This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nhà văn Hoa Kỳ, John Steinbeck, năm 1937, có viết truyện tựa là: ‘Of Mice and Men’, Chuột và Người. Tui nghi rằng ông thai nghén cuốn tiểu thuyết nầy vào năm Bính Tý, năm con chuột, tới năm Đinh Sửu, 1937, viết mới xong.
Thấy người sang tui hay bằng quàng làm họ. Thấy nhà văn nổi tiếng là tui bắt chước theo hè. Nên năm nay năm Tuất, Mậu Tuất, tui xin viết về ‘Of Dogs and Men’, nghĩa là “Chó và Người” vậy!
Trong 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Chó đứng gần hạng bét, chỉ trên được con Heo, tức Hợi. Năm rồi, năm 2017, là năm Đinh Dậu, con gà, thì năm nay, năm 2018 là năm Mậu Tuất năm con chó. Cẩu hay khuyển, tiếng Hán Việt, còn tiếng Nôm là con chó.
Đừng viết về con chó lửa là cây súng lục. Tết mình cử! Vì móc chó lửa là móc súng ra sủa đằng mồm; thì anh em mình dẫu đang ngồi nhậu vui như Tết cũng phải bỏ hết mồi ngon, rượu quý , lồm cồm trốn dưới gầm bàn; rồi chạy mất dép mới mong bảo toàn được tính mạng.
***
Hồi thời tạo thiên lập địa, chó sói sống trong rừng. Thấy con chó nó khôn, siêng năng giỏi dắn nên con người bắt về thuần hóa để làm nô lệ cho mình.
Con người chơi cha con chó không hè! Như bắt chó đi săn, đi chăn cừu, kéo xe trượt tuyết. Bắt chó chạy đua để đánh cá ăn tiền gọi là đua chó. Rồi bắt chó đi kiếm tiền bằng cách dạy chó làm xiếc.
Ở Melbourne có mấy thằng Úc làm biếng, khoái chơi xì ke ma túy hoặc ăn nhậu tối ngày nên cần tiền, bắt chó đi ăn xin.
Ngồi trên hè phố, nằm chày bày, con chó cũng nằm chắp tay lạy ông đi qua lạy bà đi lại; kế bên có cái nón lật ngửa đầy những tiền xu, tiền cắc có cả tờ 5, 10 đô Úc nữa. Thu nhập cũng đủ cho hai thầy trò phè phởn sống! Chó và Người, cuối ngày, cười hề hề lượm tiền của thiên hạ.
Người ta thương tình cho tiền; không phải cho cái thằng làm biếng đó mà cho con chó; vì sợ nó đói.
(Chó Úc dạo nầy than phiền chánh phủ Úc dữ lắm vì vật giá gia tăng, thức ăn đóng hộp dành cho chó đã lên giá tới 10% lận đó.)
Ngoài ra, con người còn huấn luyện chó dẫn đường cho người khiếm thị.
Ngoài đường phố Melbourne, ngựa xe như mắc cửi, mỗi lần lái xe đi làm, thỉnh thoảng tui cũng thấy con chó dẫn đường!
Đèn đỏ chó biết dừng, chờ dấu hiệu đèn xanh dành cho người đi bộ kêu lốc cốc nó mới dẫn ông chủ khiếm thị của nó băng qua lộ. Hay hết biết!
Rồi Cảnh sát cũng huấn luyện chó để lùng sục xì ke ma túy hay để cắn mấy thằng tội phạm hung hãn mà mấy Thầy đội cũng ngán không dám nhào vô; bèn suỵt chó cho vô trước, gọi là Cảnh khuyển.
Quân đội cũng huấn luyện chó đánh hơi tìm bom mìn, lùng sục bọn khủng bố đang trốn dưới hầm gọi là Quân khuyển.
Chính vì vậy mà hồi chiến tranh Việt Nam, VC ghét chó lắm. Vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm CS, là chó bị tụi nó bắt mần thịt, rựa mận, chả chìa, dồi chó… ăn nhậu ráo trọi.
Nghĩa là ở đâu có người là ở đó có chó! Chó đối xử với con người rất tốt ngay cả hi sinh thân mình biến thành cầy tơ bảy món, a đây rồi; còn con người chỉ biết lợi dụng lòng tốt của chó mà thôi!
Chó tốt nhứt là lòng trung thành. Ai cũng biết!
Chuyện rằng chú chó Hachiko sáng đều ra nhà ga xe lửa Shibuya tiễn ông chủ Eizaburo, một giáo sư Khoa Nông Nghiệp trường Đại học Tokyo đi làm. Hachiko ngồi đợi tới chiều để đón ông chủ về.
Nhưng ngày 21, tháng Năm, năm 1925, ông chủ không về nữa vì bị đột tử trong lúc làm việc do bị một khối u trong não.
Thiệt là: “Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy/ Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?
Ngập ngừng, lá rụng cành trâm/ Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao!”
Rồi suốt 10 năm sau đó, Hachiko vẫn tiếp tục đến nhà ga vào buổi sáng đợi cho tới buổi chiều, ngay đúng giờ tàu đi và đến để chờ ông chủ mình về trong vô vọng.
Năm 1934, dân Nhật cho đúc một tượng đồng ngay trước cổng nhà ga khi Hachiko vẫn còn sống. Hachiko tuổi già, sức yếu chết một mình, cô đơn trên đường phố gần nhà ga Shibuya vào ngày mùng 8, tháng Ba, năm 1935.
Đây là một câu chuyện cảm động về một nghĩa khuyển tri tình nhưng tiếc thay sau đó chánh quyền quân phiệt Nhựt lại lợi dụng lòng trung thành tuyệt đối vô điều kiện của con chó Hachiko để kích động lòng yêu nước cực đoan, mù quáng trung thành vô lối với Thiên hoàng nhằm xô đẩy nhiều thế hệ thanh niên Nhựt Bản gia nhập vào quân đội Phù Tang, gây biết bao nhiêu tội lỗi cho dân các nước vùng Đông Nam Á trong đó có nước Việt Nam mình vào Thế chiến thứ Hai.
***
Chó Nhựt trung thành là vậy; chó Tàu Thời Tam Quốc cũng chơi ngon, dám hi sinh thân mình để cứu chủ nữa đó.
Chuyện rằng: Lý Tín Thuần nuôi con chó tên là Hắc Phong. Một hôm, Lý ra ngoài thành nhậu xỉn, loạng choạng về nhà không nỗi, bèn nằm phê ngay dưới bãi cỏ.
Xui cái là quan Thái thú đi săn, đốt cỏ để đuổi thú, khiến quần áo Lý bén lửa cháy.
Hắc Phong đến kéo chủ dậy nhưng chủ không động đậy. Chó bèn đến ngòi nước cách đó 35 bước, dầm mình cho ướt chạy về dập lửa cho chủ.
Cứ như vậy, chó chạy đi chạy lại nhiều lần, cuối cùng mệt quá, kiệt sức, Hắc Phong nằm thè lưỡi chết ngắc.
Khi Lý tỉnh cơn say, thấy chó chết vì cứu mình thì báo cho quan Thái thú biết. Quan Thái thú phán: “Đúng là sự báo ân của loài chó còn hơn sự báo ân của con người. Con người đôi khi không bằng được con chó?”
Bèn cử hành đám tang cho Hắc Long rất long trọng và tôn làm nghĩa khuyển để răn dạy mấy chú ba Tàu khác đừng có manh tâm phản loạn. Hãy trung thành tuyệt đối với chủ mình, trung thành với chế độ phong kiến, với tầng lớp quan lại như là chó trung thành, xả thân vì chủ vậy!
Mấy ngàn năm sau, bà Tôn Nữ Thị Ninh, từng làm Đại sứ VC tại Liên Âu cũng học theo cái chiêu màu mè, ý đồ thâm độc của quan Thái thú Tàu hồi xưa!
Bà Ninh nầy nghe nói cũng có ăn học tiếng Tây, tiếng U rốp rốp như bẻ mía mà không hiểu về dân chủ, tự do, nhân quyền gì hết ráo mà mở miệng ra là tán láo.
Năm 2004, khi bị báo chí phương Tây chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền trong nước thì bà Ninh phán một câu xanh dờn là: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”.
Ê! Nói nghe kỳ quá he? Chánh quyền là đầy tớ của dân, phục vụ dân, dân làm chủ.
Chánh quyền đâu phải là cha là mẹ dân mà đóng cửa, bộp tai, đá đít nó rồi hàng xóm nhẩy vô can; còn tru tréo là chuyện nội bộ của tụi tui đừng có chỏ mỏ vào sủa nhe! Nghe sao đặng hè?!
Vì cái cặn bã lợi danh mà muối mặt trung thành với bọn CS cầm quyền cho mình ăn nhậu thì cứ làm. Đừng dạy đời những người bất đồng chánh kiến trong nước là: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”.
Dân ngu khu đen, người làm chủ đất nước thấy chánh quyền tức đầy tớ của mình làm không chịu làm; mà chỉ ăn không, thì họ có quyền rầy đấy chớ!
Con chó trung thành với người chủ vì người chủ yêu thương chăm sóc nó.
Đó là một quan hệ hổ tương và rất công bằng!
Còn chánh quyền gì hở ra là bóc lột, áp bức, đàn áp nhân dân mà mở miệng ra là ra rả kêu gọi lòng trung thành làm sao được?
W.R. Koehler, một bậc sư tổ trong nghề dạy chó, đã từng phán rằng:
“Những con chó thông minh ít khi làm vui lòng những ai mà chúng không tôn trọng” “Intelligent dogs rarely want to please people whom they do not respect.” –
***
Tui thì yêu chó; nhưng em yêu của tui thì ghét chó! Vì nhém chút nữa con chó đã làm tan vỡ tình mộng với anh yêu tức là tui đây nè!
Chẳng qua hồi xưa cách đây hơn gần nửa thế kỷ tui đeo đuổi, trồng cây si ngay lối đi, trước cửa nhà em mỗi chiều, chờ em tan trường về anh theo Ngọ về!
Tía em thấy vậy, nhà đã kín cổng cao tường mà ổng còn hù tui bằng cách treo trước cổng nhà hình con chó Berger, nhe hai hàm răng nhọn lễu với hàng chữ tiếng Anh là: “Beware of the Dog!”
Tui đâu biết tiếng Anh, tui chỉ biết tiếng em; nên một ngày bạo gan chặn em lại giữa đường để cho anh hỏi tận tường: “Beware of the Dog là gì vậy em Hai?”
Thì em cầm cái vạt áo dài đưa lên miệng cắn, e thẹn cắt nghĩa là: “Coi chừng chó dữ:”
Sau đó, em lại cố vấn cho tui là: “Never mind the Dog, beware of the owner!”
Tui không hiểu gì ráo! Về nhà giở từ điển Lê Bá Kông chổng mông ra tra mới hiểu lỏm bỏm là: “Đừng kể số gì tới con chó mà hãy coi chừng chủ của nó!”
Ối tưởng cái gì! Khi yêu, em là sư tử, tui còn chưa sợ huống hồ gì đem con chó ra hù tui chớ?!
Đẹp trai không bằng nói dai mà! Nói hoài cũng lọt lỗ tai. Em đồng ý ưng tui để hai ta vầy duyên can lệ.
Ngày rước dâu tui xin nhà bên vợ cho tui cái bảng: “Beware of the Dog”, “Coi chừng Chó dữ” về treo trước cửa nhà tui.
Em yêu hỏi nhà mình đâu có chó mà anh cần cái bảng nầy? Tui cười he he trả lời rằng: “Treo để hù thằng khác! Nhứt là thằng cha bưu tá phát thư; vì như em thấy đó con chó lúc nào thấy thằng chả là nó ùa ra sủa. Con chó còn hỏng tin thì mình ngu sao mà tin hé?
Đời mà em! Mình có vợ đẹp là đừng tin ai hết. Treo bảng coi chừng chó dữ cho nó chắc ăn.”
Kết luận: Chó và người! Chó luôn bị con người lợi dụng. Thiên hạ lợi dụng chó cho mưu đồ chánh trị xấu xa. Còn tui lợi dụng chó chỉ để bảo vệ tình ta thôi mà!
Tự xa xưa, tiền nhân đã Đông Phương sinh sống, ứng xử với con người trong vạn cảnh cuộc đời… tự thể nghiệm kinh lịch qua bản thân rồi đúc kết thành những “qui luật” tinh thần để áp dụng trong đối nhân xử thế, lấy: Lễ Nghĩa, Liêm Sĩ, Nhẫn Nại, Khắc Kỷ, Bách Chiết, Bất Khuất làm phương châm rèn luyện tư cách bản thân và lấy chữ Tín làm trọng để tương giao và giữ gìn cho sự liên hệ giữa Người với Người được bền chặt tốt đẹp lâu dài…Nên: ” Nhân Vô Tín Bất Lập” là câu nói trách cứ của người xưa bậc Cha Ông đã thành văn vẻ đẹp truyền lại cho hậu thế làm gương soi là một trong những“Khuôn Vàng Thước Ngọc” để là Người , làm Người và “Thành Nhân Chi Mỹ”…
Tôi chỉ có một bà chị dâu duy nhất, chị kết hôn với người Anh thứ Ba của chúng tôi là Trương Văn Nhì tốt nghiệp Khoá 15 Võ Bị Đà Lạt, phục vụ tại Trung Đoàn 12 thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh, nên gọi là chị Ba, tên chị là Trần Sâu Lầy, nghe qua họ tên thì biết ngay chị là người Việt gốc Hoa. chị sinh quán tại thị xã Cây Dừa, Quận Cai Lậy, Mỹ Tho, xuất thân từ Trường Sư Phạm Sài Gòn và làm Cô Giáo ngay tại nơi chị sinh trưởng và với quan niệm của người Hoa từ nhiều đời: “Quân, Sư Phụ” được tôn quí, kính trọng…Nên “Cô Giáo Lầy”, chị dâu của tôi được dân chúng trong Quận Hạt và cộng đồng người Hoa quí mến, cư xử chân tình ! Theo lời kể của chị: “:…gia đình Ông Sở, Ông Sơ… thuộc dòng dõi Minh Hương bên Tàu , chạy tỵ nạn nhà Thanh cùng thời với Mạc Cửu,Mạc Thiên Tứ lập nghiệp định cư ở miệt Cà Mau….Cho đến đời Ông Cố, Ông Nội vẫn còn ôm giấc mộng “Phản Thanh Phục Minh”.. .và đến đời thân phụ thì di chuyển về Cây Dừa, Cai Lậy và chị được sinh ra nơi đây…”.
Năm 1975…! Anh tôi đi tù, chị bị “chính quyền” mới cho nghỉ việc dạy học vì là vợ Ngụy, chị chuyển sang nghề may vá tần tảo nuôi ba đứa con còn nhỏ dại…! Sau khi trốn ra khỏi Trại tù “cải tạo” Long Giao… thỉnh thỏang tôi lén lút ghé thăm chị và các cháu, nhìn chị vì quá kham khổ để lo sinh kế cho toàn thể người thân yêu trong gia đình…nay đã gầy rọp người, lưng còm xuống trông giống như người phụ nữ lão hoá tuổi ngoài năm mươi ! Tuy khổ cực khốn khó như thế…! Nhưng cứ sáu tháng một lần, chị vai gánh hai bao bị thức ăn khô, thuốc men…từ SàiGòn ra đến trại Vĩnh Phú (Bắc Việt) thăm nuôi chồng đang bị tù đày khổ sai …không biết ngày nào được thả ra!
Năm 1987, anh tôi được ra khỏi tù, chị đã chuẩn bị sẵn kế hoạch và phương tiện để cho chồng vượt biên bằng đường biển qua sự giúp đỡ từ những gia đình người Việt gốc Hoa mà chị thân thích. Không may mắn chuyến vượt biên bị bể, Anh lại bị bắt và bị giam tù khổ sai thêm ba năm nữa tại Mõ Cày (Bến Tre)…Được tạm tha, anh trở về gia đình với vòng tay quán xuyến buôn tần bán tảo của chị cho đến ngày cả gia đình được sang Mỹ với diện HO5 .Ngày nay, gia đình anh chị tôi đã ổn định, con cái đều đã thành thân và thành nhân với một đàn cháu nội, ngọai đề huề… Có lần tôi hỏi chị:
-Bí quyết nào giúp cho chị vượt qua tất cả gian nan để có ngày nay?
Chị cười và nói:
– Có gì lạ và là bí quyết chi đâu…chẳng qua chị có 9 đồng chị cố kiếm thêm 1 đồng để đủ 10 đồng rồi chị dấu đi để phòng khi hữu sự, còn tụi em có 9 đồng đi vay thêm một đồng để chén thù chén tạc với bạn bè …tiền vất qua cửa sổ chẳng bao giờ chạy ngược trở vào…!
Đó là “triết lý” sống thực tế “đơn giản” của người chị dâu gốc Hoa của tôi.
Ngược dòng thời gian năm 1979: Sau khi vượt trốn trại tù, tôi sống lang thang không nhà không cửa, ngoài vòng pháp luật…thỉnh thoảng dò xét hoàn cảnh tương đối an toàn xong tôi lén thăm chị và hỏi thăm tin tức người thân quyến thuộc và Anh Ba của tôi đang bị giam tù ở Yên Bái, Bắc Việt…tôi được chị lo “mai mối” và giới thiệu tôi với một gia đình người Hoa trong Chợ Lớn giúp tôi có được một việc làm”chui” là cứ đến lúc 5 giờ mỗi buổi sáng sớm, tôi đạp xe đạp đến chỗ hẹn, nhận 3 cây vải “Sa-teng” trắng chở lên Cầu Tre (Phú Lâm) giao cho một xưởng nhuộm lậu, đến buổi chiều lúc 3 giờ trở lại nhận 3 cây Sa-teng đen đem về giao lại cho chủ, cứ mỗi chuyến “giao hàng” như vậy chủ trả cho tôi 25 đồng tiền mới (tiền “cụ Hồ”) để độ nhật qua ngày…Ông chủ gốc người Hoa trạc 60 tuổi gọi là Chú Quảnh, và người em trai là Chú Xồi… Tôi không biết gia đình họ có bao nhiêu người…? Nhưng hai anh em họ sống chung với nhau trong căn phố ba tầng ở đường Triệu Đà, Chợ Lớn, căn phố cũ kỹ với tuế nguyệt thời gian có lẽ đã lâu lắm không có sửa sang tu bổ và xuề xòa với đời sống thường nhật…không một chút xa hoa hào nhoáng như những căn phố toạ lạc trong khu vực…!
Một hôm như thường lệ làm xong phần việc, Chú Xồi trả tiền công cho tôi 25$, nhận tiền xong tôi vội vả đạp xe giông tuốt để “Quân Tử khốn cùng chi ẩm thực” cho ngày nào hay ngày nấy mà…trên đường “thiên lý” với “lý ngựa ô xe đạp” thênh thang “sông hồ” mà thăm thế sự…tôi ghé “quán”Café ven lề đường định “chơi” một cái “xây chừ” (Café đen đá) cho đã cơn ghiền thói tật xa hoa ngày nay là sinh hoạt thường…thường của “Thời Hoàng Kim” trước 30-41975 và khi mà loài khỉ chưa vào thành “Tràng An” thể hiện thói tật dzăng minh “cái nồi ngồi trên cái cốc” khai phóng “Bình Minh Tiền Sử” với “đỉnh cao trí tuệ” là thói tật hoang dã cấu thành quán tính kinh qua nhiều cuộc “trường chinh kách mệnh” đấm đá giết hại để “đấu tranh giai cấp” ban phát sự nghèo đói mạt hạng cho thị dân đã có đời sống tự do, văn minh, sung túc miền Nam…và “Thượng Đế” từ “Giời” cao đã “gây nên cuộc hý trường” tạo “Nạn Hồng Thuỷ Tháng Tư Đen năm 1975″ để giúp loài “linh trưởng” vừa mới mon men mó chân ra khỏi hang động để tìm thú, săn mồi…phạm tội rồi “gánh tội” thay cho “Sự Lập Trình” quá ư là tàn nhẫn, vô nhân đạo đầy rẫy khiếm khuyết…với cuộc diệt chủng, phá hư hoại nền Văn Hoá mà bao thế hệ con dân Nước Việt đã y cứ làm bản vị, không quản ngại Xã Thân Chiến Đấu để Bảo Quốc, An Dân, Tồn Chủng, Sống Còn, Nối Tiếp, Tiến Hoá…”Thuợng Đế” đã chết ?!…
Tôi móc túi kiểm điểm “ngân khố” đếm tiền vói niềm vui thơi thới vì sao có tới những 50$?!!! …và đếm lại thì đúng 50$ chứ không phải là 25$ tiền công thường nhật…? Ở trong hoàn cảnh hiện tại khốn cùng này, tiền không phải là “vật ngoại thân”, được đồng nào hay đồng nấy…hớp vài ngụm café, tôi bỗng giật mình vì chợt nhớ lại lời chị dâu tôi căn dặn:” Em phải nhớ,…làm ăn với người Tàu thì một cắc là một cắc, một đồng là một đồng, phải cho đàng hoàng thành tín, ăn gian, nói dối thì không bao giờ làm ăn với họ được…họ làm ăn với nhau chỉ đơn giản chỉ với một chữ ...”TÍN”...”. tôi bừng tỉnh, cong lưng đạp xe nước rút một hơi trở lại gặp Chú Xồi và hoàn trả 25$ mà Chú đưa “dư” cho tôi…Chú cười thân thiện nhận lại tiền. tôi không biết chị tôi có nói gì với họ về tôi hay không? Nhưng một hôm sau khi tôi giao hàng xong thì Chú Quảnh vui vẻ nói:
Trong bữa cơm gồm cả hai gia đình, họ xí xô xí xào chuyện trò huyên thuyên, tôi mà hiểu được “chết liền”…!!! Xong “tiệc” tôi chào từ giả ra về, Chú Quảnh đưa tôi ra cửa và hỏi nhỏ:
“Nị là…có fải là Xĩ Quang Nguỵ chzốn học tập không hả…Tzừng sợ? Ngộ piết hếch dzồi …từ từ dzồi mình sẽ tính há …”!
Tôi rời nhà Chú Quảnh với nỗi “cực kỳ”căng thẳng và “cảnh giác”có chút e dè lo sợ bị lộ tẩy và sẽ bị bắt trở lại vào tù, vì bọn Việt Cộng xử tù trốn trại rất ác độc ! Tôi tự hỏi ngày mai có nên trở lại nơi này không? Không, chắc chắn là không. Trên đường đạp xe về bến xe An Đông để tìm chỗ trú ngủ qua đêm, tôi chuyển hướng đạp xe qua bến Phạm Thế Hiển gặp chị tôi để hỏi cho ra lẽ, gặp chị tôi trình bày chuyện vừa qua và lo lắng hỏi xem là chị có nói cho họ biết về thân thế vượt ngục và hoàn cảnh trốn tránh của mình hay không? chị cười hiền hậu trấn an tôi rồi nói với giọng tự tin và bình thản:
” …Em yên tâm, không sao đâu…họ đang giúp Em đó…”.
Hai tuần sau Chú Quảnh đưa cho tôi một giấy khai sanh giả tên họ mới của tôi là Trần Chỉnh sanh năm 1942, người Việt gốc Hoa.
Sau đó tôi được xếp vào danh sách với gia đình Chú Quảnh, Chú Xồi tổng cộng hơn 60 người nam phụ lão ấu lên thuyền ghe đánh cá máy 3 đầu bạc, tách bến rời kinh Miệt Thứ, Rạch Giá ra khơi vượt biên. Thuyền ra khơi an toàn, máy chạy suốt, thuyền lướt sóng phom phom cho đến xế trưa ngày hôm sau thì gặp tai nạn bị gãy bánh lái, cách đảo Phú Quốc chừng 10 cây số về hướng Đông ! Thuyền dừng lại thả neo để sửa chữa thay bánh lái phụ, một chiếc tàu đánh cá quốc doanh Phú Quốc xáp lại gần, tất cả chúng tôi phải ém xuống khoang thuyền, phía trên chỉ năm ba người giả bộ như ngư dân đang đi đánh cá. Tàu đánh cá VC không xáp lại gần, mà chỉ chạy chậm lại ngang ghe chúng tôi vài chục mét, người trên tàu vẩy vẩy tay chào rồi tiếp tục hành trình về hướng Phú Quốc. tôi và Chú Quảnh bò lên phiá sau lái hỏi Anh Lợi, người tài công đã có 10 năm kinh nghiệm đánh cá, Anh nói với chút lo âu:
” …mình phải đi ngay càng nhanh càng tốt, tôi biết thế nào bọn chó đẻ đó cũng gọi báo Công An Biên Phòng…”.
Bánh lái đã được sửa chữa xong sau 15 phút, rồi nhổ neo, nổ máy tiếp tục hành trình vội vả về hướng Nam…Nhưng quá trể! Hai chiếc PCF (duyên tốc đỉnh) Công An Biên Phòng với lá cờ máu phất phới lướt sóng đuổi bắt phía sau thuyền vượt biên chúng tôi, chúng bắn vài tràng đại liên chỉ thiên đe dọa…và thế là chúng tôi bị bắt tất cả, thuyền bị kéo về đồn CABP Cây Gáo, tất cả mọi người bị tống vào trại giam của Ty Công An Hình Sự Cà Mau phía bên kia cầu sắt, bên này là Chợ Cà Mau! Thời điểm này là lúc phong trào vượt biên bán chính thức đang nở rộ công khai. Người Hoa giầu có của cải tiền bạc giao nộp, cống hiến, lo lót cho “giới chức quyền thế Vc” trong Chương Trình Bán Bến Bãi Vượt Biên, Xuất Cảng Người Hoa Vượt Biên… nên họ từ thành phố xuống Cà Mau được ưu đải như khách du lịch có passport chờ xuất ngọai…!!!
Ghe của gia đình Chú Quảnh là ghe vượt biên lậu, nhưng nhờ “thời điểm thuận lợi” này mà cả gia đình trên ghe của Chú Quảnh được đối xử không đến nổi tệ, bọn CA chỉ lo vơ vét vàng…5 cây…10 cây…tùy theo số lượng thu hoạch để giải quyết vấn đề. tôi không biết gia đình Chú Quảnh và Chú Xồi “làm việc” với bọn chúng cái gì vì mỗi lần Chú Quảnh được gọi lên văn phòng “làm việc” khi trở về phòng giam chật nít không có chỗ nằm họ chỉ nói chuyện với nhau bằng tiếng Tàu…rồi hai ngày sau, đàn bà con nít được CA đưa ra bến xe đò trở về SàiGòn, đám đàn ông bị giữ lại chờ xét xử sau. Trong thời gian chờ “làm việc” Chú Quảnh dặn tôi:
“Nị nhớ khai Nị là em dzợ của Ngộ há…Nị là em dzuột của dzợ Ngộ…nhớ lói dzọng lơ lớ…đừng có lói nhiều hả …”!
Sau một tuần thẩm vấn từng cá nhân một, 18 anh em “người Hoa chúng tôi” được ra ngoài lao động vác lúa mang vào nhà máy xay, sau đó khiêng gạo xuống mấy ghe bầu đậu sẵn dưới sông bên cạnh cầu sắt…Bao nhiêu nỗi lo âu ban đầu dần dần vơi đi…tôi bỏ hẳn ý định trốn thoát trại giam lần nữa vì tin rằng sớm hoặc muộn gì dù không biết bao lâu chúng cũng thả chúng tôi ra, lại thêm vào đó tình cảm của tôi với Anh-Em Chú Quảnh càng ngày càng thân mến khắn khít qua những liên hệ đồng thân phận người tù cùng chung một trại giam có ân tình chia bùi xẻ ngọt thời qua và họ đối đãi với tôi như chính anh em thân tình quyến thuộc của Họ! Sau hơn ba tháng lao động chúng tôi được cấp giấy “tạm tha trở về nguyên quán”. Điều này đối với tôi thật như đang nằm mơ! Vì với tội danh vượt biên thì ít nhất bị đày ba năm khổ sai lao động ở các trại tù cải tạo của miền Tây. Tôi bèn tò mò hỏi Chú Xồi, Chú chỉ trả lời:
-“mấy Bả dzề chước…chạy chọt lót đút lo cho tụi mình…”.
Về đến Xa Cảng Miền Tây chia tay, Chú Quảnh lại dặn dò tôi:
“…Nị nghỉ ngơi dzài ngày dzồi chở lại gặp chúng tôi há …”! Chú nhét vào túi quần tôi 50$.
Trở về nguyên quán? Nguyên quán của tôi ở đâu? …chỉ là nơi chốn đầu đường xó chợ, ga xe lửa, bến xe đò, bãi lầy kinh rạch hôi hám và đen tối như tương lai mờ mịt của mình…! Tâm tình nhớ vợ thương con thì tìm tới nhắn với chị Ánh (vợ Hùng Móm), chị Hồng Tố Yến (Vợ TTC), chị Thu (vợ NTN) rồi lén lút hẹn gặp vợ con vài ba tiếng đồng hồ lang thang trong sở thú…!
Một tuần sau tôi mon men trở ra Chợ Lớn tìm Chú Quảnh, đứa con gái Chú Xồi chỉ tôi ra quán café góc đường Triệu Đà-Hùng Vương nơi đây tôi gặp lại họ, Chú Quảnh thấy tôi Chú mừng lắm…!!! Chú nắm tay tôi kéo đi một khỏang khá xa và nói:
” Nị đi ngay đi …đừng dzào trong đó…Ngày mai lúc 6 giờ chiều tới gặp Ngộ ở nhà hàng Soái Kinh Lâm…Nị piết chớ…”!
Tôi im lặng gật đầu, trở lại lấy xe đạp rồi cứ đạp miết vô ngã hẽm này, ra ngã hẽm khác, len lõi vào giòng xe đạp trên các lộ chính rồi bất ngờ quẹo vào một con hẽm nào đó..Tôi tin gia đình Chú Quảnh và họ là nơi bám víu duy nhất với chút hy vọng mong manh là chỉ có gia đình Chú Quảnh mới có thể giúp tôi thoát khỏi nơi khổ nạn nầy để đến bến bờ Tự Do. Nhưng bây giờ qua sự gặp gỡ vừa rồi tôi hiểu là gia đình của Chú Quảnh đang bị theo dõi gắt gao.
Sau bốn năm giải phóng, nhà hàng Soái Kinh Lâm vẫn sang trọng huy hoàng rực rở như ngày nào. Ttôi bước vào cửa và chạnh lòng ngậm ngùi nhớ lại những tháng ngày của một thời “oanh liệt” xưa cũng tại nơi nầy tôi ăn uống thù tạc với đám bạn hữu cho đến ngất ngưỡng cơn say, đêm khuya giới nghiêm mới lê gót lãng tử come back to sorento:“… về đây khi trong túi không còn su teng, về đây chi hồn gởi lại cave, về đây hỡi mái tole nóng hừng hực và ta phải dối gian với vợ nhà, ôi lãng du không còn ngang tàng”… trở về nhà trong những “ngày nghỉ phép em ơi, những ngày nghỉ phép em ơi thật là ngầu” …ha…ha…ha…thật Hùng Cường –Mai Lệ Huyền…!!!
Tôi ngồi vào chiếc ghế bên cạnh Chú Xồi , đảo mắt nhìn qua một vòng rồi yên tâm vì không thấy có người lạ khả nghi, nhận biết hầu hết là những người cùng tôi vác lúa khổ cực ở trại giam Cà Mau…Chú Xồi ra dấu chỉ một người rồi hỏi tôi:
-Nị còn nhớ Chú Xường ngồi bên kia bàn hay không …?
Tôi nhận ra và trả lời:
-Dạ …tôi nhớ…!!!
Chú Xồi hỏi tiếp:
-Nị nhớ coi ai ngồi bên cạnh
Tôi nhận ra và trả lời:
-Dạ…Chú Chảnh…!!!
Chú Xồi nói tiếp:
-Nị ráng nhớ cho kỹ…một lát nữa Nị qua đó nói chuyện chơi…hễ tụi nó nói bảo làm cái gì thì Nị cứ làm y theo lời của tụi nó…không có hại gì đâu. Mấy cái thằng chó chết VC chúng nó đang đánh “Tư Bản Mại Sản” để vơ vét ăn cướp của người ta…chúng nó ra lệnh đóng cửa ba cái hãng nhuộm vải ở Cầu Tre, tịch biên tất cả vải vóc của chúng tôi đang có và sẽ tịch thu tài sản, nhà cửa…rồi tống cổ chúng tôi lên vùng “Kinh Tế Mới”…không biết ở đâu nay mai…Chúng tôi không còn còn giúp cho Nị được nữa ! Đây là hộp Trà Sâm của Anh Chảnh biếu cho anh…có vậy thôi! Nhớ giữ hộp Trà nầy bên mình…Bây giờ Nị qua bàn nói chuyện với Anh Xường và Anh Chảnh.
Chú Quảnh từ một bàn khác liếc nhìn tôi mĩm cười…!!! Buổi tiệc hôm nay là Ngày Sinh Nhật thứ 16 con gái Út của Chú Quảnh.
Tôi nắm lấy bàn tay Chú Xồi siết thật chặt và thật lâu trước khi chỉ biết nói hai chữ:”cám ơn”… rôì bước sang bàn Chú Xường. Chú Xường và Chú Chảnh chỉ lớn hơn tôi năm hoặc bảy tuổi, nhưng tôi vẫn gọi bằng Chú theo cách tự nhiên xưng hô thường ngày giao tiếp với cộng đồng người Việt gốc Hoa thân thiện nầy, lại nữa trong thời gian cùng ở chung trong trại tù CA Cà Mau, chúng tôi đồng chung số phận bị nhốt trong cái láng dơ bẩn và ba chúng tôi san xẻ nằm chung một chiếc chiếu rách tả tơi…đêm tối sau cả ngày lao động khổ sai vác lúa, khênh gạo tơi tả …khi ngã lưng xuống chiếu tôi thường hay kể chuyện Tứ Tài Tử Thư lừng danh Trung Quốc như: Thủy Hử, Tam Quốc Chí, Hồng Lâu Mộng, Tây Du Ký… cho họ nghe trước khi im thiếp vào giấc ngủ. Trong bàn tiệc đã sắp xếp dành sẵn cho tôi ngồi giữa Chú Xường và Chú Chảnh, chờ cho tôi yên vị xong, Chú Xường đi ngay vào việc:
-Anh có biết nhà hàng Thanh Thế ở chợ Bến Thành không?
Tôi đáp:
-Dạ biết.
Chú Xường nói tiếp:
-Anh nhớ kỹ lời tôi dặn đây, hôm nay là ngày Thứ Bẩy, sáng ngày Thứ Hai tới, anh tới Thanh Thế để gặp tôi và Chảnh, cứ đến đó vào lúc khoảng 10 giờ sáng, nhởn nha uống cà phê, nhớ ăn mặc xuề xòa, râu tóc để nguyên đừng cạo, đừng hớt… Đêm nay nhớ mở Hộp Trà Sâm mà Anh Quảnh biếu cho Anh… nhâm nhi cho đở buồn…”!
Tôi đứng dậy, nhìn một lượt chung quanh rồi nhẹ cuối đầu chào như một sự từ giã không lời…lặng lẽ ra về với bao nỗi buồn vui lẫn lộn bâng khuâng trong lòng cùng với nhiều thắc mắc không thể lý giải… “Họ” là ai: “Tài Phiệt Chợ Lớn” cở như Mã Tuyên hay Mã Sái chăng…? Hay thành viên của Triều Châu Phúc Kiến, hoặc thuộc xã hội đen của Tàu Cộng,, Đài Loan, Hồng Kông…? Sau cùng tôi bỗng mặc kệ phó thác “Họ” là gì đi nữa cũng chẳng sao vì “Họ” đã giúp đỡ cho tôi đang thân phận cá chậu chim lồng có được sinh nhai hiện tại và thật tình cố vượt thoát ra khỏi nước qua chuyến vượt biên bất thành trước đây…suy nghĩ làm chi cho thêm mệt óc, miễn sao mình còn “thong dong” đạp xe đạp tự do trốn tránh, an bình được ngày nào hay ngày đó dưới đường phố mưa sa mà “đéo” thèm thấy cờ đỏ sao vàng trước mắt giăng giăng…! Đêm đó tôi mở hộp Trà Sâm và ngạc nhiên với 10 lượng vàng Kim Thành thứ thiệt nằm trong hộp và chợt nhớ lời Chú Xường dặn:” Thứ hai gặp tôi ở Thanh Thế…”.Tôi ngủ chập chờn trên một căn gác thuê bẩn thỉu đầy chuột và dán ở bến xe An Đông.
Lúc xưa còn tại ngũ, khi đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ, tôi thường cùng bạn bè la cà…sáng café có pha chút bơ Bretel ở nhà hàng Thanh Thế toạ lạc phía Tây chợ Bến Thành độ trăm thước, buổi trưa ăn chateaubrilland ở nhà hàng Thanh Bạch rồi Café Brodard rồi đến đêm tối nhẩy nhót lã lướt ở vũ trường Vân Cảnh hay hộp đêm Thanh Thanh ở xa lộ… Trong nhóm thường có Mỹ Hôi, Hùng Móm, Hùng Mập, Dũng Tây Lai, Cao P Minh, Xuân Đờn Cò, Ninh Mắt Trừu…một hoặc hai thằng chia nhau một chầu, chỉ một ngày rong chơi cũng vơi đi gần nữa tháng lương, để khi trở về nhà ngồi vào bàn ăn với vợ con thì ôi thôi“một mái nhà tole hai quả tim vàng…nhà em có cơm rau muống với cà…và có con thơ vợ già…vợ thương anh lắm hỡi mấy em cave ngào ngạt mùi hương nước hoa Chanel 5 thơm hơn như múi mít ơi…”! Nhìn thê nhi bèn ái ngại “anh hùng” mặc cảm tội lỗi “lòng chợt từ bi bất ngờ” …!
Nay theo lời dặn của Chú Xường, tôi đến nhà hành Thanh Thế khỏang 10 giờ sáng, khách khứa chỉ lác đác năm ba người ngồi uống cà phê …Tôi tìm cái bàn trong góc có thể nhìn suốt qua cửa kính để quan sát cả trong lẫn ngoài, gọi và thưởng thức hương vị café pha lẫn bơ Bretel cũ, hút hết điếu Samit thứ hai thì Chú Xường và Chú Chảnh cũng vừa đến. họ vẫn tíu ta tíu tí, xí xô xí xào… như mọi khi…Tôi đứng dậy chào, Chú Xường thân mật vội vàng ấn vai tôi ngồi xuống…ngồi xuống…rồi Chú trình bày chuyện quá dài…(tôi nhớ lại và chỉ viết tóm tắt trong phạm vi bài viết này mà thôi) !Chú Xường mở lời :
-Đêm qua anh uống Trà Sâm có ngon không? tôi gật đầu .
-Anh có mang hộp trà theo anh không?
-Dạ có.
-Anh đưa cho tôi…!
Tôi lẳng lặng làm theo và lần mở cái túi vải “ăn mày” để lấy 10 cây vàng được gói cẩn thận trong cái quần lót dơ bẩn vàng úa đưa cho Chú Chảnh rồi im lặng ngồi nghe…Chú Xường đưa cho tôi một túi giấy trong đó có bốn cái bánh tiêu còn nóng hổi và nói:
-Thời giá hiện nay …một cây là 2850 đồng (tiền “già Hồ”). Chúng tôi lấy lại 10 cây này và trả lại Anh bốn cái bánh tiêu, Anh có puồng không ?
Tôi thực không có “puồng” một chút nào, tâm dững dưng trước 10 cây vàng hiện tại “Anh Hùng bơi trong bỉ vận” gặp ân nhân đương tay trợ giúp thì tham lam chắc đã được gì và lợi lạc được bao lâu? Tôi bình thản trả lời vui buồn không hiện trên ánh mắt:
-Dạ không, Ngộ không có puồng!!!
Chú Xường cười ưng ý và nói tiếp:
-Ở dưới bốn cái bánh tiêu là cái đai vải (nguời Bắc gọi là cái ruột tượng) có 30.000 ngàn tiền mặt trong đó, anh nhớ lúc nào cũng cột thật chặt vào hông của anh …chờ chút nữa sẽ có một người nữa đến gặp anh, Anh ấy là Anh Em chú bác với tụi tui, anh Xế Phò sẽ cho anh biết anh sẽ phải làm gì…còn phần tôi (Chú Xường )… Anh phải nhớ kỹ những diều dặn dò của tôi sau đây: Anh Quảnh bảo chúng tôi gặp anh để cho anh biết những gì anh Quảnh đã sắp đặt cho anh. Anh có biết tại sao không?
-Dạ không, Ngộ không piết…!!!
-Chỉ vì Anh đã trả lại 25 đồng cho anh Xồi, Anh Xồi lo cho chuyến vượt biên kỳ vừa rồi đó, Anh Quảnh rất lo cho anh nếu bị lộ tông tích thì chỉ có chết…! Anh có biết Thương xá Tam Đa cũ hay không?
-Dạ biết.
Chú Xường nói tiếp:
-Bây giờ là Cửa Hàng IMEX bán những mặt hàng ngoại quốc mà chúng nó tịch thu của người Tàu chúng tôi ở Chợ Lớn…Thôi uống cà phê đi…!
Thì cũng vừa lúc Chú Xế Phò bước vào, dáng người dong dỏng cao vẻ ngoài trí thức không giống giới thương buôn Hoa Kiều chút nào…Chú nói thông thạo lưu loát tiếng Quan Thoại, Pháp, Việt Nam như người bản xứ. Khi Chú Xường, Chú Chảnh ra về, còn lại một mình tôi với Chú Xế Phò, Chú bắt đầu chất vấn tìm hiểu về tôi:
-Anh tên Trần Chỉnh hả
-Dạ vâng…!
Chú mĩm cười, cái cười hàm ý đã biết “tỏng” về đối tượng rồi vậy. Chú hỏi tiếp:
-Anh có nói và đọc viết tiếng Anh được không?
-Dạ chút chút…!
-Được tốt lắm! Tôi đang là Trưởng Phòng Quản Trị Công Ty Imex , Thương Xá Tam Đa cũ, theo lời yêu cầu của Anh Quảnh, thứ hai tuần sau anh bắt đầu làm việc dưới quyền của tôi, Anh được cắt đặt làm thủ kho, chỉ có nhiệm vụ mở và khóa cửa kho khi có lệnh xuất nhập hàng của tôi và anh phải ghi lại mặt hàng nào được xuất nhập trong ngày …cứ từ khoảng 10 giờ sáng anh giả bộ ra bên ngoài uống cà phê và giao danh sách đó cho Chú Chảnh, ban đêm anh ngủ lại ở cơ quan cùng với ba nhân viên khác, họ là những công nhân viên từ ngoài Bắc vào, cứ như vậy đi dần…dần quen và biết hết mọi việc tôi sẽ có nhiều việc quan trọng hơn cho anh . .
Trước khi chia tay, Chú Xế Phò đưa cho tôi một Giấy Chứng Nhận họ tên Trần Chỉnh là nhân viên Cửa Hàng Imex có đóng dấu, ký tên của Trưởng Phòng Thương Nghiệp Quận Nhất TP HCM và một giấy nhỏ có ghi tên Lý Kim Anh, Trưởng Phòng Công An Chợ Bến Thành.
Rời nhà hàng Thanh Thế, tôi đạp xe chạy loanh quanh với một tâm trạng hoang mang tự hỏi là hung hay kiết, ngạc nhiên lo âu lẫn lộn…?! Nhưng không căng thẳng như khi trước Chú Quảnh hỏi tôi:”Có phải anh là Sĩ Quan Ngụy trốn học tập hay không”? Hiện tại tôi như người đang chới với giữa dòng sông, vớ bám víu được gì cứ giữ lấy để hy vọng thoát cảnh cô nghiệt, phó mặc cho số mệnh an bài mà không cần biết cái đó lành hay dữ vì thân như đã leo lên lưng cọp, đã phóng lao thì phải theo lao, cung tiễn đã giương thì phải bắn thôi …không còn sự chọn lựa nào khác!
Giám Đốc Cửa Hàng Imex là một tên “cán ngố” và luôn cả Ban Quản Trị của hắn cũng “cả thộn” i tờ rít tính toán cộng trừ nhân chia sổ sách lộn tùng phèo ngơ ngáo như “Mán về thành” nhưng bản chất tham lam vô tận, thu vét được cái gì là “ăn” cái đó …! Tôi làm việc với họ chỉ có nhiệm vụ khóa và mở khóa kho chứa hàng hóa theo lệnh Chú Xế Phò, sau đó ra ngoài gặp Chú Chảnh “giao hàng”. Lúc này tôi chỉ có một niềm vui sướng vô ngần là có một việc làm và một chỗ ở an thân không lo sợ bị phát hiện và bị bắt bất cứ lúc nào, cũng trong thời gian này tôi đã áp dụng “Nghệ Thuật Lãnh Đạo Chỉ Huy” để chinh phục những nhân viên từ ngoài Bắc vào một cách dễ dàng… Chú Xế Phò hài lòng và vui lắm !!!Một hôm Chú rủ tôi đi ăn tối, Chú lái chiếc Volwagen màu vàng cũ kỷ chở tôi dạo một vòng chợ Bến Thành rồi trực chỉ Bến Bạch Đằng vào nhà hàng Mỹ Cảnh, Chú đãi tôi một bữa cơm độc nhất vô nhị, không tiền khoáng hậu…!!!Trong nhà hàng đã an toạ sẵn ba người: Tên Nguyễn Tạo là Giám Đốc Imex, với cái mặt chành bạnh cố làm ra vẻ “học thức, quan chức” trịnh trọng nhưng không che dấu được “cốt” ngu si đần độn, tham lam có vết hằn nguyên thuỷ của buổi sơ khai còn leo trèo bẻ cây hái quả không vội vàng hăm hở với đồng loại tiến hoá mà cứ nhỡn nha, nhỡn nhơ từ tốn khoan thai với nhịp điệu Slow …dỡ mình đến làm quen với con trâu cái cày, suốt năm thán glưng trần nhễ nhại mồ hôi lam lũ trên cánh đồng Nông Cống khô hạn …nay hắn làm “quan tham” với cả núi tài vật trong kho mặc sức mà thao túng thu vét…! Người ngồi bên cạnh là tên Trung Úy Lý Kim Anh, Trưởng Phòng Công An Chợ Bến Thành, kế đến là tên Đặng Tư, Trưởng Phòng Tài Chánh Imex. Trên bàn chai Remy Martell đã vơi hơn phân nữa.
Tôi khúm núm bước theo sau Chú Xế Phò chấp tay cuối đầu chào họ. Tôi ngồi vào bàn cố giữ thái độ bình thản, chỉ lắng nghe họ bàn luận việc cùng với những suy nghĩ mông lung…và biết là gia đình Chú Quảnh đã giúp tôi quá nhiều, với ơn sâu nghĩa nặng này bao nhiêu kiếp người tôi mới có thể báo đáp được…?! Sau buổi cơm gọi là “tham quan thân mật” đó, tôi có thêm vài việc phải làm theo chỉ thị của Chú Xế Phò. Một buổi sáng như thường lệ khi tôi giao danh sách hàng xuất kho cho Chú Chảnh, hôm nay có thêm Chú Xường và Chú bảo tôi giao lại số tiền mặt mà tôi đang giữ cho Chú, rồi Chú Xường đưa lại cho tôi một danh sách giá cả mua vô, bán ra trong ngày ở thị trường Chợ Lớn. tôi chỉ biết làm theo, không thắc mắc vì tin tưởng thân tình với họ và biết là họ không có mưu sự hãm hại mình và nếu có thắc mắc, nghi vấn cũng chẳng ích lợi gì với niềm tin họ là Ân Nhân đang giúp mình qua cơn hoạn nạn.
Thời gian năm 1979 – 1981…Thân nhân ở nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình không gửi được trực tiếp như bây giờ mà dưới hình thức là “Phiếu Imex”, hàng hoá chứa trong kho Imex là hàng thứ thiệt bị tịch thu trong chiến dịch đánh Tư Sản Mại Bản như: Xe cộ, thuốc tây, mỹ phẩm, radio cassette, các cơ phận phụ tùng xe đạp, xe gắn máy, xe hơi, động cơ, máy móc kỹ nghệ, vải vóc và cả trăm mặt hàng khác…đều là hàng nhập cảng từ ngoại quốc có giá trị thương mãi cao. Giới tiêu thụ hầu hết là người đến từ Hà Nội, họ là thân nhân của “quan chức” Bắc Bộ Phủ” khách sộp giai cấp “phú gia” gốc bần nông lớp “người” “thực dân mới” và đám “con buôn” nở rộ sau “chiến thắng” từ “giời” cao” đang chễm chệ, ngự trị trên chóp bu quyền lực và đang giáng xuống những thủ đoạn nham hiểm, trí trá, ác độc hại…bởi căn tính di truyền từ tổ phụ nguyên thuỷ để trừng phạt “Dân Nguỵ” miền Nam đã vượt trội hơn chúng hằng thế kỷ văn minh…! Những mặt hàng đang có trong kho Imex là “quí phẩm” tuy giá cả cao ngất ngư…! Nhưng với những thành quảăn cướp của miền Nam, chúng thủ đắc tràn trề lợi nhuận và tiền bạc nên “giá hàng” Imex chỉ là “của bở” còn “rẽ chán”…! Vì vậy giá thị trường lên xuống theo giờ, ngày bao nhiêu “họ” cũng thu mua…còn những con buôn cò con kiếm lời qua việc bán tem phiếu Imex đều qua tay “Thầu” Chú Xường “làm giá”, Chú Quảnh “cho biết” giá cả mặt hàng trên thị trường và Chú Xế Phò cho lệnh xuất kho, tôi và Chú Chảnh “điều hợp” ra hàng bên ngoài và nếu có “sự cố” gì không “thông thoáng” cần “xử lý” thì đã có tên Trung Uý Lý Kim Anh “giải quyết”…”
Công việc tuy có êm trôi đều và khả quan. Nhưng nỗi lo âu vẫn canh cánh trong tâm mỗi khi rảnh rỗi tự thán: “Không biết bản thân sẽ bị phát hiện và bị bắt khi nào và tương lai rồi sẽ ra sao…”? Cứ vài ba ngày Chú Xường đến gặp và dúi vào túi áo của tôi vài ba ngàn đồng (tương đương 1 cây vàng), Chú nói đó là tiền lời từ 30.000 đồng “hùn vốn” của tôi. tôi liên lạc và nhờ niên trưởng Huỳnh Bá Long (Khoá 21 Đà Lạt) gửi về giúp vợ con và Cha Mẹ, chị em tôi …và cứ thế rồi thời gian cũng qua dù chưa được trở lại đời sống bình thường như mọi người dân khác và không gần gũi được vợ con!.
Một ngày đẹp trời tháng Ba, năm 1982…tôi đang ngồi uống café dọc vĩa hè trước cửa hàng Imex, bổng có một chiếc xe gắn máy Honda chở hai người đàn ông trờ tới, một người xuống xe, vội vả hăm hởđi đến nắm lấy tay tôi và nói:
” Niên Trưởng theo tôi qua Chợ Cũ làm vài chai Henneckein.”
Tôi có một cảm giác lạnh băng chạy từ đốt xương sống cuối cùng lên đến đỉnh đầu, nhưng định thần nhìn rõ thì ra là NguyễnVăn Định (Khoá 24 Đà Lạt, Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù) còn người đang chờ ngoài xe là Trần Văn Hợp (Khoá 23 Đà Lạt), tôi mừng rỡ lên xe Honda chở ba chạy qua Chợ Cũ “làm” đĩa cơm sườn,”chơi” vài chai beer con cọp… Hợp móc trong túi sách một tờ giấy, điền tên Trần Chỉnh rồi chở tôi ra bến Thủ Thiêm “tống tiễn” tôi xuống một chiếc ghe chở gạch cát của Công Ty Dầu Khí Vũng Tàu tách bến hướng ra khơi hải hành, đêm đến nhìn ngắm sao trời định vị trời đất “Thiên Địa khôi khôi du du” huớng tầm mắt về chốn “Hồng Lam” quê hương dần mờ xa …chung quanh chỉ còn tiếng sóng biển vỗ mạn tàu làm đau lòng người viễn xứ không được nói dù một lời thì thầm, hoặc tiếng nấc nghẹn trong câm nín từ biệt vợ con, cha mẹ, ông bà quyến thuộc và ân nhân :Chú Chảnh, Chú Xường, Chú Xồi, Chú XếPhò… Đđêm đại dương đen bao la, lạnh lẽo và dưới mặt nước thâm u kia biển vẫn vô tình…! Một tháng sau…đang chờ rời khói Đảo Pulau Bidong để sang trại chuyển tiếp Galang II, tôi nhận được thư vợ gởi từ Việt Nam sang:
” Anh Thương,
Chị Ba (chị Dâu của tôi) có đến thăm Em, cùng đi với chị có một người đàn ông Việt gốc Hoa tên gọi là Chú Xồi, người này đã trao cho em 10 lượng vàng và nói: “… đây là tiền của Anh Út gửi cho chị…”.
Em
Ký tên ………”
Nhân Vô Tín Bất Lập
Lan Chi ư thâm lâm bất dĩ vô nhân chi bất hương Quân Tử tu Đạo lập Đức bất khả khốn cùng nhi cải Tiết.
Trong ba tháng bị tù khổ sai vác lúa gạo ở Cà Mau, tình cảm của tôi với gia đình Chú Quảnh càng ngày càng gắn bó, thân thiện đối đãi với nhau như quyến thuộc gia đình, mọi người tuy có bị giam cầm và thân phải vất vả lao động “xã hội chủ nghĩa”…Nhưng ẩm thực thì “tư sản mại bản” rõ nét với những bữa cơm chuyên trị: lòng heo phá lấu, heo quay, vịt quay, xá xíu. lạp xưỡng, hải vị tả pín lù…Đôi khi cao hứng tôi bỗng chợt cười khan thú vị!!! Mấy Chú “Thoòng Dành” “thân thương chi giao” ngạc nhiên hỏi tôi:
-Tự nhiên sao cười
Tôi trả lời:
-Ở tù kiểu nầy sung sướng hơn trở về nhà.
Chú Quảnh tiết lộ là thân nhân của Chú đã:”… chạy chọt đút lót cho “thằng” Trưởng Ty Công An Hình Sự Cà Mau hết 150 cây vàng rồi…chắc nay… mai tụi mình sẽ được thả dzề rồi…”!!! Thời gian trong tù sinh hoạt hằng ngày tôi gần gũi với Chú Xưòng, Chú Chảnh nhiều hơn…hai Chú thân thể nhỏ con ốm yếu lại cùng một tóan lao động với tôi, có lần Chú Xường vác bao gạo bước qua tấm ván gỗ gác từ bờ sông xuống ghe bầu bị trợt chân té nhào xuống sông tôi liền vất bao gạo xuống mũi ghe, nhảy ùm xuống sông vớt Chú ấy lên, ông chủ ghe bầu thông cảm không làm khó dễ mà chỉ nói:
– Không sao…không sao…cứ xem như tôi biếu bao gạo đó cho các Anh…tội nghiệp…thân tù tội…tội tù …!
Từ sau đó Tôi-Xường-Chảnh khắn khít như hình với bóng, tôi thường kể cho họ nghe “Chuyện Tàu” …và họ khoái tỷ nhất là truyện kiếm hiệp Kim Dung kèm theo lời bàn và phân tích của “Lão Ngoan Đồng” tân thời Tôi về những nhân vật “Ma Giáo” và “Chính Giáo”…cũng nhờ vậy mà ba tháng tù trôi qua vơi “thân tù tội” như Tô Đông Pha bị “biếm quan” phát vãng đi bán ” lục tàu xá, chí mè phủ” trong nhà lao vậy thôi…giấc ngủ đêm đêm còn hương vị thịt quay, bánh hỏi, phá lấu và lạp vị…!!!
Khởi Nghiệp Nhà: (Viết theo lời kể của Chú Xường và Chú Chảnh)
” Ông Cố Nội của chúng tôi lập nghiệp ở Chợ Lớn (vào khỏang năm 1860) với một cái gánh mua bán ve chai lông vịt, thường ngày thì mua được lông vịt nhiều hơn lông gà vì người Tàu ăn vịt quay nhiều hơn gà.. Khi Ông Nội chúng tôi ra đời thì cái gánh ve chai lông vịt đã trở thành cái “vựa” ve chai lông vịt, sau đó trở thành cái “xưởng” làm chổi lông gà, quạt tay và áo che mưa bằng lông vịt, còn ve chai thì cân ký bán sĩ cho một lò rèn làm chai lọ thủy tinh…và cuối cùng là xưởng dệt tơ vải.
Trong khi đó, người em thứ ba của Ông Cố chúng tôi là Ông Cố Ba làm nghề mổ heo, Bà Cố Ba giữ lại lòng heo làm phá lấu kiểu Dương Châu và cho hai người con trai đội mâm đan bằng mây đi bán dạo…sau đó trở thành quán hủ tiếu duy nhất có bán thịt heo quay, thịt vịt quay, lòng heo phá lấu….Đó là tiền thân của Công Ty Nhà Hàng Bát Đạt nổi tiếng sau này..
Khi đến đời Ông Nội chúng tôi (vào khoảng vài thập niên cuối Thế Kỹ 19…1880-1900) thành phố Sài Gòn được hình thành với những dinh thự, công sở, khách sạn nguy nga đồ sộ của mấy Ông Tây-Bà Đầm…vùng Chợ Lớn vẫn còn bùn lầy nước đọng! Đường xá được chính quyền Tây mở rộng ra đến vùng ngoại ô Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè, Phú Lâm…huyết mạch giao thông buôn bán chính là ghe thuyền từ các tỉnh miền tây xuôi ngược lên Sài Gòn tấp nập…do đó mới có thành lập Kinh Chợ Gạo (Mỹ Tho). Cơ sở của Ông Nội chúng tôi phát triển rất nhanh, Bà Nội trông coi cửa hàng buôn bán tơ lụa, có thể nói gia đình chúng tôi lúc đó như là nhà thầu duy nhất cung cấp: gấm, saten, vải lụa…cho các con buôn “Thực Dân Pháp”…trong khi gia đình Ông Cố Ba đang phát triển các tiệm ăn rập khuôn theo kiểu Tàu: Quán ăn và quán trọ Bát Đạt …Gia đình người Hoa Kiều giàu có nhất trong vùng là giòng họ Mã mà lớp hậu duệ sau này là Mã Sái, Mã Tuyên…Đến đời thân phụ mẫu chúng tôi thì gia đình cũng đã khá giả, sáu anh chị em chúng tôi khi lên ba bốn tuổi đã được dạy xử dụng bàn tính của người Tàu một cách rành rọt, chúng tôi học trường Tinh Vỏ, ở nhà nói tiếng Quan Thoại, khi giao tiếp với con buôn thì bằng tiếng Việt hoặc tiếng Tây…Khi Anh Quảnh lấy vợ người Triều Châu thì Ba tôi giao hết chuyện quản trị làm ăn cho anh và Ba tôi trở thành “Ông Trùm” của “Bang Hẹ”…Anh Xồi được giao trách nhiệm sổ sách kế tóan, còn tôi (Xường), Anh Chảnh và cô em út A Cảo làm chủ ba hảng nhuộm vải ở Cầu Tre Phú Lâm…”.
Lời Kết:
Qua những câu chuyện kể trên, tôi không biết có phải vì trả lại 25 đồng mà Chú Xồi đã cố tình đưa dư mà cơ duyên, định số đã đưa đẩy tôi gặp gia đình “Họ” rồi cộng sinh làm ăn buôn bán với “Họ” trong quảng đời gần bốn năm trong hoàn cảnh cá chậu chim lồng, nỗi lo sợ bất trắc luôn rình rập từng giờ, từng ngày …cho đến một ngày đột ngột rời bỏ quê hương với sự che chở, giúp đỡ tận tình của “Họ” những người Hoa sinh trưởng và lớn lên trên đất Việt đã bao đời…Trong tư cách cá nhân của bản thân thọ ơn sâu dầy mà Người Ân Nhân bất cầu báo đáp… tôi viết lên bài bầy như một trãi lòng Thuỷ Chung Tri Ơn đến Gia Đình Minh Hương đã phát huy và xiển dương được một trong nét Văn Hoá Tinh Thần Trung Hoa cổ xưa là chữ Tín mà đương đại ở “Thế Giới Tân Kỳ Huyền Ảo” những “Bậc” Thượng Đại Nhân đang ngự trên Tột Đỉnh Quyền Lực đã có mấy ai và chắc gì đã giữ chữ Tín được vẹn toàn…Có phải chăng Văn Hoá Đông-Tây không bao giờ gặp nhau ? … Đất hạn khát cơn mưa lũ, trời âm u cần ánh sáng của thái dương, của tuy tơ tóc nhưng nghĩa son ngàn trùng…
Trong ngôn ngữ lịch sự của người Việt Nam chúng ta gọi người Việt gốc Hoa là: “Hoa Kiều Chợ Lớn”, bình dân thì thường gọi mấy ông là: “cắt chú” , được phiên âm trệch ra từ chữ”Khách Trú” và theo truyền thuyết xa xưa người Hoa thường “đi” qua các thương cảng của Việt Nam để giao thương bằng tàu, thuyền và phải neo ngoài cửa khẩu, chờ cho quan quân Việt kiểm soát xong,mới cho phép nhập cảng một lượt là 3 tàu, thuyền…dần dà thuận tiện quen miệng dân Việt gọi “Họ” là: “Ba Tàu” và phải chăng từ dó mới có danh từ: Chú…Chú Ba Tàu, Chú Chệt,…và sau nầy khi trào phúng thì gọi là “Ba Tàu Chợ Lớn” …Xứng danh là gì chăng nữa họ vẫn là Họ. Họ vẫn giữ phong tục tập quán của Giống Nòi Hán và Văn Hoá Trung Hoa tốt đẹp từ hằng nghìn năm qua cho đến ngày nay….dù đã trải qua từ những triều đại: Hán-Đường-Tống-Nguyên-Minh-Thanh…đến quốc nạn “Bát Quốc Phân Thây” và phân nhánh Hồng Kông, Macao, Đài Loan, …toàn lục địa bị chìm đắm dưới họng súng bạo quyền “Thời Đại Cộng Sản” thật là đáng tiếc !
Những người Hoa thiện nhân cho dù sinh sống tha phương ở bất cứ nơi đâu cũng lấy gia đình làm đơn vị căn bản để từ đó vươn lên trở thành “Bang”…nhỏ lớn tùy kỳ thời, tùy kỳ thế, . Cha Mẹ, Anh Em, Vợ Chồng, Con Cái đùm bọc che chở cho nhau, để từ một gánh ve chai lông vịt hay một cái mâm mây bán dạo lòng heo phá lấu …rồi phát triển trở thành những Đại Phú Gia. Sinh hoạt thương trường, giao dịch kinh tế, và những khế ước của họ được thực thi giữ đúng bởi một chữ Tín nhất là trong sinh hoạt các Bang, Phái đã có tự xa xưa…Đức tánh tốt của họ là cần cù nhẫn nại, chắt chiu dè sẽn dành dụm, không quản ngại nghề nghiệp lớn nhỏ, sang hèn, không khoe khoang xa hoa phung phí…quí chuộng việc buôn bán làm trọng, thường khởi nghiệp từ việc buôn bán nhỏ từ từ đến buôn bán lớn rồi phát triển trở thành công ty, xí nghiệp, hảng xưởng,…
Nhưng người Hoa sinh sống ở Việt Nam trong suốt Thế Kỷ 20 chưa và không có một dịch vụ hoặc hình thành nào liên quan đến công nghiệp nặng chỉ chú trọng về việc trao đổi buôn bán hàng tiêu dùng gia đình . Họ tích lũy tài sản theo truyền thống cha truyền con nối, cho đến khi sự tích lũy tiệm tiến này trở thành một gia sản khả dĩ có thể trở thành một hội viên trong hệ thống thương mại lớn của các Bang, Phái…Dĩ nhiên trong sự buôn bán làm ăn sẽ có nảy sinh sự cạnh tranh giành giật để được lợi nhuận và ít khi xẩy ra trong cộng đồng của họ. Nhưng nếu có, họ thường giải quyết trong nội bộ, ít khi để đến cửa quyền tranh tụng nhờ luật pháp can thiệp, họ không thích tranh tụng kiện cáo, có những trường hợp liên quan đến pháp luật chính quyền thì Bang của họ thương lượng để mọi việc “trôi qua”, sau đó họ giải quyết nội bộ bằng những biện pháp chế tài, cô lập vì “Bất Tín”, nặng nề lắm mới có vụ thanh toán. Gia đình hay cá nhân nào phạm vào chữ Tín thì chỉ có nước đi ăn mày!
Ngày nay Trung Hoa lục địa (Trung Cộng), Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao…đều có chính quyền riêng, người dân sinh ra, lớn lên học hành thành đạt từng bước… từng bước họ tham gia chính quyền từ hạ đến thượng tầng cơ sở. Nhưng đối với người Hoa Kiều ở hải ngoại (theo sự hiểu biết của tôi) như Việt Nam, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc…họ không muốn tham gia vào chính quyền dù có mãi lực “đồng tiền có thể mua tiên cũng được”. Thí dụ như ở Indonesia, người Hoa Kiều chỉ có khoảng 3% dân số mà nắm giữ 70% tài sãn của đất nước này và tài tình sở trường của họ mà chúng ta phải “khâm phục” là họ xử dụng mãi lực đồng tiền đút lót, mua chuộc làm thân với những giới chức chính quyền sở tại một cánh trơn tru êm thắm và điều phối sinh hoạt cộng đồng Hoa Kiều có tôn ty trật tự cũng nhờở các Bang, Phái và “Luật” của Bang không khác gì xã hội đen Mafia…
Nhưng áp dụng để trừng trị kẻ gian bội Tín rất nghiêm khắc chắc chắn hơn phim ảnh God Father của Ytaly rất nhiều. Nhiều người cho rằng “Ba Tàu” hay bắt chước làm đồ giả, điều đó hẳn nhiên vì thực tế trên thương trường đi sau, tụt hậu, bị các đại cường tân tiến chiếm hữu thị trường béo bở, thế yếu không còn thời gian cạnh tranh nên họáp dụng “tính xấu” là: “Cứu Cánh Biện Minh Cho Phương Tiện”...!!!Âu cũng là phương thức cạnh tranh để được sống còn với Đại Thế Lực Liên Minh Toàn Cầu…!!! Nhưng Made In China ngày nay đã trở thành vấn nạn và là tai hoạ cho những ai ưa chuộng vì tiện lợi và giá thành phẩm rẽ …uy tín China trên thương trường thế giới bị đánh giá thấp, độc hại phải cảnh giác…! Nhân phẩm, tư cách tốt đẹp của người Trung Hoa bị thách thức và đang bị phản tiến hoá trên chiều hướng là Người và Làm Người có Văn Hoá hướng thượng…Đức Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử có sống lại cũng bị con cháu hậu sinh của Ông “mần thịt” hoặc tống cổ vào trại tù hoặc nhốt vào nhà thương đìên, may mắn thì có thể lang thang đầu đường xó chợ rao bán thuốc dán độ nhật qua ngày…Hãy truy tìm tài liệu và thậm thâm suy xét những “người” Trung Hoa tiêu biểu cao thượng, đại gia, đại phú gia địch quốc mà tích sản tiền muôn, bạc tỷ, danh tiếng trên thế giới và được hằng tỷ Người Trung Hoa đương thời ái mộ, đề cao như những người trong gia tộc họ Tống điển hình như Tống Tử Văn sinh sống tại Mỹ,…
Chúng ta sẽ nhận biết là hầu hết những lớp “người ưu tú” thượng lưu của Trung Quốc tương tự, đã và đang sống trên những quốc gia tân tiến Âu-Mỹ được ưu đãi…cũng chỉ để “góp công, góp sức” để tóm thu tài sản của Trung Quốc làm giàu cho xứ người…và trở thành “Đại Hán Gian” trong Đại Âm Mưu Thực Dân Mới “Build Up” và xử dụng người bản xứ thu lợi và thống trị trong “quyền lực mềm” thiện xảo…có mấy ai là người Trung Hoa Trí Tuệ đã “Nhìn” thấu suốt trong “bóng tối” bản chất của sự việc “Nhân Vật Chí” thời qua không ? Hiều biết tất sẽ “thương hại” Trung Quốc vô cùng …!
Suy việc “người” gẫm chuyện “mình” Việt Nam cũng có điều tương tự như vậy và đã từ hơn 300 năm qua…Những “Nhà” ái quốc có tinh thần Quốc Gia không thành công trên phương diện Chính Trị, Lãnh Đạo Đất Nước mà phải bị, chịu thế cô và bọn khuyển mã tay sai của thế lực ngoại bang đè đầu cưỡi cổ, định phận cho mãi đến hôm nay…? Không phải Dân Tộc Việt Nam không có Anh Tài. Nhưng qua “Nan Hành Khổ Hạnh” suy xét cổ kim…nhận chân chẳng qua là Người Việt Quốc Gia không có “Chủng Tử Việt Gian” trong huyết thống giống dòng Chân Chính, khinh bỉ Việt gian, không có tư chất Việt gian, không có “khả năng” để làm Việt gian, không có thể đóng vai Việt gian…nên “cây thẳng chết đứng”…!
Ngày nay với thành quả kinh tế được đánh đổi bằng mồ hôi, máu, nước mắt của người công nhân lao động Trung Hoa trong những nhà máy, khu chế xuất …và là bãi rác công nghệ, đất đai môi trường bị nhiễm độc chất phế thãi, huỷ hoại môi sinh và con người đáng báo động cuộc “Tử-Sinh” Trung Quốc Đương Đại …
Nếu Trung Quốc không biết áp dụng kỹ thuật dụng “Khí Ozone” là thành quả của Công Nghệ Sinh Hoá để làm sạch môi trường thì quốc gia nầy sẽ tệ hại không lường…! Quả thật qui luật cạnh tranh sinh tồn của những “Nhà” lãnh đạo các quốc gia cường thịnh, tân tiến đã thiết kế di dời nhà máy kỷ nghệ, chuyển vùng sản xuất để tận thu lợi nhuận kinh tếnhiều hơn mà thôi…! Trung Cộng với tích kim dồi dào, xây dựng quốc phòng, phát triển quân đội, gây chiến, chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải, đảo quốc của những nước nhược tiểu lân bang…
Trung Cộng đã bị “Chính Trị Lộ Tuyến”, phát hiện âm mưu sẽ xâm lược thế giới, thống trị danh hoàn trong tương lai khi cường thịnh… hiện trở thành “Công Địch” của Thế Giới và với “Hoạ Tiêu Tường” từ bên trong nội bộ Đảng, vấn nạn quyền lợi kinh tế phân bố không đồng đều, khoảng cách giàu nghèo quáư chênh lệch, cán bộ, quan chức tham nhũng tràn lan, quân đội mua quan bán chức, người dân vô cãm với từ thiện, hành hồ chi bản năng, lợi thân chi bần tiện …!
Thế sự vô nan giải Đáng hiềm vô Đại Nhân.
Nếu Trung Quốc có Đại Nhân với Đại Trí, Đại Hùng, Đại Phương Lược Mưu Sự Phúc Lợi Cho Nhân Sinh Trên Tiến Trình Nhân Chủ…thì hà tất và sá gì vài ba hải đảo nhỏ bé phụ hệ của các quốc gia lân bang nhược tiểu…mà phải bá đạo cưỡng chiếm cho hư Đại Sự…Đại Nhân thì Đại Trí và là Đại Phương Lược, Đại Nhân Ái …”Ta” sẽ không cần thu phục mà cả Á Châu nầy thuộc về “Chúng Ta” và là “Của Ta”…Sức nặng của sợi tóc cũng có thể làm nghiêng lệch cán cân bằng đối trọng là ở Đại Trí mà thôi ! Trung Cộng đã “dụng” hạ sách lược đối với Á Châu là “thiểu trí chi hoạ” …!
“Thực Dân Da Trắng” với những vũ khí tân tiến: súng đạn, phi cơ, tàu chiến…là thành quả của những bộ óc thông minh của giống “Xanh Ngươi” ưu việt …đã vượt đại dương xâm chiếm đất nước, của cải, tài nguyên và giết hại người dân bản xứ Đông Nam Á từ trăm năm…vài trăm năm qua…! Do vậy “nạn nhân Á Châu” đã e dè, cảnh giác và luôn gờm “người khách” oan khiên không mời thời qua…và chắc chắn cho dù giới lãnh đạo của những quốc gia nhược tiểu Á Châu có bị mua chuộc, khuynh loát bởi đại cường Trung Cộng hà chính…thì chính người dân sẽ trường kỳ chiến đấu để giành lại sự vẹn toàn Đất Nước-Dân Tộc (Lịch Sử Việt đã chứng minh từ nhiều ngàn năm qua). Nếu Trung Quốc có Đại Nhân, Đại Trí, Đại Hùng, Đại Phương Lược Mưu Sự Đại Nhân Ái…thì “Người” sẽ qui tụ về với “Ta” và “Tập họp nước nhỏ đánh nước lớn là Vương Đạo, Tập họp nước lớn đánh nước nhỏ là Bá Đạo”. Trung Quốc đã không Học và Thể Nghiệm từ Chân Văn Hoá Trung Hoa đã sẵn có tự bao thời…Đáng tiếc thay !!! Nên: Công tội giã kỳ Xuân Thu chi hồ…!!!
Còn Người Việt Nam mình ???!!!
Trải qua 100 năm dưới sự đô hộ thực dân Pháp, 30 năm với sự hiện diện của Mỹ (1954-1974)…Ngày nay Dân Việt bị trong nước bi bạo quyền Việt Cộng cai trị “hà chính ư mãnh hổ”…! Tại hải ngoại có gần 4 triệu người Việt đang định cư sinh sống và thăng tiến thành công khả quan tốt đẹp…Nhưng trong chúng ta cũng đã có bao nhiêu người trước và sau “Cuộc Đổi Đời” vẫn vì miếng đỉnh chung danh lợi thực-ảo …đã bất nhân, bất nghĩa, bất tín, bất lương và nhiều bất…đang hoạt đầu chính trị, phân hoá Người Việt đến tận cùng của thảm hoạ chia rẽ và có Vĩ Nhân nào có thể xuất thế để Phục Hưng, Phục Hoạt cho Dân Tộc-Đất Nước Việt Nam…?
Hỡi những “vĩ nhân” họ Đỗ tên Thừa đang đăng đàn với cương lĩnh nguỵ biện: Họ đỗ thừa cho Chế Độ Miền Nam Việt Nam có nhiều tham nhũng…!
Họ đỗ thừa cho Xã Hội Tây Phương làm cho Tam Cương Ngũ Thường đảo lộn…! Nhưng Họ không bao giờ dám “đỗ thừa” cho chính mình: Ta là kẻ vong bản, vong thân, vong quốc…!
May quá!… tôi học được thêm những bài học sơ đẳng từ gia đình Chú Quảnh và tự hỏi còn có bao nhiêu “Gia Đình Người Việt Gốc Hoa” như thế trong cộng đồng người Trung Hoa đang sinh sống trên đất nước Việt Nam thân yêu cho dù đang sống dưới chế độ “chó má” Việt gian bán nước …? Đêm đêm chong đèn “diện bích” tự quán xét “Bản Lai Diện Mục” chính mình ôn cố tri tân tìm trong “Cảo Thơm Lần Giở Trước Đèn” học nghiệm qua cảnh ngộ, trường đời ba chìm bẩy nổi “Quân Tử Thức Tự Đa Ưu Hoạn”…nên cố tránh và khước từ tam vong nói trên, mạn bút viết nên đôi dòng đóng góp thêm cho Đời chút “cỏ thơm” chủ quan khiếm khuyết…mong lượng thứ…
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Sau khi chiến tranh chấm dứt ông chuẩn úy anh vợ của tôi cũng bị bắt đi cải tạo một thời gian rồi được thả về. Thời gian qua đi, người cựu chiến binh Ðinh Văn Thọ đã biến thành một nông phu chân lấm, tay bùn, ngày ngày tìm vui bên những vườn tiêu, ruộng lúa. Nét phong lưu ngày xưa của anh tôi, có còn chăng chỉ là tiếng đàn guitar classic réo rắt vào những đêm trời đổ mưa…
Tết Giáp-Dần là một trong những cái Tết vui vẻ và đầm ấm hiếm có của gia đình tôi. Vợ chồng tôi và hai đứa con gái quây quần bên nhau đón Giao-Thừa trong một căn phòng có một nhành mai vàng, một mâm hoa quả, một cặp bánh chưng xanh cùng một khay kẹo mứt. Một ngày sau Tết bỗng nhiên Ðại úy Trương Ðình Hà phát bệnh điên.
Anh Hà ôm súng M16 đi vòng vòng trong sân doanh trại, bắn toang cửa kính văn phòng, bắn lủng mái tôn khu gia binh rồi lên mở cửa văn phòng chỉ huy trưởng để tìm ông đại tá. Tôi đang bận việc trên quân đoàn thì bị gọi về giải quyết chuyện lộn xộn này. Xe của tôi vào cổng đúng lúc Ðại úy Hải, Sĩ Quan Chỉ Huy Hậu Cứ nhảy vào ôm được anh Hà để cho người khác tước súng. Lập tức ông sĩ quan điên bị nhốt vào lô cốt có khóa bên ngoài và có lính canh. Chiều hôm đó Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ Quan Quân Pháp Quân Ðoàn II gọi điện thoại cho tôi.
Anh Ngọc cằn nhằn,
-Thằng Hà là thuộc cấp của Long phải không? Long coi lại! Chiều qua nó sang đây thăm hỏi và chúc Tết mình. Lúc ra về thì xe nó hết xăng, nó mượn xe của mình tới giờ này không chịu trả, mình phải đi nhờ xe của người khác. Long làm ơn nhắc nó trả xe cho mình được không?
Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn II cũng là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi và Trương Ðình Hà. Tôi vội thông báo tình trạng hiện thời của Trương Ðình Hà cho Lưu Văn Ngọc hay. Nghe xong, Ngọc ngạc nhiên lắm và không tin đó là chuyện thật.
Suốt hai ngày kế đó Trương Ðình Hà luôn miệng la hét om sòm trong nhà giam, không chịu ăn uống gì cả. Hà không nhận ra ai, kể cả người bạn gái của anh ta. Cuối cùng, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 phải ký lệnh cho quân y áp tải Ðại úy Trương Ðình Hà về Sài-Gòn để vào nhà thương điên chữa trị. Chiều Mùng Ba Tết, Lưu Văn Ngọc báo cho tôi hay chiếc xe Jeep mà Ngọc cho Hà mượn đã bị Hà đem lên ngã ba Quốc Lộ 14 và đường vào Plei M’Rong bắn bể lốp rồi bỏ bên bìa rừng!
Chuyện Ðại úy Trương Ðình Hà phát điên bắn phá lung tung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cũng thành một đề tài cho anh em trong đơn vị bàn tán khá lâu, nhưng tuyệt nhiên không ai biết nguyên nhân vì đâu mà Trương Ðình Hà vướng phải căn bệnh quái ác này.
Cả tháng sau khi Ðại úy Trương Ðình Hà ra đi, tôi mới tìm được người thay thế anh Hà.Người được tôi chọn là Trung úy Ðiệp, một sĩ quan trẻ tuổi và gan dạ. Chỉ ít lâu sau khi nhận việc, Trung úy Ðiệp đã được quân nhân dưới quyền hết lòng tin tưởng và quý mến.
o O o
Chuyện cái điện đài ở Lệ Minh…
Sau Tết 1974 hành quân tái chiếm căn cứ Biên Phòng Lệ Minh (Plei Djereng) do Sư Ðoàn 22 tổ chức đã thành công mỹ mãn. Cuộc đổ bộ bằng trực thăng của một tiểu đoàn bộ binh trên căn cứ Lệ Minh đã không gặp phải sự kháng cự nào. Chiếc trực thăng chở anh lính cao nhất của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã an toàn đáp ngay trên nóc cái lô cốt giữa sân Lệ Minh để cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ khổng lồ. Chỉ một phút sau khi anh lính xuống đất, lá quốc kỳ to bằng hai cái poncho ghép lại đã phần phật tung bay trong gió.
Tối hôm đó tin quân ta tái chiếm Lệ Minh đã được truyền đi rầm rộ trên các đài phát thanh và các kênh truyền hình. Tôi vui mừng vô cùng, vì những tưởng rằng từ nay sẽ được rảnh tay đi nhận đơn vị mới.
Nào ngờ, vừa cắm cờ trên căn cứ Lệ Minh xong thì Trung Ðoàn 41 Bộ Binh lại bỏ Lê Minh ngay rồi rút quân về Pleiku. Hóa ra cuộc hành quân quy mô, tốn kém này chỉ nhằm mục đích gây tiếng vang cho thế giới thấy rằng quân ta còn rất mạnh, dư khả năng bảo vệ lãnh thổ và đẩy lui quân thù. Cũng từ đó tôi được lệnh lúc nào cũng phải duy trì một toán viễn thám của Biệt Ðộng Quân có mặt trong vòng bán kính 5 cây số cách Lệ Minh.
Trung tá Trịnh Tiếu nói với tôi, không úp mở:
“Cái điện đài của Long hoạt động 24/24 quanh Lệ Minh chỉ là dấu hiệu sự hiện diện của quân bạn ở trong vùng này. Quân đoàn phải duy trì việc này cũng chỉ để che mắt Bộ Tổng Tham Mưu! Chỉ là đánh giặc giả! Chỉ là báo cáo láo với cấp trên! Long đừng lo lắng, bận tâm!”
Nghe ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II nói vậy, tôi cũng biết vậy, nhưng bảo tôi đừng lo, đừng sợ, đừng bận tâm thì tôi không thể. Thật là khổ tâm khi bị ép buộc thi hành những chuyến xâm nhập nguy hiểm chết người như thế này mà chẳng thấy vinh dự gì. Làm công tác này, tôi đã trực tiếp đồng lõa với những thượng cấp ở Pleiku để đánh lừa những thượng cấp lớn hơn ở Sài-Gòn. Tôi là một người ruột ngựa, thẳng băng, nếu làm điều gì mà phải che che, giấu giấu, khuất tất, thì lòng tôi cứ áy náy, không yên.
Chưa bao giờ trong đời tôi lại bị thượng cấp giao cho cái nhiệm vụ quái đản như thế này. Một nhiệm vụ thật lạ kỳ: Toán nhảy xuống đất, chui vào rừng, kiếm một nơi an toàn, mở máy ra, gọi đài tiếp vận, trao đổi vài ba câu rồi cứ để máy chạy “È! È! È!” suốt ngày, suốt đêm, hết điện trì, thay điện trì mới. Ðúng một tuần lễ sau lại thay toán khác, cứ như giỡn chơi!
Những viễn thám viên dưới quyền tôi cũng là con người; họ cũng có linh hồn, có cảm giác; họ cũng biết sợ cái chết, biết đói, biết lạnh, và biết đau đớn khi bị thương. Chuyện họ có mặt trong vùng Lệ Minh là chuyện đánh trận giả, nhưng chuyện thần chết chờ họ từng phút, từng giờ là có thật.
Thi hành lệnh này, tôi và các bạn Không Quân của Phi Ðoàn 229 Trực Thăng cứ như có hẹn lại lên, đúng bảy ngày lại nối đuôi nhau, hai Gunships, hai Slicks lừng lững bay vào thả toán mới, bốc toán cũ, bị phòng không bắn lúc nào không ai hay, chết lúc nào không ai biết.
Thượng cấp của tôi không nghĩ rằng, chúng tôi cũng là con người, cũng có thân nhân, gia đình, cũng biết sợ cái chết.
Chúng tôi sẵn sàng chết vì nhiệm vụ bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng bào, bảo vệ tự do.
Nhưng nếu phải chết vì những âm mưu xảo trá, lòe mắt cấp trên, chết vì đánh trận giả thì quả là chết quá oan uổng, chết lãng nhách! Tôi nghĩ, nếu ra tiểu đoàn, có bốn, năm trăm quân dưới tay, trấn thủ một vùng, còn an toàn ngàn lần hơn là cứ cách vài ngày lại phải bay vào vùng địch, bốc toán, thả toán, trong bán kính 5 cây số xung quanh một điểm cố định là một cái tiền đồn đã mất, sớm muộn thế nào cũng bị phòng không Việt-Cộng bắn rơi, phải lên bàn thờ mà ngồi. Trong tình thế này, tôi chỉ còn cách chấm sẵn bãi thả và bãi bốc, yêu cầu các bạn trực thăng bay thật thấp, bay thật nhanh, thả thật nhanh, bốc thật nhanh, cố gắng giảm thiểu thời gian có mặt trên vùng của phi cơ tới mức tối đa.
Tôi ra lệnh cho các toán viên dưới quyền, mỗi khi đạp đất rồi thì họ cứ tìm nơi nào đó thật kín đáo an toàn mà ẩn núp chờ ngày qua, không cần phải đi thám sát dò la tin tức địch như ngày xưa nữa.
Thực tình tôi không rõ, ngoài Thiếu tá Vương Mộng Long, Trung tá Trịnh Tiếu và Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn ra thì có còn ai nữa biết rằng sự hiện diện của cái điện đài ở cách Lệ Minh 5 cây số chỉ nhằm mục đích che mắt thượng cấp? và những cú thả quân, bốc quân quanh Lệ Minh chỉ là đánh trận giả?
Thời gian này lòng tôi rất muộn phiền, nhưng tôi cứ phải ngậm miệng, không dám chia sẻ tâm tư cho bất kỳ ai. Trong chuyện cái điện đài ở Lệ Minh này, Trung tá Trịnh Tiếu là người thấu hiểu nỗi buồn của tôi nhất; ông nói với tôi rằng,
– Chú gắng nhẫn nhịn, chịu đựng ít lâu, rồi mọi khó khăn sẽ qua thôi!
Tôi và Trung tá Trịnh Tiếu đều là dân Hội-An, tôi lại là bạn thân của một người em ruột của ông Tiếu, hơn thế nữa, tôi và ông Tiếu cùng xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Việt-Nam, vì thế ông Tiếu rất thân thiết với tôi. Ðã có nhiều lần ông Tiếu giới thiệu tôi đi giữ chức vụ quận trưởng những quận lỵ trù phú, thanh bình dưới vùng duyên hải, nhưng tôi thoái thác.
o O o
Trận Kon Sơm Luk 1974…
Tôi đang tiếp tục công việc bốc toán, thả toán thì có tin địch chuẩn bị đánh Kon-Tum, quân đoàn liền ra lệnh cho tôi đem quân lên Kon-Tum yểm trợ cho quân bạn. Vì Ðại Ðội 2 Trinh Sát của Trung úy Ðiệp đang hành quân ở Thanh-An, do đó tôi chỉ đem theo Trung đội Viễn Thám của Phòng 2. Tôi có tổng cộng sáu toán viễn thám. Hiện thời trong vùng Lệ Minh có một toán đang hoạt động. Vì thế tôi phải cho một toán ở lại Pleiku để làm trừ bị cho Lệ Minh.
Trưa 10 tháng 3 năm 1974 tôi cùng bốn toán viễn thám còn lại đã có mặt tại hậu cứ Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân nằm trong thành phố Kon-Tum. Thi hành lệnh của Ðại tá Liều Thọ Cường, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 22 Bộ Binh, người đang chỉ huy Mặt Trận Kon-Tum, trưa 11 tháng 3 năm 1974 tôi đã tung hai toán viễn thám vào săn tin vùng 5 cây số Ðông Bắc cầu Kon Sơm Luk trên Liên Tỉnh Lộ 5 B vì có mật báo rằng địch sẽ chuyển quân của Sư Ðoàn 3 Cộng-Sản từ Bình Ðịnh lên để tập kích quân ta.
Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân hiện thời không có sĩ quan Ban 2, không có Trinh Sát và Viễn Thám, nên Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh yêu cầu tôi có mặt bên cạnh Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân để trực tiếp yểm trợ tin tức chiến thuật cho đơn vị này. Vì thế, thả quân xong, tôi đáp xuống vị trí hành quân của Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Chiếc xe Jeep của tôi đã có mặt ở đây từ chiều hôm qua.
Ban chỉ huy viễn thám của tôi chỉ có ba thầy trò, là tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Hạ sĩ Nguyễn Ba và anh Binh nhất tài xế Lê Văn Tới. Thầy trò tôi tạm trú trong một căn lều trung đội, nơi cửa lều có cây ăng ten 292, trong lều có cái bàn gỗ, trên đó là ba cái máy PRC 25. Trong khi ông Ba và ông Tới lo trực máy và thổi cơm thì tôi vào phòng thuyết trình của liên đoàn để thăm ông trung tá liên đoàn trưởng.
Ðây là lần đầu tôi giáp mặt ông Trung tá Nguyễn Thành Tiên. Ông Trung tá Tiên mới từ trong Nam ra, nhận chức vụ chỉ huy liên đoàn này không lâu.
Chúng ta đã sinhra lầm thế kỷ Nước mắt, nụ cười giandối gạt lừa nhau. Và hạt cát cũngcăng đầy thù hận Tri kỷ gì thứ tình nghĩađã chia ly…?!
“Văn Chương Miệt Vườn” thành danh, thành điển tích như Cụ Đồ Chiểu đã hoa gấm đi vào Văn Học Sử thênh thang rất đáng kính cẩn và trân trọng… còn thứ “văn tri chướng; cà chớn hạng” của tôi đọc “dễ hiểu” chỉ để tiêu khiển “một vài trống canh”, lại có đôi chút “gút mắc” với một số “nhân vật chí” hiện thân, hiện thời đang sinh hoạt chìm nổi tại xứ người tự do, hành sự khuất tất phía sau hậu trường “cung đình Đỏ” rối như mớ bòng bong… quả thật là không đơn thuần giản dị chút nào, là thật sự “khó tiêu” và đáng tiếc vô song! Vì “cánh màng nhung” của vở bi hài kịch có vô số thân xác, máu xương, da thịt người Việt làm “phân bón” cho loài “cây” gian độc rúc rỉa sinh sống, đơm hoa kết trái vật chất, tiền tài, tích sản là thành quả của trí “khôn” gian trá vô lượng đã “biết” thức thời vụ với “đại âm mưu” là “đại biện chứng” mà thành “gian nhân hiệp đảng” mặc tình lấy cường bạo thịnh thời vung tay bẩn mà che cao xanh, lấy vải ác độc mà bịt nhân đức… hỏi được bao lâu “con rắn hồng lột xác” vẫn chưa xong và chưa chung cuộc hý trường… như tôi viết ở khoảng không du du bỉ phương và thiên võng khôi khôi sơ nhi bất thất… giữa hai hàng chữ không giản dị chút nào và đáng tiếc …?! Mong quí Độc Giả độ lượng tha thứ.
“Bên thắng cuộc” hay thực sự bị thua cuộc? Thắng trận hay thua trận, nay đã trở thành một “mặt trận” văn chương chữ nghĩa trong cộng đồng người Việt Tự Do tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại và cũng tự tranh biện, bênh và chống mà “cái” hay, tốt đẹp của Hoa Tự Do được đơm hoa, kết trái ở trú xứ Tự Do đưọc thể hiện và minh chứng với tiến trình lịch sử loài người tiến hoá không ngừng cho đến nay… và mai hậu làn gió Tự Do – Dân Chủ sẽ thổi vào Việt Nam thành bão lửa là qui luật chính trị: “nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh”… và thứ “văn hoá theo lề phải” là thứ đứng lại, nghịch triều lưu sẽ bị nhận chìm và chết tiệt! Tôi đọc riết rồi bị động não, mang tâm bịnh nhớ dai, càng nhớ dai càng thêm khổ lụy cho bản thân mình…! Nghĩ cho cùng “kẻ thiệt” chính là “ta” cưu mang thành nặng gánh u hoài!
Thôi hãy gấp lại những bài vở mang mang và những trang sách đã rách “giữ lấy lề” nệ cổ của Thư Cưu thời quá vãng … đành viết chuyện “Tôi Bị Gạt “góp “mặt” với làng Văn có lẽ bằng hữu và độc giả đọc không vui cũng lượng thứ?
Bị Gạt:
Ngày 30-4-75 là ngày đã ngã ngũ thắng hay thua? Một lằn ranh của kẻ thắng trận và Người bại trận đã được chế độ mới vạch ra rõ ràng bằng mực đỏ! Kẻ thắng trận tiểu nhân đắc chí hoạch định sách lược cường quyền “xử lý”: bắt bớ, giam cầm, đày đoạ, trả thù, nô lệ hoá toàn thể Quân Dân miền Nam là Người bại trận…. trong những Người bại trận đó có tôi và đương nhiên với “mệnh Nước vận Nhà” đành câm nín, âm thầm nhẫn chịu, ta thán có ích gì …! Nhưng có điều chua xót đớn đau phải ghi tâm khắc cốt… Đó là tôi bị gạt để đời, môn học mà trường lớp thời niên thiếu với Thầy, Cô lòng son và phấn bảng không dạy bao giờ. “nó” chỉ có ở trường đời biển lận mà thôi!
Bị Gạt Lần Thứ Nhất:
Sau 30- 04-1975, tan hàng…! Phút chốc công danh sự nghiệp trở thành mây khói, nhà cửa “tài sản” chỉ còn lại vài bộ áo quần dân sự… thắng về nội thối về ngoại, Tôi dắt díu vợ con tá túc nhà ngoại, tâm trạng như kẻ mất hồn, chạy đầu này tìm người này, chạy đầu nọ tìm người kia… họ cũng như tôi tâm trạng rối bởi chẳng khác gì nhau! Nghe tin tức trên đài phát thanh: “Tất cả sĩ quan cấp Úy trở lên trình diện học tập cải tạo… nhớ mang theo tiền ăn cho 10 ngày…”. Tưởng bở, tôi từ giã vợ con với lời nhắn nhủ: “Em gắng chờ Anh về… mình sẽ về Mỹ Tho xin Ông Nội vài sào đất, cất một cái chòi, trồng trọt nuôi con ăn học nhé…”!
Sau 10 ngày ở trại “giam” Hốc Môn (Thành Ông Năm) với các bữa ăn do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn như: Đồng Khánh, Bát Đạt, Soái Kinh Lâm…cung cấp và chờ đợi rồi dần sau đó cũng bắt đầu với những bữa ăn “thanh đạm” với rau muống, rau lang luộc cùng đậu hủ trắng… cho đến tháng thứ ba, quản giáo xuống “khối” của tôi gọi tên ba người và ra lệnh: “Các Anh chuẩn bị đồ đạc để về với gia đình… Đại Úy Bác Sĩ Trương Thìn, Thiếu Tá Bác Sĩ Trần Đông A, Đại Úy Bác Sĩ Trần Văn Thành”… và còn nhiều nữa… Cả trại xôn xao trong nỗi mừng vui khôn xiết vì tưởng rằng rồi nay mai cũng sẽ tới phiên mình…!!! Nhưng tất cả đều bị gạt. Những người được “tha” về, đều nằm trong danh sách đặc biệt của “bên thắng trận”. Rồi thời gian bị giam cầm chầm chậm trôi qua trong chờ đợi mòn mõi của tù nhân…! Những chứng bịnh như: phù thủng, đau ruột, đau gan, đau bao tử… xuất hiện, không thuốc thang chữa trị …! Tôi bắt đầu bẫy chuột, chuột gì cũng bắt hết ráo trọi, chuột chù, chuột cống, chuột nhắt … dưới bàn tay “tài hoa ngự thiện phòng” chế biến món ăn của tôi đã trở thành “cao lương mỹ vị”, và tôi còn thu lượm những cọng rau muống già đã được nhà bếp vất đi, chẻ ra từng sợi nhỏ rồi chế biến thành “thượng phẩm”, giúp cho những người thiếu chất đạm đang bị phù thủng ăn cho có chất dinh dưỡng. Ban đầu họ lợm giọng không dám ăn! Nhưng rồi vì muốn được khoẻ mạnh đành phải ăn để sống, sau dần dà họ cám ơn những tên tù bất kham như tôi đã “khổ” công thức đêm rình mò bẫy chuột, cung cấp cho họ món ăn “thuốc” thịt chuột “nguồn” bổ dưỡng cứu sống mạng người đang vật vã vì bệnh tật trong trại giam… Nên đêm đêm nằm kế bên nhau, họ ngâm khe khẻ cho Tôi nghe bài thơ “Hổ Nhớ Rừng – Thế Lữ” nghe qua sao lòng quặn thắt đớn đau như thọc mũi dao nhọn vào nách con chuột, moi cục hạch hôi ra và thân đau tê tái “Hổ” nhớ rừng gặm nhấm mối hờn trong cũi sắt, rồi nhớ thuở tung hoành hiên ngang tang bồng hồ thỉ trong khắp Bốn Vùng Chiến Thuật với tay súng dài XM18, súng ngắn Colt 45 dẫn quân lên Slick trực thăng ầm ĩ tiếng cánh quạt phành phạch xé gió của những hoa tiêu “Bảo Quốc Trấn Không” không bỏ anh em, không bỏ bạn bè bay xông vào trận mạc với hai hàng Gunship hùng hổ hộ tống sẵn sàng khạc từng tràng đạn và phóng nện rocket như thiên lôi giáng vào đầu quân địch… Nhưng nay thân đành thúc thủ, bị giam cầm, bẫy chuột, nhặt rau thừa độ nhật cho qua ngày đoạn tháng kéo lê lết một năm tù… cho đến khoảnh khắc quyết định sinh tử: “tự do hay chết”? Chứ ở tù như hiện tại không biết đến ngày nào được thả ra và “cái” chết đều đồng nghĩa như nhau! Tôi đã đánh cuộc với định mệnh lấy cái chết của mình để tìm tự do, Tôi vượt ngục đào thoát được khỏi nhà tù nhỏ và bây giờ bị sống trong nhà tù lớn VC bủa vây…! Tôi đi về đâu? Về thành chăng? “Hổ” phải về rừng cớ sao lại phải về thành và về thành rồi sẽ không chóng thì chầy cũng bị bầy lang sói khát máu tươi đang chực chờ cấu xé phanh thây Người chiến bại từng ngày, từng giờ, từng giây phút…thiên la, địa võng thần chết quỉ đỏ bủa vây, phủ chụp xuống thân phận Quân – Dân hiền hoà miền Nam trong tuyệt vọng thế cô…! Kinh qua những “quốc sách” bọn quỉ đỏ Việt Cộng (VC) đã “xử lý” người dân Việt tại miền Bắc trước 1954 và Quân – Dân miền Nam Việt Nam sau 30-04-1975 đã nói lên tính chất khác biệt với toàn thể Dân Việt có nền tảng Văn Hiến giàu lòng Nhân Ái ở mọi mặt, luôn cả đối xử tử tế độ lượng với giặc thù ngã ngựa thua trận bị khuất phục trong lịch sử thời qua, và ngay cả trong cuộc chiến Quốc – Cộng 21 năm dài, chúng ta luôn đối xử Nhân Đạo với cán binh VC bị thương hay bắt giữ tại chiến trường, có luật lệ và toà án xét xử nghiêm túc… và với Quốc Sách Chiêu Hồi ban hành để cải thiện, giúp người cán binh VC có cơ hội sinh sống bình đẳng mưu cầu hạnh phúc trong thể chế tự do miền Nam. Những ai là Quân – Dân miền Nam lạm sát tù binh VC hoặc thân nhân của họ sẽ bị pháp luật trừng trị rõ ràng nghiêm chỉnh… Tôi quyết định về rừng và bị gạt lần thứ hai.
Bị Gạt Lần Thứ Hai:
Thoát được nhà tù nhỏ, Tôi đang bương chảy sống trong nhà tù lớn. Ở nhà tù lớn cái gì cũng: “Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân”… mà “dân” chỉ là tầng lớp nô lệ bị “Bắc Bộ Phủ” đô hộ cai trị còn khắc nghiệt hơn bọn rợ nhà Chu (Zhou Ye) tàn sát và cai trị nhà Thương (Shang Yin) 1040 BC, triều đại Tần Thuỷ Hoàng (259 BC) đốt sách chôn học trò, Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan 1162) rợ Mông Cổ với: “Vó ngựa của Đại Hãn đi tới đâu nơi đó không còn cỏ mọc”… có tàn bạo như thế nào đi nữa cũng chỉ là đối xử với người khác chủng tộc và ở thời đại con người chưa được mấy văn minh… và “từ vượn lên người phải mấy triệu năm”? Ngày nay đương thời đồ đểu VC ác độc ngự trị “từ Người xuống vượn chỉ cần một vài năm” thôi …! Bọn cán bộ có quyền thế trong tay đang tiến nhanh, tiến mạnh chụp giật, vơ vét chiến lợi phẩm không chỉ là của cải, tài sản, xe cộ, vàng ngọc, đôla (dollar), bất động sản mà còn là thân thể phụ nữ xinh đẹp là vợ con của tù nhân Quân – Dân miền Nam… mà cả đời mơ ước của tên cán cuội bần nông quanh năm, suốt tháng phải trốn chui, trốn nhủi lẩn tránh trong xó rừng âm u cây lá thiếu ánh sáng mặt trời triền miên, đói cơm, sốt rét ngã nước thiếu thuốc và thèm khát hơi hám đàn bà lâu năm mà thành chứng bệnh “cà hước” di căn mang về thành trả thù trên thân thể phụ nữ đã chiếm đoạt…!!! Thành trì Ngũ Luân đạo lý của dân miền Nam đang bị thách đố và có cơ huỷ hoại! Người dân hiền hoà miền Nam bị bao vây kinh tế, cuộc mưu sinh khốn khó để sống còn tất tả như vật vã bơi lội trong cơn hồng thuỷ … nên giả dối, tráo trở, gạt lừa đã có “mặt” trong gia đình, xã hội, học đường và khắp cùng mọi lãnh vực đời sống là thể hiện “Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản”… từ đám quyền bính chóp bu “Bắc Bộ Phủ” chí cho đến bọn “cán ngố lý trưởng” quê một cục tha hồ lập mưu gian “qui định” để giết người cướp của là Cộng tài Sản của dân lành miền Nam vào kho của cải thủ đắc của chúng… Trong bối cảnh này, tôi phải luôn cảnh giác, không dám tiếp xúc với bất cứ ai ngay cả vợ con mình, sống lang thang không cửa không nhà, không một hào dính túi…! “Hổ” sút móng lang thang đầu đường xó chợ, chạnh thân nhớ nhà, thèm bữa cơm no lòng đầm ấm đoàn viên…! Phố xá quanh đây mà ta sao trơ trọi, hiểm nguy rình rập không lường, rừng đâu mà nhớ…?! Tôi đánh bạo tìm cách liên lạc với Cha Mẹ đang sinh sống trên mảnh vườn cằn cỗi ở ngã ba Trung Lương, Mỹ Tho xin tiếp tế. Cha Mẹ tôi có năm đứa con “đi quân đội đã lâu rồi” … Sau ngày 30-4-1975, Bà như chết đi nửa đời người còn lại, khóc cạn nước mắt rồi kham nhẫn chịu đựng đau khổ cầu Trời, khấn Phật xin gia hộ cho tất cả năm đứa con đang thân bị giam cầm tù tội được bình yên… Nghe tin tôi vượt ngục Bà hối thúc Cha tôi phải tìm gặp “thằng Út” cho bằng được, và thế là tôi được dấu diếm tá túc ở nhà, dưới sự che chở của Cha Mẹ. Tôi đào một cái hầm dưới đáy tủ quần áo, phòng khi công an hay du kích xã Đạo Thạnh khám xét nhà thì tôi tức khắc chui vào tủ, rúc xuống hầm ẩn trốn. Trước kia ở thời Việt Nam Cộng Hoà thì bọn VC chui rúc xuống hầm hố nguỵ trang trốn tránh. Nay thời của quỉ đỏ thì tôi lại là kẻ trốn tránh… ôi thôi thế sự thật bồng bềnh khéo trêu người!
Vài ngày sau đó, người Cậu thứ Tư tên Trương Văn Thân nguyên trước đây là Trưởng Ty Nông Nghiệp Tỉnh Định Tường ghé nhà thăm qua sự sắp xếp của Cha tôi, Ông nói:
Con yên tâm tịnh dưỡng sức khoẻ, mọi việc đã có Cậu và Cậu Năm (Trương Văn Phước) lo liệu… Đây là quyết định của cấp trên, Cậu giao lại cho con…?
Quyết Định của cấp trên là một tờ giấy đánh máy, bổ nhiệm cho tôi giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn II Sư Đoàn Tiền Giang với ám danh UBL45, ấn ký của Trung Tướng Ngô Quang Truởng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà… Trời hỡi?!!! Cậu Tư của tôi chỉ là một công chức hành chánh mà nay là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Tiền Giang, Cậu Năm của tôi vốn là một Y Tá đỡ đẻ nay đang là Quận Trưởng Quận Châu Thành, Mỹ Tho…?!!! Chết rồi, tôi không biết Cha mình đang giữ chức vụ gì đây, Mẹ tôi là giao liên cấp độ nào trong cái “Tổ Chức Kháng Cộng” này… không khéo là chết hết cả nhà…? Tôi rơi vào tình trạng tiến thối lưỡng nan, làm thinh chịu trận…! Trung Đoàn Trưởng mà chẳng có thằng lính nào trong tay, lại phải móc nối tìm kiếm ba “ông” Tiểu Đoàn Trưởng còn đang trốn chui trốn nhũi như Việt Cộng khi xưa nghe lính Cộng Hòa hành quân bố ráp. Bố khỉ!!!
Rồi chuyện gì tới phải tới… Vào một đêm tối trời vào khoảng 5 giờ sáng, tất cả đều bị Công An Chấp Pháp Mỹ Tho vây bắt không sót một móng nào, chỉ có mình tôi nhờ cái hầm dưới đáy tủ quần áo mà thoát nạn. Cậu Tư bị án xử tử hình, Cậu chết trong thời gian bị VC tra tấn cực hình để khai thác thêm những người liên hệ. Cậu Năm bị tù 20 năm khổ sai, Cha Mẹ tôi già cả yếu đuối, cũng may vì không nhận chức vụ gì nên bị thẩm vấn liên tục rồi bị xử quản thúc tại gia, còn hằng trăm người khác trong “tổ chức” bị bắt số phận của họ như thế nào dưới chế độ VC “thà giết lầm hơn bỏ xót” chúng ta đã có nghe và biết qua rồi…! Riêng tên Tư Lệnh Sư Đoàn Tiền Giang là một cựu Trung Sĩ Nhất của Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù, nhận chỉ thị từ quan thầy Ty Công An Chấp Pháp Mỹ Tho, bủa một mẻ lưới gom tất cả trọn cả bầy cá ngát ngây thơ muốn vượt “Vũ Môn” bất thành để rồi bị xử bắn thân xác vùi dập bụi bờ hoang dại đâu đó hay đã thả trôi theo dòng chảy của nhánh Tiền Giang cuồng nộ xuôi về biển Đông và dưới dòng nước phù sa trộn mầu đỏ thắm có lẫn máu tươi của Đồng Bào sinh trưởng và lớn theo con sông Tiền, sông Hậu… nghe buồn não nuột! (Đây là chuyện thật, người thật, việc thật. Nếu quí Độc Giả muốn biết rõ tường tận chi tiết xin hỏi cựu Dân Biểu Lê Tấn Trạng đang sống ở San Diego, California USA và người con trai của Cậu Tư của tôi).
Hò… lơ… Sông Cửu Long xuôi dòng rẽ nhánh
Thành sông Tiền, sông Hậu có trước có sau
Mặc cho thuỷ triều lên xuống, gợn sóng lao xao
Tình người Mỹ Tho sâu thẩm như đáy sông…ơ… hò
Hò… lơ… Em mua lúa Hồng Đào bán ra chợ Gạo
Ven sông tần tảo nuôi bậu học hành
Bậu mần quan mần Trạng
Rạng danh thành “Dân Biểu Bến Tranh”…ơ…hò
Hò…lơ… ai ngờ vận nước tanh bành…!
Trạng manh tâm đưa bạn lên đàng chết oan …ơ …hò
Con chim Uyên Ương lẽ bạn
Con chim Nhạn lạc bầy đàn
Ai bày, ai vẽ nên Sư Đoàn Tiền Giang …ơ…hò?
Hò…lơ… nước phù sa Tiền Giang đỏ thắm!
Vì có máu người Trung Lương pha lẫn nước sông
Dòng Tiền Giang cuồng nộ, làm sạt lỡ đôi bờ…
Chứa bao nhiêu xương trắng sông Tiền lạnh không…ơ …hò!
(Câu Hò Tiền Giang)
Như vậy là tôi đã bị gạt lần thứ hai sau ngày “bên thắng cuộc” cai trị đất nước Việt Nam, và không phải chỉ có riêng tôi, mà còn bao nhiêu oan hồn uổng tử cùng với gia đình họ chịu trăm ngàn đắng cay bên phía “người thua cuộc” bị lừa gạt để tróc nã, đào tận gốc bốc tận rễ và giết hại…! Không biết phải dùng ngôn từ gì để diễn tả “quốc sách” phi dân tộc như thế…! Bao nhiêu giấy mực để phải viết ra đây phân trần, than thân trách phận ư …? Hay nung nấu một nỗi căm hờn nghiến cả hai hàm răng để khỏi bật ra tiếng khóc ai oán tang thương…!
Bị Gạt Lần Thứ Ba:
Bị gạt lần thứ hai, thoát được thân cũng do số trời định đoạt, nào tôi có muốn như vậy đâu? Vì kháng chiến chống chế độ VC đương quyền là một trò đùa với tử thần, biết như vậy, nhưng lúc đó tôi chẳng có một sự chọn lựa nào khác, cứ mặc kệ đời trôi nổi tới đâu hay tới đó… Cũng may hôm đó chúng không xét nhà, chỉ bắt và dẫn Cha Mẹ cùng đứa em trai của tôi về chấp pháp. Tôi chờ mãi đến tối ngày hôm sau, chị Tư của tôi nhòm trước, ngó sau canh chừng động tĩnh an toàn cho tôi rời khỏi nhà, ra đến quốc lộ 4 đón xe về Sài Gòn, với một ít tiền độ đường mà chị tôi vừa khóc vừa dúi vào túi áo! “Hổ” lại trở về thành. Thành phố Sài Gòn rực một màu đỏ, trên dưới xa gần, nhà cửa, phố xá, xe cộ, cột điện… đều màu đỏ của máu tươi! Xuống bến xe cảng miền tây, nhảy đại lên một chiếc xe lam sắp rời bến không biết điểm đến nơi nao, xe ngừng ở ngã ba Trần Quốc Toản và Nguyễn Thiện Thuật, tôi nhảy vội xuống xe, đi lang thang với những bước chân vô định, cứ đi, muốn đi thẳng thì đi, muốn quẹo trái, quẹo phải thì quẹo, muốn tới đâu thì tới… tới sân đá banh Cộng Hòa gần nhà một người bạn rất thân cùng Khoá 22 Võ Bị Đà Lạt (Trong truyện ngắn này,tôi không thể viết chi tiết và danh tánh vì có liên hệ đến rất nhiều bằng hữu còn đang sống tại Việt Nam và Mỹ! Nhưng Họ mãi là nhân chứng sống cho câu chuyện “Bị Gạt” của tôi). Kéo cái mũ xùm xụp xuống gần mí mắt, tôi gỏ cửa nhà, “bà Chị” (vợ của người bạn thân cùng khóa) mở cửa, sau phút định thần, với đôi mắt gần như trợn trừng ngạc nhiên Chị thảng thốt: “Ôi…Trời ơi!… Anh… Anh… hả “?!!!
Chị không dám gọi tên tôi vì đã biết mọi chuyện. Chồng chị đã hy sinh trong mặt trận Quảng Trị, chị ở vậy với một đứa con gái nuôi vài ba tuổi và có một người anh họ trước 1975, làm thư ký trong tòa Đại Sứ Mỹ, Ông không muốn đi Mỹ, dù có tên trong danh sách di tản sang Mỹ. Chờ khóa cửa xong, chị hỏi thăm năm ba điều rồi dặn dò: “Ngày mai, đúng 9 giờ sáng, anh tới quán cà phê vỉa hè đối diện với nhà thờ Huyện Sĩ, tôi có nhiều chuyện cần nói với anh”! Lại tiếp tục lang thang, đêm đó tôi ngủ trên chiếc chiếu thuê ở bến xe An Đông.
Đến 8 giờ sáng hôm sau, tôi tìm chỗ khuất sau cây dù của quầy pha cà phê vỉa hè đối diện nhà thờ Huyện Sĩ, chờ đến 9 giờ cũng chưa thấy chị, tới 9 giờ 45, một người đàn ông xa lạ bước đến kéo cái ghế thấp ngồi kế bên tôi và kêu một ly cà phê sữa nóng xong gật đầu chào xã giao và hỏi:
– Anh Út hả?
Một cơn chấn động ớn lạnh dữ dội chạy khắp thân thể gần như không còn giữ được bình tỉnh, hai bàn tay nắm chặt vào nhau và để lên bàn, không dám nhìn thẳng vào mặt ông ta, tôi nói:
– Vâng thưa anh! Nếu anh là công an theo dõi tôi…thì tay tôi đây, anh cứ còng…!
Ông ta dáng người nhỏ tầm thước, gương mặt bình thản không có một chút sát khí nào, móc túi lấy bao thuốc Samit, châm lửa rồi đưa sang cho tôi xong ông nói một cách chậm rãi:
– Tôi tên H là anh của bà A. Tôi đến đây để giúp anh và anh phải đi ngay…! Anh sẽ đến một nơi tôi nghĩ sẽ thích hợp và an toàn cho anh hơn, tin hay không tùy anh.
Tin hay không? Chỉ có Thượng Đế mới có thể giúp cho tôi lúc này để trả lời tin hay không! Không tin thì tôi phải làm gì và nói gì trong lúc này? Tin thì tôi phải đến nơi nào do ông ta quyết định? Sao định mệnh cứ mãi đưa đẩy thân tôi vào những canh bạc thắng thua bằng chính mạng sống của mình?! …và rồi đến 2 giờ chiều cùng ngày tôi được thu xếp lên chuyến xe đò đi Long Khánh với lời căn dặn:” cho đến khi nào anh lơ xe vỗ vai ra dấu thì anh xuống xe…”. Xe chuyển bánh lên đường chạy bình yên cho đến khi đậu lại ven đường, anh lơ xe la lớn: “Bà con cô bác ai muốn đi tiểu tiện hay mua cà phê nước uống thì xuống xe, chúng ta sẽ nghĩ 10 phút…”! … cùng với cái vỗ nhẹ vào vai tôi. Tôi xuống xe và nơi đây là Ấp Bảo Bình, Xã Bảo Liệt, Huyện Thống Nhất, Tỉnh Long Khánh. Cái quán bên vệ đường là một trạm “giao liên” của tổ chức “kháng chiến” mà họ đưa tôi lên đây. Tôi chỉ biết theo lời hướng dẫn của họ. Người chủ quán pha cho tôi một ly cà phê đá và nói nhỏ: “chờ xe chạy có người nói chuyện với anh sau…”. “người” Z20 là ám danh của một cựu Trung Sĩ Pháo Binh thuộc Tiểu Khu Phước Tuy, mà cũng là chỉ huy trưởng đơn vị kháng chiến hiện tại mang tên: “Trung Đoàn Cơ Động Tỉnh Long Khánh”. Tôi được bổ nhiệm làm Trung Đoàn Phó cho anh ta (thằng đang giăng câu). Mẹ kiếp…! Thôi cũng đành nhắm mắt đưa chân, tôi cố ngậm miệng để không bật ra tiếng chửi thề. Suốt đêm đó di hành gần 15 cây số vào tới mật khu Mây Tào của VC trước kia, xa xa nữa là núi Chứa Chan… Khi trời vừa hừng sáng, Z20 ra “lệnh” cho tôi nghỉ ngơi, chờ đến 2 giờ trưa sẽ giới thiệu đơn vị. Thôi thì cũng một chút niềm vui len lén vào hồn, kháng chiến hay khiến chán cũng là một nơi tạm dung thân ít ra “Hổ” cũng được về rừng…! Buổi trưa, Z20 giới thiệu với tất cả “kháng chiến quân” hiện diện, hắn chỉ định tôi là Z21 Chỉ Huy Phó của Trung Đoàn (?), sau đó giới thiệu vài người thân cận sẽ làm việc bên cạnh tôi, rồi nói sơ qua cho biết:” Hiện nay Đại Tướng Ngô Quang Trưởng đang là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Giải Phóng Việt Nam (TTLQĐGPVN), Trung Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) đang ở núi Chứa Chan, Đại Tá Lê Văn Mễ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù (TLLĐND) ở núi Bà Rá… Anh ta nói liên miên không ngượng miệng, không có bản đồ, cũng chẳng có một chứng từ gì để trao lại cho Trung Đoàn Phó của anh ta tức là tôi ( sic )…!!! Nghe tới đây tôi rởn tóc gáy, chợt nghĩ đến chỉ trong một đêm cả Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Tiền Giang bị VC hốt trọn ổ…?! Chỉ có thế, rồi anh ta rời “mật khu kháng chiến” vội vã trở ra cái quán bên vệ đường Quốc Lộ 1 với lý do đi liên lạc với cấp trên để cho tôi toàn quyền quyết định mọi việc…!!! Quyết định cái gì? “Trung Đoàn” chỉ có 67 “nhơn” mạng: 63 nam, 4 nữ, hầu hết không quá 30 tuổi và một số là dân phạm pháp trốn vào “bưng”, vũ khí chỉ có 7 súng M16, mỗi khẩu có một băng đạn không tới 20 viên đạn, không bản đồ, không máy truyền tin, tình hình “địch” và “bạn” chung quanh vài cây số cũng mù tịt, không có thuốc men khi bệnh hoạn hay ngộ độc thì sẽ làm sao cứu chữa…? Ẩm thực mỗi ngày, mỗi người chỉ ăn được hai bữa vài ba chén cháo với cá khô…! Kháng chiến kiểu này là tự sát theo thời gian! Tôi đâm ra khiến chán, và những mối nghi ngờ càng ngày càng tích lũy âm thầm trong lòng càng gia tăng. Bài học mới đây với Sư Đoàn Tiền Giang, Sư Đoàn Rạch Giá, vụ án nhà thờ Vinh Sơn chưa ráo mực, chắc chắn rồi mình lại bị gạt rõ ràng như hai cộng với hai là bốn. Cố giữ bình thản dấu đi ánh mắt và những lời nói vô tình làm lộ ý nghĩ trong đầu. Ba ngày trôi qua không có mặt của tên đầu sỏ Z20, đêm đến tôi không ngủ chỗ của mình mà ôm tấm chăn chui vào bụi rậm gần đó, nửa thức, nửa ngủ chờ sáng… đến ngày thứ tư, tôi ra lệnh cho Tập và Quang (hai người này đang sinh sống tại Mỹ) theo tôi thám sát chung quanh vùng, nhưng thật sự là để dò tìm con đường an toàn trở ra QL1. Ngày hôm sau tôi âm thầm lặng lẽ rời bỏ họ. Tôi vẫn ngậm ngùi nghĩ tới họ, nhất là bốn cô gái chỉ vừa tuổi đôi mươi, những “chiến hữu” bất đắc dĩ nầy không biết rõ vì hoàn cảnh nào đưa đẩy họ vào đây…? Nhưng chắc chắn là họ không thể sống bình thường với gia đình nơi sinh ra và lớn lên, và chắc chắn hơn nữa họ không có một khái niệm sơ đẳng nào về việc họ đang làm rất nguy hiểm sẽ đưa đến cái chết oan uổng khi bị VC bắt và xử bắn. Thật tội nghiệp cho họ! Nhưng biết làm sao hơn, vì ngay cả bản thân của tôi cũng đã và đang lâm nguy như cá nằm trong rọ chờ giờ bị tóm cổ! Tôi âm thầm lặng lẽ rời bỏ họ trên đường trốn chạy tử thần, trong khi họ tin tưởng và hy vọng ở nơi tôi, một cựu Đại Úy Nhẩy Dù tác chiến thứ thiệt, và chắc chắn là chỉ huy kháng chiến “thứ thiệt” vì do cấp trên bổ nhiệm. Tôi bây giờ như con cua bị bẻ hết càng, thân bất độ, độ chi tha nhân, chắc gì cứu lấy được mình, nào dám hé môi nửa lời cứu lấy thân họ, lại nữa biết ai giả ai thật, trí trá vàng thau lẫn lộn, tai vách mạch rừng … đành để họ buông theo số mệnh an bày cho những người “Bạn” trẻ ngây thơ như nai tơ trước đàn sài lang hung dữ, ác độc thèm máu tươi và “năng nổ” lập công, thành tích để trồi đạp lên nhau mà tiến thân rồi mặc sức tha hồ giết người cướp của, thời điểm hưng thịnh bạo ngược là “bình minh cộng sản” (không viết Hoa)…! Rồi từ đó về sau tôi không biết tin tức gì của họ nữa, mãi đến năm 1987 tức 11 năm sau chị A từ Boston gọi điện thoại cho tôi biết anh H vừa sang Mỹ định cư ở Richmond, Virginia. Tôi tức tốc đến thăm gia đình anh, rồi được anh kể lại cho tôi nghe với những giọt nước mắt lưng tròng:
– Sau khi anh Út đi khỏi “chiến khu” rồi, chỉ vài tuần sau đó VC kéo cả một Tiểu Đoàn Bộ Đội và Thiết Giáp càn quét vào đó, tất cả những người đang ở trong “chiến khu” bị giết hoặc bị bắt đi, chỉ có vài ba người trốn thoát được vì đang ở Bảo Bình chờ nhận tiếp tế…! Tôi đã bị VC gạt và kéo anh vào cuộc bị gạt luôn với 60 sinh mạng bị bắn giết ở tuổi ngây thơ chưa biết gì về sự tàn ác của VC…!
Đêm đó tôi thức suốt đêm với anh H, uống hết chai beer này đến chai beer khác, beer trộn lẫn với nước mắt nuốt vào cổ họng nghẹn ngào bi thương… làm sao quên được những đôi mắt ngây thơ tin yêu có chút lãng mạn chuyện đội đá vá trời của những “kháng chiến quân” trong mật khu Mây Tàu bị “gài độ” và giờ đây thân xác của họ bị vùi lấp đâu đó nơi xó rừng hoang vu lạnh lẽo… nào ai biết, nào ai hay để thắp vài nén hương sưởi ấm oan hồn…! Đêm đã gần sáng mà những câu chuyện bị gạt bi thương, đau đớn gần như bất tận…!
Bị Gạt Lần Thứ Tư:
Nay “Hổ” trốn chui trở lại về “thành Hồ” và đã bị sức móng, như mèo bị cắt tai hoặc thành “cái” con chi chi cũng mặc…gặp ai nói, ai bảo gì cũng đành phải dạ thưa để tìm chỗ dung thân…! Ấy vậy mà vẫn còn bị gạt dài… dài…! Giấc mơ “Hổ Nhớ Rừng” tự hứa từ đây sẽ chôn xuống gốc cây bụi cỏ nào đó cùng với lý lịch “oan khiên” Út Bạch Lan (danh hiệu truyền tin gần như huyền thoại mà cấp Chỉ Huy và bạn bè thân thương “ban” tặng như pháo, càng nổ to tiếng thì tan tành xác pháo thôi) rồi bắt đầu chuyển hướng tìm phương cách vượt biên. “Vượt Biên” là ngôn ngữ thời thượng trong khoảng thời gian từ năm 1977 – 1980, nhà nhà vượt biên, người người vượt biên… các hũ vàng chôn dưới nền nhà, chôn dưới cây khế sau nhà, dưới nền chuồng heo, chuồng gà lần lượt được moi móc lên để dâng cúng cho những tay trùm quỷ đỏ qua trung gian của không biết bao nhiêu kẻ chạy cò, móc nối gian manh lường gạt ngay cả thân nhân ruột thịt của mình…! Gia đình tôi là một trong những gia đình nạn nhân trong “quốc sách” bán bãi thu vàng, dollar, tịch thu tài sản của người vượt biên đó! Cả gia đình người Cô ruột của tôi gồm 16 nhân mạng đã chìm sâu dưới giòng sông Cát Lái sau khi đã gom góp tất cả tài sản để đánh đổi với hai chữ “Tự Do”, mà chính họ cùng lơ mơ không hiểu “Tự Do” là gì khi chiếc xà lang nổ tung dìm thân xác họ xuống lòng sông là chứng nhân vô tình, nước vẫn chảy xuôi dòng, cát vẫn trôi lăn vô định… còn lại bao tiếc thương của những thân nhân họ hàng rơi lệ dầm bâu rồi lại lăn săn lục lạo tìm đường vượt biên…! Năm 1979, một chiếc xà lang chứa cả hơn ngàn nhân mạng được tàu VC kéo ra khơi vượt biên, sau đó trôi dạt vào Pulau Bidong chỉ còn vài chục xác chết! Không biết những giây phút cuối cùng cận tử có ai không trong số đồng bào vượt biên phát giác âm mưu gian trá của quỉ đỏ giết người cướp của mà gào thét: “bọn quỉ đỏ đã lừa gạt đồng bào” … và còn nhớ đã chung bao nhiêu cây vàng cho đám công an tổ chức…?
Giấc mơ “Hổ Nhớ Rừng” nay mồ đã xanh cỏ, giấc mơ vượt biên như ở đâu đó còn xa xăm ngoài tầm tay với. Đường bộ ngã Châu Đốc qua Campuchia cũng phải chung vàng, bán chính thức giá mỗi đầu người bốn cây, đi chui thì tệ lắm cũng hai cây. Mở miệng ra nói tới chuyện vượt biên là cây với cây…! Với ba lần bị gạt như kính cung chi điểu, con chim bị tên thấy cành cây cong đã hoảng sợ, bây giờ nghe nói đến cây cây là còn lo sợ hơn…! Bài tính tích phân với ba bốn con ngỗng của Thầy Nguyễn Khắc Thuận (VBDL) cứ nhẩy múa trong đầu và tìm đâu ra đáp số. Cha Mẹ ơi, Thầy ơi! Đang trong khi vợ con còn ăn uống chưa no bụng, thì làm sao mà có vàng để vượt biên? Một buổi trưa đang lang thang ở chợ trời Tân Định, tôi bị một cái vỗ vai thật mạnh gần chúi nhũi, ngó lại thì là chị Mai vợ của anh Nguyễn Văn Chộ (F21). Anh Chộ tướng đô con, trắng trẻo, đẹp trai, ra trường vào Không Quân, chị Mai là Tiếp Viên Hàng Không của Air Việt Nam, nổi tiếng đẹp nhất trong số các “Phu Nhân” của Võ Bị Đà Lạt. Chị gọi tôi:
– Anh Út, lại đây… lại đây!
Chị kéo tôi đến cái sạp bán quần áo cũ của chị. Nét đẹp diễm kiều và quí phái không thay đổi nhiều nhưng phảng phất có đôi chút phong trần.
Không đợi tôi trả lời, chị nhờ cô bé chạy hàng rong gọi hai ly cà phê sữa đá thêm chút bơ. Chị nói huyên thiên chuyện gia đình, chuyện anh Chộ và cuối cùng:
– Tôi nghe bà xã của anh kể lại chuyện về anh… Thật không ngờ gặp được anh ở đây. Thôi tóm tắt như thế nầy…
Nghe qua, tôi được biết người tình hờ của chị là một người Hoa có hai lò đường ở Củ Chi, đang tổ chức một chuyến vượt biên ở Sa Đéc, có tay trong là tên tài công từ ngoài Bắc vô, đang là thuyền trưởng một trong những tàu đánh cá quốc doanh Phú Quốc… Chị nói tiếp: “Tên tài công này đồng ý đưa mình đi, nhưng hắn muốn có một ít tiền để lại cho gia đình ở Ninh Bình, điều kiện là hai cây đầu người… nếu anh kiếm được 10 người thì anh sẽ được đi không tốn tiền.”. Nghe qua hấp dẫn vô cùng và tự khoái chí: “ờ há chỉ có con đường này may ra…”!!! Sau này biết mình bị gạt, tôi tự đấm vào đầu và tự nhủ: “Sao mầy có thể ngu đần như vậy, không nghĩ “thằng” tổ chức là ai, “nó” chính là “đầu não” quyết định “thằng tài công từ ngoài Bắc” vào… và cũng chỉ vì giấc mộng vượt biên mà u mê đến độ không suy nghĩ đắn đo phân hư thật cứ lao đầu vào sự lường gạt…”! Sau vài lần tiếp xúc, tôi dần dần tin tưởng ở chị Mai, mỗi lần gặp chị bảo tôi ngồi ở phía sau cái sạp bán quần áo cũ của chị nhìn ông đi qua bà đi lại, lắm khi chị giao sạp cho tôi trông coi, còn chị chạy vòng vòng đâu đó mua bán trao đổi quấn áo cũ, khi trở về chị mua cho tôi đĩa cơm tấm sườn. Sự tin tưởng nơi chị gia tăng tới mức tôi nhờ chị liên lạc với gia đình. Một ngày, người đàn ông lạ mặt xuất hiện, chị giới thiệu là anh Chín, ông chủ lò đường ở Củ Chi, không nói tôi cũng biết là người tình hờ của chị, nhưng nào phải chuyện của mình thắc mắc làm gì, họ trao đổi gì với nhau tôi cũng làm ngơ, nhưng thoang thoáng cũng biết được chuyện tiền nong cho chuyến vượt biên sắp tới. Chờ cho người đàn ông đi rồi, chập sau chị mới nói với tôi:
– Anh Út à! Tôi phải năn nỉ hết lời ông ấy mới thuận, tôi nói với ổng anh là anh em cột chèo với anh Chộ, nên ổng đồng ý cho anh đi, nhưng cũng phải đưa trước hai cây.
“Phải năn nỉ hết lời” mà phải đưa trước hai cây?!… Sao lúc đó tôi ngu ngơ khờ khạo đến nỗi không nghĩ ra cái mâu thuẫn hắc bạch phân minh này?!… Ngu nên bị gạt là đáng kiếp! Trông cậy và nhờ vả vào ai đây để đào ra hai cây vàng giao cho họ, cũng đồng nghĩa giao tính mạng mình cho họ? Nếu là một người dân bình thường có hộ khẩu, có gia đình, đi lại bình thường may ra còn có thể xoay sở được, nếu thoát được thì nói gì, còn nếu bị “dính cựa” thì cũng còn mái ấm gia đình mong ngày trở về… Còn tôi chỉ có đường đi tới, không trở lui được là thế bối thủy. Như một kẻ đã bị dồn vào chân tường, giống như ngày còn cầm quân nơi trận địa rơi vào hoàn cảnh chống cũng chết mà hàng cũng chết…! Lại nữa tôi tin ở chị Mai cũng như tôi tin ở chị A vì chỗ thân quen, ân tình nghĩa lụy với nhau trong những tháng năm còn tại ngũ. Tôi nghĩ đến Mẹ tôi. Người Mẹ chỉ biết chắt chiu dành dụm từng đồng và ăn chay trường từ ngày sinh người con thứ tám. Hy vọng mong manh may ra thoát được cái thiên la địa võng cô nghiệt này. Tôi viết một bức thư kín đáo cho Mẹ tôi và không quên dặn dò cách thức gặp gỡ. Đúng ngày, đúng giờ, đúng địa điểm chị Tư của tôi dẫn hai đứa con lang thang trong sở thú Sài Gòn, tôi nhìn theo dõi ở xa… xa… chưa dám tiếp xúc, rồi sau cùng nhận thấy khá an toàn tôi giả vờ như người chăm sóc cây kiểng đến gần gặp chị. Chị lo âu vội vã nói: “Trong cái túi giấy có ổ bánh mì, cá nục kho của Má làm cho em sáng nay, một cái bọc vải và cái thư của Má… Thôi chị đi…”. Chị vội vàng quay đi với hai đứa cháu và gương mặt đầm đìa nước mắt…! Tôi tìm chỗ kín đáo mở “quà” và đọc thơ của Mẹ tôi viết: “Con của Má, Má có bao nhiêu gom hết cho con, có phần phụ thêm của chị Hai và chị Tư… Con nên bảo trọng lấy thân, Ba Má vẫn đọc kinh cầu nguyện Phật Trời phù hộ cho con và anh em của con hằng đêm…”! Trong bọc vải có một sợi giây chuyền, ba chiếc nhẫn, một tấm lắc đeo tay, một cái kiềng đeo tay, một đôi bông tai, một vòng cẩm thạch màu tím thẫm, tất cả đều là vàng y. Tôi nào biết định giá nó là bao nhiêu, tương đương với mấy cây cũng không biết…! Với niềm hy vọng và tin tưởng không một chút thắc mắc nào, tôi giao hết cho chị Mai ngay buổi chiều ngày hôm đó. Tôi đã giao cho chị Mai tất cả huyết lệ của Mẹ và chị tôi, đã cần kiệm để dành chút vốn của cải cất dấu cả đời người tần tảo nay đem cho hết những mong tôi sẽ được vựợt biên bình an suông sẻ! Cứ mỗi ngày theo lời dặn của chị Mai, tôi ghé gánh cơm “xích lô phu khuân vác” xeo xéo sạp quần áo của chị để chờ tin. Thời gian và đợi chờ là hai khắc tinh “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”, ngày qua tháng lại chỉ chờ… chờ… chờ cho đến một hôm kinh hoàng như bị thiên lôi giáng một búa xuống đầu mình, miệng há hốc mà không thốt ra được một lời, thân chết đứng … khi nghe chị Mai thông báo:
Tôi đã giao hết cái của anh cho anh Chín lò đường, cả mấy tuần nay tôi nhắn hoài mà không thấy anh ấy liên lạc, mới vừa nghe tin anh ấy đã cùng gia đình vượt biên rồi… Bây giờ mình chỉ còn nước đi thưa với công an mà thôi …”!
“Thưa Công An”? Tôi đã rơi vào bẫy sập với cái giá mồ hôi và nước mắt của Mẹ và chị tôi. Nỗi uất nghẹn từ trong tim trào dâng, ngăn giòng lệ không ứa tuôn ra ngoài mà phải ém để chảy ngược vào bên trong tâm tan nát…! Tôi lầm lũi bước đi với những bước chân vô hồn, bên tai vẫn còn nghe tiếng bà Ba gánh cơm xích lô: “bữa nay có thịt kho tàu với dưa chua, dưa giá…” và dư âm lời của chị Mai: “…mình chỉ còn nước đi thưa Công An mà thôi”! Tôi tự hỏi chị Mai hay thằng Ba Tàu chủ lò đường kiêm người tình “30 tháng tư” của chị manh tâm gạt tôi?! Những ngày sau, tôi lén trở lại sạp vải thấy tên Chín lò đường vẫn ngồi với chị Mai sau cái sập bán quần áo cũ… và họ hiên ngang chờ tôi đến để “đi thưa Công An”… Tôi âm thầm gạt lệ, có nỗi xót xa đau đớn nào hơn hoàn cảnh này hỡi Trời…?!
Bị Gạt Lần Thứ Năm:
Trời cao không phụ lòng người, sau cùng tôi vượt biên thành công. Một tháng rưỡi ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, sáu tháng ở GaLang II chờ học ESL rồi cuối cùng cũng được đặt chân lên đất nước Mỹ tháng 12 năm 1982, Tôi phải đối diện với cuộc sống mới, làm lại từ khởi đầu với hai bàn tay trắng và mớ vốn kiến thức nửa nạc nửa mỡ, nửa thầy nửa thợ, bỏ lại sau lưng những nhục nhằn của cái thiên đường xạo hết chỗ nói (xã hội chủ nghĩa) chỉ có mánh mung và lường gạt! Khi còn ở trại tỵ nạn, vài nhân viên người nước ngoài trong phái đoàn phỏng vấn hỏi tôi:
– Anh có dự tính sang Mỹ sẽ làm gì hay không?
Tôi trả lời ngay không do dự:
– Lái taxi.
Khi sang đến Mỹ, bạn bè khuyến khích tôi nên đi học trở lại trong khi đang hưởng trợ cấp xã hội. Tôi cười:
– Trời đất… bao năm chinh chiến chỉ biết cắc bùm, nhiều năm trốn chui trốn nhũi, sách vở văn chương chữ nghĩa đã trả lại cho Thầy, lại nữa tiếng Anh tiếng U nói bằng tay múa bằng chân thì học cái gì…?
Họ trấn an:
– Tụi tao học được thì mày cũng học được, học không bổ bề dọc cũng bổ bề ngang…
Thế là tôi cũng phải đi học mong kiếm tờ giấy “bằng cấp” lộn lận lưng để đi xin việc làm.
30-4-1983: “Ngày Đại Hội Chính Nghĩa của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” – Hoàng Cơ Minh tại Thủ Đô Washington:
Người Bạn thân của tôi là Cựu Đại Úy Quân Y Nhẩy Dù Trần Công Hoàng (Florida) đang là Xứ Bộ Trưởng X202 của Mặt Trận vùng Đông Bắc Mỹ, Cựu Trung Tá Bác Sĩ Quân Y Sư Đoàn Nhẩy Dù Trần Đức Tường (France) đang là Đại Diện cho Khu Bộ Âu Châu của Mặt Trận…giới thiệu tôi với Đề Đốc Hoàng Cơ Minh (HCM) qua thành tích trốn trại và tham gia “kháng chiến” ở VN trước khi qua Mỹ.Trong căn phòng nhỏ hẹp vùng Maryland, bên ngoài được canh phòng an ninh chặt chẽ, BS Trần Đức Tườngnghiêm chỉnh trình diện Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh rồi dõng dạc giới thiệu:
– Xin trân trọng giới thiệu với Đề Đốc… đây là Đại Úy Trương Văn Út tự là Út Bạch Lan… mà tôi đã trình bày với Đề Đốc cùng Đại Tá (PVL) hai ngày hôm trước.
BS Tường bước ra ngoài. đóng cửa, trong phòng riêng thì chỉ còn có ba người với ánh sáng lờ mờ chỉ có ánh đèn bật sáng trên một bản đồ khá lớn đang trải rộng trên bàn. Ông Hoàng Cơ Minh cũng biết tôi vừa từ VN đến Mỹ vài tháng qua nên ân cần:
– Anh Út, …tốt lắm! Tôi và Đại Tá Liễu được BS Tường kể hết thành tích (?) của anh… Sẵn đây, anh có thể cho chúng tôi biết khái quát về tình hình ở VN qua phóng đồ hành quân này và cho chúng tôi biết nhận định của anh.
Trên bản đồ, những chấm xanh đánh dấu vị trí các đơn vị của “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” – Hoàng Cơ Minh, chấm đỏ là các đơn vị trú phòng của QĐNDVC… Liếc qua vùng IV của mình ngày xưa, rồi vùng bắc, đông bắc Saigon với chấm xanh chấm đỏ chen lẫn chằng chịt… khiến tôi chóng mặt…?! Tất cả lực lượng của Mặt Trận đang dưới quyền “Tư Lệnh” Trung Tá Lê Hồng (truớc 1975 là Lữ Đoàn Phó LĐIND) nay đang mang cấp bậc Thiếu Tướng là “Thiếu Tướng Đặng Quốc Hiền”…!!! Cả hai “Ông” đều im lặng trong khi tôi quan sát trên bản đồ và cũng im lặng… Chợt nhớ tới những lời của tên Z20 ở Long Khánh trước đây… và tôi cố giữ bình tĩnh để tiếng “xạo” không thoát ra cửa miệng. Một lúc lâu ông Hoàng Cơ Minh hỏi thúc:
– Anh thấy sao? Tôi thực tình trả lời:
– Thưa Đề Đốc, tôi chỉ biết vào khoảng năm 1976 ở Mỹ Tho có Sư Đoàn Tiền Giang nhưng không có quân…! Ở Long Khánh có một nhóm khoảng trên dưới 60 người lại không có cấp chỉ huy! Tôi chỉ biết có thế.
– Thôi được, bây giờ anh đang làm gì?
– Dạ, tôi đang đi học.
– Tôi có bàn với anh Bẩy (TVL) là kết nạp anh ngay và sẽ đưa anh sang Thái Lan để giúp cho anh Chính “Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang” (TT/ĐQH tức TrT/ LH) hoặc ở lại đây vừa đi học vừa giúp chúng tôi thành lập Biệt Đội Công Tác Đặc Biệt (tiền thân của K9 sau này) … Anh nghĩ sao cho chúng tôi biết ngay bây giờ?
Tôi rơi ngay vào tâm trạng bối rối vì những cái chấm xanh chấm đỏ trên bản đồ. Thật xạo hết chỗ nói (XHCN) lại bị gạt nữa hay sao? Ba lần bốn lượt bị gạt còn chưa tởn hay sao mà nay lại còn ngần ngừ muốn bị gạt nữa chăng? Không gật đầu cũng không lắc đầu tôi từ tốn lịch sự trả lời:
– Thưa ĐĐ và ĐT… Tôi đã ghi danh đi học, thời gian chưa biết bao lâu, xin cho tôi thời gian suy nghĩ, khi nghe và nói được tiếng Anh lưu loát hơn tôi sẽ trả lời sau. Dù thế nào việc trở về VN lật đổ CSVN vẫn là giấc mơ chẳng phải của riêng tôi mà là của hầu hết mọi người Việt trong và ngoài nước.
– Vậy cũng được… anh Bảy sẽ chỉ thị trực tiếp cho X202 (TCH) giúp đỡ cho anh trong thời gian đi học, liên lạc thường xuyên với X202, cần gì thì nói với X202 và báo cáo thẳng cho tôi hoặc anh Bảy. Trong thời gian này nếu có thể được, anh liên lạc với GS Cao Thế Dung nhận một ít tài liệu về đọc và nghiên cứu để hiểu biết thêm tình hình chính trị hiện nay…
Tịnh Hô (cận vệ của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan trước 1975) lái xe đưa tôi trở về nhà “anh Đại” Trung Tá Phán (TQLC). Nơi đây đã “tập họp” trên 20 người ăn nhậu và đấu khẩu ỏm tỏi… Hình như họ đã biết chuyện tôi gặp gỡ HCM chiều nay cho nên khi bước vào nhà, Tịnh Hô la lớn tiếng:
– Út Bạch Lan về tới… sau khi được phong chức Công Công!!!
Mọi người cười ồ…!!! Họ là những Sĩ Quan cấp Tá, đàn anh của tôi trong giới “giang hồ” ăn chơi ở SaiGon trước 1975. Họ tụ tập về đây tham dự “Đại Hội Chính Nghĩa” của Hoàng Cơ Minh. Họ không phải là cán bộ hay thành viên, đoàn viên của Mặt Trận mà chỉ vì tò mò về đây để “xem sự thể như thế nào” thế thôi!!!
Tôi mới đặt chân lên đất Mỹ vài ba tháng (1983) trong khi họ đã đến đây từ 1975. Sự am tường hiểu biết của tôi so với họ chỉ là con số không và họ đã được ông Hoàng Cơ Minh chiếu cố vận dụng, chiêu mộ trước tôi xa lắc xa lơ… Ba người trong số của Họ là cựu TrT/ TQLC Nguyễn Văn Phán, cựu TrT/ HQ Trần Đức Cử, cựu TrT/BĐQ Nguyễn Thừa Dzu nói với tôi:
– Mầy mới qua nên lo đi học rồi kiếm việc làm, ba cái chuyện này để mấy thằng anh mày lo, bao nhiêu cạm bẫy trùng trùng lớp lớp trước mặt, lỡ bước sang ngang con đò lật úp thì không ai cứu mày được…. ĐHCN của HCM hôm nay là dấu hiệu kết thúc đó, tụi tao không cần giải thích nhiều! Nên nghe lời “Qua” đi em!
Ngay sau đó, với sự vận động của “anh Đại” Phán, mọi người đóng góp tại chỗ được 3800 dollars để cho tôi mua chiếc xe Nissan Sentra 1983 hai cửa mới toanh để đi học, và sau này cũng chính Anh Phán là người tìm việc làm cho tôi…!!!. Đứng giữa hai sự chọn lựa, một là “danh vọng, địa vị” với Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, hai là tấm thạnh tình của những đàn Anh chí tình chân thật…? Lần nầy bởi nhìn được thấu đáo sự thật và nhiệt tình giúp đỡ của quí Anh trưởng thượng… tôi né tránh được bị gạt lần thứ năm. Tôi từ chối những tấm check vài ba trăm hằng tháng của X202 nói rằng từ trung ương gửi cho tôi. Tôi biện giải khéo vì đã có Wellfare và Foodstamp đủ để đi học rồi và dứt khoát bỏ ngoài tai những mật ngọt vẫn tiếp tục gọi hằng ngày cùng những lời tâng bốc của các bạn cùng trường. Họ là những đoàn viên trung kiên của Mặt Trận trong đó có rất nhiều cựu SVSQVB với bộ đồng phục quần xám, áo nâu hoạt động quên cả ăn học…! Tội Nghiệp! Tôi vẫn âm thầm tiếp tục việc học và cũng may, nếu vì “nổ” và hám danh, háo vị… thì thân xác tôi giờ đây đã rã mục oan uổng đâu đó trong vùng thâm lâm Thái Lào cùng với Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh hoặc bị vùi dập dưới gốc tre bụi chuối nào đó bênh cạnh “Trại Kháng Chiến Quân” cùng “Thiếu Tướng Tư Lệnh Đặng Quốc Hiền”, hay như GS Cao Thế Dung phải sống trong lo âu sợ hãi khi ly khai và lột mặt nạ gia đình đầu nậu “kháng chiến Phở Bò” họ Hoàng…?!
Lần bị gạt này sở dĩ mà“né”được là nhờ kinh nghiệm những lần bị gạt trước kia và sự nhiệt tình cảnh báo của một đa số “đàn Anh” đến Mỹ năm 1975… Trong khi đó không biết bao nhiêu bạn bè thân thiết của tôi thân bại danh liệt, tán gia bại sản vì cái danh vị và quyền lợi nhất thời này… lẽ nhiên tôi không dám nói tới những “Anh Hùng” thực sự có hùng tâm với đất nước nhưng thiểu trí đã thực sự tin tưởng và dấn thân trong “Mặt Trận Kháng Chiến” Hoàng Cơ Minh, những mong quang phục nước nhà … Tôi thành kính phân ưu! Xét cho cùng ai gạt ai và ai bị gạt…? Hạ hồi phân giải.
Lần Thứ Mấy Rồi Hỡi Em?
Rồi chuyện bút nghiên nhắm mắt qua cầu cũng xong cùng lúc với Phạm Quảng Thành và Dương Hiển Tòng. Đúng như lời Dương Hiển Tòng đã nói: “Học không bổ bề dọc cũng bổ bề ngang”. Ra trường có việc làm như ai, lai rai kiếm tiền bắt đầu gửi trả báo đền những ân tình với ân nhân ngày trước. Thời gian cuối 1984 đầu 1985 là thời gian “an cư lạc nghiệp” của tôi: đi làm chỉ mong cuối tuần để gặp Nguyễn Như Lâm, Lạc Minh Châu, Nguyễn Hữu Cầu, Mai Vĩnh Phu, Đỗ Đức Thắng… không Washington DC thì Maryland, không Philadelphia thì NewYork… Mong đầu tháng hay giữa tháng lãnh cái check chạy vội ra tiệm vải của người VN mua một thùng trị giá 200 dollars cho vợ con, một thùng 200 dollars cho Cha Mẹ, chỉ biết trả tiền hàng hoá do tiệm đóng thùng gởi về VN với hoá đơn đàng hoàng, trên đường lái xe về nhà lòng thơi thới hân hoan vui sướng vì nghĩ Cha Mẹ, vợ con sẽ mừng rỡ khui thùng hàng nhận được quà là những xấp vải, mấy cái quần Jean Levis thứ thiệt, mấy hũ thuốc trị bịnh phổi cho Cha, chỉ thiếu trầu cau cho Mẹ nữa thôi…!!! Tôi biết Mẹ chỉ cần tin tôi đã thật sự thoát ra khỏi địa ngục VC và đang sống trên thiên đàng tự do Mỹ quốc là Bà mừng vui không có niềm vui nào hơn thế nữa…!!! Một hôm tôi nhận được thư vợ: “Anh à, em nói anh đừng nổi nóng nghe! Anh xem lại, anh nói thùng quà trị giá $200USD mà thật ra chỉ trị giá khoảng $50 mà thôi… vì hàng “dzõm” không hà! Ba Má nhờ em thanh toán dùm, có bao nhiêu em giao lại cho Ba Má bấy nhiêu, bây giờ em lại mang tiếng là: “con dâu ăn chận”…”!
Tôi chưỡi thề: “mẹ kiếp lại bị gạt”…!!! Cái này thì ai gạt ai đây? Thằng chủ tiệm vải hay vợ tôi trong vụ mánh mung này? Tôi mang mấy chục cái hóa đơn ra hỏi thằng chủ tiệm vải thì nó chứng minh rành mạch rõ ràng: “…theo đơn đặt hàng… 100$ là như thế này, 200$ là như thế này và 500$ là như thế này… giá cả ở Mỹ là thế này, còn cái giá ở VN làm sao tôi biết được”? Tôi quíu lưỡi! Đi thưa kiện nó à? Con kiến đi kiện củ khoai đành ngậm bồ hòn lủi thủi về nhà lòng buồn rười rượi…! Cũng may bên cạnh còn có Trần Thị Thanh Hà người vợ chưa bao giờ cưới mới vừa “ký giao kèo” sống chung, sống vui, sống không càm ràm với tôi khoảng một năm nay… gọi cho chị Mai vợ Nguyễn Như Lâm tâm sự “khúc nôi” được chị cho biết: “Trời ơi,… Tôi biết thằng khốn nạn đó mà, nhiều người bị nó gạt 1001 kiểu, không kiểu nào giống kiểu nào…? Ông Út bị nó gạt là phải rồi, nói với ông Út đừng gửi theo kiểu thùng quà nữa mà gửi xe Honda Cup chắc ăn và có lời hơn…”.
Xe Cup hay Cub gì đó, ông cố nội tôi cũng không biết là cái giống gì, giá cả $1225USD? Khi người nhận ở VN chiếc xe này trị giá khoảng từ 5 đến 7 cây vàng… lời chán. Tôi bỏ cái vụ thùng quà, gom góp tiền dành dụm được ba tháng đem “nộp mạng” (?) cho một văn phòng đại diện hãng Honda Nhật Bản vùng Maryland, giấy tờ ký xong xuôi tổng cộng hóa đơn là $1287USD. Trong vòng một tháng hàng sẽ chuyển từ Nhật về đến VN, như vậy gia đình tôi sẽ có ít nhất là 5 cây. “Vợ nhỏ” đánh điện tín cho “vợ lớn” báo tin và nhắn: “ Chị nhớ lời anh Út dặn: khi nhận được xe trao đổi có tiền phải đi tìm mua ngay cái kiềng vàng cho Má, đó là cái kiềng vàng đính hôn của Má, mà Má đã cho Anh Út để đóng tiền vượt biên…”.
Chờ một rồi hai ba tháng chẳng thấy tin từc gì, “vợ lớn” ở Sài Gòn đi vay nợ sống lất lây qua ngày tháng để chờ cái chiếc xe mắc dịch này tới bến và chắc có lẽ cái tàu chở chiếc xe Cub của tôi bị chìm mẹ nó ở biển khơi hay bị hải tặc cướp mất rồi…! Lại mất toi hơn ngàn bạc bằng mồ hôi nước mắt của mình đem giao cho bọn gian thương lường gạt. Tôi đến văn phòng đại diện của hãng Honda hỏi sự tình và được biết “Văn Phòng” đã đóng cửa, không ai biết “nó” đã đi về đâu?! Thật là thiệt thòi mà! Không có cái ngu nào giống cái ngu nào! Tôi “bị” ngu đủ kiểu biết trách ai bây giờ…?! Cho nên tương lai còn bị gạt dài dài…! Mình ngu và đần thì cứ nhận là ngu như …như vậy! Lần ngu và bị gạt này gây tai hại tinh thần cho gia đình tôi còn nặng nề hơn gắp trăm lần cái ngu và bị gạt mấy lần trước…! Sự ngờ vực và nghi kỵ lẫn nhau trong thân tộc nội ngoại ở VN cũng chỉ vì đồng dollar của “khúc ruột ngàn dặm” mà tan vỡ thành từng mãnh vụn…! Bao nhiêu giấy mực để có thể phát họa một bức tranh cho con cháu mình hiểu được sự băng hoại của một xã hội không còn nhân luân cương thường chỉ vì đồng tiền mà nên nông nỗi: Cha Mẹ chồng nhìn con dâu với bao nỗi ngờ vực, chị em dâu vay qua mượn lại không sòng phẳng để anh em cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ở, có gặp nhau cũng ơ thờ nhạt như bát nước ốc…! Cha Mẹ mong đợi tin tức của tôi, cả nhà reo vui như chợ tết mỗi khi nhận được điện tín của thằng Sáu, nhưng bên cạnh lại có những giọt lệ tủi thân âm thầm vì kẻ có người không, kẻ nhiều người ít cũng chỉ vì cái “xe Cup” không bao giờ cập bến để người nhận chờ hoài đi vay tiền trả lãi xài trước, rồi mang nợ …Vậy thì ai gạt ai đây? Gạt có hệ thống, gạt giây chuyền hàng dọc, hàng ngang, nhưng khổ nỗi vì thống khổ biết bị gạt mà lau những giọt lệ chấp nhận bị gạt như hằng vạn cô gái thanh xuân từ những thôn vườn rời bỏ Mẹ Cha, Anh Em làng xóm hân hoan lên máy bay chấp nhận kiếp sống của “nàng Kiều” trước mắt là một khoảng trời vô định, hạnh phúc ở tận chân mây…!
Vào cuối năm 1984… Một hôm cánh tay trái của tôi bỗng đau buốt tê rần, vài ngày đầu cứ tưởng trái gió trở trời nên vậy, uống thuốc Advil không bớt nên phải đi bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ là một người bạn không thân nhưng quen biết rất nhiều, anh ta là một BS/TQLC (PNV) vừa mới tốt nghiệp và mở phòng mạch tư ở FairFax, VA. Chồng làm BS, vợ tính tiền, không hiểu sao hễ cái gì nói đến tiền là dính ngay đến cái vụ gạt! Check in… bà ta hỏi tôi:
Anh có bảo hiểm sức khỏe không?
Dạ có,… hai cái lận, một là American Express hai là Blue Cross – Blue Shield…
Tốt… tốt lắm!
Bước vào phòng khám bệnh, chờ khoảng 10 phút thì hắn bước vào bắt tay hỏi lia chia chuyện bá vơ rồi bắt đầu hỏi bệnh. Nắn bóp tay chân trái, rồi gắn mấy cái cục cao su vào ngực tôi với giây nhợ lòng thòng (EKG) trông có vẻ là một phòng khám bệnh “hại điện” rồi hắn bắt đầu mở máy “nổ” giải thích bệnh trạng của tôi với nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh với âm điệu Khờme nghe điếc con rái…!!! Và với một hũ thuốc Tylenon về nhà, tay vẫn còn y nguyên đau nhức dữ dội! Tôi phải xin nghỉ việc vài hôm rồi gắng đi làm trở lại, vì gắng quá sức nên một hôm tôi phải vào bệnh viện cấp cứu vì cánh tay trái không còn cử động được nữa! Vào bệnh viện FairFax. được Bác Sĩ Mỹ chẩn bệnh xong, Ông ký rẹt rẹt năm ba tờ giấy gì đó, hai tiếng đồng hồ sau y tá đẩy giường bệnh của tôi đi làm Scan Xray đốt xương sống C7. Tôi vào phòng mổ sáng ngày hôm sau. Cuối cùng mọi sự an toàn và tôi trở lại làm việc bình thường một tuần sau đó.
Một tháng sau nhận được cái bill $3897 USD từ Blue Cross Blue Sield đã thanh toán cho văn phòng thằng “bác sĩ” PNV miệt vườn ăn lường nói gạt, (không phải của Bệnh Viện Mỹ) lại thêm một cái bill tôi phải trả riêng cho “nó” thêm $450USD. Tức cành hông, tôi ngây thơ gọi điện thoại gọi cho văn phòng “bác sĩ” PNV khiếu nại và được vợ “nó” trả lời: “Vâng thưa Ông,… Đúng đó là chi phí cho lần khám bệnh của Ông vừa rồi”. Mẹ kiếp “nó” chỉ có rờ tay rờ chân, làm cái test EKG mà gần 5000 dollars mất không tới 15 phút, Tôi tức giận gọi điện thoại cho văn phòng Bác Sĩ Louis check lại và được trả lời:
– Vâng thưa Ông,… ca mổ của Ông đã được thanh toán tốt đẹp. Không có gì Ông phải quan tâm.
Bác Sĩ Việt Nam như tên PNV trị bệnh, tiền mất tật vẫn mang!
Bác Sĩ Mỹ… Tiền chưa mất đã hết bệnh …!!!
Trong văn hóa Việt Nam, Cụ Trương Vĩnh Ký có viết: “Người Việt Nam ta cái gì cũng cười…”!!! Nếu bây giờ Cụ sống lại chắc có lẽ Cụ phải sửa lại là: “Người Việt Nam ta ngày nay cái gì cũng gạt cũng lừa…”! Từ một tên tiểu thương bán vải quần áo, đến một “đại gia” với những công ty liên hành tinh, đến một “bác sĩ” cũng gạt người…! Vậy thì: Luật Sư, Trí Thức, Khoa Bảng, Công Hầu KhanhTướng, Đảng Phái, Đảng Bè, Chính Khách, Chính Phủ:Đào Minh Quân, Nguyễn Hữu Chánh, Lê Minh Đảo, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Ngọc Bích, hai ba cái Cộng Đồng NVQG vũ trụ… liệu có gạt người hay lại bị gạt hay không? Cho nên tôi bị gạt cũng chỉ là lẽ bình thường và rất thường…!!! Mỗi lầm lỡ là thêm lần đau khổ! Biết vậy làm sao và làm thế nào khi trí khôn của “người” có giới hạn… Ngoài thế giới rộng lớn kia có biết bao nhiêu “Đại Nhân” với “Đại Trí” là “Yếu Nhân Đối Trọng” vẫn bị tang thương bi thảm vì bị gạt đến nước mất nhà tan…! Khi cần chống và ngăn chận khối Cộng Sản phát động cuộc cách mạng như làn sóng đỏ đang bành trướng trên thế giới… “Người Mỹ” đã “chọn” Việt Nam làm chiến trường để “Gạt” và phân hoá Nga – Tàu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm là nhân tuyển được “Thế” của Mỹ đưa về Việt Nam rồi tạo “Lực” thành lập Chính Phủ nền Đệ Nhất Cộng Hoà để thi hành kế sách đã được hoạch định. Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát! TT Nguyễn Văn Thiệu với nền Đệ Nhị Cộng Hoà là giai đoạn tiếp nối. Hồ Chí Minh với Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Bắc Việt đã “năng nổ” tận sức lực xua hằng triệu thanh niên “sinh Bắc tử Nam” đã “Giúp” cho “Uncle Sam” mau chóng thu hoạch thành quả trước thời gian qui định và cuộc “Bàn Giao” miền Nam cho “Khối Cộng Sản” qua tay Bắc Việt đã thực hiện đúng theo qui trình bài bản và cuộc tháo chạy có dự mưu thành công mỹ mãn, “trang sử Việt Nam đã được giở qua”, Kissinger lẻo mép: “nước Mỹ còn nợ Việt Nam một cơ hội thịnh vượng” và “sao chúng không chết ngay cho rồi” …! Hollywood Part 2: Thắng thế, được đà… Con “gấu Nga” được “Nữ Thần Tự Do” tiếp móng vuốt sắc bén hung hăng cắn xé từng mảng từ Nam Mỹ Châu đến Trung Á chí cho đến Phi Châu… và sau những thực tế phũ phàng giấc mộng “Đại Nga” đã tan tành theo mây khói, Soviet Union đã rã ra từng mảnh co lại như miếng da lừa! Thế giới Tây Phương bị gạt, Thiên Triều Roma bị gạt…! Nay con “sư tử Hán” cũng được “nhà đen” sau lưng “Nhà Trắng” gắn móng vuốt sắc bén nên “hùng cường” hồ bởi cúc cung vắt kiệt sức lao động rẻ tiền của con dân với nền “kỹ nghệ gia dụng” biến thành mật thành hoa, thành chỉ tệ, thành dollar… cống hiến cho “Nữ Thần” quơ đuốc chỉ nhà Bank “hảo lớ… hảo lớ” ký thác và đi hia bẩy dậm đưa “thuyền buồm” lấn chiếm biển Đông… Những diễn tiến chính trị có khác chi luật tắc và hệ nhân quả ở trường thiên thời gian và trớ trêu thay bánh xe sau đi vào vết xe trước… là định mệnh do “Nữ Thần Quơ Đuốc” chỉ đường chăng? Phúc và Hoạ thật không lường! Trên đỉnh cao của Kim Tự Tháp là điểm hội tụ của Trí Tuệ có thể phóng viễn kiến vào vũ trụ để tìm kiếm gì khi nhân loại tưởng là thật văn minh mà vẫn còn “ăn thịt” nhau, tân kỳ nhưng man rợ… các đấng giáo chủ đã “trăn trối” nhiều lời “chân lý” mà sao con người hôm nay như đang “mùa” khủng hoảng đức tin, mọi giá trị tốt đẹp xây dựng con người đang phải xét lại và bị thách đố trước phù hoa vật chất… còn phải có bao nhiêu cuộc cách mạng nữa để con Người sống hạnh phúc hài hoà với nhau…? Như vậy, cả thế giới nầy bị gạt… Thì xá gì tôi bị gạt, nhỏ quá nhầm nhò gì ba cái lẻ tẻ mà hèn mọn một đời người, thế giới nầy có lắm người đại trí, còn riêng tôi phải biết nói năng gì:
Chúng ta từ đâuđến cuộc đời nầy?
Như côn trùng hoang thiếucánh…!
Bưới móc kiếm ăn trongniềm vinh, nỗi nhục!
Tìm được gì năm thángrớt quanh đây?
Buổi chiều nhìn nắngvàng qua cửa
Phút thanh xuân thoáng đã tà huy.
(TGĐ)
Tôi tự nhủ thầm: “Kệ mẹ, ai nói chi thì nói, mình cứ để cho bị gạt… chỉ mong được nhảy ra khỏi đáy giếng không còn là con ếch nữa mà trở thành con gì cũng được, miễn sao không là “ếch ngồi đáy giếng là được”… Cái “ngu” triệt để của tôi là ở chỗ đó có khác người không? Đáng tiếc!
Quê hương của Trúc Thanh nằm nép mình cuối dãy Trường Sơn. Nơi đó có núi, rừng, ruộng, rẫy và biển xanh. Thanh chưa bao giờ đặt chưn xuống miệt đồng bằng. Từ ngày về chung sống với tôi, Thanh chỉ biết quê chồng qua những câu chuyện kể hoặc đọc qua sách báo và xem phim ảnh chớ chưa một lần nhìn tận mắt. Thanh ao ước:
– Ngày nào về nước em sẽ về quê anh, em rất thích sóng nước miệt đồng bằng sông Cửu Long.
– Em ở miền núi nên em thích đồng bằng cũng như anh ở miệt đồng bằng thì thích về miền núi – tôi tự hào khoe với vợ – quê hương anh được cái là thiên nhiên ưu đãi nên có nhiều món ăn dân dã, anh cam đoan với em, từ Trung ra tới ngoài Bắc không đâu có được miền trù phú như U Minh.
– Nói cho cố đi ông!
– Em dìa rồi em sẽ biết.
Tôi không nói quá lắm đâu. Quê tôi vùng ven thuộc về U Minh Hạ, ra biển thì tôm cá biển, vô sông thì cá tôm sông, lên ruộng thì cá đồng, rùa, rắn… Trên trời chim chóc rất nhiều loại như: diều hâu, diệc, cò đen, cò trắng, le le, chằn bè, vịt nước…. Những vườn cò, sân chim mỗi nơi rộng hàng chục công đất vuông. Nhứt là vào những buổi chiều chim, cò bay về rợp bóng mát và kêu ríu ra ríu rít vang động cả góc rừng. Cò mần ổ trên những bụi chà là có nhiều gai nhọn. Đầu mùa mưa, cò đẻ trứng, người ta chuẩn bị áo, quần và may bao tay dầy đề phòng gai chà là quẹt rách da, chảy máu. Họ mang gùi, vác móc vô rừng móc một buổi đầy hết gùi nầy sang qua gùi khác, họ ăn cho tới khi trứng lộn mới ngưng lại. Đợi tới khi trứng nở con, chờ cò con bể bọng, mọc lông non, đủ thịt thì họ lại xách gùi vô một đợt nữa móc lấy cò con đem về bán cho quán nhậu hoặc tự làm đồ nhậu.
Nghe tới đây Thanh chận:
– Cò con ăn được sao?
– Được chớ, cò con thịt thơm, xương mềm, đem nướng, khìa nước dừa hay rô ti thì ăn rất ngon và nhậu rất bắt.
– Ngày về nước em sẽ xuống miệt U Minh ăn những món ăn dân dã cho biết.
U Minh Hạ rộng thênh thang. Nếu đi đường biển từ vịnh Rạch Giá trải dài xuống tới vịnh Gò Công, cạnh mũi Cà Mau, thì sẽ thấy rừng mắm xanh rì tiếp liền với mặt biển. Mỗi năm bãi biển nơi đây được phù sa bồi ra năm sáu chục thước, trái mắm trôi tắp vào bãi bám rễ mọc lên cây con. Ven bãi cây mắm còn non, chiều cao không quá ba thước, nước lớn ngập khuất gốc, nước ròng lòi lên đất bùn. Ngoài những râu mắm (rễ gió) chi chít từ mặt đất chĩa lên trời ra không có cỏ cây nào khác mọc. Càng lấn vào trong đất sét càng dẻo, cây mắm càng già tàn cây càng xum xuê lá, gốc cây mắm lớn vừa lỏn trong vòng ôm của một cánh tay. Cây mắm dễ đốn và tiện lợi cho những dân nghèo che chòi ở tạm, lót vạc nằm. Cây mắm đốt lên gây nhiều khói làm khó chịu cho mấy bà nội trợ mỗi khi đun bếp nấu cơm, nhưng nó rất công hiệu nhúm bếp un xua đàn muỗi đói. Những cây cối khác do chim nhả hột hoặc cây và trái giống trôi trên sông rạch tắp vào lần lượt mọc rải rác trên những vùng đất cao như cây bần, cây chà là, rau muống biển, ô rô, ráng và dây choại mọc chằng chịt đan nhau. Dây choại U Minh Hạ số lượng không nhiều nên khi cần người ta chặt về dành trói cua, xâu cá chớ không đủ thu hoạch hàng tấn mỗi năm như choại ở miệt U Minh Thượng.
Đặc sản U Minh Hạ có tôm, cá, cua, ốc len, vọp, sò, ba khía… Cái gì hổng biết chớ ba khía muối là trúng tủ Thanh rồi. Thanh rất thích ăn ba khía muối, vậy mà cô chưa từng biết hình dạng con ba khía còn sống ra sao và cách muối ba khía như thế nào. Trước khi về sống với tôi, cô tưởng tượng ba khía là con cua biển con. Tôi phải một phen giải thích, ba khía tám cẳng hai càng, cũng giòng họ nhà cua nhưng không phải là cua biển, thân hình không lớn hơn cái chén ăn cơm, vỏ nó nham nhám, màu tim tím, trên mu khuyết ba rạch nên người ta đặt tên là ba khía. Ba khía còn tươi đem luộc thịt khô khốc, bời rời không mùi vị gì hết. Nhưng sau một tuần hoặc mười ngày ngâm trong nước muối tách vỏ rút thịt ra, thịt dẻo và mùi thơm rất là đặc biệt, ta có thể pha thêm chanh, đường, tỏi, ớt vào để vài giờ thì ba khía có thêm hương vị đậm đà, vô cùng hấp dẫn.
Có một lần Thanh qua tận Paris, cô xục xạo đâu đó trong mấy tiệm bán thực phẩm Việt Nam được bốn con ba khía muối và cô mua thêm vài trái xoài xanh. Đem về hí hửng khoe với tôi. Thật tình từ ngày sang định cư xứ người cho tới nay, các loại mắm thì ăn ngon hết chỗ chê rồi, nhưng ăn một lần ba ngày sau trong nhà vẫn còn hôi. Nhứt là ăn ba khía phải dùng tay tách vỏ, một lát thì hai bàn tay hôi rình. Tuy nhiên thấy vợ vui tôi cũng hùa theo cho vợ khỏi bị cụt hứng, hơn nữa lâu lâu ăn một bữa ba khía muối chắc cũng ngon, nhà có bị hôi một tuần lễ cũng chẳng hề gì. Đứng nhìn Thanh lui cui gọt xoài, bâm nhuyễn để trộn ba khía, tôi cao hứng đọc bài dân ca.
Tháng bảy nước nhảy Cà Mau
Tháng mười ba khía hội kéo nhau đi mần
Năm Căn, Rạch Gốc, Rạch Bần…
Muỗi kêu mặc muỗi tao mê ba khía hồi
Thanh thắc mắc:
– Nước chảy chớ làm sao nước nhảy được và ba khía hồi là ba khía gì?
– Nghe dân ca hay ca dao em phải hiểu ý người ta nói gì chớ. Miệt dưới anh vào mùa mưa mực nước dưới sông dâng lên tràn bờ người ta gọi là nước nhảy, tháng bảy mực nước lên cao nhứt nên có câu: “Tháng bảy nước nhảy lên bờ.” chớ nước chảy thì chảy quanh năm hổng có gì đặc biệt hết nói làm gì. Còn ba khía hội đọc trại ra cho đúng vần thành ba khía hồi.
– Sao không nói mê ba khía rồi cho đúng vần.
– Vậy mà em cũng nói được, em ỷ có chút chữ rồi muốn sửa thơ ca người ta sao thì sửa à. Người ta nói ba khía hội thấy mà mê, chớ con ba khía xấu òm ai mê cho được.
Tới đây Thanh mới chịu nhưng cô còn ráng bướng:
– Cũng được, nghe giống thơ của Bút Tre lắm.
– À, cái nầy em phải nói là thơ Bút Tre giống dân ca mới đúng vì cái dạng dân ca có vần điệu na ná như thơ Bút Tre từ xưa miệt đồng bằng sông Cửu Long trai gái ông già bà lão đã dùng để hò hát và nói vè. Chỗ anh ở có câu vè như vầy: “Kinh Ngang có bác ba Phì cái gì hổng biết chớ… dóc thì một cây.” Nhiều người nghe hiểu lầm là bác ba Phì tức là bác ba Mập nhưng thật ra là vì kị huý người ta hổng kêu thẳng tên bác ba Phi nên mới đọc trại ra thành bác ba Phì. Một là đúng vần hai là khỏi lo con cháu bác ba Phi nghe được rồi nổi xung xách dao phay rượt chém.
Trộn xong tô ba khía Thanh vừa bưng để lên bàn vừa cười mỉm:
– Em nghe anh nhắc tới bác ba Phi làm em muốn cười đây, nhưng xong rồi mình dọn chén ăn cơm đi.
Thật ra ba khía muối từ Việt Nam bay qua Pháp, rồi từ Pháp vượt trên năm trăm cây số qua tới Hòa Lan thì thịt rã tan ra nước hết, còn bốn cái vỏ bọng không, nước ba khía đã đổi màu đen đen và có hơi nặng mùi nhưng có lẽ nhờ tôi đọc và cắt nghĩa bài dân ca hay quá và trộn trái xoài xanh bầm nhuyễn còn pha thêm tỏi, đường, chanh, ớt cộng thêm tình nghĩa vợ chồng làm cho mùi vị ba khía dịu lại. Chiều hôm ấy hai vợ chồng ăn xoài chua trộn nước muối ba khía và mút hết bốn cái vỏ ba khía bọng. Tuy thực phẩm không mấy an toàn nhưng được cái là vợ chồng tôi có bữa ăn rất vui và cái bao tử của chúng tôi cũng khá tốt nên đêm đó không phải tốn thêm nước dội bồn cầu.
Có lẽ tôi phải kể tiếp chuyện ba khía hội và những biến cố sau nầy làm cho ba khía không còn hội, nếu không kể bây giờ thì sau nầy ba khía tiệt giống thì hổng còn ai biết nó rõ ràng hơn. Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện vào giữa những năm sáu mươi tới sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Lúc tuổi của tôi vừa nhận thức được ít, nhiều về cuộc sống, tôi đã theo ba, má lang thang xuống tận cùng miền đất nước. Ai đã từng tha phương cầu thực khắp miệt U Minh Hạ nếu không sống bằng nghề bắt ba khía thì cũng một lần biết qua mùa ba khía hội. Nhứt là vào những đêm trăng già tháng Mười, dưới dòng những con rạch xuyên vô khu rừng mắm hoặc rừng đước thì sẽ thấy trên những chiếc xuồng tam bảng, người ta chuẩn bị sẵn những chiếc đèn lồng hay những bó đuốc mù u hoặc đuốc tẩm dầu. Xuồng nhỏ thì chở vài ba chiếc khạp da bò, xuồng lớn thì chở những chiếc lu to tướng. Trong khạp, trong lu đựng lưng lửng nước muối pha sẵn (Độ mặn của nước muối rất là quan trọng cho việc muối ba khía; lạt quá thì ba khía trở mùi khai khai, mặn quá thì ba khía rụng ngoe, rụng càng, trong lúc ủ sơ ý để nước lã lọt vô thì ba khía bị bủng thịt và nước ba khía đen thui, hôi rình). Thời đó chưa có ống thủy đo độ, người ta pha nước muối dùng hột cơm và phối hợp với lưỡi để đo, sau khi đổ muối vô nước quậy đều người pha nếm thử nhắm chừng vừa mặn, muốn chắc ăn họ bỏ một hột cơm vào nước muối, nếu thấy hột cơm nổi lên mặt tức là vừa đủ độ để muối ba khía. Ba khía muối đúng độ để bảy tám tháng vẫn ăn được. Đêm trên rừng, trong ánh đèn lồng lờ mờ dưới ánh trăng già hơn nửa mảnh, ta thấy ba khía hội đen thui rạp trên một dãi ráng hoặc trên những dãi ô rô. Lúc đó người ta mang bao tay vào từ từ hốt bỏ vô bao rồi đem xuống xuồng đổ vào những chiếc khạp và những cái lu nước muối. Có đêm ba khía hội nhiều đến đỗi người ta hốt đầy lu, đầy khạp và khẳm xuồng mà ba khía vẫn còn loi nhoi, lúc nhúc quện nhau một khối đen ngòm.
Khoảng cuối năm sáu mươi trở về sau thì ba khía hội xa xóm nhà, xa kinh rạch hơn. Cho nên dân bắt ba khía phải cơm ghe bè bạn đi sâu vô rừng. Đêm về trải những chiếc nóp đệm đan bằng lát trên xuồng rồi chui vô ngủ chờ trăng lên mới đi lùng ba khía hội. Tuy cực khổ hơn trước kia nhưng cuộc sống dân mần ba khía vẫn còn thoải mái. Cho tới sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Năm đó dân ở thành thị thất nghiệp đổ về miệt U Minh và dân Hà Nam Ninh từ miền Bắc tràn vô ước chừng nhiều hơn ba khía hội nữa. Mỗi chiều lên, dọc theo những dòng rạch, đoàn xuồng nối nhau vào rừng, họ chuẩn bị đèn soi có, đuốc có và có cả đèn pin. Xuồng bắt ba khía nhẹ hững, mỗi chiếc chở vài ba người (bây giờ không còn dùng khạp, hay lu đựng ba khía như xưa nữa) mỗi người mang theo đèn và một thùng thiếc có nắp đậy để đựng ba khía. Bất kể ngày tháng, trừ những ngày ba khía lột, ban đêm họ thắp đèn soi sáng khu rừng giống y như ngày hội. Có người sót sa chỉ tay vào rừng: “Nhìn coi kìa, người hội chớ ba khía còn đâu nữa mà hội.” Thật vậy, cả một đoàn người lùng bắt làm anh chị ba khía hoảng hốt chui tuốt dưới hang. Tuy không chuyên nghiệp như những người mần ba khía trước kia nhưng cách bắt của họ phải nói là siêu đẳng, anh chị ba khía chui tuốt dưới hang sâu, họ để nguyên tay áo, thọt cánh tay tận nách quyết chí lôi ra từng con một. Cách bắt ba khía của họ tuy dã man thật, nhưng ta cũng nên cảm thông, vì nghèo đói họ phải tranh thủ thức suốt đêm trong rừng, lội bùn tới háng, chịu cho muỗi và bù mắt hút máu để kiếm từng con ba khía về đổi gạo. Sáng xuống xuồng rửa mặt, móc trong lỗ mũi một cục khói đèn, khói đuốc đen thui. Nhưng nhiều nhỏ gì đâu, người nào giỏi thì bắt được đầy một thùng thiếc cũng là trúng lắm rồi.
*
Cách đây hai năm tôi đưa Trúc Thanh về thăm quê tôi tận vàm sông Ông Đốc. Từ Cà Mau đi đò tốc hành về sông Ông Đốc Vàm mất hơn ba giờ đồng hồ cho sáu chục cây số đường sông.
Chúng tôi về nhằm lúc cúm gia cầm và chim chóc chết dịch, chết gió cũng nhiều. Xa cách hơn hai chục năm trời trở về thấy cảnh vật quê hương hoàn toàn thay đổi, duy tánh hiếu khách và hài hước của bà con quen biết thì không mấy đổi thay. Thấy vợ chồng tôi tới thăm, nhà nào cũng mần gà, mần vịt đãi đằng. Khi nghe tôi hỏi chuyện cúm gia cầm và chim chóc bịnh thì nghe họ cao giọng:
– Ối, đó là gà công nghiệp, chớ gà, vịt ở nhà nuôi thì mạnh như thần, tui bảo đảm gà, vịt nhà tui không con nào bị bịnh hết, ăn đi, cứ ăn thoải mái. Còn chim hả? Mấy sân chim miệt Đầm Dơi bị chết nằm la liệt, có đợt bầy chim đương bay trên trời tự dưng rớt xuống lộp độp… dẫy đành đạch, chết hết ráo, chẳng còn một con. Tốt hơn hết đừng ăn chim chóc miệt nầy, nguy hiểm lắm.
Tôi không nhịn được cười, quả là không hổ danh con cháu bác ba Phi. Gà thì con phân biệt được gà công nghiệp hay gà nhà nuôi, còn chim chóc thì làm sao phân biệt được chim miệt nầy miệt kia. Định hỏi nhưng thôi, dù sao anh nầy cũng là truyền nhân của bác Ba, tôi cần phải kính trọng. Vả lại, dầu tôi có hỏi cách nào chăng nữa thì ảnh cũng trả lời qua tuốt luốt…
Về với quê hương mà tôi cứ ngỡ mình tới một nơi nào xa lạ và mới thấy lời hứa với Trúc Thanh quả là khó thực hiện. Những dự tính của vợ chồng tôi hình như không phù hợp với người ở bên nhà. Chuyện mùa màng tiêu tang, cá mắm hết sạch, rừng cây bị tàn phá… không nóng bỏng bằng chuyện ông cán bộ nầy cất nhà lầu, bà Việt Kiều kia về mua đất… Những miếng đất ngày trước là rừng, bây giờ bán cũng được giá lắm. Họ chờ đợi vợ chồng tôi một chuyện gì khác hơn, còn chuyện của chúng tôi thì đối với họ giống như chuyện của một hành tinh nào ở ngoài trái đât. Nhưng hổng lẽ tôi lại đi mua một miếng đất để làm chỗ cho chim, cò đậu và cho ba khía làm hang? Mà nói cho cùng bán hết tài sản nhà tôi cũng chưa chắc gì đã mua mổi một thẻo đất ở đây. Ở chơi cả tuần lễ mà tôi cũng chưa biết cách nào đưa Thanh đi và cũng hổng biết nói làm sao cho cô thoả mãn tánh tò mò. Hỏi chỗ đi chơi thì nơi nào cũng đương quy hoạch. Sông Đốc Vàm bây giờ là thị trấn và đã đổi thay quá sức tưởng tượng. Nhà lầu cao lợp ngói, lợp tôn. Ngoài đường xe gắn máy hai bánh chạy ào ào, người ta ở đâu đổ về đông như kiến cỏ. Ngày trước bên kia sông nhà cửa lưa thưa chen theo rừng rậm, bây giờ rừng bị phá sạch, nhà cửa mọc lên như nấm mọc mùa mưa. Động vật thì hiếm hoi. Muốn ăn con cua, con vọp phải đặt mua một hai ngày. Còn ba khía muối có pha đèn tìm đỏ con mắt cũng chẳng ra nói chi là đốt đuốc. Cá, tôm biển không còn nhiều. Ghe câu mực, đánh cá phải ra tuốt hải phận quốc tế, tận ranh giới Thái Lan hay Mã Lai câu và đánh mới có.
Một chiều kia tôi đứng phía sau nhà nhìn con nước lớn lấp lững, có một con ba khía cái chống cẳng đứng dưới gốc cây mắm lùn còi cọc mọc lẻ loi giữa bàu nước cạnh hông nhà. Tôi quay vô nhà kêu Thanh ra xem cho biết con ba khía sống, chắc cô vui thích lắm. Thanh hớn hở đi ra đứng quan sát con ba khía một hồi cô day qua hỏi tôi:
– Tại sao càng của con ba khía chiếc lớn, chiếc nhỏ mà có vẻ không được bình thường?
Tôi nhìn kỹ con ba khía hơn, chẳng những cặp càng của nó trông có vẻ bịnh hoạn mà còn rụng thêm hai ngoe nữa. Tôi nói theo kinh nghiệm của mình:
– Có lẽ trước kia nó bị tai nạn làm sao đó, phải dùng tới đôi càng chống đỡ để thoát thân, cuối cùng thua cuộc bị gãy hai cái ngoe và phải bỏ lại hai chiếc càng mạnh và cứng; phải qua một hai mùa trăng, lột vỏ một vài lần, đôi càng mới mọc lại được, dĩ nhiên đôi càng sau thì không đẹp và mạnh bằng đôi càng trước.
Nhìn chị ba khía đứng lẻ loi đưới gốc cây mắm non trơ cành còi cọc, giọng Thanh xót xa:
– Tội nghiệp quá, gà bịnh, chim chóc cũng bịnh cho tới ba khía ở dưới hang cũng bị tật nguyền.
Nghĩ tới những khu rừng bị phá hoang và những động vật từ rừng ra tới biển, từ lớn cho tới nhỏ đã bị tàn sát thảm thương. Tôi nói:
– Con người ăn những thứ nầy bị bịnh cũng phải lắm.
– Nghĩa là sao anh?
– Em không thấy sao, từ ngày về tới giờ vợ chồng mình hỏi chuyện ai cũng cười xoà nói cho qua. Hình như họ chờ đợi mình một cái gì khác hơn là chuyện rừng cây bị phá, gà vịt, chim chóc bị bịnh chết và nếu bây giờ mình đem chuyện con ba khía tật nguyền nầy ra nói thì chắc họ cho là mình điên.
– Nếu thật vậy thì vợ chồng mình bịnh chớ đâu phải họ bịnh.
Quê hương tôi bây giờ trông giàu đẹp lắm, nhưng sao tôi vẫn thấy nó nghèo nàn, lạc hậu hơn thời xa xôi ấy. Tôi không muốn nói thêm, bèn lảng sang câu chuyện:
– Anh mới vừa kêu mấy cháu đặt mua mấy ký lô vọp cho em ăn thử.
Có lẽ Thanh cũng đã cảm nhận được sự mất mát của quê hương nầy, cô buồn bã nói như thể cho một mình mình nghe:
– Tới nước nầy rồi còn lòng dạ nào ăn với uống.
Khi chúng tôi nhìn lại thì nước dưới bàu đã ngập lên tới chỗ chị ba khía đứng, chị ta bèn leo lên thân cây mắm còi để tránh mực nước dâng. Tôi khều Thanh và chỉ chị ba khía:
– Em coi kìa, chị ba khía leo lên cây tránh nước lụt, nhìn chị ta mà anh nghĩ tới con người khi thất thế sa cơ thì chạy nạn, khi đường cùng thì đấu tranh giành giựt đến đỗi từ thể chất đến tinh thần cũng tàn tạ đâu khác gì chị ba khía gãy càng rụng ngoe kia.
Thanh thở dài một cái rồi kéo tôi, vừa đi vô nhà cô vừa tuyên bố:
– Bắt đầu từ ngày mai cho tới ngày về bển, vợ chồng mình sẽ ăn chay!
Câu chuyện đùa của Úc thường có phảng phất mùi phân biệt chủng tộc, kỳ thị về văn hóa nên bà con mình có định kiến cho rằng Úc trắng kỳ thị Úc đen.
Nhưng Úc đen cũng bị dân da vàng mũi tẹt, mắt hí, nhứt là mấy chú thiếm ba Tàu kỳ thị cũng không thua gì bị Úc trắng.
Mới năm rồi nè! Một công ty Trung quốc đã đưa ra lời xin lỗi về một đoạn quảng cáo bột giặt.
Trong đoạn quảng cáo đó, một á xẩm ném một chú da đen, đen như cột nhà cháy, tóc quăn tít hè, quần áo dính đầy sơn vào máy giặt.
Máy quay ro ro rồi ‘xì tốp’, tay da đen này chui ra, sạch sẽ tinh tươm, màu da vàng nhạt y như một chú Ba ở Bắc Kinh vậy. Bột giặt tốt hết biết!
Sợ các nước khác chê là giờ đã khá giàu mà Tàu lại kém văn minh, nên cũng có bà con Ba Tàu khác cự nự, đòi tẩy chay cái hãng bột giặt lếu láo này.
Sợ sập tiệm, chú Ba chủ hãng phải đành xin lỗi là: “Từ rày về sau ngộ không dám quảng cáo ngu như vậy nữa!”
Mấy ngàn năm nay Trung Hoa cứ tự xưng mình là thiên triều, nằm ngay chóc chính giữa, còn các nước chung quanh đều là man di mọi rợ hết ráo hè.
Cái máu kỳ thị, coi thường dân tộc khác hình như lậm cũng hơi lâu và hơi sâu rồi đó!
Trong gia đình thì trọng nam khinh nữ: Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô.
Hồi Mao Trạch Ðông cấm đẻ nhiều, chỉ cho một đứa. Thì chú Ba và ngay cả thiếm Ba đều muốn có con trai để nối dõi tông đường, cúng giỗ hàng năm, hồn mới có cái mà ăn, chớ ở địa ngục a tỳ bị quỷ sứ bỏ đói dài dài hè!
Hậu quả là ngày nay, chim nhiều bướm ít thì đại loạn trong và ngoài nước để giành gái thì chiến tranh tất yếu sẽ xảy ra, đe dọa đến cái tồn vong của chế độ CS Tàu cho mà coi.
Mà khi nói chuyện chim và bướm, tui xin kể bà con nghe câu chuyện này nè:
Tại phòng mạch của một bác sĩ tâm lý nổi tiếng, có ba bà mẹ dắt theo ba đứa con ngồi chờ.
“Chào bác sĩ! Ðây là con gái tôi tên Hồng.”
Bác sĩ tâm lý: “Ồ! nếu tôi đoán không lầm thì bà là một con người tình tứ. Yêu màu hồng, thích bông hồng, thích mân mê bông hồng cho đã, rồi đem ép vào trang giấy!
”Ôi! “Ðúng là bác sĩ tâm lý mà! Quả có vậy!”
Người mẹ thứ nhì: “Thưa bác sĩ, và đây là con gái tôi, tên Phượng!”
“Ồ! Nếu tôi đoán không lầm thì bà đây chắc hẳn bà yêu hoa phượng lắm. Khi còn là tuổi học trò trong trắng, chắc chắn bà đã mân mê hoa phượng cho đã rồi đem ép vào trang giấy!
“Ôi! Ðúng là bác sĩ tâm lý mà! Quả có vậy!”
Tới phiên người đàn bà thứ ba sắp được tiếp chuyện cùng bác sĩ tâm lý, bỗng bà hớt hải đứng dậy và nói cùng đứa con trai của bà: “Thôi! Ði, đi về….Cu, mau lên Cu, mình đi về!”
Bài học rút ra từ câu chuyện này là anh nào hân hạnh được Má đặt tên Cu thì đừng có buồn duyên tủi phận, khóc hu hu sao cái tên của mình ‘đen’ quá?
Nó ngang hàng với tên Hồng, tên Phượng là tên các loài hoa vương giả đó nha!
Tuy vậy cũng đừng có quá tự cao tự đại, ỷ mình là nam nhi chi chí, là đấng trượng phu đường đường một đống, coi thường bọn nữ nhi tay yếu chân mềm, không có ‘con’ đó chỉ có cái (họng) là rộng, vì hở cái là khóc hè!
Em giận quá về nhà khóc hu hu méc má! Không biết Má em nói cái gì mà hôm sau vào lớp em trả đũa rằng: “Anh có ‘con’ mà em không có, còn em có ‘cái’ mà anh lại không có. Em đã có ‘cái’ thì em muốn có mấy ‘con’ cũng được hết á!”
***
Thưa tiếng Pháp là một ngôn ngữ kỳ quái vì nó bị cái giới tính ám ảnh, phải giống cái (féminin) hoặc giống đực (masculin).
Vật vô tri vô giác như cái bàn, cái ghế mà cũng đem đực cái vô đây chi hỡi ‘Mông xừ Victor Hugo’?
Việt Nam mình xui cái là thuộc địa của thằng Tây tới cả trăm năm nên dù muốn ít nhiều cũng phải chịu ảnh hưởng nền văn hóa của nó, chớ chạy đi đâu cho khỏi?
Nghe nói: Tây nó sợ vợ, nó ‘’galant’’ lắm, tức là nịnh đầm lắm. Hỏi không sợ thì việc gì phải nịnh chớ? Ngay cả mấy ông Cử nhà mình hồi trào Tây cũng nịnh nữa là.
Thế nên nhà thơ Trần Tế Xương mới có hai câu thơ đối nhau chan chát là: “Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân, ông Cử ngẩng đầu rồng”
Tui tâm đắc, thán phục nhà thơ sát đất khi đối ‘’ngoi đít vịt’’ và ‘’ngẩng đầu rồng’’ với nhau. He he!
Kết luận: Tây là một dân tộc đầy mâu thuẫn. Vừa sợ đàn bà, mà vừa phân biệt giới tính.
Thì cũng như xã hội Việt Nam mình hồi tui còn mặc quần thủng đáy vậy thôi!
Chắc do mình chịu ảnh hưởng xấu từ hai nền văn hóa phong kiến và thực dân nó trộn lẫn với nhau. Chịu ảnh hưởng của Tàu là nam nữ thọ thọ bất thân. (Chơi vậy thì làm sao có con nít hè?)
Rồi cổng tam quan của đình chùa, miếu mạo nào cũng chia làm hai rạch ròi bên Thiện nam bên Tín nữ.
Ði ăn giỗ quảy, đám tiệc gì đó là phải ngồi riêng. Bàn thượng hạng là dành cho mấy ông. Còn bàn gần bếp dành cho mấy bà, để tiện việc chạy lên chạy xuống tiếp đồ nhậu cho chàng đang cầm ly, ngồi nói dóc.
Xa quê, tưởng rằng cái hủ tục trong nam khinh nữ đó đã bị bỏ lại quê nhà rồi chớ. Qua đây tui tắm gội bằng xà bông Dove để gội sạch cái văn hóa trọng nam khinh nữ. Giờ là sạch bong rồi.
Tui với em yêu là: “Em ơi em à!” Cần là năn nỉ gãy lưỡi chớ đâu có ngang tàng hống hách như xưa: ‘’Lợi đây cho tui biểu chút coi!’’
Nhưng những sắc tộc di dân khác, nhứt là từ Phi Châu tới, hình như không chịu đổi.
Dân Phi Châu theo Hồi giáo ở đây đi đám cưới là riêng lẻ hết. Ðàn bà là đàn bà, đàn ông là đàn ông. Chỗ đàn bà ngồi nhiều chuyện là không có đàn ông, chỗ đàn ông ngồi lo chuyện trên trời dưới đất là không có đàn bà.
Ðàn ông thuộc về đẳng cấp cao hơn, cho dù lùn hơn con vợ mình cả tấc chăng đi nữa!
Chuyện rằng: Bay đi Afghanistan để nghiên cứu về văn hóa của đất nước đang chiến tranh ly loạn này, một nữ phóng viên phương Tây kinh ngạc khi thấy đàn bà ra đường bao giờ cũng phải đi sau đức ông chồng của mình 10 bước chân.
Hỏi lý do tại sao thì hướng dẫn viên trả lời: Phụ nữ đi sau đàn ông vì giai tầng trong xã hội vợ phải thấp hơn chồng.
Cô phóng viên chiến trường về, viết bài phê phán dữ dội sự bất bình đẳng về giới tính nam nữ ở Afghanistan. Bài viết được trang trọng đi trên trang nhứt và gây tiếng vang toàn thế giới nên em rất lấy làm khoái chí.
Một năm sau, em quay trở lại đất nước đầy bạo lực này để làm phóng sự thì ngạc nhiên thay khi thấy người vợ giờ ra đường lại đi trước đức ông chồng của mình tới 10 bước.
Nhưng không phải do bài báo phê phán của em mà xã hội Afghanistan thay đổi đâu mà vội mừng.
Phụ nữ Afghanistan giờ đi trước đàn ông? Tại sao ư? Tại vì đàn ông sợ trúng mìn bẫy!
***
Thưa bà con huyền thoại cho rằng: Từ cát bụi, Thượng Ðế nắn ra một người đàn ông đặt tên là Adam! Cu ky một mình trong vườn Ðịa đàng, không có ai bầu bạn, để cãi lộn cho vui.”Ðời tui cô đơn, thân tui… quá cô đơn.”
Thượng đế nghe vậy cũng tỏ lòng thương cảm: Muốn là chìu. Nên thừa lúc Adam ngủ say, Thượng Ðế bèn lấy xương sườn của Adam và tạo ra một người nữ, đặt tên là Eva, đưa đến bầu bạn với Adam.
Adam khoái quá xá, dõng dạc tuyên bố là: “Xương của Eva là xương của tui, thịt của Eva là thịt của tui. Cả thân xác đó đều từ tui mà ra… nên tui sẽ làm cha!” Ha ha!
Ðây chỉ là một truyền thuyết thôi nhưng mấy ông anh mình hay vịn vào cái này để mà ăn hiếp vợ nhà. Bậy bạ quá! Tui là hổng có cái vụ đó rồi vì tui không dám. Em yêu ăn hiếp tui thì có.
Lời khuyên của tui dành cho ông anh nào ủng hộ cái bất bình đẳng về giới tính, chỗ của đàn bà là trong bếp, thì phải luôn luôn dòm chừng phía sau lưng của mình. Vì trong bếp còn có chứa mấy con dao. Dao phay, dao chặt thịt… Cái nào cũng bén ngót hè…
Thôi xếp bướm trên chim đi cho nó phẻ nhe mấy anh!
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Ông thiếu tướng ra lệnh thật là đại khái, ông trung tá cũng ra lệnh đại khái không kém, có điều chủ ý rõ ràng của các vị này là bắt tôi phải chặn đứng mọi mưu toan tiến về hướng Ðông của các đơn vị địch hiện có mặt trong vùng Ia Drang. Ðịa thế Cao Nguyên Vùng 2 thì tôi rất rành, còn trận liệt địch vùng này tôi cũng thuộc nằm lòng. Do đó tôi cũng không bận tâm thắc mắc.
Tôi đã biết, trong một năm vừa qua, sau hưu chiến, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh từ Cam Bốt đã chuyển sang Ðông Trường Sơn vào địa phận Ðức-Cơ. Những ống dẫn dầu của Việt-Cộng từ chân núi Phượng-Hoàng, Ðức-Cơ đã kéo dài tới Tiêu Atar, và đang trên đường xuôi Nam.
Tin tức kỹ thuật cho biết Trung Ðoàn 470 Vận Tải của Mặt Trận B3 Cộng-Sản đang được bổ sung quân số và cơ giới để nâng cấp thành Sư Ðoàn 470 Vận Tải. Ðơn vị này đã hoàn tất công tác phát quang một con đường rẽ từ làng Gà (Plei Bon Ga) trong thung lũng Ia Drang, đi thẳng về hướng chính Ðông để tiếp tế cho mặt trận duyên hải. Ðể xác nhận tin tức trên, vài tuần lễ trước đây, tôi đã tung toán viễn thám của Trung sĩ Thìn vào vùng để tận mắt kiểm chứng con đường này.
Quả thật con đường chiến thuật này rất là lợi hại, nó có thể cho phép địch quân dùng cơ giới để chuyển binh cắt đứt Quốc Lộ 14, băng qua Liên Tỉnh Lộ 7B rồi đánh thốc lên hướng Bắc chiếm giữ đèo Mang-Yang khiến cho Pleiku trở thành một ốc đảo. Trên đường chuyển quân này chỉ có một cái đồn Plei Do Lim bé tí teo do một trung đội Ðịa Phương Quân trấn giữ. Ðại quân của địch không cần đánh đồn, mà chỉ cần bao vây ba ngày là đơn vị đồn trú sẽ không còn nước uống, phải bỏ đồn mà chạy.
Ðúng ra thì, sau khi trình diện Tướng Tư Lệnh Vùng thì tôi phải vào Pleime ngay, nhưng hiện thời chưa có người thay tôi đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 nên tôi phải để ông Tiểu đoàn phó là Thiếu tá Nguyễn Tự Bé chỉ huy căn cứ, đợi khi có người thay thế thì tôi mới chính thức nhận việc.
Lý do tôi phải nấn ná ở Phòng 2 cũng vì tôi đang bận công tác thả toán viễn thám cung cấp tin tức địch vùng Plei Djereng cho Sư Ðoàn 22 Bộ Binh để đơn vị này tổ chức một cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ Minh theo lệnh của Tổng Thống.
Những ngày cuối năm 1973 tôi phải vào Lệ-Chí để chỉ huy một cuộc hành quân xâm nhập vùng 20 cây số Ðông Bắc Pleiku, quân số tham dự gồm có Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân, Trung Ðội Viễn Thám của Phòng 2 Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cùng với lực lượng trừ bị là một nửa Tiểu Ðoàn 81 do ông Ðại úy Phát, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy.
Kết quả cuộc hành quân thám sát ngắn ngày này đã xác nhận rằng tin tức địch đang thiết lập một con đường chiến thuật nối liền Ngã Ba Dak Doa tới Bắc Ðèo Mang-Yang là có thật.
Trong tương lai, nếu chiến sự xảy ra thì con đường này và con đường mới phát quang vùng Bắc Pleime sẽ trở thành cái thòng lọng chiến thuật siết cổ Pleiku.
Giáng Sinh 1973
và Tết Giáp Dần…
Thời kỳ 1966-1970 còn sự hiện diện của quân đội Ðồng Minh thì Ngã Ba Diệp Kính Pleiku đã trở thành một khu buôn bán lộ thiên rất sầm uất. Người ta quen gọi nơi đó với cái tên “Chợ Trời”. Chợ Trời ngày xưa chỉ bày bán hàng tuồn ra từ PX của các doanh trại Mỹ.
Từ 1972 thì Chợ Trời bắt đầu xuất hiện đủ loại mặt hàng “hằm bà làng” như quần áo cũ, giầy Saut, áo trận, chăn chiếu, mùng mền, ba lô, nón sắt, lương khô, xẻng cuốc…vân vân. Ðã có hôm tôi giật mình khi thấy trên mặt tấm poncho của chị đàn bà vợ lính có bày bán mấy bộ quần áo tác chiến và một dây đeo gồm một quả mìn Claymore với đủ bộ ngòi nổ, dây điện cùng con cóc điện để bóp cò!
Tôi ngồi xuống bỏ ra 500 đồng mua ngay bộ mìn Claymore này, rồi hỏi chị bán hàng,
– Từ đâu mà chị có thứ này?
Chị ta đã trả lời rằng chị có chồng là Nghĩa Quân trong Lệ Chí. Chồng chị vừa chết trận nên chị mới đem bán những đồ vật mà anh còn để lại.
Tôi chỉ biết lắc đầu mà nói với chị rằng từ nay đừng sờ tới những vật dụng nguy hiểm đó nữa. Nếu thấy nó còn trong nhà thì phải gọi Cảnh Sát hay Quân Ðội tới lấy nó đi. Sau đó tôi tới Quân Trấn Pleiku giao quả mìn cho ông đồn trưởng, rồi lưu ý ông ta nhớ cho nhân viên tuần tra kiểm soát khu Chợ Trời một cách kỹ lưỡng hơn. Vợ tôi và hai đứa con gái tôi rất thích bánh Pound Cake trong các hộp lương khô C Rations của Mỹ. Cuối năm 1973 thì Mỹ rút đi đã lâu rồi, nhưng bánh Pound Cake trong hộp thiếc vẫn còn thấy bày bán trong Chợ Trời. Thời gian này vợ tôi đang mang bầu em bé thứ ba, không tiện len lách trong chợ, đành phải ngồi trong xe cùng với hai đứa con để chờ tôi đi tìm mua Pound Cake. Trong lúc đó thì chú tài xế Phạm Công Cường cứ loanh quanh bên chiếc xe Jeep, không dám dời xa nửa bước.
Một ngày trước Noel 1973 tôi đang lui cui nhặt mấy hộp bánh bỏ vào bao thì nghe bước chân ai đó tiến sát sau lưng, rồi có tiếng người hỏi nhau,
– Bộ mày quen thằng chuẩn úy Biệt Ðộng Quân này ư?
Lập tức có người trả lời,
– Ðây là chồng một đứa em gái của tao! Thiếu tá đó! Không phải chuẩn úy đâu!
Tiếng nói của người này tôi nghe rất quen. Ngay sau đó, là tiếng cười vang của người kia,
Có lẽ cái lon thiếu tá của tôi thêu bằng chỉ đen, lại bị bàn ủi đè xẹp lép, nên nhìn cứ như cái lon chuẩn úy, thêm vào đó, mặt tôi cũng trắng trẻo, có chút thư sinh, khiến cho người khác nhìn mà lầm.
Tới lúc này thì tôi đã quay lại. Tôi nhận ra ngay, trước mặt mình là ông anh trai thứ ba của vợ tôi.
Anh ấy mặc quân phục bộ binh, bên cạnh anh ấy cũng là một sĩ quan bộ binh.
Hai ông chuẩn úy trẻ mới ra trường với hai cặp lon vàng còn sáng chói trên cổ áo đã tự động đứng nghiêm trước mặt một thiếu tá.
Tôi la lên,
– Anh Thọ! Anh ra trường rồi hả? Sao không tình nguyện về Biệt Ðộng Quân mà lại đi Bộ Binh?
Anh Thọ lí nhí,
– Hồi đó chú có gửi gắm tôi cho ông Trung Tá Liên Ðoàn Trưởng Sinh Viên Sĩ Quan để ưu tiên có tên đi Biệt Ðộng Quân, nhưng ngày mãn khóa nghe mấy thằng bạn rủ rê, tôi đã chọn Sư Ðoàn 22.
Nghe ông anh vợ nói, tôi mới nhớ cái thư của Trung tá Ðoàn Thi đã gửi cho tôi cách nay khá lâu.
Trung tá Ðoàn Thi là cựu Liên Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân, sau đó về Trường Bộ Binh đảm nhận chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị. Anh Ðinh Văn Thọ lúc đó là một khóa sinh dưới quyền Trung tá Ðoàn Thi. Tôi đã nhờ Trung tá Ðoàn Thi để ý giúp đỡ anh Thọ nếu cần.
Trước khi rời chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Ðức để đi chỉ huy một Liên Ðoàn Ðịa Phương Quân, Trung tá Ðoàn Thi đã báo cho tôi hay rằng, vì nể lời gửi gắm của tôi, ông đã ghi tên anh Ðinh Văn Thọ ưu tiên đi Biệt Ðộng Quân sau khi tốt nghiệp.
Nhưng khóa Sĩ Quan Trừ Bị đó chấm dứt khá lâu mà tôi chờ hoài không thấy anh Thọ trình diện.
Thì ra anh Thọ không thích làm lính Biệt Ðộng Quân.
Ông chuẩn úy bạn của anh Thọ lúc này mới nhìn tôi với ánh mắt đầy thiện cảm,
– Mới nhìn thấy ông trẻ quá, tui không tin ông là thiếu tá. Thiếu tá tốt nghiệp Ðà-Lạt hay Thủ-Ðức vậy?
Tôi bắt tay anh bạn bộ binh,
– Khóa 20 Võ Bị.
Mắt ông chuẩn úy sáng lên,
– Vậy là sĩ quan đàn anh ông sếp của tụi tôi.
– Sếp của anh tên là gì?
– Dạ! Ðại úy Thành, Phan Ðình Thành.
– Thành sau tôi hai khóa.
– Vậy mà trông ông Thành già dặn hơn Thiếu tá nhiều lắm.
Sau đó, tôi đưa ông anh vợ tới gặp vợ tôi và hai cháu của anh ấy.
Rồi vợ chồng tôi đưa anh về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thăm nhà tôi.
Nhân dịp này anh Thọ đã cùng vợ chồng tôi và hai cháu bé chụp chung vài cái ảnh để kỷ niệm.
Anh Thọ cho tôi hay anh đang giữ chức vụ trung đội phó một trung đội tác chiến của Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Bộ Binh. Trung đội này có 8 ông lính, 1 ông trung sĩ và 2 ông chuẩn úy. Trung đội trưởng của anh là một chuẩn úy ra trường trước anh một khóa. Từ ấy, anh Thọ vẫn đóng quân ở Hàm Rồng, nhưng không ghé thăm nhà tôi lần nào nữa.
Tôi không hề có ý định gửi gắm anh Thọ cho những người tôi quen ở Sư Ðoàn 22 Bộ Binh vì sợ nợ nần nhau thì rất khó làm việc. Nhưng có đôi khi nghĩ lại, tôi cũng thấy tiếc rằng anh Thọ đã chọn Sư Ðoàn 22 thay vì Biệt Ðộng Quân. Nếu anh ấy chọn Biệt Ðộng Quân thì chắc chắn tôi sẽ xin cho anh ấy về làm việc với tôi. Người anh cả của vợ tôi và Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là Thiếu úy Ðinh Quang Biện đã từng là bạn cùng đơn vị với tôi từ đầu năm 1968, khi mới mãn khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị.
Tôi với anh Biện thương nhau như anh em ruột. Chúng tôi đã cùng nhau đồng cam, cộng khổ trong suốt những năm tháng còn ở Tiểu Ðoàn 11 và Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Nhờ tình bạn thân thiết giữa tôi và Thiếu úy Ðinh Quang Biện mà cuối năm 1970 tôi đã trở thành em rể của anh Biện. Năm 1971 Thiếu úy Ðinh Quang Biện bị tử nạn. Trước Tết Giáp Dần tôi vào Hàm Rồng để họp hành quân thì được biết anh Thọ đã được thăng chức trung đội trưởng. Từ đó tôi bận việc liên miên nên không có dịp gặp anh ấy nữa.
Cho tới tháng 8 năm sau thì Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ có dịp dẫn trung đội dưới quyền mình vào Pleime để tiếp cứu thằng em rể là tôi, đang bị Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản bao vây. Trong trận này, khi nghe tin Tiểu Ðoàn 3/41 chạm địch, tôi đã liên lạc được người chỉ huy đơn vị này để hỏi thăm tin tức của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ. Lúc này chú Phan Ðình Thành, người Sĩ Quan Võ Bị Khóa 22 A, đàn em của tôi đã mang cấp bậc thiếu tá. Thiếu tá Phan Ðình Thành, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 cho tôi hay trung đội của Chuẩn úy Thọ giữ vai trò tiên phong, đi đầu, chạm nặng, và đã bị thất lạc.
Tới lúc đó tôi mới thấy hối lỗi vì đã không gửi gắm anh Thọ cho hai người mà tôi quen là Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 và Ðại tá Vũ Ðình Chung, Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 22. Hai ông anh lớn của vợ tôi đã chết rồi, nay ông anh thứ ba lại bị mất tích. Nếu biết tin này chắc gia đình vợ tôi sẽ đau buồn lắm.
May thay, ba ngày sau, từ Căn Cứ Hỏa Lực 711, Trung úy Hạp, Sĩ Quan Ban 3 của Liên Ðoàn 24 gọi máy báo cho Tiểu Ðoàn 82 hay rằng Biệt Ðộng Quân vừa tiếp nhận một trung đội bộ binh bị thất lạc về trình diện. Tôi vội nhờ Trung úy Hạp hỏi xem anh chuẩn úy trung đội trưởng bộ binh tên là gì thì ông Hạp nói người chuẩn úy trung đội trưởng đó có tên là Ðinh Văn Thọ.
Thì ra Trung Ðội 1 Ðại Ðội 4 Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ đã đụng độ với một tiểu đoàn Việt-Cộng, nhưng vì yếu thế, nên đơn vị này phải rút lui trong đêm tối. Cũng nhân dịp này, mà chú Phan Ðình Thành mới biết Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là anh vợ của tôi. Tiếc thay, hai người vừa quen biết nhau thì Thiếu tá Phan Ðình Thành đã sớm tử trận ngay sau khi Trung Ðoàn 41 rút quân về Bình Ðịnh.
Dạo đó tôi định cư Hoà Lan chưa đầy một năm. Bộ cảnh sát ngoại kiều cấp một cuốn thông hành đầy đủ hình ảnh, tên, họ, ngày, tháng, năm và nơi sanh nhưng phần quốc tịch được thay vào một gạch màu đen đậm. Tôi hải hành khắp đó đây với quyển thông hành không quốc tịch ấy. Lần đầu tôi đến Leningrad. Có lẽ thấy tôi là người vô gia cư, vô tổ quốc và mới tỵ nạn sang nước tự do, nên khi tàu vô tới vịnh Phần Lan, ông thuyền trưởng xuống hỏi tôi có sợ không. Tôi chưa kịp trả lời thì ông nói tiếp:
– Đừng sợ, bây giờ mầy là người Hòa Lan rồi.
Tôi là người Hòa Lan! Nghe thiệt chướng tai nhưng không biết nói làm sao, vì ngoại ngữ của tôi mới vừa học bập bẹ, mà câu chuyện muốn giải thích lại quá dài dòng, nên tôi chỉ biết cười trừ.
Thiệt ra thì tôi không sợ ai hết. Chỉ khi tàu tiến lần vô hải phận Liên Xô tôi có cảm tưởng như mình từ vùng ánh sáng đi vào một cõi âm u nào! Khi tàu cặp bến, hầu hết thủy thủ đoàn đều khó chịu, họ tỏ vẻ khinh khi cười chế ngạo những người bận đồng phục, đeo quân hàm màu đỏ và ái ngại nói chuyện với người bản xứ. Bực mình nhứt là mấy ông hải quan, mấy cha kéo xuống cả trung đội chia nhau vô từng phòng, rọi đèn pin lục lạo, moi móc trong kẹt tủ, dưới gầm giường, xuống kho dự trữ thức ăn,lấy sắt nhọn đâm lủng mấy bao gạo, bao bột mì. Tên công an trưởng thì mặt lạnh như đồng, bắt thủy thủ đứng xếp hàng cho ông điểm mặt từng người rồi mới chịu đóng dấu cho nhập cảnh.
Theo luật lệ ở đây, thời gian nầy, thủy thủ được lên bờ chơi theo những nơi chỉ định. Nếu chịu trả năm Mỹ kim cho mỗi đầu người thì trên Hội Quán sẽ cho xe bus xuống bến rước đưa đi thắng cảnh ngày cuối tuần. Họ chở lên xem bảo tàng viện nước Nga nằm trên bờ sông Neva, vườn hoa Mùa Hạ, đài Chiến Sĩ Trận Vong và tòa nhà Cách Mạng Tháng Mười phía trước có dựng tượng ông Lê Nin đứng chỉ tay về khoảng trống bao la phía trước. Cuối cùng qua ngọn hải đăng bên kia cầu bắt ngang sông Neva mặc sức chụp hình. Chiều về ghé vô Hội Quán có sẵn bia, rượu và gái trẻ cho thủy thủ mặc sức nhảy nhót vui chơi, nhưng trước mười hai giờ thủy thủ đoàn phải xuống tàu chớ không được lang thang trên phố.
Những ngày ở đây tôi làm quen với bà ngồi ở cửa hàng. Gian hàng nầy bán rượu mạnh, bia, thuốc lá… nhập từ thế giới tự do, vì vậy phải tính bằng Mỹ kim hoặc Đức mác, đồng rúp ở đây không xài. Từ đó mỗi khi tàu về Bỉ trở qua, tôi mua đậu phộng đóng hộp và thuốc thơm gói vào gấy màu đem lên tặng cho bà. Sao đó mời con gái bà uống một chai Champagne và kéo cô ta ra sàn nhảy nhảy Disco. Những lúc ngồi không tôi thích hỏi và nghe bà nói chuyện. Như chuyện trước khi được vô ngồi trong cửa hàng bà phải lo lót tiền cho viên giám đốc. Suốt hơn năm năm bà ngồi một chỗ bán hàng không được nghỉ một ngày. Chồng bà làm không đủ tiền lo cho gia đình nên bỏ đi đâu mất, bà sống vậy với hai đứa con gái trong một chung cư, đứa tám tuổi đứa mười bảy tuổi.
Trước ngày tàu đổi tuyến đường, tôi có đem cho con gái bà một quần Jean và một chiếc áo thun trước ngực có in một đóa hồng và năm chục Mỹ kim. Bà nhã ý mời tôi về nhà bà ăn cơm nếu cần có thể ngủ lại với con gái bà. Dĩ nhiên đối với xã hội chủ nghĩa như vậy là phạm pháp, nhưng tôi thấy có rất nhiều thủy thủ theo gái về nhà ở lại đêm. Sáng xuống lo lót cho anh gác cổng môt chai rượu mạnh vài gói thuốc thơm là ổn thỏa mọi đàng. Nếu tôi chưa từng mục kích những cuộc bắt bớ vô cớ thì tôi cũng không ngần ngại làm tên điếc không biết sợ súng là gì. Lúc nầy Leningrad chưa đổi tên và cả liên bang Xô-viết còn treo cờ đỏ búa liềm. Ai biết được trong đêm sẽ xảy ra chuyện gì.
*
Mùa đông năm 1991. Sông Neva ngập đầy tuyết trắng, nước dưới dòng đông đá dầy trên cả thước tây, nếu không có những chiếc hạm phá nát mặt băng cho tàu bè thuận tiện lưu thông thì người ta có thể mang giày ống đi bộ qua lại trên nặt sông một cách dễ dàng. Leingrad đã đổi lại tên Saint. Petersburg và cờ tam sắc thay cờ đỏ búa liềm treo khắp nơi trong thành phố.
Đương lúc thế sự đổi thay, đời sống dân chúng gặp khó khăn. Cộng đồng Âu châu gởi tặng một số lượng lớn thực phẩm như áo, quần và thuốc men. Công ty tàu ký hợp đồng chở số hàng ấy từ cảng Rotterdam và Antwerpen qua cảng Saint. Petersburg. Vì chuyến đi có tính nhân đạo, lòng dạ con người ta cũng được mở rộng hơn. Một thủy thủ có tánh khinh đời, keo kiệt, vậy mà xin được cái huy hiệu mười hai ngôi sao màu vàng đánh vòng tròn trên nền xanh dương đậm, tượng trưng Âu châu thống nhứt, hảnh diện cày lên ngực áo và sẵn sàng cho người nghèo một chiếc áo mới còn nguyên trong bọc.
Dân địa phương dạo nầy nói chuyện vui vẻ, cởi mở hơn, họ hỏi xin đồ tự nhiên chớ không còn rụt rè như trước kia nữa. Tuy nhiên những công an làm việc vẫn máy móc, mặt lạnh như đồng, nhứt là những ông già cấp bực cao mặt ngầu như chúa quỷ. Hy vọng trong tương lai, thời gian dần dà đào thải những tối tăm trong cuộc sống, cho đời thắm tươi hơn và những gương mặt gian ác trên thế gian nầy mỗi ngày một trở nên thánh thiện.
Từ đó đến nay, dòng sông Neva đã trải qua bao lần tuyết đổ. Vậy mà bà giữ cửa hàng trên Hội quán vẫn còn ngồi y chỗ cũ. Thân thể bà mập ra, mặt bà tô nhiều phấn vẫn không lấp được nét nhăn của thời gian in đậm. Ông nhạc sĩ già vẫn còn ngồi bên chiếc dương cầm. Bây giờ ông đờn những bảng nhạc mới tình tứ, yêu đời hơn thuở trước. Các cô chiêu đãi mới mẻ, trẻ trung, mơn mởn, duyên dáng, áo quần đủ màu đủ kiểu chào mời rất lịch sự.
Tôi muốn đến gian hàng xưng danh tánh và gợi vài kỷ niệm xưa hy vọng bà ngồi bán hàng nhớ lại tôi. Nhưng nghĩ tới những năm dài lênh đênh trên những tuyến đường có khi nào tôi nhớ tới bà đâu. Huống hồ chi bà ngồi một chỗ, ngày nào cũng thấy hàng trăm thủy thủ đến vội vã rồi hấp tấp ra đi. Dù sao tôi cũng chỉ là một trong những thủy thủ đã lướt qua mặt bà như chiếc bóng, thì mắc mớ gì bà phải nhớ đến tôi.
Tôi nghĩ ra một cách để gợi lại trí nhớ của bà. Hôm sau tôi gói một hộp đậu phộng và một gói thuốc thơm đem lên trao tặng cho bà. Bà cầm lấy ngạc nhiên ngước mắt nhìn tôi. Tôi cười một cái chào bà rồi đi nhanh vô phía trong leo lên ngồi trên chiếc ghế cao cẳng trước quày và kêu một ly bia. Không ngờ trò chơi lại hiệu quả. Tôi uống chưa hết ly bia, bà đi đã tới bắt tay, cười chào và ôm hôn rối rít. Bà kể cho tôi nghe, cô gái lớn của bà đã có chồng người Ba Lan hiện làm thủy thủ cho tàu du lịch. Bà chỉ tay về phía một người con gái bận bộ đồ màu đen có nạm kim tuyến. Bà nói tên cô ấy là Lu-Ba. Cô nàng đương bấu một gã đàn ông râu quai nón xồm xoàm và bước theo điệu nhạc chậm. Trong ánh đèn màu lờ mờ tôi không rõ mặt Lu-Ba, tuy nhiên vóc dáng và mái tóc xõa bờ vai làm tôi nhớ lại hình ảnh chị của cô nàng cách đây tám chín năm về trước.
Càng về tối người đến càng đông, ngoài sàn nhảy đã chật nít người. Đúng mười giờ rưỡi nhạc Disco ngưng, sàn nhảy được nhường lại cho đoàn vũ. Bảy tám vũ nữ rất trẻ, thân hình đầy đặn, ngực bốc lửa, mỗi cô khoác trên người một miếng vải mỏng màu hồng, từ trong đi ra múa chầm chậm theo một điệu nhạc êm. Khán giả vỗ tay rân lên một loạt. Các vũ nữ tiếp tục múa, hễ mỗi lần các cô gỡ một mảnh vải trên người liệng ra thì tiếng hò hét hòa cùng tiếng vỗ tay và huỳt sáo. Đến đoạn gần chót, khán giả ngồi trước nghiêm nghị, khán giả giữa ngồi thẳng lưng, khán giả ngồi phía sau đứng dậy nhón giò, tất cả hướng mặt về phía các người đẹp khỏa thân uốn éo trong ánh đèn màu hồng. Trong không khí nực nồng mùi bia, rượu và thuốc lá. Nhạc sang điệu dồn dập, các vũ nữ tháo quần xì-líp liệng tung về phía khán giả, tức thì tiếng la ó cùng tiếng vỗ tay vang dội tưởng chừng hội quán sắp vỡ tung!
Tôi đứng dậy bắt tay người đàn bà:
– Thưa bà, tui phải xuống tàu.
Bà ta giơ tay lên và chỉ vô chiếc đồng hồ, nói:
– Còn mười lăm phút nữa mới hết.
– Tôi biết.
Tôi day lưng bước ra quầy lấy áo, rút chiếc khăn choàng quấn vào cổ và khoác chiếc áo da lên người. Bà già đi tới hỏi tôi:
– Ngày cậu mai còn ở đây không?
– Thưa bà còn, tôi đi lại nơi đây ít ra cũng sáu tháng.
– Chiều mai cậu có lên đây nữa không?
– Không biết, nhưng có lẽ tui sẽ thường xuyên lên thăm bà.
– Chừng nào cậu lên tôi kêu Lu-Ba đến tiếp cậu.
– Vậy thì vui rồi. A, xin lỗi, bà tên gì?
– Vera, còn cậu.
– Tôi tên Tấn, gặp lần sau đừng quên nhé.
– Không bao giờ.
Tôi bắt tay từ giã, bà tiễn tôi ra cửa. Bên ngoài tuyết ngập lên khỏi mắt cá chưn, xuyên qua ánh đèn đường tuyết vẫn còn rơi mù mịt. Tôi dẫm trên tuyết, lần theo bờ kinh rồi men vô phố và rẽ qua con đường hướng về bến cảng. Tôi lụi hụi cắm cúi bước những bước thiệt dài, nhưng hơn nửa tiếng sau tôi chưa tìm ra đường về bến cảng. Trước mặt bây giờ trắng giã mù mịt, chiếc khăn choàng cổ tôi kéo quấn ngang mũi, hơi tôi thở ra vướng lại đóng đá nơi vành khăn, tóc sững lên cứng ngắc và da đầu tôi ê ẩm, chiếc áo da không ngăn nổi cái lạnh bên ngoài làm quay hàm tôi tê cứng, không đánh bò cạp được nữa. Ngó quanh ngó quất, phố xá vắng tanh, thỉnh thoảng vài chiếc xe điện rổn rẻn lạnh lùng lướt qua trên con đường sắt, bụng tôi bắt đầu lo và không dám đi tiếp về phía trước. Tôi bèn quay lại nhắm hướng có nhiều đèn trong phố bước cầu may, hy vọng tìm gặp được một quán cà phê hay một khách sạn chui vô sưởi ấm rồi nhờ họ gọi dùm chiếc tắc xi. Thời may đi được một đỗi, tôi thấy đèn xe hơi từ phía trước mặt lần lần chạy tới. Như gặp cứu tinh, tôi chạy ra giữa lộ và huơ cả hai tay. Người tài xế ngừng xe lại mở cửa. Không chào hỏi, tôi nhào đại lên xe. Anh hỏi tôi một câu bằng tiếng Nga, tôi không hiểu gì hết, lập cập tới lập cập lui bằng tiếng Anh: “Đi… đi xuống bến tàu… xuống bến tàu…”. Anh ta đưa hai tay lên, lắc đầu làm dấu không hiểu tôi nói gì ! Tôi bèn móc túi áo, mò túi quần một hồi mới tìm ra địa chỉ giơ cho anh. Anh xem địa chỉ xong rồi gật đầu, vô số cho xe chạy.
Xe mệt nhọc chạy trên đường trơn, anh tài xế thỉnh thoảng lách tay lái làm chiếc xe chao chao trợt xuống lề đường, vậy mà anh vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn đưa tôi xuống bến. Tới nơi tôi móc hết số tiền trong túi đền công, nhưng anh không nhận, mặt vẫn tươi cười chào tôi và nói một câu tiếng Nga gì đó rồi anh quay xe chạy thẳng.
Khi xuống tàu ngồi trong phòng có lò sưởi ấm áp. Tôi nhớ tới vị ân nhân tốt bụng vừa rồi, biết đâu không có anh tôi đã bị chết cóng giữa thành phố lạnh băng, chỉ có tuyết và tuyết chớ không một bóng người! Và không biết sau khi hội quán đóng cửa, có người đưa mẹ con bà Vera về nhà hay không? Vì trên bước đường lưu lạc, tôi thấy con người ta thường hay lòn cúi hoặc giúp đỡ người ngoại quốc rất tận tình. Còn đối với đồng hương họ hay quay lưng ngoảnh mặt, thậm chí họ chà đạp lẫn nhau…
Người xưa có nói: “Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.”. Trước kia tôi cũng nghĩ vậy, nên có thành kiến với những người hay có tánh xấu trong bữa ăn hoặc mỗi khi ăn hay đòi thêm này thêm nọ. Nhứt là những năm sau này, thủy thủ đến từ nhiều nước, có khi trên tàu chỉ có hơn chục người mà tới năm, sáu quốc tịch khác nhau. Đi chung chuyến tàu của Hoà Lan, dĩ nhiên phải ăn uống theo thực đơn của Hoà Lan. Theo luật trên tàu thì đầu bếp nấu món nào thì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, hổng được ọ ẹ phàn nàn, nhưng nếu đầu bếp không sáng tạo và chỉ nấu hoài một loại thức ăn thì sẽ làm nhiều người ăn hổng được, thức ăn dư ra đổ bỏ uổng lắm. Nghĩ vậy nên tôi tìm học vài món ngon tiêu biểu của những vùng, miền nào mà nhiều người biết tiếng. Ban đầu tôi sợ lãng phí thức ăn nên cố công học hỏi những thực đơn cho nhiều người ăn được, cũng nhờ vậy tôi khám phá ra, ngoài chuyện ăn ngon miệng, món ăn có thể gây phiền phức cho người ham ăn, nhưng cũng có thể hoá giải được những xích mích và làm cho người với người gần gũi nhau hơn.
Không biết tôi có thói quen từ hồi nào, cứ mỗi năm vào tháng Mười Hai dương lịch là tôi thích nấu những món ăn đặc biệt của vùng miền nào mà tàu chúng tôi đang đi ngang. Tôi chọn món ăn sao cho hợp với thời tiết và khẩu vị của nhiều người. Hôm nay là trung tuần tháng Mười Hai, tàu tôi hiện hải hành vùng Bắc Đại Tây Dương, mùa này nơi đây trời lạnh lắm, nên tôi chọn nấu món súp khá thịnh hành của vùng Baltic. Tôi đang đứng xắt rau, củ để ra dĩa, chợt nghe sau lưng có tiếng hô với giọng vui mừng:
– Oh, borsch!
Tôi ngước lên thấy Liubomir đứng cạnh bên, nó xoa hai bàn tay vào nhau và hỏi:
– Ông cũng biết nấu soup borsch?
Tôi ngước nhìn nó cười, hất mặt ra vẻ kiêu hãnh và hỏi lại:
– Sao không?
– Món này đặc biệt của nước Nga.
Chuyện của con người, dù là người Á Châu hay người Âu Châu gì cũng vậy. Từ lãnh thổ, thiên nhiên, cây cối, lá hoa, con người cho tới thức ăn, thứ gì có vẻ đặc biệt, nổi tiếng mà ở cạnh bên thì dành cho là của mình. Như cái món rendang, người In Đô thì nói xuất xứ từ In Đô, người Mã Lai nói của Mã Lai rồi tranh cải om xòm trên báo. Món soup borsch cũng vậy. Tôi sắp phần củ dền tím vừa xắt xong để vô chiếc dĩa bầu dục cùng với những loại rau khác, trắng, xanh, cam, vàng, tím trông cũng bắt mắt. Tôi bưng dĩa rau lên, day qua đưa trước mặt Liubomir, cười nói:
– Đẹp hông?
– Oh, đẹp tuyệt.
Tôi nói:
– Chẳng những tao biết nấu borsch mà tao còn biết lai lịch của borsch nữa. Mày người Nga thì nói borsch của Nga, nếu là người Ukraine thì nói borsch của Ukraine. Tao là người Việt Nam thì tao nói Borsch là một món súp rau, củ bắt nguồn từ các bộ lạc xa xưa nằm về miền bắc Phần Lan và Nga. Nhưng ngày nay borsch rất thịnh hành trong vùng Baltic, nhứt là trong các nước lân cận Đông Bắc Âu Châu.
Liubomir gật gật đầu, nói:
– Ông nói đúng.
Nó lân la đứng lại khoe cái kiến thức nấu ăn của nó:
– Có những nơi thích nước súp loãng, trong và màu tím lợt, có những nơi thích nước súp màu tím đậm đặc hơn. Nhưng quan trọng là nước dùng.
Trước khi tiếp câu chuyện, tôi xin kể lại cái nguyên nhân tôi quen với Liubomir. Cách đây cũng hơn hai năm rồi, lần đầu tôi đi chung với nó trên chiếc Tina. Trưa hôm đó tôi làm món khoai tây chiên bột có tên là derung. Mọi người ăn xong và ra khỏi phòng ăn hết rồi, nó vô trễ nhưng tôi cũng có chừa phần cho nó, tôi sắp khoai thịt và rau vô dĩa đưa ra. Nó lấy dĩa thức ăn để lên bàn mà chưa chịu ăn, hổng biết mắc chứng gì mà mặt mày nó nhăn nhó giống như giẻ rách, nó nhào vô bếp lục tủ lạnh. Thấy chướng mắt, tôi hỏi:
– Mày tìm cái gì?
Nó day qua hỏi:
– Ông có kem chua hông?
– Hông.
– Sao ông hổng đặt.
Tôi bực mình chỉ tay ra cửa, ý kêu nó đi ra ngoài:
– Hổng có là hổng có, mày ra ăn với mayonaise, hổng ăn thì thôi.
Với giọng kẻ bề trên, nó nói:
– Tui cũng là đầu bếp, tui có nhà hàng, nếu có gì hổng biết thì ông hỏi, tui dạy cho.
Bình thường chắc tôi cho qua, nhưng nó dùng câu “I teach you.” làm tôi hơi khó chịu. Tôi hất mặt hỏi lại:
– Dạy cái gì?
– Thì… nấu…
Tôi đổi sắc mặt, nhìn nó cười khẩy và nói:
– Oh. Tưởng chuyện chế thuốc độc hoặc bôm hạt nhân, bôm nguyên tử, xe tăng, súng, đạn… những thứ giết chết người của nước Nga mày thì tao hổng biết, chớ còn thực đơn để nuôi sống con người thì nước Nga của mày có con c. gì mà dạy tao.
Có lẽ thấy mặt mày và giọng nói khó chịu của tôi nên nó ngán, nó hầm hầm cái bản mặt thịt và miệng sịt một cái rồi bỏ ra bàn ăn.
Trước buổi ăn chiều hôm đó, thuyền trưởng người Hoà Lan, xuống hỏi tôi:
– Ông nói gì mà thuyền phó nói ông châm biếm nó vậy?
Có chút chuyện mà nó cũng lên mét thuyền trưởng. Tôi biết thuyền trưởng người Hoà Lan cũng không ưa gì người Nga. Nhưng tôi hổng có tánh a dua, dựa vào đó mà nói xấu thuyền phó. Nhưng nó đã mét với thuyền trưởng rồi thì tôi cũng phải phân trần cho ông rõ. Tôi nói:
– Thiệt ra vì tánh cao ngạo của thuyền phó, cũng như cách sống của nhiều người Nga khác, tự nó đã là châm biếm rồi. Tui chỉ nói sự thật cho nó biết thôi.
– Nhưng chuyện gì?
Tôi kể với thuyền trưởng chuyện xảy ra hồi sáng xong và tôi nói:
– Có món Hamburger mà Nga cũng làm hổng được, dân Nga phải chờ gần một thế kỷ mới được ăn. Vậy mà nó đòi dạy tui nấu ăn.
– Thiệt hả?
– Thiệt, ngày đầu McDonald’skhai trương ở St. Petersburg dân Nga đứng sắp hàng dài cả cây số chờ mua ăn.
Thuyền trưởng cười ha hả rồi bỏ đi. Ông lên nói gì với nó hổng biết mà sáng hôm sau nó xuống mặt mày vui vẻ đứng trước phòng bếp ló đầu vô, nói:
– Ông là người Hoà Lan.
Tôi đáp:
– Không, tao là người Việt.
– Tui tưởng ông người In Đô.
– In Đô thì đã sao?
Nó đưa ngón tay lên giữa miệng làm giấu bí mật và nói.
– Người In Đô ngu lắm, bếp In Đô nấu ăn hổng được.
Trơ trẽn như vậy là cùng, tôi có hơi khó chịu, nhưng muốn lên lớp cho nó biết chút ít về chuyện làm người, nên tôi dịu giọng, nói:
– Mày lầm rồi, mầy đừng tưởng là mầy thuyền phó và người Nga là thông minh. Thật tình thì bếp In Đô nào cũng có bằng cấp nấu ăn hết, tại mày hổng quen ăn thức ăn In Đô thôi, còn thủy thủ In Đô nhiều người có bằng đại học, nhưng vì ở bên nước nó hổng có việc làm thích hợp và lương bổng hổng bao nhiêu nên mới qua đây làm thủy thủ.
Hình như nó dè dặt trước những gì tôi nói, nên nó mới đổi sang chuyện khác:
– Ông viết sách hả?
– Hobby của tao. Có vấn đề sao?
– Ông viết về chuyện gì?
– Thì chuyện của tao với mày đương nói nè.
– Oh. Có lẽ nó ngại trò chuyện với một tên già dặn và có tánh móc lò như tôi nên nó chào tôi và bỏ đi ra ngoài. Đúng là tư cách của người Cộng Sản, trước khi muốn cư sử với người nào phải tra lý lịch người đó. Nhưng đỡ cái là từ đó trở đi, thái độ hống hách tự cao tự đại của nó không còn và hổng dám léo hánh vô bếp hỏi này hỏi nọ nữa.
Sau chuyến đó, cũng hơn hai năm rồi, tôi không gặp lại nó. Chuyến này gặp lại tôi, nó bắt tay mừng rỡ, làm như là bạn bè thân nhau lâu lắm vậy. Nó khoe với tôi, nó đi du lịch Việt Nam mới về, đi tour và có ăn phở. Tôi nói:
– Phở là món rẻ tiền, bộ tụi Nga mày hổng có tiền ăn món nào đắt giá hơn sao mà thằng nào đi du lịch qua đó trở về tao cũng nghe ăn chỉ có phở.
Nó cười hì hì:
– Phở ngon mà.
Kỳ này trên tàu thuyền trưởng và phụ máy là người Ukraine, chỉ có phụ thuyền phó là người Hoà Lan và tôi người Hoà Lan gốc Việt.
Tôi trở lại câu chuyện. Day qua nói với Liubomir:
– Dĩ nhiên nước dùng là nền tảng của các loại súp, nhưng sự kết hợp củ dền tím, bắp cải trắng, cà rốt, cọng cần và khoai tây nấu chung với nước dùng xương bò làm cho súp ngọt và thanh, hương vị và màu sắc củ dền làm cho borsch có màu tím và mùi thơm đặc biệt.
– Người Nga và người Ukraine thường trang trí nguyên cọng thìa là, kem chua hoặc maiyones và ăn với loại bánh nướng bột gạo nhân thịt, tiếng Nga gọi là pirozhki.
– Nhưng trên tàu chỉ có maiyones và bánh mì thôi.
– Ờ, trời lạnh ăn Borsch rất ngon.
Tôi nói:
– Soup borscht nấu đặc thích hợp cho mùa lạnh, mùa nóng nấu loãng một chút, mùa nào ăn soup borsch cũng được và ăn nóng hay nguội gì cũng ngon. Nhưng theo tao biết thì cách ăn borsch cũng khá quan trọng.
– Oh, vậy sao?
Tôi cười dí dỏm:
– Theo truyền thống cổ xưa, ăn soup borscht với cái tô bằng đất nung và muỗng gỗ. Thực khách phải trần truồng, ngoài tấm khăn che phía dưới ra, đàn ông, đàn bà, con nít hổng bận áo, quần gì hết.
– Thiệt hả?
– Thiệt, mày hổng tin thì tìm hiểu lịch sử borsch biết liền.
– Nhưng borsch cũng là một trong những món ăn truyền thống Giáng Sinh của nước Nga.
– Ờ, đúng rồi. Theo lịch chính thống của nước Nga, lễ Giáng Sinh ở Nga vào ngày bảy tháng Giêng.
– Nhiều người Nga vào những ngày đầu tháng Giêng, trước Giáng sinh đã tổ chức ăn uống rồi. Nhưng hổng phải người Nga nào cũng tổ chức Giáng Sinh vào ngày đầu tháng Giêng.
– Vậy hả?
– Nhiều người tổ chức Giáng Sinh bắt đầu ngày hai mươi lăm tháng Mười Hai. Trong thời gian này, tất cả cây cối trồng những nơi công cộng cũng trang trí đèn màu, giống như cây thông Noel, đó cũng là biểu tượng cho năm mới.
– Vậy là nước Nga có hai ông Jêsu.
– Ha ha.
– Cười gì, hổng lẽ hai ngày sanh mà chỉ có một Jêsu? Nhưng…
– Gì?
Tôi cười, nói:
– Hai chúa Jêsu dùng một Thánh Kinh nên xã hội nước Nga lộn xộn thấy mẹ.
Liubomir lại cười ha hả:
– Vậy đạo Phật có mấy ông Phật?
Tôi hô:
– Oh, a lot op Budha’s ! (vô số Phật).
– Vậy nước Việt Nam có lộn xộn hông?
– Có chớ, đạo Phật ở nước tao lộn xộn quá xá luôn.
– Ông đạo Phật mà.
– Cũng vì tao theo đạo Phật nên mới thấy nước Việt Nam tao nhiều Phật và lộn xộn giống như một đống phế thải. Mày đi khắp nước Việt Nam, nếu để ý thì thấy chỗ nào cũng có Phật và lủ khủ thầy chùa.
– Đúng rồi, tui tới Bình Định thấy tượng Phật trên núi lớn lắm.
– Tao biết, tượng Phật ở Bình Định lớn nhứt Đông Nam Á. Tuy đạo Phật nước tao có lộn xộn nhưng dù sao cũng đỡ hơn nước Nga mày.
– Sao vậy?
– Bên Nga có hai ông Jêsu mà chơi hổng lại ông Lenin, để ông ta biến nước Nga thành một quốc gia vô thần, hổng tôn giáo gì hết. Trong thế kỷ hai mươi, Người Nga hổng được mừng Giáng Sinh công khai, thời gian đó cũng có nhiều người Nga tự nhận mình là con cháu của bác Lenin, hổng thần, hổng Phật, hổng Chúa, hay Allah gì ráo. Chuyện tín ngưỡng bị dẹp qua, nhiều người cũng chẳng biết Giáng Sinh là gì, chỉ ăn mừng ngày Giáng Sinh của ông Lenin thôi.
– Nhưng bây giờ hết rồi.
– Từ ngày chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, người Nga mới được phục hồi tín ngưỡng, chủ yếu là tôn giáo chính thống của Nga. Cả nước Nga, nhứt là tần lớp trung lưu trở lên, nô nức ăn mừng Giáng Sinh, tiệc tùng rất long trọng. Cũng có một số người theo Kitô giáo chính thống, bắt chước những truyền thống Giáng sinh ở các nước Đông Âu. Ví dụ, biểu tượng khăn trải bàn màu trắng và rải cỏ khô lên mặt bàn để nhắc nhớ đêm chúa Giáng sinh nằm trong máng cỏ. Ngày hai mươi bốn tháng mười hai, họ chuẩn bị một bữa ăn hổng có thịt và cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời, chờ cho tới khi nào thấy ngôi sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời, lúc đó mới ôm nhau chúc mừng và sau đó mới vào bàn nhập tiệc.
– Ha ha… Ông nói chuyện mắc cười quá.
– Bộ hổng đúng sao?
– Đúng, nhưng làm gì có chuyện cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời.
– Nếu hổng ra sân nhìn cho kỹ thì làm sao biết được ngôi sao nào mọc trước.
– Tui cũng hổng biết, nước Nga hổng có phong tục này, hình như đó là phong tục của Ukraine.
– Ô kê. Phong tục nước Ukraine. Tao có nghe nói đên Giáng Sinh những nhà thờ chính thống Nga hành lễ rất long trọng và Tổng thống Nga cũng tham dự lễ này trong nhà thờ lớn ở Moscow.
Nó ngước mặt hãnh diện:
– Dĩ nhiên, nhưng Svyatki và Christmastide của Nga, sau những lễ lạc tiệc tùng Giáng sinh người Nga vẫn còn ăn nhậu cho đến ngày mười chín tháng Giêng.
Như chợt nhớ ra nó nói luôn:
– À, vậy là hai ông Jêsu thắng rồi.
– Đúng đúng, chuyện này mày đúng, cái tốt luôn lúc nào cũng thắng cái xấu, nhưng…
– Gì nữa ông?
– Mất hết một thế kỷ, cũng hơi lâu.
Tôi tiếp luôn:
– Nhưng lâu còn hơn không?
Chúng tôi cùng nhau cười thành tiếng. Liubomir là thuyền phó, khi tàu hải hành, nó trực lái từ bốn giờ tới tám giờ sáng, nên nó ăn sáng trễ hơn thủy thủ đoàn.
Hổng muốn lôi thôi mất thì giờ nữa, tôi nói:
– Mày ra ăn đi.
Bây giờ Liubomir mới chợt nhớ ra là giờ ăn của nó:
Luộc trứng cho Ivan xong, tôi sắp xếp lại mọi thứ và bắt đầu nấu soup borsch.
Tới bữa ăn trưa, mọi người trầm trồ vui vẻ với cái món soup borsch tuyệt vời do tôi nấu. Liubomir kể với mọi người chuyện hồi sáng, cả bàn cười rộ lên. Rồi nó day qua tôi nói:
– Ông nghe đó, tui kêu mọi người trước khi ăn soup borsch phải cởi áo quần rồi lấy giấy lau miệng che phía dưới lại nhưng hổng ai chịu hết. Cả bàn cười rộ lên. Tui cũng cười theo và nói:
– Nhưng phải có muỗng gỗ và tô đất nung nữa mới được. Dĩa sành, muỗng i-nốc thì bận đồ ăn cũng ngon…
Thưa các chiến hữu thích cầm chai! Trước khi vào bài, tui xin có đôi lời phi lộ! Dà hỏng dám hổng múa rìu qua mắt thợ! Kinh nghiệm chinh chiến trên bàn nhậu của tui so với quý anh mình, tui chỉ là thằng nhải ranh lại dám lanh chanh nói dóc.
Quý anh mình chỉ nếm rượu là biết giá tiền, biết năm sản xuất, biết của nước nào. Rồi sành sõi, biết luôn rượu nầy phải đi với món ăn nào mới hợp ‘rơ’; mới đúng ‘gu’ thượng lưu ăn và nhậu!
So với công phu cực kỳ thâm hậu như vậy, tui quả là một đứa lính mới tò te trên chiến trường bàn nhậu.
Tuy nhiên, ông bà mình đã từng dạy: “Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe!” Bên Úc nầy đây, nhà không có cột thì tui biết dựa vào đâu mà nghe?
Phần đất nước tự do ngôn luận mà! Thôi thì biết ít thưa thốt ít; biết nhiều thưa thốt nhiều.
Tại sao quý anh mình lại chìm trong men rượu đắng? Dà! Có nhiều nguyên nhân khác nhau lắm; nhưng tựu trung cũng bởi vì buồn đời đó thôi! Mà buồn đời cũng có nhiều loại buồn. Dưới đây là một trong những loại đó!
Có một ông vào quán rượu gọi một lượt tới 10 ly whiskey đầy ăm ắp.
“À! Tui mới vừa khám phá ra là thằng em trai của tui là người đồng tính và nó vừa làm lễ cưới với thằng bạn thân nhất của tui.”
Ngày hôm sau, ông khách nầy quay lại, gọi tới 12 ly whiskey đầy ăm ắp!
“Người hầu rượu lại hỏi: “Lần nầy thì lại có chuyện gì nữa hỡi bạn hiền?”
“À! Tui vừa phát hiện ra thằng con trai của tui cũng là người đồng tính!”
Ngày kế cũng ông khách nầy quay lại; và gọi tới 15 ly whiskey đầy ăm ắp.
Người hầu rượu hỏi: “Bộ trong nhà của anh bạn không có người nào ‘thích’ phụ nữ hết hay sao?”
Ông thần nầy mắt đẫm lệ, ngước nhìn lên nói: “Có chớ! Con vợ của tui! Hu hu!”
***
Kế tiếp, tui xin thưa về kinh nghiệm chiến trường trên bàn nhậu nếu có gì không phải xin các chiến hữu đàn anh bỏ ‘quá’ cho nha!
Nên nhậu với ai? Hay bạn nhậu! Anh là ai? Đó là một câu hỏi tưởng chừng dễ như thiệt ra là rất khó trả lời! Cái cốt lõi là nhớ đừng nhậu ‘lang chạ’! Nghĩa là đừng gặp ai cũng nhậu hết ráo! Rất không nên! Chơi ‘lang chạ’ là bị ‘si đa’; nhậu ‘lang chạ’ là bị ‘xi cà que’ có ngày!
Vì nhậu với người mới quen lần đầu là khó khăn nhứt. Mình đâu biết tính ý thằng chả ra làm sao? Có phải hắn, dân chơi cầu ba cẳng, nhậu đã rồi về nằm thẳng cẳng, gáy ò ó o?! Chớ không về nhà dằn mâm xáng chén, đánh đập em yêu… đến nỗi bị cảnh sát Úc đến còng đầu về tội bạo hành gia đình.
Nhậu với mấy tay có máu yên hùng nầy mang tiếng lắm. Nên một cũng lánh xa, hai cũng nên xa lánh trước… Cho nó lành!
Hai là nhậu với đứa có máu dân ‘Cầu Ông Lãnh’. Bất đồng ý kiến nhỏ như con thỏ trong bàn nhậu một chút là cà khịa: “Ê! Cởi áo đi! Ra ngoài đường giải quyết!”
Rượu là lễ mà! Nhậu với đứa không biết thế nào là lễ; có bữa mình sẽ bị bể đầu vì cái thói côn đồ của nó!
(Trong nước, giờ nghe nói: tiệc nhậu chưa tàn mà các hạ đã móc dao ra lụi tại hạ để làm thêm món tiết canh cho hả dạ?)
Tui vốn là thằng ăn tục nói phét; làm vài ly là quen mồm xài cả đống giấy năm trăm! Nên xui rủi lỡ gặp một tay nào ‘vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa’, hồi đó giờ chưa biết ‘đù’ lần nào; mình không ‘thủ cẳng’, cứ chửi thề bốp trời thiên là nó sẽ ưu tiên biến mình thành một kẻ thù vô duyên cớ!
Ba là nhậu với những con dê nhà họ ‘Sảng’. Tức là nhậu với mấy thằng có máu 35, dê thầy chạy; nhứt là hay dê sảng!
Chữ rằng: tửu sắc. Nhậu là khoái gái hè! Ai cũng vậy vì do ảnh hưởng của ‘ethanol’ lên não bộ; chỉ cần sương sương chừng vài cối là tối con mắt, nhìn em nào cũng đẹp nhứt đêm nay.
Xỉn rồi thì em nào cũng trở thành hoa hậu miệt vườn hấp dẫn; dù ngày thường chàng đã bỉu môi chê: “Cho tao còn hỏng thèm! Xấu như ma lem! He he!”
Khoái ăn bưởi hàng xóm hơn là chanh ở nhà cho dù hai thứ đều chua lè hết ráo.
Mạnh dạn liếc mắt đưa tình dẫu em là hoa đà có chủ!
Sáng dậy, tỉnh rượu mới hoảng hồn: “Ối giời ơi! Ta đã làm gì đời ta vào tối hôm qua?!”
Thế nên anh bạn nhậu đã từng khẩn thiết khuyên tui là có dắt bạn về nhà nhậu là tụi bây hãy chui ra đằng sau garage ngoài hè mà nhậu.
Chắc ăn hơn hết là nhậu lúc vợ vắng nhà! Kẻo nhậu cửng cửng, nó tửng lên, thò tay khòe móc, vỗ bậy, vỗ bạ… làm mất tình chiến hữu bấy lâu nay.
Bà con có lẽ cho rằng tui nói quá! Nhậu say chớ có bị điên đâu mà bốc hốt tùm lum vậy cà? Bởi câu rằng: cái gì cúng là cúng; cái gì ăn là ăn. Đâu thể nào đồ cúng mà đòi ăn cho được hè?
Nếu bà con không tin, tui xin kể cho nghe câu chuyện đã từng xảy ra cho thằng Johnny, bạn Úc của tui, xảy ra cách đây không lâu.
Chẳng qua hôm Tết Tây, Johnny dắt con Melissa, là bồ của nó, đi ra ‘pub’ nhậu. Nhậu tới khuya luôn.
Thì thằng bạn nó kề vô lỗ tai, bỏ nhỏ: “Tao thấy thằng Peter và con bồ của mầy làm cái gì ‘rọt rẹt, ọt ẹt’ ở băng sau chiếc xe mầy trong bãi kia kìa!”
Johnny nghe vậy bèn lảo đảo bước ra ngoài làm một cuộc điều tra. Một lúc sau bước trở vô quán rượu, cười hè hè, nói: “Thằng Peter bữa nay say quá! Say đến nỗi nó tưởng nó là tao!” He he.
Thế nên theo lời khuyên chí lý của anh bạn hiền từng trải: “Nhậu nên ra quán!” Quán mà người phục vụ là nam càng tốt. Cầm bằng hám gái, lựa quán nào có mấy em gốc Ý, đẹp cỡ Sophia Loren, phục vụ là coi chừng lỡ hôm nào hứng sảng, con lợn lòng nổi dậy làm bậy là nó lôi đầu mình ra Tòa về tội sách nhiễu tình dục thì phiền phức lắm!
Bài học của Harvey Weinstein, trùm điện ảnh Hollywood còn nóng hổi, còn sờ sờ ra đấy. Liệu mà giữ cái thân tàn ma dại!
***
Tết Tây qua rồi! Tết Việt mình đang lù lù tới! Tết là dịp may hiếm có, năm chỉ một lần, cho băng tầng nhậu chúng ta say sưa chè chén bí tỉ mà ít bị vợ rầy!
(Vì con vợ tin dị đoan đầu năm gây lộn với chồng là gây toàn thời, là gây suốt cả năm!)
Tuy nhiên, xin quý chiến hữu thương mến thương đừng nên lợi dụng thời cơ nầy mà say sưa quá chén nhé! Bởi chữ có câu: “thái quá bất cập”! Ngay cơm mình ăn mỗi ngày; nếu ăn quá no là bể bụng mà chết! Huống gì là rượu!
Hãy quên cái vụ chừng chục chai là đòi làm anh hùng rơm, trên đầu nào biết có ai, để tuyên bố vung vít với em yêu là: “Ðừng chờ, hôm nay anh hổng dìa! Anh dìa sẽ bị chúng nó chê anh là râu quặp, là thờ bà, là sợ vợ… Nhục lắm!”
Đừng có tự nhủ là: “Uống thêm thật say để về dễ ngủ, không phải nghe vợ càm ràm, nói xiên nói xỏ, nói móc họng hay chửi chó mắng mèo!”
Đừng uống say đến nỗi quán nó trục xuất mà chưa chịu về như câu chuyện dưới đây!
Một tay bợm nhậu đi lảo đảo vào quầy rượu! “Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Ông bạn say quá rồi! Về ngủ đi!”
Một lát sau, cũng ông thần nầy từ ‘toilet’ bước ra. “Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Ông bạn say quá xá rồi!”
Chừng 5 phút sau, cũng ông thần nầy từ cửa sau bước vào!“Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Tui nói lần chót là: Ông bạn say quá rồi! Về ngủ đi!” Nghe vậy, ông thần nẩy gải cái đầu đã rồi gải cả hai cái lỗ tai! “Ờ! Chắc mình say quá thiệt rồi! Hai cái quán rượu trước cũng đều nói với mình y như thế!”
Hoặc: “Tối qua tui uống nhiều rượu đến nỗi khi đi ngang qua sàn sân khấu của nhà hàng, sau khi cạn ly đầy để tìm thêm một đầy ly cạn whiskey nữa; thì tui đã đoạt giải nhứt người ‘khiêu vũ’ đẹp nhứt trong đêm!”
Như vậy thế nào là uống rượu có chừng có mực? Nó như vầy nè: Johnny bước vào quán rượu kêu một ly whiskey, cạn xong, móc cái mobile phone, hiệu Samsung Thiên hà 8, ra chăm chú nhìn miết vào cái màn hình! Xong kêu ly nữa. Và cứ thế…cứ thế!
Anh hầu rượu ngạc nhiên hỏi: “Uống rượu mà coi màn hình điện thoại di động chi vậy cha nội?”“À! Hình của con vợ tui! Chừng nào thấy em đẹp nhứt đêm nay là tui biết mình đã đủ ‘đô’ rồi… là tui về. “
***
Nói thiệt nào ngay, tui cũng có ba thằng bạn nhậu chí cốt! Vắng một tuần là nó réo rồi hè! “Sao tui nhớ cái mồm lải nhải của ông nhà báo quá ta?!”
Chẳng qua anh bạn nầy cách đây đã ba năm, mới gặp lần đầu, nhậu với nhau, xét tư pháp lý lịch, là tui biết ảnh là người vốn sanh đẻ ở ‘Trảng Bom’.
Thằng tui cũng là người khoái nổ. Nhưng nghe ‘giả’ nổ riết, lùng bùng điếc cả lỗ tai nên tui đành chịu thua, xin phép kiếu từ về trước! Đang hứng, mà bị bỏ ngang xương; ảnh hỏi tui sao về sớm vậy?
Tui bèn từ tốn trả lời: “Bữa nay được hân hạnh lần đầu đối ẩm với anh nhưng tiếc thay lúc đi vội quá nên tui bỏ quên ở nhà cái áo giáp chống văng miểng ở nhà rồi!”
Từ đó biết ý, anh bạn hiền nầy lâu lâu ngứa miệng, chỉ nổ ‘cắc cù’ như carbine M1 chớ không chơi ‘ra-phan’ một tràng như M16 hay đại liên M60 như trước nữa.
Ba năm làm bạn nhậu, một khoảng thời gian quá dài như ba thế kỷ! Nhậu với nhau, chọc cho vui nhưng chưa cự cãi lần nào quả là hiếm có trong giới giang hồ nhậu nhẹt đó nhe!
Tui đang lọ mọ viết cho xong bài nầy, kẻo ông Chủ bút hối quá Trời, thì chuông điện thoại lại reo inh ỏi:” Ra nhà hàng Hạ Long; đúng 6 giờ chiều nay nhe cha nội!”
Ra chớ! Nhân tiện, tui từ giã băng tầng nhậu Footscray mình để di dân qua xứ Ái Nhĩ Lan, làng Ringaskiddy, nơi sản xuất thuốc Viagra của hãng Pfizer.
Đi nhậu về ngang, chỉ cần ‘hít’ khói từ các xưởng Viagra cũng đủ… ‘sung’ suốt cả quanh năm.
Nhậu ở Footscray nầy em yêu rầy dữ lắm! Dọn qua bên ấy, chắc như đinh đóng cột là chiều nào em yêu cũng nhắc: “Chiều nhớ đi nhậu nhe anh!”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.