Tâm Bịnh

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Tôi lên căn-tin uống cà phê chớ không có ý gọi điện thoại nhưng vì thấy hộp điện thoại treo bên vách được lau chùi bóng loáng, mới toan bèn gắn thẻ vô quay về nhà nói chuyện với vợ, con chơi. Nhưng Thanh không có ở nhà, sẵn tay bấm số thăm gia đình người bạn. Bên kia đầu dây, vợ anh bạn bắt điện thoại, nghe tiếng tôi, chị reo lên:
– Tấn hả, chừng nào dìa?
– Tuần sau chị. Không đợi tôi hỏi thăm sức khoẻ gia đình, như nguồn thác đổ, chị sổ một tràng:
– Anh dìa lần nầy ở nhà luôn đi, tội nghiệp con Thanh, hôm trước mẹ con chở nhau lên tui nè, qua hồi nói chuyện, tui thấy hình như nó bị stress hơi nặng, anh mà đi hoài có ngày nó bị điên mất.
– Ừa, muốn làm gì thì cũng từ từ chớ chị.
– Từ từ gì, tại anh hổng biết tánh nó, hơn nữa anh đi hoài đâu thấy được nỗi cơ cực khi đàn bà có con nhỏ. Như tui đây nè, mới có một đứa vậy mà vợ chồng thay phiên nhau lo còn hổng xuể huống hồ chi con Thanh,  mình ên nó mà ôm tới hai đứa.  Trong lúc chị ngưng lấy hơi, tôi lái câu chuyện bằng cách hỏi thăm sức khoẻ gia đình chị. Như con tàu xuôi dòng gặp chướng ngại vật, chị trả lời qua loa ngắn gọn rồi lái lại câu chuyện. Một hai chị thuyết phục tôi phải bỏ việc làm về nhà sống với vợ con. Theo chị thì ra nước ngoài rồi không mần cũng có ăn, đi tàu làm chi xa nhà xa cửa bỏ vợ bỏ con. Chị nói tràng giang đại hải, tôi hổng muốn nghe cũng không được. Cúp máy ngang sợ mất lịch sự, đành phải cầm chặt ống nghe nghe chị dạy bảo, tới khi điện thoại báo thẻ sắp hết, chị còn ráng thòng thêm một câu:
– Về bờ sống tiện tặn cũng được mà, anh coi trong nghĩa địa có ai vì bị thất nghiệp đói chết đâu.  Điện thoại cúp, hết sạch tấm thẻ mười đồng, gát ống nghe, tôi ngơ ngẩn nhìn ra ngoài. Hải cảng Delta Rotterdam mới khánh thành vài năm gần đây. Kè đá, cần trục, xe vận tải tất cả đều mới toan, trên sân bến không một cọng rác và trong giờ làm việc mà lưa thưa bóng người. Giàn cần trục di chuyển đều đều câu từng container để lên chiếc xe không người lái cũng không gây một tiếng động. Những chiếc xe giống như những con bọ khổng lồ cõng trên lưng vừa vặn một container nặng ba ngàn ký, lần lượt bò ngay hàng thẳng lối lên sân rộng và dừng lại cho cần cẩu móc xếp ngay ngắn vô các ô đã vạch sẵn trên một khoảng sân. Tôi đương ở trong thế giới máy móc mới mẻ mà trước đây chỉ thấy trong những phim khoa học giả tưởng. Cho nên khi nghe giọng điệu của chị ‘nó’ gợi lại trong tôi nỗi nhớ nhung về những chốn xa xôi nào ấy. Ngay bây giờ, trên đất nước tôi, biết bao nhiêu người đàn ông đi làm ăn xa, bỏ vợ lại nhà ôm con chờ đợi, mau thì hàng tháng, lâu thì hàng năm, bảy năm. Mỗi bận chồng ra đi vợ ở nhà vừa hy vọng vừa nơm nớp âu lo. Hy vọng ngày anh về sẽ được vinh hoa phú quí. Lo ngày trở về anh chỉ còn hai bàn tay trắng và anh có phải là chồng mình nữa hay không. Cực khổ biết bao nhưng vẫn ôm con kiên tâm chờ đợi.  Chị đuơng sống trên một quốc gia giàu có, thừa mứa thức ăn nêm chị không biết nhiều nơi trên trái đất nầy cũng có hàng vạn người thất nghiệp, đói chết nằm phơi xương trắng rừng. Ở Việt Nam cũng có năm bị thiếu ăn người chết nằm la liệt trên đường, chết đói làm gì được chôn trong nghĩa địa, chị cũng khéo nói thiệt. Phải xa lạ gì cho cam, hơn hai mươi năm trước tôi với gia đình chị vượt biển trên một chiêc nghe nhỏ xíu, sau mấy ngày đêm vất vã với  tụi hải tặc, tôi chứng kiến chị nằm phơi trên bãi biển với thân thể bèo nhèo, áo quần rách nát gần như trần trụi, lúc đó không có những người từ tâm trên thế giới góp phần giúp đỡ chắc chắn chị cũng bỏ thây bên hải đảo hoang vu. Người ta cho chị qua đây định cư vì lòng nhân đạo chớ có phải mời chị qua tiệc tùng gì đâu mà ngồi không ăn khơi khơi còn nói ra những lời bất nhân bất nghĩa. Sống trên một đất nước tuy giàu có nhưng người đông việc làm ít, nạn thất nghiệp nhà nước coi như trận giặc, có một việc làm đàng hoàng để khỏi sanh “giặc” là lương thiện lắm rồi, tôi đâu dám đòi hỏi gì hơn.  
Ba tháng trên tàu, tuần nào tôi cũng điện thoại đôi ba lần về thăm vợ thăm con. Thỉnh thoảng tàu về Rotterdam Thanh cũng có chở con xuống thăm. Mới hôm kia điện thoại về mẹ con cười, nói vui vẻ và bàn tính năm nay sẽ qua Tây Ban Nha nghỉ hè. Tôi có nghe thấy triệu chứng tâm thần nào đâu. Chẳng lẽ đương không nổi khùng bất tử. Hơn nữa Thanh gặp chuyện rắc rối hoặc tinh thần bất ổn thì điện thoại nói với tôi, có đâu chạy xe cả giờ đồng hồ lên nhà chị than thở. Nhà ở cách nhau cả trăm cây số, xuân, thu nhị kỳ mới gặp nhau, ăn một bữa, nói chuyện vài câu. Hiểu được gì mà chị dám quả quyết hiểu vợ tôi còn hơn tôi nữa.  Muốn bấm số gọi về nhà nhưng thẻ không còn. Hôm nay nắng đẹp, mới hơn mười giờ sáng, có lẽ Thanh vừa dẫn con đi chơi đâu đó. Tôi lững thững bước ra khỏi căn tin trong không khí đầu mùa hè ấm áp.
– Papa kìa.. papa kìa.. papa kìa…. Tôi day lại, ngạc nhiên thấy đứa con gái đầu lòng giọng đớt đát vừa kêu Papa vừa a tầm phù chạy tới, con nhỏ mới hơn năm tuổi mà lanh quá chừng, miệng mồm tía lia. Tôi cúi xuống đưa tay đón bồng nó lên. Thanh tay bồng đứa nhỏ, tay xách giỏ đồ đi tới, miệng toe toét vừa cười vừa nói:
– Anh thấy em tìm đường giỏi không ?
– Ai chớ vợ anh là số một rồi. Đứa con gái thứ hai thấy tôi nó chồm qua đòi papa, tôi vói tay ẵm nó luôn và cùng Thanh đi xuống tàu. Mấy thủy thủ thấy gia đình tôi lục đục kéo xuống, có người chồm ra boong vẫy tay chào và hô lớn:
– Mày là thằng không tốt, vợ xuống thăm mà không cho biết.
Tôi nói:
– Tình cờ ông à. Risal thủy thủ người In đô chạy lên đón lấy giỏ đồ bắt tay chào và hỏi thăm sức khoẻ.
Thanh nói với nó:
– Hồi nãy tao có ghé tiệm Tàu mua cho tụi bây bịch ớt và mớ rau muống, định mua thêm mì gói nhưng tao xách hổng hết.
– Cám ơn chị, bao nhiêu đó cũng đủ tụi tui ăn tiệc lớn rồi.  Ban đêm trên tàu chỉ có tiếng rè rè của máy phát điện. Hai đứa con tôi nằm cạnh bên, bắt tôi gãi lưng cho chúng. Sau một hồi rờ mặt, móc mũi, móc mắt tôi đã rồi hai đứa mới chịu ngủ. Tôi nhìn hai đứa nhỏ ngủ ngon, con nít hồn nhiên, vô tư lúc nào cũng hiện trên gương mặt. Tôi nhớ ngày còn nhỏ, tôi sống trong một xóm lưới nghèo ven biển lúc đó tôi cũng rất vô tư,  lòng dạ thẳng như ruột ngựa. Ngôn ngữ của dân đánh cá dùng trao đổi, tâm tình hoặc khuyên bảo thậm chí họ chửi bới nhau cũng rất hồn nhiên chớ đâu đến đổi khó nghe. Ra nước ngoài sống trong xã hội văn minh lòng dạ con người ta sanh ra phức tạp và giọng nói trở nên cay cú khó nghe hơn. Vì vậy tôi không muốn sống trên đất liền, chung chạ với đồng hương phiền phức lắm. Tôi kê gối, đắp mền cho hai đứa con, day qua hỏi vợ:
– Vừa rồi em có lên nhà chị ba Lắm phải hông?
– Đâu có.
– Ủa.
– Sao anh ?
– Vậy ai bị stress ?
– Anh nói ai stress gì ?  Không muốn khui ra ba cái chuyện tào lao làm cho tổ ấm chúng tôi chộn rộn. Tôi bèn nói lảng sang chuyện khác.
– Anh nói với em tuần tới anh dìa, sao em còn chạy lên làm chi cho mất công.
– Mấy bữa nay con Lệ nói nhớ anh, hôm nay thấy trời nắng đẹp, biết tàu anh vô nhưng hổng biết giờ tàu chạy, em mới điện lên công ty hỏi. Họ nói tàu anh đậu lại đây mai mới chạy, em xin họ số bến cảng rồi sửa soạn đem con xuống cho nó chơi với anh. Người ta nhớ xuống thăm mà cũng cằn nhằn.
– Anh sợ em cực chớ cằn nhằn em đâu.
– Hồi nhỏ em theo má thăm ba cải tạo lên xe, xuống đò, đi ngày đi đêm nhịn đói, nhịn khát cực khổ trăm bề. Ở đây lên xe hơi nỗ máy chạy có hơn giờ đồng hồ gặp anh sướng thấy mồ, cực khổ gì đâu. Tôi lòn tay qua ôm và áp mặt vợ sát vô ngực mình. Cả hai yên lặng nằm nghe hơi thở của hai đứa con. Tội nghiệp, tôi làm ăn xa nhà, để một mình vợ ôm con xoay sở giữa cuộc đời đầy náo động. Mỗi khi gặp đồng hương Thanh phải chịu trận lắng nghe những lời dạy bảo, thậm chí có người khuyên Thanh nên bỏ tôi đi cho rảnh cái nợ đời. May mắn cho chúng tôi, đã sống với nhau ngót mười lăm năm cơm lành canh ngọt, bơ sữa chan hoà. Được như vậy đúng ra tôi phải tin tưởng vợ con lắm chớ, nhưng không hiểu sao ôm cái hạnh phúc trong tay mà lòng tôi cứ ngai ngái lo cho những ngày sắp tới.
– Anh, anh.
– Gì em?
– Em thấy anh kỳ kỳ sao ấy? Nghe giọng Thanh lo lắng, tôi giựt mình hối hận cho những suy tư vớ vẩn. Tôi xoa xoa lưng vợ và nói lời tâm sự: – Anh đương nghĩ trong một xả hội quá an bình làm con người ta sanh ra nhiều chứng tâm thần, riết rồi anh cũng hổng biết ai bịnh ai không. Giọng Thanh hờn trách:
– Em dẫn con xuống thăm anh, anh hổng lo mà anh lo chuyện đâu đâu không à, suy nghĩ bậy bạ có ngày anh bịnh chớ ai. Tôi giựt mình vỗ tay nhè nhẹ lên lưng vợ:
– Em nói đúng, vợ anh lúc nào cũng đúng.
– Xạo nữa đi.
– Ý chết ! Chút nữa anh quên mất.
– Quên gì anh?
– Lo chuyện hiện tại, lo cho em… – !!!
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Sáng nắng chiều mưa

Nguyễn Lê Hồng Hưng

  Nghe tiếng chào buổi sáng phía sau lưng, tôi day qua thấy viên thuyền trưởng và ông thợ máy già đứng trước phòng bếp, ông thợ máy chào lại viên thuyền trưởng, cùng lúc ông ngó ra ngoài thấy trời nắng chói chang bèn thốt lời khen:
– Trời hôm nay đẹp quá. Viên thuyền trưởng không khen, không chê nhưng cao giọng nói:
– Con người ta ngày nào cũng nói về thời tiết nhưng không ai làm gì được nó hết. Thợ máy đưa ngón tay cái ra gặt gặt, và hất hất cái mặt khen câu nói thuyền trưởng rất chí lý. Có lẽ viên thuyền trưởng cũng đắc ý với câu mà ông cho là tuyệt vời của một ngày mới bắt đầu. Ông cười một cái day qua tôi:
– Tôi nói có đúng không đầu bếp? Tôi nhớ ngờ ngợ ý nghĩa trong câu nói nầy của một danh nhân nào đó mà tôi đã đọc lâu lắm rồi và có rất nhiều người cũng đồng ý cho rằng không ai làm gì được với thời tiết hết. Riêng tôi thì thấy nó hoàn toàn vô lý, phải nói là quá xá hồ đồ, mặc dầu câu nói ấy của một danh nhân.  Người ta cần biết thời tiết để làm nhiều chuyện lắm chớ. Nè nhé, những người bình thường nếu biết trước trời sẽ mưa thì ra đường phải mang theo dù, trời lạnh thì bận áo ấm, nóng quá thì đi ra bãi biển; nhà nông, nhà vườn cần biết trước thời tiết ra sao để gieo trồng, ngư phủ biết khi gió lặng biển im thì cho ghe ra khơi đánh cá, gió giông mạnh thì cho ghe vô bờ hoặc tìm nơi an toàn bỏ neo tránh sóng. Hiện nay thời tiết toàn cầu thay đổi làm nhiệt độ trái đất tăng nhanh, gió bão bất thường… làm cả thế giới báo động, Liên Hiệp Quốc phải hợp các lãnh tụ của nhiều nước lại bàn thảo và tìm cách phòng chống. Nói chi xa, ngay trên tàu nầy, mỗi ca trực chính viên thuyền trưởng mở đài nghe tin tức khí tượng từng giờ để hướng dẫn con tàu, vậy mà ông quả quyết không ai làm gì được thời tiết hết. Thấy tôi lơ là trước câu hỏi, ông tưởng tôi không nghe nên lặp lại:
– Tôi nói có đúng không?
– Ông là thuyền trưởng nói ra cái gì thì có nhiều người cho là đúng cái đó, nếu tui có nói ông nói sai cũng chẳng sao mà. Không để ông kịp phát hiện ra câu trả lời ba phải của tôi, tôi bèn hỏi tiếp một câu cho khoả lấp:
– Ông ăn trứng chiên hay trứng luộc. Viên thuyền trưởng chợt nhớ ra giờ nầy là giờ ăn sáng:
– À, ông chiên cho tôi hai cái trứng với thịt ba chỉ.
– Ô kê.   Hồi nãy tôi hỏi trong bàn có người nào ăn trứng chiên không, ai cũng dãy nẩy, ọ oẹ, lè lưỡi chê trứng chiên thịt ba rọi có nhiều mỡ sợ mập nên không ai dám ăn. Bây giờ thấy tôi dọn ra cho thuyền trưởng tức thì con nhỏ theo thực tập và con nhỏ phụ thợ máy, hai đứa mập thù lù, cũng đòi ăn trứng chiên giống như viên thuyền trưởng.   Thói thường của con người ta ưa ăn theo, từ việc làm cho tới cách suy nghĩ, hễ nghe cấp trên nói ra cái gì là những người dưới phải làm và nghe theo cái đó. Trên tàu cũng vậy, phần đông thuyền viên thấy thuyền trưởng ăn món nào thì  hùa theo ăn món đó, thuyền trưởng khen món gì ngon thì cả đám khen theo. Thỉnh thoảng gặp thuyền trưởng sống vô kỷ luật thì y như rằng cả đám thuyền viên cũng sống theo y chang. Có một lần tôi dọn khoai tây trộn với cải xoăn(kale), thuyền trưởng mắt nhắm mắt mở ba chớp ba nhoáng, miệng mồm bị sao đó ăn cải xoăn mà ông nói là mồng tơi đất(spinach). Vậy là cả đám tuỳ tùng hùa theo cười chọc ghẹo làm như tôi là một tên đần độn không biết phân biệt giữa mồng tơi và cải xoăn là gì. Bực mình tôi xuống kho lấy bọc cải còn nguyên nhãn hiệu đem lên liệng lên bàn ăn, chỉ mặt mắng từng thằng và day qua to tiếng với viên thuyền trưởng. Ít ra nhờ cái quốc tịch Hoà Lan đỡ cho tôi lúc nầy, nếu tôi là người In Đô hay Phi Luật Tân chắc sẽ bị mất việc về cái tội phạm thượng.   Vừa dọn dẹp xong bữa ăn sáng thì xe hàng chở xuống giao mấy kiện thực phẩm, tôi phải nhận hàng và sắp xếp mọi thứ vào kho. Hôm nay còn có hai người Ukrainia xuống thay cho con nhỏ phụ máy, con nhỏ phụ thuyền phó và một thợ máy trẻ thay ông thợ máy già. Ba bốn người ở công ty kéo xuống mần gì hổng biết mà bắt tôi phải nấu thêm thức ăn. Sau khi lo xong cho gần hai chục miệng ăn, tới phiên cái máy rửa mắc ôn mắc dịch gì mà không chịu chạy làm tôi phải moi hết dĩa, dao, muỗng, nĩa ra rửa bằng tay. Bận rộn suốt ngày, bỏ luôn giấc ngủ trưa, khi xong việc thì đã quá buổi chiều. Tôi lên phòng tắm, tắm xong định nghỉ ngơi nhưng chợt nhớ hồi sáng tàu vào đập Brunsbutel tình cờ gặp tàu Hùng nằm chung một đập và cùng về Hamburg. Chúng tôi hẹn tối nay gặp nhau trên hội quán. Bây giờ tôi phải lên phòng thuyền trưởng lấy giấy tờ cá nhân để còn sửa soạn lên bờ.   Viên thuyền trưởng ngồi trước vi tính, nghe tiếng tôi bước vô ông ngoái lại khoát tay biểu tôi chờ một lát rồi ông day vô tiếp tục gõ vô bàn phím. Xong việc ông đứng dậy hỏi tôi:
– Ông muốn lên bờ hả?
– Dà, ông đưa tui seamen’s book. Thuyền trưởng khoát tay:
– Khỏi cần, tôi mới gởi e mail cho mấy người gác cổng nói họ không được làm khó ông nữa.
– Hổng lẽ mỗi lần ghé cảng là mỗi lần ông e mail cho mấy người gác cổng về chuyện đi đứng của tui sao. Thuyền trưởng quả quyết:
– Từ đây trở đi không ai làm khó ông nữa đâu, ông là người Hoà Lan mà. À nè, ông mua dùm tôi cây dao cạo râu được không?
– Dĩ nhiên. Viên thuyền trưởng lấy tiền ra định đưa cho tôi nhưng ngẫm nghĩ sao đó, ông cất tiền lại rồi day qua:
– Thôi, ông đi đi một lát tôi lên mua cũng được.   Tuy nghe ông nói vậy, nhưng lòng tôi không yên chút nào. Hơn hai mươi năm qua sống đời thủy thủ, đi khắp bốn phương trời, tôi gặp không ít phiền phức về cái quốc tịch thứ hai của mình. Nhứt là những năm gần đây nạn khủng bố khắp nơi, quốc gia nào cũng tăng cường đề phòng rất nghiêm nhặt. Để cho an toàn tánh mạng của các thủy thủ và kiểm soát buôn bán hàng hoá lậu hoặc khủng bố… Người nào đi ra khỏi vòng rào bến cảng phải gọi shuttle bus xuống đón, chớ không được đi bộ. Nhứt là ở những quốc gia đương phát triển, đội ngũ bảo vệ chạy xe tuần vòng bến cảng suốt ngày đêm, vậy còn chưa đủ, họ đặt  máy thu hình ở cổng rào để kiểm soát xe cộ mỗi bận ra vào.   Mặc dù Âu Châu đã thống nhứt người dân các nước trong cộng đồng có quyền tự do qua lại ranh giới, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng như vậy. Tôi tuy có quốc tịch Hoà Lan đã lâu năm nhưng mỗi khi đi đường để cái passport nằm trong túi chớ đâu có dán trên mặt. Bảo vệ còn phải thi hành nhiệm vụ của người ta nữa chớ, thấy người nào khả nghi thì họ có quyền chận lại coi mặt trước, sau đó mới hỏi passport và lục soát. Tôi là người da vàng luôn sống xê dịch trên những đất nước không phải của mình, gặp người không cùng màu da, bị họ nghi ngờ cũng là lẽ phải.   Thấy tôi lưỡng lự, viên thuyền trưởng gằn giọng: – Ông cứ đi đi nếu có thằng nào làm khó dễ gì thì ông cứ điện cho tôi.   Thuyền trưởng trên tàu là cha mẹ mà, đã ra lịnh thì thủy thủ phải nghe theo. Ngặt cái là khi ra khỏi tàu lên bến cảng thì thuộc quyền của nhóm an ninh, rừng nào cọp nấy. Tôi định nói ý mình cho ông nghe nhưng sợ cãi qua cãi lại một hồi làm ông tự ái vì bị xúc phạm tới cái uy quyền thuyền trưởng của ông. Sống lâu với đời hàng hải, tôi cũng có chút kinh nghiệm đi đường, những nhân viên trên bến chỉ cần giấy xác nhận tên thủy thủ trên chiếc tàu nào thì người ta cho qua thôi. Tôi xuống văn phòng copy cái danh sách thủy thủ đoàn bỏ túi, cái nầy tuy rườm rà nhưng kèm với passport làm bằng chứng đi đường cũng được.
  Tôi định đi bộ nhưng từ xế chiều tới giờ trời đổ mưa tầm tã, nên tôi điện thoại gọi xe hội quán xuống cổng bến cảng rước tôi. Vừa điện xong thì Gibson đi xuống, mặt mày nó nhăn nhó như bị mắc tim la lâu ngày, nó hỏi tôi:
– Chú chờ tui được không ?
– Sao vậy?
– Tui chờ cảnh sát đóng dấu nhập cảnh. Gibson là thủy thủ người In đô, cũng như những thủy thủ người ngoài Âu Châu, khi tàu ghé bến nó phải chờ cảnh sát xuống đóng giấy thông hành, sau đó nó mới được lên bờ. Hôm trước tôi có hứa hôm nay lên hội quán mở dùm nó một e mail và chỉ cho nó cách lên mạng. Tôi day lại nói:
– Tao có hẹn với thằng bạn, có lẽ nó đương chờ tao ở trên hội quán.
– Vậy một lát tôi lên hội quán gặp chú nghe.
– Tốt, một lát gặp.   Hội quán thủy thủ lúc nào cũng đông người đờn hát, nhậu nhẹt náo nhiệt vô cùng. Bàn nào cũng đầy nhóc bia rượu và vỏ chai chất chồng, họ giơ ly lên cao cụng và ngước cổ nốc ừng ực… rồi sau đó lần lượt đi ra phòng toilet đứng sắp hàng. Không biết trên thế giới nầy mỗi ngày con người ta uống hết bao nhiêu lít bia, rượu và tiểu tiện đầy bao nhiêu chiếc xe bồn. Tôi đi rảo hết các phòng, phần đông thủy thủ tới từ các nước Đông Âu. Không thấy Hùng đâu hết, định gọi điện thoại hỏi nó nhưng nhìn lên đồng hồ treo tường thấy còn sớm tôi mới đi lại quày mua chai bia đứng nhâm nhi.   Uống chưa hết chai bia thì Gibson lù lù bước vô, cái mặt nó rỗ chằng rỗ chịt, da thâm đen, đã vậy còn nhăn nhó trông nặng nề làm sao:
– Mầy sao vậy?
– Cảnh sát làm việc lâu quá. Tôi hỏi một đàng nó trả lời một nẻo. Tôi day vô ba mua thêm một chai bia day ra đưa cho nó và nhắc lại ý mình:
– Tao muốn hỏi ai đã làm gì mầy mà suốt ngày nay tao thấy mặt mày mầy nhăn nhó giống như cái âm hộ vừa mới làm tình. Nó bưng bia lên hớp một hớp để chai xuống mặt đăm chiêu:
– Chắc tui phải về quá chú.
– Chuyện gì nữa?
– Chú coi ngày nào cũng bị tụi nó chơi xỏ hết.
– À, thì ra cái vụ thằng Toto lấy quần sì líp của con nhỏ sinh viên thực tập liệng vô phòng mầy đó hả?
– Đúng rồi, hồi trưa xém chút nữa tui đập nó một trận rồi ra sao cũng được.   Trước kia tôi còn thấy tội nghiệp những người mới xuống bị mấy người làm lâu năm ăn hiếp, nên tôi thường tìm cách giúp đỡ và binh vực, nhưng lâu dần tôi khám phá ra thủy thủ người In Đô phần đông mới xuống làm thì hiền như cục bột, nhưng khi quen nước quen cái rồi thì lên mặt hống hách, hà hiếp đồng hương và hay thường xuyên nói dối. Những chuyện tương tợ cứ lập đi lập lại hoài riết rồi nhàm, làm cho tôi xem thường, dân tộc tính mà. Tôi nhìn nó mỉm cười: – Mầy tối ngày cứ đánh thằng nầy đập thằng kia, nói cái miệng không chớ tao thấy mầy có đụng tới cọng lông của thằng nào đâu, nhưng không lẽ chỉ vì mấy thằng đồng hương của mầy chơi xỏ chút ít làm mầy bỏ việc. Với lại mầy mà trở về In Đô thì vợ, con mầy đói chớ tụi nó có đói đâu.   
Chợt điện thoại reo, tôi lận túi lấy điện thoại ra bấm nghe. Hùng gọi lên nói tàu nó sẽ dời bến và đêm nay nó đổi ca trực với thuyền phó nên nó không lên hội quán được.
Tôi nói với nó:
– Thôi được rồi, hẹn khi khác vậy.
– Vâng, khi khác chú cháu mình gặp nhau.  
Tôi cất điện thoại, day qua nói với Gibson:
– Thằng bạn tao nó không lên được. Mà nè, có chuyện gì cần  thì mầy nói tao nghe coi có giúp được gì cho mầy, còn nếu không thì bỏ qua ba cái chuyện lặt vặt dưới tàu đi, làm thủy thủ chung chạ với nhiều dân tộc, mầy sẽ gặp nhiều chuyện phiền phức hơn nữa, phải tập sống cho quen với những chuyện phi lý thường tình, cố gắng học hỏi và làm việc cho ngon lành, chừng một năm sau mầy thành ma cũ rồi mặt sức bắt nạt lại mấy tên ma mới.
– Tui đâu có hèn hạ như tụi nó chú.
– Ô kê, nếu mầy cao thượng thì quên mấy chuyện thấp hèn đó đi.
– A ha… chú nói chuyện hay quá.
– Nói thiệt thôi, hay ho gì.
– Chú có hứa mở dùm tui e mail mà.
– À, vậy thì đứng đây làm gì. Mình vô phòng internet, mở e mail rồi mầy tâm sự với vợ con cho đã và mai mốt có chuyện phiền hà trên tàu thì lên méc với vợ, khỏi phải mỗi chút mỗi lên nói với tao. Chúng tôi vô phòng internet thấy không máy vi tính nào còn trống và chỗ hàng ghế đợi có hơn cả chục mạng ngồi chờ.
– Tao nghĩ bây giờ khó mà rớ tới cái vi tính.
– Sao vậy chú?
– Cái thằng, bộ mầy hổng thấy người ta chật nứt hết sao.
Nó cười:
– Chỗ nào miễn phí là chỗ đó đông người.
– Mình cũng vậy, quyền lợi mà, thôi đi ra ngoài kiếm chỗ ngồi nhậu chơi. Thời buổi nầy chỗ nào cũng có internet, đêm nay không mở được thì nay mai qua Thụy Điển mình mở cũng được.  
Uống hai chai bia mà mí mắt tôi muống xụp xuống rồi. Tôi nói với Gibson:
– Mầy ở lại chơi, tao phải về ngủ, suốt ngày nay tao làm không được nghỉ ngơi chút nào hết.
_ Chú về thì tui ở đây làm chi.
– Vậy thì uống hết cái nầy mình đi.   Hai đứa tôi bước ra ngoài, nhưng vừa ra tới hàng hiên thấy trời vẫn còn mưa lâm râm, tuy mưa không lớn nhưng đi từ đây xuống bến chắc cũng ướt hết mình mẩy. Hai đứa đành phải trở vô nhờ xe hội quán chở xuống tàu.   Xe hội quán đưa hai đứa tôi tới cổng bến cảng. Chúng tôi xuống xe, đội mưa đi vô trạm canh trình giấy. Tên gác cổng xem giấy Gibson xong cho qua còn tôi thì cũng như thường lệ, hắn lật tới lật lui passport một hồi rồi hỏi tại sao tôi không đem theo seamen’s book.
nói:
– Thưa, hồi tui đi ra thuyền trưởng tàu tôi còn ngủ nên không lấy seamen’s book được, nhưng tôi có danh sách thủy thủ đoàn đây. Tên gác cổng xem xong và hỏi tôi cho hắn giữ lại cái danh sách thủ thủ đoàn:
– Ô kê, Ngài không giữ tui lại là tốt lắm rồi.
– Không có vấn đề gì hết, ông ra bến chờ khoảng chừng năm mười phút shuttle bus tới. Chúng tôi ra bến chờ xe.
Gibson hỏi tôi:
– Sao tụi nó hay làm khó chú quá vậy?
– Vì passport của tao là đồ giả nên thường bị rắc rối. Mầy nhờ cái gì cũng thiệt hết nên không sao.
– Chú quốc tịch Hoà Lan mà.
– Mầy nên nhớ vịt là vịt ngan là ngan. Mặt mày tóc tai, giấy tờ của mầy cái gì cũng nguyên xi In Đô nên đi qua chỗ nào cũng trót lọt. Còn tao, tuy mang quốc tịch Hoà Lan nhưng da vàng, tóc đen, mũi tẹt, tức là Việt Nam chánh hiệu, nên mỗi lần đi qua cửa phi trường hay ranh giới hoặc vô ra cổng bến cảng, tụi nhân viên nghi ngờ tao là dân khủng bố hay bán ma túy, xì ke và xài giấy tờ giả nên mới chận lại lục soát, săm soi, còn cầm passport lật tới, lật lui, day qua ngó mặt thẳng, mặt nghiêng một hồi rồi nhìn vô hình trong passport hỏi han đủ thứ. Nhứt là qua ngang mấy phi trường bên Mỹ, tụi an ninh bắt tao phải lột hết quần áo ra cho nó soát từng kẽ lông, thấy trong người tao không có rận tụi nó mới chịu cho qua.
– Chú nói quá.
– Nói như vậy mà nhằm nhoà gì mậy, bộ mầy hổng nghe lâu lâu tụi quan thuế phi trường nó moi móc chỗ kín của mấy bà lấy ra hột xoàn và vạch hậu môn của mấy ông lấy ra cocaine hoặc heroin đó sao.
Gibson cười lớn:
– Ha ha…chú bôi bác quá xá…
– Tao thấy rất nhiều người cũng giống như mầy vậy, tao nói chuyện sờ sờ trước mắt thì bị hoài nghi rồi cho là tao bôi bác, còn những tên có chút quyền hành “nó” bôi bác lên cả cuộc sống của thiên hạ thì cũng có khối thằng hùa theo cho là đúng.
– …    Chúng tôi đi gần tới bến xe bus chợt từ đâu không biết, viên thuyền trưởng lù lù đi tới, tay ông xách một bọc nylon, tôi đoán chừng trong bọc kẹo, xô cô la, bánh và có ít nhứt một cái dao cạo râu. Ông nói với chúng tôi rằng nhân viên gát cổng đòi seamen´s book nhưng ông không đem theo nên họ không cho ông vô, nãy giờ ông gọi điện xuống tàu nhưng không ai bắt máy hết. Ông hỏi chúng tôi có bị tụi gác cổng làm khó không. Lúc đó shuttle bus cũng vừa trờ tới.
Tôi day qua nói với ông:
– Không có vấn đề gì hết, tôi có đưa cho người gác cổng danh sách thủy thủ đoàn tàu mình, ông trở vô trình passport cho họ đối chiếu thì họ cho ông vô chớ gì.   Mưa thêm ào ạt… Viên thuyền trưởng day người đi nhanh vô trạm canh. Tôi với Gibson vội vàng leo lên xe và kêu tài xế đậu lại một lát chờ viên thuyền trưởng. Khi viên thuyền trưởng trở ra, leo lên xe, đầu tóc ông đã ướt mẹp. Ông vừa phủi nước trên đầu, trên vai vừa chửi thề. Cũng cái tật hay triết lý theo sách vở, ông đọc câu tục ngữ tiếng Hoà Lan:“ April doet wat hij wil”. Nghĩa là thời tiết của tháng Tư muốn ra sao thì ra. Tôi bèn tiếp lời ông:
– Sáng nắng chiều mưa, thời tiết bất thường có tháng, có mùa, còn con người ta bất thường không mùa không tháng ha ha…  

Trên dòng kinh Kil nước Đức  27 – 5 – 2008
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Còn quý hơn vàng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Muốn tới mỏ Beta Hunt của Công ty khoáng sản RNC Minerals, Canada, là theo quốc lộ số 94, mất gần 7 giờ, trên chặng đường dài 636 cây số đi về hướng Đông, nằm trên bờ hồ ‘Lake Lefroy’; còn đi từ Melbourne theo quốc lộ A1 mất gần 30 tiếng đồng hồ, trên chặng đường dài tới 2822 cây số, là tới thị trấn Kambalda. thuộc Goldfield, Tây Úc.

Tại mỏ vàng nầy, trung bình đào mỗi tấn đất đá lên, sàng lọc chỉ được 1gram vàng,

Xưa giờ, công ty nói trên đã đào được tổng cộng 680kg vàng. Nhưng mới đây xúc chỉ có một gàu, cách mặt đất 500 mét, công ty vô mánh được hai khối vàng nặng 95kg và 63kg trị giá khoảng11,5 triệu đô Mỹ.

Sau khi tinh luyện còn lại vàng ròng, khối đầu khoảng 2300 lượng Tây (ounce), giá khoảng 3.8 triệu đô.  Khối thứ hai khoảng 1.600 lượng, giá khoảng 2.6 triệu đô la.

Quá đã.

Tin đào được vàng khủng, công ty la rùm lên vậy là giá cổ phiếu của công ty đã tăng gấp đôi. Ai nắm cổ phiếu nầy hổng cần phải trần ai lai khổ như những người thợ mỏ, chỉ ngủ một đêm sáng dậy là tài sản của mình tăng gấp đôi, một lời một nghe ham quá hè.

Chánh phủ Úc đang nợ như Chúa Chổm, nợ đầy đầu, cũng bớt rầu chút chút; vì được chia 2,5% bất cứ khoáng sản nào mà RNC Minerals đào lên được.

(Hèn chi mấy năm trước bị Úc chê là dã man khi xử tử dân Úc tội buôn má túy cò con, lỡ quá cảnh phi trường Changi bị bắt; chánh phủ Singapore nổi quạu, dù Úc phê bình vầy là đúng rồi; bỉu môi khi dể Úc chẳng biết làm ăn gì; chỉ tối ngày đào đất lên mà bán. Mà thực ra nền kinh tế của Singapore cũng hổng có hay ho gì; chỉ là một bến cảng, tàu thuyền đi từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, đường xá xa xôi diệu vợi phải ghé cho thủy thủ lên bờ xả hơi kẻo bị cuồng cẳng. Cha con nhà Lý Quang Diệu sống nhờ mấy cái cảng phí nầy mà cũng đánh trống thổi kèn rùm! Chớ đất chút tẻo, nguyên là một cái làng chài, nào có quặng mỏ gì đâu mà đào lên bán để ăn… nên cà nanh với Úc vậy thôi.)

Rồi cũng vài bữa gần đây nhựt trình lại chạy một cái tin rất giựt mình, giựt thịt là: một ông già Úc, đã về hưu, bỏ 8000 đô mua cái máy dò kim loại hiệu Minelab GPZ 7000, ở độ sâu chỉ 80 cm, nghĩa là chưa tới một tấc, đào được cục vàng hình na ná như cái bàn chân vịt, nặng 3,23kg lẫn trong đất sét. Đem về tinh luyện lại thành vàng ròng được 2,11 kg, giá lên tới 110,000 đô Mỹ.

Nước Úc cũng dễ kiếm tiền quá chớ! Nghe phát ham hè. Tui tính hỏi thằng chả đào ở đâu để tui đi đào vàng với. Biết đâu đất cũ đãi người mới; tui kiếm được một cục vàng, xin ông Trời đừng cho tui quá nhiều, chừng một tấn là tui vui, tui khoái rồi hè, không dám đòi hỏi gì hơn.

Nhưng thằng cha nội nầy làm hiểm, dấu biệt chỗ nầy, ‘giả’ nói: Đó là bí mật kinh tế! Ngu sao mà chỉ?

***

Tuy nhiên theo thiển ý vàng mình còn có thể hên mà đào được chớ cái tình bạn với Úc ít có lắm, còn quý hiếm hơn nhiều.

Kiếm được một thằng bạn Úc chơi được cũng khó như là đào đất trúng được cục vàng sa khoáng vậy!

May mắn thay, tui đã tìm được một đứa, tri kỷ tri âm, tánh giống hịt tui hè, dẫu khác màu da và tiếng nói.

Xưa bên Tàu, Tử Kỳ đàn nghĩ đến sông, thì Bá Nha nghe tiếng nước sông trôi. Tử Kỳ đàn nghĩ đến núi cao thì Bá Nha nghe có tiếng cây rừng xào xạc gió.

Còn bây giờ, tui tri âm tri kỷ với thằng Jack Daniel nầy (cái tên dễ nhớ vì cùng tên với cái hãng rượu whiskey, tiểu bang Tennessee bên Mỹ) vì khi nó nói ra là tui biết ngay là nó tán dóc. Ngược lại, khi tui nói ra là nó cũng biết ngay là tui tán dóc.

Nhưng Jack Daniel là một người bạn rất thành thật. Thành thật ở chỗ luôn thú nhận là mình đang nói dóc đó nhe bồ!

Tình bạn cao quý đó là ân sủng của ông Trời ban tặng suốt hơn ba mươi mấy năm kể từ ngày tui lon ton có cái quần xà lỏn đặt chưn lên cái đất Melbourne nầy đây.

Tình láng giềng bên Úc nầy nó nhạt như nước ốc, nhưng cái tình chòm xóm của tui với Jack Daniel là ngoại lệ, vì nó đậm đà như hương cà phê Cappuccino pha theo kiểu Ý vậy.

Ngày mới dọn tới, em yêu của tui bồng thằng cu mới đẻ được vài tháng trên tay, đêm lạ nhà, nó khóc quá chừng hè. Cái tánh Úc rất khoái càm ràm, than phiền thiên hạ lắm. Vợ thằng Jack Daniel cũng không là ngoại lệ, hổng dám cằn nhằn ngay trước mặt tui mà kêu thằng Jack chồng nó ‘còm len’ (complain) mới được. Vợ kêu cực chẳng đã, sáng ra nó hỏi: “Vợ chồng bồ có ngắt véo gì thằng nhỏ không mà sao nó khóc suốt cả đêm trường?”

Tui cũng thông cảm, chắc tối qua thằng nhỏ khóc quá nên vợ chồng nó không ngủ được lục đục suốt đêm, mệt chết, nên vả lả: “Bồ làm ơn thông cảm dùm cho nó. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh bi thảm của nó thì bồ cũng cư xử giống hệt vậy thôi hè! Mồm không có một cái răng, đầu không có một sợi tóc, chân yếu đến đứng không vững thì làm sao mà không khóc cho được chớ?”

Rồi một hôm, vợ tui sai đi siêu thị mua đồ. Về, tui kéo hai túi nặng chình chịch nào tã, nào sữa cho con bú tí. Jack Daniel ló đầu qua hàng rào, hỏi: “Chào bồ tèo! Làm gì mà vác hai cái túi bự xộn vậy?” (Cái thằng Úc nầy tò mò dữ nhe!)

Tui bèn nhát nó: “Ờ tớ mới đi gặp chủ gánh xiếc xin phỏng vấn để tìm việc làm. Trong cái túi nầy chứa toàn là đá. Khi biểu diễn, tớ ném cục đá lên trời; khi cục đá rơi xuống; thay vì bắt bằng tay tớ đưa cái đầu ra hứng!”

“Hay quá! Chắc bồ có nội công thâm hậu cỡ Bruce Lee tức Lý Tiểu Long?” “Lý Tiểu Long so với tớ chẳng ra cái thớ gì hết!”

 “À còn cái túi thứ hai?” “Ờ! Cái túi nầy, tớ dùng để đựng thuốc giảm đau đó chú em!”

Nói nào ngay trước khi dời về cái đất Footscray nầy, tui ở trên St Albans cách đây tới 30 cây số về hướng Tây. Chỗ ở cũng được, nhưng vắng như chùa Bà Đanh; ngặt cái ăn trộm hơi bị nhiều. Vì người Việt mình mới qua, khoái xài tiền mặt, Úc nó biết tỏng như vậy nên cũng thừa cơ lẻn vào lục lọi để mà kiếm chác.

Anh Ba Tèo, bạn nhậu thân thiết của tui bị ăn trộm rồi, kể là: Đêm một thằng Úc mập ú nu như cái lu, lẻn vào nhà tui ăn trộm. Lúc đó đâu có ‘camera’ an ninh hay chuông báo động gì đâu. Phần làm vài ly nên tui mê man tàng tịch, trời sập còn chưa hay. Nó tự nhiên như người Hà Nội đội cái ti vi mới mua của vợ chồng tui ra cửa. Sơ ý, cái cạnh cái ti vi chạm vào cửa một tiếng rõ to làm tui đang nằm ngáy pho pho chợt giựt mình tỉnh giấc. Chưa kịp chùi ke trên khóe miệng; tui bèn phóng ra khỏi cửa, rượt theo nó.

Sau gần hai tiếng chạy vòng vòng, cuối cùng thằng Úc đội cái ti vi nặng quá đành thua cuộc, quỳ xuống: “Xin ông làm ơn làm phước tha dùm, đừng gọi cảnh sát vì tui ở tù mới ra! Thank you so much!”

Anh Ba Tèo bèn trả lời: “No worries mate!”(Đừng có bận tâm nhe bồ!)

 Tao rượt theo là muốn đưa cho chú mầy cái ‘remote control’, cái điều khiển từ xa, cho đủ bộ đó mà!”

Hổng biết anh Ba Tèo nầy kể chuyện thiệt hay chơi nhưng tui tin là anh nói thiệt. Vì ảnh từng giảng đạo cho tui nghe là: “Mình đến nước của người ta, Úc nó làm biếng, nghèo không có tiền mua được cả cái ti vi để coi nên mới đi ăn trộm của mình. Coi ti vi nằm dài trên sa lon mà cứ phải đứng dậy bấm đổi đài hoài cũng tội nghiệp nó chớ!”

Phần ông bà mình có dạy: “Cái gì cho đi là còn lại… Ăn hiền ở lành là Trời không phụ mình đâu!”

Nói nào ngay xa lối xóm người Việt trên St Albans cũng tiếc. Dọn xuống đây lối xóm đa phần là Úc nên em yêu của tui cũng hài lòng, hy vọng là tui ít tụ bè tụ đảng để nhậu (vì nhớ quê hương). Ai dè tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, gặp thằng Jack Daniel nầy nó nhậu còn quá cha tui nữa đó.

Hồi tối qua nghe vợ chồng nhà nó dằn mâm xáng chén dữ lắm, thiếu điều quánh lộn nữa đó.

Hỏi chuyện gì? “À con vợ nó đang ngủ nằm mơ cái gì đó buồn lắm cứ khóc rấm rứt hoài hè! Em ác mộng nằm mơ thấy một tay tỉ phú giàu nứt đố đổ vách, đi xe Ferrari, Made in Italy, đến bắt cóc, giựt em ra khỏi vòng tay của anh yêu.”

Nghe rất cảm động… đậy, Jack bảo: “Honey đừng buồn nữa! Đó chỉ là giấc mơ thôi mà!” “Đúng vậy! Vì đó chỉ là giấc mơ nên em mới buồn, mới khóc!”

Nghe câu nói thiệt phũ phàng duyên kiếp ba sinh từ miệng của con vợ mình, Jack sầu đời, tự ái vặt, nên bỏ đi nhậu suốt cả đêm tới gần sáng mới ló đầu về thì gặp tui, đang bắt chước Tây, dắt chó đi tập thể dục.

“Ê Jack! Bỏ nhà đi nhậu suốt đêm không sợ con vợ mầy nó ‘bụp’ hay sao?”
“Làm gì nó dám! Cạn một chai Jack Daniel thì tớ là ông Trời! Bồ hổng tin hả dám cá thêm một chai Jack Daniel nữa hay không? Tui sẽ chứng minh cho bồ thấy!”

Jack bèn dẫn tui quay lại quán rượu. Em phục vụ quầy rượu mới thấy mặt nó là kêu lên: “Ối Trời ơi! Ông lại đến nữa hả?”

Sau nầy tui mới phát hiện Jack Daniel rượu chè be bét vì giận vợ nó thì ít mà nó sợ chết là nhiều. Vì thằng Bill là bạn thân hồi tóc còn để chỏm, cùng chơi banh cà na luật Úc, vừa mới lên cơn nhồi máu cơ tim, ngỏm củ từ, khi tuổi chưa quá tuổi 70.

Hình ảnh bạn hiền từ tấm bé bây giờ đột ngột bỏ ra đi làm Jack sa vào trầm cảm nặng. Đêm ác mộng cứ lũ lượt kéo nhau về làm nó xanh xao hẳn.

Jack tâm sự: Tối qua tui lại thấy thằng Bill hiện về. Tui hỏi “Trên thiên đàng có vui hôn?” Nó nói: “Thiên đàng thì cũng vui như nước Úc mình thôi. Muốn beer có beer; muốn whiskey cũng có whiskey. Muốn gì có nấy!”

 “Rồi trên thiên đường có bóng cà na luật Úc hay không?” “Sao không? Mà nè Jack ơi! Trong danh sách cầu thủ được ra sân ngày mai, từ đầu trận có tên bồ nữa đó.”

Thôi xin ông Trời đừng cho tui đào trúng cục vàng nào hết; chỉ xin đừng bắt thằng Jack Daniel đi mất thì tui biết nhậu với ai đây?!

đoàn xuân thu.

melbourne

‘Con tằm là phải nhả tơ’

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

O. Henry (1862 – 1910), người Mỹ, tác giả nhiều truyện ngắn lừng danh xưa giờ, với những kết cuộc bất ngờ nhưng hợp lý.

Câu chuyện nổi tiếng nhứt của O. Henry về Giáng Sinh có tựa đề là: “The Gift of the Magi”.

Chuyện rằng: Hai vợ chồng còn trẻ; trẻ dĩ nhiên là còn nghèo; nghèo nhưng lại tha thiết yêu nhau.

Mùa Giáng Sinh là phải tặng quà theo phong tục Mỹ. Nàng bán mái tóc xuân xanh, để có tiền mua cho chàng sợi dây đeo đồng hồ. Chàng bán cái đồng hồ, để có tiền mua cho nàng cái lược cài tóc. Tréo ngoe hết trơn!

Dây đồng hồ nhưng đồng hồ không còn nữa. Lược cài tóc mà mái tóc, nàng đã đau lòng cắt ngắn đi, thiếu điều đầu trọc lóc… mà lược giắt trâm cài cái nỗi gì? Mất hết ráo nhưng chỉ còn tình ta là ở lại!

Mới đầu để kiếm sống, O.Henry làm nhiều nghề từ dược tá cho tới nhân viên ngân hàng.

Về Houston năm 1895, để tránh cơn ho dai dẳng, ông viết cho tờ Post được 25 đô một tháng, một ngày chưa tới 1 đô la! (Lương trung bình lúc đó khoảng 300 đô Mỹ một năm!)

Ngoài viết báo, ông còn làm cho ngân hàng. Và như những con người có máu văn nghệ khác, chuyên xài trước trả sau, làm thất thoát tiền của nhà băng; ông trốn qua Honduras (Trung Mỹ)!

Khi nghe tin vợ mình bị bệnh lao hấp hối, ông quay về chăm sóc cho tới khi người vợ qua đời!

Sau đó, ông bị nhốt trong nhà tù Liên bang ở Ohio từ năm 1898 đến năm 1901. Con gái phải vào Viện mồ côi!

Gần Giáng Sinh, ở tù đâu có tiền, mà O.Henry lại muốn mua một món quà cho con gái mình nên ông cầm bút. Và nổi tiếng…

Trong sự nôn nóng của hàng chục ngàn độc giả hằng ái mộ, O. Henry mỗi tuần viết một truyện cho The New York World Sunday Magazine hơn một năm trời.

Tổng cộng, suốt cuộc đời con tằm phải trả nợ tơ, O. Henry viết được 381 truyện ngắn. Mỗi truyện được trả 1000 đô, bằng 3 năm tiền lương trung bình của dân Mỹ lúc đó. Quá đã!

Làm nhiều tiền, xài cũng dữ mà nhậu cũng nhiều! Năm 1910, O.Henry ra đi, chấm dứt bi kịch của đời mình vì bị suy thận, biến chứng của bịnh tiểu đường và bị phì tim!

Dẫu vậy, cuộc đời văn chương tao đàn của O. Henry so với các nhà văn khác trước và sau ông cũng ‘sang chảnh’ hơn nhiều!

Như ở bên Tây, thế kỷ thứ 19, nhà văn Honoré de Balzac (1799-1850) nghèo mạt rệp.

Chuyện rằng một tên trộm lẻn vào nhà của Balzac, lom khom lục tủ kiếm tiền.

Nhà văn nằm nhưng chưa ngủ, nghe tiếng lịch kịch, mở mắt ra cười khè khè, nói: “Bạn hiền ơi! Tội nghiệp bạn đã bỏ công chui vào nhà của Balzac để kiếm tiền trong đêm tối… Mà ngay chính tôi, ban ngày ban mặt, trời sáng trưng hè mà tui kiếm mãi cũng hổng có ra!”

Tuy đa số nghèo rớt mồng tơi nhưng nhà văn, nhà thơ lại giàu tự ái… vặt!

Có giai thoại rằng: Trong một bữa tiệc, có hai chú thanh niên choai choai, hợm hĩnh hỏi Voltaire (1694 –1778), giọng chế giễu: “Thưa nhà văn, nói thế nào cho đúng: Cho chúng tôi uống hay là: Mang thức uống cho chúng tôi!”

Voltaire từ tốn, đốn cho hai chú em nầy một búa, là: “Đối với các bạn, cả hai câu ấy đều không đúng! Các bạn phải nói: “Dẫn chúng tôi ra vũng nước”!” He he! Um bò!

***

Chẳng qua, viết văn, làm văn nghệ là nghèo, mà nghèo hay tự ái vặt hay giận lẫy người dưng lắm đó, nên tui rất lấy làm kính nhi viễn chi, ở xa mà xá, chớ hổng dám lại gần chọc quê, vì sợ nhà văn, nhà thơ quạu, đem chữ ra mà chọi cho tui u đầu sứt trán.

Trong giới văn nghệ Việt Nam mình xưa giờ, ai cũng biết bài thơ: “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ.

“Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ Nhà văn An nam khổ như chó!

Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương!

Và nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết… “

 Rồi hồi thời tui còn đi học, thơ Tản Đà đã được đưa vào sách giáo khoa.

Đã từng làm Chủ báo tờ An Nam tạp chí, nhưng Tản Đà không biết quản lý, hứng làm, mệt nghỉ, chi tiêu lung tung, ăn nhậu hết mình!

Năm 1927, Luật sư Diệp Văn Kỳ, chủ tờ Đông Pháp thời báo, và mời Tản Đà từ Hà Nội vào Sài Gòn cộng tác. Bước đầu đã giúp cho Tản Ðà 1,000 đồng lúc mới sơ ngộ, một số tiền quá xá lớn thời đó!

Rồi một chiều cuối năm, xuất bản xong số báo Xuân, phát lương thầy thợ đâu đó rồi, thì thi sĩ Tản Đà, chiều 30 Tết lù lù tới thăm chủ nhiệm để mượn tiền ăn Tết.

Một tháng lương mới lãnh, thêm một tháng lương thưởng và một tháng cho vay trả làm bốn lần, nhà thơ đã làm gì hết sạch bách? Ông Diệp đưa tặng thêm cho thi sĩ 5 đồng bạc.

Tản Đà cầm tiền, đi ra nhà dây thép mua măng-đa 3 đồng gửi ra Hà Nội giúp một bạn văn cũng nghèo xơ xác như mình.

Còn 2 đồng, tiên sinh bao một cỗ xe lô-ca-xông qua Bà Chiểu đón ông bạn thơ, Tùng Lâm Lê Cương Phụng ra Sài Gòn ăn Tết một cách phong lưu quý phái.

Dẫu được tiếp đãi hào phóng như vậy nhưng khi bị Chủ báo Diệp văn Kỳ thúc bài đi cho kịp in là Tản Đà cự lại: “Ông muốn tôi vào đây viết văn hay bửa củi, nếu bửa củi thì lúc nào bửa cũng được. Bằng viết văn thì phải đợi hứng, không hứng không thể viết”.

Để cuối đời, Tản Đà chua chát viết: “Khi làm chủ bút, lúc viết mướn/ Hai chục năm dư, cảnh khốn cùng!”

Và rồi Tản Đà qua đời ngày 17 tháng Sáu năm 1939, hưởng dương 51 tuổi, vì bị bệnh sơ gan; chắc do nhậu nhiều quá xá!

***

Ngày nay ở Mỹ, ở Úc, thị trường văn chương viết bằng tiếng Anh rộng lớn! Nhiều bạn đọc sẵn lòng móc xỉa; nên làm nhà văn Tây phẻ hơn nhà văn Ta gấp ngàn lần. Vừa có danh có lợi. Tiền dư sức sống, rồi rủng rỉnh tiền ăn nhậu, nhờ nhuận bút rất sộp và tác quyền rất khẳm khi xuất bản sách! Thấy mà nhễu nước miếng!

So lại, cũng hải ngoại, nhà văn, nhà báo mình viết bằng tiếng Việt, số người sống được bằng nghề lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay!

Cộng tác viên, viết chủ yếu cho vui hoặc cho đỡ cái buồn…rầu; bởi kiếp tằm là phải nhả tơ!

Người Việt mình khi đi mua một món đồ mà người bán phán một câu: Giá văn nghệ mà… thì mình hiểu nó không mắc, không đáng giá bao nhiêu. Nghĩa là nó rẻ mạt hè!

Văn nghệ của nền báo chí hải ngoại mình cũng chung phần số! Thơ là hỏng có cái chuyện trả nhuận bút rồi. Vì bài thơ hay thế mấy, nhưng đâu có bao nhiêu chữ mà trả tiền hè?!

Còn văn thì mỗi bài được chừng 100 đô là hết mức, bằng giá một dĩa mồi nghêu xào XO và một thùng beer VB 24 lon, một mình tác giả nhậu còn chưa đã, chưa say nên mấy nhà văn nhà báo thường hay nhậu beer và ăn chực của quý độc giả ái mộ văn tài mời ngài ra quán!

Còn trong nước, trừ mấy tay Tổng biên tập, làm quan chức chóp bu của tờ báo, thì cái đám bồi bút báo chí quốc doanh sống còn thê thảm hơn nhiều!

Bằng mọi cách để kiếm ăn nuôi vợ, nuôi con là phải theo phe nầy làm bồi bút, văn nô cho anh Ba hoặc cho anh Tư! Lỡ phe mình theo phò, kiếm miếng cơm chén rượu, bị thất thế là mình phải bị đi ở tù.

Còn không theo phe nào, chỉ muốn tống tiền doanh nghiệp làm ăn bê bối, bằng cách gỡ bài phóng sự điều tra xuống… mà xui rủi, nó có ‘piston’ mạnh, nó gài bẫy, kêu CA phục sẵn. Cô em nhà báo mới ló tay ra nhận phong bì, tiền có ghi seri trước, là nghe còng cái cốp, vô tù ngồi gỡ lịch… Hu hu!

***

Để kết luận nhà văn, nhà báo trong, ngoài nước bây giờ so với nhà thơ Lý Bạch bên Tàu, cả ngàn năm trước, thua xa lắc!

Năm 742, Lý Bạch đến Trường An, Đường Minh Hoàng nghe danh đã lâu nên rất ái mộ! Đến năm 745, do lối sống của ông gàn dở bê bối, say xỉn suốt ngày, lại bị gièm pha nên vợ vua là Dương Quý Phi cũng phát ghét!

Lý Bạch nhận thấy việc đó, cộng với lòng đam mê du lãm đang trỗi dậy, ông liền từ biệt vua Đường. Vua rất buồn, nhưng cũng phải đành theo.

Ngày đưa tiễn, vua tặng thêm rất nhiều nén vàng làm lộ phí nhưng thi nhân không nhận!, Cuối cùng vua cho ông quyền uống rượu miễn phí tại bất cứ quán rượu nào mà ông đi qua, tiền rượu sẽ do ngân khố thanh toán.

Tui khoái vậy đó! Đừng trả nhuận bút! Hỏng bao nhiêu! Mấy ông chủ báo chỉ cần cho tui cái ‘credit card’. Nhậu xong, tui quẹt một cái, là vui… về viết nữa! Hi hi!

Nhưng buồn thay! Chuyện nầy ở thế kỷ 22 mới có!

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Tản Thương Khó Khăn

Càng ngày nhịp độ pháo kích của địch quân càng gia tăng. Nhất là khi có máy bay trực thăng lên xuống. Điều này làm cho việc tản thương, tiếp tế thêm khó khăn. Mỗi lần di tản thường là cả một sự liều mình, là dấn thân vào vùng đất chết. Địch quân dường như đã đặt súng canh sẵn vào những bãi đáp. Mỗi khi thấy máy bay là là định đáp xuống là chúng khai hỏa liền. Chứng bắn đuổi theo trực thăng khiến máy bay đáp không được, phải bay trở về. Như vậy xe Hồng Thập Tự sau nhiều giờ chờ đợi, có khi gần cả một ngày trời dưới nắng, lại phải đưa thương binh về bệnh viện. Thương binh vừa đói vừa khát, về đến nhà thương lắm người lả đi vì mệt.

Hai giờ chiều hôm ấy, Thiếu úy Thu tới kiếm tôi:

– Thưa bác sĩ, bên Tiểu Khu vừa cho mình hay sẽ có chuyến tản thương. Mình phải sẵn sàng tám người. Ưu tiên cho những người nặng. Chừng 20 phút nữa, trực thăng sẽ tới bãi đáp ở sau sân vận động.

– Hay quá, ông cho các anh em biết để sửa soạn xe Hồng Thập Tự. Tôi sẽ chỉ định người được tản thương. Sáu người ở trại Hậu Giải Phẫu này sẽ được đi hết.

Tôi xuống trại Ngoại Khoa kiếm Trung sĩ Lạng:

– Chọn cho tôi hai người nặng nhất để tản thương ngay bây giờ. Không cho thân nhân đi theo.

Lát sau, xe Hồng Thập Tự đã đến và đậu trước cửa Phòng Hậu Giải Phẫu. Cửa xe vừa mở rộng để các y tá khênh những người bệnh nặng ra thì những người bị thương nhẹ đã tranh nhau nhảy tuốt lên xe ngồi. Dù tôi đã cố ý dấu họ, hoàn toàn giữ bí mật về việc tản thương này. Tôi ra lệnh cho y tá một cách kín đáo, sao những người này quá tinh ý, biết là có tản thương ùn ùn kéo ra đầy xe. Kẻ thì chống gậy, kẻ thì nhảy lò cò, những người bị thương ở tay, hai chân còn lành lặn đã lẹ làng nhảy vào trong xe ngồi giữ chỗ trước.

Tôi bực mình, ra ngăn họ lại, quát lớn:

– Các anh em hãy từ từ, nhường chỗ cho những người bị nặng đi trước. Chuyến sau sẽ tới lượt các anh em.

Một vài người nghe lời tôi, trở vào. Một số ngoan cố đã chui tọt vào xe ngồi yên không chịu xuống. Nói nhẹ không nghe, tôi phải dùng biện pháp mạnh, cho người lên kéo, khênh họ xuống. Chúng tôi phải làm gấp rút để tranh thủ thời gian cho xe ra bãi đáp đúng giờ hẹn.

Những lần đi hành quân với Trung Đoàn 43 Bộ Binh đã cho tôi nhiều kinh nghiệm về tản thương bằng trực thăng. Khi được báo 10 phút, là đúng lúc trực thăng sẽ tới. Thương binh phải sẵn sàng tại bãi đáp. Trực thăng không bao giờ chờ đợi. Nếu tới bãi đáp không thấy thương binh, phi công sẽ bay luôn không trở lại nữa. Sau này xin tản thương sẽ rất khó được thỏa mãn.

Ngay cả khi trực thăng tới mà thương binh ùa lên máy bay một cách vô trật tự, gây trở ngại cho việc cất cánh cũng là một điều lỗi của Quân Y. Phi công có thể viện cơ đó để từ chối tản thương. Bởi vậy thà mình tới sớm đợi máy bay còn hơn để lỡ chuyến, làm hư hết mọi chuyện và có ảnh hưởng tai hại tới sinh mạng của thương binh.

Mặc cho những lời van xin, những lời chửi rủa, văng tục. Có kẻ kêu chúng tôi là những người độc ác, tàn nhẫn vô lương tâm, lính bị thương mà không cho tản thương. Tôi giả điếc làm ngơ, cho người khiêng bốn băng-ca và dìu bốn người có thể ngồi được lên xe. Hai y tá đứng hai bên cửa xe. Một người nữa đứng ở phía sau. Sửa soạn xong xuôi, tôi cho xe ra phi trường. Xe đi rồi, chúng tôi thở ra như trút được một gánh nặng.

Nhưng chưa hết đâu, bao giờ xe không người trở về mới chắc. Có tản thương, không những thương binh mà cả chúng tôi cũng được vui vẻ vì bệnh viện lại giải tỏa thêm một số giường để lấy chỗ tiếp nhận thương binh mới. Tuy nhiên, trong tình trạng này, mặc dù xe đi rồi chúng tôi vẫn cứ thấp thỏm. Đã nhiều lần xe đi rồi lại về vì máy bay không đến hay không đáp xuống được.

Xe đi được chừng 15 phút, tôi lắng nghe thấy có tiếng trực thăng ở xa vọng lại, mỗi lúc một gần. Tôi quay sang nói với Thiếu úy Thu:

– Rồi, máy bay sắp tới!

Một lát sau, hai trực thăng bay qua đầu chúng tôi. Một chiếc hạ thấp, một chiếc vẫn bay cao dường như để canh chừng. Tôi nghe thấy ba tiếng nổ ở sân vận động. Thu nói:

– Nó pháo vào bãi đáp rồi.

Tôi lắc đầu chán nản. Tôi thấy chiếc trực thăng vọt lên như một mũi tên. Rồi hai chiếc trước sau bay về hướng Sài Gòn mất dạng. Tôi nghĩ lần này tản thương chắc lại đi không về rồi quá.

Quả nhiên 10 phút sau, xe Hồng Thập Tự trở về vẫn đầy nhóc người.

Tài xế Mệnh nhảy xuống xe nhìn tôi, lắc đầu:

– Suýt chết bác sĩ ạ. Mảnh đạn véo ngang đầu.

Tôi ngắt lời hỏi:

– Nó pháo gần không?

– Ngay boong à bác sĩ. Cách tụi em chừng mươi thước.

Binh nhất Nở xen vô:

– Máy bay vừa nhào xuống, định đáp là tụi nó rót vô. Binh..Binh..Binh. Tụi em bung người xuống, mạnh ai nấy tìm chỗ núp. Em chui đại xuống gầm xe.

Nó vừa nói vừa chỉ cho tôi xem quần áo đầy đầy những đất đỏ cùng với dầu xe. Mệnh chặc lưỡi:

– Nó canh sẵn hay sao mà bắn suya quá, làm trực thăng thấy pháo gần quá nên đi luôn. Em đành phải lái xe về.

Tôi vỗ vai Mệnh:

– Thôi, không ai bị gì là tôi mùng rồi. Đợi chuyến khác.

Tôi quay lại, kêu mấy y tá đang đứng tụm lại hỏi chuyện mấy người từ bãi đáp về:

– Các anh em lo khiêng giùm thương binh xuống xe đi chứ, để trong xe hoài, ngộp chịu sao nổi.

Tôi hỏi thăm mấy thương binh, thấy họ mệt nhưng tỉnh táo:

– Sợ không các anh?

– Dạ, sợ chứ nhưng tụi tôi đành nằm đó, mặc cho số mệnh chứ đâu có thể ngồi dậy chạy đi đâu được.

Câu nói tỉnh bơ như vậy nhưng đối với tôi thực là khủng khiếp. Cái cảnh cá nằm trên thớt, nhìn thấy con dao treo lơ lửng trên đầu mà không thể nhúc nhích được mới khiếp làm sao.

Uy kêu tôi lại, ngỏ ý xin về nhà nằm có hầm hố, có người nhà săn sóc chu đáo hơn. Tôi thấy không có gì trở ngại. Tình trạng của Uy giờ khá rồi. Tôi đồng ý cho Uy về nhà nhưng hẹn ngày mai phải lên sớm để tản thương.

Chiều hôm đó, tôi nhận được điện thoại từ Biên Hòa. Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 73 Quân Y, bác sĩ Lương Khánh Chí gọi lên trấn an chúng tôi và ngỏ lời khen ngợi toàn thể quân nhân các cấp thuộc Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long đã tỏ ra có nhiều thiện chí và bình tĩnh, sáng suốt làm việc trong những điều kiện hiểm nghèo.

Sau đó, chị Phúc và chị Chí nói chuyện bằng điện thoại với bác sĩ Phúc và bác sĩ Chí. Thì ra các bà nóng ruột đã tìm đường lên tới Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Quân Y để được điện thoại hỏi thăm các ông. Tôi còn độc thân, không vợ không người yêu nên chẳng có ai nói chuyện hỏi thăm cả. Tôi chỉ nhờ bác sĩ Chí nói lại với chị Chí rằng làm ơn tới nhà cho mẹ tôi biết là tôi vẫn bình an, mạnh khỏe đề mẹ tôi khỏi lo.

Chúng tôi đều không ai ngờ rằng đó là lần liên lạc chót bằng điện thoại với Biên Hòa. Vì ngay ngày sau, địch quân đã pháo kích đứt hết dây điện thoại. Ngày 12 tháng 4, Việt Cộng pháo vào Trung Tâm Truyền Tin Cố Định khiến cho bảy người chết, bảy người bị thương. Thành ra những hy vọng sửa chữa cũng như liên lạc bằng điện thoại tan thành mây khói.

Ngay như đối với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu hay các đơn vị quân sự trong tỉnh, bệnh viện cũng không thể liên lạc bằng điện thoại được. Mọi sự liên lạc chỉ có thể cho người đích thân tới. Nhưng trong tình trạng hiện tại, ai dám bỏ chỗ an toàn mà đi ra ngoài, không bị pháo kích cũng bị nghi ngờ là Việt Cộng.

Pháo Binh Sư Đoàn trước đóng ở sân vận động, sau bị pháo dữ quá phải dọn xuống công viên Tao Phùng. Công viên này nằm ngay dưới chân đồi của bệnh viện về hướng Tây. Thành ra bệnh viện ở giữa hai căn cứ quân sự mà địch quân cố tình triệt hạ cho kỳ được, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 và Pháo Binh. Thế là bệnh viện bị lãnh đủ. Mới đầu, đạn còn rót ngoài vòng rào, về sau trại nào cũng bị pháo trúng. Nhất là trại Ngoại Khoa của tôi, không phòng nào là không bị một trái.

Ngày 11 tháng 4, địch quân pháo suốt ngày. Mới 8 giờ sáng đã có nhiều trái rơi vào trường Trung Học, nơi tàn quân của Trung Đoàn 52 đóng ở đó ngay trước mặt bệnh viện. Cho tới chiều, khoảng 3 giờ 45 phút, ngớt pháo kích, bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu cho người tới báo sắp có máy bay tản thương. Chúng tôi lại sửa soạn cùng với các anh em thuộc Tiểu Đoàn đem thương binh ra chất đầy ba xe Hồng Thập Tự để chở ra bãi đáp. Lại tranh giành, ồn ào, cãi vã, lại quát tháo giải thích mãi đến 20 phút sau, xe mới chuyển bánh được.

Xe đi đã lâu sao chưa thấy tiếng trực thăng tới. Mọi người đợi chờ trong lo lắng. Ai nấy đều thầm cầu mong trong lòng đừng có pháo kích để máy bay đáp xuống an toàn bốc hết thương binh đi.

Tôi đang mổ sạch một người bị thương nát mông trái, bỗng nghe tiếng xe đậu ngoài sân ngay trước Phòng Mổ. Rồi tiếng người lao xao, ồn ào. Tiếng cười nói huyên thuyên khác thường. Tôi lấy làm lạ, bảo Thượng sĩ Lỹ:

– Ông ra xem cái gì mà ồn quá vậy.

Lát sau, Thượng sĩ Lỹ vào cười nói:

– Thưa bác sĩ, tản thương được hết rồi. Đoàn xe đã trở về.

Tôi vui mừng:

– Vậy thì đỡ quá. Kỳ này mình cho đi được 24 người đó nghen. Không biết có bao nhiêu trực thăng mà đi được nhiều như vậy?

– Thưa nghe nói có Chinook xuống.

– À, thảo nào. Chinook hốt thì lẹ lắm.

– Mấy tài xế nói dân cũng đi được khá nhiều.

Tôi đứng dậy sau khi băng xong vết thương, tháo găng tay, bước ra ngoài kêu Mệnh lại, hỏi:

– Đi được hết rồi phải không?

Mệnh mặt mày tươi rói:

– Dạ hết. Hai Chinook xuống cùng một lúc nên chở được nhiều lắm. Cả dân cũng được đi nữa.

– Chắc họ tranh giành chen nhau ồn ào lắm phải không?

– Dạ thưa, mấy kỳ trước mất trật tự lắm. Rút kinh nghiệm, kỳ này có quân cảnh gác nên cũng đỡ. Họ cho thương binh lên trước rồi mới tới vợ con các sĩ quan, binh lính. Dân chúng lên sau cùng. Máy bay cất cánh rồi Việt Cộng mới pháo. Có lẽ kỳ này tụi nó ngủ gật. À, em thấy cô gì nho nhỏ, người làm ở trại bác sĩ cũng leo lên trực thăng đi luôn.

– À, đó là cô Sum đấy.

Cô Sum là y tá trại Ngoại Khoa, dáng người bé nhỏ. Chồng cô là giáo sư trường Trung Học Bình Long (em trai bác sĩ Trần Tam Lang, cùng lớp với tôi, sau này làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Quân Y) hiện đang kẹt tại Sài Gòn. Mỗi lần nghe tiếng nổ là cô sợ hãi lắm. Cô không còn thân nhân nào tại đây. Cô lại đang mang thai, tình cảnh thật tội nghiệp. Cô ngỏ ý xin phép tôi theo xe tản thương lên máy bay về Sài Gòn. Tôi thực không có quyền gì với nhân viên dân sự cả. Tôi nói:

– Cô lên xin bác sĩ Phúc, Trưởng Ty Y Tế xem sao.

Cô ngại ngùng:

– Tôi sợ bác sĩ Phúc không cho.

Tôi cũng đoán vậy. Trong tình trạng này, bệnh viện đang cần nhân viên, làm sao bác sĩ Trưởng Ty có thể chấp thuận lời cầu xin đó được. Các y tá khác sẽ bắt chước, bệnh viện còn ai mà làm việc.

Tôi nghĩ rằng, một người đã có ý tưởng ra đi dù bắt họ ở lại, họ cũng không còn tinh thần làm việc. Đôi khi sự có mặt của họ lại càng làm bận rộn thêm cho mình. Huống chi tôi biết cô mỗi lần sanh đẻ rất khó khăn, đều phải mổ cả. Nếu giữ cô lại, sau này đi không được vì trận chiến kéo dài hay rủi ro xảy đến cho cô thì tôi sẽ ân hận biết bao. Lỡ tới ngày cô sanh cần phải mổ, với phương tiện càng ngày càng thiếu thốn như ở đây, làm sao tôi có thể bảo đảm được sự an toàn cho hai mẹ con cô. Hơn nữa, nơi đây là bãi chiến trường, ngay như cô là người mạnh khỏe, không mang thai hay bệnh hoạn, chỉ với điều kiện là phái nữ, tôi nghĩ cô cũng không nên ở lại trừ phi cô tình nguyện.

Vì thế tôi nói với cô:

– Tôi thông cảm hoàn cảnh của cô. Cô muốn đi thì đi, tôi không ngăn cản. Nếu có ai thắc mắc, tôi sẽ giải thích giùm cô.

Cô Sum nắm lấy tay tôi, nói lời cám ơn và không quên chúc tôi ở lại được bình an. Tuy vậy như tôi đã nói, việc lên được máy bay không phải là dễ. Cô Sum đã phải mất hai hôm, vất vả và nguy hiểm lắm mới đi được. Tôi cũng mừng cho cô và trong lòng tôi cũng không có điều gì áy náy, ân hận vì đã bao che cho một nhân viên bỏ nhiệm vụ. (Sau này khi về tới Sài Gòn, tôi được biết cô đã phải mổ lần thứ hai và sanh được một đứa con trai nữa. Sau trận chiến, khi được đổi về Sài Gòn, tôi được gặp lại cô lần nữa tại Viện Bài Lao Hồng Bàng nơi cô đang làm việc.)

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Phối Hợp Làm Việc

Ngày 10-4-1972

Sáng hôm sau, ngày 10 tháng 4 năm 1972 để có thể tới họp đúng giờ, tôi đã dậy sớm. Sau khi khám xong các bệnh ngoại khoa cũng gần 10 giờ. Tôi rảo bước tới văn phòng bác sĩ Phúc, đã thấy anh ngồi nơi bàn giấy đang ghi chép trên một cuốn sổ. Tôi chào anh rồi hỏi:

– Chưa có ai tới hả anh?

– Chưa, còn hơi sớm. Anh ngồi chơi đi.

– Hôm nay mình bàn về vấn đề gì anh?

– À, về vấn đề phối hợp với Tiểu Đoàn 5 Quân Y.

Vừa dứt câu trả lời, một tiếng hú của đạn pháo kích bay ngang mái bệnh viện nổ ở bên trường Trung Học. Bác sĩ Phúc phản ứng rất nhanh, phóng mình nằm soài trên mặt đất. Cái mũ sắt để trên bàn rơi xuống nền nhà kêu loỏng coỏng. Mặc dù tôi đã có kinh nghiệm về pháo kích hơn anh cả gần một tuần rồi, tôi vẫn phản ứng chậm hơn nên đành ngồi trơ trên ghế.

Vài phút sau bác sĩ Chí, bác sĩ Tích, bác sĩ Nam Hùng tới. Chúng tôi chia nhau ngồi chung quanh chiếc bàn giữa phòng. Bác sĩ Phúc hỏi:

– Anh Vũ Thế Hùng có được tin họp không anh Tích?

Bác sĩ Tích trả lời:

– Dạ, thưa anh có. Anh Hùng vì bận chút việc bên Sư Đoàn nên đến sau.

Bác sĩ Vũ Thế Hùng, bác sĩ Tích, bác sĩ Nam Hùng đều là y sĩ thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Bên Bệnh Viện Tiểu Khu thì có bác sĩ Phúc, bác sĩ Chí và tôi. Bác sĩ Phúc nói:

– Thôi được, chúng mình bắt đầu. Theo tôi nghĩ, trận này còn kéo dài và sẽ đánh lớn chứ không nhỏ đâu. Ở đây Quân Y mình có hai đơn vị khá lớn là Tiểu Đoàn 5 Quân Y và Bệnh Viện Tiểu Khu. Để công tác điều trị và tản thương được hữu hiệu, tôi thấy chúng ta cần phải phối hợp lại mới làm việc được. Các anh thấy thế nào xin cho biết ý kiến.

Bác sĩ Tích trả lời:

– Thưa anh nghĩ vậy rất đúng. Bên Bệnh Viện Tiểu Khu có đầy đủ dụng cụ và cơ sở điều trị. Còn bên tụi tôi xin phương tiện tản thương dễ dàng hơn. Nếu mình phối hợp thì sẽ bổ túc cho nhau và công việc đương nhiên sẽ chạy hơn.

Bác sĩ Phúc gật đầu:

– Nếu chúng ta cùng đồng ý về việc phối hợp thì tôi thấy có bốn điểm chính chúng ta cần thảo luận. Thứ nhất: vấn đề quân sự. Thứ nhì: vấn đề điều hành cấp cứu. Thứ ba: vấn đề tản thương. Cuối cùng là vấn đề y dược, về nhân sự, tôi muốn nói y sĩ, y tá. Y sĩ, chúng ta có sáu người. Tôi và bác sĩ Hùng giữ việc chỉ huy và điều hành tổng quát. Như vậy còn lại bốn. Bên các anh, có anh nào rành về giải phẫu cấp cứu không?

Bác sĩ Nam Hùng trả lời:

– Thưa anh không.

– Nếu vậy, chúng ta chỉ có mình anh Quý có khả năng làm đại giải phẫu. Tôi thấy như vậy, anh Quý làm không xuể.

Quay sang tôi, bác sĩ Phúc hỏi:

– Anh thấy có cần thêm y sĩ giúp anh không? Tôi đề nghị anh Nam Hùng vào phụ anh.

Tôi thong thả trả lời:

– Trước mắt, mình có bao nhiêu làm bấy nhiêu. Không thể nào đòi hỏi thêm được. Nếu được thêm một bác sĩ có khả năng mổ lớn vào làm thay phiên với tôi thì tốt nhất, bằng không tôi thấy không cần thêm người nữa. Tôi và các y tá phòng mổ có thể đảm đương được công việc. Tôi đề nghị thế này, vì anh Tích và Nam Hùng không ở trong Bệnh Viện Tiểu Khu nên dụng cụ thuốc men và nhân viên y tá, các anh chưa quen thành ra khó làm việc, nên để các anh giữ phần nhận bệnh, lựa thương cấp cứu. Anh Chí giữ Phòng Tiểu Giải Phẫu. Tôi giữ Phòng Đại Giải Phẫu vì chúng tôi quen người, quen việc hơn.

Bác sĩ Phúc gật đầu nói:

– Vậy cũng được, anh Nam Hùng và anh Tích có ý kiến gì thêm không?

Bác sĩ Tích nói:

– Chúng tôi cũng đồng ý với anh Quý.

Bác sĩ Phúc tiếp lời:

– Anh Quý mới tổ chức xong được một Phòng Mổ mới ở dưới trại Ngoại Khoa. Thành ra bệnh viện hiện giờ có hai Phòng Mổ. Một phòng làm đại giải phẫu và một phòng làm tiểu giải phẫu. Thực ra vì mình thiếu người, nếu không, hai Phòng Mổ này đều có đầy đủ dụng cụ để làm những cuộc mổ lớn được. Anh Tích, anh Nam Hùng coi nhận bệnh lựa thương. Nếu bệnh nặng cần mổ lớn sẽ đưa lên anh Quý. Bệnh nhẹ sẽ đưa xuống cho anh Chí.

Nói đến đây, bác sĩ Vũ Thế Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y tới. Sau khi mời anh ngồi, bác sĩ Phúc tóm tắt cho anh biết mục đích buổi họp và những điều vừa mới thảo luận xong.

Bác sĩ Vũ Thế Hùng nói:

– Như vậy về phần y sĩ thì xong rồi. Còn về y tá, anh tính sao?

Bác sĩ Phúc trả lời:

– Ở các trại, Bệnh Viện Tiểu Khu lo. Còn ở Phòng Cấp Cứu, tụi tôi sẽ có sáu người, các anh cũng có sáu người nữa là đủ. Thêm một người làm thư ký ghi sổ nhập viện để báo cáo.

Bác sĩ Hùng nhấn mạnh:

– Ở Phòng Cấp Cứu, lựa thương chỉ cần những người giỏi, có thiện chí, lanh lẹ để làm việc. Nếu không thương binh sẽ bị ối đọng và không tài nào giải quyết kịp được.

Bác sĩ Phúc ngắt lời:

– Có, tôi có cho ra ngoài Phòng Cấp Cứu những tay có bằng B1.

Bác sĩ Hùng gạt phắt đi:

– Bằng cấp không cần thiết, chỉ cần thằng y tá quèn cũng được. Miễn là nó chăm chỉ, chích mạch truyền nước biển thật nhanh là được. Bằng B1, B2 làm gì nếu nó chích mạch không được. Chích đi chích lại, lụi mãi kim không trúng mạch thì còn làm ăn gì được, cấp cứu hồi sinh thế nào được.

Tôi thấy anh Hùng nói năng mạnh bạo đúng là tác phong nhà binh, dã chiến. Chúng tôi thuộc đơn vị tĩnh tại lại phối hợp với Dân Y nên có vẻ hiền hòa hơn. Thực ra ý kiến của anh Hùng rất đúng không ai chối cãi điều đó. Nhưng trên thực tế, những người anh Phúc đưa ra đều là những nhân viên giỏi, đã làm quen việc cấp cứu tản thương rồi. Chính tại bệnh viện, họ mới có dịp chích tĩnh mạch truyền nước biển nhiều hơn ở những chỗ khác.

Mọi người đều làm lơ để cuộc họp có kết quả tốt đẹp, để hai bên thêm đoàn kết, loại bỏ những dị biệt nhỏ không đáng kể. Mục đích chung của chúng tôi là làm sao chu toàn công tác cấp cứu tản thương, giảm thiểu hao tổn sinh mạng của đồng đội càng ít càng tốt.

Bác sĩ Chí nói:

– Về vấn đề Phòng Cấp Cứu nhận bệnh. Tôi đề nghị nên dời lên cửa chính vào trại Nội Khoa. Nơi đó vừa rộng vừa tiện cho xe Hồng Thập Tự ra vào mang bệnh tới, lại an ninh hơn Phòng Cấp Cứu hiện thời chỉ có mái tôn.

Mọi người đều tán đồng ý kiến đó. Bác sĩ Hùng nói thêm:

– Tôi thấy ở cạnh đấy có một phòng trống khá rộng nên dùng để làm phòng Dechocage (Phòng Hồi Sinh) trước khi mang bệnh đi mổ. Chỗ nhận bệnh để ở ngoài.

Bác sĩ Phúc quay sang tôi hỏi:

– Ý anh làm sao?

– Theo tôi, phòng đó để kho thuốc, còn cấp cứu hồi sinh làm ngay nơi nhận bệnh.

Bác sĩ Hùng gạt đi:

– Không được, toa làm như vậy trong trường hợp ít bệnh thì được. Trong trường hợp vào cả trăm người làm sao làm được?

Tôi lặng im không nói vì chi tiết đó không quan trọng, để trong hay ngoài cũng vậy thôi. Với kinh nghiệm tôi đã làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, tôi nghĩ trái lại. Vào cả trăm người với điều kiện như bệnh viện này, làm hồi sinh tại chỗ mới đúng vì lúc đó không còn nhúc nhích gì được nữa. Còn chỗ đâu, còn người đâu mà khênh bệnh nhân đi chỗ này, chỗ kia. Làm như vậy vừa mất thì giờ vừa làm bệnh nhân đau và gây kích xúc thêm.

Sau này quả đúng như vậy. Phòng làm hồi sinh chi được ba ngày rồi biến thành kho thuốc và chỗ ở của anh em Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Thương binh về để nằm ngay tại hành lang nơi tiếp nhận và chữa kích xúc ngay tại đó trước khi mang xuống Phòng Mổ.

Bác sĩ Phúc tiếp tục:

– Bây giờ chúng ta bàn về vấn đề tản thương.

Bác sĩ Hùng ngắt lời:

– Tản thương để tụi tôi lo cho. Chúng tôi xin phương tiện trực thăng dễ dàng hơn các anh. Các anh cho tôi biết bệnh viện có mấy xe Hồng Thập Tự. Mỗi lần tản thương phải cần nhiều để chở thương binh tới bãi đáp.

Bác sĩ Phúc trả lời:

– Bên tôi có ba xe, hư một còn hai.

– Vậy được rồi. Tôi còn một Dodge và một Jeep Hồng Thập Tự. Bây giờ kẹt chưa mở đường được, nếu không tôi cho kéo lên từ Lai Khê cả chục chiếc. Bao giờ có tản thương, tôi sẽ báo cho anh biết để anh biệt phái xe cho tôi. Xăng nhớt, tài xế tôi có đủ, anh khỏi lo.

– Vậy thì tiện quá. Còn vấn đề chót là y dược, theo tôi rất giản dị. Thuốc men chúng ta đều dùng chung cả. Bên nào còn thì cho bên hết, rồi đánh công điện xin tiếp tế thêm. Có ai còn thắc mắc hay có ý kiến gì không?

Không ai thắc mắc cả, Các anh Tiểu Đoàn 5 Quân Y đứng dậy ra về. Chưa ra khỏi cửa phòng thì hai, ba tiếng nổ liên tiếp rất gần dội lại ngay sau nhà thương. Mọi người lại rần rần chạy vào.

Bác sĩ Hùng hỏi tôi:

– Hầm đâu? Có hầm không?

Tôi đưa tay chỉ vào phía trong văn phòng ngay phía bên góc trái, nói:

– Có hầm ở phía này.

Mọi người đều theo nhau chui vào hầm. Trong hầm còn để một đống súng Carbine, một đống hồ sơ với mấy khúc gỗ lớn nên hơi chật. Chúng tôi phải khuân bỏ đống súng vói hồ sơ ra ngoài mới ngồi vừa. Trong khi hối hả dọn dẹp, không may một chai Potassium Chloride bị bể làm bay ra mùi hăng của khí Chlor thật khó chịu, càng làm tăng thêm sự ngột ngạt do nhiều hơi người trong hầm.

Ngồi chừng 10 phút thấy không pháo nữa, các anh Tiểu Đoàn 5 Quân Y đều chào chúng tôi ra về.

Ngồi trong hầm, tôi nghe thấy tiếng xe Dodge thắng gấp rút phía Phòng Mổ. Mấy phút sau, tôi nghe thấy tiếng người gọi tên tôi. Rồi tiếng chân người gấp rút chạy vào văn phòng. Một đầu người ghé vào cửa hầm hỏi:

– Có bác sĩ Quý trong này không?

Tôi hỏi ra:

– Có chuyện gì vậy?

– Thưa bác sĩ có nhiều người bị thương.

Tôi chạy vội ra ngoài. Trên chiếc xe Dodge, mấy người lính đang cố gắng khiêng ba, bốn băng-ca xuống. Tôi thấy có ít nhất là bảy, tám người bị thương đang để nằm dài theo hàng hiên Phòng Mổ.

Một người lính mặt mũi đầy cát bụi tới kéo áo tôi lại gần một chiếc cáng. Anh có vẻ xúc động lắm. Nước mắt quanh tròng.

– Bác sĩ cứu giùm Thiếu úy Đại Đội Trưởng của em. Giọng anh có vẻ uất ức – chúng em bị bỏ bom lầm ngay Bộ Chỉ Huy Đại Đội. Tụi nó còn nằm như rạ ngoài kia.

Tôi quỳ xuống bên băng-ca. Một người nằm thiêm thiếp, mặt mũi tái xanh, chắc chắn bị kích xúc rất nặng. Tôi thấy hai cẳng chân (cẳng: từ đầu gối xuống cổ chân) bị thương nát tới đầu gối. Vết thương đầy bùn đất. Cẳng chân trái chỉ còn là một đống thịt, xương vụn nát dính vào đầu gối bằng mấy sợi gân trắng hếu. Nhìn nét mặt người thương binh thấy hơi quen quen. Tôi ngó xuống bảng tên: UY. Tôi ngửng phắt lên, nắm vai anh lính:

– Có phải Thiếu Úy Đại Đội Trưởng 212 không?

– Dạ phải.

Thôi rồi, tôi thấy lạnh buốt trong lòng. Một niềm thương cảm xót xa làm tôi thấy cay ở mắt. Tháng trước gặp và ăn nhậu với Uy lần đầu tiên, Uy nói tôi và Uy có họ với nhau. Uy là em họ tôi. Thực tình tôi không thể biết tôi và Uy có họ hàng gì hay không. Trong bữa tiệc, tôi không tiện hỏi kỹ. Tôi nghĩ bao giờ trở về Sài Gòn sẽ hỏi lại người nhà cho chắc chắn. Tuy nhiên ngay buổi gặp đầu tiên, tôi đã có cảm tình với Uy. Tôi đã nghe tiếng Uy từ lâu là một trong những Đại Đội Trưởng khá nhất của Tiểu Khu. Mặc dù anh có dáng người gầy gò, nhỏ nhắn nhưng lính rất sợ và nể phục vì tính tình anh rất phóng khoáng, gan dạ và chỉ huy rất giỏi.

Với vết thương như vậy, Uy sẽ bị tàn phế suốt đời. Tôi tiếc thương cho Uy. Tuổi đời chưa quá 30, tương lai còn dài mà nay đã trở thành phế nhân. Đau cho Uy và cho cả chúng tôi, cho tỉnh Bình Long này, vì một trong những sĩ quan giỏi của Tiểu Khu đã bị loại ra khỏi trận chiến quá sớm. Uy đã phải hy sinh cặp chân của mình không phải do đạn của kẻ thù mà do đạn của Đồng Minh bắn lầm.

Tôi chích cho một mũi Demerol cho đỡ đau. Tôi sai y tá cho đặt đai chỉ huyết ở hai đùi để cầm máu, đồng thời truyền nước biển rồi cho khênh Uy vào đặt trên bàn mổ. Tôi đang cầm tay Uy bắt mạch thì Đại tá Trần Văn Nhựt tới thăm cùng Trung Tá cố vấn Trưởng Tiểu Khu Colley. Đại tá Nhựt đứng nhìn Uy nằm thiêm thiếp trên bàn mổ, lo lắng hỏi tôi:

– Liệu có cứu được không bác sĩ?

– Thưa Đại tá, nếu có máu thì chắc cứu được.

– À, cái đó để tôi lo. Bác sĩ cần bao nhiêu?

– Thưa càng nhiều càng tốt. Nhưng tối thiểu là ba bịch.

– Được, để tôi bảo lính cho.

Đại tá Nhựt ra về. Tôi cho phân loại máu Uy. Chừng 30 phút sau, tôi nhận được hai bịch máu loại O. Tăng, y tá Phòng Thí Nghiệm hỏi:

– Bác sĩ cần nữa không? Còn ba người tình nguyện cho.

– Cứ lấy đi.

Tôi cho truyền máu gấp rút. Áp mạch lên được 11/8. Tôi nói cô Đào sửa soạn chích Penthotal. Theo kinh nghiệm của tôi, những người bị thương nát hai chân như trường hợp này thường hay chết vì kích xúc nếu không có máu nhiều để làm hồi sinh.

Cô Đào đã cho bệnh nhân ngủ xong. Tôi đeo găng tay khám nghiệm thấy hai cẳng chân bị gãy nát vụn, Mạch máu, dây thần kinh bị đứt hết. Tôi quyết định phải cắt cả hai chân. Tôi phải làm thật nhanh, cố gắng rút ngắn thời gian gây mê vì sợ có ảnh hưởng tai hại làm trầm trọng thêm tình trạng kích xúc. Sau khi cột các mạch máu, tôi lấy Phisohex rửa sạch vết thương. Sau đó rửa lại lần nữa với Hydrogen Peroxide rồi băng lại bằng băng thun và không quên làm skin traction (kéo da).

Tôi cắt một phần ba cẳng chân phải (cẳng: từ đầu gối xuống cổ chân) và cố giữ đầu gối để sau này Uy có thể sử dụng chân giả dễ dàng. Xong việc không tới 20 phút. Bây giờ thân hình Uy chỉ còn một khúc ngắn ngủn. Ai trông thấy cũng mủi lòng.

Tôi giúp y tá đặt Uy lên giường điều chỉnh, đẩy ra Phòng Hậu Giải Phẫu. Bà chị vợ vào thăm. Thấy thân hình Uy như vậy, ôm lấy tay Uy khóc nức nở khiến mấy người lính phải khuyên bà bình tĩnh vì Uy còn thấm thuốc mê mà làm náo động sẽ có hại. Bà nghe lời, chỉ ngồi sụt sịt khóc thầm.

Nhờ mấy bịch máu đó, mặt Uy hồng hào trở lại. Chung quanh giường, hai người lính Đại Đội 212 đứng canh chừng cho Uy. Một người kể lại:

– Ông bị sốt rét mấy ngày nay, vẫn còn được nghỉ phép mà phải ra cầm quân. Xui thật.

Tôi dặn cô ý tá:

– Nếu chút nữa ông ta tỉnh lại kêu đau, cô chích thêm một ống Demerol 50mg nghe cô Mỹ.

Cô Mỹ dạ nhỏ rồi tiếp tục làm việc thay băng cho những bệnh nhân khác. Trưa hôm đó, tôi đói mà ăn cơm không nổi.

Tôi vẫn còn cảm thấy đau trong lòng vì vụ bắn lầm. Hai bên đang dàn trận để quyết tử mà bên mình lại bị hại do chính người của phe mình gây ra. Hỏi ai không đau lòng. Nếu bị Việt Công bắn cũng còn đỡ tức. Nhưng thôi, để cho đời đỡ khổ, tôi lại đổ cho tại số để tự an ủi mà yên tâm tiếp tục làm việc.

Những miếng tồi tàn

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

    Tôi chưa từng thấy trên thế giới nầy có đầu nậu phân phối thực phẩm nào bất lương như đầu nậu ở Algeciras, Tây Ban Nha. Một thùng bôm, một thùng cam họ tráng trên mặt những trái tươi, phần dưới đáy toàn ủng. Thịt bò họ lấy từ thịt của mấy con toros trong trường đấu ra hay sao mà dai nhách, heo thì mỡ nhiều hơn thịt, cá toàn khúc đuôi. Trứng gà dập và ung đến gần phân nửa, còn gà thì da bầm tím,  thịt bủng xì bủng xịt,  phải xát muối,  gia vị nhiều cho bớt mùi hôi rồi đem chiên thiệt vàng mới ăn được.  Theo nguyên tắc đầu bếp phải kiểm hàng trước khi ký nhận. Nhưng ông đầu bếp trước hải hành đã đúng kỳ về mà hãng không cho người xuống thay. Ông nổi khùng đến nỗi bà vợ phải bay từ Hòa Lan qua Gia Nã Đại thăm. Khi bà xuống tàu, ông đâm ra lười biếng, không muốn làm việc. Tới phiên tôi đổi xuống, thì đồ đạc ông vứt ngổn ngang. Nệm, ra dơ không giặt, phòng không lau chùi, thùng rác đầy nhóc vỏ bia. Kho chứa lương thực thì lộn xộn. Đồ khô ông dồn vô phòng đông đá, có vài món cần đông đá ông nhét vô tủ lạnh. Không biết ông đặt hàng làm sao mà chỉ có ba chục ký lô gà, mười lăm ký cá, ba chục ký heo, trong khi thịt bò ông dến cho một trăm năm chục ký. May cái là khoai tây, đồ khô và rau cải đông đá đầy đủ cho một chuyến đi.
– Thằng đầu bếp trước khùng dữ lắm.  Tôi day lại, thấy ông thủy thủ người Tây Ban Nha đứng bên cạnh mặt đầy râu giọng nói nghe khó chịu. Tôi cười: – Dĩ nhiên, ở trên tàu lâu ngày ai mà hổng vậy.
– Tao hải hành có khi cả năm nhưng có sao đâu. Mặt mày ông ở đó mà trăng với sao!  Chót mũi đỏ bóng như trái cà chua chín, miệng mồm tái ngắt giống cái âm hộ bà già nằm ngang giữa chùn râu bùm xùm. Tuổi chưa đầy năm mươi mà đã lẫn, ăn nói lộn tùng phèo, hay bắt nạt những người mới và ưa đâm thọc sau lưng người ta. Tôi định nói xỏ vài câu cho ông thấm thía sự đời, nhưng thấy chuyện hổng đáng nên bỏ qua. 
* 
Tàu rời Algeciras, vượt Đại Tây Dương sang châu Mỹ mất hơn tháng trời. Bây giờ đang trên đường về lại Âu châu.  Lương thực cạn dần, thịt đông lạnh chỉ còn mỗi một thứ là thịt bò. Hôm ghé Baltimore, tôi với viên thuyền trưởng lên chợ mua thêm thức ăn, nhưng thấy ở Mỹ thứ gì cũng bự, ông chê không mua. Cuối cùng mua được hai thùng rau, ba vỉ trứng. Tôi đề nghị ông mua thêm ít thịt heo, thịt gà và dăm bông. Ông không chịu, biểu tôi ghi đơn đặt hàng để ông gởi về công ty. – Bên Âu Châu đồ ăn vừa rẻ vừa chất lương cao, ông nói, bây giờ trên tàu còn thứ gì thì ăn thứ đó, hễ tên nào ọ ẹ thì ông cứ việc cho tôi biết.  Không hiểu sao ông nói vậy, chớ thật ra đồ ăn trong bên Mỹ rẻ hơn bên Châu Âu và chất lượng thức ăn tươi nào thì cũng ngang nhau. Để làm gương cho thủy thủ, mỗi bữa ăn ông ăn rất ít rồi buông dao nĩa và ngồi ngó từng người. Anh nào ăn nhiều quá ông lưu ý bằng cách đếm từng miếng dăm bông,  phó mát và từng lát bánh mì, làm anh đương ăn có muốn ăn thêm cũng phải buông dao, nĩa. Viên thuyền trưởng tuy có hơi quá đáng, nhưng trên một chiếc tàu buôn loại trung, thủy thủ đoàn đâu trên chục mạng đủ đầu, vậy mà lắm khi có tới bốn năm quốc tịch khác nhau. Từ người có bằng cấp đại học cho tới tên đặc cán mai, hễ đụng tới chuyện ăn uống thì tánh bần tiện thằng nào cũng lộ rỏ như nhau. Trình độ khác, văn hoá khác… nếu thuyền trưởng kỷ luật không nghiêm thì khó mà trị nổi cái đám người tạp nhạp.   Công bằng mà nói, thức ăn trên tàu luôn lúc nào cũng dư, ngoài những tuyến đường dài rau cải tươi hết, phải dùng rau hộp, rau đông đá cho nên chất lượng kém. Nhứt là những ngày sóng to gió lớn, người nào không say sóng thì cũng ương ương khó chịu như đàn bà ốm nghén,  vậy mà hễ ló mặt vô bếp là hỏi: – Bếp, hôm nay cho ăn món gì?  Ngày nào đầu bếp cũng nghe câu hỏi y chang. Người hỏi lúc nào cũng chờ câu trả lời đúng như ý mình ưa thích. Tuy nhiên thực đơn của đầu bếp ít không khi nào vừa miệng cho tất cả mọi người. Nấu nướng khó khăn nhứt trong những lúc biển động và hết đồ tươi. Họ cũng thừa biết mấy tuần qua trong tàu chẳng còn cao lương mỹ vị nào, nhưng hỏi để tỏ thái độ bất bình với đầu bếp chơi vậy thôi. Không muốn cãi cọ lôi thôi, tôi tìm cách giả lả với họ:
– Tui cho ăn thịt bò, từ đây về lại Âu châu các anh sẽ mọc sừng. Mùa xuân ở Tây Ban Nha có đấu toros, các anh có thể qua đó thi tài.  Câu khôi hài của tôi cũng có duyên lắm chớ, nhưng không làm ai cười được hết. Trái lại có tên mặt dài ra và còn chưởi tục nữa.  Theo quy định trên tàu, thủy thủ nào có sinh nhựt đầu bếp phải làm cho một cái bánh kem hoặc bánh táo, nếu có thể được thì bửa ăn ngày hôm ấy dọn thêm một vài món đặt biệt. Có tên thèm ăn quá phịa đại ra cái ngày sinh nhựt và đề nghị đầu bếp làm bánh cho hắn. Khi đầu bếp xem lại trong danh sách thủy thủ đoàn, thấy không phải sinh nhựt sinh nhiếc gì của hắn hết bèn kêu hắn mắn cho một chặp. Từ đó về sau hễ gặp mặt đầu bếp thì mặt hắn ta gầm gầm như là gặp kẻ thù. Có tên vừa xuống tàu lập tức đi tìm đầu bếp kể lễ đủ thứ bịnh trong người và những món ăn hắn ta cần phải kiên cử, rồi đưa ra thực đơn những món hắn ta ăn được, nhưng toàn là những món trong nhà hàng ba bốn ngôi sao. Nếu muốn chiều theo khẩu vị của loại người nầy, phải đề nghị công ty mướn một đầu bếp quốc tế và đặt hết thực phẩm trong siêu thị đem xuống họa may mới đủ phục vụ. Ngày nào đầu bếp cũng chứng kiến vài gương mặt bị bịnh thèm ăn riết cũng chán.  Ðể khỏi phiền phức, trong lúc làm việc Bếp cấm cửa không cho tên nào ló vào. Thỉnh thoảng cũng có vài tên vô bếp thăm chừng hỏi nầy hỏi nọ, bị đuổi ra làm hắn ta bực mình:
– Hỏi cũng có vấn đề sao?  
Xin thưa, nếu chỉ hỏi thôi thì đâu có vấn đề gì. Vấn đề là sau cái câu trả lời của đầu bếp, nếu trả lời trúng ý thì hắn cười tươi hai bàn tay chập lại chà chà miệng xuýt xoa khen ngon, bằng không thì hắn ôm bụng như bị bịnh tim la lâu ngày không trị, mặt nhăng như khỉ ăn gừng, miệng phung phèo phèo và chê thức ăn dơ.   Hồi còn phụ bếp, tôi thấy rất nhiều đầu bếp khó tánh, thủy thủ nào lỡ hỗn láo, mấy ông liền nổi tam bành lục tặc, chửi thề ỏm tỏi. Vì kỷ luật trên tàu nên trước mặt họ nhịn ông, nhưng sau lưng thì rình đổ thuốc rửa chén lên đĩa xà lách hoặc đổ muối vô nồi xúp phá chơi cho bõ ghét. Sau nầy tôi trở thành đầu bếp, thấm thía cảnh làm dâu trăm họ và nhận thấy lối cư xử trịch thượng quá thường bị thiệt cho mình. Tôi tập tánh nhẫn nhục và ôn hòa với mọi người, nhưng với một đám người phức tạp, có muốn giữ được sự công bằng trong việc ăn uống cũng không dễ dàng gì. Ban đầu chưa có kinh nghiệm, làm gà tôi chặt gà từng miếng nhỏ ướp gia vị, chiên vàng sắp vô đĩa cho đẹp, dọn lên bàn cho lịch sự. Nấy tên ăn trước lựa thịt ngon cho vô đĩa mình chừa lại xương, cánh vụn vặt. Mấy người sau không ăn được bèn bưng dĩa xương vụn vô mắng vốn đầu bếp. Về sau thịt nào mặc kệ, trước khi chiên, nấu cứ đếm đầu người chặt chia đều mỗi người một cục cho xong. Ý vậy mà vẫn lắm chuyện, đôi khi sắp đánh lộn với nhau chỉ vì cái trứng hay cái bánh ngọt. Có nhiều đêm bực mình muốn xách dao qua phòng cắt cổ cái tên dám hỗn láo với tôi và đem xác liệng xuống biển làm mồi cho cá.  Có một thủy thủ người In-đô không ăn được bánh mì, mỗi bữa điểm tâm anh thường xin tôi mì gói. Hôm rày mì gói cũng hết, anh ta đến than với tôi :
– Bên In-đô sáng trưa chiều tối đều ăn thức ăn nóng, còn Âu châu ăn đồ nguội ngắt lạnh tanh. Tôi từ tốn giải thích với anh ta như vầy:
– Tui biết,  ở In đô của anh cũng như ở Việt Nam của tôi ăn ngày ba bữa cơm hoặc khoai lang, nhưng cơm phải nấu,  khoai lang phải luộc mới ăn được, cơm nóng ăn đơn giản với cá khô, xì dầu, ketjap cũng xong. Bên Âu châu có nhiều thức ăn tuy nguội nhưng hợp vệ sinh. Sống tập thể, anh phải tập cho quen với mọi người, chuyện gì tui hổng biết chớ chuyện ăn uống những nước nghèo như mình không bì kịp người ta đâu.  Vì ngẫu hứng tôi lên lớp dạy anh ta hồi nào không hay, đợi đến khi nét mặt anh méo mó dài thòng, tôi mới dừng lại thì đã muộn màng rồi. Món ăn cũng là một trong những thứ biểu hiện văn hóa của dân tộc. Có lẽ tôi đã chạm tự ái dân tộc của anh nên từ đó trở đi anh hay xỉa xói, nói mỉa tôi là người Âu chớ không phải là Việt nữa. Ai cũng có một quê hương để tự hào, anh In đô kia cũng vậy, tôi không thể trách anh ta.  Trứng gà cũng sắp hết nên tôi bớt phần trứng mỗi tuần hai lần trong bữa điểm tâm. Nhưng sáng nào cũng như sáng nấy, ông Tây Ban Nha thức trước hơn mọi người, lấy bánh mì trét bơ để lên đĩa rồi xin tôi một trứng. Ông tự tay chiên vàng, xong bưng vô phòng riêng ăn. Lần đầu tôi không nói, ăn quen ông làm lừng, buộc lòng tôi phải lên tiếng lưu ý. Tức thì mặt ông thụng ra một đống, sau đó tới màn kiếm chuyện:
– Vài ngày nữa tàu ghé Santander, mầy lên bờ mua thêm thức ăn ?
Tôi nói :
– Được, nhưng tiền đâu ?
– Thuyền trưởng.  Ông nói chuyện ăn trớt như vậy thử hỏi làm sao tôi im được. Tôi ngó thẳng cái bản mặt râu nhiều hơn thịt của ông và lớn tiếng:
– Tôi đã nói với ông rồi, đơn đặt thực phẩm tui làm xong và đã đưa ông thuyền trưởng gởi về công ty hôm ở Baltimore. Ông chờ vài hôm nữa sẽ có đồ ngon cho ông ăn, còn bây giờ có gì ăn nấy.
– Nhưng mầy là đầu bếp thì phải lo cho đàng hoàng.
– Ông khỏi phải lo, tui hổng để ông chết đói đâu, nhưng yêu cầu ông đừng vô đây làm phiền tui nữa.  Chẳng lẽ mỗi chút mỗi lên tâu với thuyền trưởng, hơn nữa vì lễ nghĩa Á đông dạy tôi kính trọng người tuổi tác, tôi mới chịu khó giải thích dông dài. Ba trợn cỡ như ông và ông thợ máy, gặp phải đầu bếp thiếu tương tâm hoặc hung dữ mà ăn nói lăng nhăng như vậy nó không chửi vô mặt cũng cho ông ăn đàm và nước miếng hoặc lấy nước trong toilet pha trà, cà phê cho uống.  Chuyến nầy đi có hai ông già, thứ già lựu đạn, ăn nói lộn sòng. Ông thợ máy cũng sắp sỉ sáu mươi. Hôm nọ còn hai cái bánh ngọt cuối cùng, tôi lấy cho thuyền phó ăn, ông biết được bèn chạy xuống bếp gặp tôi, la ó om xòm, nói sao không chia cho ông một cái. Rồi từ đó trở đi, hễ tới giờ cà phê là ông nhắc tới hai cái bánh ngọt. Trên bàn ăn của officer, bữa trưa ăn nóng dọn năm món; buổi sáng, buổi chiều bánh mì đen, trắng, phó mát, thịt nguội, mứt trái cây và nước trái cây đủ loại, sửa cà phê, bánh mì đen trắng… Người In đô thì cơm trắng cá hoặc thịt và rau coi như xong bửa. Thật ra người In đô thích ăn thịt rìa có nhiều mỡ, thứ thịt đầu bếp lạng bỏ họ nhưng xin lại và nhờ đầu bếp ướp gia vị theo bếp In Đô, nhờ có nhiều gia vị nên khi chiên, nấu bốc mùi thơm lừng. Mỗi bữa ăn ông thợ máy cứ ngó qua phòng thủy thủ, mũi hít hít lắm khi chịu không được ông nhào qua bốc ăn và khen ngon rồi vô bếp phân bì.  Hôm nhận được điện tín báo sau chuyến nầy ông được nghỉ hưu, ông mừng rỡ cầm bức điện xuống khoe với mọi người. Sau đó ông vô bếp trong lúc tôi đương chiên thịt. Mặt ông hớn hở như trẻ nhỏ được quà, ông khoe :
– Tấn, dìa chuyến nầy tao được nghỉ hưu. Tôi gắp miếng thịt ra khỏi chảo, chưa kịp bắt tay chúc mừng thì ông vội nói tiếp:
–  Tao hải hành đúng bốn mươi hai năm. Nhắc cái chảo để ra khỏi lò, tôi day ngang bắt tay ông:
– Chúc mừng ông, tuổi ông nghỉ ngơi cũng vừa rồi,  nhưng Chủ Nhựt đừng quên dẫn bà và con Kees đi nhà thờ.
– Dĩ nhiên, dĩ nhiên… Chợt nhớ ra, ông nói :
– Nhưng nhà thờ đâu được phép dẫn chó vô.  Có lẽ tôi phải nhắc chuyện con Kees trước khi tiếp tục chuyện của ông . Hơn mười năm về trước. Ông thợ máy cuối độ tứ tuần, tánh tình ông tuy có hơi nhỏ nhặt nhưng chưa quá đáng như bây giờ. Thời gian trôi qua như con nước chảy, ông đã già, còn tôi thì sấp sỉ bốn mươi. Ông cưới vợ Bồ Đào Nha, cư ngụ ở thủ đô Lisboa. Có lần ông tâm sự, vì sợ hao tốn và ngại cực, bà không chịu sanh con, nhưng nuôi một con chó nhỏ xíu đặt tên nó là Kees. Dạo đó tàu đi tuyến đường Lisboa – Angola. Hễ mỗi lần tàu về Lisboa, bà thường dẫn con Kees xuống thăm ông. Một bữa tôi đương dọn dẹp, Kees đi vô ủi mỏ, hít hít dưới chưn, sẵn thức ăn thừa tôi liệng xuống cho. Liệng bao nhiêu nó đớp hết bấy nhiêu… Ăn no bụng, Kees chạy đi đâu tôi cũng không để ý. Đến lúc bà phát hiện con chó nằm ngửa chổng bốn cẳng lên trời, miệng chảy nước, hơi thở đứt đoạn, bà tá hỏa tam tinh chạy vô phòng bếp, hỏi tôi :
– Bếp, bếp, hồi nãy ông cho con Kees ăn gì ?  
Tôi nói :
– Tui cho nó ăn đồ thừa.
– Không được, không được !
– Tại sao không ?
– Con Kees có thức ăn riêng.  Tức thì bà chạy kêu ông ôm con chó lên nhà thương cứu cấp. May mà con Kees được cứu sống, bằng không tôi chắc phải ra tòa, vì đối với ông bà sinh mạng con Kees còn quí hơn mạng người nữa. Mỗi lần đổi xuống gặp ông, tôi hỏi thăm sức khỏe của bà mà không hỏi đến con Kees thì ông cũng tự nói ra. Mới đây ông cho tôi biết sức khỏe của con Kees yếu lắm, mới vừa rụng hết mấy cái răng. Như vậy con Kees sẽ cùng về hưu với ông luôn một thể.Trở lại chuyện với ông, tôi nói :
– Tôi nghe nói ở Âu châu chó chết chủ mướn linh mục đọc kinh trước khi chôn, vậy thì chó cũng biết nghe kinh chớ. Ông giơ tay gạt ngang trán một cái:
– Mấy người đó là mấy người khùng, tao thì không như vậy.  Thấy ông ngây ngô trả lời những câu khôi hài của tôi giống y như thiệt, chợt nhiên tôi nghe buồn buồn trong dạ. Nhìn mặt ông nhăn nheo, da tay sần sùi như rắn lột, hơi thở tỏa ra mùi ống cống làm tôi liên tưởng đến một xác chết. Còn sống chung chạ với nhau, nhỏ nhen, tham lam, ích kỷ.  Đến cuối cuộc đời đầu óc  lẫn lộn, tối tăm nằm chờ xuống lỗ. Giờ đây tôi mới thấy thấm thía câu sanh già bịnh chết của nhà Phật.  Thiệt ra ông và ông già Tây Ban Nha làm ra vẻ mình là quan trọng vậy thôi chớ ăn uống có là bao. Muốn nói chuyện ăn uống nhiều thì hãy nói đến mấy thủy thủ trẻ. Một ngày tôi làm được có ba ổ sandwich, mỗi ổ dài hai tấc tám, bánh dành xắt miếng để ăn điểm tâm và ăn dậm thêm buổi chiều. Mấy ông con thấy đồ ăn còn ít,  sợ chết đói hay sao mà mỗi đêm lấy ăn hơn cả ổ bánh mì, nửa ký phó mát, một đĩa dăm bông. Hết dăm bông, phó mát, mấy ông ăn qua mấy hũ mứt trái cây và đậu phộng nghiền… Tôi biết nhưng làm lơ. Một hôm sơ ý làm sao hổng biết, để cho ông già thợ máy bắt gặp. Sáng hôm sau ông tâu lên thuyền trưởng. Ngay ngày hôm đó, thuyền trưởng đề nghị tôi sau giờ ăn chiều đem tất cả đồ ăn để vô phòng lạnh rồi khóa cửa kho lại. Thức ăn mà đem dấu như mèo dấu cứt, thiệt tình thì cũng khó coi. Nhưng lịnh của thuyền trưởng biết làm sao bây giờ.  Ngồi trong phòng tôi vẫn cảm được cái lạnh mùa xuân trên miền bắc Đại Tây Dương. Gió thổi ào ào, sóng ập thành tàu, nước biển văng lên va vô cửa kiếng xào xạc. Không gian đen thẫm một màu và con tàu vẫn ngả nghiêng theo triền sóng. Có tiếng nắp vung rớt xuống sàn bếp nghe cái xèn. Tôi đứng dậy định đi xuống coi chuyện gì, nhưng kịp sựng lại, vì mũi tôi vừa nghe mùi thơm của mì ăn liền. Khỏi cần xuống bếp, tôi cũng thừa biết có một vài thủy thủ khi biết thức ăn sắp cạn,  xống kho chôm mì gói để dành, chờ mọi người ngủ bèn lén xuống bếp nấu ăn. Để anh bạn nào đó ăn cho ngon miệng, tôi tắt đèn, leo lên giường trùm mền. Trong khi thiêm thiếp, đầu óc tôi cứ chập chờn so đo. Vốn sống và lớn lên một đất nước nghèo và trong thời kỳ chiến tranh. Tôi cứ nghĩ trong cơn loạn lạc đói,  khát mới có chuyện miếng ăn đã làm con người trở nên thấp kém. Chớ tôi đâu có ngờ ở nơi thức ăn  thừa mứa, cũng có loại người chỉ vì miếng ăn mà trở nên bần tiện đâu khác gì. 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Những mảnh đời lưu lạc

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

  Năm 1993. Giữa lúc thế sự nước Nga thay đổi, ở Saint Petersburg ngày nào cũng nghe tin trộm cắp, hãm hiếp, giết người cướp của. Vậy mà Jopy coi như pha, hết giờ làm việc anh lập tức thay quần áo, bỏ bữa ăn chiều, khoác áo lạnh đi lên phố. Suốt đêm theo gái, sáng sớm mới lót tót xuống tàu. Jopy là thủy thủ người In-đô, đã hơn bốn mươi tuổi rồi mà anh vẫn không vợ con, không nhà cửa, dường như cuộc sống của anh chỉ biết có ăn nhậu và chơi đĩ. Mấy hôm trước lên hội quán giành gái sao hổng biết, anh lấy vỏ chai vodka đập lên đầu một thủy thủ Ba-lan phung máu. Người anh nhỏ thó và ốm nhom như con khô hố. Gặp phải mấy tay Ba-lan to như Kinh-công, hè nhau đập anh một trận rồi khiêng anh liệng xuống kinh, trong lúc dưới dòng băng còn tráng mỏng trên mặt nước. May nhờ nhân viên hội quán kịp thời thả dây xuống kéo anh lên, lấy quần áo khô cho anh mặc. Chờ anh tỉnh táo tôi mới gọi tắc xi đưa anh về. Bị một trận đòn nhừ tử vậy mà anh vẫn tỉnh bơ, hỏi tôi:
– Mầy thấy thế nào? Tôi nói:
– Trong lúc người ta cởi áo quần anh ra thay,  tui thấy con cu anh teo lại còn một thẻo da nhỏ xíu.
-…  Hồi hôm thức thâu đêm hành lạc hay sao mà sáng xuống tàu người anh phờ phạc, uể oải, tóc tai rối bù, mắt đỏ ngầu. Bước vô tàu chưa kịp cởi áo khoát anh vội đi thẳng qua phòng bếp. Trong lúc tôi đương xắt thịt dâm bông, anh hỏi xin một tách cà phê. Tôi ngừng tay day qua rót cà phê cho anh. Một tay anh đón lấy tách cà phê, một tay anh móc túi quần lấy ra  miếng giấy chìa cho tôi, miệng cười chúm chím ra chiều đắc ý lắm.
– Mầy đọc đi. Tôi mở mảnh giấy ra xem, một địa chỉ viết bằng chữ Nga tên người là Le Thi Trinh. Tôi đoán chừng nếu người viết đổi tên họ cho giống Tây thì đọc là Trịnh thị Lệ hoặc nhà quê một chút là Lê bằng không cũng có thể là Lê Thị Trinh. Tôi trả miếng giấy lại cho anh: – Một đàn bà Việt Nam. Tôi day ngang xắt thịt tiếp. Thấy tôi thản nhiên trước sự khám phá mà anh cho là độc đáo và có lẻ anh nghĩ tôi bị chạm tự ái dân tộc. Anh liền đổi thái độ, cười giả lả:
– Chắc cô ta là người Bắc Hàn. Tôi xắt xong miếng thịt, sắp vô dĩa rồi ngước lên, hất hàm và cười một cái:
– Ê, bộ đàn bà Việt Nam hổng biết làm đĩ sao. Nhưng anh gặp ả nầy ở đâu?
– Ở trên phố. Trước khi dợm bước anh còn  nói một câu:
– Người Việt ở Saint Petersburg đông lắm.  Khỏi đợi Jopy nói tôi cũng biết, mấy năm nay nhà nước Việt Nam đưa hàng trăm ngàn công nhân sang nước ngoài lao động, nhiều nhứt là ở Nga và khối Ðông Âu và qua Á-Rập tôi cũng gặp người Việt lao động bên đó.  Mấy ngày sau, chiều nào Jopy cũng này nỉ tôi đi theo anh để gặp mặt cô gái đồng hương nào đó. Trên bước đường luân lạc tôi đã nhiều lần chạm mặt với những cô gái Việt làm tiền ở nhiều quốc gia khác nhau chớ không riêng gì trên nước Nga nầy. Gặp nhau như gặp người tình trong hoàng cảnh éo le, lấm la lấm lét, ngượng nghịu nói vài câu rồi cô ta viện cớ nầy cớ nọ vong mất. Ước lượng cuộc gặp gở không mấy bình thường, tôi dứt khoát không đi theo Jopy và cũng không muốn anh nhắc tới chuyện cô Le Thi Trinh nào đó trước mặt tôi nữa.  
*
Cuối tháng ba, những mảnh băng bể trôi tản mạn trên dòng sông Neva.  Dọc trên lộ tuyết tan thành nước pha bùn đọng vũng theo những ổ gà. Chiếc xe bus chạy rù rù trên đường đá lổm chổm, thỉnh thoảng xụp ổ gà kêu cái rầm, bánh xe dẫm bùn văng tứ tung và thân xe rung rinh nhún lên nhún xuống kêu ken két.  Mau thật, mới đó mà tôi đã đi lại nơi đây hơn bốn tháng trời. Bây giờ tôi đã biết dùng xe công cộng, mấy anh tắc xi không còn cơ hội chặt tôi với giá trên trời dưới biển nữa. Hôm mới tới tôi đổi một trăm Mỹ-kim ra một ngàn rúp, tiền rúp tôi dành mua vé xe hoặc mua bia hơi rót bán trong trong những chiếc keo theo mấy sạp bên lề đường. Những món hàng rong ở đây rẻ như bèo, vì vậy hơn bốn tháng qua tôi xài chưa hết một ngàn rúp.  Xe dừng lại rước khách. Một người đàn ông cao ráo có bộ râu quay nón tỉa đều, gọn gàn trong bộ đồ Jean đã bạc màu, vai mang ba lô, tay ôm tây-ban-cầm bước lên. Trên xe còn nhiều ghế trống nhưng không ngồi, ông đứng ở khoảng giữa, một tay vịn thành ghế một tay chỏi lên cán đờn. Nhìn ông tôi nghĩ ngay tới một nghệ sĩ giang hồ rày đây mai đó. Có lẻ thấy tôi nhìn ông với vẻ thân thiện nên ông cười một cái và hỏi tôi bằng tiếng Anh:
– Du lịch?
Tôi nói bừa:
– Dà. Bất chợt ông đưa tay khoa một vòng bên ngoài:
– Hồi trước không như vầy đâu. Tôi ngó theo hướng tay ông ta, hai bên đường kẻ mua người bán tấp nập, nếu không có đống rác tổ bố nằm bên góc đường thì khu chợ trời cũng sạch sẽ khang trang như những chợ trời ở các quốc gia tân tiến khác. Tôi không biết ông muốn phê phán về những đống rác nằm bên đường hay cảnh bán buôn xô bồ xô bộn mà trước đây nhà nước xã hội chủ nghĩa không cho phép. Nhiều năm lăn lộn đó đây, cuộc sống đã dạy cho tôi nên tỏ lòng thân thiện với mọi người nhưng không nên đẩy đưa câu chuyện quá đà, nhứt là với những người chưa quen biết. Tôi đáp lời ông bằng nụ cười và những cái gật đầu. Xe dừng trước nhà hát trên đường Nevskiy Prospekt, tôi khoát tay từ giả ông nghệ sĩ và cùng vài hành khách bước xuống xe.  Hôm nay trời đẹp lắm, đi dưới nắng vàng rực rở tôi mới hay mùa đông đã đi qua, trên cành cây lá non vừa nhú và những loài hoa nở sớm bắt đầu khoe sắc. Trên các ghế đá công viên, nhiều người ngồi đọc sách và những đôi trai gái dắt dìu nhau dạo cảnh. Trông ai cũng vui tươi, gần gũi với thiên nhiên, không còn lẫn trốn tiết trời như mấy tháng mùa đông.  Trong nhiều cửa tiệm lớn vắng người và ít hàng hoá, trái lại ngoài đường phố người bán buôn chen chúc trong đám khách bộ hành và bày biện hàng hoá chiếm gần hết lối đi. Có rất nhiều người Việt, đứng nhiều nơi trong những khu phố đông người rao bán các món hàng như quần áo, vải vóc, nón kết, túi xách và nhiều món linh tinh khác sản xuất tại Việt Nam. Tôi rất muốn hỏi chuyện với những người đồng hương, nhưng còn ngần ngại. Chợt nghe giọng Bắc kỳ thanh thanh rành rọt của người con gái ở phía sau: – Sang, bên nầy nắng chói quá, mình qua bên kia đường đứng đi.  Tôi ngoái lại thấy một người con trai vắt áo quần trên cánh tay đứng xề qua xề lại mời khách qua đường mua, người con gái lui cui thu dọn đồ đạc để trên tấm vải trải trên mặt lộ bỏ vô chiếc túi xách lớn. Cạnh bên một em bé ngồi bẹp dưới nền gạch mân mê những món đồ chơi, chợt em bé thảy trái banh lăn ra lộ. Tôi liền rượt theo lượm trái banh trả lại cho em bé. Thấy người lạ em khóc ré lên.
– Hương Giang nín!
– Cô gái nạt đứa bé xong, ngoái lại nhìn tôi và nói lời cám ơn bằng tiếng Nga. Tôi cười và nói lại bằng tiếng Việt
– Tên của cháu nghe rất là thơ mộng. Người con gái trố mắt nhìn tôi từ đầu tới chưn như nhìn con quái vật, một hồi sau cô ta hỏi tôi:
– Anh là người Việt?
– Cô nghĩ tui là người gì?
– Trông anh giống Nhật đấy. Anh sang đây du lịch à?
– Không, tui đi làm ăn. Cô gái cúi xuống lẹ làng lượm những món đồ còn lại nhét hết vô giỏ rồi xốc bé Hương Giang lên nách, day qua tôi cô nói:
– Thế thì anh về nhà em chơi nhé. Sự hấp tấp của cô làm tôi lúng túng:
– Cô, cô còn bán đồ mà, để khi khác cũng được.
– Không có chi, bán buôn thì tụi em bán suốt năm, lâu lâu gặp người mình một lần, nghỉ một buổi có sao đâu. Nói xong cô day qua người con trai còn đứng ngoài đường kèo nài giá cả với một bà già.
Cô gọi:
– Sang! Anh Sang đi về. Không đợi anh kia đáp lời và cũng không hỏi coi tôi có chịu theo cô ta về nhà không. Cô day ngang nói với tôi như ra lịnh:
– Đi, mình đi anh. Tay bồng đứa bé, tay xách giỏ đồ, cô đi te te một nước. Trước sự vồn vã của cô gái lạ làm tôi lính quýnh. Không biết làm sao tôi bèn chạy theo hỏi: – Mà nè cô tên gì?
– Yến.
– Nhà cô xa đây hông?
Cô ta chỉ tay về phía con đường trước mặt:
– Phía sau đuờng kia kìa. Nghe nói người Việt ở Nga sống khá phức tạp, cộng thêm sự đường đột của cô gái làm tôi hơi lo. Tôi kiểm lại tiền bạc, trong túi còn năm chục Mỹ kim và số tiền rúp không đáng kể. Tay không đeo cà rá, đồng hồ lỡ gặp xui xẻo cũng chẳng hề gì, thôi đành nhắm mắt đưa chưn bước theo cô ả.  Đi một đỗi tới một chung cư. Yến đẩy cửa bước vô, tôi cũng bức theo sau. Từ ngoài sáng bước vào chưa quen mắt nên tôi không thấy gì hết, tôi đẩy hé cánh cửa bên ngoài, ánh sáng lọt vô lờ mờ. Tôi thấy Yến đã tới cửa thang máy bấm nút đứng chờ, tôi vừa bước tới thì cửa thang vừa mở ra. Chúng tôi bước vào thang, bên trong cũng không có đèn, tối  thui. Mùi xú uế nực nồng của một người say rượu ói mữa và tiểu tiện ngay dưới sàng, làm dẫm lên trơn nhớt dưới gót dày, tôi rùng mình một cái và nghe cổ họng ơn ớn.  Thang dừng lại tần thứ sáu. Yến dẫn tôi vô một căn phòng hẹp và mời tôi ngồi trên bộ sa lông đặt giữa phòng bằng vải đã thâm kim, bên cạnh chiếc bàn nhỏ để một cái nôi, xung quanh đồ chơi con nít vứt ngổn ngang, sự bề bộn làm cho căn phòng đã nhỏ lại thêm chật chội. Mới vô tôi tưởng đây là phòng khách. Nhưng không phải, một tấm ván vuông đóng ép vô tường, tới bửa ăn hạ tấm ván xuống làm mặt bàn ăn, tối kéo chiếc sa-lông ra thành chiếc giường ngủ cho hai vợ chồng và đứa con.
Tôi hỏi:
– Ăn ở như vầy cô không thấy chật chội lắm sao?
Yến nói:
– Không anh, chúng em ở như vầy là tốt hơn nhiều người đấy. Sang khệ nệ ôm gói đồ từ ngoài bước vô, tôi nhìn qua Sang, chưa kịp chào thì Yến vội giới thiệu:
– Anh Sang, là anh nuôi của em.
Tôi tò mò hỏi:
– Còn ông xã cô đâu? 
– Đi làm chưa về.
– Ảnh mần gì?
– Anh ấy lái xe điện, cũng sắp về rồi đấy. Yến đứng ôm bé Hương Giang. Sáng bước vô ngồi đối diện và gót trà mời tôi. Sau hồi nói chuyện tôi mới biết anh Sang qua Nga du học từ năm 1988, đã đậu bằng kỹ sư canh nông và ở lại làm việc cho một cơ quan nhà nước. Vừa qua tình hình chánh trị nước Nga thay đổi và làm cuộc sống anh cũng theo đó mà đổi thay. Anh nghỉ làm cho nhà nước, ra ngoài cạy cục xin được vài mẫu đất canh tác; nuôi gà, nuôi thỏ và cuốc đất trồng khoai tây. Những ngày rảnh rổi anh theo Yến bán chợ trời. – Ở nước mình đất đai phì nhiêu, màu mỡ và thời tiết thuận lợi suốt năm. Còn bên nầy mần được mấy tháng mùa hè, còn lại gió lạnh và tuyết đóng băng. Anh muốn mần ruộng thì về bên mình mần dễ hơn bên nầy chớ.   Có lẻ những lời bọc trực của tôi làm anh tự ái, nên mặt anh đanh lại và im lặng không nói thêm gì. Bất chợt tôi nhận thấy mình quá hồ đồ, dù sao tôi với anh mới gặp lần đầu, nói năng cũng phải giữ phép lịch sự, có đâu xối xả như tát nưóc vô mặt người ta. Tôi bèn lảng sang chuyện khác để che dấu sự ngượng ngùng. Chỉ tay qua những túi đồ, tôi hỏi:
– Hàng nầy sản xuất tại Việt Nam hả anh?
– Vâng.
– Bên nhà gởi qua cho anh hay lấy hàng của người khác? Sáng chưa kịp trả lời thì Yến chen vào:
– Không anh, bọn em lấy trên Sứ đấy.
– Sứ?
Thấy tôi ngớ ngẩn, Yến giải thích:
– Sứ là sứ quán của Việt Nam đấy anh. Từ trước tới nay tôi đã đi qua rất nhiều sứ quán. Tôi thấy trong toà sứ nước ngoài có nhân viên làm việc và một người đại diện cho quốc gia được gọi là ông đại xứ. Theo lời Yến, tôi có thể hình dung ra toà đại sứ Việt Nam ở Moscow lúc đó giống y như một cửa hàng buôn bán sỉ và lẻ mà ông đại sứ là chủ tiệm. Yến đưa bé Hương Giang cho Sang bồng, rồi cô lấy ấm nấu thêm nước. Tôi với Sang nói chuyện trời trăng mây gió một hồi thì Yến bước vô, đi theo Yến một gã đàn ông Nga cao lêu nghêu, tay ôm cặp táp. Yến chỉ tôi và nói gì đó bằng tiếng Nga, chợt nhiên cô day qua tôi, hỏi: – Anh tên gì vậy? Suốt cả buổi trò chuyện vậy mà cô không biết tên tôi là gì, nếu không hỏi tôi cũng quên tuốc luốc. Tôi nói: – Tôi tên Tấn. Tức thì cô ta day ngang tiếp tục giới thiệu. Sau đó gã đàn ông đi tới chìa tay ra bắt tay tôi. Yến day qua tôi: – Đây là Stax, chồng em. Stax bước qua tủ lấy chai Vodka ra rót mời tôi và Sáng uống. Từ đó trở đi mỗi lần về Rotterdam trở qua tôi thường nghé thăm gia đình Yến và cho Hương Giang bánh kẹo. Lần lần chúng tôi trở nên thân thiết.   Trong thời gian nầy ở Saint Petersburg còn nhiều chuyện phức tạp. Như ai muốn điện ra nước ngoài thì phải đặt và trả tiền trước hai ngày – theo quy định mỗi lần đặt được gọi tối đa là ba mươi phút – tới ngày hẹn trở lại ngồi ở phòng chờ đợi, đợi loa kêu tên và chỉ số phòng cho vô gọi, người nào trễ hẹn coi như mất tiền. Nhân viên bưu điện nói tiếng Nga, vì vậy mỗi lần muốn điện thoại về gia đình tôi phải nhờ Yến đặt dùm và luôn cả việc theo tôi làm thông dịch. Tôi rất ái ngáy trong lòng khi thấy vợ chồng ngồi chờ hàng giờ đồng hồ. Hỏi hai người có khó chịu không. Yến vui vẻ trả lời, chuyện chờ đợi ở nước Nga là chuyện thường thôi.  
Chuyến nầy bị mưa dầm, hàng hoá không lên được, tàu đậu chờ hơn hai tuần lễ rồi. Sợ người nhà nóng lòng muốn biết tin, nên hai hôm trước tôi nhờ Yến đặt điện thoại dùm. Nhân tiện cuối tuần nầy Stax được nghỉ, Yến giao cho Sang bán chợ trời, hai người mời tôi đi phố và thăm vài cảnh đẹp của Saint Petersburg.  Nhưng hôm ấy mưa nhiều quá, tôi đội mưa từ trạm xe bus vô tới nhà Yến thì đầu cổ ướt mem. Vừa bấm chuông Stax liền ra mở cửa. Như chờ sẵn, chưa kịp mời tôi ngồi anh đã giải thích chuyện gì mà nói bô lô ba la, tay chỉ trỏ tứ lung tung. Tôi chẳng hiểu gì hết, chỉ hơi ngạc nhiên vì không thấy Yến ở trong phòng, thay vào đó là một cô gái lạ ngồi chơi với Hương Giang. Thấy tôi lớ ngớ, cô ả bèn đứng dậy chào. Cô lấy khăn cho tôi lau nước, và mời tôi ngồi xuống. Stax lại mở tủ lấy ra một tờ giấy xếp làm tư đưa cho tôi. Tôi cầm lấy rồi mở ra, đó là thư của Yến. “Anh Tấn, Em có việc đột xuất phải đi Mockba, không gặp được anh em rất buồn và rất tiếc. Em đã đặt điện thoại cho anh vào lúc bảy giờ chiều, anh tới nghe điện thoại, có chị Xuân theo làm thông dịch và dẫn anh đi chơi. Thôi nhé em vội quá, mười một giờ rưỡi tối tàu chạy rồi, hẹn anh vào ngày Chúa Nhật. Chúc hai người đi chơi vui vẻ…em đi đây. Yến!    Tôi ngó qua người con gái, cô ta nở nụ cười tươi như sẵn sàng chờ nghe tôi nói.
Tôi hỏi:
– Yến nhờ cô giúp tui hả cô Xuân?
– Vâng. Tôi nhìn kỹ người con gái hơn, mặt xương, răng hô, thân hình ốm, ngực lép xẹp. Xuân vẫn giữ nụ cười tươi, nhưng tôi vẫn không tìm ra nét duyên dáng nào hết. Stax pha trà để lên bàn rồi bồng bé Hương Giang cho Xuân rảnh tay tiếp chuyện. Tôi nhìn ra ngoài cửa kiếng, vẫn còn mưa rầu mưa rỉ, biết đi đâu bây giờ. Tôi day qua Xuân:
– Mưa nhiều quá, đi chơi hổng được đâu, nếu cô có việc thì cứ đi mần, tui trở xuống tàu, chiều tui lên nhờ cô giúp tôi đi bưu điện. Xuân nói với vẻ thân mật:
– Không, hôm nay em nghỉ, nếu anh không có chuyện gì thì mời anh qua ốp chơi.
– Ốp! Ốp là gì vậy?
– Là chỗ ở của bọn Xuân đấy. Hôm nay tôi nghỉ buổi chiều, trở xuống tàu cũng không làm gì, thôi thì theo cô ả chơi, luôn tiện biết thêm cuộc sống của người Việt ở ốp ra sao.
– Từ đây qua chỗ cô ở có xa lắm hông?
– Khoảng mười phút xe điện thôi anh.
– Vậy thì mình đi. Tôi và Xuân từ giã Stax đi ra, trời vẫn còn mưa tần tả, chúng tôi đội mưa đi ra trạm xe điện.   Ốp là chung cư dành cho những người Việt sang đây lao động. Chiều dài của mỗi căn phòng khoảng tám chín thước, bề ngang chừng hơn ba thước. Theo lời Xuân thì trước đây cả ngàn dân lao động ở chung cư nầy, mỗi phòng chứa ba bốn người. Vừa qua nhiều người hết hợp đồng về nước. Còn lại khoảng hai trăm người, nên mới được ở rộng rãi như vầy, tức là một phòng chứa hai người. Đây là phòng ngủ và phòng ăn chung. Còn phòng tắm, cầu tiêu, nhà bếp thì xài tập thể.   Xuân mời tôi ngồi chơi, cô xách ấm ra bếp nấu nước. Căn phòng lành lạnh, cảnh vật lờ mờ và mùi mốc meo thoang thoảng. Bất chợt tôi nghe nhiều tiếng động rột rẹt trong góc phòng, tôi ngó qua những thùng giấy vuông đóng kín bằng băng keo, được chất ngăn nắp chiếm một phần tư căn phòng và cao đụng la-phông. Tiếng động mỗi lúc một nhiều và có cả tiếng chuột kêu. Tiếp theo từ thành giường một chú chuột bằng nữa cườm tay bò ra, rồi hai trự ở góc phòng bò tới, ba bốn con ở dưới gầm giường….cuối cùng xuất hiện một bầy chuột giữa nhà, chúng lượm cơm đổ. Bộ lũ chuột không biết tôi là người hay sao mà cứ ngang nhiên trước mặt giành ăn và còn cắn nhau nữa. Tôi ngồi bất động nhìn bầy chuột cho tới khi Xuân mở cửa phòng, tiếng động của cánh cửa làm bầy chuột giựt mình ùa nhau chạy một lượt rồi biến mất vô chồng thùng giấy. Xuân xách ấm nước nóng bước tới bàn mở bình trà, vừa châm vừa hỏi:
– Làm gì mà ngồi trần tư vậy?
– Nhìn bầy chuột diễn binh chớ đâu có trầm tư.
– Ối giời, gì chớ chuột ở đây thiếu gì, có đêm ngủ nó bò lên cắn chân đấy. Tôi không muốn nói tiếp chuyện chuột, bèn lảng sang hỏi chuyện người:
– Hôm nay cuối tuần mà sao trong nầy vắng teo ? Xuân rót nước đưa qua tôi:
– Những người làm ca vẫn còn làm chứ anh, còn những người được nghỉ thì họ đi ra bán chợ trời.
– Người ở chung với Xuân làm ca hay đi buôn bán?
– Chị Lan ở chung với em, chị ấy sung sướng lắm, cuối tuần đi chơi với người yêu.   Xuân rót thêm trà và không hiểu sao cô đem chuyện của chị Lan nào đó kể cho tôi nghe. Theo Xuân thì ở bên nhà chị Lan có chồng, sang đây cặp bồ với một anh buôn bán mánh mung, anh ta chạy hàng từ Nga qua Ba Lan, từ Ba Lan mua hàng đem về Nga. Hèn chi chỗ ở của chị Lan trang trí đồ đạc trông đẹp mắt và sang trong hơn chỗ của Xuân. Trên vách phía trong chiếc giường treo tấm poster khổ lớn của Sylvester Stallone ở trần, tay mang găng chuẩn bị đánh võ đài, cạnh bên một học băng nhạc của các ca sĩ Việt Nam ở nưóc ngoài và có cả một giàn máy hát để trên đầu giường. Tôi chỉ qua chồng thùng giấy hỏi Xuân:
– Thùng đựng gì mà nhiều vậy?
– Hàng của người yêu chi Lan đấy anh.
– Chi Lan ăn nên làm ra nhờ có người yêu, sao cô không tìm một anh để cùng nhau làm ăn cho lên với người ta.
– Có người yêu phiền phức lắm.
– Thiệt phiền hông đó?
– Thật chớ anh, phiền nhứt là mỗi khi chị Lan dẫn người yêu về ngủ lại đêm. Tôi nhấp một miếng trà thấm giọng:
– Ừa hén, phòng ngủ trống trơn như vầy cũng bất tiện lắm.
Xuân nói rất tự nhiên:
– Lúc đầu hai người làm em khó ngủ, nhưng lâu dần rồi thấy bình thường nhưng… Cô ta không nói nữa. Tôi cũng không muốn cô kể tiếp câu chuyện:
– Mọi chuyện trở nên bình thường, như vậy là tốt lắm rồi.
– Sống tập thể mình phải thông cảm với nhau chứ anh.   Mắt Xuân mơ màng và đưa lưỡi liếm vành môi. Tôi nhìn ra ngoài khung cửa để tránh cái nhìn nóng bỏng của cô. Mưa đã tạnh nhưng gió vẫn còn mạnh đủ sức xô đẩy la liệt những cành cây. Nước mưa còn đọng trên cành lá bị gió vũ văng tạc vô vách ván rao rào. Bên ngoài sống động lạnh lùng. Trong phòng yên lặng đến đỗi nghe rõ tiếng chuột kêu. Bây giờ tôi chợt thấy bất tiện khi ngồi đây nói chuyện với Xuân.
Tôi đề nghị:
– Xuân nè, hổng ấy cô dẫn tui đi một vòng rồi mình kiếm cái gì ăn.
– Anh đói hả, để em nấu cơm anh ăn.
Tôi lắc đầu:
– Không, tui muốn cô dẫn tui đi giới thiệu một vài món ăn Nga đó thôi.
– Đi nhà hàng tốn tiền lắm.
– Không sao, ra phố ăn cho gần bưu điện. Không muốn Xuân nói thêm nữa, tôi hớp hết nước trà và bưng tách đứng dậy hỏi chỗ nào rửa tách được. Xuân chồm lên dằng tay tôi xuống.
– Anh cứ để đó và ngồi chờ em thay đồ. Không biết vì sống tập thể riết rồi quen, hay gì một nguyên do nào khác. Xuân mở tủ lấy áo, quần rồi tự nhiên dạy mặt vô vách cởi đồ ra thay. Nhìn thân thể gầy gò, cặp giò thiếu thịt, mông dẹp lép mỗi khi cúi xuống lòi cả bộ xương xường. Trông dáng vẻ của cô tôi tưởng tượng ra một đất nước Việt Nam ốm đói đương hiện diện trên xứ lạ quê người. Xuân bận quần áo xong, tới đứng trước mặt tôi, cô ta hỏi:
– Chị ở nhà đẹp lắm anh nhỉ? Tôi không muốn mất thời giờ nên vừa đứng lên vừa nói:
– Có chị nào đâu mà đẹp với xấu.   Nói xong tôi bước ra mở cửa. Chúng tôi đi dọc theo hành lang, có lẻ thấy tôi lạ nên vài người đưa mắt nhìn. Nổi bật nhứt là trước cánh cửa của một căn phòng, hai bên giăng giấy hoa đủ màu, trên mặt cửa dán chử Tân Hôn bằng giấy bóng màu đỏ. Chứng tỏ có một đôi tình nhân vừa mới được tập thể cấp giấy sống chung.  

*

Mới ngày hôm qua nhiệt độ mười hai, mười ba trời còn ui ui, lành lạnh, bỗng nhiên hôm nay tăng lên tới hai mươi lăm độ. Mặt trời chói chang, gay gắt khó chịu như bị xát muối ngoài da. Mùa xuân vội vã đi qua, mùa hè chợt tới. Tôi trở lại Saint Petersburg chuyến nầy cũng là chuyến chót. Trong những ngày ở đây, tôi tranh thủ thời gian lên thăm và từ giã những người quen. Trước khi lên gặp các bạn, tôi ngỡ câu chuyện sẽ ngưng lại và chấm dứt. Cuộc sống đã tập tôi thành thói quen, đếm một bến lạ vui chơi vui vẻ, tự nhiên, khi rời đi lòng khỏi vấn vương. Nhưng không ngờ khi tôi ngỏ lời từ giã. Yến rưng rưng buồn:
– Anh đi rồi chắc tụi em không còn gặp lại anh nữa đâu. Tôi cười và nói một câu xưa như đồ cổ:
– Trái đất tròn mà lo gì.
– Phải chi anh ở đây tới Đêm Trắng chúng em dẫn anh đi chơi, vui lắm.
– Đêm trắng là đêm gì?
– Người Nga có tục lệ, hàng năm tới ngày đầu của mặt trời không lặng, họ đổ hết ra đường, uống rượu, ca hát suốt đêm và chiếc cầu bắt ngang sông Neva được quay lên trông đẹp lắm… 
Theo tôi biết thì không phải riêng vì nước Nga, phần đông những động vật sống về phía bắc bán cầu, chịu những tháng dài sống trong cảnh mờ tối. Vì thiếu mặt trời, nên khi ánh sáng trở lại thì lá hoa khoe sắc, chim hót ríu ra ríu rít trên cành; hưu, nai, khỉ đột đùa giỡn trong rừng sâu và con người ta mở tiệc nhậu nhẹt vui tươi chan hoà với thiên nhiên tươi sáng.  Không ở lại tới Đêm Trắng thì Yến mời tôi lên nhà chơi vào trưa chủ nhựt. Tôi sắp xếp lên đúng hẹn. Khi tới nơi tôi thấy bạn bè tụ tập đầy đủ trong phòng.  Stax xin nghỉ một bửa, anh làm hướng dẫn viên. Yến bồng bé Hương gian, còn Xuân đi theo làm thông dịch. Sang từ nông trại ra có đem theo gà và thỏ, anh tình nguyện ở nhà nấu bếp, chờ chúng tôi về thưởng thức tài nghệ nấu nướng của anh.  Stax đưa ra một vài nơi thắng cảnh trong thành phố cho tôi lựa chọn. Bảo tàng viện Hermitage nằm bên bờ sông Neva thì tôi đã đi hết một ngày mà chỉ xem được khu mỹ thuật với cung điện chạm trổ tinh vi bằng vàng, tranh ảnh thu thập khắp nơi trên thế giới và một xác ướp của mấy ngàn năm về trước. Tôi có nghe người hướng dẫn nói, nếu muốn xem hết bảo tàng viện thì phải mất ít nhứt là hai năm. Trong nửa buổi chúng tôi không thể đi xem hết viện bảo tàng được. Sau khi cân nhắc, chon lựa, tôi đề nghị đi ra công viên Mùa Hè chơi là tiện nhứt.  Hôm ấy trời nóng lắm nên ai nấy mặc áo quần màu mè và mát mẻ. Chúng tôi lấy xe điện ra công viên Mùa Hè nằm cạnh bờ sông Neva. Giữa dòng sông những chiếc đò chở đầy nhóc khách du lịch chạy ngược, chạy xuôi.  Chúng tôi nhập vào đám đông du khách đi thẳng vào vườn hoa. Dưới tàn cây xanh bóng mát, nhiều đôi tình nhân thảnh thơi vừa dạo cảnh vừa chuyện trò. Trên những chiếc ghế đá, người lớn ngồi đọc báo, trẻ em ngồi ăn kem. Trên cành cây chim chóc tụ về nhảy nhót và hót líu lo. Các bạn kêu tôi dừng lại xem những tượng vôi trắng tạc  hình người quái lạ. Theo lời Stax thì những tượng nầy do một điêu khắc gia người Ý tạc lên hồi thế kỷ trước tượng trưng cho thần gió, thần mưa, thần ánh sáng, thần đêm tối… nói chung khu nầy mỗi bức tượng là ý nghĩa của một sự sống. Sau khi đi dạo hết công viên, chúng tôi đi tham quan đài chiến sĩ.  Đài được bao bằng bức tường chắn gió, cạnh bên chưn tường được đặt một băng đá dài, trước mặt bàn bằn xi măng láng bóng, chính giữa đài một mẻ lửa bập bùng cháy. Stax nói, đây là đài tưởng niệm những chiến sĩ trắng và đen đã bỏ mình cách đây hơn trăm năm trước…Hình như tiếng Nga của Xuân và Yến chưa đủ để làm thông thông dịch, đôi khi tôi hỏi một câu cần phải giải thích dài dòng, nhưng hai cô dịch lại một câu gọn lỏn làm tôi tưởng chừng như bị lạc đề. Tuy nhiên nhìn nhiều người ôm những bó hoa đủ màu, trân trọng đặt lên phiến đá, rồi đi thẳng vô ngồi lên băng cũng bằng đá, mặt nghiêm trang ngó bếp lửa lập loè, làm lòng tôi dâng lên niềm tôn kính và cảm tưởng như những linh hồn của những chiến sĩ còn phảng phất đâu đây.  Đã hơn sáu giờ rồi, nhưng bầu trời không dấu hiệu hoàng hôn. Cuộc du ngoạn chúng tôi đưọc chấm dứt sau khi đi ra bến chờ xe điện về nhà.
Trên xe Stax nhờ Xuân thông dịch, hỏi tôi:
– Anh thấy thành phố Saint Petersburg như thế nào?
Tôi trả lời: 
– Rất đẹp, nhiều thắng cảnh đáng được xem, nhưng có lẽ gần một thế kỷ qua không được sửa sang, tân trang gì hết. Cho nên Saint Petersburg giống như một thiếu nữ duyên dáng bị bọn côn đồ hãm hiếp tả tơi… Xuân dịch lại…Stax nghe qua cười nghiêng cười ngữa và cười chảy nước mắt. 
*
Chúng tôi về tới nhà thì anh Sang đã nấu nướng xong. Gà chặt miếng nhỏ chiêng vàng, thỏ hầm rượu chát.  Ăn với bánh mì kèm sà lách trộn dầu dấm và uống rượu vodka. Ngoài những người bạn thường gặp có thêm Tuyền, bạn gái của Sang, và Phương là bạn của Tuyền. Hai cô nầy tôi gặp vài lần ở nhà Yến và nhiều lần ở chợ trời. Không hiểu sao gặp hai cô đứng bán ngoài chợ, tôi hỏi chuyện hai cô lạnh lùng như không muốn tiếp. Nhưng hôm nay chợt nhiên hai cô đến chơi, vừa thấy tôi Tuyền vồn vã:
– Nghe tin anh sắp rời khỏi nơi nầy, bọn chúng em bỏ chợ về liền đấy.
Tôi khôi hài:
– Chớ hổng phải nghe tôi rời khỏi nơi đây, hai cô mừng quá nên về tống khứ đi cho rảnh mắt.
– Anh nầy…
– Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn hai cô.  Nhớ lại  mỗi lần tôi tới đây, nếu không nhờ vả chuyện nầy chuyện kia thì cũng quấy rầy chuyện nọ. Chẳng những các bạn không lấy làm phiền mà còn sẵn sàng bỏ công việc dành thời gian giúp tôi. Yến thay mặt mọi người nâng ly nói lời đưa tiễn, tiếp theo Sang mời mọi người cầm đũa thưởng thức tài nấu bếp của anh. Trong lúc mọi người ăn uống. Stax đi lại góc phòng lấy cây đờn máng trên vách, trở lại ngồi chỗ cũ vừa đờn vừa hát một bản bằng tiếng Nga. Anh hát vừa hết bài, cử toạ cho một tràng pháo tay và bắt đầu nổi hứng.  Sang mượn đờn vừa rảy vừa ngâm bài Tống Biệt Hành, giọng Bắc Kỳ ngâm thơ hào khí gất trời…. 
“Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ. Chí lớn không về bàn tay không. Thì không bao giờ nói trở lại! Ba năm, mẹ già cũng đừng mong…”. 
Thiệt tình mà nói, bài thơ anh ngâm tặng tôi nhưng tôi không cảm thấy xúc động chút nào hết. Không hiểu tại sao đàn ông Việt Nam khi ra nước ngoài, hễ ngồi nhậu với nhau thì ngâm Hồ Trường, còn chia tay thì ngâm thơ tống biệt. Người nào cũng chí lớn ngất trời, nhưng phần đông chỉ làm được những chuyện tầm thường, nho nhỏ. Sang ngâm xong bài thơ cũng được một tràng pháo tay. Tiếp theo Xuân mở cặp ra lấy một tập thơ chép tay, cô lật từng trang rồi dừng lại một bài. Xuân giới thiệu, bài thơ nầy của một người bạn làm trong lúc tiễn người thân về nước. Bây giờ cô đọc tặng cho tôi.
(*) Dẫu sao cũng đất nước người Thôi em đừng đứng giữa trời mà kêu Có ai thương những kẻ nghèo Tấm thân tiều tụy đến điều chưa xong Hàng em bị cướp nhiều không? Áo quần nhàu nát mặt bầm vết đau Tưởng rằng qua kiếp ngựa trâu Nào ngờ lại thấy trên đầu…dùi cui Đỏ xanh cũng một chân trời Đi đâu cũng một kiếp người làm thuê Thôi em đừng hóc làm chi Đã qua cửa khám thì về cho xong… 

Nghe qua tôi hiểu ý của bài thơ là có một cô đi buôn bán chợ trời, xui gặp bọn cướp giựt hết hàng hoá còn bị công an lấy dùi cui đập và bắt đem nhốt nữa. Nhưng khi được Xuân giải thích tôi mới biết có một nữ công nhân hết hợp đồng được về nước. Nhưng khi ra tới phi trường chẳng may bị bọn côn đồ giựt hết đồ đạc. Câu “Đã qua cửa khám…”  Tức là chỗ khám hành lý chớ không phải cửa tù.
Tôi hỏi:
– Những người giựt đồ là người Việt hay người Nga. Xuân tỏ vẻ khó chịu làm như chính cô là nạn nhân bị cướp, cô hằn học nói một hơi:
– Người Việt mình đấy anh, thế nên bây giờ ra phi trường đưa đón người thân, công an bắt phải đứng riêng ở ngoài chứ không cho vô phòng đợi. Hồi văn nghệ ngưng ngang, thay vào những câu chuyện của người Việt lao động bên Nga… Bây giờ tôi mới hiểu rõ cuộc sống phức tạp của người Việt sống bên Nga thế nào. Lòng rười rượi buồn, thương cho những kẻ bơ vơ xứ lạ quê người, khi sa cơ lỡ vận, các cô may mắn còn có “cái” bán được để độ thân. Còn các cậu thì đâu có gì ngoài sức lực của mình. Một khi tài sức không dùng được ở những nơi lương thiện, thì đem thi thố những chỗ bất lương để dành sự sống chớ biết phải làm sao.  Gần mười giờ đêm trời vẫn còn sáng bưng. Dù sao tiệc cũng đã tàn, tôi xin phép được chia tay các bạn. Vợ chồng Yến ẵm cháu Hương Giang lên xe bus theo tôi ra bến cảng. Tôi vào cổng đi được một đỗi xa, ngoái lại thấy hai người vẫn còn đứng vẫy tay chào.  
 (*) Sau nầy tình cờ tôi đọc bài thơ trên đăng trong phụ trang của báo Đất Nước, nhưng tôi không nhớ tên người sáng tác. Thành thật xin lỗi tác giả và mong được biết tin để sau nầy ghi lại  cho được rõ ràng. 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Còn quý hơn vàng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

Muốn tới mỏ Beta Hunt của Công ty khoáng sản RNC Minerals, Canada, là theo quốc lộ số 94, mất gần 7 giờ, trên chặng đường dài 636 cây số đi về hướng Đông, nằm trên bờ hồ ‘Lake Lefroy’; còn đi từ Melbourne theo quốc lộ A1 mất gần 30 tiếng đồng hồ, trên chặng đường dài tới 2822 cây số, là tới thị trấn Kambalda. thuộc Goldfield, Tây Úc.

Tại mỏ vàng nầy, trung bình đào mỗi tấn đất đá lên, sàng lọc chỉ được 1gram vàng,

Xưa giờ, công ty nói trên đã đào được tổng cộng 680kg vàng. Nhưng mới đây xúc chỉ có một gàu, cách mặt đất 500 mét, công ty vô mánh được hai khối vàng nặng 95kg và 63kg trị giá khoảng11,5 triệu đô Mỹ.

Sau khi tinh luyện còn lại vàng ròng, khối đầu khoảng 2300 lượng Tây (ounce), giá khoảng 3.8 triệu đô.  Khối thứ hai khoảng 1.600 lượng, giá khoảng 2.6 triệu đô la.

Quá đã.

Tin đào được vàng khủng, công ty la rùm lên vậy là giá cổ phiếu của công ty đã tăng gấp đôi. Ai nắm cổ phiếu nầy hổng cần phải trần ai lai khổ như những người thợ mỏ, chỉ ngủ một đêm sáng dậy là tài sản của mình tăng gấp đôi, một lời một nghe ham quá hè.

Chánh phủ Úc đang nợ như Chúa Chổm, nợ đầy đầu, cũng bớt rầu chút chút; vì được chia 2,5% bất cứ khoáng sản nào mà RNC Minerals đào lên được.

(Hèn chi mấy năm trước bị Úc chê là dã man khi xử tử dân Úc tội buôn má túy cò con, lỡ quá cảnh phi trường Changi bị bắt; chánh phủ Singapore nổi quạu, dù Úc phê bình vầy là đúng rồi; bỉu môi khi dể Úc chẳng biết làm ăn gì; chỉ tối ngày đào đất lên mà bán. Mà thực ra nền kinh tế của Singapore cũng hổng có hay ho gì; chỉ là một bến cảng, tàu thuyền đi từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, đường xá xa xôi diệu vợi phải ghé cho thủy thủ lên bờ xả hơi kẻo bị cuồng cẳng. Cha con nhà Lý Quang Diệu sống nhờ mấy cái cảng phí nầy mà cũng đánh trống thổi kèn rùm! Chớ đất chút tẻo, nguyên là một cái làng chài, nào có quặng mỏ gì đâu mà đào lên bán để ăn… nên cà nanh với Úc vậy thôi.)

Rồi cũng vài bữa gần đây nhựt trình lại chạy một cái tin rất giựt mình, giựt thịt là: một ông già Úc, đã về hưu, bỏ 8000 đô mua cái máy dò kim loại hiệu Minelab GPZ 7000, ở độ sâu chỉ 80 cm, nghĩa là chưa tới một tấc, đào được cục vàng hình na ná như cái bàn chân vịt, nặng 3,23kg lẫn trong đất sét. Đem về tinh luyện lại thành vàng ròng được 2,11 kg, giá lên tới 110,000 đô Mỹ.

Nước Úc cũng dễ kiếm tiền quá chớ! Nghe phát ham hè. Tui tính hỏi thằng chả đào ở đâu để tui đi đào vàng với. Biết đâu đất cũ đãi người mới; tui kiếm được một cục vàng, xin ông Trời đừng cho tui quá nhiều, chừng một tấn là tui vui, tui khoái rồi hè, không dám đòi hỏi gì hơn.

Nhưng thằng cha nội nầy làm hiểm, dấu biệt chỗ nầy, ‘giả’ nói: Đó là bí mật kinh tế! Ngu sao mà chỉ?

***

Tuy nhiên theo thiển ý vàng mình còn có thể hên mà đào được chớ cái tình bạn với Úc ít có lắm, còn quý hiếm hơn nhiều.

Kiếm được một thằng bạn Úc chơi được cũng khó như là đào đất trúng được cục vàng sa khoáng vậy!

May mắn thay, tui đã tìm được một đứa, tri kỷ tri âm, tánh giống hịt tui hè, dẫu khác màu da và tiếng nói.

Xưa bên Tàu, Tử Kỳ đàn nghĩ đến sông, thì Bá Nha nghe tiếng nước sông trôi. Tử Kỳ đàn nghĩ đến núi cao thì Bá Nha nghe có tiếng cây rừng xào xạc gió.

Còn bây giờ, tui tri âm tri kỷ với thằng Jack Daniel nầy (cái tên dễ nhớ vì cùng tên với cái hãng rượu whiskey, tiểu bang Tennessee bên Mỹ) vì khi nó nói ra là tui biết ngay là nó tán dóc. Ngược lại, khi tui nói ra là nó cũng biết ngay là tui tán dóc.

Nhưng Jack Daniel là một người bạn rất thành thật. Thành thật ở chỗ luôn thú nhận là mình đang nói dóc đó nhe bồ!

Tình bạn cao quý đó là ân sủng của ông Trời ban tặng suốt hơn ba mươi mấy năm kể từ ngày tui lon ton có cái quần xà lỏn đặt chưn lên cái đất Melbourne nầy đây.

Tình láng giềng bên Úc nầy nó nhạt như nước ốc, nhưng cái tình chòm xóm của tui với Jack Daniel là ngoại lệ, vì nó đậm đà như hương cà phê Cappuccino pha theo kiểu Ý vậy.

Ngày mới dọn tới, em yêu của tui bồng thằng cu mới đẻ được vài tháng trên tay, đêm lạ nhà, nó khóc quá chừng hè. Cái tánh Úc rất khoái càm ràm, than phiền thiên hạ lắm. Vợ thằng Jack Daniel cũng không là ngoại lệ, hổng dám cằn nhằn ngay trước mặt tui mà kêu thằng Jack chồng nó ‘còm len’ (complain) mới được. Vợ kêu cực chẳng đã, sáng ra nó hỏi: “Vợ chồng bồ có ngắt véo gì thằng nhỏ không mà sao nó khóc suốt cả đêm trường?”

Tui cũng thông cảm, chắc tối qua thằng nhỏ khóc quá nên vợ chồng nó không ngủ được lục đục suốt đêm, mệt chết, nên vả lả: “Bồ làm ơn thông cảm dùm cho nó. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh bi thảm của nó thì bồ cũng cư xử giống hệt vậy thôi hè! Mồm không có một cái răng, đầu không có một sợi tóc, chân yếu đến đứng không vững thì làm sao mà không khóc cho được chớ?”

Rồi một hôm, vợ tui sai đi siêu thị mua đồ. Về, tui kéo hai túi nặng chình chịch nào tã, nào sữa cho con bú tí. Jack Daniel ló đầu qua hàng rào, hỏi: “Chào bồ tèo! Làm gì mà vác hai cái túi bự xộn vậy?” (Cái thằng Úc nầy tò mò dữ nhe!)

Tui bèn nhát nó: “Ờ tớ mới đi gặp chủ gánh xiếc xin phỏng vấn để tìm việc làm. Trong cái túi nầy chứa toàn là đá. Khi biểu diễn, tớ ném cục đá lên trời; khi cục đá rơi xuống; thay vì bắt bằng tay tớ đưa cái đầu ra hứng!”

“Hay quá! Chắc bồ có nội công thâm hậu cỡ Bruce Lee tức Lý Tiểu Long?” “Lý Tiểu Long so với tớ chẳng ra cái thớ gì hết!”

 “À còn cái túi thứ hai?” “Ờ! Cái túi nầy, tớ dùng để đựng thuốc giảm đau đó chú em!”

Nói nào ngay trước khi dời về cái đất Footscray nầy, tui ở trên St Albans cách đây tới 30 cây số về hướng Tây. Chỗ ở cũng được, nhưng vắng như chùa Bà Đanh; ngặt cái ăn trộm hơi bị nhiều. Vì người Việt mình mới qua, khoái xài tiền mặt, Úc nó biết tỏng như vậy nên cũng thừa cơ lẻn vào lục lọi để mà kiếm chác.

Anh Ba Tèo, bạn nhậu thân thiết của tui bị ăn trộm rồi, kể là: Đêm một thằng Úc mập ú nu như cái lu, lẻn vào nhà tui ăn trộm. Lúc đó đâu có ‘camera’ an ninh hay chuông báo động gì đâu. Phần làm vài ly nên tui mê man tàng tịch, trời sập còn chưa hay. Nó tự nhiên như người Hà Nội đội cái ti vi mới mua của vợ chồng tui ra cửa. Sơ ý, cái cạnh cái ti vi chạm vào cửa một tiếng rõ to làm tui đang nằm ngáy pho pho chợt giựt mình tỉnh giấc. Chưa kịp chùi ke trên khóe miệng; tui bèn phóng ra khỏi cửa, rượt theo nó.

Sau gần hai tiếng chạy vòng vòng, cuối cùng thằng Úc đội cái ti vi nặng quá đành thua cuộc, quỳ xuống: “Xin ông làm ơn làm phước tha dùm, đừng gọi cảnh sát vì tui ở tù mới ra! Thank you so much!”

Anh Ba Tèo bèn trả lời: “No worries mate!”(Đừng có bận tâm nhe bồ!)

 Tao rượt theo là muốn đưa cho chú mầy cái ‘remote control’, cái điều khiển từ xa, cho đủ bộ đó mà!”

Hổng biết anh Ba Tèo nầy kể chuyện thiệt hay chơi nhưng tui tin là anh nói thiệt. Vì ảnh từng giảng đạo cho tui nghe là: “Mình đến nước của người ta, Úc nó làm biếng, nghèo không có tiền mua được cả cái ti vi để coi nên mới đi ăn trộm của mình. Coi ti vi nằm dài trên sa lon mà cứ phải đứng dậy bấm đổi đài hoài cũng tội nghiệp nó chớ!”

Phần ông bà mình có dạy: “Cái gì cho đi là còn lại… Ăn hiền ở lành là Trời không phụ mình đâu!”

Nói nào ngay xa lối xóm người Việt trên St Albans cũng tiếc. Dọn xuống đây lối xóm đa phần là Úc nên em yêu của tui cũng hài lòng, hy vọng là tui ít tụ bè tụ đảng để nhậu (vì nhớ quê hương). Ai dè tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, gặp thằng Jack Daniel nầy nó nhậu còn quá cha tui nữa đó.

Hồi tối qua nghe vợ chồng nhà nó dằn mâm xáng chén dữ lắm, thiếu điều quánh lộn nữa đó.

Hỏi chuyện gì? “À con vợ nó đang ngủ nằm mơ cái gì đó buồn lắm cứ khóc rấm rứt hoài hè! Em ác mộng nằm mơ thấy một tay tỉ phú giàu nứt đố đổ vách, đi xe Ferrari, Made in Italy, đến bắt cóc, giựt em ra khỏi vòng tay của anh yêu.”

Nghe rất cảm động… đậy, Jack bảo: “Honey đừng buồn nữa! Đó chỉ là giấc mơ thôi mà!” “Đúng vậy! Vì đó chỉ là giấc mơ nên em mới buồn, mới khóc!”

Nghe câu nói thiệt phũ phàng duyên kiếp ba sinh từ miệng của con vợ mình, Jack sầu đời, tự ái vặt, nên bỏ đi nhậu suốt cả đêm tới gần sáng mới ló đầu về thì gặp tui, đang bắt chước Tây, dắt chó đi tập thể dục.

“Ê Jack! Bỏ nhà đi nhậu suốt đêm không sợ con vợ mầy nó ‘bụp’ hay sao?”
“Làm gì nó dám! Cạn một chai Jack Daniel thì tớ là ông Trời! Bồ hổng tin hả dám cá thêm một chai Jack Daniel nữa hay không? Tui sẽ chứng minh cho bồ thấy!”

Jack bèn dẫn tui quay lại quán rượu. Em phục vụ quầy rượu mới thấy mặt nó là kêu lên: “Ối Trời ơi! Ông lại đến nữa hả?”

Sau nầy tui mới phát hiện Jack Daniel rượu chè be bét vì giận vợ nó thì ít mà nó sợ chết là nhiều. Vì thằng Bill là bạn thân hồi tóc còn để chỏm, cùng chơi banh cà na luật Úc, vừa mới lên cơn nhồi máu cơ tim, ngỏm củ từ, khi tuổi chưa quá tuổi 70.

Hình ảnh bạn hiền từ tấm bé bây giờ đột ngột bỏ ra đi làm Jack sa vào trầm cảm nặng. Đêm ác mộng cứ lũ lượt kéo nhau về làm nó xanh xao hẳn.

Jack tâm sự: Tối qua tui lại thấy thằng Bill hiện về. Tui hỏi “Trên thiên đàng có vui hôn?” Nó nói: “Thiên đàng thì cũng vui như nước Úc mình thôi. Muốn beer có beer; muốn whiskey cũng có whiskey. Muốn gì có nấy!”

 “Rồi trên thiên đường có bóng cà na luật Úc hay không?” “Sao không? Mà nè Jack ơi! Trong danh sách cầu thủ được ra sân ngày mai, từ đầu trận có tên bồ nữa đó.”

Thôi xin ông Trời đừng cho tui đào trúng cục vàng nào hết; chỉ xin đừng bắt thằng Jack Daniel đi mất thì tui biết nhậu với ai đây?!

đoàn xuân thu.

melbourne

Còn mãi nụ cười duyên!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

Ronald Wilson Reagan chào đời tại thành phố Tampico, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ vào ngày mùng 6, tháng Hai, năm 1911.

Ông tốt nghiệp Cử nhân về Kinh tế và Xã hội học tại Ðại học Eureka.

Năm 1937, ông đến thành phố Los Angeles, khởi nghiệp bằng tường thuật lại những trận đấu bóng bầu dục do các điện tín từ khắp nơi trên nước Mỹ gởi về  đài phát thanh.

Nhờ có giọng nói khúc chiết, rành mạch và truyền cảm, rất thu hút thính giả nên được trả công 10 đô la cho một trận.

Chỉ là những bản tin ngắn mà ông vẽ ra trong đầu cả một trận đấu hấp dẫn, nên sau nầy cũng dựa vào một câu nói của người khác, qua đầu óc hài hước thiên phú, một cách đầy nghệ thuật, ông nâng câu nói đó lên một tầm cao mới.

Chẳng hạn khi một viên đạn do một kẻ tâm thần bắn ra va vào thành xe limousine đổi hướng ghim vào phổi của ông, khi được đưa vào bệnh viện để trấn an Nancy, vợ mình, ông nói: “Em yêu! Hồi nãy, anh quên thụp xuống, né!”

Lần mò qua lãnh vực phim ảnh, Reagan dự kỳ tuyển tài tử và được công ty điện ảnh Warner Brothers ký hợp đồng 7 năm.

Tuy nhiên những phim có ông tham gia, ngân sách làm phim rất ít. Sau nầy, ông nói đùa là: “Ðạo diễn không cần làm phim hay mà chỉ muốn quay sao cho kịp vào ngày Thứ Năm mà thôi!” (Ðể kịp chiếu vào tối Thứ Sáu, cuối tuần).

Tuy nhiên, sự nghiệp diễn xuất cũng đành phải bỏ ngang vì Thế chiến Thứ hai sắp bùng nổ, Reagan gia nhập Không lực của Lục quân Hoa Kỳ với cấp bậc binh nhì. Vì bị cận thị, nên ông chỉ phục vụ trong nước.

Ðến tháng Chạp năm 1945, chấm dứt Ðệ nhị Thế chiến, ông được giải ngũ với cấp bậc Ðại úy.

Tham vọng làm chánh trị đã khiến cuộc sống hôn nhân đầu tiên của ông bị trắc trở. Sau nhiều lần tranh cãi, vợ ông đâm đơn ra tòa đòi ly dị.

Bị vợ bỏ, tưởng rằng xui, nhưng ông lại may mắn tìm được tình yêu thứ hai đích thực với Nancy cũng là một tài tử điện ảnh theo ông đến cuối đời.

Có lẽ cũng vì vậy sau nầy làm Tổng thống, ông đã ký một dự luật cho phép ly dị mà không cần chứng minh là phải một bên có lỗi.

Ðây là một sắc luật rất tiến bộ. Còn yêu còn ở. Hết yêu hết ở. Quyền tự do của cá nhân!

Năm 1967, Ronald Reagan được dân chúng tiểu bang California Hoa Kỳ bầu làm Thống đốc thứ 33. Say men chiến thắng, năm 1968, ông bèn ra tranh chức ứng cử viên Tổng thống Mỹ, đại diện đảng Cộng Hòa, nhưng thất bại.

Mãi tới năm 1980, Ronald Reagan, đã 69 tuổi, mới được đảng Cộng Hòa chọn ra tranh cử Tổng thống Mỹ.

Trong chiến dịch tranh cử, óc hài hước thiên phú đã được Ronald Reagan sử dụng như là một tuyệt chiêu vô đối để lên gối, chọc quê đối thủ chánh trị của mình.

Chẳng hạn như ông nói: “Suy trầm kinh tế là khi người láng giềng của bạn bị mất việc; khủng hoảng kinh tế khi chính bạn bị mất việc. Và hồi phục kinh tế chỉ bắt đầu khi Jimmy Carter bị mất việc!”

Quả nhiên Jimmy Carter bị mất việc, Tổng thống Mỹ chỉ một nhiệm kỳ, để Ronald Reagan lập kỷ lục là Tổng thống tân cử già nhứt lịch sử Mỹ. (Kỷ lục Tổng thống già đã bị Donald Trump, 70 tuổi, vượt qua năm rồi)

Khi bị giới truyền thông dè bỉu là già quá thì ông viện dẫn lời của vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ rằng: “Thomas Jefferson có lần đã nói với tôi là “Chúng ta không nên phán đoán Tổng thống mà căn vào tuổi tác; chỉ nên căn vào việc ông ấy làm mà thôi.” Từ khi nghe ông nói như vậy tôi không thèm lo lắng nữa!”

Rồi trong cuộc tranh luận với Walter Mondale, đảng Dân Chủ, sanh năm 1928, trẻ hơn ông tới 17 tuổi, vào năm 1984, Ronald Reagan cũng đùa là: “Tôi muốn ông biết một điều rằng: Tôi sẽ không đem vấn đề tuổi tác ra để tìm lợi thế trong chiến dịch tranh cử. Tôi sẽ loại trừ cái ích lợi về chánh trị khi coi tuổi trẻ của đối thủ tôi là thiếu kinh nghiệm!”

Cử tọa cười hí hí vỗ tay! Ngạc nhiên thay, Walter Mondale cười he he và cũng vỗ tay.

Vì câu nói châm biếm nầy hay quá xá! Biến cái điểm yếu về tuổi tác già nua của mình bằng cách nhấn mạnh vào kinh nghiệm, khi so với cái trẻ trung, một ưu điểm rõ ràng của đối thủ chánh trị!

Dù nói đùa, nhưng không rẻ tiền như diễn xuất giả gái, ngạo người tàn tật hay người đồng tính, hoặc nhăn mày, nhíu mặt, cà lăm, làm mắt lé để thọc léc thiên hạ. So với những ‘comedians’ nổi tiếng khác, phải công nhận Ronald Reagan võ công thâm hậu, bậc thượng thừa.

Reagan từng nói: “Tôi giành được biệt danh nhà truyền đạt vĩ đại. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ nghĩ rằng phong cách của tôi đã tạo nên sự khác biệt mà chính là phần nội dung; tôi đã truyền đạt những điều vĩ đại.”

Tuổi tác và giọng nói nhẹ nhàng, nụ cười mỉm của Ronald Reagan đã tạo được một hình ảnh nồng ấm, giống như một vị cha già đối với người dân Mỹ.

Khi bàn về cái nghề chánh trị mà mình đang đeo đuổi mê say để đến nỗi bị vợ tẩy chay, vợ bỏ, ông cho rằng: “Làm chánh trị không phải là một nghề lúc nào cũng tệ hại hết đâu! Nếu thành công sẽ có nhiều phần thưởng; còn nếu thất bại, bị công chúng ruồng bỏ thì mình cũng còn có thể viết sách được mà!”

Rồi khi nghe tin Clint Eastwood, một tài tử cũng tham gia vào chánh trường bằng cách ra tranh cử chức thị trưởng, giống như con đường mình đã kinh qua, Reagan tự hỏi: “Cái gì đã xui khiến ông ấy, một tài tử đóng phim ở tuổi trung niên, người từng có kinh nghiệm chơi đùa với những ‘con khỉ dã nhân’, lại nghĩ mình có kinh nghiệm để thành công trong nghề làm chánh trị?!”

Con khỉ dã nhân ở đây Ronald Reagan ám chỉ những đối thủ chánh trị của ông. Lỡ họ có nghe, tức ói máu nhưng chỉ biết cười hè hè chớ chẳng làm được gì nhau!

Rồi ông chọc quê các chánh trị gia là: “Tôi vừa mới học được một điều luật quan trọng nhứt trong nghề làm chánh trị là phải có tư thế đĩnh đạc, đàng hoàng; nghĩa là hãy làm mình trông giống như một con cú mèo (nghĩa là rất khôn ngoan) sau khi đã hành xử như một con lừa (nghĩa là ngu hết biết).” Ðối với Mỹ, con lừa (donkey) thường coi là ngu. Nhưng con lừa cũng tượng trưng cho đảng Dân Chủ Mỹ, đối thủ đảng Cộng Hòa.

Khi bị thiên hạ chơi xỏ đem con lừa đến tặng, Ronald Reagan đã nhã nhặn: “Tôi từ chối nhận vì không thể sử dụng được con lừa theo ý của mình. Vì tôi đã có hàng trăm con lừa trên Capitol Hill.” (Capitol Hill, Quốc Hội Hoa Kỳ)

Cái hay, cái duyên ngầm của Ronald Reagan là qua những lời châm biếm đối thủ thâm trầm nhưng không làm họ bẽ mặt. Ronald Reagan tự trào, đem mình ra làm trò cười, nhưng người nghe biết ông cười thiên hạ.

Chẳng hạn để phê phán mấy đứa học hành chẳng ra làm sao, dở ẹc, thì ông nói rằng: “Rất có lợi khi được dân bầu làm Tổng thống Mỹ. Một ngày sau khi tôi được dân bầu, thì học bạ thời trung học của tôi được xếp vào tài liệu tối mật.” “Làm việc một cách siêng năng cần mẫn không giết chết một ai. Nhưng tui cũng phát hiện ra rằng: Tại sao mình lại liều lĩnh thử coi có phải đúng vậy hay không!”

Mrs. Reagan touches the coffin of her husband during his state funeral on Capitol Hill on June 9, 2004. Ronald Reagan died after a long struggle with Alzheimer’s disease.

Hay: “Trưa tôi không bao giờ uống cà phê; vì nó sẽ làm tôi mất ngủ suốt cả buổi chiều. Tôi đã ra lịnh cho cố vấn đừng đánh thức tôi dậy, ngay cả lúc đang họp nội các; chỉ trừ trường hợp đất nước chúng ta đang lâm vào tình trạng khẩn cấp mà thôi!”

Ronald Reagan biết người dân Mỹ yêu mình. Khi bịnh lú lẫn, tế bào não bị hủy hoại, ông không còn nhớ một ai, trừ Nancy, người vợ yêu dấu của ông.

con mai nu cuoi duyen 08Ông tránh xuất hiện trước công chúng, để người dân Mỹ vẫn còn giữ hình ảnh đẹp về ông.

Ông từ giã quốc dân đồng bào bằng những lời lẽ cảm động: “Tôi đang đi vào hoàng hôn của cuộc đời. Nhưng nước Mỹ đang đi về phía bình minh.”

Ronald Reagan qua đời ngày mùng 5, tháng Sáu năm 2004, vì bị sưng phổi, thọ 93 tuổi. Nhưng Ronald Reagan vẫn còn sống mãi trong lòng dân Mỹ với những nụ cười ‘duyên’.