Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 29 June, 2023

Post by Sơn râu 31 Aug 2023

Kỳ 9

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Tôi ước đoán vùng địch tập trung các cỗ pháo là khu ngã ba Plei Xôm nên vội ra lệnh cho Trung úy Nguyễn Như dùng 105 ly cơ hữu của Pleime bắn cầm canh trên vùng này để cản bước địch. Ðúng 4 giờ sáng, tiền đồn Ðồi Tử Chiến báo cáo có 3 chiếc tank của Việt-Cộng bị vướng mìn đang nằm im dưới chân đồi. Hai bên đường Tỉnh Lộ 6C đoạn từ Ðồi Tử Chiến về Nam có một bãi mìn chống chiến xa dài nửa cây số do Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu thiết lập.

Như vậy Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu là đơn vị có công đầu trong việc tiêu diệt ba chiếc xe tank của Việt-Cộng sáng 14 tháng 4 năm 1974 tại vùng 20 cây số Tây Nam Pleiku. Tôi cho lệnh tiền đồn Ðồi Tử Chiến cho người xuống dùng M72 bắn bồi thêm cho mấy chiếc T54 cháy luôn, nhưng không còn nghe tiếng tiểu đội này nữa. Tôi nhớ lại chuyện xe tank địch công khai xuất hiện giữa ban ngày trong trận Lệ Minh và Bu Prang nên vội vàng gọi cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Ðoàn 22 ở Hàm Rồng để xin máy bay can thiệp gấp. Nào ngờ, cấp trên đã trả lời rằng hiện thời không quân đang bận bao vùng cho một đơn vị bộ binh chạm địch nặng vùng Tây Pleiku.

Túng quá, tôi bèn vẽ một ô vuông mỗi chiều 200 mét kéo dài từ Ðồi Tử Chiến về hướng Bắc, rồi xin pháo binh bắn liên tục hy vọng cản được đường tiến của cơ giới địch. Tới 5 giờ sáng, địch âm thầm dàn hàng ngang trên bờ con thông thủy nằm giữa Cứ Ðiểm 711 và Plei Ngol Ho rồi đồng loạt hò reo, xung phong lên bờ tường Ðông của 711. Có lẽ đơn vị này xuất phát từ làng Siêu 1 (Plei T’Seo 1) rồi di chuyển theo lòng con suối cạn để tới tuyến xung phong. Con suối này là nơi các ông lính pháo binh đã xuống lấy nước và phát giác ra đường dây điện thoại nhưng không báo cáo.

Hình như địch không biết bên Plei Ngol Ho có người, nên vô tình chúng đã đưa lưng làm bia cho Biệt Ðộng Quân và M113 nằm trong bìa rừng nhắm bắn thả giàn. Sáu khẩu đại liên 50 đặt trên M113 đồng loạt bóp cò tập trung về một hướng khiến cho cả một vùng bụi đất tung bay, mịt mù. Ðơn vị địch hiện diện có thể là một tiểu đoàn. Tất cả bốn đợt xung phong của địch đều bị bẻ gãy. Trung úy Nguyễn Trọng Thọ báo cáo rằng qua bốn đợt xung phong, đã có năm hay sáu cán binh lọt được vào trong vòng rào 711, nhưng quân ta đã bắn hạ hết những tên này.

6 giờ sáng thì tiếng súng im, không còn bóng dáng địch, tôi cho một trung đội ra thu lượm chiến lợi phẩm đem về sân trực thăng. Mấy anh lính kỵ binh của Chi Ðoàn 3/19 cũng hí hửng xuống xe, chạy theo phụ giúp Biệt Ðộng Quân. Ðánh nhau mới có vài tiếng đồng hồ mà vũ khí của địch đã bị ta tịch thu chất thành đống lớn. Trung úy Trần Dân Chủ tíu tít quanh khu đất chứa chiến lợi phẩm mà chụp hình lia lịa. Chủ tới bên tôi,

– Kỳ này đi buôn lời to! Mình lấy được gần ba trăm khẩu súng rồi đó ông ơi! Tài liệu thu được từ xác những tên địch trên bãi cỏ hướng Ðông 711 cho ta hay đơn vị của chúng là Tiểu Ðoàn K2, Trung Ðoàn E48 của Sư Ðoàn 320A. Tôi lần bước theo bờ thành của 711 để quan sát trận địa thì thấy hàng chục tên địch nằm phơi thây bên bờ cỏ Tỉnh Lộ 6C. Tôi tò mò ngồi xuống quan sát một cái xác cán binh bị bắn vỡ đầu; chiếc nón cối mất một miếng to bằng bàn tay; bên ngoài cái nón có hàng chữ bằng mực xanh ghi tên đơn vị của người đã chết; tôi chỉ đọc được chữ “D” và số “0”; còn con số ở giữa không rõ là “1” hay “2”; kế số “0” là hai chữ “TS”. Do đó tôi chỉ đoán mò có thể đơn vị của tên Việt-Cộng này là Tiểu Ðoàn D10 hay D20 Trinh Sát. Từ đó tôi đưa ra kết luận cho rằng sáng nay địch đã sử dụng một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn trinh sát để đánh tôi. Tôi gọi đài tiếp vận Hàm Rồng báo cáo tên các đơn vị địch tham chiến mà tôi vừa phát giác cho Bộ Tư Lệnh 22 Hành Quân thì họ trả lời rằng họ đã biết hết rồi! Họ còn nói rõ rằng, ngoài Tiểu Ðoàn K2 của E48 và D20 Trinh Sát địch còn tung vào trận một đại đội xe tank của D16, nhưng xe tank bị vướng mìn hư hại, không tham chiến được.

Tôi nhớ lại lời nhắn cách nay hai ngày của anh bạn Ðồng Ðăng Khoa:

“Quân đoàn có tin A2 cho biết Việt-Cộng sắp đánh Long đó! Long nhớ cẩn thận!”

Sau đình chiến, ta và địch đánh nhau cứ như đánh bài lật ngửa, lực lượng địch gồm những đơn vị nào ta đều biết, ta như thế nào địch cũng biết. Có điều cấp trên cứ giấu giếm thực lực địch, không cho cấp dưới biết chỉ vì sợ cấp dưới thấy địch mạnh quá hoảng hồn, không dám đánh! Tôi chợt chạnh lòng nghĩ lại, hiện giờ tôi cũng ở vào tình trạng không khác gì anh Quang Con và chú Hoàng Nghĩa Hội trong trận Lệ Minh tháng 9 năm 1973.

Rồi đài tiếp vận Hàm Rồng lại chuyển lệnh cho tôi cố duy trì đương cự được một ngày thì tôi sẽ có người vào tiếp viện. Trung úy Chủ, Sĩ quan Ban 3 cho tôi hay tổng kết thiệt hại của ta tính tới giờ phút đó đã có 12 Biệt Ðộng Quân và 10 Kỵ Binh tử trận. Số người bị thương là 28 người. Tất cả thương binh và xác người chết đều được tập trung ở bãi trực thăng hướng Bắc Plei Ngol Ho chờ phương tiện di chuyển. Ðại úy Xá cũng báo cáo rằng có 6 chiến xa bị cháy, hai sĩ quan và tám binh sĩ tử trận. Hiện thời trong 711 chỉ còn 6 chiếc M113, nên ông Chi đoàn trưởng đã tái phối trí những chiếc xe này thành những pháo đài vững chắc sau tường đất. Riêng chiếc M113 có khẩu 106 ly không giật được đặt ở góc Ðông Nam 711 họng súng nhắm ngay con dốc dưới triền đồi, địa thế nơi đây bắt buộc cơ giới phải đi theo hàng dọc từng chiếc một. 7 giờ sáng từ hướng suối địch lại ào ào xung phong lên. Chờ cho tiền quân địch tới sát bìa rào, ta mới nổ súng. Ðịch tháo chạy rồi, quân ta mới mau chóng ra kiểm soát kết quả. Ðại Ðội 3 mang về gần chục khẩu AK và hai cái ba lô.

Tôi mở một cái ba lô của tên cán binh vừa chết ra xem, thì thấy bên trong, ngoài hai bộ quần áo kaki xanh, một tấm vải dù, một cái bát, một cái muỗng bằng nhôm, một cây bút bi, còn có một bì thư đã dán kín nằm kẹp giữa một quyển sổ tay. Quyển sổ tay này là nhật ký của cán binh Lưu Sỹ Hồng quê quán Bắc-Thái.

Nghe ban Truyền Tin báo rằng sắp có tải thương, tôi đi ra bãi trực thăng, trên tay là quyển nhật ký và cái bì thư. Sau khi thăm hỏi an ủi các thương binh, tôi cũng ngồi xẹp xuống bãi cỏ mở cái bì thư ra xem thì thấy thư đề tên người nhận là Mạc Thị Huệ ở Bắc Thái. Thư mới viết, nét chữ anh chàng cán binh này không những không được cứng cáp mà còn có vẻ ẻo lả như chữ con gái. Mở đầu là một bài thơ ngắn, không rõ người viết thư đã sáng tác hay đã cóp nhặt từ ai,

“Em ơi!

Em hãy nhớ lời anh giờ chia tay

Ðường đi Bê ngút ngàn quan tái

Anh vẫn mang trên vai bóng hình người ở lại…

Ðất nước thanh bình anh sẽ về

Một mái tranh, một mảnh vườn quê

Trước sân nhà,

anh sẽ trồng thật nhiều hoa Hồng và hoa Huệ…

Anh sẽ về!

Anh hứa với em…”

Hai chữ “Hồng” và “Huệ” đều viết hoa và tô đậm. Huệ là tên người đợi chờ, Hồng là tên người đi B. Không biết tới bao giờ người đợi chờ mới biết tin người đi B đã mãi mãi không về? Tôi chưa đọc tiếp xem trong quyển sổ đã ghi chép gì thì nghe từ xa có tiếng trực thăng “Bạch! Bạch!” vọng lại. Tôi bỏ cái bì thư và quyển sổ tay vào cái ba lô chiến lợi phẩm. Tôi đứng chờ chỉ mấy phút sau thì Ðồng Ðăng Khoa sà xuống lơ lửng trên Plei Ngol Ho. Bay với Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa ngày hôm đó là Thiếu úy Võ Văn Phương, một thuộc cấp cũ của tôi ở Phòng 2.

Trong lúc Thiếu tá Khoa lo đạp mấy thùng súng M72 và đạn M16 xuống đất thì Thiếu úy Phương lo đỡ mấy Biệt Ðộng Quân bị thương nhẹ lên tàu. Thấy tôi, ông Phương giơ tay chào. Tôi leo lên càng trực thăng, đưa cho Thiếu úy Phương cái ba lô tài liệu rồi hét lớn,

– Nộp cái ba lô này cho Phòng 2 quân đoàn!

Thiếu úy Phương chụp cái ba lô ôm vào lòng, rồi nắm tay tôi, ân cần,

– Ông thầy ơi! Nhớ cẩn thận nghe ông thầy!

Chỉ ít lâu sau ngày cái ba lô được giao cho quân đoàn thì bài thơ của Lưu Sỹ Hồng đã xuất hiện trên những tờ truyền đơn kêu gọi cán binh Cộng-Sản ra chiêu hồi. Cũng nhờ những tờ truyền đơn này mà mấy chục năm sau tôi còn nhớ từng chữ, từng câu trong bài thơ tình của người cán binh trẻ tên là Lưu Sỹ Hồng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Công tác tải thương vừa bắt đầu đã nghe “Choác! Choác!” tiếng 12.7 ly và tiếng cành cây gãy răng rắc. Chiếc trực thăng vội vàng cất mình phóng thẳng xuống thung lũng hướng Ðông rồi biến trong màn mưa. Tôi đành cho lệnh khiêng các thương binh nặng đang nằm trên cáng về lại hầm thuyết trình.

7 giờ 30, pháo tầm xa 122ly và 105ly của địch từ vùng Tây Nam lại dồn dập bắn tới tấp trên 711. Ðợt pháo kích này kéo dài đúng nửa giờ thì chấm dứt. Rồi tình hình bỗng trở lại yên ắng một cách lạ kỳ. Chờ mười phút sau không thấy động tĩnh của địch, tôi nghi ngờ rằng chúng đang chuyển quân. Tôi ra lệnh cho Trung úy Danh gọi Pháo Binh từ Ngã Ba Mỹ-Thạch đánh hai hàng rào cản, cách 711 đúng 200 mét về hướng Nam và 200 mét chính Tây để ngăn địch. Năm phút sau khi đơn xin pháo binh gửi đi thì một chuyện bất ngờ đã xảy ra! Ðó là, thay vì đạn pháo bạn bắn từ Mỹ-Thạch phải rơi ngoài hàng rào thì chúng lại rơi ngay trên đầu Căn Cứ 711. Tôi tưởng đây là tai nạn tản đạn, nên cho ngừng pháo binh, rồi gửi tọa độ điều chỉnh lại. Nhưng! Ô hô! những quả đại bác kế tiếp vẫn rơi trên đầu quân ta!

Tức quá, tôi hét lên trong điện thoại,

– Ê! Danh! Mày là nội tuyến phải không? Sao mày cứ bắn lên đầu quân mình vậy?

Lúc đó Trung úy Danh cũng quýnh lên,

– Trình Thiếu tá! Em cũng không biết vì sao tụi nó lại bắn không đúng tọa độ mình xin. Ðể em hỏi lại.

Không lâu sau, Danh rối rít,

– Thái Sơn ơi! Nội tuyến! Pháo Binh ngoài Mỹ-Thạch có nội tuyến! Chúng nó sửa tọa độ xin yểm trợ của mình nên xảy ra chuyện vừa rồi. Mấy thằng nội tuyến đã bị bắt rồi!

8 giờ 30 đứng trên tường đất của Plei Ngol Ho, tôi thấy Ðồn 711 tiếp tục hứng đạn 122ly và AT3, cứ phừng lên từng chập như chớp giật, chói lòa không khác gì một chảo lửa. Tôi ra lệnh cho Ðại úy Xá rút tất cả những chiến xa còn lại chạy về Plei Ngol Ho càng nhanh càng tốt. Lệnh ban ra được vài phút thì bốn chiếc M113 nối đuôi nhau chui khỏi màn khói.

Ðoàn xe chạy được một đoạn trên Tỉnh Lộ 6C thì bị một bức tường lửa B40 hạ gục. Cùng lúc đó, là tiếng hô “Xung phong!” vang trời của hàng trăm tên địch đang dàn hàng ngang ào ào tiến lên từ triền dốc hướng Tây.

Những người lính thoát ra từ bốn chiếc M113 vội vàng nhào xuống núp dưới cái thông thủy bên cạnh Tỉnh Lộ 6C. Ngay lập tức, tất cả M113 của Ðại úy Xá trên Plei Ngol Ho được lệnh quay súng về bên phải để tưới đạn lên đoàn quân Việt-Cộng vừa xuất hiện. Ðơn vị địch mới tràn sang từ hướng Tây là Tiểu Ðoàn K1 của E48 Cộng-Sản. Tiểu Ðoàn K1 là một trong chín tiểu đoàn chủ công của trận đánh này nhưng đã tới trễ vì gặp trở ngại khi vượt sông Ia Meur. Ðịa thế vùng Bắc của Ðồn 711 hoàn toàn bằng phẳng và trống trải, do đó đối mặt với M113 thì K1 phải tháo chạy.

Ngày di chuyển từ Pleime ra đây, tôi chỉ đem theo một khẩu cối 4.2 và 300 viên đạn. Cối 4.2 tức là cối 106ly. Khẩu 4.2 này do Mỹ để lại, nằm ngoài bảng cấp số, do đó chỉ có những thùng đạn tồn trữ trong Pleime, bao giờ Pleime không còn loại đạn này thì khẩu súng cũng coi như đồ bỏ. Từ khuya hôm nay, một nửa số đạn đem theo đã được tôi sử dụng đánh trên trục tiến của địch vùng 1 cây số Nam của đồi Tử Chiến.

Giờ đây tôi bắt buộc phải dùng khẩu cối này để bắn bao trùm một vành cung hướng Tây của 711 thì chắc chắn không lâu sẽ chẳng còn viên đạn nào! Lúc này bên ngoài tường đất hướng Tây của 711 xuất hiện từng chùm lửa đỏ loé lên với những cụm khói đen bốc cao cùng tiếng “Oành! Oành!” liên tiếp nhau. Như vậy là Công-Binh Việt-Cộng bắt đầu dùng bangalore để phá rào!

Tôi gọi Trung úy Thọ và ra lệnh,

– Chúng nó đang phá rào! Chú cho anh em dùng lựu đạn tối đa để chận không cho chúng nó xung phong.

Lựu đạn nổ đùng đùng trên bờ Tây 711 một hồi thì không thấy bộc phá nữa. Lại một đợt pháo 105 ly và 122 ly kéo dài mười phút. Thêm hai chiếc M113 thoát chạy ra cổng, rồi bị B 40 bắn cháy ngay trước cổng. Hình như có ba bốn anh lính kỵ binh phóng ra khỏi xe chạy nhanh sang Plei Ngol Ho. Như vậy tính tới giờ này ta đã thiệt mất 12 chiếc M113.

Ðại úy Xá báo cáo với tôi,

– Hiện thời tui chỉ còn 6 chiếc M113, mà cũng sắp hết đạn rồi. Thái Sơn tính sao?

Tôi trả lời không suy nghĩ,

– Chờ đi! Chút nữa tôi sẽ gọi máy bay tới đạp đạn xuống cho anh!

Pháo chấm dứt, Công-Binh Việt-Cộng lại bắt đầu dùng bangalore phá hàng rào hướng Nam, nơi có hai ụ pháo binh cũ. Khói bộc phá vừa tan thì địch quân đã ào qua tường đất cùng với tiếng AK “Cành! Cành!’ nổ giòn. Ngoài rào còn có tiếng thúc quân oang oang, “Xung phong! Xung phong!” của địch phát đi từ một chiếc loa cầm tay.

Cùng lúc, là tiếng Trung úy Thọ la thất thanh trong máy,

– Tụi nó đã chiếm mất nửa phần Nam căn cứ! Em đánh dấu khói vàng, Thái Sơn cứ cho pháo binh bắn từ đó về Nam cho em!

Trên Ðồn 711, bóng người chạy xuống, chạy lên thoăn thoắt ẩn hiện trong màn khói. Sau khi chỉ cho Trung úy Danh mục tiêu cần trực xạ, tôi chạy sang khu thiết giáp, ra lệnh cho Ðại úy Xá bắn tập trung vào đoạn Tỉnh Lộ 6C tiếp giáp với bờ Nam của 711, rồi gọi cho Thọ:

– Chú cho anh em từ từ rút ra đường rồi chạy thẳng sang khu thiết giáp, anh đã ra lệnh cho M113 bắn cản đường cho chú chạy!

Năm phút sau có tiếng Thọ vừa thở hổn hển vừa thều thào,

– Em bị gãy chân rồi Thái Sơn ơi!

Tôi ra khỏi hầm truyền tin cho lệnh Chuẩn úy Trâm,

– Chú đem toàn bộ Trung Ðội Trinh Sát đi cứu thằng Thọ! Mau lên!

Tôi đã nhìn rõ các hướng tiến của địch, nếu có thêm quân, thì tôi dư sức đánh bọc trái hay bọc phải để giải tỏa áp lực của chúng. Khổ nỗi, hiện thời, trong tay tôi chỉ còn Ðại Ðội 3 cùng 6 chiếc M113 thiếu đạn, hai khẩu 155 ly cũng chỉ còn vài chục viên, nếu sau khi thanh toán xong Ðồn 711 mà Việt Cộng thừa thắng tràn sang Plei Ngol Ho, chắc chắn tôi sẽ nguy to.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 22 June, 2023

Post by Sơn râu 31 Aug 2023

Kỳ 8

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Ngày 7 tháng 4 năm 1974:

Sáng ngày 7 tháng 4 năm 1974 một hợp đoàn trực thăng đáp xuống Pleime để di chuyển hai Ðại đội 2 và 3 cùng bộ chỉ huy hành quân của tôi ra Căn Cứ Hỏa Lực 711. Tôi nhận cái căn cứ này từ một đại đội của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân bàn giao. Vì nhu cầu chiến thuật, Căn Cứ Hỏa Lực 711 ra đời vào cuối năm 1973. Ðây chỉ là một tiền đồn dã chiến được dựng lên trên miếng đất hình chữ nhật với diện tích chừng nửa mẫu tây. Cứ điểm này nằm sát lề Tây của Liên Tỉnh Lộ 6C  trên ngọn đồi tương đối bằng phẳng có cao độ 600 mét. Cứ Ðiểm 711 có bờ đất bao quanh cùng một hệ thống giao thông hào và bốn cái lô cốt ở bốn góc. Trên nóc mỗi lô cốt đều có một chòi gác lợp tranh. Ra vào chỉ có một cái cổng chính hướng Ðông sát với tỉnh lộ. Bên trái cổng là điếm canh, bên phải cổng là phòng khách cũng là phòng thuyết trình của căn cứ.

– Ngày 8 tháng 4 năm 1974:

Trưa 8 tháng 4 năm 1974 Trung tá Huỳnh Văn Lộc, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân đáp xuống Ðồn 711 thăm tôi và chuyển quyền giám sát hành quân Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân cho tôi, thay vì dưới quyền Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân. Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân hiện thời trú quân trong quận lỵ Thanh-An và chốt giữ Ðèo Thanh-Bình nên liên lạc với Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân rất khó khăn vì Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân lại đồn trú trong Quận Phú-Nhơn. Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân là Thiếu tá Nguyễn Hoàng.

Năm 1965 khi tôi còn là một Sinh Viên Sĩ Quan khóa 20 Ðà-Lạt thì ông Nguyễn Hoàng là thầy tôi. Ngày đó ông Hoàng là Trung úy sĩ quan cán bộ Ðại đội phó Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị. Sau khi đại đội giữ Ðồn 711 rút đi thì Tiểu Ðoàn 205 chỉ còn một đại đội đóng quân trên Tỉnh Lộ 6 C cách Ngã Ba Mỹ Thạch chừng năm cây số. Tôi giao cho thành phần còn lại của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân giữ vai trò trừ bị.

– Ngày 9 tháng 4 năm 1974: Sáng 9 tháng 4 năm 1974 tôi nhận được một xe ủi đất với một sĩ quan và hai binh sĩ Công Binh tăng phái từ Sư Ðoàn 22 Bộ Binh cùng lúc với sơ đồ thiết lập một căn cứ hỏa lực mới nằm trong làng Plei Ngol Ho bên lề Ðông của tỉnh lộ và cách 711 một cái thông thủy.

Nửa giờ sau tôi tiếp nhận đoàn xe của Trung úy Danh, một Pháo đội trưởng của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh kéo theo 2 đại bác 155 ly vào tăng cường. Vì Trung úy Danh đóng chung vị trí với tôi, mà tôi lại không có tiền sát viên, nên anh Danh kiêm luôn vai trò sĩ quan hỏa yểm cho đơn vị tôi. Cũng từ hôm đó, tôi phân nhiệm cho Ðại Ðội 2 phòng thủ Ðồn 711 đồng thời duy trì một tiền đồn trên Ðồi Tử Chiến, cách 711 chừng 2 cây số về hướng Nam. Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 cùng Ðại Ðội 3 và Trung Ðội Trinh Sát 82 đóng chung với Pháo Binh và Công Binh trong Plei Ngol Ho. Công tác xây dựng Căn Cứ Plei Ngon Ho tiến hành không được suôn sẻ, vì sau khi hoàn thành hai cái ụ pháo binh thì chiếc xe ủi đất cứ bị chết máy hoài.

– Ngày 10 tháng 4 năm 1974:

Sáng ngày 10 tháng 4 tôi nghe báo cáo, toán tuần tiễu an ninh hướng Nam 711 vướng lựu đạn gài, một quân nhân bị thương. Ông sĩ quan trợ y tới trình diện tôi:

– Trình Thiếu tá, thằng lính bị thương không cho tôi băng bó, nó cứ đòi gặp Thiếu tá!

Nghe vậy, tôi liền đi theo ông trợ y ra ngoài Tỉnh Lộ 6 C nơi có năm, sáu người đứng vây quanh một cái cáng cứu thương và đang tranh nhau bàn tán xôn xao. Ðám đông tản ra cho tôi bước tới. Anh sĩ quan trợ y phân bua:

– Con cu của nó bị mảnh lựu đạn cắt đứt một khúc, nó cứ nằng nặc bắt em phải nối con cu cho nó thì nó mới cho em chùi rửa vết thương.

Vừa thấy mặt tôi, anh thương binh đã lớn tiếng la,

– Thiếu tá ơi! Thiếu tá cứu em!

– Gì thế?

Hai tay ôm khư khư một vật trước ngực, anh lính người sắc tộc Ja Rai nhìn tôi, khẩn khoản,

– Con cu của em bị đứt! Thiếu tá làm ơn nối nó lại cho em! Nếu không em chết đó!

Tôi móc túi rút bao thuốc lá Lucky ra, lột cái vỏ bằng giấy bóng bao ngoài, rồi ngồi xuống bên cạnh anh lính, từ tốn nói,

– Em mở bàn tay ra, bỏ đầu con cu vào đây, Thiếu tá sẽ viết thư cho bác sĩ nối nó lại cho em!

Tới lúc này anh chàng mới xòe bàn tay cho tôi coi, trong lòng tay anh ta là một cục thịt màu đen dài chừng bốn hay năm phân.

Anh lính Thượng run run bỏ cục thịt vào cái bao thuốc lá rồi lại khư khư ôm chặt nó.

Tôi lấy quyển sổ nhật ký của Ban Quân Y trên tay anh trợ y, xé ra một tờ, rồi ghi vội vàng một lời nhắn:

“Kính gửi Bác sĩ Trung, Bác sĩ Thiết, Bác sĩ Anh hoặc bất cứ bác sĩ nào nhận được thư này.

Tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, xin giới thiệu với bác sĩ.

Ðây là một người anh hùng đang hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương.

Xin bác sĩ hãy đặt mình vào tình trạng của anh lính này mà ra tay cứu giúp anh ta.

Xin cám ơn quý vị.

Thiếu tá Vương Mộng Long”

Sẵn có chiếc xe Doge 4×4 của đơn vị, tôi ra lệnh cho Thiếu úy Trần Văn Phước áp tải anh thương binh về bệnh viện. Phước cũng được lệnh phải trao tận tay vị bác sĩ trực ngày hôm đó lá thư nhờ vả của tôi.

Hai tháng sau ngày đó, giữa tháng 6 năm 1974, anh thương binh người Thượng Ja Rai có tên Nay On được xuất viện trở về. Trình diện tôi, On hớn hở khoe:

– Nhờ ông Thiếu tá giới thiệu với ông bác sĩ, ông bác sĩ đã khâu vá con cu cho em. Em không bị con vợ nó bỏ. Nếu em mà mất con cu thì vợ em bỏ em, em sẽ bắn vào đầu em chết ngay đó! Xuất viện, em được lệnh thuyên chuyển về tiểu khu, gác dinh tỉnh trưởng, nhưng em nhớ ơn ông Thiếu tá, em xin về lại tiểu đoàn mình! Em thương ông Thiếu tá nhiều nhiều lắm!

Cuối tháng 7 năm 1974 Binh nhất Nay On đã tử trận ngay ngày đầu chiến dịch vây hãm Pleime mở màn.

– Ngày 12 tháng 4 năm 1974:

Trưa 12 tháng 4 năm 1974 có hai chiếc xe GMC chạy tới Cứ Ðiểm 711; một xe chở thực phẩm tiếp tế cho đơn vị do Thiếu úy Nghị chỉ huy; xe thứ nhì do Thiếu úy Việt chỉ huy. Thiếu úy Phạm Ðại Việt vừa khỏi bịnh sốt rét xuất viện trở về đơn vị. Cùng đi trên chuyến xe của Thiếu úy Việt còn có 5 ông Thiếu úy Ðà-Lạt, 5 ông Chuẩn úy Ðồng-Ðế và 1 ông Chuẩn úy Thủ-Ðức tới Tiểu Ðoàn 82 để thực tập quan sát sau khi mãn khóa Rừng Núi Sình Lầy.

Vì căn cứ hỏa lực mới chưa có phòng hội, nên tôi tập họp 11 sĩ quan thực tập trong phòng thuyết trình của Ðồn 711 để phác họa cho các tân sĩ quan biết tình hình địch hiện nay đồng thời chỉ dẫn cho họ những việc cần làm trong thời gian ở đây.

Trong lúc tôi đang thao thao trên bục, trước tấm bảng đen thì đạn đại bác 105 ly của địch bất ngờ theo nhau nổ “Ùm! Ùm! Ùm!” trên căn cứ. Kẻng báo động gióng lên “Canh! Canh!” Cùng với tiếng binh sĩ kêu gọi nhau: “Xuống hố! Sẵn sàng chiến đấu!”

Trong hầm thuyết trình, tôi vẫn bình tĩnh đứng trên bục gỗ. Trong khi đó 10 ông tân sĩ quan đã nhanh nhẹn nằm rạp xuống nền đất tránh đạn, chỉ còn duy nhất trên hàng ghế đầu, một chuẩn úy mặt còn rất trẻ đang ngồi ngây người, giương to đôi mắt nhìn tôi.

Trong màn khói bụi, tôi lớn tiếng trấn an những sĩ quan đàn em,

– Bình tĩnh! Hầm này có hai lớp bao cát, xung quanh cũng có tường bao cát. Mảnh đạn pháo binh sẽ bay lên theo hình nón ngửa, không xuyên qua tường được đâu! Ðứng dậy! Ngồi lên ghế! Ðừng sợ!

Ðợt tấn công bằng pháo 105 ly của Việt Cộng chỉ kéo dài chừng năm phút, với tổng số khoảng trên, dưới 30 viên chạm nổ rơi ngay trên sân Tiền Ðồn 711.

Ðợi cho các tân sĩ quan đã yên vị, tôi mới từ tốn nói,

– Ðây là một kỷ niệm và cũng là kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc đời chinh chiến sau này của các chú.

Tôi cúi xuống vỗ vai anh chuẩn úy ngồi hàng ghế đầu, rồi đọc được cái bảng tên “LONG” của anh ta, nên buột miệng

– Chú tên là Long! Vậy chú mang họ gì?

– Trình Thiếu tá em là Hồ Văn Long, sĩ quan Thủ-Ðức.

– Anh khen ngợi chú đấy! Sau khi thực tập, nếu chú muốn về 82, anh sẽ nhận chú ngay!

Một thiếu úy Ðà-Lạt mang bảng tên là Tuân hay Tuấn rụt rè đứng lên thắc mắc,

– Em có thắc mắc là tại sao niên trưởng không phản pháo?

Tôi gật đầu cười,

– Một câu hỏi rất hay! Anh không cho phản pháo vì anh biết chắc chắn rằng, chỉ một phút sau khi bắn, địch sẽ kéo súng sang vị trí khác. Ta không nắm chắc tọa độ súng địch ở đâu, thì có phản pháo cũng chỉ bắn cầu âu, chỉ phí đạn mà thôi!

Ðợt đột kích bằng pháo binh của địch không làm ai bị thương. Tôi không ngờ đợt pháo kích vừa rồi, cũng như những đợt pháo kích nhắm vào Ðịa Phương Quân trước đây, là nhằm điều chỉnh yếu tố tác xạ cho trận đánh sau này của địch. Hết báo động, sinh hoạt trên Căn Cứ 711 trở lại bình thường.Tôi giao cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt chỉ huy 11 ông sĩ quan thực tập. Nhóm sĩ quan này tạm thời tá túc với đại đội chỉ huy của tiểu đoàn.

Chiều 12 tháng 4 năm 1974 một trực thăng đáp xuống 711, Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa, Trưởng Phòng 3 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 trao cho tôi một công điện mang tay, thông báo cho tôi biết rằng, từ trưa 13 tháng 4 năm 1974 Chi đoàn 3/19 Thiết Vận Xa sẽ tới tăng phái cho tôi. Kế đó, anh Khoa cũng đưa cho tôi một phóng đồ hành quân, ra lệnh cho tôi phải cấp tốc tổ chức một cuộc hành quân chớp nhoáng nhằm tảo thanh vùng rừng thưa cách Plei Xôm 4 cây số về hướng Tây. Cuộc hành quân này sẽ đi, về trong ngày, lực lượng tham dự là Chi Ðoàn 3/19 Thiết Quân Vận cùng một đại đội Biệt Ðộng Quân tùng thiết.

Trong thời gian chờ trực thăng quay trở lại, Thiếu tá Khoa nói nhỏ với tôi,

– Quân đoàn có tin A2 cho biết Việt-Cộng sắp đánh Long đó! Long nhớ cẩn thận!

Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa, khóa 19 Võ Bị là bạn thân của tôi. Anh Khoa vừa đảm nhận chức vụ Trưởng Phòng 3 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 được vài ngày.

– Ngày 13 tháng 4 năm 1974:

Sáng 13 tháng 4 năm 1974 Chi Ðoàn 3/19 từ Pleiku tới 711. Ðơn vị này có 18 Thiết Quân Vận M113 do Ðại úy Nguyễn Xá, Chi đoàn trưởng chỉ huy. Vì Căn Cứ Plei Ngol Ho đang trong thời gian xây dựng, xe cộ phải đậu lộ thiên, do đó Ðại úy Xá đề nghị với tôi để Chi Ðội Chỉ Huy gồm 6 chiếc M113 trên Plei Ngol Ho, số còn lại sẽ trú quân trong Ðồn 711 vì nơi đây có tường đất cao bao quanh và hầm hào đã thiết trí sẵn.Như vậy, chiều 13 tháng 4 năm 1974 trong khu vực hành quân lực lượng bạn gồm có:

Tại 711 có mặt Ðại Ðội 2/82 và 12 Thiết Vận Xa. Trên Ðồi Tử Chiến có một tiểu đội. Tại Plei Ngol Ho có Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 82, Ðại Ðội 3/82, Trung Ðội Trinh Sát 82, hai khẩu pháo 155 ly, một xe ủi đất và 6 Thiết Vận Xa M113 trong đó có chiếc xe chỉ huy của Ðại úy Nguyễn Xá. Chiều 13 tháng 4 tôi vừa ngả lưng trên chiếc võng dưới vòm bụi tre gai thì bỗng đâu, có một con chim cu còn đỏ hỏn rơi “độp!” trên ngực tôi. Tôi lượm con chim non lên rồi thả nó vào bụi tre sau võng. Con chim non cứ run rẩy, ngoác mỏ liên tục “Chim chíp! Chim chíp!” kêu thương. Con chim đã khuất dạng trong cỏ rồi, tai tôi vẫn còn nghe tiếng “Chim chíp!” não lòng. Vài phút sau, tôi ngồi dậy tính đi một vòng kiểm soát vị trí đóng quân thì nghe sột soạt trên lá tre khô dưới chân. Rồi một con rắn đen to bằng cổ tay, dài cả thước cứ từ từ uốn mình trườn qua lưng hai chân giầy của tôi. Nhìn cái lưỡi rắn thè ra, quét qua quét lại hai bên mép nó mà tôi cảm thấy tóc gáy mình dựng ngược. Cái đầu rắn ngóc cao cả gang tay, cứ ngất nga, ngất nghểu, tôi không biết lúc nào nó sẽ mổ xuống ngay đầu gối của mình.

Tôi nín thở, ngồi im. Cả phút sau con rắn mới trườn qua chân tôi rồi biến vào bụi rậm. Tôi không tin vào những chuyện dị đoan mộng mị, nhưng chuyện vừa xảy ra cũng làm tôi suy nghĩ vì tôi thường nghe nói rằng thấy nhạn lạc, xà qui là điềm xấu, sắp gặp điều không may. Theo như các cụ ngày xưa, thì chỉ nhìn thấy chim sa, rắn lượn đã sợ rồi, vậy mà chiều nay tôi đã bị chim rơi ngay trên ngực, rắn bò ngang qua chân, nên cũng thấy lo. Tôi lo ngày mai Chi Ðoàn 319 và Ðại Ðội 282 vào vùng địch có thể gặp chuyện chẳng lành.

Ði ngang ụ pháo binh, tôi thấy mấy anh xạ thủ đang xúm vào nhau rầm rì chuyện gì đó. Tôi tới gần thì họ nhìn tôi một cách lấm lét rồi tản đi. Mãi sau này tôi mới nghe báo cáo rằng hôm đó, mấy anh lính pháo binh xuống suối múc nước đã phát giác ra một đường dây điện thoại mới căng dưới chân đồi, nhưng họ không báo cáo vì sợ phải dẫn đường cho lính Biệt Ðộng Quân đi kiểm chứng. Ði kiểm chứng mà gặp Việt-Cộng thì sẽ phải bắn nhau. Họ sợ phải bắn nhau nên không báo cáo cho tôi hay Việt-Cộng đã có mặt ở đây rồi. Nếu tôi biết được tin tức này thì tình hình trận đánh ngày hôm sau đã diễn ra khác đi nhiều. Tôi đã biết, địch thường mở các cuộc tấn công rạng đông vào khoảng 5 giờ sáng, nên hàng ngày, đúng 4 giờ tôi đã cho anh em thức dậy ngồi sẵn dưới giao thông hào chờ. Nào ngờ địch đã ra tay sớm hơn thời điểm mà tôi đã trù liệu.

– Ngày 14 tháng 4 năm 1974:

Ba giờ sáng 14 tháng 4 năm 1974 tiền đồn Ðồi Tử Chiến báo cáo rằng có tiếng động cơ xe di chuyển trong vùng hướng Nam. 3 giờ 30 từ hai hướng Tây và Nam, đại bác 105 ly, đại bác 122 ly nòng dài và hỏa tiễn AT3 của địch rơi như mưa trên 711. Không ai có thể đếm được số đạn đã được địch bắn đi, tiếng nổ chen nhau, hòa vào nhau chứ không nối tiếp nhau. Chỉ có chớp nhóa, khói, bụi tung lên, cùng tiếng “Ùng! Oành! Ùng! Oành!”

Ðợt pháo kích đầu tiên kéo dài chừng hai mươi phút. Im tiếng pháo, Ðại úy Xá báo cho tôi biết có 2 chiến xa M 113 bị cháy. Trung úy Thọ cũng cho tôi hay, y tá của Thọ chỉ cứu được một sĩ quan thiết giáp sống sót nhưng bị phỏng nặng, những người khác đều đã chết theo xe. Ông Chuẩn úy kỵ binh này tên là Nguyễn Tá đã được khiêng sang chỗ tôi để quân y băng bó. Trung úy Nguyễn Công Minh, sĩ quan Truyền Tin 82 động lòng trắc ẩn, mồi một điếu thuốc lá đầu lọc đặt lên môi anh thương binh,

– Bồ hút điếu thuốc cho quên đau!

Anh sĩ quan thiết giáp mấp máy môi,

– Em cám ơn huynh trưởng!

Hình như ông Minh và ông Tá có quen nhau?

Đêm Trăng Bên Bờ Biển Ngà

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Tôi quen với chị Lan ngay lần đầu tôi đặt chưn tới San Pedro bên Bờ Biển Ngà. Chị lấy chồng người Ivory Coast, đẻ con da đen thui, tóc lăn quăn. Chị làm chủ một nhà hàng trong phố San Pedro và ở ngoại ô thành phố chị cũng có một căn nhà tường rộng lớn nằm nép trước một vườn cây ăn trái.  Hơn hai năm qua,  mỗi chuyến trở lại San Pedro, có thời giờ rảnh thì thế nào tôi cũng ghé thăm chị. Chuyến trước, nhằm ngày chủ nhựt, tôi rủ Jimmy ghé nhà hàng chị ăn chả giò uống bia lạnh. Trưa lại chị chở chúng tôi ra thăm vườn cây của chị. Chị trồng dừa, chuối, đu đủ, mít, xoài, ổi và nhiều loại rau thơm quen thuộc ở quê nhà. Jimmy thấy cây ổi sai trái, nó khoái tỉ nhờ  tôi hỏi chị cho nó xin một mớ. Chị kêu tôi nói lại, nếu nó muốn bất cứ thứ cây, trái nào trong vườn thì cứ tự nhiên. Được phép, Jimmy liền trèo lên cây ổi lựa hái trái chín, sau khi hái ổi bỏ một đống đưới gốc cây, nhìn thấy đám rau muống dưới mương nó liền săn quần lội xuống ngắt đọt non. Trong lúc Jimmy loay hoay ngắt rau tôi với chị đi dạo quanh vườn. Hai chị em nói chuyện quê hương đất nước một hồi, rồi tự dưng chị hỏi tôi:
– Em có người yêu chưa? 
– Chưa chị.  
– Chị hỏi thiệt, em muốn có bạn gái hông? Không cần suy nghĩ, tôi trả lời ngay:
– Có người bầu bạn cũng vui chớ chị.
– Chi giới thiệu em chị cho.
– Em gái chị thì còn gì bằng. 
– Không, chị hổng có anh, chị, em và cha, mẹ gì trên thế gian nầy hết, cô ấy là em chồng chị. Thiệt tình mà nói, mấy cô gái ở Phi Châu tôi không phân biệt được đẹp hay xấu, cô nào cô nấy tôi thấy cũng đen thui như nhau. Không phải vì kỳ thị đâu, nhưng không hiểu sao mỗi lần nhìn thấy các cô gái da đen, lòng tôi cảm thấy thê lương như đương đứng trước một khu rừng tràm mới vừa bị cháy… Nhưng lỡ buông lời như lao phóng, tôi đành phải theo:
– Cô ta giờ ở đâu?
– Ở với chị, nhưng nó đi Abidjan rồi, chuyến tới em ghé, chị cho nó đi chơi với em.
– Sao chị chắc là cô ấy chịu đi chơi với em.
– Nó nghe lời chị lắm.
– Nhưng em hổng biết nói tiếng Tây thì làm sao hiểu nhau được.
– Hồi chị gặp chồng chị, chị cũng đâu biết tiếng Tây. Có lẽ chị đọc được ý nghĩ của tôi, chị nói:
– Em đừng lo, cô ấy trông được lắm, chị bảo đảm, em thấy mặt là ưng liền.   Jimmy tước dây chuối khô bó rau muống thành hai bó và xé lá chuối gói mớ ổi rồi cột lại giống như cái bánh ú, nó xách tòn teng trông rất gọn gàng. Khỏi cần điều tra lý lịch, trông bộ dạng của nó cũng đủ biết bên In Đô nó là Hai Lúa chánh hiệu. Jimmy đi chưa tới chúng tôi thì đã cất tiếng hô to:
– Tấn, đã tới giờ xuống tàu rồi. Tôi nhìn đồng hồ tay, day ngang nói với chị:
– Em phải xuống tàu rồi. Chúng tôi định đón tắc xi, nhưng chị tình nguyện chở hai đứa xuống bến cảng. Trên xe chị căn dặn tôi chuyến sau thế nào cũng phải lên nhà. Chị làm như chắc chắn lắm, vẽ ngay kế hoạch tương lai. Đại khái, chị khuyên tôi cố gắng làm việc và tiêu xài ít lại để dành tiền cưới vợ, khi nào muốn lên bờ thì qua đây làm nhà hàng với chị… Tới bến bỏ hai đứa tôi xuống chị day qua căn dặn thêm: – Có bạn gái rồi thì đừng la cà bậy bạ nữa, mấy con nhỏ bán bar ở đây dơ dáy lắm, em sớ rớ có ngày bịnh chết.       * Chiều trong vắt, biển mênh mông, trời nước xanh ngát một màu, nước tiếp liền bờ, bờ tiếp liền núi, núi cản đường mây và mặt trời treo lơ lửng tỏa ánh vàng nóng hực. Tôi với Jono ngồi sau lái uống bia. Tôi kể cho Jono nghe chuyện chị Lan muốn giới thiệu em chồng chị cho tôi, thật ra nếu là em gái của chị thì tôi  không kể cho ai nghe hết và khi tàu ghé bến tôi sẽ đi mình ên lên nhà chị. Tuy tôi có hơi nôn nao cho buổi gặp mặt nhưng trong lòng không chắc chắn lắm, tôi biết mình không có can đảm nói những lời gây thất vọng cho người khác. Jono thì dễ dãi trắng, đen, già, trẻ gì anh cũng làm láng, vì vậy nên tôi mới rủ anh theo. Nếu thấy không được thì tôi cáp anh qua cô ả, như vậy cô gái khỏi bẽ bàng và Jono cũng được việc còn tôi thì nhẹ lòng. Nghe tôi mời anh đêm nay lên chị Lan, anh nắm tay kẹp ngón cái vô ngón trỏ và ngón giữa làm dấu tục, rồi đưa ra trước mặt tôi gặt gặt: – Ô kê, nhưng tao phải ghé thăm các em trong bar trước. Tôi thấy phần đông dân da nâu và đen tình dục của họ rất mạnh. Jono có thể làm tình suốt đêm, bắt được em út anh lập tức dắt đi tìm bất cứ chỗ nào, nằm được thì nằm, không thì đứng hoặc ngồi, kiểu nào anh cũng làm được. Hôm bên vườn chuối ở Boma, trong một đêm anh thoả mãn một lượt hai cô gái, sáng ra anh than với tôi rằng đã hết sạch năng lượng. Thường chạy tuyến Phi Châu, để đề phòng chuyện trộm cắp và những người trốn theo tàu, thuyền trưởng cấm người lạ mặt và mấy cô, mấy bà lên tàu. Vì vậy mấy cô, mấy bà  muốn “làm ăn” thì phải cắp nách theo chiếc chiếu nhỏ hoặc ôm theo tấm cạt tông vừa đủ nằm, rồi ngồi sắp hàng suốt đêm trên kè đá ngay đầu cầu thang tàu, chờ anh thủy nào ló mặt ra boong tức thì các bà, các cô kêu réo mời mọc om xòm.  Hôm tàu ghé Abidjan, Jono trực đêm, không lên bờ được, giữa khuya hứng tình, anh rủ một cô vô kẹt container trải chiếu ra làm mấy phát… Vì hấp tấp không bận “áo mưa”, mấy ngày sau anh phát hiện “ súng” anh bị nghẹt nòng và đi tiểu ra “sữa”. Mặt mày anh nhăn nhó giống như mắc bịnh… tim la. Anh lên phòng thuyền trưởng kể rõ bịnh thình, thuyền mở tủ thuốc lấy đưa cho anh. Nhờ mấy liều thuốc trụ sinh nòng súng của anh mới được khai thông và anh đi tiểu lại bình thường. Đã bị như vậy mà còn chưa tởn, vừa nghe thông báo đêm nay anh không có ca trực, tức thì mặt mày anh tươi như hoa, đầu óc nghĩ ngay tới chuyện lên thăm các em trong quán bar ven biển.   Tàu ghé cảng khi mặt trời vừa sắp tắc. Jono và tôi tắm rửa, thay áo quần đẹp và mang giày đánh bóng, tức tốc lên bờ. Hơn một tháng trước, dọc hai bên đường hai hàng phượng xum xuê một màu đỏ thắm. Bây giờ trơ trụi, trên cành treo lủng lẳng những trái phượng già màu đen giống y như màu da của dân bản xứ. Tôi với Jono đi đưới hàng phượng trụi lá, khô nhành, xám xịt. Trong ánh chiều tà, vài người đàn bà và vài cô con gái tay bưng, đầu đội những chiếc thúng đi trên đường còn đọng nước mưa hướng về khu phố phía trước. Tôi hứng cảnh ngâm nga:   *“Giờ là mùa mưa nên phượng không sắc thắm Em có về ngồi dưới gốc cây xưa. Tiếc ngẩn ngơ cánh hoa mềm ngày nọ Rơi rơi nhiều trong thoáng gió đong đưa.”   Jono day ngang, hỏi:
– Mầy hát ?
– Hổng phải, tui ngâm thơ. Cùng lúc hai đứa tôi trờ tới một cây phượng sai trái, một trái phượng thòng xuống ngang đầu, tôi vói tay rứt trái phượng, cành phượng giòn quá kêu lên cái rắc, gẫy đổ bừa lên đầu, Jono chửi thề một cái, nhảy tránh sang một bên. Mình mẩy dính đầy bụi phượng, chúng tôi vừa phủi vừa cười. Tôi cúi xuống lượm trái phượng cong queo kẹp nách. Jono chỉ những trái suông, bóng, nói:
– Mấy trái kia đẹp hơn sao mầy không lấy?:
– Hoa đẹp thường có gai, trái tốt bề ngoài nhưng có thể sâu ăn ở bên trong. Jono chỉ tay vô cây phượng.
– In Đô gọi cây nầy là flamboyant, bông nó đỏ thắm, có nhạc sĩ sáng tác ca ngợi mùa bông flamboyant nở.
– Tiếng In Đô gọi flamboyant là gì?
– Flamboyant.
– In Đô không có tên riêng sao mà phải dùng tiếng Anh?
– Chắc có, nhưng tao hông biết.
– Cũng lạ, tiếng Việt gọi flamboyant là phượng vĩ, nó trổ bông vào những ngày sắp bãi trường. Nhà văn viết truyện, thi sĩ làm thơ, nhạc sĩ sáng tác, ca sĩ hát, học trò chép lưu bút cũng viết về mùa hoa phượng.
–  Ở In Đô cũng vậy, nhứt là ở Bali, tới mùa, bông flamboyant nhuộm đỏ một vùng.    Cà rịch cà tang một đỗi, chúng tôi đã ra tới dãy quán bar bờ biển. Dọc trên bãi cát trắng, những nhà sàn vách ván, mái lợp lá trầm, chưn sàn nhà cao khỏi ót, dựng nép bên vườn dừa. Quán day mặt ra biển như thể ngóng chờ những tàu buôn đến từ ngàn khơi. Các quán thi nhau mở nhạc rầm rĩ, tiếng đờn tiếng hát của quán bên nầy chen lẫn tiếng trống tiếng kèn quán bên kia hòa cùng sóng biển lào xào tạo thành một hợp âm kỳ quái.   Chúng tôi leo mấy bậc thang, lên một quán bar nằm dựa một con đồi thấp. Vừa vô tới cửa, tức thì hai cô gái nhào ra mừng rỡ như thể đón mừng người tình lâu ngày mới gặp. Mỗi cô ôm chầm một đứa hôn chùn chụt, tôi nghe hai bên gò má rin rít,  chắc chắn đã bị dán hai bệt son môi. Sau khi chào đón bằng những ngôn ngữ ngọt ngào, các cô mời chúng tôi ra ngồi ngoài hàng hiên, ngồi đây nhìn được trời xanh, mây trắng, hàng dừa nghiêng dọc theo bãi biển và những ngọn đồi  thấp. Trong khoảnh khắc, Jono chọn liền một cô, anh dân Ambon da cũng đen đen sắp sỉ như cô gái, thân hình đồ sộ, còn thân cô gái nhỏ thó, cô ngồi trọn lỏn trong lòng anh. Nhìn hai người tôi mơ hồ tới một hình ảnh hoang dã quen thuộc nào mà tôi đã thấy qua. Phần tôi thì một lát còn phải vô phố thăm chị Lan, nên không chọn cô nào hết. Tuy nhiên cô gái vẫn ngồi cạnh bên xin uống và nói chuyện chơi.    Tôi ngó mặt dọc theo bãi biển, mới đó mà trăng đã lên rồi,  xa xa vài đôi trai gái dắt dìu nhau dẫm chưn lên cát và bước đi bên viền sóng. Tôi khèo Jono, chỉ tay ra bãi cát, nơi có đôi trai gái đương ôm nhau hôn hít:
– Coi kìa, họ tình quá!
– Mầy là cái hậu môn, sống chẳng ra cái dương vật gì hết mà biết gì là tình với tứ. Anh ôm sát cô gái vào người và nói:
– Đây mới là tình.  Vừa nói anh vừa đưa tay vuốt vuốt mái tóc quăn sát da đầu của người con gái, cô ta cười mỉm, nép đầu vô ngực Jono nói “I love you”. Á, cái hình ảnh mơ hồ rất quen thuộc từ nãy bây giờ mới hiện rõ trong đầu tôi, trông hai người âu yếm nhau giống y như vượn mẹ bồng con. Dằn không được nữa, tôi cười một tràng. Mọi người không hiểu gì cũng há họng cười theo ha hả…    Uống hết hai chai bia, Jono đứng dậy dẫn cô gái bước xuống mấy bật cầu thang, chợt nhớ ra anh quay trở lại hỏi tôi còn condom không. Mỗi lần thuyền trưởng phát condoms, tôi cũng nhận một mớ bỏ túi cho ra vẻ dân chơi vậy thôi, chớ thật ra chưa bao giờ dùng tới, còn Jono thì lúc nào cũng thiếu. Tôi móc bóp mở ra xem, còn được hai cái, tôi đưa qua cho anh: – Nè, chỉ còn hai cái, nếu thấy không đủ mỗi cái xài hai, ba lần, nếu hổng cẩn thận súng bị nghẹt nòng nữa thì hết bắn. Anh cười, tôi cười và cô gái cũng cười hở hai hàm răng trắng nhách.    Còn lại tôi với cô gái. Tôi bưng chai bia lên cụng với cô gái và ngước cổ nốc cạn phần bia trong chai, để chai xuống tôi kêu cô gái lấy thêm hai chai bia khác. Cô  đứng lên đi vô trong một lát đem ra một chai bia để trước mặt tôi. Tôi hỏi, còn chai bia của cô đâu. Cô ngồi xuống bên tôi nói, cô không uống nữa và hỏi xin tiền chai nước mà tôi đãi cô. Nơi đây nói tiếng Pháp, cô gái thì bập bẹ vài ba tiếng Anh, trong lúc trao đổi tôi chỉ hiểu đại khái, nếu tôi muốn thì vô cái chòi lá lụp xụp trong vườn dừa ngủ với cô tới sáng rồi cho bao nhiêu cũng được. Cô vừa nói vừa thò tay rờ ngực tôi, tôi thấy như kiến bò khắp người, tôi đẩy tay cô ra, cô gái lại thò tay qua giữa hai đùi tôi mò mẫm, tôi nghe nhồn nhột cũng đẩy tay cô ra, cô gượng gạo cười. Không muốn bị rầy rà và cũng không muốn cô trơ trẽn, tôi rút chiếc đèn pin trong túi áo, chiếc đèn nầy tôi mua hôm tàu ghé Pháp. Hôm ấy Jono rủ tôi vô tiệm bán đồ điện, anh tìm mua chiếc đèn pin, theo kinh nghiệm của anh thì xuống vùng Phi Châu nhiều nơi không có điện, tối ngủ với gái không thấy đường, lúc đó rất cần đèn pin. Anh chọn cái đèn bằng ngón tay cái màu vàng, có kẹp dắt túi giống như cây viết, tôi cũng bắt chước mua một cây giống anh nhưng màu bạc. Mỗi lần xuống Phi Châu đổ bộ tôi dắt theo túi, đã mấy tháng có đèn, nhưng chưa có dịp dùng tới. Thấy răng cô gái trắng nhách, tôi kêu cô hả miệng ra, cô day ngang há họng thiệt lớn cho tôi rọi đèn pin vào…khám hai hàm răng. Trời cũng công bằng lắm, đã tạo ra dân da đen rồi bù cho họ hai hàm răng trắng như ngọc ngà và đều như hột bắp. Răng đẹp thật, nhưng chưa đủ hấp dẫn, tôi đẩy nhẹ cô gái cho ngồi ngay lại và đưa mắt ngó mông ra biển. Biển êm nhẹ, ngoài khơi vài chiếc tàu buôn pha đèn sáng rực một bên hông tàu, có lẽ họ đương dừng lại đón hoa tiêu. Cô gái ngồi bên khèo tôi chỉ tay về bãi cát trước mặt. Tôi ngó theo, thấy Jono cùng cô gái sánh vai nhau đi trên cát, đọc bên hàng dừa. Tôi quen Jono đã lâu nhưng chưa bao giờ thấy anh mất thời gian cho những chuyện lãng mạn nhẹ nhàng. Đêm nay anh mất thời giờ cùng cô gái đi dạo đưới trăng, cũng là chuyện lạ.   Tôi nhìn bóng hai người ngã dài trên cát, và sóng biển nhịp nhàng, chợt tôi nhớ về cô bạn nhà thơ và mới tin lời của cô rằng biển cũng biết thở. Nhưng tiếng nhạc lớn quá làm tôi tôi không nghe được hơi thở của biển. Tiếc quá, nếu bây giờ cô có mặt ở đây tôi sẽ dẫn cô ra ghềnh đá ngồi nghe nhịp đều hoà của biển, thế nào cô cũng làm được một vài bài thơ. Đương thả hồn về nơi thương nhớ, chợt cô gái khèo tôi chỉ tay trở lại bãi cát trước mặt:
– Coi kìa! chíc-ki, chíc-ki… Không biết ai đã tạo ra những loạt âm thanh rất ấn tượng như khi muốn ăn thì hô cháp-cháp… còn chíc-ki-chíc-ki… là giao hợp, loạt âm thanh nầy phát lên bất cứ người nước nào, dù ai đó chưa từng nghe qua cũng hiểu ý nghĩa của chúng. Tôi ngó theo tay cô gái bên cạnh, xa vừa tầm mắt bóng cô gái nằm ngã người dang chưn trên  thân cây dừa ngã nghiêng đọt hướng ra chiều biển, còn Jono đứng phía dưới câu hai chưn cô gái trong tư thế đẩy xe ba gác, mông anh lắc lắc, nhịp nhàng trong ánh trăng soi sáng… Một lát sau cả hai đứng lên nắm tay nhau chạy ùa xuống biển, hai người đã thật sự hoà mình cùng với trời, trăng, mây, nước… Trông cảnh đẹp lại hứng tình, tôi thò tay vô ngực cô gái, nắm núm vú nham nhám xe xe và kéo lớp da ngực giãn vô giãn ra giống như dây thung, chẳng cảm giác gì hết, sự hứng khởi như lửa rơm tắt ngấm. Tôi buông núm vú và rút tay ra rồi bưng bia hớp một hớp, lấy gói thuốc, rút một điếu châm hút, nhìn ra bãi tìm bóng của Jono và cô gái nhưng hai người biến đâu mất để lại bãi cát trống trơn. Khách vô quán mỗi lúc một đông, toàn là thủy thủ. Để cô gái ngồi bên cũng chẳng được gì, tôi móc tiền đưa cho cô gái, kêu cô trở vô trong tìm mối khác mà…mần ăn.    Cô gái đi rồi tôi mới nhớ tới cuộc hẹn với chị Lan, chợt thấy nôn nao trong dạ. Cái anh Jono nầy, đêm nay tự dưng bày đặt lãng mạng làm chi để mất hết thì giờ. Khát nước lắm nhưng đi những nơi thiếu nước rửa ly tách như vùng Phi Châu vô quán tôi không dám uống nước trong ly. Muốn kêu thêm chai bia nhưng sợ lát nữa gặp người con gái chưa biết mặt mà xỉn xỉn thì còn ra thể thống gì, đành ngồi hút thuốc chờ Jono vậy.   Năm mười phút tôi nhìn đồng hồ một lần rồi ngó vô quán và nhìn ra bãi biển… Cứ như vậy cho tới khi sốt ruột mới nghe tiếng Jono. Day lại, tôi giựt mình đánh độp, trố mắt khi thấy anh bận chiếc quần vải có miếng vá trên đầu gối và chiếc áo rách cũ kỹ trông anh giống hệt dân chài lưới, nếu anh đứng lẫn lộn trong đám người bản xứ thì tôi sẽ không phân biệt được anh là người In Đô, còn cô gái thì mặt lạnh như đồng đen đứng cạnh bên:
– Ê, chơi trò gì vậy cha?! Anh từ từ ngồi xuống mặt mày nhăn nhó như khỉ ăn gừng, cô gái vẫn khoanh tay đứng trước mặt chúng tôi chờ đợi. Jono cười đau khổ, thay câu trả lời, anh hỏi lại tôi:
– Mầy còn bao nhiêu tiền? Thường đổ bộ vùng Châu Phi ít khi tôi bỏ tiền nhiều trong túi, nhưng đêm nay vì có hẹn lên “coi mắt” cô em chồng chị Lan nên tôi bỏ túi thêm hai trăm đô và số tiền bản xứ mà hôm ở Abidjan đổi ra tôi xài chưa hết:
– Ba trăm đô và mớ tiền Francs.
– Cho tao mượn đi. Tôi ngạc nhiên và cảm giác như có chuyện gì không ổn:
– Anh hết tiền rồi sao? Anh cười chua chát tường thuật lại câu chuyện. Lúc anh và cô gái xuống biển rửa mình mẩy, tưởng không có ai nên quần, áo, giấy tờ, tiền bạc anh để lại gốc dừa, chưa đầy mười phút anh và cô gái trở lên, ai đó đã ôm hết áo quần, giấy tờ tiền bạc. Cô gái dẫn anh về nhà lấy bộ đồ cũ đưa cho anh bận và cho biết tên trộm đòi tiền chuộc giấy tờ. Tôi nhìn cô gái, gương mặt cô bây giờ không còn nét yêu, thương chiều chuộng Jono cách đây mấy giờ đồng hồ trước, mà là một sự đe doạ, nếu tôi không đưa tiền thì Jono không yên với cô ta đâu. Tôi móc số tiền đô ra đưa hết cho Jono, còn số tiền bản xứ tôi dành lại. Anh đếm tiền xongchìa ra, tức thì cô gái đưa tay chộp lấy rồi đi ra ngoài, hút chưa hết điếu thuốc, cô ta trở lại trả bóp giấy tờ  cho Jono. Xong, cô day lưng đi không một lời chào…    Nhìn theo dáng cô gái, không nín được cười:
– Thì ra yêu thương, mua bán, cướp giựt, trở mặt đi liền với nhau ha ha… Tôi day ngang nói với Jono:
– Xong rồi, nhậu chơi đi. Anh ngần ngại hỏi tôi: – Mầy hông lên thăm chị Lan của mầy sao? Tôi chỉ tay qua anh:
– Ha ha… áo quần anh tả tơi như tấm giã cào rách còn đi đâu được nữa. – Mầy đi mình ên.
Đi tới nhà đàn bà con gái mà hổng bận gì hết thì kỳ cục lắm. – Mầy nói cái gì? Tôi hất hàm:
– Nè, anh may mắn còn có tui ở đây cho anh mượn tiền chuộc lại giấy tờ, trả tiền quần áo và tiền anh chíc-ki… Bây giờ anh xúi tui đi mình ên ra phố, lỡ dọc đường bị lột hết áo quần thì ai đưa tiền cho tui chuộc lại đây.
– Mầy lúc nào cũng tiếu lâm được hết. Bây giờ mầy tính sao? Tôi vẫy tay kêu cô gái bưng thêm bia, đưa qua anh một chai, rồi móc hết số tiền Francs xoè như xoè quạt chìa trước mặt anh, cười cảm thông:
– Chuyện xui xẻo qua rồi, bây giờ mình tính hết cái nầy rồi về tàu ngủ. Jono cười to: – Ha ha… cái thằng coi chết nhát vậy mà có lý.    Tôi nhìn dọc theo bãi biển, lại xuất hiện vài đôi trai gái đi trên viền sóng. Không nghi ngờ nữa, đó là các anh thủy thủ và các cô gái da đen, đương tìm chỗ khuất, chỗ không có ánh trăng… Tôi đưa tầm mắt rà sát từng gốc cây dừa ngã nghiêng ra biển, nhưng không thấy đôi trai gái nào làm chuyện như Jono đã làm.   Trăng miền xích đạo trông thấp thiệt thấp và to thiệt to, chưa tròn hẳn nhưng ánh sáng bén ngót xuyên thấu đám mây trắng mỏng đâm ngang. Trời, mây, non nước dửng dưng trước thời gian chầm chậm đi, mây chầm chậm trôi và vầng trăng kia vẫn sáng soi như ngàn năm trước…/.   Dronten 24 3 2009    *Thơ: Hoàng Ngâu
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đêm Thánh Nữ Lucy

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Những bến cảng lớn ở Âu Châu tổ chức hội quán rất chu đáo và phương tiện di chuyển cho thủy thủ hoàn toàn miễn phí, chỉ cần điện thoại hẹn, thường thì xe tới rước rất đúng giờ. Không hiểu sao hôm nay chúng tôi đứng chờ hơn một tiếng đồng hồ giữa cơn mưa tuyết và trong cái lạnh dưới độ không mà hội quán vẫn chưa cho xe tới. Gọi điện hỏi thì được nhân viên trực cho biết vì hôm nay tàu vô bến nhiều, thủy thủ đổ bộ đông, xe hội quán bận rộn đưa rước nên tới trễ, họ nói sẽ cố gắn tới nhanh và gởi lời xin lỗi. Nhân viên người ta đã cho biết như vậy rồi mà tên thuyền phó đứng hổng yên một chỗ, cứ đi tới đi lui và miệng chửi thề liên tục. Khi xe tới, cả đám vội vàng ùa lên xe, tuy trong xe có máy sưởi nhưng người nào cũng kêu lạnh và cũng cái tên thuyền phó cà chớn, vừa bước lên xe chưa ngồi yên trên ghế hắn liền cằn nhằn anh tài xế tại sao để hắn đứng ngoài trời lâu quá. Anh tài xế từ tốn giải thích:

– Xin lỗi, hôm nay rất đông người nên chúng tôi phải chia nhau phục vụ…

Anh tài xế là người Thuỵ Điển vừa xin lỗi vừa chịu khó giải thích, nếu chuyện này xảy ra ở mấy nước còn lạc hậu, kể cả nước Nga của hắn, ăn nói xấc xượt kiểu đó thì thế nào cũng bị tống cổ ra khỏi xe đứng giữa trời tuyết dưới không độ cho lạnh teo cu và hoá thành người đá. Tôi với sugilar và Ayardy, người In Đô, ngồi im ở băng sau, không biết hai đứa cảm thấy như thế nào, riêng tôi thì hổng thấy khó chịu gì hết, ngược lại tôi rất ngưỡng mộ nhân cách của anh tài xế và cám ơn anh thiệt nhiều.

 Mới hơn sáu giờ chiều mà trời đất Thuỵ Điển như đã về đêm. Xe chạy trên đường vừa ướt vừa trơn, từ bến cảng lên tới hội quán người ta treo dọc hai bên đường những biểu tượng được kết bằng nhiều bóng đèn nhỏ li ti thành hình con thỏ, con nai và ngôi sao… Mỗi khi trở lại Thuỵ Điển, nhứt là nhằm mùa Giáng Sinh, tôi rất thích thú nhìn hoa đèn không màu mè nhưng rất linh động, tuy đất trời lạnh lắm, nhưng trong lòng ấm áp và sự yên ả của xứ sở này cho tôi cảm giác bình an. Xe chạy lên dốc của một ngọn đồi và ghé vô bãi đậu cạnh rừng thông, chỉ có loài thông trong mùa đông vẫn còn xanh lá. Vừa mở cửa xe mọi người ùa nhau chạy vô hội quán trên một đồi thấp. Đúng như anh tài xế nói, hội quán đêm nay chật cứng người. Trong phòng khách mỗi bàn thắp một cây đèn cầy lớn cắm nên dĩa có trưng bày bông tuyết, làm cho căn phòng ấm áp và không gian mờ mờ ảo ảo trông lãng mạn tuyệt vời.

Viên thuyền phó, phụ máy và Jurre đi thẳng vô phòng vi tính.Tôi và hai đứa In Đô đi lại tủ lạnh lấy bia và đem qua quày mua bịt da heo chiêng dòn, Sugilar đạo Hồi không ăn thit heo, tôi mua cho nó gói đậu phộng. Trong lúc tính tiền, tôi thấy một cô gái bận nguyên bộ đồ trắng giống như trang phục cô dâu bưng khay bánh và cà phê đi mời từng bàn. Tôi hỏi cô gái đứng trước quày:

– Bộ hôn nay có lễ cưới hả?

Cô gái lắc đầu nhè nhẹ:

– Không…không hôm nay là ngày thánh nữ Lucy.

– Ồ!

Tôi khoa tay một vòng và day qua nói với hai đứa In Đô:

– Tụi mình vô trong kia, hôm nay ở đây có nhiều thứ miễn phí.

Chúng tôi cười, cô gái cũng cười và gật đầu nói:

– Dĩ nhiên.

Tính tiền xong chúng tôi bưng bia vô trong tìm chỗ ngồi. Hôm nay là ngày mười ba tháng mười hai, là ngày ngắn nhứt trong năm ở Thụy Điển, nói chung là từ bắc Đức qua tới vùng Scandiavia, nhiều nơi tổ chức lễ  kỷ niệm thánh nữ Lucia, còn gọi là ngày St. Lucy. Luice là người đầu tiên đã chết vì đạo và dược giáo chủ Syracuse phong thánh tại La Mã trong thời đại hoàng đế Diocletian.  Lễ kỷ niệm thánh nữ Lucia bắt nguồn từ những câu chuyện kể của một nhà truyền giáo đầu tiên đem  đạo Thiên Chúa vào vương quốc Thuy Điển. Tương truyền Lucia là một cô gái trẻ và rất đẹp, cô tình nguyện làm cô dâu trung thành của chúa Kitô, vì không muốn cho bất cứ người đàn ông nào đeo đuổi theo cái vẻ đẹp sắc nước hương trời nên cô tự móc đôi mắt của mình bỏ vào cái chén. Cô cũng là người đã mang thực phẩm cướu giúp các tín đồ Kitô lẩn trốn trong các hầm mộ dưới lòng thành phố La Mã, vì trong hầm mộ tăm tối, cô phải đội vương niệm gắn đèn cầy cho có ánh sáng để hai tay rảnh ran bưng đồ ăn phân phát cho những người này, Lucy cũng có nghĩa là ánh sáng chiếu soi giữa lúc tối tăm.

 Dựa theo truyền thuyết trên, ngày lễ kỷ niệm thánh nữ Lucia được được tổ chức với một cô gái trang phục màu trắng, thắt ngang vòng eo của mình một đay đỏ và trên đầu đội vương miện có kết năm cây đèn cầy. Nhiều năm về trước, thánh nữ hoá trang đội đèn cầy sáp có khi bị cháy đầu hoặc bị sáp nhiểu làm phỏng mặt. Để thánh nữ được  an toàn, ngày nay hoá trang người ta dùng đèn cầy giả và xài pin.

 Chúng tôi ngồi với nhau vừa nhâm nhi bia vừa thưởng thức đêm của Lucia. Một lát sau Ayardi hỏi tôi. Ở Việt Nam có Giáng Sinh không chú.

– Có.

– Tổ chức lớn hông chú?

– Lớn lắm, tao nghĩ, chưa có nước nào mừng Chúa giáng sinh lớn như ở nước Việt Nam.

– Thiệt hả chú?

Ayardi cười cho là tôi nói giỡn và tôi cũng nửa giỡn nửa thiệt:

– Ở nước tao ngày Giáng Sinh người ta ăn uống và tặng quà nhau như núi.

– Chú có đạo không?

– Đạo hả?

Nghe thằng nhỏ hỏi tôi giựt mình, lâu lắm rồi mới có người hỏi tôi về chuyện tín ngưỡng. Ở nước tôi chùa chiền lô nhô, áo vàng đầu trọc lóc nhóc loi nhoi và tượng Phật, tượng nào tượng nấy cao ngất trời mây, Phật ông thì hùng dũng, Phật bà thì đẹp như các cô người mẫu chưn dài, tới đâu cũng thấy ăn chay và nghe niệm Phật om xòn trời đất nhưng hổng thấy Phật đâu hết. Còn Giáng Sinh lễ lạc cho những đại gia nhiều tiền lắm của, ăn chơi xả láng, họ mua quà tặng nhau lên đến hàng tỉ đồng và có những nơi giả làm ông già Nô-en đi rảo ngoài đường để moi tiền bá tánh. Tôi bưng bia lên hớp một cái cạn phần bia trong lon, tôi mới phát hiện ra, ngộ thật, cũng là thủy thủ và cũng là những con người từ bốn phương,  nhưng sao họ tới hội quán bên xứ khác thì ồn ào náo nhiệt như khu chợ trời và ngột ngạt khói thuốc. Còn tới đây lại yên ắng nhỏ nhẹ, trên cả trăm con người ta chen chút trong căn phòng rộng vừa phải mà chỉ nghe tiếng thì thào hoà theo tiếng nhạc nho nhỏ phát ra từ những chiếc loa gắn đâu đó trên trần nhà và người nào ghiền thuốc thì tự động bận áo lạnh đi ra ngoài sân hút, nhờ vậy mà trong hội quán đông người nhưng rất thoáng khí. Đêm nay trong phòng hội quán không xài đèn điện, ngoại trừ chỗ tính tiền và những nơi trưng bày đồ đạc. Đương sống trong sự yên bình, tự dưng đem ba cái chuyện đạo ra nói làm tôi ái náy và cảm thấy không gian trong suốt như bị vẩn đục và thoáng chút nặng nề. Để Ayardi khỏi tiếp tục nói chuyện đạo, sẵn lon bia không trên tay, tôi đưa lên bóp nhẹ một cái và nói:

 – Mày lấy thêm bia đi, đạo bia cũng tốt, tao theo đạo này.

 Ayardi cười ha hả rồi đứng lên định đi lấy thêm bia,  chợt viên thuyền phó bưng một mâm bia lách những chiếc bàn đông người đi tới, Jurre và phụ máy cũng tới kéo ghế lại ngồi chung. Thuyền phó khui bia ra mời mỗi người một lon và Ayardi cầm lon bia ngồi lại chỗ củ. Mọi người vui vẻ hô lên câu chúc lành và ngước cổ nốc một hơi. Khi để bia xuống, thuyền phó phàn nàn:

– Bia ở đây có ba độ rưỡi mà bán mắc quá.

Tôi để lon bia xuống cười một cái, nói:

– Ông nghĩ sao, tôi đưa bàn tay ra lần ngón kể, đưa rước,  Internet, trà, cà phê, bánh ngọt, hồ bơi, tắm hơi tất cả miễm phí.  Nữa lít bia chỉ có hai euro rưỡi mà ông lại chê mắc à. Ông biết hội quán bên St. Petersburg một ly bia giá bao nhiêu không?

Thuyền phó cười sằn sặc và đưa ngón tay cái ra gặt gặt:

– Ồ, mắc lắm… ông nói đúng ha ha…

Chúng tôi vui vẻ ngồi tán dóc với nhau cho tới khi nhân viên hội quán tới báo giờ đóng cửa. Vì đông người nên nhân viên sắp xếp cho tài xế chia nhau chở. Tàu chúng tôi đậu hơi xa nên phải đi trước giờ hội quán đóng cửa mười lăm phút.

 Xe chạy xuống đồi, xuyên qua màn mưa tuyết ta thấy những dãi nhà đóng kín và đường vắng bóng người, đừng tưởng rằng dân Thụy Điển đã ngủ. Trái lại trong những căn phòng sạch bụi, có lò sưởi ấm áp họ sinh hoạt rất linh động, vui vẻ và rất  gần gũi nhau.  Có lần cũng vào mùa đông tôi tới chơi cùng gia đình người bạn Thụy Điển, thưởng thức món cà phê truyền thống và miếng bánh quế thơm, sau đó cùng anh ra những quán nước trong một con hẻm nhỏ lát đá lâu đời uống bia, khu phố cũ kỷ nhưng không tồi tàn, những cô gái và những chàng trai lịch sự bình dị và sống rất văn minh… Chuyện qua lâu lắm rồi nhưng mỗi khi tản bộ hoặc ngồi trên xe ngang qua những khu nhà giữa mùa đông tuyết trắng nó hiện về trong trí tôi mơ mơ màng màng… Sống trong cảnh thiệt mà giống y như là truyện cổ tích vậy.

 Dronten 21 12 2015

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chúa tể rừng Pơ mu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Yên Bái thuộc vùng trung du, nằm dọc đôi bờ sông Hồng, và miền núi phía Tây Bắc Bộ, cách Hà Nội 180 km, từng là nơi quần cư của người Việt cổ gồm có các dân tộc Kinh, Tày, Dao, Mông…

Yên Bái còn đi vào lịch sử với nhà cách mạng Nguyễn Thái Học (1902-1930).

Chuyện rằng ông đi thi bằng thành chung (Diplome), đề thi là “Sự nghiệp của Jules Ferry”.

Nguyễn Thái Học viết trả lời vỏn vẹn có một câu: “Người Việt Nam không hề biết tên người này!”

Là một con người nồng nàn yêu nước, sau nhiều lần gởi thơ cho bọn thực dân Pháp yêu cầu cải cách để người dân Việt bớt lầm than mà không được đáp ứng, Nguyễn Thái Học chỉ còn con đường duy nhứt là là vũ trang lật đổ chế độ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, để thành lập một nước Việt Nam độc lập với thể chế cộng hòa.

Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra từ Sơn Tây, Phú Thọ cho tới Yên Bái vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10, tháng Hai, năm 1930.

Quân nổi dậy đã chiếm được một phần đồn binh Pháp, làm chủ tỉnh lỵ Yên Bái trong gần hai ngày.

Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, ngày 20, tháng Hai, năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt, Chí Linh, Hải Dương.

Ngày 17, tháng Sáu, năm 1930, Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính, cùng 11 đảng viên VNQDĐ lên đoạn đầu đài tại Yên Bái

“Chết vì tổ quốc, Cái chết vinh quang, Lòng ta sung sướng, Trí ta nhẹ nhàng!”

“Việt Nam muôn năm”

Pháp đã chôn 13 người yêu nước, bỏ mình vì Tổ quốc Việt Nam, trong cùng một ngôi mộ tập thể tại thị xã Yên Bái, cách ga xe lửa độ một cây số.

Hôm sau, ngày 18, tháng Sáu, năm 1930, Cô Giang, người yêu của Nguyễn Thái Học đã tự sát bằng súng ở gốc cây đề làng Thổ Tang, tỉnh Vĩnh Yên nay là tỉnh Vĩnh Phúc.

“Gươm ba thước chọc trời kinh, chớp cháy, này Lâm Thao, này Yên Bái, này Vĩnh Bảo, khí phục thù hơi thở một tầng mây!

Đoạn đầu đài sau sau trước bước ung dung, gớm gan thị tử như quy, mặc cây cỏ máu tươi thêm chói chói…”

Máu của những người yêu nước đã rưới xuống đất nầy cho rừng Pơ Mu thơm mãi tới ngàn sau!

***

Yên Bái có rừng cây Pơ mu, còn gọi là đinh hương, tô hạp hương… Gỗ Pơ mu có một mùi thơm đặc biệt mà không loại gỗ nào có được. Chỉ cần để một miếng gỗ Pơ mu thì trong nhà lúc nào cũng có mùi thơm thoang thoảng rất dễ chịu, điều hòa không khí trong nhà và giúp tâm thần các ‘quan lớn’ luôn ổn định! .

Gỗ Pơ mu từ rừng già nguyên sinh nên chất gỗ rất đanh và cứng, thớ gỗ nhỏ và mịn, rất dai và dẻo, có vân đẹp, nhẹ và bền, không bị mối mọt, trừ được muỗi và côn trùng, dùng để làm sàn nhà, đóng giường tủ không bao giờ bị công vênh, nứt nẻ. Có rất nhiều ngôi nhà làm bằng gỗ Pơ mu có tuổi thọ lên tới 200 – 300 năm hiện vẫn còn nguyên vẹn.

Do gỗ quý vì có tinh dầu có giá trị cao nên cây Pơ mu hiện bị khai thác đến cạn kiệt nên hiện nay chỉ còn gặp rải rác ở một số nơi xa dân hoặc trên đỉnh và sườn núi hiểm trở! Loại cây này sinh trưởng chậm nên số lượng giảm đi nhanh chóng.

Gỗ Pơ mu còn được dùng để đóng quan tài. Và lần nầy cho 3 quan chức cấp cao tỉnh Yên Bái.

Lúc 7 giờ 45 phút, sáng ngày 18, tháng Tám, năm 2016, Chi cục trưởng Kiểm lâm Yên Bái rút súng lục K-59 bắn chết Bí thư Tỉnh ủy và Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy (ngay ngày sinh nhựt của ông nầy tại phòng làm việc).

Nhưng có một chi tiết lý thú là: Trong cái két sắt củaTrưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái, có tới 100.000 đô la Mỹ và 1,5 tỷ đồng cùng một số nhẫn vàng. Đây được nói là “số tiền cá nhân, tích cóp nhiều năm nay” của vợ chồng ấy.

Sau đó, tay Chi cục trưởng Kiểm Lâm bất mãn vì bị lột lon xuống làm Phó đã tự sát với một viên đạn xuyên qua đầu.

Tay Chi cục trưởng Kiểm lâm nầy, vợ cũng làm quan, là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Yên Bái, là con rể nguyên Bí thư tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn.

Cuộc tàn sát này là do mâu thuẫn quyền lực và chia chác quyền lợi! Chứ không phải tự nhiên người ta lại điên rồ gì mà lại đi giết nhau như vậy? Của bỏ lại ai ăn? Uổng!

Thay vì làm đơn tố cáo hay triệt hạ nhau bằng những thủ đoạn chính trị như trước đây. Giờ thì giải quyết ân oán giang hồ với nhau theo kiểu xã hội đen bằng súng! Không còn tình ‘đồng chí’ gì hết ráo he?

Theo VOA tiếng Việt, có 95% ý kiến trên mạng xã hội là từ bàng quan cho đến hả hê nên bị truyền thông nhà nước chỉ trích là ‘vô lương’ vì đã ‘hả hê’ trước cái chết của các quan chức (?!)

***.

‘Thố tử hồ cũng chẳng bi’; vì người chết thì đã chết! Đứa còn sống kế tiếp lên thay. Nhưng cuộc đấu đá tranh giành chức, giành quyền để kiếm tiền ở Yên Bái vẫn chưa kết thúc.

Lần nầy, thay vì dùng súng như lần trước thì dùng báo chí để chơi nhau. Mục tiêu là hai quan lớn khác.

Một là: Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, em ruột của bà Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, có xây dựng một biệt phủ trên một khu đất rộng bao la, tới 13 ngàn m2 ngay trong thành phố.

Quan chối leo lẻo hè: “Đấy không phải nhà tôi; mà của vợ tôi! Tôi làm gì có nhiều đất như vậy?”

Dân cả nước, chớ không riêng gì Yên Bái, nhào vô xỏ xiên:

“Chị gái Bí thư, em trai Giám đốc Sở. Gia đình toàn người giỏi. Quá ngưỡng mộ!” He he!

“Quá quy mô, quá hoành tráng, ngôi biệt phủ như thế mới xứng đáng với tầm vóc với Giám đốc Sở chứ!”

“Cơ ngơi này không phải của ổng đâu, mà là đồng tiền “mồ hôi nước mắt ” của vợ con ông ấy tạo ra đó, mọi người đừng có hiểu lầm nhé!”

Rồi còn bày đặt ‘ngây thơ cụ’ hỏi một câu nghe lãng xẹt hè:

“Không biết ông ấy lấy đâu ra lắm tiền mà xây dựng hoành tráng như vậy?…”

Hai là Trùm Công an tỉnh Yên Bái cũng có một xây một biệt phủ nguy nga đồ sộ không kém!

Tòa nhà đang được sơn màu trắng toát trên quả đồi có diện tích khá rộng, vây xung quanh là những hàng cây xanh lâu năm, có tường bao bọc. Bên trong khu đất là cây cảnh, đá quý, đèn điện cao áp rất đẹp mắt và sang trọng, nằm bệ vệ trên đỉnh đồi, giữa núi rừng bạt ngàn, bao la khiến người dân nghèo miền núi ai cũng phải trầm trồ khen ngợi.

Con đường thảm nhựa dẫn lên khu dinh thự được canh gác nghiêm ngặt! Một tay đầu gấu, nét mặt bặm trợn ra chặn đường, xua đuổi quát:

“Đây là nhà của tao, mày lên đây làm gì?” Làm đám phóng viên phải chạy lịch bịch như con vịt ra khỏi công trình.

Rồi bà con cũng nhào vô ‘bình loạn’ vui như Tết tới…“Quan Yên Bái giàu quá! Nhưng tài sản là do bố mẹ và anh chị em của ông ấy đấy. Ông ấy… liêm chính lắm đó!”

Dân ngu khu đen không có tới một phân vàng lận lưng mà cũng bày đặt tài khôn chỉ vẽ: “Tại sao có tiền không mua vàng, đô la cất mà khoe mẽ hoành tráng cho bị sờ gáy không biết nữa?! Như vị lần trước cất 100 ngàn đô có sao đâu?”

Thôi ngây thơ gì? Cái nầy là của nổi. Ai cũng biết của chìm là gấp mấy chục lần của nổi. Nhứt phá sơn lâm mà. Phá rừng là giàu nứt vách hè. Nhứt là rừng toàn gỗ quý Pơ mu!

Và Yên Bái chỉ là 1 trong 63 tỉnh thành trong cả nước mà thôi…

Dĩ nhiên chọc tới ổ kiến lửa là bị kiến lửa cắn rồi hè. Ỷ y có mấy anh chống lưng coi chừng bị gãy lưng bất tử.

Trưởng ban Bạn Đọc báo điện tử Giáo dục Việt Nam và “tang vật”

Tay trưởng ban Bạn Đọc báo điện tử Giáo dục Việt Nam đang đi vài bài về hai cái biệt phủ… lại ỷ y không chịu thủ!

Nên tại nhà hàng Oanh, nhận 50 triệu của doanh nghiệp thì bị Công an TP Yên Bái ập vào bắt quả tang, lập biên bản và tạm giữ ông 4 tháng để điều tra hành vi lợi dụng hoạt động báo chí để chiếm đoạt tài sản.

“Thôi rồi Lượm ơi! Nó ‘lượm’ ông rồi!”

Còn may là tay Tổng biên tập báo điện tử Giáo dục Việt Nam, không bỏ đệ tử chạy một mình, đứng mũi chịu sào dùm:

“Loạt bài nầy có đầy đủ luận cứ về hai cái biệt phủ! Thế nên dù có nhiều người đến gặp và điện thoại đề nghị gỡ những bài viết này và dừng các hoạt động điều tra. Tuy nhiên, báo không đồng ý và tiếp tục làm, báo sẽ không gỡ bài.”

Người trực tiếp điều tra, viết bài rất nhiều vụ việc về Bí thư và có vụ việc liên quan đến Giám đốc Công an tỉnh mà Công an tỉnh lại trực tiếp bắt giữ, điều tra? Đề nghị chính Bộ Công an điều tra nhằm đảm bảo khách quan. Ai sai đến đâu sẽ phải chịu đến đấy, báo cũng không dung túng bao che!

Chắc rằng tờ báo nầy cũng có ”piston” bự mới dám nắm đuôi “Chúa tể rừng Pơ mu” chớ đâu phải tại hơi ngu? Phải có tay cộm cán nào trong Thường vụ Tỉnh ủy cho tư liệu, cho tiền mới có mà viết chớ!

Xưa giờ viết là phải nghe lời chỉ đạo chớ không nghe lời chỉ đại, xúi dại. Chống tiêu cực cỡ Xã Xệ, Lý Toét thì vô tư! Nhưng chống tùm lum tà la, theo phe nầy chơi lại phe kia là coi chừng… bể nồi cơm!

Hơn 20 năm về trước, nhà báo Trần Quang Thành, rất hăng hái chống tham nhũng, tiêu cực, Hậu quả là: ông, rồi con ông bị mất việc. Ngày mùng 4, tháng Bảy, năm 1991, ông nhà báo nầy bị tạt acid, mất cả môi và mũi, một mắt bị mù và một mắt thị lực còn 1/10, mất tới 81% sức khỏe. Đành phải sang Slovakia mà đoàn tụ gia đình.

Bài học là: Chống tiêu cực một là nguy hiểm, hai là mất thu nhập. Thôi thì đi các địa phương, doanh nghiệp, viết bài ca ngợi, nhậu nhẹt, gái gú tưng bừng còn có phong bao đem về cho bu nó vui!

Còn kết bè kết đảng, chơi nhau dưới chiêu bài chống tiêu cực tới cấp tỉnh là uống thuốc liều, được ăn cả; ngã vô tù…

Ông dám chơi là ông dám chịu! Hỏng có lan can gì tới nhân dân tụi tui hết ráo nhe! Vì đứa nầy không ăn thì cũng đứa khác cũng ăn vậy thôi!

Nhân dân cũng trơ mõ hè!

Chồng người áo gấm!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Suốt gần cả năm nay Donald Trump luôn luôn chiếm hàng tít đầu của báo chí trên toàn thế giới. Nhưng có lẽ nói nhiều quá cũng nhàm.

Báo chí sợ ế, bèn kiếm cái tuồng khác, vui, lạ, hay hơn để câu khách…

Lần nầy diễn viên là Ivanka Trump, ái nữ của đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump.

***

Nói nào ngay, vào ngày mùng 4, tháng Mười Một, năm 2015, khi mới đắc cử Thủ tướng thứ 23 của Canada, Justin Trudeau đã nổi tiếng toàn thế giới nhờ vẻ trẻ trung, điển trai và lịch lãm như một tài tử phim Hollywood với chiều cao lý tưởng 1mét 88.

Justin Trudeau năm nay 45 tuổi. (Ðâu có già chát, già khú đế như Donald Trump, 70 tuổi) tức còn rất trẻ, lại tài cao mới ngồi được trên đầu trên cổ hơn 35 triệu người Canada đó chớ!

Ðẹp trai, nói dai (chánh trị gia mà), con nhà giàu, học giỏi; lại vốn dòng quyền quý nên không ngạc nhiên chút nào là chàng có vợ hơi sơm sớm, năm 2005! Và có con cũng hơi nhiều nhiều tới 3 đứa. Giàu thì muốn đẻ bao nhiêu hổng được. Ðông vui đâu sợ hao?!

Chớ tiêu chuẩn Tây thường thấy là sản xuất ra hai đứa thôi… là nghỉ!

Mấy chú em Việt Nam mình cũng ‘cọp dê’ y vậy! Nên con vợ ‘sòn sòn’ mới 2 đứa là mấy chú hoảng kinh kêu tốp tốp! (Tại anh đó… chớ em nào muốn đâu!)

Ðẻ nhiều, tiền ‘child care’, tức tiền gởi nhà trẻ không cũng mạt!)

Thủ tướng Justin Trudeau và Ivanka Trump

Ivanka Trump, 35 tuổi, chân dài tới nách, vì em cao tới 1 mét 80. (Tui đứng giỏi lắm chỉ đứng tới nách của em là cùng) tiểu thư nhà giàu, học giỏi!

Báo chí Mỹ muốn em là ‘Ðệ nhứt Phu nhân’, (The First Lady), của Mỹ hơn là dì ghẻ của em là Melania Trump, cũng đẹp, vì là người mẫu, nhưng tiếng Anh lại không ‘siêu’ lắm?!

Ðẹp gái, con nhà giàu học giỏi thì dễ gì phòng không chiếc bóng! Một chàng Mỹ gốc Do Thái, ắt hẳn là giàu sụ rồi, Jared Kushner, nhanh nhẩu rước em về dinh để nâng khăn sửa túi! Ðền đáp lại, chàng cho nàng nằm ba lửa! Tám năm tình ta… chui ra ba đứa!

***

Hôm thứ Hai, ngày 13 tháng Hai, Thủ tướng Canada, Justin Trudeau, đến Bạch Cung, thủ đô Washington, D.C  Hoa Kỳ  để gặp Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Tại đây anh hùng hội ngộ thuyền quyên! (Vì vợ anh đang bận ở nhà trông con và chồng em bận ở nhà cũng trông con, nên không tới… Dịp may ngàn năm có một nhe!)

Nên mấy nhà báo mới có cớ đồn rùm lên chuyện tình ‘Robinet và Toilette’ (Roméo và Juliet) vui như Tết Congo tới!

Trước và trong khi họp, ái nữ nhà họ Trump tỏ vẻ mừng rỡ, dành cho nhà lãnh đạo Canada một cái nhìn đầy ngưỡng mộ.

(Cả hai nói chuyện đẩy đưa rồi đưa đẩy. Chàng đẩy qua, nàng đẩy lại như hai đứa chơi đánh đu kiểu bà Hồ Xuân Hương vậy mà!)

Ivanka Trump dường như bị sét ‘quánh’ giữa trời quang, lang thang hồn phách, đôi mắt biếc lơ mơ, chỉ sơ sơ tập trung vào cuộc thảo luận, mà mắt chỉ về… Thủ tướng Canada!

Báo chí lá cải dám nói: Ivanka’s ‘thirsty’, (nghĩa đen là khát nước nhưng trong ngữ cảnh mình dịch đại là ‘rạo rực’… Trao cho chàng cái ánh mắt bằng vàng ròng 24 cara  (Tây gọi là ‘golden look’, còn nhà thơ của mình gọi là cái nhìn đắm đuối!)

Thiệt là đoán mò! Làm như đi guốc trong bụng của người ta hổng bằng!

Nhìn vậy thì bộ có tình ý với nhau sao cha nội? Bộ đàn bà cười mỉm chi ‘rồ man tít’ (romantic) như vậy hổng được hay sao?

Công nương Kate và Thủ tướng Justin Trudeau

Ðàn ông làm chánh trị, Tổng thống Mỹ Barack Obama hổng những cười ‘mỉm chi cọp’ mà  còn chụp hình chung với mỹ nhân Rania, Hoàng hậu xứ Jordan… làm Ðệ nhứt Phu nhân Michelle Obama mặt quạu đeo như vừa bị ai giật bóp…

Thiệt là mấy tay nhà báo nầy cứ khư khư giữ cái đầu óc kỳ thị giới tính hoài hè!

Rồi cũng theo mấy nhà báo xạo, đưa tin vịt là: Không chỉ mình Ivanka bị Justin Trudeau ‘bỏ bùa’mà nhiều em khác cũng bị ‘thôi miên’!

Trong chuyến theo chồng công du tới Canada vào Tháng Chín, năm 2016,  Công nương Kate của nước Anh có vẻ cũng e thẹn hơn, nhu mì hơn, vén tóc làm duyên khi đối diện với Thủ tướng Justin Trudeau khi ông chồng, Hoàng tử William, đầu hơi ít tóc một chút, chớ không bùm sùm, quăn tít như ảnh, đang đứng chần vần ra đó.

Dẫu em đã kết hôn với Hoàng tử nhưng khi mặt nhìn tận mặt  với Thủ tướng Canada nhà ta là em cũng e lệ, ngất ngây như uống phải một chung rượu men tình!

Thấy màn một, màn hai coi bộ bà con vỗ tay quá, nhằm kiếm thêm chút cháo, nhà báo hát tiếp màn ba!

Tuồng nầy với lời giới thiệu ‘tùng tùng xèn’ là: Ðêm ăn tối lãng mạn giữa hai người!… Ðầu tiên với Ivanka Trump, ái nữ của tân Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, giờ thì tới phiên Thủ tướng Ðức, Angela Merkel, cũng bị hớp hồn?!

Angela Merkel đã gây kinh ngạc cho anh chàng trẻ tuổi, tài cao của đất nước hoa phong đỏ nầy bằng cách trao tặng một tấm hình chụp lúc Justin chỉ mới lên 10 tuổi, tháp tùng thân phụ mình là Pierre Trudeau, Thủ tướng Canada gặp Thủ tướng Ðức Helmut Kohl vào ngày 12 tháng Mười Một năm 1982.

Sau đó, Thủ tướng Ðức Angela Merkel mời Thủ tướng Canada, Justin Trudeau đi ăn tối  dưới ánh nến lung linh mờ ảo tại khách sạn Regent, thủ đô Berlin vào tối 16 tháng Hai.

Mà theo lối sống của Phương Tây, ‘Date night’  chỉ dành cho hai người đang yêu nhau tha thiết hay đang có tình ý với nhau hò hẹn mời nhau đi ăn tối như vậy.

Một người hài hước, đùa cợt là: “Không ai có thể thoát khỏi sức hút nam châm của  Justin Trudeau?!” Già không bỏ nhỏ không tha! (Khen nhau như thế bằng mười ‘xỏ’ nhau!).

Sự thực là ảnh chụp cho thấy tới 4 người trong ánh nến lung linh (nhưng nhà báo nói láo ăn tiền nầy cho 2 người còn lại hô biến).

Gán ghép bà Merkel, năm nay đã 62 tuổi rồi, đang đi giữa mùa mãn dục, mà cặp đôi với một chàng chỉ mới 45 cái xuân xanh, đáng tuổi con mình thì thiệt là chuyện gán ghép khiên cưỡng, ruồi bu kiến đậu!

Ngu sao mà tui lại tin nhà báo chớ? Viết lách nên giữ gìn ý tứ một chút, đừng phá gia cang người ta kẻo mang tội! Vì lỡ bà Thủ tướng Canada nổi máu Hoạn thư thì tội nghiệp cho ‘thần tượng’ của ‘em vợ’ tui.

Mấy chú em mình thì lại có mòi ganh tị với Justin Trudeau, nên thầm ước trong lòng để con vợ thằng chả cho ‘giả’ chết!

Mặt khác cầu khẩn với ông Tơ bà Nguyệt cho mình kiếm được một em yêu lúc nào cũng nhìn mình rạo rực, đắm đuối, cháy bỏng như Ivanka nhìn Justin Trudeau vậy!

Còn đứa có vợ rồi thì báo động đỏ ở mức cao nhứt là:

“Justin Trudeau tới rồi anh em ơi! Hãy lẹ lẹ giấu vợ, giấu con gái của mình, giấu con bồ nhí, giấu luôn cả thú cưng là chó lẫn mèo vì coi chừng ‘giả’ chôm mất đó nhe!”

Nghe rung cây nhát khỉ như thế, tui cũng ra kế hoạch phòng thủ từ xa:

Lúc nào Justin Trudeau đến công du nước Úc, trước sau gì cũng tới mà, tui sẽ dắt em yêu của tui đi giấu trước.

Nhưng em yêu của tui cười nắc nẻ, thề một câu nghe ăn tiền (tui) hết sức: “Chồng em áo rách em thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người.”

Chớ không bao giờ có cái vụ: “Chồng người áo gấm em thương chồng người” đâu mà anh lo!

Vì em thường tâm niệm rằng: “Chưa chồng dòm dọc, liếc ngang. Có chồng em chẳng liếc ngang thằng nào!”

Dẫu cho rằng: “Chồng em tuy nách hơi hôi/ Nhưng vì em ngửi mãi rồi nên quen!”

Nghe xong tui lấy làm khoái chí trước tình em, bèn “Móc thuốc ra đốt liên miên! Hút xong vài điếu (tui) cười hiền vì phê!”

Phê xong, tui thầm nghĩ: “Em yêu của tui tự tin thấy mà ớn nhe! Làm như còn trẻ, còn đẹp lắm như Ivanka, như Kate vậy!”

Mà quên rằng bà Angela Merkel, 62 tuổi, nếu có lỡ gặp em yêu của tui, còn phải kêu bằng bà… Ở đó mà mơ mộng viển vông! Ðúng là ‘đồ Yamaha’! Tức ‘già mà ham’! He he!

Một đời binh nghiệp hai màu mũ

Trương Út (Khoá 22/TVB/QGVN)

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Buổi xế chiều ngày 15 tháng 10 năm 1970 là một buổi chiều chia ly ngậm ngùi với những lời giã từ không thành lời. Bầu trời Nha Trang quang đãng, với sóng biển hiền hòa hết đợt này đến đợt khác, tiếp tục xô vào bờ cát trắng chảy dài từ biệt điện đến Xóm Bóng. Cơn gió nhẹ từ biển khơi phây phất lá cờ VNCH trước sân trại Hải Quân Tây Kết, phía sau là trại Hoàng Diệu, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù – Lực Lượng Đặc Biệt – QL/VNCH.

Chiếc Dương Vận Hạm 505 (thường gọi là tàu há mồm) rúc lên ba hồi còi luì dần ra biển khơi, trên bãi vẫn còn lố nhố người. Trên đường Duy Tân vẫn còn một dọc xe Jeep, Dodge, GMC, và không biết có bao nhiêu bàn tay vẫn còn vây vẩy tiễn đưa.

Trên tàu là ĐĐ 5/TĐ81 BCD và ĐĐ 6/TĐ81 BCD cùng với gia đình cha mẹ vợ con của binh sĩ. Xin giả từ Nha Trang. Xin giã từ quán cơm bình dân Chợ Đầm, Bar số 1, 2, 3, 4, 5, phở Chụt, phở Gà số 1, quán cơm Thanh Phong, nhà hàng Nautique, Hotel Nha Trang, Cafe Thu, quán rượu, Bar Mỹ, Tháp Bà, Hòn Chồng, Cầu Đá. Xin vẫy tay lần cuối Thiếu Tá Nguyễn-văn-Lân (K/17Đà Lạt) Tiểu Ðoàn Phó, người đã lót những viên gạch đầu đời binh nghiệp cho tôi, Đại Úy Bùi-Ngọc-Bích (Khoá11/TĐ) Chỉ Huy Hậu Cứ, người đã tận tình giúp đỡ chăm sóc vợ con tôi, khi Tôi hành quân. Xin vẫy tay lần cuối với tất cả quân nhân của Tiểu Đoàn 81BCD, những người còn ở lại, đang đứng trên bờ cát trắng Nha Trang mang vô vàn kỹ niệm thời chinh chiến. Xin giã từ, không phải giả biệt, vì sau này chúng ta còn hội ngộ trên những chiến trường khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh cận đại. An Lộc, Kontum, Quảng Trị, Thường Đức.

Mới sáng nay, trên sân cờ tiểu đoàn, khi tôi (Đại Ðội Trưởng /ĐĐ5), Đại Úy Nguyễn-Chí-Thanh (K/12TĐ, ĐĐT/ĐĐ6) trao trả Hiệu Kỳ đơn vị cho Thiếu Tá Trần-Phương-Quế (K/10 Đà Lạt TĐT), tôi thoáng thấy nét buồn buồn trên gương mặt và đôi mắt của ông. Nét buồn buồn đó phảng phất một nỗi niềm của một người Cha hay một người Mẹ đang mất hai đứa con trong sáu đứa con mà Ông đã nuôi dưỡng dạy dỗ với tất cả tâm huyết trộn lẫn nước mắt của chính ông, Ông trao lại hai hiệu kỳ cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn-văn-Phú. Ban quân nhạc Bộ Tư Lệnh trổi lên khúc nhạc “ò e rô be đánh đu, tạc zăng nhảy dù …”, tất cả đơn vị trên sân cờ như rơi vào những giây phút lắng đọng nghẹn ngào không thành tiếng. Có giây phút chia ly nào mà không ngậm ngùi? Ngậm ngùi như tiếng kêu thất thanh của con chim Đa Đa sao không lấy chồng gần mà phải đi lấy chồng xa, để lại cha mẹ già biết bao giờ gặp lại.

Trên con tàu há mồm gần 800 nhân mạng, gồm Sĩ quan, Hạ Sĩ quan, binh sĩ và gia đình của hai Đại Ðội 5 và Ðại Ðội 6 của đơn vị 81BCD đang xuôi Nam

Như thường lệ hằng năm, cứ vào khoảng tháng 11 các phái đoàn Quân Binh Chủng của QLVNCH lên truờng Võ B ị QG Ðà Lạt đê thuyết trình về cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân sự, phương tiện và kỹ thuật hành quân tác chiến cho các SVSQ sắp s ửa tốt nghiệp. Cũng giống như tâm trạng các bạn cùng khóa, tôi chỉ ngồi trong Hội Trường mà đầu óc cứ nghĩ vẫn nghĩ vơ cái gì đâu đó:

– Muốn “Trong lang miếu ra tài lương đống ” thì chọn Công Binh, Quân Nhu, Quân Cảnh, Quân cụ…

– Muốn“Biên thùy rạch mũi can tương ” thì chọn Nhảy Dù, TQLC, BĐQ, Lực Lượng Ðặc Biệt, các Sư Đoàn BB tinh nhuệ…

– Muốn “Hối tàng nơi bồng tất ” thì chọn An Ninh QĐ, Đơn Vị 101, Cảnh Sát Đặc Biệt, Biệt phái ngoại ngạch…

Sao có nhiều cái “muốn” quá vậy?. Một SVSQ Đà Lạt khi nhập trường cho đến khi tốt nghiệp đều “ÔM” một giấc mộng như nhau:

“Làm sao bách thế lưu phương

“Trước là Sĩ sau là Khanh Tướng “

Cho nên khi tốt nghiệp cũng cùng một quan niệm như nhau: “Hoặc xanh cỏ hoặc đỏ ngực“. Chẳng có ai nghĩ rằng cũng chẳng xanh cỏ, cũng chẳng đỏ ngực, mà phút chốc có một ngày nào đó không xa mà rất gần, trở thành què cụt đui mù để trở thành kẻ báo cô cho gia đình và thân nhân. Và cũng chẳng có ai nghĩ rằng, cơn đại họa của Mệnh Nước Vận Nhà đổ ập xuống như cơn thác lũ, phải vất kiếm cung, cởi bỏ chiến bào cùng nhau lũ lượt rũ nhau vào tù, để sống những tháng năm dài bất tận thìên thu trong nỗi uất nghẹn của kẻ bại trận. Và cũng chẳng có ai nghĩ rằng, bỗng một buổi sáng hay một buổi chiều, mình phải lìa bỏ quê cha đất tổ, lìa bỏ cả cha mẹ vợ con gia đình để bắt đầu sống một cuộc sống lưu vong ê chề tủi nhục của một kẻ tha phương cầu thực.

Vào cuối tháng 11 năm 1967. Phái đoàn Lực lượng Ðặc Biệt đến thuyết trình. Cơ cấu tổ chức và nhân sự, sao mà quá nhiêu khê không giống như Nhảy Dù, BĐQ , TQLC , Sư đoàn Bộ Binh v.v. và v..v…Cái gì đâu là A Team, B, C, CIDG, MIKE Force, Delta, 91 Biệt Cách Dù…Xem một đoạn phim chiếu lại trận Pleime đẫm máu thấy toàn hình ảnh các chiến sĩ anh dũng Yra , Yđê , Ysàriêng, Thạch Khương, Thạch Phịch gì đâu không hà .

Nói thì nói vậy, chứ tôi đã mê cái binh chủng này từ lâu rồi.

Khi còn ở Trung Học, tôi nói dối Ba tôi cho tiền mua quyển sách đề thi Toán của giáo sư Nguyễn-văn-Phú và Đàm-Quang-Hưng, để đi xem ba xuất ci-nê cuốn phim ” Les canon des Navaron “.

 Trong phim mô tả lại cuộc xâm nhập của một toán Ranger của Liên Đoàn II Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ (tài tử Geogry Peck đóng vai Thiếu Tá trưởng toán, nhằm phá hủy những cỗ đại pháo cực kỳ tối tân của quân Đức Quốc Xã (Gun Battery) tại Point Du Hoc, chỉ cách nơi đổ bộ trên bờ biển Normandie một cây số bên trong đất liền. Nếu nhiệm vụ của toán này thất bại thì không có một chiếc tàu đổ bộ nào của quân đội Đồng Minh đặt chân lên bãi Omahavà Utah Beach.

   Trung tuần tháng 12 năm 1967, trước ngày chúng tôi mãn khoá 2 tuần lễ, phái đoàn thứ hai của Bộ Tư Lệnh, LLĐB đến trường để chọn tân Thiếu Úy. Chỉ có 27 SVSQ Khoá /22 tham dự, lần lượt tôi cũng được gọi tên phỏng vấn. Đại Úy Bác Sĩ Trần-văn-Út là người trưởng phái đoàn

-Chào Bác Sĩ

-Ngồi xuống đi. Tên Anh là Trương-văn-Út hả?

-Dạ vâng!

-Tại sao anh thích Lực Lượng Đặc Biệt?

-Dạ, tôi không biết.

-Tại sao cha Anh họ Trần mà anh là họ Trương?

-Da, tôi cũng không biết nữa!

Câu hỏi lãng xẹt khiến tôi gần nỗi dóa, định đứng dậy chào rồi đi ra.

Nhưng:

 Bác Sĩ nhìn Em Bác Sĩ cười

Em nhìn Bác Sĩ mộng hoa tươi

Sau này màu Mũ lá xanh đó

Bốn phương tám hướng mặc tung hoành

Ông Thượng Sĩ phòng Tổng Quản Trị đọc tuyên ngôn:

 – Kính quí vị, ai có tên trong danh sách này xin ngồi lại, không có tên xin trở về doanh trại. Cám Ơn

Chỉ có tám (8) người còn ngồi lại, trong đó có tên tôi. Cũng dễ hiểu thôi, vì danh sách này đã có trước từ BTL, truớc khi phái đoàn (select team) đến trường. Anh cột chèo chú bác ruột của tôi là Bác Sĩ Ngô-vi-Dương đang kiêm Y Sĩ Trưởng Bộ Tư Lệnh, LLĐB. 

Tám Tân Thiếu Úy Khoá 22 Võ Bị Ðà Lạt trình diện Phòng Tổng Quản Trị BTL/LLĐB ở Nha Trang, sau 15 ngày nghỉ phép.

– Trần-văn-Ni vác hành trang trình diện BTL/SĐ1BB…vì an ninh lý lịch

– Xường, Chân, Xinh… trình diện BCH C4

– Út, Chẩn, Tiễn… trình diện BCH/TĐ 91 Biệt Cách Dù

– Đặng-văn-Lợi… trình diện Bộ Chỉ Huy TĐ MikeForce

 Ở Nha Trang chỉ còn lại tôi, Chẩn, Tiễn và Lợi hưởng được những ngày cuối năm của Tết Mậu Thân. Tiếng pháo giao thừa trộn lẫn tiếng AK, B40, Beta. Tôi bị thương, nằm bệnh xá Bộ Tư Lệnh ba ngày, đơn vị của Chẩn và Lợi được ném xuống Khe Xanh. Họ không bao giờ trở về với bông mai vàng vẫn còn óng ánh trên vai áo trận giặt ủi hồ thẳng nếp. Có cái đơn vị nào kỳ cục bằng đơn vị này. Thiếu Úy “sữa” vừa ra trường, vừa trình diện Đại Ðội thì có lệnh đi Gác Hòm cho vị ĐĐT của mình (Đại Úy Nghi ĐĐT/ĐĐ3 ) vừa tử trận ở Kontum trước Tết chỉ hai tuần lễ , bây giờ phải đi gác hòm cho cố Trung Tá Lê-Như-Tú (TĐT/TĐ91 BCD) vừa ngã gục trong đêm Giao thừa Tết Mậu Thân trên phố Độc Lập, Nha Trang, với những giòng nước mắt tưởng nhớ hai người bạn cùng Khoá, chỉ cách đây một tuần ngồi uống bia với những con ốc buơu luộc chấm nước mắm gừng ở quán số 5 ven bờ biển.

Số mệnh an bài nghiệt ngã chưa chịu dừng lại ở đây. Hai tháng sau, trên mặt trận Cây Quéo, Cây Thị trong đợt tổng công kích đợt hai, tôi ôm xác Huỳnh Kim Tiễn mà không có thủ cấp. Một trái không giật đã lấy đi gương mặt hiền hòa cùng bộ não thông minh của người bạn cùng khoá còn lại của tôi, cùng TĐ 91 BCD. Tiễn chết không nhắm mắt, bởi còn mắt đâu mà nhắm, nhưng nụ cười hiền hoà như vẫn còn vương đọng trong tôi như một lời nhắn nhủ “Tao đã đền xong nợ nước thù nhà “.

Thời gian trôi qua như một giấc mơ. Chỉ hơn hai năm tôi phục vụ TĐ 91/ BCD (sau này đổi thành TĐ81 BCD vì xui quá chết như rạ) mà đã trải qua sáu (6) vị ĐĐT: Trần-Hoạt-Thành, Nguyễn-đăng-Lâu, Huỳnh-văn-Thanh, Ngô-Tùng-Lam, Nguyễn-văn-Lân, Phạm-Châu-Tài.

Một binh chủng như thế, một đơn vị như thế có xứng đáng để người đời ca tụng:

“Kinh Luân Khởi Tâm Thượng, Binh Giáp Tàng Hung Trung “…..

* *

*

Ngồi trên mũi boong tầu Dương vận hạm 505. Tầu đang xuôi Nam, điểm đến là quân cảng Bạch Đằng. Ngày mai sẽ ra sao? Nào ai biết ra sao?! Bên cạnh tôi là Đại Úy Nguyễn-chí-Thanh (ĐĐT/ ĐĐ 6/TĐ 81 BCND) Trung Úy Hồng-Quang-Bảo (ĐĐP), Trung Úy Nguyễn-văn-Thinh (ĐĐP) của tôi. Bên dưới lòng tàu lô nhô nam phụ lão ấu chen chút nhau với rương hòm, valy, túi xách, lẫn lộn với ba-lô nón sắt súng đạn cùng hai chiếc xe Jeep của hai Đại Ðội.Trong lòng mỗi người, chắc hẳn đều có một suy tư riêng và cũng chắc rằng chẳng có suy tư nào giống suy tư nào. Những quân nhân và gia đình sinh quán ở Nha Trang mang một nỗi buồn mênh mang xa xứ. Những người gốc gác Sài Gòn, Gia Định, miền Đông, miền Tây tự an ủi mình: thôi gần gia đình sẽ có dịp thăm viếng nhiều hơn. Chắc có lẽ, không có ai trong số người đang nằm đang ngồi, hoặc đi tới đi lui dưới lòng tàu kia nghĩ rằng: “Ngày mai hay ngày mốt còn nhìn thấy chiếc mũ Green Beret ngạo nghễ trên vầng trán của mình hay không??? “.  Một binh chủng đi đông về ít, đi ít về không… hoặc đi luôn không thèm về nữa “.

Ngày xưa trước khi Kinh Kha sang sông Dịch, còn được Thái Tử Đan khoản đãi yến tiệc linh đình với cung tần mỹ nữ. Ngày nay chúng tôi sang sông Dịch không kèn không trống, chỉ có chút ít thời gian ôm vợ con hôn từ giã với câu hỏi: 

– Mẹ con mày còn đủ gạo ăn tháng này hay không?

 Hòm gỗ cài hoa đã có Tiểu đoàn Chung Sự lo toan. Còn khăn sô áo tang xe lăn, nạng gỗ, không biết mẹ mày liệu có lo toan được hay không?

Tôi quay sang hỏi Thanh:

– Anh đang nghĩ gì vậy?

Trước khi về TĐ 81 BCD, anh là Trung Úy, Tóan Trưởng Biệt Hải, xâm nhập bờ biển Hải Phòng năm 1966 bằng tàu đánh cá cải trang của Hải Quân QLVNCH. Toán bị ” bể “, được cứu thoát khi cánh tay phải của Anh lặt lìa, cũng may nhờ Quân Y của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ chắp vá cho nên cánh tay phải vẫn hoạt đông bình thường..

Vẫn cái giọng nói, cái giọng cười khàn đục của Anh, với cánh tay thương tật vung vẫy:

-Mẹ! Từ Biệt Hải, tự ái không thèm giải ngũ, lại về Biệt Cách, bây giờ về Trinh Sát Dù. Thôi cũng được, chứ đưa tao về Biệt Ly là tao Biệt Kinh Kỳ ngay.

Trung Úy Thinh hỏi:

-Biệt Ly là cái gì vậy Đại Úy?

-Là ĐĐT Chung Sự Nghĩa Trang Biên Hòa chứ còn con mẹ gì nữa.

Thanh thò tay móc bi đông mở nắp, hớp vài hớp, đưa sang cho tôi. Tôi cũng làm một hớp. Trời đất “Ông già đi bộ ” (Jonhny Walker). Tôi giao bi- đông cho Hồng-Quang-Bảo, rồi cho Thinh.

Bảo tư lự chẳng nói năng gì, nhìn bâng quơ vào khoảng trời xanh vô tận. Chắc anh đang nghĩ đến giòng họ nhà Hồng Quang của Anh đang ở Đài Loan cùng với gia đình nhà họ Tống. Thinh nắm lấy tay tôi:

-Trung Úy! Có Tôi bên cạnh đây!

Rồi thời gian cũng qua mau như là một giấc mơ…

– ĐĐ5/81BCD…cải danh là ĐĐ2 Trinh Sát ND

– ĐĐ6/81BCD…cải danh là ĐĐ3 Trinh Sát ND

Mang cái tên Trinh Sát ND nhưng thịt xương máu huyết là 81 Biệt Cách Dù

Trận Lam Sơn 719 Hạ Lào (1971). Thân xác của Đại Úy Nguyễn-chí-Thanh đã được gởi trọn ở một vùng đất xa lạ nào đó, không phải quê cha đất tổ của Anh. Anh không bị thuyên chuyển về Biệt Ly mà lần này là Biệt Xứ, Biệt Hải, Biệt Cách, Biệt Ly.

   Biệt Xứ hay Biệt Biệt gì chăng nữa cũng là Vĩnh Biệt. Hồng Quang Bảo cũng theo anh. Thân xác dù được đồng đội gói ghém nhiều lần trong poncho rách tả tơi, mà vợ con gia đình không nhìn mặt được lần cuối. Có lẽ giờ đây thân xác các anh đã hòa tan vào những vùng đất phì nhiêu màu mở của núi đồi phía Tây Khe Sanh, Lao Bảo, trên dãy Trường Sơn trùng điệp ngút ngàn Hạ Lào xa lạ.

Charlie – Mùa Hè Đỏ Lửa – (1972). Mặt trận Tây Nguyên, Liên Đoàn 81 BCD, triệt xuất vùng Tam Biên, ĐĐ2 Trinh Sát ND (tiền thân của ĐĐ5-BCD) xâm nhập để đương đầu với SĐ Thép 320 của CS Bắc Việt, cùng với trọng pháo 130 ly, hỏa tiễn 122, xe tăng T-54. Nguyễn-văn-Thinh lúc ấy là ĐĐT/ĐĐ 111 của TĐ 11 ND (Song Kiếm Trấn Ải).

Khi Cộng quân tràn ngập Charlie, Thinh như một Rambo. Giầy saut, quần trận, áo thun ba lỗ, đầu chít khăn Viễn thám, ngực quấn đầy dây đạn, hai tay với khẩu M-60 quạt trái, quạt phải, đứng sừng sững trên giao thông hào, miệng không ngớt:

-ĐM chúng mày lên đây… lên đây!

Rồi thân xác của Thinh cũng rả rời từng mãnh vụn bởi hằng trăm nhát mã tấu thù hận của quân khát máu. Sau này tôi có dịp trở lại Nha Trang. Người mẹ già gầy rọp thân thể của Thinh hỏi tôi, tôi chỉ biết nghẹn ngào trả lời:

-Thinh vẫn còn ở lại Charlie với Trung Tá Nguyễn-đình-Bảo.

Trận Hạ Lào Lam Sơn 719… ĐĐ 3 Trinh Sát ND (ĐĐ6/ 81BCD) xem như xóa sổ!

Kontum kiêu hùng, Quảng Trị vùng lên… ĐĐ2Trinh sát ND (ĐĐ5/81BCD) thân xác còn đó, nhưng thịt xương rã rời, máu huyết tan loãng.

* *

*

Tôi không thể nhớ hết, sao tôi còn có thể nhớ hết được khi thời gian quá ngắn, mà trang sử thì quá dài. Đã có bao nhiêu đồng đội thân thương của mình, cùng chung một chuyến tàu há mồm xuôi Nam, giã biệt trại Hoàng Diệu đã nằm xuống, mà tôi vẫn còn đây. Họ nằm xuống, xanh cỏ…để tôi được Đỏ Ngực. Đỏ Ngực vì Huy Chương đầy ngực hay đỏ ngực vì tim tôi rỉ máu. Bao nhiêu tháng năm qua, mỗi khi nhớ đến Họ.

Thượng Sĩ, Trung Sĩ Nhất, Trung Sĩ, Hạ Sĩ Nhất, Hạ Sĩ… Họ là những quân nhân ưu tú nhất của QLVNCH, Họ là những bậc thầy của Tôi, hướng dẫn, chỉ bảo, trao truyền kinh nghiệm chiến trường cho tôi trong những bước chân đầu đời binh nghiệp. Có một lần đơn vị trực thăng vận vào mục tiêu Asha, Alưới. Chân chạm đất là chạm địch ngay, Hạ Sĩ Nhất tên Minh, mang máy PRC25, nắm cổ áo tôi vật ngã xuống đất và hét:

– ĐM! Thiếu Úy Đà Lạt gì mà ngu thấy mẹ!. Cứ la xung phong, xung phong. Ðưa ngực cho nó phạng, chết mẹ hết ráo còn lấy ai xung phong!!

Họ là những người lính già không bao giờ chết. Họ chỉ nhạt nhòa đâu đó, trong tim Tôi, trong óc Tôi, chung quanh Tôi, mờ mờ nhân ảnh … Anh không chết đâu Anh, Anh chỉ vừa bỏ cuộc hôm qua… Hôm nay còn lại gì? Có còn chăng chỉ còn tình Huynh Đệ mong manh như những hạt mưa bong bong. Dễ kết dễ ly. Dễ hợp dễ tan. Cố gìn giữ được cái gì hay cái đó, ngày nào hay ngày đó. “Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy“. Tình Huynh Đệ hôm nay không cần vồn vập sôi nỗi, mà cần lắng kết vào bên trong, thông cảmtha thứ cầu mong điều lành cho nhau, sẵn sàng cứu giúp dù phải phá chấp hy sinh, không ra ngoài mục đích hài hòa những mối tương giao tình tự “Một ngày Lính là một đời Lính” Mũ Đỏ, Mũ Xanh, Mũ Nâu, Mũ Đen, Mũ Vàng, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Dân Vệ, Võ Trang Tuyên Truyền… cũng giống như nhau, cũng cùng phơi thây nơi chiến địa dưới họng súng xâm lăng của quân thù không còn nhân tính. Nhưng tiếc thay hôm nay có những Huynh Huynh Tỷ Tỷ quên lãng đi, hay cố tình quên lãng đi: “Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô”.

Họ quên đi thời thế thế thời đã đổi thay. Họ vẫn xênh xang áo mão hoàng triều, huy chương đầy ngực, lon lá lé l ói xum xoe trong những lễ hội hoa đăng. Nhưng Họ có bao giờ nghĩ rằng bao nhiêu linh hồn uổng tử đang ở bên cạnh Họ và nguyền rủa Họ.

Có những kẻ lúc nào cũng xum xoe khúm núm Đệ Đệ Muội Muội để trở thành “Thời Lai Đồ Điếu ThànhCông Vị “. Dậu đổ bìm leo. Họ leo lên những bậc thang Danh Vị của Họ giống như những Công Công của thời vua chúa quân chủ đời nhà Tống, nhà Minh bên Tàu. Họ đạp thẳng chân, thẳng tay, vào mặt những người đàn anh của Họ, mà đáng lý ra Họ phải tôn kính và nhớ ơn.

Ngày nay, trong một cuộc sống quá xô bồ, hối hả, căng thẳng với gia tốc của nhu cầu vật chất, tôi được quyền có những giây im lặng, trầm tĩnh trong cuộc sống hằng ngày, để tự lắng vào bên trong, để có dịp gặp lại những hình ảnh thân thương của đồng đội, trên chiếc tàu há mồm xuôi Nam để từ mũ Xanh thành mũ Đỏ. Màu gì cũng là màu, nhưng màu Máu của con người không ai thay được.

ĐĐ5/81 BCD và ĐĐ2Trinh Sát ND, chỉ là Một

Trương Út tức Út Bạch Lan

(Khoá 22/TVBQGVB)

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 9 June 2023

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 7

Trong thời gian giải lao giữa giờ họp, tôi kéo áo Trung tá Huấn giựt giựt mấy cái rồi lớn tiếng nói đùa,

– Nếu Việt Cộng mà bao vây Pleime, tôi sẽ kêu ông vào cứu đó nghe!

Ông Huấn nhanh nhảu giơ tay cam kết,

– Ô kê đô! Nếu ông bị đánh, cứ hô một tiếng là tôi đem cả liên đoàn vào cứu ngay!

Thấy thế, anh Nguyễn Ngọc Di đứng gần đó cũng buồn rầu góp lời,

– Còn tôi thì chỉ trông cậy vào sự hên xui của số mạng. Chia tay lần này, không biết mai đây chúng mình có còn nhìn thấy nhau nữa hay không?

Nghe ông bạn vong niên thở than, tôi bỗng chạnh lòng an ủi anh Di,

– Anh là người nhân hậu thật thà, chắc chắn Trời Phật sẽ che chở cho anh. Ðừng lo lắng quá làm gì cho nó khổ cái thân già.

Anh Di người Huế, lớn hơn tôi gần chục tuổi; tôi và anh quen nhau từ năm 1966. Ngày đó anh Di là Trung úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 311 còn tôi là một thiếu úy chân ướt, chân ráo mới từ Ðà Nẵng vừa vào Pleiku chưa có chức vụ gì. Anh Di thường cho tôi quá giang trên chiếc Jeep của anh từ Biển Hồ đi Pleiku. Vợ anh Di là chủ một tiệm tạp hóa nằm trên đường Lê Lợi, tôi thường mua thuốc lá ở cửa hàng này. Tôi và anh Di đã trải qua gần chục năm sát cánh, chiến đấu bên nhau.

Tôi đã biết, hiện thời tiền đồn Dak Pek đang nằm heo hút tít mù xa, cách tỉnh lỵ Kon-Tum hơn 80 cây số đường chim bay, yểm trợ thì khó khăn, hạn chế, không thể cứu viện, không đường rút lui, chắc chắn không sớm thì chầy, căn cứ này cũng rơi vào tay Cộng Quân. Ðã có lần, trong một buổi họp với quân đoàn, tôi mạnh miệng đề nghị đóng cửa tiền đồn này, rút Tiểu Ðoàn 88 Biên Phòng về Kon-Tum để tiết kiệm xương máu của quân mình nhưng ý kiến của tôi không được Tư Lệnh Quân Khu chấp thuận.

Tôi móc túi lấy bao Lucky đưa cho anh Di,

– Trước ngày lên đường anh hãy hút một điếu Lucky của tôi để lấy hên!

Bạn tôi rút một điếu thuốc kẹp vào giữa hai ngón tay, rồi nhìn tôi với ánh mắt đượm buồn,

– Lần đầu tiên mình gặp nhau tháng 10 năm 1966 Long mời mình một điếu Lucky không đầu lọc. Vì “gu” của mình là Salem nên mình đã không chịu nhận điếu thuốc Long cho, vì thế mà Long đã giận mình cả tuần lễ sau mới nguôi. Kỳ này thì mình sẽ hút thuốc Long mời, biết đâu có thể đây là lần cuối cùng bạn còn nhìn thấy mình, mời mình hút thuốc.

Tôi xoè bàn tay ra để bịt miệng anh Di,

– Ðừng nói gở! Ðừng nói gở!

Quả thực tôi không biết hôm đó anh Di đã buột miệng “nói gở” hay anh Di vừa linh cảm thấy điều gì đó không tốt đẹp sắp xảy ra?

Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1974, một chiếc trực thăng cất cánh từ Kon-Tum ghé sân Biệt Ðộng Quân Pleiku đón tôi. Trên tàu đã có sẵn hai hành khách, đó là ông Trung tá Chính, Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y mới ra trường. Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân hiện thời trú quân ở đồi Ba Chấm trên Kontum, Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đang bận họp hành quân nên nhờ Trung tá Chính đưa tôi vào Pleime. Ngày đầu ở tiền đồn Pleime thật là dở khóc, dở cười. Tôi đã không chịu ký vào ba xấp giấy phụ bản bàn giao chỉ vì: Trên phụ bản quân số thì có 92 quân nhân chỉ có tên mà không có mặt khi điểm danh. Trên phụ bản tiếp liệu ghi còn tồn kho 400 bộ đồ hoa nhưng trong kho thì trống rỗng. Anh em trong đơn vị than phiền rằng cả năm nay không có quần áo mới. Khi có phái đoàn thanh tra tới thì những người áo quần rách rưới quá bị dẫn ra suối để tránh mặt. Trên phụ bản ẩm thực ghi rõ món nợ trưng dụng gần nửa triệu đồng chưa chứng minh. Mỗi khi lãnh lương thì tiểu đoàn trưởng phải ký nợ tiền ăn tháng sắp tới, vì tiền ăn tháng đó đã bị Ngân Khố trừ nợ hết rồi. Tôi đòi hỏi phải có ba phụ bản mới, trong đó Trung tá Chính phải ký tên làm chứng. Ba phụ bản đó gồm có: Bản ký nhận quân số tại hàng. Ông cựu tiểu đoàn trưởng phải chịu trách nhiệm báo cáo vắng mặt hay báo cáo tầm nã 92 người vắng mặt ngày hôm đó. Bản danh sách xin bổ sung quân trang khẩn cấp cho tất cả quân nhân tại hàng. Trung tá Chính sẽ đem về trao cho Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân giải quyết. Bản danh sách ứng tiền ăn mới, không liên quan tới những nợ nần đã có trước của đơn vị.

Trong danh sách ứng tiền ăn này, tôi ra lệnh trừ tiền ăn tất cả mọi người, không ai được miễn trừ, kể cả tôi, tiểu đoàn trưởng. Tới kỳ nhận tiếp tế, thực phẩm sẽ được chia đồng đều, phần của ông thiếu tá tiểu đoàn trưởng cũng giống y như phần của anh binh nhì, không khác gì nhau.

Xưa nay, trong đơn vị này, hàng chục quân nhân thân cận tiểu đoàn trưởng và cả ông tiểu đoàn trưởng đã được ông ta cho miễn trừ tiền ăn. Những người này cuối tháng được lãnh toàn số lương, không bị trừ đồng nào, nhưng khi tiếp tế thì họ vẫn được lãnh phần như người khác. Như thế có nghĩa là những người khác đã đóng tiền để nuôi họ. Ðây là một hành động ăn cắp bỉ ổi không thể chấp nhận được. Sau khi đưa tôi đi quanh doanh trại một vòng để quan sát hệ thống bố phòng, lúc trở về, Thiếu tá Bé cho tôi biết tin rằng cái đơn xin thuyên chuyển về phục vụ nơi nguyên quán của ông ta đã được thượng cấp chấp thuận. Do đó, ông Bé xin tôi cho ông ta theo chân Trung tá Chính trên chuyến bay rời Pleime ngay sau khi bàn giao.

Trung tá Chính cũng cho tôi biết người thay chỗ cho Thiếu tá Bé sẽ là một đại úy gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, sĩ quan Võ Bị, khóa đàn em của tôi. Từ ngày thứ nhì, tôi bắt đầu hướng dẫn đơn vị tập cho quen với nếp sinh hoạt mới. Ðiều cấm kỵ nghiêm ngặt thứ nhất là lính gác tuyệt đối không được hút thuốc trong phiên trực, dù là ban ngày, hay ban đêm. Ðiều cấm kỵ thứ hai là không được uống rượu đế, rượu trắng trong doanh trại. Ðiều cấm kỵ thứ ba là không được bài bạc dưới bất cứ hình thức nào.

Trong mười năm chỉ huy, tôi đã thấy những cái chết thảm khốc, mất đồn, mất chốt, chỉ vì quân ta cứ ham mê đỏ đen, tụ tập say sưa, bù khú, lơ là canh gác, nên Ðặc Công mới chui được vào vị trí đóng quân mà đánh phá. Ngay buổi trưa ngày thứ nhì, tôi đã ra lệnh tất cả dụng cụ phục vụ các trò chơi như xóc đĩa, bài cào, tứ sắc, xập xám, và cả những bộ Domino đều bị tịch thu và thiêu hủy. Tôi thẳng thắn tuyên bố rằng, những ai thấy không thể tuân theo những luật lệ trên thì cứ trình diện tôi xin đi đơn vị khác, tôi sẽ cấp sự vụ lệnh cho đi ngay.

Hình như sự có mặt của tôi đã làm đảo lộn nhiều thói quen trong sinh hoạt hằng ngày của đơn vị này. Những nhân viên làm việc trong bộ chỉ huy tiểu đoàn, trừ ông Thiếu úy Trần Văn Phước và Thượng sĩ Nguyễn Phường của Ban 2 từng làm việc dưới quyền tôi, thì người nào cũng lộ vẻ e dè, giữ kẽ mỗi khi tôi bước vào văn phòng, hay trung tâm hành quân. Trung đội Trinh Sát 82 có khoảng gần hai chục quân nhân do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm làm trung đội trưởng và Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Sơn làm trung đội phó. Ngày tôi nhận tiểu đoàn, đầu tóc ông nào cũng dài thậm thượt, vậy mà thoáng cái, hai hôm sau, tóc ông nào cũng húi cua, ngắn như tóc tân binh. Những ngày kế đó tôi phải đích thân đi tới quan sát ba cái tiền đồn cố định, trên Chư Hô, Chư Gô và đồi Bắc Pleime. Tại đây tôi trực tiếp hướng dẫn từng chuyện phải làm cho ba ông trung đội trưởng chỉ huy tiền đồn cách báo cáo tin tức, cách bố trí canh gác cũng như cách thiết trí con đường rút chạy khi bị địch tấn công quá mạnh.

Tôi đã biết ưu điểm của các đơn vị biên phòng là thám sát và cố thủ. Nhược điểm cần khắc phục là thiếu kinh nghiệm hành quân tấn công. Thay đổi thói quen tác chiến của một đơn vị không phải là công việc dễ dàng. Từ ngày thứ tư, tôi bắt đầu huấn luyện kỹ thuật dàn quân tấn công cho các đại đội. Dự trù thời gian huấn luyện dành cho mỗi đại đội sẽ là mười ngày, mười đêm. Suốt thời gian huấn luyện này, Trung đội Trinh Sát 82 là thành phần trừ bị, sẵn sàng ứng phó với những biến cố xảy ra. Tôi dự tính, sau khi 4 đại đội tác chiến đã được huấn luyện, tôi sẽ giải tán Trung đội Trinh Sát và thay vào đó là 6 toán viễn thám, đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Trần Văn Phước.

Cũng trong thời gian này tôi nhận được một thuộc cấp cũ tới tiếp tay đó là Trung úy Trần Dân Chủ. Ông Chủ, khi còn mang lon thiếu úy, đã bị Việt Cộng bắt trong trận Ben-Het tháng 5 năm 1969.

Ông Chủ mới được trao trả tù binh cách nay vài tháng và được đưa về Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân; nghe tin tôi vừa nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 thì ông Chủ xin về làm việc với tôi.

Tôi cho Trung úy Nguyễn Trọng Thọ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn giữ chức Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/82 thay thế cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt đang nằm bệnh viện Pleiku; còn Trung úy Trần Dân Chủ sẽ thay thế Trung úy Thọ. Phụ tá cho Trung úy Chủ là một hạ sĩ quan tham mưu rất siêng năng và lanh lẹ, đó là Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn. Ðôi khi rảnh rỗi, tôi thường chỉ vẽ cho Trung úy Chủ và Trung sĩ Hoàn những nguyên tắc tham mưu binh đoàn; nhân dịp này mà Trung sĩ Hoàn có cơ hội mở mang kiến văn.

Nửa năm sau tôi đã ký tên chấp thuận cho chú Hoàn theo học Khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt. Tiếc thay, đúng thời điểm Trung sĩ Lưu Ðức Hoàn có mặt ở Tiền cứ Ban Mê Thuột để chờ nhận tờ Sự Vụ Lệnh theo học khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt thì thành phố này bị Việt-Cộng tấn công. Vì lý do đó mà tới ngày chiến tranh chấm dứt, Biệt Ðộng Quân Lưu Ðức Hoàn vẫn còn là một trung sĩ. Rút kinh nghiệm từ các trận Lệ Minh và Bu Prang, địch thường dùng xe tank để uy hiếp tinh thần quân ta, do đó, song song với việc huấn luyện đơn vị tôi phải đích thân đi thám sát những đường tiến sát mà xe tank địch có thể sử dụng để uy hiếp Pleime.

Kế đó, một khóa huấn luyện cấp tốc được tổ chức ngay trong sân cờ. Huấn luyện viên là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, học viên là năm sĩ quan Ðại đội trưởng, Trưởng ban 2, Trưởng ban 3, Trung đội trưởng Trinh Sát, và Trung đội trưởng Pháo Binh Biên Phòng.

Tôi đã đích thân hướng dẫn thật chi tiết cho từng người nắm vững thứ tự công việc phải làm và từng động tác phải làm để gài một quả mìn.Tôi nhấn mạnh công tác ngụy trang một quả mìn một cách thật tỉ mỉ, vì đây mới là mục đích sau cùng của bài học. Bí quyết ngụy trang này chỉ là một mẹo vặt rất dễ thi hành, nhưng ít ai nghĩ tới. Có thể Viễn Thám của Phòng 2/Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 là đơn vị độc nhất của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã áp dụng bí quyết đó một cách hiệu quả trong suốt thời gian tôi giữ chức vụ chỉ huy đơn vị này.

Muốn nguỵ trang một hố mìn, ta phải làm đúng theo thứ tự sau: Gắn ngòi nổ xong thì ta phủ một lớp đất mỏng che mặt quả mìn. Ðặt một cục đá dẹp lên trên quả mìn. Kế đó, để một lưỡi xẻng hay một miếng kim loại rỉ sét lên trên cục đá. Lấp một lớp đất mỏng lên trên lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Xóa dấu vết toàn khu vực trước khi rời đi. Máy rà mìn của địch sẽ reo khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Vì thấy dưới miếng kim loại chỉ có cục đá nên chắc chắn chúng sẽ ơ hờ, bỏ qua. Chúng đâu ngờ dưới cục đá còn có quả mìn!…Máy dò của Việt-Cộng đi trước, tank của Việt-Cộng bò theo sau, bánh xích xe tank sẽ cán lên cục đá, thế là … “Ùm!”

Ðể tránh sự nghi ngờ của địch, ta phải đặt mìn với khoảng cách khá xa nhau, và đặt với vị trí dích dắc… Ngay hôm sau ngày huấn luyện, đoạn đường xe be dốc Tây suối Ia Mê, đã có bốn quả mìn chống chiến xa được an bài.

o O o

Cứ Ðiểm 711 tháng 4 năm 1974: Một chống lại mười. Trong địa phận Pleiku thì tôi biết rõ ràng rằng, mục tiêu của địch sẽ là một trong ba trọng điểm: Quận lỵ Thanh-An, Quận lỵ Phú-Nhơn và Căn Cứ Biên Phòng Pleime. Hiện thời, đại quân của Cộng-Sản đang tập trung trong thung lũng Ia Drang.Vì thế, nếu đánh Thanh-An địch sẽ sử dụng Quốc lộ 19 còn đánh Phú-Nhơn hay Pleime thì chúng phải chuyển quân theo con đường vừa được phát quang. Thời gian này Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã vinh thăng Trung tướng. Một tuần lễ sau khi vào Pleime, tôi bị gọi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh nhận nhiệm vụ đem quân ra Căn Cứ Hỏa Lực 711 để xây dựng một căn cứ hỏa lực mới rộng lớn hơn. Căn Cứ 711 hiện thời sẽ bị phá đi.

Tướng Toàn cho tôi biết trong thời gian sắp tới, địch sẽ tung quân cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian để Trung Ðoàn 470 Vận Tải của chúng có thể dùng cơ giới thi hành một chuyến tiếp tế quân lương cho lực lượng Cộng Sản dưới duyên hải. Nhiệm vụ của tôi là cố gắng phát giác và cầm chân, không cho đoàn xe của địch vượt qua sông Ia Tur. Lệnh của quân đoàn đưa ra thật gấp gáp, tôi chỉ kịp tập họp Trung đội Trinh Sát và hai Ðại đội 2 và 3 rồi chuẩn bị lên đường. Ông tân Tiểu đoàn phó là Ðại úy Quách Cơ Bình mới thấy tên trên công điện thông báo, nhưng chưa đáo nhậm, do đó Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng Pháo Binh Pleime đương nhiên trở thành người chỉ huy phòng thủ căn cứ biên phòng này trong thời gian tôi dẫn quân xuất trại. Ðại đội 4 canh gác trại và giữ ba cái tiền đồn; Ðại đội 1 đóng trụ tại vùng 4 cây số Bắc Pleime.

Tiếp theo đây là diễn tiến trận đánh lịch sử đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku vào tháng 4 năm 1974.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 1 June 2023

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 6

Chiếc C&C đó không chở Trung tá Nguyễn Thành Tiên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân mà lại chở ông Thiếu tá Nguyễn Phán, sĩ quan pháo yểm của liên đoàn cùng một phụ tá của ông là một thiếu úy tiền sát viên.

Hình như chiếc trực thăng này đã bị phòng không bắn, nên quay đi, quay lại, tôi không còn thấy nó nữa.  Sau này tôi nghe tin báo rằng, hôm đó có một trực thăng của Phi Ðoàn 229 bị trúng đạn của Việt-Cộng trong vùng Ðông Kon Sơm Luk rồi bị rơi trên khu vực rừng cây thưa gần Ðồi Ba Chấm hướng Nam Kontum. Không rõ chiếc máy bay này có phải là chiếc C&C đã chở Thiếu tá Phán hay không?

Ðúng nửa giờ sau, pháo địch đột nhiên chấm dứt. Vì bụi dày đặc quá, tôi không nhìn rõ những gì đang xảy ra dưới đất, nhưng trong tần số không lục của phi cơ, tôi nghe quân bạn báo cáo rằng Việt-Cộng đang tiến lên, địch đông như kiến. Trinh sát cơ của ta thông báo rằng, hiện thời lực lượng bôn tập của Việt-Cộng đã tràn qua hai cái tiền đồn và đang ào lên ngọn đồi chỉ huy của Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Viên sĩ quan điều không tiền tuyến gọi Liên Ðoàn 22 và đề nghị pháo binh đánh tiếp cận để giải tỏa bớt áp lực của địch cho Tiểu Ðoàn 95 nhưng không ai đáp lại yêu cầu của anh.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân là Thiếu tá Ðỗ Văn Mười sĩ quan khóa 19 Võ Bị. Trước đây, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là cựu Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân. Sau khi thụ huấn khóa học Bộ Binh Cao Cấp, anh Mười đã thuyên chuyển ra Quân Khu 2 và nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ðây không phải là lần đầu anh tới Cao Nguyên, mà khi còn ở Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân, anh đã từng tham dự những trận đánh lớn trên Cao Nguyên vào mùa Hè 1972. Nhưng chiến trường Cao Nguyên 1974 hiện thời, đã khác xưa!

Ðịch đông hơn ta, mạnh hơn ta nhiều lắm! Hầm chỉ huy bị pháo sập, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười và nhiều binh sĩ khác đã bị thương nhưng họ vẫn cố gắng chiến đấu để chờ tiếp viện. Sau hai giờ cầm cự một cách tuyệt vọng, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã yêu cầu máy bay thả bom ngay trên đầu mình để cùng chết với địch quân. Hôm đó sĩ quan điều không tiền tuyến của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh là Thiếu tá Ái, khóa 18 Võ Bị. Anh Ái đã nghẹn ngào trả lời người đàn em khóa 19 của mình:

“Hôm nay mình không có phi tuần nào cả 90 ơi!”

90 là danh hiệu truyền tin của Thiếu tá Ðỗ Văn Mười, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã bị Việt-Cộng trói tay dẫn đi đúng vào ngày kỷ niệm sinh nhật của anh ấy! Cùng chung số phận với Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là Thiếu tá Phan Văn Tranh, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân cũng thành một tù binh.

Tới năm 1982 anh Ðỗ Văn Mười mới được thả ra từ Trại cải tạo Z30A. Hiện thời cựu Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đang định cư ở Florida USA.

Vào thời điểm Tiểu Ðoàn 95 lâm nguy thì Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn 62 cũng đang bị Việt-Cộng pháo kích; hai đại đội của Tiểu Ðoàn 62 nằm ngay dưới chân đồi đóng quân của Tiểu Ðoàn 95 đã bị mất liên lạc. Không rõ số phận ông Thiếu tá Phước, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân người chỉ huy cánh quân này hiện giờ ra sao. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân phải thu quân về cố thủ nơi ngọn đồi thấp ở gần cầu Kon Hơdram. Chiến trận ngày hôm đó quân ta đã hoàn toàn không có pháo yểm.

Dù nằm cách trận địa chưa tới 5 cây số, nhưng hai khẩu đại bác 155ly của ta hầu như vô dụng chỉ vì vị trí pháo binh này liên tục bị cối 82 ly và 120 ly của Cộng Quân cầm chân. Các pháo thủ của ta lo chuyện phản pháo còn chưa xong thì mong gì có chuyện yểm trợ cho quân bạn? Về phần không yểm cũng thế, hôm đó không có bóng dáng chiếc oanh tạc cơ nào của Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa. Ngày 17 tháng 3 tôi được lệnh thu hồi hai toán viễn thám. Tôi hoàn tất công tác và về tới phi trường Kon Tum thì trời đã tối. Sáng 18 tháng 3 tôi nghe Liên Ðoàn 22 báo tin rằng, từ lúc rạng đông, Tiểu Ðoàn 62 đã bị địch pháo kích và tấn công rất dữ dội. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân đã phải bỏ vị trí rồi dẫn quân lội qua sông Dak Bla chạy bán mạng. Trưa 18 tháng 3 năm 1974 một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 40 Bộ Binh được gửi vào Kon Sơm Luk để tiếp cứu cho Biệt Ðộng Quân, nhưng đơn vị này đã sớm bị đánh tan ngay sau khi đi qua vị trí trú quân của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân chừng hai cây số. Trong trận Kon Sơm Luk tôi nhận thấy một điều lạ là, Trung tá Nguyễn Thành Tiên là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân, mà suốt từ đầu trận tới cuối trận, tôi không nghe tiếng ông ta trên máy. Hầu như mọi lệnh lạc trên tần số đều do Thiếu tá Phú và một chuẩn úy phụ tá ban 3 của liên đoàn phát đi. Vài ngày sau, tại phòng hội của Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 ở Pleiku, tôi đã được nghe Phòng 2 Quân Ðoàn II thuyết trình rằng:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 hai Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 62 và 95 đã bị hai trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo của Sư Ðoàn F10 tấn công trong vùng Kon Sơm Luk. Ta thiệt hại nhẹ. Tổn thất địch không rõ. Ngày 18 tháng 3 năm 1974 một trung đoàn địch đã tập kích Tiểu Ðoàn 1/40 tại vùng Bắc Kon Sơm Luk, ta một số quân nhân thất lạc, địch không rõ.” Mặt khác, diễn tiến trận Kon Sơm Luk đã được ghi lại một cách chi tiết hơn trên những trang quân sử sau này của Quân Ðội Nhân Dân Bắc-Việt:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 Trung Ðoàn 28 Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã tấn công tiêu diệt Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ngày 18 tháng 3 Trung Ðoàn 24 của Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã đánh tan Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân.”

Như vậy thì, tin tức từ cả hai phía ta và địch đều xác nhận rằng Sư Ðoàn F10 Mặt Trận B3 là đơn vị chủ công của trận Kon Sơm Luk tháng 3 năm 1974. Sư Ðoàn F10 là đơn vị mới thành lập, nhưng những trung đoàn bộ binh chủ lực của sư đoàn này lại là những đơn vị sừng sỏ đã có mặt trên Cao Nguyên từ lâu lắm rồi. Các đơn vị nòng cốt được quy tụ để hợp thành Sư Ðoàn F10 gồm có Trung Ðoàn 4 Pháo Binh và ba trung đoàn bộ binh là Trung Ðoàn E66, Trung Ðoàn E28, và Trung Ðoàn E24.

Tôi đã có dịp đọ sức với các đơn vị bộ binh Cộng-Sản này nhiều lần trong thời gian từ năm 1967 tới 1970. Theo tôi thì Trung Ðoàn E66 là đơn vị đáng gờm nhất. Xế trưa 18 tháng 3, tôi nhận được tin từ Pleiku cho tôi hay trong thời gian tôi vắng mặt thì toán viễn thám đang hoạt động trong vùng Plei Djereng có một người lên cơn sốt rét cấp tính cần bốc gấp. Hôm đó tại tư gia Ðại tá Phạm Duy Tất có một vị khách của ông Tất đó là Ðại tá Trần Khắc Kính, Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.Ngày xưa, thời Ðệ Nhất Cộng-Hòa, Thiếu úy Phạm Duy Tất là đồ đệ của Thiếu tá Trần Khắc Kính. Tới nay thì hai người cùng mang lon đại tá, nhưng tình thầy trò vẫn không thay đổi.

Ông Ðại tá Kính là tay tổ của Lực Lượng Ðặc Biệt thời Cụ Diệm, nên nghe biết một toán viễn thám của tôi đang bị nạn, ông đã tự nguyện dẫn máy bay vào vùng bốc toán thành công. Nhưng tới khi thả toán mới thì xảy ra chuyện chẳng lành. Viễn thám viên thứ nhứt vừa ra khỏi phi cơ thì bị Việt-Cộng bắn. Trực thăng chở Ðại tá Kính và hai anh viễn thám còn lại phải gấp rút bốc lên cao để tránh đạn; sứ mạng gián đoạn; ta thiệt mất một người, không rõ sống chết ra sao.

Thế là chiều 18 tháng 3 tôi phải đem quân về Pleiku ngay để những ngày sau liên tục bay vòng vòng trong vùng tìm ánh chớp từ gương cấp cứu của anh lính mất tích. Tới ngày thứ ba thì anh ta về tới Pleiku tay không vũ khí. Sợ bị quân ta ngộ nhận bắn nhầm, anh viễn thám này đã phải giấu khẩu AK47 dưới một cái cống trên đường Vĩnh-Lộc, nằm về hướng Tây, song song với Quốc Lộ 14. Sau tai nạn này, tôi nghĩ ra cách tung quân xâm nhập bằng đường bộ.

Thời gian này ta có một căn cứ hỏa lực tạm thời có tên là Căn Cứ Hỏa Lực 522 nằm cách phi trường Lệ Minh chỉ trên mười cây số. Viễn thám của tôi có thể vượt qua lộ trình này trong thời gian trên dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi đích thân chở toán tới Căn Cứ 522, rồi ở đó suốt đêm theo dõi toán vào vùng.

Từ đó tôi nhận ra rằng, đi bộ vào vùng khi đêm xuống, an toàn hơn dùng trực thăng rất nhiều, tại sao mình cứ phải nhờ trực thăng? Về Pleiku, tôi đã viết một bản tường trình chi tiết đề nghị rằng từ nay chúng tôi không cần phương tiện trực thăng để duy trì điện đài quanh Lệ Minh nữa. Quân đoàn chấp thuận đề nghị này ngay. Từ ấy, tôi giao việc tung toán, thu toán bằng đường bộ cho Thiếu úy Võ Văn Phương, Sĩ quan phụ tá Phòng 2. Sẵn dịp có ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi vừa mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp trở về, tôi đề nghị với Ðại tá Chỉ Huy Trưởng để ông Phi thay thế tôi. Ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi là một sĩ quan gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, đàn em của Ðại tá Phạm Duy Tất. Ông Trương Hoàng Phi khi còn là đại úy, đã từng đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của C2 Lực Lượng Biệt thời kỳ 1969-1970, nên không ngỡ ngàng gì với công việc này. Vì thế, Ðại tá Phạm Duy Tất đã vui vẻ chấp thuận đề nghị của tôi.

Tôi vào Pleime…

Bàn giao xong, tôi xin Ðại tá Tất cho phép tôi nghỉ vài ngày để thu xếp chuyện gia đình. Mỗi lần nhận đơn vị mới, tôi đều phải đem vợ con về gửi ngoại. Kỳ này tôi vào Pleime nên vợ tôi phải về Ban Mê Thuột nương nhờ dưới mái nhà của bố mẹ vợ tôi. Tội nghiệp vợ tôi, một nách hai đứa con thơ lại đang mang bầu đứa con thứ ba sắp tới ngày sinh. Gia tài của vợ chồng tôi chỉ có hai cái va li áo quần, một thùng sữa bột SMA và một thùng tã lót của con nít.

Lo xong chuyện gia đình, tôi bình thản lên đường ra tiền đồn. Thời gian này nhiều bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi đã tìm cách lui về tá túc trong các quân trường, trung tâm huấn luyện, có người nhanh chân len lách vào được Bộ Tổng Tham Mưu để tránh đạn. Thấy tôi vui vẻ rời bỏ chức vụ Trưởng phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ở Pleiku mà ra chỉ huy một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng nơi tiền đồn heo hút thì một người bạn đang đi du hành quan sát sau khi mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp đã can ngăn,

– Giờ này mày chưa sợ chết sao mà còn ra chỉ huy tiểu đoàn?

Tôi không tiện giải thích cho bạn tôi lý do vì sao tôi đã bỏ phố để lên rừng, nên chỉ cười,

-Sống chết có số mày ơi!

Trong buổi họp tham mưu cuối cùng tôi được thông báo rằng hôm đó cũng là ngày ba sĩ quan tham mưu của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 nhận sự vụ lệnh rời đơn vị, đó là Trung tá Bùi Văn Huấn, Tham Mưu Trưởng, Thiếu tá Vương Mộng Long, Trưởng Phòng 2 và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di, Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội. Trung tá Bùi Văn Huấn sẽ tới Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân thay thế cho Trung tá Nguyễn Thành Tiên, người vừa bị Tư Lệnh Quân Ðoàn II cách chức Liên đoàn trưởng sau khi Kon Sơm Luk thất thủ.

Tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long sẽ vào Pleime thay chỗ cho Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, do chỉ thị của Tư Lệnh Quân Khu 2. Còn Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di thì lên tiền đồn Dak Pek thay thế cho ông Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 88 là Thiếu tá Trương Ðình Quý xin từ nhiệm.

Đêm Cuối Mùa Thu

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Hôm nay mặt trời tỏa sáng yếu ớt được một lát rồi trốn đâu mất. Những đám mây xám đã trở thành màu đen đậm che phủ cả bầu trời. Mưa rơi không nhiều nhưng thẳng giọt, những giọt mưa bắn xuống lòng đường rào rạt và làm rãnh nước bên đường nổi bọt. Những chiếc lá màu vàng lưa thưa còn vướng lại trên cành cũng sắp sửa về với cội nguồn. Trời sắp vào đông rồi, tôi với Iwan đạp xe tới khu mua sắm vùng Marghera thuộc thành phố Venezia. Vừa tới nơi Iwan liền đi thẳng vô tiệm bán đồ thể thao mua lưỡi câu. Nó nói:

– Chú chờ tui một lát, mua xong tui ra liền.

Tôi nói:

– Mầy thong thả lựa đồ mua, mình có nhiều thời gian mà, tao đi dạo quanh đây, khi nào mua xong mày gọi điện cho tao.

– Okay, lát gặp.

Tôi đi băng ngang khoảng sân rộng hướng qua trung tâm chợ Panorama. Giữa sân trống, đèn bóng nhỏ giăng từ những trụ cột thấp lên chót cột cao, theo mái nhà viền óng ánh bàng bạc biểu tượng của ngày Chúa ra đời. Giữa tháng Mười Hai, trời lành lạnh, mưa lai rai, không khí Giáng Sinh tràn ngập, không gian hiền từ như chuyển tải tình thương về từ cõi xa xăm.

Trong các cửa tiệm người ta treo đèn, kết hoa và màu sắc vui tươi in rõ trong những phần quà gói gấy kiếng bóng treo lủng lẳng và xếp ngay ngắn trên những dãy kệ dài. Tôi dạo gần khắp siêu thị nhưng không mua gì hết. Nhìn quanh người đẩy xe, người xách giỏ, trong xe, trong giỏ người nào cũng đựng nhiều đồ đạc, chỉ có tôi là tay không. Đi ngang qua quày rượu thấy một chồng bia Heineken xâu lại từng cặp, tức là hai lon một chùm, dung tích một lon 33cl, giá một cặp là €1,90, giá bia Heineken trong các tiệm bình thường là €1,30 một lon, hôm nay siêu thị hạ giá bia Heineken. Không lưỡng lự, tôi chộp liền năm cặp, tính đi xem chơi nên không xách giỏ đựng đồ, tôi bèn ôm mười lon bia vô ngực rồi đi thẳng ra quày tính tiền.

Trả tiền xong, tôi định xin túi nhựa đựng bia. Iwan tới đứng sau lưng hồi nào hông biết, hai tay nó mở miệng sẵn chiếc ba lô chìa ra trước mặt tôi:

– Bỏ vô đây nè chú.

Tôi ngạc nhiên day qua, hỏi:

– Ồ, mày tới hồi nào?

Nó cười hì hì.

– Vừa tới thấy chú đi ra nên tui đứng đây chờ.

Bỏ mười lon bia vô ba lô xong, chúng tôi đi ra phía trước cửa khu chợ. Tôi hỏi:

– Mày còn mua gì nữa hông?

Nó chỉ tay qua tiệm bán thuốc lá nói:

– Tui vô đó mua mấy gói thuốc và thẻ điện thoại.

Tôi chợt nhớ ra:

– À. tao cũng vô đó mua mấy thẻ xe bus.

– Chú định vô Venezia hả?

– Mua bỏ túi phòng khi cần.

Vô tiệm mua đồ xong trở ra thì trời lại mưa. Tôi nói.

– Dạo này trời hay mưa quá, hôm ở Trieste bị mắc mưa, qua Venezia cũng bị mắc mưa, bận áo mưa vẫn bị ướt như chuột lột, hôm nay bị mưa nữa. Iwan đưa tay ra hứng mưa và nói:

– Mưa không nhiều, hổng ướt đâu chú.

Tôi hỏi Iwan.

– Mày tính sao?

Nó nhìn ra ngoài trời và nói:

– Tui phải mua kebab cho ba đứa ở trên tàu, chú đi với tui nhé.

Tôi chỉ tay vô bên trong khu chợ Panorama:

– Trong kia có tiệm pizza cũng có bán kebab.

– Nhưng thịt heo không à, chỗ này của đạo Hồi.

– Đi thì đi.

Chúng tôi kéo áo cho kín ngực và trùm đầu cẩn thận rồi ra chỗ để xe lấy xe đạp. Iwan đạp đi trước, tôi đạp theo sau. Quanh qua quẹo lại hai ba con đường tới một quán bán kebab nó dừng lại trước cửa, chờ tôi dừng xe nó nói:

– Tới rồi chú.

Tôi bước xuống dựng xe, nó rút hai sợi dây cáp khoá xe ra. Tôi hỏi:

– Gần cửa tiệm mà khoá chi nhiều vậy?

Nó kéo hai cỗ xe lòn dây vô hai bánh xe, vừa khoá nó vừa nói:

– Ở Ý mà chú.

Tôi chợt nhớ mấy tuần trước tôi bị mất một chiếc xe đạp vì tôi khoá loại khoá thường, trong khi ở đây ai cũng khoá bánh trước bánh sau bằng lòi tói hoặc dây cáp lớn bằng ngón tay cái. Tôi nhìn vô quán, xuyên qua khung kính, thấy một thanh niên da nâu nhỏ thó quấn khăn hijab hồi giáo có bộ râu giống y chang râu của Osama bin Laden. Tôi hỏi:

– Ồ, người In Đô hả?

– Hổng phải, Bangladesh chú, ở đây có kebab gà rất ngon, lát nữa chú ăn thử.

Khoá xe xong tôi với Iwan đi vô quán. Trong quán trưng bày một búp phê, một lò nướng pizza bằng than, một kẹp nướng kebab bằng điện bên cạnh một xâu thịt bự như cái khạp dựng đứng đương quay bên vỉ lửa điện cháy hồng. Phía trước một tủ lạnh đựng nước ngọt, một cái bàn và bốn ghế cao cẳng, quán nhỏ xíu mà lại vắng teo. Chúng tôi vừa bước vô, gã thanh niên từ trong bước ra mừng rỡ ôm Iwan hôn theo cách chào của đạo Hồi. Xong cái màn xã giao, gã day qua tôi chìa tay bắt. Tôi chưa kịp giới thiệu thì Iwan nói:

– Chú Tấn, trên tàu tụi tui kêu là uncle Tấn.

Gã gật đầu, nắm chắt tay tôi gặt gặt:

– Okay, tui cũng kêu uncle Tấn. Chú tới từ đâu?

– Việt Nam.

– À, Việt Nam, chú theo đạo nào?

– Ồ, đạo hả? Đơn giản lắm, đạo của tui là tử tế và tình thương.

Iwan chen vô:

– Chú Tấn đạo Phật.

Vừa nghe nói đạo Phật gã day ngang hỏi.

– Chú có biết đạo Phật bên Miến Điện hông?

– Có.

– Họ giết người, cướp của, đốt nhà của đạo Hồi.

– Tui biết.

– Chú thấy thế nào?

Tôi nhìn gã cười một cái, bán buôn trước mặt hổng lo mà chuyện bên kia trái đất. Tôi để tay lên vai gã và từ tốn hỏi:

– Này ông bạn, bán buôn có khá lắm hông?

– Ồ, lúc lênh lúc xuống, tùy Allah cho bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.

Iwan chen vô nói với gã:

– Ông làm cho tui hai kebab ăn tại đây, thêm ba cái gói đem về.

Gã vừa gật đầu với Iwan vừa thụt lui vô trong nhưng mặt vẫn hướng về phía tôi:

– Chú có dọc kinh Koran không?

– Ồ, tui hổng biết tiếng Á Rập.

Gã đi vô lấy thịt và bánh ra làm kebab, vừa làm vừa nói chuyện về Allah, về thiên đường cho chúng tôi nghe. Tôi và Iwan ngồi lên hai chiếc ghế cạnh chiếc bàn cao. Gã làm hai phần kebab bưng ra để lên bàn cho tôi và Iwan. Hình như nói chưa đủ, gã đi vô trong một lát sau đem ra một tablet, không biết mở cái gì mà tôi nghe phát ra tiếng ồn ào. Khi gã đem tablet dựng trước mặt chúng tôi, mới thấy trên màn ảnh một đại hội các tôn giáo tổ chức bên Ấn Độ, phần diễn thuyết của mấy giáo chủ đạo Hồi. Gã tỏ vẻ hài lòng khi thấy chúng tôi không ý kiến, lúc đó mới chịu vô làm tiếp mấy phần kebab. Bỏ kebab vô lò kẹp nướng rồi gã trở ra mở tủ lạnh lấy hai lon nước ngọt để trước mặt chúng tôi:

– Cái này tui mời.

Khi gã trở vô, Iwan ái ngại nhìn tôi và nói nhỏ:

– Xin lỗi chú.

– Chuyện gì?

Iwan hất mặt vô chỗ gã đương lui cui trở kebab:

– Hắn nói về đạo nhiều quá.

Tôi vỗ nhẹ nhẹ lên vai Iwan:

– Hổng sao đâu, ai cũng có tín ngưỡng riêng. Mày không thấy sao, ngày nay người ta lồng những lời hay ý đẹp trong nhiều tấm hình châm ngôn của Chúa, của Phật, của Allah… post tràn lan trên mạng, trên Facebook. Những tín đồ của các giáo phái đi rao giảng khắp nơi, họ nói về nước thiên đường, cõi cực lạc nào đó ở ngoài trái đất. Nhưng thiên đường đâu hổng thấy mà ngày nào cũng nghe bom nổ, máu đổ và người chết.

Iwan rùng mình một cái:

– Chú hổng thấy phiền sao?

– Lên thiên đường mà gặp những người râu quai nón, vấn khăn hijab kiểu này chắc phiền lắm đó. Không sao, thong thả ăn uống đi, suy nghĩ nhiều quá cũng là phiền.

Chúng tôi ăn uống xong đứng lên tính tiền. Gã thanh niên tính tiền xong, cầm bọc kebab ra trao tận tay Iwan. Thấy Iwan cầm điếu thuốc định đốt, gã ra vẻ nghiêm khắc, nói.

– Không được hút, phạm giới (haram). Iwan bẽn lẽn day ngang bỏ điếu thuốc vô thùng rác. Gã tỏ vẻ hài lòng giống như người cha hài lòng khi thấy đứa con ngoan. Gã day qua đưa cho tôi một quyển sách cỡ bàn tay bằng tiếng Anh.

– Chú đọc để hiểu biết về đạo Hồi.

Không muốn lôi thôi, tôi cầm quyển sách gật đầu:

– OK, cám ơn.

Tôi và Iwan đi ra, gã đi theo tới cửa và đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt:

– Tốt tốt, tôi bảo đảm, theo đạo Hồi chú sẽ được lên thiên đường tức khắc.

Tôi nhìn qua bên kia đường, thấy trước cửa dãy nhà đối diện, những bóng đèn tí ti chớp nhá trên cây thông hoặc kết thành biểu tượng của mùa Giáng Sinh. Dân Ý theo đạo Thiên Chúa, những năm gần đây nước Ý phải gánh chịu dân tỵ nạn qua từ bắc Phi, bên kia bờ Địa Trung Hải, dân chúng sợ tụi khủng bố trà trộn làm ẩu, vậy mà gã vấn khăn, để râu và truyền giáo đạo Hồi giữa thánh địa của Thiên Chúa, quả thật gã không coi dân Ý ra gì hết.

Trên đường đạp xe về, mưa còn lâm râm, làm những chiếc lá vàng trên đường ướt nhẹp. Dưới ánh sáng lờ mờ của những bóng đèn đường từ xa dọi lại, vài cô gái trẻ bán dâm mang túi xách đứng ỏng ẹo, thấy chúng tôi chạy ngang các cô đưa tay chào mời. Chúng tôi chạy thẳng tới ngã tư dừng lại chờ đèn đỏ. Iwan móc thuốc ra bật quẹt châm hút, phà một hơi khói, ngó mấy con nhỏ với vẻ mặt khát khao, nó nói:

– Đạo hồi chơi gái cũng phạm giới.

Tôi chỉ điếu thuốc trên tay nó và nói:

– Hút thuốc cũng phạm giới vậy.

– Đạo Phật có phạm giới hông chú?

– Phật thì có giới luật, nhưng tao thì không.

– Sao vậy chú?

– Vì tao chưa thành Phật.

Thấy mặt thằng nhỏ có vẻ thèm chơi nhưng còn ngần ngại. Tôi chỉ tay qua mấy cô gái đứng đằng kia, nói:

– Mày thấy không, mấy đứa nhỏ đó đứng dưới mưa, giữa trời lạnh, nếu đứng như vậy suốt đêm, sáng mai bị bịnh cũng hổng chừng. Mày đưa cô ta vô khách sạn, được nằm nệm êm, có lò sưởi ấm áp, được chơi và được tiền. Trước mua vui sau là việc nghĩa, đâu có đạo nào cấm giúp người và cấm người ta không được vui sướng, phải không?

Có lẽ mấy cô gái thấy đèn xanh cho người đi xe đạp và đi bộ bật lên mấy lần mà chúng tôi không băng qua đường, nên có cô tới chào mời. Iwan nhìn tôi dò ý, tôi nói với nó:

– Mày muốn chơi thì chơi, đưa túi đồ cho tao, tao đem xuống tàu trước.

Nó dòm qua cô gái và ngó qua tôi, nói:

– Chú hổng chơi hả?

– Khùng, tao già rồi, lỡ đương chơi bị giựt méo miệng, sôi bọt mép, người ta chụp hình nằm trần truồng đăng lên báo mất công nổi tiếng, kỳ lắm.

– Tại mấy ông đó dùng thuốc nhiều quá.

– Già rồi hông dùng thuốc làm sao chơi.

– Vậy chú chờ tui được hông? Một giờ thôi.

– Mày chơi tới sáng cũng hổng sao.

– Mười hai giờ tới phiên tui trực.

Tôi cúi xuống bấm điện thoại xem giờ xong ngước lên, nói:

– Mới hơn tám giờ, đưa ba lô tao mang, mày thong thả chơi từ từ, khi nào xong phone cho tao.

– Chú xuống tàu hả?

– Thì đưa kebab cho mấy đứa ở dưới ăn cho ngon.

Iwan nói.

– Nhưng tui không muốn mấy đứa biết tui chơi gái.

– Tao thấy tụi nó cũng chơi hà rầm.

– Nhưng chú xuống có một mình, tụi nó hỏi tui.

Tôi chỉ tay qua quán bar bên kia đường.

– Được rồi, mày yên tâm chơi đi tao qua bên đó ngồi chờ mày.

Đèn đường bật lên màu xanh, tôi nhón người định đạp xe băng qua đường. Iwan kêu lại:

– Chú chờ tui một lát.

Iwan day qua hỏi cô gái đi với nó tới khách sạn bằng xe đạp được không. Cô gái lắc đầu đòi đi tắc xi. Iwan day qua tôi:

– Vậy tui để xe đạp chung với xe chú trước quán bar nhé.

Tôi nói:

– Dĩ nhiên.

Iwan day qua kêu cô gái chờ một lát nhưng cô ta đòi đi theo. Định băng qua đường, nhưng đèn đường bật sang màu đỏ, chúng tôi phải đứng lại chờ đèn xanh rồi mới dắt xe băng qua.

Bên trong bar sáng sủa, trên vách treo đèn bóng li ti hình ngôi sao, cây thông và nhiều biểu tượng Thiên Chúa. Những món bánh pizza, bánh ngọt để trong búp phê cũng trang hoàng đẹp đẽ theo phong cách của mùa Giáng Sinh. Rượu nho trắng, rượu nho đỏ và nhiều hiệu rượu xếp thứ tự, ngay hàng trên kệ. Không gian ấm áp, sáng sủa, đâu còn nơi nào thích hợp, lãng mạn cho các buổi hẹn hò hay tụ họp gia đình ấm cúng hơn nơi này. Cô gái đứng trong bar chào tôi, tôi không nghe được tiếng Ý, nhưng cũng đoán được cô hỏi gì. Tôi bước tới đứng trước bar, nói:

– Cô cho tôi ly bia loại nhỏ:

Cô gái rót bia đưa cho tôi, tôi bưng ra chiếc bàn dài, để ba lô xuống và leo lên ngồi. Chợt nghe có tin nhắn qua điện thoại, tôi móc điện thoại ra xem, thì ra hôm kia có cô bạn nhắn hỏi:

– Giáng Sinh tới rồi anh có chương trình gì hông?

Tôi trả lời:

– Giáng Sinh gần kề, thương yêu nhiều và thoang thoáng nhớ nhung… Tới hôm nay cô mới nhắn trả lời:

– Có gia đình để yêu thương, có nơi để nhớ là số một trên đời…

Hớp một hớp bia, tôi bấm máy trả lời.

– Nếu có nơi để nhớ thì gọi điện thoại hỏi vài câu thì hết nhớ liền.

Gởi tin nhắn xong tôi khoá internet, cất điện thoại vào túi. Bưng ly bia lên hớp một hớp, nhìn nhóm người ngồi quanh một chiếc bàn rộng và những đôi tình nhân hay cặp vợ chồng ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn nhỏ. Chợt nhiên tôi thấy mình lẻ loi. Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác cô đơn, một cảm giác nhẹ nhàng và lòng thoang thoáng nhớ nhung một cái gì không rõ rệt.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Trieste 15-12-2016