Đồi Delta

February 22, 2017

Mũ đỏ Trương Văn Út

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Cuộc hành quân Toàn Thắng do Trung Tướng Đổ Cao Trí sắp bước vào giai đoạn kết thúc, Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù (LĐ1ND) đã kiểm soát toàn bộ tỉnh Kampong Cham, Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù (LĐ3ND) chiếm tòan bộ phía Đông của Cambodia gồm các cứ điểm trọng yếu như: Snoul, Memot, Chup, Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (LĐ2ND) làm lực lượng trừ bị trách nhiệm dọc theo biên giới Miên – Việt. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH-LĐ2ND) đang trú đóng tại trại Biên Phòng Thiện Ngôn vốn là căn cứ của Lực Luợng Đặc Biệt về phía Tây của tỉnh lỵ Tây Ninh cách biên giới khoảng 10 cây số (Km). Toàn bộ nhân sự lãnh đạo Cục R và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời cùng đám cán binh thoát chết của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phải tháo chạy thục mạng lẫn trốn về vùng biên giới Việt – Miên – Lào khiến Tướng Đổ Cao Trí không thực hiện được quyết tâm: “phen này ta nhất quyết phải bắt được thằng Mười Trí” !Những ngày cuối năm Tân Hợi (1971), Đại Đội 2Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND) được lệnh triệt xuất ra khỏi vùng biên giới sau một tháng dầm mình dưới những đầm lầy đầy dẫy đĩa vắt muỗi mòng … và được bốc về Căn Cứ Hành Quân BCH-LĐ2ND chuẩn bị đón Tết Nhâm Tý (1972) dưới hầm trú ẩn trong trại LLĐB Biên Phòng Thiện Ngôn. Những ngày cuối tháng Hai tuy không lạnh lắm, nhưng sương mù buổi sáng giăng khắp nơi như bao phủ cả trại lính chìm vào không gian của những ngày cuối Đông lành lạnh còn vướng víu chưa nỡ sang Xuân…! Chợt có tiếng hát từ radio của lính:

Đợi hai ba năm nữa, quê mình thôi khói lửa,
mời Xuân đến với tôi, giờ còn nặng hai vai,
thân tha hương hồ hải, hỏi Xuân có gì vui ?
hỏi Xuân có gì vui, Xuân làm dáng cho đời,
đẹp lòng giây phút thôi, ôi đất nước xa xôi,
Xuân đi làm sao tới, dặm dài xin chớ lui…!
(Tôi Chưa Có Mùa Xuân – Châu Kỳ )

Tôi chạnh tình nhớ đến khung cảnh sinh hoạt của những người thân yêu trong gia đình: giờ này chắc Mẹ và Chị đang ngồi canh bên bếp lửa hồng với hai nồi bánh chưng và bánh tét, Cha và Em đang chùi mấy bộ lư đồng, quét dọn bàn thờ, treo vài ba câu đối đỏ, cắm một vài cành mai… và thành tâm lâm râm khấn vái, cầu nguyện với niềm hy vọng mong manh: “thằng Út có thể sẽ về ăn tết năm nay”…? Trong cơn hồi tưởng miên mang tôi tự thưởng hương vị tất niên:

春 園
山泉兩處晚
花柳一園春
還持千日醉
共作百年人

Xuân Viên
Sơn tuyền lưỡng xứ vãn,
Hoa liễu nhất viên xuân.
Hoàn trì thiên nhật tuý,
Cộng tác bách niên nhân.
(Vương Bột –
王勃)

Hay Thơ Xuân với Thiền sư Việt:

Tựu khai
Đào trung xuân mãn diện
Xuân trung đào tựu khai
Hà tất quân vị báo
Vô đào xuân bất lai.
(MĐTTA)

Và:

Rừng núi thương Xuân bèn trổ lá
Thị thành nhớ Tết cố chưng bông.

Trong căn hầm trú ẩn chỉ rộng khoảng năm sáu thước vuông, một cái bàn dã chiến cùng bốn thùng gỗ pháo binh làm ghế ngồi. Khi tôi và Bác Sĩ Hiệp đến thì đã có mặt Trung Tá Nguyễn Văn Tường TĐT/TĐ2PB ngồi sẵn đó rồi. Trên bàn là một chai Remy Martelle, một cái bánh chưng, một đĩa giò thủ cùng với dưa hành củ kiệu…Thường chúng tôi gặp nhau hằng ngày qua máy PRC25 hoặc trong những buổi họp hành quân kể cả những khi không có gì để nói đến trận mạc chiến chinh. Thiếu Tá Trần Đăng Khôi mở lời :
– Theo tôi được biết Lữ Đoàn sẽ được lệnh về hậu cứ vài ngày tới, để nghĩ dưỡng quân không biết được bao lâu, sau đó sẽ tăng phái cho Quân Đoàn II, vì Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn22Bộ Binh đang bị áp lực nặng nề ở Tân Cảnh – Dakto . Tôi chỉ biết có thế ! Còn về phần tôi có lẽ được thuyên chuyển về đơn vị khác.
Trung Tá Tường cười cười nâng cốc rượu và chợt nói:
– Chúc mừng !!!
À ,…thì ra hai “ngài” được thăng quan tiến chức. Thiếu Tá Khôi về làm Tiểu Đoàn Trưởng – Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐT/TĐ7ND), Trung Tá Tường lên làm Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn (CHP/BCHPBS Đ) cả hai sẽ được thăng cấp.

Quốc Lộ 14 Kontum – Dakto:

Tôi leo lên chiếc trực thăng (Slick) thứ tư, một trong 15 chiếc trực thăng chở quân của Phi Đoàn 229 Lạc Long đang quạt cánh nằm chờ dài trên quốc lộ 14 phía trước căn cứ Võ Định – Bộ Chỉ Huy Hành Quân của LĐ2ND…. Lố nhố trong 3 Slick đầu là ba toán Viễn Thám, Slick thứ tư có tôi, 3 hiệu thính viên và 3 “thầy trò” Thiếu Úy Chu Văn Chấn tiền sát viên Pháo Binh của TĐ1PBND, Slick thứ năm là toàn bộ cố vấn Mỹ và phóng viên chiến trường Cao Sơn của Phòng Tâm Lý Chiến Quân Đoàn II, những Slick còn lại chở các binh sĩ Trung Đội Trinh Sát Dù… Trên không là chiếc C&C của Đại Úy Phạm Công Cẩn (Công Cẩn Giang Đông “tân biên” – K21VBĐL) cùng với Đại Tá Trần Quốc Lịch Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (LĐT/LĐIIND), Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành (K19VBĐL) Sĩ Quan phụ tá hành quân Lữ Đoàn, Thiếu Tá Bùi Đức Lạc – Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhẩy Dù (TĐT/TĐ1PBND) và các hiệu thính viên.Phao binh NHAY DU
Tiếng cánh quạt quay nhanh bắt đầu tăng tốc độ nâng cao thân tàu lên khỏi con đường tráng nhựa mang tên Quốc Lộ 14, con đường nối liến từ ngã ba biên giới Việt – Miên – Lào (Benhet) về Kontum đến Pleiku đã trãi đầy máu và nước mắt của biết bao nhiêu Quân – Dân – Cán – Chính vùng Tam Biên với sức cường tập háo sát của Sư Đoàn 320A chính quy Cộng Sản Bắc Việt (SĐ320A CSBV) từ vùng Hạ Lào xâm nhập vào nơi đây sau “Mặt Trận Đường 9 Nam Lào” (Hành Quân Lam Sơn 719 Việt Nam Cộng Hoà), được tăng cường thêm 2 Trung Đoàn Tank T54, 1 Trung Đoàn Phòng Không hạng nặng cùng với sự hổ trợ của Sư Đoàn 10 Cơ Động Địa Phương (SĐ10CĐĐP).Trên tầng số liên lạc tôi gọi thiếu tá Thành:
– Thành Thái…Út Bạch Lan.
– Nghe…
– Thăng thiên…
Từ bãi bốc (PZ) đến bãi thả (LZ) mất hai phút bay. Trong hai phút ngắn ngủi này mà bao nhiêu người phải vận dụng tất cả trí lực để chú tâm vào nhiệm vụ của mình. Người quan trọng nhất phải nói là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc – Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1PBND người đang phối hợp điều động cả lực lượng Pháo Binh, phi yểm của Việt và Mỹ cho việc đổ quân, chỉ một sơ xuất nhỏ tính toán vài giây đồng hồ thì sẽ gây ra không biết bao nhiêu hậu quả không lường trước được… Với Kỹ Thuật “GAP” (Ground and Air Preparation) là dọn bãi đáp an toàn cho chiến thuật Trực Thăng Vận, chắc có lẽ chỉ có Pháo Binh Nhẩy Dù là thông thạo và nhiều kinh nghiệm nhất vì đã phối hợp với Không Kỵ Hoa Kỳ (1st Cavalry Division) nhiều năm rồi.
– Hồng Vân, Huyền Vân, Thanh Vân…11…?
– Nghe đích thân.
– 10,9,8,7,6,5,4,3,2,1…Out…

Ám số 11 là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc TĐT/TĐ1PBND, Hồng Vân là Đại Úy Tựu (A1), Huyền Vân là Đại Úy Thái (B1), Thanh Vân là Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc (C1) ba sĩ quan Pháo Đội Trưởng của TĐ1PBND. Khi tôi báo “Thăng Thiên” và dự trù sẽ đến LZ hai phút thì Th/T Lạc cho lệnh 3 Pháo Đội cùng lúc khai hỏa TOT(Time On Target) tập trung ngay vào mục tiêu, trong khi chúng tôi đang trên đường bay tới mục tiêu… Chúng ta hãy thử làm con tính nhẫm: 3 Pháo Đội có tổng cộng 18 khẩu pháo 105ly, mỗi khẩu tác xạ 20 quả đạn vào cùng một điểm, trong vòng một vài phút thì sức tàn phá huỷ diệt có khác gì phi cơ thả bom chiến lược B-52 ?
Tôi tuy đang ngồi trên chiếc Slick thứ tư, nhưng thân luôn chồm lên phòng lái để theo dõi phía trước, nghe trong máy của Th/U Chấn pháo binh đếm tiếng điểm của Th/T Lạc …2…1…Out, vừa nghe chữ “Out” và một trái khói cuối cùng bung nổ ngay trên đỉnh đồi 1049 (có tên là đồi Delta) nơi mà tôi phải dẫn quân đáp xuống như đại bàng điểm sơn, bốn chiếc Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long lao xuống phóng hàng loạt Rocket ngay vào đám khói trắng đang bung tỏa rộng lên không và trong tít tắt giây đồng hồ thì chiếc Slick thứ nhất với toán Viễn Thám 1 cũng vội đáp xuống trên đỉnh đồi. Nhưng mọi việc không xảy ra như dự tính để đưa đến những biến chuyển dở khóc dở cười và sau này ký giả Cao Sơn của Quân Đoàn II đã viết bài dệt gấm thêu hoa, thăng thiên gần như huyền thoại …! Slick thứ nhất vào tới mục tiêu trên cao độ 50ft thì đột ngột quay về phía phải 90 độ, hạ thấp độ cao và biến mất dưới thung lũng rừng núi chập chùng, Slick thứ hai, rồi Slick thứ ba… Tôi lao lên chỉ cho Pilot chính bên trái và hét lớn: “ xuống… xuống… xuống ngay cho tôi…”! Chiếc trực thăng xà xuống ngay đỉnh đồi chừng 5ft, chúng tôi đồng loạt phóng nhanh xuống mặt đất, trực thăng bốc lên bay khỏi đỉnh đồi, tôi chụp máy gọi ngay cho Thành Thái:
– Tôi bị phục kích độn thổ, yêu cầu phải cho tất cả con cái của tôi đoàn tụ…hết.
Trong khi đó chân tôi đang đứng trên miệng hầm, dưới hầm là một nòng đại liên phòng không 12ly7 đang quơ qua quơ lại… Trung sĩ nhất Nguyễn Văn Minh trưởng ban truyền tin của Đại Đội xô ngang vai tôi một cái thật mạnh, tôi bật ngã lăng lòm còm trên nấp hầm, Trung Úy Buhdar cố vấn Mỹ đang ở bên cạnh rút vội khẩu Colt 45 không kịp kéo cơ bẩm cho đạn lên nòng mà cứ hô hoán “bố cu vi ci” luôn miệng… Tôi lấy lại bình tỉnh và la lớn: “lựu đạn”… Vì trong tình trạng quá bất ngờ lại ngạc nhiên, quýnh quáng nên Thiếu Úy Chấn tháo trái lựu đạn từ giây ba chạt, cắn rút chốt, quăng ngay xuống hầm chờ cho nó nổ, thì ngay tức khắc trái lựu đạn lại bị Việt Cộng từ dưới hầm ném trả trở lên phát nổ tung… Thầy trò chúng tôi nằm rạp xuống, bò lết bò càng, sờ bụng, sờ đầu, lần mò xem tay chân có mất cái nào không… ? May quá cả đám không hề chi như phép lạ, hú hồn …!!! Thôi,… không dùng lựu đạn nữa, chơi mìn Claymore theo kiểu a la mode “Nhẩy Dù“ cho chắc ăn, tay cầm sẵn “con cóc”, ném một trái khói xuống hầm, rồi ném mìn Claymore xuống theo, xong bấm cóc… “Oành” tiếng nổ vang trời, nóc hầm bung vỡ tung, có tiếng khua động cuống quít ở những hang đào ăn luồng với căn hầm chính là lố nhố năm ba chú nón cối đang cố chui vào các ngách đục sâu vào vách hầm chính, mặt mày ngây ngô, thất kinh tưởng như bị thiên lôi vừa giáng một búa mà chưa chết…! Và cứ tiếp tục như thế, các Trung Đội đến sau cứ y theo thủ thuật “thảy lỗ bấm cóc “cho đến khi dứt điểm hơn hai chục (20) căn hầm trên đỉnh đồi bung nắp, thằng nào còn sống nguyên vẹn thì lôi lên, đối xử tử tế với nó, không cần trói, chỉ cho ngồi yên tại chỗ, cho uống cà phê, hút thuốc lá Pallmall, thằng nào chết thì đếm xác, bị thương nặng ngáp ngáp không thể cứu chữa được thì cho nó một phát ân huệ cuối cùng để tránh khỏi đau đớn hành xác với lời cầu nguyện cho linh hồn được siêu thoát và đưa tay vuốt cho đôi mắt khép lại luôn cả oán hờn…! Kiểm lại bắt sống được 12 tên Bộ Đội chính qui Việt Cộng tại chỗ, chúng chỉ ở lứa tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” ốm đói vì thiếu ăn lâu ngày không tương xứng làm đối thủ với Trinh Sát 2 Nhẩy Dù ! Chiếc Slick thứ năm và 10 chiếc Slick kế tiếp lần lượt đáp xuống yên ngựa dưới triền đồi, chờ đợt hai thì thả đủ toàn bộ ĐĐ2TSND của tôi. Tôi đang lượng định địa thế để bố trí quân thì qua máy liên lạc:

– Út Bạch Lan…qua tần số UHF nói chuyện với tôi.
Giọng nói của Pilot trực thăng Phi Đoàn 229 Lạc Long là đại úy Phạm Công Cẩn dân Thiếu Sinh Quân vào Khóa 21 Võ Bị Quốc Gia có nhiều kỷ niệm ân tình với tôi khi tôi còn ở Lực Lượng Đặc Biệt tại Nha Trang… “Công Cẩn Giang Đông” đang bay C&C cho đại tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND.

– Út Bạch Lan…bằng mọi giá tôi sẽ lo cho con cái UBL xum họp đầy đủ… 207 (ám số truyền tin của Đ/T Trần Quốc Lịch) đã xin Quân Đoàn phi yểm khẩn cấp với sự hổ trợ của cố vấn trưởng John Paul Vann, OV10 vừa báo cho biết UBL đang bị bao vây đó…Tôi đang xuống đây!
Công Cẩn vừa dứt lời thì tôi thấy chiếc C&C đã quần trên đầu hai vòng và lặn sâu xuống thung lũng… Năm phút sau:

– Út Bạch Lan… 207.
– Tôi nghe đích thân.
– Út Bạch Lan đang trong vòng vây của Trung Đoàn 64 Sư Đoàn 320 (TĐ64/SĐ320). Cố gắng giữ Delta trong đêm nay, ngày mai TĐ2ND sẽ xuống Charlie (phía Bắc), TĐ1ND sẽ xuống Hồng Hà (phía Nam). Tôi đã nói với đại tá Mike cố vấn Lữ Đoàn yêu cầu Quân Đoàn dành ưu tiên tất cả phi yểm từ bây giờ cho đến ngày mai cho Delta. Đêm nay là đêm không ngủ của UBL và cả Lữ Đoàn nữa đó. Nhẩy Dù Cố Gắng!

Trên tầng số liên lạc Thành Thái (K19), Trọng Nhi (K20) cũng nhắn lời tôi sẽ thức với UBL đêm nay, và đặc biệt Công Cẩn (K21) sẽ bay suốt đêm nay để yểm trợ …!
Tôi xin tiếp tế ngay lựu đạn, mìn Claymore, mìn chiếu sáng, đạn đại liên M60 đồng thời yêu cầu bốc luôn 12 ông nhô con nón cối gầy còm trơ xương, da xanh xao như tàu lá vì đói ăn và thiếu ánh sáng mặt trời lâu ngày… đang lấm la lấm lét nét sợ hãi hiện lên vẻ mặt cùng với dáng ngồi xổm co ro trông rất tội nghiệp nếu họ không phải là Việt Cộng …?! Trong số 12 tên bị bắt có một Sĩ Quan cấp Thiếu Úy tên Đoàn Tạo tốt nghiệp trường Hoàng Phố. Tôi hỏi hắn:

– Tại sao các anh không có phản ứng khi chúng tôi đến?
– Chúng em chưa có lệnh khai hỏa!

“Giời cao, đất dày ơi”…! Thật hú vía bà đỡ, hồng phước tề thiên …! Thử nghĩ xem với giàn phòng không cả chục khẩu 57ly di động, tối tân của Nga – Tầu mới “ra lò” nó mà khai hỏa thì không biết có bao nhiêu trực thăng bị bắn gảy cánh như chim Bằng thọ tiễn mang theo cả thân xác, xương thịt của ĐĐ2TSND làm phân bón cho cây cỏ xanh lá và đám rợ hoang đua mọc bao phủ quanh đồi Delta… ! Trang đầu cuốn sổ nhỏ nhật ký hành quân của hắn viết: “Polko dậy sóng, giải phóng Tây Nguyên” và “chặt Kontum rụng cả Tây Nguyên” rất là ảo tưởng và cường điệu tính lãng mạn trên chiến trường “võ mồm” bởi bị guồng máy Đảng và Nhà Nước tuyên truyền, nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ giải phóng miền Nam và thẳng tiến trên đường xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định thắng lợi …?! Trong nhật ký có một đoạn khá bi thương và cảm động: “Bu ơi! Sau sáu tháng, đêm đi ngày nghĩ, cuối cùng chúng con đã đặt chân lên phần đất Kontum, Gia Lai với rừng núi bạt ngàn. Con nhớ Bu lắm, không biết Bu còn khỏe để hằng ngày tưới mấy chục luống khoai hay không, mùa đông sắp tới còn củi rừng để đốt sưởi hay không, nỗi buồn nhớ bố, anh cả, bé Tư đã mất trên đường vào B có vơi đi hay không ? Đơn vị của con xuất phát từ Lao Bảo, Khe Sanh với hơn 400 người, giờ chỉ còn gần 200 trong tâm trạng hoang mang lo âu không biết chết sống ngày giờ nào. Bệnh tật chết, bom đạn bất thần đổ ập xuống đầu…cũng chết…!”

Tôi móc bao thuốc Quân Tiếp Vụ và hỏi đám cán binh Việt Cộng bị bắt này với thái độ trấn an khoan hoà:
– Có ai muốn hút thuốc không? Các cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có nghĩa thật là các cậu còn sống … Nhưng những đồng chí của các cậu đang ẩn nấp rình rập trong rừng kia chưa biết tử thần rồi sẽ đưa đi lúc nào…”?!
Quả thật như vậy ! Nếu mấy tên cán binh nhô con VC này không bị chúng tôi bắt giữ mà phải tiếp tục chiến đấu, không may bị thương nặng thì ắt sẽ phải chết tức tưởi…! Vì để tránh không phải chịu trách nhiệm và là gánh nặng kinh tế phải săn sóc, nuôi nấng đám thương binh tàn phế vô dụng, báo cô trong cuộc chiến sẽ gây ảnh hưởng xấu, tiêu cực, bi quan làm giao động tinh thần, rối loạn hàng ngũ cán binh vào Nam chiến đấu và khiến cho xã hội suy yếu, xáo trộn hậu phương… Trong khi điều kiện chiến trường khắc nghiệt, thiếu thốn tất cả phương tiện, nhân sự y tế và tiếp liệu để cứu chữa cho thương binh… Nên Bắc Bộ Phủ đã ban hành tiêu lệnh triệt để cho các cấp chỉ huy phải “ban phát ân huệ” là xử tử tất cả cán binh bị thương nặng ngay tại chiến trường và chúng đã “thanh toán” hơn 300 000 (ba trăm ngàn) thương binh được “ghi nhận là mất tích” …?! Nhưng chắc chắn con số thật phải nhiều lần hơn “báo cáo” vì gian dối như “Vẹm” là bản chất bất biến với thời gian… Lại nữa bí mật đã có loài côn trùng hoang vùng núi rừng trùng điệp xứ nhiệt đới gậm nhắm tất cả còn đâu hình hài để mà xăm soi, nào ai biết, nào ai hay, người chết không biết nói, chỉ có oan hồn vật vờ phiêu dạt trong cõi vô minh mịt mù…!

Trên tầng số liên lạc:
– Út Bạch Lan…chuẩn bị bãi đáp.
Tiếng Thành Thái (Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành) vang vang trong máy. Bốn chiếc Cobra xuất hiện bao vùng. Tôi ra lệnh vội vàng cột hai tay ngoặc sau lưng 12 tên nhô con VC này, bịt mắt bằng khăn chít đầu Viễn Thám, căng bốn Panel vàng cùng với kính phản chiếu đánh dấu cho LZ. Hai trực thăng tiếp tế được hộ tống bởi hai Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long dưới sự điều động của C&C Phạm Công Cẩn từ từ đáp xuống ngay dấu hiệu của kính phản chiếu và đạp vội xuống mấy thùng đạn dược, trong khi chúng tôi đẩy nhanh 12 tên tù binh nhô con VC lên trực thăng cùng với 6 thương binh nhẹ của TS2ND. Phi vụ cảm tử tiếp tế khẩn cấp đã hoàn tất với sự gan lì của các Kinh Kha thời đại Bảo Quốc Trấn Không – Phi Đoàn 229 Lạc Long “bay không ai tìm xác rơi”. Hạ sĩ Mang Đen vai đang vác hai thùng đạn đại liên M60 khi đi ngang tôi hát vang: “ba về thủ đô…má có đồ chơi…” !!! Thiếu Úy Chấn tiền sát viên hỏi tôi:

– Nó hát cái gì vậy?
Tôi trả lời:
– Thì đồ chơi của “má” là hai thùng đạn đại liên M60 đó.

Đại uý Buhdar cố vấn Mỹ lom khom chạy đến chỗ tôi ngồi báo tin:
– Hey Út,… Đại tá Mike cố vấn Lữ Đoàn mới cho tao biết, đêm nay tụi nó (VC) nhất quyết trả thù trận thảm bại vừa rồi, chúng sẽ đánh cường tập dứt điểm bọn mình. Nên Quân Đoàn đã chấp thuận lời đề nghị của Mr. B-52 JohnPaul Vann là ưu tiên dồn hết tất cả mọi phi yểm cho mình. Chúng ta phải đối phó với cấp Trung Đoàn VC cùng với đại pháo 130 và hoả lực phòng không tân tiến của chúng nó. Ý kiến của Út mày ra sao cho tao biết?
– Budhar, mày yên tâm ! Tonight, mày cứ ở bên tao và Chấn, tất cả đều không ngủ… Hey, yeah make my day. You and us wait for the night to come… Ok?

Buhdar móc trong áo Shaun chai Black&White nhỏ bằng bao thuốc lá Pallmall mở nắp trao cho tôi rồi nói :
– Ok…Ok…Ok…We bottle up…God blessed for us to night…!

Ánh thái dương khuất dần sau những hàng cây rừng phía Tây, bên kia là phía Đông nơi xa… xa …đó là thành phố Saigon bình yên, có lẽ giờ nầy phố phường bắt đầu lên đèn hoa rực rỡ, thị dân hiền hoà an hưởng nhịp đời như nên thơ:

Màn đêm xuống dần, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng,
Kìa bao phố phường, bao mái lầu chìm trong bóng đêm,
Lá lá lá lá la la, lá lá lá lá la
Đời đẹp quá á a à á a a bài thơ
Đường đi lối về cơn gió lùa ngả nghiêng bao tà áo
Và bao mái đầu không vướng sầu kề vai bước mau…
(Đêm Đô Thị – Y Vân)

Chúng tôi nằm phục ở nơi đây ghìm tay súng, chong đôi mắt đỏ chờ giặc trong bóng đêm ma quái rờn rợn khí thê thê lạnh của tử thần lảng vãng, lẫn khuất ngay ngáy mùi máu tanh còn thấm ướt qua từng thớ đất trận địa ban ngày vừa qua… ! Những khi “thầy trò Đường Tăng” ĐĐ2TSND chúng tôi phải lâm vào “Thế Bối Thuỷ” và giặc thù vây kín trùng trùng… không có đường trở lui mà phải Sinh Tử Chiến, mãnh hổ huyết chiến địch quần hồ mới hòng có đường sống sót trở về với vợ con ở trại gia binh… Hơn 200 sinh mạng “Kinh Kha” Trinh Sát Dù đã qua bờ Dịch thuỷ đang trông chờ ta với trọng trách nặng nề đè nặng trên vai… Tôi phải thật bình tĩnh nhận thức sự việc từ nội tâm tới ngoại giới như chiếu soi và trong không gian tỉnh lặng, tôi nghe rõ tiếng xào xạt lá cây rừng với vài cơn gió Hè thổi qua của vùng Tây Nguyên đất đỏ, mắt đảo quanh như soi hút cảnh vật chung quanh và chú tâm nghe ngóng những động tỉnh nhỏ nhặt mơ hồ như có, như không xen lẫn trong mớ âm thanh hỗn độn tiếng côn trùng gọi nhau trong đêm … Tôi biết tất cả hơn 200 đôi mắt của ĐĐ2TSND cũng đang chong đỏ trong bóng đêm dày dặc và tay ghìm chặc súng đạn đã lên nòng từ những hầm hố, lấy độ dày của đất làm chỗ che thân và chờ đợi từng giây phút sẽ có ánh lửa loé chớp nhoáng bùng lên với hằng loạt tiếng nổ xé rách màn đêm khi địch quân nổ súng tấn công cường tập… Trên không có tiếng vọng rù …rì … của chiếc không thám OV10 bay trên cao độ vài ngàn bộ như thần “thiên lý nhãn” hộ mạng luôn túc trực quan sát, theo dõi tình hình “dưới thế” để chỉ điểm, hướng dẫn, báo cáo hành quân, yểm trợ quân bạn từng chi tiết bất kể giờ giấc hay đêm ngày … Thời khắc tử thần quơ lưỡi hái đã điểm lúc 10:45 trời gần khuya: hằng loại trái sáng phát nổ phựt ánh sáng bung loé sáng rực trong đêm cùng lúc tiếng nổ mìn định hướng Claymore vang dội, thân xác, xương thịt vung vãi, bầy thiêu thân ngông cuồng lao tới bức tường thành lửa đạn khạc ra hằng loạt, lựu đạn tung lên nổ vang nháng lửa, hằng loạt M79 bắn trực xạ vào thân người tan nát, những tràng đại liên M60 nổ dòn liên thanh không cần giải nhiệt bắn vào thây người ngã xuống, bấm thêm mìn Claymore nổ dạt tung toé xương thịt kinh hoàng, lớp ngạ quỉ “sinh Bắc tử Nam” tan tành như xác pháo, lớp khác nhào tới như những cương thi vô cảm giác rồi ngã bật xuống trước họng súng thiện xạ của hơn 200 tay súng ĐĐ2TSND là đơn vị Tổng Trừ Bị ưu tú trong QLVNCH dày dạn kinh qua bao chiến trường trên 4 Vùng Chiến Thuật… Khoảng 5 phút sau, 4 chiếc Cobra trực thăng võ trang đã xuất hiện từ cao độ 500 bộ, theo tín hiệu của PRC11 phát ra từ Budhar và tôi hướng dẫn chỉ điểm mục tiêu để cho “Thiên Thần Mãng Xà Vương “ Cobra clean up bầy quỉ Đỏ lúc nhúc “dưới thế” với giàn phóng hoả tiễn (Rocket), M79 Auto bắn rãi cận phòng chung quanh đỉnh đồi … Tiếng nổ vang rền đinh tai, nhức óc, mảnh đạn cày sới tung đất đá, lửa cháy đỏ rực đỉnh đồi Delta trong đêm khuya … !!! Cobra hết đạn rời vùng. Ngay tức khắc Pháo Binh của Thanh Vân (Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc PĐT/PĐC1ND) nhuần nhuyễn khế hợp theo những tiêu điểm tác xạ định sẵn mà bắn hằng tràng đạn đại bác như trãi thảm cả ngọn đồi … Hằng hàng hàng lớp lớp Bắc Quân từ cánh rừng phía Tây vùng 3 biên giới Việt – Miên – Lào đã ém quân nằm phục sẵn từ trước, túa tràn ra bao vây quanh chân đồi, chúng hung hãn nhào lên như bầy dã thú để rồi thân xác bị nổ tan tành dưới sức công phá của bom đạn kinh hồn !!!

Tiếng Thiếu Tá Bùi Đức Lạc trong máy của Thiếu Úy Chấn :
– Thanh Vân…Check fire.
Pháo 105 của Thanh Vân vừa dứt, hai chiếc Skyraider (Khu Trục A-1, AD-6) của Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng (PĐ514 PH-KQVNCH), Phi Đoàn 530 Thái Dương bổ nhào xuống phía Đông của đỉnh đồi Delta đánh bốn pass Bomb Napal lửa cháy rực sáng cả cánh đồi, rồi phóng vút lên không … Ôi,… thật đẹp làm sao một phi vụ bay đêm như ánh sao trời xé màn đêm u tối, ngàn thuở đẹp còn lưu tình chiến hữu cho mãi tới bây giờ …! Triền đồi phía Bắc và phía Tây dốc cao gần như 45 độ, hiện trạng Bắc Quân tấn công cường tập tương đối nhẹ hơn phía Đông và phía Nam có thế triền đồi thoai thoải dễ di chuyển… rồi lại đợt tiếp theo phi tuần Skyraider thứ nhì lao xuống đánh bồi thêm mấy pass Bomb Napal nữa, một biển lửa cháy bùng lên dưới ánh hỏa châu lơ lửng trên không …!!! Tôi không còn nghe tiếng lựu đạn hay đại liên M60 bắn ngoài vòng đai của đỉnh đồi nữa, có nghĩa là địch quân đã không còn tấn công tiếp…? Tôi ra lệnh Trung Đội 2 Trinh Sát (TĐ2TS) khoảng 40 hạ sĩ quan và binh sĩ của thiếu úy Sang theo chân toán Viễn Thám 2 (VT2) 7 binh sĩ di dời lách về phía Nam, dạ hành ra xa… xa… khoảng 500 mét, rồi bọc hậu về phía Đông, dùng hồng ngoại tuyến để quan sát tình hình và ém quân nằm phục chờ trời sáng. Những làn sương mù tan dần trên những ngọn cây trơ trụi lá, lộ hé cảnh tượng tàn phá kinh khiếp của bom đạn suốt đêm qua!

(Để trình bày rõ hơn bối cảnh của Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972, trong đó ĐĐ2TSND đã sát cánh với các đơn vị chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tử chiến với đại quân Chính Qui Việt Cộng trên Đồi Delta … tôi xin trích đoạn một số những bài viết liên hệ của nhiều tác giả như: Trận Đánh Trên Đồi Delta 1- Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc):

Quí vị cũng như chúng tôi ai ai cũng nghe ít nhất một vài lần bản nhạc Người Ở Lại Charlie, đó là trận đánh để đời, nguyên Sư Đoàn 320 của Cộng Sản Bắc Việt sau khi đã bị thảm bại bốn trận liên tiếp:
.Một là phía Tây của ngọn đồi Alpha,
.Hai là tại giửa đồi Charlie và Delta, trên trận tuyến này chúng tôi gọi là đồi Delta 1,
.Ba là ngay tại đồi Delta nguyên một đại đội của chúng bị tiêu diệt hoàn toàn đó là trận Delta II,
.Bốn là tại ngọn đồi Delta, chúng bi tiêu diệt ít nhất là 1 Tiểu Đoàn Đặc Công v à 2 Tiểu Đoàn tác chiến đó là trận Delta III, cho nên Sư Đoàn 320 quyết trả thù đoàn quân Mũ Đỏ, vì vậy mới có trận Charlie. Phải công nhận chiến tranh Tâm Lý của Cộng Quân cao ở mức thượng thừa, cho nên khi chúng bị tiêu diệt 3 Tiểu Đoàn mà không có ai biết, các đài của chúng cũng như các cơ quan truyền thông của ta đều im lặng, vì không đài ngoại quốc nào loan tin. Hơn nữa không ai giám vào vùng đầy máu lửa này, có phải vậy hay không?!

Ngày 15 tháng 3 năm 1972, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù được trực thăng vận vào vùng hoạt động.
Vừa vào vùng Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù đụng độ ngay với quân chính quy Bắc Việt, có mang tử thi của địch về nhưng Quân Đoàn không khai thác được gì hơn, ngoài việc xác nhận đây là Bộ Đội Chính Quy miền Bắc. Trên tử thi không có một tài liệu nào ngoài quân phục xác nhận là quân chính quy Bắc Việt.
Ngày 16 tháng 3 năm 1972, Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng, Cố Vấn Hoa Kỳ và tôi sau khi bay quan sát toàn vùng hoạt động. Nhận thấy giữa đồi Alpha và Charlie, có một điểm quân sự vô cùng quan trọng. Lúc đó TĐ2ND vừa không vận xong và chưa vào vùng hành quân, toàn bộ TĐ11ND vẫn chưa được không vận hoàn tất đến Pleiku. Khi chúng tôi bay quan sát, vùng trách nhiệm hành quân của TĐ1ND, Đại Tá LĐT nhận thấy TĐ1ND đóng quân tại cực Nam của dãy đồi không tên, nên quan sát được một vùng bình nguyên rộng, từ đó cho đến Kontum… Nhưng nếu phía Đông- Bắc của TĐ1ND, bị địch quân chiếm, thì TĐ1ND sẽ bị yếu thế, nên ông muốn đưa ngay ĐĐ2TSND vào vùng, đây là khúc xương sườn (khó nuốt của dẫy đồi này). Ông quay sang tôi cho lệnh:
-Anh chọn một Tiền Sát Viên cứng đi theo ĐĐ2TS, ngày mai vào vùng. Tôi im lặng suy tính. Ông đặt tên cho đỉnh quân sự này là Delta.
Ngày 17-3-1972 các đứa con của ĐĐ2TSND được trực thăng vận xuống đồi Delta, vừa bung ra phía bắc của Delta nhẹ nhàng như mèo bắt chuột và nguyên toán tiền đồn của Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn thứ 3 thuộc SĐ320 bị toán Viễn Thám chộp gọn, mặc dù chúng đã biết trước có ta xuất hiện, do trực thăng vận đến. (ĐĐ2TSND do Đại Úy Trương Văn Út chỉ huy hoạt động từng toán nhỏ chung quanh căn cứ Võ Định, chu vi từ 2 cho đến 5 cây số liên tiếp tiêu diệt, hoặc bắt sống các toán tiền thám cũng như Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Đoàn 320, tù binh cho biết Sư Đoàn 320 có nhiệm vụ tấn công căn cứ Võ Định (gồm có BCH/LĐ2ND, BCH/TĐ1PB/ND, ĐĐ2CB/ND, ĐĐ2TS/ND) sau đó hướng về Kon Tum, hàng ngày chúng tôi vẫn bị pháo nặng nề, nhất là trong ngày chúng đánh Charlie và Tân Cảnh, nhưng chúng pháo không được trúng đích cho lắm đó chính là công đầu của ĐĐ2TSND). Ba chiến sĩ ưu tú của ĐĐ2TSND đã khôn khéo len lỏi từ phía sau như mèo chộp chuột, 3 tên Bộ Đội cáo Hồ bị tóm trọn và nhờ vậy Đại Đội 2 Trinh Sát Dù nhận được 90,000$(chín mươi ngàn) đầu tiên của BTL/SĐ22 khi đem hai tử thi và một tù binh về trao cho BTL/SĐ22BB, trên xác của một tử thi (anh ta viết nhật ký tâm sự với người yêu đang sống ở Hà Nam hứa hẹn ngày về huy hoàng của đôi trẻ, anh cho người yêu biết ngày 16-3-1972 chiếc máy bay lên thẳng (trực thăng) chở ba người Mỹ. (Nhưng địch quân đã lầm, nếu chúng nắm vững tình hình thì thậm chí nguy, đó không phải là 3 người Mỹ mà chỉ có 1 cố vấn Mỹ, Đại Tá Lịch và tôi). Anh ta viết: máy bay, bay rất thấp trên đầu anh, anh bắn hạ dễ dàng, nhưng cấp trên của anh không cho bắn.

Ngay sau đó ban chỉ huy của Trinh Sát 2 Nhẩy Dù và toán tiền sát viên Pháo Binh, Thiếu Úy Chu Văn Chấn phải đánh cận chiến với địch. Ngày thứ hai vào vùng, Đại Đội 2 Trinh Sát Nhảy Dù đã phân tán thành các Trung Đội Trinh Sát mỗi Trung Đội 40 Mũ Đỏ và các toán Viễn Thám mỗi toán 12 Mũ Đỏ, các chiến sĩ Trinh Sát ba người một Tổ, khi ẩn khi hiện làm địch quân điên đầu…! Đại Đội Trưởng ĐĐ2TS trong điện đàm với Đại Úy Nguyễn Trọng Nhi, Trưởng Ban 3 Lữ Đoàn (lúc đó Đại Úy Nhi chưa lên Thiếu Tá) sau khi báo cáo tình hình địch đang điều quân vây chung quanh điểm đóng quân ngày hôm qua, chúng có biết đâu ĐĐ2TS đã di chuyển ra xa và phân tán thành những toán nhỏ, các Pháo Đội liền hoạt động ngay. Thiếu Úy Chu Văn Chấn Tiền Sát Viên đi theo ĐĐ2TS làm việc rất nhanh và chính xác, (Trung Úy Chấn hiện đang ở Dallas) Anh hướng dẫn chính xác từng loạt đạn của 4 Pháo Đội tác xạ vào đầu từng đơn vị địch. Đạn nổ làm rung chuyển cả núi rừng, Út Bạch Lan (ám danh của ĐĐT/ĐĐ2TS) gọi về BCH/LĐ hỏi thăm quỹ tiền thưởng có còn nữa hay không? Đúng lúc đó ĐT/TL/SĐ22BB đang có mặt tại trung tâm hành quân, ông cầm ngay lấy ống liên hợp và trả lời ngắn gọn: “Còn nhiều lắm em”. Ngay sau đó ĐĐ2TSND bắt đầu đụng địch, địch biết rõ quân số của ta thả xuống vùng nên chúng điều động ngay một Tiểu Đoàn thiện chiến nhất của SĐ320 vây ĐĐ2TSND, với ý định tiêu diệt gọn. Nhưng chúng nằm mơ gặp ác mộng ! Chúng đã bị ĐĐT/ĐĐ2TS cho vào xiếc tại điểm đóng quân mà chúng đã nhận diện được, vì thật ra ĐĐT/Út Bạch Lan chỉ để lại vị trí một toán trinh sát phân tán và lưu động khai hỏa nghi binh, con cháu bác Hồ đã lầm và yên chí là đã vây trọn ĐĐ2TS, lúc đó ngay cả cấp chỉ huy của SĐ320 cũng không biết quân ta đang ở đâu ? Chính vì vậy mà nguyên BCH Tiểu Đoàn VC nằm ở phía ngoài đã bị thanh toán trọn gói, Đại Úy Trương Hà – Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/3/320 bị Trung Đội 2 Trinh Sát của ĐĐ2TSND bắt sống. Nhưng vì cần phải di chuyển theo chiến thuật đã định trước, hơn nữa trực thăng đã cố gắng đáp xuống để nhận tù binh đem về BTL/SĐ22BB, nhưng đều thất bại vì rừng rậm, phòng không dày dặc và tránh làm lộ vị trí quân ta, nên Trung Đội 2 của Đại Đội 2 Trinh Sát, đành phải “tiễn” anh ta lên đường một mình không chiều theo ý của SĐ22BB được ! Địch quân như rắn mất đầu, vừa phần đưa lưng cho quân ta bắn mà không biết, do vậy Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 3/SĐ320 đã bị tan tác bởi 1 Đại Đội Trinh Sát của ta. Nguyên Trung Đoàn 3 của SĐ320, muốn được thành thép lại hoá ra bùn ! Ngay khi đó đại đội trưởng ĐĐ2TSND nhận thấy địch quân rất đông, nên đề nghị với LĐ2ND cho một đơn vị vào chiếm Delta để có đường về. Ngay lập tức một Đại Đội tinh nhuệ nhất của TĐ1ND được TrựcThăng vận vào Delta. Đại Đội này tuy chiến thắng. Nhưng chỉ không đầy 20 phút sau khi cận chiến ta có 8 Sĩ Quan bị thương, 5 Hạ Sĩ Quan bị thương, 15 Binh Sĩ bị thương phải tản thương. (Đại Đội Trưởng đang ở Nam CaLifornia).
Ngày 20 tháng 3 năm 1972, Đại Đội 15 thuộc TĐ1ND xuống bãi Delta và đụng độ với một Đại Đội địch có hầm hố… (trận đánh cận chiến này chúng tôi sẽ viết đầy đủ ở trận Delta II).
Ngày 23-3-1972 toàn bộ Trung Đoàn 3/320 VC tham chiến thề quyết trả thù cho Tiểu Đoàn 1, lúc đó các chiến sĩ Trinh Sát 2 Nhẩy Dù đã bị lộ, mặc dù cố gắng áp dụng kỹ thuật phân tán nhưng cũng không sao vùng vẫy như lúc chạm trán với 1 Tiểu Đoàn địch trước đây, hơn nữa đạn dược lương thực cũng đã bắt đầu thiếu hụt…! Các Phi Công trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng gan lì nhưng cũng không tiếp tế cho Trinh Sát được ! Sau đó nhờ lòng gan dạ và kinh nghiệm dầy dặn chiến trường của một Phi Công Phi Đoàn 213 Song Chùy mới tiếp tế cho các chiến sĩ Trinh Sát 2 Dù của ta một chuyến lương thực và đạn dược bằng cách khi đã nhận được điểm chính xác quân bạn, dừng Trực Thăng (helicopter hovering) trên ngọn cây, rồi đạp các thùng đạn và thùng lương thực xuống, đây là chuyến tiếp tế thành công duy nhất, trong mấy ngày quần thảo với VC. Đại Đội 2 Trinh Sát lúc đó đạn dược bị hạn chế lại phải đương đầu với một Trung Đoàn Trừ của địch quân, những yếu tố đó cũng làm cho quân ta lúng túng không ít, nhưng nhờ kỹ thuật tác chiến cao, phân tán mỏng nên chúng cũng không gây cho quân ta một tỗn thất nào đáng kể.
Ngày 25-3-1972 toàn bộ TĐ2ND được trực thăng vận xuống ngay đồi Delta lúc đó chiến trận đang khốc liệt chỉ cách đó không đầy 1/2 cây số về hướng Bắc, tại những góc cây gần đồi Delta địch quân cho ghim truyền đơn viết tay: “thề sẽ tiêu diệt ĐĐ2TSND”. Nhưng không còn may nắm đến với chúng nữa! Vì trong ngày TĐ2ND đã bắt tay được với Trinh Sát, và Đại Đội 15 Nhảy Dù. Địch bị TĐ2ND chọc ngang hông áp dụng chiến thuật đánh nhanh đánh mạnh, địch quân dù với hổn danh là Sư Đoàn Thép nhưng cũng không sao chịu thấu, tuy rằng một Trung Đoàn Trừ đang vây ĐĐ2TSND nhưng bị chọc ngang hông cho nên TĐ2ND làm cỏ từng Trung Đội, Đại Đội địch quá dễ dàng ! Sau 3 ngày quẩn thảo với các Thiên Thần sát cộng, địch quân đành tháo chạy với tỗn thất nặng nề !
Ngày 27-03-1972 toàn bộ ĐĐ2TSND được trực thăng vận ra khỏi vùng hành quân trở về căn cứ Võ Định nơi đặt BCH/LD2ND để dưỡng quân, ngay lúc đó Trung Tướng Ngô Du TLQĐ II và Đại Tá TLSĐ22BB cùng các cố vấn Mỹ và các vị Sĩ Quan trong Bộ Tham Mưu của Quân Đoàn II và SĐ22BB cũng đã đến để quan sát chiến lợi phẩm và lấy thêm tin tức tình báo… Lần này ĐĐT/ĐĐ2TS Trương Văn Út (Út Bạch Lan) được vinh thăng Đại Úy. (ngưng trích).

Và tiếp theo…Tôi xin trích dẫn một đoạn trong bài viết “Vùng Trời Biên Trấn – Trần Ngọc Nguyên Vũ của giới Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đã luôn sát cánh yểm trợ Lực Lượng Tổng Trừ Bị Nhẩy Dù trên Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972 và trong suốt 21 năm 1954 – 1975 cuộc chiến Quốc – Cộng:

“Những người chinh chiến bấy lâu
Nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây.”
(Chinh Phụ Ngâm – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm)

Tây-Nguyên! Vùng núi rừng trùng điệp… Nơi có những dòng sông huyền-hoặc nằm đợi khách qua bờ, mà mỗi “Một lần sang sông là một lần vĩnh biệt – Một lần sang sông là mãi mãi chẳng quay về”. Chính nơi đây đã có biết bao nhiêu tráng sĩ lạnh lùng phóng tay ghi đậm tên mình trên trang sử máu của dân tộc… Lịch sử sẽ thêm một lần sang trang khi chiếc “Thần Phong 01” của KQVNCH chế tạo, do Tr/Tá NNK và Th/Sĩ NVN bất thần bay lên đáp PleiKu vào một buổi sáng mây mù và gió lạnh, rồi Th/Tá Định cùng Tr/Tá Bá đi tìm “Tráng sĩ vượt dòng sông định mệnh” để lập một “Phi Đội Cảm Tử” bí mật đưa về Tân Sơn Nhất, đặt dưới sự điều động của ThầnPhong NNK vào năm 1971… Nhưng vận nước chưa xoay chuyển theo lòng người nên đại sự không thành, chỉ lưu lại trên trang huyền sử của KQ những vần thơ đầy hào-khí:

Tôi người lính trận từ xa tới
Gặp em nơi phố núi sương mù
Quán nhỏ ngây buồn nghe tâm-sự
Một buổi chiều mưa rơi… PleiKu
Rồi sáng hôm sau các anh lại lạnh lùng quay lưng cất bước lên đường khi:
Gió Lào dậy tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng gìa bạt núi non
Mùa chinh chiến theo chân thù nghịch
Ta về theo cho dậm chiến trường

Chiến trường Tây Nguyên quanh năm mịt mù khói lửa, với những địa danh ngang dọc bước quân hành in dấu chân của tráng sĩ cùng với những:
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
lớp lớp tràn lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Cô đơn chót núi đứng bồng con
Khu chiến trập trùng cơn bão lửa
Đá vọng phu mọc khắp biên cương.

Lồng vào cái khung cảnh đất trời quay cuồng trong cơn bão loạn đó, “Không Đoàn 72 Chiến Thuật” đã trưởn thành, và vươn lên cùng với khí thế ngút ngàn của những anh hùng, hảo hán chốn sa trường… Chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động, mà tên tuổi đã danh trấn giang hồ. Pleiku thuở đó cũng đã thu hút được nhiều phóng-viên nổi tiếng của các hãng thong tấn quốc-tế… Tờ báo quân đội “Diều Hâu” của nhà văn Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh hồi đó đã nhận xét về KĐ 72CT qua bài viết “Tìm hiểu hiện-tượng nhổ giò của KQVN”, như sau: Chỉ vào một hố bom khá sâu, Đại Tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh nói với tôi:
– Anh biết quả bom này bỏ cách chiếc thiết giáp của mình bao nhiêu không?
– …?
– Ba thước.
Thao thao bất tuyệt, vị Tư lệnh trẻ nhất Việt Nam kể cho tôi nghe trận đánh khó khăn nhưng vô cùng hào hứng, vừa xẫy ra tại ngọn đồi mà chúng tôi đang đứng : “Một Tiểu đội Cộng quân, trang bị bằng một khẩu đại bác, một khẩu đại liên phòng không, đã chiếm giữ ngọn núi đá trên đường 14, cách Pleiku khoảng 20 cây số về hướng Bắc. Cây đại bác được nhét thật sâu vào hang núi. Sư đoàn 23 đã phái một đơn vị có chiến xa yểm trợ tiến lên núi, để diệt khẩu pháo đang gây khá nhiều trở ngại cho xe cộ di chuyển từ Pleiku đi Kontum. Một trong những chiếc thiết giáp yểm trợ bị bắn cháy. Xạ thủ B-40 VC chỉ khai hỏa cách chiếc xe ba thước. Phi Đoàn Khu Trục được gọi đến can thiệp, và nhiệm vụ của người Phi Công là phải bỏ lọt trái bom vào một miệng hang nhỏ, mà không làm tổn thương đến những người có thể còn sống trong thiết giáp”. Lắc đầu tỏ vẻ thán phục, Đại Tá Bá tiếp: “ Chiếc AD-6 bay với tốc độ mấy trăm cây số một giờ, mà anh chàng Phi Công này thả bom như để. Trái bom rơi hẳn vào hang hầm rồi mới nổ, không gây một hư hại nào bên ngoài cả…” !!!
Bốn trăm Phi Công, một ngàn chuyên viên làm việc quần quật. Máy bay được bảo trì, tu bổ cả đêm để mờ sáng hôm sau lại cất cánh, đáp ứng những nhu cầu yểm trợ cho quân bạn.(ngưng trích).

Và cũng tại chiến trường Tây Nguyên – Kontum này vào ngày 26-5-1972. Tôi đã mất một đi một người Anh “Đường Sơn Đại Huynh – Thặng Fulro” là Phi Công tài ba Thiếu Tá Phạm Văn Thặng của Phi Đoàn Khu Trục 530 Thái Dương! Tôi xin trích đoạn trong bài viết: Mặt Trận Kontum 530 Thái Dương Phạm Văn Thặng Fulro của Tác giả Hùng Chùa trong Lý Tưởng bộ mới số 7 -1998 đã ghi lại trường hợp hy sinh của Thiếu Tá “Thặng Fulro” như sau:

[I]- Bắc Đẩu đây Thái Dương gọi?
– Thái Dương cho biêt ví trí của bạn hiện nay?
Thái Dương vừa cất cánh khỏi Pleiku được 5 phút, hai phi tuần A-1 trang bị bom nổ và crocket, cho biết tình hình quân bạn và trục đánh.
– Thái Dương Thặng đó phải không?
– Đúng năm trên năm.  “Thặng Fulro” đây.
– Hay quá ! Quân bạn nằm nhiều cụm từ Bắc xuống Nam, trục đánh từ Đông sang Tây, địch chỉ cách bạn trên 100 thước, tình nghi địch có tăng yểm trợ, khi nào sẵn sàng tôi bắn khói chỉ điểm.
Trục đánh Đông sang Tây, có nghĩa là khi vào trục, anh sẽ bay trên thành phố Kontum, anh dỏi tìm cụm khói chỉ điểm, ngay từ bắt đầu vào trục, từ lúc khi còn ở trên cao khi vừa chúi xuống, anh nhìn thấy nhiều trái cầu khói đen lúp búp nổ ngay trước mặt, vẫn chúi xuống lao tới, anh nhấn nút release bốn trái ngay khi mục tiêu vào đúng hỏa điểm, rồi kéo stick đưa mũi phi cơ lên thẳng trên trời, đẩy cần ga tới maximum, rồi nhích stick về phía trái, anh kéo phi cơ lại về hướng Đông, hướng thành phố, đúng lúc này con tàu bị trúng đạn rung chuyển dữ dội, lữa phát cháy bên ngoài cockpit và cả trên cánh phi cơ.
– Thái Dương đây Bắc Đẩu! Tàu mày bị cháy rồi, nhảy dù ra ngay lập tức!
– Mày nghe tao không Thặng?, nhảy dù ngay lập tức. Tiếng Hiệp “Vixi” hoảng hốt trên tần số.
– Tao còn bốn trái bom trên cánh, nhảy dù ra để giết dân vô tội à?
Th/t Thặng cố gắng đưa phi cơ ra khỏi khu vực Kontum và đáp bằng bụng trên một cánh đồng nhưng phi cơ đã phát nổ.
Kính phục thay lòng thương người và lo cho bá tánh của anh.
Người anh hùng của phi đoàn 530 Thái Dương nói riêng và của KQVNCH nói chung.
Vĩnh biệt anh Thặng (Fulro)![(I]

Và trong một bài viết Cánh Chim Thần Tượng – tác giả DD-2ndG “nói” về những Phi Công “Bảo Quốc Trấn Không” để “minh hoạ” Không Quân Việt Nam Cộng Hoà “Trên Vòm Trời Lửa Đạn” chiến trường Tây Nguyên mùa Hè 1972:

Là một Phi Công trực thăng thời chiến, Trung Tá Khưu Văn Phát chứng kiến nhiều đồng đội của mình đã ra đi như chiếc “lá vàng rơi”. Ngày 11 tháng 4 năm 1972, Phi Đoàn có nhiệm vụ tiếp tế khẩu phần ăn nhà binh, nước uống và tải thương sau cùng cho tiểu đoàn 11 Nhảy Dù ở ngọn đồi “máu” Charlie. Một trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng do Trung Úy Nguyễn Tường Vân lái bị bắn bốc khói cháy sau khi vừa hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế. Phi cơ đang cố gắng rời khỏi vùng giao tranh một cách nhanh chóng. Thiếu Tá Phát (danh hiệu Charlie) đang bay chiếc trực thăng chỉ huy trên cao độ 6,000ft ở một góc trời quan sát và hướng dẫn Trung Úy Nguyễn Tường Vân (hoa tiêu tàu tiếp tế), hốt hoảng la lên trên tần số:
– Tàu bạn đang bốc cháy… đáp ngay… đáp lài xuống ở triền đồi phía dưới.
Charlie ( Thiếu Tá Phát) trấn an tức khắc:
– Đã có Hổ một (danh hiệu Gunship trực thăng) cover, nghe rõ trả lời ?
Nhưng con tàu trực thăng ngộ nạn sợ nguy hiểm, vì đang trong tầm tác xạ của phòng không địch đã không còn nghe được lệnh nữa. Lửa đã phụt lớn mạnh và tàu bốc cháy dữ dội như ngọn pháo bông. Trực thăng rơi nhanh xuống triền đồi và nổ bùng lên như quả bom lửa. Lửa và khói quện lại đen mù mịt cả một góc trời. Tất cả bốn nhân viên phi hành đoàn đều tử nạn dưới con mắt của Thiếu Tá Phát và các bạn hoa tiêu trực thăng võ trang đang có mặt trong vùng. Trung Úy Nguyễn Tường Vân, Thiếu Úy Trần Văn Long và hai Mê Vô xạ thủ trực thăng đã lặng lẽ ra đi không tìm được xác rơi. Trung Úy Vân mới 23 tuổi đã để lại người vợ trẻ và đứa con thơ đầu lòng vừa chào đời trong tiếc nuối…! Chào vĩnh biệt các anh hùng vô danh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa một lần cuối!

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy…
Đã bay cao trong vòm trời đầy…
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời…
Ru anh ngủ vùi,
Mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi! (ngưng trích)

Một trích đoạn khác nữa trong bài viết Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie của tác giả Vương Hồng Anh:

Trận Chiến Giữa Trinh Sát 2 Nhảy Dù và 1 Tiểu Đoàn Cộng Quân ở Đồi Delta:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng Quân đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, Đại Tá Trần Quốc Lịch-Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh Đại Đội 2 Trinh Sát do Trung Úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.
Sau khi Pháo binh và Không Quân VNCH hỏa tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ Đại Đội Trinh Sát Dù vào đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn Đại Đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán tiền đồn của Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 3 Sư Đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng Quân đã điều động 1 Tiểu Đoàn để bao vây Đại Đội Trinh Sát Dù. Dù bị áp đảo về quân số, nhưng Trung Úy Út Bạch Lan (ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán Đại Đội và lưu động tác xạ để đánh lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng Quân tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn tránh sau khi đã bấm mìm Claymore giết địch. Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh Sát 2 Nhẩy Dù đã vòng ra phía sau tấn công ngay vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Cộng Quân và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 3 CSBV tên Trương Hà.

Bị tổn thất nặng, ngay sau đó, Trung Đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ Đại Đội Trinh Sát 2 để trả thù cho Tiểu Đoàn 1 của Trung Đoàn này. Vào lúc này Đại Đội Trinh Sát cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch lại bị một Trung Đoàn C ộng Quân bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược và lương thực gần cạn, nên Đại Đội Trinh Sát 2 Dù ở trong tình trạng nguy kịch ! Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các Phi Công của Phi Đoàn Trực Thăng 215 Thần Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho Đại Đội Trinh Sát 2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một Phi Công kinh nghiệm và gan lì của Phi Đoàn 213 Song Chùy đã điều khiển Trực Thăng lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho Đại Đội này được một chuyến duy nhất.(ngưng trích)

Tôi cũng xin được trích dẫn bài viết “Trận Đánh Đồi Delta” trong tác phẩm “20 Năm Chiến Sự” – Binh Chủng Nhảy Dù. Tác giả: Đại Úy Võ Trung Tín Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND.Đại Úy Nguyễn Hữu Viên Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam căn cứ Charlie, trên đỉnh đồi một bên là rừng già dầy dặc. Sáng ngày 17/3/1972, sau những trận địa pháo và phi pháo vừa chấm dứt, địch quân chưa kịp hoàn hồn, thì một đoàn trực thăng chuyển quân sà thấp sát đất thả các Thiên Thần Trinh Sát 2 của “Út Bạch Lan” phóng xuống trận địa như những con diều hâu vồ mồi quanh vị trí Delta để săn lùng và tiêu diệt các chốt của TĐ1/ Trung Đoàn 3/SĐ320. Cả Đại Đội vừa bắn vừa hô xung phong vang rền khắp núi rừng khiến địch quân hoảng hốt đưa tay lên đầu hàng, kẻ nào ngoan cố chống cự đã bị các chiến sĩ Nhảy Dù diệt gọn. Chỉ trong chớp nhoáng, Các chiến sĩ Trinh Sát 2 của Trương Văn Út (danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan) đã làm chủ tình hình. Nguyên toán tiền đồn của TĐ1/TrĐ2/SĐ320 đã bị tóm gọn không sót một móng. ĐĐ2TSND đã bắt sống được 12 tù binh và lãnh tiền thưởng đầu tiên của Tướng Ngô Du.

Ngày 18/3/1972 Tiểu Đoàn 1/3/SĐ320 phản công bao vây để dứt điểm ĐĐ2TS. Út Bạch Lan, Đại Đội Trưởng/TS2ND không nao núng, điều quân phân tán mỏng chỉ để lại một toán nhỏ lừa địch, rồi đưa toàn bộ Đại Đội vòng ra bọc hậu đánh thẳng vào BCH/Tiểu Đoàn địch và tiêu diệt gọn TĐ1/3/320 bắt và giết chết TĐT là Đại Úy Trương Hà… Ngay sau đó, để phục thù Trung Đoàn 3/320 tập trung quân còn lại bao vây TS2 và thề bắt sống Út Bạch Lan cho bằng được. (Út Bạch Lan nỗi danh từ dạo ấy) Ngày 20/3/1972 TĐ2ND được trực thăng vận đổ quân xuống thiết lập và trấn đóng tại Charlie, và từ Charlie đánh bọc ngang hông TrĐ3/320 để cứu quân bạn và giải vây cho ĐĐ2Trinh Sát ND.
Đến ngày 23/3/1972 ĐĐ2TSND sau 3 ngày hổn chiến với địch và được TĐ2ND giải vây, 2 đơn vị Nhảy Dù đã dùng ngoại công nội kích với những chiến thuật thần kỳ tam mãnh “mãnh đã, mãnh xung và mãnh truy” đã phá nát Trung Đoàn 3/SĐ320 của CSBV, Sư Đoàn được hổn danh là “Thép” giờ đây đã bị chảy ra thành nước. Tin chiến thắng bất ngờ đã làm cho Quân Dân Quân Đoàn 2 phấn khởi, Trung Tướng Ngô Du đã bay ngay đến Delta để trao gắng cấp bậc Đại Úy tại mặt trận cùng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho Trương Văn Út và trao ngay 1 triệu 200 ngàn tiền thưởng vì đã bắt sống được 12 cán binh VC và thăng thưởng, ủy lạo cho tất cả các chiến sĩ Nhảy Dù đã tham chiến. Đại Đội 2 Trinh Sát sau đó được bốc về Võ Định để nghỉ ngơi và tái trang bị. Trong khi đó Cộng quân khởi sự trận địa pháo liên tục bằng các loại 107, 122, và 130 ly vào các vị trí đóng quân của các đơn vị VNCH kể cả Tân Cảnh và Võ Định. (ngưng trích)

Và đây là trích đoạn trong tài liệu: Chiến Đấu Ở Tây Nguyên. Hoàng Minh Thảo. Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội. 2009 và Bộ Đội Chủ Lực Mặt Trận Tây Nguyên – Quân Đoàn 3 – 1966-2005. Nguyễn Văn Biều. Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội. 2005:

“Phối hợp với chiến trường chính, tại Tây Nguyên, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận B3, đã điều động binh lực của 2 sư đoàn 320 (gồm 3 trung đoàn 52, 64 và 48) và 2 (gồm 2 trung đoàn 1 và 141), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 95, 28 và 24), trung đoàn đặc công 400, 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn pháo phòng không. Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực lượng vũ trang tại địa phương. Tổng binh lực tham gia khoảng 20.000 người.
Từ ngày 15 đến ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn công binh thuộc sư đoàn 320A Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm giả hai con đường cơ giới phía Tây Bắc thị xã Kon Tum. Tướng Ngô Du liền điều lữ đoàn dù 2 ra phá đường. Sư 320A dùng trung đoàn 52 chặn đánh nhưng không truy kích. Ngày 23 tháng 3, Liên đoàn 22 Biệt động quân tiếp tục tiến ra phá đường, cũng bị trung đoàn 52 chặn đánh.[6]. Ngày 24 tháng 3, trung đoàn 28 (độc lập) cắt đứt đường 14 ở Diên Bình, bao vây Võ Định. Ngày 26 tháng 3, trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 (bảo vệ 559) và đại đội 1 (địa phương) cắt đường 14 ở Chư Thoi, Tân Phú (nam Kon Tum).
Ngày 30 tháng 3, 2 trung đoàn 52 và 64 cùng một tiểu đoàn của trung đoàn 48, sư 320 (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam), đồng loạt tấn công 5 tiền đồn phía Tây sông Poko do 3 tiểu đoàn Biệt động quân QLVNCH đóng giữ. Tướng Ngô Du điều 2 tiểu đoàn của lữ đoàn dù 2 từ Tân Cảnh về các cứ điểm phía Tây sông Poko để tăng cường phòng thủ, điều trung đoàn 47 đánh ra tăng phái cho 2 đại đội quân địa phương chốt giữ Ngọc Rinh Rua và Ngọc Bờ Biêng, lập 2 căn cứ hỏa lực đặt tên là “Delta” và “Charlie. Do bị lộ trận địa, công tác chỉ huy, phối hợp hiệp đồng pháo binh – bộ binh – phòng không chưa chặt chẽ, thông tin liên lạc kém, bị không quân Mỹ và pháo binh QLVNCH oanh tạc mạnh mẽ, trung đoàn 52 bị thương vong nhiều. Ngày 15 tháng 4, trung đoàn 64 Sư 320A đánh chiếm cứ điểm “Rocket Ridge” (1015), đánh tan tiểu đoàn dù 11 (lữ dù 3), bắn rơi 9 máy bay trực thăng. Cùng ngày, trung đoàn 48 (sư 320A) chiếm cứ điểm “Delta” (1338) và phục kích toán quân còn lại của tiểu đoàn dù 11 chạy về đây …” (ngưng trích).

Tôi có tính khí chỉ huy như mãnh hổ vồ mồi là trong khi phi pháo yểm trợ thì chúng tôi nằm yên mai phục và quan sát lượng định tình thế bén nhạy với tất cả giác quan và trực giác như viên đá cuội quẳng vào mặt hồ nước tĩnh lặng làm lan toả những gợn sóng âm ba va vào bờ, trãi rộng diện tích thăm dò, đo đạt trạng huống chung quanh, tôi có cảm tưởng trong nội tâm và ngoại vật như lồng vào nhau thành một thực thể trực ngộ kỳ diệu, tôi có thể cảm nhận được những di động của nhiều đôi dép râu “Bình Trị Thiên” và đôi chân trần của nhiều thân thể dẫm đạp lên mặt đất tiến về phía chúng tôi với cường độ sát khí hung hãn… Tôi thu dụng ngay tình trạng Tâm thức như nhất trong giây phút vừa qua và phối hợp với tri thức thực tại cùng bao nhiêu sở học ở quân trường và kinh nghiệm chiến trường, rồi quyết định hành sự chớp nhoáng sau khi phi pháo rời vùng ra xa để tránh tình trạng quân ta bắn nhầm lên đầu quân bạn.

Tôi gọi âm thoại qua máy liên lạc:
– 7273…6263…1001…
Tôi ra lệnh bằng mật mã cho hai Trung Đội 2 và Trung Đội 3 cùng hai toán Viễn Thám 2 và Viễn Thám 3 đồng loạt “Tapi” từ phía dưới tấn lên, phía trên tràn xuống, trang bị nhẹ: vai không ba lô chỉ giây ba chạc, súng cá nhân và lựu đạn…Trinh Sát Dù dẫm lên xác Bắc Quân theo thế hàng ngang đột xuất tấn công nhanh như chớp đồng loạt nhã đạn vào hàng ngũ địch cho tới khi hai cánh từ trên và dưới gặp nhau (Link up)… Quang cảnh chiến địa: năm ba khẩu phòng không 57 ly chỏng gọng, hằng trăm vũ khí của Bắc Quân ngỗn ngang bên cạnh hằng trăm xác chết vẫn còn hơi ấm nồng mùi máu tươi…!

Chiến tranh nào mà không có tàn phá hủy diệt, không phải trả bằng máu đổ thịt rơi, xương phơi dưới chiều nắng quái …? Nhưng cuộc chiến Bắc – Nam cốt nhục tương tàn này khiến tôi có nhiều xúc động, thương cảm, bồi hồi, nội tâm buồn mênh mang khi nhìn những cặp mắt mở trừng trên gương mặt trai trẻ tuổi đang độ xuân thì mà có lẽ cũng chưa được hưởng bao nhiêu tháng năm an bình niên thiếu với gia đình và cha mẹ, người yêu bên nồi khoai sắn vừa nấu chín tay cầm tay mà e ấp chuyện chung tình… thì đã bị bọn đồ tể chễm chệ trên chóp bu quyền bính “Đảng và Nhà Nước” Cộng Sản Bắc Việt xử dụng bạo lực thu gom, tuyên truyền nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ tạo ra “chất” ảo tưởng anh hùng giải phóng, ngọn giáo tiền phong của phong trào tiến lên thực hiện nghĩa vụ Quốc Tế Cộng Sản… và đẩy vào chiến trường miền Nam làm mồi cho bom đạn vốn được chế biến, sản xuất từ những quốc gia Âu – Mỹ phương xa …! Bọn chóp bu Cộng Sản Bắc Việt có bao giờ liếc mắt nhìn vào bản thống kê tổn thất sinh mạng Bộ Đội Bắc Việt, để xét lại tham vọng ngông cuồng của chúng ? Cán binh Bắc Việt bị chết trận được tô vẽ thành “liệt sĩ” chỉ là con số thôi, “chúng” đã chết tức không phải là người ?! Bọn chúng vẫn tiếp tục tận dụng vơ vét tài nguyên nhân lực cho đến khi cạn kiệt và sẵn sàng “đốt cháy cả dãy Trường Sơn để chiến đấu trường kỳ “nhất định thắng lợi” và đánh cho tới người Việt cuối cùng…” để cho nước Tàu được bình yên với hơn 1 tỷ dân trong nước luôn đói thiếu miếng ăn từ nhiều thiên niên kỷ đã trở thành nỗi ám ảnh và quán tính, nên do vậy câu chào hỏi đầu tiên khi gặp nhau: “你 吃 饭 了 吗” (nǐ chī fàn le ma?) – mày ăn cơm chưa? Và để cho Mao sếng sáng thân thể béo tốt ngủ ngày với giấc mơ Đông Phương Hồng và quyển sách nhỏ “Mao Tuyển” bỏ trong túi quần làm sách gối đầu giường lại là “Extract Testoterone” kích thích Hồng Quân, đám trẻ trâu Vệ Binh Đỏ chưa ráo máu đầu làm cuộc “Cách Mạng Tazan Hoá” để Mao “tá đao sát nhân” thanh toán hầu hết những đồng chí có công trong cuộc trường chinh là để tránh hậu hoạ “công thần chủ nghĩa” về sau và “đào tận gốc, trốc tận rễ” cả nền văn hoá Phật – Khổng – Lão – Trang – Bách Gia Chư Tử … đốt sạch, giết sạch như bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng tân thời…! Nhưng Mao đã nhận chân ra nhân dân “thoòng dzành” của “thiên tử” không thể làm công cụ bành trướng cho Nga Sô hưởng lợi và Nga hoá (Russianization, and Russian-led Sovietization) toàn thể lục địa Trung Hoa nên “rặn” ra Maoism để bảo vệ thành quả cách mạng triều đại “Mao Hoàng” ! Nhưng bọn gia nô “Jiệtcộng dzành” Annam Bắc Bộ Phủ cấp sách đồng ấu học Mao, học “Mac xít – Lê nin nít” chưa vỡ chữ nghĩa đang lùa thanh thiếu niên miền Bắc Việt Nam vào lò sát sinh do Mỹ đã an bày với tất cả Bomb đạn và pháo đài bay B52 chiến lượt trãi thãm… kể cả tên Lê Duẩn (1907–1986) là Bí thư Thứ nhất Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam Cộng Sản cũng đã cúc cung tận tín làm con chó nhỏ đã căng giây cót tuyên bố :” Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…”… Ôi nhân tai !

Tôi biết nó thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao…!
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài người qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm nó từ xa…
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu!
Lúc rúc vào Tàu, lúc rụi vào Nga
Nó gọi Tàu – Nga là cha anh nó
Và nguyện làm con chó nhỏ !!!
Xông xáo giữ nhà, gác ngõ cha anh
Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh…
Học thói hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vội hết thanh niên
Đang diễn ra triền miên ghê gớm đó…
(Thơ Vô Đề – Khuyết Danh. 1968)

Trên tầng số liên lạc:
– Út Bạch Lan…207…
– Tôi nghe Đích Thân.
– Phú Quý (thiếu tá Lê Văn Mạnh TĐT/TĐ2ND) sẽ vào Charlie phía Bắc và sẽ Link up với UBL. TĐ1ND sẽ xuống Hồng Hà phía Nam của UBL. Chúc mừng UBL. Có tin vui cho UBL…sẽ gặp nay mai.
– Nhận 5/5 Đích Thân.

Đứng trên đỉnh đồi Delta bên cạnh thiếu úy Chấn với ca cà phê còn bốc khói, tôi chợt nghĩ lại lời nói hôm qua với tên Thiếu Úy Đoàn Tạo (VC): “các cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có nghĩa là các cậu còn sống…” rồi cười một mình…!!!

Thiếu Úy Chấn nói:
– Anh Út à… ! Tôi ở Nhẩy Dù 15 năm từ Hạ Sĩ Quan rồi đi học trở thành Sĩ Quan, xông pha bao nhiêu trận mạc vào sinh ra tử… Nhưng chưa bao giờ tôi có cảm tưởng hồi họp ly kỳ, đôi lúc tếu lâm như lần này ở bên cạnh anh, tôi nhận thấy thái độ của anh tỉnh bơ, tinh thần vững chãi, bản lãnh chỉ huy điều động anh em tác chiến và nhất là không nao núng, lo âu ngay khi cả bọn mình trong vòng vây trùng điệp tưởng chừng như sẽ bị địch tràn ngập… mà anh còn nói chuyện tếu trong âm thoại liên lạc với mấy Sĩ Quan Trung Đội Trưởng hay các Trưởng Toán Viễn Thám chẳng hạn khi trung úy Sang gọi báo cho anh rằng:
“…Trung Đội 2 chúng tôi bị tràn ngập…”. Anh trả lời tỉnh queo cho Sang:” … Anh còn gọi báo cáo cho tôi được, thì trên răng dưới lựu đạn, hay răng đen mã tấu của anh vẫn còn ? Sao không chơi xã láng sáng mặc quần xà lỏn về sớm với tôi… để chúng ta cùng chạy over run…”!!! Tôi thật sự ái mộ và khâm phục ĐĐ2TSND của anh vô cùng… !!!

– Anh Chấn nè…! Chiến công này không phải của riêng tôi và đơn vị đâu. Thứ nhất là kế hoạch hành quân tuyệt vời của BCH/LĐIIND với Quân Đoàn II, những bộ phận then chốt trong đó là TĐ1PBND của Thiếu Tá Bùi Đức Lạc, các Pháo Đội…và của Anh Chấn nữa, Phi Đoàn Khu Trục 514 Phượng Hoàng, Phi Đoàn 530 Thái Dương tăng cường, Phi Đoàn 213 Song Chuỳ, Phi Đoàn 215 Thần Tượng, Phi Đoàn Trực Thăng 229 Lạc Long của Phi Đoàn Trưởng Thiếu Tá Lê Văn Bút với tay Pilot gan lỳ xuất thân từ trường tôi luyện thép Thiếu Sinh Quân là Đại Úy Phạm Công Cẩn túc trực ứng chiến bay ngày đêm trên vòm trời lưới đạn phòng không để “cứu thằng em Út Bạch Lan và con cái của nó đang bị VC tapi en masse”, Đại Tá Mike cố vấn LĐIIND thảo hoạch và phối hợp điều động chặc chẻ ứng chiến từng phút, từng giờ và hằng ngày với Cố Vấn Quân Đoàn Mr B.52 John Paul Vann phối hợp nhịp nhàng với Phi – Pháo yểm trợ… Anh nên biết rằng các quan “Mặt Trời” bày binh bố trận “Trường Bản” rồi bốc toàn thể yên hùng Triệu Tử Long ĐĐ2TSND thả chúng ta xuống cái “hột Lạc” này đây là kế sách của cấp Quân Đoàn: “thảy một cục đường cho bầy kiến bu lại” rồi xịt thuốc pháo TOT (Time on Target: to determine the time to fire. An executive order to fire is given to all guns in the fire unit at the correct moment to fire), và mở Hội Thiên Lôi từ trên giời cao cho quan lái tàu bay mặc phi bào áo liền quần thảy lỗ Bomb Napal đốt muỗi, diệt ruồi …!!! Anh Chấn “vác ngộ” chưa ? Tôi choàng tay ôm vai người bạn già Thiếu Úy Tiền Sát Viên TĐ1PBND đã đồng cam cộng sinh tử vừa qua và cùng nâng ca cà phê:

– Hay không bằng hên… ! Chết sống như một định số an bày ? Anh nhìn xem có bao nhiêu người đã bất động nằm đó, còn tôi với anh vẫn còn đứng đây, chung quanh là những binh sĩ như huynh đệ thủ túc của mình đã cùng nhau kinh qua bao chiến trường gian khổ, hiểm nguy từng phút từng giờ trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật này, họ đang lom khom đốt lửa để hâm nóng hộp thịt ba lát chuẩn bị bữa ăn dã chiến và ngoài kia có hơn 600 xác chết Bắc Quân đếm được vì còn phần thân mình, những thây bị banh xác chỉ còn vài phần xương thịt vung vãi trên khắp ngọn đồi Delta và có bao nhiêu thân xác Bắc Quân bị Bomb Napal đốt cháy thành than không đếm được nữa… Tất cả sẽ ở cùng với đất đá tại thung lũng dốc thoai thoãi lẫn khuất này và rồi sẽ làm thêm mầu mỡ cho môi sinh khi mùa mưa tới vài tháng nữa đây…! Tôi đố Anh Chấn biết trong thâm tâm của những người Lính ĐĐ2TSND đang ghĩ gì …?

Với ý chí truy tìm và tuệ giác chiếu soi thì thế giới quan chẳng có gì là bí mật? Do dục vọng móng khởi trong Tâm làm sáng tạo tư tưởng và rồi tư tưởng lại làm cho dục vọng tăng trưởng thành nền tảng cho loài người tiến hoá, văn minh… và nhận thức sự lý tốt xấu, đau khổ, hạnh phúc, giải thoát khỏi vạn pháp … lại cũng tuỳ ở quan niệm giới hạn bởi tri thức, địa lý chính trị và tầng giác ngộ thô hay thậm thâm vi tế vượt qua khỏi trạng huống vật chất với phàm nhân còn vô minh thì như bất khả tư nghì …? Với tiềm năng của con người cộng với trí thức và có phương pháp, tinh tấn với nổ lực sẽ đạt được thành quả. Nhưng khi “cái” thành quả đó có được cũng là quá khứ với ít nhiều thiếu sót, khiếm khuyết … và lại có thêm những khám phá, phát minh mới … rồi tối hậu để làm gì? Có phải chăng loài Người trên thế gian này đối đãi và cư xử với nhau hướng thượng với phương châm cực Lý là Tình? Nếu là Tình thì những kẻ chủ xướng cổ máy xay xương thịt người Việt Nam là hợp Lý chăng? Dân Việt sẽ được gì sau cuộc chiến? Đất nước nầy rỗi sẽ ra sao? Trong phạm vi cuộc chiến Việt Nam mà 3 nước đại cường và cũng là 3 thế lực lớn: Mỹ – Nga – Tàu chủ trương, chi phối và điều động toàn thể giới lãnh đạo của hai miền Nam – Bắc Việt Nam: Mỹ có đại nhân, đại trí, đại lược, đại dũng và cũng là “nhân tố” thiên tài ở mặt sáng có ánh quang mặt trời làm lý tưởng che chắn và rao hàng, dòng thời sự Mỹ tuy có phản ảnh sự phân hoá ở mặt tầng xã hội, tin tức phản chiến rộ trên mặt trận truyền thông, báo chí là biểu hiện ý thức sinh hoạt Tự Do – Dân Chủ của dân chúng Mỹ “thấm thương” bởi Việt Nam War và cũng chỉ là Science có chỉ đạo và dự tính cho dù đã xảy ra hiện thực đang thời?
Nhưng Quốc Sách – Chiến Lược do những Kỳ Nhân – Thượng Hội Đồng Tối Cao Quyền Lực ngự trong “Nội Phủ” làm quốc chủ “Cung Đình” vẫn được các “hình nhân” răm rắp thi hành xuyên suốt… Nếu có trở ngại trên đường thẳng tiến ư ? Oh,… Flow Chart … đã có dự trù thế bò trườn của con sâu róm (sâu lông) nó rất cẩn trọng luôn ngẩng đầu lút lắc nghe ngóng, thăm dò để điều chỉnh hướng tiến tới và Policy vẫn trực chỉ thi hành cho hoàn tất những chặng đường đã hoạch định, thiết kế cho nước Mỹ và Thế Giới như an bày “In God We Trust – Annuit Coeptis – Novus Ordo Seclorum“ (tuân hành những điều đã qui định) … Ở mảng tối lại là thiên tai và gây nên đại hoạ cho dân Việt khi thiết kế sách lược xử dụng chiến tranh Việt Nam để phân hoá Nga – Tàu làm hư hoại khối Cộng Sản trên đà bành trướng!
Những người Bolshevik Nga tinh tuý, biến cải và ảo tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa và Thế Giới Đại Đồng ! Nhưng thực chất vẫn là cuồng vọng bành trướng Đại Nga, Đế Quốc Nga sau khi họ đã triệt hạ triều đại Nga Hoàng, với quyền lực đại cường họ đã xuất cảng dòng thác “cách mạng” là dòng sông máu Marxism-Leninism để nhuộm đỏ thế giới… Nhưng chính bọn đồ tể Bắc Bộ Phủ mới là tác nhân làm cho dòng sông máu Cộng Sản thêm phần dơ bẩn, hôi thối là rác rưỡi của nhân loại cần phải thiêu huỷ và vứt đi. Tàu với bản chất xâm lăng, chiếm đoạt, và phá hoại tài nguyên của nhân loại và với sách lược chính trị lộ tuyến… Tàu đang là công địch của thế giới thì trên lộ trình hướng tới tương lai phải đương đầu với đại hoạ phân thây là điều tất yếu, huống chi “Người Ta” vỗ béo con vật để giết thịt ? Kết cuộc: Nga bị lừa, Trung Cộng bị lừa, cả thế giới bị lừa, Giới lãnh đạo Nam – Bắc Việt Nam bị lừa, Dân Tộc Việt Nam bị lùa vào lò sát sinh… “Oh hô Washington Bodhisattva… xá mớ bái”…! Trời hết mưa rồi lại nắng, sau chiến tranh thì tới hoà bình, để những tập đoàn tài chánh là sân sau của “Cung Đình” sẽ di dời vùng kéo tới đầu tư, mua bán, tái thiết, xây dựng và khui bốc mẽ tài nguyên dưới mặt đất thời kỳ Vôi của đất nước Việt? Nhưng dân Việt ta có lẽ chỉ hưởng được một tí chéo áo là an vui, hạnh phúc rồi và lấy làm thịnh vượng…?! C’est sera sera, Anh – Em chúng ta biết ra sau ngày sau?

Sau hai ngày chờ đợi TĐ1ND và TĐ2ND vào vùng an định, ĐĐ2TSND được trực thăng vận triệt xuất về Căn Cứ Võ Định – Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn II Nhẩy Dù với báo cáo kết quả của TĐ2ND đã thu nhặt chiến lợi phẩm và đếm hơn 600 xác Bắc Quân nằm chung quanh và khắp ngọn Đồi Delta.

Mũ đỏ Trương Văn Út (Útbạchlan)
Houston – Tháng Giêng, Năm Đinh Dậu 2017.

Thủ Đô Helsinki

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Helsinki Cathedral and Market Square

Hồi nhỏ tôi đọc tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân, ông viết về phở rất tuyệt và tôi biết ăn phở từ sau khi đọc xong tùy bút của ông. Tuy nhiên tôi thích thú cảnh ông tả về Hen-xanh-ky, tức là Helsinki, thủ đô nước Phần Lan. Đoạn đầu ông viết : “Xứ Phần Lan rừng thông trùng trùng xanh ngắt, nước hồ biếc biếc, phụ nữ da trắng một màu tượng tuyết, gái trai quần áo len ngũ sắc người nào cũng như nai nịt sắp biểu diễn điền kinh. Mình thành ra lạc lõng vào một thế giới vật chất nó sạch sẽ quá, sạch đến cái mức tạo cho tôi một thứ nghi ngờ nơi đây là một ấn tượng giả tạo…”

Lần đầu tới Helsinki lòng tôi hân hoang rộn rã, tôi nghĩ mình đã tới một xứ sở huyền ảo ở giữa trần gian, nhưng khi tới nơi thì hổng thấy ảo huyền gì hết. Helsinki là thủ đô của Phần Lan, đường phố náo nhiệt, người đông nhưng không ồn ào như nhiều thủ đô khác. Hệ thống xe điện ngầm, xe điện trên mặt đất và xe bus rất tân tiến. Thành phố sạch sẽ vừa cổ kính vừa hiện đại, là một nơi nghĩ dưỡng rất lý tưởng. Người Phần Lan sống rất văn minh, rất nhân bản và rất dễ gần gũi. Có thể lúc nhà văn tới Helsinki chưa có Sân vận động Olympic, các loại xe công cộng tân tiến và những xe bus hai tần sang trọng có tên là Hop On – Hop Off của công ty du lịch dành chở du khách tham quan thành phố như hiện nay. Tuy Helsinki không nhiều di tích lâu đời như Turku, thủ đô cũ của Phần Lan, nhưng có rất nhiều biểu tượng và bảo tàn viện đã thành lập cách đây hơn thế kỷ như nhà hát Thụy Điển, quảng trường Senate và bức tượng Alexander II phía trước Thánh Đường Trắng (Helsinki Cathedral)…

Theo nhà văn kể thì ông theo phái đoàn đi dự Đại Hội Hoà Bình thế giới, tiền ăn một ngày sáu đô la “Mỗi ngày ăn ba bữa, khẩu phần thừa thãi bổ béo; nghi thức lúc ăn thật là trang trọng : đồ sứ, pha lê, khăn bàn trắng muốt, quanh bàn ăn chốc chốc lại cử nhạc, những chị đưa món ăn trông đẹp như rượu rót trong các truyện thần thoại phương Bắc này…”.

Có lẽ chánh trị Việt Nam lúc đó đương lộn xộn, nhà nước ta còn nghèo, cán bộ đi công tác được ban tổ chức bao tiền ăn, tiền ngủ chớ hổng cho chương trình tham quan thành phố và không có tiền cán bộ bỏ túi, tiệc tùng, ăn nhậu xả láng như cán bộ của nhà nước hiện thời. Trong những giờ rảnh rổi hổng có tiền đi xe, cả phái đoàn ngơ ngáo không biết đi đâu chơi đành kéo nhau vô rừng thông, ngồi trên bãi cỏ mơ màng tưởng tượng từ cái thủ đô cho tới chuyện ăn uống ra truyện thần thoại. Nhớ nhà, thèm ăn phở, nhà văn bèn thảo tùy bút ngay bờ hồ Ô-ta-ni-ê-mi của thành phố Hen-xanh- ky.

Vì kính trọng nhà văn tiền bối, một con người tài hoa, đã bôn ba vượt đại dương hàng tháng trời nơi các nước xa xôi, tham dự Đại Hội Hoà bình thế giới để giới thiệu văn hoá nước nhà tới miền Bắc cực này. Mỗi khi lên phố Helsinki tôi hay để ý tìm lại dấu vết của người xưa. Trước tiên tôi tìm trong bản đồ thành phố những hồ nước có vần O hoặc Ö nhưng hổng thấy và không đọc ra hồ nước nào có âm Ô-ta-ni-ê-mi. Khắp Phần Lan có hàng ngàn hồ nước, xung quanh Helsinki ít ra cũng có vài ba chục hồ. Cái hồ lớn nổi tiếng tên Päijänne ở Sysmä vào những ngày hè, khi mặt trời lặng, ánh nắng nhuộm màu đỏ lói phía góc hồ Tây, dĩ nhiên Päijänne không nằm trong phạm vi của Hensinki. Công viên Esplanade nằm trong trung tâm của thành phố có bãi cỏ xanh và cây xanh mùa thu đầy lá vàng, nơi đây có một hồ nước ngầm luân lưu làm mát những ngôi nhà thành phố. Có lẽ chữ nghĩa thời đó khác thời nay nên phiên âm của nhà văn tôi không đọc ra, ngay cụm từ Hen-xanh-ky nếu hổng có từ Phần Lan đi kèm tôi cũng hổng biết ở đâu nữa, còn chữ Phần Lan tôi ngọng nên hỏi thăm người bản xứ tên hồ nước Ô-ta-ni-ê-mi hổng ai biết đâu hết, cuối cùng tôi đành bỏ cuộc.

Cũng từ đó cái ấn tượng một thế giới giả tạo, một thủ đô Hen-xanh-ky thần thoại của nhà văn tôi xem như trong truyện cổ tích. Tuy nhiên, cho tới hôm nay, mỗi lần ghé Helsinki tôi thường lang thang trong phố hay đi trên con đường vắng vẻ. Có khi suốt đêm trong quán nhậu hoặc ngồi uống cà phê trong góc phố bên công viên đầy lá vàng và cỏ xanh. Tôi lại nghĩ tới nhà văn tài hoa họ Nguyễn, coi vậy mà cũng hay, thử nghĩ, nếu hồi đó ông được đi lang thang như tôi bây giờ, có thể hổng có tùy bút Phở ra đời, biết đâu món phở Hà Thành cho tới nay vẫn còn bình dân như các bún nước, mì nước, hủ tiếu nước hoặc những món xúp thường thường chớ không nổi tiếng thế giới như hiện nay.

***

Tàu cặp cảng Helsinki lúc năm giờ sáng. Lòng tôi bồn chồn nôn nao như trở lại nơi thân thuộc. Bây giờ là mùa hè không gian thoáng, khí trời mát mẻ. Tôi thèm lên phố, dù chỉ lang thang vài giờ để nhìn ngắm cảnh đẹp của Helsinki, thủ đô này đã để lại trong tôi rất nhiều ấn tượng.

Tôi xin thuyền trưởng cho tôi nghỉ buổi trưa. Thuyền trưởng nói:

– Tàu đậu lại ngày nay, mười giờ tối tàu khởi hành sang Estonia, ông phải có mặt trên tàu khoảng tám chín giờ.

– Yes Sir, tui sẽ về tàu trước chín giờ.

Thủy thủ In Đô trước kia bán được rượu và thuốc lá kiếm thêm tiền túi. Từ ngày Estonia nhập vào châu Âu, đường tàu Helsinki sang Tallin một ngày hai ba bận, rượu và thuốc hút không kiểm soát gắt gao như trước, dân Helsinki đổ xô qua Estonia mua rượu và thuốc lá về dùng. Làm thủy thủ tàu containers không còn cơ hội kiếm thêm tiền, không có tiền túi thì không lên bờ chơi, cả đám cứ ru rú trên tàu, những giờ rảnh nối mạng internet chat với người thân hoặc rút vô phòng coi phim con heo. Để khỏi phiền phức tôi không bao giờ rủ rê ai hết, thường thì tôi hay đi mình ên lang thang trên phố. Ama người In đô, tánh tình rất cởi mở, vui vẻ, có óc khôi hài, thích khám phá, nó theo đạo Tin Lành và không ưa Hồi giáo, nên không đi chơi với mấy người đạo Hồi. Có lần nó nói với tôi:  

– Ở In Đô phần đông là đân ít học hoặc có học nhưng vì lợi lọc họ mới theo Đạo Hồi, những người này ngoài cái việc không ăn thịt heo và mỗi ngày cầu nguyện Allah năm bận ra họ hổng biết đạo lý là gì hết.

–  Tao nghĩ, Đạo nào cũng phải có tình thương, nếu hổng có tình thương thì còn nói chi là Đạo.

– Nhưng đạo Hồi một chút tính người cũng hổng có, nói chi tình thương, trong họ không có hoà bình, chỉ có chiến tranh và khủng bố.

Tôi nhún vai:

– Là do con người thôi. Theo tao đạo Hồi tồn tại trên hai ngàn năm rồi, khắp thế giới hiện nay tính đồ Hồi giáo đông nhứt, dân In Đô mày theo Đạo hồi gần hết, mày đừng nên xem thường họ.

Bình thường với đồng hương của nó, nhứt là mấy người đạo Hồi, nó hay cải lý, nhưng không hiểu sao với tôi thì chuyện này không xảy ra và cũng từ đó, nó thường hay la cà nói chuyện với tôi. Ama rất thích đổ bộ, trước kia nó thường đi với người Hoà Lan nhưng sau này không thấy đi với họ nữa, hôm nay nghe tôi sắp lên lên phố, nó tới hỏi tôi:

– Chú cho tui theo được không?

Thấy nó thoải mái, đi chung chắc không phiền phức, tôi day qua nói:

– Đương nhiên, xứ tự do mà, mày đi chưn của mày, nhưng tao nói trước, tao đi để mà đi và đi bộ hoặc xe công cộng, hổng đi tắc xi, nếu mày không ngại mỏi giò thì cứ đi theo.

Nó vỗ vỗ tay xuống bắp đùi và nói:

– Dĩ nhiên, dĩ nhiên, chưn tui còn khoẻ mà, ông đi tới đâu thì tui tới đó.

Nó cười hì hì rồi nói bằng tiếng Hoà Lan:

– Kijken kijken, niet kopen. Nghĩa là coi thôi chớ hổng mua gì hết. ( Đây là một thành ngữ châm chọc sự keo kiệt của người Hoà Lan mỗi khi dạo ở những khu du lịch nước ngoài.)

Tôi đưa ngón tay cái ra gặt gặt, nói:

– Tốt lắm! Ru rú trên tàu trong những ngày hè nắng đẹp thì thật là uổng phí thời gian.

Ama chỉ tay ra ngoài trời cười dí dỏm, nói:

– Ngoài trời đương mưa kìa chú.

Tôi nhìn ra ngoài khung cửa kiếng thấy trời ui ui, mưa lâm râm. Tôi gật đầu nói:

– Ừ, năm nay thời tiết khác thường, đầu tuần tháng Bảy rồi mà trời chợt mưa chợt nắng, một lát mình đi chắc phải đem theo áo khoát.

– Okay, trưa nay tui theo chú.

Mưa lai rai từ sáng tới giữa trưa mới dứt. Khi cơn mưa vừa tạnh thì nắng lại lên. Tôi bỏ áo khoát mỏng vô ba lô và hai chai nước lọc rồi cùng Ama lên bờ. Chúng tôi lấy xe điện ngầm vô phố và xuống trạm gần đường Aleksanterinkatu, đây là khu phố chính. Sau hơn bốn năm mới trở lại Helsinki, tôi thấy tất cả đều mới, thành phố này lúc nào cũng mới, trong ánh sáng diu dàng của ngày hè, người ta đi rất đông. Ama hân hoan nói:

– Sáu tháng qua lần đầu tui mới thấy người ta đông quá.

Tôi nói:

– Người dân Phần Lan thường hưởng thụ ánh nắng mặt trời chừng ba bốn tháng, cuối mùa xuân nắng bắt đầu ấm, sớm lắm giữa tháng năm, cho tới giữa tháng chín thì gió mát của mùa thu lại về.

– Chỉ ở Phần Lan thôi hả chú. 

– Không phải riêng ở Phần Lan này, ngoại trừ vùng Lappi ở phía Bắc, nơi đó những tháng hè mặt trời hổng lặng. Các nước trong vùng Baltic như Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Estonia, Latvia, Lithuania trong khoảng thời gian mùa hè, từ cuối tháng năm tới đầu tháng tám, mặt trời mọc khoảng bốn năm giờ sáng, lặn khoảng mười, mười một giờ tối, những giờ mặt trời lặng tuy ngắn ngủi nhưng ánh sáng mặt trời toả sáng suốt ngày đêm. Thỉnh thoảng ban ngày nhiệt độ lên tới ba mươi độ C. 

Giữa dòng người ngược xuôi trên đường phố có vài người hát dạo, chơi phong cầm, chơi gita và cũng có người ăn xin nghêu ngao ca hát. Mỗi khi nghe tiếng đờn thì cả thân hình Ama lại lắc lư theo điệu nhạc. Chúng tôi đi tới một khoảng rộng, nghe văng vẳng âm thanh trong trẻo như tiếng kim ngân, nhìn tới trước thấy một đám người bu quanh chỗ phát ra tiếng đờn. Ama liền đi nhanh tới chen lấn đám đông, tôi bước theo sau, nó chen tới đâu tôi theo tới đó, cuối cùng chúng tôi cũng lọt vô phía trong. Trước mặt chúng tôi có ba anh nhạc sĩ chơi hai bàn đờn Xelophene, đờn Xelophone tương tợ như đờn T’rưng, đờn T’rưng phiếm bằng những thẻ tre và để đứng nghiêng, còn Xelophone phiếm làm bằng kim loại và để nằm thẳng trên chiếc bàn. Ba anh nhạc sĩ đứng sau hai bàn đờn, chưn cẳng nhịp nhịp, thân người lắc lư, mắt lim dim, tay cầm dùi say mê gỏ phím, hoà tấu một bản nhạc nghe rất vui tai. Khi bản nhạc chấm dứt người đứng xung quanh vỗ tay rân trời và sau đó xúm nhau bỏ tiền vô chiếc thùng phía trước mặt. Chúng tôi cũng vỗ tay thiệt lớn và cũng bỏ tiền vào thùng, Ama còn bịn rịn chưa chịu đi. Khi ấy ba anh nhạc sĩ rót cà phê uống nghỉ giải lao và những người chung quanh cũng tản đi gần hết, lúc đó nó mới chịu  quay lưng. Tôi nói:

 – Tao nghĩ mấy nhạc sĩ này đến từ nước Nga:

– Sao chú biết.

– Thấy cách ăn bận của họ cũng đoán được. Thường thì mùa hè, người Phần Lan hay đi ở những ngôi nhà nghỉ bằng gỗ trong rừng hoặc bãi biển, gần ao hồ hay ra những hải đảo. Cũng như dân Na Uy, Thụy Điển, người Phần Lan rất thích tắm hơi và đi du lịch nước ngoài, nên trong thành phố ít người bản xứ. Ngược lại người nước ngoài tới đây nhiều, nhứt là những nước lân cận như Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy,  Estonia, Latvia, Lithuania và Nga…

Nó cười hì hì:

– Thì tui và chú cũng là người nước ngoài đi du lịch.

– Ờ, mày để ý thì thấy dân nước khác đi rất nhiều nhưng chưa thấy ai giống tao và mày.

Ama ngó quanh và nói.

– Ừa, hổng thấy người Á Châu.

– Tao nói chưa thấy chớ hổng phải hổng có người Á Châu. Người Tàu, người Nhựt có khi họ đi du lịch thành nhóm cả mấy chục người.

Chúng tôi bước theo dòng người vô trung tâm Stockman. Cùng lúc đó tôi thấy một tốp năm sáu người vừa con gái vừa con trai từ trong khu mua sắm đi ra. Tôi day qua nói nhỏ với Ama:

– Mày coi, người Á Châu  kìa, họ ăn bận sang trọng hơn tao với mày nhiều.

– Họ là dân du lịch mà.

– Vậy tao với mày hổng phải là dân du lịch rồi.

– Ừ hén, mình là thủy thủ, mấy người này chắc là người Tàu.

 – Người Nhựt đó.

Ama nhìn qua họ rồi day lại hỏi:

– Làm sao phân biệt giữa người Tàu và người Nhựt?

– Mày thấy đám người Á Châu nào ăn bận loè loẹt, trên đường xí xô xí xào ồn ào nhứt thì đó là người Tàu lục địa, ngoài ra người Hồng Kông, Đài Loan và người nước khác…

Stockman là một trong những trung tâm buôn bán nổi tiếng của Phần Lan, bên trong người ta bán thượng vàng hạ cám, những món hàng nội địa và hàng nhập từ khắp nơi trên thế giới, đồ thủ cô nghệ bằng thủy tinh và đồ gỗ chạm trổ tinh vi trông lộng lẫy và hấp dẫn vô cùng. Ama dừng lại gian hàng bán đồ lưu niệm, cầm con dao nội địa tra cán màu ngà lên ngắm nghía một lát, rồi qua chỗ để nón cầm lên một cái xem tới xem lui một cách thích thú, nhưng khi nhìn bảng giá nó để xuống và rụt vai, nói:

–  Mắc quá. 

Tôi khoác tay cười và nói:

 – Ở xứ này món nào cũng mắc hết, có thể đồ không thiệt, nhưng bảo đảm chất lượng tốt.

– Chú nói cái gì hổng thiệt?

– Thí vụ như cán dao mày thấy màu ngà, nhưng cũng có thể bằng nhựa hoặc một loại đá nhân tạo, vì bên này hội bảo vệ thú vật cấm không cho giết những con thú quí hiến của thiên nhiên lấy sừng hoặc lấy ngà làm đồ chơi. 

Dĩ nhiên chúng tôi chỉ ngó cho vui mắt chớ hổng mua gì hết. Xem tới lúc không còn gì để xem, chúng tôi mới rời khỏi Stockman trở ra đường phố. Lần đầu tiên Ama tới Helsinki, nhìn cảnh xe điện chạy trên đường, người đi bên phố nó trầm trồ khen:

– Ở đây xe cộ nườm nượp nhưng trật tự, người ta đông đúc nhưng hổng thấy xả rác rến trên đường.

– Không riêng gì ở Helsinki, vùng Scandinavi nơi nào cũng sạch và đẹp. Nhộn nhịp nhứt là bắt đầu cho những Đêm Trắng, khắp phố phường đâu cũng nghe tiếng nhạc.

– Nghe nói Đêm Trắng qua rồi.

– Ngày lễ của Đêm Trắng thì qua rồi, đêm nay mày chờ tới giữa khuya, ra ngoài boong xem thử, nếu thấy trời hổng tối đen thì đêm vẫn còn trắng.

– Vậy thì đêm trắng còn lâu mà, nghe nói những ngày này ở đây người ta thường hay tổ chức lễ hội.

– Không riêng gì người ta. Cỏ, cây, hoa, lá và muôn thú, chúng đã trải qua một mùa đông dài lạnh buốt. Khi nắng lên thì khắp nơi bừng sáng, dưới mặt đất hoa nở tốt tươi, trên cành cây lá non xanh, chim chóc nhảy nhót hót ca, hưu nai vui vẻ rượt đuổi nhau trong rừng và có lẽ chúng cũng có lễ hội riêng.

– Chú nói chuyện nghe vui quá.

– Tại hôm nay tao với mày gặp hên, nhằm trời mắng đẹp nên mày thấy cái gì cũng vui mắt và nghe gì cũng vui tai.

– Trước đây tui thường đi với người Hoà Lan, nhưng tụi nó chỉ biết chui đầu vô quán ba uống cho say xỉnh, rồi kêu tắc xi chở về, đi với họ hổng biết trời cao đất rộng là gì.

– Mỗi một người có cách sống khác nhau, mình nên tôn trọng.

Những ngày nắng đẹp, người ta thường vô những quán gần công viên hay ngồi uống cà phê dĩa hè quanh đó. Tôi định dẫn Ama qua dạo công viên Esplanade, nhưng khi lên dốc tôi mới hay đã ngang quảng trường Thượng Nghị Viện. Tôi chỉ tay lên Thánh Đường Trắng nằm trên bậc thềm cao bên kia con đường, nói:

– Nơi đây không gian rộng rãi, sạch sẽ, mày nhìn xem, lối kiến trúc nhà thờ trắng rất độc đáo, vừa hiện đại vừa cổ điển.

Nó trầm trồ:

– Ồ, đẹp quá chú.

Chúng tôi bước qua kia lộ đi về phía thánh đường, qua một sân lót gạch đá rộng, tới bức tượng trước sân. Ama khoái quá, đưa điện thoại qua nhờ tôi chụp hình cho nó. Sau đó chúng tôi đổi điện thoại nhau và tiếp tục vừa chụp hình cho nhau vừa leo lên những bậc thang. Một lát sau chúng tôi tới trước nhà thờ, khi nhìn xuống thấy mình ở trên những bậc thang khá cao, tôi và Ama ngồi xuống trên bậc thang cao nhứt, tôi mở ba lô lấy nước ra uống và bấm điện thoại xem lại hình đã chụp, tôi xóa mấy tấm hình không vừa mắt rồi ngước lên nhìn chung quanh. Rất nhiều người ngồi nghỉ, phần đông cúi mặt chăm chú nhìn vào điện thoại, có lẽ họ cũng như chúng tôi đương xem lại hình mới vừa chụp được. Vài người con trai, con gái ngồi đọc sách trên những bậc thang, trông họ nhàn nhã, đẹp đẽ và trí thức quá chừng. Tôi nói với Ama:

 – Theo thống kê của tổ chức Phát Triển và Hổ Tương Kinh Tế.  Phần Lan có tên trong mười nước học giỏi, và có nhiều bằng đại học từ những đại học danh tiếng thế giới. 

Ama liền nói:

– Người Phần Lan nhờ ăn cá nhiều nên thông minh.

– Ừ, tao cũng nghe nhiều người nói ăn cá nhiều thông minh, người Phần Lan thường ăn cá hồi, nhưng tao thấy trong thực đơn văn hoá ẩm thực của người Phần Lan, tính ra thì họ ăn cá ít hơn người In Đô và người Việt. Người In đô của mày và người Việt Nam của tao ăn từ cá lớn như cá mập, cá ngừ đại dương, cá nhỏ như lòng tong, ròng ròng, tôm, tép và cho tới con ruốc li ti đều đớp láng, nhưng con người thì ngu bỏ mẹ. Dân Phần Lan họ ăn cá, ăn thịt, uống rượu, sáng say, chiều sỉnh, tối quặt quà quặt quại, nhưng bình thường trông họ sáng láng, văn minh, tự tin hơn người In Đô và người Việt nhiều.

Ama cười hì hì  thì.

– Theo chú như thế nào mới là một dân tộc thông minh?

– Một dân tộc thông minh thì hổng phải chịu nhục, chịu nhã, ở đợ, làm mướn, trồng cần sa, bán ma túy, làm đĩ, làm điếm khắp nơi trên thế giới.

– Ừa, chú nói cũng đúng, nhưng tại chánh quyền hổng lo cho dân.

– Ờ… Chánh quyền Phần Lan hổng để đầu óc tính toán chuyện hối lộ, tham nhũng, vơ vét tiền bạc của dân nên họ hổng sợ dân chúng nổi dậy lật đổ, đảo chánh gì hết, nhờ vậy mà đầu óc họ sáng suốt để tính chuyện làm sao cho dân giàu, nước mạnh. Con người Phần Lan sống dưới một chế độ trong sạch, tự do, nhân bản, một đất nước an bình, trong một môi trường sạch sẽ, họ khỏi phải lo sợ chánh quyền đàn áp, đè đầu cỡi cổ, cướp đất, cướp nhà, nhờ vậy đầu óc họ sáng suốt hơn, thông minh hơn, học cái gì cũng giỏi và khỏi cần phải ăn nhiều cá.

Ama nín lặng ngó quanh, chợt day qua, nói:

– Hôm nay mình đi dạo thủ đô Phần Lan, xứ sở văn minh, so sánh với những nước còn lạc hậu làm gì?

– Cũng nên so sánh nước này với nước khác để học hỏi, rút kinh nghiệm, biết đâu tương lai mày làm tổng thống, có nhiều sáng kiến giúp đất nước của mày tiến bộ lên.

– Ha ha..Tui mà làm được tổng thống thì ở In Đô không còn đạo Hồi, chỉ cần dẹp hết thứ này thì người In Đô mới, tiến bộ và hết ngu.

–  A ha…Chánh sách khủng bố hả mậy? Nghe mày nói tao thấy cả trời In Đô máu me và bình địa. Giống xưa kia Thiên Chúa giáo tiêu diệt ngoại giáo vậy.

Chúng tôi cười ha hả làm những người ngồi gần cũng ngước lên nhìn. Tôi nói với nó:

– Những người sống trong những quốc gia thanh bình, họ không có ý bạo động, con người nhân bản lúc nào cũng nhã nhặn và lời lẽ luôn ôn tồn.

Nó uống xong ngụm nước và nhìn qua tôi:

– Tui thấy chú hổng có ý bạo động.

– Sống hơn ba mươi năm trên những đất nước thanh bình tao có hơi đỡ một chút, nhưng còn phải tập tành nhiều lắm. Những chuyện tiêu cực đã xảy ra hàng ngày trên thế giới cũng dư thừa rồi, bạo động thêm nữa làm gì.

– Có lẽ tui cũng phải tập theo chú. Tui đi nhiều nước Âu Châu thấy đất nước người ta không nói nhiều về tôn giáo và lễ hội vui vẻ và rất bình thường hổng có chen vào chuyện dị đoan mê tín như người bên Châu Á. 

– Người Âu Châu cũng có dị đoan chớ mậy. Ở Phần Lan có lễ hội Juhannus, một ngày lễ có tính cách quốc gia, được tổ chức vào thứ Bảy, từ ngày hai mươi tới ngày hai mươi sáu tháng bảy. Trong những ngày này khắp nước trang hoàng nhà cửa, người ta bện lá bạch dương thành vòng tròn treo trên vách phía trước và trước cửa nhà trưng bày nhiều loại hoa. Bên các bờ hồ, bờ biển những đống lửa lớn được đốt bừng lửa ngọn, người Phần Lan tin tưởng làm như vậy để xua đuổi ma quỷ, đây cũng là một tập tục có tánh dị đoan.

– Nhưng tui nhìn thấy hổng có cảm giác gì là magic hết…

– À, tao hiểu mày nói gì rồi. Hổng magic là vì ở bên này người ta đuổi ma quỹ đi và lễ lạc xong rồi thì người ta dọn dẹp sạch sẽ. Còn bên Á Châu thì người ta rước ma quỹ về nhà lập bàn để thờ phượng, lạy lục xin xỏ nọ kia và sau khi lễ hội, tiệc tùng xong hổng chịu dọn dẹp, để lại một đống rác bầy nhầy nên mày thấy bát nháo vậy thôi.

Ama nhìn vô điện thoại, ngước lên nói:

– Hôm nay tám tháng Sáu, hai tuần sau tàu mình trở lại thì đã tới lễ Juhannus rồi, tui với chú đi chơi nữa hén.

 – Dĩ nhiên, phải đi cho biết.

– Chú biết nhiều rồi. 

– Biết thì làm sao cho nhiều được, nhứt là chuyện đã qua nó khác hơn chuyện bây giờ.

– Nhưng nghe chú nói, tui thấy chú rành nơi đây lắm.

–  Mười mấy năm trước tao đi tàu hàng trong vùng Scandinavi này, công việc nhàn nhã lắm. Dạo đó mỗi lần nghé Helsinki tàu đậu lại cả tuần lễ, giờ rảnh tao đi tùm lum. Cho tới nay đã qua nhiều năm nhưng tao vẫn còn nhớ ở ngoài biển gần Helsinki có một đảo nhỏ tên là Seurasaari được nối với đất liền một cây cầu bằng ván dài chừng hai trăm thước. Đảo là một khu vực giải trí, thường thì những người có tiền ra đó mua đất cất nhà nghỉ mát. Ngoài đó người ta ăn mừng lễ Juhannus rất long trọng, các sân khấu dành diễn kịch, chơi nhạc, biểu diễn múa lúc nào người cũng đông, cũng như những nơi khác trong Phần Lan, một đống lửa lớn được đốt lên trên bờ biển. Mùa hè nơi đây cũng là mùa khoai tây, hoa, trái và nhiều loại cá được các đầu bếp chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, mọi người cùng nhau ăn uống, nhảy múa, ca hát và vui chơi suốt những ngày nghỉ hè.

– Chắc phải đi ra đó chơi cho biết chú.

– Tao nghĩ mình đi tàu container không có thời gian nhiều để đi xa đâu, ngoại trừ tự bỏ tiền đi du lịch.

Chợt điện thoại reo, Ama cầm lên xem rồi đưa qua cho tôi.

– Thuyền trưởng gọi chú nè.

– Ông ta gọi là không có chuyện tốt đâu.

Tôi bấm máy nghe, thuyền trưởng cho tôi biết thêm một cần cẩu cất hàng, tàu khởi hành khoảng tám giờ, ông biểu chúng tôi phải về tàu sớm.

Tôi trả lời:

– Yes Sir! Chúng tôi sẽ về tàu trước tám giờ.

Tôi nhìn đồng hồ trên mặt điện thoại day qua nói với Ama:

– Mới đi chút xíu mà đã hơn năm giờ rồi. Tao với mày vô bên trong thánh đường chụp vài bôi hình, xong rồi đi qua công viên Esplanade dạo chơi một lát, tìm chỗ nào ấm áp ngồi uống vài ly bia và sau đó trở về tàu là vừa.

Lưỡng lự một chút, Ama nói:

– Tui muốn trở lại trung tâm mua sắm hồi nãy.

– Mày muốn trở lại Stockman mua dao găm và cái nón hả?

Ama cười:

– Được không chú?

– Dĩ nhiên là được, đây là xứ tự do mà, nhưng bây giờ mình phải vô trong thánh đường chụp vài bôi hình kỷ niệm.

Bên ngoài thánh đường bề thế, bên trong chạm trổ tinh vi, vài bức tượng của những bật Thánh được âm trong tường, một chiếc bàn và một thánh giá để trước chỗ linh mục đứng giảng, không gian lại rộng rải, người ra vào hơi nhiều nhưng không chật chội xô bồ xô bộn. Chúng tôi đi theo dòng người vô trong, khi nhìn thấy chánh điện, Ama liền bước nhanh tới đứng cùng với mấy người chắp tay cầu nguyện. Ama làm xong thủ tục cầu nguyện, day lại cùng tôi chụp mấy bôi hình, sau đó chúng tôi trở ra và đi ngược lại trung tâm mua sắp.

Vào Stockman, Ama liền vô ngay hàng bán đồ thủ công nghệ lấy chiếc dao rồi đi qua hàng nón lấy lên chiếc nón kết có thêu chữ Finland và hình con nai lên săm soi, hình như nón kết là một loại trang sức có giá trị cao của thanh niên In Đô nên thường thấy lúc nào họ cũng chọn mua loại mắc tiền, có người mua sáu bảy chục euro một cái nón kết. Ama day qua tôi hỏi:

– Chú có hai chục euro cho tôi mượng không?

– Dĩ nhiên.

Tôi móc bóp nhưng không có tờ hai chục, tôi đưa cho nó tờ năm chục.

– Mày trả tiền rồi đưa lại tao ba chục.

Không do dự nó lấy chiếc nón và con con dao đi lại quày, đứng sắp hàng tính tiền. Khi ra khỏi trung tâm thì giờ giấc lỡ cỡ hết rồi, đi dạo không đủ và nếu đi xe điện trở xuống tàu thì sợ trể. Thấy chiếc tắc xi trờ tới, không do dự gì ráo, tôi liền đưa tay ra chận. Khi chúng tôi lên xe, xe chạy được một đổi, Ama nhìn tôi cười trêu chọc:

– Chú nói chú hổng đi tắc xi mà.

– Ê, đây là trường hợp khẩn cấp, nếu hổng đi tắc xi thì tao với mày phải bay qua Bosnia hay Litunia xuống tàu.

Tôi chỉ tay qua gói đồ nó để trên bắp đùi, nói:

– Có mày kìa, mày nói, Kijken kijken niet koppen, nhưng cuối cùng cũng mua hết năm sáu chục euro.

– Ha ha…tui là người In Đô chớ đâu phải người Hoà Lan chú.

Mùa hè có rất nhiều xe nước ngoài tới Helsinki, làm đường xá nơi đây chật chội. Tắc xi chạy một lát một dừng, mất trên cả giờ đồng hồ mới tới được bến cảng, tính ra trể hơn đi xe bus và xe đường hầm gấp đôi. Trong lòng tôi ấm ức vì tiếc phải trả tiền gấp chín mười lần đi xe bus và xe đường hầm, lại còn bị mất nhiều thời gian. Tôi ái ngại nhìn qua Ama, thấy nó không phàn nàn gì hết nên tôi cũng nín luôn. Tuy nhiên tôi rút ra được một bài học, lần sau trở lại Helsinki có cho tiền tôi, tôi cũng hổng leo lên tắc xi nữa.

Baltic 17-7-2015

 Nguyễn Lê Hồng Hưng

Thiên nhiên ở Guyana

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Những tháng mùa Thu, vùng biển Caribbean khi im lắng, lúc sóng vời vợi dâng cao. Vào những ngày trở gió, từng bầy cá chuồn như hàng ngàn cánh bạc bay lấp lánh trong ánh mặt trời. Mỗi lần tàu cán ngang bầy cá làm chúng giựt mình hốt hoảng phóng tua tủa và đáp trên boong tàu trắng vã. Thủy thủ đoàn sách xô ra lượm, làm sạch rồi đem vôi đưa cho đầu bếp.
– Bếp, chiên.
– Ô kê.
Trong lúc gã đầu bếp lấy xô cá đổ ra bàn rắc muối, tiêu lên ướp. Già Luis với Jony đi vô lựa một vài con tươi đem ra sau lái lấy dao lóc thịt ăn

 liền. Jony xin nước tương chấm cá. Thấy già Luis ngồi ăn cá sống, gã đầu bếp lột vài tép tỏi, cắt mấy miếng chanh trộn tiêu và muối để vô dĩa đem ra đưa cho già.
– Ông chấm với cái nầy ăn đỡ tanh miệng.
Già lắc đầu.
– Nature, nature.
Hai tiếng nature (thiên nhiên) đã nhập vào đời sống của già Luis từ thâm căn cố đế nào. Không cạo râu, không tắm rửa, không bận áo mỗi khi tàu đến vùng nhiệt đới, coi phim con heo, ăn cá sống đối với già tất cả đều là thiên nhiên, theo già thì động vật dưới biển rất nhiều loại ăn sống được chớ không riêng gì cá chuồn. Sáng ra là thấy già cởi trần mang chiếc dao găm ngang hông, bận chiếc quần Jean cắt ống cụt ngang đầu gối, viền ống bung chỉ tua tủa. Nhìn già Luis gã bếp nhớ tới lão Ernesto trong một truyện nổi tiếng của Hemingway. Trước đây một thế kỷ lão Ernesto cũng lênh đênh đâu đó trong vùng biển Caribbean mấy ngày đêm và có lẽ cũng ăn cá chuồn sống, vì vùng nầy chỉ có loại cá chuồn mới bay lên ghe lên tàu được. Quê hương già Luis ở vịnh Viscaya thuộc vương quốc Tây Ban Nha, suốt đời già sống trên biển nhiều hơn ở đất liền. Còn Jony người In Đô, trước kia có đi tàu đánh cá Nhựt Bổn nên học được cách ăn cá sống của Nhựt, nó có thể ăn một hơi nửa ký lô cá tuna sống chấm muster hoặc năm bảy con cá chuồn sống chấm nước tương vậy mà thịt bò bít-tết nó chê sống không dám ăn.
Rohadi cầm chiếc chày đâm tiêu đi ra đưa cho già Luis. Thấy hai người ăn cá sống, nó chỉ tay lên đầu lắc lắc, day qua nói với gã đầu bếp.
– Coi hai người khùng.
– Ai khùng? Gã đầu bếp hỏi.
– Hai người ăn cá sống.
– Thì đã sao?
Rohadi cũng không biết trả lời sao. Jony nghinh mặt hách dịch:
– Đ. m. sống trên đời một miếng cá sống cũng hổng dám ăn thì lấy tư cách gì mầy chê cười người khác.
Rohadi biết mình lỡ lời nên nó vội xin lỗi hai người. Nó dặn già với Jony uống ít thôi vì đêm nay tàu neo ngoài vàm sông Demerara thủy thủ phải chia phiên gác.
– Mày khỏi lo, có già Nature nầy thì không thằng ăn trộm nào dám bén mảng xuống tàu đâu.

Già vừa nói vừa cầm chày đâm tiêu dộng cộp cộp xuống boong. Chuyện thủy thủ đoàn canh gác mỗi khi tàu vô hải phận Guyana mới bắt đầu từ sau vụ trộm xảy ra chuyến trước. Sáng hôm ấy, lúc phương Đông vừa đâm mây ngang, chưn trời bàng bạc trắng và gió bấc phả hơi lạnh đều đều. Xa xa dải đất liền lờ mờ trong sương sớm, lốm đốm vài ánh đèn nấn ná như chưa muốn chia tay với ánh bình minh. Hoa tiêu hướng dẫn tàu chạy chầm chậm vô vàm. Đầu bếp đứng trên boong phía sau tàu, đây là chỗ đứng lý tưởng của gã mỗi khi rảnh việc, buổi sáng cũng như buổi trưa, buổi chiều và buổi tối, chỉ có chỗ nầy gã mới bình tâm nhìn được cảnh vật chung quanh. Nước trong sông Demerara đổ ra pha nước biển gân lên màu cẩm thạch, tàu đạp nước vẽ lên hai lằn bọt trắng dài tít phía sau. Chợt nhiên từ trong làn sương mờ đục hiện ra một chiếc ghe gắn máy chạy theo sau lái. Người đứng trước mũi ghe cầm đoạn dây đầu có móc, quây vun vút và quăng đầu dây phóng thẳng lên boong, hắn kéo sợi dây cho chiếc móc móc chặt vô thành tàu, lập tức ba người con trai ốm nhom như ba con khỉ đu dây leo thoăn thoắt leo lên boong. Đầu bếp hốt hoảng chạy vô mui, quay điện thoại lên phòng lái.
– Báo cáo thuyền trưởng có ăn trộm lên tàu!
Thuyền trưởng báo với hai tên gác tàu. Hai tên gác tàu chạy ra bắn hai phát súng cũng vừa lúc chiếc ghe tháo dây vạt ra và nhấn hết ga vọt biến hút trong đám sương mù.
Mọi chuyện xảy ra chưa đầy mười lăm phút. Già Luis ra sau kiểm điểm đồ đạc, mất hai cuộn dây cột lái và một cái mô-tơ cuốn cầu thang, già lên phòng lái cự nự thuyền phó sao không cho người canh phía sau lái, vì già đã cảnh cáo trước ở vùng Nam Mỹ nầy trộm cướp như rươi. Già xồng xộc đi xuống hằn học với gã đầu bếp. 
– Tại sao thấy ăn trộm mà mầy không chạy ra phang nó.
Thấy già Luis hầm hì như muốn ăn tươi nuốt sống đầu bếp. Gã day qua nhìn già cười một cái và chỉ ngón tay thẳng lên trán già:
– Ông già khùng! Trong lúc ăn trộm đương hành nghề, chỉ có những thằng điếc không biết sợ súng mới dám chường đầu ra lãnh đạn, dây và máy mất bảo hiểm bồi thường cho công ty đầy đủ, chớ còn nhân mạng của những tên thủy thủ mạt rệp như bọn mình bị ăn trộm đâm hoặc bắn chết, may mắn còn được cái xác liệm trong cái hòm loại rẻ tiền đem về cho vợ con ở nhà lãnh.
Nghe gã đầu bếp xối xả một tràng, gương mặt hầm hừ của già đột nhiên biến mất, già gãi gãi lên mỏ ác, chỗ không có tóc, tươi cười: 
– Xin lỗi, mới bảnh mắt ra gặp nhiều chuyện, giận quá tao quên. 
Già chìa tay ra: 
– Cho tao chai bia.
Đầu bếp mở tủ lạnh lấy bia khui nút đưa cho già, già cầm chai bia ngước cổ tu một hơi hết sạch. Bỏ chai vô thùng rác già nói: 
– Tàu sắp sửa bỏ neo.
Neo tàu xong thuyền trưởng ra lịnh. Bắt đầu từ bây giờ, mỗi khi tàu vô vùng nầy thủy thủ khỏi phải cạo sét sơn tàu, mỗi người chia phiên canh gác. Trước tới giờ thủy thủ đoàn thường xuyên thực tập cách phòng chống khi tàu cháy hoặc rời tàu khi chìm nhưng không có thực tập cách đề phòng trộm cướp vì vậy mạnh ai nấy tự nghĩ ra cách bảo vệ tàu. Lúc khẩn cấp thủy thủ phải dùng gậy gộc, dao găm, cán chổi làm vũ khí.
Hôm tàu trở lại Houston, thuyền trường đi mua sắm thực phẩm với gã đầu bếp trên chợ Việt Nam. Ông thấy cây chày đâm tiêu đầu bự, đầu nhỏ vừa nắm tay ông liền mua hai cái đem xuống tàu. Già Luis khoan đầu nhỏ của chiếc chày một lỗ và sỏ ngang một sợi dây da vừa ôm cổ tay để phòng khi đập ăn trộm chày khỏi vuột. Đêm nay thủy thủ bắt đầu xử dụng vũ khí bằng chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam được già Luis cải tiến.
Chiếc Elsa vô tới hải phận Guyana lúc năm giờ sáng. Thuyền phó đánh thức thủy thủ đoàn dậy chuẩn bị đón hoa tiêu. Tàu vô tới làn nước đục thì chiếc ghe chở hoa tiêu cũng vừa cặp lại. Có lẽ vì còn ngái ngủ nên thủy thủ đoàn thả thang dây ẩu tả sao đó để thang tuột làm hoa tiêu té xuống nước mình mẩy ướt như chuột lột. Gã hoa tiêu tức giận mặt hầm hầm đi vô tàu tìm phòng thay quần áo. Thuyền phó bị thuyền trưởng chửi, thuyền phó chửi lại thủy thủ đoàn, thủy thủ đoàn xanh máu mặt, thằng nầy đổ lỗi cho thằng kia và cãi vã nhau chúy choé. Tháp tùng với hoa tiêu có hai người chịu trách nhiệm gác tàu, một người mang túi quần áo, một người mang cây súng trường lót tót theo sau.
Tàu neo ngoài vàm chờ tới trưa nước lớn mới nhổ neo chạy vô Linden. Sông Demerara khúc ngoài sâu và rộng thênh thang, càng vô trong sông càng cạn và hẹp đủ để hai chiếc tàu buôn loại lớn chạy ngược chiều nhau. Thuyền phó đem máy quay phim ra quay cảnh. Hai bên bờ sông, cây thốt nốt và trúc xanh mọc hoang xen lẫn trong rừng cây tạp nhạp. Cách khoảng theo tán rừng những ngôi nhà sàn sơn xanh sơn đỏ, phía sau nhà chuối, dừa và vườn rau được nhà nông trồng ngay hàng thẳng lối. Mặt sông phẳng lặng, nước đục phù sa, vài đám lục bình, rác rến hững hờ trôi. Những hàng đáy được cắm vững vàng day miệng theo chiều con nước ròng, nước lớn. Những cô gái bận áo quần nhiều màu sắc ngồi sau lái cầm dầm bơi trên những chiếc xuồng con sơn màu xanh dợt, chầm chậm xuôi ngược hai bên mé nước cạn hoặc những chiếc đò gắn máy trong lòng khoang chạy tà tà và nhiều xuồng thon dài gắn máy phía sau phóng nhanh như ca nô phả sóng trắng xóa. Con nít trên xóm đứa lội, đứa bơi xuồng ra giữa dòng giơ tay vẫy vẫy. Thủy thủ trên tàu cao hứng gói kẹo, bánh, nước ngọt trong bọc ni lông liệng xuống nước. Đám con nít bơi theo tranh lấy những gói quà, chúng la ó vang dội khắp mặt sông.
Tàu ghé cảng Linden lúc mặt trời sắp khuất xuống ngọn cây. Bến cảng nằm bên bờ sông vừa đủ đậu một chiếc tàu, sàn lót ván dầy, không có kè đá, người ta cắm cây xúc bên ngoài cho tàu cặp và dây được cột lên những cột trụ bắt dính vô mặt sàn. Không có cần cẩu nên trông bến trống trơn. Trên bờ hai dãy nhà thiếc nằm nép mình bên rừng cây tạp nhạp có nhiều lá vàng chen lẫn trong khối lá tươi xanh, xa xa trên dạng rừng, nền trời hiện lên màu máu đỏ. Từng bầy chim trời kéo nhau bay về chỗ ngủ, chỉ còn lại bầy diều hâu còn nán lại trên sông, dang đôi cánh rộng thả lơ lửng lưng trời như điểm tô cho dòng sông thêm phần hùng tráng.
Trời nhá nhem tối, hai chiếc đò dọc chở đầy đàn bà và con gái cặp vào chiếc Elsa. Hai anh gác tàu thòng thang dây xuống cho các cô lần lượt leo lên. Một lát sau các bà các cô da đen và da nâu đứng đầy nhóc phía sau lái tàu. Thuyền trưởng hào phóng mở kho rinh lên ba thùng bia và hai thùng nước ngọt. Thủy thủ đoàn góp bia và rượu thêm vào chất thành một đống. Gã đầu bếp cắt phó mát, hâm xúc xít bày ra. Nhạc được mở lớn và mọi người đứng vòng tròn, khui bia lốp bốp mời nhau, các cô gái da đen bóng lưỡng mỗi khi cười nhe hàm răng trắng nhách. Các cô gái khởi động uốn éo theo điệu vũ khỏa thân, vạch ngực trần, vén đùi cao, ôm các anh cọ xát thân hình. Già Luis ở trần giơ tấm thân đầy lông lá, râu ria phủ gần hết gương mặt. Già đi tới đi lui, rờ mông cô nầy, bóp vú cô kia, coi mòi già xông xáo còn hơn đám trẻ. Thủy thủ đứa tóc dài chấm vai, đứa đầu tóc bù xù, đứa cạo đầu trọc lóc mặt mày thằng nào thằng nấy đã nhuộm màu thiên nhiên rừng rú. Khỏi cần đốt lên nhóm lửa hồng, giữa ánh đèn điện vàng vọt, trông họ giống dân da đỏ cắm trại giữa rừng trước đây vài thế kỷ.
Sau khi lo cho đám thủy thủ xong xuôi thì đêm cũng dần lên, gã đầu bếp tách ra khỏi đám tiệc, gã cầm chai bia leo lên boong sau lái đứng nhìn ra dòng sông. Trên sông lấp lánh ánh đèn của một chiếc xuồng câu và rừng thấp im lìm trong giấc ngủ. Nhìn đèn nhà vườn leo lét theo những tán rừng dọc hai bờ sông, làm gã nhớ quê hương ray rứt. Lâu lắm rồi gã chưa về thăm giòng sông cũ, hổng biết trên dòng sông ấy các cô gái quê có còn bẽn lẽn vân vê tà áo thẹn thùng khi gặp người con trai lạ muốn làm quen. Cuộc sống lam lũ, mộc mạc nơi đó khác xa nơi nầy một trời một vực. 
– Bếp, tao kiếm mầy nãy giờ.
Đương vẩn vơ thả hồn về quê hương chợt nghe tiếng già Luis, day lại thấy già cũng vừa đi tới, gã hỏi. 
– Kiếm tui chi vậy? 
– Mày còn Whisky không? 
– Còn, ông cần hả. 
– Ừa, cho tao mượn một chai. 
Gã bếp ngước cổ đưa chai lên uống hết phần bia còn lại rồi liệng vỏ chai xuống sông.
– Ông theo tui.
Gã vô phòng lấy rượu đưa cho già. Cầm chai rượu già nói:
– Mấy con đĩ muốn uống rượu.
Gã nhướng mắt mỉm cười:
– Thì cứ cho nó uống nhưng ông thì uống vừa thôi.
Già cười hì hì nói: 
– Tao biết rồi. 
Thấy gã bếp ngồi xuống chiếc băng, già hỏi:
– Mày không xuống chơi sao? 
– Không, ông chơi đi tui hơi mệt rồi.
– Vậy thì ngủ đi.
Già Luis đi rồi gã bếp vô phòng tắm đánh răng, rửa mặt xong gã lấy quyển sách leo lên giường nằm đọc.
Mỗi lần tàu ghé Linden, sáng nào gã cũng pha một ly cà phê bưng ra sau boong đứng, vừa nhâm nhi cà phê vừa ngắm mây xám đâm ngang phía trời Đông, sương mù đọng trắng trên mặt của dòng sông và lan tỏa trên dạng rừng cây tạp nhạp. Trên tàu yên ắng, gã đứng nghe tiếng thú và chim rừng đánh thức, gọi nhau đi tìm mồi…
Sáng nay gã định xuống phòng bếp pha cà phê. Nhưng khi bước ngang phòng ăn gã thấy từ trên mặt bàn cho tới sàn tàu đầy nhóc lon bia và lon nước ngọt, mùi hôi hỗn hợp bốc lên nồng nặc. Trong đám ngổn ngang bừa bộn và hôi hám, có một người con gái trẻ bận áo thun đỏ, cổ rộng xệ một bên ngực, bày ra gần hết chiếc vú căng tròn, cô bận chiếc váy màu đen, chiếc giỏ nhựa màu ngà mang trên vai thòng xuống khỏi bắp đùi, cô ta ngồi trên ghế, mặt ngước lên trần, miệng há hốc ngáy khe khẽ. Cô gái của miền sông nước Guyana mũi cao, mắt đen, chưn mày đậm, da nâu, lông tay, lông chưn rậm rì và cặp giò dài tỏa ra một sức sống mạnh mẽ và hứa hẹn những cuộc truy hoan không mệt mỏi. Ở bên Âu châu thân thể nầy phải đặt trong căn phòng kiếng có đèn màu hồng mờ mờ, nệm, gối thơm tho, kẻ nào muốn thử một lần cho biết, phải mất từ trăm Euro trở lên. Thường thì các cô xuống tàu đứng cho các anh chọn, cô nào hổng được chọn có thể ngồi lại ăn nhậu tới mãn tiệc rồi về. Không hiểu vì sao hôm nay sót lại một cô nằm trong cái đám ngổn ngang hôi hám như vầy.
Gã đi vô lắc lắc chiếc vai trần tươm mồ hôi rin rít của cô gái:
– Hello, hello, good morning, good morning!’
Cô gái giựt mình đưa tay vừa dụi mắt vừa nói giọng nhừa nhựa. 
– Buồn ngủ quá. 
– Sáng rồi, cô về nhà ngủ đi.
Cô gái mở mắt hổng lên, giọng lè nhè. 
– Nhưng tui mệt quá.
Gã phân vân, hổng lẽ để cô ta ngủ ngồi giữa ban ngày ban mặt trong phòng ăn như vầy coi kỳ quá, gã nói. 
– Cô lên phòng của tôi ngủ đi.
Cô gái đứng dậy mặt đờ đẫn giọng ngái ngủ:
– Phòng ông ở đâu? 
– Chờ tui một lát.
Gã lên phòng, lấy bóp tiền nhét túi quần, đồ đáng giá và máy móc dồn hết vô tủ khóa lại. Gã trở xuống kêu cô gái: 
– Đi theo tui.
Sau khi đưa cô gái lên phòng gã trở xuống bếp, trong lúc pha cà phê gã mới giựt mình, nhớ lại hồi mới đổi về tuyến đường nầy, mỗi lần ghé đây, đên khuya gã thường bị đánh thức bằng tiếng gõ cửa, gã không bao giờ mở. Đến khi các cô hè nhau đập cửa rầm rầm, buộc lòng gã phải mở cửa ra năn nỉ các cô đi chỗ khác, nhưng các cô cứ nằng nặc đòi gã cho vô. Các cô nói, chỉ ngủ thôi hổng làm gì cũng được. Nói chơi không! Gã thừa biết các cô vô được rồi đâu có để gã nằm yên ngủ một cách dễ dàng. Năn nỉ không được, cuối cùng gã phải lo lót thuốc lá và bia rượu cho tên gác tàu, nhờ hắn ta can thiệp dùm. Ấy vậy mà có khi nào gã ngủ được một giấc cho ngon, chốc lát lại nghe tiếng giựt nước rào rào, tiếng cười, tiếng nói, tiếng la oai oái, tiếng chưn rầm rập giống y như chó rượng đực tháng bảy. Hôm nay mắc chứng gì gã đem lòng tốt ra đối xử với cô gái nầy. Rước cô ả vô phòng rồi làm cách nào trục ra đây. Trong lúc miên man lo tới cái hậu quả không lành có thể xảy ra thì già Luis từ trên phòng lộp cộp đi xuống. Già nhìn vô phòng ăn thấy giống như kho chứa đồ phế thải, già đưa nắm tay kẹp ngón cái vô ngón giữa làm dấu tục gặt gặt, già chửi thề:
– Goddamn! biết ăn nhậu, biết làm tình nhưng không biết dọn dẹp. 
Gã bếp nhìn già lắc đầu: 
– Thôi ông à, lâu ngày lênh đênh trên biển, ghé bến được vài ngày cho tụi nhỏ xả hơi với chớ.
Nói là nói vậy, thật ra gã thừa biết hồi hôm cái mặt râu của già cũng có tham dự trong cái đám xô bồ xô bộn kia. Gã rót cà phê ra hai tách, bỏ đường, sữa rồi đưa qua già một tách. 
– Mình ra sau lái ngồi uống cà phê đi, tới giờ làm việc bắt tụi nhỏ dọn dẹp năm mười phút xong ngay.
Vừa bưng tách cà phê đi theo gã già vừa càu nhàu. 
– Chỉ có hai thằng già mình lo, chớ tụi nó mà lo cái gì.
Già Luis lớn hơn gã một gần một con giáp, thân thể già sắp bệ rạc, đã vậy còn mang bịnh ghiền rượu. Mỗi khi say già nói năng bậy bạ làm đám trẻ coi thường, chúng đòi đập già hoài. Hồi tàu mới ghé, già cá với bọn nhỏ, thằng nào cắt được lông háng của mấy đứa xuống tàu già thua một kết bia, bằng không thì mỗi thằng chung già một kết. Hôm qua tụi nó đem lông lại đòi bia. Già nói không phải lông thiệt già không chịu chung. Tụi nhỏ hăm he đòi thủy táng già. Thấy vậy gã đầu bếp mới lấy bia của gã đưa cho tụi nó, nhưng tụi nó không lấy. Gã kêu tụi nó tha cho già phen nầy. Thật ra thì tụi nhỏ hù già chơi cho bỏ ghét, chớ chúng cũng thừa biết bia rượu già mua hàng tuần hổng đủ cho già uống thì lấy đâu già chung. Nhờ được bọn trẻ thương nên chúng chịu lắng nghe gã. Già biết vậy nên mỗi lần gây chuyện với xắp nhỏ già vô phân trần với gã để gã dàn xếp với chúng. Nhìn già giống y như người tiền sử. Gã bếp nói. 
– Từ mặt mày cho tới mình mẩy ông lông phủ đầy, chỉ trên đầu bị sói, ông định lấy lông của mấy con đĩ gắn lên cho hết sói hả.
Đã vậy già còn ngoan cố đứng giải thích cho gã đầu bếp nghe giữa lông dưới háng và tóc của đàn bà khác nhau như thế nào. Già quả quyết mấy đứa nó chơi gian, không muốn chung bia mới cắt tóc của mấy con nhỏ đem lại gạt già. Đến một nơi đĩ điếm lúc nào cũng sẵn sàng, ai có tiền bỏ ra muốn làm gì trên thân xác các cô cũng được. Trong lúc làm tình tụi nhỏ chụp hình, quay video đủ cách đủ kiểu, huống hồ chi lấy kéo cắt vài ba nhúm lông. Tuy nhiên gã đâu lạ gì cái tánh cãi bướng rất nature của già nên chẳng cần đôi co với già làm gì.
Tánh thiên nhiên của già không thể nào gần gũi được đám trẻ nên già mới đeo theo gã bếp. Để cho có tình thân, già thường dùng câu ‘hai thằng già mình’ mỗi khi nói chuyện. Gã bếp day qua nói với già: 
– Nhưng mấy thằng nhỏ cũng đâu có thằng nào được khỏe. 
– Có sướng thì có mệt. 
– Dĩ nhiên, nhưng hồi trẻ thì mình cũng vậy thôi ông à.
Chợt nhiên già day ngang nói: 
– Hồi nãy tao thấy mầy dẫn một con vô phòng.
Gã đầu bếp chỉ tay vô cái đống xô bồ xô bộn trong phòng ăn, nói:
– Thấy ả ngủ ngồi trên cái đống rác kia, tui mới kêu lên phòng cho ngủ nhờ. 
– Tao trông con nhỏ cũng được mắt. 
–Đẹp, chớ được gì, mấy thằng nhỏ bộ xỉn hết rồi sao mà hông lấy con nhỏ bốc lửa. 
– Say khướt còn biết đẹp xấu gì nữa. 
– Ông thấy nó đẹp thì cứ tự nhiên đem nó về phòng. 
Già đưa một ngón tay lên giữa miệng: 
– Suyt! Mầy đừng nói với ai.
Gã đầu bếp đương suy tính làm cách nào để tống khứ cô gái, nhân cơ hội nầy gã chộp ngay: 
– Được rồi, trưa nay ông đem cô ta về phòng mặc sức cho ông cạo lông mà chẳng tốn lon bia nào. 
Già cười sằng sặc làm hàm râu quai nón của già run run.
Suốt buổi sáng gã đầu bếp nấu nướng phân phát đồ ăn cho hơn hai chục mạng làm gã mệt đừ, mồ hôi hột đổ ra ướt hết chiếc áo thun. Gã lên phòng thấy cô nhỏ đã thức từ hồi nào, cô nhỏ mới vừa tắm, đầu tóc còn ướt, bận chỉ có chiếc áo thun và quần lót, trời nóng nực, trông cô nhỏ mát mắt liền. Cô ta ngồi bên bàn phì phèo thuốc lá. Thấy gã vô cô ta than đói bụng. Gã xuống múc cơm và thịt đầy một dĩa đem lên đưa cho cô gái. 
– Nè, cô ăn xong rồi đi qua phòng ông Luis. 
– Không. 
– Sao vậy? Cô không cần tiền à? 
– Ông Luis hôi rình. 
– Ông ta là người của thiên nhiên nên không cần tắm rửa, cô đem ổng vô phòng tắm rửa sạch sẽ ổng trở lại thơm tho chớ gì.
Cô gái đưa ngón tay trỏ ra dấu quặt lên quặt xuống: 
– Nhưng con “gà cồ” của ổng không ngóc nổi. 
– Sao cô biết? 
– Hồi hôm tui ở phòng ông ấy.
Té ra hồi hôm già đem con nhỏ vô phòng, vậy mà sáng ra già tỉnh khô làm bộ không biết gì hết. Thật ra thì nghề làm đĩ xứ nào cũng có, ở đâu cũng vậy, hễ rớ tới đĩ thì phải sòng phẳng chuyện tiền bạc. Nhưng đĩ điếm xứ nầy xuống tàu ngoài chuyện kiếm ăn, kiếm uống, kiếm tiền còn đòi phải thỏa mãn dục vọng nữa. Bệ rạc như già lại thêm tật ghiền rượu, bữa ăn nào thiếu rượu tay, chưn già run bần bật đến đỗi cầm nĩa xỉa thịt đưa lên miệng, miếng thịt không vô miệng mà trợt lên gò má. Lậm rượu tới mức đó ôm con gái chơi cho đỡ thèm chớ làm ăn được khỉ khô gì.
Thủy thủ nào thường đi tuyến đường Nam Mỹ cũng nghe câu chuyện về một anh thủy thủ, say rượu quắc cần câu không đáp ứng tình dục cho cô gái. Cô ta nỗi khùng lên giữa khuya lấy dao lắt cu anh nọ liệng xuống sông. May cho già Luis, gặp cô nhỏ nầy còn hiền nên bỏ xuống phòng ăn ngủ, chớ phải tay cô gái trong câu chuyện vừa kể thì chắc chắn cái “củ từ ” của già bị cắt liệng xuống sông cho cá rỉa. Chuyện thường đem kể trên hội quán hoặc lúc nhậu nhẹt để đưa cay. Tuy nhiên khó mà lường trước được trong đêm đương ngủ, chợt giựt mình đau đớn với máu me đầy háng. Sau khi xe cấp cứu chở vô nhà thương băng bó, sáng ra biết mình đã trở thành thái giám bất đắc dĩ. Nghĩ tới đây cũng đủ ê ẩm hạ bộ rồi. Gã nói với cô gái. 
– Tui cũng như ông Luis vậy thôi, tui già rồi.
Gã day ngang mở tủ lấy khăn, áo sửa soạn đi tắm, cô gái bước tới vừa thoa thoa hai bàn tay vô cặp mông của gã vừa nói. 
– Tui tắm cho ông. 
– Không được, cô làm ơn ăn cơm xong rồi đi dìa cho tui còn nghỉ ngơi.
Gã đẩy cô gái ra, đi vô phòng tắm đóng cửa, khóa lại.
Tắm rửa thay quần áo xong trở ra. Gã thấy dĩa cơm còn nguyên trên bàn còn cô nhỏ thì nằm trần truồng trên giường. Thấy gã cô gái liền quỳ lên tay thoa cặp vú, tay vuốt chùm lông đen mượt quăn queo phía dưới bụng, thân hình uốn éo mặt ngước lên khiêu gợi giống y như mấy cô gái ngồi trong mấy cái sex-shop. Cô chồm qua ôm gã. Gã giựt mình đưa tay chống đỡ vô tình chạm phải trái ngực mềm mại và không tránh được cái hôn bất ngờ. Sẵn trớn cô ta câu cổ gã cứng ngắt. Gã đẩy cô gái ngồi xuống giường, nâng cằm cô gái, nhìn thẳng vào đôi mắt đen huyền, chưa kịp mở lời thì bất thình lình cô gái ngã người ra sau, kéo gã trườn tới, nguyên người gã ngã sấp đè lên mình cô ta. Lập tức tay phải cô câu cổ gã, tay trái nắm kéo tay gã nhét vô giữa háng. Gã vội rụt tay về, cô gái ghì mạnh cho trở vô và kẹp chắc hai bắp dùi lại. Thân thể cô ta bốc lên hừng hực, miệng rên khe khẽ please…please… Muốn thoát khỏi cảnh thiên nhiên rừng rú không còn cách nào khác hơn giúp cô nhỏ qua cơn cháy bỏng. Gã đút mấy đầu ngón tay vô ngoái mạnh, tức thì cô gáy nẩy người bần bật, da thịt căn cứng, tay quờ quạng lung tung. Cuối cùng cô đê mê không còn biết trời trăng gì nữa, mặt mày nhăn nhó, mũi dún lại nhiều ngấn trong giống như loài sói rừng, tay bấu mạnh lên ngực cào cấu nổi lằn trên vú và miệng kêu ăng ẳng như chó con đói sữa. Tới đây gã bếp cảm thấy máu trong người chạy rần rần, mình mẩy nóng đổ mồ hôi, hơi thở đứt đoạn, da mặt căng và toàn thân như đồng loã với tiếng kêu của cô gái. Cùng lúc cô gái thét lên tột đỉnh thì những dồn nén lâu ngày trên biển của gã bếp cuồn cuộn tràn theo đương đạo ào ạt tuôn ra như nước xịt rửa boong tàu….Giúp cô nhỏ xong gã ê ẩm cả người. Gã đứng lên đi vô phòng tắm lấy xà bông rửa tay và rửa sạch cái “ngã” đã làm nhớp nhúa chiếc quần lót mới thay. Khi gã trở ra, cô gái ngồi dậy đến bên gã rờ rẫm, hỏi dò. 
– Ông không làm gì thiệt sao? 
– Dĩ nhiên là không. 
– Tại sao? 
– Tui không có gì cho cô đâu. 
– Không sao.
Cô gái đưa tay mò xuống dưới dạ bụng của gã. Gã đỡ tay cô gái. 
– Này cô nhỏ, tui không làm tình với cô được đâu.
Mặc kệ cô gái nài nỉ, gã lấy áo quần thẩy lên người cô ta. 
– Cô bận quần áo vô rồi đi dìa cho tui còn phải nghỉ ngơi.’
Coi mòi khó thuyết phục được gã đầu bếp, cô gái để quần áo lên băng, đứng dậy đi vô phòng tắm, không đóng cửa, tự nhiên ngồi xuống đái xè xè vô bồn cầu, xong cô ta xối nước rửa ráy mình mẩy. Trước khi ra khỏi cửa cô hỏi xin tiền đi đò. Khi cô gái đi rồi gã leo lên giường ngả lưng nằm thở một hơi dài, coi như xong cái của nợ. Gã nằm ngay ngắn và bắt đầu đều hoà hơi thở. Trong lúc mơ màng, gã chợt nhớ quên vặn đồng hồ báo thức. Gã vói tay lên đầu nằm quờ qua quờ lại nhưng chỗ để đồng hồ trống trơn. Gã lồm cồm ngồi dậy tìm vẫn không thấy, có lẽ cái đồng hồ đã đi theo cô gái mất rồi. Gã nằm xuống nhắm mắt, chợt nhớ lại hồi sáng nầy gã thấy cái giỏ xách da của cô gái xẹp lép, nhưng sao hồi nãy nó lại phình ra như có chửa. Gã nghi ngờ ngồi dậy lấy chìa khoá mở tủ. May quá, máy móc đồ đạc còn nguyên. Nhưng khi mở tủ trong phòng tắm thì xà bông gội đầu, bàn chải, kem đánh răng dự trữ và cái máy cạo râu đã được cô gái dọn sạch bách.
Sáng sớm hôm sau tàu khởi hành. Già Luis ngồi cú rủ trong phòng ăn mặt như thụng mất trong hàm râu quai nón, nhìn già giống như loài khỉ đột ở châu Phi, ai hỏi gì già cũng hổng trả lời mà gừ gừ trong cổ họng như chó gậm xương. Đợi mọi người ăn xong và ra boong làm việc, già bưng tách cà phê vô phòng bếp mếu máo nói với gã đầu bếp, hồi hôm ăn trộm vô phòng già; máy móc, đồng hồ và số tiền dành dụm mua computer cho con gái đã bị ăn trộm lấy hết. 
– Mất hết không còn một xu hùmm… m…
Già gầm lên như cọp gầm rồi khóc hu hu như con nít. Chẳng những gã đầu bếp không nói lời an ủi mà còn mỉm cười xỏ lá: 
– Ông cẩn thận lắm mà, chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam đâu sao hổng đem ra khệnh ăn trộm, tối ngày cứ lo nhắc người nầy, nhở người kia coi chừng trộm cắp sao ông không giỏi coi chừng đồ đạc của ông đi. 
– Bốp!
Bất thình lình già chọi tách cà phê qua ngang đầu gã va vô vách bể nát. Già vừa đi ra boong vừa chửi gã đầu bếp om xòm trời đất.
Ai tới đây trước sau gì cũng nếm mùi hở ra bị chôm, lơ là bị chộp ít thì dày, dép, nhiều thì đồ đạc đắt tiền. Người cẩn thận lúc nào cũng kè kè chìa khóa trong mình mà còn bị lừa huống hồ chi già, nhứt là khi uống rượu say để cửa phòng toang hoác, già thì nằm chò co trên băng nệm miệng há hốc ngáy khò khò, ai rinh già liệng xuống nước già cũng chẳng hay nữa.

Lần nào cũng vậy, tàu đậu vài ngày, khi ra khơi, đám nhỏ thằng nào cũng bị cháy túi, nhưng đối với chúng tiền bạc không thành vấn đề, miễn là được hưởng thụ. Trong lúc hưởng thụ thể xác của các cô gái chúng còn dùng máy chụp điện tử chụp chứa nghẹt mấy cái laptop và thu video sang ra đầy mấy cuộn băng. Diễn viên nữ trần trụi dang háng chổng mông, hình thù thì đen thui như tràm cháy, diễn viên nam say rượu quắt cần câu vậy mà cũng bày đặt hết kiểu nầy sang kiểu nọ cà hì, cà hục, cà trật, cà vuột đóng phim con heo mà thằng “cu tí” quặt quà quặt quại giống như con gà chết trong khung cảnh bừa bộn vỏ chai rượu và lon bia. Ánh sáng không đều, người quay thuộc loại tơ lơ mơ, ống kính lúc lướt qua bên nầy, khi sang bên nọ nhanh như xe lửa chay trên đường đèo, màn ảnh giựt giựt coi phát chóng mặt. Tác phẩm không đạt tiêu chuẩn phát hành. May ra còn ghi được cảnh sông nước thiên nhiên của Guyana mà thiên nhiên nơi đây thì giống y chang thiên nhiên ở quê hương của gã đầu bếp.

 Nguyễn Lê Hồng Hưng

Cốt nhục tương tàn!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

“Nhựt Bản và Nam Hàn đang trong tình trạng báo động cao sau khi Bắc Hàn đã phóng thành công một hỏa tiễn tầm xa. Cả hai nước nầy đều ngạc nhiên khi Bắc Hàn thành công… nhưng rõ ràng rằng chính Bắc Hàn còn ngạc nhiên nhiều hơn nữa”

Những show truyền hình hài hước của Hoa Kỳ thường hay đem các lãnh tụ độc tài của nhà nước Cộng sản Bắc Hàn ra mà giễu cợt!

Chẳng hạn như: “Bắc Hàn đang đe dọa chiến tranh tổng lực chống lại nước Mỹ. Họ đã leo thang chiến tranh bằng cách chụp thêm mười tấm ảnh nữa cho thấy Kim Jong-un đang nhìn qua những cái ống nhòm.”

Nghĩa là Bắc Hàn chỉ quen thói rung cây nhát khỉ để hù dọa nước Mỹ mà thôi! Tối ngày cứ lo thử nghiệm hỏa tiễn tầm xa cũng để ‘nhát’ kẻ thù hoang tưởng; nhưng nhiều lần thất bại nên mấy chú Sam cười hô hố mà rằng:

Rồi: “Hôm qua, Bắc Hàn đã phóng một hỏa tiễn tầm xa. Hành động nầy nhắm hù dọa mọi người. Tuy nhiên nó đã nổ tung khi mới rời giàn phóng được một phút. Lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-un tức điên lên! Về nhà, Kim Jong-un giơ cẳng ra đá một con chó chết ngắc; xong ăn thịt luôn con chó!”

Mấy Chú Sam nầy võ đoán là kỹ thuật phóng hỏa tiễn của Bắc Hàn đã dở ẹt mà dân Bắc Hàn còn đói quá không đủ ăn và lại rất thích ăn thịt cầy 7 món nữa đó.

Chú Sam nầy khinh thường, coi lãnh tụ Kim Jong-un của Bắc Hàn chỉ là đồ con nít, chuyên chọc phá và gây rắc rối cho các nước cựu thù bằng cách đề nghị rất đểu là:

“Tại sao chúng ta không giải quyết những rắc rối do Kim Jong-un gây ra bằng cách gởi tặng ông ta một tấm vé đi xem Disneyland?”

Tuy nhiên, mới đây Bắc Hàn đã phóng thành công hỏa tiễn tầm trung, bay xa tới năm trăm cây số. Và cuộc ám sát Kim Jong-nam tại Mã Lai tuần rồi chắc cũng khiến mấy Chú Sam nầy đâm ra lo ngại mà bớt chọc quê rồi cười hô hố đi chăng?!

***

Thói thường ai sanh ra trong một gia đình đang ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen thì thiên hạ cho là may mắn, sanh ra với cái muỗng bạc ngậm trong mồm. Đời sẽ sướng ơi là sướng!

Nhưng không phải luôn luôn là vậy! Nếu lỡ là con của các lãnh tụ độc tài Cộng sản. Hí kịch (kịch vui) đã biến thành bi kịch (kịch buồn).

Cuộc đời của Kim Jong-nam quả là một bi kịch vậy!

Kim Jong-nam, trưởng nam của cố lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-il và ái thiếp là diễn viên Song Hye-rim, phải sống những năm tháng ấu thơ trong bí mật, tách biệt với thế giới bên ngoài.

Lý do là bà Song Hye-rim lớn hơn ông Kim Jong-il 4 đến 5 tuổi và đã có chồng rồi, rồi mới quan hệ với ông Kim Jong-il.

Vì thế, Kim Jong-il đã giấu cha mình, là cố chủ tịch Triều Tiên Kim Il-sung chuyện ông có con với bà Song Hye-rim.

Vì Kim Jong-il đang là ứng viên hàng đầu kế nhiệm Kim Il-sung. Nếu mối quan hệ với bà Song bị bại lộ, con đường chính trị ông đang đi chắc chắn sẽ lâm vào ngõ cụt.

Thế nên, ngay từ bé, Kim Jong-nam đã bị đưa đến sống tại một địa điểm bí mật ở trung tâm Bình Nhưỡng, tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Chú Sam Jay Leno, chủ xị một Show truyền hình Mỹ phát lúc 10 giờ tối mỗi đêm trên đài NBC, chọc quê Kim Jong-il nhân tiện đá xoáy luôn các vị dân cử của Quốc Hội Hoa Kỳ như vầy:

“Theo tiểu sử của Kim Jong-il cho biết ông ta là một con người bất lương hay say xỉn và rất hám gái. Thế nên nếu ông ấy là công dân Mỹ, hắn ta có thể đã đắc cử vào Quốc Hội Huê Kỳ!”

Kim Jong-nam sanh ngày 10 tháng năm 1971. Khi lên 9 tuổi, Kim Jong-nam được gửi đi học Geneva, Thụy Sĩ và sau đó là Moscow cùng mẹ suốt 10 năm.

Bà Song Hye-rim qua đời ở Moscow năm 2002, sau một thời gian chống chọi với bệnh trầm cảm.

Sau khi du học xong, Kim Jong-nam trở về Bình Nhưỡng vào cuối những năm 1980, sau đó cưới vợ, giữ một số vị trí cao cấp trong chính quyền của cha trong Cơ quan Mật vụ.

Kim Jong-nam được cho là thông minh; vì có thể nói trôi chảy tiếng Pháp và tiếng Anh, chuyên gia về máy tính nhưng lại không thực sự hứng thú lắm với chính trị.

Năm 2001, Kim Jong-nam bị bắt tại một sân bay ở Tokyo cùng hai phụ nữ và một trẻ em trong lúc đang cố gắng nhập cảnh vào Nhật Bản với tấm thông hành Cộng hòa Dominica giả để tới thăm công viên Disneyland.

Hành động bốc đồng nầy làm thân phụ ông là Kim Jong-il mất mặt và bất mãn. Kim Jong-nam bị thất sủng, bị tước quyền nối ngôi, vốn dành cho trưởng nam.

Vì sớm tiếp xúc với thế giới bên ngoài và không hài lòng trước cuộc sống bị phong tỏa, cô lập ở Bình Nhưỡng và chứng kiến hàng nghìn người dân Bắc Hàn chết vì nạn đói. Kim Jong-nam nhanh chóng thể hiện thái độ hoài nghi về hệ thống chính trị, kinh tế Bắc Hàn, muốn cải cách kinh tế theo kiểu Trung Quốc.

Còn Kim Jong-un là con trai út của Kim Jong-il và ái thiếp Ko Yong-hui.

Hai người cùng mẹ mà khác cha; nhưng chưa thực sự gặp nhau bao giờ vì tập quán của chế độ độc tài Bắc Hàn nuôi dưỡng những lãnh tụ có thể lên kế nhiệm phải riêng biệt nhau.

Kim Jong-nam cũng không tin em trai Kim Jong-un có đủ khả năng dẫn dắt Bắc Triều Tiên. Do vậy hai anh em bất hòa!

Từ năm 2000 trở đi, Kim Jong-nam thầm lặng chơi bời ở Macau, Trung Quốc! Cũng không được dự đám tang của cha mình vào năm 2011; điều đó đưa ra những tin đồn rằng ông đã bị trục xuất khỏi Bắc Hàn.

Kim Jong-nam là một tay chơi (play boy), khoái ăn nhậu , nên bụng bự, khoái đánh bài trên máy, sống tương đối xa hoa với các cặp kính thời trang và các bộ vest hàng hiệu, đắt tiền.

Kim Jong- un lên nắm quyền cai trị Bắc Hàn lúc mới lên 28 tuổi, đã sử dụng bàn tay sắt, không hề ngần ngại trong việc hành quyết các quan chức dù cấp cao nhất, thân cận nhất, nhưng bị coi là mối đe dọa trực tiếp đến quyền lực của mình!

Ngày 8, tháng 12, năm 2013, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Lao Động Triều Tiên đang họp thì quân cảnh đã tràn vào, lôi Jang Song-thaek, người dượng, chồng của cô ruột Kim Kyong-hui và là cố vấn cấp cao đem đi hành hình.

Cáo buộc Jang Song-thaek cùng bè đảng đã phản đảng, phản cách mạng, phá hoại sự thống nhất và đoàn kết trong đảng.

Ngoài ra, còn phạm tội tham nhũng, đồi trụy, chơi ma túy, gái gú và đánh bài bạc tại nước ngoài (ám chỉ tại Ma Cau, Trung Quốc nơi Kim Jong-nam đang sống lưu vong).

Thi hành án tử với dượng; giờ thì tới phiên anh cùng cha khác mẹ với mình!

Cách đây 5 năm, khi nắm được quyền lực tối thượng, Kim Jong-un đã ra lịnh cho thuộc hạ phải ám sát cho bằng được Kim Jong-nam để diệt trừ hậu họa.

Tháng Mười, năm 2012, một gián điệp Bắc Hàn bị bắt, thú nhận đã có một âm mưu dàn cảnh đụng xe ở Trung Quốc hồi năm 2010, nhắm giết chết Kim Jong-nam nhưng bất thành.

Kim Jong-nam rét quá… nên xuống nước nhỏ, gởi một bức thơ cầu khẩn đến em mình: “Xin hãy tha chết cho anh và gia đình!”

Chú Sam David Letterman, Late Night Show trên đài CBS, đã từng chọc quê Kim Jong-un; nhưng lại như một lời tiên tri ngay chóc về chuyện thanh trừng sẽ xảy ra trong nội bộ của chế độ Cộng Sản Bắc Hàn:

“Như bạn đã biết thiên hạ không thấy Kim Jong-un, nhà độc tài ác quỷ của Bắc Hàn, xuất hiện trong 6 tuần lễ lại đây. Có lẽ ông ta đang bận rộn hành quyết gia đình mình!”

Quả nhiên y như kinh, sáng thứ Hai, ngày 13, tháng Hai, Ga hàng không quốc tế số 2, phi trường quốc tế Kuala Lumpur tấp nập hành khách chờ làm thủ tục lên máy bay.

Kim Jong-nam, sau một tuần ở Malaysia chuẩn bị bay về lại Macau, với thông hành mang tên Kim Chol, sanh tại Bình Nhưỡng, vào ngày 10 tháng Sáu năm 1970

Một phụ nữ đã xịt vào mặt Kim Jong-nam một độc chất, mạnh hơn chất cyanide rất nhiều; và một phụ nữ khác từ phía sau dùng một miếng vải ép chặt vào mặt nạn nhân khoảng 10 giây đồng hồ.

Kim Jong-nam cảm thấy choáng váng, hoa mắt, không thấy đường, loạng choạng tới một quầy tiếp tân kêu cứu.

Trong phòng y tế của phi trường, ông bắt đầu lên cơn co giật. Xe cứu thương đến, nhưng Kim Jong-nam đã chết trên đường đi tới bệnh viện, bỏ lại vợ và 6 đứa con còn ở tại Ma Cau.

Bọn thủ ác theo cầu thang cuốn ra ngoài ga hàng không! Hai nữ sát thủ và bốn người đàn ông đồng bọn tách thành hai nhóm, bắt taxi về Khách sạn Empire Salak Tinggi, huyện Sepang, bang Selangor, cách thủ đô Kuala Lumpur 55 km, khoảng 40 phút xe.

Cảnh sát Malaysia, theo màn hình an ninh của phi trường ghi lại, sau đó bắt giữ được một phụ nữ mang thông hành Việt Nam tên là Đoàn Thị Hương, sinh ngày 31, tháng Năm, năm 1988 tại Nam Định, lúc 08 giờ 20 phút, giờ địa phương, thứ Tư, ngày 15, tháng Hai khi sát thủ chuẩn bị lên máy bay rời Malaysia.

Nữ sát thủ còn lại mang thông hành của Indonesia cũng bị bắt. Cuộc điều tra và truy tầm những tên sát nhân còn lại vẫn còn đang tiếp tục.

Giám đốc Cơ quan tình báo Nam Hàn cho rằng: “Việc hành thích nầy do lịnh trực tiếp từ Bình Nhưỡng!”

Quyền Tổng thống Nam Hàn Hwang Kyo-ahn, nói rằng nếu Bắc Hàn thực sự đứng sau vụ giết Kim Jong-nam, điều đó cho thấy “bản chất tàn bạo và vô nhân đạo” của chế độ Bình Nhưỡng.

Vụ Kim Jong-nam bị giết có thể là dấu hiệu hệ thống quyền lực ở Bình Nhưỡng đang gặp nguy cơ. Diệt trừ hậu hoạ: diệt mối lo về sau, mối hoạ sau này.

Tuy nhiên, đám cận thần đang có quyền lực ở Bình Nhưỡng có thể sẽ quay ra chống lại Kim Jong-un vì nay thì không ai còn cảm thấy an toàn được nữa.

Cốt nhục tương tàn, không chút xót thương. Giết anh bằng bàn tay của một nữ sát thủ mặc áo có hàng chữ LOL (Laugh Out Loud – Hãy cười lớn lên đi!).

Rồi bắn pháo bông suốt 20 phút, long trọng mừng Lễ mừng Sinh nhựt Kim Jong-il, vốn là thân phụ của cả hai người.

Thiệt là một trớ trêu của trò đời tranh bá đồ vương cực kỳ kinh tởm!

đoàn xuân thu

melbourne

Công tử Quờn!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Đất nước mình bây giờ do CS cai trị, vừa ăn vừa phá; nợ đã ngập đầu. Nợ ngập đầu của nước ngoài, đâu thể nào giựt chạy, quỵt tiền; mai mốt ai cho mượn nữa, bèn học thói của thằng Tây thực dân: sưu cao thuế nặng; tàn nhẫn chụp lên đầu dân ngu khu đen, đang đói lòi cả hai cái lỗ tai, để bọn chúng giật gấu vá vai… mà tiếp tục xài tiền chùa bá tánh thập phương.

Có một quan lớn CS dạy dỗ đàn em: “Thu thuế phải như vặt lông vịt, vặt sao cho sạch nhưng đừng quá vội để vịt nó kêu toáng lên”. Thằng cha nội nầy hỗn… dám so sánh dân với ‘vịt’ chớ.

Thôi vặt cho sạch lông vịt đi, rồi bắt nồi nấu cháo lên, bỏ con vịt vô làm món vịt chấm nước mắm gừng để Tía con bây nhậu một trận tưng bừng cho rồi.

Nhưng vặt gần hết lông vịt mà vẫn chưa có đủ tiền trả nợ thì còn một chiêu tàn độc cuối cùng là bán đất nước cho thằng Tàu lạ; mặc kệ cho ‘bầy vịt’ nó thảm thiết kêu la.

***

Trước khi bán là phải quảng cáo! “Nước ta có nhiều cảnh đẹp, được ví như người con gái đẹp ngủ trong rừng chưa ai đánh thức”,

(Nhà thơ CS Nguyễn Duy khoái quá la rùm vì vì bài ‘Đánh thức tiềm lực’ (viết đã lâu có cái tứ na ná như vậy; được hết đứa nầy tới đứa kia ‘chôm chỉa’)

Nhưng mấy nhà thơ khác, (nhưng cùng phe), cho rằng: “Một đoạn thơ quá dở trong một bài thơ xoàng, chỉ hô khẩu hiệu; khô khan, không có tính nghệ thuật. Thế mà không hiểu tại sao Bộ Giáo dục Đào tạo lại chọn, ra đề thi Văn cho các em lớp 12 một cách phản cảm, phản giáo dục như vậy?!”

Vậy cũng đở hơn rồi! Vì xưa giờ, đề thi môn văn thường là của thằng cha nào đã chết mấy mươi đời vương; xác đã sình chương… sau khi dùng cái ‘đỉnh cao trí tuệ’ của mình tàn phá đất nước như thợ thơ Tố Hữu.

Rồi có thằng ‘cu’ nghe con gái đẹp ngủ trong rừng nầy, tả tình giựt cả mình, bèn phụ họa theo nịnh bợ!

“Việt Nam là cô gái đẹp, tất cả cơ thể này chỗ nào cũng đẹp. Chúng ta phải lựa chọn những bàn tay tinh túy nhất, chứ không phải là ai cũng cho vào. Cho nên lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải có tầm vóc. Nhà đầu tư khi bước vào thì phải đem đến điều gì đó đặc biệt, tạo động lực mạnh mẽ cho đặc khu phát triển.”

“Ê! Sao mà giống như thuyết minh phim ‘sex’ vậy cha nội?”

Kinh nghiệm chua xót mới ràng ràng đây nè! Bọn Formosa và nhiều bọn khác vô làm ô nhiễm môi trường, làm cá ngoài biển, cá dân nuôi bè hè nhau chết hết ráo mà bọn chúng láo, dám bảo: “400 tấn cá chết là do bị sặc nước”.

He he! Hồi nhỏ tới lớn, tui chỉ nghe con cá nó sống vì nước; giờ mới nghe nó sặc nước mà chết hết đó nhe!

Thế nên bà con mình cho rằng: Luật Đặc Khu, là bán đất của tổ tiên của toàn dân để toàn đảng mình xơi. Đúng là một bọn Trời ơi! Vì đất đai là sở hữu của toàn dân; do nhà nước quản lý. Quản lý mà lại ăn cắp đem đất của chủ đi bán… thì tao cũng lạy tụi mầy?

Thế nên đồng bào Phan Thiết mình quạu quá; hè nhau rượt tụi nó chạy có cờ! Quá đã!

***

Té ra đảng viên chóp bu CS giờ, cũng khoái ví von, khoái chơi chữ lắm làm tui lại nhớ tới chuyện hồi xưa!

Cách đây hơn nửa thế kỷ, tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn, tui học lớp Đệ Thất, rồi cứ đếm ngược theo ‘số thứ tự’ lên là Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhứt!

Mãi tới năm 1969, Bộ Giáo Dục mới đổi tên lớp lại theo ‘số đếm’. Đệ Thất là lớp 6, leo dần 7, 8, 9, 10, 11, 12.

Sau đó bỏ kỳ thi Tú tài Một, cuối năm lớp 11 chỉ còn thi Tú tài Hai cuối cấp mà thôi. Sở dĩ cắt nghĩa vòng vo tam quốc dài dòng như vậy sợ em cháu mình sau nầy nó không biết.

Mặc dầu lớp Đệ Thất nhỏ nhứt nhưng quý thầy cô lại già nhứt, có kinh nghiệm giảng dạy nhứt mới được phân dạy cấp lớp nầy đó nhe! Nhứt là trong cái trường trung học nổi tiếng nhứt của nước VNCH là trường Petrus Ký. (Thiệt là quá nhiều cái nhứt!)

Ba năm đầu, môn Quốc văn, tuần học tới 6 giờ, vì là môn quan trọng nhứt! Và có một chuyện ngẫu nhiên lý thú là: quý giáo sư dạy tui môn Quốc Văn đều tên Dung. Dung là tên phái nữ; nhưng thầy dạy Đệ Thất của tui cũng tên Dung; thầy Võ văn Dung.

Nghe tui kể vanh vách như vậy, mấy thằng bạn học cùng lớp năm xưa ngày cũ nó ngán tui quá xá! “Ê già háp mà thằng ‘Tèo’, đã từng một thuở ‘lù coi’ nầy, nó chưa có lẫn!”

***

Thầy tui hồi xưa rất yêu nghề. Vì nghề giáo hồi đó sống khỏe chớ đâu như bây giờ làm giáo chức là dứt cháo, sống bù lăn bù lóc… một đời móc bọc!

Yêu nghề nên tận tâm với nghề; thầy soạn bài kỹ lắm. Nhưng khổ nỗi là thầy chọn những đề tài mà thầy thích rồi dạy, hỏng cần biết sắp nhỏ có đủ khôn để hiểu hay không?

(Mãi tới hơn 50 chục năm, tui mới ‘ngộ’ là nó hay quá xá là hay… Hơn nửa thế kỷ bớt ngu còn đỡ hơn là mình ngu tới chết!)

Thầy tui rất lấy làm ái mộ nhà văn Bình Nguyên Lộc, tác giả quyển tiểu thuyết ‘Đò Dọc’, đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1960, nên chọn một đoạn trích giảng vầy nè:

 “Quờn là một công tử nhà quê, hạng người mẫu. Vì ở gần thành phố quá, mặc dầu thành phố ấy chỉ là một quận lỵ, công tử Quờn lại mang thêm một cố tật dĩ nhiên là muốn thành người thành thị.

Thành không được, Quờn lai căn một cách dị hợm với những bộ bi-da-ma màu hường, màu xanh lá cây mà cậu mặc mãi từ sáng đến tối, từ trong buồng ra đến quận lỵ. (…)

Từ ngày xóm tiếp nhận nữ khách mới thì cậu xức nước hoa chế tạo ở Chợ Lớn và nhét mù xoa nhỏ có thêu chéo xanh xanh đỏ đỏ trên miệng túi bi-da-ma.

Cậu diện thêm một cây đàn băng cầm, cứ chiều chiều xách nó ra đường, không khảy vì chưa biết chơi, nhưng cắt nghĩa lu bù về nhạc cụ ấy, với đám trẻ con bu quanh cậu. (…)

Trong cái lần đầu ấy, thấy Quờn liếc lén mấy chị em, Hoa tấn công ngay: “Chào cậu hai. Đi dạo mát với chị em tôi chơi, cậu!” (…)

Quờn đứng chết sững và ngậm câm, còn hai cô Hoa và Quá thì rũ ra cười; cô Quá cười no rồi nói: “Hay là cậu mặc áo hường rồi chê áo đen của chị em tôi mà không muốn đi chăng?” (..).

Một bữa khác, được nói chuyện với mấy chị em Hoa, Quờn sẽ để lộ cái “dốt”

Quờn mặc bi-da-ma bằng vải ú màu xanh lá cây, đầu chải brillantine Chợ Lớn sực nức mùi chanh, cổ đeo giây chuyền vàng khè, tay nặng trịu nào lắc vàng, cà rá vàng và đồng hồ cũng bằng vàng. (…)

“Độ rày cậu làm gì, cậu hai?” Hoa lại hỏi. “Cũng hổng cần làm gì, à tôi có tự túc một bầy gà Huê-kỳ, coi bộ tương lai quá khứ?”

Cả bốn chị em đều ngạc nhiên, không hiểu cậu ta nói cái gì mà lại tự túc và có tương lai quá khứ? “Tự túc là gì cậu?’” Hương hỏi thật tình. “Tự túc là nuôi, chớ là gì.” “Vậy hà, còn tương lai quá khứ?” “Tương lai là tương lai, còn quá khứ là quá sá. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói phạm vi. Thù vặt họ nói cá nhân, nghe hay quá khứ.

Hoa và Quả núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt. (…) .

Chuyện đã lâu, công tử Quờn ngày xưa chắc đã xuống âm phủ mà đờn… Dè đâu cái thời buổi ‘đồ đểu’ nầy trong nước bây giờ không phải là một công tử Quờn mà hàng trăm, hằng ngàn công tử Quờn đội mồ sống dậy; nói tiếng Việt mà hỏng biết mình đang nói cái giống gì?

Mặt vênh vênh, váo vào, cái cằm nọng bố lếu bố láo, tay kia chém gió, đăng đàn diễn thuyết toàn là những chuyện tào lao bắc đế làm bà con mình khi dễ như bốn chị em của Hoa đối với công tử Quờn ngày xưa đó mà thôi.

Chẳng hạn như: “Sinh đẻ là vì mình, đất nước, vì thành phố, chứ không là chuyện riêng. Rất nhiều nước coi việc sinh đẻ là tự do của cá nhân, nhưng tự do mà sinh ít quá thì đất nước bị thiệt hại”.

Chuyện con nhiều, con ít… là quyền tự quyết của chị em mình. Xin ông đừng có dại mà bắt chước ‘ngày xưa đại tướng cầm quân; ngày nay đại tướng cầm quần chị em’

Bên Úc nầy, chừng hơn chục năm trước, ‘mông xừ’ Peter Costello, Bộ trưởng Ngân khố cũng chổng mông kêu gào là: “Mỗi chị em Úc trắng, vàng, đen, đỏ nên sản xuất ra ba đứa nhỏ! Một đứa cho má, một đứa cho tía, một đứa cho chánh phủ. Chớ nín kiểu nầy vài chục năm nữa nước Úc toàn là ông bà già hết xí quách không hè, đâu còn có ai đủ xí quách, đi làm đóng thuế thì đất nước tất diệt vong. Đẻ thêm đi chính phủ sẽ cho tiền lì xì. Năm ngàn đô mỗi đứa!”

“Tiền thì khoái nhưng tính tới tính lui, vui phút giây thôi mà chín tháng mang nặng đẻ đau, ba năm bú mớm! Nuôi một đứa từ thuở lọt lòng đến năm 18 tuổi ‘bái bai’ Tía má con đi theo tiếng gọi của lòng con đây nhe… là hai vợ chồng lè cả lưỡi! Tốn chừng nửa triệu đô Úc chớ có ít ỏi gì đâu. “Thôi em chả! Ông về biểu bà nhà làm gương trước đi nhe!”

Tiền nuôi con là một vấn đề nhức đầu rồi; mà vấn nạn lớn lên nó thành công tử Quờn hay chơi chữ…Cứ mở miệng ra là dân nó chửi ngu thì thêm nhục tổ tông dòng họ nhà mình!

***

Để chữa cháy, do mấy đồng chí gái nhát như cáy mà nín đẻ, tất tuyệt tự không có con nối dõi tông đường, thì của cải ăn cắp do ngày làm thanh tra tỉnh, tối về chạy xe ôm thâu đêm. Rồi vợ còn phải nuôi heo, nuôi gà cóp nhặt từng đồng mới sắm được cái biệt phủ nầy đây! (Ai vô đây mà hưởng?)

“Nó nói dóc ‘trần trắng trợn’ như vậy làm sao mà dân không chửi chớ?” Để đối pháp, Quốc hội CS vừa thông qua luật An ninh mạng, nhằm hăm he mấy thằng lạng quạng, bọn liều mạng, cán bộ mở miệng ra là nó chửi té tát, chửi như hát.

“Nếu ta sai, ta sẽ xin lỗi dân. Nếu dân sai, dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Nghĩa là sao, quan sai thì xin lỗi; (rồi huề tiền); còn dân sai thì nhốt!

Khóa miệng dân rồi, đảng ta sẽ lo “xây công viên nghĩa trang để giúp tỉnh phát triển bền vững” và giúp các đồng chí ‘mồ yên mả đẹp’ lúc từ giã cõi đời ô trọc nầy!

Chắc cũng hỏng lâu đâu… lo bây giờ là vừa rồi!

đoàn xuân thu.

melbourne

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Di Chuyển Chỗ Ở

Từ giã cô Bông xong, tôi đi xuống trại, ngang qua văn phòng Ty Y Tế, tôi bèn tạt vào. Thấy cửa đóng kín mít. Tôi đẩy nhẹ, cửa hé ra được một chút,vướng thành bàn chặn bên trong. Tôi nghe tiếng bác sĩ Phúc hỏi vọng ra:

– Ai đấy?

Tôi trả lời:

-Tôi đây anh.

– Anh Quý đó phải không? Sơn ơi ra mở cửa cho bác sĩ Quý vào.

Có tiếng chân bước ra cửa rồi tiếng kéo lê cái bàn. Tôi mở rộng cửa lách mình vào. Hơi nóng hầm hập bên trong hất vào mặt tôi. Cái đèn dầu Hoa Kỳ nhỏ để trên bàn giữa phòng leo lét cháy càng làm căn phòng thêm âm u huyền ảo. Trên sàn nhà, năm mẹ con bà Nghi, vợ một nhân viên Y Tế đang nằm ngổn ngang. Đứa bé gái nhỏ thỉnh thoảng lại giãy giụa ú ớ khóc, khiến mẹ nó phải dơ tay quạt liền liền. Không khí tù túng ngột ngạt như đặc sệt lại. Mùi hôi của mấy cái xác ngay sau bức tường, chỗ nhà để xe càng làm khó thở hơn.

Tôi tiến sâu về phía cuối phòng. Nơi đây có một hầm nổi khá kiên cố. Tôi cúi đầu chui vào hầm. Bên trong hầm còn bí hơi ngộp thở hơn nữa. Ở đây cũng có một ngọn đèn Hoa Kỳ để ở góc hầm trên khúc gỗ vuông.

Tôi phải mất mấy giây mới nhận ra bác sĩ Phúc đang nằm dài trên một chiếc nệm. Anh cởi trần, mặc quần đùi cho bớt nóng. Thấy tôi anh hỏi ngay:

– Chưa đi ngủ sao anh?

– Dạ chưa, hãy còn sớm. Tôi mới ở Phòng Cấp Cứu về.

– Có nhiều thương binh không anh?

– Nhiều, ngày hôm nay nhập viện 195 người. Họ nằm đầy ở dưới đất. Rác rưởi nhiều quá anh ạ. Mấy khiêng cáng viên trốn đâu mất, không chịu làm việc, khiêng chuyển bệnh xuống trại để có chỗ tiếp nhận bệnh mới. Ngoài đó xác chết với người bị thương nằm lẫn lộn, thấy khiếp quá. Có lẽ mình phải tổ chức làm vệ sinh cho sạch mới được.

Bác sĩ Phúc thở dài:

– Tụi nó mệt mỏi và mất tinh thần rồi. Để sáng mai tôi bảo Trung úy Quý ra lệnh cho tụi nó làm. À thuốc men anh thấy còn đủ không?

– Có thể cầm cự được chừng một tuần nữa thôi. Nước biển dưới kho lớn hết rồi, nhưng kho Vượt Biên mình còn. Compress mình hết nhưng các trại đã nhận được một số băng cá nhân và bông dùng tạm cũng được.

Bác sĩ Phúc trầm ngâm một chút rồi chợt nói:

– Anh ở dưới đó không có hầm nguy hiểm lắm, anh lên trên này ngủ. Anh mời cả anh Chí nữa. Hầm này còn rộng chỗ mà.

– Vâng tôi xuống phòng một chút rồi lên. Còn anh Chí tôi có nói rồi, nhưng anh ấy bảo ở đâu cũng vậy thôi.

Tôi chào bác sĩ Phúc rồi đi về phòng. Vào trại Ngoại Khoa, tôi đi ngang căn phòng bị dù đè sập mấy ngày trước. Qua lỗ trống ở nóc nhà, ánh sáng hỏa châu vàng vọt bệnh hoạn soi rõ hai cái giường bẹp dúm cùng gạch ngói ngổn ngang vẫn còn để nguyên chưa có ai buồn dọn dẹp. Hơi người trong các phòng thoát ra nóng hầm hập. Phải khó khăn lắm tôi mới lách chân tới cửa phòng tôi vì thương binh nằm đầy ở hành lang. Tôi gõ nhẹ cửa. Vợ Châu ra mở cửa. Tôi lẹ làng bước vào, ngồi trên giường. Vợ con Châu đã thu xếp sạch sẽ một góc phòng để làm chỗ ngủ. Không thấy Châu đâu tôi hỏi:

– Anh Châu đâu chị?

Vợ Châu vừa quạt vừa nói:

– Ông ra đầu trại cho mát. Bác sĩ ăn cơm chưa?

– Chưa, nhưng chỉ thấy mệt chứ không thấy đói.

Vợ Châu nhanh nhẩu nói:

– Còn cơm để phần bác sĩ đó. Bác sĩ ăn chớ không đêm đói.

Tôi ra bàn cố ăn một bát để giữ sức. Trong phòng bịt bùng, oi bức quá. Vừa uống xong ngụm nước thì Châu về. Châu nói:

– Chợ Bình Long cháy dữ quá bác sĩ.

Nghe vậy tôi bèn xách máy hình theo Châu đi ra ngoài. Chiếc máy hình Asahi Pentax tôi mới nhờ em Tuệ tôi ở Sài Gòn mua được một tháng. Tính mang lên đây để chụp những trường hợp bệnh lý đặc biệt làm tài liệu. Chưa chụp được nhiều thì xảy ra cuộc chiến này.

Tôi đi dọc hành lang phía cuối trại Ngoại Khoa, bước xuống mặt đường. Gió đêm mát lạnh. Nơi đây hơi xa chỗ các xác chết nên không khí dễ thở hơn một chút. Tôi nhìn xuống khu chợ mới. Nơi đó sáng rực. Tất cả đều chìm trong biển lửa. Ánh sáng của đám cháy làm lu mờ những đốm hỏa châu ở phía xa. Từng cột khói phản chiếu ánh lửa thành trắng đục, bốc thẳng lên trời, tan biến trong không gian đen thẫm ở trên. Thỉnh thoảng ngọn lửa lại bùng lên cao, che lấp cái khung sườn sắt của chợ Bình Long. Khắp phía Bắc thành phố chỗ nào cũng có đám cháy cả. Tôi đã thấy ánh lửa nhen nhúm từ hồi chiều ở ngay chính giữa chợ, bây giờ mới bộc phát dữ dội.

Càng lâu ngọn lửa càng lớn. Tôi có cảm tưởng cả thị xã An Lộc đều bị chìm trong biển lửa. Trông cảnh tượng đó thật bi hùng, dễ gây xúc động. Tôi muốn ghi lại hình ảnh này để làm tài liệu.

Tôi vội mở máy ảnh chụp cầu may trong đêm tối. Tôi mở hết ống kính, để tốc độ một giây. Tôi chụp liền hai cái. Tôi không tin tưởng lắm là bức hình sẽ rõ. Tôi lại vặn sang nấc B để điều khiển đóng mở ống kính bằng tay cho chắc ăn và chụp thêm hai tấm nữa. (Không ngờ mặc dù phim đã quá hạn, lại để trong túi áo giáp hơn hai tháng trời mới gửi đi rửa mà những tấm hình đó nét rất rõ và đẹp.)

Chụp xong tôi còn đứng nán lại ngắm nhìn cảnh cháy hùng vĩ có một không hai này cùng với mấy chục người dân tỵ nạn. Người nào người nấy đều đứng ngẩn người chăm chú nhìn như bị thu hút bởi thần lửa dưới chân đồi. Ánh lửa rực rỡ, man rợ xa cả nửa cây số vẫn còn soi sáng một vùng rộng lớn trong đêm không trăng, soi rõ những nét mặt thẫn thờ của những người dân tỵ nạn. Họ đang nghĩ tới những của cải không kịp mang đi, những ngôi nhà thân yêu đang làm mồi cho ngọn lửa. Những công trình mà suốt cuộc đời hẩm hiu của họ đã phải làm việc tối ngày mới tạo ra được.

Tôi ngó quanh không thấy anh Châu đâu, bèn đi kiếm anh. Tôi thấy anh đang ngồi ở bậc thềm hành lang hút thuốc lá, bình thản coi như không có gì xảy ra.

Tôi hỏi anh:

– Anh có bà con hay ai quen ở chợ không?

– Dạ không, bác sĩ.

– Vậy cũng đỡ, tôi nghĩ chắc có người đốt chợ quá. Nếu không làm gì cháy dữ như vậy. Không biết đến bao giờ mới yên bình trở lại. Mệt mỏi quá rồi. Thôi mình về phòng đi anh Châu.

Châu đứng dậy đi theo tôi. Tôi nói tiếp:

– Đêm nay tôi lên phòng ông Phúc ngủ. Anh cứ nằm giường tôi cho khoẻ.

Châu nhìn tôi không nói gì cả. Tôi vào phòng kiếm cây đèn pin, đem theo mũ sắt, áo giáp đi lên văn phòng Ty Y Tế. Tôi cúi đầu lách qua cửa hầm. Tiếng Bác sĩ Phúc hỏi vọng ra:

– Anh Quý đó hả?

– Vâng.

– Ứ. Anh lên ngủ với tôi cho vui. Đây anh nằm tấm nệm này.

Thấy trong hầm chỉ có độc nhất một tấm nệm, tôi vội nói:

– Anh nằm nệm đi, tôi trải tạm vải nằm nằm sàn gạch cũng được.

Bác sĩ Phúc gạt đi:

– Tôi có tấm chiếu nylon đây rồi. Nằm nệm nóng tôi chịu không được.

Tôi không quen khách sáo. Cung kính bất như tuân lệnh. Tôi vui vẻ nằm lên tấm nệm duỗi dài chân cho đỡ mỏi. Hai chúng tôi nằm song song với nhau dọc theo chiều dài của căn hầm. Cu Sơn cháu Bác sĩ Phúc nằm phía dưới theo chiều ngang của hầm. Tôi để nón sắt ở góc hầm ngay trên đầu, áo giáp được gấp lại để làm gối. Thoáng thấy chiếc radio lớn của Bác sĩ Phúc để ở bên cạnh, tôi vội hỏi:

– May quá, anh còn giữ được chiếc radio này. Có tin tức gì không anh?

– Có, tôi có nghe đài BBC. Họ nói nghe nản quá.

– Họ nói sao anh?

– Họ bảo chỉ có phép lạ mới cứu được An Lộc!

Tôi thở dài:

– Thế là chúng mình tiêu tùng à? Vô lý. Tôi nghe nói Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù đã lên tới Tân Khai mấy ngày nay rồi. Từ đây tới đó cỡ gần chục cây số chứ mấy mà sao vẫn chưa bắt tay nhau được nhỉ?

– Khó lắm, công đồn đả viện là nghề của tụi Việt Cộng. Tụi nó quyết ăn thua đủ nên đã đem 3 sư đoàn đánh Bình Long. Thế nào nó chả chia quân ngăn chặn viện quân mình. Quân Dù lên chậm, chắc cũng vì thế. Từ khi nghe tin Lữ Đoàn Dù lên tiếp viện, không chỉ riêng tôi mà mọi người trong bệnh viện và tất cả mọi người trong thành phố An Lộc này đều hy vọng. Ai cũng yên chí khi quân Dù lên tới nơi chỉ trong vài ngày là An Lộc sẽ được giải tỏa và trận chiến sẽ chấm dứt. Mọi người đều đặt hết tin tưởng vào binh chủng bách chiến bách thắng này. Nhưng chúng tôi đã trông đợi mấy ngày nay mà không thấy gì xảy ra cả. Tất cả chỉ là tin đồn. Nay đồn Dù lên tới Tân Khai, mai đồn Dù lên tới ấp Chà Là. Chúng tôi mong ngóng quân Dù như đứa trẻ mong mẹ về chợ. Vì đó là niềm hy vọng cuối cùng của những người bị vây hãm tại đây.

Tôi chợt nói với Bác sĩ Phúc:

– Tôi không ngán pháo kích. Tôi chỉ sợ bị bỏ bom lầm và nhất là bị bỏ rơi.

Tôi nói ra điều này làm cả hai cùng đâm lo. Trong trường hợp phải rút lui chiến thuật, đó là một bí mật quân sự, chúng tôi lại không có một phương tiện liên lạc nào với các Bộ Chỉ Huy Quân Sự ở đây. Ai báo tin cho chúng tôi biết? Một khi các nhân vật quan trọng đi rồi, Việt Cộng tràn vào, B52 dội bom xuống là cuộc đời chúng tôi chấm dứt. Ý nghĩ này ám ảnh tôi hoài, và đó cũng là mối lo thường xuyên của tôi. Tuy nhiên để tự an ủi tôi nghĩ rằng sự việc sẽ chẳng đến nỗi tệ như vậy. Chung quanh tôi còn biết bao nhiêu là người. Nếu có chuyện gì thay đổi thì chắc tôi sẽ được báo tin không đến nỗi trễ tàu.

Bác sĩ Phúc chợt lên tiếng:

– Đài Sài Gòn cho hay là Đại tá Tỉnh Trưởng cùng Đại tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 đích thân dùng M72 bắn cháy mỗi người một xe tăng T54 của VC.

– Quanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn mình có thấy chiếc xe tăng nào đâu. Chắc họ nói thế cho lính lên tinh thần đấy mà. Bao giờ có dịp tôi hỏi Đại tá Nhựt xem sao.

Anh Phúc với tay bật nút radio tìm đài Việt Cộng. Một giọng nói the thé đanh đá chua như dấm cất lên:

– Quân đội nhân dân chúng ta đang làm chủ tình hình tại thành phố An Lộc. Cờ của chúng ta đang bay phất phới trên nóc dinh tên Tỉnh Trưởng Ngụy. Thành phố An Lộc đã hoàn toàn được giải phóng.

Anh Phúc vội tắt. Chúng tôi không muốn nghe nữa. Họ nói hoàn toàn không đúng sự thật. Chúng tôi còn đây. Dưới khu chợ mới còn đầy lính mình. Hàng chục xe tăng bị hạ ngay trước mặt chúng tôi mà họ dám dở giọng điệu tuyên truyên giả dối. Ai mà tin được.

Tôi quay trở lại vấn đề thực tế trong bệnh viện. Hiện số thương binh quá nhiều. Mà trận chiến thì có thể còn kéo dài chưa biết tới lúc nào mới chấm dứt. Nếu không tản thương kịp số thương binh hiện tại thì sẽ không còn chỗ để chứa những người sắp tới. Và như vậy số tử vong sẽ cao. Sẽ có nhiều người chết oan uổng vì tản thương chậm trễ.

Đã mấy ngày nay không có một chuyến tản thương nào. Mọi người đều nóng ruột, nhất là tôi, trong lòng thực không yên. Công trình tôi săn sóc các thương binh ngay những giây phút đầu chỉ có thể có hiệu quả khi những thương binh này được tiếp tục săn sóc hậu giải phẫu. Nghĩa là phải có đủ điều kiện thay băng mỗi ngày, thuốc trụ sinh đầy đủ, ăn uống đúng cách. Nếu không các vết thương sẽ làm độc, sẽ lâu lành, tạo thành những kết quả xấu.

Tản thương chậm trễ sẽ có những hậu quả không hay, nghĩa là sẽ phải mất đi những tay súng đáng lẽ không phải mất. Phải bỏ ra 20, 30 năm mới gây dựng, đào tạo nên một con người, mà nay chỉ vì thiếu phương tiện mà phải hy sinh một cách vô lý như vậy thì thực đáng tiếc quá.

Tôi nói với anh Phúc là ngày mai chúng tôi sẽ bàn với anh Vũ Thế Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y xin gặp Đại tá Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 để trình bày sự việc và đốc thúc việc tản thương càng sớm càng tốt. Chúng tôi nói chuyện được một lúc, ai nấy đều mệt mỏi, nằm im ngủ. Nhưng trong hầm nóng bức, tôi trằn trọc mãi, cố dỗ giấc ngủ mà không được. Thỉnh thoảng lại còn bị muỗi đốt. Tôi chà cẳng chân trên mặt nệm cho bớt ngứa. Ngoảnh sang bên cạnh, tôi thấy Bác sĩ Phúc đã ngủ từ bao giờ. Anh nằm bình thản thở đều đều. Tôi thấy phục anh quá. Anh nằm trong hầm suốt ngày như không, sức chịu đựng của anh thật đáng kể.

Mùi hôi thối của mấy trăm cái xác nằm bên ngoài đưa vào làm tôi khó thở quá. Hầm này xây trong nhà, mà bên ngoài lại đóng kín mít các cửa, rất là bí hơi. Tôi cố nằm được một lúc, sau cùng chịu không nổi không khí tù hãm đó, thật như ai bịt lấy mũi mình, tôi vùng trở dậy đi ra ngoài hầm.

Chúng tôi không dám để ngỏ cửa vì sợ đêm khuya đặc công VC lẻn vào ám sát, thành ra dù có bí hơi cũng phải đóng cửa cho an toàn.

Đặc công Việt Cộng đã thực sự có mặt tại bệnh viện. Trung úy quản lý Bệnh Viện Tiểu Khu Phạm Ngọc Quý suýt nữa bị tên đặc công bắn trúng. Ngay ngày hôm qua, lúc chạng vạng tối Trung úy Quý hớt hải tới báo cáo với tôi là ông ta bị bắn rách áo giáp ngay ngang sườn. May quá không trúng vào người. Khi kể chuyện ông ta mặt mũi vẫn còn xanh rờn thất sắc. Tôi hỏi đầu đuôi câu chuyện, Trung úy Quý kể:

– Tôi thấy bệnh viện chật ních những người, sợ có Việt Cộng trà trộn vào nên ra lệnh cho mấy nhân viên dưới quyền chia nhau đi các trại, các phòng để âm thầm xem xét có gì khả nghi không. Riêng tôi đi vòng bên ngoài các trại.

Lúc tới sau trại Sản Khoa, tôi thấy một bóng người đang ngồi sau cái cột hí hoáy ghi chép. Tôi hơi nghi, rón rén lại gần thì thấy nó đang ghi mấy chữ số với một cái bút gắn vào một cái đèn pin nhỏ. Tôi hỏi: Anh ghi cái gì vậy. Tên này giật mình. Vừa trông thấy tôi là nó bắn liền, bằng một cái súng đặc biệt như một cây bút. Bắn ra được có một phát đạn rồi nó vùng chạy. Khi tôi rút được khẩu súng Colt ra thì nó đã lẩn vào đám đông mất tiêu. Trời đã tối nên khó mà tìm được nó. Tôi nghi nó ghi tọa độ để báo cho pháo binh địch bắn mình.

– Đúng nó là tiền sát viên của địch rồi. Cũng may là ông không bị trúng đạn. Lần sau đi tuần nên đi hai người để có thể hỗ trợ cho nhau. Ngày mai chúng ta nên kiểm tra toàn bộ những người trong bệnh viện. Lính đào ngũ thì giao cho An Ninh Tỉnh. Còn dân, khuyên họ đi chỗ khác không cho ở trong bệnh viện nữa để tránh đặc công địch lẻn vào.

Sau vụ bắn hụt Trung úy Quý, chúng tôi đã kiểm soát chặt chẽ mọi người trong bệnh viện như đã dự tính. Trong số những người lính rút lui từ Lộc Ninh về có cả con trai bà Khánh. Bà y công của bệnh viện mà cả gia đình bị pháo trúng, giờ chỉ còn sót lại người con trai này. Cậu này tôi có biết vì đã tới thăm mẹ tại bệnh viện mấy lần. Cậu ta nhìn tôi như cầu cứu, ngụ ý không muốn để giải lên An Ninh Tỉnh. Tôi không muốn can thiệp vì biết rằng cậu này là Địa Phương Quân, nên có giải lên An Ninh Tỉnh cũng không sao. Sau khi điều tra xong, Tiểu Khu lại có thêm một tay súng nữa, cũng tốt thôi.

Tôi nhìn đồng hồ thấy đã hơn 12 giờ rưỡi khuya. Tôi cẩn thận nhẹ nhàng đẩy cái bàn chặn, mở hé cánh cửa thò đầu nhìn ra ngoài. Không khí ban đêm mát lạnh ùa vào mặt khiến tôi cảm thấy dễ chịu hẳn. Tôi nhìn quanh sân bệnh viện, vắng ngắt không một bóng người. Tất cả đều yên lặng. Ánh sáng hỏa châu vàng vọt như ánh trăng úa, chiếu trên mấy trăm thây ma nằm sắp lớp ở ngoài nhà để xe. Tôi cảm thấy lạnh mình, rợn tóc gáy. Những bóng nhà, bóng cây di chuyển từ từ theo ánh hỏa châu. Màn đêm ập xuống khi một trái tắt lịm, rồi lại bừng sáng lên theo sau một tiếng nổ kêu bốp một cái của trái kế tiếp. Ánh sáng lại được ném xuống vùng đất phía dưới, cứ như vậy suốt đêm.

Tôi nhìn lên trời, lẫn trong những vị sao lấp lánh, ánh đèn nhỏ nhấp nháy của một phi cơ soi sáng, đang di chuyển âm thầm như một oan hồn cô độc lạc lõng giữa không gian mênh mông. Tiếng động cơ nghe khi xa khi gần rất là buồn nản. Ở phía xa hơn nữa, tôi nghe thấy tiếng máy bay bắn một loạt súng gì nghe như tiếng đánh trống: Cắc, cắc, cắc, tùng, tùng, tùng. Cắc, cắe, cắc, từng, tùng, tùng, suốt đêm. Lần đầu tiên tôi mới nghe thấy tiếng súng lạ kỳ này.

Những ngày sau đó, cứ đêm đến là tôi lại được nghe tiếng súng trên. Trong bệnh viện không có ai biết đây là loại súng gì. Mãi sau có người nói cho tôi biết đó là loại súng đại bác đặc biệt bắn đạn phosphore điều khiển bằng radar rất chính xác, bắn trúng xe tăng dễ dàng.

Tôi tính trở về phòng tôi ngủ ở dưới trại Ngoại Khoa, thoải mái hơn. Nhưng tôi ngại về giờ này sẽ phá giấc ngủ của anh Châu, tôi lại thôi. Đứng được một lúc tôi đành quay trở về hầm cố chịu đựng nóng bức ngột ngạt để nằm ngủ lấy sức. Và tôi chỉ giật mình tỉnh giấc vào lúc 5 giờ sáng vì những trái đạn pháo kích của Việt Cộng bắt đầu rót vào.

Có hầm trú ẩn tốt, tôi không thấy lo lắng gì khi nghe những trái đạn nổ gần hoặc tiếng đạn xé không khí bay ngang qua đầu để nổ ở phía xa. Khác với những đêm một mình nằm trong phòng của tôi, sợ hãi đến lạnh cả mình. Nay tôi lại có Bác sĩ Phúc ở trong hầm, có cả cu Sơn nữa. Tức là có người ở bên cạnh không còn đơn độc một mình, nên tôi cảm thấy yên tâm. Nhưng dù sao để chắc ăn hơn, tôi trở dậy lấy mũ sắt úp lên đầu, mặc áo giáp vào rồi lại tiếp tục nằm co trên nệm. Tôi hồi hộp lắng nghe những tiếng nổ khi xa khi gần cùng những mảnh đất đá văng lên mái tôn nghe rào rào như mưa.

Một tiếng nổ rất gần, dường như ở ngay vòng rào sau bệnh viện. Nghĩa là chỉ cách hầm chúng tôi chừng 10 thước. Nóc hầm rung nhẹ, chứng tỏ hầm này khá vững. Tôi và Bác sĩ Phúc không ngủ được nữa, cả hai chúng tôi đều ngồi dậy dựa vào vách hầm. Ngồi lên sẽ thu nhỏ thân hình lại, khó bị trúng mảnh đạn hơn. Tôi nhẩm đếm những trái nổ rất gần để đoán xem có bao nhiêu trái đã rớt trong khu bệnh viện. Tôi phá tan sự im lặng, nói với Bác sĩ Phúc:

– Nó pháo kỳ này kỹ quá, dễ chừng có 10 trái đã rơi vào bệnh viện. Không biết nhân viên mình có may mắn thoát khỏi kỳ pháo này không?

Bác sĩ Phúc gật đầu:

– Tôi cũng đang theo dõi như anh. Những trái lọt vào bệnh viện chắc là lạc hướng, tôi nghĩ tụi nó nhắm vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn hơn là vào bệnh viện. Tôi cũng lo cho nhân viên mình. Nhưng thôi phó mặc cho trời. Tôi thấy họ làm từng hầm nhỏ dọc theo tường sau trại Nhi Khoa. Trừ phi pháo rơi trúng, còn không thì chắc cũng không sao.

Tôi coi đồng hồ. Mới 15 phút, mà tôi thấy dài như cả giờ. Cường độ pháo bây giờ hơi giảm xuống không còn hung hãn như lúc mới khởi đầu. Tôi nhìn anh Phúc nói:

– Không biết có tiền pháo hậu xung không đây?

Bác sĩ Phúc trầm ngâm trả lời:

– Có thì lát nữa mình sẽ biết liền. Nếu không nghe thấy nhiều tiếng súng nhỏ thì mình yên chí có thể ngủ tiếp. Chuyện gì rồi sẽ tính sau.

Nói xong anh từ từ ngả lưng xuống. Tôi cũng theo anh cố ngủ để lấy sức làm việc vào buổi sáng mà chắc chắn sẽ rất bận.

Rồi trận pháo kích đêm nay cũng tới hồi chấm dứt. Tôi và Bác sĩ Phúc nằm ngủ mê mệt vì thức khuya. Tôi chỉ bừng mắt dậy khi nghe có những tiếng gọi tên tôi từ ngoài cửa vọng vào, có vẻ rất lo lắng:

– Bác sĩ Quý có ở trong này không?

Tôi dụi mắt tỉnh hẳn, nhìn vào đồng hồ đã thấy 7 giờ sáng. Tôi vội khoác áo giáp, đội nón sắt bước ra cửa.

Tôi thấy ba bốn người y tá đang đứng trước cửa phòng Ty Y Tế, trong đó có Binh nhất Mệnh. Mọi người trông thấy tôi đều lộ vẻ mừng rỡ:

– A, Bác sĩ Quý đây rồi. Tụi em tìm bác sĩ mãi. Phòng bác sĩ bị pháo trúng một trái, tanh bành ra hết. Tụi em tưởng bác sĩ tiêu rồi. Tụi em vào phòng thấy tấm nệm giường bị cháy đen lật tung xuống dưới sàn, lại tưởng là bác sĩ. Run quá. Coi lại thì không phải. Nhìn quanh phòng cũng không thấy dấu vết bác sĩ đâu, nên túa ra đi tìm. Nay thấy bác sĩ tụi em mừng quá.

Tôi cũng mừng nữa. Một sự may mắn hay một thế lực thần bí cao siêu nào đó đã run rủi đưa tôi đi chỗ khác tránh được trái pháo đó nếu không thì đã tiêu diêu miền cực lạc rồi. Nhưng tôi vẫn còn một thắc mắc muốn biết ngay nên vừa theo mấy anh quân y tá xuống phòng tôi vừa hỏi:

– Ngoài ra các anh không thấy những gì khác sao?

– Dạ không, chỉ có đồ đạc của bác sĩ thôi chẳng có gì khác.

Ý tôi muốn hỏi về gia đình anh Châu, mà tôi nghĩ là họ đã ở trong phòng tôi đêm qua. Không biết họ đã đi đâu. Tôi đoán là anh Châu, vì một linh tính nào đó, thấy phòng tôi không được an toàn bảo đảm lắm khi bị pháo nên sau khi thấy tôi lên phòng Bác sĩ Phúc ngủ, anh đã đem vợ con trở về lại nhà ở dưới gốc cây Đa. Dù sao ở đó cũng an toàn hơn vì có hầm đàng hoàng.

Tôi bước vào trong phòng tôi. Cửa phòng đã bị bật tung ra do trái 61 ly rơi vào xuyên qua nóc nhà, trần nhà, qua bức tường chắn ngoài hành lang trúng đầu giường nơi tôi thường nằm. Ngước nhìn lỗ pháo chui xuyên qua mấy bức tường chặn thông lên tới khoảng trời xanh phía trên. Tôi nghĩ rằng người nào đó đã nói với tôi pháo 61 ly chạm nóc là nổ liền, không đúng sự thật. Dù sao chăng nữa tôi cũng thầm cám ơn Trời Phật đã che chở cho tôi thoát chết trong đêm qua.

Tôi đi kiểm soát lại đồ đạc xem cái nào còn dùng được cái nào hư thì vứt đi. Đôi giầy nhà binh Mỹ mới toanh của tôi bây giờ đã bị một mảnh đạn cắt ngang miếng da đằng trước dài đến 5, 6 cm. Tuy vậy cũng còn tạm dùng được vì đế nó không bị hư. Chiếc đàn guitar của tôi để trong tủ sách bị sức ép của trái phá hơi bị bong phía đáy một chút nhưng cũng không sao. Cái máy chụp hình cũng may mắn không hề hấn gì. Đó là những thứ mà tôi ngại bị pháo hư mất. Còn sách vở, thức ăn và mấy chai nước cũng không sao cả. Thành ra chỉ có mỗi tấm nệm là bị cháy thôi. Tổng kết ra, tôi còn may mắn lắm không bị thiệt hại gì nhiều. Tôi gom mấy thứ đó lại rồi nhờ mấy anh Quân Y mang lên giùm để ở văn phòng Ty Y Tế. Tôi đi qua phòng kế bên, nơi người nam tù binh Việt Cộng vẫn bị còng vào giường còn nằm ở đó. Điều lạ lùng là mấy người ở cùng phòng này, sát bên với phòng tôi mà không ai bị hề hấn gì cả. Tôi đến bên giường anh ta hỏi:

– Anh có cần gì không?

Anh ta nhìn tôi năn nỉ:

– Xin bác sĩ kiếm cho tôi một cái cưa sắt để tôi cưa đứt cái còng này.

– Bây giờ thì làm gì có cưa sắt. Ý tôi muốn nói là anh có cần thức ăn hay nước uống để tôi cho người đi kiếm giùm anh.

Anh ta nói:

– Những thứ đó mấy người cùng phòng đã giúp tôi rồi. Tôi chỉ cần một cái cưa sắt thôi.

Tôi không có cưa sắt mà nếu có tôi cũng không thể nào đưa cho anh ta được. Biết đâu khi đã được tự do rồi anh ta sẽ trở thành một đặc công, lúc đó chắc anh ta cũng không tha tôi đâu. Tôi nghĩ trong bụng, cứ để anh nằm yên đây, đợi một vài ngày nữa tình hình tạm yên rồi tôi sẽ liên lạc với An Ninh tỉnh để họ giải anh ta đi chỗ khác, tốt hơn. Còn nếu đồng chí anh có pháo trúng anh thì chắc không phải lỗi tại tôi.

Tôi đi trở ra hành lang trại, vì mải lo phòng tôi bị pháo nên khi vào trại tôi không để ý. Bây giờ đứng ở hành lang giữa trại tôi mới thấy ngạc nhiên là hồi hôm ở đây đông nghịt những người nằm ngồi không có chỗ lọt chân mà sao nay hành lang thưa người quá. Chỉ còn chùng chục người nằm thôi. Tôi chợt nhớ tới Đại úy Nghĩa bị thương ở cổ họng mới được Bác sĩ Chí đặt ống khí quản hôm qua, đặt nằm đối diện với phòng tôi mà sao giờ đây cũng không thấy đâu cả. Tôi đưa mắt kiếm chung quanh, thấy anh cận vệ của Đại úy Nghĩa mà hôm qua tôi căn dặn phải cố gắng săn sóc cho ông thầy của anh ta đang ngồi buồn hiu ở gần cửa một phòng bệnh. Tôi vội chạy lại hỏi:

– Đại úy đâu?

– Ông chết rồi!

– Vô lý, vết thương ông đâu có nặng mà có thể chết được.

– Ông bị người ta chạy đạp nhằm, chết tối hôm qua, lúc Việt Cộng pháo kích vào bệnh viện. Người ta chạy ùn ùn vào hành lang. Đêm tối không có đèn, họ dẫm bừa lên ông nên ông tắt thở luôn.

– Thế lúc đó anh ở đâu?

– Dạ thưa bác sĩ em nằm ngay bên ông. Em cũng bị đạp nhằm luôn. Nhanh lắm không tài nào can thiệp kịp. Lại thêm pháo nổ liên hồi, đêm tối đen thui, chẳng ai còn phân biệt được gì nữa. Sáng ra em thấy ông đã chết từ bao giờ. Cái ống thông khí quản bị đạp quẹo về một bên. Ông đã bị đạp nhằm ngay cổ không thở được. Em đã khênh xác ông để ở ngoài nhà xe rồi.

Tôi buồn quá, chết lãng nhách. Tôi thầm tiếc trong lòng. Một sĩ quan trẻ tuổi tài ba dễ mến như Nghĩa mà lại có cái kết cục đáng buồn như vậy. Nếu bị đạn chết ngay tại trận còn có thể hiểu được. Chết bị người của mình đạp nhầm vào thì nản quá. Tôi hơi hối tiếc, nếu tôi thu xếp để Nghĩa vào một phòng nào đó thì tai nạn có lẽ không xẩy ra. Thực ra tôi đã nghĩ tới việc này. Tôi đã tính cho anh tù binh Việt Cộng đi chỗ khác để dành giường cho Nghĩa nằm. Nhưng không thể liên lạc được với An Ninh Tỉnh mở còng ra được, nên đành bỏ qua. Còn việc dời những thương binh khác để lấy giường cho một sĩ quan tôi thấy không được công bằng lắm. Tôi chỉ nghĩ là nằm tạm một hai ngày rồi sẽ có giường trống hoặc có chuyến tản thương thì sẽ ưu tiên cho Nghĩa đi trước. Thật tôi không thể nào lường trước được sự việc đã có thể xẩy ra như thế. Tôi đã nghĩ tới việc cho Nghĩa vào nằm phòng tôi nhưng không may cho anh là vợ chồng anh Châu lại đến. Nhưng nếu nằm phòng tôi cũng không chắc sống nổi. Tôi đổ cho số mạng để được yên tâm không suy nghĩ nữa.

Với tâm tư nặng trĩu trong lòng, thương tiếc một người bạn vừa mới ra đi, tôi uể oải bước về văn phòng Ty Y Tế. Bác sĩ Phúc đã đợi tôi ở ngoài cửa phòng. Chúng tôi bước vào trong cho an toàn, căn phòng mờ mờ sáng vì các cửa sổ vẫn bị đóng kín mít. Anh nói:

– Chúng ta sửa soạn sang gặp Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn để xin ưu tiên tản thương gấp. Tôi đã liên lạc với anh Vũ Thế Hùng, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y để xin được gặp Đại tá Tư Lệnh và được anh xác nhận là đúng 10 giờ sáng nay tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn. Đại tá Hưng sẽ tiếp chúng ta.

– Như vậy hay quá. Hy vọng thương binh sẽ được bốc đi càng sớm càng tốt. Chứ để đây chỉ chết dần mòn mà thôi. Chẳng có hầm hố, chẳng có gì an toàn cho họ cả. Nhưng phái đoàn gồm có những ai hở anh?

Bác sĩ Phúc chậm rãi trả lời:

– Thì có tụi mình. Anh, anh Chí và tôi. Bên Tiểu Đoàn 5 Quân Y có các anh Hùng, anh Tích và anh Nam Hùng.

Tôi lên phòng bác sĩ Chí báo tin để anh sửa soạn cùng đi sang bên Bộ Tư Lệnh. Anh bác sĩ Tích và bác sĩ Nam Hùng cũng đã sửa soạn xong. Chúng tôi đều lội bộ đi ra phía cổng bệnh viện.

Mặt đường rải rác những hố pháo kích. Đặc biệt càng gần Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn càng thấy nhiều. Chúng tôi không ai bảo ai đều rảo bước thật nhanh vì biết đây là vùng nguy hiểm. Đạn pháo kích có thể bay tới bất cứ lúc nào.

Con đường bên ngoài Bộ Tư Lệnh, tôi thấy một chùm hỏa tiễn chống chiến xa. Bốn cái được bố trí ở giữa đường, nhắm thẳng xuống cái dốc từ phía chợ đi lên. Chúng tôi vượt qua tiền đồn gác ngoài được canh giữ bởi hai người lính canh hai bên cổng. Họ nhận biết anh Tích và anh Nam Hùng vì cùng là dân Sư Đoàn 5 cả nên cho chúng tôi đi qua không cần phải hỏi han gì. Chúng tôi đi rất lẹ, đi tuốt vào bên trong, vì nơi này rất dễ bị ăn pháo. Vào hẳn bên trong rồi, đứng dưới những tấm PSP bằng sắt, trên được phủ mấy lớp bao cát, chung quang tường cũng có nhiều lớp bao cát rất dày, tôi mới hơi yên tâm.

Nơi tôi đang đứng có lẽ là nơi để hội họp vì tôi thấy có một bàn và mấy ghế ngồi. Chúng tôi ngồi chừng 5 phút, bác sĩ Hùng đi ra. Chào hỏi mọi người xong anh vội vào trong để báo cho Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn biết. Tôi chưa bao giờ được gặp Đại tá Lê Văn Hưng cả. Tôi không thể hình dung được dáng người ông ra sao. Chúng tôi chỉ biết ngồi chờ đợi. Có lẽ chúng tôi chờ cũng hơi lâu. Vì tôi cảm thấy hơi sốt ruột. Trong trí óc của tôi là lúc nào cũng phải đúng giờ. Tôi không chấp nhận giờ cao su. Nhất là trong giới nhà binh. Và nhất là ngồi ngay nơi bị pháo nhiều nhất ở mặt trận này. Tôi thấy không an tâm chút nào cả. Tôi tự hỏi tại sao ông Tư Lệnh này để tụi tôi chờ lâu vậy. Ông có bận gì không? Ông thức hay còn ngủ, hay đang tắm rửa, hay đang ăn sáng. Cả chục câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu tôi. Vì tôi muốn họp cho mau xong để rời khỏi chỗ này càng sớm càng tốt.

Chúng tôi ngồi đợi cỡ chừng 20 phút, mà tôi cảm thấy lâu cỡ cả giờ. Rồi Đại tá Tư Lệnh cũng xuất hiện. Từ cửa ngách sau phòng họp ông bước tới, theo sau là Y Sĩ Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y, bác sĩ Vũ thế Hùng, người bạn cùng lớp với tôi. Tôi còn đang miên man suy nghĩ thì thấy anh bác sĩ Nam Hùng và bác sĩ Tích đã đứng bật dậy, nghiêm chỉnh chào đúng cung cách nhà binh. Tôi cũng đứng bật dậy cùng Bác sĩ Phúc dơ tay chào. Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn dáng người gầy cao cỡ tôi, mặc một chiếc áo lót màu cháo lòng, quần dài nhà binh, nhàu nát, dáng người mệt mỏi, da mặt hơi xanh, chắc vì đã lâu không có dịp ra nắng. Ông đưa mắt nhìn một lượt tụi tôi xong, gương mặt vô cảm giác, không nói một lời nào. Từ từ ông Tư Lệnh quay người đi vào nhà sau.

Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau. Chẳng hiểu chúng tôi đã phạm vào lỗi lầm gì mà không được tiếp chuyện với ông Tư Lệnh. Chúng tôi chưa kịp mở miệng nói ra được một câu nào, chưa trình bầy được một ý kiến gì thì vị chỉ huy mặt trận này đã lui vào trong.

Lát sau anh Vũ Thế Hùng đi ra nói:

– Thôi như vậy là xong rồi các anh cứ đi về đi. Mọi việc tôi đã trình lên Đại tá rồi. Nếu có chuyện tản thương tôi sẽ cho các anh biết sau.

Tôi nghĩ thầm vậy thì cũng tốt thôi. Chúng tôi lại lủi thủi đi về. Mỗi người một ý nghĩ. Đến bệnh viện ai về chỗ người nấy, tiếp tục làm công việc như đã phân công. Tôi đang tính chia tay cùng các anh Nam Hùng và anh Tích thì anh Tích kéo nhẹ tay tôi nói:

– Này, anh Quý, tôi cho anh xem cái này hay lắm.

Tôi mỉm cười, tò mò theo anh Tích về chỗ Phòng Cấp Cứu mới lập tạm thời ở trại Nội Khoa. Nay lại biến ra nơi trú ngụ của anh Tích, anh Nam Hùng, cùng để chứa các bông băng và y cụ. Một số các anh em Quân Y Sư Đoàn 5 khác được dành cho một phòng ở đầu trại Nhi Khoa.

Anh Nam Hùng kéo tôi đi vào trong, chỉ cho tôi xem một trái 105 ly rơi xuống từ trên mái nhà, xuyên qua mấy lần mái, trần, tường, chui từ nền nhà bên ngoài. Qua bức tường giữa phòng và hành lang trại, trồi lên khỏi mặt đất, nhô cái mũi nhọn vàng bằng đồng rồi kẹt ở đó không nổ.

Tôi nói với các anh:

– Thật là phước đức, may mắn quá, nếu không thì mọi người trong phòng này không ai sống sót.

Anh Tích gật đầu:

– Đúng là con người có số. Hai vợ chồng tôi nằm ngay chỗ đó, viên đạn này chui lên ngay chính giữa chúng tôi.

Tôi đứng ngắm viên đại bác không nổ sau khi đã rơi xuyên qua bao nhiêu chướng ngại vật, giờ nằm hiền lành như con mèo con ngay dưới chân tường phòng các anh bác sĩ Sư Đoàn 5. Tôi chỉ còn biết nói đi nói lại là các anh ấy chắc nhờ phước đức cả mấy đời để lại mới được như vậy.

Đó là một trong những chuyện hy hữu tại chiến trường An Lộc này.

Nói chuyện được vài phút với hai anh Tích và Nam Hùng, tôi xin phép từ giã để đi về hầm anh Phúc.

Phòng tôi giờ đây đã tan nát rồi, như vậy là bắt đầu từ đây tôi sẽ ở thường trực cùng với bác sĩ Phúc. Có hầm tốt tôi cũng yên trí đỡ thấp thỏm sợ hãi. Tôi vào hầm, ngồi xuống, bỏ mũ sắt và áo giáp ra cho bớt nóng và bàn chuyện với bác sĩ Phúc:

– Anh thấy mình có hy vọng được tản thương hôm nay không?

– Chắc có thể được. Không còn có cách nào khác. Họ không thể nào để thương binh sống vất vưởng thế này được. Chỉ cần Tư Lệnh Chiến Trường ra lệnh là mọi việc sẽ được dàn xếp ổn thỏa ngay.

Tôi gật đầu đáp:

– Tôi cũng mong như vậy, chỉ cần ba chuyến Chinook là xong ngay. Mình lúc nào cũng phải sẵn sàng anh ạ. Kinh nghiệm của tôi là trực thăng sẽ không bao giờ đợi mình đâu. Hiện giờ mình lại thiếu xe Hồng Thập Tự. Trước đây còn hai cái. Đêm qua nó pháo hư một, nay mình chỉ còn một mà thôi. Đâu có đủ để cho thương binh hết được. Có lẽ mình phải báo cho bên Sư Đoàn và bên Tiểu Khu để họ huy động trưng dụng hết các xe còn chạy được để tản thương. Nếu không sẽ hỏng việc mất.

– Anh nói đúng, để tôi kêu Trung úy Quý lo vụ báo tin này cho các nơi liên hệ biết, về phần mình, anh nói Thiếu úy Thu sửa soạn xe Hồng Thập Tự cùng cắt đặt các khiêng cáng viên từng tổ một sẵn sàng đợi lệnh.

Chỉ một giờ sau mọi sự đã được sửa soạn đâu vào đấy. Chúng tôi thấp thỏm đợi chờ bên Sư Đoàn bật đèn xanh. Nhưng suốt buổi sáng hôm đó chẳng có gì xẩy ra. Chúng tôi vẫn kiên nhẫn đợi chờ nhưng trong thâm tâm không tin tưởng lắm là sẽ có tản thương hôm nay. Ba giờ chiều chúng tôi được tin sửa soạn 4 giờ sẽ có tản thương. Ai nấy đều mừng rỡ. Bỗng những tiếng bom nổ ầm ầm liên hồi từ đằng xa. Tôi hiểu ngay B52 đang trải thảm để sửa soạn cho trực thăng tải thương. Ngay lúc đó chúng tôi được lệnh cho thương binh lên xe chuyển ra bãi đáp. Ba chiếc xe Hồng Thập Tự của Sư Đoàn và hai xe chở hàng dân sự không hiểu họ tìm được ở đâu mấy phút sau đã tới bệnh viện.

Vì đã có kinh nghiệm tản thương của mấy ngày qua, hơn nữa kỳ này ai cũng được chuyển đi hết nên công việc bốc thương binh đi không có gì trở ngại. Nhưng cũng phải mất gần một giờ mọi việc mới xong xuôi và đoàn xe bắt đầu chuyển bánh ra bãi đáp. B52 vẫn tiếp tục trải thảm không ngừng.

Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Quả nhiên chừng 10 phút sau tiếng trực thăng Chinook ầm ầm bay qua bệnh viện tất cả ba chiếc. Chúng tôi nhìn nhau sung sướng. Kỳ này chắc chắn sẽ tản thương được. Thương binh đỡ khổ và chúng tôi cũng rảnh tay để đón nhận những người mới. Tôi đi xuống trại Ngoại Khoa kiểm soát lại xem còn phòng nào dùng được nữa không.

Trại bây giờ hoang vắng điêu tàn. Tổng số 16 phòng chỉ còn nguyên vẹn có 4 phòng thôi. Ngay cả Phòng Mổ Tiểu Giải Phẫu cũng bị hư hại tuy không nặng lắm nhưng cũng không dùng được. Những phòng khác hoặc bị trúng pháo hoặc bị tróc nóc không ở được. Trong trại cũng vẫn còn hơn chục người dân ở. Họ không bị thương hay bệnh hoạn gì cả nhưng chạy vào bệnh viện để tị nạn. Chắc họ nghĩ rằng không ai đang tâm pháo vào nơi không chiến đấu. Họ đã lầm. Chiến tranh không có từ một cái gì. Ngay sát phòng cũ của tôi là phòng anh thương binh Việt Cộng nằm có hai người dân tôi đã biết mặt vẫn còn nằm đó. Nhờ vậy mà anh thương binh Việt Cộng này mới có người kiếm dùm thức ăn nước uống sống qua ngày.

Tôi đi lên trại Nhi Khoa thấy ở nơi này khá hơn, số phòng dùng được khoảng một nửa. Đến giữa trại nơi phòng cô Bích ở. Tôi gõ cửa:

– Cô Bích ơi cô có đó không?

Cô Bích mở cửa thò đầu ra. Tôi nói:

– Tôi tới thăm cô đây, tôi vào được không?

Vẫn giọng tinh nghịch như những ngày nào cô nói:

– Mời quan đốc vô.

Tôi bước vào phòng nhìn quanh. Căn phòng đã biến dạng một cách không ngờ nổi. Một chiếc giường sắt kê sát tường cạnh cửa vào, giữa phòng là một cái hầm đủ để cho hai người ngồi hoặc một người nằm khi có pháo kích. Chung quanh và phía trên được phủ sơ sài một lớp bao cát. Chiếc bàn con kê gần cửa sổ trông xuống sân bệnh viện để ngổn ngang những chai nước, thức ăn, mì gói, gạo sấy, đồ hộp. Tôi ngồi xuống bên mép giường nói:

– Cô ở đây có vẻ tiện nghi nhỉ? Ai đào hầm cho đấy?

– Tôi chứ ai. Nói giỡn chơi với bác sĩ đó, tôi nhờ mấy anh Quân Y đào dùm. Tôi chỉ phụ làm bao cát thôi.

Tôi gật gù nói:

– Tay nào đào được nền nhà này cũng khá đấy. Tôi đã thử ở phòng tôi rồi. Dùng cuốc chim dơ thẳng cánh quật xuống ba cái mà nền gạch vẫn trơ trơ. Tay mình bị dội lại đau tê rần rần. Tôi đành chịu thua không đào hầm nữa mà chỉ chui xuống gầm giường khi pháo thôi.

– Nghe nói phòng bác sĩ bị trúng một trái tối qua sao bác sĩ không hề hấn gì vậy?

– Tôi chưa tới số, ông Phúc mời tôi lên phòng ông ấy ở. Thấy phòng rộng tốt, tôi nhận lời liền. Thực ra nếu ông không mời tôi cũng hỏi vì mấy lúc sau này tôi cảm thấy không an tâm chút nào nếu cứ ở phòng tôi. Có lẽ linh tính xui khiến như vậy nên mới sống sót được. Cô ở phòng này tương đối an toàn đấy. Trừ khi nó pháo trúng hầm còn không thì ngay cả nó nổ ở phòng bên cạnh cô cũng chả việc gì đâu. Thôi, thăm dân cho biết sự tình, tôi thấy cô tương đối an toàn tôi cũng mừng cho cô, tôi đi đây.

– Cám ơn bác sĩ.

Tôi thấy rằng trong những nhân viên phụ mổ, cô Bích là người có kinh nghiệm nhất, làm việc rất ăn ý với tôi. Nhưng cô là nhân viên dân sự, nếu cô không muốn làm việc, tôi chẳng có thể nào ra lệnh cho cô được. Nhất là trong tình trạng như hiện nay. Trong tương lai, một khi bệnh viện được di chuyển tới một nơi khác, có an ninh hơn và có đủ phương tiện hơn, chắc chắn sẽ phải cần tới cô thì công việc mới chạy được. Do đó tôi mới dùng tới tâm lý chiến tới thăm cô để khi cần, cô có thể giúp tôi một tay. Nếu không có cô, những Quân Y Tá vẫn có thể làm được nhưng hơi chậm một chút. Trong điều kiện như hiện nay tôi cần có một đội giải phẫu làm việc sao cho ăn khớp với nhau và như vậy mới nhanh được. Tôi về tới văn phòng Ty Y Tế. Vừa trông thấy tôi, Bác sĩ Phúc nói:

– À, anh Quý đây rồi, có con bé nào nó mang cơm cho anh còn đợi ở kia.

Tôi nhìn theo anh Phúc chỉ, mới thấy Phương, đứa con gái của vợ anh

Châu mới có 7 tuổi, đang đứng ở góc phòng, tay còn cầm chiếc gà mên đựng đồ ăn. Thấy nó tôi biết vợ chồng con cái gia đình anh Châu đều an toàn sau cuộc pháo kích vừa qua. Tôi mừng thầm trong lòng. Anh Châu thật chu đáo. Lo cho tôi từng miếng ăn trong thời buổi như thế này thì nhất anh rồi. Tôi tiến tới xoa đầu bé Phương rồi hỏi:

– Cháu đợi lâu chưa?

Bé Phương nhanh nhẩu trả lời:

– Cháu cũng mới tới thôi. Má cháu nấu cơm xong, biết bác sĩ ở bên này không ai nấu cơm cho bác sĩ nên sai cháu mang cơm sang.

– Cám ơn cháu, cháu giỏi quá, cháu mang đồ như vậy có nặng không?

– Dạ không.

– Cháu đi như vậy không sợ pháo kích sao?

– Cháu không sợ. Pháo thì cháu nằm xuống thôi. Mẹ cháu đã dặn rồi.

Tôi thấy bé Phương lanh lợi mà cũng can đảm thực. Mấy đứa nhỏ khác chắc không dám ra ngoài đường một mình đâu. Nhưng tôi thấy hơi bất nhẫn một chút. Con đường từ nhà chúng tôi, chỗ anh Châu đang ở, tới bệnh viện tuy không xa nhưng rất nguy hiểm vì phải đi ngang qua Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn 5, mục tiêu chính cần triệt hạ nên bị pháo kích đều đều. Nếu bé Phương là con của tôi, tôi sẽ không cho đi như vậy. Tôi sẽ ân hận biết bao nếu chỉ vì mang cơm cho tôi, mà bé Phương bị xẩy ra chuyện gì không hay.

Tôi nói với bé Phương:

– Cháu về nói với ba má cháu, bác sĩ cám ơn ba má cháu đã cho cháu mang cơm đến cho bác. Nhưng làm như vậy nguy hiểm cho cháu lắm. Cháu nói với ba cháu là không cần mang cơm cho bác nữa. Ở đây bác có thể tự kiếm thức ăn được rồi. Lần này là lần chót nghe không. Cháu đừng mang cơm tới nữa. Nguy hiểm lắm.

Tôi dặn đi dặn lại bé Phương để cho nó thực sự hiểu ý tôi rồi mới mở thức ăn ra. Tôi mời Bác sĩ Phúc, nhưng anh bảo tôi cứ tự nhiên ông đã ăn rồi do thằng Sơn cháu anh làm. Bé Phương nói:

– Má cháu dặn, đợi Bác sĩ ăn xong, đem gà-mên về cho má cháu rửa để lần sau có đồ mang nữa.

– Được rồi, cháu đợi bác một chút. Nhưng cháu nhớ đừng có mang cơm tới nữa vì dọc đường dễ bị pháo kích lắm. Cháu nhớ không?

– Cháu nhớ. – Phương gật đầu chứng tỏ nó hiểu ý tôi.

Tôi ngồi xuống mở nắp gà-mên ra. Một mùi thơm của cơm vừa mới chín, vẫn còn ấm nóng bay lên mũi tôi. Rồi phần gà mên phía dưới đụng gà rang mặn, cuối cùng là một ít canh nấu với mấy củ khoai tây, chắc với nước luộc gà. Chỉ nhìn thấy cũng đủ ngon rồi. Phần vì đang đói, phần vì phải ăn cho nhanh để bé Phương khỏi phải chờ lâu nên tôi ăn vội vàng cho xong bữa rồi đưa gà-mên cho bé Phương mang về nhà. Nhìn con bé nhỏ nhắn da đen vì phơi nắng nhiều, thoăn thoắt đi một cách hồn nhiên, chẳng có vẻ gì sợ hãi cả, tôi cũng thấy phục nó.

Trong ánh mắt của nó, tôi thấy một niềm hãnh diện vì đã làm được một việc như người lớn và cho người lớn. Tôi thầm cầu xin mọi sự an lành cho nó. Chiều nay có vẻ yên tĩnh. Tôi không nghe thấy tiếng pháo nào cả. Nên tôi chắc nó về đến nhà an toàn. Như vậy tôi đỡ áy náy trong lòng.

Tuy đã dặn đi dặn lại bé Phương không nên mang cơm cho tôi nữa, vậy mà nó cũng mang thêm cho tôi hai ngày rồi mới thôi. Tôi đoán gia đình anh Châu đã dọn đi nơi khác, có thể đã đi về phía Tây Bắc thành phố giữa Quản Lợi và An Lộc, nơi tôi nghe nói còn tương đối an toàn không bị pháo kích. Đa số những người dân ở thành phố này đều chạy về phía đó tạm cư.

Dù sao tôi cũng mừng là gia đình anh Châu đã rời khỏi vùng nguy hiểm vì chỗ chúng tôi ở sát ngay những căn cứ quân sự. Tôi thấy thoát được người nào là mừng cho người đó. Còn tôi cũng như bao nhiêu quân nhân khác, vì nhiệm vụ phải ở lại thì sống chết đều phó cho số mạng mà thôi. Đến đâu hay đến đấy. Dù biết nguy hiểm, tôi cũng như những quân y tá trong bệnh viện đã không hèn nhát bỏ trốn đi tìm chỗ an toàn. Thật ra trong suốt trận đánh này không bao giờ những ý tưởng đào ngũ, bỏ trốn trước địch quân, nổi lên trong lòng tôi cả.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Địa Ngục Trần Gian

Tôi đã cắt mấy cẳng chân bị thương nát bấy. Xương vỡ ra nhiều mảnh vụn. Thit da tơi tả trông như miếng giẻ rách, bầy nhầy lẫn lộn đất cát và mấy sợi gân trắng hếu. Tôi thấy không tài nào giữ được những cẳng chân ấy. Chiếc cưa dây Gigly tôi dùng đi dùng lại nhiều lần, giờ đây không chịu nổi nữa. Tôi kéo cưa được mấy cái là đứt tung ra văng cả máu lên mặt. Trong tủ y cụ tôi chỉ còn có hai sợi chót. Sau khi thay, tôi chỉ còn một sợi độc nhất để dành. Sợi dây cưa Gigly rất dễ sử dụng. Cưa mau lại đỡ mệt hơn cưa tay thường. Tôi phục người nào đó đã sáng chế ra sợi dây cưa này. Tiện lợi vô cùng, vì nó chỉ là những sợi dây thép gồ ghề xoắn lại với nhau nên luồn lách dễ chỗ nào cũng được.

Trong tình trạng hiện tại, tôi quý sợi dây cưa này lắm. Nó giúp tôi làm việc mau lẹ để còn dành thì giờ mổ những người khác. Thiếu nó thì những trường họp thiết đoạn tứ chi tôi đành bó tay. Tôi cố gắng làm việc cho thật nhanh để thương binh khỏi phải chờ đợi và nhất là tránh phơi mình lâu ở những chỗ không an toàn.

Mọi nghi thức trong phòng mổ đều được giản dị hóa tới mức tối thiểu. Chúng tôi chỉ cần một đôi găng tay. Mọi người trong toán mổ đều mặc áo giáp, đầu đội nón sắt để thay thế áo choàng mổ. Có như vậy chúng tôi mới yên lòng làm việc vì bên ngoài Việt Cộng vẫn pháo tới đều đều.

Máy phát điện đã bị pháo kích hư từ đêm hôm qua. Tôi phải mở rộng cửa sổ để có đủ ánh sáng làm việc. Chiếc bàn mổ luôn xoay ngang xoay dọc lộn đầu lộn đuôi tùy thuộc nơi mổ là ngực, bụng, đầu hay chân tay để có đủ ánh sáng mặt trời rọi vào chỗ mổ. Phòng Hấp ngưng hoạt động vì không còn điện nữa. Các dụng cụ giải phẫu đều được khử trùng bằng cách đốt bằng rượu cồn hay ngâm rửa trong nước xà bông gọi là surgical soap.

Mặc áo giáp mổ vừa nặng vừa nóng. Trong phòng mổ kín mít, không máy lạnh, chỉ có một cái cửa sổ thông hơi nên đứng một lúc là mồ hôi vã ra như tắm. Tôi bị mất nước nhiều quá thành ra mau mệt. Nước bây giờ quý hơn vàng, khó kiếm ra. Phòng Mổ bây giờ không còn một giọt nước. Những khăn mổ đã dùng rồi, dính máu không có nước giặt được chị Huyên đem gom lại vứt thành đống sau phòng trực y tá. Ngay đến nước rửa vết thương còn không có lấy nước đâu mà giặt đồ.

Ngay trong những ngày đầu của cuộc chiến, tôi đã tiên liệu tình trạng này. Nhưng tôi thực không ngờ trận đánh kéo dài mãi không dứt và hình như hiện giờ mới chỉ là khỏi đầu. Tuần trước, tôi đã ra lệnh cho Thượng sĩ Lỹ chỉ huy các nhân viên phòng mổ thu gom tất cả các chai nước biển đã dùng rồi, đổ đầy nước vào, đem đi hấp để dự trữ hàng dãy dài mấy trăm chai dọc theo tường phòng mổ.

Một mặt dù chúng tôi dùng rất dè sẻn, chỉ để rửa các vết thương, số nước đó cũng chỉ được một tuần sau là hết. Cũng may tôi xuống dưới kho lớn đã đổ nát tìm được sáu gallon Phisohex và hai thùng Hydrogen Peroxide. Không có nước pha, tôi đành rửa các vết thương bằng Phisohex nguyên chất.

Phòng Mổ bây giờ thật xơ xác hoang tàn, nền nhà dơ bẩn vì không nước lau đã lâu. Dưới chân bàn mổ từng vũng máu đông đen xì hôi hám. Không khí ngột ngạt khó thở, không thể nào tiếp tục làm việc được nữa. Bệnh viện đã bị cô lập. Muốn liên lạc với các giới chức có thẩm quyền để xin trợ giúp chỉ còn một cách đích thân đi bộ tới tận các Bộ Chỉ Huy. Nhưng trong tình trạng này tôi không tin là họ có thể giúp cho bệnh viện một chút gì. Tôi tự nghĩ, có sao làm vậy, đến đâu hay đến đó, hết sức mình thì thôi.

Khoảng năm giờ chiều, bác sĩ Nam Hùng ở Phòng Cấp Cứu xuống cho tôi hay, có năm người bị thương bụng cần mổ gấp. Tôi nghe vậy muốn xỉu luôn.

Dù ở trong thời bình với đầy đủ phương tiện, tôi có thể làm suốt đêm đến sáng, chưa chắc một mình tôi có thể giải quyết xong số thương binh đó. Huống chi, trong tình trạng hiện nay, với một số nhân viên cố định, đã làm việc suốt ngày không nghỉ. Tôi nghĩ không tài nào làm hết nổi. Không biết trận chiến còn kéo dài đến bao giờ. Tôi phải giữ gìn giữ sức khỏe cho nhân viên và cho tôi để có thể tiếp tục làm việc trong những ngày sắp tới. Nếu phung phí sức khỏe làm việc trong một ngày để rồi sau đó kiệt sức nằm bẹp một chỗ thì thật là người bất trí.

Lại còn vấn đề cá nhân nữa, không ai lo cơm nước cho chúng tôi. Chúng tôi phải tự túc lấy. Sau vài ca mổ, trong giờ xả hơi tôi tạt qua phòng nhấp vội một hai nắp bi-đông nước cho đỡ khát. Ăn vội mấy thìa cơm sấy với thịt hộp cho qua cơn đói. Các nhân viên phòng mổ chắc cũng được bạn bè giúp đỡ nên họ cũng chưa đến nỗi kiệt sức lắm.

Tuy nhiên trong tình trạng hiện tại, không điện nước, không đèn đuốc thì dù có tinh thần cao cách mấy cũng không thể nào làm được. Lại thêm Việt Cộng vẫn tiếp tục pháo kích suốt ngày. Đạn pháo rơi bên trường Trung Học trước bệnh viện, bên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5, bên Ty Công Chánh sau bệnh viện rồi rơi ngay cả vào bệnh viện khiến cho chúng tôi đứng mổ không yên. Mọi người đều cố làm thật nhanh để còn đi tìm chỗ núp.

Những vội vã trong lòng không biểu lộ ra nét mặt. Ai nấy đều có cái vẻ bề ngoài điềm tĩnh để làm việc. Có thể nói sợ quá hóa lỳ. Vì thực ra đâu còn cách nào khác. Tuy nhiên mỗi lần nghe tiếng rít của đạn bay qua đầu hay tiếng hú của hỏa tiễn thì những dấu hiệu kinh sợ mới thấy hiện ra trong ánh mắt mệt mỏi của mọi người. Riêng tôi, mỗi lần như vậy thì cảm giác sợ hãi làm co thắt các bắp thịt đến buốt nhói ở tim. Khi nghe thấy trái đạn nổ rồi, thấy mình không hề hấn gì mới yên tâm làm việc tiếp.

Càng ngày Việt Cộng càng pháo nhiều. Tinh thần mọi người ở đây thật căng thẳng, sống tính từng giờ, chết không biết lúc nào. Chúng tôi như những con chim đã bị tên, thấy cây cong là sợ. Một tiếng chép miệng, một tiếng thắng xe, tiếng xao động của mái tôn cũng làm cho chúng tôi giật thót mình. Bao giờ tôi cũng có cảm tưởng là có một trái đạn treo trên đầu mình sẵn sàng nổ bất cứ lúc nào.

Tôi nhận thấy không tài nào làm hết những vết thương bụng đó được. Tôi chọn xem người nào nhẹ nhất tôi làm trước. Những người nặng và những người mất máu nhiều không có hy vọng sống sót sau khi mổ, tôi chỉ cho truyền nước pha với trụ sinh rồi giao cho số mệnh.

Trong số những người bị thương bụng không mổ, chỉ có hai người sống sót. Một cô gái và một người lính cao lớn tên Ba. Tiếc thay anh Ba sống được hai tuần thì một đêm kia, Phòng Hậu Giải Phẫu bị trúng một trái 61 ly. Người đàn bà nằm ngay chỗ trái đạn nổ cùng với đứa con không việc gì. Trái lại anh Ba bị một mảnh nơi cẳng chân trái. Một tuần sau anh chết vì bị phong đòn gánh.

Trong ánh sáng lờ mờ của buổi chiều, trong không khí ngột ngạt oi bức tanh mùi máu của Phòng Mổ, tôi cùng Thiện, Xòm cố sức làm việc. Tôi cố khâu những vết thủng ruột non. Tôi thấy khó thở quá, mồ hôi chảy ròng ròng trong thân làm tôi thấy ngứa ngáy khó chịu. Thỉnh thoảng tôi lại phải nghiêng đầu dơ vai lên quẹt mồ hôi ở mặt từ trán chảy xuống.

Bây giờ không còn như mấy ngày trước nữa mà mong có người đứng bên lau mồ hôi cho mình. Trong hoàn cảnh khó khăn, tôi đã hình thành một triết lý sinh tồn là cố hết sức chú ý vào công việc mình làm, không cần để ý tới thời gian và những phiền toái chung quanh. Bởi vậy cuộc mổ chiều đó tuy cực nhọc khó khăn rốt cuộc rồi cũng xong.

Tôi mệt lả người. Trong lúc Thiện, Xòm đẩy bệnh nhân ra Phòng Hậu Giải Phẫu. Tôi bước ra ngoài cho dễ chịu một chút. Tôi không dám hít mạnh vì không khí bệnh viện hiện giờ chẳng trong lành, thơm tho gì. Cho tới nay gần 300 xác người nằm sấp lớp dưới nhà xe và sân sau của bệnh viện. Những xác chết đó có từ ngày đầu cuộc chiến, đến nay gần mười ngày mà chưa được đem đi chôn. Buổi chiều mùa hạ nóng bức cùng với mùi tử khí của những xác người bắt đầu chương phình làm cho không khí đặc quánh, thật khó thở.

Bệnh viện có một nhà xác chứa được hai xác. Khi tôi tới làm việc ở tỉnh này được chừng ba tháng, dự án nới rộng nhà xác của tỉnh đã được thông qua và bắt đầu. Một ông Thượng sĩ an ninh của tỉnh thì thầm với tôi:

– Bác sĩ đừng chê tôi dị đoan, nới rộng nhà xác là điều tối kỵ vì chắc chắn sẽ có nhiều người chết lắm. Để rồi bác sĩ coi tôi nói có đúng không. Trước tôi làm ở tỉnh Chương Thiện cũng vậy. Chi vài tháng sau khi nới rộng nhà xác là vô số người chết tới.

Lúc đó tôi gật đầu cho ông ta vừa lòng, nhưng trong bụng bán tín bán nghi. Nay thấy ông Thượng sĩ già này có lý.

Thoạt đầu những người tử nạn đều được tẩm liệm vô hòm đàng hoàng, có cả quốc kỳ phủ quan tài cùng hương đèn đốt cháy suốt ngày đêm. Trung Đội Chung Sự không đem đi chôn được vì pháo kích và khu nghĩa địa không được an ninh vì ở xa, ngoài vòng kiểm soát của quân mình nên xác chết cứ để lại tại bệnh viện.

Khuya, sau khi mổ xong, đi xuống phòng ngủ, tôi không dám nhìn ra phía nhà quàn với hàng quan tài có những ánh nến leo lét cháy. Cứ trông thấy là tôi lạnh người dựng tóc gáy rảo bước cho mau.

Dần dần người chết quá nhiều, bất cứ nơi nào có xác chết là họ thu về đem thẩy vào nhà xác bệnh viện. Mới đầu giới hạn ở nhà quàn, sau lan ra nhà xe, tới sân sau rồi tới ngang hông văn phòng Ty Y Tế ngay trước trại Ngoại Khoa. Các xác quấn poncho, có phiếu chứng tử đính kèm, nhiều xác để trần mặc áo giáp, xác nằm sấp, nằm nghiêng, co chân co tay, miệng há hốc, mắt trợn trừng. Có xác nằm bình thản như người ngủ. Có xác chương phình, bụng căng cứng, bóng như bụng ễnh ương, chảy nước vàng, rữa nát vì để quá lâu, phơi nắng suốt ngày đã biến thành màu đen xạm như chì. Xác của người lớn, của trẻ con, của quan, của lính, của dân nằm lẫn lộn, xông lên mùi hôi thối suốt nửa tháng trời. Ruồi nhặng bu đầy trên mặt mũi, trên những vũng nước rỉ ra từ những thân thể sắp rữa nát.

Để ngăn ngừa ruồi muỗi sinh sản, có người đem rắc bột DDT lên những xác chết. Hành động này về phương diện vệ sinh, trên lý thuyết thì rất đúng. Nhưng đúng ở một nơi nào khác kia, ở một thời điểm nào kia, chứ thực tình tôi vẫn phân vân tự hỏi tại đây có tốt không? Trong nhất thời tôi cho là tai hại quá. Ruồi nhặng bị xua đuổi khỏi chỗ ở của nó liền quay vào tấn công bệnh viện. Khắp chỗ nào cũng có mồi nhặng. Chúng lì lợm đậu lên đầu lên mặt tôi, lên mặt những thương binh mệt mỏi nằm ngủ quên. Tôi đưa tay vuốt mặt ngửi thấy mùi hôi thối của xác chết, kinh tởm đến lợm giọng. Tệ hơn nữa, hiện giờ chẳng kiếm được nước đâu mà tắm rửa. Tôi lấy một cục bông gòn thấm alcool lau qua cho đỡ bẩn. Mùi hăng nồng của alcool quả thực đã làm tôi thấy sạch sẽ hơn, dễ chịu hơn được môt chút.

Lại nữa, mùi DDT trộn với mùi của xác chết sình thối hợp thành một mùi khủng khiếp không tài nào ngửi được. Có những xác ruồi bu đen suốt từ đầu đến chân, tôi trông thấy mà nôn nao trong ruột muốn ói.

Mấy ngày sau, anh Châu kiếm đâu được ít thịt heo, đem kho tàu và mang đến cho tôi nhưng tôi không thể ăn được. Cứ đưa miếng thịt lên miệng lại nghĩ tới đống thịt rữa nát chỉ cách đó không xa, đành phải bỏ xuống. Ấn tượng đó cho đến cả tháng sau, lúc dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu mới hết.

Sau không thể chịu được những xác chết đó nữa, chúng tôi trình sự việc lên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Một vị Đại tá được chỉ thị lo việc này. Đó là Đại tá Điềm, Nguyên Tỉnh Trưởng Long Khánh, hồi tôi còn ở Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 10 Bộ Binh đóng tại ngay tỉnh này. Không hiểu sao tôi lại gặp ông ở đây. Đích thân ông dẫn một tốp lính cùng 10 lao công đào binh để hốt xác đem lên xe cam nhông đưa đi chôn. Nhưng khi Đại tá Điềm ra lệnh xong, vừa quay về là lính, lao công đào binh cũng trốn luôn. Ai cũng ghê tởm không dám làm công việc khênh hàng trăm xác rữa nát, hôi thối lên xe.

Ở sân trường Trung Học, ngay phía trước cửa bệnh viện, môt chiếc xe ủi đất của Ty Công Chánh đang đào những hố thiệt lớn. Tiếng máy nổ khác thường làm mọi người chú ý. Ai cũng thắc mắc không hiểu họ đang làm gì. Mới đầu tôi tưởng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn cho làm thêm công sự chiến đấu, sau mới biết là hố chôn tập thể. Xe phải đào tới gần một ngày mới xong.

Buổi chiều chừng 5 giờ, một xe GMC dẫn 10 lao công đào binh cùng năm người lính sang bệnh viện. Xe de quay vào đám xác. Lần này có lệnh của Đại tá Điềm là ai trốn chạy sẽ bị bắn tại chỗ. Chính nhờ nghiêm lệnh này công việc đã được tiến hành tương đối chu đáo và có hiệu quả. Một Trung sĩ to con, mặt sát khí đằng đằng cầm súng M16 đứng chỉ huy.

Mấy người lao công đào binh đi kiếm bao nylon gạo sấy để làm bao tay, hì hục khênh từng xác vất lên xe.

Nước vàng hôi thối từ những xác người chảy ròng ròng. Bắt họ làm công việc này thật tội nghiệp. Nhưng nếu không bắt buộc thì không làm sao giải quyết nổi gần 300 cái xác đó. Sau khi chất lên được gần một xe, nhìn lại thấy số xác người gần như không suy suyển một chút nào, mấy anh lao công đào binh đã bắt đầu nản, xuống tinh thần. Phần vì mệt mỏi, phần vì tiếp cận ngay những cái xác đang rữa nát hôi thối đó, họ đều xin dừng tay nghỉ mệt và một anh đề nghị lấy xe ủi đất, ủi tất cả các xác đó vào một đống sau bệnh viện rồi đổ xăng đem đốt. Nhưng giải pháp này không được chấp thuận vì mùi khét lẹt của gần 300 cái xác đó xông lên thì chắc không ai chịu đựng nổi.

Bỗng một người lính la lên:

– Có thằng trốn.

Hai người lính liền đi lục soát tìm kiếm. Lợi dụng mọi người không chú ý, ba người nữa chạy vội ra, tính leo rào trốn khỏi bệnh viện. Một cuộc rượt bắt diễn ra.

Anh Trung sĩ phải bắn mấy phát chỉ thiên mới bắt lại được ba người, còn một người trốn mất luôn. Bắt được anh cho mỗi người một báng súng vô ngực, buộc phải quay lại làm tiếp. Anh hăm dọa:

– Tụi bay mà bỏ chạy nữa, tao bắn bỏ nghe.

Một người lao công đào binh, mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm chiếc áo ka-ki bạc màu, nhăn nhó qua hàng nước mắt:

– Hôi thối quá làm sao tụi em làm được.

Anh Trung sĩ nạt lại:

– Bộ tao đứng canh tụi bay ở đây không ngửi thấy mùi sao? Cố làm cho xong rồi về.

– Khênh người sống còn đỡ, khênh người chết sình nặng quá, muốn hụt hơi luôn. Trung sĩ cho tụi em nghỉ một lát để thở.

– Được, cho tụi bay nghỉ 5 phút.

Mấy lao công đào binh ngồi ngay xuống thềm xi-măng văn phòng Ty Y Tế nghỉ xả hơi. Mặt người nào, người nấy phờ phạc có lẽ vì phải hít thở mãi những mùi xú uế từ những tử thi để lâu ngày. Một người trồng hãy còn trẻ, chừng 20 mươi tuổi, mặt mũi có vẻ thông minh, ngồi dựa vào tường than thở:

-Từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa bao giờ tao phải làm một việc cực khổ, khốn nạn như thế này. Cực đéo chịu được, thà chết sướng hơn.

Tôi cho người đi kiếm mấy cặp găng tay đã dùng rồi, đưa cho họ mang để họ làm việc dễ dàng hơn là dùng những bao nylon gạo sấy.

Hết 5 phút xả hơi, họ lại được lệnh tiếp tục khênh xác lên xe. Đầy xe rồi tài xế liền lái ra hố chôn tập thể. Họ lại khênh xác vứt xuống hố. Tới 8 giờ tối mới xong được hai xe. Họ làm liên tục như thế trong hai ngày mới thanh toán hết số xác trong bệnh viện. Chiếc xe ủi đất phải đào thêm hố nữa, dài theo sân của trường trung học mới đủ chỗ chôn. Ngoài ngã ba Xa Cam dọc theo vườn cao su, Trung Đội Chung Sự Tiểu Khu còn đào thêm một hố chôn tập thể khác khá lớn. Tôi nghe nói hố đó chứa chừng gần 1000 xác.

Giờ đây, mồ mả mọc lên như nấm rải rác khắp thành phố. Những tấm bia bằng gỗ pháo binh, bằng giấy carton được mấy người bạn đồng đội viết nguệch ngoạc tên họ người chết và cắm vội vã. Họ phải làm thật lẹ vì rất nguy hiểm khi phơi mình quá lâu trên mặt đất vì đạn pháo kích có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Trước cửa nhà Tiểu Khu Phó, hai người đang đào hố chôn bạn, gần xong thì bị ngay một trái 105 ly. Chẳng một ai sống sót. Sẵn hố đã đào, người ta liền vùi tất cả vào một hố. Thành ra những người lính ấy đã tự tay đào hố chôn mình. Mấy anh lao công đào binh cũng bị tử nạn đang khi vất xác xuống hố. Thi thể họ cũng được vùi chung với những xác mà họ vừa mới khênh xuống.

Người ta kể chuyện, vì có những vụ như vậy nên mỗi lần đào hố chôn, họ lại đào rộng ra một chút để nếu có bất hạnh xảy ra thì có sẵn hố tự chôn mình luôn. Thật là bi thảm nếu quả thực là như vậy. Không biết chuyện đó có thật hay không.

Từ khi giải quyết xong mấy trăm xác chết đó, bệnh viện thấy dễ thở hơn được một chút. Tuy nhiên hàng ngày, trung bình có từ ba tới năm xác do các nơi đem tới Trung Đội Chung Sự. Vì vậy cứ cách ngày lại phải tới bệnh viện gom xác lại đem đi chôn. Công việc cứ tiến hành đều đều như vậy nên không còn sự ối đọng cả mấy trăm xác chết như trước nữa.

Ở đây không phải chỉ chết một lần mà hai lần, có trường hợp tới ba lần. Pháo trúng mồ, thân xác bị cầy nát lên. Được chôn lại, bị pháo trúng nữa, thịt xương nát văng tứ tung. Hôi thối khủng khiếp. Đó là trường họp của một nữ y tá thuộc Phòng Y Tế Công Cộng chẳng may bị tử thương, được bạn bè đem chôn tại bờ tường phía sau bệnh viện, đã bị chôn hai lần như vừa kể ở trên. Và đó cũng là trường hợp của bốn Quân Y Tá mà tôi là người nói chuyện với họ lần cuối cùng dưới tàn cây trứng cá trước cửa văn phòng Milphap.

Khi tôi từ Phòng Mổ đi xuống trại Ngoại Khoa, nửa đường gặp một nhóm Quân Y Tá đang đứng nói chuyện với nhau. Trông thấy tôi, Binh nhất Út tươi cười chào hỏi:

– Bác sĩ làm việc mệt không?

Tôi đứng lại, nhập bọn với họ và trả lời:

– Mệt lắm, nhưng cũng phải cố gắng, còn nước còn tát. Thế các anh em có chỗ núp an toàn không, ăn uống cơm nước ra sao?

– Thưa bác sĩ, nhờ có gạo sấy do thả dù tiếp tế nên cũng không bị đói. Chúng em cứ hai người chung một hố cá nhân đào dọc tường sau của trại Nhi Khoa, cho đến bây giờ, thì may mắn chưa có ai bị hề hấn gì cả.

– Thế thì tốt lắm, nhưng không nên đứng khơi khơi giữa trời như thế này làm gì, nguy hiểm lắm.

Nói xong, tôi liền tiếp tục đi xuống trại Ngoại Khoa. Mở khóa vào trong phòng, ngả lưng định nằm vài phút để lấy lại sức. Vừa nằm chưa ấm chỗ, tôi chợt nghe một tiếng nổ rất gần ngay trong bệnh viện, không to lắm. Mảnh đạn, đất đá văng lên mái nhà nghe rào rào. Tôi đoán là là đạn súng cối 61 ly. Vì đã có kinh nghiệm và quá quen với pháo kích rồi nên nghe tiếng nổ là tôi có thể đoán trúng được đó là loại đạn gì. Tôi nghĩ thầm loại này thì nhằm nhò gì, chỉ như gãi ghẻ mà thôi. Thôi chẳng thèm để ý, định bụng nằm trên giường như thường, chẳng cần phải chui xuống gầm giường như mọi khi nữa.

Đang suy nghĩ miên man, có tiếng gõ cửa gấp rút rồi tiếng Trung sĩ Lạng, Trưởng Trại Ngoại Khoa nói vọng vào:

– Xin mời bác sĩ ra ngay cho. Có bốn y tá của mình bị thương nặng!

Tôi vội ngồi bật dậy, đi ra ngoài, khóa cửa lại cùng Trung sĩ Lạng chạy ra phía đầu trại Ngoại Khoa. Ra tới sân trước văn phòng Milphap, tôi thấy một nhóm đông đang xúm xít săn sóc bốn người bị thương nằm dưới đất.

Tôi khám thật nhanh, thấy ba người đã chết vì vết thương quá nặng ở đầu và bụng. Còn có Binh nhất Út, thấy có vẻ tỉnh táo nhưng mặt mày xanh mét vì mất máu, vì đau. Tôi ra lệnh cho y tá khênh Út vào văn phòng Milphap, đặt anh ta trên chiếc bàn rồi bắt đầu khám lại kỹ càng hơn. Tôi thấy một vết thương do mảnh đạn xuyên vào phổi phải. Không có tiếng thở phế bào. Chắc máu ra nhiều trong phổi. Tim đập rất yếu. Chắc chắn bệnh nhân cần phải được thông phổi ngay. Nhưng những dụng cụ thông phổi nay đã hết. Nên tôi đành phải dùng valve Heimlitz là một hình thức thông phổi mà không cần bình nước vì valve chỉ cho phép đi một chiều. Tức là máu ra được nhưng không khí không vào được do hai lá cao su khi thở ra thì nó mở ra, khi hít vô thì nó tự động đóng lại theo sức ép của không khí.

Tôi biết vết thương này không đơn giản. Chắc chắn nó đã gây hư hại nhiều cho những cơ quan bên trong. Tôi chắc Út khó có thể qua khỏi được nếu không được di tản kịp thời. Nhưng với tình trạng hiện nay, tản thương là điều không thể có được. Tôi nghĩ đến nước này chỉ đành phó mặc cho Trời mà thôi. Sau khi truyền nước biển xong, tôi dặn mấy người bạn Út canh chừng trong đêm nay. Ngày mai nếu may mắn có chuyến tản thương sẽ cho Út ưu tiên đi trước.

Tôi đi vòng qua đống rác lớn ở cuối trai Nội Khoa, ra Phòng Cấp Cứu. Qua hành lang giữa trại, tôi thấy thương binh nhiều quá, nằm bừa ra cả lối đi. Tôi phải len chân lần từng bước. Ra tới cửa chính giữa, nơi được dùng làm Phòng Cấp Cứu. Một cảnh tượng đau lòng hiện ra. Chừng 30 thương binh nằm đầy ra ở dưới đất. Một vài người có băng-ca, còn phần đông nằm ngay trên sàn gạch dơ dáy, đầy bông băng vấy máu. Một bàn kê sát vách tường, trên đó để đầy các thứ thuốc sát trùng, các thứ thuốc chính, cạnh đấy là những thùng băng đã được khui sẵn. Sáu y tá luôn tay làm việc băng bó. Bác sĩ Nam Hùng, bác sĩ Tích đi khám vết thương từng người rồi ra chỉ thị cho ý tá, cái nào rửa sạch băng lại cái nào cần giải phẫu thì chuyển xuống phòng mổ. Tôi đến gần bác sĩ Tích, anh nhìn lên lắc đầu thở ra. Tôi hiểu ý và nói:

– Nhiều quá phải không anh Tích?

Bác sĩ Tích gật đầu, mệt mỏi đáp:

– Tôi với anh Hùng làm từ sáng tới giờ mà vẫn không hết. Nghe nói họ còn mang tới nữa.

-Trời! lấy chỗ đâu cho thương binh nằm. Ở đây đầy rồi. Dưới trại cũng hết chỗ chứa.

Bác sĩ Tích ngao ngán, lắc đầu:

– Mấy thằng khiêng cáng viên dông hết rồi. Tụi nó mất tinh thần, tên nào tên nấy lờ quờ không muốn làm gì cả.

– Mình bận làm việc không hở tay đâu để ý được tụi nó. Giá có thêm người đứng ra chỉ huy tụi nó sợ, làm việc, thì đâu có ối đọng khổ sở như thế này.

Tôi đi thăm một lượt, may mắn không có ai cần phải mổ lớn cả. Phần lớn đều bị thương ở tay chân. Có nhiều người bị gãy xương, được các bạn đồng đội băng bó giữ yên tạm khúc xương bị gãy bằng những cành củi khô hoặc bất cứ vật gì mà họ kiếm được.

Một điều tôi lấy làm lạ là bị thương đau đớn như thế mà không có ai kêu la. Khi các y tá xức thuốc rửa những vết thương trầy trụa, họ chỉ xuýt xoa, nhăn mặt cắn răng chịu đựng chứ không như những ngày thường.

Trong số những người bị thương có mấy người dân, vừa đàn bà vừa trẻ con. Một đứa trẻ cụt cả 2 chân lên tới đầu gối, nằm gối đầu trên một chiếc hộp đựng băng, dơ đôi mắt lờ đờ nhìn tôi, miệng mấp máy một cách yếu ớt:

– Nước, nước…cho con hóp nước.

Sắc mặt nó vì bị mất máu nên xanh mét. Da môi khô. Cánh tay trái bị băng gần hết. Một sợi dây vòng qua cổ treo cánh tay trước ngực thành một góc 90 độ. Tay kia cũng được giữ im để truyền nước biển. Thân hình nó thành ra ngắn ngủn một cách thảm hại. Vệt nước mắt khô còn in trên má. Mắt nó ráo hoảnh, nó không còn nước mắt để mà khóc. Nó nhìn để mà nhìn. Đôi mắt dường như vô cảm giác. Tôi nghĩ nó đã quá mệt, tê dại không còn biết đau đớn là gì nữa. Nó bây giờ chỉ là một sinh vật, sinh vật “vô tri”. Cạnh đấy, một người đàn bà bị thương ở má phải. Tóc bê bết máu, nằm gục đầu trên đống băng vấy máu. Vết thương của bà ta đã được băng bằng một băng cá nhân nhà binh khá lớn che gần hết khuôn mặt, chỉ để hở một con mắt tím bầm, sung vù. Thỉnh thoảng bà cố nhướng lên mà không được. Bà ta nằm rên nho nhỏ.

Phía góc phòng, một người lính bị thương ở đầu, bị quấn băng kín mít, chốc chốc lại la lên:

-Trời ơi, khát nước quá. Ai cho tôi miếng nước.

Kêu xong, anh ta lại nằm yên như không có gì xảy ra cả. Mọi người đều bận rộn, không ai lấy nước cho anh vì thực ra, cũng khó kiếm được nước trong lúc này. Tôi yên chí không lo cho anh bị chết khát vì chai nước biển treo bên cạnh vẫn nhỏ đều đều từng giọt thẳng vào mạch máu.

Tôi nhìn những người y tá làm việc băng bó như máy. Không hiểu họ có nghĩ gì không. Suốt 20 năm chiến tranh, chết chóc, bị thương xảy ra quá thường như cơm bữa khiến người ta dường như không còn xúc động trước những cái chết của đồng loại. Tôi đã nhận ra được điều này ngay từ hồi tôi còn là sinh viên Y Khoa, thực tập tại khu Ngoại Khoa ở Bệnh Viện Chợ Rẫy. Hôm ấy, người ta khênh vào hai mẹ con bị thương. Tôi săn sóc, khâu vá vết thương của người mẹ. Tôi hỏi:

– Vì sao chị bị thương vậy?

Người đàn bà đáp:

– Bị máy bay bắn lầm trong khi cả nhà tôi đang ăn cơm. Hiện giờ, chồng tôi và đứa con Út bị chết, vẫn còn để nằm ở nhà.

Điều làm tôi kinh ngạc nhất là giọng nói thản nhiên, gần như vô cảm giác. Không một chút xúc động. Không một giọt nước mắt. Dường như bà ta đang nói về cái chết của người chồng, người con nào đó, không phải của bà ta. Tôi cứ tưởng bà ta phải gào thét, khóc nức nở hay tỏ ra đau đớn lắm khi nhắc tới cái chết của chồng con. Nhưng thực sự đã trái lại và điều này làm tôi chợt hiểu là chiến tranh đã làm chai đá lòng người.

Tuy nhiên cũng còn may, chiến tranh chưa hủy diệt hết tất cả tình cảm của con người vì sau này, trong những lần hành quân đụng địch tôi đã bắt gặp được những tiếng khóc thổn thức, những tiếng kêu thảng thốt của những binh sĩ khi nghe tin một người bạn đã ngã gục ở tuyến đầu. Thành ra, về một phương diện nào đó, đau khổ quá mức làm cho tê dại đi cũng là một phản ứng tốt để người ta có thể sống còn được.

Tôi tiến dần ra phía ngoài cửa. Nơi đây quả là một địa ngục trần gian. Người sống, người chết nằm lẫn lộn với nhau. Một người lính nằm dựa vào chân cột hành lang, mắt nhắm nghiền. Một bên má có một vết thương còn rỉ máu. Cánh tay trái băng kín treo trước ngực. Khắp người anh chỗ nào cũng có đầy những vết thương nhỏ.

Anh nằm gác chân lên cái xác mà anh tưởng là một người bạn. Thỉnh thoảng anh đập chân thì thào:

– Lấy tao hớp nước, mày.

Có lẽ anh ta mê loạn rồi chăng? Gần đấy, một ngưòi bị thương ở chân, nằm gối đầu lên đùi một người bị thương ở đầu, dường như đang ngủ mê mệt. Tôi tới gần xem. Người bị thương ở đầu đã chết từ bao giờ. Tôi, bỗng nghe tiếng gọi yếu ớt.

Tôi quay đầu lại, đưa mắt tìm kiếm xem tiếng nói từ đâu. Một cánh tay gầy khô như khúc xương, mệt mỏi vẫy tôi. Tôi nhận ra ngay Điểu Thoul, môt lính Địa Phương Quân, người Thượng đang nằm sát chân tường, gần cửa phòng bác sĩ Chí. Tôi tới gần, cúi nhìn vào hố mắt sâu hoắm của anh ta. Điểu Thoul giờ chỉ còn là bộ xương. Hắn quá yếu, không còn nhúc nhích gì được. Điểu Thoul bị thương ở bụng, thủng ruột già. Tôi đã mổ và làm hậu môn nhân tạo cho anh ta. Mấy ngày trước, tôi đã cho tản thương, khênh ra khênh vào mấy lượt nhưng rốt cuộc không đi được rồi chắc bị bỏ nằm ở đó.

Tôi ngồi xuống bên anh ta, một mùi hôi thối xông lên. Chung quanh chỗ nằm, chảy đầy bê bét toàn là phân. Cái túi nylon đựng phân buộc ở chỗ hậu môn nhân tạo, mấy ngày nay không được thay, phân tràn đầy ra ngoài. Những con bọ nhỏ bò lổn ngổn trông thấy mà nổi gai ốc. Tôi nói:

– Để tôi gọi người thay túi nylon cho anh, chịu không?

Điểu Thoul không nói gì, hai giọt nước mắt chảy dài trên đôi má hóp. Thường ngày cũng vậy, Điểu Thoul ít khi nói lắm. Bị đau nhức hay khó chịu trong mình chỉ biết ứa nước mắt khóc mà thôi. Tôi hỏi:

– Đói không, tôi cho người chuyển xuống trại nhé?

Điểu Thoul gật nhẹ đầu. Sau đó tôi nhờ anh Xòm, Thượng sĩ Lỹ làm sạch vết thương rồi khênh hắn xuống trại Hậu Giải Phẫu.

Trước cửa phòng bác sĩ Chí, ba xác nằm bình thản ngay lối đi. Xa hơn nữa, trước cửa Phòng Nha Khoa, hai xác nằm sóng đôi, được đậy bằng một tấm tôn cong queo, thủng lỗ chỗ vì bị mảnh đạn, chừa cặp chân tím ngắt sưng bọng nước. Những thây đó bắt đầu hôi, mùi tử khí làm cho mọi người ngột ngạt, khó thở.

Tôi thấy cô Bông, Điều Dưỡng Trưởng của bệnh viện, đang loay hoay băng bó một cách khó khăn cho một người lính bị thương ở đùi, cẳng chân bị ngắn lại vẹo về một bên. Tôi hấp tấp bước lại:

– Khoan hãy băng, người này bị gãy xương đùi, làm bậy bạ bị kích xúc, dễ chết lắm. Cô chờ tôi một chút, tôi đi lấy nẹp Thomas. Trong khi chờ đợi, cô cho truyền một chai Ringer và chích một syrette Morphin cho bớt đau.

Nói xong tôi rảo bước về Phòng Mổ, ào vô kho lục được một chiếc nẹp mang ra. Tôi hỏi người lính:

– Anh đã thấy bớt đau chưa?

Anh ta gật đầu nhè nhẹ. Tôi vẫy Trung sĩ Trọng:

– Lại đây giúp tôi một tay, anh bợ nhẹ chân này lên để cô Bông đặt nẹp vào.

Tôi nắm lấy cổ chân người lính, hơi kéo nhẹ nhàng vừa nâng lên cao. Người lính nhăn mặt kêu đau. Tôi vừa giữ chân vừa vỗ về anh:

– Chịu khó một chút, sắp xong rồi.

Năm phút sau, chúng tôi băng bó và giữ im xong. Trên trán người lính còn lấm tấm mấy giọt mồ hôi. Anh đã can đảm cắn răng chịu đau khiến chúng tôi làm việc được mau chóng và dễ dàng. Tôi thấy cô Bông có vẻ mệt. Bây giờ là 8 giờ tối. Tôi biết cô và Trọng làm việc không ngừng suốt từ sáng tới giờ. Đầu tóc cô bơ phờ. Chiếc áo bà ba bằng lụa xanh màu lá chuối non và chiếc quần đen đều vấy máu.

Chúng tôi làm việc dưới ánh sáng bập bùng của ngọn đèn biến chế bằng một chai thủy tinh đựng dầu lửa. Nút chai được đục thủng một lỗ để bấc đèn chui qua. Ngọn lửa có nhiều khói khét lẹt. Tôi nói với hai người:

– Chắc hết bệnh rồi, mình có thể đi nghỉ được.

Cô Bông đưa tay quệt mấy giọt mồ hôi trên trán, nói:

– Bác sĩ đi nghỉ trước đi. Tôi đi kiếm chút nước cho thằng bé nằm kia uống.

Tôi vội dặn cô:

– Coi chừng đấy, mấy người khác thấy được, ho nhao nhao lên đòi, cô không có nước đâu mà cho.

Cô Bông mỉm cười hiểu ý, nói:

– Tôi biết mà, bác sĩ yên chí đi nghỉ đi.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Tiếp Tế Từ Trên Không

Cùng với nhịp độ pháo kích gia tăng, số nạn thương chiến cuộc càng ngày càng nhiều. Phòng Cấp Cứu, Phòng Tiểu Giải Phẫu làm việc không nghỉ tay. Chúng tôi vừa làm vừa phập phồng lo sợ đủ mọi thứ chuyện: lo pháo, lo bỏ bom lầm, lo bị dù đè.

Từ ngày phi trường bị pháo hư và mất an ninh, máy bay cánh quạt không thể đáp xuống được. Mọi sự tiếp tế đều trông chờ vào trực thăng, nhất là thả dù. Những cánh dù lơ lửng in trên nền trời xanh trông thật đẹp. Đẹp hơn nữa khi nó mang lại gạo sấy, thịt hộp, trái cây hộp, đạn dược thuốc men cho những người lính đang sống thiếu thốn, mệt mỏi vì đã bị vây hãm lâu ngày.

Cũng như những trái đạn pháo kích, những cánh dù tiếp tế đầu tiên đã rơi xuống tại bệnh viện. Một cái rơi gần cổng vào, một cái rơi xuống trại Ngoại Khoa của tôi, sát phòng trực của y tá, làm sụp mái ngói, đè chết một thương binh người Việt gốc Miên bị thương ở ngực tôi chữa đã gần khỏi. Chiếc giường nằm bị bẹp dúm một cách thảm hại. May thay ba người nằm cùng phòng không bị thương gì cả. Nhưng họ cũng bị một mẻ sợ điếng hồn. Các anh em Quân Y đang thiếu gạo và thực phẩm, hy vọng cái tai họa bất ngờ này may ra cũng bù lại bằng một dù gạo sấy hoặc các lương khô khác. Nên mọi người hăm hở xúm vào giúp nhau gỡ dù, nhanh nhẹn mở thùng tiếp tế ra mới biết toàn đạn đại liên với lựu đạn.

Dù mang lại nguồn vui nhưng cũng mang tới tai họa. Có lần mải chụp hình chiếc dù trước mặt, tôi bỗng nghe thấy tiếng kêu:

– Coi chừng dù rớt bác sĩ!

Tôi giật mình ngoảnh lại nhìn lên phía sau, thấy một cái dù lừng lững rơi xuống phía tôi đứng. Hoảng hồn, tôi rảo chân chạy, vừa chạy vừa quay đầu lại nhìn dể thăm chừng, thấy lúc nào nó cũng như ở trên đầu mình. Tôi liền nhẩy vào núp dưới hàng hiên bê-tông cốt sắt trước trại Nội Khoa. Hai giây sau, tôi nghe tiếng ngói vỡ vụn và một tiếng động mạnh làm rung rinh cả nhà. Chiếc dù đã rớt xuống phía mái bên kia trại Nội Khoa, thừng đồ còn mắc kẹt trên mái. May nó vướng vào cây cột bê-tông nếu không lại có vài mạng nữa chết oan.

Đang ở trong phòng mà nghe tiếng máy bay Cl19 thả dù mọi người đều bung cửa chạy ra sân nhìn xem dù rớt về hướng nào. Sau khi dù rớt xong rồi mới yên chí trở vào làm việc lại.

Đang khi mổ cũng vậy, tôi phải cắt một y tá ra xem chừng khi nào thấy dù có vẻ như rơi xuống phòng mổ phải báo động cho mọi người biết để có đủ thì giờ chạy.

Sau này cơ quan tiếp tế thả dù dùng một loại dù lỗ để thả cho chính xác. Mấy người lính gọi đó là dù phản lực. Vì dù nhỏ, có hở lỗ, sức cản không khí ít nên nó rơi xuống rất nhanh tạo nên một tiếng hú rít nghe rợn người. Dù này thường được thả thật cao, nhìn lên trời không thấy gì hết. Rồi bỗng nhiên từ trong những đám mây chúng hiện ra như những quái điểu khổng lồ lao vút xuống đất với tốc độ nhanh gấp mấy lần những chiếc dù bình thường. Khi thấy nó ở trên đầu rồi may mắn lắm mới tránh bị đè bẹp. Theo chỗ tôi được biết, số người bị chết vì bị dù đè ở mặt trận An Lộc lên tới ít nhất bẩy người.

Ngày 12 tháng 4, địch quân pháo kích bừa bãi nhiều hơn trước. Tôi vừa mổ xong một người bị vết thương ở bụng, mới bước ra khỏi Phòng Giải Phẫu gặp cha Minh, cha xứ Bình Long hớt hải chạy vào. Mặt cha thất sắc, chiếc áo dòng màu đen lấm cát và vấy máu. Tôi hốt hoảng hỏi:

– Cha bị thương sao cha?

Cha Minh lắc đầu, giọng nói gấp rút:

– Không, bác sĩ, Việt Cộng pháo kích vô nhà thờ, dân bị thương, chết nhiều lắm. Tôi cho khênh lên đây mấy người nặng nhờ bác sĩ cứu giùm.

Cha Minh vừa nói vừa chỉ cho tôi coi hai người thiếu niên cụt mất cả hai cẳng chân đang nằm thoi thóp thở. Cha Minh dẫn tôi lại gần một người đàn bà bị thương cùng mình, mặt mũi bị những mảnh đạn, đất cát bắn vào làm lỗ chỗ không tài nào nhận ra. Tựu chung chi còn lại hai con mắt lờ đờ nhìn mọi người. Ngực bụng tứ chi không chỗ nào là không chi chít những vết thương nhỏ xíu. Cha Minh nói với tôi:

– Bà này tôi coi như người nhà. Xin bác sĩ hết lòng cứu giúp cho.

– Dạ, cha cứ yên trí. Tôi xin hết lòng cố gắng.

Tuy nói vậy cho cha yên lòng, theo kinh nghiệm của tôi, ba người đó khó lòng cứu được, nhất là trong tình trạng thiếu thốn như bây giờ. Cha Minh dặn dò tôi xong lại tất tả đi về nhà thờ lo cho những người còn lại.

Tôi cho đặt đai chỉ huyết ở đùi hai người bị cụt chân. Cho truyền nước biển cả ba người vì họ bị kích xúc rất nặng. Máu ở nhà thương lại vừa mới hết. Còn một bịch máu O của người lính cho Thiếu úy Uy giữ lại, tôi liền sang cho người bệnh nặng nhất và cho lên bàn mổ ngay. Tôi cho chích Pentothal để ngủ. Tôi cắt khớp hai gối. Tôi làm việc thật nhanh để tranh thủ thời gian sợ bệnh nhân tỉnh dậy bất ngờ. Cô Bích, anh Xòm giúp tôi rửa sạch những vết thương và băng các mấu chỉ. Mỗi khớp tôi chỉ cần từ ba đến năm phút để cắt và cột mạch máu.

Khi tôi vừa làm xong người thứ hai, cô Mỹ vào cho hay người đàn bà đã trút hơi thở cuối cùng. Hai giờ sau người thanh niên thứ nhất cũng ra đi. Chúng tôi không còn thì giờ để thương tiếc. Người này mổ xong là có người khác vào. Liên tiếp như vậy khiến đồ hấp không kịp. Các bộ đồ giải phẫu ở trong ngày ấy đều bị sử dụng hết. Tôi đành khử trùng một cách dã chiến bằng cách đốt những dụng cụ giải phẫu với Alcohol. Tuy nhiên những bộ đồ giải phẫu bụng vẫn được khử trùng bằng máy hấp đúng tiêu chuẩn.

Sau vụ nhà thờ, tôi còn nhận thêm 7 người bị thương nữa do Việt Cộng pháo kích vô Trung Tâm Truyền Tin Cố Định. Chưa hết, địch quân pháo vào đồi Đồng Long, chúng tôi lại nhận được thêm 9 người bị thương nữa. Có tin một trực thăng Chinook bị bắn cháy ngoài phi trường. Lợi dụng lúc mới mổ xong, nhân viên còn đang dọn dẹp phòng mổ, tôi chạy vội ra phía cuối trại Ngoại Khoa nhìn về phía phi trường, cách bệnh viện chừng hơn một cây số. Tôi thấy một cột khói đen kịt bốc thẳng lên trời cao tới mấy trăm thước, cho thấy hôm đó trời không có gió.

Tôi thầm mong sao cho phi hành đoàn và mọi người ở trên máy bay đều được bình yên. Cháy lớn như vậy tôi sợ có người chết cháy hay bị phỏng nặng. Khi tôi quay trở vào , Thiếu úy Thu tươi cười giới thiệu tôi một người lính:

– Đây người hùng đây, bác sĩ. Hạ sĩ nhất Lê Văn Tèo ở kho Y Dược 731 đi theo chiếc Chinook để tải thuốc lên tiếp tế cho bọn mình đó.

Tôi trợn mắt lên:

– Chiếc Chinook đang bị cháy đấy hả?

– Dạ phải!

Tôi lo lắng hỏi:

– Có ai bị thương không?

– Dạ thưa không. Chỉ có tôi bị phỏng nhẹ ở tai trái và ở cánh tay trái thôi.

Vừa nói Hạ sĩ Tèo vừa chỉ cho tôi xem bên tay trái bị băng mà lúc đầu vì mải nghe, tôi không để ý. Thiếu úy Thu xen vào nói:

– Hạ sĩ Tèo mang được đầy đủ thuốc về. Ngon không bác sĩ. Tèo còn chê phi hành đoàn không chịu chữa lửa, mới đầu cháy có chút xíu. Nếu không, máy bay đâu có tiêu ra tro.

Tôi mỉm cười nói:

– Lo gì chuyện đó, mọi người bình an cả là mừng rồi. Cảm ơn anh Tèo nhiều lắm. Một mình anh lo mang được cả một đống thuốc men như vậy thì quả như lời Thiếu úy Thu nói, đúng là anh hùng rồi, phải tuyên dương công trạng anh mới được.

Tôi quay sang Thu nói tiếp:

– Nhưng trước hết ông cho anh Tèo vào trình diện bác sĩ Phúc, rồi lo nơi ăn chốn ở cho anh ấy được chu đáo. Khi nào có chuyến tản thương sẽ ưu tiên cho anh Tèo tháp tùng thương binh về Lai Khê càng sớm càng tốt.

Thu và Tèo chào tôi đi lên văn phòng bác sĩ giám đốc. Tôi lại quay vào Phòng Giải Phẫu mổ tiếp. Chúng tôi tiếp tục làm việc cho đến 6 giờ chiều. Ai nấy đều hốc hác, vậy mà vẫn còn 5 người bị thương nữa. Tôi nói với các nhân viên y tá:

– Thôi nghỉ đi, mọi người đi kiếm cái gì ăn cho chắc bụng, mình phải để dành sức tối mổ tiếp.

Tôi bước ra khỏi Phòng Mổ, gặp bác sĩ Chí tiến vào. Chí hất hàm hỏi tôi:

– Hết chưa?

Tôi lấy cánh tay quẹt mồ hôi đang rịn ra trên trán, lắc đầu nói:

– Còn 5 người nữa, nhưng nhẹ thôi, mấy vết thương ngoài da ở tay chân đã được săn sóc chích ngừa phong đòn gánh và cho trụ sinh cả rồi, để tối nay làm tiếp.

Chí gật đầu:

-Tối nay tao lên làm chung với mày nói chuyện cho vui. Làm một mình ở dưới kia buồn muốn chết. Thấy nó lạnh lẽo làm sao ấy.

– Mày nói đúng, tao cũng cảm thấy như vậy. Làm hai người vui và đỡ chán hơn. Xe mày đâu?

– Để ở đằng trước.

– Rồi, lái xe đi ăn phở.

Chúng tôi đi vòng ra phía trước bệnh viện. Chí lái xe xuống đại lộ Hoàng Hôn. Đi ngang qua Căn Cứ Pháo Binh tôi vội nhắc Chí:

– Chỗ này nguy hiểm, Việt Cộng khoái pháo vào đây lắm. Vọt lẹ đi.

Vừa nói dứt lời, một khẩu 105 ly của pháo binh bắn đi, tiếng nổ làm chúng tôi cùng giật thót mình. Cả hai cùng nhìn nhau cười hô hố khiến mấy người lính Pháo Binh bên đường ngơ ngác không hiểu gì cả.

Chúng tôi như những con chim đã bị tên, giờ đây nghe tới tiếng nổ là sợ. Ngoài đường không một bóng người. Thính thoảng một anh lính Địa Phương Quân cưỡi xe gắn máy cắm cổ phóng vụt qua như gió rồi mất dạng ở cuối phố.

Chí chỗ đậu xe ngay trước tiệm phở Thành Mỹ. Tiệm này nổi tiếng nấu phở ngon nhất Bình Long. Trong tiệm vắng vẻ, chỉ còn hai vợ chồng người cảnh sát mới ăn xong đang sửa soạn ra về. Thấy bà chủ đi ra tôi vội hỏi:

– Bà còn phở không?

Người đàn bà tươi cười nói:

– Dạ, thưa còn.

– Bà cho chúng tôi hai tô đi. Dạo này chắc vắng khách phải không bà?

– Thưa vâng, mọi lần không đủ bàn để ngồi. Nay lộn xộn thành ra chẳng ai dám đi ra ngoài cả. Lắm hôm phải ăn phở trừ cơm.

Người đàn bà ra quầy hàng làm hai tô phở. Tôi đá chân Chí hỏi:

– La-de không?

Chí gật đầu mỉm cười:

– Uống chớ. Nhưng mày đừng có say, chút nữa để quên dao kéo trong bụng người ta.

Tôi mỉm cười:

– Một chai ăn nhằm gì.

Tô phở nóng bốc hơi thơm mùi mỡ bò. Vì đói chúng tôi ăn rất ngon lành.

Tôi nói với Chí:

– Mày nhớ không, nghe tin đánh Quảng Trị, tụi mình khoái chí bảo mấy thằng bạn mình ở Bệnh Viện Tiểu Khu Quảng Trị sẽ làm việc hốc hác. Không ngờ ngày nay mình lại còn hốc hác hon bọn họ nữa.

Chí uống một ngụm bia xong rồi cười nói:

– Thành ra số tụi mình là số ăn mày.

Mặt Chí chợt đăm chiêu:

– Mình bị vây đến nay là tám ngày rồi. Sao chưa thấy rục rịch phản công gì cả?

– Tao cũng tự hỏi như vậy, nhưng có lẽ cũng sắp rồi. Tao nghe nói viện quân Dù đã lên tới Tân Khai. Chắc chỉ nay mai là giải tỏa xong quốc lộ 13.

Chỉ chợt hỏi:

– Lúc pháo kích mày núp ở đâu?

– Dưới gầm giường.

Chí cười:

– Vậy là chí lớn gặp nhau rồi. Tao cũng vậy. Nhưng chỗ tao ồn ào và hơi chật, vì có thêm nha sĩ Tài, đốc-tờ Hùng, đốc-tờ Thùy nữa. Vả lại ở ngay phòng nhận bệnh, thương binh đêm đêm kêu rên không tài nào ngủ được.

– Ở phòng đốc-tờ Phúc có hầm tốt tắm sao mày không lên đấy mà ngủ?

Chí cười hỏi lại tôi:

– Thế sao mày không lên?

– À, ở phòng tao được thoải mái tự nhiên hơn. Hay mày xuống chỗ tao?

Chí ngần ngừ trả lời:

– Thôi ở đâu quen đó, chỗ nào cũng vậy thôi. Nếu nó pháo quá chắc tao cũng phải lên hầm đốc-tờ Phúc cho chắc ăn. Nằm một mình trong phòng nghe pháo nổ chung quanh, tao thấy lạnh lẽo cô đơn quá, lại càng sợ nữa. Có một vài người ở bên cạnh mình sẽ thấy yên tâm hơn.Tao thấy mày làm việc nhiều quá, lỡ mày đau tụi tao khổ.

Tôi lắc đầu:

– Đau thì không sợ, chỉ sợ bị thương thôi. Sao bây giờ xin tản thương khó khăn quá, lại nguy hiểm nữa. Mình chữa trị cho người thì được. Lúc mình bị thì ai mổ cho mình đây?

Chí gật đầu nhẹ, chậm rãi nói:

– Kẹt nhỉ, ở đây chỉ có mình mày là y sĩ giải phẫu mới đau chứ.

Chí xua tay:

– Thôi đừng nghĩ tầm bậy, mình ăn cho xong rồi về tiếp tục làm tiếp.

Chúng tôi mỗi người đều ăn hết hai tô phở. Không ai nghĩ rằng đó là những tô phở cuối cùng ăn tại Bình Long. Và không ai nghĩ rằng ngày mai, 13 tháng 4 Việt Cộng dốc toàn lực tấn công An Lộc khiến cho chúng tôi phải sống một cuộc đời tử thủ khổ cực trong nhiều tháng.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Người Tù Binh

Trước cuộc pháo kích một tuần, nghĩa là cách nay được hai tuần, ban An Ninh Tỉnh có giải tới bệnh viện hai tù binh bị thương. Một đàn bà, một đàn ông. Cả hai người còn trẻ tuổi. Người con gái chừng 23 tuổi, dáng người cao gầy, cỡ chừng 1 thước 60, da ngăm đen bị thương ở bụng. Người con trai cỡ 21 tuổi, bị thương gãy xương đùi phải. Trái với người con gái, anh này có da có thịt, da trắng xanh, trông mặt mũi cũng khá sáng sủa. Tôi đã mổ cho hai người này, săn sóc họ cũng giống như những người dân khác, không phân biệt thù hay bạn. Sau khi mổ xong, chuyển họ qua Phòng Hậu Giải Phẫu. Nhân viên an ninh đến ngay canh chừng, dùng còng số 8 khoá tay họ vào thành giường.

Tôi biết bị khóa như vậy thì khổ sở lắm. Tay sẽ mỏi, tê buốt vì ở trong một vị thế lâu hàng giờ. Cũng may, tay họ bị khóa dọc theo thành giường chứ không vắt lên trên khung sắt cong đầu giường. Nếu như vậy sẽ càng mỏi, tê ghê gớm hơn. Tôi được biết điều này vì từ khi hồi còn là sinh viên Y Khoa, tôi truyền nước biển cho một người bệnh uống thuốc ngủ tự tử. Vì bệnh nhân dãy dụa nằm không yên nên y tá phải cột cánh tay cô ta vào một cái nẹp gỗ để cánh tay không co lại được, tránh cho tĩnh mạch khỏi bị kim đâm xuyên qua. Khi truyền xong, cô ta tỉnh dậy và than chỗ khủy tay bị cứng lại, co vào thấy đau, tê lắm. Nay, những tù binh này bị còng vào thành giường cả ngày, không biết sẽ tê nhức đến thế nào.

Lúc đầu, hai người rất ít nói, rất dè dặt. Ai hỏi gì chỉ trả lời tiếng một, mặt tỉnh bơ vô cảm giác. Nhưng sau vài ngày, thấy chúng tôi đối xử với họ như những bệnh nhân khác, trong ánh mắt của họ đã mất đi vẻ nghi kỵ lạnh lùng.

Sau hai ngày ở Phòng Hậu Giải Phẫu, tôi cho chuyển họ xuống trại Ngoại Khoa, vết thương bụng của người con gái lành khá nhanh theo như dự đoán, không có biến chứng gì cả. Nhân viên Phòng Nhì của tỉnh vẫn canh chừng nhưng hơi lơi là một chút. Thay vì ở đó suốt ngày, nay họ chỉ tới thăm chừng một ngày hai lần. Họ không sợ tù binh đào thoát vì tay tù binh vẫn bị khóa vào thành giường như cũ.

Người con gái đã có thể ngồi dậy ăn uống. Nếu có nhu cầu vệ sinh, cô ta có thể gọi y tá tới giúp. Vì nhu cầu sinh tồn, cô ta đã làm quen được những người bệnh cùng phòng và họ sẵn sàng giúp đỡ cô ta khi cần.

Sự hiện diện của một tù binh bên địch ở trong trại Ngoại Khoa chẳng làm cho mọi người để ý hoặc xử sự gì khác lạ. Một vài bệnh nhân vì tò mò, có lần tới xem mặt người tù binh nhưng không có thái độ căm thù hay oán ghét gì cô

Tôi nhận thấy đó là một điều khác thường. Trên chiến trường thì ăn thua đủ, sẵn sàng nhả đạn tiêu diệt kẻ thù nhưng khi bị thương vào bệnh viện, mọi người chỉ là bệnh nhân thôi. Cùng là người Việt cả. Có thể cùng nói một thứ tiếng, cùng một phong tục tập quán nên dễ thông cảm nhau chằng. Cũng có thể là cuộc chiến tương tàn giữa những người Việt với nhau không phải do họ hay những thường dân vô tội, mà do một nhóm người lãnh đạo đầy tham vọng quyền lực đã áp đặt, đưa đẩy họ vào. Tôi chắc chắn rằng họ cũng như tôi, chỉ mong có một cuộc sống bình an, không có tiếng súng, không chết chóc, hận thù. Cho nên chúng tôi, y sĩ và y tá đều cố gắng chữa lành những vết thương cho mọi người, không phân biệt ta hay địch trên phương diện y khoa. Tuy nhiên, vì chúng tôi đang ở trên hai chiến tuyến khác nhau nên tôi vẫn phải đề cao cảnh giác, vẫn để ý canh chừng.

Chúng tôi đối xử họ với tinh thần nhân đạo, nhưng làm sao biết được trong lòng họ nghĩ gì. Bởi vậy tôi căn dặn Trung sĩ Lạng, Y Tá Trưởng trại không nên phóng tâm ỷ y. Mặc dù canh giữ tù nhân là trách nhiệm của An Ninh Tỉnh nhưng mình cũng có một phần trách nhiệm nếu có điều gì xảy ra ở trại của mình.

Sau 10 ngày, vết thương bụng của cô gái đã lành hẳn. Tôi tháo băng cắt chỉ và sẵn sàng trả cô lại cho Ty An Ninh Tỉnh. Những ngày cuối cùng ở bệnh viện, cô ta có vẻ cởi mở hơn nhiều so với những ngày trước. Tôi đã thấy được nụ cười trên môi cô và những câu trả lời cũng đỡ khô khan cộc lốc. Các nhân viên An Ninh càng ngày càng ít tới canh chừng tù binh, có khi hai hay ba ngày họ mới tới một lần.

Những hôm bị pháo kích, tôi đi ngang qua phòng cô ta thấy cô ta mặt mũi xanh dờn vì sợ. Cô chui xuống gầm giường bệnh, một cánh tay vẫn bị khóa chặt vào thành giường khiến cho mọi cử động của cô ta rất khó khăn. Tôi nghĩ bụng, thì ra cô cũng sợ pháo kích của các đồng chí của cô.

Có một lần, cô ta nói với tôi:

– Xin bác sĩ cho mở cái còng cho tôi giùm. Tôi hứa sẽ không trốn đâu.

Tôi lắc đầu:

– Tôi không có chìa khóa.

Dù có chìa khóa, tôi cũng không dám mở tuy tôi thông cảm nỗi khổ của cô. Ngày hôm qua, sau khi tản thương xong, tôi xuống trại Ngoại Khoa khám bệnh, vừa thấy tôi, Trung sĩ Lạng báo cáo liền:

– Thưa bác sĩ, còng tay cô gái tù bị sút ra rồi.

Tôi cau mày ngạc nhiên, hỏi:

– Sao vậy?

– Thưa bác sĩ, lúc nghe pháo cô ấy nhảy mạnh xuống sàn, không ngờ còng tuột khỏi bàn tay.

Tôi suy nghĩ, có lẽ trong thời gian dưỡng bệnh sau khi mổ, cô ta gầy đi. Bàn tay có thể nhỏ lại nên mới tuột ra khỏi còng. Tôi nhìn Trung sĩ Lạng, anh hiểu ý, vội nói:

– Tôi đã cho người canh chùng và đã báo ngay cho An Ninh Tỉnh biết, được nửa tiếng rồi mà sao đến giờ này vẫn chưa có ai tới.

Tôi vội đi tới phòng của cô gái tù binh. Tôi thấy cô ta đang ngồi trên giường nói chuyện với cô y tá Huệ một cách vui vẻ. Tôi bước vào phòng, cô ta ngẩng lên thấy tôi hơi mỉm cười, gật đầu chào. Tôi cũng gật đầu chào lại cô ta rồi hỏi:

– Tay cô có đau không?

Cô gái lắc đầu, trả lời:

– Dạ thưa không. Chỉ hơi trầy da một chút xíu thôi. Được thoát khỏi còng tôi thấy khỏe lắm.

Tôi hỏi tiếp:

– Thế vết thương ở bụng cô còn đau lắm không?

– Dạ thưa, bớt nhiều lắm rồi. Cám ơn bác sĩ đã cứu sống tôi.

Đây là tiếng nói “cám ơn” đầu tiên của người nữ tù binh tôi nhận được từ khi cô ta nằm bệnh viện. Thật khác hẳn thái độ nghi kỵ và đề phòng lúc ban đầu. Tôi nhờ cô ý tá Huệ mở băng bụng cho tôi khám lại vết thương, vết mổ đã lành. Tôi nói với người nữ tù nhân:

– Vết thương lành hẳn rồi. Cô có thể ăn uống như thường. Chút nữa An Ninh Tỉnh tới, tôi sẽ cho cô xuất viện để họ mang cô về bên Ty An Ninh. Bổn phận của chúng tôi tới đây là xong. Chỉ cần một tuần nữa, cô hoàn toàn bình phục, muốn làm gì cũng được.

Cô cúi đầu xuống, lộ vẻ lo âu khi nghe thấy tôi chuyển cô lại Ty An Ninh Tỉnh. Tôi vội trấn an cô:

– Cô đừng lo, cô mới lành bệnh xong, sang đó họ sẽ không làm gì cô đâu. Họ chi hỏi cung là cùng. Chắc chắn không có tra tấn gì đâu.

Nói đến đây, hai nhân viên An Ninh Tỉnh tới. Sau khi các thủ tục giấy tờ đã ký xong, cô gái bị còng hai tay lại rồi theo nhân viên an ninh ra xe đi về Ty An Ninh Tỉnh. Sau này, khi tôi được lệnh dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để tổ chức một Phòng Mổ cấp Cứu ở đó, tôi lại có dịp gặp cô gái tù binh. Tôi ngạc nhiên khi thấy cô này chẳng bị còng tay gì cả mà lại đi đứng tự do như mọi người. Cô trông có vẻ khỏe mạnh, nước da trắng hơn trước, nét mặt vui hơn và có vẻ yêu đời hơn. Cô trông thấy tôi, mỉm cười gật đâu chào tôi. Tôi cũng gật đầu chào lại, không trao đổi câu nào. Trong lòng tôi hơi thắc mắc sao người tù nhân bên địch lại được tự do sống ngay trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu như vậy.

Có thể cô ta đã hồi chánh rồi chăng?

Còn người nam tù binh, từ khi xuống trại Ngoại Khoa, những ngày đầu, tôi thấy anh ta không nói gì. Tôi cũng không hỏi, chỉ khám bệnh và săn sóc vết thương cho anh ta như những bệnh nhân khác. Anh ta được đặt sát ngay phòng tôi. Xương đùi bị gãy nên tôi phải kéo xương đùi bằng cách dùng một hệ thống ròng rọc và tạ nặng 10 ký.

Mấy ngày đầu, bệnh nhân sẽ thấy rất đau, nhưng rồi sẽ quen đi. Sau 10 ngày, tôi cho chụp lại hình xương đùi thấy chỗ gãy đã thẳng hàng với nhau. Tôi liền bó bột để giữ xương ở vị trí và tránh lệch lạc. Cổ tay trái của anh ta vẫn bị còng vào khung giường.

Có một lần, anh ta năn nỉ tôi đi kiếm cho anh một cái cưa sắt để anh cưa đứt còng cho thoải mái. Anh ta lấy lý do chân bị gãy, anh ta không thể trốn đi đâu được. Cũng như đối với cô tù binh kể trên, tôi trả lời anh ta là tôi không có cưa sắt và nếu có, tôi cũng không dám đưa. Tôi nói với anh ta rằng tôi sẽ cho An Ninh Tỉnh biết để chuyển anh đi nơi khác vì tình trạng sức khỏe của anh ta hiện giờ đã ổn định, không cần nằm bệnh viện nữa.

Nhưng điện thoại đã bị cắt. Bệnh viện đã bị cô lập, tôi không thể liên lạc với An Ninh Tỉnh được, thành ra anh ta vẫn phải nằm tại bệnh viện. Anh ta đã thoát chết mấy lần pháo.

(Sau khi tôi được lệnh di chuyển sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, trong lúc bận rộn thu xếp đồ đạc dụng cụ y khoa mang đi để thiết lập một Phòng Mổ cấp Cứu, tôi cũng không quên dặn dò Trung sĩ Lạng nhớ săn sóc cho người tù binh, kiếm thức ăn cho anh ta ăn, sau đó tôi mới yên chí ra đi.)

Ba Cụm

Chim Việt

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Sau năm đình chiến năm 1954 hiệp định Geneve, tình hình an ninh lập lại, nhân dân miền Nam được hưởng lại cảnh hoà bình. Tình cờ tôi gặp lại người bạn đồng hương anh Bảy Lâu, người bạn học trò khi còn ngồi lớp đồng ấu (Enfantaire) cho tới cùng nhau thi đậu bẳng cấp Tiểu học lớp Sơ Đẳng (Elementaire).

Anh Bảy Lâu là đứa con út trong một gia đình có tới 5 chị gái, nên khi sanh tới anh là trai ba má anh cho anh xấu háy? nên trên đầu anh có chừa ba vá, đặc biệt là sau ót anh, vì để vá nên có cái đuôi rùa dài xuống sau lưng. Thời kỳ lên tới lớp Dự Bị (Preparatoire) tuổi học trò cỡ đó lớn hơn lớp nhỏ Đồng Ấu, nhưng lại nhỏ hơn lớp Sơ Đẳng. Đầu hớt trọc (Carre) áo thung quần xà lỏn lớp mà người ta cho là nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.

Cách phía sau công sở Thới Thuận một cái sân rộng lớn, chung quanh có trồng cây cao bóng mát, trường học trên một nền cao gần bìa rừng. Lúc chạy dỡn trước sân trường khi cao hứng đồng ca bài Mạnh Lệ Quân, bắt chước trong dĩa hát của thầy Năm Tú tại Mỹ Tho dĩa Pathe, Phono nghe chơi…Buổi sớm mơi con ra kinh thành dạo chơi…Con mới tới nơi, ông liền đánh con…Nhờ con chạy mới còn đây mẹ…Ca xong câu này thì cùng nhau rượt bắt Lý Đạo Tông (anh Bảy lâu) khi bắt được Lý Đạo Tông rồi, thì hai đứa ôm chặt hai tay, rồi mỗi đứa trong bọn vuốt sau đuôi rùa anh cái nhẹ … rồi cười…anh củng cười theo…

Trong truyện Thuyết Đường có ông Lý Đạo Tông đi dạo ngoài thành, có đám con cháu dòng họ Tiết, đè ông xuống đứa nhổ râu, đứa nhổ tóc, sau đám này bị bắt về tội toàn gia chu lục. Nhưng khi tới tôi vuốt đám tóc đuôi rùa đó, tôi không nói vuốt tóc Lý Đạo Tông mà tôi nói giựt chóp mao con Hồ Lôi Báo (củng trong truyện Thuyết Đường, có ông tướng Thượng Sư Đồ có con ngựa thần trên đầu có chòm lông, khi giữa trận tiền gặp nguy Thượng Sư Đồ nắm chóp mao con Hồ Lôi Báo giựt mạnh tức thời nó hét lên một tiếng tất cả con ngựa bên địch đều quỵ xuống. Nhưng đời của con ngựa này chỉ hét có 3 lần. Cho nên anh Bảy Lâu thấy tôi vuốt đuôi rùa của anh mà nói Hồ Lôi Báo thì anh không hét lên như ngựa thần mà anh về thưa thầy. Cho nên thay vì đám ngựa bị cóng giò thì đám học trò bị quỳ mỏi gối…

Những truyện vui thưở học trò tụi tôi còn nhiều thứ nửa. Khi cùng thi đậu bằng Tiểu học, anh có đủ phương tiện lên học trường Mỹ Tho, còn tôi không đủ phương tiện đi học xa nhà nên ở nhà làm công tử!

Đám học trò đó lớn lên kẻ ngược xuôi, người ngang dọc lập thân. Hôm nay tình cờ gặp lại tiệm cà phê Nam Sơn một tiệc này không đủ cho đôi bạn đồng hương bấy lâu xa cách hàn huyên cho phỉ dạ. Bảy Lâu nhất định mời tôi lên nhà anh ở chơi vài ngày. Nhà anh trên vùng Xoài Hột, không biết anh định cư lập nghiệp đây hồi nào, nhà 3 căn lợp ngói trong một khu vườn đầy cây ăn trái nằm cạnh con rạch Xoài Hột. Trong nhà đầy đủ tiện nghi, tủ cẩn, salon, đi văng gõ, dưới nhà cầu mé rạch có hai chiếc ghe chở trái cây đi bán.

Anh kêu vợ con ra giới thiệu tôi là bạn đồng hương, dân tài tử, giờ là thợ may đồ Tây, trước kia là dân công tử tại làng. Hôm nay nhà anh Bảy Lâu dưới bếp lăng xăng phụ nữ nấu ăn, trên nhà thì trai tráng lo dọn dẹp bàn ghế mượn.

_Bữa nay nhà anh có đám cúng gì mà lối xóm lại phụ giúp đông đảo vậy?

_Nay là ngày lễ Thanh Minh, củng là tới phiên tôi tổ chức.Mỗi năm tại đây đều luân phiên tổ chức lễ cúng Thanh Minh tập thể. Ban khánh tiết vùng này mỗi năm có tổ chức lễ Thanh Minh, năm nay tới phiên tôi được tổ chức, nên gặp anh là một dịp may, mời anh lên chung vui quen biết được một lễ Thanh Minh duy nhất tại vùng này.

Khi con heo quay về tới nhà tất cả lối xóm ăn mặc chỉnh tề đồng đi ra ngoài mé song Cửu Long ca5mh đường lội xe đi Rạch Gầm.Khi đoàn đi tới một nghĩa trang nằm phía ngoài bờ song Cửu Long tất cả đều vô đó… và tiệc cúng bằng con heo quay, che xôi, hoa quả, bày ra giữa đám mả trong nghĩa trang, nơi đây được dọn dẹp sạch sẽ cỏ cây, đường xá ngay thẳng từng hàng. Khi khởi sự cúng anh Bảy Lâu đưa cho tôi một bó nhang đã đốt anh nhờ tôi là người khách lạ mới tới dự lễ này, mỗi cái mả cắm một cây nhang. Mỗi cái mả đều có làm dấu một cây thánh giá sơn trắng. Nhưng có một điều làm tôi ngạc nhiên tại sao cả mấy chục cái mả mà tôi đi cắm nhang, trên cây thánh giá lại không ghi tên người nằm dưới mộ? sau đám cúng Thanh Minh, về nhà anh Bảy Lâu bày ra làm tiệc chung cùng nhau ăn uống chuyện trò than mật.Giờ đây tôi mới biệt được cái tiểu sử nghĩa trang mới làm lễ cúng Thanh Minh, nó được mang nhiều cái duy nhất.

*Một nghĩa trang duy nhất tại xứ Nam kỳ

*Duy nhất… có cắm bia mà không có tên người nằm dưới mộ

*Duy nhất…không có thân nhân tảo mộ hằng năm.

*Duy nhất, già trẻ, trai gái, giàu nghèo đều cùng chết một đêm.

*Duy nhất được dân vùng Xoài Hột luân phiên cúng Thanh Minh tập thể.

Cái nghĩa trang mang nhiều duy nhất đó là nạn nhân của chiếc tàu đò đưa khách trên con đường Sài Gòn-Trà Vinh chiếc tàu đò đưa khách đó có tên là Đồng Sanh! Mỉa may thay nó mang tên Đồng Sanh .. mà lại là Đồng Tử? Chiếc tàu đò này nó bị chìm khi từ trên Vàm Kỳ Hôn chạy xuống gần tới Vàm Giao Hoà nhằm con nước lớn có nhiều ngọn sóng thần từ cửa Tiểu và cửa Đại tạo nên giới thương hồ gọi là ngã ba Tam Điền.

Trước đó không lâu củng có chiếc tàu hiệu Quay Lợi (Hoai Lợi) củng chạy con đường này nhưng chiếc tàu này khi bị song đánh gần chìm nhờ tài công tỉnh trí, cho tàu chạy đại vô bờ vì vậy mà không bị thiệt hại về nhân mạng bao nhiêu. Tối lại khi lối xóm dọn dẹp xong ra về, anh Bảy Lâu cùng tôi ra sau phía vườn có cất cái nhà để chứa trái cây mới hái từ chung quanh vườn đem vô đây mới lựa tuyển thứ tốt vô bội chở đi. Hơn mười mấy năm hai đứa trong ban tài tử bỏ túi Thới Thuận mới gặp lại đàn ca, anh cây Guitar, tôi cây Kìm, cố ôn lại những bài bản trước kia rồi thâu lượm nhưng bài bản ngày nay.

Giờ phút này tôi vẫn còn bị cái nghĩa địa Đồng Sanh ám ảnh, sau khi chiếc tàu đò chạy đường Sài Gòn – Trà Vinh chìm. Thời gian sau vùng cù lao An Hoà, có một bài ca vọng cổ Tàu Đồng Sanh chìm vào Giao Hoà. Bài ca này tôi không có học vì nó buồn quá. Nhưng có nhiều người họ ca nên tôi củng thuộc được nửa bài vọng cổ đó. Bảy Lâu đờn, tôi ca:

_Ôi cuộc đời thật là tang thương biến đổi.

_Kiếp nhân sinh dường như trong giấc mộng hoàng lương.

_Từ Sài Gòn ra Kỳ Hơn tới Giao Hoà tôi vẫn vui cười có ngờ đâu là

_Tới sông Cửu Long giang chổ người ta gọi là Tam Điền

_Thình lình phong ba dội thổi, phần bọn học trò chạy qua lại, làm cho tàu nọ phải nghiêng.

_Than ôi ngọn sóng thần nó vừa chụp qua ngọn thứ nhì

_Lần lần tàu kia riễu hạ tiếng cha khóc con kêu bên tai nghe thảm thiết bi ai.

_May sao tôi tỉnh mới cởi giày lột áo phóng đại ra ngoài

_Tôi ôm được cái phao mà phú cho ngọn song thuỷ triều

_Khi tỉnh lại thấy chung quanh mình tôi lao nhau lố nhố kẻ lo hơ lửa người lại cho uống nước gừng. Theo như nạn nhân còn sống sót nạn tàu chìm này. Nguyên vì cuối năm học trò các nơi như Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh về nghỉ Tết Nguyên Đán. Những chuyến tàu gần Tết củng nhận chở hàng hoá về bán Tết cho nhiều cùng với đám học trò mất bình tĩnh khi thấy ngọn sóng thần đánh vô thân tàu rồi sợ nên chạy qua chạy lại vì tàu chở hàng hoá quá khẳm nên chìm luôn.

Giữa đêm khuya sóng lớn mênh mông, không biết bên nào là bờ cho nên trọn đám hành khách tàu Đồng Sanh chết chìm gần hết. Nhà cầm quyền thời đó mới vớt những thây ma trên song Cửu Long từ Vàm Giao Hoà tới Thị xã Mỹ Tho đem lên chôn chung trên Vàm Xoài Hột rồi xác tàu Đồng Sanh củng kéo bỏ gần Vàm Xoài Hột. Thân nhân nạn nhân đâu biết tin tức gì về vụ tàu chìm, vì thời đó hệ thống thông tin không đủ, như báo chí và đài phát thanh trong dân chúng hằng ngày như ngày nay. Khi thấy đã tết mà không thấy họ về tới nhà mới biệt đã bị tai nạn đó. Sự cố gắng của chính quyền thời đó nội lo chôn cất gần cả trăm thây ma là cả vấn đề khó khăn rồi. Nhưng lý lịch nạn nhân nếu có thì củng bị ngâm nước mấy ngày, giấy mực thời đó mà bị mấy ngày ngâm nước củng không sao coi được cho rõ ràng. Cho nên những nấm mộ vô danh tại nghĩa trang Đồng Sanh đó, không có tên họ là gì hết, chỉ chôn riêng một bên nam, một bên nữ.

Cho tới ngày nay ghe thương hồ đi dưới sông củng thấy mà trên đường lộ đá khỏi cầu sắt Xoài Hột đi ngang qua củng thấy, một nghĩa trang duy nhất của xứ Nam kỳ. Trong khi đó trên Sài Gòn trước kia kêu đất thánh Tây hay đất thánh Mayer vì nó toạ lạc ở góc đường Paul-Blanchy-Mayer, sau này kêu là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, có lẽ nghĩa trang đó có hơn cả trăm năm nay. Nay thì nó không còn, nó bị bọn VC sang bằng làm vườn trẻ!!

 Đêm khuya giữa khu vườn thanh tịnh, tôi nghe tiếng đờn Guitar của anh Bảy Lâu thật điêu luyện còn tiếng đờn của tôi thì từ hôi nào cho tới giờ vẫn vậy. Tôi mới biết, từ khi lập gia đình mà anh Bảy Lâu vẫn có thời giờ vô chợ Vĩnh Kim học thêm nhiều bài bản cổ nhạc với các danh sư trong đó. Giờ thì nghỉ đờn, để hai đứa bắt đầu tâm sự cuộc đời mấy năm qua. Tôi mới tâm sự đời của tôi trước cho anh nghe:

Sau khi thi đậu với anh, anh thì lên đây học thêm, còn tôi thì ở lại cùng nếp sống lêu lỏng vui chơi như ngày nào. Nhưng biến cố lớn là tôi đã nặng lời nguyền với một thôn nữ, cái cô đi học mà có mang theo gói cơm, tan học mấy cô cùng chung lại ăn cơm phía sau nhà công sở đó, nhưng cô ấy chỉ học tới lớp dự bị thì thôi. Gia đình cô và gia đình tôi cùng chung một nghề: buôn bán tôm khô. Khi đi tới hôn nhân thì bị trở ngại là không hợp tuổi, kẻ Dần, người Hợi. Rồi bị cái vụ đờn ca tài tử này, ông Mười Thao điền chủ ở quận An Hoá là bà con với gia đình tôi, nhân dịp con gái ông thi đậu bằng cấp gì đó nên ông ăn mừng, tổ chức tiệc vui, có tổ chức đàn ca tài tử trên làng Song Phước xuống, ban tài tử dưới Thới Thuận lên.

Đó là tiệc mừng chị V. thi đậu mà sau đó ông Mười sẽ cho đi Pháp học (Sau này là nữ luật sư Nguyễn Thị V. con ông Mười An Hoá). Đám tài tử trên Song Phước là nơi quê hương nghệ sĩ Tư Chơi tức Huỳnh Thu Trung. Trong đêm hoà đờn giao nghĩa hai làng chung một quận An Hoá, củng là đêm tôi bị gia đình bí mật giới thiệu với gia đình một thiếu nữ ở làng Song Phước. Thiếu nữ đó biết mặt tôi, mà tôi không biết cô đó, mà lại là người vợ tương lai. Cho tới khi bên gái theo lời mời của gia đình tôi xuống Thới Thuận thăm xã giao đặng chot ôi biết mặt vì tôi không chịu đi coi vợ! Công chuyện nhà tôi, tôi không biết gì hết vậy mà nàng lại biết. Rồi một đêm dài hò hẹn nhau lần chót để giã từ ai đi đường nấy. Chớ chi đêm đó nàng khóc lóc thở than cho duyên nợ thì không đến nổi. Đằng này nàng lại an ủi khuyên tôi nên nghe theo gia đình mà kết duyên với người từ trên Song Phước, mặt hoa da phấn mới xứng đôi với tôi. Nàng chấp nhận hy sinh mối tình đầu, kể như có một đời chồng rồi. Lại còn tặng tôi một kỷ vật nếu cần thì bán xài vì biết tôi là thuộc hạng tiền phát gạo đong! Tôi gây tội lỗi với nàng quá đỗi nàng chưa về làm dâu mà tôi đã làm rễ, củng vì bên trong cạnh tranh thương mại, một áp lực đầy quyền lực, chúng tôi đành ân hận mà chia tay nhau. Sẳn có chất nghệ sĩ lãng mạn trong tâm hồn, tôi sống trong hạnh phúc với duyên mới, mà thấy nàng đau khổ vì tôi, tuổi trẻ bồng bột rồi một đêm tôi trốn gia đình đi tìm người dì có tiệm masy tận trong tỉnh Sóc Trăng và ở đó hoc thi công thành thợ may ngày nay như anh biết.

Giờ tới phiên anh Bảy Lâu tâm sự, sau khi thi đậu cùng khoá với anh tôi được người cô bà con vùng này nuôi cho ăn đi học, hoc tiếp bằng sơ học. Cô tôi là bà Hương Sư Tồn, cô có hai người con gái có chồng trong Thục Nhiêu và Nhị Quý. Ông Hương Sư chết, cô tôi mươn cặp vợ chồng nông dân ở năm, chồng làm vườn, vợ lo cơm nước cho cô tôi, phía cuối vườn cất cái nhà cho cặp vợ chồng này ở, đặng ban đêm canh chừng những kẻ phá phách vô phá cây trái.

Từ khi ông Hương Sư Tồn chết, cô tôi tu tại gia, mỗi đêm có tụng một thời kinh tới khuya. Bổn phận tôi thì lo nấu nước pha trà khi có khách, khi cô buồn tôi đọc thơ, đọc chuyện cho cô nghe. Mỗi sáng đi học tôi xách theo một gà mên cơm, khi xuống đến chợ thì tôi gởi xe đạp và cơm cho hãng cà rem cây, tôi lãnh một thùng cà rem cây đem vô trường chờ giờ ra chơi đặng bán, tan học lại hãng cà rem cây ăn cơm và tới giờ củng đem theo một thùng cà rem cây vô trường bán buổi chiều.

Ngày thứ Năm và Chủ Nhật, tôi lãnh sổ sách đàng công sở đem về làm phụ với ông Biện làng. Tôi kiếm được một chút tiền nhờ hai công việc này, vì ngồi ở lớp Court Superieu, tôi cần một số tiền để mua sách và sắm quần áo đồng phục theo nhà trường. Gia đình cô tôi khá giả, nhưng cô nuôi tôi là một điều quý, gia đình tôi đâu có khả năng cho tôi lên Mỹ tho học thêm, lấy bằng cấp Sơ Học đặng làm thầy?

Anh có nhớ năm mình đi thi có mười bốn trò, có bốn trò gái mà chỉ rớt hai trò trai, vậy mà trong tám trò đậu bằng Tiểu Học mà chỉ có mình tôi được lên Mỹ Tho vô học trường College, còn lại có lẽ lo cưới vợ rồi làm Làng. Trong trường tới giờ moral, thầy thường đem tôi ra làm đề tài để khuyến khích các bạn đồng lớp và thường ví với Trần Minh khố chuối. Vì vậy trong lớp tôi tuy là một đứa học trò nghèo nhưng vẫn được các bạn trai gái con nhà giàu kết bạn, có những cuộc lễ họ mời tôi về nhà chơi.

Rồi với một vốn liếng có sẳn về cổ nhạc trước ở dưới mình, nay lên đây mỗi khi có đám tiệc, có hoạ đờn ca cổ nhạc họ mời tôi tới dự. Trong Tứ Hữu: Cầm, Kỳ, Thi Hoạ không có môn nào xã giao bén nhậy bằng Cầm và Kỳ…Một chiều mưa gió có hai nhà sư ghé nhà bà Hương Sư xin nghỉ một đêm vì lỡ đường đi xuống chùa Vình Tràng, lúc đó chỉ đi xe ngựa, mà ngựa khi chiều cho ăn, thì có bao xe bao nhiêu chủ xe củng không đi được vì sợ bị đứt ruột.

Bà Hương Sư vội vã dọn cơm chay đãi khách lỡ đường mà lại là Sư. Tối lại, như thường lệ tôi nấu nước pha trà cho bà cô tôi tụng kinh. Một điều tôi thấy lạ.. Tại sao nhà sư lại nhà một tín nữ có tu, đáng lẽ khi tín nữ chủ gia tụng kinh thì hai nhà sư đó củng phải ra quỳ ngay bàn thờ Phật, hay là cùng chủ nhà thay phiên tụng kinh?

Sự tò mò tôi mới lần tới kẻ vách dòm lén vô phòng riêng, thấy hai ông sư không nằm nghỉ mà hình như đang bàn tán, rầm rì bí mật. Tới khi họ soạn gói đồ ra, tôi thấy không phải là kinh sách gì trong đó. Tôi mới bắt đầu đau bụng tôi la lớn lên, vợ chồng người làm vườn nghe tôi la mới chạy lên phụ với cô tôi cạo gió thoa dầu, nhưng khi đụng tới mình tôi thì tôi la làng… tôi lăn lộn như người gần chết tới, lối xóm nghe nhà bà Hương Sư có tiếng ồn ào, họ thắp đuốc lại củng không ai dám đụng tới mình tôi… tôi vẫn la làng…

Nghe thấy động tỉnh ông Chánh Hương Quản mới đem tuần lại nhà bà cô tôi , tới khi thầy được mặt ông Hương Quản M. Ông lại gần hỏi thăm , tôi mới ôm ông kéo xuống sát mặt tôi, nói nhỏ… ông vô trong phòng khách … bắt mấy ông thầy chùa…

Thiên hạ lối xóm tới đông nghẹt như vậy mà hai ông sư vẫn ở trong phòng , khi ông Hương Quản M. xô cửa bước vô cùng đám tuần bắt khoá tay…chừng đó tôi mới chạy vô biểu dân tuần xét gói hành lý của hai ông thầy chùa, thì thấy có con dao găm và một xâu chìa khoá đủ thứ để mở tủ sắt… Hai tên đầu trộm đôi cướp liền bị giải xuống Mỹ Tho. Kể từ ngày đó về sau, địa vị tôi đối với gia đình cô tôi đổi khác và củng đổi khác với làng này, chưa có đứa nào cỡ tuổi tôi mà khôn như người lớn? Nhưng tôi củng không tiếp tục học đặng thi bằng Sơ Học, vì một phần phải lo công chuyện nhà cho cô tôi, và một phần lớn là tôi chỉ thích đi học đờn ca tài tử mà thôi! Rồi cô tôi lo vợ cho, gia đình bên vợ là hai anh em song sinh, ông già vợ tôi là vai em lại là dân cờ bạc, chuyên về đá gà nòi. Anh củng biết là bộ sách tướng về gà nòi của ông Lê Văn Duyệt là phát xuất ở đây, vì vùng này là quê hương ông.

Còn người bác vợ thì mê về võ nghệ, bắn cung. Thừa hưởng phụ ân không biết được bao nhiêu, nhưng người bác vợ đi làm ăn xa đem về cho ông già vợ tôi một số tiền lớn tạo thêm gia sản có ba mẫu vườn. Nhưng ông già vợ tôi lập tại đây một trường gà thật lớn, tới mùa các nơi quy tụ về đây kêu là trường gà Xoài Hột. Sau khi uỷ quyền cho người em, ông bác vợ lên đường phiêu lưu với một người con gái có hai giòng máu, mà người ta thường kêu là Xẩm Lai. Khi lập trường đá gà nòi tại đây, ba vợ anh ta đã bán hết hai mẫu vườn, nay chỉ còn lại một mẫu mà vợ chồng anh hưởng phần hương hoả. Năm độc lập 1945 ba vợ anh bị việt Minh xử tử về tội cờ bạc, má vợ anh rầu buồn củng chết theo chồng. Nay tuy là thừa hưởng của này của người bác vợ mà anh chưa từng thấy mặt người hào hiệp đó lần nào!.

**

Từ khi chiếc tàu Đồng Sanh chìm, một thời gian sau có một người triệu phú tỉnh Trà Vinh là ông Nguyễn Văn Kiệu mở lại chạy con đường này bằng loại tàu chạy bằng dầu Mazout, tàu lớn máy vững vàng không như loại tàu chạy bằng củi trước kia, chiếc khởi hành từ Sài Gòn, chiếc khởi hành từ Trà Vinh. Bến tàu Nguyễn Văn Kiệu nằm ngoài sông Sài Gòn, ngoài cột cờ Thủ Ngữ. Ông Nguyễn Văn Kiệu là anh ông Nguyễn Văn Hảo (rạp Nguyễn Văn Hảo). Tại bến Sài Gòn khởi hành vào lối 7 giờ tối, hồi đó vào giờ này ra bến tàu khi súp lê 3, tàu mở đõi, trên cầu người đua tiển người đi… dưới tàu vẫy tay, vẫy khăn, kẻ ở lại châu thành, người về lục tỉnh.

Tàu Nguyễn Văn Kiệu chạy xuống chun qua cầu Tân Thuận, chạy vô bến đò Long Kiên, chạy ngang qua sở rác đô thành. Khi tàu chạy qua đây hành khách bị một nùi khó thở, vì ngoài mé sông có mấy cái bồn lớn chứa toàn là phân người trong đô thành đem đổ vô đây, rồi từ đây họ đem qua khỏi cầu Rạch Ông mới đổ ra nền xi măng phơi từng miếng cho thật khô gói kín để bán cho nhà vườn.