Nhóm lửa trong mưa

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted on 20 Oct 2022

Post by Sơn râu 5 Sep 2023

Lời Giới Thiệu: Quý độc giả của Trẻ đã từng hồi hộp, say mê ngay cả bàng hoàng khi đọc những trang hồi ký của cựu Thiếu Tá Vương Mộng Long K20 về sự chiến đấu và hy sinh đầy bi tráng nhưng không kém phần lẫm liệt của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân trong trận Pleime do chính ông chỉ huy. “Nhóm lửa trong mưa” một bài viết ngắn của tác giả về một chút bối cảnh mà con người cố sinh tồn trong tù ngục của cộng sản.

Thuở đó, vào đầu năm 1981, chúng tôi, bảy người tù cải tạo của Trại Z30C Hàm Tân, Thuận Hải chiều nào cũng quây quần bên nhau, vây quanh một nồi canh rau muống.

Rau trong nồi chỉ là phần canh của trại chia cho mỗi người góp lại, thêm một muỗng bột nêm Vị Hương và vài con tôm khô.

Trong cơn đói kém, trước mắt chúng tôi, nồi canh rau muống còn quý hơn cái Lẩu số 1 của nhà hàng Tài Nam buổi thịnh thời.

Bảy anh em chúng tôi đều xuất thân từ Trường Võ-Bị Quốc Gia Việt-Nam, thứ tự từ trên xuống dưới, lớn nhất là anh Trần Ngọc Toàn, khóa 16, kế đó là anh Nguyễn Nho, khóa 19, rồi tới bốn người khóa 20, Vương Mộng Long, Trần Hữu Bảo, Lê Ngọc Răng, và Lê Tấn Tài, nhỏ nhất là Tạ Văn Quang, khóa 24.

Những người khác thì được giao nhiệm vụ xách nước, nhặt rau, bổ củi, nêm nếm, dọn mâm, riêng tôi, Võ Bị Vương Mộng Long, được phân nhiệm làm hai công tác cố định là nhóm bếp và rửa chén.

Tôi là dân đi rừng chuyên nghiệp, với một bó xơ ruột cây buông đã khô, chỉ một phút sau tôi đã nhóm xong một bếp lửa hồng, hết việc!

Ðói kinh niên, nên nồi canh rau muống mỗi ngày cũng giúp chúng tôi lấp được phần nào cái khoảng trống trong dạ dày.

Một bữa đẹp trời, “Ông Già Ba Tri” Lê Ngọc Răng cắm câu được một con cá lóc to bằng cổ tay. Con cá xấu số là cư dân hiếm hoi của Suối Kiết, Hàm-Tân.

Nồi canh rau muống hôm nay có cá chắc là ngọt lắm!

Tôi chưa chuẩn bị xong mớ bùi nhùi thì trời nổi cơn giông, rồi những hạt mưa từ trên cao rớt xuống ào ào…

Quanh tôi, những bếp lửa tắt ngúm! Các ông bạn tù ùn ùn vác nồi niêu chạy vào phòng ăn tránh mưa.

Tôi có cái bếp di động làm bằng tôn; tôi vác nó vào phòng ăn, rồi nhóm lửa.

Khói của mớ bùi nhùi làm cho vài vị tù đứng cạnh đó khó thở, ho khù khụ.

Anh Toàn khều tay tôi,

– Coi chừng thằng cán bộ Liến! Nếu thấy khói trong nhà ăn thế nào nó cũng vào kiểm tra!

Tôi phẩy tay,

– Kệ mẹ nó! Trời nắng thì mình nấu ngoài sân, trời mưa mình nấu trong nhà, mình có bếp chứ có nấu trên sàn nhà đâu mà lo!

Nước bắt đầu reo “Ục! Ục!” thì trời quang đãng trở lại, tù lục tục kéo nhau ra sân, tiếp tục nhóm bếp.

Tôi định xách bếp ra sân, thì Võ Bị Lê Tấn Tài ngăn tôi lại,

-Khỏi di chuyển! Hai phút nữa là xong! 

Chuyên viên nêm nếm Lê Tấn Tài vừa thả con cá lóc vào nồi canh thì nghe tiếng quát,

– Cá… cá… các a… a… anh làm cá… á… ái… gì trong này? A….a… ai cho phép đốt lửa trong nhà ăn?

Tên cán bộ Công-An Việt-Cộng này nói cà lăm. Chúng tôi nghe đã quen. Tên y là Liến, Liến Cà Lăm.

Bảy ông Võ Bị đứng ngây ra nhìn nhau.

Cải tạo viên Lê Ngọc Răng xoa hai tay, cười cầu tài,

– Trình cán bộ ngoài kia mưa to quá, anh em có cái bếp di động nên nấu tạm trong này.

Cán bộ Liến lườm ông Răng một cái rồi lớn tiếng hỏi:

– Cái bếp này là của ai?

Tôi đáp,

– Của tôi!

– A… a… anh Long! A… a… anh đem cái bếp và cái nồi vi phạm kỷ luật này ra ngoài văn phòng trực trại cho tôi!

– Tôi không đem!

– Tô… tô… tôi ra lệnh cho anh! Ðem nó ra phòng trực cho tôi ngay!

– Cán bộ nói rằng cái nồi và cái bếp vi phạm kỷ luật! Tôi không vi phạm kỷ luật! Tôi không đem!

Nghe tôi lý sự cù nhầy, cán bộ Liến tức quá, đứng phùng mang trợn mắt, nhìn tôi, rồi ngoái đầu ra cửa,

– A… a… anh Mão và… ào… ào… vào đây ngay!

Có tiếng đáp từ ngoài hiên,

– Dạ!

Người tù đi theo cán bộ Liến để kiểm tra hôm đó là cải tạo viên Hoàng Mão, Ðội phó thống kê của Ðội 3 trại cải tạo Z30C.

Liến chỉ tay ra lệnh cho Mão,

– A… a… anh đem cái nồi và cái bếp này ra phòng trực trại!

– Dạ!

Cải tạo viên Hoàng Mão có vẻ miễn cưỡng, từ từ tiến về phía cái lò lửa đang cháy phừng phừng.

Khi Mão đi ngang mặt tôi, tôi nghiến răng nhắn vào tai anh ta,

– Ð! Mẹ mày!

Sau đó bảy anh tù đói khổ chỉ còn cách giương to mười bốn con mắt buồn rầu nhìn nhau.

Anh Ðội phó thống kê Hoàng Mão thì lặng thinh như người máy, cúi mặt đi về hướng cổng, tay xách cái lò có nồi canh cá đang sôi.

Cán bộ Liến chỉ mặt tôi ra lệnh,

– A… a… anh ra phòng trực trại chờ gặp tôi!

Liến rời phòng ăn, rảo bước về phía những cái bếp đang bốc khói sau nhà.

Tôi dợm bước đi thì anh Răng dúi vào tay tôi cái áo tơi nylon của ai đó treo trong phòng ăn,

– Mặc cái áo tơi này vào, nếu có bị cùm thì ban đêm cũng đỡ lạnh!

Tôi ra tới cổng thì cải tạo viên Hoàng Mão cũng từ phòng trực quay trở lại, anh ta nhìn trước, nhìn sau rồi chỉ tay về hướng đầu hồi,

– Tau giấu nồi canh của mi ở góc hiên. Nhớ ra đó mà lấy! Còn cái bếp lò thì đành phải mất thôi!

Thì ra anh đội phó này cũng còn lương tâm! Tôi cảm thấy hối hận vì vài phút trước đây tôi đã nặng lời chửi anh ta!

Hoàng Mão cũng là dân Võ Bị, bạn cùng khóa của tôi. Nó không phải là Trật Tự hay Thi Ðua, nhưng không biết vì lý do gì mà chiều nào nó cũng đi theo cán bộ để điểm danh và khóa cửa buồng của chúng tôi.

Chừng nửa giờ sau thì cán bộ Liến trở về.

Y chỉ cho tôi ngồi xuống ghế, vứt cho tôi một tờ kiểm điểm đã in sẵn.

Tôi điền vào khoảng trống sau hai chữ “Vi phạm” một câu sau đây:

“Nấu bếp trong nhà ăn khi trời mưa”

Rồi ký tên.

Liến cũng ghi quyết định của y trên giấy:

“Hình phạt cảnh cáo”

Rồi y cũng ký tên.

Trước khi cho phép tôi về buồng, Liến hăm he,

– Nhờ co… o… ó… ó… có anh Mão làm chứng rằng anh lao động tốt nên tôi tha không phạt cùm! Tôi cảnh cáo anh lần đầu. Nếu còn tái phạm thì biết tay tôi đó!

Tôi vào cổng, nồi canh cá không còn ở đầu hồi. Chắc các bạn tôi đã thấy và mang nó đi rồi.

Trong phòng ăn, sáu anh bạn Võ Bị của tôi đang ngồi quanh nồi canh, họ không biết tình trạng của tôi ra sao, nên chưa động đũa.

Tôi bước vào phòng. Thấy tôi, các bạn tôi cùng mừng rỡ, thở phào nhẹ nhõm.

Võ Bị Lê Tấn Tài vớt con cá lóc ra cái đĩa to, tay anh cầm cái muỗng và đôi đũa, cẩn thận chia thịt con cá ra làm bảy phần bằng nhau,

– May quá! Long không bị cùm. Nếu Long mà bị cùm thì anh em chắc không ai nuốt nổi những miếng cá thơm tho này.

Võ Bị Tạ Văn Quang bỗng chửi đổng:

– Ðù má thằng Hoàng Mão chó săn!

Tôi đưa tay bịt miệng chú Quang,

– Ðừng chửi nó! Oan cho nó! Nó giấu nồi canh cho mình đó! Nếu là Trật Tự Liễn hay Thi Ðua Di thì nồi canh đã mất, mà tôi cũng bị cùm rồi!

Trật Tự Liễn, không rõ họ gì là người Bắc Di Cư, gốc Xây Dựng Nông Thôn, còn Thi Ðua Di là cựu Trung tá Trần Mộng Di gốc cựu quận trưởng. Hai tay này là trợ thủ đắc lực rất tin cậy của cán bộ Liến.

Tôi từ từ kể cho bạn mình nghe những gì mà tôi đã chứng kiến ngoài rào trại và trong phòng trực chiều hôm đó. Nghe xong, anh chàng nóng tính Tạ Văn Quang mới hết ấm ức.

Từ ngày mất cái bếp di động, mỗi lúc trời mưa, các bạn tù của tôi lại có thêm nhiệm vụ cắt cử hai người căng một tấm vải nhựa che cho tôi.

Cứ thế, qua ngày, lâu lâu nồi canh rau muống tôm khô của chúng tôi lại có một con cá lóc cắm câu của Ông Già Ba Tri Lê Ngọc Răng.

Một ngày tháng Sáu, trời mưa tầm tã.

Tôi cố hết sức mình để nhóm bếp.

Lửa cháy vừa hết một nhúm bùi nhùi, chưa kịp bắt vào củi, thì gió lại thổi ào ào tưới nước, làm cho khói trắng bốc lên, mịt mù.

Nước mắt trào ra cay sè, tôi tưởng như mình sắp đui.

Bên cạnh bếp của tôi là bếp của anh tù cải tạo cựu thiếu tá khóa 13 Hải Quân.

Miệng anh ta cứ ư ử, rên,

“Tháng Sáu trời mưa, trời mưa không dứt,

Trời không mưa, anh cũng lạy trời mưa…”

(Thơ Nguyên Sa)

Ban Mê Thuột 1988 – Hai cựu tù cải tạo: Th/tá Vương Mộng Long (con rể) & Tr/tá Đinh V. Võ (bố vợ)

Tôi thấy vào giờ phút đó, giọng ca móc họng này sao mà dễ ghét!

Ðốt hết ba bó bùi nhùi mà củi chưa chịu cháy, tôi tức quá quát lên,

– Câm đi! Mày cứ lải nhải cầu trời mưa! Ông mà điên tiết thì ông đấm gãy răng mày bây giờ!

Nghe tôi hăm, thằng phải gió đó đã không sợ mà còn trơ mặt thách thức,

-Thì ông cứ đấm gãy răng tôi đi! Tôi không thèm đánh lại ông đâu! Ông ghét mưa, là quyền của ông, còn tôi thích mưa, là quyền của tôi!

Rồi không thèm nhìn mặt tôi, nó tiếp tục rên,

– Tháng Sáu năm xưa, trời mưa, tôi gặp em… Tháng Sáu năm xưa mình làm đám cưới! Vậy mà sáu năm qua rồi, mình không trông thấy nhau! Giờ này anh đang ở Z30C Hàm-Tân, Thuận-Hải. Anh không biết giờ này em đang ở đâu? Em ơi! Giờ này em ở đâu?… Em ở đâu?

Mưa dần dần bớt cơn nặng hạt. Cuối cùng bếp của tôi cũng cháy.

Rảnh rang rồi, tôi nhìn lại, lắng nghe, lúc này hình như giọng ca của thằng phải gió có vẻ hơi run, hơi nghẹn ngào?

Tôi bước về phía nó, nghiêng đầu nhìn vào mặt nó, thì ra nó đang khóc!

Nó đội cái nón lá rộng vành, nước mưa không hắt vào mặt nó được, nhưng tôi nhìn thấy, rõ ràng, nước mắt nó đang chảy thành dòng trên gò má phong sương, sạm nắng.

Nước mắt nó rớt xuống cằm, rồi rơi trên ngực nó.

Nó cởi trần, người nó đang bốc hơi…

Anh tù cải tạo này xuất thân là một thủy thủ, nhưng hình như anh ta lại mang tâm hồn của một thi nhân. Lúc nào tôi cũng thấy anh mơ mơ, màng màng.

Ðã có lần anh tâm sự với tôi rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975 anh đã lái tàu tới Phi Luật Tân, rồi được người Mỹ đưa qua đảo Guam.

Nhưng sau đó, vì thương con, nhớ vợ, lại nghe lời đường mật của dân biểu Nhữ Văn Úy kêu gọi, anh đã làm người “Guam Quay” leo lên tàu Việt Nam Thương Tín trở về.

(Guam Quay: là danh từ chỉ những người Việt tị nạn trở về trên tàu Việt Nam Thương Tín).

Tôi chẳng biết sáu năm qua, anh ta đã ở những trại giam nào; cho tới đầu năm 1981 thì tôi và anh gặp nhau trong Ðội 7 ở Trại Z30C Hàm-Tân, Thuận- Hải.

Từ ngày về Việt-Nam, anh ta chưa có tin tức gì của gia đình.

Bỗng cách đây vài tuần, có người lên thăm anh.

Trước lúc quẩy đôi quang gánh theo chân cán bộ để ra cổng, anh đã hớn hở khoe với tôi,

– Vậy là sau sáu năm đợi chờ, cuối cùng “nàng” cũng đi thăm tôi. Sáu năm dài, một nách ba đứa con thơ. Chắc “nàng” vất vả, khổ sở lắm! Tôi phải cảm ơn “nàng”!

Chiều đó, gánh một gánh quà rất nặng trở về Ðội 7, nhưng tôi thấy mặt anh rầu rĩ không vui.

Từ ấy, anh cũng tránh trò chuyện với bạn tù cùng buồng.

Một hôm, vào giờ giải lao, tôi thấy anh đứng một mình giữa đồng không, ôm cán cuốc mắt ngước nhìn trời, tôi thắc mắc,

– Có tâm sự gì buồn?

Ðôi mắt anh mở to, đờ đẫn,

– “Nàng” đã đi rồi!

Tôi gợi chuyện,

– Vậy mấy tuần trước, anh có người thăm, người đó là ai?

– Bà mẹ vợ của tôi, đi cùng đứa em gái của nàng.

– Nàng đâu rồi?

– Nàng đã đi rồi! Nàng đã đem con vượt biên cùng người tình mới!

– Lâu chưa?

– Hai năm! Ðợt Hoa Kiều ra đi bán chính thức.

Tôi không hỏi tiếp, khơi vết thương lòng của người khác là điều tôi phải tránh.

Nhìn tôi, anh hỏi,

– Này! Ông có thể cho tôi một lời cố vấn được không?

– Cố vấn chuyện gì?

– Chuyện nhà, tôi nói cho ông nghe, để ông có ý kiến gì giúp tôi không?

– Nói đi!

– Bà già vợ tôi lên thăm, đem theo một gánh quà và một cô em vợ. Dì nó nhỏ hơn vợ tôi một giáp. Ngày tôi cưới vợ tôi, thì dì nó còn bé, nay thì dì nó đã mười chín tuổi. Bà mẹ vợ tôi nói thế này: “Con Hòa nó đi theo người ta mất rồi! Nay mẹ đem con Thuận lên để đền cho con. Bao giờ con được tha, mẹ sẽ làm đám cưới cho con với nó.”

Anh ngừng lại một giây, tôi thấy đôi mắt anh rơm rớm lệ.

Anh cúi xuống để cho cằm anh đè trên đầu cán cuốc, rồi nói như than,

– Ông xem! Tình yêu có phải là đồ vật đâu mà người ta có thể đem một đổi một?

Nghe anh bạn nói, tôi chỉ biết lắc đầu,

_ Chuyện nàythì mình chịu! Không cố vấn gì cho bạn được!

Thế rồi tháng Sáu đi qua.

Hết mưa tháng Sáu, qua mưa tháng Bảy.

Rồi hết mùa Ngâu, rồi sang Trung Thu, rồi tới Nguyên Ðán.

Lần lượt theo nhau, các bạn tôi, Trần Ngọc Toàn, Nguyễn Nho, Lê Tấn Tài, Trần Hữu Bảo, Lê Ngọc Răng, Tạ Văn Quang và anh Hải Quân Khóa 13 đều được thả.

Tới cuối năm 1985 tôi bị chuyển sang Trại Z30D Hàm Tân, Thuận Hải.

Ít lâu sau khi chuyển sang Z30D, tôi nghe được tin vui, các anh Trần Ngọc Toàn, Nguyễn Nho cùng bạn Thủy Thủ “Guam Quay” vượt biên thành công, đã tới đất Mỹ.

Rồi bạn tù cựu quân nhân chế độ cũ của tôi ở Z30D cũng dần dần theo chân nhau bước qua cổng; tôi vẫn còn ở đây.

Sau mỗi đợt phóng thích, trại đều “biên chế” lại.

Tôi bị đưa vào những căn nhà giam kiên cố hơn, nghiêm ngặt hơn, sống chung với tù vượt biên, tù phản cách mạng, tù chiêu hồi.

Hai mùa tháng Sáu, tháng Bảy đi qua, tôi tiếp tục nhóm bếp, nhưng chỉ đứng dưới mưa một mình…

VML-K20

“Ai Lên Xứ Hoa Đào” và mối tình ngang trái của người nhạc sĩ tài hoa

cafevannghe.wordpress.com

Post by Sơn râu 5 Sep 2023

Đà Lạt bồng bềnh phiêu lãng, Đà Lạt mờ hơi sương, Đà Lạt của màu hoa đào, của rừng thông, của Hồ Than Thở, của thung lũng Tình Yêu. Mọi thứ ở Đà Lạt đều tràn ngập màu sắc lãng mạn. Nhưng nói đến ca khúc nào viết về Đà Lạt nào hay nhất, đẹp nhất, ấn tượng nhất, thì ai cũng nói rằng, đó là “Ai Lên Xứ Hoa Đào” của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Hoàng Nguyên….

Đà Lạt, một trong những địa danh được ưu ái nhất của những nhạc sĩ tài hoa…  Đà Lạt, thành phố của ngàn hoa, từ lâu đã đi vào lòng bao khách lãng du bằng vẻ đẹp sương – gió – mây – trời – cỏ cây. Hai tiếng “Đà Lạt” đã đủ khiến người ta mơ mộng. 

Trong những năm tháng dạy học tại Đà Lạt vào thập niên 1950, niềm cảm hứng đã tới để nhạc sỹ tài hoa Hoàng Nguyên (1932-1973), người thầy của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, cho ra đời tác phẩm bất hủ này. 

Lãng mạn, mộng mơ và tuyệt đẹp… ta có thể tìm thấy tất cả cảm giác bồng bềnh đó ở Đà Lạt, ở “Ai Lên Xứ Hoa Đào”. 

Từ đồi Vọng Cảnh, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa bức tranh; triền thông vi vu gió như “thôi miên” ta vào cõi hư vô; những ngôi nhà gỗ xinh xắn thấp thoáng trên những ngọn đồi đầy hoa cho cảm giác yên bình đến lạ lùng; những con đường đất đỏ vòng vèo đưa khách phiêu lưu cùng đỉnh Langbian thấp thoáng trong mây…

Những ca khúc tuyệt vời của Hoàng Nguyên viết về Đà Lạt đã được sinh ra chính trong thời gian nhạc sỹ sống và dạy học ở thành phố mù sương, trong tuổi hoa niên tươi đẹp, lãng mạn của chàng thanh niên hai mươi tuổi Hoàng Nguyên. 

Có lẽ, trái tim đôi mươi dâng tràn nhựa sống, cảm hứng thi ca trong chàng trai trẻ mang tâm hồn nhạc sỹ đã không thể không bật thành lời trước một Đà Lạt quá đỗi nồng nàn. Ngay từ những lời đầu tiên, những nốt nhạc đầu tiên được cất lên, một Đà Lạt mơ huyền, lãng mạn, một Đà Lạt mang đậm “chất Đà Lạt” đã hiện ra trong lòng người nghe: 

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ 

Ca từ tuyệt đẹp, giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào đã mang lại cho “Ai lên xứ hoa đào” một vị trí đặc biệt trong lòng người Đà Lạt, người yêu Đà Lạt và làng âm nhạc Việt. Và dù bài hát đã ra đời quá nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc tới Đà Lạt, không ai có thể không nhớ tới ca khúc tuyệt vời ấy.

Đà Lạt của Hoàng Nguyên in dấu mộng “Đào Nguyên” của nhạc sĩ Văn Cao

Là người hâm mộ Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao, chắc hẳn những hình ảnh về một cõi thiên thai “Đào Nguyên” nơi hai chàng Lưu Nguyễn lạc bước đã in dấu trong lòng người nhạc sĩ:

“Đào Nguyên xưa, Lưu Nguyễn quên đường về, tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao..” (Thiên Thai- Văn Cao)

Nên trong bài Ai Lên Xứ Hoa Đào, người ta thấy rất nhiều bóng dáng tiên cảnh:

“Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.

Nghe tâm tư mơ ước Mộng Đào Nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.” 

Hay như: 

“Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa.

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương.

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.” 

Một cảm giác rất sâu tìm thấy ở “Ai Lên Xứ Hoa Đào” một cảm giác rất khó lý giải..

Đà Lạt trong ca khúc Hoàng Nguyên hiện lên những gì điển hình nhất của phố núi, là sương, là hoa, là thông, là tà áo dài thấp thoáng trong sương. Nhưng sự lãng mạn của ca khúc này đến từ một cái gì đó rất đặc biệt, rất sâu mà người ta khó lý giải được. 

Ca từ lãng mạn, âm nhạc của ông nhẹ nhàng, ngọt ngào, tha thiết như một lời tự sự lạ kỳ. 

Ngoài “bộ ba”: “Bài thơ hoa đào”, “Ai lên xứ hoa đào” và “Hoa đào ngày xưa” đều được viết với giọng trưởng (major), thì về sau Hoàng Nguyên còn viết bản “Đà Lạt mưa bay” – một Đà Lạt với giọng thứ (minor), nhịp chậm, mang tâm trạng người trẻ trong thời ly loạn.

Năm 1973, nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh từ giã cõi đời vì tai nạn giao thông ở Vũng Tàu, nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ xuất sắc, với “Bài Tango cho riêng em”, “Cho người tình lỡ”, “Đà Lạt mưa bay”, “Tà áo tím”, “Thuở ấy yêu nhau”…vv. 

Cuộc đời éo le và mối tình ngang trái của người nhạc sĩ tài hoa 

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1 1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt. 

Hoàng Nguyên khi đó dạy Việt văn lớp đệ lục. Lúc đó, ông là thầy giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.

Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có các bản nhạc của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957. Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác. 

Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho con gái ông, năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nảy nở, trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái. Ông chúa đảo phải lặng lẽ vận động để chàng nhạc sĩ tài hoa sớm được tự do. 

Sau khi Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học. Trước khi kết hôn, Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc “Thuở ấy yêu nhau” ra đời trong khoảng thời gian đó. 

Vĩnh Biệt NGUYỄN SƠN

Mủ đỏ Trương văn Út- Út Bạch Lan

Nói đến tên Nguyễn Sơn thì bất ai đã từng phục vụ ở Trung Tâm Hành Quân Delta (LLĐB), Liên Đoàn 81 BCD, Biệt Đoàn 222 CSDC cũng đều biết đến Anh, từ cấp Chỉ Huy Trưởng cho đến anh binh nhì vừa về đơn vị. Tính tình thâm trầm hiền hòa đôn hậu với mọi người mọi cấp, không le lói, không nỗ sảng mặc dù chiến công của Anh đã vang dội với những huy chương cao quý nhất của QLVNCH.

Buổi chiều ngày mùng 5 Tết Mậu Thân. Một buổi chiều nắng đẹp, vẫn với những ngọn gió hiền hòa từ biển khơi, vẫn với bãi biển cát trắng chạy dài bên đường Duy Tân mang nhiều kỹ niệm, nhưng sao có vẽ đìu hiu vì những cơn bạo loạn của cộng quân tấn công vào thành phố Nha Trang giữa đêm giao thừa. Tôi đang ngồi với vài sĩ quan ĐĐ3/81/BCD ở quán số Một  cạnh bờ biển, một vài trứng hột vịt lộn, một đĩa mực nướng, và không thể thiếu món ốc bưu luộc chấm nước mắm gừng thì Nguyễn Sơn bước vào với hai người khác. Mũ xanh gặp mũ xanh bắt buộc dơ tay vẫy vẫy vài ba cái rồi bàn ai nấy ngồi. Tôi hỏi Trung Úy Nguyễn Đăng Lâu:

– Niên Trưởng ai vậy?

– Trung Úy Nguyễn Sơn, Liên Toán Trưởng Trung Tâm HLHQ Delta!

Anh Lâu xoay người qua phía bên kia bàn

– Ê Sơn…qua ngồi với tụi này cho vui.

Thế là cả bọn nhập cuộc. Delta – 81 như anh em ruột, tuy một mẹ khác cha nhưng lúc nào cũng kề cận bên nhau khi xâm nhập. Mẹ là binh chủng LLĐB. Cha là khác nhau đơn vị. Các C, các B, các A, Mike Force, 81, Delta đều mang một huy hiệu giống nhau. Delta ở đâu thì 81 ở đó, bất kể không gian và thời gian. Các C,B,A trong tình trạng cần tăng viện thì Delta-81 có mặt trong vòng 24 tiếng đồng hồ cũng bất kể không và thời gian. Cho nên mặc dù chưa biết nhau nhưng cùng một lò ngồi chung bàn thì chỉ năm ba phút sau pháo vang trời đất. Sơn tốt nghiệp tháng 8 năm 1965 Khóa 19 VKTĐ với cấp bậc Chuẩn Úy. Như vậy cuối năm 1967 Anh đã mang lon Trung Úy chứng tỏ công trạng anh cũng lẫy lừng. Tôi vừa mới ra trường chỉ được vài tuần lễ nên gặp đàn anh, tôi thường hay hỏi han vài ba câu cốt chỉ để làm quen, nhưng Anh vẫn cứ cười cười với điếu thuốc Ruby Queen trên tay. Chợt Anh đứng dậy bước vào trong vài phút rồi trở lại bàn. Năm phút sau bồi bàn mang ra 10 chai bia con Cọp và hai đĩa bò Lúc lắc nóng hổi. Khi mặt trời xuống dần chân trời góc biển Anh lại chợt đứng dậy bước vào trong rồi lại trở lại bàn. Trung Úy Lâu bảo tôi vào thanh toán tiền nong, vì anh em 81 đã gom góp trước và giao cho tôi rồi, đến khi vào quầy tính tiền thì cô cashier nói Trung Úy Sơn đã trả hết rồi.

– Trung Úy Sơn! Tụi tui đến trước, Trung Úy đến sau mà! Làm vậy kỳ quá!

– Đồng ý! Các anh đến trước, tụi tui đến sau…nhưng mà…tụi tui là Delta nên ai móc súng (bóp tiền) trước thì sống, móc súng chậm hay móc súng sau là…là gì tui cũng không biết nữa!

Rồi anh cười khì!

Tôi “kết” với Nguyễn Sơn từ đó.

Rong ruổi trên những bước đường chinh chiến, tôi gặp Sơn rất thường. Làng Cùa, Huyện Hương Hóa, Mỏ Than Nông Sơn,Đức Dục, Đồng Xoài, Đồn Điền Hớn Quản. Có một lần ở Cùa, Sơn gọi tôi sang lều (bạt dã chiến) uống cà phê.Nhưng không phải cà phê mà là chai “Ông Già Chống gậy” với “cờ tây”. Mặt của anh đang ngụy trang với màu mực lá cây rừng và mặc bộ đồ Việt Cộng mang dép râu, tôi biết ngay anh sắp xâm nhập chiều nay, tôi hỏi:

– Bộ rủ tôi làm vài cống để khỏi lạnh cẳng hả?

– Coi ai lạnh cẳng trước. Tôi vào thung lủng Ashau-Alưới. Nhận lệnh sáng nay, nếu vào tới nơi phát hiện chúng nó là các ông nhào vô liền đó. Các ông (81) vô thì tụi tui (Delta) dìa!

Rồi anh cười khì khì, cái điệu cười bất hủ của anh, anh nốc một cốc Jonhny Walker, gắp một miếng dồi chó bỏ vào chén của tôi:

– Vô đi cha nội cho ấm cẳng.

Năm giờ chiều ngày hôm đó, toán của anh âm thầm lặng lẽ lên trực thăng của Phi Đoàn 281 không số của Mỹ vào vùng. Thung lũng AshauAlưới nằm phía cực tây bắc tỉnh Quảng Trị, nơi tiếp vận hậu cần của quân CS Bắc Việt.Nhiệm vụ của Delta là thám sát mục tiêu, nhiệm vụ của 81BCD là khai thác mục tiêu. Anh nói đúng, khi anh rời khỏi trực thăng thì toán của anh đã nằm giữa lòng địch. Sau này anh kể cho tôi nghe: “Mẹ, giữa đoàn hùng binh (VC) có anh đang vùi đầu trong bụi rậm…”. Tám giờ sáng ngày hôm sau, ba ĐĐ 81BCD (ĐĐ3, ĐĐ1, ĐĐ5) nhào vô thì anh đi dìa. Sau cuộc hành quân này, anh có ghé thăm tôi và Nguyễn Hiền ở Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng, anh móc trong túi áo chaut chai Remy Martell nhét dưới chân tôi, rồi lại cũng cười khì khì:

-Cẳng có lạnh thì ướp cái này sẽ ấm ngay!

Tháng tư 75 vất súng, lột lon Thiếu Tá, mà nước mắt cứ chảy dài, anh trở về với vợ con lòng nặng trĩu không phải vì mất lon thiếu tá mà vì mất màu áo hoa rừng đã ôm thân thể của anh trên một quảng đường dài binh nghiệp. Gia đình cha mẹ anh em của anh mang nặng một mối thù Cộng sản vì đã mang đến bao nhiêu nỗi bất hạnh cho gia đình anh. Anh căm thù CS một, nhưng anh căm thù Việt Gian tới mười, anh đã viết một bài viết tựa đề “CHÓ MÁ”, phân tích sự khác biệt giữa con Chó và con Má để ám chỉ những con Má đang sống lẩn quất bên cạnh anh. Sau ngày tự cởi bỏ quân phục và vào tù, tôi không còn có dịp gặp lại anh nữa. Người Bắc kẻ Nam, người lên non kẻ xuống biển, phận ai nấy giữ, thân ai nấy lo, gần hai mươi năm ly biệt tôi gặp lại anh ở trên phần đất này.

– Út Bạch Lan hả? Tôi đã tới Dallas, có lẽ tôi sẽ tới nhà anh khoảng sáu bảy giờ chiều nay.

   Anh đơn thân độc mã với cái xe “HO” từ Michigan về Houston tìm một sinh lộ cuối đời. Vật đổi sao dời sau khi anh được rời khỏi những rừng tre rừng nứa, những luống khoai mì khoai lang gần 13 năm tù tội, nay anh phải “rời khỏi” mái ấm gia đình một lần nữa và ngâm nga “đời tôi cô đơn nên tôi chẳng yêu ai, đời tôi cô đơn nên tôi yêu mấy bạn già”. Anh gọi tôi khi anh gần tới Humble (phía Bắc TP Houston vài chục mile)

– Anh Sơn, anh ghé nhà anh Sáng trước, anh Sáng đang đợi anh, tôi sẽ có mặt ở đó khoảng 30 phút.

Trung Tá Lai Văn Sáng, nguyên là Chỉ Huy Trưởng Biệt Đoàn 222 CSDC, anh Sơn về đơn vị này chỉ năm ba tháng với chức vụ Sĩ Quan Hành Quân Huấn Luyện, cùng là gốc eo eo đi bi (LLĐB) nên xem nhau như ruột thịt. Anh Sáng giữ Sơn lại tạm trú vài ngày rồi tính sau. Gọi điện thoại cho “Cò Quế”, nguyên là CHT Cảnh Sát quận Tân Bình Gia Định

– Helf…Helf…Helf!

  Thế là một tuần lễ sau Sơn có việc làm và chỗ ăn chỗ ở ổn định, lương tháng hơn ngàn, bao ăn bao ở không phải chi phí gì cả, nhưng khổ nỗi cái job khiến anh nỗi nóng bất thường. Làm Cashier cho một Grossery. Cứ rình mò thằng nào vào chôm chỉa ba cái bánh kẹo lặt vặt là anh túm cổ ngay. Cái máu và tai mắt mũi họng của các toán Delta mà. Nghề của chàng, nhưng không đúng chỗ, vì nhiều lần sẽ gây thù hận, nhất là bọn Mỹ đen, thì có ngày sẽ xảy ra những chuyện không hay. Ông Bà chủ khuyên anh:

– Thôi kệ nó, ba cái lặt vặt đó, anh cứ giả bộ làm ngơ, cái mạng của anh quan trọng hơn.

Sơn nhất quyết không chịu, khẳng định giữ vững lập trường và thái độ, tuyệt đối không nhân nhượng với bọn trộm ngày cướp đêm này, rồi cuối cùng anh xin thôi việc, anh tâm sự :

– Ông Bà chủ (Vợ Chồng Cò Quế) rất tốt với tôi, tôi có thể làm việc cho ông bà đến chết để đáp lại ân tình này, nhưng mà cứ hể mỗi lần thấy thằng Mỹ đen vào cửa hàng ngông nghênh lận lưng bỏ túi rồi vênh váo bước ra cửa là tôi cứ nghĩ tới mấy thằng Việt Cộng nửa đêm xông vào nhà bố mẹ của tôi hôi của và bắt đóng thuế nữa. Tôi phải xin nghỉ việc vì chẳng đặng đừng, nếu còn tiếp tục chắc có ngày tôi bắn vỡ sọ một vài thằng rồi đi tù. Coi vậy mà đi tù ở Mỹ sướng hơn!

Vài tháng sau, phóng viên chiến trường Phục Viên giới thiệu anh làm một việc khác: NhàQuàn!!! Nếu mổ và tắm rửa hoá trang xác chết thì $15 US một giờ, còn cắm hoa quét dọn nhà xác thì $10 US một giờ. Anh chọn việc thứ hai. Nhưng cũng chỉ được vài tháng anh lại xin thôi việc, anh tâm sự:

– Mẹ! Hồi xưa vừa chạy vừa cõng xác chết anh em đồng đội, rồi chui vào bụi rậm ôm xác chết ngủ qua đêm, sao người chết rồi mà vẫn còn sưởi ấm cho thân mình. Bây giờ làm cái nghề này sao tôi thấy nó tởm lợm làm sao. Đi ra, đi vào thấy mấy gương mặt đen thủi đen thui, bị bắn chết vì cướp giật, hiếp dâm, uống rượu say lái xe đụng người ta chết, rồi chết luôn, đôi khi mấy ông già bà cả chết già, tôi còn liếc mắt nhìn, rồi kiếm chuyện ra phòng sau cắm hoa vòng hoa phúng điếu.

Có người giới thiệu anh làm một job khác: Lái xe Thiết giáp!!! Giờ làm việc anh lái chiếc xe Van bọc thép (Armor Vihicle) nhận tiền rồi đi đổi tiền, công việc nhàn nhả thư thả, nhưng đôi khi phải nhanh trí để giải quyết những trường hợp thay đổi khẩn cấp. Phần vì tiếng Mỹ chưa nhuần nhuyễn, lại đàm thoại trên vô tuyến (radio), mắt lại kém nên cứ lạc đường hoài, không theo đúng lời chỉ dẫn của supervice hay manager nên anh lại xin thôi việc, anh tâm sự:

– Nhà tôi nghèo lắm. Thuở nhỏ mấy anh em đi học chỉ có một củ khoai lang hay một củ sắn dằn bụng buổi sáng, mãi tới chiều mới có được vài chén cơm với cá mắm Lăng Cô. Khi đi lính, có được đồng lương hằng tháng không cần đếm, chỉ cần tính nhẩm thôi cũng biết ăn xài được mấy ngày. Bây giờ làm công việc này, cứ lên xe là thấy giấy 100 dollar chất đống, tiền của người ta không phải tiền của mình, mất một trăm đồng là bị trừ một trăm đồng. Một tuần chỉ được vài ba trăm đô, bị sọt (short) một cái, là húp cháo, lại nữa ngựa già làm sao phi đường xa như mấy người trẻ, lên xe xuống xe phải vịn vào cửa xe hay thành xe, lọm khọm kiếm nắp bình xăng không nhớ nằm bên trái hay bên phải, lờ quờ chậm chạp kiểu đó có ngày thằng Mỹ đen lụi một dao vào sau lưng rồi lái xe Van chạy mất với mấy trăm ngàn trên đó thì có nước tự vận.

Cái job cuối cùng của cuộc đời anh khi anh vừa 61 tuổi. Bờ lâm binh (plumbing)!!! Rotation job. Có khi làm từ 10 giờ tối cho đến 6 giờ sáng, có khi từ 2 giờ chiều đến 10 giờ đêm, công việc mà anh thường đùa là “thụt cầu tiêu”, nhưng anh rất happy với công việc này vì nó thuộc City nên benifit đầy đủ, anh tâm sự:

– 13 năm tù, ngày ngày đi hốt và gánh phân tù rồi đổ nước quậy lên cho loảng ra, múc từng gào đi tưới cải xanh, cải bắp, quần áo tay chân mặt mũi lúc nào cũng dính cứt. Bây giờ đi làm lại việc này, nhưng nhiều điều khác nhau. Không bao giờ thấy cứt, cũng không thấy hôi hám, tất cả đều dùng máy móc, bơm thông thụt rửa chỉ bật điện rồi châm thuốc hút chờ, cuối tuần cầm cái check, cảm thấy cái job của mình nó thơm chi lạ.

Nhiều khi ngồi với anh cả buổi, nghe anh tâm sự đời anh không khỏi ngậm ngùi. Thú thật, cho đến khi anh ra đi, tôi không biết anh theo đạo gì, không bao giờ anh nói đến chuyện đi lễ nhà thờ hay chùa chiền, cũng không bao giờ nhắc tới tôn giáo, nhưng trong những câu chuyện thường nhật anh gói ghém triết lý nhân sinh một cách khéo léo tài tình. Có lần chị Sơn hỏi tôi:

– Anh Út có hiểu ảnh nói gì không, hay anh Út đọc bài của anh Sơn anh có biết ảnh nói cái gì không, còn tôi thì mù tịt.

Sơn cười cười:

– Tôi viết và tôi nói, đôi khi tôi cũng không biết tôi nói và tôi viết cái gì huống hồ chi người khác, bà sao hay lộnxộn!

Nhưng tôi hiểu. Tánh tình anh điềm đạm, dè dặt cẩn trọng trong mọi việc suy tính, cách xử thế với tha nhân rất ôn hòa và lịch sự, nhưng cả cuộc đời anh từ thuở nhỏ cho đến khi nằm xuống quả là một cuộc đời bất hạnh mang nhiều nỗi khổ tâm. Chính vì những bất hạnh đó đã làm cho anh trở thành một người trầm lặng. Không màng danh lợi, không bon chenhơn kém với bất cứ ai, nhưng khi nói hay viết một điều gì đều mang máng một cái gì đó trong tâm thức sâu thẩm của anh. Ngôn ẩn ngữ, ngữ ẩn ngôn, ngôn ngữ ẩn ý, người nghe người đọc thoáng qua không hiểu anh muốn ngụ ý gì! Có lần anh hỏi tôi:

– Tôi đố anh biết tại sao khi con người ta chết thì hai cái chân chết trước rồi mới dần dần lên tới cái đầu?

– Tôi không biết!

– Này nhé, khi con người sinh ra là cái đầu ra trước, chỉ trừ phi bị đẻ ngược, còn hai cái chân ra sau cùng. Ra trước chết sau, ra sau chết trước. Cũng giống như toán trưởng Delta lúc nào cũng nhảy trước nhưng chết sau, khi triệt xuất về sau nhưng chết trước.

-Tôi không hiểu xin anh nói cho rõ.

– Này nhé! Khi trực thăng vào tới điểm xâm nhập (LZ) thì toán trưởng phải hoặc là tuột giây cáp, tuột thang giây, hay nhảy từ độ cao năm bảy thước trước rồi mới tới toán viên. Chỉ trong vòng 30 giây theo tiếng đếm cả toán phải xuống hết mặt đất. Nếu trong vòng 30 giây này mà Việt Cộng trở tay kịp thì có phải thằng tuột giây sau cùng bị bắn khi còn tòn teng trên không hay không? Còn khi triệt xuất (PZ) thì luôn luôn toán trưởng phải đu giây cuối cùng khi cả toán đã ngồi trên trực thăng, cũng trong vòng ba chục tiếng đếm nếu mà Việt Cộng đuổi theo kịp thì có phải toán trưởng lãnh đủ hay không? Đi trước chết sau, về sau chết trước là thế đó.

Rồi anh giảng giải cho tôi nghe về Tứ Đại, Ngũ Uẩn, Lục Căn, con người từ đâu đến, chết sẽ đi về đâu. Tôi ngồi hằng giờ nghe anh nói và có cảm tưởng như ngồi trước mặt một vị thiền sư. Anh vói tay mồi một điếu thuốc, không biết điếu thứ mấy tự nãy giờ, rồi tiếp:

– Anh biết không hồi nhỏ cha tôi dạy rằng, khi người ta chết thì thân xác lạnh ngắt nhưng còn một điểm vẫn còn nóng (Trong Tứ Đại) Nếu điểm nóng này hội tụ trên đỉnh đầu thì người chết sẽ thoát vòng luân hồi sinh tử siêu thoát về nơi thánh cảnh. Nếu ở mắt thì sẽ siêu thoát về cõi trời. Ở ngực thì đáo sinh kiếp người. Ở bụng thì vào loài ngạ quỷ. Nếu ở đầu gối thì là, thì là súc sanh. Cho nên mấy thằng súc sanh, thường đi bằng hai đầu gối là như vậy đó.

11:00 giờ sáng ngày 6-12-2014. Bầu trời Houston âm u ảm đạm, mưa không nặng hạt nhưng buồn tê tái, lòng người buồn lòng trời cũng buồn theo, người nhỏ giọt lệ trời cũng nhỏ lệ theo.

Cất bước quay về thăm chốn xưa

Buồn ơi biết ngỏ hết sao vừa

Khi hay bạn đã lìa trần thế

Bỏ lại lòng tôi những giọt mưa

Bồi hồi mượn bút hạ vần đan

Mặn đắng bờ mi chợt lệ tràn

Gởi gió về Anh lời vĩnh biệt

Cầu xin giấc ngủ mãi bình an

Tôi đưa anh về cõi vĩnh hằng, nơi thánh cảnh anh sống yên bình vĩnh cửu. Anh đã theo mây về trời, đã theo gió đến miền Cực lạc, trút bỏ mọi ưu phiền khổ lụy chẳng một chút tơ vương. Khi nắp quan tài khép lại, tôi sờ vầng trán cao rộng của anh, để nhỏ giọt lệ cuối cùng tiễn đưa anh, bàn tay tôi bỗng thấy nóng ấm lạ thường.

Như vậy theo lời anh giảng, thì anh đã thoát vòng luân hồi sinh tử siêu thoát về nơi không còn vướng bận trần ai tục lụy và không còn nhìn thấy những con chó, con má mà lúc sinh tiền anh thường hay khinh bỉ và phỉ nhổ ./.

Houston 2:00 AM

Ngày 7 Tháng 12 Năm 2014

Mũ Đỏ Út Bạch Lan

Ngày về

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Sep 2023

Năm 1981, khi tôi còn bị giam trong trại cải tạo Z30C Hàm Tân, Thuận- Hải, cứ vào buổi chiều, tôi cùng vài anh bạn tù lại ngồi quây quần bên nhau trên sạp xi măng, nhâm nhi từng ngụm cà phê chế bằng cơm cháy, ôn lại chuyện đời cho nhau nghe.
Hầu như bữa nào cũng vậy, dù trời tạnh ráo hay mưa bão dầm dề, thế nào chúng tôi cũng được nghe tiếng guitar thánh thót của một nhạc sĩ tay ngang Cựu Thiếu Tá Hồ Văn Hùng, gốc Cảnh-Sát Quốc-Gia và tiếng ca trầm buồn ảo não của chàng ca sĩ ngang xương Cựu Thiếu Úy Nguyễn Văn Vinh gốc Biệt Cách Nhảy Dù.

Chúng tôi mất nước đã gần chục năm, xa nhà cũng đã gần chục năm, nên những lời buồn thảm, bi ai: “Tìm đâu những ngày thơ ấu qua…”- “Những ngày xưa thân ái, xin trả lại cho ai…” vừa cất lên, thì người đàn, người hát, người nghe cùng chạnh lòng, nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ vợ, nhớ con, nhớ bạn bè, nhớ xóm giềng, và nhớ quê hương.
Anh nhạc sĩ Hồ Văn Hùng, xưa kia là Cảnh- Sát tỉnh Hậu-Nghĩa; nay bị giam cùng buồng, cùng đội lao động với tôi. Anh thuộc nhiều bài hát lắm. Tôi xin anh chép lại cho tôi trọn bộ lời Pháp của bài “Chanson d’Orphée”
Anh ta chỉ cần dạo nhạc cho tôi đôi lần, là tôi đã thuộc nhập tâm bài hát này ngay. Trong bài ca ấy, tôi thích nhất câu “Le ciel a choisi mon pays. Pour faire un nouveau paradis” (Thượng Ðế đã chọn quê hương tôi để dựng lên một Tân Thiên Ðường)
Ngày xưa Thượng Ðế đã ban cho tôi một Thiên Ðường, mà tôi lại vô tình không nhận ra, đó là đất nước Việt-Nam Cộng-Hòa. Năm 1975 Thiên Ðường của tôi đã không còn nữa.
Một năm sau ngày được thả, đầu Thu 1989 tôi gặp lại Hồ Văn Hùng trước một sạp báo cạnh nhà thương Sùng Chính, Chợ- Lớn. Khu này quy tụ khá nhiều dân gốc “Ngụy”: Một sạp báo do anh cựu nhân viên Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo làm chủ, một thợ hớt tóc là cựu Hải quân Thiếu úy, kế đó là một ông già mài dao, mài kéo, xưa kia làm tới Phó Quận xuất thân từ trường Quốc-Gia Hành-Chánh.
Anh chủ sạp báo là bạn tù tôi quen trong thời gian bị giam giữ ở Z 30 D. Vì làm bạn với anh chủ sạp báo, nên dần dà tôi quen “lây” sang hai ông “Ngụy” kế bên. Lâu lâu tôi ghé chơi, thấy tóc tôi dài, ông Hải quân lại đè đầu tôi xuống hớt tóc giùm, không lấy đồng bạc nào.
Thấy yên sau xe đạp của Hùng chất đầy sách vở, tôi hỏi anh làm nghề quái quỷ gì mà nhiều sách thế thì anh vênh mặt lên,
– Tớ đi dạy.
– Dạy nhạc hả?
– Nhạc gì?
– Thì nhạc Việt, tân nhạc… hồi còn trong trại tù cậu và thằng Vinh Biệt Cách hay hát cho tớ nghe…
Hùng xua tay, lắc đầu quầy quậy,
– Tớ có biết nhạc với nhiếc con mẹ gì đâu? Guitar tớ học lóm, chẳng có thầy bà nào dạy cả! Nhạc lý, nhạc Pháp cũng làng nhàng. Hiện giờ tớ đi dạy Anh Văn!
Tôi nghi ngờ vặn lại,
– Anh Văn của cậu cỡ nào mà dám đi dạy?
Hùng cười hì hì,
– Ối trời ơi! Sao cậu ngây thơ thế? Bộ suốt đời lính không lúc nào cậu bị ở vào cái thế lang bang, không chức vụ hả? Cứ lang bang không chức vụ là được gởi đi học. Tớ biết khối thằng có đầy bằng cấp chuyên môn chỉ vì lý do không có chức vụ trong đơn vị nên cứ có lớp là bị tống đi học. Hồi xưa, lúc còn lang bang không chức vụ, tớ có dịp được đề cử theo học một khóa Anh Văn, rồi lại bị đưa đi học tu nghiệp ở Mã-Lai. Năm ngoái ra khỏi tù cải tạo, tớ kiếm hoài không ra việc, tưởng là phải chết đói. Ai ngờ gặp đúng lúc đổi đời, nhà nhà học Anh Văn, người người học Anh Văn. Tớ vội ôn lại văn phạm vài ngày là đi dạy kiếm cơm được rồi. Cả khu phố của tớ đều mù, tớ là thằng chột. Xứ mù, thằng chột làm vua! Tớ đếch cần làm vua, chỉ cần gạo thôi…
Tôi không phục cái ngai vàng trên nước mù và chột của người bạn thời đi tù cải tạo này, nhưng tôi thích tiếng đàn guitar của anh, thích giọng ca của Nguyễn Văn Vinh mà tôi đã được nghe trong những chiều buồn nơi lán trại của Z 30 C, Hàm-Tân năm nào.
Tôi kéo Hùng ngồi xuống bên bàn cờ tướng của ông thợ hớt tóc. Tôi giới thiệu Hùng với hai ông bạn “Ngụy” của tôi. Ông Hải quân mời Hùng uống trà; ông Ðốc Sự cũng xúm vào góp chuyện. Hùng là người Huế, ông Ðốc Sự cũng là dân Huế; chỉ vài phút sau hai ông đã ra chiều tương đắc.
Thấy trên tường có treo cây guitar của ông thợ hớt tóc, bên cạnh là cây đờn cò của ông mài dao kéo, giáo sư Hùng gật gù,
– Các cha ở đây có cả Tân, Cổ giao duyên vui quá há?
Nghe Hùng nói, tôi chợt nhớ chuyện xưa, nên cầm tay Hùng tôi khẩn khoản yêu cầu anh hát lại khúc “Những ngày thơ mộng” của Hoàng Thi Thơ cho tôi nghe.
Chiều ý tôi, ông giáo sư Anh Văn bỏ nón xuống bàn cờ tướng, ông uống cạn ly trà móc câu, ôm cây guitar kê lên đùi, so dây, lấy giọng, rồi bắt đầu: “Tìm đâu những ngày thơ ấu qua? Tìm đâu những ngày xanh như mộng?…
Khi Hùng vừa xuống giọng câu chót: “Tìm đâu? Biết tìm đâu? đâu giờ…” thì anh bắt ngay qua “Matin, fait lever le soleil…” (Buổi sáng, mặt trời lên…) của bài hát tiếng Tây “Chanson d’Orphée”
Hứng chí, ông thợ mài dao ôm cây đờn cò “í!a! í!a!…” phụ họa, còn ông thợ hớt tóc thì hai tay thủ hai cái giũa sắt múa “cạch! cạch! cành! cành!…” trên thành cái chậu nhôm chứa nước như một tay trống điêu luyện, lành nghề.
Người qua đường dừng lại mua báo, khách của bác thợ mài dao, khách của bác thợ hớt tóc đứng ngây nghe các bạn tôi đàn hát. Tiếng hát não nuột, tiếng guitar réo rắt, tiếng trống sắt rộn ràng, và tiếng đờn cò nức nở làm cho lá vàng rơi tới tấp trên đường Trần Hưng Ðạo một chiều Thu năm 1989. Mấy bé con tan trường từ một lớp tiểu học gần đó xì xào với nhau: “Nhạc vàng, nhạc ngoại, hay quá trời, lại nghe coi tụi bây ơi!”
Sau khi chấm dứt câu cuối, “Chante chante mon coeur. La chanson du matin. Dans la joie de la vie qui revient…”
(Hát lên, hát lên trái tim tôi. Bài hát của buổi mai. Trong niềm vui vừa trở lại…) thì Hùng chợt hốt hoảng la toáng lên,
– Ủa chi rứa? Bà con làm chi rứa?
Thì ra… bà con qua đường tưởng bốn thằng tôi là gánh hát dạo, họ bỏ tiền vào cái nón của giáo sư Hùng, cái nón nằm ngửa trên bàn! … cái nón đầy tiền loại 20 đồng màu tim tím…
Bốn anh cựu quân, cán, chính, Việt-Nam Cộng-Hòa nhìn nhau, miệng mếu xệch.
Mười bốn năm sau khi Miền Nam sụp đổ, hàng trăm ngàn cựu tù cải tạo đã lẫn vào và như đã biến mất trong cái xã hội hỗn mang, hạ cám thượng vàng. Họ chìm vào giòng đời dưới những bộ mã khác nhau: Ông Thiếu Úy Hải quân thành ông thợ hớt tóc; ông Thiếu Tá Cảnh Sát thành ông thầy dạy Anh Văn lưu động; ông Phó Quận Hành Chánh thành ông mài dao kéo; nhưng cái giá trị nhân bản tiềm ẩn trong con người họ vẫn còn đó. Trái tim họ vẫn không ngủ quên.
Cũng như trăm ngàn đồng ngũ Việt-Nam Cộng-Hòa khác, ngày về của tôi cũng là ngày đầu một cuộc sống mới, đầy ngỡ ngàng. Sau đó, tôi cũng từ từ lẫn vào, và biến mất trong dòng chảy của một xã hội hạ cám, thượng vàng. Tôi bắt đầu xây lại cuộc đời với một chiếc xe đạp thồ.
Cái xe đạp thồ của tôi quả là một con ngựa đa năng, đa dụng. Nó chẳng đòi ăn, đòi uống, nghỉ ngơi, giải trí, chuyện trò gì. Tôi chất bất cứ vật gì lên lưng nó, nó cũng im re, không than van nặng nhọc nửa lời. Nó giúp tôi buổi sớm tinh mơ chuyển hàng cho thân chủ từ Chợ-Lớn về Chợ Bến-Thành. Buổi tối, chở hàng từ Cầu Chữ Y sang đổ nơi bến xe Miền Ðông. Trời nắng chang chang, nó chở tôi và một giỏ cá khô từ Sài-Gòn lên Thủ-Ðức, len lỏi trong những con hẻm ngoằn ngoèo, để tôi rao bán lẻ từng ký cá khô, tôm khô.
Nó chở vợ chồng tôi từ Sài-Gòn đi Thủ -Ðức tới nhà anh bạn Ngô Văn Niếu của tôi để họp mặt anh em cùng khóa 20 Võ-Bị chào mừng mười cựu sĩ quan khóa 20 Võ-Bị mới được tha, trong đó có tôi. Dịp này nơi bãi cỏ đậu xe trước sân nhà anh Niếu, nó được đứng xếp hàng chung với những chiếc xe Dream, Honda, Vespa của các bạn tôi. Tôi thấy chiếc xe đạp thồ của mình có vẻ “oai phong” không kém gì chúng bạn, vì so chiều ngang, chiều dài, nó đâu có kém ai? Nhìn kỹ, tôi thấy nó còn có vẻ “phong trần bạt mạng” hơn mấy chiếc xe máy bóng loáng, kiêu sa, yểu điệu, của các ông bạn tôi nữa đó!
Tôi có anh bạn làm Trung Tá Cảnh Sát. Anh ấy và tôi được thả ra khỏi trại cải tạo cùng giờ, cùng ngày. Nhà anh bạn tôi ở gần Thảo Cầm Viên Sài-Gòn.
Mỗi lần tôi ghé thăm nhà anh, vừa thấy mặt tôi, bà mẹ anh đã đon đả gọi con,
– Bảo ơi! Có “Anh Long Xe Thồ” tới thăm con kia kìa!
Trung Tá Cảnh Sát Phan Trần Bảo, Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết là bạn tôi; mấy chục năm sau anh ấy còn nhớ cái tên “Anh Long Xe Thồ” mà mẹ anh ta đã đặt cho tôi.
Trước ngày lên đường đi Mỹ định cư, nếu tôi ra khỏi nhà thì thế nào con ngựa thồ của tôi cũng đi theo. Chỉ khi nào tôi lên rừng tìm vàng, đào thiếc, tôi mới chịu để nó ở nhà.
“Ngựa nào cũng là ngựa, xe nào cũng là xe!” vợ tôi thường an ủi tôi như thế, mỗi khi thấy tôi có vẻ áy náy mời nàng dời gót ngọc lên yên sau con ngựa thồ để tôi chở đi đây, đi đó. Nàng lúc nào cũng giản dị bình thường. Có tôi bên cạnh, vợ tôi hết lo âu, nhìn đời lúc nào cũng đẹp. Sau những chuyến đi dài ngày đào thiếc, tìm vàng trên Cao-Nguyên, tôi trở về Sài-Gòn; vợ chồng tôi lại chở nhau trên lưng con ngựa thồ, lang thang rong chơi quanh phố. Ðường phố Sài-Gòn thời 1988-1990 thênh thang. Khu Nguyễn Cảnh Chân có nhiều giáo sư của Trường Trung Học Hưng Ðạo, nơi đứa con gái thứ nhì của tôi đang theo học. Qua những buổi họp phụ huynh học sinh, cô giáo hướng dẫn lớp con tôi đã quen mặt vợ tôi. Bà cũng biết rõ tôi là sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa đi tù cải tạo.
Chắc chắn hình ảnh chiếc xe đạp thồ của tôi bay lượn trong khu Cao Thắng, Nguyễn Cảnh Chân đã lọt vào những đôi mắt tò mò. Một hôm, con tôi về nhà sau buổi học, nó cười: “Sáng nay cô giáo hướng dẫn lớp con vừa hỏi con rằng ba của em đã về chưa? Con nói bố em mới về. Lúc đó cô giáo con mới nói cô có thấy một người đàn ông lạ chở má bằng xe đạp đi qua nhà cô.”
Ðời sống riêng tư của những bà vợ trẻ của sĩ quan chế độ cũ luôn luôn là mục tiêu theo dõi dòm ngó của xóm giềng. Những câu hỏi dò la, tọc mạch, chận đầu, bắt nọn như thế không thiếu trong xã hội này. Tôi chạnh nghĩ, qua mười mấy năm dài, xã hội đảo điên dưới chế độ mới, giá trị của nếp xưa Khổng Mạnh cũng còn là chút gì đáng giá cho người ta lưu tâm. Rồi tôi thấy thương vợ vô cùng. Chuyện xe đạp nổ lốp giữa phố đối với cặp uyên ương này là thường xuyên. Lốp xe nổ, thì vợ chồng nắm tay nhau, dắt xe đi bộ, về nhà, vá lốp xe! Ngựa nào cũng là ngựa, xe nào cũng là xe. Ngày xưa mình đi xe Jeep, ngày nay mình đạp xe thồ; ngựa xe nào cũng dùng làm phương tiện di chuyển có gì mà phải kén chọn, quan tâm? Ðiều quan yếu là: Ngày xưa mình có nhau, ngày nay mình vẫn còn có nhau. Mười ba năm, vật đổi, sao dời, mình còn nguyên vẹn như thế này là quý lắm rồi!
Một hôm có người mang đến cho cặp vỏ xe mới, mừng ơi là mừng! Anh bạn quý của tôi lúc này đang làm “gác-dan” cổng sau khách sạn Continental. Hắn chắt bóp mãi mới được món tiền mua tặng tôi cặp lốp mới. Hắn tên là Lê Văn Chánh, người Huế. Chánh vốn là một cựu sinh viên Dược Khoa Sài Gòn thời 1960s. Hắn có máu đàn ca và đã có lúc viết nhạc bán cho một nhạc sĩ đã thành danh để có tiền đi phòng trà Anh Vũ mỗi buổi tối. Học hành chật vật mãi vẫn chưa thành Dược Sĩ, hắn bị gọi nhập ngũ khóa 15 Sĩ Quan Trừ- Bị Thủ- Ðức để cứu nước. Rồi hắn trở thành sĩ quan An- Ninh Quân- Ðội.
Tôi và Chánh gặp nhau và thân nhau ở Trại Nam-Hà A. Chúng tôi ăn chung mâm, ngủ cùng sạp một thời gian rồi cùng được thả ra cùng một ngày, sau mười ba năm bị giam giữ, tù đày.
Thời mới đi tù cải tạo về, tôi gặp hắn dễ lắm. Cứ đi ngang qua đường Lê Thánh Tôn, tới cổng sau Khách Sạn Continental là thấy chàng ta ngồi nơi góc.
Những lần về phố, tôi đều ghé thăm Chánh. Gặp nhau, bù khú một lúc, hai đứa lại rủ nhau ra tán dóc với anh thợ vá lốp, sửa xe bên đường Hai Bà Trưng. Anh vá lốp xe máy, sửa xe đạp này thời xưa làm Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Trung -Tâm Huấn- Luyện Chi- Lăng của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Anh ta tên là Hoàng Trai xuất thân khóa 19 Võ-Bị. Ba chàng ngồi bên nhau, chuyện nổ như pháo. Hai bạn tôi chỉ quanh quẩn ở Sài-Gòn, nên thích nghe tôi kể chuyện đường rừng, mạo hiểm, như chuyện đào vàng, đào thiếc, chuyện bẫy khỉ, giữ lô, chuyện khai thác gỗ quý, săn ngải, tìm trầm…
Chánh kể cho tôi nghe rằng, nó có đứa con gái lớn tên là Lê Lâm Quỳnh Như. Cháu Quỳnh Như lớn hơn đứa con gái đầu của tôi một tuổi. Một ngày từ rừng trở về thành phố, tôi nghe bạn Chánh khoe, con gái anh vừa đứng đầu cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của Thành Phố Hồ Chí Minh. Phần thưởng mà con anh nhận được là cái dây chuyền 7 chỉ. Chánh nhìn tôi, cười, miệng xuýt xoa: “Thế là có tiền lo thủ tục hồ sơ đi H.O”
Sau đó khá lâu, gia đình Lê Văn Chánh đi Mỹ theo danh sách H.O 16. Qua tới Mỹ thì ca sĩ Quỳnh Như đổi tên là Như Quỳnh, danh tiếng nổi như cồn.
Thời gian đầu, khi Chánh còn cư ngụ ở Philadelphia thì tôi và Chánh vẫn thường xuyên liên lạc điện thoại thăm nhau. Bây giờ thì tình hình đã đổi thay nhiều. Chỉ có tôi và anh Trai là gặp nhau thường, vì hai đứa tôi cùng là cư dân Tiểu Bang Washington. Chúng tôi rất khó tiếp xúc với anh bạn cựu tù Lê Văn Chánh ngày xưa. Nghe đâu, cách đây vài năm, Như Quỳnh mua cho bố Chánh một căn nhà ở Cali, khu cư xá giống như một Fortress City, có rào cản, có cameras, hệ thống alarms cao cấp, security tuyệt hảo, phone của Chánh lại chuyển số luôn luôn, nên tôi và anh vá lốp xe đạp không chuyện trò với anh được. Lâu ngày không nói chuyện với nhau, chắc anh Chánh quên tôi rồi?
Riêng tôi, không bao giờ tôi quên “Chánh Phăng Si Ða”, anh bạn tù sốt rét kinh niên cùng buồng 16 ở trại Nam-Hà A Phủ- Lý của tôi. Sở dĩ Chánh có biệt hiệu “Chánh Phăng Si Ða” chỉ vì lúc nào trong túi anh cũng dự trữ sẵn một vỉ thuốc sốt rét cực mạnh mang nhãn hiệu Fansidar. Không rõ bạn tôi có hiểu rằng, trong mấy năm nay, anh chàng đào vàng trên rừng Nắp Bắc Ðà-Lạt và anh chàng sửa xe đạp trên đường Hai Bà Trưng Sài- Gòn nhớ nhung anh gác-dan Khách Sạn Continental không nguôi?
Những sự mất mát nhẹ nhàng như thế, những hình bóng mờ dần vì vô tình hay cố ý như thế, làm cho tôi thấy thương, thấy quý những giây phút bạn bè khăng khít bên nhau. Bây giờ, những sợi tơ thân thiết cột buộc chúng ta cứ mỏng dần, mỏng dần theo thời gian.
Ôi! Biết tìm đâu? Những ngày xưa thân ái! Biết tìm đâu xứ sở mà Thượng Ðế đã chọn làm một Thiên Ðường? Biết tìm đâu Việt-Nam Cộng-Hòa của tôi?

Vương Mộng Long – K20 
Seattle tháng Tư năm 2018

Mùa Xuân quê hương và khói súng

Vương Mộng Long K20

Posted on March 4, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn rậu 4 Sep 2023

Mấy hôm nay tuyết bắt đầu rơi, mùa Winter 2006 – Bắc Mỹ đã tới. Tôi nhủ thầm, “Như thế là Xuân đang về nơi quê mẹ!” Quê mẹ Việt-Nam của tôi nằm bên kia biển Thái Bình Dương, xa lắm!

Ðầu năm Dương Lịch, tôi có một tuần được nghỉ bù cho những ngày làm việc phụ trội mùa Giáng-Sinh. Tôi lên nhà đứa con gái thứ nhì, chơi với thằng cháu ngoại Maxwell hai tuổi. Bố mẹ nó đi làm tới tối mới về. Tuổi cháu Maxwell bây giờ bằng tuổi mẹ nó ngày ông ngoại nó thua trận năm xưa, ngày Sài-Gòn thất thủ, tháng tư 1975.

Thằng bé bập bẹ:

“Ong…ong… ong ngại…”

Tôi vuốt tóc nó. Nó toét miệng ra cười. Nụ cười của thằng bé thật là trong sáng, hồn nhiên. Mùa Xuân đời nó mới bắt đầu…

Tôi ôm thằng cháu ngoại vào lòng. Bồi hồi nhớ lại những mùa Xuân đã qua trong cuộc đời mình.

Thuở ấu thơ, Xuân về, tôi chỉ thấy buồn nhiều hơn vui: vì tôi là một đứa trẻ mồ côi cha khi chưa đầy sáu tuổi.

Tuổi hai mươi, tôi vào Trường Võ-Bị. Ra trường, tôi lặn ngụp trong chiến trận mười năm, tiếp theo là mười ba năm khổ nhục trong lao tù Cộng-Sản. Giờ đây tôi đang bước sang năm thứ mười ba của kiếp sống tha phương nơi đất lạ quê người.

Tới mùa Xuân 2006 này là chẵn bốn mươi năm kể từ ngày tôi trình diện đơn vị.

Tới mùa Xuân này là chẵn bốn mươi năm sau ngày tôi tham dự trận đánh lớn đầu tiên.

Trận đánh này tôi xem như bài khảo hạch thực tế quá khắt khe và quá phũ phàng đối với một sĩ quan trẻ vừa rời quân trường. Nó đã ghi sâu trong lòng tôi một kỷ niệm rất buồn, khó quên. Nó cũng là một bài học quý giá giúp tôi thành công những năm sau, trên cương vị một người chỉ huy, sống và chiến đấu sát vai với thuộc cấp của mình.

 Thiếu úy Vương Mộng Long-1966
 

Mùng Mười Tết năm Bính-Ngọ 1966, tôi mãn phép ra trường. Vài ngày sau đó tôi trình diện Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Chuẩn tướng Nhuận bắt tay tôi, chúc cho tôi một đời binh nghiệp thành công.

Lòng phơi phới, hân hoan tôi rời Sài-Gòn với cái sự vụ lệnh bổ sung quân số cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đồn trú ở Phú-Lộc, Ðà-Nẵng.

Ðoạn đường ngắn ngủi từ Ban Ðại-Diện Biệt Ðộng Quân Quân Khu 1 ở gần cầu Trịnh Minh Thế, tới hậu cứ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân ở xã Hòa-Khánh ngoại ô Ðà-Nẵng, cũng chiếm vài ngày, vì thủ tục giấy tờ nhiêu khê.

Thiếu úy Nguyễn Giáp, sĩ quan quân số của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nói với tôi rằng ông Ðại úy Tiểu đoàn trưởng đang hành quân ở Hội-An. Tôi có thể đi tìm ông ta bằng phương tiện tự túc.

Hạ tuần tháng Giêng Âm-Lịch, hơi hướm Tết còn vương. Vào Xuân, đường phố Hội-An rực rỡ. Những đóa hoa mai nở vàng sau vườn. Những câu đối đỏ còn đong đưa trên nêu tre trong phố cổ.

Trong nắng ấm, phấp phới những tà áo màu sặc sỡ. Phố hẹp, người đông. Người dân Hội-An đang sống trong một không khí thanh bình tạm bợ. Khói lửa chiến tranh vẫn ngùn ngụt nơi vùng quê. Từ ngoại ô, tiếng đại bác vẫn ì ầm vọng về…

Khoảng mười giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 1966 tôi rời nhà, lên phố tìm ông tiểu đoàn trưởng để trình diện.

Từ chùa Âm-Bổn, tôi thả bộ theo đường Nguyễn Duy Hiệu, vừa đi vừa ngắm cảnh phố phường.

Khi tôi tới cổng trường Trung học Tư thục Diên-Hồng thì sau lưng tôi có một chiếc xe GMC từ hướng Ðế-Võng chạy lên. Thấy trên xe có cái quan tài phủ quốc kỳ Việt- Nam Cộng- Hòa, tôi dừng lại, đứng nghiêm, giơ tay chào vĩnh biệt người chiến sĩ vừa tử trận.

Bốn anh Biệt Ðộng Quân hộ tống xe tang ngồi hai bên quan tài, dõi mắt quan sát khách qua đường. Khi nhận ra tôi cũng là một Biệt Ðộng Quân, với bông mai vàng trên ve áo, họ giơ tay chào. Tôi tò mò,

– Ai đó mấy chú?

Một anh lính nghẹn ngào,

– Thiếu úy Gia, Thiếu úy Gia Ðại Ðội 2 đó Thiếu úy!

Tôi chột dạ, hỏi thêm,

– Thiếu úy Nguyễn Vĩnh Gia khóa 19 Ðà-Lạt phải không?

– Dạ phải!

Tim tôi nhoi nhói đau. Khóa 19 Ðà-Lạt ra trường trước khóa 20 Ðà-Lạt của tôi vừa tròn một năm. Tôi đứng lặng nhìn theo chiếc GMC chạy về hướng chợ.

Chiếc xe từ từ lăn bánh giữa hai hàng cây xanh. Những cành phượng vỹ mềm mại trĩu xuống, vướng vào mui xe, quệt trên lá cờ vàng ba sọc đỏ, như níu, như kéo. Khi chiếc xe đi qua, những cành cây bật qua, bật lại trông như những cánh tay vẫy chào biệt ly…

Tới đầu chợ Hội-An, tôi gặp một toán quân nhân Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đang tụ tập chờ xe đón về đơn vị. Tôi hỏi thăm họ nơi nào ông tiểu đoàn trưởng đóng quân, thì họ nói ông Ðại úy ngày nào cũng loanh quanh ở mấy quán cà phê đâu đó gần chùa Cầu.

Tôi tìm được Ðại úy tiểu đoàn trưởng trước cửa tiệm chụp ảnh Huỳnh Sỏ. Ông Ðại úy và đoàn tùy tùng của ông đang ngồi xẹp, tán dóc giữa đường Nguyễn Thái Học. Ông không cần đọc cái sự vụ lệnh của tôi. Ông nheo mắt quan sát tôi một phút rồi phán,

– Còn sữa quá! Làm ban 3 tiểu đoàn!

Tôi đứng nghiêm. Nhìn thẳng vào mặt ông tiểu đoàn trưởng, tôi dõng dạc,

– Thưa Ðại úy, tôi muốn ra đại đội tác chiến!

Ông tiểu đoàn trưởng nhìn sững tôi một giây, rồi phá lên cười,

– Ð! M! Chứ ban 3 tiểu đoàn không tác chiến sao? Oui! Toa về Ðại Ðội 3 thay Thiếu úy Vinh. Thằng Vinh lên làm ban 3.

Khi nói chuyện, Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân thường chêm tiếng Tây; sau này tôi biết ông xuất thân từ quân đội Tây. (Oui! = Ðược rồi!)

Xế trưa hôm đó, tôi quá giang xe đò tới xã Thanh-Quýt, quận Ðiện-Bàn, để giữ chức Ðại Ðội Phó kiêm Trung Ðội Trưởng Trung Ðội 1/Ðại Ðội 3/ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Sĩ quan Ðại Ðội Trưởng 3/11 là Trung úy Lê Bá Ngọ đi chơi vắng. Người tiếp tôi là Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh, sĩ quan trực đại đội, anh cũng là người sẽ bàn giao Trung Ðội 1 cho tôi.

Khi bàn giao trung đội cho tôi, Vinh cười,

– Sao mày ngu quá? Làm ban 3 có xe Jeep lại không chịu. Chịu làm trung đội trưởng, để đi bộ. Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh là con bác Bạo, y tá của Bệnh Viện Hội-An. Anh Vinh là bạn học cùng lớp Trung học Trần Quí Cáp của tôi. Vinh đi khóa 17 Thủ-Ðức. Khóa 17 Thủ Ðức nhập trường sau khóa 20 Ðà-Lạt vài ngày, ra trường trước khóa 20 Ðà-Lạt hơn một năm.

Ngày tiếp nhận sự vụ lệnh của tôi, Thiếu úy Giáp còn cho tôi biết khóa 20 Ðà-Lạt có ba người được bổ sung quân số cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nhưng chỉ có mình tôi tới đơn vị đúng ngày, hai người kia thì chưa thấy đâu.

Hồi đó tôi còn thư sinh, trắng trẻo lắm, binh sĩ trong đơn vị cứ lầm tôi với Thiếu úy Hồng Dũ Thiều, khóa 19 Ðà-Lạt, cấp chỉ huy cũ của họ. Tôi thấy họ tỏ ra rất tin tưởng, vâng lời và thương yêu những sĩ quan xuất thân từ Ðà-Lạt.

Ðã có nhiều niên trưởng của tôi phục vụ đơn vị này trước khi tôi ra trường. Nhưng cùng với đà khốc liệt của chiến tranh tăng nhanh, sĩ quan Ðà-Lạt ở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân cũng hao hụt nhanh. Trừ Thiếu úy Nguyễn Vĩnh Giám (K19) còn sống sót, nhưng đang là thương binh loại 2, những niên trưởng khác của tôi đều tử trận cả rồi.

Thiếu úy Hồng Dũ Thiều (K19) và Trung úy Nguyễn Văn Hùng (K18) chết trong trận Việt-An, Quảng-Ngãi khi tôi đang tập dượt lễ mãn khóa 20 trong Trường Võ-Bị. Thiếu úy Nguyễn Vĩnh Gia (K19) chết ở Cẩm-Kim, Hội-An, ngày tôi trình diện tiểu đoàn.

Vì thế đầu Xuân 1966, ở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nhìn tới, ngó lui, chỉ có một bông mai vàng Ðà-Lạt cô đơn, đó là tôi.

Thời gian này Quân Ðoàn I đang trong chiến dịch “Hỏa Tuyến Vùng Lên”. Ðơn vị tôi thường xuyên đi hành quân tảo thanh quanh thị xã Hội-An và vùng ven biển Quảng-Nam.

Tôi là cựu học sinh Trung học Trần Quí Cáp. Tôi không lạ gì hai con chó đá và hai con khỉ đá Chùa Cầu. Tôi cũng rất quen những địa danh Cẩm-Kim, Xuyên-Quang, Phước-Trạch, Thu-Bồn, Cửa-Ðợi, Câu-Lâu… vân vân.

Mỗi khi hành quân về, đại đội tôi lại đóng quân ở nghĩa trang Triều-Châu, gần miếu Ông Cọp, ngoại ô thị xã Hội-An.

Căn lều của ban chỉ huy Trung Ðội 1 dựng gần mộ nhạc sĩ La Hối, tác giả bài “Xuân và Tuổi Trẻ”. Ông La Hối là người của thành phố Fai-Foo, tên xưa của Hội-An.

Căn lều ấy chứa năm thầy trò chúng tôi. Gồm có tôi (Thiếu úy Vương Mộng Long), Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong, người nấu cơm cho trung đội trưởng, Binh nhất Lý Thí, người mang đồ ngủ, lều võng cho trung đội trưởng, Binh nhất Mai Ðăng Vinh, hiệu thính viên của Trung Ðội 1, và Hạ sĩ nhất Nguyễn Mầu, xạ thủ trung liên BAR, hỏa lực chính của Trung Ðội 1.

Mặc dù gia đình tôi ở ngay trong phố Nguyễn Duy Hiệu, Hội-An, nhưng tôi thích sống tại đơn vị, gần gũi với những quân nhân dưới quyền.

Những buổi trở trời, mưa phùn bay mênh mang trên những đụn cát xa xa, Binh nhất Lý Thí lại mò ra đầu xóm, rinh về một đĩa lòng heo luộc và một bi-đông rượu trắng. Thầy trò tôi ngồi tán dóc chuyện dưới biển, trên trời.

Khi men cay đã thấm, ông Mầu và thằng Thí gân cổ, vụng về ca những câu vọng cổ chẳng đâu vào đâu, làm cho thằng Vinh lăn bò ra cười. Khi nó cười, miệng nó óng ánh hai cái răng vàng quê ơi là quê!

Vào những chiều mưa buồn như thế, đám đàn em của tôi thường nài nỉ tôi cụng ly với họ.

Sau mỗi lần tôi chịu “dzô!” một ly, thế nào họ cũng bắt tôi kể cho họ nghe một câu chuyện văn chương hay lịch sử.

Không biết họ có hiểu ý nghĩa của những câu chuyện tôi kể, thơ tôi ngâm hay không, nhưng tôi thấy họ ngây người nghệt mặt, miệng há tròn như chữ “O”, họ nhìn tôi với ánh mắt đầy cảm kích.

“Sĩ quan Ðà-Lạt, văn võ kiêm toàn!”

Thằng Thí chỉ biết gục gặc cái đầu, tán tụng một câu như vậy, mỗi khi tôi ngừng đọc một bài Ðường Thi, hay kết thúc một chuyện tình của Nã Phá Luân Ðại-Ðế.

o O o

Mờ sáng 22 tháng 2 năm 1966 đại đội tôi được thiết vận xa chở từ Hội-An lên Vĩnh-Ðiện để cùng với Ðại Ðội 1 và Ðại Ðội 4 đi giải vây cho đồn Kỳ-Ngọc, Ðiện-Bàn. Vì Ðại Ðội 2/11 của Trung úy Tôn Thất Trực đang tăng cường cho chi khu Quế-Sơn, nên lần hành quân này Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân chỉ tham chiến với ba đại đội.

Vừa rời ngã ba Quốc Lộ 1 được một đỗi, đơn vị tôi bị khựng lại vì đoàn người chạy loạn ngược chiều cản đường. Ðồng bào bồng bế dắt díu nhau ùn ùn dồn về thị trấn Vĩnh-Ðiện để lánh nạn chiến tranh.

Gần tới tháp Bằng-An, tôi gặp Trung úy Nguyễn Ngại, đại đội trưởng đơn vị Ðịa Phương Quân phụ trách vùng Tây Vĩnh-Ðiện. Trung úy Ngại xin gặp Trung úy Ngọ. Hai ông đại đội trưởng trao đổi tin tức cùng nhau vài phút. Sau đó, tôi được lệnh triển khai đội hình một hàng dọc, theo lộ tiến về hướng Tây.

Trung Ðội 1 do tôi dẫn đầu vừa qua khỏi tháp Bằng-An thì đằng sau có tin báo, khẩu súng Colt của Trung úy đại đội trưởng bị “cướp cò” khiến cho một viên đạn “dính” vào cẳng ông. Ông Trung úy đã được y tá khiêng lên xe cứu thương chở đi mất rồi!

Hạ sĩ Phụng, hiệu thính viên đại đội chạy hộc tốc từ hậu quân lên tìm tôi để đưa cái ống liên hợp máy PRC10 cho tôi,

– Thiếu úy! Ðại Bàng muốn nói chuyện với Thiếu úy!

Ðây là lần đầu trong đời lính, tôi có dịp đàm thoại với “Ðại Bàng” trên máy PRC10.

Buổi ấy là thời cực thịnh của những danh xưng truyền tin dữ dằn, đầy hơi hướm giang hồ hảo hớn như “Sơn Vương”, “Phi Hổ”,”Mãnh Sư”, “Ðại Bàng”…

Mãi về sau, khi bọn thư sinh hào hoa may mắn sống sót, ngoi lên được những vị trí chỉ huy chiến trận, thì tên của những nữ minh tinh, ca sĩ thủ đô mới được “trực thăng vận” ra chiến trường. Từ đó, bất cứ chốn nào có súng nổ, đạn bay, thì các nàng Thái Thanh, Kiều Chinh, Phương Dung, Hoàng Oanh, Thanh Thúy… lại gọi nhau ơi ới.

Trận này chỉ có một “Ðại Bàng” Mũ Nâu, Nguyễn Thừa Dzu. Còn “Ðại Bàng” Mũ Ðen Nguyễn Văn Của, Chi Ðoàn Trưởng Thiết Kỵ thì vắng mặt. Người chỉ huy đơn vị thiết kỵ ngày hôm đó là Trung úy Lào, Chi Ðoàn Phó.

Ông Ðại úy tiểu đoàn trưởng cho lệnh tôi đảm đương chức vụ Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 3/ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, vì đại đội tôi chỉ còn hai sĩ quan là tôi và Chuẩn úy Ðạt.

Từ phút đó, trên máy truyền tin, tôi không còn là “Giới Chức 1” nữa mà tôi được quyền xưng danh là “Thẩm Quyền 3”.

“Ðại Bàng! Ðây Thẩm Quyền 3 tôi nghe!”

Tôi chưa ổn định được đội hình đại đội thì Ðại úy đã thúc hối,

– A lê! Tiến lên cho kịp mấy con cua sắt! Ð! M! Cứ lù đù như gà mắc dây thun thì đến tối cũng chưa tới mục tiêu!

Quả thực, từ lúc khởi hành cho tới giờ đó, tôi có biết mục tiêu ở chỗ nào đâu! Trung úy ra đi không để lại một lời! Ðại úy ở chỗ nào tôi cũng chẳng hay! Tôi chỉ nghe được tiếng nói của người trên máy. Tôi định xin Ðại úy chỉ cho tôi mục tiêu ở chỗ nào, và nhiệm vụ của đại đội tôi làm gì, nhưng tôi lại sợ Ðại úy nổi giận!

Thấy đoàn M113 đang hàng dọc bò chầm chậm theo con lộ, tôi vội vàng ra lệnh cho quân mình dàn hàng ngang hai bên đường tiến lên phía trước đoàn xe.

Những tia nắng mai bắt đầu lóng lánh trên mặt nước đồng chiêm. Nếu không có những tiếng động cơ M113 rú lên từng chập trên con đường đá dăm gập ghềnh, thì toàn vùng đồng không mông quạnh này sẽ im ắng như tờ. Không cả tiếng chó sủa, mèo kêu. Tôi cảm thấy lạnh lưng, rùng mình trước cái im lặng ghê rợn ấy.

Tôi sử dụng đội hình “Tam Giác Mũi Trước”; ban chỉ huy đại đội đi sau Trung Ðội 2 bên trái đội hình. Tôi cẩn thận cho một toán tiền thám ba người đi dò đường một đoạn khá xa phía trước.

Khi chúng tôi đến gần một con dốc, nơi có cái miếu thổ địa bên đường, thì anh trưởng toán tiền thám là Binh nhất Trần Quy chạy ngược lại, hớt hải,

– Hướng Nam con lộ có rất nhiều người cài lá ngụy trang đang di chuyển ngược chiều quân bạn!

Tôi cho lệnh đại đội ngừng lại bố trí sẵn sàng. Tôi báo cáo sự việc cho Ðại Bàng.

Ông Ðại úy cằn nhằn,

– Ð! M! “Toa” cứ theo mấy con cua! Nó ngừng, “toa” ngừng. Nó tiến, “toa” tiến. Ðừng có lôi thôi!

Tôi thận trọng tiến lên cùng toán tiền sát để thăm dò tình hình. Tôi đã thấy những cành lá ngụy trang đang di chuyển từ Tây sang Ðông.

Chúng ẩn hiện sau những bờ đất hướng Nam con lộ. Tôi ra dấu cho Chuẩn úy Ðạt, Trung Ðội 3, và Thượng sĩ nhất Huỳnh, Trung Ðội 2, sẵn sàng chiến đấu.

Thế rồi…

“Ðùng! Ðùng! Oàng! Oàng! Chiu! Chíu!…” mìn nổ, đạn bay…địch khai hỏa!

Ðạn địch, trung liên, đại liên, AK47 từ trên dốc và khu ruộng khô bên trái lộ bắn xối xả về hướng đại đội tôi và đoàn xe sau lưng tôi.

Vậy là, chỉ mười hai ngày sau khi đáo nhậm đơn vị, tôi có dịp nếm mùi “Công Ðồn Ðả Viện”.

Mới mở màn mà trận này đã có vẻ sẽ là một trận lớn!

Cũng may, địch đang vận động lực lượng, mà chưa sẵn sàng! Tôi vào trận không đến nỗi bất ngờ lắm, vì tôi đã kịp thời thấy rõ tuyến dàn quân của địch. Tôi biết mình phải làm gì khi bị rơi vào một tuyến phục kích.

Lần đầu chạm địch với cương vị một đại đội trưởng, tôi cảm thấy hơi khớp. Nhưng những con mắt thuộc cấp nhìn tôi đầy tin tưởng đã khiến tôi vững tâm hơn.

Tôi nhủ thầm:

“Ta là Ðà-Lạt! Ta là một cấp chỉ huy!”

Tôi la lớn:

“Phục kích bên trái đường! Hai bên trái, Ba bên phải, xung phong!”

Những người lính già còn sót lại từ thời Chiến Tranh Ðông-Dương (1945-1954) như Thượng sĩ Huỳnh và Hạ sĩ Mầu đã chứng tỏ sự lợi hại của họ trong những tình huống hiểm nghèo như thế này!

Ông Huỳnh và ông Mầu cùng hô to:

“Xung phong bên trái!”

Nhưng ông Mầu thì kẹp khẩu trung liên BAR vừa bắn, vừa tiến lên trước mở đường, miệng ông oang oang,

– Theo tui! Theo tui! Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng! Sát!

Còn Thượng sĩ Huỳnh, thì xoay ngang khẩu Carbine ngáng sau lưng những anh lính trẻ đang bàng hoàng chần chừ, để đẩy họ chạy lên xung phong. Ông hạ sĩ quan già không ngần ngại xách cổ áo, đá đít những Biệt Ðộng Quân nhát gan đang nằm úp mặt, núp mình bên vệ đường. Ông lùa họ chạy theo đồng đội.

Thoáng chốc, trên cánh đồng mênh mông, từng cụm khói bốc cao, tiếng súng đã vang rền, hòa cùng những tiếng thét “Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng! Sát!…” kinh hoàng.

Tôi cùng Trung Ðội 2 vừa kiểm soát xong khu gò đất hướng Nam và cái miếu thổ địa thì Trung Ðội 3 của Chuẩn úy Ðạt cũng hoàn tất nhiệm vụ làm chủ con dốc hướng Tây.

Sau đó, tôi xua quân nhanh chân chạy lên chiếm giữ khoảng bờ đất cao tới ngực phân chia hai vùng ruộng khô và ruộng nước.

Thế là, chỉ vài phút sau, chúng tôi đã có một địa thế vô cùng thuận lợi để chiến đấu.

Ðoàn xe M113 vừa qua khỏi giai đoạn lúng túng ban đầu, cũng đã bình tĩnh trở lại. Họ xoay thành hình cánh cung sau lưng chúng tôi. Họ bắt đầu tác xạ tiếp tay cho Biệt Ðộng Quân.

Nép mình sau miếu thổ thần, tôi nhận định trận địa.

Khu ruộng thấp trồng lúa trải dài, cặp hai bên con lộ, theo hướng Ðông, Tây. Ruộng cao chạy song song với ruộng nước từ chân tháp Bằng-An tới ga Kỳ-Lam.

Khu ruộng cao trồng đậu phọng, khoai lang, hoặc thuốc lá.

Hết ruộng cao, xa về hướng Nam, là khu nhà dân với vườn phi lao và bãi mía um tùm.

Ðầu xóm là ngôi trường học cũ. Tường bao quanh trường, chỗ còn, chỗ sập. Từ bờ rào ngôi trường, và khu rừng phi lao, đạn địch đủ loại bắn ra đường tới tấp như mưa…

Rõ ràng địch đang vận động một cánh quân lớn từ hướng Tây qua hướng Ðông trường học để đánh bọc sườn Nam của lực lượng bạn.

Trước mắt tôi, những cán binh Việt-Cộng di chuyển thật lộ liễu nơi khoảng trống giữa hai bức tường đổ. Những cái bia sống cài lá ngụy trang, ẩn hiện chậm chạp hơn những cái bia “B” ở Trường Sình Lầy, Dục-Mỹ.

Chúng ẩn hiện sau những bờ đất hướng Nam con lộ. Tôi ra dấu cho Chuẩn úy Ðạt, Trung Ðội 3, và Thượng sĩ nhất Huỳnh, Trung Ðội 2, sẵn sàng chiến đấu.

Thế rồi…

“Ðùng! Ðùng! Oàng! Oàng! Chiu! Chíu!…” mìn nổ, đạn bay…địch khai hỏa!

Ðạn địch, trung liên, đại liên, AK47 từ trên dốc và khu ruộng khô bên trái lộ bắn xối xả về hướng đại đội tôi và đoàn xe sau lưng tôi.

Vậy là, chỉ mười hai ngày sau khi đáo nhậm đơn vị, tôi có dịp nếm mùi “Công Ðồn Ðả Viện”.

Mới mở màn mà trận này đã có vẻ sẽ là một trận lớn!

Cũng may, địch đang vận động lực lượng, mà chưa sẵn sàng! Tôi vào trận không đến nỗi bất ngờ lắm, vì tôi đã kịp thời thấy rõ tuyến dàn quân của địch. Tôi biết mình phải làm gì khi bị rơi vào một tuyến phục kích.

Lần đầu chạm địch với cương vị một đại đội trưởng, tôi cảm thấy hơi khớp. Nhưng những con mắt thuộc cấp nhìn tôi đầy tin tưởng đã khiến tôi vững tâm hơn.

Tôi nhủ thầm:

“Ta là Ðà-Lạt! Ta là một cấp chỉ huy!”

Tôi la lớn:

“Phục kích bên trái đường! Hai bên trái, Ba bên phải, xung phong!”

Những người lính già còn sót lại từ thời Chiến Tranh Ðông-Dương (1945-1954) như Thượng sĩ Huỳnh và Hạ sĩ Mầu đã chứng tỏ sự lợi hại của họ trong những tình huống hiểm nghèo như thế này!

Ông Huỳnh và ông Mầu cùng hô to:

“Xung phong bên trái!”

Nhưng ông Mầu thì kẹp khẩu trung liên BAR vừa bắn, vừa tiến lên trước mở đường, miệng ông oang oang,

– Theo tui! Theo tui! Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng! Sát!

Còn Thượng sĩ Huỳnh, thì xoay ngang khẩu Carbine ngáng sau lưng những anh lính trẻ đang bàng hoàng chần chừ, để đẩy họ chạy lên xung phong. Ông hạ sĩ quan già không ngần ngại xách cổ áo, đá đít những Biệt Ðộng Quân nhát gan đang nằm úp mặt, núp mình bên vệ đường. Ông lùa họ chạy theo đồng đội.

Thoáng chốc, trên cánh đồng mênh mông, từng cụm khói bốc cao, tiếng súng đã vang rền, hòa cùng những tiếng thét “Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng!Sát!…” kinh hoàng.

Tôi cùng Trung Ðội 2 vừa kiểm soát xong khu gò đất hướng Nam và cái miếu thổ địa thì Trung Ðội 3 của Chuẩn úy Ðạt cũng hoàn tất nhiệm vụ làm chủ con dốc hướng Tây.

Sau đó, tôi xua quân nhanh chân chạy lên chiếm giữ khoảng bờ đất cao tới ngực phân chia hai vùng ruộng khô và ruộng nước.

Thế là, chỉ vài phút sau, chúng tôi đã có một địa thế vô cùng thuận lợi để chiến đấu.

Ðoàn xe M113 vừa qua khỏi giai đoạn lúng túng ban đầu, cũng đã bình tĩnh trở lại. Họ xoay thành hình cánh cung sau lưng chúng tôi. Họ bắt đầu tác xạ tiếp tay cho Biệt Ðộng Quân.

Nép mình sau miếu thổ thần, tôi nhận định trận địa.

Khu ruộng thấp trồng lúa trải dài, cặp hai bên con lộ, theo hướng Ðông, Tây. Ruộng cao chạy song song với ruộng nước từ chân tháp Bằng-An tới ga Kỳ-Lam.

Khu ruộng cao trồng đậu phộng, khoai lang, hoặc thuốc lá.

Hết ruộng cao, xa về hướng Nam, là khu nhà dân với vườn phi lao và bãi mía um tùm.

Ðầu xóm là ngôi trường học cũ. Tường bao quanh trường, chỗ còn, chỗ sập. Từ bờ rào ngôi trường, và khu rừng phi lao, đạn địch đủ loại bắn ra đường tới tấp như mưa…

Rõ ràng địch đang vận động một cánh quân lớn từ hướng Tây qua hướng Ðông trường học để đánh bọc sườn Nam của lực lượng bạn.

Trước mắt tôi, những cán binh Việt-Cộng di chuyển thật lộ liễu nơi khoảng trống giữa hai bức tường đổ. Những cái bia sống cài lá ngụy trang, ẩn hiện chậm chạp hơn những cái bia “B” ở Trường Sình Lầy, Dục-Mỹ.

Từ tuyến dàn quân, chúng tôi dồn hỏa lực cắt ngang trục tiến quân của địch.

Hồi còn học trong trường Võ- Bị, tôi cũng được lãnh bằng thiện xạ. Hôm tôi đeo cái bằng đó trên túi áo vào chợ Ðà-Lạt, chị Chúc vừa nhìn thấy nó đã khen ngay,

– Thằng em của chị bắn giỏi quá nhỉ?

Chị Chúc bán tạp hóa trong chợ Ðà-Lạt. Chị thương chúng tôi lắm. Chị có rất nhiều em là sinh viên sĩ quan. Ðứa em nào cũng có tên trong sổ nợ của chị.

Nghe chị tôi khen, tôi vênh mặt lên, cứ tưởng mình là tay súng bá vàng John Wayne! Thực ra, tôi bắn Garand không giỏi lắm đâu! Khóa tôi còn khối người có bằng thiện xạ!

Thấy địch đi ngời ngời trước mắt ngon quá, tôi giành khẩu Garand M1 trên tay Binh nhì Nguyễn Truyền. Chú Truyền thành người nạp đạn cho tôi.

Giờ này là lúc tôi chứng tỏ bản lãnh của một Sinh Viên Sĩ Quan Ðà-Lạt có bằng thiện xạ!

Khi chạm trận, tôi mới phát huy được những gì thầy Khuê, thầy Cung, thầy Thạch đã dạy cho. Tôi điều chỉnh đường ngắm: Từ lỗ chiếu môn… qua đỉnh đầu ruồi … rồi tới … đầu thằng Việt Cộng!

Xạ trường nằm giữa hai bức tường đổ. Bờ đất cao tới ngực tôi là chỗ tỳ tay.

“Kẹp đạn tám viên nạp đạn! Thế bắn đứng có tỳ, thủ thế!”- “Bắn!”

Một thằng giặc gục, thằng thứ hai, thằng thứ ba… mỗi viên một đứa! Cứ tám tên, một kẹp đạn!

“Coong!”

Kẹp đạn rỗng văng ra khỏi buồng đạn. Binh nhì Truyền lại vội trao cho “Thiếu úy Sữa” kẹp đạn khác.

Không có hiệu lệnh, “Bên trái sẵn sàng! Bên phải sẵn sàng!” của sĩ quan giám xạ. Thầy trò tôi mạnh ai nấy bắn. Tiếng đại liên 30 của ban chỉ huy đại đội, hòa tấu với tiếng trung liên BAR của ba trung đội. Góp vui là những trái cối 60 ly và những quả phóng lựu từ súng Garand M1.

Thời này, vũ khí của Biệt Ðộng Quân còn hủ lậu lắm, đi sau vũ khí địch một bước khá dài. Chúng tôi có đủ loại súng. Trẻ nhất là khẩu Carbine M2. Cổ lỗ già nua nhất là khẩu Thompson 45. Có khi mới bắn được vài chục viên Thompson thì nòng súng đã nóng đỏ, dãn nở, làm cho đạn không thèm bay, mà rơi ngay trước mặt xạ thủ. Lựu đạn M26 còn rất hiếm hoi, mỗi khi trang bị cho ai, tôi phải đắn đo. Lựu đạn có khía, loại MK2 có tuổi đời già hơn tuổi tôi thì ê hề! Bao nhiêu cũng có! MK2 vừa nặng, vừa chậm nổ so với M26. Hình dạng nó cũng… xấu xí hơn.

Tiền quân của địch đã quấy động được phần đuôi của lực lượng hành quân, nơi Ðại Ðội 1 của Thiếu úy Lý Phát Tân đang bảo vệ bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Chú Binh nhất hiệu thính viên Mai Ðăng Vinh giao cái ống liên hợp cho tôi. Trong máy, ông Ðại úy ra lệnh,

– “Toa” nhào lên bẻ cổ con gà mổ nhanh cho “moa”!

Tôi ớ ra, chẳng biết “con gà mổ nhanh” là cái gì!

Ðại úy lại hối,

-Ð!M! Tao bảo nhào lên! Bất cứ giá nào! A lê! Vít! Vít! (A lê! Vít! Vít!= Ði! Mau lên! Mau lên!)

Tôi hỏi Vinh,

– Con gà mổ nhanh là cái gì vậy Vinh?

– Dạ, con gà mổ nhanh là khẩu “đum đum” đó Thiếu úy!

Tôi đoán khẩu “đum đum” chắc là khẩu 12.7 ly?

Rõ khổ! Trong trường, tôi đã học ám danh đàm thoại nhuần nhuyễn hai năm ròng, mà đến khi hữu sự lại cứ như thằng ngố! Ám danh đàm thoại ở ngoài đơn vị quả là ngộ!

Nhận lệnh, tôi gọi Chuẩn úy Ðạt lại dặn dò anh bảo vệ hông phải và phía sau đại đội. Tôi để lại cho Trung Ðội 3 của Ðạt khẩu cối 60 ly và khẩu đại liên 30. Tôi cùng hai Trung Ðội 1 và 2 xung phong lên mục tiêu.

Tiếng kèn xung phong của bộ chỉ huy tiểu đoàn từ rặng tre ngoài đường phía sau xa, vọng tới nghe đứt quãng. Có lẽ anh Ngữ, lính kèn, bị đạn Việt-Cộng bắn dữ quá nên không kịp hít hơi cho đầy phổi để thổi kèn cũng nên?

Tiếng kèn cứ “Pèm pẹp! Pèm pẹp!” như tiếng kèn xe ngựa đi, về, giữa chợ Ðà-Lạt và ấp Thái-Phiên.

Giờ này, sao tôi thấy thèm tiếng kèn xung phong của anh lính “kà” trường Võ-Bị quá đi!

Ngày đó, vào giờ học chiến thuật, trong rừng thông Ðà-Lạt, tiếng kèn xung phong âm vang, lanh lảnh, dội đi, dội lại, trong vách núi. Tiếng kèn làm người nghe lạnh gáy.

“Te! Te tí! Te tò! Tò! Tò! Te tí!…Tí!Tí! Tí!…Tí! …Tí!…”

Tiếng kèn ấy đã khiến khẩu trung liên BAR trên tay tôi nhẹ hẳn đi, khi tôi xung phong lên đồi 1441 sau miếu Thần Hổ, dưới chân núi Lap Bé Nord, Ðà-Lạt, trong những lần thực tập.

Tôi xung phong nhanh đến nỗi anh tải đạn Nguyễn Văn Cơ, cùng là sinh viên sĩ quan của Trung Ðội 6, Ðại Ðội B với tôi, phải vứt cả thùng đạn xuống đường mà theo chân tôi vẫn không kịp. Tiếng kèn thúc quân ma quái ấy thúc đít chúng tôi tiến ào ào lên đồi thông để tiêu diệt ổ đại liên bắn đạn …mã tử của mấy anh lính “kà” giả địch.

“Khói súng và kèn, còi xung phong, cũng chiếm một phần quan trọng trong các cuộc hành quân.”

Ðó là lời thầy Nguyễn Cửu Nhòng mới từ mặt trận Quân Khu 1 trở về trường năm 1965, làm phụ tá huấn luyện viên chiến thuật. Thầy nói rất đúng!

Khoảng trống hai trăm mét đồng cao trồng đậu phộng và khoai lang từ bìa ruộng nước tới bìa làng quả là đáng sợ. Chẳng có sách vở nào dạy rằng tuyến xung phong lại cách xa mục tiêu tới mấy trăm mét. Không đào đâu ra một điểm che giấu cho tôi tiến quân từ bờ ruộng tới khu xóm nhà có cái trường học, và khẩu đại liên 12.7 ly. Khẩu 12.7 ly này lại không bắn đạn mã tử!

Trời nắng, đồng trống. Mặt ruộng bằng phẳng. Lác đác đó đây có vài cái mả, trên mặt mả là dây lang. Ðạn địch đan lưới trước mặt. Ðạn cày đất bụi mịt mù. Mấy người lính có đạo làm dấu thánh giá. Những khuôn mặt đanh lại. Những đôi mắt rực lên, long lanh. Họ nhìn tôi chờ đợi.

Tôi sực nhớ bài thực tập phản phục kích vừa học xong tháng trước trên đồi Rọ-Tượng, Dục-Mỹ trong Khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy mà tôi đóng vai đại đội trưởng.

Tôi xin Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn cho pháo binh đánh bốn trái khói ngay trên cái trường học. Ông tiểu đoàn trưởng lấy làm lạ tại sao tôi xin tới bốn trái khói thay vì chỉ cần một trái thôi? Ông chỉ thuận cho tôi một trái.

Tôi nài nỉ anh đề-lô, hắn cũng là người Hội-An, đi khóa 10 Thủ-Ðức, vì tình riêng, anh ta cho tôi bốn trái.

Chờ cho màn khói vừa phủ mục tiêu, tôi đứng dậy, leo lên trên một gò mả, mặt hướng về phía địch, tay trái phất cao, tay phải kẹp khẩu Carbine M2, bóp cò.

Miệng tôi hét lớn:

“Xung phong!… Xung phong!…”

Tiếng súng Carbine lẹp bẹp khiêm nhường, nghe thật lép vế so với tiếng trung liên, đại liên, và Bazooka 57 ly của Việt-Cộng.

Tiếng súng lệnh của tôi loãng nhanh trong tiếng 106 ly trên M113 của ta, và tiếng đại bác 105 ly, 155 ly của Mỹ đang nổ đùng đùng tứ phía.

Nhưng những chiến sĩ dưới quyền tôi chỉ chờ có thế.

Thấy tôi đứng hiên ngang hô xung phong, họ hăng hái hẳn lên.

Họ bắn. Họ la hét. Họ ném lựu đạn. Họ chạy ào ào trên ruộng khô. Họ tràn lên những bờ ruộng nơi những chùm lá ngụy trang đang nhúc nhích. Họ nhào vào khu khói trắng,

“Biệt Ðộng! Sát!…Biệt Ðộng! Sát!…”

Mục tiêu trước mắt là cái trường học có khẩu phòng không cài lá ngụy trang. Khẩu phòng không đang ngóc lên ngóc xuống. Tôi cố gắng phóng lên cho ngang với những người lính tiên phong của Trung Ðội 1.

Chạy trước tôi là Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong, người nấu cơm cho tôi. Chạy sau tôi là Hạ sĩ Nguyễn Mầu, xạ thủ trung liên BAR của Trung Ðội 1.

Chúng tôi đã lướt qua năm sáu cái gò mả. Cả chục xác Việt- Cộng nằm phơi trên đó. Chúng tôi đạp đầu giặc mà tiến! Khí thế bừng bừng, chúng tôi đuổi theo quân thù đang rút chạy.

Tôi theo sát gót thuộc cấp. Họ biết tôi đang ở bên cạnh họ. Không ai ngoảnh cổ lại đàng sau.

Anh hiệu thính viên Mai Ðăng Vinh cũng móc cái ống nghe bên hông ba lô, lượm vội một khẩu AK 47 bên xác giặc, chạy theo tôi bén gót (Vinh chỉ có súng Colt 45).

Bên trái tôi, một Biệt Ðộng Quân la thất thanh, “Ối cha!” rồi té nằm xoài bên luống khoai.

Trước mặt tôi, một Biệt Ðộng Quân vừa trúng đạn; viên đạn đẩy anh ngã ngửa về phía sau. Người đó đội béret đỏ.

Tôi thót ruột:

“Chắc là thằng Thí?”

Binh nhất Lý Thí là người đồ đệ mang đồ ngủ cho tôi. Nhưng tôi không thể ngừng lại để săn sóc cho nó. Ngừng lại là chết ngay! Tôi chỉ có một việc phải làm, bắt buộc! Ðó là vừa bắn, vừa lao tới khẩu phòng không khốn kiếp!

Bom Mỹ đánh vùi trước mặt. Trực thăng võ trang, Phantom, F.5, Sky-Raider chúi xuống, ngóc lên; tiếng động cơ rú điếc tai; khói bụi mù trời. Tai tôi đã “O!…O!…” vì tiếng nổ của bom đạn quá gần. Tôi chỉ nhìn thấy miệng khẩu phòng không chớp chớp, phà khói trắng.

Một trái lựu đạn hất khẩu 12.7 ly lăn quay. Chúng tôi tràn vào sân trường học. Những chiếc nón cối cài lá xanh vỡ toang. Óc người văng trên mặt sân, thoáng chốc đã trở màu ngà ngà như đậu hủ pha tương ớt.

Một tràng AK quét sát hông tôi, làm tung bức tường vôi lớp học trước mặt tôi. Từ dãy lớp hướng Tây, một tên địch đã nhắm bắn tôi nhưng không trúng.

Hạ sĩ Mầu ria một tràng trung liên BAR vào nơi phát ra tiếng súng. Tiếp theo là hai quả M26. Có nhiều tiếng rên la thảm thiết đồng loạt trong căn phòng đó. Ông Mầu bóp cò tiếp khẩu trung liên BAR. Chú Phong bồi một quả M26 nữa. Căn phòng đổ sụp.

Phong nhanh như con sóc; chỉ ba bước nhảy, chú đã tới bên lớp học. Chú bắn cạn ba mươi viên Carbine M2 rồi lăn sang núp sau một cây rơm. Phong vội vàng trở đầu băng đạn đôi. (Hai băng đạn nối ngược chiều nhau bằng băng keo. Mỗi lần nhồi đạn, có sáu chục viên sẵn sàng).

Căn lớp vừa đổ là nơi chứa thương binh của địch. Có khoảng trên dưới hai mươi thương binh địch trong căn nhà đó. Chúng vừa chết hết. Nơi góc nhà có mười mấy khẩu súng, vừa B40, vừa AK. Những cục cơm vắt văng trên nền gạch. Máu đỏ thấm ướt những hạt cơm vãi tung toé đó đây…

Khi Hạ sĩ Phong bận thay băng đạn khác thì B1 Vinh ngồi thủ thế khẩu AK 47 bảo vệ an ninh cho bạn.

Nghe có tiếng Ðại úy lè xè trong máy, tôi gỡ cái ống liên hợp, áp nó vào tai. Tôi nghe Ðại úy giận dữ,

-Ð!M! Anh là Ðà-Lạt! Anh không lên, tôi lột lon anh!

Nản quá, tôi không muốn nói chuyện với Ðại úy. Tôi đưa ống nghe cho Vinh,

– Em báo cho ổng biết rằng mình đang lục soát cái trường học.

Vinh nhìn tôi áy náy,

– Cứ chạm trận là Ðại úy lại chửi thề “Ð!M!” quen rồi! Thiếu úy đừng để bụng làm gì cho mệt!

Tôi bố quân theo hình chữ “L”. Trung Ðội 1 giữ mặt Nam, Trung Ðội 2 giữ mặt Tây trường học.

Tôi gọi Chuẩn úy Ðạt cho Trung Ðội 3 của anh tiến lên. Trên đường, Trung Ðội 3 có nhiệm vụ thu nhặt chiến lợi phẩm, chuyển những người bị thương và chết ra đường.

Bãi cỏ có cái miếu thổ địa bên đường đã thành nơi tập trung thương binh và chiến lợi phẩm của đại đội tôi. Tôi giao cho Trung sĩ Vũ, y tá đại đội, chỉ huy cái trạm này.

Trung sĩ Vũ báo cho tôi biết, tính tới giờ đó, trạm cứu thương của anh có hai chục áo vàng (bị thương) và năm áo đỏ (chết). Tôi hỏi Vũ về tình trạng của Binh nhất Lý Thí.

Vũ nghẹn ngào,

– Thằng Thí mặc áo đỏ rồi! Thẩm Quyền ơi!

Tôi lặng người, cúp máy, không hỏi thêm.

Mới chiều hôm trước, khi chiếc xe Dodge của tôi từ phố về ngang miếu Ông Cọp, Hội-An, thì Binh nhất Lý Thí (quê quán Miếu-Bông), đang đứng chờ tôi trước cửa quán cháo lòng. Tôi nhận ra nó ngay, vì lúc nào nó cũng đội cái béret đỏ chói.

Nó chận đầu xe tôi lại. Giọng nó lè nhè hơi men,

-Thiếu úy ơi! Vào đây cụng với em một ly! Ngày mai ra trận. Biết đâu em không về!

Tôi đã đậu xe dưới gốc cây đa bên cạnh miếu Ông Cọp.

Tôi đã “dzô!” với đồ đệ của mình một ly. Lúc ấy tôi không hề nghĩ tới chuyện ngày mai nó không về. Bởi vì chiều qua, từ Phòng 3 Tiểu Khu Quảng-Nam ra, trên tay tôi có cái phóng đồ hành quân tùng thiết vùng ven biển Phước-Trạch, Cửa-Ðợi. Cuộc hành quân đó dự trù sáng đi, chiều về. Tôi nói với Thí rằng, sáng mai em không cần mang theo đồ ngủ cho anh. Chúng mình sẽ chỉ sáng đi… chiều về!

Tôi không ngờ hỏa châu rơi suốt đêm. Mờ sáng, lệnh đổi hướng hành quân. Ðoàn thiết vận xa M113 đã không đưa chúng tôi ra bãi biển, mà nhắm hướng Tây, đi về vùng núi. Mờ sáng, thầy trò tôi cùng ra đi. Tới chiều… đồ đệ của tôi đã không về!

Sau khi báo cáo sơ lược thành quả vừa thu lượm được cho Trung úy Trung, tiểu đoàn phó, tôi giao nhiệm vụ củng cố mục tiêu cho Chuẩn úy Ðạt và ông thường vụ đại đội.

Chiếc L.19 lướt sát nóc trường học. Chiếc đầm già lắc cánh về trái và về phải hai cái để gửi cho chúng tôi lời chúc mừng của phi công. Tôi đề nghị với sĩ quan điều không cho không yểm di chuyển xa về hướng Tây Nam nơi những rừng mía um tùm rậm rạp. Tôi đoán địch đang rút lui hướng đó.

Không yểm đã di chuyển. Tôi cần pháo binh yểm trợ gần để tảo thanh khu vực hướng Tây trường học. Tôi liên lạc thẳng với sĩ quan đề-lô của tiểu đoàn để đơn xin được thỏa mãn kịp thời. Áp dụng kinh nghiệm hiếm hoi học hỏi được từ Ðà-Lạt và Dục-Mỹ, tôi thực hành nghề chọi pháo.

Cầm tấm bản đồ Kỳ-Lam và quyển “Cẩm Nang Ða Hiệu” trên tay, tôi vững tâm đánh những quả đạn 155 ly trên từng gò mả, từng gốc đa. Tôi điều chỉnh tầm đạn từ 100 mét, rồi 50 mét. Sau cùng, tôi dám chỉnh độ chính xác tới 20 mét trên mục tiêu. Những quả delay chui xuống hầm moi xác địch lên mặt đất. Những quả nổ cao chặn đầu chúng không cho chạy thoát thân về những đồi sim hướng Tây.

Tôi đã hoàn toàn làm chủ tình hình mặt Tây Nam của trận địa. Tôi định cho anh em lấy cơm vắt ra ăn thì bên hướng Bắc con lộ, pháo nổ ầm ầm. Thiếu úy Bửu Chuyển và Ðại Ðội 4 của anh đang bị địch tấn công từ hướng Bắc xuống. Ðịch bám trụ bên kia cái đầm cói rộng. Cái đầm nuôi cá vuông vức, mỗi chiều cỡ trăm thước, có bờ đất cao bao quanh. Ðầm nước nằm cách con lộ chừng ba, bốn trăm thước về hướng Bắc.

Ðại úy tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho Ðại Ðội 1 từ phía sau di chuyển thật nhanh lên trám chỗ cho đơn vị tôi. Tiếp đó, ông ra lệnh cho đại đội tôi lui ra con đường lộ để tiếp viện cho anh Chuyển.

Khi tôi lội ngược ra tới đường thì đại đội của Chuyển và những chiếc thiết quân vận đang bám sát bìa đường chịu trận những đợt pháo ào ào của địch.

Vừa gặp nhau, Thiếu úy Bửu Chuyển đã dúi vội vào tay tôi tấm bản đồ có vẽ sẵn sơ đồ mục tiêu và ranh giới hành quân của tiểu đoàn. Tấm bản đồ tôi đang dùng là của cấp trung đội, không có những chi tiết trên.

Anh Chuyển cầm tay tôi ân cần,

– Cẩn thận nghe em!

Rồi anh hối hả lui quân; vì Ðại úy đã ra lệnh cho anh rút về bảo vệ bộ chỉ huy.

Ðại Ðội 4 chưa đi hết, Ðại úy đã ra lệnh cho tôi cùng một thành phần của chi đoàn thiết quân vận đánh thẳng lên hướng Bắc tiến chiếm khu gò mả và thôn xóm đằng sau đầm cá.

Lệnh của Ðại úy thật rõ ràng,

– Thẩm Quyền 3! Ðây là Ðại Bàng! Tôi ra lệnh cho anh nhào lên thanh toán cái xóm nhà bên kia hồ cá! Nghe rõ chưa?

Tôi ngạc nhiên vì quyết định của ông Ðại úy.

Tại sao ông phải chuyển Ðại Ðội 1 lên thay tôi trấn giữ khu trường học tôi vừa vất vả chiếm xong?

Tại sao Ðại úy phải lôi đại đội tôi từ Nam lên Bắc để theo chân M113 đánh vào cái hồ cá? Anh Chuyển và Ðại Ðội 4 của anh đang ở sẵn nơi đây cùng với đoàn xe kia mà?

Tôi im lặng thi hành lệnh, nhưng tôi biết thuộc cấp của tôi không vui…

Tôi nghe tiếng máy gọi nhau oang oang từ các thiết vận xa; rồi đoàn M113 bắt đầu nhúc nhích. Chúng tôi bì bõm tiến sau lưng M113.

Lúa cao tới nách tôi. Và nước thì cao tới háng tôi.

Bên kia cái đầm nước là nơi những ổ đại liên, trung liên đang khạc lửa. Khói từ khẩu 57 ly của Việt-Cộng lúc thì phụt ra ở đầu xóm, lúc cuối xóm. Phải công nhận tụi xạ thủ 57ly của Việt-Cộng chuyển dịch vị trí rất nhanh!

Một chiếc M113 vừa trúng đạn! Nó bị bắn đứt xích! Chiếc xe nằm bất động giữa ruộng lúa. Viên trưởng xa và xạ thủ đại bác đang lo gỡ khẩu 106 ly để chuyển sang chiếc xe khác. Từ bờ hồ, địch cài lá ngụy trang ào ạt xông về hướng đoàn xe. Chúng tính chuyện bắt sống chiếc M113 bị thương!

Ðạn 57ly và B40 nổ ùng oàng tứ phía. Vũ khí chống tank của địch thật là đáng sợ! Chúng bắn nà quá khiến đoàn thiết quân vận chùn bước, phải lui về phía sau.

Một chiếc M113 giật lùi để tránh B40 đã đè Hạ sĩ Nguyễn Mầu xẹp xuống bùn trong ruộng lúa. Tôi bị xe cán hụt.

Tôi kéo ông Mầu từ dưới bùn lên, rồi vội vàng vuốt bùn trên mặt cho người lính già.

Tôi thấy miệng ông mấp máy. Phải ghé tai sát mặt ông, tôi mới nghe được tiếng ông thều thào,

– Thiếu úy ơi! Em đi!

Máu miệng ông trào ra. Ðầu ông ngoẹo trên ruộng nước…

Ðoàn cơ giới tụt lại đằng sau. Chúng tôi lòi ra phía trước. Ðạn rơi “chủm! chủm!” trên ruộng lúa nước trước mặt.

Trong lúc tôi đang phân vân không biết làm cách nào vượt qua cái đầm nước rộng, thì ống liên hợp truyền tin lại xè xè tiếng của Ðại úy,

– Ð!M! Nhào lên! Bộ tụi mi ngủ sao? Nhào lên!

Tôi phóng nhanh sang phía Trung Ðội 1, bên trái tuyến xung phong. Tôi tránh đánh trực diện với tổ hỏa lực địch. Tôi và Trung đội 1 của Trung sĩ 1 Nguyễn Khê (vốn là trung đội phó của tôi) chạy thục mạng lên chiếm xóm nhà hướng Tây cái đầm. Ðại đội trừ (-) thì nằm sát mép đường chờ tôi lập đầu cầu.

Tôi có người bạn khóa 17 Thủ-Ðức là Chuẩn úy Dương Quang Tú, chi đội trưởng của chi đoàn thiết kỵ đang tham chiến sát cánh với tôi. Tôi nhờ Tú bắn tối đa vào khu nhà bên hướng Bắc hồ nước để chia lửa cho tôi. Ðầu cầu lập xong, vài Biệt Ðộng Quân chết và bị thương.

Khi quả khói vàng bốc lên nơi đám sầu đông đầu xóm, thì trực thăng võ trang can thiệp. Dưới hỏa lực yểm trợ hùng hậu của trực thăng võ trang, chúng tôi ào ào chạy lên chiếm những ụ đất nơi rặng tre. Tôi ra dấu cho chi đội thiết kỵ tiến lên để quân tôi theo sau. Hai Trung Ðội 2 và 3 dàn hàng ngang cùng M113 tiến lên tiếp tay Trung Ðội 1.

Ðạn bay khắp hướng. Không phân biệt được đạn của ta, hay của địch.

Chiếc thiết quân vận của Chuẩn úy Tú vừa đè sập một cái chuồng trâu thì hai quả B 40 bay sượt qua đuôi xe, nổ tung trong bụi chuối. Chiếc xe lùi vội ra ngoài ruộng lúa. Hai khẩu đại liên 30 và đại liên 50 trên xe bắn ào ào vào căn nhà lợp lá dừa, vách ván giữa xóm. Tôi và anh Binh nhì Truyền nấp sau cây rơm đàng trước căn nhà lá dừa, vách ván đó.

Tôi vừa ra sức ném được quả M26 qua nóc nhà để nó rơi nổ hướng sau nhà thì Truyền la to,

-Thiếu úy ơi! Súng em kẹt đạn rồi!

Tôi sợ địch nghe được tiếng anh ta la hoảng, vội đưa tay bịt miệng anh lại.

Cái vụ kẹt đạn thì tôi đã gặp nhiều lần trong hai năm còn thụ huấn trong trường. Khốn nỗi, khẩu Garand của Truyền không có lưỡi lê, biết lấy cái gì để cạy vỏ đạn khỏi cơ bẩm bây giờ?

Tôi chợt nhớ ra trong túi mình có cái bấm móng tay. Tôi giao khẩu Carbine cho Truyền để anh quan sát gác giặc. Chưa đầy một phút sau khẩu Garand lại tốt trở lại.

Tôi ném thêm một quả M26 nữa qua mái nhà. Hai thầy trò tôi nhào vào nấp sau cái cối xay lúa nơi đầu hiên. Có tiếng người rên bên hiên sau. Tôi thấy một khẩu trung liên nồi RPD nằm chỏng gọng trên nền đất. Hai cán binh Việt-Cộng mình mẩy bê bết máu đang cố lần lưng tìm kiếm cái gì đó. Tôi nhắm ngay đầu chúng, ria qua ria lại một băng M2.

Trung Ðội 2 của Thượng sĩ Huỳnh cũng vừa ào tới. Chúng tôi hàng ngang tiến sang khu mấy cái chòi nuôi vịt trên bờ Tây của cái đầm nước. Ðoàn thiết vận xa theo sát bên yểm trợ.

Chúng tôi giờ này đang ở sau lưng những tên Việt-Cộng bám trụ quanh hồ. Chúng ngụp lặn xuống nước giấu mình. Những khẩu đại liên trên xe bắn tung xác chúng. Những thân hình rũ xuống như những trái chuối nát. Nước hồ trở thành màu đỏ, thẫm dần, thẫm dần…

Chúng tôi còn phải tiếp tục thanh toán cái xóm nhà bên hướng Bắc cái đầm. Ðạn réo tứ tung. Khói súng, khói bom, khói lựu đạn, khói nhà cháy mù mịt.

Chú Hạ sĩ Phong, người nấu cơm của tôi, bị thất lạc từ lúc khởi đầu cuộc xung phong qua đường, giờ này mới tìm gặp lại được ông thầy.

Tôi và chú Phong nhảy vào một nhà có những cái lu bằng sành thật to dựng sát vách dùng để chứa lúa giống. Có mấy khẩu AK vứt trên sàn nhà. Dấu chân ướt bùn còn rất mới in trên mặt cái sập gỗ nơi góc nhà, cạnh một cái cót chứa lúa.

Hai khẩu Carbine M2 nổ giòn, những cái lu bể. Tôi rợn tóc gáy khi thấy từ trong vài cái lu chưa vỡ có người nhảy ra!

Tôi bị trượt chân té ngửa giữa sàn.

Tôi nằm ngửa bóp cò. Những người áo đen tay cầm AK trúng đạn gục xuống. Có vài cái xác đè ập trên người tôi.

Trong khi đó, chú Phong bắn ào ào vào căn phòng gỗ cửa đóng kín mít.

Vì nằm ngửa, tôi nhìn thấy một thanh mã tấu sáng loáng quơ lên từ cót chứa lúa nơi góc nhà sau lưng chú Phong. Tôi la thất thanh,

– Phong! Ðằng sau!

Thanh mã tấu hạ xuống! Phong chỉ kịp dang hai tay đưa khẩu súng Carbine lên đỡ nhát chém. Chú khuỵu xuống vì nhát chém quá mạnh. Người chém chú mất đà, lộn cổ xuống đất.

Phong hoàn hồn, nện một đế súng vào đầu kẻ địch.

“Bốp!”

Cái đầu vỡ sụm. Óc pha máu phọt ra, văng lên ngực Phong. Phong la lớn,

– Chạy thôi! Thiếu úy!

Tôi hoảng quá, bắn cạn băng đạn rồi lăn tròn ra hướng sân. Chú Phong theo sát bên.

Ra tới sân, chú Phong ném với vào kho một trái M26. Hai thầy trò tôi ù té chạy ngược ra bờ ruộng.

Hai chiếc M113 án ngữ dưới ruộng từ nãy tới giờ không dám can thiệp sợ bắn lầm quân bạn, nay thấy thầy trò tôi chạy ra, thế là họ tưới đạn trùm lên cái nhà kho.

Một quả lựu đạn lân tinh khiến cái nhà kho bốc cháy.

Chuẩn úy Tú nhảy xuống xe, giọng anh lạc đi,

– Long ơi! Toa bị thương có nặng không?

Tôi cúi nhìn quần áo mình. Áo quần tôi đầy máu!

Tôi đưa tay xoa mặt, mặt tôi cũng có máu! Máu đỏ cả cái thẻ bài, ướt đẫm cả cuốn Lăng Nghiêm Chú nhỏ xíu tôi đeo trước ngực.

Tôi dang tay sờ khắp người; chẳng có chỗ nào đau. Hóa ra máu trên người tôi là máu địch! Khi bị bắn hạ, xác chúng đè lên người tôi trong sàn kho lúa.

Giờ này bộ chỉ huy tiểu đoàn và một thành phần của Ðại Ðội 4 đã tiến lên hỗ trợ mặt sau cho đơn vị tôi. Tôi nhìn thấy Ðại úy đang cầm gậy chỉ trỏ ra lệnh cho anh Bửu Chuyển bố quân trên các gò đất dọc theo hai bên đường.

Người lính thổi kèn của tiểu đoàn sau khi chạy như bay qua hai vạt ruộng, vừa thở, vừa níu áo tôi,

– Ðại Bàng ra lệnh cho em đi theo Thiếu úy!

Nơi cuối thôn còn một mục tiêu cần thanh toán gấp trước khi địch có thể tái tụ hội, tái phối trí.

Bây giờ là lúc tôi dùng tới lực lượng trừ bị của đại đội. Từ đầu trận tới giờ, Trung Ðội 3 của Chuẩn úy Ðạt là ít bị tôi sử dụng nhất. Tôi phải phòng hờ một sĩ quan để thay thế mình, nếu mình có mệnh hệ gì.

“Dù ít, dù nhiều, phải có trừ bị” (huấn luyện viên chiến thuật, Ðại úy Mỹ và Trung úy Ðức căn dặn như thế!)

Tôi gọi Chuẩn úy Ðạt lên, giao cho anh nhiệm vụ thanh toán nốt mục tiêu cuối cùng.

Lúc này gió thổi từ Nam lên Bắc. Tôi biết M113 của Tú có đem theo nhiều lựu đạn lân tinh. Tôi nhờ Tú làm cho Ðạt một màn khói che để quân của Ðạt an toàn áp sát mục tiêu. Sau đó, Tú và tôi dồn hết hỏa lực bắn yểm trợ hông trái cho Trung Ðội 3.

Vậy mà những ổ kháng cự của địch vẫn còn rất mạnh. Cánh quân của Chuẩn úy Ðạt bị cầm chân nơi vườn chuối phía trước xóm nhà lá có những cây cau và bể chứa nước mưa. Ðạt gọi tôi xin tiếp tay.

Tôi dàn quân hàng ngang, ào lên bên trái chòm nhà mà Trung Ðội 3 đang giành giựt với địch.

“Biệt Ðộng! Sát!… Biệt Ðộng ! Sát!…”

Quân tôi xung phong lên khu mả lạng.

Tới đây thì Hạ sĩ Ngữ, lính kèn, tách ra khỏi hàng. Anh leo lên trên một gò đất, đứng dang hai chân, ưỡn ngực, ra sức thúc quân:

“Te! Te! Te! Tí! Tí! Te!Te!…”

Theo gió, tiếng kèn xung phong sắc như nước, cuồn cuộn, lanh lảnh, xé không gian. Chúng tôi cưỡi lên tiếng kèn mà phóng mình tới trước!

Nhưng chỉ một phút sau tiếng kèn bỗng tắc tị! Quay đầu nhìn lại, tôi thấy Ngữ đang ôm bụng, quằn quại trên mặt đất, một tay anh ôm vết thương đang phun máu, tay kia còn cố giữ cây kèn đồng không chịu buông.

Ngữ không có súng, cây kèn đồng buộc lá quốc kỳ đuôi nheo nho nhỏ là vũ khí của anh. Giờ đây, cả cây kèn lẫn lá quốc kỳ đều đã ướt đẫm máu đào.

Chi đội M 113 của Chuẩn úy Tú không thể vượt qua lớp rào bằng tre đực của Ấp Chiến Lược nên đành phải dừng lại ngoài ruộng khoai. Cũng may có nhiều lỗ trâu, bò chui qua rào, nên Biệt Ðộng Quân tiến sát mục tiêu không đến nỗi khó khăn lắm.

Căn nhà có những cây cau cao có vẻ là chỉ huy sở hành quân của Việt-Cộng, vì có nhiều đường dây điện thoại và chòi gác bao quanh. Xung quanh chòm nhà này là vườn tược, với hệ thống giao thông hào chằng chịt. Khu này được địch bảo vệ bằng những tổ tam tam. Mỗi tổ tam tam có hai AK47 và một B40.

Chúng tôi phải dùng lựu đạn cay xen kẽ với lựu đạn miểng MK2 để thanh toán từng mắt lưới giao thông hào. Chiếm được đoạn giao thông hào nào, chúng tôi phải chia người bám trụ, sợ địch phản công giành lại.

Tôi phải vào tần số không lục của chiếc L19 trên trời để xin không yểm tiếp cận. Sĩ quan điều không tiền tuyến hôm ấy là Thiếu úy Thành, gốc Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng-Nam; anh quen với gia đình tôi.

Trực thăng võ trang yểm trợ tiếp cận thật hữu hiệu. Chúng tôi tiến chiếm từng thước đất một sau những tràng đạn trải xuống từ trên không. Cuộc giao tranh giằng co, kéo dài khoảng hơn nửa giờ mà vẫn chưa ngã ngũ. Có lúc gió bất chợt đổi chiều, quân bạn cũng khổ vì hơi lựu đạn cay.

Khi cánh quân của tôi vào tới giữa vườn thuốc lá thì tiếng kèn xung phong của Việt Cộng bỗng nổi lên lanh lảnh từ cuối thôn hướng Tây. Rồi tôi nghe súng địch rộ lên đồng loạt khắp mọi hướng. Tôi ra lệnh cho đại đội ngừng lại bố trí tại chỗ, cảnh giác chờ đợi một cuộc phản công của địch.

Mấy phút sau súng địch thưa dần, rồi ngừng hẳn. Tôi chợt nghiệm ra, tiếng kèn xung phong của Việt-Cộng lại là hiệu lệnh rút lui của chúng!

Tôi yêu cầu máy bay di chuyển tác xạ về những mục tiêu xa hơn, hướng Tây Bắc.

Khoảng xế trưa, đại đội tôi hoàn toàn kiểm soát được lằn ranh Bắc trên bản đồ hành quân.

Hướng Bắc đại đội tôi là vùng trách nhiệm của Thủy Quân Lục Chiến Hoa-Kỳ.

Chúng tôi lấy được khá nhiều vũ khí, cả trăm súng AK, và B40. Trung Ðội 3 tịch thu được một máy truyền tin Trung Cộng, một khẩu đại liên 12.7 ly, và một khẩu 57 ly không giật mà địch đã vùi vội trong đống rơm trước khi tháo chạy.

Việc cấp bách phải làm của tôi lúc đó là tản thương quân bạn. Tôi nhờ Chuẩn úy Tú cho một xe M113 chuyển vận giùm những Biệt Ðộng Quân chết và bị thương ra ngoài đường. Chiếc xe liên tục đi về như con thoi.

Tôi nhìn quanh, kiếm cái máy truyền tin đại đội để báo cáo kết quả xung phong cho Ðại úy tiểu đoàn trưởng. Tôi không thấy Binh 1 Mai Ðăng Vinh đâu cả.

Hạ sĩ Phong nước mắt dầm dề, cầm tay tôi, kéo tôi lui về khu vườn trồng đậu đũa. Thi thể Mai Ðăng Vinh nằm vắt ngang trên lối mòn. Ðầu của Vinh mất một mảnh sọ bằng bàn tay. Óc Vinh văng vãi trên đất. Ruồi nhặng bu đen hút máu người chết. Hai mắt Vinh mở trừng trừng. Miệng Vinh há hốc. Tôi nhìn rõ hai cái răng vàng óng ánh. Ngực Vinh cũng đầy máu.

Cái ống liên hợp của chiếc máy truyền tin PRC10 bị bắn văng đâu mất. Vì thế suốt giai đoạn chót của cuộc tấn công, tôi không nghe tiếng Ðại úy chửi thề.

Chuẩn úy Tú gỡ cái băng ca bên hông xe xuống. Tôi và Tú khiêng xác người đồ đệ của tôi lên thiết vận xa. Tình thầy trò giữa tôi và Vinh chỉ kéo dài có mười hai ngày. Tôi còn nhớ mãi tiếng nói, tiếng cười của Vinh cho tới ngày hôm nay.

Bốn mươi năm rồi, anh không quên hai cái răng vàng của em, lúc em cười. Vinh ơi!

Bên luống đậu, tôi ngồi thẫn thờ, hồi tưởng lại những lần chấm dứt hành quân trước đây, thầy trò tôi về quây quần trong căn lều nhỏ ngoài ngoại ô Hội-An.

Có lần tôi đã ngâm bài từ “Lương Châu” của Vương Hàn cho đàn em của mình nghe. Qua lời bình giải của tôi, những người lính Biệt Ðộng Quân ấy đã thấy trong ý thơ, cuộc đời của chính họ:

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu.
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (Vương Hàn)

Dịch:

“Trên chiến địa, ta say mèm, mặc người cười chê.
Vì xưa nay ra trận mấy ai về?”

Chiếc M113 vừa rời điểm tải thương; chiếc xe đem đi những cái poncho; những cái poncho cuốn gọn những thuộc cấp của tôi vừa nằm xuống…

Trên đồng lúa chiêm xuân, khói vẫn còn mịt mù, nhưng tiếng súng đã dứt. Tàn quân của địch đang rút chạy về hướng Kỳ-Lam. Có hai cánh quân, một của Thủy Quân Lục Chiến Hoa-Kỳ, một của Trung Ðoàn 51 Biệt-Lập đang truy lùng chúng.

Tôi kiểm lại quân số, thấy đại đội mình hụt đi quá nửa.

Trận này, cả Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có 17 người chết, đại đội tôi chiếm 13. Số người bị thương của đại đội, vì lâu quá rồi, trong trí tôi chỉ còn mang máng giữa hai con số 46, hay 64 (?) – Riêng anh Ngữ, lính kèn, thì bị Việt-Cộng bắn lòi ruột. Sau khi xuất viện, anh không còn thổi kèn được nữa, nên được giao cho nhiệm vụ giữ kho xăng của tiểu đoàn. Năm 1973 anh Ngữ giải ngũ với cấp bậc trung sĩ nhất.

Tôi nhủ thầm:

“Ðây mới chỉ là trận đầu tiên trong đời một sĩ quan hiện dịch!”

Chúng tôi được lệnh rút ra đường, chờ đón phái đoàn từ trên xuống thị sát chiến trường.

Ðại tá Ðàm Quang Yêu, Tư Lệnh Biệt Khu tới thăm trận địa. Ðại tá xuống vài phút, nói vài lời, rồi Ðại tá bay đi.

Chúng tôi lại chờ Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Khu tới thăm trận địa. Trung tướng cũng xuống vài phút, nói vài lời, rồi Trung tướng bay đi.

Khi bắt tay tôi trước lúc lên tàu, Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn nhìn sững quân phục của tôi. Chắc ông thấy lạ? Áo quần tôi bê bết bùn và máu. Hai ống quần của tôi tả tơi; chú Phong phải lấy ba, bốn cái kim băng cứu thương gài nó lại, nếu không, sẽ rất khó coi.

Tôi nghĩ, chắc có phép mầu nào đó che chở cho tôi. Hoặc linh hồn các niên trưởng của tôi đã khôn thiêng phù hộ cho tôi. Nếu không, tôi khó sống sót qua trận này.

o O o

Vương Mộng Long và cháu ngoại Maxwell năm 2006
(nguồn: http://baotreonline.com/)

Bốn mươi năm sau ngày đó, ở một nơi rất xa Hội-An, tôi ngồi nhìn mưa tuyết rơi chầm chậm. Một khúc phim đời mình đang quay lại rõ nét, từ từ…

Một mùa Xuân có mai vàng, nêu cao, đối đỏ. Một mùa Xuân quê hương khói súng mịt mù. Một cánh đồng lúa nước, và những đợt xung phong. Bên tai tôi như còn nghe những tiếng thét “Biệt Ðộng ! Sát!” vang rền…

Thằng cháu ngoại choàng tay qua cổ tôi. Nó đòi ẵm.

Tay trái nó vô tình chạm vào cạnh sườn phải của tôi. Tôi giật mình. Nơi cháu tôi chạm tay là chỗ viên đạn AK đã chui vào, nằm cách trái tim tôi chừng một đốt tay. Viên đạn nằm đấy đã ba mươi tám năm, kể từ trưa Mùng Một Tết Mậu-Thân. Một cảm giác tê tê, nhột nhột nơi vết thương cũ khiến tôi bật cười.

Thấy tôi cười, cháu tôi cũng toét miệng cười theo.

Thằng bé bập bẹ:

“Ong…ong… ong ngại…”

Nụ cười của nó thật là trong sáng, hồn nhiên.

Tôi cầu mong ơn Trời ban cho cháu tôi những mùa Xuân bình yên…

Vương Mộng Long- K20
Xuân Bính-Tuất (2006)
Seattle

Hoà Hợp, Hoà Giải

khoa1hocviencsqg.com

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Sep 2023

Ngày 15 tháng Tư năm 1993 tôi dắt díu vợ con, hối hả lên đường bỏ xứ. Chúng tôi ra đi, một gia đình sáu người, mỗi người vỏn vẹn chỉ có hai bộ quần áo cùng cái Jacket chống lạnh; hành trang còn lại là hai va-li sách vở.
Trưa hôm đó, trên sân ga quốc tế của phi trường Tân Sơn Nhất đã diễn ra một cuộc chia ly đầy tiếng cười, nhưng cũng có nước mắt. Những người ra đi mặt mày rạng rỡ, hớn hở, tươi vui, vì sắp thoát khỏi một vùng trời tăm tối, để bước vào một thế giới chói lòa ánh sáng.
Những người đi tiễn đưa thì, có người khóc vì thương người ra đi, có người khóc vì thương chính bản thân họ, vì sao họ lại không là người ra đi?

Thời ấy, vào năm 1993, dưới chế độ Cộng-Sản, con cái tôi, nói chung là con của cựu sĩ quan Quân Lực Việt-Nam Cộng- Hòa bị xếp hạng thứ 17/17 trên nấc thang ghi mức độ ưu đãi, ưu tiên về giáo dục, và tuyển dụng của nhà cầm quyền.
Các con tôi không thể mơ tưởng có một ngày được phép ghi danh vào đại học, cho dù chúng là những học sinh xuất sắc trong các trường trung học.

Tới Mỹ rồi, đa phần con cháu của những gia đình H.O đã trở thành những tinh hoa của cộng đồng Việt-Nam trên quê hương mới. Nay, dù không được giàu có cho lắm, nhưng con cái tôi đã không còn là những người vô sản, phải chạy ăn từng bữa toát mồ hôi như thời gian sau tháng Tư năm 1975. Tính tới nay thì tôi tới Mỹ và ở Mỹ vừa tròn hai mươi sáu năm. Tôi đã ở yên trên đất nước này mà chưa hề nghĩ tới chuyện quay về thăm nơi cắt rốn, chôn nhau.
Dù 44 năm đã trôi qua, vậy mà cứ tới tháng Tư, lòng tôi lại bồi hồi nhớ lại những chuyện không vui đã xảy ra trong suốt những năm dài trầm luân sau ngày Sài-Gòn sụp đổ.

                                                o O o

Mười một ngày sau khi thua trận, từ 11 tháng 5 năm 1975 tôi đã bị tù rồi, nên chuyện kể của tôi sẽ bắt đầu từ những gì tôi thấy ở trong trại tù.
Ngày ấy, đã là cuối tháng 8 năm 1975, chúng tôi đang “học tập” trong căn cứ Long-Giao.
Trên loa phóng thanh của trại giam, hàng ngày tôi được nghe những câu chuyện gia đình Bắc, Nam đoàn tụ sau nhiều năm cách xa, vì Hiệp định Genève năm 1954 đã chia đôi hai miền đất nước.
Tôi cũng nghe được những câu tuyên bố thắm đượm tình người của Chủ Tịch Nước Tôn Ðức Thắng và Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng kêu gọi toàn dân Việt-Nam hãy xóa bỏ hận thù, cùng nhau hòa hợp, hòa giải để tái xây dựng một đất nước Việt-Nam hùng mạnh.
Chúng tôi cũng đã học được 8 bài học căn bản để sẵn sàng hòa nhập vào xã hội mới.

Một sớm mai đầy sương mù, có lệnh từ ban chỉ huy trại bắt chúng tôi phải áo quần tươm tất sạch sẽ để sẵn sàng nghênh đón một phái đoàn cấp cao do “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm dẫn đầu tới thăm trại.
Chúng tôi cũng nghe phong thanh rằng, dịp này phái đoàn của chính phủ sẽ xét tha ra khỏi trại những cải tạo viên nào có thành tích “học tập tốt và lao động tốt”.
Ai cũng nghĩ mình sẽ là người đã học tập tốt, lao động tốt. Ai cũng hy vọng hôm nay sẽ có một cuộc phóng thích “đại trà”.
Chúng tôi chờ đã khá lâu phái đoàn mới xuất hiện. Phái đoàn đi trên hai chiếc xe con, không có ai hộ tống.
“Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm miệng cười toe toét, dẫn đầu phái đoàn quan khách gồm ba đàn ông và ba đàn bà tiến vào hội trường Long-Giao trong tiếng “Hoan hô!” dậy trời, lở đất của trại viên.
Phái đoàn Chính Phủ Cách-Mạng người nào cũng mặt mày rạng rỡ, thân mật và vui tươi.
Ba cán bộ nam mặc đồng phục áo bốn túi màu bồ quân, may bằng thứ vải dành riêng cho cán bộ cấp cao. Vị nào cũng đeo kiếng mát, đồng hồ, và lủng lẳng bên hông một cái cặp da thủ trưởng.
Ba nữ cán bộ thì chị nào cũng có một cái túi xách to với dây quàng qua vai, cổ quấn khăn rằn, dáng dấp đẹp đẽ như những bà bán vé số rong trên đường phố Miền Nam trước ngày “Giải Phóng”Về phía trại viên chúng tôi thì, trại viên nào cũng có vẻ hân hoan, hy vọng. Ai cũng mong những hồ sơ trong cặp da của các “đồng chí” sẽ có tên mình trong số những người sẽ được trả tự do, về với gia đình.

Trước khi vào chỗ ngồi dành cho các vị khách quý, phái đoàn còn dừng lại trong sân chuyện trò thân mật với chúng tôi. Các vị này rất thực thà, cởi mở, giản dị và bình dân.
Có vài anh em nêu thắc mắc là, nghe theo lệnh của Ủy-Ban Quân Quản Thành Phố, khi ra đi chúng tôi chỉ mang theo một tháng tiền ăn cho ba mươi ngày, nay đã gần ba tháng qua rồi mà chưa được về, nếu hôm nay chúng tôi được tha thì chúng tôi sẽ gửi tiền về địa chỉ nào để thanh toán những ngày ăn mà chúng tôi còn thiếu nợ?
Nghe hỏi thế, các “đồng chí” bèn xua tay nói rằng chúng tôi đừng lo xa, chính quyền và nhân dân đã dự trù cách giải quyết mọi chuyện đâu vào đó cả rồi.
Một cải tạo viên nguyên là một cựu sĩ quan Không Quân vừa nhận ra “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm là người cùng quê. Anh ta cứ quấn quýt bên chân “đồng chí” không chịu rời xa, cứ như là sợ có người cướp “đồng chí”của anh ta đi mất!
Buổi sơ giao các “đồng chí” đã gieo vào lòng chúng tôi một cảm giác thật là thân thiện và ấm áp.
Sau một hồi hàn huyên thắm tình hòa hợp, hòa giải dân tộc, mọi người về vị trí đã định sẵn để an tọa.
Phái đoàn của “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm ngồi trên bục, trại viên ngồi im trên ghế trong hội trường. Không khí thật là im lặng, trang nghiêm.

Anh em cải tạo viên thuộc khối 30 của tôi được ưu đãi, được xếp chỗ ngồi ngay dưới chân và trước mặt khán đài. Chúng tôi chiếm được vị trí tốt này cũng do công lao của ông khối trưởng có tên là anh Ba Gà Mổ, anh Ba Gà Mổ tên thật là Nguyễn Văn Lộc, nguyên là một thiếu tá làm việc trong Bộ Tổng Tham Mưu.
Anh Ba Gà Mổ rất được lòng cán bộ cai quản trại giam. Anh đã được cán bộ giao quyền tiến cử ba cải tạo viên tiến bộ nhất sẽ lên bục phát biểu cảm tưởng đón chào “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm.
“Nghiêm!”
Viên cán bộ trại trưởng hô to.
Mọi người đồng loạt đứng phắt lên, cùng nhau cất cao tiếng hát “Giải phóng miền Nam”:
“Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng!
Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng.
Thề cứu lấy nước nhà!
Thề hy sinh đến cùng!
Cầm gươm, ôm súng, xông tới!
Vận nước đã đến rồi.
Bình minh chiếu khắp nơi.
Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời.”
Rồi thì, hứng chí, thừa thắng xông lên, bà con tự động lặp lại bài hát này tới hai lần.

Sau khi đã “Cầm gươm, ôm súng, xông tới!” mệt ná thở, mọi người còn phải tiếp tục gân cổ thét:
“Hồ Chủ Tịch muôn năm!” – “Muôn năm! Muôn năm!”
“Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa muôn năm!” – “Muôn năm! Muôn năm!”
Rồi chúng tôi được phép ngồi xuống ghế để thở.
Thở xong, lấy lại được sức lực, chúng tôi bắt đầu rì rầm nói chuyện với nhau.
Viên cán bộ trại trưởng cũng vừa hồi sức, y trở về vị trí, đưa tay với chiếc micro:
– Yêu cầu các anh em trại viên giữ yên lặng, trật tự! Nhân dịp có phái đoàn đại diện của chính phủ và nhân dân tới tham quan. Chúng tôi cho phép một vài anh đại diện trại viên lên phát biểu cảm tưởng và đạo đạt thỉnh nguyện lên cho chính quyền cứu xét. Mời anh thứ nhất lên đọc bài phát biểu!

Anh thứ nhất nguyên là Thiếu tá Ðịa Phương Quân của Tiểu khu Pleiku. Anh ta là người Bắc Di Cư, tuổi khá già, nên ăn nói lưu loát lắm.
Ðang thả hồn lâng lâng với những câu phân trần của anh, thật là hợp với ý tôi, vì tôi cũng là dân Bắc Di Cư!
“Chúng tôi nhẹ dạ nghe lời dụ dỗ của Thực Dân và Ðế Quốc nên mới di cư vào Nam rồi bị bắt vào lính Nguỵ…”
thì thình lình, tôi giật bắn người với tiếng hét chói tai:
 “Ðả đảo Ngụy Quân! Ngụy Quyền!”
“Ðả đảo Ðế Quốc Mỹ!”
người bạn ngồi kế bên, vừa kéo tay cho tôi đứng lên, vừa hối:
“Ðứng dậy! Ðứng dậy! Ðả đảo mau lên! ”
Tôi vội vàng dụi mắt, ba chớp, ba nháng hét theo: “Ðả đảo! Ðả đảo!”
Trước khi xuống đài, ông Thiếu tá Di Cư còn, “Hoan hô! Ðả đảo!” vài lần nữa.
Dĩ nhiên chúng tôi cũng phải ngoác mồm, to tiếng phụ họa theo.
Anh cải tạo viên Thiếu tá Di Cư về tới ghế ngồi mà mắt còn ngoảnh lại nhìn “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm như dò hỏi xem “Ðồng chí” có hài lòng với bài diễn văn của anh ta không.
Hình như “Ðồng chí” có vẻ vui, vì tôi thấy ông nhoẻn miệng cười, hai bàn tay ông vỗ vào nhau ba lần nghe, “Ðộp! Ðộp! Ðộp!”

Cải tạo viên thứ hai là một Hải Quân Thiếu tá. Anh này cũng là dân Bắc Di Cư.
Vừa mở tờ giấy phản tỉnh, thú tội ra, anh đã cất tiếng khóc rống lên như cha anh ta vừa chết:
“Ôi! Bác Hồ ơi! Chúng con thương nhớ Bác! Chúng con là những đứa con có tội! Chúng con đã lỡ dại đi theo Mỹ, Ngụy chống lại tổ quốc, giết hại đồng bào! Bác ở trên trời, Bác linh thiêng, hãy tha tội cho chúng con! Bác ơi! Bác ơi!”
Bụng tôi bỗng réo lên “Ồ! ồ! ồ!” tôi vội lủi ra cửa xin cán bộ cho phép đi vệ sinh.
Tới khi tôi trở về thì bài diễn văn của ông cựu Hải Quân Thiếu tá đã chấm dứt.
Trên khán đài, “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm đang gật gù,
– Ðáng lý ra, các anh không xứng đáng được gọi Hồ Chủ Tịch là Bác! Nhưng chúng tôi cũng châm chước cho các anh lần này! Lần sau các anh chỉ được gọi Bác Hồ là Hồ Chủ Tịch! Bác là Bác của chúng tôi! Bác không phải là Bác của các anh! Nghe rõ chưa?”
Nghĩ cũng đúng! “Bác Hồ” đâu phải của chúng tôi? Chúng tôi thường quen gọi ông ta là “Già Hồ” – “Cáo Già” – “Hồ Già bán nước” hay “Hồ Già cõng rắn cắn gà nhà!” nay bỗng dưng bị bạn tù ép buộc tung hô ông ta là “Bác” hèn gì tai tôi, lưỡi tôi, có vẻ như hơi ngượng ngùng vì chưa quen!

‘Cải tạo viên đại diện thứ ba là một cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân. Anh ta là người Miền Trung. Anh này có cái lợi thế là mặt anh trông rất giống mặt “Bác”, cũng cặp mắt đó, cũng đôi tai đó…
Sau một hồi ca tụng, tuyên dương công lao của Hồ Chủ Tịch, người đã “đẻ” ra đất nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng -Hòa, anh Biệt Ðộng Quân bắt đầu than khóc, hối hận những điều mà anh đã lỡ lầm làm hại đồng bào trong những năm đi lính Biệt Ðộng Quân.
Nước mắt của anh rơi lã chã, chứng tỏ rằng trong lòng anh, lúc đó đang đau đớn và hối hận thực sự.
Anh tự kết án anh là một kẻ phạm đại tội với nhân dân, đáng bị đem ra tòa xử tử.
Anh cao giọng cầu xin nhân dân hãy tha tội cho anh, cho anh cơ hội làm lại cuộc đời!
Khi bước xuống đài, anh cựu Biệt Ðộng Quân này còn vừa đi vừa sụt sịt.
Một anh ngồi bên cạnh, ghé tai tôi thì thầm,
– ÐM! “Thằng mặt dơi tai chuột” này đóng kịch hay quá!
Anh bạn ngồi bên tôi cũng là một Biệt Ðộng Quân Vùng 2 nên không lạ gì cái anh kịch sĩ vừa lên đài kêu khóc than van kia. Cái tên “Thằng mặt dơi tai chuột” cũng là do tụi tôi đặt cho anh kịch sĩ này từ khi anh ta còn mang lon chuẩn úy ở Liên đoàn 2 Biệt Ðộng Quân Pleiku.
Tôi buồn bã buông xuôi,
– Ðừng trách nó làm gì! Mỗi người có cách mưu sinh riêng, không ai giống ai!

Ðể kết thúc phần phản tỉnh, thú tội của cải tạo viên, cán bộ trại trưởng thay mặt Chính Quyền Cách Mạng và nhân dân tuyên bố rằng, sẽ khoan dung tha thứ cho chúng tôi là những đứa con lầm đường lạc lối nhưng nay đã biết hối hận ăn năn.
Sau đó là vỗ tay tưng bừng, tù vỗ tay, cán bộ vỗ tay, quan khách cũng vỗ tay.
“Cộc! Cộc! Cộc!” viên cán bộ trại trưởng liên tục gõ cán của cái micro trên mặt gỗ để vãn hồi trật tự.
Tiếng vỗ tay ngừng.
“Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm từ từ đứng lên, từ từ tiến về phía cái kệ gỗ.
Chúng tôi lại vỗ tay ào ào. Có người còn la lên, “Hoan hô! Hoan hô!…”
Một tay cầm cái micro, tay kia giơ lên quơ quơ trên không, ngụ ý ra dấu cho mọi người giữ im lặng, “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm đột nhiên biến thành một người khác!
Trước hàng trăm con mắt sững sờ của chúng tôi, tên cán bộ cao cấp Cộng-Sản ấy không còn nụ cười trên môi nữa, mặt y đã trở thành lạnh như tiền.

Ngồi đối diện ngay mặt Cao Ðăng Chiếm, nên tôi nhìn rõ đôi mắt hắn ta đỏ ngầu mỗi khi hắn gỡ cặp kính râm ra nghỉ thở.
Tôi thấy bàn tay hắn nắm chặt, như muốn bóp nát cái micro vào những lúc hắn ta gằn giọng biểu lộ sự căm hờn.
Tiếng nói của viên cán bộ Việt-Cộng Phó Chủ Tịch Ủy- Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Chợ-Lớn sang sảng vang lên, làm cho tóc gáy tôi dựng đứng như lông nhím:
“Các anh nghe đây!
Hôm nay tôi tới đây là để thay mặt Chính Quyền Cách Mạng, thay mặt nhân dân để cho các anh biết rằng, tội ác của các anh là tội ác tày đình, không thể gột rửa được!”
Xòe bàn tay ra phẩy phẩy mấy cái trước mặt, cái đầu thì lúc lắc, tỏ vẻ khinh bỉ, cán bộ Chiếm gằn giọng:
“Ðừng tưởng rằng chúng tôi sẽ tin những lời thú tội, ăn năn của các anh đâu! Ðừng tưởng rằng chúng tôi sẽ động lòng trắc ẩn vì những giọt nước mắt cá sấu của các anh đâu!”
Giơ cao tay, đập cái micro xuống mặt gỗ, mặt y đổi sang màu tím ngắt:
“Nhân dân và Chính Quyền Cách Mạng chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc không có nghĩa là quên hết hận thù. Hận thù chỉ quên hết khi chúng tôi đã trả thù xong!”
Tiếp đó, những lời đe dọa báo thù cứ như những phát đạn bắn ngay mang tai của những người ngồi nghe:
“Ngày xưa các anh cướp nhà cửa, ruộng vườn của chúng tôi, lấy vợ của chúng tôi, lấy con của chúng tôi, lấy xe cộ, tàu bè của chúng tôi. Nay chúng tôi sẽ đòi lại tất cả những thứ đó! Chúng tôi sẽ lấy nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tàu bè của các anh. Chúng tôi sẽ chiếm đoạt vợ con của các anh!”
Càng lúc, giọng cán bộ Chiếm càng lên cao, càng dõng dạc:
“Không thể hòa hợp hòa giải chung chung.
Bao giờ các anh trắng tay, các anh hoàn toàn thần phục, ngoan ngoãn tuân theo lệnh của chúng tôi thì lúc đó mới có thể hòa giải được!
Còn chuyện hòa hợp thì chỉ có thể xảy ra khi nào các anh đã trở thành người giống như chúng tôi.”

Rồi Cao Ðăng Chiếm chuyền cái micro từ tay phải sang tay trái, cánh tay phải vươn dài hết mức, bàn tay nắm lại, ngón tay trỏ của y chỉ vào mặt những người đang ngồi nghe.
Ngón tay đó cất lên, hạ xuống một cách thật chậm rãi, giống như một nòng súng ngắn K54 đang nổ những phát đạn ân huệ vào đầu tử tội.
Tiếng cán bộ Cao Ðăng Chiếm vang vang, ngạo nghễ:
“Hãy tỉnh trí mà suy nghĩ những gì tôi nói. Hãy ghi nhớ những gì tôi nói!”
Dứt lời, Cao Ðăng Chiếm vứt cái micro trên mặt kệ gỗ, rồi lừ lừ cất bước rời chỗ đứng, mắt không hề liếc nhìn ai. Ðoàn tùy tùng của y cũng vội vàng xô ghế đứng lên đi theo.

Hai chiếc xe con phóng đi đã vài phút rồi mà hội trường còn im lặng như bị đóng băng.
Chúng tôi theo chân nhau lầm lũi đi về lán. Cái không khí háo hức “phấn khởi, hồ hởi” đã biến mất, lúc ấy còn chăng là những gương mặt cam phận buồn rầu.

Sau ngày đó, anh em chúng tôi thường tụ tập phân tích những điều mà cán bộ Cao Ðăng Chiếm đã nêu ra trong lần thăm trại Long-Giao.
Chúng tôi thấy hầu như chẳng ai có “nợ máu” với nhân dân cả!
Vì Việt-Nam Cộng-Hòa là một đất nước có luật pháp, có chính quyền; ai phạm tội thì bị bắt, bị xử phạt, bị truy tố ra tòa án và bị giam cầm ngay.
Chẳng ai dám ngang nhiên cướp đất đai, nhà cửa, xe cộ, vợ con của người khác cả.
Trong một buổi học tập, khi cán bộ nghe tôi kể rằng trong trận Pleime năm 1974 đã có hơn một nghìn cán binh Cộng -Sản bị giết thì những anh thiếu tá cải tạo viên khác cũng bị vạ lây ngay,
– Ðấy!Thấy chưa? Mới có một anh Thiếu tá Long mà đất nước ta đã thiệt mất một nghìn thanh niên yêu nước. Miền Nam lại có tới mấy nghìn thiếu tá! Các anh cứ làm tính nhân lên thì biết ngay rằng, đã có bao nhiêu thanh niên yêu nước bị sát hại?
Nghe lời cán bộ kết tội sau khi “làm tính nhân”, nhiều bạn tôi giãy nảy lên, chối đây đẩy. Họ nói rằng suốt thời gian đi lính họ chưa từng bắn viên đạn thật nào thì làm gì có cơ hội để giết người?
Có anh còn đem chuyện mình chuyên ăn chay trường ra để chứng minh rằng anh ta là người vô tội.
Sau khi phân tích đã đời, anh em chúng tôi thấy chỉ những anh lính tác chiến là có “nợ máu” phải lo, phải sợ. Còn các anh em khác cứ yên chí học tập chờ đợi ngày về.
Tôi là dân tác chiến, nên tránh bàn bạc với các bạn tôi về đề tài này.

                                            o O o

Thời gian “học tập” chưa qua được bao lâu mà đã có hai ông thiếu tá qua đời vì bệnh. Tôi chỉ nhớ tên hai ông, mà không nhớ họ, ông thứ nhất tên là Khôi, ông thứ hai tên là Kỳ. Mộ hai ông được chôn sát bên hàng rào kẽm gai đằng sau nhà bếp.
Tiếp đó là một ông đại úy chết vì bị mìn nổ. Ông này chết trong lớp rào phòng thủ. Người thì nói ông ta chui vào rào để kiếm mớ rau tàu bay ăn cho đỡ đói; người thì nói ông ta chui rào vượt ngục. Chẳng biết ai nói đúng, ai nói sai?

Sau ngày tên Việt-Cộng Cao Ðăng Chiếm thăm Long-Giao, tôi nhìn thấy tương lai đời tôi sao mù mịt quá!
Tôi rủ được hai anh bạn, một là cựu Biệt Ðội Trưởng Biệt Ðội Quân Báo của Quân Ðoàn II, một là cựu quận trưởng quận Nhơn Cơ chuẩn bị vượt ngục.
Nào ngờ tới ngày hẹn, hai vị này hủy bỏ chương trình, tôi đành dự trù sẽ ra đi một mình.
Thời gian sau, tôi lo lựa những cục cơm cháy đem phơi.
Rủi thay, việc chuẩn bị của tôi lại lọt vào đôi mắt tò mò của một anh hạm trưởng tù cùng phòng.
Ðứng trước sân, giữa trời nắng chang chang, anh ta đưa tay chỉ lên mái tôn, nơi tôi phơi cơm cháy, vừa cười, vừa la oang oang:
– Bà con ơi! Có người chuẩn bị lương khô để vượt ngục! Ha! Ha! Ha!
Tôi đành cười giả lả:
– Phơi cơm cháy để thay cà phê mà!
Miệng tôi tuy cười, nhưng trong lòng, tôi muốn siết cổ, móc họng tên chó săn này quá!
Tôi đành mang cơm cháy ra giã nhỏ để làm cà phê rồi cắn răng chờ cơ hội.
Mãi tới khi bị đưa ra Hoàng Liên Sơn ngoài Bắc, tôi mới có dịp chắp cánh bay.
Tiếc thay! “Số trời khi đã tận, sức lay thành nhổ núi có làm chi!” (Thơ Phạm Thái)

Hai lần vượt ngục của tôi đều thất bại, xương sườn gãy, răng cũng gãy! Bị đánh đập tưởng chết mất rồi.
Rồi tôi phải cắn răng trả giá cái hành động ngông cuồng của mình với những ngày dài trong cùm kẹp, tra tấn, đày ải, nhục hình.
Và càng ngày “nợ máu” của tôi càng chất cao thêm!
Thời gian cứ lạnh lùng trôi…
Buổi sáng tiếng kẻng dựng chúng tôi thức dậy; buổi tối tiếng kẻng lùa chúng tôi vào lán.
Thét rồi chúng tôi tưởng mình là con trâu, con bò, quên rằng có thời chúng tôi đã là con người!
Ở xứ này, con người có khác gì con trâu đâu?
Bằng cớ là một hôm, con trâu kéo cày của tổ tăng gia trượt chân rơi xuống suối.
Chúng tôi bị tập họp ngồi trước sân để nghe tên Thượng úy Xuyên, cán bộ chính trị của trại giải thích:
“Con trâu chết thì ta làm thịt để bồi dưỡng. Cứ trích tiền ăn tháng sau của các anh để mua con trâu mới là xong ngay! Các anh đừng lo nghĩ gì về chuyện này cho nhọc xác!”
Lâu nay cứ ăn rau hoài, chúng tôi thèm thịt quá! Nghe nói con trâu chết nặng cả trăm cân. Ai cũng yên trí rằng kỳ này sẽ có dịp ăn thịt trâu đã đời!
Nhưng thực tế thật phũ phàng! Chỉ năm phút sau khi con trâu bị mổ bụng thì bộ lòng trâu và cái đầu trâu đã bị tụi vệ binh chia nhau đem đi hết. Tất cả thịt nạc, thịt mỡ lọc ra đều bị xát muối bỏ vào lu để trong nhà bếp của ban chỉ huy trại, dành cho cán bộ ăn dần.
Phần còn lại gồm có một bộ da, một bộ xương, và bốn cái cẳng dưới thì được chia cho nhà bếp của gần 400 miệng tù.
Sau bữa canh xương trâu nấu rau muống, chúng tôi phải kéo cày thay trâu.

Trên thửa ruộng khô canh tác đậu nành, một cải tạo viên hai tay giữ cán cày ra sức đẩy tới. Một trại viên khác còng lưng kéo cái dây thừng quàng qua vai. Người đẩy cái cày và người kéo cày là đồng loại, nên ra lệnh cho nhau dễ dàng hơn là người ra lệnh cho trâu, “rẽ phải, rẽ trái, quay lại!…”
Con trâu chết, anh trại viên thường ngày cầm roi đi cạnh dắt trâu bị mất việc, vì anh không đủ sức khỏe để kéo cày; anh bị chuyển lên khung chăm sóc mấy con lợn cho cán bộ.
Vì “lao động là vinh quang” là khẩu hiệu làm việc cho toàn dân cả nước Việt-Nam, nên cai tù bắt chúng tôi làm việc theo chế độ “thông tầm”, nghĩa là làm việc quần quật một hơi từ mờ sáng tới mờ tối mới ngừng tay, trừ nửa giờ ăn bữa trưa ngay tại chỗ.
Ðó là chưa kể tới những ngày lạnh cóng mùa Ðông, vì ngày thì ngắn, đêm lại dài, nên khẩu hiệu “Làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm” được áp dụng triệt để, khiến cho chúng tôi gần như kiệt sức, mắt mờ chân mỏi; có người không chịu nổi đã phải uống thuốc ký ninh vàng để tìm cái chết.

Mỗi năm chúng tôi có ba ngày được ăn cơm không độn, đó là các ngày, mùng Một, mùng Hai và mùng Ba Tết Âm Lịch.
Một tháng chúng tôi có ba ngày ăn theo chế độ độn năm mươi phần trăm (50%) nghĩa là bát cơm có năm mươi phần trăm (50%) là gạo, năm mươi phần trăm (50%) kia là khoai, ngô, hoặc sắn. Hai mươi bảy ngày còn lại của mỗi tháng là chế độ ăn độn một trăm phần trăm (100%) nghĩa là trong bữa ăn, không có hạt gạo nào, tất cả chỉ là khoai, ngô, hay sắn.
Ðau ốm, bệnh gì cũng chỉ có một thứ thuốc chữa, đó là Xuyên Tâm Liên.

Trong thời gian bị lưu đày nơi rừng thiêng nước độc, đầy muỗi vắt, bạn bè tôi rơi rụng dần.
Người thì xác chôn bên chân Ðèo Khế, người ngủ giấc nghìn thu trên đỉnh Lũng Ngàn, Cẩm-Nhân.
Cũng vì bị giam giữ ở Cẩm-Nhân, Yên Bình, Yên Bái trong thời gian 1976-1978 mà tôi biết được một chuyện mà nhiều người không biết đó là: Hai mươi năm trước ngày 30 tháng Tư năm 1975, ở xã Cẩm-Nhân đèo heo hút gió này, đã có người bị gọi là “lính Ngụy” sống lưu đày ở đây rồi!

Số là, nhân dịp đi làm vần công, lợp mái chợ Cẩm-Nhân, tôi có dịp quen với một ông già, tuổi quá sáu mươi, tên ông ấy là An. Ông An là người Việt có quốc tịch Pháp, tên Tây của ông là André. Ông André là Trung úy trong quân đội Liên Hiệp Pháp.
Theo như ông nói, thì Tướng Phạm Văn Phú khi còn đeo lon thiếu úy đã từng làm việc dưới quyền Trung úy André.
Sau Hiệp Ðịnh Genève, các đơn vị của quân đội Liên Hiệp Pháp được lệnh rút theo đường số 5 từ Hà-Nội xuống Hải-Phòng rồi lên tàu há mồm của Mỹ để vào Nam.
Dân chúng hai bên đường số 5 bị Việt-Minh xúi giục đã kéo nhau ùa ra lộ níu chân các anh lính Việt Nam, mời gọi các anh ở lại.
Trung úy André đã mủi lòng, bỏ đơn vị, bỏ thuộc cấp, ở lại với cô thôn nữ mà anh đã gặp.
Suốt một năm dài sau đó, anh Trung úy André được xưng tụng như một anh hùng, đi khắp nơi để chiêu dụ các anh lính Việt-Nam bỏ ngũ.
Cho tới một ngày năm 1955, hết hạn Di Cư, hết tàu há mồm chở người vào Nam, Trung úy André bỗng nhiên trở thành một anh “lính Ngụy”. Tên “André” của anh bị Việt- Nam hóa thành “An”.
Cuối năm 1955, anh An lính Ngụy và người vợ là cô gái quê đã níu chân anh trên Quốc lộ 5, bị “chỉ định cư trú” lên Thượng Du ở với những người dân Tày trong thôn Cẩm-Nhân. Nơi này sau đó trở thành vùng đất đầu nguồn của hồ Thác Bà.
Ông An lính Ngụy có người con gái tên Dung. Nhưng trong xóm còn có một cô gái nữa cũng tên Dung, cùng trang lứa, nên cô Dung con ông An bị người ta gọi là “cô Dung Ngụy!” để phân biệt.
Nhân chuyện này mà tôi biết, hai mươi năm trước ngày chúng tôi mang tên “lính Ngụy” đã có người mang tên “lính Ngụy” rồi.
Biết chuyện này, tôi cũng đâm ra lo lắng, không biết ngày đó, trong Hẻm 555 Trần Hưng Ðạo Sài-Gòn, mấy đứa con tôi, mà tên gọi ở nhà là “Vịt, Cò, Giao, Liêu” có bị người ta thêm chữ “Ngụy” để thành “Con Vịt Ngụy”, “Con Cò Ngụy”, “Con Giao Ngụy” và “Cu Liêu Ngụy” hay không?(!)…

Còn một chuyện nữa cũng ít người hay biết, đó là việc người ta chuẩn bị đưa tất cả cải tạo viên đang ở trong các trại miền Bắc về định cư trong Vườn Quốc Gia Cúc Phương thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Chương trình đề ra là, cải tạo viên sẽ tới vùng định cư trước, dựng nhà, khai khẩn ruộng vườn, sau đó chính phủ sẽ cho phép vợ con họ lên vùng để đoàn tụ.
Người được trao quyền đại diện cư dân trong khu Kinh Tế Mới Cúc Phương này sẽ là cải tạo viên Nguyễn Hữu Có cựu Trung Tướng Việt-Nam Cộng-Hòa, từng đảm nhiệm chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.

Năm 1979-1980 khi bị giam trong trại Nam-Hà, Phủ-Lý, tôi đã có dịp được Tướng Có thổ lộ cho biết chuyện này, ngay sau khi ông ta trở về từ chuyến thăm viếng Công Viên Quốc Gia Cúc Phương. Không hiểu vì sao chương trình định cư này đã bị hủy bỏ vào giờ phút chót.
Trong khi đó ở miền Nam, bố vợ tôi, một sĩ quan giải ngũ trước ngày Sài-Gòn đầu hàng cũng bị bắt đi tù.
Căn nhà mà gia đình nhạc gia tôi cùng lũ em trú nắng, tránh mưa trên đường Hàm Nghi Ban Mê Thuột cùng với chiếc xe nhà hiệu Jeep Willy cũng bị chính quyền Cộng-Sản của thành phố tịch thu. Mẹ vợ tôi và lũ em chưa tới tuổi trưởng thành của vợ tôi phải dọn sang nhà hàng xóm ở nhờ.
Tiếp đó lại có tin căn phố số 72 đường Tăng Bạt Hổ, Qui-Nhơn của bố mẹ vợ tôi cũng bị Cộng Sản trưng dụng làm kho lương thực của thành phố.

44 năm qua rồi, cha mẹ vợ tôi cũng đã qua đời, mà tài sản bị chính quyền trưng dụng vẫn chưa được trả lại cho chủ của nó.
Cũng vì cái chủ đích của quân xâm lăng là, “Bao giờ các anh trắng tay, các anh hoàn toàn thần phục, ngoan ngoãn tuân theo lệnh của chúng tôi thì lúc đó mới có thể hòa giải được!” mà sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 nhiều gia đình mất nhà, mất cửa, phải dầm mưa dãi nắng nơi rừng rậm, núi cao trong những vùng Kinh Tế Mới. Ðó là chưa kể tới những chiến dịch đánh tư sản, những đợt đổi tiền, khiến cho không biết bao nhiêu người dân vô tội bị lâm vào cảnh đói khổ, lầm than.

Ngày tôi ra khỏi trại tù năm 1988, khi đi qua Ngã Sáu Chợ Lớn tôi gặp ông Lang Trọc, một vị đàn anh nguyên là cựu Trung tá liên đoàn trưởng một liên đoàn Biệt Ðộng Quân ở Pleiku. Vị cựu Trung tá liên đoàn trưởng lúc đó đang sinh sống bằng nghề bán hột vịt lộn gần bùng binh nơi Ngã Sáu.
Ông Lang Trọc bùi ngùi kể cho tôi nghe một chuyện buồn, đó là chuyện gia đình của anh “mặt dơi tai chuột.” Anh này vốn là một thuộc cấp thân thiết của ông Lang Trọc,
– Long có biết không? Năm 1985, ngày nó về, vợ nó tránh mặt. Bà mẹ vợ nó ngày nào cũng vui vẻ thiết đãi nó rượu chè, gà vịt ê hề. Ðúng một tuần lễ sau, bà ấy dúi cho nó một xấp tiền rồi đuổi nó ra cửa. Bà cụ nói rằng nó phải đi khỏi nhà bà ta ngay, vì thằng con rể mới của bà ấy đi công tác sắp về.

Con rể của bà cụ bây giờ là một tên Việt-Cộng mang lon đại úy trưởng đồn Công An! Tới lúc đó nó mới biết rằng, nhà nó, vợ nó, con nó đã thuộc quyền sở hữu của một cán bộ Việt-Cộng! Anh đã phải giúp nó một tí vốn để nó đi buôn gạo đường dài mà kiếm sống. Tình cảnh của nó bây giờ thật là đáng thương quá! Long ơi!
Nghe chuyện, tôi thở dài, không che nổi nỗi xót xa.

Tôi nghĩ, vào giờ phút bị bà mẹ vợ đuổi ra khỏi nhà, không biết anh bạn cùng đơn vị của tôi có nhớ lại và có thấm thía những lời tên Việt-Cộng Phó Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài-Gòn Chợ Lớn tuyên bố năm xưa hay không?
“Chúng tôi sẽ lấy nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tàu bè của các anh. Chúng tôi sẽ chiếm đoạt vợ con của các anh!”
Và có bao giờ anh ta còn mong được đứng trên bục thuyết trình để suy tôn và khóc thương “Bác Hồ” của anh ta lần nữa hay không?

Thêm một chuyện tả lại cảnh ngày về của một người tù cải tạo ở xóm tôi.
Ðó là, gần Hẻm 555 Trần Hưng Ðạo Sài-Gòn trên đường dẫn vào nhà tôi, có gia đình của một ông Trung úy Việt-Nam Cộng-Hòa. Vợ ông sĩ quan này là một cô giáo.
Ngày tôi ra tù thì hai vợ chồng nhà này không còn ở với nhau.
Lý do là vì chỉ ít lâu sau khi ông ta vào trại tập trung để “học tập” thì cô giáo đã lấy một tên thương binh Việt-Cộng chột mắt. Tên Việt- Cộng này là một thương binh phục viên. Y giữ một chức vụ rất có quyền uy trong trường của cô giáo.
Thế là từ đó, trong nhà cô giáo, hai cháu bé con ông Trung úy Việt-Nam Cộng-Hòa phải gọi một thương binh Việt-Cộng là cha.
Rõ ràng rằng, “lấy vợ, đoạt con, chiếm nhà, cướp của” là một chủ trương của bọn cướp nước.

Di lụy của chiến tranh, mấy chục năm sau còn đeo nặng trên vai, mang nặng trong tim người thua trận.
Ngày còn ở Pleiku, năm 1969, lớp sĩ quan trẻ chúng tôi nhìn vợ chồng một niên trưởng khóa 17 Ðà- Lạt như một cặp đôi lý tưởng, trai tài, gái sắc. Hình ảnh vợ chồng người sĩ quan đàn anh này là một mẫu mực mà chúng tôi nhìn vào đó để mơ ước, để noi theo.

Thế rồi, bẵng đi, cho tới năm 2004, tôi gặp lại niên trưởng này ở Seattle, trong dịp Kỷ Niệm 44 năm ngày thành lập binh chủng Biệt Ðộng Quân.
Hôm đó, ông cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 23 Biệt Ðộng Quân đi cùng đứa con trai 7 tuổi và bà vợ không phải là người đẹp sắc nước hương trời một thuở.
Nhân khi bà vợ anh cùng thằng con trai có việc đi ra ngoài, tôi mới hỏi anh,
– Tôi biết chị ngày xưa, không phải là chị này.
Niên trưởng của tôi cúi mặt, rầu rầu,
– Chị bỏ anh rồi! Long ơi!
Nghe xong câu này, tôi chợt thấy lòng mình tê tái. Tiếp đó, anh cầm tay tôi nói như khóc,
– Long thử nghĩ xem? Tụi mình đi tù, có biết ngày nào sẽ được tha ra đâu? Anh không trách gì chị, nếu có chăng là tự trách mình. Tụi mình không đổ lỗi cho ai được. Chỉ vì tụi mình thua trận, đánh mất đất nước, mà ra nông nỗi này!
Từ giờ phút đó, trong lúc trò chuyện cùng anh, tôi tránh nhắc lại những chuyện xưa ở Pleiku, kể cả những kỷ niệm suốt đời không quên được ngày tôi và anh sát cánh bên nhau mở đường máu trong trận Dak-Tô tháng 5 năm 1969.
Năm 1981, sau khi được chuyển trại về Nam, bị giam trong trại Z 30C, Hàm-Tân, Thuận-Hải, tôi mới hay, vào thời gian chiến tranh giải phóng Campuchia năm 1979, con cái của người miền Nam bắt đầu bị gọi đi làm nghĩa vụ quân sự và bị lùa ra chiến trường.

Nhiều gia đình trong xóm chợ Nancy gần nhà tôi đã có bàn thờ “liệt sĩ”. Danh hiệu “liệt sĩ” là do chính quyền Cộng-Sản đặt ra để tôn vinh những chiến sĩ Việt-Cộng đã chết trong chiến trận.
Tôi có người bạn vong niên, một cựu trung tá, già hơn tôi một giáp tên là Bệ.
Tôi và anh Bệ bị giam trong hai khu cách nhau một con đường đi và hai lớp hàng rào kẽm gai.
Một ngày gần Tết, anh Bệ quần áo chỉnh tề, gọi tôi ra hàng rào, vui vẻ khoe,
– Hôm nay anh có thăm nuôi, khi nào quay về, anh sẽ gọi chú! Anh sẽ chia cho chú một ít quà để ăn chơi!
Từ lâu lắm rồi, anh Bệ không có thư từ hay tin tức của gia đình. Trong tù, anh không khác gì một kẻ mồ côi. Hôm nay anh có người tới thăm, tôi cũng mừng cho anh.
Chiều hôm đó anh Bệ khệ nệ, cong lưng gánh vào trại hai bao quà, nhưng mặt anh không có chút dấu hiệu gì là vui vẻ cả.
Anh gọi tôi ra hàng rào, đôi mắt anh sụp xuống như chứa chất một nỗi buồn u uất,
– Anh có thăm nuôi, có quà, nhưng anh không chia sẻ cho em được! Vì anh hiểu rằng, nếu em biết những đồ ăn đó là do ai đã cho, chắc em sẽ không ăn. Anh cũng sẽ không ăn những thứ đó đâu!
Tôi ngạc nhiên,
– Vậy chứ ai vừa lên thăm anh?
– Thằng con trai anh.
Tôi chưa kịp thắc mắc vì sao anh lại nói những lời quái dị trên, thì anh bật khóc,
– Long ơi! Thằng con trai của anh bây giờ đã là một Thượng sĩ Việt-Cộng. Nó vừa từ Campuchia trở về…
Chưa dứt lời, anh bạn già của tôi đã ôm mặt quay lưng, để lại một mình tôi đứng sững sờ.

Sáng hôm sau, vừa ngủ dậy, chúng tôi đã nghe tiếng réo từ lán trại bên cạnh:
“Báo cáo cán bộ! Ðội 3 có người chết!”
Sau đó hai anh bạn tù hì hục khiêng xác một anh cải tạo viên vừa chết trong đêm ra phòng trực.
Người chết là anh Bệ, cựu Trung tá Việt-Nam Cộng-Hòa, một người bạn già của tôi.
Ði sau cái cáng của người chết là cán bộ Việt-Cộng tên là Liến. Bên cạnh cán bộ Liến là anh Ðội trưởng Ðội 3 đang ì ạch trên vai một gánh hai bao, đầy quà thăm nuôi còn cột chặt chưa mở ra.
Tôi biết gánh quà ấy do một Thượng sĩ Việt-Cộng đem lên cho bố anh ta.
Chiều qua, bố anh ta đã nói với tôi: “Anh cũng sẽ không ăn những thứ đó đâu!”
Mọi người trong Ðội 3 đều cho rằng anh Bệ đã vận sức quá nhiều để gánh hai bao quà nặng, nên đêm qua anh ấy đã bị đứt gân máu mà chết.
Nhưng người tù nằm bên anh Bệ lại cho tôi hay, đêm ấy anh Bệ nằm khóc rấm rứt tới khuya, không ngủ, rồi anh đi vào cầu tiêu uống thuốc gì đó, tới sáng, anh không thức dậy nữa!
Cái huy hiệu thượng sĩ Việt-Cộng trên ve áo một người con, đã bóp nát trái tim của một người cha, một cựu trung tá Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa!

Ngày tôi được tha (năm 1988) cũng là ngày anh bạn cựu Ðại úy Trần Ðức Thiệp của tôi từ Campuchia lội bộ, quay ngược về Việt-Nam sau một lần vượt biên thất bại. Chỉ vì thời gian này chính phủ Thái-Lan đã từ chối, không còn chấp nhận dân tị nạn nữa.
Tôi không có dịp để vượt biên, nên không biết gì về cái giá phải trả cho sự mạo hiểm đi tìm tự do này.
Nhưng tôi biết chắc chắn rằng trong những năm tôi còn bị lưu đày, hàng trăm nghìn đồng bào tôi đã phải bỏ nước ra đi. Hàng nghìn đồng bào tôi đã bỏ thây trên biển.
Cái khẩu hiệu “Bắc Nam hòa hợp” của chính quyền Cộng-Sản nghe thì thấy hay, nhưng thực hành sao khó quá!
Người dân miền Nam đã sống nhiều năm dưới chế độ Cộng-Hòa, và đã biết thế nào là Tự Do, nên khao khát Tự Do.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, muốn có Tự Do, cách duy nhất là tìm đường ra biển.
Có ai muốn xa lìa nơi quê cha đất tổ?
Có ai mà không sợ chết?
Ấy vậy mà đồng bào tôi cứ có dịp là bỏ xứ đi ngay!
Có một câu nói đã trở thành bất hủ: “Dưới chính sách hà khắc của Cộng-Sản, nếu cái cột đèn mà biết đi, chắc nó cũng vượt biên!” (Ginetta Sagan)
Bao nhiêu năm đã trôi qua, đồng bào tôi ngóng trông hoài mà chưa thấy, “Bình minh chiếu khắp nơi!” (Giải phóng miền Nam)
Bình minh đã trốn đi đâu? Tự do đã trốn đi đâu? Ðêm đen quá dài!

Vương Mộng Long-K20

Giao thừa ở Suối Máu

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Sep 2023

Vào cuối năm 1975, hàng ngàn tù nhân sĩ quan cấp tá của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa từ nhiều trại tập trung cải tạo vùng chung quanh Sài-Gòn đã bị chuyển về nhốt tại trại tù Suối Máu, Tam- Hiệp, Biên- Hòa.

Một đêm giữa tháng 10, 1975, từ Long Giao, tôi bị chuyển tới đây trên một chiếc Molotova bít bùng kín mít. Tôi bị dẫn vào khu K2. Hai tuần sau có lệnh “biên chế,” tôi lại bị chuyển sang khu K3. K3 chỉ chứa sĩ quan cấp thiếu tá. Tôi bị giam ở đây từ ngày 1 tháng 11, 1975 cho tới ngày lên tàu Sông Hương ra Bắc (tháng 7, 1976.)

Thời gian này, tin tức truyền thanh, truyền hình về tình hình thế giới càng lúc càng xấu đi. Người ta đồn rằng, hình như Cộng-Sản Việt-Nam đang trên đường tiến chiếm Thái-Lan. Thế Giới Tự Do như càng lúc càng xa chúng tôi hơn.

Anh em chúng tôi gặp nhau thường ngày, tụ tập từng nhóm, đánh cờ tướng, tán gẫu, bàn chuyện nhà cửa, gia đình, nước non, thời quá khứ. Trong những lúc tụ tập chuyện trò, chúng tôi nghe bạn bè rỉ tai rằng, “Chính quyền Giải Phóng” đang nghiên cứu hồ sơ cá nhân của từng người, để xét tha (?) Cũng có tin bi quan, cho rằng chúng tôi sắp bị đưa ra Tòa án Nhân dân để xử tội. Chúng tôi thực sự hoang mang, chẳng biết tương lai mình sẽ đi về đâu.

Tôi ở Lán 24 thuộc K3 (danh từ VC gọi Lán là nhà, K là Khối.) Mỗi lán chứa khoảng hơn 40 tù nhân, trong Lán 24 đó có vài cựu Sĩ quan Ðà Lạt gồm anh Trần Ngọc Dương (K10), Nguyễn Lành (K16), Hoàng Thế Bình (K18), Tạ Mạnh Huy (K19), khóa 20 có Ngô Văn Niếu và tôi (Vương Mộng Long). Lán tôi cách Lán 17 vài thước. Lán 17 có ba anh Biệt Ðộng Quân K20 Võ Bị là Nguyễn Cảnh Nguyên, Trịnh Trân, và Quách Thưởng. Trong cảnh đói khát thường xuyên, chúng tôi phải chia nhau từng mớ rau dền, tán đường thẻ, miếng cơm cháy.

Lán 24 lúc nào cũng hôi thối đầy ruồi nhặng, vì nó nằm trên đường đi ra cầu tiêu, mà bệnh kiết lỵ của tù nhân cải tạo ở đây hầu như bất trị.

Anh trưởng Lán 24 tên Trần Thành Trai, nguyên là Y sĩ Thiếu tá làm việc tại Quân y viện Duy-Tân, Ðà-Nẵng. Bác sĩ Trai luôn luôn xác định lập trường của anh là quyết tâm “học tập tốt” để được tha về với vợ con, vì vậy mỗi lệnh của ban chỉ huy trại đưa xuống, anh luôn luôn tìm cách thi hành đúng đắn.

Thằng Niếu, bạn tôi, được một chân làm bếp, nó ăn uống dưới bếp, nên phần cơm của nó dư, được mang về tiếp tế cho tôi và anh Nguyễn Phong Cảnh, người nằm cạnh tôi.

Vào những ngày cuối năm Ất Mẹo, không khí ở đây trở nên rộn rịp vô cùng. Những người liên lạc được với gia đình thì có những gói quà nhỏ gởi vào cho ăn Tết, những kẻ ít may mắn hơn thì đành trông chờ vào những gì ban chỉ huy trại ban cho. Thời gian này, các lán gấp rút tập văn nghệ để trình diễn đêm Giao Thừa.

Ðể khỏi tập ca hát nhảy múa, tôi tình nguyện làm công tác tạp dịch, quét tước. Trong khi mọi người ca múa, xả rác, tôi đi lượm rác và xách nước về cho bạn cùng lán rửa mặt rửa tay.

Hai ngày trước Tết, lán tôi phải tập họp đi làm cỏ ngoài rào K3.

Trại Suối Máu vốn dĩ là trại tù Phiến Cộng Tam-Hiệp của Quân Khu 3 Việt-Nam Cộng-Hòa. Trại có hai khu, hai hệ thống hàng rào. Lớp rào trong nhốt tù, rồi tới khu canh tù, ngoài cùng là rào mìn phòng thủ. Trại tù Phiến Cộng này có 6 khối. Mỗi khối cách biệt nhau bởi một khoảng đất trống, có rào mìn. Từ khối này muốn liên lạc với khối kia chúng tôi phải hét lên mới nghe tiếng nhau.

Ra khỏi hàng rào thứ nhất, tôi chứng kiến vài sự đổi đời.

Cái miếu thờ Thổ Ðịa trở thành cái chuồng nuôi heo. Nhà Thờ và Niệm Phật Ðường của trại tù binh đã thành chuồng gà sản xuất. Sư và Cha, Tuyên úy của trại này, chắc cũng đi tù đâu đây không xa!

Ngoài xa, bên kia hàng rào mìn là bãi cỏ trống rồi tới đường Quốc lộ 1. Trên Quốc lộ, xe Lamb chạy xuôi ngược; người người vội vàng buổi chợ cuối năm. Có vài bàn tay giơ lên ngoắc ngoắc về hướng trại tù, đôi người dân có liên hệ, hoặc ai đó còn nhớ tới chúng tôi, những sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, những người bảo vệ chế độ đến giờ cuối cùng, và những người chậm chân, chạy không kịp, đang bị nhốt ở đây, trong khu nhà tù do chính tay Công-Binh Việt-Nam Cộng-Hòa xây dựng lên trước đó nhiều năm.

Sáng nay bầu trời màu xanh, không một gợn mây. Từ hướng phi trường Biên-Hòa, bên kia cánh đồng trồng khoai mì, những chiếc F5 thực tập lên, xuống, lượn vòng…

Ðưa tay chỉ những cánh chim sắt đang bay trên trời cao, anh bạn Thiếu tá Không Quân, Trần Chiêu Quân nói với tôi rằng, sau 30 tháng 4, có một số phi công của Việt-Nam Cộng-Hòa bị trưng dụng để huấn luyện cho phi công Bắc-Việt lái những máy bay chúng ta còn để lại.

Những chiếc F5 sáng như bạc đảo lộn trong không gian. Tiếng rít của phi cơ làm cho tâm hồn người cựu chiến binh nao nao.

Làm sao quên được? Lần đầu ra trận (Tháng 2, 1966). Hôm đó, cũng vào một sáng đầu Xuân, đơn vị tôi án binh dưới chân núi Trà-Kiệu (Quảng-Nam) chờ lệnh xuất phát. Tôi ngồi bên bờ Nam sông Thu-Bồn, say sưa nhìn những cánh F-4C, F-5A Hoa Kỳ đan nhau trên vùng trời Bắc. Bên kia sông, vùng trách nhiệm của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập, khói đạn bom cuồn cuộn…

Rồi tới trận Mậu- Thân (1968) với những chiếc Skyraider dềnh dàng, chậm rãi phóng từng trái Napalm dài như chiếc xuồng màu trắng, lướt trên đỉnh 1632 cuối phi đạo Cam-Ly, Ðà-Lạt. Khi bom chạm mục tiêu, từ đó, những sợi lửa lân tinh trắng xanh, trông giống như những cái vòi bạch tuộc, vươn cao…

Còn nữa…

Nhớ thời chống giữ Pleime, ngày ngày, tôi nghe quen tiếng L19 lè xè của Võ Ý (K17VB). Chiếc L19 như cánh diều mảnh khảnh, lững lờ quanh đỉnh Chư Gô, hay trên Ia Drang, thung lũng Tử Thần…

Chúng tôi trông chờ đôi lúc trời trong, những phi tuần A-37 theo nhau tuôn bom… chờ những chiếc trực thăng rà sát đọt cây, lướt trên ngọn cột cờ căn cứ. Cơ phi, xạ thủ trên tàu chỉ kịp đạp vội xuống sân trại vài thùng điện trì, đạn, gạo sấy, con tàu đã lật bụng đảo một vòng, thoát chạy về Ðông. Phòng không như lưới, thảy xuống cho nhau được thùng nào, hay thùng nấy! Thảy đồ xong là chạy. Ðồ tiếp tế, có thùng còn nguyên dạng, có thùng vỡ tan, có thùng bay vào bãi mìn. Như thế cũng quý hóa lắm rồi! Cám ơn anh em Phi đoàn 229 Lạc Long!

Rồi đêm xuống, cứ như “Ðúng hẹn lại lên!” Chiếc AC 47 của anh Trần Bạch Thanh (K17) đã có mặt trên vùng.

“Thái Sơn! Ðây Hỏa Long gọi!”

Những đóm hỏa châu lập lòe, vừa trải rộng tầm quan sát cho người trấn giữ tiền đồn, vừa làm cho họ cảm thấy ấm lòng.

Ðã mất rồi, ngày xưa ấy! Giờ này tôi đang đứng nhìn những cánh chim sắt chao lượn trên đầu, người lái không phải là quân bạn.

Tiếng động cơ F5 nghe sao quá xót xa!

o O o

Tôi đang nhổ cỏ thì thấy một đoàn người từ hướng ban chỉ huy trại hò nhau khiêng một cái cổng gỗ rất to vừa đóng xong.

Tấm bảng nền đỏ chữ vàng “Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do” được nâng niu như trứng trên vai những người tù nhễ nhại mồ hôi. Những người tù đang bị sức nặng của cái cổng đè trĩu trên vai. Họ phải lên gân chân mỗi lúc bước tới trước.

Mới vài tháng trước đây họ còn là những vị chỉ huy oai phong lẫm liệt. Giờ đây đành cam thân sống cảnh đọa đày, đóng vai những anh thợ mộc bất đắc dĩ không công. Ngày nào họ cũng ra đi rất sớm, chiều tối mới trở về trại. Họ dựng những cái cổng chào. Họ tu sửa, sơn phết những khẩu hiệu trên tường. Họ trồng lại hàng rào trại.

Mọi việc làm này là để chào đón ngày Quốc-Hội Việt-Nam Thống-Nhất ra đời. Những vị sĩ quan cao cấp này đã khởi đầu nghề thợ mộc của họ bằng những cái bảng “Không Có Gì Quý…” ở trại tù Tam-Hiệp.

Tôi có quen vài người trong số những “cải tạo viên”  hằng ngày xuất trại làm mộc, như vị sĩ quan cựu Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa và vị sĩ quan cựu Tiểu Ðoàn Phó Nhảy Dù. Cả hai vị đó, sau này nơi đất Bắc, đã thành hai ông đội trưởng nổi tiếng. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh!

Chỉ chín tháng sau ngày chế độ Cộng-Hòa sụp đổ, giờ đây tôi đang chứng kiến một hoạt cảnh không ai có thể tưởng tượng nổi: Trên trời, phi công Việt-Cộng đang lái F5; trước cổng trại tù, sĩ quan cấp tá Việt-Nam Cộng-Hòa đang dựng cổng chào; quanh rào trại tù, sĩ quan cấp tá Việt-Nam Cộng-Hòa đang làm cỏ. Nơi nơi, người người, chuẩn bị đón Xuân. Mỗi người mang một tâm sự riêng…

Tới trưa, khi nghe tiếng kẻng phát cơm của nhà bếp, chúng tôi được dẫn trở lại trong vòng rào trại K3. Khi đi ngang qua sân bóng chuyền, tôi thấy người ta đang cá độ nhau trận đấu tay đôi đang diễn, một bên là Thiếu tá Trần Ðạo Hàm, cựu vô địch nhảy cao của Quân Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa, bên kia là một tay Thiếu tá Không Quân. Anh Lê Hữu Khái (K15) và thằng bạn Nguyễn Bích (K20) của tôi đang nhảy tưng tưng cổ vũ cho anh Hàm vì anh Hàm là “gà nhà”, Võ Bị khóa 17! Cái miệng thằng Bích lớn lắm, nó la hét vỗ tay, bình luận ào ào. Anh Hàm thật là may mắn, có cái loa phóng thanh cỡ bự Nguyễn Bích cổ vũ nên anh có vẻ như đang dẫn điểm.

Tôi thấy nhiều người đã để ghế “xí” chỗ tốt cho buổi TV văn nghệ tối; ngày nào cũng thế, cứ đến trưa là bà con đem ghế ra đặt sẵn trên sân bóng để “xí” chỗ xem phim TV của đài Sài-Gòn Giải-Phóng. Ai chậm chân thì không còn chỗ tốt. Thời gian này TV Sài-Gòn Giải-Phóng liên tiếp chiếu bộ phim nhiều tập “Trên Từng Cây Số” và “Ðại úy Ðen” của Ba-Lan.

Trong các lán, có nhiều bạn tụ tập bóc lột nhau bằng những con bài. Xì phé, sập xám và mạt chược là những môn chơi phổ thông khắp nơi trong trại. Tôi đã chứng kiến nhiều anh thua bạc phải bán cả những quà cáp từ gia đình gởi vào, như kem đánh răng, thuốc lào, thuốc tây để trừ nợ.

Sau Tết ít lâu, tôi nghe một câu chuyện đau lòng ở K3 năm ấy: có một vị Thiếu tá Quận trưởng khi cắt bánh thuốc lào làm đôi để chi cho chủ nợ một nửa, thì phát hiện ra một bức thư “chui” của người nhà giấu trong ruột bánh thuốc lào. Bức thư vắn tắt đôi lời làm đau lòng người đọc:

“Chị ấy đã gởi hai đứa con của anh cho bà nội của chúng nuôi. Chị đã đi lấy chồng rồi! Anh đừng buồn, ráng học tập lao động cho tiến bộ để sớm được thả về mà nuôi dạy con anh.”

Cái tin bất ngờ sét đánh ấy đã làm cho ông Quận sững sờ, buông rơi những con bài Cơ, Rô, Chuồn, Bích…

Từ đấy, tôi thấy ông suốt ngày thẫn thờ bên rào, nhìn về phía xa xôi. Ðôi lúc tỉnh táo, ông ôm cây Guitar, đàn solo những bài nhạc xưa, buồn đứt ruột.

Tôi bồi hồi nhớ lại lời Tổng thống nói ngày nào:

“Ðất nước còn, còn tất cả. Ðất nước mất, mất tất cả!”

Ôi! Lời Tổng thống nói thật là hữu lý!

Tổng thống ơi! Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giữ nước, nhưng chúng tôi đã không thể giữ nổi. Chúng tôi lấy làm xấu hổ vô cùng! Sao Tổng thống không ở lại giữ nước với chúng tôi? Lúc này chúng tôi đã “mất tất cả” rồi Tổng thống ơi!

Về tới lán, tôi nhận được một vỉ thuốc ho, một nắm xôi đậu xanh, và mười cục đường tán do anh bạn Phan Văn Hải gởi cho.

Tôi, Phan Văn Hải, cùng ba anh bạn khóa 20 Võ Bị là Phan Ðộ, Huỳnh Bá An, Trần Hữu Bảo, xuất thân từ trường Nam Tiểu Học Ðà-Nẵng. Chúng tôi là học trò của cô giáo Phạm Thị Tịnh Hoài, lớp Nhất C.

Phan Văn Hải là sĩ quan khóa Ðặc biệt Thủ Ðức, anh về phục vụ cùng đơn vị Biệt Ðộng Quân của tôi ở Pleiku. Những ngày cuối của cuộc chiến, Thiếu tá Phan Văn Hải giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 89 Biệt Ðộng Quân. Khi đi tù, bạn tôi không có ai thư từ, tiếp tế, nhưng hắn bài bạc rất giỏi, nên lúc nào cũng sung túc.

Chiều hôm đó, anh lán phó hậu cần, Hải Quân Thiếu tá Bùi Tiết Quý thâu tiền của trại viên trong lán, gởi cán bộ trại mua giùm mì gói, tương, chao, xì dầu và đường tán để ăn bồi bổ thêm trong ba ngày Tết. Tối đến, sau khi đã chia hết phần đường cho người mua, anh Quý cạo được một chén đường chảy dính trong thùng giấy và bao giấy gói đường. Anh ung dung ngồi thưởng thức nồi chè đặc biệt, nấu bằng đường mót được với hột su su và mấy hạt bắp non anh trồng được bên rào. Làm đội phó hậu cần cũng có chút bổng lộc!

Sáng Ba Mươi Tết, lại gặp ngày tổ tôi trực lán, tôi và một số bạn bị chỉ định xuống làm việc tăng cường cho Lán 9 nhà bếp. Tôi phụ việc vo gạo cho thằng Niếu và anh Cung. Những tạ gạo đựng trong bao viền chỉ xanh rất cũ được chuyển về từ bưng biền. Gạo thì mốc vàng, mốc xanh.

Những tổ sâu gạo to như nắm tay. Khi tôi tách những cái tổ sâu ra từng phần nhỏ thì những con sâu gạo trắng ngần có khoang, béo núc, to gần bằng đầu đũa và dài cả phân, ngo ngoe, ngo ngoe…

Anh Cung không cho phép tôi vứt bỏ những cái tổ sâu ấy, anh nói rằng nếu vứt bỏ sâu đi thì hết gạo, “Nếu vứt sâu đi thì còn cái gì mà ăn? Cứ nấu tưới đi! Sâu cũng bổ béo, cũng nhiều Prồ-tê-in, sâu gạo chứ có phải là dòi ở ngoài chuồng xí đâu mà ngán!”

Khi chảo cơm bắt đầu sôi thì nhiều khách khất thực nước cơm đã cầm ca đứng đợi. Anh Cung cho vài người, mà cũng từ chối đôi người. Người có phần, thì riu ríu cám ơn, người không có phần tiu nghỉu ra về, miệng lầm bầm, “Ð! M!… Ð!M!..”

Những trại viên nhà bếp gọi đám người chờ xin nước cơm là “Ðội quân cầm ca.” Chữ “cầm ca” ở đây không có nghĩa là ca sĩ, ca hát, hay ca kỹ mà có nghĩa đen chỉ sự cầm cái ca U.S dùng để đựng nước uống, cái ca nằm dưới cái bi-đông bộ binh ấy mà!

Dân “cầm ca” phải đứng xếp hàng cả giờ đồng hồ trước cửa lò cơm để chờ xin một ly nước cơm. Nước cơm có Vitamin B1 chữa được bệnh phù thủng (?) Chuyện xếp hàng trước, xếp hàng sau, đôi lúc cũng gây ra ẩu đả.

Sau này, khi ở trại tù Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên, tôi có đọc một tài liệu nói về cái chất độc của nấm cúc vàng từ gạo mục, gạo mốc. Nấm cúc vàng có chứa một loại chất độc nguyên nhân gây ung thư gan. Nước cơm lại là phần đậm đặc nhất của chất độc nấm cúc vàng từ gạo mốc. Không biết có bao nhiêu nạn nhân của bệnh xơ gan sau này có mặt trong đội quân “cầm ca” ngày ấy?

Chiều Ba Mươi Tết, bữa ăn có thịt heo kho. Thằng Niếu đem thêm về cả phần lòng heo bồi dưỡng nhà bếp của nó.

Thời buổi khó khăn, thuốc lá bắt đầu khan, những tay nghiền miền Nam bắt đầu nói chuyện thuốc lào.

Những danh từ “điếu cày,” “điếu bát,” “Cái Sắn,” “Hố Nai,” “Vĩnh Phúc,” “Tiên Lãng” nghe mãi cũng quen tai.

Anh Hoàng Kim Thanh, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân của tôi, từ bên K4 nhờ ai đó chuyển cho tôi được một bao thuốc lá 555 và một lạng cà phê.

Trong khi thằng Niếu và anh Cảnh lo bếp núc cúng Tất Niên thì tôi đi vòng vòng tán dóc với anh bạn Lưu Văn Ngọc, cựu Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn II.

o O o

Tối Ba Mươi Tết ở K3 Suối Máu không khí thật là rộn rã tưng bừng. Mọi lán đều đã chuẩn bị sẵn sàng chương trình văn nghệ chào đón Chúa Xuân. Sân khấu văn nghệ được thiết lập giữa sân tập họp. Ðèn điện sáng choang. Cờ Mặt Trận Giải- Phóng Miền- Nam che kín cả sân khấu.

Trước giờ văn nghệ, loa phóng thanh truyền đi những bản nhạc từ đài Sài- Gòn Giải- Phóng mà Tô Lan Phương là giọng ca chính. Những nghệ sĩ tù cũng ăn mặc tươm tất để sẵn sàng trình diễn giúp vui. Ðàn ghi-ta, trống, sáo đều làm bằng vật liệu lấy từ kho của nhà bếp như tôle, củi, ván gỗ…các nghệ nhân tự đẽo gọt, cắt xén, dán, ghép thành các nhạc cụ.

Tám giờ tối, buổi “Liên hoan văn nghệ” đêm Ba Mươi Tết bắt đầu.

Mở màn chương trình là bài đồng ca “Như có Bác” tôi không nhớ do lán nào trình diễn.

Kế tiếp, cựu Thiếu tá Không Quân Hoàng Ðình Ngoạn (K17 VB) lên đài trong tiếng hoan hô vỗ tay của “đồng bọn” tù Võ Bị.

Anh vừa hát được nửa bài tình ca, nhạc vàng “Mùa Xuân Trên Ðỉnh Bình Yên” thì bị cán bộ Cộng-Sản  chặn lại, đuổi xuống đài. Lý do, “Nhạc Ngụy ủy mị!”

Sau đó, chỉ những bài hát “Giải Phóng” mới được phép trình diễn.

Trên sân khấu, tiếng sáo trúc Tô Kiều Ngân lâm ly bài “Mùa Xuân Trên Thành Phố HCM” hòa ca cùng tiếng sáo miệng của Nguyễn Tuyên Thùy. Tôi cũng nghe vọng lại từ các khu khác, đại để, bạn tù cũng chỉ hát những bài ca eo éo, nghe rợn tóc gáy, như “Cô Gái Vót Chông,” “Tiếng Ðàn Ta Lư,” “Năm Anh Em Trên Chiếc Xe Tăng” vân vân…

Khắp 6 khu của trại tù đều sáng rực ánh đèn và vang rền tiếng nhạc…

Năm mới đang từ từ tiến về…

Ðến khi màn trình diễn của Lán 24 vừa được giới thiệu, thì tôi bỏ chạy về lán. Tôi ngồi một mình trong cái nhà tôle vắng tanh. Nỗi đau đớn nhói tim tôi!

Ngoài kia, bạn cùng lán của tôi, không tự nguyện, đang phải đóng vai “Dân quân chống Tầu, chống Tây, chống Mỹ, chống Ngụy” trong một vở trường kịch. Khi họ tập bài bản trong lán, tôi biết họ cũng đau lòng lắm.

Bạn Võ Bị của tôi, Tạ Mạnh Huy vì là Tây lai phải đóng giả làm Tây cho người ta trói. Thằng Niếu phải đóng vai “Biệt Ðộng Quân Ngụy” giơ tay đầu hàng để anh Dương người Bắc, đóng vai bô lão nông dân Việt Nam “đả đảo”. Mỗi lần tập xong, các bạn tôi đều buồn, họ đề nghị anh lán trưởng Trần Thành Trai cho tập một kịch bản lịch sử “Vua Quang Trung diệt quân Thanh” nhưng anh lán trưởng không đồng ý.

Anh Trai nói, “Ban chỉ huy trại đã ra lệnh” cho anh phải thực hiện cho được trường kịch này để mừng Giao Thừa, vì nó có tính cách “Lô gích lịch sử” (?)

Và đêm ấy, anh đội trưởng Trần Thành Trai đã thực hiện thành công xuất sắc vở trường kịch “Việt Nam 4000 năm anh hùng.”

Ngay sau khi bế mạc buổi văn nghệ mừng Xuân Bính Thìn, mùa Xuân đầu tiên của nước “Việt Nam Thống Nhất” cũng là  mùa Xuân đầu tiên quân và dân Miền Nam mất nước, anh đội trưởng Trần Thành Trai đã được ban chỉ huy trại “tuyên dương công lao” trước trại.

Khi trên sân khấu người diễn kịch bắt đầu hát bài “Tiến Quân Ca” thì tôi bật khóc.

Một mình, ngồi trong đêm tối, tôi nức nở khóc vùi. Tôi chưa bao giờ thấy cái khóc lại có hiệu lực chữa đau đớn hiệu nghiệm như đêm ấy!

Chợt tôi nghe tiếng chân ai ngoài cửa lán. Rồi tiếng lên đạn súng AK…

Thình lình, tia đèn pin chiếu ngay mặt tôi, làm mắt tôi chói lóa.

“Anh kia! làm gì ngồi khóc đấy? Sao không đi “rự nễ” mừng Xuân?”

Tên bộ đội đi tuần tra lớn tiếng hỏi.

Tôi lấy tay che mắt, nhưng không nhìn thấy gì. Tôi lặng thinh. Tiếng quát lại tiếp:

“Anh có mồm không thì bảo? Câm à? Sao không giả nhời tôi?”

Tôi vẫn ngồi im. Ánh đèn đảo một vòng quanh vách lán rồi tắt. Căn phòng tối om. Tôi nghe tiếng chửi:

“Ðịt mẹ thằng câm! Mới xa nhà có mấy tháng mà đã nhớ nhà phải khóc. Ông đây xa nhà hai ‘lăm’ rồi mà ông có khóc đâu! Ðồ không biết xấu hổ!”

Tôi vẫn lặng thinh.

“Rầm!” Tên bộ đội giận dữ, đóng sập cửa lán.

“Chảng!” Nó còn bồi thêm một cái đá cật lực vào vách tôle.

Vài giây sau, tôi nghe tiếng dép râu bước đi xa dần về hướng sân. Tôi nhìn đồng hồ tay (ngày đó chưa có lệnh thu giữ tư trang của tù) đúng lúc này hai cái kim lân tinh vừa chập nhau trên số 12: Giao Thừa!

Ngoài sân tiếng ca hát còn đang tiếp tục. Tôi mồi một điếu thuốc 555. Trong trí óc tôi, hình ảnh những Giao Thừa đã qua trong đời hiện về, mờ nhạt như từ thế giới nào rất xa…

Ngày xưa, mỗi độ Giao Thừa, cho dù lúc đó tôi đang đi hành quân với một toán Biên Vụ (Viễn Thám) quân số chỉ có 6 người, lần mò trên những nhánh của hệ thống “Ðường mòn Hồ Chí Minh” trên đất Lào, hoặc len lỏi trong rừng tre gai Plei-Trap Valley, hay lúc tôi đang chỉ huy cả năm trăm, sáu trăm quân trấn giữ Pleime, hoặc ải địa đầu Bu-Prang miền biên giới Việt Miên, tôi không lần nào quên nghe chương trình Giao Thừa của Ðài Phát Thanh Quân-Ðội.

Giao Thừa Xuân Bính-Thìn là Giao Thừa đầu tiên trong đời, tôi không tìm thấy lá cờ nước tôi, không nghe được câu hát: “Này công dân ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi…”

Bài quốc ca này đã đi vào lịch sử. Một thế hệ đã hát nó với cả bầu máu nóng trong tim. Bao nhiêu người thân của tôi, bao nhiêu bạn bè của tôi đã cống hiến tuổi trẻ và cả thân xác mình cho bài ca đó. Một thế hệ đã lớn lên thành người với bài ca đó. Một thế hệ sẽ mang nó theo, xuống tuyền đài…

Chợt tiếng anh lán trưởng Trần Thành Trai vọng lại trên loa phóng thanh:

“Ðổi đời đã tới! Cách Mạng đã thành công!”

Tiếng hô lặp lại hai chữ “Thành công!” của trại viên vang dội đêm Trừ Tịch. Tôi cảm thấy tiếng hoan hô đã làm rung những tấm tôle trên mái.

Trời đêm Trừ Tịch tối đen.

Tôi không biết những vạt đen ẩn hiện sau hè, là bóng những bụi rau dền, giàn mùng tơi hay những hồn ma đói cuối năm chập chờn.

Ngoài xa vẳng lại, từ bên K4, ai đó bắt đầu hát bài “Lá Ðỏ”…

o O o

Vài năm sau, tôi nghe tin, cựu Y sĩ Thiếu tá Trần Thành Trai của quân y viện Duy-Tân, Ðà-Nẵng, đã được tha khỏi trại cải tạo. Bác sĩ Trai đã cùng Bác sĩ Trần Ðông A, cựu Y sĩ Thiếu tá Nhảy Dù, nổi tiếng sau những ca mổ tách rời trẻ song sinh ở Sài-Gòn. Tôi cũng đã nghe tin, giờ này, Bác sĩ Trai đang là một “Dân biểu” của Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ Nghĩa Việt-Nam.

Nhân ngày đầu Xuân Ất Dậu (2005), tôi nhớ lại chuyện xưa, ba mươi năm trước. Nhớ những bạn Võ-Bị, cựu tù Lán 24 Suối Máu, Tam- Hiệp, Biên- Hòa.

Trong số những người bạn đó, thì hai người đã qua đời, là Hoàng Thế Bình và Ngô Văn Niếu. Còn những bạn khác như Dương, Lành, và Huy thì đang ở Mỹ, không rõ họ có còn nhớ chuyện ngày xưa hay không?

Riêng tôi, cái đêm Giao Thừa ba mươi năm trước ấy đã trở thành không thể nào quên, vì đó là lần đầu trong đời, tôi đón năm mới với thân phận một người tù mất nước…!!!

VML – K20 – Lập Xuân 2005 Vương Mộng Long

Đường Lên HIÊN, Lên GIÀNG

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 3 Sep 2023

Gia đình tôi dọn về khu chùa Âm-Bổn, Hội-An khi tôi học xong Đệ Lục trung học Trần Quý Cáp.  Tôi có bốn người bạn thân, Trần ngọc Lợi, Lê văn Bảy, Ngô Rân, và Lê hữu Mục.  Năm đứa chúng tôi chơi với nhau từ Đệ Thất.  Tối tối chúng tôi tụ họp trên lề xi măng sát bờ sông Thu-Bồn, trên đường Bạch-Đằng, đối diện với nhà bác Trần ngọc Mai, thân sinh của anh Trần ngọc Lợi.  Chúng tôi tâm sự, chuyện vãn, học bài dưới ánh điện đường.  Đôi khi cao hứng, chúng tôi ngâm nga những bài thơ vừa học trong giờ giảng văn, thơ Nguyễn Khuyến, thơ Tản Đà, thơ Xuân Diệu…vân vân.  Thời cụ Diệm, đất nước thanh bình.  Nhà, phố, ban đêm không cần khóa cửa.  Tuổi trẻ hồn nhiên.  Tâm hồn tôi thơ thới.  Đời tôi chưa vướng chút âu lo gì về hòa bình hay chiến tranh.  Có khi, Thứ Bảy, tôi và bạn quây quần bên nhau cho tới nửa đêm mới chia tay, ai về nhà nấy.  Trừ những ngày nước lũ, mùa dông, dòng Thu-Bồn lúc nào cũng mờ mờ hơi khói sương, đầy nét mơ màng.  Dòng sông ấy là một trong những dòng sông tôi yêu quý nhứt.  Lớn lên, tôi sống xa Hội-An, nhưng mỗi khi có dịp ghé về, tôi thường lang thang nhiều giờ, bên bờ sông, nhìn những con đò ngang, đò dọc, nhìn bèo trôi, mây bay…

       Lên tới Đệ Ngũ, bạn bè tôi phần nhiều, đã biết yêu.  Thư qua, thư lại giữa các cặp tình nhân trao đổi ngay trước mắt tôi, hằng ngày, trong lớp.  Những mối tình đầu ở thành phố Fai-Foo cổ lỗ, nhỏ bé này cũng thường bị nhiều kẻ xâm lăng đe dọa.  Trước khi có lệnh động viên vì tình hình đất nước lâm nguy, thày giáo là địch thủ đáng gờm nhất của những chàng học trò đang yêu.  Lớp tôi có chị Tô thị Vân, Bắc-Kỳ, tóc dài.  Nhà chị Vân ở gần giếng Bá-Lễ.  Ngõ vào giếng, có cây hoa mộc lan; đêm đêm, mộc lan tỏa hương, thơm ngát một vùng.  Tết Trung-Thu hàng năm, chị Vân và em gái chị là Tô thị Lan được chọn đóng vai Hai Bà Trưng, ngồi trên xe hoa diễn hành.  Năm chúng tôi lên Đệ Tứ thì thày Huy dạy Quốc-Văn làm giáo sư hướng dẫn.  Thày Huy mê chị Tô thị Vân ra mặt.  Dù chị Vân không ưa gì thày Huy, nhưng những người đang theo đuổi chị Vân như anh Bảy, anh Rân, đều ghét thày cay đắng.  Những lúc thày ấp cái hình Hai Bà Trưng (Vân, Lan) vào ngực, đôi mắt hiu hiu, thì bọn bạn tôi ức lắm, họ chỉ muốn…. thoi cho thày vài thoi.

       Nhưng, xem chừng như nhiều cô nữ sinh trường tôi cũng thích nâng khăn sửa túi cho các giáo sư.  Con đường Hoàng-Diệu chỉ dài khoảng hai trăm thước, mà cũng có cả tá nam sinh ôm hận, bỏ ăn, bỏ học, ngẩn ngơ khi cô nữ sinh xinh đẹp, con gái quan phó tỉnh lên xe hoa về nhà… thày.

       Bạn tôi, có đứa đã trải qua vài trận thất tình.  Người thất tình thường hay làm thơ buồn day, buồn dứt.  Hình như người thất tình dễ trở thành thi sĩ lắm!  Thi sĩ nào cũng biết hút thuốc lá.  Khói thuốc làm cho thi nhân có hứng để viết.  Thuốc Cotab thơm ngon hơn Ruby nhiều, nhưng đắt lắm, chỉ có thày giáo mới hút Cotab.  Còn học sinh chỉ dám rít Ruby, hợp với túi tiền.  Ba đồng, bốn điếu Ruby.  Buổi đó chưa có Ruby Quân-Tiếp-Vụ loại bao in hình anh Chiến Sĩ Cộng-Hoà chân co, chân duỗi.  Mới chỉ có Ruby loại bao màu hồng, có hình những đồng tiền vàng dính nhau.  Khói Ruby vào phổi làm cho tâm hồn ta dạt dào, lâng lâng, ngẩn ngơ.  Trong sân trường tôi, thi sĩ lềnh bềnh, phiêu dạt đầy sân…Những tập thơ bằng giấy “pơ lua pho” với chữ viết bằng ngòi bút “rông” được chuyền tay, nâng niu như trứng.  Trong số những công tử mới tập tành phun châu, nhả ngọc thời ấy, có vài vị sau này trở thành thi sĩ thực thụ như (Huỳnh) Hoàng Quy, Thái tú Hạp, Phùng Tiến…

       Tôi chưa biết thất tình là gì nhưng cũng cố theo kịp bạn bè, bắt đầu tập tành hút thuốc lá.  Dù bị mẹ tôi cấm đoán, đôi lúc, tôi vẫn lén mua vài điếu Ruby lẻ, kiếm nơi thanh tịnh, ngồi hút một mình.  Tôi không biết cách ém khói, rồi để khói phì ra đàng mũi, hay nhả khói thành vòng tròn, như những tay lão luyện.  Tôi hớp từng ngụm khói vào mồm, rồi thở ra bằng mồm.  Tuổi tôi lúc đó làm gì có nhiều kinh nghiệm sống để mà viết lên cho thành truyện?  Tôi đành tưởng tượng.  Cứ ngồi một mình, cho trí tưởng tượng phiêu du theo khói thuốc, thế là có bao nhiêu đề tài để viết.  Mỗi khi làm được bài thơ nào ưng ý, tôi thường lấy phấn đủ màu mè ngũ sắc “yết” nó lên cái bảng đen giữa lớp để chia sẻ công trình của mình với bạn bè.  Vài tháng một lần, tôi và mấy người bạn cùng lớp, “xuất bản” một tập thơ viết tay trên giấy “pơ lua”, chỉ để tặng, không bán (vì có ai mà thèm mua!)  Chúng tôi sưu tầm những bài thơ hay trên các nguyệt san, đặc san, rồi sao chép lại thành tuyển tập chuyền tay nhau.  Một hôm, tôi vớ được “Paris Có Gì Lạ Không Em” của Nguyên Sa, tôi viết nó lên bảng cho bạn bè thưởng lãm.  Ai cũng khen thơ ông này có cái phong thái mới lạ, dễ thương…

       Thường thì, khi mê thơ của ai, tôi hay tò mò tìm hiểu xem người thơ ấy sống cuộc đời thường ra sao?  Ngày đó tôi mê thơ Thái Can.  Vì thế, lúc rảnh rang, tôi hay đạp xe qua phố Nguyễn thái Học.  Đường Nguyễn thái Học có nhà của Bác sĩ Thái Can.  Bác sĩ Thái Can chính là tác giả bài thơ bất hủ “Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về”.   Bác Can cũng là thân sinh của chị Thái thị Mai và anh Thái Thanh, bạn học (Đệ Tứ 1) ngang lớp với tôi trong trường Trần Quý Cáp.  Xe đi ngang nhà Bác sĩ Thái Can thế nào tôi cũng nghển cổ nhìn vào, quan sát.  Đã nhiều lần bác Can bắt quả tang đôi mắt láo liên, dớn dác của tôi, khiến tôi đỏ mặt.  Tôi phải ra sức gò lưng, đạp cho xe lướt nhanh.  Chắc bác tưởng tôi bắng nhắng lạng xe trước nhà bác chỉ vì nhan sắc của cô con gái cưng của bác?  Thực tình, tôi không nghển cổ kiếm hình bóng chị Mai đâu, mà tôi dòm xem bác Thái Can vui hay buồn?  Tôi cứ thắc mắc rằng, bị một trận tình, thua thất điên bát đảo như thế, chắc tim bác phải ê ẩm, rầu rĩ, lâu lắm?  Lời thơ của bác buồn ghê…

“Anh biết em đi chẳng trở về!
Dặm ngàn liễu rũ với sương che.
Thôi đừng quay lại nhìn anh nữa. 
Anh biết em đi chẳng trở về!”
                  (Thơ Thái Can)

       Bạn cùng lớp tôi ai cũng rõ tôi là “Công-Tử Nhất-Bộ” vì mỗi năm, tôi chỉ có một bộ đồng phục.  Tôi may bộ đồng phục đó sau khi lãnh học bổng mỗi cuối niên khóa.  Một cái sơ-mi trắng và một cái quần xanh.  Tôi mặc đồng phục đi học.  Về tới nhà, tôi thay quần áo ra, đem giặt.  Khi ở nhà hoặc đi kèm trẻ, tôi mặc quần áo nhà binh, vừa rẻ, vừa bền.  Mờ sáng, đi gánh nước, tôi cởi trần, mặc quần dài xăn tới đầu gối.  Đoạn đường từ nhà tôi tới giếng nước nhà cô Cư, đèn đường mờ mờ.  Lịch tập thể dục hàng tuần của trường Trần Quý Cáp chia ra, học trò con trai tập thể dục vào những ngày chẵn, Thứ Hai, Tư, Sáu. Học trò con gái tập thể dục vào những ngày lẻ, Thứ Ba, Năm, Bảy.  Bạn gái cùng lớp tôi, đi tập thể dục, thường xuyên đụng đầu một “thi nhân” đang hùng hục leo dốc với hai thùng nước đầy, đung đưa bên hông.  Bọn nữ tặc túm năm, tụm ba, chặn đường tôi, réo gọi om xòm, “Anh Vọi ơi! Anh Vọi ơi!  Dừng chân cho chúng em tỏ một đôi lời đi!… Anh Vọi ơi!”  Tiếng chúng nó the thé vang vang trong phố.  Cường độ âm thanh tiếng réo của bọn yêu tinh ấy chắc cũng cao cỡ vài trăm decibels, làm cho những trái sung trên cây, trong vườn, sau chùa Âm-Bổn rơi lộp độp.  Bạn bè trong lớp thường gọi tôi là anh Vọi. 

       Số là, trong chương trình Quốc-Văn lớp Đệ-Lục do cô Bạch Vân dạy, mỗi đứa trong lớp tôi phải chọn thuyết trình một tác phẩm của Tự- Lực Văn- Đoàn.  Tôi đã chọn tiểu thuyết “Trống Mái” của Khái Hưng.  Vọi là tên một anh dân chài khù khờ, nhân vật chính trong “Trống Mái”.  Vì tôi cũng có vẻ khù khờ như Vọi, nên sau buổi thuyết trình, tôi mang thêm một cái tên nữa là anh Vọi.  Gặp nhau, thay vì kêu tên tôi, bạn tôi cứ, “Anh Vọi ơi!… Anh Vọi ơi!”  Thét rồi, cái tên “Anh Vọi” thành quen.  Ngày tháng thoi đưa, chúng tôi lớn lên lúc nào không nhớ rõ… Trong lớp tôi, cũng có đôi người thầm thương anh Vọi.  Mãi sau này tôi mới biết.

       Một hôm, Đệ Tứ, gần vào hè, giờ ra chơi, tôi và vài anh bạn ra khu tập thể dục quay xà ngang.  Áo tôi bị quấn vào xà, xẻ dọc.  Mấy cô bạn gái xúm vào vá víu áo tôi.  Vá giùm áo tôi xong, bạn đã tan hàng, riêng một nàng chần chờ không chịu rời gót.  Cô ấy tên Thu-Cúc.  Phạm thị Thu-Cúc tuổi Mùi, người Vĩnh-Điện, trọ học ở nhà bà con, gần Chùa Cầu.  Thu-Cúc tóc thề ngang vai, trắng trẻo, dễ thương, nhưng hơi đẫy đà.  Tôi hỏi Cúc:

       – Ủa!  Mọi người đi hết rồi, Cúc còn đứng đây làm gì?  Cúc đỏ mặt lí nhí hỏi lại:

       – Áo Long bị rách, về nhà có bị mẹ la rầy không? Tôi cảm động:

       – Chắc không đâu!  Cũng gần hè rồi, mặc cái áo này vài tuần nữa, nghỉ học, lãnh học bổng xong là Long có áo mới liền!  Thấy xung quanh không có ai, Cúc bạo dạn hỏi tôi:

       – Cúc có chuyện riêng muốn nói, Long có nghe không?  Tôi ngạc nhiên nhưng trả lời ngay:

       – Ừ! Cúc muốn gì cứ nói đi!  Cúc tuôn ra một tràng mà tôi không ngờ:

       – Cúc thương Long, Long có thương Cúc không?  Có người đi dạm hỏi Cúc đấy!  Nếu Long không thương Cúc thì Cúc về quê lấy chồng!  Tôi điếng người.  Người ta nói con gái Quảng thật thà, bạo dạn, nồng nàn, quả đúng!  Tôi nhìn bạn:

       – Thực ra, cho tới giờ này Long cũng chưa rõ mình đã yêu ai hay chưa!  Long coi Cúc là bạn thôi.  Nếu có người thương Cúc, hỏi cưới Cúc, thì Cúc về lấy chồng đi!  Tôi thấy đôi mi Thu Cúc sụp xuống, vài giây sau đôi mắt ấy ngước lên nhìn tôi u uẩn:

       – Dù sao Cúc cũng phải nói cho bạn rõ rằng, gần ba năm nay có một người con gái đã yêu bạn vô cùng…thôi nhé ngày mai … Cúc sẽ về quê…

       Bạn tôi nhanh chân trở gót vào lớp.  Tôi thấy tay nàng đưa lên quệt nước mắt.  Đôi chân nàng như díu vào nhau…  Hôm sau Thu Cúc không tới trường.  Mọi người không rõ nguyên do vì sao cái máy thuộc bài ấy lại vắng mặt ngày thi Vạn-Vật đệ nhị lục cá nguyệt.  Cuối niên khóa, bạn bè trong lớp Đệ Tứ 3 kháo nhau chuyện Thu Cúc về quê, lấy chồng…  Sắp lên đệ nhị cấp, lòng tôi cảm thấy lo lắng bâng khuâng.   Chúng tôi đã chuẩn bị kỹ và đã chọn lựa xong con đường khoa bảng tương lai. Những người bạn thân chia tay nhau nơi ngã ba phân ban (A,B,C) của hệ thống giáo dục đương thời.  Ba con đường dẫn tới ba cái bệ phóng vào đời khác nhau.  Tôi sẽ lên Đệ Tam ban Toán (B).  Những người quen trong lớp, như chị Tô thị Vân, theo ban Vạn-Vật (A), anh Phùng Tiến theo ban Văn-Chương (C).  Bốn anh bạn thân của tôi không có ai chịu dấn thêm bước nữa.  Anh Bảy thi đậu vào trường Sư-Phạm Tiểu Học.  Anh Rân và anh Mục đứng lại nơi ngã ba, học Đệ Tứ thêm năm nữa.  Riêng anh Lợi thì nghỉ học để lấy vợ.  Không biết anh Trần ngọc Lợi và chị Ngô thị Xuân Lan tí toáy làm sao mà chị Xuân Lan có bầu.  Chị Lan đi sanh trước ngày chúng tôi đi thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp vài tuần.

       -Tôi có hẹn với Nguyễn Nhị (anh bạn quê quán ở Nông-Sơn) rằng, sau khi thi trung học, tôi sẽ lên nhà anh, cùng anh mượn cái trường tiểu học của xã để dạy hè, kiếm chút tiền còm.  Trong hành trang, ngoài sách vở, quần áo, tôi còn mang theo những tập thơ chép tay của tôi và những bạn đồng học khác.  Nông-Sơn trùng điệp núi đồi.  Mặt đất khu nhà máy và mỏ than thì màu đen.  Những ngọn đồi khác vây quanh toàn là rừng thưa và cỏ tranh chen lẫn nhau.  Dưới thung lũng là những khe ruộng lúa mùa và những cánh đồng mía.  Mía đang lên cờ.  Gió lượn quanh khe, làm rạp những ngọn cờ mía.  Gió vô hình, vậy mà tôi có cảm tưởng rằng mình đã nhìn thấy gió đang “đi” trong thung lũng.  Gió đi từ ruộng mía, lên đồi tranh, rồi gió trốn vào rừng.  Ngôi trường làng bé tí teo.  Học trò tới trường, có em chỉ bận trên mình cái quần xà-lỏn.  Mỗi em hình như chỉ có một tập vở bẩn thỉu, góc tập bị cuốn cong veo.  Tôi bùi ngùi tự nhủ thầm rằng, tuổi thơ của tôi, về phần vật chất, còn sáng sủa hơn tuổi thơ của những em bé này.  Buổi chiều không có lớp; học trò mắc đi kiếm củi, giữ trâu, mò cua, trong lạch.  Hoàng hôn, tôi thường tản bộ ra ngồi bên ghềnh đá. Đây là đầu nguồn của sông Thu-Bồn.  Dòng nước uốn khúc quanh chân núi Chúa. Dưới thung lũng, trong ruộng bùn, những con trâu đang thoải mái nằm dầm mình nghỉ ngơi.  Chiều hè, sương trắng rơi từ từ trên rừng xanh.  Gió nhè nhẹ đưa những sợi mây mỏng như tơ bay về cuối trời.  Tôi lần dở những tập thơ viết tay trên giấy pơ-lua và trên tập vở, lòng chợt buồn vô cớ.  Tuổi thanh niên, mà sao có những lúc tôi thấy lòng trống vắng quá?  Tôi bâng khuâng nghĩ về tương lai, mà không biết tương lai mình sẽ ra sao…

       Ở Nông-Sơn được một tuần lễ, thì chị Quá và chị Thảo (bị ở lại Đệ Tứ) nhắn tôi về gấp để kèm toán cho họ luyện thi trung học.  Tiền công hai chị hứa trả cho tôi cao hơn nhiều so với số tiền sẽ nhận được do dạy học ở Nông-Sơn.  Thực tình, tôi không muốn rời Nông-Sơn.  Nơi đây xa hẳn phố phường phồn hoa, tục lụy.  Cảnh ở đây như cảnh tiên.  Người ở đây tuy nghèo nhưng rất hiền hoà, hiếu khách.  Tôi không muốn chia tay những đứa học trò nhỏ của tôi, những bé quê chăn bò, mót củi, thực thà, dễ thương.  Nhưng tôi chợt nghĩ tới niên học sắp đến. Chính phủ sẽ không trợ cấp học bổng cho học sinh đệ nhị cấp. Tôi rất cần tiền để mua sách vở, áo quần, giày vớ.  Tôi buồn rầu lên xe đạp rời núi Chúa.

       Vào năm Đệ Tam, vì không còn học bổng, trong niên khoá, tôi phải đi dạy kèm buổi tối.  Học trò của tôi là hai bé trai tiểu học, em của chị Thảo.  Cuộc sống của gia đình tôi khá hơn, vì mỗi tháng tôi kiếm thêm được ba trăm đồng.  Nhưng công việc học hành của tôi lại bận bịu hơn.  Tôi phải chăm chỉ hơn, vì lệnh động viên đã bắt đầu.  Chậm chân rớt lại đàng sau, có thể bị gọi đi lớp hạ sĩ quan.  Đối với vấn đề văn nghệ, văn gừng, thơ phú, tôi cũng thờ ơ.  Thời gian này tôi không có bạn gái, vì không có nữ sinh nào theo phân ban Toán (B).  Nhiều lần áo tôi rách bươm, không người vá giùm.

       Suốt mùa hè cuối năm Đệ Tam tôi kèm Toán, Lý, Hóa cho hai chị em con nhà giàu ở đường Cường-Để.  Cô chị tên là Tuyết Huệ đã có bồ là anh Tung, con trai ông trưởng ty Thú Y.  Anh Tung học ngang lớp với tôi.  Cô em tên là Thục Anh.  Hai chị em nhà này tính tình trái ngược hẳn nhau.  Tuyết Huệ lúc nào dáng dấp cũng đượm buồn.  Thục Anh thì vui tươi, nói cười như con sáo suốt ngày.  Thục Anh học nhanh hơn Tuyết Huệ.  Bạn bè tôi thấy tôi có hai cô học trò xinh đẹp, lại con nhà giàu, họ thường nói bóng gió để ghẹo tôi, “Mi đúng là chuột sa hũ nếp!”  Thuở đó, ở Hội-An, chuyện gia sư thương học trò, học trò thương gia sư, không có gì là lạ.  Đôi lần cuối giờ học, khi Thục Anh tiễn tôi ra cửa, tôi thấy có những cặp mắt tò mò của xóm giềng theo dõi.  Tôi cũng thấy những cái nguýt dài, đuôi mắt đắng cay, của chị em nhà bên kia đường đối diện.  Tôi thì cứ ngơ ngơ chẳng có ý thương ai.  Anh Vọi chỉ mong dạy cho xong bài, chiều về rủ anh Sếu Vườn hàng xóm là Doãn thiện Niệm, phóng xe đạp xuống đập Phước-Trạch câu cá.  Gần năm mươi năm sau (2006), cô học trò ngày xưa, từ Oakland (CA) gọi điện thoại cho anh gia sư đang ở Seattle (WA), giọng Thục Anh vẫn liến thoắng, trách móc, “Ngày đó anh bỏ Hội-An, anh lên Pleiku. Anh mê ’em Pleiku má đỏ môi hồng’ anh quên Hội-An”  Tôi chợt chạnh lòng, bâng khuâng…

       Rồi ba năm vất vả, bù đầu, bù cổ cũng qua.  Xong cái bằng Tú Tài 2, tôi nhờ anh bạn Hồ Hùng giới thiệu với người anh của anh ta là hiệu trưởng một trường bán công ở Điện-Bàn.  Ông ta thuê tôi dạy giờ môn Toán những lớp nhỏ đệ nhứt cấp.  Người ta nói rằng, nếu làm thày giáo, có thể xin hoãn dịch.  Thời gian này chiến tranh đã bắt đầu nhen nhúm ở đâu đó, xa xa…  Tôi mới mở hàng nghề gõ đầu trẻ được một tuần lễ thì bọn bạn cùng lớp tôi ùn ùn kéo nhau ra Huế thi vào Đại-Học Y-Khoa.  Học ngành này cũng được hoãn dịch.  Tôi bỏ dạy học, theo chân tụi bạn đâm đơn xin học nghề thày thuốc.  Tôi được chấm đủ điểm theo học lớp Dự-Bị Y-Khoa năm ấy.  Trước khi vào trường để học cái nghề bác sĩ “hái ra tiền”, tôi phải lo cho cái dạ dày trước đã. 

       Thế là, suốt một tháng mùa hè nắng cháy, tôi lang thang trong đường phố Cố Đô, thăm dò những nhà cần người kèm trẻ, dạy giờ.  Mỏi chân, tôi dừng bên dòng An-Cựu, vớt nước sông ấp lên mặt cho mát.  Người ta thường hát, “An-Cựu nắng đục mưa trong” Thực tế hình như không đúng như vậy?  Hè đó, tôi đã ngồi trên bực thang bên bờ, soi bóng mình trong nước An-Cựu biết bao lần.  Tôi thấy nước trong veo, nhìn rõ tận đáy.  Dưới đáy nước, những con cá bống thệ to bằng ngón chân cái, bò từ từ trên nền cát.  Con bống quẫy đuôi.  Cái quẫy đuôi tạo nên những quầng cát cuộn, lập lờ, lấp lánh.  Trên mặt sông, từng cụm lục bình hoa tím lững thững trôi.  Trong lòng sông, in hình một bầu trời xanh, mây trắng dật dờ.  Nhãn hai bên đường đã có lồng.  Phượng nở hoa, ve sầu hát, chim hót, bướm bay.  Mùa hè, dưới nắng, nước An-Cựu trong vắt.  Tôi ở trọ tại số 1 đường Báo-Quốc.  Chùa Báo-Quốc nằm trên đỉnh đồi. Nhà tôi trọ ở dưới chân đồi, bên kia đường.  Đêm đêm nghe kinh kệ, chuông chùa; đôi lúc tôi đã có ý giã từ cuộc đời ô trọc, đi tu, để tìm đường cứu nhân độ thế…

       Tháng 9 năm 1963, một người bạn tôi đi khám sức khoẻ ở Quân Y Viện Duy-Tân, Đà -Nẵng.  Anh ta lo hoàn tất hồ sơ sức khoẻ để theo học khóa Sĩ Quan Hải-Quân.  Tôi theo bạn vào thăm Quân Y Viện.  Khi tôi đang lang thang quanh khu nhận bệnh thì một chiếc xe Jeep tải thương ào tới.  Bên hông xe có treo cái bánh sơ-cua vẽ hình đầu cọp nhe nanh.  Xe đậu trước cửa phòng nhận bệnh.  Trên băng-ca, một thương binh, đầu, mình băng kín.  Chiếc Jeep thứ hai, có cần câu máy truyền tin, bám đuôi sau xe thứ nhứt.  Một sĩ quan nhảy xuống.  Anh ta ôm xốc người thương binh, chạy ào vào phòng nhận bệnh.  Anh trung úy Biệt Động Quân hối hả, “Cấp cứu! Xin quý vị cứu giùm người lính này cho tôi!  Thủ tục nhập viện sẽ làm sau!  Mau lên!  Quý vị làm ơn!”  Cả phòng nhận bệnh nhốn nháo.  Bác sĩ, y tá, nhân viên cứu cấp, vội vã chuyển người thương binh sang xe đẩy, đưa anh vào phòng mổ.  Anh trung úy không được phép vào phòng giải phẫu.  Anh bồn chồn, đi loanh quanh bên cái xe Jeep.  Miệng anh bập bập điếu thuốc lá, khói phà liên hồi.  Một sĩ quan khác, một thiếu úy, trên ngực có huy hiệu hình con rắn leo trên cây kiếm chúi đầu xuống (quân y) ngồi chờ trước vô-lăng xe tải thương, dáng băn khoăn.  Tôi mon men làm quen:

       – Thiếu úy! Đánh nhau ở đâu vậy, thiếu úy?

       – Trên Giàng!  Cậu có nghe Hiên, Giàng không?  Trên núi, sát biên giới Lào.

       – Đánh lớn lắm hả thiếu úy?   Tôi tò mò hỏi thêm.

       – Cũng không lớn lắm.  Đại đội chạm đại đội.  Có điều là đụng địch trong rừng già, tản thương chậm trễ, khó khăn…

       – Bên mình bị thiệt hại có nặng không thiếu úy?

       – Thường thôi!  Một chết, năm bị thương.  Chỉ một ca này là nặng.

       – Ông trung úy kia làm chức vụ gì vậy hả thiếu úy?  Sao ổng có vẻ lo lắng cho anh lính bị thương quá vậy?

       – Trung úy đại đội trưởng đó!  Chúng tôi sống chết có nhau.  Anh binh nhì bị thương, ông trung úy lo lắng cũng là chuyện thường ngày ở đây thôi!  Khi nào cậu vào lính, có dịp ra chiến trường, cậu sẽ thấm cái tình “huynh đệ chi binh…”

       Suốt mấy ngày sau, trong đầu tôi cứ ám ảnh với khúc phim tản thương đầy xúc cảm trong quân y viện.  Không bút nào tả nổi vẻ đẹp vừa oai dũng, vừa cảm động của một sĩ quan hai tay ẵm một thuộc cấp bị thương ào vào phòng nhận bệnh.  Câu “Xin quý vị cứu giùm… Quý vị làm ơn!” cứ văng vẳng bên tai tôi.  Tiếng cầu xin của người chỉ huy ấy thống thiết như tiếng của một người mẹ.  Hoạt cảnh ngắn ngủi hôm đó đã khiến đời tôi thay đổi.

       Tuần sau tôi ra Đà-Nẵng, hướng về cầu Trịnh minh Thế, tìm phòng Tuyển-Mộ Nhập- Ngũ Quân-Đoàn 1.  Tôi xin cái đơn gia nhập Khóa 20 /Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam.  Từ đấy, tôi vẫn mê thơ Nguyễn Bính, Thái Can, Nguyên Sa, nhưng tôi hút thuốc lá Lucky và bắt đầu đọc “L’Art De Commander” và “Tôn Ngô Binh Pháp”.  Cũng từ đấy, tuổi thanh niên của tôi không còn những lúc thấy lòng mình trống vắng nữa.  Có cả trăm con đường trước mặt dẫn vào tương lai, nhưng tôi đã quyết định chọn con đường “lên Hiên, lên Giàng” để phục vụ quê hương.

       Đầu năm 1966 tôi về lại Hội-An.  Thành phố đã đổi thay nhiều.  Dinh cơ của Ty Cảnh-Sát Tỉnh và Quận Hiếu-Nhơn đã được xây dựng trên ngõ vào giếng, sau nhà cô Cư.  Biết tìm đâu dấu tích con đường mòn ngày xưa anh Vọi đi gánh nước sớm mai?  Tìm đâu những tiếng réo lanh lảnh của bọn nữ yêu tinh đi tập thể dục mỗi sáng tinh mơ ngày lẻ?  Có chăng, không đổi, là dòng Thu-Bồn, chiều chiều sương giăng, buồn muốn chết, “Yên ba sầu sát nhân” – (Bạch cư Dị)

       Đi ngang qua trường Trần Quý Cáp, tôi chợt nhớ, năm nào, trong một giờ giảng văn, thày Huy có nói “Thày đoán rằng, sau này em Vương mộng Long và em Phùng Tiến sẽ thành công trong nghề viết văn…”  Thày ơi!  Không phải vậy đâu!  Thực tế đã không diễn ra như thày từng tiên đoán!  Dòng đời không lững lờ như mặt nước Thu-Bồn lúc xuân về.  Bằng cớ là, thày đã cưới một cô không phải chị Tô thị Vân.  Bạn bè tôi, mỗi đứa đã đi mỗi phương.  Anh Lê hữu Mục đã lên tới cấp trung sĩ nhứt, đồn trú mãi trong vùng 3.  Anh trung sĩ Trần ngọc Lợi đã có thêm hai đứa con.  Anh giáo viên Lê văn Bảy qua đời vì bạo bệnh.  Anh Ngô Rân vừa nối nghiệp ông cụ thân sinh, thành ông Cảnh-Sát.  Tôi, anh Vọi Fai-Foo của trường trung học Trần Quý Cáp, đã trở thành một thiếu úy đại đội trưởng của Tiểu đoàn 11/ Biệt Động Quân.

       Sau những lần chạm địch ở Tháp Bằng-An, Ải-Vân, Trà-Đình, Bà-Rén, Hương-An, tôi theo xe tải thương tới Quân Y Viện Duy-Tân, gởi gấm những thuộc cấp bị thương của mình cho nhân viên phòng nhận bệnh.  Lâu dần, tôi thành người quen của phòng nhận bệnh.  Trong thời gian gần nửa năm, tôi đã hành quân qua nhiều thôn làng hẻo lánh triền sơn Trà-Kiệu, Thăng- Bình.  Tuy tôi chưa có dịp lên Hiên, lên Giàng, nhưng tôi đã biết thế nào là,”cái tình huynh đệ chi binh”.  Tôi đã hiểu lý do tại sao ngày đó, ông trung úy lo lắng bồn chồn, khi anh binh nhì thân mình đầy máu được đưa vào phòng mổ.  Cái tình huynh đệ chi binh ấy không bút giấy nào mô tả rõ ràng được. Chỉ biết rằng, thiếu nó, chúng tôi không sống được.  Cái tình ấy nặng và sâu không có gì so sánh nổi.  Nó là sợi giây vô hình cột buộc chúng tôi khắng khít với nhau, thượng cấp và thuộc cấp, thày và trò, anh và em.  Cái tình ấy không thể dùng tiền mà mua.  Không có nó, chúng tôi không còn là quân nhân…

       (Để nhớ về bạn bè của tôi ở trung học Trần Quý Cáp Hội-An, và những thuộc cấp của tôi trong binh chủng BĐQ QLVNCH).

Seattle, tháng 11 năm 2006

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 18 Aug 2023

Post by Sơn râu 3 Sep 2023

Kỳ 16

Hình như số tôi không có diễm phúc được ở gần vợ tôi vào những ngày nàng sinh con để có thể vuốt ve an ủi nàng những lúc nàng thấy cần tôi nhất.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhất thì tôi đang lặn lội trong rừng Plei Trap, Pleiku.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhì thì tôi bận khai thông Quốc Lộ 14 nối Pleiku với Kon Tum.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ ba cũng là ngày tôi suýt chết trong một trận đánh vô cùng ác liệt đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711. Trận chiến này đã cướp đi hàng trăm sinh mạng của cả hai bên tham chiến.

o O o

Vĩnh biệt

Cao Nguyên…

Sau khi Liên Tỉnh Lộ 8B được khai thông thì Ðại tá Từ Vấn thuyên chuyển, nhường chức Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cho Trung tá Hoàng Kim Thanh.

Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân tiếp tục tăng phái cho Tiểu Khu Quảng-Ðức.

Cuối năm 1974, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn ra đi, Quân Ðoàn II đặt dưới quyền của Thiếu tướng Phạm Văn Phú.

Giữa tháng Hai năm 1974 tôi có dịp ghé Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II.

Ông Trịnh Tiếu đã mang cấp bậc đại tá từ vài tháng trước, người phụ tá cho ông Tiếu là Thiếu tá Hồ cũng đã lên trung tá. Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II hiện thời là Ðại tá Lê Khắc Lý.

Năm 1971 Ðại tá Lê Khắc Lý đã là Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2, tôi là một sĩ quan tham mưu dưới quyền ông.

Tháng 8 năm 1971, trong buổi họp từ biệt Biệt Ðộng Quân Vùng 2 để theo học lớp Cao Ðẳng Quốc Phòng, trước mặt các sĩ quan tham mưu của Biệt Ðộng Quân Vùng 2, Ðại tá Lê Khắc Lý đã nhắn nhủ tôi một câu mà tôi cứ nhớ hoài:

“Trước khi từ biệt, tôi chỉ khuyên Ðại úy Long một điều là, trên đời này muốn thành công phải biết nhún nhường. Không phải cấp chỉ huy nào cũng thích cái tính khí nông nổi và cương trực của Long đâu!”

Sau gần bốn năm cách xa, gặp lại người chỉ huy cũ tôi vui lắm. Tôi đã ngồi tâm sự với ông Lý gần nửa giờ rồi cáo lui. Trước lúc chia tay, Ðại tá Lý hỏi tôi,

– Sao Long không xin thuyên chuyển đi vùng khác? Cứ bám vào cái đất khỉ ho, cò gáy này mãi vậy?

Tôi trả lời,

– Tôi tính về Liên Ðoàn 6 với ông Tây, nhưng vì ông Tất cố tình lưu giữ nên tôi không đi nữa.

Ông Lý xua tay,

– Mình lo cái thân mình trước, đừng nể nang ai cả! Nếu có dịp đi khỏi Vùng 2 thì chớ bỏ qua! Ðừng lưu luyến cái xứ này!

Tôi không rõ khi nói ra câu đó Ðại tá Lý có ý gì, nhưng tôi cũng thấy lo.

Tôi đã phục vụ ở đơn vị tác chiến của Vùng 2 một thời gian gần mười năm.

Vì thế, tôi có dư điều kiện để xin đổi về Vùng 3, về các quân trường, về Bộ Tổng Tham Mưu hay về canh gác các Phủ, các Bộ ở Sài-Gòn.

Tôi cũng đã biết rõ, trong tương lai, tình hình Cao Nguyên sẽ càng ngày càng nguy kịch, nhưng tôi không nỡ bỏ Cao Nguyên mà đi.

Thế rồi, chưa tới một tháng sau ngày tôi ghé thăm quân đoàn thì Việt-Cộng đánh chiếm Ban Mê Thuột.

Trước khi Ban Mê Thuột bị tấn công, tôi đã xin đem quân về tử thủ thành phố này nhưng không được chấp thuận.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột bị tràn ngập, gia đình tôi và gia đình binh sĩ dưới quyền tôi rơi vào tay địch.

Hôm sau tôi tình nguyện đem quân về tái chiếm thành phố này, nhưng lời cầu xin của tôi bị gác ngoài tai.

Ban Mê Thuột thất thủ, kéo theo sự sụp đổ của Quân Ðoàn II, khiến cho hằng chục ngàn quân, dân của Cao Nguyên phải bỏ mạng một cách thật là oan uổng trên Liên Tỉnh Lộ 7B.

Ngày 15 tháng 3 năm 1975 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã bỏ chạy tới Nha-Trang.

Vậy mà gần nửa tháng sau tôi vẫn còn tả xung, hữu đột ở vùng biên giới Việt Miên, cách xa tỉnh lỵ Quảng-Ðức gần 30 cây số.

Trong cơn hoảng loạn cùng cực của Vùng 2, ông trung tá liên đoàn trưởng bị thương vừa lên máy bay rời vùng ngày hôm trước, thì hôm sau ông trung tá liên đoàn phó cũng đào ngũ.

Cuối cùng, tôi là người phải đứng ra đảm nhận vai trò chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, đơn vị cuối cùng còn tồn tại của Cao Nguyên.

Sau gần nửa tháng lui binh, vừa đói rét, vừa chiến đấu, ngày 6 tháng 4 năm 1975 chúng tôi được Phi Ðoàn 237 Trực Thăng của Quân Khu 3 bốc về Long Khánh, đây cũng là ngày tôi vĩnh biệt Cao Nguyên.

Chiếc trực thăng Chinook nặng nề cất mình lên cao, lượn một vòng, rồi bay thẳng về hướng biển.

Ngồi trong lòng con tàu, tôi dõi mắt nhìn qua khung cửa mà thấy tim mình nhói đau.

Dưới kia, Quốc Lộ 20 ngoằn ngoèo uốn khúc qua Ðèo Chuối…

Ðèo Chuối nằm vắt ngang rặng núi cuối cùng của Cao Nguyên Trung Phần.

Bên kia núi là lãnh thổ của Vùng 3 Chiến Thuật.

Vậy là, chỉ hai năm sau ngày đình chiến, Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã không còn….

VML –

Seattle ngày 15 tháng 4 năm 2023

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3 Aug 2023

Post by Sơn râu 3 Sep 2023

Kỳ 15

Phái đoàn gồm có một đại tá, một trung tá và bốn thiếu tá. Mặt người nào cũng đăm chiêu, đằng đằng sát khí.

Tôi là thuyết trình viên, Trung úy Trần Dân Chủ, làm người chỉ bảng và cung cấp tang vật.

Trong mười phút, tôi tóm lược tình hình bạn địch cho phái đoàn, rồi đi vào chi tiết diễn tiến trận đánh ác liệt kéo dài suốt hai ngày, một đêm cho phái đoàn nghe. Tôi cũng đưa cho phái đoàn xem bức ảnh do Trung úy Chủ chụp được là một núi súng đủ loại của Việt-Cộng đã bị tịch thu ngày 14 tháng 4.

Sau đó tôi chỉ cho phái đoàn tận mắt quan sát một thủ pháo chứa hơi độc, một cái bao nhựa phòng hơi độc kèm theo hai ve thuốc giải độc mà địch đã bỏ lại trên trận địa.

Ngoài một vài quân nhân của Ðại Ðội 2/82 và 3/82 đứng ra kể lại những gì họ tham dự và chứng kiến, tôi cho phái đoàn tiếp xúc trực tiếp với hai nhân chứng đặc biệt là vợ chồng người lao công đào binh đã bị Việt-Cộng bắt sau khi tràn ngập 711.

Vợ chồng anh này đã bị Việt-Cộng trưng dụng để khiêng xác cán binh Cộng-Sản tử trận suốt một ngày một đêm.

Xác Việt-Cộng chết được đồng bọn kéo tới chân dốc Ðồi Tử Chiến, vợ chồng anh lao công này chỉ việc chất những cái xác đó lên xe. Ước tính họ đã chuyển vận trên 200 xác địch.

Tới khi máy bay lên vùng bắn phá thì họ vội vàng dắt nhau chạy trốn vào rừng rồi tìm đường về Pleime.

Hai ông đại tá và trung tá luân phiên đưa ra những thắc mắc và thẩm vấn nhân chứng, bốn ông thiếu tá thì chỉ ngồi ghi chép mà không có ý kiến gì.

Sau thời gian gần một giờ tra vấn, hạch sách, chụp hình, chụp ảnh, phái đoàn đã đóng cửa phòng hội để họp kín.

Chừng mười lăm phút sau, đoàn thanh tra mời chúng tôi vào phòng để thông báo kết quả thanh tra.

Ông trung tá đứng giữa phòng thuyết trình lớn tiếng dõng dạc tuyên bố:

– Buổi thanh tra tới đây là chấm dứt. Chúng tôi đã có đủ bằng cớ để trình cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng về những gì đã xảy ra trong trận chiến ác liệt này. Xin cám ơn Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và toàn thể anh em đã có mặt ở đây ngày hôm nay.

Ông trung tá vừa dứt lời thì ông đại tá già, trưởng đoàn từ từ đứng dậy, hắng giọng một cái rồi chậm rãi từng tiếng một,

– Thực tình mà nói, giờ này quả là rất may mắn cho quân đội ta, khi trước mắt chúng ta còn có một vị tiểu đoàn trưởng xuất chúng là Thiếu tá Vương Mộng Long. Tôi xin hết lòng khen ngợi anh Long, đồng thời cũng khen ngợi lòng quyết chiến, quyết thắng của các anh em chiến sĩ trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Các anh đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng Quân Ðội Việt-Nam Cộng Hòa là một đạo quân vô cùng dũng cảm và thiện chiến. Về tới Sài-Gòn, tôi sẽ tường trình đầy đủ chi tiết trận đánh này cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, chắc chắn đại tướng sẽ gửi lời khen ngợi tới anh em.

Vài phút sau đó, tôi đích thân tiễn chân phái đoàn ra bãi trực thăng. Trước khi máy bay cất cánh, tôi đã nói với ông đại tá già một câu thật ngắn,

– Thưa Ðại tá, với tình hình hiện nay, tôi không biết có còn sống sót để có thể nhìn thấy quý vị lần nữa hay không. Tôi cám ơn phái đoàn thanh tra đã chịu khó lắng nghe và sáng suốt đánh giá những gì chúng tôi vừa trải qua. Chúc quý vị thượng lộ bình an.

Mười ngày sau tôi nhận được thông báo từ Thiếu tá Nguyễn Giáp Trưởng Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2:

“Long ơi! Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được Bộ Tổng Tham Mưu tuyên dương công trạng trước quân đội. Thiếu tá Vương Mộng Long và toàn thể quân nhân trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 đều được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu”

Tôi còn nhận được tin báo rằng những quân nhân Thiết Giáp, Công Binh, Pháo Binh và những sĩ quan thực tập có mặt trong trận đánh này cũng được tưởng thưởng.

Hoàn tất công việc đón tiếp phái đoàn thanh tra của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi bàn giao Căn Cứ Hỏa Lực 711 cho Trung Ðoàn 42 Bộ Binh rồi rút về Pleime.

Tiểu Ðoàn 2/42 của Ðại úy Nguyễn Văn Chấn cũng di chuyển vào Pleime và tiếp tục tăng phái cho tôi.

Sau khi rút về Pleime ít ngày thì Thiếu úy Phạm Văn Tô Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/82 đã đào ngũ trong dịp nghỉ phép thường niên.

Tôi nghe mấy anh lính có quê ở Long-An cũng được về phép thăm nhà, sau khi trở lại đơn vị đã báo cáo rằng ông Phạm Văn Tô hiện thời đã đổi họ tên và trở thành một người lính Ðịa Phương Quân gác cầu Bến Lức.

Thời gian gần đây, chuyện lính đào ngũ từ đơn vị này rồi đầu quân vào đơn vị khác cũng không còn là lạ. Tôi không có ý chê trách sự lựa chọn của Thiếu úy Tô. Biết đâu đã có nguyên nhân sâu xa nào đó thúc đẩy Phạm Văn Tô chọn nhiệm vụ gác cầu của một binh nhì Ðịa Phương Quân, thay vì làm một thiếu úy đại đội trưởng tác chiến Biệt Ðộng Quân?

Tôi chỉ biết rằng, trong thời gian phục vụ dưới quyền tôi, chú Tô đã thi hành tất cả những gì mà tôi yêu cầu chú ấy làm, vì thế, tôi không muốn tìm hiểu xem vì sao Biệt Ðộng Quân Phạm Văn Tô đã rời xa đồng ngũ mà không một lời từ biệt.

Từ sau trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 tháng 4 năm 1974 thì Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản bắt đầu gọi Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bằng cái tên “Thằng Hai Nâu”

Tin tức tình báo cũng cho tôi biết các đơn vị trực thuộc F320A Cộng-Sản đã được lệnh tránh đụng độ với “Thằng Hai Nâu” vì thế, lợi dụng thời gian tạm thời yên tĩnh này, tôi cấp tốc tái tổ chức lại đơn vị.

Hai ông Chuẩn úy Trần Quảng và Trương Anh Kiệt được điều động đi nhận nhiệm vụ mới.

Chuẩn úy Trần Quảng trở thành Sĩ quan Phụ tá Ban 3 Liên Ðoàn 24.

Chuẩn úy Trương Anh Kiệt theo học lớp quản trị nhân viên.

Người mang máy truyền tin cho tôi giờ đây là Binh 2 Y Don Nier thay thế cho Hạ sĩ Ðiêu Lon.

Binh 2 Y Don Nier trước đây là hiệu thính viên của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến.

Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm được thăng cấp thiếu úy và được đề cử theo học khóa đào tạo Sĩ Quan Truyền Tin Binh Ðoàn.

Trung đội Trinh Sát 82 đã bị tôi giải tán. Trung đội Viễn Thám 82 được thành lập.

Thiếu úy Trần Văn Phước, Sĩ quan Ban 2 của đơn vị, kiêm nhiệm chức vụ chỉ huy Trung Ðội Viễn Thám 82 với quân số 18 viễn thám viên.

Dàn đại đội trưởng 82 hiện nay gồm có:

Ðại đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ 82 là Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng.

Ðại đội trưởng 182 là Thiếu úy Lê Ðình Khay mới bổ sung.

Ðại đội trưởng 282 là Trung úy Nguyễn Hữu Anh từ Tiểu Ðoàn 11 chuyển sang.

Ðại đội trưởng 382 là Thiếu úy Phạm Ðại Việt.

Ðại đội trưởng 482 là Thiếu úy Phạm Văn Thủy.

Trong khi tôi bận bịu công tác huấn luyện đơn vị và thiết trí công sự phòng thủ thì những tin tức không vui tới tấp bay về. Tôi biết:

– Ngày 16 tháng 5 năm 1974 Chi Khu Dak Pek và Căn Cứ Biên Phòng Dak Pek rơi vào tay địch, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di đã tự sát ngay sau khi bị bắt.

– Hai tháng sau, ngày 16 tháng 7 năm 1974 Tiền Ðồn 5 trong vùng Kon Sơm Luk thất thủ. Ðại úy Dương Ðình Chính, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 1 Trung Ðoàn 44 Bộ Binh bị chết mất xác.

Ðại úy Dương Ðình Chính là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi.

Thời gian này, cứ cách vài ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại bay vào Pleime thăm tôi một lần.

Tướng Niệm khuyến cáo tôi rằng, chắc chắn mục tiêu sắp tới của Sư Ðoàn 320A Cộng Sản sẽ là Căn Cứ Biên Phòng Pleime.

Vì thế, tôi không dám rời xa đơn vị một ngày nào.

Dù có việc bận phải đi Pleiku giải quyết, tôi cũng cố trở về trong ngày, không dám bỏ đồn, qua đêm.

Tôi đã tự đặt mình trong tình trạng báo động một cách thường xuyên.

Tình hình chợt xoay chuyển nhanh, mặt trận duyên hải trở nên sôi động; Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cấp tốc rời Pleiku để di chuyển xuống Bình Ðịnh; Căn Cứ Hỏa Lực 711 được giao lại cho Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Căn Cứ Hỏa Lực 711 mới này vừa được xây dựng trên cao điểm 601, nằm cách Plei Ngol Ho chừng bốn trăm mét về hướng Bắc. Căn Cứ 711 cũ và  Căn Cứ Plei Ngol Ho đều bị san bằng, không còn dấu tích.

Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đã thăng cấp đại tá, còn Trung tá Chính thì thuyên chuyển đi đơn vị khác.

Người thay thế Trung tá Chính để giữ chức vụ Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là Trung tá Hoàng Kim Thanh. Trung tá Hoàng Kim Thanh tốt nghiệp khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức.

Ngày tôi còn là một học sinh trung học thì anh Thanh đã là Ðại úy Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân đồn trú ngoài Ðà Nẵng. Rồi Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân nhanh chóng cải danh thành Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Tháng 2 năm 1966 tôi ra trường Võ Bị và học xong khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy, tới trình diện Tiểu Ðoàn 11 thì anh Thanh đã thuyên chuyển sang bộ binh, đảm nhận chức vụ Trung đoàn phó Trung Ðoàn 42 Biệt Lập của Biệt Khu 24 một thời gian rồi đi làm Quận trưởng Quận Lý Tín tỉnh Quảng-Tín.

Trung tá Hoàng Kim Thanh vừa mới trở lại Biệt Ðộng Quân vài tháng gần đây thôi.

Như vậy, sau khi Trung Ðoàn 42 Bộ Binh về Bình Ðịnh thì lần đầu tiên toàn bộ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân quy tụ trong vùng Tây Nam Pleiku.

Trong Pleime có Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, còn phía Bắc Pleime thì được Tiểu Ðoàn 63 và Tiểu Ðoàn 81 trấn giữ.

Tiểu Ðoàn 63 nằm chung với Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 trong Căn Cứ Hỏa Lực 711. Thiếu tá Trần Ðình Ðàng khóa 15 Võ Bị đảm nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân.

Tiểu Ðoàn 81 nằm dưới chân Ðồi Tử Chiến hướng Nam của 711.

Người tạm thời giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân khóa 15 Thủ Ðức. Ông Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân chính là người mà tôi đã thay thế vài tháng trước đây.

Tôi không rõ Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 đi đâu mà Thiếu tá Lân lại tạm thời đảm đương công tác chỉ huy đơn vị này.

Ngày 27 tháng 7 năm 1974 Việt-Cộng bắt đầu khởi động chiến dịch xóa sổ Căn Cứ Biên Phòng Pleime.

Ngay ngày đầu trận chiến, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị đánh tan, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng chặt đầu, Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng bắt làm tù binh, các đơn vị tăng viện cho Pleime đều bị địch cầm chân hay bị đẩy lui.

Thế là, chưa đầy bốn tháng sau ngày tử chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản lại gặp mặt nhau.

Cũng vẫn tình trạng một chống với mười. Lần này trận thư hùng đã kéo dài tới 33 đêm ngày.

Trong trận Pleime năm 1974 tôi đã chứng tỏ cho Ðại tá Kim Tuấn, Tư lệnh Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản thấy rằng:

“Ở Tây Nguyên, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là vô địch!”

Diễn tiến của trận Pleime năm 1974 đã được tôi trình bày đầy đủ trong tác phẩm “Trận Pleime năm 1974”

Trưa 15 tháng 9 năm 1974 tôi đã dẫn đầu đoàn quân hiên ngang tiến vào Sân Vận Ðộng Pleiku trong một rừng cờ hoa và biểu ngữ.

Hôm đó toàn dân thành phố Pleiku đã đình công bãi thị để hân hoan chào đón Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa chiến thắng trở về.

Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cũng là chiến thắng sau cùng của quân ta trên Cao Nguyên Vùng 2.

Sau khi bàn giao Pleime cho một đơn vị bạn, tôi đem quân đi khai thông Liên Tỉnh Lộ 8B cho tỉnh Quảng-Ðức.

Trên đường đi giải vây cho Quảng-Ðức, tôi đã dừng quân ở Ban Mê Thuột một đêm. Dịp này tôi đã được gặp mặt vợ con vài tiếng đồng hồ.

Rồi tôi được nghe vợ tôi kể chuyện nàng sinh đứa con gái thứ ba vất vả như thế nào.

Ở Ban Mê Thuột, từ sáng 15 tháng 4, vợ tôi đã chuyển bụng, nhưng mẹ vợ tôi đi vắng nên chần chờ mãi bố vợ tôi mới chở vợ tôi tới bảo sanh viện.

Hai lần trước, vợ tôi sinh con rất nhanh, lần này lại quá khó khăn.

Bà mụ tỏ ra rất lo lắng, vì đứa bé này thật là khó tính; nó cứ đòi ra bằng mông.

Trong thời gian gần ba tiếng đồng hồ, bà mụ cứ cố gắng xoa xoa, nắn nắn cái bụng bầu để xoay cho cái thai đi theo chiều tự nhiên.

Cuối cùng cháu bé cũng chịu nghe lời bà mụ, nó xoay mình trở lại, rồi ra đời, mẹ tròn con vuông.

Vợ tôi sinh em bé xong rồi bà mẹ vợ tôi mới kịp về trông nom con gái.

Tới xế trưa, bố vợ tôi lại vào thăm cháu ngoại, rồi buột miệng nói rằng,

– Tao gọi điện thoại cho Biệt Ðộng Quân để báo cho thằng Long hay rằng vợ nó vừa đẻ con gái thì tụi Biệt Ðộng Quân trả lời rằng tiểu đoàn của thằng Long vừa bị Việt-Cộng tấn công tràn ngập, mất liên lạc rồi. Khi nào có tin tức mới thì chúng nó sẽ cho biết.

Vợ tôi nghe được câu này thì hai mắt tối sầm, không còn cảm biết gì nữa.

Sau khi được cạo gió, xức dầu, tỉnh lại, nàng nghe tiếng bà mẹ trách ông bố,

– Cái ông này! Chuyện như thế mà ông lại nói cho nó biết, làm cho nó bị xỉu! Thôi! Nó đã tỉnh rồi, ông đừng nhắc tới chuyện đó nữa!

Nghe chuyện kể, tôi thấy, vào ngày đơn vị tôi bị địch tràn ngập, phải chăng, nhờ thần giao cách cảm mà con tôi đã biết bố nó đang lâm nguy nên nó không chịu yên tâm chào đời một cách bình thường?