This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tới vị trí tiểu đoàn, tôi thở phào khi biết quân ta không có tổn thất nào.
Thiếu úy Việt là người chỉ huy đợt 1 báo cáo rằng không rõ trong căn cứ có bao nhiêu tên địch, nhưng vì bị đánh bất ngờ, chúng không phản ứng kịp, đợi khi quân ta khuất dạng chúng mới bắn theo vài ba tràng tiểu liên.
Thiếu úy Phước báo cáo rằng lúc quân ta xung phong đợt hai thì nghe có tiếng người rên la vì bị thương, nhưng chúng cũng không bắn lại, có lẽ vì trời tối, chúng sợ bắn lầm vào nhau?
Chiến thuật mà tôi vừa sử dụng để càn quét Plei Ngol Ho là do tôi học lóm được từ Trung Ðoàn E48 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.
Mỗi khi cần thanh toán một mục tiêu dã ngoại hay cứ điểm không có hàng rào vững chắc thì E48 cho quân dàn hàng ngang, ném thủ pháo ào ào, rồi vừa chạy vừa bắn, không đứng lại thu chiến lợi phẩm hay chiếm giữ công sự, hầm hào.
Sau khi lướt qua mục tiêu thì tất cả cán binh đồng loạt rẽ trái hay rẽ phải để về điểm tập họp đã định sẵn.
Cứ thế, sau vài đợt xung phong bắn giết, họ mới cho quân vào lục soát mục tiêu, thu nhặt chiến lợi phẩm và bắt giữ tù binh.
Chiến thuật này cũng rất hữu hiệu khi được sử dụng để triệt hạ những đơn vị mở đường và giữ đường.
Tới 10 giờ đêm thì máy bay võ trang AC47 Hỏa Long lên bao vùng.
Tôi nằm lăn trên poncho ngủ sau khi nhờ Hỏa Long liên tục tưới đạn trên Plei Ngol Ho và làng Siêu 1.
Ngày 17 tháng 4 năm 1974
5 giờ sáng 17 tháng 4 tôi cho Ðại Ðội 1 men theo triền dốc hướng Tây tỉnh lộ rồi từ từ tiến về 711. Trước khi trời sáng thì quân ta đã âm thầm áp sát bờ đất hướng Bắc của căn cứ.
Ðúng 6 giờ, Thiếu úy Tô báo cho tôi hay trong đồn 711 không còn tên địch nào cả.
Từ trưa tới chiều ngày hôm đó tôi tiếp tục dùng pháo binh đánh phá Plei Ngol Ho và làng Siêu 1.
Tối 17 tháng 4 Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy 12 anh Trinh Sát thực hiện một cuộc tấn kích nửa khuya, mục tiêu là làng Siêu 1.
Cú đột kích sẽ không có pháo yểm.
Toán quân này xuất phát từ Ðại Ðội 1, rồi len lách theo bìa rừng bên trái của tỉnh lộ, sau đó đổ dốc đánh địch từ phía sau lưng.
Kết quả, một tiểu đội Việt-Cộng đóng chốt trong làng Siêu 1 đang giấc ngủ ngon bên bếp than hồng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
Ngày 18 tháng 4 năm 1974
Mờ sáng 18 tháng 4 năm 1974 Ðại Ðội 3 dàn hàng ngang vượt qua tường đất khu đóng quân cũ của Chi Ðoàn 3/19.
Tôi và Ðại úy Nguyễn Xá ngồi trên M113 theo sau cánh quân này.
Tới bìa làng, tôi nhảy xuống xe đi bộ.
Hôm nay trời nắng ráo, hơi đất bốc lên mờ mờ, nồng nặc mùi tử thi đã sình trương.
Phòng thuyết trình là nơi chứa thương binh thì đầy ruồi nhặng và ong đen từng bầy.
Nóc hầm bị trũng xuống một lỗ to, vì đã bị một quả bom đánh trúng.
Tôi chỉ đứng ngoài nhìn mà không chui vào hầm nhưng cũng thấy rõ, trong hầm, gần ba chục thương binh đều đã bị đâm chết bằng lưỡi lê.
Rời căn phòng thuyết trình chứa thương binh, tôi theo chân Hạ sĩ Ba tới căn hầm mà tôi dự trù sẽ làm văn phòng.
Căn hầm này cũng vô cùng hôi thối và chứa đầy ruồi nhặng. Trên chiếc giường tre ở giữa hầm là cái xác trần truồng của một người vợ lính. Chị bị Việt-Cộng lột hết quần áo, bị hãm hiếp, rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê, ruột gan lòi lòng thòng.
Trên nền đất, máu đọng thành vũng.
Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân.
Cháu bé bị trói hai tay, hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng, vào ngực.
Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm chồng và cha của họ được vài ngày.
Họ đã không kịp chạy khi Việt-Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15 tháng 4 năm 1974.
Người đàn bà và đứa trẻ này là vợ và con của Trung sĩ Nguyễn Văn Tư, Hạ sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn.
Ðời tôi đã chứng kiến hàng ngàn cái chết do chiến tranh, quân ta chết, quân địch chết, dân thường chết, chết đủ kiểu, chết đủ cách, nhưng chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng ra cái cảnh mà địch thủ của tôi đã hành xử trong trận này.
Hành động giết chết thương binh có thể bỏ qua, nếu như tình hình cấp bách quá; nhưng hành động đâm chết một hài nhi hai tuổi rồi giết chết mẹ nó, sau khi đã hãm hiếp mẹ nó thì quả là quá sức vô lương tâm.
Có lẽ những tên cán binh Cộng-Sản kia không phải là người?
Những tên xâm lược khốn kiếp kia cũng không thể so sánh với những con thú; vì thú vật cũng không nỡ đối xử với nhau một cách tàn độc, và dã man như thế!
Hình ảnh cái chết thảm khốc của vợ con Trung sĩ Nguyễn Văn Tư cứ ám ảnh tâm trí tôi một thời gian dài.
Sau khi cho quân bố trí quanh vị trí và đặt ba tổ báo động xa, tôi cho lệnh kiểm soát toàn bộ diện tích cứ điểm để thâu thập tài liệu.
Tất cả hầm hố, lô cốt, pháo đài trong khu vực Nam Plei Ngol Ho đều có dấu tích đã bị đánh phá bằng thủ pháo.
Hai chiếc xe kéo đại bác đều bị cháy rụi chỉ còn khung sườn sắt. Một khẩu pháo 155ly ngả nghiêng đè lên dăm viên đạn đã lột vỏ.
Chiếc xe ủi đất của Công-Binh hình như không hề hấn gì.
Xác quân Cộng-Hòa chết ở đâu vẫn nằm tại đó. Trên Plei Ngol Ho chỉ có ba vị trí đóng quân cấp trung đội của Việt-Cộng mới được thiết lập. Ba vị trí này đã bị cày xới tan nát.
Trên mặt đất và dưới khe suối có khoảng gần ba chục xác Cộng Quân mới bị giết.
Giấy tờ trên tử thi địch cho ta biết tất cả những cán binh này đều trực thuộc Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải.
Ta chỉ tịch thu được 27 khẩu AK47 và 3 khẩu B40 của địch.
Trưa 18 tháng 4 năm 1974, một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh và một chi đoàn chiến xa từ Ngã Ba Mỹ-Thạch tiến vào đã bắt tay được Tiểu Ðoàn 82.
Kế đó những chiếc xe cứu nạn của Thiết Giáp được điều động vào để kéo xác những chiến xa bị bắn cháy.
Chỉ có 11 chiếc M113 bị cháy được kéo về Pleiku, một xe M113, một khẩu đại bác 155ly cùng khẩu súng cối 4.2 đã bị Cộng-Quân đem đi mất từ đêm 15 tháng 4.
Theo sau chiếc cứu nạn chiến xa của Thiết Giáp là chiếc GMC mười bánh dùng để chuyên chở thi hài những quân nhân tử trận.
Trên chiếc xe GMC vừa trở đầu và đậu lại bên tỉnh lộ có một người đàn bà vào đây để tìm xác chồng.
Người này là vợ của Trung úy Danh, sĩ quan Pháo Binh đã tăng phái cho tôi.
Chị Danh đã gạt nước mắt mà kể cho tôi hay rằng, đêm 15 rạng 16 tháng 4 năm 1974 chị đã nằm mơ thấy anh Danh mặt mày đầy máu bước vào nhà.
Chị đã hỏi anh vì sao anh ra nông nỗi này thì anh Danh chỉ lắc đầu không nói tiếng nào.
Sau cơn ác mộng, chị Danh lo lắng quá, nên ngay sáng hôm sau chị đã cấp tốc theo chuyến xe đò sớm nhất lên Pleiku để hỏi thăm tin tức của Trung úy Danh.
Chị được Bộ Tư Lệnh 22 trả lời rằng anh Danh đã bị thương và mất tích.
Hai ngày sau, chị xin đi theo xe vào 711.
Giấc mơ của vợ Trung úy Danh là một chuyện hoàn toàn khó tin, nhưng bắt buộc tôi phải tin.
Tới trưa 18 tháng 4, trên chiếc GMC từ 711 về Pleiku có một người đàn bà ngồi trên sàn, bên cạnh cái poncho gói xác chồng.
Ðối diện với người đàn bà, trên sàn xe, cũng có một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân ngồi cạnh hai cái poncho gói xác vợ và con. Ðồng hành với ba cái poncho đó, trên xe còn cả chục chiếc poncho khác chưa biết ai là thân nhân.
Trong lúc quân nhân của đại đội chỉ huy lo chuyển vận xác những tử sĩ, tôi cũng đích thân đứng kiểm tra từng vật dụng mà địch đã bỏ lại trận địa.
Tôi không tả nổi nỗi mừng vui khi nhìn thấy 6 ống lựu đạn chày có đánh dấu, “Coi chừng hơi độc” cùng với 10 ve thuốc bằng thủy tinh to như những đầu đạn Garant cũng được sơn hàng chữ màu đỏ, “Thuốc giải hơi độc”
Ngoài ra ta còn nhặt được cả chục cái bao nylon trắng dùng để làm mặt nạ chống hơi cay.
Nửa giờ sau, đích thân Ðại tá Phạm Duy Tất đã đáp xuống mặt Tỉnh Lộ 6C để nhận từ tay tôi một cái bao cát chứa 4 ống lựu đạn chày, 4 ve thuốc chống hơi ngạt và 4 cái mặt nạ.
Ông Tất vỗ vai tôi rồi cười thật lớn, át cả tiếng máy bay,
– Tui sẽ đem mấy thứ này về trao cho quân đoàn ngay! Cậu giỏi lắm! Vậy là thoát nạn! Mừng cho cậu!
Ông chỉ huy của tôi vui một, tôi vui mười!
Chợt nhớ ra ông Trung úy Chủ còn đeo cái máy chụp hình trước ngực, mà cuộn phim trong cái máy đó có chứng tích là hình ảnh một núi súng mà chúng tôi đã tịch thu được sáng 14 tháng 4. Tôi ra lệnh cho ông Chủ giao chiếc máy ảnh cho Ðại tá Tất rồi nói,
– Ðại tá về rửa cuộn phim này ra rồi đưa hình cho ông Toàn coi. Hôm đó tụi tôi đã lấy được cả trăm khẩu súng, hạ được cả trăm thằng địch rồi mới bị đánh bằng hơi ngạt nên phải bỏ chạy. Có bằng chứng rõ ràng như thế chắc ông Toàn mới tin.
Tôi đã biết chắc rằng, sau khi bị đánh bật ra khỏi 711 và Plei Ngol Ho nếu tôi kéo quân chạy thẳng ra Ngã Ba Mỹ-Thạch thì chắc chắn tôi đã bị Tướng Toàn lột lon.
Mặt khác, chỉ với cái tội để tổn thất 12 chiếc M113, tôi đã đủ tư cách lãnh 40 Trọng Cấm từ tay ông Toàn rồi.
Tôi đã thấy những cái gương mất đồn, xém chết mà còn bị “ký củ” với 40 Trọng Cấm của các ông chỉ huy Dak Seang, Ben Het, Ðức Cơ, là Ðại úy Nguyễn Hộ, Ðại úy Trần Văn Thanh, Trung tá Lê Chữ và Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.
Các vị chỉ huy này sau khi mất đồn đã chạy thẳng một lèo không dám quay cổ nhìn lại.
Còn tôi, ngay sau khi thoát chết, tôi đã quyết tâm phải lấy lại 711 cho bằng được.
Rồi đúng ba ngày sau tôi đã đặt chân trở lại Cứ Ðiểm 711 và đã tái kiểm soát toàn bộ khu vực mà địch đã chiếm cứ.
Ðại tá Tất cho tôi hay, theo tin tức tình báo mới nhất thì, Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã chết vì trúng bom, đồng thời kế hoạch cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian ngắn để Trung Ðoàn 470 Vận Tải vận chuyển quân lương cho vùng duyên hải của Cộng-Sản cũng bị phá vỡ.
Trận chiến đẫm máu để giành giựt Cứ Ðiểm 711 diễn ra chỉ vỏn vẹn có mấy ngày, nhưng đã có hàng trăm chiến sĩ từ hai bên tham chiến phải hy sinh.
Nhìn những cái xác Việt-Cộng rải rác đó đây, rồi lại nhìn những chiếc poncho quấn xác đồng ngũ nằm trên lề cỏ chờ được di chuyển về nhà xác của quân y viện, tôi chỉ biết ngậm ngùi thở dài.
Ðang trên đường bay về Pleiku, không rõ có suy nghĩ gì, Ðại tá Tất đã gọi cho tôi,
– Thái Sơn đây Trường An! Hôm nào yên, tui cho cậu vài ngày phép về thăm vợ và cô công chúa mới sinh!
Tôi cảm động, đáp lời người chỉ huy của mình,
– Cám ơn Trường An!
Nhưng chiến trận liên miên, tôi chờ hoài mà không thấy có “ngày nào yên…”
Tôi ngồi xuống vệ cỏ bên đường. Trước mắt tôi là Tỉnh lộ 6C như con rắn đen đang vặn mình, uốn khúc chui vào rừng xanh. Xa xa, hướng Ngã Ba Mỹ Thạch, vọng lại tiếng đại bác “Ì! Ầm!”
Trời đang trong sáng bỗng từ đâu, mây đen ùn ùn kéo tới nên trở thành âm u.
Trong màn mưa mỏng, tôi thấy những đóa hoa vàng rung rinh trong gió…
Giờ đây Pleime đang là lúc chuyển mùa, khắp núi rừng, muôn hoa khoe sắc màu…
Cách nơi này đúng một trăm cây số đường chim bay, trong vườn nhà tôi cũng vừa nở một bông hoa…
Con tôi chào đời đúng vào ngày pháo địch rơi như mưa trên đầu bố nó…
Mùa Mưa Hoa Nở
(Cho Em và bé Tiên Giao)
Lại một lần Pleime hoa nở
Tôi ra đi vào chiến trường…
Một năm sau ngày ngừng bắn
Một năm sau ngày trao đổi tù binh
Ðồi núi Pleime hoa vàng rực rỡ
Hoa rừng mùa nào cũng đẹp
Cao Nguyên mùa Hạ nào cũng mưa
và chiến trường nào cũng đầy thù hận
dù trước, dù sau ngày Hòa Bình!
Mở mắt chào đời, tôi đã thấy chiến tranh
mà bây giờ …
ngày em sinh đứa con thứ ba ở Ban Mê Thuột
cũng là ngày mưa pháo địch trên Tiền Ðồn 711
Mùa mưa năm nay…
như mùa mưa năm kia
như mùa mưa năm ngoái
có những người bạn ra đi không trở lại
có những người thù ra đi không trở lại
Trận chiến vừa tàn,
đi tìm xác nhau…
Tôi tìm thấy bên chùm hoa gạo
chiếc nón cối vỡ toang
của người quê miền Hải Hậu
tôi tìm thấy trên một đoạn giao thông hào
quyển nhật ký của người tuổi trẻ
từ Hưng Yên vừa xâm nhập được năm ngày…
Hỡi những người lặn lội dặm dài,
hận thù gì khi mới hai mươi tuổi?
…
Tôi đứng nhìn Tỉnh Lộ 6 C
tìm Hoà Bình tít chốn xa mờ
như không bao giờ thấy được
như không bao giờ với được
Nghĩ về đứa con vừa mới ra đời
biết đến bao giờ nó thấy đồng xanh quê nội?
Giữa mùa hoa…
Cao Nguyên vào Hạ
có màu xanh của áo
có màu đỏ của máu
có màu trắng của xương
của những người Bắc Hà, Hải Hậu, Hưng Yên…
Pleime vào Hạ…
đạn vẫn bay
mưa vẫn đổ
và hoa vẫn nở…
Vương Mộng Long
(Pleime tháng 4 năm 1974)
Bài thơ viết vội trên chiến địa này đã được tôi gửi về Sài-Gòn để in trên Nguyệt San Biệt Ðộng Quân và Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hòa.
Vậy là đúng một tháng sau ngày tiền đồn Kon Sơm Luk bị tràn ngập, tiền đồn 711 cũng bị tràn ngập. Chỉ có một điều đáng ghi là Cứ Ðiểm 711 đã được Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tái chiếm chỉ sau ba ngày, còn Kon Sơm Luk thì vĩnh viễn nằm trong tay địch quân.
Trận ác chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku tháng 4 năm 1974 coi như kết thúc sau khi quân ta tái chiếm lại lãnh thổ đã mất.
Ngày 20 tháng 4 năm 1975 tôi được lệnh chuẩn bị thuyết trình cho một phái đoàn thanh tra đặc biệt của Bộ Tổng Tham Mưu bay ra từ Sài-Gòn
Tôi quen gia đình chị Hoàng từ hồi qua trại tị nạn Pulau Bidong. Má chị mất trên đường vượt biển, chị còn lại bốn đứa em với ông già. Người em trai kế tên Hải, tiếp theo cô Hoa, tuổi tôi, cô Cúc mười tám và đứa em trai mười bốn. Năm đó tôi hai mươi hai tuổi, chị Hoàng không bao giờ cho tôi biết tuổi, tôi đoán tuổi chị chừng trên dưới ba mươi. Chuyện xảy ra hơn hai chục năm rồi, mãi tới hôm nay tôi vẫn chưa biết chuyện tình cảm giữa tôi và chị ra làm sao nữa. Đi xa thì lúc nhớ lúc quên. Nhưng mỗi lần trở về Hamburg, nhứt là những chiều nhìn tàu đò chở đầy du khách ngược xuôi trên dòng sông Elbe thì lòng tôi chạnh nhớ, nhớ cái thời xa xôi ấy. Năm 1980 gia đình chị Hoàng sang Đức định cư. Trong một căng nhà lớn, ở ngoại ô thành phố Hamburg. Tánh tình chị trầm tỉnh, nghiêm nghị và không cười nói ồn ào như hai cô em kế. Nhan sắc chị trung bình, duyên dáng nhờ thân hình mảnh mai và trang phục giảng dị. Dạo đó con gái Việt Nam sang đây lèo tèo dâm ba mống, còn con trai Việt Nam thì lủ khủ. Hễ nghe chỗ nào có gái, bất kể đẹp xấu, dầu ở xa xôi cách trở, bọn đực rựa sẵn sàng vượt đường xe lửa, băng xa lộ tìm tới. Tuổi chị Hoàng nếu còn ở Việt Nam thì lỡ thời rồi, nhưng sang đây chị vẫn còn ngon và có giá lắm. Rất nhiều anh tới lui săn đón, mời chị đi chơi nhưng không bao giờ chị nhận lời, các anh theo riết, thấy không chấm mút được gì hết, cháng không đeo đuổi nữa. Chị dửng dưng, lạnh lùng với mọi người, ngày lo chuyện bếp nút, dọn dẹp nhà cửa, tối giữ nhà cho mấy đứa em đi chơi. Cùng thời gian ấy, tôi sang định cư Hòa Lan, cách chỗ ở của chị Hoàng trên năm trăm cây số, tôi thường đáp xe lửa qua thăm gia đình chị Hoàng. Thật ra chuyện thăm viếng chỉ là cái cớ để tôi săn đón hai cô em kế của chị. Lần nào tôi qua khách khứa cũng chật nhà, toàn là con trai cùng lứa, mặt mài người nào cũng sáng sủa, đầu tóc mướt rượt, áo quần bảnh bao và có người đã sắm xe hơi. Hồi còn ở Việt nam tôi làm ngư phủ, da ăn nắng đen thui, lại mắc chứng mụng bọc mặt mài nổi u nổi cục, rổ chằng rổ chịt. Tôi không rành thời trang, ăn bận lè phè, nói năn không biết chao chuốt, bị chúng bạn sửa lưng hoài. Hôm ra hội chợ chơi bắng súng, tôi bắn điểm cao, lấy được con gấu và con khỉ đột nhồi bông lớn bằng chiếc gối ôm, tôi tặng Hoa con gấu, Cúc con khỉ. Dạo đó tôi còn cà nhỗng thất nghiệp, có đủ tiền mua vé xe lửa bận đi, bận về là quá lắm rồi, còn tiền đâu mà quà với cáp. May nhờ tài thiện xạ, tôi có được quà đắc giá tặng cho hai em. Hai em ôm hai con thú bông đi theo, miệng không ngớt khen tài bắn bá phát bá trúng của tôi, làm tôi nở mũi và hãnh diện quá chừng. Không ngờ cái tài vặt của tôi lại làm cho mấy thằng bạn đi chung đâm ra khó chịu, sẵn thấy mặt con gấu nhồi bông có in lấm chấm màu đen đen, chúng liền gọi tôi là chàng Mặt Gấu. Rất tiếc tài của tôi được thi thố trước mặt hai em chỉ được một lần trong đêm hôm đó. Lần sau ra hội chợ chúng bạn cho xe vô St. Pauli rồi bỏ tôi xuống đường Reeperbahn, viện cớ là tôi ở Hòa Lan qua chơi, nên tham quan khu nầy cho biết, chúng nó hẹn tôi đúng mười hai giờ đêm ra chỗ cũ đứng chờ chúng sẽ tới rước về. Dầu có ngu ngốc đến mấy đi nữa tôi cũng đoán được trong bụng chúng toan tính những gì, tất nhiên chúng lo ngại tài bắn súng của tôi, biết đâu tôi day qua bắn trúng một trong hai trái tim của hai em thì phiền quá ! Mùa hè, bảy tám giờ đêm trời vẫn còn sáng. Người ta chen chút nhau đi trên đường phố, các bà các cô bận đồ mát mẻ, mặt mày hớn hở vui tươi, nhiều cặp ngực, cặp đùi, rún và bụng để lộ ra ngoài trắng như bông bưởi. Mấy thuở mới được đi dạo khu ăn chơi nổi tiếng Hamburg, nhưng bực mình mấy thằng bạn chơi xỏ lá nên tôi đâu còn lòng dạ nào mà dạo mà chơi. Tôi không dại gì đợi tới mười hai giờ mới ra chỗ hẹn, tin tưởng tụi nầy đêm nay có nước tôi phải lang thang ngoài đường suốt đêm. Tôi xuống xe điện ngầm tìm đường về nhà. Thề có đất trời, kể từ đêm nay trở đi tôi sẽ không giao du với mấy tên cà chớn đó nữa! Sang xe điện, đổi xe bus và bị lạc hết mấy trạm xe, hơn một tiến đồng hồ sau tôi mới lót tót về tới nhà. Tôi bấm chuông, chị Hoàng ra mở cửa. Vừa thấy tôi chị trố mắt ngạc nhiên hỏi: – Sao anh dìa mình ên vậy? Còn mấy người kia đâu? Tôi trả lời. – Mấy người kia chắc ra hội chợ. – Sao anh hổng theo chơi mà bỏ dìa ngang xương vậy? Không biết trả lời sao, chuyện chẳng hay ho nói ra thêm mắc cở. Tôi nín lặng lách người bước vô nhà. Chị cũng không hỏi gì thêm, nhẹ gót bước qua nhà bếp, rót hai ly nước cam bưng ra chiếc bàn tròn sau vườn, mời tôi ngồi uống với chị. – Nhà đi đâu hết rồi chị? Tôi hỏi. – Ba với thằng Út ngủ trên phòng. Chị nhìn tôi mĩm cười. Sao hôm nay tôi thấy cái nhìn của chị rất thân thiện và nụ cười của chị thật tươi, làm tôi quên hết mọi chuyện phiền phức vừa rồi. Tuy nhiên, tôi hay mặc cảm về gương mặt mụng của mình, hễ gặp ai ngó thẳng mặt thì tôi ngượng. Để tránh cái nhìn của chị tôi ngó mông lung. Trên trời mây không gợn, sao thưa thớt, không biết đêm nay mùng mấy mà trăng khuyết một bên, ánh sáng chang hoà cùng bóng đêm làm nhạt nhòa cỏ cây hoa lá. – Qua đây thường chắc anh biết nhiều cảnh đẹp của Hamburg? Nghe chị hỏi tôi ngoái lại: – Ồ, đâu có chị, ngoài cái bến xe lửa tới nhà chị và cái hội chợ ra tui hổng biết chổ nào khác hết. – Hamburg có nhiều cảnh đẹp lắm mà. – Qua đây đi xe ké, ai chở đâu thì đi đó chớ biết gì đâu. Chị bưng ly nước cam lên nhấp một cái, nhẹ nhàng để ly xuống rồi ngã người dựa lưng ghế, chị đưa lưỡi rà vị nước cam còn đọng bên vành môi và mím môi lại ra chiều suy nghĩ. Hồi sau chị nói: – Sáng mai anh đi chợ mua cá với Hoàng nghen. – Cá biển hả chị? Chị cười một cái thiệt tươi. – Ở bên nầy làm gì có cá đồng. – Mấy giờ đi chị? –Sớm chừng nào tốt chừng nấy, mình đi sớm mới mua được cá tươi. Chúng tôi bắt qua chuyện về cá tôm hồi còn ở quê nhà. Đúng ra chị kể nhiều về chuyện quê hương Bạc Liêu của chị. Trong lúc chị nói tôi nhìn chị được tự nhiên hơn, chị bận bộ đồ vải bông, áo ngắn tay, ôm sát thân hình mảnh mai của chị. Chị khoanh hai cánh tay cao ngang ngực, hai bàn tay vén tay áo lên xoa xoa vuốt vuốt đôi vai, hai cánh tay chị suôngnhưng không gầy guộc, trắng bật dưới bóng trăng mơ màng. Thấy tôi chăm chú nhìn, chị tưởng tôi lắng nghe chuyện, nên hăng hái kể, càng kể tôi thấy chị càng có duyên, chưa lần nào tôi thấy chị xinh đẹp như đêm nay. Thật ra tôi thích ngắm chị hơn là nghe chị nói, quê tôi ở Cà Mau, giáp giới Bạc Liêu, sông nước miệt nầy tôi đâu lạ gì, những địa danh trong vùng chị nói ra ít nhiều gì tôi cũng biết. Khi kể hết chuyện, chị hỏi tôi: – Anh có tới Bạc Liêu lần nào chưa? – Có chị, ở một tháng và đi ngang nhiều lần bằng đường xe lẩn đường sông. Tôi muốn chị ngồi lại kể chuyện để tôi được ngắm chị thêm hồi nữa, nhưng chị đứng dậy dọn hai cái ly, rồi kêu tôi đi ngủ và căn dặn sáng mai thức sớm đi chợ mua cá với chị. Chị dịu dàng bước vô nhà bếp xả nước rửa ly. Tôi lên phòng tắm đánh răng, rửa mặt. Khi trở về phòng, tôi nghe tiếng mấy người kia vừa đưa Hồng và Cúc về. Mặc kệ, tôi nghĩ mình cũng không nên dây vào bọn họ làm gì. Tôi leo lên giường nằm vắt tay lên tráng, chưa biết chuyện làm ra sao hết mà trí óc tôi toan tính đủ điều. Tôi chọn lựa giữa chị Hoàng, Hoa và Cúc. Cuối cùng hình ảnh chị Hoàng hiện trong đầu tôi rất đậm. Cảm giác vừa rạo rực vừa thích thú chạy khắp thân thể làm suốt đêm tôi trằng trọc, giấc ngủ cứ chập chờn….Đến khi nghe tiếng giựt nước trong phòng tắm. Tôi mở mắt ra, thì đã thấy ánh sáng bên ngoài xuyên qua màng cửa sổ. Tôi đoán chừng chị Hoàng đã thức. Tôi bước xuống mang dép đi qua phòng tắm, đầu óc tôi tù mù, tôi bèn xả nước lạnh đầy chậu, rồi cúi xuống nhúng nguyên đầu vô, nước lạnh giúp tôi đôi phần tỉnh táo. Đánh răng, rửa mặt, thay áo quần, mang dớ, dày xong. Tôi đi xuống, thấy chị Hoàng đứng làm bửa điểm tâm trong phòng bếp. Tôi chưa kịp chào, chị đã ngước lên. – Hồi hôm anh ngủ ngon hông? Tôi ngập ngừng. – Cũng…được… Nghe mùi thuốc lá toả ra từ phòng khách, biết chú Ba, ba của chị, đã thức. Thấy chị định bưng mâm điểm tâm lên. Tôi đi tới hỏi chị cho tôi bưng. Chị đưa mâm cho tôi và dặn: – Anh bưng lên cho ba tui rồi trở xuống ăn sáng. Ông già đương ngồi hút thuốc và đọc báo trong phòng, thấy tôi vô ông để tờ báo xuống và hỏi tôi. – Sao thức sớm vậy mậy? – Dạ, chị Hoàng rủ con đi chợ mua cá. Tôi để mâm đồ ăn xuống mời ông và hỏi vài câu vấn an. Sau đó tôi trở xuống ngồi uống cà phê, ăn bánh mì với chị trên chiếc bàn nhỏ kê trong phòng nhà bếp. Khi chúng tôi ra khỏi nhà mặt trời đã lên khỏi đọt cây. Sáng nay cỏ cây tươi, không khí sạch, trời trong và có nhiều tiếng chim réo ra réo rít gọi nhau trên những cành cây xanh lá. Sang một lần xe bus, hai lần xe điện mới tới nơi. Chợ cá nằm bên bờ sông Elbe, dác nầy người đi thưa thớt, chuyện mua cá rất dễ dàng. Cá còn tươi rói chị ham quá lựa mua, nhét vô giỏ một hồi sau chiếc giỏ phình ra như bụng người có chửa. Chị khệ nệ rinh giỏ cá đầy, đã vậy thấy cua tươi chị còn tấp vô lựa mua thêm mấy con cua biển nữa. Thấy chị xách nặng, tôi kêu chị đưa giỏ cá cho tôi xách. Chị đưa giỏ cá qua cho tôi, rồi chị nắm lấy tay tôi dẫn đi ra bờ sông. Chúng tôi đứng nghỉ mệt và ngắm sông. Nắng sớm mai đã tỏa vàng lên thành phố cảng, sinh hoạt trên sông bắt đầu nhộn nhịp hơn. Những chiếc tàu đò ngược xuôi theo giòng, sóng nước lăng tăng, chưng vịt tàu quấy nước ào ào. Chị nghĩ gì không biết, nhưng sao chị cứ nắm chặt tay tôi, đứng lặng yên ngắm cảnh dòng sông sống động. Một hồi sau chị ghì tôi sát lại, ngước mặt lên nói nhỏ nhẹ. – Đi mua thêm một mớ rau tươi rồi dìa, trưa nay cơm nước xong, mình ra đây chơi. Tay bên nầy xách giỏ cá nặng trịch, nhưng tôi không muốn đổi, vì tay bên kia được chị nắm chặt trong bàn tay mềm mại của chị, như sợ chị buông ra rồi tôi không còn cơ hội nào để nắm lại lần nữa. Trưa hôm đó không hẹn mà tôi và chị Hoàng bận đồ gần như giống nhau; quần Jean, áo thung cổ rộng, chưn mang dày thể thao, chỉ khác nhau áo tôi màu xanh cứt ngựa, áo chị màu trắng. Lúc chúng tôi ra khỏi cửa, mấy người khách hôm qua cũng vừa dậu xe trước bãi. Chị phớt lờ, câu tay tôi đi thẳng ra bến xe bus. Khác với tánh dịu dàng trước kia, chị nhanh nhẹn như con sóc. Sang xe bus, xuống xe điện ra bến đò. Mua vé, xuống đò, chị dắt tôi lên mui tàu ngồi ngắm cảnh trên sông và hải cảng. Hết đuờng tàu chúng tôi đi đường bộ từ khu phố nầy qua khu phố khác. Khi mỏi chân, khô cổ thì vô quán dọc đường ngồi nghỉ, mua nước uống. Đói bụng ăn Hamburger và khoai tây chiêng xốt mayonaise. – Tới Hamburg ăn Hamburger là đúng điệu. Nghe tôi nói chị phân trần. – Hamburger của Mỹ chớ hổng phải của Đức đâu. Chị kể tôi nghe chuyện nhà họ McDolnalds ở Mỹ là người đã chế biến ra món Hamburger kẹp bánh mì. Thức ăn tuy bình dân nhưng nhờ khung cảnh nơi ăn, uống sạch và vui vẻ nên được tiếng tăm khắp thế giới… Khi không còn biết chỗ nào để đi nữa, chúng tôi xuống đò trở vô phố. Nắng chiều vẫn còn trải vàng lên thành phố cảng. Tôi với chị ngồi trên mui tàu cùng với nhiều du khách. Gió trên sông phất phơ mát rượi, tóc chị phả qua mặt tôi mơn trớn, tôi choàng tay qua vai chị, chị ngã đầu lên vai tôi. Chợt nhiên chị ngó xuống ngực, tôi ngó theo, cổ áo chi hở, ngực chị dẹp lép, áo ngực xệ xuống, chi thọc hai ngón tay kẹp vành áo ngực kéo lên, rồi ngữa mặt nhìn tôi mĩm cười. Hồi sau chị hỏi tôi. – Chừng nào anh dìa? Tôi nói. – Định mốt dìa, nhưng vui quá chắc ở thêm vài ngày nữa. Chị muốn nói gì đó nhưng thôi. Chị day người, ngã đầu trở lại vai tôi. Tôi choàng tay xoa xoa vai chị, da thịt chị mềm mại làm tôi đê mê. Chị vẫn ngồi yên, mắt mơ màng hướng ra mặt sông, nơi có nhiều chim nhàn đương sớt cá. Phút dây thần tiên ấy trôi qua khi con tàu cặp bến cuối cùng và chúng tôi là người lên sau chót. Bắt đầu từ hôm đó, ngày nào chị cũng sắp xếp dẩn tôi đi chơi. Lúc đi rừng, khi vô khu phố lạ, đến những khu du lịch mướn thuyền đạp nước. Chị nói, nhiều nơi chị cũng không biết, nhưng cứ đi cho biết. Chuyện đi chơi, thắng cảnh đối với tôi bây giờ không thành vấn đề. Được lẻo đẽo theo chị, được chị cặp kè đi dạo là tôi thấy đời lên hương rồi. Những toan tính lúc ban đầu tôi cho qua, thật ra tôi cũng có để ý tới Hoa và Cúc vài lần, nhưng sao tôi thấy trong lòng không còn háo hức như trước nữa. Ngày tôi trở về chỉ có chị Hoàng đi theo tiễn. Trước khi lên xe tôi hôn lên hai bên má chị, chị cũng hôn lại tôi và ân cần dặn tôi nhớ sang chơi thường, khi xe chạy một đoạn, tôi ngó ra thấy chị vẫn còn đứng bên kè đá nhón giò, giơ thẳng cánh tay lên cao vẫy vẫy… Về lại Hoà Lan tôi xin được chân thủy thủ. Tôi theo tàu hơn một năm sau tôi mới trở lại thăm gia đình chị. Tôi vừa ngạc nhiên vừa ngỡ ngàng khi biết chị là sinh viên đại học. Tuy bận rộn học hành, nhưng chị cũng dành một ít thởi giờ dẫn tôi đi chơi và xem trường học của chị. Chị giới thiệu những người bạn sinh viên chung lớp, toàn là con trai ngoại quốc, chị nói chuyện với họ bằng tiếng Đức. Tôi nghe như vịt nghe sấm, chỉ biết nhe răng ra cười khi người đối diện chìa tay ra bắt. Tới giờ ăn, chị rủ tôi vô căn tin thưởng thức món ăn sinh viên với chị. Chị cư xử với tôi rất thâm tình. Nhưng tôi cảm thấy không được tự nhiên và trong lòng áy náy làm sao. Khỏi bận tâm tính toán nữa, tôi biết tới lúc mình phải rời khỏi nơi đây, đi càng xa càng tốt. Tôi nán lại chơi một tuần. Sau đó tôi trở về và tiếp tục đi, đi miết… Hơn hai năm sau, tôi nhận được thiệp cưới của chị. Đọc thiệp tôi mới biết chị lấy chồng người nước ngoài. Tôi đoán người cưới chị là một trong những anh sinh viên chung trường chung lớp. Không nhớ lúc nhận thiệp trong người tôi vui hay buồn. Tôi còn nhớ là, tôi không qua dự đám cưới mặt dầu lúc đó tôi đương nghỉ dài hạng trên đất liền. Những năm gần đây tôi đi tuyến Bắc Âu. Tàu ghé cảng Hamburg hàng tuần. Một năm bốn bận đi, về. Mỗi bận tôi đều lên xuống xe ở nhà ga Hamburg. Thành phố nầy đối với tôi không còn xa lạ nữa và khu St. Pauli tôi đã thuộc lòng, nhưng tôi đã mất liên lạc với chị Hoàng từ lâu. Thỉnh thoảng tôi đi dạo phố hoặc ngồi chờ xe lửa ở nhà ga, tôi thường ngó quanh, ngó quất mong tìm một người Việt nào hỏi dò, may ra có người biết địa chỉ của gia đình chị. Nhưng mấy năm rồi tôi không thấy người Việt đi dạo phố, hoặc tiễn đưa hay chờ đón người thân nơi sân ga như cách đây hơn hai mươi năm về trước. Rồi một ngày tôi chợt nhận ra, những người Việt tỵ nạn hồi đó, bây giờ ai cũng có xe hơi, đâu còn dùng xe công cộng nữa. Đời sống máy móc Tây phương bắt họ phải chạy theo, dư chút thời giờ dành lo chuyện nhà cửa, con cái muốn hụt hơi có rảnh đâu mà đi dạo. Chỉ có tôi, một tên không nhà cửa, không bận chuyện gia đình mới dư thời giờ đi lang thang, đầu óc rảnh rang nghĩ ngợi chuyện tình cảm cũ xì và cái kỹ niệm của một thời xa lơ xa lắc… Baltic zee, tháng 3-2007
Hồi chiều Edy và Rischar rủ tôi đi nhậu, hai đứa muốn giới thiệu tôi với vị linh mục bên In-đô mới qua thực tập trên hội quán. Khi xe bus của hội quán xuống cảng đón, trên xe thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đã ngồi chật ém. Chúng tôi lên sau phải chen mông mới ngồi lọt. Mùa hè hơn bảy giờ chiều trời vẫn còn nắng chói chang, nóng nực mồ hôi tươm như mỡ. Thấy không thoải mái, tôi nhảy xuống và kêu hai đứa đi trước, tôi thả tà tà lên sau. Đi bộ là thói quen của tôi, hơn nữa đi chơi phải thảnh thơi chớ có đâu ngồi ém như ém mắn. Lúc nhỏ ở quê nhà tôi thường đi chùa, dạo đó tôi đọc được kinh Phật và vài ba cuốn sách thiền nhưng lãnh hội chẳng được bao nhiêu. Hồi mới nhập cảnh Hòa Lan, khai lý lịch lại, trong phần tôn giáo tôi điền đạo Phật. Từ đó trở đi ai hỏi tôi theo đạo nào, tôi không ngần ngại trả lời tôi theo đạo Phật. Sau khi làm thủy thủ tôi đi đó đi đây, thường lênh đênh trên biển khong chùa chiền, không kinh Phật. Bù lại ghé nhiều hải cảng, tôi gặp những người truyền giáo, các vị nầy có mặt khắp nơi, vừa giảng kinh vừa hướng dẫn và giúp đỡ thủy thủ những lúc gặp khó khăn. Nhờ họ mà tôi có kinh thánh, sách, báo tiếng Việt, mặc dầu sách rao giảng về nước thiên đàng, nhưng đã giúp tôi đỡ buồn trong những tháng ngày lênh đênh trên biển. Đọc riết rồi thắm, đoạn nào hay tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Có lẽ vì thấy tôi nghiền ngẫm kinh thánh nên hôm nay Edy và Rischar muốn rủ tôi lên hội quán ‘đàm đạo’ với vị linh mục của tụi nó chăng. Tại tụi nó không để ý đó thôi, vì những người tôi thường gặp là những nhà truyền giáo do tổ chức của đạo Tinh Lành hoặc Thiên Chúa đưa ra. Những phòng truyền giáo (Seamen’s Mission) sinh hoạt rất lành mạnh; có thư viện chứa sách, báo và thánh kinh được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngoài ra còn có phòng điện thoại, phòng thể thao. Trong ba có bán bia nhưng không nặng độ. Những hải cảng lớn, có phòng ngủ dành cho thủy thủ lở chuyến tàu, hoặc trên đường về mà chưa tới chuyến bay. Còn cái Hội Quán ở Hamburg, phải chi trên bảng hiệu đừng đề thêm chữ Mission và trước sân đừng treo cờ truyền đạo thì trông đỡ chướng mắt hơn. Ở những phòng truyền giáo người ta trang hoàng căn phòng nhỏ vừa đủ để cầu nguyện, trên tường treo thánh giá, hoặc tượng chúa Jêsus vừa sạch sẽ vừa tôn nghiêm. Còn ở đây họ dành ra hết một từng lầu. Trong căn phòng rộng được chia ra nhiều ngăn, mỗi ngăn dành cho một tôn giáo; bàn thờ Phật có lư hương, chuông và treo ảnh phật Thích Ca cạnh bên tượng phật bà Quan Âm. Ngăn dành cho đạo Hồi có bục quì và chiếc bàn vừa đủ để cuốn kinh Koran khổ lớn, dầy cộm. Bên góc trong treo tượng chúa Jêsus với quyển thánh kinh lật ngữa nằm trên kệ. Ngoài ba mối đạo lớn ra, còn có hình ảnh thần thánh khắp nơi được sưu tầm treo ngăn nắp trên một bức tường. Vì ít người lai vãng nên không khí trong phòng lạnh lẽo, ẩm uớt và phảng phất mùi mốc meo, thoạt nhìn thấy giống phòng triển lãm hơn là nơi thờ phượng. Đi đây đi đó tiếp xúc với nhiều hạng người, chứng kiến những trò đời bịp bộm. Vì vậy đối với tôi ba cái chuyện mượn đạo tạo đời, buôn thần bán thánh không khác nào chuyện các cô gái bán dâm. Mấy năm nay đi đi lại lại cảng nầy, cũng thường ghé hội quán, nhưng tôi chẳng thấy vị linh mục hay ông cha nhà thờ nào léo hánh tới truyền đạo. Toàn một nhóm người bày biện bán buôn. Treo cờ truyền giáo, bán rượu, bia, bán tạp hoá…và có cả phụ nữ bán dâm. Tôi không hiểu mục sư từ In-đô bay qua đây học hỏi cái ‘đạo’ gì trên đó ? Tuy nhiên phải công nhận hội quán ở cảng Hamburg sinh hoạt rộng ràng, vui vẻ hơn những phòng truyền giáo. Khi tôi bước vào, thủy thủ đông nghẹt, mùi thuốc lá, bia rượu pha lẩn mùi dầu thơm con gái ngây ngấy. Lúc nào mấy anh Phi-luật-tân cũng rậm đám; tiệc tùng, ăn uống, nói năng ồn ào. Trên bàn của thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đầy bia, rượu và thức ăn, cạnh mỗi anh một em gái Phi-luật-tân trẻ trung môi son, má phấn ngồi ăn uống rất tận tình, có em phì phèo thuốc lá. Các em nầy đến từ hộp đêm bên kia bờ sông Elbe, sinh hoạt thường ngày của các em trong những căn phòng đèn màu hồng của khu St. Pauli. Khi nào mấy anh thủy thủ không đủ thời gian qua chơi với các em, chỉ cần một cú điện thoại, thì các em sẵn sàng tới vui với các anh vài giờ. Nhìn các anh bày tiệc tại đây, tôi cũng đoán được chiếc Blue Sea sẽ khởi hành nội trong đêm nay. Trong lúc tôi đứng ngó dáo dác tìm chổ nhập bọn, Edy tới đập lên vai tôi, tôi day lại, nó liền chỉ tay vô phía trong góc phòng: – Anh vô trong kia kìa. Tôi đi theo Edy tới chiếc bàn thấp trong góc, ghế ngồi là bộ sa-long bọc nhung, bia rượu đã sẵn và có mấy cô gái ngồi tiếp chuyện. Người đàn ông có gương mặt hiền hậu ngồi vắt chéo chưn, day người ra ngoài làm như không dính dáng gì trong bàn tiệc. Thấy tôi tới anh ta bỏ chưn xuống, đứng dậy bắt tay. Edy giới thiệu anh là mục sư và gả thanh niên bận đồ đen tay trái đeo đồng hồ dây mạ vàng, tay phải đeo chiếc lắc vàng và trên cổ dây chuyền cũng vàng tên Frank, trong tương lai Frank sẽ thành linh mục. Sau màn giới thiệu mục sư kéo ghế mời tôi ngồi cạnh ông. Edy ngồi ngồi xuống băng nệm cạnh Bilia, lani ngồi kế Rischar, Frank ngồi bên Erika và Erika ngồi kế tôi. Bilia và Lani người Phi Luật Tân hai người nhỏ thó, ốm tong ốm teo, Erika người Đức mập thù lù, mấy cô đóng đô trong hội quán nên tôi đã lờn mặt. Erika day ngang nói với tôi: -Từ ngày biết xếp tới nay, chưa bao giờ xếp mời tôi một ly bia. Nếu tôi đoán không lầm, tuổi Erika khoảng trên bốn mươi, vì cô tô lên mặt lớp phấn dầy cộm nhưng không dấu được những nét nhăn hai bên khoé mắt, môi thoa son nhưng không còn bóng mộng, răng vàng khói thuốc và nụ cười luôn héo hắt. Khi nào cần những món cần thiết tôi nhờ cô mua dùm, hoặc nhờ láy xe đưa ra phố, được cái lúc nào cô cũng sẵn lòng. Kể ra tôi cũng không công bằng với Erika lắm. Trước kia cô có rủ tôi về nhà ngủ miễn phí, nhưng nghĩ tới cảnh tối nằm ôm cái đống thịt bủng xì bủng xịt, nặng gần cả tạ của cô ta, tức thì cái thằng đàn ông của tôi nó thụt mất tiêu như rùa rút cổ. Thật ra không phải tôi keo kiệt đến đổi không dám mời cô một ly rượu, ăn vài cây xúc xít. Ngặt một điều, cách mời của thủy thủ khác hơn những người thường. Mỗi khi nhập bọn mạnh thằng nào nấy mua bia, rượu để đống lên bàn, mỗi người tự lấy bia khui rồi giơ chai lên hô một tiếng, đồng lượt ngước cổ chổng chai tu. Tôi bưng chai lên: – Vậy thì bây giờ tôi mời cô. Thấy tôi cầm chai lên cụng với Erika, mấy người ngồi chung bàn cũng đưa chai lên ngang mài rồi hô lên một tiếng, ngữa cổ, chổng chai nốc bia ừng ực. Khi để ly xuống, Frank day qua hỏi tôi: – Anh có đạo không? Ngồi chỗ nầy khơi chuyện đạo tôi cảm thấy kỳ khôi, tôi nghĩ ra câu trả lời cho Frank đừng phăng vô chuyện đạo nữa: -Có, tôi đạo Phật nhưng sống theo kinh thánh. Nghe tôi trả phân hai, Frank không nói được thêm gì. Tôi day qua ông mục sư , hỏi: -Qua đây ông thấy thế nào? Ông đưa ngón tay cái ra gặt gặt: -Tốt thôi. -Như vầy ông thấy tốt sao? -Sao lại không? Tôi nghĩ ông chưa hiểu hết ý tôi, nên tôi khoa tay một vòng, lập lại câu hỏi: -Truyền đạo như vầy ông thấy tốt sao? Mục sư chưa kịp trả lời, thì Rischar chen vô: -Nếu đi tới đâu cũng Chúa không thôi, chắc thủy thủ mỗi khi thèm đàn bà phải tự giải quyết lấy. Nhìn cái điệu bộ của nó, ngã người vựa ra sau băng nệm, nắm nắm tay để ngang dạ bụng cong người lại làm dấu sụt vô sụt ra… Mấy cô ngồi cạnh bên cười ha hả. Tôi đương hớp bia cũng không nín được cười, làm bia tràn lên mũi sặc văng tùm lum, cái sặc của tôi làm mọi người im bặt. Bây giờ Frank mới nói: -Nếu mầy thủ dâm thượng đế sẽ giết mầy. Cái ông con chưa thành mục sư, mở miệng ra là muốn truyền đạo. Tự dưng Erika day qua tôi, cô đưa tay ra dấu cứa ngang cần cổ, nói: -Vậy thì thượng đế sẽ giết xếp trước. – Tại sao? Tôi hỏi: -Hồi biết xếp tới giờ tôi chưa thấy xếp đi với ai hết. Nếu xếp không thủ dâm thì xếp sẽ làm gì mỗi khi thèm đàn bà ? Không đợi tôi trả lời, cô ta chộp tay vô giữa háng tôi bóp mạnh một cái, may nhờ cái quần Jean dầy ngăn cản bàn tay thô bạo cô ta, bằng không tôi bị dập dái như chơi. Ông mục sư ngồi ngó cái bầy chiên con của chúa cử chỉ lố lăng, thô bạo, nói năng tục tằng. Nhìn qua tôi, ông lắc đầu mĩm cười… hết ý! Năm nay Âu châu tranh giải bóng đá. Bên phòng thể thao ghế xắp hàng ngang giống như rạp hát. Đặt biệt có gắn máy thu hình, màn ảnh được phóng đại chiếu lên chiếm gần hết bức tường. Những người ham mộ đá banh không thể bỏ qua, tới giờ họ ùa sang phòng bên theo giỏi trận đấu. Những người không khoái đá banh thì rút vô phòng coi phim con heo. Trong ba bây giờ lèo tèo vài mống ngồi trên hàng ghế cao cẳng trước quày rượu, vừa uống vừa trò chuyện với cô gái ốm nhôm ốm nhách đứng trong quày. Bàn chúng tôi cũng kéo nhau coi đá banh, còn tôi với ông linh mục ngồi lại. Chúng tôi vừa uống rượu vừa trò chuyện. Mục sư cho tôi biết, ông sẽ qua hội quán bên Anh thực tập vào tuần tới, sau đó ông về In đô mở một hội quán ở Jakarta và một ở Batam đúng theo tiêu chuẩn Âu châu. Nghe những dự tính của ông, tôi không thắc mắc nữa, mục sư cũng phải làm kinh tế mới có tiền nuôi vợ, nuôi con chớ. Tôi hỏi sang câu chuyện: -Ông mở hội quán như vầy không bị chánh quyền In-Đô cấm sao? -Không, không ai cấm hết, mình làm, mình đóng thuế đàng hoàng thôi. Câu chuyện được chuyển sang tình hình xã hội ở In Đô. Chuyện Hồi giáo chơi xỏ đạo Tinh Lành; chuyện chánh quyền phần đông là Hồi Giáo, chuyện dân chúng In-Đô sống trong cảnh nghèo đói và chuyện tham nhũng, hối lộ khắp nơi…. Không khí trở nên náo động khi hai đội banh đá hết hiệp đầu. Bà con ùa ra, người mua bia, người đi toilet… Trong khi chờ trận đấu tiếp tục, họ xôn xao bàn tán chuyện đá banh. Có nhóm đánh cuộc, phe nào thua phải trả tiền bia, rượu. Còn thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea sắp sửa khởi hành, các anh tụ ra bãi đậu xe. Sau khi anh tài xế hối thúc liên hồi mỗi anh ôm mỗi em hôn vội hôn vàng hôn tới tấp rồi mới chịu buôn ra. Cuộc chia tay vui như đốt pháo, khi xe lăng bánh tiếng hô rân giả từ và cả chục cánh tay đưa ra vẫy vẫy. Trận banh kết thúc đã gần mười một giờ, đúng ra mười một giờ hội quán đóng cửa. Nhưng những hôm có đá banh họ mở cửa trể hơn thường ngày. Những đám đông lúc nào cũng vậy, khi sắp kết cuộc người ta bắt đầu rời rạc, kẽ lo mua sắm, người lo điện thoại… Tôi trong toilet đi ra định tới từ giả bạn bè về tàu. Chợt thấy Frank đứng trước máy bán condom tự động treo trên tường cạnh chậu rửa tay, anh rút một hơi ba bao. Thấy tôi ra anh lắc lắc cái đầu cười gượng, nói: -Mấy đứa trong nầy dơ lắm, phải cẩn thận mới yên tâm. -Dĩ nhiên rồi. Frank đem condom phát cho Edy và Rischar mỗi thằng một gói, còn một gói anh nhét túi quần. Nhìn Frank tôi nghĩ tới một điều này này, trong tương lai, thủy thủ tàu buôn ghé cảng Jakarta và Batam, lên hội quán sẽ thấy những mục sư được đào tạo bên Âu châu về nước vừa giảng đạo vừa bán bia, bán rượu và bán… condom. Đêm vui chơi trên hội quán coi như tàn. Bilia và lani đêm nay chộp được Edy và Rischar, nên hai cô lẹ làng đứng dậy điện thoại gọi tắc xi. Erika biết phận ế ẩm của mình, cô đứng dậy dọn dẹp ly tách trên bàn. Tôi bắt tay từ giả ông mục sư và Frank rồi quay gót. Khi tôi bước ra cửa, xuyên qua ánh đèn trước sân, nước trên trời trúc xuống rào rào làm ướt đẩm cỏ cây hoa lá. Bổng nhiên trời mưa dầm dề như vầy thì làm sao tôi thả bộ xuống tàu được. Đành quay trở vô nhờ xe bus của hội quán, nhưng phải chờ vì chưa có chuyến xe. Trong khi chờ đợi tôi kêu một ly bia và leo lên ngồi trên chiếc ghế cao cẳng trước quầy rượu. Nhân viên hội quán tắt hết đèn các phòng bên ngoài, chỉ trong ba còn đèn sáng. Ông mục sư theo những người hết phận sự ra xe về trước. Mấy cô gái Phi-luật-tân của các anh bên chiếc Blue Sea để lại vẫn còn ngồi tụm nhau bên chiếc bàn tròn, các cô nói cười dòn tan. Ngót hơn hai chục năm qua tôi thường tiếp xúc với dân Phi-luật-tân. Nhưng tôi không hiểu bằng cách nào mà các cô gái nầy có mặt khắp nơi trên thế giới. Đi tới đâu tôi cũng thấy hộp đêm của Phi-luật-tân. Lúc ra ngoài làm ăn các cô đi từng nhóm. Trai thủy thủ, gái giang hồ quấn quít với nhau mỗi khi găp mặt, cùng chia sẻ vui buồn và thụ hưởng những gì hiện có. Trên bước lãng du, đôi khi tôi cũng có gặp vài cô gái Việt Nam làm trong những hộp đêm của người ngoại quốc. Nhưng khi tiếp chuyện, biết tôi là người đồng hương, các cô liền lánh đi đâu mất. Tôi không nghĩ các cô khi dể tôi không đủ tiền bao. Có lẽ vì tự ái dân tộc, nên gặp đồng hương các cô mặc cảm không dám hết mình với nghề nghiệp. Giữa thời buổi các thầy tu còn phải tìm đủ mọi cách moi tiền bá tánh. Trong khi đó các cô bán thân mình cho thiên hạ mua vui, thì lại sợ mang tai mang tiếng, làm ô danh nòi giống. Chụp giựt như mấy cô gái Phi luật tân kia có khi còn phải đói meo. Huống hồ các cô, mần ăn cái kiểu đó thì làm sao mà khá nổi. – Chào ông! Tôi day qua thấy người con gái Phi-luật-tân, tôi chào lại. Sẵn trớn cô ta bắt chuyện hỏi tôi là người nước nào. Tôi nói tôi người Viêt Nam. Cô chìa tay ra bắt và chỉ tay lên bắp tay nói Việt Nam và Phi-luật-tân giống nhau, ý cô ta nói màu da của tôi và cô giống nhau. Bây giờ tôi mới nhìn thẳng cô gái, mặt tròn trịa, hai má bầu bĩnh, đánh phớt lớp phấn mỏng màu hồng, môi son màu tim tím. Cô bận chiếc áo thung màu trắng cổ rộng, áo choàng cũng màu trắng và chiếc váy màu đen. Khi cô cười khoe hàm răng đều như hột bắp, trông duyên dáng quá chừng. Tôi chưa kịp mở lời tán tỉnh, cô ta đã cất tiếng hỏi tôi: – Đêm nay ông đi với em. Ok.? Cô vừa hỏi vừa giơ hai tay câu cổ tôi ghì mạnh, ưỡn lên cho phần trên cặp ngực phồng ra cổ áo, mùi dầu thơm ngào ngạt làm lòng tôi rạo rực. Tôi giơ tay bợ chiếc vú tròn, mềm mại và nắm vừa bàn tay. Hai tay cô gái vẫn bấu cổ, hai mắt tự tin nhìn thẳng mặt tôi, chờ câu trả lời. Chậc! Mới hồi chiều trời trong vắt, chín mười giờ nắng vẫn còn vàng và đường đi khô ráo, không có dấu hiệu chuyển mưa. Đợi tôi sắp sửa ra về thì mưa như trúc nước, làm tôi phải trở vô hội quán. Rồi chợt nhiên xuất hiện một cô gái đẹp như thiên thần tới câu tôi cứng ngắc như vầy. Quả thật, nếu mọi chuyện trên cõi đời nầy đều do bàn tay của thượng đế sắp đặt, thì tôi cũng sẵn sàng chịu theo sự sắp xếp Ngài.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương hồi xưa trong bài ‘Tiếng sông Hương’ có viết:
“…Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi, khiến đau thương thấm tràn…
… Bao giờ máu xương hết tuôn tràn, quê miền Trung thôi kiếp điêu tàn cho em vang khúc ca nồng nàn. ..”
Nhạc sĩ chỉ mong hòa bình hết chiến tranh là bà con mình của vùng đất miền Trung đất cày lên sỏi đá, vùng đất chưa mưa đã lụt sẽ thôi kiếp điêu tàn.
Đó là một giấc mơ đẹp hồi xưa nhưng vẫn là giấc mơ đẹp cho tới bây giờ! Vì nó vẫn là giấc mơ; bởi hiện thực xã hội chủ nghĩa phũ phàng là 99% dân miền Trung quê mình vẫn còn đói cơm, thiếu áo!
Chỉ có 1% còn lại là sống trong xa hoa phù phiếm để dân sống chết mặc bây tiền thầy bỏ túi. Đó là tầng lớp quan lại thời CS! Mỗi bí thư tỉnh ủy là một sứ quân cát cứ, xưng hùng xưng bá, muốn ăn cắp của dân bao nhiêu cũng được. Mà túi tham thì không đáy!
Tiền nhiều quá thì phải ăn chơi; chớ cất trong tủ hoài nó mục hết ráo thì sao?
Chơi cũng có nhiều đường chơi cho lịch cho người biết tay.
Có quan dẫu còn trẻ chỉ mới 30 tuổi thôi nên thích chơi ‘chim’. Vốn háo danh nên quan đem mấy con ‘chim’ của mình đi thi hót vì mỗi lần chim hót quan vui.
Mấy giám khảo chấm thi ‘chim’ chỉ dựa vào chức tước của chủ ‘chim’!
(Cũng như đi thi sắc đẹp vậy mà! Em nào mà quan lớn nhứt đã từng ‘chấm mút’ thì phải đoạt giải Hoa hậu thế thôi!)
Nên chim của quan lớn nhứt tỉnh đoạt giải nhứt nhì ba hết trơn rồi, nên chim của quan chỉ đoạt giải khuyến khích.
Khuyến khích quan cứ việc tiếp tục chơi chim nhưng cũng khuyến khích hai thằng ăn trộm leo vô nhà quan rinh ba cái lồng chim, trị giá tới 5 triệu đồng đi bán rẻ chỉ được 2 triệu đồng, rồi chia nhau tiền ăn với nhậu.
May là quan còn có một con ‘chim’ nó ăn trộm chưa được; chớ như câu chuyện dưới đây một quan lớn khác bị trộm ‘chim’ mà hơi bị ngu nên chưa biết nữa đó.
Chuyện rằng: Một quan lớn làm tới chức bí thư đi làm về sớm. Mới bước vào nhà đã nghe những tiếng động là lạ phát ra từ phòng ngủ.
Quan anh vội vã chạy lên lầu và thấy con vợ mình trần truồng năm trên giường, mình đẫm mồ hôi, mặt xám ngoét, bèn hỏi: “Chuyện gì thế?!” “Em bị lên cơn nhồi máu cơ tim!”
Tay quan lớn nầy vội vã chạy xuống lầu chụp lấy điện thoại đi gọi xe cứu thương thì thằng con 5 tuổi chạy lẩm đẩm theo, méc: “Bố ơi! Anh hai tài xế của nhà mình núp trong tủ áo và không mặc quần áo gì hết ráo!”
Tay quan lớn bèn dằn điện thoại xuống bàn nghe cái cốp, chạy vội lên phòng ngủ.
Mặc cho tiếng con vợ đang thở hào hển, rên la, quan lớn mở cửa tủ ra thì thấy thằng tài xe đang trốn trong trong tủ áo bèn gầm lên: “Cái thằng khốn nạn! Vợ tao đang lên cơn nhồi máu cơ tim mà chú mầy lại trần truồng như nhộng núp trong tủ áo để hù dọa thằng nhỏ hả?!”
***
Quan lớn đất Quảng nầy thích chơi chim nhưng một tay quan lớn khác lại thích chơi golf cho ra vẻ quý tộc, cho giống Tây, để cho tụi nó hết xỏ xiên là gốc của quan là ở trên rừng.
Quan ông chơi golf mà quan bà, tức vợ của quan ông, cũng chơi golf nữa.
Bà con mình ai cũng biết chơi golf là lấy một cái cậy gậy bằng sắt vụt vào một trái banh bự bằng trái chanh cho tới chừng nào nó lọt vô một cái lỗ. Đánh ít gậy mà lỗ nào cũng lọt… là ăn hè.
Một hôm, quan lớn, giàu cỡ đa triệu phú đô la nhờ vào việc cướp đất của dân nghèo đem đi bán cho bọn tư bản đỏ, chạy đến phòng cấp cứu của bịnh viện.
Mặt mày bầm tím, trên cổ quan vẫn còn đeo lủng lẳng 5 cây gậy đánh golf.
Bác sĩ chẩn đoán rằng quan bị chấn động não!
Viên bác sĩ nầy vốn nhiều chuyện, tò mò lại khoái chỏ mỏ vô đời tư nên xin hỏi đồng chí lãnh đạo là nguyên do tại làm sao mà ra đến nông nỗi nầy?
“À chẳng qua tui đi chơi golf với con vợ tui. Tới cái lỗ thứ sáu thì khó quá vì trên sân có cả một đàn bò của đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp đang thả rong gặm cỏ.
Tui vụt gậy một cái và trái banh của tui biến mất trong đám bò đang gặm cỏ. Vợ tui cũng vậy! Mím môi, mím lợi em yêu vụt gậy nghe cái véo và trái banh bay đi rồi cũng biến mất trong đám bò đang gặm cỏ đó.
Nên cả hai, tui và con vợ vội đi tìm hai trái banh vừa mới được đánh đi.
Trong lúc tìm kiếm, tui thấy có cái vật gì trăng trắng dưới bụng một con bò cái. Tui bèn chạy đến, vén cái đuôi bò lên và quả nhiên trái banh golf có ký hiệu của con vợ tui đang nằm ở đấy.
Và ngay lúc đó tui phạm phải một cái lỗi tày trời!” “Đồng chí bí thư làm gì mà gọi là cái lỗi tày trời vậy?”
“Vén cái đuôi bò lên, tui lấy tay chỉ và gọi lớn! “Ê hình như cái nầy trông giống cái của em nè!”
***
Tiếng Việt mình có một danh từ rất hay là lương bổng. Nói nào ngay các quan chức CS lương tháng thì cũng hỏng bao nhiêu đâu. Lương chưa đủ để ăn thì làm sao có để mà chơi chớ?
Sở dĩ chơi được là nhờ cái ‘bổng’, cái lại quả của những hợp đồng, của mua bán đất công đó thôi!
Rồi tiền cống nạp của cấp dưới muốn thăng quan tiến chức mà bây giờ gọi là chạy chức. Cả triệu rưỡi đô Mỹ đó cho cái chức dân biểu, dẫu bù nhìn, chớ hỏng ít ỏi đâu nhe. Thì hỏi hỏng giàu sao được hè?
Nên có chuyện rằng: Đồng chí bí thư tỉnh ủy vừa mới mua một căn hộ trong khu nghỉ dưỡng cao cấp rất xa hoa; nên thuộc cấp muốn đến để chúc mừng nhưng chưa biết đường đi.
Đồng chí bí thư họp nguyên thường vụ tỉnh ủy chỉ đường rất rõ ràng và cặn kẽ như vầy: “Qua cái cổng có bảo vệ, chạy xe quẹo về bên trái, tới căn biệt thự số 35, nhớ số 35 nhe, vì những căn gần kế của bên Thường vụ cũng giống y hệt như vậy.
Tới trước cổng, các đồng chí dùng cái cùi chỏ bấm vào một cái nút chuông, cửa sẽ tự động mở ra. Đi hết cái sân có nhiều chậu ‘bon sai’ long, lân, quy, phụng, các đồng chí lại dùng cùi chỏ bấm vào cái chuông trước cửa thì vợ tui sẽ ra mở cửa cho các đồng chí vào. Tui đang đợi các đồng chí trong sảnh.”
“Dà! Xin hỏi đồng chí bí thư tại sao chúng em phải dùng cùi chỏ để bấm chuông ạ?”
“Ờ! Hỏng lẽ Tết tới mà các đồng chí đến thăm vợ chồng tui mà lại đi tay không hay sao?”
***
Sự thực là tay Giám đốc tuổi trẻ tài cao nầy có tiền để chơi chim rồi bị tụi nó vô ăn trộm là vì có bố làm tới bí thư tỉnh ủy.
Bố chôm tiền thuế của dân cho cậu ấm đi Mỹ học Cao học, mà bây giờ CS gọi là Thạc sĩ. Học xong về là có ghế dành riêng, độc quyền cho cậu ấm ngồi.
Tuần lễ đầu tiên trong văn phòng mới với viên Giám đốc cũ chờ bàn giao để về hưu non. Cậu xin vài lời khuyên của người mà cậu sắp thay thế.
Ngày cuối, tay nầy nói: “Tôi có để trong ngăn tủ trong bàn giấy ba cái phong bì. Hãy mở một cái ra khi công việc gặp khó khăn mà đồng chí không thể nào giải quyết được!”
Rồi bốn tháng trôi qua, có một vụ việc nghiêm trọng xảy ra làm cậu cảm thấy lo sợ cho cái ghế của mình đang ngồi có bị rung rinh hay không?
Cậu nhớ đến lời nhắn nhủ của viên Giám đốc tiền nhiệm nên kéo ngăn tủ ra mở cái phong bì đầu tiên. Trong đó có ghi lời khuyên là: “Hãy đổ thừa cho viên Giám đốc tiền nhiệm.” Cậu bèn làm y như thế quả nhiên thoát nạn.
Sáu tháng sau, Sở của cậu bị thâm hụt công quỹ mà hỏng tìm ra được đứa nào ăn cắp của công bỏ vào túi riêng. Ngu sao móc tiền trong áo khỉ của bà xã ra mà đền. Thằng nào xơi, còn chơi cha bắt mình chịu đâu có được nè!
Không biết giải quyết chuyện ăn không đều chia không đủ nầy ra làm sao, cậu vội vã mở cái phong bì thứ hai ra. Trong đó có lời khuyên là “Hãy sắp xếp lại.”
Cậu bắt đầu họp đảng bộ, kiểm điểm phê bình quyết liệt nhằm tiêu diệt những kẻ không ăn cánh mà chỉ biết ăn một mình, những kẻ không thuộc phe ta… mà còn cả gan ngầm chống lại… Quả nhiên trời yên bể lặng!
Một năm sau lại xảy ra khủng hoảng! Khủng hoảng! Giành ăn hoài hè! Cậu bèn mở cái phong bì thứ ba ra. Trong đó có lời khuyên là: “Hãy chuẩn bị ba cái phong bì đi!” Nghĩa là chuẩn bị mất chức!
Bởi thời buổi ‘ghế ít đít thì nhiều’, trâu cột ghét trâu ăn nên bọn quan lại giành ghế nên đấm đá nhau một cách dữ dội.
Hồi bố cậu hét ra lửa mửa ra khói đứa nào cũng êm re. Bây giờ thì bố cậu hết chức hết quyền, thì dậu đổ bìm leo, nó lôi cậu xuống và khai trừ ra luôn khỏi đảng. Từ nay là hết có cơ hội để ăn rồi. Hết chức, hết quyền, hết tiền nhưng còn rất nhiều thời giờ để cậu ấm mặc sức mà chơi ‘chim’ nhe.
Quan nhất thời dân vạn đại mà ông bà xưa mình nói đâu có sai chạy bao giờ.
Dẫu hạ cánh an toàn nhưng mất chức là mất quyền, mất kẻ nịnh bợ, mất kẻ hầu, người hạ, mất luôn cả chục em chân dài bồ nhí nên cậu rơi vào trầm cảm phải nhập Viện Tâm thần dành cho cán bộ cao cấp.
Một hôm em y tá bước vào phòng và thấy cậu đang khuỳnh tay lại, miệng kêu ‘u u’ như đang lái một chiếc xe.
Em y tá hỏi: “Đồng chí đang làm gì đó?” Cậu trả lời: “Lái xe đi Hà Nội để họp.” Em y tá chúc đồng chí thượng lộ bình an!
Ngày hôm sau, em y tá lại vào phòng hỏi: “Sao đồng chí chạy tới đâu rồi?” “Ờ! Tôi đã vào tới thủ đô Hà Nội!”
“Thật là tuyệt!” Em y tá nói xong bước qua phòng bên cạnh thấy bịnh nhân khác đang chỏi tay trên giường như đang ‘hít đất’ bèn hỏi: “Đồng chí đang làm gì đó?”
“À! Tôi đang ‘hít đất’ với con bồ nhí, người mẫu chân dài của thằng ở buồng kế bên trong khi nó còn đang họp ở ngoài Hà Nội!”
Trước tiên, người viết xin kính chúc xuân quý độc giả thân thương của bổn báo:
“Năm mới Tết đến. Rước hên vào nhà. Quà cáp bao la. Mọi nhà no đủ. Vàng bạc đầy hũ. Gia chủ phát tài. Già trẻ gái trai. Sum vầy hạnh phúc. Cầu tài chúc phúc. Lộc đến quanh năm. An khang thịnh vượng! Thịnh Vượng cái mà Thịnh Vượng!”
Trước thềm năm mới, năm Giáp Ngọ 2014 nầy, theo ‘Thầy’ phán rằng: ai sanh ra trong năm này thì cuộc đời có nhiều hay đẹp! Có nhiều may mắn về tài lộc cũng như về công danh và sự nghiệp; có phần lên cao vào trung vận, và hậu vận có kết quả tốt.
Tóm lại, tuổi Giáp Ngọ có nhiều may mắn suốt cuộc đời!
Nên người viết xin ‘tư vấn’ quý cậu nào chưa vợ thì cưới vợ đi! Quý cô nào chưa chồng thì lấy chồng đi! Sau đó cùng nhau sản xuất ‘bế bi’ cho vui nhà vui cửa!
Và bài viết năm nay cũng không qua thông lệ là: Năm ngọ nói chuyện ngựa!
Trước hết là chuyện ngựa quê nhà, chuyện ngựa của tuổi thơ ‘tui’.
Hồi nhỏ đi học tiểu học, ngôi trường làng Trung An, Mỹ Tho, thơ mộng nằm cạnh một dòng sông nhỏ. Người viết ôm cặp đệm, trong đó có nắm xôi, xách bình mực tòn ten cùng hai, ba đứa bạn đi dọc theo hàng cây ‘d. ngựa’ mà Tây trồng dọc theo lề con lộ để đến trường. Suốt một thời thơ ấu con mang theo:
Cặp đệm má đương, nắm xôi má nấu, xôi nếp một, bếp bình minh khói toả, đường mía lau thơm, vị ngọt quê nghèo!
Khi trống trường tan học thì cũng men theo lối cũ, đi về. Những năm năm mươi quê nhà thanh bình yên ắng lắm, trên đường ít xe, ít cộ, không lo tai nạn gì cho mấy đứa nhỏ, học trò. Còn bây giờ trong nước, ra đường sợ lắm, sợ mấy thằng cán bộ nhậu say, lái xe điên trên phố!
Đường vắng, thỉnh thoảng giờ tan học trên đường về, đôi khi có chú Bảy C. (Dà! Viết tên ổng có một chấm lửng cho quý độc giả thân thương thêm vào! Chớ viết luôn, mắc cỡ lắm! Người ta có một là đủ ‘nhột’ rồi mà ông nầy có tới bảy?), đánh xe ra chợ Mỹ.
Lâu lâu chú Bảy cho mấy thằng nhỏ, học trò quá giang. Ngồi trên xe ngựa thiệt là khoái! Tiếng gõ nhịp lóc cóc đều đều trên đường nhựa, gió hiu hiu, lâu lâu lại nghe chú Bảy ngọ nghẹ gì đó với con ngựa. Con ngựa ‘hí hí’ đáp lại! Té ra con ngựa cũng biết nghe và biết nói nữa he!
Sau nầy xa quê, xa cái làng Trung An thuở đó, xa luôn tiếng lóc cóc của chiếc xe ngựa ngày nào và xa luôn chú Bảy C.!
Chữ gọi xe ngựa là xe thổ mộ và người đánh xe ngựa là xà ích. Thôi xài chi tiếng khó hiểu. Trong lòng người viết vẫn còn hoài hình ảnh chiếc xe ngựa và chú Bảy C.
Cám ơn chú Bảy C. đã cho thằng nhỏ quá giang không phải một lần, mà nhiều lần nên dù chú có 7 hay chú có tới 10; thiệt người viết cũng không dám ‘cà nanh’ đâu chú Bảy C. của tuổi thơ ơi!
Quê người, Melbourne, thứ ba, 4 tây tháng 11 năm nay là Úc xúm nhau lại đua ngựa, gọi là Melbourne Cup, lớn nhứt Úc Châu.
Nhà người viết bên nầy sông, nhìn qua sông không phải là vùng địch đóng mà bên kia dòng Maribyrnong êm đềm, lặng lẽ là trường đua ồn ào, náo nhiệt! Người ta quần là, áo lượt đông vui!
Vậy là sắp hết một năm rồi đó; lại xe đi giữa mùa thổi rượu (mùa nầy Úc xỉn nhiều lắm nên cảnh sát nó lập trạm, thử rượu, thử drug, để xé bằng lái của mấy thằng ngu!)
Người ta đi giữa mùa thổi rượu thì ông chủ bút nhà mình đi giữa mùa bán báo. Báo Tất niên, báo Xuân rồi báo Tân niên. Ông ‘hú u!’ Bài báo xuân theo truyền thống đi ông ơi! Viết vui lên nhá!
Dà! Anh ‘lịnh’ thì người viết viết thôi! Nhớ gởi chút tiền còm, nhuận bút, ăn Tết nha anh!
Để cho vui! Xin hỏi đố độc giả là: Con vật nào đi ngủ mà mang giày? Câu trả lời là: Con ngựa!
Con vật nào lễ phép nhứt? Câu trả lời cũng là: Con ngựa. Vì sao ngựa lại lễ phép? Vì đang phi nước đại tới hàng rào, nó kính cẩn đột ngột dừng lại cho ‘tui’ còn trớn phóng qua trước. Ngựa lễ phép thấy thương ghê mà mình, đầu, mắt nổ đom đóm!
Nhớ hồi xưa trong làng, Tía Má ở quê hay rầy con gái xí xọn. “Ngựa dữ à nha!” Tây hổng biết nó có học được cái ‘bí kiếp’ nầy để rầy, để cảnh báo con mình không mà: Có một anh nài ngựa luôn luôn thắng độ. Hỏi bí quyết gì, khi về hưu, anh mới chịu tiết lộ. Anh chuyên cỡi ngựa cái. Mà ngựa cái ‘xí xọn, trăng hoa’, nghĩa là ‘ngựa’ lắm; nên trong cuộc đua khi rạp mình xuống, cho đừng cản gió, anh chỉ cần thầm thì cảnh báo rằng: “Con ngựa, chồng ‘cưng’, nó đang chạy ở đằng sau kìa!” Thế là em luôn luôn phi như bay về nhứt!
Nói chuyện ngựa, người viết lại nhớ hồi còn nhỏ, Tía Má hay cho tiền vô rạp hát Định Tường ở đường Trưng Trắc, Mỹ Tho coi phim cao bồi Django nhưng của thằng Ý làm, Franco Nero sắm vai chánh hay chánh hẩu Viễn Tây Huê Kỳ do tài tử John Wayne trừ gian diệt bạo.
Thằng nhỏ là người viết tin quá, ngồi dưới vỗ tay… hối… lẹ lẹ lên! Sau nầy, lớn lên vẫn còn khờ; nhưng bớt hơn một chút. Vì thấy sao mấy thằng ác vẫn làm cha? Còn anh hùng đôi khi bị rượt chạy té khói! Nên anh hùng cao bồi Texas nào… rồi cũng ‘nhạt phai’ đi?!Nên có chuyện rằng: Một anh chàng cao bồi vào quán uống beer, xong ra cửa, con ngựa thằng nào ăn cắp, cỡi đi mất rồi. Y bước vào, móc súng, bắn chỉ thiên ‘pằng pằng!’ đạn xuyên thủng trần nhà. “Thằng nào dám ăn cắp con ngựa của tao hả?”
Tất cả dân nhậu trong quán đều im thin thít. “Được rồi, tao sẽ làm thêm chai nữa, mà con ngựa tao chưa được đưa trở về chỗ cũ thì tụi bây sẽ biết tay dân chơi Texas nầy nha!”
Sau khi uống hết chai beer, y bước ra khỏi quán thì con ngựa ai đã trả về chỗ cũ. Y phóng lên yên, chuẩn bị ra roi.
Viên chủ quán chạy theo, níu lại hỏi: “Đại ca! nếu tụi nó không trả con ngựa lại, đại ca sẽ làm gì ạ?”
“Làm gì? Thì tao đi bộ về nhà chớ làm gì bây giờ!”
Đó là chuyện bên Mỹ, còn bên Úc nầy mấy ‘giả’ vừa khoái xem phim cao bồi Mỹ do Clint Eastwood đóng và cũng khoái coi đua ngựa lắm; bất kể đua ở Mỹ, ở Anh, hay ở Úc… nên tan sở thường ghé tạt vào TAB để cá cược. Xong về nhà, vui cười hỉ hả vì kiếm được kha khá, phụ thêm tiền nhà, tiền chợ cho con vợ nó hết cằn nhằn!
Vì là bài báo Tết, người viết tin dị đoan, nên chuyện cờ bạc cá ngựa toàn là chuyện thắng không hà. Chớ người viết không có đốc, xúi gì chuyện cờ bạc, cá cược, đua ngựa, đua nghiếc gì đâu nha! Phần người viết thiệt không thích đua ngựa lắm! Vì người viết chỉ tội nghiệp cho con ngựa mà thôi; cuộc đua ngựa nào cũng bất công: con ngựa chạy chết ‘cha’ để về nhứt nhưng thằng nài lại ôm giải thưởng?
Và cũng nhân vụ Úc khoái cá ngựa nên mới có chuyện vui như vầy:
Anh ngồi đọc báo trên thềm cửa, im lặng tận hưởng không khí mùa xuân quê mình yên tĩnh.
Thình lình! Em hầm hầm vác cái chảo từ trong nhà đi ra, đập vào đầu anh một cái; nghe rõ to!
“Sao em lại nỡ đánh vào đầu anh vậy, hở em yêu? Má ơi! Đau quá!”
“Trong túi quần anh, có tờ giấy ghi tên con ‘MaryLou’ nè!”
“Ậy ậy! Đừng có ghen bóng, ghen gió lên như vậy chứ! MaryLou là tên con ngựa anh đánh cá tuần rồi đó mà!”
“Chu choa! Em xin lỗi ‘honey’! Vậy mà em hổng biết, đau lắm không anh? Để em xức dầu nhị thiên đường cho!”
Ba ngày sau, sáng anh cũng ngồi đọc báo trên thềm cửa, im lặng tận hưởng không khí mùa xuân quê mình yên tĩnh. Em lại vác cái chảo bổ lên đầu anh một cái thật mạnh. Công lực gấp đôi lần rồi!
“Cái gì nữa đây hả bà nội con nít? U một cục rồi nè! Má ơi! Đau quá!”
“Nè! Điện thoại từ con ngựa ‘MaryLou’ của ông nè! Nghe đi!”
Tía tui cũng hổng dám nghe nữa; nói chi tui!
Đó là chuyện của Tây, còn với người Việt mình cũng nhờ con ngựa mà có được ba ngàn đô ăn Tết lớn chơi! Quá đã! Ha ha!
Chuyện rằng: Chủ quán rượu muốn câu khách, bèn bày ra một cuộc thi: “Bổn quán có con ngựa trong chuồng! Ai làm cho con ngựa của bổn quán cười, thưởng một ngàn đô!”
Mr. Bean từ Anh Cát Lợi, David Letterman từ Huê Kỳ qua, thi, và đều chịu thua.
Vậy mà một anh Việt Nam lại dám xin vào, thi thố. Anh thầm thì cái gì đó; con ngựa cười hăng hắc không thôi!
Lãnh một ngàn đô! Chủ quán tức cái thằng cha Việt Nam nầy quá; bèn tăng giải thưởng lên gấp đôi, lên hai ngàn đô! Lần nầy làm cho con ngựa khóc.
Những tài tử, diễn viên bi kịch nổi tiếng trên thế giới đều qua, thi và đều chịu thua.
Anh Việt Nam nầy lại dám mon men xin vào, thi thố. Anh thầm thì cái gì đó mà con ngựa ‘thút thít’ khóc không thôi!
Lãnh thêm hai ngàn đô, anh Việt Nam từ từ bước ra cửa trước sự ngả nón cúi đầu, tâm phục, khẩu phục của chư vị.
Chủ quán tức quá, chạy theo hỏi: “Sư phụ ơi! Cho tui biết sao ‘thầy’ làm cho con ngựa của tui cười lần trước, lại khóc lần sau ?”
“Có gì đâu, lần trước tui nói ‘của’ tui ‘ngon’ hơn ‘của’ nó! Nó không tin, cười hăng hắc.
Còn lần sau, tui không phải là một thằng dóc tổ, tui cho nó xem tận mắt luôn và nó tủi thân, khóc ngất! Vậy thôi! He he!
Hồi Ký cuả Vương Mộng Long, Khóa 20 Trường Võ Bị Quôc Gia Đà Lạt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
“Vinh quang một đời của người cầm quân là một món nợ. Nợ với tổ quốc, với đồng bào, và với thuộc cấp của mình!”
(Vương mộng Long)
Bảy giờ sáng ngày Ba Mươi tháng Tư 1975, tôi dừng quân trên một tọa độ cách thủ đô Sài-Gòn hơn hai chục cây số. Nơi đây là đoạn cuối của quốc lộ 1. Chỉ còn một quãng đường ngắn ngủi nữa thôi, quốc lộ 1 sẽ chấm dứt. Tối qua, 29 tháng Tư chúng tôi rút về tới Long-Bình thì Bộ chỉ huy Liên đoàn 24 Biệt Động Quân đã di chuyển đi đâu mất rồi. Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân của tôi như con gà con lạc đàn. Tôi vào máy gọi Liên đoàn 24 BĐQ, gọi Tiểu đoàn 81 BĐQ, gọi Tiểu đoàn 63 BĐQ, và gọi cả Sư đoàn 18 BB/ HQ trên tần số riêng. Tần số nào cũng rối loạn. Tôi không bắt liên lạc được với ai. Nửa đêm, thình lình máy vô tuyến đưa lệnh, chẳng hiểu của giới chức nào, chỉ vắn tắt một câu:
– “Các đơn vị cấp tốc rút về phòng thủ Sài-Gòn!”
Mờ sáng Ba Mươi tháng Tư, chúng tôi bỏ Long-Bình, rồi từng bước, rút về hướng thủ đô, để “phòng thủ thủ đô”. Cuối cùng, lết bộ tới Cầu Hang (Biên-Hòa) thì mỏi mệt quá, tôi cho quân dừng lại nghỉ. Trên quốc lộ 1, cách Cầu Hang chừng hai trăm mét, hơn sáu chục người lính sống sót cuối cùng của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân bơ vơ. Vào giờ này, quân số Tiểu đoàn 82 BĐQ bách thắng của Quân khu 2 còn lại chừng nửa đại đội, với bốn sĩ quan là tôi (Thiếu tá Vương mộng Long), Thiếu úy Thủy, Trung úy Trâm, Chuẩn úy Thiều cùng hơn sáu mươi binh sĩ. Ông Đại úy Ngũ văn Hoàn (TĐP) chết đêm 28 tháng Tư. Trung úy Đăng mất tích. Thiếu úy Châu đi thụ huấn chưa về. Thiếu úy Học, Thiếu úy Hoàng vắng mặt từ chiều 27 tháng Tư, trước khi tiểu đoàn vào vùng. Chuẩn úy Gấm, Chuẩn úy Trung, hai ông Chuẩn úy Phước (Lê văn Phước, Nguyễn văn Phước) cùng Trung úy Phước (Trần văn Phước) thất lạc trên đường rút lui từ Hố-Nai về Long-Bình ngày hôm qua. Từ nửa khuya, những đơn vị đồn trú ở Long-Bình đã bắt đầu theo cơ giới rút đi.
Lúc tôi tới Cầu Hang thì những vị tu hành áo vàng của ngôi chùa Theravada bên kia lộ đang lên xe chạy về hướng Sài-Gòn. Giờ này họ đã quay trở lại. Họ trở lại chùa, vào phòng, khóa chặt cổng ngoài. Có một điều lạ lùng, khác với những lần rút lui từ Quảng-Đức và từ Long-Khánh, đó là, trong lần rút bỏ Biên-Hoà này, tôi không thấy dân chúng bồng bế nhau chạy theo quân đội. Chiếc xe nhà binh sau cùng di chuyển qua Cầu Hang đã khuất bóng từ lâu. Khoảng tám giờ sáng thì không còn ai đi sau chúng tôi nữa. Sau lưng chúng tôi, thành phố Biên Hòa có lẽ đã rơi vào tay Cộng Quân. Trước mắt chúng tôi là quốc lộ 1, dài mút mắt, hướng Sài-Gòn. Cuối trời hướng tây có từng cột khói đen cuồn cuộn bốc lên. Trong vài túp lá, quán cóc bên đường xe lửa, xác những người bạn Nhảy Dù chết cách đó một vài ngày còn nằm trên sạp tre. Họ đã hi sinh khi nhổ chốt địch để lấy lại đoạn đường quanh Cầu Hang. Tôi không còn tâm trí đâu mà lo chôn cất cho những người bạn đã kiêu dũng nằm xuống này. Chính tôi cũng không rõ số phận chúng tôi sẽ như thế nào trong vài giờ sắp tới.
Mười giờ sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975. Tôi thẫn thờ rời cái quán cóc bên đường. Chiếc xe Jeep của Thiếu tướng Lê minh Đảo, Tư lệnh Sư Đoàn 18 BB đã khuất dạng nơi khúc quanh có vườn cây xanh, về hướng Thủ-Đức. Tư lệnh đã quay lại tìm tôi, nhưng giây phút cuối cùng, chúng tôi không kịp gặp nhau. Vào giờ phút này, trên máy thu thanh, ông Dương văn Minh đang oang oang ra lệnh cho chúng tôi buông súng. Ông Dương văn Minh gọi kẻ thù của chúng tôi là “những người anh em”. Chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ, buổi sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh Việt-Nam hai mươi năm đi vào trang chót. Đứng trên đường tà vẹt, tôi bàng hoàng, ngỡ ngàng tự hỏi:
– “Có phải ta đang trong cơn ác mộng hay không?”
– “Sao chiến tranh lại có thể kết thúc một cách đột ngột, vô lý, và thê thảm như thế này?”
Chua xót thay! Tôi không mơ. Tôi đang sống với thực tế phũ phàng. Thằng Y Don Near nắm chặt sợi dây ba chạc của tôi, nó khóc sướt mướt:
– “Thiếu tá ơi! Sao lại thế này? Thiếu tá ơi! Hu…hu …hu…”
Vào Nơi Lửa Đạn
Từ chiếc máy PRC 25, trên lưng nó, trong tần số liên đoàn, có nhiều giọng đàm thoại lạ. Những hiệu đài không quen, gọi nhau, chửi thề, quát tháo, than van…
Trước mắt tôi, bên kia đường, lá cờ ngũ sắc trong sân chùa bay phất phới. Hai bên quốc lộ, những bộ rằn ri còn bố trí, thế tác chiến sẵn sàng. Những người lính Biệt Động đang chăm chú nhìn cấp chỉ huy của họ. Họ nhìn tôi với ánh mắt của những đứa con nhỏ đang nép mình trong lòng mẹ, vào những buổi ngoài trời giông bão, mịt mù sấm sét. Cảnh này quen thuộc lắm. Những khi tình hình nghiêm trọng, thuộc cấp của tôi thường chờ đợi quyết định của tôi với những cái nhìn kính cẩn, tin tưởng và thương yêu như thế này. Trong mười năm chiến trận, đã có đôi lần tôi bị bỏ lại đàng sau. Đôi lần đơn vị tôi bị dồn vào tình trạng vô cùng nguy khốn, thập tử nhứt sinh, nhưng thấy con chim đầu đàn còn hiện diện, những người lính dưới quyền tôi vẫn không xiêu lòng, không bỏ vị trí. Nhưng sáng nay, trước mắt họ, người chỉ huy của họ đã trở thành một hình nhân, bất động. Thực sự, tôi không biết phải làm gì bây giờ. Radio chỉ có một chiều; tôi chỉ nghe được; không trả lời được; không hỏi lại được. Có ai cho tôi biết ông Dương văn Minh lên chức Tổng thống lúc nào đâu? Tôi biết hỏi ai rằng ông Tổng thống này là thiệt hay giả? Theo tôi biết, ông tướng này, sau khi giết cụ Diệm để tiếm chức, đã bị các nhóm khác hất cẳng về vườn lâu rồi. Sao tự nhiên ông ta trở thành Tổng thống VNCH được nhỉ? Sao một thường dân có thể lên làm Tổng thống dễ dàng thế nhỉ? Đùng một cái, sáng nay, ông ta ra lệnh cho tôi buông súng. Đầu hàng? Đầu hàng cách nào? Đầu hàng ở đâu? Đầu hàng với ai? Giữa đồng không, tôi đứng chết trân. Mặt trời lên, thày trò chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau. Những bàn tay đen đủi Bana, Jarai, Rhadé đưa lên quệt nước mắt.
Hướng Tân-Uyên có tiếng trống múa lân thùng! thùng!…thùng… thùng… nghe lớn dần… lớn dần. Tới Cầu Hang, đoàn múa lân quẹo phải, về tây. Tôi thấy một cán binh Cộng-Sản vai quàng AK, vác lá cờ Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam đi đầu, tiếp đó là cái đầu lân nhảy múa, rồi một đoàn người điên cuồng, la hét, hoan hô, đả đảo, nối theo sau. Tiếng loa vang vang,
– “Hoan Hô Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam!”
– “Hoan hô!…Hoan hô!”
Thùng… thùng… Hoan hô… Hoan hô… Thùng… thùng… Tiếng loa và tiếng trống lân dập dồn theo gió. Lá cờ Giải-Phóng khổng lồ, xanh đỏ, uốn éo trong gió.
– “Đù má tụi mi! Tụi mi chọc giận ông phải không?” Chửi thề xong, ông Hạ sĩ Phi xả hết một dây đạn M60 về hướng đoàn múa lân. Chỉ là bắn dọa. Đạn bay cao. Đoàn múa lân như ong vỡ tổ, chạy tán loạn. Chiếc đầu lân bị vứt chỏng chơ giữa đường. Thằng VC vác cờ cũng quăng cờ, bò lê, bò càng tìm chỗ tránh đạn.
– “Thôi! Ta đi!” Tôi ra lệnh cho những người lính cuối cùng của đơn vị.
– “Thì cứ đi về hướng Sài-Gòn, tìm xem có ai ở đâu đó, mình nhập vào với họ.” Tôi trả lời Thủy. Mà chính tôi cũng chẳng biết mình sẽ dẫn đơn vị đi về đâu! Không mục tiêu, chúng tôi đi rất chậm.
– “Thùng… thùng…hoan hô…hoan hô”. Chúng tôi đi được chừng nửa cây số thì đoàn múa lân lại tiếp tục theo sau lưng.
– “Hoan hô! Hoan hô cái mả cha tụi mi!” Hạ sĩ Phi lại đổ quạu.
– “Cành! Cành! Cành… cành… cành! Cành!” Một dây đạn đại liên M60 lại quét ngược về đàng sau. Vẫn chỉ là bắn dọa. Đạn bay cao. Thằng VC vác cờ lại vội quăng cờ núp đạn. Cái đầu lân lại bị ném chỏng chơ trên mặt đường. Đoàn múa lân lại tán loạn chạy chết. Chúng tôi tiếp tục lê gót theo đường, về hướng Sài-Gòn. Cứ đi được vài trăm mét, chúng tôi lại dừng chân nghỉ mệt. Có mục tiêu nào cho chúng tôi tìm tới đâu mà phải vội vàng? Khi đi ngang khu núi đá vôi Bửu-Long thì thằng Don đưa ống nghe cho tôi:
– “Có Hai Lẻ Bảy (207) gọi Thái Sơn!”
Tôi nghe tiếng Trung tá Hoàng kim Thanh, Liên đoàn trưởng LĐ24/BĐQ:
– “Thái Sơn! Đây Hai Lẻ Bảy! Anh cho hai chiếc xe tới đón chú và con cái về Đường-Sơn Quán. Các đơn vị đang tập trung ở đây chờ lệnh!”
Giọng anh Thanh vẫn bình tĩnh, từ tốn, không có vẻ gì là lo lắng.
Nghe ba tiếng “Đường-Sơn Quán”, tôi chợt nhớ thời 1971-1973, ở BCH/BĐQ/QK2 có một biệt đội Biên-Vụ (Viễn Thám) do tôi thành lập, huấn luyện, và trực tiếp chỉ huy. Sáu toán Biên-Vụ trang bị AK, dép râu, nón tai bèo, nghênh ngang, xuôi ngược trên các tuyến đường Hồ chí Minh, dọc theo biên giới Việt, Miên, Lào, trong căn cứ địa 609, 613, 701, 702, 740. Những cú nổ mìn phá ống dẫn dầu, phá xe tải, bắt cóc cán binh, dọc Trường-Sơn Đông, phá Ngầm 24 trên sông Sésan là một mối đe dọa kinh hoàng hàng ngày đối với đoàn quân xâm lăng vào từ phương bắc. Chuyện chúng tôi xuất, nhập các mật khu, huấn khu địch, xảy ra như cơm bữa. Những tay súng dưới quyền tôi cũng yêng hùng, ngang tàng như các hiệp sĩ trong phim Hồng-Kông. Họ quen gọi tôi là “Anh Hai”. Bất cứ giờ nào, dù đang lội trong rừng gai mây Plei-Trap Valley hay trong rừng khọt Nam Lyr (Cambốt), họ vẫn nghe được tiếng “Anh Hai” của họ, từ một đỉnh núi cao nào gần đó. Thỉnh thoảng, “Anh Hai” lội rừng chung với họ để thi hành những nhiệm vụ gay go do Quân-Đoàn 2 giao phó. Tôi và họ, thương nhau như anh em cùng mẹ, cùng cha. Khi cuốn phim “Đường-Sơn Đại-Huynh” được chiếu trên màn ảnh các rạp Diệp-Kính, Diên-Hồng, Thanh-Bình, ở Pleiku, thì đàn em của tôi gán cho tôi biệt danh “Đường-Sơn Đại-Huynh” chỉ vì tôi có cái tên Long, trùng với tên ông Lý tiểu Long, tài tử chính của phim này. Sau khi “Anh Hai” vào Plei-Me nhận Tiểu đoàn 82/BĐQ/BP, đơn vị này bắt đầu đánh giặc với cái phong thái “Đường Sơn” khiến quân thù vừa nghe tên đã khiếp vía… Tôi ở Cao-Nguyên mút mùa, làm sao biết được ở Sài-Gòn cũng có cái quán được đặt tên như trong phim võ hiệp của Tàu? Tôi mở miệng định hỏi anh Thanh tọa độ của Đường-Sơn Quán thì máy liên đoàn đã cúp. Tôi đành cho anh em ngừng lại bên đường, chờ đợi. Chừng nửa giờ sau, hai chiếc xe be từ hướng Thủ-Đức chạy lên. Xe ngừng, ông tài xế ló đầu ra lớn tiếng hỏi,
– “Có phải Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đó không?”
– “Phải rồi! 82 đây!”
– “Lên xe đi! Tôi chở các ông về Đường-Sơn Quán!”
– “Có ai ở đó không?”
– “Đông lắm! Có lẽ các ông là những người tới sau cùng”
Xe trở đầu, chúng tôi lên xe. Tôi, Trung úy Trâm và thằng Don ngồi trên cabin chiếc xe đi đầu. Chú Thủy và chú Thiều đi xe sau. Thành xe be thấp hơn thành xe GMC, không có thế để đứng, những người lính đành phải ngồi chồm hổm. Ông tài xế xe be, cười rất tươi,
– “Hòa bình rồi! Hòa bình rồi! Hết đánh nhau rồi các anh ơi!”
Tôi là một người lính nhà nghề, nên dù cho “hòa bình” có ở ngay trước mắt, hiệu lệnh phản phục kích xe vẫn được tôi ân cần nhắc nhở cho thuộc cấp. Hai khẩu M60, một của Hạ sĩ Phi, một của Trung sĩ Tài, được đặt trên nóc buồng lái của hai chiếc xe be.
Xe đang bon bon trên con lộ vắng thì khựng lại, bò từ từ. Trên mặt lộ, đàng xa, có người dang tay phất phất lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, ra hiệu cho xe chạy chậm lại. Tới gần, tôi nhận ra một du kích Việt- Cộng, quân phục xanh, mũ tai bèo, dép râu. Tên du kích cột lá cờ trên cánh tay phải, cờ phất lia, phất lịa. Tay trái nó dương họng khẩu AK 47 hướng vào đầu xe của tôi. Xe vừa ngừng thì hai bên đường có tiếng la,
– “Bắn! Bắn!… Không cho đứa nào chạy thoát!”
Rồi thì tiếng súng đủ loại rộ lên. Những người lính Việt-Nam Cộng-Hoà trên hai chiếc xe be vừa ngừng trên mặt quốc lộ trở thành những cái bia sống. “Hòa bình” rồi. Tại sao người ta nỡ đang tay giết chúng tôi, khi chúng tôi đang trên đường về điểm tập trung để buông súng?
– “Choác! Choác! ….Choác!”
Gian Lao
Tôi tối tăm mặt mũi vì loạt đạn bất ngờ. Tấm kiếng che gió của chiếc xe tôi đang ngồi lãnh cả chục viên AK của loạt đạn đầu tiên. Mảnh thủy tinh văng rào rào trên đầu, cổ, mặt mũi tôi. Ông tài xế gục trên vô lăng. Thùng nước xe bể, hơi nước phun “phì…phì…” che kín đầu xe. Tôi phóng nhanh xuống đường. Sau một cái lạng mình, tôi đã ở đàng sau thành xe. Tôi rút khẩu Colt 45, vẩy một viên về hướng thằng du kích. Viên đạn trật mục tiêu. Một BĐQ vừa nhảy khỏi xe, té trên mặt đường. Hình như anh ta bị trúng đạn, không ngồi dậy được. Tôi giựt khẩu M16 trên tay anh,
– “Đưa tao!”
Tôi kéo cơ bẩm. Đạn tuôn ra khỏi nòng. Tên du kích giãy giụa trên vũng máu. Lá cờ Mặt-Trận phủ trên mình thằng du kích. Tôi ghếch mũi súng về lề phải con đường, nơi hàng chục họng AK và B40 đang đua nhau nã đạn vào hai chiếc xe be. “Oành!”. Một trái B40 nổ ngay trước mặt tôi. Tôi cảm nhận rõ ràng nhiều mảnh B40 và đá, sỏi đã ghim vào cẳng mình. Chủ nhân khẩu M16 mà tôi đang xử dụng bị bay mất cái đầu. Máu từ cổ anh xịt thành vòi; phần thân thể còn lại của anh giựt giựt trên mặt lộ. Khẩu B40 cách tôi chỉ vài sải tay, ngay bên kia đường. Tôi nhắm đầu thằng xạ thủ B40 quạt một tràng M16. Ngón tay tôi tiếp tục siết cò. Địch đông lắm. Chúng đứng lố nhố trong vườn có những luống đậu, dây leo. Một băng đạn ria đại vào đây cũng có thể hạ gục cả chục tên. Chúng tôi không dự trù sẽ vướng vào một cuộc giao tranh vừa bất ngờ vừa điên cuồng này. Chúng tôi ở vào cái thế không biết xoay trở cách nào để phản công. Thôi, đành liều mạng! Ai đang ở đâu nằm tại đó, chống trả. Cũng may, đêm qua, ở Long-Bình, chúng tôi có cả kho đạn lận lưng cho ngày hôm nay.
Đạn địch từ hai bên đường trước mặt tôi tưới như mưa vào những người lính còn đứng trên xe. Những thân hình rằn ri rơi rụng xuống mặt lộ. Có người chân vừa chạm đất, đã lăn ra chết. Có đôi người vừa nhảy ra khỏi sàn xe, còn lơ lửng trên không, tay đã bóp cò, nã đạn về hướng địch. Hầu như ai cũng lo bóp cò. Không ai để ý đến thân thể mình đã trúng thương nơi đâu. Hạ sĩ Đinh Lít nằm nghiêng dưới gầm xe, tay trái anh đã trúng đạn, xuội lơ, tay phải ôm cứng khẩu M16. Anh nằm trên vũng máu, mặt anh tỉnh như không. Mặc cho đạn địch cài dày dặc xung quanh. Với một tay còn lại, anh liên tục bắn hết băng đạn này, tới băng đạn khác. Lựu đạn miểng, lựu đạn nổ, lựu đạn cay, B40, M72, chớp nhoá, “Cành! Cành!…” – “Choác! Choác! … ” – “Xoẹt! Xoẹt!…” – “Oành! Oành!..” Hai bên đường, địch vẫn tiếp tục ào ra. Xác Việt-Cộng đè lên nhau từng lớp, ngổn ngang.
– “Cành! Cành! Cành!…” Trên xe, Hạ sĩ Phi vừa rải từng tràng M60 về phía quân thù, vừa la rú như người mất trí,
– “Đù má tụi mi! Chết cùng chết! Ông chết! Tụi mi cũng chết!”
Trưa Ba Mươi tháng Tư, trên đoạn cuối của quốc lộ 1, một cuộc hỗn chiến loạn đả xà bần đã diễn ra giữa thanh thiên, bạch nhựt. Dân chúng tràn ra đường, xem hai bên đánh nhau. Có đôi ba người dân thường, liều mạng chạy vào khu giao tranh, mang vác những Biệt Động Quân bị thương đem đi cứu cấp. Khẩu đại liên của Trung sĩ Tài trên xe thứ nhì đã được di chuyển xuống lề đường. Điều lạ là, hai phụ xạ thủ của Tài lại là hai em bé trai, tuổi khoảng mười hai, mười ba. Như vậy có nghĩa là, người phụ xạ thủ và tải đạn của Tài đã bị loại ra ngoài vòng chiến. Đạn nổ rền trời. Đạn bay qua. Đạn bay lại. Việt-Cộng chết. Biệt Động Quân chết. Dân chúng cũng chết! Những người lính Biệt Động cuối cùng của Plei-Me, vùng 2, ruột đổ lòng thòng vẫn ôm súng bắn như khùng, như điên. Hết đạn, những con cọp giãy chết đành dùng tất cả những gì cha mẹ ban cho để tự vệ: Nắm đấm, gót chân, đầu gối, khuỷu tay và cả…răng cũng được xử dụng. Trong phút giây tuyệt vọng, những chiến sĩ Việt-Nam Cộng-Hoà lăn xả vào địch, la hét, vật lộn, đấm đá, cào cấu, cắn xé… Binh nhứt Liêu chí Cường (gốc Chợ-Lớn) trước khi chết, còn cố ôm cứng một thằng địch để cắn vào mặt nó . Tôi biết chắc người đó là chú Cường, vì cái khăn len xanh cố hữu, bốn mùa quấn trên cổ chú (cái khăn của người tình phụ).
Tôi đã bắn hết số đạn mang theo trên lưng người lính nằm chết dưới chân tôi. Tôi vừa rướn người, quơ quào được một băng M16 trên sàn xe thì đạn 12,7 ly của địch từ xa ào ào bắn tới. Có tiếng trung úy Trâm thét lên, bên hông trái xe,
– “Thái Sơn ơi! Hình như tank tới!”
– “Làm gì có tank! Chỉ có 12,7 ly thôi!”
Đạn phòng không của Việt-Cộng quét sát mặt đường nhựa, toé lửa khi nổ lần thứ hai. Những viên 12,7 ly nổ “đúp” (hai lần), chui qua thân người bị đạn, hất thân mình người đó lên khỏi mặt đất, đục những lỗ to như bàn tay trên thân thể nạn nhân. Trên mặt lộ là cả chục xác Biệt Động Quân không toàn thây. Khẩu M60 của Hạ sĩ Phi đã gãy nát. Hạ sĩ Phi vỡ óc. Hạ sĩ Đinh Lít cũng vỡ óc. Sáu bánh xe be xẹp lép. Chiếc xe nằm bẹp xuống mặt đường. Trên sàn xe, trên mặt lộ, chỗ nào cũng ngập máu. Máu đọng thành vũng, máu chảy tràn xuống ruộng. Bên tôi, không còn khẩu M16 nào hoạt động. Những Biệt Động Quân đi trên xe thứ nhứt có lẽ đã chết gần hết. Những người đi trên xe thứ nhì đang là mục tiêu cho khẩu 12,7 ly. Tôi thấy họ rút vào ruộng mía bên phải quốc lộ. Đám dân đứng xem đánh nhau, bị trúng đạn cũng nhiều.
Súng của tôi lại hết đạn rồi. Tôi trườn ra giữa đường để nhặt khẩu AK và giây đạn của tên du kích. Khẩu đại liên của Trung sĩ Tài đã gãy làm đôi. Hai em bé tải đạn cho Tài đều chết vì trúng đạn 12,7 ly. Trung sĩ Tài đang lăn lộn trên vũng máu. Tôi lăn mình vài vòng, tới bên Tài. Tài nhìn tôi, thều thào,
“Chạy đi!… Ông thày… chạy đi!…”
Tôi định xốc Tài lên để dìu anh vào lề đường thì hai mắt anh đã lạc. Đạn bay xém bên mình tôi, nổ “toang toác!” trên mặt lộ. Chợt ai đó nắm sợi dây ba chạc sau lưng tôi, lôi tôi chạy về bờ ruộng bên trái quốc lộ.
– “Anh em chết hết rồi. Chạy đi, thày ơi!” Đó là tiếng Trung úy Trâm.
“Toác! Toác!” – “Chíu! Chíu!” đạn địch đuổi theo. Tôi cắm đầu chạy. Chạy được một đỗi thì tôi đuối sức, lảo đảo. Trâm bèn ghé vai, vác tôi lên lưng. Trâm khỏe như một đô vật. Trâm cõng tôi, nhanh chân lẩn vào rặng dừa bên trái lộ. Hết vạt dừa, Trâm đặt tôi xuống đất. Chúng tôi lội trên mảnh ruộng vừa gặt xong. Chân tôi vướng gốc rạ. Tôi ngã bổ nhào trên mặt ruộng. Trên mặt ruộng có những đồ chơi của trẻ con vương vãi đó đây. Một con búp bê bằng nhựa, một cái xe hơi bằng nhựa, những chén bát nhỏ tí, cũng bằng nhựa, màu mè xanh đỏ. Tôi chợt nhớ tới gia đình vợ con tôi ngoài Ban Mê Thuột. Chắc vợ con tôi đã chết hết. Tôi nghĩ tới đất nước tôi. Đất nước tôi đã mất. Đơn vị tôi đã tan tác. Một phút bất thần, phẫn uất, tôi rú lên như con thú,
– “Ôi!… Ôi!… Ông Trời ơi!… Ông Trời ơi! …ơi. ..ơi…”
Tôi rút khẩu súng Colt ra, kê nòng súng vào mang tai mình, bóp cò. Bàn tay như sắt nguội của Trung úy Trâm phạt ngang một cú Karaté. Viên đạn bay lên trời. Khẩu Colt văng trên mặt ruộng.
– “Trâm ơi! Làm ơn! … Cho anh chết! Trâm ơi!…” Nước mắt dàn dụa, tôi thất vọng, van lơn. Chẳng nói chẳng rằng, Trung úy Trâm lầm lì, xốc vai tôi bước đi. Ngoài lộ vẫn còn lác đác tiếng đạn bắn qua, bắn lại và tiếng lựu đạn nổ. Trâm lột sợi dây ba chạc của tôi, của anh, mũ sắt của tôi, của anh, vứt trên một gò mả. Trâm từng bước dìu tôi về hướng xóm làng gần đó. Giờ đó tôi như con sên yếu đuối, mặc cho chú Trâm tha lôi đi đâu thì đi. Chúng tôi vừa đụng đầu một con lộ đất thì một nông dân đạp xe tới chặn đường,
– “Ông thiếu tá bị thương hả?”
Thói quen, ngược đời, đi trận tôi thường đeo lon trắng. Về nhà tôi lại đeo lon đen. Người dân đã nhìn thấy cặp lon trắng của tôi. Ông cụ có vẻ động lòng,
– “Ông trung úy lấy xe này đưa thiếu tá chạy đi! Luẩn quẩn ở đây lâu không tốt đâu!”
-“Cám ơn cụ!” Trâm lanh tay nhận chiếc xe đạp thồ từ tay người dân tốt bụng.
Con lộ đất dẫn tới một văn phòng Hội Đồng Xã, cửa đóng, khóa ngoài. Rồi con lộ đất dẫn vào một ngôi nhà thờ xứ đạo. Trong sân nhà thờ, lố nhố nhiều người đang tập trung. Một cái rờ-moọc xe GMC chất đầy súng ống nằm ngay giữa sân. Đó đây, từng đống quân trang, quân phục VNCH vừa bị cởi bỏ. Trâm dựng cái xe đạp ngay giữa sân. Chú đứng quan sát một phút, rồi thở dài,
– “Cởi quân phục vứt đi thì chỉ còn cái áo mayor với cái quần xà-lỏn. Mình làm sao đây, Thái Sơn?”
Tôi rờ rẫm những khẩu M16 trên chiếc rờ-moọc, “Lên đạn. Dựng khẩu súng thẳng đứng. Đưa nòng súng vào dưới cằm. Lách ngón chân vào cò súng. Nhấn ngón chân xuống. Thế là xong!” Tôi đang suy nghĩ, sắp thử một cú tự giải thoát nữa, thì chú Trâm van lơn,
Trung úy Trâm ôm chặt vai tôi, khóc nức nở như một đứa bé. Thày trò tôi ôm nhau. “Hu … hu… hu….” Những người đứng gần đó, bị nỗi đau đớn chung lôi cuốn, cũng ôm mặt khóc theo. Như giữa đám ma, cả một khu sân nhà thờ xứ đạo vang lên tiếng khóc. Một đám ma không có người chết, mà những người đang đứng đây, chẳng có họ hàng gì với nhau, nhìn nhau, ôm nhau, cầm tay nhau, chúng tôi khóc vùi.
Một thanh niên cưỡi chiếc Honda 90 từ hướng quốc lộ 1 phóng tới. Anh kè sát bên tôi, nói nhỏ:
– “Thiếu tá lên xe, em chở đi trốn.”
Trâm đẩy tôi lên yên sau xe, chú leo lên theo.
– “Chúng nó (VC) chết nhiều lắm! Chúng nó bắt được mấy anh lính bị thương, tra khảo họ xem cấp chỉ huy của họ là ai, đâu rồi? Họ khai có ông thiếu tá, chắc chết rồi. Chúng kiểm xác chết. Không có xác thiếu tá. Chúng đang túa đi lùng. Em sẽ đưa thiếu tá đi dấu. Không để cho chúng nó bắt.”
Xe chạy trong đường làng quanh co một đỗi thì ngừng. Anh thanh niên dựng xe, đập cửa một căn nhà gỗ, mái dừa,
– “Mẹ ơi! Con đây! Hải đây! Mẹ mở cửa cho con!”
Cánh cửa hé mở, một bà già, tiếng Bắc Di Cư:
– “Đánh nhau, súng nổ ầm ầm mà mày cứ nhơn nhơn ra đường. Về nhà đóng cửa lại cho tao đỡ lo!”
– “Vâng con về ngay. Mẹ cho con gửi hai anh này. Có ai hỏi, mẹ cứ nhận là hai con của mẹ. Anh Cả, anh Hai đi lính vắng nhà lâu rồi, chòm xóm không nhớ mặt đâu! Mẹ làm ơn, làm phúc. Con đi một chút nữa con về ngay. Mẹ đừng lo!”
Bà mẹ nhìn tôi và Trâm, bà biết ngay hai đứa chúng tôi là sĩ quan QLVNCH đang bị truy đuổi. Bà cụ không dài dòng hỏi han. Cụ đưa tay chỉ cho tôi cái tủ đứng góc nhà,
– “Hai đứa lấy quần áo ‘si-vin’ của thằng Hải mà mặc vào ngay đi! Đưa quần áo nhà binh cho tao đi dấu!” Thoáng chốc, tôi và Trâm thành hai anh dân sự. Bà cụ Bắc Kỳ đã chôn hai bộ rằn ri dưới bùn ruộng muống sau nhà.
Trước sân, anh thanh niên (Hải) con bà cụ đang bơm lốp xe. Tôi và Trâm ngồi uống nước vối nóng, nghe ngóng động tĩnh. Chợt, ngoài đường có tiếng đối đáp,
– “Anh kia! Anh có thấy hai thằng lính rằn ri Ngụy chạy qua đây không?” một giọng Nghệ-Tĩnh gặng hỏi.
– “Có! Chúng nó chạy thẳng sang hướng Thủ-Đức. Đấy! Con đường quẹo phải! Chổ cây dừa nghiêng…”
Tên Việt-Cộng chỉ huy liếc mắt vào trong nhà. Thấy tôi và Trâm, nó hỏi trống không,
– “Chứ hai anh kia làm chi rứa?”
– “Anh Cả và anh Hai của tôi đó!” Hải nhanh miệng.
– “Thưa ông, hai thằng con tôi đi lính ngoài miền Trung. Tụi nó mới đào ngũ về nhà được mấy tuần. Xóm này ai cũng biềt.” Bà cụ phân trần.
Thằng Việt-Cộng hết nghi, quay sang đồng bọn, nó ra lệnh,
– “Nhanh lên! Đuổi theo chúng nó nhanh lên! Hướng cây dừa nghiêng. Đừng cho chúng nó chạy thoát! Các đồng chí cẩn thận đấy! Tụi nó có súng!”
Rồi tiếng chân người huỳnh huỵch chạy đi, xa dần. Bà già lấy khoai lang luộc đưa cho chúng tôi ăn đỡ lòng. Anh Hải rồ máy xe. Nửa giờ sau anh trở về,
– “Thiếu tá đi được rồi! Quân của chúng nó đi hết rồi.”
– “Hai con có còn tiền để đi xe về quê không? Nếu không mẹ cho!” bà cụ ân cần.
– “Cám ơn bác. Chúng cháu còn tiền đây. Chúng cháu mới lãnh lương. Mải lo đánh nhau, chưa tiêu đồng nào.” Tôi cảm động nói không nên lời. Bà già nhìn chúng tôi, ánh mắt bà chứa ẩn một tấm tình thương xót bao la.
– “Thưa Mẹ! Con đi!”
– “Thưa Mẹ! Con đi!”
– “Anh đi nhé, Hải! Cám ơn Mẹ và em vô cùng!”
Lần đầu tôi gọi một người không sinh ra tôi là Mẹ. Tôi gọi bà là Mẹ, không ngại ngùng, như thể bà đã là Mẹ tôi, đã sinh ra tôi. Tôi và chú Trâm bước ra vườn sau, theo bờ ruộng rau muống, leo lên con lộ đá đi về hướng Thủ-Đức. Tôi biết sau lưng tôi, Mẹ và chú Hải còn trông theo.
Hai đứa tôi nhanh chân nhập vào dòng người hướng về Thủ-Đức. Chợt sau lưng tôi có tiếng gọi, “Thái Sơn ơi! Trâm ơi!” Thì ra người gọi chúng tôi là Thiếu úy Trần văn Thủy. Ba thày trò tôi không dám lớn tiếng hỏi han nhau về những gì đã trải qua. Chúng tôi đi như những người dân chạy loạn đang tìm đường về nhà, sau khi im tiếng súng. Chúng tôi vào Thủ-Đức. Nhà nhà, cửa đóng kín mít. Vài chiếc xe Cảnh-Sát cháy dở dang. Vài tiệm buôn bị đốt phá. Trong phố đã xảy ra cướp bóc, hôi của. Cổng Trung-Tâm Cải-Huấn Thủ-Đức mở toang. Sân nhà lao vắng tanh. Tội phạm mới ra khỏi khám đang lộng hành (?) Nhiều người tay mang băng đỏ chở nhau trên Honda, trên xe Ford Cảnh-Sát. Xe chạy nhanh như bay, qua lại nhiều lần trên đường phố. Tới chợ Thủ-Đức, chúng tôi may mắn đón được chiếc xe Lamb chạy đường Thủ-Đức, Thị-Nghè, giá sáu trăm đồng một người. Chiếc xe Lamb bò ì ạch vì quá tải. Xe chúng tôi qua mặt từng đoàn người bận quần đùi, áo thun, chân đất, đang chen vai nhau, đi về hướng thủ đô. Tôi nhận ra, trong đoàn người áo thun, quần xà lỏn đang đi dưới đường, có Thiếu tá Nguyễn hữu Tài, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 81 Biệt Động Quân. Có lẽ anh ta cởi bỏ quân phục nơi Đường-Sơn Quán (?)
Còn cách ngã ba xa lộ Đại-Hàn chừng hơn trăm mét, chúng tôi phải xuống xe đi bộ vòng qua một khu ao cá và ruộng nước bên trái quốc lộ, vì giữa đường có một chiếc tank T54 đang cháy. Có vài cán binh Cộng-Sản Bắc-Việt ôm AK chặn không cho bộ hành và xe cộ qua lại đoạn đường này. Lội hết vạt ruộng thì thày trò tôi tới xa lộ Đại-Hàn. Lúc này, trên xa lộ, tank T54 và xe chuyển quân của CSBV đang nối đuôi nhau hướng về Sài-Gòn. Sau khi cuốc bộ một đỗi, chúng tôi tới cây cầu đúc. Qua cầu, chúng tôi lẫn trong biển người xuôi ngược.
Chúng tôi về tới Thị-Nghè thì mặt trời xế bóng. Giữa cầu Thị-Nghè là một chiếc M41 đứt xích vì B40.
Chiếc chiến xa nằm bẹp, bụng xe đè sát mặt cầu. Trên pháo tháp, có vết máu đã khô, nhưng không thấy xác người chết. Bên cạnh đó, vương vãi vài bộ quân phục Việt Nam Cộng Hòa, dây đạn, nón sắt, ba lô…
Tôi không dám về nhà mẹ tôi, sợ trong lúc tình hình lộn xộn, chòm xóm biết mình là sĩ quan QLVNCH, sinh chuyện không hay. Để hai người đàn em chờ trên cầu, tôi đi kiếm nhà người quen, xin cho chúng tôi tá túc. Nhà anh bạn Nguyễn gia Hân của tôi nằm ngay chân cầu. Bạn tôi là sĩ quan Cảnh-Sát, Trưởng đoàn phòng vệ Toà Đại-Sứ Hoa-Kỳ. Nhà khóa cửa. Có lẽ gia đình bạn tôi đã di tản rồi. Tôi trở lại cùng Trâm và Thủy. Qua cầu, chúng tôi tiếp tục đi. Bây giờ, trong phố, người qua lại nườm nượp. Bên lề đường, sát tường rào Sở Thú, những người đi hôi của đang bày bán đủ thứ, chăn màn, quần áo, chén bát, sách truyện, tranh ảnh, rượu bia…
Quên đời? Chỉ còn cách uống rượu. Năm trăm đồng một chai Hennessy. Ba thày trò tôi kẹp nách mỗi người một chai. Tôi vẫy tay chận một chiếc xích lô máy để vào Chợ-Lớn, về nhà Trung úy Trần văn Phước; vừa có nơi lạ để nghỉ qua đêm; xóm giềng không biết mình là ai; vừa tìm xem chú Phước còn hay mất. Chiều rồi, nhưng nhà chú Phước còn mở cửa. Trước nhà là cái bảng hiệu “Chiêm-Tinh Gia Trần-Cẩm, Chuyên Bói Bài, Coi Chỉ Tay, Đoán Vận-Mệnh”. Bác Cẩm là thân sinh của chú Phước. Xe ngừng, tôi vừa bước xuống đất thì Phước từ trong nhà ào ra ôm chầm lấy tôi, “Ôi! Anh Hai! Anh Hai! Mừng quá! Anh Hai ơi!” Thì ra trong cuộc lui binh dưới mưa pháo ngày 29 tháng Tư, Phước bị tụt lại đàng sau, mất liên lạc với tiểu đoàn. Phước không biết chúng tôi rẽ vào Long-Bình. Phước đi thẳng một lèo, theo xa lộ về tới Sài-Gòn. Đêm 30 tháng Tư bốn anh em tôi ngồi bên nhau, cạn ba chai rượu. Chú Thủy cho tôi biết rằng, ngay đợt tấn kích đầu của địch, chiếc xe thứ nhì đã bị thương và chết khá nhiều. Nhiều BĐQ bị thương đã được dân chúng di tản đi cứu cấp. Thiếu úy Thủy đã cố gắng mở một mũi bọc hông phải để giải tỏa áp lực địch nhưng không thành công, vì địch quá đông. Đến lúc khẩu phòng không 12,7 ly của địch tham chiến thì Thủy cho anh em phân tán chạy vào nhà dân. Sau đó Thủy được dân chúng cưu mang, cho quần áo cải trang rút chạy. Chú Thủy nói, hình như chú Thiều bị thương ngay từ phút đầu, không rõ số mệnh ra sao. Sáng Mồng Một tháng Năm 1975, tôi cho Thủy và Trâm một số tiền để làm lộ phí về quê. Từ dạo ấy, anh em chúng tôi không còn dịp gặp lại nhau nữa.
Thời gian trôi . . .
mười ba năm sau, cũng vào ngày Ba Mươi tháng Tư, đầu làng, cuối xóm, rợp bóng cờ đỏ sao vàng. Nơi nơi, loa vang vang, bài ca “Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh”. Có một anh Bắc-Kỳ, tuổi lửng lơ, nửa già, nửa trẻ, đạp xe thồ, đèo theo một cái giỏ, đi rao bán cá khô trong khu ngoại ô Thủ-Đức. Tới căn nhà gỗ, mái dừa, anh bán cá khô vừa mở miệng hỏi thăm, một bà người Xứ Quảng đã mau mắn trả lời :
– “Đi rồi! Bán nhà, vượt biên. Năm, sáu năm rồi!”
– “Xin cám ơn bà. Xin cám ơn Trời!” Anh Bắc-Kỳ mừng rỡ. Bà chủ nhà . . . nghệt mặt, giương mắt nhìn anh chăm chăm, mà chẳng hiểu ý anh.
Anh bán cá khô lên xe, đạp từ từ theo con lộ đất. Xe tới cổng nhà thờ. Gác chuông lặng câm. Sân nhà thờ vắng ngắt. Trên thánh giá, Chúa cúi đầu. Không biết Chúa có còn nhận ra anh không? Qua văn phòng Ủy-Ban Nhân-Dân Xã, đến quốc lộ 1, anh quẹo phải, ngừng lại bên đường ngồi nghỉ. Nơi đây chỉ cách Đường-Sơn Quán vài cây số. Cũng ngày này, mười ba năm trước, các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đã tả xung hữu đột trong trận đánh đẫm máu bi hùng cuối cùng. Những người nằm xuống đã sang thế giới bên kia trong quân phục rằn ri, với cái huy hiệu đầu beo, phía trên phù hiệu đó là một bệt tím có chữ số “82″ màu vàng. Trưa nay, có lẽ dân chúng trong vùng còn nhớ tới họ, nên cắm vội bên đường đôi bó nhang, hương khói.
Anh bán cá khô ngồi xẹp trên lề cỏ, rưng rưng,
– “Các chú tha lỗi cho anh…”
Hai bên quốc lộ là rừng bạch đàn. Những cây bạch đàn lớn lên từ lòng đất từng thấm đẫm máu của những anh hùng Plei-Me. Hình như trong gió, thoảng như ru, có tiếng ai, thiết tha, não nuột:
-”Thày ơi! Chạy đi!… Thày ơi!…”
Ngồi bên bìa rừng, đôi mắt Đường-Sơn Đại-Huynh đẫm lệ…
Tôi đã nhờ chiếc thám thính cơ đang bay trên trời đảo quanh vùng để tìm kiếm cánh quân của chú Phiến. Phi cơ báo cáo rằng họ đã nhìn thấy một tiểu đội quân bạn đang trên đường đi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch. Vậy mà mấy ngày sau tôi cũng không có tin tức gì của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Tôi thấy, trong trường hợp này chỉ có ba lý do, một là Thiếu úy Phiến và mấy anh lính đi theo Phiến đã đào ngũ, hai là toán quân này đã bị Việt-Cộng bắt, ba là họ đã bị Việt-Cộng chặn đường giết chết.
Sau khi tản thương, quân số của tiểu đoàn chỉ còn gần 100 người, một phần ba trong số này là những người bị thương nhẹ nhưng tự nguyện ở lại, không lên trực thăng. Trong khi bay ra, bay vào để tiếp tế đạn và di chuyển thương binh, Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa cũng thả cho tôi 90 tân binh nhưng là những Lao Công Ðào Binh Phục Hồi để bổ sung quân số. Với số tân binh này, cùng những quân nhân cơ hữu, tôi tạm thời tổ chức được 2 đại đội tác chiến và một trung đội trừ bị. Mỗi đại đội tác chiến có quân số 80 người. Ðại đội 1 do Thiếu úy Phạm Văn Tô chỉ huy.
Ðại Ðội 3 do Thiếu úy Phạm Ðại Việt chỉ huy. Trung đội trừ bị do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy. Ðại Ðội 2 tạm thời bị giải tán. Bốn giờ chiều, Sư Ðoàn 22 Hành Quân gửi vào một trực thăng để tôi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch gặp mặt một phái đoàn báo chí quốc tế. Tôi nhìn lại thân mình thì thấy mình thảm hại quá!
Trên người tôi tuy còn đủ, nón sắt, dây ba chạc, khẩu súng lục, cái địa bàn và cả tấm bản đồ. Nhưng tất cả áo quần và vật dụng của tôi đều như bị nhúng bùn vừa phơi chưa khô. Giờ này tìm đâu ra quần áo sạch mà thay để ra mắt phái đoàn báo chí? Tất cả quân trang của tôi đều còn nằm trong hầm trú ở Plei Ngol Ho, chắc đã bị Việt-Cộng lấy hết rồi. Thế là, cứ với hình thù lấm lem, đen thui, bẩn thỉu, tôi leo lên tàu.
Vừa rời trực thăng, tôi đã bị hơn chục phóng viên ngoại quốc xúm lại chụp hình rồi phỏng vấn rối rít. Tôi nói với họ rằng tôi phải gặp cấp chỉ huy của tôi trước, rồi mới được phép tiếp chuyện với họ. Phòng thuyết trình của Bộ Tư Lệnh Hành Quân 22 chỉ là một cái nhà bạt lớn dựng sát bên lề Quốc Lộ 14. Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm ra tận cửa đón tôi vào, rồi ân cần giới thiệu:
– Thiếu tá Vương Mộng Long Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa về từ chiến trường sẽ tường trình cho quan khách những gì đã xảy ra trong trận ác chiến vừa qua. Cuộc họp báo này chỉ giới hạn trong thời gian 15 phút, vì sau đó chúng tôi phải trả Thiếu tá Long trở lại trận địa để chỉ huy đơn vị.
Quay qua tôi, ông Tướng Tư Lệnh nói,
– Long có thể tóm lược cho phái đoàn báo chí biết những gì mà em thấy cần.
Thời gian giữ chức Trưởng Phòng 2 của Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 tôi không lạ gì với những buổi thuyết trình trước những phái đoàn quân sự ngoại quốc hoặc báo chí quốc tế. Trong vòng 10 phút tôi đã tường trình hết diễn biến trận đánh đã diễn ra hai ngày vừa rồi. Tôi đặc biệt nhấn mạnh chuyện Việt-Cộng đã dùng hơi ngạt để tấn công đơn vị tôi vì đây là một hành động vi phạm quy ước chiến tranh của Liên Hiệp Quốc.
Tôi thuyết trình bằng tiếng Anh nên không tốn thời gian thông dịch. Sau đó tôi xin phép trở lại đơn vị, vì đơn vị tôi hiện thời đang ở sát địch quân mà lại không có người chỉ huy. Tôi cứ tưởng chỉ có mình tôi leo lên máy bay quay về, đâu ngờ sáu phóng viên với sáu cái máy quay phim cũng lên tàu theo tôi. Về tới vị tri trú quân, tôi nhảy xuống, theo sau là sáu phóng viên chiến trường. Sáu anh nhà báo ngoại quốc tranh nhau chụp hình toàn cảnh trước mắt họ. Phóng viên nào cũng săn đón hỏi han những người lính bị thương. Họ lấy làm lạ, không hiểu vì lý do gì mà cả chục thương binh còn hiện diện ở đây. Tôi nghe tiếng đối đáp bằng tiếng Anh giữa một ký giả và một thương binh có cánh tay trái đã bị quấn băng trắng treo lên cổ là Thượng sĩ Y Khen Nier:
– Anh đã bị thương! Anh không được phép di tản hay sao mà còn ở đây?
– Ông chỉ huy của tôi còn ở lại chiến đấu, vì thế, những người bị thương nhẹ như tôi đã tình nguyện ở lại với ông ta.
Thượng sĩ Khen là người đã hiện diện ở Pleime từ khi căn cứ này mới thành lập. Trải qua 5 năm sống và làm việc với người Mỹ nên ông Khen nói tiếng Anh còn rành hơn là nói tiếng Kinh. Nhân cơ hội này tôi bán cái cho ông Khen nhiệm vụ thông dịch cho các ông phóng viên. Cũng nhờ những câu hỏi xoi mói của các ông nhà báo mà mấy hôm sau, thế giới đã biết rằng ở Việt-Nam đã có những người lính Biệt Ðộng Quân dù mang thương tích đầy mình nhưng vẫn tình nguyện ở lại chiến trường mà chiến đấu.
Bất ngờ, từ hướng Tây có tiếng pháo địch khai hỏa.
Thoáng chốc, trong khói bụi mịt mù, trên mặt đất chỉ còn một mình tôi là người đang đứng. Anh phóng viên người Nhật nằm ngửa, chĩa ống kính ngay mặt tôi, anh ta vừa tránh đạn vừa làm công việc thu tin tức của mình. Còn tôi, cũng đang làm công việc của một Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân là cứ đứng thẳng lưng, không nằm úp mặt xuống đất. Có thế, tôi mới không làm mất thể diện một sĩ quan chỉ huy của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Tôi biết chắc rằng, hình ảnh ghi trong cuộn phim của anh nhà báo người Nhựt kia, mai đây sẽ được đem ra trình chiếu cho toàn thể thế giới xem. Vì vậy, dù đạn đại bác cứ réo “Xè! Xè!” rồi nổ “Oành! Oành!” sát bên; dù trong lòng rất ngán bị mảnh đạn 105ly cắt đứt đầu, nhưng tôi vẫn phải làm như người tỉnh bơ trước nỗi hiểm nguy, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Anh lính mang máy truyền tin của tôi thì úp mặt dưới chân tôi; cái dây nối từ ống nói tới chiếc PRC 25 đã căng dãn hết cỡ. Sau khi nhờ chiếc quan sát cơ đang bay trên trời tìm vị trí pháo địch, tôi gọi cho Tướng Niệm:
“Tôi đang bị pháo! Yêu cầu cho trực thăng trở lại đem mấy ông nhà báo ra khỏi đây ngay!”
Vài phút sau thì pháo cũng ngưng, trực thăng quay trở lại. Trước lúc leo lên tàu các phóng viên còn chen nhau đứng bên tôi để chụp một tấm hình. Gần tháng sau tôi nhận được một cái bì thư gửi từ Tòa Ðại Sứ Nhật-Bản ở Sài-Gòn, trong đó chứa tấm ảnh tôi đứng một mình trong khói bụi mịt mù, với cái tựa đề “Last man standing!” (Last man standing có nghĩa là: Người cuối cùng còn đứng vững)
Bảy giờ tối ngày 15 tháng 4 năm 1974 tôi nhận được bản tin A2 cho biết ngoài 6 tiểu đoàn bộ chiến của E48 và E64, địch còn tung vào trận Tiểu Ðoàn D20 Trinh Sát, Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải và Tiểu Ðoàn H12 Ðịa Phương của Tỉnh Gia-Lai. Chín tiểu đoàn bộ chiến này của địch còn được Trung Ðoàn 40 Pháo và Tiểu Ðoàn D16 chiến xa Việt-Cộng yểm trợ để đánh Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/19.
Trong bản tin phát đi tối 15 tháng 4 năm 1974, đài BBC Luân-Ðôn đã mô tả trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 như sau:
“Ðây là một trận đánh vô cùng ác liệt mà tổn thất của đôi bên tham chiến được coi là nặng nề nhất kể từ sau Hòa Ðàm Paris.”
Tôi được phi cơ AC 47 Hỏa Long soi sáng và yểm trợ tiếp cận suốt đêm.
Ngày16 tháng 4 năm 1974
Tới sáng 16 tháng 4 thì nhiều phi tuần A37 được gửi tới để liên tục đánh bom dọc Tỉnh Lộ 6C từ 711 tới đồi Tử Chiến. Không Quân cũng thông báo rằng có nhiều ổ pháo và phòng không của địch đã bị hủy diệt vùng hướng chính Nam quận lỵ Thanh An. Khoảng 9 giờ sáng 16 tháng 4 một hợp đoàn trực thăng đã đổ một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh xuống vùng Nam Ngã Ba Mỹ Thạch. Giao tranh ở đó bắt đầu với nhiều tiếng nổ của pháo binh yểm trợ cho quân bạn. Ðúng 10 giờ sáng 16 tháng 4 thì tiểu đoàn thứ nhì của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cũng được thả xuống cách tôi hai cây số về hướng Tây.
Tôi nhận được tần số để liên lạc với đơn vị này, vì thế, tôi biết người chỉ huy tiểu đoàn này là Ðại úy Nguyễn Văn Chấn. Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Ðà-Lạt là đàn em của tôi. Bộ Tư Lệnh 22 đặt tiểu đoàn của Ðại úy Chấn dưới quyền điều động của tôi. Tôi giao cho chú Chấn nhiệm vụ án ngữ vùng hướng Tây Tỉnh Lộ 6C dọc theo triền Nam của sông Ia Meur để ngăn chặn bước tiến của hai tiểu đoàn địch là K1 của E48 và K7 của E 64.
Tôi sẽ tự mình tìm cách tái chiếm Căn Cứ 711. Trưa 16 tháng 4 năm 1974 thì Biệt Ðộng Quân và Thiết Giáp đã được tiếp tế lương khô và đạn dược đầy đủ. Ðại úy Xá bò sang chỗ tôi đang ngồi rồi hỏi nhỏ,
– Thái Sơn tính lúc nào thì mình rút ra đường?
Tôi nhìn ông bạn kỵ binh,
– Ra đường để ông Toàn bóc lon tụi mình hả?
Xá tròn mắt,
– Cái gì mà bóc lon? Bộ ông ấy không thấy mình đã đánh nhau gần chết hai ngày nay ư?
Tôi từ tốn nói với Xá,
– Tin tôi đi! Mình mà không tái chiếm được cái căn cứ vừa mất thì chắc chắn tôi với ông sẽ thành binh nhì. Hoặc may mắn lắm mỗi đứa cũng ký 40 Trọng Cấm. Ông là dân Thiết Giáp mà cũng không biết tính nết cha Toàn sao?
Nghe tôi quả quyết như thế, Xá thừ người ra,
– Vậy Thái Sơn tính làm gì tiếp theo đây?
Tôi vỗ vai Xá,
– Ðể đó tôi lo. Xá cứ nằm đây với thằng Chủ, bất cứ tình huống nào xảy ra cũng không được bỏ vị trí này, nghe rõ chưa?
Xá gật đầu,
– Dạ!
Chờ Xá rời đi, tôi gọi Thiếu úy Trần Văn Phước theo tôi tới gặp từng người lính đang nằm trên tuyến.
Tôi chọn ra được 100 người sẽ theo tôi đi làm công tác tái chiếm 711.
Lực lượng này gồm có 40 anh lính Lao Công Ðào Binh Phục Hồi, 40 quân nhân của Ðại Ðội 3, cộng với hai toán cận vệ của Hạ sĩ Ba và Binh nhất Yang. Cùng đi với tôi để chỉ huy trận này sẽ có Thiếu úy Phạm Ðại Việt, Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Lý Ngọc Châu. Tôi dẫn toán quân này ra triền đồi hướng Ðông rồi chỉ dẫn cho từng người sẽ phải làm gì tối nay. Chỉ một giờ sau, mọi người đều thuộc bài.
Thực ra thì bài học này cũng chẳng khó khăn gì, chỉ cần một chút bình tĩnh và gan dạ là đủ. Ðêm 16 tháng 4 năm 1974 trời tối đen như mực. Tôi và 100 quân lên đường quay lại Plei Ngol Ho. Nếu kiểm soát được Plei Ngol Ho thì ta sẽ chiếm lại Ðồn 711 một cách dễ dàng. Trong thời gian tôi chuyển quân thì pháo binh liên tục tác xạ 100 viên hỗn tạp trên mục tiêu. Tới bìa làng, tôi dàn quân thành 3 hàng ngang, mỗi hàng có 33 tay súng.
Khi có lệnh thì 33 chiến binh sẽ sát cánh nhau, thẳng tay ném một trái lựu đạn M26 về phía trước rồi nằm xuống. Ðợi một phút sau khi lựu đạn nổ thì sát vai nhau, quân ta khom lưng tiến lên, vừa chạy, vừa bắn. Tới lúc ra tới bờ rào sau cùng cả toán ngừng lại, mỗi người đều ném ngược về hướng sau lưng mình một quả M26 nữa.
Những trái lựu đạn ném ngược này nhằm mục đích ngăn ngừa những tên địch sẽ truy kích ta. Ðợt xung phong chấm dứt, tất cả phóng lên đỉnh đồi Ðông tập họp, rồi kéo nhau về vị trí tiểu đoàn.
Chương trình đề ra là:
– Ðợt xung phong thứ nhất bắt đầu đúng 8 giờ tối.
– Ðợt xung phong thứ nhì cách đợt thứ nhất 10 phút.
– Ðợt xung phong cuối cùng cũng cách đợt thứ nhì đúng 10 phút.
Tôi đi giữa đoàn quân xung phong cuối cùng.
Nằm sát bờ đất của Plei Ngol Ho, tôi hồi hộp theo dõi tình hình.
Chỉ 5 phút sau khi dàn quân thì lựu đạn nổ,
“Oành!Oành!Oành!”
Một phút kế đó, quân ta phóng tới. Tiếng M16 giòn giã giữa màn đêm. Không lâu sau, nơi cuối làng, lựu đạn lại nổ.
“Oành! Oành! Oành!”
Vậy là quân của Thiếu úy Phạm Ðại Việt đã lướt qua tường đất sau cùng. Suốt thời gian đợt tiến công thứ nhất diễn ra, tiếng súng M16 của ta hoàn toàn áp đảo tiếng AK của địch. Hình như địch chỉ bắn trả khi quân ta đã đi qua mục tiêu?
Mười phút kế đó, M26 lại nổ, “Oành! Oành!Oành!”
Rồi M16 cũng nổ, “Cành! Cành! Cành!” kèm với tiếng la,
“Biệt Ðộng! Sát!”
Lần này quân xung phong ồn ào hơn, dũng mãnh hơn, vì ông chỉ huy toán quân này là một tay bán trời không văn tự là Trần Văn Phước. Chỉ vài phút sau Thiếu úy Trần Văn Phước đã hoàn thành nhiệm vụ.
Vừa nghe tiếng lựu đạn “Oành! Oành! Oành!” của toán quân đi trước vọng lại từ cuối sân, tôi bèn đổi ý. Tôi không chờ 10 phút nữa mà la lên,
– Ðợt ba sẵn sàng!
Vậy là 33 trái M26 bay vào sân Plei Ngol Ho,
“Oành! Oành! Oành!”
Một phút sau Hạ sĩ Ba và Binh Nhất Yang hét vang,
“Sát! Sát! Sát!”
“Cành! Cành! Cành!”
Chúng tôi bắn liền tay, từng ba viên một, cứ nhắm những khu có ánh sáng hay có tiếng người rên la mà bóp cò. Trong sân Plei Ngol Ho tôi chỉ thấy vài đống lửa chập chờn khu pháo binh, ngoài ra không thấy bóng dáng tên địch nào xuất hiện. Tới bờ đất cuối cùng, nơi có hai ụ pháo binh, tôi hô to,
– Ðứng lại! M26!
Thế là, mỗi người quăng đại lại phía sau lưng mình một trái lựu đạn rồi chạy nhanh lên ngọn đồi hướng Ðông. Có lẽ địch không ngờ lại có hai cú xung phong chớp nhoáng kế tiếp nhau khiến chúng không kịp trở tay, nên không có tiếng súng nào của địch bắn lại. Lên tới đỉnh đồi Ðông, chúng tôi theo đuôi nhau rút về hướng Bắc.
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Thấy cơ hành của khẩu súng đã bình thường, tôi mới yên tâm kéo đạn lên nòng. Chợt Phước ra dấu cho tôi im lặng cùng lúc hướng phòng thủ của Thiết Giáp có tiếng chân người và tiếng nói chuyện:
“Mình vào kiểm tra khu chỉ huy sở của tụi nó xem có gì lạ không? Chắc anh em K7 đang ở đó.”
(Ghi chú: K7 là Tiểu Ðoàn 7 của Trung Ðoàn 64 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản)
Tôi ra dấu cho Thiếu úy Phước sẵn sàng. Hai cán binh vừa ló dạng sau bụi tre gai; tên đi trước có vẻ là cấp chỉ huy với khẩu súng ngắn K54 bên hông; tên đi sau có lẽ là người hộ vệ mang súng AK 47. Tôi và Phước bóp cò.
“Ðoàng! Ðoàng!”
Thầy trò hai tên địch ngã gục bên nhau, không la lên được tiếng nào. Tôi không ngờ là trong trận này chú Phước cũng chứng tỏ là một xạ thủ súng lục có bản lãnh. Viên đạn của Phước đã trúng ngay giữa ngực tên cán binh hộ vệ đeo AK47.
Bất chợt Phước nắm áo tôi lo ngại,
– Thái Sơn ơi! Em hết đạn rồi!
Tôi giật mình nhớ ra, băng đạn trong súng của tôi cũng còn chừng hai hay ba viên thôi. Tôi lần dây lưng lấy băng đạn mới lắp vào súng.Thấy Phước vẫn ngồi im, tôi hỏi,
– Sao không thay băng đạn mới?
Phước lắc đầu,
– Em có 6 băng đạn, bắn hết 5, băng đạn cuối cùng đang nằm trong súng!
Thấy tôi ngẩn người ngạc nhiên, Phước giải thích:
– Trong thời gian đánh nhau, em núp dưới giao thông hào, thấy tụi nó xung phong chạy ngời ngời, em đã bắn hết băng đạn này tới băng đạn khác mà chẳng trúng thằng nào. Không phải lỗi em bắn dở đâu, mà là lỗi của tụi nó! Tụi nó chạy nhanh quá làm cho em bắn trật!
Thấy thằng em mặt mày nhăn nhó, miệng thì càu nhàu, trách cứ tụi Việt-Cộng chạy nhanh quá, làm cho chú ấy tốn hết 30 viên đạn Colt 45 mà chẳng hạ được tên nào, tôi an ủi,
– Thôi! Ðừng buồn! Nhờ có băng đạn cuối cùng của chú mà anh còn sống đây! Thử hỏi trên đời này có xạ thủ nào giỏi như Thiếu úy Trần Văn Phước 82 Biệt Ðộng Quân không? Có ai làm nên kỳ tích, chỉ với 5 phát Colt 45 mà hạ gục 4 thằng giặc? Trong đó có thằng lãnh tới 2 viên?
Tôi đưa cho Phước một băng đạn mới rồi ngồi thủ thế. Bỗng tôi nhìn thấy trước mặt tôi là ba cái thây ma Việt-Cộng đang nằm đè trên những khẩu AK47 đẫm máu, tôi bèn chỉ tay cho Phước,
– Súng đây!
Mắt Phước sáng lên,
– Cám ơn Trời Ðất!
AK47 mà vào tay viễn thám thì không còn gì lợi hại hơn; Phước vơ vội cái dây đạn AK quàng qua vai rồi ghìm súng chăm chú nhắm về hướng Nam. Không còn tiếng nổ của thủ pháo, đợt tấn kích thứ nhì đã đi qua, đợt thứ ba chưa bắt đầu. Cứ theo lời nói chuyện của hai tên Việt-Cộng vừa rồi thì Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 64 Cộng Sản đã tràn ngập nửa phần hướng Bắc Plei Ngol Ho trong lúc tôi đang lo chống đỡ khu vực Tây Nam của căn cứ này. Chắc chắn mấy tên Việt-Cộng tranh nhau đuổi bắt con heo xổng chuồng và ba thằng cán binh ôm vật tôi phải là người của K7. Nhưng hiện thời không biết đơn vị này rút đi đâu mà trên sân chẳng còn tên địch nào cả?
Tôi nghĩ thầm, nếu K7 đánh vào khu Bắc Plei Ngol Ho thì chắc chắn K8 hoặc K9 của E64 là lực lượng đã tấn công Nam Plei Ngol Ho. Lợi dụng lúc súng địch tạm ngưng, tôi ra sức kéo cẳng cái thây ma trước mặt sang một bên để lấy khẩu AK47 và dây đạn thứ hai. Ngồi đâu lưng với Thiếu úy Phước, tôi ghìm súng hướng về Tây Bắc, khu lều vải của Thiết Giáp dỏng tai nghe ngóng động tĩnh. Bỗng tôi thấy một người từ hầm truyền tin vừa ló đầu ra, đó là Trung úy Nguyễn Công Minh, Sĩ quan Truyền Tin của tiểu đoàn. Tôi gọi,
– Minh! Minh!
Nhận ra người vừa kêu tên mình là ai, Minh cuống quýt,
Từ cửa, một người đầu trần, không nón mũ, trên lưng anh ta là một cái PRC 25 ăng ten lá lúa, người này là Hạ sĩ Thạnh. Thạnh phóng khỏi miệng hầm,
– Em đây!
Vừa lúc đó súng đồng loạt nổ giòn hướng chân đồi, rồi thì “Xung phong! Xung phong!’ – “Ðùng! Ðùng! Ðoàng! Ðoàng! Ùm! Ùm! Oành! Oành!” đâu đâu cũng có tiếng nổ, đâu đâu cũng có khói đen bốc lên, đợt tấn kích thứ ba bắt đầu. Ðạn B40 không ngừng “Xè! Xè!” theo nhau bay, rồi nổ “Oành!Oành!” trên nóc cái lô cốt chứa đạn cối 4.2. Hai khẩu AK 47 trên tay tôi và Thiếu úy Phước cứ liên tục “Cành! Cành!” nhả đạn. Trời còn đang mưa, chúng tôi thấy địch, nhưng địch thì không thấy chúng tôi. Tất cả những tên địch bén mảng tới gần vị trí khẩu súng cối 4.2 đều bị bắn bể gáo…
Tôi chụp cái máy truyền tin của chú Thạnh, vào tần số Không Lục, nói một hơi,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn! Tôi bị overrun rồi! Yêu cầu đánh ngay trên đầu!
Gọi Bắc Ðẩu xong, để tiết kiệm đạn, khẩu AK47 của tôi tạm ngừng. Khẩu AK47 trên tay Thiếu úy Phước cũng bắn chậm lại thành từng đợt ba viên. Áo quần của Phước giờ này đầy máu đỏ, không biết Phước đã bị thương hay máu từ cái dây đeo những băng đạn AK ướt đẫm máu địch mà chú ấy mang trên vai? Tôi thấy cứ tình trạng này mà kéo dài, không chóng thì chầy chúng tôi sẽ bị chúng phát giác, sẽ hết đạn, sẽ bị bao vây và tiêu diệt. Chờ một lúc không nghe tiếng Bắc Ðẩu trả lời, tôi đứng lên đảo mắt một vòng để quan sát trận địa thì thấy hướng đỉnh đồi chính Ðông không có bóng dáng tên Việt-Cộng nào.
Nhưng vừa nhổm người bước lên, Trung úy Minh bỗng trở gót chui vào hầm truyền tin. Tôi ngạc nhiên quát lớn,
– Minh! Làm gì vậy?
Không nghe Minh trả lời, tôi nóng ruột nhảy tới cửa hầm hét lên,
– Ra mau!
Tôi la vừa dứt câu thì Minh đã ló đầu ra,
– Xong rồi! Em vào mở lựu đạn lân tinh để phá máy truyền tin.
Bốn người cắm đầu chạy lên đỉnh đồi.
Trung úy Minh và cái máy PRC25 đi trước, khẩu AK47 của tôi chĩa về phải, khẩu AK47 của Thiếu úy Phước chĩa về trái; tôi và Phước bóp cò liên tục, “Cành! Cành! Cành!”
Chạy ngang qua hầm thuyết trình tôi nghe tiếng ai đó gọi,
– Thái Sơn ơi! Thái Sơn ơi!
Tôi ngoái cổ nhìn, thì thấy một thương binh đang ôm cây M16 thất thểu phóng về hướng tôi, tôi nhận ngay ra đó là thằng em người Nùng tên là Nông Văn Út. Từ trưa hôm qua tới hôm nay hai anh thương binh là Trung sĩ Nông Văn Út và Chuẩn úy Trần Quảng lo nhiệm vụ canh gác hai cái cửa phòng thuyết trình chứa đầy thương binh.
Tôi hỏi:
– Út đó hả? thằng Quảng đâu?
Út lắc đầu,
– Dạ em không biết!
Tôi la lên,
– Chạy lên đỉnh đồi!
Sau đó, tôi vượt lên trước dẫn đầu, phóng về phía rừng lau, rừng lau này cao quá đầu người. Tôi gióng địa bàn, lấy hướng 2100 ly giác. Theo hướng này, dự trù hai cây số sau thì tới con đường xe be dẫn về Nam. Từ đây tôi có thể chạy một mạch về Plei Le Tam Pôte rồi vào Pleime, trong Pleime tôi còn Ðại Ðội 4 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy.
Tôi sắp chui vào rừng thì anh hiệu thính viên níu áo tôi,
– Bắc Ðẩu muốn gặp Thái Sơn!
Tôi ngừng lại cầm máy,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!
– Yêu cầu Thái Sơn xác nhận lại lần cuối cùng là chính ông xin đánh bom ngay trên mục tiêu có phải không?
Nhìn thấy chú thương binh Nông Văn Út đang đi sát bên, tôi chợt nhớ ra, hiện thời còn cả chục thương binh nằm trong hầm thuyết trình, nên tôi hét lên,
– Check air! Check air! Tôi hủy bỏ yêu cầu trên. Mục tiêu giờ này là con suối nằm về hướng Tây của hai khẩu pháo.
– Okay! Tôi sẽ thỏa mãn yêu cầu này của Thái Sơn.
Sau đó có tiếng rocket chỉ điểm, tiếng oanh tạc cơ gầm rú, rồi tiếng bom nổ…
Tới đỉnh đồi, anh lính mang máy truyền tin lại níu tay tôi,
– Có Trường An gọi Thái Sơn!
Tôi áp tai vào ống nghe. Cùng tiếng rè rè của máy là tiếng người gọi tôi,
– Thái Sơn đây Trường An!
Nhận ra trong máy đúng là giọng nói của Ðại Tá Phạm Duy Tất, tôi mới dám trả lời,
– Trường An đây Thái Sơn nghe!
Tôi thấy ông Tất mừng rỡ la,
– Thái Sơn đó hả? Tình trạng ra sao? Giờ này cậu đang ở đâu vậy?
– Banh hết rồi! Tụi nó đánh bằng hơi độc hóa học. Tôi bị tụi nó túm! Mới vừa thoát ra xa chỗ đó được chừng hai trăm thước. Tôi đang trên đường chạy về Pleime!
– Tui mới gọi được thằng Xá cua sắt và thằng Chủ, tụi nó chạy được nửa đường đi Mỹ Thạch. Tui ra lệnh cho tụi nó ngừng ở đó chờ tin tức của Thái Sơn. Ủa! vì sao tụi nó chạy một đường, Thái Sơn đi một ngả vậy?
– Tôi bận chỉ huy khu pháo binh hướng Nam, mặt Bắc giao cho thằng Chủ và thằng Xá. Tới khi bị tấn công bằng hơi độc, tôi rút về bộ chỉ huy thì mới hay thằng Chủ và thằng Xá đã dẫn lính chạy từ lâu rồi!
– Ðể tui gọi thằng Xá đem xe vào cứu Thái Sơn. Nó mà không quay lại, tui lột lon nó!
Kế đó tôi và Ðại tá Tất đều vào tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82 để gọi Trung úy Chủ và Ðại úy Xá. Không có tiếng trả lời.
Tiếp đó tôi thấy Trường An tắt máy. Có lẽ ông đại tá sang tần số nội bộ của Chi Ðoàn 3/19; tôi không có tần số này. Kỳ hành quân này, Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân và Chi Ðoàn 3/19 nằm dưới quyền chỉ huy của tôi, do đó hai đơn vị này phải liên lạc với tôi trên tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82. Nhưng từ sáng tới giờ, tôi bận quá nên không liên lạc với họ lần nào. Tôi không biết tình trạng hiện thời của họ ra làm sao. Hai phút sau Ðại tá Tất gọi lại, cho tôi biết rằng 18 chiếc chiến xa của Chi Ðoàn 3/19 đã bị mất 12 chiếc, chỉ còn lại 6 chiếc.
Tọa độ của 6 chiếc M113 hiện giờ cách tôi chừng 2 cây số. Ông Tất đã ra lệnh cho Ðại úy Xá bằng mọi giá phải trở lại trận địa để cứu tôi. Ðể tìm về với quân bạn, thày trò tôi phải theo chân nhau đổ xuống cái dốc hướng Tây Bắc. Mấy phút sau thì chiếc chiến xa chỉ huy của Ðại úy Nguyễn Xá ào tới, rồi trở đầu thật nhanh. Ông Chi đoàn trưởng nhảy xuống đất, ôm tôi, rồi ra sức đẩy tôi vào cửa hậu. Trong xe đã có mấy ông Biệt Ðộng Quân ngồi sẵn, trong số này có ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y của tiểu đoàn.
Thấy Chuẩn úy Dũng, tôi vội hỏi thăm,
– Ông thầy thuốc còn sống đó hả? Quân y có còn đủ không?
Dũng cười,
– Dạ! Quân y còn đủ và đang ở với Trung úy Chủ. Trường An ra lệnh cho em quay lại cứu Thái Sơn, Thái Sơn có bị thương không?
– Ồ! Không sao! Anh chỉ bị tụi nó ôm vật, suýt bị bắt sống, chứ không bị thương tích gì!
Chợt tôi nghe tiếng trực thăng trên trời; ông Tất mới bay lên vùng. Thì ra từ nãy tới giờ ông đại tá liên lạc với tôi từ đỉnh núi Hàm Rồng, nơi đặt một đài tiếp vận của Biệt Ðộng Quân. Xen lẫn tiếng động cơ là tiếng cười hì hì của Ðại tá Tất.
Ông Tất báo cho tôi một tin vui,
– Ông già vợ của cậu vừa nhờ ta báo cho cậu biết rằng vợ cậu vừa đẻ cho cậu một đứa con gái thứ ba. Vậy là từ nay Vương Gia có ba cô công chúa!
Giờ này chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới vợ con, nên tôi chỉ đáp lời ông Tất bằng một câu gọn lỏn,
– Cám ơn Trường An!
Tới vị trí tập trung của đơn vị, tôi nhảy ra khỏi xe M113 thì thấy Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm và Trung úy Trần Dân Chủ đang đứng chờ. Hai ông sĩ quan này quần áo xốc xếch bẩn thỉu, mặt mày nhợt nhạt thất thần. Ông Chuẩn úy Trâm còn đủ mũ sắt, áo giáp, súng ống. Nhưng ông Trung úy Chủ thì đầu trần, súng đạn, mũ mãng, bản đồ, địa bàn, dây ba chạc đều mất hết. Tuy thế, tôi thấy trên ngực ông Chủ vẫn còn cái máy ảnh trong bao da màu đen treo tòn ten!
Thấy anh em nằm, ngồi, ngổn ngang trên mặt đất, tôi bèn quơ tay ra dấu cho mọi người quây thành một vòng tròn. Sáu chiếc M113 được dàn thành hình cánh cung hướng về Nam. Tiếp đó, tôi gom góp tất cả thương binh trên triền dốc ngọn đồi mà tôi đang đóng quân. Triền dốc này nằm về hướng Ðông của tỉnh lộ, hơi thấp so với mặt đường nên được che khuất nhưng cũng đủ rộng và an toàn cho trực thăng lên, xuống. Công tác tản thương được tiến hành cùng thời gian tôi điều chỉnh không quân đánh trên các trục tiến quân của địch. Tổng kết lại, hiện thời đã có 44 Kỵ Binh và 48 Biệt Ðộng Quân chết hoặc mất tích.
Trong tổng số 11 sĩ quan thực tập, chỉ còn lại 6 người, tất cả đều bị thương, 5 sĩ quan mất tích gồm có 4 thiếu úy Ðà Lạt và 1 chuẩn úy Ðồng Ðế. Trong số ba ông đại đội trưởng tác chiến, chỉ còn Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 là Thiếu úy Phạm Văn Tô đang ở đây. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 là Trung úy Nguyễn Trọng Thọ bị thương còn nằm trong Plei Ngol Ho. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3 là Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến đã thoát chạy trước khi tôi rời Plei Ngol Ho nhưng không rõ đang ở đâu. Trên tần số, Thiếu úy Phiến nói rằng chú ấy đang trên đường tới với tôi. Nhưng lạ một điều là càng lúc tiếng nói của chú ấy càng nhỏ dần.
Trong e mail trước anh hỏi trên biển thì làm sao biết được chuyện xảy ra trên đất liền, những ngày tàu lênh đênh rảnh rang thì làm gì và tàu ghé bến có được lên bờ chơi không? Những câu hỏi mấy chục năm qua tôi đã nghe nhiều người hỏi, có lẽ từ đây tới ngày tôi nghĩ hưu vẫn còn có người gặp mặt tôi hỏi những câu tương tợ, thường những người trên đất liền hỏi cho có thôi chớ thiệt ra hổng ai muốn nghe câu đáp lại. Tôi phân vân có nên trả lời anh hay không thì chiều nay tôi nhận của anh một e mail nữa. Trong mail một mặt anh trách tôi dạo sau này hông muốn liên lạc với bạn bè luôn cả những lần về bờ cứ ‘ ru rú ở nhà chơi với vợ’ và mặt khác anh than phiền: “ Tao chán ngấy cái thế giới đàn ông giống như con chó giữ nhà và đàn bà là chủ nhân khó tánh; nấu nướng thì không biết, người ta nấu dọn ra thì chề cái môi đỏ chét chê nấu dở ăn không vô, mở miệng ra thì hậm hực, quanh co không thành thật; ra ngoài thì gian lận tuổi tác bằng cách tô lên tóc màu mè xanh đỏ, lắp lên mặt một lớp hoá chất dầy và không bao giờ thấy được mặt thật…” Anh kể cho tôi nghe những phiền toái trong gia đình và ao ước được làm “ Cánh chim bạt ngàn để khỏi phải vật lộn từ trong nhà ra tới xã hội với công việc và nhìn mọi tiêu cực hàng ngày xảy ra làm chướng tai gai mắt…”. Tôi nhìn vào điện thoại biết tàu đương chạy ven bờ biển Thuỵ Điển, chuyện xác định vị trí con tàu trước kia thủy thủ muốn biết thì phải hỏi thuyền trưởng hoặc thuyền phó, bây giờ không cần hỏi, ngồi trong phòng cũng biết vị trí con tàu đương ở trên hải phận quốc tế hoặc vào hải phận nước nào. Thời buổi này một việc xảy ra trong một nơi xa xôi hẻo lánh trên trái đất chỉ vài giờ sau cả thế giới điều biết. Cũng như tôi biết chuyện buồn phiền của anh qua chiếc di động nằm gọn trong lòng bàn tay này. Bây giờ là giờ rảnh của tôi và tôi đương ngồi sau lái tàu nhìn chiều Mùa Thu trên vùng biển Baltic. Trời không gió, mặt biển êm láng và nước biển xanh màu cẩm thạch. Nền trời trắng đục, mặt trời trốn đâu mất nhưng ánh sáng vẫn còn toả sáng đủ để phóng tầm mắt nhìn xa vô dãi đất liền mù mờ trong làn sương mỏng. Tôi trở vô phòng, để điện thoại lên bàn và ngồi xuống mở laptop. Thường ngày giờ này nếu đường truyền internet tốt thì tôi nối mạng tìm đọc cái gì đó, không thì gõ lên bàn phím những chuyện xãy ra trong ngày hay một ý nghĩ vẩn vơ nào. Tính hiệu cho biết đường truyền internet khá cao nhưng tôi không nối mạng, tôi thấy mình cần gõ cho anh vài dòng, kể anh nghe một vài chuyện. Hy vọng khi đọc xong anh vơi bớt phần nào ưu phiền, không còn phẫn nộ và nhìn đâu cũng thấy cảnh chướng tai gai mắt. Có một dạo tôi sống trong một xóm nhỏ miệt U Minh hạ. Nói là xóm nhưng thật ra chỉ vài ba trăm căn nhà lưa thưa cách nhau một hai công đất, day cửa ra dòng kinh. Khoảng giữa con đường cách nhà này qua nhà kia có một cây mắm hay cây bần gì đó mà lâu quá tôi quên mất rồi, gốc cây bự gần cả ôm, dưới gốc có miễu thờ cục đá cuội tròn bằng cái trứng ngỗng màu đen láng bóng mà người ta gọi là miễu ông Tà. Theo lời kể thì cục đá do một anh mò tôm càng mò được rồi đem để lên gốc cây, sau đó có người đồn ra khắp xóm rằng có điềm lạ. Nghe có điềm lạ bà con chạy tới xem và đem nhang, đèn, bông, trái ra chỗ cục đá bày ra cúng. May sao măm đó cả xóm được trúng lúa mùa. Nhờ trúng mùa lúa bà con trong xóm càng tin tưởng nhờ cục đá linh thiêng phù hộ, họ bèn rủ nhau góp tiền mua gạch ngói về cất lên cái miễu, đặt bàn thờ có lư hương, chưn đèn, riêng cục đá thì được bọc vô miếng vải màu đỏ kính cẩn để lên bàn thờ và đặt tên cho cục đá cuội là ông Tà. Về sau có dịp đi đó đi đây, tôi thấy nơi thờ bình vôi, chỗ thờ lưỡi tầm sét… những biểu tượng như vậy đều có những câu chuyện huyền thoại linh thiêng tương tợ như nhau. Dạo đó tôi cũng tin tưởng ông Tà như tất cả mọi người quê mùa ấy, mỗi khi đi cắm câu ngang miễu tôi tạt vào đốt nhang, đứng ngay ngắn trước bàn thờ ông Tà xá ba xá và cầu xin phù hộ cho câu được nhiều cá thì tôi sẽ cúng ông một nải chuối. Từ ngày ra nước ngoài, sống chung chạ phần đông với dân có học, nhứt là sống trong đất nước văn minh, tôi nghĩ là người trí thức thì không ai mê tính dị đoan. Nhưng sau một thời gian, tôi mới biết mình lầm, biểu tượng lại xuất hiện khắp nơi, người ta đặt tên biểu tượng là Chánh Nghĩa. Lúc còn ở U Minh tôi hổng biết tại sao bà con lấy tên ông Tà đặt cho cục đá, bây giờ tôi mới hiểu ra, có Tà (Tà Nghĩa) tức phải có ông Chánh (Chánh Nghĩa), đúng quá xá rồi còn gì nữa. Dù sao đi nữa dân quê thờ ông Tà cũng không tổn hại tới ai, trái lại còn có lợi về mặt tinh thần nữa. Ở một nơi hẽo lánh quê mùa không có nhà hội, không hàng quán, nhân dịp ngày rằm mùng một bà con tụ tập trước miễu cúng quảy luôn tiện tán dóc, trao đổi chuyện hay, chuyện dở, chuyện mùa màng và nhờ vậy mà con nít với mấy đứa chăng trâu cũng kiếm ké được chút ít bánh, trái, xôi, chè. Ở nước ngoài những người thờ ông Chánh có phương tiện hơn, họ bày tiệc thù tạc, tâng bốc, vinh danh, phong chức cho nhau và phô trương kích thích lòng hận thù. Họ tưởng rằng có ông Chánh trong tay tức có thần linh phù hộ cho một sức mạnh vạn năng có thể thay trời đổi đất, họ tụ tập lê la ông Chánh đi khắp chỗ đông người, vào nơi hội hợp chìa ông Chánh ra hù dọa. Đến chùa chiền cũng phải dành một chỗ thờ ông Chánh, nếu không thầy chùa khó mà ngồi yên gõ mõ công phu. Có người hiểu biết khuyên họ dừng mê tính nữa tức thì họ bài bác, chửi bới đôi khi dùng thủ đoạn ác độc hại người hoặc thượng cẳng tay, hạ cẳng chưn bề hội đồng người ta đến lỗ đầu máu tuông linh láng. Thiệt tình tôi không mấy hứng thú nói ra ba cái chuyện nặng nề này, nhưng muốn anh hiểu cho tôi vì sao không liên lạc với bạn bè. Hơn nữa đọc mail anh tôi thấy như cả một trời ưu phiền đương phủ xuống cái thân thể ốm yếu của anh, tôi muốn đem chuyện ông Chánh, ông Tà để cho anh thấy mê tính đị đoan nó đã thắm vào máu tim của mọi tầng lớp người Việt ở khắp nơi chớ không riêng dân quê mùa dốt nát trong hóc Bò Tó nào ở miệt U Minh. Làm cánh chim bạt ngàn đôi khi cũng gặp giông gió bão bùng, hổng khôn khéo lèo lái sẽ bị rơi nhàu đầu xuống chết không kịp ngáp, tôi đã chứng kiến mỗi lần giông bão, chim va vô mui tàu chết hoài. Đứng trên bờ nhìn ra biển khơi rồi mơ ước viễn vu và từ biển khơi trông về một nơi nào đó trong đất liền để mơ mộng chuyện trùm mền với vợ, giống như người đứng núi này trông qua núi nọ thấy núi nọ cao hơn núi này và ngược lại, thì cũng đâu khác nào chuyện mê tính dị đoan. Nếu anh chưa bỏ được đố kỵ, hận thù trong lòng anh, thì cho dù có là cánh chim đại bàn cõng cả trời mây, bay khắp chưn trời góc biển thì chuyện buồn phiền vẫn cứ bám miết theo anh như hình với bóng. Kiến thức và lao động tạo nên tiếng tăm lừng lẫy và cả một gia tài lớn lao đưa ta lên địa vị cao tột đỉnh cũng chỉ là tạm thời, không gì bền vững. Nói chung bất cứ vật gì ta tạo ra và thu góp được, kể luôn cả vợ và con, khi chết đi chúng ta cũng để lại, không mang theo được một cái nào. Lên voi xuống chó của ngày hôm nay rồi sẽ lùi vào quá khứ. Người bạn đời mà ta thương yêu và sáng tạo ra biết bao ngôn từ đẹp đẽ để gọi, nào là người yêu quí, một nữa của anh hoặc của em… Trau chuốt những lời hoa mỹ và tặng bông hoa màu mè, những cử chỉ âu yếm, hôn hít làm đẹp lòng nhau chẳng qua vì chữ SỢ. Sợ mất nhau rồi không còn chỗ để nương tựa “đời mất em rồi anh sống với ai”. Mua chuộc, này nỉ ỉ ôi thậm chí van xin tình yêu, cuối cùng không cách này thì cách khác tình yêu cũng lần hồi phai mất. Thân thể con người ta, từ kẻ bần cùng cho tới những người quyền cao chức trọng, ai ai cũng bị thời gian bào gọt hao mòn, teo tóp, bệ rạc và lăn lóc như cá đồng mùa hạn bị mắc cạn trên bùn lầy, lây lấc ngoi ngóp hớp không khí sống qua ngày chờ đất khô rồi chết khô theo đất. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ còn hổng xong nói chi nương tựa đỡ đần cho nhau, ai gánh vác ai đây. Cha mẹ thương con vô bờ vô bến, con thương cha mẹ có giới hạn. Tục ngữ Việt Nam có câu “cha mẹ thương con biển hồ lai láng, con thương cha mẹ tính tháng tính ngày”. Con bịnh cha mẹ buồn lo mất ăn mất ngủ; cha mẹ bịnh con dòm qua và hỏi han vài câu, đứa nào nghĩ tình tới thăm và nấu cho vài bữa cháo, đưa đi bác sĩ vài lần cũng là hiếu thảo lắm rồi. Bịnh dai dẳng năm này qua tháng nọ chẳng đứa con nào túc trực bên giường đâu. Khi con còn nhỏ xin tiền cha mẹ thì không ngần ngại; con khôn lớn lập nghiệp, dù nó thành công tột đỉnh, giàu sang nhứt bậc, cha mẹ lân la hỏi xin tiền cũng không dễ dàng gì. Trái ngược nhau hết, đây là sự thật và không lấy gì bảo đảm để nương tựa cho đời mình, vậy thì sao ta không coi việc lo liệu cho con cái là bổn phận, là một niềm vui, không lợi dụng lòng hiếu thảo mong báo đáp công đưỡng dục sanh thành, cũng như không bám cẳng gây phiền chúng để tự hành hạ tâm mình. Suy cho cạn nghĩ cho cùng, có phải chúng ta đương sống trong cảnh trái chiều rồi ôm một đống khổ đau đến nỗi dùng lời lẽ thâm độc chê trách vợ, con và trong lòng sanh ra một chuỗi muộn phiền. Cuối cùng chính ta là thủ phạm gây phiền phức từ trong nhà lan ra xã hội mà ta hổng hay, cứ day ra hận đời, oán người…. Tuy nói là vậy nhưng tôi không có ý đả phá tuyệt đối khuyên anh từ bỏ đời sống trần gian đầy bạo loạn này để tôn thờ một tôn giáo nào đó và dồn hết thì giờ đi nhà thờ, nghiền ngẫm kinh Thánh hay là cạo đầu vô chùa gõ mỏ tụng kinh cho vơi bớt nỗi khổ niềm đau. Chúng ta chỉ cần bỏ ra một ít thời gian và bỏ đi sự đam mê các thú vui thường tình, dùng một phần thời giờ còn lại học hỏi và luyện tập thương yêu, loại hết thói quen ít kỷ và mở lòng vị tha để giữ thăng bằng trong cuộc sống xao động hiện nay. Những ý tưởng với những mẫu chuyện vặt vãnh này tôi đã tìm tòi góp nhặt được và nghiền ngẫm là nhờ những ngày tháng lênh đênh trên biển và thời gian “ru rú ở nhà chơi với vợ”. Dĩ nhiên đây hổng phải ý của riêng tôi, mà là của những bật cao nhân đã có sẵn trên đời ít ra cũng hơn hai ngàn năm trước. Tới nay tôi thấy những ý tưởng này vẫn còn giá trị, tôi đã lấy làm kim chỉ nam cho cuộc sống đời mình. Nhờ đó mà tôi đã dọn dẹp sạch sẽ rác rến lo âu trong lòng, tẩy hết dơ bẩn muộn phiền trong tâm trí và cũng không còn mê tính dị đoan nữa. Một người không mê, tức là người tỉnh, một người tỉnh táo thì thoải mái, sung sướng biết bao và không dại gì biến mình thành nhà đô vật để “vật lộn từ trong nhà ra ngoài xã hội”. Chuyến này tàu khởi hành cảng Hamburg, đi ngang kinh đào Kill vào vùng biển Baltic, chuyển và nhận hàng các nước thuộc scandinavian. Mùa Thu vùng này rất đẹp, tuy hơi lành lạnh nhưng trên biển nước vẫn xanh và lờ mờ trong sương vài cánh buồm trắng. Trên bờ cây đã trổ lá vàng và bắt đầu rơi rụng… Ngày mai tàu ghé Stockholm, thủ đô nước Thụy Điển, mỗi lần tới đây lòng tôi rộn rã, tâm hồn phơi phới. Tôi rất thích thành phố sạch sẽ, nhứt là con người ta sống rất hiền hoà và rất là nhân bản. Nhìn đất nước con người nơi đây tôi ngậm ngùi nhớ và thương cho dân Việt mình quá. Biết đến bao giờ người Việt mới có cuộc sống an bình, trong một xã hội văn minh với những con người hiền lành và chứa chan tình cảm, để những người anh, em nhìn nhau với tấm lòng đầy thương yêu không nhỏ nhen, không đố kỵ và không hận thù./. Baltic 20-9-2012
Cửa kiếng phòng bếp của chiếc Tina tròn, đường kính rộng đúng sáu tất tây, chỉ đủ nhìn không gian bên ngoài biến đổi từng vùng, từng mùa. Bây giờ là mùa đông, ngoài boong dầy lên một lớp trắng mịn, ấy vậy mà trên không tuyết cứ tuông xuống ào ào. Cái mững nầy tiếp tục cho tới ngày tàu xuống hàng mặt sức thủy thủ đoàn vừa xúc tuyết đem đổ vừa lạnh teo… Chiếc Tina cặp bến Hamburg chiều hôm qua, tàu đậu nối đuôi chiếc Đại Dương. Hôm nay là ngày hăm bốn tháng Chạp dương lịch, vậy mà chiếc Đại Dương vẫn xuống hàng với hai cần trục và năm sáu xe vận tải chạy tới chạy lui dẫm tuyết dấy bùn nhầy nhụa. Trông công việc rấp rút chắc chắn chiếc Đại Dương sẽ khởi hành trong vài giờ sắp tới. Như vậy năm nay thủy thủ đoàn bên ấy sẽ mở tiệc Giáng Sinh trên biển và luôn cả tết tây tàu họ vẫn còn lênh đênh trên sóng nước. Ðúng ra nghe thông báo chiếc Tina đậu lại qua Giáng Sinh mới khởi hành, thủy thủ đoàn vui vẻ, hào hứng làm đẹp con tàu và cùng nhau sửa soạn cho bửa tiệc Giáng Sinh thêm phần sống động. Ðằng nầy mạnh thằng nào nấy rút vô phòng đóng cửa lại. Mùa đông ngoài trời tuyết rơi lạnh lẽo, ấy vậy mà không khí trong tàu còn lạnh hơn ở ngoài trời. Mùa Giáng Sinh bên Âu châu người ta ăn uống nhiều lắm. Mặc dầu mấy ngày nầy thức ăn luôn lúc nào cũng đầy bàn, đầy tủ lạnh. Thực đơn thường ngày cho thủy thủ tuy không sang trọng như những nhà hàng lớn nhưng phẩm chất ăn đứt những căn-tin tập thể trên đất liền và hơn hẳn bửa ăn bình thường ở nhà. Bửa ăn nào cũng năm món và một vài món tráng miệng. Ấy vậy mà có tên ngốc nghếch ngồi ngó dáo dác bàn ăn, không biết chọn món nào. Cuối cùng đứng dậy đi vô phòng bếp hỏi: – Sếp ! Hôm nay có món nào đặc biệt không ? Ðầu bếp hỏi lại: – Cái gì đặc biệt ? Thì hắn ta giơ tay lên gãi gãi đầu, trơ cái bảng mặt đần độn ra, trả lời: – Không biết. Làm như trong ngày Giáng Sinh không ăn được thỏ và gà tây thì sau khi chết sẽ sa vào hỏa ngục hay sao? Mỗi năm, hễ đến tháng Chạp thì có người nhắc nhở đầu bếp phải đặt mua hai loài vật nầy để sẵn trong tủ đong đá. Mấy ngày nầy gà Tây và thỏ bày bán lềnh khênh trong các siêu thị, rẻ như bèo, thịt gà thì lạt nhách, mùi tanh tanh, khô khốc như xơ dừa khô, may gặp đầu bếp khéo tay ướp gia vị đúng cách, pha nước xốt ngon còn nhấm nháp được, bằng không hai miếng thịt dưới ức coi như đồ bỏ. Thỏ nấu rượu chát trước kia còn có người ăn, ngày nay dọn ra để ngó chơi chớ ít thấy người rớ tới. Hơn hai mươi năm làm đầu bếp, tuy tôi chưa từng cắt cổ, nhổ lông thú vật nhưng ngày nào tay tôi cũng dính máu, không con nầy cũng con kia. Trong những ngày cuối năm, tôi thịt ít nhứt cũng một chục ký gà tây và bốn năm con thỏ, đó là chưa kể tới thịt thà, tôm, cá mà tôi chế biến thức ăn hàng ngày và các món nhậu lai rai. Quả thật, nếu có luân hồi, quả báo thì kiếp sau tôi khó trở lại làm người. – Chú, có chuyện gì phụ không ? Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng ngoài cửa phòng bếp. Tôi chỉ tay qua bình cà phê, nói: – Có, nhưng rót cà phê uống và ăn cái gì đi đã. Bobby là thủy thủ mới tập nghề, nó theo đạo Tin-lành và nói khá tiếng Anh, còn trẻ nên nói chuyện hay ra vẻ hiểu biết. Gặp mấy tên thủy thủ hải hành lâu năm theo đạo Hồi, nhưng không bao giờ đọc kinh Koran, ngoại ngữ đủ để cột dây tàu và gõ sét. Thấy Bobby ma mới nhưng khôn và lanh lợi hơn, mấy ông hè nhau cô lập thằng nhỏ. Bobby không biết chơi với ai nên nó mới lẽo đẽo theo tôi. Bề ngoài lúc nào tôi cũng giữ khoảng cách nhưng có cơ hội thì tôi giúp đỡ và an ủi nó. Làm đầu bếp cho một nhóm người tạp nhạp, muốn thân thiện với người nào cũng cần phải có thời gian, hấp tấp kết giao lỡ gặp những tên không biết điều sẻ gây rắc rối trong việc nấu nướng. Chờ Bobby ăn, uống xong tôi phân công nó lột tôm và chỉ cách đánh nước xốt làm cốc-tai. Phần tôi thì lo nướng gà và hầm thỏ. – Chú à. – Gì đó. – Năm nay mình có Giáng Sinh trắng. – Vùng nầy mùa đông nào lại không có tuyết. – Hồi nhỏ tới lớn lần đầu tui thấy tuyết. – Vậy là ở In-đô Giáng Sinh đen. – Ha ha… – Cười khỉ gì, nếu không trắng thì đen, nhưng Giáng Sinh bên mầy có ăn gà tây và thỏ không? Có, nhưng những gia đình theo đạo Tin-lành và Thiên Chúa thôi, chớ đạo Hồi thì không. – Hèn chi.. – Gì chú. – Đúng ra giờ nầy thủy thủ xuống dọn dẹp và trang hoàng phòng ăn, chớ có đâu mạnh thằng nào nấy nằm trong phòng riêng lo thủ dâm. Ha ha, để lột tôm, đánh xốt xong tôi ra trang hoàng phòng ăn cho. Hôm kia thuyền phó thấy cây thông bị sóng lắc ngã, kêu mấy ông dựng lại, mấy ông nói nói Giáng Sinh không phải lễ của đạo Hồi nên không ông nào chịu làm. – Chờ người ta làm sẵn nhào vô đốp. Đạo gì mà khôn quá vậy? – Đạo Hồi chớ đạo gì. – Phải chi được ở bên In-đô tao cũng theo đạo Hồi cho sướng. Chiều hôm qua hội nhà thờ xuống tặng quà, ông nào ông nấy khúm núm, nhăn răng cười vui vẻ đưa tay đón nhận và cúi rạp đầu muốn đụng đất, miệng rối rít cám ơn, nhưng khi người ta đi rồi mấy ông lựa lấy quà, còn sách báo rao giảng về nước Thiên Ðàng và kinh Thánh mấy ông cầm lên, gằn giọng nói: “shit!”. Rồi đem liệng vô thùng rác. Nhưng thôi, bỏ cái chuyện đạo Hồi qua một bên. Hôm nay Giáng Sinh mình lo chuyện đạo Chúa cái đã. Mầy cũng không cần phải trang hoàng phòng ăn làm gì. Lâu lâu đi nhằm chuyến tàu gì mà giống như chuồng thú. Thuyền trưởng thì như con lật đật không khi nào ngồi yên một chỗ, thuyền phó mặt mài râu ria như người tiền sử, phụ thuyền phó thì mỏ nhọn, răng hô nghe ra giống khỉ đột, thợ máy chánh mập như voi và ăn như heo, chỉ có thợ máy phụ còn trẻ và đep trai nói năng tử tế, phần còn lại mở miệng là chửi thề, ăn nói tục tĩu, cự nự nhau suốt ngay. Thủy thủ In-đô của mầy có bốn thằng mà cũng chia phe chia cánh, như vậy cũng đủ biết bữa tiệc hôm nay không kéo dài hơn một giờ đồng hồ đâu. Nấu cho người ăn thì phải khác hơn cho ngợm ăn, bày biện làm chi tốn công tốn sức. Trong phòng ăn không căng giấy màu, cây thông dựng tuần trước bị sóng vật ngã mấy lần làm lá thông rụng sạch không còn lấy một màu xanh, những nhánh cây khẳng khiu bán vào thân cây xám xịt, mấy món đồ chơi và dây kim tuyến treo lủng lẳng làm quằn chiếc cành, vài nhành bị gãy cụp xuống, đèn điện bóng cháy bóng tắc. Quả thật, nếu khắp nơi ai ai cũng mừng Chúa giáng sinh với cây thông thê thảm như vầy, chắc chắn ông Jêsu sẽ không bao giờ trở lại trần gian như lời ông đã hứa. Thuyền trưởng ôm thùng quà quà xuống, phát cho mỗi người một gói giống như người ta phát quà cứu nạn bão lụt. Không có nhạc Giáng Sinh, không nâng ly mời rượu, không chúc lành nhau. Mạnh ai nấy ăn, nấy uống giống như dân Bắc Hàn bị nhịn đói lâu ngày… Đúng như đầu bếp tuyên đoán, chưa đầy một giờ đồng hồ, bàn tiệc bắt đầu rời rạc. Đám đạo Hồi In-đô xí xô xí xào kéo nhau định đứng dậy. Chợt nghe đầu bếp thông báo, buổi chiều phòng bếp đóng cửa. Mấy anh Hồi giáo như hay tin bão lụt sắp tới nơi, anh nào anh nấy hấp tấp chồm lên, buôn cả dao nĩa, trở lại truyền thống ăn bốc, vói tay bốc thức ăn bỏ đầy dĩa bưng lên phòng dự trữ. Đám officer ngồi cầm cự một lát rồi cũng đứng dậy mạnh ai nấy về phòng. Bữa tiệc chấm dứt chưa đầy một giờ trưa. Coi như xong công việc sớm, đầu bếp khoẻ re. Tôi lên phòng tắm rửa sạch sẽ, thay đồ, leo lên giường đánh một giấc tới chiều. Tôi có thói quen mùa hè bận áo mỏng, Xuân – Thu tôi khoác áo dầy vừa phải, mùa Đông tôi bận áo dầy cộm, choàng khăng cổ thảm nhiên tà tà thả bộ năm ba cây số là thường. Ðêm nay Giáng Sinh, tôi bận áo len bên ngoài áo sơ mi và đặc biệt hơn thắt lên cổ áo chiếc cà-vạt. Những ngày nầy tôi thích lang thang ngoài trời, sau đó ghé hội quán mua chai rượu đỏ, tới chiếc bàn trong góc nơi có dựng cây thông, ngồi đây vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn đồ chơi treo lũng lẵng trên nhánh thông, những bóng đèn màu chớp chớp đủ màu sắc, ngửi được mùi dầu thông tỏa thơm ngai ngái và nhìn được những sinh hoạt xôn xao trong hội quán. Khi bước lên bến, tôi thấy Bobby tay kẹp điếu thuốc đi tới đi lui trên kè đá. Ngạc nghiên tôi hỏi nó: – Sao mầy còn đứng đây? Mặt rưng rưng buồn, nó nói: – Tôi không biết đi đâu hết chú à. – Sao mầy không theo xe hội quán. Mấy người kia không cho tôi theo Xe của hội quán chớ xe của mấy người kia sao? Bobby lắc đầu: – Tôi không biết. Nhưng tôi biết ! Đã sống chung chạ với dân In-đô ngót hai mươi năm. Tôi đâu còn lạ gì tánh tình cùa họ, mười người hết bảy tám, mới ra làm việc nước ngoài mặt thằng nào cũng ngơ ngơ ngáo ngáo như người rừng ra phố. Sau một hai năm, quen bơ, quen sữa bắt đầu hống hách nghênh ngang. Muốn chứng tỏ văn minh hơn đồng hương, không còn cách nào khác ngoài chuyện bỏ truyền thống ăn bốc và chê món ruốc khô (trassie), món quốc hồn quốc tùy của In-đô, thúi ăn không vô. Lại thêm cái màn ma củ bắt nạt ma mới. Mấy tháng nay Bobby bị mấy ông hiếp đáp. Tôi biết hết nhưng đó là chuyện riêng tư của họ tôi không xía vào. Biết đâu Bobby đi được một vài năm thì cũng cá mè một lứa. Mặc kệ nó, tôi nhấn mạnh gót giày, quay lưng cất bước. Chiếc Đại Dương rời bến hồi nào không biết. Dấu nhầy nhụa như bùn của những bánh xe bốc hàng ban sáng đã được tuyết lấp không còn dấu vết nào, thay vào đó là một màu trắng tinh khôi.Trên những chiếc cần trục dọc theo bến cảng người ta kết hàng ngàn bóng đèn nhỏ thành hình ngôi sao, trái tim và hình cây thông đủ sắc màu nhấp nhau nhấp nháy. Chiếc cầu dài uốn cong nối hai bờ sông Elbe, ánh đèn rực rỡ chiếu xuống dòng sông hực sáng làm cho nền trời đã tối lại càng tối tăm. Tiết trời câm câm lạnh, không gian im lìm nhưng tràn đầy thánh thiện. Vạn vật như thể hồi sinh câu chuyện cách đây hơn hai ngàn năm ở thành Bết-lê-hem… Khi chưn bước đều và tâm tư lắng đọng, chợt gương mặt dàu dàu của Bobby hiện ra làm tôi chạnh lòng. Tôi nhớ lại trong đời, tôi cũng có một đêm Giáng Sinh đầy tủi nhục. Cũng vì cái tật ưa ra vẻ hiểu biết trước những người không hiểu biết, nhưng thủ đoạn thì thâm độc vô cùng. Họ mời tôi tới dự tiệc, rồi cả đám xúm nhau vu khống, chửi rủa thậm tệ, thu vô chiếc băng nhựa, qua Giáng Sinh họ sang ra nhiêu cuốn gởi khắp bạn bè làm quà Tết. Sau khi xối xả hết những lời lẻ bẩn thỉu, hạ cấp lên người, họ tống cổ tôi ra đường như tống một con vật dơ dáy và kèm theo lời nhân nghĩa, nếu không nghĩ tình đồng hương thì sẽ cho tôi một trận đòn hội chợ. Khi thoát nạn, tôi run rẩy đạp tuyết bước đi nhưng trong lòng đầy oán hận. Trong lúc cô đơn và tuổi nhục đầu óc tôi toan tính chuyện trả thù. Bỗng tai tôi nghe trong không gian tiếng chuông nhà thờ reo inh ỏi. Tôi đứng lịm hồi lâu, đưa tay ra hứng từng nắm tuyết lấp lên mặt, chà tới chà lui, tỉnh táo. Tôi ngước nhình lên bầu trời trắng đục. Dường như trong tiếng chuông ngân giữa không trung lạnh lẽo toả sự ấm áp thiên liên nào đó. Chợt từ sâu trong tâm thức vọng về hai tiếng ăn năn. Bỏ qua chuyện rửa hờn, tôi đi một mạch về nhà, tắm rửa, thay đồ ngủ, tắc hết đèn phòng và đốt ngọng đèn cầy, lên giường nằm, kéo mền đắp lên tới cổ. Ðêm nay là ngày Chúa xuống trần, những phiền não trong lòng, tôi có thể giao hết cho Ngài được rồi. Tôi hướng tâm tư tới những điều thánh thiện hơn, tôi nhớ lại những người ơn đã nâng đỡ tôi trong những ngày còn chưn ướt chưn ráo tới đây, kẽ cho áo, quần, người dạy tiếng nói, cho việc làm… Tính ra tôi đã mang ơn nhiều người quá, tới nay tôi chưa làm được điều tốt lành để đền đáp. Lòng tôi lâng lâng một niềm hy vọng và tôi thiếp đi trong giấc ngủ ngon lành. Sáng hôm sau thức dậy, mọi chuyện xảy ra trong đêm qua chỉ còn là cơn ác mộng. Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng trơ như pho tượng, mặt ngó ra dòng sông Elbe. Tuyết lại đổ nữa rồi, tuyết tuôn đầy đầu, đầy cổ và trắng cả lưng mà nó vẫn không xuống tàu trốn tuyết. Có lẻ nó đương cô đơn, tủi nhục và nhớ nhà, những thứ nầy dễ làm cho con người ta sanh ra lòng thù hận. Trên bước đường lưu lạc nó không còn hy vọng trong tình đồng hương, vậy sao tôi còn hẹp hòi gì mà không chia sẻ cho nó chút tình người. Tôi chụm hai bàn tay lên miệng làm loa kêu lớn: – Bobby !!! Lâu lắm rồi tôi mới nghe tiếng kêu của mình rền vang trong không khí. Ngày còn là ngư phủ bên bờ vịnh Thái Lan, tôi đã từng quát tháo mỗi khi gặp bầy cá nổi ngoài khơi. Âm thanh ấy đêm nay vẫn còn mãnh lực làm giựt mình cái pho tượng đứng trơ mặt ra dòng sông. Bobby tức tốc day lại và đi nhanh về phía tôi: – Chuyện gì đó chú? – Mầy muốn đi chơi với tao hông? Như người đắm thuyền bá được phao, nó nói nhanh: – Dĩ nhiên. – Nhưng phải đi bộ lên hội quán. – Được, được chú đi đâu tôi theo đó. – Vậy thì mình đi. Bobby hỏi tôi: – Đêm nay trên hội quán chắc vui lắm phải không chú? Vui buồn là do lòng mình, tôi câu vai thân mật nói tiếp, đêm nay ngồi nơi yên ổn uống rượu nho, nghe nhạc Giáng Sinh, lòng ấm áp vô cùng. Tôi khoa tay một vòng: – Nếu lên hội quán mầy thấy hổng được vui thì năm nay mầy cũng có một Giáng Sinh trắng. Phải không?. Gương mặt đưa đám biến mất, nó cất tiếng cười vang: – Ha ha… đúng lắm, đúng lắm…. nhứt định đêm nay tôi với chú uống cho say mới được.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.