Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Bài 22 – May Rủi Trong Cuộc Chiến

Một buổi trưa, bác sĩ Phúc và tôi đang ngồi nghỉ trong phòng. Lợi dụng thời gian rảnh rỗi, tôi tiếp tục viết nhật ký. Tôi chợt nghe nhiều bước chân người từ cầu thang xuống hầm. Đoán là có thương binh chuyển tới, tôi liền đứng dậy, nhét xấp giấy xuống dưới bọc quần áo và bước ra khỏi phòng. Vừa gặp ngay một người Mỹ mặc đồ phi hành rất trẻ, tuổi chừng 24-25 gì đó. Bên góc trán bên trái bị bầm và trầy một chút xíu, không có vẻ gì nặng lắm. Anh ta vẫn tỉnh táo, đi đứng nhẹ nhàng như thường. Theo sau là mấy sĩ quan bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Tôi nhận ra Trung úy Lành Phòng l Tiểu Khu. Ông nói:

– Đây là Trung úy phi công Mỹ, lái máy bay thám thính mới bị bắn rơi sáng nay. May quá, anh ta nhảy Dù và được cứu mang về đây. Đại tá bảo tôi mang anh ta sang đây cho bác sĩ khám xem có cần phải chữa trị gì không.

– Ồ vậy hả. Trông ông ta như vậy chắc không có gì nặng đâu. Nhưng để tôi khám toàn bộ xem sao đã.

Tôi quay sang vị Trung úy phi công Mỹ nói:

– Welcome to An Loc. How do you feel?

Anh ta mỉm cười nói:

– Tôi đang bay qua thành phố này để tìm kiếm những vị trí của địch quân thì thấy hỏa tiễn bắn lên. Tôi than thầm trong miệng: “Chúa ơi, con bị bắn rồi”. Tôi vội bẻ tay lái, bay quặt lại thành hình chữ U nhưng không kịp nữa. Hỏa tiễn đã bắn trúng máy bay tôi. Nhưng may cho tôi là phản xạ của tôi khá nhanh, quẹo cua kịp thời nên nó chỉ trúng cái đuôi của máy bay thôi. Tôi còn đủ thì giờ mở nóc máy bay nhảy ra ngoài bung Dù ra kịp. Tôi chỉ sợ Dù rơi xuống vùng Việt Cộng là đi đứt. Nhưng may cho tôi, nó lại rơi xuống địa khu của lính bên ta nên được cứu sống mang về đây.

Tôi ngắt lời anh ta:

– Ông thật là may mắn. Ông thấy có bị đau ở đâu không? Ngoài vết thương nơi trán của ông.

– Khi tôi rơi xuống, bị té chúi đầu xuống đất nên trán hơi bị trầy một chút. Ngoài ra, tôi không thấy bị đau ở đâu cả. Tôi thoát chết nên sung sướng lắm. Tôi chẳng có gì ngoài một bao thuốc lá hút dở dang trong túi, tôi liền đem tặng lại mấy người lính đã cứu tôi, gọi là chút đền ơn vậy thôi. Sau đó, họ báo cáo cho cấp trên của họ và dẫn tôi về đây.

Đối với những người ở thành thị thừa mứa thuốc hút, một bao thuốc hay ngay cả một bịch thuốc lá cũng chẳng có gì là quý cả. Nhưng đối với những người lính tác chiến trong rừng, thiếu đồ tiếp tế và nhất là đối với những dân nghiện thuốc lá, dù chỉ là một điếu cũng rất quý. Đặc biệt là điếu thuốc ‘cám ơn cứu tử’ thì nhất rồi, không còn gì ngon hơn, đậm đà hơn và đã hơn.

Tôi không hút thuốc lá nhưng tôi hiểu được những cái thú của người hút thuốc. Đi hành quân trong đêm rừng lạnh lẽo, được một điếu thuốc phì phèo thú vị biết chừng nào. Nhất là sau khi đã đói thuốc mấy ngày rồi. Trong thời gian tôi còn ở đơn vị tác chiến, mỗi lần đi hành quân mọi người đều được phát mỗi ngày một khẩu phần ‘ration C’ của Mỹ. Trong đó có một bao thuốc lá nhỏ, khi thì Lucky, khi thì Marlboro, khi thì Pall Mall. Tôi để dành những gói thuốc này, đợi đến khi mấy người nghiền hết thuốc, thảy cho họ để họ thấy cuộc đời lên hương một chút. Tôi cảm thấy sung sướng cái sướng của họ, rất nhỏ, rất đơn giản và rất ngắn. Nhưng cần gì, mỗi ngày một niềm vui là thích rồi.

Tôi khám qua toàn bộ, quả nhiên thấy không có gì nặng ngoài vết trầy ở trán. Nhưng để an toàn, tôi vẫn chích cho anh ta một mũi SAT để ngừa phong đòn gánh. Sau đó anh trở về Bộ Chỉ Huy để chờ một chuyến tản thương bốc anh trở lại đơn vị.

Xong việc, tôi trở về phòng ngồi kể chuyện lại cho bác sĩ Phúc nghe. Vừa xong thì anh Sáu Xòm bước vào phòng, rủ chúng tôi xuống nhà dân ở dưới làng, cách Bộ Chỉ Huy chừng một cây số để mua thêm mấy thứ cần dùng và thức ăn tươi cho vợ anh sắp sanh trong nay mai. Lối đi từ phía trong trại, tôi hỏi anh:

– Dưới đó có an ninh không mà anh tính đi?

– Thưa bác sĩ, an ninh lắm. Mấy người lính ở trong Bộ Chỉ Huy này vẫn xuống đấy hàng ngày. Dưới đó đầy lính của mình và chưa bao giờ bị pháo cả. Dân của mình tị nạn ở đó đông lắm.

Tôi quay sang bác sĩ Phúc hỏi ý:

– Anh Phúc này, nếu vậy mình thử làm một chuyến xuống đó xem sao. Đại tá Nhựt cũng lưu ý tôi về vấn đề y tế công cộng ở khu đó. Bây giờ mình rảnh, nên đi xem xét tình hình. Có gì mình sẽ nhờ ông Tỉnh Trưởng xin thuốc chủng ngừa cho dân sẽ nhanh hơn là mình xin.

– Vậy thì mình nên đi lắm. Nhưng lỡ có người bị thương tới thì sao?

– Anh đừng lo, tôi sẽ nói Thượng sĩ Lỹ và cô Bích ở nhà coi chừng. Nếu có gì qua mời bác sĩ Chí tới trông hộ một chút. Mình đi nhiều lắm hai tiếng là cùng.

– Bác sĩ đi nhớ mang theo quần áo để thay. Mình sẽ tắm ở dưới đó. – Anh Xòm dặn tôi và nói tiếp – mấy người ở Tiểu Khu đều xuống dưới đó tắm cả vì ở đây mình không có nước. Em nghe nói dưới đó có nhà của một Trung sĩ Địa Phương Quân, thuộc Bộ Chỉ Huy, có một giếng đầy nước. Tha hồ cho mình tắm giặt thoải mái.

– Như vậy thì tốt quá. Đã gần 10 ngày nay tôi chưa được tắm từ khi cơn mưa đầu mùa tới giờ. Thôi chúng mình đi là vừa.

Trước khi đi, tôi có tạt qua hầm bác sĩ Chí dặn coi dùm vài tiếng để chúng tôi đi thăm dưới làng. Bác sĩ Chí cười:

– Bây giờ mày mới xuống đó sao. Hôm qua tao đã đi rồi. Xuống đó tắm giặt, sướng lắm. Mày nên ghé qua chùa, ở đó có trạm cứu thương nơi Trung sĩ Tiếng vẫn làm, băng và rửa các vết thương cho dân.

– Được rồi, kỳ này mày chơi trội hơn tao, khá lắm. Thôi ở đó trông nhà dùm tao. Tao với đốc-tờ Phúc đi một tí rồi về ngay. Có gì Thượng sĩ Lỹ sẽ gọi mày. Cám ơn trước.

Ba người chúng tôi liền rời Bộ Chỉ Huy đi ra phía cổng sau. Trại được bao quanh bởi một bức tường đất. Bên ngoài là những hàng rào kẽm gai chằng chịt, rộng tới 20 thước. Qua một trạm gác, chúng tôi đi theo một con đường mòn dẫn xuống tới khu làng ở dưới đồi. Ở một khúc quanh, tôi thấy gần một đám cây nhỏ rậm rạp, một ngôi mộ mới được phủ bằng một mảnh Dù lỗ nên trông như một con rùa thật lớn. Tôi lấy làm lạ, dừng lại ghé qua đọc dòng chữ viết nguệch ngoạc trên tấm bia bằng gỗ pháo binh. Chữ viết đã bị trận mưa đầu mùa làm mờ đi nên đọc không rõ lắm. Tôi chỉ đọc được: Bác sĩ Quốc. Anh Xòm nói:

– Đây là mồ của bác sĩ Quốc, thuộc Trung Đoàn 52.

Tôi nghe nói anh Quốc chết được gần một tháng nay, không biết chôn ở đâu. Không ngờ lại gặp mộ anh ở chỗ này. Lần chót tôi gặp anh Quốc tại Bệnh Viện Tiểu Khu vào những ngày đầu cuộc chiến khi anh chuyển thương binh đến cho tôi săn sóc.

Hình ảnh một ông bác sĩ đeo kính trắng, dáng người thư sinh, hiền lành và có vẻ hơi gầy một chút. Trông anh mệt mỏi, ít nói cười. Tôi biết anh đã thoát chết nhiều lần khi Trung Đoàn rút lui từ Lộc Ninh, về qua cây cầu tử thần Cần Lê bị Việt Cộng phục kích, nã đại liên vào đám binh sĩ đang qua cầu, không có một chỗ ẩn núp nào.

Tôi biết anh ra sau tôi mấy khóa. Anh ở Trung Đoàn 52 cũng khá lâu. Đáng lẽ anh phải được đổi về những đơn vị tĩnh tại rồi. Không hiểu sao anh vẫn còn ở Trung Đoàn. Vì theo thông lệ, các bác sĩ khi mới ra trường đều được cử xuống các đơn vị tác chiến trước rồi từ từ các đàn em ra sau, sẽ đến thay thế để các lớp đàn anh về dần các đơn vị lớn hơn. Hình như bác sĩ Quốc không hợp với ông Trung Đoàn Trưởng sao đó. Tôi chỉ nghe tin đồn mà thôi.

Các binh sĩ ở Trung Đoàn đều thương mến bác sĩ Quốc. Một người hiền lành, tận tâm đối với các anh em binh sĩ và gia đình họ. Những thương binh thuộc Trung Đoàn 52 khi được tin bác sĩ Quốc chết đã kể lại với tôi như thế.

Về trường hợp bác sĩ Quốc bị tử thương, tôi được nghe nói đang trên đường đi về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, anh Quốc thấy một người lính bị thương kêu cứu, bèn dừng lại săn sóc người lính này nhưng không may, một trái pháo rơi trúng chỗ anh đang ngồi. Bác sĩ Quốc đã bị chết ngay tại chỗ. Nay tình cờ, tôi lại được trông thấy phần mộ của anh.

Nghĩ tới anh, tôi lại thương lấy thân phận của tôi. Anh Quốc đã làm xong nhiệm vụ, xứng đáng với truyền thống Quân Y, quên mình cứu người. Còn tôi, bị vây hãm trong trận địa này không biết sống chết lúc nào. Đã có lúc tôi nghĩ thà chết còn hơn bị thương, vì bị thương sống lây lất khổ lắm. Cũng may cho tôi, giờ phút này tôi đã thoát hiểm bao nhiêu lần, bao nhiêu lần chết hụt. Chỉ nhờ một may mắn hoặc một run rủi nào đó đã đưa tôi ra khỏi nơi nguy hiểm trong đường tơ kẽ tóc.

Không có sẵn nhang đèn nên khi đi ngang qua phần mộ của anh Quốc, tôi đã cầu nguyện cho hương hồn anh chóng được siêu sinh tịnh độ và cũng không quên thầm khấn anh sống khôn thác thiêng phù hộ cho tôi được mọi sự an lành trong những ngày sắp tới.

Với tổng số 16 bác sĩ tham dự trận đánh này, anh là người độc nhất đã ở lại An Lộc. Các vị khác, chỉ có bác sĩ Trương Văn Châu ở Tiểu Đoàn Dù là bị thương nhẹ ở mắt nhưng không sao cả.

Chỉ vài phút sau chúng tôi đã đặt chân tới Phú Đức. Một làng tương đối an toàn mà dân tị nạn đã kéo về đây rất đông. Trận mưa vừa qua, tuy đã hơn một tuần rồi, vẫn để lại những vũng nước bùn hai bên bờ đường. Chứng tỏ vùng này rất nhiều nước nên đất ở đây không thể rút nước đi dễ dàng. Điều này cũng dễ hiểu vì khu này ở dưới chân đồi nên nước ngấm từ trên cao đều đổ dồn về đây cả.

Điều nhận xét đầu tiên khi đặt chân vào đây là đông người quá. Đi ngang qua một căn nhà, tôi chợt nghe thấy một tiếng đàn bà gọi tên chúng tôi:

– Bác sĩ Quý, bác sĩ Phúc.

Tôi ngoảnh cổ lại nhìn sang bên trái. Tôi thấy cô Đào đang ngồi trên một cái võng căng trên một cái giường, tay ôm đứa con. Cạnh đấy là cô bé Hồng, em cô Đào, chừng 13 tuổi đang nhìn tôi, nhăn răng ra cười. Tôi vẫy tay chào cô, hỏi:

– Cô và cháu bé mạnh không?

– Dạ cũng đỡ, chỉ thiếu sữa cho cháu thôi. Bệnh viện còn làm không bác sĩ?

– Chúng tôi không còn ở bệnh viện nữa, đã dọn sang bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu rồi. Cũng gần đây thôi nên mới đi bộ xuống đây được.

Bác sĩ Phúc đứng bên tôi, tiếp lời:

– Để chờ một ít bữa nữa cho an toàn hơn rồi cô cũng nên kiếm cách về Sài Gòn đi. Ở đây thiếu thốn không tốt cho cháu bé. Cô liên lạc với mấy nhân viên Hành Chánh Tỉnh ở quanh đây để nếu có phương tiện, họ cho cô biết. Thường thường, tản thương bằng trực thăng Chinook rất rộng, họ hay cho dân chúng quá giang về Lai Khê, rồi từ đó, cô kiếm xe về Sài Gòn.

– Cám ơn hai bác sĩ.

– Thôi chào cô, chúng tôi đi đây.

Chúng tôi đi về phía chùa. Hai cây Phượng Vĩ bên cổng chùa nở hoa đỏ rực rỡ trên cành. Nếu là những người khác, họ sẽ trách móc sao thiên nhiên quá vô tình. Ngay trong sân chùa, nằm la liệt những người dân tị nạn hẩm hiu, khốn khổ thì phía trên, hoa Phượng Vĩ vẫn khoe sắc tươi đẹp của mình. Hình như chỉ có mình tôi để ý tới những chùm hoa tươi thắm rực rỡ của hai cây Phượng Vĩ. Mọi người chẳng ai buồn ngó lên trên những ngọn cây đó. Tuy có một hình ảnh tương phản giữa sự khốn khổ của dân tị nạn và vẻ tươi đẹp của hoa. Ít ra trong cái địa ngục này cũng còn có một cái gì tươi mát, một tia hy vọng để cho đời bớt khổ.

Thấy hoa, tôi mới chợt nhớ bây giờ là mùa hè. Nếu không có trận chiến này, chúng tôi lại có dịp thưởng thức những trái cây đặc sản của Bình Long, Lái Thiêu, Long Khánh với những trái Mít, Chôm chôm tróc và đặc biệt là Sầu riêng mà có lần vì ngon miệng, tôi đã một mình ăn tới gần 10 ký liền, khiến cho ngay cả mồ hôi của tôi cũng có mùi Sầu riêng nữa.

Những trái cây tôi ăn được đặc biệt chọn lọc bởi những tay lành nghề. Đó là ba má cô Duyên, một nữ Hộ Sinh, phụ tá cho cô Đào. Nhà ba má cô ở Lộc Ninh, gần một vườn Sầu riêng và Mít. Cô thấy tôi mê Sầu riêng với Mít nên nhờ ba má cô chọn những trái ngon nhất cho tôi.

Tôi đã có lần mang những trái cây đó về Sài Gòn làm quà cho mẹ tôi. Cả nhà thưởng thức những trái cây đó đều phải công nhận là tuyệt vời. Chúng tôi là dân Bắc Kỳ di cư nhưng lại mê Sầu riêng ngay từ lần thử đầu tiên khi còn ở trại tiếp cư ở Phú Thọ. Nhưng khi đi mua, vì không biết chọn nên khi được khi không. Lắm lúc tức anh ách khi gặp một trái bị sượng mà bên ngoài trông có vẻ được lắm, hứa hẹn lắm. Khi mở ra thì hỡi ôi làm chúng tôi buồn 5 phút.

Bước vào trong chùa, chúng tôi không phải kiếm lâu. Chúng tôi đã thấy Trung sĩ Tiếng đang thay băng cho một người bị thương ở cánh tay. Tiếng ngước nhìn lên, thấy chúng tôi mỉm cười và cúi đầu chào. Bác sĩ Phúc hỏi Tiếng:

– Anh xuống đây làm từ hồi nào vậy, có ai tới giúp anh không?

– Dạ cũng được một tuần. Sau vụ tản thương đưa được hết thương binh đi rồi, em thấy ở lại bệnh viện cũng chẳng giúp được gì thêm vì phòng ốc bị hư hại nhiều quá nên em cùng với hai người bạn, tụi nó có nhà ở đây, rủ em xuống đây an toàn hơn. Em thấy đồng bào tị nạn nhiều người bị thương mà không được săn sóc đúng cách nên bị làm độc nhiều lắm. Sẵn có mớ thuốc cùng với bông băng mang theo phòng thân, em liền lấy ra giúp họ. Người này đồn người kia nên phòng này dần dà biến thành trạm cứu thương.

Tôi thấy bề ngoài Tiếng có vẻ lính chiến gồ ghề, dữ dằn lắm, nay nhờ có trận chiến này mới thấy Tiếng quả là người có tâm địa tốt. Tôi bình sinh lúc nào cũng quý trọng những người có một tấm lòng vì người khác. Tôi thấy dù tôi có đưa ra cả ngàn lời khen Tiếng bây giờ thì cũng bằng thừa. Những người có lòng thì những cái xảo xã giao đó, họ cũng không để ý tới nhiều. Bởi vậy tôi chỉ nói ngắn gọn sau khi thân mật vỗ vai Tiếng:

– Tiếng thật là người có lòng. Tôi cảm phục lắm.

Tiếng hơi ngượng vì lời khen tặng của tôi. Gương mặt anh hơi đỏ một chút. Nhưng trong ánh mắt, tôi cũng thấy những nét vui sướng, hài lòng khi sự dấn thân của mình được người khác biết đến. Nhất là người ấy lại là cấp trên trực tiếp của mình.

Bác sĩ Phúc chợt nhớ ra một điều, vội hỏi Tiếng:

– Anh ở đây lâu có thể đoán được có bao nhiêu người không? để tôi xin thuốc chủng ngừa dịch tả cho đồng bào.

Tiếng ngần ngừ đáp:

– Cái đó em không được biết. Thấy đông lắm nhưng không thể ước lượng được. Bác sĩ cứ xin đại chừng năm ngàn liều. Nếu thiếu, xin thêm.

– Mình không sợ thiếu mà chỉ sợ dư vì ở đây mình không có tủ lạnh. Quá 24 giờ là thuốc chủng sẽ hư, không công hiệu nữa.

Tôi đề nghị:

– Nếu vậy mình chỉ xin ba ngàn liều thôi. Mỗi ngày mình chích chừng một ngàn người, ba ngày là xong. Nếu chích được nhiều thì càng hay. Thuốc còn dư thì dùng phương pháp dã chiến, để trong bọc nylon ngâm trong nước mát dưới giếng sẽ để được lâu hơn. Nếu chúng ta huy động được chừng 10 y tá hay nhiều hơn nữa để chích thuốc cho dân thì sẽ hoàn tất công việc rất nhanh và thuốc sẽ không bị hư.

Bác sĩ Phúc nói:

– Tạm thời cứ theo như vậy mà làm. Anh Tiếng có thể có được chừng ấy y tá không?

– Nhiều hơn thì khó còn chừng 10 người thì có thể huy động được.

– Để tôi về liên lạc với Bộ Y Tế xin thuốc dịch tả cùng bông băng và kim chích. Nếu không có gì trở ngại, tôi nghĩ mình sẽ có thuốc trong vòng một tuần nữa. Thôi chào anh Tiếng. Tụi này đi kiếm chỗ tắm giặt rồi về, sợ có thương binh chờ.

Anh Xòm dẫn chúng tôi tới một căn nhà quen có giếng nước ở sau nhà. Chúng tôi đứng ngay ở bờ giếng múc nước tắm giặt đã đòi rồi cùng nhau thơ thới ra về. Chỉ có mỗi một việc tắm giặt đó thôi mà chúng tôi đã thấy vui sướng tràn trề. Hạnh phúc chẳng tìm ở đâu xa và cũng chẳng phải khó khăn rắc rối gì cả. Có nhiều người được sướng mà không biết sướng. Đứng núi này trông núi nọ, cứ tìm bắt hoài mà không thấy. Tôi vừa đi vừa triết lý vụn như vậy trong đầu.

Tôi còn nhớ hồi mới ra trường, anh bạn thân cùng lớp với tôi là Khánh. Anh chọn một đơn vị Thiết Giáp. Mỗi lần đi hành quân, tôi phải lội bộ, đi đứng vất vả, khổ cực, xuyên rừng, lội suối. Còn anh bạn của tôi, khi ra khỏi trại đã ở trên xe rồi. Anh chẳng bao giờ biết lội bộ là gì và lúc nào cũng có đầy đủ mọi thứ như ở nhà vậy. Đi hành quân mà có cả trái cây tươi, nước đá lạnh, sách vở đầy đủ. Thế mà lúc nào anh cũng than thở, chẳng thấy gì là sung sướng cả. Thành ra phải vui cái mình đang có, mới được thảnh thơi không vướng mắc, không khổ sở. Khi bị đụng trận, ông Thiết Đoàn Trưởng ra lệnh cho bác sĩ lên coi người lính bị thương, anh bạn tôi lại cho là ông ta chơi mình, muốn hành mình.

Trong khi tôi cũng ở trong một tình cảnh như vậy như trong một trận ở phía Bắc Gia Kiệm. Khi Tiểu Đoàn 2/43 bị đụng nặng với một bộ phận của Công Trường 9 của Việt Cộng, trong đó một cố vấn Mỹ của Tiểu Đoàn đã bị tử thương, không thể lấy xác được. Ông Nhựt, hồi đó là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 đã ra lệnh cho tôi mang hai y tá xuống ngay tại mặt trận để giúp đỡ săn sóc các anh em thương binh. Tôi vẫn vui vẻ mang hai y tá lên xe Hồng Thập Tự đi liền, mặc dù biết sự có mặt của tôi ở ngay tại mặt trận sẽ chẳng giúp đỡ gì hơn được cho thương binh cả. Từ ngoài lộ, xe Hồng Thập Tự băng qua một trảng rộng cỏ tranh rồi tiến vào phía rừng. Nơi đó đang có tiếng súng nổ ròn rã, chứng tỏ đang có giao tranh ác liệt giữa hai bên.

Tới bìa rừng, xe Hồng Thập Tự ngưng lại. Tôi cùng hai y tá xuống xe mang theo một băng-ca và hai túi cứu thương. Tài xế xe Hồng Thập Tự là Hạ sĩ Xê hỏi tôi:

– Em đậu xe ở đây đợi bác sĩ được không?

– Không cần? cứ mang xe về đi, đợi ở đây nguy hiểm lắm.

Xê ngần ngừ chưa muốn về. Tôi biết Xê lo cho tôi. Hắn sợ chút nữa xong việc, ai sẽ đưa tôi về. Tôi lại lo cho Xê vì chỗ này sát ngay tuyến đầu. Khi chúng tôi tiến vào rừng tấn công địch, sẽ chỉ còn mình Xê ở lại với chiếc xe cứu thương. Nhỡ một vài tên địch chạy lạc ra ngoài, Xê sẽ bị nguy hiểm. Để giữ an toàn cho Xê, tôi thấy tốt hơn hết là cho Xê trở lại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Tôi đỡ phải áy náy lo lắng và để dồn tinh thần vào công việc nguy hiểm trước mắt.

Lúc đó Tiểu Đoàn 1/43 do Thiếu tá Hiếu chỉ huy đang ở bìa rừng. Tiểu Đoàn này đã bị thiệt hại khá nặng nên lui ra để Tiểu Đoàn 2/43 nhập trận. Thấy tôi Thiếu tá Hiếu ngạc nhiên, hỏi:

– Ủa, bác sĩ xuống đây làm gì? Nguy hiểm lắm.

– Ông Trung Đoàn Trưởng ra lệnh cho tôi xuống đây để săn sóc thương binh.

Thiếu tá Hiếu nhăn mặt:

– Tầm phào. Tụi nó còn đánh nhau tưng bừng trong đó, làm gì có thương binh mang ra đây đâu. Phải xong trận đánh rồi mới thu nhặt thương binh gom lại rồi tản thương ngay chứ bác sĩ đâu có cần phải xuống tận mặt trận làm gì. Đây là cấp Tiểu Đoàn đã có Trợ Y lo được rồi.

Nói đến đây, chợt có điện thoại reo qua máy truyền tin. Thiếu tá Hiếu đưa tay cầm ống liên hợp do một Trung sĩ truyền tin đưa cho ông. Ông nói chuyện xong, quay sang tôi:

– Ở trên ra lệnh Tiểu Đoàn của tôi phải bằng mọi giá mang cho được xác viên cố vấn Mỹ về. Chúng tôi phải vô rừng đây.Bác sĩ có muốn đi theo không hay ở lại chỗ này đợi tụi tôi?

Tôi trả lời không cần nghĩ ngợi:

– Tôi sẽ đi theo Thiếu tá.

– Được rồi. Bây giờ là đụng trận thật sự đấy, bác sĩ nên cẩn thận.

Tôi đã suy nghĩ rồi, tuy bổn phận tôi không phải đi theo Tiểu Đoàn vào trong trận. Nhưng đứng ở ngoài bìa rừng, chỉ ba thầy trò trơ trọi thì rất nguy hiểm. Lỡ Việt Cộng bung ra ngoài rừng thì thua là cái chắc.

Tôi ra lệnh cho Binh nhất Bá, cận vệ của tôi cùng với Trung sĩ Minh, y tá của tôi vác băng-ca theo tôi nhập bọn với Trung Đội Quân Y Tiểu Đoàn 1/43 theo đoàn quân đi vào trận tuyến.

Mới rời khỏi bìa rừng chừng hai trăm thước đã đụng trận rồi. Súng lớn, súng nhỏ bắn như mưa. Chúng tôi không đi nữa mà phải bò. Tôi đi cùng một toán lính, khoảng 20 người. Tay nào, tay nấy lấm lét nhìn nhau. Trong toán đó, tôi là sĩ quan cao cấp nhất. Trung úy nhưng lại là Trung úy Quân Y, không phải dân tác chiến. Nhưng tại mặt trận, cứ cấp bậc cao cao là chỉ huy. Lính đã được huấn luyện như vậy. Mọi con mắt đổ dồn vào tôi. Nếu tôi tiến là họ tiến. Nếu tôi chạy là họ chạy ngay. Với đám tàn quân này, họ mất tinh thần rồi, đâu còn nhuệ khí để đánh đấm gì.

Chúng tôi bò tới một hố bom rộng lắm. Không ai bảo ai, mọi người đều lăn mình xuống hố bom cho an toàn. Khi ở trong hố bom rồi, tôi nhìn chung quanh mới thấy cả mấy chục người dồn cục trong đó. Chỉ một trái pháo rơi trúng thì chúng tôi tàn đời trong ngõ hẹp. Tôi lo quá vì Việt Cộng hay chơi trò này lắm. Nó đã canh kỹ pháo những nơi nó nghĩ rằng mình sẽ ẩn núp khi đụng trận, rồi cứ thế mà pháo để gây thiệt hại cho mình rất nhiều như trong trận Đồng Xoài năm nào.

Mấy tay lính gan dạ, bò lên miệng hố bom, tính từ từ tiến dần vào trong. Chợt họ thấy xác viên cố vấn Mỹ nằm ngay trước miệng hầm của Việt Cộng, đầu đã bị chặt lìa khỏi thân rồi. Muốn tiến lên lấy xác mà không tài nào được vì súng ở bên trong bắn ra rát quá. Chúng tôi không nhúc nhích, cục cựa gì được mà cứ tụ lại cả ở hố bom cả mấy chục người như vậy thì nguy quá. Tụi nó mà xông ra quăng lựu đạn xuống thì chết hết.

Tôi đang tính kế thì ba người mặc phù hiệu của Tiểu Đoàn 2/43 từ trong rừng chạy vọt ra. Thoáng thấy một trong ba người đó là Trung úy Nguyễn Trí Phúc, sĩ quan truyền tin của Tiểu Đoàn 2/43 – một trong những người bạn thân của tôi, thuộc khóa 21 Võ Bị Đà Lạt. Tôi vội kêu lên:

– Phúc, có việc gì không?

Trung úy Phúc trông thấy tôi, vội nói:

– Rút ra ngoài đi. Tụi nó đang đánh gọng kìm đó.

Nghe nói vậy, không ai bảo ai chúng tôi rời hố bom, rút thật nhanh ra ngoài bìa rừng. Đi vào thì lâu nhưng khi rút ra thì không đầy 15 phút. Chúng tôi đã ra tới bìa rừng an toàn. Tôi với Bá, Minh nhân viên của tôi, ba thầy trò sau những giây phút căng thẳng đều rã rời mệt mỏi. Tôi rút bi-đông tu một ngụm nước rồi nằm ngả người trên một gò mối.

Đang nằm nghỉ, chợt tôi nghe có tiếng máy nổ đều đều rồi tiếng xích sắt nghiến trên đường cỏ dại. Tôi vội đứng bật dậy, thì ra một chiếc xe tăng M47 của Thiết Đoàn 5 đã tới, cách tôi chỉ có nửa thước. May, mắc cái gò mối nên nó đi chậm lại. Nếu tôi mệt quá ngủ quên thì sẽ bị nó cán xẹp lép như con tép chứ chẳng phải chơi đâu. Vì cỏ tranh cao ngang cổ nên tài xế đâu có trông thấy những người nằm trong cỏ.

Tôi bèn kiếm một chỗ khác, cạnh một gốc cây dựa lưng, ngồi cho an toàn. Nhìn vào phía rừng, tôi thấy thương binh bắt đầu được dìu hoặc cõng ra, trong khi bên trong rừng súng nổ liên hồi. Trận đánh có vẻ dữ dội lắm. Nhưng không phải giữa quân ta và Việt Cộng mà là giữa chúng với nhau. Trên trời lại thêm mấy phi tuần trực thăng Cobra bắn xuống như mưa. Tôi ngồi nghe Trung úy Phúc kể chuyện mà thấy khoan khoái trong lòng.

Thì ra sau khi gây tổn thương khá nặng cho Tiểu Đoàn 1/43, lính Việt Cộng lấy quần áo của các binh sĩ của ta bị tử thương bỏ lại, mặc vào giả làm lính Tiểu Đoàn 1 rồi chia thành hai đường tính vây bọc Tiểu Đoàn 2/43 và tàn quân của Tiểu Đoàn 1/43, đánh theo thế gọng kìm, quyết tiêu diệt toàn bộ quân ta. Nào ngờ, trời bất dung gian và cũng may cho phe ta, trong đó có tôi, đã rút ra kịp thời nên khi hai gọng kìm của chúng đụng nhau, chúng lại tưởng là quân của Tiểu Đoàn 1/43 vì chúng đã giả dạng như vậy. Chúng bắn nhau tưng bừng hoa lá lại thêm trực thăng bên trên bắn xuống, vì vậy thiệt hại của chúng chắc chắn rất cao.

Chúng bắn nhau phải tới nửa tiếng rồi chúng mới nhận ra nhau. Tôi đoán vậy vì sau đấy, tiếng súng đột nhiên ngưng bặt. Trả lại sự yên lặng cho khu rừng, lúc này đã đen thẫm vì mặt trời đã lặn từ lâu. Trời tuy vậy vẫn còn sáng mờ mờ. Tôi đoán chắc chỉ chừng nửa tiếng nữa là đêm tối sẽ xuống rất mau. Chúng tôi săn sóc nhanh chóng những thương binh. Cả thảy chỉ có 14 người, đa số là nhẹ, không có người nào bị tử thương cả. Chẳng bù cho trận đánh hôm trước, thiệt hại quá nặng cho cả hai Tiểu Đoàn. Nhưng hôm nay vì tụi địch tham thì thâm, tự chúng giết lẫn nhau. Như vậy so ra thì hai bên thiệt hại chắc cũng ngang nhau.

Trung úy Phúc kể rằng, khi Tiểu Đoàn 1/43 tiến sâu vào rừng, gặp ngay Việt Cộng mặc đồ của quân ta nên mọi người bị lọt vào ổ tụi nó. Chúng đánh xáp lá cà, ôm vật Thiếu tá Tân, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/43. May nhờ có Trung úy Phúc dùng súng Colt bắn hạ tên đó mới cứu được Thiếu tá Tân và chạy thoát ra ngoài. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/43 bị hỗn loạn. Mạnh ai nấy chạy. May mắn đều thoát được cả.

Chúng tôi ngồi nói chuyện được một lúc, xe Hồng Thập Tự tới đón tôi về. Tôi hỏi Hạ sĩ Xê:

– Sao biết tôi đã ra đây mà mang xe tới đón?

Xê cười tươi, khi thấy tôi và hai người bạn không hề hấn gì, nói:

– Dạ, ở Tiểu Đoàn báo về. Trung úy Kháng ra lệnh cho tụi em mang xe đi đón bác sĩ. Ở nhà, chúng em lo lắm, không biết bác sĩ đi có việc gì không. Hồi chiều, Trung úy Kháng thấy em lái xe về không có bác sĩ. Ông ấy la tụi em, bảo sao không ở đó chờ bác sĩ về. Em nói tại bác sĩ ra lệnh cho em mang xe về, còn bác sĩ đi theo Tiểu Đoàn 2/43 nhập trận rồi. Ông ấy cứ lắc đầu thở ra hoài. Em biết ông ấy lo cho bác sĩ lắm.

Khi tôi về tới Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, trời đã tối hẳn rồi. Người tôi gặp đầu tiên là Trung úy Kháng, ông cười nói:

– Này, quan đốc, ông liều quá. Tụi tôi ở nhà tưởng ông đi đứt rồi.

Tôi cười mệt mỏi, nói:

– Tôi đâu có liều đâu, lệnh trên bảo đi là đi. Mình ở trong quân đội mà, ông không nhớ sao!

– Tụi nó nói ông đi theo Tiểu Đoàn 2/43 nhập trận trước. Mấy phút sau, truyền tin Tiểu Đoàn 2/43 báo cáo về là Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn bị đụng nặng, đánh xáp lá cà. Tiểu Đoàn Trưởng Tân ‘Hao Dầu’ suýt nữa bị bắt sống. Toàn bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/43 bị banh càng hết. Ở nhà, tôi nghĩ bụng phen này đốc Quý chắc gặp nạn quá. Tôi tin là ông đi theo Tiểu Đoàn 2/43 như tụi nó mới đầu báo cáo vì ông thân với Trung úy Phúc. Tôi cứ hét trong trong máy truyền tin là “có bác sĩ Quý ở Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn không?” thì tụi nó lại cứ nói là “không!”. Tôi nghĩ là ông bị Việt Cộng nó cõng đi rồi. Cả ban Tham Mưu Trung Đoàn đều lo cho ông. Sau, tụi nó báo về rằng ông đi theo Tiểu Đoàn 1/43. Tôi gọi cho ông Thiếu tá Hiếu hỏi, ông xác nhận là có thấy bác sĩ Quý cùng đi với trợ y của tiểu đoàn vào trận nhưng sau đó thi không biết ông đi đâu cả. Tụi này lại càng tin ông bị Việt Cộng vồ rồi. Mãi sau, được tin ông an toàn ra khỏi trận rồi. Mọi người mới thở phào như trút được một gánh nặng. Thôi ông đi tắm rửa rồi còn ăn cơm và nghỉ ngơi.

Tôi đứng dậy định trở về khu Quân Y thì Trung tá Nhựt bước tới, cười cười nói:

– Sao cụ liều thế, dám đi vô trận như vậy, chắc cụ muốn kiếm một huy chương hả?

– Dạ, đâu có. Không phải tôi muốn huy chương, tôi chỉ làm theo lệnh thôi.

Vừa đi vừa suy nghĩ lẩm cẩm như vậy, chẳng mấy chốc tôi đã về tới trại. Gặp Thượng sĩ Lỹ, tôi hỏi:

– Ở nhà có chuyện gì lạ không ông?

– Dạ, thưa không.

-Vậy thì may quá. Ông đã xuống đó tắm rửa bao giờ chưa? Tốt lắm. Để ngày mai, có rảnh ông xuống đó một chuyến cho biết. Có thể vài ngày nữa, mình sẽ nhận được thuốc chủng ngừa dịch tả rồi mọi người đều xuống đó chích ngừa cho dân.

Vừa vào đến phòng, phơi đồ xong là bác sĩ Phúc bắt tay vào việc liền. Thảo công văn xin thuốc chủng ngừa dịch tả rồi anh sang bên hầm chỉ huy nhờ gởi công điện về Sài Gòn.

Tôi đang ngồi nghỉ ngơi thì ông Thiếu tá Diệm tới. Tôi mời ông ngồi nhưng ông từ chối, bảo có việc phải đi ngay, chỉ ghé sang có tí việc cho tôi biết. Thấy giọng ông có vẻ nghiêm chỉnh, tôi tưởng có sự gì quan trong, vội hỏi ông:

– Có chuyện gì thế ông?

– Có chuyện nhỏ thôi, nhưng cũng phải nói cho ông biết. Nhân viên của tôi báo cáo thấy cô Bích, quần áo lúc nào cũng ủi thẳng tắp. Như vậy không được đâu. Máy phát điện ở đây là để dùng vào những việc quân sự trọng đại chứ không có đủ điện ủi đồ. Đến nước này mà còn ăn mặc bảnh bao làm gì.

Tôi không tin cô Bích đã dùng bàn ủi điện để ủi đồ vì ai cũng biết điện ở đây rất yếu. Vả lại, ủi đồ làm gì khi không biết được ngày mai sống chết ra sao. Tôi nghĩ quần áo của cô thẳng nếp vì cô đã ủi bằng một phương pháp dã chiến mà tôi đã có lần dùng. Tức là để quần áo ngay ngắn lên một miếng gỗ thẳng rồi để xuống dưới nệm. Mình nằm qua đêm, sáng mai dậy sẽ có một bộ đồ thẳng nếp như ủi vậy. Vì ông Diệm không biết cách ủi dã chiến này nên nghi cô Bích đã dùng bàn ủi điện. Tôi đã không giải thích cho ông Diệm hiểu, tôi chỉ nói:

– Được, cám ơn ông đã cho tôi biết điều này. Tôi sẽ cho cô Bích biết Bộ Chỉ Huy cấm không được dùng điện để ủi đồ.

Sở dĩ tôi không giải thích vì tôi không biết sự thực có phải như lời ông Thiếu tá Diệm nói không. Dù sao cô Bích cũng là nhân viên của bệnh viện, lại trực tiếp làm dưới quyền của tôi. Nếu tôi giải thích thì lại sợ ông hiểu lầm tôi biện hộ cho cô ấy. Tôi không nên nói gì trước khi có đầy đủ những bằng cớ trong tay. Tôi sẽ hỏi cô Bích cho rõ ràng mọi chuyện rồi sẽ báo cho ông Diệm biết sau cũng chưa muộn. Nếu đúng như tôi nghĩ, cô Bích đã không dùng điện để ủi đồ thì sau này chỉ một lời giải thích cũng đủ. Còn quả như cô ấy đã dừng điện ủi đồ thi chỉ cần cho cô biết lệnh của Tiểu Khu là xong.

Ông Diệm đi rồi, tôi cho gọi cô Bích đến. Tôi hỏi:

– Sao dạo này cô diện vậy, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu mới cho người tới nói với tôi là cô đã dùng điện ủi đồ nên quần áo mới phẳng phiu như vậy. Thực sự ra sao, cô cho tôi biết.

Cô không trả lời tôi ngay mà hỏi lại tôi, tính cô là như vậy:

– Thế bác sĩ có tin tôi dùng điện để ủi đồ không?

Tôi lắc đầu, đáp:

– Không nhưng tôi muốn hỏi cô cho rõ ràng để tôi giải thích với người ta.

Cô Bích hơi mỉm cười vì thấy tôi có vẻ về phe cô. Cô lại hỏi tôi:

-Vậy tại sao quần áo của tôi vẫn phẳng như thế?

Tôi thấy cô này muốn thử tài tôi đây. Tôi nghĩ thầm, tôi là sư phụ của cô chứ có phải tay mơ đâu mà đòi thử tài. Tôi không trả lời trực tiếp câu hỏi của cô mà chỉ nói:

-Thôi cô ạ, dù sao cô so với tôi cũng chỉ thuộc lớp hậu sinh khả ố thôi. Tôi đã qua cái kinh nghiệm này rồi. Tôi dùng điện trong cơ thể tôi này, đúng không?

Cô Bích cười, tỏ vẻ khâm phục, nói:

– Đúng, xin bái phục. Nhờ bác sĩ nói lại và giải thích cho họ biết giùm tôi.

– Đó là bổn phận của tôi. Tôi đã nghĩ như vậy, nhưng phải chờ mọi sự minh bạch rồi mới nói cho họ biết, kẻo họ lại tưởng kiểu phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Thôi chuyện này là chuyện nhỏ nhưng cô cũng nên biết là nhất cử nhất động của cô đều bị theo dõi. Vậy cô nên để ý đừng làm gì lệch đường. Chúng tôi sắp có chuyện nhờ cô rồi đó. Xuống làng chích ngừa dịch tả cho dân.

– Bao giờ đi bác sĩ?

– Chưa đi ngay đâu. Bác sĩ Phúc còn đi xin thuốc. Bao giờ có thuốc rồi, tôi sẽ cho cô biết. Chúng tôi cần một số đông y tá để giải quyết công tác này càng nhanh càng tốt vì mình không có tủ lạnh. Thuốc không để lâu được.

-Tôi sẵn sàng đi. Nhân tiện được dịp xuống làng xem có gặp người quen nào không.

– Tôi có gặp cô Đào ở dưới đó. Tôi có nghe Đại tá Tỉnh Trưởng dự trù cho di tản dân về Bình Dương. Sẽ có những chuyến trực thăng Chinook tới bốc hết những ai muốn tản cư rời khỏi nơi này. Có thể lúc đó cô sẽ đi với cô Đào. Được không?

– Tôi chỉ mong có thế thôi. Cám ơn bác sĩ.

Đến đây, cô liền từ giã tôi đi về phòng. Cô vừa rời khỏi thì bác sĩ Chí dẫn một người ngoại quốc tới. Bác sĩ Chí liền giới thiệu:

– Đây là ông phóng viên chiến trường báo Time, mới đến đây ngày hôm nay. Tao gặp ông ấy ở hầm Chỉ Huy. Ông ấy muốn phỏng vấn tụi mình để có thêm tài liệu viết bài. Tao thấy ở đây mày nắm vững tình hình về bệnh viện, về thương binh nên dẫn ông ấy tới đây nói chuyện với mày. Thực ra, ông ấy đến đây lần thứ hai. Lần trước cách đây chừng một tháng, vào ngày Việt Cộng tấn công đợt nhất. Ông bị thương ở cánh tay, tao có băng bó cho ông ấy rồi tản thương về Sài Gòn, nay khỏi rồi ông lại tới đây.

Tôi dơ tay ra bắt tay người phóng viên can trường này. Trông ông có vẻ nhỏ con so với người Tây Phương. Dáng điệu không có vẻ gì là gồ ghề phóng viên chiến trường cả. Lưng ông ta đeo hai cái máy ảnh Nikon. Tôi hỏi:

– Ông làm cho báo Time, chắc ông là người Mỹ?

– Không, tôi là người Canada. Tôi muốn biết tình trạng và khả năng y tế ở đây. Tôi biết những thương binh được đưa vào đây săn sóc. Còn dân chúng thì sao? Bác sĩ Chí cho tôi biết bệnh viện Tiểu Khu đã dọn cả về đây rồi.

Để cho ông ta có một khái niệm về tình trạng y tế ở đây. Tôi đã tóm tắt mọi sự ngay từ những ngày đầu rồi tôi nói tiếp:

– Hiện tại phòng mổ này tuy là dã chiến nhưng chúng tôi cũng có thể mổ lớn được. Mặc dù vất vả lắm vì thiếu thốn đủ mọi thứ. Có một trạm cứu thương ở dưới làng. Những người dân bị thương nặng vẫn được phép chuyển vào đây cho tôi săn sóc. Chúng tôi đang dự định một chương trình chích ngừa dịch tả trong vài ngày nữa khi chúng tôi nhận được thuốc từ Sài Gòn.

– Thế về y cụ có đủ không?

– Tạm đủ, tuy nhiên trước mắt tôi phải lấy chỉ từ những sợi dây nylon cột bao cát để may những vết thương dưới da khi đóng bụng. Sợi nylon này rất dai, bền và nhất là dễ khử trùng. Chúng tôi khử trùng bằng xà-bông bột Quân Tiếp Vụ.

Nói đến đây, bác sĩ Chí lôi từ trong túi ra một túm chỉ nylon của bao cát, đưa cho anh ký giả coi.

– Thế không bị nhiễm trùng làm độc sao?

– Tôi chưa thấy trường hợp dùng chỉ nylon nào bị làm độc. Có người bị thương, mổ xong không có chuyến tản thương, bị kẹt ở đây tới hai tuần mà vết thương lành luôn, lại tiếp tục chiến đấu. Lý do không bị làm độc vì đa số các vết thương đã được săn sóc ngay, thường là khoảng một giờ. Không như ở những bệnh viện xa nơi chiến trường, khi nhận được thương binh là đã trễ mất ba, bốn giờ có khi đến sáu, bảy giờ nên vi trùng có đủ thời gian sinh sản làm độc. Tôi mới nhận ra một điều, không có trong sách vở, là chẳng cần phải những thứ thuốc sát trùng đắt tiền rắc rối làm gì. Phương tiện khử trùng hay nhất theo như kinh nghiệm của tôi tại chiến trường này là nước xà-bông hay nước Javel pha loãng. Tôi dùng những dung dịch này để rửa vết thương thì thấy sau ba, bốn ngày mở ra vết thương vẫn còn đỏ tươi không một chút mủ, không có mùi gì cả. Vì vậy rất dễ mau lành.

Ông ký giả này nghe tôi nói vậy có vẻ thích thú lắm. Ông luôn mồm khen tụi tôi số một. Ông hứa hẹn tên của tụi tôi sẽ được đăng trên báo Time. Tôi vội ngắt lời và nói đùa:

– Như vậy, tụi tôi sẽ nổi tiếng trên thế giới sao?

– Đứng thế, các ông xứng đáng được như vậy.

Trước đây mấy tháng, trong những lần cùng Thiếu tá David Risch đi vào các làng, các xóm kiếm bệnh về mổ. Tôi đã có lần nói nửa đùa, nửa thật với ông ta rằng:

– Mình hợp tác với nhau, cố làm sao kiếm được một phương thức hay mổ được một bệnh gì độc đáo để được nổi tiếng khắp thế giới.

Bác sĩ Risch gật gù nói:

– Được lắm, ý kiến đó hay lắm. Chúng ta chắc sẽ có ngày đó.

Bây giờ, nghe ông phóng viên chiến trường này nói thế, tôi cũng thấy vui vui nếu được nêu tên trên báo Time.

Vừa nói đến đây, chúng tôi nghe một tiếng nổ ở ngay sân Bộ Chỉ Huy. Anh ký giả Canada vội xin lỗi, chạy lên cửa hầm đứng chụp hình những chỗ pháo mới nổ tung tóe đất cát. Tôi thấy anh này gan cùng mình, tỉnh bơ như không. Anh ta còn vẻ khoái trá nữa, có lẽ vì anh đã chụp được những hình ảnh sống động ngay tại mặt trận. Địch vẫn tiếp tục pháo kích vào Bộ Chỉ Huy. Toàn bằng súng cối thôi nên thật tình chẳng gây được một tổn hại nào đáng kể. Tôi đứng bên cạnh anh ta nhìn xem những chỗ bị pháo nháng lửa lên chỉ cách chúng tôi chừng 30 thước. Sau khi ngớt pháo, anh ta từ giã tụi tôi, hả hê đi về hầm Bộ Chỉ Huy. Ít ra anh cũng có những hình ảnh pháo kích 100% đã do chính anh chụp được.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Bài 21 – Người Ở Lại Bệnh Viện

Khoảng 5 giờ chiều, bác sĩ Phúc từ hầm chỉ huy trở về, trông anh có vẻ vui. Tôi nghĩ chắc chắn anh đã nhắn được tin về nhà. Tôi hỏi:

– Có gì vui không anh?

Bác sĩ Phúc mỉm cười đáp:

– May quá, vào phút chót, tôi đã nhắn được tổng đài gọi về cho nhà tôi. Có lẽ ngày mai bà xã tôi sẽ lên Bưu Điện Chợ Lớn gọi cho tôi.

– Như vậy đêm nay anh lại mất ngủ nữa rồi? – Tôi hóm hỉnh đùa anh.

– Chắc không đâu, vì đêm qua đã mất ngủ rồi, mệt lắm, đêm nay phải ngủ bù thôi. Hôm nay có khá nhiều chuyện vui, đặc biệt là cu Sơn đã được anh thông phổi và tản thương ngay, số thằng đó tuy xui mà rốt cuộc lại hoá hên. Hai nữa chúng mình lại thông tin được cho người nhà. Nhưng phải nói rời bỏ được bệnh viện, sang được bên này là điều đáng mừng nhất.

Tôi gật đầu, hoàn toàn đồng ý với anh:

– Từ khi sang bên này tôi mới thấy là mình mới có hy vọng sống. Ở bên bệnh viện nhất là khi còn ở phòng tôi dưới trại Ngoại Khoa, đầu óc tôi căng thẳng, lo sợ quá, không biết chết lúc nào. Thực đúng là sống trong địa ngục, cả nghĩa đen lẫn với nghĩa bóng. Chẳng gì mình cũng đã sống cùng với mấy trăm xác chết sình thối suốt mấy tuần liền. Ăn uống lại thiếu thốn. Tôi lại bị bó tay, muốn làm việc mà đành chịu không thể làm được, nản hết sức. Khi tôi lên ở cùng hầm với anh cũng thấy hơi yên tâm phần nào. Vì ở hầm an toàn hơn ở phòng tôi nhiều, lại có người bên cạnh nên dù sao cũng bớt cô đơn, đỡ sợ hơn trước.

Anh Phúc vội ngắt lời tôi với giọng trầm hẳn xuống:

– Nói đến cô đơn, để tôi kể anh nghe. Khi anh đi rồi, tôi xuống tinh thần kinh khủng. Như anh đã nói, trong cơn nguy hiểm chúng mình ở chung một hầm tôi thấy yên trí lắm. Khi anh dọn sang đây tôi thấy như hụt hẫng, tuy có thằng cháu Sơn nhưng nó là con nít, đâu có chia sẻ được những cảm nghĩ như tôi với anh được. Trong thâm tâm tôi chỉ sợ hai điều là bị bỏ rơi và đặc công lẻn vào tấn công. Bởi vậy khi anh đi rồi tôi cho đóng kín cửa lại ở trong hầm nằm cho chắc ăn. Tuy có nóng, ngộp một chút còn hơn cứ nơm nớp lo sợ tụi nó lẻn vào thịt mình.

Tôi ngắt lời anh nói:

– Tôi quả thực phục sức chịu đựng của anh. Ở hoài trong hầm như vậy tôi thấy ngột ngạt chịu không nổi.

Anh Phúc lắc đầu nói:

– Tôi cũng đâu có hơn gì anh. Nhưng thực ra chẳng có cách nào khác. À anh để tôi nói tiếp. Sau khi rút vô trong hầm rồi, chùng 1 giờ sau, tôi bỗng nghe thấy tiếng bước chân lạ lắm, không giống như những bước chân thường. Nó đi lọc cọc, khấp khểnh chậm chạp từng bước một từ phía Phòng Mổ đi về phía văn phòng Ty Y Tế Nó dừng lại trước cửa.

Tôi ở trong hầm lắng tai theo dõi sợ muốn nín thở luôn. Ngay khi đó có tiếng gõ cửa gấp rút rồi có tiếng đàn bà gọi: “Bác sĩ Phúc có ở trong này không?” Tiếng của người nào lạ hoắc. Tôi ngẫm nghĩ: Mà sao nó lại biết tên mình. Xin lỗi anh, tôi sợ đến thiếu điều són đái ra quần. Tôi làm thinh không trả lời. Tiếng chân khập khiễng, lọc cọc lại đi về phía Phòng Hậu Giải Phẫu. Ngừng lại một hồi lâu lại tiếp tục quay trở lại, dừng trước cửa, gõ cửa nữa. Lại vẫn giọng nói đàn bà vang lên, lần này có vẻ khẩn trương hơn, hổn hển đứt quãng:

– Bác sĩ Phúc ơi, em là T.T. đây. Xin bác sĩ cứu em với, em đang chuyển bụng, sắp sanh rồi.

Nghe tới đây tôi mới hoàn hồn. Nhận ra tiếng của cô T.T. thư ký Tòa Hành Chánh tỉnh. Cô bị cụt một chân, đi nạng gỗ lại có thai sắp tới ngày sanh, nên ở trong hầm mới nghe thấy tiếng bước chân lạ lùng kỳ dị như vậy, làm cho tôi bị một phen sợ điếng hồn. Tôi bảo cu Sơn ra mở cửa. Cô T.T trông thấy tôi vội nói: “bác sĩ ơi em sắp sanh rồi bác sĩ đỡ đẻ dùm em.”

Cô T.T. ngày thường trông đẹp đẽ khả ái là thế, nay trông xanh xao, tiều tụy quá vì đang đau đẻ. Tôi chỉ thấy một mình cô với cái bụng mang thai lớn vượt ngực. Tay chống nạng, đeo một túi vải trên vai cùng với một người con gái có lẽ là người em của cô ta. Tôi vội dìu cô ta lên Phòng Mổ tính đỡ đẻ ở đó nhưng lên tới nơi thì phòng mổ tanh bành hết trơn. Bẩn thỉu không thể chịu được. Dưới sàn là những vũng máu đen xì. Bàn mổ thì ruồi bu đầy trên những vết máu.

Đã từ lâu, bệnh viện không có nước để chùi rửa làm vệ sinh nên chỗ nào chỗ nấy đều dơ bẩn lắm. Tôi thấy không thể đỡ đẻ ở đây được, lại dìu cô về văn Phòng Y Tế. Ở đó có cái bàn làm việc của tôi để ở giữa phòng. Tôi nghĩ có thể để cô nằm trên đó tạm thời đỡ đẻ cũng được. Tôi liền loay hoay giúp cô leo lên bàn. Vì cô ta có một chân nên rất khó khăn vất vả mới đặt cô ta nằm đàng hoàng lên bàn được.

Tôi giúp cô ta kéo quần xuống, gấp cái chân còn lại trong tư thế sẵn sàng để rặn đẻ thì đầu ối vỡ ra. Nước bắn tung tóe lên người tôi, văng cả lên mặt, ướt hết cả quần áo. Tôi chỉ biết cắn răng mà chịu thôi chứ biết làm sao bây giờ. Đâu có nước mà rửa ráy đâu. Anh thấy mùi nước đầu ối nó khan khản như thế nào ấy. Vậy mà tôi phải lãnh đủ. Tôi ráng đỡ đẻ cho cô ta, cũng may cô này sanh khá dễ.

Sau khi cắt nhau xong, tôi đặt đưa bé vào lòng cô ta, sai cu Sơn đi kêu mấy tay y tá kiếm dùm một cái băng-ca khiêng cô ta ra Phòng Cấp Cứu để ở đó nằm tạm rồi tôi lo thay đồ. Tôi lấy miếng bông gòn nhúng alcool chùi rửa những chỗ bị nước đầu ối bắn vào. Rồi mới chui vào hầm nằm thở dốc vì quá mệt.

Tôi chợt hỏi một câu hơi lạc đề một chút:

– Thế đứa nhỏ là con trai hay con gái?

– Tôi cũng quên chẳng để ý nó là trai hay gái. Mình cố gắng giải quyết công việc cho nhanh, gọn, thấy nó vừa lọt lòng mẹ ra khóc được là mừng rồi. Chắc là sống rồi.

Óc khôi hài của tôi chợt nghĩ đến một việc khiến tôi phải cố gắng nín cười, sợ bác sĩ Phúc nổi giận vì đã cười giỡn trên sự đau khổ của anh. Tôi đang nghĩ, người đầu tiên trên thế giới được tắm bằng nước đầu ối đàn bà đẻ chắc chắn phải là bác sĩ Phúc. Tôi vội đánh trống lảng hỏi tiếp câu chuyện của anh đang kể:

– Thế rồi sau ra sao anh?

– Sau khi nằm nghỉ được một lúc, hơi lại sức, tôi vội ra xem coi cô ta và đứa bé có khỏe không thì không thấy đâu cả. Tôi hỏi mấy người y tá gần đấy thì nghe nói có một người đàn ông đi xe gắn máy tới chở cả hai mẹ con đi rồi. Từ đó tôi không được tin tức gì của họ cả.

Tôi nhìn anh Phúc thấy tội nghiệp cho anh đã phải trải qua một kinh nghiệm không được sạch sẽ lắm. Tôi đã không chọn sản phụ khoa chỉ vì sợ cái mùi nước ối và cái mùi nhau đẻ tanh tanh khan khản khó chịu. Tôi lấy làm may mắn là những sự việc như vậy thật không xảy ra cho tôi.

Tôi vội ỏi:

– Thế đêm qua nó pháo dữ như vậy bệnh viện có bị gì không?

– Cũng bị chừng hơn chục quả, may mắn là không bị hỏa tiễn. Nhưng trại Ngoại Khoa của anh bị nặng nhất. Trại Nội Khoa với Nhi Khoa hình như chỉ bị một hai trái. Có lẽ kỳ này nó điều chỉnh được nên pháo vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn với bên trường Trung Học nhiều hơn cả. Đặc biệt lần này Ty Công Chánh ở ngay sau bệnh viện, cách hầm của tôi có một con đường nhỏ chừng 10 thước chứ mấy. Pháo nổ liên hồi ở hướng đó làm tôi thấy sợ hãi khủng khiếp lắm. Cứ như là nó nổ sát hầm mình. Rung rinh cả nắp hầm. Cánh cửa Phòng Y Tế ban đêm gài chắc như thế, lại chèn thêm một cái bàn chắn ngang cửa nữa mà cũng bị bật tung ra. Thằng cu Sơn bò ra kê lại cái bàn, chèn lại cửa vừa xui bị ngay một trái nổ trước sân, mảnh xuyên qua cánh cửa bị thương ở ngực. Trong đêm tối nó kêu lên: “Cháu bị thương rồi bác ơi”. Làm tôi xanh mặt tưởng nó tiêu rồi. Nó lết vô phòng thở hổn hển, máu ra đậm cái áo thun. Tôi vội lấy cái băng cá nhân, băng lại cho nó chỉ sợ mảnh đạn xuyên qua bên tim hoặc đụng phải động mạch chủ là hết thuốc chữa. Anh thử tưởng tượng ngoài kia pháo kích nổ như mưa, trong hầm chỉ có mình tôi với thằng cháu bị thương rên hừ hừ kêu đau, kêu cứu, tôi thực sự kinh hoàng gần như phát điên lên. Tôi muốn trách thằng cu Sơn sao không hỏi tôi lại chạy ra đóng cửa làm gì trong lúc nó đang pháo tới tấp như thế, nhưng ai biết đâu chữ ngờ. Nó làm cũng phải, lại còn can đảm nữa nên tôi chỉ có nước ngồi chờ cho tới sáng xin xe cứu thương mang nó sang đây để anh đặt ống thông phổi cho nó đồng thời xem nó có còn bị thêm những gì khác không. Tôi thấy nó sống được qua đêm thì cũng đoán rằng vết thương ngực này không đến nỗi tệ lắm. Vẫn còn nhiều hy vọng. Tôi cứ phải canh chừng bắt mạch nó hoài. Thấy mạch nó vẫn còn mạnh, không quá nhanh, hơi thở điều hòa tuy có hơi nhanh một chút, tôi cũng hơi vững dạ. Nhưng thật là một đêm lo sợ kinh hoàng nhất của đời tôi. Tới khi nó ngớt pháo rồi tôi mới hơi yên tâm được một chút. Nhưng những tiếng súng nhỏ lẫn lộn AK với MI 6 ở đằng phía Ty Công Chánh lại càng làm tôi run nữa vì nghĩ rằng tiền pháo hậu xung đã bắt đầu. Tuy nhiên chắc có lẽ địch quân không tiến nổi với sức kháng cự của quân mình. Tới gần sáng tụi nó rút đi, tiếng súng phía đó mới im lặng. Khi trời sáng bảnh mắt ra thấy có tiếng của lính mình gọi nhau tôi mới biết là mình còn sống.

Tôi ngồi yên lặng nghe anh Phúc kể lại cái đêm khủng khiếp hôm qua và thấy mình thật sự quá may mắn, không phải chịu những cảnh căng thẳng ghê gớm đó. Tôi bèn hỏi anh:

– Thế bên y tá của mình có ai bị thương không?

– Có mấy đứa bị thương nhẹ vào đầu, vào mình nhưng chỉ sớt bên ngoài vẫn đi lại như thường. Tôi nghe nói cô Cúc bị thương ở đầu khá nặng, mê man và có cho sang đây mà sao không thấy đâu nhỉ?

– Cô Cúc Đồng ấy à?

– Phải đó, nghe nói đã cho di tản sang bên này để anh xem có chữa trị cứu được không.

– Tôi thấy là vô phương, bị thương bể xương sọ mà bị mê rồi là hết thuốc chữa. Ờ mà sao không thấy tản thương cô ấy sang bên này? Để sáng mai tôi hỏi cô Bích chắc cô ấy biết. Anh thử tính sơ qua từ đầu trận đánh đến giờ Bệnh Viện Tiểu Khu mình tổn thương bao nhiêu người.

Bác sĩ Phúc ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:

– Về bên dân sự, có ba người nếu kể cả cô Cúc này nữa. Cô kia là cô Nhan ở Y Tế Công Cộng. Tội nghiệp cô này bị chết hai lần. Bên Quân Y có bốn người. Số người bị thương cả thảy 36 người. Đa số nhẹ thôi, không có ai bị nặng cả. Quân số của mình là 70 người, như vậy cho tới hôm nay, bị thương hơn 50% quân số. Tuy nói vậy nhưng trừ những người chết ra, những người bị thương vẫn đi lại được như thường. Thành ra quân số bất khiển dụng của mình trên thực tế rất nhẹ. Tôi cho thế là may mắn lắm rồi.

Tôi gật đầu đồng ý với anh:

– Tôi cũng nhận thấy thế. Mình hoàn toàn không phòng bị gì cả. Hầm hố rất sơ sài. Địch pháo cả mười ngàn trái vào những ngày nó tấn công, cả những ngày thường nữa, suốt tháng trời. Như vậy thật là may mắn.

Tôi nhìn anh nói đùa một câu:

– Chắc tại anh tên là Phúc nên các nhân viên được hưởng lây.

Bác sĩ Phúc cười buồn:

– Nếu thực sự là thế thì đã không có ai bị tử thương cả.

Tôi chợt nhớ ra điều gì vội hỏi:

– Thế còn anh Chí, có sang bên này chưa?

– Anh Chí đi sau tôi có lẽ giờ này cũng ở bên này rồi. Hình như ở hầm kế cùng với mấy nhân viên khác. Một số muốn ở lại bệnh viện không đi. Thật ra bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu có cho biết, chỉ có thể còn chỗ cho một số người thôi. Một phần đã di chuyển xuống làng, trong đó có Trung sĩ Tiếng. Xuống đó lập một trạm cứu thương ở chùa để giúp những đồng bào bị thương, băng bó làm sạch những vết thương nhẹ.

– Vậy hả, như vậy là ở bệnh viện chỉ còn các anh em thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y và một số ít lính của mình thôi. À còn cô Bông, anh có thấy ở đâu không?

– Cô ấy vẫn ở lại bệnh viện, ngay phòng của cô Bích cũ.

Nghe được những tin tức như vậy tôi cũng tạm thời yên lòng đối với các nhân viên của bệnh viện. Đợi chừng vài ngày nữa, nếu tình hình cho phép, tôi sẽ làm một chuyến xuống làng xem tình trạng dân tị nạn ra sao. Bây giờ vẫn còn sớm quá, không biết ở dưới đó có an ninh không và nhất là mới sau đợt tấn công lần thứ nhì. Tôi sợ còn nhiều thương binh đem đến nếu tôi không có mặt ở đây thì thật là phiền.

Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, hết chuyện nọ tới chuyện kia lan man hoài không dứt. Thực ra tuy làm việc với nhau cả năm trời nhưng chúng tôi chẳng có thì giờ ngồi nói chuyện với nhau thảnh thơi như thế này. Nói đúng ra dùng chữ thảnh thơi, không được chính xác lắm vì trong lòng hai chúng tôi vẫn còn nhiều vướng mắc, vẫn còn nhiều kinh sợ lo âu vì đã bị vây khốn trong trận này quá lâu. Nhưng tương đối so với mấy ngày trước quả có nhẹ nhàng trong lòng một chút.

Những ngày thường, chúng tôi đâu có cơ hội hoặc thì giờ để tâm sự với nhau, nói về đời riêng tư của mình cho nhau nghe. Do đó mà tôi lấy làm lạ khi anh Phúc cho biết đã có một thời anh làm Hội Trưởng Hội Khổng Học. Một điều tôi không thể ngờ được. Tôi đã nghe tới Hội Khổng Học hồi còn ở Sài Gòn. Tôi cứ nghĩ là ông Hội Trưởng chắc phải là một ông già cỡ như ông Khổng Tử tôi thấy ở trong những bức hình. Ai ngờ đâu lại là một ông bác sĩ trẻ tuổi như anh Phúc. Và còn lạ hơn nữa, trong thời buổi văn minh tân tiến này lại có một người trẻ tuổi để ý tới một hệ thống triết lý cổ thời như đạo Khổng.

Tôi có đọc qua cuốn Nho Giáo của cụ Trần Trọng Kim, nào là phần Hình Nhi thượng nào là phần Hình Nhi hạ. Tôi đọc để biết thôi chứ không đam mê nên không đào sâu lắm. Tuy nhiên để tiếp chuyện với ông cựu Hội Trưởng Hội Khổng Học, tôi cũng cố vận dụng sức hiểu biết của mình về Khổng Giáo, trao đổi với nhau cũng khá tốt, không đến nỗi làm ông nhàm chán.

Trong ánh mắt của anh Phúc, tôi cảm thấy là anh cũng hơi ngạc nhiên vì một tay đàn em cũng có sở thích và chú ý tới những việc mà anh không ngờ tới. Tôi cũng thích học chữ nho, đọc thơ Đường. Tôi đã đọc Đường Thi của cụ Ngô Tất Tố, của cụ Trần Trọng Kim, và của ông Trần Trọng San. Tôi thích cuốn thơ Đường của ông Trần Trọng San hơn vì ông viết tiểu sử của các thi sĩ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị khá chi tiết, giúp tôi hiểu thân thế sự nghiệp của các thi sĩ đời Đường chứ không chỉ dịch thơ và chú thích như những cuốn sách khác.

Chúng tôi nằm ngược chiều trên hai cái giường để nói chuyện cho nó thoải mái. Nhận thấy ánh trăng chiếu qua khe hở dùng làm chỗ thông hơi cho căn hầm tôi nhớ tới bài Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch nên đọc:

Sàng tiền minh nguyệt quang.

Anh Phúc ứng khẩu tiếp ngay:

Nghi thị địa thượng sương.

Tôi tiếp:

Cử đầu vọng minh nguyệt.

Anh đọc câu chót:

Đê đầu tư cố hương.

Xong chúng tôi đều mỉm cười thoải mái như tình cờ có được một khám phá mới. Hay nói cho nó có vẻ quan trọng, văn hóa hơn là gặp được tri kỷ, ít ra là về cái điểm thơ Đường. Bài thơ này diễn tả đúng tâm sự của chúng tôi lúc bây giờ.

Tính tôi hay thích đọc sách, đọc truyện, không phân biệt thể loại gì, có cái gì đọc cái nấy. Nhưng tôi lại là người ít nói. Chỉ khi nào gặp người hợp ý mới mở miệng mà thôi. Tôi thích nghe hơn là nói. Tôi có một quan niệm là ở bất cứ người nào họ cũng có một số sở trường của người ấy và đáng để cho tôi học hỏi. Tôi nhớ câu chữ nho: Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư. Tôi công nhận là rất đúng. Nếu chịu khó tìm hiểu và trao đổi thì bất cứ với một người nào tôi cũng có thể kiếm ra một điểm hay của họ tôi cần phải học.

Dù chỉ là một người rất tầm thường chẳng hạn như anh Châu chột của tôi, anh nói:

– Nếu Bác sĩ muốn có món nhậu bất thình lình, chỉ trong vài phút tôi sẽ có ngay cho bác sĩ, chẳng phải chờ đợi lâu.

Tôi hỏi anh thế làm thế nào mà nhanh thế. Anh Châu đáp:

– Có gì khó đâu tôi lấy con gà chặt phăng hai cái đùi rô-ti cho bác sĩ ăn. Trong khi đó tôi đun nước sôi làm lông gà rồi làm các món khác. Khi bác sĩ nhậu xong hai cái đùi gà là mọi thứ đều sẵn sàng cả.

Tôi thấy anh Châu cũng có lý. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ tôi lại muốn chặt cụt chân con gà trong lúc nó vẫn còn sống nhăn. Thực quả là tàn ác với súc vật. Nhưng cái ý tưởng cái gì làm trước cái gì làm sau, phối hợp chặt chẽ với nhau như thế để hoàn thành công việc, có thể rút ra từ câu chuyện đùi gà của anh Châu.

Từ ngày tôi tới làm việc ở Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, đối với bác sĩ Chí vì là bạn cùng lớp, cùng nhóm đi thực tập chung nên khi gặp lại chúng tôi đã thân nhau ngay, nói chuyện mày tao rất tự nhiên. Còn đối với bác sĩ Phúc vừa là cấp trên, vừa là lớp đàn anh, lại không quen biết trước nên tôi cũng có phần e dè, giới hạn. Tôi nhận xét giữa bác sĩ Phúc và bác sĩ Chí hình như có một điều gì hơi kỵ nhau. Bên ngoài thì cười nói vui vẻ nhưng bên trong thì hình như có một cái gì vướng mắc không thoải mái. Tôi cảm thấy như vậy, không biết có đúng không. Trước khi có tôi, không hiểu hai người đã có chuyện xích mích gì không.

Tôi có thể nói những mối bất hòa đa số là do thiếu hiểu biết nhau. Không có dịp trao đổi ý kiến với nhau nên dễ bị hiểu lầm. Mọi người đều có một vỏ bọc riêng. Xét đoán người qua vỏ bọc ấy thường là không đúng. Cá tính người sẽ bộc lộ ra khi vỏ bọc ấy bị phá bỏ. Mà cách thông thường nhất để nhìn xuyên qua được cái vỏ bọc bên ngoài ấy là nói chuyện với nhau vào những lúc thích hợp nhất.

Sau những phút nói chuyện với anh tôi thấy anh là người dễ mến. Anh xuất thân trong một gia đình cách mạng, thân phụ anh là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Vì anh mới lấy vợ được có mấy tháng, tôi tò mò hỏi anh:

– Anh có thể cho tôi một vài kinh nghiệm về đời sống gia đình, khác với đời sống độc thân như thế nào. Có gì thích thú không?

Anh mỉm cười hỏi đùa tôi:

– Sao, bộ muốn lấy vợ sao mà hỏi vậy?

Tôi lắc đầu đáp:

– Không, chắc số tôi còn lâu mới lấy vợ được, hỏi anh vì tò mò thôi.

Anh không đùa nữa, nét mặt có vẻ nghiêm trang hơn. Anh nói:

– Tôi nói thật với anh, đời sống gia đình rất vui. Tôi may mắn lấy được người vợ tôi ưng ý lắm. Anh biết không, tuy mới làm đám cưới với nhau không lâu mà mỗi khi tôi về thăm bên vợ tôi, gia đình bên đó đối xử với tôi thân thương như là người ruột thịt trong nhà từ lâu lắm rồi kìa. Mọi người cười nói vui vẻ tự nhiên thoải mái không có một chút hậu ý nào. sống rất hồn nhiên sung sướng. Không những không giống như bên gia đình tôi, chẳng ai nói với ai một tiếng nào, không khí gia đình rất lặng lẽ. Đôi khi tôi hơi lấy làm tiếc là gặp nhà tôi hơi muộn, gặp sớm hơn thì tôi đã đỡ mất mấy năm buồn tẻ trong đòi.

– Tôi nghe nói gia đình bên vợ anh có bà con với Trung Tướng Tôn Thất Đính phải không?

– Đúng, nhưng mạnh ai nấy sống chứ có nhờ vả gì đâu.

Chúng tôi nói chuyện lan man hết chuyện nọ ra chuyện kia. Tôi cho anh biết ý của tôi khi mới lên đây là nếu có dịp sẽ gây nên một phong trào học theo kiểu Journal Club của Mỹ. Anh gật đầu nói:

– Tôi cũng thích cách đó lắm. Nhưng mình bận việc quá nên không thực hiện được. Trước kia tôi có quen một một anh bác sĩ Đại Hàn. Anh này ham học ghê lắm. Các text book y khoa đều đọc từ đầu đến cuối, không bỏ một trang nào và không phải đọc một lần mà anh biết ông ta đọc mấy lần không? Tám lần cuốn Harrison’s. Vì đọc như vậy cái gì anh ta cũng biết. Có một lần anh ta hỏi tôi: anh có biết Osgood Schlatter Disease là gì không? Dĩ nhiên là tôi không biết. Anh ta nói đó là một bệnh đau đầu gối ở mấy đứa thiếu niên, gây ra bởi dây gân xương bánh chè kéo gần đứt mẩu xương ống trụ. Khám thì thấy một khối nhỏ ở mẩu xương trụ dưới đầu gối một chút, rất đau khi đụng tới. Chính nhờ lời khuyên của anh bạn đó mà tôi đọc sách rất kỹ từ đầu đến cuối.

– Nếu học như vậy thì công phu thật. Tôi chỉ đọc những chương nào cần thiết thôi. Thú thật với anh là chưa bao giờ tôi có đủ kiên nhẫn đọc một cuốn sách giáo khoa hết từ đầu đến cuối được.

Nói chuyện với anh tôi cũng học được những điều bổ ích. Tôi học được tính kiên nhẫn trì chí khi đọc sách. Phải đặt mục tiêu là phải đọc cuốn sách nào trong bao lâu thì xong. Ít ra là bây giờ nếu có ai hỏi Osgood Schlatter Disease là gì, thì tôi cũng trả lời được.

Chúng tôi nói chuyện đến đây, bỗng thấy cô Bích xồng xộc đi vào phòng chẳng nói chẳng rằng lục lọi như tìm kiếm một cái gì. Tôi vội hỏi:

– Cô Bích làm gì thế?

Cô Bích không trả lời cứ tiếp tục ngó quanh ngó quẩn tìm kiếm. Bác sĩ Phúc cười cười nói:

– Cô này điên rồi chắc. Cô kiếm cái gì nói ra để tụi tôi kiếm dùm cho.

Lúc này cô Bích mới dừng lại nhìn chúng tôi, cặp mắt đỏ hoe vì khóc. Cô nói, giọng có vẻ xúc động, lại hơi có vẻ trách móc:

– Cô Cúc Đồng chết rồi! Đang ở hầm bên kia, có bác sĩ Chí săn sóc cho cô ta. Tôi đi tìm mấy cái quần áo mổ để liệm cho cô, vì chẳng có vải nào khác.

Tôi liền đứng dậy kiếm ở trong bọc một chiếc quần mổ màu xanh xám đưa cho cô, rồi nói:

– Vậy mà cô chẳng nói gì, cứ đi sục sạo thì làm sao mà thấy được. Đây cô cầm cái quần mổ này để thay cho cô ấy vậy.

Cô Bích nói tiếp:

– Các anh Quân Y liệm xong sẽ khênh lên để tạm ở nóc hầm. Ngày mai sẽ đưa đi chôn. Tôi lo cho đứa em gái của cô Cúc mới 13 tuổi, bây giờ chỉ có một mình. Người anh bị thương về Bình Dương rồi. Bố mẹ ở Lộc Ninh không biết sống chết ra sao.

Tin cô Cúc mất làm cho chúng tôi thấm buồn. Những phút nói chuyện thoải mái vừa qua đã tan biến mất. Tôi cầm đèn pin đưa cô Bích ra cửa hầm lên mặt đất. Tôi không đi theo nhưng đứng ở cửa hầm rọi đèn pin giúp cô đi khỏi vấp té. Vì hai hầm cách nhau có 10 thước nên chỉ vài giây là cô đã tới cửa hầm bên kia rồi lần theo bậc thang mà xuống.

Tôi đứng tại cửa hầm của tôi, nhìn mọi hướng. Đêm tối đã lâu. Chung quanh không có một ánh đèn nào. Mặt trăng trong phút chốc đã bị một đám mây đen che khuất làm cho cảnh vật lại càng tối đen hơn. Nhìn về hướng Nam, hướng Sài Gòn, tôi thấy vùng trời phía đó bừng sáng, khác hẳn ba phía còn lại. Đột nhiên tôi nhớ Sài Gòn quá. Tôi biết rằng mẹ và các em tôi cũng đang nhớ và lo lắng cho tôi đang bị giam hãm ở địa ngục này.

Tôi trở xuống hầm. Bác sĩ Phúc vẫn còn chưa ngủ. Tôi nói:

– Anh lên xem, nhìn về phía Sài Gòn vùng trời phía đó sáng như rạng đông, trông thấy ấm áp vô cùng. Nhớ nhà quá.

Bác sĩ Phúc an ủi tôi:

– Chẳng bao lâu nữa mình cũng được về thôi. Tôi nghĩ qua hai đợt tấn công thất bại như vậy, địch quân sẽ không còn lực lượng nào uy hiếp mình nữa đâu. Bao nhiêu quân đều bị nướng hết bởi B52 rồi.

Lúc bây giờ cục diện chiến tranh Việt Nam có vẻ đang tiến tới một khúc quanh quan trọng vì đàn anh Mỹ đang muốn rút, đề nghị Việt Nam hóa chiến tranh, rồi hội nghị hòa bình Paris vân vân. Tôi nghĩ tới ông Tổng Thống Kennedy đã đương đầu quyết liệt, cứng rắn với Thủ tướng Nga lúc đó là ông Khrushchev người đã ra lệnh đặt dàn hỏa tiễn ở Cuba tính khống chế đe dọa Mỹ. Nhờ sự quyết tâm của Tổng Thống Kennedy nên Khrushchev đã phải nhượng bộ, ra lệnh tháo gỡ ngay những dàn hỏa tiễn đó. Tôi nói:

– Giá còn Tổng Thống Kennedy thì tình hình Việt Nam bây giờ chắc khác trước, có lợi cho mình hơn.

Anh Phúc cười không tin, quả quyết nói:

– Anh lầm rồi, Tổng Thống nào cũng vậy mà thôi, cũng hành động vì quyền lợi của nước Mỹ, của dân Mỹ, chứ nước mình đối với họ có nhằm nhò gì.

Tôi không trả lời vì không muốn tranh luận về chính trị, cũng như về tôn giáo, hai đề tài tôi muốn tránh vì rất dễ mất hòa khí, không đi đến đâu cả. Đó là những đề tài mơ hồ không có số liệu chính xác chứng minh, không có đủ những dữ kiện thuyết phục được người đối thoại. Nếu ai cũng muốn giữ lập trường của mình thì sẽ đi đến cãi nhau mất, mệt lắm.

Tôi chỉ đồng ý với anh một phần. Đương nhiên Tổng Thống Mỹ phải hành động có lợi cho nước của họ. Tuy cùng mục đích ấy nhưng ý tôi muốn nói là cũng phải tùy người hành xử chính sách của ông ta. Một Tổng Thống diều hâu sẽ có những đường đi khác hơn một Tổng Thống bồ câu. Đường đi ấy có thể cong, có thể thẳng hay có thể uốn khúc nhưng mục đích cuối cùng vẫn là quyền lợi của nước Mỹ. Chính nhờ nương vào những dị biệt cá nhân đó, nếu Việt Nam có được một lãnh tụ khá thì cũng có thể làm lợi cho nước mình.

Chúng tôi nói chuyện một hồi lâu cũng khá mệt nên tôi đứng dậy tắt đèn đi ngủ. Không biết chúng tôi ngủ được bao lâu, đột nhiên bị đánh thức dậy bởi một tiếng nổ khủng khiếp rất gần làm rung rinh cả căn hầm. Đồng thời tôi cũng nghe một tiếng máy bay vụt qua. Với những kinh nghiệm đã có, tôi nghĩ chắc lại bỏ bom lầm rồi. Không thể nào là pháo kích được vì tiếng nổ dữ dội lắm, dù cho hỏa tiễn cũng không nổ lớn và mạnh như thế. Trong bóng đêm, tôi nghe tiếng anh Phúc hỏi:

– Tụi nó lại pháo kích sao anh?

– Tôi nghĩ máy bay bỏ bom lầm quá. Để đợi chút xem, nếu pháo kích thì sẽ có những tiếng nổ thêm.

Chúng tôi nằm chờ hơi lâu mà chẳng nghe thấy tiếng nổ nào khác nên lại ngủ tiếp cho tới sáng.

Sáng hôm sau, vừa ra khỏi phòng, tôi gặp ngay Thượng sĩ Lỹ, ông nói:

– Đêm qua, máy bay bỏ bom lầm ngay trại mình, trúng một tháp canh của Địa Phương Quân, làm bảy người ở đó biến mất, không còn một vết tích nào cả.

Tôi lè lưỡi nhìn Thượng sĩ Lỹ, nói:

– Số mình vẫn còn may. Tháp canh đó cách mình chừng 50 thước chứ mấy, nhích lại một chút là trúng hầm mình rồi. Tôi nghi quá, giữa đêm một máy bay lại đi bỏ có một quả bom rồi dọt mất. Không biết có một âm mưu nào nhằm ám sát Bộ Chỉ Huy hay chỉ nhầm thôi. Dù sao, mình vẫn còn sống là tốt rồi.

Đã có vụ trực thăng phóng hỏa tiễn, bắn nhầm Bộ Chỉ Huy Biệt Khu Thủ Đô ở Chợ Lớn đang giữ trọng trách phản công lại Việt Công trong vụ tổng tấn công của địch hồi Tết Mậu Thân, năm 1968. Dư luận đồn đại là có chủ ý thanh toán nhau, nhằm triệt hạ những vây cánh của tướng Kỳ vì đa số những sĩ quan tử nạn là những người thân cận của Tướng Kỳ. Tự nhiên, tôi đem lòng nghi ngờ tất cả mọi sự bắn lầm khác nếu nó xảy ra một cách vô lý. Nói vậy cho vui thôi, vì trong vụ bỏ bom lầm ở đây tôi không thấy có một lý do, một phe nhóm nào có âm mưu triệt hạ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và Lữ Đoàn Dù cả.

Sau những cố gắng tấn công bất thành lần thứ hai vào thị xã An Lộc, địch quân có vẻ như đã kiệt quệ. Những chuyến trải thảm của B52 khá trúng đích, đã vô hiệu hóa một số lớn quân chủ lực của địch. Nghe nói Công Trường 9 của địch, quân số chỉ còn lại hơn một tiểu đoàn. Khai thác tù binh bắt được trong trận đánh, cho thấy có sự trục trặc trong chiến thuật đánh hợp đồng giữa Bộ Binh và xe tăng. Một phần vì Bộ Binh, khi tập trung quân để tấn công An Lộc đã bị B52 làm tê liệt. Chiến xa đành phải đơn độc tiến vào thị xã mà không có bộ đội yểm trợ nên đã làm mồi ngon cho quân ta và đã bị diệt gọn một cách dễ dàng.

Tuy bị thất bại nặng nề, địch quân vẫn còn bao vây chung quanh An Lộc và Quốc lộ 13 chưa được giải tỏa. Địch quân tiếp tục pháo lai rai vào An Lộc, gây nên một số thương vong cho quân ta. Cường độ pháo kích so với trước chỉ bằng một phần tư thôi. Địch quân thường nhằm vào những bãi đáp trực thăng, gây trở ngại trong việc tản thương.

Tuy nhiên cho tới nay, chưa có một trực thăng tản thương nào bị trúng đạn cả và chưa có một người nào chết vì tản thương. Cũng vì thế mà công tác tản thương rất căng thẳng và rất nguy hiểm. Các y tá lãnh nhiệm vụ này quả là những anh hùng vô danh, đáng được tuyên dương công trạng.

Những phi công tản thương, không biết là Mỹ hay Việt, phải công nhận họ là những sĩ quan can đảm, lại tài ba nữa vì họ đã đánh lừa được quân địch. Thay vì bình thường bay theo hướng từ Sài Gòn lên rồi là là xuống bãi đáp, địch sẽ biết ngay và không tránh khỏi bị pháo. Các phi công đổi hướng, đánh một vòng bay ngược lại từ hướng Lộc Ninh xuống một cách bất ngờ nên địch quân không đoán được chỗ nào trực thăng sẽ đáp xuống. Cho nên nhiều khi tản thương xong xuôi, máy bay đã cất cánh rồi địch mới pháo vuốt đuôi.

Chiến thuật mới đó đã giúp chúng tôi tản thương tương đối khá an toàn. Do đó chúng tôi không bị ối đọng thương binh như hồi trước nữa.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn Lu 14 Sep 2023

Bài 20 – Tấn Công Đợt Hai

Thế là tôi đã dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu được một tuần. Trong tuần rồi tôi đã bận rộn vừa phải. Mỗi ngày trung bình mổ được ba tới bốn trường hợp mà chỉ có hai cái mổ lớn là bị thương ở bụng. Hai ngày đầu tôi làm việc rất thoải mái vì ít thương binh. Nhưng mấy ngày sau, các đơn vị bạn được tin là Bịnh Viện Tiểu Khu đã hoạt động trở lại nên cứ có người bị thương là họ chuyển bệnh tới. Nhiều khi tôi làm việc không được nghỉ trưa. Tôi nhờ cô Bích xuống nhà bếp ngoại giao xin nước sôi để cho mọi người đổ vào bịch gạo sấy tranh thủ mấy phút giữa hai ca mổ để ăn cho lại sức.

Anh Sáu Xòm vì có người vợ mang thai gần đến ngày sanh nên vợ anh được đặc biệt theo anh vào ở chung với căn phòng của cô Bích. Đã từ lâu tôi không có những áo choàng mổ nên khi mổ chỉ mặc áo thường ba lỗ của phòng mổ với một tấm nylon quấn quanh người để phòng máu dây ra quần áo. Chúng tôi trông giống những tay đồ tể trong những tiệm bán thịt heo ngoài chợ.

Tuy làm việc mệt nhọc trong tình trạng thiếu thốn (chúng tôi đã quá quen với điều kiện làm việc như thế này rồi), tôi vẫn thấy là đã rất may mắn được dọn vào nơi đây. Thứ nhất là đã có một chỗ an toàn để làm việc. Thứ hai là đã có cơ hội để tiếp tục dùng khả năng của mình để có thể cứu sống người khác, hay ít ra cũng giúp được phần nào những chiến hữu của mình không may bị thương trong trận chiến này.

Chiều 15 tháng 6, sau một ngày làm việc mệt nhọc, toán giải phẫu chúng tôi thu dọn phòng mổ xong, ai về phòng nấy nghỉ ngơi cùng ăn uống cho lại sức. Tôi cũng lui vào phòng, mở bịch cơm sấy còn lại từ sáng ra ăn với mấy miếng xúc xích hộp của Quân Tiếp Vụ. Tôi ngồi trên cái ghế mây chân gác lên giường cho đỡ mỏi vì phải đứng suốt ngày. Bây giờ, ở ngoài hành lang hầm cứu thương đã đầy những thương binh của các đơn vị nằm. Đa số là những vết thương chân tay nhẹ thôi. Những trường hợp nặng, mổ xong được nằm ở trong hai phòng kế bên phòng tôi. Tất cả có bốn người. Tôi hy vọng ngày mai có chuyến tản thương cho đỡ kẹt vì hết chỗ rồi.

Theo thói quen làm việc đã học được khi còn ở quân trường Võ Bị Đà Lạt trong phần viết kế hoạch hành quân, phải dự trù những bước kế tiếp. Tiên đoán những sự việc có thể xảy ra để điều hợp các đơn vị tiếp ứng hỗ trợ cho nhau.

Tôi ngồi suy nghĩ cách phân tán thương binh để lấy chỗ cho những người mới tới. Việc này thật không đơn giản. Trả các thương binh về các đơn vị của họ là giải pháp dễ nhưng lại khó thực hiện. Không có phương tiện, các xe cộ gần như hư hỏng hết vì bị pháo kích. Vả lại các thương binh cũng chẳng biết đơn vị họ đóng ở đâu mà tìm. Nếu có chuyến tản thương thì làm sao gom thương binh cho kịp để đến bãi đáp.

Tôi nghĩ chỉ còn một cách duy nhất là phân tán mỏng các thương binh qua các hầm khác, để lỡ ngày mai có chuyến tản thương thì điều động cũng dễ. Sau khi quyết định như vậy, tôi dự trù sáng ngày mai giao cho Thượng sĩ Lỹ lo công việc này. Tôi yên trí ngã lưng xuống giường chờ giấc ngủ tới.

Không biết tôi đã ngủ được bao lâu, chợt tỉnh giấc vì những tiếng đạn pháo kích nổ thật gần. Những tiếng nổ càng ngày càng nhiều, phải nói như mưa. Tôi cố nhướng mắt nhìn đồng hồ có mặt dạ quang, thấy 2 giờ sáng. Việc gì tới đã tới, đúng như mọi người đã tiên đoán và chờ đợi, cuộc tấn công đợt hai vào thị xã An Lộc đã mở màn.

Khác với những lần pháo kích trước, lần này tôi tỉnh bơ, không có những cái sợ hãi lạnh xương sống như hồi còn ở bệnh viện. Với cái hầm kiên cố như hôm nay tôi yên trí lắm. Nhưng để đề phòng mọi bất trắc, tôi vẫn trở dậy đi giày vào đàng hoàng, mặc áo giáp, mũ sắt, đèn pin, bi-đông nước, tất cả mọi thứ cần dùng đều trong tầm tay của tôi cả. Tôi để cái ba lô có đầy đủ quần áo lương khô ngay đầu giường. Sau khi đã sắp xếp xong, tôi lại nằm xuống như cũ nghe ngóng tình hình.

Điều tôi sợ bây giờ không phải là Việt Cộng mà là B52. Tôi chỉ sợ trong đêm tối nếu nó trải thảm lầm, chỉ lạc đi một tí xíu thôi là cuộc đời của chúng tôi kể như giã từ vũ khí vĩnh viễn. Dù hầm này có kiên cố cách mấy cũng chẳng ăn thua gì với một trái bom. Từ đầu trận chiến tới giờ đã có hai lần máy bay thả bom lầm. Đó là do máy bay thường thôi nên tổn thất chỉ có giới hạn, nếu là B52 thì thê thảm lắm.

Tuy pháo như mưa nhưng kỳ lạ thay số đạn rơi vào vòng đai Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu thật không đáng kể. Đúng như tôi dự đoán, gần 1 giờ sau mặt đất rung chuyển liên hồi vì B52 đã bắt đầu trải thảm. Tôi thấy hơi yên trí một chút vì tiếng bom nổ xa hơn tôi tưởng. Như vậy chúng tôi sẽ được an toàn hơn, khỏi sợ bị trải thảm lầm. Những tiếng súng nhỏ cũng xa ở ngoài bìa rừng. Toàn bộ khu trại của chúng tôi yên lặng như vẫn ngủ say chẳng có một tiếng súng nhỏ nào.

Tôi vẫn nằm thao thức suy nghĩ, cố dùng đủ mọi hiểu biết của tôi phối hợp với những tin tức nhận được để suy đoán cũng như lượng định tình hình thắng bại giữa ta và địch. Tôi thấy từ khi viện quân Dù đã bắt tay được với Bộ Chỉ Huy ở đây, vòng đai đã được nới rộng nên chúng tôi được an toàn hơn đợt tấn công kỳ trước. Vả lại bên địch quân sau lần tấn công đợt nhất đã thấm đòn vì bị thiệt hại nặng. Dù có nhanh chóng tu bổ tăng viện cũng không thể nào bằng tình trạng lúc ban đầu. Tôi đoán chắc chắn chúng sẽ yếu hơn cả về phẩm lẫn lượng.

Sau lần thất bại đầu tiên nặng nề như vậy, tinh thần binh sĩ của địch làm sao cao được. Các đơn vị chiến xa của địch đã bị tiêu diệt gần hết, không thể bổ sung toàn bộ được. Dù cho quân số có thể xấp xỉ với lần đầu chăng nữa cũng chỉ vá víu mà thôi.

Về phía bên ta, binh sĩ đã có kinh nghiệm qua lần tấn công đợt đầu của địch, nên tinh thần cao, không hốt hoảng sợ hãi như lần đầu. Lại thêm có những đơn vị thiện chiến tăng cường như Lữ Đoàn Dù, Liên Đoàn Biệt Kích Dù, Liên Đoàn Biệt Động Quân. Nhất là lại có B52 trợ lực, sẵn sàng trải thảm khi có tin địch tập trung quân ở địa điểm nào. Cân nhắc kỹ càng cái thế ta và địch, tôi vững lòng tin mình sẽ lại thắng một lần nữa.

Tôi thấy an tâm và may mắn đã rời bỏ bệnh viện đúng lúc. Nếu không cũng mệt lắm với cường độ pháo kích lần này. Tôi lo cho các bạn tôi còn ở lại bệnh viện. Chẳng hiểu họ có được bình an không. Với độ pháo như vậy chắc chắn sẽ có thương vong. Chỉ cầu xin sao cho thật nhẹ, thật ít. Bác sĩ Phúc có hầm tốt rồi, thôi cũng đỡ lo. Chỉ sợ cho bác sĩ Chí, bác sĩ Nam Hùng, bác sĩ Tích và các nhân viên vì ở khu Nội Khoa chẳng có hầm hố gì cả. Các Quân Y Tá của Bệnh Viện Tiểu Khu, mọi người đã có một hố cá nhân nên cũng đỡ lo. Xui lắm pháo rơi trúng chỗ phải đành chịu thôi.

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khi chợt tỉnh dậy, nhìn đồng hồ thấy 6 giờ. Tiếng nổ của đạn pháo kích đã không còn nữa. Thỉnh thoảng mới có một vài tiếng súng nổ ở xa. Tôi đoán rằng cuộc tấn công đợt hai của địch đã bị bẻ gãy. Bên ta đã giữ vững phòng tuyến đẩy lùi địch. Tôi nghĩ sáng ra thế nào tôi cũng có nhiều việc làm. Tôi không thấy buồn ngủ nữa . Nghe có tiếng động bên phòng đầu, tôi liền nhỏm dậy đi ra khỏi phòng xem có gì lạ không. Thấy Trung sĩ Xòm đang dọn dẹp đồ trong Phòng Mổ. Tôi hỏi:

– Sao anh dậy sớm vậy. Không ngủ được à?

Anh Sáu Xòm ngó ra thấy tôi vội chào rồi nói:

– Dạ, ngủ được chút ít. Hôm nay chắc sẽ có nhiều bệnh lắm vì hôm qua pháo kích nên em sửa soạn khử trùng sẵn mấy bộ đồ mổ.

– Vậy thì tốt lắm. À, mình còn Catgut 1.0, chỉ silk 1.0 không? Tôi cần mấy thứ đó để đóng bụng mới chắc, mấy thứ nhỏ hơn sợ bị đứt, bung ra.

Trung sĩ Xòm ngần ngừ một tí rồi nói:

– Em sợ hết mất rồi, hôm qua còn một sợi chót bác sĩ đã dùng rồi.

– Như vậy thì kẹt nhỉ.

Tôi đứng trầm ngâm suy nghĩ. Tìm cách nào để có được những sợi chỉ thật chắc như vậy để đóng bụng bây giờ. Nếu đánh công điện về xin Liên Đoàn chắc nhanh lắm cũng phải hai ngày nhưng biết có thể đến được tay mình hay không. Vì mọi thứ tiếp tế hiện giờ bằng Dù hết. Nhỡ lạc sang phía địch hay là sang đơn vị khác khó có thể thu hồi lại được.

Bỗng nhiên trong óc tôi chợt lóe lên một tia chớp. Tôi nhớ hôm qua sang bên hầm chỉ huy tôi thấy một túm dây nylon dùng để cột miệng bao cát đen nhánh rất đẹp, lại cùng cỡ với chi silk 1.0. Tôi nghĩ có thể dùng sợi dây này may tạm dưới da để đóng bụng được vì nó rất dai và chắc, nhất là rất dễ kiếm vì ở đây bao cát mới chỗ nào mà chẳng có.

Muốn khử trùng thì dễ quá, chẳng cần phải mất công gì cả. Cứ đem ngâm rửa sạch bằng xà-bông bột Quân Tiếp Vụ sẽ chẳng còn con vi trùng nào có thể sống được. Nếu có làm độc cũng ở bên ngoài bụng, dưới lớp da thôi, sẽ dễ dàng cắt bỏ thay thế bằng những dây khác một khi thương binh đã được di chuyển về những bệnh viện ở Sài Gòn hoặc Bình Dương, nơi có đầy đủ phương tiện hơn.

Ở đây cần phải cứu sống mạng người trước rồi mọi sự khác sẽ được tính sau. Nghĩ là làm liền. Tôi nói với anh Xòm đi kiếm cho tôi chừng ba túm dây nylon cột bao cát mang về cho tôi ngâm rửa trong xà bông chừng 20 phút. Sau đó cất vào một cái lọ để khi cần sẽ dùng.

Một lát sau tất cả các nhân viên toán mổ đã tề tựu đông đủ. Mọi người ai nấy đều biết bổn phận mình phải làm gì, tự động lo phần việc của mình vì chắc chắn chẳng bao lâu nữa sẽ có thương binh tới.

Tám giờ sáng mọi việc đều xong xuôi. Chúng tôi đang tính ngồi nghỉ mệt một chút thì có tiếng xe thắng trên mặt hầm. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau thầm hiểu là khách hàng đã tới.

Anh Xòm nhanh nhẹn đứng bật lên trước tiến ra phía cửa hầm, theo sau là Thượng sĩ Lỹ, Thiện, cô Bích. Tôi vẫn ngồi tại chỗ . Chợt tôi nghe tiếng anh Xòm nói:

– Chào bác sĩ.

Rồi tiếng bác sĩ Phúc hỏi:

– Bác sĩ Quý đâu anh Sáu?

– Thưa, Bác sĩ Quý đang ở dưới hầm này.

Tôi vừa ra khỏi phòng tiến tới cầu thang hầm lên mặt đất thì gặp bác sĩ Phúc đang chạy xuống. Tôi chưa kịp lên tiếng hỏi thăm, anh Phúc đã hấp tấp nói:

– Anh Quý coi giùm tôi thằng cháu Sơn, nó bị thương tối qua ở ngực phải. Nó rên suốt đêm làm tôi không ngủ được, lại kêu đau nữa.

Tôi nhận thấy Bác sĩ Phúc nét mặt hốc hác. Đúng là đêm qua anh đã không chợp mắt tí nào. Chắc vừa sợ, vừa phải lo cho thằng cháu Sơn bị thương của anh. Mới xa anh một tuần mà trông thấy anh có vẻ già đi hơn trước nhiều. Tôi vội theo anh lên khỏi miệng hầm tiến tới chỗ xe Hồng Thập Tự. Lúc này cu Sơn, một đứa con trai trắng trẻo, nhanh nhẹn mới có 16 tuổi, ngày thường vui vẻ, thế mà nay mặt mũi xanh rờn, mệt mỏi nằm trên băng-ca đưa mắt nhìn tôi miệng mấp máy nói:

– Bác sĩ Quý làm ơn cứu cháu, khó thở quá.

– Đừng sợ, để khiêng xuống dưới phòng mổ rồi bác chữa cho.

Sau khi đặt cu Sơn nhẹ nhàng ngồi trên bàn mổ dã chiến như đã nói ở trên, chỉ là một bàn khám bệnh thường bằng sắt không rỉ. Tôi khám nhanh ngực của Sơn. Một vết thương nhỏ ở cạnh sườn phải dài hai phân đã được băng bằng băng keo dán chặt. Tôi nhận thấy phía ngực phải hô hấp kém hơn bên trái. Đặt ống nghe tôi không thấy có tiếng thở. Tôi đưa mắt nhìn anh Phúc nói:

– Cu Sơn bị Hemothorax rồi anh ạ. Tôi phải đặt ống thông phổi để rút máu ra nó mới dễ thở được.

Bác sĩ Phúc gật đầu nói:

– Tôi cũng nghĩ như vậy. Thôi trăm sự nhờ anh lo cho cháu. Anh có cần tôi giúp gì không?

– Không sao đâu, tôi làm một mình cũng được. Anh sang phòng bên nghỉ cho khỏe.

Tôi hối anh Sáu mang bộ đồ thông phổi ra. Chúng tôi không có đầy đủ dụng cụ như dây ống nhựa để dẫn máu xuống bình nên tôi dùng một bịch nylon bao gạo sấy đổ nước vào rồi cột vào một đầu của ống thông phổi. Tôi chích thuốc Novocaine xong rồi rạch da, dùng một kẹp Kelly cong tách các cơ giữa sườn. Sau đó dùng kẹp ống thông phổi ấn mạnh qua thành ngực vào sâu bên trong xoang phổi. Máu bầm tuôn ra xối xả theo ống thông phổi chạy vào bao nylon gạo sấy. Cu Sơn nhăn mặt kêu đau nhưng tôi làm nhanh lắm nên chưa hết tiếng kêu đã xong rồi. Tôi kêu Thượng sĩ Lỹ sửa soạn tiếp một bình đựng máu dã chiến khác. Rồi tôi lấy ống nghe kiểm tra lại phổi, nghe thấy có tiếng thở phế bào. Tuy nhẹ nhưng rõ ràng là phổi bên phải đã có thể làm việc trở lại được, không còn bị máu ở xoang phổi ép lại như trước nữa.

Tôi hỏi cu Sơn:

– Sơn thấy dễ thở hơn trước không?

Sơn trán còn rịn mồ hôi vì đau và sợ, trả lời:

– Dạ, đỡ khá nhiều.

Tôi bảo anh Sáu cho Sơn nằm xuống, lấy một bịch bông băng kê sau lưng cho đỡ mỏi và để cho máu bầm trong phổi chảy dễ dàng hơn. Tôi dặn anh Sáu cách thay bọc nước nếu đầy. Rồi trở về phòng. Bác sĩ Phúc đang ngồi đó chờ. Tôi vội nói:

– Xong rồi, cu Sơn sẽ không sao đâu. Có lẽ mảnh đạn chưa qua phía bên trái, chưa chạm tim và những mạch máu lớn. Nên tôi chắc chỉ vài ngày là nó sẽ khá thôi.

– Cảm ơn anh, thấy nó bị thương tôi bối rối quá. Cũng may mà nó không việc gì, nếu không tôi biết ăn nói làm sao với bố mẹ nó.

Tôi an ủi anh:

– Anh biết đấy, mình đâu có muốn như vậy. Chuyện xảy ra ngoài tầm tay của mình. À, anh có mang hết đồ đạc đi theo không? Anh ở lại đây luôn với tôi, có sẵn giường này, anh em mình ở phòng này tiện lắm. Có lẽ anh bảo xe Hồng Thập Tự về đưa anh Chí và các nhân viên ai muốn sang đây thì sang, an toàn hơn ở bệnh viện mình nhiều.

– Tôi cũng có ý ấy.

Anh Phúc gật đầu đồng ý trả lời tôi, anh tiếp:

– Để tôi bảo tụi nó cho anh Chí biết rồi dọn cả sang đây. Chúng mình có ba người, đi đâu cũng nên có nhau.

Nói đến đây, Thượng sĩ Lỹ vào cho tôi biết có nhiều thương binh đã được chuyển tới. Tôi ra lệnh đem hết xuống hầm để dọc theo hành lang và các phòng rồi đi khám xét một lượt chọn những người nào nên làm trước, người nào nhẹ làm sau. Chỉ có một người nặng, bị thương ở bụng còn bốn người kia bị thương nhẹ ở tay chân thôi. Thượng sĩ Lỹ nói:

– Đây là Đại úy Nghi của Pháo Binh Dù.

Tôi thấy ông ta tuy bị thương nhưng tinh thần vẫn còn tỉnh táo không có triệu chứng kích xúc. Theo kinh nghiệm của tôi thì tuy bị thương vào bụng nhưng chắc không mất máu nhiều và chắc không bị lủng ruột già. Vì những người đó sẽ có vết thương thường bị nhiễm trùng rất sớm, do viêm phúc mạc cấp tính bởi những vi trùng yếm khí và những vi trùng ghê gớm khác trong phân nên trông sắc mặt không được tươi tỉnh.

Trong trường hợp của Đại úy Nghi Pháo Binh Dù, tôi thấy nhận xét của tôi khá đúng. Sau khi mổ bụng ra, tôi chỉ thấy một vết thương ruột non và một vết thương ở bàng quang. Không có vết thương ruột già. Xoang bụng tương đối sạch. Tôi đã may các vết thương đó lại bằng Catgut. Cuộc giải phẫu kết thúc rất nhanh, mặc dù chúng tôi thiếu chỉ 1.0 để đóng bụng. Tuy nhiên tôi đã dự trù trước, nên đã có sẵn những sợi chỉ nylon của bao cát, dùng rất tốt, rất dai. Thành ra Đại úy Nghi là người đã được tôi dùng chỉ bao cát may lần đầu tiên tại chiến trường An Lộc. (Tôi đã theo dõi trường hợp này, và thấy không có bị nhiễm trùng như tôi đã lo ngại, vết thương của Đại úy Nghi đã lành đúng như dự định.)

Tôi đã dùng dây nylon cột bao cát như vậy cho ba trường hợp nữa trước khi tôi nhận được tiếp tế các chỉ may. Chính Y Sĩ Thiếu tá David Risch đã đích thân mang lên cùng với một phái đoàn y sĩ Mỹ thuộc Quân Đoàn III ở Biên Hòa.

Gặp nhau chúng tôi mừng lắm. Tôi nói với Bác sĩ Risch:

– Ông lên đây bằng trực thăng phải không? Tại sao ông lại lên đây làm gì, nguy hiểm lắm. Chỗ này là chiến trường. Không thể làm gì được nhiều như trước nữa. Tôi đề nghị ông nên ở lại Biên Hòa, giúp tôi bằng cách tiếp tế đầy đủ y cụ cần thiết và cho nhiều phương tiện để tản thương càng nhanh càng tốt.

Bác sĩ Risch gật đầu nói:

– Tôi biết chứ, nhưng tôi nghĩ tôi có thể giúp bạn một tay, vì tôi biết rằng bạn rất bận rộn. Vả lại ở Biên Hòa, trong Quân đoàn III các cố vấn Mỹ nghĩ rằng không ai có thể làm được những cuộc mổ lớn ở đây, ngay tại mặt trận này. Tôi đã nói với họ là có bác sĩ Quý ở Bệnh Viện Tiểu khu khá lắm và tôi tin rằng ông ta có thể làm được những điều đó. Họ vẫn không tin vì tin tức báo về là Bệnh Viện Tiểu Khu đã bị pháo sập rồi. Họ cá với tôi là nếu quả thực là ở mặt trận này Quân Y vẫn còn có khả năng mổ lớn và làm việc được như thường thì họ sẽ thua cuộc, phải chịu một bữa ăn.

Tôi thích thú vụ đánh cá này vì chắc chắn ông bạn to khỏe của tôi sẽ thắng, tôi cười nói:

– Như vậy là ông thắng 100% rồi. Tuy Bệnh Viện Tiểu Khu không còn sử dụng được nữa nhưng tôi đã dọn sang bên hầm này và vẫn tiếp tục mổ như thường.

Vừa nói tôi vừa dẫn bác Risch đi thăm những người tôi mới mổ sáng nay.

Bác Risch tỏ ra cảm phục tôi quá, nói:

– Tôi biết ngay mà, thế nào về Biên Hòa tôi cũng được một bữa ăn ngon lành. Để tôi kêu mấy người ấy tới đây giới thiệu với bạn, cho họ thấy tận mắt, không phải tôi nói ngoa.

Nói xong Bác sĩ Risch đi về phía hầm chỉ huy nơi các cố vấn Mỹ đang họp. Trong đó có cả mấy bác sĩ cố vấn của Quân đoàn III nữa. Khi Bác sĩ Risch vừa đi khỏi thì Thượng sĩ Lỹ vào cho tôi biết có một người bị thương ở bụng vừa mới chuyển tới. Tôi ra lệnh khênh vô để trên bàn mổ khám nghiệm. Quả thật anh ta bị một mảnh đạn xuyên vào bụng ở ngang rẽ sườn bên phải. Bụng đã hơi cứng nhưng mặt mũi vẫn còn tỉnh táo.

Tôi ra lệnh toán giải phẫu sửa soạn mọi thứ để mổ ngay. Vừa lúc ấy bác sĩ Risch dẫn phái đoàn cố vấn Quân Y Quân đoàn III tới. Họ gồm có ba người. Tôi nói với họ có một người bị thương bụng đang sửa soạn mổ. Một người trong phái đoàn, có lẽ là một bác sĩ giải phẫu, đề nghị với tôi cho ông ta phụ mổ. Tôi gật đầu bằng lòng. Nhưng trước khi đó tôi giải thích cho họ là chúng tôi làm việc trong điều kiện hết sức thiếu thốn, không được khử trùng một cách đúng quy tắc. Mổ dưới hầm này không có máy lạnh, không có áo choàng mổ, không có khăn mổ đàng hoàng như họ nghĩ đâu.

Ông bác sĩ đó gật đầu thông cảm. Tôi và ông ta rửa sạch tay bằng xà-bông Quân Tiếp Vụ. Ông ta cởi trần mặc áo thun lót, tôi mặc áo mổ lót ba lỗ ngắn, đeo găng tay. Chúng tôi đợi tín hiệu của anh Sáu Xòm cho biết bệnh nhân đã ngủ say, mổ được.

Tôi ung dung cầm dao mổ, đi một đường ngoạn mục quen thuộc rất nhanh rất chính xác, mổ bụng ra thấy có máu bầm trào ra. Như vậy định bệnh đúng là có vết thương bụng. Tôi khỏi sự tìm chỗ máu chảy, thấy từ gan ra. Gan bị một vết thương chùng ba phân ở thùy bên phải gần bờ dưới khuất sau xương sườn. Tôi hút sạch máu, lấy Catgut chromic 2.0 ra cố gắng may lại vết thương gan. Nhưng vì vết thương ăn sâu sau thành ngực nên rất khó mà may vì vướng. Ông bác sĩ phụ mổ cho tôi phải dùng tay kéo bờ sườn lên một chút và tôi đã may xong hai mũi.

Ông bác sĩ phụ mổ tôi hỏi:

– Trong trường hợp không có tôi ngày hôm nay thì anh làm sao?

– Tôi vẫn may lại được vết thương nhưng có điều mất thì giờ hơn một chút thôi.

Sau khi may xong tôi thấy máu ngừng chảy. Tôi sửa soạn khám xét tất cả các cơ quan khác trong bụng thấy còn không còn vết thương nào nữa. Tôi thấy bệnh nhân này may mắn thật. Những trường hợp này nếu không mổ cũng có thể sống được. Vì vết thương tương đối nhỏ và máu cũng không chảy nhiều lắm. Nó sẽ tự động ngưng lại nhất là nếu bệnh nhân nằm nghiêng về bên phải.

Cuộc giải phẫu kết thúc chưa đầy một giờ. Tình trạng bệnh nhân rất khả quan sau khi đóng bụng như anh Sáu báo cáo lại. Chúng tôi trút bỏ găng tay.

Bác sĩ Risch đứng xem mổ bên cạnh tới bắt tay tôi nói:

-I am very proud of you! You did a great job.

Tôi mỉm cười, nghiêng đầu chùi mồ hôi từ trên trán xuống, nói:

– Thank you.

Hai ông bác sĩ khác trong phái đoàn nhìn tôi có vẻ cảm phục lắm, làm tôi hơi ngượng vì mổ ca này quá dễ, chẳng xứng đáng gì được ngưỡng mộ cả.

Bệnh nhân được tiếp tục truyền nước biển có pha thuốc trụ sinh rồi được đưa sang phòng bên săn sóc hậu giải phẫu. Phái đoàn cố vấn Mỹ lại trở về hầm chỉ huy họp hành báo cáo gì đó.

Chừng một giờ sau bác Risch trở lại hầm tôi, cho biết là có chuyến tản thương, hỏi tôi có cần chuyển thương binh không. Tôi nói tôi có 7 thương binh kể cả người mới mổ cần phải tản thương ngay. Bác sĩ Risch nói:

– Để tôi lo việc tản thương cho. Nghe nói kỳ này có Chinook tới nên sẽ chuyển đi được nhiều lắm.

Tôi dặn ông ta:

– Bạn đi ra chỗ bãi đáp nên cẩn thận, Việt Cộng hay pháo vô đó lắm. Không nên ở đó lâu.

Bác sĩ Risch nói:

– Cảm ơn đã dặn dò. Tôi sẽ đề phòng.

Tôi cho mấy y tá theo xe Hồng Thập Tự chuyển hết thương binh trong hầm ra bãi đáp. Một giờ sau có tiếng Chinook bay qua Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Tôi nóng lòng chờ đợi chỉ sợ nó pháo lúc chưa tản thương kịp. Phải gần một giờ sau, các nhân viên của tôi trở về báo cáo đã tản thương xong.

Họ nói ông bác sĩ Mỹ đó tận tâm quá. Ngoài bãi không phải chỉ có binh sĩ mà còn thường dân bị thương cũng được chuyển ra đó tản thương. Bác sĩ Risch đã đích thân khiêng băng-ca chuyển lên máy bay cho lẹ.

Tài xế Mệnh nói:

– Em thấy ông ấy ôm một bà già bị thương đưa lên máy bay. Bà này máu mủ tùm lum hôi hám không chịu được thế mà ông ấy chẳng ngại gì. Làm việc nhanh gọn lắm, cũng nhờ vậy mà tản thương kỳ này được dễ dàng nhanh chóng.

Khi máy bay đi rồi, Bác sĩ Risch trở lại hầm chỉ huy gặp những người Mỹ trong phái đoàn đi với ông ta. Trong dịp này Bác sĩ Risch đã được Đại tá Nhựt, Tỉnh Trưởng Bình Long gắn một huy chương Đồng tuyên dương công trạng đã can đảm trở lại An Lộc tiếp tế cho chúng tôi cùng giúp chúng tôi tản thương.

Sau khi tiếp nhận huy chương xong, Bác sĩ Risch cùng phái đoàn ở lại dùng cơm trưa rồi lên máy bay trực thăng về Biên Hòa.

Sau khi tản thương được hết các thương binh, tôi thấy nhẹ hẳn người. Trong khi các y tá của toán giải phẫu thu dọn hầm cứu thương cho đỡ rác rưởi, tôi ngồi nghỉ mệt ở trong phòng, có tiếng Thiếu tá Diệm gọi tôi bên ngoài:

– Bác sĩ Quý có đây không?

Tôi giật nhỏm mình đoán chắc có điều gì không hay, hoặc lại có thương binh về. Tôi vội lên tiếng:

– Ông Diệm đó hả, tôi đang ở trong phòng đây.

Thiếu tá Diệm hiện ra ở cửa phòng dục tôi:

– Có điện thoại từ Sài Gòn kêu ông kìa. Ông sang bên hầm chỉ huy nhanh lên.

Tôi vừa bật dậy vừa hỏi, vẫn chưa hết ngạc nhiên:

– Điện thoại gọi tôi?

– Bà xã tôi với cô Tuệ, em ông gọi hỏi thăm xem tụi mình có được bình an không. Thường thường ở đây cứ 3 giờ chiều, Đại tá ưu tiên cho một đường dây điện thoại liên lạc với Sài Gòn để cho nhân viên báo tin về cho gia đình.

À thì ra thế. Tôi lại cứ tưởng những tin gì ghê gớm không hay. Nếu vậy thì quá tốt rồi.

Tôi theo chân ông Diệm sang bên hầm chỉ huy đứng đợi đến lượt tôi. Chừng 10 phút sau tổng đài viên ra hiệu cho tôi. Tôi tiến đến cầm lấy ống nghe nói:

– Alô, Bác sĩ Quý đây.

Bên đầu dây bên kia tiếng quen thuộc của em Tuệ, tôi nghe rất rõ:

– Anh Quý đó hả, anh có mạnh khỏe không, ở đó có nguy hiểm không?

– Anh vẫn mạnh khỏe, ở trong hầm nên không nguy hiểm mấy. Ở nhà má có mạnh không?

– Má vẫn mạnh, chúng em chỉ lo cho anh thôi.

– Không sao đâu, anh vẫn mạnh khỏe bình an như thường. Thôi nhé để cho người khác nói chuyện.

Tôi dứt lời đưa ống nghe lại cho tổng đài. Lùi lại phía sau nhường chỗ cho ông Trưởng Ty Công Chánh. Thiếu tá Diệm nắm lấy tay tôi trở lại một chỗ khuất rồi hỏi:

– Này sao ông nói ít vậy. Ông phải biết là cực khổ lắm mới tiếp xúc được với nhau. Vợ tôi nói là đi với cô Tuệ từ 11 giờ sáng tới giờ, đói dài người ra mãi mới tới lượt mình. Công trình lắm chứ không phải chơi đâu.

– Ông có vợ con nó khác. Tôi chỉ cần nhắn về cho mẹ tôi biết tôi vẫn mạnh khỏe bình an là đủ rồi. Còn để dành thì giờ cho người khác nữa chứ. Dù sao tôi cũng vui mừng đã báo tin được cho gia đình biết tôi vẫn còn sống, mạnh khỏe. Tôi chắc ở nhà mẹ tôi lo lắng lắm, nay được tin tức này rồi bà cũng bớt lo âu.

Về tới hầm, tôi thấy bác sĩ Phúc đang nằm buồn thiu trên giường. Tôi biết chắc là anh bị triệu chứng NV thôi chứ chẳng có gì lạ cả. Triệu chứng NV là triệu chứng “nhớ vợ”. Anh mới cưới vợ chưa đầy một năm. Tôi đã đi dự đám cưới của anh. “Nửa năm hương lửa đang nồng” thì làm sao mà chẳng nhớ nhung cho được. Tôi bèn mách nước cho anh:

– Bên hầm chỉ huy cứ 3 giờ chiều họ có đường dây nói chuyện với Sài Gòn, anh sang đấy nhờ người nhắn về nhà bảo chị lên Ty Bưu Điện Chợ Lớn xin ghi tên nói chuyện với anh. Ưu tiên cho mình đấy. Vì bây giờ cả nước và có thể cả thế giới đang đang theo dõi trận đánh này. Nói chuyện với bà xã anh sẽ thấy yêu đời liền.

– Vậy hả.

Bác sĩ Phúc vui mừng nhổm dậy, anh nói tiếp:

– Để tôi qua đó nhờ họ nhắn dùm, may mắn thì ngày mai tôi có thể tiếp xúc được với vợ tôi.

Tôi nói:

– Anh đi ngay còn kịp đấy. Chúc anh may mắn.

Thuyền Nhân

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Những ngày gió nhẹ biển êm, giữa đêm khuya chợt giấc, tôi có thói quen ra boong nhìn trời, ngắm trăng, ngắm sao và những chòm đèn của những con tàu xa xa. Đêm nay trăng khuyết mà trời trong quá, nên thấy những vì sao sáng tỏ. Nhìn vầng trăng già hơn nửa mảnh treo ngang vòm trời, tôi nghĩ tới một đời người có khác nào vầng trăng khi tròn, khi méo, thoáng chốc lụi tàn. Kiếp người ngắn ngủi, ấy vậy mà hổng biết là bao nhiêu chuyện vui, chuyện buồn, chuyện suông sẻ, chuyện éo le xảy ra trong đời sống. Có chuyện tưởng chừng như theo thời gian quên lãng, nhưng rồi chỉ trong giây phút tâm trí bừng sáng và nhớ lại một cách rõ ràng.

Những tháng năm tập tễnh hải hành, tôi đi đi, lại lại hải cảng Belfast mỗi tuần một lần, cảnh vật nơi đây tôi cũng đã quen. Sau đó tôi đổi những tuyến đường xa, cho tới năm nay, hơn ba mươi năm rồi, tôi mới trở lại tuyến đường Belfast. Bao năm trôi qua, quang cảnh nơi này có nhiều thay đổi, hồi đó mùa đông tuyết rơi nhiều lắm nhưng bây giờ thì ít hơn, cây cối trụi lủi, trơ cành, những con đường trơn nhớt. Ở đây ít khi trời trong và khô ráo, cảnh vật luôn mơ màng và thường mỗi sáng có sương mù, hiếm hoi lắm mới có ngày nắng đẹp. Trước kia khi tới một vùng đất mới, ban đêm tôi có thể đi lang thang nếu mệt thì vô quán ngồi. Nhứt là bên Nam Mỹ, ở những nước có khu ăn, uống bình dân mở cửa suốt đêm, tôi có thể vào đó ngồi uống bia tới sáng. Bây giờ đi mới nửa khu phố tự dưng tôi hổng muốn đi nữa, đúng là tâm trạng làm biếng của tuổi già, chớ hổng phải vì tuổi già sức yếu. Nghĩ tới tuổi tác, tôi mỉm cười một cái rồi quay gót giày đi trở về  hội quán.

Vô hội quán tôi thường ngồi mình ên trong góc, uống nước lọc và nhìn người ta sinh hoạt. Đã qua hơn ba mươi năm rồi, nhân viên trong hội quán đã thay đổi hết, lớp nhân viên trẻ thay lớp già nên tôi hổng còn người quen trong hội quán nữa. Nhưng hổng sao, nhân viên hội quán luôn lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện và rất tử tế, thủy thủ cần gì thì họ tận tình giúp đỡ. Tôi mới quen với Bryony, cô nhỏ là nhân viên tiếp thị của hội quán, cô thường xuyên xuống tàu nạp tài khoản internet và xem thủy thủ có cần giúp đỡ gì không. Nghe thủy thủ trên tàu gọi tôi là uncle, cô cũng bắt chước gọi tôi là uncle, tiếng Anh uncle nghĩa là chú. Chuyến trước Bryony xuống tàu trong lúc thủy thủ ra boong hết nên tôi ngồi tiếp cô nhỏ. Cô hỏi tôi:

– Chú có thường lên hội quán?

Tôi cười:

– Có chớ mỗi khi ghé đây là chú lên, hơn ba mươi năm trước, hội quán này là nhà của chú, dạo đó trong hội quán ai cũng biết chú.

– Oh, chú còn nhớ ai không?

– Còn, còn nhớ ông John, vì ông ấy thương chú lắm.

– À, con biết ông John.

Nhắc tới ông John tôi nhớ lại, ông John là nhân viên hội quán, ông đứng quày rót bia và rượu cho khách, tiếng Anh gọi là bartender. Lần đầu tôi mua bia, ông hỏi tôi:

– Bia gì?

Tôi nói:

– Bia gì cũng được miễn là của nước Anh.

Ông cười vui vẻ vừa đưa tay lấy ly và lon bia ông vừa nói:

– Ô kê, ô kê…When in Rome, do as the Romans do.

Thấy ông đưa cho tôi bia Guinness. Tôi nói:

– Guinness là bia của Ái Nhĩ Lan mà.

Ông nói:

– Đúng đúng, nhưng đây là hải đảo của Ái Nhĩ Lan.

– Cũng được, tôi nói, Guinness là bia đen của Dublin, nổi tiếng thế giới.

– Đúng đúng…

Từ đó tôi mới biết Belfast là phần đất của Anh quốc nằm bên hải đảo Ái Nhĩ Lan và tôi thuộc luôn câu thành ngữ “When in Rome, do as the Romans do”, nghĩa là “Nhập gia tùy tục”. Ông John hỏi tôi là người gì. Tôi nói:

– Tôi là người Việt.

– Nam Việt hay Bắc Việt?

– Nam Việt.

– Oh! Southern Vietnamese, boat people!

Nghe ông hô lớn, nhân viên trên hội quán và nhiều thủy thủ hướng mắt về tôi. Khi tôi quay ra tìm chỗ ngồi thì nhiều thủy thủ ân cần mời tôi ngồi chung, mời tôi cụng ly, uống cạn bia họ mua thêm bia cho tôi uống. Có người hãnh diện khoe tàu họ đã từng vớt người tị nạn rồi đưa về trại Tân Gia Ba và nhiều người hỏi tôi về chuyện vượt biển. Lúc đó tôi nói tiếng Anh còn bập bẹ, phải chi dạo đó có điện thoại thông minh và Google dịch như bây giờ thì tôi đỡ mỏi tay. Tôi nói chuyện bằng tay nhiều hơn bằng miệng, nhưng mọi người vẫn chăm chú lắng nghe, có lẽ họ nghe bằng mắt nhiều hơn bằng tai. Hổng biết họ hiểu câu chuyện tôi kể được bao nhiêu, nhưng tôi cảm nhận được, trong mắt họ tôi là người đáng thương, cần được an ủi và giúp đỡ. Cũng từ đó trở đi nhân viên hội quán gặp tôi ai cũng vui vẻ đón chào và hổng gọi tên cúng cơm tôi mà gọi biệt danh tôi là Boat People.

Hổng riêng gì người Anh cư xử tử tế với thuyền nhân. Thời gian đó tôi ghé bất cứ những nước tự do nào trên thế giới, người ta nghe tôi giới thiệu: “I am Vietnamese.” Tức thì có người hỏi:“Nam Việt hay Bắc Việt?” Khi biết tôi người miền Nam Việt Nam, nhiều người trố mắt ra vẻ cảm thông và kinh ngạc hô lên: “Oh! Boat people! hoặc! Southern Vietnamese boat people!”. Có người đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt và có người thân thiện vỗ vai, nói:

– Southern Vietnamese people are good, very good…

Ông John là người ân cần và luôn giúp đỡ tôi, mặc dù tôi có việc làm và có tiền mua sắm, nhưng ông cũng chỉ cho tôi chỗ máng áo, quần, khăn, nón, đồ dùng cũ mà hội quán dành cho thủy thủ. Cũng từ đó tới nay, những ngày hải hành, ghé hội quán tôi thường tới chỗ máng áo quần cũ lựa cái nào vừa lấy về mặc. Ông John về nhà kể với vợ ông sao đó mà thỉnh thoảng bà mua kem đánh răng, bàn chải và xà bông gội đầu để sẵn trong bọc, nhờ ông đưa cho tôi. 

Tôi hỏi Bryony:

– Ông John còn khoẻ không?

Cô nhỏ đưa bàn tay ra lắc:

– Hông biết, lâu rồi con không gặp ông ta.

– Oh, vậy con có biết địa chỉ của ông ấy không?

– Không, nhưng con tìm được.

Ngẫm nghĩ một chút, tôi lưỡng lự và nói với Bryony:

– Lâu quá rồi, hổng biết ông John còn nhớ chú không.

Bryony cười:

– Không thành vấn đề, chú còn nhớ ổng là tốt rồi.

Hôm kia tàu ghé bến tôi nhận tin nhắn của Bryony, cô nhỏ hẹn tôi tối lên hội quán, ông John sẽ xuống thăm. Trước kia, hội quán lúc nào cũng chật nứt người, bàn nào cũng đầy bia rượu, thủy thủ ăn to nói lớn ồn ào. Bên góc phòng đặt cả chục hộp điện thoại nhưng thủy thủ vẫn đứng dọc dài chờ để gọi về thăm nhà. Bây giờ những hộp điện thoại công cộng đã dẹp hết, thủy thủ nào cũng có điện thoại thông minh, họ ngồi chung nhau nhưng mắt chăm chú nhìn màn hình, ngón tay rà rà bấm bấm lên mặt điện thoại, người nào muốn nói chuyện với gia đình thì ra góc ngoài đứng tha hồ nói, không khí hiền hoà nhưng trông có vẻ lạnh lùng.

Hổng biết từ bao giờ, tôi quên bẵng cái quốc tịch và hổng màng tới mình là người gì nữa. Ai hỏi tôi phải là người In Đô không, tôi yes và hỏi có phải Phi Luật Tân không, tôi cũng yes. Lâu rồi tôi cũng hổng nghe ai hỏi tôi câu: “Ông có phải người Việt không?”  Nhưng tôi có nghe đầy tai về chuyện người Việt giết người, cướp của, trộm cắp, buôn người, trồng cần sa và bán ma túy xuyên quốc gia. Ở Anh quốc những tiệm nails trốn thuế và chứa chấp nhiều người ở lậu, trẻ em trong tuổi vị thành niên bị bóc lột sức lao động, người làm việc bất hợp pháp bị bắt nhiều vô số, bắt hoài mà hổng hết. Không phải riêng nước Anh, mà khắp Âu Châu này, nhiều nhứt là nước Nga và những nước Đông Âu. Bọn buôn người như buôn bán thú vật chở trên những xe hàng, con người ta mà chúng coi như là heo, gà, vịt đem nhét đầy nhóc trong những containers chở xuyên qua nhiều biên giới. Khi bị cảnh sát phát hiện, moi ra thì người nào người nấy ngất ngư gần chết và cũng có khi khui container thấy có người ngột thở chết queo, trong số đó nhiều nhứt là người ở Việt Nam. Cũng có người Việt tổ chức vượt biển đưa người vô nước Anh bằng ca nô bị cảnh sát biên phòng bắt. Những người Việt ngày nay tài giỏi thiệt, nước Việt Nam nằm xa mù chì bên kia bán cầu, phải qua hai đại đương, đi tàu buôn phải mất hơn hai tuần lễ, ấy vậy mà sao nhiều người Việt có mặt trong những containers và trên những chiếc ca nô nhỏ xíu bên tận trời Âu lạnh lẽo này.

Trong lúc tôi đang suy tư về quá khứ, chợt có một thủy thủ tới khèo vai và kề mặt sát vào mặt tôi, tôi nghe nực nồng mùi bia, ông hỏi:

– Ông có phải là ông Tấn đầu bếp?

– Tôi ngước nhìn ông khách một cái, như một tia chớp trong đầu, tôi nhận ra ông ngay:

– Oh, Bobby.

Gặp lại đồng nghiệp cũ, giống như gặp hồn ma hiện về. Trong lòng tôi hổng mừng vui và cũng không vồn vã. Tôi chỉ chiếc ghế trước mặt nói:

– Ngồi xuống, ông khoẻ không?

Vẫn thái độ giống như hơn hai mươi năm về trước, lè nhè khi say xỉn. Ông vừa ngồi xuống vừa nói:

– Khoẻ khoẻ… Ông vẫn còn làm cho công ty cũ à.

– Ờ, vẫn làm bình thường. Dạo này ông sao rồi, vợ con gì chưa?

– Vẫn vậy, vẫn độc thân và vẫn làm thủy thủ.

Bobby và tôi quen nhau hồi còn trẻ, ông lớn hơn tôi vài ba tuổi gì đó, hồi đó tôi và ông đi chung tuyến đường từ Pháp sang Belfast này. Sau vài năm tàu hết hợp đồng tôi và ông cũng đổi tàu khác nhau và sau đó nghe có một đồng hương của ông nói ông đã chết rồi. Sống chung với đân In Đô đã lâu, tôi cũng biết cái tánh ba xạo nói láo của họ cũng hổng thua người Việt mình, nhưng với tánh hay say xỉn, lè nhè giống như Bobby, nghe nói ông chết, tôi tin ngay. Vì vậy hôm nay tình cờ gặp lại ông tôi có cảm giác như gặp một hồn ma. Tôi đứng lên đi lại quày mua bưng lại cho ông ly bia.  Bobby nhìn chai nước lọc trước mặt tôi, ông hỏi:

– Mày hổng uống bia sao?

– Uống, nhưng thỉnh thoảng thôi.

Lúc đó tôi thấy Bryony vô hội quán và đi lại phía bàn tôi, nhưng hổng hiểu sao cô nhỏ quẹo qua đi vô đứng trong quày ba đưa tay ngoắc ngoắc tôi lại. Tôi đứng dậy đi tới hỏi chuyện gì. Bryony đứng phía trong quày bar chồm ra nói với tôi:

– Ông John hổng tới được.

– Ô kê.

Tôi đi lại bàn vừa ngồi xuống thì Bobby đưa ngón tay ra dấu tục, và hất mặt về phía Bryony. À, tôi hiểu vì sao Bryony vừa thấy Bobby thì cô nhỏ quay gót đi vô trong. Tôi làm mặt nghiêm, nói với Bobby:

– Ở đây là Seamen’s mission ông à. Ông muốn đàn bà, con gái sao hổng ra quán Bar ngoài góc phố:

Ông lắc đầu:

– Ngoài đó cũng hổng còn đàn bà như trước nữa.

Tôi nhìn Bobby, ngoài sáu chục rồi, lại say xỉn như ông thì còn hơi sức đâu mà gái với gộc. Tôi nói:

– Tui quên, thời tui với ông còn trẻ, chưa ai biết virus HIV nên đàn bà con gái, tự do xuống tàu chơi với thủy thủ. À, mà ông già rồi còn chấm mút được mẹ gì mà đòi đàn bà?

Ông cười kha kha rồi đưa bia lên hớp một cái, để ly xuống ông nói:

– Có đàn bà nhìn cũng vui mắt, ông khoa tay một vòng nói, mày hổng thấy sao, toàn toàn là đực rựa mà thằng nào thằng nấy giống như con gà chết. Nhìn gương mặt lừ đừ, hổng còn chút mùa xuân của ông, tôi hết muốn dây dưa. Tôi nói:

– Thời đại nào, cuộc sống đó. Tụi nhỏ là gà chết còn tui với ông thuộc loại gà già, hết gáy được rồi, nói chi chuyện đá, thôi cho qua chuyện đàn bà, con gái đi cha nội. 

Bobby bưng ly bia lên uống, để ly xuống, hổng nói gì mà chỉ gừ gừ trong cổ họng. Nhìn tướng tá ốm nhôm như con khô hố của ông và nghỉ tới một con người sống không chịu lập gia đình, chỉ biết có bia, rượu và gái giang hồ mà lây lất sống cho tới ngày hôm nay thì cũng là lạ.  Chợt nhiên tôi thốt lên:

– Oh, Ghosts!

Bobby giựt mình nhìn tôi, có lẽ ông tưởng tôi kêu Trời, ông hỏi:

– Chuyện gì?

Tôi mỉm cười:

– Không, hổng có gì hết. 

Hẹn với ông John, ổng hổng tới được, coi như xong rồi. Mọi hôm thì Bryony thường lại ngồi nói chuyện chơi với tôi, hôm nay bị Bobby làm kỳ đà cản mũi, nên con nhỏ hổng tới được. Tôi thấy mình cũng không còn lý do gì ngồi nán lại đây nữa. Tôi đứng lên bắt tay từ giã Bobby:

– Ông ngồi chơi, tui phải xuống tàu.

Bobby đứng lên và ngập ngừng một chút rồi nói:

– Mày cho tao xin hai chục pound.

– Để tui xem.

Tôi móc bóp, may cho ông, tôi còn một tờ hai chục và mớ tiền lẻ, tôi trút ra đưa hết qua cho ông:

– Ông ở lại chơi vui vẻ.

Tôi đi ngang qua bar, thấy Bryony đứng trong góc, tôi đưa tay chào. Cô nhỏ kêu tôi đứng lại, cô đi ra đưa cho tôi cái nón len.

– Cho chú nè.

Lần trước ghé hội quán tuyết rơi mà đầu tôi vừa mới cạo trọc và ngoài trời thì lạnh quá, tôi lại chỗ để đồ cũ vạch đống đồ ra tìm. Thấy tôi đứng vạch tìm hơi lâu, Bryony đi tới hỏi tôi tìm gì, tôi nói tìm nón len, cô nhỏ phụ tìm nhưng không có nón len. Đêm nay cầm cái nón len mới toan, tôi nghĩ, có lẽ Bryony mua nón cho tôi. Tôi hôn phớt lên má cô nhỏ một cái và nói:

– Cám ơn.

– Không có chi.

Đêm nay không có sương mù, trời trong quá và trăng khuyết một bên, ánh sáng yếu ớt của vầng trăng làm cho ánh đèn những con tàu thêm rực rỡ. Lòng tôi chợt sáng và nghĩ ra, nếu hổng có chuyện xảy ra trong chuyến đi này thì tôi đã quên mất tiêu cái khoảng đời lẽ ra tôi hổng được quên. Trước kia gặp bạn đồng nghiệp trên những hội quán xa xôi, chúng tôi háo hức vui mừng cùng nhau ngồi uống bia và tán chuyện cho tới khi hội quán đóng cửa chưa thôi. Nhưng lần này gặp Bobby tôi có cảm giác như gặp lại con người cũ kỹ xa xôi nào và tôi mới nhận ra Bobby là cột mốc cho một lớp người thay đổi và tốc độ của cả một thế giới đổi thay. Thân thể và tâm hồn tôi cũng bị thời gian làm cho chai sạm. Cũng ngay bây giờ, trong đêm nay, tôi mới nhận ra một điều là những người đồng hương cùng thời tị nạn với tôi ai cũng đã an cư lạc nghiệp ở một quốc gia tự do nào đó trên trái đất này. Riêng tôi thì ngót hơn bốn chục năm trôi qua, cho tới bây giờ, tôi vẫn còn là một Vietnamese boat people, nghĩa là một Thuyền Nhân người Việt và vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.

Teestport 20 3 2019

Thư Không Viết

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Này hải đăng Hải Yến
Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm   
Hôm tàu về Âu Châu tôi có nhận của Hoàng Yến gói quà gói trong một phong bì giấy xốp, bên trong ép những tờ giấy trắng tẩm nước hoa ngọc lan thơm phức. Phần quà có hai cuộn băng cải lương, một tập thơ lay out trên máy vi tính, bìa màu vàng bóng, mỗi bài thơ in trên một màu giấy khác nhau. Trong gói quà có kèm theo một bức thư viết nắn nót nét chữ học trò. Yến cho biết, trên biển có nhiều loài chim lạ mà cô rất thích, cô muốn tôi kể cô nghe về chuyện các loài chim biển và chuyện vui buồn trên chuyến hài hành.  Hôm kia có xảy ra một chuyện mà tôi cũng hông biết vui hay là buồn, chỉ thấy sau khi dọn dẹp xong thủy thủ đoàn thằng nào thằng nấy mệt muốn đứt hơi. Chuyện bắt đầu vào buổi trưa. Trong lúc tàu chạy cách bờ biển Châu Phi gần trăm hải lý. Chợt nghe chuông báo động reo ầm ĩ, thường thì chuông reo một ngắn một dài là báo hiệu tàu bị cháy, bảy dài một ngắn tức là tàu bị nạn gì đó, thủy thủ phải chuẩn bị rời tàu. Nhưng hôm đó chuông reo liên hồi không ai hiểu là báo hiệu chuyện gì hết. Tuy vậy thủy thủ đoàn cũng mang áo phao tụ tập lên phòng lái.  Lên tới nơi thấy mặt viên thuyền trưởng không có gì là khẩn trương hết, ông kêu mọi người cởi áo phao ra và  ông chỉ tay về phía trước mũi tàu. Mọi người nhìn theo tay ông và ồ lên một cái. Xa xa một vùng khói sương mù mịt.  Jono, thủy thủ người In Đô, thắc mắc:
– Mưa hay sương mù? 
Thuyền trưởng đáp:
– Không phải mưa cũng không phải sương mù mà là cát từ trong sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn ra.
– Mình cách bờ gần trăm hải lý thì làm sao cát bay ra được.
– Gần trăm hải lý mà nói gì, cát của sa mạc Sahara bay qua tới Âu Châu lận. Ở Hoà Lan, nhứt là những ngày mùa xuân, lắm khi sáng thức dậy đi ra ngoài thấy trên lá cây, trên mui xe và trên mái nhà cát mịn đóng một lớp mỏng, thì biết đó là cát của sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn rải về.  Giải thích xong chuyện cát bị gió lốc cuốn từ sa mạc Sahara sang Âu Châu, viên thuyền trưởng ra lịnh đóng kín hết các cửa và trong lúc tàu chạy qua ngang vùng cát không ai được ra ngoài boong, trừ trường hợp người nào có chuyện cần ra ngoài thì phải đeo mặt nạ hoặc kiếng che mắt và khẩu trang. Không bao lâu tàu lọt vào vùng gió cát mịt mùng. Lạ thay lẩn, trong cát vô số cào cào, con nào con nấy lớn bằng nửa cườm tay, xanh màu đọt chuối, hai hàm răng giống như hai kìm sắt, loại cào cào nầy lỡ đáp lên một thửa ruộng hoặc một vườn hoa màu nào chắc chắn trong nháy mắt sẽ bị chúng cắn phá sạch sành sanh. May mắn cho nhà nông, nhà vườn đám cào cào không bay vào ruộng, vườn mà theo gió cát bay ra tận biển khơi làm mồi cho cá.  Khi tàu qua khỏi vùng gió cát thì trời đã về chiều. Những trự cào cào bị ống khói phun cháy cánh rơi rụng nằm lẫn lộn trong cát ngập cả boong tàu. Thủy thủ đoàn phải mất một phen xúc cát và xác cào cào đem đổ xuống biển, sau đó kéo ống nước ra xịt rửa tàu, tới khi xong chuyện thì đã quá giữa khuya.  Biển Châu Phi thường êm sóng và màu nước rất xanh. Một ngày trôi qua và ngày thứ hai đã hết. Mọi người đã quên chuyện cát sa mạc Sahara và con tàu chạy rất bình yên. Thủy thủ đoàn lúc nầy được nhàn rỗi hơn, tối lại họ tụ tập vô phòng ăn coi phim và uống bia. Tôi cầm chai bia ra lái tàu ngồi nhâm nhi. Đêm nay hăm mốt âm lịch, đầu hôm trăng chưa mọc. Biển tối đen, chưn vịt tàu đạp nước rù rù, nước biển gợn lên một đường dài ngời sáng trông giống như dãy Ngân Hà vướng vô bánh lái và bị tàu kéo theo. Ngồi trên tàu tôi có cảm giác như ngồi trên một hành tinh lạ. Xa xa trên hải phận quốc tế nổi bật sáu chòm đèn tàu buôn, ba chiếc xuôi Nam, ba chiếc ngược Bắc, tàu tôi đương hướng về phía Đông.  Đương thả hồn theo cảnh vật chợt nghe tiếng động rột rẹt ở góc mui. Tôi mới nhớ tới con nhàn bị bịnh sao đó mà tôi để nó trong lòng cuộn dây lái từ hồi sáng tới giờ. Con nhàn nầy hồi hôm đậu với hàng trăm con nhàn khác ngủ ở đằng trước, sáng sớm đồng bọn bay đi săn mồi còn vãi phân lại trắng trên mặt boong. Trong lúc xịt nước rửa tàu, Jono thấy một trự đứng co ro bên cuộn dây cáp của cần trục, anh bắt đem vô giao cho tôi. Tuy biết thức ăn của loài nhàn là cá sống, trên tàu không có cá, tôi mới lấy bánh mì xé nhỏ và lon nước đặt trước mặt nó nhưng từ sáng tới giờ nó không ăn uống gì hết.  Trong ánh đèn lờ mờ từ trên trần mui dọi xuống, trông con nhàn thê thảm với bộ lông khô, xoắn lại từng cọng, chỉa ra như lông nhím, đôi lần nó nhấp cánh định bay nhưng thân hình lê thê lết thếch, miệng ngáp ngáp rồi quỵ cặp giò chúi nhủi. Thấy tội nghiệp quá, tôi đỡ nó dậy để lại chỗ cũ, lấy bánh mì nhét vô miệng nhưng nó không nuốt được, cần cổ cứ lắc lư mỏ rẫy mạnh làm bánh văng tứ tung, cái mửng nầy kéo dài cho tới ngày mai thì làm sao nó sống được. Con nhàn cũng có quê hương là hài đảo xa gần nào đó, với đôi cánh ngàn dặm nó có thể đi đi về về bất cứ lúc nào, chẳng may giữa đường lâm bịnh hấp hối và nằm đây chờ chết. Nhìn con nhàn sắp chết, tôi nhớ tới Hoàng Yến, người con gái mảnh mai, ốm nhưng không yếu, nhan sắc trung bình. Cô biết viết văn, làm thơ, không uống rượu nhưng ăn thịt chó và cô rất thích nhìn loài chim biển bay lượn trên bãi biển lúc chiều hôm. Tôi gọi loài chim biển trắng là con nhàn, còn cô gọi nó là hải âu. Tôi bắt bẻ:
– Hải âu không phải tiếng Việt.  Cô cãi lại:
– Gọi hài âu là nhàn thì giống dân Hai Lúa.
– Hai Lúa làm ruộng thì làm sao biết được tên của các loài chim biển. 
– Tại sao thủy thủ các anh gọi hải âu là con nhàn?
– Tui hổng biết từ đâu nữa, nhưng nhớ hồi còn nhỏ làm ngư phủ trong vịnh Thái Lan, miệt đó có hai loại nhàn, nhàn sẻ nhỏ con, lông màu trắng mượt, nhàn ô thì lớn hơn nhàn sẻ, lông cũng mượt mà và trắng tươi nhưng đặt biệt dưới ức có một đốm lông đen.
– Vậy thì chữ nhàn ô cũng không phải thuần tiếng Việt.
– Nhưng ít ra cũng có phân nửa tiếng Việt.
– Nhưng Yến thích gọi nó là hải âu nghe thi vị hơn.
– Giống tiểu thuyết tình cảm của Tàu thì có, nhưng cô là nhà thơ mà, gọi sao nghe hay và có vị thơ là được, còn tôi thì quen gọi chim nhàn rồi sửa lại kỳ thấy mồ.  Có lần đi chơi ngoài bãi biển, Yếu thấy một con nhàn chết khô nằm trên gành đá, cô rưng rưng buồn, cầm con nhàn chết cứng đưa cho tôi và biểu tôi đào cát chôn cất cho đàng hoàng. Mỗi lần gặp chuyện cảm động cô hay thốt lên câu “Buồn năm phút”. Hôm đó mặt cô dàu dàu buồn…năm phút khi thấy tôi đào cát chôn cất hải âu.Hồi chiều có mấy thủy thủ sợ con nhàn ỉa dính dơ tàu mới kêu tôi liệng nó xuống biển, tôi không nỡ lòng liệng khi thấy nó chưa chết. Cứ để đó khi nào nó chết rồi tính sau.  Không biết bây giờ là mấy giờ mà ánh trăng già hơn nửa mảnh nằm ngang đọt cần trơi, ánh sáng nhạt nhoà chan hoà trên mặt biển. Trời nước yên bình quá, có lẽ tôi phải viết cho Yến một lá thư dài, kể chuyện biển cho cô nghe. Tôi trở vô phòng, kéo mở hộc tủ lấy giấy, viết để lên bàn. Chợt thấy tập thơ của Yến bên cạnh, tôi ngồi xuống lần giở tập thơ. Đập vào mắt mắt tôi một bài thơ chữ nghiêng trên trang giấy màu xanh nước biển và có in hình mấy con nhàn đương dang cánh bay. 
Tôi đọc:
*”Ta yêu lắm nhịp đều hoà của biển Sóng trầm lặng rồi sóng lại dâng Bình minh lên và hoàng hôn xuống Trong thoáng mơ hồ bâng khuâng một chút Cho Hải Yến tung cánh giữa khơi Lẩn vào mây… Mây xanh ngát bầu trời Cho đêm đen thẳm tối Có hải đăng mịt mù xa trên cao
Này Hải-Đăng Hải-Yến Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm Biển trời xanh… Thời tuổi nhỏ cũng xanh” 
Hoàng Yến chưa từng ra khơi bao giờ vậy mà cô làm thơ về biển rất sống động. Còn tôi thì lênh đênh trên biển nhiều hơn ở đất liền. Biển khi xanh màu da trời, lúc xanh màu cẩm thạch, bàng bạc lóng lánh và lúc thì đục màu phù sa. Chim biển rất nhiều loại, có con đen như quạ, con thân hình mập chè bè, chưn thì giống như chưn con vịt, con thì giống như cò đen, cò trắng, hạc… nhưng nhiều nhứt vẫn là chim nhàn. Tôi không biết viết văn, làm thơ gì hết thì làm sao viết thư tả cảnh biển ban đêm có trăng tỏa sáng và triệu trệu sao trời lấp la lấp lánh, ban ngày thì có chim bay lượng trên mặt bước và bầu trời xanh bát ngát… Tôi ngần ngại, muốn viết cho Yến một lá thư dài, nhưng chuyện biển của tôi quái đản, kỳ cục, nhạt nhách nhạt nhẽo cũng như chuyện cát, cào cào và chuyện con nhàn sắp chết. Biết đâu đọc xong thư Yến hỏi tôi con nhàn chết chưa và nếu chết rồi thì có đem nó chôn cất cho đàng hoàng không. Trên biển lấy đất đâu mà chôn. Còn nói tôi sẽ thủy táng con nhàn sau khi nó chết thì thế nào Yến cũng thốt lên câu tội nghiệp và “buồn…năm phút”. Không muốn cô nhỏ phải mất năm phút buồn, tôi bèn thu xếp giấy, viết cất vào học tủ và cầm lấy tập thơ leo lên giường nằm đọc à vỗ giấc ngủ./. 
Đại Tây Dương tháng 5 2008
*Thơ của Hoàng Ngâu 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Cứ ngỡ đùa vui trong tí chút!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Người Mỹ gọi chuyện đùa là joke, chuyện chung chung vô thưởng vô phạt thì gọi là ‘clean joke’, diễu sạch; còn chuyện diễu có dính líu ít nhiều đến hoạt động tình dục là: ‘dirty joke’, diễu ‘dơ’.

Suốt cả một cuộc đời , ai mà không nói đùa, ít nhứt là một lần, để trêu chọc ai đó?

Hồi mới lớn là mình đã biết nói đùa mà bà con cô bác gọi là chọc gái, ghẹo gái, dê gái.

“Cô kia bới tóc đuôi gà! Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu? Cô kia bới tóc đuôi chồn! Nắm đuôi cô lại hỏi… hỏi cái gì hè?”

Đùa như vậy gọi là đùa vô duyên bị em chửi là thường. Còn đùa ý nhị gọi là đùa có duyên thì em nào cũng thích nghe và thích luôn cả người nói. Vì người có óc hài hước nói ra những câu đùa ý nhị, ắt hẳn là người rất thông minh mới sáng tác ra những lời như dệt gấm thêu hoa, xứng đáng là cha sắp nhỏ, đám con của em sau nầy….

Tuy nhiên cũng có những câu đùa ác ý làm người nghe hộc máu mồm máu miệng. Cứ làm tới! Làm tới đi thì trước khi người nghe hộc máu mồm máu miệng là mình đã bị hộc máu mũi trước rồi.

Thế nên dù nói đùa, viết chuyện đùa cũng nên ‘cẩn trọng… mới vô áy náy!’

***

Chuyện rằng: Tiệm Pizza Hut, trên Jefferson Highway, ở Stafford, tiểu bang Virginia, Huê Kỳ được khách hàng đặt bánh pizza trên mạng và yêu cầu thêm một chuyện đùa. Khách hàng là Thượng đế mà! Muốn là chiều!

Em gái giao bánh pizza bèn viết, bằng mực trắng, câu: “What do a pizza delivery driver and a gynocologist have in common?” “They both have to smell it, but neither of them get to eat it.”

“Một anh giao bánh pizza và một bác sĩ phụ khoa có chung điểm gì?” “Cả hai có thể hửi hửi, mà không anh nào được quyền ‘quằm’.”

Nhưng người em gái giao bánh pizza đâu có biết rằng niềm vui đã nằm trong thiên tai; vì khách hàng của em lại là hai thằng bé vị thành niên, một đứa mới 12 tuổi, và một đứa lên 15 tuổi.

Em cứ tưởng khách có thẻ tín dụng để đặt pizza ắt hẳn là thành niên rồi chớ. nên em ‘vô tư’; dè đâu nó mượn thẻ của Má nó mới chết!

Dẫu tiếng Mỹ là tiếng Mẹ đẻ chăng đi nữa, tui e rằng hai chú nhóc nầy không thể nào hiểu hết cái ngôn ngữ đa tầng, đa nghĩa thâm sâu ảo diệu về chuyện giường chiếu nầy đâu.

Ngay cả tui đây, từng tuổi nầy rồi, bôn ba khắp chốn ta bà mà còn hiểu một cách tờ lờ mờ, hiểu một cách lơ tơ mơ…

Cho đến khi em yêu của tui cắt nghĩa ‘đùi, bằng bạch văn chỉ rõ ra rằng, tui mới cảm được hình ảnh ‘giựt giựt’ của câu mà em gái giao pizza muốn truyền tải.

Trước hình ảnh sinh động nầy, tui vỗ đùi cái đét, tán thán là: “Rằng hay thì thiệt là hay! Đọc lui, đọc tới thấy hay càng nhiều!”

Người hiểu được phải là người có kinh nghiệm chiến trường ít nhứt là cả trăm trận xáp là cà mới ‘cảm’ nhận được. Người hiểu sâu sắc giống em yêu của tui là Má của hai chú nhóc nầy. Nhưng bà ấy lại không vui, không cười gì ráo mà lại quạu mới báo!

Đọc xong, bà má than phiền với viên quản lý tiệm bánh; rồi còn đăng hình lời diễu dơ nầy lên trên mạng xã hội để câu ‘likes’.

“Tui thiệt là kinh ngạc thiếu điều té ghế luôn! Đâu ai ngờ được Pizza Hut diễu dơ đến thế! Tôi gọi cho tác giả và nói với cô ấy rằng tôi hi vọng cô ấy sẽ không bị mất việc về chuyện nầy!”

“Nhưng buồn thay! Cô ấy đã bị đuổi! Làm cư dân trên mạng, nghe chuyện ùa vào bảo vệ em giao bánh Pizza, chửi rủa tui quá xá hè!

Chỉ có vài người lèo tèo là đứng về phía của tui thôi.”

“Qua câu chuyện nầy, hãy để người em gái giao bánh Pizza Hut học được kinh nghiệm là diễu dơ phải có chỗ, có lúc, chớ trên hộp bánh pizza là không phải chỗ ấy!”

“Câu chuyện tiếu lâm nầy ‘mặn’ quá không nên viết trên hộp bánh! Hộp bánh là để đựng bánh không phải để viết chuyện dung tục.”

“Khi mình phục vụ quần chúng nhân dân (nghe quen quen nhe!) thì cũng có cái giới hạn của nó. Đây là bài học hay cho những người trẻ tuổi.

Lần sau, muốn viết cái gì bậy bạ nên suy nghĩ cho chín chắn. Dĩ nhiên đời bao giờ cũng có những trải nghiệm không vui… Nhưng cũng đành phải học mà thôi!”

“Em gái giao bánh pizza hãy gởi câu chuyện dung tục nầy cho Má em đi. Coi Má em nghĩ làm sao nhe! Tôn trọng một chút đi chớ!”

” Khách hàng là Thượng đế. Khách hàng luôn luôn đúng! Khách phán sao là mình người phục vụ phải rán mà chìu theo dù trong bụng nghĩ nó khùng hết biết, nhưng chìu là phải chìu cho nó trúng khía kìa, trật chìa là không có được!”

***

Tuy nhiên đó chỉ là hạt cát trong sa mạc, giọt nước giữa đại dương, chỉ 1% cư dân trên mạng bao che cho bà má Virginia chút đỉnh. Chớ còn 99% còn lại họ ‘xì nẹt’ tơi bời hoa lá!

Trên twitter, họ còn xúm nhau kêu gào đòi công lý cho người em gái giao pizza, có cái đầu hài hước hơi đen đen ấy, trót lỡ dại mồm, dại miệng.

“Người em gái ấy chỉ làm bổn phận của mình! Rất tiếc là bà cảm thấy bị xúc phạm. Vì con bà yêu cầu một chuyện diễu thì nó đây nè! Còn càm ràm cái gì chớ?”

“Tyler, con trai tôi 20 tuổi đặt bánh pizza và yêu cầu cô giao bánh viết cái gì lên đấy. Cô ấy viết rằng: “Em yêu anh Tyler” Xong ký tên cô gái giao bánh pizza. Con tui khoái quá; giờ vẫn còn khoái!

Tuy nhiên tui chỉ cười hè hè. Cô ấy chưa biết gì về con mà nói yêu con? Quả là một chuyện đùa. Tui cũng đâu có đăng lên mạng để càm ràm. Và không có ai bị mất việc đâu hè!”

“Người em gái giao pizza nầy đã điện thoại đến để xin lỗi nhưng kết cục vẫn bị viên quản lý tiệm bánh nắm đầu đuổi! Em còn trẻ nghèo đi giao bánh pizza tiền hỏng có là bao! Sao nỡ lòng nào chó cắn người áo rách?Hả dạ bà chưa?”

Giận cá họ chém luôn cả thớt! Tay quản lý tiệm Pizza Hut nầy cũng bị đưa lên thớt! “Hỡi tiệm Pizza Hut thân mến! Nếu tôi đặt bánh pizza, xin thêm phô mai ‘đen thùi’ thay vì phô mai ‘trắng xác’. Sau đó tôi không thích; thì xin hỏi ông rằng: ông có nắm đầu người làm bánh theo yêu cầu của tôi để đuổi họ hay không hả?”

“Hay ông đuổi cổ cô nhân viên của mình chỉ vì muốn tạo ra một cái ‘xì căng đan’ trên mạng, một cơn bão trong tách trà, bằng cách vác cái búa tạ đi đập một con ruồi. Lỗi nhỏ như con thỏ đáng lý bỏ qua cho thì ông lại làm to chuyện, đập nồi cơm của nhân viên mình để làm quảng cáo không phải tốn tiền chăng?”

Rồi người khác lại vặn vẹo tui là: “Bà cho rằng câu đùa nầy quá sỗ sàng, không thích hợp cho con nít nó đọc. Vậy tại sao bà lại chụp hình hàng chữ nầy đăng lên mạng xã hội. rồi con nít của người khác đọc thì sao?”

(Hỏi ngặt nghe! Cà lăm… Biết trả lời sao?)

“Tôi hy vọng là bà đã thấy tâm địa cực kỳ đen tối của mình chỉ vì muốn câu ‘likes’ trên trang mạng xã hội!”

“Hãy gọi lại cho viên quản lý và nói rằng bà không bực bội gì hết!”

“Tốt hơn nên dạy dỗ con mình! Đặt bánh pizza là để ăn… Cô gái giao bánh đâu có nhiệm vụ tấu hài để làm tụi bây vui đâu!”

“Nhưng tui tin là bà sẽ bao che, cho rằng tụi nó vô tội, đầu óc ngây thơ trong trắng lại bị đầu độc bởi cô bán pizza tối ngày cứ tơ tưởng đến chuyện tù ti tú tí!”

Có người còn nói xỏ xiên bà má Virginia nầy không có óc hài hước gì hết trơn, hết trọi!

“Có ai đó nói với tui rằng pizza của bà ấy lâu rồi ông chồng không muốn ăn.

Vì ông chồng mắc ăn pizza của con vợ bé đêm nay rồi! Hi hi!”

“Tui tiếc những ngày mà chuyện đùa không ai cảm thấy mình bị xúc phạm hết ráo. Còn bây giờ chỉ vì một chuyện đùa mà khách hàng bực bội; cô ấy phải mất cái cần câu cơm. Thiệt là quá đáng!”

“Em giao bánh pizza nầy làm việc hơn cả yêu cầu! Đáng để nhận thêm tiền tip! Câu chuyện đùa cũng vui mà; thì việc gì mà nhẩy đông đổng lên để làm người ta bị đuổi, bị bể nồi cơm! Nhứt là chỉ vài ngày trước lễ Giáng Sinh ai cũng cần tiền cho gia đình đi chợ!”

***

Qua câu chuyện lùm xùm ở trên, tui cũng học được bài học rất hay là viết chuyện đùa không phải chỉ đùa đâu! Phải dòm trước trông sau, coi chừng “Anh cứ ngỡ đùa vui trong tí chút. Đâu có ngờ đùa mãi đến điêu linh!”

Chẳng hạn như câu chuyện đùa có vẻ vô thưởng vô phạt là: “Nếu bất cứ chuyện gì mà bạn không bao giờ thành công trong lần đầu; thì thú vui nhẩy dù dứt khoát không dành cho bạn rồi đó!”

Thì đã có người phê bình diễu như vậy là nhẫn tâm với những người đã từng nhẩy dù mà dù không bọc (?!)

Thế nên! Có một chỗ an toàn để nói chuyện đùa, chuyện tiếu lâm mặn như muối hay nhạt như nước ốc gì cũng được là nói với bạn thân của mình trên bàn nhậu. Nghe qua hay thì nhớ; dở thì bỏ; hơi sức nào để bụng rồi bị sình bụng chớ phải không?

Nói đi thì cũng nói lại. Dân chơi thì sợ gì mưa rơi! “Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa!”

Nếu sợ quá thì những tác giả chuyên sáng tác chuyện đùa cho những show hài kịch trên truyền hình Mỹ, đâu còn ai dám viết để cho bà con mình tìm vui trong phút giây thôi; mà mình lại bị dũa tới tàn đời!

Chỉ cần nâng cái nghệ thuật đùa vui trong tí chút bằng 1% tài nghệ của nhà thơ lục bát Bùi Giáng, là an toàn trên xa lộ, là thanh lịch trong thành phố hè.

Ông Bùi Giáng có hai câu lục bát lừng danh, gieo vần trật lất, theo giai thoại nói về hai nhà thơ ‘cách mạng’ cùng mình, cách mạng từ đầu tới chưn là: nữ sĩ Thu Ba và nhà thơ Thu Bồn!

“Thu Ba ca ngợi Thu Bồn/ Thu Bồn khoái chí sờ ‘vai’ Thu Ba!”

Đọc xong, không ai có thể hiểu khác ý của nhà thơ cho được; dù Bùi Giáng đầy nghệ thuật ám chỉ, không chịu nói huỵch toẹt ra! Ha ha!

Đúng là bực sư tổ trong làng viết chuyện đùa vui trong tí chút! Đáng cho đám hậu sanh như tui kính cẩn nghiêng mình học và tập!

doanxuanthu

melbourne

Cứ bửa tới!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Mẹ đẻ là một điều không dễ dàng là vì nó khó… (Nói huề vốn!)

Chuyện rằng: Con chuột mẹ dẫn hai chuột con đi dạo. Bỗng một con mèo đánh hơi được mùi chuột, liền nhón cẳng núp sau cánh cửa chuẩn bị vồ ba mẹ con nhà chuột, tha về về đánh chén tối nay.

Trong lúc thập phần nguy cấp, thập tử nhứt sanh, chuột mẹ vội kéo hai chuột con nấp vào phía nên nầy cánh cửa, sủa rõ to: “Gâu, gâu! gâu! Gừ! gừ! gừ! Gâu!”

Mèo ta tưởng là chó, nên vội vàng tam thập lục kế dĩ đào vi thượng, lên đường bôn tẩu .

“Đó các con thấy chưa? Biết được ngoại ngữ thật là có lợi vô cùng vì đôi khi nó cứu được mạng sống của mình!”

Chính vì vậy khi thế giới toàn cầu đã trở thành một cái làng, việc giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác tiếng Mẹ đẻ vô cùng cần thiết… thực! Nhứt là đi cưới vợ.

Mấy thằng chuẩn rể Tây, tức da trắng nói chung, lỡ phải lòng với con gái Việt Nam là phải rán mà học tiếng Việt, (dẫu đâu có dễ), để lấy điểm với Bố Mẹ nhà em…

Bố Mẹ ngoài một mớ đô bộn bộn bù của còn phải có một chàng rể Tây dẫu mắt xanh mũi lỏ, nhưng biết húp nước mắm, và phun ra tiếng Việt… để hãnh diện với xóm làng…

Nàng là sinh viên đi Mỹ học, sau khi tốt nghiệp không muốn về nước mà muốn ở lại cái nước tư bản bóc lột nầy nên quăng chài tứ tung mới bắt được một thằng Mỹ lù khù, dễ dụ.

Em sẽ dắt chàng về Hà Nội ra mắt bố mẹ và bà con nội ngoại để chứng tỏ rằng em chẳng lấy làm chơi mà làm thiệt. Nhưng anh lại đực mặt ra đó, một câu tiếng Việt chào hỏi cũng bù trất thì thiên hạ sẽ cho rằng anh ỷ là dân đế quốc Mỹ đem cái thẻ xanh ra nhử nhử trước mặt mà gạt gẫm tiết trinh em!

Nàng dạy chàng ngôi thứ nhứt, tiếng Anh là “I”, thì tiếng Việt không “ai” gì ráo mà phải tùy người đối diện để mình xưng cho thích hợp: là con, là cháu, là anh, là tôi.. v.v…

Lúc nói chuyện với nàng, chàng xưng là anh và âu yếm gọi em. Nhưng với ông bà, cha mẹ là khác! “Nhớ chưa con bò! Cha! Khó dữ vậy hè!”

Về tới Hà Nội, gặp bố em, chàng cung kính, gật đầu chào “Anh muốn cưới con Bố. Bố có đồng ý không?”

Rồi quay sang bà già vợ tương lai khen ngợi vài câu xã giao là: “Giò Mẹ căng lắm!” Quay sang con em vợ thì: “Em đẹp, sexy lắm!”

Con vợ tương lai nghe vậy, bèn rầy: “Anh ngốc như con bò!”

Vốn có chút đỉnh rượu, (chớ bình thường là không bao giờ dám), chàng rể Tây sửa lưng vợ, để cho nhạc phụ và nhạc mẫu biết là tiếng Việt mình cũng giỏi hỏng thua ai

“Con bò không có ngốc! Em phải nói là: Anh ngốc như con ““donkey”“, con lừa, mới đúng!”

Trưởng tộc và cả nhà bên đàng gái thán phục, ồ lên cười vui vẻ.

Xong ông Bí thư xã ủy đến ăn chực để chia vui, đứng dậy giới thiệu cùng chú rể Tây của làng ta, chỉ tay vào vợ đang đứng kế bên trịnh trọng nói: “Đây là nhà tôi!”

Thằng rể Tây buộc miệng hỏi: “Rồi cái cửa ra vào, nó ở đâu?”

Thiệt là cái đồ đế quốc Mỹ mà! Toàn là dân cà chớn không hè!

Đó là Mỹ học tiếng Việt; còn Việt học tiếng Mỹ thì sao?

Mấy bữa nay, bên Little Saigon, bà con mình rôm rả bàn về cái vụ nói tiếng Mỹ giả cầy, ba rọi, nửa nạc nửa mỡ mà không chịu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong Cộng đồng người Việt…ở nước ngoài…Nghe vui quá chừng vui đi!

Đa số ông bà, chắc bằng cấp đầy mình mẩy, xúm lại xài xể, xì nẹt bà con mình nói tiếng Việt mà cứ chêm vô tiếng Mỹ, theo giọng đọc của tự điển Lê Bá Kông, Ziên Hồng, trường dạy Anh văn từ hồi năm nẩm ở Sài Gòn!

Ối tưởng cái gì? Chớ cái vụ sính nói tiếng Tây, tiếng U hòa đồng với tiếng Việt của dân mình có gần cả thế kỷ trước lận mà.

Tuồng cải lương Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang kể về chuyện tình giữa Nguyệt và Minh trắc trở rồi tan vỡ trong cái biến loạn của xã hội Việt Nam chuyển từ chế độ phong kiến qua chế độ thuộc địa, sự xung đột giữ cũ và mới!

Ông Cả, (ba của Nguyệt) thì thủ cựu bài tân: “Nhân bất học bất tri lý. Học giả như hòa như đạo. Bất học giả như cảo như thảo (Người không học không biết lẽ phải. Học như lúa nếp lúa mùa. Không học như cỏ dại cỏ khô ích gì?)

Còn bên ông chủ tiệm bazar Phát Đạt (ba của Minh) thì ““đã cựu nghinh tân”: bonjour, oui, non, pardon, merci! C”est par bien? tá lả.

Xách đít ra về, chủ tiệm bazar Phát Đạt còn ““Adieu”“ (tạm biệt) (A dơ). Ông Cả đáp lại: “Ai dơ” thì biết? He he!

Ông soạn giả Tư Trang đã mượn nhân vật Tân, em của Nguyệt, để phê phán ông chủ hiệu bazar Phát Đạt rằng: “Tây phải ra Tây! Việt Nam phải ra Việt Nam! Đừng mở miệng lai căng pha trộn nửa nạc nửa mỡ nghe không lọt lỗ tai!”

Chuyện đó xưa rồi! Còn bây giờ là thế kỷ 21, mình ở nước của người ta mà chỉ nên nói toàn bằng tiếng Việt, thì là tui sẽ dốt toàn tập tiếng Anh thì làm sao kiếm ra việc làm? Làm cu li, chớ đâu phải là diễn giả trường đại học đâu mà cần tiếng Anh lưu loát?

Mấy thằng Úc nó thường khuyến khích tui, chớ nó không hề dám chê bai, dạy đời như ông Tư Trang đâu! Nó nói: một người biết hai thứ tiếng là ‘bilingual’; còn người chỉ biết một thứ tiếng là thằng Úc!

Thì việc gì mà sợ quê chớ? Muốn giỏi tiếng Anh là phải thực hành, không có cách nào khác. Từ dở mới tới giỏi, biết chữ nào chơi chữ đó, từ ít mới có nhiều, dựa vào kinh nghiệm chiến trường chớ không phải trong sách giáo khoa, toàn là phi hiện thực…tế!

Đây là bài học thực tế nè: “Cô ơi, tôi muốn khám bệnh! Vậy bác “phiu ao” (fill out) cái “phom” (form) này dùm con nha bác!”” “OK Salem!”

“Thằng chả nói tui suốt ngày chỉ lo “sốp binh” (shopping), hỏng có “khe” (care) gì cho chồng con, cho nhà cửa!

“Nô mó nì” (no money) mà sốp binh (shopping) cái gì?Ai đi chợ “khút” (cook) cho cha con ông “ít” (eat)?

Khôn hồn đừng làm tui”ghét mát” (get mad) là tui “mu” ra (move) thì đừng có mà chạy theo khóc lóc năn nỉ kêu tui “mu” vô…” Đồ sì tu pit! ((stupid)”

(Ôi tui khoái cái chữ mu (move) ra, mu (move) vô nầy quá Trời! Mà nỡ lòng nào bắt em phải nói thuần tiếng Việt, không cho chen chữ “move “ nào vô hết trơn thì làm sao mà đã chớ?)

Mạnh vì gạo bạo vì tiền, thương vợ thương con; cái tình thương bao la đó đã làm tui không sợ mất mặt (ủa tui có mặt đâu mà sợ mất?)

Không sợ các bức thức giả chê tui là đồ vọng ngoại cộng với “kém thông minh pẹc- ma- năng (permanent) (thường trực).

Mười năm, hai chục năm nữa cái đám tụi tui sẽ đem cái “xi líp” (slip), “xú chiêng” (soutien-gorge), tiếng Tây ; “no star where” (không sao đâu), no medicine (không thuốc hút), master run (thầy chạy) tiếng Mỹ… đi luôn về bên kia thế giới.

Cái tụi tui để lại là đám con cháu nói tiếng Mỹ như Hoàng gia Anh dù da nó vẫn vàng khè.

Do đó cứ chê tui là tiếng Anh… ăn đong của Phước Lộc Thọ mà hay khoe. “Ai đông khe!” (I don”t care). He he!

***

Tóm lại sĩ diện hảo mà làm gì? Ai chê tiếng Anh tui giả cầy, ba rọi thì kệ họ chớ. Tui chỉ cần biết chút đỉnh tiếng Anh đủ xài, không cần trúng giọng gì ráo, sao cho “boss” Úc hiểu, cho tui cái “job” để tui đi làm kiếm tiền về cống nạp cho con vợ, để trả tiền nhà, tiền bill, tiền con cái ăn học nữa là tui… OK rồi!

Chớ chờ tui nói tiếng Anh giỏi cỡ Donald Trump hãy nói (chắc tới Tết Congo)… thì vợ tui ai nuôi, con tui ai lo, tiền nhà tui ai trả?
Thử hỏi chê tui rậm rề thì mấy cái chữ tiếng Mỹ nầy quý ông, quý bà có xài không vậy?

Như đi ăn buffet, ăn hamburger, hot dog, pizza! Rồi OK, Cheers, Website, Cell, Ticket, IPhone, IPad, Computer… xe SUV, xe RV, xe Van…

Kêu tui nói bằng tiếng Việt thì nó ra làm sao hả? Chỉ cho tui nói với nhe bồ!

Chẳng qua, tiện là xài, tiếng Anh, tiếng Việt gì cũng được tất! Hoặc pha với nhau cũng được vì tui là một con người tha hương, đành đa văn hóa một phần mà phần khác tui học theo ông bà mình hồi xưa đấy thôi!

Có cái chuyện như vầy: Có anh bồi kia muốn báo động với ông chủ Pháp có một con cọp ngoài vườn, nhưng anh ta không biết con cọp tiếng Pháp là gì!

Không đi đường thẳng được, thì đi đường vòng, cốt cho ông chủ hiểu cái nguy hiểm cận kề, để hai người vọt cho lẹ!

“Lui non buffle, lui pas boeuf, lui “tí ti” jaune, lui “tí ti” noir, lui “gầm” lui “gừ”, lui beaucoup méchant, lui mangé monsieur, lui mangé moi!”

“Lúy nông buýp, lúy pa bớp, lúy tí ti dôn, lúy tí ti noa, lúy gầm lúy gừ, lúy bố-cu mê-xăng, luý măng giê mông-xừ, lúy măng giê cả moa!”

(Chẳng phải trâu chẳng phải bò, nó một tí vàng, nó một tí đen, nó gầm nó gừ, nó dữ lắm, nó xực ông, nó xực cả tui luôn).

Do đó, tui rất hoan nghinh bà con mình ở bên Mỹ, bên Canada, bên Úc nầy đây nên nói tiếng Anh khi có dịp. Dù nói chỉ để khoe, để nổ thôi… cũng được mà!

Vì một con người có đầu óc rộng mở, luôn luôn muốn du nhập cái mới! (Chớ không cực đoan thủ cựu, cứ bám riết vào cái cũ, không thèm học thêm cái mới vì sợ thiên hạ chê là nhà quê, dốt hay nói chữ) là tiến bộ rồi hè!

“Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” mà!

Vậy là không cần chờ đến giỏi tiếng Anh mới nói, cứ bửa tới, bửa tưới hột sen đi bà con!

Ngay cả lúc cự nự em yêu, tui chơi tiếng Anh ba rọi không hè. Vì em không hiểu, nên tui an toàn trên xa lộ, còn xả được cơn tức… giận trong tình nghĩa vợ với chồng.

Nhưng đau đớn thay những ngày hoa mộng đó qua mau; khi đám cháu nội của tui lớn lên đi nhà trẻ, mẫu giáo rồi vào lớp “prep”.

Về nhà tụi nó líu lo tiếng Anh và con vợ tui chạy lăng xăng chạy xuống bếp lo cho tụi nhóc từng miếng ăn, thức uống…

Mới đầu thì tụi nó ra dấu, đút ngón tay trỏ vô mồm… là đòi bú tí sữa….Riết rồi em yêu học và hiểu tiếng Anh cũng kha khá!

Vậy mà tui cứ ngây thơ không biết. Cứ theo cái mửng cũ, xài xể em bằng tiếng Anh ba rọi của tui như “you sì -tu- pịt” chẳng hạn!

Ai ngờ em trừng trừng nhìn tui với đôi mắt hình viên đạn. “What? How dare you?”

“Chết Tía tui rồi bà con ơi!” Vậy mà tui cứ tưởng em yêu ù ù cạc cạc như hồi xưa chớ!

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Bài 19 – Tái Lập Phòng Mổ Dã Chiến

Chúng tôi vừa đi vừa suy nghĩ chẳng mấy chốc đã tới chân đồi bệnh viện. Bắt đầu từ đây là đường lên dốc. Vì lâu ngày chúng tôi không có đi bộ nhiều, chỉ quanh quẩn ở mấy góc phòng nên các bắp thịt trở thành yếu đuối. Lên tới dốc chúng tôi đã “mỏi gối chồn chân” và cũng hụt hơi luôn. Vừa mới ló mặt vào qua cổng bệnh viện đã thấy Binh nhất Thiện reo lên:

– A, Bác sĩ Quý đây rồi, tụi em đi tìm bác sĩ mãi không thấy. Có ông Thiếu tá ở bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đang kiếm bác sĩ đó.

Tôi nghĩ thầm chắc là Thiếu tá Diệm chứ không phải ai khác. Tôi vừa rẽ vào cuối trại Nội Khoa đã thấy chiếc xe Jeep của ông Diệm đậu ở trước cửa văn phòng Ty Y Tế Ông Diệm đang đứng nói chuyện với bác sĩ Phúc. Thấy tôi ông ngoắc lại:

– Đợi ông mãi, ông đi đâu vậy?

– Chào ông. Tôi xuống khu chợ mới xem xét tình hình một chút.

Thiếu tá Diệm nhăn mặt:

– Sao ông liều vậy, không sợ Việt Cộng nó bắn sẻ sao?

– Tôi cũng có đề phòng chứ, nhưng thấy lính đi lềnh khênh dưới đó, chắc an ninh nên tôi mới dám mạo hiểm xuống chứ.

– Tôi mới nói chuyện với bác sĩ Phúc xong. Đại tá Nhựt hỏi bệnh viện có còn khả năng tiếp nhận thương binh hoặc mổ xẻ gì được không?

Tôi đưa tay chỉ phòng mổ và các trại bị pháo sập rồi nói:

– Ông thấy đấy, bệnh viện không có điện nước, hai Phòng Mổ đều bị hư hại nặng. Chúng tôi bị bó tay không làm gì được cả.

Bác sĩ Phúc tiếp lời:

– Tụi tôi còn được một ít y cụ bông băng thuốc men, nên chỉ có thể băng bó vết thương thôi, không thể mổ lớn được.

– Nếu vậy thì không xong rồi. Nếu có những trường hợp nặng cần mổ gấp thì làm sao. Chả nhẽ lại để cho thương binh chết dần mòn vì không thể tản thương, làm sao giữ được tinh thần binh sĩ. Đại tá Nhựt cho tôi biết là nếu bệnh viện không còn hoạt động được, bác sĩ Quý sẽ tổ chức một Phòng Mổ Dã Chiến ở ngay tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Tôi ngắt lời Thiếu tá Diệm:

– Ý kiến đó hay lắm. Tôi sẽ thành lập ngay một toán giải phẫu cấp cứu. Bảo đảm với ông chỉ trong hai ngày thôi là chúng tôi có thể bắt tay vào việc tiếp tục mổ xẻ được. Nhưng có chỗ để cho chúng tôi làm việc không đã?

Thiếu tá Diệm cười tin tưởng:

– Ông khỏi lo. Tôi đã nói với ông Nhựt dành cho Bệnh Viện Tiểu Khu nguyên một dãy hầm, có đầy đủ tiện nghi để làm việc. Có điện đàng hoàng. Hầm ngầm ở dưới đất an toàn lắm. Ông cứ yên chí làm việc chẳng sợ pháo đâu.

Nghe vậy tôi rất lấy làm phấn khởi. Đã trót mang danh y sĩ mà cứ phải bó tay chẳng làm gì được để cứu những đồng đội của mình tôi cảm thấy rất khó chịu, rất tội lỗi. Tôi không còn mong muốn gì hơn. Tôi quay sang bác sĩ Phúc bàn:

– Toán cấp cứu giải phẫu tôi đã có sẵn rồi. Chỉ cần ra lệnh là có thể di chuyển ngay được. Tôi và các nhân viên sẽ qua bên đó trước, thu xếp mọi việc xong sẽ báo tin để anh qua tiếp tay với tôi.

Quay qua ông Diệm tôi hỏi:

– Bao giờ tôi có thể dọn dọn sang đó được?

– Càng sớm càng tốt, ngay bây giờ nếu ông muốn.

– Vậy thì nhờ ông làm ơn chờ tôi một chút. Tôi sẽ cắt đặt nhân viên mang theo một số dụng cụ cần thiết để mổ, phải dùng một xe Hồng Thập Tự chở đồ còn tôi quá giang theo xe ông.

Tôi để ông Thiếu tá Diệm nói chuyện với bác sĩ Phúc. Tôi đi kiếm Thượng sĩ Lỹ và ra lệnh cho ông ta đi kêu toán giải phẫu cấp cứu của tôi tới. Lát sau mọi người đều có mặt đầy đủ ở trong Phòng Hậu Giải phẫu. Tôi nhìn ra thấy có hai chuyên viên tê mê là Trung sĩ Xòm, Binh nhất Thiện, một chuyên viên Phòng Thí Nghiệm, Trung sĩ Tăng để có người phân loại máu trong trường hợp cần truyền máu cho thương binh. Tôi kêu cô Bích, chuyên viên phụ tá mổ cao tay nghề nhất, để giúp tôi. Thượng sĩ Lỹ chuyên viên dụng cụ lo bao quát điều hành mọi việc.

Như vậy kể cả tôi tất cả là 6 người. Tôi ra lệnh cho mọi người ai lo việc nấy đi thu thập tất cả các dụng cụ phòng mổ, thuốc, bông băng chất lên xe Hồng Thập Tự. Tôi không quên mang theo máy gây mê, và một bàn khám bệnh bằng thép không rỉ để làm bàn mổ vì bàn mổ quá nặng không thể di chuyển được, nhất là lại phải mang xuống hầm, rất khó khăn.

Sắp xếp xong, tôi về hầm bác sĩ Phúc và đem theo những vật dụng cần thiết của tôi, rồi từ giã bác sĩ Phúc. Chúng tôi lên đường sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Phải mất hai chuyến xe nữa chúng tôi mới đem được khá đầy đủ những dụng cụ cần thiết qua hẳn chỗ mới. Nghĩa là phải tới ngày hôm sau mọi sự mới được coi như xong.

Cảm tưởng đầu tiên của tôi, khi chiếc xe Jeep của ông Diệm chở tôi vượt qua vọng gác Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để tiến vào trong trại là một cảm giác ngỡ ngàng, một bất ngờ khi tôi nhìn cái căn cứ B15 của Biệt Kích Mỹ, nay biến thành Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Những dãy nhà tiền chế san sát của một trại binh rộng lớn quy mô mà mấy tháng trước đây, tôi có dịp vào thăm cùng với bác sĩ Risch, nay hoàn toàn biến dạng. Trước mắt tôi chỉ còn một vòng rào kẽm gai bị cháy đen. Gần như mọi kiến trúc trên mặt đất đều bị đốn sụm. Chỉ còn lại một tháp gác cũng cháy đen, đứng xiêu vẹo ở một góc sân, và những mái tôn thấp sát mặt đất của những dãy hầm ngầm nằm song song với nhau.

Xế trước mặt tiền trại, ngay vòng rào kẽm gai, hai xe tăng bị bắn cháy đen thui. Đằng sau Bộ Chỉ Huy cũng có một xe tăng bị bắn nằm hơi nghiêng, giơ ngọn pháo hổng lên trời. Phía xa hơn nữa gần rừng cao su, ba chiếc xe tăng nằm ngổn ngang cùng một xác trực thăng ở gần đó.

Thì ra trận chiến ở mặt này khá ác liệt, không như mặt trận phía Bắc gần bệnh viện. Ông Diệm đậu xe trước cửa một hầm rộng chừng hai thước có bậc thang xây bằng xi măng đi thẳng xuống sâu chừng ba thước. Thiếu tá Diệm nói:

– Đây, hầm của ông đây. Hầm này dài chừng 25 thước, dành riêng cho bệnh viện Tiểu Khu. Toàn quyền ông sử dụng. Ông cho nhân viên khênh đồ xuống đi. Để tôi dẫn ông xuống coi chỗ ở mới của ông, chắc chắn ông sẽ hài lòng. Có ông ở đây chúng mình còn chạy qua chạy lại với nhau được. Ông ở bên bệnh viện chẳng có hầm hố gì cả làm tôi lo quá.

Tôi hiểu ý ông Diệm muốn nói gì. Nếu lỡ có phải di tản chiến thuật vì địch quân đánh dữ quá, ông cũng có thể kịp thời báo tin cho tôi biết, không nỡ bỏ rơi tôi. Tôi nói:

– Cảm ơn ông lắm, hầm này kiên cố quá, không biết pháo trúng có sao không?

Ông Diệm chỉ cho tôi chỗ nóc hầm bị pháo. Mái tồn thủng một lỗ nhưng hầm chẳng hề hấn gì:

– Ông thấy không, như gãi ghẻ thôi.

Hầm này có hai lối đi xuống rất rộng, khiêng băng-ca người bị thương lên xuống rất dễ dàng. Hầm có ngăn ra từng phòng. Tất cả có sáu phòng. Mỗi phòng rộng chừng 3 thước dài 4 thước. Có một hành lang rộng chừng thước 2 thông suốt dẫn tới hai cửa hầm. Trong hầm tôi thấy đã có những thương binh nằm dài dọc theo hành lang. Quần áo họ lấm be bét đất cát. Tất cả chừng hơn một chục người. Đa số bị thương ở chân tay. Một vài người ở đầu, chắc cũng nhẹ thôi. Trong hầm, hơi người cũng khá nặng nhưng còn dễ thở hơn sống với mấy trăm xác chết ở bên bệnh viện cũ. Điều quan trọng có hầm an toàn để làm việc. Sau này chúng tôi sẽ làm vệ sinh rồi di tản thương binh đi, hầm lại sạch sẽ thơm tho ngay.

Ông Diệm nói:

– Tôi đề nghị phòng đầu tiên để làm Phòng Mổ. Phòng thứ nhì sẽ là của ông ở đồng thời cũng để những dụng cụ y khoa. Phòng thứ ba và thứ tư dành cho thương binh. Phòng cuối cho y tá.

Tôi gật đầu nói:

– Tôi đồng ý với ông, như vậy rất tiện. Nếu có nhiều thương binh, tôi sẽ cho nằm ở dọc hành lang. Ngoài ra ông còn chỗ nào chứa thêm được không?

– Nếu cần cũng có thể được. Nhưng ông yên trí đi, chỉ có những thương binh nặng mới được mang vào cho ông mổ, còn những trường hợp nhẹ có các bác sĩ của đơn vị họ lo rồi nên cũng không nhiều lắm đâu. Thôi ông đi với tôi lên chào ông Nhựt để báo là ông đã tới đây.

Tôi theo Thiếu tá Diệm đi về phía hầm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Hầm này hình vuông, rộng hơn hầm chỗ tôi và kiên cố hơn nhiều.

Tôi gặp Đại tá Nhựt ngay tại nơi phòng họp chính giữa hầm. Chỗ ông ở là một phòng nhỏ gần đấy được che bằng một vách ngăn. Ông vui vẻ hỏi thăm sức khỏe các anh em bên Bệnh Viện Tiểu Khu. Tôi báo cáo sơ qua tình hình và tổn thất của nhân viên bệnh viện. Chết mất sáu, bị thương 36 nhưng không nặng lắm. Tôi cũng nói qua về việc phối hợp làm việc với anh em Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Đồng thời cũng báo cáo đã thành lập đoàn giải phẫu cấp cứu và Phòng Mổ Dã Chiến tại căn hầm đã được chỉ định. Đại tá Nhựt ngồi chăm chú nghe xong ông nói:

– Sau khi bác sĩ ổn định xong Phòng Mổ rồi, nếu có rảnh bác sĩ làm một chuyến xuống làng phía sau trại mình xem dân chúng có cần giúp đỡ săn sóc gì không. Tôi được báo cáo là dân tản cư về đó đông lắm. Nếu không phòng ngừa trước thì sẽ xảy ra bệnh dịch đó.

Tôi gật đầu đồng ý, tiếp lời Đại tá Nhựt:

– Chúng tôi đã nghĩ tới vấn đề này, và ngay từ ngày đầu khi dân tụ về đã có cho chích ngừa dịch tả rồi. Nếu có thể xin Đại tá gửi một công điện về Bộ Chỉ Huy Tiếp Cận Vùng III yêu cầu họ gửi lên chừng 10 ngàn liều thuốc chủng ngừa dịch tả nữa. Chúng tôi sẽ xuống làng chích cho dân.

Tôi nhấn mạnh thêm:

– Có tiếng nói của Đại tá thì mọi sự sẽ nhanh hơn.

– Cái đó dễ mà, bác sĩ khỏi lo, để tôi bảo họ gửi lên cho bác sĩ. Bác sĩ cần gì cứ cho tôi biết.

Vừa lúc đó một sĩ quan Dù đi vào, dáng cao lớn cỡ ông Tỉnh Trưởng. Đại tá Nhựt chỉ tôi giới thiệu:

– Đây là bác sĩ Quý, bác sĩ giải phẫu của bệnh viện Tiểu Khu của moa.

Rồi ông quay sang tôi nói tiếp:

– Đây là Đại tá Lưỡng, Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù lên đây cứu mình.

Tôi đưa tay lên chào với một lòng biết ơn vị Đại tá Dù đã đem quân lên cứu tụi tôi. Ông chuyển điếu xì gà sang tay trái rồi đưa tay ra bắt tay tôi, miệng hơi mỉm cười. Tôi nói:

– Tôi mong quân Dù lên đây từng ngày để giải cứu tụi tôi. Cảm ơn Đại tá đã tới và hân hạnh được biết Đại tá.

Đại tá Nhựt nói:

– Bác sĩ Quý là bác sĩ của moa từ hồi còn ở Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Sau khi học xong khóa Giải phẫu Binh Đoàn, thấy moa ở đây bác sĩ Quý lại lên đây làm việc với moa.

Rồi Đại tá Nhựt cười cười nói với tôi:

– Này bác sĩ muốn lấy vợ thì phải lo o bế Đại tá Lưỡng đi, ông ấy có cô con gái đẹp như Thẩm Thúy Hằng ấy.

Xong ông quay đầu về phía Đại tá Lưỡng nói tiếp:

– Bác sĩ Quý này tuổi trẻ tài cao vẫn còn độc thân, đang kén vợ đấy. Lê Lai của tôi đấy.

Nói rồi ông cười khà khà có vẻ khoái chí lắm.

Đại tá Nhựt thực sự vui tính, giữa lúc dầu sôi lửa bỏng mà ông vẫn tỉnh bơ nói chuyện tếu được. Tôi biết Đại tá Nhựt nói chơi cho vui, để không khí đỡ tẻ nhạt khi hai người không quen biết được giới thiệu với nhau. Tôi vẫn thầm phục ông sếp lớn của tôi có biệt tài giao tiếp với bất cứ hạng người nào, từ người sang đến kẻ hèn, cỡ nào ông cũng tỏ ra thích nghi với mọi trường hợp. Tuy vậy tôi vẫn thấy hơi ngượng khi bị đưa vào chuyện mai mối vợ con. Giữa lúc tôi đang bối rối thì may quá, anh Đức, em vợ Đại tá Nhựt nghe tiếng tôi vội chạy ra thăm hỏi. Thành ra tôi thoát nạn. Tôi xin phép hai vị Đại tá ra khuất một góc phòng có kê cái giường của Đức để nói chuyện .

Tôi biết Đức từ khi còn ở Trung Đoàn 43. Chúng tôi hay nhậu nhẹt với nhau và cùng với ban văn nghệ của Trung Đoàn. Có cả nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, một tài danh về đàn guitar classic. Thực ra Đức là đầu tàu, lôi kéo mọi người vào cuộc nhậu. Chúng tôi đa số là những người trẻ xa nhà. Đêm tối rảnh rỗi, được ngồi lại với nhau nhậu nhẹt cũng đỡ buồn. Lại thêm nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, những lúc cao hứng lấy guitar biểu diễn vài tuyệt chiêu thì cũng thấm lắm. Tôi có hỏi Phương về cách học, thấy rất công phu. Ngoài việc năng khiếu ra, còn phải tập luyện 8 tới 10 tiếng mỗi ngày.

Đức là cây nhậu nhà nghề. Nghĩa là không cần mồi, chỉ một ít muối tiêu, xả ớt là cũng đủ chơi suốt đêm. Còn tôi nhậu là phải có mồi. Hạng bét cũng phải có xoài tượng, khô mực, tôm khô, củ kiệu, nếu có vịt quay, gà quay hoặc lòng heo là nhất. Trong nhóm, chuyên viên phá mồi là tôi. Đức có thể uống cả két bia như không. Tôi chỉ giới hạn tối đa là sáu lon Budweiser hoặc sáu chai 33 thôi. Nhậu xong rồi đi ngủ, tuy vậy cũng phải tới 2 hay 3 giờ sáng là thường.

Đức mang cho tôi một ly nhỏ nước đá lạnh, nói:

– Mời bác sĩ uống nước. Bác sĩ thấy không, đánh giặc mà vẫn có nước đá uống như thường.

Quả thật tôi hơi ngạc nhiên sao bây giờ mà vẫn có nước đá uống. Tôi uống một hơi sạch bay ly nước. Đã lâu tôi chỉ uống nước trà nguội bây giờ được uống một ly nước đá lạnh, tôi thấy thật tuyệt vời. Chưa bao giờ trong đời tôi lại được uống một ly nước ngon như thế. Nó ngọt ngào thấm dần vào từng thớ thịt của tôi. Một cảm giác khoan khoái, tươi mát nhẹ nhàng thoải mái theo từng dòng nước lạnh vào trong bao tử tôi. Thực giống như ruộng khô gặp mưa rào. Nếu nước Cam Lồ của Phật Bà Quan Âm có ngọt ngào như trong sách tả thì cũng chỉ đến thế là cùng. Tôi thực không nói ngoa, chỉ một ly nước đá lạnh cũng đủ cho tôi cái cảm giác khoan khoái như vậy.

Cảm giác của con người, vui sướng, khổ sở đúng là tương đối thôi. Miếng ăn có ngon cách mấy nếu được ăn uống phủ phê mãi rồi cũng hóa nhàm chán. Còn khi đói khát thì chỉ một món ăn thức uống tầm thường cũng trở thành hơn cả cao lương mỹ vị.

Trình diện Đại tá Tỉnh Trưởng xong, tôi xin phép rút lui để lo sắp xếp đồ đạc. Trước khi rời hầm Chỉ Huy, anh bạn Đức đưa cho tôi ăn thử một miếng bào ngư nhỏ bằng đầu đũa, nhưng tôi lắc đầu từ chối không ăn.

Về tới hầm của tôi, thấy khoan khoái rồi. Các nhân viên đã khênh hết đồ xuống để tại phòng thứ nhất. Tôi bước vào phòng thứ nhì là phòng tôi sẽ ở. Trong phòng tôi đã thấy có sẵn hai cái giường gỗ ép kiểu divan kê dọc hai bên vách ngăn, giữa là một lối đi nhỏ chừng 30 phân. Chắc là của binh lính Mỹ để lại. Như vậy cũng tiện.

Toán Giải Phẫu Cấp Cứu của tôi đã phải làm việc suốt ngày hôm đó, khuân vác di chuyển các y cụ cần thiết tới chiều mới xong. Tổng cộng phải cần tới ba chuyến xe Hồng Thập Tự mới tạm di chuyển đủ số y cụ tôi cần dùng.

Đồ đạc tạm thời để ở mấy phòng chưa có thương binh. Chúng tôi dự trù sẽ dành ngày hôm sau để lắp ráp máy thuốc mê, máy hút, đèn mổ, rồi dở đồ đạc, phân chia từng khu từng món để dễ tìm. Dĩ nhiên chúng tôi không có máy hấp khử trùng. Các dụng cụ y khoa sẽ được rửa sạch bằng xà bông “Surgical soap” rồi đổ alcool vào đốt cháy là xong. Khử trùng dã chiến như vậy, tôi thấy không đúng quy cách nhưng chúng tôi không có phương tiện làm hơn được nữa.

Khoảng 5 giờ chiều ngày hôm sau, trong khi chúng tôi đang cố gắng sắp xếp đồ đạc, có người mang mảnh giấy viết tin từ Bác sĩ Tích hỏi xem chúng tôi đã sẵn sàng để mổ chưa. Một y tá thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y bị thương ở bụng ngày hôm qua. Tưởng là sơ sài thôi nhưng nay thấy bụng cứng rồi, muốn xin chuyển qua cho tôi mổ. Tôi chỉ cho người đưa tin thấy tình trạng bề bộn của chúng tôi chưa sửa soạn xong, không thể nào mổ được. Tôi nhờ anh ta về nhắn lại với Bác sĩ Tích rằng cách hay nhất là xin trực thăng tản thương. Với tình trạng thiếu thốn, chưa dự bị như hiện nay mà mổ một vết thương bụng đã có biến chứng viêm phúc mạc rồi thì thường thường số tử vong rất cao. Sư đoàn có nhiều uy quyền và phương tiện xin tản thương dễ dàng hơn Bệnh Viện Tiểu Khu nhiều.

Suốt ngày hôm sau chúng tôi ra sức thu dọn, sắp xếp các dụng cụ thật nhanh vậy mà tới 3 giờ chiều mới tạm xong. Tôi dự trù ngày mai nếu có bệnh, tôi có thể khai trương Phòng Mổ Dã Chiến này được. Lợi dụng thời giờ rảnh rỗi, tôi kêu cô y tá tới để kiểm điểm mình cần những gì, đúc kết làm thành một phiếu xin tiếp tế để nhờ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu gửi về Liên đoàn 73 Quân Y. Gửi gấp lên, dĩ nhiên là bằng cách thả dù.

Vì bệnh viện đã chính thức dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu tuy rằng đã bị thu gọn lại, nên có lệnh là tất cả các y cụ thuốc men thả xuống, ai nhận được đều phải đưa về bệnh viện hết. Tuy nhiên chỉ trừ máu là được trao lại 100 % còn các thuốc men y cụ bông băng chỉ đến tay chúng tôi được 30% là cùng. Bởi vì các đơn vị ở ngoài cũng cần phải có tiếp tế mới săn sóc sơ khởi cho thương binh được. Điều đó cũng tốt thôi. Tôi không có điều gì phàn nàn cả. Máu thì phải dùng ngay vì không có tủ lạnh chứa. Tất cả đều là máu loại O cả. Nếu kỹ thì bảo Trung sĩ Tăng bên Phòng Thí Nghiệm phân loại máu. Nếu cần gấp, tôi cứ việc truyền cho thương binh, không sao cả.

Đến 6 giờ chiều, mọi sự xong xuôi hết. Mọi người ai về chỗ nấy lo ăn uống nghỉ ngơi. Tôi lấy bao cơm sấy đổ nước lạnh vào. Chờ cho cơm khô ngâm nước mềm rồi mới ăn được, cũng phải đợi đến gần một tiếng. Nếu có nước nóng thì nhanh hơn. Nhìn qua khe thông hơi gần nắp hầm ngang với mặt đất ở phía trên, tôi thấy bên ngoài đã bắt đầu hết ánh nắng mặt trời.

Hoàng hôn đã hết và đêm tối sẽ dần tới. Máy phát điện của Bộ Chỉ Huy đã chạy. Trong phòng tối mờ mờ nhờ có chút ánh sáng hắt vào từ kẽ thông hơi phía gần nóc hầm. Có một ngọn đèn điện ở giữa phòng với cái bóng đèn đặc biệt của Mỹ để lại có xoáy trôn ốc. Không như bóng đèn thông thường của Việt Nam có hai chấu để dễ gắn vào chốt điện. Tôi lười biếng ngồi dựa lưng vào vách tường, nhìn qua kẽ hở cửa sổ thông hơi chưa chịu bật đèn lên. Tay cầm cái muỗng nhỏ múc từng muỗng cơm sấy lên ăn từ từ với thịt chà bông. Thỉnh thoảng lại uống một nắp bi-đông nước trà cho dễ nuốt.

Tôi không đói lắm, chỉ hơi mệt thôi. Nhưng dù sao đến bữa cũng phải ăn nếu không sẽ bị mệt dễ xỉu lắm. Rút cuộc tôi cũng chỉ ăn được nửa bát cơm sấy đã thấy no rồi. Tôi gói lại, cất bịch cơm còn dư lên một cái kệ trên tường để dành ngày mai ăn sáng. Tôi đang nằm trên giường nghỉ ngơi thì có tiếng gõ cửa, rồi giọng cô Bích hỏi:

– Bác sĩ có ở đây không, sao không có đèn đuốc gì cả vậy.

– Cô Bích đó hả? Mời cô vào, phiền cô bật đèn giùm tôi. Công tắc ở ngay bên cửa ấy.

Cô Bích đưa tay tìm chỗ bật điện. Dường như không quen, cô tìm một hồi vẫn chưa thấy. Tôi vội lấy cây đèn pin chiếu vào chỗ công tắc điện. Cô bật lên, một ánh điện yếu đuối vàng vọt tỏa ra khắp phòng. Tôi ngồi dậy tựa lưng vào túi quần áo ở đầu giường. Cô Bích ngồi xuống một chiếc ghế mây chắc của lính Mỹ bỏ lại, cũng khá tốt. Cô hỏi tôi:

– Bác sĩ ăn cơm chưa?

– Tôi mới ăn xong, còn cô thì sao?

– Tôi cũng ăn xong rồi, cơm nóng đàng hoàng, ăn với xúc xích nướng, ngon lắm.

Nói xong cô cười một cách khoái trá vì thấy tôi cứ thộn mặt ra ngạc nhiên.

Tôi nói:

-Vậy là cô chơi trội hơn tôi rồi. Trong khi tôi phải ăn cơm gạo sấy với nước lạnh thì cô lại được ăn cơm tươi. Cô làm cách nào mà hay vậy?

Thấy tôi thán phục, cô Bích thích chí cười khanh khách, chưa chịu nói ngay.

Tôi chợt nghĩ ra, vội hỏi chặn họng trước:

– Cô nấu bằng lon gô chứ gì? Đúng không?

Cô Bích vẫn ỡm ờ đáp:

– Đúng một nửa thôi.

Tôi nghiêm giọng nói:

– Này, cô cẩn thận đấy không được nấu ở dưới hầm này đâu, lỡ cháy thì chết cả đám đấy, vả lại ông Tỉnh Trưởng mà biết được thì cũng rắc rối lắm, cô biết không?

Cô Bích vẫn đủng đỉnh cười cười đáp:

– Thưa quan đốc nhà cháu biết rồi.

Cô vừa nói vừa kéo dài cái miệng ra cho có vẻ khôi hài, lại như có vẻ trêu tức tôi vì tôi không biết cái mà cô biết. Một lúc sau cô mới chịu tiết lộ:

– Đúng là nấu bằng lon gô, nhưng không phải trong hầm này mà ở nhà bếp Tiểu Khu. Muốn ăn phải lăn vào bếp. Sau khi họp xong, tôi lên trên hầm thấy chỗ nào có khói là tới. Ngoại giao với họ là có quyền ghé lon gô vào nấu. Chỉ 20 phút là xong, có cơm tươi ăn ngon lành.

Cô Bích vừa dứt lời tôi vội khen cô:

– Hay lắm, cô cũng khá lắm chứ chẳng phải chơi đâu.

Tôi chuyển sang đề tài khác, tiếp tục hỏi cô:

– Dọn sang đây cô thấy làm sao?

– Tôi thấy an toàn hơn ở bên bệnh viện nhiều. Cảm ơn bác sĩ đã cho tôi đi theo.

Tôi mỉm cười nửa đùa nửa thật:

– Cô cảm ơn tôi là đúng. Cô nên nhớ mạng tôi lớn lắm, ai theo tôi sẽ được an toàn. Cô không nhớ bao nhiêu lần tôi chết hụt sao, cứ bỏ chỗ nào là chỗ đó bị ăn pháo ngay.

Tôi liếc nhìn cô. Tôi thấy cô hơi bĩu môi một chút vì lời nói tự cao tự đại của tôi nhưng chỉ một thoáng rất nhanh nét mặt cô đã trở lại bình thường. Có lẽ vì cô Bích thấy tôi nói cũng đúng phần nào. Nhất là hiện tại trước mắt, tuy rồi sau này chưa biết ra sao, nếu tôi không kéo cô đi theo làm sao cô được ở trong một cái hầm kiên cố như thế này. Hơn ở bên bệnh viện rất nhiều. Vừa an toàn pháo, vừa an toàn đủ mọi thứ. Bởi vậy cô cám ơn tôi là đúng.

Cô ngồi trầm ngâm, một lúc sau cô ngẩng đầu lên hỏi tôi:

-Tôi muốn về Sài Gòn. Ở đây bom đạn tôi sợ quá. Bác sĩ có cách nào cho tôi về không?

– Dễ lắm, cô cứ ở đây chờ. Vì cô là nhân viên dân sự, cô muốn rời khỏi đây lúc nào cũng được. Không ai ngăn cấm cô. Khi nào có chuyến tản thương, cô đi theo săn sóc thương binh lên máy bay là sẽ thoát khỏi địa ngục này ngay. Mặc dù cô thuộc toán giải phẫu của tôi và tôi cần cô nhưng nếu cô đi được trước thì cứ đi. Anh Sáu và ông Lỹ có thể thay cô được. Vậy cứ kiên nhẫn chờ.

Tôi lại nửa đùa nửa thật nói tiếp:

– Này cô có thuộc bài hát nào, cứ việc hát cho tôi nghe đi để tôi dễ ngủ.

Lại thêm một sự ngạc nhiên nữa là nghe tôi nói vậy, cô liền hát ngay chẳng chút khách sáo ngượng ngùng gì cả. Cô hát liên tiếp gần một chục bài, dĩ nhiên là hát nho nhỏ trong miệng đủ để cho chúng tôi nghe thôi. Giọng hát của cô không có gì hay lắm, hát chỉ để làm đỡ căng thẳng tinh thần thôi. Và cũng chẳng cần trình diễn cho ai cả, kiểu hát hay không bằng hay hát như Phạm Duy đang hô hào cho phong trào du ca đang thịnh hành lúc bấy giờ.

Tôi cũng thuộc lõm bõm năm bẩy bài nên hát theo cô. Tôi không có tài ca hát. Trời sanh ra giọng của tôi không được mạnh, lên cao không được mà xuống thấp cũng không xong. Vậy mà hồi nhỏ lúc 12 tuổi trước khi di cư vào Nam năm 54, trong một đoàn Thiếu Nhi thi hát tôi lại được nhất, thế mới lạ.

Mới đầu tôi cũng hát theo, sau tôi mệt mỏi, giấc ngủ từ từ tới. Thấy tôi im tiếng, cô đoán tôi đã ngủ rồi liền rón rén về phòng cô, không quên tắt đèn để tôi ngủ khỏi chói mắt.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Bài 18 – Những Nét Buồn

Chúng tôi ra khỏi cổng bệnh viện. Từ từ theo con dốc để đi xuống khu chợ mới. Ngay dưới chân đồi bệnh viện, trước khi tới công viên Tao Phùng, ở dưới góc tay phải là nhà của anh Đức, em vợ Đại tá Tỉnh Trưởng, đã bị bỏ bom lầm nên nhà hoàn toàn bị sập. Nhà này chỉ cách bệnh viện chừng 150 thước thôi.

Trước khi đi, tôi không quên mang theo cái máy hình để nếu có gì thì chụp làm kỷ niệm. Tôi thấy một chiến xa địch bị bắn cháy nằm ngay giữa ngã tư nối liền chợ cũ với chợ mới. Tôi cẩn thận tiến lại gần chụp lại hai tấm hình xong chúng tôi rẽ xuống khu chợ mới. Tôi gặp Thiếu tá Cang chỉ huy đơn vị Pháo Binh đóng ngay công viên Tao Phùng. Tôi liền tạt vào thăm. Tôi với anh Cang là chỗ quen biết. Tôi biết anh từ khi còn là Đại úy Pháo Binh, đi hành quân chung với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 43, đóng tại đồi Kiệm Tân ở Dốc Mơ, Gia Kiệm yểm trợ cho Công Binh Mỹ làm Quốc lộ 20.

Gặp nhau chúng tôi đều mừng rỡ vì thấy mình vẫn còn khỏe mạnh. Thiếu tá Cang vẫn vui vẻ chịu chơi như ngày nào. Anh xem mọi nguy hiểm như trò đùa, chẳng có gì đáng quan tâm cả. Anh mời chúng tôi ngồi nhưng bác sĩ Chí chừng như nóng lòng về căn nhà của mình nên xin phép đi tới đó trước, chỉ cách nhà này có chừng ba căn thôi.

Tôi ngồi xuống chiếc divan. Anh Cang giới thiệu tôi với người chủ nhà. Cũng chẳng phải ai xa lạ vì là dân trong tỉnh nên anh ta đã biết tôi. Tôi không nhớ đã gặp anh ta ở đâu. Anh Cang mở đầu:

– Trông thấy bác sĩ còn mạnh khỏe là tụi tôi mừng lắm. Tôi nghe mấy thằng đàn em về nói là bác sĩ bận lắm phải không?

Tôi gật đầu đáp:

– Đúng, mấy tuần trước thì có. Nhưng nay tương đối được rảnh rang nên mới có dịp đến thăm ông đây.

Tôi nói thêm:

– Hiện nay bệnh viện gần như bị tê liệt hoàn toàn. Tôi không còn mổ xẻ được gì nữa. Ngay tiểu giải phẫu cũng không đủ phương tiện làm. Chỉ có thể làm first aid thôi. Cũng may tình hình đã bớt căng thẳng, nếu không thì kẹt lắm.

Anh Cang tiếp lời tôi:

– Tụi này cũng vậy. Mấy khẩu pháo của tôi cũng banh càng rồi, chỉ còn lại hai khẩu 105 ly còn xài được. Thôi, đến đâu hay đến đó. Tụi nó cũng vậy thôi. Chắc là ê càng hơn mình nhiều, nếu không chúng nó đâu có để mình dễ thở như bây giờ, khi chúng có 3 sư đoàn vây quanh.

Trong khi chúng tôi nói chuyện, tôi thấy anh chủ nhà, chắc cũng là công chức của tỉnh, có vẻ như xốn xang, có điều gì trong lòng như muốn hỏi tôi. Tôi thấy anh ta cứ đưa mắt ra dấu cho anh Cang hoài. Anh Thiếu tá Cang nói:

– À, bác sĩ, tụi này có một việc muốn nhờ bác sĩ coi giùm và cho biết ý kiến.

Nói xong anh chỉ cho tôi cháu gái nhỏ chừng 7 tuổi đang nằm dài theo chiếc divan sát tường. Anh tiếp:

– Đây là bé Thủy con anh chủ nhà, chẳng may bị một mảnh đạn ở xương sống, liệt cả hai chân từ tuần trước. Bác sĩ xem có thể mổ cứu được cháu khỏi bị liệt không?

Tôi đưa mắt nhìn cháu gái nhỏ. Tôi đã để ý thấy từ nãy giờ, cô bé nằm không cục cựa gì hết. Cháu gái cũng đưa mắt nhìn tôi mỉm một nụ cười thật tươi, có vẻ như chào đón, có vẻ như gây cảm tình để tôi đem khả năng y khoa ra cứu cho cháu. Gương mặt cháu trắng xanh, nét mặt thanh tú, trông có vẻ thông minh. Tôi thấy tội nghiệp cháu quá. Một cô bé xinh đẹp như vậy mà không may bị thương đứt tủy sống bị liệt cả hai chân. Sau khi khám cho cháu xong, tôi nói với anh chủ nhà:

– Vết thương ngoài da của cháu đã lành rồi, hiện tại không có dấu vết gì chứng tỏ vết thương bị làm độc cả. Đó là một dấu hiệu tốt. Chắc chắn mảnh đạn đã cưa đứt tủy sống của cháu. Hai chân đã bị liệt như anh đã thấy. Hiện giờ không ai có thể làm gì được. Chờ đến khi giải tỏa rồi đem cháu về Sài Gòn vào bệnh viện Chợ Rẫy, nơi có những bác sĩ chuyên khoa về thần kinh để họ khám xem họ quyết định ra sao. Nhưng chắc chắn là khó khăn lắm.

– Chúng tôi cũng hiểu như vậy, thôi thì để bề trên định đoạt cho cháu. Cảm ơn bác sĩ.

Tôi từ giã hai người và không quên vỗ nhè nhẹ tay lên vai cháu gái và chúc cháu được nhiều may mắn. Với những buồn phiền chất nặng trong lòng, tôi bước qua nhà bác sĩ Chí. Tôi không thể quên được ánh mắt của cô bé, đã sáng lên khi biết tôi là bác sĩ. Chắc cô bé hy vọng rằng tôi sẽ chữa trị để cô có thể đi được như thường. Tôi thấy đau trong lòng. Phải mất bao nhiêu công sức, bao nhiêu thời gian mới tạo nên được một con người như thế. Chỉ trong khoảnh khắc chiến tranh đã biến một mầm non tươi trẻ thành một sinh vật sống dở chết dở. Mặc dù qua ánh mắt ấy, tôi chưa thấy một nét buồn nào cả, có thể cô bé còn quá nhỏ để buồn khi biết mình đã trở thành một phế nhân.

Chỉ có người lớn là đau thôi. Tôi đã thấy những giọt nước mắt lăn dài trên má của mẹ đứa bé, đứng bên nghe tụi tôi nói chuyện.

Tôi bước vào nhà bác sĩ Chí. Không nói thì ai cũng biết, căn nhà tan hoang, bừa bộn, đồ đạc ngổn ngang. Một dòng chữ đỏ phía trên tường, đập vào mắt tôi ngay khi tôi bước chân vào phòng khách cũng là phòng chờ đợi: “Bao năm móc đít thiên hạ nay còn đâu!”

Tôi gặp Chí từ phòng trong đi ra, mặt mũi xám lại vì buồn vì tức. Tôi biết Chí không buồn lắm vì căn nhà mới xây của mình bị hư hại. Chẳng qua cũng là tai nạn chung của cả dân trong tỉnh. Không có gì đáng phàn nàn. Nhưng dòng chữ viết trên tường quả thật là một sự nhục mạ đối với Chí. Có thể chỉ là một sự đùa bỡn, nhưng là một sự đùa bỡn vô ý thức.

Tôi thông cảm nỗi đau buồn của người bạn cùng lớp. Tôi tới nắm lấy cánh tay Chí nói:

– Đừng để ý tới những chuyện lẻ tẻ đó. Đi với tao thăm một vòng khu chợ mới xem mấy người quen còn sống sót không?

Chí gật đầu, lẳng lặng theo tôi bước ra khỏi căn nhà với dòng chữ đáng buồn ấy. Qua hai căn nhà nữa chúng tôi được sự đón tiếp nồng hậu của những người quen biết với Chí ở khu chợ mới.

Tôi nghĩ thầm có lẽ họ tiếc căn nhà của họ nên liều mình ở lại không chịu đi. Cũng có thể họ cũng chẳng biết chạy đi đâu. Tôi gặp bà chủ nhà cho tôi thuê phòng mạch mấy tuần trước. Bà ta mời hai chúng tôi vào trong nhà uống nước trà. Lâu lắm rồi chúng tôi chưa được uống những chén trà ngon như thế. Tôi để ý ở đây nước non rất đầy đủ. Một bể chứa nước đầy tràn trông mát mắt lắm. Đặc biệt là những tường ngăn của những căn nhà này đã được đục phá ra để mọi người có thể di chuyển bên trong an toàn hơn là phải đi vòng phía ngoài. Nhà nào cũng có binh sĩ ứng chiến và đều có hầm hố khá tốt. Do đó, những căn nhà này đã trở thành những công sự chiến đấu rất kiên cố.

Đa số những nhà xây bằng vật liệu nặng, hai ba tầng lầu nên hầm hố ở tầng dưới lại càng an toàn hơn. Nếu không may bị trúng hỏa tiễn vẫn có cơ hội sống sót. Còn những loại bích kích pháo 61 ly thì chẳng ăn nhằm gì. Tôi hỏi bà chủ nhà:

– Sao nhà bà có đầy đủ nước thế?

Bà chủ nhà vui vẻ trả lời:

– Đó là nước giếng nhà tôi. Nhà chúng tôi ở dưới chân đồi nên giếng đào lúc nào cũng đầy nước. Tôi lại có máy phát điện riêng chạy xăng nên bơm nước từ giếng lên hồ chứa dễ dàng. Tụi tôi chẳng bao giờ phải lo thiếu nước cả.

– À, thì ra thế. Chẳng bù cho tụi tôi ở trong bệnh viện khổ sở vì thiếu nước. May hôm qua trời mưa, nếu không thì đã gần tháng tụi tôi không có nước tắm giặt.

– Bác sĩ khỏi lo, lúc nào muốn tắm thì cứ việc xuống đây, tha hồ tắm giặt.

Tôi cảm ơn bà chủ nhà đã có nhã ý ấy, nhìn bác sĩ Chí nói:

– Có lý quá Chí ạ. Mình chỉ cần cuốc bộ một chút xuống đây là mát mẻ sạch sẽ ngay.

Chí vui vẻ mỉm cười gật đầu. Tôi nhận thấy cơn buồn phiền của Chí đã tiêu tan được phần nào với sự tiếp đón nồng hậu của những người hàng xóm đầy tình người.

Bà chủ tiếp lời:

– Hay là tiện đây hai bác sĩ tắm luôn cho khỏe.

Tôi vội trả lời ngay:

– Thưa cảm ơn bà, tụi này mới tắm mưa hôm qua vẫn còn sạch chán. Xin để khi khác sẽ xuống nhờ bà. Tiện đây xin bà một bi-đông nước trà mang về để uống dần.

– Được rồi, cái đó thì dễ quá. Bác sĩ đưa bi-đông đây để tôi đổ nước vào cho.

Tôi vội rút bình bi-đông ra khỏi bao đưa cho bà chủ nhà rót nước từ trong ấm ra. Xong xuôi bà còn mời tụi tôi ở lại ăn cơm nhưng chúng tôi rời bệnh viện đã lâu sợ ở đó có người cần tôi nên vội cảm ơn bà chủ nhà tốt bụng cùng bác sĩ Chí trở về bệnh viện.

Sau khi rời khỏi khu chợ mới hoang tàn nhưng vẫn còn sức sống đó, Chí và tôi lại cuốc bộ trở về bệnh viện. Chúng tôi đều im lặng, không ai nói với ai một lời nào. Mọi người đều mang nặng một nỗi suy tư riêng. Liếc nhanh nhìn Chí, tôi thấy hình như tâm tư Chí vẫn còn ray rứt về những dòng chữ quái ác kia. Tôi không muốn đề cập tới vấn đề đó nữa. Những lời an ủi chỉ để khơi dậy niềm đau mà thôi. Tôi cứ để cho Chí được tự nhiên, hy vọng thời gian sẽ làm nhạt nhòa những hình ảnh không vui đó.

Thực ra ngay bản thân tôi cũng có những dằn vặt riêng. Đó là sự bất lực của một y sĩ đứng trước một người bệnh, nhất là một đứa trẻ rất dễ thương. Tôi không thể nào quên được nụ cười của cô bé khi tôi sửa soạn khám bệnh cho cô. Một nụ cười vừa hy vọng, vừa an phận, vừa như để lấy lòng người thầy thuốc để mong được chữa khỏi bệnh. Thật là buồn tủi khi bao nhiêu hy vọng đã trở thành hư không, khi chính người thầy thuốc cũng phải bó tay, không giúp gì được. Tôi nghĩ, nếu thay vì nụ cười đó là những tiếng khóc kêu la, chắc tôi không đến nỗi bị ám ảnh dằn vặt nhiều như thế.

Tôi lẩn thẩn tự hỏi, nếu có đủ phương tiện và săn sóc cấp cứu ngay vết thương đó, cô bé có thể bị liệt không? Hai trường hợp có thể xảy ra. Nếu mảnh đạn cắt đứt ngang tủy sống thì vô phương, không thể làm gì khác được. Nếu chỉ chạm nhẹ hay tủy sống chỉ bị thương một phần nào đó thôi, với sự săn sóc đúng cách, mổ ngay lấy mảnh đạn ra để giới hạn vết thương không làm hư hại thêm nữa, có thể cứu vãn được một phần nào. Lúc mới bị thương, thân hình không được giữ yên, sự di động cột sống càng làm cho mảnh đạn cắt sâu toàn bộ tủy nên cô bé mới bị liệt hai chân. Dù sao thì hy vọng có thể đi được rất là mong manh.

Từ khi ra trường, nhập ngũ, nghĩa là chính thức gia nhập cuộc chiến này, tôi đã được chứng kiến rất nhiều cảnh đau thương do chiến tranh gây nên. Thượng Đế đâu có tạo ra chiến tranh. Chính loài người đã gây nên cảnh tàn sát chém giết lẫn nhau. Những từ ngữ độc lập, tự do, hạnh phúc chỉ là những sáo ngữ, những cái cớ để một nhóm người thực thi cái thú tính của mình mà thôi.

Có thể nói thế hệ chúng tôi là một thế hệ không may mắn, đã sinh ra trong chiến tranh, trưởng thành trong chiến tranh, và nay chính thức gia nhập chiến tranh. Trong suốt cuộc đời lớn lên của những người thuộc thế hệ chúng tôi, không bao giờ là không nghe thấy tiếng súng.

Thời thơ ấu cực khổ vì tản cư từ Hà Nội về miền quê, chân đi đất dưới trời mưa tầm tã, trơn té ngã, quần áo lấm lem, trên đầu tiếng rít của đạn trái phá làm mọi người đều sợ, rồi khi tới bờ sông, bao nhiêu người tranh nhau lên thuyền qua sông. Thuyền chở khẳm, may mà không bị lật. Nghĩ đến bây giờ mà vẫn còn rùng mình. Bác gái của tôi mặt đầm đề nước mắt, ngước mặt nhìn trời than:

-Trời ơi là trời, sao trời làm chúng con khổ thế này!

Thấy những nước khác, họ sống thanh bình, chẳng bao giờ có một tiếng súng. Những ngày Quốc Khánh, dân chúng nhảy múa vui chơi ngay cả trên đường phố. Tôi thấy thế mà thèm. Mơ ước sao cho nước mình được một ngày hòa bình để mọi người được vui sống bên nhau, gia đình đoàn tụ, cha con chồng vợ, anh em không phải xa nhau.

Khi mới nhập ngũ, lần đầu tiên va chạm với thực tế tôi đã thấy thế nào là bị bó buộc, là mất tự do của đời sống nhà binh. Trước đây sống ở nhà năm này qua năm khác, muốn đi đâu, ở đâu tùy ý rất thoải mái tự do. Nhưng khi vào quân đội, lần đầu tiên cầm tấm giấy 24 giờ phép, tôi thấy vô lý quá. Hai mươi bốn giờ làm được những gì, ngắn ngủi quá. Nhưng rồi cũng quen đi. Được 24 giờ là mừng rồi. Thoáng về thăm mẹ thăm em, tuy chẳng có gì nhưng được trông thấy nhau an lành khỏe mạnh là vui rồi.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Bài 17- Cơn Mưa Đầu Mùa

Từ ngày tản thương được toàn bộ số thương binh, bệnh viện trở nên yên tĩnh. Mấy ngày qua cũng không thấy pháo kích nhiều nên số thương vong gần như không có. Chúng tôi vì vậy được nhàn nhã đôi chút.

Đã gần một tháng nay không có nước nên chúng tôi chẳng ai tắm rửa gì cả. Nước uống thì không hiểu mọi người kiếm được ở đâu ra. Tôi có hỏi mấy anh em Quân Y, họ nói là đi kiếm ở mấy nhà dân chung quanh. Nhà nào cũng có một hồ chứa nước riêng hoặc có giếng nước. Nói chung thì nước uống vẫn kiếm được mặc dù khan hiếm. Riêng tôi vì dùng dè sẻn nên hai bình phisohex cũ đựng nước uống đã tiêu một bình vẫn còn một bình, có thể cầm cự được thêm vài ngày nữa trước khi phải đi kiếm hoặc xin những người khác.

Mỗi sáng tôi chỉ mất một nắp bi-đông nước, tức là khoảng một muỗng canh nước để rửa mặt. Nên tôi chẳng tốn nước bao nhiêu. Lấy một miếng gạc nhỏ nhúng chút nước rồi quét lên mặt cũng thấy khoan khoái rồi. Chiều hôm qua mây đen kéo phủ kín một góc trời. Tôi cứ nghĩ là đêm sẽ mưa nhưng chờ tới sáng, vẫn chưa thấy gì.

Tôi chắc chắn sẽ mưa ngày nay vì mây đen càng ngày càng nhiều. Tôi và mọi người trong bệnh viện đều đổ xô đi tìm đồ để sửa soạn hứng nước mưa. Những thùng đều được gom lại để dọc theo mái hiên. Những tấm tôle bị pháo đánh bay xuống sân được gom lại uốn thành những máng dã chiến để hứng nước mưa từ mái xuống.

Chúng tôi sửa soạn xong thì trời bắt đầu chuyển. Mới đầu là những cơn gió nhè nhẹ mang hơi lạnh không biết từ đâu tới rồi trời hình như tối sầm lại. sấm chớp liên hồi và một cơn mưa dữ dội đổ xuống. Một cơn mưa mang nguồn sống, nguồn nước cần thiết cho chúng tôi. Không ai bảo ai, mọi người đều lợi dụng cơn mưa như thác lũ đó để tắm rửa tối đa, gột bỏ những cáu bẩn, mồ hôi mấy tuần nay cũng như giặt những quần áo hôi hám trên người.

Tôi cẩn thận hơn, mang quần áo sạch và những đồ dùng cần thiết xuống trại Ngoại Khoa. Tôi chọn một phòng bị tróc mái vì pháo kích, vào trong đó khởi sự tắm. Tắm ở đây an toàn hơn tắm ngoài trời. Lỡ có pháo kích thì có các vách tường chung quanh bảo vệ khỏi lo bị miểng văng trúng.

Nước mưa từ lỗ hổng trên mái nhà đủ để cho tôi tắm thoải mái giống như ở phòng tắm có bông sen nước. Tôi nhắm mắt lại lấy xà bông gội đầu rồi kỳ cọ khắp mình. Sạch sẽ xong xuôi mở mắt ra tôi mới ngạc nhiên nhìn thấy nước mưa đen ngòm như mực tầu loãng. Chỉ sau vài giây tôi chợt hiểu là khói của những đám cháy trong trận chiến này đã nhuộm thành màu nước như vậy. Cũng chẳng sao tôi đã được tắm thoải mái sạch sẽ rồi dù nước có đen hay không cũng từ trên trời rơi xuống không bị ô nhiễm bởi bùn đất, phân người, xác chết là được.

Trận mưa cứu tinh này quả thật đã rửa sạch bên ngoài bệnh viện. Chúng tôi hứng được rất nhiều nước. Ít nhất trong vòng một tuần, chúng tôi có đủ nước thỏa thuê. Tôi để ý thấy mặc dù bệnh viện không có hồ chứa nước nhưng trên trần hành lang xây bằng xi măng chắc chắn còn chứa được một số nước đáng kể. Quả nhiên mấy ngày sau khi đã cạn nước, tôi nói với cháu Sơn, cháu của bác sĩ Phúc, leo lên trên cái cầu xây nối liền Phòng Cấp Cứu với trại Nội Khoa xem có nước không. Sơn ngồi ở trên nóc báo cáo xuống:

– Cháu thấy nhiều nước lắm, mình có thể dùng tới hai tuần mới hết.

Tôi và Bác sĩ Phúc vui mừng bảo Sơn xuống để khi nào cần thì sẽ leo lên múc nước dần để dùng. Dù cho nước có bốc hơi bay đi thì cũng phải mất mấy ngày nữa. Hy vọng sẽ có thêm vài trận mưa nữa tới tiếp sức thì vấn đề nước non cũng tạm giải quyết xong.

Việc gì cũng có mặt trái, mặt phải, phần tích cực và phần tiêu cực. Cơn mưa đã mang đến niềm vui cho mọi người vì có nước uống, vì được tắm giặt sạch sẽ, cuốn trôi những rác rưởi làm cho sân bệnh viện được sạch. Cũng cơn mưa này làm cho chúng tôi ngất ngư vì hậu quả tiêu cực của nó mà ngay ngày hôm sau, chúng tôi đã phải chịu khổ rồi.

Những đống rác chung quanh bệnh viện gặp nước mưa trở thành nơi sản xuất ruồi bọ cùng những mùi hôi hám rất khó chịu. Tôi đề nghị toàn bệnh viện làm vệ sinh thu dọn rác rưởi về phía đầu cuối của bệnh viện. Có ý kiến nên đào hố sâu để chôn vùi. Ý kiến khác là đốt đi đỡ tốn sức lao động. Dĩ nhiên là cách giản dị nhất đã được mọi người vui vẻ chấp thuận.

Đống rác đã được mồi bằng xăng rồi đốt. Chúng tôi xoa tay khoan khoái đứng nhìn ngọn lửa lan dần rồi đốt cháy ngay cả những gì trước đây đã sũng nước. Chúng tôi đang dự định giải tán ai về chỗ nấy thì được lệnh của Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đòi hỏi báo cáo việc gì đã xẩy ra ở bệnh viện mà khói lên nhiều như vậy.

Sự việc được báo cáo lên Sư Đoàn. Ít lâu sau chúng tôi được lệnh phải dập tắt ngay đám cháy vì sợ địch quân điều chỉnh tọa độ pháo ngay vào Bộ Tư Lệnh gần đó. Đến giờ thì vô phương dập tắt đám cháy này vì làm sao chúng tôi có nước để bơm vào đó. Vả lại đống rác cũng cháy gần hết, không thể lan ra chung quanh được. Cho nên chúng tôi miệng nói tuân lệnh, sẽ thi hành ngay nhưng trên thực tế cứ để nguyên như cũ, lại còn mong sao nó cháy mau cho chóng xong. Quả nhiên chỉ 20 phút sau, đám cháy cũng tự nó lụi tàn.

Tôi thấy một số người thật vô lý, cả chục ngày nay địch đã pháo vào Bộ Tư Lệnh rồi. Chúng đã biết rõ tọa độ rồi đâu có phải đợi đến bây giờ mới cần điều chỉnh tọa độ để pháo vào đó nữa.

Dù sao mọi sự đã được thu xếp khéo gọn. Bệnh viện đã được dọn dẹp sạch sẽ hơn trước. Chẳng lẽ một cơ sở y tế mà lại bê bối về vấn đề vệ sinh. Ngay cả trong trường hợp thiếu thốn, khó khăn như bây giờ cũng khó mà biện minh được.

Tuy nhiên với tình trạng hiện tại, bệnh viện đã bị vô hiệu hóa gần như hoàn toàn. Nghĩa là các cuộc mổ lớn không thể nào thực hiện được. Phòng mổ chính và phòng mổ phụ đã bị hư hại nặng. Mặc dù thuốc men, y cụ chúng tôi vẫn còn nhưng không điện, không nước, nhân viên dân sự đã di tản hết nên chúng tôi chỉ còn có thể rửa sạch các vết thương, làm tiểu giải phẫu rồi băng bó, và chờ chuyển thương thôi.

Trận chiến hình như bớt căng thẳng. Tôi nói với Bác sĩ Chí:

– “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”

Mượn nhan đề của một cuốn tiểu thuyết của Erich Maria Remarque, để chỉ tình trạng của mặt trận An Lộc trong giờ phút này.

Không biết địch quân đang tính toán gì đây. Tôi chắc chắn là sau khi bị B52 trải thảm bên địch đã bị thiệt hại khá nặng. Nay là lúc họ đang bổ sung quân, tiếp nhận thêm đạn dược để sẽ tung ra đợt tấn công kế tiếp.

Nhìn xuống khu chợ mới đã bị cháy rụi. Những căn nhà lầu xây bằng vật liệu nặng phía bên tay trái của tôi, đứng từ bệnh viện nhìn xuống, trong đó có nhà của Bác sĩ Chí, tôi thấy vẫn còn nguyên, có thể ở được mặc dù bị sứt mẻ vì những mảnh đạn pháo kích. Phía bên hông phải của khu chợ cũ, đa số các căn nhà đều bị pháo sập. Trong đó có một căn đã bị một xe tăng vì bị bao vây bắn rát quá, đã chui đại vào ngay cửa chính để rồi sau đó bị tiêu diệt luôn. Hiện giờ xác xe vẫn còn nằm tại chỗ. Quá nửa, bên tay phải của tôi về phía chợ cũ, nơi có phòng mạch của tôi đã bị san thành bình địa. Tôi chỉ nhận ra được chỗ của phòng mạch nhờ có một cây cổ thụ cao, đã bị cháy đen, đứng đơn độc trên những xác nhà xẹp lép tới nền.

Từ bệnh viện, tôi chỉ có thể nhìn xa được đến thế mà thôi. Lác đác tôi thấy những binh sĩ của mình di chuyển một cách bình thản trong khu chợ mới lẫn chợ cũ. Tôi nghĩ rằng những khu vực đó đã được quân đội ta kiểm soát và có thể nói là tương đối an toàn.

Tôi lợi dụng giờ phút rảnh rang này, nói với bác sĩ Chí:

– Tao thấy ở khu chợ mới và chợ cũ có vẻ an toàn. Mày có muốn xuống dưới đó xem nhà của mày giờ ra sao không?

Bác sĩ Chí đồng ý liền:

– Phải đó, đi phiêu lưu một chút cho đỡ bó cẳng. Ở mãi trong bệnh viện này dám khùng mất.