This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đại diện Hội Cựu Quân nhân QLVNCH đặt vòng hoa tại Đài Tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong ở Melbourne nhân ngày Long Tan Day 18.8.2022. Hình: Anne Nguyen
Hôm nay, một ngày trước ngày Long Tan Day 18.8.2023, Cựu Phó thủ tướng Barnaby Joyce đã tôn vinh những nam nữ quân nhân Úc được vinh danh vào ngày 18 tháng 8, và nói rằng Việt Nam không phải là một cuộc chiến vô nghĩa, không có mục đích.
Dân biểu Joyce của đảng Quốc gia nói với người dẫn chương trình Sky News, ông Andrew Bolt: “Việt Nam là nơi họ chiến đấu và cũng là nơi họ dừng lại. Nếu chúng ta không làm cạn kiệt nguồn lực của cộng sản thì họ đã tiếp tục tiến tới.”
Bài sau đây trích từ tuần-san điện tử etvts.com.au phát hành ngày 16.8.2023.
* * *
Mỗi năm vào ngày 18 tháng 8, nước Úc của chúng ta tưởng niệm Ngày Cựu chiến binh Việt Nam, nhân kỷ niệm Trận chiến Long Tân xảy ra năm 1966 tại Việt Nam. Đây là dịp để tưởng nhớ sự hy sinh của những người đã chết và nói lời cảm ơn đến gần 60,000 người Úc đã phục vụ trong 10 năm Úc tham dự vào Việt Nam Chiến tranh.
Riêng đối với người Việt Nam tị nạn đang sống ở Úc, đây là dịp để biết ơn và tỏ lòng tưởng nhớ đến các binh sĩ Úc đã hy sinh trong trận Long Tân và 521 binh sĩ đã hy sinh tại chiến trường miền nam để bảo vệ sự tự do dân chủ cho người dân nước Việt Nam Cộng Hòa.
Trận Long Tân
Trận Long Tân là một thời điểm quan trọng trong cuộc chiến của Úc tại Việt Nam. Vào ngày 18 tháng 8 năm 1966, tại một đồn điền cao su gần làng Long Tân, những người lính Úc đã đánh một trong những trận ác liệt nhất của cuộc chiến. Những người của Đại đội Delta, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn Hoàng gia Uc, phải đối mặt với một lực lượng khoảng 2000 quân Bắc Việt và Việt Cộng. Trận chiến diễn ra trong điều kiện ẩm ướt và lầy lội trong một trận mưa lớn nhiệt đới.
Các binh sĩ Úc thuộc đại đội D6 RAR tạm ngưng thu lượm vũ khí trên chiến trường ngày sau trận Long Tân. Nguồn hình: AWM FOR/66/0669/VN
Đến cuối ngày, 17 người Úc đã thiệt mạng và 25 người bị thương, một trong số họ đã chết vài ngày sau đó. Đây là con số thương vong lớn nhất trong một cuộc hành quân kể từ khi Lực lượng Đặc nhiệm Úc thiết lập căn cứ tại Núi Đất gần đó vào tháng 4 trước đó.
Khi binh sĩ Úc quay trở lại vào sáng hôm sau để thực hiện nhiệm vụ khủng khiếp là ‘dọn dẹp chiến trường’, họ tìm thấy 245 xác địch, mỗi xác phải được lục soát cho mục đích tình báo trước khi chôn cất.
Vào ngày này, chúng ta kỷ niệm tất cả các trận chiến của người Úc tại Việt Nam, từ các cuộc hành quân quy mô lớn đến các cuộc chạm trán cấp trung đội và khu vực. Chúng ta tưởng nhớ các thủy thủ của Hải quân Hoàng gia Úc đã hỗ trợ các hoạt động trên bộ và các thành viên của Lực lượng Không quân Hoàng gia Úc đã phục vụ trong vai trò chiến đấu và vận chuyển.
–Một ngày để nói ‘cảm ơn’
Vào Ngày Cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans’ Day), chúng ta hãy dừng lại và suy ngẫm về lòng dũng cảm, tinh thần đồng đội và sức chịu đựng mà người Úc đã thể hiện trong suốt cuộc chiến.
Chúng ta vinh danh những cựu chiến binh đã: hy sinh trong trận chiến; trở về nhà bị thương, bị bệnh hoặc bị thương, chết trong những năm kể từ khi họ trở về; vẫn mang những vết sẹo về thể chất và tinh thần trong quá trình phục vụ của họ.
Chúng ta cũng tạm dừng để suy nghĩ về tác động của nghĩa vụ đối với gia đình của các cựu chiến binh.
Thủ hiến Daniel Andrews của TB Victoria với khăn quàng cổ có hình cờ Việt Nam Cộng Hòa phát biểu trong ngày Long Tan Day 18.8.2023 tại Đài Tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong ở Melbourne. Hình: Anne Nguyen
–Tưởng niệm các cựu chiến binh Việt Nam
Một số cựu chiến binh cảm thấy họ đã không được vinh danh vì đã phục vụ đất nước của họ tại Việt Nam. Năm 1987, các cựu chiến binh đã nhận được một cuộc diễn hành chào mừng họ trở về nhà mà một số người cảm thấy họ đã bị từ chối khi họ trở về nhà sau chiến tranh. Khoảng 22,000 cựu chiến binh Việt Nam đã diễu hành qua thành phố Sydney, trước đám đông khoảng 100.000 người Úc. Cuốn Homecomings kể lại những trải nghiệm đó.
Đài Tưởng niệm Quốc gia Lực lượng Việt Nam (Vietnam Forces National Memorial) trên đường Anzac Parade ở thủ đô Canberra được chính thức khánh thành vào ngày 3 tháng 10 năm 1992. Đài tưởng niệm nay tưởng nhớ tất cả quân đội Úc, gồm Lục quân, Hải quân Hoàng gia Úc và Không quân Hoàng gia Úc và các nhân viên liên quan đã phục vụ tại Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam.
Hai tù hình sự có nhiệm vụ khiêng Trọng sang bệnh xá, khi trở về đã kể rằng, Trọng nằm trên cáng, một nữ ý tá tới tiêm cho anh một mũi rồi đi ra cửa đứng chờ, tại đây cán bộ Ðản cũng đang đứng chờ.
Mấy phút sau họ nghe Ðản hỏi cô ý tá,
– Sao lâu thế? Sao nó chưa chết?
Người nữ y tá trả lời,
– Cũng phải chờ cho thuốc ngấm chứ! Mạch của anh ta yếu lắm! Thuốc không thể ngấm nhanh. Phải chờ! Chắc cũng không lâu lắm đâu!
Quả nhiên chỉ hai phút sau Trọng chết thật.
Trên tờ giấy chứng tử, cô y tá ký tên một bên, cán bộ Ðản ký tên một bên công nhận rằng bệnh nhân Nguyễn Văn Trọng đã chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng.
Không ai biết thật sự Trung tá Trọng đã chết vì bệnh kiết lỵ hay đã chết vì một mũi tiêm thuốc độc?
Thời gian sau Thầy Bình được chuyển sang nhốt chung buồng với cựu Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn.
Bình và Ðoàn tiếp tục bị bỏ đói, rồi ít bữa sau thấy Ðoàn nằm bất động, Lê Thái Bình lại bắc loa tay,
– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!
Cán bộ bước vào vạch mắt Ðoàn ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðoàn đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,
– Chết rồi! Ðem đi!
Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðoàn xuống nhà tẫn liệm.
Khác với những lần trước, vừa đặt cái cáng xuống đất thì hai anh hình sự nghe tiếng rên,
– Ðói! Ðói! Ðói!
Một anh hình sự vội cho Ðoàn húp bát cháo, Ðoàn sống lại!
Hóa ra anh tù Bùi Bằng Ðoàn chỉ bị đói quá mà ngất đi.
Sở dĩ có chuyện chết đi, sống lại này chỉ vì khi vào vạch mắt Ðoàn để kiểm tra, cán bộ thấy mắt Ðoàn đứng tròng, y tưởng Ðoàn chết rồi, nên mới cho người vào khiêng anh xuống nhà xác.
Không ngờ, Bùi Bằng Ðoàn bị chột, một mắt thật, một mắt giả, cán bộ đã vạch nhằm con mắt giả, thấy con mắt giả đứng tròng, y tưởng Ðoàn đã chết nên mới cho mang xác đi chôn.
Nếu nó vạch con mắt thật ra coi thì Ðoàn sẽ phải nằm đó chờ, chắc chắn sau đó không lâu sẽ chết thật.
Chính con mắt giả của Bùi Bằng Ðoàn đã cứu mạng anh ta.
Từ đó cứ nghe báo cáo có người chết thì cán bộ khám xét cẩn thận hơn bằng cách vạch cả hai mắt nạn nhân ra mà coi, nếu cả hai con ngươi đều bất động thì nạn nhân mới được khiêng đi, nếu một mắt còn động đậy thì cứ để nằm đó chờ chết.
Trong khi đó thì một trại viên khác chết rất âm thầm, anh ta chết đã hai hay ba ngày sau mới bị cán bộ phát giác vì không có ai chứng kiến, không có ai nhốt chung buồng.
Người chết là cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân tên là Sanh.
Anh Sanh là con trai của chủ nhân nhà hàng “Quán Biên Thùy” ở Nhà Bè.
Thế rồi, một đêm, Nguyễn Văn Hồng đã vĩnh viễn ra đi, tác giả “Ðôi giày dũng sĩ” không còn nữa! Con chim ái quốc ấy đã hoàn toàn kiệt sức, không thể cất nổi tiếng hót sau cùng.
Chỉ vì cuối năm 1978 sau khi bị cùm vì tội vượt ngục lần thứ nhì thất bại, tôi đã gặp lại Ðại Ðức Lê Thái Bình ở Trại Phú Sơn 4, Thầy Bình hỏi tôi bí quyết để sống còn khi bị kiên giam, thì tôi đã giải thích cặn kẽ cho Thầy Bình biết rằng,
“Người bị kiên giam vì đói quá, nên mỗi khi được phát cơm, ngô, khoai, sắn hay bo bo, ai cũng ăn thật nhanh cho hết bữa; còn tôi chỉ ăn nhín nửa phần, tới nửa ngày sau mới ăn phần còn lại. Cách ăn này giúp cho cái dạ dày lúc nào cũng đói, lúc nào cũng no. Nhờ vậy mà không bị chết đói!”
Nhớ tới kinh nghiệm “vượt đói” của tôi, Thầy Bình đã cố gắng đánh lừa dạ dày trong suốt thời gian hơn hai năm bị kiên giam ở Trại Mễ nên mới còn hiện diện trên cõi đời này!
Trong thời điểm đó thì ở Nam Hà A, mỗi khi có chuyện xáo trộn như chuyển trại, hoặc nhận thêm người thì cán bộ lại thi hành một đợt kiểm tra và “biên chế”.
Khi “biên chế” thì tù bị trộn lộn, từ đội này chuyển sang đội khác, từ buồng này dọn qua buồng khác.
Lợi dụng cơ hội này, ít lâu sau khi được chuyển đội, ông Trung tá Nguyễn Văn An bèn vượt ngục lần thứ hai.
Rồi ông An cũng bị bắt lại, lần này cai tù không đá đít ông rồi cho phép ông về lại Buồng 15 nữa.
Ông bị tống cổ vào nhà kỷ luật, chịu đủ loại cực hình, rồi bị đưa ra Trại Mễ.
Ít lâu sau thì ông An chết.
Chuyện Trung tá An vượt ngục, rồi chết, tôi đã nghe cựu Ðại tá Cao Văn Ủy tóm tắt lại như sau:
“Anh An vượt ngục một lần nữa để tìm về quê, nhưng chưa tới nhà đã bị bắt lại. Anh bị giam trong phòng kín, có khóa và có lính canh rất cẩn mật. Mỗi ngày anh đều bị dẫn lên văn phòng của Ban Xuyên tức là viên Trung tá Công An Việt-Cộng tên Xuyên, Trưởng Trại Nam Hà để khai báo và nhận cực hình. Tuần lễ đầu, Ban Xuyên, cho lũ chó bẹc giê cắn gãy hai chân anh. Tuần lễ thứ nhì, y cho chó cắn gãy hai tay anh. Tuần lễ thứ ba, y cho chó cắn nát hạ bộ của anh. Sau khi anh ngất đi, tên Xuyên mới gọi y tá đem anh xuống bệnh xá để băng bó tất cả các vết thương trên người. Ngày tiếp đó, anh An bị áp tải lên xe, chở ra bệnh xá ngoài Trại Mễ. Tại đây, anh tiếp tục bị bỏ đói cho tới chết. Anh Trung tá Biệt Ðộng Quân Nguyễn Văn An đã trút hơi thở sau cùng trên mảnh đất mà anh đã sinh ra là Phủ Lý.”
Xác Trung tá An được chôn ở bãi tha ma Trại Mễ. Nơi đây đã có ba sĩ quan Cảnh-Sát Quốc-Gia yên ngủ từ năm 1979, đó là Trung tá Lê Văn Thảo, Trung tá Ðoàn Ðình Từ và Trung tá Nguyễn Lê Tính. Ba sĩ quan Cảnh Sát này đã chết vì kiệt sức.
Cạnh mộ của Trung tá Nguyễn Văn An là mộ của Trung tá Nguyễn Văn Trọng, hoa tiêu trực thăng Biên-Hòa, kế đó là mộ của Ðại tá Nguyễn Phán, Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Ðoàn II.
Ông Trung tá Trọng chết vì bị bỏ đói và bị chích một mũi thuốc độc (?) thay vì thuốc trị bệnh kiết lỵ, còn ông Ðại tá Phán qua đời vì bị điên, bị đói, và kiệt sức.
Nhân số Ðội 20 cứ hao hụt dần theo thời gian.
Lâu lâu cán bộ lại họp nhau bình xét, chấm điểm. Ai được điểm cao sẽ được cho về lại Nam-Hà A.
Tới năm 1984 thì tên Trung tá Xuyên về nghỉ hưu. Người thay thế tên Xuyên là một Trung tá Công An tên là Lưu Văn Hán.
Lưu Văn Hán đã từng nhiều năm phục vụ trong ngành Công An ở Miền Nam.
Y đã chứng kiến những điều hay, đẹp, văn minh, nhân đạo, và tiến bộ của xã hội Miền Nam.
Y đã mở tầm mắt để thấy rằng những con người mà y đang giam giữ kia chính là tinh hoa gạn lọc của cả một chế độ, của cả một Miền Nam tiên tiến, văn minh.
Y đã nhìn ra cái giá trị đích thực ẩn tàng trong những con người khốn khổ mà y đang cầm mạng sống.
Vì thế, ngay sau khi nhận chức ít lâu, Lưu Văn Hán đã cho những người còn sót lại của Ðội 20 được trở về Nam Hà A.
Những người bị biệt giam lâu nhất đã ở Trại Mễ đúng hai năm rưỡi.
Họ ra khỏi trại này mà chỉ còn có da bọc xương. Thượng Ðế đã không chấp thuận cho họ được chết, nên tên Xuyên đã về hưu.
Anh Mai Văn Tấn và anh Lê Thái Bình đã may mắn sống sót và được về Nam Hà A lao động trở lại.
Sau đợt chuyển tù vào Nam năm 1982 thì tất cả tù còn sót lại từ Hà-Tây, Phong-Quang, Tân-Lập, Vĩnh-Phú đều tập trung về Nam-Hà A.
Nhân số của trại vào lúc Mai Văn Tấn và Lê Thái Bình quay lại có khoảng trên dưới 300 người.
Anh Lê Thái Bình thường đi lấy củi trong khu nghĩa trang tù.
Nghĩa trang tù của Trại Nam-Hà A lúc nào cũng vắng lặng vì ít khi có người vãng lai. Ở đây, ngôi mộ của Trần Hàn có lẽ là nơi buồn nhất, vì đó là một nấm đất cô đơn, nằm cách biệt với nghĩa địa gần trăm thước.
Không biết tự bao giờ, ai đó đã trồng ba cây phượng vĩ trên đỉnh đồi này.
Ðầu mùa Thu, chỉ cần một cơn gió nhẹ lướt qua, hoa phượng đã rơi lả tả.
Thật là không còn gì buồn hơn cảnh tượng đường trơn mưa Ngâu tháng Bảy, âm thầm trên mộ hoa rơi.
Lâu lâu Lê Thái Bình lại ghé chốn này, thắp một nén nhang cho Trần Hàn.
-oOo-
Xương cốt về Nam…
Tới đầu Xuân 1988 là đợt phóng thích tù chính trị sau cùng, tôi cũng được thả về kỳ này.
Từ nay, trên toàn cõi Việt-Nam chỉ còn hơn một trăm tù nhân gốc Quân, Cán, Chính, Việt-Nam Cộng-Hòa mà thôi.
Số tù còn lại này, trong đó có Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Ðại tá Cao Văn Ủy được tập trung về Trại Z30D là nơi tôi vừa đi qua cổng với cái giấy ra trại.
Dù bận bịu vì sinh kế, nhưng Mai Văn Tấn, Lê Thái Bình và tôi cũng thường có dịp gặp mặt nhau.
Bình kể cho tôi nghe rằng qua sự giới thiệu của anh Phụ là một cựu sĩ quan Cảnh-Sát Ðặc-Biệt, bạn thân của anh Trần Hàn, gia đình anh Trần Hàn biết Ðại đức Lê Thái Bình là người biết rõ mộ phần của Trần Hàn nằm ở chỗ nào trong nghĩa trang, nên đã nhờ anh Lê Thái Bình đi ra Bắc bốc mộ cho anh Hàn.
Theo chương trình dự trù thì Lê Thái Bình sẽ tháp tùng hai người nhà của Trần Hàn lên xe lửa từ Ðà-Nẵng đi Hà-Nội, rồi thuê xe hơi để vào Nam-Hà.
Ðúng hẹn, sáng sớm ngày hôm trước, Lê Thái Bình từ Ðồng Tháp theo xe đò đi Ðà-Nẵng.
Xe vừa đổ Ðèo Cù Mông thì bị đứt thắng, xe lao nhanh xuống dốc.
Ai ngồi trên xe cũng tưởng phen này thế nào cũng chết.
May thay, trong giây phút thập tử nhất sinh ấy, thì phụ tài xế đã giựt được tay lái để xe tông vào vách đá.
Chiếc xe lộn một vòng rồi nằm im. Có hai hay ba người chết, số còn lại đều bị thương. May mắn thay, anh Bình chỉ bị thương nhẹ.
Bình tới Ðà-Nẵng đúng lúc người nhà của Trần Hàn sửa soạn lên xích lô để ra ga. Bình nhập đoàn với họ, mà không kịp có thời giờ rửa tay, và băng bó những vết sây sát trên người.
Ở ngoài Bắc, thời gian này Trại Nam-Hà đã hoàn toàn trở thành một trại tù hình sự.
Chỉ có những người đã chết thì vẫn còn nằm ở đây.
Năm này qua tháng nọ, có lẽ linh hồn các bạn đang yên ngủ ở đây vẫn mong chờ thân nhân tới bốc mộ, đem xương cốt họ về Nam?
Bình dẫn con của Trần Hàn tới một ngôi mộ cô đơn nằm cách nghĩa trang gần trăm mét.
Trong khi kiểm tra hàm răng của Trần Hàn, người con trai của anh Hàn đã thấy một cái răng vàng. Thời sinh tiền, hàm trên của Trần Hàn cũng có một chiếc răng vàng.
Vậy là đúng rồi! Chuyến đi hốt cốt này chắc chắn họ đã không đào nhầm mồ người khác.
Khi gom xương anh Hàn từ dưới mộ lên, anh Bình đã phát giác ra, xương cánh tay trái của Trần Hàn không nằm song song với người anh, mà nằm ở sau lưng anh. Chứng tích này có thể lý giải rằng tay trái của anh Hàn đã bị gãy vì tra tấn.
Xong việc cải táng, Lê Thái Bình giã từ gia đình Trần Hàn, giã từ Ðà Nẵng, lên tàu về Sài-Gòn.
Nhưng sau khi lên tàu hỏa được vài phút thì Bình sờ túi sau, cái bóp đã bị kẻ cắp chớp mất rồi! Vậy là Bình đành nhịn đói, chịu khát cho tới ngày về tới nhà tôi.
Thì ra, giờ đây, tay nghề của dân móc túi ga Ðà-Nẵng đã không thua kém gì tay nghề của kẻ cắp chợ Ðồng Xuân ngoài Bắc.
-oOo-
Dư âm xưa còn vang vọng…
Cuối năm 1988 chúng tôi bắt đầu nộp đơn để được xuất cảnh đi Hoa-Kỳ định cư theo chương trình H.O.
Những người có tên trên danh sách HO1, và gia đình của họ đã tới Mỹ từ tháng Giêng năm 1990, vậy mà tới tháng 5 năm 1992 Trại Z30D mới thực sự không còn ai là tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa nữa.
Bốn người tù sau cùng là Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai đã về tới nhà ngày 5 tháng 5 năm 1992.
Vì có thâm niên 13 năm tù, tôi có tên trên danh sách RD2 nên được ưu tiên xuất cảnh tiếp ngay sau cái đuôi của H15.
Tôi tới Mỹ tháng 4 năm 1993, và chưa một lần về thăm lại Việt-Nam.
Sáng nay tôi vừa nói chuyện với anh bạn cựu phi công Trần Tiến Bích, Bích hỏi tôi có nhớ chuyện cái radio ở Nam Hà A hay không, tôi trả lời rằng có nhớ. Thấy tôi chưa quên chuyện này, Bích bèn nói một hơi,
– Ông có nhớ cái đêm Thứ Bảy trời mưa, chiếc máy thu thanh cứ kêu “cà rẹc! cà rẹc!” khó nghe, tôi phải mở hết volume. Không ngờ âm thanh phát ra lớn quá làm cho thằng Tịnh chú ý, nó kiễng chân lên dòm chỗ tôi với ông nằm. Tôi sợ quá, báo cho ông biết. Vì thế sáng hôm sau ông đã chuyển cái radio qua Buồng 15. Nếu mình giữ nó thêm một ngày nữa thì ông và tôi dính cựa rồi!
Ghê quá! Ðến cái thùng chứa vôi bột trong cầu tiêu mà ông thường giấu chiếc radio cũng bị tụi nó lật úp để kiểm tra. Ghê quá!
Bạn Trần Tiến Bích nói đúng đó! Vì theo chu kỳ dự trù thì Buồng 16 sẽ giữ cái radio cho hết ngày Chủ Nhật, tới chiều Thứ Hai thì Tạ Văn Quang sẽ mang nó qua Buồng 15. Nhưng ngay lúc sáng tinh mơ Chủ Nhật, tôi đã mang nó sang Buồng 15 giao cho bạn Trần Tấn Hòa.
Tôi nghĩ rằng nếu tên Tịnh mà báo cáo cho cán bộ biết cái radio đang ở Buồng 16 thì chỉ có tôi và Trần Tiến Bích bị khám xét, không ngờ sáng Thứ Hai toàn trại bị thanh tra.
Nhắc tới Lê Văn Tịnh, tôi bèn hỏi Bích,
– Bích có biết giờ đây Lê Văn Tịnh còn sống hay đã chết? Nếu còn sống thì Tịnh đang ở đâu?
Bích cười,
– Muốn tìm cố nhân thì ông cứ lên Face Book mà nhắn tin.
Tôi biểu đồng tình,
– Ừ há! Ðể mình vào Face Book tìm xem có gặp được cố nhân không?
Bỗng dưng, danh từ “cố nhân” đã khiến Bích và tôi khao khát được nghe lại tiếng đàn của Lê Văn Chánh.
Vào những đêm mưa, Chánh thường ôm cây guitar hát đi, hát lại bài “Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy.
“Ðêm năm xưa chưa nguôi lòng yêu ai
Duyên kiếp trong cuộc đời
Ðem xuống nơi tuyền đài
Ðể thành ngọc đá mong chờ ai…”
Lạ một điều là những lúc thả hồn theo từng nốt nhạc thì Lê Văn Chánh chỉ lim dim đôi mắt mà không khóc.
Nhưng giữa đêm khuya, tiếng đàn của nó nghe thảm thiết vô cùng.
Tiếng đàn của nó có lẽ còn buồn hơn là tiếng mưa rơi trên mái nhà.
Tiếng đàn đó đã làm cho hai hàng lệ nóng tuôn trào trên những đôi má đã khô cằn của những người tù già như Dương Khắc Ðệ, Nguyễn Hữu Huyến, Nguyễn Khắc Tĩnh.
Thế rồi tôi liên tưởng tới chuyện thăm nuôi, tới cái chết vì đạn lạc của cháu bé từ Nam ra Bắc thăm bố đang bị tù, và nhớ chuyện “Anh chui qua rào…” của người phi công què ở Nam-Hà A, tôi thắc mắc,
– Bích có tin gì về anh bạn Thần Tượng cụt chân ở Trại 9 không?
Bích cười hô hố,
– Nó đi H.O rồi! Ðang ở Texas! Giờ đây nó có chân giả, đi đứng ngon lành, đẹp trai, đắt đào lắm!
Nghe Bích nói thế, tôi cũng cười hô hố,
– Vậy là hắn ta hết còn được phân công làm việc nhẹ! Nếu gặp hắn, Bích cho mình gửi lời thăm.
Hết tâm tình cùng Trần Tiến Bích, tôi chuyển sang gọi Mai Văn Tấn, Tấn đang chơi với cháu, nhưng nghe tiếng tôi thì bỏ cả cháu mà bàn chuyện Trại Mễ, chuyện Trung tá Nguyễn Văn An, chuyện Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn, chuyện bỏ đói, chuyện kiên giam…
Ðiện thoại của Mai Văn Tấn hết điện trì, tôi bèn bấm số Texas tìm Lê Thái Bình.
Thầy Bình đang làm công quả trong một ngôi chùa Việt-Nam ở Arlington.
Vậy là đôi bạn cố tri tranh nhau phát ngôn, nào là chuyện tôi và Bình đi hái trộm bắp của cán bộ cai tù để cứu đói cho bạn đồng cảnh ở Cẩm-Nhân, chuyện sau ngày ra tù hai đứa tôi chèo ghe vào mật khu Cờ Ðỏ, nghe thằng Việt-Cộng già, đảng viên Cộng-Sản thâm niên, chửi cha Cộng-Sản vì bị ngược đãi… vân vân.
Rồi tim tôi bỗng chùng xuống khi nghe thầy Bình nhắc tên những đồng ngũ vừa ra đi trong thời gian gần đây như Lê Minh Ðảo, Lê Văn Chánh, Trần Công Hạnh, Chu Trí Lệ, Tạ Văn Quang…
Thế hệ của chúng tôi sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong khói lửa.
Chúng tôi đã đem hết khả năng và cả xương máu của mình để bảo vệ quê hương. Ðất nước mất, chúng tôi là những người chịu trách nhiệm.
Chúng tôi đã trải qua những tháng ngày dài sống trong cảnh đọa đày.
Bởi vậy, những kỷ niệm đau buồn sẽ mãi mãi đeo đẳng trong đầu, không thể nào quên.
Cho dù nửa thế kỷ đã qua đi, nhưng dư âm của cuộc chiến Việt-Nam trong thế kỷ 20 vẫn chưa thể chấm dứt.
Người Việt Miền Nam vẫn còn âm ỉ mang trong lòng một nỗi đau.
Gần đây tôi nhận được một tin nhắn trên Face Book của một hậu duệ Việt-Nam Cộng-Hòa, nhờ các chú các bác có tin tức gì về bố của cháu thì cho cháu hay, vì sau ngày Miền Nam sụp đổ năm 1975, bố của cháu đã bị đưa ra Bắc để học tập cải tạo, tới nay, tháng 11 năm 2022 bố cháu vẫn chưa về.
Chiến tranh kết thúc đã 47 năm rồi, trại tù cũng đóng cửa lâu rồi, chắc không có ai ngờ rằng, giờ đây lâu lâu vẫn còn những chuyến tàu xuyên Việt chở theo xương cốt của cựu tù Việt-Nam Cộng-Hòa từ Bắc vào Nam… âm thầm.
Mấy chục năm qua, tôi đã có quá nhiều lần vẫy tay vĩnh biệt.
Mỗi khi bạn hữu hay người quen qua đời, tôi thường phân ưu hay chia buồn.
Nhưng có một ngày, tôi chợt nghĩ ra, đời mình đã quá buồn, quá khổ, nếu gánh thêm cái buồn, cái đau của người khác thì chỗ đâu mà chứa?
Thế là từ ấy, bạn bè hay người quen ra đi, tôi đều gửi cho thân nhân của họ lời nhắn sau đây:
“Chúc (anh, chị, ông, bà, bạn hiền, chiến hữu… vân vân) lên đường vui vẻ!”
Tôi đã nhìn đời với con mắt lạc quan hơn. Ðầu óc tôi cũng thanh thản hơn.
-oOo-
“U! U! Oa! Oa!”
Có tiếng loa vang vang, một con tàu sắp rời bến, nhường chỗ đậu cho một con tàu khác đang vào bờ…
“U! U! Oa! Oa!”
Tiếng loa nghe sao quá não lòng.
Phà cập bến, tôi không quen ai trong số những khách đang bước lên bờ.
Phà rời bờ, tôi cũng chẳng quen ai đang bước xuống phà.
Phà có hai trụ cờ, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía mũi, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía lái. Hai lá cờ bay phần phật trong gió.
Ðứng trên boong tàu có đôi người giơ tay vẫy về hướng bến từ giã.
Tôi cũng giơ tay đáp lại.
Tôi hy vọng rằng, nếu ngày nào đó tôi trở lại thăm chốn này, rồi tình cờ gặp lại người đứng trên boong tàu vẫy tay hôm nay, có lẽ người đó sẽ rất vui, và tôi cũng sẽ rất vui…
Hôm nay là một ngày cận kề lễ Thanksgiving 2022 ở Mỹ.
Trước mắt tôi là dòng nước đang trôi ra biển…
Ðứng nơi bến phà nối đôi bờ Mukilteo và Whidbey Island vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ, nhìn hình ảnh chiếc phà rời bến, tôi chợt chạnh lòng nhớ lại chuyến phà qua sông Ðáy năm xưa.
Trên chuyến phà năm 1979 ấy có nhiều cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã qua sông nhưng không còn sống sót để trở về…
Thế rồi một hôm, xui xẻo làm sao, anh đã bị cán bộ bắt được khi vừa ôm mấy củ sắn chui trở vào trong vòng rào.
Tên Việt-Cộng hỏi,
– Anh làm cách nào mà có mớ sắn này? Khai ra mau!
Hòa thật thà thú tội,
– Trình cán bộ tôi chui ra vườn ngoài rào đào trộm.
Thằng bộ đội tỏ vẻ nghi ngờ,
– Tôi không tin! Rào tre kín thế thì anh làm cách gì mà chui qua? Ðâu? Anh chui như thế nào thì làm lại cho tôi xem!
Nghe thế, anh pilot Việt-Nam Cộng-Hòa ngây thơ vội nhanh nhẹn dẫn tên cán bộ Việt-Cộng ra vị trí mà anh đã vạch một lỗ xuyên qua hàng rào nứa.
Tiếp đó anh từ từ biểu diễn lại màn “Anh chui qua rào…” cho tên cán bộ xem.
Vào đúng lúc anh ở vị thế đầu ngoài rào, chân trong vườn, thì “Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!” ba viên đạn liên tiếp nổ giòn.
Tiếng súng chưa kịp dội trong vách núi đã có tiếng la thất thanh,
“Ối! Anh em ơi! Cứu tôi với!”
Cũng ngay sau đó là tiếng hô hoán đặc sệt giọng Nghệ -Tĩnh của thằng quản giáo,
“Trốn trại! Báo động! Có tù trốn trại!”
Lập tức, kẻng báo động “Keng! Keng! Keng!” khua vang, vệ binh chạy xuống ào ào. Trại 9 nhốn nháo, om sòm.
Ðêm hôm đó tất cả cải tạo viên trong Trại 9 đều biết tin anh cựu phi công Trần Văn Hoà vượt ngục, nhưng không may, vừa chui chưa khỏi rào đã bị cán bộ tuần tra bắt gặp rồi bắn cho gãy giò.
Trại 9 có cái bệnh xá của Liên Trại 4 nằm sát bên, nên anh Hòa đã được cứu chữa cấp kỳ, vết thương không kịp làm độc.
Y tá Việt Cộng đã cứu anh bằng cách nhanh tay cưa đứt ngoém một chân anh. Cưa sát tới đầu gối, cưa không thuốc tê, cưa không thuốc mê, và cưa bằng cưa thợ mộc!
Sau khi vết thương kéo da non, Hòa được ưu ái cho về đội đan lát làm công việc nhẹ. Tới khi chuyển trại về Nam-Hà A anh Hòa cũng được làm việc nhẹ.
Nghe Hòa kể lại chuyện chui rào, mà tôi thấy sởn da gà và dựng tóc gáy.
Tôi sởn da gà vì không thể tin rằng trên thế gian này lại có thứ người gian manh, quỷ quyệt, và khát máu như tên cán bộ Việt-Cộng kia.
Hình như cái ác, cái gian đã tiềm tàng trong huyết quản của thằng cán bộ này từ ngày nó mới sinh ra?
Thay vì chỉ phạt cùm, phạt nhốt bỏ đói anh Hòa vài ngày, nó đã nghĩ ngay ra phương cách hợp lý để lạnh lùng bắn nát một chân anh.
Tôi dựng tóc gáy vì thấy cung cách cứu thương của Việt-Cộng sao mà dã man và tàn độc quá.
Ngày còn bị giam ở Trại 3 tôi đã nghe anh cựu Ðại úy Trần Mộng Long kể lại rằng, anh ta bị đau ruột dư, được mang lên bệnh xá Liên Trại 4 chữa trị.
Anh được mổ bụng bằng con dao cạo của thợ hớt tóc, mổ không thuốc mê, mổ không thuốc tê.
Thấy thế đã sợ rồi.
Nay so với chuyện cưa xương ống chân của anh Trần Văn Hòa, cũng không thuốc tê, không thuốc mê, mà còn bị cưa bằng cưa của thợ mộc thì chuyện mổ ruột dư của anh Trần Mộng Long chỉ là chuyện tầm thường, không đáng kể.
Cuối năm 1980 Trại Nam-Hà A có một đợt phóng thích. Trong số những người được thả có thân phụ của chú Tạ Văn Quang là cựu Ðại tá Tạ Văn Kiệt.
Buồng 16 cũng có hai người được về nhân dịp này; người thứ nhất là cựu Ðại úy Trần Bá Huệ của Phủ Tổng Thống, anh Huệ được ông Dương Văn Minh bảo lãnh, người thứ nhì là cải tạo viên Lê Văn Tịnh, không biết ai đã bảo lãnh anh ta.
Cũng nhân dịp này, Buồng 16 có nhân viên đánh xe cải tiến đổ thùng mới là anh cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân Nguyễn Văn Thương.
Anh Thương đã tình nguyện thay chân anh Chánh, vì anh Chánh bị bệnh sốt rét, xơ gan phải đi nằm bệnh xá.
Ngày Lê Văn Chánh được đưa xuống bệnh xá, tôi những tưởng rằng sớm muộn gì bạn tôi sẽ qua đời. May thay anh em gom góp được gần chục vỉ thuốc trị sốt rét hiệu Fansidar cho Chánh uống, nên Chánh thoát chết. Vì thế mà từ đó, Lê Văn Chánh có biệt danh là “Chánh Phăng Si Ða”
Bệnh xá nằm ở góc cuối sân, cách Buồng 16 một bức tường cao.
Người cai quản bệnh xá là Bác sĩ Trần Văn Chơn, em ruột Bác sĩ Trần Lữ Y Tổng Trưởng Y Tế Việt-Nam Cộng-Hòa.
Phụ tá cho Bác sĩ Chơn là Bác sĩ Trương Như Quyến, em ruột của Luật sư Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp của Chính Phủ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
Trong thời gian Lê Văn Chánh đi nằm bệnh xá thì có một phái đoàn quan khách ngoại quốc tới thăm trại. Những người không có phận sự như tôi bị tập trung rồi bị dẫn vào trong trại chăn nuôi của hình sự ngồi chờ, khi nào phái đoàn đi khỏi, chúng tôi mới được về. Trại chăn nuôi nằm cách Trại A chừng một cây số về hướng núi. Xế chiều chúng tôi được dẫn về.
Tôi về tới trại thì Lê Văn Chánh đã đứng chờ trước sân.
Chánh đưa cho tôi một lon sữa bò còn hơn nửa,
– Long uống đi! Uống cho khoẻ.
Tôi hỏi,
– Của hiếm này ở đâu ra thế?
Chánh hối thúc,
– Uống đi! Uống hết đi rồi tui kể cho nghe.
Tôi há miệng hút hết nửa lon sữa đặc không pha. Chất ngọt của sữa làm cho tôi muốn cứng họng.
Thì ra hôm đó phái đoàn đã xuống quan sát tại chỗ tình trạng sức khoẻ và đời sống của các cải tạo viên đang nằm bệnh xá.
Họ trầm trồ khen ban chỉ huy trại đã đối xử với tù rất là nhân đạo khi thấy đầu giường mỗi bệnh nhân đều có một hộp bánh ngọt và một hộp sữa đặc có đường.
Trong khi phái đoàn đang nói chuyện với Bác sĩ Trương Như Quyến thì Bác sĩ Trần Văn Chơn ra dấu cho anh em bệnh nhân mở bánh ra ăn, mở sữa ra uống.
Phái đoàn thấy cảnh này thì có vẻ thích thú lắm, vài vị quan khách còn đem máy ảnh ra bấm lia lịa…
Anh Lê Văn Chánh sau khi xơi hết hộp bánh ngọt bèn làm một hơi nửa hộp sữa đặc có đường. Uống được nửa chừng thì Chánh nhớ tới tôi. Chánh để dành cho tôi nửa hộp.
Phái đoàn đi rồi, Bác sĩ Quyến mới giãy nảy lên,
– Anh Chơn! Anh cho tụi nó ăn hết đồ biểu diễn thì anh chịu trách nhiệm đó. Tui coi như không dính dáng gì tới vụ vi phạm này!
Bác sĩ Chơn đóng vai ngây thơ,
– Ủa! Không phải là mấy thứ đó trại đem xuống để bồi dưỡng cho người bịnh ư?
Bác sĩ Quyến trợn mắt,
– Bồi dưỡng cái con khỉ! Chỉ để biểu diễn thôi! Hết thăm viếng mình phải thu lại trả cho trại!
Hôm sau có lệnh của ban chỉ huy trại cho Bác sĩ Trương Như Quyến làm “Bác sĩ Trưởng” còn Bác sĩ Trần Văn Chơn tụt xuống làm nhân viên.
Cũng tự đó về sau, mỗi khi có phái đoàn tới thăm, tất cả bệnh nhân già, trẻ, què quặt, hay liệt chiếu, liệt giường đều bị điệu sang trại chăn nuôi từ sáng sớm.
Thay vào đó là những tù hình sự được nằm vào giường bệnh và được dặn dò cẩn thận rằng không được mở mấy gói bánh ngọt và sữa hộp ra ăn.
Những đồ ăn này chỉ để trang trí lòe mắt phái đoàn.
Phái đoàn đi rồi thì những thứ này phải đem trả lại cho căng tin của trại.
Ðầu năm 1981 có đợt chuyển trại quy mô đầu tiên. Một số tù được di chuyển từ Nam Hà để về Nam, tới các Trại Gia-Trung, Pleiku và Z30C, Z30D, Hàm-Tân, Thuận-Hải.
Những nhân vật ở Buồng 16 có liên quan trực tiếp tới cái radio và cái quan tài của Trần Hàn là Hồ Văn Hòa, Tạ Văn Quang, Trần Tiến Bích, Vương Mộng Long, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Ninh, đều được di chuyển vào Nam.
Riêng cải tạo viên Lê Văn Chánh vì mang bệnh sốt rét nặng nên còn nằm bệnh xá.
Tới đầu năm 1982 Chánh Phăng Si Ða cũng được chuyển trại.
Sau đợt giảm tù lần này Trại Nam-Hà A bắt đầu bị đưa vào chế độ cai quản khắc nghiệt hơn xưa.
Lò sát sinh Trại Mễ…
Tôi đã bị đưa vào Nam từ đầu năm 1981, những sự việc xảy ra từ 1982 tới 1988 mà tôi ghi lại tiếp theo đây là lời tường thuật của các anh cựu Ðại tá Biệt Ðộng Quân Cao Văn Ủy, cựu Ðại úy Thủy Quân Lục Chiến Mai Văn Tấn và cựu Ðại úy Ðại Ðức Lê Thái Bình.
Một hôm, ông cựu Trung tá Nguyễn Huề lang thang sang buồng khác thăm bạn bị tên Chèo Lực bắt gặp. Lời qua tiếng lại vài ba câu chưa xong thì tên Chèo Lực đã ra tay đánh ông Huề.
Sáng hôm sau, giờ tập họp đi lao động anh em Ðội 20 đã reo hò “đả đảo!” để phản đối Chèo Lực.
Ða số cải tạo viên Ðội 20 là những người còn rất trẻ, là thành phần phản động và Phục Quốc.
Ðội trưởng Ðội 20 là cựu Trung úy Pháo Binh tên là Nguyễn Văn Hồng.
Hồng nhỏ con, trắng trẻo, mắt lồi, nhưng rất dễ mến.
Hồng là một nhạc sĩ tài tử, anh đã viết được vài bản nhạc mà bạn bè rất ưa thích. Trong đó nổi bật là hai bài “Như Mưa Cam Lồ” và “Ðôi Giày Dũng Sĩ.”
Nguyễn Văn Hồng là một con chiên Công Giáo, nhưng khi thai nghén tác phẩm “Như Mưa Cam Lồ” thì anh đã tham khảo ý kiến của cựu Ðại úy Ðại Ðức Tuyên úy Phật Giáo Lê Thái Bình, do đó lời của bài hát này đã giống như lời tiên tri của sự mất mát, của sự chia ly, và của sự siêu thoát.
Trong khi đó thì lời ca của bài “Ðôi Giày Dũng Sĩ” lại mang tính chất bùng nổ, tàn phá như tiếng súng thần công, tiếng đạn đại bác.
Bài hát mở đầu với câu, “Ðôi giày dũng sĩ đạp nát quân thù!”
Lời ca này đã thể hiện con người thật của Nguyễn Văn Hồng là một sĩ quan Pháo Binh.
Vì trình độ ký âm của Nguyễn Văn Hồng không khá cho lắm, nên mỗi khi viết xong một bài ca, Hồng đều nhờ nhạc sĩ cựu Ðại tá Lê Thọ Trung chỉnh sửa.
Hôm đó Ðội 20 đã châm ngòi một cuộc nổi dậy.
Trong sân trại, tiếng la ó dậy trời lan từ đội này tới đội khác.
“Ðả đảo Chèo Lực! Ðả đảo Cộng Sản!”
Thế là không khí bỗng chốc sục sôi như sắp có bạo loạn.
Ngay lập tức, vệ binh ào xuống đuổi tất cả trại viên về buồng.
Hôm sau Ðội 20 bị áp tải sang phân trại B.
Ðại đức Lê Thái Bình thuộc quân số của Ðội 20 nên bị đem đi đã đành, nhưng “Con nhạn là đà” Mũ Xanh Mai Văn Tấn ở Ðội 27 mà cũng bị còng tay thì thật là oan.
Ngày xảy ra chuyện lộn xộn, Mai Văn Tấn không những đã tích cực to tiếng “Ðả đảo Chèo Lực!” mà còn nhởn nhơ quơ chân, múa tay trước mắt cán bộ, nên cán bộ đã túm cổ, còng tay, tống vào trong hàng ngũ Ðội 20.
Vào Trại B các anh hùng trẻ tuổi của Ðội 20 vẫn tiếp tục các hành động chống đối và phá rối.
Ở đây cũng đã có những nhân vật cứng đầu, bất khuất sẵn sàng chung vai sát cánh với Ðội 20 như cựu Trung tá hoa tiêu Trực thăng Nguyễn Văn Trọng, cựu Ðại úy Ðơn vị 101 Nguyễn Tấn Mới.
Buổi sáng ngày mà Ðội 20 chuẩn bị rời Trại B thì tên trưởng trại cho lệnh tập họp tất cả tù đứng trước sân rồi lớn tiếng hỏi,
– Các anh thấy Ðội 20 phá phách, quấy rối như thế thì đúng hay sai?
Trong hàng ngũ tù có ai đó trả lời thật lớn,
– Ðúng! Ðội 20 phá phách là đúng!
Ngay lập tức, người vừa phát ngôn câu phát biểu trên đã bị tống vào hàng ngũ Ðội 20. Người trẻ tuổi này là một cải tạo viên diện Phục Quốc và phản động. Cậu ấy mới 15 tuổi, có tên là Tài. Anh em gọi cậu bé này là Tài Con.
Rồi Ðội 20 cùng các cảm tình viên của đội này là Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Tấn Mới, Tài Con bị trói tay đưa lên xe chở ra Trại Mễ.
Trại Mễ là tên của một trại tù xây dựng trong ngôi làng có tên là làng Mễ ở Phủ Lý. Nhân chuyến chuyển trại từ Thái Nguyên về Nam Hà đầu năm 1979 tôi đã có dịp ngủ qua một đêm ở trại này. Trại có hai hệ thống nhà giam, một ở dưới hầm và một ở trên mặt đất. Mỗi hầm có sức chứa khoảng bốn chục tù nhân nằm sát nhau. Ngày qua trại này, tôi bị nhốt trong hầm nên không rõ trên mặt đất có hình dáng thế nào.
Từ năm 1982 thì Trại Mễ trở thành một chi nhánh đặc biệt của Trại Nam Hà.
Trại này là nơi tập trung hai dạng tù.
Tù cứng đầu, và tù nhân bị bệnh nặng.
Người ta đặt tên cho Trại Mễ là “Ðoạn Ðầu Ðài” hay “Lò Sát Sinh” vì ai bị đưa tới đây chắc chắn sẽ không sống sót.
Tù cứng đầu bị tra tấn và bỏ đói cho tới chết. Tù bệnh nặng thì không cần chữa trị, cứ để nằm đó chờ bao giờ tắt thở thì đem chôn.
Khẩu phần lương thực của tù nhân ở đây bị cắt giảm 50 phần trăm, nghĩa là chỉ có nửa chén bo bo mỗi bữa, nước thì nửa lon Guizgo để uống, nửa lon Guizgo để làm vệ sinh một ngày.
Tù bình thường sẽ được tắm rửa mỗi tháng một lần, còn tù loại nguy hiểm thì sáu tháng mới được tắm gội một lần.
Ðội 20 tới Mễ không lâu thì một vụ giết người đã sớm xảy ra, kết thúc một mạng sống.
Khi biết tin anh cải tạo viên cựu Thiếu úy Cảnh Sát Vương Khai Quân, trong kỳ thăm nuôi vừa qua đã được người nhà dúi cho một cái nhẫn hai chỉ, thì cán bộ Ðản cai tù đã sai tên Trí, một tù hình sự siết cổ Quân để cướp vàng cho Ðản. Chuyện giết người cướp của vỡ lở, tên Trí bị còng tay đem đi, không rõ đi đâu. Xác của Vương Khai Quân thì ra nghĩa địa.
Ở Trại Mễ bỗng có bệnh kiết lỵ.
Bệnh này lây lan rất nhanh và giết người cũng rất nhanh.
Sau cái chết của Thiếu úy Vương Khai Quân là cái chết của cựu Trung sĩ Không Quân Nguyễn Văn Ðịnh.
Trung sĩ Ðịnh chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng, nghĩa là vừa bị đi cầu ra máu, vừa bị sốt cao.
Nguyễn Văn Ðịnh là người tù cùng buồng với Ðại Ðức Lê Thái Bình. Thấy Ðịnh nằm im không thở, Bình bèn bắc loa tay la lên,
– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!
Cán bộ bước vào vạch mắt Ðịnh ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðịnh đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,
– Chết rồi! Ðem đi!
Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðịnh xuống nhà tẫn liệm.
Tuần sau, cựu Trung tá Nguyễn Văn Trọng được đưa tới giam chung buồng với Lê Thái Bình. Anh Trọng cũng đang bị bệnh.
Trọng than thở rằng anh đói bụng lắm, Bình đã bóp bụng nhường cho bạn một nửa phần ăn, nhưng Trọng vẫn đói.
Sau đó, Nguyễn Văn Trọng được chuyển sang chung phòng với Nguyễn Tấn Mới.
Rồi một buổi tối Trọng được đưa qua bệnh xá chữa bệnh.
Nhưng y tá vừa chích cho Trọng một mũi thuốc thì chỉ vài phút sau Trọng đã tắt thở.
Giết người xong, cai tù treo cổ anh lên rồi kết tội rằng anh ấy đã tự tử.
Tôi nghĩ thầm trong bụng, ở đâu bọn sát nhân này cũng áp dụng một phương cách giết người giống nhau.
Năm 1976 tôi đã chứng kiến vở kịch “tự tử” của nhân vật cựu Thiếu tá Nguyễn Hữu Ðông ở Trại 4 Liên Trại 4 Hoàng Liên Sơn.
Ông Ðông can tội trốn trại, bị cùm chân, còng tay, vậy mà cai tù đã nói rằng ông Ðông chết vì treo cổ tự tử.
Nay nhân vật Trần Hàn của Trại Nam Hà A cũng bị cùm chân, còng tay, cũng chết vì treo cổ tự tử.
Năm 1976, sau khi trốn trại lần thứ nhứt thất bại, tôi đã bị đưa về Trại 4 Hoàng Liên Sơn, bị nhốt trong cái buồng giam mà anh Ðông đã bị nhốt trước đó vài ngày.
Tôi đã bị cùm chân và còng tay, nằm ngay trên cái sàn gỗ mà anh Ðông đã nằm.
Trong phòng giam này, cái xà ngang cao lắm! Muốn treo cổ lên xà phải đứng trên ghế! Tìm đâu ra cái ghế? Tìm đâu ra sợi dây dù để làm thòng lọng?
Ngày được thả ra khỏi phòng kiên giam để về đội lao động ở Trại 4 năm 1976, bạn bè tôi đã kể cho tôi nghe rằng, cái đêm mà Thiếu tá Ðông bị treo cổ thì quạ ở đâu bay về đậu kín mái buồng giam.
Rồi cứ “Quang quác! Quang quác!” lũ quạ tranh nhau kêu om sòm cho tới sáng.
Có phải đêm qua vì anh Hàn bị cai tù giết chết mà giữa khuya tôi đã mơ hồ nghe văng vẳng, xa xa tiếng quạ gọi nhau?
Vụ án Trần Hàn là một vụ án hoàn toàn không có tang chứng, không có vật chứng và không có nhân chứng.
Anh Hàn không bị bắt quả tang khi đang tàng trữ chiếc radio.
Anh Hàn bị bắt với hai tay không; cán bộ đã không tìm thấy cái máy thu thanh nào.
Không có ai làm chứng hành động phạm tội của cải tạo viên Trần Hàn.
Trong Buồng 3 có cả trăm tù nhân bị nhốt chung với anh Hàn, nhưng không có tòng phạm nào bị bắt cả.
Trong khi đó, tên Công An quản giáo Ðội 32 đã tiết lộ nguyên nhân vì sao anh Hàn đã chết là:
“Ðêm qua cán bộ đã treo cổ người tù giữ cái radio để dằn mặt các cải tạo viên khác.”
Như vậy, đây là một vụ giết người có chủ đích của bọn cai tù.
Chuyện Thiếu tá Trần Hàn treo cổ tự tử chỉ là một màn kịch được dàn cảnh để bọn sát nhân hợp thức hóa cái chết của Thiếu tá Trần Hàn mà thôi.
Từ ngày không còn tin tức do nghe radio nữa, quân ta đành truyền tai cho nhau tin tức thế giới đã nghe được qua những lần thăm nuôi của gia đình. Mất hy vọng này, ta nuôi hy vọng khác.
Tin tức từ thân nhân qua thăm nuôi cũng có tin vui, tin buồn, tin thật và tin giả.
Có một tin vui rộ lên rằng, hiện nay trong rừng núi Bạch-Mã ở Miền Trung có một trung đoàn Việt-Nam Cộng-Hòa đang ẩn náu và chiến đấu, người chỉ huy trung đoàn này là Trung tá Hoàng Mão, một anh hùng của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.
Tin vui này vừa qua cổng đã được rỉ tai lan truyền rộng rãi, và đã làm cho một số tù ù ù, cạc cạc vui mừng. Những người biết chuyện nghe tin, lại ôm bụng mà cười.
Người ta cười vì thực ra, thời gian này cựu Trung tá Hoàng Mão cũng là một cải tạo viên đang bị nhốt ở Buồng 15. Hoàng Mão là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi.
Vào một ngày trời mưa, ông Hoàng Xuân Tửu vào gọi tôi ra nhà văn hóa để gặp người nữ cán bộ Công An phụ trách thăm nuôi.
Viên nữ cán bộ hỏi tôi,
– Anh có quen ai tên là Bùi Tiến Tỉnh không?
Tôi lắc đầu,
– Không!
– Vậy Bùi Tiến Tỉnh không phải là anh của anh sao?
Tôi khẳng định,
– Không!
Người nữ Công An lườm tôi một cái rồi lắc đầu,
– Mới ăn cơm tù có mấy năm mà anh đã lú đã lẫn rồi! Ðến anh của mình mà cũng nói là không quen!
Tôi nhíu mày,
– Tôi không có anh có chị thì nói là không có anh có chị, chứ lú với lẫn cái gì?
Nghe thế, người nữ Công An lại hỏi,
– Có phải anh là người quê Hải Hưng không? Anh Bùi Tiến Tỉnh ở Hải Hưng tự xưng là anh của anh đấy!
Tới lúc này tôi mới vỡ lẽ, chợt nhớ ra, người có tên là Bùi Tiến Tỉnh chắc là ông anh con cô con cậu của tôi ở Hải-Dương. Ngày xưa, khi tôi di cư vào Nam thì anh ấy còn bé lắm.
Tôi gật gù,
– À! Chắc anh Tỉnh là con bác tôi. Tôi ở trong Nam, anh ấy ở ngoài Bắc chưa thấy nhau bao giờ, nên không nhớ ra, cán bộ cho tôi ra gặp anh ấy đi!
Người nữ Công An nhìn tôi rồi lắc đầu,
– Người ngoài Bắc nhỏ tuổi hơn thì nhớ họ, nhớ hàng, người trong Nam lớn tuổi hơn lại chẳng thèm nhớ ai!
Tôi buột miệng nói cho qua,
– Ðúng rồi! Người trong Nam lớn tuổi hơn nên lẩm cẩm!
Quả thực tôi lớn lên ở trong Nam, đến người cùng quê còn không thấy, huống chi họ hàng thân quyến còn ở ngoài Bắc. Anh Bùi Tiến Tỉnh là con ông Bùi Văn Ðệ, anh ruột mẹ tôi. Người Nam gọi anh của mẹ là cậu, còn ở ngoài Bắc lại gọi là bác. Bác Ðệ có hai vợ, người con gái lớn của bác cùng tuổi với tôi, còn anh Tỉnh là người con thứ nhì. Anh Tỉnh nhỏ hơn tôi sáu tuổi. Ngày tôi di cư vào Nam thì anh Tỉnh mới lên sáu.
Anh Tỉnh sinh ra và lớn lên trong thành phố Hải Dương nên không bị nói ngọng, nhưng giọng anh vẫn cưng cứng, tôi nghe không quen.
Anh Tỉnh thân hình vạm vỡ và cao hơn tôi một cái đầu.
Anh tôi ôm tôi, rồi khóc như mưa,
– Ngày chú ra đi thì anh còn bé tí đâu biết gì? Nếu đất nước cứ chia đôi thì suốt đời anh em không thấy nhau. Vậy mà giờ đây anh được gặp em. Anh mừng quá sức. Ðúng là ông giời có mắt!
Anh tôi đúng là hiện thân của một công nhân chân chất thật thà.
Cổ nhân có câu “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã!” quả là không sai.
Tôi là người không có anh chị, bố tôi lại mất sớm, nên vòng tay siết chặt của anh Tỉnh đã cho tôi cái cảm giác thật là ấm áp khi lần đầu được một người anh ôm ấp, vỗ về.
Anh tôi kể hết chuyện này sang chuyện nọ, nào là ông nội, bà nội của anh, tức là ông ngoại, bà ngoại của tôi thương nhớ mẹ con tôi ra sao, rồi ông bà tôi chết năm nào. Hết chuyện canh tác ruộng đất, anh nói qua chuyện xây nhà xây cửa, chuyện lụt lội hàng năm, rồi tới chuyện anh cưới vợ sinh con.
Tôi cứ ngồi yên mà nghe anh tôi tâm sự, cho tới lúc anh tôi cầm tay tôi rồi nhỏ giọng,
– Chiến tranh quả là quá tàn khốc! Anh rất muốn em trả lời anh một thắc mắc, em có vui lòng không?
– Anh cứ hỏi.
– Em là người suốt đời đánh trận. Vậy em có bao giờ chôn một bộ đội Miền Bắc xâm nhập tên là Hải không?
Tôi phì cười vì câu hỏi quá ngây thơ,
– Sau một trận đánh thì số người chết có khi cả chục, có khi cả trăm, ai công đâu mà lục xác, tìm tên tuổi từng người. Ủa! Mà Hải là ai vậy anh?
– Em Hải là con dì Muối, Long quên rồi à?
Tôi chỉ nhớ mang máng, bà Muối là vợ hai của bác Ðệ nhưng không biết bà Muối có người con là anh Hải, tôi hỏi anh Tỉnh,
– Vậy anh Hải là em khác mẹ với anh? Anh Hải chết ở trong Nam à?
– Em Hải nhỏ hơn anh hai tuổi. Hải bị gọi đi nghĩa vụ. Nó đi B và đã hi sinh trong trận Pơ lây me năm 1974. Em có biết Pơ lây me ở đâu không?
Tôi chột dạ khi nghe tin một người anh con cô con cậu của tôi đã chết trên chiến trường mà tôi đã tung hoành trong nhiều năm.
Tôi cầm tay anh Tỉnh,
– Biết! Tôi biết Pleime ở Pleiku, Pleiku ở Cao Nguyên Trung Phần Việt-Nam Cộng-Hòa.
Anh tôi chợt ngước mắt lên trời, rồi gật gù,
– Cốt nhục tương tàn! Chắc ngày đó em không biết rằng trong đoàn quân vào Nam để đánh nhau với em lại có người anh con cô con cậu của em! Ðiều đáng buồn là em Hải đã chết. Nhưng điều đáng vui là sau chiến tranh em Long vẫn còn sống.
Tôi chẳng biết phải nói gì khi nghe câu bình luận có vẻ “hòa tiền” của anh tôi.
Cứ thấy người chết thì buồn, cứ thấy người sống thì vui!
Cách suy nghĩ cũng như cách giải thích của anh tôi sao mà giản dị quá vậy?
Quà mà anh Tỉnh mang lên thăm nuôi tôi là một bao cát chứa 10 ký lô gạo ruộng mới xay cùng cái bao giấy xi măng bọc kỹ 20 con cá mối phơi khô.
Tôi lấy làm lạ khi thấy những người tù được thăm nuôi và thân nhân của họ còn đang quây quần bên nhau chuyện trò, ăn uống, thì anh Tỉnh đã ôm tôi rồi nói câu từ biệt,
– Thôi! Anh phải về. Sợ nhỡ chuyến tàu hỏa Phủ- Lý, Hà- Nội tối nay. Lại còn phải lo chuyện đi nhờ xe vận tải xuôi Hải-Dương nữa chứ!
Trước lúc bước đi, anh lại cầm tay tôi lần nữa,
– Của ít, lòng nhiều. Trong khả năng của anh, anh chỉ có chút quà này đem cho em, mong em đừng chê.
Trong màn mưa mỏng giữa trưa, hình bóng anh tôi mờ dần, mờ dần, rồi biến mất sau con dốc dẫn xuống phân trại C.
Thì ra, để có thời gian chừng nửa giờ để thăm đứa em con bà cô đang bị giam giữ ở Nam-Hà A, người công nhân Bùi Tiến Tỉnh đã phải rời Ngã Sáu Hải Dương từ nửa đêm qua. Sau khi quá giang theo một chiếc xe vận tải để tới Hà Nội, anh liền nhảy tàu hỏa nhưng không mua vé để về Ga Phủ-Lý. Ở bến đò Phủ-Lý, anh năn nỉ người kiểm soát vé phà để được miễn trả tiền qua Hát Giang.
Rồi vác 10 ký lô gạo trên vai, tay xách 20 con cá khô, anh cuốc bộ một hơi từ bến phà sông Ðáy tới Nam Hà.
Thăm em chưa được nửa giờ anh đã phải về. Trên con đường ngược chiều ấy, anh sẽ cuốc bộ, sẽ qua phà, sẽ nhảy tàu, sẽ quá giang xe tải xuôi về quê tôi, Hải-Dương.
Con đường trở về của anh có lẽ không còn vất vả như lúc anh đi. Trên vai anh nhẹ tênh, không còn gạo, không còn cá.
Tôi nghĩ rằng, chắc chắn trên đời này hiếm có người anh con cô con cậu nào tốt bụng như ông anh của tôi. Tội nghiệp anh tôi!
Nhìn màn mưa đang giăng trên những đỉnh núi đá vôi, rồi mường tượng ra đoạn đường gập ghềnh lầy lội từ đây ra Phủ-Lý, tôi bỗng thấy thương anh tôi quá.
Tới chiều, tù được thăm nuôi xếp hàng đi về trại.
Ai cũng gánh nặng, gánh nhẹ, riêng tôi chỉ cần một tay xách, một tay ôm.
Không biết các bạn được thăm nuôi cùng ngày với tôi có được thân nhân thông báo cho chút tin tức quốc nội, quốc ngoại gì không, chứ tôi thì chẳng có chuyện gì vui lạ để mà kể lại cả.
Lần thăm nuôi trước cách nay hơn nửa năm, mẹ tôi và vợ tôi từ Nam ra, tôi đã chia sẻ đồ ăn cho một số bạn thân.
Kỳ này vì “Của ít, lòng nhiều” nên tôi chỉ mời một người bạn là Lê Văn Chánh. Từ ngày đi tù tới giờ này, chưa có ai ra thăm Chánh.
Nghe tôi mô tả chặng đường mà bao gạo 10 ký lô đã đi để tới Nam Hà, bạn tôi đã đưa tay chùi nước mắt,
– Tội nghiệp ông anh của Long!
Lê Văn Chánh là một nghệ sĩ, nó mau nước mắt lắm!
Nghe một câu chuyện thương tâm là nó khóc, thấy một chuyện thương tâm là nó khóc.
Bưng bát cơm, nghe kể nguồn cơn đường đi, nước bước của bát cơm, nó cũng khóc.
Rồi nó tiếp tục vừa khóc tỉ tê, vừa kể cho tôi nghe một chuyện thăm nuôi, cũng rất buồn ở phân trại B.
Nó nghe được chuyện này khi đi đổ thùng sáng nay.
Mới cách đây hai hôm, có một bà vợ ông cựu đại úy dẫn một đứa con gái từ trong Nam ra thăm chồng.
Cháu bé mừng vui vô cùng vì sau bao tháng ngày nhung nhớ, cháu đã được gặp mặt bố cháu. Trên đường về, cháu vui, cháu nhảy chân chim…
Nhưng ông cựu đại úy vừa về tới buồng giam thì đã có tin con gái ông mới bị bắn chết!
Cháu chết ở chân dốc Ba Sao, nơi đây Trại Nam Hà C và Trại Tâm Thần ở sát nhau.
Ðã xảy ra ẩu đả giữa nhân viên giữ tù tâm thần và cai tù Trại C.
Sau khi đánh nhau bằng tay, chúng nó đã bắn nhau bằng súng.
Một viên đạn lạc đã cướp đi sinh mạng đứa bé gái vừa vượt cả ngàn cây số đường dài từ Nam ra Bắc để thăm bố.
Cháu bé đã được chôn bên cạnh mộ những người bạn tù của bố nó trong nghĩa địa tù Trại C.
Hai ngày sau khi tôi được thăm thì anh bạn cựu phi công Trần Tiến Bích nằm sát bên tôi cũng được thăm. Khách mời của Bích chiều hôm đó là một thương binh cụt một chân tên là Trần Văn Hòa.
Cựu Ðại úy Trần Văn Hòa là phi công của Phi Ðoàn 215 Thần Tượng, đồn trú ở Nha Trang. Thời 1968 tôi thường được phi cơ của đơn vị này chuyển vận trong các cuộc hành quân ở Cao Nguyên Vùng 2.
Thấy anh Hòa bị què một chân, tôi thắc mắc,
– Ủa! Anh là thương binh mà cũng bị bắt đi cải tạo ư?
Anh Hòa lắc đầu,
– Tôi không phải là thương phế binh. Tôi mới bị cưa chân đó!
Rồi Hòa từ từ tường thuật cho tôi nghe nguyên do vì sao anh đã bị què…
Thời gian mà tôi còn bị giam ở Trại 4 Liên Trại 4 thì Hòa bị giam ở Trại 9.
Ðói quá, nên hàng đêm Hòa thường chui rào ra vườn sắn moi mấy củ sắn vào nấu, nướng để ăn cho đỡ lòng.
Tôi đứng bên bờ sông Congo khi trời chiều sắp tắt. Mây đen phủ kín chưn trời và gió nhẹ phơ qua mát mặt. Dòng sông êm ả, nước lững lờ chảy mang theo đám cỏ dại, rác rến bềnh bồng trôi. Bên kia bờ nhiều con rạch xuyên sâu vào khu rừng thấp. Đoàn xuồng độc mộc của thợ rừng từ trong giòng rạch bơi ra sông lớn, nối đuôi nhau hướng về xóm nhỏ ven sông. Bỗng từ đâu lại vang lên tiếng ì ì ì… rền rền trên mặt nước và tiếp theo tiếng hú vút cao nghe như tiếng lệnh buổi trời chiều. – Sông nầy giống sông Cửu Long lắm phải không? Nghe tiếng nói phía sau tôi day lại, thấy Jono đã tới đứng cạnh bên. Tôi lắc đầu mỉm cười cãi lại: – Không đâu, sông Cửu Long sâu và nước chảy xiết sống động hơn đây nhiều, tuy có lắm nơi hoang dã nhưng không trầm buồn như dòng sông nầy. – Mầy làm thơ đó hả? – Tui nói thiệt mà. Jono không hỏi thêm và anh cũng không tiếp tục câu chuyện sông nước nữa mà câu vai tôi, anh nói như ra lịnh: – Ra phố chơi. Tôi bước theo anh ra khỏi cửa rào bến cảng bất chợt trời đổ mưa, chúng tôi phải chạy lại trạm canh đứng đụt. Miệt trung Châu Phi gió không nhiều nhưng nắng thì như đổ lửa, còn mưa thì ào ào như trút nước nhưng không trận mưa nào kéo dài suốt ngày đêm. Trong lúc chờ mưa tạnh, Jono mời anh gác cổng điếu thuốc làm quen. Vừa phì phà khói thuốc vừa trò chuyện về cách sinh hoạt của thành phố Boma… Nói xong ba điều bốn chuyện thì trời mưa đã tạnh. Chúng tôi từ giã anh gác cổng bước ra ngoài thì phố đã lên đèn. Điện nơi đây hơi yếu nên đèn phố mờ nhạt làm tôi ngại đi lang thang ngoài đường. Sau khi dạo qua hai ba khu phố cũ kỹ và nhìn ngắm những con người đen thui, tôi đề nghị Jono ghé vô một quán nước nằm nép dưới những tàn cây xoài xum xuê lá. Bà chủ quán mập thù lù, da đen như than đước tay cầm nùi giẻ lau chiếc bàn còn ướt nước mưa, thấy chúng tôi vô bà ngừng tay bước ra, miệng xí xô xí xào, tay ra dấu mời chúng tôi vô chỗ khô ráo bên trong mái hiên. Tôi đề nghị Jono ngồi ngay chiếc bàn mà bà mới vừa lau. Ngồi đây mát mẻ và nhìn được cảnh vật bên ngoài. Boma là một trong những thành phố lớn nước Zairia, đường xá lưa thưa xe cộ. Một em gái ốm nhom, rách rưới đến chìa tay miệng lẩm bẩm phát ra âm thanh lạ tai, tuy không hiểu nhưng cũng làm cho tôi chạnh lòng, xót dạ. Không hẹn mà tôi với Jono cùng móc túi một lượt, mỗi người lấy một tờ giấy bạc dúi vô tay em. Cô bé cúi đầu rạp xuống miệng lí nhí chào chúng tôi rồi bước ra ngoài. Nhìn theo chiếc áo rách như giã cào không che hết tấm thân gầy gò của em gái, tôi bùi ngùi nhớ những thành phố bên kia bờ đại dương xa thẳm, nơi đó có đất nước của tôi và cũng có nhiều con người rách rưới lang thang lê thân đi khắp đầu phường cuối phố. Có lẽ Jono cũng nhớ tới In Ðô, quê nghèo của anh, mặt anh đăm chiêu ngó ra con đường lớn. Bỗng dưng một cơn gió mạnh tạt ngang làm tàn cây xoài vang tiếng lào xào, cùng lúc vừa nước vừa trái con rớt xuống lộp độp. Một trái xoài xanh rớt tỏm vô ly bia của Jono, anh đưa hai ngón tay kẹp gắp trái xoài non bỏ vô miệng nhai rau ráu: – Ngon hông? Tôi hỏi. – Chua, chát mà ngon sao. Tôi không muốn biến chuyện trái xoài con ra câu triết lý xa xôi. Tôi ngước mặt lên nhìn nhánh xoài có nhiều bông màu trăng trắng quằn sai; trái lớn bằng cườm tay, trái nhỏ bằng ngón tay cái, trái nào cũng còn xanh, tôi nói: – Mới tháng chín mà xoài ở đây đã có trái non. Và chúng tôi tiếp tục nói về chuyện mùa màng khác nhau ở mỗi bán cầu… Từ ngoài có hai người con gái bận đồ loại bông gì hổng biết mà màu đỏ hoét, người da đen hay ăn bận màu mè hoa lá cành, mặt mày, tay chưn thoa kem láng mướt, trông hai cô như chiếc bóng đi trong ánh đèn nhàn nhạt toả ra từ cây cột điện trước nhà. Hai cô đi lại chỗ chúng tôi nói tiếng bản xứ và huơ tay ra dấu ý muốn làm quen. Jono đồng ý cho hai cô ngồi và kêu thêm bia ra mời hai cô uống. Chúng tôi là thủy thủ, quen trò chuyện với những ngôn ngữ xa lạ và ra dấu bằng tay nên qua hồi nói chuyện cũng đoán biết được hai cô gái sanh đôi, thảo nào hai cô ăn bận như nhau và hình hài giống như hai bức tượng đồng đen đúc cùng một khuôn. Chuyện vãn đến hơn mười một giờ đêm. Hai cô đề nghị chúng tôi cùng về nhà ở tới khi nào tàu chạy thì chia tay. Jono day qua tôi dọ ý. Tôi lắc đầu không thuận. Jono gật gật cái đầu, nhìn tôi mỉm cười: – Tao biết mầy là người tốt, nhưng hai cô gái nầy đương cần tiền. – Thì mình cho tiền. Tôi lần túi móc tiền, anh đưa tay ra dấu chận lại: – Khoan đã, nếu hai cô cần tình nữa thì mầy làm sao? Anh nắm bàn tay kẹp ngón cái vô giữa kẽ ngón trỏ và ngón giữa ra dấu tục quốc tế, anh gặt gặt và hai cô gái cũng gật gật cái đầu cười rộ. Tôi cũng cười theo: – Tôi hiểu rồi, vậy thì mình sẽ giúp cho hai cô vừa tình vừa tiền ha ha… Chúng tôi theo hai cô gái tới một căn nhà lá cạnh bên khu vườn chuối. Nhà không có đèn điện, chiếc đèn dầu để trên kệ tỏa sáng lờ mờ. Những cái nồi, cái chảo đen thui cũng như màu da hai cô gái, treo úp lên một bên vách lá, chái bếp bò hóng giăng đầy. Phía trước sân xi măng để mấy lu nước, chung quanh nhà trồng toàn là chuối. Nhìn cảnh nghèo nàn, thiếu thốn làm lòng tôi quặn thắt, lại nhớ quê hương… Jono hỏi tôi ưng cô nào. Tôi nói cô nào cũng được, cũng đen thui như nhau. Jono cười và hai cô gái cũng cười hở hai hàm răng trắng nhách. Trời chuyển mây đen nghịt, không khí thoảng qua man mát. Cô gái ngồi cạnh tôi vói tay xụp tấm rèm xuống. Thấy Jono và cô gái sắp cởi áo, tôi ái ngại đưa tay khoa một vòng, hỏi: – “Làm” tập thể à? Hai cô gật đầu. Tôi day qua Jono gợi ý. Anh lắc đầu nói, đối với anh không có vấn đề gì hết. Anh và cô gái tiếp tục cởi áo quần rồi leo lên bộ vạc lót bằng cây và tự nhiên hội nhập vào cái thế giới hoang dã của sông nước và rừng thấp nơi đây… Cô gái ngồi cạnh bên tôi cởi xong chiếc áo và cô định tháo chiếc váy, tôi chận tay không cho cô cởi tiếp. Tôi để tay lên ngực cô gái tìm gợi chút hứng tình, nhưng vừa đụng tới tôi liền rụt lại và có cảm tưởng như đụng lên một lớp da bèo nhèo gờn gợn. Cô gái thò tay qua tôi mò mẫm… bàn tay nham nhám làm tôi nhột nhạt khó chịu, cô càng tiến sâu bao nhiêu thì con người đàn ông trong tôi càng teo lại bấy nhiêu… Tới khi Jono và cô gái kia xong chuyện rồi mà tôi vẫn còn bận nguyên quần áo. Cô gái nhăn nhó hỏi sao kỳ vậy. Tôi nói đó là chuyện tự nhiên. Jono day qua vừa đưa ngón tay cái lên gặt gặt vừa nói tại vì tôi là người tốt, rồi mấy người xúm nhau cười nữa. Cô gái ngồi cạnh tôi trông giống như cột nhà cháy. Tôi lấy chiếc áo bận lại cho cô và đứng lên đi ra khoảng sân nhỏ phía trước nhà, móc thuốc ra châm hút. Trời tấm tức vần vũ một chập nhưng không đổ mưa, mây dồn qua một bên như tấm màng đen vén ngang góc trời và ánh trăng hơn nửa mảnh hiện ra giữa khoảnh không gian trong vắt, ánh sáng mơ màng trải lên khắp vườn chuối. Đêm khuya mang mác nhẹ nhàng và yên ắng. Tiếng côn trùng vo vo rên rỉ rầu rầu. Cô gái bưng chiếc đèn dầu cùng với Jono đi ra chỗ mấy cái lu nước, cô để chiếc đèn một bên, rồi vói tay lấy chiếc thau nhỏ múc nước xối lên người Jono rửa ráy. Jono người In Đô thuộc giống Ambon da đen, tóc quăn cuộn sát da đầu, trông anh rất xứng đôi với cô gái và rất hài hoà với cảnh thiên nhiên của rừng, núi. Tôi định bỏ về nhưng khi mục kích hai người mộc mạc dưới ánh trăng, làm tôi nghĩ tới tiên tổ loài người, lần đầu tiên xuất hiện cũng trần trụi đâu đó trong rừng núi Châu Phi nầy. Từ trong tâm thức nhơ nhớ một nơi nào đó không rõ rệt, thấy hay hay nên tôi quyết định ở lại cho trọn hết đêm nay. Tôi búng điều thuốc qua khỏi đọt chuối, tàn thuốc tủa ra như pháo bông rồi tắt mất trong không gian. Tôi trở vô nằm cạnh bên cô gái trên tấm vạt. Ngày còn ở quê hương, tôi đi đóng đáy theo sông rạch cũng ngủ chòi và nằm trên chiếc vạt kết bằng cây rừng, hồi đó vô tư nên giấc ngủ nào cũng mê man, ngon lành và không mộng mị gì hết. Jono và cô gái trở vô cũng leo lên bộ vạt nằm nằm xuống, anh chồm qua chúng tôi đề nghị: – Nếu mầy không quen “làm” khi có người trông thấy thì tao đi ra ngoài. Tôi trấn an: – Không có vấn đề gì hết, anh sao tui vậy. – Ô kê. Jono day ngang ôm cô gái và tiếp tục công việc của anh… Cô gái nằm cạnh bên tôi cố gắng mằn mò nhưng chỉ làm cho tôi nhồn nhột thinh thích đủ để đi vào giấc ngủ chập chờn và không bận tâm ham muốn gì hết. Trong lúc mơ màng, tôi nghe tiếng rú khoái lạc của Jono và cô gái, sau đó nghe cô gái nằm cạnh bên thở ra một cái rồi rút tay về. Tất cả trở lại yên ắng và tôi đi vào giấc ngủ… Không biết ngủ được bao nhiêu, đến khi nghe tiếng động vạt hơi mạnh, tôi giựt mình mở mắt ra thì thấy một cô ngồi cạnh bên Jono đưa tay vuốt vuốt lưng anh và anh đương nhịp nhàng làm cái việc hồi mà sớm tới giờ anh đã làm. Hai cô trần trụi đen thui giống như hai cây than đước nên tôi không phân biệt được cô nào là cô nằm cạnh tôi ban nãy. Khả năng tình dục của Jono cũng giống như loài dê chúa, hồi hôm tới giờ anh cứ cà hì cà hục hết cô nầy tới cô kia vậy mà trông anh vẫn còn hùng dũng giữa… chiếu giường. Tuy tôi nhẹ nhàng ngồi dậy nhưng cũng làm cho ba người ngưng lại. Tôi đưa ngón tay lên miệng suỵt một cái và ra dấu kêu họ cứ tiếp tục, còn tôi thì bước xuống đi nhanh ra ngoài hàng hiên. Bầu trời trong vắt, ánh trăng đã nghiêng về phía Tây. Trên đầu cây, ngọn cỏ lãng đãng khói sương. Không gian yên ắng, chợt nghe tiếng kẹt kẹt trong góc vườn và có tiếng nước rớt lên lá cây lộp độp làm người tôi ơn ớn và sờ sợ. Bỗng dưng nhớ lại hồi còn ở quê nhà, ngày má tôi còn sống, bà có kể về sự chuyển dạ của cây chuối. Thường từ quá nửa đêm trước khi trời sáng, lúc âm dương giao tiếp, cây chuối rùng mình kêu kẹt kẹt do những bẹ chuối trên đọt nở rộng và nước từ trong thân chuối tuôn trào, tiếp theo là chồi ra một bắp chuối non. Vì cây chuối có đặc tính như người đàn bà chuyển dạ, cũng đau đớn, rênh rỉ và trào nước trước khi trồ bắp non. Cho nên tập tục Việt Nam có nơi khi đàn bà có chửa lỡ bị chết, người chồng đem một cây chuối hột trồng trước đầu mả, chờ khi nào cây chuối trổ thì biết người đàn bà dưới mộ đã sanh con. À, tôi biết rồi! Một cây chuối trong vườn cũng vừa làm xong nhiệm vụ thiêng liêng. Tôi cười khan và lấy thuốc ra châm, rít một hơi dài phà khói. Tôi đưa mắt nhìn ra góc phố, trong những căn nhà cao tầng có đèn điện, con người ta chắc cũng đương làm cái chuyện như con vật và trong khu rừng thấp ven sông có những con vật chắc cũng đương làm cái chuyện giống như con người… Từ xửa, từ xưa cho tới ngày nay, giữa lúc âm dương giao hợp là lúc động vật cũng rạo rực giao hoan. Bất cứ kẻ sang người hèn hay muôn thú và luôn cả cỏ cây đều run rẩy cùng hưởng khoái lạc giống như nhau. Vậy mà hồi chiều qua cho tới bây giờ tôi ngủ ít, suy nghĩ nhiều về kiếp nhân sinh, lòng ray rứt xót thương cho những con người đã trót sanh ra trong một xứ sở nghèo nàn, lạc hậu. Giờ đây nghe họ tỉ tê sung sướng cùng với cảnh trời đất giao hoà. Tôi chợt nhận ra trên cỏi đời nầy đâu ai cần ai phải xót thương ai. Trong lòng tôi bỗng dưng rạo rực, định quay trở vô cùng làm cái chuyện giống như mọi người, chợt nghe tiếng gà gáy vang phía sau nhà thì lòng háo hức tự dưng trùng xuống. Đã trễ rồi, đầu hôm không chịu hoà nhập với người ta, giờ nầy chộn rộn nhảy vào chia sẻ cũng chẳng sung sướng gì mà còn làm cho cuộc vui của họ thêm phần gián đoạn. Tôi rít hơi thuốc cuối cùng, búng tàn thuốc thẳng ra vườn chuối và ngước mặt lên trời từ từ phà khói, cũng là lúc phương Đông vừa rạng ánh bình minh… 2008-05-11
1. Tôi học chung với Nhân từ năm 1964 lớp đệ ngũ. Trước đó, tôi có năm năm học nội trú trường Pellerin, một trường dòng Lasan ở Huế do các Frère giảng dạy. Những năm học ở đó, tôi luôn đứng đầu lớp, là niềm tự hào của các Frère phụ trách và gia đình. Nhưng từ khi về học ở Đà nẵng, tôi chưa bao giờ vượt qua được Nhân. Lúc nhỏ tôi rất xấu tính, hay ganh tị, không muốn ai hơn mình. Do vậy, tôi chẳng ưa gì Nhân. Thành phố này có hai ông Đốc. Một ông Đốc học phụ trách chuyện giáo dục của toàn thành, ông Đốc này là ba Nhân. Ông Đốc thứ hai là ông Đốc tờ, tức là ba tôi, quản lý ngành y tế của thành phố. Mấy ông quan chức thường tụ họp nhau vào sáng chủ nhật ăn sáng, uống cà phê, bàn chuyện thời thế. Sau khi mất nhiều thì giờ trao đổi chuyện chính trị, chuyện thế sự, chuyện tiếp đó thường là chuyện con cái. Và lần nào cũng vậy, việc học hành giỏi giang, thông minh của Nhân lại được đem ra tán dương. Mỗi lần nghe chuyện, tôi rất khó chịu. Tự nghĩ mình cũng học giỏi có thua gì Nhân mà chẳng bao giờ được nhắc tới. Nhân càng được ngợi khen, tôi càng thêm ghét hắn. Khác hẳn tôi, Nhân rất muốn làm thân với tôi. Tôi càng tránh hắn càng cố đến gần. Lần nào gặp tôi hắn cũng nở nụ cười thật tươi, còn tôi thì mặt nặng như chì. Nhân đẹp trai, tuy người hơi thấp. Da trắng, mũi cao, mấy lọn tóc xoăn lúc nào cũng lòa xòa trước trán. Môi lúc nào cũng đỏ như son. Mà kể cũng lạ. Nhà ông Đốc học có năm người con, hai trai ba gái, chỉ có mình Nhân là đẹp, mấy đứa còn lại đứa nào cũng xấu như ma. Lại thêm có đứa con gái kế Nhân bị thần kinh, hay bỏ nhà đi lang thang, đứa em trai út thì bị bệnh down, lúc nào cũng ngơ ngác, nước dãi chảy lòng thòng. Vì cảnh nhà như thế nên ông Đốc học rất kỳ vọng ở Nhân, Nhân là niềm tin, niềm tự hào và cũng là lẽ sống của ông. Học chung lớp với Nhân, càng ngày tôi càng thấy hắn giỏi, nhất là những môn toán, lý, hóa. Thầy dạy môn toán tên Thanh, thầy dạy rất hay, học trò rất mê. Thầy Thanh lúc nào áo quần cũng chải chuốt, tóc chải dầu bóng lưỡng, cách đi giọng nói rất điệu. Thầy hay cho làm toán chạy, tức là thầy đọc đề xong, trong năm hoặc bảy phút sau thầy chỉ nhận mười bài giải nộp nhanh nhất. Nếu giải đúng thầy cho điểm tối đa, còn giải sai thì khỏi có điểm. Nhân luôn luôn là người giải bài nhanh và đúng nhất. Khi nào hắn nộp trễ hơn một chút thì có nghĩa hắn giải bài toán đó bằng hai cách khác nhau. Lúc lên bảng giải toán hình học, hắn vẽ hình bằng tay trái còn tay phải ghi lời giải. Thầy Thanh nể hắn lắm, gặp thầy nào thầy Thanh cũng ca ngợi Nhân. Thầy còn bảo với Nhân là vào giờ của thầy, hắn không cần ghi chép, muốn làm gì thì làm. Các thầy dạy môn lý, hóa cũng bảo hắn thế. Nghe vậy, hắn chỉ cười, giờ học nào cũng ghi chép rất cẩn thận. Không những học giỏi, Nhân còn đá banh rất siêu, đánh cờ tướng rất cừ. Lại thêm rất giỏi võ. Không biết hắn học võ từ khi nào mà tay hắn cứng như thép, cỡ mấy viên gạch xây nhà hoặc năm ba viên gạch thẻ chỉ cần hắn vung tay là bị bể đôi ngay. Hắn múa gậy vun vút, đá ném không chạm vào người hắn. Cỡ hai người công kênh nhau, người trên cầm mấy cục gạch, hắn chỉ cần lấy đà chạy ba bước, bay lên đá viên gạch vỡ nát. Hay nhất là trèo tường. Nhân chạy lấy đà, tung người thẳng góc với bức tường, chạy thoăn thoắt lên trần nhà. Y như là mấy nhân vật trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Mỗi lần Nhân làm trò, cả bọn học trò chúng tôi trố mắt, há mồm mà nhìn, lắc đầu thán phục.Mọi người đặt cho hắn cái tên là Siêu Nhân. Tôi vừa sợ vừa ghét hắn. Tôi vốn ốm yếu, lại chúa nhát gan, chúng bạn gọi tôi là con mọt sách. Cho nên dù không ưa, tôi cũng nể sợ hắn. Không biết có phải vì võ công thâm hậu quá mà đôi mắt của Nhân trông lạ lắm. Ánh nhìn như dao sắc, như có lửa, như muốn bóp nát người ta, đầy sát khí. Tôi thường tránh ánh mắt của hắn. Nụ cười của hắn thân thiện nhưng đôi mắt thì đầy hăm dọa. Trong các môn học, tôi chỉ nhỉnh hơn Nhân môn Pháp văn và hai môn phụ là âm nhạc và hội họa. Bởi những môn này tôi được rèn luyện năm năm ở trường dòng Lasan. Nhưng đến năm đệ tam, tiếng Pháp của hắn tiến bộ đến không ngờ, đến thầy giáo già dạy Pháp văn cũng ngạc nhiên. Sau này tôi mới biết là suốt cả mùa hè hắn chỉ tập trung vào môn học đó, cả ngày nghe đài Pháp để luyện giọng và lảm nhảm luôn mồm mấy từ vựng. Có một lần tình cờ tôi thấy trên bìa sách Pháp văn của Siêu Nhân có ghi câu bằng chữ in đậm VOULOIR C’EST POUVOIR. Có lẽ đó là quan niệm của Nhân. Cuối năm đệ tam, Nhân lại khiến cho các Thầy và đám học trò thêm thán phục khi giải bài thi toán tú tài 1 ban B chỉ trong 27 phút. Hắn lại tiếp tục là tấm gương cho các bậc cha mẹ thường nhắn nhủ các con: gắng học cho giỏi như anh Nhân. Hắn đi đến đâu cũng được mọi người trầm trồ khen ngợi. Bởi thời đó, người giàu có không được trọng nể bằng người học giỏi. Ngay cả những quan chức cũng rất trân trọng người tài, học trò gỉỏi. Năm học đó, hắn lãnh phần thưởng lớn lắm, phải thuê xích lô chở về nhà. Ông Đôc học rất hãnh diện. Mà hãnh diện cũng phải thôi, cha mẹ nào lại không sướng khi có người con như thế. Trong lớp chúng tôi, thường chia ra hai nhóm rõ rệt. Mấy đứa nhỏ con, học kha khá thường ngồi mấy bàn trên, còn mấy bàn cuối lớp mà mấy thầy gọi là xóm nhà lá toàn là mấy đứa bự con, ba trợn, chơi nhiều hơn học và thường chọc phá mọi người. Cầm đầu xóm này là thằng Hồ Lê. Đó là một thằng sừng sỏ tuy cũng có tố chất thông minh, học hành cũng không đến nỗi tệ. Hồ Lê người đen giòn, cao to lừng lững, mặt chữ điền, góc cạnh. Ngay trên trán có một vết sẹo dài khiến khuôn mặt của hắn càng thêm vẻ anh chị. Hắn bảo đó là vết tích chiến tranh. Hỏi thêm nữa hắn sẽ trừng mắt hăm dọa nên chẳng ai dám lên tiếng thắc mắc nữa. Nhà Hồ Lê nằm trong hẻm sâu sau lưng nhà tôi, mẹ hắn bán rau hành ở chợ. Nhà hắn trơ trọi chỉ hai mẹ con và không bao giờ hắn nhắc đến cha. Tôi sợ hắn lắm, vì hắn hình như rất ghét tôi, cứ tìm mọi cách để sinh sự. Mỗi lần gặp tôi hắn thường dí tay vào trán tôi mà gầm gừ: đồ quý tộc dơ bẩn. Tôi cũng chẳng biết sao hắn lại bảo tôi thế. Tôi vốn nhát như cáy nên thường tìm đủ mọi cách để tránh mặt hắn. Tránh hắn nhưng miệng lầm bầm: ĐM thằng Lê sẹo, rồi ông sẽ giết mày, anh hùng báo thù mười năm chưa muộn. Nói thầm thế thôi, chứ thấy bản mặt nó là tôi đã sợ chết khiếp, nổi gai cả người. Nhưng tôi càng tránh, hắn lại tìm đủ mọi cách để trêu ghẹo tôi. Lúc thì đi đàng sau khèo chân cho tôi té. Khi thì búng tai, giựt tóc mai của tôi rồi cười cợt với một lũ âm binh ăn ké. Một hôm chúng tôi được nghỉ tiết cuối, đang trên đường về nhà thì tôi bị đám thằng Hồ Lê chận đường. Hắn đứng trước mặt tôi, hai chân khuỳnh khuỳnh, cái mặt kênh kênh.Hắn bảo tôi rúc dưới háng hắn mà đi. Mặt tôi xanh như đít nhái. Vừa tức vừa sợ. Miệng lắp bắp định van xin. Đường vắng teo, chẳng có ai có thể giúp tôi. Tôi nghĩ phen này chắc tiêu. Không chết vì nhục thì cũng ốm đòn với hắn. Hắn xắn tay áo, hai cánh tay cuồn cuộn. Vung tay. Tôi nhắm mắt, tưởng như muốn đái cả quần. Hai chân muốn quỵ xuống, bởi tôi vốn nhát đòn. Tôi chờ đợi cú đấm như trời giáng của hắn. Bỗng nghe tiếng hự..hự.. huỳnh huỵch… như ai đấm bao cát. Sao tôi chẳng thấy đau. Hé mắt nhìn, thấy thằng Lê đang nằm chỏng gọng, mặt nhăn nhó, méo xẹo. Trước mặt hắn là Nhân. Siêu Nhân. Nhân chỉ tay vào mặt hắn và bảo: – Tao cấm mày đụng đến thằng Ngọc, tao là bạn nó. Thằng nào ăn hiếp hắn sẽ biết tay tao. Liệu hồn. Cút…Bọn thằng Lê chạy một mạch không ngoái đầu. Nhân vỗ vai tôi, cười: Đừng sợ chúng, cứ sợ mãi thì chúng cứ ức hiếp hoài. Từ đó, tôi và Nhân thân nhau. Đi đâu cũng có đôi. Và đám thằng Lê cũng không dám đụng vào tôi nữa, dù ánh mắt nó cũng còn gầm ghè. Đến lớp đệ nhị, tôi chọn ban A còn Nhân tiếp tục ban B. Bởi ba tôi muốn chuẩn bị cho tôi lên học y khoa nên bảo tôi học ban Vạn vật. Hơn nữa tôi cũng còn háo thắng, muốn học khác lớp với Nhân để được đứng đầu lớp, chứ học chung tôi không vượt qua được hắn. Dù khác lớp nhưng chúng tôi vẫn đi chơi chung với nhau, gắn bó với nhau như hai anh em. Nhân thường dẫn tôi đến quán nước ở góc sân trường. Chủ quán là chị Đầm. Tôi gọi bằng chị vì chị lớn hơn chúng tôi vài ba tuổi. Chị bị rỗ huê nên bọn học trò thường gọi là chị Đầm rô. Chị to lớn như đàn ông, giọng ồ ề, lại khoái hút thuốc lá nên môi thâm xì. Tuy vậy, chè đậu của quán chị rất ngon, nên lũ học trò rất khoái tụ tập ở quán chị. Chị Đầm lại rất ái mộ Nhân, xem Nhân như thần tượng, ánh mắt nhìn Nhân rất lạ. Tại quán đó, tôi bị chị dụ tập hút thuốc lá và thói quen này theo suốt đời tôi. Và cũng tại quán đó trong một buổi trưa trú mưa, tôi biết lý do tại sao Nhân cứ muốn làm thân với tôi. Số là cạnh nhà tôi có một gia đình rất giàu có, là chủ của mấy rạp xi nê và khách sạn ở Đà Nẵng, Huế, Qui Nhơn và Nha Trang. Chủ nhân vốn xuất than từ hoàng tộc tên Bửu Hân. Nhà có cậu con trai út tên Vĩnh Đệ còn nhỏ và hai cô con gái rất đẹp, cô chị tên Huyền Tôn Nữ Dạ Lan, cô em là Huyền Tôn Nữ Dạ Hương. Mỗi cô có nét đẹp riêng. Dạ Lan đẹp kiêu sa, đài các. Dáng thanh mảnh, thướt tha. Cổ cao ba ngấn, da trắng như ngà, tóc dài chấm mông, mặt như Đức Mẹ, mắt lúc nào cũng buồn vời vợi. Suốt ngày ngoài giờ học chỉ thơ thẩn trong vườn đọc sách, đan len, chiều chiều lại đánh đàn piano cho đến tối. Dạ Lan thích mặc áo màu tím Huế. Dù là áo dài đi phố, đi lễ nhà thờ hay áo cánh đi chơi, cô chỉ chọn độc một màu tím rịm. Cô em Dạ Hương thì trái ngược với chị. Mới mười lăm tuổi mà bộ ngực đã tròn to khêu gợi. Tóc cắt ngắn, da rám hồng. Suốt ngày sau giờ học chỉ đi tắm biển và đánh quần vợt. Chỉ thích mặc áo thun và quần jean, cỡi xe Honda chạy vù vù. Đọc toàn báo Tây, hát toàn nhạc Pháp. Tuần nào cũng đi nhảy đầm với lũ bạn học cùng trường Lycée Blaise Pascal Vì ở cạnh nhà lại là đồng hương nên gia đình tôi rất thân với nhà đó. Lễ tết, giỗ chạp, tang ma hiếu hỉ đều qua lại với nhau. Nhân thích Dạ Lan. Nhân thổ lộ với tôi như vậy. Và Nhân muốn qua tôi làm quen với cô ấy. Chuyện dễ ợt, chẳng có chi khó khăn. Nhưng tôi lại bảo với Nhân là chuyện này khó lắm, cần phải có thời gian. Nhân cầm tay tôi lắc lắc: – Cố nghe, cố nghe. Việc làm ông mai tiến hành quá suôn sẻ, tôi ướm lời với Dạ Lan: – Tôi có anh bạn ái mộ Dạ Lan lắm, anh ấy muốn tôi giới thiệu với Dạ Lan. Cô ấy thoáng chút ngạc nhiên – Ai vậy? Quen hay lạ? – Dạ Lan biết người này mà. – Nhưng mà ai mới được chứ. Tôi cười bảo: – Anh Nhân, bạn thân của tôi – Anh Nhân con ông Đốc Lễ phải không? Tội gật. Dạ Lan cười: – Tưởng ai. Sau này, khi hai người đã gắn bó nhau, tôi mới biết hóa ra Dạ Lan cũng đã để ý đến Nhân lâu rồi. Thì trai tài gái sắc, đến với nhau là lẽ đương nhiên của cuộc đời. Hai người yêu nhau thắm thiết lắm. Hai gia đình cũng thoáng biết nhưng chẳng có ý kiến gì. Mà thật ra còn đòi hỏi chi, vừa môn đăng hộ đối, vừa đôi lứa xứng đôi. Nhân cám ơn tôi nhiều lắm. Chúng tôi hay đi chơi với nhau, ngoài tôi, Nhân, Dạ Lan còn có Dạ Hương. Thường là đi xem phim, đi ăn kem hoặc đi dạo bên bờ biển. Dạ Hương sôi nổi, nhí nhảnh còn Dạ Lan khép nép, dịu dàng. Một hôm, chúng tôi đi dạo trên bờ biển, trời vừa tối, chân trời ráng đỏ. Dạ Hương kéo tay tôi và bảo khẽ: Mình tránh đi cho anh chị ấy tâm sự, cứ như thế này thì anh chị ấy tâm tình làm sao được. Dạ Hương kéo tôi chạy vào hàng phi lao, trời tối hẳn, những ngọn gió xào xạc. Theo đà chạy dưới cát lún, Dạ Hương ngã vào người tôi, ôm cứng, hơi thở gấp. Theo quán tính, tôi cũng ôm siết lấy nàng, hai bầu ngực căng khép vào ngực tôi. Tôi thấy mình căng cứng. Dạ Hương vít đầu tôi xuống, hôn trên môi tôi. Tôi như đang bay bổng vì nụ hôn đầu đời. Tôi chẳng biết phải hôn trả lại thế nào nữa. Tôi lạng quạng và thả lỏng đôi tay. Bỗng dưng tôi cảm thấy sợ. Hóa ra tôi luôn luôn vẫn là thằng nhút nhát. Kiểu tấn công mạnh mẽ của Dạ Hương làm tôi hãi, dù phần dưới cơ thể của tôi đã đông cứng lại rồi. Tôi bỏ đi và như kẻ mộng du. Tôi bỗng muốn khóc. Dạ Hương chạy theo tôi hét lớn: Anh có phải là đàn ông không? Tôi ngồi xuống giữa bãi cát và tự hỏi, mình có phải là đàn ông không? Từ đó, Dạ Hương tránh mặt tôi, và tôi cũng có ý không muốn gặp nàng. Tôi vẫn tự nhủ mình tệ quá. Kỳ thi Tú tài 1 năm đó, tôi và Nhân đều đậu Ưu hạng. Cả hai gia đình rất vui. Hôm lãnh thưởng ở trường, đôi mắt của ông Đốc học ba Nhân ánh lên niềm tự hào, sung sướng và mãn nguyện. Còn đôi mắt của Dạ Lan thì tràn đầy hạnh phúc. Ba tôi dù theo Tây học, nhưng lại rất mê nghiên cứu Kinh Dịch. Có một người Hoa thường đến trao đổi cùng ba tôi. Người này tên Lý Hạnh, chuyên nghề phong thủy và tướng số. Hai người tâm đắc lắm, thường nói chuyện với nhau cả buổi mà không chán. Một hôm, khi ba tôi và chú Lý Hạnh đang nói chuyện với nhau thì tình cờ tôi nghe được cả hai bàn về Nhân. Ông Lý Hạnh bảo: – Cậu Nhân tướng toàn tốt, thông minh hơn người, nhưng ánh mắt lộ hung quang, tôi e cậu ấy nếu không học đựợc chữ nhẫn sẽ phải phạm tội sát nhân, hậu vận xấu lắm. Ba tôi trầm ngâm một lát rồi hỏi đến tương lai của tôi, Ông Lý Hạnh im lặng một lát rồi gật gù: – Cũng tạm. Ba tôi nhíu mày: – Cụ thể là sao? – Ông Đốc cũng đã nghiên cứu lý số. Số nói sao thì nghe vậy. Còn cụ thể thì chịu. Nhiều khi thiên cơ bất khả lậu – Nhưng đôi khi cũng nhân định thắng thiên – Dạ, cũng có thể. Nghe được vậy, lúc đó tôi hơi hoang mang, nhưng rồi tuổi trẻ chóng quên. Tuy thế lâu lâu nhìn ánh mắt của Nhân, tôi cũng cảm thấy ghê ghê. Cũng cuối năm ấy, Dạ Hương bỏ nhà đi. Có tin đồn đã kết hôn với một sĩ quan Mỹ ở Sài Gòn. Tôi cứ tự hỏi là mình có lỗi gì trong tai ương này không? Tết năm Mậu Thân 1968, chiến tranh lan vào nhiều thành phố. Huế bị nặng nhất, rất nhiều người chết trong những ngày xuân. Đà Nẵng cũng không tránh khỏi bị tấn công, nhưng không bị chiếm đóng. Sau Tết, lớp học thưa thớt hẳn, đứa đi lính, đứa đi đâu mất dấu. Trong những đứa vắng mặt, có Hồ Lê. Nghe đồn nó đã lên núi, gia nhập quân giải phóng quân. Chúng tôi đậu Tú tài 2 dễ dàng. Nhân lại đậu Ưu hạng, tôi chỉ đậu Bình. Tôi lại thua Nhân…. Vào Sài gòn làm thủ tục du học, thời gian chờ đợi khá dài, tôi ghi danh học Văn khoa, còn Nhân thi vào trường Kỹ sư Công nghệ Phú Thọ, học cho vui để quên thì giờ chờ đợi. Thế mà hắn cũng đỗ hạng nhì kỳ thi tuyển vào Phú Thọ năm đó. Tôi vừa xong lớp dự bị ban Văn chương Việt Nam thì có giấy lên đường. Ngày tôi và Nhân rời Việt Nam đi Pháp du học, hai gia đình tiễn ra phi trường. Ba Nhân ôm vai Nhân: – Gia đình và giòng họ tin tưởng vào con. Ba tin chắc con làm được như ước nguyện. Nhân gật gật đầu, mắt lóe lên niềm hy vọng lớn lao. Dạ Lan mặc áo dài tím, quấn khăn quàng tím nhạt, nước mắt hoen mi. Dạ Lan cầm tay Nhân lắc mãi mà chẳng nói gì. Ba tôi bắt tay tôi, bảo khẽ: – Cố lên nhé! Hôm qua tôi và ba đã nói chuyện với nhau rất lâu về chuyện truyền thống ba đời làm ngành y, về việc phải tiếp nối nếp nhà. Thật ra, tôi chẳng thích thú gì chuyện du học. Tôi sợ cô đơn ở xứ người, tôi sợ những bất trắc sẽ xảy đến mà chung quanh chẳng có ai giúp đỡ. Tôi như con chim non được nhốt trong lồng son, giờ được thả ra, chẳng định được phương nào để bay đến. Nhưng tôi phải bay đi. Đi và mang theo niềm hy vọng của cả gia đình. Bước lên máy bay, nước mắt tôi cứ muốn trào ra, hai bàn chân tôi như có gì níu lại. Rời Việt Nam, tôi vẫn chưa có mối tình nào vắt vai, không có cô gái nào đưa tiễn. Tôi thấy Nhân hạnh phúc vì còn có tình yêu để đợi chờ. Chuyến bay kéo dài hơn hai mươi tiếng đồng hồ, chúng tôi nói nhiều chuyện với nhau về tương lai. Thế giới đang mở ra với chúng tôi, và cả hai đang bước vào và tin sẽ chiến thắng. Hai đứa vẽ ra cảnh tượng lúc thành đạt trở về trong niềm hoan hỉ của mọi người. Nhân bỗng bảo tôi: – Cậu chơi piano thế cậu có biết loại đàn nào tốt nhất không? – Để làm gì, sao tự nhiên lại đi hỏi về đàn lúc này? – Thì cứ nói đi – Theo mình biết thì hiện nay đàn hiệu Steinway & Son là tốt nhất, ở Việt Nam chỉ có một hai cái. Nhưng đắt lắm. Cậu đang có ý định gì vậy? Nhân lim dim mắt, cười cười, nhìn ra bầu trời trong xanh: – Khi nào thành đạt, làm ra tiền, mình sẽ mua cho Dạ Lan một cây đàn như vậy. ******* 2. Chúng tôi chia tay nhau ở phi trường, Nhân sẽ ở lại Paris thi vào trường Đại học Bách khoa Paris. Tôi lại tiếp tục đi gần 750 cây số nữa về Montpellier, một thành phố nằm gần biển Địa Trung hải, để thi vào trường Y. Đại học Montpellier là một trong những trường đại học Y khoa nổi tiếng thế giới, nơi đào tạo nhiều nhà khoa học đã được nhiều giải thưởng y học quốc tế. Phải mất 9 tháng học dự bị tôi mới thi đậu vào trường, dù chỉ đứng thứ 26, nhưng cũng vui vì đã đi được bước đầu. Nhân thành công hơn tôi nhiều. Chỉ mất 6 tháng, Nhân đã đỗ thủ khoa vào trường Đại học Bách khoa Paris (École polytechnique) Đây là trường đào tạo kỹ sư danh giá nhất nước Pháp. Đúng ra Nhân phải học đủ một năm dự bị theo chương trình EV1 dành cho học sinh Pháp và các nước nói tiếng Pháp. Nhưng chỉ một thời gian ngắn học ở Lycée Louis – Le – Grand, Ban giảng huấn ở đó nhận thấy Nhân quá xuất sắc nên đặc cách cho thi trước thời hạn. Mục đích phấn đấu của các sinh viên học trưòng này là trở thành nhân lực cấp cao của nưóc Pháp và thông thường 10 sinh viên đứng đầu sẽ được lựa chọn trở thành Corps de Mines, được tham gia chương trình đào tạo nhân lực lãnh đạo tương lai. Đây cũng là trưòng đã tạo ra ba vị tổng thống của nước Pháp: Valéry Giscard d’ Estaing, Sadi Carnot, Albert Lebrun. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và giáo sư Nguyễn Văn Xuân của Việt Nam cũng tốt nghiệp từ trường này. Nhân là ngưòi nước ngoài đầu tiên đỗ thủ khoa kỳ thi tuyển vào trường, nên trở thành một sự kiện được báo chí Pháp chú ý. Hình chân dung của Nhân được đăng trên nhiều tờ báo, là niềm tự hào của giới sinh viên du học và những người Việt Nam đang ở Pháp thời bấy giờ. Ở Montpellier, trong giới sinh viên cũng bàn tán chuyện này dữ lắm. Nhưng Nhân không ngừng lại ở đó, trong thời gian theo học, Nhân là một nhân vật nổi bật toàn diện. Không những học giỏi, Nhân còn là cầu thủ xuất sắc của đội bóng tròn sinh viên Paris, là kỳ thủ không thể qua mặt của bộ môn cờ, Nhân còn là huấn luyện viên võ thuật của võ đường trong khu đại học, đồng thời đã mang về cho trường rất nhiều huy chương trong các cuộc thi đấu. Hình ảnh Nhân liên tục được đăng trên các báo sinh viên và một số báo thể thao. Đã có lần một câu lạc bộ nhà nghề nổi tiếng của Paris đề nghị Nhân ký hợp đồng để được đào tạo làm cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, nhưng Nhân từ chối. Tiếng tăm Nhân vang dội trong cộng đồng sinh viên của các trường đại học, Nhân đã từng đưọc tiếp đón và nhận phần thưỏng của tổng thống Pháp lúc bấy giờ là Georges Pompidou ở điện Élysées. Nhân được đặt tên là Super Man, cái tên mà hồi ở Việt Nam mọi người đã đặt cho hắn. Hóa ra siêu nhân thì ở vòm trời nào cũng là siêu nhân. Còn con chim chưa định được đường bay là tôi vẫn là cậu sinh viên nhút nhát và không chút tự tin, dù là ở phương trời nào, lúc nào cũng quấn quanh trong chiếc lồng vô hình chật chội của mình. Với những thành tích và tính cách của Nhân, Nhân mau chóng trở thành lãnh tụ của các phong trào sinh viên, Lúc đầu là anh cả của các môn thể thao, dần dà, Nhân lại làm luôn lãnh tụ chính trị với nhiều tham vọng. Thời điểm bấy giờ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã đến cao điểm. Mỹ liên tục ném bom miền Bắc, cuộc chiến đấu ở miền Nam càng ngày càng nhiều máu lửa. Sinh viên Việt Nam đi du học hàng ngày nhìn thấy những đổ nát, những tàn phá, máu xương rơi của chiến tranh, lại thêm chính quyền miền Bắc và Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên truyền ở Âu châu rất mạnh, nên đa số đều tham gia chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình với một ý thức chính trị rất mơ hồ. Lực lượng này rất mạnh và rất đông đảo. Và tham gia phong trào chống Mỹ trở thành một cái mốt của người trí thức. Nhân thì ngược lại, hắn làm lãnh tụ một nhóm sinh viên ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chuyên phá đám các cuộc biểu tình và tuần hành của nhóm sinh viên kia. Đụng độ giữa hai phái xảy ra như cơm bữa. Đúng thời điểm này thì chúng tôi nhận hung tin từ Việt Nam. Mẹ tôi và mẹ Nhân trong một chuyến hành hương về La Vang, Quảng Trị, trên đường về thì xe bị lật vì trúng mìn. Mẹ Nhân tan xác tại chỗ, mẹ tôi được đưa vào bệnh viện Trung ương Huế, nhưng rồi cũng từ trần ở đó. Tôi điện thoại cho Nhân, khóc nức nở trong điện thoại, Nhân chỉ ậm ừ khuyên lơn tôi. Tôi đòi bỏ về Việt Nam ngay, nhưng Nhân khuyên nhủ, động viên tôi ở lại tiếp tục học và phải cố học tốt hơn nữa, đó cũng là một cách để khỏi làm buồn lòng mẹ. Tôi nghe lời Nhân, nhưng lòng thì tan nát, dạ rối bời, chẳng thiết ăn uống gần mấy tuần liền. Riêng Nhân từ đó càng lao vào những cuộc đấu tranh để ủng hộ phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đang ở Paris để hội đàm tìm cách giải quyết chiến tranh. Nhân mơ ước ngày trở về sẽ trở thành một công chức cốt cán của chính quyền miền Nam, với những đổi thay và cương lĩnh mới. Hiệp định Paris được ký kết, Nhân cay cú vì bảo rằng chính quyền miền Nam đã bị Mỹ lừa. Nhân càng hoạt động mạnh hơn, quyết liệt hơn. Và trong tâm trạng đó, Nhân đã phạm một sai lầm oan nghiệt, chấm dứt mọi ước mơ và hoài bão. Cắt đứt tương lai đang rộng cửa. Trong khu đại học xá, Nhân được bố trí ở cùng chung phòng với Thành, cũng là một du học sinh học trường Bách Khoa Paris, học sau Nhân một khóa. Thành là con trai của Chủ tịch Tối cao Pháp viện của chính quyền miền Nam, nhưng Thành lại là lãnh tụ của phong trào thiên tả ủng hộ Cộng sản. Thành cũng là một thành viên rất cực đoan của lực lượng này. Từ lâu, cả hai đã có nhiều lần tranh cãi nhau dữ dội vì những quan điểm xung khắc nhau về cuộc chiến đang xảy ra. Khi hiệp định Paris vừa có hiệu lực thi hành, Nhân trong cơn bực tức đã nổ ra cuộc đấu khẩu với Thành và trong lúc không kềm lòng được đã bay đến phóng chân đá vào đầu Thành ngay trong phòng của hai người. Thành gãy cổ chết ngay lập tức, máu trào khóe miệng. Nhân bị bắt ngay. Báo chí đưa tin hàng giờ. Tôi ở Montpellier đọc báo thấy đăng hình của Nhân, nhưng lần này không phải là khuôn mặt tươi cười, hớn hở như xưa mà là tấm hình Nhân cúi đầu đi giữa đám cảnh sát, hai tay bị còng, những sợi tóc xoăn trước trán rũ xuống khuôn mặt nhợt nhạt không còn chút sinh khí. Tôi chợt nhớ nhận định của chú Lý Hạnh ngày nào và bỗng tin vào số mệnh. Tôi bay ngay về Paris, nhưng không được gặp trực tiếp Nhân. Hắn đang bị cách ly để điều tra. Sau một thời gian, Nhân bị trục xuất và dẫn độ về Sài Gòn với cái án giết người. Tôi lại chỉ gặp được Nhân qua hình trên báo đăng hình Nhân ở chân phi cơ lúc bị dẫn độ, tay Nhân vẫn bị còng và Nhân vẫn lại lọt thỏm giữa đám cảnh sát với khuôn mặt hớt hãi. Tôi nhận được thư Nhân lúc trở về Montpellier, Trong thư Nhân dặn dò tôi là không được tin cho ai ở nhà biết việc này, đồng thời Nhân cũng nhờ tôi là khi nào nhận được thư Nhân với hai phong bì, tôi phải bỏ bì thư ngoài và gởi lại cái thư bên trong về Việt Nam cho gia đình Nhân, nếu nhận được thư của ba Nhân, tôi lại gởi về Sài Gòn làm như là Nhân vẫn đang ở Pháp vậy. Nhân khuyên tôi cố gắng học cho xong và xin lỗi tôi, tôi chẳng biết Nhân xin lỗi tôi vì lí do gì. Mỗi lần đi gởi thơ về cho ba Nhân, tôi cảm thấy mình đang làm một chuyện tội lỗi tày đình vì đang đánh lừa ba Nhân, người đang hi vọng về đứa con thiên tài của mình. Lần nào đi gởi thư, tôi cũng khóc. Không biết bao giờ tôi mới bỏ được kiểu thường hay rơi nước mắt như thế này. Năm 1972 tôi đang học năm thứ hai Y khoa, tôi bỗng chán nản cùng cực và ý thức một cách rõ ràng là nghề y không phù hợp với tôi. Tôi sợ thấy máu chảy. Tôi sợ những khuôn mặt nhăn nhó, đau đớn vì bệnh tật của bệnh nhân. Tôi cũng biết rất rõ mình không đủ phẩm chất để làm người thầy thuốc. Tôi quá nhạy cảm trước mọi sự. Tôi chỉ mong ước mình trở thành họa sĩ, suốt ngày lang thang vẽ vời, sáng tạo, đùa giỡn với sắc màu, không phải đối diện với những nỗi đau bệnh tật, máu me, chết choc của con người như nghề bác sĩ. Nếu cứ tiếp tục cố nhồi nhét những kiến thức y khoa như thế này, chắc chắn tôi sẽ điên mất. Trước đây tôi chọn học y vì ba tôi bắt phải thế, lúc đó tôi vẫn chưa có ý thức về nghề, về tương lai. Nhưng bây giờ, qua gần ba năm, tôi tuyệt vọng vì thấy mình đang đi lần vào một hố thẳm và sợ hãi khi nghĩ đến việc suốt đời phải gắn bó công việc khủng khiếp này. Và rồi tôi đi đến quyết định cuối cùng. Đây là quyết định đầu tiên trong đời do tôi tự quyết. Không biết tương lai rồi sẽ ra sao, nhưng tôi có chút hài long vì đã thoát ra được bế tắc. Ít ra con chim rời long son cũng đã tự định hướng cho đời mình. Tôi bỏ trường Y, thi vào L’Ecole supérieure des Beaux – Arts de Montpellier Aggomération, tức trường Trang trí Mỹ thuật Montpellier. Học trường này có nghĩa là tôi sẽ bị mất học bổng ở trường cũ, do vậy kể từ đó cuộc sống của tôi bấp bênh, no đói thất thường, làm nhiều nghề để kiếm cơm và để được học những thứ mình ưa thích. Nhưng tôi vốn vụng về và hậu đậu, chẳng làm tốt được chuyện gì, đi đưa báo thì đưa lộn địa chỉ, làm bồi rửa chén thì chuyên làm vỡ bát dĩa, đi giao sữa thì đổ sữa lai láng trước cửa nhà của khách. Bởi từ bé cho đến lớn, tôi chỉ việc học, ba mẹ tôi không cho tôi làm gì ngoài chuyện phải học thật giỏi. Lối giáo dục đó làm cho tôi vấp phải thất bại trong bước đầu trong cuộc đời. Trong các thầy giáo dạy ở trường Mỹ thuật, có giáo sư Alain Bourdon dạy rất giỏi, thầy được gọi là họa sư. Thầy rất thương tôi và biết rất rõ tình trạng của tôi, nên thường tìm cách giúp đỡ. Lúc thì kẹp ít tiền trong sách của tôi, khi thì giỏ thức ăn. Cuối tuần, Thầy thường đón tôi về căn nhà ở ngoại ô của Thầy. Ở đó, tôi được ăn no nê và được Thầy dạy thêm những kiến thức vô cùng quý báu. Vợ Thầy đã mất cách đây bốn năm vì bệnh ung thư, Thầy ở với cô con gái duy nhất khoảng 18 tuổi tên Monique rất đẹp, khuôn mặt thánh thiện, sáng bừng như thiên thần. Monique thường nhờ tôi đệm piano cho cô ấy hát, Monique có một giọng hát trong trẻo và cao vút rất hợp với nhiều bài Thánh ca cũng như những bài ca dân dã. Tôi thường đọc thơ cho nàng nghe, những bài thơ của Arthur Rimbaud, Paul Verlaine …, Guillaume Apollinaire và cả thơ Tagore. Monique rất thích bài thơ L’Adieu của Apollinaire, nhất là khi tôi ngâm bài thơ này bằng giọng Quảng Nam, mỗi lần nghe xong, nàng bật cười ngặt nghẽo, cứ giả giọng của tôi rồi cười khanh khách, nhưng đôi mắt thì ngập nước: “J’ai cueilli ce brin de bruyère L’automne est morte souviens-t’en Nous ne nous verrons plus sur terre Odeur du temps Brin de bruyère Et souviens-toi que je t’attends ” (L’Adieu – Apollinaire) Monique rất quý tôi, tuần nào tôi không về, cô ấy gởi bánh trái cho Thầy Alain mang lên cho tôi. Biết thân phận mình, lại vẫn cái tánh nhút nhát, không tin vào mình, nên dù có rất nhiều cảm tình với nàng, tôi vẫn không dám ngỏ, cứ mặc cảm mình không xứng đáng. Chúng tôi thường đi dạo trên con đường mòn của cánh rừng sau nhà, cùng đi qua đủ bốn mùa. Mùa thu sắc đỏ, lá vàng ngập lối đi. Mùa hạ bầu trời xanh và mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn. Mùa xuân với những cành lá biếc, hoa nở tím cả rừng và mùa đông với những cành trơ trọi, trời lạnh giá, trên cổ mỗi người quấn chiếc khăn quàng do Monique tự tay đan. Trong những buổi cùng lang thang, hái hoa, nghe tiếng chim líu lo, chúng tôi nói với nhau đủ thứ chuyện trên đời. Nhưng cũng có khi trên đường về, hai đứa cứ im lặng suốt cả con đường dài, nhưng vẫn ngập tràn một thứ hạnh phúc khó diễn tả nổi. Tình yêu đến nhẹ nhàng, trong như giọt sương, tôi không dám động mạnh, chỉ sợ nó vỡ tan. Và ánh mắt nhìn nhau, nụ cười trao nhau như những lời ước hẹn, đổi trao diễn ra trong im lặng. Mỗi khi đến nhà của Thầy Alain, được ngồi ăn chung với hai bố con Thầy, được nhìn khuôn mặt đẹp tựa thiên sứ của Monique, nghe tiếng hát trong veo của nàng, tôi cảm thấy cuộc đời thật tươi đẹp và mong ước mình cứ được mãi như thế này… Nhưng số phận lại giáng xuống đời, khi tôi vừa xong năm thứ hai đang kỳ nghỉ hè thì tai họa ập đến gia đình Thầy Alain. Trong chuyến đi về Paris của hè năm ấy, họ đã bị tai nạn giao thông. Thầy Alain chết ngay trên volant, Monique bị thương nặng, được chở vào bệnh viện, một tuần sau thì mất. Tôi bay về Paris ngay khi được tin và chăm sóc Monique suốt một tuần nàng thoi thóp, mê man trên giường bệnh, suốt ngày tôi quên ăn uống, chỉ ngồi nắm trong tay bàn tay bé nhỏ lạnh giá của Monique, chờ phép lạ. Đến hôm cuối cùng, Monique mở mắt nhìn tôi rất lâu, hai dòng nước mắt chảy dài trên má nàng, mặt tôi cũng đầm đìa nước mắt. Môi nàng mấp máy: Je t’aime… Je t’aime… và bàn tay rời khỏi tay tôi. Phép lạ đã không đến. Chúa cũng đã quay mặt đi trước nỗi đau của thiên thần. Tôi gần như không kêu lên được tiếng gọi y tá cấp cứu, cổ họng tôi đông cứng và tôi đứng chôn chân gần mấy tiếng đồng hồ trong niềm tuyệt vọng như bức tượng đá bên giường. Tôi không tin đó là sự thật. Suốt cuộc đời, tôi không bao giờ quên được ánh mắt và câu nói cuối cùng đó. Câu nói của Monique như vết khắc trong tim tôi, không phai. Tôi đau đớn tột cùng trước cái chết của cha con Thầy Alain, người tôi xem như người cha thứ hai của mình. Và Monique, mối tình đầu của tôi, mối tình câm chưa dám ngỏ của tôi. Tôi có cảm tưởng mình đã bị rút hết tất cả sinh lực. Tôi mất ngủ, lang thang như kẻ điên suốt mấy tháng dài. Tôi chẳng còn thiết tha gì chuyện học hành và tương lai. Thiên thần Monique của tôi hiện ra như ánh chớp, lóe sáng đời tôi một khoảnh khắc rồi bay về trời. Nàng như một thứ định mệnh làm thay đổi ý nghĩ của tôi về cuộc sống. Cái chết của mẹ tôi, mẹ Nhân, của Thầy Alain, của Monique khiến tôi thấy cuộc sống này chỉ là một ảo ảnh, có đó rồi mất đó. Hiện hữu rồi tan vào hư vô. Sống chết là một ranh giới quá mỏng manh. Cuộc sống chỉ là một ánh chớp. Tôi đóng cửa suốt ngày và cứ nghĩ về lẽ tử sinh. Và rồi số phận lại đổi thay, tôi ngộ ra rằng những tham vọng, những ước mơ, những hoài bão, những cố gắng cuối cùng rồi cũng sẽ được chấm hết bằng một cái chết do muôn ngàn bất trắc của đời sống. Thế thì ham danh vọng để làm gì, mải mê theo những ảo vọng để làm gì? Tất cả thật ra rồi cũng chỉ là ảo ảnh. Và tôi buông tay, thả cuộc đời mình cho những con sóng của số phận. Tôi bỏ lại tất cả và trở về Việt Nam ******** 3. Tôi không dám về quê, cố bám lấy Sài Gòn. Tôi tìm gặp Nhân, hai đứa thuê chung căn phòng ở khu Trương Minh Giảng. Tôi và Nhân bàn cách để tránh những người quen biết. Tôi để tóc, râu dài thậm thượt, Nhân cũng thế. Hai đứa thường mang đôi kính đen, ban đêm thì mang kính đổi màu. Hàng tháng, tôi và Nhân viết thư gởi qua Pháp cho một người bạn, anh này lại bỏ phong bì ngoài, gởi tiếp về Việt Nam cho ba tôi và ba Nhân. Và nhận những lá thư từ gia đình gởi qua chặng Đà Nẵng – Pháp – Sài Gòn. Chúng tôi lại tiếp tục lừa dối và loay hoay trong lừa dối tự mình bày ra. Lúc Nhân vừa bị dẫn độ về Sài Gòn, ông chủ tịch Tối cao Pháp viện, tức là bố của Thành, người bị Nhân giết chết bằng cú đá oan nghiệt, đang chuẩn bị ra tranh cử dân biểu quốc hội. Không muốn bị báo chí phanh phui là có con theo Cộng Sản bị giết chết nên ông này tìm mọi cách ỉm vụ đó đi. Nhân chỉ bị đưa ra tòa bí mật và kết luận là gây án ngộ sát trong tình trạng thần kinh không bình thường, nên được trả tự do sau hai tháng giam giữ. Được một người bạn du học Mỹ về đang làm Tổng cục trưởng, Nhân được bố trí làm việc ở Tổng cục gia cư, chuyên về xây dựng. Khi tôi về, Nhân lại giới thiệu tôi vào làm với nhiệm vụ họa viên vẽ họa đồ. Để trốn khỏi đi lính, Nhân mua cho tôi một cái giấy hoãn dịch vì lí do sức khỏe và hắn thì hoãn dịch vì gia cảnh. Cả hai đều là giấy giả. Đi làm lương cũng kha khá đủ sống, nhưng hai thằng sống như hai thằng buôn thuốc phiện lậu, lúc nào cũng lén lén lút lút, cứ sợ gặp người quen với gia đình và cũng phải trốn tránh bọn cảnh sát chìm nổi đầy mọi ngõ ngách. Cả hai trường hợp nếu bị phát giác cũng đều đưa đến kết quả bi thảm cả. Thế mà tôi cũng phiêu lưu dám ghi danh học tiếp ở Đại học Văn khoa. Vừa làm vừa học, dù ít khi có mặt ở giảng đường. Từ đó, tôi cảm thấy mình an phận, chấp nhận số phận do mình chọn lựa. Nhưng hình như Nhân không nghĩ giống tôi. Có rất nhiều khi Nhân không cười, không nói, lầm lì suốt cả tuần lễ, có lúc lại uống rượu đập bàn, đập vỡ li chén, uống say mèm và khóc tức tưởi. Những lúc như vậy, tôi chỉ biết ngồi im vì ánh mắt của hắn lúc đó trông như ánh mắt của quỷ dữ, như con thú bị dồn đến đường cùng. Có một điều lạ nữa là Nhân không bao giờ nhắc đến Dạ Lan lúc tỉnh táo, mặc dù tôi biết Nhân nhớ thương nàng nhiều lắm. Nhưng cứ đến khi say, hắn khóc và réo mãi tên Dạ Lan. Khi tỉnh, nếu tôi vô tình nhắc đến tên nàng, Nhân quắc mắt lên rất dữ tợn, riết rồi tôi chả bao giờ dám nhắc đến cái tên đó nữa. Hàng tuần, cứ mỗi chiều thứ bảy khi đi làm về, Nhân lại mua một bó hoa lớn, vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, ngồi trước mộ Thành đến tối mịt mới về. Tôi hiểu tâm trạng của Nhân nên cũng chẳng có ý kiến, nhưng tôi tự nghĩ, một cú đá đã giết chết cuộc đời của hai người: cái chết tức thời của Thành và cái chết dai dẳng của Nhân. Cú đá đã làm cho cuộc đời của Nhân qua một ngã rẽ để đi tới hố sâu thăm thẳm. Chúng tôi sống bình lặng chẳng có gì đáng kể như thế cho đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975. ******** 4. Những tin tức chiến sự dồn dập, Tây nguyên thất thủ, Huế mất, Đà Nẵng mất. Hàng trăm ngàn người trôi dạt trên biển từ miền Trung, lớp lớp người trên những con đường đầy xác chết. Cuộc chiến đi vào những giây phút cuối cùng. Sài gòn rung lên từng phút. Hai trái bom CBU nổ trên tỉnh lỵ Long khánh. Thành phố nhốn nháo. Thành phố lo âu. Thành phố chuẩn bị cuộc hỗn loạn đang chuẩn bị ập tới. Tôi và Nhân vẫn bình chân như vại. Sáng sáng vẫn ngồi cà phê chờ xe đến rước đi làm. Thiên hạ bàn tán nhiều đến chuyện ở, chuyện đi. Hai thằng không quan tâm, Cũng đúng thôi, vì chúng tôi từng ở bên đó về, đã thấm những nỗi nhục nhằn, đã chấp nhận nhát búa của số phận. Không lẽ bây giờ lại trở lại tiếp tục chui đầu vào con đường cũ. Những ngày cuối cùng của tháng tư, công sở đóng cửa, hai đứa ngồi nhìn thiên hạ xôn xao lòng dửng dưng. Nhưng đến hôm 29.4 thì bỗng nhiên cả hai thấy sợ trước những lời đồn đoán. Nửa đêm hai đứa vùng dậy, đem hết giấy tờ, hình ảnh liên quan đến những năm tháng du học ở Pháp ra đốt. Nhân có cả mấy thùng lớn loại này, những hình ảnh thời Nhân còn được gọi là Super Man trên đất Pháp. Ngọn lửa bập bùng suốt đêm. Tôi chỉ giữ lại mấy tấm hình tôi chụp chung với Thầy Alain và Monique, mấy bức tranh tôi vẽ ở trường Mỹ thuật tôi đã chọn lựa để đem về Việt Nam. Đó là những kỷ vật tôi không thể để mất được, dù tôi hiểu có thể sẽ đưa đến hậu quả không may. Sài Gòn sau đó là một Sài Gòn khác. Những lều quán bỗng dưng mọc lên trên những con phố. Chủ quán là chị cave, cũng có thể là vợ của một anh sĩ quan nào đó, cũng có thể là một nghệ sĩ, một nhà báo không còn được sử dụng. Thiên hạ nháo nhào đổ ra đường kiếm sống, cuộc sống bị xáo trộn ghê gớm, chẳng còn phân biệt được đâu là ông, đâu là thằng của những con người cũ. Chúng tôi suốt ngày lê la hàng quán, đấu láo quên thời gian mà không biết rồi ngày mai sẽ ra sao. Có người rủ mở quán, có đứa kêu đi bán đủ thứ thứ tàn dư của xã hội cũ lọc lừa mấy chàng bộ đội khờ khạo, có thằng rủ đi bán thuốc Tây. Có đám rủ rê vượt biên. Có người nhỏ to tính chuyện tổ chức phản động. Chúng tôi phớt lờ tất cả. Cứ bán dần những thứ còn lại trong mớ đồ đạc sống qua ngày. Sống lây lất mấy tháng như vậy thì chúng tôi bắt đầu bế tắc. Công việc không có, áo quần, giày dép, mắt kính, sách vở, túi xách, va li lần lượt lên đường. Đùng một cái, đổi tiền lần thứ nhất (2.9.1975), chúng tôi chẳng có xu nào để đổi. Bắt đầu những ngày khốn khó. Có nhiều bữa chỉ còn đủ tiền mua một lon gạo và một quả trứng. Hai thằng luộc rồi chia trứng làm bốn mảnh, tưới nhiều nước mắm, dành ăn cho hai bữa. Có ngày chỉ còn mấy miếng khoai mì mua được dọc đường…. Rồi không ai bảo ai, cả hai bắt đầu tản ra, mỗi thằng tự đi, tự kiếm ăn, tối về ngủ. Nhân bỗng cọc cằn, dễ nổi nóng, tối ngủ cứ đá vào tường suốt đêm… Rồi tới một ngày, chúng tôi chia tay nhau, Nhân bỏ đi mất hút… Tôi bắt đầu đói dữ, có ngày chỉ được trái chuối, có hôm chỉ được củ khoai. Người tôi xanh mướt, xuống sức dữ dội, chỉ còn 39 ki lô. Tôi đành phải chấp nhận vào làm bưng bê trong quán cà phê ven đường của vợ chồng người bạn họa sĩ, kiếm cơm ăn. Nhưng cũng chỉ được mấy tháng, hai vợ chồng người bạn bị bắt vì có dính líu chính trị sao đó chẳng biết. Tôi lại trôi như bèo. Bèo nhèo. Tôi cũng chẳng có chút tin tức gì về Nhân, không biết hắn sống ra sao. Mù tăm. Tôi đã đói tới ngày thứ ba, ba ngày chỉ có củ khoai lang và li nước đường uống lậu ở quán con Sáu ốm. Người mệt lả. Thèm đủ thứ. Thấy gì cũng muốn giật bỏ vào mồm. Mệt. Người cứ như đang say sóng.Nhưng cũng cứ phải ra đường, vì ra đường mới hi vọng có miếng ăn. Đói, nhưng cũng quần áo chỉnh tề, giày vớ đầy đủ, nghiêm chỉnh ra đường như một kẻ nhàn du. Ra đường đứng lơ ngơ, đi lơ ngơ không mục đích. Và trong khi lớ ngớ như thế, tôi phát hiện phía bên đống rác ở chân cầu Trương Minh Gỉảng có chiếc xe đạp ai bỏ đó. Tôi đứng gần hai tiếng đồng hồ phía bên này đường, không thấy ai đến lấy. Tôi chờ thêm thời gian nữa, rồi băng qua đường. Chỉ việc tỉnh queo dắt xe đi, làm như xe của mình là xong. Bán đi sống cũng được năm mười bữa. Tôi đã chạm tay vào ghi đông xe. Nhưng rồi rụt tay lại như phỏng lửa. Hình như có người nhìn tôi. Hình như mọi người nhìn tôi. Hình như mọi người đang cùng chỉ tay vào tôi và đồng thanh: thằng ăn cắp.. thằng ăn cắp… Trong đầu tôi cũng vang lên điệp khúc đó: thằng ăn cắp.. thằng ăn cắp… Tôi lại lủi vào chợ. Những món hàng bánh trái lèo tèo nhưng hấp dẫn tôi vì cơn đói đang hành hạ. Có một chị đang bế con đi qua. Đứa bé khóc ngặt nghẽo đòi ăn quà. Chị ngồi xuống gánh chuối chiên. Những miếng chuối chiên vàng quyến rũ. Nước miếng chảy ra đầy miệng tôi. Tôi nghe có tiếng dòn rụm trong hàm răng, vị ngòn ngọt, beo béo tỏa trên đầu lưỡi. Thằng bé vẫn khóc. Người đàn bà đứng lên, đứa bé tay cầm miếng bánh, miệng vẫn khóc, người vùng vằng. Tôi chắc chắn trong đầu là thằng bé sẽ đánh rơi miếng bánh. Tôi lặng lẽ đi theo. Thằng bé làm rơi bánh thật. Tôi cúi người lẹ như sóc, lượm nhanh và tạt ngay vào con hẻm nhỏ. Miếng bánh tưởng sẽ ngon vô cùng vì cơn đói, nhưng vừa bỏ bánh vào miệng, hai dòng nước mắt chảy dài trên mặt tôi, những miếng bánh vỡ như những mảnh vỡ của thủy tinh xé nát buồng ngực tôi. Tôi đau đớn và nhục nhã…. Tráng là người bạn học chung ở Văn khoa, hắn là chuyên gia đạp xích lô. Tôi tìm tới hắn, nhờ bảo lãnh thuê một chiếc ở hẻm Trần Quang Diệu. Tôi chưa chạy xe xích lô lần nào, nhưng nghĩ Tráng chạy được thì tôi cũng sẽ chạy được. Nghĩ đơn giản ai dè trèo lên mới thấy không phải dễ ăn. Tập vài vòng thì cũng tạm chạy được. Tráng bảo tôi chạy về Trần Quốc Toản, chỗ chợ cá sẽ có mối. Đúng là vậy, một bà mập béo và đôi thùng đầy nhóc cá lóc thụê tôi chở về chợ Trương Minh Gỉang. Chỉ chạy đến ngã sáu Lê Văn Duyệt là tôi đã đuối hơi. Chân bắt đầu nặng, thở hổn hển. Tôi ráng đạp, nghĩ rằng chỉ qua tới Yên Đỗ, quẹo, qua được cầu là xong. Sẽ có bữa ăn cho trưa nay. Nhưng tôi không qua nổi cầu, ba bánh xe như có ai ghì lại, không lên nổi dốc, dù tôi đã gồng hết đôi chân. Chiếc xe như muốn tuột xuống, tuột xuống. Tôi không nhảy được, hai chân cố giữ bàn đạp, cả người cố gồng lên. Nhưng chiếc xe vẫn từ từ tuột. Tôi không chịu nổi nữa, ngực tôi nặng như đeo chì, hơi thở đứt quãng. Phen này thì chắc chết. Bà khách thấy xe tuột dần thì la lên chói lói, nhảy xuống cũng không xong vì kẹt hai thùng cá. Tôi buông xuôi, nhắm mắt chờ xe lật ngửa và thế là xong một đời. Nhưng, hình như có một sức mạnh thần kỳ, chiếc xe khựng lại một lát và đi lên như có ai đẩy. Tôi mở mắt nhìn lui thì thấy Nhân đang gò lưng đẩy xe từ phía sau, chiếc xe lên dốc rồi đổ dốc, an toàn đến chợ. Tôi gặp lại Nhân như thế đó, và Nhân đã cứu tôi lần nữa như đã cứu tôi một lần lúc thằng Hồ Lê bắt tôi chui qua háng thuở còn đi học…. Ngồi ở quán bún ngay góc Trương Minh Giảng và Trần Quang Diệu, tôi ăn ngon lành hai tô bún thịt nướng đầy rau xanh. Nhân không nói gì, ngồi nhìn tôi với đôi mắt ngập nước mắt thương xót. Nhưng khi tôi định gọi thêm tô thứ ba thì Nhân ngăn lại: – Cậu đã không chết vì đói thì đừng nên để chết vì no. Cứ từ từ. Sẽ không phải đói nữa đâu. Nhân rút từ túi ra một cọc tiền lớn, trả tiền bún xong, Nhân ngắt đôi cọc tiền, đưa tôi một phần và bảo: – Cậu giữ số tiền này mà sống. Người ta đang chuẩn bị cho các trường đại học hoạt động trở lại rồi. Cậu nên tiếp tục học hi vọng kiếm được một việc làm trong chế độ mới. Cậu ốm yếu lại quá thật thà đến hóa ngu, không làm buôn bán lọc lừa, không làm phu xe, bốc vác được đâu! – Nhưng tiền đâu cậu có nhiều thế. Mấy tháng nay cậu ở đâu, làm gì??? – Từ từ rồi sẽ biết. Mình sẽ kể cho cậu nghe. Xong rồi mình sẽ về Đà Nẵng. Chốn này không còn là chỗ dung thân của mình nữa rồi. Đã đến lúc mình phải chấm dứt mọi sự giả dối. Mình sẽ nói hết sự thật cho ba mình. Chắc chắn sự thật sẽ làm cho ông cụ đau đớn, nhưng thế sẽ tốt hơn, cho mình và cho cả ông cụ. Im lặng một lát, lấm lét nhìn quanh, Nhân ghé miệng sát tai tôi, thầm thì: Mình đang bị truy nã. ******* 5. Mấy tháng trước, chúng tôi chia tay nhau vì cả hai đang lâm vào cảnh đói ăn thê thảm, Nhân bỏ đi và lang thang vào khu Chợ Lớn. Nhân kể là vào đó hi vọng sẽ không gặp ai quen, đồng thời mấy ông Ba Tàu chắc cũng có đời sống, sinh hoạt khá hơn người Việt, dễ kiếm cơm hơn. Nhưng suốt một ngày từ chợ Hòa Bình, rồi qua chợ Kim Biên đến chợ Bình Tây vẫn chưa kiếm được mối nào nhờ giúp việc. Nhân mở miệng đề nghị chủ hàng để được bốc vác thì chủ hàng nhìn Nhân đầy nghi ngờ. Bởi chàng ta vẫn còn bỏ áo trong quần, nai nịt đầy đủ, chân còn mang đôi giày da tuy đã cũ sờn, lại thêm cắp kính đen che đôi mắt sùm sụp. Ai lại tin người có vẻ trí thức như vậy chịu làm chuyện của người lao động. Chắc có mục đích gì đây. Nghe ngóng? Theo dõi?… Nghi là phải. Mà lúc này xã hội mới hình thành một lối sợ mơ hồ và đầy nghi ngại với tất cả mọi người. Chẳng ai tin ai. Cũng may vỉa hè, quán sá, phố phường cũng không thiếu những anh chàng có vẻ ngoài như vậy lê bước với khuôn mặt chán chường và tuyệt vọng. Cho nên Nhân cũng không bị để ý lắm. Trời tối, đói meo, Nhân lê gót đến ghế đá cạnh tượng ông chủ họ Quách, người lập ra ngôi chợ này. Bức tượng đã bị đem đi đâu mất, chỉ còn cái bệ tượng chơ vơ. Có ba người thanh niên đang ngồi nhậu trên đó. Họ ngồi quanh, ở giữa có dĩa mồi là con gà luộc da vàng óng. Cuộc nhậu hình như mới bắt đầu, li rượu mới chuẩn bị xoay tua. Ngôi chợ vắng vẻ, ánh đèn vàng vọt và âm thanh chỉ là tiếng chổi quét lẹt quẹt của người phu quét chợ. Nhân ngồi ở ghế đá nhìn lên, con gà hấp dẫn quá. Hắn nuốt nước bọt liên tục. Đã mấy lần quay đi và cũng đã nhiều lần nhìn lại. Con gà vẫn bóng lưỡng khêu gợi tênh hênh giữa chiếu nhậu… Bỗng nhiên Nhân tì tay vào ghế đá, bắn người lên. Đôi chân vừa chạm đất quét ngang, con gà bay lên nằm gọn trong tay Nhân. Ba gã thanh niên quá bất ngờ, không kịp một phản ứng nào. Nhân ngoạm một miếng vào đùi gà, nhai nhồm nhoàm. Ba gã thanh niên đã định thần, cùng hét lớn xông vào đứa đấm, đứa đá, đứa lên gối. Nhân vừa nhai, vừa cầm chắc con gà, xoay nhiều vòng, hai chân đạp hai gã gần nhất đang chồm tới, tay còn lại đấm vào ngực gã kia. Ba tên bị bắn lui, kinh hoàng. Ba gã lại tiếp tục hè nhau tấn công thêm mấy bận nữa, nhưng chẳng làm gì được Nhân. Nhân vừa nhai vừa né đòn, rồi ra đòn nhưng chỉ mấy miếng đấm đá không nhằm chỗ hiểm. Cuối cùng cả bọn dừng tay. Gã râu xồm có vẻ đầu đàn hất hàm nhưng trong giọng nói có chút vị nể: – Ông bạn ở đâu mà dám đến đây cướp gà của tụi này? Nhân dừng nhai: – Tôi đói quá, định xin mấy người anh em chút gì bỏ bụng, nhưng biết chắc là khó nên đành cướp vậy. Có gì các anh thứ lỗi. – Ông ở băng nào mà ngón nghề cũng oách quá vậy? – Chẳng có băng nào cả, thất nghiệp lang thang thôi…. Lời qua tiếng lại một hồi, hiểu được nhau. Giang hồ vốn trọng người tài, nên rồi cả bọn ngồi chung chiếu, nhậu suốt đêm thâu. Từ đó, Nhân nhập băng, lần hồi nhờ tài võ nghệ cộng với trí thông minh, hắn trở thành đại ca của băng chợ Bình Tây, từ từ lan ra một vùng khá rộng của khu Chợ Lớn, dưới trướng có vài chục đàn em, cùng nhau hành hiệp. Lúc đầu chỉ quanh quẩn công việc ở các chợ, lần lần nhảy vào bán mua, rồi buôn lậu đường dài. Càng ngày càng lấn sâu vào chốn giang hồ phạm pháp, tên tuổi của trùm Nhân nổi tiếng khắp chốn giang hồ là một đại ca mưu mô tuyệt diệu mà võ công lại vô cùng thâm hậu, được đàn em vô cùng quý mến, tôn sùng. Tiền bạc vô ào ào. Nhớ bạn đang nghèo nhưng mặc cảm đang là thằng tướng cướp nên chẳng dám về tìm lại. Giang hồ có lãnh địa riêng, bán buôn cũng chia từng khu vực, các băng nhóm không được xâm phạm, vi phạm là sẽ có máu đổ ngay. Nhưng không lấn sân nhau thì không tồn tại và phát triển được, nên đụng độ nhau là chuyện không thể tránh. Sau mấy tháng làm đại ca, một cuộc tranh chấp lãnh thổ và mối lái giữa băng của Nhân và băng ALũ xảy ra. Đây sẽ là trận lớn, cả hai bên trang bị mã tấu, ống nước inox, dao bầu, kiếm nhọn. Một trận huyết chiến, một mất một còn, máu me tràn ngập chắc chắn sẽ không tránh khỏi. A Lũ là một đại ca máu mặt ở vùng này, trước tháng 4.75 là trùm khu Chợ Lớn – Phú Lâm, bị Ban bài trừ du đãng của cảnh sát Sài Gòn bắt giam ở Chí Hòa, được thoát ra trưa 30. Hắn ngứa mắt trước ảnh hưởng càng ngày càng lan rộng của băng thằng Nhân, nên quyết đấu. Nhân không muốn cuộc chiến diễn ra ồn ào, công an xuất hiện là điều bất lợi cho bản thân hắn và lũ đàn em, nên đến gần giờ máu đổ, Nhân đề nghị đấu tay đôi với A Lũ. Bên nào thắng sẽ được trọn quyền hoạt động toàn khu, bên thất bại sẽ giải tán hoặc gộp chung thành đàn em của băng thắng. A Lũ đồng ý ngay, bởi hắn là một tay võ sư có hạng của võ Thiếu Lâm. Hắn nhìn thân hình hơi thấp và dáng thư sinh của Nhân nên có vẻ xem thường. Cuộc đấu tay đôi sẽ diễn ra trong nghĩa địa nhị tì khu cây da xà lúc nửa đêm. Hai thằng đúng là kỳ phùng địch thủ, bất phân thắng bại. Hơn nữa, Nhân cố tránh không sử dụng đòn chí mạng, chỉ muốn làm cho A Lũ và đám đàn em hắn tâm phục khẩu phục, nên cuộc chiến kéo dài hơn tiếng đồng hồ. Hai bên ra lệnh không được hò reo, tránh sự chú ý. A Lũ đúng là một tay võ lâm đầy tài nghệ. Hắn tránh được nhiều đòn của Nhân và cũng phản đòn rất dũng mãnh. Cuối cùng, không muốn kéo dài cuộc chiến, Nhân phải sử dụng đến ngón đòn giết người rất nguy hiểm. Hắn bấm mình bay đến bức tường sau lưng A Lũ, chạy như gió trên tường rồi bắn ngược trở lại, tung cước ngay đầu A Lũ, A Lũ gục xuống như thân chuối bị đốn. Đấu trường xôn xao. Cùng lúc ấy có tiếng chân chạy sầm sập, tiếng còi thổi và bóng nhiều công an xuất hiện ở cổng nghĩa trang. Cả bọn tháo chạy. A Lũ cố gượng dậy nhưng không nhấc mình lên được. Đã chạy đi rồi, quay nhìn lại thấy A Lũ quằn quại không gượng dậy nổi, Nhân quay lại cõng A Lũ trên vai và cố thoát khỏi vòng vây. Nhưng không kịp. Ba công an kềm sát chân anh, ôm chặt lấy Nhân, quật xuống và tra còng . . . Nhân bị giam ở đồn hai ngày, hai tay bị còng vào song cửa sổ, chờ xe chở về Đắc Nông, nơi tập trung đám giang hồ bị bắt cải tạo lao động. Bọn đàn em bắn tin sẽ tìm cách giải cứu đại ca, đồng thời báo cho biết A Lũ chỉ bị trọng thương, đang nằm ở bệnh viện, công an canh giữ sát sao, nhưng liệt nửa người dặt dẹo. Thời đó chẳng có tòa án, cũng chẳng xét hỏi, lập hồ sơ, cứ thế mà đi thẳng vào trại, chẳng biết ngày về. Nhân nghĩ chỉ có giải pháp duy nhất là phải trốn thôi, không thể giam mình trong trại không lối thoát như thế được. Nửa đêm đó, chờ mọi người ngủ say, Nhân lấy hết sức bình sinh, bẻ song cửa sổ, hai tay còn dính còng, trốn thoát. Anh chạy về sào huyệt báo tin cho đàn em, từ biệt chúng, chia chác tiền bạc và sáng hôm sau đi tìm tôi. Và chúng tôi đã gặp nhau ở dốc chân cầu Trương Minh Gỉang, khi tôi chuẩn bị tuột dốc. Tôi hỏi Nhân: – Cậu mua vé tàu xe gì chưa? Nhân bảo: – Mình tránh mua vé, sợ bị lộ. Mình sẽ đi bộ về Đà Nẵng, gặp đâu xin đi đó, được đoạn nào hay đoạn đó, chứ đi tàu dễ bị xét hỏi lắm, chắc là khó thoát. Và chúng tôi chia tay nhau. Lúc ấy là cuối năm 1976. ******* 6. Tôi được ghi tên đi học lại, khóa chúng tôi được nhập chung với sinh viên Sư phạm thành trường Đại học Sư Phạm Thành phố. Nhờ số tiền Nhân đưa, tôi sống được thời gian dài, dù cũng chỉ tạm đủ ngày hai bữa cơm rau ở căn tin và qua lần đổi tiền lần thứ hai 1978. Cuộc sống trôi đi, học hành rồi ra trường, tôi ra trường cũng gặp chút khó khăn lúc phân công tác. Lí lịch xấu quá, đen thui. Con công chức cao cấp chế độ cũ. Bản thân thiếu phấn đấu. Nhưng rồi trời thương, được vài người giúp đỡ, tôi được phân công về dạy ở một trường cấp 3 heo hút ở Củ chi. Cuộc sống cũng được cho là ổn. Tôi cố tìm cách liên lạc với gia đình, nhưng thư gởi đi mà không có hồi âm. Tôi cũng chẳng nhận được lá thư nào từ Pháp gởi về. Cũng chẳng nhận được chút tin tức nào của Nhân. Tất cả im lìm như nấm mộ. Đầu năm 1978, tôi nhận được một lá thư từ nước Pháp. Lá thư của em gái tôi, cô em duy nhất mà khi tôi rời Việt Nam, em mới 14 tuổi. Em gởi từ Mỹ qua địa chỉ cũ của tôi ở Montpellier từ cuối năm 1975, nay tôi mới nhận được. Trong thư em báo tin đã di tản qua Mỹ từ tháng 4.1975, hiện ở New Hampshire, miền đông nước Mỹ đồng thời cho biết ba tôi đang bị học tập cải tạo tại Hàm Tân. Tôi chạy ra Hàm Tân thì được tin ba tôi đã bị chuyển ra Bắc, đang ở Hà Nam Ninh. Mùa hè năm 1978 tôi ra bắc, lên Hà Nam Ninh thăm nuôi ba nhưng không được gặp mặt, đến năm sau ra lần nữa thì được tin ba tôi đã chết trong trại. Trên đường từ bắc xuôi nam, tôi dự định ghé Đà Nẵng thắp nhang cho mẹ thì lại biết rằng nghĩa trang Nam Ô, nơi mẹ tôi nằm đã bị qui hoạch, mộ mẹ tôi không biết tìm đâu? Như vậy, từ khi rời Đà Nẵng năm 1968, tôi chưa trở lại chốn này lần nào. Bởi chẳng còn gì để tôi trở lại, cha mất chưa tìm được xác ở chốn xa xôi. Mộ mẹ bị san bằng không dấu vết. Nhà cửa không còn. Trở lại chỉ thêm buồn đau và hờn tủi. Tôi lập gia đình, sinh con. Quẩn quanh với cuộc sống từ những khó khăn và thiếu thốn. Cuộc sống cứ thế trôi đi. Những kỷ niệm của ngày xưa lần hồi phôi pha. Phải tập quên để sống. Phải cứ hướng tới phía trước để tồn tại. Cho đến 2010, khi tôi tròn 60 tuổi, về hưu, con cái cũng đã lớn, đã yên bề gia thất. Nhiều đêm không ngủ được, tuổi mới chớm già mà cứ nhớ đến quá khứ đến quắt quay. Tôi nhớ Nhân, nhớ đến những năm tháng đã qua đi và sẽ không còn trở lại. Không biết bây giờ Nhân sống ra sao, còn ở Việt Nam hay đã trôi dạt xứ nào. Thời gian quá dài, quá nhiều đổi thay, quá nhiều bất trắc. Không biết những nơi chốn xưa có còn như cũ nữa không? Biết bao là hình ảnh, biết bao là câu hỏi cứ quẩn quanh….Tôi mua vé bay về Đà Nẵng, tìm lại kỷ niệm xưa, đồng thời tìm lại người bạn thân yêu đã một thời gắn bó. Thành phố không còn như cũ nữa, nhiều đổi thay. Những dấu vết kỷ niệm đã bị mất dấu. Tôi ngu ngơ giữa thành phố xa lạ. Chẳng gặp người quen, chẳng tìm ra cảnh cũ. Tôi lang thang quẩn quanh ở chợ Cồn, nơi ngã tư. Chỗ đó hồi xưa là nơi thường ngày tôi qua. Ngày xưa, bên này là cây xăng, bên kia là cư xá Đoàn Kết của quân đội, bên kia đường là nhà sách Văn Hóa, nơi tôi thường mua sách. Xuống một chút là cà phê Xướng, nơi bán những ly cà phê đượm hương beurre Bretel và bánh mì thịt thơm nức mũi ba tôi thường ăn mỗi sáng. Đi qua đường rầy của đường Hùng Vương, có xưởng vẽ của họa sĩ Trần Viết Hậu, người họa sĩ già mà ngày nào đi học ngang qua, tôi cũng dừng chân đứng lại một chút để nhìn ông ta vẽ, tôi mê hội họa từ những nét vẽ của ông. Tất cả biến mất, chẳng còn dấu vết. Tôi đi loanh quanh cả chục lần chốn cũ mà không tìm thấy chút hình ảnh nào sót lại. Ở góc phố, tôi dừng lại mua gói thuốc. Ông già bán thuốc tóc bạc chải mượt có khuôn mặt rất quen, quen lắm, nhưng tôi vẫn chưa nhớ ra được. Tôi băng qua đường, đốt thuốc nhìn qua. Ông già đốt thuốc hút, hai ngón tay cầm điếu thuốc hững hờ, điệu nghệ. Nhìn hình ảnh đó, tự nhiên gợi tôi nhớ đến một người, tôi băng nhanh qua đường, ôm lấy vai người bán thuốc: Thầy Thanh, Thầy Thanh, phải Thầy không? Thầy nhớ con không? Thầy Thanh ngỡ ngàng nhìn tôi, ngờ ngợ: – Phải, tôi là Thanh đây, trước đây tôi có thời dạy học. Anh là ai mà biết tôi? – Con là Ngọc. Ngọc con ông Đốc Kim, học trò của thầy hồi đó. Thầy ôm vai tôi, ngấn nước mắt: – Tôi nhớ ra rồi… Anh về hồi nào?…Trời ơi lâu quá rồi, lâu quá rồi… Mấy chục năm rồi nhỉ? Phải hơn bốn chục năm rồi. Đúng không? Tôi và thầy Thanh ngồi trong quán cà phê, nhắc hoài chuyện cũ. Nhắc đến người đi, kẻ ở, kẻ mất người còn. Nhắc đến những đổi thay. Tôi hỏi thầy có nhớ Nhân không, thầy bảo làm sao quên được người học trò đặc biệt ấy. Thầy cho biết bây giờ Nhân khó khăn lắm, cũng khó gặp vì Nhân tìm đủ cách để tránh mọi người. Nghe như Nhân đạp xe ba gác chở rau ở chợ Thanh Khê, đến đấy tìm chắc gặp. Thầy còn cho biết Hồ Lê bây giờ làm chức lớn lắm, cũng có ghé Thầy mấy lần, có khi còn tặng quà. Tôi tìm về chợ Thanh Khê, hồi xưa đây là xóm chài ven biển, nghèo lắm. Bây giờ nhà cửa cao ngất như phố thị. Lân la ở chợ, hỏi nhiều người tôi tìm vào nhà Nhân men theo con đường nhỏ loằng ngoằn, sâu trong mấy cánh đồng còn sót lại, nhà cửa thưa thớt, chung quanh toàn rác rưởi. Căn nhà như cái lều, phía trước có khoảnh sân nhỏ, rào thưa. Con chó gầy còm đang phơi nắng thấy người lạ cất tiếng sủa yếu ớt. Sân vắng, tôi gọi mãi không thấy ai. Một lát sau, một cái đầu bù rối hiện ra nơi khung cửa cất tiếng ồm ồm: Hỏi ai? Tôi bảo: Tìm Nhân. Lại cái giọng ấy: Nhân đi vắng rồi. Người đàn bà hiện ra, khuôn mặt lộ diện dưới ánh nắng. Một khuôn mặt rất quen. Tôi nghĩ vẫn chưa ra. Tôi bảo: Khi nào thì Nhân về. Tôi đợi được không? Người đàn bà nhìn tôi trân trân. Khuôn mặt quen lắm. Tôi vẫn chưa nhớ ra nổi khuôn mặt rất quen này. Tôi chào và đi ra ngõ. Con chó lười biếng không tiếng sủa. Người đàn bà nhìn theo lẩm bẩm chi đó không nghe được. Tôi ngược ra đầu ngõ, ngồi ở quán bên đường, đợi Nhân. Tôi đốt đến điếu thuốc thứ ba thì trí nhớ vỡ oà. Đúng là chị Đầm rô. Chị Đầm rô bán quán chè đậu rất ngon, giọng nói ồ ề. Chị Đầm rô dạy tôi hút thuốc lá. Chị Đầm rô có ánh mắt ngưỡng mộ Nhân. Phải rồi. Đúng là khuôn mặt của chị Đầm. Nhưng sao chị lại ở trong nhà của Nhân? Tôi không cách gì nhận ra Nhân. Nhân ngồi đó, trên chiếc ghế đẩu trơ trọi giữa sân, trong ngôi nhà có khoảnh rào thưa, dưới chân có con chó gầy gò quanh quẩn. Ly rượu cầm tay, miếng mồi chỉ là con cá khô nhỏ và dĩa ớt trái đỏ rực. Không còn nét nào của Nhân ngày xưa. Đó chỉ là lão nông ngồi uống rượu buổi chiều. Những lọn tóc duyên dáng cũ đâu mất rồi, chỉ còn một nhúm tóc lơ thơ lốm đốm bạc, bết lại nằm lạc lõng trên vầng trán hói. Đôi môi đỏ cũng đã không còn, chỉ còn lại một khóe miệng khinh bạc, thâm xì và móm mém, hàm răng trống rỗng khiến cho khuôn mặt như choắt lại. Da mặt bì bì, thâm tái, men mét của người mắc bệnh gan kinh niên. Những nếp nhăn dồn dập làm cho khuôn mặt héo hon như trái táo tàu khô. Đôi mắt trũng, mờ tối, đầy khói u ám. Đâu mất rồi ánh mắt sáng rực đầy sát khí của Nhân bốn mươi năm trước. Siêu nhân đây ư? Tấm gương của nhiều bậc cha mẹ đây sao? Niềm mơ ước của nhiều người!!! Chỉ còn lại là một tấm thân tiều tụy và hom hem thảm sầu. Chắc chắn là không phải là sự tàn phá của thời gian. Thời gian không thể xóa hết dấu vết của một con người tàn nhẫn đến như thế. Chỉ có nỗi đau đớn của cuộc đời, tuyệt vọng, tủi nhục, cay đắng và sự thất bại cùng cực mới làm cho một con người đổ gục đến vậy. Nhân hoàn toàn mang hình dáng của một con người khác. Tôi ôm Nhân, những giọt nước mắt trào ra ướt mặt. Từ thân thể Nhân bốc lên một mùi nằng nặng. Mùi chua của mồ hôi lâu ngày, mùi úng thối của rau củ, mùi rượu trộn lẫn với mùi bụi đời đắng cay. Tôi lại khóc. Tôi cầm lấy tay Nhân, bàn tay nhiều vết xước, màu da đen tái lốm đốm mủ cây trái, những móng tay cũng đầy nhựa, nứt nẻ, nhiều vết chai sần. Tôi nhìn xuống đôi chân của Nhân. Đôi chân cũng khẳng khiu, sứt sẹo, đen xì, những chiếc móng đầy cáu ghét, đôi dép đứt quai được buộc lại bằng sợi dây nhựa đỏ, đế mòn vẹt. Lúc đầu Nhân hững hờ ôm vai tôi, rồi bỗng siết chặt và người Nhân rung lên. Tôi khóc như trẻ con. Bỗng Nhân buông tay và nói như mắng: ĐM, mày vẫn như xưa, lúc nào cũng ẩm ướt. Tôi lại thêm một ngạc nhiên, không những Nhân đổi thay hình dáng, mà còn thay đổi luôn cách xưng hô, và biết chưởi thề. Suốt thời gian dài quen biết nhau, chưa bao giờ chúng tôi xưng hô mày tao với nhau, chỉ gọi nhau là cậu tớ, Tôi chưa một lần nghe Nhân buột miệng chưởi ai. Tôi trố mắt nhìn Nhân, trời ơi, Nhân ngày xưa đã chết thật rồi. Biết đổ lỗi cho ai đây, hoàn cảnh, cuộc đời hay thời thế. Hay là đổ cho số phận. Tôi ở lại với Nhân ba ngày còn lại của chuyến đi. Ban ngày hai đứa lang thang với những chốn kỷ niệm cũ, lê la các hàng quán. Đêm về, hai đứa kể nhau nghe những chuyện của đời nhau, những chuyện đời buồn nhiều hơn vui. Tôi mua sắm nhiều vật dụng cần thiết của cuộc sống, chị Đầm rất vui khi nhận những món quà này, riêng Nhân vẫn dửng dưng… ****** 7. Hồi đó, cuối năm 1976, Nhân vội vã trở về Đà Nẵng để trốn lệnh truy nã. Chuyến đi kéo dài hơn tuần lễ. Đón xe dọc đường từng chặng, có khi đi bộ suốt buổi. Suốt đoạn đường cũng chẳng có chuyện gì. Nhưng hôm từ Bình Định về Quảng Ngãi, sau một bữa nhậu say quắc cần câu với cánh tài xế, sang hôm sau khi tỉnh rượu, Nhân thấy mình nằm ở vệ đường ở Mộ Đức, tiền bạc trong túi bị tước hết. Hai tên tài xế cho Nhân đi nhờ biến đâu mất. Cũng may, Nhân đã chia nhỏ bó tiền, để mỗi nơi một chút, nhờ vậy, cũng còn chút tiền dấu trong đôi giày, dù không nhiều lắm. Đến Đà Nẵng nửa đêm, căn nhà cũ của gia đình nay đã biến thành cơ quan của chính quyền mới. Lang thang suốt đêm, thấy mình như kẻ xa lạ ở một thành phố khác. Lân la quán cà phê gần ngôi nhà cũ từ tờ mờ sớm, Nhân biết được gia đình mình đang ở trong một con kiệt nhỏ cuối đường Hoàng Diệu, gần đường rầy xe lửa. Ngôi nhà ngày xưa đã bị trưng dụng từ khi cách mạng về, ba Nhân nhờ ngày trước có tham gia kháng chiến chống Pháp, trước 75 cũng có thành tích nuôi dấu cán bộ gì đó, nên không bị đi học tập cải tạo, nhưng không được sử dụng. Nhân vừa bước vào ngõ, ba Nhân đã nhận ra ngay. Ông cuống quit ôm lấy Nhân, miệng cứ lập lại mãi một câu hỏi: Về lúc nào? Sao lại về? Về lúc nào? Hành lí đâu? Nhân cũng ôm lấy cha, nước mắt giàn giụa: Ba ngồi xuống đây nghe con nói, ba ngồi xuống đi. Nhân quì dưới đất, lạy mấy lạy. cứ lập đi lập lại: Ba ơi, con bất hiếu không làm được ước nguyện của ba rồi, rồi lại lạy. Ông Đốc ngồi sững sờ, mang máng hiểu đã có một tai họa tày trời. Niềm tin của ông, lẽ sống của ông. Sao lại thế này? Nhân vừa khóc, vừa lạy, vừa kể hết mọi chuyện. Lâu lâu lại nấc lên, nước mắt đầy mặt. Ông Đốc có cảm giác như ngàn lưỡi dao đâm vô ngực, xoáy mạnh. Tai lùng bùng, trái tim như đang có bàn tay ai bóp nghẹt. Đầu óc choáng váng, trái đất như sụp dưới chân ông, ông thấy khó thở, trước mặt chỉ là một khoảng tối vô tận. Nhân kể lể không biết bao lâu, không thấy ông Đốc động tĩnh gì. Nhân ngước lên, nắm lấy tay cha. Anh hoảng hốt như điện giật, tay ông Kim lạnh ngắt như nước đá, cứng đờ. Nhân hốt hoảng ngồi lên, nhìn thấy khuôn mặt trắng bệt, hai mắt mở trừng trừng của ba mình, anh hét lên: Ba ơi, con giết ba rồi, ba ơi!!! Ông Đốc đã tắt thở từ lúc nào, mặt đanh lại, hai mắt vẫn mở, hai hàm răng nghiến chặt, giận dữ. Đám ma diễn ra lạnh lẽo, chỉ còn hai anh em: Nhân và cô em gái. Cô em kế Nhân bị bệnh thần kinh không biết lang thang ở đâu mà bị cưỡng hiếp có bầu, rồi băng huyết lúc sinh, chết hồi đầu năm. Đứa em bị bệnh down thì mất tích trong những ngày chộn rộn cuối tháng ba năm bảy lăm. Thằng em trai kế Nhân nghe nói đi bộ đội đóng ở Tây Ninh, nhưng chẳng có địa chỉ liên lạc. Hôm đưa đám trời lại mưa suốt buổi, hai anh em mặc áo xô, chống gậy trông thảm thiết giữa đồng trống. Nhân không khóc, nhưng hai mắt đỏ ngầu. Đám tang xong xuôi, Nhân đi tìm Dạ Lan. Gia đình Dạ Lan cũng lâm vào bi kịch. Hôm Dạ Lan về Huế thăm bà ngoại, gia đình ông Bửu Hân tổ chức vượt biên. Hai vợ chồng và cậu con trai bị bão tố dìm xác xuống đáy biển, chuyến đi đó chỉ có mấy người được tàu lớn cứu thoát, tạm ngụ ở Hồng Kông. Nhà bị tịch thu vì tội phản quốc. Dạ Lan xin được ở lại trong căn phòng nhỏ dành cho người giúp việc ở góc sân cùng với cây đàn piano. Không biết vì lí do nào, những người phụ trách cũng chấp nhận. Nhân nhiều lần tìm đến chỗ ở của Dạ Lan, nhưng nàng không tiếp, cứ trốn tránh mãi. Sau cùng, hai người gặp mặt nhau, Dạ Lan cho biết nàng đang mang thai, nhưng không cho biết cha đứa bé là ai. Sững sờ. Nhưng Nhân chấp nhận tất cả, chỉ mong ước được sống cùng nhau. Nhân cũng không tìm hiểu ai là cha đứa bé…Sau này, Nhân mới biết rằng cái bào thai là kết quả của cuộc trao đổi để nàng được ở lại căn phòng nhỏ đó cùng với cây đàn. Và hai người đồng ý chung sống, không lễ cưới, không hôn thú, trong căn phòng chật hẹp dưới gốc cây ngọc lan, kết cục một cuộc tình như thế cũng là một đoạn kết đẹp vì lúc bấy giờ là thời kỳ loạn lạc, nhiều bất trắc. Nhưng cuộc sống không phải chỉ có tình yêu là đủ. Nhân không tìm đâu được việc làm, vì cũng chẳng có giấy tờ chứng minh năng lực, lí lịch lại mù mờ mà cũng vì thời bấy giờ phải có mối quan hệ nhất định nào đó mới có thể kiếm được việc.. Loay hoay mãi với cơm áo, cuộc sống gia đình bắt đầu thiếu vắng tiếng cười. Lương cô giáo của Dạ Lan với tiêu chuẩn mười ba kí gạo bây giờ phải chia ra cho hai người, những bữa cơm toàn độn sắn khoai với bo bo, canh rau và cá hẩm Mùa đông năm đó, Dạ Lan bị tai nạn xe cộ lúc đi dạy học về, chiếc xe đạp cong niềng, gãy phuộc. Dạ Lan chỉ bị trầy sướt nhưng lại bị hư thai, máu nhuộm đỏ phần dưới cơ thể. Không biết kiếm đâu ra tiền, Nhân đành bán chiếc piano lấy chỉ vàng lo thuốc men cho vợ. Ở bệnh viện về, biết chiếc đàn đã bị bán, Dạ Lan im lặng suốt cả tháng, chẳng hé một câu nào. Nhân thấy mình có lỗi, và Nhân nhớ dự định của mình khi bước đầu du học, sẽ mua cho Dạ Lan chiếc đàn piano tốt nhất lúc tốt nghiệp trở về.. Dự định không thực hiện được lại đem bán chiếc đàn kỉ niệm của Dạ Lan. Nhân cảm thấy mình hèn hạ và bất lực. Thời kì này, người ta rủ nhau đi săn trầm, kiếm được rất khá. Trước bức bách của đời sống và nỗi buồn khó nguôi của Dạ Lan, Nhân quyết định vào núi tìm trầm, mong đổi đời, hi vọng sẽ mua lại đền cho vợ chiếc đàn khác. Rừng rú bao la, ngậm ngãi tìm trầm, những chuyến đi nhiều khi kéo dài cả mấy tuần. Cả bọn sống như dân du mục, đến đâu dựng lều trại ở đó. Tìm trầm là công việc chẳng dễ dàng gì, mưa gió, rắn rít, thú dữ… tất cả đều đáng sợ, có thể chấm dứt đời người bất cứ lúc nào. Nhưng đáng sợ hơn cả là con người. Lo nhất là lúc ăn được trầm, đó là thời gian sinh tử, phải rời rừng ngay bất cứ giá nào, nếu muốn còn sống để trở về. Chỉ cần một phát đạn, hay chỉ là một nhát dao, một cú đâm từ sau lưng, số trầm vừa kiếm được sẽ không còn và tính mạng sẽ bị định đoạt. Sống như kẻ du mục và cư xử như những kẻ du thủ. Nhân hòa mình vào thế giới đó, và trở thành thủ lãnh một nhóm ba người. Suốt mấy tháng gần như kiệt sức và cũng chẳng còn bao nhiêu vốn liếng, trầm vẫn là những giấc mơ. Cả bọn quyết định đi sâu vào rừng nguyên sinh, giáp ranh với vùng Tây nguyên. Trúng đậm. Có cả kỳ nam. Chuyến này sẽ đổi đời. Ba người run rẩy gói ghém, rời rừng. Mưa như trút. Mỗi người một ba lô đầy căng trầm và kỳ nam. Trời nhá nhem, sấm sét xé trời, đi ngang qua một đường mòn, dưới là vực sâu thăm thẳm. Một nhóm cướp xuất hiện như từ dưới đất mọc lên. Tiếng nổ đầu tiên hạ gục ngay người đi đầu, xác rơi xuống vực cùng chiếc ba lô. Nhân hét như sấm, băng lên, nhắm vào thằng đầu đàn đang cầm súng, một cú song phi, tên cướp ngã ngửa, súng văng ra. Nhân nhanh chân đạp ngay báng súng, bật lên, cây súng nằm trong tay như một ánh chớp. Anh lên đạn, bắn chỉ thiên nguyên một tràng. Bọn cướp lóp ngóp bỏ chạy. Hai người chạy dưới mưa, băng qua con suối tràn nước. Hình như lũ về. Những thác nước trắng xóa ào ạt. Nhân và người đồng hành lóp ngóp bơi qua con suối. Nước dữ dội, cuốn phăng phăng. Cả hai mệt lử. Ranh giới sống chết. Đang cố chống trả dòng nước cuồn cuộn, Nhân nghe tiếng kêu thảm thiết của người bạn. Anh quay lại, nước đang kéo người bạn xa dần. Nhân cố bương tới, nắm được tay trơn tuột. Anh bạn sợ hãi, run rẫy, lắp bắp: Cứu tôi..Cứu tôi. Lại tuột tay, Nhân cố bơi tới, anh bạn buông mình xuôi dòng nước, chiếc ba lô của anh ta rời khỏi người trôi băng băng. Anh ta cố với theo nhưng không kịp. Nhân cố vượt lên, nắm được tay bạn, ghì hết sức kéo lại. Lại một đợt nước ào ạt, chiếc ba lô của Nhân tuột khỏi vai, trôi theo dòng nước dữ. Không tiếc, phải sống đã. Cố lên, gắng lên. Nước lũ đang về, những tiếng ầm ầm như sấm động. Nhân ôm bạn, cố vươn lên. Đến bờ, lại tuôn chạy trốn lũ. Người bạn như cái xác không hồn, líu díu chạy theo Nhân. Mưa rát mặt. Những cành cây quất vào thân thể. Cứ bương tới. Bương tới. Để sống. Cả hai chạy ra tới bìa rừng, bên kia là quốc lộ. Sống rồi. Hai người ôm lấy nhau, nước mắt hòa nước mưa. Lại trắng tay. Đón được một chiếc xe của bộ đội sau khi ăn hai tô phở lớn ngút khói ở quán phở bên đường. Nhân thấy khỏe hơn và lúc đó anh mới thấy tiếc cái ba lô kỳ nam vừa mất. Một gia tài đã tuột khỏi tay. Ngồi trên xe dưới cơn mưa tầm tã, Nhân nhớ Dạ Lan đến cồn cào. Anh hình dung thân thể trắng ngà, thơm tho của vợ. Anh nhớ tiếng rên như mèo kêu của nàng khi cả hai lên đến đỉnh của yêu đương. Mái tóc dài xõa trên nền drap trắng. Nỗi nhớ xôn xao trong dạ, anh mong về mau để được ôm nàng trong vòng tay với những lời yêu thương. Nửa đêm Nhân mới về đến căn nhà nhỏ dưới cây ngọc lan. Phố vắng tanh. Mưa vẫn ào ạt. Anh đội mưa đi về, định tạo một sự ngạc nhiên cho Dạ Lan. Căn phòng đèn mờ sáng. Cửa chỉ khép hờ. Anh nhẹ nhàng đẩy cửa. Anh sững người. Dưới ánh đèn mờ ảo, trên giường, những khoảng trắng da thịt loang loáng theo nhịp. Tiếng thở của người đàn ông, tiếng rên như mèo kêu của người đàn bà. Khốn nạn. Máu Nhân như đông cứng lại. Tim muốn vỡ ra. Hai bàn tay bỗng nắm chặt, gồng lên chuẩn bị một cú đấm. Đôi chân muốn vọng động. Chỉ một cú tấn công, sẽ có người chết. Bỗng Nhân run rẩy như người mắc kinh phong, cả thân người giật không kiểm soát được. Những giọt nước mưa từ người anh đọng vũng trên sàn nhà. Đầu anh bỗng nhức như muốn vỡ ra. Tim loạn nhịp. Anh lặng lẽ đi ra, ngồi dưới gốc ngọc lan, mưa vẫn xối trên người anh. Nhân thấy mình bất lực, tự khinh mình. Anh chẳng trách ai cả. Chẳng qua cũng bởi tại anh, vì anh chẳng làm tròn trách nhiệm của một người chồng. Anh chỉ mang lại những nỗi đau. Nhân ngồi như bức tượng suốt đêm. Trời gần sáng, chân trời sáng lên một vệt mờ. Có tiếng kẹt cửa, người đàn ông len lén đi ra, lặng lẽ đi về cuối phố. Nhân chẳng cần biết đó là ai. Chỉ biết đó là người đàn ông đã ngủ với vợ mình suốt đêm qua. Từng đó cũng đã đủ. Trời sáng hẳn. Dạ Lan mở cửa, dắt xe ra. Nàng quay lại khóa cửa thì nhìn thấy Nhân. Thoáng một chút hoảng hốt. Nàng cất tiếng: – Anh về hồi nào mà không vào nhà? Sao lại ngồi dầm mưa thế này? – Về hồi hôm. Không vào vì căn nhà này không còn chỗ cho tôi nữa rồi. Dạ Lan tái mặt, người như muốn ngã, nàng níu cánh cửa, hoảng hốt, lắp bắp. Chiếc xe ngã chổng chơ bên thềm. Không chờ câu nói tiếp của Dạ Lan, Nhân lẳng lặng đi nhanh ra đường. Phố bắt đầu một ngày mới. Anh bước mà chẳng biết đi đâu. Cả ngày hôm đó, Nhân say khướt. Mấy hôm sau anh rời thành phố, lại đi vào núi. Gần nửa năm sau, Nhân mới lại về. Lần này trở về, Nhân định sẽ quên hết, sẽ sống lại với Dạ Lan, làm lại một chương mới. Quên tất cả. Nhưng, Dạ Lan đã không còn nữa. Một tuần lễ sau khi Nhân bỏ đi, không thấy Dạ Lan đến lớp, nhà trường đến tìm nàng thì phát hiện Dạ Lan đã treo cổ tự sát. Nàng mặc chiếc áo màu tím than, cổ quấn chiếc khăn quàng màu tím nhạt, di đôi guốc cao cũng màu tím. Dây treo cổ siết làm cho lưỡi nàng thè ra, khuôn mặt cũng tím rịm. Từ hôm đó, thành phố thêm một người điên. Nhân lang thang bờ bụi, lúc nào cũng say khướt, Áo quần càng ngày càng rách bươm, hôi hám, tóc tai bù xù, dơ bẩn. Ban ngày Nhân thường đi dọc biển, lượm những cành cây khô, bẻ nhỏ mang đến tiệm bán trầm hương, đòi bán với giá cao, khi người ta bảo không mua, đuổi đi, Nhân chưởi một tràng tiếng Pháp và bắt đầu xổ tiếng Tây giờ này qua giờ nọ, không ai hiểu. Đêm đến, anh múa võ trên hè phố, miệng lẩm bẩm tên Dạ Lan. Anh khóc cười vô chừng như mưa nắng. Anh sống trong một thế giới khác. Những người trước đây biết tài năng của Nhân, chỉ biết chép miệng lắc đầu, thương cho một số phận. Lúc đầu, bên công an nghi Nhân giả điên với mục đích mờ ám chính trị nào đó, nhưng rồi sau một thời gian thẩm vấn và theo dõi, chẳng thu thập được gì. Nhân sống như vậy gần hai năm dài, rồi bỗng dưng thành phố vắng bóng người thanh niên điên loạn nói toàn tiếng Pháp. Nhân lại đi vào núi, đến Bồng Miêu rồi qua Phước Sơn đào vàng. Ở đâu anh cũng trở thành đại ca vì thế giới của những kẻ săn vàng là thế giới của bạo lực, giết nhau như cơm bữa, mà Nhân thì võ nghệ cao cường, nên đắc dụng trong cái thế giới máu và vàng đó. Hơn nữa, sau những biến cố của cuộc đời, Nhân bất cần thân thể, liều lĩnh và tàn nhẫn. Những đặc tính đó ở chốn giang hồ không xanh cỏ sớm thì chỉ là lãnh chúa. Nhân bắt đầu giàu có, những miếng vàng đào được biến Nhân thành một đại gia, tiêu tiền như rác. Anh về phố, mua một chiếc đàn piano mới cứng, thuê xe chở đến mộ Dạ Lan, ngồi suốt ngày độc thoại với cỏ cây, giun dế. Khi hoàng hôn xuống, anh đốt chiếc đàn. Lửa cháy rừng rực sáng một góc nghĩa trang. Trong một lần nhậu ở quán bên biển Mỹ Khê, sau khi đã chếnh choáng thì anh nghe ở bàn bên đang nói về anh. Một tay anh chị chắc cũng đã xỉn, nói với mọi người: – ĐM, tưởng đi Tây đi Mỹ về làm ông này bà nọ, cuối cùng cũng chỉ là một thằng đi mót vàng. Lại thêm giết cha, giết vợ. Nhân loạng quạng bước qua, chỉ vào mặt tên đó và bảo: – ĐM mày là thằng nào mà dám trêu ông, mày vừa bảo gì, nhắc lại xem nào. Thằng kia cũng chẳng phải tay vừa, đứng lên hùng hổ, nói chưa hết câu đã ngã vật ra giẫy đành đạch. Nhân vung tay một cú atémi chặt vào gáy của địch thủ. Hắn chết ngay sau mấy cái giẫy. Cả quán xôn xao, đứng cả lên. Nhân lừng khừng bước ra quán, xiêu vẹo trên đường. Tay chủ quán bắt vào mạch của nạn nhân, hét lớn: – Nó chết rồi, bắt cái thằng giết người lại. Ai cũng la hét nhưng chẳng ai có một hành động cụ thể nào. Nhân bước ra ngõ, đi đến đồn công an bên kia đường, tự thú. Án giết người, tòa xử 15 năm. Ở tù trên rừng, lao động đúng 9 năm thì Nhân được đặc xá. Tiều tụy trở về thành phố, Nhân chưa biết mình sẽ sống như thế nào thì cơn sốt rét ác tính quật ngã anh. Anh bất tỉnh bên vệ đường. Người đi đường mang anh vào nhà thương, anh mê man suốt mấy ngày, thân thể như cái xác ve, không một người thân chăm sóc. Số mệnh đẩy đưa, hôm đó chị Đầm vào bệnh viện thăm người quen. Đi tìm phòng, trời xui đất khiến thế nào mà chị nhìn ra Nhân đang thoi thóp trên giường bệnh. Chị ở lại chăm sóc cho Nhân mấy tháng ròng, lúc xuất viện chị đưa Nhân về nhà mình, tiếp tục lo miếng ăn, giấc ngủ cho Nhân. Và rồi họ sống như vợ chồng. Lúc trước chị Đầm ở bàu Thạc Gián, bán rau ở chợ Cồn, sau đó khu bàu bị quy hoạch, được đền bù được ít tiền thì chị gặp Nhân, lo thuốc thang cho Nhân, còn lại một ít, hai vợ chồng mua khoảnh đất ở Thanh Khê. Vợ bán rau còn chồng chạy xe ba gác, sống tạm cho xong một đời gần mười mấy năm nay, loay hoay mãi mà không đủ đút lỗ miệng. Tôi, Nhân và thầy Thanh ngồi uống cà phê ở Bạch Đằng. Điện thoại của thầy Thanh reo, thầy bảo đến đi, đến đi, có Ngọc ngồi với Nhân, đến cho vui nhé. Tôi hỏi ai vậy, thầy bảo: – Hồ Lê, Hồ Lê bữa trước gặp tôi có nói là khi nào ngồi với mấy anh thì bảo Lê ra cho vui. Hồ Lê đến, vẫn to cao lừng lững, trông còn khỏe hơn xưa. Hắn mang vợt tennis, giày Adidas, áo thun cá sấu trắng kẻ sọc, nhìn như tài tử. Sau lưng hắn có hai thanh niên trẻ, đi kè kè, chắc là bảo vệ. Vừa bắt tay tôi hắn đã hất hàm: Chào. Lúc này mày còn sợ tao không. Tôi buột miệng: – Sợ gấp đôi ngày xưa. Hắn cười cười: – Sao vậy? Tôi tiếp liền, sợ sẽ không dám nói nếu ngần ngừ: – Ngày xưa tao sợ mày vì mày có sức mạnh, bây giờ mày vừa vẫn có sức mạnh lại thêm quyền lực, sợ gấp đôi là phải rồi. Thầy Thanh giảng hòa: – Anh em bạn cũ gặp nhau, mừng vui đi, hằm hè nhau làm gì hè. Tôi chợt nhớ ngày xưa tôi hay chưởi thầm nó và tự bảo anh hùng mười năm trả thù chưa muộn. Bây giờ đã bốn mươi năm trôi qua, tôi vẫn là thằng dưới cơ. Nhân bỗng lên tiếng: – Mày biết ngày xưa tại sao thằng Hồ Lê ghét tụi mình không? Tôi chưa kịp trả lời thì hắn nói luôn: – Ngày trước hắn thèm cuộc sống của chúng ta mà không có được nên ganh tỵ. Bây giờ hắn có điều kiện, mày thấy không, hắn đang tập tành sống như ngày xưa cha ông chúng ta đã sống, ăn chơi, nhậu nhẹt, đánh gôn, chơi tennis, thế thôi. Thầy Thanh xua tay: -Thôi mà, cay cú nhau làm chi, vui với nhau đi. Hồ Lê im lặng, chẳng trả lời. Hắn đang nghĩ gì nhỉ? Bữa cuối ở Đà Nẵng, tôi đi mua cho Nhân đôi săng đan, hắn bảo mua dép nhựa dễ đi hơn, nhưng tôi nói thay đổi tư duy cho đời khá hơn đi, mang dép da vẫn tốt hơn chứ. Hắn cười: “ĐM, đương nhiên da phải hơn nhựa rồi”.Tôi rút hết tiền tiết kiệm được 37 triệu, tôi đưa hết cho vợ chồng Nhân. Chị Đầm cầm tiền cứ khóc mãi, cám ơn tôi hoài. Tôi bảo với chị: – Đây là tiền của Nhân, tôi gởi lại cho Nhân chứ không có ơn huệ gì trong sự việc này, chị đừng bận tâm. Sau này, cần gì cứ bảo tôi, tuy cũng chẳng giàu có gì nhưng tôi với Nhân là hai anh em, phải biết giúp nhau chứ. Hôm tiễn tôi ra phi trường, chị Đầm khóc và Nhân cũng rơm rớm nước mắt khi ôm tôi. ***** 8. Tôi về Sài Gòn được nửa tháng thì chị Đầm điện thoại cho tôi. Bữa đó trời mưa, nghe tiếng được tiếng mất vì chị khóc nhiều hơn nói. Đại khái là Nhân đã bị tai nạn, xe lửa cán nát đôi chân của Nhân, không biết có qua nổi không? Gần Tết Nguyên Đán, mua vé quá khó khăn, tôi phải chầu chực hai hôm ở phi trường mới kiếm được cái vé bay ra. Nhân nằm đó, hai chân đã cưa đến bẹn, băng trắng cả phần dưới. Người hắn teo tóp, xanh mướt. Hắn cầm tay tôi, rưng rưng. Đôi săng đan mới mua để trên đầu giường. Nhân bảo: – Mình để nó ở đây để nhớ đến cậu, cậu bảo mình trong năm tháng còn lại gắng bước qua số phận, mình cũng muốn bước qua, nhưng giờ còn chân đâu nữa mà bước, hở Ngọc. C’est bien! Tôi khóc và ngạc nhiên vì thấy Nhân đã xưng hô như xưa, như cái thuở chúng tôi là những thanh niên với tương lai rộng mở. Và kiểu nói “C’est bien” làm tôi nhớ đến Andre Gide, năm 1951 lúc sắp từ trần, cũng bảo “C’est bien”, và nhà triết học Kant cũng thế, lúc sắp lìa đời cũng buột miệng: “Es ist gut”. Có phải là điềm gở chăng. Hay là suy nghĩ của các thiên tài đối với cuộc đời điên dại này. Với tôi, Nhân cũng là một thiên tài, nhưng là thiên tài mắc đọa. Chị Đầm kể hôm trước đi chở rau ở chợ về, ngang qua đường rầy xe lửa. Có hai mẹ con đang băng qua đường rầy khi xe lửa đang ầm ầm chạy tới. Mọi người la oai oái, không biết phải làm gì. Nhân bay từ chiếc xe ba gác, đẩy hai mẹ con ngã sấp phía bên kia, và Nhân kẹt đôi chân trên đường rầy, những bánh xe lửa nghiến qua, nát bét. Chị lại khóc và lo lắng. Tôi biết chị thương Nhân lắm. Thương từ khi Nhân ở đỉnh cao cũng như lúc Nhân ở vực sâu. Có hai cô nhà báo và anh chàng quay phim của Đài Truyền hình vào phỏng vấn Nhân. Nhân được trở thành gương người tốt việc tốt. Nhân cầm bằng khen và bao thư, cô nhà báo giương máy ảnh cứ hét lên: “Cười đi, cười đi..1..2..3… chụp nè”. Máy quay phim chạy sè sè. Mặt Nhân nhăn nhúm vì đau đớn. Chị Đầm thảng thốt lo âu. Hôm ngồi trên máy bay về lại Sài Gòn, đọc trên báo thấy hình của Nhân, nụ cười như đang khóc.
Thưa bà con! Ngoài tình yêu, tâm đầu ý hợp là phải nói tới tình dục.
“Gió đưa bụi chuối sau hè, giỡn chơi chút xíu ai dè có con?”
Đó là còn trẻ còn khỏe, còn sung kìa. Chớ lâu ngày chày tháng như cái máy từ từ nó cũng xìu xìu ển ển mà thôi…
Mà muốn chữa cái bệnh gần hết xí quách nầy, muốn đèn gần hết dầu mà vẫn phựt cháy phừng khi bị hút hồn bởi làn da trắng nõn, mịn màng, cơ thể tỏa hương thơm hừng hực sắc xuân thì quý ông anh mình phải chơi bùa… yêu vậy!
Chuyện rằng: Hai chị em ruột Triệu Phi Yến và Triệu Hợp Đức, nhan sắc đổ nước nghiêng thùng, da trắng nõn, mềm mượt, tỏa ngát hương thơm nhờ xông xạ hương, uống sâm cao ly và lộc nhung.
Vừa đẹp vừa sung, cả hai làm Hán Thành Đế, Lưu Ngao (51 TCN-7 TCN) cực kỳ mê đắm, vùi đầu vào những cuộc truy hoan khiến thiếu điều hết xí quách!
Để được vui tới bến, Lưu Ngao ra chiếu chỉ kêu ngự y chế một loại xuân dược tức bùa yêu cho Hoàng đế thành mãnh long quá giang chớ không còn là thỏ đế!
Nhưng xài riết lờn thuốc, công hiệu kém dần đi, nên Lưu Ngao chỉ biết kêu ngao ngao trước giờ lâm trận!
Cho đến một đêm, Triệu Hợp Đức ép Hoàng đế uống cả 10 viên một lúc để mạnh gấp 10, không ngờ Vua uống xong thì hôn mê sâu, đi tàu suốt!
***
Đó là chuyện bên Tàu! Còn Việt Nam mình cũng hỏng có thua kém gì đâu.
Lừng danh nhứt là bùa yêu Minh Mạng thang!
Tương truyền Vua Minh Mạng nhờ bài thuốc nầy mà có cả thảy 43 người vợ và 142 người con.
Thói thường xài bùa là có ngày bùa vật chết… Nên người mới 50 tuổi là đã thăng, băng như diều đứt dây!
Vậy mà giờ mấy ông anh mình cứ đồn đại rồi xúi dại nhau tìm rượu hòa Minh Mạng thang để chứng tỏ mình là vô địch quyền vương!
Nên con buôn nhạy bén, chớp thời cơ, pha sẵn bán lẻ theo “xị” hàm rầm ngoài quán nhậu.
Thưa nếu một xị thì có thể ông uống bà khen hay. Nhưng quất hai xị vô là ông uống bà không khen gì hết ráo; vì ông nằm ngẹo cu lơ; ngáy ồ ồ như trâu rống vậy!
Thưa bà con! Tui cứ trộm nghĩ rằng mấy ông thầy thuốc Bắc nầy quảng cáo hơi quá!
Nếu có công hiệu, mấy ông Thầy nầy đã được vời vô Thường vụ Bộ Chính Trị của đảng Cộng sản bên Tàu để phục vụ các lãnh đạo quốc gia anh em!
Rồi bản thân mình sẽ được ăn sung mặc sướng chớ đâu có phải mỏi tay xắc thuốc, bào chế hầm bà lằng xắng cấu, dặn về bỏ vào siêu sắc, ba chén còn năm phân, uống vô nó đắng thấy bà tiên tổ?!
Thưa vì vậy, tui chọn thuốc Tây hơn thuốc Tàu. Trùm đế quốc Mỹ bao giờ cũng hay hơn là cái thằng Tàu Cộng!
Vì nó gọn, công hiệu tức thời, sau một tiếng là tối đa; chớ không phải chờ xa xa… như thuốc Bắc!
Đó là viên Viagra chữa bịnh trên bảo dưới không nghe, lần đầu tiên được tung ra thị trường năm 1998, làm quý anh chị em mình hồ hởi và phấn khởi như đêm tân hôn.
Thằng quỷ dịch, bạn ní của tui đã dụ khị tui để bán 100 đô một viên.
Tui thấy mắc không mua, vì tui hỏng có tiền… Chớ nếu có, tui cũng dám chơi liền.
Giờ thì chỉ riêng nước Mỹ đã xài hết 1.14 tỉ đô năm rồi. Con số nầy cho thấy nước Mỹ chiếm tới 50% quý anh trên thế giới có vấn đề về đời sống tình dục.
Người Ý đã mua 86 triệu viên thuốc màu xanh nho nhỏ xinh xinh nầy năm rồi. Cứ bổ đồng 12 phút, một viên thuốc được bán ra.
Quý anh mình trên 40 thì cứ hai người là có một phải cần tới bùa yêu. Và cứ 1000 quý ông anh mình thì xa cạ, xài tới 437 viên.
Vậy là từ 1998 tới nay đã có hơn 40 triệu quý anh mình trên thế giới chơi bùa yêu Viagra, tốn hết 2 tỉ đô la.
Viên thuốc màu xanh huyền diệu đã giữ cho tình ta không tan vỡ bèo mây! Hay hết biết!
***
Mới tròn 18 tuổi nên viên thuốc mầu nhiệm nầy cũng còn gây nhiều lấn cấn.
Nó chữa bệnh! Mình không bịnh thì hỏng có cần!
Đừng tò mò xài thử xem nó ra làm sao coi chừng vong mạng như Lưu Ngao thì báo?
Phải cần tới bác sĩ ra toa. Và coi chừng thuốc dỏm nhe mấy anh mình!
Hãng sản xuất Pfizer đã phải thành lập một đội điều tra của riêng mình để giúp nhân viên công lực phá vỡ những đường dây làm thuốc dỏm trên thị trường.
Thuốc dỏm có tác hại với người xử dụng; đồng thời cũng làm các công ty phân phối như Big Pharma mất đi bộn bạc.
Mà muốn tiêu diệt nạn thuốc dỏm thì xin mấy ông Pfizer giảm giá đi cho bà con nhờ. Rẻ, ít lời, là bọn đạo tặc nầy nó hỏng thèm làm nữa đâu.
***
Thưa các cụ nhà ta! Xin đừng ngại ngùng chi. Nếu có trục trặc, hãy mau mau đi gặp bác sĩ để cụ bà đừng có bức bối chửi chó mắng mèo, nghe nhức đầu lắm!
Chuyện nầy ở Mỹ là thường! Ngay cả cựu ứng cử viên của đảng Cộng Hòa Bob Doyle, ra tranh rồi thất cử, về quảng cáo cho xuân dược Viagra đó thôi. Thì việc gì mà mình ngại?
Bob Doyle, sau khi được điều trị về chứng ung thư tuyến tiền liệt, đã mặc bộ đồ vest truyền thống màu sậm, thắt cà vạt đỏ và tuyên bố: “Cũng hơi bị quê quê khi phải nói về chứng liệt dương nhưng vì sự quan trọng cực kỳ cho đời sống hôn nhân của hàng triệu quý anh, em mình và bạn tình nên tui phải nói công khai! Nó công hiệu nhe! Tin tui đi! Thưa bà con cô bác!”
Nắm nhu cầu đó, các công chức thành phố Toronto, bên Canada mua Viagra được bảo hiểm trả tiền, tốn của chánh phủ gần 2 triệu dollars năm rồi!
Ủa bộ công chức Toronto bị liệt dương hết ráo hay sao mà xài Viagra dữ vậy chớ!
Thưa hỏng phải vậy! Mấy giả đã lạm dụng đặc quyền mua thuốc theo toa bác sĩ, không phải trả tiền, rồi sau đó đem bán ra ngoài để kiếm chút cháo bào ngư!
Thưa mới đầu tháng Mười Một, Úc sắp bước sang Hè mà ông Chủ bút đã nóng ran lên rồi; vì phải làm số báo Xuân!
Nên ổng kêu tui viết 5, 7 bài gì cũng đặng.
Còn dặn thêm là quý độc giả thân mến của bổn báo mình có rất nhiều cụ cao niên; nên anh chọn đề tài nào mà các cụ rất quan tâm nhứt!
Nhớ vui vui, tiếu lâm cũng được nhưng nhớ đừng có mặn quá nhe cha nội!
Tuân theo lời nhắn nhủ đó, tui xin kể cho quý anh mình vài chuyện không vui hỏng ăn tiền sau đây:
Cái chung giữa Thế giới giải trí Disney World và Viagra là: “Chờ cả tiếng đồng hồ để được vui chơi chỉ hai phút mà thôi!”
Rồi em yêu hỏi: “Anh đi đâu dó?” “À! Anh đi bác sĩ!”
“Tại sao phải đi bác sĩ? Bộ anh bịnh hả?”
“Đâu có bịnh hoạn gì! Anh tới để xin vài viên Viagra!”
“Chờ em đi với!” “Chi vậy?”
“Vì anh đi xin vài viên thuốc quái quỷ đó thì em phải chích ngừa phong đòn gánh trước cho nó an tâm!”
***
Thưa chữ có câu rằng: “Thái quá bất cập!” Nhiều quá là không có tốt đâu nhe!
Quý anh mình có nghe chuyện: “Người ta đem chôn một ông xài Viagra quá liều… mà không thể đậy được cái nắp quan tài chưa?!”
“Anh có nghe tin một người bị mất mạng vì dùng viagra quá liều không?”
“À có! Một ông chơi một lượt tới mười hai viên và con gà móng đỏ, chân dài tời nách của ổng chết!”
Tuy vậy con bồ nhí của tui lại không cần tới bùa yêu nầy đâu. Em chỉ cần yêu bằng tâm hồn thôi là đã đủ!
Nên tối hôm đó, tui ló mặt tới tìm em! “Anh tìm em vì nhớ hay là hay mới uống Viagra vậy hả? Thiệt là hỏi ngay chóc tim đen hè!”
Thưa dẫu vậy, cứ mạnh dạn mà tìm Thầy, khi mình muốn vui một đêm thôi rồi mai lên đường!
Đừng mắc cỡ mà chi cho chúng nó khi nên có chuyện vầy nè! Một ông đi bác sĩ vặn vẹo đôi tay cuối cùng mới nói được nên lời vì ngượng quá mà: “Thưa bác sĩ tôi có hơi chút rắc rối về đời sống tình dục!”
“Ối bây giờ mấy cái rắc rồi đó không còn mang đến niềm thất vọng não nùng cho cánh mày râu chúng ta nữa vì đã có thần dược Viagra.”
“Ông chỉ cần uống một viên thôi… là cái rắc rối đó sẽ trôi vào lịch sử. Tin tôi đi! Chính tôi cũng đã thử rồi nè!”
Hai tháng sau, bác sĩ lơn tơn ra phố tình cờ chạm mặt lại người xưa!
Anh vồn vã: “Tôi thiệt là mang ơn bác sĩ nhe! Thiệt là thần dược! Không thể nào tin được!”
“Thấy chưa? Tui đã nói với ông anh mình mà! Mà nè chị nhà có cảm tưởng ra sao hả?”
“Vợ tui hả? Tui đâu có biết! Hai tháng nay tui chưa có về nhà!”
***
Thưa bà con! Vốn tự xưng (chớ hỏng có ai xưng dùm mình) thuộc giới văn nghệ nên ai viết văn, viết báo là tui chơi hết ráo. Không có phân biệt già trẻ lớn bé, gái hay trai! Xúm lại là cà phê cà pháo buổi sáng, buổi chiều là nhậu.
Hôm tuần rồi, nhân ngày sinh nhựt thần dược Viagra lên 18 tuổi, bạn bè văn nghệ tụi tui, đa phần là khách hàng của bùa yêu Viagra, có chú em năm nay vừa 5 bó, tức là còn hơi nhỏ nhỏ!
Chú em thuật chuyện thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc nầy nghe cũng hú hồn. Chớ va vào tui; chắc tui đã mạng vong… banh ta lông rồi!
Chuyện rằng: 18 năm về trước, tui 32 tuổi, mới yêu em lần đầu!
Rồi trộm nghĩ tam thập nhi lập, 30 tuổi là lập thân, lập gia đình nên tui bèn chấm dứt đời độc thân… để đi ở tù chung thân do em yêu làm cai ngục.
Chiều đó, tui đánh xe đến, tính chở em đi thử áo cưới màu hoa cà để đôi ta chung một nhà.
Nhưng nhà vắng hoe, trước sau nào thấy bóng người, hoa đào năm trước còn cười gió đông, chỉ có đứa em gái thiên kiều bá mị của em mỏng tang trong bộ đồ ngủ… Thấy là nước miếng nó nhểu lòng thòng!
Nàng bèn thỏ thẻ rằng: “Bấy nay em đã thầm yêu trộm nhớ anh, người trong mộng… Mà anh lại sắp cưới chị em rồi. Ôi! Quá trái ngang! Tình em mà duyên chị…”
“Thôi quà cưới em đi, chỉ có thân xác nóng hổi nầy đây! Mời anh xơi! Bảo đảm là rau sạch!”
Trời ơi! Tui có nghe nhầm không đây hở Trời?
Tui bèn vội vã bước trở ra xe. Ai dè một đám, gồm con vợ tương lai, ba má vợ cũng tương lai, vỗ tay hoan hô rầm trời, cười tươi như hoa nở, khen nức nở làm tui muốn tức thở: Tui là một anh rể rất đàng hoàng; không thèm bứng hoa bứng cả cụm như Lưu Bị ngày xưa; dù mỡ đã dưng trước miệng mèo!
Ôi cái gia đình bên vợ nầy độc ác, thâm hiểm quá!
Nếu mấy viên viagra tui không để quên ở ngoài xe… là tui đã trúng kế của bọn chúng rồi!
Một mất, mười ngờ, sau vụ cái radio thì trong trại đã xảy ra nhiều vụ đánh ăng ten, đánh cò mồi. Ăng ten thứ thiệt bị đánh đã đành, ăng ten tình nghi cũng bị ăn đòn.
Ở Buồng 9 cải tạo viên Phú Dù, bị cải tạo viên Hùng Biệt Cách đánh sưng mỏ.
Trong Buồng 16 người đáng nghi nhất là cải tạo viên Lê Văn Tịnh.
Tôi không biết Lê Văn Tịnh mang cấp bậc gì và ở đơn vị nào.
Lê Văn Tịnh là nhân viên của phòng văn hóa.
Ai cũng nhìn anh ta với con mắt khinh khi và thù ghét.
Chỉ có một va chạm nhẹ khi lên thang, xuống thang trong phòng ngủ, Nguyễn Văn Ninh đã giáng cho Lê Văn Tịnh một trận đòn đau.
Bị hành hung, Lê Văn Tịnh chỉ ôm mặt sụt sịt chứ không chạy lên văn phòng để mách cán bộ trực trại.
Mỗi tối, anh em trong nhà đều tập trung nồi niêu giữa đường đi, sáng hôm sau thì của ai nấy cất.
Tới khi Lê Văn Tịnh cầm nồi cá kho của mình lên thì,
– Ui cha ơi! Anh nào ác quá vậy? Tội nghiệp tui!
Trong cầu tiêu có một thùng vôi bột để rắc trên cứt cho đỡ thối, vậy mà ai đó đã lấy vôi bột đổ đầy nồi cá kho của Lê Văn Tịnh.
Rồi cũng vào buổi sáng một ngày khác, vừa thức dậy, anh cựu Ðại úy Trần Văn Viên nằm cạnh Lê Văn Tịnh la toáng lên,
-Bà con nào xỏ nhầm dép của tôi thì cho tôi xin lại! Ði lao động mà không có dép thì sưng chân, sưng cẳng, làm sao tôi chịu nổi?
Chẳng có ai nhận đã xỏ nhầm dép của Viên, nên ngày đó Trần Văn Viên đi lao động mà không có dép, lúc về thì hai bàn chân sưng lên, anh chàng cứ bước chấm phết như một người bị thọt.
Sáng hôm sau anh Viên thấy đôi dép của mình trở về nằm chỗ cũ, nhưng Lê Văn Tịnh lại la lên,
– Bà con nào đi nhầm dép của tui thì cho tui xin lại!
Hóa ra đêm trước có người tưởng lầm đôi dép của Viên là của Tịnh nên đã lấy nó đi. Ðêm qua người đó đã điều chỉnh lỗi lầm, trả lại dép cho Viên rồi đem dép của Tịnh đi!
Giờ lao động, khi đi đổ thùng, Lê Văn Chánh phát giác ra trong thùng cứt trên xe có đôi dép của Tịnh. Nhưng Chánh cũng chẳng ngu mà bỏ công moi nó ra làm gì.
Hơn bốn mươi năm sau, nhân lúc chuyện trò, nhắc lại kỷ niệm xưa ở trại cải tạo Nam Hà A. Nguyễn Văn Ninh hỏi tôi,
– Ông có nhớ thằng Tịnh ở Buồng 16 không nhỉ?
Tôi trả lời,
-Nhớ! Ngày đó tụi mình cứ nghi nó là ăng ten, mà không biết nó có phải ăng ten không?
Nghe tôi nói vậy thì Nguyễn Văn Ninh có vẻ ngậm ngùi,
– Lúc ấy mình nghi nó, nên tìm cớ gây chuyện đánh nó! Chứ thực tình mình không khẳng định rằng nó có là thằng xấu hay không? À! Mà ông có biết ai đã đổ vôi bột vào nồi cá của nó và ai đã ăn cắp đôi dép của nó không?
Tôi cười,
– Thì tôi đây chứ ai! Tôi đổ một lon vôi vào nồi cá của nó, cứ tưởng nó sẽ đổ cá đi, nhưng nó đã đem nồi cá ra giếng rửa cho sạch vôi, rồi đem đun lại. Nó thêm đường, thêm mắm, thêm dầu mỡ thơm lừng. Nó còn mời tôi ăn, nhưng tôi đâu dám ăn?
Ðêm trước vì có hai đôi dép giống nhau, nằm cạnh nhau, tôi đã lấy nhầm đôi dép của ông Viên. Hôm sau chỉ còn một đôi dép của nó nên không thể nhầm. Tôi đem dép của nó nhét xuống cầu tiêu ngay. Không ngờ từ đó nó lại đi đôi dép râu Trường Sơn, nhìn nó càng có vẻ giống Việt-Cộng!
Rồi thời gian cứ thế trôi, chúng tôi ngỡ rằng chuyện chiếc radio đã chìm xuồng. Nào ai có hay, địch vẫn âm thầm theo dõi, rồi bất ngờ ra tay.
Một hôm, tay xách gàu nước từ giếng trở về tôi thấy gần chục Công An áo vàng súng ngắn của Bộ Nội Vụ đột ngột xuất hiện trước sân trại và ra lệnh cho vệ binh bao vây Buồng số 3.
Có người bị bắt! Người bị còng tay dẫn đi là cải tạo viên Trần Hàn.
Trần Hàn ở Buồng 3, đa số là dân Cảnh Sát Quốc-Gia.
Trần Hàn là cựu thiếu tá Trưởng ty Cảnh Sát Tỉnh Quảng-Tín.
Nghe đâu anh Hàn bị bắt vì đang giữ một chiếc máy thu thanh.
Tôi nghe tin mà lấy làm lạ. Tôi biết rõ ràng, từ sau ngày kiểm tra toàn trại thì không còn nghe ai nói tới cái “đài” này nữa.
Vậy chiếc radio mà anh Hàn cất giữ từ đâu mà có? Nếu đó là chiếc radio mà tôi đã từng cất giấu ở Buồng 16 thì người ưu tiên bị bắt phải là anh Nguyễn Hữu May, vậy mà anh May vẫn bình yên.
Với tôi, sự việc anh Trần Hàn bị bắt là cả một bất ngờ!
Từ đó, cả trại xôn xao bàn tán sau cú bố ráp này.
Vào buổi sớm tinh mơ hai ngày sau khi cải tạo viên Trần Hàn bị bắt lên ban chỉ huy trại đã có một người tất tả đi vào sân Buồng 16.
Người vừa xuất hiện là cán bộ Hồng.
Cán bộ Hồng gõ “Cộc! Cộc!” vào một cánh cửa sổ,
– Anh Tuy dậy đi! Tôi có việc cần! Mau lên!
Anh Tuy nằm ngay sau cửa, ngồi bật dậy,
– Dạ! Có chuyện gì vậy cán bộ?
– Anh cử một người kéo cái xe cải tiến ra phòng trực ngoài cổng chính gặp tôi!
– Vâng! Tôi làm ngay!
Anh Tuy sắp quay lưng thì cán bộ Hồng gọi giựt lại,
– Hai người! Hai người thật khỏe mạnh!
Anh Tuy hướng về phía cuối buồng, gọi lớn,
– Anh Chánh chuẩn bị cái xe cải tiến! Anh Long đi theo anh Chánh làm công tác với cán bộ Hồng!
(Chánh là cựu Thiếu tá Lê Văn Chánh – Long là tôi, cựu Thiếu tá Vương Mộng Long.)
Lê Văn Chánh mắt nhắm, mắt mở, kiễng chân lên giựt chiếu của tôi, tôi nằm trên tầng hai,
– Long ơi! Long đừng ngủ nữa! Long dậy đi công tác với mình!
Tôi bị Tào Tháo đuổi suốt đêm qua nên thoái thác,
– Chánh tìm người khác, mình đang bị đau bụng.
Nghe biết tôi bị bịnh, anh Tuy nói với Chánh,
– Ông Chánh! Ông chọn ai đi với ông thì chọn. Tôi không ý kiến nữa.
Chánh lại kiễng chân giựt chiếu một người khác cũng nằm trên tầng hai,
– Hòa Voi! Hòa Voi dậy mau! Dậy đi công tác với mình! Nhanh lên!
Người bị Chánh đem theo phụ việc là Hòa Voi, tức là cựu Thiếu tá Hồ Văn Hòa, cựu Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 35 Biệt Ðộng Quân.
Tôi, Hòa và Chánh là bạn quen. Giúp đỡ nhau là chuyện vụn vặt thường ngày.
Mấy giờ sau thì Hòa và Chánh trở về. Chánh lo rửa xe, còn Hòa thì ngồi kể cho tôi nghe chuyện công tác ngày hôm đó diễn tiến như thế này…
Cánh cửa chính Buồng 16 được mở vừa đủ hẹp cho hai người nghiêng mình theo nhau len qua rồi đóng lại, khóa lại.
– Hai anh đi lấy xe! Tôi chờ ngoài cổng.
Cán bộ Hồng vừa ra lệnh cho Chánh và Hòa xong, liền quay gót.
Chánh nói,
– Hòa chờ mình chút!
Hòa lững thững cất bước lên con dốc để ra sân trại.
Chánh đi vòng ra sau cầu tiêu lấy cái xe cải tiến thường ngày dùng để chở phân.
Chánh chính là anh trại viên phụ trách công tác đổ thùng của Buồng 16 này.
Hôm nay là Chủ Nhật, không lao động, nên các buồng, các lán còn ngủ yên.
Chừng hai phút sau Chánh kéo xe tới gặp Hòa,
– Mẹ nó! Chẳng biết có chuyện gì, ngày nghỉ mà nó bắt mình đi sớm thế?
Hòa gật gù đoán mò,
– Chắc đi phụ nhà bếp chở gạo, củi, mắm muối, chứ gì?
– Mình nghĩ không phải đi chở đồ cho nhà bếp! Sức mấy mà cán bộ hậu cần chịu xuất kho vào ngày nghỉ! Chắc cha Hồng trưng dụng tụi mình đi chở cát, chở sạn cho ai đó ngoài Ba Sao để lấy tiền đút túi tiêu riêng…
Chiếc xe cải tiến lộc cộc bò tới cổng. Cán bộ Hồng mở một cánh cửa bên trái cho xe đi qua, rồi khóa lại. Hồng búng tay,
– Hai anh theo tôi!
Chánh kéo xe, Hòa đẩy phụ bằng một khúc tre dùng làm đòn.
Xe quẹo phải đi về hướng phân trại B. Qua một con dốc thì tới khu cách ly, nơi đây có cái nhà kỷ luật. Nếu đi sâu thêm vào trong núi thì tới một khu hang đá có cửa sắt và gông cùm bằng sắt. Nơi đây, ngày xưa dùng để giam giữ tù binh Mỹ.
Hồng chỉ tay vào vật gì đó để bên hiên nhà kỷ luật,
– Hai anh khiêng cái áo quan kia lên xe rồi đi theo tôi!
Hồ Văn Hòa thấy dưới hiên nhà giam có một cái hòm gỗ, chẳng biết ai là người đang nằm bên trong.
Gỗ quan tài hơi mỏng, người nằm trong đó chắc không mập lắm. Khiêng cái áo quan lên xe mà Hòa và Chánh không cần phải bặm môi, vận sức.
Xe đổ dốc, cán bộ Hồng le te dẫn đường đi về hướng phân trại C.
Xe xuống dốc để ra vườn rau.
Qua bãi đổ phân, bãi đổ phân thối quá! Hồ Văn Hòa muốn nghẹt thở. Vậy mà Hòa thấy mặt Lê Văn Chánh vẫn tỉnh bơ.
Ngày nào bạn Chánh cũng phải tới chỗ này một lần. Có lẽ vì vậy mà khứu giác của Chánh đã quen đi, hay là khứu giác của anh ấy đã bị đui, bị điếc rồi cũng nên!
Xe đi qua bãi phân, lên một cái dốc thì cán bộ Hồng giơ tay ra hiệu cho dừng,
– Lạc đường rồi! Quay lại!
Xe lại lộc cộc quay về, đi vòng ra phía sau ngọn đồi có ban chỉ huy rồi tới nghĩa trang chôn tù chết.
Xe vào nghĩa địa thì ở đây đã có sẵn bốn năm tù hình sự ngồi chờ, họ đang vây quanh một cái điếu cày thuốc lào.
Hồng ra lệnh cho Chánh và Hòa hạ chiếc quan tài xuống, rồi đem xe về.
Chiếc xe quay về trại mà không có cán bộ quản giáo đi theo…
Hòa vừa kể chuyện cho tôi nghe xong thì các buồng bắt đầu mở cửa, tù túa ra sân.
Việc đầu tiên trong ngày nghỉ của tù là ào ra giếng tranh nhau múc nước.
Giếng thì rộng nhưng không sâu, nếu chậm chân, chậm tay, có khi vét không còn một giọt. Tôi cũng vác gầu chạy nhanh ra giếng…
Qua cổng dẫn vào Buồng 1, Buồng 2, tôi chạm mặt cựu Ðại tá Ngô, ông Ngô vẫy tay chào, tôi vẫy tay chào lại.
Ðại tá Ngô là bạn của Ðại tá Ủy, Ðại tá Ủy là đàn anh thân thiết của tôi.
Cách nay không lâu, bác Ngô bị anh Bảy Xe Lửa hành hung, đánh cho sưng cả mặt, chỉ vì anh ta nhìn nhầm bác Ngô với một ông đại tá cò mồi.
Một buổi nhá nhem tối, Bảy Xe Lửa đè ông Ngô ra mà thụi, ông Ngô la oai oái!
Anh Nghĩa Âm Phủ đứng bên thấy thế mới can,
– Ê! Bảy Xe Lửa! Sao mày lại đánh bác Ngô! Bác Ngô có làm gì sai mà mày đánh bác ấy?
Bảy vội dừng tay rồi ớ người ra,
– Ủa! Không phải cha này là cò mồi hả? Chết cha! Tui đánh lộn người rồi! Tui xin lỗi đại tá! Tui xin lỗi đại tá!
Ðược thằng Bảy xin lỗi thì Ðại tá Ngô đã sưng cả mặt mũi rồi!
Thời gian này ở Nam Hà A phong trào diệt ăng ten, diệt cò mồi đang dâng cao. Bảy Xe Lửa là thành viên của nhóm “diệt trừ ăng ten”
Thành viên của nhóm này anh nào cũng có võ.
Họ cứ lựa những ngày mưa bão hay vào buổi nhá nhem là ra tay.
Họ thẳng tay đấm bể mõm những tên nịnh hót cán bộ hoặc những tên làm ăng ten đặt điều báo cáo, làm hại anh em.
Những tên nhân viên văn hóa, đội trưởng, hay cò mồi, thấy mấy hung thần này thì sợ đái ra quần.
Tôi trở về buồng, rửa mặt, đánh răng xong thì thấy anh em gọi nhau ra tụ tập giữa sân để nghe tên Công An tên là Chèo Lực thông báo tin tức gì đó.
Len lỏi tới gần, tôi nghe được tiếng Chèo Lực,
– Ðêm qua cải tạo viên Trần Hàn đã trốn học tập lao động bằng cách treo cổ tự tử…
Tôi vỡ lẽ ra, cái xác mà Lê Văn Chánh và Hồ Văn Hòa chở trên xe cải tiến đem đi chôn sáng nay là xác của Thiếu tá Trần Hàn.
Anh Hàn bị biệt giam mấy ngày rồi, vì liên lụy tới chuyện chiếc radio.
Thiếu tá Trần Hàn đã chết vì cái radio.
Tới trưa, tôi chui vào Buồng 2 thăm cựu Ðại tá Cao Văn Ủy. Anh Ủy đang ngồi tập Yoga với cựu Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao và cựu Ðại tá Nguyễn Thành Trí.
Anh Ủy kéo tôi ngồi xuống chiếu,
– Sáng nay thằng cán bộ quản giáo Ðội 32 vào rỉ tai cho thằng Liễu biết rằng đêm qua chúng nó đã treo cổ người tù giữ cái radio để dằn mặt anh em chúng mình.
(Thằng Liễu: là cựu Ðại tá Trần Công Liễu, đội trưởng đội lao động số 32 Trại Nam Hà A. Ông Ủy xuất thân khóa 7 Ðà-Lạt, ông Liễu xuất thân khóa 8, nên ông Ủy có gọi ông Liễu là “thằng” thì cũng chẳng sao.)
Anh Ủy cũng cho tôi hay tên cán bộ này còn bắt Ðại tá Trần Quang Tiến, là người trực Buồng 2 và hai người khác đi sang Trại Nam Hà B làm vệ sinh sạch sẽ căn phòng kỷ luật đã nhốt anh Hàn.
Cựu Thiếu tá Vương Mộng Long và Cựu Đại tá Trần Quang Tiến, USA 2011
Anh Ủy chỉ tay vào cái bát nhôm để sát tường, cái bát còn chứa một khẩu phần bo bo, giọng anh bùi ngùi,
– Ông Tiến có đem về đây di vật độc nhất của chú Hàn là cái bát đựng cơm này. Có lẽ chú ấy chết đi mà bụng còn đói!
Anh chợt thấp giọng,
– Ông Tiến nghi tụi cán bộ đã giết chú Hàn. Trong lúc quét dọn ông ấy thấy xà nhà cao lắm, muốn tự tử phải đứng trên ghế mới với tới xà nhà. Một người bị cùm chân, còng tay thì làm cách gì mà có thể leo lên xà nhà được? Còn sợi dây dù treo cổ, tự dưng mà có ư?
Tôi ngậm ngùi, vậy là đêm qua anh Hàn đã bị cai tù giết.
Ðúng là cuộc đời như vở kịch, diễn biến không ngừng, thực thực, hư hư.
Chỉ có thời gian mới cho ta nhìn thấy ai là người đã sống thật tình với ta.
Cái đói khiến chúng ta phân biệt được sự khác biệt giữa con người và con vật. Cái khổ giúp chúng ta đánh giá được sức chịu đựng và nhân cách của mỗi con người.
Chúng tôi đã qua hơn bốn năm bị giam cầm.
Ở Trại Nam Hà A chúng tôi đã thấy những cái mặt nạ rớt rơi, để lộ nguyên hình những con người dối trá, lúc thịnh thời chúng đã đè đầu, cưỡi cổ chúng tôi, lúc sa cơ chúng chẳng khác gì những con dòi.
Ðã có nhiều trang anh hùng hào kiệt ngày xưa giờ đây biến thành cái thứ gì vô cùng đê tiện và hèn mạt. Chúng hại nhau, nói xấu nhau, thậm chí còn đánh nhau để giành giựt những chức vụ nhàn nhã hơn, no bụng hơn và thân cận với cai tù hơn.
Hình như trại nào cũng có ăng ten, thi đua, trật tự, cò mồi?
Ði tới đâu mấy tên này cũng bị người ta nhiếc móc, sỉ vả.
Vậy mà vẫn có người cắm đầu đi theo con đường tà, mới lạ?
Có ai dọa giết đâu mà một cựu trung tướng và một cựu chuẩn tướng cứ phải đóng vai tù cò mồi, lâu lâu lại từ Trại Hà Tây, dẫn xác tới trại này, đầu chải láng coóng, áo quần bảnh bao tiếp phái đoàn nọ, phái đoàn kia, miệng thì rối rít ca tụng những tên đang giam giữ mình là khoan hồng nhân đạo?
Ðôi khi tình cờ gặp lại vài cấp chỉ huy cũ, thấy họ đã đổi thay, tôi đành cúi mặt, rồi quay đi. Ðúng là đối diện gian nan mới rõ đá, rõ vàng.
o O o
Truyện cái radio ở Nam Hà…
Thế rồi bỗng dưng rộ lên cái tin người Mỹ đang điều đình với Việt-Cộng để các tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa được đi Hoa-Kỳ tỵ nạn.
Thế rồi tù xầm xì với nhau, rủ nhau gom tiền mua một chiếc radio để theo dõi tin tức tống xuất…
Thế rồi, một hôm tôi đã nhìn thấy cái radio xuất hiện ở Buồng 16…
Vào một buổi trưa, có anh nhà bếp đẩy xe cơm tới Buồng 16, mắt lấm lét nhìn quanh, rồi trao nhanh cho anh Nguyễn Ðình Tuy một cái túi vải.
Anh Tuy giấu vội món đồ vào sau lưng những cái bao bì, túi da, rương gỗ, thùng nhôm của tù ở sát tường.
Tối hôm đó anh Tuy giao chiếc túi vải cho cựu Thiếu tá Nhảy Dù Nguyễn Văn Nghiêm.
Từ ấy, góc trái nơi cuối phòng, chỗ tôi và Trần Tiến Bích nằm, trở thành vị trí an toàn để nhận tin phát đi hàng đêm từ VOA và BBC.
Nhân viên thường trực nghe đài là cựu Thiếu tá Nguyễn Văn Nghiêm, cựu Ðại úy Trần Tiến Bích, cựu Ðại úy Tạ Văn Quang và cựu Ðại úy Nguyễn Văn Ninh. Nghiêm và Ninh là một cặp. Bích và Quang là một cặp. Hai cặp cứ luân phiên nghe đài rồi tường thuật lại mỗi đêm.
Ngay sau khi VOA và BBC chào tạm biệt thính giả thì tin tức nóng hổi đã được truyền khắp buồng.
Sáng hôm sau, trước giờ tù xuất trại đi làm, thì tin tức đã bay đi khắp trại.
Tin tức được truyền tới tai tất cả mọi người khiến cho ai cũng hy vọng.
Ai cũng mong có ngày được đưa ra khỏi tường rào rồi được bay sang Mỹ.
Cái radio ở Buồng 16 đúng một tuần, rồi Tạ Văn Quang được trao nhiệm vụ mang nó đi buồng khác. Một hay hai tuần sau cái radio lại quay về Buồng 16.
Tôi không có phận sự nghe đài.
Nhưng những đêm có chiếc radio thì tôi phải làm nhiệm vụ một anh lính gác.
Tôi phải ngồi sát bên cửa sổ, mở mắt cho thật to để theo dõi xem có thằng Công An nào đi tuần tra xuất hiện không?
Tôi cẩn thận và chăm chỉ như vậy mà chút xíu nữa đã để xảy ra một tai nạn. Số là một đêm trăng tỏ, có hai tên Công An đi tuần bước xuống dốc để vào sân.
Chúng mặc quần áo màu vàng, ánh trăng màu vàng, tường vôi thì màu trắng, nên áo quần của chúng nó lẫn với màu trăng và màu tường, làm cho tôi không nhận ra.
Tới lúc tụi nó vào tới giữa sân, nghe tiếng “Sạt! Sạt! Sạt” của giày đạp trên sỏi cùng lúc với hai cái bóng người in trên sân, tôi mới hoảng hồn vỗ lưng Tạ Văn Quang,
“Tắt! Tắt! Chèo! Chèo!”
Ông nội Tạ Văn Quang đang nghe máy một cách mê say bị tôi vỗ lưng bất ngờ nên giật mình hỏi lớn,
– Cái gì thế?
Tôi vừa giơ tay đè cái volume tắt máy thì bên hiên đã có tiếng người gắt gỏng,
-Cái gì à? Các ông đi tuần chứ cái gì mà hỏi? Tại sao tụi mày không ngủ đi? Khuya rồi mà còn om sòm!
Buổi thâu thanh đêm đó bị chấm dứt trước giờ một cách bất ngờ.
Thật là hú hồn! Hú vía!
Mỗi ngày, khi mọi người ra sân tập họp để xuất trại thì cái radio đã được tôi nhét vào bao, giấu dưới đáy thùng vôi bột trong cầu tiêu.
Cái radio đã cũ, âm thanh phát ra lại nhỏ nhí, rất là khó nghe.
Lâu lâu cái máy lại giở trò, á khẩu, không chịu nói, thế là chúng tôi phải mở nó ra, nối dây, nối nhợ, trét nhựa thông, hàn lại.
Nhân việc này mà tôi biết người cung cấp nhựa thông để sửa máy là cựu Nghị sĩ có tên là Trần Tấn Toan.
Anh Toan là người chuyên sửa chữa đàn của đội văn nghệ.
Anh Toan thường xuyên được cán bộ cung cấp nhựa thông để trét các vết nứt trên những cây đàn. Chiếc radio thu sóng đều đều cũng nhờ có bàn tay góp sức của anh Trần Tấn Toan.
Mấy anh bạn ôm đài thu thanh cứ hết lời ca ngợi anh Toan, làm cho tôi cũng thấy có cảm tình với anh ấy quá.
Tới một hôm, tôi và Trần Tiến Bích đi qua phòng văn nghệ, Bích chỉ cho tôi biết mặt người có tên là Toan.
Hóa ra, anh Trần Tấn Toan chính là ca sĩ Trần Tiên Sinh!
Từ ấy, tôi bắt đầu yêu giọng hát của Trần Tấn Toan Tiên Sinh…
Chiếc radio tiếp tục đi từ buồng này qua buồng khác, đem hy vọng cho mọi người.
Cho tới một sáng ngày Thứ Hai đầu tuần, cả trại không phải đi làm, mà bị tập trung trong sân để xếp hàng, chờ kiểm tra tài sản cá nhân.
Chúng tôi phải đem tất cả tư trang vào trong buồng, xếp thành hai hàng trên bục xi măng, cũng là giường nằm.
Sau đó, khi cán bộ đi tới chỗ để tư trang của ai thì anh Nguyễn Ðình Tuy sẽ gọi người đó vào đứng bên túi xách, bao bị, va ly, nón mũ, áo khoác của mình để cán bộ lục soát cả thân mình và đồ đạc.
Ai được kiểm tra rồi thì tự do rời chỗ bước ra sân, thay thế bằng người khác.
Sau ba tiếng đồng hồ, ở Buồng 16, cán bộ Hồng cùng hai vệ binh đã làm việc rất cẩn thận và chăm chỉ nhưng kết cục họ vẫn không tìm được vật mà họ muốn tìm.
Tất cả trại viên Buồng 16 đều vô tội, không ai tàng trữ thứ mà cán bộ đang truy cứu.
Kiểm tra kết thúc, chúng tôi bị tập trung dưới sân, cán bộ Hồng đứng trên hiên nhà, có vẻ hài lòng,
– Mục đích cuộc khám xét hôm nay là tìm xem ai đã vi phạm nội quy, cất giữ cái đài. Tôi đã kiểm tra kỹ, các anh trong hai Ðội 18 và 19 đều là người tốt. Tôi có lời khen ngợi các anh. Các anh có thể tự do sinh hoạt trong sân. Ðợi khi nào tất cả các buồng kiểm tra xong, tôi sẽ mở khóa cổng cho các anh ra sân trại.
Tới xế trưa chúng tôi được mở khóa cổng để đi ra sân trại.
Sau khi dò hỏi, tôi thở ra khoan khoái vì biết rằng cái radio đã không bị khám phá.
Tuy nhiên chuyện vì sao cái radio không bị tịch thu cũng đã bị anh em truyền tai cho nhau. Chuyện bí mật như thế mà chỉ vài bữa sau đã bị “bật mí”
Ði tới phòng nào tôi cũng nghe anh em bàn tán và ca ngợi anh cải tạo viên Hồ Hoàng Khánh đã vô cùng can đảm, lanh trí, lanh tay, giúp cho cái radio không rơi vào tay kẻ địch.
Ngày khám xét vừa qua ở Buồng 15, thì anh cựu Trung sĩ Hồ Hoàng Khánh đứng sau anh cựu Thiếu tá Trần Tấn Hòa, trong cái bao tải đựng áo quần của anh Hòa để lại giữa đường đi có chiếc radio.
Ðang khám tư trang của Khánh thì ba tên Công An tạm ngừng để ra sân họp bàn chuyện gì đó.
Chỉ cần một giây đồng hồ, cái bao tải đã bị Khánh ném nằm gọn trong đống đồ đã kiểm tra phía trước. Ngay trưa hôm đó cái radio đã biệt tăm.
Nếu ai cũng coi cuộc kiểm tra vừa qua là chuyện bình thường ở trại, nếu không có những cái miệng ngồi lê đôi mách, thì chuyện cái radio chắc cũng đi vào lãng quên rồi.
Nhưng quân ta có những cái dở không thể bào chữa được.
Quân ta đã quá ơ hờ, không cảnh giác, không kín tiếng, không đề phòng.
Những gì mà ta đã biết, thì qua báo cáo của bọn ăng ten hay cò mồi, địch cũng biết.
Người đầu tiên bị gọi lên hỏi tội là anh cựu Ðại úy Cảnh Sát Nguyễn Hữu May.
Anh Nguyễn Hữu May là đội trưởng Ðội 17 ở Buồng 15, cũng là người đã móc nối với cán bộ Việt-Cộng để mua chiếc máy thu thanh.
Chỉ mấy ngày sau khi Ðội trưởng Nguyễn Hữu May bị cán bộ tra hỏi thì tên cán bộ trực trại cùng hai vệ binh có đeo AK47 dẫn theo một anh tù đã bị còng tay là cựu Thiếu tá Lâm Minh Ðức đi tới trước cổng dẫn vào Buồng 15 và 16 rồi lớn tiếng gọi,
-Anh Tần, anh Tuy đâu? Ra nhận lệnh gấp!
Trực Buồng 15 là cựu Trung tá Nguyễn Ngọc Tần, Trực Buồng 16 là cựu Thiếu tá Nguyễn Ðình Tuy vội chạy lại,
-Dạ có mặt!
-Hai anh mau gọi ba anh Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa và Nguyễn Tấn Á thu dọn hành trang cá nhân ra gặp tôi ngay!
Năm phút sau, với ba lô, nồi niêu, ca cóng trên vai, ba anh tù cựu Ðại úy Nguyễn Tấn Á của Buồng 16, cựu Thiếu tá Trần Công Hạnh và cựu Thiếu tá Trần Tấn Hòa của Buồng 15 đã bị còng tay đứng giữa sân bên cạnh anh Lâm Minh Ðức.
Tôi cảm thấy lo, vì Trần Tấn Hòa và Trần Công Hạnh đều là bạn cùng khóa 20 Võ Bị với tôi. Hai bạn tôi đều biết, hai ông tù đàn anh có đóng góp tiền bạc để mua cái radio và mua pin cho radio là cựu Ðại tá Biệt Ðộng Quân Cao Văn Ủy, và cựu Ðại tá Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Thành Trí.
Nếu không chịu nổi cực hình khảo đả, tụi nó mà khai ra, thì hai vị này chắc nguy to. Tôi tới gần, dúi vào ba lô của Trần Tấn Hòa bao thuốc lá Cửu Long rồi nhắn với hai đứa bạn:
– Nếu không chịu nổi thì cứ khai tao với thằng Bích, hay thằng Nghiêm, đừng hé răng cho tụi nó biết rằng mấy ông già đã liên quan tới vụ này!
Hòa gật đầu, rồi nhìn tôi, khẳng khái,
– Tới đây là hết! Tụi tao thề rằng thà chết sẽ không khai thêm! Mày nói với anh em đừng tố cáo nhau dây chuyền! Ðừng giết nhau! Ðừng bỏ nhau!
Nghe Hòa nói quả quyết như thế, tôi cũng thấy yên tâm.
Chúng tôi thấy anh Nguyễn Hữu May bị bắt để hỏi cung mới vài ngày trước. Vậy mà chỉ mấy ngày sau bốn người bạn của tôi đã bị còng tay đem đi thì anh em trong Buồng 16 có liên hệ tới cái radio vội vàng họp mặt lại và cam kết với nhau rằng, bất cứ ai bị bắt để điều tra sẽ không khai người khác, dù có chết.
Từ đó, bầu không khí nặng nề, và khó thở đã bao trùm khắp trại.
Chúng tôi cứ sống một cách phập phồng, lo lắng, không biết cái chuyện khai báo dây chuyền này sẽ dẫn tới đâu? Không biết khi nào sẽ tới phiên mình bị trói tay dẫn đi?
Ngay sau khi Nguyễn Tấn Á, Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa và Lâm Minh Ðức bị áp giải đi, tôi và Trần Tiến Bích cũng tự đặt mình trong tình trạng báo động.
Tôi viết sẵn một cái thư gửi cho vợ tôi, báo cho nàng biết rằng tôi đã bị chuyển trại, không rõ sẽ đi đâu, để nàng không ra thăm nữa.
Thư này nằm sẵn trong lưng của cựu Thiếu tá Lê Văn Chánh.
Ngày nào Chánh cũng phải xuất trại đi đổ phân. Ngày nào Chánh cũng có dịp gặp thân nhân của tù để gửi thư chui.
Trong thời gian căng thẳng này, cứ rảnh rang tôi lại đem hình ảnh của bốn đứa con ra xem.
Lê Văn Chánh thấy cái ảnh thằng con trai út của tôi thì trầm trồ,
– Ồ thằng bé đẹp trai quá! Nó có cặp chân mày và đôi mắt giống bố y hệt! Nhìn qua là biết con trai Vương Mộng Long rồi, không lẫn vào đâu được!
Thằng con trai út của tôi sinh ra ba tháng sau ngày tôi bị bắt đi tù, không biết suốt đời tôi có dịp nhìn mặt con tôi hay không?
Các bạn Nguyễn Tấn Á, Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa đã bị đưa về Hà-Nội, kiên giam trong nhà tù Hỏa Lò.
Sau này gặp lại nhau, thằng bạn Trần Công Hạnh của tôi đã kể cho tôi nghe rằng, thời gian ở Hỏa Lò nó đã phải viết hằng ngàn tờ khai về những gì liên quan tới cái máy thu thanh ở Nam-Hà.
Nó than rằng nằm kiên giam trong Hỏa Lò thì đói lắm.
Vì quá đói, nó đã ăn hết 8 ngàn… con gián!
Trong nhà tù Hỏa Lò chỉ có một sinh vật muốn thân thiện với người, đó là loài gián.
Gián thích những manh áo tả tơi nặng mùi, quần áo anh tù nào mà không nặng mùi tả tơi? Gián ở Hỏa Lò thì đông vô kể!
Thằng Hạnh là vua câu cá, nó biết gián là mồi nhử mà loài cá thích ăn. Nó nghĩ rằng cá ăn gián được thì người cũng ăn gián được! Thế là nó bắt gián mà ăn.
Nó ăn gián bằng cách này: Một tay nó giữ thân mình con gián, tay kia nó vặn đầu con gián rút ruột gián ra thật là nhẹ nhàng.
Nó vứt ruột, đầu, chân, cánh, cẳng của gián xuống sàn nhà để làm mồi nhử những con gián khác. Nó chỉ giữ lại những cái bụng của gián để ăn. Vậy mà nó cũng đã sống sót sau những ngày đói khát, kiên giam ở Hỏa Lò!
“Một lần qua sông Đáy” là bức tranh sống động, mô tả thật chi tiết và rõ ràng một quãng đời đầy khổ ải, buồn đau, và tủi nhục sau ngày Miền Nam sụp đổ của những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa bị lưu đày nơi đất Bắc.
Diễn tiến sự việc theo từng thời gian và không gian đã được những người trong cuộc tường trình lại một cách thật chính xác. Vì thế, đây có thể coi như một tài liệu lịch sử đáng tin cậy để lưu truyền lại cho lớp hậu sinh.
Biết đá, biết vàng…
Thời gian trôi tựa nước của một dòng sông, mãi mãi không quay trở lại, thoáng chốc ba mươi năm đã đi qua.
Tôi xa quê hương đã ba mươi năm, tôi ở Mỹ đã ba mươi năm, vậy mà tưởng chừng như tôi vừa mới rời quê hương hôm qua.
Bây giờ đang là mùa lễ Thanksgiving năm 2022.
Ðứng nơi bến phà nối đôi bờ Mukilteo và Whidbey Island vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ, tôi để tâm hồn phiêu du…
Nhìn hình ảnh chiếc phà rời bến, tôi chợt chạnh lòng nhớ lại chuyến phà đã đưa tôi qua sông năm xưa.
Chuyến phà này đã chở những người không phải Kinh Kha, không là Hạng Võ trong sử ký của Tàu, mà là những cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa sau ngày thua trận. Trong số những người qua phà năm đó, có nhiều người đã không còn sống sót để trở về.
Con sông trong ký ức của tôi có tên là sông Ðáy…
Sông Ðáy còn được gọi là Hát Giang. Hát Giang là con sông lịch sử, nơi Hai Bà Trưng trầm mình tuẫn tiết thời Nam Hán.
Vào đầu năm 1979 Hát Giang đã chứng kiến một đoàn xe Zin, và Molotova chở đầy tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa từ Trại Phú Sơn 4, Thái Nguyên di chuyển xuống, rồi qua phà, chạy về Trại Nam-Hà.
Tôi, cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân Vương Mộng Long là một trong số những người đã ngồi phà vượt Hát Giang năm đó, để rồi cho tới cuối cuộc đời vẫn mãi mang trong lòng những kỷ niệm đau buồn không thể nào quên.
Trại Nam-Hà có ba phân trại A, B và C. Tôi được đưa về Ðội 18 Trại Nam-Hà A. Ðội 18 và Ðội 19 ở cùng Buồng 16 nằm sát với tường bệnh xá cuối sân.
Ngày tôi tới đây thì nhân số của Trại Nam Hà A này ước lượng khoảng trên dưới 1500 người.
Trừ ra khoảng năm chục tù hình sự và Phục Quốc thì số còn lại toàn là cựu nhân viên Quân, Cán, Chính của Việt-Nam Cộng-Hòa.
Phía quân đội, người có cấp bậc cao nhất là cựu Trung tướng Nguyễn Hữu Có, người có cấp bậc thấp nhất là cựu binh nhì chột một mắt tên là Bùi Bằng Ðoàn.
Bên hành chánh thì người chức vụ cao nhất là cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc, người có chức vụ thấp nhất là anh Nguyễn Văn Mạnh, giữ chân chạy giấy của Phủ Thủ Tướng.
Cuộc sống ở Trại Nam-Hà A thoải mái hơn là ở Trại Phú-Sơn 4 rất nhiều.
Ở đây chúng tôi được làm việc có giờ, có giấc, không phải chịu đựng chế độ thi đua làm nhiều, ăn nhiều, làm ít, ăn ít như ở Phú-Sơn 4.
Sau một ngày xuất trại trở về, trước giờ điểm danh tối, tôi có thể tự do đi từ buồng này sang buồng khác thăm hỏi người quen.
Tôi đã tới Buồng 1 và Buồng 2 gặp lại những cựu sĩ quan đã từng chỉ huy tôi như Thiếu tướng Lê Minh Ðảo, Ðại tá Cao Văn Ủy, Ðại tá Trần Công Liễu, Ðại tá Hoàng Thọ Nhu.
Ðiều vui mừng nhất là tôi được tái ngộ với chú tôi là cựu Ðại tá Trần Phương Quế.
Nơi ồn ào nhất, vui nhất ở Nam Hà A có lẽ là cái giếng.
Cái giếng có đường kính chừng hai chục mét, có thành tường xây bằng bê tông cao tới đầu gối, sân tắm giặt xung quanh giếng cũng chiếm một khoảng đất rất rộng nơi góc sát cổng.
Tù cứ cởi truồng tồng ngồng tắm rửa, chuyện trò cùng nhau. Tin tức thời sự quốc nội, quốc ngoại cũng được tung ra vô cùng thoải mái không phân biệt sẽ rót vào tai ông trung tướng hay tai ông binh nhì.
Tôi tới trại này chưa được bao lâu thì ông cựu Trung tá Nguyễn Văn An Liên Ðoàn Trưởng sau cùng của Liên Ðoàn 12 Biệt Ðộng Quân trốn trại.
Ông An vượt ngục, tìm về quê Phủ Lý nhưng chỉ ba ngày sau đã bị bắt lại.
Ông An bị nhốt đói hai ngày, bị đá đít mấy cái, rồi bị đuổi về lại Buồng 15 nằm cạnh ông cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân tên là Ðỗ Văn Mười.
Cuộc vượt trại của Trung tá An có lẽ chỉ ảnh hưởng tới ba người là tôi, Vương Mộng Long, Trần Văn Cả và Ðặng Quốc Trụ.
Ba đứa tôi có tỳ vết đã vượt ngục hai lần, nên bị chú ý không cho ra ngoài rào lao động dã ngoại nữa.
Cựu Thiếu tá Ðặng Quốc Trụ bị đưa về đội bóng chuyền, phải tập dượt suốt ngày bất kể nắng hay mưa.
Cựu Ðại úy Trần Văn Cả giữ chân nhặt rác quanh sân, dưới quyền ông cựu Nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu là tổ trưởng tổ văn hóa.
Còn tôi thì nằm dưới quyền ông Trực Buồng 16 là cựu Thiếu tá Ðịa Phương Quân Nguyễn Ðình Tuy. Anh Tuy là một người rất tốt bụng, nhưng trầm lặng và kín tiếng.
Thiếu tá Nguyễn Ðình Tuy, dân Bắc Di Cư, là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Yểm Trợ và Tiếp Vận của Tiểu Khu Pleiku. Tôi cũng là dân Bắc Di Cư, cũng là dân Pleiku, do đó ông Tuy đối với tôi có chiều ưu ái, nương tay.
Tôi được giao cho một công tác thật là khoẻ re, nhẹ nhàng.
Mỗi ngày, khi anh em đã xuất trại, tôi chỉ có việc đi quanh buồng, sửa lại những chiếc gối đầu nằm của trại viên cho ngay ngắn, thẳng hàng. Nhiệm vụ của tôi chỉ có vậy thôi!
Mặt khác, đúng 12 giờ trưa hằng ngày tôi cùng với Ðặng Quốc Trụ và Trần Văn Cả đều phải ghé Nhà Văn Hóa để trình diện tên trung úy Công An phụ trách an ninh trại một lần.
Nếu hôm nào tên Công An này vắng mặt, thì cựu Trung tá Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Lê Bá Ðịnh sẽ nhận mặt ba đứa tôi rồi ghi vào sổ chứng nhận rằng chúng tôi còn chưa trốn.
Ông Trung tá Ðịnh là phụ tá của ông Nghị sĩ Tửu.
Cũng vì công việc hằng ngày khỏe re, nên tôi tha hồ la cà hết buồng này tới buồng kia. Cứ tạt vào buồng này thăm một ông bạn, sang buồng kia thăm một ông bạn, thế là quay qua, quay lại, đã hết một ngày.
Ở đây thì nhà cao, tường xây, nhưng đói lắm, vì tù không có dịp đào củ mài, mót củ khoai, hái mớ rau má hay rau tàu bay như thời còn ở lán trại, nhà tranh vách đất do quân đội quản lý.
Gặp nhau, chúng tôi chỉ bàn tán quanh co chuyện thăm nuôi và chuyện ăn uống.
Ông cải tạo viên trực Buồng 12 vừa thấy tôi đã tay bắt mặt mừng,
– A! Anh Long! Anh còn nhớ tôi không?
– Dạ thưa Trung tá tôi nhớ!
– Hồi đó anh dẫn tiểu đoàn tăng phái cho tôi, tôi đã xuất kho cho anh 500 thùng dầu ăn. Tôi tưởng anh đem bán để lấy tiền tiêu Tết, vậy mà anh lại đem chia cho lính hết. Ðáng khen! Ðáng khen!
Chẳng lẽ sau bao nhiêu năm xa cách, kỷ niệm thời chinh chiến giữa tôi và ông cựu tỉnh trưởng này chỉ có một chuyện để ông nhớ là ông đã xuất kho yểm trợ cho đơn vị tôi 500 thùng dầu ăn loại 4 lít hay sao?
Tôi cười nửa miệng,
– Thế sự đổi thay, tôi thấy giờ này tâm hồn nào cũng chứa đầy thực phẩm, trí óc nào cũng nghĩ tới thực phẩm, và kỷ niệm nào cũng chất đầy thực phẩm. Ngày xưa Trung tá đâu có thế?
Ông cựu tỉnh trưởng ứng đối liền tay,
– Gặp thời thế, thế thời phải thế mà Long! Hãy quẳng gánh lo đi mà vui sống cho qua ngày đoạn tháng!
Tôi chưa tìm được câu nói móc lò nào để đáp lại, thì ông cựu trung tá đã kéo tay tôi ra góc hiên, nơi đây có cái bàn con và bốn cái ghế con, ông lớn tiếng,
– Nào! Ngồi xuống đây uống một ly cà phê cơm cháy với tôi đi!
Không đợi tôi trả lời, ông cựu trung tá nhìn tôi rồi thấp giọng,
– Lâu lắm rồi anh em mình mới gặp lại nhau. Gia đình chú có bình an không?
Trại này ăng ten như ruồi. Chú cẩn thận giữ mồm giữ miệng!
Hóa ra từ nãy tới giờ cái ông trực Buồng 12 này đã đóng vai một người khác, bây giờ trước mặt tôi mới thật là ông cựu Trung tá Nguyễn Văn Nghiêm, cựu Tỉnh trưởng Phú-Bổn mà tôi đã có dịp được phục vụ dưới quyền một thời gian ngắn hồi đầu năm 1971.
Anh Nghiêm pha cho tôi một ly cà phê, cà phê thứ thiệt, không phải là cơm cháy. Anh khuyên tôi nhất cử, nhất động phải cẩn trọng vì lúc nào bọn chó săn, ăng ten cũng rình rập những người có tiền tích vượt ngục như tôi.
Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể bị đưa ra làm con vật hy sinh để răn đe người khác.
Từ ngày biết tôi có mặt ở trại này, anh Nghiêm đã tìm gặp tôi mấy lần để khuyên bảo nhưng chưa có dịp. Anh nói gia đình anh tiếp tế cho anh rất đều, nếu tôi có thiếu thốn thì cứ tới nói với anh, giúp được gì cho tôi thì anh sẵn sàng ngay. Anh khuyên tôi có hai điều nên tránh, một là tránh cờ bạc, hai là tránh dính líu vào mấy chuyện buôn bán lia chia kiếm lời, khiến người khác khinh khi.
Từ biệt anh Nghiêm, tôi qua Buồng 10 thăm anh La Hoàn Võ.
Cựu Thiếu tá La Hoàn Võ và tôi cùng là dân cựu sinh viên sĩ quan của Ðại Ðội B Võ Bị, anh Võ khóa 19, còn tôi khóa 20.
Cứ nhìn mặt anh Võ, tôi lại thấy thương hại anh. Lúc nào anh Võ cũng ôm bụng, nhăn nhó, anh ấy mang chứng bệnh đau dạ dày kinh niên.
Vì mang bệnh kinh niên nên anh Võ không bị xuất trại đi lao động.
Anh thổ lộ cho tôi hay, vừa nghe anh khai bị bệnh đau dạ dày, cán bộ quản giáo liền chấp thuận cho anh nghỉ ngay, vì người đau dạ dày sẽ không ăn được. Người bệnh mà không ăn được, thì trại sẽ đỡ một khẩu phần cơm mỗi ngày.
Nói thế chứ làm gì có ai xuống kiểm tra xem người đau dạ dày có lãnh cơm hay không lãnh cơm hằng ngày đâu?
Anh Võ lúc nào cũng tỏ ra thương con, nhớ vợ. Gặp tôi anh cứ than:
– Tội nghiệp bà xã của tôi! Lâu không nhận được thư của tôi, bà ấy buồn rầu, nhớ thương, khổ sở lắm. Do đó, tuần nào tôi cũng phải viết thư an ủi bà ấy. Tôi chỉ sợ bà ấy buồn rầu quá mà chán đời thì mấy đứa con tôi sẽ thành mồ côi…
Một hôm, anh Võ đưa cho tôi xem lá thư mà vợ anh từ Sài Gòn mới gửi ra, trong thư có đoạn:
“Lạ quá! Bất cứ lúc nào em ngửng đầu nhìn lên tường, thì cái kim đồng hồ nhà mình cũng chỉ đúng hai giờ. Hai giờ đêm! Sao cái đồng hồ không chịu chạy? Sao đêm dài quá vậy? Sao trời không chịu sáng? Anh ơi! Bao giờ trời mới sáng? Bao giờ anh mới về?”
Tôi gật gù,
– Bà chị quả là một người giàu tưởng tượng, một người có tâm hồn, nếu có cơ hội, và môi trường thích hợp, chị sẽ thành một nhà văn nổi tiếng.
Anh bùi ngùi,
-Chắc đêm nào vợ tôi cũng thức rất khuya rồi nhắc tới tên tôi? Có lẽ vì thế mà lâu lâu tôi lại bị máy mắt, xốn xang trong gan, trong ruột? Người ta nói xa mặt, cách lòng là sai! Tôi thì thấy những người thực sự yêu nhau mà càng ở xa nhau, càng thương nhớ nhau nhiều hơn.
Trước mặt một người đã hơn bốn năm ở tù Cộng-Sản mà còn mơ màng, còn sống lênh đênh như bay trên mây, tôi cũng làm ra vẻ thạo đời, uyên bác, có chữ, có nghĩa, và có… tâm hồn,
– Quân Tương Giang đầu, thiếp Tương Giang vỹ… Nếu đã là người có gia đình rồi thì ai cũng mang tâm sự như vậy thôi!
Thấy tôi cũng có vài câu thơ lận lưng, cũng ra vẻ có…tâm hồn, nên anh Võ cảm động lắm. Anh gật gù,
– Anh em mình đồng cảnh, nên mới thông cảm nhau, thương mến nhau, còn bọn du thủ, du thực thì chỉ nghĩ tới cái ăn.
Tôi gật gù theo anh,
– Ðúng rồi! Ðúng rồi!
Tuy miệng a dua theo anh Võ, nhưng trong lòng tôi lại nghĩ khác.
Bị đi tù mút mùa, bình thường thì ai mà không nhớ nhà? Ai mà không thương vợ, thương con? Nhưng mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau.
Anh Võ khai đau dạ dày không bị đi lao động nên có thời gian rảnh mà nhớ vợ, nhớ con. Chứ nếu là người khác, cứ suốt ngày ngâm mình dưới sình, đào ao, khai mương, hay phơi thây dưới nắng cháy da mà cuốc đất với cái dạ dày trống rỗng thì trong đầu chỉ nghĩ tới bát bo bo của nhà bếp mà thôi.
Tuy suy nghĩ vậy, nhưng nhìn anh Võ, tôi thấy thà cứ mơ mơ, màng màng như anh có lẽ đời sẽ bớt muộn phiền, sầu khổ, bon chen…
Ðang nói cười rổn rảng, anh Võ bỗng nhăn nhó ôm bụng, rồi cáo lui. Thì ra anh vừa phát giác trước cổng có ông nhân viên văn hóa Hoàng Xuân Tửu.
Không rõ ông nhân viên văn hóa này đã có mặt ở đây từ lúc nào.
Ông ta đang vểnh tai ghi âm những gì mà hai đứa tôi vừa phát thanh.
Tôi thấy ông Tửu đang quay mặt về bên trái, nhưng tôi biết chắc rằng ông đang nhìn về bên phải vì ông là một “thằng” có đôi mắt lác.
Vậy là “vèo!” lắc mình một cái, tôi đã biến mất về hướng trái của ông cựu Thượng Nghị sĩ.
Tôi chui vào phòng văn nghệ đúng lúc ca sĩ Trần Tiên Sinh đang gầm thét bài “Lá đỏ”.
Tôi không biết tên khai sanh của anh ca sĩ này là gì.
Vì có lần tôi nghe bạn Ðặng Quốc Trụ gọi anh ta là Trần Tiên Sinh, nên tôi cũng gọi anh ta là Trần Tiên Sinh!
Ðặng Quốc Trụ còn nói rằng ca sĩ họ Trần cũng là một cựu Nghị sĩ Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa.
Ngày xưa anh ta làm nghề gì thì bạn Trụ không biết, nhưng chắc chắn anh ta không phải là ca sĩ.
Anh ca sĩ giơ tay lên,
“Gặp em! Trên cao lộng gió! Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ…”
Rồi anh hạ tay xuống, dang tay ra, như sắp ôm cô em nào đó vào lòng,
“Chào em! Em gái tiền phương! Ơi em gái tiền phương! Hẹn gặp nhé! Giữa Sài-Gòn”
Tôi vỗ tay,
– Mừng ông! Ông đã gặp em của ông ở giữa Sài-Gòn rồi, nên tụi mình mới có mặt ở đây!
Ðang cơn phấn kích trổ tài, bị tôi phá bĩnh, anh ca sĩ trợn mắt nhìn tôi,
– Anh…anh là ai mà giờ làm việc lại vào đây quấy rối?
Sợ tôi quấy rầy, không cho ban văn nghệ tập dượt, ông nhạc trưởng là cựu Ðại tá Trần Văn Tín bèn ngừng tay đàn, đứng dậy kéo tôi ra cửa,
– Chú mi mà cứ vào đây phá rối thì anh gọi thi đua bắt chú đó!
Nghe ông Tín đem thi đua ra dọa, tôi cũng teo, chuồn êm.
Ra tới sân, tôi thấy mấy anh văn hóa, thi đua, đang hè nhau trương cái bảng nền đỏ chữ vàng to tổ bố:
“Hoan nghênh phái đoàn quan khách tới tham quan Trại Nam Hà A!”
Ngoài mấy tên cò mồi tép riu vô danh tiểu tốt, tôi còn thấy các ông cựu Nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, cựu Ðại tá Không Ðoàn Yểm Cứ Pleiku Võ Quế, cựu Ðại tá Tỉnh trưởng Pleiku Hoàng Thọ Nhu, cựu Trung tá phi công Lê Bá Ðịnh đang tranh nhau nêu ý kiến ý cò là nên treo cái biểu ngữ này hướng Bắc hay hướng Ðông, nên treo cao hay treo thấp?
Có ông còn cho ý kiến viết một câu chào mừng bằng Pháp Văn, vì nghe nói quan khách kỳ này là Cha Gagnon. Cha Gagnon là một ông linh mục người Tây.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.