This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Má về với ba khi còn rất trẻ. Ba, hai mươi tuổi. Má, mười tám tuổi. Má dứt sữa anh Nhiên không lâu thì có mang tôi. Tôi cách anh Nhiên hai tuổi. Người khác thường gọi anh mình bằng thứ: chẳng hạn anh hai, anh ba. Riêng tôi, tôi gọi anh mình bằng tên: anh Nhiên. Anh Nhiên là con đầu lòng, sức khỏe kém, quặt quòa quặt quẹo, nay đau, mai yếu, nay ấm đầu, mai sổ mũi. Bịnh hoạn rề rề làm anh nhỏ con, ốm nhom ốm nhách, nên đi chơi hoặc đi học thường hay bị những thằng, không biết thế nào là phải trái, xúm lại hiếp đáp. Một tối anh dẫn tôi đi xem truyền hình công cộng trong xóm, có thằng lớn con hơn giành chỗ, lấn tôi té xuống đất. Anh Nhiên tôi binh em, nhào vô ăn thua đủ. Tội nghiệp! anh Nhiên tôi nhỏ con, ốm yếu bị nó bự con, khỏe mạnh, đè gần chết. Tôi nóng mũi, binh anh mình, hốt một bụm cát vụt vô mặt nó. Thằng mắc dịch đó hét lên vì không thấy đường, lo lấy hai tay dụi mắt. Tôi thừa cơ nhảy vô đấm, đá tưng bừng, rồi hai anh em chạy tuốt về nhà. Bữa sau ba nó đến mắng vốn. Ba nó nói: hai anh em tôi ỷ đông đánh con ổng. Ba tôi chỉ giả lả cho qua chuyện. Sau đó ba tôi hỏi đầu đuôi gốc ngọn. Anh chỉ nói: “Con hổng muốn quánh nhau với nó. Mà hổng quánh hổng được.”
Lớn lên, hai anh em cùng học chung trường Petrus Ký. Anh học trước tôi hai lớp. Không biết bao nhiêu lần anh bị buộc phải đánh nhau với mấy thằng bạn học hay ăn hiếp anh, tôi đều nhào vô ăn thua đủ, đến nỗi phải bị gọi lên văn phòng gặp thầy tổng giám thị. Thầy hỏi: “Sao hai anh em tụi bây quánh nó?” Tôi trả lời: “Tại nó ăn hiếp anh con”. Còn anh Nhiên tôi thì lại nói: “Con hổng muốn quánh nhau với nó. Con muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.”
Một chiều, tan học, từ trong lớp tôi tà tà ra nhà giữ xe đạp bên hông trường để anh Nhiên chở tôi về. Trận đánh lộn mới vừa tan. Cái thằng học cùng lớp với anh, cái thằng vừa mới đánh anh, đã chạy mất tiêu. Mấy thằng khác chỉ đứng nhìn, không nói, không can ngăn gì hết mà còn hò reo inh ỏi trong khi anh Nhiên tôi bị đánh chảy máu mũi và bị bầm tím một bên mắt. Tôi tức mình quá, vừa giận vừa thương anh, nên cự nự: “Sao anh không đợi tui ra rồi hãy quánh” Anh trả lời: “Tao đâu muốn quánh nhau với nó. Tao chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.” Tôi xé một tờ giấy tập, vò cho nhầu, mềm, chậm máu mũi cho anh. Tôi giận mình sao lại tà tà ra trể. Tôi giận mấy thằng kia chỉ khoanh tay đứng nhìn, không làm gì hết, mà còn khoái chí đứng xem một đứa hung hăng, mạnh bạo bức hiếp một người yếu đuối, thế cô. Tôi giận luôn cả anh nên suốt đường về, tôi không thèm nói với anh lấy một câu. Về nhà má tôi nấu nước sôi, pha muối, thấm vảo hai miếng bông gòn, miếng thì lau máu mũi cho anh, miếng thì chậm lên con mắt bị bầm. Anh nằm trên chiếc đi-văng, nhìn lên trần nhà bằng một con mắt, có vẽ suy nghĩ lung lắm, rồi lẩm bẩm: “Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mà hổng quánh hông được.” Tôi thì đi tới, đi lui, hậm hực nói: “Lần sau anh đợi tui ra tới rồi hãy quánh. Anh với tui cho nó một trận để cho nó bỏ cái tật cà khịa.” Năm sáu tám, khi anh đang học đệ nhứt, thì Tổng công kích Tết Mậu Thân bùng nổ. Hình ảnh con nít, bà già chết còng queo trong lửa đạn, nhà cửa tan hoang cháy làm anh xúc động. Anh trầm ngâm, ít nói hẳn đi. Tối ngày chỉ nghe anh lẩm bẩm: “Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mình chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.”
Anh suy nghĩ gì lung lắm – phải làm một cái gì đó -. Một cái gì đó anh phảỉ làm là: bỏ học giữa chừng năm đệ nhứt, không thi tú tài hai và đăng lính. Năm năm sau, năm bảy ba, anh Nhiên tôi tử trận ở Quảng Trị. Xác anh được mang về Huế, bỏ vô hòm kẽm, cò chì, đưa lên máy bay chở về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ba má tôi nhận tin báo tử. Chỉ một đêm chờ sáng, lên nhận xác anh Nhiên mà tôi thấy ba, má tôi già háp, gầy sọm hẳn đi.
Anh Nhiên tôi chết trẻ, hai mươi ba tuổi, chưa lập gia đình, chưa vợ, chưa con. Vì không có vợ, con nên không có ai để chít cho anh một vành khăn tang trắng. Ngược lại, theo phong tục mà ông ngoại tôi biểu: trên đầu chiếc quan tài của anh Nhiên tôi có một vành khăn tang trắng dành cho anh để tang ba má. Trước giờ di quan, ông ngoại tôi cầm chiếc roi bằng nhánh cây dâu giá giá lên chiếc quan tài của anh giả bộ làm như đánh, để trị anh tội bất hiếu: chết trước khi ba má qua đời. Ba tôi đứng kế bên, đột nhiên dằn lấy chiếc roi dâu trong tay ông ngoại, bẻ làm hai quăng xuống đất, rồi nói: “ Thằng Nhiên, nó chết trận, nó đền nợ nước. Nó có tội gì đâu? mà ba lại đánh nó.”
Kỳ trước: Cuối cùng thì đơn vị tiếp viện đã tới, ông Tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn 45 BB đã vào đến cổng trại để bắt tay với Thiếu Tá Vương Mộng Long, trong khi đó toàn bộ các đơn vị bộ binh, xe tăng, phòng không của địch đã rút sạch sau hơn một tháng ê càng mà không gặm nổi trại Pleime.
Nói đúng hơn, họ không thắng nổi ý chí của những người lính VNCH bằng lòng chiến đấu cho đến chết.
Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị
Kỳ cuối
Tôi làm như quay mặt nhìn hướng khác khi thấy ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cầm cái can chỉ huy gõ nhè nhẹ vài cái lên nón sắt của Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, ra dấu cho ông Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng đừng phát ngôn lung tung nữa.
Ngày 14 tháng 9 một đoàn xe chuyển vận Tiểu Ðoàn 90 của Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân vào trại thay thế cho chúng tôi để trấn giữ trại Pleime.
Toàn bộ quân nhân còn sống sót của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thở dài nhẹ nhõm. Ðoàn xe lăn bánh vượt con dốc vườn rau của trại, để lại sau lưng chúng tôi cái địa ngục trần gian của hơn một tháng trời, ngày đêm đội mưa, đội pháo, ghìm súng chống quân thù.
Theo như ghi chép trên Nhật Ký Hành Quân của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân thì trong thời gian bao vây Pleime, Cộng Quân đã triển khai 20 đợt tấn công biển người nhắm vào hệ thống phòng ngự của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.
Nhưng theo tổng kết của Trung úy Trần Dân Chủ sĩ quan Ban 3 của đơn vị tôi thì địch đã mở ra gần 30 đợt xung phong trong thời gian vây hãm này.
Chúng tôi vẫy tay giã từ nơi đây mà không biết đó cũng là lần ra đi vĩnh biệt.
Có một xe GMC được trưng dụng chở chiến lợi phẩm. Ðáng lý ra còn nhiều súng ống của địch nằm trong hàng rào, nhưng tôi không cho người bò vào bãi mìn để lấy thêm, vì đã có hai Biệt Ðộng Quân chết oan khi vướng mìn và lựu đạn trong lúc chui vào rào thu nhặt chiến lợi phẩm.
Chúng tôi được lệnh trú quân trong một khu rừng thưa cách ngã ba Quốc lộ 14 nửa cây số để tắm giặt, thay quân phục, chờ hôm sau sẽ về Pleiku làm lễ khao quân.
Sáng 15 tháng 9 khi tôi kéo quân lội bộ ra tới Quốc lộ 14 thì đã có gần hai chục chiếc GMC mười bánh đậu nối đuôi nhau chờ sẵn.
Sau khi trình diện, ông Ðại úy chỉ huy đoàn quân xa, siết chặt tay tôi,
– Kỳ này các ông mà không giữ được Pleime thì chắc Pleiku bị di tản rồi!
Nghe vậy, tôi vội ngắt lời ông ta,
– Có gì đâu! Nhiệm vụ của Biệt Ðộng Quân mà!
Ông Ðại úy cười hóm hỉnh,
– Tôi ở Pleiku từ thời Trung tướng Vĩnh Lộc, tôi biết Thiếu tá từ khi ông còn là một thiếu úy, mỗi khi hành quân về ông đều ghé Quán Kim Liên!
Nghe vậy tôi cười lớn,
– Mình là dân Pleiku, phải bảo vệ Pleiku cũng là lẽ đương nhiên thôi!
Chiếc xe Jeep của tôi vừa leo dốc qua cầu Hội Thương Hội Phú thì đã thấy dân chúng hai bên đường vẫy tay reo hò, “Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!…”
Dân chúng đứng chật ních hai bên đường từ dốc Diệp Kính tới Hội Quán Phượng Hoàng cao tay phất những lá cờ nho nhỏ bằng giấy nền vàng ba sọc đỏ. Trong khi đó thì những cái loa trên một chiếc xe của Ty Thông Tin Pleiku chạy vòng vòng phát đi những điệu hát quân hành, “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về dưới nắng hồng….”
Quân nhân của tiểu đoàn tôi phải xuống xe nơi đầu dốc Diệp Kính, Hoàng Diệu rồi đi bộ hàng một tiến về sân vận động.
Ði đầu đoàn quân, ngợp trong rừng cờ và biển ngữ, tôi tưởng mình bị hoa mắt trông lầm khi thấy trên hai cái băng vải trắng treo trên hàng rào nhà thờ và căng ngang đường phố trước tư dinh của Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn II có hàng chữ viết bằng sơn đỏ:
“Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu tá Vương Mộng Long và các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt động quân”
Nơi sân vận động Pleiku này, tôi đã từng có vài lần đứng chung hàng ngũ những quân nhân được tiếp đón sau hành quân để nhận huy chương. Tôi chưa thấy có lần nào người chỉ huy đơn vị được nêu đích danh tên họ để “Ghi ơn”.
Ðây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử thành phố, một đơn vị nhỏ, cấp tiểu đoàn vinh dự được dân chúng đón tiếp trọng thể như thế. Ngày hôm đó toàn dân thành phố đã đình công, bãi thị. Các trường học thì đóng cửa để ăn mừng chiến thắng.
Dọc đường, người dân tươi cười hớn hở ào ra dúi cho các anh lính chiến những bao thuốc lá. Thuốc lá mà đồng bào đem ra cho các anh lính có khi hút cả tháng sau mà chưa hết! Ngực ông lính nào cũng căng phồng vì áo lót chứa toàn là thuốc lá!
Trong số đàn bà con nít đứng chờ đoàn chiến binh đang từ dưới dốc Diệp Kính đi lên có nhiều người là vợ con lính của tiểu đoàn. Tôi không nỡ ngăn cản những bé con đang hớn hở, tíu tít vui mừng chạy ra giữa đường níu chân bố chúng nó:
“Ba ơi! Ba ơi! Ba về rồi! Con nhớ Ba lắm! Ba ơi!”
Cũng có những đôi mắt đỏ hoe, những giòng lệ tuôn, cùng tiếng khóc nấc trong đám đông, khi ai đó vừa hay tin chồng con của họ sẽ không về.
Vào tới sân vận động tôi thấy ở đây quả là một rừng người.
Trên sân, sau hàng quân của tôi là đội ngũ thầy giáo và học trò, kế đó là đội ngũ dân chúng. Hội đoàn dân chính do ông Ngô Xuân Thu và bà Hồ Thị Thơm đại diện.
Tôi đứng một mình trước đoàn quân đội ngũ chỉnh tề.
Anh em còn lại của đơn vị đứng xếp hàng thành một khối 20 hàng dọc và khoảng trên 20 hàng ngang.
Trên khán đài là hai vị đại tá, Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku, ngồi bên là Ðại tá Phạm Duy Tất Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, cùng nhiều thân hào nhân sĩ của Pleiku.
Dàn nhạc của Quân Ðoàn II bắt đầu bản nhạc “Bài ca chiến thắng” cùng lúc các nữ sinh đại diện các trường trung học tiến lên, trên tay mỗi cô là một vòng hoa tươi nhiều màu sặc sỡ.
Kể cả tôi, có 21 người đại diện đơn vị được choàng hoa.
Cô nữ sinh dẫn đầu đoàn người đẹp đi qua trước mặt tôi sẽ là người choàng hoa cho anh lính thứ 21. Người đi sau cùng mới là người sẽ đứng lại trước mặt tôi.
Trong số nữ sinh đi trong đoàn người ủy lạo đơn vị tôi hôm đó có một người tôi quen, cô ấy là người yêu của cố Thiếu úy Biệt Ðộng Quân Ðinh Quang Biện.Thiếu úy Biện là người anh lớn nhứt của vợ tôi. Anh Biện đã tử nạn năm 1971.
Ði ngang qua mặt tôi, cô ấy nói,
– Cám ơn Tiểu Ðoàn 82! Cám ơn anh Long! Chị Long và mấy cháu có khỏe không?
Tôi mỉm cười,
– Cám ơn chị, gia đình tôi vẫn bình an.
Thế rồi mấy phút kế đó, sau lưng tôi, cô nữ sinh này đã bật khóc giữa hàng quân, ngay khi vừa choàng xong vòng hoa cho một sĩ quan. Có lẽ người con gái Pleiku ấy vừa nhớ đến hình bóng một người lính Biệt Ðộng Quân đã đi qua đời mình.
Tình đầu không thể ví như một giọt sương đọng trên cánh hoa sớm mai, nắng lên thì hạt sương bay. Tình đầu là những gì chứa đầy chua xót, đắng cay, ngọt ngào, nếu đã đánh mất nó rồi, thì sẽ không bao giờ tìm lại được. Nó cứ mãi sống trong tim người. Vì thế mà một thi sĩ thời tiền chiến đã viết:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên?” (Thơ Thế Lữ)
Hôm đó người lính nào đứng trong hàng ngũ Tiểu Ðoàn 82 cũng được các em học sinh và đồng bào trao cho một gói quà, kể cả các anh vừa mới được bổ sung quân số mười ngày trước đây.
Cái hình Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được cô hoa khôi trung học choàng vòng hoa chiến thắng đã chiếm hết một trang đầu của Nhật Báo Tiền Tuyến phát hành vài ngày sau đó.
Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku mở đầu buổi lễ bằng một bài diễn văn dài. Ông Tỉnh Trưởng không tiếc lời ca tụng chiến công mà chúng tôi vừa lập được.
Kế tiếp là một bài phát biểu dài thật là hùng hồn và sống động của ông Ngô Xuân Thu, Dân Biểu đơn vị Pleiku.
Ông Ngô Xuân Thu cho chúng tôi những lời khen khiến chúng tôi cảm thấy mình đang bay lên tới tận mây xanh.
Cứ sau vài câu ca tụng “những chàng trai Việt kiêu hùng” ông dân biểu lại lớn tiếng hô to “Hoan hô!” thấy thế dân chúng trong sân cũng lớn tiếng “Hoan hô!” theo.
Ngay sau khi Dân Biểu Ngô Xuân Thu dứt lời thì cả sân vận động bỗng trở thành một cái chợ với những tiếng gọi nhau “Ơi ới!” của các bà, các cô tranh nhau đem quà phân phát cho chiến sĩ. Phái đoàn ủy lạo của bà Hồ Thị Thơm và các bà trong đội ngũ phụ nữ đã chuẩn bị sẵn 500 ổ bánh mì thịt và hai con heo sống thật bự dành cho những đứa con vừa trở về từ chiến trường.
Con rể của bà Thơm cũng là một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân, nhưng anh Trung sĩ Ðốc làm việc ở văn phòng, nên không có mặt trong hàng quân đang đứng trên sân.
Cuối cùng tôi bị gọi tên lên bục phát biểu cảm tưởng.
Vì không được thông báo trước chuyện này, nên đứng trước máy vi âm tôi không có tờ giấy đánh máy sẵn như ông Ngô Xuân Thu, tôi cứ nghĩ gì thì nói vậy.
Khi tôi dứt câu,
“Thưa đồng bào Pleiku! Chúng tôi là những đứa con của đồng bào! Chúng tôi sẵn sàng hy sinh thân xác mình để canh từng thước đất, giữ từng đoạn giao thông hào chống quân xâm lăng, cũng chỉ vì sự an nguy của đồng bào! Hôm nay những đứa con của đồng bào đã bình an trở về rồi! Ðồng bào có thể yên tâm, không còn lo sợ nữa!”
thì trong đám dân chúng đứng bên trái khán đài có nhiều tiếng khóc sụt sùi.
Mấy chục năm sau, tôi không quên hình ảnh những cụ già vừa lau nước mắt vừa nghẹn ngào,
– Các con vất vả quá! Thương các con quá, các con ơi!
Những phóng viên nhà báo Việt-Nam và ngoại quốc tranh nhau chụp hình quay phim.
Có một phóng viên người Mỹ hỏi tôi,
– Xin anh cho biết vì sao trong tình trạng thiếu thốn và tuyệt vọng như thế mà các anh vẫn kiên trì chiến đấu rồi chiến thắng?
Tôi cười, đáp gọn,
– Chúng tôi chiến đấu tới cùng là vì an nguy của đất nước Việt-Nam!
Người quay phim của Tiểu Ðoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị cũng phỏng vấn tôi một câu tương tự,
– Ðộng cơ nào thúc đẩy Thiếu tá đã liều mình tử thủ Pleime?
Tôi cũng cười,
– Vì đồng bào Pleiku, và vì đồng bào cả nước!
Các ký giả săn tin còn tìm thêm được vài Biệt Ðộng Quân khác để phỏng vấn, trong số những người hùng được lên màn ảnh truyền hình kỳ này có Trung úy Nguyễn Công Minh, Thiếu úy Phạm Văn Thủy, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Trung sĩ viễn thám Nguyễn Chi.
Chiều 15 tháng 9 trên 400 quân nhân của tiểu đoàn được chia thành từng tốp từ 5 tới 8 người để dự tiệc do các cửa tiệm tư nhân, hay hội đoàn tiếp đón.
Tôi cùng Thiếu úy Trần Văn Phước và toán Viễn Thám của Mom Sol được “Nghiệp Ðoàn Tài Xế xe Lamb” và “Hội xưởng cưa” tiếp đãi. Bữa tiệc này có Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 tham dự.
Sau này những cửa tiệm như Giò Chả Bắc Hương, Hủ Tiếu Hiệp Thành, Cà Phê Kim Liên, Nước Mắm Nguyễn Quý, Phở Kim Phượng, Cơm Ba Cò, Quán Kim, Quán Nhớ… vân vân, nếu thấy anh lính Biệt Ðộng Quân nào mang trên vai cái huy hiệu đầu cọp có số “82” thì không tính tiền, hoặc tính theo giá rẻ.
Trong nhiều ngày sau đó, hình ảnh buổi lễ khao quân ngày 15 tháng 9 năm 1974 trên sân vận động Pleiku đã trở thành một trong những sự kiện nổi bật trên màn ảnh truyền hình quốc gia.
Thời gian nghỉ dưỡng quân ở Pleiku tôi có dịp gặp và nói lời cám ơn tới những đồng ngũ đã có mặt trong các đoàn quân vào tiếp viện cho tôi, đặc biệt là các bạn ở Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh và các bạn ở Trung Ðoàn 53, Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Tôi nói với họ rằng, nhờ có những đóng góp máu xương của họ mà chúng tôi mới tạo được chiến thắng vẻ vang này.
Anh em trong đơn vị tôi có ba ngày nghỉ tự do, nhưng chỉ được đi loanh quanh trong phố Pleiku thôi, không ai được phép đi sang thành phố khác.
Là con chim đầu đàn, tôi phải nêu gương, giữ gìn quân kỷ. Dù nhớ vợ con vô cùng, tôi cũng không dám bỏ đơn vị để “dù” về Ban Mê Thuột thăm nhà.
Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng dù phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, Quân-Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa vẫn có thể chu toàn nhiệm vụ bảo quốc an dân.
Với thượng cấp chúng tôi đã hoàn thành sứ mạng được giao phó.
Với đồng bào Pleiku, chúng tôi đã xứng đáng là những người con tin yêu của thành phố.
Với cá nhân tôi thì trận đánh 33 ngày đêm này chính là cơ hội để tôi thi thố hết khả năng của một người cầm quân.
Những chiến binh “Tử thủ” Pleime năm 1974 đã vì đất nước mà quên cả mạng sống của chính mình, nên nhiều chục năm sau họ vẫn cảm thấy tự hào:
“Tôi rất hãnh diện đã là một người lính của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”
Theo thời gian, những người từng hiện diện trong chiến dịch Pleime 1974 đã và sẽ theo chân nhau thành người thiên cổ. Nhưng trong quân sử, chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng sẽ mãi mãi được lưu truyền như một huyền thoại của chiến tranh Việt-Nam trong thế kỷ thứ 20.
Kỳ trước: Các trung đoàn của Sư Đoàn 320A Việt cộng đang dồn toàn lực để san bằng căn cứ Pleime. Các đợt tiền pháo hậu xung tới tấp của địch không làm hao mòn ý chí chiến đấu của người lính TĐ 82 BĐQ, những tay súng đã chấp nhận cái chết.
Trung Đoàn 45 của Sư Đoàn 23 Bộ binh VNCH đang trên đường cứu viện.
Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị
Kỳ 10
Ðể đánh lừa địch, tôi cho đặt một quả mìn chống chiến xa dưới một cục đá mỏng, trên cục đá là một lưỡi xẻng rỉ sét. Máy rà mìn sẽ reo lên khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng và quả mìn. Ðịch thấy cái lưỡi xẻng nhưng không ngờ dưới đó có một cục đá đè trên quả mìn! Chúng sẽ ơ hờ bỏ qua, rồi tiếp tục đi tới, lại thấy một mảnh kim loại đè trên cục đá, chúng không nghĩ dưới cục đá còn có quả mìn…
Tôi leo lên chòi canh, mắt tôi nhìn không chớp: Một cột khói đen kịt cuồn cuộn dâng lên, cùng lúc những tiếng “Bùng! Bùng! Lách! Cách!…” do đạn cháy nổ trong chiếc xe tank mới cán mìn!
Tôi đứng lặng người lo lắng:
“Vậy là K16 Tank tham chiến! Chắc phen này mình tiêu tùng rồi!”
K16 Tank là tiểu đoàn xe tank T54 trực thuộc Trung Ðoàn E 40 Pháo của Mặt Trận B3.
Trung Ðoàn E 40 Pháo là đơn vị yểm trợ hỏa lực trực tiếp của địch trong các chiến dịch lớn trên toàn lãnh thổ Vùng 2. Thời gian này Trung Ðoàn E 40 Pháo đang trú quân trong thung lũng Ia Drang. Nếu Tiểu Ðoàn K16 Tank này nhập trận thì chúng tôi nguy to.
Tôi có hai Box 1×1 kilomet dự trù sẵn sàng cho pháo binh chiến lược 175 ly đánh bất cứ lúc nào. Hỏa tập thứ nhất nằm cách chân tiền đồn Bắc, hai cây số, phủ trùm cả cái cống mà chiếc tank địch bị vướng mìn hồi chiều. Hỏa tập thứ nhì nằm trên con đường xe be hướng Tây. Nay là lúc tôi dùng tới hai hỏa tập dự trù này.
Lần đầu được nghe đại bác 175 ly yểm trợ, tôi có cảm tưởng như thời kỳ tháng 8 năm 1972, đứng trong giao thông hào ở trại Ðức Cơ chứng kiến pháo đài bay B 52 của Mỹ đánh những Box 1×3 kilomet cách rào trại chỉ hơn ba cây số.
Hai bên cổng Bắc đã có mười mấy cây M72 hờm sẵn; nòng súng đã được kéo thành ống phóng, bấm nút là đạn bay đi.
Khẩu 105 ly cổng Bắc không dùng để bắn những mũi tên sắt nữa, mà thay vào là những viên đạn chống tank với đầu nổ sơn đen.
Tôi có một khẩu súng SKZ 57 ly chống chiến xa, nhưng từ ngày đầu chiến dịch, khẩu súng này đã gãy nòng vì bị pháo kích.
Khuya 29 tháng 8 tôi ra mật lệnh cho một toán viễn thám sẵn sàng ở cổng Nam Pleime. Nếu chiến xa Việt-Cộng đè sập hết hàng rào, vào càn quét trên căn cứ thì toán sẽ mở toang cổng sau, quân ta sẽ vừa đánh vừa lui ra hướng sân bay.
Riêng tôi, chú Minh và chú Phước sẽ cố thủ trong lô cốt chứa thương binh.
Minh và Phước đã hứa sẽ cùng tôi chết bên nhau trên đất Pleime, sẽ không chạy, sẽ không đầu hàng.
Tôi lo lắng từng giờ, chờ những chiếc tank T54 xuất hiện nơi cổng Bắc.
Ðịa thế của Trại Pleime đóng một vai trò rất quan trọng trong công việc phòng thủ.
Doanh trại của đơn vị trú phòng nằm gọn lỏn trong vị thế lõm của cái lòng chảo giữa ngọn đồi có cao độ 403 mét. Các pháo đài chỉ cao hơn mặt đất chừng hai gang tay, thấp hơn chiều cao của cỏ tranh, do đó Việt-Cộng không phân biệt được đâu là pháo đài, đâu là tường đất để dùng đại bác mà trực xạ.
Hai mặt Nam và Ðông của Trại Pleime chưa hứng chịu lần tấn công nào, có lẽ do địa thế không thuận lợi. Mặt Ðông thì đất dốc đứng, không thể xung phong nhanh được, còn mặt Nam lại quá trống trải, bộ binh và tank rất dễ bị bắn hạ trước khi áp sát hàng rào phòng thủ.
Trận Pleime 1974 giai đoạn cuối
Nếu tank địch mà tiến vào từ hướng Nam thì họ sẽ chết chắc! Sân bay Pleime chứa hàng trăm quả mìn, bộ binh dò đường vừa ló dạng đã chết bởi đạn Beehive của Trung úy Như. Tôi còn cầu trời xui khiến cho chúng đưa tank vào hướng Nam để tôi tiễn đưa chúng về trình diện Diêm Vương.
Ðêm xuống, trong máy truyền tin của tôi có tiếng người Miền Bắc chỉ vỏn vẹn một câu chứa đầy sự đe dọa:
“Thằng cứng đầu! Tao sẽ san bằng cái đồn của mày!”
Tôi đã nhận ra giọng nói quen của người phía bên kia, nên từ tốn trả lời,
– Tôi nghĩ rằng, người cầm quân tất nhiên phải cân nhắc thiệt, hơn. Chắc anh đã biết, muốn giết bốn trăm người dưới quyền tôi thì ít ra anh cũng phải chết một hai nghìn người! Lùa hai nghìn người vào chỗ chết để đánh đổi một cái đồn bé tí teo có phải là hành động khôn ngoan không? Chúng ta có ân oán với nhau, nhưng không thể vì thế mà coi rẻ hàng nghìn sinh mạng của những người dưới quyền mình.
Chờ khoảng năm phút sau không thấy người kia nói gì thêm, tôi bèn cúp máy.
Bốn tháng trước tôi và người này đã chửi nhau một lần vào ngày 14 tháng Tư năm 1974. Ngày đó ở Căn cứ 711, Trung Ðoàn 64/320A của ông ta bị tôi đánh tan hoang, còn tôi cũng bị cháy 12 chiếc chiến xa. Tới tối thì ông ta vào máy kêu gọi tôi đầu hàng.
Tôi lớn tiếng réo tổ tiên, ông nội, bà ngoại ông ta ra mà chửi.
Rồi tôi thách thức ông ta có giỏi thì cứ xông lên, lên bao nhiêu người tôi sẽ giết chết bấy nhiêu!
Thế là ông ta dốc toàn lực thành phần còn lại của sư đoàn dưới tay ông để đánh tôi. Ðêm 14 rạng 15 tháng 4 ông ta nướng hết Tiểu Ðoàn D20 Trinh sát; sáng hôm sau ông ta điều động toàn bộ Trung Ðoàn 48/320A vào trận.
Tới khi Trung Ðoàn 48/320A dùng tới thủ pháo chứa hơi độc hóa học thì tôi bị thua. Căn cứ 711 bị tràn ngập. Quân của ông ta đã ôm vật tôi xuống đất định bắt sống thì bị Thiếu úy Trần Văn Phước bắn loạn cào cào, mấy tên bu quanh tôi đều trúng đạn.
Sau đó Trung úy Nguyễn Công Minh kịp thời tiếp cứu, rồi ba thầy trò tôi chạy bán mạng, thoát chết.
Sau trận đó Ðại tá Tất khuyên tôi nếu phải đánh nhau với ông ta lần nữa thì chịu khó nói năng dịu dàng hơn, đừng chọc giận ông ta nữa, ông ta mạnh hơn mình nhiều, tránh voi chẳng xấu mặt nào!
Ông ta là Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng Sản.
Mấy năm sau, khi đang bị giam giữ trong trại tù cải tạo Nam-Hà A ở ngoài Bắc, tôi nghe tin Thiếu tướng Kim Tuấn Tư lệnh Quân Ðoàn 3 của Cộng-Sản đã tử trận trên chiến trường Campuchia.
Chạm trán lần này tôi đã có kinh nghiệm, nên theo cách Ðại tá Tất mách nước, tôi dùng giọng điệu ôn hòa để đáp lại lời hăm dọa của ông ta.
Không biết qua lần đối thoại vừa qua, thái độ của tôi có ảnh hưởng gì tới quyết định rút quân của Ðại tá Kim Tuấn hay không?
Cũng có thể vì quả mìn chống chiến xa của tôi đã làm sập cái cống bắc ngang con suối khiến cho chiếc T54 mở đường cắm đầu xuống nước, nên những chiếc tank khác không tiến được.
Mặt khác, không loại trừ lý do mà Ðại tá Kim Tuấn ngừng tiến công Pleime chỉ vì ông ta e sợ bị sập bẫy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Toàn đang có trong tay một thiết đoàn kỵ binh và một trung đoàn bộ chiến chưa sứt mẻ, dư sức chặn đường lui, và tiêu diệt gọn cái Tiểu Ðoàn K16 Tank của Bắc quân nếu họ bị lún càng vào một trận đánh xáp lá cà với những người tử thủ Pleime.
Hai ngày kế tiếp chúng tôi không thấy pháo cối, và không còn đợt xung phong nào nữa.
Ðêm 31 tháng 8 tôi cho hai toán trinh sát đi vòng quanh rào trại do thám tình hình, một toán xuất phát từ cổng Nam kiểm soát hướng Tây rồi về cổng Bắc. Một toán đi từ cổng Bắc vòng về hướng Ðông rồi vào cổng Nam. Hai toán thám thính vòng đai về báo cáo rằng địch đã rút đi rồi!
Toán trinh sát hướng Ðông báo cáo rằng nơi bờ đất dốc đứng cách hàng rào ngoài chừng hai trăm thước là hàng trăm hầm hàm ếch của địch. Có lẽ đây là nơi trú ẩn của Trung Ðoàn 48/320A?
Trong thời gian một tháng qua, tôi chỉ dùng pháo 106 ly và 81 ly đánh sát hàng rào hướng Tây, chưa từng có viên đạn cối hạng nặng nào rơi sát rào Ðông. Ðạn cối 60 ly của tôi không có đầu nổ xuyên phá (delay) nên những lần đánh cận phòng hướng Ðông của tôi chẳng khác gì bắn “gãi ngứa” cho địch quân trên mục tiêu này.
Tối 1 tháng 9 tôi ra lệnh cho Chuẩn úy Bảo và Thượng sĩ Sơn dẫn đầu một trung đội của Ðại đội 1/82 leo lên Chư Gô tái chiếm cao điểm 509. Trung đội này tới mục tiêu thì địch đã rút đi rồi.
Cùng giờ, một trung đội của Ðại Ðội 4/82 do Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Thượng sĩ Phong cũng lên đường nhắm hướng Chư Hô. Trên Chư Hô, đơn vị phòng không của địch đã di chuyển, còn lại cỡ một tiểu đội đoạn hậu.
Gần 10 giờ đêm trung đội của Chuẩn úy Phước chạm trán với tiểu đội Việt-Cộng này. Hai bên bắn nhau chừng mười phút thì địch bỏ chạy xuống núi. Lá quốc kỳ Việt-Nam Cộng-Hòa được kéo lên ngọn cột cao giữa đỉnh Chư Hô vào đúng KHÔNG (0) giờ ngày 2 tháng 9 năm 1974.
Từ đỉnh núi Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước gọi cho tôi rồi báo cáo,
– Trình Thái Sơn, vùng hướng Tây dưới chân núi Chư Hô, xe của địch đang chạy thành đoàn, đèn chiếu sáng choang.
Thì ra, cơ giới địch đang rút đi!
Mấy ngày sau tôi đem theo Ðại đội 4/82 và một toán cận vệ vào thám sát khu vực mà chú Phước nói có đèn xe của Việt-Cộng thì phát giác ra nơi ấy là một vị trí đóng quân của cơ giới địch. Tiếc rằng thời gian qua, quân ta quá chú ý tới mặt trận hướng Bắc nên không có cuộc không tập nào trên mục tiêu lộ thiên này.
Vùng này nằm cách Pleime gần 5 cây số về hướng Tây Nam. Chắc chắn trận địa này đã được thiết trí sau ngày tiền đồn Chư Hô của ta rút chạy.
Thoạt nhìn ta có cảm tưởng như đang đứng trước vị trí trú quân dã ngoại của một đơn vị của Hoa-Kỳ thời 1968-1970.
Trên diện tích cỡ một sân bóng tròn, xe ủi đất đã tạo thành những ụ đất dành cho loại súng có bánh xe, có lẽ là phòng không 37 ly hoặc 100 ly. Những chùm đạn 37 ly và 100 ly mà Việt-Cộng bắn lên trời để thị uy trong thời gian vừa qua có thể đã xuất phát từ đây.
Mặt đất in đầy vết xích dấu chữ “V” chứng tỏ rằng bãi đậu xe này đã là nơi tập trung của một đơn vị chiến xa Việt-Cộng.
Nhìn dấu tích địch còn để lại, tôi nghĩ người chỉ huy Bắc Quân đã lên phương án sử dụng Tiểu Ðoàn K16 Tank T54 vào một trận đánh một mất, một còn với chúng tôi.
Nhưng có lẽ họ đã ước tính được sự tổn hại to lớn nếu thi hành phương án này, nên đã rút lui.
Chắc chắn họ đã thấy, với một mặt trận có chiều ngang chưa đầy hai trăm mét, làm sao đủ rộng để cho một tiểu đoàn cơ giới T54 tận dụng hỏa lực, hàng ngang tiến lên?
Ðó là chưa kể đến những trái mìn chống chiến xa nằm lền khên trong rừng trên cái dốc cổng Bắc, và dày đặc trên sân bay cổng Nam.
Tôi đã chuẩn bị sẵn, mỗi người thủ một trái lựu đạn M26 là phương tiện cuối cùng để tự đưa mình sang thế giới bên kia.
Tôi tin chắc rằng nếu phải chết, anh lính mù trong bệnh xá cũng rủ được vài cán binh Bắc Việt chết theo chứ đừng nói chi tới những chiến binh còn lành lặn.
Chỉ vì, “Một thằng liều mạng bằng mười thằng sợ chết!” nếu phải đánh nhau trận cuối, chúng tôi bị bắt buộc trở thành “những thằng liều mạng” chúng tôi bị đưa vào thế cùng chết với quân thù, thì dù cho đánh nhau với hai chục chiếc T54 của Mặt trận B3 hay hai trăm chiếc T54 chúng tôi cũng coi như pha!
Người chỉ huy Bắc Quân đã không đánh trận cuối cùng thì coi như chiến dịch Pleime 1974 chấm dứt.
Trong chiến dịch này, ban tham mưu của Sư Ðoàn 320A Bắc-Việt đã đánh giá sai khả năng chiến đấu của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Chắc họ tưởng đánh Pleime cũng dễ như chiếm Lệ Minh, nên cứ tiền pháo hậu xung, rồi lừng lững vác cờ tiến vào đồn? Không ngờ họ đã đối diện một cổng đồn đóng kín và những hàng kẽm gai dày đặc, để rồi vừa hô được hai tiếng “Xung phong!” tiền quân của họ đã chết như rạ vì những quả đạn Beehive.
Ðánh nhau kỳ này các đơn vị tiến công của địch đã bị dụ vào một cái bẫy, họ cứ tưởng lầm Pleime chỉ có 6 lớp hàng rào, như trên cái sơ đồ phòng thủ mà họ tịch thu được 4 tháng về trước, cứ cho Bangalore đánh thủng kẽm gai mở đường rồi chạy ào lên là có thể chiếm lĩnh mục tiêu, nhưng thực tế Pleime đã có tới 12 lớp rào, giữa hai hệ thống hàng rào lại là một vạt đất rộng hai chục thước đầy mìn bẫy!
Trận Pleime năm 1974 là một cuộc đấu trí và đọ sức trường kỳ không cân sức.
Nhưng với tinh thần chiến đấu quyết tử vì dân, vì nước của toàn thể chiến sĩ trong đơn vị, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến thắng.
oOo
Đồng bào ơi! Chúng con về đây!
Khoảng 9 giờ sáng ngày 2 tháng 9 có một ông tiểu đoàn trưởng của Trung Ðoàn 45 Bộ Binh vào tần số chúc mừng tôi đã bình yên. Tiểu đoàn của ông ta và một chi đoàn của Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh đã tiến tới cách Pleime một cây số nhưng không chạm địch.
Ông ta dẫn theo một tiểu đội theo Tỉnh lộ 6C đi bộ vào thăm tôi.
Sau khi cho tháo gỡ ngòi nổ những quả mìn trên đường, tôi ra cổng Bắc bắt tay cám ơn người bạn đã vào cứu mình.
Ông này là một Ðại úy người Bắc, vì thời gian qua lâu quá rồi, nên tôi chỉ nhớ mang máng tên ông ta là Hiền hay Hiển gì đó. Tôi không biết sau này qua bao biến cố, ông bạn ấy có còn sống hay không?
Trưa 2 tháng 9 năm 1974 chiếc trực thăng đầu tiên đáp xuống Pleime mang theo Trung tá Hoàng Kim Thanh Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, anh Thanh không quên đem theo một két bia cổ cao và một cây nước đá để tưởng thưởng cho tôi.
Sau đó là một hợp đoàn của Phi Ðoàn 229 mang thực phẩm tiếp tế và vài chục tân binh bổ sung. Hợp đoàn trực thăng này cũng chuyển đi hết số thương binh còn tồn đọng.
Ngày 3 tháng 9 hai vị Ðại tá Biệt Ðộng Quân xuống thăm chúng tôi cùng một phái đoàn chuyên viên tiếp liệu tới kiểm tra thiệt hại vật chất của đơn vị tham chiến.
Tôi chưa cho gỡ những lớp rào dích dắc, nên đoàn người dài ngoằng phải nối đuôi rồng rắn theo nhau từ sân bay vào trại. Ðại tá Từ Vấn đi trước, Ðại tá Phạm Duy Tất đi kế, tôi là người thứ ba.
Không có phóng viên nhật báo nào được tháp tùng phái đoàn của Ðại tá Tất, nhưng có những bức ảnh ghi cảnh hoang tàn đổ nát của Pleime 1974 đã xuất hiện trên báo Sài-Gòn. Một nhân vật nào đó trong toán chuyên viên thanh tra tiếp liệu đã lén chụp và trao cho báo chí những bức hình này.
Ðứng bên khẩu súng đại bác đã xẹp bánh ở cổng Bắc, Ðại tá Vấn cho tôi hay ý định của ông,
– Kỳ này ưu tiên cho thằng Tám Mốt (Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân) đi hấp ở Dục Mỹ. Còn Tám Hai (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) có Thiếu tá Long là chuyên viên huấn luyện tại chỗ thì không cần phải gửi đi Dục Mỹ nữa!
Tôi không có ý kiến gì khi nghe ông liên đoàn trưởng quyết định đưa một đơn vị đánh nhau chưa đầy một ngày đi tái huấn luyện, thay vì cho đơn vị đánh nhau 33 đêm ngày đi Dục Mỹ bồi dưỡng ít lâu.
Kỳ trước: Lương thực và đạn dược cạn kiệt, nhưng những người lính vẫn tiếp tục chiến đấu, không phải vì muốn thăng quan tiến chức, không phải vì vinh quang, mà chỉ vì những chiến sĩ còn lại muốn sống chết cùng nhau cho trọn nghĩa thầy trò. Người lính bị thương mù cả đôi mắt cũng đã khóc với Thái Sơn vì không còn thấy đường để bắn.
Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị
Kỳ 9
Màn đọ sức sau cùng…
Trong lúc tôi đang lo thiếu cơm gạo, thiếu thuốc men thì tin tức A 2 lại cho biết một đơn vị phiên hiệu là Trung Ðoàn E 26 (?) của Việt-Cộng đã được điều động vào vùng.
Tôi nhớ nằm lòng tên các đơn vị từ cấp tiểu đoàn trở lên của Cộng-Sản hiện diện trong lãnh thổ Cao Nguyên Vùng 2, kể cả sở trường, sở đoản của chúng.
Thời gian này ở Tây Nguyên, Mặt Trận B3 vừa nâng cấp cho Trung Ðoàn 470 Vận Tải thành Sư Ðoàn 470 Vận Tải, đồng thời thành lập thêm hai trung đoàn mới mang tên E 20 và E 26. Thực tế, cho tới ngày hết chiến tranh, hai trung đoàn mang tên E 20 và E 26 vẫn chưa thành hình.
Theo tôi thì đơn vị địch được đưa vào trận phải là Trung Ðoàn E 25 trực thuộc Mặt Trận B3.
Trung Ðoàn E 25 của Mặt Trận B3 này được thành lập cuối năm 1972 với cán bộ khung là Ðoàn 25 Xâm Nhập.
Ðịa bàn hoạt động của E 25 là vùng Nam Pleime trong khu vực Tiều Teo lãnh thổ của quận lỵ Buôn Hô tỉnh Dắk Lắk Việt-Nam Cộng-Hòa. Chính trung đoàn Cộng-Sản này đã đánh chiếm Căn cứ An Tân (Tiêu Atar) và đồn Ðịa Phương Quân Ea Súp thời gian trước đây.
Các Trung Ðoàn E 64 và E 48 của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã bị tổn thất quá nặng sau nhiều ngày quần thảo với “Thằng Hai Nâu” (Việt Cộng gọi Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là Thằng Hai Nâu)
Lúc này, cả Thằng Hai Nâu và những trung đoàn trực thuộc Sư Ðoàn 320A đều ở vào tình trạng của các võ sĩ đã ngất ngư, chỉ muốn nằm xuống sàn đài mà nghỉ, mà thở.
Nhưng ai cũng biết, trên võ đài thì kẻ đứng vững sau cùng mới là người chiến thắng.
Vì thế mà, Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản phải cầu viện tới E 25 của Mặt Trận B3.
Ngày xảy ra cuộc chạm trán lần đầu với E 25, tôi xin được hai phi tuần yểm trợ tiếp cận.
Trước khi A 37 vào vùng, tôi sử dụng tối đa hỏa lực cối 60 và 81 ly bao trùm triền đồi hướng Tây. Kế đó, tôi tập trung toàn bộ vũ khí bắn thẳng tưới đạn theo hai hướng Tây Bắc và Tây Nam đan nhau như rẻ quạt trong một thời gian suốt hai giờ đồng hồ.
Tới trưa hôm đó mới thấy bóng dáng chiếc thám thính cơ O2 trên vùng trời Ðông Bắc.
Tôi nghe trong máy không lục,
– Thái Sơn đây Bắc Ðẩu! Cho mục tiêu đi!
– Hướng bốn ngàn tám trăm ly giác! Ðánh theo chiều Bắc Nam cách hàng rào hai trăm mét!
– Okay!
Chiếc trinh sát cơ chúc xuống, “Bục! Bùng!” một trái khói trắng được đánh dấu trong khu rừng hướng Tây.
Sức bom làm đất đá văng lên cao, phủ kín một vùng rừng cây xanh đàng xa.
Bất ngờ, ngay sau đó, mắt tôi hoa lên, vì thấy trên không bỗng choáng ngợp, chớp nhóa như hoa đăng thăng thiên do đạn phòng không của địch.
Ðạn 37 ly và 100 ly “Bùng! Bùng! Bục! Bục!” giòn giã đua nhau nở kín một góc trời!
Hai cánh chim sắt A 37 và cánh diều O2 biến nhanh về hướng Bắc.
Tôi vừa được yểm trợ một phi tuần, còn phi tuần thứ nhì thì bị đình chỉ.
Trận chiến dằng dai chừng hai giờ sau thì địch rút chạy. May mắn là quân ta không có ai bị thương. Ðịch chết phơi thây trên hàng rào nhiều lắm, nhưng tôi không màng tới chuyện thu nhặt chiến lợi phẩm. Mạng người là quý, bắt anh em chui vào hàng rào đầy mìn và lựu đạn thu gom mấy cây súng gãy để làm gì?
Hai ngày sau E 25 lại dẫn thân vào con đường tự vẫn bằng cách theo vết cũ của E 64/320A, cứ lừng lững hàng ngang chạy lên đồi bằng con dốc Bangalore đã mở sẵn cách đây gần nửa tháng. Kỳ này vũ khí công phá pháo đài và nhà cửa loại B40, B41 được địch sử dụng tối đa, mục tiêu của chúng là chiếm cho được hai Pháo đài số 4 hướng Tây Nam và số 5 hướng chính Tây.
Súng vừa nổ thì hai khẩu 105 ly đã bắn liên tục, chặn địch quân từ hướng Bắc và hướng Tây.
Với quyết tâm đánh cho địch một trận phải tởn tới già, nên từ sáng sớm, tôi đã cho Thiếu úy Phạm Văn Thủy đem quân bố trí ngoài rào, nơi cuối phi đạo hướng Tây Nam của trại.
Ðợi khi địch chạy theo nhau ào lên Pháo đài số 4 thì quân ta nổ súng.
Ðây có lẽ là trận đánh đẹp nhất đời chinh chiến của chàng thư sinh Phạm Văn Thủy.
Mũi dùi hướng Nam của E 25 bị cầm chân suốt hai giờ đồng hồ trong một khu vực có thế đất lòng chảo, muốn tiến không được, muốn lui cũng không xong!
Thời gian này Pháo đài số 5 hứng chịu không biết bao nhiêu là đạn B40, B41 của địch.
Hình như khẩu đại liên 30 trên Pháo đài số 5 đã không còn hoạt động, nên tôi không nghe tiếng súng liên thanh tràng dài, chỉ thấy tiếng M16 của súng cá nhân từng đợt phát ra từ đây.
Những tiếng “Xèo! Xèo! Oành! Oành!” rộ lên từng đợt như những cơn gió giật trong trận bão.
Ðạn cứ vèo vèo, theo nhau bay vòng cầu xuống sân cờ. Dây treo lá quốc kỳ bị đứt, lá cờ chao qua chao lại trong bụi mù.
Hầm trú của tôi bị B40 bắn bay một góc, khẩu đại liên M60 của chú Yang bị gãy càng.
Trong lúc tình hình lộn xộn, tôi sợ địch dùng Bangalore mở khẩu chiếm Pháo đài số 5 thì chúng có thể tràn vào sân cờ.
Tôi leo lên hố cá nhân, rồi dùng hết sức mình ném liên tiếp năm, sáu trái lựu đạn cay ra hàng rào, hy vọng khói cay sẽ gây khó dễ cho bọn điên rồ đang ào lên.
Ðồng thời tôi kêu toán viễn thám của chú Nguyễn Chi đem một khẩu M60 theo giao thông hào lên tiếp cứu cho Pháo đài số 5.
Quả nhiên khói cay đã khiến cho quân xung phong của địch bị dội ngược. Ngoài rào im tiếng súng!
Chờ một hồi, không thấy B40, B41 bay vào nữa, tôi đi một vòng kiểm soát trận địa thì thấy khẩu đại liên 30 trên nóc Pháo đài 5 ngã chỏng gọng, anh xạ thủ bị gãy tay trái, anh phụ xạ thủ bị một mảnh B40 ghim vào trán, mặt đầy máu me. Hai chú lính này tay ôm lựu đạn ngồi dưới giao thông hào. Trong pháo đài có bốn anh lính vẫn còn bình tĩnh trấn giữ hai lỗ châu mai.
Trận xung phong này địch nhắm ngay tuyến phòng thủ ngoài cùng của Ðại đội 2/81. May mắn là không có ai chết.
Trong số gần chục người bị thương của Ðại đội 2/81 có ông đại đội trưởng là Trung úy Nguyễn Văn Song.
Khói súng vừa tan, chú Song đã bò tới hầm trú của tôi cười hì hì,
– Chút xíu nữa là em bỏ mạng sa trường rồi ông thầy ơi!
Thấy cái đầu chú Song quấn ba bốn lớp băng trắng mà máu đỏ còn chảy ròng ròng, tôi ái ngại,
– Sao không nằm nghỉ mà bò sang đây làm gì?
– Thì em sang thăm coi ông thầy có bình an không. Em thấy hầm của ông thầy trúng năm sáu trái B40, em lo quá!
Lúc đó lá quốc kỳ chỉ còn treo trên một đoạn dây dài chừng hai mét, quay quay trong gió. Tôi định gọi Hạ sĩ Ba thay sợi dây mới cho lá cờ thì Trung úy Song đề nghị,
– Mình hạ cái cột cờ xuống đi Thái Sơn! Lá cờ cao quá, trở thành mục tiêu cho tụi nó pháo. Hầm của tui và của Thái Sơn nằm sát trụ cờ, dễ chết quá!
Tôi cười trấn an chú Song,
– Mình sống chết là vì lá cờ này, không thể hạ nó xuống được! Lá cờ còn bay chứng tỏ chúng ta còn hiện diện, còn chiến đấu. Với lại, tụi Việt-Cộng dư biết, xưa nay xung quanh sân cờ là khu trống trải không có công sự phòng thủ nào. Chỗ này hóa ra là nơi an toàn nhất!
Sau khi nghe tôi giải thích, anh sĩ quan đàn em của tôi bèn gọi Thiếu úy Phước giúp sức hạ cái cột cờ xuống, thay sợi dây mới, rồi hè nhau dựng cờ lên.
Lá cờ vàng ba sọc đỏ lại tiếp tục phần phật bay trong gió một cách ngạo nghễ và đầy thách thức.
Lúc này quân của Thiếu úy Phạm Văn Thủy cũng vừa trở về tuyến phòng thủ nơi cổng Nam. Thấy mặt ông đại đội trưởng 4/82 đỏ gay tôi thắc mắc,
– Làm gì mà nước mắt nước mũi tèm lem vậy?
– Úi cha! Tụi nó đánh tui bằng hơi cay Thái Sơn ơi!
Tôi bật cười,
– Lựu đạn cay của mình đó!
Nghe tôi nói, chú Thủy mới ngẩn người,
– Hèn chi tui thấy tụi nó cắm đầu chạy rồi tui mới thấy mắt mũi cay cay!
Mỗi ngày, cứ cách ba tiếng đồng hồ, tôi lại gửi một toán quân bí mật tuần tra mặt Tây Pleime. Từ Pháo đài 4 nơi góc trại hướng Tây Nam tới Pháo đài 6 ở góc trại Tây Bắc, tôi đánh dấu 4 hỏa tập T1, T2, T3, T4 dự trù cho súng cối 60 ly.
Toán tuần tra chỉ cần báo cáo địch đang ở vị trí nào, vài phút sau tôi đã có mười trái cối cho hỏa tập đó ngay.
Hỏa tập T4 nằm về hướng Pháo đài 6, trách nhiệm của Thiếu úy Hổ.
Tôi điện thoại cho chú Hổ,
-T4 mười quả!
Khẩu 60 ly của Ðại đội 3/82 chưa phóng đi được quả đạn nào thì tôi đã nghe tiếng B 40 nổ “Oành! Oành! Oành!”
Pháo đài số 6 là nơi yếu nhất của Pleime. Pháo đài này nằm về hướng Tây của cổng chính, ngay góc của trại, sát vườn rau. Bên kia vườn rau là bìa rừng có những tảng đá lớn. Từ bìa rừng, địch có thể núp sau tường đá, bắn ta mà không sợ đạn bắn thẳng của ta.
Thời gian Thiếu úy Việt còn sống, Việt đã chuẩn bị sẵn 3 chuyên viên M79 bắn vòng cầu để chế ngự khu rừng này. Không rõ Thiếu úy Hổ có khả năng đó hay không?
Tôi lủi xuống giao thông hào rồi “rẽ nước” phóng về Pháo đài số 6, theo sát sau lưng tôi là Thiếu úy Trần Văn Phước và toán viễn thám của Mom Sol.
Tôi chui vào pháo đài đúng lúc cái chòi gác có mái tôn trên nóc lô cốt bị B 40 đánh sập.
Khẩu đại liên 30 bắn đã đỏ nòng, mà B40 vẫn còn bay “Xèo! Xèo! Xèo! Oành! Oành! Oành!” bên vách xi măng.
Ông Chuẩn úy (tôi không nhớ là ông Bảo hay ông Thiều) luồn tay ra khỏi lỗ châu mai thảy liên tiếp hai trái lựu đạn khói cay. Mùa này gió thổi liên tục từ Ðông sang Tây, các pháo đài ở hướng Tây đều thủ sẵn một thùng lựu đạn loại này.
Dưới giao thông hào, tôi thấy ba ông lính đang ôm M79 núp trong hàm ếch. Tôi hét lên,
– Không bắn mà ngồi đây chờ chết sao?
Ba ông xạ thủ nghe tiếng tôi quát mới hết run, chui ra khỏi hầm, leo lên hố cá nhân.
“Binh! Binh! Binh!”
Ba viên M79 bắn lên trời, hai viên rơi trên đầu địch, nổ “Ùm! Ùm!” bên kia suối, còn viên thứ ba thì rơi ngay trên đầu… quân ta, nổ một tiếng “Oành!” bụi đất mù mịt!
Hai ông lính Thượng bắn giỏi hơn ông lính Kinh; góc bắn của hai ông Thượng chếch về hướng Bắc, còn ông lính Kinh thì bắn thẳng lên trời, đạn rơi ngay đỉnh pháo đài!
Chú Phước vung tay bợp tai ông lính Kinh hai cái rồi nẹt,
– Ð! M! Cái đồ chết nhát!
Ông xạ thủ người Kinh sợ quá quay súng về hướng Bắc bóp cò, bắn đại một viên.
Thấy thế Thiếu úy Phước cũng phải phì cười. Phước chụp tay ông lính Kinh giơ lên cỡ 60 độ cao rồi nói,
– Ông nội ơi! Ông bắn cao cỡ này là được rồi! Ông nội ơi!
Ðợt tấn công bằng B40 chợt ngừng. Tình hình yên trong khoảng thời gian cỡ nửa giờ thì trong hầm, qua lỗ châu mai, tôi thấy những vật tròn tròn như những trái túc cầu màu trắng di động lẫn trong đám cỏ lau. Tới khi đại liên đốn gãy những thân lau sậy thì lòi ra vài cái xác te tua vì trúng quá nhiều đạn. Hóa ra bọn này đang đội những cái túi nylon phòng hơi ngạt để tiến lên.
Kỳ này chúng tôi không nghe những tiếng hô “Xung phong!” chỉ vì tất cả bọn cán binh này đều bịt kín đầu bằng bao nhựa, mũi thì nhét bông gòn tẩm thuốc giải độc, không nói năng, la hét được.
Những cái đầu bịt bao nylon tiếp tục bị bắn hạ. Ðịch lại chết đè lên nhau trên vạt đất đầy cỏ tranh và lau sậy. Ngoài rào là một vòng cung đạn cối 60 ly tiếp tục nổ đều đều.
Thấy những cán binh Việt-Cộng đầu trùm bao nylon, tôi nhớ lại ngày Căn cứ 711 bị địch tấn công bằng hơi ngạt hóa học cách nay bốn tháng, tôi vội vàng ra lệnh cho toàn thể anh em chuẩn bị mặt nạ sẵn sàng, khi nào thấy thủ pháo địch bốc khói màu vàng thì lập tức đội mặt nạ ngay.
Khổ một điều là nếu đứng dưới mưa, mang mặt nạ thì chẳng khác chi một người mù, nước mưa làm cho hai mắt kính của mặt nạ nhoè nhoẹt, không thấy cảnh vật trước mặt, làm sao mà bắn nhau?
Cũng may suốt thời gian bị vây hãm, tôi không thấy hai thứ vũ khí mà tôi e ngại nhất là hỏa tiễn AT3 và thủ pháo chứa hơi hóa học giết người màu vàng.
Chừng một giờ sau kẻng báo động khua vang, quân trú phòng lại rời hố cá nhân, ào xuống giao thông hào, chui vào hàm ếch vì đạn 120 ly, 105 ly, 82 ly của địch bắt đầu rơi. Trận pháo này là dấu hiệu chấm dứt đợt xung phong.
Gần một tháng trời cứ trèo lên, nhảy xuống theo nhịp đạn pháo cối nổ, chúng tôi có cảm tưởng như mình còn khéo hơn những ông lính đảm nhận công tác diễn tập trong các quân trường.
Thời gian này hình như Trung Ðoàn 64/320A được điều động về hướng ngã ba làng Plei Xome, vùng Nam Căn cứ 711 để ngăn chặn quân tăng viện. Tôi cũng không nghe thêm tin tức gì của Trung Ðoàn 48/320A; không biết đơn vị này còn chốt giữ vùng Ðông Pleime hay đã di chuyển đi nơi khác rồi.
Tình hình tạm yên vài ngày, cho tới một buổi trưa, Trung tá Hoàng Kim Thanh gọi tôi vào đầu máy,
– Báo cho chú biết có đại ca Anh Ðào dẫn Con Ó 45 và mấy chục con cua sắt vào tiếp viện cho chú đó!
(Con Ó 45 =Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh)
Tôi buột miệng,
– Thằng nào láo xược dám dùng danh hiệu “Anh Ðào” vậy?
Sở dĩ tôi phản ứng một cách lỗ mãng và phẫn nộ như vậy chỉ vì cái tên “Anh Ðào” chính là ám danh đàm thoại của Cố Thiếu tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, nay ai đó ở Sư Ðoàn 23 mà lấy tên “Anh Ðào” làm danh hiệu thì quả là quá vô lễ, hỗn hào.
Ðầu dây bên kia, người xưng là “Anh Ðào” đã nghe tiếng tôi, nên ông ta vội phân bua,
– Chắc chú em biết danh hiệu “Anh Ðào” là của ai rồi. Tôi cũng là một thuộc cấp của Anh Ðào, tôi lấy ám danh đàm thoại là “Anh Ðào” cũng là để tưởng nhớ người chỉ huy đáng kính của chúng ta mà thôi! Chú em đừng hiểu lầm!
Tôi bỏ ra khỏi hầm hành quân, không thèm nói thêm câu nào nữa với ông đại tá bộ binh, người chỉ huy đoàn quân đang vào tiếp viện cho tôi.
Sau này, anh Thanh có cho tôi biết ông “Anh Ðào” Phùng Văn Quang, Ðại tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 45 Bộ Binh còn giận tôi lắm.
Mặt trận hướng Bắc có vẻ bùng nổ trở lại, súng nổ suốt ngày. Pháo binh từ Phú Nhơn dành ưu tiên cho các cánh quân bộ binh đang chạm địch, nên yêu cầu đánh chặn thường nhật của tôi bị từ chối.
Chiều 29 tháng 8 một tiếng nổ “Ùm!” âm vang rừng núi. Trên bờ Tây của con suối cắt ngang đường xe be dưới chân tiền đồn Bắc có 4 quả mìn chống chiến xa.
Kỳ trước: Hai tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ binh tiếp viện cho Pleime đã bị đánh tả tơi. Đả viện thành công, nhưng công đồn thì chưa! Tiểu đoàn 82 Biệt động quân dưới tay Thiếu tá Vương Mộng Long vẫn trụ được và địch bắt đầu tung truyền đơn chiêu dụ đầu hàng lẫn hăm dọa.
Pleime đang trong cơn tuyệt vọng…
Kỳ 8
Mưa kéo dài nhiều ngày, giao thông hào thành những con suối, nước thoát về hai hướng Bắc và Nam, vô tình những đường thoát nước trở thành những con đường hầm trơn bóng chui qua lớp rào kẽm gai. Nơi sâu nhứt có thể cao hơn một đầu, một với của người đứng thẳng. Người từ trong chui ra được thì chắc chắn Việt-Cộng cũng có thể theo đường này mà vào được.
Tôi vội bắt ông Thiếu úy Hoàng cho người đánh rối từng chùm thép gai rồi thả trên đường hầm, sau đó gài thêm lựu đạn và bẫy sáng để chống Ðặc Công.
Sợ chuyện này làm tinh thần anh em bị dao động, tôi phải ra lệnh cho Trung úy Minh và ban truyền tin kín miệng.
Ngay sau đó lại xảy ra chuyện toán tuần tra cổng Nam do Binh nhì tên là Thêm dẫn đầu đã ra đi mà không trở về. Có lẽ ba người này đã nhân cơ hội được ra khỏi rào mà chạy trốn luôn.
Thế là từ hôm đó, tôi phải cho viễn thám thay phiên đảm nhiệm công tác tuần tra, thay vì người của các đại đội.
o O o
Giá trị của
một người lính…
Từ khi Pleime bị cô lập với thế giới bên ngoài, cứ đúng lúc rạng đông thì kẻng báo động lại khua vang báo cho mọi người biết đã đến giờ chui vào hàm ếch.
Tin A 2 truyền đi cho tôi biết, các đơn vị pháo của Việt Cộng được lệnh pháo hợp đồng vào trại mỗi ngày hai lần, lần đầu diễn ra lúc 6 giờ sáng, giờ Hà-Nội, buổi chiều sẽ đánh hợp đồng vào lúc 6 giờ chiều. Giờ Hà-Nội đi sớm hơn giờ Sài-Gòn một tiếng.
Sáng 16 tháng 8 cũng như mọi ngày, cũng đúng 6 giờ sáng Hà-Nội, nhưng lại là 5 giờ sáng giờ Sài-Gòn, trận pháo rạng đông mở màn. Ðặc biệt là hàng trăm trái cối 120 ly địch sử dụng sáng hôm đó toàn là loại “delay” nổ chậm.
Mỗi lúc địch bắn đạn “delay” tôi đều leo lên lô cốt xem mặt hướng Tây có động tĩnh gì không? Tôi đứng chân trong chân ngoài ở tầng cao nhứt của pháo đài.
Ðất đá bung lên từ chỗ đạn cối chui xuống văng cao hàng chục mét; đất đỏ rơi tung toé trên nóc nhà, trên sân cờ.
Tôi có hai kho đạn đại bác 105 ly và bốn kho đạn dự trữ đủ loại. Một vài viên cối 120 ly nổ chậm rơi trúng kho đạn số 2, ngoài bờ đất sát bên Câu Lạc Bộ, thế là kho đạn này phát nổ!
Ðạn nhỏ cháy thì kêu “Lép! Bép! Lép! Bép!…”
Ðạn 106 ly thì nổ “Ùng! Ùng!” rồi bay tít lên cao, lúc rớt xuống gây tiếng gió rít “Xèo! Xèo! Vèo! Vèo!” rợn tóc gáy.
Sợ mảnh đạn cắt đứt đầu, tôi chui vào hầm truyền tin của Trung úy Nguyễn Công Minh.
Chuông điện thoại của Ðại đội 3/82 reo khẩn cấp. Thiếu úy Nguyễn Văn Hổ, đại đội phó 3/82 sụt sịt vài giây rồi khóc òa lên,
– Thái Sơn ơi! Anh Việt chết rồi!
Tôi nghe tiếng chú Hổ mà bỗng thấy ù cả hai tai,
– Cái gì? Ai chết? Nói lại đi!
– Dạ Thiếu úy Việt bị pháo trúng hầm, anh ấy chết cùng với người lính mang máy PRC 25!
Tôi lội xuống giao thông hào, giao thông hào ngập nước tới thắt lưng. Nước mưa đỏ ngòm và quánh lại như bùn. Ðất sạt lở ở những đoạn giao thông hào trúng đạn nổ chậm đã thành những hố sâu như những cái giếng.
Cái hầm chứa hai thầy trò Thiếu úy Phạm Ðại Việt và anh Binh 1 Vy Văn Trai, hiệu thính viên máy PRC 25 đã bị một viên 120 ly đánh sập.
Hai thầy trò Việt và Trai nằm chết bên nhau. Hai Biệt Ðộng Quân này chết không dấu vết, họ bị chết tức do sức pháo nổ.
Mắt chú Việt và mắt chú Trai còn mở trừng trừng, tôi vuốt mắt cho chú Việt, rồi vuốt mắt cho chú Trai.
Bốn tháng trước Thiếu úy Phạm Ðại Việt là đại đội phó của Thiếu úy Phiến. Ngày Căn cứ 711 bị địch tràn ngập, Thiếu úy Phiến chết trên đường rút lui, người mang máy truyền tin của chú Phiến là Binh 2 Y Don Nier rất buồn và có vẻ mất tinh thần.
Sau khi tôi đề cử Thiếu úy Phạm Ðại Việt giữ chức đại đội trưởng Ðại đội 3/82 thì tôi mang Binh 2 Y Don Nier lên bộ chỉ huy tiểu đoàn để mang máy PRC 25 cho tôi.
Binh 1 Vy Văn Trai được Thiếu úy Việt cho giữ chức hiệu thính viên đại đội.
Vy Văn Trai còn một người em họ là Vy Văn Trung ở cùng đơn vị. Hai anh em nhà họ Vy là người Nùng, mới tới Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trong đợt bổ sung quân số cuối tháng Tư 1974 vừa rồi.
Những chiến binh người Nùng, người Thái lúc nào cũng là những cái gương can đảm và thiện chiến bậc nhứt của tiểu đoàn này.
Phạm Ðại Việt và Vy Văn Trai là người thứ 23 và 24 chết còn thấy xác, được đồng đội bọc trong poncho và chôn trong khu đất trống sau nhà bếp của tiểu đoàn.
Như thế là, chỉ trong vòng bốn tháng, Ðại đội 3/82 đã có hai sĩ quan đại đội trưởng tử trận.
Nhớ lại, sau trận đánh giành giựt Căn cứ 711 hồi tháng Tư, tôi đã đề nghị thăng cấp trung úy tại mặt trận cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt, nhưng Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 đã không chấp thuận.
Kỳ này không cần chữ ký với lời xác nhận công lao của thượng cấp, người sĩ quan đại đội trưởng giỏi nhất của tôi trong trận này đã đương nhiên được lên trung úy, nhưng là “Cố Trung úy.”
Ai mà không biết? Với người chỉ huy ngồi trên tàu bay, hay trong hầm trú kiên cố ngoài Pleiku thì “Tử thủ!” dễ òm! Dễ như ta vừa mở miệng tợp cạn một ly rượu cay.
Nhưng ở tiền đồn Pleime thời gian này thì “Tử thủ!” có nghĩa là bất cứ giây phút nào mình cũng sẵn sàng nhắm mắt để đồng ngũ quấn cho mình một chiếc poncho rồi đem thân xác mình chôn trong mảnh đất sau nhà bếp.
Cơ hội được “Tổ Quốc Ghi Ơn” dành cho tất cả mọi người, bất kể đó là Thiếu tá hiện dịch Vương Mộng Long, Chuẩn úy trừ bị Phan Quốc Thiều hay Binh nhì Vy Văn Trung.
Hành trang mang theo của người nằm xuống vỏn vẹn một tấm thẻ bài ghi họ tên, số quân và loại máu. Rồi thời gian đi qua, chỉ có người thân, kẻ thuộc và bạn bè còn nhớ tới mình thôi.
Gần mười năm lăn lộn trên chiến trường, máu tôi đã nhiều lần đổ xuống đất quê hương, thuộc cấp của tôi giờ này có nhiều người còn chôn xác ở Dak Tô, Chư Pa, Sé San, Yaly, Chư Prong.
Anh em chúng tôi chiến đấu và sẵn sàng chết vì dân, vì nước, chúng tôi không chiến đấu vì mong được tiến chức, thăng quan.
Chúng tôi không đến nỗi ngây thơ mà tin vào những câu hứa hẹn suông hay những lời “khích tướng” của thượng cấp.
Chúng tôi quan niệm rằng:
“Giá trị của một người lính không thể căn cứ vào những gì mà họ được cấp trên ban phát cho, mà giá trị đích thực của mỗi chiến binh chính là những gì mà anh ta đã cống hiến cho tổ quốc.”
Bởi vậy, ‘Đừng đem lon lá luận anh hùng!”
SVSQ/TB Phạm Đại Việt
o O o
Sống chết cùng nhau cho trọn nghĩa thầy trò!
Có thể nói, thời gian kế tiếp sau khi hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh bị đánh lui thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bước vào giai đoạn “So găng tay đôi” với các trung đoàn chủ lực của Sư Ðoàn 320A Cộng Sản Bắc-Việt.
Nhìn vào, ai cũng thấy màn so găng này chẳng cân xứng chút nào!
Chúng tôi ví như một võ sĩ hạng nhẹ quyết tử với những đối thủ loại siêu nặng.
Giống như một chú tí hon bị những thằng khổng lồ luân phiên tấn công.
Cũng một chiến trường mang tên Pleime, mà chín năm trước đây, liên quân Việt Mỹ phải vất vả lắm mới chiến thắng.
Ngày đó, quân Mỹ Việt được yểm trợ bởi hàng trăm chiến đấu cơ của Hạm Ðội 7, hàng trăm trực thăng võ trang, hàng chục pháo đài bay B52, hàng trăm chiến xa, chưa kể hàng chục nghìn quả đạn pháo đủ loại bắn T.O.T bất cứ chỗ nào. (T.O.T = Time on Target = Bắn từ nhiều vị trí để đạn rơi cùng giờ trên một mục tiêu định trước.)
Gìờ đây, cũng ở Pleime, tôi đang đối diện với một lực lượng địch mạnh hơn nhiều so với những đơn vị địch tham chiến chín năm trước.
Ðịch đông hơn tôi cả chục lần, lại có đủ loại pháo binh nặng, nhẹ, cùng với chiến xa và phòng không tối tân.
Trong khi đó, tôi chỉ có hai khẩu 105 ly sắp hết đạn, bốn khẩu 155 ly của quân bạn ở tít mù xa, yểm trợ hết tầm mà vẫn còn cách Pleime gần năm cây số!
Không yểm lại quá giới hạn. Ngày nào tôi cũng gửi đơn xin không quân, nhưng chẳng thấy chiếc máy bay nào bén mảng trên vùng.
Chỉ tới đêm mới nghe “Ì ầm! Ì ầm!” vọng về do tiếng bom nổ trên những box 1x1km đâu đó trong vùng Tây Bắc Pleime.
Tôi biết tường tận vị trí nào địch có thể tập trung, khu vực nào địch sẽ dàn quân, nên tôi đã gửi đi nhiều đơn xin oanh tạc chiến lược ô vuông 1x1km. Nhưng những đơn này đều bị bác bỏ.
Muốn đánh những phi tuần chiến lược, thì yêu cầu của các đơn vị cấp lữ đoàn trở lên mới được cứu xét, còn đơn xin của các cấp thấp như liên đoàn hay tiểu đoàn không có giá trị.
Tôi đã dùng tới gần một ngàn viên cối 60 ly để đánh rào cản quanh trại Pleime này kể từ ngày đầu bị cô lập.
Trong hầm chứa đạn cối 60 ly của Mỹ trước đây là những thùng gỗ chất cao nghều nghệu, nay chỉ còn vài chục thùng. Hai khẩu súng cối 60 ly đã gãy kim hỏa.
Tôi đang dùng hai khẩu còn lại để sống còn. Nếu địch tấn công thì cứ yếu tố 45 độ cao, tầm xa 150 mét thuốc bồi không (0), góc quay một vòng một trái, bắn cầm chừng.
Hai khẩu súng 106 ly và 81 ly sắp hết đạn nên được đặt trong tình trạng cố định ưu tiên nhắm vào hai cao điểm 509 và Chư Hô, sẵn sàng đánh trả mỗi khi 75 ly và 12.7 ly của địch ló mòi.
Trường hợp bất đắc dĩ tôi mới sử dụng cối 81 ly để hỗ trợ cho các cuộc phản công.
Trên máy truyền tin, không còn ai hỏi thăm chúng tôi nữa, có lẽ cấp chỉ huy của chúng tôi đã mệt mỏi lắm rồi?
Tôi nghĩ rằng mọi nỗ lực tiếp cứu cho tôi đã bị đình chỉ. Giờ này tôi chỉ trông vào chính sức mình, kéo dài được ngày nào hay ngày ấy. Chúng tôi bước vào giai đoạn chiến đấu trong tuyệt vọng.
Mưa hoài, nên nước uống lúc nào cũng dư thừa, chưa kể tới cái hầm chứa nước mà tôi đã cho xây giữa sân, có thể cung cấp nước cho toàn đơn vị trong thời gian ba, bốn tháng. Chúng tôi không bị khát, nhưng bắt đầu bị đói.
Kho gạo cháy rồi, để tiết kiệm, chúng tôi bắt đầu ăn cháo với rau tàu bay luộc. Ðêm nào cũng có tiếng bẫy sập. Các anh Biệt Ðộng Quân đang thèm thịt, nên có vẻ rất niềm nở hân hoan đón chào các chú chuột đồng bụng cũng xẹp lép vì chẳng có gì để ăn.
Giao thông hào ngập nước, nhưng muốn sống, những người lính biên phòng đành ngâm mình trong giao thông hào để tránh pháo.
Tôi thấy da chân, da đùi, da bụng của tôi như đang rữa ra, như lớp bánh tráng mỏng bị thấm nước.
Ban ngày mắc bận đánh nhau, trầm mình trong nước, nên quên đi cảm giác khó chịu; ban đêm sau khi thay cái quần lót, mới thấy ngứa ngáy tới điên khùng luôn!
Ðêm đêm, khi những đợt pháo kích của địch tạm ngưng, tôi thường vào trong bộ chỉ huy tiểu đoàn ghé thăm thương binh. Khu vực xung quanh trung tâm hành quân và bệnh xá không có giao thông hào nên không bị ngập nước.
Mặc dù những người bị thương nhẹ đã tự nguyện ra trú ẩn trong các pháo đài, trong hầm vẫn còn cả chục thương binh nặng nằm ngồi la liệt trên sàn đất.
Thuộc cấp của tôi, người gãy tay, người thủng bụng, người đui mắt, đang chờ tôi vào thăm.
Kho gạo và kho thuốc bị cháy, hết thuốc, hết rượu cồn tẩy trùng. Nhiều vết thương đã có dòi. Trung sĩ Chiến Quân y phải lấy nước đun sôi để nguội thay rượu cồn rửa vết thương cho đồng đội.
Tôi tiếp tay Y tá Chiến rửa vết thương cho một anh lính bị thương mù hai mắt.
Tôi nghe anh thương binh mù thút thít,
– Cám ơn Thái Sơn!
Những dòng nước mắt pha với máu tuôn xuống má anh ta, làm ướt mu bàn tay tôi…
Người lính tiếp tục khóc,
– Xin lỗi Thái Sơn, em bị thương rồi! Em không còn thấy đường để bắn! Em không làm được gì có thể giúp sức cho Thái Sơn giữ đồn nữa rồi. Thái Sơn đừng trách em nhé!
Tôi không ngờ trong hoàn cảnh ấy tai tôi lại được nghe câu nói đó từ miệng một phế binh. Tôi dịu giọng an ủi người em,
– Em gắng chịu đau! Rồi sẽ có trực thăng tải thương cho em! Em yên tâm! Mình sẽ giữ được đồn mà! Việt-Cộng không làm gì được mình đâu! Thái Sơn còn sống thì Pleime sẽ không thể mất! Nếu như anh em mình không giữ được Pleime thì chúng mình sẽ chết theo Pleime!
Thời gian mà Tướng Tư lệnh Quân Ðoàn II quy định cho tôi đứng vững đã vượt quá, tôi có thể bỏ đồn nếu thấy không thể kéo dài sự chịu đựng, nhưng tôi không thể làm vậy.
Tôi đã không nghe lệnh Tướng Toàn, vì làm như thế, chỉ những quân nhân lành lặn hy vọng sống sót. Tôi còn phải nghĩ tới những thương binh. Từ Pleime ra tới Phú Nhơn đường xa gần hai chục cây số, lại bị địch chốt giữ. Nếu phải rút chạy, trên đường đi, chắc chắn sẽ phải đánh nhau.
Trong tình thế đó, làm sao tôi có thể mang vác theo mình gần hai chục đứa em đui mù, què quặt? Chẳng lẽ đành lòng bỏ chúng nó mà chạy lấy thân? Ðể rồi, nếu thoát chết kỳ này cũng mãi mang trong lòng một vết thương.
Chi bằng anh em ta cứ liều thân, sống chết cùng nhau cho trọn nghĩa thầy trò!
Tôi nghĩ trời đã an bài sẵn là số mệnh của tôi, sống hay chết đều tùy theo vận mệnh của cái tiền đồn mang tên Pleime này!
Hôm sau trời mưa như bão, trong hầm chỉ huy, nước lên tới bụng, tôi lấy một cuộn băng mới tinh, đưa vào máy cassette, ghi lại những lời trăn trối của 5 thày trò có mặt lúc đó. Cuộn băng ghi lại những lời sau:
1)Tôi, Thiếu tá hiện dịch Vương Mộng Long Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
2)Tôi, Trung úy trừ bị Nguyễn Công Minh sĩ quan Truyền Tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
3)Tôi, Thiếu úy trừ bị Trần Văn Phước trưởng Ban 2 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
4)Tôi, Trung sĩ Nguyễn Chi trưởng toán Viễn Thám 823 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
5)Tôi, Binh Nhì Y Don Nier hiệu thính viên của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
Cuộn băng ghi âm này tồn tại cho tới ngày Việt-Cộng tràn ngập thành phố Ban Mê Thuột thì gia đình tôi mới thiêu hủy nó đi.
(Chuyện xảy ra trước đây hơn mười năm. Tên những quán rượu và tên nhân vật do hư cấu, nếu trùng hợp, hoàn toàn ngoài dụng ý của tác giả.) Tôi ngồi bó gối trong khoang đò tốc hành Sông Đốc – Cà Mau, nhìn đám người lố nhố bán buôn trên bến và những hành khách lần lượt xuống đò. Yến với Hằng đứng trước mũi, vai mang túi hành trang, đảo mắt ngó quanh quất tìm chỗ ngồi. Chợt thấy tôi, hai đứa cố chen lấn đám hành khách đi vô khoảng giữa để ngồi kế tôi cho bằng được. Cả ba lần gặp Yến và Hằng hoàn toàn do sự ngẫu nhiên, vậy mà hai đứa xem tôi như người quen thân từ lâu lắm. Đò chật nứt, chen mông ngồi chưa đụng sạp, Hằng mở miệng định hỏi gì đó nhưng Yến đã nhanh miệng hớt lời: ‘Chú đi đâu vậy?’ ‘Mỹ Tho.’ ‘Chừng nào chú dìa bển?’ ‘Tuần tới.’ Bây giờ Hằng mới được chen vào, hỏi: ‘Rồi bao lâu chú mới dìa nữa?’ ‘Có lẽ vài ba năm.’ ‘Chừng nào dìa chú ghé nhà con chơi.’ Tôi ừ hữ cho qua chuyện, nào ngờ hai đứa cắm cúi ghi địa chỉ đưa cho tôi còn căn đi dặn lại biểu tôi đừng quên. Khi đò tách bến ra giữa dòng, gã thanh niên ngồi bên cạnh day qua, hỏi: ‘Tụi mày chừng nào trở xuống nữa?’ Thấy cả hai đứa không trả lời, gã bèn bồi thêm một câu: ‘Tụi mày mà bỏ đi thì ‘Hoa Biển’ sẽ ế!’ Gã thanh niên bận áo sơ mi trắng, hở cổ khoe sợi dây chuyền vàng mặt mỏ neo, quần màu xám tro, tay ôm cặp táp. Có lẽ anh ta là cán bộ huyện hoặc cán bộ xã gì đây. Thấy tôi nhìn, gã ta nở nụ cười đểu đưa ra ba bốn cái răng vàng như thầm nói với tôi: “Đừng tưởng hai con nhỏ đó hiền mà lầm!”. Yến và Hằng vòng tay bó chưn, càm kê lên đầu gối giống như hai con trút cuốn tròn, mắt long lanh muốn khóc! Sự yên lặng của hai đứa làm tôi áy ngáy, tôi lơ đãng ngó mặt ra dòng sông. Ðò lướt nước ào ào, qua mặt những chiếc xuồng chèo dọc theo hai bên mé nước. Những thiếu nữ áo bà ba đủ màu sắc, quần đen mượt, đầu đội nón lá, hai tay ghì chặt cán chèo đưa đẩy, xuồng nhẹ lướt nước theo nhịp đẩy của mái chèo. Hình ảnh anh trai làng đứng chèo chở cô thôn nữ trên chiếc xuồng ba lá trông giống như một bức tranh ngày mùa. À, đây là cảnh quê hương mà tôi đã ước mơ trong những năm dài nơi xứ lạ quê người, tôi ước ao một quê hương yên bình, tôi sẽ trở về sống đời sống bình thường với quê hương và quên đi những ngày lưu lạc. Nhưng khi nhìn qua Yến và Hằng tôi nhớ lại trong những ngày về bên dòng sông cũ. Và một ý nghĩ mới lạ len lỏi vào tâm tư. Phải rồi, cái ý nghĩa của sự thanh bình đâu chỉ đơn giản trên một giòng sông! Đúng ra lần nầy tôi trở về Sông Đốc cũng được, hổng về cũng chẳng sao. Vì những việc còn lại sau đám ma của má tôi, anh Bảy và chị Năm tôi ở nhà lo cũng được. Nhưng hôm chị Sáu sửa soạn về Úc, chỉ có dặn tôi: ‘Chị có nhờ anh Hai ở Mỹ Tho đặt trên thành phố làm tấm bia, em chịu khó lên trển lấy, gắn xong cho má rồi hả dìa bển.’ Ngày trước vì hoàn cảnh chiến tranh, ba má tôi phiêu bạt xuống miệt này. Mãi đến ngày ba tôi giải ngũ, ông bà mới dắt nhau về xứ sở. Ông bà nội, ngoại tôi đã qua đời. Mang ân hận ở trong lòng, nên mỗi khi nhớ tới, hai người tủi thân sụt sùi rơi nước mắt, nói: “Giàu đặng trung đặng hiếu, nghèo mất thảo mất ngay”. Và cũng vì nghèo quá ba má tôi phải thêm một lần nữa dắt bầy con tha phương cầu thực. Còn tôi không phải nghèo mạc rệp đến đỗi không có tiền mua vé xe đò về xứ như ba má tôi. Ai đi xa về thì phải rủng rỉnh tiển túi, nhứt là đi nước ngoài, khi trờ về phải sang thiệt là sang, sang giống như… Việt Kiều mới được. Còn tôi chỉ là một tên giang hồ vặt vảnh, không nhà cửa, không gia đình, tài sản chỉ có vài bộ quần áo lưng lửng trong một chiếc vali. Nếu không hay tin má tôi qua đời thì tôi cũng chẳng về đây để làm gì. Cũng vì lẽ đó mà anh chị em trong gia đình xem tôi như người con bất hiếu. Sợ tôi mang mặc cảm tội lỗi, hễ có dịp tỏ lòng hiếu thảo thì anh chị em ‘nhường’ cho tôi làm. Theo tôi, chuyện hiếu thảo là chuyện của tấm lòng, màu mè bên ngoài chỉ là hình thức không đáng kể. Tuy nhiên tôi đồng ý đi hàng trăm cây số lấy tấm bia, là vì tôi nhận thấy việc làm này có ẩn chứa một ý nghĩa thiêng liêng nào đó. Cũng như những tấm bia mộ khác, khắc tên họ, ngày tháng năm sanh và ngày tháng năm từ trần. Cuối cùng có hàng chữ ‘các con lập mộ’. Đại khái vậy thôi, nhưng ở suối vàng, má tôi biết được chắc bà sẽ vui lòng vì khi bà mất, các con tản lạc tứ xứ đã tụ hết về đây cùng góp phần xây mộ cho bà. Thấy chân dung cẩn trên tấm bia hơi mờ, tôi thắc mắc hỏi vì sao? Anh Hai, người anh bạn dì của tôi ở Mỹ Tho giải thích: “Tuy hình cẩn vô bia không được rõ ràng, nhưng mưa gió, thời gian sẽ không làm phai nhạt”. Ảnh nói sao tôi nghe vậy, chớ thiệt ra tôi thấy bên Âu Châu những thợ cẩn kiểu nầy đứng ngoài đường phố, chụp ảnh khách hàng rồi cẩn liền tại chỗ vô tách, ly, dĩa… bằng sành, để người ta đem về nhà chưng trong tủ kiếng. Hình ảnh màu sắc rõ ràng, chớ đâu mờ câm như chiếc bóng, mà còn phải đặt tuốt trên Sài Gòn mới làm được. Tuy vậy tôi cũng cẩn thận gói tấm bia lại bỏ vô bao. Đêm hôm đó tôi ngủ lại nhà anh Hai ở Mỹ Tho, rạng sáng hôm sau tôi ra bến xe liên tỉnh đi thẳng một lèo về bến xe Cà Mau. Sau đó tôi đón xe lôi xuống bến đò. Không quen cách sinh hoạt nơi đây, khi đổi tiền, tôi nhét đầy túi quần túi áo, cho nên chen chúc giữa đám đông, tôi sanh nghi những người chung quanh ai ai cũng là dân chôm chĩa, cứ chốc lát tôi rờ túi thăm chừng. Thật ra chỉ vì ở Âu Châu không khi nào tôi bỏ tiền nhiều trong túi nên bị ấn tượng đó thôi chớ xứ sở này chắc đâu đến đỗi tệ dữ vậy. Xe lôi vừa đổ tôi xuống bến đò, tức thì cả đạo quân phu đò vây quanh mời la chói lói. Người này hỏi: “Anh dìa Khánh Hưng, Đá Bạc hả? Xuống đây chạy liền”, kẻ nọ hỏi: “Anh dìa Bà Kẹo, Cái Đôi hả? Xuống đây chạy liền”. Tôi nói: “Tui dìa Sông Đốc vàm”. Tức thì một anh chồm tới hô lớn: ‘Sông Đốc hả? Sông Đốc vàm, xuống đây, xuống đây chạy liền!’ Anh ta vừa nói vừa giơ tay chỉ xuống chiếc vỏ lải đậu dưới bến. Những ngày đầu tôi rất khó chịu khi nhìn cảnh giành giựt khách của mấy anh lơ xe, phu đò và sự bán buôn mời mọc, nhưng dần dà tôi cảm thấy vui vui. Để khỏi lôi thôi mất thời giờ, tôi nói với anh ta: ‘Được rồi, tui sẽ đi đò anh, nhưng tui chưa xuống bây giờ, tui ngồi ở quán cơm bên kia đường, chừng nào đò anh ‘chạy liền’ anh qua đó kêu tui thì tui xuống liền!’ Anh lái đò thấy tôi dí dỏm cũng có duyên, anh ta cười một cái rồi ân cần bước theo tiễn tôi tới cửa quán cơm. Có một chiếc xe lôi mới đổ người xuống, cũng những giọng ban nãy: “Khánh Hưng, Đá Bạc chạy liền”, “Bà Kẹo, Cái Đôi chạy liền” và có cả tiếng anh phu đò của tôi: “Sông Đốc, Sông Đốc vàm chạy liền”… Hôm mới về tôi thấy một cô gái duyên dáng ngồi bán cơm trong quán, nhưng bây giờ lại là một bà già và một bé gái trạc tuổi mười ba, mười bốn chạy bàn. Thấy tôi bước vô em lăng xăng, miệng tía lia: ‘Chú chú, mời chú vô trong kia ngồi.’ Tôi theo em đi vô trong góc quán ngồi xuống cái ghế nơi có chiếc bàn trống. ‘Chú ăn gì?’ Chưa đợi tôi mở miệng thì cô bé đã kể vanh vách: ‘Ở đây có cơm sườn, thịt nướng và cháo lòng; nước uống có cà phê đá, nước đá me, nước chanh…’ Cô gái còn muốn kể thêm nhưng tôi chận: ‘Ở đây có rượu hông?’ ‘Dạ, dạ có, chú uống rượu đế hả chú?’ ‘Ừ cho chú một xị và một dĩa sườn nướng.’ ‘Dạ, chú ăn cơm hông chú?’ ‘Hông cưng.’ Cô bé đi vô trong tự tay gắp thịt bỏ lên lò nướng. Sẵn than đương đỏ, mỡ sườn nhiểu xuống, lửa phựt xèo xèo, mùi gia vị bốc lên thơm lừng. Tiếng la ó như ong vỡ tổ bên ngoài làm tôi giựt mình ngó ra. Một chiếc tàu đò vừa cặp bến. Người lên kẻ xuống lao xao, mấy anh khuân vác chuyền nhau những bao bố nặng trịch. Tôi đoán chừng, đó là những bao cá khô đồng được chở ra từ miệt U Minh. Cô bé khệ nệ bưng mâm rượu và thức ăn ra để trên bàn, sắp ngay ngắn, rồi nói: ‘Mời chú.’ Tôi cám ơn rồi rót rượu ra nhâm nhi và nhấm nháp thức ăn. Những người bán buôn theo bến xe, bến đò lúc nào cũng hấp tấp, vội vàng. Những phần ăn dành cho khách đường xa thì thiếu vệ sinh. Rượu pha nước nhiều quá nên lạt nhách lạt nhẽo, sườn nướng bủng xì bủng xịt, nước mắm chế biến làm sao mà hương vị như nước muối pha dấm đường. Vậy mà những người ngồi bên kia bàn hì hục vừa ăn vừa húp trông ngon đáo để. Mấy em nhỏ bận áo quần như tấm lưới rách, đi tới đi lui chờ thực khách ăn xong, chúng bưng thức ăn thừa đổ vô chiếc thau nhôm móp méo, đóng ten, có đứa cúi xuống húp cặn tô nước lèo. Tôi rót rượu uống liền liền, nhưng rượu lạt quá chưa đủ độ ngăn chận nỗi buồn dâng lên cùng khắp. ‘Anh ơi anh! Xuống đò, tới giờ chạy rồi!’ Tôi ngó ra, thấy anh phu đò hồi nãy giơ tay ngoắc ngoắc, miệng hối lia hối lịa. Tôi hớp vội hớp rượu cuối cùng, xếp lại đồ đạc, kêu cô gái tính tiền và thưởng cho cô phần tiền dư. Tôi nhìn xuống đồng hồ tay, hơn ba giờ rưỡi. Tính ra từ lúc anh phu đò mời tôi đến khi đò ‘chạy liền’ mất gần hai tiếng đồng hồ. Tôi là người xuống cuối cùng, nên khi chen ngồi ngay ngắn xuống khoang, thì đò đã de ra khỏi bến. Máy xe hơi được tân trang gắn đuôi tôm, đặt xuống chiếc vỏ lải chạy xé nước ào ào, đúng là đò tốc hành thứ thiệt. Tôi thích thú ngồi ngó lên dãy nhà hai bên bờ sông giựt lùi. Chẳng bao lâu đò đã ra khỏi ngã ba Tắc Thủ và rẽ ra sông Ông Đốc. Đây dòng sông rộng, hai bên ruộng lúa, chen lẫn vài tán rừng, xa xa vài vườn dừa cao đọt in dưới nền trời xanh xanh và mây trắng gợn. Sóng chập chờn tạt nước vô khoang. Chủ đò liền buông rèm xuống. Ngắm cảnh không được nữa, tôi mới day người lại dựa vô be đò. Hành khách trong khoang không đông lắm, nên ngồi rất thoải mái. Những người dân quê lên tỉnh trở về trông người nào cũng mệt lả, có vài người lim dim ngủ gà ngủ vịt, một bà mẹ ngồi vạch vú cho con bú rất tự nhiên. Ngồi cạnh bên tôi có hai cô gái trạc mười sáu mười bảy tuổi. Cô bận áo màu xanh lá cây, cổ tròn, quần đen đọc chầm chậm: “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không duyên, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành…”. Cô bận bộ đồ bông ngồi cắm cúi ghi ghi chép chép bài hát xuống quyển sổ học trò kê trên bắp đùi. Nhìn hai cô gái hồn nhiên với bài hát của tuổi yêu đương, tôi cũng vui lây. Đợi cô bận áo xanh đọc hết câu, tôi hỏi: ‘Cô tên gì dậy?’ Cô bé lễ phép trả lời: ‘Dạ con tên Yến chú.’ ‘Còn cô kia?’ Nghe tôi hỏi cô bận bộ đồ bông đương đọc rà lại bài hát ngưng ngang, ngước lên trả lời: ‘Dạ, con tên Hằng.’ ‘Hai cô ở Sông Đốc vàm hả?’ Yến đáp: ‘Dạ hổng phải chú, tụi con quê ở Long An, xuống thăm bà chị ở Sông Đốc.’ Bắt được chuyện tôi bèn hỏi tiếp: ‘Chị cô mần gì ở dưới?’ ‘Dạ, bán quán cà phê.’ ‘Quán nằm khu nào?’ ‘Dạ, tụi con mới xuống đây lần đầu nên cũng hổng biết nữa, nhưng bà chị có dặn khi tới Sông Đốc vàm hỏi quán Hoa Biển thì nhiều người biết.’ ‘Hoa Biển… tên nghe hay quá hén.’ Hằng chen vô, hỏi: ‘Mà chú biết hôn chú?’ ‘Rất tiếc, chú đi mần ăn xa, lâu lắm rồi chú mới dìa nên chú hổng biết.’ Chuyện vãn trời trăng mây nước một hồi, đò đã tới bến huyện. Chúng tôi mua bánh mì thịt, nước đá chanh chia nhau ăn uống. Nhờ trên đò có bạn đồng hành, tôi cảm thấy đường sông rút ngắn lại. Chẳng bao lâu đò đã đến Sông Đốc vàm, tôi từ giã suông hai đứa, bước lên bến và không nghĩ sẽ gặp lại dầu bất cứ ở nơi nào. Xong chuyện mồ mả, tính ra tôi còn lưu lại Sông Đốc được hơn hai tuần lễ. Trong thời gian này tôi có thể thăm bạn bè và viếng cảnh quê hương. Nhưng sau những ngày tang chế, đi tới đi lui mệt mỏi, trước tiên tôi cần nghỉ ngơi cho khoẻ cái đã. Chiều hôm đó tắm rửa, cơm nước xong tôi lên giường đánh một giấc thẳng cẳng… Đương mê man trong giấc ngủ chợt nghe như có tiếng sấm sét nổ vang. Phản ứng tự nhiên, tôi ngồi bật dậy bước nhanh xuống giường. Cùng lúc tôi nhận ra, cái quán cà phê cạnh bên nhà mở máy hát gì mà nghe như tiếng pháo kích. Dòm đồng hồ tay mới có năm giờ sáng, có lẽ người trong nhà đã quen với cảnh nầy nên còn ngon giấc. Tôi nằm xuống định ngủ lại, nhưng máy cứ hát hết liên khúc này tới liên khúc khác, làm tôi không sao chợp mắt. Trời vừa sáng, thằng Hiếu với thằng Chiến vô nhà rủ tôi ra phố uống cà phê. Uống chưa hết tách cà phê thì thằng Hân tới, như đã hẹn trước, tụi nó đứng dậy trả tiền cà phê, rồi kéo tôi xuống bến sông kêu đò đi qua vàm xẻo Quau. Tôi thắc mắc, hỏi: ‘Mởi tảng sáng mà tụi mày qua xẻo mần gì? Bộ muốn bắt ba khía hả?’ Thằng Hân giọng có vẻ hãnh diện, nói: ‘Xẻo Quau bây giờ hổng có rừng rú như hồi trước nữa đâu nghe mậy.’ ‘Có gì ở bển?’ ‘Thì qua bển đi rồi sẽ biết.’ Xẻo Quau ngày trước là một thẻo đất với rừng cây dà, cây dá, cây mắm, cây dẹt, mọc tạp nhạp và có một vườn cò trong khu rừng chà là. Hai bên rạch xẻo ô rô, cóc kèn, dây choại đan chằng chịt với nhau. Nhờ rừng rú âm u rất thuận tiện cho cá tôm sanh sôi nẩy nở, nâng đỡ rất nhiều dân nghèo còn chưn ướt, chưn ráo tới đây lập nghiệp. Gia đình tôi cũng có một thời gian sống nhờ tài nguyên của con xẻo nầy. Bây giờ thì khác hơn xưa nhiều lắm, nhà cửa mọc lên như nấm. Dọc theo bờ sông nhà sàn dựng lên lổm chổm. Đò cặp vô một căn nhà sàn rộng, lúc chưa bước lên tôi ngỡ đây là một vựa cá tôm khô gì đó. Nhưng sao không nghe mùi khăn khẳn quen thuộc? Sự thắc mắc nầy chưa được hỏi, thì sự ngạc nhiên kia liền tràn tới. Vừa bước lên bến cầu, một chị phấn son lòe loẹt từ trong buồng đi ra vồn vã chào mời: ‘Lâu rồi mới thấy mấy anh qua chơi.’ Đoạn chị ta day qua tôi, nói: ‘Mấy anh nầy thì quen quá rồi, còn anh tui ngờ ngợ đã gặp ở đâu rồi.’ Cái kiểu nói dóc một cách ‘lịch sự’ trơn tru như vầy tôi không mấy gì ngạc nhiên. Tôi gượng cười và nói: ‘Ờ, gặp nhau hồi mười mấy năm trước ở đâu đó.’ Chị ta cười một cái: ‘Mấy anh chờ chút.’ Có lẽ mấy thằng bạn của tôi đã quen sinh hoạt với quán. Tụi nó tự động rinh bàn ghế trong góc nhà sắp ra một khoảng trống. Cạnh bên có một căn buồng che bốn phía bằng những tấm màn bông, tôi đoán chừng có một nhóm người đương ăn nhậu ở trỏng vì có tiếng cười nói lào xào. Như thể xác định sự thắc mắc của tôi, một người đàn ông đứng tuổi, bận quân phục, vai mang quân hàm đỏ tươi, từ trong vẹt màn đi ra. Mặt ông ta đanh cứng, đỏ ngầu, không ngó ai, ông đi thẳng ra sàn cầu, đứng vạch quần đái lỏn tỏn xuống sông. Sau khi sắp xong bàn ghế, các bạn kêu tôi cùng ngồi. Cái chị hồi nãy, tôi đoán là chủ quán, từ trong đi ra, chị ta kéo rẹt rẹt bốn tấm màn bông treo bốn bên lại. Trong nháy mắt chúng tôi ngồi trọn lỏn trong căn buồng dã chiến. Tôi hơi sửng sốt, không ngờ ở nơi mà lòng tôi luôn nghĩ là khỉ ho cò gáy lại có chuyện lạ như vầy. Liền đó Yến cùng với ba cô gái khác ăn bận hở hang, lòe loẹt, mặt trét phấn, môi thoa son như sắp sửa ra tuồng, mỗi cô cầm một chai bia khui sẵn và một cái ly. Cái chị hồi nãy bưng ra một dĩa đậu phộng để lên bàn, rồi phân chia mỗi cô ngồi cạnh một chàng. Tôi từ xa mới về được các bạn nhường cho cô trẻ nhứt là Yến. Chị chủ coi như xong nhiệm vụ, chị ta lịch sự rút lui ra ngoài, nhưng không quên chúc chúng tôi ăn chơi vui vẻ. Mọi chuyện diễn biến quá nhanh làm tôi cứng mình không kịp phản ứng gì hết. Bạn bè đặt đâu tôi ngồi đó, rủ uống tôi uống, mời ăn tôi ăn. Thằng Chiến nhướng mắt ra hiệu biểu tôi ‘làm gì’ với Yến đi… Đời tôi phiêu bạt đã nhiều và nhớ quê nhà lung lắm. Nhưng hôm nay tôi trở về đây đâu phải vì nhớ nhung ba cái chuyện tầm bậy tầm bạ nầy. Cho nên tâm trí tôi lúc nào cũng quay về người xưa cảnh cũ. Giả dụ bây giờ là một đêm đầy trăng, dưới dòng sông ngập ánh lung linh, hiện tại đều biến mất, còn lại một chòi lá xác xơ, mơ màng bên khu rừng tạp nhạp. Tôi sẵn sàng đóng vai chú Bảy Chài, bác Tư Cua hay ông Ba Đặt Lợp… rồi tôi sẽ kể cho con Yến nghe những câu chuyện về người dân trước đây với hai bàn tay trắng, nhờ sự tương ái với nhau mỗi khi tắt lửa tối đèn, họ khai hoang rừng rậm lập nên làng xã. Cũng từ đó, mới có tiếng hát hò của gái, trai miền sông nước cất lên giữa đêm khuya thanh vắng… Có lẽ thấy tôi không bộp chộp nên Yến mới rụt rè, bưng ly lên, nói: ‘Mời chú.’ Bất chợt thằng Chiến nổi quạu móc tiền chìa qua cho Yến rồi quát: ‘Nè, cầm lấy rồi đi ra ngoài!’ Tôi ngạc nhiên day qua hỏi: ‘Cái gì vậy mậy?’ Nó trả lời với vẻ bất bình: ‘Bộ mầy hổng thấy nó kêu mầy bằng chú hả?’ Tôi nói: ‘Tưởng chuyện gì, chớ tao thấy Yến cũng cỡ tuổi cháu tao ở nhà.’ ‘Nhưng mà chỗ này thì khác, mày ở ngoải mới dìa hổng biết chớ chơi với mấy đứa này mà thiệt thà quá nó lờn mặt.’ Tôi cười. Bạn bè rủ mình đi chơi vậy mà uống chưa hết ly bia đã muốn gây lộn với người ta rồi. Tôi định nói ý mình cho nó nghe, nhưng thấy không tiện nên mới xoa dịu: ‘Thôi, tao biết rồi cho tao xin, đương vui vẻ mà.’ Đoạn tôi day qua Yến, nói: ‘Cháu cứ tự nhiên, thằng bạn chú nó hơi cà chớn.’ Nói xong tôi mới bưng ly lên mời bà con vô một cái. Có như vậy thằng Chiến mới im cái miệng và nhét tiền vô túi. Thằng Hiếu không biết nghĩ gì cứ nhìn tôi cười cười, lâu lâu hớp một ngụm bia, nuốt ực rồi day qua con nhỏ ngồi bên hun cái chụt. Còn thằng Hân vô mấy chai sần sần, nổi hứng ôm con nhỏ kế bên, vừa hun vừa bóp vú như thể chết thèm đâu từ đời kiếp nào vậy. Tôi kiếm chuyện dả lả với Yến để cho mấy thằng bạn dân chơi ‘miệt biển’ của tôi khỏi bận tâm rầy rà. Tôi hỏi: ‘Yến bao nhiêu tuổi?’ ‘Dạ, mười bảy.’ ‘Mười bảy bẻ gãy sừng trâu.’ Yến cười duyên rồi ngả đầu lên vai tôi. Nhìn con nhỏ mà lòng tôi đầy ắp nỗi buồn. Mấy đứa cháu tôi ở nhà cũng cùng trang lứa, tuy không giàu có nhưng chúng nó may mắn đủ cơm ăn áo mặc, có cha mẹ lo lắng đàng hoàng. Còn Yến cha mẹ ra sao mà mới tuổi này đã lao vào cuộc sống trụy lạc như vầy. Tôi muốn hỏi về gia cảnh của Yến nhưng ngại. Bạn bè bày tiệc đãi tôi với mục đích giới thiệu cảnh quê hương đổi mới. Nhưng tôi cứ lo hỏi chuyện đâu đâu, chỉ tổ gây khó chịu bạn bè. Thấy tôi cứ mãi trầm ngâm nên Yến mới gợi chuyện: ‘Bộ chú là Việt kiều hả chú?’ ‘Ừa.’ ‘Dậy mà hồi gặp chú con hổng biết.’ ‘Dậy hả. À, còn cô gì đi chung với Yến đâu rồi?’ ‘Con Hằng hả, nó đang ngồi hát bên kia kìa.’ Tôi lắng tai nghe phía buồng bên kia, có tiếng đũa gõ vô chén dĩa lóc cóc leng keng nhịp theo tiếng hát, điệu dân ca: “Trèo lên… lên trèo lên.. lên em cởi cởi nút quần…” Tiếng hát dứt ngang, tiếp theo tiếng ai ái của người con gái và tiếng cười rộ của mấy gã đàn ông…’ Âm thanh bên kia buồng như gợi hứng cho mấy thằng bạn của tôi. Bây giờ tụi nó không còn ra vẻ sành sỏi để lưu ý tôi nữa, mạnh đứa nào đứa nấy vạch vú của mấy con nhỏ vừa bóp vừa hun. Bên trong kia có một cái buồng kín, cứ một lát lại nghe dội nước rào rào. Chưa đầy mười một giờ sáng nắng đã tỏa vàng trên mặt sông và gió chướng hiu hiu thổi, vậy mà không khí trong phòng ngột ngạt làm sao. Tôi đứng dậy, móc túi giơ cho Yến tờ giấy bạc, Yến cầm lấy nói lời cám ơn trong cổ họng. Mấy bạn tôi giựt mình, buông mấy cái ‘vú’ ra và hỏi tôi tại sao chưa ‘chơi’ gì hết mà định bỏ đi đâu. Tôi viện cớ, cần về nhà bàn với anh tôi chút chuyện. Hiếu đề nghị Chiến và Hân ở lại tiếp tục chơi, rồi câu vai tôi ra bến gọi đò. Khi đò vừa de ra khỏi bến, tôi ngó lên thấy trên vách có tấm bảng nền xanh đề chữ màu đỏ: ‘Cà Phê Hoa Biển’. Tôi đã sống lăn lộn đó đây, dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh bất cứ ở nơi nào, vậy mà về lại quê hương tôi phải cố gắng hòa hợp với mọi người như đến một xứ lạ. Tôi bị lạc loài ngay trên chính quê quán ngỡ còn mộc mạc của mình. Đò ra giữa dòng, mà tôi vẫn còn như mộng. Chợt Hiếu hỏi tôi: ‘Mầy còn nhớ Lệ Hương hông?’ ‘Nhớ chớ.’ Một kỷ niệm đẹp thoáng hiện về trong trí, tôi liên tưởng ngay đến một cô hàng quán, duyên dáng, khuôn mặt tròn trịa, mắt đen lay láy, chưn mày rậm, môi không thoa son nhưng lúc nào cũng đỏ mọng. Tóc Lệ Hương đen mượt và dài tới mông, nàng thường bận áo cổ rộng, đeo dây chuyền vàng mặt cẩm thạch kiểu trái tim ôm vừa cần cổ trắng nõn trắng nà. Tôi và Hiếu có thể đến nhậu bất cứ lúc nào và ký sổ bao nhiêu cũng được. Hai đứa đều mê Lệ Hương, cuối cùng nàng chọn thằng Hiếu vì nó đẹp trai hơn tôi rất nhiều. Tôi hỏi: ‘Lệ Hương dạo này ra sao?’ Hiếu trả lời một cách bình thản: ‘Cô ta bây giờ làm ‘chị đĩ’ ở ngoài đê, mầy muốn hông? Tao dẫn mầy đi!’ Như bị tát thêm ly nước lạnh vô mặt, tôi nói một câu không cần phải dè dặt nữa: ‘Đủ rồi, chắc tao hổng còn gì để thăm và cũng chẳng còn gì để lưu luyến…’ ‘Mày nói sao?’ Những gương mặt hiền lành, những tên gọi chất phác tôi giữ ở trong lòng trong những năm lưu lạc giờ đây đã tan biến. Làm sao những địa danh rạch Ruộng, rạch Bần, xẻo Quau… lại có thể ăn nhập với những từ Hoa Biển, Chiều Tím, quán Trầm, quán Gió, khiêu gợi hơn nữa có quán Sáu Cô? Chợt nhiên tôi thấy lòng mình trống trải, không là nỗi trống trải của dòng sông dài và rộng trước mặt, mà là sự trống vắng của biển đêm đen đặc, mênh mông. Chiếc vỏ lải cứ lướt nước ào ào. Sông Đốc vàm từ từ biến khuất vào con doi thứ nhứt. Quê hương tôi chỉ còn lố nhố những ngọn ăng-ten. Tôi day lại, thấy Yến và Hằng vẫn ngồi co ro gục mặt lên đầu gối. Gã thanh niên vẫn tiếp tục chọc ghẹo bằng những lời xàm sỡ… Trong những hành khách ngồi chung quanh, có người thản nhiên, có kẻ khinh khỉnh cười. Tôi muốn nói vài câu chận lời gã để Yến và Hằng còn có thể ngước mặt lên nói chuyện bình thường như mọi người. Nhưng quai hàm tê cứng, tôi ngồi đó ấm ức như một người câm.
Chiều ngày ba mươi mốt tháng Chạp dương lịch. Cơn mưa tuyết kéo về trút xuống thành phố Hamburg, làm đường xá nhầy nhụa ướt át và trời đất thì lạnh căm.Những cơ sở thương mại và văn phòng hành chánh hai bên đường Reeperbahn đóng cửa im lìm. Còn lại vài tiệm bán sách báo, phim ảnh khiêu dâm mở cửa nhưng vắng khách ra vào. Các cô gái ngồi trong buồng kín với thân hinh trần trụi và chị em bán dâm trong các phòng kiếng hoặc tập trung vô một chung cư, có lẽ đã về nhà đón tết nên không còn đông đúc, xôn xao như những ngày thường. Mỗi đợt xe bus đổ khách xuống ào ạt, trong chốc lát người ta biến hết vô những quán bar, nhà hàng hoặc casino. Ðể lại đường phố thưa thớt bóng người.
Khi phố xá hực hở nhiều màu sắc, cũng là lúc anh tà tà từ đầu phố đi về cuối phố và từ cuối phố đi ngược lại. Mới hơn mười giờ mà anh đi tới, đi lui không biết bao nhiêu bận rồi. Nghe người thấm lạnh, anh quẹo vào một quán rượu của Phi Luật Tân. Tony đứng sau quày rót rượu, thấy anh vô nó vẫy tay chào:
– Hi, tàu mầy mới ghé phải không?
– Không, ghé hồi sáng.
– Sao giờ nầy mới trường mặt lên?
– Tao lên từ hồi chiều, nhưng đi rảo ngoài đường.
– Ở ngoài giờ nầy đâu có khỉ gì. Mầy uống gì?
– Cho tao cái cognac.
Tony rót rượu đưa anh:
– Ly nầy tao đãi mầy.
– Cám ơn.
Tony day ngang tiếp người khách mới vô. Thường thì anh leo lên chiếc ghế trước quầy ngồi chờ Tony rảnh rang trò chuyện. Ðêm nay Tony bận rót bia, rót rượu túi bụi, cứ cái mửng nầy tiếp tục cho tới khuya chắc gì nó được rảnh tay. Anh bưng ly rượu lại ngồi bên chiếc bàn trống. Ai đó đã bỏ quên cuốn sách khiêu dâm trên bàn, vậy khỏi tốn gói đậu phộng làm mồi, anh móc thuốc châm, hít một hơi dài, phà ra ngụm khói lớn góp phần vào khối hôi hám đầy đặc trong không khí. Anh tiếp tục lật quyển sách vừa xem hình vừa nhâm nhi congac.
– Chào ông anh.
Lẫn trong âm thanh ồn ào tiếng ngoại quốc tự nhiên anh nghe tiếng Việt thanh thao của một người con gái. Cái gì đây? Anh ngó lên, chưa kịp hỏi thì cô ả tiếp:
– Ông anh còn nhớ em không?
A, thì ra cái cô người Việt mà anh đã gặp trước đây trong một quán bia ôm ở Bremerhaven, cô “làm ăn” chung với đám phụ nữ Phi Luật Tân. Hôm đó cô tiếp anh, hai người vui vẻ chuyện trò với nhau bằng tiếng Anh, cô có vẻ hơi rụt rè giữ kẽ khi tiếp chuyện, nhưng tiếng Anh cô nói rất lưu loát. Ngồi chơi với anh được một lát, cô giới thiệu cô là người Việt. Vui quá, anh liền hô lên bằng tiếng Việt:
– Tui cũng là người Việt chánh hiệu con rồng vàng đây.
Tưởng nói vậy cô ta sẽ mừng rỡ biết bao. Nhưng không, cô biểu lộ tình đồng hương bằng cách xịu mặt xuống, bẽn lẽn đứng dậy mượn cớ đi toilet, rồi cô chuồn đâu mất. Bỗng dưng đêm nay cô xuất hiện trong chiếc áo lông dầy, màu đỏ chói, dài tới đầu gối, vai mang bóp da với phong cách gái giang hồ thứ thiệt.
– Làm sao quên được.
– Anh cho em ngồi với nhé.
Anh chỉ chiếc ghế trước mặt nói như ra lịnh:
Cô ngồi xuống đi, nhưng hổng được đi toilet.
– Ông anh nầy.
– Anh là anh, ông là ông gọi lộn xộn nghe kì cục thấy mồ. Cô uống gì?
Cô ta dợm ngồi xuống. Nghe anh hỏi cô liền đứng dậy:
– Để em đi lấy. Anh uống thêm ?
Anh bưng ly ngước cổ nốc hết phần rượu trong ly, giơ ly qua cho cô
và kèm theo tờ Đức mác. Cô ta cầm chiếc ly nhưng không lấy tiền.
– Anh cất tiền đi.
Ðúng là tết với nhứt. Ngồi chưa nóng ghế đã được hai ly cognac miễn phí. Hổng biết một lát còn cái gì miễn nữa không? Anh gấp cuốn sách lại, vói tay để qua chiếc bàn bên cạnh. Người vô quán mỗi lúc một đông. Các cô gái Phi Luật Tân đi tới đi lui, lăng săng chào đón khách, chưa tới giao thừa mà các cô đã chúy choé:
– Happy new year…
Có hai người đàn ông bao hai cô gái, bày tiệc bàn ở bàn cuối quán. Trong ánh sáng lờ mờ, mỗi anh ôm chặt một cô, tay thọt vô váy mò mẩm và cũng chính bàn tay đó khi cần rút ra bưng bia uống và bốc đậu phộng rang muối bỏ vô miệng nhai rau ráu, sau đó thọt tay dính đầy muối trở lại chỗ cũ. Hai cô gái cứ thản nhiên ngồi dạng chân, uống champagne, miệng phì phà thuốc lá. Trò chơi cứ tiếp tục tới giao thừa thì phần giữa háng của hai cô gái chắc cũng vừa đủ mặn.
Cô gái bưng rượu để lên bàn, cô uống rượu pha màu trắng đục, anh không biết rượu gì. Thấy anh ngồi trầm ngâm ngó mặt vô góc quán, cô yên lặng cởi áo lạnh vắt lên thành ghế và kéo ghế đối diện ngồi xuống. Anh bưng ly nói lời cám ơn, hít hơi thuốc cuối cùng và dụi tàn vô chiếc gạt.
– Anh tên Tân phải hông? Cô gái hỏi.
– Hổng phải, tui tên Đủ.
– Nhưng sao Tony kêu anh là Tân.
A, thì ra vậy. Tui tên là Nguyễn Tấn Đủ, nhưng người ngoại quốc phát âm chữ đủ nghe kì cục quá nên tôi mới lấy chữ lót làm tên cho họ dễ kêu.
– Vậy em phải kêu anh tên nào.
– Tùy cô, thấy tên nào tiện cứ kêu.
Anh Đủ nhé, cho có vẻ miệt “dzườn”.
Cô người miệt dzườn?
Tỉnh lẻ chớ dzườn chiếu gì đâu.
Cô có tên Việt hông, hay vẫn còn mang cái tên ngoại lai nào
đó mà tui đã quên mất tiêu rồi?
Em tên Bích và tên ngoại lai thì nhiều lắm, hồi đó giới thiệu với anh tên nào em còn hổng nhớ nữa nói chi anh.
Anh nâng ly:
– Mời Bích.
Cụng ly nhấp một hớp, để ly xuống, Anh rút thuốc đưa qua mời.
Bích rút thuốc gắn lên môi. Anh bật lửa châm.
– Ở đây có còn cô nào người Việt nữa hông?
– Hông anh.
Người vô quán mỗi lúc một đông, toàn là dân tứ phương, đông nhứt
là ngưòi Phi Luật Tân. Tiếng nhạc hoà cùng tiếng người cao giọng ồn ào. Anh và và Bích muốn nói chuyện phải hả họng lớn và kề sát mặt nhau mới nghe được.
– Nghe Tony nói anh ở Hoà Lan.
– Thì đã sao?
Ngồi đây nói chuyện có hơi phiền, mặc dầu cuộc sống của Bích không cần phải che đậy, kể cả thân thể của cô, nhưng đàn bà mà há họng lớn nói to trước đám đông cũng khó coi lắm. Anh chồm qua hỏi lớn:
– Đêm nay cô có khách hông?
Bích nhíu mày một cái rồi kề miệng sát vô tai anh, nói:
– Hông, đêm nay anh là khách của em?
– Chấm mút được gì đâu?
– Liếm láp chút ít cũng được.
– Nói chuyện hay quá vậy.
Nghe Tony nói anh là người đàng hoàng, sao nói chuyện nghe phát
lợm.
– Ngồi đây hít vô ba cái ám khí, nói ra sao được thơm tho.
Bích nhếch mép cười chua chát. Anh không đùa cợt nữa:
– Nếu muốn nói chuyện hổng lợm thì cô đi với tôi ra ngoài kia?
Hai người uống hết rượu, đứng dậy sửa lại khăn cổ, choàng áo lạnh và đi ra khỏi quán. Nhiệt độ xuống thấp, đường dán băng trơn nhớt, pháo nổ xa, gần. Bích nép sát người anh:
– Em nghe nói bêm Amsterdam cũng có khu như vầy.
– Bên Amsterdam các cô gái ngồi trong lồng kiếng day mặt ra lộ, cô nào cô nấy gần như trần trụi. Còn ở đây các cô tập trung vô một chung cư, mỗi cô ngồi mỗi phòng, có những ngõ hẻm dành cho các cô ngồi lồng kiếng, người ta ngăn bít hai đầu. Nhờ vậy con đường ngoài thanh lịch hơn và những người chưa quen sinh hoạt ở đây, đi ngang cũng không thấy khó chịu.
Hai người đi bên nhau nói chuyện trời trăng mây gió một lát thì tới giao thừa. Sớm tới giờ anh cứ nghĩ ngày Tết ai ai cũng quây quần bên nhau trong căn nhà ấm cúng cho nên ngoài đường phố vắng tanh. Chỉ có những người vô gia cư như anh mới lang thang giữa trời đông giá lạnh. Dè đâu đúng giờ giao thừa trên trời hực sáng, tua tủa pháo bông, dưới đất pháo nổ đùng đùng như trận đánh Mậu Thân. Người ở trong các quán bar, nhà hàng tràn ra đường như ong vỡ tổ. Trong khói pháo mịt mù, người ta vừa đốt pháo vừa uống bia, rượu và hò reo vang dội.
Anh và Bích đứng bên góc phố coi người ta đón Tết. Anh thấy có một gã con trai đầu trọc lóc, bận áo dầy xanh màu cứt ngựa, vai mang bọc pháo đủ loại, tay cầm súng chỉa lên trời bắn đùng đùng, trông gã hào hùng giống như viên chỉ huy ngoài mặt trận ra lịnh cho lính tấn công. Đợi gã ngưng bắn, anh tới hỏi chia hai cây pháo cầm tay. Gã lẹ làng móc nắm pháo chìa ra còn kèm theo hai lon bia và nói chúc mừng năm mới. Anh móc tiền trả, gã khoát tay không lấy tiền rồi day qua nạp pháo vô súng tiếp tục bắn. Anh đưa cho Bích nắm pháo, và móc hộp quẹt bật lửa châm. Bích cầm cây pháo bông cháy tua tủa quơ qua quơ lại, cười thích thú. Hết nắm pháo, anh khui bia đưa Bích một lon và giơ lên nói lời chúc mừng. Bích cũng giơ bia lên nói chúc mừng và hai người ôm nhau hôn trong mùi bia nồng nặc.
Hai người tiếp tục vừa đi vừa uống bia, khi cạn bia họ liệng lon vô thùng rác. Ánh đèn khu phố nhợt nhạt chiếu xuống, hai bên đường phố người ta đông nghẹt. Pháo nổ rời rạc như muốn kéo giờ giao thừa trở lại. Gương mặt Bích thoáng chút u buồn. Cô nắm chặt tay anh thỏ thẻ:
– Đêm nay không có anh chắc em… không biết ra sao.
Anh nghĩ tới mấy cô gái ngồi tiếp khách trong căn phòng thiếu ánh sáng ban nãy. Anh định nói: thì em cũng như các bạn em đương làm ăn như mọi năm, nhưng thấy tàn nhẫn quá, dù sao cô cũng chịu thiệt thòi một đêm đi chơi với anh. Anh ân hận nói sang chuyện khác:
– Không có tui giao thừa cũng qua.
– Khinh bạc vậy à.
– Cuộc sống nầy có gì trân trọng.
Bích thở hắt một cái như ra chiều thất vọng. Anh đoán chừng cô ta muốn tâm sự. Anh nói:
– Mình vô quán ngồi cho ấm.
Được, nhưng đừng trở lại quán Tony ngột ngạt hơi người em ớn lắm.
Như vậy ngày mai, ngày mốt, bữa kia nữa thì sao? Chuyện ngày mai để ngày mai tính. Vậy thì đừng thắc mắc, nghĩ ngợi gì hết, đi chơi vui vẻ cho hết đêm nay.
Quán không tên, hiệu quán vẻn vẹn hai con số. Bên trong đầy đủ ánh sáng, bàn, ghế sạch sẽ, không khí thoải mái. Đàn ông, đàn bà ngồi dọc theo chiều dài của quày rượu. Người Âu ăn ra ăn, nhậu ra ra nhậu. Ồn ào nhưng không cao giọng, đông đúc nhưng không xô bồ xô bộn như người Á. Anh mua một chai champagne và một dĩa ô-liu. Ôm hết mọi thứ và hai cái ly đi lại để trên chiếc bàn cuối quán, anh day qua phụ Bích cởi áo lạnh máng lên chiếc móc sau lưng. Cô ngồi xuống, kéo tay anh ngồi cạnh bên. Anh cầm chai rượu định mở nút cho nổ lớn. Bích chận tay anh:
Ðừng anh.
Tại sao?
Em hổng muốn thiên hạ ngó chúng mình.
Cô lấy chai rượu vặn nút cho xì hơi và nhè nhẹ mở ra, cô rót đầy hai ly, bưng một ly đưa qua anh:
– Uống đi anh.
Anh cụng ly với Bich, hai người hớp một hớp đầy, để ly xuống anh mở gói thuốc, còn một điếu. Anh đứng dậy đi qua chiếc thùng bán thuốc tự động, bỏ tiền vô rút ra một gói. Đi lại châm thuốc giơ qua cho Bích và rút điếu thuốc khác ra, ngồi xuống châm rít một hơi phà khói. Anh nhìn qua Bích:
– Cô giống như người tình.
– Anh muốn “chim” em hả?
– Thấy sao nói vậy chim chóc gì.
Gương mặt rạng rỡ môi điểm môt một nụ cười, Bích nói:
Trước kia em cũng gặp nhiều người Việt nhưng chưa thấy ai giống như anh.
Khác chỗ nào?
Khác chỗ đi chơi bời mà làm như con nhà tử tế lắm, người lên giọng
đạo đức khuyên nhủ dạy dỗ, kẻ bươi móc đời tư, soi rọi từ lông tơ kẽ tóc, ngồi nói chuyện em nghe như bị mắng vô mặt. Em bán bar mà họ làm như em bán cả bốn ngàn năm văn hiến của họ vậy. Cho nên năm trước gặp anh em bỏ trốn. Từ đó về sau mỗi lần anh đến em đều không ra mặt và dặn mấy nhỏ bạn đừng cho anh biết là có em.
– Như vậy mỗi lần tui tới cô hổng “mần ăn” gì được hết.
Cô cái nghẽo đầu cười. Anh hỏi tiếp:
– Sao hôm nay cô hổng trốn nữa?
Nghe mấy đứa bạn nói anh keo lắm, còn Tony thì khen anh là người
đàng hoàng.
– Keo kiệt mà đàng hoàng sao?
Mấy bạn em nói hổng khi nào uống của anh một ly cho đáng tiền.
Tony thì nói anh không bao giờ bậy bạ.
Nghĩa là sao?
Nghĩa là anh gần bùn nhưng hổng dính bùn.
Ðược cao quý như vậy à?
– Hông biết, nhưng ít ra đi với anh em yên tâm trò chuyện.
Vậy thì trò chuyện đi.
Bích nhéo anh một cái:
Thì em đương trò chuyện với anh đây.
Một bà già ôm bó bông chìa ra trước mặt hai người và mời mua bằng câu chúc mừng năm mới. Anh rút một cọng bông hồng gói trong giấy kiếng, móc túi đưa cho bà tờ đức mác, anh khoát tay kêu bà lão đi đi khỏi thối tiền. Anh đưa cọng bông cho Bích:
– Tặng cô đó.
Bích đưa tay đón nhánh bông, nói:
– Ðẹp quá.
Cô day qua hôn anh và cúi xuống hôn bông hồng. Anh nhìn người con gái, đôi mắt lơ là, đôi môi son mỏng, mũi cao, vẻ đẹp của một thời vẫn còn rỏ nét trên gương mặt dạn dày sương gió.
– Gần sáng rồi, uống hết rượu mình chia tay.
Cô gái giựt mình bấu cánh tay anh.
– Anh hổng dìa với em sao?
Tui sợ lâu ngày lênh đênh trên biển, khi gần đàn bà những dồn nén
trong người nó cứ trực trào ra.
Cô gái nghiêng đầu tựa vai và tay vuốt vuốt lên ngực anh:
– Thì anh cứ trút hết sự dồn nén của anh qua em.
– Để làm gì?
– Hy vọng có một đứa con cuộc sống em sẽ thay đổi.
– Muốn thay đổi cuộc sống sao cô không kiếm chồng?
– Hổng biết còn ai lấy em hông?
– Tìm sẽ gặp, xin sẽ được.
– Vậy thì em xin anh một đứa con.
Xin gì mà kỳ cục vậy?
Lớn tuổi sống mình ên em thấy hụt hẩng.
Anh cốc nhè nhẹ lên đầu cô gái:
Đàn bà ngu ngốc, muốn thì đòi chớ khổng biết đo lường hậu quả, cho
nên đi tới đâu cũng nghe các bà than khổ.
Bích buông tay anh ra, ngồi chống tay lên càm nhìn thẳng mặt anh, vui vẻ
nói:
– Em hiểu anh nói gì rồi.
– Cô cũng không đến đỗi đần độn lắm, vậy thì bỏ qua chuyện con cái đi.
Anh mỏ bóp moi ra xắp tiền giấy và trút hết tiền cắc đưa cho Bích:
Ngày mai đổi tiền Euro, tui hông có thời giờ lên nhà băng, nhờ cô
đổi dùm.
– Chừng nào anh trở lợi?
– Mau thì vài tuần, lâu thì vài tháng cũng có khi vài năm.
– Có gặp em hông?
– Nếu cô còn ở đây thì thế nào cũng sẽ gặp.
– Nếu hông gặp lại số tiền nầy em làm sao đưa cho anh?
– Thì cô cứ xài.
– Ðâu được.
Hổng ấy cô tìm mua một món quà nào đó, coi như tui tặng cô làm kỷ
niệm.
– Anh muốn tặng em cái gì?
– Tùy cô.
– Hông, anh chọn cho em.
Vậy thì như vầy, một cái xú chiêng và một cái quần xì líp loại tốt. Được hông ? Được, nhưng ý nghĩa gì?
Trên đời nầy hông chuyện nào có nghĩa hết, ý nghĩa do người ta bày đặt ra đó thôi, như chuyện cô đi chơi với tôi nãy giờ cũng chẳng ý nghĩa gì ráo.
– Nhưng em thấy vui.
Lát nữa cô sẽ buồn, mai kia mốt nọ cô sẽ quên, mọi chuyện cứ tuần tự đâu vào đó. Vậy tùy cô, cô cho chuyện nầy ý nghĩa gì cũng được.
– Em có rồi.
– Gì?
– Kỷ niệm.
– Vậy thì cất cái cái kỷ niệm lại đi.
Như vậy cô ta mới chịu bỏ tiền vô bóp.
– Uống hết rượu anh đưa em về nhà nhé.
– Tới bến tắc xi thôi.
Ừ, cũng được.
Tắc xi đậu một hàng dọc nhưng chiếc nào cũng đầy người. Hơn ba giờ sáng, ai cũng muốn về với căn nhà để ngã lưng trên chiếc giường ấm áp của mình. Nhưng Bích thì không chú ý chuyện đón xe, cô đứng ôm anh cứng ngắc, mặt áp sát vào vai anh tìm hơi ấm. Anh đưa hai tay mân mê khuôn mặt từng trải và mệt mỏi của người đàn bà tuổi đã ngoài ba mươi mà lòng anh tràn ngập nỗi buồn. Biết làm sao bây giờ, một mình một thân anh lê đi cùng khắp, đôi khi còn thấy nặng nề thì làm sao anh dám nghĩ tới chuyện ra tay nghĩa hiệp như anh hùng Từ Hải ngày xưa. Hai người đứng như bức tượng đồng giữa đám người loi nhoi lóc nhóc. Một chiếc tắc xi trống ghé lại, Bích thở hắt một cái, hôn anh nồng nàn và vội vàng chui tọt vô xe. Xe rộng quá nên trông Bích nhỏ xíu và chiếc bông hồng trên tay không đủ lấp khoảng không gian lạnh lùng phí băng sau. Anh nhìn lên bầu trời trắng đục. Anh chép miệng : “ Chật! Hy vọng mọi chuyện sẽ trôi qua khi trời trở sáng.”
*
Sau sáu tháng hải hành đó đây trên miền nắng nóng Châu Phi. Hôm nay anh trở lại thì trời đất sáng ngời, ngày dài ra và đêm thì ngắn lại. Ðường đi khô ráo, cây xanh lá, bông nở đủ màu. Chiều nay anh ghé vào quán rượu quen thuộc, Tony ngồi chông ngóc sau bar, vừa thấy anh nó chào một cái rồi đi vô trong. Một lát sau trở ra nó không hỏi anh uống gì như thường lệ. Tony bắt đầu câu chuyện bằng cách đưa anh một bao thư.
– Bích gởi cho mầy đó.
– Cái gì đây?
Mở ra thì biết.
Anh mở thư, bên trong có hai tờ Euro mới toan.
Bích đâu?
– Nó nghỉ làm ở đây rồi.
– Nghỉ đây rồi cô ta đi đâu?
Ai biết, nhưng nó có nhắn tao nói với mầy, đây là số tiền mầy nhờ đổi dùm, nó chỉ lấy đủ mua món quà mà mầy tặng cho nó.
Anh để bao thư xuống mặt bàn và leo lên chiếc ghế cao cẳng ngồi. Anh móc thuốc đưa qua mời Tony và kêu rượu. Tony vừa rót rượu vừa nói:
Con nhỏ cũng ngộ, trước kia thấy người Việt là nó tránh mặt, nhưng không hiểu sao từ khi gặp mầy nó như người mất hồn, cứ hỏi tao một chuyến đi của mầy là bao lâu. Nhứt là thời gian gần nghỉ việc, nó có ý chờ đợi mầy mầy.
– Chờ tao chi vậy?
– Mầy hổng biết làm sao tao biết.
– Đàn bà ! Hớp rượu và đưa thuốc lên môi hút, anh đảo mắt nhìn chung quanh, ánh sáng trong quán tờ mờ trông lạnh lẽo quá. Hai cô gái Phi Luật Tân, một cô lau sàn nhà, một cô chùi bàn ghế. Nhìn hai cô gái anh chợt nghĩ tới truyện Kiều. Có thật không một nàng Kiều? Ðã mấy trăm năm trôi qua mà thiên hạ vẫn còn nhắc nhở chỉ vì Kiều bán thân, trôi dạt hết mười lăm năm. Ngày nay khắp thế giới nầy có biết bao nhiêu mảnh đời vô định. Như anh với Tony gần hết một đời luân lạc, cho tới bây giờ vẫn chưa trở lại quê hương. Và hai cô gái lui cui đằng kia, bắt đầu cuộc sống tha hương bằng nghề ngày thì quét dọn, lau chùi, đêm về trần truồng tiếp khách. Lòng anh bỗng nhiên chùng xuống. Anh nhớ thương Bích vô cùng, rồi đây dòng đời sẽ đưa cô về đâu trong cái thế giới càng ngày càng xô bồ xô bộn.
Mới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em: “Muỗi này! Đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ không bằng lòng: “Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội”. À ra thế!
Ba Muội, chú Phu, người Quảng Đông. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường
Má tôi đông con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên. Chủ nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học Đệ nhứt, năm cuối cùng của bậc Trung học Đệ nhị cấp. Cuối năm, tôi sẽ thi Tú tài hai. Đậu thì lên Đại học. Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt. Bạn tôi, rớt Tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học Đệ tam, trường Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.
Muội là cô giáo dạy tôi tiếng Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi Tú tài hai, bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới nữa là.
Muôi dạy tôi tính tiền là xấu lúi. Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu. Tôi hỏi: “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói làm sao?” Muội nói: “Muội không biết”. Tôi nói: “Đi hỏi ba Muôi đi!”. Muội không dám. Muội sợ ba biết Muội quen với tôi, ba Muội rầy.
Ba Muội nói: “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con”.
Tôi nói: “Muội đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu Tú tài hai, vào Đại học Sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.
Muội nói: “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết yêu”. Tôi nói: “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.
Nhưng thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái
Cuối năm đó tôi đậu Tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa. Tôi sắp ra trường, sẽ đổi về một quận lỵ buồn thỉu, buồn thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.
Tôi không ao ước cao xa gì hết. Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy mà cũng không được! Mùa hè năm 72: mùa hè lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp, nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên đã ban hành. Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức.
Tôi thư về Muội bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở về! Tôi sẽ trở về! Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.
Muội hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô, áo trận.
Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy quân Lục chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.
Một năm lính trôi qua, khi tiểu đoàn về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt xuống mương, mình dính đầy những miểng.
Đường Gia Long – Mỹ Tho, 1969
Tôi không chết, như đã hứa với Muội. Trực thăng phầm phập tải thương về Bịnh viện 3 Dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe hồng thập tự chuyển tôi về bịnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè. Muội nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi thò cái tay, không bị dính miểng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước mắt.
Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành. Tôi nằm bịnh viện cả tháng trời. Miểng trong người lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miểng ra, máu lại chảy. Tôi được hai tuần phép để chờ ra hội đồng giám định y khoa. Tôi trở về Mỹ Tho gặp má. Cởi giầy sô, áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi, khi bây giờ, tôi nhớ lại.
Tôi hỏi Muội: “Đẹp tiếng Quảng là gì?”. Muội nói: “Hụ len. Còn yêu là ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má. Cả tháng trời nằm bịnh viện, không có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc. Tôi nài nỉ: “Em con đang sức lớn, má ơi!” Số tiền còn lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi, mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.
Tôi hỏi: “Chữ Tàu đó nghĩa là gì?”
Muội nói: “Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới”.
Tôi hỏi: “Muội muốn màu gì?”
“Màu đỏ hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội”.
Tôi nói: “Thôi! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.
Tôi chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.
Tôi bảo: “Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh dù cho trời sập tới nơi.” Muội nói: “Muội sẽ chờ.”
Tôi may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bệnh viện 3 Dã chiến ngày nào.
Muội nói: “Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ Tho.”
“Ba má sanh Muội ra ở đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi nịnh Muội.
Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng giám định y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm. Tôi chỉ là một sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc binh chủng rằn ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi năm năm sau mới thả tôi về. Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
Má ơi!
Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bịnh viện 3 Dã chiến năm nào. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi; đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc. Cả nhà đói, ăn độn bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi còn đâu nữa. Nước mất nhà tan! Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.
Tôi không tìm gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận nước. Bây giờ tôi chỉ là một sĩ quan ngụy, đi cải tạo về, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần cho tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn! Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ? Tôi không tìm gặp lại Muội không phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi ở tù. Thế thôi!
Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người, có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ đâu? Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi. Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương bao giờ đâu?
Tôi đã sống sót suốt năm năm trời dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói, đói đến mức phải ăn bất cứ cái gì động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội. Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã trở về, dù thân tàn ma dại.
Em gái tôi đem chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên công an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.
Đế quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường, chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười, hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất, là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.
Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích VC này có kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy. Ngồi trước gương của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt, đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.
Tôi đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng bạn học cũ thời trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng: “Thằng Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ, Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói: “Mấy ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu, mình chạy đó”
Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến xe cổng thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành, như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp tàu trước 75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi chứ chẳng ai!
“Đi xích lô hông? Chú ba!” Chú Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi. Tôi đã đổi thay nhiều quá.
“Chèn ơi! Vậy mà ngộ tưởng nị chết rồi.”
“Chết sao được! Sống nhăn răng ra đây nè.”
Tôi chở chú Phu về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.
“Nị ở chơi, ngộ nấu hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngộ cũng không có ăn hủ tiếu.”
“Vậy chứ chú thôi bán hủ tiếu rồi sao?”
“Thôi lâu rồi! Giờ ai cũng mạt, tiền đâu ăn hủ tiếu.”
“Thì bán cho mấy ổng.”
“Ổng nào? À mấy ông cách mạng hả? Ờ mấy ổng đâu có thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.”
Chú Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.
Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo, thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.
Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.
Tôi hỏi: “Chú bây giờ làm gì để sống?”
“Thì nị thấy đó, ngộ đi mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà, nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân ký. Bây giờ khổ quá! Nhớ hồi xưa mình vui quá!”
Lít rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.
Chú Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lon.
Chú nói: “Con Muội! Nó gởi cho nị. Con Muội! hu hu! Nó chết rồi!”
“Muội ơi!”
“Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngộ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngộ về Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngộ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng rượt ngộ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngộ nói với con Muội: “Mỹ Tho bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con!”
Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về. Ngộ nói: “Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến lúc nào ra? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột đèn còn muốn đi nữa mà.”
“Suốt cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng, ngộ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội một chổ.”
“Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi giạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”
Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.
“Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngộ cái này, nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho nị. Hu hu!”
Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là chiếc áo bà ba hình chữ hỉ tôi may cho em ngày cũ.
Muội ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau.
Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
“Muội ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỉ của chúng mình theo, ra biển!”
Chuyện cổ tích kể rằng: Thạch Sanh, tính tình chân thật, làm tiều phu, đốn củi bán cho Lý Thông. Lý Thông thì tánh tình láu cá, nấu rượu lậu. Hai người làm ăn lâu ngày chày tháng, bù khú với nhau nhiều lần, từ bạn nhậu rồi kết nghĩa anh em.
Thạch Sanh giết được Chằn Tinh, cứu công chúa. Nhưng bị Lý Thông cướp công. Anh em cắt máu ăn thề, kết nghĩa sanh đồng sanh, tử đồng tử, cục muối chia hai, sao cục đường huynh đành lòng lủm hết? Chơi vậy chơi với ai? Kết quả là Lý Thông bị Trời đánh chết.
***
Những nhân vật phụ trong truyện cổ tích nầy đã đi bán muối hết ráo rồi; chỉ còn sót lại tới ngày nay là Thạch Sanh và con Chằn Tinh hay hãm hại dân lành.
Thạch Sanh ngày xưa giờ chỉ còn giữ được cái họ Thạch, tên đã đổi từ Sanh qua Sang!
Thạch Sang không đi đốn củi nữa mà về thành, coi trụ sở dân phòng Khu phố 1, đường Trần Khắc Chân, Phường Tân Ðịnh.
Chằn Tinh ngày xưa, biến thành Phó Chủ tịch Quận 1!
Chẳng qua con Chằn Tinh nầy dẫn đám lâu la đến phá dỡ trụ sở dân phòng vì nó chiếm lề đường khoảng 1m. (Xưa nó ra lịnh cất, giờ cũng chính nó phá đấy thôi!)
“Anh nầy xô vào người tôi! Mà anh là cán bộ tại đây. Tôi sẽ xử lý anh ngay lập tức!” Chằn Tinh nghiến răng hăm dọa.
Thạch Sang biết mình sức yếu thế cô bèn xuống nước nhỏ: “Ðâu biết mặt anh đâu!”
Chằn Tinh bèn kêu một tên đầu lĩnh lâu la tháp tùng đến: “Nghĩa đâu? Lại đây! Nghĩa! Nghĩa!”
Nghĩa đây là Phó Chủ tịch Phường Tân Ðịnh đến hỏi Thạch Sang: “Lỗi gì?”
(Hai đứa đều làm Phó, chức nhỏ như cái lỗ mũi mà đứa Quận gọi đứa Phường như là gọi con của thằng chả vậy hè!)
Thạch Sang cắt nghĩa: “Ði ngang đụng ảnh thôi!”
Một tên lâu la, ra chiều nịnh bợ không biết nhục, ăn cơm hớt, chen vào đánh hôi: “Ðường rất trống anh à!”
Chằn Tinh bèn chụp ngay câu nói của đàn em, kết tội Thạch Sang ngay lập tức. “Ðường rất trống anh đi anh xô vào tôi luôn! Tức là sao? Anh thể hiện sự chống đối, cấp dưới với cấp trên!” (Cái nầy gọi là chụp mũ nhe!)
“Tôi đề nghị thế nầy!” Chằn Tinh ra lịnh: “Mời anh nầy về Phường! Anh Nghĩa về đơn vị anh viết kiểm điểm ngay lập tức cái anh nầy. Nếu cần thiết cho ra khỏi guồng máy…” Anh nhớ chưa?” “Dạ rồi!”
“Tất cả chúng ta làm việc vì cái chung. Nhưng mà anh nầy có thái độ chống đối cấp trên! Tôi không cần anh làm việc nầy nữa. Tôi mời anh đi chỗ khác. Nhanh!”
Tên đầu lĩnh đám lâu la, miệng: ‘Dạ’ rân, nhưng mắt láo liên ngó chỗ khác, chắc trong bụng nghĩ: “Chuyện nhỏ như con thỏ mà cũng làm rùm beng trước máy thu hình để đánh trống thùng thình cho dân xem mình đang hát Chèo cổ Bắc phần!
***
Thạch Sang trần tình cùng bá tánh, trước máy thu hình, như vầy:
“Chiều có đoàn giải tỏa trụ sở. Khiêng một thùng đồ nặng mới vô tình quẹt trúng ảnh. Thật ra không cố tình chuyện gì. Không xích mích gì với ảnh. Trụ sở nầy của Phường chớ không phải của riêng anh mà anh bức xúc!
Nếu anh có lỡ va chạm với ảnh thì anh xin lỗi vậy thôi! Chuyện đã lỡ vậy rồi… Anh giãi bày cho anh. Muốn xử lý làm sao là anh chịu chớ làm sao?!”
Chu choa! Hồi xưa Thạch Sanh dám chém Chằn, còn Thạch Sang ngày nay yếu xìu như cọng bún thiu, chắc sợ mất một triệu rưỡi đồng lương tháng, làm bảo vệ dân phố hay sao chớ?
Cái con Chằn Tinh nầy hống hách như Nghị Hách trong Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ngày xưa vậy!
Thạch Sang, nhịn là nhục! Lỡ mất ‘job’ rồi, tao cự lại chú mầy tới bến luôn cho biết mặt dân Quyên Tân Ðịnh đã từng tỉ thí với Dzũng Ða Kao trong truyện của nhà văn Duyên Anh chớ! Dư luận quần chúng nhân dân chia hai bờ sông Bến Hải. Bờ Bắc sông Bến Hải, quen cái thói điếu đóm ăn tàn, theo voi hít bã mía thì vặn vẹo là:
“Tôi ở Hà Nội mà biết ổng, Ông ở Sài Gòn mà không biết sao? Tôi ủng hộ. Phải dứt khoát ngay!”
Nhưng bờ Nam sông Bến Hải, dân Sài Gòn vốn có máu Lục Vân Tiên, giữa đường thương kẻ thế cô mà bị Chằn Tinh vồ… nên lên giọng kẻ cả dạy đời rằng:
“Ðề nghị đồng chí hết sức bình tĩnh. Ðừng cực đoan, cố chấp, hung hăng! Cần phải có cái đầu lạnh.”
(Muốn vậy đề nghị mỗi lần hỏa vượng lên thì Chằn Tinh nên đút cái đầu mình vào cái ngăn lạnh của nhà xác là nó ‘mát’ dây ngay chớ gì?)
“Nhìn gương mặt và lời nói nhỏ nhẹ, tôi tin rằng người này rất đàng hoàng. Ông nên nhớ rằng, các anh chị làm việc trong khu phố, tổ dân phố chủ yếu vì cộng đồng dân cư chứ phụ cấp chẳng đáng là bao. Hãy quý trọng họ và đối xử mềm mại hơn, tế nhị hơn!”
“Ông nên cương quyết với tội phạm, mại dâm, ma túy thì hay hơn nhiều!”
(Thiệt là khích tướng bậy bạ không hè. Ðụng vô cái bọn bán Trời không mời Thiên Lôi nầy… sức mấy mà dám?!)
Học ăn, nói nói, học gói, học mở chưa có xong mà bày đặt đòi làm quan. “Làm việc là: Thưa ông, thưa bà… rồi xưng tôi; chớ không có cái vụ anh nói em nghe, em nghe anh nói gì hết ráo ở đây nha!”
Bất cứ hành động gì, chánh sách gì là cũng phải nghĩ tới dân trước. Muốn đuổi hàng rong, muốn làm sạch bóng cái vỉa hè, là phải giải quyết công ăn việc làm cho cả hàng trăm ngàn người dân bán hàng rong, thằng Tư, con Tám lê la trên phố xa hoa, mưu sinh vất vả trong cái thành phố 13 triệu người nầy trước đã!
***
Nói nào ngay, chúng có lo cho dân bán hàng rong đấy chớ: đang tập trung dân bán hàng rong vào 70 quầy hàng cố định đường Nguyễn Văn Chiêm và Công viên Bách Tùng Diệp .
Bà con cười he he phán: “Mấy thằng quan nầy tiếng Việt không có rành. Không hiểu bán hàng rong là cái giống gì?!”
Rồi có một quan hơi tưng tửng, đề xuất là:
“Người bán hàng rong có thể kinh doanh qua mạng Facebook! Những người kinh doanh vỉa hè, những hộ có tay nghề ẩm thực, những người buôn bán hàng rong… Bà con sẽ đăng lên đó sản phẩm và số điện thoại. Khách hàng có nhu cầu sẽ đặt hàng qua điện thoại.
Cách làm này không chỉ giải quyết được việc làm cho người dân đó mà còn giúp những lao động nhàn rỗi có thêm công việc giao hàng.
Ðiểm tích cực nữa là không tốn mặt bằng, bảo đảm an toàn thực phẩm mà lại giải quyết được bài toán về trật tự đô thị.”
Muốn bán hàng qua mạng, trước tiên mấy quan nên xuất tiền ăn hối lộ nhiều vô thiên lủng của dân bấy nay, giờ ‘sùy’ ra chút đỉnh để mua cho bà con bán hàng rong Sài Gòn mỗi người một cái ‘laptop’, rồi nối mạng internet để họ bán hàng rong qua mạng nhe. He he!
Thiệt là ăn cơm dưới đất mà nói chuyện trên trời!
***
Ðó không phải là chuyện một ngày, một buổi, cứ đem xe ủi xuống là xong ngay đâu? Ngay cả nhà độc tài Lý Quang Diệu rồi con là Lý Hiển Long, hai tía con phải cần tới gần 30 năm mới gọi là tạm xong.
Mà cái đất nước Singapore độc tài, độc đảng làm Thủ tướng mà cứ nghĩ mình là cha mẹ của dân: Ðứa nào lỗi nhỏ như vẽ bậy, nhai kẹo cao su vứt tùm lum… là đè ra đét đít. Tội kha khá hơn một chút như vài chục gram cần sa, ma túy là a lê hấp treo cổ người ta… thì man rợ quá!
Singapore bất quá chỉ là một siêu thị khổng lồ, một cái Chợ Lớn như của Lý Long Thân vậy; nhưng dân chúng bị kềm kẹp, bị đe nẹt như những con chim bị nhốt túm hụm trong cái lồng son nhiều màu sặc sỡ… thì hay ho gì đó mà sì sụp tôn nó làm sư phụ?
Thế nên, thôi nhe! Ðừng tối ngày dắt đám lâu la, chạy vô chạy ra như gà mắc đẻ, đục chỗ nầy, kéo sập chỗ kia nữa mà chi. Tuồng hát nó chán phèo mà cứ đòi đóng vai chánh ‘ngôi sao cô đơn’ hoài hè!
Làm ăn căn theo luật lệ đàng hoàng đi! Làm công chức, là phục vụ dân chớ hổng phải là ông Trời con: “Tui không cho!”
Quen cái thói Chằn Tinh, muốn ăn thịt ai là ăn, ngồi xổm lên luật pháp mà cứ ra rả cái miệng là: “Làm vì cái chung! Vì 13 triệu dân Sài Gòn!”
Kỳ trước: Những ngày sau đó, căn cứ Pleime bị siết chặt vây hãm, những đơn vị bạn cứu viện bị chận đánh từ xa. Thiếu lương thực, những chốt tiền đồn đành rút bỏ. Hai chiếc trực thăng của Đại tá Từ Vấn bay vào tiếp tế cho trại nhưng 2 món quà thuốc lá và rượu thì bị lọt ra ngoài vòng đai hàng rào căn cứ.
Kỳ 7
Ðêm ấy gió theo hướng Ðông Tây. Những người trấn thủ mặt Ðông của trại, đều ngửi thấy mùi thuốc lá thơm bay trong gió! Thùng thuốc lá tiếp tế của Ðại tá Từ Vấn đã rơi ngay giữa đội hình của Trung Ðoàn 48 Sư Ðoàn 320A Cộng Sản Bắc-Việt!
Trong những ngày sau tôi không được thông báo tin tức gì liên quan đến các hoạt động của quân bạn, nhưng trên máy thu thanh thì đài BBC loan báo nhiều đơn vị tác chiến Việt-Nam Cộng-Hòa đang được điều động từ Ban Mê Thuột lên Pleiku để tăng viện cho quân trú phòng ở Pleime.
Tin tức này làm cho tinh thần tôi thêm phấn chấn, vì thấy Tướng Nguyễn Văn Toàn tiếp tục tung thêm quân vào trận địa thì tôi chỉ cần cố gắng gồng mình chịu đựng ít lâu nữa, sứ mạng của Tướng Toàn sẽ hoàn thành, đem chiến thắng đặt trên bàn hội nghị xin thêm viện trợ.
Từ Căn cứ Hỏa lực 711 qua tần số của máy truyền tin PRC 74 có một phóng viên chiến trường của nhật báo Trắng Ðen xin gặp tôi để phỏng vấn.
Hôm đó anh phóng viên đã được tận tai nghe người chỉ huy Pleime kể lại chi tiết diễn tiến trong gần hai tuần lễ ác chiến giữa một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng và hai trung đoàn thiện chiến bậc nhất của quân đội Bắc Việt.
Anh ký giả này nài nỉ tôi cho phép anh ta đáp xuống Pleime, ở lại đây cho hết thời gian chiến dịch, hầu có tin tức sốt dẻo hằng ngày gửi về Sài-Gòn.
Tôi cũng rất ngưỡng mộ sự can đảm của anh ký giả, đồng thời đáp lại sự đam mê của người bạn mới quen ấy, tôi vui vẻ nhận lời cho anh vào cùng Biệt Ðộng Quân chung lưng đội pháo, núp đạn, lặn ngụp trong giao thông hào ít lâu cho biết.
Tiếc thay anh bạn nhà báo này chờ cả tuần lễ mà không ai cấp phương tiện cho anh ta vào trại. Cũng thời gian này, mặt trận Thường Ðức bắt đầu bùng nổ. Anh phóng viên báo Trắng Ðen được lệnh bay ra Ðà-Nẵng lấy tin. Ít lâu sau tôi nghe tin anh bạn này đã tử thương. Trực thăng chở anh trên đường vào trại Thường-Ðức đã bị Cộng Quân bắn hạ.
Ngày xưa, trên các mục phân ưu đăng trên báo chí hằng ngày, người ta thường đọc được những tin chia buồn, tiếc thương các quân nhân đền nợ nước.
Lần đầu người ta đọc được lời phân ưu của một Thiếu Tá Biệt Ðộng Quân và toàn thể quân nhân các cấp dưới quyền ông gửi lời thương tiếc một ký giả Nhật Báo Trắng Ðen vừa bỏ mình trên chiến địa.
Chợt một hôm, liên đoàn báo cho tôi hay rằng, trong ngày hôm đó sẽ có một cánh quân của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh tiến vào bắt tay với Pleime.
Hôm đó trời nắng và không có trận pháo kích rạng đông như thường nhật của địch quân.
Tôi leo lên chòi canh, đảo mắt quan sát một vòng quanh trại. Hầu như không một thước đất nào không có dấu đạn, đạn cối của ta chen lẫn đạn pháo cối của địch quân. Xác Cộng Quân còn nằm phơi đầy trong rừng lau sậy ngoài rào. Trong gió, vang vang tiếng “Quang quác!…” của loài quạ đen đang gọi bạn.
Xa xa về hướng Ðông Bắc có nhiều cụm khói trắng ngùn ngụt bốc lên, rõ ràng một đơn vị di chuyển bộ đang có mặt trong vùng. Tôi nghĩ đoàn quân đang đi tới là Trung Ðoàn 53 Bộ Binh; có lẽ họ đang đốt lửa để nấu cơm, hay hong khô quần áo.
Họ còn cách tôi chừng ba hay bốn cây số đường chim bay.
Trong máy PRC 25 của tôi bỗng có tiếng quân bạn gọi:
“Thái Sơn đây Thanh Dương! Nghe được trả lời?”
Tôi đã được thông báo “Thanh Dương” là danh xưng truyền tin của Thiếu tá Nguyễn Dương Lâm, người chỉ huy hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh đang tiến vào.
Tôi vội trả lời,
– Thái Sơn nghe Thanh Dương!
Thiếu tá Lâm nói:
– Báo cho Cùi 20 hay, kỳ này anh dẫn theo một thằng em Cùi 21 tiếp tay cho chú. Ba anh em mình chung lưng thì không thằng Vi Xi (Việt Cộng) nào địch nổi. Chú Nhẫn 21 cũng là dân Ðại đội B, Thái Sơn có nhớ ra hắn ta không?
Dứt lời anh Lâm cười khà khà vui vẻ. (Cùi=danh từ dùng để gọi những sĩ quan xuất thân trường Võ Bị từ khóa 16 trở về sau)
Tôi cũng cười theo anh,
– Nhớ chứ! Anh ra trường thì chú Nhẫn nhập trường. Anh và chú Nhẫn ở Trung đội 5, còn tôi ở Trung đội 6.
Tiếp đó là tiếng Thiếu tá Cao Mạnh Nhẫn, người chỉ huy Tiểu đoàn 3/53 đi chung với bộ chỉ huy nhẹ của Thiếu tá Lâm,
– Thái Sơn ơi! Hồi đó các ông khóa 20 “quần” tụi tôi mệt muốn chết luôn!
Tôi vui vẻ đáp,
– Ðừng than van nữa! Các hung thần khóa 19 cũng quay tụi này như quay dế! Có thế anh em mình mới nên người!
Chúng tôi, ba người đang có mặt trong trận Pleime này cùng xuất thân từ Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan của trường Võ Bị, với ba khóa kế tiếp nhau, Nguyễn Dương Lâm khóa 19, Vương Mộng Long khóa 20 và Cao Mạnh Nhẫn khóa 21.
Trận Pleime 1974 – Công đồn đả viện
Chú Nhẫn la oang oang,
– Tôi còn cách niên trưởng chừng ba “click” nữa. Tình hình yên tĩnh như đi nghỉ mát! Hai ngày nay tui tìm hoài mà chẳng thấy thằng Vi Xi nào cả! (Click=Cây số)
Thấy một ông đàn anh và một ông đàn em chuyện trò thực vô tư, hồn nhiên, tôi cũng cảm thấy vững tâm, hy vọng họ sớm bắt tay với đơn vị mình.
Nhìn vào những cụm khói trắng bao phủ một vùng phía xa xa, tôi đoán chắc hai tiểu đoàn của quân bạn đang dừng quân trên vùng bình nguyên Bắc suối Lé. Ðịa thế ở đây là đồng tranh, xen kẽ cỏ lau cùng những cụm tre gai thấp, cách nhau vài chục mét.
Ðất của vùng này rất mềm, có thể dùng tay không mà moi, chỉ một lúc sau đã có cái hố cá nhân. Có điều mạch nước cũng nhiều, hố vừa moi xong, vài phút sau đã đầy nước, đất xung quanh hố sụp xuống, thế là cái hố trở thành một vũng nước.
Nếu phải đánh nhau trong vùng này, cách tốt nhất là ào xuống suối, bám bờ suối mà chiến đấu.
Tôi nghĩ, đoàn quân tăng viện đi lồ lộ thênh thang như thế đã hai ngày mà chưa xảy ra biến cố gì thì có thể địch đã rút lui rồi. Tôi cũng đang cầu mong địch đừng đánh nữa.
Nhưng hôm nay sao tình hình yên ắng quá! Mà tình hình càng yên tĩnh lại càng đáng sợ.
Tôi biết chắc chắn rằng từ mùa Hè năm 1972, ở xứ Tây Nguyên này Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản là một địch thủ mà bất cứ ai cũng không thể coi thường.
Kỳ này mục đích của Sư Ðoàn 320A là xóa sổ trại Pleime. Pleime còn đứng vững, chưa chắc gì chúng đã chịu bỏ dở mục tiêu nửa chừng.
Tôi nghĩ, nếu bị địch tập kích từ hướng Tây thì hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 chỉ có một con đường thoát hiểm là chạy thẳng về hướng Ðông Nam, chỉ có vùng đó là không có địch.
Tôi định góp ý với hai vị sĩ quan đồng môn, khuyên họ nên cẩn thận đề phòng, nhưng e ngại sẽ đụng chạm tới tự ái của họ.
Tôi nhỏ nhẹ,
– Hai vị nhớ cẩn thận! Nếu có chuyện gì thì gắng giữ hướng hai ngàn bốn trăm ly giác!
Lợi dụng buổi trời trong, tôi dùng ống nhòm để quan sát những vạt rừng phía ngoài xa. Có một chiếc quan sát cơ đang bay vòng vòng trên vùng cách Pleime chừng năm cây số. Có lẽ cái máy bay thám thính này đang yểm trợ cho cánh quân của niên trưởng Nguyễn Dương Lâm.
Ðột nhiên tai tôi nghe “Ùm! Ùm! Ùm!” tiếng pháo địch “depart” liên tiếp rộ lên từ biên giới Việt-Miên.
Trong đồn Pleime kẻng báo động khua vang, mọi người chui vào hàm ếch.
Tôi vẫn còn trên chòi canh. Tôi đã thấy những đụn khói đen cuồn cuộn bốc lên trong rừng khói trắng! Những trái đạn đại bác 122 ly nòng dài bay nhanh hơn những viên cối bắn cầu vồng. Khói đen đang bốc lên là do những viên 122 ly vừa chạm đất.
Ðoàn quân bạn đang trên đường tiếp viện cho tôi bắt đầu nếm mùi mưa trái phá!
Trong thời gian dài chừng nửa giờ, ước lượng hàng ngàn quả đạn 122 ly, 105 ly, 120 ly, và 82 ly đã rơi trên ngọn đồi lá thấp chỉ có tre gai và cỏ tranh.
Khi hai đợt pháo tập trung đánh trên khoảng rừng có diện tích chưa đầy hai cây số vuông vừa ngừng, thì tôi bắt đầu nghe vọng lại tiếng súng tay nổ rền.
Cùng lúc đó hàng chục khẩu phòng không nhả đạn nhắm vào chiếc thám sát cơ.
Không rõ chiếc máy bay có bị trúng đạn hay không, mà sau đó tôi không còn thấy bóng dáng nó nữa.
Trong máy PRC 25 tôi nghe Cao Mạnh Nhẫn hoảng hốt,
– Thái Sơn ơi! Nguy quá! Biết làm sao đây?
Tôi gào lên,
– Hai ngàn bốn trăm ly giác! Chạy mau! Hai ngàn bốn trăm ly giác!
Trong ống nghe, tôi thấy Nhẫn lặp lại, y chang, chắc là chú ấy đang ra lệnh cho đơn vị dưới quyền:
“Hướng hai ngàn tư! Chạy mau!”
Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đang thực hành chiến thuật “Bôn tập tập kích” sở trường của họ! Cánh quân đang trên đường tiếp cứu Pleime chưa phải là địch thủ ngang cơ của Sư Ðoàn Cộng-Sản này!
Lúc này Căn cứ 711 đang bị pháo kích, các pháo thủ mắc bận phản pháo. Pháo binh ngoài Phú Nhơn ở quá xa, với không tới khu vực giao tranh, nên muốn giúp quân bạn, tôi chỉ còn cách dùng khẩu 105 cơ hữu của mình bắn một tuyến dài dọc theo Tỉnh lộ để ngăn địch.
Chờ một hồi lâu, tôi không nghe thêm tiếng nói nào của người đàn em khóa 21 là Cao Mạnh Nhẫn. Tôi cũng không nghe được tiếng nói nào của người niên trưởng khóa 19 là Nguyễn Dương Lâm.
Cho tới ngày chiến dịch tàn, tôi mới biết niên trưởng Nguyễn Dương Lâm đã chết và bị bỏ xác tại chiến trường.
Trong khi đó, cấp chỉ huy của anh Lâm thì đóng quân ở ngoài ngã ba Mỹ Thạch, trên Quốc lộ 14, cách xa nơi anh Lâm tử trận một đoạn đường dài gần hai mươi cây số!
Chiều hôm đó Pleime lại bị pháo, trận pháo kích dài khoảng một giờ. Không ai ngồi đếm có bao nhiêu trái đạn đã rơi trên đầu chúng tôi, thôi thì cứ báo cáo là hàng trăm trái.
Không lâu sau là trận mưa truyền đơn, kêu gọi Biệt Ðộng Quân buông súng đầu hàng.
Tiếp đó, hướng Tây, nơi những liều Bangalore đã mở ra con đường dẫn tới khu đất trống giữa hai lớp rào cũ và mới hứng chịu đợt xung phong thứ mười hai! Lần này có vài cán binh Việt-Cộng mang theo những tấm ván để làm thang.
Chỉ sau mười phút, đợt xung phong đã bị bẻ gãy vì thang ván của địch không đủ dài, địch rơi xuống đất, dưới đất là bãi mìn của Công Binh.
Có những cán binh Cộng Sản vừa bị bắn ngã, thân mình đè trên một quả mìn, quả mìn nổ, thân xác anh ta liền banh ra thành nhiều mảnh.
Ðứng trên nóc Pháo đài số 5, tôi thấy thấp thoáng bóng người chạy qua, chạy lại trong đám lau sậy nơi khoảng đất trống giữa hai hệ thống hàng rào cũ và mới.
Lúc khẩu đại liên tạm ngừng để thay dây đạn mới, tôi nghe tiếng bọn Việt-Cộng gọi nhau,
“Ðồng chí Quang! Ðừng lên nữa! Còn rào!”
Cùng tiếng kêu la,
“Chết tôi! Á! A! A! Mẹ ơi!” lẫn trong tiếng mìn và lựu đạn gài vừa phát nổ “Ùm! Ùm! Ùm! Oành! Oành! Oành!”
Dưới chân pháo đài, đang lúc hứng chí, hai anh xạ thủ phóng lựu M79 của Ðại đội 2/81 vừa bóp cò vừa la oang oang “Biệt Ðộng Quân! Sát!” – “Biệt Ðộng Quân! Sát!”
Khẩu đại liên 30 trong Pháo đài số 5 lại tiếp tục nổ giòn. Mãi tới khi Trung úy Song và Thiếu úy Phước phải gào lên “Thôi bắn! Thôi bắn!” thì tiếng súng mới im.
Hôm đó về phần “đả viện” thì địch đã thành công, nhưng về mặt “công đồn” thì chúng đã thảm bại.
Những ngày sau địch gia tăng pháo kích ban ngày, ban đêm liên tục dùng Bangalore phá rào. Có ít nhất là bốn cửa khẩu có chiều ngang cỡ hai thước đã bị bộc phá của địch mở xuyên qua 6 lớp hàng rào ngoài. Cho tới nay thì 6 lớp rào trong vẫn chưa bị suy suyển.
Vì ngày nào cũng thấy cảnh vật xung quanh, nên vừa phát giác những cụm đất đỏ mới xuất hiện trên mặt đất sát vườn rau, lính gác cổng Bắc biết ngay đó là đường hầm do Ðặc-Công Việt-Cộng vừa tạo thành, nên lập tức nổ súng báo động ngay.
Chỉ vài chục phút sau thì đường hầm này đã bị lấp kín và bị gài vài trái lựu đạn M26.
Cao Nguyên đang giữa mùa mưa, hôm trước trời trong, mây cao, chỉ qua một đêm trời đã âm u xám xịt, với những trận mưa giông, mưa nguồn.
Trong mưa tháng Tám, hàng ngày, trên tiền đồn biên phòng Pleime còn thêm những cơn mưa đạn cối 120 ly, 105 ly, 82 ly.
Ðặc biệt trong chiến dịch này, địch đã sử dụng truyền đơn như một loại vũ khí.
Những quả đạn cối 82 ly nổ cao bung ra từng chùm truyền đơn nhìn như những lọn pháo bông đêm hoa đăng.
Buổi sáng là loạt truyền đơn đầu in những giòng chữ êm ái, bao dung, tình người thắm thiết:
“Hỡi các chiến binh Ngụy Sài-Gòn! Các anh mau mau bỏ súng quay về với nhân dân! Nhân dân đang dang tay chờ đón các anh! Hỡi những người con lạc đường! Hãy quay về với Tổ Quốc về với đồng bào!”
Buổi chiều sau đợt pháo kích hàng trăm viên 122 ly, 120 ly, 105 ly, 82 ly, thì truyền đơn lại mang giòng chữ đọc lên nghe mà ớn:
“Hàng sống! Chống chết! Tất cả Ngụy quân đồn trú phải buông súng đầu hàng ngay! Nếu không, các anh sẽ bị tiêu diệt!”
“Hãy kéo cờ trắng! Mở cổng đồn! Ngồi lại tập trung trước sân cờ chờ Quân Giải Phóng vào tiếp thu! Hàng sống! Chống chết!”
“Tất cả các chiến sĩ đầu hàng sẽ được đối xử tử tế và phong danh hiệu anh hùng! Hãy quay súng bắn chết tên chỉ huy rồi mở cổng trại đầu hàng ngay!”
Mỗi lần pháo truyền đơn, có ít nhất 4 khẩu 82 ly nhả đạn từ hai vị trí chính Bắc và chính Tây. Truyền đơn đã phủ đầy mặt đất từ trung tâm trại, ra tới hàng rào ngoài. Truyền đơn rải khắp nơi, trắng xóa!
Tôi biết có vài người lén cất kín trong túi mấy tờ truyền đơn của địch, nhưng tôi cứ lơ đi như không thấy!
Hầu như đêm nào tôi cũng chỉ chợp mắt được vài chục phút. Ði đâu tôi cũng phải dẫn theo Thiếu úy Phước và một toán cận vệ.
Tôi không sợ trong đồn có nội tuyến, nhưng tôi sợ những tờ truyền đơn làm tinh thần người lính hoang mang. Cái đói và cái sợ có thể làm cho con người ta mất lòng tin mà làm bậy.
Một buổi tối Thiếu úy Phước thì thầm,
-Thái Sơn ơi! Có ông Thượng sĩ người Thượng vừa dẫn hai thằng lính chui rào trốn đi rồi!
Ông Thượng sĩ Y Ban Nier và hai anh lính người Kinh của Ðại đội 1/82 đã theo đường giao thông hào nơi cổng Bắc, chui ra khỏi rào tìm đường ra Quận Phú-Nhơn.
Ba ngày sau toán tuần tra cổng Bắc phát giác xác ông Thượng sĩ Ban và hai anh lính đã bị Việt-Cộng bắn chết ở đâu đó rồi bị kéo về phơi trên con dốc dẫn vào vườn rau để đe dọa những người còn tử thủ trong căn cứ.
Có thể trên đường trốn chạy, toán ba người lính đào ngũ này đã bị Việt-Cộng phát giác rồi bắn chết.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.