văn Long tuổi chừng hơn ba mươi, dáng người thon và cao ráo trông có nét hào hoa xen lẫn một chút phong trần. Với khuôn mặt dễ nhìn, mái tóc có phần quăn phía trước. Nhà chú ở trong một con hẻm sâu gần cuối đường Ngô Quyền, đối diện với bên hông tường rào Ty Công An. Sinh hoạt thường nhật của chú là nghề “Sơn-Ðông mãi võ”. Buổi sáng chú thường bày một cái sạp nhỏ giữa chợ đông người để rao bán một số cao đơn hoàn tán do chú bào chế. Cũng như chú Lưu Chấp, mặc dù chánh gốc là người Hoa, nhưng sau nhiều năm sống ở Việt-Nam, nên chú Ngô Văn Long nói tiếng Việt tuy không văn chương, nhưng rất rành mạch. Gia đình Ba Má tôi ngày xưa ở tại chợ Mỹ-Tho. Hồi nhỏ tôi rất thích xem chú Ngô Văn Long biểu diễn những màn võ thuật quảng cáo bán thuốc. Ðể thu hút người xem vây quanh đông đảo gian hàng của chú thành một hàng rào vòng tròn lớn, khi thì chú dùng một thanh sắt dẹp tự đập mạnh vào ngực mình vài phát đến cong rồi quăng xuống đất cho mọi người xem, rồi chú đập ngược thanh sắt cong đó cho thẳng lại. Liền sau đó, chú giới thiệu loại thuốc rượu uống trị tức ngực. Lúc thì chú co những ngón tay bên trái lại, tay phải dùng dao xếp hiệu con chó sắc bén can đảm cắt mạnh nhiều lằn trên mắt những ngón tay, cho chảy máu ròng ròng ra trông thật đáng sợ, rồi chú xé lớp giấy kiếng mỏng trên miếng thuốc dán hình vuông, có thuốc màu đen sền sệt vòng tròn, đắp ngay vào vết thương để cầm máu mà chứng minh cho sự công hiệu nhanh chóng của thuốc dán chú bán. Ngoài ra, chú còn ăn vào miệng ngọn lửa đang cháy ngùn ngụt, để làm hỏa lò cho người khác mồi thuốc hút và diễn những trò tạp kỹ như: vừa chạy xe đạp một bánh vòng vòng, chú vừa thảy cùng lúc ba, bốn cái vỏ chai không lên xuống bằng nhiều kiểu khá đẹp mắt một cách thật tài tình! Cứ mỗi một màn diễn xuất, chú đều thu hút được đông đảo người xem và nhận được những tràng pháo tay tán dương. Sau đó, chú lợi dụng thời cơ đông người xúm quanh, để lớn tiếng giới thiệu những loại thuốc của chú bán ra và thường được một số người chiếu cố, nhưng cũng nhờ cái miệng ăn nói có duyên kiểu “quảng cáo hát xiệc Sơn-Ðông” của chú nữa! Tuy nhiên, phần lớn đông đảo người vây quanh gian hàng chú, nhất là đám con nít chỉ thích xem chú diễn trò cho đã mắt thôi chớ không có mua thuốc. Mấy bà, mấy cô đi chợ thường là xem xong một màn biểu diễn nào đó rồi tản đi, nên số người còn đứng lại xem tiếp giảm nhiều thấy rõ. Cứ sau một đợt bán thuốc, chú rao lớn cho biết là sẽ diễn màn xiệc nhỏ mới để thu hút trở lại người xem. Chợ Mỹ-Tho rộng lớn và khá sầm uất vào buổi sáng. Hàng ngày chú chỉ bán thuốc đến chừng 11 giờ là dọn dẹp về nghỉ.

Như bên chú Lưu Chấp, mỗi năm trước Tết Nguyên-Ðán chừng một tháng, chú Ngô Văn Long cũng quy tụ một số đệ tử tập dợt võ nghệ để múa lân kiếm tiền trong ba ngày Tết. So sánh với lối đánh võ của môn phái chú Lưu Chấp thì bên chú có phần tuyệt chiêu hơn, nhất là khi đánh đông người, hung khí choảng nhau kịch liệt khiến người xem phải nhiều phen hoảng hốt. Ðoàn lân của chú có chừng 20 thành viên, một điểm đặc biệt là có thêm hai cô gái trẻ đẹp nữa, đó là cô Trân, dáng người cao hơn cô Dung một chút. Hai nữ võ sĩ nầy mặc bộ đồ đen ngắn tay viền đỏ, có hàng nút áo ở giữa bằng vải cũng màu đỏ như kiểu áo Xẫm Hong-Kong trông khá nổi bật và…dễ thương. 

Sau khi nổ lực tập dợt trước Tết, đoàn lân của chú Lưu Chấp và Ngô Văn Long bắt đầu xuất hành vào sáng Mồng Một. Theo nghi lễ truyền thống thì đoàn lân trước tiên phải vào chùa Ông ở cuối đường Trưng-Trắc, gần Ty Công-An để bái Tổ đầu năm, sau đó đoàn lân diễn hành một vòng lớn khu vực chợ Mỹ-Tho để ra mắt chào mừng công chúng rồi trở về nghỉ ngơi. Qua ngày mồng hai thì đoàn lân mới khởi sự đi múa kiếm tiền. Hai đoàn lân lượn quanh riêng biệt ở khắp các phố phường, nơi có nhiều tiệm buôn bán của người Hoa để chào mời múa lân. Nhìn đội hình đoàn lân diễn hành trên đường phố phải nói là rất oai vệ. Phần lớn thành viên đều có cái đầu tóc mới hớt ngắn và mang giầy đen bằng vải, vận quần dài đen bóng tựa như xa-ten túm ống, ở giữa phía ngoài hai bên có may hai lằn sọc trắng dài từ trên xuống dưới. Áo thun tay ngắn trắng tinh bỏ vô quần, phía sau có in logo của đoàn lân màu đỏ tươi bằng Hoa ngữ. Ði đầu là một thanh niên lực lưỡng, hai tay cầm chắc cây cờ thật to chịu vào bụng với danh hiệu đoàn lân đang tung bay phất phới trong gió Xuân. Theo sau là những lá cờ nhỏ hơn đủ màu sắc với chữ Hoa biểu dương cho khí thế võ đường. Tiếp đó là con lân đang nhảy múa lượn khúc, bên cạnh có ông địa mặt tròn đỏ như say rượu, mắt xếch lên, miệng cười rộng toe toét trong chiếc quần dài màu lam, áo đỏ dài thùng thình, bụng phệ, một tay cầm chiếc quạt phe phẩy, với cái đầu xanh dương trọc lóc trông thật vui mắt, đang tung tăng đùa cợt giỡn vờn trước mặt. Kế đến là tay trống có hai người khiêng theo không ngừng đánh liên tục một cách hăng hái, hòa hợp cùng nhóm người đánh chập-chõa bên cạnh làm vang dội cả đường phố. Phía sau là những người khuân vác một số binh khí, gậy gộc, nắp bàn tròn bằng gỗ làm phương tiện cho lân múa. Hai người đi bộ cuối cùng thì vác một cây tre lớn dài chừng sáu mét dùng cho lân leo khi múa ăn tiền.

Thành phố Mỹ-Tho tuy rộng lớn, nhưng phạm vi hoạt động của đoàn lân chỉ xung quanh các phu phố ngắn ở chợ, chạy dài cho đến dãy phố đường Trưng-Trắc ngoài vườn hoa Lạc-Hồng và đối diện bên kia bờ sông là các tiệm buôn, vựa bán nông sản phẩm, nếu có chăng thì xuống tới Chợ Cũ là cùng, đó là những đường phố nhiều thương hiệu của người Hoa có nhu cầu mời đoàn lân đến cửa tiệm của mình múa lấy hên, cầu cho Năm Mới làm ăn phát tài.

Ðoàn lân đi tới đâu, đông đảo người hiếu kỳ thường đi theo xem đến đó mà đa số là trẻ em, vì một năm mới có múa lân một lần. Thường thì chủ tiệm nào muốn mời lân múa đều được người đại diện đến liên lạc cho ngày giờ hẹn. Cờ treo tiền múa lân chỉ có tiệm Ðại-Sanh bán mà thôi! Tiệm nầy ở dãy phố mé sông đường Trưng-Trắc gần chợ cá, kế bên tiệm bán tạp hóa lớn Quảng Nguyên Hòa ở góc ngả ba đường Võ Tánh, nơi đây đặc biệt chuyên bán tất cả những loại hàng thuộc về múa lân và tang chế. Cờ treo tiền là một loại cờ vải đủ màu hình chữ nhật có khổ rộng chừng 100 cm x 30 cm. Trên lá cờ luôn có bốn chữ Hoa lớn đen bóng viết bằng bút lông với mực Tàu khá mỹ thuật, biểu hiện cho “tinh thần thượng võ”, mà một bên chiều dài được xỏ vào một thanh tre để cầm treo lên.

Gần đến giờ lân tới múa, gia chủ thường buộc nối thêm một khúc cây với cờ cho đủ dài, để đưa ra phía ngoài lan-can trên lầu. Ðầu ngọn cờ có một sợi dây dài thòng xuống với những tờ giấy bạc được xếp dài buộc cách khoảng đều nhau. Phần cuối cùng của đầu dây phía dưới có treo một cây xà-lách tươi để cho lân ăn. Ðược biết, những tờ giấy bạc buộc theo cờ là tiền bạc trăm để trả thù lao cho đoàn lân. Tiệm buôn nào khá giả treo tiền thưởng hậu hỉ thì được đoàn lân múa lâu và biểu diễn võ thuật nhiều hơn! Thường thì đoàn lân bắt đầu đi múa từ hai giờ trưa cho đến bảy giờ tối. Buổi sáng nếu có xuất hiện chăng chỉ là dạo xung quanh một vòng thành phố, để phô trương lực lượng với hy vọng sẽ tìm được nhiều khách hàng. 

Sau khi biết được giờ hẹn, đoàn lân tiến đến địa điểm hoạt động của mình. Từ xa, quần chúng nhìn thấy được tiệm buôn nào có treo tiền bằng cờ múa lân trên lầu cao thòng ra phía ngài trời, họ liền lũ lượt kéo nhanh tới trước cửa tiệm đó dành chỗ tốt để chờ xem, xếp thành hai hàng dài hai bên chiều ngang trên vỉa hè, chừa trống khoảng lớn ở giữa cho lân vào. Liền sau đó, ông Ðịa bụng bự tay cầm quạt và lân tiến nhanh tới cúi đầu lạy dài từ trong kéo ra ngoài. Tiếng trống được đánh đều đều nhanh và nhỏ lại hơn bình thường thấy rõ. Tiếp theo, lân hùng hổ nhảy cao lên hụp xuống múa một cách hăng hái, để hòa hợp với tiếng trống được đánh thật hùng hồn, giữa tràng dây pháo Từ-Quang đang bốc khói nổ giòn đì đùng tan xác. Kế đến, lân bước vào nhà tiến đến bàn thờ nhỏ thổ địa đặt dưới đất bái ông Ðịa. Nơi đây, hai bên có hai chậu bông vạn thọ vàng tươi với khói nhang bay thơm nghi ngút. Lân ngồi trầm ngâm lột quít đường đang cúng Thần Tài ăn một cách ngon lành, rồi vừa xả vỏ quít tung tóe, vừa rút lui ra ngoài trước cửa tiệm nhảy múa tung tăng một chập. Sau đó, lân nằm xuống ra vẻ mệt mỏi chớp mắt ngủ một chút. Lúc bấy giờ, người ta mới có dịp quan sát rõ được đầu lân khá lớn với nét đẹp ngũ sắc của nó. Lân có cái sừng cong cong màu đen gồm những khúc từ lớn tới nhỏ, ở giữa sừng có buộc ngang một cái nơ làm duyên bằng vải màu đỏ đậm. Cái miệng khá rộng với hàm râu dài và bạc phía dưới dễ nhìn. Ðặc biệt cặp mắt lân khá to và thật đẹp, nhất là bộ lông mi đen láy dài và cong như cô gái xuân thì, mỗi khi chớp chớp mắt là lúc lân đẹp nhất! Ðuôi lân dài chừng ba thước được may từng hàng ngang ghép lại đều nhau, bằng nhiều mảnh vải nhỏ hình tam giác đủ màu sặc sỡ. Từ cái đầu cho đến phần cuối đuôi lân, tất cả những chỗ giữa hai màu sắc khác nhau, đều có may những lằn viền bằng gòn trắng tinh, làm tăng thêm vẻ đẹp quý phái cho lân. Ở giữa phía sau ót lân có ấn hai chữ Hoa lớn được dịch theo danh từ Hán-Việt là “Tỉnh Sư”, có nghĩa là lân đang thức. Trước khi lân nghỉ mệt thì lạy một lần nữa, hai người múa lân nhanh nhẹn tách rời khỏi lân, nhẹ nhàng đặt đầu lân xuống đất và cẩn thận xếp đuôi lân lại theo hình chữ Z, để ở góc gần nơi nhóm người trong đoàn đang ngồi bệt dưới nền gạch rồi thủ vài thế võ bái Tổ chào mọi người.

Chuyển sang phần đánh võ, những màn múa đơn tay không và bằng gậy gộc, dao kiếm được diễn trước, sau đó dần đến các màn đấu hai người, ba rồi bốn, năm người với nhau bằng các loại binh khí cổ đại. Những màn hấp dẫn nhất gây được sự chú ý cho người xem, là các thế võ thủ và công phá đột xuất của một, hay hai người mà chống chế với số đông, đã được người xem cổ vũ nhiệt liệt. Trong lúc lân múa và nhất là lúc đánh võ, làn sống người thường hay chen lấn xô ra phía trước để được xem cho rõ hơn, nên làm hẹp lại phạm vi hoạt động của hiện trường, đều bị mấy anh võ sĩ giữ trật tự dùng gậy tròn dài cản đẩy ngược trở lại.

Sau phần đánh võ là màn múa lân ăn tiền. Ðông đảo người đang đứng  xem liền hướng mắt nhìn lên ngọn cờ trên cao treo tiền lủng lẳng thòng xuống. Nhiều người thắc mắc còn đếm ngầm trong miệng xem được bao nhiêu tờ “giấy xăng”? Thường thì từ 10 đến 15 tờ giấy 100 hay 200 đồng thời bấy giờ, tùy theo mức độ buôn bán khá của chủ tiệm mời lân đến múa lấy hên đầu năm. Cây tre dài đặt ngoài lề đường phía sau đoàn lân được đưa chuyền vào, dựng thẳng đứng lên chính giữa vỉa hè trước cửa tiệm buôn, mà phần trên hơi nhỏ hơn phía dưới giáp gần với ngọn cờ treo tiền, có xỏ một cây sắt ngang dài chừng 50 cm được quấn vải để cho lân đứng múa trên đó. Ðầu dưới cây tre nầy thì đặt vào cái lỗ tròn vừa khít ở trung điểm của một tấm gỗ dầy hình tròn để dưới đất, làm nền tảng chắc chắn được nhiều bàn chân đạp lên, cùng những bàn tay rắn chắc nắm giữ chặt thân tre. Người võ sĩ leo cây múa lân ăn tiền đều được huấn luyện một cách thuần thục. Bên sư phụ Lưu Chấp thì chú chỉ giáo cho đệ tử trình diễn màn nguy hiểm này. Còn đoàn của chú Ngô Văn Long khi lân leo cây múa ăn tiền đều do đích thân chú đảm trách. Quàng tay sát nách chiếc đầu lân to lớn, nặng nề, được buộc thắt vòng bằng một sợi dây vải phía trong miệng lân. Bỏ giày ra, chú kẹp hai bàn chân và hai tay ôm lấy thân tre, vừa thót chú vừa leo một cách nhẹ nhàng lên tới đỉnh rồi đứng trên thanh sắt ngang, hai đầu gối chú kẹp cứng vào đầu ngọn tre, hai tay giữ lấy đầu lân vùng vẫy múa máy từng nhịp theo điệu trống hùng dũng. Khi thì chú đưa cao lên, lúc thì chú hụp đầu lân xuống, người duỗi đuôi lân được người đứng dưới đất cõng trên vai, dùng tay nắm chặt hai bàn chân để giữ thăng bằng đi vòng vòng theo đầu lân đang múa phía trên.

Lúc lân leo múa trên cây để ăn tiền là một màn hấp dẫn có thể nguy hiểm đến tính mạng cho người múa, vì thế nên luôn làm cho đông đảo người xem đứng phía dưới vừa thích thú lẫn hồi hộp không ít. Trong lúc đang múa lân trên cao, vài lần chú Ngô Văn Long chỉ đứng một chân, còn chân kia chú dang rộng ra rồi co giãn theo nhịp trống. Ðến màn xuất sắc nhất và cũng là màn làm cho người xem phải sợ đến đứng tim, khi chú tra cái bụng thon vào đầu ngọn tre, hai tay chú cầm đầu lân đưa ra lúc lắc múa, còn hai chân cũng duỗi thẳng ra như đang bay. Bất ngờ chú giả bộ trợt nghiêng cái bụng sang một bên cho cả thân  mình rơi thật sự xuống đất, ngay sau đó nhanh như chớp, một tay chú móc giữ lấy đầu lân, còn cánh tay kia kịp thời quàng lấy thanh sắt ngang chữ thập để tự cứu lấy sinh mạnh mình rồi trèo lên múa tiếp, trước những tràng pháo tay vang dội nhiệt liệt. Ðó là màn nghệ thuật độc đáo và ngoạn mục nhất của đoàn lân Ngô Văn Long được đại chúng ngợi khen và thán phục. Sau màn diễn căng thẳng nầy, lân múa thêm vài đường nữa rồi bắt đầu ăn tiền. Trước hết lân ngẩng đầu lên tìm cây xà-lách treo ở phía dưới cho vào chiếc miệng rộng rồi xé ra từng miếng quăng tứ tung xuống đất. Tiếp đến là chuỗi dây tiền buộc cách khoảng đều dính lại được lân kéo vào miệng ăn, cho đến sau cùng là cây cờ treo tiền thì lân ngậm ngang. Vùng mình múa vẫy theo tiếng trống thật oai phong một lúc rồi lân thả cây cờ treo tiền xuống đất. Sau đó, chú Ngô Văn Long chuyền chiếc đầu lân chúi xuống, khi cái đuôi dài được buông thả từ từ để cho người trong đoàn ở dưới đất giữ lấy. Với thân mình đẫm ướt mồ hôi và sắc mặt mỏi mệt, ngồi kẹp bằng nhượng chân vào thanh sắt ngang trên ngọn tre, chú đưa hai tay cao lên tươi cười chào mọi người phía dưới, bất thần ngã thẳng lưng xuống song song dọc theo thân tre, rồi hai bàn tay nắm chặt nhanh chóng lộn ngược ba vòng thì đã đứng xuống mặt đất, chú đưa hai tay lên cao chào mọi người một lần nữa, giữa những tràng pháo tay nồng nhiệt đầy lòng ngưỡng mộ. Sau đó lân và ông Ðịa múa thêm một hồi thì lạy cám ơn chủ nhà rồi từ giả đi sang nơi khác.

Có một ít tiệm buôn bán nhỏ không có lầu cao, nhưng muốn cầu lộc cho Năm Mới buôn may bán đắt cũng mời lân đến múa. Trong trường hợp nầy thì lân không cần phải leo bằng cây tre dài ăn tiền, mà chỉ đứng múa thoải mái trên tấm gỗ dầy hình tròn được nhiều người khiên đỡ giữ thăng bằng phía dưới.

Hồi nhỏ, tôi rất mê thích xem múa lân trong mấy ngày Tết, mê thích đến đổi quen thuộc và biết cả cách đánh trống nữa! Hàng năm, lân chỉ múa đến mồng mười tháng giêng. Gia đình Ba Má tôi buôn bán tại chợ, vì thế cứ mỗi lần nghe tiếng trống văng vẳng bên ngoài vọng vô nhà, tôi hầu như luôn sẵn sàng tuôn chạy ra ngoài tìm đoàn lân để hòa theo làn sóng người đi xem. Ðặc biệt nhất là ngày mồng sáu khi tiệm buôn khai trương, Ba Má tôi đều có thỉnh cầu đoàn lân đến múa, nên tôi được dịp đứng ngoài balcony trên lầu, hãnh diện cầm cờ treo cho lân múa ăn tiền mà cảm thấy thích thú vô cùng! 

Trong suốt thập niên 60, thời kỳ mà hai đoàn lân được xem là vàng son nhất. Về sau, thời cuộc biến chuyển đổi thay, đời sống khó khăn thay đổi, nên hai đoàn lân đã từng “vang bóng một thời” ở thành phố Mỹ-Tho không thấy nữa! Chú Ngô Văn Long sau đó bỏ xứ đi mất! Còn chú Lưu Chấp có một quày bán Ðông y dược, hay nói đúng hơn là chiếc bàn nhỏ đặt sát tường trên vỉa hè, ở giữa cạnh hai tiệm bán basar Phước-Mỹ và tiệm vàng Minh-Tân của gia đình anh Trương Ðức, phu quân chị Trung, Phó Hội Trưởng Hội Ái-Hữu bên CA-USA. Trên bàn bày bán những lọ thuốc rượu thoa bóp đau nhức cùng một vài loại cao đơn hoàn tán do chú pha chế. Phía trên có dựng một tấm bảng quảng cáo bằng hai ngôn ngũ Hoa-Việt với nét chữ to đùng, ở giữa có chưng một tấm hình bán thân của chú lúc còn thanh niên. Những ai bị trật cổ, loại tay, trẹo chân, bong gân chú đều có khả năng chữa trị được tại chỗ. Mỗi lần đi ngang qua đường Nguyễn Huệ gần rạp hát Vĩnh-Lợi, nhìn chú Lưu Chấp ngồi trầm ngâm bên cạnh gian hàng ế  ẩm của mình, tôi nhận thấy được qua đôi mắt trong sáng, vẫn còn hằn in trên nét mặt đầy nghị lực của chú ngày nào mà đầy lòng cảm thông.

Hơn ba mươi năm lưu lạc nơi xứ người, trong những dịp Tết Âm Lịch, thỉnh thoảng tôi có mục kích được nhiều màn múa lân của cộng đồng người Trung-Hoa và Việt-Nam ở các quốc gia. Nhưng đó chỉ là hình thức tượng trưng cho mùa Xuân nơi quê nhà mà thôi! Từ cách đánh trống cho tới nghệ thuật múa lân hầu như không có, chớ đừng nói đến biểu diễn võ thuật. Bất chợt, không khỏi khiến tôi bồi hồi nhớ lại một thời xa xưa tuổi trẻ đầy hoa mộng của mình nơi quê nhà Mỹ-Tho, mỗi khi Tết đến thường thích đi xem múa lân.

Nhớ  đến  múa  lân  năm  xưa
Gợi  bao  kỷ  niệm  những  mùa  Xuân  qua…


Tiếc Thương – phỏng vấn Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu

namkyluctinhorg

lexuantruong

Một trong những người mà LÊ XUÂN TRƯỜNG mời quý vị theo dõi buổi nói chuyện hôm nay, anh là một Ðiêu Khắc Gia, người đã để lại bức tượng nặng 10 tấn, cao hơn sáu thước taị Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, nghĩa trang nơi hàng ngàn người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA đã nằm im trong giấc ngủ ngàn thu vẫn chưa được tìm thấy những giây phút thật thanh bình. Thưa quý vị, Ðiêu Khắc Gia NGUYỄN THANH THU, tác giả của bức tượng TIẾC THƯƠNG:

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Thưa anh Thu. Trước đây ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, mình có Nghĩa Trang nào trước đó?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðể trả lời anh Xuân Trường. Sỡ dĩ mà Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa nó được hình thành sau Nghĩa Trang ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp, trước đó chưa có Nghĩa trang Biên Hòa chỉ có Nghĩa trang Hạnh Thông Tây Gò Vấp . Qua cái năm đó, vụ năm 68 vừa xong thì Mỹ đổ thêm quân tham chiến, một cuộc chiến ác liệt, cho nên, lúc bây giờ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây đã không có chỗ còn để chôn nữa, cho nên chính phủ mới thành lập Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Sau khi đề án Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa được thành lập ra để giao cái Nghĩa trang Hạnh Thông Tây quá chật chỗ, không còn đất để chôn cất nữa.Vậy ai là người đưa ra cái đề án đó?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ, cám ơn anh XuânTrường. Nguyên nhân là, lúc đó, Tổng Thống VNCH, ông Nguyễn Văn Thiệu, ổng có biết là ở bên Phi Luật Tân có một nghĩa trang mà Phi nó tự cao lắm, tự hào lắm, nghĩa trang đẹp nhất ở Á Châu. TổngThống mới mời tôi lên để nói tôi qua đó nghiên cứu có cái gì bên đó để về thành lập Nghĩa Trang Biên Hòa của mình. Tôi được đi qua nghiên cứu cái nghĩa trang đó. Khi trở về, tôi trình dự án đó cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Từ đó, dự án được bắt đầu đưa qua cho Công Binh thực hiện, ủi đất để xây cất, đất đang ủi, đang làm xa lộ ở đó.

Lúc bấy giờ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có mời tôi lên, ổng có cho tôi biết, ổng có ý muốn là làm thế nào để thực hiện một tác phẩm gì đó ở Nhgĩa Trang Biên Hòa. Từ xa lộ đi vô trong có một khúc lộ, ổng muốn đặt trước Nghĩa trang, trước khi vô trong, phải có tác phẩm gì đó. Ổng kêu tôi về suy nghĩ để thực hiện cái tác phẩm nầy. Lúc bây giờ, tôi muốn xin ý Tổng Thống một lần nữa, Tổng Thống cho biết cái ý nghĩa, quan trọng lá cái ý nghĩa như thế nào. Tổng Thống trả lời với tôi, TổngThống nói: “ Theo tôi thì mình làm thế nào để hậu phương biết cám ơn chiến sĩ của mình mà họ đã chết chóc ngoài chiến trường”.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Như vậy, Tổng Thống muốn có một bức tượng đặt ở Nghĩa trang để vinh danh, đặt ở ngoài cổng?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ. Sau nầy, ổng hỏi khi nào có thể trình dự án được. Tôi có trình lại với Tổng Thống, Tổng Thống cho tôi suy nghĩ một tuần lễ, tôi sẽ trình dự án như Tổng Thống muốn. Lúc đầu, ông Tổng Thống mới bấm chuông, ông Ðại tá Cầm bước vô, Tổng Thống nói: “Ông Thu có hứa với tôi là khoảng một tuần lễ ổng sẽ trình dự án”. Sau nầy ra về, ổng có vỗ vai tôi và nói: “Anh là cục nhưn đó nghe, nghĩa trang của mình có cục nhưn, anh làm thế nào, tôi hy vọng ở anh đó nghe”. Tôi ra về.

Công việc đầu tiên nằm trong trứng nước, trong bụng tôi, nó bào bào, cái ý nầy, ý kia, nói đi nói lại, tự hỏi lòng mình tìm đề tài.Trong thời gian đó, tôi hứa với Tổng Thống một tuần lễ, từ thứ hai đến thứ sáu. Tôi nhớ rõ lắm.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Trong một tuần lễ, anh có nghĩ là anh sẽ kịp để tìm đề tài?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðó! Ðó! Ðã hứa rồi, trong cái tuần lễ đó, công việc gì cũng bỏ hết, mình không có làm chi hết. Tôi nghĩ, tìm cái đề tài gì đây? Tác phẩm gì đây? Lúc bấy giờ, Nghĩa trang Biên Hòa đang ủi đất, đang thành lập chứ có gì đâu? Tôi mới đi lên Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Lúc bấy giờ, chiến trường đang ác liệt, trực thăng nó xuống ào ào, chiều nào trực thăng cũng đem xác về, đến nỗi mà trong nhà kho xác, rồi một dãy hòm hai ba chục cái đang sắp ngang đó.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Không có đất để chôn phải không ạ?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Có đất chôn nhưng cũng gần hết đất rồi nhưng mà xác nhiều đến nỗi trong mấy cái hòm ướp xác, rồi mấy cái hòm đang để dài dài, rồi mấy cái đang chôn nhiều đến nỗi phải làm tạm lều ra ngoài, cất lều, che sơ sơ để chất xác cho trực thăng mỗi chiều nó xuống. Tôi ở đó được ngày thứ hai đến thứ sáu, cảnh chết chóc thì quý vị đã biết, ngày nào cũng khóc la, rồi con cái, vợ nữa, ôm nấm mồ khóc thiết tha trên nấm mồ, cảnh đau thương lắm. Tôi ở đó được sáu ngày như vậy, khi ở được sáu ngày rồi, ngày mai nữa là hết ngày, đến ngày phải trình Tổng Thống, cho nên đến buổi trưa thứ sáu, đây là câu chuyện thật, tôi cứ nôn nóng như vậy. Trưa thứ sáu thì tôi từ nghĩa trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, tôi về Gò Vấp. Ở vùng Gò Vấp, nắng quá, tôi mới vô kiếm nước uống. Tôi quẹo đại vào một cái quán gần căn phố. Vô tình, tôi kêu một ly nước chanh uống, bỗng nhiên, tôi thấy một anh lính Nhảy Dù, ảnh vô đó từ trước, ảnh cũng từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây về trước đó. Khi tôi bước vô thì tôi dòm qua ảnh, thấy ảnh đã uống đâu bốn năm chai bia rồi, thì thôi, tôi cũng không nói gì. Nhưng có một điều lạ, tôi thấy ảnh đang nói chuyện với cái ly, ảnh là binh chủng Nhảy Dù, ảnh để cái nón nhảy dù trên cái bàn, mặc áo nhảy dù đàng hoàng, ảnh đang uống và đang buồn, đang nhớ bạn. Một ly ảnh uống, một ly ảnh cúng, ảnh rót bia vào cái ly cúng đó, rồi ảnh nói chuyện với cái ly như có người bạn trước mặt ảnh vậy, ảnh cằn nhằn, ảnh đau đớn cho người bạn của ảnh đã mất. Khi tôi dòm thấy được cái hình ảnh mà ảnh vừa nói vừa gục đầu xuống bàn, vừa khổ sở với cái ly đó, ảnh vừa uống vừa cúng. Tôi chờ một chút nữa rồi bước qua làm quen. Tôi cầm cái ly nước chanh, bước qua, tôi đứng kề ảnh, bên cái bàn của ảnh, tôi xin phép ảnh:

– Anh à, tôi muốn ngồi kề với anh, uống với anh được không? Thấy anh buồn, tôi muốn ngồi với anh.

Tôi thấy ảnh không trả lời tui, ảnh ngồi gục trên cái bàn, ảnh hất cái mặt lên, có vẻ như không bằng lòng khi có người thứ hai quấy rầy ảnh.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Có thể cái giây phút đó, ảnh quá đau lòng, ảnh muốn có một sự riêng tư?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ đúng! Ảnh muốn có một sự riêng tư. Mặt tôi hơi sượng, mấy cô trong quầy cười khúc khích, nãy giờ, cái anh nầy nói chuyện với cái ly không, mà bây giờ có thêm một thằng điên qua nói chuyện với ảnh, mấy cô chắc nghĩ như vậy, thấy mấy cô cười khúc khích với nhau. Nhưng mà trời thương, tôi có hỏi giấy tờ của ảnh, ảnh gục cái đầu xuống, tôi đứng trơ trẽn ở đó. Bỗng nhiên, ảnh móc ở túi sau, ảnh móc giấy tờ, ảnh đưa cho tôi. Tôi đâu có phải Quân Cảnh mà hỏi giấy tờ của ảnh, thế mà ảnh đưa cho tôi. Tôi cầm cái bóp rồi trở về cái bàn của tôi, tôi lấy giấy tờ ra hết. Tôi ghi tên của ảnh, ảnh là VÕ VĂN HAI, hạ sĩ VÕ VĂN HAI, tôi nhớ rõ như vậy. Ở tiểu đoàn nào tôi quên rồi, tôi ghi hết cái KBC. Xong rồi, tôi đem cái giấy đến trả lại, ảnh cũng không cần biết nữa, lấy bỏ túi thôi, không nhìn tôi mà. Tôi trở về bàn, tôi ngồi để nhìn một chút xíu nữa. Rồi, tôi thấy câu chuyện nó như vậy.

Trưa đó tôi về, dĩ nhiên là ảnh còn ngồi đó, tôi lo đi về, tên tuổi của ảnh tôi còn để đây. Tôi về đến nhà.

Khuya hôm đó, tức là tối thứ sáu, tôi bắt đầu vẽ, để sáng thứ bảy trình. Thưa, tối thứ sáu, khi tôi ngồi lại cái bàn, từ 8 giờ tối cho đến 6 giờ sáng, tôi vẽ được 7 bản, bảy bản bự như vầy, vẽ màu đẹp lắm. Lúc bấy giờ, thưa quý vị, khi tôi ngồi ban đêm đó, tôi mới liên tưởng đến chiến trường. Dạ thưa, lúc bây giờ chiến trường, đêm đêm, tiếng súng nó dội về, ầm… ầm, mấy cái cửa kiếng rung hết, B52 bay thả bom, cửa kiếng ở nhà rung… rung. Rồi mưa tháng tám nữa, mưa lất phất… lất phất ở ngoài đó, cũng đau lắm, tôi ngồi thấy cũng thấm lắm, ngồi nghe mấy tàu lá chuối, nước nó rơi, rồi ầm.. ầm… rồi ầm… ầm, B52 rót rầm… rầm… rầm… rầm. Thế mà, nó cũng gợi cho tôi, để cho tôi vẽ chiến trường. Dạ thưa, tôi vẽ 7 bản to như thế nầy, vẽ về chiến trường, chiến trường lúc bấy giờ thì người lính mặc áo mưa, cũng thê thảm lắm, gió lất phất, rồi kia, nọ…, người lính đi tới đi lui, lo nhiệm vụ canh gác trong đêm trường cực khổ, ở sau hậu phương, người ta êm ấm như thế nầy mà ở chiến trường thì nó như vậy. Tôi nhớ đến người lính, tôi mới vẽ 7 bản ở chiến trường, một đề tài nhớ chiến trường, vẽ chiến trường. Tôi vẽ như vậy cho tới sáng, tôi nhớ cái gì chút đỉnh thì tôi vẽ tới đó, có ý gì ngộ ngộ nẩy ra thì tôi ghi lại để sáng mai trình với ổng, ghi sơ sơ lên đây. Tôi vẽ tới sáng, cho tới 6 giờ sáng. Tôi vẽ được 7 bản xong rồi, tôi thấy mệt, trời lạnh lạnh nữa, tôi buông cọ ra, mới lủi vô giường nằm. Nằm một chút xíu thì nghe một tiếng chó sủa ào một cái, nhà tôi nuôi chó cỏ nhiều lắm, anh Trường. Mấy con chó sủa ào lên một cái, tôi hay quạu lắm, tôi kêu: “Bà làm gì đàng trước vậy? Ai đàng trước vậy? Gì đàng trước vậy?”. Bà xã tôi nghe chó sủa là bả lo, bả ra trước rồi, bả coi cái gì đây? Một chặp, khoảng vài phút sau, bả vô nói: “Có người đến mời ông đi trình dự án”. Tôi mới nói, trình dự án gì mà mới mờ mờ đất mà dự án… dự án. Tôi nói vậy mà ông ở ngoài đó nghe, rồi ổng trả lời lớn: “Tôi vô sớm ông Thu! Tôi vô sớm mời ông đi ăn sáng, rồi mình đi lên trển”, cuối cùng, tôi đi với ảnh.

Giờ đầu tiên gặp Tổng Thống, Tổng Thống Thiệu đó, lúc bấy giờ đang ở trong Bộ Tổng Tham Mưu, ổng mang lon Trung tướng. Ngày đầu tiên tôi hẹn với ổng, sau một tuần lễ, đi trình, tôi nghĩ ổng ở Tổng Tham Mưu chứ đâu. Thế nhưng, ông nầy, ổng đưa tôi đi Sài Gòn ăn sáng ở nhà hàng gì đó, đã đời, rồi 9 giờ, ổng mới bắt đầu đi, lên xe jeep, ổng chở đi vô dinh Gia Long. Tôi hỏi, quẹo vô đây chi vậy? Tôi nhà quê lắm! “Vô đây ông Thu, vô đây không sao, cũng được vậy thôi”. Ông ta nói vậy. Rồi vô dinh Gia Long, ổng trình cho Ðại tá Cầm, ông Cầm, ổng nói liền: “Ông Thu ơi! Bữa nay không có anh là chết tui, tôi chờ anh đầu giờ, bây giờ trễ một, hai phút. Giờ có ông Thiếu tướng, ổng vô trước, đáng lẽ anh đầu giờ nhưng có Thiếu tướng vô trước, chút xíu ổng ra, tới anh đó”. Lúc đầu, Ðại tá còn lịch sự hỏi nầy nọ, dự án, anh có ưng ý không? Vì lịch sự, hỏi qua, hỏi lại vậy thôi. Tôi ngồi đó, còn Ðại tá cũng làm việc của ổng.

Tôi đứng dậy, tôi ra ngoài hành lang, ở dinh Gia Long có cái couloir dài, có hàng ghế đỏ, có mấy cây cột xưa của mình. Tôi đi qua, đi lại, rồi tôi ngồi xuống. Tại sao vậy? Ðó, rồi mình tự hỏi, tại sao mình lại vẽ chiến trường, 7 bản chiến trường. Thôi, bây giờ mình không vẽ chiến trường, mình vẽ anh Võ Văn Hai được không? Rồi mình tự hỏi, vẽ thế nào? Võ Văn Hai phải như thế nào? Tôi ngồi xuống, tôi bố cục, tôi nheo con mắt lại, tôi hình dung trong trí não của tôi đàng hoàng. Tôi nghĩ đến thế người ngồi, ngồi ra làm sao, làm sao? Tôi vẽ trong trí tôi, tôi đứng dậy, tôi chạy vô, lúc nầy tôi tập trung cái đó rồi, tôi tập trung cái bố cục rồi, mà ai hỏi tôi chắc là chết.

Tôi chạy vội vô phòng của ông Ðại tá Cầm, thấy phòng nó nghiêm nghị quá, mình muốn hỏi xin tờ giấy ghi liền mấy cái nét mình suy nghĩ, giống như con khỉ vậy, tôi móc đại tờ giấy pelure, rồi xin cây viết nguyên tử. Tôi ngó phía sau lưng của ổng, có thùng rác, trong quân đội có giỏ rác bằng lưới, trong có bao thuốc lá, tôi lấy bao thuốc ra và mở ra. Tôi trở lại cái hành lang, tôi banh bao thuốc lá ra, có miếng giấy trắng ở trong, tôi mới vẽ xuống, vẽ cái bố cục mà mình mới nghĩ ra.

Lúc đó, nó khiến tôi như thế nào không biết, tôi vẽ xuống, tôi thấy tôi ưng ý, mình đã vẽ 7 bảy bản ghê gớm, vậy mà cái nầy vẽ sơ sơ, vẽ tốc họa, sao mình thấy khoái khoái. Vừa khoái khoái, bỗng nhiên chưa có quyết định gì, ông Ðại tá, ổng hỏi: “Anh Thu đâu rồi? Anh Thu đâu rồi? Ðây rồi! Ðây rồi. Anh vô. Anh vô”.

Tôi vô, dĩ nhiên cái bao thuốc lá tôi cầm ở trên tay và 7 bản kia, tôi ôm kè kè đi vô. Vô chào Tổng Thống. Tổng Thống Thiệu đang ngồi, kính chào Tổng Thống rồi thôi. Tôi trải 7 bản dưới sàn dinh. Tôi trải xong, tôi cầm bao thuốc lá nầy chạy qua kính mời TổngThống qua duyệt xét, Tổng Thống góp ý, có cái gì, bổ túc ý kiến của Tổng Thống, tôi vẽ như vầy đó, tôi vẽ 7 bản chiến trường.

Ổng bước ra coi, tôi đệm nhẹ vô, chiến trường là nơi gió táp mưa sa, chiến sĩ mình phải canh gác cực khổ thế nầy, thế nọ, đêm đêm, ngày ngày, ở hậu phương thì ngủ êm ấm, công ơn chiến sĩ mình, làm sao mà quên ơn được. Thế là, tôi nói chuyện với ổng, ổng làm thinh, ổng ngồi ổng nghe, rồi ổng qua coi. Khi đó, lúc bấy giờ tôi làm thinh. Tổng Thống đi qua, đi lại vài lần nữa. Rồi ổng đứng lại sát bên tôi, ổng có nói một câu dễ thương lắm, ổng nói: “Bây giờ thế nầy nè, tôi nghĩ anh là cha đẻ của nó. Tôi thì muốn chọn một bản, tôi thấy bản nầy tôi cũng thích, mà bản kia nữa tôi cũng thích, vậy theo anh, anh thích bản nào. Tôi thấy bản thứ hai nầy cũng được, mà bản thứ năm nầy cũng hay đó. Anh thích bản nào?”.

Ổng hỏi vậy, thì tôi xin phép, tôi nói thế nầy: “Dạ, kính thưa Tổng Thống, tôi không dám, nếu Tổng Thống cho tôi chọn lại theo ý tôi, mới đây thôi, cái nầy, tôi hơi quá vô lễ. Dạ, tôi mới vừa nghĩ ra, tôi vẽ vội trên bao thuốc lá, tôi làm như vậy hóa ra tôi quá vô lễ với Tổng Thống”.

Tổng Thống nói: “Không. Không. Anh đưa tôi coi”. Tôi lấy bao thuốc lá ra đưa cho ổng, Tôi chỉ vẽ thế ngồi thôi. Thưa Tổng Thống, tôi thích cái nầy. Tôi nói vậy. Ổng cầm bao thuốc lá, ổng kéo tôi tới bureau của ổng, hai ghế chụm lại. Ổng dặn tôi câu nầy: “Anh Thu à! Người nghệ sĩ mà, họ lãng mạng lắm, họ hay lãng mạng lắm, mà chiến sĩ của mình không phải thế đâu, phải có đề tài, mà anh vẽ cái đề tài gì đây? Anh cho tôi biết cái đề tài, lãng mạng không nên có trong cái tác phẩm nầy”.

Thưa Tổng Thống, tôi nghĩ ra được những đề tài như thế nầy: thứ nhất: KHÓC BẠN, thứ hai: TÌNH ÐỒNG ÐỘI, thứ ba: NHỚ NHUNG, thứ tư: THƯƠNG TIẾC hay TIẾC THƯƠNG.

Tổng Thống nói: “NHỚ NHUNG là không được! Không được, thứ tư là THƯƠNG TIẾC, TIẾC THƯƠNG. Ừ, TIẾC THƯƠNG THƯƠNG TIẾC đi”.

Rồi Tổng Thống nói tôi về, ổng còn dặn tôi: “Anh nhớ người lính của mình đó, là buồn, là tiếc thương bạn mình nhưng cũng phải tiếp tục cuộc hành trình chiến đấu, không có quên tay súng, cây súng phải giữ, chứ không phải vứt súng bừa bãi. Cái buồn nầy, phải tiếp tục chiến đấu, Việt cộng nó trường kỳ lắm, nó mai phục dữ lắm, mình phải có cái lâu dài đó. À, anh Thu ơi! Anh có thể vẽ riêng cái nầy cho tôi được không? Vẽ lớn cái nầy như 7 bản kia vậy đó”.

Tôi trả lời: Dạ được. Dạ được.

Khi đó, ông Ðại tá Cầm bước vô. Bây giờ ổng đưa bao thuốc lá cho tôi. Tổng Thống nói với ông Cầm: “Anh chuẩn bị những vật liệu cho anh Thu, ảnh vẽ gấp cho tôi cái nầy”. Ông Cầm trở ra. ông tướng còn ngồi ở đó, ổng thấy câu chuyện lạ lạ, ổng nán lại xem có cái vụ gì?

Ông Cầm hỏi: “Anh cần gì?”. Tôi nói: “Anh cho tôi tờ giấy lớn như vậy đó, với cái bảng đen, giấy bút, có màu gì bỏ ra hết đây”. Ổng cho người ùn ùn đem đồ ra đó ngồi vẽ.

Thưa, lúc bấy giờ, tôi mới bắt đầu, bắt đầu ra tay, tôi day lại, thấy những người đứng xung quanh tôi đông lắm. Tôi nói:

“Kính thưa Thiếu tướng, Ðại tá, quý vị, trong khi tôi vẽ, xin đừng có ai hỏi tôi hết. Tôi vẽ, quý vị hỏi, tôi phân tâm, tôi không trả lời thì đâm ra vô lễ. Xin cho tôi tập trung ở đây, đừng hỏi”.

Thưa quý vị, dĩ nhiên là người nghệ sĩ nào cầm cây vẽ cũng ngắm tờ giấy trắng trước, cho nó lọt vô, cái bao thuốc lá, nó phải lọt vô tờ giấy, phải vẽ sao cho nó lọt vô, mà phải vẽ gấp rút. Tôi vẽ…. vẽ…. Tôi lo làm. Lúc bấy giờ như nó khiến, thưa quý vị, bấy giờ, tôi không biết là tôi vẽ hay là cái gì vẽ (cười). Tôi không hiểu được, tôi phá tới đâu, tôi vẽ tới đâu, nó dính ngay tới đó, nó lọt trọn vô tờ giấy rất đẹp, giống như mình vẽ hai ba ngày trước! Ðó, tôi phóng lên những nét đại cương là quý rồi, tạo được cái hình ảnh là chiến sĩ ngồi. Lúc bây giờ tôi mới day ra phía sau, tôi thấy mọi người đang đứng quanh tôi. Ông Cầm hỏi liền:

– Anh cần gì, anh nói chứ làm sao tôi biết được!

– Dạ thưa Ðại tá, tôi cần người mẫu. Cái nét đại cương tôi có rồi, bố cục đầy đủ rồi, tôi muốn vô chi tiết chút xíu, cái nét áo nhăn, cái nét quần nữa, chút xíu nữa cho nó trung thực”.

Rồi ổng ngó ngó, ai cũng hơi ngờ ngợ, không biết ai. Ổng nói: “Tôi được không?”. Trời ơi! Lính gì ngoài chiến trường mà áo quần ủi hồ ngon lành, tóc tém rồi chải…” Tôi nghĩ vậy. Ổng mặc áo quần đẹp lắm, áo quần ủi hồ láng thẳng đẹp đẽ. “Thôi, thôi, tôi làm rồi, Ðại tá cho tôi cây súng”.

Thưa quý vị, bấy giờ là năm 1966, lính mình còn xài súng garant M1. Ổng mang súng ống vô, nịt đạn, bi- đông nước đàng hoàng, coi như tác phẩm bây giờ đang chiếu đó, đội nón sắt nữa, rồi ổng ngồi xuống đó. Ổng là người mẫu đầu tiên, tôi lấy mẫu đại cương đó. Khi ổng ngồi xong, khoảng năm phút sau thôi, tôi ghi thêm vài nét, chính tôi đã đi hết 85% rồi, tôi chỉ thêm vài nét cho nó rõ, giữa hai cái đó, trung thực không cách xa bao nhiêu. Tôi thấy được rồi. Khi tôi vẽ lớn ra xong, tôi trình Tổng Thống, Tổng Thống đã ký cho tôi xong hết.

Dĩ nhiên, khi trở về tôi phải lo, nhứt là thời gian phải cho kịp, còn ba tháng nữa là đến ngày 1 tháng 11 năm 66. Ổng ký là tháng 8 rồi. Tôi phải lo gấp rút người mẫu, kiếm Võ Văn Hai. Thưa quý vị, địa chỉ tôi đã ghi rồi lúc ở ngoài quán đó, tôi có kể.

Tôi lại ngay đơn vị của ảnh, được gặp ông Thiếu tá Chỉ huy trưởng của anh Võ Văn Hai, tôi trình bày cho ổng. Trước khi đi đâu, tôi cũng mang theo mẫu mà Tổng Thống ký cho tôi. Rồi ổng coi, lúc đầu, Thiếu tá còn hơi lo, nghi nghi, ngờ ngợ. Thế nhưng, sau câu chuyện rồi, ổng thấy, có lẽ ổng hãnh diện được chọn cái đơn vị của ổng, trong tiểu đoàn của ổng, trong đại đội của ổng. Ý ổng, ổng có nói một hai câu như vậy. Do đó, ổng có nói như thế nầy:

– Ổng yêu cầu gặp anh Võ Văn Hai, tôi thấy chưa hay đâu, tôi nói thật với anh, tôi cho anh một đại đội, mặc sức mà chọn, nhiều thằng một thước bảy, một thước tám mươi mấy, thước chín, mề-đay đầy người, to lắm,chiến công dữ dằn lắm.

Tôi nói: “Dạ thưa Thiếu tá, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai, thật sự là đủ rồi”.

– Á! Á! Ðừng cãi tôi! Tôi sẽ cho một đại đội đó.

Ổng nói rồi, ổng làm luôn, ổng kêu một Thượng sĩ bước qua:

– Anh cho tập họp một Ðại đội, Ðại đội súng ống đàng hoàng, ngay ở Bộ chỉ huy của tôi, nhé!

Ổng truyền lịnh đi rồi, lâu lâu, thỉnh thoảng ổng mới coi lại chữ ký của Tổng Thống, rồi ổng nói vô chi tiết nữa để chờ Ðại đội kia dẫn lên.

Thưa quý vị, khi đó thì nghe đàng trước rần rần, ê ét đàng trước rần rần rồi. Tôi thấy Ðại đội ra trình diện ở trước. Ông thượng sĩ bước vô:

– Thưa Thiếu tá, Ðại đội tập họp xong. Ổng bước ra, cầm cái can, đội nón nhảy dù, ổng nói:

– Anh theo tôi, tha hồ anh chọn, to lắm, to lắm, đủ màu, đen đỏ, có đủ hết, Võ Văn Hai, ăn thua gì! Anh ra đây, kìa… kìa…

Lẽ dĩ nhiên, tôi bước ra, người to con thì đứng đầu, ở cuối thì nhỏ và thấp. Tôi thấy dữ dằn thiệt.

– Người nầy là một thước tám mươi mấy đó, dữ dằn nữa, Võ Văn Hai ăn nhằm gì.

Ổng vừa nói, ông Thiếu tá biểu một anh bước ra, anh bự con bước ra, qua người thứ hai cũng bự con nữa.

Tôi làm thinh, bây giờ tôi mới sực nhớ ra, tôi vội bỏ ông Thiếu tá ở đó, tôi chạy lùn lùn xuống hàng, tôi kêu:

– Anh Võ Văn Hai đâu? Anh Võ Văn Hai đâu? Lên tiếng, lên tiếng!

Cuối cùng tôi chạy xuống hàng gần cuối, ảnh đâu có 1 mét 6 à! Ảnh nói:

– Em đây! Em đây!

Tôi lôi ảnh ra ngoài hàng. Ổng chọn được bốn người, anh Võ Văn Hai nữa là năm.

Thôi, thôi! Thiếu tá!, Ðủ rồi! Ðủ rồi! Tôi la lên.

– Chọn nữa không? Chọn bao nhiêu thì chọn. Tôi cho anh mà! Bây giờ anh nói chuyện cho mấy người nầy biết đi, tất cả năm người đó.

Ðại đội dẫn về, tôi mời mấy anh nầy vào câu lạc bộ, biểu mấy anh về cất súng đi. Tôi có nói với mấy ảnh như thế nầy:

– Thật sự, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, nhưng ông Thiếu tá, ổng tốt bụng cho thêm bốn anh nữa. Thôi mấy anh về nghỉ đi, cứ nghỉ ba tháng nhưng đừng ra ngoài đường, đừng mặc đồ lính, Quân Cảnh nó bắt, tôi không có thì giờ đi lãnh về. Cứ một tuần lễ, tôi ký giấy phép cho mấy anh.

Thế rồi, ngày ngày anh Võ Văn Hai cứ vô nhà tôi làm mẫu.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Tại sao cái hình ảnh anh Võ Văn Hai cứ in trong tâm khảm của anh, phải là Võ Văn Hai. Có phải vì Võ Văn Hai ngồi trong quán nước khóc thương người bạn mà làm cho anh xúc động?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðó, chính cái lẽ đó, chính cái yếu tố quan trọng đó, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, vì lịch sư, ổng cho bao nhiêu thì cho, cứ để đó cho nghỉ phép luôn, lợi dụng cái dịp nầy để mấy ảnh khỏi ra chiến trường.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Anh Võ Văn Hai lúc đó ở binh chủng Nhảy Dù?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ, Nhảy Dù, hạ sĩ. Anh về nhà tôi, hàng ngày, cứ sáng sáng, ảnh đạp xe đạp vô nhà, đồ lính cất trong nhà, rồi nịt đạn vô hết, lên ngồi làm người mẫu. Chúng tôi làm như vậy, anh em chúng tôi làm việc, công việc làm như vậy đêm ngày. Lúc bấy giờ anh Võ Văn Hai cứ lo săn sóc tôi không à, ảnh không phải như hồi trước, nhưng mà tôi chỉ cần ảnh không cần tới tôi mà ảnh chỉ nghĩ tới người bạn, thương buồn, để nhớ thôi. Một buổi nọ, tượng gần xong, tôi làm một cú lẩy, anh Võ Văn Hai vẫn vô bình thường, tôi nói với ảnh:

– Anh lấy ghế ngồi đàng hoàng nghe! Bữa nay tôi theo dõi thêm, tôi so sánh giữa anh và bức tượng chút xíu nữa.

Anh Võ Văn Hai ngồi, lúc bấy giờ tôi không có làm, những ngày trước thì tôi làm nhưng bữa nay tôi để ảnh ngồi không. Dĩ nhiên, khi ảnh ngồi không đó, ảnh chờ tôi. Tôi vô trong nhà, tôi dòm qua lỗ gió, tôi dòm lén ra, khi chờ lâu thì ảnh ngồi mới nhớ lại, hoàn toàn trở lại hồi cũ ở quán nước, nét mặt ảnh buồn như trước. Khi ảnh buồn thật sự, trong nầy tôi lấy cây viết chì với miếng giấy tôi ghi, tôi chỉ ghi nét mặt thôi, nó rủ xuống thế nào, tôi vẽ như thế ấy, tôi vẽ cái môi, cái miệng, cái mũi thôi. Sau ba tháng ảnh ngồi làm mẫu, bây giờ thêm cái chi tiết nầy, cái nét buồn nào nó đi tới. Xong rồi, tôi bước ra, tôi nói với ảnh:

– Xong rồi! Xong rồi! Anh về nghỉ đi, vài ba bữa vô cũng được, anh muốn nghỉ giờ nào thì nghỉ, giờ nào muốn vô thì vô, không bắt buộc, được rồi, đủ rồi, nhe!

Anh Võ Văn Hai lấy làm lạ, ảnh nói:

– Tôi chưa làm mà Ðại úy nói tôi nghỉ.

Tôi trả lời:

– Làm rồi!! làm rồi! Tôi vẽ lén anh mà.

Thế thì ảnh về, ảnh còn thắc mắc, đi ra sau hè, nói với bà xã tôi: “Thưa bà, tôi thấy ổng không làm, không biết ổng giận tôi cái gì mà ổng nói tôi về, đừng có vô nữa cũng được”. Bà xã tôi nói lại: “Ờ, cái ông đó, ổng biểu sao hay vậy, không có giận anh đâu. Anh Hai cứ nghỉ tự nhiên”. Rồi ảnh ra về.

Thưa quý vi, khi ảnh về, bức tượng đã gần xong rồi, chỉ còn cái nét buồn nữa thôi. Khoảng ba giờ khuya, tôi sáng tác 3 tháng trời, tôi lao đao lận đận lắm, ăn uống không yên, ngủ không được, trong bụng cứ bào bào, cứ nhớ lại hình ảnh Võ Văn Hai buồn. Tôi ngủ được chút xíu, bây giờ là ba giờ khuya, cái nét buồn tôi ghi lại buổi sáng. Lúc bấy giờ tôi tắt đèn hết, tôi cầm cây đèn cầy, đồ đạc tôi chuẩn bị hết rồi, để trên cao hết rồi. Ðêm khuya, không có gì bằng đêm khuya vắng vẻ. Thưa quý vị, mình nói với cái tượng đó, khi mình cầm cây đèn cầy để tìm ánh sáng, cây đèn cầy dễ lắm, khi tôi cầm cây đèn bên nay thì ánh sáng bên nay tạt qua, và khi tôi cần ánh sáng bên kia thì tôi cầm cầy đèn đưa qua bên đó. Tôi đưa lên, đưa xuống…, một tay tôi cầm đèn di chuyển, một tay tôi làm. Ban đêm tôi làm, tôi nhớ, trên cái giàn cao như vậy, lạnh lẽo như vầy, tôi làm tới 6 giờ sáng, lại 6 giờ sáng nữa, tôi thấy đẹp quá, tôi thấy nét mặt của tượng buồn quá, buồn lắm, nhưng mà thôi, tôi đi ngủ.

Nằm chút xíu, trời sáng rồi, đã 8 giờ sáng, ánh mặt trời sắp sửa ló lên. Tôi chạy ra coi có giống như hồi hôm không? Hồi hôm thấy nó buồn, nhưng cũng còn nghi nghi nữa. Thấy y chang như hồi hôm, tôi mừng quá.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Sau biến cố tháng 4 năm 75, anh Thu phải đi tù cải tạo trong bao lâu?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ. (tiếng thở dài) Trời ơi! Thưa quý vị, để kết thúc chương trình, tôi nói thiệt, danh vọng, hay chết chóc gì cũng do tác phẩm nầy cả, cuộc đời tôi, nó dính liền với tác phẩm nầy. Cho nên lúc vô tù Cộng sản, tôi thê thảm lắm, thưa quý vị, Tôi bị vô trong cái biệt giam đó, trong thùng cô-nết. Tôi ở đó 22 tháng, tôi gần đâm ra hấp hối rồi. Dạ, nó đánh tôi. Nó không thấy, nó chỉ nghe những người Sài Gòn, những Việt cộng nằm vùng hồi xưa, những ăng-tên, những người cùng bị tù như mình, cùng cải tạo như mình nói với nó, chứ nó đâu có thấy gì. Nó đem tôi đi nhốt, bây giờ còn đầu mùa, cũng còn gay cấn lắm, tôi cũng chống đối lại nó, tôi khi dễ nó, không nói chuyện với nó, nó đánh, nó bề hội đồng tôi, cho tôi làm cái tác phẩm phản động, nầy kia thế nọ. Nó nói: “Tất cả những tướng lãnh, những sĩ quan lớn của anh đó, xong giặc rồi thì hết. Còn anh, còn lưu lại cái tư tưởng, cái hình ảnh, cái tinh thần đó mới là quan trọng. Tôi phải “múc” anh, chứ nói chuyện về với anh à, khỏi nói chuyện với anh về chuyện về”.

Thề rồi, ảnh hành hạ tôi, đánh tôi ba ngày ba đêm, lần nầy ảnh bộp lỗ tai tôi bị điếc, thành ra giờ nầy tôi qua đây, tôi được hưởng tiền điếc, thưa quý vị, nó đã nhốt tôi 8 tháng rồi. Một bữa đó, chính trị viên, nói như thế nầy: “Không lẽ anh ngồi trong đó hoài, bây giờ tôi đưa một cái ý nầy cho anh, anh nói một câu nầy, rồi tôi nghiên cứu cho anh ra ngoài lao động, chẳng lẽ anh ngồi trong nầy cho rục xương sao, anh chỉ nói như thế nầy, cái tượng gì thương tiếc của anh đó, anh chỉ là cái người phụ thôi, còn người chánh thức làm thì ra nước ngoài rồi, anh cứ nói vậy đi rồi tôi nghiên cứu cho anh”.

Tôi nói: “Dạ thưa, không được, cán bộ. Cái nầy tôi làm tôi chịu, không có ai mà làm. Không, không được. Cái nầy, tàu chìm thì tôi chìm theo, máy bay rớt tôi rớt theo, tượng chết thì tôi chết theo. Ô! Không được! Không được!”.

– Anh ngoan cố à! Anh cãi tôi phải không? Nó hét lên.

Nó nhảy tới, nó tạt, nó đá, nó vỗ trống tôi. Thưa quý vi, nó vỗ, bụp… bụp… Nó vỗ tôi hai cái, dĩ nhiên là điếc liền, bể liền, máu ra… Nó nhốt tôi 22 tháng, có lần nó đem ra xử bắn nữa. Ðêm đó, gần hai giờ sáng, chuông nhà thờ vừa đổ xong rồi. Cái cửa cô-nết mở vào lúc 4 giờ khuya, mở khác giờ, tôi biết giờ tử tội đã đến. Nó đem tôi ra, đi dài dài. Tôi đi không nổi, nó kè tôi đi cà lếch, cà lếch… Ði ra chỗ đó, nó bịt mắt tôi lại. Bỗng nhiên, có chiếc xe jeep nào đó, tôi nghe văng vẳng. Tôi ngồi xuống, tôi nghe tiếng nói từ chiếc xe jeep: “Ðồng chí nào đó? Bước lại đây!”. Khoảng 10 phút sau, tôi nghe tiếng máy xe ù ù chạy trở ra, rồi nó chạy trở lại, nó nói gì đó với nhau. Thưa quý vị, lúc bây giờ nếu mà xử bắn tôi, bên tay mặt tôi là con đường sân vận động, bên tay trái là khu gia binh, tôi có linh tính, chân tôi nó rẽ sang bên trái, rồi nó dẫn tôi vô trong một cái gì đó, đóng lại ầm… ầm. Lúc bấy giờ, thần kinh tôi căng thẳng, rồi ngủ, sáng dậy tôi thấy tôi nằm trong cầu tiêu.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Anh nghĩ như thế nào về cuộc chiến Việt Nam. Anh là người sống trong cuộc chiến, chắc chắn là sự xúc động của anh kinh khủng lắm phải không ạ?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Nói đến tác phẩm nầy, thưa quý vị, anh Trường ảnh hỏi nhiều quá, sâu sắc đối với tôi. Thưa quý vị, nếu mà những người đồng lứa tuổi với tôi, năm nay tôi 68 tuổi, tất cả những sĩ quan, những H.O qua đây rồi, tôi nói, không ai mà không xúc động trước một hình ảnh mà người chiến binh đã ngã ngoài chiến trường, có nhiều bản nhạc hay đó, Trần Thiện Thanh cũng kêu la um sùm đó, rồi nhạc nầy, nhạc kia, đủ thứ hết, nhớ người lính của mình. Nhất là, không phải nói đến riêng những binh chũng nào như Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thuỷ Quân Lục Chiến… mà nói chung đến người lính của mình, chiến sĩ mình, lòng gan dạ của họ, chỗ nào nguy hiểm là họ tới để giải quyết chiến trường, cảnh bị bao vây, rồi chết chóc… thê lương lắm, đại khái như vậy. Hình ảnh Thương Tiếc đó, nói ngay, khi tôi vừa lớn lên thì gặp chiến tranh, cho nên tác phẩm nào cũng có nguyên nhân của nó. Chiến trường, nơi đó là một đề tài thật xúc động. Cho nên, là một nghệ sĩ, tài cán không được bao nhiêu, chỉ thấy được sự thật của thời đại lúc bấy giờ, cái mốc đó, cuộc chiến đó. Tôi cố gắng ghi laị sự đau đớn của thời đại đó.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Thưa quý vị, buổi nói chuyện với Ðiêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu, quý vị vừa biết được nguồn gốc của bức tượng TIẾC THƯƠNG, đặt tại NGHĨA TRANG QUÂN ÐỘI BIÊN HÒA, nơi mà 250.000 chiến sĩ đã nằm xuống, để bảo vệ cho đất nước VIỆT NAM được TỰ DO.

Thưa quý vị, vào tháng Tư, không ai khỏi bùi ngùi với xót xa đó. Chúng ta phải biết đến công lao lớn lao của người LÍNH đã hy sinh, quên thân mình, bảo vệ cho đất nước VIỆT NAM.

Kính chào quý vị.

Ông Nguyễn Thanh Thu ở tuổi 90 ngày hôm nay

Mời xem video bài phỏng vấn sau đây:

Lê Xuân Trường

Nguồn: http://www.diendannguoidanvietnam.com/index.php?option=com_content&view=article&id=5819:2015-04-19-11-50-11&catid=6:tai-liu&Itemid=5


Câu chuyện xúc động về tác giả bức tượng Thương Tiếc

hoiquanphidung.com

Nguyễn Tuấn Khoa

Posted by Nghich_Nhi  April 13, 2021 372

(SGN NEWSNHÌN LẠI LỊCH SỬVĂN HÓA – VĂN NGHỆ)


Ghi chép của NGUYỄN TUẤN KHOA

Miền Nam Việt Nam trước 1975 không ai không biết đến điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, tác giả bức tượng Thương Tiếc đặt tại nghĩa trang quân đội trên xa lộ Biên Hòa năm 1966. Chính đứa con mà ông yêu quý nhất này đã đưa ông lên đỉnh danh vọng để rồi đẩy ông xuống đáy địa ngục. Ký ức tháng Tư đen cùng câu chuyện 46 năm qua lời kể của thầy tôi – Nguyễn Thanh Thu – thật nặng nề và đầy xúc động.
Ký ức về thầy

Thầy Thu tuổi Quý Dậu (1934), dạy môn hội họa cho tôi, anh em tôi và những ai đã từng học tại Trung học Võ Trường Toản (VTT) từ năm 1958. Ông có dáng người chắc khỏe, tầm thước, đi dạy bằng xe Jeep cao màu xanh dương, mặc áo chemise trắng, đeo cravat đỏ luồn vào trong bụng dưới khuy áo thứ hai. Cá tính rất mạnh mẽ, nghiêm khắc, khó gần. Ông dạy học trò cầm bút chì theo kiểu cầm archer khi chơi violon. Ông dễ nổi nóng và đánh đòn học sinh nào cầm bút theo kiểu viết, dùng thước “vẽ” đường thẳng. Mỗi buổi học ông chọn ra hai-ba bài vẽ tệ nhất, dùng dây kẽm cột chổi để treo bài lên cổ người vẽ, bắt đứng trước lớp cho đến khi hết giờ. Nguyễn Minh Trí, bạn học của chúng tôi từ lớp 6-5 cũng là con trai của ông, thường xuyên bị đòn đau. Lớp tôi ai cũng thương nó vì nghĩ rằng nó chịu đòn thay cho cả lớp. Có lẽ nhờ sự nghiêm khắc của ông mà trình độ hội họa của chúng tôi lúc đó như “người khổng lồ” so với học sinh cấp II bây giờ?

Bức tượng Thương Tiếc

Bức tượng Thương Tiếc


Do nổi tiếng từ bức tượng Trung Liệt đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, ngày 22-8-1966, ông được Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia – Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giao thực hiện bức tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Tượng ngồi, bằng bê-tông cốt thép, màu đen, uy nghiêm, cao 4 m. Nếu tính cả mô đất dưới chân người lính và bệ tượng thì chiều cao tượng đài là 8 m. Về bức tượng Thương Tiếc, ông kể rằng ông được Tổng thống Thiệu chọn thực hiện, từ việc thể hiện ý tưởng đến việc xây dựng tượng đài tại Nghĩa trang Quân đội.
Sau bảy ngày, ông được mời vào Dinh để trình bày năm phác thảo nhưng vào cuối buổi, ông nói phác thảo mà ông yêu thích nhất là phác thảo thứ sáu mới vẽ nháp trên bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ trong khi chờ ngoài hành lang Dinh. Ý tưởng thứ sáu lấy từ hình ảnh của hạ sĩ Võ Văn Hai khóc bạn tại quán nước trước Nghĩa trang Quân đội cũ ở Gò Vấp mà ông nhìn thấy một tuần trước đó. Phác thảo thứ sáu được chọn và chỉ sau hai tháng rưỡi, bức tượng đồng Thương Tiếc cao 9 m hình thành, đưa ông lên đỉnh cao danh vọng ở tuổi 32 với sự kính trọng của giới chức và quân nhân thời đó. Tượng được khánh thành ngày Quốc Khánh VNCH 1-11-1966.
Trên không gian rộng thoáng, từ mọi hướng, người ta có thể nhìn thấy bức tượng cao, nổi bật trên nền trời xanh. Đó là người lính từ chiến trường về thăm mộ đồng đội, quân phục, ba-lô lấm bụi, súng trường gác trên hai đùi, lưỡi lê ngang hông, dây quai nón sắt buông thỏng như sợi buồn rơi vào cõi vô định. Anh ngồi thẫn thờ, đôi mắt buồn nhìn xa xăm, thương tiếc cho người bạn vừa nằm xuống. Bức tượng trong bối cảnh đó trở nên có hồn hơn và nhiều chuyện linh thiêng của bức tượng đã không ngớt lưu truyền trong dân chúng lúc đó.
Đỉnh danh vọng và đáy địa ngục
Tiếng tăm của điêu khắc gia Thu và các tác phẩm của ông đã vang xa khỏi quê hương. Ngày 20-7-1967, đại tá H.G. Fuller, thuộc Bộ Chỉ huy Lục quân Hoa Kỳ ở Việt Nam (USARV), gửi thư cho đại tá William P. Jones – Chủ Tịch Ủy Ban Đài Tưởng niệm Chiến Tranh Hoa Kỳ, trong đó ông ca ngợi ông Thu và các bức tượng về đề tài chiến tranh. Ông William xem ông Thu là điêu khắc gia xuất sắc nhất Việt Nam lúc ấy và đánh giá bức tượng Thương Tiếc là một kiệt tác nghệ thuật. Ông William viết: “… xét về đề tài tượng đài chiến tranh, tôi trân trọng đặt tượng Thương Tiếc và các tác phẩm khác của ông ngang hàng với bức ảnh nổi tiếng Raising The Flag on Iwo Jima ở Arlington”. Ông cũng tiến cử ông Thu với Ủy ban để thực hiện việc dựng tượng ở Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh trong các dự án tương lai.
Nói đến điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, người ta chỉ nhớ đến ông với bức tượng Thương Tiếc. Thật ra ông còn một số tác phẩm khác, chẳng hạn tượng Quyết Thắng, tác phẩm được tạc sau cùng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Tượng cao 4m, bằng bê-tông cốt thép mô tả hình ảnh người lính Thủy Quân Lục Chiến trong tư thế ném lựu đạn. Chân trái co thấp bước tới trước, chân phải thẳng tạo thế đứng vững chắc. Cánh tay và bàn tay trái duỗi thẳng hướng về đích đến, tay phải đưa về phía lưng, làm thân người lính vặn về phía sau, thế đứng này giúp người lính có thể ném lựu đạn đi xa nhất. Khẩu súng đặt vội giữa hai chân, nón sắt rơi xuống, phần áo phía trước phủ ra ngoài quần làm cho người xem cảm nhận được sức nóng của chiến trường. Trong khoảnh khắc sống còn, gương mặt người lính trở nên căng thẳng…

Tượng Quyết Thắng


Khi vừa hoàn thành, tượng Quyết Thắng được triển lãm tại công viên Đống Đa, trước Tòa Đô Chánh vào năm 1969. Cái thần của bức tượng cùng bảy bức tượng khác về đề tài quân đội của ông Thu tại cuộc triển lãm làm cho người xem cảm nhận không khí chiến tranh lan vào tận đô thành Sài Gòn. Trước đó vài năm, có một tác phẩm điêu khắc đồ sộ cùng chủ đề người lính Thủy Quân Lục Chiến được đặt trước Quốc Hội (Hạ Nghị Viện).
Tượng do điêu khắc gia Huỳnh Huyền Đỏ tạc năm 1966. Ông Đỏ là thiếu tá Bộ Tổng Tham Mưu, là bạn học với ông Thu tại Cao Đẳng Mỹ Thuật. Ban đầu tượng được duyệt với phác thảo gồm ba người lính nhưng khi hoàn thiện thì tượng đài chỉ có hai người. Trong thời gian thực hiện, ông Đỏ rút lui không rõ lý do, công việc dang dở, vì vậy được giao cho thiếu úy Đinh Văn Thuộc (không phải điêu khắc gia), cùng làm với sự cố vấn của họa sĩ Lê Chánh và Lương Trường Thọ. Trong hoàn cảnh như vậy, tượng khi hoàn thành có nhiều khiếm khuyết mà tác giả của nó chắc không khỏi buồn lòng! Sóng gió của bức tượng này chưa dừng ở đó. Ngay khi tượng được dựng, dân biểu Hạ Nghị Viện phản đối kịch liệt, vì súng người lính hướng thẳng vào tòa nhà Quốc Hội. Họ cương quyết đòi di chuyển tượng sang địa điểm khác. Đầu năm 1968, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ thị điêu khắc gia Thu làm gấp một tượng khác để thay thế. Đó là lý do ra đời của tượng Quyết Thắng.
Chỉ ba tháng sau khi có chỉ thị, ông Thu đã gấp rút hoàn thành Quyết Thắng với kinh phí tự bỏ 300.000 đồng. Tổng thống Thiệu muốn thay thế bức tượng trước trụ sở Quốc hội ngay và có ý đưa tượng Thủy Quân Lục Chiến về Ngã Tư Hàng Xanh. Tuy nhiên, không dễ gì thay thế biểu tượng một binh chủng oai hùng, khi ông Thiệu cùng lúc đương đầu với thiếu tướng Bùi Thế Lân (tư lệnh Thủy quân lục chiến) và đại tướng Cao Văn Viên (Bộ Tổng Tham Mưu). Bức tượng Thủy Quân Lục Chiến nhờ vậy tồn tại thêm vài năm cho đến ngày 30-4 rồi bị nhóm thanh niên “cách mạng 30-4” phá sập.
Sau khi Sài Gòn thất thủ, “bên thắng cuộc” đã giật đổ bức tượng Thương Tiếc bằng đồng, rồi chuyển về Dĩ An. Đến nay không ai biết được số phận của nó. Chưa dừng lại, ít lâu sau đó, một nhóm vài chục bộ đội đã kéo tới tư gia điêu khắc gia Thu để truy tìm bức tượng Thương Tiếc bằng bê-tông cốt thép đã tạc và đặt tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa năm 1967. Đó là tượng dùng để đúc đồng (khuôn gốc) và hình thành nên bức tượng Thương Tiếc phiên bản bằng đồng năm 1970.
Nhóm người hung hãn ra sức đập phá bức tượng Thương Tiếc một cách không… thương tiếc và chỉ dừng lại khi tượng chỉ còn lại phần bụng và chân. Hiện nay tượng bê-tông bị đập phá này vẫn còn nằm trong sân sau nhà của ông Thu, cạnh các ngôi mộ gia tiên, cây dại che phủ nên ít ai chú ý. Sau khi đập phá bức Thương Tiếc, nhóm người này tiếp tục đập phá bức tượng Lính Thủy quân Lục Chiến, cao 4m, chỉ để lại đầu tượng. Ngày trở về nhà từ trại tù Hàm Tân với thân hình tiều tụy, ông lê bước đến bên bức Thương Tiếc. Ông đã ngã quỵ dưới chân tượng và ngồi ở đó rất lâu cho đến lúc sụp tối. Ông nói sự trả thù này còn ác hơn những đòn thù mà ông phải gánh chịu trong tám năm dài ngục tối…

Bức thư của đại tá H.G. Fuller gửi cho đại tá William P. Jones về điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

Võ Văn Hai, giờ này ông ở đâu?
Hạ sĩ Võ Văn Hai, Tiểu Đoàn II binh chủng Nhảy Dù bỗng trở nên nổi tiếng cùng với ông Thu và bức tượng Thương Tiếc lịch sử khi được chọn làm người mẫu. Giống như điêu khắc gia Thu, cuộc đời bí ẩn của hạ sĩ Hai cũng chìm nổi theo bức tượng. Không lâu sau tượng được dựng lên, người ta đồn ông Hai đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị. Nhiều bài thơ khóc ông đã ra đời. Thật ra ông Hai chưa chết!
Trong thời gian ông Thu ở tù, ông Hai đã hai lần thăm gia đình ông Thu. Lần đầu, rất sớm sau năm 1975. Tim ông như vỡ vụn khi thấy tượng Thương Tiếc – như là phần xác của ông – giờ đây chỉ là đống đổ nát. Lần thứ hai, nhiều năm sau đó. Ông nghe gia đình ông Thu kể rằng ông Thu được cai ngục đưa về thăm nhà với đôi chân yếu không thể tự đi. Ông Hai hoảng loạn, lo sợ có ngày cộng sản tìm đến ông rồi cuộc đời mình cũng chìm xuống địa ngục như thiếu tá Thu. Ông nhanh chóng rời khỏi nhà và không ai có tin tức của hạ sĩ Hai từ ngày đó. Có lẽ ông Hai đã thay tên đổi họ, “mai danh ẩn tích”, trở về cuộc sống nông dân ở đâu đó trên đất Diên Khánh, ông Thu nghĩ vậy…


Trong tù, tạc tượng ông Thiệu, thay vì Hồ Chí Minh!
Tháng Tư đen đã đẩy gia đình ông xuống địa ngục. Tháng 12-1975, tại lớp 10C5 Trường Võ Trường Toản (VTT), Trí – cậu con trai của ông – được lệnh rời lớp, mang theo cặp lên văn phòng. Hiệu trưởng Nguyễn Quang Hồng, dân Nam tập kết, môi mỏng, đầu hói, lạnh lùng nói: “Ba em nợ máu với nhân dân, em không được học ở đây. Từ hôm nay”. Linh cảm chuyện không lành, tôi đợi Trí tại nhà xe, Trí lầm lũi, khóc nấc và nói: “Tao bị đuổi học”. Trí giấu mẹ vì sợ bà đau buồn, có thể sinh bệnh mà chết. Mỗi sáng nó vẫn ra khỏi nhà, chui “lỗ chó” vào Sở thú ngồi cho đến giờ về, nhìn buồn sang trường cũ nơi có tượng cụ Võ Trường Toản do chính Ba nó tạc năm 1972.
Trại tập trung Hàm Tân, một buổi sáng cũng khoảng thời gian Trí bị đuổi, thiếu tá Thu bị gọi lên chất vấn về thành tích không khai trong lý lịch: là người đã tạc tượng Ngày về (giải thưởng văn hóa nghệ thuật Ngô Đình Diệm 1963) và tượng Thương tiếc. Sau ít phút lắng nghe ý nghĩa của các bức tượng, sáu tên cai ngục thay nhau đánh đập ông dã man trong ba ngày. Chúng dùng cánh tay hộ pháp vỗ mạnh vào mang tai khiến ông chảy máu và điếc luôn từ ngày đó. Ông bị biệt giam trong conex. Tám tháng không thấy Mặt trời. Ít lâu sau, chúng yêu cầu ông tạc tượng Hồ Chí Minh. Suy nghĩ hồi lâu, ông đồng ý với điều kiện: được về Gia Định để thăm mẹ già, vợ con và chuẩn bị vật liệu.
Ngày trở về thăm mẹ tại cư xá Việt Nam Thương Tín (Hàng Xanh), khi người em gái ý tứ giữ chân bốn tên an ninh ở phòng khách, ông Thu nghe mẹ nghiêm khắc nói: “Mẹ đẻ ra con, mẹ hiểu con muốn gì. Nếu trái ý, mẹ sẽ tự tử ngay. Cố gắng ở thêm ít năm rồi về”. Biết tính mẹ, ông đành bỏ kế hoạch trốn sau khi thăm vợ con ở Gò Vấp. Ông trở lại địa ngục, miễn cưỡng tạc tượng kẻ thù với một mật kế mới. Hàng ngày, ông nuốt vào những lời sỉ vả của chiến hữu nhắm vào ông.
Những ngày cuối tháng Tám, ông càng miệt mài thức khuya “tạc tượng”, chiến hữu càng ghẻ lạnh. Sáng ngày 1-9, cả trại tù náo loạn khi nhận ra: đây không phải tượng Hồ Chí Minh mà là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Những ngày sau đó ông sống ở đáy địa ngục. Ông chết đi sống lại nhiều lần trước những trận đòn thù hội đồng. Một ngày tháng 10, ông bị lôi ra khỏi conex lúc 4g sáng để đưa ra pháp trường. Mạng ông lớn, lệnh hành quyết được bãi bỏ ở những giây cuối cùng. Biệt giam, đòn thù, thiếu ăn…, tính mạng mong manh gần chết, cuối cùng, ông được tha năm 1983.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu (ảnh: tác giả)

Tác giả và ông Nguyễn Thanh Thu (ảnh: tác giả)


Một giấc mơ cuối đời
Sau bốn năm dưỡng thương, buồn cảnh gia đình tan nát, ông vượt biên bằng đường bộ mà trong túi không có một xu theo nghĩa đen. Hành trình gian khổ ly kỳ này (sẽ được hầu chuyện vào dịp khác) đưa ông đến Thái Lan, sau đó định cư ở Mỹ hơn 10 năm, rồi trở về Việt Nam cho đến nay. Tổng thống Thiệu, trong lần nói chuyện với đồng bào tại California, cảm kích về việc ông Thu dựng tượng mình trong trại tù Hàm Tân, đã xuống tận chỗ ngồi của ông Thu để thăm hỏi.
Hơn 10 năm ở Mỹ, ông trông mong cộng đồng giúp phục dựng lại bức tượng Thương Tiếc nhưng niềm hy vọng đó cuối cùng chỉ là những “confetti vương vãi trên sàn”. Không sống được bằng nghề điêu khắc, ông không biết làm gì khác. Với thính lực gần bằng không, ông ngày càng bế tắc trong việc mưu sinh xứ người. Cô độc, cuối cùng ông miễn cưỡng trở về Việt Nam. Trở lại mái nhà xưa, gần gia đình, trong không gian sáng tác quen thuộc, ông tạc thêm một số tượng, dựa trên các ý tưởng hình thành từ trước như: Được Mùa, Cửu Long Được Mùa… Tuy nhiên, đó là những tượng tỷ lệ nhỏ, tạc chỉ để thỏa mãn đam mê nghệ thuật.
Bây giờ, với những ngày tháng còn lại cuối cùng của cuộc đời, ông chỉ mong gặp lại ba người, trong đó có hạ sĩ Hai, người đã ghé thăm gia đình ông vài lần trong lúc ông ở tù; và hai người phụ nữ mà ông mang ơn cứu mạng: cô Lan (bán canteen trong trại Hàm Tân), người giao cơm khi ông bị biệt giam với miếng thịt giấu ở đáy chén; cô Oanh, người tình của trùm du đãng xóm chài Sa Tưng (Campuchia). Ở tuổi 87, ông ấp ủ một việc làm cuối cùng: dựng tượng chính mình ngay sau khi tôi thực hiện xong album chân dung của ông. Cầu chúc ông sớm đạt nguyện để lớp hậu sinh có dịp viếng ông, nghiêng mình trước một người lính VNCH can trường.
Những tâm sự trong bối cảnh tháng Tư đen khiến chúng ta không khỏi ngậm ngùi. Cuộc đời sóng gió của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã làm cho pho tượng Thương Tiếc đẹp hơn và trở nên bất tử. Những kẻ hậu sinh rồi sẽ còn nhắc về ông: “Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”.

(Forumpost: Câu chuyện xúc động về tác giả bức tượng Thương Tiếc

Ông Nguyễn Thanh Thu ở tuổi 90

Tranh Bé Ký

Bà cháu dưới mưa

Bà tắm cháu

Bà

Bán bún dạo

Xem đá gà

Mẹ con

Chải tóc

Mẹ con

Mẹ con

Gánh hàng rong

Bà

Chị bồng em

Đàn cò

Đàn đáy

Gánh chè rong

Gánh hàng rong

Gặt lúa

Hớt tóc

Kéo trâu

Mẹ con ra chợ

Mẹ ôm con

Ngựa

Người ăn xin

Nhổ răng

Thầy Đồ

Ông thổi kèn

Phở đêm

Thiếu nữ và đàn Nguyệt

Tình mẹ con

Tình mẹ con

Quà rong

Vespa

Chút kỷ niệm với Họa sĩ Bé Ký

Posted on May 15, 2021 by dongsongcu

ĐỖ DUY NGỌC

SGN Last updated May 14, 2021

Họa sĩ Bé Ký. (Hình: hoasivietnam.wordpress.com)

Sáng nay đọc tin mới biết tin họa sĩ Bé Ký vừa qua đời ngày 12-5-2021, thọ 83 tuổi. Sinh thời họa sĩ Bé Ký là một hiện tượng của hội họa miền Nam. Dù không qua trường lớp nào, chỉ được các họa sĩ Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen hướng dẫn căn bản, vốn kiến thức văn hóa cũng ít ỏi nhưng những tác phẩm của bà được khách thưởng ngoạn và các nhà sưu tập đánh giá cao trong và ngoài nước…

Bà quê ở Hải Dương, tên thật là Nguyễn Thị Bé, được một họa sĩ nhận làm con nuôi trong cuộc di cư năm 1954. Trước khi là họa sĩ nổi tiếng thế giới, bà là cô bé bán tranh dạo cho khách du lịch ở trung tâm Sài Gòn. Triển lãm tranh đầu tiên của bà năm 1957 ở Pháp văn Đồng minh hội (Alliance Française) do René de Berval bảo trợ đã được công chúng và giới làm nghệ thuật chú ý đến. Sau đó họa sĩ Bé Ký đã triển lãm tại Hội Việt Mỹ, Trung tâm Văn hóa Pháp. Bà cũng từng triển lãm ở Paris và Tokyo. Từ năm 1957 đến năm 1975, bà đã có 16 cuộc triển lãm.

Năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và các con xuất cảnh sang định cư ở Mỹ. Ở vùng đất mới, tranh của bà đã được trưng bày ở nhiều gallery và bảo tàng mỹ thuật tại Mỹ kể cả Viện Smithsonian. Tranh của họa sĩ Bé Ký độc đáo ở chỗ bà chỉ ký họa đường nét bằng mực tàu trên giấy và lụa. Cũng có nhiều tranh màu nước. Từ năm 1989, bà có làm thêm tranh sơn mài với sự trợ giúp của chồng bà, họa sĩ Hồ Thành Đức. Vẽ ký họa để trở thành tác phẩm là chuyện không dễ. Vẽ bút lông với mực tàu lại càng khó hơn, bởi nét cọ đã vẽ rồi thì không sửa được. Bởi thế, để vẽ được bức tranh, bà đã vẽ xong ở trong đầu. Khi tay cọ đặt xuống, bút pháp phải nhanh, linh họat. Tranh của bà do vậy mà cuốn hút và sinh động.

Đề tài của bà là những nhân vật gần gũi trong cuộc sống: thợ hớt tóc, ông đồ viết chữ, nông dân cày cấy, trẻ con chơi đùa, người bán hàng rong và nhiều nhất là những bức họa về tình mẹ con. Nét vẽ của bà đơn giản nhưng mang hồn dân tộc Việt. Bà vẽ như đường kiếm của các kiếm khách, thanh thoát, phóng khoáng mà dứt khoát nên tranh bà nhìn giản dị mà khó ai bắt chước được. Thị trường tranh giả ký tên Bé Ký rất nhiều nhưng nét vẽ không được như bà.

Tôi và gia đình họa sĩ Hồ Thành Đức, Bé Ký cũng có mối tình thân từ những năm cuối thập niên 1960. Thời kỳ đó tôi vào Sài Gòn học. Trước đó cũng có thời gian ngắn học Mỹ thuật Huế. Sinh viên xa nhà, đói cơm là chuyện thường tình. Lúc đó gia đình họa sĩ ở trong hẻm đường Trần Quang Diệu, nên khi nào thiếu ăn, tôi lại tạt vào kiếm miếng cơm, được họa sĩ Bé Ký và Hồ Thành Đức xem như em út trong nhà. Bù lại nhà cần việc gì tôi cũng cố gắng và sốt sắng thực hiện. Tôi cũng học được nhiều kinh nghiệm vẽ bìa sách của họa sĩ Hồ Thành Đức trong thời kỳ này.

Họa sĩ Bé Ký lãng tai nên nói chuyện với chị rất mệt mà vui. Nói một đường bà trả lời một nẻo. Dù đã là họa sĩ nổi tiếng thế giới nhưng bà giản dị, mộc mạc và rất hồn nhiên. Nhìn bà giống như một bà nội trợ Việt Nam, nấu những món ăn cho chồng con, hoàn tất công việc nhà xong thì ngồi vẽ ngoài sân, trông rất bình dị như những nét vẽ của bà. Năm 1975, gia đình bà dọn về hẻm đường Phan Thanh Giản, Đa Kao. Đó là thời kỳ khó khăn của cả nước, cũng là thời kỳ bà không sáng tác được nhiều. Đến thăm bà, lúc nào cũng thấy nụ cười rất trẻ và giọng nói khá nhanh của bà. Nhìn cảnh lam lũ của bà vì các con đang tuổi lớn thấy thương lắm. Bà có hai con trai là Cung, Cao. Một cô con gái là Dương. Tất cả giờ đã trưởng thành và cũng nối nghiệp bố mẹ.

Năm 2006, nhân dịp qua Mỹ, tôi nhờ anh Thạnh và bạn Lộc đưa đến thăm hai vợ chồng họa sĩ ở thành phố Westminster, Nam California. Thầy trò, chị em gặp nhau sau thời gian dài bặt tin, cảm động lắm. Cung, Cao đã cao lớn, đã trở thành những chàng trai khôi ngô. Tôi được họa sĩ Hồ Thành Đức giới thiệu tranh, được họa sĩ Bé Ký tặng cho mấy cuốn sách tranh. Bà cũng như ngày nào, sốt sắng, thân tình với nụ cười tươi.

Hôm nay được tin bà mất, lòng buồn nhớ lại kỷ niệm ngày xưa, cũng đã 50 năm đi qua rồi. Đời người có rồi mất đó, như quy luật có đến rồi phải đi. Bà đã 83 tuổi, cũng xem như là thọ nhưng dù sao không thể không có cảm giác tiếc nuối khi nghe tin bà ra đi. Bà mất đi là một thiệt thòi lớn của hội họa Việt Nam. Cũng là mất mát lớn cho người Việt vì bà đã có nhiều cống hiến cho cộng đồng, rạng danh phụ nữ Việt trên quốc tế.

Vĩnh biệt Họa sĩ Bé Ký tài hoa, vĩnh biệt chị Bé Ký đầy tình cảm với đứa em này. Mong chị ra đi thanh thản.

Sài Gòn, 14-5-2021

Bé Ký, nữ họa sĩ nổi danh trong hội họa Việt Nam, qua đời

Thiện Lê/Người Việt

May 13, 2021 cập nhật lần cuối May 14, 2021

WESTMINSTER, California (NV) – Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với hội họa của người Việt Nam, qua đời vào chiều Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại nhà ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Tin này được ông Hồ Thành Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nữ họa sĩ Bé Ký. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ thành công với nhiều tác phẩm đầy tình mẹ con.”

Họa sĩ Bé Ký tên thật là Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1938 ở Hải Dương. Bà mồ côi cha mẹ từ lúc 8 tuổi. Vì vậy, ông Cung cho rằng điều đó ảnh hưởng nhiều tác phẩm của bà, và tạo ra những bức tranh đầy tình mẹ con. Theo ông, bà sống với cha mẹ nuôi khi vào miền Nam, sau đó tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng họ đã qua đời. Về phần hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dạy.

Họa sĩ Bé Ký lúc còn trẻ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Từ năm 1957 đến 1975, họa sĩ Bé Ký có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn.

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại Học Viện Smithsonian. Họa sĩ Nguyên Khai, người cùng thời với họa sĩ Bé Ký, cho hay sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với hội họa của người Việt Nam vì bà có rất nhiều cống hiến. Ông nói với nhật báo Người Việt: “Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa này, và có nét vẽ theo đường lối mới rất đặc biệt. Bà tự học vẽ từ nhỏ và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.” Theo ông, những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng và đầy tinh thần dân tộc, thể hiện được nhiều mặt của xã hội.

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

“Tranh của bà có đề tài rất xã hội vì vẽ người bán hàng ngoài đường, hớt tóc, ráy tai, nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà được báo chí Pháp ca tụng rất nhiều,” ông chia sẻ.

Cuối cùng, họa sĩ Nguyên Khai nói: “Sự ra đi của bà là mất mát lớn của hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ vì bà là đại diện cho họ trong nhiều chục năm.” (Thiện Lê) [qd]