Bóng người thương lẩn khuất giữa sông… đầy…!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Aug 2023

Hồi xưa mục ‘Gỡ rối tơ lòng’ trang báo dành cho đàn bà, con gái như trong tờ Phụ Nữ Diễn Đàn chẳng hạn, thường do bà Tùng Long phụ trách.

Tơ lòng rối là cái chắc.  Một mình gỡ không ra nên phải nhờ thức giả gỡ dùm.

Bây giờ thì trong nước, văn minh hơn, có mục trực thoại truyền thanh gỡ rối tơ lòng…thòng mà thính giả gọi vào thì được chuyên viên tư vấn tâm lý giúp đỡ, gỡ cho.

Đừng tưởng nó là bá láp! Mấy chương trình này có chỉ đạo đàng hoàng đó nha. Nó nhằm mục đích cho đám nhỏ sa đà vào chuyện tình ái ‘lăng quăng’, mà quên đi cái bọn Tàu Phù đang giành đất, lấn biển Đông?!

Một thính giả, chắc là con đám giang hồ đất Cảng, đã gọi vào và khoe rằng: Chú đã thịt cô chị rồi mà nay cô em đang nhởn nhơ, phởn phơ trước mắt, bẹo tới bẹo lui hoài, nên bối rối quá hỏng biết phải tính làm sao?

Chuyện gia tư vấn, chắc cũng cùng một giuộc, thuộc giang hồ đất Cảng, hỏi: “Chú em có muốn thịt luôn cả họ nhà nó không? Nếu không, đến nhà tìm cô chị, không có ở nhà thì vào phòng cô em để làm gì? Mà nếu người ta đóng cửa phòng lại, thì mình phải biết đường ra chớ?! Con chuột nó còn biết tìm cách lách ra khỏi cửa huống chi là mình. Đúng không…?”.

Cách hỏi và cách trả lời sao nhuốm ‘mùi xã hội đen’ quá cở thợ mộc?!

Chú em này chắc: Ta đây là: bố quan nha, nhà mặt phố nên nghĩ em nào cũng khoái nhào vô!  Hỏi không phải để hỏi. Hỏi chỉ để khoe thôi…?!

Còn bên Perth, Tây Úc, cũng nói vậy, nhưng không phải vậy. Nói chỉ để khoe thôi.

Ông ‘thần’ này, không cần ai tư vấn gì sất, tự ‘ên’, tới luôn bác tài, rồi kêu báo, đài, tới phỏng vấn chơi .

Chuyện rằng: Marc Glasby có vợ là Belle gần 30 năm. Thình lình con vợ tìm lại được người em gái song sinh thất tán từ nhỏ. Chị em về ở chung. Ông anh rể này chắc khó lòng phân biệt đứa nào là đứa nào; nên thôi ‘thịt cả nhà nó’ luôn! Cho tiện việc sổ sách. Đêm nay bà này; đêm mai bà kia. Hơi mệt chút nhưng cũng có phần êm ấm. Y cười hè hè nói: “Tui như khúc ‘sausage’ kẹp giữa hai lát bánh mì ‘sandwich’ vậy mà!”

Tưởng gì?  Có vậy mà cũng khoe! Cách đây mấy ngàn năm, theo Tam Quốc Chí,  thì Lưu Bị đã làm trước mấy mươi đời vương rồi.  Khi làm quan ở Dụ Châu, Lưu Bị ‘quằm’ Cam Phu nhân, My phu nhân, là hai chị em ruột, rồi sau đó là em gái Tôn Quyền, rồi sau đó nữa là Ngô Phu nhân. Sơ sơ có bốn bà thôi! Thời đó chưa có Viagra chắc Lưu tiên sinh ‘oải’ dữ à nha!

Như vậy Tây, Tàu, Ta đều khoái tỉ tê cái chuyện hai mái một trống hay nói một cách cờ bạc là hai bầu một con cua, hay hình tượng hơn một chút là khúc sausage kẹp giữa hai lát bánh mì sandwich. Nhưng  Úc đâu có chịu. Nó làm luật đàng hoàng:

“Ai có vợ, có chồng rồi mà còn kết hôn với người khác là bị tội song hôn theo chương 94 của luật gia đình 1969.  Hình phạt tối đa là 5 năm tù ở!!!”

Do đó cỡ Lưu Bị gặp Úc mà không chạy sút dép (vì tiên sinh thuở thiếu thời từng đi bán dép) thì Úc nó nhốt . Chứ nó không chịu ‘xính xái’ cho ‘xính xáng’ đâu à nha?

Bên Tây chắc cũng có luật na ná như vậy nên ông tổng thống Pháp François Hollande chẳng thèm cưới hỏi gì ráo trọi cho nó rắc rối. Bà nhỏ, ông ở lúc còn nhỏ, là Ségolène Royal, chính trị gia, đẻ cho ông 4 trự. Bà lớn, ‘ghệ’ ông lúc lớn, là Valérie Trierweiler, ký giả. Ông đắc cử thì bà thành ‘đệ nhứt tình nhân’ của nước Phú Lang Sa vì có cưới hỏi gì đâu mà đòi làm ‘đệ nhứt phu nhân’. Và bà này cay như ớt hiểm. Số là Ségolène Royal ứng cử nghị sĩ. Tình xưa, nghĩa cũ, tổng thống, cùng đảng Xã Hội, hết lòng ‘ẵm hộ’ người xưa. Nhưng bà ‘đệ nhứt tình nhân’ này lại ủng hộ Olivier Falorni, là đối thủ chính trị của Ségolène Royal. Rốt cuộc Royal thất cử. Tan tành cái mộng làm chủ tịch quốc hội Phú Lang Sa. Cũng tại ‘nó’ mà ra!.

Do đó tuyên bố rằng hai vợ là trong ấm ngoài êm như vua lúa giống, ở Lương Hòa Lạc, Mỹ Tho là dóc tổ…

Nội cái chuyện ‘đêm nay anh vô em nào’ cũng là rắc rối lắm rồi.

Chuyện xưa quê mình bằng thơ như vầy:

Người vợ nhỏ:

“Rượu nằm trong nhạo chờ nem”

Nằm hoài mà có thấy khúc ‘sausage’nó đâu? Bèn ấm ức ‘chít chát’ rằng:

“Đêm khuya gió lặng sóng yên
Lái kia có muốn ghé thuyền sang chơi!”

Khúc ‘sausage’ bèn ‘chít chát’ lại rằng:“Muốn sang bên ấy cho vui
Mắc đồn lính gác, khó xuôi được đò!”

Thì vợ lớn lại ra điều kiện rằng:

“Sông kia ai cấm mà lo
Muốn sang thì nộp thuế đò rồi xuôi!”

Trời đất!

“Không buôn không bán thì thôi
Qua đồn hết vốn còn xuôi nỗi gì?”

Thế là tan vỡ một đêm vui! Mạnh ai nấy nằm chèo queo. Nên nữ sỉ Hồ Xuân Hương tức quá, chửi um:

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng!”

Vây mà Giáo Hương trong Tuyệt Tình Ca của Hoa Phượng và Ngọc Điệp đâu có ngán. Ở Mỹ Tho, Giáo có một bà và hai thằng cu rồi; lại lang bạt qua Vĩnh Long để găp em Lan chi nữa. Rồi ‘tọt’ ra Lê thị Trường An và Lê Long Hồ.

Thời buổi loạn lạc, Giáo lên Sài Gòn làm ông cò quận 9. Thất tán người xưa. Kết cuộc đau lòng là con dòng lớn thì ăn chơi lêu lổng. Vợ thì bài bạc. Còn bà nhỏ, nghèo quá, quần quật làm nuôi con đến nỗi  ho lao. Con gái, Lê thị Trường An, phải đi làm ‘gái bao’ nuôi má, nuôi em!

Ngày găp lại người xưa, Giáo rơi nước mắt. Khổ quá chừng chừng mà hỏng ai thương?! Còn phải nghe bà lớn đay nghiến:

“Trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ mà ông thương không đồng
Chim quyên ăn trái nhản lồng
Lia thia quen chậu mà vợ chồng sao ông lại quên hơi”
 Còn em Lan, vợ nhỏ, thì hờn trách:

“Nhưng chồng của tôi lại quá đỗi bạc tình
Về với vợ lớn rồi, không trở lại thăm mẹ con tôi
….Từ Mỹ Tho xuống Vĩnh Long chỉ có một đoạn đường
Tôi chờ đợi mỏi mòn, anh Hương vẫn không thèm xuống
Bỏ tôi lạc lỏng, giữa chợ đời với lũ con thơ
Sống vất vưởng bơ vơ, với cái nghèo bữa đói bữa no!!!”
Thưa bạn đọc trân quý, nhất là quý ông! Nay cơm, mai phở ai mà không khoái. Nhưng nhức đầu quá, xin hỏng dám đâu! Nếu mà lỡ có em nào còn thương xót ‘chim hót trong lồng’ thì cũng xin ‘từ tạ trong đêm’ bằng câu vọng cổ đầy thở than, ai oán của Giáo Hương khi phải giã biệt người xưa, em Lan của cái làng Tân Ngãi, Vĩnh Long rằng:

 “Tôi đứng đây mà tưởng chừng như đang đứng trên bờ sông Mỹ Thuận. Khi mình quay xuồng tách bến để trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn. Con nước lớn lục bình trên rời rạc. Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát, mà bóng người thương lẩn khuất giữa sông… đầy…!”

Em yêu ơi! Cám ơn em đã yêu anh! Nhưng thôi! Bóng chim tăm cá đi em! Xin bóng người thương lẩn khuất giữa sông đầy… để trái tim ‘qua’ ngủ yên. Cho nó khỏe!

Đa thê là đa mang, là đa khổ hận phải không? Thưa quý bạn hiền!

Bia miệng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Aug 2023

Cứ năm năm, vào mùa Thu, là hơn hai ngàn đại biểu của gần 90 triệu đảng viên CS trên cả nước Tàu tụ tập nhau ở Bắc Kinh để bầu lên 200 ủy viên chánh thức và chừng 170 dự khuyết cho ban Chấp hành Trung ương đảng CS Trung Quốc.

Rồi ban Chấp hành Trung ương bầu 25 uỷ viên Bộ Chính trị và 7 người trong Thường vụ Bộ Chính trị.

Đám chóp bu, ruồi bu này thay cho gần một tỷ 400 triệu người dân Tàu vừa đề nghị sửa đổi điều lệ Đảng và Hiến pháp để Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước sau hai nhiệm kỳ tức 10 năm không bắt buộc phải về vườn như đồng bọn đã từng cam kết lúc trước.

Nghĩa là ngồi hoài (nếu còn ngồi nổi) và ngồi cho tới chết! “Hoàng thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế!”

Ai là đạo diễn cái đề nghị ngược chiều lá đổ này này? Thì Tổng bí thơ, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Tập Cận Bình! Chớ ngoài ra, ai dám trồng khoai đất này?

Mà muốn tự tung tự tác như vậy thì Tập Cận Bình phải thanh trừng đối thủ chánh trị, thâu tóm quyền lực tuyệt đối nhằm đưa cá nhân mình lên, bằng vai bằng vế với Mao Trạch Đông.

Lãnh tụ độc tài trong lịch sử phong kiến Tàu có nhiều… rất nhiều. Tàn bạo nhứt chắc phải kể đến Tần Thủy Hoàng, người đã từng đốt sách, chôn sống học trò.

Nhưng lãnh tụ CS Mao Trạch Đông, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa coi đó chưa nhằm nhò gì nên cười khè khè nói: “Tần Thủy Hoàng chôn sống 460 học giả; chúng tôi chôn 46.000 học giả còn sống…

Bọn trí thức nguyền rủa chúng tôi là Tần Thủy Hoàng. Chúng đã sai. Chúng tôi còn hơn Tần Thủy Hoàng gấp ngàn lần”.

Mao Trạch Đông đâu có coi các nhà độc tài phong kiến khác như Hán Vũ Đế, Khang Hy hoặc Càn Long ra “cà ram” nào?

Giờ Tập Cận Bình muốn vươn lên tầm của Mao Trạch Đông thì chắc cũng coi Đặng Tiểu Bình chỉ là cái “bình tiểu” mà thôi!

Xưa là “Mao Chủ tịch muôn năm”; giờ là “Tập Chủ tịch muôn năm”.

Còn cái vụ Chủ tịch muốn “nằm” chỉ xảy ra… khi Chủ tịch ngồi hết nổi. Ắt phải nằm!

Cái khác nhau giữa một chánh quyền độc tài và một chánh quyền dân chủ là ở chỗ cho dù Tổng thống Mỹ có giỏi cỡ nào chăng đi nữa, được dân bầu hai nhiệm kỳ 8 năm, là tối đa! Xong phải về vườn dù muốn hay không.

Còn làm dở ẹc, mới được một nhiệm kỳ 4 năm, là dân nó cho về… là phải nghỉ.

“Thick skin”, da dầy, người Việt mình gọi là “mặt dầy mày dạn”; là cá tính cần thiết cho một người làm chánh trị; nhứt là trong các thể chế dân chủ.

Một nhà lãnh đạo trong thể chế dân chủ, mặc dù bị phê bình chỉ trích tơi bời (đôi khi khá bất công) như trường họp của Tổng thống Mỹ George W. Bush chẳng hạn.

Nhưng ông vẫn đắc cử được hai nhiệm kỳ! Vì da ông đủ dầy nên các nhà hài hước đem ra làm đề tài châm biếm thì kệ tụi nó chớ!

Ngược lại những nhà độc tài, dẫu nắm toàn bộ quyền lực trong tay lại sợ hãi việc dân phê bình.

Vì dẫu là một tên độc tài khát máu nhưng hình như da mặt lại không được dầy cho lắm, dễ bị nhột, nên không thích bị đùa dai! Bị dân chọc là nổi điên lên hè!

Nên có chuyện rằng: Stalin đi xem hài kịch. Hắn cười toe toét từ đầu đến cuối.

Khi hết tuồng, vãn hát, Stalin nói: “Ta thích cái hài kịch này lắm đó! Nhưng thằng hề lại để ria mép giống hịt ta hè, đem nó ra xử bắn!”

Tất cả đều sững sờ, không ai dám nói một lời; cho đến khi có một người thu hết can đảm, rụt rè lên tiếng: “Đồng chí Stalin! Chúng ta có thể ra lịnh cho thằng hề này cạo râu đi?”

Stalin trả lời: “Đề nghị hay đó! Kêu nó cạo râu trước rồi bắn nó sau vậy!”

***

“Chánh quyền từ nòng súng” như Mao Trạch Đông từng tuyên bố! Cứ sai Công an, Mật vụ móc súng ra “hù”; là kẻ thù của cách mạng đâm rét… phải chạy mất luôn cả dép!

Còn không chạy mà ở lại… kiếm sống bằng diễn hài, vẽ tranh biếm họa, viết chuyện châm biếm, đùa cợt, giỡn mặt với các tai to mặt lớn của đảng CS là trước hay sau cũng bị sờ gáy, đem vô hộp cất kỹ.

Tốt hơn hết là: “Đừng nghĩ! Nếu nghĩ thì đừng nói! Nếu nghĩ, nói thì đừng viết! Nếu nghĩ, nói và viết thì đừng ký tên! Nếu nghĩ, nói, viết và ký tên là vận hên đã hết!” Chết chắc!

Nguyên văn tiếng Anh như vầy, nó hay hơn lời dịch nhiều vì nó có vần, có điệu nên người dân lỡ sống dưới ách kềm kẹp của chế độ độc tài CS dễ nhớ, dễ thuộc để mà không hứng ẩu, phát biểu linh tinh (?!)

(Don’t think. If you think, then don’t speak. If you think and speak, then don’t write. If you think, speak and write, then don’t sign. If you think, speak, write and sign, then don’t be surprised!)

***

Cái chủ nghĩa CS ở Trung Cộng và cái tàn dư nọc độc của nó ở nước Nga Putin và ở Cambodia Hun Sen bây giờ có nhiều thứ rất giống nhau; làm như mấy ông “Trời con” này học cùng chung một thầy và một sách vậy.

Hun Sen, vốn là lính của bọn khát máu Khmer Rouge (tức Khmer đỏ) tự phong mình là “Ngài Thủ tướng! Tổng tư lịnh tối cao!”, đã dùng bàn tay sắt để cai trị đất nước Cambodia hơn 33 năm bằng bạo lực.

Hun Sen không từ bất cứ thủ đoạn nào để tiêu diệt phe đối lập và các phương tiện truyền thông độc lập.

Hun Sen phong cho con rể làm Phó Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia; để sai nó “quánh” chết cha đứa nào là nó cũng “quánh”!

Hun Sen gắn lon Đại tá chỉ huy đội cận vệ cho con trai út. Các tên độc tài đều bị bịnh hoang tưởng, (paranoia), thức cũng sợ, ngủ còn sợ hơn nữa, sợ có người ám toán nên đưa thằng con làm cận vệ mới tàm tạm tin được.

Hun Sen gắn lon Trung tướng Tham mưu trưởng các Lực lượng vũ trang Hoàng gia Campuchia cho Hun Manet, là con trưởng.

Tía làm Thủ tướng, Tổng tư lịnh tối cao (tính làm tới năm 90 tuổi, xui thay cho dân chúng Khmer là Hunsen, sanh năm 1952, năm nay mới có 66 hè. Còn lâu quá!); Con  làm Tham mưu trưởng! Tía con nắm toàn thể chánh quyền, quân đội, cảnh sát, công an! Thôi rinh cả nước Cambodia về nhà mình luôn một lần đi cho nó gọn!

Tuy vậy cũng chưa dám chắc ăn; nên Hun Sen hăm he trước rằng: “Tháng Bảy này nếu thất cử là có nội chiến; là có đánh nhau!”

Sao kỳ vậy cà? Đã bầu cử công bằng là có ăn có thua chớ. Đâu có cái vụ ăn vùa thua giựt như mấy đứa lắc bầu cua… Thua rồi làm ẩu đâu nè!

***

Trong nước Cambodia thì Hun Sen muốn múa chàng mua tiên gì cũng được! Cho dù dân chúng có tức điên lên cũng đành ngậm hột thị. Nhưng ở nước Úc này thì nó khác nhe!

Chuyện rằng: Ngày 14 và 15 tháng Ba này, Hunsen sẽ đến Sydney, tiểu bang NSW, Úc Châu dự Hội nghị giữa Úc và các nước ASEAN.

Cộng đồng người Úc gốc Cambodia rục rịch biểu tình phản đối.

Hun Sen quá ư là tức tối, chửi họ là chó và lớn lối đe dọa là: “Nếu cho rằng đốt hình Hun Sen sẽ làm Hun Sen chết. Nghĩ vậy là lầm!”

“Hun Sen sanh vào năm Thìn, con rồng (1952). Hãy đến tất cả các chùa chiền trên thế giới đốt hết những con rồng thì lúc đó Hun Sen mới chết!”

“Cầm bằng nếu các ngươi vẫn ngoan cố biểu tình chống đối, dám đốt hình nộm của ta thì ta sẽ rượt tới tận nhà để tẩn chúng bây một trận ra trò. Ta nói cho các người biết trước!”

Cộng đồng người Cambodia ở Úc nghe vậy rất phẫn nộ; (nói một cách thành thật là cũng hơi sợ sợ) nên la um sùm: “Quyền được biểu tình, quyền dân chủ!”“Hun Sen không quan tâm tới nhân quyền; không tôn trọng nước Úc đã nuôi dưỡng ông ta rồi giờ lại cả gan quay lại đe dọa chính dân nước Úc!”

Bộ trưởng Ngân khố đối lập, Chris Bowen và Dân biểu Chris Hayes, đơn vị Fowler – NSW, thuộc đảng Lao Động, bảo vệ cử tri khu vực bầu cử của mình lên tiếng: “Chúng ta sẽ sát cánh cùng Cộng đồng người Úc gốc Cambodia ủng hộ quyền được biểu tình một cách ôn hòa!”

“Cho dù làm Thủ tướng, ông ấy đến đất nước chúng ta cũng không được phép đe dọa bất cứ một ai.”

Đâu phải gậy múa vườn hoang được nè! Mình là thượng khách, mà bị chủ nhà cự nự, sửa lưng như vậy cũng trặc lưng, đau chớ! Phải không?!

***

Ông bà người Việt mình nói: “Trăm năm bia đá cũng mòn. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”

Còn ông bà người Tàu cũng nói: “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.

(Là con người từ xưa đến nay ai mà không chết, nhưng khi chết đi phải để lại tiếng thơm lưu danh vào sử sách)

Bởi  trong cõi trần gian ai tránh khỏi được miệng đời? Vậy thì phải sống ra làm sao để người đời đừng mỉa mai: phải sống ra làm sao để có tiếng thơm lưu truyền đến ngàn đời sau.

Từ xưa đến nay, con gì mà không chết. Kể cả con người. Tần Thủy Hoàng hôn quân vô đạo từng sai cận thần đi kiếm thuốc trường sanh bất tử… Kết cục rồi cũng tử. Chỉ còn lưu xú vạn niên! Bởi “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”.

Làm lãnh tụ của một nước thì làm sao lúc đương chức thì dân thương; lúc về vườn thì dân nhớ.

Chớ đừng bắt chước cái thói độc tài đảng trị! Đang sống sờ sờ ra đấy mà nhân dân cứ rủa thầm trong bụng cho nó đi chầu ông bà ông vải cho rồi như câu chuyện dưới đây!

Một bà lão người Nga thời CS Liên Xô đến trạm chờ xe bus. Chiếc nào cũng như xe heo, cũng đầy chật hành khách đến rồi đi!

Cuối cùng, có tin vui trước giờ tuyệt vọng, sau cả hai tiếng đồng hồ chờ gãy lưng sống, may mắn quá, bà cũng chen lên được một chiếc xe.

Lau mồ hôi trán, làm dấu thánh giá: “Xin tạ ơn Thượng đế!”

Nghe vậy, viên tài xế xe bus sửa lưng: “Má ơi! Má phải nói là: Xin tạ ơn lãnh tụ Stalin mới phải!”

Bà cụ rối rít: “Ờ! Từ rày về sau “già” sẽ nói y như vậy! Nhưng nè nếu một mai lãnh tụ Stalin qua đời thì “già” sẽ nói như thế nào?”

“À lúc đó, Má nói là: “Xin tạ ơn Thượng đế!”

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted 24 Jun 2022

Post by Sơn râu 17 Aug 2023

  Kỳ cuối
Thường những ngày gió lặng, biển im, sáng thức dậy sớm pha cà phê để đó, rồi ra boong tập thể dục. Sáng nay bấm nút điện máy pha cà phê xong, ra boong chưa kịp khởi động bài tập Dịch Cân Kinh, thì nghe tiếng mở cửa. Tôi ngoái lại thấy Tamela, thằng nhỏ mới xuống thay cho một thủy thủ đã hết hợp đồng, lần đầu mới gặp tôi mà nó tỏ vẻ thân thiện như quen biết từ lâu, tôi đoán chừng nó là con hay cháu của một đồng nghiệp nào đó. Mới hơn tháng mà đã bị ba trận bão, cho tới mấy ngày qua thời tiết vẫn còn xấu quá, thủy thủ đoàn mệt mỏi nên gặp mặt chào nhau một cái và sau giờ làm việc mạnh ai nấy về phòng nằm nghỉ, nên tôi chưa có dịp nói chuyện với nó.  Tamela vui vẻ chào: – Chào buổi sáng, chú. Tôi chào lại và xớ rớ chưa biết làm sao thì nó chỉ tay vô đất liền hỏi: – Nước nào vậy chú? Tôi nhìn theo tay nó, thấy bầu trời xanh ngắt, lấp thấp là dãi đất liền, tiếp theo có vài  chiếc tàu buôn xuôi ngược trên mặt biển xanh trong vắt và láng mượt như mặt thủy tinh. Nghe khí trời âm ấm, tôi biết tàu đã qua hải phận Phi Châu rồi, tôi nói: – Ma Rốc. Nó nói: – À, ba con gởi lời thăm chú. Thời gian sau này những câu hỏi như ông con gởi lời thăm ông, hoặc ba con gởi lời thăm chú từ những đứa thủy thủ trẻ rất thường, nên tôi hổng thấy làm lạ lắm. Tôi day qua hỏi nó: – Ba con là ai? – Johannes Beslar. – Oh! Johannes Beslar! Anh ấy giờ sao rồi? – Hai chưn ba con hơi yếu, đi phải chống gậy, nhưng tinh thần còn sáng suốt lắm. – Năm nay ba con trên bảy mươi tuổi mà còn như vậy thì cũng khá lắm rồi. – Hôm con sắp đi, nghe Zanda nói có chú ở đây, ba con có kể cho con nghe về chú, trước kia chú là Boat people. Tôi hỏi nó: – Con biết Boat people là gì không? – Dạ, là người Việt tị nạn Cộng Sản mà hồi đó cả thế giới tự do gọi là Boat people. – Đã lâu lắm rồi chú mới nghe có người nhắc hai tiếng Boat people. Nhứt là người trẻ tuổi như con vẫn còn biết cái thời người Việt tị nạn Cộng Sản của mấy chục năm trước, – Con chỉ nghe ba con kể lại thôi, chớ cái lúc đó con chưa chào đời mà. Vậy là sáng nay coi như bỏ tập thể dục rồi, thấy trời còn sớm.Tôi hỏi nó: – Con uống cà phê không? Nó liền nói: – Dạ, để con vô lấy. Nói đoạn nó day lưng đi nhanh vô trong. Tôi nhớ lại, cách đây hơn bốn mươi năm, những năm người Việt tị nạn vượt biển, qua tạm dừng chưn những quốc gia tự do Đông Nam Á để chờ định cư nước thứ ba, trong đó có đất nước In Đô. Johannes Beslar cũng như nhiều đồng nghiệp người In Đô, là lớp thủy thủ trước tôi, có nhiều thủy thủ đã cứu vớt người Việt lâm nạn trên biển, nên rất am hiểu nỗi gian nan của người Việt vượt biển. Ngày đó niềm thương nỗi nhớ quê hương còn sâu đậm, trong lòng cứ canh cánh nhớ nhà, nên mặt mày lúc nào cũng bí xị, buồn hiu. Nhờ làm việc chung với những người In Đô, tôi được họ cảm thông chia sẻ vui buồn và giúp đỡ rất nhiều về mặt tinh thần. Thời gian trôi qua nhiều năm, nay đầu tóc đã bạc, sói sọi và trí nhớ cũng mù mờ, chuyện cũ lúc nhớ, lúc quên. Nay nghe Tamela nhắc lại cái thời nghiệt ngã ấy, tôi cũng nhớ lại nhưng hông còn ray rức như xưa nữa. Sau này sống chung với đám trẻ In Đô, tôi phát hiện ra, cái nỗi nhớ quê hương đất nước, nhớ nhiều, nhớ ít là do thời đại. Không riêng gì người Việt chúng tôi lúc đó, vì hoàn cảnh tị nạn Cộng Sản phải sống lưu vong, mới biết nặng lòng với quê hương đất nước. Người In Đô cũng thiết tha với quê hương đất nước của họ lắm, tuy họ sang Âu Châu làm việc có lương, những vẫn là những người tha phương cầu thực. Điển hình như Johannes Beslar và nhiều thủy thủ In đô cùng thời. Cách đây hơn ba mươi năm, thực phẩm Á Đông bên Âu Châu này rất hiếm. Cho nên mỗi khi thủy thủ thay đổi, người mới xuống mang theo cả năm sáu ký gia vị của In Đô và loại cá lòng tong khô mà người nhà đã ướp hương vị của quê hương, đưa cho tôi và chỉ tôi cách nấu, cũng có người gởi Ketjap, cá khô qua đường bưu điện. Nếu lâu quá không người xuống thay mà gia vị In Đô đã hết, thì khi tàu về lại Rotterdam, Johannes Beslar và những người đồng hương hùn tiền nhau đưa cho một người, rồi bao tắc xi đi cả chục cây số tìm Toko của In Đô mua Ketjap, trasi, mì gói, rau muống và vài ba bó rau thơm, khi nào mua được ớt hiểm thì cả đám vui mừng lắm. Luôn cả lịch treo tường, cuối năm bên Âu châu người ta tặng cho cả đống, nhưng những người In Đô không treo trong phòng mà cũng phải lên phố tìm mua cho bằng được những tấm lịch có cảnh thành phố bên In Đô hoặc ít ra cũng phải có cảnh cây dừa, núi non cho giống đất nước hải đảo của In Đô họ mới chịu. Lúc đó chưa có internet, chưa có điện thoại cầm tay. Xài điện thoại công cộng hoặc vô hội quán, gọi viễn liên mắc tiền nhưng hổng phải nước nào cũng gọi được, cho nên liên lạc với gia đình bằng thư viết tay, gởi đi nhận lại có khi cả một hai tháng. Có lẽ mất nhiều thời gian như vậy nên lúc nào trong lòng cũng canh cánh nhớ quê. Còn đám trẻ ngày nay, sanh ra và lớn lên nhằm vào thời đại 4.0 này, quê hương đất nước lúc nào cũng nằm gọn trong túi áo, túi quần thì làm sao tụi nó nhớ nhung như thời của cha, ông nó. Tụi nó giảm đi nỗi nhớ quê hương rất nhiều, mặc dù những tiệm bán đồ Á Đông bây giờ có mặt khắp nơi, nhưng ít khi tụi nó ngó ngàng tới. Mỗi lần đổ bộ, tụi nó vô nhà hàng ăn pizza, hoặc doner kebab và thỉnh thoảng chơi sang thì tìm quán bán đồ biển nhậu. Có lẽ vì nhờ internet bây giờ rẻ tiền, tin tức nằm trong lòng bàn tay, nên chúng nhắn tin, gọi nói chuyện về nhà mỗi ngày và những món ăn ngon được quảng cáo trên mạng quá nhiều nên làm cho phai nhạt mùi vị quê hương và niềm nhớ cũng giảm phần chăng ? Tamela hai tay bưng hai tách cà cà phê ra, nó đưa tôi một tách. Chúng tôi đi lại ngồi trên đầu cột trụ cột dây. Hớp một hóp cà phê tôi nói: – Chú với ba con sống với nhau trên hai chục năm, lúc vợ trước của ba con bịnh ung thư chết, ba con buồn đi miết, hơn hai năm mới về lại In Đô thì cưới má con. Lúc đó ba con mới làm việc bình thường lại. Ba con cũng có cho chú biết, má con có đứa con trai riêng. Tamela cười ha ha: – Dạ, đứa con trai đó là con nè chú. – Ngày ba con về nghỉ hưu, chú và ba con ngồi nhậu trên hội quán ở Hamburg cho tới khuya. – Dạ, ba con thường nhắc chú, ba con có kể, hồi đó khi tết Tây vừa qua thì chú nhớ tới tết Việt Nam và thường nấu những món ăn ngon truyền thống của Tết Việt cho thủy thủ ăn. Vào ngày mùng một Tết, nếu tàu trên biển thì chú làm những món nhấm như chả giò, tôm chiên bột rồi bày tiệc nhậu với thủy thủ. Nếu Tết trong bến thì chú mời thủy thủ lên hội quán hoặc lên ăn, nhậu trong nhà hàng. Lâu lắm rồi tôi không còn thiết tha tới ngày Tết cổ truyền, tuy vẫn còn nhớ, nhưng nỗi nhớ nhung không còn thiết tha như ngày xưa nữa. Hôm nay nói chuyện với thằng nhỏ, bỗng dưng tôi lại nhớ về, nhớ vùng ven biển trong những ngày cuối năm, với con trai, con gái bận áo, quần mới đi chùa lễ Phật, cảnh ngày tết vui vẻ vào đêm ba mươi có bánh tét, bánh ít trong giờ giao thừa và nhớ nồi thịt kho ba ngày tết, nhưng chỉ nhớ thoáng qua thôi. Tuy trong dạ có chút bồi hồi, nghe buồn man mác nhưng hổng còn thèm thuồng đến thắt ruột như cách đây mấy mươi năm. Mới hay nỗi nhớ quê hương dần dà lu mờ trong tâm trí của những kẻ xa quê quá lâu, nó cũng hông còn thấm đậm trong tim như ngày xưa nữa. Tôi nói với Tamela: – Bây giờ chú vẫn đi chơi với tụi con mà, lần nào cũng có chuyện vui như Tết. – Con có nghe Zanda khoe, tuần trước, chú dẫn nó lên Las Palmas. – Âu châu bỏ lệnh cấm cách ly rồi, nhưng tuần rồi ở Las Palmas khách du lịch đông quá nên chú với Zanda còn ngại. Chuyến này tàu trở lại Vigo nhằm Tết Việt Nam, nếu chú còn trên tàu thì chú mời tụi con lên bờ nhậu với chú. Đồ biển ở Vigo rất ngon. Tamela vui mừng hô: – Ô kê chú, con hy vọng chú ở lại tới qua tết Việt Nam. Zanda từ trong muôi tàu mở cửa ló đầu ra, chưn ngoài, chưn trong nó ngó qua ngó lại, chợt thấy tôi với Tamela, tay vịnh cánh cửa. Nó chồm ra hô lớn: – Goodmorning! Tôi và Tame la cùng nhau nói goodmorning lại. Zanda bước hai chưn ra ngoài, đóng nhẹ cánh cửa, đi ra đứng cạnh tôi. Nó nhìn về phía trời đông nói: – Trời đẹp quá chú? – Rất đẹp, tết Tây đã qua, những cơn bão lớn cũng đã qua, biển êm và trời trong. Tamela nói: – Đúng vậy, sau cơn bão gió êm, biển lặng. Tôi chỉ tay về một đám mây phản chiếu ánh sáng khi mặt trời nhô lên khỏi mặt nước phương Đông: – Coi kìa ! làm sao mà một đám mây nhỏ màu hồng bay lơ lửng như một chiếc lông từ một con chim hồng hạc khổng lồ nào đó rớt ra. Tamela cười: – Ha ha… chú hay thiệt đó, thấy một đám mây mà thành ra lông của chim hồng hạc. Cả tháng qua gió bão, sóng gió nhiều làm việc xong mạnh ai nấy về phòng riêng nên không có dịp nói chuyện với nhau. Hôm nay trời đẹp nên thấy trong người thoải mái hơn, gặp mặt chào nhau vui vẻ, chớ không lơ là như những ngày giông bão. Tôi cười và chỉ tay về phía mặt trời, nói: – Con hổng thấy sao! Trời xanh, mây trắng, mặt trời hồng, biển im lìm và thánh thiện. Khi chúng ta có mặt vào buổi sáng thì phải tạ ơn một đặc ân quý giá của thiên nhiên ban cho. Khi biết ta còn sống, hít thở, suy nghĩ, tận hưởng và yêu thương, thì để cho tâm thức biến những cái bình thường nó trở nên đẹp đẽ hơn. Hai đứa cười ha hả Zanda nói: – Chú là nhà văn. – Mỗi khi nhìn biển, trời đẹp đẽ chú hay suy nghĩ vu vơ vậy thôi. Zanda hỏi tôi: – Con vô nấu mì nhé chú? – Ừa, con nấu đi. Zanda day ngang hỏi Tamela ăn mì không nó nấu luôn. Tamela gật đầu đồng ý. Zanda day qua tôi nói: – Chú ngồi chơi đi, con nấu mì cho thủy thủ In Đô và dọn bữa ăn sáng cho officers luôn. – Ok, thank you. Zanda đi trở vô bếp nấu mì. Tamela day qua cười nói: – Cái thằng mập vậy mà ăn nhiều quá. Nó nhìn về phương Đông, ánh mặt trời đã nhô lên khỏi mặt nước trông như chiếc mâm. Một bầy chim nhàn tìm mồi bay lượng, vài những con chim nhỏ bay trên ngọn cần trơi. Tamela chỉ tay lên bầy chim nhỏ, hỏi: – Chim én (Swallow) phải không chú? – Ờ đúng rồi. – Con tưởng Âu châu hổng có loài chim én. Tôi giải thích: – Có chớ, Swallow là tên gọi thông thường của các loài chim cùng họ, ở châu Âu như một từ đồng nghĩa với chim én là chim martins cũng là một nhóm chim trong họ Hirundinidae, chúng có mặt khắp nơi trên thế giới. – Sao nó bay ra tới đây, chú? Tôi chỉ tay vô dải đất liền, nói: – Con coi kìa, gần bờ mà. – Oh, nhưng ra đây rồi lấy gì nó ăn? – Theo chú biết loài chim én có đặc điểm là chúng thích hợp với việc kiếm mồi trên không. Chim én có mặt khắp thế giới và sinh sản ở tất cả các lục địa, ngoại trừ Nam Cực. Những chuyên gia am hiểu về chim chóc họ cho rằng, loại chim này có nguồn gốc từ Châu Phi, chúng thường làm làm ổ trong bọng cây, tuy nhiên Châu Phi cho tới nay vẫn còn có nhiều loại chim to con nhứt. Chúng cũng xuất hiện trên những hòn đảo giữa đại dương. Còn một số sống bên châu Âu và Bắc Mỹ là loài chim di cư đường dài; ngược lại, có một giống chim én ở Tây phương và Nam Phi thì chúng hổng có di cư. Chợt nhiên một con chim nhỏ đáp xuống boong, nó đi tới đi lui trông nó không có gì hốt hoảng và nó cũng không bay lên được nữa. Thấy con chim có vẻ khác thường, Tamela tới bợ nhẹ nó lên, nó kháng cự yếu ớt và nằm gọn trong lòng bàn tay của Tamela. Tamela nói: – Để con vô lấy nước cho nó uống và bánh mì cho nó ăn. Tôi ngăn lại: – Đã nói là loài chin én không ăn, uống được những thức ăn trên trái đất mà. Tamela lưỡng lự, hỏi: – Vậy để nó đâu chú? Tôi khoát tay: – Con buông chim ta và cứ để nó tự nhiên đi. Tamela buông chim ra, chim thong thả đi lại nơi góc khuất đứng đó. Tame la nói: – Thấy nó tội nghiệp quá chú. – Con cứ để nó tự sanh tự diệt đi, mình không nên can dự vào đời sống của các loài chim, chúng có cách sống riêng của chúng. Con để nó tự do, có thể một lát nó khoẻ lại và nó sẽ tiếp tục bay đi, con bắt nó nhốt lại nó sẽ chết. Zanda mở cửa ló đầu ra kêu Tamela vô ăn. Tamela day ngang: – Con vô ăn nhé chú. – Ok. Ăn ngon. Tamela đi rồi, tôi nhìn qua góc khuất chỗ con chim én. Không thấy nó, tôi ngó quanh thì thấy nó đứng trên cuộn dây. Tôi bước tới thì nó lấy trớn bay vút về hướng đất liền. Thấy vui vui và nhìn theo con chim tới khi chấm đen biến mất trong cái không gian trong lành và thánh thiện. Ánh mặt trời chen mình vô đám mây tụ màu xám và toả ánh sáng ra đám mây cạnh bên màu trắng mỏng manh. Tôi nghĩ tới ánh mặt trời chiếu sáng khắp mặt đại dương, loan ra miền núi, rừng cây, ruộng lúa, vườn rau và dân gian sống trong các làng mạc trên khắp vũ trụ hành tinh này. Nhưng tôi cam đoan rằng từ người trí thức, người làm chánh trị, những nhà lãnh đạo các nước và người đang làm một công việc vặt vãnh xa mù chì ở tuốt trong đất liền, cho tới thủy thủ chúng tôi ở giữa biển khơi; kẻ lương thiện, người dã man, nếu họ biết nhìn nhận được những cái đẹp tuyệt vời này thì tất cả sẽ thấy những tham vọng, phấn đấu nó nhỏ bé trước cảnh quang đẹp đẽ và hùng vĩ của Thiên nhiên như thế nào !

Kẻ săn vàng

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 27th, 2019

Post by Sơn râu 17 Aug 2023

Kỳ trước: Dù đã dạy cho tên cướp cạn một bài học, nhưng cảm giác u buồn lại dậy lên. Ông nhớ về trường Võ Bị Đà Lạt… Trận mưa đá dội xuống cánh rừng âm u như dội xuống lòng người sĩ quan sa cơ thất thế trước vận nước đen tối.

 Kỳ 3

Ôi thời gian qua như tên bay! Ðã có biết bao nhiêu lần mưa đá đi qua trong đời. Năm thằng tuổi trẻ chuyền tay điếu Orland ngày nào, thì một thằng thành phế binh, ba thằng đền nợ nước. Hai mươi bốn năm sau lần mưa đá ấy, còn lại mình tôi, một Kẻ Săn Vàng trên Chiến Khu D…

Trời gầm trên ngọn cây. Chớp giật liên hồi. Mưa như cầm chĩnh đổ. Cứ như vậy suốt đêm và kéo dài cho tới chiều hôm sau, mưa mới nhẹ hạt dần.

Nước đã tràn qua bờ be miệng giếng. Nước cuốn trôi xuống chân đồi những gì cản đường. Dòng suối hiền hòa hôm qua, nay trở thành con sông nhỏ chở đầy củi cành rác rến, nước đỏ ngầu.

Tôi cứ ngồi bó gối nhìn ra ngoài trời. Ðiếu thuốc này tiếp nối điếu thuốc khác trên môi, tôi ngồi nghĩ vẩn vơ toàn những chuyện ngày xưa.

Trời càng về chiều càng lạnh hơn. Ðêm đó tôi bị cảm lạnh. Trong lúc cơn sốt rét rừng hành hạ tôi, thì ngoài kia mưa vẫn rơi.

Nhưng rồi chuyện gì cũng qua. Mấy hôm sau vừng dương lại trở về soi những tia nắng ấm trên cuộc đời những kẻ bất hạnh nhất trần gian.

Những giọt mồ hôi lại đổ xuống mảnh đất chiến trường xưa.

Những gầu đất tiếp tục khơi sâu lòng giếng.

Từ quán cô Nghĩa vang vọng lại giọng hát ngọt ngào thuở nào, Khánh Ly:

“Trời ươm nắng cho mây hồng… Mây qua mau, em nghiêng sầu…Ngoài kia lá như vẫn xanh …”

Tôi chợt thấy một niềm vui nhỏ nhen nhúm trong lòng, nơi rừng thiêng nước độc này, chợt phút giây, tìm lại được cái gì đó gần gũi, ấm cúng ngày cũ.

Giếng đã cạn đá sỏi, bắt đầu vào lớp đá dăm, chúng tôi mừng vui vì sắp tới ngày “hy vọng vươn lên” của giếng vàng thứ nhì.

Ðã đến ngày chúng tôi bắt đầu công việc gom xái. Xái chuyển tới mặt đất thì được đóng thành bao, chất quanh lều. Sau đó chúng tôi mới từ từ chuyển xái xuống suối để đãi lấy tinh. Với dân đào vàng thì ngày này là ngày hạnh phúc nhất.

Tôi cầu mong đợt thu hoạch kỳ này sẽ khấm khá hơn lần trước. Giếng bên cạnh của hai cha con ông người Quảng mới trúng bảy cây. Giếng của chúng tôi sát nách giếng cha con nhà ấy, có rẻ cũng được năm cây!

Tôi nhẩm tính trong đầu, chi phí đâu đó xong xuôi, mỗi người chắc mẩm có cả cây bỏ bọc!

Tôi nghĩ đến đàn con đang ở Sài-Gòn chờ tin tôi, như những con chim non đang trông chờ con chim mẹ kiếm mồi…

Tôi mơ màng hình dung trước mắt, một mâm cơm gia đình có canh, có cá.

Tôi nghĩ tới tuần sau, khi tôi mang vàng về, các con tôi sẽ có tiền trả tiền học. Tôi sẽ mua thêm vài tấm tôle nhựa để che những lỗ dột trên lầu cho lũ con đỡ ướt lúc gió mưa. Tôi sẽ mua dự trữ một số chỉ thêu để con gái tôi có sẵn chỉ mà thêu hàng cho khách đặt hàng thêu. Tôi sẽ mua một cái máy thu thanh cho bọn nhỏ học Anh Văn. Vợ tôi sẽ mua để dự trữ sẵn trong nhà một tạ gạo, vài chai nước mắm, phòng đói cho con…

Trời hừng đông, người ta bàn tán với nhau rằng, ngày mười chín tháng năm, ngày sinh của “Bác”, Huyện đội sẽ cho cán bộ bất thần vào kiểm tra an ninh khu vực khai thác vàng này.

Tin tình báo nhân dân nhanh thật! Hèn nào mới gà gáy sáng, tôi thấy đã có mấy anh thanh niên hì hục chuyển hai thùng súng đạn từ cái quán của cô Nghĩa đem phân tán đi đâu đó không ai rõ.

Sáng sớm, thím Xuân đem lên một con gà trống đã luộc chín và một nồi xôi đậu xanh. Chúng tôi lần lượt thắp nhang khấn vái cám ơn Thổ Ðịa đã phù hộ.

Sau khi ăn sáng, chúng tôi chuẩn bị đánh dây đai những bao xái để dễ dàng chuyển vận.

Khoảng mười giờ sáng, nơi đầu dốc cậu Linh có tiếng súng bắn chỉ thiên, một cái loa cầm tay oang oang ra lệnh:

“A lô! A lô! Ai ở đâu ở tại chỗ! Có đoàn kiểm tra an ninh kinh tế của huyện thi hành nhiệm vụ thanh lọc. Yêu cầu bà con sẵn sàng xuất trình giấy phép khai thác củi cho nhân viên chính quyền. Ðây là công việc bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con. Xin bà con cứ yên tâm sinh hoạt bình thường, đừng gây lộn xộn. Hãy tiếp tay với chính quyền củng cố an ninh huyện nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ-Tịch! A lô! A lô!”

Thằng Thanh ghé tai tôi nói nhỏ,

– Con với thằng Hòa phải tránh mặt, vì tụi con trốn nghĩa vụ. Bác Hai và thằng Út ở lại trông coi bãi xái. Hết động, tụi con trở lại.

Sau đó nó và thằng Hòa lủi vào rừng mất hút.

Tiếng loa oang oang tiến lại gần. Nhạc vàng vụt tắt.

Trên đồi, vài dân mõi vàng giấu vội những bao xái trong lùm bụi. Có người ném các bao xái xuống giếng rồi ném cành lá lên trên che đi.

Tôi chưa biết phải làm gì thì những cái nón cối xanh đã nhấp nhô đó đây.

Dẫn đầu đoàn bộ đội là một sĩ quan cấp lớn của Quân Ðội Nhân Dân. Ðầu hắn đội cái nón cối rất mới, sao vàng sáng chói, bên hông có K 54, tay có đổng (đồng hồ), vai có đài (radio), có cặp, mắt có kiếng râm. Miệng hắn toe toét cười khi đi ngang qua các quán lều. Cái quân hàm màu đỏ trên cổ áo hắn với một ngôi sao và hai gạch vàng (Thiếu tá) cho tôi biết lực lượng kiểm tra hiện diện trong vùng này cũng phải cỡ trên dưới một tiểu đoàn.

Như vậy là vòng ngoài, vòng trong đều có bộ đội, không rõ tụi thằng Hoà, thằng Thanh có lọt thoát không?

Hai hàng quân triển khai dọc hai bên bờ Nam Bắc của con suối. Những tên lính Cộng Sản, AK cầm tay, lưỡi lê đầu súng, mặt lạnh như tiền.

Chúng đóng trụ, từng tổ hai đứa. Tổ này cách tổ kia khoảng hai chục thước, trải dài theo con đường mòn bên bờ chờ lệnh.

Công việc kiểm tra bắt đầu với việc trình giấy phép khai thác rừng. Từng toán ba người đến mỗi bãi hỏi giấy phép.

Sau đó họ làm biên bản, bắt người trưởng mũi ký tên. Có vài người bị đưa đến tập trung hướng bên kia đồi, nơi cuối dốc, ở đó có một khoảng đất bằng phẳng với những súc gỗ cũ mục.

Mỗi toán kiểm tra gồm ba bộ đội thì có một tên là sĩ quan, từ một sao một gạch, tới bốn sao một gạch, tức là từ thiếu úy tới đại úy.

Tôi nhủ thầm: “Gớm! Sao mà Quân Ðội Nhân Dân có nhiều sĩ quan dữ vậy!”

Một thượng úy Cộng Sản và hai tên bộ đội tiến tới lều tôi. Mắt chúng sáng lên khi thấy hai dãy gần ba chục bao xái đã đóng bì gọn ghẽ.

Với giọng Miền Trung tên thượng úy trưởng toán hỏi tôi,

– Giấy phép khai thác rừng của anh mô? Ðưa tui coi!

Tôi trình cái giấy phép mới mua lại tại bãi tuần trước với cái giá ba phân vàng.

– Chứng minh nhân dân của anh mô?

Tôi nhỏ nhẹ,

– Vì ở đây không an toàn nên tôi để chứng minh nhân dân ở nhà.

Người sĩ quan Cộng-Sản nhăn mặt,

– Anh nói năng chi lạ rứa? Anh ở ngoài Bắc mới nhập phải không?

Tôi chống chế,

– Không, tôi ở trong Nam lâu rồi, nhà tôi ngoài bến phà mà!

Hắn không để ý gì tới lời tôi nói. Quay qua một tên tùy tùng, hắn ra lệnh,

– Dẫn anh này ra bãi tập trung, giao cho đồng chí Quang.

Tôi quay qua định dặn dò thằng Út đôi điều thì thằng nhỏ đã trốn mất tự lúc nào!

Tôi đi trước, khẩu AK và cái lưỡi lê đi theo sau lưng.

Trên đoạn đường tới bãi, tôi còn gặp cả chục người cùng hoàn cảnh nên lòng cũng không lo lắng lắm.

Khoảng gần hai trăm người chúng tôi bị tập trung nơi bãi cây. Nơi đây có một cái lều vải dã chiến vừa được dựng lên vội vã. Có một cái bàn gỗ đặt trước cửa lều.

Một đại úy Cộng-Sản đang ngồi trên ghế nhâm nhi ly cà phê đen.

Tên bộ đội đẩy tôi về phía bàn giấy và ra lệnh:

– Anh trình diện Thủ trưởng Quang đi!

Tôi chưa kịp bước lên thì tên sĩ quan Cộng-Sản đã xua tay,

– Thoải mái! Thoải mái! Anh cứ thoải mái ra nghỉ ngoài kia, chờ chúng tôi nghiên cứu vấn đề rồi sẽ giải quyết sau. Nhớ đừng tìm cách thoát ly đó nhé!

Sau đó hắn to giọng để những người khác cùng nghe,

– Các anh chỉ được di chuyển trong vòng đai đánh mốc bằng dây thừng này thôi! Ai tìm cách thoát ly thì chúng tôi không chịu trách nhiệm bảo toàn tính mạng đấy nghe không!

Ðám người bị câu lưu nghe lời hăm dọa mà xanh mặt.

Những tên lính Cộng Sản canh gác bốn góc bãi thì vẻ mặt khó đăm đăm.

Những họng AK lúc nào cũng lăm lăm chĩa vào đám đông như sẵn sàng nhả đạn.

Gần hai trăm người chúng tôi ngồi trên cát, trên cỏ, nhịn đói, nhịn khát trong thời gian năm, sáu tiếng đồng hồ.

Tới xế chiều thì viên thiếu tá trưởng đoàn kiểm tra xuất hiện. Hắn vẫn toe toét cười,

– Thế nào? Bà con có khoẻ không? Chờ đợi lâu thế này chắc là bà con đói bụng rồi đấy! Thôi nhé! Mình tranh thủ làm nhanh nhanh công tác kiểm điểm để bà con về nghỉ mệt. Thì giờ là vàng ngọc mà! Hì! hì! hì!…

Mọi người thở ra nhẹ nhõm. Tình hình có vẻ không đến nỗi căng lắm! Vài người trong bọn tôi bạo gan giở thuốc lá ra hút trong khi chờ đợi viên thủ trưởng của đoàn kiểm tra giải quyết vấn đề.

Viên thiếu tá Cộng-Sản đưa từng xấp giấy có in sẵn mẫu cho bốn tên đàn em đem phân phát cho mỗi người chúng tôi một bản. Ðó là mẫu tự khai và kiểm điểm, trong đó chúng tôi phải ghi rõ họ tên, quê quán, nghề nghiệp, ngày sinh, tháng đẻ.

Về mục kiểm điểm thì tùy từng người; người không có chứng minh nhân dân thì hứa lần sau sẽ đem theo giấy tờ theo mình khi đi xa nhà; người không có giấy khai thác củi thì hứa lần sau sẽ xin giấy phép trước khi vào rừng.

Nhiều ông trưởng mũi không biết đọc, biết viết, phải nhờ người khác giúp đỡ.

Tôi khai tên mình là Nguyễn văn Hai, sinh quán Hà-Ðông, nghề nghiệp thợ mộc.

Tôi nộp tờ tự kiểm của anh chàng Nguyễn văn Hai, Hà-Ðông, thợ mộc trên bàn rồi lui ra đứng lẫn vào đám đông.

Những tên bộ đội canh gác an ninh lúc đó đang tháo gỡ căn lều dã chiến. Chúng nó chuẩn bị thu quân.

Sau khi dồn đống giấy kiểm điểm của chúng tôi vào ba lô, tên đại úy phụ tá xách cái ba lô đó đi về hướng dốc Cậu Linh. Hắn vừa nhún nhảy đi, vừa huýt sáo miệng điệu nhạc Lambada Nam-Mỹ.

Viên thiếu tá Cộng-Sản trưởng đoàn trịnh trọng hắng giọng lấy hơi rồi tuyên bố,

– Nhân danh trưởng đoàn kiểm tra nhân dân, tôi khen ngợi các anh đã thành khẩn nhận lỗi và hối lỗi. Nhân ngày kỷ niệm sinh nhật của Bác Hồ, tôi châm chước cho các anh ra về. Nhớ lần sau chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định khai thác rừng của huyện và không được vi phạm nữa nghe không!

Mọi người vỗ tay cảm động. Ðôi người còn đến mời thuốc lá và xin bắt tay tên sĩ quan trưởng đoàn. Tôi cũng thở phào nhẹ nhõm.

Tôi nói với một người đồng cảnh trên đường trở về bãi,

– Chắc lệnh trên ban xuống, bắt tụi nó kiểm tra, thì tụi nó cũng làm cho có lệ vậy thôi, chứ ăn cái giải gì mà khó dễ tụi khố rách áo ôm như mình!

Ông đồng cảnh của tôi cười khẩy,

– Chắc tụi nó có nhận trà nước chia chác của xã, nên mới dễ dãi với mình. Lần trước tụi nó dọn sạch cả đồ nghề, khiên, bao, xẻng, cuốc, chẳng còn gì. Ðể về bãi mới biết kết quả ra sao anh ơi! 

Tôi về tới bãi cũng là lúc tụi thằng Thanh chạy bát nháo đi tìm tôi.

Thằng Thanh và thằng Hòa cùng vài trăm người không giấy tờ khác trốn trong khu hầm mỏ cũ suốt bốn, năm tiếng đồng hồ. Chẳng có ma nào thèm tìm đến vây bắt bọn họ.

Khi bộ đội đã rút đi, có người thông báo, tụi nó mới về lều.

Nghe thằng Út nói Bác Hai bị điệu ra bãi tập trung thì tụi nó lo lắng cuống quýt chạy đi tìm.

Thằng Út nói lúc bộ đội gí súng bắt tôi đi thì nó chạy sang lều bác sĩ An, giả đò đau bụng để theo dõi diễn tiến ra sao.

Chờ yên việc nó mới dám mon men về lều. Rồi nó mếu máo,

– Bác Hai ơi! Xái của mình bị tịch thu hết rồi! Bộ đội đã khiêng đi hết rồi!

Tôi nhớ lại, khi lên nộp tờ kiểm điểm trên bàn của tên Thiếu tá Cộng sản trưởng đoàn, tôi tình cờ nghe y dặn dò tên Ðại úy phụ tá,

– Ðồng chí nhớ cho người khẩn trương đãi xái ngay tối nay, bên huyện ủy chia cho cánh mình một nửa số thu hoạch kỳ này đó!

Thì ra cuộc càn quét này, mục đích của huyện là lấy vàng.

Trong thời gian chúng tôi bị giữ ngoài bãi súc sau đồi thì lực lượng vũ trang huyện đã lùng sục khắp các bãi. Tất cả xái đã khai quật đều bị tịch thu đóng bao khiêng đi hết. Có cả chục cái xe tải chờ sẵn ngoài dốc cậu Linh để chở đi những tấn hàng béo bở.

Cán bộ giải thích với dân đào vàng rằng, huyện cho giấy phép “khai thác rừng” chứ không phải để khai thác quặng mỏ. Quặng mỏ là tài sản của nhân dân, đào vàng là xâm phạm tài sản của nhân dân. Những người trưởng mũi đều bị gán tội xâm phạm tài sản nhân dân. Họ bị làm biên bản và phải làm tờ tự kiểm điểm. Tất cả xái vàng họ đã khai thác được đều bị tịch thu giao nộp về văn phòng huyện.

Mẹ kiếp! Cái giấy phép, giá chính thức là hai phân, giá chui là ba, bốn phân. Trên thực tế, khai thác một diện tích vuông, mỗi chiều mười mét, cho dù là rừng cẩm lai cũng không được một phân! Thêm tiền công, tiền di chuyển xe cộ, ăn uống, thuốc men.

Lại một trò “chơi chữ”! Cái đồ ăn cướp cạn!

Tôi chợt bật cười, nhớ lại cái thông cáo tháng Năm 1975 của Ủy Ban Quân Quản Sài-Gòn Chợ-Lớn ra lệnh cho Quân Cán Chính của chế độ Sài-Gòn phải “đem theo 30 ngày tiền ăn khi trình diện học tập cải tạo”

Rồi một tháng sau, “Nhà nước ra lệnh cho các anh mang theo 30 ngày tiền ăn, chứ nhà nước có hứa sẽ thả các anh về sau một tháng đâu?”
Thế rồi từng tờ lịch lật qua, theo nhau, mười ba tập lịch được bóc đi, tôi về.

Tôi về, vợ tôi đã sắp đuối, bốn đứa con tôi còn nhỏ dại.

Tôi bắt đầu lại cuộc đời với hai bàn tay trắng.

Mới đó mà đã mười bốn năm trôi qua. Thời gian trôi, nhưng chính sách của Ðảng và nhà nước thì lúc nào cũng tàn ác, dã man, “trước sau như một”

Tôi tự trách, “Mình đúng là thằng tối dạ! Kinh nghiệm đau thương mười mấy năm rồi mà chưa sáng mắt ra!”

Thế là công cốc! Cái lều của thày trò tôi vẫn còn nguyên, nhưng những bao xái vàng chất xung quanh lều đã biến mất. Giờ này xái trong những bao bì ấy đã được những “đầy tớ trung thành của nhân dân” đem đi đãi, vàng sẽ được chia cho những người có công chỉ huy công tác “bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con” trong cuộc hành quân kiểm tra sáng nay.

Ðúng như tên Thiếu tá Cộng-Sản đã tuyên bố, “bộ đội không tơ hào đến tài sản của nhân dân!”

Chứng cớ là bao, bì, khiên, cuốc, xẻng, đòn, đồ nghề khai mỏ vẫn nằm yên chỗ cũ, có ai đụng tới đâu? Chúng chỉ hớt tay trên miếng ăn của những kẻ đói khổ nhất trần đời. Trong rừng chiều, tôi nghe đây đó vang vọng tiếng khóc than, tiếng nguyền rủa của những nạn nhân vừa bị cướp.

Chiều đầu mùa Hạ 1989, nắng vàng lóng lánh trên những đọt lá giữa rừng già. Trời quang và mây tạnh, nhưng trong lòng tôi cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, lạnh hơn là khi trời đang mưa đá trên miếu Thần Hổ, Ðà-Lạt ngày nào.

Quán cô Nghĩa lại vang lên một bài ca xưa, nhưng giọng ca rất lạ, cuộn cassette được lén gởi về từ bên kia nửa vòng trái đất:

“Một ngày tàn chinh chiến ấy,

chim đã xa bầy…

Một ngày tả tơi hoa lá,

ngóng trông về xa,

nhớ thương hình bóng qua…”

VML-k20

Seattle, WA.

Kẻ săn vàng

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 20 Jul 2019

Post by Sơn râu 17 Aug 2023

Kỳ trước: Có chừng 5 ngàn người là ít. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên… 

Kỳ 2

Mặt trời hừng hực tháng Năm. Dòng nước đầu nguồn trôi xuôi, càng về cuối nguồn càng đục. Dòng nước thành màu cà phê sữa đặc.

Người ta lội tới mắt cá, bắp chân, đầu gối. Tay khiên chao nhanh, mắt không rời những hạt vàng óng ánh trong đáy khiên. Lượng cát óng ánh nhiều hay ít là niềm vui, là nỗi thất vọng.

Ðủ loại người tìm sống nơi chiến trường xưa, trên con suối đục ngầu đất đỏ. Những tiếng hát cất cao, ngây ngô, giọng Bắc, Trung, Nam chen lẫn nhau. Những giọt mồ hôi đọng trên trán, trên má những khuôn mặt cháy nắng sạm khô. Những tiếng cười vô tư bên những tiếng thở dài chán chường…
Tới cuối đồi, tôi ngừng bên những giếng vàng cũ. Dăm em bé gái trai, tuổi cỡ lên chín, lên mười, thân mình gầy guộc đang chuyền từng gàu đất xái chúng mót được lên mặt đất.

Tôi tò mò hỏi,

-Có khá không các em?

Một bé gái trả lời,

-Tụi con mót cả ngày không đủ ăn chú ơi! Họ ‘cạo’ láng quá! ‘bợn’ còn ít lắm chú à!

Tôi xoa đầu bé cảm thông. Thương cho bé, mới tí tuổi đầu đã vất vả vì đời.

Tôi theo cái thang dây xuống thám hiểm vùng đất thế giới của Diêm-Vương. Sâu hai, ba chục thước dưới lòng đất, ở tầng quặng mỏ, vách ngăn giữa các giếng được đánh thông để lấy xái. Lớp đất sét có quặng chỉ dày chừng ba, bốn thước.

Tôi đứng giữa một căn hầm rộng mênh mông. Mặt đất dưới chân tôi bị cạo sạch sành sanh. Trên trần là lớp đất sét trộn đá dăm, dưới nền cũng là đất sét pha đá dăm. Không khí dưới đáy giếng lạnh lẽo vô cùng. Ánh sáng mặt trời từ trên cao theo những lỗ giếng chiếu xuống đáy như những ngọn đèn pin trắng.

Ngửa mặt nhìn lên, chỉ thấy một khoanh trời xanh xa tít, lâu lâu bay qua vài sợi mây trắng. Những em bé đang mót xái cách tôi không xa, vậy mà tôi không nghe được tiếng chúng nói chuyện. Xái dưới chân không còn. Chúng dùng xẻng đâm ngược lên tầng vách đất trên đầu, hy vọng tìm được những cục quặng vàng lẫn trong đất đá trên trần hầm.

Những bé con đang tìm miếng cơm dưới chân Thần Chết! Có lúc đất đá sụp từng khối trên đầu chúng khiến bọn nhỏ hoảng sợ chạy vội ra xa. Chờ vài giây, chúng trở lại bới vét đống đá tìm những cục xái còn sót, gom thành từng cụm rồi chuyển vận lên mặt đất.

Khi bọn nhỏ đi khỏi, căn hầm im lặng như tờ, không cả tiếng côn trùng. Tôi chợt nghĩ, chỉ cần một chấn động nhỏ trên mặt đất là cả khu rừng nặng hàng triệu tấn trên kia sẽ đổ sụp xuống, lấp kín căn phòng khổng lồ này trong giây phút.

Tôi đảo người quan sát một vòng, tôi có cảm tưởng như đang đứng dưới một bầu trời đầy mây đen kịt mênh mông.

Ðất dưới chân tôi bốc hơi lành lạnh. Tôi thấy hai ống chân mình có vẻ như muốn mềm nhũn từ từ. Quanh tôi không có ai. Quanh tôi im lặng quá. Tôi chợt rùng mình. Tôi tìm sợi dây thang, vội vàng leo nhanh lên miệng giếng.

Mặt trời xế bóng, có ba người đàn ông đeo mỗi người một cái túi đựng đầy hàng hóa bên hông. Họ đang đứng trước lều của ông Bác sĩ An hỏi han điều gì đó.

Tôi thấy Bác sĩ An và họ nói chuyện với nhau bằng tay, miệng bốn người xí xô om sòm.

Khi tới gần tôi nhận ra ba người lạ là người Thái-Lan. Họ nói chuyện bằng Anh Ngữ, họ hỏi xem có ai biết tiếng Anh thì giúp việc cho họ bán những cái poncho line hoa hòe. Họ sẽ trả công mười lăm nghìn một ngày.

Thấy không có ai lãnh việc này, tôi tình nguyện làm việc với họ. Giao kèo chỉ có một ngày thôi vì ngày kia tôi đã bắt đầu một giếng mới không thể đi theo họ được.

Sáng hôm sau tôi nhận tiền thù lao trước, làm việc thông ngôn sau. Ngày hôm ấy chúng tôi đã đi qua hết cái diện tích của mỏ vàng Hiếu-Liêm, từ đầu dốc Cậu Linh cho tới triền đồi hướng Tây, nơi những cây nọc phân khu mới đóng ranh. Giấy phép khai thác khu đất này chưa được phổ biến.

Chúng tôi la cà từ giếng này sang giếng khác. Tôi thông dịch chuyện mua bán thì ít, mà thông dịch những câu hỏi về thời thế, gia cảnh của dân mõi xái thì nhiều.

Những người Thái có vẻ thích nghe chuyện lạ bốn phương hơn là việc mời chào khách hàng.

Người Thái-Lan lớn tuổi nhất cẩn thận ghi chép những điều ông ta nghe được vào quyển sổ tay dày.

Lâu lâu ông lại giở ba lô lấy cái máy ảnh nhỏ chụp hình hoạt cảnh đang diễn ra trên khu khai thác mỏ.

Ði từ sáng tới chiều chúng tôi chỉ bán được vài cái mền. Ban đêm ở đây cũng lạnh lắm, nhưng những kẻ đào vàng khốn khổ như chúng tôi thì đâu có thời giờ để ngủ mà cần tới mền?

Trước khi chia tay chiều hôm ấy, tôi chỉ dẫn cho những người Thái thương buôn con đường lên cao nguyên để bán chăn nylon. Họ có vẻ không thiết tha lắm với việc lên Ðà-Lạt rao hàng.
Hỏi ra, tôi được biết người cao niên nhất trong bọn họ là một cựu chiến binh thuộc Sư đoàn Mãng-Xà Vương của Quân đội Hoàng-Gia Thái-Lan, một đơn vị đồng minh đã có lần hiện diện ở Long-Thành thời chiến tranh.

Chuyến đi này của ông không có chủ đích buôn bán, mà chỉ mượn cớ về thăm nơi chiến trường xưa thời tuổi trẻ.

Ông ta đang trên đường tìm hứng để viết lại hồi ký đời ông. Ông ta hy vọng thiên hồi ký này có thể đem về một số tiền nhuận bút lớn lao, đủ cho ông sống dưỡng già.

Tôi không thiết tha lắm với đám người này, vì tôi vào lại chiến trường xưa chỉ với mục đích tìm gạo sống qua ngày, tôi không có gì hứng thú với việc trở về rừng tìm ý viết văn như họ. Chiều ấy chúng tôi chia tay.
Tôi về tới lều thì thằng Út kể cho tôi nghe chuyện chị bán nhang đèn bị cướp.

Chiều qua trên đường về nhà chị bị phục kích giữa rừng.

Lúc chiếc Honda hai bánh của chị đổ dốc thì kẻ gian đã giựt một sợi dây dù căng ngang con đường xe be vừa hẹp vừa rậm rạp. Chiếc xe bổ nhào.

Từ bìa rừng, hai người đàn ông bịt mặt bằng áo thun đen ào ra lôi chị và chiếc xe vào sâu trong bụi lau. Chúng trói chị lại, nhét giẻ vào miệng chị, lột hết nhẫn, vòng, kiềng, cà rá và cả đôi bông tai vàng của chị.

Chúng vứt chị nằm trên đám cỏ lác cho kiến tha, rồi leo lên xe Honda của chị nổ máy chạy đi mất tiêu.

Chị hì hục suốt đêm mới tự cởi trói được. Chị lết ra tới giữa đường nằm chờ người đến cứu.

Gần sáng, có mấy tay bảo tiêu có súng, sau khi chuyển xái về nhà thân chủ, trên đường trở lại rừng, họ thấy chị nằm giữa đường bèn cứu chị về bãi.

Chuyện chị nhang đèn bị cướp chắc cũng được truyền khẩu trong dân gian vùng mỏ này được vài ngày. Ngày sau, tuần sau người ta lại quên chuyện ấy thôi.

Ở đây, mỗi ngày xảy ra cả trăm vụ lộn xộn. Ðủ thứ chuyện tào lao. Tôi nghe tụi nhỏ kể lại, tôi cũng chỉ ậm ừ cho qua! Chẳng hứng thú tìm hiểu thêm làm gì.

Ðụng độ trong cái chợ trời này là chuyện thường ngày. Qua đường, vô ý chạm vai một yêng hùng, nếu không có lời xin lỗi kịp thời có thể gây nên cảnh sứt đầu lỗ trán. Vô tình ném cái tàn thuốc lá trước mặt một tay chơi cũng là hành động châm ngòi cho một cuộc chiến tranh. Ngoài ra, còn cả ngàn nguyên nhân gây ra ẩu đả. Ðánh nhau vì gái, vì cờ bạc, vì chia chác phần hùn, vì mõi xái lấn lằn ranh, và vì vân vân…

Cái khó bó cái khôn, cái khổ làm con người dễ dàng nổi khùng, rồi trút cái khùng ấy lên đầu đồng loại.

Một hôm, tôi vừa đổ gầu đất xuống bờ suối, quay lưng định trở về giếng làm chuyến kế tiếp thì nghe có tiếng đàn ông quát tháo:

“Mày không nộp hết túi vàng cục đó cho tao thì tao vặn họng mày!”

Tò mò, tôi dừng lại quan sát.

Bên bờ suối, một hảo hán to lớn đang kẹp cổ một cô gái cỡ mười bốn mười lăm tuổi. Tay anh ta lần mò trước ngực cô giành giựt cái gì đó.

Cô gái vừa cố ôm chặt cái túi áo vừa khóc lóc:

“Em lạy anh, vốn liếng đào đãi cả tháng nay, em chỉ có ba chỉ. Mẹ em đang bịnh nặng chờ ở nhà. Anh mà lấy hết thì em không còn tiền thuốc thang cho mẹ em. Mẹ em chết mất! Em lạy anh ngàn lạy. Em làm đứt dây lều của anh, em đã thay bằng dây dù loại xịn đền cho anh rồi. Anh tha cho em, anh ơi! Hu!..hu!…hu!…”

Người đàn ông nắm tóc cô gái mà quay, hắn nghiến răng:

“Tổ mẹ mày! Dây lều của tao, mày phải đền bằng thứ dây ‘gin’. Tao không chịu cái thứ dây dù đó. Ở đây cái gì cũng tính bằng vàng. Không đền tao giết!”

Vừa nói hắn vừa đấm đá túi bụi vào ngực, vào mình cô gái đáng thương

Cuối cùng, hắn chộp được cái túi nylon giấu trong áo ngực của cô gái. Người thanh niên bỏ bao vàng vào túi rồi buông cô bé ra.

Cô bé mặt mũi đầy máu, ôm lấy chân anh thanh niên, nắm chặt vạt áo hắn, cô cố gắng giựt lại cái túi nylon.

Người đàn ông liên tiếp đấm đá cô gái. Hắn tìm đủ mọi cách thoát khỏi bàn tay cô gái. Cuối cùng hắn quật cô bé lăn quay ra đất rồi nhổm mình định chạy đi.

Cô gái vội nhào vào ôm chặt chân chàng hảo hán, miệng cô không ngớt gào la thống thiết:

“Bà con cô bác ơi! Cứu con! Người ta ăn cướp vàng của con. Ăn cướp! bà con ơi!”

Thấy tôi đứng nhìn, cô bé cầu cứu,

– Chú ơi! Cứu con với! Anh này cướp vàng của con chú ơi!

Tôi chưa biết tính sao, thì tay hảo hán đã hăm he,

– Này! Ðừng có dính vào nghe cha! Coi chừng lỗ mũi ăn trầu đó!

Tôi xua tay, nhẹ giọng,

–Chuyện đâu còn đó. Anh cứ thủng thẳng mà giải quyết. Sao lại nặng tay với phụ nữ như thế, ngó sao được.

Nghe vậy, người thanh niên nộ khí xung thiên,

– Ð.M! Mày có phải ông nội tao không mà lên mặt dạy khôn tao? Tao uýnh chết mẹ mày bây giờ!

Ðúng là cái ách giữa đàng! Tôi phân bua với những người đồng cảnh đang đãi xái dưới suối,

-Bà con nghe có được không? Tôi thấy đàn ông ăn hiếp đàn bà thì tôi có ý kiến. Anh này hàm hồ, hỗn hào như vậy thì bà con tính sao?

Bà con chưa nói gì thì anh hảo hán đã dấn cho tôi một bạt tai khiến mắt tôi nổ đom đóm. Anh co cẳng bồi thêm một cái đạp ngay hông tôi; tôi té bò càng bên bờ suối. Tôi vừa lồm cồm bò dậy lại bị thêm một cái tát ngay má phải.

Thế là, tôi chẳng còn nghĩ hơn thiệt, phải trái gì nữa. Tai tôi đã ù, mắt tôi đã đổ lửa.

Tôi không kìm được tiếng rú man rợ thoát ra từ miệng mình:

“A! …A!…A!…!!!”

Tôi hất đôi quang gióng xuống đất. Cái đòn gánh trở thành cây côn. Cái đầu côn thốc lên một đòn rất nhuyễn và thuần thục.

Bài côn Bình-Ðịnh do một võ sư xuất thân từ quê quán của vua Quang-Trung truyền dạy cho tôi ở Pleiku thời 1966-67 đã bị bỏ quên nhiều năm, nay được đem ra thi thố giữa rừng xanh.

Mũi côn vừa thọc trúng hàm đối phương thì tôi tự động hạ người xuống thấp, tay tôi xoay cây côn một vòng trên đầu lấy đà…

“Vèo!”

Cây côn chúc xuống quét sát mặt đất, cắt ngang ống quyển tên thảo khấu.

Bị liên tiếp hai đòn chí tử, chàng hảo hán quỵ gối xuống.

Phát côn thứ ba, bổ xuống từ trên cao trúng vai anh ta, kết thúc bài học vỡ lòng “Tam Côn Khai Môn”

Ðó là bài đầu trong ba mươi sáu bài “Ðoạt Mệnh Côn” Bình-Ðịnh, bài nào cũng kết thúc bằng một thế sát thủ.

Theo đúng bài bản, thì phát bổ xuống phải nhắm ngay đỉnh đầu địch thủ, nhưng tôi chợt hồi tâm, nhích tay cho nó chệch sang bên, dù sao thì anh ta cũng không phải là một tên lính Mãn-Thanh!

Lúc này vị hung tinh rũ người xuống như cọng bún.

Tôi bước lên một bước, tay phải vặn ngược tay trái anh ta ra đàng sau. Anh đang cố gượng đứng lên, nhưng đành tự động quỳ xuống, khi tôi xoay tay anh một vòng chín chục độ theo chiều kim đồng hồ.

Mặt anh nhăn nhúm vì đau. Mồ hôi anh chảy ròng xuống má.

Tôi nghe anh ta rên “Ư! ư! ư!”  trong họng.

Bà con tụ tập kín xung quanh la ó như cái chợ:

“Ðánh chết mẹ nó đi! Ðồ ăn cướp!”

Tôi móc túi anh lấy cái túi nylon đựng mấy cục vàng ròng đưa cho cô bé.

Cô bé vội vã bỏ vàng vào túi, miệng lúng búng,

– Cám ơn chú!

Rồi cô ta cắm đầu vụt chạy về hướng dốc cậu Linh khuất bóng.

Ðợi cho cô bé chạy đã xa, tôi mới buông tay anh thanh niên ra.

Tôi đẩy nhẹ, anh ta ngã chúi về phía trước.

Tôi chống một đầu đòn gánh sát mũi chân phải. Bàn chân phải sẵn sàng hất cái đòn gánh lên cao phòng hờ một đòn phản ứng cấp thời.

Nhưng anh thanh niên không còn hung hăng nữa. Anh lết mình trên cát như con chó đánh hơi thấy mùi cọp. Anh ta gắng lết cho xa đầu ngọn côn. Anh ngước nhìn tôi, đôi mắt đã mất hết thần sắc. Anh quơ tay, lượm vội đôi dép râu Trường-Sơn rồi ù té chạy về phía con dốc hướng Tây, nơi đầu nguồn con suối.

Tôi đứng nhìn theo bóng anh ta, lòng chùng xuống, man mác buồn. Tôi tự cảm thương cho cái thân tôi! Cạn ao, bèo xuống đất, tôi đang tranh sống trong một thế giới không luật pháp, không cả tình người. Ðâu có ngờ, cuộc đời tôi lại có ngày bị đẩy đưa đến cái khúc quanh thê thảm này!

Năm 1988 ra khỏi cái nhà tù con, tôi lại cùng những người khốn khổ nhất của đất nước này tranh sống trong một nhà tù lớn.

Ðấy! Cuộc sống của dân “Gold-seeker” (người đi tìm vàng) miền Nam vào thời 88-90 đại để là như thế đấy! Muốn nghĩ rằng nó nên thơ, thì nó nên thơ. Nếu cho rằng nó thảm sầu, thì quả thực nó quá thảm sầu. Thời gian thì cứ trôi. Mặt trời lặn rồi lại mọc. Ngày nào cũng là quá dài, đối với những kiếp người sống đọa đày trầm luân trong tăm tối, không tương lai.

Tôi nghĩ đến thân phận mình và đồng bào mình. Chỉ vì cái ngày Ba Mươi tháng Tư năm ấy, chúng tôi đã đánh mất đất nước, mà cả đất nước tôi thành một trại tù khổng lồ.

Chúng tôi khởi công đào giếng vàng thứ nhì vào một buổi sáng trời u ám lất phất mưa rơi. Mặt trời bị mây che kín mà rừng già thì tối om.

Tôi gắng chuyền nhanh từng gầu đất, nặng như những gầu bùn khi đi tát ruộng đào ao thời còn lao động khổ sai trong trại cải tạo Nam-Hà A, Z30C, hay Z30D.

Mồ hôi che mờ con mắt. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống má, qua cằm, xuống ngực. Mồ hôi làm nóng lớp da bụng. Mồ hôi chảy xuống ướt cả cạp quần.

Ðúng Ngọ, gió chợt ngừng, tôi nghe như có ai đó vãi từng đợt đá sỏi trên tàn cây cao. Mưa đá! Những cục nước đá nhỏ bằng hạt ngô nhảy tưng tưng từ đọt lá này xuống đọt lá khác, rơi vãi trên nền đất mới. Thoáng chốc, mặt đất đã trắng xóa vì mưa đá. Hạt mưa đá lớn dần, bằng hạt đậu, bằng trứng cút, rồi bằng trứng gà.

Trời tối thui, và nhiệt độ hạ rất nhanh. Da bàn tay tôi săn lại vì lạnh. Những vết vân tay nổi rõ lên màu bạc nhợt nhạt. Tôi thấy gai ốc nổi cùng người. Tôi cảm như bầu trời là một tảng băng khổng lồ đen kịt đang phà khí lạnh xuống những tàn cây trên đầu. Ôi! Sao trời lạnh thế! Giữa trưa, tháng Năm…

Trên đồi, những dòng nước bắt đầu len lách quanh gốc cây. Những dòng nước đỏ ngầu tìm đường xuống dốc. Nước bắt đầu đổ ào ào vào miệng giếng đang đào.

Tôi cho quân tạm nghỉ. Chúng tôi dùng một tấm vải nhựa che trên miệng giếng.

Khi ba đứa nhỏ đã leo lên khỏi miệng giếng chui vào lều, tôi mới theo chân chúng ngồi bó gối nơi cửa ra vô. Tôi mồi một điếu thuốc Cửu-Long, nhìn những hạt mưa đá lăn trên mặt đất, nghĩ ngợi mông lung…

Nhớ chuyện cũ, ở chân núi hướng Ðông của ngọn Lap Bé Nord, Ðà-Lạt, một ngày đầu Hạ năm 1965, cũng có trận mưa đá bất chợt như hôm nay. Những viên nước đá to như quả trứng gà vãi trên tàn thông năm lá, rồi lăn tưng tưng trên nền cỏ, bên miếu Thần-Hổ, trời lạnh quá, giữa trưa, tháng Năm…

Một thằng bạn sinh viên sĩ quan cùng đại đội còn điếu Oakland cuối cùng, chuyền tay nhau năm đứa. Khói thuốc ngọt như mật. Ðiếu thuốc được chuyền nhanh qua những ngón tay ướt và trắng bệch vì lạnh. Hình như hôm ấy không một sợi khói nào kịp bay thoát trong không trung. Khói thuốc chui vào buồng phổi tuổi trẻ. Những lá phổi còn trẻ khỏe đầy sức sống. Những lá phổi hút từng ngụm khói thuốc gọn gàng dứt khoát, như tấm giấy thấm loại thượng hạng ép trên giọt mực tím rơi trên giấy trắng học trò ngày thơ ngây tiểu học.

Ðiếu Oakland qua tay năm chàng tuổi trẻ, Sinh viên Sĩ quan Khóa 20 Ðà-Lạt. Trời lạnh quá! Khói thuốc chưa kịp bay thì điếu thuốc đã tàn…

Ngày ấy, sau cơn mưa, chúng tôi tiếp tục bài chiến thuật “Tiểu Ðoàn Phản Phục Kích” trên đoạn cua chữ “U” bên đồi 1441 đất đỏ, thông xanh. Con đường uốn khúc quanh co. Những anh lính “Kà” giả địch giấu mình dưới bụi sim hoa tím, lúc nào cũng chuẩn bị câu:

“Tôi đầu hàng rồi! Ðừng bắn nữa ông Thiếu úy ơi!”

Khi chúng tôi oai dũng tiến về phía họ ẩn nấp, sau một pha xung phong phản phục kích tuyệt vời qua màn khói đỏ, khói vàng, khói trắng, khói tím, khói xanh, và khói… đạn mã tử!

Rồi Ðại úy Mỹ phê bình trận đánh một cách tổng quát. Rồi Trung úy Ðức rút ưu khuyết điểm. Cứ thế, hai năm dài, lặp đi, lặp lại. Những bài lý thuyết với những trường hợp xử trí, những câu giải đáp a, b, c khoanh. Những buổi thực hành trên đồi thông Ðà-Lạt, đương đầu với địch giả, trong màn khói đạn mã tử. Những buổi dạ hành, xuyên đêm. Những chuyến di chuyển địa hình tìm cọc mốc dưới trăng. Những phiên gác đêm Ðông sương mù lạnh lẽo trên đồi Bắc.

Tất cả những kinh nghiệm tự tin đó đã gom góp lại làm vốn liếng hành trang cho những người trẻ tuổi lớn dần, rồi trưởng thành, vững tâm đi vào chiến trường.

Kẻ săn vàng

Vương Mộng Long

baotrelonline.com

Posted 13 July 2019

Post by Sơn râu 17 Aug 2023

Kỳ 1

Một chiều đầu mùa Hè 1989, bên bờ hồ đập thủy điện Trị-An, gió nhẹ và mây quang, mặt hồ gợn sóng, tôi ngồi hàn huyên cùng một ông bạn già cựu hạ sĩ quan Lực Lượng Ðặc Biệt của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Chúng tôi ngồi nhâm nhi đôi ba chung. Rượu vào lời ra, ông ta biết tôi đã từng đơn thương độc mã vào rừng đào vàng, đào thiếc kiếm cơm trên mỏ vàng Suối-Nho, Gia-Kiệm, mỏ vàng K3, Ðơn-Dương và mỏ thiếc Nắp-Bắc (Lap Bé Nord) Ðà-Lạt.

Thế là, tối hôm ấy thằng Hai Thanh, con trai lớn của ông bạn tôi, bái tôi làm thầy, nó đề nghị tôi quy tụ và chỉ huy một “mũi” (tổ làm việc) đi kiếm “xái” (quặng mỏ) trong rừng Hiếu-Liêm.

Tôi đang lúc thất nghiệp, nên nhận lời làm đầu lãnh một mũi gồm hai anh thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự là Thanh và Hòa, bạn của Thanh, và một cậu bé mười lăm tuổi, là thằng Út, em của Thanh.

Vì tình trạng trộm cắp nơi mỏ vàng, với sự hiện diện của hàng trăm tay chơi anh chị tứ chiếng đủ loại, tôi phải gởi cái bóp giấy tờ tùy thân tại nhà ông bạn già.

Lý lịch của tôi được giấu. Trong chuyến đi này bọn bộ hạ gọi tôi là Bác Hai, đôi khi chúng gọi tôi là Bác Hai Bắc-Kỳ.

Thằng Ba Chiến, em của thằng Hai Thanh, đang chạy xe thồ và bạn thồ của nó sẽ lo việc chuyển vận chúng tôi vào vùng mỏ. Chúng tôi trang bị hai chỉ vàng rồi lên đường vào Hiếu- Liêm một sớm mai rực rỡ nắng Hè.

Trong những lần “ra quân” trước đây ở Suối-Nho, Ðơn-Dương, Nắp-Bắc, tôi thấy những khu vực khai mỏ đều được xem như “vùng oanh kích tự do” của dân kiếm xái. Chúng tôi đến, đi, chặt rừng, đào núi, lọc quặng, khai mương, ngăn suối, chẳng ai đòi hỏi giấy tờ khai báo phép tắc rườm rà.

Lần này chúng tôi cũng được tự do đi về không ai cấm cản, duy có việc chặt rừng, phá núi phải cần một cái giấy phép khai thác rừng của Ủy Ban Nhân Dân xã Hiếu-Liêm, tỉnh Ðồng Nai.

Lệ phí chính thức cho một tờ giấy phép chỉ có năm ngàn. Nhưng phải chờ hai, ba tháng sau đơn xin mới được chấp thuận. Trong khi đó giấy phép tuôn ra bên cửa hông thì chỉ một buổi hay một ngày là có kết quả, giá “chui” hơi đắt một chút, hai phân vàng!

Tờ giấy phép của Ủy Ban Nhân Dân xã chỉ có mấy dòng:

“Cấp cho đương sự quyền khai thác diện tích 10 mét x 10 mét trong rừng Hiếu-Liêm trong thời hạn 30 ngày.” 

Mỏ vàng Hiếu-Liêm cách đập Trị-An, Biên-Hoà khoảng hai giờ xe thồ, nằm trong một khu rừng nhiệt đới đất đỏ, cây cao, tàn rộng. Nơi này ngày xưa là phần địa đầu Chiến khu D của Việt Cộng. Ðường lên dốc, xuống đồi quanh co.

Ngày chúng tôi lên đường trời trong, gió nhẹ. Trên không có những cánh diều hâu bay lượn vòng vòng. Những con ve sầu đã bắt đầu rả rích bài ca mùa Hạ. Tiếng ve rên rỉ được giữ nhịp bằng tiếng “lốc cốc!” của chim gõ mõ từ trên thân cây bằng lăng mốc thếch. Ðàn sẻ rừng ríu rít trong đám cỏ non. Bọn chích choè, chèo bẻo đang xòe đuôi, chí choé chuyền cành đuổi nhau. Trong rừng sâu âm u, vẳng lại tiếng róc rách suối rừng ngọt ngào.

Tiết tháng Năm, hai bên đường hoa khoe sắc. Bướm đủ màu bay lượn chập chờn trên hoa. Ðường càng lên dốc càng hẹp dần, hương rừng càng ngất ngây. Chỉ cần đưa tay, tôi đã vớt được một cành hoa rực rỡ bên vách núi. Tôi cảm thấy mình đang lạc vào nơi thiên đường bừng bừng sức sống.

Ngồi sau lưng thằng Chiến trên yên xe thồ, lòng tôi phơi phới. Miền Nam đang trong mùa hoa nở. Quê hương yêu kiều rực rỡ.

Quê hương ta đẹp quá! Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác về vẻ đẹp của quê hương. Tôi hát nho nhỏ một mình nghe, câu ca cũ: “Hoa vẫn nở trên đường quê hương. Ôi! quê hương ta đó!”

Trước khi tới khu khai thác, chúng tôi phải xuống xe vượt bộ qua một cái dốc khá cao. Trời chợt đổ mưa, đường dốc, trơn trượt, phải mất cả nửa giờ chúng tôi mới lên tới đỉnh dốc.

Nơi đỉnh dốc, thằng Thanh chỉ cho tôi thấy một nấm đất to như cái lô cốt và gọi đó là mả cậu Linh. Có vài người đang thì thụp khấn vái trước mả ra chiều thành khẩn lắm. Hoa quả, vàng mã, chất đầy mặt đất, mà đèn nhang thì nghi ngút mịt mù.

Thanh giải thích rằng hiện tượng này mới có cách đây chừng một tháng thôi. Số là một hôm có cậu bé 16 tuổi “trúng mạch” được cả chục cây.

Bạn cùng mũi với cậu ra về ngay sau khi chia chác.

Cậu còn nấn ná đãi đằng bạn bè vài ngày sau mới dứt áo ra đi.

Giàu rồi, cậu không hẹn trở lại.

Cậu ôm vàng trước bụng và thuê riêng một chuyến thồ về Biên-Hòa vào buổi chiều mưa to gió lớn.

Mấy ngày sau, đội xe thồ không thấy anh bạn thồ trở lại. Trên đỉnh dốc có mùi thối bay xa. Người ta tìm thấy xác cậu bé chết rữa trong rừng, ruột gan bị heo rừng moi ra ăn lê lết trên mặt đất, mùi thịt thối nồng nặc cả một khu.

Cậu bé bị trấn lột, hạ sát, thủ phạm là anh bạn thồ.

Dân kiếm xái thương tình đồng nghiệp nên đã lấp lớp đất mỏng che tấm thân lạnh lẽo của cậu bé đào vàng vắn số.

Vài ngày sau mối đất ùn lên khiến cho mộ cậu bé thành một ụ đất khổng lồ trong rừng. Khách qua đường ghé thắp nén nhang cầu cho hương hồn cậu sớm phiêu diêu…

Người ta đồn với nhau rằng cậu linh thiêng lắm! Ai có thắp nhang, cúng quảy, khấn vái cậu, đều được cậu phù hộ mau trúng mạch, khấm khá ra về.

Rồi người ta gọi cậu là cậu Linh. Vì thế cái mả ấy có cái tên là “Mả Cậu Linh.”

Từ dạo ấy, con đường qua dốc đổi hướng, tạt sang bên trái đỉnh dốc vài chục mét để người qua đường tiện ghé thắp nhang vái cậu Linh xin phù hộ độ trì. Một chị bán quán ngoài xã, đã bỏ xã, bỏ quán, vào đây bán nhang đèn, hương hoa, ngay dưới dốc. Chẳng mấy chốc chị phất to, cổ có kiềng vàng, chuyền vàng, tay có nhẫn vàng, vòng vàng.

Ở cái mỏ vàng Hiếu-Liêm này mỗi ngày tôi khám phá thêm một điều mới lạ. Mới dẫn “quân” vào vùng được một vài giờ, ăn xong bữa cơm, uống xong bát nước chè tươi, tôi đã thấy ruột mình sôi lên “Rột!.. rột!…”  rồi thì bụng quặn đau, đi cầu. Ði cầu xong vừa về tới lều, bụng lại lâm râm, lâm râm đau.

Thằng cu Hòa dẫn tôi đi gặp ông Bác sĩ An để xin thuốc.

Ông bác sĩ đóng đô bên bờ suối, trong một chiếc chòi tranh.

Trước chòi treo một cái biển gỗ cỡ 20 x 40 cm, nền xanh, chữ trắng, “Phòng Mạch Bác Sĩ An”.

Cái chòi của Bác sĩ An có hai gian, gian ngoài là nơi hành nghề y khoa, vỏn vẹn chỉ có một cái chõng tre trên để một cái rương gỗ chứa thuốc men, bông, băng, alcohol, thuốc tím, thuốc đỏ.

Ngăn trong là tư thất của vợ chồng ông, với một cái giường tre, một cái bàn tre đặt cạnh cái bếp làm bằng ba cục đá suối xếp châu đầu thành ông Táo.

Bếp nhà Bác sĩ An lúc nào cũng khói lửa nghi ngút, nồi nước nấu kim chích sôi “O!o!…o!…”  suốt ngày.

Tụi nhỏ truyền khẩu với nhau, nào là bác sĩ rất giỏi, bệnh gì ổng cũng rành, cũng trị được dứt nọc.

Thêm vào đó, nếu bệnh nhân là dân đào xái bị ngã bịnh trước khi chạm xái, bác sĩ cho nợ tiền công và tiền thuốc cho đến khi xái đã lọc xong thành vàng.

Bệnh nhân con nợ có thể trả công Bác sĩ An bằng vàng hay tiền cũng được.

Nếu anh nào “mo” thì ông chữa thuốc thí công, (mort= là chết, tiếng Pháp, có ý nói thất bại).

Ông An là người sinh ra ở quê hương của “Bác” nên giọng nói của ông nặng lắm.

Năm tôi có cơ duyên gặp ông nơi rừng thiêng nước độc này thì ông đã ở tuổi trên năm mươi. Bà vợ của bác sĩ lại là người miền Nam, còn rất trẻ và trông thật hiền hậu.

Sau vài câu xã giao, Bác sĩ An nhận ra tôi là người Bắc, ông liền vồn vã hỏi han huyên thuyên,

– Này đằng ý ơi! Nhìn cái phong thái của đằng ý, tớ đoán chắc rằng đằng ý không phải tay xoàng. Bộ “bảng đỏ” (bỏ Ðảng) hả? Vô Nam lâu chưa? Gia đình vợ con ra răng? Bởi lý do chi mà đằng ý phải đày đọa như ri? Tớ cũng là dân “bảng đỏ” đây! Anh hùng mấy khi gặp gỡ. Ngồi đây tâm sự với nhau chơi, đừng ngại!

Ông bác sĩ bỏ Ðảng đâu có biết rằng người đứng trước mặt ông lại là một cựu sĩ quan Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa vừa mới được thả ra từ trại tù cải tạo!

Phần thì đang bị đau bụng tháo dạ, phần thì e ngại buổi sơ giao, tôi chỉ ậm ừ cho qua câu chuyện.

Sau khi cặp nhiệt, Bác sĩ An hỏi tôi rất kỹ về dạng phân, triệu chứng. Ông nói rằng tôi là một trong số ít người có cơ thể nhạy cảm với đồ ăn thức uống có hàm lượng kiềm cao. Tại các mỏ vàng, nước giếng, nước suối có chứa hàm lượng kiềm rất cao (?) Nước suối ở đây uống hơi chát. Nếu pha trà thì nước trà cũng có màu xám xịt.

Nước uống chính là nguyên nhân gây ra cái bệnh đường ruột của tôi. Muốn tránh, tôi chỉ cần ngưng uống nước trong khu này thôi, không phải dùng thuốc thang gì cả bệnh sẽ tự nó chấm dứt.

Nghe theo lời chỉ dẫn của ông bác sĩ, đêm đó tôi uống nước ngọt loại chứa trong bình hai lít thay cho nước trà. Sáng hôm sau tôi hết bị Tào Tháo rượt.

Thế là, cứ vài ngày thằng Chiến lại thồ vào cho Bác Hai một bình nhựa 20 lít nước suối lấy từ ngoài xã.

Tuy xa thành phố, nhưng trong khu mỏ vàng Hiếu-Liêm này không thiếu thứ gì, từ nước ngọt, bia, rượu, thuốc lá, bánh kẹo, tới rau cỏ, thịt cá, kể cả dụng cụ đào vàng như xẻng, khiên, xà beng, cuốc chim, thuốc nổ C4 dùng phá đá, và thủy ngân để tách vàng khỏi các kim loại khác.

Có cả chục cái quán cóc cung ứng đủ mọi mặt hàng nhu yếu cho dân đào vàng. Thậm chí khi bạn trúng lớn, cần có vũ khí để áp tải số vàng kiếm được về nơi an toàn, bạn cần thuê vài khẩu K54, AK 47, bạn cứ hỏi quán cô Nghĩa là có ngay.

Bất cứ “mũi” nào có “bãi” đều có thể mở một trang trong sổ nợ của cô Nghĩa.

“Mũi” là một tổ làm việc, quân số tùy nghi. Có mũi quân số đông cả chục người, khai thác hai ba giếng. Có mũi chỉ có hai cha con của một gia đình.

“Bãi” là một khoảnh đất vuông mỗi chiều mười mét không hơn không kém. Muốn có bãi thì dân lùng xái phải “đăng ký” với xã. Thủ tục “đăng ký” thì như tôi đã tả ở phần trên: hai phân vàng. Thời buổi này cái gì cũng chi bằng phân, bằng chỉ.

Vào tới vùng hành sự, tôi mới phát giác ra rằng chẳng cần ghé văn phòng xã xin giấy đăng ký cho phí thời giờ, mua trao tay tại hiện trường một cái giấy phép với con mộc đỏ chói cũng chỉ ba, bốn phân là cao.

Ngay khi chúng tôi vừa hoàn tất công việc phát quang cái bãi mà tôi đã chọn thì một người đàn bà trung niên, giọng nói rặt Bắc-Kỳ 75 tới tìm tôi để ký giao kèo tiếp tế.

Từ gạo, thịt, mắm, muối, kem đánh răng, khăn mặt, xà bông cho tới cái lều vải tiểu đội cho bốn thầy trò tôi đều được thím Xuân cung cấp. Phí khoản đều ghi vào sổ nợ tên Bác Hai có đóng ngoặc (Bác Hai Bắc- Kỳ).

Thím Xuân đồng ý cho chúng tôi thanh toán sau khi cạn giếng, nghĩa là sau khi đã bán xong số vàng dưới lòng đất của cái diện tích mà tôi đang căng lều hạ trại.

Mười bốn năm sau chiến tranh, tôi đã sống như một tay săn vàng chuyên nghiệp trong những phim Cao-Bồi Viễn-Tây của Mỹ. Ðây là chuyến trở về chiến trường xưa lần thứ tư của tôi. Oái oăm là chuyến đi nào cũng có chuyện buồn, chuyện vui để nhớ.

Quả thực, chuyện đào vàng chẳng có gì nên thơ, mơ mộng. Ngoài nỗi khổ vì muỗi mòng, lo sợ sập hầm, lo “xái rỗng” (quặng chứa ít vàng quá) không thu hoạch được chút bụi vàng nào, phí công. Ngoài ra còn cái nguy cơ bị sang đoạt bởi những tay hảo hán thương phế binh Việt-Cộng có vũ khí.

Khác với đất Ðà-Lạt và Ðơn-Dương, những nơi tôi đã kinh qua trong các lần đi khai mỏ trước đây. Cấu trúc các tầng đất ở Hiếu-Liêm làm cho dân đào vàng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, vất vả hơn nhiều so với đất vùng cao.

Sau bốn, năm thước đất mùn đen thì tới đất đỏ pha đá cuội, đá tổ ong. Hết đá cuội và đá tổ ong lại tới đất pha đá dăm. Xuống sâu gần hai chục thước mới thấy đất chuyển sang màu trắng nhờ nhờ. Lúc này cũng là lúc “hy vọng vươn lên.”  Ðất sét màu xám pha lẫn từng cục quặng sắt rỉ là dấu hiệu phần vỏ của lớp đất trộn quặng vàng.

Ðoạn đường từ miệng giếng tới lớp đất xám là đoạn đường đứt ruột, rã rời hai tay. Tôi là trưởng mũi nên không phải thay phiên “mõi” đất (đào sâu xuống lòng đất, chuyền đất lên miệng giếng). Tôi chỉ phải tản số đất đã moi lên cho gọn ghẽ. Công việc này cũng không nhẹ nhàng mà rất tốn sức, tốn công.

Lớp đất đào lên trong những ngày đầu phải gánh ra đổ nơi bờ suối, cách lều cả trăm mét dưới dốc. Những ngày cận xái thì tôi chỉ việc đổ đất mới moi lên ngay nơi chúng tôi ăn ngủ.

Chúng tôi làm việc gần như suốt đêm ngày. Chỉ nghỉ, ngủ vài giờ rồi lại tiếp tục công việc. Tôi phải bấm giờ để ba đứa nhỏ thay nhau mõi cho công bằng. Hai thằng đào dưới giếng, một thằng ngồi trên miệng giếng kéo gầu đất xái.

Cứ hai tiếng đồng hồ chúng lại nghỉ giải lao. Thằng Thanh làm một điếu 555 thì hai đứa kia cũng gắng rít mỗi đứa một điếu. Thằng Hòa chơi một chai bia Chương Dương thì hai đứa kia cũng chơi theo ngay, mỗi đứa một chai. Chẳng đứa nào chịu phần thua lỗ cả. Tóm lại tinh thần đồng đội của dân đào vàng rất cao. Tinh thần tranh đấu cũng rất cao. Bắt tay vào việc là ăn hút cái đã! Ăn hút đồng đều, không ai ganh tị. Chỉ có cô Nghĩa và thím Xuân là lời thôi!

Tôi nghĩ thầm không biết tới ngày cân lọc xong xuôi, số vàng thu được có đủ để thanh toán tiền ăn hút cho bốn người chúng tôi hay không? Công việc đãi xái cũng rất là vất vả. Người đãi phải cúi khom lưng cả buổi trên dòng suối, tay lắc cái khiên chao qua chao lại, giữ làm sao cho nước mới vào khiên thay nước cũ, nhả đất xuống dòng mà đừng để bột quặng trôi đi. Tụi nhỏ gọi công việc này là “múa nước”. Tôi thì tuyệt đối không có đủ cái khéo tay để làm công việc này. Tôi đành làm nghề chuyển vận và bốc xái trong bao đổ vào khiên để đồng bạn làm công việc còn lại.

Khi công tác múa nước hoàn tất, thì bọn nhỏ vác bao bột quặng đi tới chòi ông Lâm Thầu người Tàu Chợ-Lớn nơi cuối dốc để mua thủy ngân và làm công tác lọc tinh vàng. Tôi lo thu dẹp rửa ráy đồ nghề, khiên, chảo, bao bì, cuốc xẻng rồi chuyển vận chúng về lều.

May thay, sau khi thanh toán sòng phẳng sổ nợ cho cô Nghĩa và thím Xuân, giếng vàng đầu tiên cũng đem lại cho chúng tôi đủ số vốn hai chỉ lúc đầu tới bãi.

Hôm sau tôi cho quân nghỉ mệt ba ngày trước khi khởi công một giếng mới. Trong ba ngày nghỉ dưỡng quân này, thằng Hòa và thằng Út thay nhau nấu cơm. Ăn sáng xong, đứa thì đi phụ đãi ngoài suối lấy công, đứa thì đi nhập sòng. Cờ bạc ở đây chỉ có món xóc dĩa. Những con bạc đặt cược bằng tiền, vàng, đồng hồ, dụng cụ khai thác mỏ. Thẻ Chứng Minh Nhân Dân đôi khi cũng có thể dùng làm vật cầm cố.

Có vài ổ bán dâm dọc bên bờ suối. Trong những cái lều che bằng vải nhựa, những người con gái trẻ bán dâm trên những cái chiếu trải dưới đất. Những cô gái hành nghề ở đây không phấn son lòe loẹt. Họ cũng là những người đào xái một thời, đã “mo” nên không thèm đào nữa, đành đem thân xác cho đàn ông “đào” để kiếm cơm sống qua ngày. Họ đi la cà các bãi. Móc ngoặc được khách thì dẫn về lều. Tiền trả trước, trôn trao sau. Ra khỏi lều, người bán dâm và kẻ mua dâm lại trở thành đôi người không quen.

Buổi trưa, tôi thả bộ lang thang dọc bờ con suối đục ngầu đất đãi xái. Dân đãi vàng làm việc cần cù, bất kể đêm, ngày. Ban ngày chúng tôi đãi xái dưới đèn mặt trời. Ban đêm, dọc hai bên bờ suối có hàng chục ngọn măng sông và đèn khí đá. Ðôi khi, đêm vui hơn ngày.

Nhạc từ những cái máy thu băng oang oang, bốn hướng tám phương. Nhạc vàng, nhạc kháng chiến, nhạc disco, bi kịck, hài kịch, vọng cổ xen lẫn nhau. Cùng lúc người nghe có thể thưởng thức cả giọng ca nữ đang lên Cẩm Vân, cùng giọng ca nam đang xuống Quốc Hương, xen lẫn điệu ngân xàng xê bất hủ của Thành Ðược và Bạch Tuyết. Lúc này khúc Lambada Nam-Mỹ đang thịnh hành. Khúc ca này đã lần mò vào tới tận rừng xanh.

Mỏ Hiếu-Liêm đang ở vào thời kỳ đông đảo nhất. Lều trại đó đây, ước lượng dân số đào vàng nơi này cũng cỡ bốn, năm nghìn người là ít. Họ đến từ Phát-Diệm, họ gọi con trâu trắng là “con tâu tắng”. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên…

Mậu Thân hưu chiến

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 17 Aug 2023

Lời giới thiệu:

Sau khi Ban Mê Thuộc thất thủ là triệt thoái cao nguyên mà 4 liên đoàn Biệt Động Quân của Quân khu 2 đều tan nát. Duy nhất Liên đoàn 24 Biệt Động Quân do Thiếu tá Vương Mộng Long chỉ huy về đến Phan Thiết. Lần đầu tiên trong quân sử, một Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng chỉ huy một liên đoàn với 3 tiểu đoàn tác chiến, vượt 144 cây số đường rừng từ Kiến Đức về Di Linh vẫn giữ đội hình và vũ khí, rồi tiếp tục chiến đấu tại Long Khánh, trong hỗn loạn nguy ngập của miền Nam.

Là một chiến tích. Như chiến tích giữ đồn Pleime tháng 7-1974 của Thiếu tá Vương Mộng Long đã đẩy lui các đợt tấn công của sư đoàn 320 Bắc-Việt. Thiếu tá Long đã viết ra một phần đời quân ngũ: Tháng Ba Năm Xưa, Tháng Tư Lại Về, Sao Hôm Sao Mai, Thời Thế, Thiện, Ác và Con Người… Nhưng còn Mậu Thân 68? Người sĩ quan can trường này khi ấy ở đâu? Làm gì? Mậu Thân Hưu Chiến là hồi ký sau cùng được viết trong những ngày áp Tết Mậu Tuất.

(Trích lời giới thiệu của Trần Vũ trên “Báo trẻ Online“

***

Đứng trên đỉnh Ngô-Sơn, tôi xoay người một vòng ba trăm sáu mươi độ, nhìn bao quát vùng đồi núi dưới chân mình. Dưới kia chỉ là rừng xanh chập chùng.

Ông Lạc, thường vụ đại đội, vừa loay hoay, tay cời bếp lửa, vừa ngoạc miệng, nghêu ngao câu sấm lưu truyền từ đời tám kiếp nào đó: “Thân, Dậu niên lai…kiến thái bình…”

Tôi chợt nhớ ra, chỉ còn hai ngày nữa là bước sang năm Thân, nếu đúng như sấm truyền thì, năm mới Mậu Thân (1968) có lẽ quê hương tôi sẽ thấy thái bình?

Đêm Hai Mươi Chín tháng Chạp, ngồi buồn, tôi mở cái máy PRC 10 rà những tần số lạ. Tay tôi ngừng xoay cái núm chỉnh tần số, khi nghe trong ống liên hợp có tiếng ai đó đang réo hụt hơi:

“Hồng-Lĩnh có nghe không? Đây Sa-Thầy gọi!”

“Hồng-Lĩnh có nghe không? Đây là một đầu năm đuôi!”

“Báo cho Hồng-Lĩnh biết ‘xê’ đi đầu của tôi lạc đường rồi! Tôi không biết nó đang ở đâu! Bây giờ tôi phải làm sao đây!?”

Tôi ngẫm nghĩ, “Một (1) đầu, năm (5) đuôi là 15! Chắc Sa- Thầy là danh hiệu truyền tin của đơn vị mang số 15 nào đó!”

Tôi nghe tiếng Sa-Thầy rất rõ; chắc nó cũng ở gần đâu đây thôi! Còn Hồng-Lĩnh thì không nghe được. Trong máy chỉ có tiếng “xẹc! xẹc!” Hình như cái đài Hồng-Lĩnh này ở xa lắm, nên máy của tôi không bắt được sóng của nó?

Thuở ấy tôi chưa có ý niệm gì về tình báo chiến trường, chẳng biết các đài vô tuyến đang gọi nhau kia là của địch hay của ta.

“Thôi! Thây kệ họ!” Tôi gác máy, không thèm nghe tiếp nữa.

Mai là Ba Mươi Tết rồi! Ăn Tết trong rừng thì buồn, nhưng cũng may là năm nay có ba ngày hưu chiến, cũng đỡ lo! Chúng tôi nhận được lệnh, sẽ không bắn chúng nó! Việt-Cộng cũng thế, họ sẽ không bắn chúng tôi! Tôi chắc mẩm trong lòng, chắc ăn như bắp là, sẽ không có chiến tranh dịp Tết này. Có Ủy Hội Quốc Tế đứng ra bảo đảm mà! Mậu Thân sẽ là Tết hòa bình trên toàn lãnh thổ của đất nước ta!

Hôm qua, trong lúc di chuyển đổi vùng, một con hoẵng (con mễn) đã chạy đâm sầm vào đoàn quân của tôi. Vài anh lính nhào vào ôm con hoẵng tính đè nó xuống, bắt sống nó để làm thịt, nhưng không xong, con hoẵng nhảy tưng tưng rồi luồn lách trốn mất.

Cứ như tin dị đoan thì, đi rừng mà gặp con hoẵng, không bắt được nó, không giết được nó, không ăn thịt được nó, thì sẽ gặp điều không may. Nhưng tôi nghĩ chỉ còn hai ngày nữa là hết năm; năm mới sẽ thái bình; chắc cái vụ bị con hoẵng đâm vào cũng không đến nỗi nào!

Sáng sớm tinh mơ Ba Mươi tháng Chạp ông tiểu đoàn trưởng cho tôi một tin mừng:

“Sẽ có đơn vị khác tới nhận vùng trách nhiệm của cậu. Nhớ bàn giao cẩn thận! Đại đội của cậu được về giữ hậu cứ ba ngày Tết!”

Tôi thầm nhủ,

“Cứ tưởng phải đón Xuân trong rừng! Nào ngờ! Đúng là mừng hết lớn luôn!”

Một đại đội của Tiểu Đoàn 22 Biệt Động Quân tới. Công việc bàn giao suôn sẻ.

Đại đội tôi về tới hậu cứ Biển Hồ vào lúc đồng hồ tay chỉ đúng mười giờ. Bộ chỉ huy tiểu đoàn và ba đại đội kia đi đâu tôi không được thông báo.

Anh tống thư văn của tiểu đoàn chuyển cho tôi một công điện trao tay xác nhận, trong thời gian này Đại Đội 1/11 đặt dưới quyền điều động trực tiếp của liên đoàn trưởng, giữ nhiệm vụ phòng thủ doanh trại Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân và là thành phần trừ bị sau cùng của liên đoàn.

Lau súng ống xong xuôi thì có khẩu lệnh của trung tá liên đoàn trưởng cho các đơn vị trực thuộc:

“Cấm nổ súng trong thời hạn ba ngày Mùng Một, Mùng Hai và Mùng Ba Tết. Nếu vi phạm, đơn vị trưởng sẽ bị phạt nặng!”

Vừa cơm trưa xong, lại thêm lệnh mới:

“Tất cả súng ống vào kho! Ai nổ súng trong ba ngày Tết sẽ bị nghiêm trị!”

Tôi thắc mắc:

“Vậy chứ canh gác bằng gì? Chẳng lẽ gác bằng gậy, hay gác tay không?”

Lệnh bèn đổi lại:

“Chỉ có một khẩu súng tại vọng gác.”

Vậy là tôi cấp cho bốn vọng gác bốn khẩu súng.

Đại đội tôi chỉ có hai sĩ quan, mà ông đại đội phó lại bận đi phép đặc biệt thăm vợ đẻ dưới Cần Thơ. Nghe hậu cứ nói có ông chuẩn úy mới ra trường vừa về bổ sung, tôi mừng quá.

Xế trưa, ông chuẩn úy trình diện, tôi hỏi:

– Anh có thân nhân, bà con gì ở Pleiku?

– Thưa không!

– Vậy thì ở lại trong đồn, ăn Tết với anh em.

Tôi tập họp đại đội, ưu tiên cho những quân nhân có gia đình được miễn canh gác; số còn lại bốc thăm: nửa ở nhà, nửa đi chơi tới trưa Mùng Hai phải về.

Tới chiều tôi gọi ông chuẩn úy vào phòng,

– Có đi phố không? Muốn đi thì lấy xe tôi mà đi, tôi ở nhà coi đồn cho!

– Dạ không! Trung úy có đi thì đi! Tôi muốn ở nhà ngủ cho khỏe.

Chắc mẩm có người thay mình giữ đồn rồi, tôi liền leo lên xe, dông ra Pleiku.

Xe đi ngang Đồi Đức Mẹ thì bị chặn lại. Một ông đại úy cố vấn bị nổ lốp xe giữa đường, xin quá giang. Ông cho tôi biết tên ông ta là Donald Allen Evans. Ông ta mới về đáo nhậm liên đoàn. Sẵn đang rảnh rang, tôi rủ ông bạn Mỹ ghé nhà vài người quen, mời ông ăn bánh chưng, bánh tét, thịt đông, củ kiệu, dưa hành, cho biết người dân Việt mừng Xuân như thế nào. Chúng tôi đảo qua nhà thờ nghe các cô con chiên của Chúa hát thánh ca, rồi tấp vào chùa Pleiku xem Phật Tử xin xăm, xổ quẻ.

Mới gặp nhau đó mà tôi và ông Donald đã thấy thân mến nhau. Nhìn thân hình ục ịch, ánh mắt thật thà, ông Donald có vẻ hơi quê mùa một chút, nhưng ông đúng là mẫu người hiền lành ra mặt. Mặt ông đầy đặn và miệng ông thì lúc nào cũng như sẵn một nụ cười. Ông đi lính đã lâu, và lớn hơn tôi gần chục tuổi. Chúng tôi kết thành đôi bạn vong niên.

Ông Donald hứa rằng, kỳ hành quân sắp tới, ông sẽ đi theo đại đội tôi.

Đường phố lên đèn, tôi quẹo lên dốc Holloway. Tới hội quán của trại, tôi ngừng xe. Ông Donald kéo tay tôi xuống tản bộ, rồi nhờ một anh lính Mỹ lái chiếc Jeep của tôi ra bãi chứa nhiên liệu, bơm một bình xăng đầy.

Camp Holloway nằm trên cao độ hơn bảy trăm năm mươi mét, nên từ đây tôi có thể nhìn thấy một vùng rộng lớn xung quanh.

Ngay dưới chân đồi Holloway, gần hơn cả, là Khu Dưỡng Quân Trà-Bá 2, suốt ngày đêm, nhạc nổ “Sập! Sình!…”

Từ hơn năm nay, Tướng Vĩnh Lộc đã ra nghiêm lệnh cấm các quán bar hoạt động trong khu cư dân trong thành phố. Quán bar và nhà chứa gái làng chơi phục vụ quân đội Đồng Minh đã bị di dời ra Trà Bá 2, tập trung thành một khu giải trí. Cũng từ đó mà những chuyện lính tráng say sưa, phá phách, đánh lộn đánh lạo đã không còn xảy ra trong phố Pleiku nữa.

Bên trái, đàng xa là phi trường Cù-Hanh lấp lánh ánh đèn. Xa về Nam là một khu hào quang rực rỡ, bao quanh chân núi Hàm Rồng, nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Hoa-Kỳ. Tít mù hướng Tây Bắc là Đồi Đức Mẹ. Đồi này nằm trên Ngã Tư Quốc Lộ 14 và Xa Lộ Vĩnh-Lộc, trên đỉnh đồi có tượng Đức Mẹ màu trắng. Sở dĩ tôi có thể nhận biết ngọn đồi này dễ dàng, vì cứ cách năm, mười phút, giàn đèn pha chống pháo kích lại quét một vòng bán kính bẩy cây số quanh chân núi. Ánh đèn chói lóa, làm hoa mắt người nhìn. Trên đồi có mười sáu khẩu 105 ly của Mỹ, lúc nào cũng đặt trong tình trạng sẵn sàng. Cách Đồi Đức Mẹ một bàn tay xoè về bên phải là doanh trại của đơn vị tôi, Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, cạnh đó là khu doanh trại của Trung Tâm Huấn Luyện Trường Sơn.

Đêm Trừ Tịch, bầu trời cao nguyên một mầu tím sẫm, đầy sao. Trong tiếng gió rì rào, tôi nghe Donald khe khẽ hát:

“Twinkle, twinkle little star. How I wonder what you are!”
(Lấp lánh, lập lòe vì sao nhỏ bé. Thật là diệu kỳ, ta biết mi là ai!)

Có lẽ ông Donald đang nhớ nhà? Tiếng hát của ông ấy nghe buồn lạ!

Ông mời tôi một điếu Pall Mall, rồi dơ tay chỉ cho tôi một ngôi sao đang lấp lánh trên vòm trời đen ngòm hướng Bắc.

– Kia là ngôi sao của tôi! Mỗi khi nhớ nhà, tôi thường ra ngoài trời đứng nhìn vì sao đó hằng giờ, tự hát “The Star” cho mình nghe, để mong vơi đi nỗi nhớ!

Tôi thắc mắc,

– Sao ông lại lựa vì sao này làm ngôi sao của riêng mình?

– Vì nó là ngôi sao sáng nhứt trên vòm trời Bắc Bán Cầu. Ngôi sao đó là nước Mỹ, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Nhìn thấy ngôi sao này, tôi cảm như đang nhìn thấy quê hương, thấy người thân.

Nghe Donald giải thích, tôi gật gù cảm thông.

Với người dân Âu Mỹ thì bài thơ “The Star” đã trở thành khúc hát dân gian hàng trăm năm nay rồi. Nhưng khi hát nó lên, mỗi người lại mang một tâm trạng khác nhau.

Cái bệnh nhớ nhà, quả là một bệnh dễ lây.

Nghe ông Donald than thở nhớ quê, lòng tôi bỗng thấy nhớ mẹ. Mẹ tôi ở ngoài Hội-An. Tôi biết, Tết này, thế nào sau khi cúng Giao Thừa xong, mẹ tôi cũng mở radio chờ nghe bài “Xuân này con không về” và chắc chắn mẹ tôi sẽ khóc.

Vì nhiệm vụ, ông Donal phải xa quê hương nửa vòng trái đất; cũng vì nhiệm vụ mà tôi phải xa Hội-An một chiều dài bằng nửa nước Việt-Nam Cộng- Hòa.

Chiếc Jeep quay trở lại với bình xăng đầy. Ông Donald vào quầy rượu, ký tên mua một chai Johny Walker. Ông gói nó lại cẩn thận, rồi trao nó cho tôi, cùng với câu chúc Tết bằng tiếng Việt trọ trẹ:

“Chúc mừng năm mới! Chúc trung úy một năm mới an khang thịnh vượng!”

Tôi cười, đưa tay nhận món quà,

– Cám ơn đại úy nhiều lắm. Tôi cũng chúc đại úy một năm mới bình an.

Sau khi từ giã ông Donald, tôi tàng tàng xuống phố, tản bộ một hồi, rồi chui vào nhà Trung Sĩ Sửu, ăn Tết ké với Ban Quân Xa Liên Đoàn.

Giao Thừa chưa tới, tôi đã say mèm, lăn quay ra chiếu ngủ như chết.

Nửa đêm anh Sửu dựng tôi dậy,

– Trung úy ơi! Dậy đi! Súng nổ như bắp rang! Hình như có đánh nhau trong phố, hướng dinh Tướng Vĩnh Lộc? Chắc có đảo chánh!

Tôi nghe rõ có tiếng “Cắc! Cắc!… Bùm! Bùm!…” ròn rã, lúc gần, lúc xa, nhưng cứ đoán mò:

“Có khi là pháo Tết!”

Lúc lâu sau, một tràng AK “Toác! Toác! Toác!” từ đâu đó bắn sang hướng xóm nhà tôi đang ở. Tôi vội bật dậy mặc áo quần, mang giày vớ. Khoác lên vai cái dây nịt có khẩu Colt 45, tôi nói với Trung Sĩ Sửu và hai anh lính:

“Các anh hé cửa sổ canh gác, thấy gì báo cho tôi. Mình chỉ có một khẩu súng Colt này thôi. Tôi sẽ giữ súng và di động bảo vệ hai cái cửa.”

Sau đó chúng tôi ngồi chờ trời sáng. Sửu mở máy thâu thanh. Đài Phát Thanh Sài-Gòn và Đài Quân-Đội chỉ có nhạc quân hành. Mãi sau mới nghe được tin Sài-Gòn đang loạn, Việt-Cộng xâm nhập thủ đô và đang đánh phá lung tung!

Mờ sáng, tôi bưóc ra sân. Bên kia sân là nhà Đại Úy Voòng Lập Dzếnh, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân. Ông đại úy cũng đang quần áo súng ống dềnh dàng, thập thò trước ngõ.

– Á! Cái ông Long cũng ở đây há? Đánh nhau lung tung trong phố, mình biết làm sao mà vào đồn bây giờ?

Ông Dzếnh là người Nùng, nói tiếng Việt không lưu loát lắm. Gọi tôi, thay vì “Long ơi! Long à!” ông ta cứ “Cái ông Long!”

Xe của tôi và xe của ông Dzếnh đều đậu trên đường Phan Đình Phùng. Mặt lộ cao hơn xóm nhà bốn năm mét. Xe vào xóm không được, phải đậu trên lề đường. Tự bao giờ, bốn bánh chiếc xe của tôi đã bị bắn bể, xẹp lép! Xe của ông Dzếnh cũng cùng chung số phận!

Tôi và ông Dzếnh đành men theo bờ đường đi về hướng Trường Nữ Trung Học Pleime.

Tới Ngã Ba thì một chiếc Jeep Willy trờ tới, anh tài xế ngừng xe, một ông Mỹ nhảy xuống dang tay chờ,

– Hey! Long! What are you doing here? (Ê! Long! Anh đang làm gì ở đây vậy?)

Tôi nhào tới, ông ta ôm tôi vào lòng, ông ta là Đại Úy Donald A. Evans.

Donald nắm hai tay tôi, lắc lắc vài cái,

– Đánh nhau khắp chốn! Đại đội của anh đâu? Sao anh lại ở đây?

– Đại đội còn ở trong đồn. Tôi ngủ ngoài phố. Xe tôi bị bắn hư.

Ông Donald và Đại Úy Dzếnh chỉ bắt tay chào nhau, chứ hai người không hề nói chuyện qua lại.

– Thôi! Lên xe đi! Chúng ta về đồn! Hôm qua anh cho tôi quá giang, hôm nay tôi cho anh quá giang.

Ông cố vấn đưa tay ra dấu cho chúng tôi lên ghế sau. Ghế sau có cái túi quân trang của Donald và chiếc áo Field Jacket của ông.

Tôi ngồi một bên, ông Dzếnh một bên, cái túi quân trang “ngồi” ở giữa.

Chúng tôi tới Biển Hồ, quang cảnh vắng lặng. Từ Chợ Chồm Hổm tới khu gia binh, nhà nhà cửa đóng kín mít.

Tới sân tiểu đoàn tôi nhảy phóc xuống đất để quan sát tình hình.

Văn phòng đại đội tôi (1/11) bị bộc phá của Đặc-Công Việt-Cộng đánh lủng một miếng vách, bàn ghế gãy nằm ngổn ngang, giấy tờ bay lung tung. Căn buồng sát vách văn phòng là nơi tôi để cái giường bố dùng ngủ qua đêm mỗi khi không xuất trại cũng lãnh nhiều trái bộc phá, chiếc giường vải rách tả tơi, đầy máu me. Ông chuẩn úy mới ra trường và Binh Nhứt Phạm Công Cường ngủ trong phòng này đêm Ba Mươi Tết. Không biết hai vị này chết sống ra sao?

Văn phòng của bộ chỉ huy tiểu đoàn cũng bị bộc phá đánh sập, sổ sách, giấy tờ tung toé khắp chốn. Trên mặt đất, bên phải cửa chính của văn phòng tiểu đoàn, nơi đặt cái giá gỗ treo cái kẻng sắt có một vũng máu lớn đầy ruồi nhặng. Như vậy là đã có ai đó mới bị giết ở đây đêm qua, thi thể đã được mang đi.

Một đoàn người trang bị súng ống, nón sắt, giây đạn đầy đủ, do ông thượng sĩ trưởng trại gia binh dẫn đầu, mới từ khu gia binh theo cổng sau vào sân tiểu đoàn. Gặp tôi, ông thượng sĩ nói,

– Nửa đêm Đặc-Công đã vào đồn. Thấy đồn bỏ trống nên chúng nó ném bộc phá lung tung. Ông Thượng Sĩ Du, Thường Vụ Tiểu Đoàn ngủ trong văn phòng, nghe tiếng nổ, bèn chạy ra đánh kẻng báo động. Không ngờ chạm mặt Đặc-Công Việt-Cộng, và ông đã bị chúng đâm chết.

Hạ Sĩ Truyền, tài xế xe Dodge của đại đội tôi thì kể rằng,

– Hôm qua, sau khi trung úy lái xe đi, ông chuẩn úy cũng cho tất cả anh em còn lại ra khu gia binh chơi, vọng gác Đông và vọng gác Tây bỏ trống, chỉ để lại một người gác cổng sau, cổng trước đã có ông Hạ Sĩ Nghết tình nguyện trực suốt ba ngày, không cần người thay. Nửa đêm, nghe tiếng nổ, anh em vào tới nơi thì Đặc-Công đã rút. Ông chuẩn úy cận thị bị thương nặng, máu me cùng mình, Binh Nhứt Phạm Công Cường vỡ đầu, Thượng Sĩ Du bị đâm chết. Bác sĩ của liên đoàn đã cho xe cứu thương di tản người chết và bị thương về Quân Y Viện Pleiku.

Sau này tôi cũng nghe ông Hạ Sĩ Nghết kể lại rằng, ông ở đây một mình, vợ con ông ở ngoài Huế, mỗi năm ông đi phép về thăm nhà một lần thôi, vì thế ông tình nguyện trực pháo đài cổng chính suốt ba ngày Tết. Giờ Giao Thừa, lúc Việt-Cộng chui rào vào đánh bộc phá thì ông đang ngồi cầu nguyện, ông theo đạo Chúa. Sợ Việt-Cộng xông vào tấn công nên ông leo lên nóc lô cốt, thủ khẩu đại liên ba mươi. Cho đỡ sợ, ông cứ bóp cò súng liên tục, bắn loạn xạ lên trời. Ông bắn gần hết mười thùng đạn mới ngừng tay, nghe ngóng. Lúc ấy Đặc-Công đã rút đi hết!

Chờ tình hình thật yên, ông Nghết mới xách khẩu Carbin M1 chạy vào văn phòng tìm ông chuẩn úy. Thấy văn phòng tan hoang, ông hạ sĩ hoảng hồn, mở cổng chính, chạy thục mạng ra khu gia binh tìm Thượng Sĩ Em. Ông Em là chỉ huy hậu cứ của đại đội.

Thượng Sĩ Em tập họp anh em rồi kéo nhau vào đồn. Ông Em gọi điện thoại cho liên đoàn báo cáo tình hình. Nghe xong, ông liên đoàn trưởng nổi cơn thịnh nộ, dọa sẽ đưa Trung Úy Vương Mộng Long ra tòa án quân sự lột lon, vì bỏ đồn đi chơi, để địch tấn công. Rồi ông ra lệnh cho Trung Úy Lưu Danh Rạng phải lập tức trở về hậu cứ Tiểu Đoàn 11 để chỉ huy Đại Đội 1/11. Lúc đó tất cả quân nhân các cấp của đại đội đã tề tựu trong sân để chờ hạ sĩ quan tiếp liệu mở kho cho anh em nhận lại súng đạn.

Anh Rạng nguyên là đại đội trưởng Đại Đội 4/11. Anh ta đang thụ huấn khóa Chiến Tranh Chính Trị ở Đà-Lạt sau khi bàn giao đại đội cho một sĩ quan khác tạm thời chỉ huy. Nhân dịp nghỉ Tết, Rạng “dù” về Pleiku chơi, vì ở Đà-Lạt không quen, buồn quá! Tối Ba Mươi Tết, Rạng ngủ trong nhà người tài xế của Đại Đội 4/11, trong khu gia binh. Giao Thừa, súng nổ, anh theo chân một nhóm quân nhân hậu cứ của Tiểu Đoàn 23 chạy vào bộ chỉ huy liên đoàn lánh nạn.

Hai giờ sáng, Trung Úy Rạng được lệnh đem Đại Đội 1/11 đi tảo thanh địch trong phố Pleiku. Đại Đội 1/11 đi rồi thì đồn bị bỏ trống vì không có ai canh gác.

Tôi ra lệnh cho ông trưởng trại gia binh thu gom tất cả quân nhân còn lại ở hậu cứ vào canh gác và quét dọn những chỗ bị hư hại.

Bước vào văn phòng tiểu đoàn, tôi quay điện thoại gọi phòng trực của liên đoàn. Vừa nghe tôi xưng danh, bên kia đầu máy đã có tiếng giọng Bắc Kỳ nạt nộ:

“Trung úy Long đấy hả? Trung úy đi đâu suốt đêm qua? Trung úy có nhiệm vụ giữ đồn mà để cho Việt-Cộng nó vào, nó đánh phá tan hoang nhà cửa, giết chết cả thường vụ tiểu đoàn mà trung úy không hay. Kỳ này nếu trung úy có bị lột lon thì cũng đừng kêu oan đấy nhé!”

Tôi vội hỏi,

– Xin lỗi! Ai đầu giây? Có phải Thiếu Tá Thi Liên Đoàn Phó đó không?

– Không! Tôi là Tính, hạ sĩ quan an ninh đây!

Thì ra, người vừa quát tháo ra oai với tôi không phải Thiếu Tá Đoàn Thi, Liên Đoàn Phó, mà là anh Hạ Sĩ Nhứt Tính, phụ tá hạ sĩ quan an ninh liên đoàn! Anh Tính này trước đây là xạ thủ SKZ 57 ly của Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân. Anh ta mới được biệt phái về Ban An Ninh của liên đoàn cách nay vài tháng.

Nghe biết người đầu giây bên kia là ai, tôi giận quá, quát lên,

– Vậy thì anh câm cái mồm lại ngay! Anh đừng có hỗn hào! Nếu tôi có lỗi thì cấp trên tôi sẽ khiển phạt tôi. Còn anh chỉ là một hạ sĩ nhứt mà dám ăn nói như vậy với tôi thì liệu hồn! Tôi muốn gặp trung tá liên đoàn trưởng hoặc thiếu tá liên đoàn phó ngay bây giờ! Nghe rõ chưa!

Giọng của người đầu giây bên kia có vẻ hơi run,

– Dạ! Trình trung úy! Em chỉ lặp lại lời trung tá liên đoàn trưởng thôi! Chứ em đâu dám hỗn với trung úy.

– Câm đi! Tôi ra lệnh cho anh đi tìm Trung Tá Dõng hay Thiếu Tá Thi cho tôi nói chuyện gấp! Rõ chưa?

– Trình trung úy! Ông trưởng và ông phó đều ra Pleiku rồi. Giờ này chỉ còn ông chuẩn úy sĩ quan trực. Trung úy nói chuyện với ông ấy có được không ạ?

Ông chuẩn úy sĩ quan trực cho tôi hay hai ông trưởng và phó đang ở chỗ Ban Kiểm Soát Biệt Động Quân trên đường Hoàng Diệu Pleiku. Giao tranh đang diễn ra trong khu vực gần đó.

Tôi về văn phòng đại đội, mở tần số liên đoàn để nói chuyện với Trung Tá Dõng. Nghe tiếng tôi, Trung Tá Dõng hét lên,

– Đ! M! Mi còn sống đó hả? Ra đây mau! Cả ông Donald và ông Dzếnh cũng ra đây luôn! Nghe rõ chưa!
Tôi bước ra sân tìm ông Donald và ông Dzếnh; hai vị còn đang đi vòng vòng quanh doanh trại để quan sát sự thiệt hại do cú đánh phá vừa qua của Đặc- Công.

Tôi chuyển lệnh của liên đoàn trưởng cho hai ông, rồi nhờ Thượng Sĩ Em thảy lên xe một thùng lựu đạn khói màu, một thùng M 26 và một thùng MK 3, đánh nhau trong đường phố thì rất cần những thứ này.

Trước khi rồ máy, ông Donald vác cái túi quân trang và cái Field Jacket của ông ta vào văn phòng đại đội tôi, giao cho Thượng Sĩ Em cất giữ dùm.

Chúng tôi chạy tới dinh Tướng Vĩnh Lộc thì đường bị giây kẽm gai rào kín, phải quẹo trái sang phía nhà thờ, rồi vòng sang Hoàng Diệu.

Trước Trạm Biệt Cảnh có nhiều người đứng lố nhố. Thiếu Tá Đoàn Thi đang điện đàm với một cánh quân nào đó, còn Trung Tá Dõng thì ngồi trên bực cửa của Trạm Biệt Cảnh, miệng phì phà một điếu xì gà. Tôi chưa kịp đứng nghiêm chào kính thì ông Dõng đã oang oang,

– Ông nội đi đâu suốt đêm qua vậy ông nội? Canh gác gì mà để Đặc-Công vào phá nát hậu cứ, giết chết lính của mình mà không biết gì thì tôi cũng phục ông luôn!

Tôi nghiêm giọng trả lời,

– Tôi nhận lỗi đã vắng mặt đêm qua. Nhưng nếu tôi ở nhà, và ra lệnh cấm trại tất cả anh em của đại đội trong khi súng ống bị nhốt trong kho, chắc tôi cùng nhiều người nữa đã không toàn mạng. Và chắc gì giờ này tôi còn được nhìn thấy trung tá?

Nghe tôi nói vậy, Trung Tá Dõng như chợt nhớ ra, chính ông đã ra lệnh cho tôi cất súng vào kho. Nếu như đêm qua cả trăm người lính bị cầm chân trong trại, tay không tấc sắt, chắc chắn số người chết bởi Đặc-Công Việt-Cộng sẽ không lường được là bao nhiêu.

Ông cười làm lành,

– Thì ta cũng la ó cho có lệ vậy thôi, chứ ai không biết rằng lệnh cấm nổ súng là do quân đoàn ban ra! Chỉ tại thằng Việt-Cộng vi phạm chứ chú mi đâu có lỗi gì?

Sau đó Trung Tá Dõng ra lệnh cho Trung Úy Rạng trao lại quyền chỉ huy Đại Đội 1/11 cho tôi. Tôi được anh Rạng trả lại quyền chỉ huy đại đội vào lúc mặt trời lên cao cỡ nửa con sào. Anh em trong đơn vị thấy tôi trở về bình an đều mừng vui ra mặt.

Lúc này Đại Đội 1/11 đang bố quân dọc hai bên đường Hoàng Diệu trước Khách Sạn Bồng-Lai. Trung Tá Dõng tới tận hàng hiên của Quán Kim-Liên ra lệnh cho tôi phải cấp tốc chuyển quân tái chiếm Lao Xá Pleiku và đặt một nút chặn tại đó. Vì con dốc từ Lao Xá Pleiku và khu Cây Đa Xà nơi chân Dốc Lò Heo chính là điểm xuất phát các mũi tiến công của Việt-Cộng.

Tôi gọi ba ông trung đội trưởng vào mái hiên Kim-Liên để phân chia nhiệm vụ. Vì Trung Sĩ Nhứt Ngọ, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, nằm bên kia đường nên không nghe rõ lệnh triệu tập của tôi, nên Hạ Sĩ Dương Lô hiệu thính viên đại đội phải chạy sang thông báo miệng cho ông Ngọ.

Bỗng đâu! “Xoẹt! Oành!” Từ trên trời, một trái rocket phóng xuống cắm ngay giữa phố.

Trái rocket chỉ điểm cắm giữa lòng đường, toé lửa, khói trắng tuôn cuồn cuộn. Bụi bay mù mịt, cát đá rào rào đập vào tường, vào cửa nhà hai bên đường. Sức ép do trái rocket vừa nổ đã đánh văng toàn thân hình, kèm với ba lô, súng đạn, cùng chiếc PRC 10 của Hạ Sĩ Dương Lô từ giữa đường bay vào sạp báo của tiệm Phở Kim-Phượng.

Trái khói nổ chỉ cách bộ chỉ huy liên đoàn và toàn ban cố vấn Mỹ chưa đầy một trăm mét!

Tôi không cần khiếu nại, hay báo cáo, cố vấn liên đoàn cũng đã thấy tận mắt cảnh tượng quái đản vừa xảy ra. Chỉ cần nhích một chút xíu nữa thì ban cố vấn Mỹ cũng “đi đoong!” Loa khuếch đại của máy truyền tin trên xe cố vấn đồng loạt rộ lên om xòm những tiếng chửi thề: “F! You! F! You! Check air! Check air! F! You!…”

Chắc đã nhận biết dưới chân mình là quân bạn, nhưng chiếc L.19 vẫn còn đảo thêm một vòng tròn trên đầu tôi, rồi mới lừng lững bay đi.

Tôi tiến tới bên ông Lô thì thấy cả người ông hạ sĩ bị nám đen. Ông nằm ngoẹo đầu trên nền đất. Hai mắt ông mở trừng trừng: Phi cơ Đồng Minh của tôi vừa giết oan một đồng ngũ của tôi!

Tôi vuốt mắt cho người quá cố, nhưng hai mi mắt ông không chịu khép lại!

Thấy thế, tôi bèn xoa hai bàn tay vào nhau cho ấm lên, rồi xòe rộng bàn tay phải, phủ mặt cho người chiến binh già. Miệng tôi lẩm nhẩm: “Cầu xin Đức Chúa Trời cứu rỗi!”

Phút sau tôi rút tay ra. Đôi mi mắt người lính già đã khép lại! Da mặt ông như vừa sáng lên, rạng rỡ, hết nhăn nheo.

Có thể là, hơi ấm từ lòng bàn tay tôi đã kích thích dịch thủy trong mắt ông tiết ra khiến da mi mắt ông mềm đi, dãn nở, nên mắt ông nhắm lại được. Cũng có thể giờ phút đó Chúa Cứu Thế trên đường vân du, đã nghe lời nguyện của tôi, nên dừng chân ghé ngang, vớt linh hồn người lính già ngoan đạo Dương Lô về quê hương La Vang?

Tôi cho một trung đội thận trọng men theo đường rãnh thoát nước tiến xuống cổng Lao Xá.

Đầu cầu lập xong, cả đại đội ào xuống núp quanh nhà dân. Tới lúc này tôi mới nhìn ra, ông Donald và cả Trung Úy Rạng cũng có mặt trong đoàn quân của tôi.

Tôi nắm vai ông Donald,

– Ông đi theo tôi làm gì? Ông có nhiệm vụ gì ở đây mà theo tôi?

– Thì tôi đã hứa với với anh rằng, kỳ hành quân này tôi sẽ đi theo anh. Anh không nhớ sao?

Thường thì một toán cố vấn phải gồm hai hoặc ba người. Giờ này ông Donald đơn độc đi theo tôi, không có máy truyền tin, không người hộ vệ. Trong lúc gấp gáp, tôi cũng không có thì giờ để hỏi rằng, ông làm chuyện này là tự nguyện hay đã có sự đồng ý của cố vấn trưởng.

Quay qua Trung Úy Rạng, tôi hỏi,

– Toa đi theo moa làm gì?

– Sĩ quan đại đội chỉ có mình cậu, mình theo cậu để có gì cần, mình giúp cậu một tay. Có hai thằng đại đội trưởng, chết đứa này còn đứa kia, đơn vị không sợ mồ côi!

Trước lòng tốt của hai người bạn, một Việt, một Đồng Minh, tôi cảm động không nói nên lời. Tôi nắm tay các bạn tôi, bóp một cái thật chặt, để thay lời cám ơn.

Trong cái thung lũng nhỏ, nhà dân toàn là loại lợp lá, vách phên. Không có gì dùng để che đạn, nên chúng tôi áp dụng chiến thuật tác chiến di động. Từng tốp ba người, súng chĩa ba hướng khác nhau, tiến chiếm từng căn nhà.

Bỗng từ dưới dốc, một người cầm gậy, đầu gậy treo một cái áo mayor trắng, vừa chạy lên dốc, vừa phất cờ. Một thanh niên hổn hển,

– Các anh lính Cộng- Hòa ơi! Các anh lính Cộng-Hòa ơi!

Trung Sĩ Có dơ tay chận anh ta lại,

– Có gì đó!

– Việt-Cộng! Việt-Cộng nhiều lắm! Chúng nó chiếm nhà em! Nhà em nằm dưới chân dốc!

Theo hướng tay anh thanh niên chỉ, tôi thấy, ngay dưới dốc là một căn nhà tranh, xung quanh có vườn cây um tùm.

– Trong nhà còn ai không?

– Dạ không. Ba má em và mấy đứa em về Qui- Nhơn ăn Tết nên chỉ có mình em giữ nhà thôi. Nửa đêm Hai Mươi Chín Tết mấy ông Giải-Phóng gõ cửa, ào vào, nhốt em trong buồng, cấm ló mặt ra. Sáng nay em nghe các anh lính Cộng-Hòa la hét trên dốc Bưu Điện, em bèn rút phên vách ra thành một lỗ hổng to rồi chờ đợi. Đến khi các anh xuống tới nơi, em vội chạy lên báo cho các anh hay.

Chắc chắn trong căn nhà dưới kia không còn người dân nào, tôi quyết định diệt gọn số Việt-Cộng đang trú ẩn trong đó, không cho tên nào chạy thoát.

Tôi ra dấu cho người thanh niên lui về phía sau, rồi ra lệnh,

– Hai khẩu trung liên BAR của ông Ngọ và ông Khôi bắn xéo cánh sẻ sát hai đầu hồi căn nhà. Khẩu đại liên 30 quét ngay giữa nhà. Nhớ là phải quét sát đất! Tất cả súng tay còn lại đều nhắm vào căn nhà bắn thả giàn!

Chưa tới ba mươi giây sau,

“Đùng! Đùng! Đùng! Cành! Cành! Cành! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Ùm! Ùm! Ùm!…” Gần năm mươi khẩu súng đủ loại, đua nhau nhả đạn nhằm vào cái nhà tranh dưới dốc. Vách phên toác ra từng mảnh, bay như bươm bướm. Mái tranh tung ra từng mảng, bay như bươm bướm. Thoáng chốc căn nhà đã tả tơi, biến dạng, có lẽ những cây cột chính đã bị bắn gãy, nên nó ngả nghiêng, chao qua, chao lại, như muốn đổ sụp. Không có ai từ trong nhà chạy ra. Không nghe một tiếng súng đáp trả!

Chờ năm, bảy phút sau, không thấy gì lạ, tôi ra lệnh ngừng bắn, rồi cho Trung Đội 2 tràn qua mục tiêu, bố trí dọc con suối để giữ an ninh, còn Trung Đội 1 thì lục soát mục tiêu.

Sau khi chiếm giữ căn nhà tranh và khu vườn dưới dốc, Trung Sĩ Nhứt Ngọ báo cáo,

– Trong nhà có khoảng hai mươi cán binh Cộng-Sản. Tất cả đã chết hết! Ta tịch thu được 22 khẩu AK47!

Tôi rút quân lên bố trí quanh Cây Đa Xà. Trung Đội 1 dùng giây dù cột vào chân những tử thi địch, rồi kéo chúng về tập trung trên một bãi đất trống bên cổng chính của Lao Xá Pleiku. Xe của Quân Vận sẽ đem xác chúng đi chôn. Trong khi chuyển tải các tử thi, anh em phát giác ra một cán binh còn sống! Anh ta nằm giả chết! Trên lưng anh ta có khẩu K54! Anh ta là cấp chỉ huy!

Hai Biệt Động Quân áp tải tên Việt-Cộng tới trước mặt tôi. Anh ta là người Miền Bắc, anh ta cũng cỡ tuổi tôi, hăm nhăm, hăm sáu là cùng. Tôi chỉ chỗ cho anh ta ngồi, rồi mồi cho anh ta một điếu thuốc lá Lucky không đầu lọc. Tôi không ra lệnh trói tay, bịt mắt anh ta, vì tôi nghĩ, chút nữa đây, chắc chắn sẽ có những phóng viên ngoại quốc tìm tới lấy tin vùng giao tranh, và họ sẽ chứng kiến cách đối xử với tù binh của Quân Đội Việt-Nam Cộng-Hòa.

“Anh tên là gì? Quê quán ở đâu? Bao nhiêu tuổi? Cấp bậc gì? Chức vụ gì? Đơn vị nào?” Tôi từ tốn hỏi.

Tôi vừa dứt lời, anh cán binh Việt-Cộng đã vội vàng nhanh miệng, lễ phép trả lời:

– Thưa thủ trưởng, em là người Hà Nam Ninh, em tên Lê Hữu Phòng, hăm nhăm, hàm thiếu úy, thủ trưởng xê một, hát mười lăm.

Không ngờ anh chàng này lại có vẻ liến thoắng và bạo dạn quá, tôi thắc mắc,

– Vậy chứ “xê” là gì? “Hát” là gì?

– Dạ xê (C) là đại đội, hát (H) là tiểu đoàn đấy ạ!

Chợt nhớ ra mẩu điện đàm nghe được đêm Hai Mươi Chín Tết, tôi vội hỏi,

– Có phải Sa-Thầy là H 15 không? Còn Hồng-Lĩnh là ai vậy?

– Dạ Sa-Thầy là phiên hiệu của Tiểu Đoàn H 15, còn Hồng Lĩnh là phiên hiệu của Tỉnh Đội Gia–Lai.

– H 15 có đại đội đi đầu bị lạc. Có phải C 1 bị lạc từ đêm Hai Mươi Chín Tết không?

Tên cán binh trố mắt:

– Thì ra thủ trưởng cũng biết chuyện đơn vị của em bị đi lạc ư?

Tôi gật gù,

– Biết chứ! Bây giờ anh phải khai cho rõ, C1 ở đây từ lúc nào? Thành phần còn lại của H 15 hiện nay ở đâu?

Nghe tôi hỏi, tên Việt-Cộng chợt ngẩn người ra có vẻ suy nghĩ, băn khoăn. Một phút sau, y chậm rãi kể, với bộ điệu rất thành thực,

– Đêm Hăm Chín tụi em đi đầu theo anh giao liên dẫn đường. Vừa vượt qua xa lộ Vĩnh Lộc thì có một đoàn xe Mỹ chạy tới, đoàn quân bị cắt ngang, đại đội em đã vào tới Chợ Mới, nhưng toàn bộ đại đơn vị còn bị kẹt trong ruộng khoai mì và đồng cỏ tranh. Chúng em bị mất liên lạc với tiểu đoàn từ đó. Anh giao liên dẫn tụi em tới điểm tập kết nơi lòng một con suối, rồi giao tụi em cho một cán bộ nằm vùng. Ông này dẫn tụi em vào căn nhà dưới dốc để ém quân chờ, căn dặn tụi em không được tự ý nổ súng, không được đi đâu, nếu ông ta chưa quay lại đón. Tụi em cứ chờ mãi cho tới sáng nay thì bị tập kích. Quân Cộng-Hòa bắn rát quá, không chừa một tấc đất nào. Tụi em không chống đỡ kịp. Tất cả quân số của C 1 là hai mươi ba người, chết hết, còn lại mình em thôi! Em nhờ có cái cối xay bằng đá che chở mà sống sót. Đến lúc quân Cộng-Hòa vào lục soát, em chỉ còn cách giả chết để chờ cơ hội thoát thân. Không dè bị buộc chân kéo lê trên gạch đá, đau quá em đành phải ngồi dậy tự thú!

Nghe xong lời khai của tên tù binh, tôi mới thấy mình quả là quá ơ hờ với cái vụ tìm hiểu trận liệt, biên chế của địch. Đâu ngờ, mẩu điện đàm ngắn ngủi mà tôi tình cờ nghe được lại là cuộc đàm thoại của đơn vị chủ công địch nhắm vào thành phố Pleiku nhân dịp ngưng bắn đầu năm. Chắc không ai biết chuyện chuyển quân này của Việt-Cộng đâu! Mà dù có biết cũng chẳng ai thèm để ý đề phòng! Vì ai cũng tin Tết này sẽ hưu chiến, Tết này sẽ hòa bình. Ta không bắn địch, địch cũng không bắn ta. Có Ủy Hội Quốc Tế đứng ra bảo đảm, khỏi lo lắng gì.

Rồi tôi lại nghĩ, nếu tình báo của ta không quá ơ hờ, thượng cấp không quá ngây thơ tin tưởng vào những lời hứa cuội của kẻ thù, thì tôi đã không nhận được lệnh phải tập trung vũ khí của đại đội, bỏ vào kho, khóa cứng lại!

Khẩu đội cối 60 ly của Trung Sĩ Tánh vừa tới, còn đang loay hoay kiếm vị trí đặt súng. Binh Nhứt Ngẫu, xạ thủ cối, hai tay ôm cái bàn tiếp hậu trước ngực chờ lệnh. Binh Nhì Nguyễn Sang chậm chạp dang hai chân lấy thế, rồi từ từ hạ cái đòn gánh tám quả đạn 60 ly xuống trước mặt tôi.

Ngay lúc ấy tôi chợt thấy ánh mắt người tù binh như rực sáng. Rồi nhanh như cắt, anh ta bật người dậy, chồm lên, lao vào giựt khẩu Garant M1 trên vai Binh Nhì Sang!

Tôi sững người, vài giây sau mới kịp rút khẩu Colt ra khỏi vỏ. Thật là khó can thiệp khi hai người này cứ liên tục di động! Tên Việt-Cộng và Binh Nhì Sang ra sức giằng co, giành giựt khẩu súng. Giờ này thằng Việt-Cộng đã trở nên vô cùng hung hãn, nó nhe răng cắn lia lịa vào tay Sang, khiến anh này la lên “Oai oái!”

Bất ngờ, một tiếng “Rốp!” vang lên, cuộc vật lộn chấm dứt!

Sẵn trên tay cái bàn tiếp hậu, Binh Nhứt Ngẫu, đã nhanh trí, thẳng cánh nện một phát ngay đỉnh đầu tên cán binh, cứu nguy cho Binh Nhì Sang! Thuở đó cối 60 chưa có bàn tiếp hậu bằng nhôm. Bàn tiếp hậu cối 60 được đúc bằng sắt ròng nên rất nặng, mặt sau thì lồi lõm. Vì vậy, chỉ với một cú đập, tên Việt-Cộng đã vỡ óc, lìa đời.

Sự việc diễn biến nhanh tới mức không thể tưởng tượng được! Tôi bị bất ngờ đã đành, ông Donald còn sững người hơn tôi. Ông ta cứ đứng ngớ ra như vừa sực tỉnh một cơn mê lạ lùng.

Binh Nhứt Trần Ty đưa cái ống liên hợp cho tôi. Có lệnh của ông liên đoàn trưởng:

“Rút quân gấp! Coi chừng bị đánh chặn ở cổng trại Địa Phương Quân!”

Tôi lấy làm ngạc nhiên vì, rõ ràng tôi vừa xuất phát từ căn nhà sập, ở ngay trước cổng cái trại Địa Phương Quân ấy để tràn xuống dưới này, nay lại nói trong doanh trại đó có địch? Chẳng lẽ cái trại ấy đã bị Việt-Cộng chiếm rồi?

Thế là chúng tôi lại men theo đường cống thoát nước trở lại khu nhà sập trên Ngã Tư Bưu Điện.

Đại Úy Dzếnh đang lấp ló sau một gốc cây, thấy tôi ông bèn ra dấu,

– Coi chừng! Trong đồn Bảo An có Việt-Cộng. Chúng nó vừa bắn ra làm hai anh Thiết Giáp bị thương. Trung tá liên đoàn trưởng đang chờ ông bên hàng hiên đàng kia!

Cái đồn Bảo An này từ lâu là nơi đồn trú của Đại Đội Yểm Trợ và Công Vụ Tiểu Khu Pleiku, sau này nó mang tên Trung Tâm Yểm Trợ và Tiếp Vận Tiểu-Khu cho tới ngày Pleiku bị di tản, tháng Ba năm 1975.

Trung Tá Dõng và nhóm cố vấn Hoa-Kỳ đang đứng lố nhố sau mấy chiếc M113 đậu dọc lề đường Hoàng Diệu, trước rạp hát. Trong lúc tôi nói chuyện với Trung Tá Dõng thì Đại Úy Donald cũng trao đổi đôi điều gì đó với nhóm cố vấn Mỹ.

Trung Tá Dõng cho tôi biết, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Pleiku vừa xác nhận rằng, doanh trại của Đại Đội Yểm Trợ và Công Vụ Tiểu Khu Pleiku đã bị Việt-Cộng chiếm giữ từ Giao Thừa. Từ đây, chúng đã bắn B 40 ra đoạn đường Hoàng Diệu trước mặt Tòa Hòa Giải, làm cháy hai chiếc M 113 của ta. Ông ra lệnh cho tôi phải tái chiếm doanh trại này càng nhanh càng tốt.

Cơ ngơi của trại lính Địa Phương Quân này rất rộng, nó được bao quanh bằng hai lớp rào và một hệ thống công sự phòng thủ kiên cố. Phần đối diện với Ty Bưu Điện là văn phòng, cơ xưởng, kho tàng. Phần đối diện với Tòa Án Hòa Giải là cư xá sĩ quan và hội quán. Tôi đã có dịp ăn, nghỉ ít lâu ở nhà một người quen trong cư xá này nên rất thông thuộc đường đi nước bước trong khu doanh trại này.

Chỉ có một con đường duy nhất để tiến vào doanh trại là cổng chính. Hai bên cổng chính là hai pháo đài, hiện đang bỏ trống.

Tiểu đội của Trung Sĩ Nguyễn Hữu Có vừa ào vào làm chủ cái lô cốt bên phải thì tiểu đội của Trung Sĩ Đoàn Văn Lụa cũng chiếm xong vọng gác bên trái, vọng gác này có một khẩu đại liên 30.

Tôi chỉ nhảy vài bước là đã tới cái ụ súng đại liên.

Thường ngày thì khẩu súng cộng đồng này hướng ra Ngã Tư Bưu Điện trên đường Hoàng Diệu. Giờ này tôi cho nòng súng quay ngược vào sân cờ. Ông Đại Úy Donald theo sát bên tôi. Ông đang lên cò khẩu AK 47. Lúc còn ở dưới dốc Lò Heo, tôi và ông Donald lựa cho mình mỗi người một khẩu AK chiến lợi phẩm, vì chúng tôi chỉ có súng ngắn. Tấn công mục tiêu mà có súng liên thanh thì vững tâm hơn nhiều. Lúc này thì sau lưng ông Donald có một hiệu thính viên Mỹ đi theo. Anh lính Mỹ trẻ này được trang bị một máy PRC 25 và một khẩu Carbine M1. Đi trận mà bộ dạng chàng ta lại rất thong dong, thảnh thơi như đang đi dạo phố.

Hiện thời tôi không biết địch nằm chỗ nào, cứ đi lớ ngớ trong sân, có khi chết oan. Tôi cho trung đội súng nặng và hai chiếc máy truyền tin nằm lại cổng chính vì sợ rằng kéo nhau “bầu đoàn thê tử”, cần câu, ăng ten, dềnh dàng thì chỉ tổ làm mồi cho B40! Vả lại, đánh nhau trong khu nhà cửa, doanh trại, cứ dùng thủ lệnh, khẩu lệnh, vừa nhanh lại vừa tiện. Thấy tôi làm thế, ông Donald cũng ra dấu cho anh hiệu thính viên Mỹ ôm cái máy PRC 25 ngồi lại trong vọng gác bên cổng chính.

Tôi phân nhiệm vụ cho Trung Đội 3 vừa là thành phần trừ bị, vừa trấn giữ con đường xuống dốc Lao Xá Pleiku. Trung Đội 1 và 2 sẽ là lực lượng chủ công.

Đất được chia cho hai cánh quân, theo trục tiến Bắc Nam, lấy trụ cờ làm ranh. Trung Úy Rạng đi cùng Trung Sĩ Nhứt Khôi của Trung Đội 2, chỉ huy cánh bên phải chiếm các văn phòng, hội trường và những lô cốt sát rào bên Hoàng Diệu. Tôi và ông Donald đi theo cánh bên trái của Trung Sĩ Nhứt Ngọ tiến chiếm khu kho chứa hàng, và khu cơ xưởng bảo trì quân xa.

Mặt trời đã lên cao, nhưng toàn cảnh của doanh trại như còn chìm trong một giấc ngủ sâu. Im lặng tới lạnh gáy, rợn người.

Sau mỗi ô cửa, sau mỗi lỗ châu mai có thể là một họng RPD hay AK47 sẵn sàng nhả đạn. Chúng tôi nhướng mắt, dỏng tai, thận trọng từng bước, đi tìm Thần Chết.

Bất ngờ, “Oạch!” Binh Nhì Ngô Sanh vì cứ phải liên tục ngỏng cổ canh chừng những ô cửa, những lỗ châu mai, đã vô tình đạp nhằm một cục đá nên ngã bổ nhoài về phía trước, chúi đầu vào bức vách tôn gây nên một tiếng “Ầm!”

Sanh không mang nón sắt, mà đội nón đi rừng, nên cú té đập đầu đã làm anh ta đau ngất ngư!

Trung Sĩ Nhứt Ngọ vừa đưa tay đỡ Ngô Sanh, vừa càm ràm,

“Tổ cha mày! Cái thằng ăn hại!”

Ngô Sanh vừa xuýt xoa “Á! Á! Đau!” vừa lồm cồm đứng lên, dơ tay phủi bụi dính áo quần. Rồi lớ quớ làm sao, ngón tay của chàng ta lại móc ngay vào cò khẩu Thompson đang đeo trước ngực!

Thế là “Pằng! Pằng! Pằng!…” đạn nổ liên thanh! Thompson là thứ súng nhạy cò nhứt, nhiều khi chỉ cần nện mạnh báng súng trên nền đất là cơ bẩm đã thụt xuống, đạn tuôn ra cả tràng. Cũng may, mười mấy viên Thompson của Ngô Sanh đã bay hết vào tường mà không trúng ai!

Ông Ngọ chưa kịp la hét, đá đít anh lính bất cẩn thì bất thình lình, súng đạn nổ ran tứ phía!

“Bùm! Bùm! Đùng! Đùng! Oành! Oành! Chíu! Chíu!…”

Đủ mọi thứ tiếng nổ! Đại liên, trung liên, AK, thủ pháo, chớp nhóa, chói lòa, bụi khói khét lẹt, chỗ nào cũng có địch!

Đâu ngờ tràng đạn cướp cò của Binh Nhì Ngô Sanh đã vô tình trở thành hiệu lệnh cho địch khai hỏa!

May mắn là chúng tôi mới xuất phát, chưa lún sâu trong vùng địch kiểm soát nên thiệt hại chưa có gì đáng kể.

Vì địch đã lộ diện, nên tôi quyết định cho quân mình khoanh vùng, tiến chiếm từng phần của mục tiêu, thay vì ào lên một lượt. Hai cánh quân của ông Ngọ và ông Khôi giữ hàng ngang, rồi thận trọng tiến chiếm từng nhà, từng ụ súng.

Hướng Đông với nhiều lô cốt có mái che nên việc tiến quân rất vất vả và nguy hiểm. Vừa chiếm xong cái lô cốt đầu tiên, Trung Đội 1 đã bị chận lại bởi một khẩu thượng liên đặt trên vọng gác Tây Nam của doanh trại; ít nhứt cũng năm, sáu Biệt Động Quân đã bị cây súng liên thanh này đốn ngã.

Tôi nghĩ rằng cái chòi gác này rất cao, người ngoài đường cũng trông thấy, nên chạy ra cổng chính nhờ chiếc M113 có khẩu 106 ly giúp một tay.

Quả đúng như tôi dự trù, người nào đứng tại Ngã Tư Bưu Điện đều có thể nhìn rõ mồn một những tia lửa phát ra từ khẩu RPD trên vọng gác kia. Chỉ cần hai quả 106 ly là cái chòi gác biến mất.

Muốn tiến chiếm các lô cốt và khu cơ xưởng, chúng tôi phải di động liên tục. Vào tới đây rồi thì ai cũng phải đánh nhau, bất kể là quan hay lính. Tôi, ông Donald và Trung Sĩ Có hợp thành một tổ ba người. Ông Donald giữ nhiệm vụ ghìm khẩu AK 47 bảo vệ cho tôi và Có luân phiên đánh lựu đạn.

Thanh toán xong cái lô cốt giữa sân cờ, cả đại đội hò reo xung phong lên khu cơ xưởng sửa chữa quân xa và hội quán.

“Ùm! Ùm!…Oành! Oành!…” Lựu đạn của ta, thủ pháo của địch đua nhau ném qua, ném lại; trung liên, tiểu liên thì nổ đùng đùng không dứt! Hai lỗ tai tôi lùng bùng như sắp điếc đặc tới nơi!

Tới đầu dãy nhà chứa xe, trong đám bụi khói mù mịt, thay vì chạy theo tôi về bên trái, thì ông Donald lại chạy theo Trung Úy Rạng rẽ sang bên phải, nơi đây có cái cổng sắt dẫn sang cư xá sĩ quan.

Bất ngờ, tôi thấy B 40 phụt lửa chói lòa, cùng tiếng súng liên thanh “Cành! Cành!” phát ra từ nóc một lô cốt lộ thiên nơi đầu nhà chứa vật liệu xây dựng. Đây là một ổ đại liên 30 và B 40! Tai tôi nghe tiếng đạn B 40 nổ, cùng lúc mắt tôi nhìn thấy Trung Úy Rạng và ông Donald loạng choạng, chúi người vào nhau, gục trên nền đất. Phải nhảy hai bước dài, tôi mới tới sát cái bờ tường chất bằng bao cát có họng súng đang nhả đạn liên thanh. Một quả MK3, tiếp theo là một quả M26 được rút chốt.

Không cần kiểm soát lại kết quả của hai trái lựu đạn, tôi phóng tới bên ông Donald và Trung Úy Rạng. Ông Donald nằm gục mặt trên sân, cái nón sắt bị bắn toác nửa phần sau gáy, mặt ông đầy máu, ngực ông đầy máu, vai ông đầy máu, người ông chỗ nào cũng có máu!

Tôi lắc lắc vai ông,

“Donald! Donald! Donald!”

Bạn tôi không nghe được tiếng tôi gọi! Bạn tôi nằm bất động! Bạn tôi đã chết rồi!

Tôi cố gắng lật mặt ông, nhìn ông lần cuối. Mắt ông nhắm nghiền, miệng ông mím chặt, chiếc nón sắt nghiêng một bên, máu trong nón sắt trào ra lênh láng.

Bên cạnh Đại Úy Donald Allen Evans, Trung Úy Lưu Danh Rạng nằm co quắp như một con tôm. Nửa mặt anh cùng với cái nón đi rừng đã bị bắn bay đi đâu mất, ngực anh máu còn phun phì phì! Anh Rạng và ông Donald, mỗi người ít ra cũng lãnh trên mười vết thương!

Tôi đau buồn từ từ đứng dậy, dơ tay ra dấu gọi Trung Sĩ Có, tính chuyện cho người đỡ xác ông Donald và xác anh Rạng ra ngoài. Đâu ngờ, “Toác! Toác! Toác!…” tai tôi vừa nghe tiếng nổ thì bên sườn phải của tôi đã bị vật gì đó xuyên vào! Viên đạn AK 47 không trúng cái báng súng mà tôi đeo bên hông, viên đạn không chạm chiếc áo giáp mà tôi đang mặc, viên đạn chui vào ngay cái khe nằm giữa hai mảnh giáp hộ thân!
Người tôi bỗng nhẹ tênh! Không thể giữ nổi thăng bằng trên đôi chân, tôi đành gục xuống! Trung Sĩ Có nhảy tới đỡ tôi. Rồi Có cũng ôm ngực, gục xuống theo tôi!

Một toán người ào tới. Có tiếng Trung Sĩ Nhứt Nguyễn Nhơn, Trung Đội Phó Trung Đội 1,

– Trung úy bị thương rồi! Thằng Có cũng bị thương rồi! Tụi bay vác trung úy và thằng Có ra ngoài đường mau lên! Mau lên!

Súng tiếp tục nổ ran cùng tiếng la “Xung phong! Xung phong! Biệt Động Sát! Biệt Động Sát!…” vang vang, ồn ào, hỗn loạn…
Một người lính vừa dìu tôi vừa chạy, gần tới cổng thì quỵ xuống; anh ta bị trúng đạn vào lưng!

“Long! Long! Don’t worry! Don’t worry! I’ll help you!”

(Long! Long! Đừng lo lắng! Đừng lo lắng! Tôi sẽ giúp anh!)

Người mới la lên là Trung Úy Bailey, Cố Vấn của Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân. (Tôi không nhớ First Name của Trung Úy Bailey.)

Bailey đã có mặt kịp thời, anh dang hai tay đỡ tôi dậy, rồi phóng thật nhanh ra đường. Sau lưng anh, đạn đại liên của địch “Chíu! Chíu! Chíu!…” đuổi theo!

Ra tới chỗ an toàn, Bailey đặt tôi xuống vệ đường. Tôi thấy ngực mình nặng vô cùng, không thể thở. Bailey cởi cái áo giáp của tôi ra, vứt bên vệ đường, rồi xé luôn cái áo hoa tôi đang mặc để tìm vị trí viên đạn đã chui vào. Anh quỳ bên tôi, hai bàn tay xoè rộng. Anh để hai tay trên ngực tôi, rồi nhấn xuống, nhả ra, làm hô hấp nhân tạo, giúp tôi thở dễ hơn. Mỗi khi tay Bailey đè xuống, máu tôi lại phun ra, khi Bailey nhả tay ra, máu lại chạy ngược vào lồng ngực!

Lúc sau tôi đã thở dễ dàng trở lại. Bailey trao tôi cho Ban Quân Y của liên đoàn. Y tá không dám bịt miệng vết thương lại, vì sợ máu ứ trong lồng ngực. Tôi nằm nghiêng bên phải, máu tiếp tục tuôn ra, máu tràn xuống mặt đường.

Nghe tin tôi bị thương, Trung Tá Dõng vội chạy tới. Ông quỳ xuống bên tôi, cầm tay tôi, ông dịu dàng,

– Long ơi! Long ơi! Em không sao chứ?

Trung Tá Hồ Hữu Dõng xưa nay thường nói năng cộc lốc, không văn hoa, không tình cảm. Vậy mà hôm nay, lần đầu thuộc cấp nghe ông gọi một sĩ quan dưới quyền bằng đại danh từ “Em”, thiết tha như thể là ông ta đang gọi đứa em ruột thịt của mình.

Sau khi mồi cho tôi một điếu xì gà, Trung Tá Dõng gọi Thiếu Tá Thi tới và ra lệnh,

– Thằng Long mà vào không được thì không ai vào nổi đâu! Ông bảo “già” Dzếnh rút toàn bộ Đại Đội 1 ra chốt mấy cái pháo đài ngoài cổng, rồi kêu “cha” Tánh đốt cái trại Địa Phương Quân này cho tôi.

Lúc Đại Úy Tánh (Thiết Giáp) bắt đầu công tác phun lửa đốt khu doanh trại Địa Phương Quân thì tôi được xe cứu thương đưa về Quân Y Viện Pleiku.

Người ta đưa thẳng tôi vào Phòng Chụp X Quang mà chẳng qua thủ tục nhập viện nào cả. Sau đó tôi được chuyển về Ngoại Thương 2.

Người chỉ huy Ngoại Thương 2 là Trung Úy Y Sĩ Lê Văn Thới. Ông xem xét tấm hình chụp viên đạn rồi gật gù,

– Không mổ được! Viên đạn nằm sát trái tim. Mổ láng quáng chạm phải trái tim thì phiền! Cứ để viên đạn nằm đó, ít lâu sau mỡ sẽ bọc quanh nó như cái kén của con tằm. Thế là yên!

Phòng sĩ quan có bốn cái giường. Tôi nằm ở giường số 3. Giường số 4 còn để trống. Có hai ông Thiết Giáp nằm sẵn trong phòng này trước khi tôi nhập viện, đó là Trung Úy Triết Chi Đoàn Trưởng 1/3 Chiến Xa và Thiếu Úy Tài Chi Đoàn Trưởng 2/3 Thiết Vận Xa. Đêm qua hai ông Thiết Giáp này đều bị Việt-Cộng bắn cháy xe, một ông gãy tay, một ông phỏng nặng. Đại đội trưởng Biệt Động Quân và chi đoàn trưởng Thiết Giáp cùng trực thuộc lực lượng trừ bị của Vùng 2 thì chẳng lạ gì nhau, nên ba chúng tôi gặp nhau mà chẳng cần phải tự giới thiệu dài giòng.

Nằm trong phòng dành cho sĩ quan được một ngày, tôi thấy ngột ngạt khó thở quá, nên xin Bác Sĩ Thới cho tôi ra phòng ngoài.

Sáng Mùng Hai tôi nhờ hai y tá chuyển chiếc giường bệnh của tôi qua khu dành cho hạ sĩ quan và binh sĩ. Phòng này tuy ồn ào, lộn xộn, nhưng rộng rãi, thoáng đãng và vui vẻ hơn.

Binh Nhứt Phạm Công Cường nằm trong Ngoại Thương 3 đã nghe tin tôi bị thương nên tìm tới thăm. Cường cho tôi hay số người bị thương nhập Quân Y Viện Pleiku đã quá mức chứa, do đó phải chia sẻ bớt cho Quân Y Viện Qui Nhơn, và Chinook Mỹ đã đem ông chuẩn úy đi từ chiều Mùng Một Tết rồi.

Ngày đó, tôi chỉ tiếp xúc với ông chuẩn úy Khóa 25 Thủ Đức này có vài phút, tên tuổi của ông ấy tôi quên mất rồi! Tới nay, tôi chỉ còn nhớ rằng ông ta bị cận thị nặng, cặp kính trắng hơi dầy. Ông ấy có phong thái của một nhà mô phạm hơn là một ông Biệt Động Quân. Tôi hi vọng rằng, bài viết này sẽ tới tay ông; hi vọng hiện nay ông còn sống, và còn nhớ tới cái đơn vị Biệt Động Quân mà ông đã phục vụ trong thời gian vừa đúng một ngày.

Tết Mậu Thân có ba ngày hưu chiến, vậy mà tính từ Giao Thừa cho tới trưa Mùng Một, thời gian chưa qua một ngày, mà đơn vị tôi đã có gần hai chục người vừa chết, vừa bị thương, cả Trung Úy Rạng và tôi đều bị loại ra ngoài vòng chiến, chỉ còn ông Thượng Sĩ Nguyễn Em là người mang cấp bậc cao nhứt; đại đội tôi thực sự đã thành một đơn vị “mồ côi”.

Tổng Công Kích Tết Mậu-Thân 1968 của Việt-Cộng đã gây nên biết bao cảnh chết chóc, hoang tàn, đổ nát khắp Miền Nam. Dã man nhứt là cuộc thảm sát ở Huế, nơi đây Việt-Cộng đã xử tử hàng ngàn người dân vô tội rồi chôn vùi thân xác họ trong những ngôi mồ tập thể.

Trong cuộc chiến tranh Việt-Nam Thế Kỷ 20 vừa qua, quân dân Miền Nam đã quá nhân từ, cả tin, dễ dãi và ơ hờ, trong khi đó người Cộng-Sản lại vô cùng gian manh, dã man và xảo trá.

Chúng ta đã bị địch lừa gạt, nên cứ tin tưởng vào những viễn ảnh hòa bình của Hiệp Định Geneve năm 1954, rồi Hiệp Định Paris năm 1973; kết quả sau cùng, chúng ta phải trả giá là ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975 Miền Nam hoàn toàn sụp đổ.

Thấm thoắt đã nửa thế kỷ trôi qua, trong lồng ngực của tôi, cái đầu đạn AK 47 vẫn nằm yên bên cạnh trái tim, và mỗi khi trở trời, tôi lại cảm thấy râm ran cả một vùng da bụng quanh nơi viên đạn chui vào.

Mộ bia của anh Rạng thì không biết có còn không? Vì sau ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975 nghĩa trang của những người thua trận đã trở thành hoang phế.

Còn ông Donald, sau lần hát “The Star” cho tôi nghe trên đồi Holloway, đã không còn hằng đêm ngóng về một vì sao, nhớ quê. Ông đã yên giấc nghìn thu trên đất nước của ông rồi.

Đêm đêm, trong khu Vietnam Veterans Memorial ngay giữa lòng thủ đô Washington D.C của Hoa-Kỳ, bức tường đá đen nhìn giống như một khung trời sâu thăm thẳm, trên đó những cái tên sơn màu trắng, cũng lập lòe, lấp lánh như những vì sao trên trời. Tên ông đã được khắc sâu trong lòng đá. Với người dân Hoa-Kỳ thì cái tên Donald Allen Evans đã thành bất tử!

Và riêng tôi, mỗi năm vào dịp Xuân về, tôi đều nhớ tới người bạn vong niên của mình, nhớ câu chúc Tết trọ trẹ, lơ lớ bằng tiếng Việt:
“Chúc mừng năm mới!…”

Tiếp đó là hình ảnh ông nằm sõng xoài trên nền đất, máu đỏ đầy mình, lặng thinh không trả lời tôi réo gọi bên tai, “Donald! Donald! Donald!”
Có những chuyện xảy ra trong đời, vì quá bi thương, nên người ta muốn quên đi, nhưng không làm sao quên được! Có những điều, người ta muốn kể lại, nhưng vừa mở miệng, đã nghẹn lời!

Mãi năm mươi năm sau ngày ấy, tôi mới viết lại chuyện này được trọn vẹn, vì trước đây, mỗi lần bắt đầu câu chuyện, tôi lại thấy mắt mình cay cay, không biết làm cách nào để có thể ngăn đôi giòng lệ tuôn rơi, nên đành gác bút.

Vương Mộng Long – K20
(Seattle một ngày đầu Xuân 2018)

Bác Sĩ: Nguyễn Xuân Nam – Từ thất học trở thành nhà phẫu thuật nhi hàng đầu

Cơ Sở Việt Thức 
January 11, 2011

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Đó là câu chuyện của bác sĩ Nguyễn Xuân Nam, Trưởng khoa Ngoại – Bệnh viện Nhi Los Angeles (Mỹ).

Trước khi gặp anh, tôi chỉ được nghe dân ngoại khoa đồn rằng, đó là một người Mỹ gốc Việt có tiếng trong làng ngoại nhi thế giới. Điều đó khiến tôi tò mò và thật bất ngờ trong lần đầu gặp mặt anh xuất hiện với dáng vẻ rất ấn tượng: đầu húi cua, kính cận, da rám nắng, quần jean, áo pull, cùng một nụ cười hiền khô…  


Nổi tiếng cả ở sự giản dị

Lần đầu tiên, Bệnh viện Nhi trung ương đăng cai tổ chức Hội nghị khoa học ngoại nhi Đông Nam Á lần thứ 4 với đông đảo những anh tài của các nước Asean và thế giới. Tất nhiên, một người không thể thiếu đó là BS Nguyễn Xuân Nam. Sau màn chào hỏi với những đồng nghiệp Á, Âu… anh bảo tôi: “Bây giờ anh đi thăm bệnh nhân với tôi luôn nhé? Chiều nay tôi sẽ mổ trình diễn 2 ca bệnh cho các chuyên gia xem”.

Hai ca Bệnh viện Nhi dành cho BS Nam bị chứng phình đại tràng bẩm sinh dạng phức tạp. Chỉ định phẫu thuật là biện pháp duy nhất cứu sống bệnh nhân, nhưng phẫu thuật như thế nào để đạt kết quả tốt nhất mới là điều đáng bàn. Dù đang khóc ngằn ngặt trên tay mẹ, nhưng cậu bé 4 tháng tuổi trở nên ngoan ngoãn và nhoẻn miệng cười đáp lại BS Nam khi anh khéo léo dỗ dành để khám cho cháu bé.

Tại Hội trường J của Bệnh viện Nhi trung ương, ca phẫu thuật do BS Nam chủ trì được truyền hình trực tiếp từ phòng mổ. Các thao tác xử trí của anh như có ma thuật thu hút sự chăm chú của các chuyên gia, rất nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau trên mỗi khuôn mặt: họ mở to mắt, cau mày… rồi quay sang nhìn nhau gật gù tâm đắc.

Sang ngày hôm sau, tôi không biết BS Nam tận hưởng sự rảnh rang của mình như thế nào, chỉ biết ngay khi ban tổ chức giới thiệu anh lên trình bày các nghiên cứu khoa học mới của mình về nội soi nhi khoa đã được cả hội trường Sông Hồng II – Khách sạn Sheraton nhiệt liệt tán thưởng. Khác với cách nói chuyện hồn nhiên, đôi khi rất ngẫu hứng, lúc trình bày nghiên cứu khoa học anh lại rất sắc sảo và logic, các chứng cứ sát thực, chặt chẽ, dễ hiểu, hình ảnh sinh động. Cả hội trường im phắc lắng nghe và rồi từng tràng pháo tay vỡ òa không dứt khi bài giảng kết thúc.

Tôi nói rằng khi viết bài sẽ gọi anh là “siêu bác sĩ”, anh bảo: “Anh nên dành nhiều lời khen cho các bác sĩ Việt Nam. Ở Mỹ, tôi có mọi điều kiện tốt nhất để làm việc, ở nhà mình còn nhiều thiếu thốn nhưng họ đã làm việc thật tuyệt vời. Sau vài năm trở lại Bệnh viện Nhi thấy trình độ của các bác sĩ tiến bộ rất nhiều. Nhất là GS Nguyễn Thanh Liêm, tôi quen từ những hội nghị khoa học quốc tế, nhiều nghiên cứu của ông đã làm tôi bất ngờ và cảm phục…”. Con người tài năng ấy không chỉ có sự khiêm tốn mà còn có một lối sống vô cùng giản dị. Tôi hỏi: nghe nói anh vẫn đi làm bằng chiếc xe ô tô cũ kỹ ? Câu trả lời là: thì nó vẫn đi được mà, sao lại phải bỏ đi ?. 


Tuổi thơ giông bão

Ít ai biết rằng BS Nguyễn Xuân Nam đã từng trải qua một “tuổi thơ dữ dội”. Gia đình anh vốn làm nghề đánh cá ở Hòn Khói – Nha Trang – Khánh Hòa. Lời ru của mẹ và tiếng sóng biển rì rào đã vỗ về anh lớn lên. Mỗi buổi sáng, cậu bé Nam lại tíu tít dậy sớm theo mẹ ra biển ngồi gác bình minh đón cha trở về. Nhưng điều ngọt ngào ấy đã tắt lịm khi anh lên 4 tuổi thì người mẹ qua đời. Thương cuộc sống côi cút của 3 cha con anh, một người phụ nữ tốt bụng đã chấp nhận làm mẹ của anh. Phải vật lộn nuôi gia đình với 8 đứa con thực sự quá sức với cha mẹ. Vì thế lên lớp 6, nhà nghèo khó, cậu học trò sáng dạ Nguyễn Xuân Nam đã phải nghỉ học để cùng cha lênh đênh trên biển đánh cá nuôi sống gia đình.

Nhưng rồi hạnh phúc giản dị của gia đình nghèo khó ấy cũng chẳng được bao lâu, bệnh tật lại lần lượt cướp đi của anh mẹ kế và hai đứa em. Trong trái tim đau khổ lúc bấy giờ của anh bỗng cháy lên ước mơ trở thành một bác sĩ chữa bệnh cho người nghèo.

Tuổi thơ nghèo khó đong đầy nỗi đau, những năm tháng sống trên biển lúc yên bình, lúc gào thét của giông bão đã rèn cho anh nghị lực phi thường, thân hình vạm vỡ của người thủy thủ và một tâm hồn khoáng đạt. Anh bảo đến tận bây giờ những giấc mơ vẫn đưa anh trở về ngày xưa, có những khi choàng dậy giật mình vì được gặp mẹ, được để chân trần chạy theo mẹ trên cát như ngày nào, dù hình ảnh thật chập chờn, mơ hồ…


Khát vọng bất tận

Chàng trai của Hòn Khói đặt chân lên đất Mỹ xa lạ khi anh 19 tuổi, trách nhiệm của Nam lúc này là lao động nuôi sống gia đình. Dù khó khăn, Nguyễn Xuân Nam vẫn quyết tâm xin theo học tiếp phổ thông tại thành phố Lincohn. Lúc đó anh chỉ mong rằng mình học làm sao nói được tiếng Anh, cố gắng tốt nghiệp trung học kiếm một việc làm ổn định để nuôi các em ăn học chứ không có mong ước gì hơn. Để có tiền ăn học, Nguyễn Xuân Nam đã phải rất nhiều công việc, làm ở hiệu bánh mỳ, làm gia sư, làm lao công trong trường với đủ thứ công việc cực nhọc trong cái lạnh giá của mùa đông Nebraska. Năm 1983, anh tốt nghiệp trung học tại trường Norris High School với số điểm xuất sắc.

Con đường học bắt đầu mở ra trước mắt Nam, anh quyết tâm thực hiện ước mơ trở thành bác sĩ nhưng đây lại chính là ngành học khó nhất ở Mỹ. Để có thể học y, bất kỳ ai cũng phải có bằng đại học. Với khả năng của mình, anh tốt nghiệp cử nhân Toán và Hóa ở Đại học Creighton, TP. Omaha, bang Nebraska một cách dễ dàng, rồi tiếp tục trải qua 4 năm bác sĩ y khoa tại trường y của đại học Creighton. Trong quá trình học y, ngoại khoa cuốn hút anh kỳ lạ và cảm thấy đây là thế giới anh có thể phát huy nhiều nhất khả năng của mình vì thế anh học tiếp 6 năm phẫu thuật tổng quát tại đây và Đại học New Mexico. Anh tiếp tục vượt qua hàng trăm bác sĩ đã tốt nghiệp ngoại tổng quát để trở thành một trong 27 học viên toàn Bắc Mỹ lúc bấy giờ đỗ vào chuyên ngành ngoại nhi tại Đại học Pittsburgh, bang Pennsylvania. Anh bảo, có một thứ anh không phải học, không phải thi chỉ cần rất chân thành mà có được đó là tình yêu của vợ anh, một bác sĩ gây mê, người cho anh một mái ấm gia đình thực sự và niềm an ủi lớn trong cuộc đời.

Từ khi bước chân vào đại học đến lúc tốt nghiệp thương trình ngoại nhi, BS Nam đã trải qua 16 năm học tập liên tục. Năm 1999, BS Nguyễn Xuân Nam được Đại học California, Irvine mời về làm Trưởng khoa Phẫu thuật Nhi, tham gia giảng dạy tại trường Đại học nổi tiếng ở miền Nam California này đồng thời là Trưởng khoa Ngoại – Bệnh viện Nhi Los Angeles. Giờ đây cái tên Nguyễn Xuân Nam đã trở nên nổi tiếng trong giới ngoại nhi bởi nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài giảng, nhiều giải thưởng và cả cách thuyết giảng hấp dẫn của anh. BS Nam cũng là một trong những người đi đầu về nội soi ổ bụng, thành công mới nhất của anh là mổ nội soi chỉ qua một lỗ thay bằng ba lỗ như trước đây. Anh mong muốn chuyển giao sớm kỹ thuật này đến tất cả các đồng nghiệp trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam.

Từ một cậu bé mồ côi trở thành một chuyên gia xuất sắc thế giới về ngoại khoa là một chặng đường gian khổ nhưng đáng khâm phục của BS Nguyễn Xuân Nam. Với chàng trai Hòn Khói phóng khoáng như biển ấy, những khát vọng về cuộc sống, về khoa học là bất tận.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Nam chuyên khoa về giải phẫu trẻ em vừa được trường đại học Harvard bình chọn là một trong những bác sĩ giỏi nhất nước Mỹ.

Sinh trưởng tại thôn Bá Hà nằm gần vịnh Hòn Khói thuộc tỉnh Khánh Hòa trong một gia đình làm nghề chài lưới, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam có một thời niên thiếu sống trong thiếu thốn, cực nhọc. Mẹ mất sớm khi ông vừa mới lên 4 tuổi, sống với cha và người mẹ kế, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam phải vừa đi bán bánh vừa đi học để giúp cha và mẹ kế nuôi dạy 8 anh chị em ruột và anh em cùng cha khác mẹ với mình.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Nam nhớ lại thời niên thiếu của ông.
“Tôi mới vừa lên 10 tuổi, lúc đó vừa đi học, sáng dậy sớm phải lo chăm sóc mấy em bé để cho bà kế mẫu tôi làm những món ăn để đi bán kiếm tiền về nuôi sống gia đình. Bà làm xong rồi tôi đi học, trước khi vào lớp độ một tiếng đồng hồ tôi đến trạm xe lam bán những thức ăn như xôi, bánh. Bán xong đến lúc đi học nhờ người láng giềng mang nồi niêu đem về nhà.”
Dù rằng cho con đi học là mong muốn của cha mẹ nhưng vì hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn nên học đến hết bậc tiểu học ông phải bỏ học để đi biển đánh cá trợ giúp gia đình. Hơn nữa cha ông bị thương trong chiến tranh, sau đó lại bị tai nạn phải nằm bệnh viện trong nhiều tháng nên miếng cơm manh áo là mối ưu tư lớn nhất của gia đình ông. Bác sĩ Nam kể lại.

“Đi làm nghề biển rất khó khăn, tương lai không có cho nên lúc nào bố tôi cũng cố gắng để cho con đi học. Vào lúc tôi học hết lớp 5 thì Bố tôi bị bắn trọng thương nằm trong nhà thương một thời gian rất là lâu. Lúc đó tôi mới vừa lên 10 tuổi. Bố tôi mới vừa xuất viện lại bị tai nạn một lần thứ hai nữa phải nằm lại nhà thương hơi lâu.
Lúc đó gia đình rất là khổ sở nên tôi nói với Bố tôi là ông muốn tôi đi học nhưng trường hợp này tôi không thể đi học được cho nên lúc đó tôi bỏ học đi làm nghề biển sinh sống và giúp gia đình. Không bao nhiêu lâu nữa thì Việt Nam mất nước. Bố tôi là thôn trưởng làng Bá Hạ nên về sau khi Cộng Sản về thì ông cũng bị bắt giam giữ và đi cải tạo gần cả năm trời nên vấn đề học hành của tôi xa vời quá. Tôi vẫn tiếp tục đi làm nghề biển để nuôi sống bản thân và gia đình.
”
Đến tháng 4 năm 1978, lúc 19 tuổi, bác sĩ Nam vượt biên sang đến trại tị nạn Palawan, Philippines, sau đó được chuyển sang trại tị nạn tại Manila và khai tuổi nhỏ lại để có thể tiếp tục học Trung học tại Mỹ sau này.
Tháng 11 năm 1978, bác sĩ Nam được bảo trợ định cư tại thành phố Lincohn, bang Nebraska. Tại đây bác sĩ Nam theo học trung học tại trường Norris. Đối với một học sinh chỉ biết được chút ít tiếng Anh trong thời gian ở trại tị nạn Philippines thì học trung học tại Mỹ là một điều thật khó khăn nếu không có quyết tâm thì không thể nào vượt qua nổi. Bác sĩ Nam cho biết.
“Hai năm đầu tiên rất là khó, nhiều khi tôi muốn bỏ học đi làm để giúp gia đình nhưng nghĩ lại thấy mình nghỉ học sớm quá thì về sau thấy ân hận. Do đó tôi vừa đi học, vừa đi làm để kiếm tiền thêm nuôi sống gia đình. Sau đó thì bắt đầu thông thạo Anh ngữ và phần nào có thể nói cho họ hiểu được. Lúc đầu tiên cũng khó khăn nhưng sau rồi tiến bộ rất là đẹp bởi vì nó cũng gợi thêm tia hy vọng của mình.”
Theo lời kể lại của Cha và những người láng giềng thân thuộc thì Mẹ và chị của bác sĩ Nam mất sớm vì những căn bệnh rất tầm thường nhưng lúc đó gia đình không có khả năng và phương tiện để chữa trị nên bác sĩ Nam có ước nguyện trở thành bác sĩ để giúp người. Do đó trong thời gian học trung học, ông đã tiếp xúc với các cố vấn của nhà trường để nhờ hướng dẫn làm thế nào để trở thành bác sĩ.
“Tôi cũng lên nói với những counselor của trường trung học là hồi xưa nhà tôi có nhiều người chết bởi vì không được may mắn, không có y tế, không có thuốc men để cứu sống họ được. Bởi vậy tôi có ước nguyện là nếu có thể đi học ngành y ra bác sĩ để trong tương lai có thể về lại giúp những người trong xóm của tôi. Do đó tôi được hướng dẫn nên làm những việc gì đó. Sau đó tôi xin vào học trường đại học rồi từ đó xin đơn vào trường y khoa. Dần dần mình cũng cố gắng, nỗ lực trong học hành, không đam mê chuyện này chuyện kia. Cũng may mắn tôi mới được như ngày hôm nay.”
Do đó sau khi tốt nghiệp trung học, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam, sau hai năm học chuyển tiếp tại trường đại học Nebraska thuộc thành phố Linconh đã ghi danh học môn toán và hóa trường đại học Creighton, thành phố Omaha, bang Nebraska.
Tốt nghiệp cử nhân toán học và hóa học năm 1987, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam là một trong 105 sinh viên được nhận vào ngành y trường Y khoa thuộc đại học Creighton, Nebraska trong hàng ngàn sinh viên nộp đơn.
Sau khi tốt nghiệp y khoa bác sĩ vào năm 1991, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam học thêm về phẫu thuật tổng quát và phẫu thuật nội soi cũng tại trường đại học Creighton từ năm 1991 đến 1994.
Trong thời gian từ 1994 đến 1997, bác sĩ Nguyễn Xuân Nam tiếp tục trau dồi về phẫu thuật tổng quát tại trường đại học New Mexico tại Albuquerque, bang New Mexico. Tiếp đến trong hai năm 1997-1999, bác sĩ Nam theo học chương trình chuyên ngành phẫu thuật nội soi trẻ em tại bệnh viện trẻ em thuộc trường đại học Pittsburgh, bang Pensylvania.

Bác sĩ Nam giải thích về nguyên nhân khiến ông đi theo chuyên ngành giải phẫu trẻ em.
“Hoàn cảnh của tôi chứng kiến chị và em qua đời. Tôi chỉ ao ước có được dịp nào giúp trẻ em lớn lên. Nghĩ lại tôi thích chữa bệnh những đứa trẻ tại vì những chứng bị của nó không phải là những bệnh tự nó gây nên mà là những bệnh bẩm sinh. Hơn nữa tôi rất ưa thích những đứa bé. Tôi muốn đi học thẩm mỹ viện để chữa cho những em bị sứt môi, bị sứt hàm ếch. Nhưng nghĩ cho cùng lại thì mình phải làm thẩm mỹ viện mới đi qua những khía cạnh đó được. Còn những đòi hỏi để điều trị tổng quát những đứa bé không phải qua những việc đó nên tôi mới đeo đuổi theo ngành này.”

Bác sĩ Nguyễn Xuân Nam đã giữ nhiều chức vụ quan trọng tại trung tâm y khoa trường đại học Irvine, California như là trưởng khoa giải phẫu trẻ em, đồng Chủ tịch Khoa Ung bứơu Nhi, Giám đốc Khoa phẫu hạn chế can thiệp… Hiện nay ông làm việc tại bệnh viện Nhi đồng Los Angeles và một số bệnh viện khác thuộc miền Nam California. Ông cũng có nhiều bài viết có giá trị được đang trên các tạp chí về y học Hoa Kỳ và được các chuyên viên y tế trường Y khoa thuộc Đại học Harvard bình chọn là một trong những bác sĩ giỏi nhất nước Mỹ.

Được hỏi nguyên nhân nào khiến ông thành công, bác sĩ Nam cho biết:

“Nguyên bản thân tôi tôi biết, tôi không giỏi, không thông minh nhưng có sự cố gắng rất nhiệt tình. Tôi có ngày hôm nay vì tôi rất chăm chú, rất cố gắng. Nếu ngày hôm nay tiếng nói tôi có thể giúp được, có thể kích động các trẻ em nên người. Tôi nghĩ là giới trẻ, một là phải nên cố gắng. Cho dù có lúc mình thấy bất lực và không có hy vọng, mình vẫn cố gắng để vượt qua. Tại vì mình không cố gắng thì về sau mình không biết khả năng của mình đến đâu. Điều quan trọng nhất là mình nên nghe lời khuyên nhủ của những người lớn, những người trải qua nhiều kinh nghiệm thì những lời dạy dỗ đó lúc nào cũng mang sự tốt đẹp.”

Bác sĩ Nguyễn Xuân Nam nói thêm là trong thời gian học y khoa ông phải làm việc bán thời gian mỗi tuần 20 tiếng đồng hồ để có tiền trang trải chi phí ăn học cũng như giúp đỡ gia đình ở Việt Nam. Tuy nhiên điều quan trọng giúp ông thành công là Cha ông không đòi hỏi ông phải gởi tiền về nhiều, mà chỉ khuyến khích ông cố gắng học hành để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted 7 Apr 2022

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Kỳ 10

Nơi quày gởi hành lý chuyến bay từ Amsterdam ra Las Palmas de Gran Canaria của phi trường Schiphol hôm ấy khách du lịch đông như kiến cỏ, người kéo, người đẩy đồ đạc lĩnh kĩnh, có một nhóm người đem theo cả ván buồm trượt nước, tất cả trật tự đứng chờ tới lượt gởi hành lý. Vai tôi mang ba lô, tay đẩy va li nhích lên từng chút trong hàng rào nheo nhóc người, tới khi gởi được cái va li thì mất hết ba giờ đồng hồ. Lấy vé máy bay xong rời khỏi quày ra đứng chỗ trống xem lại vé, coi lại giờ bay và thấy còn mười lăm phút phải lên máy bay, bèn xốc lại

ba lô trên vai rồi đi nhanh ra cổng. Khi lên được máy bay thì mệt muốn ná thở luôn.

Hết hè rồi và trong thời đại dịch cô-vít mà du khách vẫn còn đông nghẹt. Sau bốn giờ đồng hồ trên trời, máy bay cũng đáp xuống hải đảo. Lúc máy bay đáp đã nghe anh phi công thông báo ngoài trời mưa và khí trời mười sáu độ C. Khi bước ra ngoài đi tới nơi chờ lấy hành lý thì đã cảm nhận không khí lành lạnh, dù sao tôi cũng vẫn thích cái ánh nắng hanh hanh, một cái lành lạnh nhẹ nhàng và một bầu trời đẹp đẻ của mùa thu trên hải đảo Gran Canaria này hơn. Đương suy nghĩ vu vơ thì đã thấy va li chạy ra trên đường băng, tôi cúi xuống nhấc va li lên, để xuống rồi kéo tay cầm lên và lôi nó đi. Vừa ra cửa cách li thì đã thấy cô tài xế tắc xi cầm tấm bảng trước ngực có viết tên tôi đứng chờ bên ngoài đám người nheo nhóc, tôi đi tới chào cô ta, giới thiệu tên mình và theo cô ra xe. Trên đường về khách sạn mưa lâm râm làm đường xá ướt mem, mới hơn tám giờ mà bầu trời tối thui nên trông ánh đèn đường nhoè nhoẹt. Tới khách sạn, sau khi làm thủ tục nhận phòng, cô nhân viên đưa tôi thẻ khoá và nói:

– Vì dịch bịnh mà nhà hàng tạm đóng cửa, phần ăn tối của ông đã dọn được sẵn trên phòng.

Cảm ơn cô tiếp viên xong, tôi day qua cô tài xế tắc xi, cô hẹn tám giờ sáng ngày mai tới rước và đưa tôi xuống tàu. Tôi chào cô tài xế xong day lưng, kéo va li tới bấm thang máy lên phòng. Vô phòng tôi thấy hai dĩa thức ăn để trên bàn, thường thì những món búp phê trong khách sạn, tuy đồ ăn không được ngon lắm, nhưng kẹt phải ăn thì cũng chọn tạm vài thứ ăn được. Nhưng hôm nay khách sạn dọn cho, mặc dù dĩa thức ăn cũng trang trí xanh xanh, đỏ đỏ và dao, đĩa gói giấy gọn gàng trông cũng bắt mắt nhưng hổng biết là cái món gì mà nguội ngắt và hổng nghe mùi vị gì hết, chỉ nhìn thôi là thấy không thể nào nuốt vô được. Tôi để va li vô góc phòng và để ba lô xuống bên cạnh, mở ba lô ra lấy kem, bàn chải đánh răng và chiếc khăn, thường thì khăn trong khách sạn tôi không xài, mặt dù nó rất sạch, thơm và trắng nhưng thấy ghê ghê sao đó. Đánh răng rửa mặt xong tôi nhìn vô gương coi lại mặt mình một cái rồi đi ra ngoài.

Tôi ra khỏi khách sạn, ngoài trời vẫn còn mưa và cảm thấy lành lạnh. Đường phố ướt mem và vắng bóng người. Tôi loay hoay tìm đường nhưng chưa biết đi hướng nào. Chợt thấy trong một quán bar còn người, nhưng tôi thì không thích vô bar, bèn đi thẳng ra bãi cát và ngồi xuống chiếc ghế trống trong mái hiên của một quán ăn day mặt ra bãi và kêu một dĩa mực, cá và khoai tây chiên dòn ngồi lai rai với bia lạnh. Nhìn ra bãi biển vắng tanh, tôi nghĩ tới đám người trên máy bay, trong phi trường mới hồi sớm còn thấy lao xao nhưng khi đổ xuống hải đảo thì tản mác mất hết trơn dấu vết. Nhìn những con sóng trắng lùa nhẹ lên bãi cát mà cảm thấy trống vắng làm sao. Cô vít 19 làm cho cả thế giới thay đổi hết, thế sự đổi thay, con người thay đổi cách cư xử từ thái độ tới cách sống.

Sáng sớm hôm sau xuống tàu và tàu khởi hành vô đất liền ngay chiều hôm đó, trên đường đi hứng một trận bão và rồi vòng qua Ma Rốc, hôm nay trở lại cảng Las Palmas mất hết bốn tuần lễ.

Sau khi dọn dẹp xong buổi ăn chiều. Thuyền trưởng đưa đơn đặt hàng cho tôi và dặn:

– Bếp nhớ đặt thêm thực phẩm cho Giáng Sinh và tết Tây luôn nhé.

Tôi thốt lên không phải vì ngạc nhiên mà là vì chợt nhớ:

– Oh, hết một năm nữa rồi!

Thuyền trưởng cười, nói:

– Thời gian.

Ừ, mới đó mà Thu qua, Đông lại và mùa Giáng Sinh tới nữa rồi. Năm nào cũng vậy, đầu tháng mười hai thì tôi đã nhận tín hiệu Giáng Sinh qua đơn đặt hàng. Thời gian qua mau thật, nhìn lại thì cũng đã hết một đời lênh đênh trên sóng nước. Cả đời tôi làm tiệc Giáng Sinh trên tàu nhiều hơn ở nhà, nghĩ lại hết một đời mà như là một giấc mơ. Tôi cầm xắp đơn đặt hàng đi lên phòng lát nữa tôi sẽ đưa cho Zada. Lên phòng tôi để xắp đơn đặt hàng lên bàn và vô phòng tắm, tắm một cái. Trong lúc dội nước có nghe điện thoại reo, tôi đoán Zada một thủy thủ người In Đô gọi tôi. Tắm xong tôi gọi lại Zada, đúng như tôi đoán, vừa bắt máy chưa kịp a-lô thì liền nghe nó hỏi:

– Chú có lên bờ không?

– Có.

– Con đi với chú được không?

– Dĩ nhiên là được.

– Vậy con chờ chú ngoài cầu thang nhé.

– Ok.
Tôi biết Zada hơn ba năm về trước, thằng nhỏ mập thù lù và ăn, uống gấp đôi người bình thường. Tôi sống chung với thủy thủ người In Đô từ đời ông cho tới đời cháu. Cho nên tôi biết ít nhiều về cách sống của họ. Người In Đô khác hơn Hoà Lan cái là: người Hoà Lan họ cũng bất đồng với nhau nhưng không biểu lộ khó chịu, họ hoá giải êm thắm, sau đó họ đoàn kết nhau hơn. Nhưng với người nước ngoài họ lộ mặt làm dữ có khi cũng làm khó dễ người ta. Thường thì một thủy thủ In Đô mới xuống hay bị thủy thủ cũ “đì” hoặc người này trội hơn người kia thì tỏ thái độ khinh khi người kém cỏi. Zada cũng học xong đại học, nhưng vì nó mập quá mới bị đồng hương ăn hiếp, hay chọc ghẹo về cái thân thể ục ịch cả trăm ký và chuyện ăn uống của nó, cho nên giờ ăn nó bẽn lẽn bưng cơm ra ngoài boong ăn và ngồi mình ên trong giờ nghỉ giải lao. Lúc đầu tôi không biết, trong một bữa ăn sáng tôi cho thủy thủ ăn mì gói, nó lấy mì của nó mua từ In Đô qua đưa tôi một gói, tôi tưởng nó thích ăn mì mùi vị của In Đô, nên tôi chỉ nấu gói của nó xong đưa cho nó, nó không nói gì, chỉ hỏi xin cơm nguội để bỏ vô mì ăn. Lần sau mỗi khi ăn mì nó đưa tôi hai gói. Thấy cử chỉ nó cứ rụt rè, không dám hỏi chuyện, tôi tò mò hỏi nó:

– Bộ con ăn mì trên tàu hổng được sao mà con mua mì đem theo vậy?

Nó cúi mặt không nhìn tôi và nói:

– Con ăn nhiều quá.

– Nhiều là bao nhiêu?

– Sáng con ăn hai gói mới no, nên đầu bếp trước nói phần ăn của mỗi người một gói, ai muốn ăn thêm thì tự mua mà ăn.

– Chú biết rồi, với chú thì con muốn ăn bao nhiêu cũng được, miễn sao no bụng là ô kê.

– Không sao hả chú?

– Không không, hổng có sao gì hết.  

Từ đó trở đi sáng nào cho ăn cơm chiên thì tôi làm thêm cơm  cho nó, còn mì ăn liền thì nấu cho nó hai gói và hai cái trứng, khi chiên khi luộc tùy thích. Cũng từ đó gương mặt nó dạn dĩ và thân thiện với tôi hơn. Tôi có lên bờ chơi nó cũng xin đi theo. Có lần ngồi uống bia nó nói:

– Hôm mới xuống con nghe nói Sesung lấy đồ ăn mà không hỏi chú, chú đánh nó chảy máu miệng vì vậy mà con không dám hỏi.

Chuyện này tôi cũng nghe thủy thủ trong công ty đồn dãi lâu rồi. Có một dòng họ làm cho công ty từ đời ông tới đời cháu, ỷ mình là ma cũ nên rất hống hách hay bắt nạt đồng hương và ăn hiếp những người mới xuống. Tôi cười:

– Chú có nghe rồi, không hiểu sao Richard đánh Sesung mà bây giờ thành ra chú đánh.

– Oh. Chú cũng biết hả?

– Chú sống với dân In Đô từ đời ông cho tới đời cháu nên chú biết về cái văn hoá lộn xộn của In Đô cũng khá nhiều.

– Nhưng con nghe nói bên Tây phương trong lúc làm việc không được đánh nhau mà chú.

– Có, đánh nhau là bị đuổi việc đó, nhưng chỉ dùng cho người của họ thôi, người khác tới làm mà đánh nhau thì họ làm lơ. Chuyện trong đám đồng hương thủy thủ của con cũng hao hao giống chuyện người Việt ở hải ngoại của chú thôi. Con quên đi đừng để ý làm gì, lo học hỏi và làm việc cho tốt thì không ai ăn hiếp con được hết.

Zada đưa ngón tay cái ra gặt gặt, nói:

– Chú tốt, rất tốt.

– Người vầy người khác, con sống lâu như chú thì con sẽ thấy có nhiều người tốt hơn chú nhiều.

Tôi không muốn nghe chuyện nó nói về mình nữa nên đổi qua chuyện khác:

– Nhưng mà nè, con cẩn thận chuyện ăn uống. Trước đây không lâu, chú biết có một cô gái người Hoà Lan hồi còn là thực tập sinh cũng mập như con vậy, sau thời gian thực tập cô ta ra trường và làm việc cho công ty lên tới chức thuyền phó thì cô ta bị mập quá, nhứt là những ngày gió to, sóng lớn cô ta lê tấm thân trên một trăm ký, đi ngoài boong hổng muốn nỗi. Mới năm trước vì mập quá cô ta đi tàu không được nữa, ở nhà luôn rồi.

– À, con có nghe nói về bà ta.

– Ừa, bình thường cô ta ăn rất nhiều, nhưng ngoài giờ ăn, làm việc một lát trở vô bếp thấy cái gì ăn được là bốc ăn. Bánh mì dâm bông, phó mát chú để trong tủ lạnh, cho thủy thủ đoàn trực ca đêm, sau phiên trực đêm mình ên cô ta xuống trước đớp sạch hết, mấy người xuống sau hổng có ăn, phàn nàn với chú hoài. Nhưng bỏ ra bao nhiêu cô ta ăn hết bấy nhiêu chú biết làm sao. 

Zada cười ha hả. Tôi cũng cười nhưng đổi giọng nghiên túc, chỉ tay vô cái thân hình đồ sộ của nó mà cảnh cáo:

– Con lo cho cái thân cả trăm ký lô của con đi, ở đó mà cười người ta. 

Những năm sau này, nhứt là từ khi đại dịch Vũ Hán xuất hiện, tháng mười hai là khoảng thời gian thủy thủ hay chú trọng tới chuyện ăn uống tiệc tùng, nhiều hơn là chuyện Thánh Kinh. Nhưng thức ăn càng ngày hãng tàu càng cắt giảm, đã vậy mà còn mua đồ rẻ tiền, chất lượng kém cỏi nên tôi không còn hứng thú lo chọn thức ăn ngon nấu trong những ngày cuối năm. Vì vậy chuyện đặt hàng hay lập menu cho bữa tiệc Giáng Sinh tôi làm cho xong chớ cũng hổng quan tâm cho lắm.

Thành phố Las Palmas, có nhiều di tích lịch sử, kiến ​​trúc thời thuộc địa với những toà nhà và một nhà thờ kiên cố từ hồi thế kỷ mười lăm, mười sáu. Cảnh đẹp của hải đảo luôn lúc nào cũng mới mẻ và thu hút tôi. Tôi thay áo quần xong đi xuống tới gần đầu cầu thang thấy Zada đứng nói chuyện với Sesung. Thấy tôi không mang khẩu trang Sesung nhắc:

– Chú không mang khẩu trang.

Oh! Tôi chợt nhớ ra, chẳng những tôi quên đeo khẩu trang mà còn quên chiếc ba lô nữa. Trong ba lô luôn lúc nào cũng có nguyên hộp khẩu trang và những đồ dùng đi chơi cần thiết như giấy lau miệng, dao nhỏ, đồ khui, pin dự phòng và cây selfie mà Việt Nam gọi là gậy tự sướng. Tôi trở vô phòng lấy ba lô mở ra kiểm tra lại đồ đạc, thấy thiếu hộp khẩu trang. Tôi mở tủ lấy hộp khẩu trang và rút ra một cái đeo lên bít miệng nhưng chừa hai lỗ mũi ra cho dễ thở, rồi nhét hộp khẩu trang vô ba lô, quảy ba lô lên vai và bước ra ngoài.


Tôi với Zada đi trên con đường dành cho khách bộ hành bên một con lộ đẫn về trung tâm. Khí trời hải đảo luôn hiền hoà và mát mẻ. Zada hỏi tôi:

– Có khi con nghe người thì gọi đảo này là Las Palmas, người thì gọi là Gran Canaria và trên bản đồ ghi Las Palmas de Gran Canaria, có gì khác nhau hả chú?

– Las Palmas là tên hành chính của tỉnh Las Palmas và thành phố chính của Las Palmas là Las Palmas de Gran Canaria.

– Con cũng nghe nói khách du lịch tới đây nhiều lắm. 

– Đúng rồi, nhờ sự đa dạng và cảnh quang hấp dẫn du khách, nhứt là có những eo vịnh nhỏ và ở phía nam của hòn đảo có một bãi biển bốn mùa yên bình tương phản với các khu thương mại sầm uất và con đường dọc theo bờ biển dài trên hai trăm cây số.

– Ờ, con có đọc qua báo du lịch, Las Palmas là một trong những thành phố lớn và trẻ trung nhứt ở Tây Ban Nha và cảnh quang rất sống động về đêm.

Tôi chỉ tay ra bến cảng:

– Phải rồi, cảng Puerto de la Luz, chổ tàu mình đậu kia.

Rồi tôi chỉ tay lên dãy phố và chỉ tay xuống bãi cát trước mặt nói tiếp:

– Với một số nhà hàng sang nhất và bãi biển Alcaravaneras là hai nơi hấp dẫn cho du khách. Nhưng đó là thời gian trước đại dịch, du khách khắp thế giới thường đến thăm Gran Canria vào những kỳ nghỉ, đây là nơi du lịch quốc tế mà, cuộc sống về đêm rất sôi động, ồn ào. Quán bar, hộp đêm mở cửa đến hai giờ khuya và các vũ trường câu lạc bộ thường mở tới sáu giờ sáng.

Tôi và Zada đi vô trung tâm, trên đường phố, khách du lich cũng nhiều nhưng không đông đúc xôn xao như trước thời đại dịch. Zada nhìn quanh và hỏi:

– Bây giờ thay đổi hết rồi chú hả?

– Cảnh vật không thay đổi, chỉ con người thay đổi, cả thế giới đâu đâu cũng thay đổi làm cảnh quang trống vắng buồn buồn.

Thấy cảnh đẹp chúng tôi đứng lại chụp hình. Chụp xong mấy bôi. Zada hỏi:

– Mình đi đâu chú?

– Con muốn đi đâu?

– Con hổng biết mới hỏi chú, chú biết chỗ nào vui thì mình đi. – Theo quảng cáo du lịch thì đảo Gran Canaria là một nơi rất thích hợp cho các môn thể thao dưới nước như lặn biển, lướt sóng, chèo thuyền và lướt ván. Chú thấy họ quảng cáo còn thiếu.

– Thiếu gì nữa chú?

– Theo chú đi bộ nhìn cảnh đẹp cũng thích hợp lắm.

– Yes, con thấy cảnh đây rất đẹp. Đẹp và lạ hơn Âu Châu vì có hàng phượng, cây thốt nốt với những bụi xương rồng cao ngang mái nhà, bự tổ bố.

– Và còn có một lịch sử lừng danh.

–  Là gì chú?

– Cung điện thống đốc của hòn đảo xa xưa đã được Christopher Columbus sử dụng làm nhà trong thời gian ông ở đây.

Chúng tôi đi vào con đường trong trung tâm. Dạo này tôi cảm thấy như cuộc sống trì trệ, con người rời rạc, sự sợ sệt, lo âu hằn trên nét mặt mỗi người. Nhưng có điều là nhiều người đi đường đeo khẩu trang, gặp người đi gần thì né, nhưng vô quán, nhà hàng ngồi chung nhau họ không đeo khẩu trang và nói chuyện lớn tiếng rất ồn ào. Chúng tôi đi qua con đường có hàng phượng, mùa này phượng đã già rồi nên không còn đỏ nữa. Tôi day ngang nói với Zada:

– Cảnh hải đảo thì đẹp, mình không có thời gian đi hết đâu, con muốn vô quán ngồi hay mua bia ra bãi biển uống.

– Chú thấy sao?

– Vô quán thì sợ mắc dịch, ra bãi thì thoải mái hơn.

– Vậy thì ra bãi cho thoải mái.

– Nếu ra bãi thì ghé vô siêu thị một chút.

– Chú mua gì hả?

– Thì mua mới vô chớ.

Tôi kéo khẩu trang lên cho kín hai lỗ mũi. Zada thấy vậy cũng làm theo. Chúng tôi quay trở lại con đường và vô một siêu thị gần đó. Sau khi mua một xâu tám lon bia lạnh, mấy lọn xúc xích của Tây Ban Nha và một hộp ô-liu. Tôi với Zada ra quày tính tiền xong rồi đi thẳng ra bãi biển, phố biển đã lên đèn. 

Chúng tôi chọn ngồi trên cao của những bậc thang trong một cái vịnh vòng cung, có hàng cây thốt nốt, ngồi đây thấy được những chiếc tàu đậu trên bến cảng và thấy được đèn những con tàu từ ngoài khơi. Tôi mở bọc lấy bia, xúc xích và mở ba lô lấy ra con dao, lật ba lô lại làm bàn kê cắt xúc xích. Zada khui hộp ô-liu và lấy bia ra khui, đưa bia cho tôi rồi nói:

– Thủy thủ mà giống như du khách.

– Thì coi như mình là du khách đi.

Chúng tôi đưa bia lên cụng, uống một ngụm bia, ăn xúc xích và trái ô-liu. Uống chưa hết lon bia, chợt có một gã đàn ông ốm nhôm, cao nhồng, da đen từ dưới con đường bước lên mấy bậc thang rồi dừng lại giữ khoảng cách trước mặt chúng tôi hỏi:

– Các ông cho xin tiền mua đồ ăn, tôi đói lắm.

Zada xua tay định đuổi gã đi. Tôi liền ngăn lại và lấy lon bia chìa ra đưa cho gã, cười và nói:

– Ông bạn uống bia cho đỡ đói.

Gã xua tay:

– Không không, tui đạo Hồi, hổng được uống bia, cho tui tiền mua đồ ăn thôi.

Tôi móc bóp mở ra lấy mười euro đưa cho gã. Gã không dám lại gần, cúi người chồm tới, tay cầm chiếc nón chìa ra trước mặt tôi. Thấy vậy tôi mới đứng lên bước xuống tới gần gã, chợt thấy khẩu trang của gã đeo đã cũ và bị thâm kim rồi, tôi day lại lấy mớ đồ trên ba lô để một bên và kéo mở ba lô lấy hộp khẩu trang rút ra mấy chiếc và kẹp chung với mười euro bước xuống bỏ vô nón cho gã và cười nói:

– Hai năm qua trên đường đi chưa ai dám tới gần hỏi chuyện tôi hết. Bạn là người đầu tiên dám tới hỏi tôi, cảm ơn bạn nhé.

Gã cúi rạp người nói một hơi: 

– Cám ơn, cám ơn…

Khi gã thanh niên đi rồi. Tôi nhét đồ đạc vô ba lô và bỏ bia và đồ ăn vô bọc, xốc ba lô lên vai. Zada ngạc nhiên hỏi:

– Mình đi hả chú.

Theo kinh nghiệm giang hồ, tới những nơi có nhiều ăn xin, sau khi cho tiền một người thì một lát sẽ có nhiều người khác kéo nhau tới xin nữa, mà cái bóp tiền của tôi thì nhỏ quá nên tôi phải di chuyển đi chỗ khác. Tôi không muốn nói ý nghĩ của mình cho Zada nghe, nên nói khác đi: 

– Ừa. Mình đi dọc theo bãi biển vừa uống bia vừa ngắm trăng cũng thú vị.

Thiệt vậy, trăng sáng quá làm cho tôi suy nghĩ vu vơ. Mặt trăng có tự bao giờ, nhưng lúc cao, lúc thấp, nó không gây chiến tranh, hận thù. Nó không chinh phục và tấn công ai và cũng hổng cố gắng để đè bẹp người khác. Trăng không lo lắng như con người, nó vẫn ở nguyên một chỗ, luôn tuân theo quy trình của nó. Về tư cách thì nó ảnh hưởng rất lớn, mặt trăng trung thành với quy luật tự nhiên nên sức mạnh của nó có thể soi sáng cả một đại dương từ bờ này sang bờ khác một cách mát mẻ và nhẹ nhàng.

Tôi im lặng suy nghĩ về ánh trăng, Zada nghĩ gì hổng biết mà cũng nín thinh. Chúng tôi cứ im lặng mà đi tới bìa nước, sóng nhẹ trườn lên bãi cát thoáng tiếng rì rào nho nhỏ. Đứng dưới ánh trăng nhìn lên phố xá sáng ngời. Tưởng nơi đây vắng vẻ, không bóng người, thiếu ánh sáng và yên bình, bổng chợt thêm một người da đen lại xuất hiện xin tiền. Không do dự, tôi liền mở ba lô lấy mấy khẩu trang và moi bóp lấy mười euro đưa cho gã. Gã nhận xong rồi cám ơn và quay lưng bước đi. Có lẽ Zada thấy trong bóp tôi toàn là tiền giấy mười euro, nên nó nói:

– Hình như con thấy chú đã chuẩn bị tiền trước để cho mấy người ăn xin.

– Chuẩn bị tiền nhỏ xài cho tiện.

Zada ra chiều suy nghĩ, thấy vậy tôi đưa bia lên cụng một cái ngước cổ nốc hết phần bia trong lon rồi nói:

– Thiệt ra thì những người da đen này, họ đi chui từ đất liền Phi Châu, ra đây họ sống ngoài xã hội nên họ mới đi xin ăn.

Zada chợt hiểu ra:

– Ờ đúng rồi, là Stowaway.

– Ừa, biết đâu tàu của mình cũng chở họ ra đây.

– Vậy chút nữa có người tới xin chú nữa, hổng lẽ chú cho hoài.

– Vậy mình tìm một quán nào đó ngồi thì hổng có người ăn xin nào tới xin nữa.

Thật ra đi mình ên tôi, tôi có thể cho hết bóp tiền cũng hổng sao. Với tôi thì có sự chia sẻ mới thấy được lòng mình còn có yêu thương. Ai cũng vậy thôi, làm cái gì cũng phản ảnh cho bản thân, không có gì khác hơn là vì cái tôi của chính mình chớ chẳng cho ai và cũng chẳng hay ho gì ráo. Cũng có lợi cho bản thân là khi mình không còn bị ảnh hưởng những sự chê, khen của người khác, thì mình sẽ không còn là nạn nhân của những sự phiền hà không cần thiết. Nhưng đối với Zada, làm sao nó hiểu được cái nguyên lý này, cái gì nó cũng thắc mắc, tôi thì hổng muốn giải thích lôi thôi, việc mình làm có tốt cách mấy nói ra thì cũng thấy kỳ cục. Định lang thang ngoài đường, nhưng tình trạng này thì đành phải chui vô quán thôi.Tôi chỉ tay lên cái quán vắng người, nói:

– Mình lên đó ngồi thì hết ai quấy rầy.

Chúng tôi lên quán ngồi bên chiếc bàn trống, gọi một dĩa tôm xào tỏi và hai ly bia. Trong lúc nhậu. Zada nhìn tôi một hồi nó nói:

– Đi với chú thú vị thiệt đó.

– Gì nữa vậy?

Nó nhìn thẳng tôi, ngẫm nghĩ hồi sao nó nói:

– Nói sao đây? Con thấy chú tốt bụng và sống rất tự nhiên, vô tư với người lạ chú cũng tỏ ra thân thiện.

– Oh! Vậy sao? Chú nghĩ trong xã hội thiếu gì người còn tốt hơn chú nữa, nếu không thì mấy người ăn xin họ bị chết đói hết rồi.

Thấy thằng nhỏ cứ nhìn tôi và thắc mắc. Tôi muốn xoay qua chuyện khác nhưng chưa biết chuyện gì thì chợt nhớ ra, tôi nói:

– Một lát về tàu chú đưa đơn đặt hàng cho con, con tự đặt nhé.

– Nhưng chú phải coi lại:

– Ô kê, ngày mai làm xong con đưa lại cho chú được không?

– Dạ được.

Ngẫm nghĩ một chút nó hỏi:

– Có đặt cho cho Giáng Sinh không chú?

– Ừa con đặt đi, tháng mười hai rồi. 

Những ngày này thủy thủ trên tàu ai cũng háo hức tiệc Giáng Sinh nên nghe tôi đặt hàng thì hay nhắc nhở kêu tôi đặt những món ngon đặc biệt. Là một đầu bếp lâu năm, bây giờ tôi mới nhận ra. Giáng Sinh ngày xa xưa hay ngày nay, thấy bên ngoài có vẻ xôn xao nhưng lòng người ảm đạm hay bình an thì tự người biết. Mấy năm về trước, giữa tháng mười hai dương lịch, tôi dành một khoảng thời gian ngồi trước laptop, lướt mạng tìm chọn thiệp và moi óc nghĩ ra những câu chữ văn vẻ, hoàn hảo để viết chúc mừng lên facebook hay gởi thiệp chúc bạn bè qua tin nhắn, cứ lăn xăn lộn xộn làm mất rất nhiều thời gian, những thứ đó bây giờ đối với tôi không còn giá trị tinh thần nữa. Mãi cho tới hôm nay, đầu bạc trắng và sói sọi rồi, tôi mới phát hiện ra Giáng Sinh không phải là một thời điểm cũng hổng phải là một mùa, mà là một trạng thái về mặt tinh thần và không bao giờ thấy quá sớm hay quá trễ để hòa vào tinh thần của Giáng Sinh. Tình yêu nhân loại, quí trọng thiên nhiên, yêu chuộng hòa bình, nhân đức trong lòng đó mới thiệt là tinh thần của Giáng Sinh. Vậy tại sao chúng ta phải đợi đến ngày Giáng Sinh mới tặng quà và chúc cho nhau những lời yêu thương tốt lành nhứt.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted 9 Feb 2022

Post by Sơn râu 16 Aug 2023

Kỳ 9

Thủy thủ về nhà: phần 2 

Hơn mười giờ sáng rồi mà mặt trời còn ẩn sau lớp mây trắng đục, tỏa ánh sáng yếu ớt làm quang cảnh mù mờ, có chút sương pha nhưng trời êm ả lắm. Hồ nước đã được người ta cào rác rến và đám bông súng mới hôm kia còn bông vàng, bông trắng từng chòm và lá màu xanh nâu chiếc nào chiếc nấy lớn bằng cái mâm kề nhau phủ gần bít mặt hồ, tất cả đã được dọn sạch sẽ. Mặt nước phẳng lặng như tờ, nước hồ đã lóng trong màu vàng nhợt đủ cho cây liễu xum xuê cành lá xanh xanh bên hồ soi tàng bóng nước. 

Tôi với Trúc Thanh dẫn Kuma đi qua cây cầu bắc ngang hai bờ hồ. Thanh nói:

– Cảnh thanh bình quá.

Nói tới đây chợt bị thu hút bởi đàn vịt đang bơi qua, chúng tôi đứng lại vịn tay lên lan can cầu nhìn xuống. Không nhớ là tháng mấy, chỉ nhớ hôm đó là mùa xuân, vẫn là những con vịt cha và những con vịt mẹ với những con vịt con nhỏ xíu này bơi lội trên mặt hồ. Đương thong thả nhìn bầy vịt bơi, chợt giựt mình thoát khỏi sự trầm ngâm khi những con vịt đập cánh xuống làm nước văng tung toé, ngó theo bầy vịt bơi ào ào làm quấy động mặt nước êm ả giữa dạ cầu. Chợt thấy một chiếc xe chạy điện dành cho người tàn tật đã thắng đứng lại trước lan can giữa cầu từ lúc nào. Người phụ nữ ngồi trên chiếc xe, cầm mấy lát bánh mì trắng, tay xé bánh ra miếng nho nhỏ và liệng từng miếng xuống nước, bầy vịt nhào tới giành nhau nuốt chửng những miếng bánh mì đã ướt. Nhìn bầy vịt giành ăn, tôi mới nhớ ra, hẳn nhiên có nhiều điều đã đổi thay từ mùa xuân cho tới mùa thu. Mấy đứa con của cha, mẹ vịt giờ đã lớn khôn, chúng không còn ngoan ngoãn nữa, chúng có đôi cánh khoẻ mạnh nhấc được mình lên khỏi nước và đôi chưn mạnh mẽ đạp chạy trên mặt nước như bay. Tôi khoa tay một vòng và nói:

– Ừa, mình sống một nơi rất yên bình, con người và muôn thú cũng được bình an. Mama thấy không, bầy vịt con mới mấy tháng trước còn nhỏ xíu, nay đã biết tự kiếm ăn và biết giành ăn, không lâu nữa chúng sẽ trở thành cha mẹ của bầy vịt con sau này.

– Phải rồi, trông chúng rất là vô tư, gần gũi với con người mà hổng biết sợ gì hết.

Người phụ nữ chăm chú cho vịt ăn, không để ý tới chúng tôi. Nhưng tôi nhìn cô ta rất kỹ, gương mặt phúc hậu, tóc cắt gọn gàng với chiếc áo khoác len dài màu nâu, mặc một chiếc váy bông cũng màu nâu lấp ló dưới chưn, rất hợp với đôi giày màu nâu sẫm, ước tính cô ta cũng trên dưới tuổi năm mươi. Cô ta bị bịnh gì hổng biết mà ngồi xe lăn? Trúc Thanh cũng trạc tuổi với người phụ nữ kia, tuy hai chân còn đi vững và sức khoẻ đủ để làm việc nửa ngày, vì phẩu thuật mấy lần nên tinh thần không được mạnh mẽ cho lắm. Nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới những người đàn bà ở tuổi trên dưới năm mươi mà tôi quen biết, người nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và sang trọng, có người làm chủ cơ sở kinh doanh, nhưng bên trong cái đẹp hào nhoáng ấy, phần đông đều chịu đựng những căn bịnh ngặt nghèo như; ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư máu. Có vài cô đã qua đời ở lứa tuổi năm mươi, tuổi vào thu!

Tôi cũng liên tưởng tới hơn ba tháng qua, ở trên đất liền, tôi dự một buổi rải tro cốt của một ông anh và một buổi cầu siêu của một phật tử mới qua đời và có một anh bạn đang bịnh ung thư gan, bác sĩ cho biết anh ấy còn sống được vài tuần nữa. Mấy tuần trước, vợ chồng tôi và các anh, chị, em rủ nhau tới thăm, trông anh xanh xao, nhưng anh rất lạc quan, vẫn vui vẻ nói cười với anh em một cách bình thường. Mới đó mà chúng tôi đã sống trên đất khách, quê người hết cả cuộc đời. Nhớ tới những ngày còn trai trẻ, người nào cũng có một hoài bão cao ngất trời, nên khi còn chân ướt chân ráo đặt lên xứ người thì anh chị, em hợp nhau để thực hiện lý tưởng hoài bão đó. Những năm gần đây, sau mỗi chuyến hải hành trở về, nếu không nghe tin mất một anh hay một chị thì cũng nghe anh này bịnh, chị kia nằm nhà thương.

Mùa thu là mùa làm cho những người có tinh thần yếu đuối hay bị trầm cảm. Trúc Thanh nằm trong nhóm người này, tinh thần luôn bất an, vui hay buồn đều chảy nước mắt và cũng hay khóc mỗi khi nghe chuyện thương tâm. Cũng vì dễ bị tổn thương, nên có những ý nghĩ tiêu cực tôi để trong lòng chớ hổng dám nói ra. Tôi day ngang khèo Trúc Thanh và ra hiệu cho Kuma đi qua bên kia cầu. Những chùm lá già nua trên hàng cây xanh ven bờ hồ cũng đã đổi màu. Từ đây cho tới cuối tháng mười một mỗi ngày qua là tiết trời mỗi thay đổi, có thể nhìn được thời gian đi qua rõ ràng, nhứt là sự thay đổi ánh sáng mỗi ngày, nó giống như một cuốn phim quay chậm. Chúng tôi đi dọc theo con đường một bên là bờ hồ được đổ đá rất kiên cố và một bên đường trồng một hàng cây lá đã đậm màu, có vài chiếc lá đã điểm màu vàng và lác đác rụng trên thảm cỏ xanh. Trời im gió, không khí mát rượi, những bụi bông lục bình xanh dương hay tím tím, bông thủy tiên và bồ công anh với màu vàng tươi và kết hợp với những loài hoa màu trắng hoặc màu hồng của cá hồi; có loại lá to, loại lá nhỏ, lá gai, lái dài, lá ngắn; có mùi thơm hoặc không có mùi thơm… tất cả rộ lên trong những ngày mùa xuân mà giờ đây cũng đã đổi thay, không còn nhận ra dấu vết. Tôi cầm tay vợ vu vơ nói:

– Bây giờ là mùa thu.

Thanh nói:

– Mùa dịch cô vít chớ thu gì.

– Dịch cô vít qua hơn một năm rồi và hổng biết chừng nào mới dứt, không phải là mùa nữa mà phải gọi là “trận” dịch cô vít.

Thanh rùng mình một cái:

– Ghê thiệt.

Chợt ghe gió lạnh, tôi ngó lên trời, day qua nói:

–  Mây đen kéo về, trời sắp mưa.

Thanh nói:

– Ừ, dạo này mưa, gió thất thường, mình đi dìa được rồi.

Về nhà Trúc Thanh cho Kuma ăn, còn tôi pha hai tách trà gừng, chúng tôi rất thích trà gừng tươi, vì nó không chỉ là một thức uống ngon mà còn có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Có một chị bạn là bác sĩ mách cho tôi biết, trà gừng tươi có tác dụng chống viêm, giúp giảm cân, tăng cường hệ thống miễn dịch và thậm chí bảo vệ chống lại ung thư ruột và bệnh Alzheimer. Ngoài ra gừng có tác dụng chống buồn nôn, ta có thể uống nhiều hơn so với một tách trà bình thường. Trong những trung tâm dinh dưỡng cho rằng, gừng cũng thích hợp trong thức ăn lành mạnh. Tôi bưng hai tách trà gừng đem ra bàn, lúc đó trời đã bắt đầu mưa. Tôi nói với Thanh:

– Ngồi trong phòng nhìn mưa, uống trà cũng ấm áp.

 Trúc Thanh day qua nói:

– Ờ hén, thấy cũng hay hay.

Tôi nhìn mưa tạt vào khung kiếng nghe rào rào, ngoài vườn cây cối lai rai nhả những chiếc lá già xuống sân. Tôi nói:

– Mama nhìn ra vườn sau coi, những chiếc lá dán xuống mặt gạch bị nước mưa làm ướt mem.

Trúc Thanh rụt cổ, nói:

– Lạnh thấy mồ.

– Mama lạnh vì bị thời tiết bên ngoài xâm nhập.

– Là sao?

– Mùa thu là mùa di chuyển chậm, thời gian đi từ từ, trời đất gần nhau, tuy nhìn bên ngoài lạnh nhưng nếu nhìn vào bên trong vẫn thấy được ấm áp.

– Trời đất như vầy mà ấm áp gì.

– Thì mình sống tự nhiên theo mùa, tư duy nên hướng vào nội tâm thì sẽ thấy được niềm vui ấm áp.

–  Tui thấy càng hướng vào nội tâm càng dễ bị trầm cảm.

– Đó là tâm trạng của người bịnh, có khi nào mama gặp phải các triệu chứng như cảm lạnh, da khô hoặc táo bón trong mùa thu không?

– À, cái này có, nhưng…

– Nhưng sao?

– Cảm lạnh, da khô, táo bón ăn nhập gì nội tâm?

– Ăn nhập chớ, cũng nhờ nội tâm chỉ cho mình thấy được những triệu chứng đó.

– Mùa khác hổng có mấy triệu chứng này sao?

– Có nhưng mùa thu thường xảy ra hơn.

– Vậy à?

Tôi chỉ tay xuống tách trà nói:

– Uống hết tách trà gừng đi, gừng ngừa cô vít đó.

Trúc Thanh bưng trà lên uống một ngụm, để tách trà xuống rồi nói:

– Ờ, hổng biết có ngừa dịch được không nhưng thơm và ấm thiệt. 

Trúc Thanh cầm đồ bấm lên định mở truyền hình, thấy tôi nhìn qua, cô để đồ bấm xuống. Số là trước kia Trúc Thanh dành thời gian xem truyền hình rất nhiều, nhứt là từ khi đại dịch hoành hành ở Việt Nam, cô hay lên Youtube xem mấy clip bên nhà, phần đông là những chuyện thêu dệt cảnh thương tâm của mấy người làm clip, riết rồi bị trầm cảm. Thấy vậy tôi đề nghị với Thanh trong lúc ăn, uống cũng như giờ ngủ không xem iPad và không coi mấy cái clip tiêu cực của Việt Nam nữa. Ban đầu Thanh có hơi bất bình nên hỏi vặn:

– Tại sao?

Tôi giải thích:

– Tại vì truyền hình và mạng internet tin giả, thầy tu giả nhiều vô số, tệ hơn nữa mấy cái clip họ dàn cảnh đóng giả tràn lan, mama xem riết rồi bị bịnh đó.

Trúc Thanh nghe tôi giải thích, mới ngộ ra, nhưng cũng còn tiếc:

– Vậy thì ngoài những tin tức của đài phát thanh truyền hình có uy tín và nghe nhạc ra tui hổng xem cái gì nữa hết được hông?

– Tui đâu có ra lịnh cấm mama, chỉ lưu ý thôi, nghe, xem tin tức thì  phải biết chọn lọc, nếu không thì bị nhiễm mấy thứ tiêu cực trên mạng, nó cũng độc hại không thua nhiễm cô vít đâu.

– Nhưng làm cách nào để chọn lọc đây?

– Chỉ có cách là bỏ bớt không gian mạng và mấy đài phát thanh, nhứt là đài truyền hình của Việt Nam, đừng thấy mấy cô, mấy cậu biên tập viên người nào cũng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ và đọc nghe sướng cái lỗ tai mà tin theo bị lầm chết. Còn YouTuber thì phịa tin giựt gân để thu hút mấy người nhẹ dạ cả tin.

– Ừa, sao họ phịa mà y như thiệt vậy đó.

– Bỏ đi! Tốt hơn hết là mình nên quay lại bên trong xem cơ thể mình nó có rầy rà không và sống cho phù hợp với thời tiết của một ngày là đủ rồi.

– Papa nói thử coi, sống sao cho phù hợp với thời tiết hôm nay đây?

– Theo y học cổ truyền Đông Phương thì phân ra năm yếu tố: mộc, hỏa, thổ, kim và thủy, nghĩa là; cây, lửa, đất, sắt và nước. Nếu có sự hài hòa giữa năm yếu tố này, thì sẽ có một sự cân bằng lành mạnh. Mỗi yếu tố liên quan đến một cơ quan, mùa thu gắn liền với nguyên tố kim loại. Cũng theo y học cổ truyền, hằng bao thế kỷ qua, mùa thu vẫn liên hệ với phổi và ruột già. Phổi đón nhận năng lượng mới dưới dạng oxy, ruột già đưa các chất cặn bã trong cơ thể của ta ra ngoài.

– Papa ngồi bên trời Tây mà nói chuyện bên trời Đông nhắm có hợp lý không?

– Cái này tui đọc qua báo Tây đó chớ. Bên Tây bây giờ tiệm thuốc Nam, thuốc Bắc thiếu gì. Mama là hội viên của tiệm thuốc Nam mà hổng biết sao?

– Ờ hén, nhưng thuốc thì trị thân thể thôi, còn cảm xúc thì sao?

– Cũng theo đông y, cảm xúc có liên hệ với phổi tạo ra nỗi buồn.

– Vậy là mùa thu là mùa buồn.

– Theo tui được biết thì ta nên cho nỗi buồn một không gian thoáng sẽ tạo ra một sự rộng rãi trong chính bản thân mình. Một khi năng lượng phổi được cân bằng thì có những suy nghĩ, giao tiếp với người ngoài cũng tích cực hơn, nhờ lọc bỏ những cặn bã và thong thả với những ý tưởng mới, có khả năng thư giãn mà phân biệt thật, hư rõ ràng. Còn nếu ai sống trong không gian hẹp, keo, bẩn thì năng lượng phổi thấp và suy tư kém cỏi, lúc đó sẽ gặp khó khăn hơn khi đối mặt với mất mát. Cũng như khó mà buông bỏ tiền tài, vật chất và dễ bị mắc kẹt trong những kinh nghiệm thành công hay thất bại đã trải qua trong đời sống. Cho nên cần làm sạch bên trong lẫn bên ngoài, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

– Như vậy vào mùa thu thì nên thiền tập nhiều để hướng sự chú ý vào trong mình, xem những gì cần thiết để cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa.

– Theo tui thì đó là tâm trạng còn phân biệt, không riêng gì mùa thu. Mọi thời, mọi lúc nên chú ý vào trong mình, để biết mình nên cần giữ điều gì có thể giữ và bỏ điều gì cần phải bỏ.

– Là sao?

– Là những khi rảnh rổi ngồi yên đều hoà hơi thở, để loại bỏ chất thải trong tâm thức, cũng như chất cặn bã của ruột già. Nói chung, những gì trong cơ thể và tâm thức không còn sử dụng được nữa, ta nên thải ra cũng như trong đoạn cuối cùng của sự tiêu hóa.

– Tự dưng hôm nay vợ chồng nói chuyện có hơi khó hiểu. Thực tế chút đi, ăn uống làm sao cho phù hợp với mùa thu?

– Mama làm khâu phát triển sản phẩm trong xưởng sản xuất thức ăn tươi đóng gói cho siêu thị thì phải biết thức ăn của mỗi mùa chớ.

– Ờ, tui nhớ rồi, hôm kia trong hãng chuẩn bị đóng gói rau củ cho các món hầm và bí đỏ cùng gia vị cho món pompoensoep.

Tôi hớp một hớp trà nhìn qua Trúc Thanh hỏi:

– Chỉ có rau của món hầm và xúp thôi sao?

– Còn nhiều lắm, tui chỉ đưa ra mấy món tiêu biểu thôi.

– Vậy theo kinh nghiệm lâu năm của mama ra sao kể nghe đi.

Trúc Thanh ỡm ờ và hỏi:

– Kể cái gì bây giờ?

Tôi gợi ý:

– Đại khái văn hoá ẩm thực, tiêu biểu thực phẩm đúng mùa không chỉ chất lượng hơn mà rau thường ngon hơn, có thể mua nó với giá rẻ hơn và còn có những món ăn tiêu biểu của Hoà Lan, mình cũng nên biết chính xác loại rau nào có mặt vào mùa nào nữa.

Trúc Thanh liền nói:

– Rau, trái, củ hầu như mùa nào cũng có bao nhiêu thứ đó thôi, nhưng điển hình các loại rau, trái, củ phổ biến nhiều vào mùa thu như: củ dền đỏ, cần tây, cải xoăn, các loại bắp cải, các loại nấm, củ cần tây, bí rợ, tỏi và, bắp cải đỏ, cà rốt và cải chua; gia vị cay và nặng mùi như tỏi tây, quế, tiêu và ớt.

Tôi cười:

– Trúng nghề nên mama kể ra vanh vách.

– Đại khái vậy thôi, đặc biệt là những hương vị nhẹ nhàng, thường thì ăn các món hầm trong khí trời lành lạnh ăn vô thấy ấm lòng hơn.

– Ừa, phải rồi, bí rợ thực sự là một trong những loại trái đặc trưng của mùa thu, nó có vị ấm và ngọt, có thể sử dụng nó tốt trong các món ăn thông thường hoặc nấu một món xúp ngon. Như pompoensoep là món xúp tiêu biểu mùa thu của Hoà Lan, nói chung là Âu Châu, món này gia vị hơi cay ăn với bánh nướng mặn hoặc bánh mì cây hợp với khí trời man mác lạnh.

– Papa là đầu bếp, chuyện ăn uống papa rành hơn tui mà.

– Ờ hén.

Tôi uống thêm ngụm trà gừng và nhìn ra ngoài trời mà ngẫm nghĩ. Thân thể con người ta cũng ngộ, ngay khi những chiếc lá rơi khỏi cây và khí trời lành lạnh, tự nhiên cảm thấy thèm thuồng những món ăn ấm cúng. Tôi day lại nói:

– Thực đơn ăn uống cho mùa thu thì nhiều lắm. Ngoài món xúp bí rợ, xúp đậu ra còn có các loại bánh quiche hoặc những món ăn chơi và món ăn truyền thống của Hoà Lan vào những ngày trời lành lạnh. Điển hình là món khoai tây luộc nghiền chung với cà rốt có tên là hutspot, hoặc nghiền chung với cải xoăn có tên là boerenkoolstamppot, nói chung là các món khoai nghiền tiếng Hoà Lan gọi là stamppot, những loại này ăn kèm với bò viên, thịt ba rọi chiên dòn và xúc xích Hoà Lan hun khói mới đúng điệu ẩm thực của Hoà Lan.

Trúc Thanh nói:

– Những món này theo khẩu vị của người Hoà Lan, gia đình mình sống ở đây lâu năm, tui mần trong xưởng chế biến, đóng gói thức ăn và nêm nếm mỗi ngày, còn papa là đầu bếp, mình cũng đã quen với khẩu vị Hoà Lan rồi, vậy mà ăn chỉ được vài ba món chơi cho vui thôi chớ hổng mặn mà cho lắm. Nói chi tới người Việt mình, có được mấy người nuốt cho trôi mấy món stamppot và xúp bí, xúp đậu…

Tôi cười hì hì:

– Theo tui thấy thì những người da trắng như Nga và các nước Đông Âu ăn uống dễ thích nghi với mùi vị Hoà Lan. Còn In Đô, Phi Luật Tân cũng như phần đông người Việt mình sanh sống ở Hoà Lan lâu hay mau gì thì cũng khó ăn lắm.

– Dĩ nhiên rồi.

Nghe vợ xác nhận tôi chợt nhớ mấy hôm trước đây, Trúc Thanh với một bà bạn hàng xóm người In Đô và một chị người Việt gần nhà rủ nhau đi vô khu vườn trồng rau của miền nhiệt đới trong một nhà kiếng rộng. Ở đó người bán và người mua tại vườn những loại rau, trái, củ như: khổ qua, mồng tơi, rau muống, rau dền, bầu bí, mướp hương, khoai lang, cà tím, mà người Việt mình dí dỏm gọi là “cà ông giặc”.

Tôi day ngang nói:

– Mama hổng nhớ sao, thường thì muốn cho có chút hương vị Việt Nam, vườn rau nhiệt đới xa cả trăm cây số mà mama vẫn lái xe đi mua vài trái khổ qua, mướp hương, bó rau muống và rau thơm. Mấy hôm trước đây chớ đâu xa, khi nghe tin nhà vườn thu hoạch rau, củ, trái cuối mùa bán giá rẻ. Mama còn xông xáo gọi điện rủ mấy người Việt gần nhà, ai đi không được thì hỏi coi mua rau gì mama ghi vô quyển sổ để mua dùm. Còn kêu tui đi theo, tới nơi mấy bà tha hồ mà hốt, rồi bắt tui rinh chất đầy nhóc cốp xe, mệt muốn ná thở luôn.

– Ờ, dù sao rau mua tại vườn cũng vừa tươi, vừa ngon.

– Nghe nói tươi ngon tui thấy đói bụng rồi đây. Vậy hôm nay mama tính cho ăn món gì vậy?

Trúc Thanh day qua hớp một hớp trà và từ từ đứng lên đáp:

– Bánh xèo, trời mưa lành lạnh ăn bánh xèo cũng ngon.

– Ờ lâu rồi tui chưa ăn bánh xèo, tưởng quên cái món quê hương này rồi, nay nghe mama nói, phát thèm!

– Dĩ nhiên!

Nói xong Trúc Thanh bước qua mở tủ đựng đồ khô, lấy một bịt bột gạo và vài gói gia vị rồi qua mở tủ bếp bày dụng cụ ra pha bột. Pha bột xong, day qua tủ lạnh bưng tô nhân bánh xèo làm sẵn ra rồi day qua nói:

– Papa soạn trong học tủ lạnh ra coi còn rau, cải gì ăn bánh xèo hông?

Tôi đi lại mở tủ lạnh, coi lại học rau:

– Rau cải của mama mua trong vườn hôm trước ăn cả tuần nữa còn chưa hết.

– Vậy thì papa thấy rau nào ăn bánh xèo được lấy ra lặt, rửa xong rồi lột củ tỏi và gọt dùm hai củ cà rốt.

– Ô kê!

Tôi lựa rau cải ra rửa xong rồi hỏi Trúc Thanh: 

Còn phụ làm gì nữa không?

– Papa lấy nước mắm rót ra hâm lại và dọn bàn ăn được rồi.

Trong khi Trúc Thanh đổ bánh, tôi rót nước mắm để vô lò vi sóng bấm nút ba mươi dây thì chợt nghe điện thoại báo. Tôi đi lại chỗ để điện thoại bấm nhìn xem, thấy có tin nhắn của hãng tàu. Tôi ngước lên nói với Trúc Thanh:

– Tui nghĩ hãng tàu kêu tui đi làm.

– Papa đọc coi họ nói gì?

Tôi đọc tin xong day ngang nói:

– Ồ, hông phải đi làm, mà giấy chứng nhận sơ cứu của tui hết hạn rồi, họ kêu tui trở lại trường học ba ngày, để đổi chứng nhận mới.

– Vậy hả?

Tôi về nhà từ đầu mùa hè tới nay đã giữa mùa thu rồi. Cũng vì sợ cô vít nên chúng tôi hổng dám đi chơi xa. Hơn ba tháng trời, ngoại trừ mấy lần đi thăm vài người bạn cần thăm, tôi chưa ra khỏi vùng Flevoland, cứ luẩn quẩn ở Dronten, một thị trấn nhỏ nằm trong miền đất thấp hơn mặt nước biển của vương quốc Hoà Lan. Ở nhà không được tiếp xúc bạn bè, hổng nói chuyện với ai ngoài vợ nói chồng nghe, chồng nói vợ nghe, lắm khi nhàm chán rồi cãi qua cãi lại. Trước đại dịch, nếu tôi còn ở trên bờ, mỗi khi thấy trời chợt mưa, chợt nắng và gió lành lạnh lướt qua hàng cây trước nhà thì lòng tôi rạo rực, trong ý nghĩ dấy lên một chút lãng mạn rằng mùa thu là mùa lên đường và nôn nao chờ đợi ngày đi. Đối với tôi thì ở trên bờ hơn ba tháng có hơi lâu và phát hiện ra, thời gian qua tâm tư cũng có ít nhiều thay đổi. Năm nay tôi đã trên sáu mươi tuổi rồi, nghiệp đoàn có gởi thư thông báo, nếu muốn thì cuối năm tôi có thể nghỉ hưu, có lẽ cũng vì bức thư nghỉ hưu làm tôi để ý tuổi tác, sức khoẻ của mình. Dù sao đi nữa trong những ngày ở nhà nhàn rỗi, tôi để ý mùa màng một cách tường tận hơn. Thiệt tình mà nói tôi có thể tận hưởng thời tiết trước mặt trọn vẹn không cần phải ngong ngóng phương xa. Nhưng khi nhớ lại có vài thủy thủ già đã nghỉ hưu và còn sức khoẻ, bèn xin trở lại hải hành ngắn hạng. Theo họ thì hải hành để tránh sự nhàm chán trên đất liền và cho đỡ nhớ biển! Sức khoẻ tôi so ra thì cũng còn khá, nghĩ tới đây trong lòng tôi phân vân. Trong lúc chưa biết phải nên tiếp tục hải hành hay là như nhiều người đã khuyên “nên nghỉ ngơi để hưởng thụ cái tuổi già,? Bây giờ được tin tuần sau tôi phải về trường tập huấn, tôi mới nảy sanh ra một ý nghĩ. Tôi đi lại bếp vừa phụ Trúc Thanh dọn bàn vừa nói:

– Trong ba ngày vô trường thực tập, có môn bơi dưới nước cho trực thăng tới vớt lên và nhảy từ trên cao xuống nước, có hơi nặng, nếu tui vượt qua được hai đoạn này thì tui sẽ tiếp tục làm việc thêm năm năm nữa.

Trúc Thanh xúc bánh xèo ra dĩa vừa nói:

– Lấy chứng nhận xong rồi hẳng tính, bây giờ ăn bánh xèo cái đả.