Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

29 Nov 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 24 Aug 2023

Kỳ trước: Sáng 28 Tháng 7 những trận tiền pháo hậu xung ngất trời nhưng Pleime vẫn trơ trơ mà địch thì chết như rạ, phải ngưng để kéo xác.  Trưa 29 Tháng 7 Đại tá Chỉ Huy trưởng BĐQ QK 2 đạp chân xuống trại thăm thuộc cấp của mình giữa tiếng phòng không của địch nổ vang.

 Kỳ 6

Tôi chạy ra sân kéo Ðại tá Tất vào hầm chỉ huy nằm trong trung tâm trại. Tôi tóm tắt cho người chỉ huy biết tình hình mấy ngày qua.

Lúc đó trong hầm hành quân còn có mặt ông Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn.

Ông Chủ xuất thân khóa 22 Thủ Ðức, tuy đeo lon trung úy nhưng thực ra còn là cấp thiếu úy. Ông ta bị gián đoạn công vụ một thời gian vì bị Cộng Quân bắt giam từ tháng 5 năm 1969 tới cuối năm 1973 mới được trao đổi tù binh.

Khi bị địch bắt ông Chủ mới mang cấp bậc thiếu úy vừa tròn một năm.

Tôi đề nghị Ðại tá Tất cố gắng hợp thức hóa cái lon trung úy cho ông Chủ để sau trận này, tôi có thể chạy lon đại úy cho ông ta. Ðại tá Tất hứa sau khi trở về Pleiku ông sẽ thỏa mãn lời yêu cầu của tôi.

Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng ghé tai tôi nói nhỏ,

– Kỳ này chắc chắn ông thầy sẽ thêm một mai bạc! Nhớ đãi tụi em một chầu nhe! Hai tháng trước có vài thằng Ðặc Công mò về Căn cứ 333, hai bên bắn nhau đì đẹt. Chỉ có mấy thằng Việt-Cộng chết mà Trường An đã đề nghị cho ông tiểu đoàn trưởng lên trung tá rồi đó!

Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng và Thiếu úy Trần Văn Phước đều xuất thân từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2. Hai sĩ quan này chập chững vào chiến trận dưới bàn tay dìu dắt của Thái Sơn Vương Mộng Long. Vì thế mà gặp nhau bất cứ ở đâu họ đều gọi tôi là “Ông thầy” thay vì gọi tôi với cấp bực.

Tôi nghĩ rằng, một chiến binh, khi nhận nhiệm vụ ít người hy vọng được thăng chức lên cấp, mà chỉ mong hoàn thành trách nhiệm là mừng rồi.

Ngay cả tới cái mạng của mình mà không biết có giữ được không thì mong gì tới những thứ phù du khác.

Cứ nhìn vào chuyện xảy ra gần đây thôi. Tôi và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 cùng ra đơn vị một ngày. Ông Di lên Dak Pek, tôi vào Pleime. Nay Dak Pek đã thất thủ, Thiếu tá Di chết rồi, còn tôi thì đang bị vây.

Tôi nói với chú Hùng,

– Cứ chờ đi! Không biết anh có được lên lon hay lại theo chân ông Di cũng chưa biết chừng!

Ðại tá Tất tỏ ý muốn tôi dẫn ông đi quan sát một vòng quanh trại, nhưng tôi thấy điều này có thể gây nguy hiểm đến tánh mạng của ông nên tôi không cho ông thực hiện chuyện này.

Ông Tất nói cấp trên đã lên kế hoạch tiếp cứu Pleime rồi, ông khuyên tôi gắng kiên tâm “Tử thủ”.

Tôi không rõ Tướng Nguyễn Văn Toàn có cho ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 biết rằng tôi được phép rút chạy sau ba ngày cố thủ và một tuần “đánh trận giả” hay không, nên tôi chỉ trả lời ông Tất rằng tôi sẽ cố gắng.

Một giờ sau, tôi hướng dẫn chiếc trực thăng núp theo triền Bắc núi Chư Gô đáp ngay cổng Nam Pleime bốc hai thầy trò ông Ðại tá, có sáu thương binh được đi theo. Chiếc phi cơ mở hết tốc độ bay thẳng hướng Tây, bay một mạch, tít mù xa, rồi mới quẹo về hướng Phú Nhơn.

Công đồn đả viện …

Hầu như ba ngày đầu tôi chỉ bận rộn với chuyện gom góp quân thất lạc và chống đỡ những đợt tấn công từ hướng Bắc.

Ðêm 31 tháng 7 địch đẩy hai khẩu 75 ly không giựt lên đỉnh dốc nhắm bắn vào trại. Sau bốn năm trái 75 ly thì cái câu lạc bộ tan hoang, vách ván, mái tôn bay tung toé.

Tôi chưa gọi được điện thoại cho khẩu 105 ly cổng Bắc thì anh lính Thượng đã giựt cò bắn đi hai quả Beehive. Chắc xạ thủ của hai khẩu đội 75 ly chết hết rồi, nên không còn trái 75 ly nào bay vào nữa.

Suốt đêm 31 tháng 7 cho tới sáng 1 tháng 8 phi cơ Hỏa Long liên tục thả hỏa châu và bắn cận phòng vùng một cây số Bắc Pleime.

Tôi cũng được thông báo hai Box 1×1 km đánh bom tập trung trong vùng hướng Tây làng Plei Xome đã được một đoàn oanh tạc cơ A 37 thực hiện trong đêm qua. Những Box bom 1×1 km này có thể coi như những Box B52 Mini do Không Quân Việt-Nam mới sáng chế ra. Nếu địch tập trung đông trên một diện tích hẹp mà bị một Box này thì thiệt hại không phải là nhỏ.

Ngày 1 tháng 8 năm 1974 Trung tá Hoàng Kim Thanh thông báo cho tôi biết rằng, Trung Ðoàn 41 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đang gửi Tiểu Ðoàn 3/41 vào khu vực Bắc của núi lửa.

Tôi có ba người anh vợ đều là sĩ quan, hai ông anh đầu chết rồi, ông anh thứ ba thì đang phục vụ trong Tiểu Ðoàn 3/41, nên tôi xin tần số của tiểu đoàn này để hỏi tin tức.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 là Thiếu tá Phan Ðình Thành, khóa 22 Ðà Lạt.

Tôi nói với Thành,

–Trong đơn vị của Thành có ông anh vợ của tôi. Tên anh ấy là Ðinh Văn Thọ, cấp bậc chuẩn úy. Thành cho tôi gửi lời thăm anh ấy, nhắn với anh ấy rằng tôi vẫn bình yên.

Tôi vừa dứt lời thì Thành đã nhanh nhảu,

– Ủa! Chuẩn úy Thọ là anh vợ của niên trưởng hả? Trung đội của ông ấy đi đầu, nhưng mất liên lạc hai ngày rồi!

Sau này ông Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ tức là ông anh thứ ba của vợ tôi về nhà kể lại: Trung đội của ông ấy tổng cộng có 11 người, Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là trung đội phó, trung đội trưởng là một chuẩn úy ra trường Thủ Ðức trước ông một khóa. Dưới quyền hai vị chuẩn úy là một ông trung sĩ và tám ông lính. Họ được lệnh mở đường tiến vào Pleime, nhưng mới rời bộ chỉ huy tiểu đoàn chưa được hai trăm mét thì đụng đầu một đơn vị địch rất đông. Trung đội này chạy lạc vào một làng Thượng đã bỏ hoang. Họ rủ nhau chui vào khu vườn cây um tùm để ẩn núp. Mấy ngày sau toán này lợi dụng đêm tối lần mò ra Quốc lộ 14 tới quận lỵ Phú Nhơn trình diện.

Sau chiến tranh, ông chuẩn úy anh vợ tôi cũng bị tù cải tạo, nhưng thời gian ở tù của ông ấy chưa tới 3 năm. Ông không đủ điều kiện đi Mỹ định cư theo diện H.O nên đành về quê Ban Mê Thuột, trồng tiêu, nuôi gà.

Nay ở tuổi gần thất thập, ông vẫn chưa quên cái lần ông ra trận đem quân vào Pleime cứu thằng em rể.

Có thể nói, thời gian từ 27 tháng 7 năm 1974 tới 10 tháng 8 năm 1974 là giai đoạn “Công đồn đả viện” của địch.

Tôi không biết các cánh quân của Trung Ðoàn 41 đi được bao xa, nhưng đoạn đường từ ngã ba làng Plei Xome tới vùng Bắc Pleime thì hoàn toàn do địch kiểm soát.

Tôi nghe nói, sau khi Trung Ðoàn 41 Bộ Binh thất bại phải rút ra ngoài, thì tiếp đó một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân đã được gửi vào vùng, nhưng đơn vị này mới qua khỏi Căn cứ 711 đã bị chặn lại.

Tôi còn biết thêm một chuyện đau lòng, đó là cái chết của ba anh viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Toán này nhận lệnh vào thám sát lấy tin tức vùng núi lửa Chư Mréa. Khi trở về họ đã bị ngộ nhận vì họ mặc quân phục Việt-Cộng trang bị AK 47. Họ bị quân bạn bắn chết ngay ngoài vòng rào vào ngày thu quân.

Trước khi vào Pleime, tôi là “Anh Hai” của họ. Giữa năm 1971 tôi đã bay tới 12 căn cứ Biên Phòng của Quân Khu 2 tuyển dụng họ về Pleiku, đích thân huấn luyện cho họ thành những viễn thám viên lành nghề.

Tôi đã từng bốc thả họ nhiều lần để do thám các mật khu, khai thác những mục tiêu B52 vừa oanh kích, hoặc thi hành những cuộc phục kích bắt tù binh trên Ðường Mòn Hồ Chí Minh; đáng ghi nhớ nhất là lần nhảy xuống đánh mìn phá hủy cây cầu ngầm N 24 bắc qua sông Sé San.

Ðầu năm 1974 tôi còn nhảy toán theo họ xuống vùng địch để thu thập tin tức yểm trợ cho cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ-Minh.

Lần này họ vào vùng với mục đích thám sát lộ trình dự trù cho các đơn vị sẽ vào cứu “Anh Hai” của họ, và họ đã chết một cách oan uổng.

Ðêm đó, trong một căn hầm giữa sân trại Pleime, hai cựu trưởng toán viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 là Binh 1 Yang và Hạ sĩ Nguyễn Ba đã thấy “Anh Hai” rơi nước mắt.

Tiền đồn Chư Hô bị bao vây tới ngày thứ năm thì hết lương thực. Tôi không còn quân để tiếp viện và tiếp tế cho tiền đồn này, nên cho lệnh trung đội trên Chư Hô nửa đêm tụt xuống đồi, rút về cổng Nam. Ðêm 2 tháng 8 tôi cũng cho lệnh trung đội đóng trên Cao điểm 509 rút lui. Chỉ một ngày sau hai cao điểm này đã trở thành nơi đặt súng 12.7 ly và 57 ly của Cộng-Quân.

Coi như tôi không còn cánh quân nào hoạt động xa, ngoại trừ những toán tuần tra sát vòng rào Nam và Tây. Hai hướng Ðông và Bắc bị bỏ ngỏ, chỉ kiểm soát bằng hỏa lực đại liên và cối 60 ly.

Tính từ ngày đầu bị cô lập tới 10 tháng 8 đã có hơn một chục lần xung phong của địch bị đẩy lui, hàng trăm cán binh Bắc-Việt đã bị giết.

Hàng ngày, cứ chờ cho trời vừa tối, chúng tôi mới lục tục leo lên mặt đất thay quần áo và kiếm đồ ăn. Trời tối thì tiền sát viên của địch nằm trên đỉnh 509 không còn nhìn thấy doanh trại của chúng tôi nữa.

Một hôm tôi chưa thay xong bộ quần áo ướt thì được Trung sĩ Hoàn, Hạ sĩ quan Ban 3 thông báo,

– Trình Thái Sơn, có Hai Lẻ Chín muốn gặp!

Trong trung tâm hành quân có tiếng Ðại tá Từ Vấn oang oang qua loa khuếch âm,

– Thái Sơn có mặt chưa? Ðây là Hai Lẻ Chín! Trả lời!

– Thái Sơn nghe!

– Này! Tình hình hôm nay ra sao? Có còn chịu nổi không thì cho anh biết đi!

– Ðêm qua tụi nó xung phong hai ba đợt nhưng bị tụi tôi đánh văng ra ngoài! Xác tụi nó vắt đầy trên dây kẽm gai! Bangalore đã đục thủng 6 lớp rào, nhưng Hai Lẻ Chín cứ yên tâm, tôi sẽ đập bể đầu chúng nó!

(Bangalore: Ống kim loại chứa thuốc nổ dùng để phá hàng rào.)

Giọng nói của ông liên đoàn trưởng tỏ ra vô cùng lo lắng,

– Trời đất! Có sao không? Tụi nó đánh thủng 6 lớp rào rồi à! Vậy chứ Pleime có tổng cộng là bao nhiêu lớp rào?

Tôi chột dạ á khẩu! Tần số mà tôi và ông Từ Vấn đang nói chuyện là của máy PRC 25.

Thời gian này không tần số nào là không bị địch nghe lóm. Ông Vấn hỏi tôi tổng cộng có bao nhiêu lớp rào, nếu tôi trả lời ông ta, thì có khác nào tôi đã trực tiếp báo cáo cho Tư Lệnh Sư đoàn 320A rằng còn bao nhiêu lớp rào nữa thì cán binh của Ðại tá Kim Tuấn (Cộng Sản) có thể ném bộc phá vào hầm chỉ huy của tôi?

Tôi vội đánh trống lảng,

– Mưa liên miên, lạnh quá, nếu có thể được thì Hai Lẻ Chín thả cho tụi tôi vài bao thuốc lá nhé! 

– Ừ! Mấy hôm nay trời lạnh thật đấy! Ðể mai anh bay vào thả cho chú vài bao!

May quá! Ông liên đoàn trưởng quên câu hỏi Pleime có tổng cộng bao nhiêu lớp rào rồi! Chỉ có hai người biết Pleime có bao nhiêu lớp rào, đó là tôi và Ðại tá Phạm Duy Tất.

Ngày Căn cứ 711 thất thủ, địch đã lấy được sơ đồ phòng thủ Trại Pleime, trên đó có bản vẽ 6 lớp hàng rào và bãi mìn chống người do Công-Binh Hoa-Kỳ thiết trí.

Tôi giấu nhẹm chuyện này, không báo cáo với quân đoàn.

Hai ngày sau khi tái chiếm Căn cứ 711, tôi đã khẩn cấp xin Ðại tá Tất cho hai GMC chở kẽm gai cọc sắt vào Pleime.

Ðằng đẵng cả tháng trường, chúng tôi cấp tốc âm thầm thiết trí một hệ thống phòng thủ thứ nhì cho Trại Pleime, dựng thêm 6 lớp rào kẽm gai mới, gài thêm mìn bẫy, giống y hệt sơ đồ hệ thống phòng thủ cũ.

Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt được tôi giao phó đảm trách công việc này.

Thiếu úy Việt là người chỉ huy xây dựng 6 lớp rào mới, nhưng chú Việt không biết có bao nhiêu lớp rào cũ; các quân nhân khác lại càng mù tịt về chuyện này.

Như thế là, từ tháng 6 năm 1974, quanh đồn Plei-Me, có hai hệ thống hàng rào phòng thủ; hệ thống mới nằm bên ngoài và cách hệ thống cũ một khoảng đất trống rộng hai mươi mét gài đầy mìn và lựu đạn. Nếu địch tấn công đồn này, với tin tức khai thác từ sơ đồ phòng thủ cũ, chúng sẽ bị hố nặng.

Khi hoàn tất việc rào giậu, tôi báo riêng cho Ðại tá Tất biết, và đề nghị ông kín tiếng. Biết đâu sau này địch quân sẽ đánh Pleime, chúng sẽ bị mình đánh lừa.

Quả nhiên địch đã mắc bẫy! Chúng tiến vào đồn theo đường phá của Bangalore, tới khu đất trống thì tưởng trước mặt mình, sau những bụi lau sậy là nhà cửa, lô cốt, nên nhắm mắt xung phong, đâu ngờ lại gặp 6 lớp kẽm gai nữa của hệ thống phòng thủ cũ, chúng đang ngỡ ngàng thì từng tràng đạn đại liên đã nổ giòn, khiến chúng chết đè lên nhau.

Hôm sau trời mưa. Trên trời cao là chiếc C&C của Ðại tá Từ Vấn. Vừa nghe tiếng “Bạch! Bạch! Bạch!”  trên mây, phòng không 37 ly và 12.7 ly của địch đã bắt đầu đua nhau nhả đạn.

Có tiếng ông phi công người Thượng (hay người Miên) rè rè trong máy,

– Thái Sơn chuẩn bị nhận tiếp tế! Bạn cho biết vô hướng nào an toàn nhứt?

– Vòng xa ra biên giới, vào từ hướng Tây, ra hướng Ðông! Nhớ bay sát đất!

– Okay!

Mấy phút sau, bất thình lình hai chiếc trực thăng nổ “Bình! Bình! Bình!…”  ngừng lại chừng năm hay sáu giây đồng hồ trên không, hai anh cơ phi vội vã đạp xuống mấy thùng đồ tiếp tế.

Sau đó như con cá heo lật mình, hai chiếc tàu nghiêng cánh nép sát chân Chư Gô vun vút thoát về hướng Ðông.

Khẩu 81 ly của trại vội vàng phóng đi hai quả đạn nhằm khóa họng hai khẩu 12.7 ly của địch trên tiền đồn Chư Hô. Hai khẩu phòng không này đang bắn với theo đuôi hai cái trực thăng.

Tôi gửi lời cám ơn các phi công,

– Lạc Long đây Thái Sơn! Cám ơn bạn đã liều mình vào tiếp tế!

Ðáp lại, tôi nghe, cùng với tiếng động cơ “È! È! È!”  là tiếng của ông phi công,

– Ố là la! Cám ơn gì nữa! Bị bắn què chân rồi nè!

Ðại tá Vấn còn bay trên trời, nhưng tôi không nghe ông nói gì thêm thì chắc là đoàn trực thăng đã an toàn rời vùng rồi.

Tôi vui vô cùng vì thấy chuyến tiếp tế đã hoàn tất.

Một bao đồ tiếp tế đánh sập hầm của Thiếu úy Phạm Văn Thủy. Một bao khác rơi giữa sân cờ. Nhiều bao và thùng giấy rơi trên lô cốt, vắt trên hàng rào.

Vài người lính nhào ra giành giựt nhau những đồ vật vừa được thả xuống khiến cho Trung úy Song và Thiếu úy Phước phải rút súng bắn chỉ thiên để chặn đứng tình trạng “hôi của” đang diễn ra. Ở đâu có sự đói kém, thì ở đó xuất hiện những đồ vô loại.

Hai tên vô loại bị điệu tới trước mặt tôi, tôi định sút cho mỗi đứa một cú đá, nhưng kịp ngừng. Tôi ôn tồn,

– Về chỗ đi! Ít nhiều gì thì anh em cũng phải chờ chia nhau. Chia nhau một cách đồng đều! Nghe rõ chưa?

Chúng tôi moi tung những bao tải vừa thả xuống, chỉ có những thùng đạn M16, M 60, điện trì, gạo sấy, cá khô, và mìn Claymore; tuyệt nhiên không có hai thứ cần thiết là rượu cồn, bông băng và cũng chẳng tìm thấy bao thuốc lá nào cả. Hình như hai thùng lớn đựng đồ nhẹ đã bay ra khỏi rào rơi trên bờ suối Lé.

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 23 Nov 2019

Post by Sơn râu 24 Aug 2023

Kỳ trước: Đang giằng co với lệnh buộc đi cứu binh của Đại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng LĐ 24 BĐQ, và tình hình cấp bách, địch đang tấn công vào trại Pleime, Thiếu tá Long quyết định dẫn quân về giữ đồn, vì đó là trách nhiệm chính của ông.

Kỳ 5.

Trước khi ra quân, tôi đã dự trù một hỏa tập rào cản dài một cây số hướng Tây, Tỉnh lộ tên là “Sầm Mi 1” để đề phòng viện quân địch ào lên. Tôi khẩn cấp gọi Sầm Mi,

– Sầm Mi! Ðây Thái Sơn! Gọi chú Như ưu tiên cho anh hai chục tràng hỗn tạp trên Sầm Mi 1! Mau lên!”

Sau đó, tôi để lại Ðại Ðội 2/82 đánh trì hoãn cho tôi và Ðại Ðội 3/82 băng rừng rút lui. Cuộc rút quân này gấp rút tới nỗi tôi phải cho lệnh ưu tiên di tản thương binh, bỏ lại tất cả những đồng đội tử trận, vứt bỏ tất cả vũ khí nặng và chiến lợi phẩm.

Tôi đã yêu cầu hỏa tập Sầm Mi 1 bắn hơi trễ, nên khi tôi về tới cổng trại cũng là lúc địch reo hò xung phong tràn ngập tiền đồn Bắc, sáu khinh binh đóng chốt trên đồi không biết sống chết ra sao.

Ðại đội 3/82 vừa bố trí thành một vòng cánh cung dưới chân tiền đồn đã sớm trở thành mục tiêu cho hai khẩu 12.7 ly của địch từ trên đồi bắn xuống. Tôi và Ðại Ðội 3/82 vội tụt xuống trấn thủ con dốc trước cổng Bắc. Toán gác cổng đã mở hé hai cánh cửa cho anh em theo nhau luồn vào trại.

Xuống tới bờ dốc là có vị trí ẩn núp, tôi khẩn cấp cho lệnh khẩu 105 ly của Trung úy Như bắn ngay mười tràng hỗn tạp trên tiền đồn Bắc, hai khẩu 12.7 ly của địch mới chịu im.

Lúc này Ðại Ðội 2/82 của Trung úy Anh bị địch cô lập trên đoạn đường một cây số Bắc Pleime.

Trời đã xế chiều, tôi nói với Trung úy Anh rằng tôi sẽ cho quân bạn bắn tối đa về hướng Bắc nhưng bắn lên trời, còn quân của Ðại Ðội 2/82 thì cứ vừa chạy về hướng trại, vừa liên tục tác xạ, tới sát rào Bắc sẽ có quân bạn tiếp đón.

Súng nổ liên hồi trong khoảng thời gian nửa tiếng đồng hồ. Thiếu úy Trần Văn Phước là người chỉ huy lực lượng trấn thủ cổng Bắc báo cho tôi hay Ðại Ðội 2/82 còn được 22 quân nhân vừa nhập trại. Trung úy Nguyễn Hữu Anh và Chuẩn úy Lê Văn Phước còn tụt lại đằng sau, họ đang tìm cách đi bọc về hướng suối rồi tiến về cổng Nam.

[Có tác giả khi viết về trận Pleime 1974 đã ghi là Ðại Ðội 2/81 chỉ còn 22 người chạy về trại. Ðiều này sai, đây là Ðại Ðội 2/82 không phải Ðại Ðội 2/81. Vì ngày 28 tháng 7 Ðại Ðội 2/81 mới được không vận vào Pleime.]

Tôi ngồi bên máy truyền tin trực chờ tiếng nói của Trung úy Anh và Chuẩn úy Phước suốt đêm nhưng không thấy động tĩnh. Ba ngày sau hai vị sĩ quan này cùng năm người lính lội bộ tới Chi Khu Phú Nhơn trình diện, cái máy truyền tin của họ đã bị chìm khi qua suối Lé (Ia Glaé).

Lúc này, kể cả một tiểu đội canh gác cố định trên Pháo đài 2 thì quân số của Ðại Ðội 2/82 chỉ còn trên dưới 30 người, lại không có sĩ quan, nên tôi giao số quân nhân này tăng cường cho Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt.

Thế là tiền đồn Pleime bị cô lập kể từ tối 27 tháng 7 năm 1974.

Ðêm 27 tháng 7 có hai chiếc máy bay võ trang Hỏa Long bay trên vùng Bắc Pleime, nhưng máy bay chỉ thả hỏa châu, mà không bắn, vì họ sợ bắn lầm quân bạn còn thất lạc trong rừng. Vô tình, hỏa châu của ta lại soi đường cho địch xung phong!

Dưới ánh sáng hỏa châu, Việt-Cộng xông lên ngời ngời!  Ba lần biển người ào xuống cái dốc cổng Bắc, cùng những tiếng thét “Xung phong! Xung phong!” đều tắc nghẽn ngay sau khi khẩu 105 ly cổng Bắc phóng ra liên tiếp hai trái Beehive.

Suốt đêm đó khẩu 105 ly của Trung úy Như phải làm việc liên tục, bắn từng đợt trên ngã ba tiền đồn Bắc với những trái đạn nổ cao để ngăn địch.

Hôm sau, đọc bản tin tổng kết tình hình 24 giờ qua của liên đoàn, tôi được biết, trưa 27 tháng 7 Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân đã bị Việt-Cộng chặt đầu, Thiếu tá Trần Văn Ngọc đã bị Việt-Cộng bắt sống. Không ngờ chỉ trong khoảng thời gian vài giờ đồng hồ giao chiến mà một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân đã bị Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đánh tan.

Mặt khác, một tin A 2 ghi nhận rằng đơn vị địch chận đánh Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân là Trung Ðoàn 64 của Sư Ðoàn 320A, còn đơn vị Cộng-Sản giữ nhiệm vụ tấn công Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là Trung Ðoàn 48/320A.

Tin A 2 còn cho biết ngay sau khi đánh tan Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân thì E 64/320A sẽ thay thế E 48/320A liên tục tấn công Pleime cho tới khi chiếm được căn cứ biên phòng này. Tiểu Ðoàn D20 Trinh Sát của Sư Ðoàn 320A và một tiểu đoàn phòng không sẽ giữ nhiệm vụ chặn viện binh Việt-Nam Cộng-Hòa trên đoạn đường từ núi Chư Mréa tới ngã ba làng Plei Xome.

Trung Ðoàn 48 của Sư Ðoàn 320A vì bị tổn thất khá nặng nên bị chuyển sang vùng Ðông Pleime, giữ nhiệm vụ săn bắt những quân nhân thoát chạy từ Pleime ra Quốc lộ 14, đồng thời chặn đánh bất cứ đơn vị nào xuất phát từ quận lỵ Phú Nhơn tiến vào tiếp cứu cho Pleime.

Mờ sáng 28 tháng 7 địch mở màn trận mưa pháo chưa từng thấy trên nóc trại. Hàng ngàn quả đạn đã rơi khắp nơi, trong rào, ngoài rào, trên sân bay, dưới suối. Hầu như địch bắn mà không cần biết đạn sẽ rơi xuống chỗ nào!

Khoảng tám giờ sáng từ hướng Bắc và Tây có hai chiếc loa phát đi lời kêu gọi Biệt Ðộng Quân mau buông súng đầu hàng.

Hai cái loa cứ oang oang lặp đi, lặp lại bốn tiếng, “Hàng sống! Chống chết!”

Tiếng loa trộn lẫn tiếng súng của hai phe đang bắn nhau làm cho người nghe ù cả tai.

Rồi từ đỉnh đồi hướng Bắc, một đoàn quân chính quy Bắc Việt, vừa bắn vừa hô “Xung phong” lao xuống con dốc dẫn vào vườn rau. Ði sau đoàn quân này là một tên cán binh rất cao lớn vai vác lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thật to.

Cách đánh ồ ạt vũ bão này là sở trường đặc biệt chỉ thấy ở Trung Ðoàn 64 Sư Ðoàn 320A.

Lúc này tôi ngồi trong ụ súng 105 ly cổng Bắc.

Tôi hét,

-Beehive!

Anh xạ thủ người Thượng nhanh tay giựt cò.

“Ðoàng!”

Ðạn ra khỏi nòng, tiếp đó là một tiếng “Í! Ách!’ có lẽ là tiếng đầu đạn kích hỏa để phun hàng ngàn mũi tên sắt bay xa.

“Ðoàng!”

Viên thứ hai tiếp liền theo viên thứ nhất. Khói từ nòng súng còn khét lẹt, tôi và anh lính Thượng đã vội tụt xuống giao thông hào.

Khẩu đội 105 ly cổng Bắc có bốn người, nhưng trong ụ súng lúc nào cũng có mặt một người thôi. Ðó là một anh hạ sĩ người Thượng nhanh như cheo. Mới thấy anh ta giựt cò, “Ðoàng!” họng súng vừa phà khói trắng, thoắt cái, anh ta đã biến mất dưới giao thông hào.

Thấy anh chàng này ẩn hiện nhanh như con chuột nhắt, tôi bèn đặt tên cho hắn ta là “Con chuột Cổng Bắc” Muốn ra lệnh bắn, tôi chỉ cần hô “Con chuột!” thế là có một viên đạn chống biển người bay đi.

Phụ lực với “Con chuột Cổng Bắc” lúc nào cũng có hai khẩu đại liên 30 trong lô cốt cổng Bắc và Pháo đài số 1 siết cò liên tục, chỉ một hướng cố định, đường đạn bắn giao nhau. Ðịch chết đè lên nhau, chết trước khi kịp quay đầu chạy.

Từ hố cá nhân bên ụ súng đại bác 105 ly cổng Bắc, tôi nhìn thấy địch nằm chết như xếp cá sát nhau, chân chúng nằm trên dốc, đầu chúng hướng về phía cuối dốc, như đang theo nhau trôi xuống vườn rau trước cổng trại.

Tới trưa 28 tháng 7 tôi được lệnh ngừng mọi hoạt động pháo binh để dành không gian cho một đoàn trực thăng chuyển vận viện binh.

Lúc đó giao tranh còn đang diễn ra từng đợt nơi cổng Bắc. Tôi phải giao quyền chỉ huy tuyến phòng thủ Bắc cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt rồi theo giao thông hào để ra phi trường đón những người đồng đội đến tăng cường cho mình.

Phòng không địch đan lưới trên không, nhưng không thể ngăn những chiếc trực thăng của Phi đoàn 229 bay sát đất, thả Ðại đội 2 của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân xuống phi đạo Pleime.

Ði theo đoàn quân này có Thiếu tá Trương Hoàng Phi Trưởng Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và hai quân nhân của Tiểu Ðoàn 82 là Trung sĩ Nguyễn Phượng Hoàng và Thiếu úy Lý Ngọc Châu.

Hai thầy trò chú Châu nghe nói Pleime đánh lớn nên nóng lòng, theo chân đoàn quân cứu viện để vào chiến đấu sát cánh với ông tiểu đoàn trưởng.

Từ đầu năm 1966 Binh nhì Nguyễn Phượng Hoàng đã theo tôi vào, ra trăm trận, cho tới đầu năm 1974 chú Hoàng đã là trung sĩ, tôi mới sắp xếp được một vị trí bán tác chiến để chú Hoàng làm việc ở hậu cứ tiểu đoàn coi như đền bù công lao cho một người trải qua gần mười năm làm người lính đi đầu.

Còn Thiếu úy Lý Ngọc Châu là người đã có sự vụ lệnh theo học khóa Tâm Lý Chiến ở trường Chiến-Tranh Chính-Trị Ðà-Lạt. Thiếu úy Châu đang chờ phương tiện đi học, nếu đem chú ấy vào đây thì chắc chắn sẽ bị loại khỏi lớp. Ðó là chưa kể tới yếu tố tâm lý, dị đoan, xưa nay những quân nhân đã có tên đi phép, hoặc thuyên chuyển, hay thụ huấn mà cứ chần chờ ở đơn vị cũ thường bị chết bất đắc kỳ tử.

Ngay lúc chú Châu và chú Hoàng vừa đạp chân xuống đất, tôi đã nẹt,

– Hai thằng này lên tàu về Pleiku mau!

Hai người đàn em nghe tôi quát tháo thì sợ quá, vội vàng nhảy lên trực thăng ngay.

Những quân nhân tăng phái của Ðại đội 2/81 nhanh chóng bố trí hai bên phi đạo với vị thế sẵn sàng chiến đấu.

Hợp đoàn chuyển quân cất cánh, trên sân bay còn lại một mình Thiếu tá Trương Hoàng Phi đầu đội bê rê, lưng đeo súng Colt, chân đi đôi giầy Sault bóng loáng, đứng bên cái giường bố bằng nhôm mới toanh của quân đội Mỹ.

Thiếu tá Phi ra trận mà không đem ba lô, nón sắt, lương khô, poncho, mền võng, mà chỉ vác theo cái giường bố nylon gọng nhôm, như người đi nghỉ mát ở bờ biển Vũng Tàu.

Ông Phi chạy tới trình diện tôi và cho tôi hay rằng, Ðại tá chỉ huy trưởng muốn ông ta xuống Pleime để phụ tá cho tôi theo dõi tình hình địch rồi báo cáo về cho Bộ Chỉ Huy ở Pleiku.

Tôi không giấu nổi sự ngạc nhiên: Tôi có một Ðại úy thâm niên là tiểu đoàn phó, có một Thiếu úy tốt nghiệp trường Quân Báo Cây Mai làm sĩ quan Ban 2, cá nhân tôi là một sĩ quan gạo cội của ngành Tình Báo thì một ông Thiếu tá trưởng phòng 2 của Bộ Chỉ Huy có mặt ở Pleime này sẽ giúp ích gì cho tôi?

Không cần suy nghĩ tìm hiểu vì lý do gì ông Phi bị gửi vào đây, tôi nói với ông,

– Tôi cho phép anh theo chuyến bay kế tiếp trở về Pleiku ngay. Nếu Trường An có hỏi tại sao, thì anh cứ nói rằng tôi ra lệnh cho anh làm như vậy.

Thiếu tá Phi trợn tròn hai mắt nhìn tôi,

– Ủa! Thiếu tá cho phép tôi về Pleiku ư? Nếu tôi về thì có bị Ðại tá quở phạt không?

Tôi hất hàm đáp gọn,

– Ði đi! Tôi cho anh đi đó! Ðừng sợ!

Sau đó tôi lo phân phối nhiệm vụ bố quân cho số người vừa đạp đất của Ðại đội 2/81 nên quên khuấy chuyện ở hay đi của Thiếu tá Phi. Tới tối thì chú Phước báo cho tôi hay ông Phi đã leo lên chiếc trực thăng đầu tiên của đợt đổ quân thứ nhì. Ông Phi nhờ chú Phước gửi lời cám ơn của ông ấy tới tôi.

Ông Phi ra đi quá vội vàng, bỏ quên cái giường bố Mỹ gọng nhôm trên sân bay. Sau này tôi không biết ông Phi thuyên chuyển đi đơn vị nào, và làm công việc gì.

Khi việc vận chuyển đại đội tăng viện chấm dứt, hợp đoàn trực thăng đã khuất dạng, thì Thiếu úy Việt báo cho tôi biết địch vừa ngưng bắn nơi cổng Bắc.

Tôi chợt nghĩ ra, mặt Tây đang bỏ trống, nếu địch bỏ cổng Bắc, đánh vào cổng Nam thì bãi đáp sẽ bị đặt trong tình trạng nguy ngập, muốn gọi Ðại đội 4/82 ra ứng chiến cũng mất mười phút, chi bằng đem hết 18 anh viễn thám ra chận địch là nhanh nhứt.

Hai toán của Mom Sol và Yang đang đi theo tôi, nên bị chỉ định ưu tiên làm công tác ngăn địch. Năm phút sau 4 toán còn lại đã có mặt trên phi đạo.

Tôi đã biết địch chuyển quân theo hướng Bắc Nam, nên cho lệnh ba khẩu đại liên 30 từ các pháo đài hướng Tây cứ liên tục tác xạ ngăn địch.

Ðại đội 2 của Tiểu Ðoàn 81 vào tới trong vòng rào thì giao tranh mới bắt đầu nơi cuối phi trường, hướng Tây.

Sáu toán viễn thám bắn nhau với địch chỉ chừng mười phút thì địch rút chạy, bỏ lại năm sáu cái xác cán binh trên đường lui.

Ðại đội 2/81 Biệt Ðộng Quân có quân số gần bảy chục người, do Trung úy Nguyễn Văn Song chỉ huy.

Trước khi thuyên chuyển ra Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân rồi sang Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân thì Trung úy Nguyễn Văn Song đã làm việc chung với tôi một thời gian ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2, do đó lệnh tôi truyền ra, chú Song thi hành không khó khăn gì.

Tôi giao cho Ðại đội 2/81 trấn giữ đoạn giao thông hào hướng chính Tây, kéo dài từ sân cờ tới cổng Nam. Căn lều của Trung úy Song chỉ cách lều chỉ huy của tôi chừng mười mét. Vị trí này là cố định không thay đổi suốt thời gian Pleime bị vây hãm.

Khu vực trách nhiệm của Ðại Ðội 2/81 hoàn toàn trống trải, không có các ngõ ngách giao thông hào và dây kẽm gai dích dắc, nên dù mới tới đây, binh sĩ của đại đội này sẽ không sợ bị lạc đường.

Trong lúc Ðại đội 2/81 lo đào công sự phòng thủ thì Binh Nhứt Yang khệ nệ ôm về cho tôi năm chiếc ba lô mới tịch thu được của Việt-Cộng.

Giấy tờ lưu trên tài liệu tịch thu cho ta biết đơn vị đánh nhau với chúng tôi sáng 28 tháng 7 là Tiểu Ðoàn K9 trực thuộc Trung Ðoàn E 64 của Sư Ðoàn 320A.

Năm 1972, khi xâm nhập lãnh thổ Cao Nguyên Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa thì Sư Ðoàn F 320A Cộng-Sản có 3 trung đoàn bộ chiến là E 48, E 52 và E 64.

Trung Ðoàn E 48 có 3 tiểu đoàn đánh số K1, K2, K3; Trung Ðoàn E 52 có 3 tiểu đoàn đánh số K4, K5, K6; Trung Ðoàn 64 có 3 tiểu đoàn đánh số K7, K8, K9.

Sau đó, Trung Ðoàn E 52 đã di chuyển về Bình-Ðịnh, bổ sung cho Sư Ðoàn F3 Sao Vàng của Quân Khu 5. Từ ấy Sư Ðoàn F 320A chỉ còn 2 trung đoàn bộ chiến là E 64 và E 48.

Có lẽ Ban Trận Liệt của Phòng 2 Quân Khu 2 đã đọc sai tin tức khai thác tài liệu do Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân gửi về, nên có sự ngộ nhận, cho rằng Trung Ðoàn E 9 của Cộng-Sản đã hiện diện trong chiến dịch này, nhưng thực ra, đơn vị Việt-Cộng mang tên Trung Ðoàn E 9 trực thuộc Sư Ðoàn F 968 chỉ có mặt ở Tây Nguyên sau Tết Dương Lịch 1975.

Tôi còn tìm thấy trong ba lô của một cán binh tên là Bế Văn Tập có lá thư của bố anh ta tên là Bế Văn Thu gửi đi từ Cao-Bằng. Những người dân tộc Tày mang họ Bế không nhiều. Ở Hội-An, gia đình tôi có quen một người của Tỉnh Ðoàn Bảo An Quảng-Nam là Thượng sĩ Bế Văn Thương cũng quê quán Cao-Bằng.

Sau chiến dịch, tôi có gửi thư về Hội-An báo cho bác Bế Văn Thương biết tên người ghi trên thư gửi đi từ Cao-Bằng để bác xem có phải là bà con không, thì bác Thương cho tôi hay ông Bế Văn Thu là anh ruột của bác.

Như thế thì anh cán binh Việt-Cộng tên Bế Văn Tập tử trận ở Pleime ngày 28 tháng 7 năm 1974 là cháu gọi Thượng sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa tên Bế Văn Thương là chú!

Suốt đêm 28 tháng 7 tôi phải đích thân dẫn theo một toán cận vệ đi tuần tra liên tục qua các pháo đài và tuyến phòng thủ.

Gần sáng, tôi đang ngồi dật dờ nửa thức, nửa ngủ thì nghe “Con chuột” nổ “Ðùng! Ðùng!” hai phát, rồi nghe trong máy, tiếng Trung úy Minh hỏi,

-Cái gì đó?

Có tiếng Thiếu úy Việt trả lời,

-Tui cho “Con chuột” đuổi mấy thằng Vi Xi (Việt-Cộng) đang lần mò vào thu lượm xác đồng bọn.

Tôi có thói quen bật lên câu hỏi, “Cái gì đó?” mỗi khi nghe có tiếng động lạ.

Vì thế, cứ có chuyện khác thường thì nhân viên trực truyền tin lại phát đi câu hỏi này. Lập tức, có người trả lời ngay.

Trời sáng rõ, tôi theo giao thông hào tới Pháo đài Bắc quan sát thì không còn thấy cái xác nào của địch nữa.

Tới trưa 29 tháng 7 có một chiếc trực thăng bay sát mặt đất, ngừng giữa trại, hai người nhảy xuống nóc cái bể chứa nước dự trữ, chiếc trực thăng vội bay đi.

Chiếc phi cơ bay đi rồi, địch mới phát giác, chúng bắn đùng đùng vài tràng 12.7 ly lên trời một hồi để thị uy.

Hai người vừa đạp đất là Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 và Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng, sĩ quan tùy viên của ông.

Chuyện Cũ Chuyện Mới

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Sesung, tên thủy thủ người In Đô, vì muốn học nghề bếp nên mỗi sáng nó ráng thức sớm hoặc ngoài giờ làm việc nó vô bếp phụ tôi. Sáng nay cũng vậy, nó vô bếp mở điện lò và đứng chờ. Thấy tôi xuống nó chào buổi sáng và chỉ tay ra ngoài trời lúc tuyết đương rơi trắng xóa. Nó nói:

– Mùa đông tới rồi chú.

Cùng lúc thuyền phó từ trên phòng lái xuống kêu Sesung ra boong chuẩn bị thang để đón hoa tiêu. Sesung day qua nói với tôi:

– Lát con vô phụ chú.

Nói xong nó vội vàng day lưng bước xuống phòng thay áo quần và bận thêm đồ ấm.

Tàu rời cảng St. Petersburg nước Nga tối hôm qua và sáng nay sắp ghé Kotka của Phần Lan. Thuyền phó ló đầu vô bếp hỏi:

– Ông chiên cho tôi trứng và thịt ba rọi được không?

Tôi nhìn lên đồng hồ trên vách, thấy chưa tới giờ ăn, nhưng bếp lò đương cháy và tôi cũng không làm gì. Tôi nói:

 – Dĩ nhiên.

Tôi chiên trứng và thịt ba chỉ đưa ra cho thuyền phó, hắn cầm lấy nhưng chần chờ một chút rồi kêu tôi:

– Ông ra uống cà phê cho vui, còn sớm mà.

Hắn đem dĩa trứng và thịt để lên bàn rồi lấy tách rót cà phê đưa tôi và khoe:

– Hè qua tui có đi Việt Nam.

– Du lịch hả?

Hắn ngước mặt hãnh diện:

– Dĩ nhiên.

– Mày đi đâu?

– Mũi Né.

– Vui hông?

– Vui lắm, tui có ăn phở.

Tôi cười:

– Cũng lại phở. Bộ Mũi Né chỉ có phở không sao?

– Có nhiều thức ăn biển, nhưng tui thích phở, phở Việt Nam ngon tuyệt vời. Ông biết nấu phở không?

 – Dĩ nhiên.

– Hôm nào ông nấu cho mọi người ăn nhe.

Tôi chỉ ngón tay trỏ gõ gõ lên đầu, nói:

– Bộ mày khùng hả, trên tàu lấy đâu ra gia vị phở mà nấu.

Hắn cười hì hì rồi hỏi qua chuyện khác:

– Hôm qua ông đi chơi vui không?

Tôi cười:

– Vui mẹ gì, tao với Sesung lên chờ xe bus mất một tiếng, đi bộ lên bến xe điện mất nửa tiếng, tới nơi tuyết đổ ngập đầu, trời tối thui nên trông cái gì cũng mờ mờ, khi ra tới phố thì tiệm đóng cửa hết.

– Sao ông hổng đi tắc xi.

Tôi trợn mắt nhìn viên thuyền phó, nói:

– Tắc xi nước Nga của mày hả? Gọi cả ngày chưa thấy bóng.

– Tại ông hổng biết, nếu ông ra giá trước, trả một trăm đô la thì nó tới liền.

– Thiệt vậy hả?

– Thiệt.

– Tự nhiên tuyết đổ ào ào, ngập đầy đường, xe cộ nào chạy được. Bận về tao với Sesung phải đội tuyết đi bộ từ Abtobo xuống tàu mất cả tiếng đồng hồ. Thiệt tình thì tao muốn lang thang chơi cho vui, chớ hổng có ý đi đâu hết, nhưng Sesung muốn tao dẫn nó đi tới quảng trường Cách Mạng Tháng Mười….

Thuyền phó nhún vai.

– Ở đó có gì đâu mà coi, ngoài cái tượng.

– Sesung nghe quảng cáo quảng trường Cách Mạng Tháng Mười có tượng ông Lenin, nó chỉ muốn tới coi cái tượng cho biết.

– Tượng Lenin thiếu gì. Ông không thích sao?

– Oh! Thích khỉ gì, nước tao tượng đài tùm lum, tượng nào cũng lộng lẫy, mắc tiền. Tao thấy tượng nào cũng như tượng nấy, tạc bằng đồng đen, bằng xi măng, tiện bằng cây, lớp ngồi trong nhà, lớp đứng ngoài trời phơi nắng, giăng mưa và để làm toilet cho chim ỉa.

– Haha…, nhưng ông tới St. Petersburg có nhiều lần không?

 – Tao tới đây từ hồi thành phố St. Petersburg còn là Leningrad.

– Ông thấy thế nào?

– Dĩ nhiên, bây giờ St. Petersburg rất đẹp, vừa cổ kính vừa hiện đại.

– Ông có ấn tượng gì không?

Tôi chưa hiểu ý nó muốn hỏi gì nên hỏi lại:

– Về chuyện gì?

– Chuyện ông tới Leningrad.

– Ấn tượng về thời thành phố còn là Leningrad à?

Thuyền phó gật đầu. Tôi nói như thuộc lòng:

– Nói chung ấn tượng về Liên Bang Xô Viết nó luôn ở trong lòng tao. Hổng phải ấn tượng về một đất nước giàu đẹp, vĩ đại hoặc thiên đường, trên thế giới này nhiều quốc gia còn giàu đẹp hơn nước Nga của mày nhiều.

– Dĩ nhiên rồi.

Tôi day qua đổi giọng khôi hài nói với viên thuyền phó:

– Tao có cảm tưởng có một thời gian thành phố không được sửa chữa nên trông cũ kỹ bèo nhèo giống như cô gái đẹp bị bọn cướp hãm hiếp tơi bời hoa lá…

– Haha…

Đợi nó cười xong, tôi nói:

– Tao có ấn tượng sâu đậm nhứt là lần đầu tiên ghé một sạp bán bia ngoài đường.

Tôi đứng dậy đi vô trong bếp lấy một keo đựng dưa chua, tôi nói tiếng Anh không tự tin lắm nên tôi hay quơ tay ra dấu hoặc lấy một cái gì đó có liên quan tới câu chuyện ra minh họa, tôi đưa keo dưa chua ra trước mặt nó, nói:

– Tao nhớ lúc đó mua khoảng hai đô la Mỹ, họ rót ra đầy sáu keo như vầy nè…

Thuyền phó ngắt ngang:

– Bây giờ đâu có nữa.

– Dĩ nhiên, nhờ mấy mươi năm đổi mới nên St. Petersburg trông sáng sủa, trẻ đẹp như phụ nữ vừa từ thẩm mỹ viện bước ra. Phố xá xôn xao, có McDonalds và có siêu thị đầy nhóc hàng hóa. Đặc biệt cái là…

Nó thấy tôi ngập ngừng nó hỏi:

– Cái gì?

– Phần lớn đồ dùng sản xuất ở Trung Cộng. Nhưng dù sao đi nữa dân St. Petersburg cũng có đồ xài, hổng còn uống bia trong những cái keo như thời thành phố mang tên ông Lenin.

Hắn cười ha ha rồi nói:

– Hàng hóa Trung Cộng tràn lan khắp thế giới mà. 

– Ờ, tao biết. Ở Âu Châu cũng đầy nhóc đồ Trung Cộng. Con gái tao nhờ tao mua con Matryoshka sản xuất ở Nga, nhưng vô tiệm tao thấy con nào cũng Made in China nên tao hổng mua.

– Tại ông hổng biết chỗ, để hôm nào tui mua tặng con gái ông một con Matryoshka Made in Russia đẹp tuyệt vời.

– Cám ơn mày, nhưng tao thắc mắc.

– Gì nữa?

– Nước Nga của mày chế vũ khí đủ loại và bom nguyên tử, bom hạt nhân được mà sao hổng chế được ly để uống bia.

Hắn cãi lại:

– Ông nói vậy chớ đồ dùng nước Nga cũng có nhiều lắm, ở Việt Nam cũng xài đồ của Nga mà.

– Hèn chi đồ của nước mày bán mắc bỏ mẹ.

– Hì hì… Sao ông chê nước Nga hoài vậy?

– Thấy sao nói vậy, chê khen khỉ gì.

Sesung đón hoa tiêu xong vô bếp đứng chờ tôi. Tôi đứng lên cười và nói:

– Giỡn chơi thôi, St. Petersburg và nước Nga của mày có nhiều thứ tao ngưỡng mộ, nhưng hổng có vĩ đại và thiên đường gì ráo.

– Tui đâu có nói nước Nga là thiên đường là vĩ đại.

– Người Nga mày tao hổng nghe nói. Nhưng các ông, các bà ở nước tao qua Nga học tập, nghiên cứu sao hổng biết, trở dìa nước hô hào om sòm, cho tới nay vẫn có người tâng bốc nước Nga là vĩ đại, là thiên đường.

– Thiệt hả?

– Thiệt. À, đúng ra dân Nga phải mang ơn đám học giả, nhà thơ, nhà văn Việt Nam mới phải, nhờ họ mà nước Nga trở thành great country và paradise.

– Oh!

– Thôi mày ăn đi, tao đi làm đây.

Sesung đứng đưa hai bàn tay hơ hơ lên bếp. Thấy tôi vô nó rút tay lại và day qua nói:

– Lạnh quá.

Tôi nhìn ra ngoài khung cửa kiếng, tuyết rơi mù mịt, không thấy được đồi núi của hải đảo hay dải đất liền như mọi hôm. Tôi day lại cười nói với Sesung:

– Nếu chúng ta di chuyển từ Nam Baltic lên phía bắc Baltic bằng máy bay, thì từ mùa thu sang mùa đông chỉ trong vòng một tiếng, còn đi tàu thì mất một ngày.

– Vậy ở Nga bây giờ là mùa đông hả chú?

– Mấy hôm truớc ở Hòa Lan, trời lúc mưa lúc nắng, khi qua Đức và Ba Lan trời vẫn còn không khí man mát của mùa thu, từ lúc tới Phần Lan và qua Nga thì trời lạnh và có tuyết rơi.

– Vậy ở đây là mùa đông?

– Nói chơi vậy thôi, theo mùa màng thì ở đây tên gọi vẫn là mùa thu.

– Mùa thu gì mà lạnh quá.

 – Lạnh như vầy nhằm nhò gì.

– Chú tới đây lần nào chưa?

– Nhiều lần rồi.

– Chú thấy sao?

– Thấy gì?

– Bất an.

– Ồ, trước kia tao thấy bất an nhiều lắm, nhưng giờ thì tao hổng thấy gì hết.

– Mỗi lần tới đây con lo sợ và hổng an tâm khi thấy công an dẫn chó xuống lục xét phòng.

– Trong phòng mầy có rượu mạnh, thuốc lá quá lượng qui định và cần sa không?

– Hìhì… làm gì có.

– Vậy mầy sợ gì?

– Hổng hiểu sao thấy mặt ông, bà công an dẫn chó xuống tàu thì con sợ.

– Lâu lâu họ mới lục xét một lần, nói chung những chế độ còn lạc hậu, độc tài và Cộng Sản nước nào cũng vậy, chớ hổng phải chỉ có nước Nga.

– Nhưng Nga khác hơn các nước khác là mỗi lần tới họ bắt thủy thủ đoàn đứng sắp hàng cho họ xem mặt rồi mới đóng dấu cho nhập cảnh. Con bực mình nhứt là lúc giữa khuya, đương ngủ bị kêu dậy, hổng kịp bận đồ, rửa mặt gì hết, chạy xuống cho mấy con mẹ công an hải quan coi mặt.

– Mấy bà coi lúc mình bận đồ ngủ chắc cũng khoái mà.

– Kỳ quá à chú.

– Mấy bà hổng kỳ thì thôi, mầy kỳ khỉ gì, hôm nào bị đánh thức giữa khua mày chọc cho con cu của mày ngóc lên, biết đâu mấy bà thấy khoái.

– Haha… Chú có vậy không?

– Tao già rồi, giống củ cà rốt héo, hết hấp dẫn rồi, mấy bà đâu thèm.

– Chú còn ngon lắm mà.

– Ngon khỉ gì. À, mày nói sợ mà sao hôm qua còn kêu tao dẫn mày đi coi tượng ông Lenin.

– Nghe quảng cáo nhiều quá, muốn xem cho biết. 

– Những nước Cộng Sản họ thường xây tượng đài hoành tráng của những lãnh tụ để tuyên truyền.

Sesung nói:

– Công ty du lịch quảng cáo những thắng cảnh của thành phố trong đó có tượng Lenin đứng trước quảng trường Cách Mạng Tháng Mười.

Nghe nó phân bua tôi chợt nhớ lại những tượng đài của vài nước Cộng Sản mà tôi đã đi qua. Ở nước tôi người ta xây tượng ông Hồ Chí Minh, Cu Ba xây tượng ông Ché, Trung Cộng xây tượng ông Mao, Nga xây tượng ông Lenin…, nói chung thì nước Cộng sản nào cũng có tượng của lãnh tụ oai nghi, hoành tráng, mắc tiền, trước kia để tuyên truyền bây giờ thì dành quảng cáo cho du khách.

Tôi day ngang gật đầu:

– Ờ… mày có lý, nước Nga bây giờ là thời đại ông Putin, chớ hổng còn thời Lenin nữa, tượng đài lãnh tụ dành quảng cáo du lịch, dân chúng Nga cũng có lợi.

Sesung gật nhè nhẹ cái đầu ngẫm nghĩ:

– Ammm…

– Thiệt ra thì lần đầu tao tới đây, nhứt là lúc thành phố St. Petersburg còn mang tên Leningrad tao cũng sợ cách hành xử của mấy ông, bà công an xứ này.

– Bây giờ hết sợ hả chú?

– Làm gì phải sợ, dù sao mình tới đây làm việc một vài ngày hoặc vài tháng thì đi rồi.

Lúc đó chuông dưới hầm máy báo bị trục trặc gì đó. Thợ máy bên ngoài hấp tấp mở cửa bước vô, hắn gầm đầu, chạy thẳng xuống hầm máy, không kịp đóng cửa làm hơi lạnh ùa vào. Sesung thấy vậy đi ra đóng cửa lại rồi trở vô, càu nhàu:

– Thợ máy luôn nhắc nhở mọi người đóng cửa, nhưng tự hắn thì quên hoài.

– Tội nghiệp, thợ máy thằng nào cũng như thằng nấy, đầu óc lúc nào cũng lăng xăng lộn xộn.

Thợ máy xuống hầm máy thì tiếng chuông im bặt, một lát sau ông trở lên phòng ăn. Sesung bưng chén trứng luộc ra để lên bàn. Một lát Sesung trở vô nói:

– Ông thợ máy thấy thuyền phó ăn trứng chiên ốp la và thịt ba rọi, ông cũng muốn ăn.

– Mày chiên trứng cho ông ta xong rồi vô xắt thịt, tao lột củ hành.

Sesung chiên trứng bưng ra cho ông thợ máy, lát sau trở vô mặt mày nhăn nhó và chưởi thề, tôi day qua hỏi:

– Gì vậy? 

– Thợ máy ăn hết chén trứng luộc và ăn luôn hai trứng chiên với thịt ba rọi.

–Vậy thì ông ta ăn tổng cộng bốn trứng gà, cho ông tự sướng xỉu luôn.

– Ha ha…

– Thôi mày tháo bịch thịt ra xắt đi.

Sesung lấy bịch thịt vừa tháo ra vừa càu nhàu:

– Chú hiền quá, chớ gặp đầu bếp khác họ chưởi đó.

– Mấy mươi năm làm đầu bếp tàu buôn, tao đã từng nghe và thấy người ta chưởi bới, đánh nhau lỗ đầu chảy máu, thậm chí giết nhau cũng vì cái trứng, miếng thịt.

– Ừa, con cũng có nghe.

– Nhưng chưởi bới làm gì, chuyện như hồi nãy mày chỉ cần đừng dọn trứng ra bàn trước, người nào ăn thì hỏi mới đưa, như vậy là yên rồi.

– Con thấy người Nga ăn nhiều quá.

– Văn hóa ăn uống mỗi nước mỗi khác, hổng phải chỉ có người Nga, người nước nào cũng thích ăn ngon và ăn nhiều.

– Văn hóa người Nga là ăn nhiều hả chú?

Tôi định nói người Nga cũng giống như dân In Đô nhưng sợ chạm tự ái dân tộc của nó, tôi nói:

– Cũng giống như con người sống trong những nước kém văn minh, nói một đàng làm một nẻo, không biết tôn trọng ai. Nhìn cách sống, cách ăn uống của họ thì biết, lấy đồ ăn đầy dĩa, ăn hổng hết liệng bỏ.

– Nước Nga bây giờ hết Cộng Sản rồi mà chú.

– Vật đổi sao dời còn dễ hơn con người thay đổi. Người Cộng Sản tánh tình bừa bãi, vô kỷ luật, hổng tôn trọng giờ giấc, mày nhìn người Nga sống như thế nào thì văn hóa Cộng Sản như thế. Đây là tao nói thành phần trung lưu mà tao với mày tiếp xúc, còn dân nghèo thì khác hơn.

Sesung ỡm ờ không nói. Hình như nó cũng không hiểu ý tôi và tôi cũng không muốn tiếp tục câu chuyện. Sẵn thấy miếng thịt nó xắt hơi bự, tôi chỉ miếng thịt, nói:

– Mày xắt miếng nhỏ lại.

– Hôm nay chú làm món gì mà lột củ hành nhiều vậy?

– Hachée.

– À, món hachée của Hòa Lan, con biết rồi, món này một ký củ hành, một ký thịt hầm chung với nhau.

– Ừa đúng rồi, món truyền thống của Hòa Lan, lát nữa tao chỉ cách nấu mày nhớ ghi công thức lại để sau nấu cho tụi nó.

– Okay, món này con ăn thấy ngon, những người In Đô ăn hơi khó.

– Tại dân In Đô mày hổng chịu tập ăn, tối ngày chỉ cơm, cá, ketjap. Ở đời chuyện gì cũng phải tập, ăn uống cũng vậy.

Tôi day ngang chỉ mấy củ hành đã lột xong, nói:  

– Trước kia tao lột củ hành thường bị cay mắt nên tao vừa lột vừa xả qua vòi nước, nhưng hông biết từ bao giờ tao hổng còn bị cay mắt khi lột củ hành nữa.

– Chú nói đúng, hồi mới qua Hòa Lan con ăn hachée cũng hổng được, nhưng ăn riết rồi thấy ngon, nhứt là khoai tây luộc, bắp cải đỏ hầm với táo, chan sốt hachée lên ăn ngon bá chấy.

Thiệt vậy, tất cả theo dòng thời gian thay đổi, mọi việc sẽ dịu lại thành thói quen và những cay cú cuộc đời không còn làm cho người ta khó chịu nữa.

Dronten 17-3-2018

Chiều Lên Hội Quán

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Mặt trời đã khuất sau hàng cây rậm lá, nắng chiều xô ngã bóng tàn trải lên mặt lộ đen láng, phẳng phiêu. Bên đường dành cho khách bộ hành, một dãi cỏ màu xanh, hoa vàng, đỏ, tím chen nhau khoe sắc. Ở ngã ba đường khi đèn giao thông bật màu xanh, xe ào ạt chạy tung cát bụi mịch mùng. Đoàn xe lướt qua, con lộ trở nên trống trải, tiếng động cơ hút xa rồi ngưng bặt. Sự yên lặng đến đổi nghe rỏ tiếng gió lướt qua đầu cây ngọn cỏ, tiếng chim chóc rút rích trên cành. Và tôi là khách bộ hành đương đi trên con đường vắng.

Ði hết một đoạn đường, quẹo phải tới cổng hội quán. Mùa hè nắng ấm, trên sân cỏ xanh mượt đám thủy thủ chia phe đá banh; đội áo xanh, đội áo đỏ rất hào hứng chen lấn nhau tranh banh la hét rân trời. Tôi không khoái đá banh nên bước thẳng vô hội quán. Trong phòng thể thao, nhóm thủy thủ Ba Lan chia phe chơi bóng rổ, họ đương hì hục dọng banh bình bịch, ngoài bàn bi da hai anh Phi luật tân đương so cơ lốp cốp. Trước hai phòng diện thoại, người ta đứng sắp hai hàng dài.  Giờ nầy mạnh ai nấy lo giải quyết chuyện riêng, hơn nữa còn sớm, ít người uống bia nên trong bar chỉ lèo tèo vài ba người đứng.  Hàng ghế cao cẳng trước quày rượu trống trơn. Tôi bèn leo lên chiếc ghế trong góc, mua một ly bia nhâm nhi, ngồi đây tôi nhìn được mọi sinh hoạt chung quanh.

Trước đây hơn mười năm. Những ngày cuối tuần, khi tàu còn lênh đênh trên biển, tối đến thủy thủ đoàn rút vô phòng cặm cụi viết thư. Chờ tàu gần vô cảng mỗi anh cầm một sắp thư giầy cộm, đem lên đưa thuyền trưởng nhờ chuyển đi. Khi tàu ghé bến, cả đám lóng ngóng chờ nhân viên mang thư xuống như chờ người tình. Từ ngày những công ty truyền thông phát hành thẻ điện thoại loại rẻ tiền dành cho thủy thủ, chuyện viết thư và nhận thư giảm bớt. Bù lại, mấy phòng điện thoại trên hội quán, lúc nào thủy thủ cũng sắp hàng dọc đứng chờ. Ở Việt nam tôi nghe nói ăn, ngủ, làm tình, đi cầu là bốn cái sướng nhứt trên đời. Nhìn cảnh nầy tôi mới nghiệm ra, nói chuyện cũng là cái sướng nữa. Nếu không thì tại sao người ta gắn điện thoại trong nhà, ty bưu điện đựng điện thoại công cộng khắp nơi vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu, còn phải còn chế thêm điện thoại mobile và phát minh ra internet; lên lưới trò chuyện, đi rong ngoài phố điện thoại cầm tay áp lên má chuyện trò. Chưa đã, hễ có dịp bà con ta còn hẹn hò nhau để… nói chuyện.

Hồi sớm nầy tôi đâu có định lên hội quán. Tôi đương đứng ngoài boong, nhìn tàu bè xuôi ngược trên dòng sông Rijn và những chiếc tàu đã yên vị bên kè đá. Đương phân biệt màu cờ để biết quốc tịch gốc của những con tàu và đoán chừng nó đến từ đâu. Chợt Ebet, thủy thủ người In-đô, cháu của ông Johannes Besla, đi lại nói với tôi:

– Uncle Tấn, hồi trưa tôi gặp uncle Johannes, chú ấy hẹn nhắn chú chiều nay lên hội quán nói chuyện chơi.

Không do dự, tôi nói:

– Được, chiều tao lên. Mày có theo tao không?

– Không được chú, chiều nay tôi trực.

Nhìn thằng nhỏ trong bộ đồ bảo hộ, đầu đội nón an toàn, lững thững đi ra boong. Tôi mĩm cười, những năm gần đây lớp thủy thủ trẻ thay cho lớp già về hưu cũng bộn. Mấy đứa nhỏ mới tập sự hải hành kêu tôi bằng uncle. Nhẩm tính lại tuổi đời vừa đúng bốn mươi,  lên chức chú cũng phải lắm rồi. Uncle Tấn, tên gọi nghe cũng hay hay.

Tôi quen với Johannes Besla từ khi tóc ông còn đen và tuổi tôi còn trẻ, chúng tôi thường sống chung nhau cả năm trên một chuyến tàu. Ông có nhà lầu ở Jakata, nhà có kẻ ăn người ở hẳn hoi, nói chung cuộc sống gia đình rất sung túc. Bổng dưng vợ ông bị chứng ung thư, cơn bịnh kéo dài gần hai năm bà qua đời. Tài sản gom góp hơn hai mươi năm trời, vợ bịnh một trận, tiền ra như nước chảy. Khi chôn cất bà xong, ông cũng phủi tay.             

    Cách đây hơn hai năm, tôi đi chung với ông trên chiếc Tina. Tinh thần ông dạo đó xuống thê thảm. Có bửa ngồi sau lái lai rai uống bia, ông tâm sự:

– Tao đương lo thủ tục xin định cư Hòa Lan.

Tôi hỏi:

– Chừng nào xong ?

– Một vài năm.

– Sao ông không cưới vợ?

– Đâu dễ dàng như mầy nói.

– Sao lại không, tôi thấy nhiều ngưới In-đô bỏ vợ già,  cướì vợ trẻ hoặc hai ba vợ là thường. Tuổi ông chưa đầy năm mươi, về bển cưới gái mười bảy cũng còn được mà.

     Ông nín lặng nhìn tôi như thể đánh giá trong câu nói của tôi có sự dễu cợt nào không. Lát sau ông từ tốn, nói:

– Đó là những người theo đạo Hồi. Hơn nữa cưới vợ để ăn đời ở kiếp

với nhau cần có sự thương yêu và lòng chung thủy. Còn kiếm bàn bà, con gái để làm tình cho sướng thì ở nước tao bỏ tiền ra mua gái vừa trẻ vừa đẹp bao nhiêu cũng có.   

Tôi nhìn mái tóc trắng phơ của ông mà ái ngại. Phải chi ông còn trẻ, tôi khuyến khích, nếu có cơ hội tôi sẽ giúp đở ông. Đàng nầy, tuổi của ông đã ngót nghét năm mươi. Sống chung với nhau đã lâu, tình tự quê hương của ông ít nhiều tôi cũng biết. Muốn hợp khẩu vị cho bửa ăn, ông bỏ cả buổi đi tắc xi tốn cả trăm đồng, tìm mua cho được một vài món rau cải và gia vị In-đô đem về. Lịch cuối năm người ta tặng đủ cảnh, đủ màu, nhưng ông không treo,  đi mua lịch Tàu chụp cảnh hải đão, núi non về treo trong phòng. Ông nói vì nó giống cảnh quê hương ông. Có lần ông nói, ngày trước con gái ở nước ông lấy chồng ngoại quốc là điều sĩ nhục cho gia đình, dòng họ. Còn ngày nay con gái lấy chồng bất cứ nước nào, không kể thành phần, miễn làm sao ra khỏi cái đất nước nghèo đói là điều hảnh diện cho gia đình rồi.

– Việt nam tôi cũng vậy thôi ông à.

Tôi định kể cho ông nghe, ở nước tôi ngày xưa có một cô Kiều, trước đêm bán mình, cả gia đình viên ngoại khóc lóc như một đám ma. Ngày nay con gái lớn lên cha mẹ đem bán ra nước ngoài để kiếm chút đô la mua xe, sắm sửa nhà, ăn nhậu phè phởn, ra đường cũng hảnh diện quá trời. Nhưng nhớ tới câu đèn nhà ai nấy sáng, quán nhà ai nấy biết, dại gì vạch áo cho người xem lưng. Tôi ngắn gọn:

 –  Lở sanh ra trên đất nước ghèo và chậm tiến mình phải đành chịu chớ biết làm sao. Nhưng ông qua Hà lan làm sao ông tìm được người vợ thủy chung như ông mong muốn.

     Ông dứt khoát:

– Tao không cưới vợ nữa.

– Tuổi già ở Hà lan buồn lắm ông ơi.

– Nhưng không lo đói, bịnh hoạn có thuốc men, già vô trại dưỡng lão có y tá săn sóc.      

Tôi uống hết mấy ly bia, mà ông Johannes vẫn chưa tới. Hai đội banh ngoài sân đã phân thắng bại, các cầu thủ tục tục kéo vô phòng thay quần áo. Một lát sau trở ra họ xúm nhau khiêng hai chiếc bàn đâu lại mới đủ chỗ ngồi cho hai nhóm. Hai đội bóng rổ cũng kéo ra ngồi dãi bàn cạnh bên. Ba người đàn bà đứng trước ba cái vòi bôm bia không ngớt tay. Một ông lăng săn khui nước ngọt, đổi tiền không kịp thở. Hội quán trở nên ồn ào, mùi khói thuốc bốc lên nực nồng, khét lẹt. Họ nói chuyện vài ba thứ tiếng khác nhau. Trong đám rộng ràng nhứt là mấy anh Phi luật tân, uống bia, rượu, ăn to nói lớn. Còn đám Ấn Ðộ, đầu vấn khăn cổ truyền, uống cô-ca-cô-la, ăn nói nhỏ nhẹ, nghiêm trang, tôi đoán họ là những người theo đạo nhưng không biết họ đạo gì. Ngoài nhóm thủy thủ Ba Lan ngồi riêng một bàn, những người da trắng khác ngồi trên hàng ghế cao cẳng trước quày ba, hoặc ngồi xen kẽ trong đám da màu.   

Hội quán ở Hòa Lan sinh hoạt có vẻ hơi lành mạnh, không có các cô gái làm tiền vãng lai bắt khách. Tuy nhiên thủy thủ nào cua được gái thì cứ dẩn vô hội quán ngồi chơi không ai phàn nàn gì hết. Thỉnh thoảng cũng có mấy em tiếp thị tới từ mấy hộp đêm khác, đưa giấy quảng cáo mời qua đó chơi có xe đưa, rước miễn phí.

Một cái vỗ vai hơi mạnh, tôi giựt mình day lại. Ông Johannes vẫn để tay lên vai tôi, nhìn thẳng mặt, thân mật nói:

– Bạn hiền, khỏe không?   

Tôi câu vai ông, vừa mừng vừa đáp: 

– Khỏe, khỏe. Còn ông?

– Khỏe luôn.

– Lâu quá mình mới gặp lại.

– Từ lúc chung nhau trên chiếc Tina tính tới nay đã hơn hai năm rồi.

Tôi giơ tay lên gọi thêm hai ly bia. Trong quày không còn ghế trống, tôi với ông bưng bia ra ngoài sân ngồi nơi chiếc bàn dưới bóng đèn điện sáng chưng. Ông đưa tôi chiếc bọc nylon.

– Hôm thằng Ebet điện thoại, nói đi chung với mầy, tao kêu vợ tao tìm mua tặng mầy cái nầy, quà kỹ niệm Java đó.   

Vừa đở lấy chiếc bọc, vừa ngạc nhiên, tôi hỏi:

Ông cưới vợ rồi sao?

– Hơn một năm rồi.  

Tôi giơ ly bia ngang mày:

– Chúc mừng ông.  

Để ly xuống, tôi mở bọc xem quà, một chiếc xà rong, sọc màu nâu mới toan. Tôi ngước lên:

– Đẹp quá, có điện thoại về thăm nhà, cho tôi nhắn lời cám ơn bà.  

Tuy tóc trắng đầu nhưng nhờ vui vẻ, yêu đời nên thấy ông trẻ ra. Tôi hỏi:

– Hạnh phúc nhiều chớ ?   

Ông gật gật cái đầu, giơ tay lên lắc lắc, trề cái môi, nghiêng cái mặt như định giá cái hạnh phúc hơn một năm qua.

– Tốt, tốt lắm.   

Đoạn ông móc bóp, moi ra tấm hình gia đình mới của ông giơ tôi coi. Ông chụp chung với người đàn bà tròn trịa, da ngâm và một đứa con trai đứng bên cạnh ú na ú nầng. Ông kể, chồng bà chết hơn ba năm rồi, con trai bà được mười một tuổi, đã dời về sống vời ông ở Jakarta.   

Tôi hỏi:

– Chuyện di cư qua Hà lan thì sao ?   

Ông cười:

– Cách đây hơn hai năm, sau chuyến đi chung với mầy lần đó,  tao ở lại Hà Lan trọ nhà ông bạn gần thành phố Rotterdam. Ðịnh tìm một việc nào đó trên đất liền làm nhưng kiếm hoài không có việc. Tao với ông bạn ban ngày nếu không cà nhông ngoài đường thì ngồi nhà ôm cái truyền hình hoặc bày đồ chơi con nít ra chơi, tối lại rủ nhau ra bar ngồi uống bia. Những lúc đó, tao nhớ tới câu mầy nói, ở bên nầy tuổi già buồn chết sớm.  Mày nói đúng, sống cảnh đó một năm cũng đủ chết nói chi tới già.  Tao ở được một tháng, cháng quá tao bay về In-đô và bỏ ý định làm thủ tục di cư.

Tôi tiếp một câu:

– Và quyết định lấy vợ?

Chúng tôi cười ha hả, và bưng bia lên uống:

– Mừng cho ông tìm được hạnh phúc.

Để chia vui cùng ông, tôi đứng lên đi vô mua thêm bia và một gói đậu phộng. Trở ra bày mọi thứ lên bàn. Sau đó chúng tôi đổi sang câu chuyện.

– Nghe nói ông đổi xuống chiếc Elsa phải không?

– Phải.

– Cảng nào?

– Houston. Chừng nào bay?

– Sáng mai.

Hồi chưa lập gia đình, tôi thường đi những tuyến đường xa. Tôi thích vùng Nam Mỹ nắng ấm, nhiều hải đão, núi non và cảnhh đẹp tuyệt vời. Nhứt là đàn bà, con gái ở đó rất hấp dẫn và rất chịu chơi. Từ ngày cưới vợ tới nay tính ra hơn mười năm, để được gần vợ gần con, tôi hải hành vùng Âu châu và đi ngắn hạng. Mỗi khi gặp đồng nghiệp đi tuyến đường xa thì lòng tôi nôn nao pha chút ganh tị.

– Kỳ nầy ông sướng rồi nhé.

– Sướng gì?

– Thì chiếc Elsa chạy Nam Mỹ, sướng chớ sao.

Ông chỉ tay lên đầu, cười nói:

– Tao đã già, tóc bạc hết rồi còn bướm hoa gì nữa.

Ông bưng ly mời tôi cụng một cái. Lúc đó trong ba lắc chuông báo, chỉ còn rót bán rượu, bia thêm một vòng cuối. Johannes đứng dậy đi vô trong mua thêm bia. Ngồi một mình, nhìn món quà Java, tôi không biết bao giờ mới bận tới chiếc xà rong nầy, tuy nhiên nó gợi trong tôi hình ảnh người đàn bà ở bên kia địa cầu, chồng lên đường làm ăn vợ khuyến khích, sửa soạn đồ đạc, sắp xếp quần áo vô vali ngăn nắp, quyến luyến dặn dò, tiễn chồng ra đi, tuy có buồn nhưng trong lòng chứa chan hy vọng. Vợ thương chồng chung thủy đợi chờ, chồng tin tưởng vợ an tâm cất bước.

Johannes khệ nệ bưng hai ly bia ra để lên bàn. Ông ngồi xuống, nâng ly lên, nói:

– Bạn hiền, uống hết ly nầy mình chia tay.

 Tôi đưa tay lên nhìn đồng hồ, hơn mười giờ đêm, cũng gần tới giờ hội quán đóng cửa. Chúng tôi cụng ly, bưng lên nốc cạn. Đứng dậy rời hội quán, đi thẳng ra bến xe bus.   

 Tiễn ông bạn già lên xe chợt nghe lòng buâng khuâng, nghĩ ngợi. Nếu ông sống bên Châu Âu thì tuổi nầy đã lo chuyện nghỉ ngơi và tranh thủ từng ngày để hưởng thụ cái  hạnh phúc gia đình mà ông mới vừa tạo dựng. Có đâu phải làm lại từ đầu, khoát lên mình một trách nhiệm mới, tiếp tục lên đường lo chuyện tương lai, chưa có dấu hiệu nào dừng bước.

Tuy nhiên nói đi thì phải nói lại. Tôi mới vừa bốn mươi tuổi, sống một nơi yên ổn, khỏi phải lo chuyện áo cơm, bịnh hoạn không lo tiền thầy, tiền thuốc, nhưng trong lòng lúc nào cũng bất an. Nhứt là mỗi khi sửa soạn lên đường, con cái đứa câu tay, đứa ôm cổ, mặt mày vợ buồn xo, nước mắt lưng tròng, tiễn chồng đi làm ăn mà giống y như đưa người sang sông không trở lại. Nhưng dù sao đêm cũng đã khuya rồi. Tôi quay gót thả tà tà trở về bến cảng. Đêm nay trăng tròn, sao thưa, trời không mây nên bầu trời rực sáng. Dưới bến cảng, cần trục mốc những containers vuông vức chất khẳm con tàu. Giữa đêm nay chiếc Gera sẽ khởi hành sang Ái Nhĩ Lan, tuần sau sẽ trở lại. Mang tiếng là thủy thủ tàu viễn dương, vậy mà bao năm qua tôi cứ lẩn quẩn trên một tuyến đường, không xa được thành phố Rotterdam nhiều khói máy và sông Rijn tàu bè ra vào nườm nượp trên dòng nước ô nhiễm đục ngầu.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

CHẢ GIÒ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Dân Việt Nam mình ai cũng biết món chả giò. Miền Bắc gọi là nem rán; miền Trung gọi là ram.

Giống như những người đẹp miền sông nước Lục tỉnh Nam kỳ, em yêu của tui cũng biết làm món chả giò cho tui ăn và uống với bia lon.

Nhứt là vừa mới có lương, ra máy rút tiền tự động, tui mang về hàng chục tờ 50 đô Úc mới cứng, còn thơm phức mùi mực, để cống nạp cho em yêu đút vào túi áo khỉ.

***

Làm chả giò cũng dễ, tui bèn tự học để lâu lâu em yêu có giận hờn mà hỏng chịu cơm nước gì ráo; tui tự đi chợ Footscray mua đồ về, tự làm, rồi tự ăn mình ên cho em yêu hết dám làm eo, làm xách, đình công nấu nướng cho anh đói rã ruột chơi vì dám hỗn; hổng nghe lời em yêu dạy bảo! He he!

Cha gio 02Muốn ăn chả giò, trước hết phải làm nước mắm chấm! Lý do chiên chả giò xong, lui cui pha nước mắm, chả giò nó nguội ngắt hết; chỉ còn nước đem đi cho hàng xóm; chớ ăn đâu có ngon lành gì nữa?!

Cứ một muỗng canh nước mắm là một muỗng cà phê đường, một muỗng cà phê chanh hoặc giấm và tới 5 muỗng canh nước lọc.

Đâm tỏi cho nhuyễn, ớt sừng trâu băm nhỏ; hòa tan với chanh hoặc giấm trước; rồi mới chan nước mắm vào để ớt bầm nó nổi váng lên, trên trông mới hấp dẫn.

Chén nước mắm có vị ngọt thanh của đường, vị chua của chanh và vị mặn của nước mắm.

Bên ni tiền bạc hơi thư thả nên chả giò nó trăm hoa đua nở nhiều loại; nhưng chỉ khác nhau chỗ cái nhưn.

Tui thì khoái nhưn thịt heo xay nhuyễn, tôm rồi mộc nhĩ, hành khô, cà rốt, củ sắn, khoai môn. Cho tất cả vào trong một cái tô rắc tiêu, muối đường trộn đều.

Cắt miếng bánh tráng ra làm hai, nhúng nước ướt vừa thôi, (ướt quá lúc cuốn nó bị lòi cuốn, cuốn vừa tay như điếu xì gà của Fidel Castro, rồi phết bia lên khi chiên nó mới giòn.

Bắt chảo lên, đổ một lít dầu ăn vào. Dầu hơi nóng, tuần tự bỏ từng cuốn chả giò vô, chờ nó vừa vàng đều, lấy đũa gắp ra, đặt lên cái dĩa có lót một lớp giấy để hút bớt dầu.

Cuốn chả giò còn nóng dòn rụm, lại cuốn với rau sống xà lách, chấm nước mắm, đút vô mồm nhai rau ráu; xong chiêu theo một ngụm bia rồi chết cũng đành.

Cha gio 03Mấy anh bạn nhậu của tui ơi! Chịu khó bớt làm biếng mà học cách làm chả giò như tui vừa mách bảo nói trên để phòng thân. Hổng phải tui thày lay làm thầy đời đâu; mà đời đã cho ta biết bao lần kinh nghiệm.

Hồi mới qua Úc nè! Tiền an sinh xã hội nhà nước cấp cho đâu đủ sống!

Vợ dại con thơ, hai vai hai gánh, em yêu bèn chiên sẵn cho tui chừng chục ký chả giò, ủ nóng trong cái thùng mốp để tui đi bán dạo ở chợ trời Laverton đó.

Đắt hết biết! Chỉ một tháng mà tui đã đủ tiền mua được chiếc Holden đời tám hoảnh, giá tới 500 đô, để chở con vợ tui đi chơi cho biết đó cái thú đi xe hơi (chớ xưa giờ vợ chồng tui đi xe bò không hà!)

Em yêu của tui là người phụ nữ miền Nam giỏi giắn, chịu thương, chịu khó.

Thiếp chàng chung một chuyến đò. Kiếm cơm dễ ợt bán chả giò là xong (ngay)!

Sở dĩ em biết vượt qua cảnh chân ướt chân ráo đất lạ quê người vì em cũng học sách của bà ngoại (người ta) đấy thôi.

Cần Thơ đi dễ! Khó về!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Aug 20234

Chữ rằng: “Cần Thơ đi dễ khó về! Trai đi có vợ; gái về có con!”

Đó đó! Đúng y hịt đời tui vậy đó bà con ơi!

Như ai nấy nếu để ý đều biết bất cứ thị trấn, thị xã nào của Lục tỉnh Nam Kỳ, quê mình, đều kề cận một dòng sông.

Vì cũng có câu rằng: “Sông Cửu Long chín cửa hai dòng! Người thương anh vô số, nhưng anh chỉ một lòng với em!”

Rồi thòng thêm câu hỏi nữa: “Bên dưới có sông; bên trên có chợ. Ta với mình chồng vợ nên chăng?”

Thì em yêu, dân Cần Thơ, tóc em dài em cài hoa thiên lý, nghe anh hỏi mi mí… là em biết tỏng cái tim đen, bèn trả lời móc họng anh, như vầy: “Biết rồi mà bày đặt hỏi lôi thôi!”

Có nghĩa là: “Anh có thương em thì thủng thẳng em ừ! Anh đừng thương vội mẫu từ ‘quánh’ em!”

Ha ha! Mẫu từ, mẹ hiền, mà roi vọt bất tử quá vậy ta? Nhưng có nhằm nhè gì! Quánh em; chớ có dám quánh thằng ‘rể đu đủ’ tương lai trời đánh nầy sao mà mình sợ chớ?! Nên tới luôn bác tài…Vì em đã chịu đèn rồi!

Chẳng qua là tới tuổi quân dịch, tui vào lính; nhưng bị bịnh mộng du! Bác sĩ quân y thuộc Hội đồng giám định y khoa khám, cho tui về hoãn dịch vì lý do sức khỏe!

Vì tối nào tui cũng ngủ mớ, tuột cái rột, ra khỏi giường, đi vòng vòng doanh trại, dạo mát trăng thanh; nhưng không có ý thức gì ráo!

Mật khẩu không biết, đêm cà lơ phất phơ… lính canh nó phơ ẩu là bỏ mạng sa tràng…

Thôi lính chê thì mình về đi học nữa vậy!

***

Năm 1970, tui theo thằng bạn thân, sau Tết, mùng Bốn, đi Cần Thơ cho biết đó biết đây; ở nhà với Má biết ngày nào khôn?

Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, trên Quốc lộ 4, qua Bắc, leo lên xe Lam, chạy một hơi thôi, khoảng 1300 mét, là tới Ngã ba Lộ tẻ.

Rẽ trái vào trung tâm thành phố Cần Thơ! Rẽ phải vào liên tỉnh lộ dẫn đến Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá và Hà Tiên.

Tại Ngã ba Lộ tẻ, có Bến xe mới xe lên Sàigòn; hoặc xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, chạy thẳng tắp từ đây tới tận quận Cái Răng; mà không phải đi qua trung tâm thành phố.
Vào trung tâm Cần Thơ phải qua cây Cầu đôi bằng sắt, kiểu Eiffel, bắc ngang qua rạch Cái Khế.

Bên kia cầu là một ngôi biệt thự kiểu Pháp, xưa dành cho mấy ông Tây; sau nầy là Dinh của Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa .

Đi tới là dinh Tỉnh Trưởng! Trước mặt là một bùng binh khá rộng, nơi hội tụ của nhiều con đường chạy vòng vòng để khỏi đụng nhau.

Đường Phan Đình Phùng xuất phát từ đây, coi như là cái xương sống của thành phố, chạy ngang qua Ty Bưu điện, Tòa án, Tòa Thị Chánh, Ty Cảnh Sát, Trường Tư thục Nam Hưng, v.v… xuống tận khu Cầu Xéo.

Một đường khác cũng từ dinh Tỉnh Trưởng hướng về Cầu Tham Tướng, là Đại lộ Hòa Bình. Nhưng dân quen gọi là đường Hàng Xoài, vì dọc theo đường có trồng xoài.

Đại lộ Hòa Bình, lớn nhưng ngắn ngủn, chấm dứt khi tới Bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa (Nơi em yêu của tui làm đó nhe!). Đường Lý Thái Tổ, bắt đầu từ đây, chạy dài tới cầu đúc Tham Tướng.

Qua cầu, là đường Mạc Tử Sanh, phía bên trái là chợ chồm hổm, chỉ nhóm vào buổi sáng, nhưng tấp nập quanh năm vào buổi chiều tối vì có xề bánh cống, quầy hủ tiếu, gánh cháo gà cho dân nhậu bình dân.

(Tham Tướng là Mạc Tử Sanh, con của Mạc Thiên Tích (Hà Tiên), làm cận vệ cho chúa Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần.

Năm 1777, quân Tây Sơn ồ ạt tấn công xuống miệt Trấn Giang (Cần Thơ)! Mạc Tử Sanh bị vây, chết trận nơi khoảng rạch nhỏ đổ ra sông Cần Thơ! Sau nầy dân chúng đặt tên là rạch Tham Tướng!)

Rạch Tham Tướng chạy vòng vòng phía trong, cắt ngang đường Tạ Thu Thâu, chui qua cái cầu sắt nhỏ, cầu Rạch Bần, vốn là đường thoát nước mưa tự nhiên cho Cần Thơ! Sau nầy nghe nói đã bị lấp! Nên bây giờ mưa lớn một chút là Cần Thơ ngập thấy thảm… thương luôn?! Tội nghiệp mấy em mắc mưa, ướt luôn cái quần lãnh Mỹ A hết ráo!

Cầu Tham Tướng đã biến mất, đường Mạc Tử Sanh đi về hướng Cái Răng cũng bị mất tên luôn, thành đường 30 tháng 4.

Ngã ba Tham Tướng xưa có doanh trại của đại đội Quân vận 411, dưới hàng cây bã đậu. Sau nầy là quán cà phê và quán nhậu bình dân.

Ôi những ngày đói rách, lang thang sau khi mất nước, tui không biết làm gì; chỉ biết long nhong như ở không lắm vậy! Và từng đóng đô thường trực ở đó.

Ngồi tréo ngoảy, trước mặt ly rượu thuốc ngâm ô môi, có màu cho dễ ực; vì màu trắng mắt mèo, e nó có nhúng một đầu tăm thuốc trừ sâu cho rượu trong veo… Thấy ớn quá hà!

Xa em, người đã cả gan bán chịu cho tui ngày cũ (mà không sợ bị giựt)! Biết giờ em giờ phiêu bạt tận phương nào, để tui gởi về em một, hai trăm đô Úc, bồi đáp cái ‘bát cơm phiếu mẫu’ ngày xưa?!

Phần để cho em có tiền mua trầu nhai bỏm bẻm, chống tay lên cằm mà nghĩ tui vẫn còn thương tưởng tới em?!

Nhưng nếu bà con mình ở tỉnh khác tới chơi; người ta khoái cái bến Ninh Kiều hơn là chợ Tham Tướng!

Bến Ninh Kiều, nơi nghĩa quân Lam Sơn đã đánh quân Minh xâm lược một trận tơi bời; nên nằm trên đường Lê Lợi.

Thế mới biết ông cha mình đặt tên đường, tên bến nước là đầy trí tuệ, có hậu ý; chớ không phải như sau nầy muốn đổi tên đường sao cũng được; tùy bữa say nhiều hay xỉn ít đâu nha mấy cha?!

Nhạc sĩ Lam Phương, năm 75, theo tàu Trường Xuân, ông chạy sớm hơn ai hết thảy. Xa quê, tuốt bên trời hải ngoại, ông vẫn còn nhớ tới bến Ninh Kiều để: “Một đêm anh mơ mình ríu rít đưa nhau về / Thăm quê xưa với vườn cau thề / Bàn tay anh đan dìu em bước trên cỏ khô/ Đi trong hoang vắng chiều Tây Đô!”

Đó là ông ước, ông mơ, ông nhớ về ngày tháng cũ: “Bờ sông yêu xưa tà áo thướt tha mỹ miều/ Sao anh không thấy về Ninh Kiều? Dường như anh nghe đời nặng trĩu trong màu đen/ Đen như manh áo buồn chưa quen!”

Rồi ông nhớ cái thuở học trò! “Ngày xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường/ Nay nghe sao khác từ tên đường/ Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta hồi hương/ Tây Đô sẽ sống lại yêu thương!”

Cái trường, ông Lam Phương, (xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường), là trường Phan Thanh Giản, trường công lập lớn nhất miền Tây, được thành lập vào đầu thế kỷ 20.

Học sinh ở các tỉnh lân cận, như nhà văn Sơn Nam, miệt Rạch Giá, vẫn phải khăn gói đến trường Phan Thanh Giản để học tiếp bậc “Đút rơm trâu ăn mê” (Diplôme) tức Trung học Đệ nhất cấp!

Tới năm 1964, trường Phan Thanh Giản lại được tách ra để thành lập Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm.  (Em yêu của tui đã từng đi học ở đó!)

Sau 75, Trung học Phan Thanh Giản bị thay bằng Châu Văn Liêm.

Mà không phải chỉ cái trường học bị đổi tên đâu mà những con đường chu vi trường cũng chịu cùng chung số phận.

Cổng trường nằm trên đường Phan Thanh Giản bị đổi thành đường Xô Viết Nghệ Tỉnh. Đường Pasteur, giữa trường Phan Thanh Giản và trường Đoàn Thị Điểm, bị đổi tên là Võ Thị Sáu.

Ông Pasteur, dù là Tây; nhưng có công lớn là đã chế ra thuốc chủng ngừa, cứu mạng hàng triệu người, không phân biệt màu da sắc tộc, khỏi bệnh tật!

Công lớn với nhân loại khó có ai sánh bằng vậy mà cũng bị đuổi đi… để thay bằng chị Sáu… ‘mùa lê kim ma’ nở?

Nhưng tui buồn nhứt có lẽ là đường Võ Tánh, dọc bên hông trường, từ đường Phan Thanh Giản tới đường Ngô Quyền; đã đổi thành đường Trương Định.

Không phải tui (dám) ghét bỏ ông Trương Định, một anh hùng kháng Pháp, gì đâu. Mà chẳng qua con đường Võ Tánh, dẫu ngắn, có một khúc tẻo tèo teo thôi; nhưng nó lại mang quá nhiều kỷ niệm…

Phía sau lưng đường Võ Tánh nầy là xóm Cả Đài (theo tên Hương cả Phạm Thành Đài), bắt đầu từ cái chợ nhỏ cũng gọi là chợ Cả Đài kéo dài dài đến chùa Cây Bàng; nơi tui từng ở trọ gần trường để tiện đường… đi gõ đầu trẻ hồi năm nẳm.

Tui nhớ quán Ngọc Lan, chuyên bán cơm tháng cho quân nhân và công chức. Năm 1973, nếu mua vé cả tháng, sáng ăn đưa một vé, chiều ăn đưa một vé!

Bữa nào hỏng ăn, lại đi ăn cháo, gỏi đầu cá lóc (bự ế kinh), ngon hết biết, với em yêu ở đường Nguyễn Trường Tộ thì khỏi đưa vé…

Ăn hết xấp vé đó mua xấp vé khác, tốn 4 ngàn đồng bạc, dằn túi; không sợ đói bất tử vì đôi khi hứng xài ẩu… (Hồi thanh niên, đứa nào hỏng vậy cà?)

Từ quán cơm Ngọc Lan, có ông chủ lúc nào cũng mang mặc áo bỏ vô thùng bảnh tỏn, đi vài căn nữa thì tới tiệm chụp hình Phúc Vinh, nơi em yêu làm duyên, chụp tấm hình cho anh lộng bóp; để lúc nào cũng phải nhớ tới em!

Và nếu vắng em, có con ‘quỷ hó’ nào dám lục bóp anh, thì nó thấy tấm hình bà La Sát nầy là nó sẽ bỏ chạy sút dép luôn!

Sau 75, người ta đói xanh râu, đói đến lòi hai cái lỗ tai; nên tiệm Phúc Vinh không còn chụp hình nghệ thuật nữa mà quay sang bán cháo, gỏi gà… để kiếm cơm!

Tui đã từng theo Giáo M. nhà ở hẻm 5, đường Phan Thanh Giản tới đây nhậu.

(Giáo M. có người em gái trắng như bông bưởi! Tắm xong, em hay ra hàng hiên ngồi hong tóc; mà tui tình cờ trông thấy… phải há hốc cái mồm!)

Thưa bà con! Dù Cần Thơ không phải là nơi chôn nhau cắt rún của tui nhưng là quê hương yêu dấu ngậm ngùi của em yêu.

Cần Thơ là quê vợ, là người tui rất sợ; nên tui còn yêu Cần Thơ hơn cả quê tui nữa đó!

Vì nơi đó có em… và còn có mấy em khác (tui thầm thương trộm nhớ) nhưng vì đã có vợ rồi nên tui đành phải giữ mối tình câm…Nên riết rồi… tui bị ‘hâm hâm!”

Tui xa Cần Thơ… Đi và đi luôn tới mấy chục năm!

Người xưa bên ấy, mới đây, gởi cho tui câu ca dao nầy, tui lén vợ, tui học thuộc lòng, kẻo quên:

“Con chim buồn, chim bay về cội/ Con cá buồn, cá lội trong sông/ Em buồn em đứng em trông/ Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!”

Thôi xin tạ lỗi cùng em hẻm 5, đường Phan Thanh Giản!

Thân anh giờ như: “Chim vào lồng; như cá cắn câu! Cá cắn câu biết đâu mà gở; chim vào lồng biết thuở nào ra!”

Thôi đành: “Hẹn nhau kiếp sau ta tìm thấy nhau!”

 đoàn xuân thu _ Melbourne

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 16 Nov 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Kỳ trước: Những cuộc tấn công bằng chiến thuật tiền pháo hậu xung đã diễn ra khốc liệt vào căn cứ Pleime, một áp lực mà Tư lịnh Vùng hứa là chỉ cần giữ được 3 ngày thôi coi như cấp chỉ huy mặt trận là Thiếu tá Vương Mộng Long đã hoàn tất nhiệm vụ và có quyền rút bỏ vị trí.

Kỳ 4

Cái thời vàng son, khi Ðồng Minh còn hiện diện, xăng nhớt như nước, bom đạn như mưa đã qua rồi!

Cái thời nằm xoài trên bãi, miệng rít xì gà chờ B 52 trải thảm rồi bay vào vùng lượm súng đã qua rồi! Bây giờ là lúc đánh nhau với cung cách “thắt lưng buộc bụng”

Bây giờ cũng là lúc, muốn sinh tồn, người cầm quân phải vận dụng đầu óc nhiều hơn, dùng mưu trí nhiều hơn. Chỉ ơ hờ một chút là mất mạng, hay biến thành tù binh.

Nhận lệnh xong, rời quân đoàn, tôi phải bay thẳng một lèo về Pleime, không được ghé bất cứ nơi nào.

Ngày 23 tháng 7 tôi chuẩn bị 6 toán, mỗi toán 3 người, dưới quyền Thượng sĩ Năng đào hai đường hào dùng để rút quân. Một đường xuất phát từ kho đạn pháo binh, đường thứ nhì bắt đầu từ bể nước dự trữ. Hai đường hào này gặp nhau nơi cổng Nam. Trường hợp bị tràn ngập chúng tôi có thể vừa đánh vừa lui theo hai đoạn đường giao thông hào này.

Ngày 24 tháng 7 tôi dẫn theo Thiếu úy Trần Văn Phước cùng một toán viễn thám leo lên đỉnh Chư Gô để cất giấu hai chục khẩu phần lương khô, hai thùng nước uống và một máy truyền tin PRC 25 với 4 cục điện trì, dự trù nếu phải di tản còn có một điểm tiếp liệu.

Trưa hôm đó Hạ sĩ Nguyễn Ba và Binh nhì Lê Văn Bích đang nóng lòng trông đợi tôi về ăn cơm. Thấy tôi bước vào cổng trại, đầu tóc, mặt mũi đẫm mồ hôi, chú Ba vội chạy tới vừa giơ tay gỡ cái dây ba chạc khỏi vai tôi, vừa nói,

– Ông thầy đi đâu mà không cho tụi tôi biết, tụi tôi lo quá!

Binh nhì Bích cũng đon đả,

-Thiếu tá ăn cơm nhé?

Hạ sĩ Ba vừa châm cho tôi một điếu Lucky vừa bùi ngùi,

– Sáng mai em phải vào vùng thay cho toán của thằng Yang rồi, không biết em có còn sống để về gặp ông thầy hay không?

Kể từ cuối năm 1972, dưới quyền tôi, chú Ba đã là lính nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) của Phòng 2. Tới khi tôi vào Pleime thì chú Ba tình nguyện đem toán đi theo tôi.  

Trong lúc tôi ngồi ăn cơm, chú Ba và chú Bích cứ lăng xăng xung quanh, chờ tôi sai vặt. Nhìn bộ dạng của hai thằng em, tôi nghiệm ra rằng nhất cử, nhất động của mình đều có ảnh hưởng tâm lý tới mọi người dưới quyền. Bao lâu nay, tôi đã là niềm tin, là chỗ dựa của họ. Tôi chỉ đi vắng có vài giờ mà thuộc cấp đã lo lắng như vậy, nếu như tôi không có mặt, chắc họ sẽ còn lo lắng gấp nhiều lần hơn.

o O o

Pleime bão lửa ngợp trời…

Ngày 25 tháng 7 chúng tôi được lệnh chuẩn bị mở đường Tỉnh lộ 6C để nhận tiếp tế thường kỳ.

Trong đêm 26 tháng 7 tôi cho hai Ðại đội 2/82 và 3/82 di chuyển tới vị trí tập kết, thiết lập vị trí phòng ngự để đối phó với một trận bôn tập có thể xảy ra.

Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt là cánh quân xa nhứt, chỉ cách ranh giới của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân chừng hơn một cây số. Kế đó là Ðại đội 2/82 của Trung úy Nguyễn Hữu Anh chốt chặn cách Pleime 4 cây số về hướng chính Bắc.

Ðại đội 4/82 giữ nhiệm vụ nghênh cản vùng Tây Bắc nên hiện thời trong đồn còn lại Ðại đội chỉ huy cùng với Ðại đội 1/82 trừ (-) vì thiếu hai trung đội đóng tiền đồn cố định trên Chư Hô và trên cao điểm 509.

Sáng 27 tháng 7 năm 1974, Căn cứ Pleime hoàn toàn yên tĩnh, nhưng toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba và Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy đều báo cơ giới địch bắt đầu chuyển quân bằng xe từ Chư Prong nhắm về hướng Ðông.

Ðại đội nghênh cản 4/82 của Thiếu úy Thủy không dám ra mặt đương cự với đoàn xe chở quân của địch chỉ vì hỏa lực rất mạnh của bốn khẩu 12.7 ly đặt trên hai chiếc xe be đi đầu khạc đạn như mưa trên từng thước đất dọc đường đi.

Ðịch đã dùng hỏa lực, thay vì nhân lực để mở đường. Ðại đội 4/82 chỉ còn nước nằm bẹp sát đất tránh đạn, rồi rút xuống suối ẩn núp chờ địch đi qua.

Tới khi thấy bộ binh địch từng đoàn chạy bộ theo con đường xe be tiến lên thì Ðại đội 4/82 đồng loạt nổ súng.

Quân của Ðại đội 4/82 đã chặn đánh địch trên hai vị trí định sẵn trong khoảng thời gian chừng một giờ thì phải rút, vì sợ viện binh địch bao vây, sẽ mất đường về.

Còn toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba sau khi bắn cháy được một xe chở đạn của địch thì bị lộ, bèn cắm đầu chạy. Tối hôm đó toán này mới về tới cổng Nam của trại.

Ðúng 9 giờ sáng ngày 27 tháng 7 địch mở màn một cơn mưa pháo dọc hai bên Tỉnh lộ 6C từ chân núi lửa Chư Mréa tới cổng trại Pleime.

Pháo binh Việt-Cộng bắn như trống chầu. Ước tính trong thời gian chừng nửa giờ đồng hồ, địch đã bắn phủ vùng 10 cây số của tỉnh lộ với hàng ngàn viên đạn đủ loại gồm đại bác 130 ly, đại bác 105 ly, đại bác 122 nòng dài, cối 120 ly, cối 82 ly.

Tỉnh lộ 6C chỉ còn là một con rồng bụi đỏ khổng lồ uốn khúc, vừa dài, vừa cao ngút tới mây.

Sau khi tận dụng pháo binh, bộ binh địch bắt đầu reo hò xung phong chiếm lĩnh mặt Tỉnh lộ 6C vùng hướng Bắc ngã ba làng Plei Xome.

Ðiều đáng ngạc nhiên là trận đánh đã diễn ra trước khi đoàn quân xa tiếp tế cho Pleime và Căn cứ 711 vào vùng.

Trên hệ thống vô tuyến của liên đoàn, tôi nghe Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân báo cáo rằng hai đại đội dưới quyền ông đang bị một lực lượng rất đông của Việt-Cộng chặn đánh. Cánh quân cực Nam của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị mất liên lạc, đại đội đi tiên phong này do Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy. Quân của ông Ngọc nằm cách tiền quân của tiểu đoàn tôi chừng hơn một cây số.

Pleime ngày 27 tháng 7 năm 1974.

Hai đại đội của Tiểu Ðoàn 82 đều thủ trong bìa rừng hướng Ðông của tỉnh lộ, dưới hố cá nhân và giao thông hào, nên không bị pháo binh địch gây tổn hại.

Ði mở đường, tôi không cho quân trải dài theo lộ như nhiều đơn vị khác.

Vì với nhiều năm kinh nghiệm, tôi thấy quân đội ta khi giữ đường, thường có thói quen cứ cách nhau vài chục thước lại cho một anh lính đứng gác; người đi trên xe nhìn thấy lính gác đường thì cảm thấy yên tâm. Nhưng chỉ cần một trung đội Việt-Cộng tập trung hỏa lực, vừa bắn vừa tiến, những người lính đứng đơn độc sẽ bị tiêu diệt ngay.

Cứ như thế, một đại đội Việt-Cộng có thể đánh tan một tiểu đoàn khai lộ của ta không khó khăn.

Khi hành quân khai lộ, tôi chỉ bố quân một bên đường, phía đường bên kia được hai khinh binh đi rà soát liên tục. Một người đi trong rừng, một người đi ngoài trống, nếu phát hiện địch thì hai khinh binh này nổ súng báo động rồi thoát chạy ngay.

Sáng nay pháo binh địch bất ngờ tới tấp nổ trùm mặt lộ, khiến cho bốn anh lính rà đường của hai Ðại đội 2/82 và 3/82 phải chạy bán sống, bán chết về trại.

Giờ phút đó, trên đỉnh đồi 407, cách Pleime 4 cây số, tôi đang ngồi với Trung úy Nguyễn Hữu Anh đại đội trưởng 2/82.

Vừa nghe tiếng “Ùm!” từ đằng xa, tôi vội đứng dậy, gọi cho Trung úy Chủ báo cho quân trú phòng trong trại đóng chặt cổng rào.

Trong lúc lộn xộn, chân tôi đạp nhằm cẳng một anh lính truyền tin của Ðại đội 2/82, anh này vừa xoa chân vừa chu chéo, “Ui cha ui! Thiếu tá đạp gãy chân em rồi!”

Nhìn bộ dạng anh lính, tôi phải phì cười,

– Không xuống hố, cứ nằm đó mà la đi! Việt-Cộng nó pháo đứt đầu bây giờ!

Nghe tôi hù, thằng em sợ quá vội ôm chiếc ba lô có cái máy PRC 25 nhảy xuống hố.

Về phần trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thì trận đánh đã diễn ra hoàn toàn như tôi đã dự đoán. Vì bị Ðại đội 4/82 cầm chân nên cánh quân bộ binh này của Việt-Cộng đã tới mục tiêu rất trễ.

Ðịch đang ngơ ngác trên mặt lộ trống trơn thì quân ta bắt đầu nổ súng. Hầu như toàn bộ đơn vị tiền phong Việt-Cộng hiện diện trên mặt đường đều bị tiêu diệt.

Tuy vậy, trong lúc giao tranh, Ðại đội 3/82 cũng đã có một người chết và ba bị thương. Thấy địch càng lúc càng đông, Thiếu úy Việt đành cho quân bám đất và xin tôi cứu viện.

Cùng lúc đó, từ Căn cứ Hỏa lực 711, Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ra lệnh cho tôi phải bằng mọi giá tiến lên cứu Thiếu tá Ngọc.

Tuy Ðại đội 3/82 đang ở cách Thiếu tá Ngọc một đoạn đường hơn một cây số, nhưng tôi không thể cho lệnh Ðại đội 3/82 bỏ hầm hố để tiếp tay cho quân bạn, vì nếu địch chiếm được khu hầm hào đó thì Ðại đội 3/82 không còn đường lui, mà quân từ hướng Nam tiến lên cũng bị chặn đứng.

Tôi chỉ còn cách ra lệnh cho phần còn lại của Ðại đội 1/82 ra trám chỗ cho Ðại đội 2/82 giữ lưng cho tôi và Ðại đội 2/82 tiến lên.

Như thế là tôi đã đem gần hết quân trú phòng ra trận, trong đồn chỉ còn đại đội chỉ huy công vụ cùng với trung đội pháo binh và hai khẩu đội súng cối 106 ly, 81 ly.

Khi tôi và Ðại đội 2/82 bắt tay được Ðại đội 3/82 cũng là lúc quân tăng viện của địch từ vạt rừng hướng Tây ào ào tiến sang. Chúng dàn thành đội hình hàng ngang, xung phong từng đợt, mỗi đợt cách nhau chừng mười phút.

Bốn tháng trước, tôi đã biết cách đánh này là thói quen của Trung Ðoàn 48/320A.  Chiến binh của E 48/320A có nhiều người thuộc sắc tộc Tày, Nùng rất gan dạ.

Ðơn vị này có sở trường là khi tấn công thì họ cứ miệng thét “Xung phong! Xung Phong!” từng đợt ào lên mục tiêu, bắn giết rồi vượt qua luôn, hết đợt này tới đợt khác, không ngừng lại kiểm soát trận địa hay thu nhặt chiến lợi phẩm.

Kỳ này chúng tôi có lợi thế là ẩn trong rừng hướng Ðông của Tỉnh lộ. Ðịch phải xung phong qua hai vạt rừng đã khai quang và một mặt lộ trống trải rồi mới tới tuyến phòng ngự của Biệt Ðộng Quân. Vì vậy địch tiến lên đợt nào, chết hết đợt ấy.

Cũng may mắn là vào lúc hai khẩu M60 của Ðại Ðội 3/82 vừa bắn hết đạn thì tiếng súng của địch cũng lơi đi. Hình như địch rút về hướng Bắc, khu ranh giới của hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân.

Sau khi Miền Nam thất thủ, tôi đã có dịp gặp mặt người chỉ huy Trung Ðoàn 48/320A này, và biết thêm rằng ông ta cũng là người bị tôi phục kích giết hụt hồi tháng 6 năm 1974 nơi ngã ba làng Plei Xome. Ông ta thổ lộ rằng trận Pleime 1974 đơn vị dưới quyền ông đã bị thiệt hại rất nặng, phải rút về Ia Drang tái bổ sung và trang bị.

Ðịch rút đi, tôi dẫn quân tiến lên còn cách ngã ba làng Plei Xome chưa đầy nửa cây số thì tạm ngừng để hỏi Ðại tá Từ Vấn cánh quân hướng Nam của Tiểu Ðoàn 81 nằm chỗ nào, Ðại tá Vấn trả lời không biết.

Tôi lại vừa đánh vừa tiến. Bên kia ngã ba là vùng trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân.

Lại có tiếng xe chuyển quân của địch từ hướng Tây. Sau đó, quân tăng viện của Việt-Cộng ào ào tiến ra đường theo con lộ mà chúng đã phát quang từ hơn một năm về trước. Ngay lập tức cánh quân này đã bị chúng tôi đánh tan.

Khi tôi tiến tới vị trí cách làng Plei Xome chừng hai trăm mét thì chạm một bức tường hỏa lực phòng không của địch.

Có ít nhất ba khẩu đại liên 12.7 ly bắn liên tục để cản đoàn quân của tôi. Tôi phải cho quân dạt xuống triền Ðông của con lộ để tránh đạn.

Ðại đội 3/82 có thêm bốn người chết và năm, sáu người khác bị thương. Toán viễn thám Mom Sol cận vệ của tôi có một người bị thương, một cái máy PRC 25 bị bắn bể.

Trên tần số liên đoàn, Ðại tá Vấn liên tục gọi Thiếu tá Lân nhưng không có tiếng trả lời. Trong lúc đó trên trời có một trinh sát cơ O2 đang bao vùng.

Tôi nói với Ðại tá Vấn,

– Mụ “Ðầm già” bay trên kia có phải của Hai Lẻ Chín không? Nếu niên trưởng không dùng thì giao nó cho tôi!

– Ừ! Lấy đi!

(Ðầm già = Tên xưa của quan sát cơ. Hai Lẻ Chín = Ðại tá Vấn)

Tôi vào tần số không lục,

– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!

Người trên tàu đáp lại,

– Bắc Ðẩu nghe! Một phi tuần A 37 sẵn sàng! Thái Sơn cần chỗ nào tôi thỏa mãn ngay!

– Okay! Bắc Ðẩu có thấy trên tọa độ ZA… có ba bốn khẩu 12.7 ly không? Tôi ở chỗ khói vàng. Mục tiêu cách tôi 200 mét hướng 4800 ly giác! Yêu cầu cứ đánh giùm tôi từ đó kéo dài về hướng Tây!

– Tôi thấy lâu rồi! Chỉ chờ bộ binh yêu cầu là tụi này ra tay ngay!

Tôi cho lệnh đánh dấu ba trái khói vàng, rồi ngồi chờ.

Chỉ ít phút sau, hai phi xuất A 37 đã theo nhau thét gào, nhào lộn trên ngã ba làng Plei Xome.

Tiếng bom vừa dứt, thì tôi ngỡ tai mình nghe lầm,

– Thái Sơn! Ðây là Hai Lẻ Chín! Tôi ra lệnh cho Thái Sơn! Bất cứ giá nào cũng phải lên cứu cho được thằng Lê Lai!

(Lê Lai là Thiếu tá Lân)

Tôi nói,

– Tôi không biết các cánh quân của thằng chín nút (81) nằm chỗ nào, tôi không thể liên lạc được với họ thì làm sao mà cứu họ?

Nghe tôi nói vậy, thì Ðại tá Vấn lớn tiếng dọa,

– Lệnh là lệnh! Nếu anh không lên, tôi truy tố anh ra tòa!

Tôi nghĩ người chỉ huy trực tiếp của tôi đang bấn loạn tinh thần nên nói năng chẳng còn cân nhắc. Ông Vấn gọi ông Lân như gọi đò cả tiếng đồng hồ rồi mà chẳng có ai đáp máy. Có khi giờ này toàn bộ Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị địch đánh tan rồi.

Tôi trì hoãn,

– Ðể tôi chiếm cái ngã ba rồi tính tiếp.

Lúc đó, trên máy của thằng Y Don Nier, Trung úy Trần Dân Chủ từ trung tâm hành quân của tiểu đoàn báo cáo rằng, pháo địch bắt đầu nổ trên nóc trại Pleime. Ông Chủ cũng cho tôi biết tin Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Thủy đã về tới căn cứ và chỉ có năm quân nhân bị thương nhẹ.

Tôi thấy tình hình sắp nguy khốn, vì nếu địch mở một mũi tiến công mới, nhắm ngay cổng trại thì tôi hết đường về. Tôi sẽ bị lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch. Nếu tôi không về kịp thì chắc chắn sẽ mất đồn.

Tôi cũng chợt nhớ ra, nhiệm vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn giao cho tôi là giữ đồn Pleime, không phải là bỏ đồn đem quân đi cứu người khác. Nếu tôi bị cầm chân ở đây mà để mất đồn thì tôi là người gánh trách nhiệm chứ không phải Ðại tá Vấn.

Tôi nói với Ðại tá Từ Vấn,

– Chúng nó bắt đầu đánh vào Pleime! Báo cho Hai Lẻ Chín biết giờ này tôi rút quân!

Không chờ phản ứng của ông liên đoàn trưởng, tôi ra lệnh cho quân mình dừng lại, bố trí theo bờ suối hướng Ðông của Tỉnh lộ, chuẩn bị đội hình.

Ngay lúc đó có tiếng Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng, Sĩ quan Tùy viên của Ðại tá Tất,

-Trường An ra lệnh cho Thái Sơn quay về giữ đồn!

Thì ra Ðại tá Tất đang bay trên trời. Ông Tất có tần số nội bộ của tôi. Chắc ông Tất đã hay biết toàn bộ diễn tiến xảy ra dưới đất, nên đã trực tiếp can thiệp.

Chạm địch, tôi ít khi cầm máy liên đoàn, tôi thường có mặt trên tần số nội bộ không giây phút nào rời. Vì thế, mỗi khi bay giám sát trận địa, Ðại tá Phạm Duy Tất và Tướng Nguyễn Văn Toàn đều vào tần số này, vừa tiện theo dõi tình hình, vừa dễ ra lệnh trực tiếp cho tôi.

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 9 Nov 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Kỳ 3

Muốn không bị đánh úp thì phải biết động tĩnh của địch. Muốn biết động tĩnh của địch thì phải tận dụng viễn thám và trinh sát. Chuyện này đối với tôi không phải là điều khó giải quyết vì chỉ huy viễn thám và trinh sát vốn là nghề của tôi. Tôi có 6 toán viễn thám rất tinh nhuệ, trong đó 2 toán là do tôi đem theo từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ngày tôi đáo nhậm đơn vị này.

Vấn đề kế tiếp là: làm sao trì hoãn chiến?

Muốn trì hoãn chiến cần thực hiện hai điều:

Một là, nếu ở trong đồn thì phải phòng thủ thật chắc. 

Hai là, nếu phải đánh nhau dã ngoại thì phải cố sức bám địch, cầm chân địch bằng mọi giá.

Trong đồn thì tôi không lo, vì với mạng lưới kẽm gai chằng chịt và hệ thống giao thông hào đặc biệt mà tôi mới thiết trí có thể giúp cho người lính vững tâm hơn khi chiến đấu.

Nhưng nếu phải đánh nhau dã ngoại thì điều quan trọng nhất lại là tình hình địch.

Phải biết địch cỡ nào thì ta đánh, địch cỡ nào thì ta phải tránh.

Cho dù thời tiết đã sang mùa mưa, mưa tầm tã hết ngày này qua ngày khác, sáu toán viễn thám vẫn phải liên tục thay nhau xâm nhập vào Ia Drang để canh chừng mọi chỉ dấu mới của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.

Làm trái độn cho viễn thám là một lực lượng tiếp cứu nằm cách Pleime 6 cây số về hướng Tây Bắc. Nơi đây là vị trí trú quân của một đại đội ưu tiên nghênh cản. Nhiệm vụ của đại đội nghênh cản là cố gắng đánh cầm chân quân địch nếu trận chiến xảy ra.

Các đại đội trực thuộc tiểu đoàn phải thay phiên nhau giữ vai trò nghênh cản. Ðại đội này sẽ không đem theo nồi niêu, trên lưng mỗi người chỉ có ba ngày cơm vắt cùng hai cấp số đạn. Sau phiên trực kéo dài ba ngày, ba đêm thì có người thay.

Ðầu tháng 7 tôi được bổ sung một sĩ quan tiểu đoàn phó là Ðại úy Nguyễn Hữu Tài khóa 10 Thủ Ðức. Ðại úy Tài là một đệ tử của Ðại tá Tất hồi ông Tất còn ở trong Vùng 4.

Tuần sau, để cho Ðại úy Tài quen với địa thế vùng rừng núi, tôi cho ông ta điều khiển một cuộc đổi quân của hai đại đội nghênh cản.

Theo đúng chương trình thì Ðại úy tiểu đoàn phó sẽ dẫn đơn vị thượng phiên tới vùng 6 cây số Tây Bắc Pleime, kiểm soát hệ thống phòng ngự của đơn vị, chấm các tọa độ pháo binh dự phòng trên các đường nghi ngờ địch sẽ xâm nhập. Ngày hôm sau ông ta sẽ theo đơn vị hạ phiên trở về trại, giao nộp phóng đồ hỏa yểm dự trù cho tôi.

Nhưng vừa ra khỏi cổng, Ðại úy Tài đã cùng vài người lính tùy tùng, leo lên tiền đồn Bắc nằm chờ hai đơn vị dưới quyền tự làm công tác hoán chuyển nhiệm vụ. Hôm sau đại đội hạ phiên về tới căn cứ cả giờ rồi, thầy trò Ðại úy tiểu đoàn phó mới lò dò xuống đồi.

Tôi đã nghiêm khắc nhắc nhở Ðại úy Tài rằng, từ nay về sau không được làm việc tắc trách như vậy nữa. Ông Tài đã tỏ ra hối lỗi, và hứa sẽ không tái phạm.

Nào ngờ, vài hôm sau, tôi lệnh cho Ðại úy Tài cùng Ðại đội 1/82 đi thám sát vùng 5 cây số Tây Nam Pleime thì ông ta lại phạm lỗi lần nữa.

Chiều ngày ra quân, Ðại úy Tài báo cáo với tôi rằng đơn vị của ông ta đã lục soát xong khu vực trách nhiệm.

Tới đêm, Thiếu úy Lê Ðình Khay, đại đội trưởng 1/82 lại cho tôi biết anh ta cùng với hai trung đội sẽ ngủ qua đêm trên mục tiêu, còn ông Ðại úy tiểu đoàn phó thì vừa ra khỏi trại đã cùng một trung đội chui vào đóng quân trong khu rừng thưa cuối phi đạo Pleime!

Từ đó, tôi không dám cho ông Tài chỉ huy các cánh quân hoạt động dã ngoại nữa.

Vì biết rõ khả năng và tính nết của người phụ tá của mình rồi, nên tôi chỉ giao cho ông Tài những công việc lặt vặt như mai táng, tải thương và rào giậu.

Tôi phải đích thân điều hành những công việc liên quan tới tác chiến, phòng thủ và yểm trợ.

Tôi có một Chuẩn úy pháo binh tiền sát viên rất trẻ, chú này tên là Khánh. Hình như chú Khánh là dân Chợ Lớn, danh hiệu của chú ấy là Sầm Mi. Có lần tôi thắc mắc với Khánh,

– Có phải Sầm Mi là cô sẩm mà chú đang thương yêu chăng? (xẩm=sẩm= cô gái Trung Hoa)

Trả lời câu hỏi của tôi, chú Khánh chỉ đỏ mặt nhoẻn miệng cười.

Giữa sân bộ chỉ huy có cái chòi cao bằng tre, với mái rơm. Hàng ngày Sầm Mi ngồi thu mình trên chòi từ mờ sáng tới chiều tối. Bất cứ tiếng “depart” pháo cối nào của địch vừa dội tới, trung tâm hành quân của tôi đã có ngay hai yếu tố được Sầm Mi báo cáo thật gọn gàng:

“Hướng X ly giác, tầm xa Y mét…”

Cho đến một hôm, địch bắn tới tấp hàng trăm trái, với đủ loại đạn và từ chục hướng khác nhau, Sầm Mi phải tụt xuống đất chui vào hầm hàm ếch dưới giao thông hào.

Từ ngày đó, tôi cho Sầm Mi cùng với người lính nấu cơm của chú ấy vào làm việc với Ban 3 tiểu đoàn nơi hầm trú của trung tâm hành quân.

Yểm trợ gần cho Pleime hoàn toàn phụ thuộc vào hai khẩu 105 ly cơ hữu.

Yểm trợ xa chỉ có hai trung đội 155 ly đặt ngoài Chi khu Phú Nhơn và Căn cứ 711.

Bốn khẩu pháo binh này bắn mút tầm cũng còn cách Trại Pleime gần 5 cây số.

Khi pháo binh bắn mút tầm thì rất dễ gây ra tai nạn tản đạn. Do đó, tôi lưu ý Chuẩn úy Khánh và Trung úy Chủ mỗi khi chạm trận cần đánh những mục tiêu hướng Ðông và Tây, ta phải gọi Căn cứ 711, nếu cần đánh những mục tiêu hướng Bắc và Nam, thì phải nhờ Chi khu Phú Nhơn.

Cứ theo đó, trên tường của trung tâm hành quân đã có một bảng ghi đầy đủ tên từng hỏa tập, kèm với danh hiệu truyền tin của đơn vị yểm trợ.

Từ giữa tháng Bảy, hầu như ngày nào địch cũng bắn vào trại Pleime từ 10 tới 15 viên trái phá mỗi loại. Có lẽ chúng đang điều chỉnh để lấy yếu tố tác xạ tiên liệu, khi cần sẽ bắn tập trung. Như thế là hai bên đều trong thời kỳ chuẩn bị, kỳ này “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!” 

Trong số gần hai chục quả 130 ly đại bác nòng dài của Việt-Cộng nhắm vào Pleime thì chỉ có một viên rơi trong rào, số còn lại đều bay qua đầu, xuống suối.

Trái 130 ly nổ chậm (delay) rơi sát vị trí hai khẩu 105 ly, đào một hố sâu cỡ đầu người với đường kính chừng sáu thước. Chỉ cần hai viên 130 ly rơi đúng mục tiêu thì toàn bộ trung đội pháo binh biên phòng này sẽ bị tiêu diệt!

Từ khi lập trại, vị trí hai khẩu 105 ly chỉ trực xạ cận phòng được nửa vòng tròn từ Ðông, tới Nam qua Tây. Còn các hướng Bắc, Ðông Bắc, Tây Bắc đều nằm trong tử giác, không trực xạ được.

Trường hợp bị địch tấn công từ hướng chính Bắc, Ðông Bắc, và Tây Bắc thì hướng bắn của hai khẩu súng này bị nhà cửa, pháo đài và thành lũy che khuất, đành thúc thủ.

Rút kinh nghiệm mà tôi đã tận mắt chứng kiến ngày Căn cứ Biên phòng Lệ Minh bị tràn ngập. Hôm đó tôi bay trên trời, tôi thấy cái cổng trại mở toang, pháo địch nổ rền, toàn doanh trại bao trùm một màn bụi khói.

Khói súng chưa tan, Cộng Quân đã ào ào chạy vào cổng, chia nhau chiếm giữ các lô cốt, theo sau là lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam xanh, đỏ, sao vàng.

Từ trên trực thăng nhìn xuống, thấy cảnh xảy ra cứ như đang xem phim!

Tôi nghĩ, nếu tấn công Pleime, chắc Việt Cộng cũng áp dụng chiến thuật tiền pháo, hậu xung như thế.

Muốn chống lại chiến thuật này việc ưu tiên phải làm là đóng chặt cổng ngoài, rồi cố gắng cầm chân địch từ xa bằng những hàng rào kẽm gai concertina cách nhau vài chục thước. Sau đó dùng hỏa lực đốn ngã toán quân xung phong đầu tiên của địch. Vũ khí chống biển người hữu hiệu nhứt là những viên đạn pháo binh bắn tên sắt. Tôi ra lệnh cho Trung úy Như tách ra một khẩu 105 ly đem lên cổng Bắc.

Chuyện tách rời 2 khẩu 105 ly là điều hoàn toàn sái nguyên tắc; nhưng trong tình huống này thì sự tồn vong của Pleime là ưu tiên hàng đầu, Trung úy Như đã vui vẻ thi hành lệnh mà không tỏ vẻ muộn phiền gì.

Trong ụ súng cổng Bắc, tôi chuẩn bị gần hai chục đạn Beehive chống biển người, mỗi viên Beehive khi ra khỏi nòng súng sẽ phóng đi 8000 mũi tên sắt. Chỉ cần 2 trái Beehive bắn đúng lúc địch xung phong, chúng sẽ chết như rạ!

Ngày phát lương tháng Bảy, trời nắng ráo, Trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn phó theo trực thăng chở phát hướng viên xuống thăm Pleime.

Anh Thanh báo cho tôi biết, từ hôm đó, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân được quân đoàn chỉ định thay thế Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn để chỉ huy Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân ít ra cũng trong thời gian của chiến dịch này, vì so với ông Mẫn thì ông Lân thông thuộc địa thế Pleime hơn ông Mẫn.

Anh Thanh không quên mang tặng tôi một két bia cổ cao. Rồi năm anh em, Hoàng Kim Thanh, Vương Mộng Long, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Công Minh, và Trần Văn Phước quây quần quanh chiếc bàn tròn.

Kịp khi năm chai bia mới mở nắp, ba con khô mực nướng vừa xong thì bất ngờ:

“Oành! Oành! Oành!” ba viên không giựt 57 ly theo nhau xé gió bay tới, nổ tung giữa sân cờ!

Tôi quơ vội chiếc PRC 25 nhảy xuống giao thông hào.

Tay bóp ống liên hợp, tôi la lớn,

– 821! Ra chận đường lấy cho được khẩu 57 ly!

Thay vì ra lệnh cho pháo binh phản pháo, tôi lại gọi toán viễn thám 821 của Hạ sĩ Mom Sol.

Toán của Mom Sol đã ra đi từ mờ sáng, ém trong rừng, cách Pleime hơn ba cây số.

Mom Sol sẽ kéo ra con đường mòn chặn đánh khi địch rút lui.

Chưa tới mười phút sau, có ba tràng M16 bắn ngược chiều, rồi tiếng Mom Sol reo vui,

-Trình Thái Sơn! Em lấy được khẩu 57 ly rồi!

Tôi đã đoán chắc thế nào địch cũng xâm nhập bằng đường rừng, pháo tới tấp hết số đạn mang theo, rồi chạy thục mạng theo con đường mòn dẫn về Tây. Quân ta cứ chặn đường chúng rút là có ăn ngay.

Trong quá khứ, đã có hai lần địch áp dụng ngón đòn đánh trộm rồi chạy.

Phối trí lực lượng Ta và Địch tháng 7 năm 1974

Với một khẩu đội chừng ba hay bốn tên, vác theo cái nòng 57 ly cùng vài viên đạn, chúng xâm nhập bằng đường rừng. Khi tới vạt đất trống, cách hàng rào trại vài trăm mét thì chúng chui ra, vội vàng nạp đạn, bóp cò. Chưa đầy vài phút, sau khi hết đạn, chúng liền phóng ra con đường xe be cũ chạy một mạch về hướng Tây.

Tới khi người trong đồn phát giác ra vị trí đặt súng, lấy xong yếu tố tác xạ để phản pháo thì chúng đã cách xa Pleime cả cây số rồi!

Ði đêm lâu ngày thế nào cũng gặp ma! Bọn bắn trộm ăn quen, rồi cũng có ngày chết mất mạng, mất súng.

Hôm ấy đúng như tôi dự liệu, tính từ lúc trái đạn đầu tiên phát nổ, chưa tới hai mươi phút sau Hạ sĩ Mom Sol đã bước vào cổng Nam Pleime với khẩu 57 ly chiến lợi phẩm trên vai.

Ba chai bia cổ cao được trao tận tay ba anh viễn thám, còn khẩu 57 ly được bay theo Trung tá Hoàng Kim Thanh về Pleiku.

Ngày 22 tháng 7 có chiếc trực thăng bay vào Pleime bốc tôi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh Quân Khu 2 để nhận một chỉ thị đặc biệt.

Tôi được Quân Cảnh đưa lên lầu thì đã có ba vị chỉ huy chờ sẵn, đó là Trung tướng Toàn, Chuẩn tướng Niệm và Trung tá Tiếu.

Cuộc gặp mặt chỉ kéo dài chừng mười phút.

Tướng Toàn xua tay cho tôi miễn trình diện, rồi chỉ cho tôi ngồi xuống cái ghế dựa đặt trước mặt ông, hai bên tôi là Tướng Niệm và Trung tá Tiếu.

Ông Tướng vào đề ngay,

– Chắc chắn vài ngày nữa tụi nó sẽ đánh lấy cho được Pleime.Ta ra giá cho mi cố giữ đồn được ba ngày là ta cho mi lên trung tá. Sau đó cứ làm theo kế hoạch mà ông Tiếu sẽ bàn với mi. Nghe rõ chưa?

Tôi băn khoăn chưa biết kế hoạch của thượng cấp đề ra như thế nào thì Tư Lệnh đã tiếp,

– Chuyện này đứa khác làm không được, nhưng ta tin chắc mi sẽ làm được! Thôi mi nói chuyện với ông Tiếu, ta mắc bận phải đi!

Dứt lời, Tướng Toàn khoát tay ra dấu cho Tướng Niệm, hai người sánh vai đứng lên.

Tới cửa, tôi thấy Tướng Niệm quay đầu lại, chỉ tay về hướng tôi, rồi nói nhỏ với Tướng Toàn,

–Từ ngày đi lính tới giờ, tôi thấy đây là sĩ quan mà tôi cho là ưu tú nhất. Hy vọng ngày nào đó tôi sẽ có người sĩ quan này!

Ông Toàn quay mặt lại, hơi lớn tiếng, chắc là cố ý cho tôi nghe,

– Ðù mạ! Phải cố gắng lên chứ! Quân đội gì mà cứ đánh là thua, cứ đánh là chạy, làm sao mà ăn nói với Mỹ, mà chìa tay ra xin người ta chi viện trợ cho được? 

Trong phòng còn lại tôi và Trung tá Tiếu. Ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II cho tôi biết chi tiết kế hoạch của Quân Ðoàn là:

Nếu Sư Ðoàn 320 A Cộng-Sản động binh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân phải tận lực giữ đồn không bị tràn ngập trong vòng ba ngày. Sau đó tôi được quyền chui ra khỏi rào, leo lên chỏm núi nào đó, tiếp tục báo cáo với đài tiếp vận Hàm Rồng rằng quân trú phòng đang đánh nhau giành giật với địch quân từng phần đất của Pleime. Cứ thế, cho tới một tuần lễ sau thì hô hoán lên rằng Pleime đã mất. Rồi tôi được quyền chọn một trong hai hướng thoát thân, muốn về trình diện Quận Phú Nhơn hay Quận Thuần Mẫn là tùy ý tôi.

Tôi nghĩ rằng, chưa đánh nhau mà Tướng Tư Lệnh Vùng đã hứa chỉ cần tôi giữ Pleime được ba ngày thôi, sau đó thì có quyền bỏ đồn, rút chạy mà không sợ bị mất lon thì chắc chắn trận này sẽ lớn lắm.

Tướng Nguyễn Văn Toàn là một người thô lỗ, cộc cằn, mở miệng ra là văng tục, chửi thề, nhưng cũng rất thẳng thắn. Chuyện gì ông ta cũng nói huỵch toẹt, không che đậy.

Sở dĩ Tướng Toàn đòi hỏi tôi nếu không giữ được Pleime mà vẫn phải “đánh trận giả” chỉ vì sợ quốc tế nhìn vào, thấy Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa yếu đuối quá, không đủ sức cản chân Cộng Quân, cứ đánh nhau là thua, lại thua nhanh quá, không xứng đáng nhận thêm viện trợ nữa.

Như vậy, chiến công của chúng tôi, nếu có được, sẽ trở thành món hàng quý giá của lòng tin, để chính quyền ta trả giá với đồng minh Hoa-Kỳ xin quân viện.

Tôi thấy mình vừa khoác lên vai một trách nhiệm rất nặng nề. Trận này thắng hay bại có ảnh hưởng rất quan trọng tới ngân sách của quốc gia, tức là liên quan tới sự tồn vong của đất nước.

Tôi tự hứa với lòng mình rằng sẽ cố gắng hoàn thành cái sứ mạng cam go này.

Qua những lần tiếp xúc với các giới chức có thẩm quyền mà tôi thấy được, đất nước chúng ta đang bước vào thời kỳ khan hiếm xăng dầu và đạn dược do ngân sách bị cắt giảm. Vì lý do đó, ở cấp tiểu đoàn, xăng nhớt chỉ được cấp phát cho hai xe Jeep và một xe GMC mười bánh. Tôi cũng nghe nói, chỉ một giờ bay của trực thăng đã làm hao tốn tới 200 đô la viện trợ! Mỗi khẩu pháo chỉ được quyền bắn tối đa là 4 viên mỗi ngày. Nếu ở mặt trận này mà pháo binh bắn lố hơn cấp số 4 viên một ngày thì để bù đắp lại, khẩu súng ở mặt trận khác sẽ bị khóa nòng, không sử dụng.

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 2 Nov 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Kỳ 2.

Hơn 3 năm và sau 6 lần thay thế Tiểu đoàn trưởng, đơn vị vẫn chưa thoát khỏi cái cốt của một đơn vị Dân sự Chiến Đấu. Chính vị Tiểu Đoàn Trưởng Vương Mộng Long đã thay da đổi thịt nó trở thành một Tiểu đoàn lừng lẫy nhất của QLVNCH.

Chính vì có những buổi thực tập dã ngoại thường xuyên này mà những đơn vị dưới quyền tôi hiếm có cảnh “nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, siết ngón tay trỏ, đạn vút lên mây” khi trực diện với địch quân.

Người ta nói “văn ôn võ luyện” cũng đúng!

Công tác chấn chỉnh và cải tổ đơn vị của tôi chưa hoàn tất thì Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã ra tay trước.

Giữa tháng Tư năm 1974, một trận đánh đẫm máu và ác liệt đã xảy ra ở Căn cứ Hỏa Lực 711 khiến đài BBC mô tả trong một bài tường thuật: “Ðây là trận đánh mà tổn thất của đôi bên được coi là cao nhất kể từ sau Hiệp Ðịnh Paris”

Thế rồi chiến tranh tiếp tục leo thang, Hiệp định Paris không còn hiệu lực, Việt Cộng công khai tấn công lấn chiếm, mở rộng vùng kiểm soát. Tháng 5 năm 1974 chúng ngang nhiên đánh chiếm Dak Pek và Mang Buk giữa ban ngày, mặc dù hai địa danh này hiện diện rành rành trên bản đồ đình chiến là của Việt-Nam Cộng-Hòa, vậy mà Ủy-Hội Quốc-Tế cũng chỉ trơ mắt ngó mà thôi. Hiển nhiên mục tiêu sắp tới của Cộng Quân chắc chắn sẽ là Pleime!

o O o

Từ ngày tiếp nhận Căn cứ Pleime, tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để tổ chức nội vi căn cứ này thành một cứ điểm phòng thủ vững chắc.

Trên mặt đất của trại Pleime đúng là một “Trận Ðồ” chằng chịt hàng rào kẽm gai và giao thông hào. Hai cái cổng Bắc và Nam lại là nơi rào kỹ nhất. Từ dốc vườn rau, vào tới trung tâm hành quân xa không tới hai trăm thước, vậy mà muốn đi qua đoạn đường này cũng mất cả chục phút loanh quanh trong hàng rào gai dích dắc.

Trại Pleime có 6 cạnh, 6 góc, mỗi góc có một pháo đài kiên cố xây bằng xi măng cốt sắt. Tôi đặt tên cho các pháo đài theo thứ tự 1 tới 6, theo chiều quay của kim đồng hồ. Hướng Ðông là các pháo đài 1, 2, 3, hướng Tây là các pháo đài 4, 5, 6.

Sau khi tôi dựng thêm hai lô cốt phụ nơi cổng Bắc và cổng Nam thì vòng đai trong của trại này có 8 pháo đài kiên cố.

Bình thường các quân nhân trong đồn chỉ cần nói họ đang ở gần pháo đài số mấy, người nghe sẽ biết vị trí hiện tại của anh ta ngay.

Các đại đội cũng được phân chia khu vực trách nhiệm cố định, họ sẽ quen với cảnh vật hàng ngày trước mắt họ, nếu có gì khác lạ, họ sẽ nhận ra ngay.

Tôi tiên đoán mặt Tây sẽ là hướng tấn công chính của địch, do đó tôi cho dựng một cái hầm chỉ huy ngay giữa sân cờ. Từ đây, tôi có thể theo giao thông hào mà di chuyển tới các Pháo đài 1 (Ðông Bắc), Pháo đài 6 (Tây Bắc), Pháo đài 5 (Tây), và Pháo đài 4 (Tây Nam). Ông tiểu đoàn phó giữ Pháo đài số 2, còn Pháo đài số 3 nằm ngay sát trung đội pháo binh nên Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng pháo binh biên phòng, sẽ kiêm nhiệm chỉ huy cứ điểm này. Trong hầm chỉ huy dã chiến có ban Truyền Tin của Trung úy Nguyễn Công Minh và Binh nhì Y Don Nier, người mang máy nội bộ của tiểu đoàn trưởng.

Tôi và Thiếu úy Trần Văn Phước, sĩ quan Ban 2 ở chung một hầm, cách hầm chỉ huy vài mét về hướng hàng rào.

Vây quanh căn hầm của tôi là ba cụm tam tam của ba toán viễn thám, mỗi toán trang bị hai thùng lựu đạn M26 và một đại liên M60.

Những ngày tình hình căng thẳng nhứt thì mặt đất chứa đầy mìn Claymore phòng khi bị địch tràn ngập.

Suốt thời gian xảy ra chiến dịch Pleime 1974, tôi đã phải đích thân chỉ huy, điều khiển các điểm tác chiến, từng lô cốt, từng pháo đài, từng khẩu đội, vì nếu xảy ra một hoạt động không ăn khớp có thể sẽ đưa tới thảm họa.

Chỉ cần mở được một cửa khẩu, Ðặc-Công Việt-Cộng có thể đánh thẳng vào trung thâm. Nếu Việt-Cộng vào được trung thâm, triển khai được giai đoạn “Hoa nở trong lòng địch” là ta mất đồn! (Trung thâm: Danh từ của Ðặc-Công Việt-Cộng dùng để chỉ nơi đặt chỉ huy sở hay vị trí đầu não của ta)- (Hoa nở trong lòng địch: Từ trong đánh ra theo nhiều hướng. Ðây là giai đoạn cuối cùng trong một trận đánh Ðặc-Công của Việt-Cộng)

Tôi làm việc bằng điện thoại, khẩu lệnh, thủ lệnh và máy truyền tin nội bộ. Vì thế mà nhiều khi, liên đoàn muốn ra lệnh cho tôi, họ phải gọi qua trung tâm hành quân của trại, từ đây sĩ quan Ban 3 của tôi sẽ chuyển lại cho tôi.

Trung tâm hành quân tiểu đoàn vì có cái anten cao do Mỹ để lại nên trở thành nơi độc nhứt có thể liên lạc vô tuyến với Căn cứ 711 và đài tiếp vận Hàm Rồng.

Trung tâm hành quân là một lô cốt kiên cố, xây bằng xi măng, cốt sắt, thêm hai tầng nóc lợp bằng bao cát và vỉ sắt tổ ong chống đạn nổ chậm. Ngồi trong hầm, đôi khi không nghe được tiếng đạn cối nổ ở ngoài sân cờ.

Sát cạnh trung tâm hành quân là một hầm lộ thiên hình tròn xây bằng bao cát, trong vòng tròn là mũi tên lửa chỉ điểm mục tiêu.

Mũi tên lửa này được đốt bằng dầu Diesel thắp sáng suốt đêm, nó có thể quay 360 độ một cách dễ dàng, đầu nhọn của nó luôn luôn quay về hướng địch.

Nếu không có nhu cầu tác xạ, thì trước khi rời vùng, để giải tỏa bom đạn, máy bay Hỏa Long hay Gunship cứ việc phóng hỏa tiễn hay bắn phá cách xa Pleime 3 cây số theo hướng mũi tên.

Tiểu đội Lao Công Chiến Trường đã hoàn thành những công trình này dưới sự chỉ huy của Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng đại đội trưởng đại đội chỉ huy.

Tiểu đoàn 82 có một tiểu đội Lao Công Chiến Trường. Họ là những cựu quân nhân can tội khác nhau nên bị đày ra tiền tuyến làm những công việc hiểm nguy và cực nhọc.

Tôi đặc biệt lưu ý tới những người này, bố trí cho họ vào từng vị trí thích hợp với khả năng của mỗi người. Dưới bàn tay tôi, những tội nhân đó đã trở về với vị trí chuyên môn của họ, họ trở thành xạ thủ đại liên, xạ thủ cối 81 ly, trinh sát viên, tiểu đội trưởng, toán trưởng toán thám sát, hoặc chuyên viên sửa chữa vũ khí.

Ðể tất cả binh sĩ chú tâm vào công tác tổ chức phòng thủ, tôi ra lệnh cho tất cả thân nhân gia đình binh sĩ phải rời Pleime theo chuyến tiếp tế thường kỳ ngay sau ngày phát lương cuối tháng 6 năm 1974. Ở Pleiku tôi vừa tiếp nhận doanh trại của Ðại đội 2 Quân Y Biệt Ðộng Quân, doanh trại này rất đầy đủ tiện nghi, nên những anh em có gia đình không phải lo lắng chuyện nơi ăn chốn ở của vợ con họ.

Tôi là dân Tình Báo Tác Chiến, nên ngày nào tôi cũng duyệt các bản tin A2 mà Ban Truyền Tin của đơn vị trình lên.

Tôi lấy làm lạ là ngày nào cũng vậy, cứ mình vừa gửi công điện báo cáo vị trí đêm của các cánh quân về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thì chỉ hai giờ sau bản tin A2 đã thông báo rằng Việt-Cộng vừa gửi cho nhau toàn bộ vị trí đóng quân của quân bạn, chính xác tới độ y như nguyên văn!

Tôi nghĩ rằng ở bộ chỉ huy có nội tuyến, hoặc là đặc lệnh truyền tin của bộ chỉ huy đã bị tiết lộ nên mới có tình trạng này.

Ðể phòng thân, tôi nghĩ ra một bản mã riêng, rồi photocopy ra 2 bản, ban truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ một bản, bản kia tôi đem về trao tận tay cho Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2.

Mỗi đêm tiểu đoàn tôi gửi về Pleiku bản tin đóng quân dưới bộ mã mới. Vì thế, từ ấy, chỉ có một mình tiểu đoàn tôi là không bị địch phát giác vị trí đêm và các vị trí dã ngoại.

Gần nửa thế kỷ sau ngày đó, chú Hoạ Mi 82 tức Trung úy Nguyễn Công Minh, trưởng ban truyền tin của đơn vị tôi vẫn chưa quên chuyện cái đặc lệnh truyền tin ngoại lệ này.

Và 40 năm sau chiến tranh, nhân một lần trò chuyện bằng điện thoại, cựu Chuẩn tướng Phạm Duy Tất đã hỏi tôi,

– Ngày đó Long có nghi thằng đại đội trưởng đại đội truyền tin của mình là Việt-Cộng không?

Tôi nói,

– Ðúng là chuyện trời sập! Thuở ấy ai mà dám nghi cho nó! Nó là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt! Nó lại là đồ đệ ruột của Trường An! Trường An tin tưởng nó còn hơn ai hết. Sau này có lệnh của trung ương bắt các sĩ quan không tác chiến phải ra đơn vị hành quân, ít ra là sáu tháng, Trường An đưa nó đi tiểu đoàn nào vậy?

“Trường An” là biệt danh của Ðại tá (sau là Chuẩn tướng) Phạm Duy Tất. Ông Tất cười hì hì,

– Thì anh ta vẫn còn ở bộ chỉ huy chứ có đi đâu đâu! Ngày Pleiku di tản không rõ anh ta núp chỗ nào? Mãi về sau mới nghe đồn rằng anh ta là nội tuyến!

Sơ đồ phòng thủ trại Pleime tháng 7 năm 1974

Tôi chợt nhớ ra, có một hôm anh đại úy này gặp tôi trong sân bộ chỉ huy, anh ta năn nỉ tôi ghi tên cho anh ta giữ chức đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, nhưng chỉ trên giấy tờ thôi, còn bản thân thì anh ta vẫn làm việc ở Pleiku. Chỉ khi nào có thanh tra của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Trung Ương hay Bộ Tổng Tham Mưu thì anh ta sẽ có mặt ở đơn vị.

Tôi không đồng ý giúp anh ta diễn cái trò ma mãnh này nhằm hợp thức hóa tình trạng chỉ huy tác chiến của anh ta; tôi khuyên anh ta hãy đi tìm người khác mà nhờ vả.

Thật là hú hồn! Nếu ngày đó anh ta không đòi hỏi được ở Pleiku mà vui vẻ tình nguyện vào chỉ huy đại đội thì có khi tôi đã mất đồn vào tay anh ta rồi!

Ai mà ngờ? Cả năm trước ngày Pleiku di tản, người cung cấp những đặc lệnh truyền tin và mật mã hàng tháng của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cho địch lại là ông đại úy đại đội trưởng Ðại đội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2!

Vào những năm sau Hòa Ðàm Paris, Việt-Cộng đã đẩy mạnh công tác xâm nhập từ chiến lược tới chiến thuật.

Ở cấp trung ương, đã có những gián điệp cấp cao của địch nằm trong Tổng Thống Phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu.

Vì thế ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 Pleiku có một tên nội tuyến cấp đại úy thì cũng không phải là chuyện lạ.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nằm dưới quyền giám sát hành quân của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Ðoàn 22 đồn trú trong Căn Cứ Bình Tây 3 ở Hàm Rồng. Căn cứ Bình Tây 3 vốn dĩ là Camp Enari cũ, nơi từng là bản doanh của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.

Hầu như cứ cách hai, hoặc ba ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại ghé Pleime thăm đơn vị tôi. Ông tướng này đã chịu khó bỏ ra hàng giờ để tỉ mỉ quan sát công việc thiết trí công sự phòng thủ, và điều quân trinh sát của tôi trong thời gian chuẩn bị cho một trận chiến chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai. Ông lấy làm lạ là tại sao giao thông hào của tôi lại đào sâu gần hai thước, cao quá một đầu, một với của người thường? Tại sao dưới giao thông hào tôi lại cho moi rất nhiều hàm ếch? Tại sao mặt đất lại rào thép gai chằng chịt khiến cho việc di chuyển từ lô cốt này, tới lô cốt kia cứ phải đi dích dắc tới chóng mặt?

Tôi đã phải từ tốn giải thích với ông Tướng rằng:

“Thưa Chuẩn tướng, sở dĩ giao thông hào phải đào sâu là để sự di chuyển được an toàn khi giao tranh. Hào sâu thì người ngồi trong hào khi bị pháo kích nghe tiếng nổ của đạn sẽ thấy nhỏ hơn, sẽ bớt sợ hãi hơn. Hàm ếch giúp cho lính an toàn vì có che chở. Nếu rủi có quả đạn delay (nổ chậm) rơi trúng hầm thì chỉ chết một người, không chết chùm như trường hợp tác chiến lộ thiên. Còn hệ thống kẽm gai chằng chịt là để chống Ðặc Công, lệnh của tôi là ban đêm nếu có tiếng súng nổ thì ai ở yên vị trí đó, người nào đi trên mặt đất sẽ bị bắn chết. Thói thường thì Ðặc Công sau khi xâm nhập sẽ chạy vòng vòng khắp nơi, ném bộc phá vào các lô cốt và nhà cửa. Gặp thứ hàng rào chóng mặt của tôi thì Ðặc Công chỉ có nước khóc ròng, làm sao mà chạy vòng vòng để ném bộc phá được nữa!”

Tướng Tư Lệnh nghe xong thì thấm ý, gật gù. Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được tăng cường thêm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh để đảm trách nhiệm vụ phòng thủ vùng. Tiểu đoàn bộ binh này do Ðại úy Nguyễn Hữu Chấn chỉ huy, Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Võ Bị, là khóa đàn em của tôi.

Tôi và Chấn cùng xuất thân từ Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam. Tôi là một trong những đàn anh Khóa 20 đã huấn luyện chú Chấn, vì thế anh em tôi rất thân thiết, thương yêu nhau.

Tôi giao cho chú Chấn giữ an ninh vùng Bắc Pleime, còn tôi chịu trách nhiệm vùng Tây và Nam của căn cứ này.

Người chỉ huy trực tiếp của tôi và chú Chấn là Ðại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 Bộ Binh, Ðại tá Thông xuất thân từ Khóa 16 Võ Bị.

Mỗi lần vào thăm Pleime bằng đường bộ, niên trưởng Thông đều than phiền,

– Chu choa! Ði qua cái hàng rào “Bát Quái Trận Ðồ” của Long anh cứ chóng mặt muốn té!

Thấy thế tôi không khỏi bật cười,

– Ngày nào tôi cũng đi ra, đi vào cái trận đồ này mà vẫn còn bị chóng mặt, huống hồ gì niên trưởng là người lâu lâu mới tới thăm Pleime một lần.

o O o

Tri kỷ tri bỉ

(biết ta, biết địch)

Thế rồi, vào một ngày cuối tháng 6 năm 1974, toàn bộ Trung Ðoàn 42 Bộ Binh đột nhiên rút khỏi vùng Bắc Pleime, thay thế là Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân và Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân trú đóng tại Căn cứ Hỏa lực 711.

Thời gian này nếu tính cả hai khẩu 155 ly đặt trong chi khu Phú Nhơn, thì khả năng yểm trợ của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân chỉ mạnh bằng một nửa, so với hỏa lực cơ hữu của một trung đoàn bộ binh.

Ðây cũng là thời gian tôi bận rộn suốt ngày. Cả tháng trời tôi không dám bỏ đồn về Pleiku thăm hậu cứ lần nào.

Về phần an ninh khu vực trách nhiệm, lúc nào tôi cũng phải cảnh giác đề phòng một cuộc tấn công với quy mô lớn của đối phương có thể xảy ra bất thình lình.

Ðối diện với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là cả một sư đoàn bộ binh, một sư đoàn vận tải, một trung đoàn pháo, và một tiểu đoàn xe tank của địch.

Lực lượng hùng hậu và đáng sợ này của Cộng Quân ngang nhiên trú đóng trong vùng núi Chư Prong và thung lũng Ia Drang, chỉ cách Pleime hơn mười cây số đường chim bay.

Tôi ước tính, chỉ cần chưa tới hai giờ đồng hồ vận chuyển bộ, Cộng Quân đã có thể cắt đứt Tỉnh lộ 6C và bắt đầu vây hãm Pleime rồi.

Nếu so sánh tương quan lực lượng khi phải giao tranh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ phải đương cự với một địch thủ có quân số đông hơn mình cả chục lần về nhân lực, chưa kể tới cơ giới và pháo binh.

Nhiều đêm, với điếu thuốc Lucky trên môi, một mình ngồi hàng giờ trên nóc lô cốt, tôi tự hỏi:

“Nếu địch tấn công Pleime thì mình sẽ đối phó cách nào đây?”

Sau nhiều đêm vắt óc suy nghĩ và cân nhắc, tôi mới tìm ra giải đáp:

“Muốn sống còn, tôi phải tránh bị đánh úp bất ngờ, phải biết khi nào địch bắt đầu triển khai chiến dịch để xin thượng cấp dự trù quân tăng viện. Phải cố gắng giữ đồn và trì hoãn chiến để chờ viện binh”.

Cháo Chuột

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 22 Aug 2023

Thuở nhỏ tôi sống giữa ranh giới của hai miệt U Minh, đồng ruộng giáp với rừng cây và sông, rạch. Tuy tôi không được chăn trâu như mấy đứa bạn cùng xóm, nhưng thường những buổi trưa nắng gắt, tôi hay nhập bọn với chúng chia phe chọi lộn và đánh nhau la ó vang cả cánhđồng. Tôi rất thích thả diều và làm diều rất ăn gió. Khi lớn lên tôi không còn thích trò chơi trẻ con ấy nữa. Thay vào đó tôi thường ra ruộng đặt lờ, cắm câu hoặc lội sông mò tôm, chận cá hay vô rừng bắt cua, bắt vọp và bẫy chim, bắt chuột… 

Nếu nói tới chuột thì phải nói về miệt U Minh. Nhứt là ra Giêng ruộng đồng khô ráo, bờ ruộng nào cũng có chuột mần hang. Chuột khôn lanh vô cùng, chúng biết sự nguy hiểm đương rình rập chung quanh nhưchồn, cáo, rắn, trăn… và còn có con người nữa. Nhưng thâm độc nhứt vẫn là con người. Cộng đồng nhà chuột làm hang sâu đưới lòng đất, một bọng hang rộng đủ chứa hàng trăm con và hang có rất nhiều ngõ ngách phòng thoát thân khi gặp nguy hiểm. Vậy mà người ta lấp đất chận kín hết các miệng hang ngách, chỉ chừa lại hai miệng hang chính, một miệng chận lưới hoặc gắn nguyên cái lờ đặt cá tổ chảng, còn miệng kia thì dồn rơm, châm lửa rồi quạt cho khói lòn vô hang… Những con chuột bị ngộp khói chạy ra cửa hang duy nhứt, liền bị dính lưới hoặc chui vô lờ, con nào chạy thoát ra ngoài nếu không bị chó chụp thì cũng bị người ta cầm cây đập chết ngay tại chỗ.

Trên đây là một trong những cách bắt chuột đồng. Trước khi nói chuyện bắt chuột rừng thì tôi xin kể một cách ăn chuột rừng cũng khá hấp dẫn. Thời đó U Minh Hạ đất rừng nhiều vô số, người ta muốn khai hoang lấy đất trồng trọt thường dùng cách đốt rừng. Cách nầy rất có lợi, ngoài việc lấy được đất làm ruộng hoặc làm rẫy người ta còn chận bắt sống được rùa và đập được rắn. Trong lúc lửa đương cháy, chuột chạy loạn xạ nhưng không ai để ý bắt làm gì. Chờ lửa tắt hết người ta mới xách giỏ đi vô đám tro tàn tìm rùa, rắn và chuột bị cháy lượm đem về chòi bày ra nhậu với rượu đế tại chỗ.  Rùa và rắn bị thui có trứng ăn mới ngon chớ thịt thì ăn thua xa thịt chuột. Nhứt là khi gạt bỏ hết lớp da chuột bị cháy, xé hai cái đùi phía sau chấm múi tiêu ăn kèm với bần chua và uống rượu đế thì khô lân chả phụng cũng không sánh bằng. 

Bắt chuột rừng không phải rườm rà như bắt chuột đồng, chỉ cần một cái roi vừa tầm và con chó khôn ngoan, trung thành với chủ là được rồi. Vào những ngày mùa mưa, người ta cầm roi, mang bao và dắt theo con chó, đi vô rừng tìm những cây rậm lá, nơi có nhiều chuột núp tránh mưa. Thoạt tiên người chủ leo lên đập roi đuổi dồn chuột ra một nhánh rồi tay nắm cành cây rung và tay kia vung roi đập mạnh vô thân cây. Bọn chuột thấy cành cây rung và nghe tiếng đập xành xạch, chúng hoảng hồn nhảy càn rớt xuống đất, phía dưới chó hườm sẵn chụp cắn chết từng con chuột rồi tha gom lại để chung một chỗ. Vừa rung vừa đập cho tới khi hạ được con chuột cuối cùng người chủ mới ngưng tay rồi leo xuống đất, lượm hết số chuột bỏ vô bao, sau đó chủ và chó đi tìm lựa cây khác có nhiều chuột tiếp tục bắt… Chuột ở rừng ăn trái cây rừng và lá rừng nên thịt ít mỡ, ngoài chế biến những thức ăn bình thường, người ta còn làm chuột muối, chuột khô. Chuột đồng nhờ ăn được lúa nên mập và thịt có nhiều mỡ, cho nên nấu những món ăn liền rất ngon, chớ đem muối và làm khô thì không ngon bằng chuột rừng.

Làm thịt chuột mỗi người mỗi cách, nhưng thông thường có ba cách. Một là nấu nước sôi trụng chuột rồi lột da, moi bỏ ruột chừa lại lá gan, hai là đốt rơm thui chuột xong lột da, moi bỏ ruột lấy gan, ba là không cần trụng nước sôi, cứ cắt đầu chuột rồi lột da, làm ruột sạch. Nhưng tốt nhứt là sau khi bắt chuột về, trước khi đem chế biến món ăn, người ta đem ngâm nước lạnh rồi trụng nước sôi, làm sạch ruột và bỏ vô thau ngâm nước lạnh một lần nữa cho thịt chuột trắng và không có mùi hôi.

Những món nhậu có chuột ướp ngũ vị hương áp chảo hoặc nướng và chuột khìa nước dừa, chuột cà ri… Tuy nhiên ngon nhứt vẫn là món thịt chuột nướng ngũ vị hương, xì dầu và ăn với rau sống, dưa leo, khế, chuối chát, chấm nước tương ớt, tỏi bâm. Còn món ăn cơm thì có chuột kho sả ớt, chuột nấu canh chua, chuột xào lá rau muôi hoặc lá cách. Thịt chuột tuy chưa sánh được với cao lương mỹ vị trong thực đơn các nhà hàng sang trọng, nhưng dân quê sánh ngang với thịt gà qua câu đồng dao:

Thịt gà đương luộc

Thịt chuột đương xào

Thầy đứng ngoài rào

Thầy hô béo béo…

*

Lần về quê vừa rồi tôi có ghé chơi nhà  anh bạn, anh ấy dẫn tôi tới một quán ăn đặc sản của miệt đồng bằng sông Cửu Long. Quán được trang trí với những căn nhà nho nhỏ nép mình bên hàng tre, trúc… Khung cảnh đồng quê mộc mạc tạo cho thực khách có cảm giác rất thoải mái, nhẹ nhàng. Thực đơn toàn các loại chim, chuột, rắn, rùa, trăn…, con nào cũng còn sống. Anh bạn giới thiệu cho tôi món chuột nướng lu và khen món nầy ngon nhứt so với các món trong thực đơn. Đối với tôi món nướng thì bất cứ thịt nào cũng ngon chớ không riêng thịt chuột. Tuy nhiên món chuột nướng lu tôi có nghe nói khi còn ở nước ngoài chớ chưa thấy cách nướng ra sao. Tôi đem thắc mắc của mình nói với anh bạn, anh bạn liền hỏi chủ quán cho tôi vào bếp xem chỗ nướng chuột. Chủ quán không chút ngần ngại, vui vẻ dẫn tôi vô bếp. À, thì ra đây là một cái oven làm bằng chiếc lu sành đựng nước, người ta đốt lửa bên ngoài cho nóng để nướng những con chuột đã lột da trần trụi và ướp gia vị móc treo tòn teng ở trong lu..

Thịt chuột nướng lu ăn kèm cóc xanh bầm nhỏ và chấm với muối tiêu chanh… Các thực khách ngồi những bàn chung quanh ăn uống rất tự nhiên. Và anh bạn tôi vừa ăn vừa khen ngon… bá chấy! Riêng tôi thì cứ ái ngại trong lòng. Trong chúng ta ai cũng biết, trên đất nước Việt Nam mình đã bị ô nhiễm đến mức báo động. Nhứt là từ thượng nguồn sông Mê Kông, phía bên Trung Quốc người ta thả rác rến, đồ dơ xuống và những xưởng máy dọc theo ven sông họ xả nước độc vào dòng sông, thấm vào trong đất đai xứ sở nầy mỗi ngày một nhiều… Chim chóc trên trời, thú vật trong rừng, động vật dưới lòng đất và cá dưới dòng sông… loài nào cũng có thể bi nhiễm độc được hết. Chuột là một loại động vật chui rúc bất cứ hẽm hóc nào thì làm sao tránh khỏi. Dù cho không bị nhiễm bởi môi trường thì chính người chế biến thức ăn đã pha chế biết bao nhiêu thứ phụ gia sao cho món ăn trông được mắt và ngon lành bất kể là chất đó có độc hay không. Những ngày lưu lại quê hương, tôi vô bất cứ hàng quán nào, trông thấy món ăn được trưng bày đẹp và mùi vị thơm tho, quá hấp dẫn thì tôi đâm ra nghi ngờ. Hổng ăn thì sợ bạn bè trách mình phụ lòng, ráng ăn vài miếng và  giả bộ khen ngon, nhưng khi nuốt miếng thịt khỏi cổ họng thì muốn ọi ra, làm tôi phải rót rượu uống liền liền. Rượu gạo nhẹ quá không đủ độ dằn mấy miếng thịt chuột, tôi cảm tưởng như có mấy con chuột lởn vởn trong cổ họng muốn trực…bò ra.

Không biết tại thịt chuột nướng lu hay tại tôi uống quá nhiều rượu gạo mà đêm hôm đó về nhà tôi mửa thấu mật xanh, làm hai vợ chồng anh bạn lo lắng đến hốt hoảng đè tôi ra người cạo gió, người thoa dầu một chập mới yên… Sáng ra, tôi cảm thấy trong người rất nhẹ nhàng nhưng mình mẩy thì ê ẩm và bầm tím. Tôi ra nhà tắm đánh răng rửa mặt. Khi tôi trở vô thì vợ anh bạn đã dọn sẵn bữa điểm tâm và mời tôi vào bàn. Chị múc đưa tôi tô cháo thịt bầm rắc tiêu hành thơm phức. Chị khuyến khích: “Cháo thịt chuột bổ lắm đó, chú ăn đi cho khoẻ!” – !!!