This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bưởi cùng dòng họ với chanh. Nhỏ thì xanh, lớn thì vàng. Bưởi, nếm nó ngọt. Bòng, em của bưởi, nhỏ hơn, nếm nó chua!
Ðó là về thực vật học, còn về văn học, nếu nói em có hai trái bưởi (nếu lớn), hoặc hai trái chanh (nếu nhỏ), và hai trái bòng (nếu vừa vừa)… là quý anh mình biết ngay là tác giả muốn ‘đặc tả’ cái gì rồi!
Do đó nghĩa của một từ, không phải là nằm trong từ điển, mà phải nằm trong ngữ cảnh như từ ‘chim’ (lại không phải là chim) trong câu chuyện dưới đây.
Ba Giai đến Cửa Bắc, Chợ Ðồng Xuân Hà Nội để mua chim.
“Chim này còn non, múp lắm, xin mời anh!” “Chim à? Non à? Múp à? Bắt đưa đây một con.”
Em bắt ra một con. Ba Giai sờ con chim. Cứ sờ mó con chim mãi. “Cầm thêm cho con chim này nữa.” Rồi lại sờ, lại bóp.
“Mua hay không thì trả giá mở hàng?! Cứ nắn với bóp, hư cả ‘chim’ của người ta! Muốn bóp thì về nhà mà bóp!”
Nghe giọng đanh đá, Ba Giai đưa hai bàn tay vào ngực em bán chim mà bóp. Hai tay mắc giữ hai con chim, buông ra chim bay mất. Thôi kệ cho nó bóp. Mà cũng ‘tê tê giựt giựt’ đó chớ!
Mặt đỏ rần và để chữa thẹn: “Bà không tiếc hai con chim, thì bà sẽ bóp lại ‘chim’ của mầy!”
***
Còn đây là chuyện bưởi mà không hẳn đã là bưởi.
“Em mới về với anh. Ðêm động phòng hoa chúc, đuốc hoa còn đó mặc chàng nằm trơ. Em đi tắm. Bước ra choàng cái khăn lông quanh mình.
“Em ‘sô hàng họ’ hết rồi, thì việc gì mà che chắn nữa chớ!” “Em chưa quen ở truồng trước mắt ai hết hè!”
“Ðể anh chụp hình kỷ niệm rồi em hãy thay đổi xiêm y.” “Chụp chi vậy? Em đâu phải là người mẫu Ngọc Trinh.”“Chụp để anh lộng bóp; lúc đi làm có nhớ hai trái bưởi của anh mới tậu về, anh giở ra coi cho bớt thèm vậy thôi!
Rồi vài chục năm nữa, hai trái bưởi sẽ biến thành hai trái mướp hương; anh sẽ giữ hình ảnh nầy… để tiếc thương ngày tháng cũ đó ái thê!” Chính vì sợ thời gian làm nhan sắc tàn phai, nên bên Tàu giờ đây, có phong trào mấy ‘á xẩm’ khi lấy chồng, đi chụp hình khỏa thân giữ làm kỷ niệm trước khi trao thân cho người khác. (Thân hình em cũng như chiếc xe thôi, xài rồi ắt hẳn là xuống cấp!)
Ai dè thằng chụp hình là cái thằng láu cá. Thấy hình em khoái quá… nên đòi em chiều một tí. Bằng không sẽ gởi cái hình ‘em ơi chiều nay một trăm phần trăm’ cho thằng chồng sắp cưới của em.
Bị nó gài thế, chiều cũng kẹt; thôi chung chi nó một mớ để nó xóa cái hình ‘nhạy cảm’ nầy đi. Ai dè chú Ba nầy đểu, không chịu tiền mà đòi phải cái kia. Em bèn lấy tiền mướn sát thủ xã hội đen cho mầy đi xuống địa ngục để con gái Diêm Vương nó chiều.
***
Bài học rút ra là mấy em đừng có ‘sô’ hàng bậy bạ, gặp ai cũng hé cho coi là không có đặng. Lời khuyên nầy chỉ dành cho các nước còn chịu ảnh hưởng phong kiến, tam tòng tứ đức, khuê môn bất xuất như nước mình, kín từ đầu tới chân, che luôn cái lỗ mũi chỉ còn chừa hai con mắt như con gái Trung Ðông.
Nếu không sợ đi đường đạp nhầm bánh tráng hổng có tiền đền thì con mắt biếc đó chồng em bắt phải che luôn để em không dòm liếc một thằng nào khác!
Còn đối với Úc thì vô phương. Bởi chữ có câu “Xấu che; tốt khoe”. Của mình đâu có xấu mà cứ che. Cứ thoải mái khoe cho mấy anh mình người nhìn một chút.
Hồi mới qua Úc, tui rất khoái mùa hè nóng, nóng chừng nào khoái chừng nấy để ra biển mà dòm. Nhưng thằng bạn Úc nó dạy tui rằng vừa dòm vừa nhểu nước miếng như vậy là không có văn minh. Nên nhớ “Look! Don’t touch” “Nhìn! Ðừng có rờ!” Rờ tới là lôi thôi lớn!
Nhưng nhìn, cũng có văn hóa ‘nhìn’. Ðừng có nhìn chằm chằm, ‘địa’ vào một chỗ. Tốt hơn hết là bỏ tiền ra mua cái kính râm, đeo vào, nhìn ở trên cũng được; nhìn ở dưới cũng xong; không bị em nào càm ràm là sách nhiễu tình dục. Vì chứng cớ đâu?
Hai là lỡ có nhểu nước miếng thì mua cây cà rem, vừa đi, vừa mút.
Chính vì vậy mà kính râm và cà rem, mùa hè nước Úc nầy, nó bán chạy còn hơn tôm tươi.
Mấy em Úc nầy đây mặc dầu mệnh danh là phái ‘yếu’ nhưng hoàn toàn biết thế ‘mạnh’ của mình. Thế mạnh nằm ở số đo ba vòng của thân thể.
Kể từ trên xuống dưới, ngang qua trái tim là vòng một. Ngang qua cái rún, để xức dầu cù là ‘Mac Phsu’ là vòng hai. Ngang qua cái vừa đi vừa lắc là vòng ba.
Yêu người con gái Việt Nam da vàng như yêu cái bản đồ của đất nước ta. Miền Bắc vòng một, nở! Miền Trung vòng hai, eo thon, dựa vào dãy Trường Sơn và Miền Nam, vòng ba phì nhiêu! Cả ba vòng làm nên cái thể hình Việt Nam mình rất đẹp.
Ăn đứt mấy em Úc nầy đây, như cái bản đồ của Úc! Ðầu nhỏ, Darwin! Bụng to, rún là Alice Spring. Mông nhỏ xíu như cái đảo Tasmania.
Nhưng em yêu của tui cho dù là ‘vu khống’ (xin đừng nói lái) tui vẫn mãi mãi yêu em. Vì ngoài em ra đâu có đứa nào chịu yêu tui đâu nè?
So với em Kim Kardashian, 37 tuổi, ba đứa con, ba đời chồng, cao chỉ 1m59, có 3 vòng là 96.5-67-104 cm thì em yêu của tui chỉ kém có chút đỉnh mà thôi!
Tuy nhiên không phải lúc nào bự cũng thắng. Bự đôi khi thua nữa đó.
Jenna Todd
Chuyện rằng bên Anh, có em Jenna Todd, khi mới dậy thì, vòng một đã phổng phao hơn mấy em khác, tụi nó mang hai trái bòng mà em lại mang hai trái bưởi. Cà nanh, tụi nó cho em cái biệt danh “Con ma Vú dài”.
Bị chọc quê nên em rầu quá mạng. Phần đi mua nịt ngực không có cái nào vừa; mặc chật, siết quá, nó đau.
Vậy mà bác sĩ không ông nào chịu hủy hoại món quà của tạo hóa đã ban cho em. Còn kêu em đi khám bịnh ‘tửng từng tưng’. Vì trên đời nầy biết bao em thèm được như vậy mà không có.
Thiệt là: “Cuộc đời thật lắm bất công! Người hai ‘trái bưởi’, người không có gì!”
Thôi du lịch qua Việt Nam một chuyến. Vừa đi chơi vừa phẫu thuật thẩm mỹ. Rẻ! Chất lượng.
Nếu có tai biến, sốc thuốc mê, thuốc tê gì gì đó thì bác sĩ sẽ đem ra cầu Chương Dương Hà Nội vụt xuống sông cho lội.
Cầm bằng may mắn, phước ba đời để lại, lội được về bên Anh, là bác sĩ chắc chắn sẽ nhận điều trị tiếp vì vết mổ nhiễm trùng.
Cam đoan với em là tới mức đó thì không bác sĩ nào dám từ chối. Chiêu đó trong tiếng Việt gọi là: “Ðặt cày trước trâu”.
***
Người ta nói mỗi người Việt là một nhà thơ. Rồi cũng nói: Lượng nhiều thì phẩm dở ẹc. Nói vậy là không đúng. Bằng cớ là tui tình cờ đọc được một bài thơ tác giả khuyết danh trong cõi nhân gian, ông chỉ nói chuyện của đời thường, về hai trái bưởi mà tuyệt nhiên trong bài thơ không có từ bưởi nào hết mới hay!
Bài thơ năn nỉ, nỉ non gởi thằng con chưa biết đọc vì nó còn bú tí như thế nầy nè: “Bố mày vất vả gian nan/ Xin ông bà ngoại để mang mẹ về/ …Bây giờ mày đã chen ngang/ Bố, mày chia sẻ… mỏ vàng xài chung/ Ưu tiên số một mày dùng/ Còn bố thỉnh thoảng tiệc tùng tí thôi!
Giời ơi! Bố dặn dùng môi/ Sao mày cắn chặt mà lôi thế này/ Nhiều khi quá chén đang say/ Bố chỉ mơn trớn nhẹ tay cơ mà.
…Bố van mày đấy nhả ra/ Ðể cho nguyên vẹn cả nhà dùng chung!”
Thiệt là một tuyệt tác về thơ. Chỉ một bài thơ thôi cũng đủ đoạt được Nobel Văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển.
(Chỉ tiếc một cái là giải Nobel Văn chương năm nay Thụy Ðiển nó ‘xù’ vì có một tay giám khảo bị tới 18 em tố là thằng cha dê hỗn. Mất cơ hội bằng vàng… Thiệt là uổng ghê!)
Phụ giơ tay giật mạnh, tờ giấy 20 đồng đẹp như tranh vẽ đã nằm trong tay.
Sau đó y đặt chai nước vối xuống đất, dùng hai tay căng đồng bạc ra, rồi đưa ngang mắt, soi qua ánh mặt trời.
Kiểm tra tờ bạc xong, Phụ tắc lưỡi, gật gù,
– Ðúng rồi! Không phải là bạc giả. Nhưng để anh cất cho. Lúc nào em cần mua gì thì đi với anh, anh trả tiền người ta mới tin, em là trẻ con, người ta sẽ lường gạt mất.
Thằng bé lắc đầu,
– Tiền mẹ cho hằng ngày em còn tiêu chưa hết. Em cần gì phải dùng tới tờ hai chục này. Ðây là tiền chú Tường cho em thì em phải cất. Em không đưa cho anh giữ đâu.
Anh Phụ bỏ tờ bạc vào túi quần rồi ra lệnh,
– Tao là anh, mày là em, anh nói thì em phải nghe! Mày mà cãi lời tao, tao đánh đòn đó!
Hăm he xong anh Phụ xách cặp đứng lên.
Thằng bé cũng đứng lên theo thằng anh.
Bất ngờ, Phụ giựt chai nước trên tay thằng em, tu một hơi cạn đáy rồi thẳng tay quật cái vỏ chai xuống thềm xi măng.
Thắng bé sợ quá, hai tay nó nắm chặt cái song sắt của cửa rạp hát.
Tuy vậy, nó vẫn nói cứng,
– Em nói rồi! Anh phải trả lại hai chục cho em! Nếu anh giữ nó, mẹ hỏi, em làm sao mà trả lời mẹ?
“Bốp!” một cái tát toé lửa xáng ngay trên mặt làm cho thằng bé tối tăm mặt mũi, chúi đầu xuống nền xi măng. Anh nó hét lên,
– Thì mày cứ nói mày tiêu hết rồi! Chú Tường cho phép mày muốn tiêu gì, mua gì cũng được mà!
Nó đưa tay quệt máu từ vết rách trên khóe miệng, rồi cố gắng ngồi dậy, nhưng nhìn thấy cặp mắt đỏ ngầu của ông anh cùng với hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt thì nó sợ quá, run lên như cầy sấy.
Chợt trong óc nó loé lên một ý nghĩ, nó giả đò thật thà, lắp bắp,
– Vậy thì… nếu mẹ hỏi, em nói… em còn bé quá, giữ nhiều tiền trong túi thì … nguy hiểm nên em… nhờ anh Phụ giữ hộ. Như thế… có được không?
Thấy dáng điệu khiếp sợ cùng với câu nói có vẻ an phận, buông xuôi của thằng em, Phụ liền dịu cơn thịnh nộ. Lập tức, miệng anh đã trở lại ngọt ngào ngay,
– Ðúng rồi! Làm anh thì phải thương yêu em, bảo vệ em. Làm em thì phải nghe lời anh. Vừa rồi em làm anh giận lắm đó! Bây giờ thì anh hết giận rồi. Chuyện cũ mình xí xóa! Chúng mình đi học thôi!
Nói xong, anh Phụ ân cần nắm cánh tay nó, dắt nó xuống tam cấp. Hai anh em sóng vai bên nhau đi về hướng trường.
Chiều hôm đó, trước lúc chia tay ở cạnh rạp Kim Phụng, anh Phụ còn nhắc nhở nó,
– Tốt nhất là ở nhà, em đừng đả động tới chuyện đồng bạc hai chục, chắc mấy bữa sau mẹ em cũng quên đi thôi.
Nó gật đầu, biểu đồng tình,
– Mẹ bận lắm, chắc không có thì giờ mà hỏi gì đâu.
Tuy miệng nó nói thế, nhưng suốt dọc đường về, nó cứ thấy ngực nặng như đeo chì. Nó tức đến nỗi thở không được.
Nó chợt nhớ tới lời chú Tường nói rằng bố nó là “Ðại ca” của chú. Nó đã chứng kiến chú Tường dõng dạc nói với bốn người đàn em của bố,
– Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.
Về tới Ngã Sáu, nó ghé vào căn phố đầu đường dẫn vào Lao Xá, dự định sẽ kể chuyện nó bị thằng anh kết nghĩa ức hiếp cho mấy ông đàn em của bố nó nghe. Chắc chắn mấy ông này sẽ ra tay nghĩa hiệp diệt bạo, trừ gian, mà giúp đỡ nó đòi lại tờ giấy bạc hai chục đồng.
Nó chỉ gặp được một người ở nhà chiều hôm đó là ông Trần Phương Quế.
Ở Nam Ðịnh thì gia đình bà chị Cả của bà Sen là hàng xóm của gia đình ông Quế; ông Quế nhận bà Cả là chị nuôi.
Vì bà Sen lớn hơn ông Quế bảy tuổi, nên ông Quế cũng gọi bà Sen là chị.
Do đó, thằng con của bà Sen mới gọi ông Trần Phương Quế là cậu Quế.
Nhưng từ hôm biết tin bố nó bị người ta giết thì ông Quế bắt nó đổi cách xưng hô, gọi ông là chú, cũng giống như chú Yên, chú Lâm, chú Sử, chú Tường.
Nó chưa mở miệng thì chú Quế đã vồn vã,
-Cháu mới đi học về ghé thăm chú phải không? Con nhà tông, không giống lông cũng phải giống cánh. Cháu là con của đại ca, sau này lớn lên chắc chắn cháu sẽ trở thành một nhân tài.
Nghe ông Quế nói nó là con của một đại ca, sau này nó sẽ trở thành một nhân tài thì nó liền bỏ ngay ý nghĩ nhờ vả người khác giải quyết chuyện riêng.
Nó sẽ không nhờ vả ai. Nó thề rằng sẽ tự mình đòi lại tờ giấy hai chục mà tên côn đồ đã trắng trợn cướp trên tay nó. Thế là nó vui vẻ trả lời ông Quế,
– Hôm nay cháu được về sớm. Cháu ghé thăm sức khỏe của chú. Thôi! Cháu xin phép chú! Cháu về ăn cơm.
Ra khỏi nhà chú Quế, thằng bé chạy thẳng một mạch xuống chợ Tây.
Khu chợ rau, chợ cá đã dọn hàng, đóng nắp sạp. Nhưng dãy nhà bán tạp hóa còn mở tới 8 giờ tối.
Nó vào hiệu tạp hóa mua một cái kéo bằng Inox của thợ hớt tóc, đáng giá hai đồng rồi hí hửng ra về.
Thường ngày thì về tới nhà nó thay cái quần soọc xanh ra, mặc cái quần đùi vào cho gọn. Tối nay nó vẫn để nguyên cái quần soọc trên người. Cái quần này có túi.
Cái kéo nằm gọn trong túi quần, nó bước ra sân sau.
Trong suốt ba giờ đồng hồ, nó tập thật nhuần nhuyễn ba động tác:
1) Bước chân trái lên một bước cho sát địch thủ.
2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.
3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông kẻ thù.
Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … cho tới khi thằng ăn cướp móc túi trả lại tờ giấy bạc hai chục đồng Ðông Dương thì nó mới dừng tay.
Sáng hôm sau, 27 tháng Chạp Âm Lịch, thay vì đem theo hai chai nước vối, nó pha một chai nước chanh đường.
Tới rạp Kim Phụng, nó vừa cười hì hì vừa nịnh bợ người anh kết nghĩa.
– Em chưa kịp mua thêm một cái chai để đựng nước vối. Hôm nay em chỉ đem theo một chai nước chanh cho anh thôi. Em không khát.
Anh Phụ đỡ chai nước chanh giọng cảm động,
– Thằng em của tôi tốt bụng quá!
Vì nó đã dùng kìm để siết cái nắp chai, nên anh Phụ phải vận sức cả hai tay để mở chai. Nhân cơ hội này nó đã thực hành thật nhanh ba động tác:
1) Bước chân trái lên một bước cho sát ông anh kết nghĩa.
2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.
3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông thằng ăn cướp.
Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … miệng nó liên tiếp la:
“Trả lại tờ bạc hai chục cho tao! Trả lại tờ bạc hai chục cho tao!”
Cái kéo hớt tóc bằng Inox vừa sắc lại vừa cứng. Cú đâm nào cũng lút tới xương. Cái chai nước chanh rớt xuống lăn long lóc theo bực tam cấp nhưng không vỡ.
Thằng anh kết nghĩa lớn tiếng kêu,
– Bà con ơi! Cứu tôi! Cứu tôi!
Thằng em kết nghĩa bình tĩnh, lớn tiếng đáp lại,
– Nó là thằng ăn cướp! Nó cướp tiền của tôi! Bà con gọi Cảnh Sát bắt nó! Bắt nó!
Chợt tên Phụ quỵ xuống rồi thều thào,
– Anh sẽ trả lại tiền cho em! Ðừng đâm nữa! Ðừng đâm nữa!
Nó đứng chưa tới ngực tên Phụ nên chỉ có thể đâm vào đùi, vào hông của Phụ.
Giờ này thấy Phụ quỵ xuống, nó bèn ghim mũi kéo ngay yết hầu của Phụ.
Chỉ cần một cái hất tay, một linh hồn sẽ bay lên trời.
Phụ run rẩy móc túi lấy cái phong bì có chứa tờ giấy bạc đưa lên trước mặt,
– Tiền của Long đây! Anh lạy em! Tha cho anh!
Tay của Phụ đầy máu, cái bì thư cũng đẫm máu.
Thằng bé cúi xuống cầm cái bì thư rồi nhìn một vòng xung quanh phân bua với đám người đang đứng vây,
– Ðây là tiền của tôi! Nó là thằng ăn cướp! Bà con đã thấy chưa?
Nó tính mở cái bì thư lấy tiền ra thì nghe ai đó trong đám đông la to,
– Thằng ăn cướp bỏ chạy! Bắt nó! Bắt nó bà con ơi!
Phải nói rằng tên Phụ này rất khoẻ, bị đâm cả chục nhát kéo vào đùi, máu tuôn ra ào ào mà vừa nhỏm dậy nó đã biến mất sau hàng hiên dãy phố bên kia.
Thằng bé vội phóng theo tên tội phạm, nhưng qua đường nó cũng quẹo trái, len lỏi vào mấy con hẻm quen dẫn về phố Jean De Bouchet rồi thót vào nhà.
Không có ai ở nhà, nó chạy tới bên giếng, múc nước tắm cả quần, cả áo.
Máu kẻ thù còn tươi, chỉ cần chục gầu nước xối qua, là hết dấu vết.
Ðêm hôm đó nó cứ suy nghĩ mông lung, rồi cảm thấy hối hận vì đã lỡ lời thổ lộ chuyện nhà cho anh Phụ, khiến cho tình nghĩa anh em tổn thương, đang là bạn bỗng chốc hóa ra thù.
Nó tự trách mình đã quá nặng tay. Chắc giờ này anh Phụ đang đau đớn lắm? Chắc giờ này anh ấy oán hận nó lắm?
Càng nghĩ lại chuyện xảy ra sáng nay, nó càng thấy thương hại anh Phụ, nó càng thấy mình có lỗi với bạn.
Ðêm đã khuya mà mắt vẫn còn mở thao láo, nó bèn đưa hai bàn tay lên xoa mặt tìm giấc ngủ.
Nó giật mình vì thấy mặt nó đau ê ẩm khi bị bàn tay chạm vào. Ðồng thời đầu lưỡi của nó cảm thấy mùi vị của máu tươi vừa tuôn ra từ những vết thương trên môi, trên mép chưa lành. Mùi máu tanh tanh, vị máu mằn mặn, xót xa, xót xa…
Nhắm mắt lại vài giây, rồi mở mắt ra, nó lại đưa tay lên mặt lần nữa.
Nó tiếp tục xoa nhè nhẹ, nhè nhẹ. Hiện giờ má trái của nó đã sưng u lên như cái bánh bao! Hai môi nó cũng phồng lên như hai miếng bánh dầy.
Trước mắt nó chợt hiện ra đôi mắt đổ lửa của thằng anh.
Trước mắt nó chợt hiện ra hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt.
Ngay lập tức, lòng nó bỗng trở thành lạnh tanh.
Suốt đêm 27 tháng Chạp Âm Lịch, nó miên man suy nghĩ về chuyện bố nó bị người ta giết, chuyện tờ giấy bạc hai chục chú Tường cho, chuyện vô cớ bị thằng bạn cướp tiền, rồi còn bị tát sưng cả mặt mày…
Cuối cùng nó thở phào nhẹ nhõm, vì trong đầu nó vừa hiện ra con đường tương lai mà nó sẽ phải đi theo.
Thế là, chỉ sau một đêm, thằng bé sáu tuổi rưỡi đã biến thành một người trưởng thành.
Ngày 28 Âm Lịch là ngày ăn tiệc tất niên, nó không dám bỏ lớp, nên đánh liều ra khỏi nhà với cái kéo trong túi quần.
Theo đường Thống Nhất, nó đi thẳng tới Tòa Hành Chánh, vòng lên Ga, rồi mới đi xuống Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương. Nó tránh xa rạp hát Kim Phụng, vì sợ anh Phụ mai phục đâu đó đón đường.
Tới trường, nó đứng núp sau lưng tụi bạn cùng lớp rồi len lén quan sát xem bên lớp Ba có bóng dáng cao lớn của người anh kết nghĩa không.
Nó thở ra khoan khoái khi không thấy anh học trò khổng lồ 18 tuổi thường đi đoạn hậu của lớp này.
Sau tiệc tất niên, học trò được nghỉ.
Mùng Mười Tết, quay lại trường, nó vẫn không thấy anh Phụ.
Nó hỏi dò thằng bạn tên là Ðoàn Ðình Ngữ ngồi bên cạnh là người hàng xóm của anh Phụ,
– Mày có biết vì sao anh Phụ nghỉ học không?
Thằng Ngữ nhanh nhảu đáp lời,
– Anh Phụ bị ngã gãy chân, đi cà nhót, cà nhót, chỉ quanh quẩn trong sân cả chục ngày rồi.
Rồi cả tháng sau thấy anh Phụ vẫn vắng bóng, nó lại hỏi thằng Ngữ,
– Lâu rồi mà chân của anh Phụ vẫn chưa lành sao?
Ngữ vỗ đùi,
– Ông ấy tình nguyện đi lính pa đờ suýt rồi! Bố tao nói học lớp Ba mà vào lính thì chỉ lên tới ca pô ran là cùng. Tao sẽ học tới đíp lôm rồi mới đi lính. Tao sẽ đi lính sĩ quan. Làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran.
(Chú thích: Pa đờ suýt là lính Nhảy Dù của Tây- Ca pô ran là hạ sĩ lính Tây- Ðíp lôm là bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp của Tây)
Sau này thằng Ðoàn Ðình Ngữ học tới tú tài và tốt nghiệp Khóa 19 Sĩ Quan Ðà-Lạt.
Nghe thằng Ngữ nói làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran, thằng bé cũng muốn khi lớn lên nó sẽ đi làm sĩ quan. Nó mà làm sĩ quan thì anh ca pô ran tên là Phụ sẽ không dám bắt nạt nó nữa.
Tuổi thần tiên của một đời người là thời gian vừa biết nói cho tới ngày vào lớp Năm, lớp Tư. Tuổi Mẫu Giáo và lớp Năm, em bé được nghe những truyện thần tiên do cha mẹ, ông bà kể.
Tuổi lớp Tư, em bé được đọc truyện thần tiên trên sách báo Thiếu Nhi.
Trong đầu em bé suốt ngày, suốt đêm, chứa chất đầy mộng đẹp.
Tới lớp Ba thì coi như tuổi thần tiên đã đi qua, vì em bé bắt đầu đọc những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư để trở thành một người công dân tốt sau này.
Thằng con bà Sen thực sự chưa từng được biết thế nào là tuổi thần tiên.
Không rõ trên thế gian này có một tuổi thơ nào giống như tuổi thơ của thằng bé sáu tuổi rưỡi này không?
Ba tuổi, 1945 nó sống sót sau nạn đói Ất Dậu.
Bốn tuổi, 1946 nó theo mẹ trốn chạy chiến tranh Việt Pháp, rồi trải qua những cơn sốt rét thập tử nhất sinh trên vùng rừng núi Ðông Triều đầy sơn lam chướng khí.
Sáu tuổi, 1948 nó hồi cư; nửa năm sau nó nghe tin bố chết; bỗng chốc, đứa học trò lớp Năm mang trên vai một mối đại thù.
Sau Tết ít lâu, chủ nhà hồi cư, đòi lại nhà, vợ chồng chú Sử và mẹ con nó phải dọn về số 24 Jean De Bouchet ở chung với gia đình anh ruột của mẹ nó và bà ngoại nó.
Giữa năm lớp Tư, nhà nó lại dọn nhà lần nữa, tới số 17 phố Hàng Lọng.
Ðầu năm 1952, vừa làm quen với những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì gia đình nó di chuyển lên làng Vẽ, tức là làng Ðông-Ngạc huyện Quảng-Bá, ngoại ô Hà-Nội.
Ngày 17 tháng 7 năm 1954 gia đình nó di chuyển vào Ðà-Nẵng.
Ba ngày sau, 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Geneve được ký kết, nước Việt-Nam bị cắt làm hai.
Chú Tường lưu lạc nơi nào không ai hay. Chú Phan Ngọc Yên ở lại Miền Bắc. Các chú Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế đều theo học lớp sĩ quan Ðà-Lạt.
Chú Trần Văn Sử sau khi thuyên chuyển về Vùng 4 không biết còn sống hay đã chết.
Năm 1968 nó nghe tin chú Lâm đã là đại úy, giữ chức vụ gì đó trong khu Quang-Trung của Trường Võ Bị, gia đình chú thì cư ngụ trong trại gia binh ở gần hồ Saint Bénoit.
Nó đã bỏ công lái xe vòng vòng hai tiếng đồng hồ trong khu Mê Linh để tìm thăm chú.
Nhưng hai mươi năm sau, chú Lâm đã quên họ, quên tên người “Ðại ca” của chú ấy mất rồi!
Nó thấy người đàn em của bố nó có vẻ như không muốn nhắc lại cái thời dĩ vãng xa xôi ngày xưa. Vì thế, nó chỉ ghé thăm ông ấy một lần rồi không bao giờ quay lại.
Riêng chú Trần Phương Quế sau một thời gian gián đoạn đã liên lạc được gia đình nó. Chú Quế sau này trở thành một đại tá của Quân Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa.
Ðại tá Trần Phương Quế là vị Trung Ðoàn Trưởng sau cùng của Trung Ðoàn 9/ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.
Lẫn trong dòng đời, thằng bé đã lớn lên, trông già hơn những đứa bạn cùng trang lứa, cô đơn hơn những đứa bạn cùng trang lứa; kiến thức của nó khác hẳn kiến thức của những đứa học cùng lớp, và ước vọng của nó cũng khác hẳn ước vọng của những người cùng thời.
Ðể trả thù nhà, thằng bé đã chọn binh nghiệp.
Mười năm vào sinh ra tử, nó đã vươn lên như một cây thông, thẳng đứng, lừng lững giữa trời, không vịn vào ai, không dựa vào ai.
Thế rồi chiến tranh tàn, người thua trận cứ mãi mang trong lòng một nỗi buồn khôn nguôi vì nợ nước thù nhà không trả nổi.
Thời gian qua như tên bay, thằng bé ngày xưa đã thành một ông già…
Nơi góc phố Jean De Bouchet, Hải-Dương có một thằng bé sáu tuổi rưỡi ngồi say mê ngắm nghía một món đồ chơi mà nó vừa mua được.
Trên tay nó là một cái xe làm bằng vỏ hộp cá mòi.
Cái vỏ hộp cá mòi của Marốc do ai đó nhặt từ đống rác của Tây, rồi đục bốn cái lỗ bên hông, gắn vào bốn bánh xe bằng nắp khoén, nắp bia đã trở thành món đồ chơi quý báu của lũ trẻ trai sáu, bảy tuổi cư ngụ trong khu Ngã Sáu, Hải-Dương này.
Sáng nay thằng bé đã bỏ ra năm hào để mua lại chiếc xe từ tay thằng bạn nó tên là Hải.
Thằng Hải là con ông chủ Khách sạn Thiên Tuế ở đầu đường.
Thời buổi đó, trong chợ Tây của tỉnh Hải-Dương thì, một bữa trưa hay bữa chiều dành cho người lớn chỉ đáng giá một đồng bạc Ðông Dương. Với một tô cơm trắng, một món canh, một món kho, một ly nước trà, người ta chỉ phải trả một đồng.
Vậy mà mỗi ngày thằng bé có tới hai đồng, làm sao tiêu cho hết?
Hằng ngày, trước khi rời nhà để đi buôn, mẹ nó đều nhét dưới gối, đầu giường cho nó hai đồng. Ngủ dậy, việc đầu tiên của nó là quơ tay dưới gối, lấy tiền bỏ vào túi quần rồi mới đi rửa mặt đánh răng.
Nó nhớ ra hôm nay là ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch cô giáo cho học trò nghỉ.
Mẹ nó cũng hứa sẽ về sớm, mua đồ cúng tiễn đưa ông Táo về trời.
Nó ôm cái xe đồ chơi vào ngực,
– Ông Táo ơi! Tối nay ông Táo đừng thèm cưỡi cá chép, cháu sẽ cho ông mượn chiếc ô tô của cháu để ông cưỡi cho oai.
Từ giờ đó, nó cứ chắc mẩm rằng ông Táo nhà nó sẽ oai hơn ông Táo của những nhà hàng xóm. Nó chắc mẩm rằng, cả thành phố này không có ông Táo nhà nào tới chầu Ngọc Hoàng sớm hơn ông Táo nhà nó; vì ông Táo nhà nó lên trời bằng ô tô, chứ không phải cưỡi lưng cá chép, vượt qua cả nghìn cây số qua thác, qua ghềnh.
Thằng bé và mẹ nó vừa hồi cư từ vùng chiến tranh về Hải-Dương cuối năm 1948. Mẹ con nó ở nhờ trong nhà một người quen tên là Sử.
Mẹ nó bảo nó gọi ông Sử, bà Sử là chú và thím.
Ông Sử cũng là dân mới hồi cư nhưng nhanh chân chiếm cứ được một ngôi nhà rộng có sân tọa lạc ngay giữa phố, cách Ngã Sáu không xa.
Thời gian này phố Jean De Bouchet còn nhiều căn nhà rất đẹp nhưng bị bỏ hoang vì chủ của chúng còn đi lánh nạn chiến tranh, chưa quay về.
Hồi cư đúng vào dịp khai trường, nên thằng bé được nhận thẳng vào lớp 5 tiểu học, mấy chục năm sau người ta đổi lớp 5 thành lớp 1, còn ở Mỹ thì đây là lớp First Grade.
Xế trưa hôm đó bà Sử dẫn về một người đàn ông lạ rồi lớn tiếng gọi,
Chú Tường lại dang hai tay ôm nó, giọng chú run run,
– Bố cháu chết rồi! Cháu hãy ngồi im mà nghe chú nói đây! Suốt đời không được quên những gì chú nói với cháu hôm nay!
Thằng bé nắm chặt hai bàn tay thành hai nắm đấm, rồi nhìn vào mắt chú Tường,
– Vâng! Chú nói đi!
Chú Tường đưa tay lên xoa mặt, vuốt ngực một cái rồi dõng dạc từng tiếng,
– Cháu hãy nghe cho rõ: Tụi Việt-Cộng đã giết bố cháu đấy!
Nó vội hỏi,
-Chú có biết Việt-Cộng là ai không? Chú có biết Việt-Cộng ở đâu không?
Chú Tường đưa tay đè hai vai nó xuống, rồi nghiến răng, dằn giọng,
– Mai này lớn lên cháu sẽ biết Việt-Cộng là ai. Nhiệm vụ của chú tìm gặp cháu ngày hôm nay là nói cho cháu biết rằng không được quên mối thù này!
Dứt lời, chú Tường dắt thằng bé vào nhà.
Vào tới nhà, chú Tường bận bịu nói chuyện với vợ chồng ông Sử, không để ý tới thằng bé nữa.
Thì ra chú Tường là anh con cô, con cậu của thím Sử; chú mới quá giang theo chuyến công voa Hà-Nội, Hải-Phòng để về Hải-Dương sáng nay.
Hình như những người bà con này đã không có dịp gặp mặt nhau lâu lắm rồi nên cứ luôn mồm nói từ chuyện này sang chuyện khác mãi không dứt.
Nó muốn hỏi chú Tường thêm nhiều điều, nhưng thấy chú bận bịu quá, nó lại thôi.
Rồi căn nhà chợt ồn ào hẳn lên khi có ba người đàn ông bước vào. Thằng bé đã biết ba vị này là nhóm thanh niên ở trọ trong căn nhà đầu Ngã Sáu trên con đường dẫn vào Lao Xá Hải Dương.
Ba thanh niên cùng chú Sử và chú Tường ngồi quanh cái bàn tròn giữa sân, bàn bạc với nhau chuyện gì đó hình như hệ trọng lắm. Chú Tường có vẻ là người có uy nhất của năm vị này.
Buổi họp mặt bế mạc, chú Tường đứng lên, đảo mắt một vòng rồi dõng dạc,
– Ðại ca đã mất rồi. Từ nay anh em ta sẽ chia tay. Các chú sẽ tự định đoạt tương lai của chính mình.
Ngừng một giây, chú Tường nhìn về phía thằng bé đang ngồi ủ rũ bên hiên nhà, giọng chú nghẹn ngào,
– Ngày mai anh không còn ở đây nữa. Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.
Thì ra ba ông thanh niên này, cùng với chú Tường và chú Sử là đàn em của bố nó.
Nó không rõ chú Tường mang họ gì, quê quán ở đâu.
Một ông cũng lớn tuổi như chú Tường tên là Phan Ngọc Yên thì cùng quê Hải Dương với bố. Ba ông còn lại thì trẻ hơn nhiều, đều mang họ Trần và có quê Nam-Ðịnh.
Tên của các ông này là Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế.
Sau đó mấy vị đàn em của bố nó kéo tới vây quanh nó, ôm hôn nó, xoa đầu nó, rồi theo chân nhau đi ra cửa. Bà vợ ông Sử quét nhà xong cũng gánh rau rời nhà lên chợ.
Chỉ còn một mình trong căn nhà vắng, thằng bé thấy mình cô đơn một cách thật lạ kỳ.
Từ lúc nghe tin bố chết, nó thẫn thờ như kẻ mất hồn, hết ngồi vật, ngồi vạ trên cái chõng tre ngoài phòng khách, lại đứng trước cái bàn thờ Phật, nhìn hình Phật trên kia rồi suy nghĩ mung lung.
Nó còn nhớ ngày đó, cách nay hai năm, bố nó đã đưa mẹ con nó ra Ga Hàng Cỏ để lên tàu hỏa về quê.
Trước khi chia tay, bố đã ôm hôn nó, nói với nó rằng,
– Con của bố gắng ngoan! Mai này bố sẽ về, bố sẽ bế con, bố sẽ cõng con đi chơi quanh thành phố Hải-Dương. Bố sẽ mua cho con một hộp bánh khảo và bánh đậu xanh Bảo-Hiên Rồng Vàng thật là to.
Gần tám chục năm sau nó vẫn chưa quên hình ảnh bố nó đứng bên cái xe đạp, dưới ánh đèn đường, giơ tay vẫy vẫy, tiễn chân mẹ con nó lên tàu xuôi Hải-Dương.
Nó không tin những lời chú Tường vừa nói là chuyện thật, nó không tin bố nó đã bị người ta giết. Bố là người tài giỏi nhất trên đời! Bố không thể chết!
Tới chiều thì mẹ thằng bé bước vào cửa cùng lúc với vợ chồng chú Sử và chú Tường.
Rồi mẹ thằng bé cũng ra vườn nói chuyện với chú Tường. Khoảng một giờ đồng hồ sau mẹ nó và chú Tường mới trở vào. Lúc này mắt mẹ nó đã đẫm lệ, đỏ hoe.
Tới tối, nó đang ngồi thút thít khóc bên bàn học, thì chú Tường tới ngồi bên, cầm mấy quyển vở của nó lên xem, rồi cất tiếng khen,
– Cháu ngoan lắm! Cháu gắng học giỏi để mai này nối chí ông thầy của chú!
Chú Tường lần tay ra túi sau, móc bóp lấy ra tờ giấy bạc 20 đồng Ðông Dương mềm như lụa, đưa cho thằng bé,
– Tiền này chú cho cháu để ăn quà hay mua đồ chơi, tùy ý cháu.
Thằng bé ngần ngừ, nhìn mẹ; thấy mẹ nó gật đầu, nó mới giơ tay cầm tờ bạc, miệng lí nhí,
– Cháu cám ơn chú Tường!
Nhớ lời mẹ nó dặn, khi cám ơn ai thì nó phải nhìn thẳng vào mặt người đó.
Thằng bé cám ơn chú Tường, đồng thời nhìn ngay mặt chú, nó nhận ra trên má chú có hai dòng lệ đang chảy xuống. Dưới ánh đèn, nước mắt của chú sáng lấp lánh.
Tối hôm đó mẹ nó không thắp nhang tiễn đưa ông Táo.
Mẹ con nó đã quên không ăn cơm chiều. Mẹ nó lững thững đi ra vườn, nó nối đuôi theo.
Ði ngang phòng khách, nó thấy chú Tường nằm trên cái chõng tre.
Chú Tường đang hút thuốc lá, khói thuốc bay lên trần nhà.
Mẹ nó đi tới gốc bưởi, ngồi rũ xuống và sụt sịt khóc; nó mon men lại gần thì mẹ xua tay, đuổi nó đi.
Nó lê bước vào nhà, vứt cái ô tô làm bằng vỏ hộp cá mòi vào gầm bàn, rồi lăn ra chiếu.
Trong bóng tối, nó trùm chăn kín đầu, nằm khóc một mình.
Trước khi nó thiếp đi, nó nghe ai đó nói nhỏ bên tai,
– Việt-Cộng là kẻ thù đã giết bố cháu! Suốt đời, cháu không được quên mối thù này!
Sớm hôm sau thằng bé tỉnh dậy thì mẹ nó đã đi làm; trên cái chõng tre ngoài phòng khách cũng không thấy chú Tường.
Ngày 24 tháng Chạp Âm Lịch năm Mậu Tý, rơi vào Thứ Bảy, cũng là ngày hội thể thao tất niên của trường, nhưng nó không thèm tới sân vận động để xem, mà chỉ nằm nhà ôm mặt khóc. Suốt ngày Chủ Nhật sau đó, nó cũng chỉ loanh quanh trong vườn chứ không ló đầu ra ngoài phố.
Sáng Thứ Hai, 26 tháng Chạp, nó ôm quyển vở, xách hai chai nước vối rồi bước ra đường.
Tới Ngã Sáu, nó gặp thằng Hải đang đứng chờ.
Thằng Hải thấy hai mắt nó sưng húp thì ngạc nhiên, cất tiếng hỏi thăm,
– Mày bị đau mắt hả? Nhà tao có thuốc nhỏ mắt tốt lắm. Ðể tao chạy về lấy cho mày nhé?
Nó vội xua tay,
– Không cần! Không cần! Ðừng hỏi nữa! Chiều về tao kể cho nghe!
Nói xong, nó vội vàng phóng nhanh qua đường. Thằng Hải cũng lao theo bén gót.
Hai đứa vào trung tâm thành phố, rồi tới phố Hàng Bạc.
Thằng bé đi thẳng lên hướng Ga để tới Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương.
Còn bạn nó thì rẽ sang tay phải để tới Trường Thánh Giuse.
Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương là trường công, học trò không phải đóng tiền.
Trường Thánh Giuse là trường Tây, trường tư, học trò phải trả tiền.
Học trò Trường Thánh Giuse đa phần là con nhà giàu hay có đạo; thằng Hải là con nhà giàu.
Tới gần rạp hát Kim Phụng thằng bé đã thấy người anh kết nghĩa của nó đứng chờ. Nó mới quen anh Phụ được vài tuần. Anh Phụ học lớp Ba cùng trường, năm nay anh đã 18 tuổi, và đã có vợ. Thời gian này học trò mới hồi cư được khuyến khích đến trường, không giới hạn tuổi tác.
Nhà anh Phụ ở ngoại ô thành phố phía đằng sau vườn hoa Bảo Ðại. Ngày nào anh Phụ cũng đứng chờ nó nơi hiên rạp Kim Phụng để cùng đi với nó. Chiều chiều tan trường, hai anh em lại cùng về.
Anh Phụ nói năng rất ngọt ngào; anh coi nó thân thiết như đứa em ruột của anh.
Nó là đứa bé không có anh chị; được anh Phụ nhận làm em kết nghĩa nó cảm thấy sung sướng vô cùng.
Trước đây khi mới gặp nhau, anh Phụ thường mang theo bên mình một chai nước mưa để giải khát; nhưng từ khi được nếm mùi vị nước vối của nhà thằng em thì anh Phụ đề nghị nó mang thêm một chai nước vối nữa cho anh.
Nó vui vẻ làm theo yêu cầu của bạn nó ngay. Nó đã không quản công khó mà còn cảm thấy hạnh phúc khi thấy người anh kết nghĩa đã cần tới nó. Trong bếp nhà nó lúc nào cũng có một nồi nước vối đầy, hai chai nước vối nó đem đi học có đáng là bao?
Một hôm đang đi giữa đường, anh Phụ bỗng dừng chân đứng lại ôm bụng nhăn nhó. Nó lo lắng cuống quýt,
– Anh sao thế? Anh bị bệnh gì thế?
Phụ xua tay,
– Anh không sao, ruột anh chỉ bị quặn quặn một lúc thì hết ngay thôi!
Phụ nói đúng, chỉ một phút sau anh đã đi đứng bình thường.
Chiều về, người anh kết nghĩa mới thú thực với thằng em,
– Em có biết không? Sáng nay anh bị đau bụng là vì đói đó! Ðói mà uống nước vối thì bị cồn ruột.
Thằng bé thắc mắc,
– Thế sáng ra anh nhịn đói mà đi học ư?
– Chứ sao? Nhà anh nghèo lắm, làm gì có tiền mà ăn sáng? Anh nhịn tới chiều về tới nhà mới được ăn cơm. Nhà nghèo khổ lắm em ơi!
Thằng bé đúng là thứ ruột ngựa,
– Mỗi ngày mẹ cho em hai đồng, sáng ra em ăn một đĩa xôi lạp xưởng hay một đĩa bánh cuốn cà cuống chỉ hết năm hào.Còn một đồng rưỡi em bỏ ống, chờ tới Tết mới đem ra tiêu. Chẳng bù cho anh bị đói suốt ngày! Tội nghiệp anh tôi! Từ mai, mỗi ngày em sẽ chia cho anh năm hào để ăn sáng.
Nói xong nó dúi vào tay Phụ tờ bạc 5 hào bằng giấy,
– Ðây là tiền cho anh sáng mai.
Mắt Phụ sáng lên, nhưng anh còn làm bộ thoái thác,
– Lấy tiền của em anh ngại quá! Nếu mẹ em mà biết thì anh xấu hổ lắm! Bà dành tiền cho em chứ có phải cho anh đâu?
– Anh đừng lo! Mẹ không biết đâu! Vả lại mẹ cho tiền, em muốn làm gì thì làm, mẹ không bao giờ kiểm soát cả.
Người đẩy qua, kẻ đẩy lại, cuối cùng Phụ đành cất tờ giấy bạc vào túi,
– Nể em lắm anh mới nhận. Bao giờ anh khấm khá, anh sẽ đãi em mỗi ngày.
Thằng bé cười xòa,
– Có thế chứ! Chúng mình là anh em mà!
Từ hôm đó quỹ chi tiêu hằng ngày của thằng bé chỉ còn 1 đồng 5 hào.
Hôm nay vì thời gian còn sớm nên hai anh em nó ngồi tạm nghỉ trên tam cấp của rạp Kim Phụng. Rạp hát này ban ngày đóng cửa. Tới ba giờ chiều người ta mới mở hai cái cửa tò vò để bán vé.
Thằng bé trao cho anh nó chai nước vối cùng 5 hào tiền ăn sáng mai, rồi từ từ tâm sự cho anh nó nghe tất cả những chuyện buồn mà nó đã gặp phải trong mấy ngày qua.
Nó những tưởng người anh kết nghĩa của nó sẽ tỏ lòng thương xót khi thấy nó bỗng chốc trở thành một đứa trẻ mồ côi cha.
Nào ngờ, nó vừa dứt lời, anh Phụ đã trợn mắt,
– Bộ em bịa chuyện hả? Anh không tin trên đời này lại có người chú tốt bụng đến mức dám cho thằng cháu sáu tuổi một tờ giấy hai chục đồng Ðông Dương. Hai chục đồng là cả một gia tài đấy! Em có biết không?
Thằng nhỏ ngẩn mặt, thật thà,
– Em nói thật mà! Chú Tường cho em hai chục thật mà! Chú ấy nói em muốn mua gì thì mua, muốn ăn gì thì ăn mà!
– Anh không tin! Ðâu? Ðồng hai chục đâu? Ðưa cho anh coi, xem là tiền thật hay tiền giả?
Nghe tới hai chữ “tiền giả” thằng bé chột dạ, vội vàng móc túi lấy tờ bạc đưa cho thằng anh
Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.
Kỳ 4
Ðúng như tôi đã dự đoán. Khi quân của tôi vừa chạm đỉnh dốc đầu chữ “S” nơi cái xác của Thượng sĩ Ngon đang bốc mùi, thì hai khẩu phòng không Việt-Cộng đặt trong khu mả của dân Thượng bên trái đường khai hỏa.
Dưới khe bên trái lộ, mìn Claymore bắt đầu nổ. Ba toán Biệt Ðộng Quân ngăn chặn lực lượng bao vây chia cắt đã phát giác địch và cho mìn kích hỏa.
Những chuyên viên chiến thuật bao vây chia cắt của Cộng-Sản Bắc-Việt đang gặp khắc tinh!
Hôm nay các mũi xung kích của địch chưa kịp phóng viên B40 nào thì các xạ thủ đã bị bắn vỡ sọ. Tiếng rên la đau đớn, tiếng quát tháo chửi bới lẫn nhau om sòm dưới khe suối bên trái con lộ. Tiếng Bắc xen Nghệ Tĩnh.
Lúc này đạn M79 của ta bắt đầu tới tấp câu xuống khe.
Tôi đang chỉnh đạn 105 ly của Chi Khu Nhơn-Cơ rơi trên trục nghi ngờ có khẩu phòng không di động của địch thì trong tần số hỏa yểm nghe có tiếng người gọi tôi từ trên trời,
–Thái Sơn cho mục tiêu, tôi phụ một tay! Bắc Bình mới xin tôi lên làm việc với Thiếu tá đây!
Bắc Bình là ông Thiếu tá Trần Văn Bường (K18 VB), Tham mưu phó hành quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức.
Tiếng nói trong máy hỏa yểm là tiếng nói quen thuộc của một hoa tiêu máy bay L19 mà trong nửa năm hành quân ở đây, tôi đã nhiều lần ngồi ghế sau anh ta, bay bao vùng khu vực Nhơn-Cơ, Kiến-Ðức. Tôi và anh phi công này đã nhiều lần đánh phối hợp rất ăn khớp và tương đắc.
Tôi hướng dẫn để anh phi công quan sát cái nghĩa địa Thượng nơi ngã ba đường xe be. Tôi nhờ anh triệt hạ giùm hai khẩu phòng không di động đang trụ ở điểm này.
Tôi sơ lược tình hình bạn địch cho anh ta rõ. Hướng đề nghị cho máy bay oanh tạc ra vào là Nam-Bắc, vì quân tôi tiến theo trục Tây-Ðông.
Chiếc thám thính cơ L 19 đảo sát ngọn cây một vòng. Khẩu phòng không đổi góc bắn lên trời, đuổi theo đuôi chiếc L 19.
– Okay! Tôi thấy rồi! Một cái xe bò cài lá ngụy trang có khẩu phòng không. Tôi chơi ngay!
Một trái khói phụt xuống sát bên khu Mả Thượng.
– Ðược chưa? Thái Sơn!
-Ðược rồi! Cứ từ đó dài về hướng 360 độ là địch, đánh tự do!
Sau câu trả lời “Okay! Do!” chiếc quan sát cơ bay tránh sang hướng Ðông.
Tôi che mắt tìm những chiếc máy bay oanh tạc.
Trời trong xanh. Có hai chiếc A 37 đang lượn rất cao. Hai chiếc tàu lấp lánh trong nắng. Hai chiếc tàu nhỏ tí ti. Có tiếng “rè rè!” phát đi từ A 37, hay L 19,
– Bom đi! Pass số 1! Chỉnh!
Tôi trả lời,
– Nhận!
Tôi đã trả lời “Nhận!” nhưng tôi phải che mắt để quan sát xem bom tới từ hướng nào.
Ðời tôi đã có hàng trăm lần được Không quân Mỹ, Việt yểm trợ tiếp cận. Ðây là lần đầu tiên tôi thấy máy bay yểm trợ cho tôi đã thả bom ở tầm cao quá sức là cao! Có lẽ bom được thả từ trên cao độ mười ngàn bộ (feet) có dư!
Mắt tôi thấy một chấm đen từ trên thăm thẳm hướng Ðông đang bay về phía mình. Chấm đen tới gần, nó vẫn giữ hình thù một cái chấm.
Bom tới sát lắm rồi, mà vẫn chỉ là cái chấm!
Thôi bỏ mẹ! Bom bay mà chỉ thấy một cái chấm, không thấy chiều dài của nó tức là nó đang nhắm vào đầu mình rồi!
Tôi la thất thanh,
– Nằm xuống! Nằm xuống!
Vừa xô thằng Bích xuống cái rãnh khô bên đường, tôi vừa nói với các ông phi công,
– Sáng nay các anh đã giết một Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân rồi đó! Các anh ơi!
Tôi chỉ kịp nằm úp mặt trên đường nhựa thì quả bom đã chạm đất.
“Ầm!”
Bụi, đất, sỏi, đá, cây cối bay tung, phủ trùm một vùng.
Quả bom rơi cách tôi và khẩu đại bác đi đầu chừng chục mét. Nó rơi ngay trên cạnh Bắc của con đường, sát bờ suối, đàng sau một mô đất.
Mô đất cao hơn đầu người và cây cối mọc trên đó đã bị sức công phá của quả bom dọn sạch ngay sau tiếng “Ầm!” vừa rồi.
Chưa rõ tổn thất quân bạn ra sao, chưa rõ chính tôi có bị thương hay không, tôi quơ cái máy truyền tin:
“Check Air! Check Air!”
Tôi nghe anh phi công L19 đang cự nự anh phi công A 37,
– Ð.M! Toa làm ăn như con c…c!
Rồi anh hỏi tôi,
– Sorry! Sorry! Thái Sơn có sao không?
– Cám ơn anh! Thôi! Cho họ về đi! Tôi không cần họ nữa!
Tôi ném cái ống nghe của máy Không Lục xuống đường.
Ðoàn người mình mẩy đầy đất cát lồm cồm đứng dậy. Không kịp phủi bụi trên đầu tóc, họ tiếp tục chuyển đạn, nạp đạn, giựt cò.
“Ðùng! Ðoàng!”-“Ðùng! Ðoàng!”
Chỉ một khẩu đại bác bên trái đường còn nguyên vẹn. Khẩu súng bên phải đường bị mảnh bom đánh xẹp bánh.
Có một người chết vì quả bom là Binh nhứt Ðức Ðiếc. Ðức Ðiếc bị vỡ sọ. Xác của Ðức Ðiếc được kéo sang lề đường để tạm trên cỏ.
“Ðùng! Ðoàng!”-“Ðùng! Ðoàng!”
“Tiếp tục!” – “Còn một khẩu, ta chơi theo một khẩu! Tiến lên đi! Anh em ơi! Biệt Ðộng! Sát!”
Toán viễn thám của Hạ sĩ Mom Sol và toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Tuấn được gom lại thành một đội xung kích. Họ vượt suối, băng ngược lộ trình rút lui của ông tiểu đoàn phó ngày hôm qua.
Khi tới điểm hẹn, Hạ sĩ Mom Sol xin tôi ngừng tác xạ pháo binh trên khu Mả Thượng để hai toán viễn thám tiến sát địch.
Thỏa mãn yêu cầu của Mom Sol, tôi cho pháo binh tạm ngừng.
Tới khi Mom Sol đã sẵn sàng tại vị trí, tôi cầm ống liên hợp gọi Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng để xin tiếp tục yểm trợ thì nghe đầu máy bên kia có tiếng một người lạ, người này nói giọng Bắc,
– Anh hãy báo cáo mục tiêu cho tôi một cách thật chi tiết, tôi sẽ cứu xét đơn xin hỏa yểm cho anh!
Quả thực từ ngày đi lính tới giờ này, tôi đã từng gọi máy xin pháo yểm cả trăm lần, chưa lần nào tôi nghe ai đó làm khó dễ như cái giọng nói lạ hoắc kia.
Tôi la lên,
– Tôi đang đụng địch rất nặng, yêu cầu yểm trợ ngay! Tôi không có thì giờ để giải thích dài dòng! Yêu cầu thoả mãn hai chục tràng đạn hỗn tạp trên mục tiêu! Nghe rõ chưa?
Có tiếng lè nhè đáp lại,
– Anh cãi lệnh tôi hả? Nếu anh không báo cáo cho tôi rõ tình hình địch, tôi sẽ cúp pháo binh! Không cho anh một viên đạn nào nữa!
Tôi nổi cơn điên,
– Ð! Mẹ mày! Mày là thằng nào? Mày cứ cúp pháo binh đi! Tao mà thoát chết trận này thì mày sẽ biết tay tao! Tao sẽ bắn nát óc mày!
Ðầu máy bên kia đột ngột tắt tín hiệu. Một giây kế đó là tiếng ông Liên đoàn trưởng,
– Thái Sơn đây Hai Lẻ Bảy! Người vừa nói chuyện với chú là ông phó của anh. Ông ấy mới tới đơn vị, nên chưa biết chú. Thôi! Bỏ qua đi! Pháo binh đã bắt đầu bắn lại rồi đó!
(Hai Lẻ Bảy= 207 là danh hiệu truyền tin của Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân)
Không lâu sau đó thì đạn đại bác từ Nhơn-Cơ lại theo nhau xé gió, rơi trên khu Mả Thượng. Hết hai mươi tràng pháo yểm, tôi ra lệnh,
– 821!825! Ðây Thái Sơn! Lên đi!
Rồi tôi nghe M72 nổ. Tiếp đến là M16. Sau cùng là lựu đạn.
Bẵng đi một lúc, có tiếng Mom Sol reo trong máy,
– Báo cáo Thái Sơn xong rồi! Hai cây phòng không. Một trên xe bò, một trên gò mả. Tụi tui chờ Thái Sơn nơi ngã ba.
Ðoạn giữa cái eo chữ “S” là nơi địch đắp mô. Lá cờ nửa xanh nửa đỏ, sao vàng của Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam đã rách tả tơi nhưng còn bay phần phật bên lộ.
Ðại Ðội 1/82 ào lên. Ðạn của ta réo như mưa bão.
Từ bìa rừng bên phải đường, một tên Việt-Cộng, có lẽ là cấp chỉ huy, nhảy ra giữa đường; tay nó giơ cao khẩu K 54 bắn chỉ thiên:
“Các đồng chí! Giữ vững…”
Hắn chưa hô dứt câu thì, “Cành! Cành! Cành! Ðùng! Ðùng! Ðùng!” thân hình hắn đã gập xuống; khẩu K54 rơi trên mặt đường; đạn ghim kín người hắn.
Từ ven rừng phía Nam con lộ, nhiều cán binh Việt-Cộng phóng nhanh qua đường tìm cách nhào xuống suối.
Súng cứ nổ giòn giã, hiệu lệnh của cuộc hành quân hôm nay là “Giết!”
Bất cứ cái gì nhúc nhích trước mặt đều là mục tiêu!
“Giết!” Hôm nay chúng tôi xuất quân với tất cả lòng căm hờn.
Chúng tôi đã tiến tới cuối đoạn cua chữ “S” hướng Ðông.
Ðại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân trấn giữ ngọn đồi trên tỉnh lộ gần con suối Bắc Nhơn-Cơ thấy hỏa lực của chúng tôi kinh khủng quá, họ sợ chúng tôi ngộ nhận, bắn càn, nên vội vàng bỏ vị trí, rút về bên kia suối.
Tiếng súng tạm yên thì hai cánh quân hai bên đường được lệnh bung sâu vào rừng kiểm soát an ninh hai hông phải và trái chiến địa.
Chúng tôi hoàn tất cuộc nhổ chốt trong vòng chưa đầy hai giờ đồng hồ.
Ngay sau khi con đường được khai thông, tôi ra lệnh cho tiểu đội cận vệ trở lại Kiến- Ðức hộ tống số dân Thượng tị nạn và gia đình binh sĩ di chuyển về quận Nhơn-Cơ chờ xe.
Tổng kết trận này, quân bạn có sáu chết, một mất tích, mười ba bị thương vừa nặng, vừa nhẹ.
Con số địch bị giết vào khoảng trên dưới một trăm. Vũ khí chúng tôi tịch thu được hôm đó có lẽ nhiều hơn số địch bị giết.
Ông Ðại úy Trần Dân Chủ. Trưởng Ban 3 Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ra lệnh cho Chuẩn úy Lê Văn Phước, Sĩ quan Ban 3 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân phải gửi gấp cho ông ta một bản tổng kết số nhân mạng địch bị giết và số chiến lợi phẩm tịch thu được.
Sự hứa hẹn khen thưởng vì chiến công không hấp dẫn chúng tôi trong lúc này.
Ban Mê Thuột đã rơi vào tay giặc. Lon lá, huy chương, những lời ủy lạo, những câu nói khích tướng của thượng cấp đâu còn ý nghĩa gì đối với những con người đã mất tất cả như chúng tôi hiện nay?
Tôi nói với chú Phước hãy trả lời phiên phiến cho qua, việc cần yếu hiện thời là yêu cầu liên đoàn mau mau cung cấp phương tiện chuyên chở thương binh cùng với số dân chúng tị nạn và gia đình binh sĩ rời khỏi nơi đây càng nhanh càng tốt.
Tôi vào quận đường Nhơn-Cơ và chỉ gặp Thiếu tá Khánh, Quận trưởng, không thấy ông Thiếu tá Mẫn vì vừa nghe tôi báo cáo khai thông xong con đường, liên đoàn đã cho Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn rút về Gia-Nghĩa.
Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi vào đồn đóng quân chung với Ðịa Phương Quân của Thiếu tá Khánh và đặt ông Khánh dưới sự chỉ huy của tôi.
Tôi không chịu đóng quân trong quận lỵ. Tôi tin chắc rằng, sau khi hai bãi mìn ở Kiến-Ðức rơi vào tay Cộng Quân thì chỉ cần hai chiếc T54 là địch đủ sức san bằng cái đồn Nhơn-Cơ tí teo.
Ðồn Nhơn-Cơ chỉ có một cổng ra vào hướng tỉnh lộ từ Kiến-Ðức về. Sau lưng đồn, sát hàng rào là một cái đập nước rộng và sâu. Chui vào đồn là chui vào rọ.
Ðại úy Tiểu đoàn phó Ngũ Văn Hoàn, được lệnh gom quân đang giữ Kiến-Ðức, cuốn chiếu qua mặt tôi, rồi leo lên con dốc hướng Ðông của quận đường Nhơn-Cơ.
Tôi giao cho ông Hoàn nhiệm vụ đốt cái đồi Kiến-Ðức trước lúc rút đi.
Chuẩn úy Bảo, một sĩ quan Trung đội trưởng của Ðại Ðội 4/82 là người sau cùng rời Kiến-Ðức.
Những quả mìn cơ động do Bảo gài lại nơi điếm canh hướng Ðông của căn cứ là những cái bẫy sau cùng, đón chờ những cán binh Trung Ðoàn 271/ T10/ CSBV khi họ vào tiếp thu đồi Kiến-Ðức.
Hai đại đội tăng phái của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã theo tôi từ trước Tết Âm Lịch, giờ này được tôi trả lại Gia-Nghĩa cho Thiếu tá Trần Ðình Ðàng.
Khẩu đại bác 105 ly bị bể bánh đã được phục hồi. Cả hai khẩu pháo binh biên phòng đều được kéo về nơi dự trù đóng quân của ông Tiểu đoàn phó cùng Ðại Ðội 2/82 và Ðại Ðội 4/82, trên khu chứa gỗ trước xưởng cưa Nhơn-Cơ cách tôi chừng hai cây số về hướng Gia-Nghĩa.
Trưa 21 tháng Ba tôi bố trí Bộ chỉ huy tiểu đoàn và hai Ðại Ðội 1/82 và 3/82 ngay ngã ba đường xe be, nơi đầu khúc cua hướng Ðông của đoạn đường chữ “S”.
Chiều hôm ấy, cách Kiến-Ðức hơn bốn cây số, tôi nghe tiếng đạn cháy nổ “Ùm! Ùm! Lép! Bép!” vọng về. Ngọn khói đen bốc lên cao dần.
Tôi đứng bên con đường nhựa, cạnh những ngôi mộ mới. Bên lề tỉnh lộ này, chúng tôi đã chôn những người bạn vừa chết hôm qua và hôm nay.
Lù lù giữa Tỉnh lộ 344 là một đống vũ khí chiến lợi phẩm tịch thu được của địch.
Bên đường là một rờ-mọt (remorque) súng dư dùng của ta.
Một núi súng ta, súng địch, gom lại, chỉ cần hai quả lựu đạn lân tinh là cháy tiêu hết!
Sáng sớm 23 tháng Ba năm 1975, tiền đồn hướng Tây báo cáo có tiếng hô “Xung phong!” trên đồi Kiến-Ðức.
Pháo binh đã chuẩn bị yếu tố. Hai chục tràng đạn bay đi để chào mừng những người chủ mới đến tiếp thu ngọn đồi này.
Tiếp đó là một tiếng “Ùm!” từ hướng Tây vọng lại. Như vậy là bãi mìn chống tank đã nổ! Không rõ tank địch đã vô ý cán lên bãi mìn, hay bangalore của Công Binh Cộng- Sản Bắc-Việt đã phá hủy nó?
Và cũng từ ngày này tôi bận tâm suy nghĩ phải làm gì để đương đầu với xe tank địch trong những ngày sắp tới?
Ngày 25 tháng Ba năm 1975, khoảng 9 giờ sáng tôi vào quận để thăm ông Thiếu tá Khánh. Tôi không gặp được ông Khánh. Mấy ông lính Ðịa Phương Quân cho tôi hay, từ mấy ngày trước, ông quận trưởng đã ra Gia-Nghĩa và ở lại ngoài đó không về.
Tôi đi ngang hầm truyền tin thì nghe loa khuếch âm oang oang, tiếng Thiếu tá Khánh ra lệnh cho lực lượng đồn trú:
“Các anh chuẩn bị bỏ đồn, rút về Tiểu Khu. Nhớ vặn nhỏ volume kẻo ông Thiếu tá Biệt Ðộng Quân nghe được thì rầy rà!”
Người chuẩn úy trực Chi Khu thấy tôi đứng trước hầm, anh ta luống cuống phân bua,
– Trình Thiếu tá, không phải lỗi em!
Tôi xua tay,
– Ðừng ngại! Cứ thi hành lệnh đi! Tôi sẽ gặp sếp của anh!
Tới hầm súng cối, tôi tần ngần nhìn khẩu cối 4 chấm 2 (cối 4.2 tức cối 106 ly), đạn còn nhiều quá!
Tôi gọi chiếc GMC của tiểu đoàn vào chở khẩu súng này lên cho ông Ðại úy Hoàn. Thượng sĩ Năng là chuyên viên bắn 106 ly của tôi, khi chúng tôi còn ở Pleime.
Thượng sĩ Năng chắc phải vui lắm khi nhận được khẩu cối này.
Trước khi Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân Nhơn-Cơ ra khỏi đồn, tôi nghe trong máy, tiếng Thiếu tá Trần Văn Bường, Tham Mưu Phó của Tiểu Khu Quảng-Ðức ra lệnh cho Sĩ quan Pháo Binh Diện-Ðịa đồn Nhơn-Cơ bắn hết số đạn dự trữ tại ụ súng, sau đó phá hủy tất cả súng đại bác 105 ly của đơn vị này.
Tôi đứng quan sát những pháo thủ Nhơn-Cơ bắn cả ngàn quả đạn về hướng Kiến-Ðức, trong đó có những viên đạn phostpho.
Sau cùng, họ đã thả từng quả lựu đạn màu đỏ vào nòng súng, hủy từng khẩu pháo.
Tôi nhìn cách phá súng của họ và học lóm được cách tháo ống thủy điều cho chất nước đỏ chảy ra, nòng súng thụt xuống không sử dụng được.
Chừng nửa giờ sau thì quận đường Nhơn-Cơ trống trơn.
Tôi cho lệnh đốt quận đường rồi giựt mìn phá hủy cái cống bắc ngang suối Nhơn-Cơ.
Sau đó tôi cho quân rút lên đỉnh dốc giữa đường Nhơn-Cơ, Gia-Nghĩa.
Nửa tiểu đoàn quây quanh khu vườn rộng sau cái miếu Thổ Ðịa nơi đầu dốc. Hai khẩu 105 ly biên phòng hướng về phía Tây sẵn sàng đạn chống tank.
Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.
Kỳ 3
Người dân tộc Jarai gọi Pleiku là Trà-Ku.
Tôi ở Pleiku lâu rồi, tuy không nói được tiếng Jarai nhưng nghe biết nhiều tiếng thường dùng của họ.
Khi nhắc tới Trà-Ku, không ai cố ý khơi chuyện buồn. Nhưng bỗng nhiên thầy trò chúng tôi cùng ngước nhìn nhau, rồi cùng nhìn về phương Bắc, rưng rưng…
Hướng Nhơn-Cơ có chạm súng, vì ở cuối gió nên tôi nghe rõ tiếng đạn đại liên, đạn đại bác, và đạn súng cối nổ đì đùng.
Trên máy truyền tin có giọng Thiếu tá Khánh, Chi khu trưởng Chi khu Nhơn-Cơ và Thiếu tá Mẫn, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân gọi nhau. Thiếu tá Mẫn báo cáo với bộ chỉ huy liên đoàn rằng Cộng Quân đang tấn công vào khu xưởng cưa cách quận đường Nhơn-Cơ hai trăm mét về hướng Ðông.
Hai khẩu đại bác 105 ly Biên phòng của tôi phải trở ngược nòng về hướng Ðông, yểm trợ cho Thiếu tá Mẫn suốt đêm.
Sáng hôm sau có nhiều phi tuần A37 đánh tiếp cận cho quận Nhơn-Cơ.
Cuộc giao tranh có vẻ kéo dài cầm chừng cho tới trưa 19 tháng Ba.
Trong khi đó thì tình hình vùng tôi chịu trách nhiệm cũng có nhiều chỉ dấu đang biến chuyển. Nửa đêm về sáng chúng tôi thấy nhiều đốm lửa di động vùng Nam Kiến-Ðức, có cả tiếng động cơ.
Những toán chống tank đã được gởi đi nằm phục trong rừng.
Ở đây, tôi không ngán tank Việt-Cộng một chút nào, vì tôi đã trấn giữ cái đồn này gần nửa năm.
Tôi đã nghiên cứu, thám sát và nắm chắc địa hình vùng này.
Chỉ có hai hướng xe tank có thể áp sát đồn Kiến-Ðức. Cả hai ngả đều có bãi mìn chống tank của tôi. Mỗi bãi chôn bốn mươi quả mìn đĩa. Mỗi quả mìn đĩa được kèm theo một đầu đạn 105 ly.
Quan trọng nhất là việc bảo vệ bãi mìn. Bãi mìn không người bảo vệ coi như vứt đi, vô dụng.
Kinh nghiệm trong quá khứ, tháng 8 năm 1973 khi nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) vùng Ðông căn cứ Plei Djereng tôi đã thấy xe tank địch chạy phoong phoong trên bãi mìn của Quân Ðoàn II đặt gần Plei De Chi hướng Tây Pleiku mà chẳng nghe mìn nổ. Công Binh của Quân Ðoàn II đã bỏ công sức hàng tháng trời để thiết lập bãi mìn chống tank này. Vậy mà sau đó nó bị bỏ thí, không người canh gác.
Công Binh Việt-Cộng chỉ cần hai hàng bangalore là mở được một hành lang rộng cho tank đi qua.
Ở Kiến-Ðức, mỗi bãi mìn chống tank của tôi, khi hữu sự, được bảo vệ bằng một đại đội Biệt Ðộng Quân. Ðại đội này không có nhiệm vụ đánh tank mà đánh những tên cán binh Cộng-Sản đi dò, dọn đường cho tank.
Sáng 20 tháng Ba năm 1975, Trung tá Liên đoàn trưởng ra lệnh cho tôi bứt những cái chốt của Việt-Cộng trên Tỉnh lộ 344 để link-up (bắt tay) với một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng. Ðại đội này đang trấn giữ một ngọn đồi bên cái cống xi măng trên tỉnh lộ.
Tôi thu Ðại Ðội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy từ hướng Bắc về hợp lực với một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân tăng phái để giữ đồn Kiến-Ðức. Ðại Ðội 4/82 giữ đồi Tây, Ðại Ðội của Tiểu Ðoàn 63 phòng thủ ngọn đồi chính và chốt giữ cầu Dak Blao.
Tôi dặn dò Ðại úy Tiểu đoàn phó về sự quan trọng của hai bãi mìn chống tank. Bất cứ giá nào cũng phải giữ. Vì nếu tôi đang đánh nhau ở phía trước, mà bị tank địch tập kích từ đằng sau thì không tài nào trở tay.
Ðại úy Hoàn chần chừ một lúc rồi gãi đầu xin tôi cho đi nhổ chốt,
– Thái Sơn cho tôi đi khai thông con đường có được không?
Quả thực, từ xưa tới nay, từ đại đội tới tiểu đoàn, tôi chưa bao giờ sử dụng người phụ tá của mình làm nỗ lực chính bao giờ.
Nhiệm vụ của những ông phó cho tôi là yểm trợ cho tôi, và sẵn sàng thay thế tôi, nếu tôi nằm xuống.
Ðại úy Ngũ Văn Hoàn đã phục vụ dưới quyền tôi gần nửa năm. Ông chỉ thuần túy làm công việc yểm trợ chứ không bị tôi đưa lên tuyến đầu lần nào.
Thấy tôi ngần ngừ, ông ta nài nỉ,
– Giữ đồn nặng hơn bứt chốt. Thái Sơn cho tôi đi bứt chốt đi!
Nghe ông Hoàn nói có lý, tôi gọi hai đại đội trưởng trách nhiệm nhổ chốt là Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) và Trung úy Ðăng (ÐÐ 2/82) lên dặn dò, chỉ bảo họ đường đi, nước bước, cách đánh nào thích hợp nhứt trong tình huống này.
Bộ chỉ huy nhẹ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của Hoàng Long cùng hai đại đội tác chiến lên đường lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng Ba. (Hoàng Long là danh hiệu truyền tin của Đại úy Ngũ Văn Hoàn)
Trong khi tôi đang theo dõi diễn tiến hành binh của Ðại úy Hoàn thì tổ báo động hướng Bù-Binh báo cáo có tiếng xe tank địch.
Ðể tiện quan sát, tôi cùng toán hộ tống leo lên đỉnh đồi Tây, nơi Thiếu úy Phạm Văn Thủy (ÐÐT/ÐÐ 4/82) trấn giữ.
Từ đỉnh đồi, tôi có thể quan sát tới khúc quanh nơi cái cống sập cách Kiến-Ðức gần hai cây số về hướng Nam.
Khẩu SKZ 57 ly của tiểu đoàn lúc nào cũng sẵn sàng trên đỉnh đồi Tây. Ống nhắm của khẩu súng đã điều chỉnh chính xác ngay cái cống sập. Nếu SKZ bắn hụt thì tổ chống tank núp sẵn trên triền đồi sẽ làm nhiệm vụ tiếp tay.
Khi thằng Thọ (B2 Thọ nấu cơm) trao ly cà phê cho tôi vừa trở gót xuống đồi thì tiếng 12.7 ly nổ rền hướng Nhơn-Cơ.
Lúc đó là giữa trưa. Máy truyền tin các cánh quân của Ðại úy Tiểu đoàn phó gọi nhau cuống quýt.
Tôi nghe Delta và An Bình báo cáo đang chạm địch nặng. Delta đang bị đại liên địch dồn xuống khe suối bên trái đường lộ.
Delta yêu cầu An Bình giữ an ninh bên phải giùm anh ta để anh ta rút về con dốc đầu chữ “S”.
Tôi không nghe tiếng Hoàng Long trên máy.
Tôi vào máy hỏi Delta và An Bình sao không nghe Hoàng Long, thì hai anh đều không rõ ông Ðại úy Tiểu đoàn phó ở chỗ nào.
Tình hình có vẻ nghiêm trọng. Tôi giao cho Thiếu úy Thủy lo vụ chống tank rồi tụt xuống đồi.
Nhảy lên chiếc xe Jeep, tôi phóng nhanh tới cái nút chặn hướng Ðông của Ðại Ðội 1/82. Từ đây tôi và toán cận vệ chạy bộ lên chỗ Ðại Ðội 3/82 và Ðại Ðội 2/82 đang chạm địch.
Quân của Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) đang nằm trong rừng, bên phải lộ. Phước chiếm được ngọn đồi cao, nằm dài theo hướng Ðông Tây.
Còn Trung úy Ðăng ở bên trái con đường. Ðại liên Việt-Cộng từ hai hướng Nam Bắc con lộ đang bắn tới tấp vào bên trái dốc chữ “S” nơi đơn vị của Trung úy Ðăng bị sa lầy.
Ðại đội của Trung úy Ðăng đang kẹt trong rừng khọt (cây dầu rái) lơ lửng giữa con suối và con đường.
Tôi cho pháo binh và cối 81 ly bắn cản trước mặt đại đội của Trung úy Ðăng để đơn vị của anh bò từ từ lên cao, bắt tay với Ðại Ðội 3/82.
Khi Ðại Ðội 2/82 bắt tay được Ðại Ðội 3/82, tôi ra lệnh cho hai đại đội quây tròn trên đỉnh đồi bên phải tỉnh lộ.
Tôi sử dụng pháo từ Kiến-Ðức bắn ngay mặt lộ để ngăn địch truy kích. Nhưng tiếng súng của địch đã êm. Như thế là chúng không chủ tâm giao chiến, hoặc chúng chưa có lệnh giao chiến với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.
Chỉ nhìn thoáng qua trận địa, tôi đã hiểu ngay chủ đích của địch là nhử quân ta tiến sát khu chữ “S” rồi chúng dùng hai khẩu 12.7 ly kềm chân quân ta. Sau đó bộ binh địch bao vây chia cắt hậu quân của ta.
Bao vây chia cắt là chiến thuật cổ điển, nhưng rất hữu hiệu khi chặn đánh một đoàn quân đang khai lộ.
Trung úy Ðăng báo cáo với tôi rằng khi đơn vị anh còn cách cái xác của Thượng sĩ Ngon chừng một trăm thước thì đại liên địch khai hoả. Ðại úy Tiểu đoàn phó hăng hái xông lên với trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82.
Ông Hoàn nói với Ðăng,
– Kỳ này mình lấy cây 12.7 ly về cho Thái Sơn giải buồn!
Nhưng chỉ năm phút sau, từ con suối bên trái trục tiến quân, địch vừa bắn vừa ào ạt xung phong lên cắt đơn vị anh thành ba phần. Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức và trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82 bị mất liên lạc; ông tiểu đoàn phó đã đi theo đoàn quân của ông chuẩn úy này.
Xế trưa, tôi cho quân cuốn chiếu, rút lui từ từ về hướng Kiến-Ðức.
Chiều đó chúng tôi bắt tay được tiếp điểm Ðông của Ðại Ðội 1/82.
Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày tôi nghe tiếng Hoàng Long trong tần số nội bộ của Delta. Ông tiểu đoàn phó nói rất nhỏ, có lẽ ông ta đang bị địch bám sát.
– Tôi đi với đứa con đầu của thằng Delta. Tôi bị đánh bọc hậu mất liên lạc với đằng sau. Hiện tôi ở trên triền một ngọn đồi hướng Bắc con đường, nhưng không xác định được tọa độ. Chúng nó (Việt-Cộng) đang đuổi theo tôi.
– Rồi! Bình tĩnh! Anh còn bao nhiêu người cho tôi biết đi?
– Tôi còn sáu chục người!
– Sáu chục thì đủ mạnh để đánh mở đường về với tôi rồi. Cứ hướng bốn nghìn tám trăm mà phóng đi! Càng nhanh càng tốt! Giữ liên lạc với tôi!
Có tiếng bấm ống nghe “xẹt! xẹt!” rồi tiếng Hoàng Long thì thào,
– Thái Sơn ơi! Tôi còn có sáu người thôi! Tôi ngụy thoại thành sáu chục đó (!) Tôi với năm thằng lính của Delta là sáu. Tụi tôi bị chúng nó (Việt-Cộng) cắt ngang từ phút đầu. Cái máy truyền tin này là của trung đội đầu của thằng 2!
Thực là dở khóc, dở cười. Tuy vậy tôi cũng an tâm là ông Hoàn vẫn còn sống. Tôi ôn tồn,
– Thôi được rồi! Bây giờ làm theo tôi chỉ. Ði thẳng hướng sáu nghìn tư cho tới con suối hướng Bắc ngọn đồi anh đang đứng. Sau đó quẹo trái, ngược dòng con suối, đi riết về hướng Tây. Hết suối là về tới chỗ tôi. Làm ngay đi!
– Tôi nghe 5! Thái Sơn nhớ báo cho tụi thằng Hồng Hà (Thiếu úy Học) tránh ngộ nhận tôi đó nhe!
– Ừ! Thôi! Lẹ lên!
Từ đồn Kiến-Ðức, Thiếu úy Thủy báo cáo rằng, nơi cái cống sập, chiếc tank từ hướng Bù-Binh bò lên đã hiện nguyên hình là cái máy cày cài cành lá ngụy trang. Ba tên cán binh Việt-Cộng trên xe, đã vứt xe, nhảy xuống đường định chạy thoát thân khi trái hỏa tiễn XM202 xé nát đầu chiếc máy cày.
Hai băng M16 đốn ngã 3 tên giặc. Ba khẩu AK 47 và một khẩu phòng không 12.7 ly cháy theo chiếc xe tank dỏm.
Chiếc xe máy cày bị bắn cháy đã trở thành chướng ngại vật cản trở xe tank nằm giữa đường Bù-Binh, Kiến-Ðức.
Gần tối hôm đó Ðại úy Tiểu đoàn phó và năm người lính theo ông về tới tiền đồn Bắc của Ðại Ðội 1/82.
Trước đó vài phút, trung đội của Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức chui ra khỏi rừng hướng Nam con lộ và liên lạc được toán tiếp đón của Ðại Ðội 1/82.
Người mang máy PRC 25 cho Ðại úy Hoàn có mặt trong trung đội của Chuẩn úy Ðức. Cái máy truyền tin của ông tiểu đoàn phó đã bị bắn bể từ phút đầu tiên.
Tính tới 5 giờ chiều, Ðại Ðội 2/82 còn thiếu 14 người.
Ðêm xuống, sương mù dày đặc, trăng thượng tuần có cũng như không. Các tiền đồn không dám gài mìn bẫy vì sợ quân bạn thất lạc trở về vướng bẫy.
Gần sáng, Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi bỏ Kiến-Ðức, tìm mọi cách rút về Nhơn-Cơ.
Sáng 21 tháng Ba năm 1975, tôi chuẩn bị đánh một trận nhổ chốt thần tốc.
Tôi xin pháo binh của tiểu khu một hỏa tập thu gọn trong ô vuông mỗi chiều một cây số từ đầu tới cuối khúc đường chữ “S”.
Pháo 105 ly Nhơn-Cơ bắn không ngừng từ khi tôi xuất quân, và chỉ được phép chấm dứt khi tôi yêu cầu.
Về phần Trung Ðội Pháo Binh Biên Phòng Biệt Ðộng Quân ở Kiến-Ðức thì 500 quả đạn nổ 105 ly được chất lên xe. Hai khẩu đại bác được hai toán Biệt Ðộng Quân đẩy bằng tay di chuyển trên hai bên bìa đường.
Tôi cho đại bác trực xạ ngay sát mép rừng hướng trước mặt. Quả đạn sau nổ chỉ cách quả đạn trước hai chục thước.
“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” ra khỏi nòng một, hai giây là đạn nổ.
Khẩu súng bên trái bắn vào rừng bên phải; khẩu bên phải bắn vào rừng bên trái.
Sở dĩ phải bắn như thế vì bắn mục tiêu ở bên lề đường đối diện dễ hơn bắn mục tiêu cùng phía với súng.
Cứ thế, “Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” hai họng đại bác thay nhau tiến lên, bắn liên tục.
Ðàng sau lưng tôi là khẩu 81 ly của tiểu đoàn và bốn khẩu 60 ly của các đại đội.
Tôi cho cối 81 ly bắn đạn thời nổ chậm (delay) trong khi cối 60 ly bắn đạn chạm nổ.
Tầm bắn di động từ gần ra xa dần theo hướng tiến quân. Sau mỗi đợt pháo, tầm xa lại hạ xuống một vòng tay quay.
Vòng tay quay nằm bên phải nòng súng, dùng để điều chỉnh tầm xa của điểm đạn sẽ rơi. Tầm đạn rơi gần nhất là khi nòng súng được đặt ở độ dốc 90 độ so với mặt đất, và được bắn không có thuốc bồi, còn gọi là thuốc bồi KHÔNG.
Ðặt nòng súng với góc 45 độ so với mặt đất, và đuôi đạn được gắn 4 vỉ thuốc bồi thì đạn sẽ rơi trên mục tiêu xa nhất.
Tiếng cối depart “kinh! kinh!” –”kinh! kinh!” liên hồi kỳ trận, âm vang dội trong khe núi.
Mưa đạn cối đang rơi hai bên đoạn đường ngắn ngủi hơn một cây số rừng rậm.
Thêm vào đấy là tiếng đại liên, trung liên, M79, lựu đạn, và tiếng quân ta reo hò, la hét. Khói và bụi cuồn cuộn trước mặt.
Biệt Ðộng Quân hàng ngang trong rừng, song song với hai khẩu đại bác ngoài đường.
Những người lính miệng hô “Biệt Ðộng! Sát!” vừa bước tới, vừa bóp cò.
Quân đằng trước vừa hết đạn thì dừng lại, thay băng đạn mới; quân đằng sau lên thay, tiếp tục vừa bắn vừa tiến.
Người thì thay phiên nhau bắn, nhưng đạn không ngừng nổ rền trời.
Theo thế sâu đo, Biệt Ðộng Quân tiến ào ào, khí thế như nước vỡ bờ.
Ðây là một trận đánh chớp nhoáng nhưng lại rất thảnh thơi, thoải mái, lớp lang.
Mỗi cánh quân hai bên đường có sáu toán an ninh cạnh sườn. Sáu toán trang bị mìn Claymore và M79 bắn đạn chài, đạn nổ, làm nhiệm vụ chống bao vây chia cắt. Gặp đường mòn, triền dốc, những toán này dừng lại gài mìn bố trí chờ.
Ra quân lần này tôi đã tận dụng tất cả hỏa lực có trong tay đánh phủ đầu không cho địch kịp ngóc lên thở. Khẩu 12.7 ly của Việt-Cộng bên hướng Nam con lộ chỉ bắn được vài viên là câm họng.
Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.
Kỳ 2
Nhớ lại lần đầu, 6 năm trước, tôi và người bạn cùng đơn vị đi đón em gái anh ta lúc học sinh Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột tan trường. Sau đó mẹ tôi từ Hội-An vào gặp bố mẹ cô ta; mẹ tôi xin cô ta về làm dâu họ Vương. Bây giờ nàng đang bị kẹt trong vùng đạn lửa, một nách ba đứa con thơ, lại thêm bụng mang dạ chửa. Tôi ngồi thừ người trước cửa hầm trú ẩn của tiểu đoàn trưởng. Tôi không cảm thấy cái lạnh của sương đêm. Trời sáng lúc nào tôi không hay.
Vừng dương bắt đầu le lói. Lại thêm một ngày.
Bên tôi là những cây hoa móng tay.
Mấy ngày rồi không ai tưới, hoa lá đã vàng vọt úa màu.
Bên những cây hoa này, hai đứa con gái tôi đã đứng chụp hình. Con tôi cũng chỉ xấp xỉ cao cỡ những cây hoa đó.
Sau Noẽl 1974 tôi đã đón vợ tôi và hai đứa con gái lớn lên tiền đồn này chơi vài ngày. Hai đứa bé suốt ngày chỉ quanh quẩn bên những cây hoa móng tay.
Chợt những bông hoa móng tay trước mắt tôi như mờ dần đi. Một giọt nước mắt nóng rơi trên mu bàn tay. Ðầu óc tôi phừng phừng.
Hai bàn tay tôi xoắn vào nhau, giày vò lẫn nhau. Tôi muốn đập phá, la hét, kêu gào để trút bỏ niềm đau đớn, phẫn uất đang nung nấu tâm can.
Nước mắt cứ tiếp tục lăn trên má, qua môi, xuống miệng.
Tôi oán trách ông Trời; tôi oán trách Ðại tá Tất; tôi oán trách Tướng Tường; tôi oán trách Trung tá Dậu; tôi tự oán trách tôi.
Chuẩn úy Lê Văn Phước (Ban 3) len lén đến bên tôi. Phước đưa cho tôi cái khăn bông ướt,
– Bình tĩnh lại Thiếu tá! Ðài BBC nói Ban Mê Thuột thất thủ rồi! Ðánh nhau nhanh như vậy chắc là ít người chết. Nhà hai bác ở xa khu quân sự, hy vọng chị và các cháu không hề hấn gì.
Cái khăn ướt làm mặt tôi bớt nóng. Tôi đứng lên bước hững hờ xuống khu pháo binh cũ, hướng Bắc của bộ chỉ huy tiểu đoàn.
Từ đây tôi có thể nhìn thấy một vùng rừng rậm xanh rì trải dài về hướng chân trời.
Xa lắm, nơi chân mây hướng Ðông Bắc là Ban Mê Thuột, nơi đó có gia đình tôi, gia đình của những người lính Kinh, Thượng, Jarai, Rhadé, Bana dưới quyền tôi.
Hai ngày dài buồn thảm nối tiếp trôi qua, tôi không nghe được tin tức gì của Ban Mê Thuột.
Chiều 15 tháng Ba dân chúng từ buôn Bù-Binh hướng Nam, nối đuôi nhau đi về Ngã Ba Kiến-Ðức. Gùi sau lưng, con trước ngực, họ từng đoàn lếch thếch qua mặt đồn tôi đóng, để về Nhơn-Cơ.
Không rõ vì lý do gì, gần tối đoàn người dội ngược trở lại. Tôi cho đám dân tị nạn này tạm nghỉ qua đêm trong cái nhà tranh Câu Lạc Bộ của tiểu đoàn, sát chân đồi, bên lề đường.
Sáng sớm 16 tháng Ba, trung đội tuần đường của Ðại Ðội 1/82 vừa tới đầu khúc cua chữ “S” cách Kiến-Ðức hơn ba cây số thì đại liên 12.7 ly “choang choác!” nổ giòn.
Ông Thượng sĩ Y Ngon Near bị phòng không bắn chết nơi đầu dốc. Trung đội tuần đường tháo chạy ngược về hướng Kiến- Ðức.
Từ giờ này Tỉnh Lộ 344 đoạn Kiến-Ðức, Nhơn-Cơ bị cắt.
Xác ông tiểu đội trưởng Y Ngon Near bị bỏ rơi nằm chình ình giữa lộ.
Ngay lúc đó, pháo địch từ hướng Tây Bắc nã khoảng gần 100 viên đại bác 105 ly trên đồi Kiến-Ðức.
Lúc đạn địch rơi, tôi đang thăm khu dân tị nạn để hỏi han họ lý do tại sao họ không về Nhơn-Cơ chiều hôm trước.
Bây giờ thì rõ ràng rồi: địch chặn đường!
Lúc này, Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân báo cáo rằng chiến xa địch đang từ hướng Phước-Long tiến về Bù-Binh, nơi ông đang đóng quân. Liên đoàn cho lệnh ông Mẫn rút về với tôi.
Tối đó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân được tôi chia cho phần nhiệm vụ phòng thủ mặt Ðông của Ngã Ba Kiến-Ðức, án ngữ hướng về Nhơn-Cơ.
Ðêm 16 tháng Ba năm 1975, Trung tá Liên đoàn trưởng ra lệnh cho Thiếu tá Mẫn nỗ lực vượt qua nút chặn của Cộng Quân để về phòng thủ quận Nhơn-Cơ.
Suốt ngày 17 tháng Ba năm 1975, đạn 12.7 ly nổ rền trời nơi khúc quanh có xác Thượng sĩ Ngon. Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân không tiến được bước nào.
Ðêm xuống, con cáo già Khóa 2 Ðồng-Ðế là Hoàng Ðình Mẫn cho đơn vị chui lòn trong rừng, đánh một vòng rộng về hướng Nam, xa hẳn vùng Việt-Cộng đóng chốt để tìm đường vào phi trường Nhơn-Cơ.
Ông Mẫn đã khôn khéo tránh né đụng độ, và đã hoàn thành nhiệm vụ bắt tay được Thiếu tá Khánh, Quận trưởng Kiến-Ðức ở Căn Cứ Nhơn-Cơ buổi sáng ngày hôm sau.
Mờ sáng 18 tháng Ba năm 1975, súng cối 82 ly của địch từ hướng Tây lại tái pháo kích vào Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Từ tuần lễ nay, đồi Bù-Row bỏ ngỏ. Ðịch đã quay lại chiếm lĩnh cao điểm này. Từ đây, DKZ 75 của chúng liên tục đánh phá khu trung tâm đồi chỉ huy của tiểu đoàn. Thêm vào đó, đạn đại bác 105 ly từ đằng xa phía Bắc, nã không ngừng trên nửa ngọn đồi hướng Bắc, nơi những ụ súng pháo binh đã bỏ hoang từ khi pháo đội 105 ly của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh rút đi.
“Oành! Oành! Oành!”
Ðạn 75 ly theo nhau tóe lửa trên lô cốt Ðông và khu vực quanh cái cây khô cao nghệu giữa đỉnh đồi.
Cây cổ thụ này cao lắm, đứng xa cả cây số mà người ta còn nhìn thấy nó. Nó tồn tại từ khi cơ ngơi của Chi Khu Kiến-Ðức mới được xây dựng lên. Chiến trận nổ ra thì nó trở thành cái mốc cho địch quân điều chỉnh pháo.
Ngày mới tới đây tôi đã có ý định hạ nó xuống, nhưng bận rộn hết việc này tới việc khác, tôi đã quên đi.
Hầm chỉ huy của tôi có hai mái bằng bao cát, lớp trên đã bị bắn sập, đất cát đang tuôn ào ào vào các lỗ châu mai.
Tôi quyết định tụt xuống ngã ba Quốc lộ 14, tạm trú trong cái hầm nhỏ khoét sâu vào vách núi bên Tỉnh lộ 344.
Vừa phóng nhanh ra cửa, tôi vừa ngoắc tay ra dấu cho hai người lính đang ngồi gác đôi,
– Xuống đường!
Như cái máy, Binh nhì Ðức Xì Ke ào lên án ngữ cái cầu thang, còn Binh nhì Ba Rỗ thì kè sát sau lưng tôi, rồi lấy cái thân to lớn của nó che chở cho tôi rời khu chỉ huy sở của tiểu đoàn.
Xuống tới đường, tôi lập tức hạ lệnh cho toán đầu bếp của Câu Lạc Bộ,
– Kéo cổng Ðông! Gài Claymore!
Hiện thời địch đã chiếm lĩnh vùng đồi thấp giữa Nhơn Cơ và Kiến Ðức. Hướng Ðông lại là khu vực tôi dàn quân mỏng nhất. Cấp thời chỉ có cách gài thêm mìn và huy động nhân viên Câu Lạc Bộ tăng cường phòng thủ với tiểu đội cận vệ.
“Xèo! Oành!”-“Xèo! Oành!”
Nghe tiếng rít của đạn bay, tôi lấy làm lạ, vội giơ tay bịt lỗ tai rồi buột miệng,
– Ủa! 122 ly?
Kinh nghiệm cho tôi biết, xưa nay địch chưa bao giờ dùng hỏa tiễn 122 ly hay 107 ly để đánh phá các mục tiêu có diện tích hẹp như các tiền đồn hay căn cứ hỏa lực.
Vậy mà giờ này, trước mắt tôi đúng là 122ly! Không sai!
Trái hỏa tiễn thứ nhất và thứ nhì đã bay ngang qua đầu tôi, rồi rơi trong rừng cây hướng Nam.
“Xèo! Oành!”
Trái thứ ba rơi ngắn hơn, nên cắm trên mặt Tỉnh lộ 344, tóe lửa, khiến cho đất, đá bay rào rào!
Một mảnh hỏa tiễn chém đứt lìa cái cột chính của Câu Lạc Bộ, làm cho mái tranh sụm xuống.
Kế đó, cách tôi chừng hai thước, Binh nhì Ðức Xì Ke đang ôm ngực, đầu chúi về phía trước rồi nằm giãy đành đạch trên mặt lộ.
– Thiếu tá ơi! Thiếu tá ơi…
Tôi chưa nghe trọn tiếng kêu từ miệng thằng em thì nó đã chết rồi!
Binh nhì Ðức Xì Ke là một tân binh vừa hết bệnh nghiền sau một tuần nằm trong chuồng cọp. Hết bệnh chích choác, Ðức Xì Ke được tôi cho về tiểu đội cận vệ trám chỗ của thằng Thon chết trận Ðạo Trung. Vậy mà chưa được bao lâu, thằng Ðức Xì Ke đã sớm đi theo thằng Thon…
Lúc này từ khu gia binh bỗng có nhiều tiếng trẻ con đua nhau khóc ré lên thật thảm thiết. Tôi vội chạy lại coi có gì xảy ra không thì một chị vợ lính chui ra đường nắm áo tôi khiếu nại,
– Thiếu tá ơi! Hầm trú của tụi em bị mấy người Thượng chiếm chỗ rồi! Tụi em và mấy cháu không biết chạy đi đâu mà núp pháo kích!
Tôi hỏi,
– Có ai bị thương không?
– Dạ không!
Tôi thở ra, rồi la lớn,
– Thôi! Nếu hầm trú ẩn đã bị dân chúng chiếm, thì tất cả mọi người chỉ còn cách nằm úp mặt xuống sát đất tránh pháo. Chắc cũng không lâu nữa thì yên! Ráng chịu đựng đêm nay, mai tôi sẽ xin trực thăng chở gia đình các chị và các cháu ra Gia- Nghĩa.
Lúc này pháo của địch vẫn tiếp tục rơi trên đồi chỉ huy, nhưng không thấy thêm trái 122 ly nào cả.
Sáng nay tôi không cho lệnh phản pháo tức thời như vẫn làm thường lệ khi bị địch pháo kích. Tôi cùng toán hộ tống chạy thẳng lên đỉnh ngọn đồi hướng Tây do Ðại Ðội 2/82 trấn giữ. Từ đây tôi có thể chấm chính xác 3 vị trí cối 82 ly và nơi phụt khói 75 ly của địch. Tôi cho trung đội Pháo Binh Biên-Phòng đang ở với tôi và Pháo Binh Diện Ðịa Nhơn- Cơ mười phút để lột vỏ 400 quả đạn và chuẩn bị yếu tố tác xạ trên bốn vị trí tôi đã chấm.
Ðại Ðội 2/82 được lệnh di chuyển tiến đánh hai khẩu cối 82 ly đặt gần, ngay sau lưng một ngọn đồi trọc hướng Tây.
Ðại Ðội 2/82 đang thiếu đại đội trưởng. Trước Tết Dương Lịch, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/82 là Trung úy Võ Hữu Danh, khóa 25 Võ Bị, khai bệnh sốt rét, phải đi nằm nhà thương, nên Ðại Ðội 2/82 tạm thời do Chuẩn úy Gấm cầm đầu.
Trung úy Trần Văn Ðăng, Sĩ quan Tiếp liệu của tiểu đoàn xin tôi cho anh chỉ huy Ðại Ðội 2/82 trong lần ra quân này.
Tôi ái ngại,
– Chú nghĩ sao mà xin đi đánh cú này?
Ðăng nghẹn ngào,
– Vợ con em ở hậu cứ. Hậu cứ mất rồi. Em còn gì đâu? Thiếu tá cho em trở lại đại đội cho quên chuyện gia đình.
Tôi tần ngần,
– Ừ! Cậu đã muốn thế thì tôi cũng okay! Thôi đi đi!
Tôi đứng trên đồi nhìn theo bóng dáng cao gầy của Ðăng đang lẫn vào rặng cây xanh.
Hồi 1969-1970, khi tôi còn làm Ban 2 và Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân thì Chuẩn úy Trần Văn Ðăng là Trung đội trưởng ở Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân dưới quyền một anh bạn cùng khóa của tôi.
Khi tôi nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thì Ðăng đang là Trung úy Ðại đội trưởng của Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Ngày đó anh có gặp và xin tôi nhận anh về làm việc với tôi, tôi từ chối vì đơn vị tôi đã đủ sĩ quan đại đội trưởng.
Sau đó Trung úy Ðăng bị thương, đứt một khúc ruột, chờ ra Hội đồng Y khoa để chuyển sang bộ binh, làm Thương Binh Loại 2 Yểm trợ.
Ðăng lại gặp tôi và tình nguyện làm sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn cho tôi để anh còn được tiếp tục ở lại phục vụ binh chủng Biệt Ðộng Quân. Lần này tôi chấp thuận.
Ðăng xin xuất viện về làm việc dưới quyền tôi đã được gần một năm.
Khi cánh quân của Ðại Ðội 2/82 báo cáo còn cách mục tiêu gần hai trăm mét thì tôi cho lệnh pháo binh khai hỏa. Ðạn đi! Mỗi mục tiêu một trăm quả hỗn tạp.
Và chỉ năm phút sau khi đạn rơi, tiếng M16 nổ rộ như pháo ran, chêm vào là những tiếng M 79. Khói súng và bụi che mờ một nửa ngọn đồi.
Thoáng chốc, hai khẩu cối 82 ly đã đổi chủ, từ Trung Ðoàn E271/ T10 của Quân Khu 6/ Cộng-Sản Bắc Việt sang Ðại Ðội 2/Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Tôi chợt nghe AK và đại liên nổ rền trong thung lũng.
Tôi hỏi Ðăng,
– Ê! Delta! ngoài tiếng AK còn tiếng đại liên. Ðại liên của cậu hay của địch vậy?
(Danh hiệu truyền tin của Trung úy Ðăng là Delta.)
– Của tụi nó đó Thái Sơn! Em đâu có đem theo M 60!
Tôi cho lệnh Ðại Ðội 2/82 rút lui,
– Delta đây Thái Sơn! Cuốn gói! Ðừng về đường cũ! Hãy theo hướng ba ngàn hai trăm! Tôi với thằng An Bình đón cậu trên đường. Tôi lặp lại! Ba ngàn hai trăm! Nghe rõ chưa?
– Ba ngàn hai! Nhận 5!
Nếu trở về đường cũ thì Ðại Ðội 2/82 sẽ phải qua một cái thung lũng, và hai khẩu đại liên địch không để cho họ dễ dàng rút về an toàn trên đoạn đường gần 2 cây số rừng lau.
Ðại liên địch cứ nổ giòn, đạn lửa đan chéo nhau trong thung lũng. Tôi nghĩ địch bắn hoảng, bắn tiều, chứ chúng chẳng rõ Biệt Ðộng Quân đang ở chỗ nào!
Tôi chấm vị trí hai khẩu đại liên địch và giao cho Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Tiểu đoàn phó. Ông Hoàn và Thượng sĩ Năng, trưởng khẩu 81 ly sẽ rót cối vào đầu chúng!
Từ hướng Bắc, đạn đại bác 105 ly địch lại rơi tới tấp trên đồi chỉ huy của tiểu đoàn.
Với đại bác 105 ly thì vô phương! 105 ly của khối Cộng đã bắn dài hơn 105 ly của ta, mà súng của ta lại đặt sau hậu quân. Hai khẩu đại bác 155 ly của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tăng cường cho tôi đã bị Tiểu Khu Quảng-Ðức đòi lại từ hai tuần lễ trước.
Hiện thời, không súng nào của tôi với tới được vị trí súng của chúng.
Thôi! Cứ để cho nó tác oai tác quái, chưa hề hấn gì!
Nửa giờ sau tôi và An Bình (An Bình là danh xưng của Trung úy Trần Văn Phước) cùng một trung đội thuộc Ðại Ðội 3/82 tiếp xúc được cánh quân đầu của Trung úy Ðăng. Ðại Ðội 2 đã hoàn tất nhiệm vụ mà không bị tổn thất nào. Thẩm quyền Delta là một trong những người đi đoạn hậu của Ðại Ðội 2/82.
Tôi thấy Trung úy Ðăng vừa thở, vừa cười hì hì khi leo lên mặt Quốc lộ 14.
Vừa gặp mặt tôi Ðăng đã oang oang,
– Có ngay hai khẩu 82 ly cho Thái Sơn đây!
Sau lưng Trung úy Ðăng là hai anh lính Thượng đang hì hục vác 2 cái nòng súng cối 82 ly. Hai ông lính Jarai hớn hở khoe,
– Cái ông Thiếu tá ơi! Tụi Việt-Cộng này đánh nhau dở lắm! Chưa chi đã bỏ súng mà chạy! Dở hơn mấy thằng đánh nhau với mình ở Trà-Ku nhiều!
Tôi cười,– Mấy hôm nữa tụi mình lại về Trà-Ku. Mấy chú có nhớ Trà-Ku không?
Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.
Kỳ 1
Giữa tháng 2 năm 1975, tôi lái xe từ đồn Kiến-Ðức, Quảng-Ðức lên thăm Ðại tá Biệt Ðộng Quân Phạm Duy Tất, Tư Lệnh Mặt Trận Kontum tại căn cứ Non Nước, khoảng 10 cây số Bắc Kontum.
Ðêm đó thầy trò tôi nằm bên nhau, hàn huyên tới khuya.
Tôi được Ðại tá Tất cho đọc bản cung từ của một hồi chánh viên Việt-Cộng.
Bản cung từ này do Ðại úy Vũ Quang Dũng của Trung Tâm Thẩm-Vấn/ Phòng 2/ Quân Ðoàn II thiết lập.
Người hồi chánh là một Thượng sĩ Trưởng mũi thám sát của Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt.
Anh ta khai rằng, hai tháng nữa sẽ có một cuộc tấn công đại quy mô của Cộng Quân nhằm giải phóng thị xã Ban Mê Thuột. Anh ta còn kê khai ra những tổn thất của Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt trong trận đánh 33 ngày đêm vây hãm Pleime tháng 7&8 năm 1974. Trận này Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A chủ công đã bị thiệt hại rất nặng, mỗi đại đội chỉ còn khoảng 17, 18 cán binh. Ðơn vị này phải về hậu cứ gần biên giới Việt Miên để bổ sung quân số rồi chuyển vùng hoạt động.
Ðêm đó tôi có nói với Ðại tá Tất rằng,
– Thằng 48 đã bị tôi đánh xiểng liểng hai lần. Kỳ này Tư Lệnh cho tôi về phòng thủ Ban Mê Thuột, tôi sẽ có dịp “cưa” với nó một lần nữa. Ðại tá yên chí! Nếu tôi chưa chết thì Ban Mê Thuột chưa lung lay. Tôi cam đoan với Ðại tá như vậy!
Tôi thực lòng mong muốn được về giữ thành phố này. Vì cha mẹ, vợ con, anh em tôi, và gia đình binh sĩ đơn vị tôi sinh sống ở đây.
Ông Tất cười cười trả lời,
– Cậu đừng lo! Ông Phú đã giao cho ông Tường vụ này rồi!
(Ghi chú: Ông Phú = Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II. Ông Tường = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh)
Tôi cũng được ông Tất cho biết rằng Sư Ðoàn 23 Bộ Binh sẽ án ngữ tại Buôn Blech, có thể dễ dàng di động giữa Ban Mê Thuột và Pleiku.
Tiếp đó Ðại tá Tư Lệnh “bật mí” cho tôi một tin vui: Vài tháng nữa Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi sẽ được tăng cường để có quân số trên 800 người, với một hệ thống ngang 16 máy truyền tin, gồm đủ Trinh Sát, Viễn Thám cùng một đại đội chỉ huy và bốn đại đội tác chiến. Tiểu đoàn tôi sẽ xuất phái khỏi Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân để làm lực lượng xung kích dưới quyền Tư Lệnh Mặt Trận Kontum.
Hôm sau, trước khi từ giã Ðại tá Tất, tôi có đi quanh một vòng thăm Trung tá Lê Tất Biên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân và vài người bạn đang tham gia phòng thủ vùng Bắc Kontum.
Thiếu tá Thi, liên đoàn phó Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân hướng dẫn tôi đi quan sát vị trí bố quân của liên đoàn.
Tôi thấy mặt trận ở đây có vẻ còn yên tĩnh hơn vùng Ngã Ba Tam-Biên-Nam (Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ) mà tôi đang trấn giữ.
Trên đường về Quảng-Ðức, tôi ghé Ban Mê Thuột thăm tiền cứ của tiểu đoàn, rồi về nhà nghỉ với vợ con tôi một đêm.
Buổi sáng ngày kế đó, tôi vào tiệm Phở Tây-Hiên, ăn điểm tâm trước khi lên đường. Lúc tôi sắp lên xe thì người lính già mới giải ngũ Dương Ðức Mai (cựu Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân) xuất hiện giữa phố, giơ tay vẫy,
– Chào người hùng Pleime! Ghé tệ xá cho tôi hỏi thăm đôi lời đi ông Quan Tư!
Tôi và bác Mai là chỗ rất thân tình. Chúng tôi đã nhiều năm làm việc chung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2.
Tôi theo chân bác, vào thăm nhà bác. Nhà bác Mai ở kế hàng rào Sân Vận Ðộng Ban Mê Thuột.
Vào tới sân, cựu Trung tá Dương Ðức Mai, thật nghiêm nghị, hỏi tôi,
– Theo ý cậu, tụi Việt-Cộng có dám đánh Ban Mê Thuột hay không?
Vừa nâng niu những giò lan rực rỡ trên giàn, tôi vừa hùng hồn cam đoan với người chỉ huy cũ.
– Bác cứ yên chí lớn! Ông Tường sẽ bảo vệ Ban Mê Thuột, ông Tất nói vậy, bác đừng lo!
Bác Mai nhìn tôi, dọ dẫm,
– Thế ông gia, bà gia và vợ con cậu không di chuyển đi đâu sao?
Tôi cầm tay bác, trấn an bác,
– Có thể địch sẽ tấn công, nhưng chắc chúng không làm nên sự việc gì đâu. Gia đình tôi còn ở đây, đủ hết, cha mẹ, anh em, vợ con tôi, vợ con binh sĩ tiểu đoàn tôi.
Tới đây thì bác Mai có vẻ yên tâm.
Tối trước, khi thấy bố vợ tôi âu lo vì những tin đồn địch sẽ tấn công, tôi nói với ông cụ rằng, một cặp chỉ huy dày dạn chiến trường Tường & Luật đủ bảo đảm cho sự đứng vững của thành phố nhỏ bé này rồi.
(Ghi chú: Tường&Luật = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh & Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng Darlac).
Nghe tôi mạnh miệng, bố vợ tôi mới hết lo lắng.
Bố vợ tôi cũng là một cựu Trung tá của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh vừa giải ngũ được hơn một năm. Ông cụ và bác Dương Ðức Mai là bạn khá thân.
Sau khi chuyện trò một lúc, tôi bắt tay từ giã người cựu Liên đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Dương Ðức Mai, rồi lên đường.
Vài ngày sau, ở Kiến- Ðức, tôi chợt nhớ ra rằng, bản cung hồi chánh đã cũ, và nếu đúng theo diễn tiến mà anh Thượng sĩ của Trung Ðoàn 48/SÐ 320 A/ Ðiện-Biên đã khai, thì giữa tháng Ba tới, địch sẽ triển khai chiến dịch tấn công Ban Mê Thuột.
Tôi lại nghe tin A 2 phổ biến từ Phòng Nhì/ Quân Ðoàn II thông báo những chỉ dấu chuyển quân của Việt-Cộng từ biên giới Việt Miên về vùng ven căn cứ biên phòng Bản-Don.
Tôi biết rất rõ về Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản Bắc Việt, đơn vị chủ công sẽ đánh Ban-Mê-Thuột.
Tôi tin tưởng rằng đơn vị tôi đủ sức đương đầu với chúng. Trong quá khứ, đơn vị tôi đã hai lần chạm trán với trung đoàn Cộng Sản này ở căn cứ 711 Pleiku (tháng Tư 1974) và ở căn cứ biên phòng Pleime (tháng 7&8 năm 1974).
Mối quan tâm của tôi là, gia đình tôi và đa số gia đình binh sĩ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đều ở Ban Mê Thuột. Tôi vội thảo gấp một cái công điện gởi thẳng cho hai nơi, một cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Biệt Ðộng Quân/ Quân- Khu 2 đang ở Kontum, một cho Bộ Tư Lệnh /Quân Ðoàn II ở Pleiku. Tôi xin thượng cấp cho phép Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được rời Kiến-Ðức, Quảng-Ðức để về phòng thủ Ban Mê Thuột.
Vì đây là điện văn riêng, nên tôi không gởi theo hệ thống dọc qua Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và qua Bộ chỉ huy Tiểu Khu Quảng-Ðức mà chúng tôi đang tăng phái. Nhưng Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân rõ chuyện này, vì tôi có tâm sự với ông, ông rất thông cảm hoàn cảnh của tôi.
Tôi chờ đợi từng ngày. Không ai trả lời bức điện thỉnh cầu của tôi vì nó là một điện văn gửi vượt hệ thống quân giai, hoàn toàn sái nguyên tắc.
Những khi hành quân xa, tôi thường đặt đài tiếp vận để tiện liên lạc với hậu cứ. Những tiểu đoàn bạn, đôi khi cả bộ chỉ huy liên đoàn cũng vào tần số đài này nhờ chuyển tin.
Sáng ngày 9 tháng Ba năm 1975, đài tiếp vận “Tam Quái 82” của tôi đặt trên căn cứ hoả lực Núi Lửa, Ðức-Lập báo cáo rằng địch đang pháo kích vào Chi Khu Ðức-Lập. Tới gần trưa thì chính căn cứ Núi Lửa cũng bị địch pháo kích và tấn công bằng bộ binh.
Xế chiều, tôi nghe anh binh nhì trưởng toán tiếp vận báo cáo bằng bạch văn lời cuối,
– Thiếu tá ơi! Tam Quái chắc tiêu ma đợt này rồi Thiếu tá ơi!”
Sau đó tôi không còn nghe được gì nữa.
Tôi thường gọi mấy anh Biệt Ðộng Quân của Tiểu Ðoàn 82 giữ máy tiếp vận trên đỉnh Núi Lửa là “Tam Quái”. Chỉ vì toán này gồm ba anh lính có tật, một anh cà thọt, một anh điếc, và một anh thong manh. Anh điếc nấu cơm, hai anh kia trực máy truyền tin.
Những năm sau này, quân số thiếu hụt, những người có tật cũng bị bắt đi quân dịch, mà Biệt Ðộng Quân lại thiếu người, nên rất dễ dãi vấn đề tuyển quân. Biệt Ðộng Quân nhận tất cả quân nhân bổ sung từ bất cứ nguồn nhân lực nào.
Chúng tôi được bổ sung quân số từ Trung Tâm Nhập Ngũ Số 3 chuyển qua Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, từ Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ, từ Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, và từ Ðơn Vị 2 Quản Trị Ðịa Phương, Nha-Trang với những người lính vừa mãn án tù, kể cả Lao Công Phục Hồi.
Tôi không chê bất cứ ai trình sự vụ lệnh về phục vụ đơn vị mình. Thong manh, cà thọt, mẻ sứt, kể cả ma túy, xì-ke tôi nhận tuốt! Những quái nhân này ở tiểu đoàn tôi chỉ ít lâu sau đã thành những con người mới. Người nào có việc nấy, tôi cứ áp dụng lời khuyên của người chỉ huy cũ, Trung tá Bùi Văn Sâm:
“Viên đạn nào cũng bắn vào đầu địch. Chỉ cần người lính chịu bóp cò là được rồi. Xấu trai mà dám bóp cò, còn hơn đẹp trai mà ra trận chưa nghe súng nổ, mắt đã láo liên. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn!”
Vì thế mà quân số tiểu đoàn tôi lúc nào cũng đông hơn tiểu đoàn khác.
Lính cà thọt không chạy nhanh được, cho họ làm tiền đồn. Cà thọt đóng chốt thì khỏi lo mất chốt.
Lính thong manh, không canh gác được thì cho trực truyền tin, nấu cơm.
Lính điếc thì cho tải đạn cối 81 ly, cối 60 ly, SKZ 57 ly. Lính điếc mà bắn cối hay SKZ thì nhất! Ðiếc đâu cần bịt lỗ tai!
Xì-ke nghiện ngập cũng dễ chữa thôi! Tôi lúc nào cũng dùng lời khuyến dụ êm ngọt trước, dùng võ lực sau. Anh nào không nghe lời nhỏ nhẹ bỏ nghề chích choác thì tôi mời vào connex nằm chơi. Ngày này qua ngày khác, chỉ có món nước đường do Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Ðại đội trưởng đại đội công vụ tiếp tế. Những ngày đầu thiếu thuốc, dân choác khổ sở, vật vã vô cùng. Dăm ba ngày sau quen dần, quen dần… Người nghiện nặng cách mấy cũng chỉ một tuần là phải từ giã ống chích, kim tiêm, khỏi bịnh!
Theo lời dạy của cổ nhân, “Dụng nhân như dụng mộc”, tôi sắp xếp người của tôi vào công việc phù hợp với họ; trên dưới đề huề, thương nhau.
Những năm sau cùng, không khí sinh hoạt trong đơn vị tôi (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) là thế đấy!
Tin Tam Quái trên Núi Lửa bị mất liên lạc làm cả ban tham mưu tiểu đoàn buồn rầu.
Sáng 10 tháng Ba năm 1975, bộ chỉ huy liên đoàn báo cho tôi biết tin địch đang pháo kích vào tiền cứ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ở Ban Mê Thuột. Tiền cứ này nằm sát trại Thiết-Giáp trên đường đi Bản-Ðôn. Người chỉ huy tiền cứ của liên đoàn là Thiếu tá Lê Ðình Hồng đã bị thương nặng.
Hậu trạm của tiểu đoàn tôi ở Ban Mê Thuột cũng có mặt sáu người là, Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Chuẩn úy Lê Hữu Ðức, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước, Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Lao công Phan Thành Hoàng, và ông Tàu Hỷ chủ Câu Lạc Bộ. Không rõ tình trạng của các ông này ra sao?
Tới trưa thì có tin chiến xa Việt-Cộng nối đuôi nhau chạy rầm rầm giữa trung tâm thị xã. Mọi cuộc đàm thoại vô tuyến bị đứt đoạn vì không có đài tiếp vận.
Liên lạc giữa Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân từ Gia-Nghĩa với tiền cứ Ban Mê Thuột bằng các hệ thống máy tầm xa như VRC 67 và PRC 74 cũng đột nhiên chấm dứt.
Ðêm đó đài BBC loan tin Ban Mê Thuột thất thủ. Tôi và cả ban tham mưu tiểu đoàn bàng hoàng, vì tiền cứ của tiểu đoàn tôi cũng như gia đình binh sĩ đều ở thành phố này.
Ngày 11 tháng Ba năm 1975, tôi nghe được tiếng Ðại tá Phạm Duy Tất trên tần số. Ông Tất đang bay trên trời Ban Mê Thuột và gọi tôi.
Tôi hỏi ông về địch tình, về phản ứng của Chuẩn tướng Lê Trung Tường.
Ðại tá Tất buồn rầu trả lời:
“Ông Tường không đủ sức ngăn chúng nó toa ơi! Bây giờ chỉ còn hy vọng thằng Dậu cố gắng cứu vãn tình thế. Không biết có được hay không?”
(Ghi chú: Thằng Dậu= Trung tá Lê Quý Dậu)
Trung tá Lê Quý Dậu là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân.
Ông Dậu mới lên chỉ huy liên đoàn được hai, ba tháng, thay thế cho Trung tá Nguyễn Lang (Lang Trọc) vừa giải ngũ.
Tôi cố nài nỉ ông chỉ huy trưởng,
– Trường An cho phương tiện bốc tôi về Ban Mê Thuột đi! Trường An ơi! Vợ con tôi ở đó! Vợ con lính của tôi ở đó!
Trường An là danh hiệu truyền tin của Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.
Lúc đó tôi nghẹn lời. Bên tôi, người Sĩ quan Tiếp liệu tiểu đoàn, Trung úy Trần Văn Ðăng mắt cũng đỏ hoe.
Tôi tỉnh người khi nghe ông Tất hứa hẹn,
– Rồi! Ta sẽ nói lại với Số 1 (Thiếu tướng Phạm Văn Phú) để bốc Thái-Sơn về!
Thái-Sơn là tên riêng của tôi, tôi mang tên này từ khi còn phục vụ ở Tiểu Ðoàn 11/ Biệt Ðộng Quân, Pleiku, thời 1967-69.
Ðược lời như cởi tấm lòng. Tôi quyết định rút trung đội tiền đồn của Ðại Ðội 4/82 trên đồi Bù-Row cách 3 cây số hướng Bắc về.
Tôi cũng gọi sĩ quan đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đang tăng cường cho tôi lên gặp tôi.
Tôi dặn dò anh kỹ càng những điều phải làm để phòng thủ Ngã Ba Kiến-Ðức thay cho Ðại Ðội 1/82 Biệt Ðộng Quân của Thiếu úy Ðặng Thành Học, nếu chúng tôi có trực thăng bốc đi.
Tiếp đó tôi cho tiểu đoàn chuẩn bị hai ngày cơm vắt, vũ khí, đạn dược sẵn sàng.
Sau khi lệnh chuẩn bị hành quân của tôi được thông báo tới mọi cấp trong đơn vị, tôi nghe tiếng bàn tán xôn xao trong các túp lều và bên giao thông hào.
Niềm háo hức hân hoan lộ rõ trên những khuôn mặt sạm nắng.
Những người lính gốc Rhadé, Jarai dưới quyền tôi đã lâu, nên qua nụ cười, ánh mắt của họ, tôi hiểu rằng lúc đó họ đang vui sướng vô cùng.
Suốt ngày 12/3/75 tôi không nghe tiếng Ðại tá Tất trên máy, nhưng tôi liên lạc được một phi công đang quan sát trên trời Ban Mê Thuột.
Tôi nhờ anh ghi nhận và chuyển cho tôi những gì anh nhìn thấy dưới chân anh.
Tôi mô tả con đường Hàm Nghi cạnh nhà thờ Vinh-Sơn, là nơi gia đình tôi cư ngụ và khu tiền trạm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.
Sau hồi lâu quan sát, anh cho tôi biết rằng cả hai nơi đều nằm trong màn khói đen mù mịt. Buồn quá, tôi ngồi trước cửa hầm, ôm cây đàn guitar. Tay tôi chỉ bấm một cung Mi Thứ; tôi lần mò một bài tình ca buồn.
Tưởng nhớ anh Năm Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Đức Dũng, và những anh hùng Mũ đỏ, mũ đen đã vị quốc vong thân tại Damber. Gửi N/T Bùi văn Lộc – Lê Văn Mễ, Phạm Đức Hùng, Phan Cảnh Cho, và những chiến hữu Mũ đỏ, Mũ đen, Công binh… đã tham chiến tại Damber để nhớ những ngày ngút ngàn máu lửa.
Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (phải), Tiểu đoàn Trưởng cùng tác giả, Đại Uý Đoàn Phương Hải (trái), Sĩ quan Hành Quân, thuộc Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù tại Damber, Campuchia 1971
Với sự yểm trợ, tiếp tay không giới hạn của khối Cộng Sản Nga, Tầu, Cộng Sản Việt Nam xua hàng chục Sư đoàn bộ binh cùng hàng ngàn xe tăng đại pháo quyết tâm xâm chiếm nhuộm đỏ miền Nam.
Hàng chục ngàn dân lành vô tội đã chết tức tưởi, oan khiên trong dịp Tết Mậu Thân, trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, trên phố trên nhà, trên ruộng trên nương vì bom đạn. Quê hương dân tộc quặn mình trong bão lửa chiến tranh. Để ngăn cản giặc thù, Quân Lực miền Nam đã anh dũng chống trả giặc thù trên khắp 4 vùng Chiến Thuật. Không một địa danh nào có bóng Cộng quân mà không có gót giầy của người lính miền Nam tìm tới truy lùng tiêu diệt. Nhằm phá vỡ hậu cần, an toàn khu của địch trên lãnh thổ Kampuchia. Giữa năm 1970 quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã liên tiếp truy kích, tiêu diệt địch trên lãnh thổ của xứ Chùa Tháp. Đầu năm 1971 các lưc lượng thiện chiến đã vượt biên đánh sang Hạ Lào, phá vỡ, tiêu diệt toàn bộ kho tiếp liệu, hậu cần, đại bản doanh, an toàn khu của Cộng sản Việt Nam.
Sau hơn 2 tháng hành quân, vừa từ Hạ Lào trở về, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo K14 Võ Bị, mang theo hơn chục năm kinh nghiệm chiến trường từ Lữ đoàn I Nhảy Dù được lệnh về chỉ huy Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù. Sau thời gian ngắn chỉnh trang đơn vị, để ra mắt khai quân, 11 Dù đã trực thăng vận tiêu diệt gọn 2 Tiểu đoàn Cộng quân bao vây căn cứ Hưng Đạo trên quốc lộ 22 chạy dài từ tỉnh lỵ Tây Ninh đến biên giới Việt Miên. “Song Kiếm Trấn Ải” 11 Dù tiến quân vào căn cứ trong tiếng reo hò, mừng tủi của anh em binh sĩ và gia đình sau hơn 2 tháng bị Cộng quân tấn công, bao vây và pháo kích đêm ngày.
Ban Tham Mưu/Hành Quân chiến trường Damber 08/1971
Chiến thắng ngoạn mục đầu tay của quan Năm Nguyễn Đình Bảo làm nức lòng binh sỹ, mang khí thế mới về cho đơn vị. Thừa thắng xông lên 2 Tiểu đoàn 11 và 5 Dù tiếp tục hành quân tiêu diệt địch quanh trại Lực Lương Đặc Biệt Thiện Ngôn, Lò Gò, Xóm Dứa, Xa Cát và Xa Cam. Cuối tháng 10/1971, đang hành quân quanh căn cứ hoả lực Pace ngay sát biên giới Việt Miên thì 11 Dù được lệnh tùng thiết với Thiết đoàn 18 Kỵ binh vượt biên tiến chiếm mật khu Damber trên đất Kampuchia. Dưới ánh nắng như thiêu như đốt, đất bụi đỏ ngầu, thì trên pháo tháp chiến xa, bên dàn máy truyền tin tua tủa “ăng ten” ngắn, dài, một người lính tầm thước với khẩu Colt 9 vắt ngang chiếc áo thung xám ngay trước ngực, đang sang sảng ra lệnh, chỉ huy. Đột nhiên ông giơ tay chào rồi nhảy xuống xe khi thấy Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn Trưởng TĐ11/ND đứng dưới gốc cây đang giơ cao tấm bản đồ. Hai người lính phong trần siết chặt tay, nhìn nhau rồi cùng phá ra cười. – Niên trưởng “Đại Lộc”, lâu lắm anh em mình mới làm ăn chung, kỳ này vào Damber, chắc gay lắm phải không? – Damber thì lúc nào chả gay, khúc xương khó nuốt, an toàn khu, bản doanh đầu não của Công trường 7 và 9 địch quân. Năm ngoái Thiết đoàn tôi và Mũ nâu Biệt động quần thảo suốt mấy ngày đêm với Trung đoàn Cộng quân tại “Miếu ông Sành”. Kỳ này mình phải nghiền nát Damber ra mới được! Quan Năm mũ đỏ vung tay tự tin, rồi quay sang giới thiệu Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh, Thiếu Tá Bùi Văn Lộc Khóa 13 Võ Bị với Mễ, tôi, các Đại đội Trưởng và ông Lang Tây Tô Phạm Liệu. Xếp Mũ đen với biệt danh “Tầy Quầy”, lừng danh trận mạc trong binh chủng, người đẫy đà, da đen sạm vì phong trần, sương gió, cất tiếng cười sang sảng, quay sang bắt tay chúng tôi. Tình tự Võ Bị từ ngày nhập trường ăn cơm lính, cho nên dù xếp Mũ đỏ, khóa 14, lon tuy cao hơn, nhưng vẫn một điều “Niên trưởng, hai điều Niên trưởng”, xưng hô với xếp Mũ Đen. Đang đấu hót tưng bừng thì ông đàn anh Khóa 6 Võ Bị, Đại Tá Trần Quang Khôi, Chỉ huy Trưởng Thiết Giáp Vùng III Chiến Thuật đáp trực thăng xuống ngay trận địa. Trải rộng tấm bản đồ hành quân với chi chít tình hình, trục tiến quân xanh đỏ của ta và địch, Đại Tá Khôi bàn luận kế hoạch hành quân, vạch rõ mục tiêu là phá hủy hậu cần, tìm và tiêu diệt cho được Bộ Chỉ Huy Công trường 7 Cộng quân đang có mặt tại Damber. Thung lũng Damber dài gần hai chục cây số bên liên tỉnh lộ 75 và quốc lộ 7 trên đất Miên, nằm lọt trong những cánh rừng trùng điệp cây cao rậm rạp bao quanh. Tuy nhiên địa thế Damber lại tương đối trống với rất nhiều gò mồi, cây cối lúp súp, phủ đầy cây leo rậm rạp nhưng không cao quá đầu người. Băng ngang thung lũng là một con suối khá lớn, mùa này nước đã cạn nhưng đất rất dễ bị lún, gây khó khăn cho chiến xa di chuyển.
Trên Quốc Lộ 7, nhiều toán Công Binh Chiến Đấu, xe ủi đất của ông đàn anh Lâm Hồng Sơn mới gặp khi đi họp hành quân, đang vất vả phá hủy mìn bẫy, sửa chữa cây cầu chiến lược trên trục tiến quân. Đoàn cua sắt trải rộng đội hình ào ào băng ngang những cánh đồng cỏ non. Làng mạc thôn xóm thanh bình, hiền hòa sau lũy tre, bên những hàng thốt nốt hoa trắng như hoa cau, cao thẳng, ngả nghiêng theo gió nổi bật trên nền trời. Lính Dù không phải lội bộ nên thích thú cười đùa trên chiến xa, đang tiến quân như chẻ tre, càn quét qua các mục tiêu. Sau khi lục soát quanh căn cứ hỏa lực Hồng Hà ngay Ngã Ba Liên Tỉnh Lộ 75 và Quốc Lộ 7, thì lực lượng xung kích Dù và Thiết Kỵ chia làm 2 cánh. “Mê Linh” Lê văn Mễ , Thiếu Tá Tiểu đoàn Phó TĐ11ND và Đại Đội 114 của Trung úy Phan Cảnh Cho, phối hợp với Thiết vận xa M 113 giải tỏa, thanh toán áp lực địch đang ngày đêm pháo kích, bao vây tấn công căn cứ hỏa lực Hồng Hà. Sẵn sàng tiếp ứng cho mũi xung kích của Trung Tá Bảo và Thiếu tá Lộc đánh thẳng vào mật khu Damber. Xếp Mũ Đen có vẻ thắc mắc, ngạc nhiên khi thấy chúng tôi lúc nào cũng “Anh Năm, Anh Năm” xưng hô với xếp Mũ Đỏ, mà không gọi bằng cấp bậc.
– Mấy chú em trong đơn vị ít khi kêu tôi là Trung Tá, lúc nào cũng xưng hô là Anh Năm, Anh Năm! Nghe mãi thành quen, thân mật, gần gũi như anh em trong nhà. Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Ngọc Hùng, Phạm Đức Hùng, Ba Đại úy Đại Đội Trưởng lừng danh Mũ Đỏ, dầy dạn chiến trường, cùng xuất thân Khóa 22 Võ Bị, đang phối hợp với 2 Chi Đoàn Trưởng Mũ Đen lừng danh trận mạc là “Bắc Đẩu” và “Phi Điểu” ào ào tiến quân trực chỉ Damber. Địa thế vùng hành quân bắt đầu thay đổi khi một số chiến xa M 41 bẵng qua cây cầu lớn trên Liên Tỉnh Lộ 75 vừa được Công Binh sửa chữa. Ngay dưới cầu là một con suối khô, chạy từ Đông sang Tây ngang qua thung lũng Damber. Địa thế trở ngại cho chiến xa khi phải băng qua khu vực thấp và lún dưới lòng suối cạn, nhưng với thiết vận xa M113 thì không có gì trở ngại.
Với cái nhìn sắc bén, tinh nhậy của nhiều năm xông pha trận mạc, đàn anh mũ đỏ, mũ đen nhận ra ngay đây là tử điểm quyết định chiến trừơng, nên quyết định lựa một Trung đội Nhảy Dù gồm toàn những tay súng gan dạ, kinh nghiệm cùng mình, và Sĩ quan liên lạc Pháo Binh nằm lại để nghe ngóng tin tức địch quân.
– Địch sẽ phục kích tại đây khi Chiến đoàn kéo quân trở ra! Mình sẽ dùng không quân, trận địa pháo và hỏa lực hùng hậu của Thiết Giáp nghiền nát chúng tại đây!
Vài hình ảnh về Anh Năm mũ Đỏ Nguyễn Đình Bảo, Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù tại Damber, Campuchia, 08/1971
Anh Năm gật gù cười, khoái trá nói với chúng tôi, giống như khi anh nheo mắt mó trúng con nhất vạn, ngửa bài ù toàn hàng trong canh Mạt Chược trên đồi Mũ Đỏ, hay những lần đóng quân trong vườn Tao Đàn đầy cây cao bóng mát, nườm nượp “khách giang hồ” lui tới ghé thăm. Sau cả ngày tiến quân, tiêu diệt vài toán trinh sát nhỏ của địch. Chiến đoàn đóng quân quanh ngôi chùa cổ.
Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (đeo kính) chỉ huy cuộc hành quân tiến chiếm Damber Campuchia tháng 8 1971
Đại Tá Trương Vĩnh Phước Cùng Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tại Damber “Tubip” Liệu, anh Năm và tôi, ngồi trên M113, nhìn nắng chiều trải những giải mây ngũ sắc giăng ngang lũy tre, vắt ngang mái chùa cong, nhuộm hồng khu nhà sàn trong xóm. Xa xa, trên bờ đê, lũ trẻ mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu bên mấy nhà sư áo vàng nổi bật trên cánh đồng nhuộm ánh tà dương đang lững thững về làng, trông thật thanh bình, êm ả. Nếu không có chiến xa gầm thét, không có xích sắt quần nát ruộng nương, không có vỏ đạn đồng rải sáng bờ đê, xác người cong queo trên ruộng vườn kinh lạch, thì những người dân quê hiền lành kia nào ai biết đến chiến tranh! Qua khỏi Miếu Ông Sành, (Thiếu Tá Phan Văn Sành K17 Đà Lạt, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 30 BĐQ tử thương khi đụng địch gần ngay miếu. Anh em Mũ nâu tiếc thương đặt tên Anh cho ngôi miếu cổ) là hàng chục xác chiến xa cháy đen nằm rải rác trên cánh đồng. Mũ sắt, giầy trận, nón cối, dép râu vương vãi trên chiến điạ. Thiếu Tá Lộc cho biết hồi đầu năm, hai Trung đoàn chủ lực của địch đã phục kích chiến xa và lực lượng hành quân ngay tại đây, gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Lại thêm một ngày bình yên trôi qua, tình hình yên tĩnh một cách đáng ngại. Chưa có chỉ dấu nào là 2 Trung đoàn của Công trường 7 có mặt trong vùng hành quân, theo như không ảnh và tin tức tình báo cấp cao của Quân đoàn ghi nhận. – Anh Năm, địch cố tình tránh né không muốn đụng? – Thì chúng cố tình dụ mình vào thật sâu rồi mới dốc toàn bộ lực lượng phục kích khi mình kéo quân ra. Hình như địch đã biết trước kế hoạch hành quân. Liên lạc toán Trinh Sát coi có nghe ngóng động tĩnh gì không? Nhớ ghi kỹ tọa độ, sẵn sàng Pháo Binh yểm trợ cho tụi nhỏ. Đêm ngột ngạt yên tĩnh trong tiếng kinh, tíếng mõ văng vẳng từ ngôi chùa gần khu đóng quân. – “Khều”! Năm ngoái, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù đụng ở khu nào vậy? – TĐ7ND cùng Thiết đoàn 5 của Trung Tá Thoàn là mũi xung kích cho Chiến đoàn 333 đánh qua Soài Riêng, vào Damber đụng lớn ngay trong khu này và thắng một trận lớn ở Phum Longieng. Có đêm mới 2, 3 giờ sáng, Đại Tướng Đỗ Cao Trí đã đáp trực thăng ngay trận địa, bất ngờ ra lệnh cho Dù và Thiết Kỵ ào ào đánh vào Damber tạo nhiều chiến thắng lớn. Sau khi góp ý, bàn thảo thêm kinh nghiệm, mọi người im lặng tìm giấc ngủ với những suy nghĩ vẩn vơ. Tiếng gầm thét của chiến xa, phá tan buổi sáng mờ sương khi ánh dương chưa lên khỏi hàng cây thốt nốt bên lũy tre làng. Tới gần trưa thì lực lượng hành quân đã càn quét hết các mục tiêu chỉ định tại Damber mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể của địch! Dù và Thiết Kỵ dừng quân quanh ngôi chùa cổ. Vừa bước chân vào sân chùa thì đã thấy sư cụ chủ trì cùng đám dân quê cả trăm người gồm ông già bà cả, đàn bà con nít khóc như ri, đang run rẩy sợ sệt qùy lạy như tế sao. Chúng tôi ngỡ ngàng vội đỡ tay hòa thượng đứng lên và chắp tay xá lại. Trên khuôn mặt gầy gò, đen sạm già nua, đôi mắt sâu ẩn dưới cặp chân mày bạc trắng nhuốm lên nét chịu đựng đau buồn. Mặc dù mấy anh lính Miên trong đơn vị đã giải thích cho nhà sư và dân chúng biết mục tiêu của cuộc hành quân là tìm diệt Việt Cộng nhưng họ vẫn vừa lạy vừa khóc! Hình ảnh ngôi đình, đứa bé đội chiếc mũ nồi đen, nắm chặt tay mẹ bên đám dân làng run rẩy, sợ sệt quỳ lạy đám lính Tây Lê Dương ở nhà quê miền Bắc mấy chục năm trước hồi tôi còn bé chợt thoáng hiện về! Lịch sử đang vô tình tái diễn. Ngày xưa tôi là một đứa bé ngơ ngác run rẩy, vái lạy đám lính Lê Dưong. Ngày nay tôi đang là một người lính Nhảy Dù đứng nhìn bầy trẻ đói gầy, đen đúa xá lạy chúng tôi trên một quê hương xa lạ!
Tuổi thơ Việt Nam trong thời loạn lạc, sợ xe tăng thiết giáp, vết giầy đinh trên bờ đê, khóc thất thanh khi thấy lửa cuồng bạo đốt cháy xóm làng. Ngày nay, những đứa bé, những người dân Miên khổ nạn kia cũng đang run sợ khi bom đạn đốt hừng hực đốt cháy quê hương! Thấy dân làng và bầy trẻ nhỏ run sợ, thiếu đói, nghèo nàn bên dăm ba củ khoai, một ít cơm độn bắp với những vết thương máu mủ tanh hôi đang làm độc trên thân thể. Anh Năm, “Đại Lộc”, ra lệnh cho tiền trạm xin trực thăng chở gạo sấy, đồ hộp, thuốc men vào vùng hành quân. Xế trưa hôm đó những người lính mũ đỏ, mũ đen, gom dân lại để cấp phát lương thực. Băng bó, chữa trị những vết thương mưng mủ đang làm độc trên mình những người dân khốn khó và những đứa bé đen đúa gầy gò, khổ nạn của chiến tranh. Nhìn những đôi mắt ngây thơ trẻ dại, rạng rỡ hân hoan nhai kẹo cao su, thè lươĩ liếm môi cho hết chút đường cát trắng, chậm chậm cắn miếng thịt heo. Mắt long lanh, đứng ngẩn người để cảm thấy vị ngọt, mùi thơm đang từ từ tan tận kẽ răng, ngấm sâu vào từng thớ thịt với những nụ cười hồn nhiên ánh mắt vui sướng, trông mới sót sa tội nghiệp làm sao! Chắc đã lâu lắm chúng mới có một ngày no đủ. Vài đứa bạo dạn lại gần chiến xa, sờ sờ mó mó, khiến tôi nhớ lại hình ảnh tuổi thơ với chiếc quần đùi nâu đứng bên đường số 6, nghếch mũi ngửi cái mùi ngái ngái thơm thơm của dầu săng khi lại gần chiếc xe nhà binh. Đêm im vắng, trời trong cao, lóng lánh muôn ngàn tinh tú. Văng vẳng tiếng tụng kinh ê a hòa với tiếng mõ khoan thai đều đều của sư cụ và mấy chủ tiểu trên chùa. Gối đầu lên ba lô, ngả lưng trên nền gạch dưới mái hiên chùa, chúng tôi kể cho nhau nghe những ngày Tây về làng, theo bố, mẹ chạy loạn, tản cư, từ Cống thần, Chợ đại về tới Phủ Lý, Hà Nam…. Quê hương tôi sao quá đọa đầy! Ngàn năm đô hộ chống Tầu, trăm năm Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi chống đánh Nhật, chống Tây. Năm 1954, đất nước chia đôi, yên ổn vài năm rồi lâm cảnh nồi da sáo thịt, huynh đệ tương tàn vì chủ nghĩa Cộng sản, vì mộng nhuộm đỏ giang san của người anh em miền Bắc! Nghe tiếng đạn bom từ thuở lọt lòng, tham dự chiến tranh cầm súng bóp cò khi tuổi đời vừa đủ lớn đủ khôn! Nếu vương quốc Cao Miên không cho phép Cộng quân lập an toàn khu trên lãnh thổ để tiến đánh miền Nam, thì chắc chắn xe tăng, đại pháo và những người linh miền Nam sẽ không có mặt trên xứ sở xa lạ nghèo nàn này!
Nhấm nháp ly cà phê nóng đầu ngày, khi những vệt nắng ban mai nhảy múa lung linh trên pông sô, bên tiếng hót trong cao của bầy chim chích chòe trên mái tam quan. Lòng thanh thản vì vừa qua một đêm yên tĩnh, không có tiếng súng, tiếng bom. Tôi lẩm nhẩm cầu xin may mắn cho đơn vị khi bứơc vào chùa giã biệt vị sư già. Chiến xa lăn xích hướng về lại căn cứ hoả lực Hồng Hà để trở về quê mẹ. Hình ảnh dân làng và bầy trẻ đang giơ tay vẫy thấp thoáng bên lũy tre.
Nắng đã lên quá đỉnh đầu, không khí oi bức nhột nhạt khó chịu. Sau mấy tiếng đồng hồ quần nát vùng hành quân, chiến đoàn phân tán quân quanh bìa rừng để chờ tiếp tế lương thực, đạn dược và săng nhớt. Trực thăng võ trang bay lượn bao vùng cho mấy chiếc Chinnok đáp xuống tiếp tế. Hai ba chuyến thả hàng xong xuôi, chuyến cuối cùng đang là là trên mặt đất thì đột nhiên phòng không, cối 82 và hỏa tiễn của địch từ nhiều hướng khác nhau nhả đạn như mưa. Một Chinook trúng đạn sau đuôi, bốc cháy như một cây đuốc khổng lồ. Trực thăng võ trang bao vùng nhào lên nhào xuống bắn phá vị trí pháo của địch. May là rớt gần mặt đất nên phi hành đoàn Mỹ từ trong trực thăng chạy kịp ra khỏi thân tầu, trước khi trực thăng phát nổ. Lính mũ đen ào tới xịt bình chữa lửa lên mình mấy anh phi công Hoa Kỳ rồi kéo họ nhào xuống hệ thống phòng thủ. Vì địa thế bằng phẳng toàn bụi rậm và rừng cây thấp nên phi cơ quan sát nhận ra vị trí súng của địch, chỉ điểm cho khu trục tới tấp nhào xạ kích, đánh bom trong màn lưới phòng không địch từ nhiều vị trí. Mấy thiết xa M48 chất đầy săng nhớt mới tiếp tế may mắn không bị cháy, đang chạy ngang chạy dọc bơm săng, bơm dầu cho chiến xa. Phi hành đoàn chiếc Chinook trúng đạn đang liên lạc qua hệ thống Mỹ để chờ trực thăng bốc ra. Trời đã về chiều, đoàn quân di chuyển qua vị trí khác tìm địa thế đóng quân đêm. “Tubip” Liệu đang chữa trị cho mấy quân nhân bị thương nhỏ to với ông bạn Bác sỹ quân y bên Thiết giáp. – Bắt đầu vất vả rồi đó, đi chung với mấy ông mệt bỏ mẹ, lúc nào cũng ầm ĩ đầy mùi săng nhớt, phun khói đầy trời, nằm phơi bụng, phơi lưng lên cho chúng pháo. Chỉ được cái khỏe là đỡ phải lội bộ, hỏa lực ăn trùm thiên hạ và nhất là đầy đủ mấy ông Bud, ông 33 (bia Budwiser và bia 33)! – Nhưng cũng dễ thành than lắm ông ơi! Mới chưa đầy một năm về đơn vị mà thiết đoàn đã đụng lớn cả chục lần, “rang muối” gần chục xe rồi đấy ông ơi! Ngoài tuyến phòng thủ lính tráng đang đào hầm hố, dựng lưới chống B40 ngay trước đầu xe. Quá nửa đêm khi mọi người đang say ngủ thì bỗng choàng mình tỉnh giậy, lăn xuống hố vì những tiếng nổ kinh hoàng cày tung đất đá ngay sát bên tai. Tiếng nổ của hỏa tiễn, của cối 82 nghe ngắn, tê lạnh, buốt sắt đến hãi hùng. Cái âm thanh quen thuộc giống như tiếng mở nút chai nghe rõ mồn một từ góc rừng, kèm theo là những tiếng rít, tiếng hú rợn người của hỏa tiễn 122 đang quơ lưỡi hái tử thần sé gío bay đến vị trí đóng quân. Mặc dầu đã qúa quen thuộc với những cơn mưa pháo khủng khiếp ở Hạ Lào, ở vùng hỏa tuyến. Thế nhưng cái giây phút cực kỳ ngắn ngủi, căng thẳng thần kinh trong lúc đạn đang bay tới mục tiêu vẫn làm cho thần kinh căng thẳng, tức ngực và khó thở! Vừa nghe đạn nổ đằng trứớc, đằng sau, bên trái, bên phải, thì lại hồi hộp, miệng đắng lưỡi khô khi nghe tiếng rít của đợt pháo tiếp theo. Cứ như thế mà chờ mà đợi, phó thác cho số mệnh! Đột nhiên một tiếng nổ chát chúa kinh hoàng làm rung chuyển cả xe. Tai tôi ù đi, tối tăm mặt mày khi toàn thân văng lên đập vào thành xe. May là có thói quen khi nghe tiếng pháo là chụp chiếc mũ sắt lên đầu, nên không hề hấn gì cả. Ngay bên canh Trung Tá Bảo cũng đang ôm ngực chống tay, dựa vào thành xe. Lệnh lạc, báo cáo vang lên trong máy, “Bảo Ngọc” chụp ống liên hợp liên lạc với “Đại Lộc” và các đại đội ngoài phòng tuyến. Bỗng có tiếng báo cáo của toán tiền đồn cho biết là Việt cộng tập trung rất đông, đang dàn quân, đào hầm hố, bố trí theo bờ suối, sát đường. Vì sợ bị lộ vị trí nên toán tiền đồn sau khi đã quan sát, theo dõi và cho tọa độ vị trí địch, xin rút ra điểm hẹn trước khi trời sáng. Mặc cho Pháo vẫn tiếp tục rơi, thân thể còn đang ê ẩm. Anh Năm và tôi như vừa được uống một liều thuốc hồi sinh, quên cả đau, dán mắt vào vị trí địch quân trên bản đồ để phác họa trận địa pháo trút lên đầu địch. – Đúng ngay chóc là thế nào chúng cũng phục kích mình tại đây. Tao sẽ dùng chiêu “Gậy ông đập lưng ông, tiền pháo hậu xung” mà địch vẫn thường dùng, để mưa pháo và bom lên đầu chúng. Hỏa lực sẽ thiêu đốt sạn đạo Damber. Công trường 7 Cộng quân sẽ tan nát, thảm bại trong trận thư hùng quyết tử này! Anh Năm vừa nói, vừa khoanh tròn, di tới di lui cây viết chì mỡ trên tấm bản đồ, ngay vị trí địch một cách đầy tin tưởng. Có tiếng C 47 Hỏa Long vào vùng thả hỏa châu, đại liên 6 nòng như bò rống xả đạn vào vị trí địch, nhờ thế mà pháo địch im tiếng. Vừa chui ra khỏi xe tôi đã điếng hồn vì trái hỏa tiễn 122 ly nổ ngay cạnh đào một hố sâu bên thành xe. Mảnh pháo chém đứt xích thiết xa, cây đại liên 50 trúng mảnh cong vòng văng xuống đất. – Anh Năm, mình hên thật, chút xíu nữa là đi đứt. Kỳ này hành quân về Anh phải cúng heo và rời cột cờ đi chỗ khác! – Mấy thằng tụi mày sao lúc nào cũng lèm bèm, tối ngày tìm đọc ba cái trò bói toán, tử vi, luận bàn cứ như thánh sống làm tao điên cái đầu! Tubip Liệu mới từ xe bên cạnh chui ra phán thêm một câu. – Đệ nhất phong thủy miền Nam, “Diễn tiên sinh”, khi được xếp lớn đón lên coi doanh trại đã lắc đầu nói là bộ chỉ huy nằm trên thế đất sát chủ. Đã thế sân cờ lại còn đối diện với Nghĩa trang quân đội. Nếu không dời ngay xuống phía Nam trông ra bờ sông thì lành ít dữ nhiều, chắc anh còn nhớ chứ anh Năm! – Nghe nói Phủ đầu rồng, Dinh Thừa tướng, Bộ Tổng tham mưu, một số đại quan văn võ trong triều muốn thăng quan tiến chức, hưởng đủ bổng lộc trời ban, đều phải năm lần bảy lượt xin yết kiến “Diễn tiên sinh”, đó anh Năm! – Ông Cần, Ông Tĩnh lựa Bộ chỉ huy và sân cờ, tao mới về có lựa chọn gì đâu! Nhưng chẳng biết đó là điềm vui hay điềm buồn, điềm lành hay điềm xấu cho quốc gia, mà Phủ đầu rồng, dinh Thừa tướng lại tin vào bói toán tử vi. Nay con rùa đặt chỗ này, mốt hồ nước, giả sơn đặt chỗ kia. Mình là dân quanh năm đánh đấm, trước khi xuất quân lại tin phong thủy, gieo cầu, cúng bái cầu xin thì còn đánh đấm giặc giã gì nữa! Tôi ngước lên cao, trời trong ngập ánh trăng, cần ăng ten, đại bác, bóng người quanh pháo tháp lung linh di chuyển ngã dài theo ánh hỏa châu. Đại liên 6 nòng từ máy bay vẫn như bò rống vạch ngang vạch dọc từng giây đạn lửa đỏ rực trong đêm, xen kẽ với tiếng phòng không từ nhiều vị trí địch khác nhau bắn lên máy bay, đạn lửa đuổi nhau giữa bầu trời đầy sao vẽ thành bức họa chiến tranh lạ mắt. Để chắc ăn cho cuộc tấn công vào sáng ngày mai, chúng tôi xin mấy “thảm” B52, nhưng Bộ chỉ huy cho biết là không có, và sẽ dành ưu tiên pháo binh, không quân cho trận điạ. – Sáng rồi, mình “thượng đài” nhập trận đi anh Năm! – Báo cho Mê Linh đón tụi nhỏ tiền đồn và sẵn sàng trong đánh ra, ngoài đánh vào, kẹp địch ngay chính giữa. -Tụi nhỏ đã gặp phe ta rồi, hôm qua Mê linh làm ăn lớn, tiêu diệt nguyên một đại đội đặc công đánh vào căn cứ, tịch thu nhiều vũ khí và tài liệu của địch. Trời sáng dần, ngồi trên pháo tháp chiến xa tôi nhấc ống nhòm nhìn về khoảng rừng trước mặt. Dọc theo tỉnh lộ, khu rừng lau đầy hoa trắng ngả nghiêng uốn mình theo gío, cảnh vật im vắng trong làn sương mỏng ban mai. Sau những gò mối, lùm cây, bên bờ suối, giờ này chắc địch quân đang ẩn mình dưới giao thông hào. Chắc chúng cũng đang hướng ống nhòm, căn góc độ, dựng biểu xích, mở khóa an tòan của đủ loại vũ khí chờ Thiết giáp và Nhảy Dù tiến vào mục tiêu. Tôi chợt nghĩ đến gia đình, một thoáng Saigon, mái ấm gia đình mờ mịt cuối chân mây. Sau khi đã bàn thảo với “Đại Lôc” xếp Mũ Đen, lệnh lạc rõ ràng cho các cánh quân. Trung Tá Bảo vỗ mạnh vai tôi, xiết chặt hai tay vào nhau, ý như bóp nát địch quân. Ngay lúc đó là hàng ngàn tiếng rít sé gió của 3 pháo đội pháo binh Nhảy Dù của ông “Lước Hốc Môn” từ nhiều vị trí khác nhau “T.O.T” chụp đạn xuống mục tiêu. Rừng cây đất đá, bụi lửa tung lên cao khi đạn pháo xoáy vào lòng đất. Lẫn trong tiếng nổ hẳn có những đôi mắt trợn trừng lẫn với tiếng gào thét đớn đau. Máu thịt, cốt xương sẽ tan từng mảnh tung lên cao, vướng trên cành cây ngọn cỏ, hay vùi sâu trong lòng đất. Hàng ngàn đạn Pháo, hết đợt này đến khác vẫn đang xé gió cày tung vị trí Bắc quân. Pháo vừa ngưng thì phi cơ quan sát L19 từ trên cao nhào xuống mục tiêu hướng dẫn khu trục oanh kích trận địa. Từng đoàn khu trục, âm thanh rít bên tai, lao từ trên cao thả hàng chuỗi bom chụp trên trận địa rồi kéo cánh lên cao, trông rõ bộ đồ bay màu cam và chiếc nón bay của các phi công bạn. Rừng cây bùng lên trong biển lửa khi bom “Napalm” chạm mặt đất hừng hực thiêu đốt cây rừng. Phòng không địch bắn lên phi cơ, vẽ những bông hoa khói, xám đen, nổ như pháo bông dầy đặc quanh thân tầu. Đúng là địa ngục rực lửa, lửa từ lưng trời rót xuống, lửa từ mặt đất bốc lên, lửa vàng chói hừng hực, cuồng bạo đốt cháy cỏ cây, thiêu hủy thân xác con người. Tất cả chỗ nào cũng chỉ nghe tiếng đạn tiếng đạn bom, chỗ nào cũng chỉ toàn lửa và lửa.
Phi cơ lắc cánh chào quân bạn bay khỏi vùng. Chiến trường còn đang bốc khói là Thiết Giáp và Nhảy Dù xả đủ loại hảo lực ào ào xung phong vào trận địa. Mặc dù bị nhồi giập vì Pháo Binh, bị đốt ngập trong biển lửa, nhưng đủ loại hỏa lực đại liên, B40, B41, đại bác không giật của địch vẫn nhả đạn như mưa vào đoàn cua sắt đang ào ạt tấn công. Bị dồn vào tử lộ không lối thoát thân nên địch liều chết tử chiến tới cùng. Xạ thủ phòng không bị xích chân vào đại liên 37 ly nhả đạn như mưa chống trả. Phối hợp nhịp nhàng nhị thức Bộ Binh, Thiết Giáp, kể cả chiếc xe ủi đất lớn của Công Binh cũng đang giơ nghiêng lưỡi cày bằng sắt dầy ngăn đạn cho lính Dù nhào lên thanh toán mục tiêu. Đây là lần đầu tiên trong bao nhiêu trận chiến lính Dù mới thấy cảnh lạ lùng khi anh tài xế can đảm, gan dạ, say khói súng cùng Mũ Đen, Mũ Đỏ lái xe ủi đất xông trận. Ác chiến kéo dài từ sáng tới chiều. Mùi thuốc súng, mùi da thịt khét lẹt từ hàng trăm xác địch cháy đen. Xương thịt máu me nhầy nhụa đỏ lòm trong mắt xích chiến xa văng lên pháo tháp làm tôi muốn ói trước cảnh tượng khủng khiếp và ghê rợn. “Tubib” Liệu và toán Y tá quần áo đầy máu sau mấy gò mối lớn đang cấp cứu cho các thương binh. Khi những tia nắng chiều vàng đỏ cuối ngày, lướt thướt kéo ngang rừng cây, nhuốm đỏ thành cầu, thì trận chiến cũng vừa tàn.Bùn lầy, cỏ tranh, khu rừng hoa lau trắng đỏ ngầu màu máu, xác địch ngổn ngang, co quắp cháy đen. Dăm ba chiếc nón sắt rằn ri móp méo lủng sâu vết đạn nằm bên những chiếc nón cối ngụy trang đầy lá cây rừng bên bờ lau sậy xào xạc gío chiều. Trận chiến nào cũng có mất mát thương vong. Đại úy Nguyễn Đức Dũng Đại Đội Trưởng/ Đại đội 111/ TĐ11ND cùng gần 30 Mũ Đỏ, Mũ Đen đã hy sinh, và khoảng 10 thiết xa bị bắn cháy. Tựa bên pháo tháp chiến xa nhìn về phía rừng cây, tôi như đang thấy những cánh rừng thông bạt ngàn xanh ngắt trên Đà lạt. Như thấy Dũng trong bộ đại lễ trắng đang quỳ xuống, đứng lên trong ngày lễ mãn khoá trên Vũ đình trường. Xa xa Lâm Viên đỉnh hùng vĩ giữa trời xanh… Tiếng gió, tiếng kèn, quyện với giọng ngâm buồn u uẩn bên ngọn lửa thiêng bập bùng trong đêm Truy điệu… “Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến. Máu anh hùng nhuộm thắm lá cờ Nam!” Sau khi tham dự hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào trở về. Vì nhu cầu công vụ, nên Dũng đang là một Sĩ quan sáng giá của Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù được lệnh thuyên chuyển về làm Đại Đội Trưởng cho TĐ11ND. Cả đơn vị không ai là không nhớ dáng dấp thư sinh, đẹp trai, hay mắc cỡ, mặt đỏ bừng như con gái của Dũng. Chính vì hiền lành dễ thương, lúc nào cũng cười, nên Dũng nổi tiếng đào hoa trong đám bạn bè, và thường bị các cô trêu chọc. Đất lạ Damber đã cướp mất người anh hùng tuổi trẻ – Nguyễn Đức Dũng, khóa 22 Võ Bị. Người “Thích mặc quân phục từ nhỏ, và đội Nón Đỏ khi ra trường”. Người sỉ quan Dù can đảm, tháo vát trẻ trung, chưa thỏa chí tang bồng thì đã bỏ đồng đội bỏ anh em!!! Ngủ yên đi Dũng! Và nhớ kéo dù theo gió bay về quê cũ Bắc Ninh, nơi chốn bình yên, nơi dòng sông tuổi nhỏ, phụ lưu sông Đáy, sông Hồng cuồn cuộn phù sa. Nơi có giọng hò Quan Họ, hội Lim, nơi cất tiếng khóc chào đời, nơi không binh đao thù hận. Trên đồi Mũ Đỏ Long Bình, dưới giàn hoa dưa tím phất phơ bay trước căn phòng nhìn xuống Ngã Ba sông Đồng Nai mênh mông uốn khúc bên làng Cao Thái đầy cỏ nội hoa rừng, thoảng mùi thơm khuynh diệp sẽ mãi mãi vắng thiếu bóng anh! Đêm đó Chiến đoàn dừng quân ngay trên trận địa, người sống và người chết ngủ vùi cạnh bên nhau. Nằm yên trên võng, tôi lơ đãng nhìn những ngôi sao đổi ngôi sẹt ngang bầu trời, để nghe hơi thở, khói súng chiến trường lắng đọng trong tim. Ngoài kia tiếng rên la đau đớn của thương binh ta và địch, đang gọi tên người thân, chống chọi từng giây từng phút với tử thần, còn có tiếng rên la, trăn trối của một sĩ quan thương binh miền Bắc nghe rất lạ tai! Chữ nghĩa, ngôn từ đã hoàn toàn đổi thay từ khi chúng tôi xa đất Bắc di cư vào Nam năm 1954. Đêm nay, người thương binh địch, quê quán Hà đông, cùng tuổi, cùng quê với tôi. Biết đâu thuở nhỏ lại chẳng biết nhau bên gốc đa đầu làng, chơi với nhau trước sân đình, bên giếng nước, khi mới dăm bảy tuổi. Anh thương binh đang thều thào gọi tên vợ con khi biết mình khó lòng sống sót với viên đạn xuyên ngang lồng ngực. Tấm hình đen trắng mộc mạc của cô gái quê với hàng chữ thương yêu gửi tặng chồng khi vượt Trường Sơn. Tấm ảnh vấy máu, đang nằm trong đôi tay khô héo, khi Tubip Liệu lấy ra từ trong túi đặt lên tay anh. Dù Mũ Đỏ, Mũ Đen, dù nón cối dép râu, hay Bắc, Trung, Nam, khi nhắm mắt xuôi tay thì xác thân đều sẽ rã mục hình hài làm xanh tươi cây lá. Gió núi mưa rừng sẽ gột sạch máu xương. Chim chóc, muông thú sẽ kéo về. đời sống sẽ trở lại, thôn ấp xóm nhà, lũy tre, ruộng đồng, cây trái, sẽ xoá mờ đi vết tích chiến tranh Tôi nằm đong đưa trên võng chập chờn nghĩ tới vợ con, để biết mình vừa sống còn qua trận chiến. Với mấy trăm xác địch nằm ngổn ngang khắp nơi trên chiến địa. Đại liên phòng không, cối 82, B40, B41, đại bác không giật và hàng trăm cây AK sắp đầy như củi trên 4 chiếc M548. Trung đoàn địch trấn giữ Damber kể như bị xóa tên trên bản đồ trận liệt. Dưới ánh nắng gay gắt, chói chang hầm hập nung người của xứ chùa Tháp, mùi hôi của xương thịt người chết mặc kẹt trong xích xe bắt đầu xông lên khó chịu. – Hôi quá! Cả ngày ăn ngủ trên xe, sao mấy anh chịu nổi! – Thì cũng quen đi thôi! Nói xong người lính Mũ Đen rít hơi thuốc thơm Quân Tiếp Vụ, từ từ nhả khói giọng nặng chĩu u buồn. – Chiến tranh mà! Mới đó mà tôi đã qua 8 năm chiến trận. Không biết còn đánh nhau cho tới bao giờ! “Đi đêm mãi chắc cũng có ngày gặp ma”! Tiếng máy Truyền Tin oang oang chuyển lệnh cho đòan quân rời vùng, tiếp tục hành quân giải tỏa Liên Tỉnh Lộ7. Mấy con qụa đen cất tiếng kêu quang quác, đang đứng rỉa lông trên nòng cây đại bác cong queo, cạnh vòng hoa kẽm gai trên mấy chiếc chiến xa cháy đen ngoài cánh đồng. Đã hơn hai tháng miệt mài trong lửa đạn. Tôi đang nhớ Sàigòn, nhớ vợ con. Nhớ dàn hoa giấy đỏ trước nhà, và những con chim gi, chim chích chòe mỏ đỏ, cánh đen bay chuyền trong buổi trưa hè. Tự nhiên tôi thèm tô phở, ly cà phê, hơi thuốc. Nơi cuối trời, bếp lửa gia đình mờ mịt cuối phưong Nam… Chiến tranh càng ngày càng nghiệt ngã. Quê hương, sông núi quặn chìm trong bom đạn. Tuổi trẻ miền Nam hết lớp này đến lớp khác gục ngã, hy sinh trên núi trên rừng, trên ruộng trên nương…. lấy xương trắng máu đào để bảo vệ miền Nam. Sau chiến thắng Damber, hơn nửa năm sau, một số bạn bè, đệ huynh trong trận chiến này đã lần lượt hy sinh trong Mùa Hè Bão Lửa 1972. Tháng 12/4/1972 Trung Tá Nguyễn Đình Bảo vĩnh viễn nằm lại trên đỉnh Charlie vùng Ba Biên Giới Quân Khu II, sau một tuần lễ tử chiến đẫm máu với 2 Trung đoàn 64 và 48 của Sư đoàn 320 Cộng quân. Đai úy Hoàng Ngọc Hùng ĐĐTT112/TĐ11ND hy sinh ngay trước sân nhà, nơi anh cất tiếng khóc chào đời, sống những ngày ấu thơ êm đềm ngoài Quảng Trị. trong trận chiến tái chiếm Cổ Thành 6/1972. Chi Đoàn Trưởng Thiết Kỵ “Phi Điểu” hy sinh trong trận ác chiến tại đồn điền Krek, Kampuchia. Chi Đoàn Trường Chiến xa Bắc Đẩu chiến đấu tới hơi thở cuối cùng tại Hải Lăng! Hình ảnh các anh như đang sống lại trong tôi khi cùng nhau xông pha trận mạc. Xin thắp nén hưong lòng để tuỏng nhớ các Anh. Trận chiến đã nằm sâu, phai nhạt dần theo tuổi đời, năm tháng, thời gian từ hơn môt phần tư thế kỷ. Nhưng vì “Nhớ bạn bè, nhớ anh em”, nên người viết cố ghi lại hình ảnh đệ huynh của một thời chiến trường xưa cũ. Xin lượng tình tha thứ nếu như có điều gì sơ sót.
Tuấn và Thanh đứng bên một ngọn đồi thấp, nơi đây hai người ngắm được bãi cát dài và biển của Nha Trang. Xa xa hòn đảo chập chùng và những ghe đánh cá thấp thoáng giữa trời nước mênh mông. Gió biển lồng lộng mang theo không khí trong lành, mát rượi. Hằng thế kỷ qua nơi nầy đã làm rung động biết bao tâm hồn nghệ sĩ và được người dân ưu ái tặng cho cái tên rất là thơ – Miền Thùy Dương Cát Trắng.
Tuấn nói:
– Cát Nha Trang trắng quá, nước biển trong và xanh hơn vùng Ðịa Trung Hải.
Thanh hỏi Tuấn:
– Anh có muốn về đây sống luôn không?
Tuấn trả lời:
– Nơi nào đất lành thì chim sẽ đậu. Em biết không, những năm lưu lạc xứ người anh không nghĩ rằng mình có thể trụ lại bất cứ nơi nào, nếu không có chị em và mấy cháu ở Châu Âu thì anh cũng không về đó làm gì.
– Em nghe chị Hai nói, chỉ sẽ không về đây nữa.
– Ðó là cơn giận nhứt thời, chớ là người thì ai quên được nơi chôn nhau cắt rún.
– Chị còn giận ba, má?
– Giận thì giận thương thì thương.
Thanh khúc khích cười:
– Việt Kiều mà cũng biết hát quan họ à.
– Có nghe chớ không có hát, nhưng đó cũng là tâm trạng của chị Hai em, nếu không thương ba má và các em thì làm sao chị Hai em chịu cực chịu khổ, mùa đông tuyết lạnh cũng như mùa hè nắng nóng, mỗi ngày đạp xe hàng chục cây số đi làm dành dụm tiền gởi về nuôi cả gia đình ngót hơn chục năm qua.
– Em biết, nhưng sau chuyến về lần đó chị có than phiền chuyện gia đình với anh không?
– Than phiền thì lúc nào cũng có, nhưng cần nên lập lại không?
– Em thấy cần và em muốn hiểu vì sao hơn mười năm qua chị không về đây nữa, trong khi đó chị nói với em chị đi du ngoạn hết nước nầy sang nước kia.
Tuấn nhớ cách đây hơn mười năm Thu nghe tin ba bịnh hấp hối, cô tức tốc xin nghỉ việc, ôm hai đứa nhỏ từ Âu Châu bay về cho kịp chịu tang. Nhưng khi về tới nhà thì Thu chưn hửng, không thấy ba bịnh hoạn gì hết. Hỏi, thì ông cười xoà và nói tỉnh bơ:
– Ba nhớ con và hai đứa cháu ngoại của ba nên nói như vậy để con về.
– Trời đất! Bộ ba tưởng từ Âu Châu về đây giống như từ trung tâm Nha Trang về xóm Bóng vậy sao.
Tuy có hơi bực mình nhưng Thu nghĩ, vì thương nhớ con, cháu ba mới làm chuyện thiếu suy nghĩ như vậy. Thôi thì coi như một chuyến về thăm quê cũng được.
Niềm vui trở lại quê nhà chỉ được mấy ngày đầu. Những ngày sau đó Thu cảm thấy bị tù túng, đi đâu cũng có người kèm theo, không có thời gian nào rảnh hết. Má thì kêu lại than thở, không có vàng đeo để đi đám tiệc cho nở mày nở mặt với người ta, buộc lòng Thu phải lấy sợi dây chuyền của mình đưa cho má đeo. Ba thì than chiếc xe mua cho năm năm trước đã cũ chạy không còn êm nữa, thấy vậy Thu cũng móc tiền ra cho ba đổi xe mới. Em út, cháu chít đứa vài chục, đứa một trăm. Ăn ở nhà cha mẹ mà ngày nào cô cũng phải bỏ tiền túi đi chợ, về mới tuần đầu đã hết hai ngàn đô. Ở Âu châu cả gia đình đi nghỉ hè ngủ khách sạn, ăn nhà hàng hai tuần lễ cũng chưa hết chừng đó tiền. Cho nên chuyện tiền bạc Thu phải dè dặt trước mặt mọi người, mỗi lần cô xem lại tiền của mình mà cô phải len lén như sợ kẻ gian ngoài chợ rình móc túi. Bực mình nhưng biết nói làm sao. Có lần cô lưu ý ba không nên đi đá gà và phung phí tiền bạc, thì ông gắt lên:
– Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.
Công ơn cha mẹ là trời biển ai lại không biết, cô cũng đã có hai đứa con rồi, và cô cũng biết làm mẹ là trời biển như thế nào. Tại sao ba, má không nghĩ lại coi, người làm cha mẹ có xứng đáng hay không? Từ ngày gả Thu theo chồng ba má tưởng té xuống hầm vàng hay sao mà không chịu theo nghề đánh cá nữa và cũng không chịu làm ăn gì hết để cho tinh thần lẫn thể xác bịnh hoạn đến đổi khô khan tình cảm con người. Ngày trước gia đình nghèo cha mẹ nuôi con cho ăn gì thì con ăn nấy, mặc áo quần vá chùm vá đụp con cũng không dám phàn nàn.
Tới tuổi dậy thì không có áo nịt ngực, ra đường bị con trai đi theo dòm mắc cở tê người cũng không dám than, mơ ước có chiếc áo dài nhưng biết nhà nghèo cô cũng không dám hỏi. Gia tài riêng của Thu chỉ có hai bộ quần áo mới. Bây giờ nhà cửa khang trang, xe hai ba chiếc, nhưng vẫn còn than thiếu thốn, nếu Thu không cung cấp cho xài thì hâm he bán đồ bán đạc trong nhà. Lần nào về quê tiền túi hết sạch, nữ trang mất đi vài món. Khi trở ra cô có cảm tưởng như bị kẻ gian trấn lột.
Biết vậy, nhưng giờ đây trong hoàn cảnh này Tuấn không muốn nói chuyện dài dòng, nhứt là những chuyện như vầy nó đã tràn lan trong xã hội chớ đâu riêng gì gia đình Thu. Anh nói ngắn gọn:
– Chị Hai em không về quê là muốn giữ hình ảnh đẹp của ba má hồi lúc nhà còn nghèo. Nhưng thôi, chuyện không vui nói làm gì?
– Em muốn biết anh có ý kiến gì về chuyện nầy không?
– Theo anh thì thời gian có đi chớ không có lại. Chuyện qua thì qua rồi, chuyện tới thì chưa biết. Còn ý kiến, thì nói gì đây? Anh đã đi khắp năm châu và đã chứng kiến con người ở những nước nghèo nàn lạc hậu, từ người giàu có tới người nghèo rớt mồng tơi, ai cũng tham lam, lọc lừa giống như nhau. Có điều anh chỉ hơi buồn cho cái thời buổi gì mà kỳ cục, từ trong nhà ra ngoài đường, riết rồi không biết phải tin ai.
– Cuộc sống càng ngày càng vô nghĩa phải không anh?
– Không nên bi quan như vậy, mình cũng có thể cho nó một ý nghĩa để sống chớ?
– Em chưa hiểu ý anh.
– Nghĩa là chúng ta vẫn đi, đứng, nằm, ngồi và hít thở…
– Ðơn giản quá hả anh?
– Nhưng rắc rối lắm, thôi bỏ qua chuyện nầy, mình đi vô phố chơi một lát, em còn phải về cho kịp lo cơm cho thằng Hùng. Còn anh, anh cũng phải ra dịch vụ gọi điện về cho chị Hai em, sau đó anh về nhà ba má, hình như ba muốn nói với anh chuyện gì đó.
Mặt Thanh u buồn:
– Nhưng…
Tuấn chận:
– Không nhưn nhuỵ gì hết, đi chơi không nói chuyện nhà nữa.
Tuấn chỉ tay dọc theo bãi biển trước mặt:
– Em thấy không, quê vợ anh đẹp đâu thua gì những thành phố biển bên Châu Âu.
Tuấn và Thanh men vào khu hàng quán ven biển. Xa xa ngoài dãi nước xanh những chiếc mô-tô-nước và vài chiếc ca-nô phả sóng vẽ lên mặt nước những đường bọt trắng ngoằn ngoèo. Trong bãi cạn lưa thưa người bơi lội, phần đông người da trắng bận đồ tắm nằm trên những chiếc ghế màu trong những chòi lá.
Thanh nói:
– Em nghe chị Hai nói, bãi biển Salau bên Tây Ban Nha rất giống Nha Trang.
– Xa quê lâu năm, chị em tưởng tượng ra mà nói vậy chớ Salau làm sao sánh bằng nơi đây.
– Thiệt vậy hả anh?
– Thiêt mà, Nha Trang sang trọng hơn Salau nhiều. Theo anh nghĩ cũng vì Nha Trang Tây quá Tây nên không hấp dẫn cho du khách Âu Mỹ.
– Nghĩa là sao?
– Nghĩa là những khách du lịch sành điệu của tây phương đi du lịch thắng cảnh để tìm những nét đặc thù của xứ xở mình đặt chưn tới. Thức ăn trong khách sạn nơi đây cũng thịt bò bít tết, tôm hùm, phó mát dâm bông…, những món nầy không cần bay từ Âu Châu qua đây tìm ăn. Tuy Nha Trang có vài món đặc sản như gỏi sứa, yến sào…, nhưng không thể nào thu hút được khách du lịch có tánh hiếu kỳ.
– Anh nói làm em hết tự hào Nha Trang của mình rồi.
– Em phải tự hào chớ, ít ra nó cũng thu hút được khách du lịch trong nước, em không thấy sao, du khách từ Sài Gòn mỗi ngày đổ ra nườm nượp và người Việt ở nước ngoài về cũng ra thăm Nha Trang. Anh thích buổi chiều nơi đây, người trong phố đổ xô xuống tắm biển đông nghẹt. Nếu ông tây bà đầm nào tới một lần không thích thì họ có thể đi một khu du lịch khác ngoài Khánh Hòa hoặc lân cận Nha Trang, nơi đó cũng có rất nhiều cảnh thiên nhiên.
– Anh quảng cáo du lịch?
– Anh muốn nói về vùng đất mình yêu thích vậy thôi.
– Vậy anh nói thử nghe, anh thích chỗ nào.
– Lần đầu anh ra Nha Trang, chị Hai em và các bạn có dẫn anh đi những con suối trên lưng chừng núi ngoài Vạn Thắng, cho nên mỗi khi nhớ về quê vợ thì anh nhớ tới những thác nước thiên nhiên tươi mát. Nhứt là dãi núi Phước Hà đứng mỗi góc thấy hình dáng thay đổi khác nhau rất là ngoạn mục. Có lần anh ra Ninh Hoà nhìn dãi núi Phước Sơn thấy mây choàng đỉnh núi anh có thể hình dung ra “Mây Hòn Hèo” và cũng có theo chị Hai em ra Tu Bông, nhờ hứng gió mùa hè mà anh biết gió Lào nóng như thế nào và anh hiểu được tại sao có danh từ Tụ Phong và câu vè “Gió Tu Hoa”.
Thanh cười thành tiếng:
– Một bài vè có sáu câu(*) chỉ đặc tính cho sáu địa danh, anh biết mới có hai nhưng sai một.
– Vậy sao, sai chỗ nào?
– Hòn Hèo không có mây bay hay mây choàng đỉnh núi, đây là một loại cây, cây mây. Mây ở đây lâu năm nên cọng bự và cứng, người ta lấy về làm cây hèo rất tốt nên có câu vè “Mây Hòn Hèo”.
– Vậy sao?
– Còn bốn nơi kia anh muốn biết không?
– Có thời gian anh sẽ đi cho biết, nhưng chắc không tới Ðồng Lớn vì tánh anh rất sợ ma.
– Cọp không sợ, anh lại sợ ma.
Tuấn cười khôi hài:
– Sợ bẩm sinh mà, tuy nhiên anh đọc đâu đó có viết, nơi Ðồng Lớn ngày xưa là một bãi chiến trường, có nhiều người chết oan, những hồn oan không đầu thai được hoá ra ma, vất vơ vất vưởng, quấy phá những người qua lại trong vùng.
– Anh là khách phương xa mà biết như vậy cũng là nhiều.Vậy thì cuối tuần nầy em đưa anh đi suối.
Tuấn nói:
– Hôm nay thứ ba rồi, vậy thì tính như vầy đi, chiều nay anh về nhà ba má ở đó chơi một ngày, ngày mốt anh ra thăm cậu, mợ và mấy cháu ở Vạn Giả và đi xem vịnh Vân Phong. Sau đó ghé nhà em rồi mình lên suối chơi.
Tuấn và Thanh đứng bên một ngọn đồi thấp, nơi đây hai người ngắm được bãi cát dài và biển của Nha Trang. Xa xa hòn đảo chập chùng và những ghe đánh cá thấp thoáng giữa trời nước mênh mông. Gió biển lồng lộng mang theo không khí trong lành, mát rượi. Hằng thế kỷ qua nơi nầy đã làm rung động biết bao tâm hồn nghệ sĩ và được người dân ưu ái tặng cho cái tên rất là thơ – Miền Thùy Dương Cát Trắng. Tuấn nói: – Cát Nha Trang trắng quá, nước biển trong và xanh hơn vùng Ðịa Trung Hải. Thanh hỏi Tuấn: – Anh có muốn về đây sống luôn không? Tuấn trả lời: – Nơi nào đất lành thì chim sẽ đậu. Em biết không, những năm lưu lạc xứ người anh không nghĩ rằng mình có thể trụ lại bất cứ nơi nào, nếu không có chị em và mấy cháu ở Châu Âu thì anh cũng không về đó làm gì. – Em nghe chị Hai nói, chỉ sẽ không về đây nữa. – Ðó là cơn giận nhứt thời, chớ là người thì ai quên được nơi chôn nhau cắt rún. – Chị còn giận ba, má? – Giận thì giận thương thì thương. Thanh khúc khích cười: – Việt Kiều mà cũng biết hát quan họ à. – Có nghe chớ không có hát, nhưng đó cũng là tâm trạng của chị Hai em, nếu không thương ba má và các em thì làm sao chị Hai em chịu cực chịu khổ, mùa đông tuyết lạnh cũng như mùa hè nắng nóng, mỗi ngày đạp xe hàng chục cây số đi làm dành dụm tiền gởi về nuôi cả gia đình ngót hơn chục năm qua. – Em biết, nhưng sau chuyến về lần đó chị có than phiền chuyện gia đình với anh không? – Than phiền thì lúc nào cũng có, nhưng cần nên lập lại không? – Em thấy cần và em muốn hiểu vì sao hơn mười năm qua chị không về đây nữa, trong khi đó chị nói với em chị đi du ngoạn hết nước nầy sang nước kia. Tuấn nhớ cách đây hơn mười năm Thu nghe tin ba bịnh hấp hối, cô tức tốc xin nghỉ việc, ôm hai đứa nhỏ từ Âu Châu bay về cho kịp chịu tang. Nhưng khi về tới nhà thì Thu chưn hửng, không thấy ba bịnh hoạn gì hết. Hỏi, thì ông cười xoà và nói tỉnh bơ: – Ba nhớ con và hai đứa cháu ngoại của ba nên nói như vậy để con về. – Trời đất! Bộ ba tưởng từ Âu Châu về đây giống như từ trung tâm Nha Trang về xóm Bóng vậy sao. Tuy có hơi bực mình nhưng Thu nghĩ, vì thương nhớ con, cháu ba mới làm chuyện thiếu suy nghĩ như vậy. Thôi thì coi như một chuyến về thăm quê cũng được. Niềm vui trở lại quê nhà chỉ được mấy ngày đầu. Những ngày sau đó Thu cảm thấy bị tù túng, đi đâu cũng có người kèm theo, không có thời gian nào rảnh hết. Má thì kêu lại than thở, không có vàng đeo để đi đám tiệc cho nở mày nở mặt với người ta, buộc lòng Thu phải lấy sợi dây chuyền của mình đưa cho má đeo. Ba thì than chiếc xe mua cho năm năm trước đã cũ chạy không còn êm nữa, thấy vậy Thu cũng móc tiền ra cho ba đổi xe mới. Em út, cháu chít đứa vài chục, đứa một trăm. Ăn ở nhà cha mẹ mà ngày nào cô cũng phải bỏ tiền túi đi chợ, về mới tuần đầu đã hết hai ngàn đô. Ở Âu châu cả gia đình đi nghỉ hè ngủ khách sạn, ăn nhà hàng hai tuần lễ cũng chưa hết chừng đó tiền. Cho nên chuyện tiền bạc Thu phải dè dặt trước mặt mọi người, mỗi lần cô xem lại tiền của mình mà cô phải len lén như sợ kẻ gian ngoài chợ rình móc túi. Bực mình nhưng biết nói làm sao. Có lần cô lưu ý ba không nên đi đá gà và phung phí tiền bạc, thì ông gắt lên: – Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày. Công ơn cha mẹ là trời biển ai lại không biết, cô cũng đã có hai đứa con rồi, và cô cũng biết làm mẹ là trời biển như thế nào. Tại sao ba, má không nghĩ lại coi, người làm cha mẹ có xứng đáng hay không? Từ ngày gả Thu theo chồng ba má tưởng té xuống hầm vàng hay sao mà không chịu theo nghề đánh cá nữa và cũng không chịu làm ăn gì hết để cho tinh thần lẫn thể xác bịnh hoạn đến đổi khô khan tình cảm con người. Ngày trước gia đình nghèo cha mẹ nuôi con cho ăn gì thì con ăn nấy, mặc áo quần vá chùm vá đụp con cũng không dám phàn nàn. Tới tuổi dậy thì không có áo nịt ngực, ra đường bị con trai đi theo dòm mắc cở tê người cũng không dám than, mơ ước có chiếc áo dài nhưng biết nhà nghèo cô cũng không dám hỏi. Gia tài riêng của Thu chỉ có hai bộ quần áo mới. Bây giờ nhà cửa khang trang, xe hai ba chiếc, nhưng vẫn còn than thiếu thốn, nếu Thu không cung cấp cho xài thì hâm he bán đồ bán đạc trong nhà. Lần nào về quê tiền túi hết sạch, nữ trang mất đi vài món. Khi trở ra cô có cảm tưởng như bị kẻ gian trấn lột. Biết vậy, nhưng giờ đây trong hoàn cảnh này Tuấn không muốn nói chuyện dài dòng, nhứt là những chuyện như vầy nó đã tràn lan trong xã hội chớ đâu riêng gì gia đình Thu. Anh nói ngắn gọn: – Chị Hai em không về quê là muốn giữ hình ảnh đẹp của ba má hồi lúc nhà còn nghèo. Nhưng thôi, chuyện không vui nói làm gì? – Em muốn biết anh có ý kiến gì về chuyện nầy không? – Theo anh thì thời gian có đi chớ không có lại. Chuyện qua thì qua rồi, chuyện tới thì chưa biết. Còn ý kiến, thì nói gì đây? Anh đã đi khắp năm châu và đã chứng kiến con người ở những nước nghèo nàn lạc hậu, từ người giàu có tới người nghèo rớt mồng tơi, ai cũng tham lam, lọc lừa giống như nhau. Có điều anh chỉ hơi buồn cho cái thời buổi gì mà kỳ cục, từ trong nhà ra ngoài đường, riết rồi không biết phải tin ai. – Cuộc sống càng ngày càng vô nghĩa phải không anh? – Không nên bi quan như vậy, mình cũng có thể cho nó một ý nghĩa để sống chớ? – Em chưa hiểu ý anh. – Nghĩa là chúng ta vẫn đi, đứng, nằm, ngồi và hít thở… – Ðơn giản quá hả anh? – Nhưng rắc rối lắm, thôi bỏ qua chuyện nầy, mình đi vô phố chơi một lát, em còn phải về cho kịp lo cơm cho thằng Hùng. Còn anh, anh cũng phải ra dịch vụ gọi điện về cho chị Hai em, sau đó anh về nhà ba má, hình như ba muốn nói với anh chuyện gì đó. Mặt Thanh u buồn: – Nhưng… Tuấn chận: – Không nhưn nhuỵ gì hết, đi chơi không nói chuyện nhà nữa. Tuấn chỉ tay dọc theo bãi biển trước mặt: – Em thấy không, quê vợ anh đẹp đâu thua gì những thành phố biển bên Châu Âu. Tuấn và Thanh men vào khu hàng quán ven biển. Xa xa ngoài dãi nước xanh những chiếc mô-tô-nước và vài chiếc ca-nô phả sóng vẽ lên mặt nước những đường bọt trắng ngoằn ngoèo. Trong bãi cạn lưa thưa người bơi lội, phần đông người da trắng bận đồ tắm nằm trên những chiếc ghế màu trong những chòi lá. Thanh nói: – Em nghe chị Hai nói, bãi biển Salau bên Tây Ban Nha rất giống Nha Trang. – Xa quê lâu năm, chị em tưởng tượng ra mà nói vậy chớ Salau làm sao sánh bằng nơi đây. – Thiệt vậy hả anh? – Thiêt mà, Nha Trang sang trọng hơn Salau nhiều. Theo anh nghĩ cũng vì Nha Trang Tây quá Tây nên không hấp dẫn cho du khách Âu Mỹ. – Nghĩa là sao? – Nghĩa là những khách du lịch sành điệu của tây phương đi du lịch thắng cảnh để tìm những nét đặc thù của xứ xở mình đặt chưn tới. Thức ăn trong khách sạn nơi đây cũng thịt bò bít tết, tôm hùm, phó mát dâm bông…, những món nầy không cần bay từ Âu Châu qua đây tìm ăn. Tuy Nha Trang có vài món đặc sản như gỏi sứa, yến sào…, nhưng không thể nào thu hút được khách du lịch có tánh hiếu kỳ. – Anh nói làm em hết tự hào Nha Trang của mình rồi. – Em phải tự hào chớ, ít ra nó cũng thu hút được khách du lịch trong nước, em không thấy sao, du khách từ Sài Gòn mỗi ngày đổ ra nườm nượp và người Việt ở nước ngoài về cũng ra thăm Nha Trang. Anh thích buổi chiều nơi đây, người trong phố đổ xô xuống tắm biển đông nghẹt. Nếu ông tây bà đầm nào tới một lần không thích thì họ có thể đi một khu du lịch khác ngoài Khánh Hòa hoặc lân cận Nha Trang, nơi đó cũng có rất nhiều cảnh thiên nhiên. – Anh quảng cáo du lịch? – Anh muốn nói về vùng đất mình yêu thích vậy thôi. – Vậy anh nói thử nghe, anh thích chỗ nào. – Lần đầu anh ra Nha Trang, chị Hai em và các bạn có dẫn anh đi những con suối trên lưng chừng núi ngoài Vạn Thắng, cho nên mỗi khi nhớ về quê vợ thì anh nhớ tới những thác nước thiên nhiên tươi mát. Nhứt là dãi núi Phước Hà đứng mỗi góc thấy hình dáng thay đổi khác nhau rất là ngoạn mục. Có lần anh ra Ninh Hoà nhìn dãi núi Phước Sơn thấy mây choàng đỉnh núi anh có thể hình dung ra “Mây Hòn Hèo” và cũng có theo chị Hai em ra Tu Bông, nhờ hứng gió mùa hè mà anh biết gió Lào nóng như thế nào và anh hiểu được tại sao có danh từ Tụ Phong và câu vè “Gió Tu Hoa”. Thanh cười thành tiếng: – Một bài vè có sáu câu(*) chỉ đặc tính cho sáu địa danh, anh biết mới có hai nhưng sai một. – Vậy sao, sai chỗ nào? – Hòn Hèo không có mây bay hay mây choàng đỉnh núi, đây là một loại cây, cây mây. Mây ở đây lâu năm nên cọng bự và cứng, người ta lấy về làm cây hèo rất tốt nên có câu vè “Mây Hòn Hèo”. – Vậy sao? – Còn bốn nơi kia anh muốn biết không? – Có thời gian anh sẽ đi cho biết, nhưng chắc không tới Ðồng Lớn vì tánh anh rất sợ ma. – Cọp không sợ, anh lại sợ ma. Tuấn cười khôi hài: – Sợ bẩm sinh mà, tuy nhiên anh đọc đâu đó có viết, nơi Ðồng Lớn ngày xưa là một bãi chiến trường, có nhiều người chết oan, những hồn oan không đầu thai được hoá ra ma, vất vơ vất vưởng, quấy phá những người qua lại trong vùng. – Anh là khách phương xa mà biết như vậy cũng là nhiều.Vậy thì cuối tuần nầy em đưa anh đi suối. Tuấn nói: – Hôm nay thứ ba rồi, vậy thì tính như vầy đi, chiều nay anh về nhà ba má ở đó chơi một ngày, ngày mốt anh ra thăm cậu, mợ và mấy cháu ở Vạn Giả và đi xem vịnh Vân Phong. Sau đó ghé nhà em rồi mình lên suối chơi. * Nhà Thanh nằm trên bờ ruộng không xa đường xe lửa, nhìn ra thấy quốc lộ một, nhìn vào thấy đoạn cuối của dãi Trường Sơn. Chồng Thanh đã bỏ cô lúc thằng Hùng còn lẫm chẫm đi, từ đó tới giờ vợ chồng Tuấn phải cưu mang luôn hai mẹ con. Trong gia đình chỉ còn có Thanh là người hiểu biết. Cô không bao giờ hỏi xin tiền vợ chồng Tuấn, nhà nghèo cô tần tảo bán buôn nuôi con. Năm nay Hùng được mười bốn tuổi và đã lên trung học. Về đây Tuấn thích ở lại với hai mẹ con Thanh hơn. Nhà cửa đơn sơ nhưng sạch sẽ gọn gàng, ăn uống rau cải, dưa cà, tuy đạm bạc nhưng thức ăn, nhẹ nhàng, tinh khiết và nói chuyện với Thanh thoải mái vì cô rất thành thật và hiểu biết nhiều. Hồi trưa Tuấn và Thanh đi chơi trên suối. Hai anh em leo lên phía trên nguồn, tìm đoạn suối sạch sẽ, ít người. Họ dừng lại một bụi cây mà trước đây đã có nhiều người tới ngồi, nên được dọn trống như một cái nhà chòi của mấy đứa trẻ chơi. Sau khi để đồ đạc vô ‘chòi’, để giữ cho nước ngọt khỏi bị nóng, Tuấn đem mấy lon nước bỏ vô một khe nhỏ bên bờ suối nơi nước có đủ độ mát. Sau đó hai người đi xuống suối ngồi ngâm mình bên một tảng đá. Tuấn nói: – Từ dưới leo lên tới đây nóng đổ mồ hôi, được ngâm mình xuống nước mát, thật tuyệt vời. Thanh nói: – Người Tây thích phơi nắng còn người mình thì sợ nắng ăn, da đen nên tìm những nơi mát mẻ. – Buổi trưa người ta tụ lại hết trên nầy, hèn nào bãi biển vắng hoe. – Có nhiều người cũng bắt chước Tây ra bãi biển nằm phơi vài lần, bị lột da hoặc bị đen thui, sợ quá không dám phơi nữa. – Người Tây ở nơi ít ánh nắng mặt trời, thiếu vitamine D nên họ mới tìm ánh nắng, vì trong ánh nắng có vitamine D bồi bổ cho da, ngoài ra họ cũng thích nước da ngâm ngâm cho dáng người thêm mạnh mẽ và cho mọi người biết mình đã từng đi du lịch đó đây, nhưng khi phơi nắng họ thoa kem chống nắng cho da không bị cháy. Còn người Việt thấy Tây làm gì thì làm theo chớ không chịu tìm hiểu chuyện làm có thích hợp với mình hay không. Cũng như tắm bùn vậy, thấy người Nhựt tắm người mình cũng bắt chước nhưng không chịu tìm hiểu nguyên nhân tại sao người Nhựt tắm bùn. Nơi nào cũng có tánh điạ phương riêng, ngay trong nước Nhựt có nhiều nơi người ta đâu chịu tắm bùn. – Theo anh những người lên đây là hợp lý? – Nếu không thì họ lên đây làm gì? – Anh với em cũng hợp lý? – Đương nhiên rồi. – Anh thấy ở đây con người ta sống với thiên nhiên nhiều hơn người Tây Phương. Lúc đó phía dưới nguồn có một đám con gái bận đồ tắm đùa giỡn tạt nước nhau tung toé trông đẹp mắt vô cùng. Tuấn đi vô chòi lấy máy chụp hình ra chụp. Chụp xong mấy cô gái anh định cất máy, chợt thấy Thanh ngồi cao lên chiếc áo mỏng ôm sát thân hình dựa lưng vô tảng đá. Trên bờ suối cây rừng san sát nhau, không một bóng người, thân hình Thanh hài hoà với thiên nhiên trông rất là hoang dã. Anh quay máy nhắm ngay cảnh trước mặt nhá nhai ba cái. Bất ngờ làm Thanh giựt mình hụp người xuống nước. Anh đi tới kêu cô leo lên tảng đá đứng, ngồi làm kiểu cho anh chụp thêm vài bôi nữa. Sau đó anh lại khe suối lấy hai lon Cocacola đem lại đưa cho Thanh một lon, hai người ngồi bên nhau vừa uống vừa bấm hình lại xem. Máy điện tử chụp hình rõ quá, Thanh phát hiện ra cô không bận nịt ngực nên chiếc áo mỏng dán sát vô người trông rõ cặp ngực tròn như trái bầu treo phía trước và lộ rõ hai núm vú thâm đen. Cô chỉ vô máy nói: – Cái nầy kỳ quá, anh bấm bỏ đi. – Đâu, đẹp đó chớ, quả là gái một con trông mòn con mắt. – Mòn còn đỡ, anh móc mắt liệng đi. – Tại em có ý tà nên mới kêu anh móc mắt. Thanh chỉ tay lên giữa trán Tuấn: – Anh cũng biết Kinh Thánh? Không đợi Tuấn trả lời, cô nói tiếp: – Chị Hai nói hồi trước về anh chụp hình mấy chị bạn của chị cũng sexy như vầy. – Ban đầu chị Hai em cũng thấy kỳ, đòi anh bỏ hết mấy bức hình chụp mấy cô bạn trên suối nhưng bây giờ chị thích lắm và định rửa thêm gởi cho mấy cô bạn. – Còn trẻ, đẹp nên chụp hình dành về già xem lại cho vui, chớ chờ già khú rồi chụp cho ma coi. Thanh cười rất tự nhiên và nhìn xuống ngực mình: – Em cũng già rồi đẹp gì nữa. – Em đẹp đâu thua gì các sơn nữ trẻ, bên Âu Mỹ mùa hè nhiều bà già vú móm nhăn nheo giống như vú con bò già hết sữa, vậy mà cũng xuống nằm phơi trên bãi cát. Thanh không nói thêm, cô đứng lên đi về chòi lấy chiếc khăn choàng lên vai và đi lại ngồi cạnh bên Tuấn. – Em lạnh? – Không anh, em sợ ngồi một lát nắng đốt cháy da. – Anh có chai kem chống nắng để anh lấy thoa cho em. Tuấn qua chòi mở giỏ lấy chai kem đi lại, kêu Thanh day qua cho anh thoa kem lên lưng. Vừa thoa kem cho Thanh anh vừa nói: – Hình như người Việt Nam mình ít dùng kem chống nắng. – Có chớ anh nhưng người giàu mới xài, anh nghĩ coi mua gánh bán bưng như em, hoặc những người làm cỏ, gặt mướn thì làm sao dám xài một chai kem giá mấy chục ngàn đồng. – Vậy mà anh tưởng người mình không quen xài kem. – Anh nói người Việt mình ưa học theo Tây mà, mấy chuyện nầy sao bỏ qua được, thoa kem không bổ da cũng cho người ta biết mình giàu và sang giống Tây. – Vậy anh thoa cho em rồi đó trông em có giống Tây chút nào không. Tuấn đưa chai kem qua cho Thanh: – Em tự thoa đi. Thanh day lại ngã mình nằm ngửa ra tảng đá: – Sẵn thoa thì anh thoa luôn cho em. – Anh thấy em giống Tây rồi đó, nhưng hồi nãy chỉ nhìn vô hình thôi em đòi móc mắt anh liệng bỏ, bây giờ đụng vào chắc phải chặt luôn cánh tay quá. Thanh ngồi bật dậy nhéo lên vai Tuấn một cái thiệt mạnh rồi giựt lấy chai kem vén áo vừa thoa lên ngực, lên bụng vừa nói: – Tới ngày Chúa phán xét những người trên thế gian tay, chưn, mắt, môi, mũi, lưỡi sẽ bị thẻo trụi lủi hết. – Bỏ tất cả vô cối quết nhuyễn nhừ như tương còn chưa thấy gì nói chi tới tay, chưn, mắt, môi, mũi, lưỡi. – Thà một lần như vậy còn hơn sống chẳng được gi. – Em còn ngon như vậy mà thằng Phong không biết thưởng thức, thiệt là thằng ngu. Chợt nhiên Thanh day qua trừng mắt nhìn Tuấn: – Anh… Cô định nói gì đó nhưng ngưng lại, rồi kéo khăn trải lên tảng đá và nằm xuống. Tuấn cũng nằm xuống cạnh bên, nói: – Nằm phơi một lát rồi thu xếp đồ đạc, mình còn đi đón thằng Hùng là vừa. Từ lúc trên suối về không hiểu sao, thái độ Thanh thay đổi hẳn. Cô trầm ngâm như suy nghĩ chuyện gì lung lắm. Về nhà tắm rửa thay áo quần màu trắng, cô đốt nhang bàn thờ. Không biết cô thờ ai mà không thấy hình, tượng gì hết. Chỉ thấy vài cuốn kinh Phật để cạnh bên bình bông và lư hương đầy chưn nhang. Sau khi đốt nhang cắm lên bàn thờ, cô quỳ xuống, hai gót chưn kê hai mông, hai tay để lên hai bắp đùi đầu cúi xuống, tóc xoã dài xuống lưng. Thấy cảnh tôn nghiêm quá, Tuấn bèn đi ra ngồi lên chiếc võng mắc hai đầu trên thân hai cây dừa phía sau nhà. Tuấn ngồi đu đưa trên võng nhìn hoàng hôn êm đềm trùm lên đồi núi. Chợt thằng Hùng đi ra nhờ anh chỉ nó nói vài câu chào hỏi bằng tiếng Anh. Thấy vậy anh mới hỏi nó: – Con có muốn học tiếng Anh không? Mắt nó sáng ngời: – Con thích lắm nhưng không có tiền đóng học phí. – Dượng sẽ cho con. Nhìn thằng nhỏ như cánh chim non chập chững tập bay và thèm biết cảnh trời cao đất rộng. Tuấn nhớ bữa trước anh ghé nhà cậu ba, cậu ấy đãi anh một tiệc linh đình, sau đó cậu nói, nếu có khoảng hai chục ngàn đô cậu ấy sẽ làm giàu bằng cách nuôi tôm hùm. Và hỏi Tuấn có thể giúp cẩu không. – Dĩ nhiên là không, Tuấn nói, cộng hết tài sản nhà tui lại cũng chưa có tới chừng đó tiền, thì lấy đâu ra mà giúp cho cậu. Bữa tiệc linh đình nhưng có lẽ vì câu nói này nên kết cuộc không được vui vẻ cho lắm. Tuấn vuốt đầu thằng Hùng, chỉ có mấy đứa nhỏ tâm hồn còn trong trắng, anh sẽ bàn với Thanh cố gắng vun trồng cho nó nên một người đàng hoàng. Anh nói với Hùng: – Chuyện học hành của con, một lát nữa dượng sẽ bàn với má con, học sinh ngữ phải tới trường lớp đàng hoàng chớ học như vầy ra đường nói bậy nói bạ người ta cười. Hùng dạ nhỏ một tiếng và mặt nó rạng rở một niềm vui. Ðêm xuống ánh trăng mỏng manh như chiếc đèn cong hình lưỡi liềm hoà cùng những vì sao toả ánh sáng yếu ớt trùm lên những mái nhà lá trên bờ ruộng. Thanh tay xách chiếc đôn từ trong nhà đi ra, cô đặt chiếc đôn và ngồi xuống trước mặt hai dượng cháu. Cô nói với thằng Hùng: – Con vô nhà học bài, xong rồi đi ngủ, để má với dượng nói chuyện. Thằng nhỏ ngoan ngoãn, đứng dậy khoanh tay chào Tuấn rồi đi vô nhà. – Lâu lắm nhà không có hơi đàn ông, có anh nhà ấm lại. – Vậy sao em không bước thêm bước nữa? – Em thương cho thằng Hùng và tội nghiệp anh Phong. – Thằng Hùng thương thì phải rồi. Còn thằng Phong bỏ em chớ đâu phải em bỏ nó đâu mà tội nghiệp. – Anh không hiểu anh Phong đâu, cũng tại ba má mà ảnh bỏ đi. – Ba má làm gì nó? – Anh coi, trong thời buổi kinh tế khó khăn, ảnh làm không ra tiền, nghèo khổ chúng em cũng cắn răng chớ không dám hỏi nhờ ai hết. Ba má không giúp tụi em gì thì thôi còn nói nầy nói nọ, mỗi lần anh chị gởi tiền về cho tụi em, em ra lấy thì ba má cứ so sánh giữa anh Phong và anh để nói hành nói tỏi riết rồi sau nầy tụi em nghe anh chị gởi tiền về cho, tụi em cũng không dám ra nhà ba má lấy nữa. Nói tới đây Thanh gục mặt xuống hai đầu gối khóc. Tuấn chờ cho cô dịu xuống, anh mới nói: – Ba, má vô lý thật. – Nhớ lại nhiều chuyện làm em khóc hoài. Trước khi gả chị Hai cho anh tuy nhà nghèo, nhưng ba má thương tụi em lắm, trên thuận dưới hoà, gia đình lúc nào cũng rộn rã tiếng cười rất là vui vẻ. Một trái xoài xẻ ra cũng chia đều cho mỗi đứa, có khi ba má phải nhịn phần mình cho con cái ăn. Khi mưa dông kéo về, nhà bị dột, chị em trong nhà đứa xách thau hứng chỗ nầy, đứa xách thùng hứng chỗ kia, rồi ngồi co ro trong góc nhà chờ mưa tạnh. – Nhưng chẳng lẽ vì chuyện nầy mà Phong lại bỏ em? – Hồi sanh thằng Hùng ảnh không làm ra tiền, buộc lòng ảnh ra hỏi mượn má, má nói sao anh biết không? – Sao? – Má nói, hồi đó biết mầy tệ như vầy tao gả con Thanh ra nước ngoài cho nó sướng thân. Tánh anh Phong cực khổ sao cũng được, nhưng ảnh không thể chịu được sự sỉ nhục của gia đình. Anh buồn quá trở về nhà bán miếng đất của ba ảnh để lại cho ảnh, lấy tiền giao hết cho em rồi trong đêm đó ảnh bỏ ảnh đi. – Nhưng Phong nó đi đâu? – Ảnh đi biệt cả năm sau mới gởi thư về cho em. Trong thư ảnh nói, ảnh tu trong một ngôi chùa ở Huế nhưng ảnh không cho em biết là chùa nào. – Cũng tại anh cưới chị Hai em mà gia đình em đổ vỡ, nhưng em có dự định gì tương lai cho mẹ con em không? – Nếu em tái giá chắc anh Phong buồn lắm và tội cho thằng Hùng sống với dượng ghẻ biết có được sung sướng không. – Theo anh nghĩ, nếu Phong đi tu thiệt thì nó sẽ vui khi hay tin em lấy chồng. – Anh Phong khuyên em nên noi theo gương công nương Yasodhara. – Qui y như nó luôn hả? Cái thằng kỳ cục, xuầt gia rồi mà còn lo lắng nhiều quá thì bao giờ mới thành chánh quả. Nhưng công nương Yasodhara ngày xưa sống trong hoàng cung, có người hầu kẻ hạ. Còn em với thằng Hùng sống nơi đồng không mông quạnh như vầy, ngoại trừ em biến nơi đây thành một cái am và em là một ni cô thật sự, chớ sống tiên không ra tiên tục không ra tục thì cũng khó cho em. – Theo anh nói thì trong hai cách sống em nên chọn một? – Dỉ nhiên, em chọn ra đường rồi thì em mới có hướng đi. – Trước kia anh thấy chuyện gia đình làm chị Hai em khổ sở mặt mày lúc nào cũng cau có, đôi khi cọc cằn với anh vô cớ, hai đứa cháu em còn nhỏ xíu mà bị nó la chửi hoài, có lúc bị chị em đánh đòn. Gia đình cứ xào xáo hoài, cũng chỉ vì ba cái tiền bạc gởi nhiều gởi ít. Anh chán quá, đôi lần anh định bỏ đi, nhưng nghĩ lại anh đi rồi và ở bên nhà ba má có thay đổi được gì và gánh nặng lại trút lên mình chị Hai thêm và còn hai đứa nhỏ nữa, không có anh tụi nó lớn lên sẽ ra sao. Thay vì bỏ đi, anh ở lại nhà tìm cách dìu dắt chị em vượt qua trong lúc khó khăng. Bây giờ mọi chuyện coi như tạm ổn rồi anh cũng thấy yên tâm. – Phải chi anh Phong nghĩ như anh thì ảnh đâu có bỏ em. – Mỗi người có cách nghĩ khác nhau, Phong đi tu mấy năm rồi. – Lúc thằng Hùng lên bốn tuổi. Mười năm trôi qua, có lẽ Phong đã lên hàng đại đức. – Nếu một đại đức hoàn tục trở về sống với em thì em nghĩ sao? Thanh ngẩng người: – Chuyện nầy trước tới giờ em chưa nghĩ tới. – Vậy thì nghĩ thử coi. – Anh Phong khuyên nên em nên tĩnh tâm, giữ năm giới của đạo Phật, nhưng nhiều lúc ngồi một mình trong căn nhà giữa đồng không mông quạnh như vầy em thấy buồn khủng khiếp. – Nếu em chịu không được sự cô đơn thì coi ai thương mình thật lòng thì làm đám cưới với họ. Em đâu cần phải đi tu, sống ngoài đời em vẫn giữ được những giới cấm của nhà Phật. Thấy không khí có vẻ nghiêm trang Tuấn khôi hài: – Còn nước còn cái như em mà vô chùa thì sẽ làm mấy ông sư điên đảo hết tâm thần. – Cái anh nầy. – Nhưng yêu đương là chuyện riêng tư của em thì em tự tính lấy. Phần anh, anh định nhận thằng Hùng làm con nuôi, anh chị sẽ lo cho nó ăn học. Em nghĩ thế nào? – Dượng, dì thì cũng như cha, mẹ anh tính như vậy cũng được, nhưng anh chị lo cho ba, má, còn lo cho mẹ em nữa có gánh nặng lắm không? – Không sao, mấy người lớn vô dụng cho họ ăn để chờ chết, từ đây trở đi anh dồn tâm trí lo cho những đứa nhỏ, thằng Hùng cũng như con anh, hai chị nó bên bển có gì thì ở đây nó có nấy, chúng nó cần được săn sóc dạy dỗ thành một một người sống có tình có nghĩa, đừng để chúng dẩm theo cách sống của những con người đầu óc tối tăm mà tánh tình thì tham lam và bịp bợm không ai bằng. Một hồi còi xe lửa vang dội núi rừng làm hai người im lặng hồi lâu. Tuấn nói: – Kèn xe lửa lúc nào nghe cũng buồn. Thanh nói: – Chuyến tàu từ Hà Nội vào Thành Phố. Ngày xưa nghe hai tiếng Hà Nội anh tưởng chừng xa thăm thẳm, bây giờ anh thấy gần xịt. – Lần sau anh đưa chị em ra Hà Nội chơi. – Lần sau là bao lâu? – Tùy hoàn cảnh thôi. – Anh có định về đây ở không? – Đất lành thì chim đậu. _ Đất ở đây rất lành nhưng nhiều thợ săn quá sợ không giữ nổi cánh chim bạt ngàn như anh. – Đúng hay sai gì thì cũng là quê hương. – Chớ không phải nơi nào có tự do nơi đó mới là quê hương sao? – Anh nghĩ, người nào nói ra câu đó thì người đó sẽ không bao giờ có được một quê hương thật sự. Cơn gió thoáng ngang Tuấn nghe người thấm lạnh, anh nói: – Khuya rồi, em vô lấy chiếc nóp anh để bên góc buồng đem ra cho anh rồi em vô ngủ đi. – Anh vô nhà ngủ, em đã giăng mùng cho anh ở phía trước, càng về khuya sương xuống càng nhiều, nằm ngoài nầy ướt hết. – Không sao đâu, chiếc nóp của anh có thể ngủ được ngoài mưa, huống hồ chi mấy thuở mới ngủ được ngủ giữa núi đồi đồng ruộng, thêm chút sương ướt cho thắm đượm tình quê. Thanh đứng lên đi vô nhà lấy chiếc nóp cuốn tròn trong chiếc túi nylong đem ra đưa cho Tuấn, cô nói: – Anh không nghe em, anh ngủ ở đây sáng bịnh thì hết về thành phố. – Hết về thì ở lại chơi với mẹ con em thêm một ngày nửa, lo gì. Thanh vừa trở vô nhà vừa càu nhàu: – Nghệ sĩ mười người hết chín đầu óc luôn lúc nào cũng có vấn đề. Bao nhiêu năm sống căng thẳng trên các thành phố Tây Phương, lắm khi những tiếng động của công xưởng, xe cộ làm anh mất ngủ, nay trở về được nằm giữa đồng ruộng, núi đồi của quê hương đất nước, lòng anh êm ả vô cùng, anh bắt đầu đều hoà hơi thở theo tiếng kêu rỉ rả của côn trùng và đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng không mộng mị…
Chú Thích: * Khánh Hòa có sáu câu vè nói lên đặc tính sáu nơi : Mây Hòn Hèo. Heo Đất Đỏ. Mưa Đồng Cọ. Gió Tu Hoa. Cọp ổ Gà. Ma Đồng Lớn.
Có môt ông làm ở Sở Bưu Điện. Nhiệm vụ của ông là: tìm cách giải quyết những bức thơ mà địa chỉ người nhận do người gởi đi ghi, viết tháu… rất khó đọc!
Một ngày, có một bức thơ viết tay, với hàng chữ run rẩy, gởi cho Đức Chúa Trời. Ông nghĩ: mình nên mở nó ra, xem bức thơ nói cái gì?
Bức thơ viết rằng: Kính thưa Đức Chúa Trời!
Con là góa phụ, 83 tuổi, và sống nhờ tiền trợ cấp an sinh xã hội rất là còm cõi. Hôm qua người ta đã ăn cắp mất cái ví tiền của con rồi! Trong ví, chỉ vỏn vẹn 100 đô la, là số tiền còn lại của con từ nay cho đến kỳ trợ cấp an sinh lần tới!
Thứ Ba tuần tới là ngày Chúa Giáng Sinh, và con đã mời hai người bạn thân đến ăn tối! Không tiền, con không làm cách chi mua được thực phẩm. Mà con không còn ai là thân bằng quyến thuộc để mà nhờ vả được, và Ngài là niềm hy vọng duy nhứt còn lại của con!
Xin Đức Chúa Trời hãy giúp con với!
Thành kính.
Edna.
Người nhân viên Bưu Điện rất xúc động. Ông đưa bức thơ cho những người đồng nghiệp khác xem. Mỗi người vét bóp, tìm được vài đô la, và khi góp hết một vòng, số tiền quyên góp lên được 96 đô!
Ông bèn bỏ số tiền đó vào một phong bì và gởi lại cho bà cụ rất đáng thương kia!
Suốt ngày hôm đó, những người nhân viên Sở Bưu Điện cảm thấy lòng mình ấm áp khi nghĩ tới Edna, nghĩ tới nghĩa cử của mình đã giúp Edna chia sẻ bữa ăn tối Giáng Sinh cùng hai người bạn của bà!
Giáng Sinh đến rồi đi!
Vài ngày sau, một bức thơ cũng do Edna viết, gởi Đức Chúa Trời.
Tất cả các nhân viên Sở Bưu Điện, đã tham gia vào cuộc quyên góp, tụ tập lại và bức thơ được mở ra, đọc lớn lên cho ai nấy đều nghe.
Kính thưa Đức Chúa Trời!
Không thể nào diễn tả hết lòng biết ơn của con trước hành động ban phước của Ngài.
Với món quà tặng đầy lòng yêu thương của Ngài, con đã đãi cho hai người bạn của con, một bữa ăn tối Giáng Sinh thiệt là thịnh soạn. Chúng con đã trải qua một ngày rất hạnh phúc và con đã nói với hai bạn con rằng: đây là một món quà Giáng Sinh tuyệt vời từ tay Thiên Chúa đã ban tặng cho con.
Tiện đây, con cũng xin báo với Ngài rằng: Con bị mất hết 4 đô la!
Con nghi chắc là do bàn tay “nhám nhúa” của mấy “thằng” làm ở Sở Bưu Điện “chôm chỉa” của con mất rồi!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.