Chiều giáp Tết ở Adelaide!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Thưa quý độc giả thân mến!

Cuối năm, lấy phép thường niên được năm tuần, người viết cũng bắt chước Úc mà: đi cho biết đó biết đây; ở nhà với vợ có ngày ‘tửng’ luôn! Hai thằng con thương người viết, già cúp bình thiếc rồi, mà vẫn cần mẫn đi cày; bèn lên web, rình hãng máy bay giá rẻ, khuyến mãi đại hạ giá.“Tía ơi! Melbourne bay đi Adelaide khoảng 655 cây số, chỉ có 25 đô hà. Ờ! mua lẹ lên, mua ngay cho tía nghe con! Đỡ đồng nào cho má bây ‘xào’ đồng nấy!”

Chuyến đi chơi nầy tốn ít… mà còn lời nhiều! Sơ sơ là lời được bài viết nầy cho số báo Xuân để gỡ vốn, kiếm chút tiền nhuận bút uống cà phê chơi. Chứ thủ phủ Adelaide của tiểu bang Nam Úc buồn ơi là buồn, buồn như dế kêu. Thành phố trầm mặc với những giáo đường! Thành phố chỉ hai mươi phút đã về chốn cũ! Chỗ nổi tiếng nhứt là bức tường thầm thì, than khóc, nơi người ta đến, nói câu gì, tâm sự câu gì như: ‘Đừng đá anh, em yêu…ơi! Hu Hu! He he!’ thì ngay sau đó phía bên kia bức tường, xa tới 100 m! tiếng vọng lại y chang. Như nó chọc quê, ‘nhái’ mình vậy!

Cả mấy năm nay mới gặp thằng em, mừng…nhưng hai đứa hổng biết làm gì cho vui, thôi thì… bày ra cuộc nhậu. Vì Adelaide là thủ đô rượu của Úc Châu.  Mâm đặt vừa xong, thằng em ‘hú…u!’ một tiếng, thì cũng có tiếng ‘hú…u!’ như ở bức tường thầm thì đáp lại, chừng 10 phút sau, một quái kiệt giang hồ, râu tóc bờm xờm, chưn mày dựng ngược, hiện ra trước cửa. Mời bằng hữu vào, trước lạ sau quen, làm một ly ‘ông già chống gậy’ cho nó thông cái cần cổ!

Tiệc nhậu nào cũng vậy! E dè lúc đầu nếu khách khứa chưa có quen thân nhưng chừng vài tuần rượu là chuyện nổ như bắp rang. Mà thường là chuyện tiếu lâm hơi ‘mẳn mẳn’ một chút.

Anh bạn giới thiệu mình tên Theo, (đọc là Thí – Ô), tên Tây đàng hoàng nha, đi tiên phuông như vậy: chuyện nầy hơi xưa xưa rồi, xảy ra hơn mươi năm về trước, ông bà thủ tướng trong chuyện, dân đã cho về nhà đuổi gà hết ráo!

Helen Kiwi, tướng quốc Tân Tây Lan, phao ‘hung tin’ là nhà máy sản xuất bao cao su của nước mình bị cháy rụi.  Giả bộ quýnh lên, Helen gọi cho John Aussie, tướng quốc Úc, cầu cứu, cầu cứu! Xin anh gởi ngay vài tấn bao cao su cho dân của em xài trong mùa đông lạnh lẽo nầy. Sự thực là nhà máy không có cháy. Chẳng qua là Helen muốn giựt ‘hộp’ Johnny thôi; nên trong đơn đặt hàng ghi kích cỡ dài 10 inches (2 tấc 54), ngang 8 inches (2 tấc 03) nhằm gây ấn tượng với chàng, vốn dĩ hai nước Úc và Tân Tây Lan là bà con có cùng đầu ông cố tổ với nhau. Johnny bèn gởi cho Helen một thùng, đúng ngay bon kích cỡ. Ngoài bao bì có đề là: Làm tại Úc Đại Lợi. Cỡ nhỏ! MADE IN AUSTRALIA – SIZE: SMALL

Và trước khi kể tiếp về bữa nhậu chiều cuối năm ở Adelaide nầy, cũng xin mạn phép giới thiệu vài dòng, trình quý độc giả thân mến, về tay quái kiệt giang hồ nầy. Hôm đó dù là khách như ‘tui’ nhưng lại đường đột giành làm chủ xị,  dạo đầu đã nổ lốp bốp tên Tây là Theo; thực sự tên ảnh là Tèo, một chàng Việt Nam rặt  ri, từ Chắc Cà Đao, tị nạn cộng sản, vượt biên tới đảo Pulau Bidong, Mã Lai, hồi năm 81.

Khi đến đảo, trong bụng Tèo là muốn chạy theo ‘thằng’ Mỹ; nên khi phái đoàn Mỹ phỏng vấn Tèo hồi hộp lắm, vì sợ rớt.  Khi hỏi tên tuổi, quê quán, Tèo nghe nói tiếng Mỹ không bỏ dấu gì hết nên Tèo khai là tên Teo; vậy mà Mỹ lại ghi là Theo, chắc Mỹ nhớ cái tên Theodore Roosevelt, Tổng Thống thứ 26 của Huê Kỳ. Tèo cãi lại là: T. E. O. (ti, i, ô). Hổng có chữ ‘hờ’ à nha. Mỹ có vẻ không hiểu Tèo nói cái giống gì?! Tới phần quê quán, Tèo khai: Chắc Cà Đao! Mỹ nghe ba xí ba tú sao đó rồi ghi là Chucker Down. Lại cãi. Thiệt hổng muốn cãi làm chi; vì mới học được vài chữ lõm bõm; phần nói tiếng Mỹ sao mà mỏi miệng quá! Tuy nhiên cái gì trật mà cứ để vậy hoài, hổng sửa lưng, tụi nó lừng. Lần sau, ông Mỹ khác chứ hổng phải ông Mỹ trước. Ông nầy cũng mắt xanh mũi lõ nhưng tiếng Việt thì ‘giả’ rành sáu câu, dám biết ‘húp’ nước mắm lắm đa. Ổng biết tên Tèo liền; dù viết không bỏ dấu, nó thành ‘Teo’ mới chết chớ. Ổng cũng biết xứ Chắc Cà Đao, tên cái chợ và con rạch gần Long Xuyên chớ đâu! Bỏ quê đi, nghe người dưng nước lã nhắc đến quê mình sao bùi ngùi tấc dạ, Tèo nhớ đến câu ru em: “Anh xa xứ Chắc Cà Đao! Bỏ em ở lại như dao cắt lòng!”. Tèo cắt nghĩa cho ổng học thêm chớ hổng phải là Mỹ thì cái gì cũng biết hết trơn đâu nha? Quê tui, tui biết nhiều hơn ông là cái chắc. Tèo cắt nghĩa rằng địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khmer, chắp kdam (bắt cua) mà ra; vì vùng nầy xưa kia có rất nhiều cua. Ông Mỹ gục gặc nghe, có vẻ khoái chí, kết thúc cuộc phỏng vấn… nhưng chờ hoài hổng thấy kêu réo gì ráo; chắc ổng làm lơ, bỏ Tèo mà chạy cũng giống ‘hịt’ như hồi năm 75 vậy thôi! Còn tình, còn nghĩa đồng minh! Hết tình, hết nghĩa… lặng thinh dông rồi!

Cuối cùng, may quá, phái đoàn Úc đến, hỏi đi Úc hông? Đi chớ! Dù hồi nhỏ tới lớn, Tèo có biết mặt mày nước Úc lớn bé ra sao? Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân. Mà xem con tạo xoay vần tới đâu; vì hổng lẽ ở lại cho mục đảo hay sao?

Tèo được Úc đưa về Adelaide sống, đi cà nhỏng, rồi vô quốc tịch từ đây Tèo thành Úc rồi nha. Gặp bà con người Việt thì vẫn tên Tèo thân thương của mấy chục năm tình cũ. Còn với Úc, Teo trở thành Thí-ô (Theo), tên tiếng Úc, cho nó oai! He he!

Sống bụi đời ở Adelaide mới đầu Tèo hổng hiểu ai nói; và Tèo nói cũng không ai hiểu! Nhưng phần tánh nông dân cũng dạn, mắc cỡ làm gì! Tiếng Úc có phải là tiếng mẹ đẻ của mình đâu, mà tiếng mẹ đẻ đôi khi còn trật lên trật xuống huống hồ là tiếng nước ngoài nên Tèo cũng ‘phang’ tưới xượi hột sen. Vậy mà hay! Vài năm sau, Tèo đã ‘phang’ tiếng Úc như gió. Hổng nhìn mặt mà chỉ nghe Tèo nói, bà con cứ tưởng là thằng cha thổ dân nào đó chớ?!

Vì giỏi tiếng Úc, nên Tèo trúng mánh. Tèo kể: Một hôm, Tèo đến tiệm thuốc tây muốn nói chuyện với một nam dược sĩ. Phải nam dược sĩ mới được vì Tèo đang có vấn đề tế nhị, nhạy cảm lắm. Rủi thay tiệm thuốc nầy chỉ có hai chị em dược sĩ Úc rặt, tóc vàng sợi nhỏ, mỏ đỏ mắt xanh, hùn vốn với nhau mở tiệm không có nhân viên nào ‘đực’ cả!

Tèo than thở: Nói chuyện nầy với cô em thiệt là khó cho tui lắm! Cô nữ dược sĩ thuyết phục Tèo: “Tui là dược sĩ chuyên nghiệp mà! Ông đừng lo! Ông nói chuyện gì cũng được, tui sẽ tận tâm làm hết chức nghiệp của mình!” Lúc đó Tèo mới chịu thổ lộ là: “Hổng biết ăn trúng cái gì mà ‘sung’ quá, cứ cái ‘mửng’ nầy tui sợ tổn thọ, thiệt tình tui không biết cô dược sĩ có cách gì để giúp tui được hông?”

Thổ lộ tâm sự khó nói của mình xong, mặt Tèo đỏ như gấc vì ngượng. Em dược sĩ nầy nghe như vậy, mắt chớp chớp, rồi sáng rực lên như hai cái đèn pha. “Anh chờ em một lát thôi để em vô trong, thảo luận vấn đề nầy với em gái của em đã!”

Khi trở lại, em dược sĩ thỏ thẻ với Tèo rằng: “Anh sẽ được làm chủ 1/3 hiệu thuốc nầy. Cấp cho anh một chiếc xe ‘xịn’ của công ty. Một tuần có 5 bữa ăn tối do chính tay em nấu. Và 5 ngàn đô tiền túi, cho anh xài vặt! Chịu hông?”

“Ngu sao mà hổng chịu!” Tèo nói.

Thưa quý độc giả thân mến! Nghe chuyện nầy, kể từ rày về sau nếu có ai chê, nói nước Úc mình không phải là ‘lucky country’ thì xin đừng có tin nha? Muốn biết ‘hên’ cỡ nào cứ hỏi Tèo Adelaide là biết rõ trắng đen liền hà! Đừng có nghe tin đồn thất thiệt.

Nghe Tèo Adelaide ‘đía’, người viết biết mình hên quá đã gặp được sư phụ rồi. Đi một đàng, gặp một sàng ‘xạo’!  Tèo kể chuyện có duyên hết biết, mặc dù mình cũng dóc tổ, hổng thua ai, nhưng bữa nhậu đó cũng phải kính cẩn cúi đầu; để Tèo chiếm đài phát thanh, muốn phát gì thì phát!

Cao hứng, Tèo Adelaide kể tiếp: Cũng giống như các nước khác trên thế giới, nước Úc nầy do Thượng Đế tạo ra trong 7 ngày. Ngày đầu tiên, Người chế ra môn bóng cà na, chế ra bãi biển, chế ra món thịt nướng, đêm thì Người chế ra món đi câu tôm, ngủ, thức dậy rồi nướng tôm ăn! Ngày thứ hai, Người chế ra môn trượt sóng và bơi lội. Ngày thứ ba, Người chế ra đất để trồng thuốc lá, chế ra beer, chế ra củi cho lò nướng thịt. Ngày thứ tư, Người chế ra trừu, bò, kangaroo để có thịt làm sườn nướng, làm xúc xích, làm bít tết. Ngày thứ năm, Người chế ra Tony Aussie, người Úc đầu tiên, để nó chơi bóng cà na, dạo bãi biển, uống bia và ăn thịt nướng. Ngày thứ sáu, Người thấy Tony chơi một mình, buồn lẻ loi… Người bèn chế ra thêm một lũ đông như ruồi để Tony có bạn mà chơi bóng cà na, trượt sóng, uống bia, tụ tập quanh lò nướng thịt mà tán dóc. Ngày thứ bảy, Người thấy Tony và lũ bạn nầy uống nhiều bia, ăn nhiều thịt, chơi nhiều quá, bộn bề, dơ dáy mà không ai dọn dẹp cả, nên Người chế ra một em tên Daisy Kiwi, làm vợ Tony…để ‘ẻn’ nấu cơm, rửa chén, quét nhà, bồng con và quan trọng nhứt là phải rửa sạch sẽ cái lò barbecue cho lần ăn nhậu tới!

chieu-giap-tet-o-adelaide-2Vâng! Thượng đế đã tạo ra nước Úc của tụi mình như thế đấy!

Thưa quý độc giả thân mến! Nghe Tèo Adelaide kể chuyện Tề Thiên; người viết vô cùng bội phục bèn chắp tay lại mà cảm thán như vầy: Tui ‘đía’ cũng có hạng trên chốn giang hồ nhưng thiệt tài hổng bằng huynh! Ôi trời sanh Du sao còn sanh Lượng?

Tèo chỉ khiêm cung, đáp lại rằng: Xin các hạ đừng quá lời khen, đừng cho Tèo là người trí tuệ, mới tán dóc thượng thừa đến thế! Chớ thực ra Tèo chỉ là một trong những người Úc bình thường mà thôi! Theo sách vở: chỉ số thông minh của một con người bình thường là từ 85 đến 114. Phải cần chỉ số thông minh là 60 mới biết cột dây giày và chính vì lý do đó mà có hằng hà sa số người Úc mang dép trong đó có Tèo đây! He he!

Thưa quý độc giả thân mến! Một năm rồi trôi qua, trên mặt báo nầy, người viết từ Melbourne, Úc Châu, đôi lần xuất hiện, ‘dà’… thưa hổng có ước vọng cao sang gì hết! Chỉ ước là bài viết của mình làm quý độc giả ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ là vui mừng vui quá vui rồi.

Trước thềm năm mới, xin kính chúc quý độc giả thân mến của bổn báo ‘An Khang Thịnh Vượng!’ Nhớ cho tiền ‘lì xì’ nhe! He he!

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 11 May, 2023

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Trung tâm hành quân báo cho tôi hay Không Quân cũng không liên lạc được Lệ Minh nên họ cứ nhắm vào những vị trí có khói depart của pháo địch ở bên ngoài rào trại mà thả bom. Lúc này đồi Lệ Minh chìm trong màn khói của pháo địch, sân bay Plei Djereng và làng Plei Doch cũng chìm trong bụi đỏ và khói bom của ta. Khoảng gần 3 giờ chiều ngày 22 tháng 9 có một đoàn trực thăng chuyển viện binh nhắm hướng Lệ Minh. Người chỉ huy hợp đoàn này Trung tá Lương Văn Hơi. Ông Hơi thông báo cho tôi hay ông sẽ thả một đại đội xuống làm đầu cầu để tiếp nhận quân tiếp viện cho Lệ Minh.

Ông Hơi nói, nếu tôi liên lạc được với Ðại úy Quang hay Ðại úy Hội thì thông báo cho hai vị này biết để tránh ngộ nhận. Ðể tránh những lằn đạn phòng không của địch, tôi phải bay trong vùng cách xa phi trường Plei Djereng khoảng hai cây số. Quân tiếp viện được thả xuống một cánh đồng cỏ tranh cách đuôi phi đạo chừng hơn một cây số về hướng Ðông Nam. Chiếc trực thăng đổ quân cuối cùng vừa rời vùng thì khói bụi đã ngùn ngụt bốc lên từ bãi thả. Hàng trăm trái pháo của Việt-Cộng theo đuôi nhau dồn dập trải đều trên bề mặt ngọn đồi cỏ tranh.Tôi nghĩ bụng, chắc chắn địch đã dự trù các yếu tố tác xạ nhắm vào bãi đáp này từ trước, nên quân ta vừa có mặt đã bị địch tưới đạn lên đầu ngay.

Tôi chưa biết phải làm gì thì nghe ai đó hớt hải la làng trong máy,

– Ð.M! Bộ các cha muốn giết tụi tui hay sao mà thả tụi tui ngay trên trận địa pháo? Bây giờ tui phải làm gì đây hả các cha?

Chờ một phút, không thấy tiếng Trung tá Hơi, tôi vội cầm máy,

-Ai đó? Ðây là Thái Sơn! Nghe được thì trả lời!

Ðầu máy bên kia là một giọng nói Quảng-Nam ồm ồm,

– Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà! Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà!

Cẩm Hà là danh hiệu truyền tin của Ðại úy Trương Ðình Hà.

Trương Ðình Hà là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi, tôi đã đem anh Hà từ Liên Ðoàn 2 về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 đảm nhận chức vụ Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 Trinh Sát để trám chỗ cho Trung úy Thuận vừa tử trận.

Trung Úy Vương Mộng Long 1969

Trương Ðình Hà là dân Quảng-Nam nên anh đã lấy địa danh một xã ngoại ô Hội An là Cẩm-Hà để làm danh hiệu truyền tin.

– Cẩm Hà! Thái Sơn nghe!

– Ð.M! Ông già Hơi thả tau xong thì bay đi mất. Chẳng có lệnh lạc con mẹ gì cả. Tau vừa đạp đất đã bị pháo phủ đầu, không ngóc cổ lên được. Mày mau mau tìm cách cứu tau với! Long ơi!

Cùng lúc này tôi thấy năm hay sáu chiếc xe tank địch xuất hiện, dàn hàng ngang trên sân bay, rồi liên tục đua nhau nã pháo vào sân trại.

Tôi lại nhìn thấy từ hướng Nam phi trường Plei Djereng đột nhiên xuất hiện sáu, bảy chiếc tank T54 vừa bắn, vừa lao về hướng bãi thả quân tiếp viện. Tôi liền ra lệnh cho Ðại úy Hà,

– Hướng 1600 ly giác! Chạy! Chạy tới khi nào qua hết một con suối sâu thì ngừng lại gọi tao!

Có thể nói, Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân là một đơn vị rất tinh nhuệ và thiện chiến của Biệt Ðộng Quân Vùng 2. Ðơn vị này có nguồn gốc từ Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, nhưng nằm ngoài bảng cấp số.

Cuối năm 1969, thi hành lệnh của Trung tá Bùi Văn Sâm Liên đoàn trưởng, tôi đã đứng ra thành lập Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.  Quân số của Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 đều được tăng phái từ các Tiểu Ðoàn 11, 22 và 23 trực thuộc liên đoàn.

Ít năm sau, đơn vị này được cải danh thành Ðại Ðội Trinh Sát Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 do Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 trực tiếp điều động. Dù là một đơn vị thiện chiến và tinh nhuệ, nhưng chắc chắn đại đội này không thể đánh nhau tay đôi với một đoàn chiến xa T54 trên đồng cỏ mênh mông, nên nghe được lệnh “Chém vè” của tôi, ông đại đội trưởng đã mừng rỡ la lên,

– Cám ơn mày! Hướng 1600 ly giác! Tau thi hành lệnh ngay!

Năm phút sau, tôi đánh một vòng tròn về hướng Nam, thì thấy những chiếc tank T54 đang trườn qua con thông thủy phía Ðông của phi trường, nhưng trên bãi thả quân không còn ai cả. Tôi thở ra, may quá! Lệnh rút quân của tôi đã kịp thời tránh cho cánh quân của Ðại úy Hà một tổn hại nặng nề trước mắt. Tình hình lúc này coi như tuyệt vọng. Ngọn đồi Lệ Minh chỉ là một cột khói đen ngùn ngụt.

Khoảng mười phút sau tôi phải rời vùng, về Pleiku đổ xăng. Lúc tôi quay trở lại cách Lệ Minh chừng hai cây số thì nghe trong tần số có tiếng Hoàng Nghĩa Hội,

– Thái Sơn đây Hoàng Hoa gọi!

– Thái Sơn nghe!

– Thái Sơn ơi! Chúng nó vào tới sân cờ rồi! Thằng Quang đã bị chúng nó trói dẫn đi. Hội bị thương nặng lắm! Hội đang nằm trong cái lô cốt gần cổng chính.

– Có cách nào chui ra đầu sân bay? Anh sẽ nhào xuống cứu chú!

– Ðừng! Ðừng liều mạng! Xe tank của tụi nó đang nằm sát hàng rào! Ðừng tới gần! Ðừng xuống!

Sau đó trong máy chỉ còn tiếng “È! È!” tôi không còn nghe Hội nói nữa. Tới 4 giờ 30 chiều ngày 22 tháng 9 năm 1973 thì tiền đồn Lệ Minh hoàn toàn thất thủ. Phi cơ của ta tiếp tục đánh bom trên vùng bán kính 5 cây số quanh Lệ Minh cho tới gần tối mới ngưng. Ðêm 22 tháng 9 tôi và Trung úy Lập thay phiên nhau bay trên Hỏa Long để liên lạc với Ðại úy Quang và Ðại úy Hội, nhưng không nghe tiếng ai trả lời. Cánh quân của Ðại úy Hà cũng im hơi, không biết đã phiêu bạt nơi nao?

Sáu giờ sáng ngày 23 tháng 9 đài tiếp vận của tôi đặt trên đỉnh Hàm Rồng nhận được tin của Ðại úy Trương Ðình Hà báo cáo rằng Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân đã về tới tiền đồn Plei Blang 3. Ðơn vị này có hai quân nhân mất tích, không có ai bị thương, vũ khí bảo toàn. Một tuần sau ngày đó có một anh binh nhì của Tiểu Ðoàn 80 trốn khỏi khu giam giữ tù binh của Việt-Cộng rồi về trình diện. Anh lính này khai rằng sau hai giờ pháo kích, Việt-Cộng đã xung phong vào chiếm cứ bộ chỉ huy và cắm cờ trên đỉnh cái lô cốt giữa sân.

Những quân nhân bị kẹt trong vòng rào trại đều bị địch bắt sống, kể cả hai ông Ðại úy Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó của Tiểu Ðoàn 80 cùng với ông sĩ quan trưởng toán Lôi Hổ của Chiến Ðoàn 2 Xung Kích. Trong số gần ba chục người bị thương thì tình trạng của Ðại úy Hội là nguy kịch nhất. Ðại úy Hoàng Nghĩa Hội đã chết khi đoàn tù bị áp giải qua sông Sa-Thầy. Anh lính này không biết Chuẩn úy Dao là ai.

Nghe tin Lệ Minh thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho các cơ quan và công sở trên toàn quốc phải treo cờ lửng để tang cho Lệ Minh. Tổng thống cũng lên đài truyền hình khắt khe lên án quân Cộng Sản trắng trợn vi phạm Hiệp Ðịnh Paris bằng hành động đánh chiếm Lệ Minh là một tiền đồn của Việt-Nam Cộng Hòa. Phái đoàn của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến đã can thiệp, nhưng phía Việt-Cộng nại cớ rằng không có địa danh nào tên là Lệ Minh trên bản đồ Pleiku.

Khi phe ta đưa hình ảnh và tọa độ trại Lệ Minh ra khiếu nại, thì phái đoàn Cộng-Sản nói đó là Chư Nghé của họ. Vùng này nằm sâu trong lãnh thổ Cộng-Sản kiểm soát vì nó ở xa Pleiku tới hơn 40 cây số. Tiền đồn xa nhất của ta thời bấy giờ là làng Plei Blang 3 cũng chỉ nằm cách Pleiku 7 cây số là cùng.

Cãi nhau nhùng nhằng qua lại chỉ phí lời, vì phe ta tuy tình ngay mà lý thì không vững, nên không thuyết phục được Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến. Có lẽ vì sự cãi chày, cãi cối của Việt-Cộng mà ít lâu sau những tên trại bằng danh từ Việt do Tướng Ngô Du đặt cho từ năm 1970 liền bị bỏ đi. Từ tháng 10 năm 1973, các trại biên phòng của Vùng 2 quay trở về với những địa danh cũ: Trại Ðức Phong lại là Dak Pek, trại Lệ Mỹ lại là Pleime, trại An Tân lại là Tiêu Atar, trại Trang Phục lại là Ban Don và trại Bạch Phong lại là Bu Prang.

Lực lượng Bạn và Địch trận Bu Prang (New) tháng 11 năm 1973

Trận Bu Prang 1973…

Năm 1967 Trại Bu Prang cũ được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng và trấn giữ. Trại này nằm trên ngọn đồi thấp và bằng phẳng cách làng Bu Prang một con suối. Nơi đây thuộc lãnh thổ tỉnh Quảng-Ðức và chỉ cách biên giới Việt Miên vài cây số. Cuối năm 1969 Bu Prang cũ bị một sư đoàn Cộng Quân từ biên giới Cao-Miên tràn qua bao vây và tấn công. Tôi đã có mặt trong đoàn quân của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân nhảy vào tiếp viện cho căn cứ này.

Ngày Giáng-Sinh năm 1969 sau khi hoàn tất nhiệm vụ giải vây cho Bu Prang, tôi đã có dịp đứng trước Camp Bu Prang để chụp một tấm ảnh kỷ niệm. Ảnh này còn được lưu giữ tới hôm nay. Cuối năm 1970, căn cứ Bu Prang được di chuyển về làng Bù Bông nằm trên Quốc lộ 14 giữa Tuy Ðức và Kiến Ðức. Căn cứ mới có tên là Trại Bạch Phong. Sau đó lực lượng Dân Sự Chiến Ðấu của trại Bạch Phong được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Mùa Hè năm 1972 Tiểu Ðoàn 89 trở thành đơn vị lưu động nên căn cứ Bạch Phong được giao cho Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức đồn trú. Tới đầu tháng 10 năm 1973 trại Bạch Phong đổi lại tên cũ là Bu Prang.

Ngày 4 tháng 11 năm 1973 Tướng Hoàng Cầm, Tư Lệnh Quân Khu 6 Cộng-Sản đã huy động Trung Ðoàn 205 Bộ Binh cùng Trung Ðoàn E 429 Ðặc Công và một đại đội xe tank T54 bất ngờ tấn công căn cứ này. Lực lượng trú phòng ở Bu Prang thời gian đó gồm có Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Tiểu Khu Khánh-Hòa do Trung tá Võ Khâm chỉ huy cùng với một liên đoàn Ðịa Phương Quân. Sáng 5 tháng 11 năm 1973 Bu Prang thất thủ, Trung tá Võ Khâm mất tích. Trận Bu Prang 1973 diễn ra chưa đầy một ngày, kết quả là một tiền đồn của ta bị địch chiếm giữ, một chiến đoàn của ta bị đánh tan.

Tôi không thấy Tổng Thống lên đài kết tội Cộng-Sản, không có lệnh để tang Bu Prang. Tôi cũng không biết chuyện Việt-Cộng vi phạm đình chiến kỳ này có còn là đề tài để ta và địch tranh cãi phải nhờ Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến giải quyết hay không. Mất Bu Prang, giao thông giữa Ðức-Lập và Kiến-Ðức phải đi vòng theo Liên Tỉnh Lộ 8B vì đoạn Quốc Lộ 14 từ ngã ba Tuy-Ðức tới đồi Bù Row hướng Bắc đồn Kiến-Ðức đã nằm trong tay Cộng Quân. Tháng 12 năm 1973 địch mở thêm một trận đánh nữa nhắm vào Chi Khu Kiến-Ðức, tỉnh Quảng-Ðức nhưng không gây được tiếng vang.

o O o

Con đường từ Ia Drang tới Mang Yang…

Hai ngày sau Lễ Giáng-Sinh năm 1973 Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 gọi tôi vào văn phòng rồi nói:

“Ông Toàn ra lệnh cho tui, bắt cậu vào Pleime thay cho thằng Lân gấp! Tui có nói với ổng rằng, chờ tui xin Trung Ương cho người thay cậu, rồi sẽ cho cậu đi.”

(Ông Toàn: là Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Thằng Lân: là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Trung Ương: là Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa)

Nghe Ðại tá Tất nói, tôi thấy ngạc nhiên quá. Ở Vùng 2 này, ông Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 bổ nhậm ai làm liên đoàn trưởng còn chưa cần xin ý kiến của tư lệnh quân đoàn, huống hồ gì chuyện bổ nhậm tiểu đoàn trưởng? Thay thế một tiểu đoàn trưởng mà phải có chỉ thị của tư lệnh quân khu thì quả là chuyện khó tin.

Tôi nghĩ, chuyện này chắc có nguyên ủy cắc cớ gì đây, nên ông tư lệnh quân đoàn mới ra mặt, nhúng tay. Sau đó tôi bị gọi lên trình diện Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu 2. Bước qua cửa văn phòng, tôi vừa vào thế đứng nghiêm, chưa kịp giơ tay chào, thì ông Toàn đã lớn tiếng,

– Tau cho mi một tuần lễ chuẩn bị rồi vào giữ Pleime! Nghe rõ chưa?

Tôi gật đầu,

– Tôi nghe rõ!

– Vậy thì mi xuống gặp ông Tiếu để biết nhiệm vụ!

Tiếp đó ông Toàn giơ tay phẩy một cái về hướng cửa,

– Thôi! Khỏi chào! Ði đi! Cố gắng lên!

Từ lâu, đã quen cái cung cách ban lệnh và cư xử với cấp dưới của ông Tướng Vùng này rồi, nên tôi lẳng lặng xuống lầu mà không có ý kiến gì. Trước tấm bản đồ chi chít dấu ghi bằng bút chì màu, Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 vừa nhìn tôi vừa đưa ngón tay trỏ di động trên một đoạn đường vẽ bằng bút đỏ, vùng Tây Nam Pleiku,

– Chắc chú rành vùng này hơn anh. Chú đã biết con lộ vừa được khai thông của Việt-Cộng? Ông Toàn muốn chú vào trong đó rồi tùy nghi hành động. Làm cách nào vô hiệu hóa được con đường này thì làm.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 4 May, 2023

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Là một sĩ quan cấp nhỏ, nhưng vì có cái tật bao sân, bao đồng, nên tôi lo lắng băn khoăn, không biết tương lai của Cao Nguyên sẽ ra sao. Tôi thấy, chỉ vài tháng sau Ngày Ðình Chiến 27 Tháng 1 Năm 1973 do Hiệp Ðịnh Paris được ký kết, trên lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã bắt đầu có những vụ chạm súng nhỏ do lấn đất giành dân.Rồi địch mỗi ngày mỗi đông hơn, mạnh hơn, chiến tranh từ từ leo thang trở lại. Trong các cuộc giao chiến, quân số và hỏa lực yểm trợ của địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần.

Cứ mười đánh một, trận nào địch cũng chiếm thế thượng phong. Một đơn vị cấp tiểu đoàn của ta bị tan tành chỉ sau vài tiếng đồng hồ giao tranh không còn là chuyện hy hữu nữa. Vì lý do đó, chuyện mất tiền đồn đã xảy ra hàng tháng, hàng tuần. Tôi là người đã tận mắt chứng kiến những trận đánh bất cân bằng lực lượng ở Cao Nguyên diễn ra như thế nào, và tôi cũng là người đã từng chiến đấu trong tình trạng một chống mười như thế nào. Chiến tranh qua lâu rồi, giờ đây nhìn lại, bỏ chút thời giờ nghiên cứu và phân tách tình hình, chúng ta sẽ nhận ra ngay lý do vì sao an ninh Cao Nguyên thời gian đó lại suy sụp như vậy.

Chỉ vì, sau đình chiến, viện trợ bị cắt giảm, yểm trợ của Không Lực Ðồng-Minh cũng chấm dứt, do đó, quân ta hoàn toàn ngưng các cuộc hành quân tấn công quy mô tốn kém. Các đại đơn vị thì bị chia nhỏ để phòng thủ thành phố, quận lỵ, hay chốt giữ trục lộ, cầu đường. Quân ta tối ngày cứ phải lo chuyện tiếp tế lương thực, đạn dược, xăng dầu. Trong khi đó thì địch cứ thảnh thơi dưỡng quân, tự do canh tác hoa màu. Ðường tiếp vận của địch không còn bị oanh tạc, đánh phá, nên lương thực, đạn dược thừa mứa khỏi lo. Thêm vào đó, Việt-Cộng còn được Liên-Xô và Trung-Cộng tranh nhau viện trợ để giành ảnh hưởng, nên ta có yếu thế hơn địch cũng là lẽ đương nhiên. Vì không phải phòng thủ, không phải chia quân giữ đất, nên địch có thể tập trung tối đa lực lượng mỗi khi cần. Ðịch ở vào thế hoàn toàn chủ động nên những khi quyết định khai triển một chiến dịch, chúng đều cho trinh sát điều nghiên mục tiêu thật kỹ càng, rồi mới tổ chức lực lượng, phân nhiệm.

Ðợi khi các đơn vị tham chiến đã thực tập thật nhuần nhuyễn, chúng mới định ngày ra quân; ra quân là chắc thắng. Trong hai năm 1973-1974, trước ngày xảy ra cuộc rút lui tự sát của Quân Ðoàn II trên Liên Tỉnh Lộ 7B tháng 3 năm 1975 thì trên chiến trường Cao Nguyên chỉ có duy nhất một lần Việt-Cộng bị thua, đó là trận Pleime 33 ngày đêm diễn ra từ cuối tháng 7 tới đầu tháng 9 năm 1974. Trước Pleime 1974, không có trận nào quân ta trụ được quá một ngày. Nhưng trên thực tế, dù là trận chiến nửa ngày hay trận chiến một ngày thì những trận chiến này cũng là một phần của lịch sử chiến tranh Việt-Nam.

o O o

Trận Lệ Minh 1973…

Lệ Minh là một Căn Cứ Biên Phòng nằm cách thành phố Pleiku hơn 40 cây số về hướng chính Tây. Tên nguyên thủy của căn cứ này là Camp Plei Djereng. Thời kỳ còn sự hiện diện của Quân Ðội Ðồng-Minh thì Camp Plei Djereng được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng lên và giao cho một đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu trấn giữ. Năm 1970, đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu này được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng; Camp Plei Djereng cũng đổi tên thành Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh. Cuối năm 1970 tôi đã từng vào căn cứ này giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 80 Biên Phòng, nhưng vì lý do riêng, tôi đã sớm rời khỏi nơi đây. Người kế nhiệm tôi là Ðại úy Khánh.

Sau khi tôi ra đi ít lâu, ông Khánh đã chết trong một vụ pháo kích. Tiếp đó, một vài vị sĩ quan theo chân nhau nhận nhiệm vụ chỉ huy Lệ Minh. Người ở lâu nhất là Thiếu tá Nguyễn Công Thông, với thời gian trên, dưới một năm. Ít lâu sau Hòa Ðàm Paris 1973, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 giao quyền chỉ huy Tiểu Ðoàn 80 và Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh cho Ðại úy Lê Văn Chương, khóa 19 Võ Bị. Thời gian Lệ Minh nằm dưới quyền của Ðại úy Chương thì quân ta và quân địch không hề có cuộc giao tranh nào xảy ra.

Cơ quan An-Ninh Quân-Ðội của ta được mật báo rằng, sở dĩ tình hình vùng này yên tĩnh là vì hai bên có hiệp ước bất tương xâm, Việt-Cộng sẽ không bắn phá hay pháo kích vào căn cứ, nếu chúng không bị đánh trước. Ðáp lại, nếu ta vi phạm tấn công trước thì ta sẽ bị địch đáp trả gấp 10 lần. Do tin tức này mà một phái đoàn thanh tra đã được gửi vào Lệ Minh để tìm hiểu sự tình.

Biết tin sẽ có thanh tra, Ðại úy Chương đã nhiều lần báo cho Ðại tá Tất biết rằng tình hình Lệ Minh rất nguy hiểm. Nếu phái đoàn bất chấp khuyến cáo của ông Chương thì ông ta sẽ không chịu trách nhiệm đối với những bất trắc sẽ xảy ra. Theo chương trình vạch sẵn, một ngày tháng 8 năm 1973 phái đoàn thanh tra của Quân Ðoàn II có mặt tại sân trực thăng Biệt Ðộng Quân. Trung tá Lương Văn Hơi, sĩ quan phụ tá của chỉ huy trưởng sẽ là người hướng dẫn đoàn thanh tra này. Sáng hôm đó Trung tá Hơi bị bệnh bất ngờ, tôi được lệnh bay theo phái đoàn thay thế ông Hơi.  Khi trực thăng sắp cất cánh tôi lại được lệnh lên Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đi bay thám sát vùng Tây Nam Pleime cùng ông sĩ quan chỉ huy Biệt Ðội Tác Chiến Ðiện Tử của Quân Ðoàn II, do đó Trung úy Lập, Sĩ quan Không Trợ Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 sẽ thay thế tôi đi bay.

Ngay giờ phút chiếc trực thăng chở phái đoàn thanh tra quân đoàn hạ cánh trên sân bay Lệ Minh thì hai khẩu đại bác 105 ly Biên Phòng đồng loạt khai hỏa cho bốn viên đạn bay vào trong núi. Vì không có ai đón tiếp nên các vị thanh tra đành tụ họp trước cổng trại Lê Minh để đợi chờ. Nào ngờ, bị 105 ly của quân ta pháo kích, Việt-Cộng bèn đáp lại bằng cối 120 ly. Từ hướng Tây, bốn khẩu cối của địch cứ nhẩn nha gởi đạn đi. Trong thời gian năm phút đồng hồ, 40 viên đạn 120 ly đã nối đuôi nhau xé gió rớt trên căn cứ và trên sân bay. Ðịch quân đã giữ đúng giao ước là bị bắn 1 viên, sẽ đáp trả đúng 10 viên! Kết quả vụ đọ súng hôm đó đã khiến cho vài vị sĩ quan thanh tra quân đoàn đền nợ nước, vài vị khác bị thương, anh Trung úy Lập thoát chết vì kịp thời nhảy xuống núp dưới cái mương thoát nước. Hồi tưởng lại chuyện này, tôi thấy số tôi và số ông Trung tá Lương Văn Hơi quả là rất may mắn! Ngày hôm sau Ðại úy Lê Văn Chương bị triệu hồi về Pleiku để nhận cái giấy phạt 40 Trọng Cấm cùng tờ sự vụ lệnh lên đường xuôi Nam đáo nhậm đơn vị mới.

Tôi hỏi anh Chương rằng cấp trên đã nại lý do gì để phạt anh, thì anh cho tôi hay, trên giấy phạt ghi chú là: “Tắc trách trong công tác bảo vệ an ninh cho phái đoàn thanh tra.” Ðại úy Chương cũng than phiền với tôi và vài bạn khác rằng anh ấy bị phạt oan, sở dĩ anh cho bắn bốn phát đại bác vào núi là để chào mừng phái đoàn thanh tra, chứ không phải để khiêu khích Việt-Cộng. Tôi nghĩ rằng không ai tin lời anh Chương cả.

Sau khi vào Nam, anh Lê Văn Chương được giao cho giữ chức vụ Trưởng ban 3 Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân, và tiếp tục ở vị trí này với cái lon đại úy cho tới ngày chiến tranh chấm dứt. Người thay thế Ðại úy Lê Văn Chương để chỉ huy Lệ Minh là Ðại úy Nguyễn Ngọc Quang, biệt danh là “Quang Con”. Ông đại úy này xuất thân khóa 15 Thủ-Ðức.

Một tuần lễ trước ngày Lê Minh bị tấn công, tôi đã gặp Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II và được Trung tá Tiếu cho hay rằng, theo tin A2 thì trong tương lai gần, địch sẽ tấn công Lệ Minh. Lực lượng địch tham chiến sẽ gồm Trung Ðoàn 48 của Sư Ðoàn 320A và một trung đoàn pháo hỗn hợp. Thêm vào đó còn có sự trợ lực của một đơn vị xe tank và Tiểu Ðoàn 631 Pháo của Tỉnh Ðội Gia-Lai Việt-Cộng.

Ông Tiếu dặn dò tôi phải khuyến cáo ông tiểu đoàn trưởng hãy lưu tâm chuẩn bị hầm hào để chống lại một cuộc tấn kích của Tiểu Ðoàn 631 Pháo. Tuyệt nhiên tôi không được hé răng nhắc tới tên Trung Ðoàn E48 và các đơn vị yểm trợ khác của Việt-Cộng như Tiểu Ðoàn D14 súng cối và Tiểu Ðoàn D16 xe tank trang bị súng cao xạ. Sở dĩ có chuyện che giấu này chỉ vì Trung tá Trịnh Tiếu e ngại rằng, nếu biết địch quá đông, quá mạnh, ông tiểu đoàn trưởng sẽ mất tinh thần không dám chiến đấu, sẽ dẫn quân bỏ đồn mà chạy trước khi có tiếp viện.

Thời gian này có một đại úy từ trong Nam thuyên chuyển ra. Ðây là một sĩ quan đàn em của tôi, anh ta tên là Hoàng Nghĩa Hội, dân Bắc Di Cư 1954, tốt nghiệp khóa 21 Võ Bị. Năm 1964 tôi là người huấn luyện anh Hội những ngày đầu quân ngũ. Tôi có ý giới thiệu Hội về Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân giữ chức Tiểu đoàn phó cho Ðại úy Nguyễn Lạn khóa 20 Võ Bị, nhưng Hội lại muốn vào Lệ Minh làm phó cho ông Quang Con vì Hội và Quang là bạn thân ở trong Nam. Dịp này tôi nhận được một chuẩn úy vừa thụ huấn xong lớp Tình Báo Cây Mai. Ông chuẩn úy này tên là Dao, cũng là dân Bắc Di Cư nhưng tuổi còn rất trẻ. Tiểu Ðoàn 80 hiện thời không có sĩ quan Quân Báo nên Chuẩn úy Dao được chỉ định bổ sung làm sĩ quan Ban 2 cho đơn vị này. Ngày 19 tháng 9 tôi đã đích thân đưa Ðại úy Hội và Chuẩn úy Dao vào Lệ Minh.

Vì đã được lệnh giấu kín tin tức địch và tình hình nguy kịch mà Lệ Minh sẽ hứng chịu trong tương lai, nên tôi chỉ còn cách trao cho hai ông Hội và Dao tần số riêng của tôi với lời dặn dò:

“Danh hiệu của tôi là Thái Sơn, nếu có gì thì gọi tôi trên số nhà này.”

Trước khi nhảy xuống phi đạo Lệ Minh, chú Hội bóp chặt bàn tay tôi,

– Danh hiệu của Hội là Hoàng Hoa. Niên trưởng nhớ đấy nhé!

Thế rồi, chuyện gì phải đến, đã đến… địch tấn công Lệ Minh.

Trưa 22 tháng 9 năm 1973 sĩ quan trực Trung Tâm Hành Quân hớt hải tìm gặp tôi,

– Thái Sơn vào máy, có ông phó của Lệ Minh xin gặp.

Tôi xuống hầm cầm ống nghe, qua máy 74, chúng tôi có thể nói chuyện bằng bạch văn,

– Hoàng Hoa có gì thì nói đi! Thái Sơn nghe!

Ðầu máy bên kia, tiếng của Hoàng Nghĩa Hội rất nhỏ, có vẻ như chú ấy đang lo lắng lắm,

– Niên trưởng ơi! Tôi mới nghe tụi lính nói rằng, từ ngày niên trưởng Chương về làm tiểu đoàn trưởng ở đây thì Biệt Ðộng Quân và Việt Cộng vẫn tắm chung một con suối nhưng không bắn nhau. Hôm nay tụi Việt Cộng không xuống suối tắm mà lại bảo mấy thằng lính của mình mau chạy về đồn, chui xuống hầm mà trốn, sắp đánh nhau rồi!

– Ông Quang đâu? Ông Quang có phản ứng ra sao?

– Quang đang cho báo động.

Rời trung tâm hành quân, tôi lên văn phòng chỉ huy trưởng, gặp Ðại tá Tất. Nghe tôi kể chuyện Ðại úy Hội vừa báo cáo, Ðại tá Tất nói,

– Cậu lấy C&C lên vùng, tui sẽ nói chuyện với ông Toàn xin yểm trợ và tăng viện.

Chỉ mười phút sau tôi và toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba đã có mặt trên sân trực thăng.

Ðúng 1 giờ 30 trưa, máy bay của tôi cất cánh.

Trời trong xanh, mây quang nên còn cách Lệ Minh cả chục cây số tôi đã thấy những cột khói đen, khói trắng cao ngút bốc lên từ căn cứ này. Lệ Minh đang bị địch pháo kích! Tôi vào tần số gọi Lệ Minh nhưng chỉ nghe được tiếng trái phá, tiếng lựu đạn và tiếng súng tay nổ giòn, người đầu máy bên kia nói gì tôi không nghe rõ. Cứ nhìn những tia lửa cầu vồng theo đuôi nhau bay vào ngọn đồi chỉ huy của Lệ Minh tôi đã thấy hoa cả mắt. Tôi và Hạ sĩ Ba, trưởng toán viễn thám thay nhau gọi hết hơi mà không nghe được tiếng người dưới đất trả lời. Tôi bay vòng vòng hướng Ðông của Lệ Minh một thời gian chừng nửa tiếng đồng hồ thì thấy máy bay trinh sát của ta xuất hiện.

Chuyện Trên Đường Phố

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

      Chiều về trên bến cảng Hamburg đã bớt ồn ào náo động, nhiều chiếc tàu buôn  đã nằm yên bên kè đá và những chiếc đò dọc chạy dưới dòng sông cũng thưa thớt khách du hành. Một gã đàn ông trạc năm mươi tuổi bước thong thả từ dưới bến cảng lên con đường lót gạch hướng về đường hầm sông Elbe. Một người đàn bà đứng ở đầu đường hầm, tóc chấm vai,  mặt không phấn,  môi không son,  thân hình tròn trịa, dốc dáng thấp và gọn gàng trong chiếc áo lạnh màu tro, thấy gã đàn ông đi tới,  bà ta ra dáng lắc lư làm chiếc bóp da đeo vai đu đưa qua lại.  Mắt bà mở to nhìn gã từ đầu tới chân, gật gật đầu, miệng mĩm cười.  Gã đàn ông không tỏ vẻ mừng rở cũng không một cử chỉ xã giao,  gã cất tiếng hỏi trỏng: 
–  Khoẻ hông ?
–  Được thôi.  Còn anh ?
–  Vẫn vậy.
Người đàn bà đưa tay lên đầu gã tha tha mái tóc:
–  Vậy gì mà vậy, tóc bạc trắng,  già tới nơi rồi.  
–  Ngót nghét năm mươi rồi,  còn trẻ trung gì nữa. Chờ có lâu lắm hông ?  Người đàn bà chỉ tay thẳng về hướng con lộ:
–   Ba mươi phút mới thấy anh thấp thoáng ở đằng kia.
–   Biết tới sớm tui đi tắc-xi cho lẹ. Bà lắc lắc cái đầu dịu giọng:
–   Không sao, lâu lắm rồi tui không có dịp đợi ai,  hôm nay đứng đợi anh tui thấy cũng  thin thích.
–  Biết vậy tui lên trễ cho cô đợi thoả thích.
–  Lối nói chuyện của anh tới già vẫn vậy.     
 Người đàn bà câu tay gã, hai người sánh vai nhau đi vô thang máy, bấm nút cho thang chạy xuống đường hầm. Trong đường hầm không một bóng người. Họ trò chuyện vừa đủ nghe nhưng âm thanh vẫn vội vô vách đá rền rền.
–  Cuối cùng rồi tui cũng gặp lại cô,  nhưng cô thay đổi nhiều quá,  nếu gặp nhau chỗ khác thì chắc nhìn hổng ra.
–  Anh đen hơn xưa nên trông già dặn chớ không thay đổi gì cho lắm. 
–  Đàn bà dễ thay đổi hơn đàn ông.
–  Nhưng họ nhớ dai lắm,  hơn hai mươi năm qua,  đây là lần thứ hai tui băng ngang đường hầm nầy,  mà cả hai lần đều đi với anh.
–  Nghĩa là cách đây hơn hai mươi năm. Lạ thật,  lần nào tàu ghé Hamburg tui cũng  qua đây ít nhứt một bận. Nhưng mỗi bận đi ngang đây là nhớ tới cô. Cô còn nhớ không, lần đó đi tới giữa đường cô sợ tường bể nước ngoài sông tràn vô chết ngộp cô câu tay tôi cứng ngắt, đi trong hầm mà cô làm như đi ngang mấy chiếc cầu ván long đinh ở quê mình. Người đàn bà nép xác vô người đàn ông như muốn tìm hơi ấm:
–  Bây giờ không sợ chết ngộp nữa, nhưng mà lạnh quá.
–  Mình ở dưới lòng sông mà,  trong nầy chỉ có mùa hè mát mẻ,  còn lại thì lạnh ngắt lạnh tanh.
–  Mà nè, anh nói nhớ tui mà sao hổng ghé nhà thăm? .
–  Sống bên nầy ai cũng bận rộn chuyện sở làm,  còn dư thời giờ lo cho gia đình. Tui thì đến, đi bất thường sợ tới nhà sẽ làm sai lệt thời khóa biểu của gia đình cô.  Hơn nữa còn chồng cô, tui hổng biết tánh tình ông ấy ra sao.
–  Hồi nghe tui nói xuống thăm anh,  ảnh có nhắn,  nếu rộng thời giờ mời anh ghé nhà chơi.
–  Được đức ông chồng như vậy là hết xẩy rồi.
–  Xạo nữa đi.    Vài bóng người xuất hiện phía trước,  ai ai cũng thông thả đi không có vẻ vội vàng. Hai người đi tà tà một lát đã lên tới bên kia bờ. Nắng vàng trãi trên mặt nước, đò dọc chở du khách ngược xuôi giữa dòng,  chim nhàn bay theo sau lái từng bầy. Trên bờ sông người ta bận áo ấm dầy đi dạo rất đông. Hai người dừng lại dưới thềm đá phân vân.  Người đàn bà hỏi:  
–  Đi đâu đây ? 
–  Trước kia cô thích ngắm sông lắm mà.
–  Gió chiều lạnh quá,  hổng ấy lênh Reeperbahn chơi đi. Gã đàn ông chỉ tay qua mấy bực thang bắt lên con đường dẫn vô Reeperbahn, nói:
–  Vậy mình leo lên đường nầy. Họ vừa đi vừa tiếp tục trò chuyện :
–  Nghe Hùng nói,  hồi tết Tây nó thấy anh trong casino.
–  Nhờ gặp Hùng mới có số điện thoại của cô,  hông thôi biết đâu mà tìm.
–  Anh biết đánh bài hồi nào vậy ?
–  Đâu phải ai vô casino cũng để đánh bài.
–  Ăn tết trên nầy vui hông ?
–  Cũng vui .
–  Vui ra sao kể nghe đi.     
 Gã đàn ông khoa tay chỉ dọc theo con đường:
– Trước tới giờ tui cứ nghĩ những ngày Tết  ai ai cũng quây quần bên nhau trong căn nhà ấm cúng. Chỉ có những người vô gia cư như tui mới lang thang ngoài trới. Nào ngờ ở trên nầy người ta ăn Tết nhộn nhịp vô cùng, ngay giờ giao thừa trên trời pháo bông sáng tua tủa, dưới đất pháo nổ như trận đánh tết Mậu Thân.  Người ta tràn ra đường đông như ong vỡ tổ,  tiếng ca hát vang rân hoà trong khói pháo mịt mù…
–   Vui hén.
–   Nhờ vậy mà mình thấy đỡ lẻ loi trong ngày Tết.
–   Lẻ loi thì vô ngắm Tiên Nữ.
–  Tiên tục gì,  mấy ngày đó họ đóng cửa ăn Tết,  có đâu ngồi cho mình ngắm.
–  Sao nữa kể tiếp đi.
–  Sau khi chen chút đã rồi tui chui vô Casino ngồi vừa uống bia vừa coi người ta đánh bạc, thì gặp Hùng nó đương chơi rulex. Sau khi thua sạch túi nó mới dẫn tui đi ra chỗ người Việt mình tổ chức.
–  Vui hông?
–  Bia,  rượu,  Karaoke,  Disco,  nhảy nhót,  cuối cùng người ta lấy vỏ chai bia, bẻ chưn ghế đập nhau loạn xịa máu chảy lênh láng,  cả hội trường náo loạn.  Tui vội vã từ biệt Hùng rồi ba chưn bốn cẳng chạy ra lộ đón tắc-xi về tàu.
–  Ghê vậy.
–  Còn cô,  cuộc sống có vui vẻ lắm không ?
–  Thì như anh biết đó, một ông chồng và hai đứa con,  ở một nơi lúc nào cũng canh đồng hồ, vô sở làm trông cho mau hết giờ , về nhà sắp xếp giờ giấc cho chồng, con, đi ngủ cũng phải bấm đồng hồ báo thức. Nhứt nhứt chuyện gì cũng phải tính giờ tính giấc,  sống đơn điệu đôi khi buồn cháng lắm.
–  Gia đình,  hạnh phúc chớ ?      
Người đàn bà ậm ờ rồi yên lặng.  Gã đàn ông ái náy nhìn trời. Mặt trời lặng từ hồi nào mà nền trời vẫn còn hưng hửng sáng. Đèn phố hiện lên nhiều màu sắc. Gió đêm lùa hơi lạnh trên đường, khách bộ hành kẻ ngược người xuôi.  Người đàn ông cất tiếng:  
– Tui nhớ trước kia mỗi lần đi ngang đường nầy, cô nhắm mắt lại hoặc cúi mặt ngó thẳng phía trước, bước đi như ma đuổi.  Hôm nay cô rủ tui lên đây ngắm người xem cảnh.
– Còn con gái thì khác, bây giờ già rồi, mặt dầy xà beng đâm hổng lủng, sợ gì. Vã lại lâu lắm rồi tui không có dịp ra đây. Hôm nay anh trở lại, tui muốn đi với anh.
– Ôn kỷ niệm đó hả ?
– Coi là vậy đi.
– Dù sao con đường nầy cũng thanh lịch hơn Amsterdam, những ai chưa quen sinh hoạt khu nầy đi ngang không thấy khó chịu. Nhớ có lần qua thăm cô, mấy người bạn rủ đi DOM chơi,  ai dè chúng nó đem bỏ tui ở đây,  rồi dông mất biệt. Tui phải tự mò đường về,  bị lạc hết mấy bận mới về tới nhà. Sau nầy tui mới biết  DOM nằm ở đầu đường kia,  đi chưa đầy mười phút đã tới. – Anh còn giận mấy người đó hông ?
– Hông,  đôi khi mình nhớ họ cũng như nhớ một kỹ niệm vui,  mấy người đó bây giờ ra sao?
– Cũng cày ngày cày đêm,  nhà mới,  xe mới. Anh còn nhớ Toàn không ?
– Sao quên được, hồi đó nghe anh ta cưới Hồng,  mở nhà hàng. Bây giờ hai người làm ăn ra sao? 
– Toàn bịnh bán thân ngồi xe lăng,  Hồng thì làm trong hảng Phi Líp.
– Tội nghiệp Hồng quá vậy.
– Tội gì,  tụi nó khá lắm,  mới mua đất cất một căn nhà riêng rất lớn. Có anh kìa, hổng lo ở đó lo cho người khác. A,  mà anh có bồ bịt gì chưa?
– Trước kia có nhì nhằng vài nơi nhưng rốt cuộc rồi chẳng ra cơm ra canh gì hết.
– Sao anh hổng dìa bển cưới vợ ?
– Chi vậy ?
– Cho anh hết lẻ loi,  cho cuộc sống có ý nghĩa.
– Ý nghĩa cuộc sống!  Nghe hấp dẫn quá hén,  cô đã sống trong gia đình gần hết cuộc đời rồi,  ý nghĩa ra sao cô kể tui nghe ? Người đàn bà ỡm ờ một lát rồi ngó qua hỏi:
– Ủa, sao tui hỏi anh anh không trả lời mà cứ hỏi vặn hỏi vẹo chi vậy ? Gã đàn ông nhìn mông lung trong đám người đông như kiến:
– Khắp thế giới, nơi nào cũng đông nghẹt đàn bà, nhưng tìm không ra một người vợ thì cũng thuộc loại vở hơi, nhưng hình như trên mặt đất nầy không một người đàn bà nào chịu làm vợ tui hết cô à.
– Tui hiểu anh,  nhưng anh cũng hiểu cho tui chớ,  lúc đó chưn ướt chưn ráo mới sang, anh thì đi biền biệt,  tui sống mình ên, xứ lạ quê người…      
 Giọng người đàn bà nghèn nghẹn.
Gã đàn ông hấp tấp chận ngang:
– Í chết! tui đâu bắt cô phải chịu trách nhiệm về  chuyện tui ở vá đâu mà cô nói vậy. Người đàn bà mở bóp lấy giấy chậm chậm mí mắt:
– Nhưng thấy anh cà nhỏng hoài tui hổng yên tâm.
– Chuyện qua rồi cô nghĩ tới làm gì. Phần tui,  tui đã cố hết sức mình rồ nhưng nó như vậy là như vậy,  coi như trời định đi.  Cô yên tâm,  hiện giờ tui rất hài lòng với cuộc sống lẻ loi của mình.  Gặp lại,  thấy cô khoẻ mạnh ú na ú nầng như vầy là tui vui rồi,  bây giờ mình kiếm chổ nào chơi chớ chẳng lẻ cứ long nhong ngoài phố như vầy.
–  Ừa, phải đó, hổng ấy mình ghé vô DOM dạo một lát,  sau đó anh đưa tui xuống bến xe điện về là vừa.
–  Ừa,  đi chơi bao nhiêu đó cũng đủ rồi.  Đi thêm nửa ông xả ở nhà nôn ruột.
–  Đừng có mỉa mai như vậy, người ta dám để vợ đi chơi với anh thì không phải tầm thường đâu nhé.
– Đàn ông bây giờ ở nhà giữ con cho vợ đi chơi là văn minh chớ đâu phải tầm thường.
–  Anh bỏ lối nói móc nói nghéo ấy được hông vậy. Nghe người đàn bà nói gã giựt mình ái ngái trong lòng,  trong thâm tâm gã thấy có một điều gì đó hổng ổn cho cuộc gặp gở hôm nay.
Gã miễn cưỡng nói:
– Xin lổi,  mình đi chơi vui vẻ đi.       
 DOM tức là hội chợ lớn ở Hamburg, mở cửa mỗi đầu mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bây giờ là đầu mùa xuân.  Từ nãy giờ tự dưng gã đàn ông trầm ngâm len lỏi đi theo người đàn bà trong tiếng nhạc xình xập hoà cùng tiếng ồn ào của rừng người lố nhố. Đi ngang quày bắng súng, người đàn bà hỏi:
–  Anh bắn súng còn giỏi hông?
–  Lâu lắm rồi tui hổng bắn.
–  Thử bắn lại coi.    
Họ vô quày mướn súng.  Gã đàn ông bồng súng lên bắn ba phát trật hết ba. Trả súng lại, gã day qua  cười nói:
–  Hết thời rồi. Người đàn bà gật gật cái đầu và mĩm cười, nắm tay gã trì nhẹ và hai người chen chút vô đám đông. Tới vòng đu quay, người đàn bà chỉ tay lên những chiếc đu:
–  Mình lên vòng quay kia chơi đi.
–  Ừ được đó.     
 Họ lên ngồi trong chiếc lồng cùng với cặp trai gái rất trẻ, hình như cô, cậu mua vé lên đây không phải để ngắm cảnh, hay tìm cảm giác bồng bềnh trên không. Từ khi vòng quay cất lên, bốn cánh tay như trói chặt hai thân hình, hai cái miệng và hai cái lưỡi bấu riết với nhau, chưn cẳng quíu lại, co cúm, đê mê không biết chung quanh còn có trời, trăng, mây, gió và có mặt hai người.      Để tôn trọng giây phút tuyệt vời của tuổi trẻ, họ yên lặng và hướng mặt nhìn ra phía ngoài. Vòng quay bây giờ đã dừng lại ở đỉnh cao nhứt. Không gian bao la, mây trắng,  trăng lưỡi liềm và những vì sao lấp lững ngang nền trời.  Bên dưới lập loè đèn lu, đèn tỏ theo các cao ốc và những khu nhà ở. Những hàng cây trong thành phố chỉ là chiếc bóng mờ. Sinh hoạt trong hội chợ là nhóm đèn nhiều màu sắc, dòng người loi nhoi lóc nhóc. Tiếng nhạc xập xình nghe văng vẳng phía dưới …                                                                          *  
  Dưới bến xe điện ngầm,  tấm bảng báo giờ hiện lên còn bảy phút nữa xe tới.
Họ đứng chung với đám đông chờ xe, người đàn bà hỏi:
–  Có gặp nữa hông ?
–  Hơn hai mươi năm qua nếu muốn gặp nhau thì tui với cô được gặp nhau nhiều lắm. Điều quan trọng mình gặp nhau để làm gì ?  Hổng lẻ mỗi lần gặp nhau cô bỏ chồng, bỏ con ở nhà theo đi tui lang thang trên đường phố như vầy.
–  Nãy giờ nghĩ ra được bao nhiêu đó hả?
–  Bao nhiêu đó cũng đủ thấy mình bất lương lắm rồi ?
–  Anh muốn lương thiện thì lần sau ghé nhà chơi đi.
Gã lắc đầu:
–  Khỏi.
–  Vậy thi đừng gặp nữa.
Gã đưa ngón tay cái lên gặt gặt:
–  Thà vậy còn hơn.
Xe tới,  ngưới đàn bà chồm qua hôn lên má gã đàn ông,  bà nói nhỏ:
–  Thôi đi bình an nha.
–  Giữ gìn sức khoẻ, chúc cô nhiều hạnh phúc.     
Người đàn bà theo dòng người lên xe. Gã nhìn người ta chen chút lên,  xuống giống như bầy chuột đồng bị nước ngập hang.  Khi hành khách lên hết, cánh cửa xe từ từ đóng lại và tiếng còi rích dài âm thanh bén soi thẳng vô lỗ tai người ta.  Liền theo đó tiếng máy rú mạnh và thân xe lao vút vô đường hầm tăm tối. Chiếc thang máy cuốn dòng người trả lên mặt đất.  Bến xe chỉ còn mình ên gã.  Gã mốc túi quần ra gói thuốc xẹp lép.  Lạ thật, hơn hai mươi năm qua  mỗi khi buồn gã đã đốt thuốc liền tay, vậy mà từ lúc gặp người đàn bà ấy tới giờ không hiểu sao gã không nghe thèm hút thuốc. Gã rút điếu thuốc nhăn nheo đưa lên môi, bật quẹt châm lửa,  điếu thuốc rách,  rít thốn lòng ngực vẫn không ra hơi. Gã xâm soi điếu thuốc,  bất chợt gã gộp điếu thuốc rách cùng gói thuốc xẹp liệng vô thùng rác,  chà chà hai bàn tay vô quần. Gã thầm nghĩ, bắt đầu từ hôm nay gã tập bỏ tật hút thuốc mỗi khi buồn, nhớ và quên hết mọi chuyện trong quá khứ cũng được lắm rồi.  

Chiều Cuối Năm Nhớ Mắm

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

Phú Tâm còn có tên là Phú Nổ hoặc Vũng Thơm là một xã đất giồng miệt Sóc Trăng trù phú, nơi người Tiều, người Khmer, người Việt đã và đang sống chan hòa với nhau hằng cả trăm năm. Vũng Thơm nổi tiếng với lạp xưởng và mè bán không những chỉ trong nước mà còn bán qua tới tận Hương Cảng.

Độ ấy, đầu tháng Ba, năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ, xe đò hãng Phi Long chở đồng bào mình chạy giặc xuống tạm cư tại trường Trung Học xã Phú Tâm, cách ngã ba An Trạch trên quốc lộ 4 chừng 9, 10 cây số.

Cũng tại trại tạm cư nầy, tui được may mắn đứng từ xa nhưng vẫn thấy mặt được một người anh hùng của QLVNCH là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lịnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam mặc đồ trận, dây ba chạc, đội nón sắt, đeo súng Colt 45 được Đại Tá Liêu Quang Nghĩa, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Ba Xuyên tháp tùng, đi ủy lạo đồng bào tỵ nạn CS.

Khi Tướng Nam và Đại Tá Nghĩa rời trại tạm cư lên xe Jeep trở lại Sóc Trăng, tui lại bận túi bụi phụ tiếp các sư sải Khmer phát bánh mì, sữa hộp hiệu Kim Cương cho bà con mình xong thì tới phiên mình đói bụng.

Dẫu chỉ là một giáo làng làng nhàng nhưng tui cũng được ông Trung Úy Trưởng Ban 5 Chi Khu Kế Sách cho dựa hơi đi ăn ké thịt bò nhúng giấm chấm mắm bò hóc do một xì thẩu, thân hào, nhân sĩ ở chợ Phú Tâm thết đãi!

Prahok chow là mắm bò hóc sống làm bằng cá trê trắng, sền sệt màu đất sét với sả, ớt vắt thêm nước chanh để làm nước chấm, được người Khmer dùng đãi khách quý đến nhà. Cầm đũa nhúng miếng thịt bò vào cái nồi nhỏ đựng giấm đang sôi, tui tính đưa ngay vô miệng vì đói bụng quá Trời rồi; thì ông Trung Úy ngăn lại, kêu chấm vô cái nầy đã. Chưa thử lần nào, tui hơi ớn. 

Úy trời đất ơi! Nó ngon thấu trời đi. Ngon đến nỗi gần 48 năm rồi, đêm nay quê người, tui cũng còn thấy nó phau trong miệng!

Do đó có một bậc thức giả vin vào câu nói: “Đến nhà qua chơi, có mắm ăn mắm có muối ăn muối, em đừng ngại!” là một cách nói khiêm cung, chứng tỏ lòng hiếu khách của người dân Lục Tỉnh Nam Kỳ. Giờ thì tui lại hiểu rằng: Có mắm ăn mắm, có muối ăn muối; một câu có hai vế đối nhau chan chát, tức là có món ngon cũng xin mời cầm đũa; mà chỉ muối hột cũng xin chớ có chối từ! Nghĩa là mời khách ăn mắm là quý lắm đó nhe. Mắm cũng chứng minh được miệt Lục Tỉnh Nam Kỳ, thiên nhiên giàu có hào phóng cho cá dưới sông hay trên đồng, trong lung, đìa, bào nhiều đến nỗi bà con cô bác mình ăn không hết mới làm mắm phải không nào?

Như vậy xin đừng võ đoán là nghèo mới ăn mắm nhe quý anh!

Úc nầy cũng vậy. Đến nhà ai, thấy nhà to chưa chắc họ đã giàu. Vì có thể nhà chưa trả xong. Chạy Mercedes, chưa chắc họ đã là giàu, vì tiền nợ xe có thể chưa trả hết. Muốn biết giàu hay nghèo chỉ cần mở cửa cái tủ lạnh ra… Nếu nó đầy nhóc; thì chắc chắn chủ nhà giàu rồi hè. Riêng nhà tui là độc nhứt vô nhị, là không giống ai. Tủ lạnh luôn đầy nhóc vì khi siêu thị giảm giá, em yêu ham rẻ, rinh kình kình về, chất đầy một tủ! Tiết kiệm được đồng nào hay đồng nấy mà.

Xin cám ơn em yêu, người phụ nữ Việt Nam quá xá đảm đang; đã ghi thêm tên anh vào danh sách của những người Úc sắp bị bịnh béo phì!

***

Muốn làm mắm, cá phải làm sạch, cho cá thật khô rồi mới muối, đựng trong mái vú hay khạp da bò! Xong gài bằng những tấm vỉ tre và dằn lên những cục đá xanh để ép con cá muối nằm sát lại. Muối từ hai đến ba tháng! Xong rang gạo lức cho chín vàng, xay nhuyễn ra làm thính, rắc vào cho mắm nó thơm. Cuối cùng là chao mắm. Đường chảy thắng kẹo lên, trộn đều vào làm cho vị mắm dịu lại. Sau vài tháng là mắm bắt đầu ăn được. Tùy theo loại cá, ta có mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá rô đồng, mắm cá trèn, mắm cá linh, mắm cá thác lác, mắm cá chốt…

Mắm kho chỉ cần nửa ký lô mắm sặc, cho vô nồi nấu với hai lít nước lã để thịt con mắm rã ra. Lấy cái rây lược bỏ hết xương cá, nêm thêm bột ngọt, muối, đường gốc sả đập hơi giập cột lại thành một nắm. Chờ nồi mắm sôi lên, cà tím cắt khúc dài chừng ba, bốn phân, chẻ đứng, thả vài khứa cá ba sa vào (cá ba sa là nhứt hạng), thêm vài lát thịt ba rọi xắt nhỏ. Nhắc nồi xuống rưới nước mỡ tỏi phi lên mặt. Nồi mắm thơm phức quyết liệt tấn công vào khứu giác ai mà không ứa nước miếng cho được chớ? Mùa gió chướng, sa mưa giông, người ơn ớn lạnh; khỏi cần aspirin, chỉ cần em yêu chơi cho một nồi mắm kho là giải cảm.

Ông bà mình đã dạy: “Đói ăn rau! Đau uống thuốc!”

Món mắm kho là tổng hợp các vị thuốc Trời cho như rau càng cua, rau đắng, cải trời, rau má, rau muống chẻ, rau diệu, rau mát, rau muống, rau ngổ, rau dền, cải trời; lá lốt, lá chùm ruột, lá vông nem, bông bí rợ, bông so đũa, bông lục bình, bông điên điển; đọt bầu, đọt bí rợ, đọt bí đao, đọt mướp, có đầy dẫy trong vườn hay ngoài ruộng. Nhưng có ba loại không thể nào thiếu cho được! Đó là rau ngổ, cọng bông súng và hẹ ruộng. Rau ngổ mọc dưới ao, ruộng, đìa, láng ngập xăm xắp nước ở Miền Tây mới có. Thân rỗng giống rau muống, lá nhỏ và dài giống lá rau răm nhưng có răng cưa xung quanh. Vị đắng nhẫn nhẫn, dai dai giòn giòn. Khi ăn chỉ lấy phần cọng rau, tuốt bỏ hết lá đi.

Ca dao cũng có câu: “Muốn ăn bông súng mắm kho/ Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm!”

Mắm kho không thể nào thiếu cọng bông súng cho được. Cọng bông súng khi tước vỏ rất giòn dễ gãy, dùng dao tước mỏng, rồi chỉ cần bẻ thành từng khúc. Cuối cùng là Hẹ. Hẹ có hai loại: Hẹ rẫy và hẹ ruộng. Hẹ rẫy lá dầy, bề ngang hẹp, màu xanh sẫm ăn với hủ tiếu hoặc mì hay hoành thánh của mấy chú Ba người Quảng. Còn hẹ ruộng lá mỏng, có gân trắng chính giữa mỏng, mềm, xanh nhàn nhạt như lá sả, xốp và giòn.

Mùa nắng ruộng khô ran, nứt nẻ, không có cây cỏ gì sống được. Vậy mà mưa xuống, ruộng đầy nước, không cần gieo, không cần trồng gì hết, như lúa ma trên đồng nước nổi tới đâu nó đua tới đó, thì hẹ ruộng nói có em đây! Lội xuống ruộng, trầm mình dưới nước, thò tay tìm cái gốc hẹ mà lắc lắc vài cái cho đất nhão ra rồi nhổ lên cả bụi lẫn gốc rễ.

Nhổ về, ngâm trong thau nước khoảng một giờ đồng hồ để rửa phèn và sình. Xong xếp ngay ngắn đầu theo đầu, đuôi theo đuôi trong cái rổ lớn cho ráo nước. Lấy kéo cắt bỏ phần rễ đi, cuộn nó lại cỡ ngón chưn cái, chấm với mắm kho, rồi bỏ vô miệng nhai rau ráu, vừa giòn tan, vừa mềm, vừa ngọt, vừa mát lạnh trong cổ họng, thiệt không có thứ rau nào có thể chiếm được ngôi bá chủ võ lâm trong các giống rau dùng ăn lẩu mắm.

Bưng chén đầy rau, gắp thêm miếng cá ba sa chấm muối ớt, ngon nhứt phần ức có mỡ hoặc thịt hai bên má của cái đầu cá, gắp vài miếng thịt ba rọi, miếng cà tím, múc mắm kho chan ngập vào, ớt sừng trâu chín đỏ xắt miếng xéo xéo (cho miếng ớt được lớn) vừa nhai rau ráu vừa húp rồn rột. Ăn no mà không bao giờ sợ cái vòng số hai, tức cái bụng phình lên như cái trống chầu bao giờ. Một cách “diet” hiệu nghiệm của phụ nữ Việt Nam mình. Chính vì vậy từ trẻ tới xồn xồn tới già, dù ăn như xáng xúc mà phụ nữ chúng ta ai cũng đẹp bóng lẫn hình mà không cần đi hút mỡ bụng.

Sau này, món lẩu mắm là mắm kho trong cái cù lao, đỏ rực than hồng! Món mắm kho luôn luôn sôi ục ục đã chễm chệ ngồi vào thực đơn nhà hàng ở cái đất Footscray nầy!
Cá, tôm, mực, nghêu ướp gia vị, gắp nhúng vào mắm nhưng tui lại thấy không ngon. Vì đồ biển nhúng vào mắm cá đồng là trật chìa, là trái bản họng hết trơn; như ca sĩ chuyên xuống xề nhạc muồi mà buộc phải chơi nhịp chỏi của “Rock and Roll”’!

***

Chiều cuối năm, gần Tết tới, lấy hai tuần lễ nghỉ thường niên vì cày suốt năm oải quá. Đi làm quen, ở nhà mà mấy thằng bạn nhậu, hình như tụi nó chết hết rồi sao mà không có ai kêu tui đó; nên cái mặt tui chảy xệ như cái bánh bao chiều; cứ trước sân anh thơ thẩn đăm đăm trông nhạn về! Em yêu thương quá; bèn chơi cho chàng một cái lẩu mắm để chàng nhậu với rượu đế, trong như mắt mèo của Nga, là rượu Vodka. 

Vậy mà thằng Úc sát bên nhà, hửi hửi mùi mắm thơm nức mũi như vậy lại hỏi xỏ tui là: “Bộ nhà có người chết hả?” “Ờ có! Ông nội mầy!”
Nghe nói vậy, nó bèn ôm mặt khóc hu hu… làm tui cũng hoảng. E mình xài xể nó quá nặng lời làm tan vỡ cái tình chòm xóm, ít khi có trên nước Úc nầy, với nó bấy nay. “Ờ! Anh nhắc, tui mới nhớ ông Nội tui chết trong niềm cô độc! Cả tháng mà hổng ai hay! Hu hu!”

Tui hối hận, bèn an ủi nó rằng: “Ôi cái xã hội bây giờ tệ như vậy đó chú em ơi! Buồn mà chi!” “Anh nghe nói chú em mầy đang rắp ranh, bắn sẻ, ve vãn một em Việt Nam bán cá ở chợ Footscray thì phải?Nhưng chú em mầy chỉ khoái ăn cheese, (hôi mùi xà bông tắm), và cá lăn bột với khoai tây chiên mỗi bữa, lại không ngửi được mùi thơm của nồi mắm kho trên bếp thì anh thành thật khuyên chú em mầy hãy từ bỏ niềm hy vọng bấy nay là chiếm được trái tim em! Vì đó chỉ là ảo vọng mà thôi!”

Thằng Úc nầy là thằng dại gái! Thấy con gái là mặt nó khờ căm thấy thương luôn. Nghe tui hù như vậy nó bèn xuống nước nhỏ: Bắt đầu từ ngày mai nó sẽ ráng tập. Hãy mua giùm nó trước hết là chai nước mắm hiệu ba con cá cơm cái đã. Từ từ nó sẽ ráng bịt lỗ mũi mà mần thêm cái món mắm kho!

Bằng không, em Việt Nam nầy sẽ tuyệt tình ca vì tui không ăn được mắm kho! Tim tan vỡ làm sao sống; chỉ còn cách đâm đầu xuống dòng sông Maribyrnong mà chết! Anh Hai ráng giúp em nhe! Thank you very much!

Chiều cuối năm nhớ mắm!
Happy New Year!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Anh Hùng và bội phản

Monday, April 07, 2008
Huy Phương

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

Trung Tá Trần Ngọc Huế Diển Hành tại D.C.

Trước tháng 4 năm 1972, Trung Tá Trần Ngọc Huế và Trung Tá Phạm văn Ðính đều là hai anh hùng của Quân Lực VNCH, cả hai đều đã từng chỉ huy đơn vị tinh nhuệ của SÐ IBB là Ðại Ðội Hắc Báo. Năm 1971, Trung Tá Trần Ngọc Huế là Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 2/2 đánh vào Shépone trong cuộc hành quân Lam Sơn 719.

Vị trí của ông đã bị cộng sản tràn ngập và ông bị bắt làm tù binh và bị đưa ra Bắc và ở trong nhà tù 13 năm. Kẻ bội phản là cựu Trung Tá Phạm Văn Ðính, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 56 (Sư Ðoàn 3BB) tại căn cứ Tân Lâm (Carrol), cuối tháng 4, 1972 đã đầu hàng trước quân đội, không những chỉ đầu hàng mà Trung Tá Ðính đã theo giặc, vì sau đó ông đã lên đài phát thanh Hà Nội kêu gọi các chiến hữu ngày trước của ông buông súng theo “cách mạng” và đeo “quân hàm” trung tá của “Quân Ðội Nhân Dân”.

Ông “được” cộng sản cho làm “quản giáo” tại một trại tù (học tập cải tạo) đang giam giữ những chiến hữu của ông ngày trước.


Sau tháng 4, 1975, ông “Trung Tá” Phạm Văn Ðính vào miền Nam, nhưng sau đó không nghe nói ông nắm đơn vị nào trong quân đội Bắc Việt. Tôi nghĩ dù ngày nay miền Nam đã bị cộng sản thôn tính, dân chúng Huế-Thừa Thiên cũng như người miền Nam đã nhìn ông với đôi mắt ghẻ lạnh, cho đến khi ông qua đời, không biết ông có ngượng ngùng với cái cấp bậc trung tá ông đeo trên cổ áo hay không.

Ðại úy Harry Trần Ngọc Huế được Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn huy chương “Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc” (Gallantry Cross with Silver Star), sau trận Mậu Thân 1968

Sau năm 1975, tôi nghe những người cộng sản gọi những nhân vật trong hàng ngũ “chiêu hồi” là những kẻ “đầu hàng phản bội”, không biết họ dùng danh từ gì để gọi ông Trung Tá Phạm Văn Ðính.
Andrew Wiest là một giáo sư sử học tại Ðại Học Southern Mississippi, tác giả nhiều cuốn sách về chiến tranh, trong đó đã có hai cuốn viết về Việt Nam như “The Vietnam War, 1956-1975” (2002), “Rolling Thunder in a Gentle Land: The Vietnam War Revisited” (2006). Năm nay (2008), ông vừa xuất bản một cuốn sách nhan đề “Vietnam’s Forgotten Army- Heroisme anh Betrayal in the ARVN” để nói đến hai nhân vật Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính.

Thoạt đầu người ta giới thiệu Trung Tá Phạm Văn Ðính với ông, cuộc đời của một sĩ quan xuất sắc của VNCH trở thành một kẻ bỏ súng chạy theo địch quân là một đề tài khá hấp dẫn để trở thành một cuốn sách hay về chiến tranh Việt Nam. Giáo Sư Andrew Wiest đã mời ông Phạm Văn Ðính sang New Orleans Hoa Kỳ và tổ chức các buổi nói chuyện tại các đại học Hoa Kỳ về đề tài chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên ông đã được sự góp ý của nhiều giới chức Hoa Kỳ hủy bỏ dự định này. Các sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ hiện nay đã từng là cố vấn trong các đơn vị mà ông Phạm Văn Ðính phục vụ trước kia, đã giới thiệu đến tác giả Andrew Wiest, Trung Tá Trần Ngọc Huế, đã xuất thân từ những đơn vị tương tự như ông Ðính, nhưng đã xứng đáng hơn với danh vị anh hùng.

Cuốn sách được hoàn tất với cuộc đời của hai Trung Tá Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính với những chiến trận lớn tại Vùng I Chiến Thuật mà cả hai đều đã đổ máu cho miền Nam nhưng về sau quyết định của hai người đã đưa họ về những lối rẽ khác nhau.

Ở trong trại tù tập trung của cộng sản dựng lên đầy dẫy ở hai miền Nam Bắc sau tháng 4 năm 1975, các chiến hữu ngày trước của chúng ta cũng đã có rất nhiều anh hùng nhưng không thiếu kẻ bội phản.

Những anh hùng của chúng ta đã đứng thẳng trước kẻ thù, có người đã chấp nhận gông cùm và đã có người hiên ngang trước cái chết. Trong khi đó có những người gọi là bạn tù của chúng ta đã cam tâm chịu sự sai khiến của bọn cai tù, nhận những chức vụ “tay sai” để hành hạ, đánh đập anh em không thương tiếc, hoặc hèn hạ làm những tên chỉ điểm, mà chúng ta thường gọi chúng là “ăng ten”. Ra hải ngoại, những người cựu tù nhân chính trị cũng đã nhận định rõ, ai là anh hùng mà ai là những kẻ đầu hàng phản bội trong các nhà tù cộng sản trước đây, chỉ tiếc là những những người này cũng cùng đi một chuyến tàu với chúng ta đến đây, lẫn lộn trong cộng đồng này.

Tuy đã tha thứ nhưng thực là chúng ta không bao giờ quên những khuôn mặt này, và hy vọng họ sẽ thức tỉnh và biết thế nào là và sự khinh rẻ của đồng đội hay đồng bào dành cho những hành vị bội phản, nhất là trong bối cảnh của cộng đồng tỵ nạn cộng sản hiện nay đang manh nha những thái độ đầu hàng hay thỏa hiệp đáng khinh miệt.

Đại úy Trần Ngọc Huế, bên trái và Đại úy Thủy quân lục chiến Roger V. Wellbrook xem qua bản đồ trước khi bắt đầu hành quân, ngày 12 tháng 5 năm 1968. Đại úy Trần Ngọc Huế, 26 tuổi, là sĩ quan chỉ huy của Đại đội “Hắc Báo” một đơn vị phản ứng nhanh tinh nhuệ của SĐ1 Bộ binh.

Bàn tay chỉ còn hai ngón nguyên vẹn của Harry Trần Ngọc Huế và những tấm huy chương.

Harry Trần Ngọc Huế: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”

Cựu hắc báo Harry Trần Ngọc Huế đứng cạnh bức hình mà cựu cố vấn David Wiseman đã cầm để đi tìm ông trong một thời gian dài.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline

Vương Mộng Long

Posted on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Chủ ý của người kể chuyện…

Khi kể lại chuyện đời một người, nếu đã nhắc tới những nụ cười thì đừng quên những lần nước mắt tuôn rơi.Khi kể lại chuyện trận mạc một thời, nếu thấy tự hào vì những chiến thắng lẫy lừng thì cũng đừng quên những chiến bại đắng cay. Trong chiến tranh Việt-Nam năm xưa, chính những chuyện đời thường của những người tham chiến gom góp lại mới đáng tin đó là chuyện thật, không thêu dệt, không trét phấn, không tô son, không đánh bóng, không khoa trương. Ngoài mặt trận, viên đạn vô tình không phân biệt được ai là ông tướng, ông tá, ông úy, hay ông lính trơn. Vì tổ quốc mà chết, thì sự hy sinh của ông đại tướng và sự hy sinh của ông binh nhì phải được đánh giá ngang nhau.

Lịch sử không là vật sở hữu của chính quyền cũ hay chính quyền mới, lịch sử không thuộc về người Quốc-Gia hay người Cộng-Sản, lịch sử không của riêng ai, mà lịch sử là của tất cả mọi người Việt-Nam.

Những gì còn in đậm trong trí nhớ của người kể chuyện dưới đây cũng chỉ là một chút đóng góp nhỏ cho chiến sử.

Phi trường Cù Hanh Pleiku 1970

o O o

Nhớ Xuân xưa…

Tháng Tư Dương Lịch, Bắc Mỹ chuyển mùa sang Xuân…

Trong khuôn viên trường đại học University of Washington (UW) và trên đường phố North Seattle, những đóa hoa anh đào bắt đầu đua nhau nở.

Tôi đã sinh sống ở thành phố Seattle này ba chục năm rồi. Tôi đã thành người tha phương ba chục năm rồi. Hằng năm, cứ tới thời kỳ anh đào ra hoa, lòng tôi lại dấy lên một nỗi buồn. Nỗi buồn này chỉ man mác, nhẹ nhàng thôi, nhưng lại thấm thía vô cùng, nó chính là nỗi nhớ quê hương… Quê hương Việt-Nam của tôi đẹp lắm, nhất là khi thời tiết bắt đầu vào Xuân. Có điều, quê hương tôi mãi chìm trong khói lửa. Quê hương tôi chưa có ngày nào ngưng cảnh đạn bom rơi. Suốt thuở thiếu thời cho tới khi trưởng thành, tôi chưa bao giờ thấy hòa bình.

Lớn lên, tôi đã chọn binh nghiệp, rồi thời thế đã biến tôi thành một người của rừng, của núi Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật. Tôi đã yêu Cao Nguyên và đã chọn nơi này làm chốn định cư. Giờ này, gần nửa thế kỷ sau Chiến Tranh Việt-Nam, hình ảnh Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của nước Việt-Nam Cộng – Hòa vẫn chưa mảy may phai mờ trong ký ức của tôi. Vì thế mà, mỗi độ Xuân về, tôi lại nhớ Cao Nguyên…

Hoa đào tháng 4 năm 2023 trong sân trường UW (Seattle)

Mùa Xuân nơi ấy

Nơi này mùa Ðông, nơi ấy là mùa Xuân

Mùa quê hương đi trước mùa tha phương một bước

Xuân Cao Nguyên, làm sao ta quên được?

Một trời hoa, rực rỡ, áo Xuân vàng…

…

Cao Nguyên mùa Xuân nào cũng đầy lửa đỏ

Ðạn pháo ngút trời, nhưng hoa vẫn nở

Những người yêu nhau vẫn tưởng ở bên nhau

Áo trắng sân trường, thương áo trận rừng sâu…

Có một vùng trời

Bao lần ta bay qua, bay lại

Những chuyến bay tuần tra biên giới

Những địa danh kiêu dũng dưới chân ta

Dak Pek, Dak Seang, Ðức Cơ, Pleime…

Ðể bao năm sau ngày mất nước

Ta còn gọi tên nhau trong ký ức…

…

Những con dốc hụt hơi chân bước

Leo từ sáng đến chiều chưa tới ngọn, Chư Pa!

Những cái tên nghe đầy đe dọa:

“Thung Lũng Tử Thần”- “Cơn Sốt Vàng Da”

Từng đoàn quân tiến vào vùng đất chết

Cho quê hương những mùa Xuân bất diệt…

…

Nhớ thuở Bình Tây

Ta đóng quân bên dòng Yaly cuồn cuộn chảy

Chợt thấy Chúa Xuân vươn vai một sớm mai

Cùng tiếng chim ca, tiếng đạn réo lưng trời…

…

Nhớ Xuân Pleime mấy độ yêu người

Một nửa mùa Xuân nằm trong lô cốt

Quên cả rừng mai, quên mây trời bay

Một nửa mùa Xuân chìm trong pháo địch

một nửa mùa Xuân mưu chuyện phá vòng vây

Trong giao thông hào, ta như loài chuột bọ

giữ từng thước rào,

canh từng vuông đất nhỏ

cho ngọn cờ vàng ngạo nghễ bay trong gió

cho Em và Con bình an nơi thành phố…

…

Nhớ Xuân Cao Nguyên

Ðoàn quân xa đi ngang qua thị xã

Áo trận hoa rừng phủ đầy đất đỏ

Ta ghé thăm Em và Bé mới ra đời

Em cười, giọt nước mắt trên môi lăn vội

Ta chỉ biết nói lời, “Xin lỗi!”

Ðã để cho em, “Một mình đi biển mồ côi…”

Ta ôm con vào lòng, “Bé bỏng con tôi!”

Ta chỉ bên Em, bên Con vài giờ ngắn ngủi

Chiến trường sục sôi, chiến trường réo gọi

Ðoàn quân xa lại vội vã lên đường

để lại Bé, để lại Em và thị xã sau lưng…

…

Tuổi trẻ, một thời để yêu

Tuổi trẻ, một thời để chết…

Mùa Xuân ra đi biền biệt

Ngày xanh, tuổi trẻ của ta

Ta đã cho quê hương tất cả…

…

Nơi ấy, Cao Nguyên mùa Xuân

Nơi này, Seattle mùa Ðông

Người Biệt Ðộng nhớ Cao Nguyên vô cùng

Còn Cao Nguyên…có nhớ gì ta không?

Vương Mộng Long – Seattle 1996

Đại úy Vương Mộng Long và phu nhân 1970

o O o

Ở Việt-Nam, tôi đã là cư dân của núi.

Qua Mỹ rồi, tôi cũng là cư dân của núi. Vùng đất mà tôi đang sinh sống hiện thời là nơi có đủ loại thông xanh, thông xanh bạt ngàn. Người Mỹ gọi đất này là “Evergreen State” còn người Việt ở Seattle thì gọi xứ này là “Cao Nguyên Tình Xanh” Những khi rảnh rỗi, tôi thường lái xe qua núi, qua đèo, dừng chân nơi nào đó, ngắm cảnh trời chiều trong thung lũng để nghe tiếng suối reo, tiếng chim kêu, và tiếng gió rít qua khe. Trong những giờ phút ngây người trước cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, tôi lại có dịp thả hồn mình phiêu du về Cao Nguyên của Vùng 2 Chiến Thuật Việt-Nam Cộng-Hòa…

o O o

Cao Nguyên và tôi…

Thời chiến tranh Việt-Nam trong Thế kỷ 20 đã có rất nhiều người tìm đến Pleiku chỉ với mục đích được sống vài ngày lang thang trên phố núi, ngắm sương mù che ánh đèn đêm, rồi chui vào quán cà phê khuya, ngồi phì phà khói thuốc, cố nặn óc kiếm ý, gieo vần, gắng sức viết cho được một vài bài thơ ca tụng Pleiku, những mong mai này sẽ nổi tiếng với đời. Còn tôi, tháng Mười năm 1966, sau vụ Phật Giáo Miền Trung, mang cái án phạt 90 ngày Trọng Cấm trên vai, tôi tới Pleiku với tâm trạng chán chường của một kẻ bị lưu đày.

Ngày ấy, tôi thấy Pleiku là một thị trấn nhỏ tí teo, chỉ có một con phố chính Hoàng Diệu là nhộn nhịp người qua kẻ lại, vì nơi này có những quán xá chen chúc sát vách nhau trên một đoạn đường dài chưa đầy cây số. Nhà hai bên phố thì toàn lợp tôn, cao, thấp chẳng đều, căn nhô ra, căn thụt vào, chẳng có thứ tự hay hàng lối gì cả! Chỉ qua vài ngày lang thang trong thành phố này, tôi đã nhận ra, người ở đây toàn là dân tứ xứ, đa phần là lính và gia đình của lính. Tóm lại, Pleiku thuở ấy, với tôi chẳng có vẻ gì là nên thơ hay quyến rũ cả.

Thành phố Pleiku là thủ phủ của Cao Nguyên mà còn buồn chán như thế thì nói gì tới những tiền đồn biên giới xa xôi như Dak Pek, Dak Tô, Ðức Cơ, Plei Me…

Ấy vậy mà, ngày tháng đong đưa, tôi đã chôn chân ở xứ này tới mười năm, đã say mê rừng núi Cao Nguyên tự lúc nào, tôi cũng chẳng hay. Trong mười năm dài, tôi đã có dịp góp sức, góp máu cùng hàng ngàn người lính vô danh khác đang ngày đêm lặn lội trong rừng sâu, núi thẳm đầy muỗi vắt, trước những họng súng sẵn sàng nhả đạn của quân thù, để bảo vệ quê hương. Gót chân tôi đã in trên từng thước đất dọc biên giới Việt, Miên, Lào, từ Khâm Ðức của Vùng 1 Chiến Thuật, tới Bù Gia Mập của Vùng 3 Chiến Thuật.

Gia đình Thiếu tá Vương Mộng Long (1974)

Ròng rã mười năm, tôi đã trải qua những trận đánh ác liệt và đẫm máu nhất của Cao Nguyên Vùng 2, những trận chiến mà cái sống và cái chết của người chỉ huy chỉ cách nhau như một đường tơ, kẽ tóc. Máu tôi đã nhiều lần đổ xuống tưới đẫm đất này.

Hiện thời, năm 2023 của Thế kỷ 21, trên người tôi, kỷ niệm chiến tranh vẫn còn đây, với cái vai trái mất một miếng xương, một cái sẹo bên sườn phải, và trong ngực tôi còn nguyên một đầu đạn AK47 nằm cách trái tim tôi chưa tới một centimet.

Bù đắp lại, tôi đã có những tháng, ngày sống thật vô tư, thảnh thơi, buông thả ở đây. Cũng từ Cao Nguyên, tôi đã xây dựng được một gia đình hạnh phúc tuyệt vời.Tôi đã chứng kiến một thời Cao Nguyên huy hoàng, rực sáng. Rồi tôi đã phải gạt lệ chia tay Cao Nguyên vào những ngày Cao Nguyên hấp hối.Vì thế, Cao Nguyên chính là đời tôi, với đầy đủ buồn, vui, vinh, nhục, hạnh phúc, và đau thương.

o O o

Tôi lớn lên trong chiến tranh, dù cho bao năm đã qua đi, những kỷ niệm gì liên quan tới chiến tranh, cứ còn mãi trong đầu.  Tôi còn nhớ, cuối năm 1953 kế hoạch Navarre của Quân Ðội Liên Hiệp Pháp ra đời khi tôi vừa qua tuổi lên mười. Kế hoạch Navarre có biểu hiệu là cái nắm đấm. Dấu hiệu này có ý nghĩa là sức mạnh quân sự của Pháp sẽ được tập trung bảo vệ những thành phố lớn vùng Trung Châu Bắc-Việt, những thành phố vùng cao sẽ bị bỏ rơi. Ðầu năm 1954 những bích chương với dấu hiệu cái nắm đấm được dán đầy tường trong phố và trên các gốc cây lớn mọc bên đường. Cùng thời gian này từng đoàn công voa chở quân lính và khí cụ nối đuôi nhau chạy về Hà-Ðông và ngoại ô Hà-Nội. Kết quả là, một năm sau khi kế hoạch Navarre ra đời, nửa nước Việt-Nam rơi vào tay Cộng-Sản. Hai mươi năm sau, cuối 1973 tôi lại nhìn thấy tình trạng Cao Nguyên Việt-Nam Cộng-Hòa cũng không khác gì tình trạng Trung Châu Bắc-Việt trong kế hoạch Navarre năm 1953, quân ta cũng không có cuộc hành quân thế công nào, đâu đâu cũng lo co cụm, phòng thủ thụ động xung quanh những thành phố lớn. Tình hình bi đát tới nỗi, giữa ban ngày mà muốn đi từ Pleiku tới Thanh-An cũng phải mở đường, rà mìn, đóng chốt.

Hào quang chiến thắng của những chiến dịch “Bình Tây 48” – “Bình Tây 3” hay “Lùng và diệt địch” của thời kỳ 1966-1970 ngày xưa đã trở thành kỷ niệm. Chúng tôi mang tiếng là Biệt Ðộng Quân, trên bảng cấp số có ghi rõ ràng là đơn vị trăm phần trăm di động, mà quanh năm cứ đóng đồn, giữ cầu, giữ đường thì “ẹ” quá! Hằng ngày tôi có dịp được tiếp xúc với các giới chức cao cấp của quân đoàn, được tham dự những buổi thuyết trình về tình hình bạn, địch trên toàn Quân Khu 2 nên tôi có thể hình dung ra những gì sẽ diễn ra ở Vùng 2 trong tương lai sắp tới.

Chuyện Tháng Mười Hai

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

 Tôi ngồi trong một căn phòng có hơi sưởi ấm, gõ bàn phím laptop ghi đơn đặt hàng gởi đi cho kịp nhận hàng vào tuần tới. Tháng mười hai tây được đặt thêm phần cho tiệc tùng những ngày cuối năm. So với mấy năm trước thời kinh tế khủng hoảng, tiêu chuẩn ăn uống của tháng mười hai có thêm gà tây, thỏ, tôm, rượu nho và vài ba món nhậu, ngoài ra công ty chuyển hàng gởi tặng ba tê, cá hồi un khói, bánh, kẹo, sô cô la đủ loại và một thùng rượu nho trắng, một thùng rượu nho đỏ… gồm chung đồ ăn, thức uống ê chề ăn tới ra Giêng vẫn chưa hết. Mấy năm sau này kinh tế èo uột, chủ tàu cắt giảm phần ăn gần phân nửa và cuối năm công ty chuyển hàng gởi tặng chỉ có mấy tờ lịch quảng cáo hình ảnh của công ty, ngoài ra không có thứ gì ăn được và cũng chẳng có giọt rượu nào. Gõ xong đơn đặt hàng, tôi đọc lại thấy quá tiêu chuẩn qui định, có lẽ tôi phải bớt vài món nhưng còn phân vân chưa biết phải bỏ những món nào.  Tôi đứng dậy vươn vai và vói tay vẹt tấm màng khung cửa nhỏ, ngoài trời tuyết rơi nhẹ, chưa vào mùa đông mà đã trải qua hai cơn bão tuyết những bông tuyết li ti bám vào cửa kiếng, đọng bên thềm cửa và trải một lớp dầy trên boong sau làm tôi nhớ tới những ruộng muối trắng của miền Trung Việt Nam nước tôi. Nước nhiễu đóng băng tạo những hình thù ngồ ngộ, cái giống trái cà dái dê, cái như bầu rượu treo lòng thòng phía dưới những song sắt rào cản và phần khác giống sáp đèn cầy đun nóng chảy xuống đọng sau thành tàu trong suốt như pha lê. Nhìn cảnh vật và không gian ủ dột cũng đoán biết bên ngoài trời lạnh ghê gớm lắm, lòng tôi chùng theo cái lạnh tê tái của nước trời.  Tháng cuối năm ở Âu Châu là mùa ăn uống, biết tôi đặt hàng, mấy người đề nghị đặt thêm món này món nọ. Tên thợ máy mập như bò, hám ăn như heo, hắn kêu tôi đặt tôm thẻ hạng nhứt và loại thịt bò mềm làm món bít tết, hắn biết rất rõ chuyện hắn muốn không bao giờ xảy ra trong thời buổi kinh tế khó khăn này, tuy nhiên hắn ta vẫn đề nghị để khi nhận thực phẩm không có những thứ hắn yêu cầu thì dựa vào đó hắn ta xỏ xiên chọc ghẹo: “Ông sợ chủ tàu phá sản à!” Hoặc: “Bộ ông trả tiền hay sao mà hà tiện vậy”. Từ lâu tôi tập nhẫn nhịn nhờ gặp phải nhiều gương mặt khó ưa, nghe nhiều câu nói khó chịu lâu ngày tôi bớt đi tánh nóng. Hổng hiểu sao hôm nay tự dưng nó lởn vởn trong đầu mấy câu trêu chọc của tên thợ máy làm tôi suy nghĩ vẩn vơ.  Tôi nhớ tới những em nhỏ bươi rác kiếm ăn ở mấy nước nghèo, những người tàn tật và các em bán vé số ở quê hương tôi bận áo quần rách tả tơi, miệng gượng nở nụ cười mời người mua lấy vận may. Trong khi ở nơi đầy đủ mọi thứ, con người ta đòi hỏi nọ kia. Nghĩ tới lòng dạ tham lam của con người, tôi bực mình day trở lại bàn, khởi động lại laptop, gõ như trút giận lên bàn phím xóa hết những món đặt thêm cho tiệc tùng và những món tên thợ máy đề nghị, chừa lại gà tây, thỏ truyền thống và một thùng rượu nho trắng, một thùng rượu nho đỏ đúng theo qui định. Sửa xong đơn đặt hàng tôi thấy nhẹ người và quyết định từ đây về sau tên thợ máy hay bất cứ tên nào ọ ẹ nọ kia chuyện ăn uống tôi sẽ dạy cho hắn ta một bài học. Đúng vậy, sanh ra là con người một lẽ, có địa vị tốt, chức quyền cao cũng là một lẽ, nhưng sống cho ra con người thì cần phải học. Hôm hai mươi lăm tháng mười hai tàu nằm trên biển Nam và phải vật lộn với sóng, gió cấp bảy, cấp tám. Hai ngày sau mới ghé vào Thuỵ Điển lên hàng, xuống hàng bận rộn tới ngày hai mươi tám tháng Chạp tàu ghé cảng Oslo, thủ đô Na Uy. Chiều hôm ấy thuyền trưởng kêu mọi người tụ lại phòng ăn, bia và nước ngọt để sẵn ra bàn, ai muốn gì thì tự lấy khui uống. Sau khi mọi người yên vị đâu đó thuyền trưởng cho biết tàu đậu lại đây được hai ngày, ông nói: –  Chúng ta ăn Giáng Sinh vào ngày mai. Mọi người chịu quá hô rân và đưa chai lên cụng. Thấy mọi người vui quá, tôi cũng chen vào dí dỏm hỏi viên thuyền trưởng: – Ngày Giáng Sinh qua rồi còn gọi là tiệc Giáng Sinh được sao? – Hỏi rất hay.   Mọi người im lặng còn thuyền trưởng thì nheo nheo đôi mắt và bành cái mặt thịt ra suy nghĩ, trên tàu chỉ có thuyền trưởng, thợ máy và con nhỏ Mieke phụ máy hổng biết mấy người ăn gì mà mập quá cỡ, ba người gộp lại đem cân chắc được non nửa tấn. Cuối cùng thuyền trưởng cũng nghĩ ra, ông nhe răng cười hì và nói: – Gọi là tiệc Merry Christmas and Happy New Year. Mọi người cao hứng đưa bia cụng và hô lên: – Ô…ô… Merry Christmas and Happy New Year !!! Sau đó thuyền trưởng phân công, thủy thủ lau chùi trong tàu và dọn dẹp phòng ăn, thợ máy gắn lại bóng đèn. Ông day qua tôi: – Bếp, ông biết làm sao rồi phải không? – Yes sir.   Thuyền trưởng phân công xong, tôi  về phòng ngủ sớm. Mấy người ngồi lai rai tán dóc tới khuya. Vậy mà sáng hôm sau tất cả vẫn thức đúng giờ, mặt mày người nào cũng tươi rói. Ăn sáng uống cà phê xong liền bắt tay vào việc.   Mấy hôm trước cây thông đã bị sóng vật ngã mấy lần, lá thông rụng gần hết chỉ còn một vài nhúm màu xanh bám vào nhánh khẳng khiu xám xịt, đồ chơi và dây kim tuyến treo lủng lẳng làm quằn mấy chiếc cành, vài nhành bị gãy cụp xuống, đèn điện bóng cháy, bóng tắc trông căn phòng ảm đạn thê lương. Khi cơn giông gió qua, lòng người phấn khởi, thủy thủ đứa dựng cây thông, đứa căng hoa giấy. Mieke trải khăn bàn, xếp ly, dọn dĩa, nĩa, dao và xếp giấy lau miệng, thợ máy lui cui gắn dây đèn, nhìn hai đống thịt của Mieke và tên thợ máy án chật phòng ăn thì thấy mấy người In Đô teo lại nhỏ xíu.   Tôi thức từ sáng sớm và làm mấy món cần thiết để sẵn. Trước thời kinh tế khó khăn, đầu bếp chỉ cần nấu những món chánh thôi, những món nhậu chỉ tháo bọc đem ra cắt miếng, sắp vào dĩa, trưng bày cho đẹp rồi dọn ra bàn. Mấy năm sau này đầu bếp phải tự chế biến thêm những món nhậu nên phải sắp sếp thực đơn. Fredy phụ tôi làm bếp, tôi chỉ nó cách xẻ đôi trứng gà, móc lòng đỏ để vô tô và để riêng phân nửa lòng trắng vô một tô khác, sau đó dầm nhuyễn tròng đỏ đem trộn ngò, chanh, tiêu, muối, đường, tỏi, mayonais… làm món trứng nhồi trứng. Tôi lấy chiếc mâm vuông dài một thước, ngang năm tấc, lót giấy nhôm lên, đưa cho Fredy và chỉ qua những món đồ tôi bày sẵn trong góc bếp, dặn:   – Mày lấy muỗng múc tròng đỏ trứng gà trộn trét vô lòng tròng trắng và trét patê lên bánh dòn, dưa chuột chua cuốn thịt nguội, phó mát ghim chung với khóm… xong rồi sắp mọi thứ vào mâm. Giao việc cho nó xong, tôi day qua đút con gà tây vô lò nướng, sau đó lấy mấy trái cà tô mát cắt làm bông hồng, củ cà rốt tỉa hoa và xé lá xà lách để lát nữa trang trí mấy mâm đồ ăn. Có tiếng thợ máy kêu bên phòng ăn: – Bếp! Qua đây coi. Không hiểu sao nghe tiếng cái tên mập này là tôi bực mình, nhưng cũng bước qua coi thử chuyện gì. Trong ánh sáng mờ mờ, căn phòng rực rỡ nhiều màu sắc chớp chớp, nhá nhá, lóng la lóng lánh ánh kim tuyến vô cùng lộng lẫy. Mặt mày người nào cũng tươi rói, sự náo nức làm cho không khí trong phòng vui nhộn. Ngày thường tôi nhìn mặt thợ máy giống như mặt heo, hôm nay trông rất là người, lại là người đẹp nữa, lòng tôi dịu lại reo vui. Tôi đưa ngón tay cái ra gặt gặt: – Ồ, đẹp quá. Thợ máy hỏi: – Được rồi phải không? Tôi gật đầu: – Quá được.    Mấy người trang hoàng phòng ăn xong, ai trở về phòng nấy. Trong tàu trở nên yên ắng và nghe rõ tiếng nhạc Giáng Sinh nho nhỏ phát ra từ hai chiếc loa bên phòng ăn. Tôi quay lại phòng bếp tiếp tục công viêc. Fredy thấy tôi bước vô nó khoe: – Xong rồi còn gì nữa hông chú? Tôi nhìn qua thấy nó sắp đồ trên mâm lộn xộn hết. Cười một cái, tôi đi lại bên nó, lấy từng món sắp lại món nào ra món nấy. Sắp xong tôi hỏi: – Mày thấy sao? – Ờ, trông đẹp hơn. Tôi lấy lá sà lách và cái bông hồng đưa cho nó: – Mày cắt cái rìa lá xà lách này viền chung quanh bìa mâm và để cái bông hồng bên góc là được rồi.    Thuyền trưởng đánh số trên mỗi gói quà và ghi số thăm trên miếng giấy trắng A4 cắt làm tư xếp lại bỏ vô lon, để lon thăm lên thùng quà, khệ nệ ôm xuống phòng ăn. Ngang qua phòng bếp thấy tôi với Fredy lục đục bên trong, ông bèn dừng lại, hai tay vịn chặt thùng quà, ưỡn cái bụng to ra kê cho thùng quà chìa vô phòng bếp, cười nói: – Tui xong rồi nè, Bếp xong chưa?   Tôi ngước lên, thấy mặt thuyền trưởng vui như mặt ông địa, cười một cái, tôi nói: – Sắp xong rồi, ông chuẩn bị khui rượu là vừa. Thuyền trưởng vô phòng ăn hổng thấy ai, bèn nhấc điện thoại gọi từng người. Vài phút sau mọi người tụ tập hết vào phòng ăn cũng là lúc Fredy bưng mâm đồ nhắm để ra bàn. Trong lúc tôi lui cui trở và ghim thử con gà tây thì nghe tiếng thuyền trưởng gọi: – Bếp! Ra đây mau. – Ô kê, tôi ra liền.  Thử con gà thấy còn máu, bèn đóng cửa lò lại, đứng lên đi qua bồn rửa rửa tay và lau tay khô tôi mới bước qua phòng ăn. Vừa thấy tôi, thuyền trưởng liền cầm chai Champagne lên bật nút nổ cái bụp, rượu tràn có vòi, mọi người hô to và chìa ly ra hứng. Rót rượu cho mọi người xong, thuyền trưởng nói câu chúc mừng và nâng ly mời tất cả  cùng cạn. Hết đợt champagne tôi và Fredy khui thêm rượu nho trắng và đỏ để ra bàn. Trong khi đó thuyền trưởng đưa lon thăm cho Mieke, nói: – Đàn bà trước.     Mieke lấy một miếng thăm, kế tiếp ông đưa lon thăm cho tôi, tôi bốc một cái, sau đó lon thăm được chuyền tay cho mọi người và người cuối cùng là viên thuyền thưởng. Xong phần bốc thăm, tới lượt nhận quà, cũng bắt đầu từ Mieke, thăm số nào thì quà số nấy. Ai nhận quà thì mở liền ra cho mọi người xem, mỗi khi mở quà tiếng hô đồng loạt rân vang… Nhận quà xong mọi người tiếp tục ăn uống. Cụng ly vài ba đợt mâm đồ nhắm đã giựt hơn một nửa. Không khí vui nhộn, tiếng nói tiếng cười át cả tiếng nhạc phát ra từ hai cái loa bên góc phòng. Bình thường tôi không uống bia rượu, hôm ấy vui quá tôi cũng cụng ly với mọi người. Khi thức ăn trong mâm gần hết, tôi đứng lên đi vào bếp mở lò thăm con gà tây, gà cũng vừa chín tới, vặn tắt lửa và đóng cửa lò nướng lại. Tôi ra phòng ăn lấy chiếc mâm, trong mâm còn vài món đồ ăn, tôi đưa cho mỗi người một cái, mâm đồ ăn đã hết và tôi day ngang kêu Fredy theo tôi. Fredy theo tôi vô bếp, tôi đưa chiếc mâm cho nó và dặn: – Mày thay giấy nhôm và trang trí lá sà lách, tô mát, dưa leo lên xung quanh mâm để lát đựng gà tây.   Fredy cầm chiếc mâm bắt đầu công việc, tôi day qua bật lửa lò hâm nóng lại món khoai tây xào thịt ba chỉ un khói và mở lò lấy gà tây ra chặt, sắp lên mâm. Gà tây đút lò, khoai tây xào ăn chung với xà lách trộn chua cũng không tệ lắm. Sắp xong mọi thứ đâu vô đó trông cũng bắt mắt, tôi với Fredy bưng hết ra để lên bàn và ngồi vào cùng ăn. Tiệc tùng từ lúc hơn mười một giờ sáng tới hơn hai giờ trưa, thức ăn trên bàn đã hết sạch, vậy mà mọi người vẫn tiếp tục cụng ly. Tôi với Fredy đứng lên dọn dẹp dao, nĩa, dĩa dơ bỏ vô máy rửa. Fredy hỏi: – Còn gì nữa không chú. – Cái gì nữa? – Đồ nhậu. – À, cái đó hả, có phó mát, salami, bánh phòng tôm, khoai tây dòn… thiếu gì trong kho. – Mấy năm trước con thấy chú làm thức ăn nhiều lắm. – Chậc, kinh tế khó khăn…. Ờ mà… tao thấy kinh tế khủng hoảng vậy mà hay. – Hay sao chú? – Thì cho con người ta bớt tiêu xài, sống thiêu thiếu một chút mới thấy được giá trị cuộc sống. – À há… – Dù sao giảm bớt phần ăn còn hơn là nấu nướng cả đống ăn hổng hết rồi đem đổ. – Con cũng thấy vậy đó chú. Tôi bước qua ra phòng ăn hỏi mọi người muốn ăn gì thêm không. Mọi người ưỡn cái bụng ra xoa xoa nói. – No rồi. Thợ máy cầm con chuột vi tính đưa qua cho tôi: –  Cho ông đó. Tôi lưỡng lự: – Quà Giáng Sinh của mày mà. – Nhưng tui có rồi, ông chưa có. Thiệt ra thì tôi cũng có con chuột vi tính nhưng vì không thích rườm rà nên không xài đó thôi. Thấy hắn ta nhiệt tình tôi hổng nỡ từ chối, chỉ còn cách đưa tay lấy con chuột, nói: – Cám ơn nhiều. Phần quà thuyền trưởng là cái khăn choàng cổ, ông cũng cho tôi luôn. Nhận thêm hai phần quà, tôi day qua hỏi mọi người lần nữa: – Ăn thêm gì không? Mọi người nói không. Thợ máy xoa xoa cái bụng nước lèo của hắn: – Đi chung với ông tui mập thêm dìa nhà bà xã rầy. Thuyền trưởng nói: – Ông đi nghỉ được rồi phần dọn dẹp để đó. Day qua mấy người ngồi cùng bàn ông nói: – Lát nữa xong mấy ông thanh toán phần còn lại. Tiếng hô vui vẻ của mọi người: – Ô kê… Tôi trở qua phòng bếp, thấy Fredy đứng xớ rớ. Tôi nói với nó: – Mày ra ngồi chơi với mọi người, xong chuyện có mấy người phụ mày dọn dẹp, tao đi nghỉ đây. Nó dợm bước ra ngoài. Tôi kêu lại và đưa hai món quà vừa nhận của thợ máy và thuyền trưởng lên, nói: – Tao để hai cái này trong góc bàn, cho mày đó. – Nhưng. Tôi khoát tay nói như ra lịnh: – Ra ngoài chơi đi, không nhưng gì hết, hai cái này là của mày. – Cám ơn chú. Vô phòng tắm rửa thay quần áo xong, thấy trong người khoẻ khoắn. Tôi lên giường nằm định đánh một giấc, chợt nhiên trong lòng áy náy bồn chồn không ngủ được. Cách đây mấy ngày, tôi còn nghĩ rằng những con người thật sự, từ ngàn xưa cho tới ngày nay, họ xem nhẹ chuyện ăn uống, không bao giờ vì miếng ăn mà nói ra những lời thô tục. Cũng vì lẻ đó mà hôm xuống hàng thấy thợ máy tới dòm dòm, tôi chờ cho hắn cất tiếng soi mói bậy bạ tôi sẽ cho hắn một bài học. Nhưng suốt buổi hổng thấy hắn ta nói gì, tôi bèn gợi chuyện: – Hổng có tôm thẻ và bò bít tết cho mày đâu. Hắn cười: – Tui biết, tui đặt phụ tùng và đồ đạc dưới hầm máy, công ty đưa xuống có đủ đâu, thời buổi kinh tế khó khăn phải chịu thôi. Từ đó về sau tôi nhờ gì hắn làm nấy, lúc nào hắn cũng vô tư nói cười vui vẻ làm cho tôi mất cơ hội dạy đời. Tôi ngồi dậy bước xuống giường đi lại vẹt tấm màn cửa, nhìn ra bên ngoài, từng mảnh tuyết nhỏ như bông gòn nhẹ nhàng rơi, tất cả tự nhiên và yên bình quá. Cũng như cuộc sống, tự nó đã im ả như những bông tuyết nhẹ rơi. Lòng tôi chợt nhiên e thẹn, nhớ tới truyện hai viên gạch nằm xéo trên một bức tường và truyện một chấm mực đen trên tờ giấy trắng, tôi đã đọc qua rất nhiều lần, cả hai truyện rất đơn giản nhưng ý nghĩa bao la, xem ra cho tới ngày nay tôi vẫn chưa học thuộc. Ấy vậy mà lúc nào tôi cũng vạch lá tìm sâu và rình rập muốn lên lớp để dạy đời người khác.     Địa Trung Hải 30-11-2012    
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chuyện ngày cuối năm

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

Hải trình chiếc Atlantic bắt đầu từ Houston xuống Nam Mỹ, mỗi chuyến đi dài năm hoặc sáu tuần. Sau đó quay trở lai Houston xuống hàng, lấy thực phẩm và thay người. Ðúng ra tôi được đổi về hôm trước Giáng Sinh. Nhưng vì ba cái vụ khủng bố trên đất Mỹ nên những người mang quốc tịch của mấy nước Hồi giáo tạm thời không được toà đại sứ Mỹ cấp chiếu kháng nhập cảnh. Ông đầu bếp thay tôi người In-đô chờ lo thêm thủ tục có thể ra Giêng mới xong.  Những ngày cuối năm không được về với gia đình tôi cũng có hơi buồn. Tuy nhiên nghe tin tôi ở lại, từ thuyền trưởng tới thủy thủ đoàn trên tàu rất vui mừng. Họ vui chẳng qua vì hai bửa tiệc Giáng Sinh và Tết Tây năm nay họ được thưởng thức những món ăn thuần túy Việt Nam.  Chuyến rồi tàu trở lại Houston, tôi với thuyền trưởng lên siêu thị Việt Nam mua thức ăn chở đầy nhóc chiếc tắc xi. Hôm Giáng Sinh ngoài con gà tây đúc lò ra tôi dọn thực đơn các món nhấm Việt Nam và nấu một nồi phở hai chục lít. Trong bữa tiệc những món ăn Việt Nam được bà con chiếu cố tận tình và nồi phở cũng hết sạch trong ngày hôm ấy. Chả giò, gỏi cuốn, tôm chiên bột sốt chua ngọt… đã loại con gà tây truyền thống Giáng Sinh ra khỏi bàn tiệc! Tôi để con gà Tây qua mấy ngày sau mà chẳng ma nào rớ tới, cuối cùng tôi gói con gà đem cho mấy người bốc dác trên bến cảng. Tàu cặp cảng Paramaribo khuya ba mươi rạng ngày ba mươi mốt tháng chạp.  Sáng sớm, thuyền phó ra thông báo tàu sẽ đậu lại đây qua Tết mới khởi hành.  Sau bữa điểm tâm, thuyền trưởng phân công: thủy thủ lau chùi tàu sạch sẽ, xong sớm nghỉ sớm, thuyền phó mua pháo và cái xiệc-điện (survolteur) cho dàn đèn tự động kết hàng chữ Merry Christmas & Happy New Year đã bị cháy trong đêm Giáng Sinh và đầu bếp đi chợ mua thêm thức ăn tươi, làm sao cho bữa tiệc giao thừa xôm tụ mới được.  Lamat đòi theo phụ xách đồ. Thuyền trưởng nói:  – Được, nhưng mầy phải tháo bảng chữ trên mui tàu xuống,  gỡ chữ Merry Christmas ra, dời chữ Happy New Year vô chính giữa bảng và đóng lại cho đẹp rồi mới được đi.   Tôi ra sau lái đứng nhìn dòng sông uốn khúc chảy ngang thủ đô Paramaribo. Mực nước cạn theo con nước ròng, hai bãi sông lồi ra làm cho dòng nước hẹp lại. Nước bắt đầu chững, những đống cỏ, rác bềnh bồng chờ con nước lớn đẩy ngược về nguồn.   Hôm nay là ngày cuối năm, sinh hoạt trên bến cảng chậm lại. Nếu không có một cuộc cãi vã không cần thiết thì không khí trên tàu sẽ êm ắng vô cùng. Có một gã thanh niên,  áo quần rách rưới khệ nệ rinh hai bao dừa xuống để sau lái tàu. Lamat chạy tới nạt nộ đuổi gã đi. Gã cười cầu tài và chấp tay xá xá, nài nỉ với giọng điệu của người thấp cổ.  – Thưa ngài,  tui chỉ bán dừa thôi chớ đâu có làm gì.  Lamat xua tay hùng hổ:  – Không,  không  ai mua đâu, mày ôm lên khỏi tàu lập tức!  Có lẽ gã cũng đã quen cái cảnh bị đuổi xua nên gã đóng mặt lì, lóng ngóng chờ coi có người nào khác tới để rạ bán hai bao dừa. Lúc đó Fidal đi ra. Gã rạp đầu cúi xuống, chấp tay xá một cái:  – Happy new year, ông mua dừa dùm đi ông, gã cất giọng ai oán,  tui có một vợ ba con, Tết tới rồi, ông giúp dùm, hai bao dừa chỉ có năm đô Mỹ.  Mặc tình thằng nhỏ năn nỉ, chẳng những Fidal không động lòng, trái lại nó còn hùa theo Lamat nạt nộ chửi bới con người ta.  Nãy giờ tôi đứng sau boong thấy cảnh kỳ cục,  tự nhiên hai thằng đi ra gây lộn với thằng nhỏ. Tôi bước tới can:  – Thôi đi, nó chỉ bán có mấy trái dừa, có gì đâu mà tụi mầy làm dữ vậy. – Nó không được xuống tàu. – Nếu nó là con gái thì tụi mầy có đuổi đi không?  Nghe tôi hỏi hai đứa phá lên cười rồi đi qua đứng dựa thành tàu. Gã bán dừa day qua tôi rạp đầu một cái cất giọng ca bài con cá sống vì nước. Thật ra tôi rất thích chất ngọt dịu mát tự nhiên của nước dừa tươi, với lại ở miệt nầy dừa tươi rẻ tiền hơn nước đóng hộp. Chuyến nào xuống Nam Mỹ tôi cũng mua vài chục dừa tươi gọt bỏ vỏ xanh, để dành trong phòng lạnh giải khát. Tôi nhìn gã thấy vết rách trên áo còn mới, nút áo đứt hở ngực. Từ ngực xuống tới hai bắp tay bị sướt và dấu máu trên vết sướt vừa mới khô. Tôi nghĩ tới sự hấp tấp của gã khi ôm thân dừa từ cao tuột xuống, té nhào, không bị dập dái nằm tại chỗ là may lắm rồi. Bao nhiêu chứng cớ cũng đủ biết việc làm của gã không được lương thiện lắm. Tôi đoán chừng trong hai bao dừa bất quá chỉ phân nữa trái nguyên, còn lại là dừa điếc. Tôi chỉ tay xuống hai bao dừa hỏi gã:  – Bao nhiêu?  Gã nói: – Bốn mỹ kim. Mới ra giá năm bây giờ hạ xuống còn bốn. Tôi móc mười mỹ kim chìa ra: – Nè, cầm tiền đi về ăn Tết với vợ con được rồi,  tết nhứt đi ăn trộm bị cảnh sát bắt thì bị xui suốt năm. Gã mừng húm, vội vàng chụp tiền bỏ vô túi rồi đứng nghiêm,  đưa tay lên chào theo lối nhà binh: – Yes sir! Khi gã đi rồi, Lamat gỏ gỏ ngón trỏ lên đầu chế ngạo: – Ông khùng, lần nào xuống đây ông cũng mua nhằm dừa điếc, vậy mà ông còn trả thêm tiền. Tôi nói: – Nhưng ít ra cũng còn phân nữa dừa nguyên, ở bên châu Âu hai mỹ kim mua chỉ được một trái dừa khô.   Công việc trên tàu được thủy thủ đoàn làm xong sớm hơn thường lệ. Tôi với Edy,  Lamat,  Fidal và thuyền phó đổ bộ ra tới cổng. Thuyền phó đòi đi tắc xi.  Tôi muốn đi xe bus, đó là thói quen của tôi. Tôi thích đi xe bus đông người vui vẻ, rẻ tiền và vừa được nhìn thấy cảnh sinh hoạt của dân địa phương. Hơn nữa ở xứ nầy tắc xi đâu đâu có đúng hẹn, họ kêu chờ mười phút nhưng lắm khi đứng cả buổi mà chẳng thấy mặt mũi tắc xi nào. Tôi day qua nói với viên thuyền phó: – Vậy thì mầy vô văn phòng nhờ nhân viên điện thoại gọi tắc xi, còn tao đi ra bến chờ xe bus.    Thấy tôi nằng nặc đòi đi xe bus thuyền phó đành nhượng bộ.  Chúng tôi xuống bến xe trung tâm, thuyền phó đề nghị tìm một quán giải khát nào đó, uống vài ly bia hãy đi mua sắm. Thiệt xẩu mình, hồi nãy đã cãi vã cái vụ xe bus, tắc xi, bây giờ thêm cái chuyện đi đứng nữa. Mới vừa lên tới phố lại đòi vô quán ngồi uống bia. Không muốn lôi thôi mất thời giờ, tôi đề nghị: – Hổng ấy mầy vô quán uống bia chờ mưa tạnh, tao vô chợ trước. – Như vậy cũng được. Lamat và Fidal đi theo thuyền phó, Edy theo tôi.  Tôi quen với Edy ba bốn năm nay, nghe nói ở bên In Ðô nó đã học xong dại học nhưng khi ra trường không có việc làm, thấy tương lai mù mịt quá, bèn xin làm thủy thủ. Hồi mới xuống làm, ỷ nói tiếng Anh trôi chảy nên nó xem thường đồng hương, trái lại đối với người nước khác thì nó nể nang hơn. Tôi may mắn  không phải đồng hương với nó nên được nó kính trọng và kêu bằng chú. Một ngày kia, không biết có chuyện cãi vã ngoài boong sao đó, nó mang bộ mặt hầm hầm đi vô nói với tôi. Dân da trắng đụng chuyện nó binh nhau không cần phân phải trái gì hết. Tôi nói: – Ðây là bài học mà dân Á đông mình cần phải học cho thuộc mới mong khá nổi. – Chú nói vậy nghĩa là sao? Trông bộ mặt thiểu não của thằng nhỏ đến tội nghiệp, tôi bèn nói: – Nghĩa là mầy nên dẹp cái đại học qua một bên và hoà mình sống với đồng hương của mầy hơn là theo nịnh nọt người da trắng. – Chú thấy tui như vậy sao? – Mầy biết hỏi như vậy thì mầy cũng không đến đỗi tệ lắm. Không ngờ câu nói thẳng thừng của tôi làm thay đổi hẳn tánh tình của nó. Từ đó tới nay hễ gặp chuyện khó thì nó tìm tôi trao đổi. Thời gian sau đối với đồng hương nó cũng được nhiều cảm tình. Năm nay nó muốn làm đầu bếp nên mỗi khi rảnh rỗi nó tình nguyện theo tôi để học hỏi kinh nghiệm.  Tôi với Edy chen chúc trong đám người đông như kiến. Nhiều cửa tiệm tạp hoá treo những món đồ gói trong giấy bóng đủ màu sắc và ánh kim tuyến lóng la lóng lánh. Tủ kiếng trong các tiệm được lau chùi bóng láng. Không giống như Âu Châu, bán pháo phải có dịa điểm riêng và chờ tới chiều cuối năm người ta mới được phép bày pháo ra bán. Nhưng ở đây hầu hết tiệm tạp hoá nào cũng bán pháo, pháo bông gói giấy màu,  pháo nổ chất  từng bành để đầy trong tủ và trên kệ,  pháo chưng bày kiểu nầy kiểu nọ trông đẹp mắt, nhưng khó bảo đảm an toàn, chỉ cần một tiệm bốc cháy, bao nhiêu pháo nổ cháy lan cũng đủ tan tành thành phố Paramaribo nầy. Tuy nhiên nhìn những đèn giấy màu treo tòn teng trong các tiệm tạp hoá, bánh mứt gói trong giấy màu đỏ,  chợ đầy hoa, trái và người người tấp nập ngược xuôi, quang cảnh nơi nầy gợi lại trong tôi những ngày cuối năm trên quê hương của một thời xa xôi ấy. Tôi nói với Edy: – Nhìn chợ Tết ở đây tao nhớ Việt Nam tao quá. Nó ngầng mặt lên, nói: – Tôi thì thấy giống Jakarta. – Cũng có thể, vì Surinam ngày trước là thuộc đia của Hoà Lan, dân In Đô của mầy trước kia bị bọn thực dân Hoà Lan bắt bỏ sang đây cũng như dân da đen bị bọn thực dân Anh bắt bỏ qua Guyana thuộc Anh và người Việt Nam tao bị bọn thực dân Pháp bắt bỏ qua Guyana thuộc Pháp. – Chú nói cũng đúng, nhưng sau nầy dân Java sang đây lập nghiệp nhiều lắm. Hồi nãy tui thấy ở gần bến cảng có một cái warung. – Warung là cái gì ? – Quán bán đồ ăn của In đô đó chú. Chiều nay chú đi với tui lên đó nhậu chơi, dù sao đi nữa ngồi nơi có con người và phong cảnh quen thuộc cũng an tâm hơn. Thú thật với chú,  mỗi lần vô những cái bar trong phố uống bia, nhìn thấy nguyên một tấm lưới sắt chận ngang quày bar, tui thấy lạnh gáy quá chừng.  – Tao thì hổng lạnh gì hêt, nhưng nhìn thấy mấy tấm lưới sắt chắn ngang các quày rượu trong mấy quán bar và những đội ngũ giữ trật tư trong các hợp đêm, tao nghĩ tới đám du đãng trong thành phố Paramaribo nầy cũng đứng vào hạng nhứt nhì trong các thành phố có du đãng nổi tiếng thế giới.  Edy mới hải hành vài năm, tình cảm quê hương còn sâu đậm, mỗi khi đổ bộ nó hay để ý tìm người đồng hương. Những năm chập chững sống với đời phiêu bạt, tôi cũng như nó bây giờ, ghé bất cứ bến nào nghe có người Việt, tức thì tôi tìm tới làm quen, lắm khi phải đi tắc xi hàng chục cây số, gặp nhau chẳng phải làm gì, vu vơ vài ba câu chuyện cho vơi bớt nỗi buồn xa xứ.  Làm bạn với gió, sương lâu dần rồi thắm thía.  Ði đó đi đây và mang theo cái thân xác không cũng đã thấy nặng nề lắm rồi,  dan díu thêm chuyện tình cảm, bến bờ làm chi cho sanh thêm phiền phức. “Ta van cát bụi trên đường, dù dơ dù sạch đừng vương gót giày”*. Hai câu thơ trên đã nằm lòng tôi không biết từ bao giờ, nhưng “nó” đã nhắc nhở tôi đừng nên thiết tha với bất cứ một thứ tình cảm nào trên bến lạ. Edy còn trẻ, đường nó đi còn dài, rồi một ngày nào đó, phong sương thắm đầy người, nắng mưa cuộc đời làm tâm hồn chai đá,  lúc đó nó sẽ thấy chuyện tình cảm của con người chỉ là bọt nổi trên biển, bèo trôi trên sông. Tôi không cần nói ý mình cho nó nghe, e nó đâm ra thất vọng. Tôi xuôi theo:  – Vậy thì chiều nay tao đi với mầy.  Dạo hết mấy khu phố, cuối cùng tôi với Edy rẽ vô nhà lồng chợ. Vừa bước vô bên trong nhà lồng thì đã nghe mùi rau cải úng hoà với mùi gia vị hỗn hợp và mùi nước đường mương khăn khẳn. Những sạp trái cây chất chồng bề bộn, hàng rau vừa tươi vừa héo để ngổn ngang.  Đi vòng hết nhà lồng chúng tôi mua được năm chục trứng gà và một mớ rau tươi. Edy phàn nàn: – Chợ bán không có nhiều đồ. – Nhiều chớ,  nhưng vì thức ăn ở đây khác hơn trên tàu nên mình mua hông được đó thôi. Thấy thằng nó có vẻ lo lắng cho bữa tiệc, tôi trấn an: – Không sao, mấy ngày nầy không thằng nào thiết tha tới chuyện ăn uống đâu, tao nghĩ đêm nay thủy thủ đoàn không còn lòng dạ ngồi lại tới mãn tiệc, cùng lắm sau khi đốt pháo là mạnh thằng nào nấy chuồn, hoặc chúng chuồn trước khi khai pháo giao thừa. – Vậy mình phải làm sao ? – Hôm ở Houton tao mua trong siêu thị Việt Nam chả giò, tôm thẻ và nhiều món nhậu Việt Nam khác, cộng với bao nhiêu rau cải tươi đây cũng đủ cho bửa tiệc kéo dài suốt đêm. – Vậy là đủ rồi hả chú? – Dư chớ đủ gì. Tôi dặn Edy: – Mầy đứng đây coi chừng đồ , tao đi gọi tắc xi rồi mình dìa. – Có chờ mấy người kia hông chú? – Khỏi đi, chuyện ai nấy lo, mình tranh thủ thời gian đi nhậu chơi.     Chúng tôi về tới tàu lúc hơn ba giờ trưa. Mấy ông con đã về trước, đương gắn xiệc điện, thử đèn. Không khí tết không lẫn trong không gian và cũng không phải có những cánh én lơi lả trên sông, mà là ba chử Happy New Year  trước mui tàu đương nhấp nhá trong cái nắng hanh hanh của miền trung Nam Mỹ.  Còn sớm chán, tôi sắp xếp công chuyện với Edy: – Bây giờ mầy rửa xà lách, xắt dưa leo, cà tô-mát, đánh xốt cốc-tai, tao thì luộc tôm và trứng gà, chừng xong rồi để sắp hết mọi thứ vô tủ lạnh, khuya nay đem mọi thứ ra xắp vô dĩa cho đẹp vậy là coi như xong bữa tiệc. – Chú còn quên. – Quên gì? – Chú hứa chỉ tui chiên Oliebol. – Ờ, xém chút nữa tao quên cái món quốc hồn, quốc túy của Hoà Lan. Hổng ấy vầy đi, mầy pha bột để đó rồi phụ tao xắt rau và luộc trứng, sau đó mình chiên bánh là vừa. – Nhưng chú phải chỉ tui cách pha bột chớ. – Thì mầy lấy bột mì, bột nổi, sữa, nho khô và trứng gà đem lên đây tao chỉ cho mầy cách pha. Edy vừa pha bột vừa hỏi tôi: – Người Hoà Lan ăn Tết nhiều thứ quá. – Không đâu, ở dưới tàu có đầu bếp lo nên mới bày vẽ đủ thứ, chớ thật ra đêm cuối năm gia đình người Hoà Lan chỉ làm vài món nhậu đơn giản như: phó mát, xúc xích, dưa chuột chua cuốn dâm bông và oliebollen là món ăn truyền thống của họ. Trong lúc ngồi chờ tới giờ đốt pháo họ uống bia, rượu mạnh, ruợu nho… – Nhưng tại sao phải ăn oliebol trong đêm giao thừa? – Họ ăn suốt cả tháng trước tết chớ không chỉ có đêm giao thừa. – Nhưng ý nghĩa gì? – Theo truyền thuyết nhờ những hồn ma người chết đã giúp cho mùa màng Hoà Lan được tươi tốt, dân chúng được no, ấm nên vào dịp Tết dân Hoà Lan đem lễ vật cúng cho những linh hồn. Trong những thứ bánh trái, rượu thịt dâng cúng có oliebollen. Hoà Lan từ đầu tháng mười hai tới Tết mới thấy oliebollen bán khắp nơi và họ ăn oliebollen trong những ngày nầy thôi. Còn những ngày thường chỉ trong hội chợ mới có gian hàng món ăn truyền thống chiên với bột mì của Hoà Lan như bánh chuối, khóm, bôm chiên bột mì và oliebollen…. Ðại khái vậy thôi, chớ nói hết về tập tục thì cả một câu chuyện dài. Bây giờ tao với mầy làm tiếp cho xong chuyện, mình còn đi chơi nữa chớ.   – Yes sir!  Công việc tưởng mau, nhưng lật bật tới chiều tối mới xong. Khi hai đứa tôi lên tới bờ thì phố đã lênh đèn. Trên đường lên quán hai bên cây cỏ rậm rạp, nhà cửa quán xá cất không hàng lối gì hết. Phía phải con đường có một quán bia ôm đèn màu nhấp nha nhấp nháy như mời mọc. Chúng tôi định ghé vào uống vài ly rồi đi tiếp nhưng vừa đi tới cửa rào thì đã thấy Lamat, Fidal và thuyền phó đương đứng cãi vã gì đó với hai tên Surinam, trong đó có tên hồi sáng xuống tàu bán dừa. Khi hỏi ra mới biết, có hai tên cướp cạn đón đường gây sự, xém chúc nữa là ba đứa bị ăn đòn, nhưng hai tên nầy nhào ra đuổi hai tên kia đi. Ðể đền ơn đáp nghĩa ba đứa dẫn hai tên nầy vô quán uống bia, nhưng hai đứa không uống bia chỉ xin tiền ăn tết. Thuyền phó cho mười đô, hai đứa không chịu đòi thêm cho nên mới có chuyện cãi vã. Thấy chúng tôi tới, thuyền phó day ngang phân trần. Tôi nói với nó: – Vậy ba thằng mầy bỏ ra một thằng mười đô cho nó yên chuyện đi chớ rắc rối làm gì. Thuyền phó miễn cưỡng móc túi, nhưng chỉ có hai tờ hai chục. Trong lúc thuyền phó còn đương lưỡng lự, tức thì tên Surinam đưa tay rút hai tờ giấy xanh trên tay thuyền phó rồi hai đứa chuồn đi ra khỏi cửa rào và biến vào trong bóng tối. Thuyền phó chửi thề một cái rồi day ngang rủ tôi với Edy vô quán nhậu. Tôi thấy không còn hứng thú gì ngồi nhậu ở đây, hơn nữa mấy tên nầy còn trẻ uống bia rượu nhiều lắm, chúng xài tiền như nước, ngồi với chúng xót cho cái túi tiền. Tôi từ chối và cùng Edy bước ra con lộ.  Trên con đường đất đá lởm chởm, hai bên những bụi cây rậm lá, đèn đường khúc sáng, khúc tối và rền rĩ tiếng côn trùng. Chúng tôi thả tà tà gần tới xóm nhà, chợt cái gã bán dừa từ đâu trong bóng tối nhào ra chận đường. Theo bản tánh tự nhiên, tôi kéo Edy lùi lại đề phòng chuyện bất trắc có thể xảy ra. Có lẻ gã đoán được ý chúng tôi nên xua tay nói: – Này hai bạn, hai bạn là người tốt, không có vấn đề, tui chỉ muốn giúp hai bạn thôi. Gã đưa ngón tay cái ra gặt gặt vừa cười thân mật vừa nói: – Tôi biết chỗ có gái đẹp hết sẩy. Không cần đâu, Edy móc thuốc ra mời gã, tụi tui tới warung trước đây. – À, chủ warung cũng là bạn tui đó.  Nói đoạn gã đi te te về phía trước như có ý dẫn đường. Gã vô quán trước và kêu chủ quán nói chuyện. Nhưng khi chủ quán thấy chúng tôi bước vô ông liền day ngang chào. Edy giới thiệu là người In Ðô, và hỏi gã chủ quán có nói được tiếng In Ðô không. Tức thì chủ quán mừng rỡ bắt tay và xí xô xí xào bằng tiếng Java và kêu vợ ra chào chúng tôi.  Mấy người nói chuyện với nhau một hồi, chủ quán day qua nói với gã bán dừa gì đó gã mới chịu bỏ đi. Sau đó ông mời chúng tôi vô phòng trong nhà, tôi ngỏ ý xin ngồi bàn ngoài sân cho nó mát. Ông chỉ cho chúng tôi cái bàn ngoài dưới góc cây dừa lùn. Bà chủ hỏi chúng tôi ăn gì bà nấu. Edy day qua hỏi tôi. Tôi hỏi bà có tôm thẻ không. Bà nói có. Tôi nhờ bà luộc cho hai đứa tôi một dĩa. Edy kêu ông chủ đem bia ra và mời ông cùng ngồi. Sau khi uống vài ngụm bia, ông day qua tôi nói: – Tối nay anh với Edy ở lại đốt pháo với gia đình tôi. – Rất tiếc đêm nay tôi còn phải về tàu, có thể Edy ở lại chơi với gia đình ông. – Vậy thì mình uống đi, mười một giờ tôi kêu con trai tôi lái xe đưa hai người xuống tàu. Edy kể cho chủ quán nghe chuyện xảy ra hồi nãy. Nghe xong ông chủ nói: – Bốn  thằng dàn cảnh làm tiền người ta đó nhưng sao trả tiền nhiều vậy? Tôi bưng bia lên hớp và cười một cái: – Một màn kịch nguy hiểm trả bốn chục đô la chia ra  mỗi thằng chỉ được có mười đô. – Như vậy cũng là nhiều. – Theo tui thì hồi xưa ông cha của người Pháp, Anh và Hoà Lan tới đây có lẽ cũng đóng kịch với nhau để chia phần đất Guyana nầy. Bây giờ có cơ hội thì bắt tụi nó trả cũng được thôi. – Ðúng! Đúng lắm. Chủ quán vừa nói vừa bưng bia lên cụng. Lúc đó bà vợ bưng dĩa tôm bốc khói và dĩa nước chấm ra để lên bàn rồi bà kéo ghế ngồi cạnh bên. Bà hỏi thăm Edy bằng tiếng Java. Thường đi chung với bạn bè In-đô tôi chỉ chuyện vãn qua lai lúc ban đầu bằng mớ Anh ngữ thông dụng của mình, sau đó ngồi im để cho họ chuyện trò với nhau bằng tiếng nước họ.   Chúng tôi nhậu rất vui vẻ tới mười giờ. Tôi đứng dậy kêu Edy ở lại chơi cho trọn đêm, dù sao lâu lâu mới được gặp được đồng hương trên xứ người, nói chuyện cho đã. Nhưng nó không chịu, một hai đòi theo tôi về. Edy kêu bà chủ tính tiền, bà không chịu lấy tiền mà còn trở vô trong đem ra một xách đồ ăn nhét vào tay bắt Edy phải cầm lấy.  Chúng tôi vừa lên khỏi cầu thang thì đã thấy viên thuyền trưởng chạy ra đón đầu, hỏi: – Còn mấy đứa kia đâu? Hơi ngạc nhiên nhưng tôi chợt nhớ ra và trả lời: – Hồi chiều tôi thấy tụi nó ở trên quán bia ôm. Viên thuyền trưởng “shit” một tiếng, ông ra lịnh: – Hai người trở lên kêu tụi nó xuống, tàu sắp khởi hành. Tôi hỏi. – Sao ông không gọi mobile cho lẹ? – Gọi rồi nhưng hổng thằng nào bắt máy, thôi nhanh lên, nói với tụi nó mười một giờ rưỡi hoa tiêu xuống sẽ khởi hành qua Aruba.  Mới hơn mười giờ mà đường xá vắng tanh. Edy đi như chạy. Tôi kêu nó đi chậm lại. Nó nói: – Sợ không kip chú? – Tiệc tùng gì đâu mà mầy sợ người ta ăn hết, có trễ thì tàu đậu lại chờ. – Thuyền trưởng chờ ổng chửi thì sao? – Ổng sai mình đi kiếm người cho ổng mà chửi gì. Tôi dặn Edy: – Vô bar giống như mình vô chơi vậy, mình cũng có thể uống một hai chai Bia. Chuyện gì từ từ rồi nói, đừng la hoảng lên làm tụi nó cụt hứng, mất vui.  Trong quán không đông khách lắm. Trước quày chỉ có hai người đàn ông bản xứ. Nhạc mở sập sình, tôi nhìn quanh, ngó quất, trong góc có hai bàn đương bày tiệc, tôi đoán bàn bên kia là của thủy thủ chiếc tàu khác và một bàn của đám thủy thủ tàu tôi. Fidal ở đâu không thấy chỉ thấy thuyền phó và Lamat ngồi chung bàn, mỗi trự ôm một cô gái.  Thấy chúng tôi, thuyền phó đưa tay khoát khoát, Lamat day mặt vô trong nên không thấy chúng tôi vào. Tôi và Edy đi thẳng vô quày mua bia và đứng tại chỗ hớp một hớp. Chúng tôi cầm chai bia từ từ đi lại hỏi thuyền phó Fidal đâu?  Thuyền phó chỉ tay lên lầu, ra dấu nó đương hành lạc trên đó. Thì ra từng dưới là ba, từng trên là động. Tôi nói với viên thuyền phó: – Mầy kêu Fidal xuống sửa soạn về, mười một giờ rưỡi, tàu sẽ khởi hành qua Aruba. Nó tưởng tôi nói giỡn, nên hỏi lại: – Thiệt không Sếp? – Mầy hổng tin thì mở mobile xem, thuyền trưởng gọi mầy mấy lần? Nó móc điện thoại trong túi áo ra, bấm lên xem. Xem xong, nó “shit” một cái rồi nhổm người dậy đi qua góc yên tĩnh, đứng bấm số gọi. Nói vài câu nó cúp điện thoại. Hốt hoảng chạy lại bàn nói với Lamat: – Mình phải về, tàu sắp chạy rồi. Lamat đương xào nắn cô gái, nghe nói tàu sắp chạy, nó buông cô gái ra, “shit” một cái rồi xốc lại áo quần đứng dậy. Hai cô gái ngơ ngác hổng biết chuyện gì cũng đứng dậy theo. Thuyền phó đi lại quày tính tiền và kêu người tiếp viên lên gọi Fidal xuống. Một lát sau Fidal với một cô gái từ trên lầu hối hả đi xuống. Ba cặp đứng giữa quán, mạnh cặp nào nấy ôm chầm lấy nhau nút lưỡi lia lịa. Nhìn mấy đứa lưu luyến không muốn rời nhau. Tôi kéo Edy lại đứng trước quày, tôi giơ bia lên cụng : – Mình uống một cái cạn chai rồi thả tà tà về là vừa. Chúng tôi ngước cổ ực một hơi cạn hết chai  bia, để chai xuống quày, Edy hỏi: – Hổng chờ mấy đứa sao? – Thôi cứ để tụi nó chia tay cho mùi mẫn. Tôi câu vai Edy đi ra khỏi cửa thì ba đứa cũng ùa chạy theo. Fidal than phiền mất tiền mà chưa chơi được gì hết.  Nói dứt câu nó hằn học: – Shit! shit! shit… Tôi nói: – Nãy giờ nghe shit nhiều quá. Edy cười ha ha, nói: – Tới giờ giao thừa, pháo dưới tàu mình đốt kêu shit, shit chớ không nổ bang bang… Nghe Edy nói dứt câu, cả đám cười vang trên con đường vắng vẻ dẫn về bến cảng…     Pháo nổ mỗi lúc một dòn và thỉnh thoảng pháo bông toả màu trên nền trời sáng rực. Tôi nhìn lên ánh trăng no hơn nửa mảnh vừa nhô lên khỏi mái nhà. Lâu lắm rồi tôi không để ý tới âm lịch. Hổng biết đêm nay là mùng mấy? Có lẽ hết con trăng nầy hay hết một con trăng nữa thì tới Tết ta. Vậy là trên quê hương tôi người người cũng chuẩn bị mừng xuân. Bên đó những ngày nầy người ta kiêng kị từng lời ăn tiếng nói. Đêm đón giao thừa rộn ràng, nói chuyện từ tốn, nhỏ nhẹ  và chúc lành cho nhau chớ đâu có nhiều “shit” như ở nơi nầy.    * Thơ của Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chiến trường khuyết một vầng trăng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

Tổng thống Mỹ là Tổng tư lệnh tối cao của quân đội Mỹ!

Nên ngày 25 tháng Giêng, Bộ trưởng Quốc phòng, Ðại tướng James Mattis, biệt danh ‘Mad Dog Mattis’, đã yêu cầu Tổng tư lệnh Donald Trump triệu tập một cuộc họp về cuộc đột kích, mật danh ‘Yakla raid’.

Tham dự có tướng 4 sao Joseph F. Dunford Jr: Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, tướng 3 sao Michael Flynn: Cố vấn về An ninh Quốc gia, Mike Pompeo: Giám đốc Cơ quan Trung Ương Tình báo Mỹ CIA.

Chỉ trong vòng có 25 phút thảo luận, Tổng thống Donald Trump đã chấp thuận cuộc hành quân phức tạp nầy!

Trước kia trong những cuộc hành quân như thế nầy, Cơ quan Trung Ương Tình báo Mỹ, CIA, sẽ trình ra một cái bản đồ. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, ngồi quanh một chiếc bàn, suốt cả 2 giờ đồng hồ để cân nhắc từng chi tiết một.

Chỉ huy cuộc hành quân đặc biệt nầy sẽ xem xét cẩn thận kế hoạch và chỉ cho thi hành khi cảm thấy nó có thể thành công.

Mục tiêu là căn nhà bằng đất nung, xung quanh là những bãi mìn phòng thủ, là sào huyệt của một chỉ huy cao cấp của Al-Qaeda tại bán đảo Á Rập là Abdul Rauf al-Dhahab, trên triền đồi vùng sa mạc, trung bộ Yemen.

Ryan Owens – nguồn Miami Herald

Thời điểm tấn công là 1 giờ khuya, đêm Thứ Bảy, 28 tháng Giêng, năm 2017. Ðó là một đêm không trăng, trời rất tối.

Lực lượng đột kích gồm khoảng hai chục ‘Navy Seal’ dưới quyền của Trưởng toán William “Ryan” Owens phối hợp cùng một toán ‘comandos’, biệt kích của nước Emirate.

Ryan Owens – nguồn Miami Herald

Trên đường bay vào mục tiêu toán biệt kích nhận được tin là địch đã được cảnh báo (có lẽ vì tiếng động của phi cơ không người lái).

Mất yếu tố bất ngờ, đáng lẽ cấp chỉ huy hành quân phải ra lệnh hủy bỏ cuộc đột kích, nhưng cuộc hành quân không rõ tại sao vẫn cho tiếp diễn?!

Do đó, ngay khi nhảy ra khỏi trực thăng, nhóm lính biệt kích đã bị địch quân chờ sẵn.

Một chiếc Bell Boeing V-22 Osprey, trị giá 75 triệu đô, bị mất điều khiển trong lúc đáp xuống đổ quân làm 3 chiến sĩ biệt kích bị thương.

Lực lượng biệt kích tấn công đã sử dụng lựu đạn và súng trường để đột nhập vào nhà và bắn hạ Dhahab. Quân khủng bố còn sống sót rút qua một căn nhà kế cận, tung lựu đạn và dùng AK 47 bắn trả quyết liệt, mặc dù còn có phụ nữ và trẻ con vẫn còn trong đó.

Trận đột kích rất căng thẳng, kéo dài từ 1 giờ khuya tới rạng sáng, nhiều nhà cửa trong làng bị xóa sổ.

Quân biệt kích thâu được máy tính, tài liệu, hình ảnh quan trọng. Xong rút lui dưới sự yểm trợ của trực thăng võ trang và phi cơ chiến đấu.

Trưởng toán biệt kích Mỹ, Chief Petty Officer William “Ryan” Owens, 36 tuổi, là người lính Mỹ đầu tiên dưới trào chánh phủ Trump hy sinh tại mặt trận.

Có 3 tay chỉ huy và 11 chiến binh thuộc tổ chức khủng bố Al Qaeda bị giết!

***

Một lính Mỹ chết; ba bị thương nhưng Tổng thống Donald Trump gọi đó là thành công vĩ đại (?!) vì đã tịch thu được những tin tình báo đáng giá, giúp nước Mỹ ngăn chặn được các cuộc tấn công khủng bố nhắm vào dân Mỹ trong tương lai.

Thượng nghị sĩ, John Mc Cain, thuộc đảng Cộng Hòa, tại tiểu bang Arizona, cựu tù binh trong chiến tranh Việt Nam không đồng ý về cách đánh giá của Donald Trump: “Tôi không cho rằng cuộc đột kích mà binh sĩ Mỹ bị tử trận lại là được coi là thành công!”

Gia nhập quân đội vào tháng Tám, năm 1998, Ryan Owens được thăng ‘chief’ tháng Chạp, 2009; được tưởng thưởng 3 huy chương đồng, 2 trong 3 huy chương này có kèm theo chữ V(combat valor – anh dũng trên chiến trường), đã từng đến Tòa Bạch Ốc để được Tổng thống Mỹ Barack Obama ân thưởng huy chương.

Hôm thứ Tư, mùng Một tháng Hai, năm 2017, Tổng thống Donald Trump đã cùng ái nữ là Ivanka đến căn cứ Không quân Dover, tiểu bang Delaware để đón rước thi hài của ‘Ryan’ Owens.

Thân phụ của Owen là Bill, một cựu quân nhân, một Thanh tra Cảnh sát tại Fort Lauderdale đã về hưu, được viên tuyên úy quân đội thông báo rằng Tổng thống Trump trên đường tới để gặp ông!

Nhưng thân phụ của tử sĩ ‘Ryan’ Owens: “Tôi đã nói với họ rằng tôi không muốn gặp mặt Tổng thống. Tại sao mới nhậm chức Tổng thống có một tuần, mà ông ấy lại chấp thuận cho cuộc hành quân ngu ngốc nầy được khai triển? Tại sao?

Trước đó suốt hai năm trời trên đất Yemen, chỉ có hỏa tiễn và phi cơ không người lái; bởi vì không có mục tiêu nào đáng giá để ta phải hy sinh tánh mạng một người lính Mỹ. Và bây giờ đột nhiên chúng ta lại muốn phô trương?”

“Ðừng núp sau cái chết của con tôi mà ngăn cản một cuộc điều tra. Chánh phủ còn nợ con tôi một cuộc điều tra!”

***

Tổng thống Donald Trump tuyên bố trước Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ rằng: “Những thách thức mà đất nước chúng ta đang đối diện rất lớn nhưng nhân dân nước ta còn vĩ đại hơn. Không ai vĩ đại và dũng cảm hơn những người Mỹ khoác trên mình bộ quân phục.”

“Chúng ta vinh dự chào đón bà Carryn Owens, vợ của người lính đặc nhiệm Navy Seal, William “Ryan” Owens để cùng cầu nguyện cho sự hy sinh của ông ấy: một chiến binh, một anh hùng đã chiến đấu chống khủng bố để gìn giữ sự yên bình cho đất nước chúng ta.

Di sản của Ryan đã khắc sâu vào bất tử. Như Thánh kinh đã dạy chúng ta rằng: Không có hành động nào vĩ đại hơn là ngã xuống hy sinh tánh mạng cho đồng đội của mình, cho đất nước, cho tự do… Và chúng ta không bao giờ quên lãng ông ấy.”

Tiếng vỗ tay của cử tọa vang lên khích lệ kéo dài hơn 2 phút. Ông Trump nói đây là tràng pháo tay lớn nhất từ trước đến nay mà ông từng nghe! (?!)

Và William “Ryan” Owens trên thiên đường đang nhìn xuống chắc rất vui vì nó đã phá kỷ lục?!
Những nhà báo, vốn có ác cảm, đã kết án Donald Trump lợi dụng người quả phụ của tử sĩ trong một cuộc đột kích thất bại tại Yemen.

Vợ Ryan Owens được mời đến vinh danh tại Quốc Hội – nguồn McClatchy

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Tổng thống là vị Tổng tư lịnh tối cao phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho những quyết định mình đã đưa ra.

Tổng thống Mỹ, Harry Truman, nổi tiếng với câu nói, được ghi lên bàn làm việc của ông trong Phòng Bầu Dục: “The Buck Stops Here” Việc đổ tội cho người khác chấm dứt ở đây!

(Chớ không có vụ “Mất mùa là tại thiên tai. Ðược mùa là tại thiên tài đảng ta” bao giờ!)

Tổng thống George W. Bush, năm 2003, đã nhận toàn bộ trách nhiệm trong việc đưa quân Mỹ vào tham chiến ở Iraq; mặc dù đó là do Cơ quan Tình báo Mỹ CIA đã cung cấp tin tức sai lầm.

Tổng thống Barack Obama, năm 2012, cũng đã nhận hoàn toàn trách nhiệm về cuộc tấn công của khủng bố vào Tòa lãnh sự Mỹ ở Benghazi làm 4 người Mỹ bị thiệt mạng, trong đó có cả Ðại sứ Mỹ tại Libya.

Tổng thống Donald Trump thì nói các tướng lãnh của chánh quyền Obama tiền nhiệm đã đề ra kế hoạch nầy.

“Ðây là cuộc hành quân đã bắt đầu trước khi tôi nhậm chức. Họ đến gặp tôi, cắt nghĩa những điều họ muốn làm, những viên tướng mà tôi rất thán phục và tôi tin. Kết quả là họ đã làm mất Ryan.”

Dẫu biết là lính, nghĩa là chấp nhận chiến trường da ngựa bọc thây; nhưng những toan tính của các cấp chỉ huy cao nhứt, sau lưng người lính làm chúng ta cũng phải đồng cảm với song thân của tử sĩ khi khước từ gặp mặt vị Tổng tư lịnh của quân đội Mỹ, Donald Trump.

Ðất nước VNCH của chúng ta, đã trải qua một cuộc chiến đấu anh dũng để bảo vệ tự do! Nhiều cha mẹ, vợ, con đã đau đớn biết chừng nào khi hiến dâng người thân yêu nhứt của đời mình cho Tổ quốc.

Thế nên chúng ta không khỏi bùi ngùi khi thấy William Ryan Owens tử trận bỏ lại ba đứa con còn thơ! Và quả phụ Carryn Owens khóc nức nở, mắt ngước lên Trời, khi nghe Tổng thống Donald Trump vinh danh chồng mình trước Quốc hội Mỹ.

Ðau đớn như một lời thơ: “Chiến trường khuất nửa xa sâu/ Mây đêm vương nửa khuyết vào vầng trăng!”