Chuyện hai con cua!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 1 Sep 2023

Thưa mấy ông anh mình vốn có tinh thần văn nghệ văn gừng, thường nằm tòn teng trên võng, nghêu ngao vài câu vọng cổ (để nhắn nhủ với hiền thê đừng bao giờ biến thành con ác phụ); chắc đều biết cái bài vọng cổ: “Lòng dạ đàn bà hay chuyện hai con cua!” của soạn giả Viễn Châu?!

Chuyện rằng: Vua nước Sở, hưỡn, đi câu, thấy trong một cái hang, con cua cái đang nằm lột vỏ, còn con cua đực ngày đêm lo canh giữ vợ hiền, quên cả việc ra đi tìm mồi cho đỡ đói…

Nhưng đến ngày lột vỏ của con cua đực thì con cua cái mặc tình đi dọc, về ngang. Bỏ con cua đực nằm quạnh hiu ngóng trông ‘mình’ về! Vậy mà con ác phụ nầy đã đem lòng bạo tàn… nhẫn; dẫn về một gã nhân tình có đôi càng to lớn, đến xé xác ông chồng xấu số, vô duyên!

“Đàn bà lòng dạ hiểm sâu, ngoài môi lại nói những câu chung tình!”

Hai vợ chồng cua là vậy còn hai vợ chồng chú thiếm Ba nước Sở bên Tàu hỡi ơi cũng y chang vậy mới chết!

Sắc lệnh triều đình ban ra là: Đàn bà Sở quốc, ai can đảm giết chồng; thủ cấp dâng lên, được ban nhất phẩm phu nhân, lụa là gấm vóc, vàng ròng đầy xe.

Loa đây, loa đây! Là từ mệnh phụ phu nhân, cho đến trang thiếu nữ chung tình, đông như đi hội chợ ‘Tết’, đem đầu người yêu máu me còn chảy ròng ròng đến hoàng cung để mong… hưởng lộc triều đình!

Thưa tui không thể nào tin được chuyện nầy đâu. Chắc tác giả thêm thắt chớ đâu phải thiếm Ba nào cũng là ác phụ hết trơn. Thấy có gấm vóc, lụa châu báu là ngộ cho nị chết Tía nị luôn?!

chuyen-hai-con-cua-2Nếu thiệt vậy thì nước Tàu đã diệt vong từ thuở ấy; vì chỉ còn lại toàn là thiếm Ba không hè; còn chú Ba, nơm nớp sợ vợ giết mình để lãnh thưởng, chắc đã hè nhau trốn lên Hoa sơn để thành khỉ hết trơn rồi?!

Thử lòng thiếm Ba xong; Vua nước Sở lại rắn mắt, thử lòng chú Ba nữa chớ!

“Ai can đảm giết chết vợ nhà? Trẫm sẽ chia phân nửa giang san Sở quốc.”

Nhưng một năm trời lặng lẽ trôi qua, không có một người đàn ông nào đến bệ rồng lãnh thưởng.

Bỗng một hôm có một gã nông phu nghèo khổ, áo chẳng đặng lành, cơm chẳng đặng no, đến Sở Vương xin vua trao gươm báu để về nhà giết vợ. Nhưng khi về đến nhà, đứng trước túp lều tranh, nghe tiếng vợ hiền ru con buồn não ruột.

“Bệ hạ ơi, ngu dân thà chịu chết, chớ không thể nhẫn tâm mà giết thác vợ cho đành!.”

“Cho hay trong đạo vợ chồng, biết ai chung thủy, ai lòng bạc đen?!”

Kyriakos Amiridis

Thưa tui không tin; nhứt định không tin câu chuyện hư cấu nói xấu toàn thể phụ nữ như thế nầy đâu!

Bây giờ qua Úc, lâu lâu đọc báo cũng có thấy cái tin vợ giết chồng; chồng giết vợ… vì ngoại tình, vì tiền bảo hiểm nhân thọ, quả là cũng có. Nhưng hiếm khi xảy ra lắm kìa.

Rồi mới đây tui đọc báo thấy trang sau chia buồn. Chẳng qua là chánh phủ Brazil bên Nam Mỹ chia buồn cùng chánh phủ Hy Lạp bên Âu Châu!

Ông chồng xấu số là: Kyriakos Amiridis, bây giờ 59 tuổi, đã từng làm Tổng lãnh sự Hy Lạp ở Rio từ năm 2001 đến năm 2004. Ông cưới Francoise De Souza Oliveira, người Brazil, bây giờ 40 tuổi.

Cặp vợ chồng này đã sống với nhau 15 năm và có một đứa con gái 10 tuổi.

Amiridis thăng chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hy Lạp tại Brazil vào tháng Giêng, năm 2016.

Đường công danh của ông lên nhưng đường tình duyên ‘cạo da đầu, cầu gia đạo’… thì gặp nhiều sóng gió!

Vợ ông là Oliveira ‘tằng tịu’ với một tay quân cảnh tên là Sergio Gomez Moreira, mới 29 tuổi.

Sau nầy, hung thủ Moreira khai rằng: đã có một cuộc ẩu đả với ông Amiridis sau khi nghe bà Oliveira khóc lóc, khúc nôi về việc ông Đại sứ đánh đập mình!

Hung thủ đã siết cổ ông chồng bất hạnh nầy tới chết.

Xong kêu một đứa em bà con là Eduardo Moreira de Melo, mới 24 tuổi, đến gói xác nạn nhân vào trong một chiếc thảm, bỏ vào xe, chạy xuống một chân cầu, đốt trụi tất cả để phi tang.

Nếu tội ác êm xuôi, thì 30 ngày sau, tòng phạm sẽ được bà Đại sứ ‘black widow’ (góa phụ áo đen) nầy tưởng thưởng 80 ngàn reals (tiền Brazil) bằng khoảng 25 ngàn đô Mỹ.

Lưới Trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó lọt!

Trước lời khai tiền hậu bất nhất của con ác phụ nầy. Cảnh sát bèn điều tra tìm thấy vết máu của nạn nhân trong phòng khách của căn nhà hai vợ chồng đang nghỉ lễ.

Góa phụ áo đen nầy chối không có tham gia vào vụ giết chồng nhưng thú nhận là có biết vụ sát nhân nầy.

Dĩ nhiên làm ác là phải đền tội trong ngục tối! Nhưng mấy ông anh mình đọc tin xong ai cũng phát rét: “Kinh khủng thật! Ôi, đàn bà là những niềm đau! Một khi máy bay bà già si tình phi công trẻ thì thật là nguy hiểm cho đức lang quân; vì ra tay tàn độc đúng như là con cua cái trong bài vọng cổ Lòng dạ đàn bà tức chuyện hai con cua của soạn giả Viễn Châu.”

Thưa dẫu câu chuyện ghê tởm nầy xảy ra đã làm tui lạnh xương sống; cóng xương sườn; nhưng tự trong thâm tâm, tui vẫn hằng nghĩ không chút suy suyển chút nào, là: Đàn bà đâu phải ai cũng ác như bà nầy đâu. Chỉ là trường hợp cá biệt đấy thôi.

Không yêu nữa thì cứ ra Tòa ly dị, tài sản chia đôi, rồi “Anh đi đường anh, tôi đường tôi, Tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Đã quyết không mong xum họp mãi. Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?”

Chớ nỡ lòng nào mà xúi tình nhân giết chết người đã từng đầu ấp tay gối với mình suốt mười lăm năm dài; mà lại là cha của đứa con gái còn bé bỏng của mình mới vừa lên 10 tuổi. Ác gì mà ác dữ vậy hỏng biết?!

 ***

Thưa trở lại chuyện hai chúng mình! Vợ chồng người ta giết nhau không gớm tay như vậy nhưng vợ chồng tui là hỏng có chuyện đó rồi. Tui cam đoan chắc như bắp vậy.

Vì một là dù em yêu dẫu có xúi tui rất nhiều lần; nhưng tui cương quyết không bao giờ mua bảo hiểm nhân thọ cả…

Hai là lâu lâu tui cứ hỏi em hoài hè: Nếu em không còn yêu anh nữa mà có yêu ai đó xin em cứ tự nhiên như người Hà Nội! Lội đâu thì lội… nhớ tha chết cho anh nhe!

Ôi nhớ hôm xưa ngày cưới em, chu choa lạy muốn sói trán luôn mới có tiền mừng cưới chớ. Nhưng ông Ngoại của em yêu dễ dãi: “Thôi miễn! Bây khỏi lạy! Mai mốt tao chết; lạy luôn một lần cho nó tiện!”

“Còn bây giờ hai đứa vảnh lỗ tai lên mà nghe ông dạy đôi lời để tụi bây theo đó mà ăn đời ở kiếp với nhau; cho đến ngày răng long đầu bạc.”

“Nè thằng chồng bây nếu không muốn chết bất đắc kỳ tử, chết tức chết tối, chết không kịp trối, muốn an toàn trên xa lộ và thanh lịch trong thành phố thì đừng bao giờ mèo mả gà đồng! Nếu làm con vợ bây nó ghen… là bây chết chắc!”

“Còn con vợ thì: Không chồng đi dọc về ngang; có chồng cứ thẳng một đàng mà đi nghe không?”

“Nhớ đừng có luông tuồng! Liếc thằng nầy một cái; cười mĩm chi với thằng kia một cái! Có chồng rồi mà cứ tưởng mình như thời son giá vậy!”

“Cà chớn lửa… coi chừng chồng bây nó đập cái mặt te tua, má nhìn hỏng có ra! Vì ca dao có câu rằng: Không đánh thì bậu luông tuồng! Dang tay đánh bậu để buồn lòng qua!”

Ôi ông Ngoại nầy xưa rồi! Cứ khoái dùng bạo lực gia đình không hè! Nó xí xọn một chút mà hăm dọng phù mỏ, xưa được; chớ giờ nó đi thưa lính bắt thì thêm phiền phức!

Nó xí xọn; kệ nó chớ! Nếu lỡ bực mình quá, ở không được nữa thì cuốn nóp dông cho nó phẻ hè!

Chính vì ngay từ đầu tui đã suy nghĩ chín chắn như vậy nên mới yêu em được dài lâu đó chớ!

Tuần rồi là kỷ niệm 50 năm ngày cưới của đôi ta, tui đề nghị với em yêu là: tui sẽ ăn mừng y hịt như năm rồi! Em yêu rất vui vẻ. giơ hai tay lên, đồng ý!

“À! Anh sẽ đi chợ, tự nấu ăn. Còn em thì về bên Má em!”

Con vợ tui nghe vậy, mặt chù ụ một đống, xách xe dông về bên Ngoại.

Chu choa, vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm! Tui móc cái ‘mobile phone’ ra gọi cho một chiến hữu, bạn thiết của tui đến nhà nhậu.

Nó đến nhà tui, đều khỏ cửa bằng chân… Vì hai tay mắc bận ôm một thùng bia xịn hoặc năm thì mười họa, chơi xộp hơn, là một chai rượu quý!

Dọn bàn đặt mâm! Khệ nệ bưng ra một dĩa thịt bò Úc xào cải rổ, có nước sốt ‘Made in Hong Kong’! Rượu khui kêu lốp bốp!

“Kỷ niệm 50 năm ngày cưới! Bí quyết nào mà yêu em dài lâu vậy cha nội?”

“Chẳng qua khi cưới vợ về rồi cuộc hôn nhân đã dạy cho tui rất nhiều điều: Trung thành, biết lúc nào phải giữ thinh lặng, biết dằn cơn tức, biết không nên la lối hay mở miệng ra là chửi thề bốp trời thiên, biết tha thứ, biết trốn ra nhà xe mà khóc một mình; rồi kêu con khổ lắm má ơi; mà chẳng ai đoái hoài gì tới!

Những đức tính đó tui chưa hề có khi còn sống độc thân!”

Rồi có câu chuyện vầy nè: Một bà long trọng loan báo với bạn bè rằng: “Em sẽ làm đám cưới lần thứ tư!” Quá đã! Ai nấy đều gọi điện thoại, gởi ‘mét sịt’ và lên cả ‘facebook’ để chúc mừng!

Nhưng có chàng cắc cớ lẫn tò mò nên hỏi: “Nếu em không phiền khi anh vô phép đi ‘bốt đờ sô’ vô đời tư của em thì cho anh hỏi: Chuyện gì đã xảy ra với ông chồng đời thứ nhứt của em vậy?”

“À! Anh ấy ăn nấm rừng nên chết!” “Cha! Thiệt là tội nghiệp!”

“Còn ông chồng đời thứ hai?” “À! Ảnh cũng ăn nấm rừng rồi chết!” “Trời đất ơi! Đời tình ái truân chuyên của em quả là một bi kịch!”

“Còn anh chồng đời thứ ba?” “À! Ảnh chết vì bị gãy cổ?

“Trời đất ơi! Sao đến nỗi ảnh bị gãy cổ vậy em?!”

“À! Tại vì ảnh không chịu ăn nấm rừng đó anh!”

Thú thiệt với quý anh mình! Tui không muốn ăn nấm rừng đâu. Vì đời còn đẹp lắm hỡi đời ơi!

Nói trắng ra là: Hôn nhân dài lâu là vì tui sợ vợ thiệt! Còn nếu con vợ tui không thèm yêu tui nữa thì cứ tự nhiên yêu thằng khác; chỉ xin đừng xúi nó giết tui là được.

Phần tài sản, tiền bạc có nhiêu, tui nhậu hết bấy nhiêu thì việc gì sợ bị ‘sát nhân đoạt của’ chớ!?

Do đó con cua đực nào sợ con cua cái… thì cứ tự nhiên sợ! Còn bài bản tui đã thủ kỹ rồi; nên tui không hề sợ con cua cái nào hết ráo!

Chuyện của đồng chí Zhivago.

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Sep 2023

Chuyện xảy ra cuối năm ở một hợp tác xã trồng khoai tây ở cách thủ đô Mạc Tư Khoa ngàn dặm, hồi còn mồ ma đảng Cộng Sản Liên Xô!

Cuối năm, mùa đông nước Nga lạnh run luôn; vì tuyết rơi nhiều quá! Nhiệt độ ngoài trời là âm độ!
Bà con xã viên nghỉ; không phải ra đồng! Ở nhà, đói meo, không có việc gì làm nên có ông chồng ốm nhom, ốm nhách nằm ôm bà vợ ốm tong, ốm teo trong tấm chăn rách cho đỡ lạnh!

Riêng Zhivago thì co ro ngồi với Tonya, vợ mình, bên ấm samovar, uống trà suông! Đồ ăn trong nhà mấy ngày nay sạch bách, không còn gì cả!

Mấy đứa nhỏ phải lội tuyết ra đồng, cắt mót trộm dây khoai về luộc chấm ăn với muối thì: “A lô! A lô! Yêu cầu bà con xã viên tụ tập ở hội trường hợp tác xã vào giữa trưa nghe ban chủ nhiệm tổng kết thành tích xuất sắc của một năm hoạt động.

Có chiêu đãi đặc biệt! Có chiêu đãi đặc biệt! A lô! A lô!”

Bà con xã viên không ai muốn đến hội trường hợp tác xã làm gì. Chỉ để nghe bọn chúng tào lao, bốc phét!
Bụng đói meo! Cơ hàn quá mà! Đói chừng nào lạnh run chừng ấy!

Không đi, ở nhà, Zhivago buồn buồn lên giường nằm gần cái lò sưởi 37 độ rưỡi hiệu ‘‘Tonya’ nầy ấm hơn!
Nhưng nghe “chiêu đãi đặc biệt! chiêu đãi đặc biệt!”, Zhivago sáng mắt lên, đứng dậy, tặc lưỡi nói với Tonya: “Thôi kệ! Để anh lội tuyết đến coi mấy đồng chí trong ban chủ nhiệm chiêu đãi được cái gì nào?
Hy vọng gia đình mình còn có cái bỏ vào mồm cho đỡ cồn cào gan ruột. May mà có tí vodka thấm giọng thì đã lắm!

Hổng đi! Sợ ban chủ nhiệm tụi nó ‘ăn’ hết phần của nhà mình!”

Nói xong, Zhivago trùm kín mặt mũi, chỉ chừa có hai con mắt, lội tuyết lẹp bẹp đến dự cuộc họp cuối năm.
Bước vào hội trường thì bà con xã viên mỗi người trên tay cầm một củ khoai tây luộc còn bốc khói, đưa lên miệng nhai ngồm ngoàm vừa nói chuyện rôm rả vui như Tết!
Zhivago nhập bọn, được các đồng chí anh nuôi, chị nuôi ‘thân mến’ phát cho ba củ khoai tây luộc và một cút rượu vodka cho ấm lòng (cựu chiến sĩ ‘Hồng quân’ đã từng anh dũng ‘quánh’ tan quân Bạch vệ) trong ngày đông lạnh lẽo! Trên sân khấu, diễn viên là ban chủ nhiệm hợp tác xã gồm cả chục mống vừa đảng viên, vừa cảm tình đảng!
Mấy ‘chức sắc’ nầy đang hưởng tiêu chuẩn lãnh đạo! Mồm nhai ngồm ngoàm thịt trừu xông khói với khoai tây nghiền, chan nước sốt! Còn có chừng chục chai vodka, mỗi chai dễ chừng cả lít nằm sóng sánh trên bàn chủ tọa! Đã nhé!

Xong bữa! Đồng chí bí thơ chi bộ kiêm chủ nhiệm hợp tác xã khoai tây quẹt mỏ; đứng lên phát biểu tổng kết.

“Thưa bà con xã viên! Năm rồi hợp tác xã ta không hoàn thành được chỉ tiêu kế hoạch đề ra vì thiên tai! Mùa hè thì hạn, thiếu nước; mùa đông thì sương giá! Bởi vậy cho nên khoai của hợp tác xã ta ‘tốt dây mà không tốt củ!’

Nhưng xin đồng bào đừng có lo! Kế hoạch năm tới là chúng ta sẽ xin đồng chí Lenin kính mến cấp cho chúng ta một chiếc phi cơ!”

Xã viên ào ào, nhao nhao lên có ý kiến. “Tui đề nghị đồng chí bí thơ kiêm chủ nhiệm hợp tác xã xin đồng chí Lenin cấp cho chúng ta vài tấn khoai tây để ăn trong mùa giáp hạt cho đỡ đói đi! Xin phi cơ làm gì?”

Đồng chí bí thơ trả lời: “Ậy ậy! Các đồng chí biết một mà không biết hai. Sự thực là hợp tác xã chúng ta cần khoai tây thiệt! Không có thì chết đói cả đám. Mà khoai tây thì ở Mạc Tư Khoa mới có. Từ đây tới thủ đô xa lắm! Sợ khoai về không kịp bằng đường bộ hay đường thủy mà mình chết đói hết ráo rồi; nên tui xin đồng chí Lenin kính yêu một chiếc phi cơ để chở khoai tây về cho lẹ mà!”
Bà con xã viên nghe vậy vỗ tay ào ào như sấm!

Tưởng được đồng bào hoan hô cao kiến của mình, nên đồng chí bí thơ hỉnh mũi lên trời hích hích! Ai dè đồng bào vỗ tay cho bớt lạnh!

***

Zhivago nhìn lên bàn chủ tọa thấy mấy đứa đảng viên trong ban chủ nhiệm đứa nào cũng béo tốt hết!
Hợp tác xã làm ăn thua bại, lỗ lã, nợ ngập đầu mà bọn chúng mặt cứ phởn ra và cằm có nọng!
Zhivago ‘ngộ’ ra rằng: Muốn ăn nhậu thả giàn bằng tiền của thiên hạ và vợ con mình khỏi chết đói thì phải xin gia nhập vào đảng Cộng Sản Liên Xô mới được!

Nói là làm. Về nhà, Zhivago ngồi nắn nót cả buổi mới điền xong cái đơn xin vào đảng.
Theo đúng trình tự kết nạp đảng viên; đồng chí bí thơ chi bộ kiêm chủ nhiệm hợp tác xã mời xã viên Zhivago lên phỏng vấn.

Đồng chí Zhivago, đồng chí có hút thuốc không? Thưa có! Ngày vài điếu!
Đồng chí có biết là lãnh tụ Lenin không hút điếu nào! Mà còn khuyên các đồng chí khác đừng hút thuốc? Nếu đồng chí Lenin nói thế thì tui sẽ bỏ hút thuốc!

Đồng chí có nhậu nhẹt không? Cũng có chút chút! Với bạn bè!
Lãnh tụ Lenin phê phán việc say xỉn dữ lắm! Thế thì tui sẽ bỏ rượu!
Còn về gái gú? Cũng có chút đỉnh!

Đồng chí có biết là lãnh tụ Lenin phê phán vụ gái gú, chân dài, bia ôm nầy dữ lắm không? Nếu đồng chí Lenin phê phán tui sẽ bỏ; không đi uống bia ôm nữa!

Nầy! đồng chí Zhivago! Đồng chí có sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đảng ta không?
Dĩ nhiên rồi! Tôi sẵn sàng chết cho đảng ta! Vì sống như vậy thì sống làm (mẹ) gì! Chết còn sướng hơn!

Chú Quế

Vương Mộng Long_K 20

Post by Sơn râu 1 Sep 2023

Đáng lý ra tôi phải gọi ông Trần Phương Quế bằng cậu, vì ông ấy là em nuôi của mẹ tôi. Nhưng từ sau ngày biết tin bố tôi và hai ông chú ruột của tôi đã bị Việt-Minh chặt đầu, trôi sông, thì tôi đổi cách xưng hô, gọi cậu Quế bằng chú, chú cháu gần gũi hơn, “Thấy chú như thấy cha…”

Chú Quế thương tôi như con. Chú vẫn gọi tôi là con, mỗi khi truyện trò. Những lúc đi xa, chú thường căn dặn tôi nhớ chăm học và ngoan ngoãn, mai mốt lớn lên thành người, trả thù nhà.

Mùa Thu năm 1948, mẹ con tôi ở chung nhà với bà ngoại tôi và vợ chồng người anh ruột của mẹ tôi nằm cách Ngã Sáu, Hải-Dương chừng trăm thước.

Một căn nhà lầu, tường đầy vết đạn, những chấn song cửa sổ bị bắn sứt sẹo cong queo, từ ô cửa sổ đó, tôi ngồi thòng hai chân ra ngoài đường nhìn những đoàn công voa đi ngang qua Ngã Sáu.

Nhà tôi ở số 24 phố (Rue de) Jean Bouchet cách khách sạn Thiên-Tuế đầu phố đúng mười căn. Cuối phố Bouchet là Chợ Tây, cái chợ lớn nhất tỉnh. Xa hơn nữa, sát bờ sông là đồn lính Lê-Dương và lính thủy.

Hàng ngày, xe cộ chạy trên đường số 5 nối liền Hà-Nội với Hải-Phòng đều phải ngừng ở Ngã Sáu, chờ mở đường, rà mìn. Công voa từ Hà -Nội xuống, và từ Hải-Phòng lên, sau khi họp thành đoàn sẽ có thiết giáp hộ tống để di chuyển về hai hướng ngược xuôi. Nhiều khi Quốc lộ 5 bị Việt-Minh đắp mô, hoặc có giao tranh, đoàn xe phải nghỉ lại đây một vài hôm. Những dịp này, hành khách nườm nượp đi qua trước nhà tôi để về Chợ Tây kiếm cơm, bún, phở, mì dằn bụng. Tôi ngồi bên cửa sổ căn gác thượng, chong mắt quan sát những chiếc xe hơi chở khách hiệu Renault, Citroẽn hay Peugeot rồi tự lựa cho mình, cái xe nào mình thích, để khi lớn lên mình sẽ tậu nó mà đi ngao du.

Thời gian này, chú Quế và ba người bạn đồng trang lứa, tuổi đôi mươi, chiếm cứ một căn nhà ngay góc đường đi vào Đề Lao Hải-Dương (nhà tù), trên con phố đối diện nhà tôi. Nhóm trai trẻ này làm nghề thông ngôn cho Tây trên tòa hành chánh. Giữa năm 1949 bốn người thanh niên ấy đã tình nguyện theo học lớp Hạ Sĩ Quan Liên Hiệp Pháp ở Trung Tâm Huấn Luyện Mao-Điền, Hưng-Yên.

Viễn thámSáu tháng sau, mãn khóa, ba người kia theo binh chủng gì tôi không hay, riêng chú Quế trở thành một Trung sĩ Thiết Giáp của Quân Đội Liên-Hiệp-Pháp trú đóng trong vùng thị xã Nam-Định, quê của chú. Cuối năm 1950 chú Quế cưới vợ. Chú dẫn cô vợ trẻ lên thăm mẹ con tôi. Lúc này gia đình tôi ở thuê trên lầu căn nhà số 17 phố Hàng Lọng. Căn nhà này của ông Triệu. Ông Triệu có hai vợ, ông ta làm Bang tá (?) ở Huyện Gia-Lộc, tỉnh Hải-Dương.

Có một lần, chú Quế chở tôi bằng xe đạp về vùng Gia-Lộc thăm ông Bang tá Triệu. Sát vách nhà tôi là dinh cơ của ông Tiên Thân. Ông Tiên Thân là trung úy quận trưởng hay đồn trưởng gì đó mãi vùng Kẻ Sặt hay Bần Yên Nhân.

Dịp này vợ chồng chú Quế đã dẫn tôi đi ăn “cao lâu”. Đây là lần đầu trong đời, tôi được uống một cốc cà phê sữa, ăn bánh champagne thỏa thê. Đây cũng là lần đầu trong đời, tôi được xem một tuồng cải lương ở rạp Kim-Phụng. Rồi vợ chồng chú dẫn tôi vào hiệu chụp ảnh. Tôi mặc quần “soọc” xanh, áo sơ mi trắng cộc tay, đầu đội cái mũ nồi, chỏm mũ có đuôi. Tôi đứng giữa, chú thím tôi đứng hai bên, có cây cảnh đặt bên phải chúng tôi, và cái “phông” của tấm ảnh là bức tranh đồng quê, với cảnh đàn trâu đang gặm cỏ.

Mẹ tôi lớn hơn vợ chú Quế (cô Trần Thị Dậu) một giáp. Mẹ tôi nhuộm răng đen, thím Quế để răng trắng. Nhưng mẹ tôi và thím Quế rất hợp nhau. Hai người kết nghĩa chị em. Hai chị em rủ nhau đi tiệm chụp ảnh chung. Những bức ảnh của hai nữ nhân Bắc-Kỳ thời 1950, đầu vấn khăn nhung đen, cổ đeo kiềng vàng, cổ tay có đôi xuyến, ngón tay có nhẫn mặt ngọc xanh, đôi hoa tai vàng y nhận hột ngọc óng ánh, áo dài lụa màu ngà có vân, tay xách bóp đầm, đứng giữa hai chậu cảnh. Trang phục đó là “mốt” của các bà, các cô Hà-Nội Mới những năm 1949-1950. Mẹ tôi còn cất giữ những cái ảnh này tới ngày bà qua đời.

Thím Quế thương tôi như con đẻ, ngày hè nóng nực, thím thường quạt ru cho tôi ngủ. Thím Quế ở chơi nhà tôi vài tháng rồi trở về Nam-Định.

Bẵng đi một thời gian khá dài, vợ chồng chú Quế lại ghé nhà. Lần này họ bế theo đứa con gái đầu lòng ba tháng tuổi. Bé Minh vừa biết lật. Đi học về, tôi lại bế em và chơi “Cúc! Oà!” với nó; nó thích lắm. Nó lật trên giường, hai tay quơ lia liạ, hai chân đạp không ngừng, miệng nó cười như nắc nẻ, nước dãi chảy lòng thòng.Đó là những kỷ niệm tôi còn ghi trong đầu về những gì giữa tôi và gia đình chú Quế thời kỳ chúng tôi còn sống nơi đất Bắc.

Đầu năm 1952, nhà tôi di chuyển lên làng Vẽ (Đông-Ngạc) ngoại ô Hà-Nội. Vài năm sau tôi nghe tin chú Quế cùng hai người bạn năm xưa được đề cử theo học lớp sĩ quan hiện dịch ở Đà-Lạt.Hiệp định Genève đưa gia đình tôi vào Tourane (Đà-Nẵng), rồi vào Fai-Foo (Hội-An), chúng tôi không rõ vợ chồng chú Quế phiêu bạt phương nào.

Tới năm 1960, mẹ tôi được người quen đưa tin thím Quế vừa mất, bà tất tả vào Quang-Trung, Sài-Gòn thăm gia đình chú. Ngày về mẹ tôi mang theo vài cái ảnh, trong đó có cái ảnh đứa cháu gái của bà chụp trước đó vài năm, hình em Lệ Minh mặc áo đầm xòe đứng trong sân chơi của trường Thánh Mẫu.Thím Quế mất đi, chú tôi trở thành gà trống nuôi bốn đứa con, hai trai, hai gái. Năm sau, chú tôi tục huyền với cô Cao Thị Thêm. Cô Thêm là nguời có công chăm sóc các em tôi từ trứng nước, các em tôi cũng thương cô như mẹ ruột. Ít lâu sau, chú Quế bỏ nghề huấn luyện viên Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung, xin ra tác chiến. Đã có lần chú Quế nói với tôi lý do vì sao ông tình nguyện chuyển ngành sang Lực-Lượng Đặc-Biệt, nhưng tôi quên mất rồi.

Năm 1965 tôi đang học năm cuối cùng trong Trường Võ-Bị thì gia đình chuyển tiếp cho tôi một lá thư của chú Quế. Chú nói nếu tôi thích Lực-Lượng Đặc-Biệt thì chú sẽ giúp đỡ cho tôi về binh chủng này khi tốt nghiệp. Tôi không đả động gì tới việc này trong lá thư trả lời cho chú. Ngày mẹ tôi báo cho chú hay tin tôi chọn binh chủng Biệt Động Quân chú buồn lắm.Từ lúc ra trường Võ-Bị, tôi một chiến trường, chú một chiến trường, chú với tôi chưa một lần được chung lưng đánh trận nào.

Rồi mẹ tôi báo cho chú biết những tin buồn tới tấp như, tôi theo Trung tướng Nguyễn Chánh Thi làm loạn Miền Trung, bị nhốt trong quân lao, bị giáng cấp xuống trung sĩ, bị treo lon, bị đổi lên Vùng 2, và bị thương dài dài… chú lại khuyên tôi bỏ Biệt Động Quân mà về với chú.Tết năm 1969 cấm trại, nhưng tôi được Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 2 /BĐQ cho năm ngày phép về thăm nhà bằng Sự Vụ Lệnh. Ngày đó chú Quế đang chỉ huy Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù hành quân trên Quế-Sơn, Quảng-Nam.

Tình cờ chú cháu tôi gặp nhau tại nhà mẹ tôi ở Hội-An ; chúng tôi có dịp xả bầu tâm sự. Tôi biết thêm những điều chú cất dấu sâu kín trong lòng. Hồi trẻ, chú tôi rất “bô” trai, vì vậy mà nhiều hình bóng giai nhân đã đi qua trong đời chú, trong đó có bà cô vợ một thằng bạn cùng quê, cùng khóa 20 VB của tôi. Chú cũng bùi ngùi nhắc tên ái nữ của một nhà văn, sau này cô ấy lấy người bạn của chú, ông ta làm tới Tướng Vùng…

Điều kỳ lạ là, trước khi tôi vào Pleiku, thì chú tôi đã xông pha ngang dọc một thời ở vùng rừng núi này. Ông từng làm trưởng trại Plei M’Rông khá lâu rồi mới thuyên chuyển về Nha-Trang. Tôi tới Tây-Nguyên thì chú tôi đã đi rồi, không còn dịp về qua đây nữa. Nhưng tôi vẫn biết tin tức của ông qua thư từ và qua bạn bè cùng Khóa 20 Võ Bị phục vụ dưới quyền ông.Tiểu đoàn 91 Biệt Cách Dù của Thiếu Tá Trần Phương Quế đã góp công đánh tan nhiều đơn vị Cộng-Sản vùng Cây-Thị, Cây-Quéo, Tân-Phú-Trung, Củ-Chi, Sài-Gòn trong đợt Tổng Công Kích Mậu-Thân 1968.Rồi ông giữ vai trò phụ tá đắc lực cho vị chỉ huy Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong thời gian ông đảm nhận chức Liên Đoàn Phó của đơn vị lừng danh này. Cuối cùng, ông là Đại tá Trung đoàn trưởng/Trung đoàn 9/Sư đoàn 5 Bộ Binh, một trong những đơn vị nòng cốt kỳ cựu của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Tôi chỉ quanh quẩn trên Cao-Nguyên Vùng 2. Chú cháu tôi hiếm có dịp gặp nhau. Có một lần, cuối năm 1970 sau khi thụ huấn khóa “Tình Báo Tác Chiến” ở Singapore trở về, tôi ghé Sài-Gòn thăm gia đình chú. Hôm đó chú đang cùng đơn vị LĐ 81 BCD dự đợt bồi dưỡng nhảy dù thường niên. Chú giữ tôi ở lại nhà ăn cơm.

Ngồi quanh mâm có tôi, chú Quế, hai đứa em con người vợ cũ của chú là em Minh, em Hương, cùng với cô Thêm, vợ sau của chú. Lần đầu tôi được gặp cô Thêm. Cô Thêm cũng là người Bắc, dáng cô cũng hao hao giống thím Dậu. Thấy cô Thêm, tôi chợt nhớ thím tôi, nhớ những ngày xa xưa tôi còn bé tí ở Hải-Dương…

Chiến tranh mỗi ngày mỗi khốc liệt hơn, tôi với chú tôi lại tiếp tục mỗi người một chiến trường. Sau khi Tiểu đoàn 82 BĐQ của tôi thắng trận Pleime 1974, Đại tá Trần Phương Quế, Trung đoàn trưởng/ Trung đoàn 9/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã gửi thư khen tôi, chú viết,

“Con giỏi lắm! Một ngày không xa, con sẽ qua mặt chú. Chú mừng vì con đã trưởng thành…”

Chú ơi! Cháu của chú trưởng thành chưa được bao lâu, chúng ta đã mất nước.

Chú bị cầm tù từ chiều 30 tháng 4 năm 1975.

Còn cháu, thì cái giấy ra trại ghi thế này đây: Tên Vương Mộng Long bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 1975, can tội Tiểu Đoàn Trưởng-Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.

Chuyện chúng ta thua trận, với cháu, tới nay vẫn còn như là một cơn mơ dữ. Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa đâu có thua kém ai? Năm 1974 Tiểu đoàn 82 BĐQ của cháu đã đánh ngất ngư hai trung đoàn của Sư đoàn 320A Việt-Cộng do Đại tá (sau là Thiếu Tướng) Kim Tuấn cầm đầu. Rồi tới trận Long-Khánh tháng Tư 1975, trước khi Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của anh Nguyễn Văn Đỉnh (Khóa 15VB) vào tăng viện, Tiểu đoàn cháu cũng đánh tan nát một trung đoàn bộ binh cùng lực lượng xe tank Việt-Cộng của Tướng Hoàng Cầm ngay sát vòng rào sân bay Xuân-Lộc.

Chỉ trong vòng hai tháng sau cùng của cuộc chiến giữ nước, anh em thuộc Tiểu đoàn 82 BĐQ của cháu đã chết gần hết. Cháu cũng bao lần thoát chết trong kẽ tóc, đường tơ. Cháu đã làm tất cả những gì một người lính có thể làm, để bảo vệ quê hương.

Vậy mà, nước vẫn mất, thù nhà vẫn trả không xong. Khi ngồi viết những giòng này, nước mắt cháu đang chảy ròng ròng, chú ơi!

Mất nước, thành tù binh, tháng Mười Một năm 1975 chú cháu tôi gặp nhau ở khu K1 trại tù Tam-Hiệp. Chú Quế giới thiệu cho tôi người đàn em của chú là anh Thiếu tá Biệt Cách Dù Phạm Châu Tài. Ba người ngồi nghiên cứu cách chui rào vượt trại. Tuần lễ sau tôi bị chuyển sang K3 là nơi chỉ nhốt sĩ quan cấp thiếu tá, chú Quế ở lại khu K1 cho tới ngày chúng tôi bị lùa xuống tàu chở ra Miền Bắc.

Cuối năm 1976 sau khi bị cùm vì tội trốn trại lần thứ nhứt, tôi được đưa về đội lao động ở Trại 4, Liên trại 4, xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái, Hoàng-Liên-Sơn. Tại đây tôi gặp lại anh bạn LLĐB Phạm Châu Tài. Tôi hỏi thăm tin tức của Đại tá Trần Phương Quế, anh ta cũng mù tịt.

Khi chuẩn bị trốn trại lần thứ nhì tôi có ngỏ ý rủ anh bạn Tài đi theo, nhưng tiếc thay, trước khi tôi khởi hành, anh Tài lại bị chuyển về Trại 1 ở tít mù trong núi Tích Cốc.Sau hơn tháng trời lặn lội trong rừng già Bắc- Việt, toán vượt ngục lần thứ nhì của tôi lại thất bại. Bốn người đi thì, một chết trong núi là anh Đại úy Trinh Sát Dù, Nguyễn Bá Tường, còn lại ba tên Vương Mộng Long, Trần Văn Cả, và Đặng Quốc Trụ bị tóm lại. Ba đứa chúng tôi bị chuyển từ trại này tới trại khác, nhốt trong hầm, bị còng tay, cùm chân và bị khảo đả ngày đêm, thừa sống thiếu chết, để dằn mặt những tù nhân khác. Cho tới ngày Liên trại 4 giải tán thì chúng tôi bị còng tay đưa lên xe chở về Trại Phú-Sơn 4 ở Quán-Triều, Thái-Nguyên.

Ngày quân Tàu đánh Việt-Nam, bốn mươi người tù, toàn là dân vượt ngục của đội 12 Phú-Sơn 4 bị còng tay từng cặp, hai người một, chuyển về trại Nam-Hà A, Phủ-Lý.

Chú Quế và tôi lại có dịp gặp nhau lần nữa, trong tù.

Ôm tôi thật chặt, chú tôi khóc,

“Con ơi! Mới đó mà tóc con bạc cả rồi. Tội nghiệp con!”

Tôi trấn an chú tôi:

“Chú đừng lo! Tóc cháu vàng đi vì bị cùm lâu ngày và thiếu ăn. Nếu có ăn, chỉ ít lâu sau tóc cháu sẽ đen trở lại.”

Năm 1985 tù chiến tranh của trại Z30 C được tha gần hết, thay vào là tù hình sự. Tôi là một trong số vài chục tên cuối cùng bị chuyển sang Trại Z30D Hàm-Tân vào cuối 1985.

Đầu năm 1988 tôi được tha về với gia đình. Chú Quế là một trong những người đầu tiên tới nhà thăm tôi. Chú tôi đã được thả về nhân ngày 2 tháng 9 năm 1987, nhưng ông còn đang bị quản chế. Hàng tháng ông phải ra trụ sở phường khai báo việc làm trong tháng vừa qua. Những người được tha sau năm 1987 như tôi thì không bị quản chế.

Thời gian này vợ chồng chú tôi sống bằng cách, hàng ngày nấu một nồi xôi lớn để vợ chú ngồi bán trước cửa bệnh viện Bình-Dân, Sài-Gòn. Cuộc sống vất vả cực nhọc và thiếu thốn quá đã khiến lưng của bà vợ chú còng trước tuổi.Trong khi đó tôi phải lên rừng đào vàng, đào thiếc, chặt củi, giữ lô, lái máy cày thuê để kiếm sống. Mỗi lần về, tôi hay ghé thăm chú tôi.Từ khi Việt-Cộng chiếm Sài-Gòn, gia đình chú tôi đã thành vô gia cư, phải dọn về ở nhờ nhà một đứa cháu gọi ông bằng chú.

Trước năm 1975 gia đình Đại tá Trần Phương Quế cư ngụ trong Cư xá Lam-Sơn, Gò-Vấp. Chỉ ít lâu sau ngày Sài-Gòn thất thủ, Cộng-Quân đã tới tiếp thu cư xá này. Thân nhân sĩ quan chế độ cũ phải ra ngoài tập trung để bộ đội Cộng-Sản vào khám xét từng nhà.

Ngày 16 tháng 6 năm 1975, khi toán bộ đội Việt-Cộng tới khám xét căn nhà của Đại Tá Trần Phương Quế thì giáp mặt một Thiếu úy Địa Phương Quân Việt-Nam Cộng-Hòa trẻ tuổi đang chờ tiếp đón họ.

Anh Thiếu úy Miền Nam niềm nở đón chào toán “Bộ Đội Cụ Hồ” bằng hai quả lựu đạn Mini, một cho chính anh, và một cho bọn ăn cướp vào từ phương Bắc.

Hai tiếng nổ nối tiếp nhau làm rung rinh cư xá Lam-Sơn. Anh Thiếu úy Việt-Nam Cộng-Hòa chết phanh thây, nhưng vài tên Cộng-Sản Bắc-Việt cũng banh xác, thêm mấy đứa đui, què, mẻ, sứt.

Bị vố đau, bọn Cộng-Sản phát điên lên. Để trả thù, chúng đem cái xác anh Thiếu úy Miền Nam phơi trước cổng ra vào của cư xá, cả tuần lễ sau chưa cho thân nhân nhận về chôn cất.

Anh Thiếu úy Địa Phương Quân Việt-Nam Cộng-Hòa đó tên là Trần Phương Tuấn, sinh năm 1953, con thứ nhì của Đại tá Trần Phương Quế và bà Trần Thị Dậu.

Chuyện người anh hùng Trần Phương Tuấn với hai trái Mini đón chào đoàn quân Bắc-Việt ở cư xá Lam-Sơn, Gò-Vấp ngày 16 tháng 6 năm 1975 có nhiều người chứng kiến lắm, trong đó có người nhà của Niên trưởng Khóa 10 Võ-Bị Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 43/ Sư đoàn 18 Bộ Binh/ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Nhà của Đại tá Hiếu cũng nằm trong cư xá này, và chỉ cách nhà của Đại tá Quế vài căn thôi.

Một hôm, từ mỏ vàng Hiếu-Liêm trở về, tôi ghé thăm chú Quế và bà cụ thân sinh của chú. Chú than phiền với tôi rằng người cháu ruột của chú không muốn chứa chấp gia đình chú trong nhà nữa, chú không biết phải dọn đi đâu. Tôi về thưa lại chuyện này với mẹ tôi. Sau đó gia đình chú Quế đã dọn về ở với mẹ tôi bên chợ Rạch Ông cho tới ngày đi Mỹ theo danh sách H15.

Chú tôi có bảy người con. Bốn người là con thím Dậu, ba người là con cô Thêm. Chú tôi và cô Thêm cùng ba người con của họ định cư tại tiểu bang Florida, Hoa-Kỳ. Bốn người con thím Dậu thì một chết (Trần Phương Tuấn) còn lại ba, hiện ở Sài-Gòn.

Gia đình tôi cũng được nhận vào Mỹ sau gia đình chú tôi vài tháng. Từ đó tới nay, chúng tôi sinh sống ở Seattle.

Chú tôi và tôi sinh ra để làm lính. Chú tôi xuất thân từ Trường Võ-Bị Đà-Lạt, tôi cũng tốt nghiệp quân trường này mười khóa sau ông.

Thời chiến tranh bảo vệ quê hương, tôi trấn giữ một biên cương rất xa chiến trường của chiến binh Trần Phương Quế.

Nơi quê người đất khách, chú tôi ở bên bờ Đại Tây Dương, còn tôi thì ở bên bờ Thái Bình Dương, cách nhau đúng một chiều ngang của nước Hoa-Kỳ.

Tôi và ông Trần Phương Quế có những liên hệ thân hơn ruột thịt. Ấy thế mà chúng tôi chẳng bao giờ được ở gần nhau lâu. Bận bịu công ăn, việc làm, tôi và ông lâu lâu mới điện thoại hỏi thăm lẫn nhau.

Năm 2009 trước khi nhập viện làm Bypass van tim, chú tôi có nói chuyện với tôi khá lâu trên điện thoại. Sau khi mổ tim, sức khỏe của ông vẫn bình thường. Bất ngờ, ngày 6 tháng Tư 2011 tôi nhận được e mail của người em rể, chồng của em Lệ Minh báo tin chú tôi mất.

Người lính Việt-Nam Cộng-Hòa Trần Phương Quế một đời xả thân vì đất nước đã không có cái vinh hạnh được chết nơi trận tiền. Ước vọng sau cùng của ông là tro cốt ông sẽ được gửi về quê hương Việt-Nam.

Chú tôi sẽ được hỏa thiêu như ý nguyện. Người con trai út của chú sẽ đem tro cốt của chú về đặt gần tro cốt của mẹ chú trong một ngôi chùa ở Sài-Gòn.Nghe tin Đại tá Trần Phương Quế qua đời, người cháu của ông ở Việt-Nam đã tới Tòa soạn Báo Tuồi Trẻ để nhờ đăng cáo phó thông báo cho bạn bè thân thuộc của ông biết tin ông mất.

Thấy những giòng chữ tắt “LĐP- LĐ81- BCD” trên cáo phó, nhà báo hỏi người cháu của ông Quế rằng đó là viết tắt của những chữ gì? Khi nghe lời giải thích hàng chữ, “LĐP- LĐ81- BCD” có nghĩa, “Liên Đoàn Phó- Liên Đoàn 81- Biệt Cách Dù” thì Tòa Soạn Báo Tuổi Trẻ không dám nhận đăng cáo phó này.

Seattle, ngày 9 tháng Tư năm 2011

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 14 July, 2023

Post by Sơn râu 1 Sep 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 11

Hai giờ sau, địch tiếp tục tung ra đợt biển người thứ hai, cũng cùng một kỹ thuật tiến công, cũng cùng hướng tiến, rồi cũng bị đẩy lui. Như vậy là, qua một ngày kịch chiến, Trung Ðoàn E48 và một tiểu đoàn Trinh Sát của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã bị quân ta đánh bại. Tới 4 giờ sáng, địch bỗng đổi hướng, liên tiếp tung ra hai lần xung phong từ Tây Bắc xuống nhắm vào khu Chi Ðoàn 3/19. Cách đánh của đơn vị Việt-Cộng này khác hẳn cách đánh của Trung Ðoàn E 48/320A Cộng-Sản. Sau khi dàn quân trước tuyến xung phong thì bọn Việt Cộng này tập trung hỏa lực bắn tới tấp vào một vị trí trên mục tiêu với đủ loại vũ khí cộng đồng để mở khẩu, sau đó mới ào ạt tiến lên.

Tới khi tiến vào được trung tâm của ta thì các cán binh địch tự động phân tán, rồi nhanh tay ném thủ pháo vào các pháo đài, công sự, chiếm được chỗ nào thì bám trụ chỗ đó. Sau khi đơn vị địch bị đẩy lui, tôi mới được Bộ Tư Lệnh 22 cho hay, địch vừa  điều động Trung Ðoàn E64 vào vùng để thay thế cho E48. Như vậy, tổng kết lại, trong đêm 14 rạng 15 tháng 4 năm 1974 đã có 4 lần biển người diễn ra. Hai đợt xung phong đầu là do E48, hai đợt sau là do E64. Chưa ai chợp mắt được phút nào thì trời đã sáng.

Ngày 15 tháng 4 năm 1974:

Sớm tinh mơ ngày 15 tháng 4, chúng tôi nhận được điện văn khen ngợi của Chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh vì đêm qua đã đẩy lui ba tiểu đoàn địch! Dù biết ngoài bờ tường đất Plei Ngol Ho địch chết rất nhiều, nhưng tôi không thể cho người ra thu chiến lợi phẩm, vì tiếng súng bắn nhau đã bắt đầu nổ trở lại. Tới đợt xung phong thứ nhì trong ngày, tức là đợt biển người thứ sáu của Cộng-Quân nhắm vào Plei Ngol Ho thì anh chuẩn úy đẹp trai Trương Trọng Tài chết trên chiến hào. Tài bị một tràng AK trúng ngực, ngã ngửa, nằm vắt trên bờ đất, cách tôi chừng mười thước. Trong lúc Hạ sĩ Nguyễn Ba và Binh Nhứt Yang bắn như tưới đạn về phía địch thì tôi len lách dưới giao thông hào tới bên Tài.

Tôi vuốt mắt cho thằng em cựu học sinh Trung Học Trần Quý Cáp,

– Vĩnh biệt em tôi!

Tôi quay qua hướng Thiếu úy Phiến,

– Anh sẽ cho người thay chú Tài.

Rồi tôi ngoắt tay cho Hạ sĩ Ba và Binh 1 Yang,

– Hai đứa về nói với Trung úy Chủ cho hai sĩ quan thực tập đi theo tụi mày ra Ðại Ðội 3 ngay!

Ðợt xung phong thứ sáu chấm dứt, mặt Tây tạm yên thì có tiếng súng nổ bên hướng Ðông. Tôi chạy về khu chỉ huy gọi Thiếu úy Trần Văn Phước rồi thầy trò tôi lần mò theo bờ rào sang tuyến phòng thủ của Ðại Ðội 1. Thiếu úy Phạm Văn Tô đang rầy la một chú tân binh trẻ, anh chàng này vừa làm cướp cò khẩu súng M16 của anh ta. Mãi tới lúc tôi đến sát bên, thầy trò ông Tô mới hết la mắng nhau. Lính Ðại Ðội 1 đa số là người Chàm và người Việt gốc Miên. Thấy tôi, anh em lộ rõ niềm vui ra mặt. Có lẽ ít khi họ có dịp được một ông tiểu đoàn trưởng tới an ủi, hỏi thăm dưới cơn mưa pháo. Tôi trở về hầm chỉ huy vào lúc Bộ Tư Lệnh 22 Hành Quân thông báo rằng họ sẽ đánh một box bom mỗi chiều 1km cách tôi 6 cây số về hướng Tây Tây Nam. Box bom này do những oanh tạc cơ A37 thực hiện.

Tôi khiếu nại rằng, hiện giờ tôi sắp hết đạn rồi, tôi xin ưu tiên được phi cơ đánh cận phòng, tôi không cần yểm trợ xa. Tôi lại nhận thêm lời hứa, “Chờ!” Tôi đang bực mình vì lời hứa, “Chờ!” của cấp trên thì nghe tiếng ông Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 3/19 hỏi rằng lúc nào sẽ có tiếp tế đạn cho ông ta? Thế là, tôi đành chuyển tiếp tiếng, “Chờ!” cho ông Xá! Ai ngờ, năm phút sau Ðại úy Xá cho người khiêng sang cho tôi sáu két đạn M16.

Ðại úy Xá nói với tôi,

– Tụi tui thiếu đạn 12.7 ly nhưng dư đạn M16 nên chia bớt cho Biệt Ðộng Quân.

Tôi mừng húm, vừa cười vừa nói với Xá,

– Cám ơn! Cám ơn!

Tới trưa 15 tháng 4 thì ba mặt Bắc, Tây và Nam của Plei Ngol Ho lại bị địch tiến đánh. Mặt nặng nhất vẫn là chính Tây do Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến trấn giữ. Sau khi ra lệnh cho Ðại úy Xá và Trung úy Chủ phải cố gắng giữ tuyến Bắc, tôi nắm tay anh lính mang máy PRC 25 nương theo bờ đất chạy tới căn lều của Thiếu úy Phiến. Ðạn địch cứ “Chíu! Chíu!” bên tai. Tới hầm của Thiếu úy Phiến, tôi thấy Phiến đang quỳ gối bên cái poncho trên có một người đang nằm ngửa, mặt đầy máu. Khi tôi tới sát bên, Phiến buồn rầu,

– Anh Tuấn chết rồi!

Trước mắt tôi là xác người sĩ quan thực tập Võ Bị khóa đàn em của tôi. Chú ấy tên là Tuấn. Tuấn bị bắn vỡ đầu. Ngay lúc này, ở hai ụ pháo binh hướng chính Nam bỗng có tiếng la hét om sòm chen với tiếng tiểu liên. Thấy mấy anh lính Công Binh mặt mày hớt hải đang núp sau chiếc xe ủi đất, tôi men theo giao thông hào đi tới, định bụng sẽ hỏi han họ có chuyện gì lạ, thì nghe lựu đạn liên tục nổ “Oành! Oành!”  trên tuyến dàn quân sau tường đất. Quay lại đằng sau, tôi thấy những trái thủ pháo đang theo nhau rơi trên sân, nơi tiếp giáp giữa Ðại Ðội 3 và hai ụ pháo binh. Cứ thế, thủ pháo nổ, “Ùm! Ùm! Ùm!” Rồi thì khói vàng từng cụm bốc lên sau những tiếng “Ùm!”

Lúc này gió thổi từ Bắc xuống Nam. Gió đưa những lọn khói vàng tràn xuống triền đồi hướng Tây Nam. Những người lính đang ngồi dưới giao thông hào đã bị khói vàng quấn vào. Tôi thấy họ ôm ngực, ho khan, rồi ngồi xuống, rồi gục xuống. Như thế thì khói vàng là khói độc! Khói vàng là hơi ngạt! Tôi nghe tiếng Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến la thất thanh:

– Anh em ơi! Lựu đạn Việt-Cộng có hơi độc! Bịt mũi lại! Chạy lên đầu gió!

Sau đó thì anh em bỏ tuyến, ùn ùn chen lấn nhau chạy về hướng Ðông Bắc. Lúc này thực là hỗn quân, hỗn quan, không còn đội ngũ gì nữa, mạnh ai nấy chạy ra khỏi vùng khói vàng.

Thấy chiếc xe đứng lù lù giữa sân có thể trở thành mục tiêu cho địch, tôi bèn rút khẩu Colt 45 ra khỏi bao, rồi chạy tới núp bên chân bụi tre gai nằm sát bờ hào. Khói vàng chưa tan tôi đã thấy địch quân căng hàng ngang, ào ạt xung phong vào khu hai khẩu pháo và dãy lều tranh chứa đạn pháo binh. Trên đầu mỗi tên địch đều trùm một cái bao nylon thay cho mặt nạ chống hơi độc. “Cành! Cành! Cành…” bốn, năm cán binh Việt-Cộng đầu trùm bằng bao nylon trắng vừa phóng qua tường đất vừa bắn như mưa về hướng quân ta đang rút lui.

“Oành! Oành!” hai trái B40 trúng ngay hông chiếc xe ủi, nơi tôi vừa thoát đi! Khói bụi bay tung! Hú hồn! Vì bụi tre gai khá lớn và xum xuê nên bọn địch không nhìn thấy tôi. Mưa đang rơi, càng lúc càng nặng hạt.

Tôi nhấp nhổm vừa định phóng sang khu giao thông hào hướng Bắc thì nghe một tiếng “Oạch!” sát bên! Thì ra một cán binh vừa trượt chân sau khi leo qua bờ đất, ngã sõng soài. Tôi bóp cò, “Ðoàng!” cái nón cối tung lên, người trúng đạn quằn quại, quằn quại… Không cần kiểm soát xem tên địch còn sống hay đã chết, tôi co giò phóng đi. Vài giây sau tôi đã nhìn thấy căn hầm của trung tâm hành quân.

Giờ này không còn người lính nào ở giữa sân, không còn ai trong hầm súng cối, không còn chiếc chiến xa M113 nào. Như vậy là nơi đây đã bị bỏ trống! Nhưng tôi không thấy dấu vết giao tranh và trên mặt đất không có xác chết nào. Tới cách cửa hầm truyền tin chừng mười thước tôi chợt nghe tiếng heo kêu “Éc! Éc! Éc!” rồi thấy năm hay sáu cái nón cối đang hùa nhau vây bắt một con heo mới xổng chuồng. Con heo bự nặng cả trăm ký lô này là thực phẩm tươi của đơn vị vừa được tiếp tế mấy ngày trước, chưa kịp làm thịt.

Chú heo trắng cứ vừa kêu “Éc! Éc!” vừa nhanh thoăn thoắt, chui vào, chui ra, một bụi tre gai như đang chơi trò cút bắt với mấy tên bộ đội cụ Hồ. Thấy vậy, tôi vội quay người sang trái, nhắm hướng bãi đáp trực thăng chạy thục mạng. Bất thình lình, từ sau cái lều vải của ông Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 3/19, ba người mặc quần áo xanh của bộ đội chính quy Bắc Việt ào tới. Tôi giơ súng bóp cò, “Cành!” chẳng biết viên đạn bay đi đâu mà khẩu súng bỗng nhẹ tênh!

Súng nổ mà không giựt! Súng của tôi bị “hóc” rồi! Cái vỏ đồng thay vì bay qua cửa sổ tống đạn để văng ra ngoài, lại xoay ngang, nằm kẹt ngay giữa cửa sổ tống đạn! Ðúng là “Họa vô đơn chí!” Cây Colt 45 “phản chủ” lại lựa đúng giờ phút này mới giở quẻ! Tôi buột miệng chửi thề, “Cha mày!” rồi xoay người chạy ngược trở lại hướng sân. Vừa trở mình cất bước, tôi đã bị một tên bộ đội phóng tới ôm chặt. Hai đứa còn lại vội vàng gí mũi của hai khẩu AK47 ngay ngực tôi, sẵn sàng bóp cò.

Một thằng địch lớn tiếng quát,

– Ðứng im không tao bắn!

Tiếp đó, y trở ngược khẩu AK quật một báng súng ngang hông tôi khiến cho khẩu Colt 45 rơi xuống đất. Y giẫm chân lên khẩu súng của tôi rồi ra lệnh tiếp:

– Ðứng im để tao tháo dây đeo đạn của mày ra!

Không thèm để ý tới những lời la hét của những kẻ đang khống chế mình, tôi cứ cắn răng ra sức vùng vẫy thoát thân. Bỗng tên địch đang ôm tôi la lên,

– Các đồng chí đừng bắn! Thằng này là thủ trưởng! Bắt sống nó!

Thì ra, y ta đã nhìn thấy cặp lon thiếu tá thêu bằng chỉ trắng trên ve áo của tôi. Y chắc mẩm phen này đã lập công lớn vì bắt sống được người chỉ huy một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Xưa nay, đi hành quân tôi thường đeo lon trắng để thuộc cấp dễ nhận ra tôi, khiến họ yên tâm hơn. Ðâu ngờ cũng vì cặp lon trắng mà hôm nay tôi bị địch bắt sống. Một tên bộ đội nhanh nhẹn quàng súng vào vai, rồi ngồi xuống nắm cẳng tôi,

– Ðứng im để tao cởi dây giày của mày thì mới có dây để mà trói tay mày! Mày mà cựa quậy thì tao bắn gẫy chân đấy!

Thằng địch đứng sau lưng ôm chặt quá; tôi cố sức vùng vẫy được vài giây thì đã hết hơi, đành xuôi tay. Thế là hết! Số mệnh tôi tới đây là chấm dứt! Tôi đâu có ngờ cuộc đời Biệt Ðộng Quân bao phen vào sinh ra tử của tôi lại bị kết thúc một cách tức tưởi và vô lý như thế này? Giờ này bên trái tôi là một thằng địch, sau lưng tôi là một thằng địch, dưới chân tôi là một thằng địch; dù có ba đầu sáu tay tôi cũng không thể nào chạy thoát. Nhưng sau khi hít vào một hơi dài lấy sức, tôi lại vùng vẫy tiếp. Rồi trong cơn tuyệt vọng, tôi vọt miệng tru lên như con thú rừng bị dồn vào đường cùng, “Á! Á! Á!” Tiếng rú của tôi im bặt ngay sau khi ngực tôi bị một cú dập như trời giáng bởi cái đế súng AK 47. Thằng cán binh đứng bên trái tôi hét lên,

– Câm mõm lại! Mày mà còn la ó, ông sẽ đập gãy hết răng!

Cú đập của cái đế súng làm cho tôi hoa mắt, nghẹn hơi. Tôi rũ người xuống như một sợi bún. Tên địch đứng sau lưng tôi vội nắm cổ áo tôi lên, rồi vòng cánh tay trái của nó kẹp qua cằm tôi, ghì người tôi sát vào người nó để thằng bạn nó tiếp tục tháo hai sợi dây giày của tôi. Cuối cùng, tôi cũng đành đứng im, cố há miệng ra mà khò khè. Tôi chợt nghĩ, tới nước này chỉ còn một con đường là, chờ cho chúng nó trói mình xong, rồi dẫn mình đi thì mình sẽ chạy. Mình mà chạy thì chúng nó sẽ bắn theo, mình sẽ chết. Mình chết, nhưng không thành một tù binh…

“Ðoàng!”- “Ðoàng!”

Bất thình lình, tên địch đứng bên trái tôi bị ai đó bắn trúng sọ, té lăn quay. Tên cán binh đang quỳ gối dưới chân tôi để gỡ dây giày cũng trúng một viên vào lưng, lăn lộn vài ba vòng trên nền đất rồi nằm bất động. Ngay khi đó, theo phản xạ, tôi ra sức hét thật to:

“Buông tay ra!”

Có lẽ tiếng hét của tôi quá lớn, lại sát bên tai, nên tên Việt-Cộng đang kẹp cổ tôi giật mình, vội buông tay ra. Ngay lập tức, tôi xoay người về phải, đánh một cái cùi chỏ. Ai ngờ, cú đánh cùi cầu âu, gỡ rối, của tôi lại vô tình trúng ngay quai hàm thằng địch. Trúng đòn, nó loạng quạng, chúi mũi, cắm đầu về phía trước.

“Ðoàng! Ðoàng!”

Sau hai tiếng nổ, thằng Việt-Cộng giãy đành đạch trên nền đất. Trước mặt tôi là Thiếu úy Trần Văn Phước, trên tay Phước mũi súng Colt 45 vừa toé lửa, đang bốc khói. May quá! Ông sĩ quan Ban 2 của tiểu đoàn mà không có mặt kịp thời thì tôi toi mạng rồi! Thì ra, trong lúc hỗn quân, hỗn quan, không thấy tôi đâu, Thiếu úy Trần Văn Phước đã chạy đôn, chạy đáo khắp nơi để tìm tôi. Kịp khi Phước về tới bộ chỉ huy thì nơi đây đã bị địch tràn ngập. Với một khẩu súng ngắn, chưa biết làm gì để đối phó với mấy thằng Việt-Cộng tay lăm lăm AK47 đang vây bắt một con heo thì bất chợt Phước nghe tiếng tôi kêu rú thất thanh, rồi thấy tôi đang bị địch ôm chặt cứng, hết cựa quậy. Thế là Phước liều thân vác cây Colt 45 chạy tới cứu viện. Hai viên đạn đầu, Phước đã bắn trúng sọ, trúng lưng hai thằng địch; viên đạn thứ ba chưa được bắn ra chỉ vì Phước sợ bắn lầm vào tôi. Kịp khi thằng Việt-Cộng bị tôi đánh cho một cùi chỏ, ngất ngư, Phước liền lẫy cò liên tiếp hai lần.

Phước dang đôi tay ôm tôi, miệng thì la lớn như giữa chốn không người,

– Em xin lỗi Anh Hai! Em đã tới chậm!

Cũng may, lúc này mấy tên Việt-Cộng trang bị AK và con heo đã đuổi nhau chạy đi đâu mất tiêu. Tuy vậy, không xa nơi tôi đứng, lại bắt đầu nghe có tiếng súng địch nổ rộ cùng tiếng thét “Xung phong!” – “Xung phong!” Ðợt tấn kích thứ hai lướt qua thật là nhanh, lần này địch vẫn còn đeo bao nylon chống hơi cay. Mục tiêu vẫn là khu pháo binh hướng Nam và dãy lều tranh bên chiếc xe ủi đất. Trong màn mưa phùn, những thằng địch cứ cắm đầu chạy, nhắm mắt bắn bừa, không nhìn thấy tôi và Thiếu úy Phước ngồi thu mình sát bụi tre. Tôi nhặt khẩu Colt 45 lên cọ qua, cọ lại trên ngực áo cho sạch đất bụi, rồi móc ve dầu chùi súng mini từ trong cái túi cấp cứu trên dây ba chạc ra, tưới dầu lên hai rãnh cơ bẩm.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 6 July, 2023

Post by Sơn râu 1 Sep 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Tôi đã gọi đài tiếp vận Hàm Rồng xin tiếp viện nhiều lần, lần nào cũng bị trả lời, “Gắng chờ! Gắng chờ!”  Mấy ngày sau tôi mới hay, từ sáng sớm ngày 14 tháng 4, thượng cấp đã gửi một tiểu đoàn bộ binh vào tiếp viện cho tôi, nhưng vừa đi qua ngã ba Mỹ Thạch được năm cây số thì đơn vị này đã bị địch đánh tan. Chuẩn úy Trâm và Trung đội Trinh Sát 82 đã tiếp tay được Trung úy Thọ. Cùng đi với Thọ có hai thằng em bị thương gãy tay là Binh nhất Lê Thanh Phong và Trung sĩ 1 Nông Văn Út người Nùng. Trung sĩ Út đang là một Trung đội trưởng của Ðại Ðội 2 thay thế cho Thượng sĩ Don Luân người Thượng đi phép vắng.

Trước đó Chuẩn úy Lê Văn Phước, tức là Phước Răng Vàng cùng hai anh lính Truyền Tin của Ðại Ðội 2 là Trung sĩ Thế và Hạ sĩ Khanh đã chạy sang Plei Ngol Ho; cả ba người này đều bị thương. Trung úy Thọ vào tới sân Plei Ngol Ho đúng vào thời điểm địch cắm được lá cờ Giải Phóng Miền Nam trên nóc phòng thuyết trình của 711. Cũng ngay giờ phút đó, Cứ Ðiểm Plei Ngol Ho hứng chịu loạt mưa pháo đầu tiên.

Vũ khí tàn phá của địch chủ yếu vẫn là 122ly, 105 ly cùng với hỏa tiễn AT3. Có điều địch không nhìn thấy 6 chiếc M113 của Ðại úy Xá nằm núp sau các bụi tre gai, nên AT3 chỉ lập loè nhắm vào hai khẩu 155 ly và cái xe ủi đất. Vì địch đã chiếm được 711 và làm chủ đoạn Tỉnh Lộ 6C hướng Bắc đồi Tử Chiến, nên chúng công khai dùng xe chở quân tăng viện tới sát bên 711 rồi mới nhảy xuống, dàn trận, xung phong. 9 giờ sáng 14 tháng 4, trong màn mưa, một biển người ào lên bờ đất phòng thủ hướng Tây Plei Ngol Ho. Ngay đợt xung phong đầu, ba sĩ quan trung đội trưởng của Ðại Ðội 3 đã bị thương.

Tôi ra lệnh cho ba anh chuẩn úy này lui về sau, nhường quyền chỉ huy cho ba sĩ quan thực tập thì Chuẩn úy Trương Trọng Tài, Trung đội trưởng Trung Ðội 2 Ðại Ðội 3 xua tay từ chối. Ông chuẩn úy này chỉ còn tay phải, tay trái bị thương nhẹ, đã được băng bó rồi được treo lên bằng một cuộn băng cá nhân vòng quanh cổ.

Trong màn khói đạn mịt mù, hiện ra một Chuẩn úy Trương Trọng Tài, còn gọi là Trương Thiên Tài, đẹp như một nam tài tử trong phim cao bồi của Mỹ, một tay anh treo tòn ten trước ngực, một tay ôm M16, một chân dưới giao thông hào, một chân nhịp nhịp chống trên bờ đất, hai ống quần hoa đã bị cắt tới đầu gối, cái mũ đi rừng thì đội lệch một bên, miệng anh đang ngậm nửa điếu Ruby đã tắt lửa tự bao giờ.

Tôi nghĩ, nếu có phóng viên quốc tế nào ở đây, thì hình ảnh của tài tử Trương Thiên Tài chắc chắn sẽ chiếm trang đầu của Báo Life hay Báo Times. Tài cười vang rồi nhìn tôi:

– Thái Sơn để tui chơi tiếp với mấy thằng Việt-Cộng này! Lính của tôi còn ở đây, tui mặt mũi nào mà trốn sau lưng tụi nó!

Thấy thế, hai ông chuẩn úy còn lại là Trần Quảng và Trương Anh Kiệt cũng không chịu kém,

– Tui cũng không trốn, tui xin Thái Sơn cho tui ở lại với thằng Tài! Chết thì chết! Có chi mà ngán!

Tôi đành lắc đầu, ái ngại cho ba thằng em, nhưng trong lòng tôi cảm thấy ấm áp vô cùng. Tôi rút bao Lucky ra châm cho ba đứa em mỗi đứa một điếu rồi đi sang khu pháo binh. Ðể có sĩ quan chỉ huy dự phòng, tôi cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt tạm thời giữ chức đại đội phó cho Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Cùng lúc, tôi gọi Trung úy Chủ dẫn hai ông sĩ quan thực tập tới Ðại Ðội 3 đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Phiến. Trận đánh tiếp tục giằng co. Tôi không lo địch pháo nữa mà chỉ lo chúng cứ liều mạng xông lên, chúng nó mà xông lên vài đợt nữa thì chúng tôi hết đạn!

Tới xế trưa thì hai trung đội trưởng Trần Quảng và Trương Anh Kiệt bị vết thương làm độc lên cơn sốt cao nên Thiếu úy Phiến phải đưa họ vào phòng thuyết trình để ông trợ y săn sóc. Hai sĩ quan thực tập đã sẵn sàng trám chỗ cho hai người này. Tới chiều, dù pháo địch cứ rộ từng cơn, nhưng không thấy địch xung phong, tôi vội đi thị sát một vòng. Tới khu pháo binh tôi mới hay, Trung úy Danh và một thiếu úy dưới quyền anh cùng bốn binh sĩ đã bị thương cách đây vài phút. Hai khẩu đại bác 155ly xẹp bánh, nằm nghiêng một bên. Những pháo thủ còn lành mạnh giờ đây đã biến thành những chiến binh đánh nhau bằng M16.

Cũng từ lúc này, tôi là người trực tiếp xin pháo yểm vì ông Trung úy Danh đã nằm trong hầm cứu thương. Trở về hầm chỉ huy, tôi gọi Sư Ðoàn 22 hỏi xem lúc nào có quân tăng viện thì câu trả lời vẫn là, “Gắng chờ!” Thấy màn đêm sắp buông, tôi gọi cho các đơn vị phải cảnh giác canh chừng Ðặc Công. Tôi sợ rằng, vị trí đóng quân của tôi chưa có hàng rào, chưa có mìn bẫy, nếu địch vừa đánh Ðặc Công xong, liền xua đại quân ào lên đánh biển người thì tôi vô phương chống đỡ. Bỗng trong óc tôi lóe lên ý nghĩ sử dụng đơn vị trừ bị là Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân. Qua mười phút liên tục phát thanh, tôi vẫn không nghe Thiếu tá Nguyễn Hoàng trả lời.

Tôi vào tần số của Chi Khu Phú-Nhơn để nhắn tin cho Thiếu tá Nguyễn Hoàng thì nghe họ thông báo rằng Thiếu tá Hoàng vừa đem lính đi Ngã Ba Mỹ Thạch để đón một đại đội của ông đóng quân cách ngã ba 5 cây số, nhưng đêm qua đơn vị này đã bị Việt-Cộng đánh tan tành và đang thất lạc. Cuối cùng, túng thế quá, tôi đành phải tính chuyện sử dụng Ðại Ðội 1. Sử dụng Ðại Ðội 1 là một hành động vô cùng liều lĩnh, cần phải cân nhắc kỹ. Nếu không đem Ðại Ðội 1 ra kịp, chắc chắn tôi sẽ vỡ trận vì không đủ quân. Nhưng nếu địch biết tôi đã đem Ðại Ðội 1 đi thì chúng sẽ đánh chiếm Pleime ngay.

Sau một hồi suy đi, tính lại, tôi thấy, hiện giờ tôi đang ở Plei Ngol Ho, Plei Ngol Ho là mạng sống của tôi! Nếu tôi còn sống, chuyện an nguy của Pleime mới thành vấn đề, nếu tôi chết thì Pleime còn hay mất đâu còn ăn thua gì nữa? Thế là, tôi quyết định chơi xả láng! Bỏ Pleime để chống đỡ Plei Ngol Ho! Kế đó, tôi gọi Thiếu úy Phạm Văn Tô, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 vào máy rồi ra lệnh:

– Thái Sơn về núi!

Ðầu máy bên kia có tiếng Thiếu úy Tô,

– Nhận 5!

Từ ngày nhận chức chỉ huy 82, tôi đã có mật ước với 5 vị đại đội trưởng là, trong trường hợp khẩn cấp nếu nghe được chính miệng tôi phát ra mật lệnh “Thái Sơn về núi!” thì người nghe phải lập tức vặn máy sang tần số 47.70 để nghe tôi ra lệnh tiếp. Ðại Ðội 1 đang ở Làng Xổm, chỉ cách Căn Cứ 711 chưa đầy 7 cây số đường chim bay. Nếu là bình thường thì đơn vị này chỉ cần một tiếng đồng hồ di hành là đã qua đoạn đường này. Nhưng giờ đây vùng Bắc của Tỉnh Lộ 6C đã bị địch chiếm cứ, Ðại Ðội 1 mà đi trên tỉnh lộ thì không khác gì tự tử.

Tôi nói,

– Mở thực đơn ra nghe lệnh!

(Thực đơn: là bản đồ ghi mục tiêu)

Ngưng một phút cho Thiếu úy Tô chuẩn bị bản đồ rồi tôi mới bắt đầu chậm rãi,

– Target 1 Le Tam Pôte! Target 2 Le Dido! Target 3 Torr! Nghe rõ chưa? Lặp lại!

Tôi không chờ lâu, Tô đã đáp lời ngay,

– Nhận 5! Le Tam Pôte, Le Dido, Torr!

Tôi tin rằng, không chỉ mình Thiếu úy Tô, mà tất cả quân nhân của Ðại Ðội1 đều thông thuộc những địa danh này, không cần bản đồ hay địa bàn họ cũng có thể đi tới đó một cách dễ dàng.

Vì chắc chắn vào giờ phút ấy, bên hướng Ðông suối Ia Tur sẽ không có tên Việt-Cộng nào, nếu an toàn qua được Plei Le Tam Pôte thì coi như hết lo lắng. Rồi từ Plei Le Tam Pôte ta cứ yên trí chạy một mạch theo con đường xe be lên hướng Bắc, vượt qua 6 cây số thì tới làng Plei Torr. Tới Plei Torr coi như tới 711!

Quả nhiên, gần 7 giờ tối tôi đã nghe Thiếu úy Tô thở hổn hển,

– Trình Thái Sơn! Tôi thanh toán xong làng Torr!

Tôi ra lệnh,

– Cho anh em nghỉ vài phút rồi đi tiếp!

– Nhận 5!

Kế đó, từ làng Plei Torr rẽ trái, theo đường xe be, chỉ nửa giờ sau Ðại Ðội 1 đã có mặt trên Plei Ngol Ho. Tôi cho Ðại Ðội 1 giữ tuyến chính Ðông, mặt Tây vẫn do Ðại Ðội 3 phòng thủ, vì những người lính của đơn vị này đã quen với địa hình địa vật trước mặt. Tiếp đó, tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 1 chia sẻ bớt đạn và lựu đạn cho Ðại Ðội 3 và Ðại Ðội 2. Lúc này, bình quân trên lưng mỗi người lính chỉ có khoảng dưới 100 viên đạn M16. Ðánh nhau mà thiếu đạn thì khổ lắm, nhưng biết làm sao bây giờ? Bố quân xong, tôi quay về hầm truyền tin, tính nhắm mắt vài phút cho tinh thần bớt căng thì nghe trong máy khuếch âm có tiếng gọi lớn, giọng Bắc Xâm Nhập,

– Thái sơn! Thái ổi! Thái rau! Thái thịt! Thái cứt! Thái đái! Ðây là Bố gọi! Con có nghe không? Trả lời!

Nghe thấy vậy, Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn liền la lên,

– Truyền Tin! Sang tần số giải tỏa! Số nhà này bị Việt-Cộng vào phá rối rồi!

Chiến trận đã nhiều, nhưng tôi thấy rất ít khi bị Việt-Cộng vào tần số chọc phá, nên tôi nói với ông Chủ,

Trung úy Chủ cầm máy lên,

– Chúng mày muốn gì?

– Bố mày muốn nói chuyện với thằng Thái Sơn.

Thấy tôi gật đầu, ông Chủ nói tiếp,

– Thái Sơn đây! Mày là ai? Muốn gì?

Ðầu máy bên kia có tiếng “Ẹc! Ẹc! Ẹc!” như có sự chuyền tay cái loa phát âm, rồi tôi nghe tiếng người dõng dạc,

– Tao là người chỉ huy Quân Giải Phóng, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Tôi ra dấu cho Trung úy Chủ trao máy cho tôi rồi cũng dõng dạc đáp lời,

– Tao là người chỉ huy Biệt Ðộng Quân, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Ðáp lời tôi là tiếng “Chát” do máy phát đập trên nền cứng, cùng với tiếng hét,

– Ð! Mẹ mày! Mày là đồ tay sai của đế quốc Mỹ!

Tôi cũng già hàm, không chịu kém,

– Ð! Mẹ mày! Ông nội, ông ngoại, thằng cha, con mẹ mày chỉ là thứ bần cố nông, hốt cứt, gắp phân! Mày cũng chỉ là một tên tay sai của Liên Xô và Tầu Phù!

Người bên kia nghiến răng,

– Thái Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cũng nghiến răng,

– Hồng Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cứ tưởng rằng mình đang chửi nhau với Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A nhưng bỗng nghe người bên kia hét thật to,

– Tao là Kim Tuấn! Mày sẽ không thoát được tay tao!

Thì ra, từ nãy tới giờ tôi đang cãi nhau với Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Tôi bèn lớn tiếng, nhưng thật là chậm rãi,

– Tao là Thái Sơn! Mày vào bao nhiêu tao giết hết bấy nhiêu! Cứ xua quân vào đi! Tao thách mày đấy! Ở Tây Nguyên này tao là vô địch! Nghe rõ chưa?

Tôi dứt tiếng thì người bên kia rít lên,

– Tao thề sẽ giết mày!

Rồi máy tắt, không còn nghe gì nữa.

Mười phút sau không biết cơ man nào là pháo từ Tây, và Tây Nam, bắt đầu bay tới Plei Ngol Ho. Ðạn 105ly, đạn 122ly nòng ngắn, nòng dài, hàng nghìn trái theo đuôi nhau. Cũng may là địch pháo hơi dài so với hướng súng, khiến cho tất cả đạn đều rơi trên đỉnh đồi hướng Ðông. Căn cứ 711 nằm trong lòng đất trũng của làng Plei Ngol Ho nên không có viên đại bác nào rơi trên chỗ chúng tôi đóng quân.

“Thái Sơn đây Hỏa Long!”

Ðang khổ sở vì pháo địch, nghe tiếng ông niên trưởng Trần Bạch Thanh khóa 17 Võ Bị trên AC47 tôi vừa mừng lại vừa lo. Tôi mừng vì có thể nhờ Hỏa Long oanh kích những khu vực địch đặt pháo, nhưng lo vì nếu được hỏa châu soi sáng, tụi bộ binh của Việt-Cộng sẽ tập trung dễ dàng hơn, di chuyển cũng nhanh hơn. Khi đã nhận biết nguồn sáng phát ra từ cái đèn Beacon của Thiếu úy Trần Văn Phước ở giữa sân Plei Ngol Ho, anh Thanh hỏi tôi,

– Giờ đây Thái Sơn cần tôi càn quét chỗ nào?

– Okay! 4 clicks Tây Nam! Ðánh thả giàn!

Bầu trời đêm cuối tháng Âm Lịch rực sáng dưới hỏa châu, sau đó là những luồng đạn lập lòe chớp chớp từng chặp. Văng vẳng, tôi nghe vọng lại tiếng đại liên “Ồ! Ồ! Ồ!” Trên trời bỗng loé sáng như ai đó vừa bắn pháo thăng thiên! Một phút sau tai tôi nghe, “Bốp! Bốp! Bốp!”  tiếng phòng không 37ly giòn giã. Chiếc Hỏa Long bỗng tắt hết đèn, rồi bay đi đâu mất. Mấy phút sau, máy bay bất thình lình quay lại, vẫn tắt đèn, bắn vội vài tràng đạn, rồi biến luôn. Ðúng nửa đêm 14 tháng 4 năm 1974 địch triển khai đợt biển người thứ nhất trong ngày nhắm vào Plei Ngol Ho.

“Oành! Oành! Oành!

Thủ pháo mở đường, rồi bộ binh ào lên,

“Cành! Cành! Cành!”- “Xung phong! Xung phong! Xung Phong!”

Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng, bắn chéo cánh sẻ, đạn đan nhau, không một tên Việt-Cộng nào tới được bìa rào. Hai giờ sau, địch tiếp tục tung ra đợt biển người thứ hai, cũng cùng một kỹ thuật tiến công, cũng cùng hướng tiến, rồi cũng bị đẩy lui.

Gái Nga Gốc Việt

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 31 Aug 3023

Tàu ghé bến St. Petersburg lúc giữa khuya. Gepson cùng với mấy thủy thủ đồng hương của nó lên bờ chơi, khi chúng kéo nhau về tàu thì đã tới giờ điểm tâm. Mấy đứa khác thân thể bèo nhèo như tấm giẻ rách, mặt mày chù ụ, không chào hỏi ai hết, gầm mặt đi thẳng vô phòng ăn. Riêng Gepson thì áo quần thẳng nếp, râu ria nhẵn nhụi, mặt mày tươi rói, dừng lại phòng bếp chào tôi một cái rồi mới đi vô phòng ăn. Nó không  ăn gì hết, chỉ rót tách cà phê ngồi nhâm nhi. Chờ mọi người ăn, uống xong nó đứng dậy đi vô bếp phụ tôi dọn dẹp. Sau khi sắp xếp muỗng nĩa ly tách vô máy rửa, nó khoe với tôi:
– Hồi hôm tui ngủ với Ilona.
– Xạo đi.
– Tui nói thiệt, chú hổng tin sao.
– Mầy thường tuyên bố rằng tới nước nào thì mầy chơi con gái nước đó, tự nhiên đổi món tao thấy làm lạ.
– Tội nghiệp chị ta. Gepson nhìn đồng hồ tay thấy đã tới giờ làm việc, nó quay lưng đi xuống phòng thay đồ, tới cầu thang chợt nhớ ra chuyện gì, nó quay lại nói với tôi:   – Ilona nhắn chú tối nay lên hội quán cho chị ta gặp mặt.
– Nói sao nghe giống người sắp chết quá mậy?
Nó cười:
– Chắc chị ta cũng sắp chết thiệt rồi, tối nay chú không lên thì sau nầy sẽ không có dịp gặp chị ấy nữa đâu.   Từ khi đám thủy thủ In Đô biết Ilona là phụ nữ Việt Nam, hễ tên nào ngủ được với cô ả thì vui mừng như được ngủ với người mẫu, hay hoa hậu không bằng, sáng xuống tàu thế nào cũng hí hửng tìm tôi để khoe. Trước đây Gepson chê ngực, mông của Ilona lép xẹp, thân hình thì ốm nhom ốm nhách giống y bộ xương trong các phòng thí nghiệm, thà nó bỏ gấp đôi tiền để bao một cô gái Nga trẻ đẹp, chớ cỡ như Ilona cho nó thêm tiền nó cũng không thèm, nhưng không hiểu vì sao hồi hôm nó lại hứng tình ngủ với con nhỏ. Không biết Ilona có chuyện gì mà nó úp úp mở mở làm tôi có hơi lo.  Tính ra tôi quen với Ilona cũng lâu lắm rồi, có chừng hơn năm năm, tàu đi đi lại lại bến St. Petersburg có mấy chục bận. Tôi còn nhớ vào mùa đông năm ấy tuyết đổ ngập trời và trắng đầy mặt đất. Tôi cùng với mấy thằng bạn đạp tuyết lên hội quán thủy thủ, hội quán ở St. Petersburg trang trí đèn hồng mờ, sàn nhảy rộng và một phần sân khấu thiết bị cho các vũ nữ nhảy sexy không thua những hộp đêm kiểu Mỹ. Các bà, các cô ăn bận sang trọng và mặt mày lúc nào cũng tươi như hoa. Ngồi chơi cho tới giữa khuya thì mấy thằng bạn mỗi người dẫn một cô đi du dương đâu đó. Còn lại mình ên ngồi bên chiếc bàn lớn quá, sợ các bà, các cô tới rủ rê mời mọc, tôi bèn đứng dậy đi tới quày ba leo lên chiếc ghế cao cẳng ngồi, kêu một ly bia nhâm nhi và coi người ta nhảy nhót. Bỗng từ trong góc tối một phụ nữ vóc dáng Á Châu, mình dây mặt mày tô son vẽ phấn trông già dặn, chừng trên ba mươi tuổi, đi lại đứng bên cạnh khều khều sau lưng tôi nói hê-lô. Tôi không có ý tiếp chuyện nên lơ là ngó lại chào một cái rồi day qua tiếp tục uống bia. Cô hỏi tôi có phải là người Phi Luật Tân không.
Vẫn không nhìn lại tôi nói:
– Không.
– Vậy ông là người gì?
– Người Việt.
– Ồ, tui cũng là người Việt. Ngay trong lúc nầy dù có thần nữ Rạng Đông phương Bắc (Aurora borealis) xuất hiện tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên, huống hồ chi một phụ nữ Việt Nam làm gái bán hoa trên đất Nga nầy. Tôi lơ là quay qua cười gượng gạo hỏi một câu bằng tiếng Việt. Cô ta lắc đầu giải thích bằng thứ tiếng Anh nửa nạc nửa mỡ, đại ý là cô qua Nga hồi còn nhỏ nên không nói được tiếng Việt. Tôi nghĩ đây chỉ là mánh khoé của những cô gái giang hồ, các cô thường hay tưởng tượng ra những câu chuyện vui cười hoặc chuyện thương tâm làm cảm động lòng người để dễ dàng câu khách, lời nói của cô ai tin cho được, nhưng vì phép lịch sự tôi hỏi lại:
– Cô biết Việt Nam? Một tay cầm diện thoại di động một tay đưa ra làm dấu bóp cò súng cô nói.
– Tui biết, ở Việt Nam có chiến tranh, bắn nhau bang bang… Tôi khoa tay một vòng lên khoảng không:
– Chiến tranh Việt Nam cả thế giới ai cũng biết nhưng đã qua lâu rồi.  Cô gái để điện thoại lên mặt quầy rồi leo lên chiếc ghế trống bên cạnh ngồi, day ngang hỏi tôi:
– Ông không mời tui uống gì sao?
– Các cô chê bia là loại rẻ tiền không chịu uống, còn tui thì không đủ tiền trả cho một chai Champagne.
– Không sao, tui uống bia với ông.
– Ô kê.
Tôi gọi bia và day ngang nói:
– Tui chỉ đủ trả tiền bia cho cô uống tới say, nếu muốn ngồi với tui thì cô không được đòi hỏi thêm gì khác. Thường những cô gái khác nghe những lời tôi vừa nói thì thế nào cũng  mắng thẳng vô mặt và chưởi tôi là một tên bần tiện trước khi các cô khinh khỉnh bỏ đi. Nhưng cô gái nầy lại cười vui vẻ:
– Ông có gì để tôi đòi.
– Bởi vậy tôi mới dặn trước.  Người đứng trong quày đưa bia ra cho cô gái. Tôi bưng ly lên mời. Cô gái bưng bia lên uống rồi để ly xuống, cô hỏi tên tôi và tự giới thiệu tên cô là Ilona. Từ đó trở đi mỗi lần tôi tới, lúc nào có khách thì Ilona ngồi với khách, còn không thì tới ngồi uống bia, trò chuyện với tôi.  Một hôm Ilona đem cho tôi xem tấm hình người đàn ông chụp chung với một người đàn bà, cả hai bận đồ chánh quy, đầu đội nón cối, nhìn qua biết ngay là bộ đội miền Bắc Việt Nam. Ảnh vàng ố, cũ mèm, cô cho biết đó là tấm hình duy nhứt của cha, mẹ mà cô còn giữ được. Tuy trao đổi với tôi bằng thứ  tiếng Anh ba rọi nhưng lâu dần tôi cũng hiểu được hoàn cảnh của cô. Đại khái ba, má cô chết trong thời chiến tranh, sau đó người ta đem cô cho một gia đình người Nga. Thời Xã Hội Chủ Nghĩa cô sống với ba má nuôi, sau khi nước Nga thay đổi, ba má nuôi về hưu, lương hưu không đủ nuôi cả nhà nên cô bỏ ra đây làm cái nghề nầy… Thú thật tôi nghe chuyện của cô có bị xúc động cũng giống như xem phim truyện về một bi kịch để rồi sau đó quên luôn. Nhờ quen với Ilona tôi mới biết, dù trong một xã hội khắt khe, tồi tệ cách mấy vẫn có những con người giống như ba, má nuôi của Ilona, sống vị tha và giàu lòng nhân ái…  Mỗi lần ngồi với nhau, Ilona hay nói chuyện về Việt Nam, những hiểu biết của cô có thể lượm lặt qua báo, đài và xem trong phim truyện, cô hay lầm lẫn Campuchia là Việt Nam, như xem phim Cánh Đồng Chết (Killing Field) cô cho là chuyện xảy ra ở Việt Nam. Nghe cô kể chuyện quê hương Việt Nam mà tôi thấy giống như chuyện của mấy nước nghèo đói nào đó ở Châu Phi. Có lẽ thấy tôi không mặn mà về những chuyện kể nên có lần cô thắc mắc hỏi tôi:
– Ông không nhớ Việt Nam sao?
Nhớ rồi làm gì? Hổng nhớ rồi làm sao?
Ilona móc thuốc ra châm hút, ngẫm nghĩ một lát, cô nói:
– Khi nào có được nhiều tiền tui sẽ về Việt Nam giúp đỡ mấy người nghèo bên đó.  Tôi đương hớp ngụm bia, nghe cô ta nói tôi cười làm bia tràn lên mũi muốn sặc ra, nhưng tôi kịp ém hơi và khặc nhẹ một cái.
Tôi nuốt nước miếng rồi hít vô một hơi dài, thở ra một hơi mạnh và nói:
– Dân chúng nước Nga sống cũng đâu khá hơn dân chúng Việt Nam bao nhiêu. Ilona vân vê cái điện thoại cầm tay:
– Tui thấy dân Việt Nam sang Nga đi làm việc rồi trốn ở lại, không nhà cửa, ngủ ngoài đường.
Tôi hất hàm hỏi:
– Cô không thấy những người Việt giàu có ở Nga sao?
Ilona lắc đầu:
– Không.
– Ở Việt Nam cũng như ở nước Nga vậy, có rất nhiều tỉ phú và cũng có nhiều ăn mày ngủ bờ ngủ bụi. Tui đã thấy nhiều người Nga lang thang ngoài đường giữa mùa đông đầy tuyết, họ lục lạo thùng rác kiếm ăn và ngủ trước bến xe điện hoặc trong các hóc hẻm tối tăm, trông họ ăn bận dơ dáy hơn ăn mày ở Việt Nam và mùa đông nào cũng có ông già, bà lão chết vì đói lạnh…   Thấy Ilona ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi, tôi nói tiếp:  
– Cô nên sống với hiện tại và vui hưởng những gì mình có, nếu thấy có cái xấu xa thì cố gắng sửa lại cho tốt lành, còn chuyện quê hương đất nước hay cái gốc rễ cội nguồn gì gì đó chỉ là ảo ảnh thôi, cô quên phứt đi cho khoẻ.
– Nhưng tui chưa biết nước Việt Nam.
–Vậy thì dành dụm tiền đi chơi cho biết. Mà nè, nếu cô muốn cứu giúp người thì nên tự cứu giúp bản thân cô trước đã.
– Tui đâu có gì.  Từ ngày nước Nga đổi sang kinh tế thị trường, các cô gái bán hoa cũng tăng giá cho đúng theo tiêu chuẩn quốc tế. Phải công nhận con gái mới lớn ở Nga đẹp tuyệt vời, giá những cô gái nầy, tính luôn tiền phòng, trên một trăm euro cho một giờ. Còn xồn xồn như Ilona hoặc mập quá ký, ốm quá cỡ thì trên dưới năm chục euro, tùy theo mặc cả trao đổi giữa người mua kẻ bán, giá nầy vừa túi tiền thủy thủ, nhờ vậy mà Ilona vẫn còn làm ăn được. Ở đây các cô sẵn sàng phục vụ thủy thủ đủ kiểu, đủ cách và bất cứ ở đâu. Nếu tàu sắp khởi hành, anh nào muốn xả xú-báp mà không có thời gian thì cứ bỏ tiền ra rủ một em cùng chui vô nhà cầu đánh nhanh, rút gọn… Mỗi khi có anh nào rủ “đánh nhanh” thì Ilona kêu các bạn đồng nghiệp khác làm, cô chê nhà cầu dơ dáy không bao giờ vô đó làm cái chuyện “ấy”. Nhìn người phụ nữ quá thời, giống như bó hoa úa héo hạ giá đem rao bán giữa chợ chiều, tôi đâm ái náy cho cái tấm lòng từ bi của cô, muốn vạch cho cô thấy những cái “có gì” của cô…  Nhưng nghĩ lại, tôi đương ở giữa một nơi người ta dùng bia, rượu thay cho nước, tiền đô xem như giấy báo. Một tên keo kiệt như tôi không dám bỏ tiền ra mua một chai rượu thết đãi thì lấy tư cách gì lên lớp dạy dỗ ai. Về sau có những lúc ngồi với nhau, khi nào Ilona hỏi tôi mới trả lời hoặc có chuyện vui góp vài câu, bằng không thì ngồi nghe cô tha hồ thao thao bất tuyệt về một quê hương mà cô chưa từng biết…  Đầu mùa xuân năm nay, Ilona báo cho tôi biết, cô sẽ sang Tiệp Khắc làm ăn và không trở lại đây nữa. Không hiểu sao, sau thời Cộng Sản ở mấy nước ở Đông Âu, đi tới đâu cũng thấy đầy dẫy gái bán dâm. Định hỏi cô sang đó làm gì, nhưng nghĩ lại có biết chuyện thì tôi cũng chẳng giúp được gì cho cô, hơn nữa nếu cô đổi nghề thì thế nào cũng khoe với tôi rồi, cần gì phải đợi tôi hỏi. Hôm tàu sắp rời bến, tôi dẫn Ilona đi ăn nhà hàng Tàu và sau đó chúng tôi đi dạo bên bờ sông Neva cho tới khuya mới chia tay. Ilona bịn rịn ôm hôn tôi và khóc thiệt nhiều. Tôi khuyên cô một vài câu gì đó mà giờ đây tôi không còn nhớ nữa và tôi cũng có cho tiền nhưng cô không lấy. Thật ra thì từ ngày tôi biết Ilona cho tới ngày chia tay có chuyện vui mừng cô ôm tôi và có chúng tôi cũng có những đụng chạm nhau lúc ra sàn nhảy nhót, nhưng tôi chưa bao giờ để cảm xúc mình hướng về thân thể của cô. Thiết nghĩ tôi với Ilona bất quá chỉ là hai lữ khách tình cờ gặp nhau trên một đoạn đường rồi đi chung một hướng, bây giờ đã tới ngã rẽ mỗi người phải về một nơi, âu cũng là chuyện bèo bọt thường tình nên tôi không cảm thấy xúc động chút nào trong lúc chia tay. Vậy mà từ hôm đó tới nay cũng gần năm tháng rồi, không hiểu sao cô ả vẫn còn lẩn quẩn ở đây?  Chiều nay thấy bức rức trong lòng, tôi mở cánh cửa sổ rộng ra cho  thoáng gió. Suốt ngày nay đầu óc tôi cứ nghĩ đến Ilona, khi bất chợt nghe gió lành lạnh thổi vào phòng, tôi có cảm giác như gió báo hiệu mùa thu đến. Tôi đứng dậy, đi tới đóng cánh cửa lại, nhìn xuyên qua cửa kiếng. Từ lúc nào không biết, những lá trên cây đã ngả màu vàng và rơi lả tả bay vòng vèo trên bến cảng. Bỗng dưng tôi cảm thấy một nỗi xót xa tràn ngập trong lòng. Tôi nghĩ đến cuộc đời hèn, sang, vinh, nhục… sống như thế nào đi nữa rồi cũng xong một kiếp người… Tự dưng tôi nghe lòng mình thấp thỏm, một cảm giác thèm thuồng không rõ rệt… tôi muốn gặp lại Ilona ngay trong đêm nay và gặp cô để làm gì tôi cũng chưa biết…  Tôi ghé hội quán vào giữa đêm, giờ nầy là giờ hội quán ồn ào sôi động nhờ các màn vũ sexy, hấp dẫn nhứt vẫn là màn vũ bàn. Bàn nào có vũ nữ chiếu cố, các anh reo hò mừng rỡ, chào đón bằng cách khui champagne nổ đôm đốp, bọt rượu xịt trắng như vòi rồng. Hai ba anh bợ cô gái để lên giữa bàn, trong lúc cô gái uốn éo mặc cho các anh chồm lên vạch quần lót, áo nịt ngực xem bên trong trước khi nhét tiền vô đó. Bàn nào các cô chưa kịp tới thì đã nghe tiếng huýt sáo, hò hét rân trời và những bàn tay cầm tiền xoè như xoè quạt giơ lên vẫy vẫy…  Tôi đi hết một vòng, ngó quanh ngó quất mà không thấy Ilona đâu hết, định đi lại quầy mua bia uống, chợt nghe mắc tiểu, bèn quay người đi thẳng về phía nhà cầu. Dãy bồn dành cho đàn ông đứng tiểu không còn trống và lối ra ngoài có năm sáu người đứng sắp hàng chờ. Tôi đứng phía sau chót, dựa lưng vô vách cạnh máy bán condoms. Có ba bốn gã đàn ông lần lượt bỏ tiền vô máy rút ra mỗi người mấy vỉ,  tới gã cuối cùng hắn tưởng tôi cũng chờ mua nên có ý nhường tôi mua trước, tôi lắc đầu khoát tay nói không và cười thầm trong bụng. Ngoài kia thì rượu bia được tuôn như nước phông tên, còn trong chỗ khuất nào đó tinh trùng tuôn ra được người ta cho vô bọc. Quả thật, loài người là giống cực kỳ ác độc và vô cùng dã man, không biết mỗi đêm người ta sử dụng hết bao nhiêu condoms và biết bao mầm sống phải chịu chết ngộp trong những bao cao su đó… Tôi dòm qua dãy cầu tiêu, thấy một phòng không khoá, bèn bước tới mở cánh cửa, chợt giựt mình đánh độp khi thấy người đàn ông đứng bên trong, quần tuột xuống tới bắp chưn đưa cái mông to tổ bố và trắng nhách. Một người con gái nhỏ thó, tóc đen tém gọn, quần áo hở hang đương quỳ gối ôm chưn gã đàn ông, mặt cô ngước lên, miệng táp táp giống như bê con đương bú vú bò mẹ… Nghe tiếng cửa mở ông ta hơi sững người day lại, miệng hừ hừ như chó gặm xương và cô gái cũng giựt mình ú ớ trong cổ họng và đưa bàn tay lên lắc lắc… Ở nơi nầy chuyện xảy ra như vầy cũng thường thôi, nhưng tôi có hơi ngỡ ngàng vì chợt thấy mặt người con gái quá quen, tôi nói một hơi mấy câu xin lỗi bằng tiếng Anh lẫn tiếng Nga và vội vàng đẩy ập cánh cửa lại…  Tôi đi tuốt ra ngoài, đi như ma đuổi, và cảm thấy không còn mắc tiểu nữa. Tự dưng tôi thấy xấu hổ trong lòng nhưng không biết xấu hổ về chuyện gì, đầu óc cứ lởn vởn hình ảnh người con gái trong nhà cầu, không biết có bịnh đau gì không, so với mấy tháng trước cô ta ốm nhiều và thân hình rút lại nhỏ xíu… Tuy chỉ thấy thoáng qua, nhưng tôi không thể nào lầm lẫn được, cô ta chính là Ilona, người con gái Nga gốc Việt.  
Baltic sea tháng 20 11 2008
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi Một Chuyến Đáng Một Chuyến

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 31 Aug 2023

Năm nay tuyết rơi muộn hơn mọi năm, giữa tháng một tuyết còn sương sương tới đầu tháng hai tuyết mới bắt đầu tuôn xuống ào ào. Trời lạnh nhưng không gió, từ bến cảng tới hội quán trên ba cây số, nhưng Tuấn không gọi xe xuống đón, anh quyết đinh thả bộ để nhìn những bông tuyết bay và đáp nhẹ lên mặt đường vun lên một lớp dầy. Anh có thể bước đi trên lớp tuyết như đi trên tấm thảm nhung màu trắng. Ngoài trời lạnh, vô hội quán mua một ly rượu và một gói khoai tây chiên dòn, vô phòng vi tính có lò sưởi ấm, ngồi mở máy, lên lưới vừa nhâm nhi vừa đọc tin tức thế giới thì còn gì sướng cho bằng.

 Nhưng khi anh bước vào hội quán thì đã chật ních người, phần đông là người Trung Hoa, họ xí xô xí xào và ào ào náo nhiệt như nhóm chợ. Hôm nào có thủy thủ Trung Hoa đổ bộ, thì từ giờ hội quán mở cửa cho tới giờ đóng cửa đố ai chen chưn được vô phòng vi tính và những phòng điện thoại. Thường thì mỗi người xài một máy nhưng người Tàu thì hai ba người chụm nhau chung một máy, cho nên cả chục đầu máy nhưng nhìn vô thấy lố nhố mấy chục cái đầu của người Tàu và mỗi phòng điện thoại một người gọi hai ba người đứng chận cửa. Hồi còn ở Việt Nam, Tuấn thấy hễ ai hào hiệp thì được người đời tặng cho biệt danh “Quân tử Tàu” và mỗi khi ngồi nhậu với khách phương xa, để cho tình bạn thêm gắn bó, người ta hay nói câu “Tứ hải giai huynh đệ”. Từ ngày rời xa đất nước cho tới nay hơn hai mươi năm trời, Tuấn đã lênh đênh khắp năm châu, bốn biển nhưng anh chưa gặp một người Tàu nào có thể gọi là quân tử, dù chỉ là một buổi nhậu trên bến lúc dừng chưn. Lên mạng, họ nhập vào mấy trang sex, ồn ào âm thanh dâm dục. Văn hoá rất là Tàu, một người chiếm được máy thì ngồi dính luôn đó, người nầy chơi xong kêu bạn bè lại tiếp tục chơi, mặc kệ cho mấy người tới trước ngồi chờ mút chỉ.

 Tuấn đi qua phòng truyền hình cũng đầy nhóc người, không khí giống y chang rạp hát các anh ngồi trật tự ngay ngắn và im lặng theo giỏi tập phim Tây Du Ký của đài truyền hình Trung Hoa phát theo sóng vệ tinh. Tuấn nán lại xem đoạn Tề Thiên xuống long cung xin binh khí. Đợi lão Tề Thiên biến cây thiết bảng dần dần nhỏ lại còn bằng cây kim rồi lão vắt lên vành tai anh mới đứng dậy đi ra ngoài. Tuấn đi lại quày ba mua một chai bia, anh ngó quanh tìm chỗ ngồi nhưng không thấy ghế nào trống hết, đành đứng dựa lưng vô góc phòng vừa nhâm nhi vừa nhìn những sinh hoạt trong hội quán.

 Ngoài nhóm thủy thủ Trung Hoa ra. Tuấn có thể phân biệt được người In Đô, Á Rập, Đông Âu và một số người Ấn Độ hoặc những người ở các nước láng giềng với Ấn Độ. Những thủy thủ Phi Luật Tân bày tiệc nhậu nhẹt cùng các cô gái đồng hương trông vui vẻ lắm. Tuy nhiên có một nhóm người nãy giờ anh ngỡ là người Tàu, nhưng để ý kỹ thì không thấy họ xí xô xí xào như những người Tàu lớp đứng lớp ngồi, không bày tiệc nhậu nhẹt như người Phi Luật Tân và những người ở Đông Âu, không ra vẻ tín ngưỡng như người Ấn Độ. Họ ngồi chiếm một bàn trong góc quán, người uống Cola, người uống nước suối hoặc nước trà cà phê và hướng mặt ra đám đông như thể quan sát mọi người. Nhìn họ anh thấy có một vài nét quen quen, cái nét quen thuộc trước đây anh đã gặp ở nhiều thủy thủ Việt Nam. Mỗi khi đổ bộ lên phố thì họ mang lỉnh kỉnh trên người máy quay phim, máy chụp hình điện tử và điện thoại di động, trông họ sang trọng không thua gì những con ông cháu cha trong nước đi ra nước ngoài du lịch. Nhưng khi vào quán thì ngơ ngơ, ngáo ngáo như người nhà quê học đòi lối sống của dân thành thị, gặp cái gì là lạ cứ mở to đôi mắt dòm lom lom. Thủy thủ người ta đi tới đâu họ cũng vui vẻ ăn chơi thoải mái. Hết công tra trở về nước, họ bắt tay từ giã và tin tưởng hẹn gặp lại lần sau. Còn thủy thủ Việt Nam gặp nhau một lần rồi không biết tới bao giờ mới gặp lại. Thật vậy, đã lâu lắm rồi Tuấn không còn gặp những thủy thủ trên chuyến tàu lần đó nữa.

 Đêm nay thấy cử chỉ của nhóm người ngồi trong kia làm Tuấn tò mò, anh định tới gần lắng nghe coi họ trao đổi với nhau bằng thứ tiếng gì. Chợt Nino, nhân viên hội quán, hấp tấp dẫn theo một người, đi tới trước mặt anh.

 – Ê Tuấn ! Người của mầy đây, hỏi coi anh ta cần gì, mầy giúp dùm, tao bận quá.

Nói xong Nino vội vã bỏ đi đâu đó. Người đàn ông khoảng trên bốn mươi tuổi, tay cầm tấm cạt điện thoại. Tuấn đoán chừng ông ta muốn nhờ chỉ cách gọi về nhà. Anh chìa tay ra bắt tay ông ta và nói bằng tiếng Việt:

– Tui tên Tuấn. Anh muốn gọi điện về nhà hả?

Ông ta nắm chặt tay anh gặt gặt và cái đầu cũng gặt gặt theo. Ông nói đặc sệt giọng miền Nam.

– Dà, dà.

Hình như ông quên cái ý định nhờ giúp đỡ. Không trả lời câu Tuấn hỏi mà lại nắm chặt tay anh lôi đi tới chiếc bàn trong góc.

– Anh nầy là người Việt nè tụi bây !

Cả bàn đứng dậy một lượt chào. Tuấn chào lại bằng cách chìa tay ra bắt từng người và hỏi tên, dĩ nhiên làm sao anh nhớ tên hết cả nhóm, anh chỉ nhớ cái ông nắm tay anh nãy giờ tên là Hùng và tên những người có thể nhớ được. Tổng cộng được mười một người. Anh đi lại quày mua bia bưng ra chia cho mỗi người một chai và mời nâng chai vô một cái. Để chai xuống anh khôi hài:

– Mười một người vừa đủ một đội banh, phải còn sớm rủ mấy anh Ba Tàu ra sân cỏ đá banh chơi.

Cả nhóm cười rộ. Người ngồi cạnh bên anh tên Quân lên tiếng hỏi:

 – Anh  là nhân viên hội quán hả?

– Hổng phải, tui cũng là thủy thủ như các anh vậy thôi.

– Thấy anh quen ở trong nầy quá.

– Tại tui tới lui đây thường.

– Anh đi tàu nước nào?

– Tui mần trên chiếc container của Hoà Lan.

Anh em yên lặng một lát rồi Cường, người ngồi đối diện hỏi:

– Hà Lan phải hông?

– Ðúng ra thì phải nói Hà Lan nhưng vì hồi trước ở miền Nam mình dùng chữ Hoà Lan, tui nói riết rồi quen miệng.

– Ðược đi tàu Hà Lan là ngon rồi, anh mần gì trên tàu.

– Đầu bếp. 

Hùng day ngang hỏi:

– Lương tháng khá hông anh?

Ở Âu Châu chuyện lương bổng là chuyện rất riêng tư, người nào muốn nói thì nói không muốn thì thôi. Ai không muốn người ta cho mình là mất lịch sự thì tốt hơn đừng nên hỏi chuyện lương bổng của người khác. Sống bên Âu Châu đã lâu  rồi, nghe hỏi bất ngờ làm Tuấn có hơi lưỡng lự. Nhưng thấy những đôi mắt của các bạn nhìn anh chờ đợi câu trả lời, làm anh bâng khuâng nhớ lại những ngày còn ở quê hương. Ngày ấy, anh lang thang kiếm ăn khắp miệt đồng bằng sông Cửu Long, mỗi lần gặp nhau trên một cánh đồng hay ngồi trong một quán lá nhà quê, anh cùng chúng bạn nhâm nhi ba xị đế, trao đổi chuyện gia đình và thăm dò lương bổng của nhau, nếu chỗ nào trả lương khá hơn chỗ làm hiện tại thì người nầy nhờ người kia giới thiệu cho làm, ngược lại chỗ người kia cao hơn thì giới thiệu lại cho người nọ. Luật lệ lương bổng ở Việt Nam ngày nay chưa được rõ ràng và giá lương cho công nhân cũng chưa được thống nhứt, tùy tiện chủ muốn trả bao nhiêu thì trả. Cũng có thể các bạn ở đây hỏi chuyện lương bổng theo tinh thần của những người nghèo tương trợ lẫn nhau. Tuấn  không ngần ngại nữa và trả lời rành mạch chuyện tiền lương của mình cho các bạn nghe.

– Mỗi tháng trừ thuế, bảo hiểm nầy nọ ra tôi còn được trên một ngàn bốn trăm euro.

– Anh đi  bao lâu mới được dìa nhà một lần?

– Tui đi ba tháng, dìa nghỉ hai tháng.

– Nghỉ ở nhà có lương hông anh?

– Có chớ, mỗi tháng họ vẫn chuyển tiền vô băng mình đều đặn.

Nghe qua ai cũng trầm trồ nói quy chế như vậy là cao gấp ba họ rồi. Hùng chỉ tay qua hai người ngồi cạnh bên nói.

– Tui với hai người nầy đi hai năm rồi, định đi thêm một năm nữa mới dìa?

– Chậc, Tuấn nói, cuộc sống nào cũng có cái giá phải trả.

– Như anh vậy là sướng cha người ta rồi, còn gì trả nữa đâu.

Nghe anh bạn ngồi trong góc nói vói ra. Tuấn không dám nói thiêm, thiệt ra  lương bổng của anh so với các bạn thì anh không có gì phải phàn nàn hết. Tuấn day ngang hỏi Hùng:

– Hồi nãy anh muốn gọi điện về nhà hả?

Bây giờ Hùng mới nhớ lại:

– Phải rồi anh.

Hùng đưa ra tấm thẻ cầm trên tay nãy giờ:

– Mình gọi bằng cạt ở đây thì phải quây số nào?

– Nếu anh gọi di động thì gọi 0800…, Tuấn chỉ tay qua mấy phòng điện thoại trong hội quán, còn goi điện thoại trong nầy thì người ta có gài số sẵn trong máy, anh chỉ việc bấm nút có dán chữ seafarers, rồi sau đó lắng nghe và làm theo người hướng dẫn trên tổng đài.

Tuấn ngó lên chiếc đồng hồ treo trên vách tường, day lại nói:

– Bây giờ ở đây chín giờ vậy là ở Việt Nam mình hai giờ khuya.

Một người ngồi bên kia bàn nói vói qua:

– Giữa ở đây và Việt Nam cách nhau sáu giờ chớ anh.

– Anh nói đúng nhưng đó là giờ mùa hè, còn mùa đông thì cách nhau năm tiếng. Tuấn day qua Hùng

 – Vậy là bên nhà còn ngủ.

– Hổng sao, tui đánh thức ở nhà được mà.

– Anh có chuyện cần?

– Nghe bà chị nói thằng con tui đạp đinh sét rồi bị làm độc sao đó mà má nó hổng cho tui hay.

– Vậy thì gọi hỏi cho hết ấm ức.

– Nhưng gọi bằng di động với máy trong nầy cái nào rẻ hơn anh.

Tuấn hít một hơi, thở ra một cái:

– Nói thiệt với anh, khắp thế giới nầy không nước nào điện thoại mắc tiền bằng nước Việt Nam mình hết. Với tấm cạt nầy anh gọi qua In Đô hoặc Phi Luật Tân, nói chung các nước bên Châu Á thì được hơn bốn mươi phút, những nước Âu Châu thì được trên hai giờ, còn về Việt Nam anh gọi điện thoại trong nầy thì được mười lăm phút, gọi bằng di động thì được mười hai.

Hùng gãi gãi đầu:

– Tấm thẻ mười euro mà gọi chỉ được mười mấy phút thì nói được con mẹ gì. Tuấn cười một cái, pha giọng tiếu lâm:

– Thì hỏi thăm, má sắp nhỏ khoẻ hông? Ở bên nhà nói lại,  khoẻ hết mình ơi, tui nhớ mình quá chời quá đất. Bao nhiêu đó cũng đỡ nhớ má sắp nhỏ rồi, nhưng trước khi chấm dứt đừng quên nói nhỏ, mình cho tui hun một miếng ha ha…

Mọi người cười ồ lên. Chờ mọi người dịu xuống, Hùng day qua:

– À, cái anh nầy chắc gọi về má sắp nhỏ thường lắm phải hông?

– Dĩ nhiên, dĩ nhiên tui ở Hoà Lan mà, một tấm cạt tui gọi được hơn hai giờ đồng hồ, mỗi tuần tui gọi về má nó ba bốn bận hun mòn hết mấy cái điện thoại rồi đó.

Hùng nhìn ra phòng điện thoại, thấy mấy anh Ba Tàu còn lố nhố đứng chờ.

– Mẹ, đông nghẹt như vầy thì biết chừng nào mới tới phiên mình.

Tuấn chỉ cái điện thoại di động Hùng mang trên người.

– Thì lấy di động gọi, rẻ hơn có ba phút mắc gì phải chờ.

– Cái nầy ở đây xài hổng được mới chết chớ.  

Tuấn lần túi móc điện thoại của mình ra đưa cho Hùng:

– Nè, anh gọi về dựng má sắp nhỏ dậy, bắt phải trả bài, nhưng hun gió thôi, chớ hun vô máy mòn máy của tui phải mua cái khác thường đó nghen.

Thêm  một tràng cười nữa. Hùng hỏi cách gọi một lần nữa rồi cầm máy đi qua góc ít người, đứng bấm số gọi về nhà. Lúc đó có một người con trai trong phòng vi tính bước ra kêu Cường vô chơi vì có một người đã chơi xong. Té ra không phải chỉ có nhóm người Tàu dành độc quyền chơi máy mà có cả phe ta nữa, giữa ta và Tàu trong cái dị biệt cũng có cái tương đồng. Ngó thấy nhiều người ngồi sắp lớp chờ từ nãy tới giờ. Tuấn áy náy dùm các bạn, muốn nói vài câu cho anh em biết chút ít về phép giao tiếp ở xứ người, nhưng chưa biết dùng lời lẽ nào cho khỏi mích lòng người mới gặp. Chợt Cường chỉ tay qua Tuấn nói với anh mới ra:

 – Kêu thằng Thắm ra đây nhậu, có anh Tuấn người mình đi tàu Hà Lan đây nè.

Tuấn đứng lên bắt tay và anh ta giới thiệu anh tên là Hậu. Lâu lắm rồi Tuấn mới gặp một nhóm rặt người miền Tây, làm anh có cảm tưởng như sống lại cái thời xa xôi ấy. Anh đi lại quày mua thêm bia bưng ra chia cho anh em và đưa cho Hậu hai chai.

– Nè uống chơi cho vui, anh vô đưa dùm anh gì đó một chai và nói với ảnh, nếu muốn đọc tin thì in ra giấy đem xuống tàu nằm đọc cho sướng. Nếu muốn coi mấy em sexy thì qua phố toàn em thứ thiệt ngồi, nằm lủ khủ mặc sức mà coi, mình nhường máy lại cho anh em khác, biết đâu anh em cần đọc thư hay gởi thư dìa gia đình.

– Ủa, mình in được hả anh.

– Thì cái máy in nằm chình ình ở trong góc phòng đó, in miễn phí, bao nhiêu cũng được, nếu hổng đủ giấy thì hỏi nhân viên xin thêm.

– Vậy để tui vô nói với thằng Thắm.

Hậu đi vô rồi Tuấn day ra nói với anh em:    

– Ngày mai các anh còn ở đây hông?

– Còn anh.

– Vậy thì nhắn với bên nhà trưa mai lên mạng chat cho đỡ tốn tiền.

Một anh hỏi:

– Mình nói chuyện qua msn được hông anh?

– Nếu anh dùng laptop nói chuyện qua msn, hoặc nối đường Skype hay voip cheape thi trả mỗi giờ hai đô rưỡi, còn dùng máy trong hội quán thì miễn phí nhưng chỉ được chat, gởi thư hay đọc tin tức trên mạng.

Lúc đó tự nhiên ở đâu Nino xuất hiện, hắn khoa tay:

– Chào tất cả! Mọi người vui vẻ hả.

Cả bàn đưa ngón tay cái lên gặt gặt

– Yes sir!

Tuấn day qua Nino:

– Ê Nino, nãy giờ tao làm việc dùm mầy, mầy phải trả công cho tao.

– Ô kê.

Nó bỏ đi vô trong. Một người hỏi:

– Nó là người gì?

– Phi Luật Tân.

Tưởng nói chơi ai ngờ Nino làm thiệt. Nó vô trong một lát trở ra với một mâm bia đầy. Nó chia bia cho mỗi người một chai và phần nó cũng một chai.

– Cái nầy tui đãi các bạn.

Nó bưng chai lên cùng mọi người ực một hơi hết chai nó để xuống và chào các bạn, nó tiếp tục đi làm công chuyện.

Tuấn nói:

– Người Phi Luật Tân tánh tình hao hao giống người mình.

Không khí trong bàn bắt đầu hào hứng và Tuấn bưng mâm lại quày lấy thêm bia.              

 Chuyện gì cần giúp coi như Tuấn đã giúp xong và cần nói anh cũng đã nói hết rồi. Bây giờ tới phiên anh ngồi lắng nghe anh em. Theo lời anh em thì bây giờ nước nhà có dịch vụ tìm việc. Người nào không có tiền trang trải trước thì được ngân hàng nhà nước cho mượn… Đại khái những câu chuyện như vầy Tuấn đã nghe qua nhiều người Việt ra nước ngoài lao động, từ bờ ra tới biển, mười người như một, họ kể giống y như nhau. Thường thì họ than phiền những dịch vụ lấy tiền của họ quá nhiều, buộc lòng họ phải vay nợ nhà băng hàng ngàn đô, số nợ đó ra ngoài nầy làm cả năm trả vẫn chưa hết.

Hơn hai mươi năm qua Tuấn làm việc chung với dân lao động của nhiều quốc gia khác nhau. Anh biết có nhiều dân nước khác, họ tự xin việc làm ở bất cứ quốc gia nào, sau đó xin chiếu khán xuất cảnh thì được quyền đi. Vé máy bay và chi phí ăn, ngủ dọc đường thì được công ty đưa việc đài thọ. Ngoài ra họ không phải đóng một khoản tiền nào khác. Nếu việc làm qua phòng lao động thì người môi giới lấy phần trăm theo giá qui định – khoảng năm tới mười phần trăm theo số lương của người lao động – lỡ công nhân bị sa thải thì họ lo tìm việc khác cho làm. Những dịch vụ ở Việt Nam nghe nói chỉ dành giúp cho những gia đình nghèo, nhưng họ lại tác động quảng cáo bằng cách người nào muốn xuất ngoại phải thi tuyển chọn, làm công mà phải đi thi như thi vào đại học. Người nào trúng tuyển phải trả từ hai ngàn tới năm ngàn đô cho mỗi chuyến đi. Giá cả thì được dịch vụ qui định tùy theo chức vụ, nghề nghiệp và tùy nếp sinh hoạt của quốc gia nhận nhận người. Nhưng ra nước ngoài rồi, có công ty sửa lại hợp đồng, giảm bớt quy chế và có những nơi hàng tháng trời công nhân không có chuyện làm, không lương bổng, không tiền ăn, vậy mà chẳng thấy ma nào tới giải quyết.

 Hùng điện thoại xong, đi lại đưa máy cho Tuấn và nét mặt vui tươi khoe, bà xã và mấy nhỏ ở nhà vẫn khoẻ, còn thằng con trai đạp đinh sét đã tai qua nạn khỏi.

– Vậy thì yên tâm rồi, Tuấn nói, thủy thủ tụi mình đôi khi cũng khổ, vợ con ở nhà bịnh thì mình ở dưới tàu cũng bịnh theo.

– Thì vậy.

Lúc đó Hậu và Thắm đi ra, Thắm bắt tay chào Tuấn. Thấy trên bàn hết bia anh bưng mâm đứng dậy định đi lại quày mua bia thêm. Hùng giựt chiếc mâm:

– Anh trả mấy bận rồi, bận nầy để tụi nầy trả chớ.

Hùng bưng mâm đi lại quày lấy bia. Tuấn không dành làm gì, đó cũng là phong cách sòng phẳng của người miền Nam. Thắm đưa Tuấn cây viết, cuốn sổ tay và hỏi xin địa chỉ công ty của anh đương làm. Thắm nói là sẽ đưa địa chỉ cho dịch vụ nhờ họ xin việc qua Âu Châu. Tuấn ghi địa chỉ xong và đưa cuốn sổ tay lại cho Thắm:

–  Tạm thời tui có địa chỉ của hãng tàu tui thôi, chừng nào rảnh tui sẽ lục danh sách địa chỉ của những công ty tàu khác rồi tui sẽ gởi mail cho.

Tuấn đứng lên đi lại quày hỏi xin miếng giấy trắng, trở lại để lên bàn và hỏi:

– Anh em nào muốn thử xin việc qua Âu Châu thì cứ ghi địa chỉ e-mail vô đây, mai mốt tui gởi địa chỉ các công ty tàu cho. Mình có địa chỉ rồi thì tự gởi thư xin việc, cần gì phải nhờ qua dịch vụ cho mất công tốn tiền.

Thắm nói: 

– Em sợ họ hổng chịu. Còn nhà nước thì sợ mình đi được rồi trốn luôn cho nên bắt phải qua dịch vụ cho chắc ăn.

– Nước mình đã gia nhập WTO rồi tương lai ai cũng được tự do xuất ngoại lao động. Khi mình được việc rồi thì giới thiệu cho anh em khác, anh em khác được việc giới thiệu cho anh em khác nữa…

Lúc đó Hùng bưng bia ra và chia bia cho mọi người xong, anh day qua nói với Tuấn.

– Anh ở nước ngoài lâu rồi hổng biết nên mới nói vậy. Tui biết có nhiều người xin được việc ở nước ngoài, nhưng khi làm thủ tục xất cảnh thì họ chỉ qua phòng lao động. Anh nghĩ coi, cái hạng lòng tong lột chốt như tụi nầy tới chỗ nào cũng phải xì tiền ra, vậy mà đôi khi cũng chẳng được gì ráo, tiền mất tật mang, tốt hơn hết giao dịch vụ làm cho nó lẹ.

 Tuấn cảm thấy trong lòng nhen nhúm một nỗi buồn, anh hít vô và thở ra một cái. Không hiểu vì sống trong một đất nước lúc cần làm đơn từ thì phải chạy hết cơ quan nầy qua cơ quan nọ, xin xỏ riết rồi quen hay vì một nguyên nhân nào tác động đến đỗi quyền lợi tự mình tìm được cũng phải đưa qua tay người khác rồi tới chầu chực xin trở lại. Xa quê hương đã lâu anh không hình dung nổi đất nước anh giờ ra sao. Nói chuyện với đồng hương cả buổi mà anh chỉ hiểu được lờ mờ. Đành rằng xã hội tân tiến nào cũng cần có những văn phòng môi giới để tạo điều kiện dễ dàng cho những người lao động chưa quen cách xin việc. Nhưng dịch vụ thay đổi giá cả làm sao cho phải chăng để người công nhân xa nhà thu ngắn ngày về lại với gia đình và để họ được yên tâm mỗi khi cất bước lên đường. Là công nhân làm việc xa quê hương cũng như thủy thủ tàu viễn dương, nỗi nhớ gia đình và những người thân còn nặng hơn mớ hành trang họ mang theo mình, đã vậy còn phải cõng thêm số nợ kết xù đến đỗi không dám nghĩ tới ngày về  khi hợp đồng đã hết.

 Như đêm nay, ngay trong bàn nầy, có ba anh đi trên tàu đã hơn hai năm rồi mà vẫn chưa về nước. Hỏi ra thì mấy anh thở dài ngao ngán:

– Chậc, mỗi lần đi là mỗi lần làm giấy tờ lại,  hao tốn lắm anh à. Thôi thì đi một chuyến cho đáng một chuyến.

 Ði một chuyến cho đáng một chuyến! Chuyện chẳng giống dân nước nào hết. Những thủy thủ Phi Luật Tân, In Đô và nhiều thủy thủ ở quốc gia khác, họ đi chín tháng về nghỉ vài ba tháng so với thủy thủ Châu Âu như vậy cũng khá lâu rồi. Huống hồ chi mấy anh Việt Nam ta lẩn quẩn trên tàu ngót hai ba năm, thỉnh thoảng có dịp ghé bến đổ bộ lục lạo tìm đồ rẻ mua dự trữ, vô hội quán thì làm bạn với mấy cái mạng sex… Cái đà nầy khi trở về nước phải đi thẳng vô dưỡng trí viện để điều trị tâm thần là cái chắc.

Baltic zee tháng 2- 2007

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chuyện buồn của nhậu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 31 Aug 2023

Em yêu của tui đọc thấy cái tựa bài: “Nghệ thuật nhậu” mà tui dự thảo, tính viết, bèn xì một tiếng rõ dài, miệng cũng dài ngoằng, bĩu môi phán: “Nhậu là một thói hư tật xấu của quý ông mà cũng bày đặt đặt tên bài là: “Nghệ thuật nhậu!” Nghe ngứa lỗ tai tui quá hè!”

Nói xong, em tính bắt chước Hứa Do và Sào Phủ bên Tàu ra suối để rửa hai cái lỗ tai. Tui biết chắc rằng nước suối trong leo lẻo như vậy em yêu rửa hai cái lỗ tai xong rồi nó sẽ đục ngầu như nước Cửu Long mình chở nặng phù sa mùa lũ vậy!

Nhưng cãi với em làm gì cho hao hơi tổn tiếng. Chẳng ăn thua gì đâu. Vì Tía tui có dặn tui ngày tui đi cưới vợ là: “Khi cãi nhau, hãy để cho vợ của con nói lời cuối cùng. Bằng không sẽ bắt đầu một cuộc cãi lộn mới!”

Thằng bạn nhậu của tui nghe, rầy: “Bộ hai vợ chồng ông hỏng có chuyện gì khác vui vui cùng làm hay sao? Mà tối ngày cứ nghe hai ông bà cãi lộn với nhau hoài vậy?

“Vợ tui dân gốc Quảng Nam! Coi tui nè 20 năm cưới vợ về, tụi tui cãi nhau có một lần hè!”

Mot hai ba dzo 08“Anh chị cãi nhau chỉ có một lần? Thiệt là hay nhe! Nhưng cãi nhau chuyện gì? Hồi nào?”
“Thì tui cũng cãi với em yêu của tui nhậu cũng cần đến nghệ thuật! Đó là đề tài; còn thời gian là ngay sáng hôm sau đêm động phòng hoa chúc, đuốc hoa còn đó mặc nàng nằm trơ; vì bận cãi! Cãi từ sáng hôm đó, cãi tới bây giờ cũng chưa xong thì làm gì có chuyện cãi lần hai! He he!”
“Bộ anh không nghe câu Quảng Nam hay cãi sao? Quảng Nam ở đây là có đàn ông; có cả đàn bà. Và em yêu của tui là một trong số đó!”

***

Nói tới văn hóa nhậu người ta cứ lầm tưởng là nhậu tức là ăn món gì phải đi với rượu gì.

Ôi tìm hiểu dài dòng chi cho nó mất công! Đi ăn nhậu, thấy tiệm rượu nào khách vô ra nườm nượp là mình cứ cắm đầu vô. Thiên hạ đã bình chọn cả rồi thì mình cứ việc theo thôi.

Chọn món gì, rượu gì thì cứ hỏi mấy em phục vụ chọn dùm mình luôn cho nó tiện sổ sách. Nghề của mấy em mà. Chi cần học một câu tiếng Anh cho thuộc nằm lòng là xong! Trước là để nổ với chiến hữu, mình cũng biết tiếng Anh chớ bộ. sau là nhờ em chọn hộ. Câu đó là: “What do you recommend?”

Trừ trường họp mình nhậu ghiền đến mức thượng thừa như ông Trịnh Công Sơn sành rượu: “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui!”

Theo tui hiểu là ông nhạc sĩ nầy muốn chọn loại rượu nào uống cho đã, cho vui.

chuyen buon cua nhau 01Chọn Jameson whiskey của Ireland hay Tequila của Mexico?

Ai cũng biết rượu whiskey hiệu Jameson do nước Ái Nhĩ Lan sản xuất. Nhưng quý bạn có biết tại sao nước Ái Nhĩ Lan lại sản sinh ra thứ rượu mạnh tuyệt hảo nầy hay chăng? Thì thằng bạn người Úc gốc Ái Nhĩ Lan cười hè hè nói: “Không phải dân Ái Nhĩ Lan làm ra được loại rượu quý và ngon nầy đâu mà do chính bàn tay của Thượng đế; vì ông Trời không muốn dân Ái Nhĩ Lan cai trị toàn thế giới đó mà!”

Rồi: “Tại sao dân Mễ Tây Cơ chế ra được loại rượu Tequila? Để cho mặt mày xấu đau xấu đớn , xấu hoắc như Chí Phèo hay xấu ma chê quỷ hờn như Thị Nỡ cũng đều có cơ hội yêu nhau, ‘tù ti tú tí’ với nhau khi hai đứa cạn hết hai chai ‘tequila’!

Chính vì vậy mà có một ông vào quán nhậu. Cứ ‘lỳ một lam’ là làm một ly xong nghe cái ót, bèn móc bóp tiền ra dòm.

Anh phục vụ lấy làm lạ hỏi: “Bộ sợ hỏng đủ tiền trả hả?” “Đâu có! Tiền của tui nhiều vô thiên lủng nè! Đừng có lo vụ tui uống thiếu chịu nhe!”

“Trong bóp có hình em yêu của tui, chừng nào tui nhìn hình thấy em đẹp nhứt đêm nay là tui biết mình đã tới chỉ, đủ đô rồi, là tui về!”

Ông bà mình dạy thiệt là đúng mà! “Tửu sắc!” Sau rượu là có cái chuyện đó liền hè; nên một anh chàng lân la đến làm quen một cô nàng trong quán bằng cách đề nghị mua cho nàng một ly rượu mạnh!

Nhưng người con gái đó nói: “Rượu không tốt cho đôi chân của em! “Bộ chân nó sưng lên hả?” “Không nó cứ bẹt ra hè!”

Rồi bác sĩ nói: “Tui đang bị hội chứng lạm dụng rượu, nói nôm na là uống  quá chén, quá nhiều. Rượu có thể giết tôi chết. Điều đó hoàn toàn đúng nhưng chưa đủ vì rượu cũng tạo nên sự sống…Rượu  làm biết bao nhiêu đứa trẻ được sanh ra!”

Rồi bác sĩ cũng dặn rằng: “Khi cầm ly rượu lên phải coi chừng! Chính vì vậy trước bàn nhậu tui có đặt một cái gương soi!”

“Ôi nhớ ngày cưới em, tui đã từng tuyên bố như đinh đóng cột rằng: “Anh yêu em vô cùng! Anh không thể nào sống được nếu thiếu em”

Nàng hồ nghi hỏi lại cho chắc: “Đó là anh nói hay rượu nói?” “Anh đang nói đó! Anh đang nói với chai beer!”

“Nói thiệt nhe tui đâu phải là người nghiện rượu. Người nghiện rượu cần phải uống. Còn tui tui uống rồi mà!”

“Đối với tui rượu chỉ là một thứ gia vị của cuộc đời đi với món ăn. Không có nó thức ăn trở nên dỡ nhạt thếch nuốt không trôi. Vậy thôi!”

Nhưng Johnny thằng bạn nhậu thân mến của tui nhìn qua triệu chứng sáng không rượu là tay chân run lẩy bẩy, cầm ly rượu đầu tiên đưa lên môi chưa kịp hớp là nó đã sóng sánh muốn đổ hết ra ngoài.

Thấy vậy tui cũng thương bạn mình. Giành lấy cái chai Johnny Walker, hiệu ông già chống gậy, rót chỉ tới nửa ly, nói: “Nè uống đi không ai giành hết đâu mà sợ; tao chỉ nhắm môi một chút thôi. Rót rượu lưng chừng ly cho bồ, rót đầy quá sợ bồ làm đổ rượu uổng! Bởi có câu rằng: Cắt cổ không bằng đổ rượu!”

Làm xong, chỉ một ly là mặt trời hồng hồng đã mọc trên mặt của Johnny, nó cười như hoa nở, triết lý vụn: “Người ta nói tiền không mua được hạnh phúc. Nói vậy là trật. Thử lấy tiền đi mua rượu uống coi. Vui hết biết chớ bộ!”

Nhiều người kể cả em yêu của Johnny là con Maria đã từng khuyên giải, dạy bảo Johnny rằng đừng sa vào con đường chè chén làm mất tư cách của mình đi.

Johnny cười khì khì đáp lại: “Anh đâu có tư cách đâu mà mất!”

Cha cố có khuyên anh là: “Rượu là kẻ thù nguy hiểm nhứt của đời mình.

Nhưng kinh thánh lại dạy hãy yêu thương kẻ thù như chính bản thân ta! Hỏi vậy anh còn biết phải làm sao bây giờ?”

Johnny tui biết tỏng là ghiền rượu, ghiền rất nặng đến vốn là thầy giáo phải bị mất dạy. Vì trước khi lên lớp giảng bài cho học trò nó đã làm một xị. Bữa nào quá hớp, có một câu mà nó cứ giảng đi, giảng lại hoài hè. Rồi đôi khi chưa tìm ra được câu trả lời là nó đã quên mất tiêu câu hỏi của chính nó đặt ra.

Rồi vợ bế con bỏ đi; nó đến tìm tui rủ ra quán khóc hi hi! Tui khuyên rằng giữa rượu và em chú mầy nên chọn em!

quan_ben_duong-2Johnny là thằng ngoan cố: Con vợ nó bỏ đi chắc khoái thằng khác chớ nó đâu có ghiền rượu. Một năm chỉ uống có hai lần. Một là vào ngày sinh nhựt của nó. Hai không phải vào ngày sinh nhựt của nó mà thôi!

hang vo ngu co 02Nói nào ngay tui thích Johnny lắm. Dưới mắt tui nó là một anh hùng. Hồi mới 20 tuổi là đã tình nguyện đi Afganistan đánh nhau với quân khủng bố. Hội chứng chiến tranh mà. Ra trận để quên đi nỗi sơ hãi, nó dựa vào rượu rồi mắc kẹt luôn trong đó không biết đường ra.

Tui lớn tuổi hơn Johnny đường đời đã từng trải. Từng đi lính, từng vào sanh ra tử, từng bị ảnh hưởng ít nhiều của hội chứng chiến tranh. Nên tình chiến hữu với nhau tui hoàn toàn cảm thông nhưng không biết làm gì để giúp bạn vì chính tui cũng đang từ từ, tiệm tiến sa chân vào cả một hầm beer và chết đuối trong thùng tô nô đựng đầy rượu chát.

May nhờ có em yêu của tui! Tình yêu em như tình mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào; thấy tui chìm trong men rượu đắng chỉ còn chừa cái lỗ mũi lên để thở như cá ăn móng thì em lại thò tay nắm lấy lỗ mũi tui mà kéo tui lên.

Johnny không được may mắn như vầy. Xui rủi cứ đeo đuổi suốt cuộc đời của nó hoài hè. Thiệt là tội nghiệp!

Úc đây có cái yếu đuối là găp chuyện khó khăn trong cuộc đời là chán sống là tự vận. Có lẽ vì sanh ra ở một nước giàu, giàu trong trứng giàu ra nên đụng chuyện hay ngã lòng nản chí. Chớ không như tui đây thì cái chuyện vợ bỏ là chuyện nhỏ như con thỏ…Hơi sức đâu mà âu với sầu?

Chẳng qua, tuần rồi nè, Johnny vẻ mặt buồn thỉu buồn thiu ngồi trong quán rượu, mắt cứ đăm đăm nhìn vào ly rượu song sánh trước mặt mình.

Bất ngờ một tay thuộc băng đảng mô tô gọi là ‘bikie gang’, mặt mày bậm trợn, xăm trổ đầy mình, bước tới gần, đưa tay cầm ly rượu nầy ngửa cổ lên nốc cạn.

Johnny òa lên khóc nức nở. Tay đầu gấu nầy hối hận nói: ”Thôi đàn ông mà chú mầy mau nước mắt quá hè! Ta chỉ đùa chút mà. Thôi để ta kêu một ly rượu khác đền cho chú mầy vậy!”

Johnny gạt nước mắt; nhưng vẫn sụt sùi “Không phải chuyện ly rượu đâu. Chẳng qua đây là ngày xui xẻo nhứt đời tui!”

“Trước tiên đồng hồ báo thức hết pin, tui đi dạy trễ. Ông Hiệu trưởng của tui rất tức giận nên đuổi cổ tui ra khỏi trường.

chuyen buon cua nhau 02Tui ra bãi đậu, xe tui không còn ở đó; ai đó đã ăn cắp nó rồi. Báo phú lít, mấy thầy đội nói không thể làm được gì; tui đành bắt taxi về nhà!”

Ra khỏi taxi, nó chạy đi rồi, tui mới hay là mình làm rớt cái bóp tiền có thẻ tín dụng trong đó!”

Vô nhà tui càng đau lòng hơn khi thấy người vợ yêu dấu bấy nay của tui để lại thơ vĩnh biệt để trốn đi xây tổ uyên ương với thằng làm vườn của tui.

Tui rời nhà với cõi lòng tan nát đến quán rượu nầy đây tính chấm dứt cuộc đời xui xẻo củamình.

Vậy mà xui xẻo vẫn còn không tha; cứ đuổi miết theo tui hè!

Ly rượu độc có hòa thuốc chuột của tui lại bị ông giành uống cạn. Hu hu!”

Cha chả là tội nghiệp cho Johnny, bạn nhậu của tui xui đến tận cùng bằng số nhe!

Nghe Johnny kể lại tui hết hồn, cảm giác mình sẽ bị lương tâm cắn rứt vì ngày nó tính chuyện kết liểu cuộc đời, mà xui rũi, nhém chút nữa, không có thằng bạn nhậu chí thiết của nó là tui kế bên để nhìn nó xuôi tay nhắm mắt. Hu hu!

doannxuanthu

Melbourne

Chuẩn bị anh vào cuộc tử sinh!

 đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 31 Aug 2023

Năm 1972, tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức! Khóa 4/72 (khăn tím), thuộc trung đội 242.  Số 2 đầu là tiểu đoàn 2, nằm gần trại gia binh khu Thiết giáp, Đại úy Trác, Tiểu đoàn trưởng. Số 4 kế là đại đội 4, Trung Úy Mẫn làm Đại đội trưởng. Còn 2 chót là trung đội 2 Thiếu úy Bùi Thanh Tân, Trung đội trưởng cán bộ.
Có rất nhiều chuyện vui về Thiếu Úy Tân, cán bộ trung đội nầy. Ổng gốc Chà và, Ấn Độ, đen thùi lùi, biệt danh là ‘dế than’… Trên nắp túi áo có gắn huy hiệu của Fort Benning với lưỡi gươm, phía trên có dòng chữ Follow Me, tức là đã được huấn luyện ở trường Lục Quân, tiểu bang Georgia bên Mỹ đó nha!
(Hồi mới là tân khóa sinh, ra Vũ đình trường làm vài vòng sân cho dãn gân dãn cốt, còn ‘thơ sinh bạch diện’ thấy ổng, Fort Benning về, sải… như ngựa… mình cũng hơi khớp! Nhưng hết thời tân khóa sinh, gắn alpha, vai u, thịt bắp, chân đã cứng như thép rồi thì cán bộ đua không lại tụi tui đâu!)

Mỗi tối đúng 9 giờ là tùng sự đại đội trưởng khóa sinh, đội nón sắt màu đỏ, thổi tu huýt hoét hoét, cho tập họp điểm danh rồi đi ngủ. Mấy đứa ra hàng quân mà còn chộn rộn, um sùm như cái chợ Cầu Muối, nên tui cảnh cáo tụi nó rằng:
“Ê! Nói chuyện um sùm coi chừng con dế than nó tới là cha tụi bây cũng thác!”
Ai dè tui nghe tiếng: “Có mặt!” Úy trời đất ơi! Quay lại, thấy cái mặt đen thui như lọ nồi của ổng, thiếu điều tui chết giấc!

Vậy là 12 giờ đêm, vác súng có gắn ‘bayonet’ (lưỡi lê), dây ba chạc 7 băng đạn đầy đủ chớ hổng có vụ tháo vụt bớt đạn cho nhẹ đâu nha, vai đeo ba lô lên trình diện dã chiến cùng với một thằng nữa. Thằng nầy, tối hôm qua, nửa khuya làm biếng, nó ‘tè’ đại ở giao thông hào, đâu biết ông Thiếu úy trực ban đại đội, bị suyễn, tối ngủ không được, nên đi rỏn bắt ngay tại trận! Cán bộ ra lịnh cho nó chạy vòng vòng đại đội vừa chạy vừa la: “Các bạn ơi! Tui không bao giờ đái bậy nữa!” Cứ các bạn ơi hoài…
Cả đại đội 4 tiểu đoàn 2, gần 200 thằng, đang say sưa, chìm trong giấc điệp, bỗng thức dậy, lắng nghe rồi ôm bụng cười “khặc khặc!”
Phạt dã chiến, cán bộ chơi ác: “Cho hai anh 30 mươi giây, cởi cái quần ra còn đôi giày.”
(Quân trường phát quân phục sao tui mặc vậy nên khi thi hành lịnh phạt là chạy vô ‘chambre’ ngồi trên giường sắt, chỏng cẳng ra… lấy hai tay kéo cái quần ra cái rẹt chưa tới 30 giây! Lại vác súng chạy ra trình diện Thiếu úy. Trên vẫn còn là áo lính mà dưới lại là… cái quần xà lỏn! Thiếu Úy, cán bộ trực ban, thấy mắc cười sao đó nên cho tui đi nghỉ sớm!
Còn cái thằng ‘tè’ bậy ở giao thông hào tối qua, quần áo nó sửa vừa khít nên loay hoay hoài, quần cởi không ra, nên vẫn còn tiếp tục bị phạt, hít đất, nhảy xổm một, hai hoài! Thấy cũng tội nghiệp cho chiến hữu hơi ‘bị’ xui!
Thằng nầy còn nhiều chuyện vui lắm! Học bài trung đội phòng thủ là phải đào hố cá nhân!  Mấy đứa ‘ma le’ chọn hố mấy khóa trước huynh trưởng đã đào, rồi lấp lại, nên cát mềm, mình chỉ xúc lên thôi cho đỡ cực. Đào xong, nằm dưới hố, nó chỏng cẳng quánh một giấc. Tối về, điểm danh đại đội sao thiếu mất một thằng. Cán bộ phải đích thân chạy Honda ra bãi kiếm, lôi chú lên để chở nó về!
Chiều áp lễ Giáng sinh, ngày 24 tháng 12 năm 1972, trường có tổ chức một buổi trình diễn văn nghệ cho các tiểu đoàn Sinh Viên Sĩ Quan xem. Thằng bạn cùng trung đội 242, Đặng Hữu Hiếu, giờ ở Sydney, làm trưởng ban văn nghệ! (kiêm quản ca, bắt nhịp mấy bài hành khúc, đường trường xa con chó nó tha con mèo, khi đại đội di chuyển trong khuôn viên nhà trường).
Chị của Hiếu là ca sĩ Đăng Lan, lúc đó cũng đang nổi như cồn trên radio, truyền hình với bài ‘Thương quá Việt Nam của Phạm Thế Mỹ’ Em nghe gì chăng hỡi em!..
Đặng Hữu Hiếu và Chung Văn Quảng được đi phép 48 tiếng, (cái nầy ngon vì quân trường phép tối đa chỉ có 24 tiếng mà thôi) về Sài Gòn chở trống, đàn lên và mời được mấy ca sĩ như: Đăng Lan, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín lên hát giúp vui.
Chị Đăng Lan kêu đứa nào đi kiếm bột mì tinh rắc lên sân khấu cho trơn trơn, để một chút khi hát chị đòng đưa qua lại theo điệu nhạc mà không bị vấp. Tui là Tổ trưởng Vui sống của tiểu đoàn, xếp luôn của ban Văn nghệ và ban Báo chí nên đóng vai trò sắp xếp chương trình, ai hát trước, ai hát sau, hát bài gì cho ban nhạc nó biết mà chuẩn bị rao đờn. Bây giờ gọi là MC đó!
Mở đầu chương trình là lính hát lính nghe. Thằng Chung, gốc Bắc 54, cây nhà lá vườn của đại đội nhưng giọng hát của nó thôi thì lâm li bi đát… lúc thầm thì kể chuyện: Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi. Nàng có đôi người em có em chưa biết nói. Tóc nàng hãy còn xanh. Tôi là người chiến binh xa gia đình đi chiến đấu. Tôi yêu nàng như yêu người em gái tôi yêu…

Rồi vui tươi, cửng cửng khi cưới vợ! Cưới vợ mà cưới được người mình yêu là vừa vui mà vừa sướng nữa! Nhạc chuyển qua hành khúc. Quảng, bass; Hiếu, lead guitar, giựt giựt…
Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân. Bùn đồng quê bết đôi giầy chiến sĩ. Tôi mới từ xa nơi đơn vị về. Tôi mới từ xa nơi đơn vị về. Nàng cười vui bên anh chồng kỳ khôi. Thời loạn ly có ai cần áo cưới. Cưới vừa xong là tôi đi.
Đồi tím hoa sim… Đồi tím hoa sim…trong ‘Áo anh sứt chỉ đường tà!’ Phạm Duy phổ thơ bài ‘Màu tím hoa sim’ của Hữu Loan và câu ca dao, mở đầu chương trình. Thằng Chung hát thì khỏi chê rồi nên khi dứt bài nó giơ tay lên chào kiểu nhà binh! Dẫu gì cũng là sinh viên sĩ quan trường bộ binh Thủ Đức chớ bộ nên chào kiểu gặc gặc đâu có được!
Liên đoàn trưởng sinh viên: Đại tá Lộ Công Danh vỗ tay. Còn khán giả, mấy tiểu đoàn khóa sinh đàn em (lúc đó khóa 4/72 đã là siêu huynh trưởng rồi! Nghĩa là hổng ngán thằng nào hết! Trừ cán bộ! He he!) hoan hô huýt sáo rầm rĩ. Vui như Tết ‘ta’ tới!
(Bộ Chỉ huy trường lúc bấy giờ: Chỉ huy trưởng mang lon Trung tướng: Phạm Quốc Thuần. Tham mưu trưởng chỉ mang lon Trung tá: Đào Đức Chính. Nhưng Trung tá nầy lại là xếp của Đại tá Lộ Công Danh?  Cũng ngộ hé!)
Đến phiên Nguyễn Chánh Tín! ‘Chú Tín’ mặc đồ vía, mang đôi giày cao cổ, có hai cái bánh xe nho nhỏ, làm đồ trang sức trên gáy đôi giày như cao bồi của Mỹ vậy! Hát bài: ‘Vết thù trên lưng ngựa hoang” của Phạm Duy và Ngọc Chánh thì phải mặc đồ như cỡi ngựa là đúng quá xá rồi!
Tuy sân khấu có bậc tam cấp bằng gỗ để bước lên, cao chưa tới một mét. Đang ngồi hàng ghế đầu, dành cho ca sĩ và quan lớn… nghe giới thiệu tên mình, ‘chú em’ bèn phóng lên một cái rẹt. Xui cái là nền sân khấu có rắc bột mì tinh rồi nên trơn, ‘chú’ té xoạc cẳng, thiếu điều rách cái quần ‘chiến’, nằm một đống!  Trong cánh gà tui vội chạy ra đỡ dậy. Coi ‘chú’ có sao không?!
Đám sinh viên sĩ quan ngồi ở dưới cười ồ! Cũng như tui, đám bạn sinh viên sĩ quan nầy sẽ tốt nghiệp, sắp sửa lên đường ra mặt trận thì không ‘mặn mà’ cái đám trốn lính, hoãn dịch vì lý do gia cảnh hay học vấn gì ráo, để bám riết ở cái đất Sài Gòn. Đất nước lâm nguy thất phu hữu trách! Đi lính là đi hết ráo, cầm súng bắn ì đùng, đứa nào như đứa nấy mới thiệt công bình! Tụi mình sắp ra trận, sống chết tới nơi mà ‘y’ chơi: ‘Ngựa hoang nào giẫm nát tơi bời!’ Thì e hổng có hợp thời… ‘trang’?!
Té đau thì ít nhưng quê hơi ‘bị’ nhiều, ‘chú Tín’ cầm cái micro, rống luôn cho mầy một hơi ba, bốn bản!
Chuyện hồi xưa, 42 năm rồi còn gì! Lúc đó đi lính sao mà vui quá xá!

Ơi hỡi quê hương bè bạn cũ. Những ai còn mất giữa sa mù. Mất nhau từ buổi tàn xuân đó…

39 năm từ buổi tàn xuân đó! Hồi ức nầy để tưởng nhớ những người bạn trường Bộ Binh năm ấy có nhiều đứa đã ngã xuống ở chiến trường. Và cũng để thăm hỏi những anh em mình, đã qua tuổi 60 rồi, mà vẫn còn làm thân lưu lạc!

Nhưng: “Mưa nào mà không tạnh phải không? Hỡi mấy thằng bạn cũ của ta!”

Buổi Dạy Việt Văn Cuối Cùng

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 31 Aug 2023

Bởi vì cái vết mổ khó lành trên lưng, nơi mảnh cối 82 ly đã lấy đi miếng xương vai trái, mà tôi có những cái nghỉ 29 ngày tái khám liên tiếp từ giữa năm tới cuối 1969.  Vài tuần một lần, tôi lại quá giang tàu bay Mỹ, đi, về, Ban Mê Thuột- Pleiku thăm em gái một người bạn cùng đơn vị (cô ta sau này trở thành thân mẫu của bốn đứa con tôi).

      Những lần nghỉ 29 ngày tái khám sao mà dài và buồn tẻ lạ lùng!  Loanh quanh có mấy con đường dốc ngắn ngủn trong Pleiku, đi vòng vòng riết cũng chán, tôi buồn.  Tới thời điểm ấy thì tôi đã ở Pleiku tới năm thứ ba.  Cuối năm 1966, tôi thuyên chuyển từ Vùng 1 tới đó rồi cứ ở lì đó, không đi.  Đời lính của tôi lớn lên từ Pleiku.  Pleiku chứng kiến tôi trưởng thành từ anh Thiếu úy nhóc tì mới ra trường, cho tới khi tôi là một Thiếu tá chỉ huy một đơn vị Biệt Động lừng danh của Quân đoàn 2, Tiểu đoàn 82 BĐQ/BP/Pleime.

      Thành phố Pleiku này rất nhỏ, nhà ở, quán xá sát vách nhau.  Đường Hoàng Diệu, đoạn từ Khách sạn Bồng Lai tới dốc cầu Thiết giáp có ít nhất một chục nhà sẵn sàng cho phép tôi vào bếp nhà họ lục cơm nguội ăn lúc đói lòng.  Năm 1969 tôi có người bạn làm thày giáo Việt văn tại ba trường trung học ở Pleiku.  Anh bận nghỉ phép để cưới vợ và để vận động xin thuyên chuyển về miền xuôi.  Anh khéo léo điều đình với các vị hiệu trưởng và được chấp thuận để tôi dạy dùm anh các lớp Việt văn mà anh phụ trách, mỗi lớp hai tiếng một tuần.  Anh xin nghỉ ba tháng.  Thế là tôi thành thày giáo trong thời gian ba lần tái khám.

Thuở còn đi học, tôi đã từng đi kèm tại gia, đến trường làm thày giáo.  Đứng trên bục giảng cũng là một công việc đơn giản dễ chịu, không khó khăn lắm.  Thời chiến tranh, có rất nhiều vị thày giáo xuất thân từ quân đội, họ hoặc biệt phái ngoại ngạch, hoặc đã giải ngũ.  Không có ông giáo nào đi dạy trong tình trạng như tôi.  Mùa Thu 1969, tôi tới trường bằng chiếc xe Jeep mang số 122963 có cái huy hiệu đầu cọp nhe nanh nơi bánh sơ cua.  Tài xế là B1 Châu minh Đạt áo quần thẳng nếp, đậu xe một cách kỷ luật bên trái cổng trường chờ tôi suốt hơn hai tiếng đồng hồ.  Tôi bận quân phục tác chiến Biệt Động Quân với cái bảng tên màu đỏ, chữ trắng, lon vàng.  Tay trái tôi còn treo trước ngực bởi sợi dây băng cứu thương quàng quanh cổ.

       Những lớp tôi phụ trách gồm một lớp thuần nữ, hai lớp có nam nữ sinh học chung.  Lớp nữ sinh là lớp lớn hơn.  Những nữ sinh tuổi mười lăm, mười bảy, ngây thơ và nghịch ngợm.  Với họ, thì ít ra có vài cô đã biết tôi lớn lên như thế nào trong cái thành phố bé xíu chật chội này.  Cũng vậy, với tôi, tôi nhận ra trong lớp có đôi người đã tới ủy lạo, trao quà cho tôi trong Trại Ngoại Thương 2/Quân Y Viện Pleiku của ông Y Sĩ Trung úy Lê văn Thới sau những chiến dịch lớn như Tết Mậu Thân và Bình Tây mà tôi “có dịp” bị thương nặng.

      Những lần thăm viếng đó, các cô ngồi ở cuối giường bệnh, hát cho thương binh nghe.  Lần nào cũng thế, tôi đều yêu cầu được nghe một lần (hai lần càng tốt) bài “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” của Phạm Duy.

      Tôi nợ người hậu phương những bữa cơm thân tình, làm vơi nỗi nhớ gia đình.  Tôi nợ người hậu phương tiếng hát ru trong viện quân y, làm giảm cơn đau.  Tôi vui vẻ nhận lời giúp bạn đứng lớp Việt văn.  Tôi nói về văn học Việt.  Tôi coi đây là một dịp để đền đáp thâm tình của người hậu phương Pleiku đã dành cho tôi.

      Tôi dẫn những tâm hồn thơ ngây Việt đi vào rừng văn chương Việt, khởi đầu từ tiếng “trống tràng thành” trong Chinh Phụ Ngâm, qua Thanh Tịnh, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, tới Nguyên Sa, Đinh Hùng…

      Thời gian đi dạy ngắn ngủi của tôi chắc đã để lại một kỷ niệm khá êm đềm giữa chúng tôi, thày và trò, hậu phương và tiền tuyến.  Tôi cảm thấy như thế…

       Buổi dạy sau cùng của tôi rơi vào lớp nữ sinh là một kỷ niệm khó quên.  Cuối giờ, em trưởng lớp bạo dạn đứng lên hỏi thày,

       -“Thày ơi!  Ngày mai thày ra trận, cái gì thày sẽ mang theo trong hành trang của thày?“

       -“Thày sẽ đem theo hình ảnh đôi mắt người yêu của thày!  Đôi mắt âu lo nhìn theo bóng người ra trận.”  Tôi mỉm cười,

       -“Bộ thày có bồ rồi hả?  Sao tụi em không thấy?  Bao năm nay, xe thày chỉ chở đàn ông…”  Cả lớp ồ lên,

       -“Thày có bồ rồi!  Người yêu của thày không ở Pleiku, cô ấy ở Ban mê Thuột.” Tôi thú thực,

      Một phút im lặng nặng nề.  Rồi một cô bé bạo dạn hỏi tôi thêm câu nữa,

       -“Thế thày có biết người ở lại sẽ nhớ gì đối với người ra đi hay không?“

      Tôi suy nghĩ một lúc rồi gãi đầu nhỏ giọng,

       -“Thày chịu thua!  Thày không biết người ở lại nghĩ gì!“

      Hình như trước buổi học, các em đã hội ý với nhau về câu hỏi này, tôi thấy hai ba em giành nhau đứng lên, một em nhanh miệng,

       -“Nụ cười của thày!  Người ở lại không quên nổi nụ cười của thày!  Nụ cười của thày buồn quá!“

      Sau ngày ấy, tôi về đơn vị tiếp tục ra chiến trường.  Ba mươi sáu năm sau, tôi tình cờ đọc được trên Đa Hiệu 75 lời nhắn tin của người học trò cũ của mình.  Tôi thật là cảm động.  Không ngờ, biển dâu thay đổi, giờ này còn người nhớ tới tên mình.  Thời gian thấm thoắt, ba mươi sáu năm đi qua.   Mỗi người có riêng một hành trang, mang nó suốt đời trên vai…

Seattle, tháng 11/2005

       * Trích trong Tập San Đa Hiệu số 76