Bếp lửa chiều hôm chợt tắt rồi!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Đi bất cứ đường phố nào ở Hà Nội, thiên hạ cũng tìm thấy ít nhứt là một, hai tiệm Phở. Chính vì thế mà cựu Tổng thống Mỹ, Bill Clinton, khi đến thăm Việt Nam để đi ăn Phở… tại Sài Gòn (?!)

Bill Clinton, một Tổng Thống Mỹ tài hoa và đào hoa; vì biết thổi kèn ‘saxophone’ cùng em thực tập sinh Monica Lewinsky trong Tòa Bạch Ốc.

Nên thiên hạ cười khè khè bảo Bill Clinton đã chán cơm nên thèm Phở (?!)

Dĩ nhiên Bill Clinton (cũng do bọn cố vấn không phụ đề  cho ngài cưu Tổng thống  hiểu cái thành ngữ nầy) nên ông mới vô tư lự xơi Phở tại Sài Gòn.

Còn Tổng thống Barack Obama 5 tháng trước khi mãn nhiệm đã đến Hà Nội cho cá ăn, rồi không thèm ăn Phở mà đi ăn Bún Chả

(Thiên hạ lại cười khè khè, chê mấy bọn cố vấn bên Bộ Ngoại giao Mỹ không biết cái khỉ mốc gì hết về văn hóa ẩm thực, văn hóa chùa chiền của nước Việt Nam mình), nên khi vô Sài Gòn, thủ đô của VNCH mình, ông lại đi thăm chùa ‘Tàu’ ở Đa Kao.

***

Nói nào ngay vốn là dân miền Nam, tui chỉ biết ăn Phở Bắc; chớ còn Bún Chả thiệt chưa nếm thử lần nào.

Vậy là khi Footscray nầy mới mở một tiệm bán Bún Chả thì mấy thằng bạn nhậu dắt người viết đến để xơi thử coi nó ra làm sao mà Tổng thống Obama phải cất công bay gần cả hàng chục tiếng đồng hồ trên chiếc Air Force One đến để ăn.

Té ra nó chỉ là thịt heo, nướng trên lửa than, ăn với bún và hầm bà lằng các loại rau sống, trong một cái tô, rồi chan ngập nước mắm chua ngọt vậy thôi.

Chắc còn lâu món Bún Chả nầy mới soán được ngôi vị của món Phở đang danh trấn giang hồ bấy lâu, kể cả trong nước và theo chân đồng bào mình di tản ra hải ngoại.

Mỹ nó cũng biết vậy nên viết là: “Bun cha is NOT a national dish” (Bún Chả không phải là món ăn quốc hồn, quốc túy của người Việt).

Nhưng nó nổi lên vì được Tổng thống Mỹ Barack Obama ghé quán Hương Liên, trong khu Phố cổ Hà Nội, leo lên lầu hai, cầm đũa đàng hoàng, ngồi trên ghế nhựa, xơi bún chả và uống beer với nhà đầu bếp trứ danh của Mỹ là Anthony Bourdain.

Ngày hôm sau, nhà hàng bèn đem hai cái tô, hai chai bia đã cạn nhốt vào trong tủ kính để chưng bày, quảng cáo mà câu khách.

***

Người ‘xúi’ và thu xếp cho Obama ăn bún chả Hà Nội là Anthony Bourdain, một đầu bếp trứ danh, đang là chủ xị một cái show truyền hình ẩm thực nổi tiếng cho tập đoàn truyền thông CNN, phát trong giờ có nhiều người Mỹ xem truyền hình nhứt vào mỗi tối.

Chuẩn bị quay hình một show về ẩm thực, ăn nhậu với trùm đế quốc Mỹ, Tổng thống Obama, người quyền lực nhứt thế giới, nên đâu phải là một điều ‘đơn giản’ như ‘đang giởn’.

Phải chọn nước nào? Giựt gân là chọn một nước từng thề mẻ răng là đánh cho Mỹ cút… dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, để ngày hôm nay: “Xin kính cẩn mời Ngài Tổng thống Mỹ đến quê tớ ăn Bún Chả ạ!”

Cho dù Anthony Bourdain nói chả có ‘chánh trị chánh em’ chen vô gì ở đây. Chọn Việt Nam, chẳng qua là vì ông đã đến, đã phải lòng và yêu nước Việt Nam cực kỳ xinh đẹp nầy. Yêu vì có bè bạn, có những món ăn ngon; có những nhà hàng hiếu khách.

(Nhưng tui đâu có khù khờ mà tin lời Anthony Bourdain nói đâu nhe!)

Rồi Anthony Bourdain nói thêm: “Tôi kính trọng nhưng tôi sẽ không phỏng vấn Tổng thống về bất cứ vấn đề đối ngoại nào; vì lẽ dễ hiểu tôi không phải là một nhà báo, một chuyên gia về ngoại giao.

Tôi chỉ muốn nói chuyện với ông ấy với tư cách là một người cha có đứa con gái lên chín tuổi, cư xử với ông như là một người bạn thiết.

Tôi cũng biết Obama thời niên thiếu đã từng sống ở Indonesia chắc thích ăn một tô mì thịt heo cay nồng rồi uống một chai beer lạnh.”

(Tui e rằng: Anthony Bourdain đoán chắc là sai vì Obama thời niên thiếu có ở Indonesia thiệt; nhưng đó là một nước có nhiều người theo Hồi giáo nhứt trên thế giới thì làm gì có mì nấu với thịt heo để mà xơi chớ?

Mặt khác, đồng ý xơi bún chả thịt heo nướng vỉ than, cũng cho mình biết Obama, Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ không phải là người Hồi Giáo như những người ủng hộ ‘me xừ’ Donald Trump đã từng chụp mũ.)

Phần Anthony Bourdain cho rằng Tổng thống Mỹ đã dự biết bao là quốc yến, ăn biết bao là món ngon vật lạ, quốc hồn quốc túy trên thế giới.

Dắt Tổng thống đi ăn trong những nhà hàng sang trọng, thức ăn kiểu Tây phương riết không phải là một ý kiến hay. Nên đi ăn một món bình dân, có vẻ bụi đời, trên một lầu hai của một cái nhà hàng nho nhỏ, trên con đường không có gì to to, thuộc khu phố cổ Hà Nội một cái chơi.

“Tổng thống có vẻ thoải mái ngồi trên một cái ghế thấp bằng nhựa. Cầm đũa gấp miếng chả hỏi: “Ăn làm sao đây?” “Thì đút vô miệng nhai ngồm ngoàm cũng được mà. Nuốt xong, chiêu thêm một ngụm beer!”

Tổng thống Barack Obama là một người vui tính hay cười khi tôi hỏi ông ấy có nhớ ngày xưa đi quán nhậu, ngồi một mình, với một chai beer lạnh, nghe bài hát phát ra từ một chiếc máy hát cũ hay không?”

Ông cười nói: “Chỉ khoảng 6 tháng nữa thôi”

Nghĩa là cuối năm 2016, chấm dứt hai nhiệm kỳ 4 năm liên tiếp làm Tổng thống; ông sẽ về làm dân.

Tui e rằng Tổng thống Barack Obama chỉ mơ thôi. Lên tới tuyệt đỉnh quyền lực giờ leo xuống, muốn sống như thường dân, cũng đâu có được hè. Đi đâu nhậu cũng có mật vụ kè kè theo bảo vệ là mất hứng rồi.

Cho nên thiên hạ nói: “Càng cao danh vọng càng dầy gian nan là vậy đó”.

***

Sáng hôm sau, Anthony Bourdain bị mấy thanh niên Việt Nam trên đường phố Hà Nội nhận diện, chạy xe gắn máy đuổi theo chỉ chỏ và gọi: “Bun cha! Mister Bun Cha!” (Bún Chả! Ông Bún Chả).

Họ ngạc nhiên khi Tổng thống Mỹ đến thành phố nầy mà không ăn Phở hay nem rán (tức chả giò) mà lại ăn Bún Chả!

Những người trẻ Việt Nam sinh ra sau chiến tranh lại nghĩ là người Mỹ tự do hấp dẫn hơn là một chú Ba Tàu Cộng (đầy đe dọa) làm Anthony Bourdain ngạc nhiên lại cũng không kém.

Hà Nội bây giờ nhiều nhà cao tầng mọc lên nhưng thức ăn thì vẫn vậy. Việt Nam dẫu là một nước còn theo chủ nghĩa CS nhưng trên đường phố mình khó có thể nhận ra. Cũng như kem trong ống đã xịt ra rồi không cách gì mà nhét nó vô trở lại.

***

Anthony Bourdain, sinh năm 1957, tại thành phố New York. Ông từng sống những năm tháng 20 tuổi ngập trong rượu và ma túy. Vượt lên trên những năm tháng sa ngã, ông tốt nghiệp Học viện Ẩm thực Mỹ năm 1978; rồi làm bếp trưởng tại nhiều nhà hàng, khách sạn lớn.

Bourdain viết sách ẩm thực. Cuốn đầu tiên là ‘Kitchen Confidential’ (Bí mật căn bếp), bất ngờ đưa ông lên đài danh vọng!

“Tôi đã viết cuốn sách đó mà chẳng kỳ vọng về việc liệu có ai mua nó không và người ta sẽ nghĩ gì… Có gì đâu mà quan trọng hóa. Cứ viết thật chân thực thôi.”

Bourdain lang bạt khắp nơi, tìm hiểu về ẩm thực. Tình yêu lớn trong đời ông là những chuyến phiêu lưu, bạn bè, thức ăn, đồ uống ngon và những câu chuyện, con người ở những điểm dừng chân.

“Tôi đáng lẽ đã chết khi mới ngoài 20 tuổi. Thế rồi tôi thành công ở tuổi 40. Tôi làm cha ở tuổi 50. Những gì đã trải qua khiến tôi cảm thấy như thể mình đã đánh cắp một chiếc xe hơi, một chiếc xe thật đẹp, tôi lên xe và kể từ đó, tôi chỉ nhìn lại quá khứ từ gương chiếu hậu”.

“Cuộc sống sau khi nổi tiếng đối với tôi đơn giản là tôi có cơ hội trèo lên một đồi cát ở sa mạc Ai Cập, phóng tầm mắt thật xa ngắm trăng non mới ló, xung quanh tôi là bạn bè, đồng nghiệp, trong bụng chứa đầy những món ăn mà nhiều người chưa từng được nếm thử. Đó chắc chắn là những khoảnh khắc để đời.”

Thành công nối tiếp thành công, biến ông thành một người dẫn chương trình truyền hình ẩm thực của tập đoàn truyền thông CNN, ăn khách nhứt trên thế giới.

Danh vọng và giàu có nhờ tài nấu bếp, nhân sinh quan sống sâu sắc… làm vua biết mặt; chúa biết tên đã đột ngột từ bỏ thế gian nầy bằng một sợi dây choàng áo ngủ. Anthony Bourdain thắt cổ tự vận trong một khách sạn ở Pháp, vào sáng thứ Sáu, ngày 8, tháng Sáu, khiến những người yêu mến ông, không phải chỉ ở nước Mỹ mà cả trên toàn thế giới bàng hoàng thương tiếc

Người ta gọi Anthony Bourdain là ‘The Elvis of bad boy chefs’ để so sánh ngang tầm với vua nhạc Rock Elvis Presley, (Cùng chung số phần…đột tử khi đang trên đỉnh vinh quang!)

***

Nhiều năm qua, Anthony đã đi khắp hang cùng ngỏ hẻm trên toàn thế giới để ăn những món địa phương với đủ loại người chống đối nhau: những người ủng hộ nhóm khủng bố Hezbollah, những đứa còn khoái chủ nghĩa CS, những người chống đối Tổng thống Nga Putin, hay những người Palestine hoặc Do Thái (vốn đã thù địch bắn giết lẫn nhau xưa giờ).

Anthony Bourdain đã đến, không để khuyên răn hòa giải gì ráo mà chỉ để ngồi ăn rồi hỏi những câu đơn giản: “Điều gì làm bạn hạnh phúc? Bạn muốn ăn gì? Và Bạn muốn nấu món gì?” (What makes you happy? What do you eat? What do you like to cook?) Cho tôi ăn với!

Chính kiến khác nhau, căm thù lẫn nhau, muốn giết lẫn nhau nhưng đứa nào cũng muốn phải ăn hết ráo. Bạn muốn xơi, muốn ngồi chơi, thì hai đứa mình sẽ vừa chơi; vừa xơi vậy!

Nghe tin Anthony Bourdain tự kết liễu đời mình người viết thật là buồn bã. Buồn như mình nhìn vào một ngọn bếp chiều hôm, tối qua còn vương lên ánh lửa, Anthony Bourdain lui cui nấu một món gì của nước nào đó cũng được, rồi cả bọn chúng ta: da trắng, đen, vàng, đỏ, hè nhau dọn lên bàn, muỗng nĩa, chén đũa… kể cả ăn bốc, xúm xít vào…

Ai cũng được ăn, được uống, được cười vui. Ngồi với nhau, ăn nhậu với nhau là thời khắc thiêng liêng; vì súng ngừng nổ; bom ngừng rơi và người ngừng giết người!

Buồn thay! Bếp lửa đó, chiều hôm chợt tắt rồi! Vì người đầu bếp tài hoa đó, Anthony Bourdain, đã tự mình làm dang dở cuộc chơi, để biến vào cõi hư vô!

đoàn xuân thu.

Melbourne

Bến Thành! Súp Lê vội thổi!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Nhà văn Sơn Nam (1926-2008) có lần than phiền rằng: Mấy thằng Tây làm bản đồ nước Việt Nam mà ghi mấy cái địa danh trật lất hết trơn!

Tây! Trật là phải rồi mà ngay cả người Việt mình, quê mình, mình còn trật huống hồ Tây?!
Chẳng hạn Sơn Nam cắt nghĩa Cần Thơ là ‘con cá sặt rằn’; thì mấy tay tỉnh ủy Cần Thơ đòi đưa ông ra gặp mấy ông tòa quan lớn vì tội ‘biêu xấu’ tỉnh nhà? Vì theo mấy giả, Cần Thơ là Cầm Thi, đất của thơ mới phải.
Thôi nó có súng thì nói gì hỏng được? He he!
Nhà văn Sơn Nam chắc cũng không thèm chấp mấy thằng vừa dốt, vừa ngu lại vừa hỗn ẩu nên ông chỉ khuyên mấy thằng em út văn nghệ, văn gừng của ông đang tập tễnh ‘bò’ vào đường văn học sử là: “Muốn viết văn cho hay là phải học Sử Địa !”
Mà Sử Địa nào mới được chớ? Chớ cái Sử Địa ‘Tề Thiên dóc tổ’ mà học; thì thôi để tui đi nhậu lai rai với bạn văn sướng hơn nhiều?!

Do đó mình cũng không lấy làm gì ngạc nhiên khi mấy đứa nhỏ bây giờ nghe tin bỏ môn Sử trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông đã ‘vui mừng vui quá vui’ xé đề cương môn Sử dỏm, từ trên lầu quăng xuống, bay lả tả đầy sân trường Nguyễn Hiền ở Sài Gòn như vừa mới xảy ra đây!
Người viết thì may mắn không phải đọc cái ‘Sử ruồi bu’ đó!
Nhưng phải học ‘Sử xịn’ chớ ! Dù là ‘Sử xịn’ nhưng đôi khi cũng có trường hợp ông nói gà mà bà nói vịt? Mà mấy ông toàn là sư phụ , ‘danh trấn giang hồ’, mà mỗi ông lại hiểu một kiểu, ‘đá’ với nhau ‘chan chát’ thì em biết tin ai bây giờ?
Chẳng hạn như ông Vương Hồng Sển (1902-1996) có chép câu ca dao:

“Mười giờ tàu lại Bến Thành,
“Xúp lê vội thổi, bộ hành lao xao”

Rồi ông cắt nghĩa là: Mười giờ có một chuyến xe lửa từ Mỹ Tho lên, đỗ ga “Bến Thành” thì kéo còi ….

Ông Vương Hồng Sển là người Sóc Trăng nhưng lại cắt nghĩa chữ tàu đây là tàu hỏa hay còn gọi là xe lửa theo tiếng miền Nam nên người viết không đồng ý … kiến ….Bèn lục tìm, kiếm thêm coi còn cái nào khả dĩ hợp lý hơn chăng?

Mười giờ, lúc có đồng hồ, thì chắc câu ca dao này là thời Tây thuộc địa rồi. Nhưng động từ ‘lại Bến Thành’ để chỉ chiếc xe lửa vào ga thì nghe không có lý. ‘Lại’ chỉ chiếc tàu vô, cặp bến thì có lý hơn?!
Còn ‘súp lê’ theo ông Hồ Biểu Chánh (1884-1958) cắt nghĩa rất rõ và rất chi tiết rằng: Súp lê, ông viết bằng chữ ‘s’ thay vì chữ ‘x’ như ông Vương Hồng Sển.
“Síp lê (siffler: thổi còi xe lửa) ở chỗ nơi thoát hơi nước. Xe lửa không được phép cho hơi nước thoát xuyên qua ống khói vì sẽ gây ô nhiễm (bụi than) nên có âm thanh như tiếng huýt sáo; Tiếng Pháp siffler: thổi, hút gió, huýt sáo, còi. Ở đây: thổi còi bằng hơi nước, nghĩa là còi xe lửa”
“Súp lê (soufler: thổi còi tàu) khác với xe lửa, tàu được phép cho hơi nước thoát qua ống khói nên có âm thanh như thụt ống bễ.
Như vậy theo ông Hồ Biểu Chánh nên dùng ‘súp lê’ cho tàu, còn xe lửa thì là ‘síp lê’.

Thế nên theo ông Hồ Biểu Chánh thì lúc 10 giờ, tàu mới vừa cặp vô bến Bến Thành; thì chưa gì đã vội thổi súp lê, chuẩn bị tách bến; nên bộ hành lao xao hỏi sao kỳ vậy cà?

Còn Bến Thành cũng là tên một bến sông, một cái chợ, một ga xe lửa vì thế cho nên mình mới dễ lẫn lộn.
Tuy nhiên “Bên dưới có sông; bên trên có chợ!
Ta với mình chồng vợ nên chăng?”

Để tiện giao thông, buôn bán hàng hóa, khi đường bộ còn chưa phát triển, thì đường thủy, đường sông là chọn lựa trước tiên?
Quả vậy ! theo các nhà Sử Địa cho biết về Bến Thành và Chợ Bến Thành như sau:
“Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái).

Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.
Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước.
Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy.
Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Nha Ngân khố trên đường Nguyễn Huệ).
Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa.
Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Độ và người Pháp.

Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Để tránh tai họa, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm khác để xây cất một khu chợ mới, lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển.
Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.
Năm 1955 thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, bốn con đường này đổi tên thành đường Lê Thánh Tôn, đường Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh.

Do đó “Mười giờ tàu lại Bến Thành.
Súp lê vội thổi bộ hành lao xao” …… là nên hiểu theo nghĩa là chiếc tàu (khách, tàu đò) cặp bến Bến Thành hơn là chiếc xe lửa vào ga Bến Thành ?!
Người viết thiệt trong bụng là hỏng dám cãi ông Vương Hồng Sển rồi. Nhưng không cãi nghe cũng tức ‘anh ách’ trong bụng làm sao đó ?!
Còn về chữ ‘súp lê’ người viết cũng tìm được thêm trong câu ca dao: “Tàu súp lê một! Còn trông còn đợi!

Tàu súp lê hai! Còn đợi còn chờ!
Tàu súp lê ba! Tàu ra biển Bắc…
Tay anh vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng
Anh lấy khăn mu soa ra chậm.
Cái điệu vợ chồng ngàn dặm không quên!”

Thì lại nghe ông Toan Ánh (1916-2009) cắt nghĩa như vầy người viết cũng hỏng chịu luôn?!
Ông viết rằng: “Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, một anh lính khác .
Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây?
Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.”
(Trích tác phẩm “Hương Nước Hồn Quê”, tác giả Toan Ánh, NXB. Thanh Niên)

Theo ông Toan Ánh là vậy; nhưng có ông bạn văn không đồng ý; vì nghĩ Tây thì làm ‘quái’ gì mà rành tiếng Việt quá vậy để có thể làm ra được một đoạn ca dao tuyệt vời như thế này?
Mà theo anh bạn văn này nói: Đây là của một anh chàng nông dân nghèo khổ,có con vợ mà lại bị bắt đi lính cho Tây trong đệ nhứt thế chiến (1914-1918).
Anh đọc cho người viết nghe một đoạn trong ‘Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, chương 12, của ông Nguyễn Vỹ(1912-1971) để ủng hộ cho cái phản bác của mình .
“Tuấn đọc to lên cho cả làng nghe. Tờ ‘Trung Kỳ Bảo Hộ công báo’ là một tờ báo của Toà Khâm Sứ ở Huế gởi đi các tỉnh, tỉnh gởi về huyện, huyện gởi về các làng . Tờ báo đăng tin Nhà nước Bảo hộ Pháp-lang-sa đang đánh giặc với Đức, tức là nước Phổ-lô-si (phiên âm chữ Prusse, Đức phiên âm chữ Deutsch ).
Đức là một nước “dã man, tàn bạo”, bị Pháp-lang-sa đánh cho liểng-xiểng, binh lính Đức chết vô số, có cả hàng ngàn, hàng vạn…v.v…
Nhưng trận giặc còn lâu dài, cho nên “dân An Nam nhờ nước Pháp-lang-sa bảo hộ, phải quyên tiền và đem binh lính sang Pháp để đánh lũ giặc Đức mọi rợ… v.v…
Dân làng, bất luận giàu, nghèo, đều phải góp tiền để mua Phiếu Quốc Trái.
Hơn nữa, làng phải mộ dân tình nguyện đi lính sang Pháp để ‘đánh đuổi giặc Đức’.

Sự thật, không có dân nào tình nguyện cả. Sau cùng làng xã phải bắt ép thanh niên khoẻ mạnh, gọi là tráng đinh đi lính. Hầu hết lớp “lính tình nguyện” nầy ở khắp xứ Trung Kỳ , Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ đều là thanh niên nho học từ 21, 22 đến 24, 25 tuổi.
Phong trào mộ thanh niên đi tùng chinh sang ‘Mẫu Quốc’ là một dịp cho các quan An Nam từ quan tỉnh xuống quan huyện , cho đến các ông hương , ông xã trong làng , đòi ăn hối lộ. Một số đông các ông này chơi ác, cứ nhè bắt bọn thanh niên trai tráng con nhà giàu, đi tùng chinh. Thế là các bậc cha mẹ phú hộ phải đem của tiền lo lót, cho con khỏi đi. Phải lo lót xã một phần, lên lo lót huyện một phần , rồi lo lót các cụ lớn trên tỉnh nữa.
Hối lộ gần như công khai. Nhà giàu đua nhau nhờ cậy chổ này chổ nọ, chạy chọt ông này ông kia, bán cả ruộng đất, nhất là con trai trưởng trong gia đình, khỏi bị bắt “tình nguyện” đi lính sang Pháp.
…Vì lớp thanh niên nhà giàu, hoặc nhà khá giả, hoặc con trai các vị hương chức đều nhờ hối lộ, và nhờ có quyền thế, đã được miễn tùng chinh. Sót lại chỉ có con nhà nghèo không có miếng đất cắm dùi, cho nên phải đi lính “tình nguyện” qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc ‘Phổ Lổ Sĩ’.
Nói là qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc, nhưng sự thật thì qua bên đó nhập vào một đơn vị gọi là ‘đoàn quân thuộc địa’ chỉ dùng riêng vào việc vận tải lương thực ở hậu tuyến mà thôi. Một số bị bắt ra mặt trận, nhưng cũng chỉ là khiêng vác các khẩu súng lớn, đẩy các cổ đại bác và đào hầm trú ẩn. Chẳng có một người “lính thuộc địa” nào, nhất là lính “Tirailleurs Annamites” được cầm súng đánh giặc cả.
Tất cả thanh niên tùng chinh đều được lịnh đến trình diện tại đồn lính Khố xanh ở các tỉnh, rồi từ tỉnh họ được chở đi tập trung lại, đợi tầu sang Pháp.”
Do đó bị bắt đi lính vì nghèo, phải xa vợ, xa con, xuống tàu đứng sau song sắt như bị ở tù, hỏng khóc sao được ? Xúc cảm như vậy mới làm được bài thơ não lòng, bi thiết ! Rồi bài thơ đó trải qua biết bao thử thách của thời gian mới được trở thành ca dao, thành tiếng hát ru cho thân phận những người cùng khốn.
Chứ không phải là lời của thằng Tây nào với em Me Tây nào ráo trọi như ông Toan Ánh nói đâu?
Thưa quý độc giả thân mến! Đối với những nhà văn tiền bối như Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vỹ, Toan Ánh thì người viết đều kính phục cả , xin ngả nón cúi đầu; nhưng sỡ dỉ theo ông nầy; bỏ ông kia chẳng qua là chuyện chẳng đặng đừng?!
Ca dao, hát ru là tiếng quê hương . Xa quê, viễn xứ, vẫn nhớ về quê cũ, lại nhớ tới ca dao. Em yêu sai: “Ru con ngủ cho em đi chợ!”, mà thằng nhỏ cứ khóc hoài?
Ru tới ru lui chỉ có hai bài làm thằng nhỏ chắc sẽ thuộc lòng như cháo ; mà lớn lên cắc cớ nó hỏi: “Tía ơi! Nghĩa nó là gì vậy?” Làm tía mà hỏng biết trả lời sao thì mất mặt ‘bầu cua’ lắm lắm ! Cho nên mới có bài viết nầy thưa quý độc giả thân mến!
Có gì sai, xin bỏ qua và người viết cũng rất hân hạnh sẳn lòng nghe chỉ giáo của các bực cao minh … để mà được học hỏi thêm!

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 22nd Apr 2021

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Kỳ cuối

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Nghe chuyện này, tuy bụng tôi không tin, nhưng tôi cũng không dám hoàn toàn phủ nhận.

Việc quốc gia đại sự quả là quá lớn lao, quá rắc rối và quá bí mật, ngoài tầm nhìn và tưởng tượng của một sĩ quan cấp thiếu tá như tôi.

Tôi dặn chú Phước phải kín miệng không cho ai biết tin này, vì nói cho nhiều người biết, thì anh em trong đơn vị sẽ hoang mang ngay.

Tôi đưa trả lại cho Trung úy Phước cái bì thư chứa tờ lệnh thuyên chuyển có chữ ký của Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, rồi hỏi,

– Cám ơn Phước đã cho anh biết tin này. Bao giờ thì chú lên đường đáo nhậm đơn vị mới?

Phước trố mắt nhìn tôi,

– Ủa! Anh Hai nói cái gì lạ vậy? 

– Anh muốn biết ngày nào chú từ biệt Tiểu Ðoàn 82 để anh cho lệnh Câu Lạc Bộ mở tiệc tiễn chân chú!

Nghe tôi hỏi, Phước vội giơ cái bì thư lên, rồi xé nhỏ nó thành nhiều mảnh trước mắt tôi,

– Ðã có lần em nghe Anh Hai chửi, “Em là một thằng hèn!” rồi. Từ đó cho tới chết, em không muốn nghe Anh Hai lặp lại câu đó lần thứ hai!

Tôi nhìn thấy hai mắt thằng em tôi đang đỏ lên dần dần, nó sắp khóc!

“Anh Hai” là biệt danh của tôi thời gian tôi chỉ huy những tay súng yêng hùng của Viễn Thám Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 tung hoành khắp núi rừng Vùng 2. Chỉ có những người mà tôi thân thiết lắm mới được phép gọi tôi là “Anh Hai”.

Tôi cười, vỗ vỗ nhè nhẹ lên vai Phước,

– Ðừng khóc! Anh biết thế nào chú cũng không bỏ anh! Rồi tôi kéo tay Phước xuống Câu Lạc Bộ, tại đây chú Ðặng Thành Học đang ngồi chờ tôi xuống thưởng thức món thịt nai xào lăn. Toán tuần tra hướng Nam của Ðại Ðội 1/ 82 vừa bắn được một con nai khá lớn đang đi ngu ngơ trên đường.

Kỳ tiếp tế này, anh em trong đơn vị đề nghị không mua gà, mà dồn tất cả tiền thực phẩm tươi mua bốn con heo thật to để ăn Tết.

Khu nhà bếp trở thành cái chợ, với những tiếng người nói chuyện om sòm cùng tiếng heo kêu inh ỏi.

Bên khu gia binh, các bà vợ lính cũng đang vây quanh một cái poncho, trên đó là một con heo nhỏ vừa bị xẻ thịt.

Con heo nhỏ này do ông tiểu đoàn trưởng xuất tiền của Câu Lạc Bộ mua tặng vợ con binh sĩ đã từ Pleiku, Ban Mê Thuột lên đây ăn Tết.

Chiều cuối năm Giáp Dần, ngồi trên bờ đất của tiền đồn Kiến-Ðức dõi mắt về phương Bắc, tôi tưởng tượng ra một căn nhà nhỏ ở đường Hàm Nghi, Ban Mê Thuột, trong đó có người vợ tôi yêu, cùng ba đứa con tôi.

Giờ này chắc vợ con tôi cũng nhớ tôi lắm?

Giao Thừa tới chầm chậm…

Có tiếng kinh cầu nguyện của các bà vợ lính vọng lên từ dưới đường Tỉnh Lộ 344.

Năm Ất Mão 1975 tôi đã đón chúa Xuân về trên một tiền đồn biên giới cực Nam của Vùng 2 Chiến Thuật.

Hướng Bắc của tiền đồn này là một trung đoàn địch, hướng Nam còn có cả một sư đoàn của Cộng Quân.

Nhưng tôi an tâm vô cùng, vì dưới tay tôi hiện thời có hàng trăm tay súng dũng mãnh, can trường.

Chuẩn úy Lê Văn Phước từ dưới Câu Lạc Bộ đi lên, trao cho tôi một tờ báo Xuân và một bó hoa của ông Cha Xứ gửi tặng đơn vị.

Cầm bó hoa trên tay, quay mặt về hướng thành phố Gia-Nghĩa, tôi thì thầm cho gió mang về hậu phương lời chúc đầu Xuân:

“Chúc đồng bào một năm mới an khang và thịnh vượng!”

VML

Seattle tháng 12 năm 2020

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 16th Apr 2021

Kỳ 15

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Sau khi chiếc L19 đảo cánh trên một khu rừng tranh ra dấu, lập tức chiếc tải thương hạ xuống khẩn cấp.

Biệt Ðội Trực Thăng 259 B Tản Thương và Tìm Cứu đã hoàn thành công tác một cách vô cùng nhanh nhẹn và gọn gàng. Không rõ do lệnh của giới chức nào, mà anh pilot lâm nạn không được chở đi luôn, mà lại bị thả xuống phi trường Gia-Nghĩa. Tôi và Trung tá Hoàng Kim Thanh cũng đáp xuống đây.

Anh trung úy phi công F5 chỉ bị xây xát nhẹ, máy móc truyền tin dùng để phát tín hiệu kêu cứu của anh đã bị hư, nhưng nhờ tấm banner màu da cam mà L19 đã phát hiện ra anh ta.

Chiếc C&C của tôi không được biết chuyện này, vì ông phi công L19 sợ rằng chúng tôi sẽ bay vòng vòng trên đầu, làm lộ vị trí của người bị nạn.

Ở phi trường có sẵn chiếc Jeep của Trung tá Hoàng Kim Thanh. Tôi mượn chiếc xe này để chở anh pilot F5 ra quán hủ tiếu của bà già người Tàu, ngoài chợ Gia-Nghĩa.

Ăn uống xong, chúng tôi chia tay, anh bạn Không Quân trở lại phi trường, tôi về Kiến-Ðức.

Từ ngày đó tôi không còn được Ðại tá Quang chia sẻ những phi tuần dự trù nữa.
Bẵng đi ít bữa, ông trung tá liên đoàn trưởng cho tôi hay, ông nghe đồn rằng, tháng trước anh pilot F 5 này đã bị phòng không Việt-Cộng bắn hạ ở Phước-Long, nên An-Ninh Quân-Ðội nghi ngờ anh ta đã “phá tàu” vì lạnh cẳng, chứ không phải máy bay của anh ta bị địch bắn trúng.

Vài ngày kế đó tôi bị gọi về Gia-Nghĩa để gặp mặt người thiết lập bản tường trình ủy khúc vụ chiếc F5 lâm nạn.

Ông ta đưa cho tôi một tờ phụ bản. Trên đó có cái tiêu đề được đánh máy giòng chữ: Ý kiến của nhân chứng Vương Mộng Long.

Cuối tờ giấy cũng có giòng chữ: Chữ ký và ngày tháng.

Nhìn vào bản phúc trình, tôi thấy những nhân chứng khác đều có ý kiến và chữ ký ngay trong hồ sơ.

Tôi là nhân chứng quan trọng nhất, tại sao người ta bắt tôi phải ký phụ bản?

Tôi biết chắc chắn rằng, nếu tôi ký tên vào cái phụ bản ấy, thì nó sẽ bị người ta vứt đi mất tăm, mất tích.

Cái lon trung úy của anh phi công sẽ bị người ta lột mất vì tội “phá tàu”

Lương tâm đã không cho phép tôi toa rập với những mưu đồ ti tiện như thế! Tôi có nhiệm vụ phải bảo vệ đồng ngũ của tôi!

Tôi nói với ông Thiếu tá Sĩ Quan An-Ninh,

– Tôi muốn ghi ý kiến và ký tên trên chính bản, không phải trên phụ bản đính kèm.

Kèo nài vài phút, thấy tôi nhất mực giữ vững lập trường, ông ta đành nhượng bộ, cho tôi ghi vào khoảng trống dưới tên nhân chứng cuối cùng. Tôi đã viết:

“Thiếu tá Vương Mộng Long xác nhận rằng: Tôi đã tận mắt nhìn thấy chiếc F 5 bị phòng không 12.7 ly của Việt-Cộng bắn cháy và rơi tại tiền đồn Kiến-Ðức”

Lời khai của tôi hoàn toàn trái ngược với những lời khai của những nhân chứng khác. Những nhân chứng này làm việc ở văn phòng và trong hầm của Trung Tâm Hành Quân của Tiểu Khu, họ nhìn thấy chiếc F 5 rơi theo cách nhìn riêng của họ.

Tôi thừa hiểu rằng ở Sài-Gòn người ta không tin có chuyện phòng không địch “dám” bắn hạ một cái oanh tạc cơ F 5 trong vùng trời Quảng-Ðức đang thời kỳ “hoàn toàn yên tĩnh” như những bản tin hàng ngày được ông tỉnh trưởng báo về.

Nếu anh bạn phi công F 5 ngày đó còn sống, nếu anh ấy đọc được những giòng chữ này, chắc anh ta sẽ nhớ lại câu chuyện cổ tích xảy ra ở Kiến-Ðức năm nào. Cũng nhân dịp viết hồi ký này, tôi gửi lời cám ơn tới các bạn Không Quân đã giúp tôi cứu mạng anh bạn F5 lâm nạn trong lúc bay yểm trợ cho tôi. Cám ơn ông Biệt đội trưởng, Ðại úy Trịnh Viết Hảo, và các ông Ðại úy Mai Văn Khánh, Ðại úy Nguyễn Văn Ninh, Ðại úy Cát Mad (Mad=Ðiên) cùng các bạn khác trong Biệt Ðội 259B Tản Thương và Tìm Cứu.

oOo

Hạ tuần tháng 1 năm 1975 khi màn đêm buông xuống, thì sương mù cũng giăng kín núi đồi, vầng trăng khuyết cũng ẩn vào trong mây.

Tôi cứ lo địch lợi dụng bóng đêm để chuyển quân từ Bắc xuống Nam rồi cắt đứt Tỉnh Lộ 344, cô lập Kiến-Ðức.

Ðêm nào tôi cũng cho tiểu đoàn thức giấc, báo động nửa khuya.

Tôi căn dặn đàn em, mỗi lúc hỏa châu soi thì mình chỉ nhìn ra một hướng cố định, gắng sức ghi nhớ hình ảnh trước mắt mình, tới lúc trái châu kế tiếp soi sáng, mình sẽ nhận ra những đổi thay nếu có.

Thói thường, khi trái hỏa châu vừa kích hỏa trên trời cao, nghe tiếng “Bóc!” địch sẽ dừng lại, ngồi im.

Khi hỏa châu vừa tàn, chúng sẽ tiếp tục di chuyển.

Bởi vậy, trong thị trường của ta sẽ thấy rõ những thay đổi xảy ra trong khoảng thời gian giữa hai trái hỏa châu.

Hai giờ khuya, tôi và Trung úy Trâm đứng bên hố đại liên của Ðại Ðội 3/82.

“Bóc!” một hỏa châu vừa tỏa sáng. Anh xạ thủ đại liên nắm chân Trung úy Trâm rồi chỉ về hướng trước mặt,

– Trung úy ơi! Lúc trái hỏa châu trước soi sáng, em thấy bên gốc cây có cái gì giống như một bó rơm. Tới lúc trái hỏa châu này sáng lên thì bó rơm biến mất! 

Tôi ra lệnh,

– Bắn!

Thế là khẩu M 60 nhả đạn, súng từ bên trái, bên phải cũng nổ rền theo. Hỏa châu tiếp tục soi sáng. Pháo binh Diện Ðịa ở Nhơn-Cơ cũng bị tôi đánh thức, bắn mười tràng trên hỏa tập dự trù nằm dưới thung lũng.

Tôi ra lệnh bắn, chỉ vì “bó rơm” làm gì có chân mà biết đi?

Sáng hôm sau tôi cho người vào khu đồng tranh sát rào Ðông của căn cứ để kiểm tra trận địa.

Kết quả, không có khẩu súng nào bỏ lại, trên mặt đất có ba tên Việt-Cộng chết, thân mình được phủ bằng những tấm vải dù.

Dưới ánh trăng hay dưới ánh sáng hỏa châu, thì màu của vải dù cũng đồng màu với cỏ tranh, cỏ lau.

Hóa ra, bó rơm mà anh xạ thủ đại liên nhìn thấy đêm qua lại là một thằng Việt-Cộng!

Những ngày sau, tình hình mặt trận Tây Quảng-Ðức hoàn toàn yên tĩnh.

Tình hình yên tĩnh không có nghĩa là ta cứ yên trí nằm khoèo mà ngáy ro ro hay ngồi nhâm nhi trước bàn tiệc rượu hằng giờ.

Tôi đã biết rằng trong trận Phước-Long, chiến xa Việt-Cộng đã đóng một vai trò rất quan trọng.

Do đó, việc huấn luyện các toán chống tank đã được tôi coi như mối ưu tư hàng đầu.

Anh bạn Ðại úy Hoàng Kinh Ngữ, sĩ quan tiếp liệu, tiếp vận của tiểu khu thấy tôi vét hết số hỏa tiễn XM202 và M72 tồn kho của tiểu khu mang về Kiến-Ðức huấn luyện cho lính, nên đã càm ràm,

– Ông thầu hết XM202, và M72, không chừa cho ai khẩu nào, nếu chiến xa Việt-Cộng mà chạy vào đây, thì tụi tôi lấy gì mà bắn?

Nghe vậy, tôi bèn trấn an anh bạn,

– Ðừng có lo! Trước khi xe tank Việt-Cộng có mặt trước cửa văn phòng của ông thì chúng nó phải đi qua Kiến-Ðức.

T54 có thể làm mưa, làm gió ở Phước-Long, nhưng không thể qua nổi cửa ải Kiến-Ðức đâu!   

oOo

Xuân Ất Mão ở Quảng-Đức

Thời gian cuối năm Giáp Dần, thành phố Gia-Nghĩa vui nhộn hẳn lên. Hết hội hè này tới đình đám khác.

Ðêm nào anh em sĩ quan của Tiểu Khu Quảng-Ðức và của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cũng mở tiệc vui chơi, nhảy đầm cho tới khuya.

Sĩ quan của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nghe nói người ta vui quá, nên cũng ngứa chân, ngứa cẳng, cứ nài nỉ tôi cho phép các chú ấy về Gia-Nghĩa nhập cuộc thi tài, lả lướt, Rumba, Mambo, Cha Cha Cha, Tango, Slow…

Tôi cũng thông cảm, nên cho các ông sĩ quan trẻ luân phiên nhau về phố, nhưng mỗi anh chỉ được một đêm thôi.

Thấy cù rủ mãi, mà tôi không chuyển lòng tham gia hội hè, ông Trung úy Trâm và ông Trung úy Pháo đội trưởng bèn đem xe ra phố chở về đồn một tiểu đội nữ sinh trung học đẹp như hoa.

Các cô yêu lính lắm, nên tình nguyện ra tiền đồn hát cho lính nghe.

Tôi còn nhớ, ngày đó bản Pop Rock “Beautiful Sunday” của Daniel Boone đang rất thịnh hành,

Hi hi hi, beautiful Sunday

This is my beautiful day

When you said said said said that you loved me

Oh my, my, my it’s a beautiful day…

Tạm dịch: Xin chào một ngày Chủ Nhật tuyệt vời. Ðây là ngày đẹp của tôi. Khi em nói với tôi rằng em yêu tôi. Ôi trời! Một ngày đẹp tuyệt vời…

Các cô nữ sinh cứ đua nhau, hát đi, hát lại bài này cả chục lần…

Các cô chia nhau ra từng toán nhỏ, đi tới tận đỉnh đồi, cuối dốc, để hát cho lính tiền đồn nghe.

Tôi thấy cả tiểu đoàn mà chỉ có hai cây guitar theo chân hai tốp ca đã xuống núi tới Ðại Ðội 4/82.

Trên đồi còn hai tốp ca khác không có nhạc đệm, nên tôi ra khu súng cối kiếm ông nhạc sĩ cận thị Phan Thành Hoàng,

– Ê! Hoàng! Chú mi mau mau đem guitar ra đệm cho tốp ca của cô áo tím đang hát cho khu gia binh! Lẹ lên!

Anh chàng nhạc sĩ cận thị đỏ mặt, ấp úng,

– Trình Thiếu tá! Em là dân guitar Vọng Cổ. Em có biết tân nhạc đâu mà đệm cho mấy cô?

Nghe chú Hoàng trả lời tôi cũng ngẩn người ra:

“Ồ!…”

Nào ngờ những câu đối đáp của tôi và chú Hoàng lọt vào tai các cô ca sĩ, thế là các cô vội vàng bu quanh hầm súng cối, rồi nhao nhao lên,

– Thiếu tá nói với anh này ca cho tụi em nghe vài bài Vọng Cổ đi! Thiếu tá!

Tôi ra lệnh cho anh chàng nhạc sĩ Vọng Cổ của đơn vị,

– Các cô em gái hậu phương đã hát cho Biệt Ðộng Quân nghe rồi, giờ này tới phiên chú Hoàng phải đáp lễ cho các cô!

Ngay khi ông nhạc sĩ cận thị vừa dạo đầu hai tiếng “Tưng! Tưng!” là tôi tìm đường lui, chạy vào hầm hành quân ngay.

Tôi sợ Vọng Cổ lắm!

Tới chiều hôm đó phái đoàn ủy lạo chiến sĩ mới lên xe về phố, hẹn sang năm sẽ tới thăm chúng tôi lần nữa.

Thế là Tết này các chú tân binh được một ngày vui, hết nhớ nhà, vì được người hậu phương tới tận chiến hào hát cho nghe.

Tôi thấy, ở tiền đồn biên giới thì ngày nào cũng giống nhau, không phân biệt Chủ Nhật hay Thứ Hai, ngày nghỉ hay ngày thường.

Bất cứ ngày nào không có đạn bom rơi, thì ngày đó cũng coi như là “Beautiful Sunday”

Ðầu tháng 2 năm 1975 Ðại úy Ngũ Văn Hoàn và Trung úy Trần Văn Phước xin phép tôi về Sài-Gòn ít ngày để sắm Tết và thăm nhà. Ðây là dịp để ông Hoàn thăm ông cụ thân sinh. Còn ông Phước thì về khoe cái lon trung úy tân thăng với bà con, đồng thời đi coi mắt mấy cô nữ sinh hàng xóm. Bố của chú Phước là ông Chiêm Tinh Gia Trần Cẩm, một thân hào, nhân sĩ rất có uy tín trong khu Phố An-Bình, Chợ Lớn.

Sau ngày Ông Táo về trời thì ông Hoàn và ông Phước cũng trở về tiền đồn.

Quà của ông Hoàn mang về biếu tôi là một hộp thiệp chúc Tết in hoa hòe, hoa sói, hoa mai, hoa đào, dùng để gửi cho bất cứ ai mà tôi ưa. Những tấm thiệp này được cung cấp từ nhà in trong Chợ Lớn của cụ Ngũ Văn Bằng, thân phụ của Ðại úy Ngũ Văn Hoàn.

Trung úy Phước trình diện tôi với vẻ mặt lo lắng, không tươi,

– Thái Sơn vào lều, em có chuyện muốn nói riêng với Thái Sơn.

Tôi dắt Phước vào căn lều tranh, rồi nói với anh lính đứng gác,

– Thằng Ba Rỗ canh cửa, không cho ai vào lều để tao với Trung úy Phước nói chuyện.

Phước mở cái cặp da, kéo ra một tấm bản đồ loại có tỷ lệ 1 trên 150 nghìn (1/150,000) đưa cho tôi rồi hỏi,

– Thái Sơn có quen dùng loại bản đồ này không?

Tôi hơi ngạc nhiên nhưng vẫn trả lời,

– Bản đồ này thường dùng lúc đi bay. Anh không lạ thứ bản đồ này. Nhưng mình đâu cần nó?

Phước móc túi đưa cho tôi một cái bì thư,

– Thái Sơn coi cái này!

Trong bì thư là tờ giấy đánh máy một lệnh thuyên chuyển, với chữ ký của Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Lệnh thuyên chuyển đó cho phép Trung úy Trần Văn Phước đáo nhậm đơn vị mới là Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Trung Ương. Lệnh này có hiệu lực ngay ngày ký.

Chú Phước nhìn tôi rồi hạ giọng,

– Ba em quen thân với Thiếu tướng Giai. Ba em vừa xin, ông Giai chấp thuận liền. Ổng cho phép em về làm việc với Trung tá Sáu ngay sau khi hết phép, không cần quay lại tiểu đoàn nữa.

– Sao Phước không ở trong đó luôn, còn về lại đây làm gì?

Phước lắc đầu,

– Em đâu phải phường vong ân bội nghĩa? Mặt mũi nào mà em bỏ Thái Sơn được?

– Thế còn cái bản đồ tỷ lệ 1 trên 150 ngàn thì để làm gì?

Tới đây Phước ra dấu cho tôi đừng nói nữa, rồi kéo tay tôi xuống căn hầm mà tôi dùng làm phòng riêng của tiểu đoàn trưởng.

Phước cho tôi hay một tin tức mà tôi không thể tưởng tượng đó là chuyện thật.

Phước có một người anh làm việc trong Tòa Ðại Sứ Mỹ.

Ông ta nghe nói Phước nhất định không chịu ở lại Sài-Gòn sau khi hết phép, thì tới nhà trao cho Phước cái bản đồ này, cùng với lời khuyên,

– Nếu em không nỡ bỏ ông Long, thì em nói với ông Long rằng sắp tới đây, người ta sẽ bỏ Vùng 2. Thày trò em phải chuẩn bị lương khô trên lưng, và có sẵn một cái bản đồ để đi từ Vùng 2 tới Vùng 3.

Tôi tin những chuyện mà Phước đã trải qua trong mấy ngày nghỉ phép là có thật. Nhưng tôi cứ thắc mắc về cái vụ ông nhân viên CIA của Tòa Ðại Sứ Mỹ nói rằng quân ta sẽ bỏ Vùng 2, sao nghe mơ hồ và vô căn cứ quá!

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 8th Apr 2021

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Kỳ 14

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Chính vì có mài, có giũa, có bạn bè tốt đi kèm, mà chỉ ít lâu sau khi tới Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, những tân binh mặt búng ra sữa, đã thành những tay súng thiện nghệ, gan lỳ.

Những ngày cuối năm 1974 tôi phải lo tăng cường an ninh tối đa, vì cứ tới dịp Lễ, Tết, thế nào Việt-Cộng cũng quậy phá.

Gần tới Giáng-Sinh tin tức tình báo tới tấp gửi tới. Nào là địch sẽ đánh Quảng-Ðức, sẽ đánh Kiến-Ðức, nên ông liên đoàn trưởng ra lệnh cấm quân, không cho ai đi phép.

Ðể yên tâm, tôi liên tiếp tung các toán Viễn Thám thăm dò địch trong bán kính tối thiểu là bốn cây số từ Kiến-Ðức, khoảng cách đó là tầm bắn trung bình của cối 82 ly và 75 ly mà địch hay sử dụng.

Một buổi trưa, toán 825 của Hạ sĩ 1 Nguyễn Tuấn báo cáo có địch. Tôi đích thân cầm máy,

– Mô tả mục tiêu!

– Em thấy có người đang leo lên dốc! Em tính gài Claymore nhưng tụi nó tới gần quá rồi!

– Bắn như bài đã học!

– Dạ!    

“Bài đã học” là, khi chạm trận, người ở giữa sẽ bắn 30 độ trái, rồi bắn 30 độ phải, còn hai tay súng bên cạnh thì người bên trái bắn về bên phải, người bên phải bắn về bên trái, hai lằn đạn sẽ giao nhau. Những tên địch xuất hiện trong xạ trường trước mặt chắc chắn sẽ chết.

Máy truyền tin của tôi có cần ăng ten cao nên dễ dàng liên lạc với 825 và trung đội đóng trên Bù Row, nhưng tai tôi không nghe được tiếng súng nổ.

Bẵng đi mười phút, là tiếng Hạ sĩ Tuấn vừa thở hổn hển vừa nói,

– Trình Thái Sơn! Em hạ được ba con! Thu ba AK 47! Em đã về tới chân Bù Row!

– Tới Bù Row thì hết lo rồi! Ði chậm lại cho đỡ mệt!

Chiều đó tôi đãi mỗi chú của toán 825 một tô mì ăn liền Vị Hương và một chai la ve.

Ba chàng Viễn Thám này đều ở cùng quê Bình-Ðịnh nên thân thiết với nhau lắm.

Ông Tàu Hỷ chủ Câu Lạc Bộ tiểu đoàn lục ngăn kéo lấy ra 15 nghìn đưa cho Thiếu úy Lý Ngọc Châu.

Chú Châu thay mặt tôi trao cho mỗi Viễn Thám viên 5 ngàn.

Ðây là thông lệ, tôi đề ra, cho mỗi khẩu súng chiến lợi phẩm là 5 ngàn, bất kể súng lớn hay súng nhỏ.

Ngày đánh Ðạo-Trung tiểu đoàn thu được nhiều chiến lợi phẩm hơn, nhưng do công của đồng đội, nên tôi chỉ cho lệnh ông Tàu Hỷ mua cho mỗi người một bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ gọi là hút cho “lấy hương lấy hoa” Chứ thưởng theo cái giá 5 nghìn một khẩu súng thì Câu Lạc Bộ bị lủng vốn mất.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 có nhiều người trùng tên lắm. Ông Ðại úy Ngũ Văn Hoàn cầm quyển sổ điểm danh vừa cười vừa nói với tôi,

– Tui đố ông biết trong tiểu đoàn này tên gì là nhiều nhất?

Tôi đáp liền,

– Tuấn! Mình có bốn thằng Tuấn!

– Sai rồi! Tên Hoàng (Hoàn)! Mình có năm tên Hoàng! Tui đọc tên cho ông nghe nhé: Ngũ Văn Hoàn, Huỳnh Kim Hoàng, Nguyễn Phượng Hoàng, Lưu Ðức Hoàn và Phan Thành Hoàng…

– Ông lầm rồi! Hoàng có “G” khác với Hoàn không có “G” Như vậy mình chỉ có ba “Hoàng” và hai “Hoàn” thôi.

– Vậy tui đố ông, mình có mấy tên Phước.

Tôi trả lời không cần suy nghĩ,

– Mình có ba ông tên Phước là, Trần Văn Phước, Lê Văn Phước và Nguyễn Hữu Phước!

– Ông sai rồi! Còn thằng Binh nhì Phan Phước nấu cơm cho tui!

Lâu lâu, có dịp ngồi chuyện gẫu, tôi với ông Ðại úy Hoàn hay trao đổi với nhau những đề tài chẳng đâu vào đâu, chẳng ăn nhậu gì với nhau, nhưng cũng vì thế mà vài chục năm sau, tôi còn có thể hình dung ra mặt thằng Tuấn Nhí ở Ðại Ðội 4/82 như thế nào, mặt thằng Triệu Tân ra làm sao, và trên cổ thằng Liêu Chí Cường có cái khăn màu gì, ai đã cho nó?

 oOo

Cuối năm, đầu năm…

Hai ngày lễ quan trọng đi qua, tình hình thật là yên. Sáng sớm 26 tháng 12 tôi lên xe phóng về Ban Mê Thuột.

Ngày mai, 27 tháng 12 là kỷ niệm 4 năm ngày cưới của vợ chồng tôi, nhưng tôi lại không dám giao đơn vị cho người khác trông coi, nên tôi báo cho vợ tôi biết rằng tôi sẽ về đón nàng và hai đứa con gái lớn lên Kiến-Ðức chơi vài bữa.

Xế chiều 26 tháng 12 năm 1974 xe của tôi về tới tiểu đoàn.

Hai đứa bé thấy mấy bụi hoa móng tay ở trước cái lều tranh thì thích lắm, cứ quanh quẩn bên các chậu hoa.

Các chú lính trong đội cận vệ cũng thích hai đứa bé, cứ tíu tít hỏi han,

“Hai cháu có thích kẹo không? Hai cháu có thích bông móng tay không?” – “Cháu lớn mấy tuổi rồi? Cháu bé mấy tuổi rồi?”

Chắc nhìn thấy hai đứa con tôi, mấy chú lính cũng thấy nhớ con của họ, gia đình họ còn ở Pleiku! Chúng tôi xa Pleiku đã hơn ba tháng rồi!

Chiều 27 tháng 12 tôi chở vợ và hai đứa con đi thăm cái đập đá nằm cách quận Nhơn-Cơ nửa cây số về hướng Ðông. Mấy cô gái Thượng giặt áo quần dưới suối thật là hiếu khách, giơ tay vẫy chào hai cô du khách tí hon.

Hai cháu bé thấy thế cũng giơ tay cười đáp lại.

Cảnh đang vui thì cái loa truyền tin trên xe oang oang tiếng của đài Tam Quái đặt trên núi lửa Ðức-Lập,

– Thái Sơn đây Tam Quái!

– Thái Sơn nghe!

– Trình Thái Sơn! Ông cụ Trung tá Bố vợ của Thái Sơn vừa vào tiền cứ gọi cho tụi em để thông báo cho Thái Sơn một câu nhắn nguyên văn như sau: “Tụi mày mau báo cho vợ chồng nó biết, đứa con gái út của chúng nó bị ỉa chảy cả ngày, cả đêm! Nếu vợ nó mà không về thì chắc con bé chết mất đấy!”

Thế là hết vui. Chúng tôi quay về đồn. Ðêm đó pháo binh và súng cối không bắn phát nào nên hai cháu bé ngủ ngon. Vợ chồng tôi lại lo lắng, thức trắng, chỉ mong trời mau sáng.

Cháu bé Tiên Giao đang ở nhà với ông bà ngoại, nó vừa dứt sữa mẹ, tập uống sữa bột SMA. Chắc nó chưa quen uống sữa bột nên bị đau bụng.

Trưa 28 tháng 12 vợ chồng tôi và hai đứa con về tới nhà. Bé Tiên Giao vừa thấy mẹ đã khóc oà, rồi rúc vào ngực mẹ.

Vợ chồng tôi vội chở cháu Tiên Giao vào hậu cứ Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân để nhờ Bác sĩ Thại chữa trị cho cháu.

Hôm đó chỉ với một liều thuốc Cloramphenicol cháu Tiên Giao đã qua cơn nguy kịch.

Từ ấy, vợ tôi không dám để bé Tiên Giao rời xa mẹ nữa.

Sau khi tái huấn luyện, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân trở về thay thế cho Tiểu Ðoàn 89, tôi không còn lo theo dõi tình hình hướng Nam nữa. Ông Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân nhận lệnh trực tiếp từ liên đoàn và chỉ giữ liên lạc hàng ngang với tôi thôi.

Những ngày đầu năm 1975 tôi cứ thấy bồn chồn lo lắng vô cớ.

Tôi liên tục xin Tiểu Khu Quảng-Ðức ưu tiên cho tôi mỗi ngày một chiếc L 19 để tôi đích thân quan sát vùng trách nhiệm, thay vì giao việc này cho sĩ quan điều không tiền tuyến của tiểu khu.

Tôi đã bay liên tục nhiều ngày trên trời Bù Binh, Kiến-Ðức, Bù Bông mà không thấy gì nghi ngờ.

Nhưng tôi lấy làm lạ là, mỗi khi tôi bay chếch về hướng Tây, giáp ranh Cam-Bốt, hay hướng Nam, giáp ranh Vùng 3 Chiến Thuật thì máy bay của tôi chạm phải phòng không của địch ngay.

Tôi báo cáo chuyện này cho liên đoàn, liên đoàn chuyển tiếp tin này cho tiểu khu.

Vì chuyện này, tôi bị thượng cấp khuyến cáo rằng đừng dính dáng tới chuyện của Vùng 3 làm gì, hãy lo hoàn thành nhiệm vụ của mình trước đã.

Ðâu ngờ, chỉ một tuần lễ sau, tôi nghe tin Phước-Long thất thủ.

Nhiều Quân, Cán, Chính của tỉnh Phước-Long đã lẩn trốn trong rừng, rồi chui ra Quốc Lộ 14 để tìm về với đơn vị bạn.

Trong số những người mà tôi đã tiếp cứu ngày đó có ông Thiếu tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng ty Cảnh Sát tỉnh Phước-Long.

Sau khi Phước-Long rơi vào tay Cộng-Quân, tôi bị đưa vào thế lưỡng đầu thọ địch, hướng Bắc là Trung Ðoàn 271 Việt-Cộng đã hiện diện từ lâu, hướng Nam lực lượng địch chắc chắn lớn hơn nhiều.

Ðịch bắt đầu chuyển binh bao quanh vùng Tây Quảng-Ðức với tốc độ thực là nhanh. Từ đỉnh những ngọn đồi vùng Tây Bắc, chính Bắc, và Ðông Bắc của tiền đồn Bù Row đã xuất hiện ít nhứt là mười vị trí 12.7 ly. Thời gian này tình hình vùng Ðức-Lập và Tây Ban Mê Thuột lại rất yên tĩnh.

Bỗng một hôm Ðại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư Ðoàn 23 Bộ Binh đã ghé Kiến-Ðức thăm tôi.

Ðại tá Quang nói rằng, ngày nào ông cũng có một phi tuần A 37 hoặc F 5 dự trù, nếu tôi cần thì ông sẵn sàng chia sẻ.

Tôi thắc mắc,

– Ðại tá yểm trợ thẳng cho tôi có làm phật lòng Ðại tá Nghìn không?

Ðại tá Quang lắc đầu,

– Không sao đâu! Anh cho chú toàn quyền, muốn đánh đâu thì đánh! Nhưng đừng cho thằng Nghìn biết!

Sau này tôi tìm hiểu được lý do vì sao Ðại tá Vũ Thế Quang lại cho tôi những phi tuần oanh tạc mà không thông báo cho Ðại tá Phạm Văn Nghìn. Chỉ vì thời gian này Ðại tá Quang có một cánh quân nằm trong Chi Khu Ðức-Lập, đó là một nửa Trung Ðoàn 53 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Xung quanh Ðức-Lập chưa có chỉ dấu nào của địch, nhưng ông Ðại tá Tư lệnh phó Sư Ðoàn 23 Bộ Binh có đầy đủ tin tức kỹ thuật trong tay.

Ông đã biết địch đang tăng cường quân số vùng Bắc Kiến-Ðức. Lực lượng địch tập trung ở đây càng nhiều thì quân của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh càng bị đe dọa. Chỉ sau vài giờ động binh, chúng có thể có mặt ở Ðức-Lập rồi.

Kẹt một điều là vùng Bắc Kiến-Ðức lại nằm trong tay Ðại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng-Ðức.

Ông Nghìn không thích đánh nhau, nếu ông Quang có giao những phi tuần oanh tạc cho ông Nghìn, thì chưa chắc ông Nghìn đã chịu nhận.

Vì thế ông Quang đành lén giao bom đạn cho tôi. Có bom đạn trong tay, tôi sẵn sàng, vui vẻ, thay quân của Ðại tá Quang ngăn cản quân địch từ xa, không cho chúng tiến về Ðức-Lập.

Trung tuần tháng Giêng năm 1975, ròng rã suốt một tuần lễ, trưa nào tôi cũng ngồi sau lưng ông phi công thám thính, bay trên trời cả tiếng đồng hồ,

Hầu như ngày nào chúng tôi cũng bị phòng không bắn.

Ông phi công hình như không nghe tiếng đạn réo, hoặc là ông ta quá lỳ?

Ðại liên phòng không nổ liên tục mà ông ta cứ tỉnh bơ!

Tôi thì cứ nghe “Choác! Choác! Choác!” là thấy lạnh gáy. Chiếc máy bay thì nhẹ tênh, nếu trúng một viên phòng không chắc nó rách toang thành từng mảnh?

Sau năm ngày, với năm phi tuần, mười phi xuất, chúng tôi đã khóa mõm được vài khẩu 12.7 ly.

Nghỉ khỏe được hai ngày, chúng tôi bay trở lại.

Hôm đó trời trong xanh, tôi nhìn thấy trên đường Quốc Lộ 14, cách Kiến-Ðức chừng mười cây số về hướng Bắc có một vật lạ, với cành lá nguỵ trang. Tôi chỉ cho ông trung úy phi công,

– Ðánh theo hướng Bắc Nam thì dễ trúng mục tiêu hơn, nhưng đánh theo hướng Ðông Tây thì an toàn hơn!

Ông pilot chọn hướng đánh Bắc Nam, “Ùm! Ùm!” hai quả bom đánh trật! Bụi đất bay lên cao.

Phút sau, hai chiếc F 5 lại lao xuống! “Ùm! Ùm!” Một quả bom rơi trúng mục tiêu!

Ðó là một xe Molotova chở đạn. Xe bốc cháy, đạn trên xe phát nổ, lửa khói chói lòa.

Bỗng đâu, tôi tối tăm mặt mũi, hoa đăng nổ rợp trời trên đầu tôi!

Từ vùng rừng cây hướng Tây, đạn phòng không 37 ly của địch đua nhau nở hoa “Bụp! Bụp! Bụp!”

Hai chiếc oanh tạc cơ bay vút lên cao rồi biến mất trong vùng mây trắng hướng Bắc.

Chiếc L19 dạt về Nam rồi đáp xuống phi trường Nhơn-Cơ, chiếc xe Jeep của tiểu đoàn đang chờ ở đây để đưa tôi về đồn Kiến-Ðức.

Bẵng đi mấy ngày không có không yểm, một hôm, tôi đang ngồi trên lô cốt theo dõi Ðại Ðội 1/82 thực tập tác xạ súng chống tank XM 202 thì được anh phi công L19 báo cho biết sẽ có hai phi xuất F 5 tới yểm trợ cho Kiến-Ðức.

Tôi yêu cầu,

– Target (mục tiêu) là khe suối nằm sát Quốc lộ 14 cách đỉnh Bù Row 1 cây số về hướng Bắc. Phòng không của địch di động dọc Quốc Lộ 14. Trục đánh an toàn là từ Tây sang Ðông. 

Tiền đồn Bù-Row vừa thả một trái khói vàng theo yêu cầu của Không Quân thì phòng không của Việt-Cộng đã nổ rền trời.

Chiếc L19 đã thấy vị trí chính xác của những cây 12.7 ly đang nhả đạn, nên lập tức, nó phóng ra một trái rocket.

Khói trắng bốc lên! Hai chiếc F 5 theo nhau chúc xuống khu rừng cây xanh.

Từ xa, tôi nhìn rõ những cột khói của những trái bom mới nổ.

Bất ngờ, tôi thấy những tia đạn lửa 12.7 ly đan nhau, rồi một chiếc dù bung ra từ một chiếc F 5! Chiếc máy bay bốc cháy trước khi đâm đầu xuống đất.

Giờ này gió đang thổi từ Ðông Bắc xuống Tây Nam. Chiếc dù lững lờ bay. Vài phút sau, cánh dù hạ xuống khu đồng tranh và bãi sậy, vùng hướng Tây, cách Kiến-Ðức chừng năm cây số.

Tôi vội ra lệnh cho Trung úy Trần Văn Phước đem Ðại Ðội 3/82 và một toán Viễn Thám xuống núi trực chỉ hướng Tây để cứu bạn.

Cũng lúc này có tiếng trực thăng từ Nhơn-Cơ. Tôi được thông báo rằng Trung tá Hoàng Kim Thanh đang trên đường bay tới chỗ tôi.

Trực thăng đáp trên Tỉnh Lộ 344, tôi xách cái máy PRC 25 leo lên đứng sau ghế của người hoa tiêu chính.

Tôi chỉ cho ông phi công vùng chiếc dù mới đáp xuống.

Chiếc L19 và chiếc C&C bay vòng vòng hồi lâu mà không thấy dấu vết gì của anh phi công lâm nạn.

Khoảng nửa giờ sau một hợp đoàn gồm 2 chiếc UH1 và hai trực thăng võ trang xuất hiện. Trong đó có một chiếc là trực thăng tản thương.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

1st Apr 2021

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Kỳ 13

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Trong Câu Lạc Bộ tiểu đoàn, tôi đang ngồi nghe ông Trung úy Ðăng, sĩ quan tiếp liệu trình báo hồ sơ chứng minh ẩm thực thì thấy Thiếu úy Thủy thò đầu vào,

– Trình Thiếu tá! Lính của Tiểu Ðoàn 63 đang gom súng giữa đường, ngồi biểu tình, đòi Thiếu tá ra giải quyết vấn đề nuôi ăn.

Tôi đứng dậy, vừa bước khỏi cửa, đã chạm mặt ông Ðại úy Ðại đội trưởng của Tiểu Ðoàn 63 tăng phái.

Ông đại úy mặt đỏ tía tai, không thèm chào kính, giơ ngón tay trỏ chỉ vào mặt tôi rồi giận dữ, quát lớn,

– Thiếu tá có tham nhũng thì cũng vừa vừa thôi! Nếu có ăn bớt, ăn xén thì cũng phải che đậy, đừng lộ liễu quá! Ông mà làm quá, chúng tôi không còn nể nang ông nữa đâu!

Bất ngờ đối mặt với một sĩ quan cấp dưới dám vô cớ lớn tiếng sỉ nhục mình, tôi định ra lệnh cho mấy anh cận vệ xông vào trói ông đại úy lại để hỏi chuyện, nhưng mắt tôi bất chợt nhìn thấy trên mặt Quốc Lộ 14 có một đống súng cá nhân và cộng đồng chất xung quanh những phần thực phẩm tươi mới chia.

Cách đó không xa, là những Biệt Ðộng Quân vừa quan, vừa lính, ngồi bệt thành từng hàng trên mặt đất.

Tôi nghiêm giọng hỏi ông đại úy,

– Các anh muốn gì?

Ông đại đội trưởng 63 bước ra giữa đường, vừa nhảy tưng tưng, vừa giơ tay chỉ vào một đống thực phẩm tươi đang nằm trên tấm poncho, miệng la toáng lên,

– Chúng tôi muốn Thiếu tá giải thích rõ ràng, nguyên nhân vì sao một phần thực phẩm tươi của 63 lại không bằng một nửa của các bạn 82?

Sau đó anh ta đưa tay vẫy tôi với thái độ vô cùng hỗn xược,

– Ra đây! Thiếu tá ra đây để thấy hai phần tiếp tế của 82 và 63 cách biệt như thế nào?

Những quân nhân trong đoàn người ngồi tụ họp nơi ngã ba cũng phụ họa theo,

– Bất công! Bất công!

Thì ra, quân nhân đơn vị này đang biểu tình ngồi.

Họ chờ tôi xuất hiện để họ xử tội “Chặn bớt tiền ăn của lính!”

Tôi nén cơn giận, vừa bước tới quan sát những vật nằm trên mặt cái poncho, vừa lớn tiếng gọi,

– Trung úy Ðăng! Ra đây cho tôi hỏi!

Ông sĩ quan tiếp liệu của Tiểu Ðoàn 82 vội vàng chạy tới.

Tôi chỉ vào hai phần thực phẩm tươi vừa tiếp tế, một lớn, một nhỏ, quả là có sự chênh lệch rất xa,

– Chú có nhận tiếp tế cho hai đại đội của 63 tăng phái không? Sao có sự chênh lệch lạ kỳ thế này?

Trung úy Ðăng chưa kịp mở miệng, ông đại úy đã phang ngang,

– Thày trò ông còn bày trò giải thích, giải nghĩa dài dòng. Ðối xử bên trọng, bên khinh chình ình như thế này mà còn giả mù sa mưa gì nữa!

Thấy ông đại úy này hỗn hào quá, tôi tức mình quát lớn,

– Châu! Khóa mõm thằng này lại!

– Dạ!

Ông Thiếu úy Lý Ngọc Châu từ nãy tới giờ cứ hằm hằm chờ, nay được lệnh của tôi, lập tức khoát tay, bốn anh cận vệ lập tức xông vào khóa tay ghịt đầu ông đại úy bắt chúi mũi xuống đất.

Trung úy Ðăng bực bội hét lên,

– Ðù mạ tụi mi! Sĩ quan tiếp liệu 63 tiếp tế cho tụi mi chứ 82 có dính dáng gì tới chuyện này đâu mà tụi mi đòi biểu tình, đòi khởi nghĩa, đòi chống đối?

Nghe thế, tôi hất hàm hỏi ông đại úy,

– Nghe hiểu chưa? Hai đại đội của 63 chỉ tăng phái hành quân cho 82 thôi! Tiểu Ðoàn 82 không nuôi ăn các anh! Các anh muốn kiện tụng thì về gặp ông Thiếu tá Ðàng.

Lúc này ông đại úy mới vỡ lẽ ra, mặt ông ta hiện rõ vẻ ngượng ngập, sượng sùng. Ông ta ấp úng,

– Trình thiếu tá! Em xin lỗi Thiếu tá!

Tới khi đó tôi mới để ý nhìn kỹ, trên mặt Quốc Lộ 14 có hai phần tiếp tế mười ngày thực phẩm tươi nằm cạnh nhau.

Phần ăn của một người lính 82 gồm có một cái bắp cải, một chai xì dầu, mười con cá khô, một gói mắm ruốc, một con gà còn sống, cùng một phần sẽ được chia từ hai con heo to đang bị trói nằm kêu “Eng! Éc!” ở đầu hồi của Câu Lạc Bộ.

Bên cạnh đó là phần tiếp tế cũng mười ngày ăn cho một Biệt Ðộng Quân 63 gồm có mười con cá khô, một chai xì dầu, một gói mắm ruốc, một cái bắp cải, một gói muối mè, không có miếng thịt nào cả.

Sự chênh lệch quá đáng này đã là nguyên nhân làm mờ mắt ông đại úy nóng tính. Tôi nói nhỏ,

– Chú Châu thả ông đại úy ra!

Lúc này mặt mày ông đại úy đại đội trưởng tăng phái trông thật là thảm hại, ông ta cứ cúi đầu, liên tục nói một câu hối lỗi,

– Em xin lỗi Thiếu tá! Em xin lỗi Thiếu tá!

Tôi cũng thấy tội nghiệp cho cái ông sĩ quan ruột ngựa này, nên ôn tồn,

– Thôi! Bỏ qua đi! Chú cho anh em lấy súng ống rồi trở về vị trí! Anh sẽ nói chuyện với Thiếu tá Ðàng về chuyện này.

Không cần vòi rồng, không cần hơi cay, đoàn người biểu tình ngồi tự động giải tán.

Ngay trưa hôm đó anh sĩ quan tiếp liệu của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã có mặt ở Ngã Ba Kiến-Ðức, trên tay anh ta là tờ cam kết chỉ tính tiền tiếp tế kỳ này cho các Biệt Ðộng Quân 63 tăng phái với cái giá là ba ngày.

Hôm sau, Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân chạy lên Kiến-Ðức năn nỉ tôi cho phép các quân nhân tăng phái của ông được tiếp tế chung với Tiểu Ðoàn 82 suốt thời gian họ ở với tôi.

Hai sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn sẽ thanh toán tiền bạc với nhau.

Trước lễ Giáng-Sinh năm 1974 tôi nhận được cái đơn xin thuyên chuyển tập thể của hơn một trăm quân nhân của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân tăng phái xin về phục vụ dưới quyền Thái Sơn.

Ðọc cái đơn đó tôi chỉ mỉm cười, vì tôi biết, dù tôi có dang đôi tay chào đón họ, thì cấp trên cũng chẳng bao giờ đồng ý cả.

Tôi đã được Thiếu tá Trần Ðình Ðàng tâm sự về nỗi khổ tâm mà anh ấy đang gánh chịu.

Nguyên nhân của sự tiếp tế thiếu hụt này xảy ra chỉ vì ông sĩ quan tiếp liệu 63 đã lỡ đốt cháy hết tiền ăn tháng đó trên chiếu bạc!

Anh Ðàng mới từ Vùng 3 thuyên chuyển ra đây, lạ nước, lạ cái, nên bị bọn tham nhũng thâm căn, cố đế của vùng này qua mặt.

Chúng nó ăn tới cái khố của người lính mà anh Ðàng không hay!

Mỗi khi tiếp tế, chúng nó mua đủ thứ ngon ngọt, thơm tho cho ông tiểu đoàn trưởng, trong khi đó thì lính tráng bị bóp hầu, bóp họng, ăn chặn, ăn bớt mà không dám kêu ca.

Anh Ðàng hỏi tôi làm sao chấm dứt tình trạng này? Tôi chỉ cố vấn cho anh một câu thật ngắn,

– Hãy trừ tiền ăn tất cả mọi người trong tiểu đoàn, từ ông thiếu tá cho tới anh binh nhì, không ngoại trừ ai.

Hãy chia đều khẩu phần cho tất cả mọi người giống nhau, kể cả tiểu đoàn trưởng.

Có như thế, khi nhìn vào phần ăn của chính mình, ông chỉ huy mới biết kỳ tiếp tế đó, người lính được nuôi ăn ra làm sao.

Nghe rồi, anh Trần Ðình Ðàng mới hiểu nguyên nhân vì sao cũng đồng thời là người chỉ huy, mà có người được lính hết lòng thương yêu, quý mến, lại có người bị lính ghét cay, ghét đắng.

Anh gật gù,

– Chuyện này thực là giản dị, vậy mà bao lâu nay anh đã ơ hờ, không chịu để ý.

Tôi còn chỉ cho ông đàn anh cách thức khước từ lời mời chào của các nhà thầu, bất kỳ người đó là ai.

Ngày đó, năm 1973-1974, ở Pleiku, người đứng thầu cung cấp thực phẩm tươi cho các đơn vị Biệt Ðộng Quân là cựu Ðại tá Nguyễn Văn Huy, Nguyên chỉ huy phó Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 đã giải ngũ.

Không qua tay nhà thầu, thực phẩm sẽ tươi ngon hơn, và dễ thay đổi tùy theo ý thích của anh em.

Ðiều chắc chắn giá hàng sẽ rẻ hơn là nhận của nhà thầu. Vì lý do đó mà lúc nào phần ăn của quân nhân 82 cũng nhỉnh hơn phần ăn của các bạn ở đơn vị khác.

oOo

Ngọc bất trác bất thành khí…

Từ khi về Kiến-Ðức, tôi giao chú bé chết nhát, đứng khóc lúc xuất quân bên đồi Ðạo-Trung ngày nào cho hai anh lính đã trưởng thành trong khói lửa Pleime 1974 kềm kẹp. Hai anh này là Binh 1 Liêu Chí Cường và Binh 1 Ðức Ðiếc. Ba chàng này có vẻ hợp nhau lắm.

Trung đội trưởng của ba chú này là Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước người đã kéo lá quốc kỳ lên ngọn cột cờ trên đỉnh núi Chư Hô, ở Pleime vào lúc nửa đêm mùng 2 tháng 9 năm 1974 sau khi tái chiếm ngọn đồi này.

Ngày tiếp tế định kỳ tháng 11 cũng là ngày hoán đổi vị trí trú quân của các đại đội.

Ðại đội thượng phiên sẽ lãnh thực phẩm trước, đại đội hạ phiên sẽ nhận hàng trễ hơn.

Nhận tiếp tế xong, Ðại Ðội 4/82 rời Kiến-Ðức lên thay quân cho Ðại Ðội 3/82 ở làng Bù M’Bré.

Riêng Trung đội 3/4/82 của Chuẩn úy Phước sẽ tách ra khỏi đại đội để lên thay thế cho một trung đội của Ðại Ðội 3 trấn giữ tiền đồn Bù Row.

Ðại úy Ngũ Văn Hoàn là người theo dõi vụ đổi quân, chờ mãi mà vẫn chưa thấy trung đội của Chuẩn úy Phước tới mục tiêu. Ông Hoàn cứ đi ra, đi vào không yên, rồi chạy tới lều của tôi,

– Trình Thiếu tá, Ðại Ðội 3 về tới Ðồi Tây rồi mà thằng Phước còn chưa tới Bù Row, khiến cho tôi lo quá!

Tôi lấy làm lạ, từ Bù M’Bré tới Bù Row chỉ cần hai mươi phút di chuyển bình thường thôi, vậy mà cả giờ đồng hồ rồi mà Phước chưa tới không biết vì sao?

Cũng lúc đó trung đội của Ðại Ðội 3/82 trên đỉnh Bù Row báo cáo có tiếng súng bắn nhau vùng hướng Bắc Bù Row.

Tôi cho lệnh Thiếu úy Thủy đem thành phần còn lại của Ðại Ðội 4/82 cấp tốc di chuyển tới Bù Row để tiếp cứu cho Chuẩn úy Phước.

Từ đồi Kiến-Ðức tới Bù Row xa gần bốn cây số, không nghe được tiếng súng giao tranh, nên tôi đem theo toán Viễn Thám 821 chạy xuống vị trí của Ðại Ðội 2/63 bên suối Dak Blao để theo dõi tình hình.

Nếu Ðại Ðội 4/82 đụng lớn tôi sẽ mang Ðại Ðội 2/63 lên tăng cường.

Tôi tới chân cầu Dak Blao thì có tin Chuẩn úy Phước đã về tới chân đồi Bù Row, tất cả anh em đều có mặt, chỉ một người bị thương đó là ông Chuẩn úy Trung đội trưởng.

Biết tin này, tôi cho pháo binh bắn hai chục tràng đạn nổ trên vùng một cây số Bắc Bù Row, nếu địch còn lẩn quất trong khu vực này thì cũng phải sợ.

Sau đó, tôi cho Ðại Ðội 4/82 cắt cử một trung đội khác làm nhiệm vụ giữ Bù Row; Trung đội của Chuẩn úy Phước cùng thành phần còn lại của Ðại Ðội 4 thì rút về tuyến phòng thủ Bắc Kiến- Ðức.

Gần một giờ sau, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước về tới chân cầu Dak Blao.

Vừa thấy cái mặt sưng vù của chú Phước, tôi vội vàng hỏi,

– Có đau lắm không? Chuyện đầu đuôi ra sao? Kể cho anh nghe đi!

Miệng bị nhét một cục bông gòn tổ chảng, nhưng ông Chuẩn úy Trung đội trưởng cũng cố gắng kể cho tôi hay toàn bộ sự kiện.

Ðây không phải là lần đầu Phước dẫn quân lên điểm Bù Row. Vậy mà kỳ này chú ấy đi lạc!

Cách Bù Row gần nửa cây số thì Quốc Lộ 14 tẻ ra hai nhánh, một nhánh đi chếch về Tây tới chân Bù Row, nhánh thứ nhì đâm thẳng về hướng Bắc.

Quân ta nhắm mắt đi về Bắc! Tới khi nghe có tiếng hô “Ðứng lại!” mới biết mình đã lạc vào vùng địch.

Trung đội trưởng Nguyễn Hữu Phước chưa kịp gỡ khẩu M 16 ra khỏi vai thì ba tay khinh binh đi đầu đã nhanh như máy, bóp cò.

“Ðùng! Ðùng!  Ðùng!” đạn nổ.

Tên Việt-Cộng gác trên chòi canh bị bắn chết ngay. Quân ta quay đầu chạy.

Vài phút sau, địch từ trong rừng túa ra, bắn như mưa. Cùng với tiếng AK réo là tiếng la: “Hàng sống! Chống chết!”

Phước nói,

– Kỳ này đi tiền đồn, sợ bị địch tấn công bất ngờ nên em cho đem theo nhiều lựu đạn lắm! Khi biết mình bị lạc, lại thấy địch ào ra đông quá, em bèn cho hai tiểu đội chạy trước, em và tiểu đội còn lại, luân phiên đánh lựu đạn cản địch, rồi nhanh chóng rút lui theo chiến thuật sâu đo. Mấy thằng Việt-Cộng này cũng nhát lắm, không dám xung phong, chỉ mạnh miệng la hét thôi!

Kỳ lạ là, chú Phước không bị bắn trúng mặt, trúng đầu, trúng má, nhưng lại bị gãy một cái răng! (?) Chẳng biết cái răng đã bị gãy vì trúng đạn hay trúng mảnh lựu đạn?

Phước ôm cái má sưng vều,

– Trong khi súng đạn nổ ầm ầm, bụi khói mù mịt, em bỗng cảm như có cái búa đập vào hàm, rồi máu tuôn ra miệng. Em cũng chẳng biết vì sao mà em bị bể mất một cái răng?

Phước đưa tay chỉ cho tôi ba anh lính đi sát sau lưng,

– Em có ba thằng đồ đệ giỏi lắm! Ðánh giặc như ciné! Kỳ này Thái Sơn nhớ khen thưởng tụi nó nhe!

(Ciné: phim ảnh)

Thì ra ba thằng đồ đệ của chú Phước chính là Binh 1 Liêu Chí Cường, Binh 1 Ðức Ðiếc và anh chàng lính chết nhát.

Trong lúc súng nổ ran, nhìn thấy miệng ông trung đội trưởng đầy máu thì ba anh này la lên,

– Chuẩn úy chạy đi! Tụi em đoạn hậu!

Hôm đó ba anh lính trẻ được dịp trổ tài thao lược, bằng cách luân phiên nhau, vừa bắn vừa lui, hộ tống ông trung đội trưởng, an toàn về tới chân đồi Bù Row.

Nghe chú Phước kể lại chuyện này, tôi thích quá, bèn kêu “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” lên Câu Lạc Bộ cùng tôi cụng ly, mỗi người một chai cổ cao.

Anh chàng Biệt Ðộng Quân chết nhát uống chưa hết nửa chai bia Con Cọp, mặt mày đã đỏ gay, giơ hai tay lên trời, “Em xin chịu thua!”  

Người xưa nói rằng “Ngọc bất trác bất thành khí: Ngọc mà không mài giũa thì cũng chẳng có giá trị gì!”

Nhìn thằng em, tôi thấy ấm áp trong lòng.

Thế là, chỉ sau hai tháng mài giũa, cục đá thô kia đã thành một viên ngọc quý.

Phỏng Vấn Thiếu tá phi công hải quân Hoa Kỳ Lê Hưng – Người từng lái máy bay L.19 kéo đại kỳ VNCH trên bầu trời Little Saigon

Posted by bienxua on 27 Mar 2016

Thanh Phong

Post by Sơn râu 15 Aug 2023

LITTLE SAIGON – Hẳn bạn đọc còn nhớ, cách đây không lâu, vào những dịp mừng Ngày Quân Lực 19 tháng 6 hay dịp Tết Nguyên Đán, trên bầu trời Little Saigon, Nam California thường xuất hiện một máy bay trinh sát L.19 kéo theo lá đại kỳ Quốc Gia Việt Nam và tấm biểu ngữ “Mừng Ngày Quân Lực” v.v… Nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ bay lượn trên bầu trời, nhiều người trong chúng ta không khỏi xúc động và cũng rất tự hào về lá cờ vàng, biểu tượng của Người Việt Quốc Gia yêu chuộng tự do, dân chủ. Người đem đến niềm tự hào dân tộc và sự xúc động trong lòng mọi người chính là Thiếu Tá Phi Công Lê Hưng. Nhân dịp ông về Nam Cali tham dự ngày Đại Hội 3 các Phi Đoàn Quan Sát của Không Quân VNCH, chúng tôi được dịp gặp người phi công VNCH mà đến giờ này vẫn còn “đi mây về gió”. Chúng tôi rất ngưỡng mộ ông nên đã mời ông đến tòa soạn Viễn Đông để làm cuộc phỏng vấn, và khám phá ra nhiều điều thú vị về cuộc đời của một phi công tài hoa, nhiều may hơn rủi.

Sinh ra và lớn lên tại thành phố biển Nha Trang, nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, hàng ngày anh nhìn thấy những máy bay quân sự lên xuống, và những chàng trai khôi ngô, tuấn tú trong bộ đồ bay oai phong ngồi trong phòng lái và phút chốc bay vút lên không trung đã làm anh say mê, ngưỡng mộ và mong ước sẽ trở thành một phi công của Không Lực VNCH. Niềm mơ ước đó được thực hiện vào tháng 5 năm 1972 khi anh được trúng tuyển vào binh chủng Không Quân và thụ huấn tại TTHL Không Quân Nha Trang 1 tháng rưỡi, sau đó về Saigon thi Anh văn. Sau khi đậu Anh văn, anh là nhóm đầu tiên trong khóa đi du học Hoa Kỳ vào năm 1973 để trau dồi Anh ngữ và qua trường học lái máy bay. Tốt nghiệp xong, anh về nước vào tháng 9/1974 và được chuyển về Quân Đoàn IV tại Cần Thơ, lái A.37.

Thời gian này là thời gian đất nước sắp bị mất vào tay giặc cộng, anh về Saigon và sau đó rời khỏi Việt Nam trên một chuyến máy bay vận tải qua Utapao, Thái Lan. Vài ngày sau anh được qua Guam và chừng một hai tuần sau thì được đưa qua Hoa Kỳ. Đặt chân đến trại tỵ nạn Fort Chaffee, Arkansas vào tháng 5/1975, lúc đó anh mới 22 tuổi. Phi công Lê Hưng nghĩ tới người thầy cũ đã huấn luyện và bảo lãnh mình là một vị Đại Tá Mỹ, anh liên lạc với vị Đại Tá đó, và được ông giúp đỡ tận tình. Vì tuổi đời còn quá trẻ, mộng bay bổng trên không trung chưa đạt, anh quyết chí vừa đi học vừa đi làm để nuôi mộng trở lại cầm lái máy bay. Sau khi hoàn tất bằng Cử Nhân Cơ Khí tại Đại học Texas Tech, anh xin gia nhập Không Lực Hoa Kỳ.
Dù đã thụ huấn xong về chương trình điều khiển phản lực cơ F5 từ những năm 1973 nhưng anh vẫn phải học lại từ đầu về căn bản quân sự, chịu huấn nhục gần nửa năm, sau mới được chuyển qua một Trung Tâm Huấn Luyện bay học gần 2 năm. Tại đây, tùy theo số điểm học, mỗi học viên được chỉ định học lái một loại phi cơ khác nhau từ phản lực cơ chiến đấu đến phi cơ vận tải, trực thăng các loại. Với điểm số tối ưu, anh Lê Hưng được chọn học lái oanh tạc cơ phản lực tại căn cứ gần Corpus Christi, Texas. Sau khi tốt nghiệp, anh được đưa về căn cứ Không Quân San Diego, California và giao cho lái chiếc S3, một loại khu trục phản lực chuyên săn tàu ngầm của Liên Xô trên vùng biển Đông.
Sau khi phục vụ tại đây hơn một năm, phi công Lê Hưng được chuyển sang phục vụ tại Hạm Đội 7 Thái Bình Dương, đóng tại Phi Luật Tân, bay trên vùng trời Đông Nam Á. Anh kể, vài lần anh bay tuần thám trên biển Đông, anh đã nhìn thấy những chiếc thuyền vượt biên của đồng bào ta. Anh bay sà xuống quan sát thấy ghe chết máy trôi vật vờ trên biển, đồng bào mình nằm la liệt trên ghe, anh đã thả máy đánh dấu tọa độ rồi gọi tàu Hải Quân Hoa Kỳ đến cứu. Có một lần, sau khi vớt người xong, Hải Quân cho trực thăng bốc anh đến gặp đồng bào mình. Mọi người hết sức ngạc nhiên không ngờ trong Không Lực Mỹ lại có một phi công Việt Nam có tình đồng bào tốt đẹp cao quý như thế. Họ cho biết ghe đã bị trôi lênh đênh trên biển 20 ngày rồi, không đồ ăn, nước uống, nếu không có anh kịp thời giúp đỡ thì không biết số phận họ ra sao. Trở về căn cứ, anh đem quần áo, thuốc men đến giúp đồng hương mình tại trại tỵ nạn, anh cũng gặp lại một số đồng đội xưa, cuộc trùng phùng diễn ra thật cảm động. Một vài lần khác, khi bay ngang vùng Cà Mau, anh đã nhìn thấy những đồng bào mình đang đốt rừng làm rẫy, mở tần số đài phát thanh Saigon, anh nghe hát bội, hát cải lương mà lòng dạ xót xa!
Là một phi công Hải Quân Hoa Kỳ, anh bắt buộc phải học đáp máy bay trên Hàng Không Mẫu Hạm (HKMH), và đã từng đáp phi cơ nhiều lần trên đó, anh nói, mặc dù đã được huấn luyện rất kỹ lưỡng nhưng lần đáp đầu tiên anh vẫn cảm thấy rất hồi hộp vì khi bay ngang thấy phi đạo nó ngắn quá, nhưng chỉ vài lần đáp là quen và thích thú lắm. Tuy nhiên, bất cứ người phi công Hải Quân Hoa Kỳ nào cũng phải hồi hộp, căng thẳng khi phải đáp xuống HKMH vào ban đêm, không có lần đáp nào giống nhau, mỗi lần đáp đều khác nhau . Anh cũng từng lái loại máy bay tiếp tế nhiên liệu trên không. Khi chúng tôi tỏ vẻ thán phục về việc làm thế nào để hai chiếc máy bay có thể ráp nối ống dẫn xăng nhỏ xíu từ chiếc máy bay này qua máy bay kia.

Anh Lê Hưng đáp: “Khi hai chiếc bay cùng một tốc độ thì không có gì khó khăn cả, hơn nữa máy bay của Mỹ trang bị dụng cụ rất tối tân, người phi công được huấn luyện rất chu đáo nên việc điều khiển phi cơ ném bom hay tiếp tế nhiên liệu trên không hoặc khi phải đáp khẩn cấp đều không có gì khó khăn trở ngại. Trong cuộc chiến vùng Vịnh, phi công Lê Hưng cũng từng lái oanh tạc phản lực cơ A6 Intruder đi ném bom tại Iraq mặc cho hỏa lực phòng không của địch thi nhau nhả đạn, nhưng anh vẫn đánh trúng mục tiêu và bay về căn cứ an toàn.
Sau khi giải ngũ, anh được thuê mướn chuyên chở các khách VIP và các yếu nhân nước ngoài. Anh đã từng làm việc ở Arabia Saudi , Kualalumpua, Ấn Độ, Kazakistan, qua Ai Cập và bây giờ lái máy bay tư nhân bên Nigeria (Phi Châu) hai năm nay. Trả lời một câu hỏi khác của Viễn Đông, phi công Lê Hưng cho biết, anh cảm thấy anh là người rất may mắn, được công ty bên Canada chọn và giao cho anh những phi cơ đặc biệt chở các yếu nhân và nhiều lần chở các tài tử nổi tiếng (anh kể khá nhiều tên các giai nhân ) đi đây đi đó, và họ rất có thiện cảm với anh. Biết anh là một phi công Việt Nam, họ rất thán phục và quý mến. Loại phi cơ anh đang lái là loại máy bay chỉ có 14 chỗ ngồi. Trước đây lái phi cơ quân sự có vẻ chật hẹp với đầy những khí cụ và nút bấm, bây giờ lái loại máy bay này anh thấy nó rộng rãi, thoáng và tối tân, mình điều khiển dễ như một em nhỏ chơi game vậy; chỉ có lúc cất cánh và đáp thôi còn khi đã lên cao rồi thì cứ như ngồi chơi game vậy, computer làm việc hết cho mình.

Trả lời câu hỏi của chúng tôi rằng có khi nào anh nghĩ đến việc viết hồi ký hay viết sách về cuộc đời bay bổng của mình? Phi công Lê Hưng trả lời: “Tôi không hiểu tại sao, trong lòng tôi lúc nào cũng say mê vấn đề bay bổng; hiện tại tôi đang say mê ngồi trên buồng lái, bay bổng trên không trung, đi huấn luyện cho những phi công trẻ ở các nước khác và gặp gỡ những nhân vật quan trọng trên thế giới, đi đây đi đó, học hỏi được rất nhiều, nhìn thấy những tiến bộ và các sinh hoạt của các quốc gia khác để có dịp so sánh với đất nước mình, nên lúc này chưa thể làm chuyện đó vì đang rất bận bịu với công việc.”
Vào năm 1994 đến 1997, Thiếu tá phi công Lê Hưng là người khởi xướng việc kêu gọi các anh em cựu quân nhân QL/VNCH tại Nam Cali mặc lại quân phục, anh đã mua cả ngàn bộ quân phục về để phân phát cho các cựu quân nhân mình, nhưng một số niên trưởng tỏ ra ái ngại vì mặc cảm thua trong cuộc chiến, không mặc, nhưng sau này khi biết rõ ràng chúng ta không thua Việt cộng về mặt quân sự, chúng ta thua về chính trị thôi nên không lấy thế mà mặc cảm. Và sau đó, không chỉ ở Cali mà khắp nơi trên thế giới có phong trào các cựu quân nhân VNCH hãnh diện mặc lại bộ quân phục của mình. Ngay chính tại VN bây giờ, các bạn trẻ cũng đang thích thú được mặc quân phục của người lính VNCH. Anh cũng từng bay chở các chiến sĩ nhảy dù biểu diễn trong ngày khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster, ngày Tết tại Garden Grove Park và bay nhiều lần trên bầu trời Little Saigon, Nam Cali kéo theo đại kỳ VNCH cũng như biểu ngữ, đóng phim và cuộc tranh cử Nghị Viên Westminster vào năm 1992, đem trực thăng đến tham dự trong những dịp diễn hành Tết Nguyên Đán tại Little Saigon… Anh cho đó là những việc đóng góp vào việc phục vụ cộng đồng..

Trước khi kết thúc cuộc phỏng vấn, chúng tôi xin anh đưa ra một lời khuyên đối với giới trẻ VN tại hải ngoại để họ có thể tiếp nối các anh, đem khả năng của mình phục vụ đất nước Hoa Kỳ và sau này khi chế độ cộng sản sụp đổ, họ có thể trở về xây dựng quê hương? anh Lê Hưng nói: “Khi về đây, tôi có sinh hoạt với Cộng Đồng, với Hội Không Quân miền Trung Cali, tôi thấy một điều đáng tiếc là có nhiều anh em Không Quân có nhiều kinh nghiệm phi hành nhưng không có cơ hội, không có chương trình để truyền lại kinh nghiệm cho giới trẻ và cho con em mình trong tương lai. Tôi thiết nghĩ, một ngày nào đó tôi mong muốn làm được điều đó, vì trong quá khứ tôi đã huấn luyện cho những người bạn bè cùng khóa đi bay, lấy bằng bay, bay biểu diễn v.và Tôi đã giúp một em lúc đó mới 17 tuổi nay đã trở thành một phi công dân sự. Trong tương lai, tôi hy vọng thành lập một công ty, xin được học bổng của những công ty lớn và cấp học bổng cho những con em mình thích về phi hành, dân sự cũng như quân đội, để các em sẽ trở thành những phi công cho Không Lực Hoa Kỳ và cho tương lai của ngành Hàng Không VN khi đất nước mình không còn cộng sản.”
Anh tâm sự: Trong suốt cuộc đời anh, anh chỉ tiếc một điều là chưa có dịp đem những điều đã được học hỏi, đem kiến thức và khả năng của mình phục vụ quê hương vì quê hương đã rơi vào tay giặc cộng. Trong hàng ngũ tướng lãnh VNCH, anh rất ngưỡng mộ Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, vị Tướng đã chấp nhận ở lại chiến đấu với địch quân và bị chúng bắt đi tù 17 năm. Chuẩn Tướng Sang qua đời tại Nam California ngày 08.12.2002, phi công Lê Hưng đã cùng hai đồng đội lái 3 chiếc máy bay Cessna bay lượn trên bầu trời để tiễn biệt cố Chuẩn Tướng về an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted on 2 Feb 2022

Post by Sơn râu 15 Aug 2023

Kỳ 8

Thủy Thủ Về Nhà: phần 1

 Hơn mười giờ sáng rồi mà mặt trời còn ẩn sau lớp mây trắng đục, tỏa ánh sáng yếu ớt làm quang cảnh mù mờ, có chút sương pha nhưng trời êm ả lắm. Hồ nước đã được người ta cào rác rến và đám bông súng mới hôm kia còn bông vàng, bông trắng từng chòm và lá màu xanh nâu chiếc nào chiếc nấy lớn bằng cái mâm kề nhau phủ gần bít mặt hồ, tất cả đã được dọn sạch sẽ. Mặt nước phẳng lặng như tờ, nước hồ đã lóng trong màu vàng nhợt đủ cho cây liễu xum xuê cành lá xanh xanh bên hồ soi tàng bóng nước.

 Tôi với Trúc Thanh dẫn Kuma đi qua cây cầu bắc ngang hai bờ hồ.

 Thanh nói:

– Cảnh thanh bình quá.

Nói tới đây chợt bị thu hút bởi đàn vịt đang bơi qua, chúng tôi đứng lại vịn tay lên lan can cầu nhìn xuống. Không nhớ là tháng mấy, chỉ nhớ hôm đó là mùa xuân, vẫn là những con vịt cha và những con vịt mẹ với những con vịt con nhỏ xíu này bơi lội trên mặt hồ. Đương thong thả nhìn bầy vịt bơi, chợt giựt mình thoát khỏi sự trầm ngâm khi những con vịt đập cánh xuống làm nước văng tung toé, ngó theo bầy vịt bơi ào ào làm quấy động mặt nước êm ả giữa dạ cầu. Chợt thấy một chiếc xe chạy điện dành cho người tàn tật đã thắng đứng lại trước lan can giữa cầu từ lúc nào. Người phụ nữ ngồi trên chiếc xe, cầm mấy lát bánh mì trắng, tay xé bánh ra miếng nho nhỏ và liệng từng miếng xuống nước, bầy vịt nhào tới giành nhau nuốt chửng những miếng bánh mì đã ướt. Nhìn bầy vịt giành ăn, tôi mới nhớ ra, hẳn nhiên có nhiều điều đã đổi thay từ mùa xuân cho tới mùa thu. Mấy đứa con của cha, mẹ vịt giờ đã lớn khôn, chúng không còn ngoan ngoãn nữa, chúng có đôi cánh khoẻ mạnh nhấc được mình lên khỏi nước và đôi chưn mạnh mẽ đạp chạy trên mặt nước như bay. Tôi khoa tay một vòng và nói:

– Ừa, mình sống một nơi rất yên bình, con người và muôn thú cũng được bình an. Mama thấy không, bầy vịt con mới mấy tháng trước còn nhỏ xíu, nay đã biết tự kiếm ăn và biết giành ăn, không lâu nữa chúng sẽ trở thành cha mẹ của bầy vịt con sau này.

– Phải rồi, trông chúng rất là vô tư, gần gũi với con người mà hổng biết sợ gì hết.

Người phụ nữ chăm chú cho vịt ăn, không để ý tới chúng tôi. Nhưng tôi nhìn cô ta rất kỹ, gương mặt phúc hậu, tóc cắt gọn gàng với chiếc áo khoác len dài màu nâu, mặc một chiếc váy bông cũng màu nâu lấp ló dưới chưn, rất hợp với đôi giày màu nâu sẫm, ước tính cô ta cũng trên dưới tuổi năm mươi. Cô ta bị bịnh gì hổng biết mà ngồi xe lăn? Trúc Thanh cũng trạc tuổi với người phụ nữ kia, tuy hai chân còn đi vững và sức khoẻ đủ để làm việc nửa ngày, vì phẩu thuật mấy lần nên tinh thần không được mạnh mẽ cho lắm. Nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới những người đàn bà ở tuổi trên dưới năm mươi mà tôi quen biết, người nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và sang trọng, có người làm chủ cơ sở kinh doanh, nhưng bên trong cái đẹp hào nhoáng ấy, phần đông đều chịu đựng những căn bịnh ngặt nghèo như; ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư máu. Có vài cô đã qua đời ở lứa tuổi năm mươi, tuổi vào thu!

Tôi cũng liên tưởng tới hơn ba tháng qua, ở trên đất liền, tôi dự một buổi rải tro cốt của một ông anh và một buổi cầu siêu của một phật tử mới qua đời và có một anh bạn đang bịnh ung thư gan, bác sĩ cho biết anh ấy còn sống được vài tuần nữa. Mấy tuần trước, vợ chồng tôi và các anh, chị, em rủ nhau tới thăm, trông anh xanh xao, nhưng anh rất lạc quan, vẫn vui vẻ nói cười với anh em một cách bình thường. Mới đó mà chúng tôi đã sống trên đất khách, quê người hết cả cuộc đời. Nhớ tới những ngày còn trai trẻ, người nào cũng có một hoài bão cao ngất trời, nên khi còn chân ướt chân ráo đặt lên xứ người thì anh chị, em hợp nhau để thực hiện lý tưởng hoài bão đó. Những năm gần đây, sau mỗi chuyến hải hành trở về, nếu không nghe tin mất một anh hay một chị thì cũng nghe anh này bịnh, chị kia nằm nhà thương.

Mùa thu là mùa làm cho những người có tinh thần yếu đuối hay bị trầm cảm. Trúc Thanh nằm trong nhóm người này, tinh thần luôn bất an, vui hay buồn đều chảy nước mắt và cũng hay khóc mỗi khi nghe chuyện thương tâm. Cũng vì dễ bị tổn thương, nên có những ý nghĩ tiêu cực tôi để trong lòng chớ hổng dám nói ra. Tôi day ngang khèo Trúc Thanh và ra hiệu cho Kuma đi qua bên kia cầu. Những chùm lá già nua trên hàng cây xanh ven bờ hồ cũng đã đổi màu. Từ đây cho tới cuối tháng mười một mỗi ngày qua là tiết trời mỗi thay đổi, có thể nhìn được thời gian đi qua rõ ràng, nhứt là sự thay đổi ánh sáng mỗi ngày, nó giống như một cuốn phim quay chậm. Chúng tôi đi dọc theo con đường một bên là bờ hồ được đổ đá rất kiên cố và một bên đường trồng một hàng cây lá đã đậm màu, có vài chiếc lá đã điểm màu vàng và lác đác rụng trên thảm cỏ xanh. Trời im gió, không khí mát rượi, những bụi bông lục bình xanh dương hay tím tím, bông thủy tiên và bồ công anh với màu vàng tươi và kết hợp với những loài hoa màu trắng hoặc màu hồng của cá hồi; có loại lá to, loại lá nhỏ, lá gai, lái dài, lá ngắn; có mùi thơm hoặc không có mùi thơm… tất cả rộ lên trong những ngày mùa xuân mà giờ đây cũng đã đổi thay, không còn nhận ra dấu vết. Tôi cầm tay vợ vu vơ nói:

– Bây giờ là mùa thu.

Thanh nói:

– Mùa dịch cô vít chớ thu gì.

– Dịch cô vít qua hơn một năm rồi và hổng biết chừng nào mới dứt, không phải là mùa nữa mà phải gọi là “trận” dịch cô vít.

Thanh rùng mình một cái:

– Ghê thiệt.

Chợt ghe gió lạnh, tôi ngó lên trời, day qua nói:

–  Mây đen kéo về, trời sắp mưa.

Thanh nói:

– Ừ, dạo này mưa, gió thất thường, mình đi dìa được rồi.

Về nhà Trúc Thanh cho Kuma ăn, còn tôi pha hai tách trà gừng, chúng tôi rất thích trà gừng tươi, vì nó không chỉ là một thức uống ngon mà còn có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Có một chị bạn là bác sĩ mách cho tôi biết, trà gừng tươi có tác dụng chống viêm, giúp giảm cân, tăng cường hệ thống miễn dịch và thậm chí bảo vệ chống lại ung thư ruột và bệnh Alzheimer. Ngoài ra gừng có tác dụng chống buồn nôn, ta có thể uống nhiều hơn so với một tách trà bình thường. Trong những trung tâm dinh dưỡng cho rằng, gừng cũng thích hợp trong thức ăn lành mạnh. Tôi bưng hai tách trà gừng đem ra bàn, lúc đó trời đã bắt đầu mưa. Tôi nói với Thanh:

– Ngồi trong phòng nhìn mưa, uống trà cũng ấm áp.

 Trúc Thanh day qua nói:

– Ờ hén, thấy cũng hay hay.

Tôi nhìn mưa tạt vào khung kiếng nghe rào rào, ngoài vườn cây cối lai rai nhả những chiếc lá già xuống sân. Tôi nói:

– Mama nhìn ra vườn sau coi, những chiếc lá dán xuống mặt gạch bị nước mưa làm ướt mem.

Trúc Thanh rụt cổ, nói:

– Lạnh thấy mồ.

– Mama lạnh vì bị thời tiết bên ngoài xâm nhập.

– Là sao?

– Mùa thu là mùa di chuyển chậm, thời gian đi từ từ, trời đất gần nhau, tuy nhìn bên ngoài lạnh nhưng nếu nhìn vào bên trong vẫn thấy được ấm áp.

– Trời đất như vầy mà ấm áp gì.

– Thì mình sống tự nhiên theo mùa, tư duy nên hướng vào nội tâm thì sẽ thấy được niềm vui ấm áp.

–  Tui thấy càng hướng vào nội tâm càng dễ bị trầm cảm.

– Đó là tâm trạng của người bịnh, có khi nào mama gặp phải các triệu chứng như cảm lạnh, da khô hoặc táo bón trong mùa thu không?

– À, cái này có, nhưng…

– Nhưng sao?

– Cảm lạnh, da khô, táo bón ăn nhập gì nội tâm?

– Ăn nhập chớ, cũng nhờ nội tâm chỉ cho mình thấy được những triệu chứng đó.

– Mùa khác hổng có mấy triệu chứng này sao?

– Có nhưng mùa thu thường xảy ra hơn.

– Vậy à?

Tôi chỉ tay xuống tách trà nói:

– Uống hết tách trà gừng đi, gừng ngừa cô vít đó.

Trúc Thanh bưng trà lên uống một ngụm, để tách trà xuống rồi nói:

– Ờ, hổng biết có ngừa dịch được không nhưng thơm và ấm thiệt. 

Trúc Thanh cầm đồ bấm lên định mở truyền hình, thấy tôi nhìn qua, cô để đồ bấm xuống. Số là trước kia Trúc Thanh dành thời gian xem truyền hình rất nhiều, nhứt là từ khi đại dịch hoành hành ở Việt Nam, cô hay lên Youtube xem mấy clip bên nhà, phần đông là những chuyện thêu dệt cảnh thương tâm của mấy người làm clip, riết rồi bị trầm cảm. Thấy vậy tôi đề nghị với Thanh trong lúc ăn, uống cũng như giờ ngủ không xem iPad và không coi mấy cái clip tiêu cực của Việt Nam nữa. Ban đầu Thanh có hơi bất bình nên hỏi vặn:

– Tại sao?

Tôi giải thích:

– Tại vì truyền hình và mạng internet tin giả, thầy tu giả nhiều vô số, tệ hơn nữa mấy cái clip họ dàn cảnh đóng giả tràn lan, mama xem riết rồi bị bịnh đó.

Trúc Thanh nghe tôi giải thích, mới ngộ ra, nhưng cũng còn tiếc:

– Vậy thì ngoài những tin tức của đài phát thanh truyền hình có uy tín và nghe nhạc ra tui hổng xem cái gì nữa hết được hông?

– Tui đâu có ra lịnh cấm mama, chỉ lưu ý thôi, nghe, xem tin tức thì  phải biết chọn lọc, nếu không thì bị nhiễm mấy thứ tiêu cực trên mạng, nó cũng độc hại không thua nhiễm cô vít đâu.

– Nhưng làm cách nào để chọn lọc đây?

– Chỉ có cách là bỏ bớt không gian mạng và mấy đài phát thanh, nhứt là đài truyền hình của Việt Nam, đừng thấy mấy cô, mấy cậu biên tập viên người nào cũng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ và đọc nghe sướng cái lỗ tai mà tin theo bị lầm chết. Còn YouTuber thì phịa tin giựt gân để thu hút mấy người nhẹ dạ cả tin.

– Ừa, sao họ phịa mà y như thiệt vậy đó.

– Bỏ đi! Tốt hơn hết là mình nên quay lại bên trong xem cơ thể mình nó có rầy rà không và sống cho phù hợp với thời tiết của một ngày là đủ rồi.

– Papa nói thử coi, sống sao cho phù hợp với thời tiết hôm nay đây?

– Theo y học cổ truyền Đông Phương thì phân ra năm yếu tố: mộc, hỏa, thổ, kim và thủy, nghĩa là; cây, lửa, đất, sắt và nước. Nếu có sự hài hòa giữa năm yếu tố này, thì sẽ có một sự cân bằng lành mạnh. Mỗi yếu tố liên quan đến một cơ quan, mùa thu gắn liền với nguyên tố kim loại. Cũng theo y học cổ truyền, hằng bao thế kỷ qua, mùa thu vẫn liên hệ với phổi và ruột già. Phổi đón nhận năng lượng mới dưới dạng oxy, ruột già đưa các chất cặn bã trong cơ thể của ta ra ngoài.

– Papa ngồi bên trời Tây mà nói chuyện bên trời Đông nhắm có hợp lý không?

– Cái này tui đọc qua báo Tây đó chớ. Bên Tây bây giờ tiệm thuốc Nam, thuốc Bắc thiếu gì. Mama là hội viên của tiệm thuốc Nam mà hổng biết sao?

– Ờ hén, nhưng thuốc thì trị thân thể thôi, còn cảm xúc thì sao?

– Cũng theo đông y, cảm xúc có liên hệ với phổi tạo ra nỗi buồn.

– Vậy là mùa thu là mùa buồn.

– Theo tui được biết thì ta nên cho nỗi buồn một không gian thoáng sẽ tạo ra một sự rộng rãi trong chính bản thân mình. Một khi năng lượng phổi được cân bằng thì có những suy nghĩ, giao tiếp với người ngoài cũng tích cực hơn, nhờ lọc bỏ những cặn bã và thong thả với những ý tưởng mới, có khả năng thư giãn mà phân biệt thật, hư rõ ràng. Còn nếu ai sống trong không gian hẹp, keo, bẩn thì năng lượng phổi thấp và suy tư kém cỏi, lúc đó sẽ gặp khó khăn hơn khi đối mặt với mất mát. Cũng như khó mà buông bỏ tiền tài, vật chất và dễ bị mắc kẹt trong những kinh nghiệm thành công hay thất bại đã trải qua trong đời sống. Cho nên cần làm sạch bên trong lẫn bên ngoài, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

– Như vậy vào mùa thu thì nên thiền tập nhiều để hướng sự chú ý vào trong mình, xem những gì cần thiết để cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa.

– Theo tui thì đó là tâm trạng còn phân biệt, không riêng gì mùa thu. Mọi thời, mọi lúc nên chú ý vào trong mình, để biết mình nên cần giữ điều gì có thể giữ và bỏ điều gì cần phải bỏ.

– Là sao?

– Là những khi rảnh rổi ngồi yên đều hoà hơi thở, để loại bỏ chất thải trong tâm thức, cũng như chất cặn bã của ruột già. Nói chung, những gì trong cơ thể và tâm thức không còn sử dụng được nữa, ta nên thải ra cũng như trong đoạn cuối cùng của sự tiêu hóa.

– Tự dưng hôm nay vợ chồng nói chuyện có hơi khó hiểu. Thực tế chút đi, ăn uống làm sao cho phù hợp với mùa thu?

– Mama làm khâu phát triển sản phẩm trong xưởng sản xuất thức ăn tươi đóng gói cho siêu thị thì phải biết thức ăn của mỗi mùa chớ.

– Ờ, tui nhớ rồi, hôm kia trong hãng chuẩn bị đóng gói rau củ cho các món hầm và bí đỏ cùng gia vị cho món pompoensoep.

Tôi hớp một hớp trà nhìn qua Trúc Thanh hỏi:

– Chỉ có rau của món hầm và xúp thôi sao?

– Còn nhiều lắm, tui chỉ đưa ra mấy món tiêu biểu thôi.

– Vậy theo kinh nghiệm lâu năm của mama ra sao kể nghe đi.

Trúc Thanh ỡm ờ và hỏi:

– Kể cái gì bây giờ?

Tôi gợi ý:

– Đại khái văn hoá ẩm thực, tiêu biểu thực phẩm đúng mùa không chỉ chất lượng hơn mà rau thường ngon hơn, có thể mua nó với giá rẻ hơn và còn có những món ăn tiêu biểu của Hoà Lan, mình cũng nên biết chính xác loại rau nào có mặt vào mùa nào nữa.

Trúc Thanh liền nói:

– Rau, trái, củ hầu như mùa nào cũng có bao nhiêu thứ đó thôi, nhưng điển hình các loại rau, trái, củ phổ biến nhiều vào mùa thu như: củ dền đỏ, cần tây, cải xoăn, các loại bắp cải, các loại nấm, củ cần tây, bí rợ, tỏi và, bắp cải đỏ, cà rốt và cải chua; gia vị cay và nặng mùi như tỏi tây, quế, tiêu và ớt.

Tôi cười:

– Trúng nghề nên mama kể ra vanh vách.

– Đại khái vậy thôi, đặc biệt là những hương vị nhẹ nhàng, thường thì ăn các món hầm trong khí trời lành lạnh ăn vô thấy ấm lòng hơn.

– Ừa, phải rồi, bí rợ thực sự là một trong những loại trái đặc trưng của mùa thu, nó có vị ấm và ngọt, có thể sử dụng nó tốt trong các món ăn thông thường hoặc nấu một món xúp ngon. Như pompoensoep là món xúp tiêu biểu mùa thu của Hoà Lan, nói chung là Âu Châu, món này gia vị hơi cay ăn với bánh nướng mặn hoặc bánh mì cây hợp với khí trời man mác lạnh.

– Papa là đầu bếp, chuyện ăn uống papa rành hơn tui mà.

– Ờ hén.

Tôi uống thêm ngụm trà gừng và nhìn ra ngoài trời mà ngẫm nghĩ. Thân thể con người ta cũng ngộ, ngay khi những chiếc lá rơi khỏi cây và khí trời lành lạnh, tự nhiên cảm thấy thèm thuồng những món ăn ấm cúng. Tôi day lại nói:

– Thực đơn ăn uống cho mùa thu thì nhiều lắm. Ngoài món xúp bí rợ, xúp đậu ra còn có các loại bánh quiche hoặc những món ăn chơi và món ăn truyền thống của Hoà Lan vào những ngày trời lành lạnh. Điển hình là món khoai tây luộc nghiền chung với cà rốt có tên là hutspot, hoặc nghiền chung với cải xoăn có tên là boerenkoolstamppot, nói chung là các món khoai nghiền tiếng Hoà Lan gọi là stamppot, những loại này ăn kèm với bò viên, thịt ba rọi chiên dòn và xúc xích Hoà Lan hun khói mới đúng điệu ẩm thực của Hoà Lan.

Trúc Thanh nói:

– Những món này theo khẩu vị của người Hoà Lan, gia đình mình sống ở đây lâu năm, tui mần trong xưởng chế biến, đóng gói thức ăn và nêm nếm mỗi ngày, còn papa là đầu bếp, mình cũng đã quen với khẩu vị Hoà Lan rồi, vậy mà ăn chỉ được vài ba món chơi cho vui thôi chớ hổng mặn mà cho lắm. Nói chi tới người Việt mình, có được mấy người nuốt cho trôi mấy món stamppot và xúp bí, xúp đậu…

Tôi cười hì hì:

– Theo tui thấy thì những người da trắng như Nga và các nước Đông Âu ăn uống dễ thích nghi với mùi vị Hoà Lan. Còn In Đô, Phi Luật Tân cũng như phần đông người Việt mình sanh sống ở Hoà Lan lâu hay mau gì thì cũng khó ăn lắm.

– Dĩ nhiên rồi.

Nghe vợ xác nhận tôi chợt nhớ mấy hôm trước đây, Trúc Thanh với một bà bạn hàng xóm người In Đô và một chị người Việt gần nhà rủ nhau đi vô khu vườn trồng rau của miền nhiệt đới trong một nhà kiếng rộng. Ở đó người bán và người mua tại vườn những loại rau, trái, củ như: khổ qua, mồng tơi, rau muống, rau dền, bầu bí, mướp hương, khoai lang, cà tím, mà người Việt mình dí dỏm gọi là “cà ông giặc”.

Tôi day ngang nói:

– Mama hổng nhớ sao, thường thì muốn cho có chút hương vị Việt Nam, vườn rau nhiệt đới xa cả trăm cây số mà mama vẫn lái xe đi mua vài trái khổ qua, mướp hương, bó rau muống và rau thơm. Mấy hôm trước đây chớ đâu xa, khi nghe tin nhà vườn thu hoạch rau, củ, trái cuối mùa bán giá rẻ. Mama còn xông xáo gọi điện rủ mấy người Việt gần nhà, ai đi không được thì hỏi coi mua rau gì mama ghi vô quyển sổ để mua dùm. Còn kêu tui đi theo, tới nơi mấy bà tha hồ mà hốt, rồi bắt tui rinh chất đầy nhóc cốp xe, mệt muốn ná thở luôn.

– Ờ, dù sao rau mua tại vườn cũng vừa tươi, vừa ngon.

– Nghe nói tươi ngon tui thấy đói bụng rồi đây. Vậy hôm nay mama tính cho ăn món gì vậy?

Trúc Thanh day qua hớp một hớp trà và từ từ đứng lên đáp:

– Bánh xèo, trời mưa lành lạnh ăn bánh xèo cũng ngon.

– Ờ lâu rồi tui chưa ăn bánh xèo, tưởng quên cái món quê hương này rồi, nay nghe mama nói, phát thèm!

– Dĩ nhiên!

Nói xong Trúc Thanh bước qua mở tủ đựng đồ khô, lấy một bịt bột gạo và vài gói gia vị rồi qua mở tủ bếp bày dụng cụ ra pha bột. Pha bột xong, day qua tủ lạnh bưng tô nhân bánh xèo làm sẵn ra rồi day qua nói:

– Papa soạn trong học tủ lạnh ra coi còn rau, cải gì ăn bánh xèo hông?

Tôi đi lại mở tủ lạnh, coi lại học rau:

– Rau cải của mama mua trong vườn hôm trước ăn cả tuần nữa còn chưa hết.

– Vậy thì papa thấy rau nào ăn bánh xèo được lấy ra lặt, rửa xong rồi lột củ tỏi và gọt dùm hai củ cà rốt.

– Ô kê!

Tôi lựa rau cải ra rửa xong rồi hỏi Trúc Thanh: 

Còn phụ làm gì nữa không?

– Papa lấy nước mắm rót ra hâm lại và dọn bàn ăn được rồi.

Trong khi Trúc Thanh đổ bánh, tôi rót nước mắm để vô lò vi sóng bấm nút ba mươi dây thì chợt nghe điện thoại báo. Tôi đi lại chỗ để điện thoại bấm nhìn xem, thấy có tin nhắn của hãng tàu. Tôi ngước lên nói với Trúc Thanh:

– Tui nghĩ hãng tàu kêu tui đi làm.

– Papa đọc coi họ nói gì?

Tôi đọc tin xong day ngang nói:

– Ồ, hông phải đi làm, mà giấy chứng nhận sơ cứu của tui hết hạn rồi, họ kêu tui trở lại trường học ba ngày, để đổi chứng nhận mới.

– Vậy hả?

Tôi về nhà từ đầu mùa hè tới nay đã giữa mùa thu rồi. Cũng vì sợ cô vít nên chúng tôi hổng dám đi chơi xa. Hơn ba tháng trời, ngoại trừ mấy lần đi thăm vài người bạn cần thăm, tôi chưa ra khỏi vùng Flevoland, cứ luẩn quẩn ở Dronten, một thị trấn nhỏ nằm trong miền đất thấp hơn mặt nước biển của vương quốc Hoà Lan. Ở nhà không được tiếp xúc bạn bè, hổng nói chuyện với ai ngoài vợ nói chồng nghe, chồng nói vợ nghe, lắm khi nhàm chán rồi cãi qua cãi lại. Trước đại dịch, nếu tôi còn ở trên bờ, mỗi khi thấy trời chợt mưa, chợt nắng và gió lành lạnh lướt qua hàng cây trước nhà thì lòng tôi rạo rực, trong ý nghĩ dấy lên một chút lãng mạn rằng mùa thu là mùa lên đường và nôn nao chờ đợi ngày đi. Đối với tôi thì ở trên bờ hơn ba tháng có hơi lâu và phát hiện ra, thời gian qua tâm tư cũng có ít nhiều thay đổi. Năm nay tôi đã trên sáu mươi tuổi rồi, nghiệp đoàn có gởi thư thông báo, nếu muốn thì cuối năm tôi có thể nghỉ hưu, có lẽ cũng vì bức thư nghỉ hưu làm tôi để ý tuổi tác, sức khoẻ của mình. Dù sao đi nữa trong những ngày ở nhà nhàn rỗi, tôi để ý mùa màng một cách tường tận hơn. Thiệt tình mà nói tôi có thể tận hưởng thời tiết trước mặt trọn vẹn không cần phải ngong ngóng phương xa. Nhưng khi nhớ lại có vài thủy thủ già đã nghỉ hưu và còn sức khoẻ, bèn xin trở lại hải hành ngắn hạng. Theo họ thì hải hành để tránh sự nhàm chán trên đất liền và cho đỡ nhớ biển! Sức khoẻ tôi so ra thì cũng còn khá, nghĩ tới đây trong lòng tôi phân vân. Trong lúc chưa biết phải nên tiếp tục hải hành hay là như nhiều người đã khuyên “nên nghỉ ngơi để hưởng thụ cái tuổi già,? Bây giờ được tin tuần sau tôi phải về trường tập huấn, tôi mới nảy sanh ra một ý nghĩ. Tôi đi lại bếp vừa phụ Trúc Thanh dọn bàn vừa nói:

– Trong ba ngày vô trường thực tập, có môn bơi dưới nước cho trực thăng tới vớt lên và nhảy từ trên cao xuống nước, có hơi nặng, nếu tui vượt qua được hai đoạn này thì tui sẽ tiếp tục làm việc thêm năm năm nữa.

Trúc Thanh xúc bánh xèo ra dĩa vừa nói: – Lấy chứng nhận xong rồi hẳng tính, bây giờ ăn bánh xèo cái đả.

Bên dòng Maribyrnong!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Aug 2023

Úc Châu, một hòn đảo khổng lồ xa cách; nên mẫu quốc Anh hồi thế kỷ 18, đã từng lợi dụng vùng đất cô lập nàynày để lưu đày chính con dân cùng đinh của mình vì những tội lặt vặt như ăn cắp, móc túi, lừa đảo…

(Thực dân Pháp cũng vậy đó thôi; đã dùng Côn Đảo để lưu đày, cô lập, tách rời những người phạm trọng án hình sự hay những người tù chánh trị chống đối thực dân xâm chiếm nước mình)

Chớ thoạt kỳ thủy, cách nay tới 4, 5 chục ngàn năm, đất Úc còn đầy vẻ hoang dã này là của hàng trăm bộ tộc thổ dân, nói nhiều thứ tiếng khác nhau, sinh sống bằng cách săn bắn và hái lượm.

Đất mênh mông, trồng trọt chi cho nó mất công cứ du cư du canh vòng vòng là sống cả đời một cách phẻ re như con bò kéo xe vậy. Rồi người Anh đến tuyên bố đất này là của mình. Thổ dân nào chống lại là tiêu diệt. Vì vũ khí thô sơ của thổ dân như boomerang (thường có hình chữ V, khi phóng đi, nếu không trúng đích nó sẽ quay trở lại chân người ném); không thể đọ với súng trường của thực dân Anh cho được.

Ngày 26, tháng Giêng, hàng năm là ngày Quốc Khánh của Úc, là ngày Đệ nhứt Hạm đội của nước Anh vào tới Port Jackson, New South Wales.

Nhưng thổ dân Úc lại không ăn mừng gì ráo mà coi đây là một ngày buồn đau vì mất nước.

Tuy nhiên, nếu là con người không phân biệt chủng tộc thì phần số đã bị đưa đẩy (dù không ai muốn) tới cái đất nước phúc địa, “lucky country” này thì mình cũng nên sống hòa thuận, vui vẻ làm ăn, nhậu nhẹt với nhau đi nha!

Con người do ông Trời sanh ra như cánh chim, được quyền tự do bay nhẩy giữa bốn phương trời thì đất lành chim đậu; đừng cà khịa với nhau mà chi cho chúng nó khi!

Bà con Việt Nam mình đang ở Úc cũng do đời biển dâu, nên anh cũng dạt quê người…

Chớ trước 75, bà con mình đâu có ai muốn bỏ nước ra đi? Đi du học xong, ai cũng muốn trở về hết ráo. Còn bây giờ, thoát được chế độ CS đi được là đi luôn…

Đến đây thì ở lại đây! Thãng hoặc có thằng Úc kỳ thị đòi đuổi tui về nước Việt, tui chỉ cười hè hè nói: “Đứa nào cũng là thuyền nhân hết ráo, đứa trước đứa sau, ỷ tới trước ăn hiếp đứa tới sau coi bộ kỳ quá nha!” 

Mới đầu thì cũng có cái vụ vài thằng Úc cà chớn với người Việt mình, chân ướt chân ráo; nhưng sau thấy bà con cần cù chăm chỉ làm ăn, biến những vùng đất đìu hiu trở thành những thị trấn phồn vinh sầm uất thì Úc đổi thái độ từ coi thường sang nể phục; từ ghét sang khoái… Người Việt cũng chịu làm và chịu chơi quá cỡ thợ mộc đi chớ! Bà con hỏng tin thì cứ nhìn vào thị tứ Footscray, vùng đất tui đang ở, chỉ chừng 43 năm trở lại đây… là thấy tui nói hỏng có sai đâu!

***

Foots là hạ lưu, Cray là sông Cray bên nước Anh. Như vậy Footscray là Hạ lưu sông Cray, tên một thị tứ thuộc thành phố Maribyrnong, nằm về ngoài rìa phía Tây, cách nội ô thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu chừng 5 cây số.

Footscray thuộc thành phố Maribyrnong, có con sông cùng tên, bắt nguồn từ Macedon Ranges, Great Dividing Range dài chỉ hơn 40 cây số, cuối dòng, hợp lưu với sông Yarra tại Yarraville rồi đổ ra Port Phillip.

Những cư dân da trắng đầu tiên đến đây đặt tên là “Sông Nước Mặn”, Saltwater River; vì khi thủy triều lên nước mặn từ Port Phillip xâm nhập vào hạ lưu.

Nhưng thổ dân thì gọi là sông Maribyrnong có nghĩa là: “Ta có thể nghe tiếng con sóc nhỏ!”

Lưu vực sông Maribyrnong là vùng đất của người Wurundjeri cách đây tới 40 ngàn năm. Xương người được tìm thấy dọc theo sông, có niên đại cách đây 15 ngàn năm.

Mãi tới tháng Hai, năm 1803, Charles Grimes là người Âu Châu lần đầu tiên đặt chân đến đây, du thám dọc theo dòng sông. Tên của ông được đặt cho một công viên ở vùng Footscray.

Ngày nay dân Footscray khoảng 16 ngàn, mật độ khoảng 3 ngàn trên một cây số vuông, sống chen chúc nhau trên một diện tích 5 cây số vuông. Chỉ có 41.1% sanh đẻ tại nước Úc. Phần còn lại đến từ 135 nước khác nhau trên thế giới, đa số là người tỵ nạn, chạy trốn tàn phá của chiến tranh Thế giới lần thứ hai là Ý, Hi Lạp, Nam Tư…

Rồi làn sóng thuyền nhân Việt Nam, di dân Trung Quốc, Bangladesh, Sri Lanka và Myanmar, Ấn Độ, Sudan, Ethiopia, Somalia…

Tuổi bình quân cư dân Footscray là 33, còn trẻ chán. Trẻ là ham chơi hè! Nên Footscray tự hào là thị tứ sống động hạng thứ 37 của nước Úc.

(Được xếp hạng là vui rồi; vì trên lục địa bao la này có những thị tứ vùng hoang vắng, 10 giờ sáng mới thức; năm giờ chiều nghỉ buôn bán mần ăn, rút về nhà ngủ hết ráo!)

***

Mấy năm gần đây, Footscray phát triển không ngừng. Dưới đất chật chội thì người ta vươn lên, cần trục xây dựng chỉa lên tua tủa cả trời xanh.

Đâu cũng vậy! Bên dưới có sông là bên trên có chợ. Chợ Footscray là chợ bán hải sản, rau củ, 33 tiệm bán đồ ăn, 50 tiệm tạp hóa và nhiều nhà hàng đối diện ga xe lửa mới tân trang ở phía bên kia đường.

Do dân Á Châu đổ xô về vùng nàynày sinh sống nhiều nên một ch   ợ[SL1]  tương đối bề thế khác là Little Saigon, chủ là người Việt, khai trương năm 1992, rất sầm uất và náo nhiệt, mại dô, “one đô la, one đô la!”…bán trái cây, sản vật vùng nhiệt đới Á Châu.

Tuy nhiên một trận cháy lớn do chập điện đã xảy ra vào ngày 13, tháng Chạp, năm 2016 làm thiệt hại tới 12 triệu đô Úc. Nhưng trong đống tro tàn, người Việt mình lại đứng lên, lập kế hoạch xây dựng lại “Little Saigon”!

***

Bỏ nước ra đi với hai bàn tay trắng! Tui cũng như bà con mình bước đầu ở nhà mướn!

Chạy vòng vòng từ Coburg lên Fawkner hướng Bắc, qua St Alban về hướng Tây rồi trôi giạt tới Footscray cũng đã mười mấy năm nay.

Chiều cuối năm đất khách, lòng nhớ quê ai mà tránh khỏi. Nhờ viết báo nên có độc giả thích người hay tán láo mời đến nhà để “dục tửu phá thành sầu”!

Rượu vô lời ra! Ðược nói; được nghe! Là niềm hạnh phúc của người say!

Dẫu ngỡi nhân giữa mấy thằng bạn nhậu với nhau nó mỏng dánh như cánh con chuồn chuồn, nhậu vui còn nhậu; nhậu buồn nó bay… đi kiếm chỗ khác đứa khác nhậu vui hơn!

Tui có thằng bạn nhậu khá là thân, khoái làm kịch sĩ! Chưa uống giọt nào ra vẻ là người cứng rắn; nhưng làm hết một chai vodka là hắn rơi nước mắt, òa khóc như trẻ con. Nhìn cái miệng mếu của thằng chả; tui lại nhớ tới hề râu Thanh Việt!

Khóc “hi hi” xong còn quay lại rầy mấy đứa tui là: “Tối hôm qua, tụi bây xỉn quá. Khiêng tao ra khỏi quán rượu, tụi bây làm tao té xuống đất tới 3 lần!” 

Hắn thường tự trào là: “Tối qua tao đã uống quá nhiều rượu vodka. Sáng nay tỉnh dậy, tao nói tiếng Việt với em yêu bằng giọng của người Nga!” 

***

Tui là cái thằng cứng đầu, em yêu dạy dỗ biết bao lần, tui đều bỏ ngoài tai.

Em yêu từng nêu thí dụ là: “Chủ quán rượu thích người nghiện rượu nhưng không muốn anh ta làm rể nhà mình!” Tui bèn cười hè hè đáp lại là: “Nhưng Tía em đâu phải là ông chủ quán!” 


Em yêu tức quá, đế thêm câu nữa là: “Khuyên giải kẻ ghiền rượu chẳng khác nào nói với người vắng mặt!”

Tui đâu có ghiền rượu, chỉ ghiền bạn mà thôi, nên biện hộ: “Anh là dân văn nghệ, viết văn viết báo phải có chút cay cay mới sáng tạo được em ơi!” 

Thì em bác bỏ ngay lời ngụy biện của tui là: “Rượu chả sáng tạo ra cái gì cả, nó chỉ làm ra kẻ nói nhiều!”

Ối tui tuần nhậu chơi có một trận mà tối ngày em cứ cằn nhằn hoài nghe nhức cả hai cái lỗ tai.

Thằng bạn nhậu của tui năm chỉ nhậu có hai lần. Một là vào ngày sinh nhật của nó. Hai là vào những ngày không phải là sinh nhựt của nó mà bà xã của thằng chả đâu có càm ràm dai như giẻ rách như em yêu của tui đâu?

Tuy nhiên trong đám bạn bè, tui cũng có một người bạn không thèm nếm một giọt rượu vì nó mãi lo “tu”!

Nó từng thuyết pháp cho tui nghe là: “Trên đời có ba thứ nguy hiểm nhất: “Rượu ngon làm ta mất trí, tiền bạc nhiều làm ta bất chính, vợ đẹp làm ta đau khổ nhiều. Vì rượu ngon khiến ta thích uống; tiền nhiều thường làm mờ át lương tri; vợ đẹp thường hay phản bội. Vì thế tốt nhất là mất cả ba. ” 

Thế nên tới giờ phút nàynày đây anh bạn hiền “tu hú” nàynày đành sống cu ky, thui thủi, một thân một mình trong bốn bức tường trơ trọi!

Chiều cuối năm bạn hiền (kiêm độc giả) mời tui đến. Nhà bạn có cái ban công ở tầng ba nhìn ra phía dòng sông Maribyrnong đang lặng lờ xuôi chảy.

Sông Maribyrnong này bề ngang chỉ chừng ba chục thước; chỉ là đường thoát nước của những con suối gom về để trôi ra biển…Mà cũng gọi là sông?!

Hai bên bờ không có dừa nước chỉ có cây cọ, không có cá thòi lòi nhẩy soi sói, nhảy tới nhẩy lui gì hết ráo hè. Chỉ có bê tông, bê tông và…bê tông!

(Tui muốn quên đi nhánh sông quê bên kia biển mà vì thời cuộc tôi xa nó dễ chừng đã hơn hăm mấy năm qua nhưng không có được!)

Tui cảm thán với ba chiến hữu chung bàn là: “Đêm cuối năm quê người buồn quá bạn hiền ơi!” Sau đó cầm một ly vodka, trong như mắt mèo, quất nhe cái ót, đầu gục gặc lên xuống, tui lảy thơ Cao Tần:

“Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn

Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai…

…Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc

Thấy chiến trường la liệt xác anh em

Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục

Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm!” 

Để kết bài nàynày tui xin phép thưa với nhà thơ! Thú thiệt lần nào “xỉn xỉn” là tui lại nhớ tới thơ ông; dù chỉ tình cờ đọc qua có một lần cách đây tới mấy mươi năm; hồi còn kẹt trong nước lận!

Chính vì mấy lời thơ “quá đã” này mà khi tui buồn nỗi buồn mất nước lại cứ lai rai hoài hè! Nhưng tui nào dám đổ thừa thơ ông làm tui khoái nhậu đâu nha!

“Thôi cạn trăm phần trăm đi! Một hai ba! Vô!”

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

26th Mar 2021

Post by Sơn râu 15 Aug 2023

Kỳ 12

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Qua những chiến dịch dẹp loạn Bình Xuyên, dẹp loạn Ba Cụt, người chiến sĩ xuất sắc có tên Ngô Thái Bình được thượng cấp cứu xét cho phục hồi cấp bậc trung sĩ.

Năm 1960 Trung sĩ Ngô Thái Bình tình nguyện sang đơn vị mới thành lập có tên Biệt Ðộng Ðội, tức là Biệt Ðộng Quân sau này. Không lâu sau ông Bình được thăng cấp trung sĩ nhất.

Chỉ vì cái tật ngày nào cũng say mèm, say khướt, ông trung sĩ 1 đã bị đá đít lăn từ tiểu đoàn này tới tiểu đoàn khác, đi từ binh chủng này sang binh chủng khác, rồi dừng chân ở một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân vùng Bắc Bình-Ðịnh.

Sau một thời gian mưa thuận gió hòa ở Qui-Nhơn, con ma men lại cầm tay ông Bình nã súng vào chân ông tiểu đoàn trưởng của ông. Ngay lập tức, ông đáo nhậm đơn vị sau cùng là Quân Lao Nha-Trang.

Tôi đã ngồi im, chú tâm theo dõi câu chuyện kể lại cuộc đời ly kỳ của một cựu Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 Nam-Ðịnh. Tôi thấy thành tích quậy phá mấy chục năm nay của ông già này quả là có một không hai.

Kết thúc bản tóm lược tiểu sử, Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình vừa cười, vừa nói với tôi,

– Tôi hy vọng sẽ được ông chỉ huy mới để yên cho tới ngày đáo hạn giải ngũ. 

Ðể trả lời câu hăm dọa của ông ma men, tôi từ tốn nói,

– Tôi để Trung sĩ ở tạm với Thiếu úy Hoàng, Ðại đội trưởng Ðại Ðội Chỉ Huy trong thời gian một tuần cho quen với không khí của đơn vị. Sau đó ông muốn ra đại đội nào, tôi sẽ cho ông đi.

Ba ngày sau ông Bình tới cửa lều của tôi gõ cửa xin vào.

– Tôi muốn xin Thiếu tá cho ra đại đội. Ở đây tù túng quá!

Nghe vậy, tôi cũng cười,

– Ở đây còn thấy dân chúng đi qua, đi lại, xuống đại đội thì chỉ thấy núi, thấy rừng, còn buồn hơn. Ông đã đi rồi thì đừng có xin xỏ quay trở lại đó nhé!

– Một đi! Không trở lại! Tôi muốn ra đại đội của Thiếu úy Nhơn.

– Ðược! Ði đi!

Mấy bữa nay tôi thấy ông già này cứ thậm thụt lên xuống con dốc từ đồi chính xuống cây cầu sập trên suối Blao, tôi tưởng ông ta đi tắm rửa hay đi múc nước, hóa ra ông ta xuống thăm Thiếu úy Nhơn.

Giữa trưa ngày hôm sau, đứng trên ụ pháo binh, tôi nghe tiếng súng M16 bắn “Lóc chóc! Lóc chóc!”  dưới chân đồi, rồi thấy mấy anh lính nhào vào nhau mà vật lộn.

Tiếp đó, Chuẩn úy Lê Văn Phước, sĩ quan Ban 3, từ hầm truyền tin chạy tới báo cáo,

– Trình Thái Sơn, ông Nhơn vừa cho hay Trung sĩ Bình say rượu bắn lung tung dưới Ðại Ðội 4. Ông Nhơn đã cho người bắt trói ông Bình đem lên cho Thiếu tá xử phạt.

Mười phút sau, có hai Biệt Ðộng Quân ì ạch leo dốc, trên vai khiêng một cái đòn treo tòn ten một ông Biệt Ðộng Quân hai tay, hai chân đều bị trói.

Thoạt nhìn, tôi cứ tưởng hai ông lính kia đang khiêng trên vai một con heo tổ nái!

Tới trước lều của tôi, sau khi đếm, “Hai! Ba!”

Hai anh lính thả cái đòn ra, “con heo người” rơi xuống đất, miệng la oai oái, “Ối! Ðau! Ối! Ðau!”

Tôi ra dấu cho hai chú lính vác đòn trở về đơn vị, rồi ra lệnh cho Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng,

– Cho nó gáo nước để tỉnh rượu!

Sau khi hứng ba mũ sắt nước tạt vào mặt, con sâu rượu Ngô Thái Bình mới tỉnh hẳn. Tôi hất hàm ra lệnh cho chú Hoàng,

-Tống nó vào chuồng cọp!

Ở đâu, nếu đóng quân lâu, tôi đều có một cái hầm lộ thiên rào kẽm gai xung quanh, gọi là chuồng cọp. Chuồng cọp của tôi mục đích là nhốt những tay nghiện ma túy, xì ke. Mấy con ma xì ke bị nhốt ở đây, ngày ngày chỉ có ly nước đường thay cơm, lâu nhất là mười ngày hay hai tuần thì khỏi bệnh.

Từ khi chúng tôi tới Kiến-Ðức, cái chuồng cọp này được dựng lên nhưng chưa có ai đặt chân vào.

Con ma men Ngô Thái Bình là khách hàng đầu tiên của căn hầm này.

Ba ngày sau, tôi cho ông già Bình xuống suối tắm rửa rồi vào trình diện.

Cái ngang tàng, hỗn xược vô kỷ luật của ông cựu Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 Nam-Ðịnh đã không còn.

Trước mắt tôi, là hiện thân của một ông già thảm hại, râu tóc đã ngả màu hoa râm.

Ông Bình đưa tay chùi nước mắt rồi sụt sịt,

– Tôi xin lỗi Thiếu tá! Tôi sai!

– Tốt! Biết sai thì tốt! Nhưng biết sửa sai mới tốt hơn! Qua đồi Tây ở với Trung úy Danh, Ðại Ðội 2!

Sóng lặng, gió yên được ít lâu, một hôm tôi đang ngồi trong hầm truyền tin thì nghe tiếng súng M 16 nổ “Lốp! Bốp! Lốp! Bốp!” dưới đường. Tôi đưa mắt tìm Trung úy Trần Văn Phước thì được biết Phước có chuyện vắng nhà.

Tôi ra lệnh cho Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng chạy xuống xem có chuyện gì, chỉ hai phút sau chú Hoàng đã chạy vào, mặt tái mét,

– Trình Thái Sơn! Ông Bình lại say! Ông ta đang tìm ông Trung úy Danh để bắn cho chết!

Tôi chỉ thị cho đại úy tiểu đoàn phó,

– Ông Hoàng ra giải quyết vụ này cho tôi!

Cũng hai phút sau, cùng với tiếng M16 “Chíu! Chíu!’ là tiếng kêu cứu của ông tiểu đoàn phó,

– Không xong rồi Thái Sơn ơi! Thằng này điên rồi! Nó bắn cả tui!

Tôi với cái dây ba chạc khoác vào vai rồi bước ra khỏi hầm, đứng trên bờ đất nhìn xuống đường. Tay tôi để trên báng súng sẵn sàng. Khẩu Colt của tôi lúc nào cũng có đạn lên nòng.

Ðang giơ súng lên trời, bất thình lình nhìn thấy tôi, Trung sĩ 1 Bình vội vàng bóp cò cho những viên đạn sau cùng bay lên không.

Ông ta vừa bấm chốt cho băng đạn rỗng rơi ra để thay băng đạn mới.

Kẹp đạn mới của ông ta chưa kịp nằm vào ổ súng thì tôi đã quát lên:

“Bình!… ìng!… ìng!… ìng!…”

Tiếng hét của tôi lớn lắm. Tiếng hét đã khiến con ma men tỉnh táo hẳn, ông ta đứng đờ người như phỗng đá.

Tôi quát tiếp,

– Bỏ súng xuống! Quay lưng lại!

Như cái máy, ông Bình lảo đảo quay người 180 độ. Khẩu súng rời tay ông ta, rơi trên mặt lộ.

Nhân lúc ông ta vứt vũ khí, ông Tàu Hỷ, đầu bếp của Câu Lạc Bộ chạy ra nhặt vội khẩu M 16 rồi chui vào căn gia binh.

Tôi lại hét,

– Nằm xuống! Dang hai tay ra!

Ông Bình riu ríu thi hành lệnh. Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng liền chạy xuống lục soát hết người ông Bình để xem có vũ khí gì nữa hay không. Tôi ra lệnh tiếp,

– Lên đây!

Trung sĩ Bình ngồi dậy, rồi loạng choạng leo lên tam cấp. Cái đầu ông trung sĩ vừa nhô lên bực thang cao nhất đã bị tôi đá một phát như búa bổ trúng cằm. Ông Bình ngã lăn xuống chân đồi.

– Lên đây!

Mặt trận Tây Quảng Đức tháng 1 năm 1975

Miệng đầy máu, nhưng ông trung sĩ vẫn phải tiếp tục khật khưỡng leo.

Hai mắt ông Bình trợn lên nhìn tôi, đôi mắt có vẻ như đã đờ đẫn, mất hồn.

Cái đầu ông Bình vừa nhô lên bực thang cuối cùng, tôi lại đá thêm một phát nữa, con ma men lại lăn xuống đường, nhưng đã nằm im, không cục cựa.

Ngay sau đó, chiếc xe GMC của tiểu đoàn được trưng dụng để giải giao tên lính côn đồ cho Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Ðức.

Nhìn chiếc xe lao đi, tôi buông một tiếng thở dài.

Thực tình, tôi không nhẫn tâm tuyệt tình, tận nghĩa, ra tay giết Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình.

Dù gì thì ông ta cũng không phải là một tên Việt-Cộng.

Nếu tôi muốn giết người lính vô kỷ luật này thì tôi chỉ cần nhẫn nại, chờ một giây đồng hồ, sau khi nó nạp xong băng đạn, với một phát Colt 45 tôi đã lấy mạng nó rồi.

Giết nó trong tư thế nó giương súng tấn công mình, mình sẽ được coi là tự vệ chính đáng.

Còn bắn nó chết sau khi nó chịu đầu hàng, thì mình sẽ can tội sát nhân.

Ðây là lần đầu tiên tôi nặng tay như thế đối với một thuộc cấp vô kỷ luật.

Và tôi biết rằng, từ đây tôi đã có một kẻ thù phải đề phòng.

Vì cứ cái đà tuyển quân vô trách nhiệm như hiện nay của quân đội, thì có khi, chỉ năm bữa, nửa tháng sau, ông Bình sẽ quay lại đây.

Nhưng chuyện đời đã không diễn ra như những điều mà ta dự đoán.

Chỉ vài tháng sau ngày ấy, Nha-Trang thất thủ, Quân Lao Nha-Trang mở rộng cửa cho tù tự do thoát ly.

Tôi vừa rút quân từ Xuân-Lộc về tới Long-Bình thì đã thấy ông trung sĩ ma men xuất hiện trong toán quân nhân di tản của Vùng 2, cùng vài anh quân phạm vừa thoát khỏi quân lao, rồi tình nguyện về bổ sung cho tiểu đoàn tôi.

Có điều, ông Trung sĩ 1 Bình đã thay da, đổi thịt. Ông ta mặc bộ quần áo hoa mới tinh, ủi hồ thẳng nếp.

Mái tóc hoa râm của ông ấy đã được húi cao như mái tóc của Cố Ðại tướng Ðỗ Cao Trí.

Gương mặt nhẵn nhụi mày râu của ông Trung sĩ 1 Bình giờ đó, nếu đem so sánh, có lẽ còn sáng sủa hơn mặt của những người đồng lứa tuổi của ông, đã từng một thời là thanh niên Hà-Nội, như Hoàng Thọ Nhu và Hoàng Kim Thanh.

Ông trung sĩ 1 mạnh dạn bước tới trước mặt tôi rồi nói,

– Trình Thiếu tá, tôi biết, gia đình Thiếu tá còn kẹt ở Ban Mê Thuột. Vợ con tôi cũng còn kẹt ở Qui-Nhơn.

Bao nhiêu năm qua tôi đã mang tội với tổ quốc, với gia đình. Tôi biết Thiếu tá sẽ chiến đấu cho tới chết, tôi cầu xin Thiếu tá cho phép tôi được chết cùng ông! Tôi van xin ông!

Nói tới đây, ông Bình khóc lên thành tiếng,

– Tôi chỉ biết đem cái chết để chuộc những lầm lỗi mà tôi đã gây nên trong suốt cuộc đời này! Hu! Hu! Hu!

Thế là trước mắt tôi, không còn bóng dáng một con ma men đầu trâu, mặt ngựa nữa.

Thay vào đó, là một người, từ thời Pháp Thuộc, đã là một công tử con nhà giàu nứt đố, đổ vách, của tỉnh Thái-Bình, một thanh niên Việt-Nam nói tiếng Tây như gió, có bằng “Bắc Ðơ” tức là bằng Tú Tài 2 của Pháp, và đã là bạn đồng môn, đồng khoá, của những ông tướng, những ông lãnh đạo quốc gia thời Ðệ Nhị Cộng-Hòa.

Ngày 24 tháng 4 năm 1975, những ông lãnh đạo quốc gia, những ông tướng cùng lớp, cùng thời với ông Ngô Thái Bình, cựu Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 Nam-Ðịnh, đang chen lấn nhau, dắt díu vợ con tìm đường đào thoát khỏi Việt-Nam, thì ông Bình lại đi tìm cái chết ở chiến trường.

Ðêm 28 tháng 4 năm 1975 Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã bị chiến xa Cộng-Sản nghiền nát thây trên đỉnh một ngọn đồi trọc nằm về hướng Nam của cây cầu gãy bắc ngang sông Lá Buông sau lưng Trường Bộ Binh Long-Thành.

Trước khi chết, ông Bình đã tự tay bắn cháy một chiếc tank T54 bằng khẩu súng M 72 mà ông ấy cứ mang kè kè bên hông từ chiều 24 tháng 4 năm 1975.

Từ chuyện say sưa của ông Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình mà tôi phát giác ra cái tài kinh doanh, buôn bán của hai ông đại đội trưởng Nguyễn Nhơn và Võ Hữu Danh.

Tôi được báo cáo rằng, ngày nào chuyến xe đò Gia-Nghĩa đi Bù Binh cũng đậu lại ít phút dưới chân Ðồi Nam.

Anh phụ tài xế lanh tay bỏ những cái can bằng nhựa xuống lề đường để cho ông Thượng sĩ Nguyễn Ðả, Hạ sĩ quan Thường vụ của Ðại Ðội 2/ 82 tiếp nhận. Những cái can 20 lít bằng nhựa này chứa toàn rượu đế.

Từ ngày nhận chức chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, tôi đã ra lệnh cấm bán rượu đế trong Câu Lạc Bộ của tiểu đoàn.

Biết thế, nên hai ông Danh và Nhơn đã có sáng kiến kinh doanh món hàng hiếm này để kiếm lời.

Rượu đế mà hai ông Danh và Nhơn có được là do một nhà nấu rượu ở dưới Gia-Nghĩa sản xuất.

Ông Nhơn và ông Danh chỉ cần bỏ ra một vốn thì có thể thu vào tới bốn lời, đôi khi còn lời hơn thế nữa.

Tôi đã gọi hai ông đại đội trưởng vào lều, bắt hai vị này hứa sẽ không được tái phạm nữa. Tuy hai ông sĩ quan này đã lớn lời hứa hẹn nhưng tôi vẫn không thấy yên lòng chút nào.

Giữa tháng 11 năm 1974, tôi hoàn trả Thiếu úy Nhơn cho liên đoàn. Thiếu úy Phạm Văn Thủy quay trở lại chỉ huy Ðại Ðội 4/82.

Còn Trung úy Võ Hữu Danh bỗng nhiên khai có bệnh sốt rét kinh niên, ở Kiến-Ðức vài ngày, lại xin về nằm bệnh xá liên đoàn vài ngày, tôi đành miễn cưỡng để cho Chuẩn úy Gấm chỉ huy Ðại Ðội 2/82.

Tiếp đó Thiếu úy Nguyễn Văn Hổ phải lên đường theo học khóa Tổng Quản Trị, tôi liền cho Trung úy Trần Văn Phước thay thế chức vụ Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82.

Vì đã có thời gian gần hai năm đảm nhận chức vụ Trung đội trưởng Trung Ðội Viễn Thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, nên chú Phước không ngỡ ngàng gì với nhiệm vụ mới.

Ngày lãnh lương cuối tháng 11 năm 1974 cũng là ngày có tiếp tế định kỳ.

Hai đại đội tăng phái của Tiểu Ðoàn 63 cũng được tiếp tế cùng lúc.

Thực phẩm của Tiểu Ðoàn 82 được vận chuyển bằng xe GMC, thực phẩm của Tiểu Ðoàn 63 được vận chuyển bằng một xe Dodge 4×4.

Hai bãi nhận hàng cách nhau không xa.

Tôi cho lệnh Ðại Ðội 4/82 được ưu tiên nhận tiếp tế trước, rồi lên Bù Row thay quân cho Ðại Ðội 3/82.