Trên một dòng sông

Nguyễn Lê Hồng Hưng

  Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung. Thương nhau xin chớ ngại ngùng, sông sâu cũng lội rậm rừng cũng băng. (ca dao)  Hải đứng lặng nhìn ra giữa dòng sông. Nước lờ lửng chảy, vài chiếc đò dọc thiếu khách chạy tà tà và trên bến sông thì vắng bóng người. Gió chướng hiu hiu không hãm được cơn nắng át của tháng ba. Hải nhớ hồi tháng ba năm ấy. Trên chiếc xuồng tam bản mui trần, mũi cột vô hàng đáy giữa dòng sông trong đêm trời đầy sao và con nước ròng chảy xiết. Cũng tại khúc sông nầy, anh với Lệ ôm nhau khóc, nước mắt tuông theo con nước róc rách dưới dạ xuồng. Lệ nghẹn ngào hứa chờ ngày anh trở về bến đáy. “Anh sẽ dìa với em.” Đó là lời hẹn với Lệ trước ngày anh vượt biển.  Thoát một cái đã mười bốn năm dư và anh đã trở về. Những hàng đáy giữa dòng sông vẫn còn trơ trơ, đầu cột đáy có một con nhàn đứng ủ rũ như đợi chờ một tăm cá, nhưng chủ nhân của hàng đáy bây giờ là ai? Anh hỏi thăm không ai biết bến đáy nào của Lệ. Thiên nhiên đã thu hẹp, rừng cây cối lưa thưa, đứng trên bờ chẳng nhìn ra đâu là bến, chỉ thấy một dãy nhà sàn san sát dọc bờ sông. Hải phải hỏi thăm nhiều lần mới tìm được nhà anh Tài, anh của Lệ, bây giờ đã dời ra vàm sông Ông Đốc. Anh Tài đã đổi qua nghề câu mực, nhưng vẫn còn giữ nghề đóng đáy trên sông.  Trước kia nhằm mùa nước sổ mỗi khi xuồng đáy về, tôm cá đựng bằng cần xé, người ngồi lựa cá, người nấu nước luộc tôm. Ban đêm ánh đèn măng xông soi sáng một vùng, ban ngày tôm phơi ngập sân đỏ ối. Anh Tài nói:  – Bây giờ khổ lắm mày ơi, cá tôm mò đỏ con mắt mới được vài con.  Thiệt vậy, đêm hôm đổ đục về, chị Liên, vợ anh Tài bưng rổ cá tôm lộn xộn lên xốc xốc, lựa ra đếm được hơn chục con cá bống và cân được vài kí lô tôm. Thường ngày vợ chồng sai con bưng cá bưng tôm ra chợ bán, nhưng hôm nay có Hải, anh dành lại ăn.  Hải với anh Tài ngồi nhậu bia ăn tôm luộc. Anh Tài vắn tắt câu chuyện. Sau khi Hải đi, Thành Đất hỏi cưới Lệ rồi hai vợ chồng dắt nhau xuống Cái Đôi làm nghề đáy hàng khơi. Hải lặng thinh và trong lòng mênh mang niềm nhớ… Hồi sau anh Tài hỏi Hải:
– Mầy có muốn tao nhắn cô ấy về chơi hông? Hải hớp một hớp bia, bóc con tôm lột vỏ bỏ vô miệng, nhìn ra giữa dòng sông.
– Về còn gặp lại anh cho tá túc là may lắm rồi, làm phiền cô ấy nữa không nên.
– Nhưng mà… mầy… mầy còn ở đây được bao lâu?
– Khi nào sơn, sửa xong mả của ba má tui thì tui đi.
– Mày còn về đây nữa hông?
– Tui cũng hổng biết nữa.
– Nhưng mà…  Hình như anh Tài muốn nói thêm điều gì nhưng ngại không nói, anh ngập ngừng rồi bưng ly lên cụng.
– Uống đi mầy.
– Đêm nay anh cho tui theo đóng đáy với.
– Đêm nay con Dung đóng đáy, mầy muốn thì đi theo nó.
– Ừa cũng được.  Dung là đứa con gái đầu lòng của Tài, con nhỏ hồi anh đi nó đâu hơn mười tuổi gì đó, bây giở đã thành thiếu nữ. Trong lúc cột xuồng chờ con nước ròng anh hỏi Dung:
– Cháu có bồ chưa? Dung trả lời tỉnh bơ:
– Cháu đen thui thùi lùi như vầy ai mà thèm chú. Hải day lại nhìn Dung, trong ánh đèn bão đủ sáng cho anh ngắm nghía thân thể đầy đặn, khoẻ mạnh, cặp ngực vun tròn nhô ra như muốn bứt tung hàng nút áo bà ba, nước da bóng màu xô-cô-la nguyên chất, mặt tròn không một vết mụn, trên môi lúc nào cũng tươi cười, cái nhan sắc ấy chỉ có ở những cô gái miền sông nước Amazon. Ngặt ở đây, cái xứ tận cùng đất nước Việt Nam, trong thì đồng, rẫy, ngoài thì biển xanh. Người ta chỉ chuộng những cô gái nước da trắng trẻo, ốm yếu chớ không biết chiêm ngưỡng một thân thể mặn mà, đầy đặn và tràn đầy sức sống.
– Mấy thằng con trai miệt nầy đui hết rồi mới hổng thấy cháu đẹp. Nghe Hải khen cô nhỏ cúi đầu mỉm cười, ngẫm nghĩ một lát Dung ngước lên:
– Ở trong xóm mấy anh con trai kêu con là Dung đen.
– Mai mốt thằng nào kêu con như vậy, thì con cứ nói lại, các anh có mù mắt hông, tui màu xô cô la chớ hổng phải màu đen, đồ ngoại chánh hiệu đó.
– Ai nói dzậy, kì thấy mồ à. 

*
Nước bắt đầu chảy, hai chú cháu cài đáy. Chui đáy xong, buộc xuồng vô cột đáy ở giữa dòng. Trong khi chờ đổ đục, mở cát sét lên nghe nhạc. Cô lấy bánh dừa ra lột vỏ đưa cho Hải, hai người vừa ăn vừa nói chuyện. Dung hỏi: – Hồi đó chú với cô Tư sắp cưới nhau rồi chú đi phải hông? Thấp thoáng dưới ánh sao trời, Hải trông gương mặt Dung giông giống Lệ. Hải nhớ cái đêm sắp xếp cho chuyến đi, cũng giữa dòng sông nầy, Lệ đã tặng cho anh của quí nhứt đời người con gái, khóc nức nở, hứa đợi chờ, vậy mà anh ra đi chưa đầy một năm thì cô ấy đã lấy chồng.
– Con biết rồi sao còn hỏi chú.
– Con muốn biết chú còn thương cô Tư con hông?
– Ngồi đây chú lại nhớ hồi chia tay với cô con.
– Cô con nhớ chú lắm, trước đây thấyViệt kiều dìa, cô cứ ngong ngóng, hỏi tại sao không thấy chú dìa, bây giờ chú dìa sao hổng đi thăm cô.
– Cô con đã có gia đình rồi, chộn rộn làm gì.
– Còn thằng Đợi chú hổng muốn gặp nó sao?
– Thằng Đợi nào?
– Ủa! Con của chú bộ chú hổng biết hả?
– Con chú!  Hải điếng hồn không nói thêm được lời nào. Nhìn lên bầu trời sao dầy đặc, cúi xuống nước ròng đương chảy xiết, anh vói tay khoát nước rửa mặt, lắc lắc cái đầu cho tỉnh. Nhớ lại những ngày sắp chia tay, ban ngày anh với Lệ ôm ấp với nhau trên chòi, tối xuống xuồng đóng đáy giữa dòng sông, làm chuyện xui xẻo trên xuồng, bất chấp phong tục cấm kỵ… Anh day qua nói với Dung:
– Chuyện trước kia chú với cô Tư cháu thương nhau chú biết, còn những chuyện xảy ra sau nầy chú hổng biết gì hết cháu à.
– Ba con sợ chú biết nhưng chú hổng muốn nhìn, ổng dặn cả nhà nếu chú hổng hỏi thì không ai được nói.
– Hồi chú đi ra tới ngoải, chú có gởi thơ dìa cho cô Tư con cả mấy chục lá, nhưng thư đi mà hổng thấy thư dìa, chú buồn hết sức vậy đó, chú tưởng ở nhà thất tán đâu đó. Sau nầy chú nghe bà chị của chú ở Úc nói cô Tư con đã có chồng rồi nên chú hổng viết thư nữa, thời gian đó chú như người khùng. Chú chỉ biết tới đó, sau nầy chuyện xảy ra cho cô con chú có biết gì đâu. Đầu đuôi ra sao con kể hết cho chú nghe đi.
– Hồi chú đi cô Tư bịnh liên miên, ói mửa, cô nằm vùi, mấy tuần sau cô mới biết mình mang bầu. Lúc đó cô như điên như dại, khóc hoài có khi ngồi một mình nói lảm nhảm như mắc nàng dưới. Ba con sợ chuyện xấu đổ ra ngoài nên sẵn dượng Thành, à chú còn nhớ dượng Thành lúc đó phụ mần đáy với ba con hông?
– Nhớ chớ, thằng Thành Đất chớ ai.
– Đúng rồi, lúc đó dưỡng cũng thương cô, ba con mới khuyên cô ưng dưỡng, cuối cùng cô Tư con đâu cách nào khác cổ đành nhắm mắt đưa tay, nhưng cổ nói thẳng cho dượng Thành biết cổ đã mang bầu với chú, chịu thì cưới không chịu thì thôi. Lúc đó dượng mê cô như điếu đổ cái gì cũng chịu, dưỡng còn nói chú với dưỡng là anh em kết nghĩa, con của chú cũng như con của dưỡng.
– Bây giờ hai người ra sao?
– Mần ăn cũng khá, cô còn sanh thêm cho dượng Thành hai đứa nữa vậy mà dưỡng vẫn thương thằng Đợi như con ruột của mình. Thiệt vậy ngày xưa Hải và Thành là anh em kết nghĩa, tánh tình nó rất thật thà, từ ngày kết nghĩa anh em với nó cho tới ngày Hải bỏ đi, anh chưa bao giờ nghe thấy nó giận ai và chưa hề gây gổ với bất cứ người nào, nhà nghèo chăm chỉ làm ăn và hiền như cục đất, vì vậy nó mới có tên Thành Đất.
– Bây giờ chú tính làm sao?
– Theo con chú phải làm sao đây?
– Chú gặp cô Tư con đi.
– Gia đình cô ấy đương cơm lành canh ngọt con à.
– Con nghĩ dượng Thành cũng không tệ lắm đâu. Hải chưa biết tính sao thì Dung đề nghị:
– Hổng ấy chú để con nhắn qua cô, nói chú đã về coi cổ tính sao.
– Ừ con tính sao thì tính miễn đừng làm xào xáo gia đình cô ấy là được. 

*
Những ngày sau đó Hải để hết tâm trí cùng với anh em thằng Bình và An sửa sang, sơn phết lại hai ngôi mả của ba má anh, chuyện của Lệ anh phó mặc cho Dung và gia đình. Tuy vậy lòng anh cũng nôn nóng như lửa đốt, hổng biết sắp tới đây chuyện lành hay chuyện dữ? Đến ngày thứ ba thì hai ngôi mộ của ba má sửa sang lại coi như đã xong. Anh và hai đứa thợ đương đứng ngắm nghía hai nấm mồ nước sơn còn ướt. Chợt Dung đi ra mặt hớn hở hỏi: 
– Xong chưa chú?
– Xong hết rồi, con coi coi có được hông?
– Đẹp lắm chú. Thấy cô nhỏ hấp tấp trả lời anh bèn hỏi:
– Có chuyện gì mà trông con hớt hải dậy?
– Cô Tư mới vừa dìa. Tuy biết trước chuyện sẽ đến nhưng trong lòng anh lo lắng bất an. Nhìn hai đứa nhỏ lom khom dọn dẹp đồ đạc định đi về, anh mượn cớ trì hoãn bằng cách mời hai đứa thợ đi ra tiệm ăn cơm. Day qua Dung Hải hỏi:
– Con đi ăn với chú hông?
– Chú hổng về liền được sao?
– Nhưng cho thợ thầy người ta ăn cơm cái đã. Dung miễn cưỡng gật đầu:
– Vậy cũng được, nhưng mau mau nghe chú, cả nhà đương chờ chú đó. Dung quày quả bước đi, Hải day qua hỏi:
– Hai đứa bây thấy con Dung ra sao? Bình ngước lên nói:
– Con nhỏ đen như cột nhà cháy. An cãi:
– Nâu chớ đen đâu mà đen, ông nói cho cố. Hải vỗ vai An: – Mày chấm nó chỗ nào. – Ngực, mông hết xẩy chú.
– Chỉ có hai chỗ đó thôi hả? Nghe anh hỏi ngặt thằng nhỏ đứng gãi đầu. Thấy thằng nhỏ bí lối, anh câu vai nó nói:
– Nhưng mầy chịu cặp ngực và cặp mông của nó hông? Tao làm mai cho.
– Con nghèo quá chú.
– Bộ nghèo rồi hổng có vợ sao? Nhưng thôi, dẹp cặp ngực và cặp mông qua một bên, mình đi ăn cái đã. Hải kêu chủ quán dọn một bữa cơm thiệt ngon và bia lon ướp lạnh cho hai anh em Bình, An ăn, còn anh thì uống bia khan. Đầu óc cứ nghĩ đến chuyện gặp gỡ lát nữa đây, người ta nói chia ly là khổ, còn xum vầy là vui. Còn anh thì đương khổ sở cho cuộc xum vầy. Thằng Bình thấy anh cứ trầm ngâm và ngước cổ nốc bia, nó nhắc chừng:
– Theo con bữa nay chú uống ít thôi. Hải nốc một ngụm bia, nhìn qua hỏi:
– Mầy biết chuyện gì hông?
– Chuyện của chú nổi như cồn, cả xóm mình ai hổng biết.
– Nổi như cồn à, sao tao hổng biết gì ráo. An nói vô:
– Thôi chú dìa giải quyết chuyện gia đình đi, con nghĩ mọi chuyện trơn tru thôi, chú khỏi phải lo nghĩ nhiều quá.
– Hai đứa nghĩ dậy sao?
– Con nghĩ ai biết hoàn cảnh của chú đều nghĩ vậy hết.
– Bình, An chú phải tin dị đoan thôi, gặp hai đứa chắc chuyện gì thì cũng… bình an hết trọi. Ba người cùng cười và đưa ly lên cụng:
– Thôi chú dìa đây, chừng nào xong chuyện chú làm mâm cơm cúng ông bà, chú sẽ mời hai đứa tới nhậu một bữa chết bỏ.

*

Khi Hải vừa bước tới cửa thì Thành từ trong nhà phóng ra ôm anh vừa mếu máo vừa nói:
– Anh dìa, em mừng quá. Nổi lo âu của Hải được thay bằng niềm xúc động mênh mang, anh trấn tỉnh lại:
– Vô nhà cái đã, từ từ rồi anh em mình tâm sự sau. Hải câu vai Thành đi vô nhà, thì Lệ cũng từ nhà dưới đi lên.
– Sao mà ai cũng khóc hết vậy nè? Hải muốn trấn an mọi người nhưng chính ngực anh cũng đã nghẹn khi thấy một đứa con trai nép bên Tư Lệ giống anh như đúc. Anh tới ngồi xuống cạnh bên nó, vuốt tóc hỏi nhỏ:
– Con là Đợi phải không? Nó gật đầu. Hải ôm nó vào lòng, nó mắc cỡ xô anh ra và lao nhanh xuống nhà dưới. Anh đứng lên hỏi Lệ:
– Đi đường xa em có mệt lắm hông? Cô lắc lắc đầu mặc cho nước mắt tuông chảy lên hai gò má. Nghe tiếng ồn ào bên ngoài Hải ngó ra anh thấy trước cửa hàng xóm bu đầy nghẹt, anh lúng túng không nói được gì. Thành như hiểu ý anh nên bỏ đi xuống nhà dưới. Anh Tài từ dưới nhà đưới đi lên nói:
– Thôi mình ra nhà sau ngồi lai rai nói chuyện. Day ra anh nói với đám người tò mò còn lấp ló phía trước:
– Hôm nay, gia đình tôi đoàn tụ và có chút chuyện riêng xin bà con thông cảm cho nhé. Bà con từ từ giải tán. Mọi người kéo nhau đi xuống nhà dưới. Đồ ăn đồ nhậu đã được ba người đàn bà dọn đầy bộ ván. Thành kêu Lệ:
-Em với thằng Đợi qua ngồi với anh Ba, cho cha con quen nhau cái đã. Nhờ Lệ ngồi cạnh bên nên thằng Đợi mới dám lên ngồi gần, hai đứa em nó thấy vậy cũng chen vô ngồi sau lưng má nó. Cả nhà ngồi quây quần trên bộ ván rộng. Anh Tài bưng rượu lên:
– Hôm nay mỗi người phải uống để mừng gia đình mình xum hợp. Chú Ba tui mời chú trước. Hải bưng ly nốc cạn dằn cái cảm giác gờn gợn rùn người. Gia đình xum hợp! Vui quá xá chớ! Kể từ khi hay tin ba má anh qua đời, anh chị em tứ tán, Hải chưa bao giờ nghĩ mình còn có một gia đình trên quê hương xứ sở. Nếu ngày xưa không có chuyện chia lìa thì giờ đây bên anh là vợ, con, kia là anh chị vợ và thằng em kết nghĩa. Bây giờ mọi chuyện đã đảo ngược đâu vô đó hết rồi. Hải vuốt tóc thằng Đợi, hỏi:
– Ai đặt tên cho con? Nó bẽn lẽn cúi đầu:
– Hổng biết. Thành chen vào.
– Bả đặt đó chớ ai, Đợi có nghĩa là đợi anh dìa đó.
Lệ mắc cỡ mắng chồng:
– Cái thằng cha mắc dịch. Té ra Hải cũng còn có những người chờ đợi anh nơi bến sông nầy, vậy mà từ lâu nay anh nào hay nào biết. Anh Tài rót rượu vừa đưa từng người vừa nói:
– Bây giờ dùng món đặc sản của dượng Tư đem từ dưới Cái Đôi về cái đã. Lệ đập vỏ càng cua, lấy thịt bỏ vô chén cho Hải. Hải bắt chuyện hỏi Thành:
– Bộ ở đây hổng có cua, vọp sao mà phải đem từ bển qua?
– Ở đây làm gì còn anh, cua em nuôi, vọp phải đặt dưới miệt Năm Căn mới có.
– Hồi đó mấy thứ nầy anh em mình xách bao xách mốc ra rừng một lát đem dìa cả đống, nhậu hổng hết chia cho bà con mặc sức mà ăn.
Anh Tài chen vô:
– Ôi người càng đông của càng hiếm con người tham lam càng nhiều, tranh dành với nhau từ rừng rú tới dòng sông, người nầy xâm phạm của người kia một chút thì chửi bới ỏm tỏi lên, đôi khi chỉ vì con cua, con vọp mà quánh lộn với nhau dập đầu chảy máu.  Họ nói chuyện đời sống một lát, cũng trở lại chuyện riêng tư của Hải. Anh nói với Lệ:
– Hổng biết thì thôi, biết rồi thì tôi phải có bổn phận. Anh hỏi việc học hành của thằng Đợi, Lệ cho anh biết nó học hết lớp năm rồi nghỉ. Anh day qua hỏi thằng nhỏ: – Con muốn đi học nữa hông? Nó lắc đầu.
– Hông, lớn rồi, đi học người ta chọc quê. Hải thấy mình không nên xen vô chuyện gia đình của Lệ nhiều quá. Anh mới nói:
– Tùy chú Thành với Lệ tính sao cho nó cũng được, số tôi phong trần thì đành phải phong trần vậy, ở nhà có khó khăn gì thì cứ cho tui hay, khả năng của tui tới đâu tui phụ tới đó.
– Anh dìa nhìn nhận con để sau nầy nó khỏi tủi thân là được rồi. Tư Lệ vừa nói vừa lau nước mắt. Thành chen vô:
– Ngày mai tui phải dìa bển sớm, để bả với thằng Đợi ở lợi chơi với anh vài ngày. Chừng nào anh đi thì tui qua tiễn anh. Sáng hôm sau, trong lúc Thành sửa soạn trở về Cái Đôi vàm, trên chiếc ghe đóng đáy hàng khơi, cái máy Yanmar đầu xanh thời ông Thiệu chưa làm tổng thống đã đổi ra màu đen, Thành quây cà ì cà ạch hồi lâu mới nổ bành bành, khói đen phun ra mù mịt. Hải nói:
– Máy Yanmar đầu đen chớ đầu xanh khỉ mốc gì. Sao chú hổng thay máy khác? Thành than:
– Chưa đủ tiền anh.
– Chừng bao nhiêu mới đủ?
– Nếu có hai cây nữa thì em đổi máy mới.
– Được rồi anh sẽ cho chú hai cây.
– Ý chết cha, em đâu có hỏi.
– Anh tự nguyện mà.
– Anh có lòng tốt giúp em, em cám ơn nhiều lắm, nhưng thong thả đi cái đã. Thành chỉ vô cái máy nói:
– Coi cà tàng vậy đó mà chưa bao giờ nằm đường hết anh.
– Thôi chú đi đi, chúc chú mầy con nước nầy tôm cá đầy ghe. Hải nhảy lên bờ tháo dây mũi liệng qua cho Thành. Hải vịn mũi nghe, chờ Thành khoanh dây lại rồi ra sau cầm lái, anh mới đẩy mũi ghe vạt ra lấy trớn để Thành vô số, rồ ga cho ghe chạy. Khi cơn xúc động đã lắng xuống, mọi chuyện trở lại bình thường, Hải nghĩ, đối với Lệ và thằng Đợi anh thương lắm và tội nghiệp cho Thành Đất đã gánh gánh nặng cho anh, chắc hẳn anh phải có trách nhiệm với những người nầy. Anh định trước khi rời khỏi thị trấn ven biển anh đưa cho gia đình Thành Đất số tiền anh đã hứa, phần còn lại anh ngao du một chuyến ra Bắc.  Nào ngờ hôm sau, trời mới hừng đông, Hải đương ngủ ngon, chợt Lệ vô buồng đánh thức anh dậy:
– Anh Ba, gia đình có chút chuyện muốn bàn với anh.
Hải ngồi dậy dụi dụi mí mắt cho tỉnh ngủ rồi đứng dậy đi theo Lệ. Ở nhà dưới đèn thắp sáng chưng, vợ chồng anh Tài ngồi trên bộ ván. Giữa bộ ván một mâm trà bánh còn nguyên, hai người như có ý chờ Hải. Lệ lấy khăn và bàn chải đưa cho anh. Hải ra sàn lảng sau nhà đánh răng rửa mặt. Xong. Anh trở vô ngồi cạnh bên Lệ. Nhìn ai cũng ra vẻ khẩn trương làm anh nhột nhạt. Lệ rót nước trà cho Hải, anh hớp một hớp nước, để xuống. Anh Tài hớp một hớp trà rồi cất tiếng phá tan bầu không khí yên lặng:
– Thiệt ra thì tui mời chú xuống đây là muốn nhờ chú một chuyện.
– Chuyện gì anh? Hải hỏi.
– Ý tui là muốn nhờ chú bảo lãnh con Dung ra ngoải, chú thấy có được hông? Nghe hỏi bất ngờ làm Hải lúng túng hồi sau anh mới tìm ra câu nói:
– Dìa đây tui hổng có ý định gì hết, bổng nhiên lòi ra thằng Đợi, bây giờ anh tính thêm chuyện nầy nữa. Hải ngó qua Lệ:
– Theo em, em thấy sao? Lệ không nhìn thẳng Hải mà cúi xuống ly trà, nói: – Anh coi coi, giúp được cháu thì giúp.
– Hổng phải vậy đâu, tui thấy những cô gái ở niền quê ít học ra phố nếu không đi ở mướn thì cũng trở thành gái làm tiền. Ra nước ngoài cũng vậy thôi, nếu không có nơi nương tựa thì các cô cũng lang thang trôi nổi trong cái thế giới xô bồ xô bộn của tây phương. Còn tui thì cuộc sống bấp bênh, rày đây mai đó, không bà con thân quyến, nơi xứ lạ quê người, đem cháu sang rồi bỏ cháu bơ vơ một mình đâu có được. Anh Tài nằng nặc:
– Hổng lẽ chú cứ lông bông hoài sao?
– Chuyện đột ngột quá anh chị cho tui thời gian suy nghĩ cái đã. – Ừ cũng được, quan trọng là chú mầy chịu nó hay không. Chịu nó! Hải nghĩ bụng, ông anh định chơi cha chắc.
– Thôi được, chuyện nầy tui sẽ trả lời sau. Câu chuyện tạm ngưng lúc trời sáng bửng. Dung với thằng Đợi đi đổ đáy vừa về tới. Hải kêu thằng Đợi thay đồ và rủ má con nó ra quán ăn sáng, tiện dịp anh bàn chút chuyện. Thằng Đợi xin tiền đi chơi chớ không theo. Hải để ý, từ ngày gặp con cho tới nay, không bao giờ thằng nhỏ theo anh, ngoại trừ những lúc cần tiền mới tới hỏi xin. Mới chừng đó tuổi mà đi hết bàn bi da này qua tới quán Karaoke nọ, có bữa anh thấy nó uống bia nữa. Trong quán phở, ăn xong Hải hỏi Lệ:
– Hình như em nuông chiều thằng Đợi có hơi quá mức.
– Anh Thành đó, mỗi khi em rầy nó là ảnh binh.
– Con cưng là con hư, nhưng nói là nói vậy chớ anh làm sao có quyền chen vào chuyện gia đình em. Lệ cầm muỗng quậy quậy ly trà đá, mắt nhìn nước trà đương sóng sánh trong ly, cô nói:
– Anh có trách em cũng hổng sao, ngặt vì thương anh nên ai cũng chiều thằng Đợi.
– Cám ơn em và chú Thành đã lo lắng cho nó.
– Anh khách sáo làm gì, anh Thành cũng thương anh, cho tới nay ảnh còn mặc cảm có lỗi với anh đó.
– Chú ấy đã săn sóc mẹ con em trong những ngày em khổ sở, hết kiếp nầy hổng biết anh có đền ơn nổi cho chú hông đây.
Hải móc sổ địa chỉ ra đưa cho Lệ:
– Em ghi địa chỉ ở Cái Đôi cho tui.
– Bộ anh tính đi hả?
– Chưa, tui nán lợi chơi với em và thằng Đợi vài ngày. Lệ đổi giọng:
– Còn chuyện con Dung anh tính sao?
– Theo em tui phải tính sao đây?
– Thì anh coi giúp được cho cháu thì giúp đi.
– Đơn giản như vậy sao?
– Em thấy nhiều Việt kiều dìa cưới vợ cũng đơn giản dậy thôi. Anh lớn tuổi rồi cần phải có gia đình chớ. Hơn nữa trong họ hàng ai cũng thương anh, muốn gả nó cho anh anh còn đi đi dìa dìa, chớ hông thôi anh đi biệt xứ.  Biệt xứ! Hải nhìn ra ngoài, ánh nắng đã lên cao. Người đi chợ cũng thưa dần. Đây là quê hương xứ sở của anh, kia là người thân thân thuộc, chơn tình biết mấy.
– Thôi được, để thong thả rồi tính. Bắt đầu từ hôm đó gia đình Tài coi Hải như người nhà. Ngày Dung lo miếng ăn, tối lo giũ chiếu giăng mùng, soi muỗi cho anh. Ban đêm Hải theo Dung đóng đáy. Từ ngày có Hải đi theo, cô nhỏ vui sướng vô cùng, Dung có cảm tưởng đi đóng đáy là cuộc phiêu lưu, thám hiểm hơn là chuyện mầm ăn, cho nên cô cứ nôn nao trong lòng mỗi khi con nước lớn vừa chựng lại. Khi nước bắt đầu ròng họ chui đáy xong đâu đó. Dung mở máy cát sét rồi cô đi lại ngồi cạnh Hải. Những năm luân lạc xứ người, không khi nào Hải mơ tới đàn bà Việt Nam. Các bà ngoài ấy cao xa quá, còn anh trước mắt họ bất quá chỉ là một tên vô gia cư. Mười mấy năm qua, anh không bao giờ dám ước mơ có một mái ấm gia đình. Hôm nay về đây tuy cảnh vật và người thương đã thay đổi nhưng anh không thấy mất mát điều gì. Trước một người con gái mơn mởn như hoa mùa xuân và dòng sông bon bon nước chảy, làm anh sống lại thời mới lớn. Tim anh đập, tay anh run run ôm cô gái trẻ, lòng thầm cám ơn bà cậu của miền sông nước… Anh ngất ngây theo tiếng hát du dương truyền cảm tỏa trên mặt sông: “ … Anh ơi chim kia bay về tổ ấm, nước cũng xuôi về nguồn …”

*

Vậy là thời gian Hải dành cho chuyến du ngoạn ra Bắc coi như đi đứt. Chuyện đám tiệc theo Tài thì không khỏi phải rườm rà, chỉ nấu một mâm cơm làm lễ ra mắt ông bà đủ rồi. Hải kêu Dung nghỉ đóng đáy đi với anh ra thị xã mua sắm áo quần và bông đeo tai. Bữa tiệc thay cho đám cưới ngoài người trong gia đình ra, Hải chỉ mời anh em thằng Bình và thằng An tới. Hai đứa ngồi nhậu mà cứ nhìn anh cười cười như có ý chọc quê. Sau bữa tiệc, Thành Đất chở vợ con về Cái Đôi vàm. Còn Hải lên thành phố đổi vé máy bay trở về Âu châu để lo thủ tục bảo lãnh.

*

Mọi chuyện xong xuôi trong vòng sáu tháng. Dung là vợ chánh thức của Hải từ khi cô nhỏ tới đất Âu châu nầy. Chờ Dung học xong khóa ngoại ngữ lấy xong bằng lái xe, hai người mới quyết định có con. Nhờ khoẻ mạnh Dung sanh rất dễ dàng, hai năm Dung sanh liên tiếp hai đứa con trai, thấy vợ cực khổ với hai đứa nhỏ Hải kêu ngưng nhưng Dung muốn có thêm đứa con gái, vậy là cô mang bầu sau đó đẻ thêm thằng con trai nữa. Anh biểu nghỉ nhưng Dung ham con gái quá, nằng nặc đòi mang bầu, nhờ trời thương đứa thứ tư cho ra con gái, có như vậy cô nhỏ mới chịu treo buồng trứng.  Từ ngày có Dung Hải xin việc làm dây chuyền trong một xưởng sửa xe. Dung may thuê vá mướn, dư ra đồng nào gởi về đồng nấy, một bên gia đình ba má Dung, một bên là cho vợ chồng Thành Đất. Bây giờ dân số trong gia đình anh tăng thì chi phí cũng tăng theo. Dung ôm bốn đứa con đâu có đi làm gì thêm. Còn lương tháng của anh trang trải nhà cửa, mua sữa và tã lót cho mấy nhỏ, ăn uống cũng phải dè sẻn mới đủ. Ấy vậy bên nhà hổng biết mần ăn ra sao mà tiền gởi về y như gió luồng nhà trống. Thư cứ gởi qua hỏi tiền lúc đầu còn nói năng tử tế, dạo sau nầy hỏi thẳng kê những món cần xài ra hàng lô hàng lốc, những con số đọc lên thấy phát chóng mặt, tối thiểu một ngàn đô, khi thì cả chục cây vàng. Có lần ở nhà nói ba Dung bịnh gần chết, kêu gởi tiền về thang thuốc, làm Dung hoảng lên. Hải phải xin ngày nghỉ ở nhà giữ con cho Dung bay về bển. Nhưng Dung về vừa tới phi trường, cô tức muốn ói máu khi thấy ông già đứng đón tỉnh bơ trước cửa phi trường. Dung ở lại một tuần, dốc túi đưa hết số tiền đem theo lo cho ba bịnh, rồi bay trở về vừa khóc vừa kể cho Hải nghe.  Đó là gia đình ông Tài chớ thật ra thì với vợ chồng Thành Đất anh có cho thì gởi thư cám ơn, không thì thôi chớ chưa bao giờ biên thư hỏi tiền. Mới đây Lệ có gởi thư qua nói, thằng Đợi xách dao rượt chém Thành Đất rồi bỏ nhà đi. Đọc thư xong Hải cảm thấy buồn buồn cũng như lần đầu nhận con mình, anh đã cảm thấy cái hạnh thằng nhỏ không được tốt rồi. Vì vậy chuyện nó đánh ba nuôi nó là do bản tánh mất dạy của nó chớ hổng phải lỗi tại Thành Đất . Anh thấy càng liên lạc bên nhà bao nhiêu càng thêm rắc rối bấy nhiêu, vì vậy anh giao hết tiền bạc cho Dung. Anh dặn:  Em làm sao thì làm miễn đừng để mấy đứa con thiếu thốn là được rồi.  Từ đó hễ ở nhà hỏi tiền thì ít nhiều gì Dung cũng gởi, gởi xong tối nằm thao thức, nén tiếng thở dài. Dung sanh ra chứng mất ngủ và kinh nguyệt cũng theo đó không đúng chu kỳ, thân thể vạm vỡ của Dung mỗi ngày một sa sút, da dùn, mặt mày rũ rượi trán có vết nhăn. Mới đây nhận thêm thư nhà Dung đem cho anh xem. Trong thư nói thằng Đợi về ở với cậu Hai, tức là ông già vợ của Hải, nó hỏi xin tiền mua chiếc Dream II và ở nhà xây thêm cầu tiêu và bồn tắm tổng cộng năm ngàn đô, xem thư xong Hải trao lại cho Dung:
– Em tính sao cũng được. Đêm khuya Dung đánh thức Hải dậy, cô nói trong tiếng khóc:
– Anh ơi anh. Gì vậy em? Mình tính sao đây ? Từ lúc Dung sanh chứng mất ngủ cho tới giờ, tuy Hải không nói ra nhưng lúc nào anh cũng chú ý đời sống tinh thần của vợ. Đến nước nầy anh cần phải lên tiếng thôi.
– Em nín khóc đi. Hải ngồi dậy lấy bình nước rót một ly đưa cho Dung.
– Em uống đi, rồi nằm xuống hít thở một lát rồi ngủ, chuyện bên nhà để bên nhà lo khi nào vợ chồng mình giàu có rồi tính. Anh sẽ viết thư nói cho ba biết hoàng cảnh của gia đình mình.
– Ba má em thì được rồi nhưng còn thằng Đợi?
– Năm nay nó đã ngoài hai mươi rồi, nó biết cầm dao rượt chém ba nuôi nó, thì nó phải đủ bản lãnh ra đời kiếm sống, em nên dồn hết tâm trí lo cho bốn đứa con của em kìa. Xe trước lật rồi, xe sau tránh, hy vọng còn vớt vát lại mấy đứa nhỏ. Thấy vợ bớt căng thẳng anh chỉ tay lên trán Dung pha trò:
– Đẻ cho cố rồi lo. Dung bấu mạnh vai chồng lấy đà nằm xuống phủng phịu:
– Em muốn đẻ nữa. Hải kê gối gối đầu và kéo mền đắp cho vợ xong, anh nằm xuống cạnh bên và luồn tay xuống dưới dạ bụng mân mê:
– Muốn vậy thì em phải đi bác sĩ nối buồng trứng lại. Đợi Dung ngủ say, Hải qua phòng sách lấy giấy viết ra viết thư cho ông Tài. Anh nói thẳng cho ông biết, cũng vì u mê mà anh và ông mắc phải một sai lầm, làm cho tôn ti trật tự trong gia đình đã đảo lộn hết, bao nhiêu đó cũng đủ cho lương tâm ray rứt suốt đời rồi. Anh khuyên ông nên dừng lại, đừng quá tham lam mà gieo khổ cho con, cho cháu sau nầy… Hôm sau Hải đưa thư cho Dung đọc và hỏi:
– Em thấy thế nào. Cũng được. Dung trao thư lại cho anh đem đi gởi. Cũng từ hôm đó, tánh tình của Dung mỗi ngày một thay đổi, trong gia đình Dung lo cho chồng cho con rất là chu đáo, duy có một điều cô nhỏ càng ngày càng lạnh nhạt với anh, nhứt là chuyện chăn gối không còn mặng nồng như trước nữa. Có lần Hải thắc mắc hỏi thì Dung gượng gạo biểu, hổng có gì, rồi ôm anh thật chặt và gục đầu lên vai anh mặc cho hai dòng nước mắt tuôn chảy…  * Bảy năm qua rồi ở bên nhà không thư qua nữa. Và cuộc sống tẻ nhạt của gia đình Hải vẫn tiếp tục điều trôi không biết tới bao giờ… Nhiều đêm ngồi một mình nhớ lại những chuyện đã xảy ra, anh tự hỏi: Hổng biết bên bển có còn ai đợi chờ anh như lần đầu anh rời xa bến đáy.  Dronten 02/05/04
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đêm giã từ Kế Sách*

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Sep 2023

Sáng bước vô trường, nghe bị đuổi;
về nhà lúi húi xếp hành trang:
bài thơ tình cũ… quần áo cũ..
hết thời dạy giáo… giờ lang thang.

Đến quán em quen, để trả tiền
“anh bị đuổi rồi, cuốn nóp thôi”
em buồn, con măt rưng rưng nói
“hia giáo bỏ đi… chợ chắc buồn.”

Em hỏi làm sao anh bị đuổi ?
“vì anh là giáo ngụy em ơi!”
chỉ vì tin bạn mà bạn phản,
bởi tại Lý Thông, bởi thói đời.

Tiệc tiển hành anh, em thết đãi
cá sặt rằn khô, xoài thanh ca
rắc chút đường, thêm vài lát ớt,
“uống đã đời đi! lắm đăng cay.”

Nửa khuya thức giấc đò Ngọc Diệp,
tình ta như chiêc lá xuôi dòng,
“thức dậy đi anh… về cho kịp!”
lỡ nhịp tình ta… sông cách sông.

Footscray cũng có khô cá sặt,
đầy dẫy, ê hề xoài thanh ca,
cũng là món gỏi… nhưng không phải…
quay quắt chiều xưa tiệc tiển hành.

Melbourne đất khách trời lưu lạc,
Kế Sách… quê mình nhớ biết bao,
thương người con gái Tiều lai ấy,
ước gì mình gặp lại kiếp sau.

đoàn xuân thu
melbourne.

*Kế Sách, một quận thuộc Sóc Trăng.

Đảo Phục Sinh!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Sep 2023

So với nước có tới 4000 năm văn hiến như nước Việt Nam ta thì nước Úc mới tới tuổi dậy thì! Vì Liên bang Úc mới thành lập năm 1901, cách đây chỉ hơn một thế kỷ và 18 năm hè, nên tràn đầy sức sống. Lập nước thì phải có quốc kỳ, quốc ca và quốc huy cho giống với người ta.

Nên Úc chọn hình Kangaroo và Đà điểu trên nền hoa ‘wattle’ làm quốc huy.

Trên quốc huy, còn có huy hiệu của 6 Tiểu bang là: New South Wales (thủ phủ Sydney), Victoria (thủ phủ Melbourne), Queensland (thủ phủ Brisbane), Westwern Australia (thủ phủ Perth), South Australia (thủ phủ Adelaide) và Tasmania (thủ phủ Hobart)

(Hai Vùng lãnh thổ tự trị là thủ đô Canberra và Northern Territory (thủ phủ là Darwin), mới thành lập sau nầy nên không có trong quốc huy nước Úc.)

Kangaroo mặt giống như con chuột, mang con trong túi trước ngực nên bà con mình mới gọi là chuột túi!

(Mấy tay Úc mới làm Tía cũng phải mang túi như con Kangaroo trước ngực để địu con vì vợ nó biểu!)

Loại Kangaroo đỏ và Kangaroo xám cao đến 2 mét và nặng đến 85 kg . Có những con Kangaroo khổng lồ, cao tới 3mét và nặng tới 200 kg.

Kangaroo chân dài thòn như người mẫu nhưng hai cái tay lại ngắn ngủn, rất mạnh.

Mới đây trên Youtbe có một đoạn phim quánh võ đài giữa một thằng Úc với một con Kangaroo.

Chẳng qua chú em chở theo một con chó cưng đi vào trảng rừng. Con Kangaroo xuất hiện dùng hai cái tay kẹp cổ con chó. Con chó yếu sức hơn không thoát ra được chỉ còn cách đứng chịu trận. Không sủa được vì nó chơi đòn xiết cổ, thở khò khè đây nè!

Chú em Úc, chủ chó, thấy vậy nóng ruột, cung tay quánh quyền Anh, đấm một phát ngay vào mặt con Kangaroo để giải cứu bạn chó của mình.

Dính đòn, chắc đau, con Kangaroo đành phải buông tay ra; nhảy phóc vào bụi rậm.

Bà con rầy rà là chú em Úc nầy sao lại dám bạo hành với con thú đại diện của nước Úc mình hè? Thì thử hỏi: “Không cho nó ăn đấm thì làm sao cứu được bạn chó của mình hè?”

Mà cũng còn may, vì con Kangaroo bận hai tay kẹp cổ con chó, mới dính đòn vào mặt. Bằng không dễ gì? Đánh võ quyền anh với Kangaroo, nó chơi lại bằng võ Đại Hàn, Tae Kwon Do, nó đá cho một phát là dám bay luôn cả hàm răng.

Vì chân nó cứng, móng nó sắc, mạnh, đâu có đi như như những con thú bốn chân khác mà nhảy không hè. Mỗi bước nhảy có thể dài 7 thước! Lực sĩ nhảy ba bước từng đoạt huy chương vàng thế vận hội cũng phải chịu thua.

Kangaroo là niềm hãnh diện vì chỉ nước Úc mới có mà thôi. Nó là đại sứ du lịch rất hữu hiệu vì du khách nước khác từ Châu Âu, từ Canada hay Hoa Kỳ đến Úc chỉ vì muốn gặp mặt chú Kangaroo coi mặt mày tròn méo ra sao?

Chính vì vậy mà hãng hành không Úc, Qantas lấy hình con Kangaroo trắng  cách điệu trên nền đỏ để làm biểu tượng (logo).

Nên có chuyện vui rằng: Tổng thống thứ 43 của Mỹ George W. Bush, dân Texas cái gì cũng bự; một lần đến công du nước Úc được John Howard, Thủ tướng thứ 25 của Úc dẩn đi vòng vòng ở vùng quê để khoe nước Úc mến yêu.

Xe chở Tổng thống Mỹ qua những cánh đồng trồng lúa mì, chạy mút mắt tới tận chân trời. George W Bush bĩu môi chê: “Ôi nhằm nhò gì! Bên Texas quê tui nông trại lớn gấp 10 lần cái nầy!”

Qua những đàn bò sữa vài chục ngàn con, George. W. Bush lại bĩu môi chê: “Ít xỉn hè! Texas tui, một đàn bò chừng cả triệu con, bự hơn nhiều!”

Nghe thiệt là tức cho cái tự hào dân nước Úc!

Thình lình xe dừng lại cho một đàn Kangaroo dể chừng có cả ngàn con theo con đầu lĩnh nhảy băng qua lộ. George W. Bush hồi nhỏ tới giờ chưa thấy ngạc nhiên hỏi: “Úy con gì mà bự khổng lồ như vậy hở John?

“Thủ tướng Úc cười khè khè nói: “Bên Texas khổng lồ của anh không có con cào cào hay sao cà?”

***

Còn con thứ hai dù không đẹp trai như tui; vì cái lông nó xám xịt hè nhưng vẫn được ló cái mặt của mình lên quốc huy của Úc là con Emu, Đà điểu Úc.

Tui hoàn toàn đồng ý việc vinh danh Đà điểu Úc; vì Đà điểu, Emu, cũng khoái đa thê! Khi nuôi nhốt chỉ cần ghép một trống với tối đa ba mái. Với tui ba mái hơi ‘bị’ nhiều. Hai là đã đủ!

Dù Đà điểu Úc, Emu, trai năm thê, bảy thiếp là thường. Nhưng không phải tối ngày chỉ châm bẩm vào chuyện gái gú không đâu mà kỹ năng sinh tồn của chúng cũng khiến mình phải dỡ nón ra mà thán phục.

Chuyện rằng: Sau Thế chiến thứ nhứt, chính phủ Australia tìm cách tạo công ăn việc làm cho các cựu quân nhân trở về từ mặt trận bằng cách cấp đất cho họ để trồng lúa mì và nuôi cừu ở ngoại ô thủ phủ Perth, tiểu bang Tây Úc.

Tuy nhiên, cuộc chiến tranh giành lãnh địa giữa người và Đà điểu đã nổ ra ác liệt.

Hàng chục ngàn con Đà điểu bản địa ở Western Australia tràn vào nông trại,  giẫm nát lúa mì, xơi từ ngọn xuống đến tận gốc, tàn phá mùa màng vô số kể.

Chịu hết xiết, nông dân cầu cứu. Chánh phủ gởi hai trung đoàn đến để tiêu diệt đàn Đà điểu khổng lồ này.

Thiếu tá G.P.W. Meredith, Pháo binh Hoàng gia dự tính với hỏa lực hùng hậu trong tay, sẽ tiêu diệt đám Đà điểu thảo khấu nầy trong vài ba ngày.

Nhưng Đà điểu Úc, Emu, không ngu ngốc như mình tưởng. Mỗi đàn đều có con lãnh tụ, thường là màu đen cao tới 1,8 m, nặng tới 50 kí lô.

Khi dáo dác ra điều hiểm nguy đang chực chờ, lãnh tụ này sẽ báo động đỏ cho cả đàn chạy vào bụi rậm rồi lãnh tụ mới vọt theo sau.

Thiếu tá Meredith trèo lên sau một chiếc xe tải có gắn súng máy, đuổi theo xả đạn xối xả vào 1.000 con Đà điểu ở gần một đập nước.

Những đàn Đà điểu chạy tản trên thế đất gồ ghề, khiến chiếc xe mất thăng bằng đâm vào hàng rào. Lũ Đà điểu biến vào đêm rất sâu trời Tây Úc.

Cuộc hành quân thất bại. Vì bắn 2500 viên đạn, hết 1/4 cấp số đạn mang theo mà chỉ hạ được có 200 con hè.

Tổng kết chiến dịch, chưa đến 1000 trong số 20.000 con Đà điểu bị tiêu diệt.

Chính phủ Australia sau đó tìm cách khác, trang bị súng đạn cho nông dân.

Hiệu quả thấy nhãn tiền. Hơn 57.034 con Đà điểu chỉ trong vòng 6 tháng của năm 1934 bị bắn hạ.

Ngoài ra, nước Úc còn có Koala hay gấu túi, Wombat, chuyên ăn lá cây bạch đàn hay khuynh diệp rồi ngủ…Hỏng làm gì hết; hè lè phè như Úc vậy!

Ngoài ra phải nhắc tới Possum là con sóc nữa. Chu choa nó phá thấy thương luôn.

Sân trước vườn nhà em yêu có trồng một cây lựu. Mùa hè, trái trỉu cành. Possum, Sóc, đến nó cạp ráo trọi hè! Hỏi có tức không chớ?

Sân nhà sau có trồng cây chanh Úc, vỏ dầy và the gần chết vậy mà nó nỡ lòng nào cạp hết cái vỏ vàng chỉ chừa lại lõi trắng; chắc vì chua quá nên Sóc nó chê!

Mãi tới khi em Úc hàng xóm, cách hàng bông giấy mùa hè đỏ lửa, đời em cô đơn nên em có nuôi một con Mèo bốn chưn.

Từ hồi Đại vương Mèo về trấn thủ; con Possum nầy chịu không thấu nên đã lên đường bôn tẩu. Nên mùa lửa lựu năm nay hoa lại nở; trái lại ra đầy.

Bà con độc giả thân thương nào muốn ăn trái lựu, nghe nói chữa được bịnh sạn thận, thì cứ tự nhiên đến nhà tui mà hái. Tui không méc vợ tui đâu. Hi hi!

Năm rồi, mùa Đông. để hâm nóng lại tình ta tui dắt em yêu ra biễn.

Đêm chập choạng xuống, từng đàn chim cánh cụt, Penguin, lũ lượt theo nhau về tổ. Em yêu càm ràm rằng: “Mấy con chim cánh cụt dễ thương nầy tối là về với vợ. Còn anh chiều sập tối là về với quán bán beer. Hu hu!”

Tuy nhiên, nước Úc không phải con vật nào cũng dễ thương vì dễ nhìn, dễ ôm ấp, dễ nựng nịu đâu nhe. Vì ngoài biễn Úc trùng trùng sóng vỗ, có cá mập, gần cửa sông còn có cá sấu, nặng vài tấn là thường. Rồi trong hoang mạc có Dingo, (chó rừng), rắn và nhện cực độc nữa nhe.

Dẫu vậy, với tui, nước Úc vẫn mến yêu. He he!

Có mấy em sinh viên từ các nước khác đến Úc nầy du học cảnh báo mấy đứa sắp tới là: “Dẫu đang mùa hạ nóng cháy da đừng quên mang theo áo mưa!”

Ối! Lo chuyện con bò trắng răng. Tui, hơn hai mươi mấy năm ra đường, có bao giờ đem áo mưa gì đâu; (trừ chuyện khác).

Ra khỏi nhà là chui vô xe chạy thì làm sao mà ướt? Còn lỡ đang đi trên đường, mưa thì tấp vô cái quán nào đó làm một ly rượu đỏ! Chưa cạn ly là trời đã hửng nắng lên rồi. Cũng có mưa rỉ rả suốt một hay hai ngày đó chớ. Nhưng hiếm lắm.

Thời tiết Melbourne không đoán trước được, bốn mùa trong một ngày.  Chính vì vậy mà tánh tình người Melbourne cũng đổi thay loạn xị theo thời tiết. Mới cười đó; rồi khóc đó. Mới vui như vừa trúng tattslotto; rồi bí xị như đi siêu thị mà bị đứa nào móc túi.

Nước Úc vẫn mến yêu vì Footscray, nơi tui dừng bước giang hồ, đã hơn hai mươi mấy năm qua, có một món làm tui rất khoái là Phở!

Lỡ em yêu giận, đình công không nổi lửa lên em, thì tui cũng không đi ngủ với cái bụng lép xẹp bao giờ.

Footscray có hơn chục cái tiệm Phở. Tui thử ăn qua hết trơn nhưng không ai nấu ngon hơn con vợ tui hết ráo, dù em là dân Nam kỳ đặc sệt.

Bà con biết tại sao không? Vì trong tô phở nghi ngút khói đó, em yêu gởi theo cái tình yêu nồng ấm cho chồng mình, tức là tui đây. Hi hi!

***

Khi bài nầy lên khuôn là mùa Phục Sinh, Chủ Nhựt, mùng Một tháng Tư, lại về trên nước Úc buổi sơ thu.

Các nước Bắc Bán Cầu, như Canada và Mỹ, mùa Đông vừa dứt, mùa xuân đến. Mùa phục sinh, đâm chồi nẩy lộc.

Lễ Phục Sinh (Easter) là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành và Anh giáo.

Ai cũng biết năm 1722, nhà thám hiểm Hòa Lan, Jacob Roggeveen đã đến và đặt tên Easter, Phục Sinh cho một hòn đảo thuộc đông nam Thái Bình Dương, cách bờ Tây nước Chile bên Nam Mỹ khoảng 300 dặm.

Còn tui vốn bị đọa đày dưới chế độ CS, như người vừa từ cõi chết, may mắn đến được nước Úc phúc  địa nầy đây; phục sinh, làm lại cuộc đời nên tui gọi nước Úc mến yêu nầy là Đảo Phục Sinh !

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn rậu 15 Sep 2023

Bài 25 – Đi Phép Đợt Đầu

Thấm thoát cô bé An Bình ra đời đã được nửa tháng. Đúng là trời sinh trời dưỡng. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đó, rất may không có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra. Cả hai mẹ con được anh Sáu Xòm hết lòng chăm sóc nên chẳng thiếu thứ gì. Cả hai đều mạnh khỏe. Em bé rất dễ nuôi, chỉ ăn rồi ngủ chẳng quấy khóc làm rộn ai cả.

Lúc này trời mưa thường hơn trước. Hầu như chiều nào cũng có một trận mưa, không lớn lắm nhưng cũng đủ làm nước thoát đi không kịp, đọng thành những vũng nhỏ ở những chỗ trũng hay ở các vết lún của bánh xe. Thỉnh thoảng có được một trận mưa lớn. Chúng tôi lợi dụng ngay những cơn mưa ồ ạt ấy để tắm mưa và hứng nước để uống dần.

Dù cho cuộc chiến đã có vẻ bớt phần căng thẳng nhưng tôi vẫn phải đề phòng. Chỉ những khi nào thật cần thiết, tôi mới ra khỏi căn hầm. Tôi nghiệm rằng địch quân rất ít khi pháo kích trong những cơn mưa lớn. Có lẽ họ cho rằng pháo như vậy vô ích, ít gây ra thương vong vì mọi người đâu có đi ra ngoài. Do đó, tôi mới liều tắm mưa nhưng cũng vẫn để nón sắt và áo giáp trong tầm tay của mình.

Bây giờ tôi không sợ bị thiếu nước uống nữa. Cuộc sống có vẻ thoải mái hơn trước rất nhiều. Đi từ một cái khổ nhiều tới một cái khổ ít là thấy sướng rồi, tuy cái cảm giác có một trái đạn đại bác lúc nào cũng treo lủng lẳng trên đầu vẫn còn, nhưng lúc này, sợi dây ấy có vẻ hơi lớn hơn trước.

Tôi nghe tin Quân Đoàn III đang cố gắng lập một chiến đoàn để giải tỏa Quốc lộ 13. Nhưng đã mấy tuần nay, mọi sự đều giậm chân tại chỗ. Địch quân đã cho đóng chốt rải rác ở quãng đường giữa Chơn Thành tới ấp Tân Khai.

Quân mình không thể tiến lên được. Vì vậy, cho tới bây giờ mọi tiếp tế từ bên ngoài vẫn bằng không vận.

Có lệnh cho đi phép một phần quân số. Tôi vội vã cho anh Xòm biết, đồng thời xin anh Phúc cho phép anh Xòm được ưu tiên đi phép trước. Tôi có ý cho anh đi như vậy để anh có dịp đem vợ con về dưới Sa Đéc, quê anh càng sớm càng tốt để chóng được sum họp với gia đình.

Cho tới nay, mọi sự đều như êm đẹp đối với anh. Tôi muốn anh phải được thật toàn hảo, nghĩa là anh phải cùng vợ con về tới quê nhà an toàn thì tôi mới hả lòng.

Tôi giúp anh Sáu lo tất cả các giấy tờ cần thiết, từ giấy phép đến giấy khai sanh cho đứa trẻ, rồi tiền lương lãnh trước một tháng, rồi giờ máy bay đến v.v… Tôi đã chạy đi chạy về giữa hầm cứu thương và hầm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu dưới cơn mưa chiều hôm ấy đến 8 giờ tối. Mọi giấy tờ xong xuôi, tôi mới thấy yên trí về phòng nằm nghỉ. Trong bụng vẫn cầu mong sao cho chuyến bay ngày mai được suông sẻ thì lúc đó, tôi mới yên tâm.

Về chung với anh Sáu chuyến này có cả cô Bích. Thành ra toán Giải Phẫu Cấp Cứu của tôi bắt đầu từ ngày mai chỉ còn lại tôi, Binh nhất Thiện và Thượng sĩ Lỹ. Thế cũng đủ rồi. Tôi chỉ cần chuyên viên tê mê là Thiện thôi, còn những người khác kiếm người thay thế cũng không khó mấy.

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm. Tôi và anh Phúc đang ngồi ăn sáng với bịch cơm sấy, anh Sáu Xòm và vợ ghé qua. Anh Phúc nói:

– Sao, anh Sáu sẵn sàng chưa?

– Thưa bác sĩ, xong hết cả rồi. Vợ chồng chúng em đến chào hai bác sĩ. Chúc hai bác sĩ ở lại mạnh giỏi.

Tôi đứng dậy bắt tay anh Sáu, nói:

– Tôi cũng chúc gia đình anh đi đường được may mắn và về tới nhà an toàn.

Vợ chồng anh Sáu đi ra. Cô Bích bước vào. Tôi hỏi đùa:

– Cô cũng tới chào tụi tôi đấy hả?

– Dạ.

Miệng cô hơi mỉm cười, dáng điệu làm ra vẻ thản nhiên nhưng nét mặt có vẻ hơi xúc động. Đó cũng là phản ứng bình thường trong mọi cuộc chia tay. Cô nói tiếp:

– Hai bác sĩ ở lại mạnh giỏi.

– Cô đi đường cẩn thận. Chỉ nửa tiếng thôi, ra khỏi vùng này là an toàn rồi. Một giờ sau, cô lại có quyền thảnh thơi dạo phố Sài Gòn, sướng nhé.

Cô gật đầu chào chúng tôi một lần nữa rồi mang cái túi xách tay đi lên miệng hầm, theo vợ chồng anh Sáu lên xe Hồng Thập Tự ra bãi đáp.

Lát sau, tôi nghe thấy tiếng trực thăng từ đàng xa vọng lại, càng ngày càng gần rồi nửa tiếng sau, mọi sự lại yên tĩnh như cũ. Tôi biết trực thăng đã tới bốc mọi người đi rồi. Tôi thấy mừng thầm trong lòng là không nghe thấy tiếng pháo kích nào cả. Như vậy mọi người đã được an toàn lên máy bay. Chỉ còn sợ quãng đường từ An Lộc tới Chơn Thành thôi nhưng chắc cũng không sao.

Tôi nghe nói để tránh hỏa tiễn của địch bắn lên, những máy bay trực thăng đều bay ở tầm rất thấp, là là trên ngọn cậy. Vì vận tốc rất nhanh nên địch quân không thể nào quay súng cho kịp đề nhắm bắn.

Anh Phúc chợt nói:

– Rồi, bây giờ tới lượt tụi mình. Anh tính bao giờ đi phép?

– Bây giờ tình thế cũng lắng dịu rồi. Chúng mình ế khách, rảnh rang, cũng nên đi phép về thăm nhà một chuyến.

– Vậy, chuyến tới anh có muốn đi không?

Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

– Anh đi trước đi. Một tuần sau anh lên, tôi sẽ đi cũng không muộn. Anh sang hầm Chỉ Huy nói với ông Nhựt một tiếng rồi làm giấy tờ sẵn sàng. Khi nào có chuyến bay là về cho lẹ.

– Vậy cũng được.

Mấy ngày sau có chuyến bay. Anh Phúc đã được về phép một tuần. Trong hầm cứu thương chỉ còn có tôi, Thượng sĩ Lỹ và Binh nhất Thiện. Không có việc gì làm, tôi tha hồ viết nhật ký, vừa để giết thì giờ vừa để ghi lại những cảm nghĩ của tôi lúc bấy giờ.

Bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu lại cho người sang hỏi tôi đã lên Đại úy thực thụ lâu chưa? Có huy chương nào không? Tôi nói đã lên thực thụ được sáu tháng. Huy chương cũng có một hay hai cái gì đó. Tôi biết trận chiến sắp kết thúc, đây là lúc Đơn Vị Trưởng lo đề nghị thăng cấp và ban thưởng huy chương cho những người xuất sắc. Những thứ này đối với tôi có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Điều đáng mừng nhất là tôi đã được may mắn sống sót, không bị một vết thương nào. Công việc làm do muốn chu toàn bổn phận một cách tự giác. Nhìn lại những nỗi khổ của tôi trong trận này so với những người khác thật ra chẳng đáng là bao.

Tổng kết ra, tôi đã mổ được 254 trường hợp đại giải phẫu. Chết mất sáu người ngay tại mặt trận, số tử vong của những thương binh đã được di chuyển về các bệnh viện khác, tôi không tài nào biết được.

Bác sĩ Vũ Thế Hùng bên Tiểu Đoàn 5 Quân Y có đòi tôi báo cáo những trường hợp đã mổ từ đầu trận chiến tới giờ. Tôi không có được những danh sách đó vì cuốn sổ nghi thức giải phẫu đã để lại bệnh viện khi tôi di chuyển sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Vả lại, nghi thức giải phẫu chỉ được ghi đàng hoàng trong tuần lễ đầu. Về sau, địch pháo dữ quá, mổ làm sao cho nhanh cho chóng xong, rồi đi kiếm chỗ núp. Ai còn nghĩ tới nghi thức giải phẫu làm gì. Mổ xong, gắn được giấy chuyển thương với đầy đủ tên tuổi, số quân và đơn vị trên người thương binh là quá đẹp rồi. Tôi chỉ ghi số ca mổ trong ngày rồi cộng lại thôi chứ không ghi rõ như thời bình. Do đó, tôi chỉ biết được tổng số, còn muốn đi vào chi tiết thì đành chịu.

Tôi nghĩ đó cũng là một thiếu sót của tôi vì đã không giữ được danh sách các thương binh tôi đã mổ. Ngay tại mặt trận như vậy, thật tình mà nói, tôi thấy không có hứng làm những chuyện đó. Trong khi cái chết lúc nào cũng lởn vởn bên mình thì tôi còn cần gì nữa. Đúng ra phải có một thư ký lo về việc này. Đó là cô Trí nhưng chỉ sau đợt tấn công lần đầu, các nhân viên dân sự đều bỏ bệnh viện di tản cùng với gia đình. Tôi có nhắc Thượng sĩ Lỹ tiếp tục làm nhưng chúng tôi làm việc mờ người ra. Xong việc lại còn tự mình đi lo cơm nước thi ai còn nghĩ tới phúc trình làm gì nên tôi cũng thông cảm và làm lơ cho Thượng sĩ Lỹ.

Tôi đoán bác sĩ Vũ Thế Hùng có thể hiểu lầm tôi có danh sách thương binh nhưng cố tình không báo cáo cho anh. Anh cho người sang đòi hai lần, tôi đều nói không có . Tôi chỉ có con số thôi. Không có cơ hội trực tiếp nói chuyện với nhau nên tôi đã không có cách trình bày, giải thích cho anh Hùng hiểu.

Tôi biết, với nhiệm vụ Y Sĩ Trưởng của Sư Đoàn, anh Vũ Thế Hùng phải báo cáo lên thượng cấp về tổng số thương binh đã được Tiểu Đoàn 5 Quân Y phối hợp với Bệnh Viện Tiểu Khu săn sóc. Tôi thấy anh chỉ cần báo cáo những gì anh có trong tay, tức số thương binh được Tiểu Đoàn 5 Quân Y đã điều trị, chẳng ai bới ra mọi chi tiết làm gì rồi mọi chuyện cũng qua đi.

Một buổi chiều sau khi cơm nước xong, tôi sang bên hầm chỉ huy chơi, xem có tin tức gì không. Đại tá Nhựt thấy tôi không mặc áo giáp, đội nón sắt như thường lệ khi đi ra ngoài hầm. Ông có vẻ không bằng lòng, nói:

– Bác sĩ nên cẩn thận. Đi ra ngoài là phải mặc áo giáp, đội nón sắt đàng hoàng, lỡ nó pháo bất tử mình còn có cái che thân. Anh mà bị thương, ai sẽ mổ cho anh?

Tôi biết ông nói đúng nên chỉ biết trả lời:

-Tại đi vội quá. Lần sau tôi sẽ không quên đâu.

Đại tá Nhựt không muốn tôi ở trong tình trạng khó chịu lâu, ông chuyển qua vấn đề khác, hỏi tôi:

– Bác sĩ Phúc đi phép, chắc sắp về rồi phải không bác sĩ?

– Dạ, chỉ đúng hai ngày nữa là đúng một tuần.

– Có thể Tổng Thống Thiệu sẽ lên đây thăm mình đấy. Bác sĩ ráng chờ đi, để tôi kiếm cái Bảo Quốc Huân Chương cho bác sĩ.

– Cám ơn Đại tá. Tôi đâu có đánh đấm gì đâu mà mong được cái huân chương cao quý ấy.

Đại tá Nhựt lắc đầu nói:

– Không phải cứ giết được địch nhiều mới là có công. Công việc bác sĩ làm tại chiến trường này ai cũng biết. Tụi cố vấn Mỹ ở Quân Đoàn đề cao bác sĩ lắm. Nhất là ông bác sĩ Risch, không tiếc lời khen ngợi bác sĩ. Dù sao, binh sĩ biết ngay tại mặt trận mà vẫn có bác sĩ mổ cấp cứu được thì họ lên tinh thần lắm chứ. Bác sĩ biết mổ được bao nhiêu ca không?

– Dạ, thưa từ đầu trận đánh này tới giờ vào khoảng 250 ca, trong đó có sáu tử vong.

Đại tá Nhựt tính nhẩm một lúc rồi gật đầu hài lòng và nói:

– Như vậy, số tử vong tương đối cũng thấp đấy nhỉ? Chưa tới 3 phần trăm.

– Đó cũng nhờ bị thương được mổ ngay, không phải đợi chờ lâu. Thương binh không bị mất máu nhiều. Kích xúc được điều trị ngay. Vi trùng chưa có đủ thời gian nẩy nở làm độc. Đó là những yếu tố căn bản để làm giảm số tử vong của thương binh.

Nói chuyện một lúc, tôi cáo từ đi về hầm của tôi. Vừa đi vừa ngẫm nghĩ những lời Đại tá Nhựt mới nói với tôi. Tôi đoán ông biết trong tuần này có chương trình để Tổng Thống lên đây thị sát chiến trường An Lộc cùng ủy lạo các anh em binh sĩ. Nhân cơ hội này, chắc chắn Tổng Thống sẽ gắn huy chương ngay tại mặt trận cho những người được đơn vị trưởng đề cử. Cũng có người sẽ được thăng cấp đặc cách tại mặt trận vì những thành quả xuất sắc của họ.

Tôi bước vào hầm, đi về căn phòng của tôi. Bây giờ căn phòng thật lặng lẽ. Mọi khi có anh Phúc, tôi còn có người nói chuyện, nay chỉ còn có một mình. Tôi thấy lẻ loi quá. Thuở bé tôi là đứa trẻ hay sợ ma lắm và nhất là sợ chuột nữa. Vậy mà mấy tháng nay sống gần với mấy trăm xác chết, tôi chẳng thấy có con ma nào cả. Tuy rằng trông thấy xác chết thì cũng ơn ớn. Có thể vì pháo dữ quá nên các hồn ma cũng sợ, lỉnh đi chỗ khác chăng.

Tôi còn nhớ mấy tháng trước khi xảy ra trận chiến này, ngủ trong phòng của tôi ở bệnh viện Tiểu Khu, tôi hay bị bóng đè lắm. Cứ nằm xuống liên tiếp mấy đêm liền là bị một bóng đen đè dậy không nổi. Tôi có về kể lại cho ông Diệm nghe. Ông Diệm nói:

-Vậy để tôi cho bác sĩ mượn cái tượng ảnh Chúa đã được Cha làm phép, để ngay đầu giường bác sĩ nằm. Chắc sẽ không bị nó quấy rầy nữa đâu.

Tôi nghe lời, đem tượng ảnh Chúa treo ngay trên đầu giường nhưng vẫn bị bóng đè như thường. Tôi mang mấy củ tỏi để ngay đầu giường cũng chả ăn thua gì. Mỗi lần tôi nằm sấp xuống là bị bóng đè liền. Có lần tôi đang mơ mơ màng màng thì bị bóng đè. Nó còn lôi tôi ra khỏi giường, vẫn ở trong cái thế nằm, giữ tôi lơ lửng trên không một hồi rồi đặt tôi lại vào giường như cũ. Thế có láo không chứ. Tôi cũng chẳng sợ. Tôi không tin mấy là ma làm. Có thể vì ban ngày, tôi làm việc mệt nhọc nên đêm đến, đặt mình xuống là bị ảo tưởng chăng. Có điều tôi hơi thắc mắc, ảo tưởng gì mà cứ lập đi lập lại hoài, liên tiếp cả tuần lễ.

Khi dọn sang hầm này, tôi không còn bị bóng đè nữa. Nhưng hình như tôi lại bị ảo tưởng là trong hầm có chuột mặc dù tôi chưa thấy một con chuột nào cả. Vì sợ chuột nên lúc nào tôi cũng đề phòng. Bởi vậy, thỉnh thoảng tôi lại có cảm giác có cái gì đụng đậy ở dưới chân hay dưới lưng khi đang ngủ.

Hai ngày sau, tôi đang nằm nghe radio theo dõi tin tức, chợt nghe thấy tiếng hắng giọng quen thuộc của bác sĩ Phúc. Tôi nhỏm dậy đã thấy anh tay xách hai túi hành lý khá nặng, bước vào cửa. Trông thấy anh, tôi mừng quá:

– Anh lên thật đúng lúc. Vắng anh có một tuần mà tôi thấy trống rỗng quá. Anh đi đường có gì nguy hiểm không?

– Hơi mệt thôi, cũng không có gì nguy hiểm lắm. Phi công bay rất thấp, là sát ngọn cây nên cũng an toàn, không sợ bị chúng bắn. Ở đây, mấy ngày nay có bị pháo kích không anh?

– Vẫn lai rai, vài trăm quả nhưng không có quả nào vô Bộ Chỉ Huy cả. Bà cụ và gia đình vẫn mạnh khỏe cả chứ?

Anh Phúc lấy tay gạt mồ hôi trán, nói:

– Cám ơn anh, má tôi vẫn mạnh. Gia đình thấy tôi về thì mừng lắm. Người về từ địa ngục mà lị. À, bà xã tôi có gửi biếu anh ít Mè Xửng ăn chơi cho đỡ buồn.

Kẹo Mè Xửng Huế là thứ tôi thích ăn nhất, kẹo có mè với đậu phọng, ăn vừa bùi lại vừa thơm. Trong lúc đói khổ, thiếu thốn như thế này mà lại có của quý đó thì vui biết mấy. Tôi reo lên:

– Ồ, vậy thì tốt quá. Cám ơn anh chị nhiều lắm. Món này là thứ khoái khẩu nhất của tôi. Chút nữa ăn cơm xong, tráng miệng thứ này với nước trà nóng thì thật tuyệt. Anh về thấy Sài Gòn ra sao?

Anh Phúc lắc đầu, thở dài nói:

– Dân chúng vẫn tỉnh bơ như không. Thanh thiếu niên thì vẫn ăn chơi như cũ, chẳng có ai biết An Lộc là gì cả. Chỉ những người có thân nhân sống ở Bình Long mới có một chút suy nghĩ tới trận đánh này thôi.

– Thế anh có đi chơi đâu không?

Anh Phúc lắc đầu, đáp:

– Đâu có thì giờ, anh. Về nhà được có hai ngày, tôi lại phải lên Liên Đoàn Quân Y họp rồi lại tới bệnh viện để rút kinh nghiệm trận đánh này, sửa soạn cho những trận sắp tới. Trong cuộc họp đó, họ đề cao anh quá. Có anh bác sĩ Trần Văn Tính, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 Quân Y ở Mỹ Tho, ca ngợi anh hết lời. Đề nghị tuyên dương tinh thần phục vụ can đảm của anh.

Tôi ngạc nhiên, tự hỏi làm sao họ có thể biết được những việc làm của tôi, một khi chúng tôi bị bao vây nội bất xuất, ngoại bất nhập trong gần ba tháng trời. Tôi hỏi bác sĩ Phúc:

– Tôi lấy làm lạ, sao họ biết được hở anh. –Tôi nói đùa – Chính tôi còn không biết nữa là ai khác.

Anh Phúc nói:

– Có gì đâu, họ hỏi những thương binh được anh mổ, săn sóc và những nhân viên của bệnh viện tản cư xuống Bình Dương là biết hết chứ có khó gì. Dù sao đó cũng là điều tốt cho anh. Công việc mình hết sức làm mà được mọi người biết đến cũng đủ an ủi cho mình rồi. Vả lại, anh đừng quên phái đoàn cố vấn Mỹ đến thăm mấy tuần trước. Chính những người Mỹ đó đã nói rất tốt về anh nên ông Đại tá Lương Khánh Chí, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 73 Quân Y mới biết và báo cho những người khác biết để như một công tác tuyên truyền khích lệ các đơn vị khác cố làm được như mình ở đây.

– Anh nói đúng. Ai ở trong trường hợp tôi cũng phải làm như vậy. Nhưng được thiên hạ hoan nghênh thì cũng thú vị lắm. Phải nói thực là như thế. Thôi thì cũng bõ công ăn gạo sấy hơn hai tháng trời.

Anh Phúc chợt vỗ tay lên trán, nói:

– Ô, nhắc đến cơm gạo. Tôi có mang lên xôi với con gà quay mua ở Chợ Cũ, để tôi dọn đồ một chút rồi mình ăn kẻo nó hư thì uổng. Bà xã tôi còn nhét theo cả mấy ký gạo nữa vì sợ mình ở trên này đói.

– Chị ấy chu đáo quá. Có vợ như vậy cũng ấm lòng người chiến sĩ phải không anh?

Tôi nói đùa với anh Phúc. Anh mỉm cười, gật đầu công nhận mặc dù vẫn than:

– Tôi đã bảo nhà tôi sắp đổi về Sài Gòn rồi, không phải tiếp tế những thức ăn làm gì, mang đi nặng lắm. Nhưng nhà tôi cứ ấn đại vào bao: “Đâu có nặng gì đâu, trực thăng nó chở đi”. Bà ấy đâu có biết, từ bãi đáp vào đây tôi phải khênh mấy thứ này nặng muốn xỉu luôn.

Thảo nào tôi thấy anh mặt mày thất sắc vì phải mang những đồ đạc nặng nề như vậy. Tôi an ủi anh:

– Tội nghiệp anh phải mang quá nặng. Ở đây vẫn còn đầy dẫy nguy hiểm. Mình phải gọn nhẹ để di chuyển cho nhanh. Lỡ nó pháo bất tử thì sao. Rút kinh nghiệm của anh, tôi sẽ không đem theo gì hết. Tôi nghĩ nhiều lắm chừng một tháng nữa, mình có quyền vi vút ở Sài Gòn rồi phải không anh?

– Đúng vậy, tôi có hỏi ông Đại tá Lương Khánh Chí rằng chừng nào chúng tôi có người thay thế? Ông ấy nói chậm lắm là hai tháng, nhanh là một tháng. Ông ta đang chọn người làm Y Sĩ Trưởng thay thế tôi và mấy người nữa. Hình như đã có sẵn danh sách rồi. Tôi nghe ông ấy nói anh bác sĩ tên Lê Quang Tín sẽ lên thay tôi. Anh có biết anh Tín không?

– Có chứ, tôi với nó thân lắm. Nó sau tôi một lớp và cùng học lớp Giải Phẫu Cấp Cứu với tôi. Tay này được lắm, được cả về tính tình lẫn tay nghề nhưng lên đây cũng phí đi. Với khả năng của Tín, tôi thấy để hắn ở mấy bệnh viện lớn tốt hơn. Không hiểu sao nó lại thích lên đây.

-Chắc anh chàng thích phiêu lưu hoặc bị hào quang của bác sĩ Quý cám dỗ.

– Hào quang gì anh, tôi chỉ làm bổn phận mà thôi.

– Anh không biết chứ, như tôi đã nói, ở Liên Đoàn họ thích anh lắm. Ai cũng đề cao anh. Anh sẽ là người hùng Quân Y đấy.

– Thôi để người hùng hạ hồi phân giải. Bây giờ anh em mình làm bổn phận công dân, tiêu thụ mấy món này đã rồi sau sẽ tính.

Chắc anh Phúc đi về hơi mệt nên tôi thấy anh ăn vài miếng rồi than no, không tiếp tục nữa. Còn tôi thì nửa bịch cơm sấy ăn hồi trưa, bây giờ vẫn chưa tiêu hết nên chúng tôi ăn có vẻ uể oải, không như tôi nghĩ sẽ làm hết. Chứng tôi thu dọn chiến trường trong một thời gian kỷ lục. Đúng là no bụng đói con mắt.

Chúng tôi ngồi uống trà và thưởng thức mấy miếng kẹo Mè Xửng. Quả thực là thần tiên. Đã lâu lắm tôi không được nếm những thức ăn ngọt nên mấy miếng kẹo này đối với tôi lúc đó thật là tuyệt vời. Lại uống với trà nóng nữa mà tiếng nhà nghề gọi là “hãm” thì không còn gì thú vị hơn. Tuy nhiên, tôi không dám ăn nhiều vì sợ sẽ bị sôi ruột hoặc đi tiêu chảy, đau bụng vì không dùng đường đã lâu rồi.

Chúng tôi thu dọn nhanh giường của mình rồi anh Phúc nói:

– Hôm nay quá mệt, tôi đi ngủ sớm!

Đúng thế, tôi thấy nét mặt anh có vẻ bơ phờ, hốc hác. Tôi nghĩ bụng về phép thăm nhà mà lại mệt hơn ở đây thì lạ nhỉ. Tôi uống nước trà, chắc tối nay lại không ngủ được. Không sao, đối với tôi, không ngủ được chẳng làm tôi lo lắng. Tôi chỉ cần để óc làm việc một chút thì lại ngủ được ngay. Nhất là hiện nay nhàn nhã, không phải như hồi xưa, phải dậy sớm đi làm. Bây giờ, nếu đêm không ngủ được, sáng ra có mệt thì tôi vẫn có quyền ngủ nữa, chẳng ai quấy rầy cả.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by sƠn râu 15 Sep 2023

Bài 24 – Thăm Lại Chiến Trường

Một hôm có phái đoàn của Tổng Tham Mưu tới điều nghiên trận đánh, dẫn đầu là Đại tá Phạm Văn Sơn, nghe nói ông ta là giám đốc Nha Quân Sử.

Ông đến để thu thập tài liệu viết chiến sử cho trận đánh. Các sĩ quan khác thì lo nghiên cứu những kinh nghiệm có thể rút ra được từ những bài học quý báu của trận đánh lịch sử này.

Phái đoàn có ghé qua hầm cứu thương của chúng tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Đại tá Phạm Văn Sơn, người mà tôi đã nghe danh từ lâu. Đúng ra tôi đã biết tên ông từ năm tôi lên 11 tuổi, khi tôi còn học tiểu học ở ngoài Hà Nội trước năm 1954. Khi đó gia đình chúng tôi chưa di cư vào Nam. Tôi còn nhớ một buổi chiều, mẹ tôi đi làm về, đưa cho tôi một cuốn sách thật dầy. Mẹ tôi nói:

– Này cho con đó, con đọc đi, hay lắm.

Tôi rất thích đọc sách. Từ thuở biết đọc đến giờ tôi chưa bao giờ có được một cuốn sách dầy như thế. Tôi vội giở ra thì thấy đó là cuốn Việt Nam Tranh Đấu Sử của Phạm Văn Sơn.

Tôi say mê đọc cuốn sách cả mấy tuần liền. Không những tôi đọc một lần mà tới nhiều lần. Tôi không nhớ là bao nhiêu lần. Tôi biết rành Việt sử là nhờ cuốn sách này. Từ ngày đó cho tới khi tôi học năm học chót của chương trình trung học, tôi không cần phải học môn Việt sử nữa, vì tôi đã thuộc cả rồi. Có nhiều đoạn, nhất là những đoạn văn trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, hay bài Hịch Tướng Sĩ củaTrần Hưng Đạo cho tới bây giờ, đã mấy chục năm tôi vẫn còn nhớ nằm lòng.

Tôi nói với Đại tá Phạm Văn Sơn:

– Hân hạnh được gặp Đại tá ở đây. Tôi nghe danh Đại tá từ lâu rồi.

Chắc Đại tá ngạc nhiên lắm, nếu biết rằng tôi biết tên ông từ năm tôi lên 11 tuổi.

Đại tá Sơn ngạc nhiên thật. Tôi thấy ông hơi mỉm cười nhướng mắt lên như dò hỏi, như chờ đợi lời giải thích câu nói của tôi. Tôi không đi thẳng vào vấn đề, mà đọc mấy câu trong bài Bình Ngô Đại Cáo cho ông nghe:

-Tượng mảng. Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo.

Sau đó tôi kể lại trường hợp tôi được mẹ tôi cho tôi cuốn Việt Nam Tranh Đấu Sử, và tôi đã say mê đọc cuốn sách đó như thế nào. Đặc biệt là những trang ông viết về vua Hàm Nghi bỏ triều đình, ra Hịch Cần Vương chống Pháp; hay vua Duy Tân, vị vua trẻ tuổi, mới có 18 tuổi mà đã có lòng yêu nước triệt để chống Pháp, rồi bị tù đày ra đảo Reunion.

Đại tá Sơn nghe xong cười nói:

– Bác sĩ có trí nhớ hay quá.

Tôi vội hỏi:

-Thưa Đại tá, trong trường hợp nào ông đã viết bộ sử đó.

Đại tá Sơn nói:

– Tôi thực sự không phải là nhà sử học. Hồi đó tôi làm công chức cho ban Quốc phòng thuộc Phủ Thủ Hiến Bắc Việt. Vì người Pháp theo hiệp định Genève sẽ phải rút khỏi Việt Nam, chính quyền sẽ về tay mình, nên cấp trên có trao cho tôi nhiệm vụ viết một bản tường trình tóm tắt về lịch sử nước Việt, để làm sáng chính nghĩa quốc gia Việt Nam, làm căn bản cho cuộc chiến đấu của chúng ta. Sau đó mọi người đọc thấy được nên mới phổ biến rộng rãi, và cuốn sách đã được nhiều người biết đến. Đó chỉ là một cuốn tóm lược thôi. Sau này tôi có viết lại đầy đủ hơn gọi là cuốn Việt Sử Tân Biên. Không biết bác sĩ có đọc cuốn này chưa?

– Dạ thưa chưa. Tôi có nghe quảng cáo cuốn này hồi 1959, nhưng chưa mua xem.

Chúng tôi mải nói chuyện về sử Việt Nam nên những chi tiết về trận đánh này ông đã không có thì giờ hỏi tới. Sau đó ông phải rời Bình Long gấp vì trực thăng đã đến đón. Tuy nhiên những người tháp tùng với Đại tá Sơn đã có đầy đủ những dữ kiện rồi, nên ông cũng không cần phải làm gì thêm. Vả lại về phía Quân Y thì cũng không quan trọng bằng những đơn vị chiến đấu, đặc biệt là về những chiến thuật đã được thực hành để giữ vững An Lộc.

Khi phái đoàn Tổng Tham Mưu đi rồi, Thiếu tá Diệm tới rủ tôi:

– Ông Quý, đi một vòng chơi không? Tôi có xe Jeep đây.

Tôi nghĩ ông Diệm là tay cẩn thận lắm, nếu rủ tôi đi chơi một vòng như vậy, chắc là vòng đai an ninh của mình đã khá rộng, và an toàn. Tôi gật đầu chịu liền, nhân tiện tôi cũng muốn trở lại bệnh viện thăm một lần chót xem sao, vì biết nếu có đổi về Sài Gòn, tôi chắc cũng chẳng có cơ hội trở lại đây. Tôi rủ anh Phúc:

– Anh Phúc có muốn theo tụi tôi đi một vòng không?

Anh Phúc hưởng ứng liền. Thật ra ở mãi trong hầm cũng chán, bó cẳng lắm.

Anh nói:

– Đi chứ. Tôi cũng muốn trở qua bệnh viện xem anh em mình có cần gì không và tình trạng hiện giờ ra sao.

Thế là sau một tháng trời, tôi trở về thăm Bệnh Viện Tiểu Khu. Bệnh viện vẫn còn đó nhưng điêu tàn hơn trước. Hàng tên TY Y-TẾ, BỆNH-VIỆN BÌNH-LONG trên cổng đã bị mảnh pháo văng trúng nhiều lần làm rơi rớt cả năm, sáu chữ.

Chúng tôi nhảy vội xuống. Tôi đưa mắt nhìn quanh, cố ý tìm kiếm những khuôn mặt quen thuộc.

Tôi chỉ thấy nhiều khuôn mặt lạ, lẫn lộn với những anh em thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Bác sĩ Tích ở trong phòng nghe tiếng máy xe nổ, vội chạy ra, thấy tôi bèn ngoắc vào:

– Các anh vào trong này, đứng đây nguy hiểm lắm. Mấy ngày trước, tụi Việt Cộng đã chiếm được Ty Công Chánh ngay sau Phòng Mổ đó. Không biết bây giờ chúng đã rút đi chưa. Một Tiểu Đội Nhảy Dù đã được tăng cường tới đây để chận chúng, không cho tụi nó đánh sang bên này. Hai bên cầm cự mấy ngày liền, không bên nào dứt điểm bên nào. Tụi nó có những tên đặc công cảm tử bò qua ban đêm nhưng qua đứa nào chết đứa đó. Bên Dù cũng đã có ba người tử thương. Mồ chôn tại ngay sân bệnh viện đây.

Tôi nhìn anh Tích với anh Nam Hùng, thấy cảm thương cho hai anh đã phải trải qua những giây phút hiểm nghèo. Cái chết chỉ cách đường tơ kẽ tóc.

Tôi thở ra, nói:

– Có ai ngờ đâu các anh lại ở ngay tuyến đầu, cách địch chỉ có một con đường nhỏ. May mắn các anh không bị hề hấn gì. Thấy các anh bình an như thế này, tôi mừng lắm. Có lễ những giây phút nguy hiểm đã qua. Tụi mình sắp được đổi đi nơi khác rồi. Chỉ cần chịu đựng vài tuần nữa là khỏe thôi.

Anh Phúc cũng tiếp lời tôi, hỏi hai anh Tích và Nam Hùng:

– Ở bên Tiểu Khu đã phát lương cho binh sĩ. Bên Sư Đoàn đã có lương chưa, các anh?

– Có, tụi này mới lĩnh lương hôm qua. Nhưng anh thấy đó, cầm tiền cho vui vậy thôi chứ đâu có mua sắm được gì. Giờ đây, nhân có tiền lại được thảnh thơi một chút, tệ nạn đánh bạc bắt đầu xuất hiện. Nhiều đứa thua nhẵn túi. Cũng may, ở đây tiền chẳng còn giá trị mấy vì có gì để mua đâu. Đợi đến tháng sau lại có nữa, lúc đó chắc đã về hậu cứ rồi.

– Tôi thấy anh cũng nên can ngăn họ một chút. Đánh bạc chơi cho vui thôi, nếu cứ mê mải rồi đêm đến buồn ngủ không canh gác cẩn thận. Đặc công nó bò vào là chết cả đám.

Anh Tích gật đầu nói:

– Tôi cũng bảo họ thế. Một số nghe lời còn một số vẫn ham chơi.

Tôi đi ra cuối Trại Nội Khoa, nhìn ra sân ngăn cách trại này với Phòng Mổ và Văn Phòng Hành Chánh. Tôi thấy ba ngôi mộ nằm song song với nhau. Mỗi ngôi mộ đều có một mũ sắt Dù treo trên một cái cọc ngay trước mộ. Thấp thoáng trong phòng y tế, tôi thấy có những người lính Dù còn bố trí bên trong nhưng không căng thẳng lắm. Tôi đoán tụi địch bên phía Ty Công Chánh đã rút đi rồi. Tôi hỏi một người lính Dù gần đó:

– Chào anh, anh đóng ở đây đã lâu chưa?

– Thưa Đại úy được hơn hai tuần rồi.

Tôi dơ ngón tay chỉ về phía Ty Công Chánh, tiếp tục hỏi:

– Tụi Việt Công bên kia đường còn đó không?

– Tôi chắc tụi nó đã rút đi rồi, không thấy động tĩnh gì bên đó cả. Mấy ngày trước có máy bay tới dùng súng radar điều khiển bắn phá dữ dội lắm. Tôi nghĩ tên nào may mắn còn sống sót chắc cũng chém vè hết rồi.

– Vậy cũng đỡ lắm. Mình ở đây cũng được an toàn.

Tôi nhìn về phía nhà Bảo Sanh, thấy cũng có lính mình đóng chốt ở đó.

Tôi cũng yên dạ. Tôi muốn đi xuống Trại Ngoại Khoa của tôi xem có còn ai không. Tôi cẩn thận đi vòng ra phía trước rồi men theo hành lang đi lần vào lối phòng cũ của tôi. Trại bây giờ đây hoàn toàn hoang vắng. Hầu hết các phòng đều bị ăn đạn pháo kích, chẳng có phòng nào còn nguyên vẹn. Tôi ghé qua phòng bên xem người tù binh có sao không, chỉ thấy một bộ xương khô nằm trên giường, nơi cổ xương tay vẫn còn cái còng số tám khóa chặt vào thành giường. Thế cũng xong một đời người.

Tôi đi nhanh ra cửa lên chỗ đậu xe. Mọi người đã sẵn sàng trên xe, chỉ còn đợi tôi. Ông Diệm rồ máy chạy ra cửa, vừa khi ấy tôi thấy cô Bông hiện ra ở cửa sổ, chỗ phòng cô Bích cũ. Cô vẫn mặc áo màu xanh lá mạ tươi mát của mấy tháng trước. Tôi chỉ kịp ngoắc tay vẫy vẫy chào cô. Cô cũng vẫy tay chào lại, miệng mỉm cười. Tôi thấy cô vẫn mạnh khỏe là tôi yên trí và mùng cho cô. Cho đến giờ phút này mà vẫn còn cười được là tốt rồi. Chúng tôi không kịp trao đổi lời nói nào cả. Xe đã phóng ra khỏi bệnh viện, đi theo con dốc xuống công viên Tao Phùng rồi vào khu Chợ Mới.

Nơi đây cũng vậy, chỉ tháng trước đây khi tôi và bác sĩ Chí xuống thăm khu này, con đường giữa dãy nhà lầu và cái khung chợ vẫn còn rộng thênh thang. Nay đã bị hẹp lại vì một dãy mộ mới, chừng 13 cái nằm song song với nhau, trải dài theo dãy nhà lầu đó. Một tấm biển bằng gỗ pháo binh ghép lại. Trên có ghi một câu đối:

An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Tôi nghe nói câu này do một cô giáo làm ra. Cô là người được mấy anh Biệt Cách Dù cứu sống khi cô bị thương, gãy xương đùi. Cô được mang vào khu nhà lầu đó và được săn sóc bởi những anh Biệt Cách Dù. Chiều chiều, cô đã ngồi trong căn nhà lầu nhìn ra con đường trước mặt để cứ thấy từng ngày, cùng với mức độ giao tranh lên cao, những ngôi mộ mới của những anh Biệt Cách Dù, những ân nhân của cô tăng lên dần. Trong nỗi xót thương những người lính chiến quả cảm ấy, cô đã viết lên câu đối lịch sử này.

Xét về câu đối, tôi thấy hai câu này không hoàn hảo lắm. Nhưng cần gì. Những áng thơ hay thường thoát ra ngoài khuôn sáo tầm thường, gò bó của quy luật. Người ta đã không cần để ý tới hình thức nữa mà chỉ chú ý tới ý nghĩa, nội dung thôi. Câu đối trên, quả nhiên đã nói lên những hy sinh to lớn của những chiến sĩ can trường Biệt Cách Dù. Đồng thời nó cũng ngầm nói lên tấm lòng tri ân của người dân và đặc biệt của cô giáo đối với những ân nhân của cô. Cái hay trong hai câu đối đó, chẳng có một chữ nào nói lên lòng tri ân cả nhưng đọc lên, tôi lại cảm nhận ngay những điều đó. Thế mới tài tình. Mặc dù những chữ trong hai vế, thật ra chẳng có gì mới mẻ. Nhưng có lẽ vì đối cảnh sinh tình nên nó có được cái sức lôi cuốn rất mạnh, không giống như những câu đối ước lệ khác.

Do câu đối này, tôi được biết những ngôi mộ mới. Đó là của các anh em chiến sĩ Biệt Cách Dù đã hy sinh để bảo vệ An Lộc trong cuộc tấn công đợt hai của địch. Như vậy, lần tấn công đó cũng ác liệt lắm. Tôi may mắn được ở dưới hầm an toàn nên đã không có cơ hội quan sát. Vì vậy đã không biết được cuộc diện chiến trường lần đó ra sao. Mới sơ sơ nhìn qua những tổn thất của mình thì thấy cuộc tấn công đợt nhì quả thật rất kinh hoàng, đẫm máu chứ không phải chỉ pháo kích suông.

Chúng tôi tiếp tục đi ngược lên hướng Lộc Ninh, rẽ trái qua một con đường nhỏ. Chúng tôi thấy ngay ba chiếc xe tăng mới tinh bị bắn hạ nằm sắp hàng ngay ngắn trên con đường An Lộc – Lộc Ninh. Tôi ghé tai nói với anh Phúc:

– Anh trông tụi nó sắp hàng đi vào An Lộc như đi diễn binh ấy. Chẳng trách bị xơi tái hết là phải. Tôi chẳng hiểu sao tụi nó đánh đấm gì mà kỳ vậy.

Ông Diệm ngắt lời, nói:

-Trông bên ngoài tưởng đó là cái may mắn của ta. Thực ra cũng nhờ những yếu tố khác.

– Tôi nghe nói tụi nó xích chân những tài xế xe tăng lại. Không biết có đúng thế không?

– Muốn kiểm chứng, cứ vào trong xe tăng của tụi nó mà coi.

Tôi đồng ý liền vì quả thực tôi muốn biết sự thực. Hay là bên ta lại tuyên truyền kiểu tâm lý chiến. Tôi nói:

– Phải đấy, để tôi chui vào một xe tăng xem. Nhưng những xe tăng này cao quá. khó có thể nào trèo lên để vào bên trong được.

Ông Diệm nói:

– Có cách, bỏ mấy xe này đi. Chúng mình lên chỗ Chợ Cũ. Nơi đó cũng có mấy xe tăng bị máy bay bỏ bom trúng, chúi đầu xuống hố bom nên pháo tháp gần mặt đất hơn, dễ trèo vào lắm.

Thế là chúng tôi lại vòng lên phía Chợ Cũ. Tôi chợt thấy một xe tăng tương đối còn mới dù đã qua gần một tháng trời phơi mưa nắng. Tôi vội bảo ông Diệm ngừng xe lại, nhảy xuống và tiến về chiếc xe tăng. Vì chiếc xe bị bom thả trúng, chúi mũi xuống hố bom cũng khá sâu. Tôi thấy pháo tháp hơi bật ra về phía bên trái. Tôi và ông Diệm trèo lên nhìn vào bên trong chiếc xe tăng. Tôi thấy một bộ xương người ngay chỗ của tài xế. Chiếc xương sọ gục xuống bên tay lái. Cổ xương chân trái có một sợi dây xích cột vào cần lái xe. Mọi hồ nghi của tôi về việc này trong giây phút đó đã được hoàn toàn giải tỏa.

Trong xe không còn bộ xương nào khác. Trong cơn nguy hiểm, tài xế xe tăng đã chết một mình. Đồng đội đã thoát thân, đã bỏ đi. Người tài xế không thể trốn được vì đã bị xích chặt vào xe. Tôi có thể hình dung được nỗi tuyệt vọng, nỗi kinh hoàng của người tài xế trước khi chết ra sao. Xe còn, người còn. Xe mất thì người chết theo. Đó là cái ý nghĩa quyết tử của binh đội lái xe tăng của địch.

Đứng về bên phía ta, ta có thể lên án tính cách vô nhân đạo của địch. Bất cứ một người nào cũng ghê tởm phương pháp sắt máu này.

Nhưng đây là chiến tranh. Chiến tranh tự nó đã vô nhân đạo rồi, huống chi với một chế độ độc tài như chế độ Cộng Sản thì việc xích chân vào xe chẳng có gì phải một chút bận tâm.

Trong thời chiến, thiếu gì những trường hợp quyết tử như ôm bom lao vào xe tăng địch, ôm bộc phá phá hàng rào đồn binh địch, lao đầu vào lỗ châu mai của địch để lấy thân mình bịt kín nòng súng địch cho đồng đội tiến lên. Ngay như phía bên ta, trong trận này, chính mắt tôi đã thấy sáu cánh Dù nhảy xuống ngay trong vùng đóng quân của địch. Đó cũng là những hành động cảm tử một đi không về của những người lính chiến. Nhưng khi thấy những hành động trên chúng ta chỉ thấy cảm phục, thương xót nhưng không ghê tởm như thấy những trường hợp bị xích chân vào xe tăng hay vào mấy khẩu thượng liên. Có lẽ vì hình ảnh bị xích cho ta cái ấn tượng bị ép buộc phải làm những việc nguy hiểm ngoài ý muốn của người lính, không để cho họ một cơ hội thoát thân dù rất nhỏ.

Cụ Phan Bội Châu đã viết, Thánh Cam Địa (Gandhi) rất ghét chế độ Cộng Sản cũng chi vì họ chủ trương lấy mục đích biện minh cho phương tiện. Tức là có thể dùng bất cứ một mưu kế nào dù cho vô nhân đạo đến đâu cũng được, miễn là chúng đạt được mục đích tối hậu.

Tôi đã chui vào hẳn bên trong xe tăng. Không có mùi hôi thối, chứng tỏ cái thây này đã chết từ lâu, chắc từ đợt tấn công thứ nhất, hơn một tháng rồi. Tôi chỉ ngửi thấy một mùi hôi khăm khẳm giống như mùi mốc chà bông để lâu ngày bị thiu. Tôi nhìn quanh bên trong xe tăng, thấy khá rộng. Tôi chợt để ý thấy một dãy đạn đại bác 100 ly vỏ bằng đồng sáng loáng mói tinh, xếp ngăn nắp bên góc phải của xe. Nếu mang về gõ làm bình bông chắc đẹp lắm. Nghĩ là làm liền. Tôi tháo hai viên đạn ra, không ngờ nó cũng khá nặng vì đạn 100 ly dài tới gần một thước. Tôi cố mang ra ngoài để lên xe Jeep rồi cùng ông Diệm và bác sĩ Phúc lái về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Chúng tôi đi chơi cũng hơi lâu, thấy quang cảnh chỗ nào cũng giống nhau, cũng bị tàn phá thành bình địa hết. Như nhà hàng Tứ Hải, một nhà hàng Tàu xây bằng bê tông cốt sắt, hai tầng lầu, nấu ăn cũng khá ngon. Tôi đã ăn vài lần ở đó, bây giờ xẹp lép giống như một ngôi nhà bằng giấy bị một bàn chân khổng lồ giẫm lên. Tôi đề nghị đã đến lúc nên quay về. Mọi người đều tán thành vì thực ra cũng chẳng còn gì hay để xem nữa.

Khi về đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, ai trông thấy hai viên đạn đại bác 100 ly, chiến lợi phẩm của tôi cũng đều thích cả. Ông Thượng sĩ Thiện thuộc ban An Ninh tỉnh đề nghị:

– Bác sĩ nên cho tháo đầu đạn, đổ thuốc bồi đi, lấy cái vỏ đạn cho nhẹ, dễ di chuyển và an toàn không sợ bị nổ bất tử.

– Đúng rồi, để thế này nguy hiểm mà lại quá nặng. Nhưng tháo đầu đạn ra có dễ không?

– Nếu bác sĩ muốn, tôi bảo mấy thằng em nó làm cho. Tụi nó nhà nghề mà, làm chừng nửa tiếng là xong à, nhanh lắm. Chứ bác sĩ không quen, làm mất thì giờ lại nguy hiểm nữa

Tôi lắc đầu nói:

– Tôi không dám sờ tới đâu, nhỡ nó nổ một cái thì khốn nạn ngay.

Tôi bèn giao hai viên đạn đại bác đó cho Thượng sĩ Thiện. Chỉ gần một giờ sau, ông ta mang lại hai cái vỏ đạn, đưa cho tôi. Ông dặn tôi:

– Cái chốt ở dưới đáy vẫn còn nguyên đấy. Bác sĩ đặt nó nhè nhẹ, đừng vất mạnh, đụng vào nó, có thể nổ lắm đó. Tuy không hề gì, nhưng đề phòng vẫn hơn.

Tôi mừng lắm, cám ơn ông Thiện rồi mang hai vỏ đạn xuống để ở một góc phòng, chờ ngày mang về Sài Gòn, có dịp sẽ thuê người gõ thành hai bình bông, chắc đẹp lắm.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy
Post by Sơn râu 15 Sep 2023

Bài 23 – Cô Bé Mang Tên An Bình

Mấy ngày sau, thuốc chủng ngừa dịch tả đã tới. Chúng tôi đã tổ chức chích thuốc cho đồng bào ở chùa. Đúng như tôi dự đoán, mọi người đã hưởng ứng đợt chích thuốc này rất nồng nhiệt. Trong vòng ba ngày, chúng tôi đã chích hết tất cả số thuốc đã xin. Chúng tôi đã huy động được tới 8 y tá làm việc suốt ngày toàn là những người tình nguyện. Đa số những y tá dân sự đều tản cư khỏi An Lộc từ lâu rồi. Tôi nghe nói hình như họ đều về tỉnh Bình Dương và tiếp tục làm việc tại những trạm tiếp cư đã được Bộ Y Tế phối hợp với Hội Thập Tự để tiếp đón các đồng bào tị nạn của tỉnh Bình Long.

Sau khi hoàn tất, anh Phúc báo cáo lên ông Tỉnh Trưởng biết. Ông rất hài lòng. Tính ra chúng tôi đã chích ngừa được hơn bốn ngàn người trong một thời gian kỷ lục. Như vậy, hiểm họa dịch tả thực sự đã không còn đe dọa dân chúng khu đó nữa. Nhưng để chắc ăn, hai tuần sau anh Phúc lại xin thêm thuốc để chích đợt hai cho những người đã chích đợt nhất và những người chưa chích vì dịch tả phải chích hai mũi mới công hiệu.

Pháo kích bây giờ cũng chỉ lai rai, không còn hung hãn như trước nữa. Địch quân thường chỉ nhắm vào bãi đáp trực thăng. Chúng tôi vì vậy cũng được an nhàn một chút.

Một buổi sáng, vào khoảng 11 giờ, tôi với anh Phúc đang ngồi trong phòng. Anh Phúc đang hát nho nhỏ bài Thu Ca của Phạm mạnh Cương. Tôi thì mải mê viết nhật ký cho quên thì giờ. Anh Phúc chợt hỏi:

– Anh viết gì nhiều vậy?

– Tôi muốn ghi lại những điều trông thấy và những cảm nghĩ của tôi trong biến cố này. Anh muốn coi không?

Không đợi anh trả lời, tôi nghĩ anh rằng anh cũng tò mò muốn biết tôi viết gì, có khi viết về anh chăng nên tôi đưa một xấp đã viết xong cho anh xem. Anh đọc chừng vài tờ rồi trả lại tôi:

– Anh có trí nhớ dai và chi tiết đấy nhỉ, mà cũng chịu khó viết quá.

– Tại việc mới xảy ra mà anh. Tôi không có tài viết văn, thấy gì viết nấy không thêm bớt và như văn nói chuyện vậy.

– Như vậy mới trung thực. Anh có tính xuất bản không?

– Chắc là không. Mục đích tôi ghi lại những cảm nghĩ của tôi để mẹ và các em tôi đọc, hạn chế trong gia đình thôi. Sau này, nếu tôi có con thì cũng là cái hay nếu nó biết được vào thời bố nó còn trẻ đã phải chịu những nguy hiểm gì, đã trải qua những kinh nghiệm gì trong thời gian đó.

Anh Phúc vội ngắt lời tôi, nói:

– Anh sẽ không ngờ được đâu. Bây giờ anh cứ viết đi để ghi lại những cảm nghĩ trung thực của anh ngay trong trận đánh này. Sau này chỉ cần tiểu thuyết hóa hoặc sửa lại vài chữ cho nó có vẻ văn hoa một chút, có thể sẽ có nhiều người thích. Biết đâu có khi được quay thành phim thì bác sĩ Quý lại giàu to.

Nói xong, anh cười lớn vì câu nói đùa của anh. Tôi cũng mỉm cười nhưng không tin kết cục lại tốt đẹp như thế. Mục đích của tôi rất khiêm nhường là viết để cho người nhà đọc thôi, không dám để người ngoài đọc vì chỉ sợ văn chương chữ nghĩa của mình không ra gì. Thiên hạ đọc rồi chê thì ngượng lắm.

Tôi đã đọc những tác phẩm của những đại văn hào thế giới. Tôi thấy ngoài thiên tài của họ, khi viết họ đã viết một cách rất nghiêm túc. Chẳng hạn như cuốn “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của Leo Tolstoy. Ông đã phải bỏ ra nhiều năm để tìm hiểu, thu nhập mọi dữ kiện và đã đích thân đến những bãi chiến trường hồi xưa để nghiên cứu địa hình, địa vật rồi mới viết chứ không phóng bút viết liều. Ít ra, nếu muốn xuất bản thì tác phẩm của tôi cũng phải được thông qua bởi một nhà văn hay những bạn bè có óc thẩm định văn chương.

Anh Phúc vừa dứt cười thì có tiếng gõ cửa mặc dù cửa mở. Tôi nhìn ra, thấy Đại tá Nhựt đang tươi cười bước vào. Theo sau lố nhố chừng năm, sáu người nữa đứng chật cả hành lang.

Đại tá Nhựt nói:

– Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Phó Quân Khu III tới thăm ủy lạo các anh em.

Rồi ông quay sang Trung tướng Minh, chỉ bác sĩ Phúc và tôi, nói tiếp:

– Đây là bác sĩ Phúc, Y Sĩ Trưởng Bệnh Viện Tiểu Khu. Còn đây là bác sĩ Quý, bác sĩ giải phẫu của bệnh viện.

Chúng tôi đứng dậy giờ tay chào đúng theo cung cách nhà binh. Trung tướng Minh hơi mỉm cười, bắt tay tôi nhưng không nói một tiếng nào. Đó là một điều lạ. Trong một tích tắc thoáng qua đầu tôi tự hỏi, đi ủy lạo chiến sĩ mà chẳng nói gì sao. Tuy nhiên tôi vội bỏ những ý nghĩ đó trong đầu. Tôi nói:

– Cám ơn Trung tướng đã đến thăm. Thưa, Phòng Mổ ở bên cạnh, xin mời Trung tướng qua coi.

Cả Đại tá Nhựt lẫn ông Trung tướng đều nhìn tôi một cách hơi lạ lùng.

Tôi cảm thấy có điều gì không ổn. Trước khi tôi nghe Đại tá Nhựt gõ cửa, tôi dường như có nghe thấy tiếng mở cửa ở Phòng Mổ rồi lại đóng lại ngay. Tôi đoán các vị quan khách đã thấy cái gì khác lạ trong phòng đó.

Tôi nhớ chắc chắn là từ hôm qua tới giờ chưa có một vụ mổ nào. Phòng Mổ đã được dọn dẹp sạch sẽ để chờ những trường hợp mổ sắp tới.Tôi vội đi ra ngoài mở cửa Phòng Mổ ra thì hỡi ôi. Tôi chỉ muốn độn thổ xuống đất. Căn phòng mà tôi cứ yên chí đã dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp và không có ai thì ngay trước mắt mọi người là một cái võng mắc xéo qua phòng trên cái bàn mổ dã chiến. Vợ anh Sáu Xòm mà cái bụng chửa sắp đến ngày sanh, to vượt ngực đang ngồi trên võng, nhìn ra cửa tỉnh bơ.

Tôi bàng hoàng cả người, vừa ngượng với cấp trên, vừa giận cái cô vợ anh Xòm. Phòng của mình ở dưới kia, mắc mớ gì hôm nay lại mang võng lên trên Phòng Mổ nằm mà chẳng xin phép gì cả. Mà làm từ hồi nào tôi chẳng biết, vậy có chết người không. Tôi muốn chửi thề. Tôi muốn văng tục. Tôi muốn đá đít cho cô ta văng xuống võng cho đỡ tức. Nhưng tôi chỉ có thể nhanh tay khép lại cánh cửa và nói:

– Xin lỗi Trung tướng.

Thế rồi phái đoàn lại tiếp tục di chuyển, rời khỏi căn hầm như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Tôi trở lại Phòng Mổ, hỏi cô vợ anh Xòm, giọng bực bội:

– Tại sao lại mắc võng nằm ở Phòng Mổ?

– Dạ tại phòng em bí hơi quá, nằm nóng bức chịu không được.

Tôi chỉ biết lắc đầu thở ra, đóng cửa Phòng Mổ đi về phòng mình. Ngồi xuống giường mà lòng vẫn còn ngượng ngùng xấu hổ vì sự kiện đã qua. Tình ngay lý gian. Phòng Mổ phải là phòng sạch sẽ mà lại để một người đàn bà mắc võng giữa phòng nằm chễm chệ. Nếu không phải là người rất thân của bác sĩ thì ai dám làm chuyện như vậy. Một cô gái mà lại có chửa nữa, chắc tác giả phải là bác sĩ chứ còn ai vào đây nữa. Đây là căn cứ quân sự không có đàn bà. Vậy là bác sĩ lợi dụng quyền hạn của mình dấu đàn bà, mang vào căn cứ quân sự làm chuyện bậy bạ rồi. Khi nhìn thấy sự kiện trên thì ai cũng phải có những ý nghĩ như vậy.

Càng ngồi suy nghĩ, tôi càng bực mình. Dĩ nhiên mình không làm gì sai trái thì đâu có gì sợ nhưng giận vì không có cơ hội để giải thích. Biết bao nhiêu điều tốt tôi làm từ đầu cuộc chiến tới giờ, bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu cực khổ, bao nhiêu lời đồn đại tốt đẹp về Bệnh Viện Tiểu Khu, chỉ một việc xảy ra không ngờ tới mà nó xóa đi tất cả. Tức ơi là tức. Chỉ đau trong lòng mà không thể giải bày được.

Tôi hít vào một hơi dài rồi thở ra thật mạnh. Bao nhiêu bực bội trong lòng đều theo luồng hơi thở đó mà tan trong không khí. Tôi đã nghiệm được phương thức này để tập tính tự chủ, quên đi những phiền toái của cuộc sống. Đặc biệt những điều không xứng ý, toại lòng, những việc ngoài tầm tay của mình, những việc đã xảy ra rồi, không thể thay đổi trở lại được. Bởi vậy chỉ trong một cái lắc đầu là tôi quên đi những diễn biến khó chịu vừa qua.

Tôi định đi qua hầm của bác sĩ Chí nói chuyện chơi, bất chợt anh Châu xuất hiện ngay cửa hầm. Trông thấy anh, tôi mừng rỡ vì như vậy, chứng tỏ anh đã không hề hấn gì trong những cuộc pháo kích vừa qua. Khi thấy tôi, con mắt còn lại của anh cũng lấp lánh lộ vẻ vui mừng. Tôi hỏi anh:

– Gặp anh, tôi mừng lắm. Gia đình anh bình an cả chứ? Nhưng sao anh biết tôi ở đây mà kiếm?

– Gia đình tôi vẫn như thường. Tôi tới Bệnh Viện Tiểu Khu hỏi thăm bác sĩ. Họ bảo bác sĩ đã dọn sang đây rồi nên tôi tới đây thôi.

– Bây giờ anh ở đâu?

– Tụi tôi dọn xuống làng từ lâu rồi sau cái hôm tôi rời bệnh viện. Ở dưới làng không bị pháo vì không có căn cứ quân sự.

– Anh đã gặp ông Diệm chưa?

– Chưa, tôi chỉ tới tìm bác sĩ thôi. Tôi có đem bánh xèo tới để bác sĩ ăn. Bánh hãy còn nóng, bác sĩ ăn đi kẻo nguội.

– Bà xã anh làm phải không? Anh hay thật, chạy loạn mà còn có bánh xèo ăn là nhất rồi.

– Bánh xèo dã chiến thôi bác sĩ à. Làm gì có tôm tươi đâu. Bà ấy thay thế bằng tôm khô. Ăn cho đỡ ghiền thôi chứ chắc không ngon bằng bánh xèo thứ thiệt đâu.

– Giờ phút này mà còn có thứ này ăn là hạnh phúc quá rồi. Mấy ngày nay tôi chỉ có cơm gạo sấy mà thôi.

Anh Châu rút ra trong bọc một cái bếp điện nhỏ, hỏi tôi:

– Bác sĩ có muốn cái bếp này không?

Tôi mỉm cười, lắc đầu:

– Tôi mua thứ này bây giờ làm gì. Tôi sắp đổi về Sài Gòn rồi.

Mặt anh Châu thất vọng hẳn đi. Anh dậm chân nói:

– Tôi lại cứ kết bác sĩ sẽ mua cái bếp này chứ. Nếu vậy, chắc tôi còn phải nợ bác sĩ một thời gian nữa.

Trước khi xảy ra trận chiến này, anh Châu cần tiền, không biết để làm gì, anh nói mà tôi quên đi mất. Tôi cho anh Châu mượn mười một ngàn. Anh đã trả bốn ngàn, còn nợ tôi bảy ngàn. Trong óc tôi nghĩ rằng anh đã nhặt được cái bếp này ở đâu đó, thấy còn mới nên tính gán cho tôi để trừ vào số nợ anh còn thiếu. Bây giờ tôi mới hiểu, anh lặn lội tìm tôi khắp nơi là muốn trả nợ tôi.

Đến giờ phút này, tôi đâu còn nghĩ tới món nợ ấy nữa. Như vậy anh Châu rất sòng phẳng. Anh không nhân cơ hội làm bộ quên đi món nợ, vẫn cố ý tìm cách trả tôi. Như vậy là người tốt. Chỉ nguyên việc này thôi cũng làm cho tôi không muốn nghĩ tới việc đòi nợ anh. Hơn nữa, với lòng tận tâm săn sóc của anh đối với tôi trong những ngày tháng qua cũng đã khiến tôi không nỡ lòng nào đòi nợ anh trong lúc khó khăn như thế này.

Tôi cũng chợt nhớ ra hôm nay là ngày lãnh lương ở Tiểu Khu. Có lẽ anh vào đây để lãnh lương, cũng là một công hai việc. Tôi vội nói để anh yên lòng:

– Về số tiền anh còn nợ tôi, anh đừng lo. Anh không cần trả lại, cứ giữ lấy mà tiêu dùng. Chẳng bao lâu, tôi sẽ rời khỏi nơi đây, có lẽ cũng ít dịp gặp lại anh. Tôi với ông Diệm được anh săn sóc chu đáo lắm. Trong thâm tâm, tôi rất cám ơn anh.

Tôi đưa tay ra bắt tay anh Châu thật chặt. Một bàn tay lao động, da chai cứng không như bàn tay thư sinh mềm mại của tôi. Tôi nói tiếp:

– Tôi lúc nào cũng giữ một kỷ niệm đẹp về anh.

Tôi thấy những sớ thịt trên mắt anh Châu giựt giựt. Anh đưa con mắt độc nhãn của anh nhìn tôi không nói gì. Nhưng tôi nghĩ chắc anh cảm động lắm. Sau cùng, anh nói:

– Thôi tôi đi đây. Bác sĩ ở lại mạnh giỏi.

Tôi không nói gì nữa, chỉ gật đầu và đưa tay vỗ vai từ giã anh. Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh Châu vì sau khi tôi đổi về Sài Gòn, tôi không được biết anh đã đi về đâu. Qua ông Diệm, hình như anh vẫn còn ở Bình Long, không rời đi đâu cả.

Khi anh Châu đi rồi, tôi liền mở bịch bánh xèo ra, thấy có sáu cái. Bà xã anh Châu chắc phải là tay đổ bánh xèo lành nghề lắm vì sáu cái bánh đó to hơi quá khổ một tí nhưng không rách, bánh cuộn lại rất khéo, da bánh vàng ươm thơm phức. Mới nhìn thấy đã thèm rỏ dãi ra rồi. Nhất là bị nhịn ăn, nhịn uống cả gần hai tháng trời thì với cái mùi hành mỡ này, làm sao mà tôi không háo hức cho được.

Tôi liền mời anh Phúc cùng dùng thử cho vui. Dĩ nhiên, so với cơm sấy thì món này là nhất rồi. Tuy không có tôm tươi nhưng có giá, có trứng, có đậu xanh và nhất là nước chấm khá ngon đã làm cho những chiếc bánh xèo đó trở thành tuyệt diệu. Hai chúng tôi đã đánh nhanh đánh mạnh nên chỉ trong một thoáng sau là sáu chiếc bánh xèo đã nằm yên trong bao tử. Hôm ấy, chúng tôi không cần ăn cơm chiều nữa. Từng ấy bánh xèo cũng đủ no bụng rồi.

Tuy chẳng có tin gì đặc biệt mà chúng tôi lại cảm thấy vui vui trong dạ. Tôi suy nghĩ có lẽ nhờ những cái bánh xèo chăng? Không lẽ vật chất lại ảnh hưởng đến tinh thần mạnh mẽ như vậy? Gần hai tháng thiếu dinh dưỡng, cái bao tử có vẻ như reo vui khi lại được tiếp xúc với những chất béo bở quen thuộc mà lâu không được gặp. Khi bao tử vui thì óc cũng vui và hai chúng tôi đều vui cả.

Không có việc gì làm, chúng tôi dự bị đi ngủ sớm tuy chỉ mới có 7 giờ rưỡi tối thôi. Chẳng bao lâu giấc ngủ đến với chúng tôi dễ dàng. Tôi đã ngủ một mạch cho tới sáng. Chưa bao giờ tôi được ngủ ngon một mạch như thế kể từ ngày có trận chiến này. Tôi không hiểu vì không phải làm việc quá sức, vì có hầm chắc chắn an toàn, hay vì đã có một chút ăn tươi cho một cơ thể thiếu thốn dinh dưỡng cả tháng trời đã đưa tới một giấc ngủ thoải mái như thế. Nhìn sang bên giường anh Phúc, tôi thấy anh vẫn còn say giấc nồng. Thì ra không chỉ riêng tôi mà cả anh Phúc cũng có một giấc ngủ ngon lành trong đêm qua.

Tôi đứng dậy, mặc quần áo đi ra ngoài theo cầu thang, đi lên khỏi miệng hầm. Tôi đang đứng thở hít không khí trong lành buổi ban mai thì thấy Thiếu tá Diệm đi tới. Ông nói:

– Tôi định đi kiếm bác sĩ, mời sang bên tôi uống ly cà-phê chơi.

– Xin tuân lệnh ông ngay. Ông lúc này khỏe không?

– Cũng sống được, chưa đến nỗi nào.

Tôi theo ông Diệm xuống hầm của ông. Vào văn phòng của ông Trưởng Ban tư Tiểu Khu, thấy đầy đủ tiện nghi chẳng khác gì ở nhà cả. Đặc biệt có cái cà-phê phin đang được chú Út đổ nước sôi vào. Mùi cà-phê thơm nồng như xoáy vào lỗ mũi tôi. Tôi không ghiền cà-phê nhưng thích ngửi mùi cà-phê. Lâu lâu tiếp ông Diệm một ly nhỏ như hồi còn thanh bình cũng thú vị.

Đi ăn tiệc mà ngồi cạnh ông Diệm thì cũng được lắm, vì ông này hơi khó tính. Ông đặc biệt sợ ăn chim bồ câu quay. Mỗi lần trong tỉnh thết tiệc, ông hay kéo tôi ngồi cùng để giúp ông tiêu thụ món này, nhất là cái đầu. Ông nói mỗi lần trông thấy cái đầu chim bồ câu quay trên đĩa là ông chỉ muốn ói, không dám nhìn nữa. Trong khi tôi lại khoái ăn cái đầu dòn tan và béo ngậy của loài chim hiền lành này.

Tôi hỏi ông:

– Trong các món ăn, ông thích ăn món nào nhất?

Ông Diệm trả lời không cần suy nghĩ:

– Tép rang xúc bánh tráng.

Tôi tức cười, ghé tai ông nói:

– Nếu vậy, đợi tới khi ông lên làm Tỉnh Trưởng thì họa may mới có món khoái khẩu đó cho ông.

Thiếu tá Diệm mỉm cười nói:

– Có thể lắm. Khi nào tôi lên làm Tỉnh Trưởng, tôi sẽ đãi ông món đó.

Tôi nghĩ thầm trong bụng: “Thấy mẹ, tưởng ông đãi món gì, chứ món đó thì tôi buồn 5 phút. Nếu quả thực như vậy, tôi sẽ đãi lại ông món đầu chim bồ câu quay có cái cổ dài ngoằng, đưa những cặp mắt lim dim nhìn ông”. Tôi không dám nói ra điều này vì chỉ sợ ông sẽ ói trên bàn tiệc thì phiền.

Ông Diệm mời tôi ngồi xuống cái ghế độc nhất trong phòng, còn ông ngồi trên giường. Ông nhấc cái phin cà-phê để lên trên nắp của nó rồi chia đôi ly cà-phê ra cho tôi một nửa, ông một nửa. Ông hỏi tôi:

– Bác sĩ uống cà-phê sữa hay đen?

Tôi trả lời:

– Tôi uống cà-phê sữa.

– Sữa Quân Tiếp Vụ đây, ông cứ tự nhiên.

Ông Diệm đưa cho tôi một hộp sữa đặc đã khui sẵn. Ông tiếp:

– Tôi chỉ khoái một ly cà-phê đen vào buổi sáng. Có uống vào rồi mới tỉnh táo đi làm được.

– Ông biết đấy, tôi ít uống cà-phê lắm. Chắc là đêm nay sẽ không ngủ được.

– Không sao đâu, bây giờ cũng ít người bị thương rồi. Đêm không ngủ thì ngày ngủ bù, lo gì. Trung úy Lành đã tới gặp bác sĩ chưa?

– Mấy ngày trước có tới gặp tôi vì ông ta bị một mảnh đạn trên đầu muốn tôi lấy ra và muốn tôi cho ông ấy một giấy chứng thương. Tôi nói nó ở ngoài da đầu, không có vô trong não đâu mà sợ. Nếu không có gì trở ngại thì cứ để nguyên như vậy, không cần lấy ra ngay lúc này. Chắc ông này muốn xin một Chiến Thương Bội Tinh đây.

Ông Diệm ngắt lời:

– Không phải chuyện đó đâu. Tôi nghe nói Đại tá ra lệnh cho Phòng 1 Tiểu Khu lập danh sách mọi người để đề nghị huy chương và thăng cấp.

– À, ông ta có hỏi tôi lên Đại úy lâu chưa, trong trận này có bị thương gì không? Vậy thôi.

Ông Diệm nói tiếp:

– Tình hình bây giờ tương đối đã lắng dịu. Tuy mình chưa hoàn toàn kiểm soát được Quốc lộ 13 và Lộc Ninh, nhưng tụi nó cũng không làm gì được mình. Mọi hoạt động của các ty sở trong tỉnh sẽ cố gắng làm việc như trước. Như ông đã biết binh lính đã được tiếp tục trả lương hàng tháng. Người nào muốn đi phép sẽ được cấp phép cho đi về thăm nhà. Hiện nay chính phủ đã thiết lập một trại tạm cư cho dân Bình Long tị nạn tại tỉnh Bình Dương. Đa số những nhân viên dân sự được làm việc tạm tại Bình Dương để chờ đợi xin đi làm các nơi khác tùy ý muốn. Để xem, một vài tuần nữa, nếu không có gì trở ngại tôi cũng xin phép về thăm nhà một tuần. Rồi mình cũng kiếm chỗ dọt lẹ khỏi nơi này.

– Đúng vậy. – Tôi tiếp lời ông Diệm –Tôi ở đây đã hơn một năm rồi, cũng đúng lúc đi là vừa. Số tử vi của tôi Thân cư Thiên Di nên cứ phải thay đổi chỗ ở luôn.

Mặt ông Diệm bỗng đăm chiêu, ông nói:

– Ông nghĩ thế nào về tương lai của miền Nam mình?

Tôi nhíu mày suy nghĩ rồi trả lời:

– Tôi thấy lo quá. Bây giờ chưa thấy gì rõ ràng lắm. Nhưng tôi có cảm tưởng nếu Mỹ rút thì mình cũng thua ông ạ. Miền Nam mình hết cách mạng rồi lại chỉnh lý. Tham nhũng từ trên xuống dưới. Người dân không còn tin tưởng ở giai cấp lãnh đạo nữa, làm sao mình nói dân nghe được. Phải có một chính phủ mạnh được hậu thuẫn của toàn dân mới có cơ may thắng được. Miền Nam phải có một tay lãnh đạo cỡ Park Chung Hee của Đại Hàn. Tự túc tự cường không nhờ vả ỷ lại vào viện trợ của nước ngoài, để khi nó buông mình ra mình mới tự bảo vệ để sống còn được.

Ông Diệm gật đầu đồng ý. Rồi tiếp:

– Như ông biết đấy, nếu trận này không có Mỹ can thiệp thì chúng mình đi đoong rồi. Ngay lúc khởi đầu trận đánh, có những lúc áp lực địch quá mạnh làm cho bên ta bối rối. Có khi tôi tưởng mình đã phải nghĩ tới rút lui chiến thuật rồi chứ chẳng phải chơi đâu.

– Có thể lắm. Thua dài dài từ Lộc Ninh về tới tận đây, tan tác cả một trung đoàn, cả một thiết đoàn, thì phải biết áp lực của địch mạnh dường nào.

-Vậy ông có biết làm sao mình còn cầm cự được và lật ngược thế cờ không?

– B52.

– Đúng! Rốt cuộc chỉ là nhờ đàn anh Mỹ thôi. Nếu Mỹ không yểm trợ cho mình, ông thử nghĩ coi, tôi với ông còn ngồi đây uống cà-phê được không. Trong tương lai Mỹ sẽ bỏ rơi mình. Việt Nam hóa chiến tranh, đó là hình thức nó rút. Trong khi tụi Việt Cộng vẫn được Nga, Tàu yểm trợ. Lúc đó mình sẽ bị nó ăn gỏi. Anh em mình đã phải bỏ miền Bắc chạy vào Nam. Rồi đây sẽ không biết chạy đi đâu nữa.

Tôi không nói gì. Trong lòng thầm nghĩ ông bạn già này hơi bi quan một chút. Nếu có thật thế cũng phải vài ba năm nữa. Việc trước mắt bây giờ là làm sao an toàn ra khỏi địa ngục này đã, rồi hãy hạ hồi phân giải. Việc mất cả một nước là việc lớn. Dù ông bạn có đúng thì cũng chẳng thay đổi gì được. Dù có biết trước, quả thật tôi cũng chẳng biết trốn đi đâu. Đâu có nước nào dung dưỡng mình làm gì. Nhất là mang danh kẻ bại trận. Thôi việc đến đâu hay đến đấy.

Uống xong ly cà-phê tôi nhìn đồng hồ đã thấy hơn 9 giờ, mải nói chuyện không ngờ thời gian đi nhanh như thế. Tôi liền cáo từ để về hầm mình. Ông Diệm cũng đi lên hầm chỉ huy họp.

Bước lần xuống cầu thang vào hầm, tới phòng tôi, tôi chợt nghe thấy tiếng bác sĩ Phúc đang dặn anh Sáu Xòm:

– Khi nào nước đầu ối bể, cho cô ấy sang bên Phòng Mổ để tôi đỡ đẻ cho. Anh cũng kêu cô Bích giùm tôi, sửa soạn những dụng cụ cần thiết để lúc cần khỏi phải tìm kiếm mất thời giờ.

Tôi bước vào phòng nhìn anh Phúc nói:

– Tôi có miếng nylon để anh quấn quanh người tránh nước đầu ối hoặc máu dây vào người. Tôi chắc tối nay thôi. Con so thì hơi lâu một chút. Nhưng cô ấy đau như vậy đã được hai ba tiếng rồi. Nhanh lắm thì cũng tám, chín giờ tối mới sanh được. Đừng có chậm hơn sẽ làm anh mất ngủ.

Tôi ngại nhất vấn đề đỡ đẻ. Tôi biết nếu theo cái ngành này thì có thể kiếm được khá tiền đấy, nhưng tôi không thể chịu được cái mùi nước ối, mùi nhau bà đẻ và những đau đớn rên la của những bà đang lúc chuyển bụng sanh. Hồi còn là sinh viên Y khoa, khi đi thực tập tại những bảo sanh viện như Từ Dũ, Hùng Vương, mỗi sinh viên đều phải đỡ đẻ 20 trường hợp sanh bình thường.

Tôi chỉ cố làm cho đủ số thôi chẳng muốn làm hơn thế. Tôi thấy phục những cô đỡ, ngày nào cũng phải ở trong phòng sanh hít thở không khí đó, ngày này qua ngày khác mà vẫn tỉnh bơ. Tôi nhớ phòng sanh bệnh viện Từ Dũ xây theo hình vòng cung. Mười phòng sanh vây chung quanh một bàn nữ hộ sinh ở chính giữa để người trưởng toán có thể ngồi đó nhìn bao quát được tất cả các phòng, để theo dõi và kiểm soát dễ dàng mọi diễn biến từng bàn sanh một. Rất là tiện lợi. Nhưng tôi nghĩ ở đó âm khí nặng nề lắm. Thử tưởng tượng ngồi trực ngay giữa phòng mà bị mười sản phụ nằm dạng háng ra chiếu tướng thi chẳng thú vị gì cả. Tối hôm đó quả nhiên vợ anh Sáu Xòm sanh được một đứa con gái. Thật là may mắn, tuy sanh con so, nhưng chắc trời thương nên vợ anh Sáu đẻ khá nhanh và dễ, không gặp rắc rối gì cả. Anh Xòm thì lo quấn người lên như mắc đẻ. Sau khi đứa bé ra, cắt cuống nhau xong, Bác sĩ Phúc đưa cho anh Xòm bế, nhưng anh không quen, anh nhờ cô Bích ẵm giùm mang về phòng, còn anh phải lo săn sóc vợ. Đợi khi lấy cái nhau xong, mọi sự ổn định, anh bồng vợ sang cái băng-ca cùng thượng sĩ Lỹ khiêng về phòng nghỉ ngơi. Anh không ngót lời cám ơn Bác sĩ Phúc.

Thật là trời sanh voi sanh cỏ. Đẻ con so mà dễ dàng như đẻ con rạ. Trong điều kiện thiếu thốn mà mẹ tròn con vuông như vậy thực là may mắn. Tôi nghĩ có lẽ anh Sáu Xòm là người tốt nên trời cũng thương.

Tôi nhớ hồi còn là sinh viên y khoa, đi thực tập tại bệnh viện Chợ Rẫy, vào khu trẻ em bị tật bẩm sinh. Tôi thấy đủ mọi thứ bệnh. Đứa thì sanh ra hậu môn bị bít kín, đứa thì sứt môi, đứa thì sáu ngón tay, đứa thì xương sống không phát triển hoàn toàn để lòi ra một bướu màng não, có cái ở đầu, có cái ở lưng. Đủ mọi thứ dị tật, ấy là chưa kể những chứng bệnh rối loạn về nhiễm sắc thể gây nên hội chứng mongolism… v..v…

Tôi thấy khi sanh ra được một đứa con lành lặn không tật nguyền, thì quả thực là một ơn phước ông bà để lại, cũng như của trời đất ban cho mình. Nếu có quỳ xuống tạ ơn Trời Phật cũng không có gì quá đáng.

Tôi thấy tục lệ ăn đầy tháng đứa nhỏ cũng hay. Những ngày trong tháng đầu đời của đứa bé thật rất là nguy hiểm dễ chết lắm. Với những phương tiện y khoa lạc hậu ngày xưa, nếu đứa nhỏ sống mạnh khỏe qua được thời gian ngặt nghèo ấy thì làm tiệc cúng tạ ơn Trời Phật cũng là phải.

Sáng hôm sau, anh Sáu Xòm tới xin tôi mấy tấm Bed Pads trải giường cho vợ anh nằm. Những tấm này dùng cho những người mới mổ để lót giường cho máu khỏi chảy xuống nệm, nên rất tiện cho những người mới sanh xong.

Tôi liền cho anh cả một bịch nguyên, 24 cái, tha hồ vợ anh dùng.

Tôi hỏi thăm về đứa bé và vợ anh, thì được biết là mọi sự đều bình thường cả. Tôi hỏi anh:

– Anh đã đặt tên con là gì chưa?

– Dạ thưa chưa, bác sĩ có ý kiến gì không? Tụi em muốn đặt cho nó cái tên liên quan đến trận chiến này để kỷ niệm.

– Nếu vậy thì thật là dễ quá, anh có thể ghép hai chữ đầu của Bình Long, và An Lộc để đặt tên cho nó cũng được. Hoặc là Bình An, hoặc là An Bình.

– Bác sĩ nói có lý lắm, em sẽ chọn cái tên An Bình cho nó. Lê Thị An Bình, nghe cũng được lắm, phải không bác sĩ?

– Đúng rồi. Nó tuy sanh ra tại mặt trận này, mà sanh ra rất dễ dàng, bố mẹ phải chịu mấy chục ngàn trái pháo kích mà vẫn được bình an mang thai nó. Vậy đặt tên nó là An Bình là đúng, và hợp lý lắm rồi. Vừa có ý nghĩa, lại vừa gợi được kỷ niệm Bình Long An Lộc. Cũng mong cả cuộc đời nó sẽ được an bình như tên của nó.

Anh Sáu Xòm vui vẻ nói:

– Cám ơn bác sĩ nhiều.

Suốt mấy tuần sau đó, đứa trẻ phát triển bình thường, sống trong thiếu thốn, nhưng hình như không có ảnh hưởng gì tới đứa nhỏ. Một phần vì nó được nuôi bằng sữa mẹ. Một phần nữa thì tình hình cũng khá yên ổn nên anh Xòm có thể xuống làng thường xuyên mang về những thức ăn tươi cho vợ, nên hai mẹ con đều mạnh khỏe.

Tiền nong bây giờ không thiếu nữa rồi. Vì các ty sở bây giờ đã hoạt động trở lại, nên các công chức cũng như các quân nhân đều bắt đầu được lãnh lương đều như trước.

Công việc của chúng tôi cũng nhàn nhã hơn, thỉnh thoảng mới có một vài người bị thương. Đa số lại bị nhẹ chứ không nặng như hồi trước. Đó cũng là cái vòng luẩn quẩn của cuộc sống. Có lúc lên thì cũng có lúc xuống. Có lúc bận rộn thì cũng có lúc nhàn hạ. Nhưng với trọng trách trong tay, chúng tôi lúc nào cũng phải “Cư an tư nguy”. Lúc nào cũng phải sẵn sàng.

Trên một chuyến tàu

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

  Chiếc Elisabeth rời Bremerhaven từ sáng sớm và đương chạy dọc theo ven biển bắc Đức hướng về dòng kinh Kil. Phía trời Đông đã toả ánh vàng và đám mây xám dần dần biến dạng. Tôi ngồi trên đầu cột trụ sau lái nhìn biển xanh trơn láng và bầy chim nhàn bay lượn trông thảnh thơi vô cùng. Xa khơi, trong làn sương mỏng vài chiếc ghe đánh cá vươn ngán chạy kéo cào.  Viên thuyền phó từ trên phòng lái đi xuống tới góc cầu thang, thấy tôi hắn khoát t ay chào và nhảy cà tưng tay gãi gãi nách mặt như hề, miệng kêu cà tót cà tót làm như gà trống sắp đạp mái. Hắn đưa hai ngón tay ra dấu chữ v (victor), gặt gặt và ễn bụng, hai tay cung phía trước ra bộ ôm con gái, cái mông nẩy nẩy vừa bước đi vô mui tàu miệng vừa kêu cà tót, cà tót…  Trong lúc tôi phân vân chưa biết viên thuyền phó chiến thắng cái gì thì tôi nghe tiếng càu nhàu phía sau:
– Cái thằng khùng!
Tôi day lại thấy gã thủy thủ người Tây Ban Nha đi ra, mặt mày nhăn nhó như khỉ ăn gừng:
–  Chuyện gì vậy?
Gã chỉ ngón tay trỏ lên đầu gõ gõ và nói.
– Mẹ cái tên thuyền phó, chiều hôm qua nó nói với tao là con Linda có kinh mà đồ lót bị tụi In Đô ăn cắp hết nên hỏi mượn quần lót của nó, bây giờ nó xuống khoe vừa làm tình với con nhỏ.  Thì ra đây là cái chiến thắng tưởng tượng của viên thuyền phó làm cho gã Tây Ban Nha tức giận hay ganh tị hổng chừng:
– Nó nói thì kệ nó mắc mớ gì tới ông mà ông nổi nóng. Gã dịu giọng nhưng ráng thòng một câu:
– Cũng vì tật nói bậy nói bạ mà bị đầu bếp cho ăn đồ dơ hoài riết rồi đầu óc đần độn.
– Thuyền phó làm ông bực mình thì ông nói nó thôi, ông lôi đầu bếp vô làm gì. Gã trực nhớ tôi cũng là đầu bếp nên nói trớ:
– Tao chỉ nói đầu bếp In Đô thôi.
– In Đô người nào có người, ông quơ đũa cả nắm, có người nghe được thì phiền cho ông.  Gã cười cầu tài:
– Ở đây chỉ có tao với mầy, mầy không nói thì ai biết.
– Tui hổng nói, nhưng ông sẽ tự nói. Cũng ngón tay trỏ gõ gõ lên đầu, gã tiếp.
– Tao đâu có khùng dữ vậy mậy. 
Tôi đưa ngón tay cái ra gặt gặt.
– Vậy thì tốt, tốt lắm.  Chuyến nầy có hai cô gái, cô phụ máy tay chưn gân guốc, thân hình đồ sộ như trâu nước tánh tình của cô rất vui vẻ, nhưng hay trêu chọc cánh đàn ông. Cô phụ thuyền phó gầy gộc như cây khô, hổng biết ngực có độn gì không mà lúc nào cũng vun tròn như hai trái bưởi; má hóp, mỏ nhọn và hàm răng trên hơi đưa ra ngoài, được cái là cô sống rất kỷ luật, không ăn tạp như cô phụ máy, cô giải khát bằng bia và thỉnh thoảng thay bữa ăn bằng rượu, mặt mày lúc nào cũng lầm li, hiếm hoi lắm mới thấy cô ta cười một nụ héo queo còn thua hoa tulip cuối mùa xuân.  Theo nguyên tắc thì đầu bếp quản lý kho thực phẩm, không ai được tự do vào lấy ăn. Nhưng mấy cô thường xuống lấy trái cây, sữa và bánh ngọt đem dự trữ trong phòng riêng. Nhiều lần đầu bếp khoá kho lại, nhưng viên thuyền trưởng kêu để các cô ăn thoải mái, chuyện nhỏ. Dĩ nhiên không phải là chuyện lớn, may chuyến nầy chỉ có một đứa ăn tạp bằng không mấy thằng, mấy ông chịu khó nhịn bớt phần trái cây, sữa tươi và bánh ngọt…  Tuy nhan sắc của hai cô không mấy hấp dẫn nhưng cũng đủ làm cho đám đực rựa điên đảo tâm thần. Gã thủy thủ Tây Ban Nha thường thì ăn bận lùi xùi, dơ dáy, râu ria bồm xồm, mỗi bữa ăn gã ăn bốn năm tép tỏi sống. Từ ngày có hai con nhỏ theo tàu, hết giờ làm việc và ngày cuối tuần gã thay đồ sạch sẽ và áo luôn bỏ trong quần, đầu sói sọi tóc còn vài ba cọng nhưng lúc nào cũng chảy tém và thoa dầu mướt rượt, mình mẩy sực nức mùi dầu thơm và gã cũng bỏ luôn cái thói quen ăn tỏi. Một hai tuần nghe tôi đổ bộ thì gã nhờ tôi mua dầu thơm và thuốc cà nách. Gã viết và đọc chữ không thông nhưng chiều nào cũng mở cửa phòng toang hoác ngồi cầm tờ báo lật qua lật lại cho tới lúc đi ngủ mới thôi. Đã vậy mà lúc nào cũng ra vẻ mình là người đứng đắn, thấy ai có cử chỉ là lạ một chút là gã lên giọng đạo đức chỉnh trước liền tại chỗ hoặc phê phán sau lưng. Gã nói với tôi cũng tại con Maria ăn bận lúc nào cũng đưa cặp đùi và cặp vú ra ngoài nên mấy thằng con trai khùng hết.  Tôi hất hàm nói: 
– Nó đưa cho ông coi đã con mắt ông còn phàn nàn gì nữa.
– Tao đâu có coi.
– Hổng coi sao ông thấy vú và đùi nó?
Ông bẽn lẽn đứng một hồi rồi trớ qua chuyện khác:
– Ở nước tao đàn bà con gái không bao giờ theo tàu.
– Xạo đi nữa đi cha, tôi biết bên tây phương đàn bà con gái đi biển cả mấy thế kỷ trước rồi.
– Ai?
– Viking, ông biết người Viking?
Gã ra vẻ sành sỏi:
– Sao không mậy, Viking là đám cướp biển, họ bắt đàn bà, con gái theo chỉ để làm tình thôi.   Tôi định nói thêm nhưng nhìn cái mặt đần độn của gã, sách báo không đọc được, chỉ biết coi phim con heo riết rồi hễ nghe tới đàn bà, con gái thì nghĩ ngay tới chuyện tình dục.
Tôi nhắc lại chuyện xưa:
– Hồi đó, thời tui với ông còn trẻ, thỉnh thoảng cũng có con gái theo tàu, lúc đó phòng tắm thủy thủ còn liền nhau, chớ mỗi phòng ngủ chưa có phòng tắm riêng như bây giờ, chính ông đã dùi lỗ vách phòng tắm và rủ tui rình coi mỗi lần con nhỏ đi tắm. Mùa hè con gái hoặc vợ của nhóm officers theo tàu chơi, vào những ngày nắng đẹp họ bận đồ hai mảnh nằm bên hong mui tàu. Ông cùng với mấy thủy thủ dành nhau trèo lên sơn cần trục với mục đích rình coi mấy cô mấy bà tắm nắng. Ông quên rồi sao?
– Nhưng lâu lâu mới có một lần.
– Thời gian thay đổi phải khác chớ, thế kỷ hai mươi mốt rồi, hơn nữa xứ ông cũng nằm trong Châu Âu, trai gái gì cũng có quyền bình đẳng chọn nghề như nhau. – Ở Hoà Lan, chớ xứ tao thì không được, đàn bà đi tới đâu là chộn rộn tới đó.  Gã ăn nói ngang ngược như vậy, để đứng đó một hồi chắc tôi dộng vô mặt gã quá.
Tôi cố ý nói để gã đi chỗ khác cho rồi:
– Tôi thấy ông mới là chộn rộn. Nhưng mà nè, ít ra nhờ hai đứa nó ông mới bỏ tật ăn tỏi, thân thể ông được gọn gàng, sạch sẽ, thơm tho và còn đọc được báo nữa.
– Mẹ, mầy là cái thằng cà chớn.  Những lớp thủy thủ đồng hương với gã lần lượt về hưu hết còn lại mình gã là người Tây Ban Nha duy nhứt trong công ty. Như một định số, thắm thoát tôi với gã biết nhau đã hơn hai mươi năm rồi. Gã lớn hơn tôi năm tuổi, nếu luật lao động không thay đổi thì gã sẽ về hưu vài tháng tới. Hồi còn trẻ tôi với gã như nước với lửa mỗi lần bất bình là muốn ăn thua đủ. Tôi còn nhớ chuyến đầu xuống tàu ngay buổi ăn sáng gã tới kêu tôi mỗi sáng phải chiên cho gã hai cái trứng. Tôi không cho, cứ mặc kệ cho gã mặt dầy mặt mỏng và chửi tục. Thấy tôi yên lặng, gã tưởng tôi là thằng dễ bắt nạt, gã làm tới và doạ liệng tôi xuống biển. Tôi liền nổi nóng chỉ thẳng mặt gã chửi cho một chập và cấm gã léo hánh hỏi nầy hỏi nọ trong lúc tôi đương làm việc và nếu gã còn xúc phạm tới tôi, tôi sẽ cắt cổ gã lấy máu làm dồi huyết (blood sausage). Bị tôi doạ lại gã sợ tôi làm ẩu, hễ mỗi lần tranh cãi thấy tôi khó chịu sừng sộ thì gã chửi thề một cái rồi đá cái nầy, liệng cái kia và tránh đi chỗ khác. Thật ra một cái trứng thì có gì đâu, nhưng trước tập thể tôi sợ sanh chuyện lôi thôi nên tôi từ chối. Chẳng lẽ sống với nhau ngày nầy qua tháng nọ trên một chiếc tàu, chỉ vì một cái trứng mà gây với nhau hoài coi cũng kỳ lắm. Tôi bèn kêu gã lại dặn, nếu muốn ăn thêm cái gì thì mỗi buổi sáng xuống sớm hơn giờ ăn tôi sẽ cho thêm. Không ngờ chỉ tốn thêm một cái trứng mà giữa tôi với gã chẳng những hết căng thẳng với nhau, trái lại tôi có thể sai khiến gã làm những chuyện lặt vặt cho tôi nữa. Từ đó tôi khám phá ra cách xử thế mà tôi gọi là phương pháp trứng gà, phương pháp nầy có thể xử sự từ người trí thức cho tới người dốt đặc cán mai, tất cả đều đem lại cho tôi sự tốt lành. Thời gian qua mau, tuổi đời chồng chất, tôi với gã tuy không là bạn thân nhưng xa lâu thì nhớ gặp nhau thì mừng. Nhưng vẫn chứng nào tật nấy, tôi thì hay nói móc lò, gã thì ưa chửi bậy, được cái là qua cơn cãi vã chúng tôi có thể ngồi nhậu với nhau và tâm sự chuyện gia đình con cái suốt buổi.  

*

Tàu vào kinh Kil lúc giữa trưa và nối đuôi theo đoàn tàu chạy thẳng một dọc trên dòng kinh. Trong kinh tàu chạy trên dưới bảy hải lý một giờ, tuy chậm nhưng cũng đủ làm tung những bầy cá con lên mặt nước cho đám chim nhàn bay theo sớt.  Bây giờ là đầu mùa xuân cỏ hai bên bờ kinh xanh mướt, cây cối bắt đầu trổ bông và ra lá xanh non. Dòng kinh nầy nhiều hoạ sĩ vẽ và nhiều nhiếp ảnh gia đã chụp từ vàm kinh ven bờ biển Baltic của thị xã Kiel nối dài vô thị xã Brunsbutel ra tận vàm sông Elbe, họ in những cảnh đẹp từ mùa xuân cho tới mùa đông thành những tấm bưu thiếp đẹp tuyệt vời, bày bán trong các tiệm sách và tiệm bán đồ kỷ niệm trong vùng. Tôi đứng chăm chú ngắm cảnh mà quên đem bỏ bịch rác vô chiếc thùng sau lái. Khi nghe mùi khét trong bếp, tôi vội để bịch rác sau boong chạy vô thấy nồi thịt còn dư đã khét lẹt, có lẽ hồi nãy tôi vặn tắt lửa nhưng bị lộn nhằm số lớn, cũng may không bị cháy và thủy thủ đoàn đã ăn xong bữa trưa. Tôi nhắc nồi thịt để qua vòi nước và vặn nước ngâm chiếc nồi, day qua tắt lửa, định đi ra bỏ bọc rác. Chợt đụng đầu Toto từ trên đi xuống, nó chỉ ngón tay trỏ gõ gõ lên đầu:
– Con khùng.
– Cái gì nữa?  Lúc Toto thấy Maria bưng rổ đồ chưa giặt đi xuống, nó liền chộp lấy bịt rác:
– Chú để tui bỏ rác cho. Nó rinh bọc rác đi ra ngoài. Tôi ngơ ngác chưa biết chuyện gì thi thấy viên thuyền phó đi vô đứng lóng ngóng. Con Maria bèn xề rổ đồ chưa giặt ra trước mặt và hỏi:
– Mầy cần cái nào thì cứ lấy, tao cho. Viên thuyền phó mắc cở gầm mặt bỏ đi tuốt…  Tôi trở vô bếp cạo rửa cái nồi thịt khét. Con Maria đem đồ bỏ vô máy giặt xong trở lên, nó ghé vô phòng bếp vừa ngoặt ngoẻo cười vừa nói:
– Thằng Toto với viên thuyền phó chỉ ưa rình ăn cắp đồ lót, nhưng tui đưa thì không thằng nào chịu lấy ha ha…
– Mầy làm tụi nó mắc cở.
– Mấy thằng khùng mà biết mắc cở gì.
– Sao mầy cứ tìm cách chọc ghẹo tụi nó hoài vậy?
– Tại tụi nó ngốc chớ, như ông thì ai chọc làm gì.
– Mầy nghĩ tao tốt lắm à?
– Không biết, nhưng ít ra ông không đến đỗi xàm xỡ như mấy người kia.  Thật ra thì tôi cũng chẳng tốt lành như nó nghĩ. Mấy ngày đầu xuống tàu, sáng nào cũng vậy, điểm tâm xong, trước khi làm việc nó vô phòng bếp chào tôi và nói ba điều bốn chuyện rồi mới chịu đi. Một hôm tôi thấy bên mép miệng nó có dính một bệt kem đánh răng, tôi lấy giấy chùi cho nó. Từ đó về sau mỗi buổi sáng bên mép miệng của nó không dính kem cũng dính mứt. Tôi lưu ý nó thì nó chu mỏ ra nhờ tôi chùi dùm. Tôi ngờ con nhỏ có tình ý gì nên trong lòng tôi rạo rực, nhứt là lúc hừng đông tôi thường hay tơ tưởng tới nó…  Cho tới một sáng kia, tôi chùi miệng cho nó xong, nó kề sát mặt vô tai tôi  và kêu tôi ngó ra phía sau. Tôi ngoái lại thấy bên ngoài cửa kiếng ba bốn cái đầu của thủy thủ lấp ló dòm vô, trong đó có cái đầu sói sọi của gã Tây Ban Nha nữa. Chúng tôi phá lên cười… Cười người xong tôi mới giựt mình, cũng may mà khám phá kịp thời nếu không thì tôi cũng bị con nhỏ gài bẫy làm trò hề như mấy tên lấp ló ngoài kia.  Không hiểu sao mỗi khi thấy Maria đứng nói chuyện với tôi trong bếp thì ông thợ máy già đứng sớ rớ ngoài sau và kêu con nhỏ đi làm chuyện nầy, chuyện nọ. Hôm nay là ngày chủ nhựt, không sai vặt được ông bèn tạt ngang chỉnh con nhỏ về chiếc áo hở cổ chừa gần hết cặp ngực ra ngoài. Khi ông đi rồi Maria gạt tay qua trán gằn giọng:
– Ông già khùng!  
Tôi cười khôi hài:
– Ha ha… suốt ngày tao nghe hết thằng khùng, con khùng bây giờ tới già khùng, hổng biết chừng nào tới đầu bếp khùng đây. Cũng tại mầy không thôi.
– Sao tại tui?  Tôi chỉ ngón tay vô cổ áo rộng, chỗ mặt dây chuyền thánh giá nằm ở kẽ giữa cặp vú:
– Tại mầy để cái nầy cho ổng coi.   Nó đưa cánh tay lực lưỡng lên gặt gặt:
– Coi thì được nhưng đụng vào thì coi chừng cái nầy.
– Nhưng ngày nào mầy cũng cho ổng coi mà hông cho đụng, tối bị mất ngủ nên ổng bị điên đảo tâm thần . Nó đưa tay ngang bụng ra dấu sục vô sục ra vừa cười vừa nói:
– Ngủ hổng được thì thủ dâm ha ha…   Tôi định lên lớp vài câu nhưng nghĩ tới sáng nào nó cũng bày hai trái đưa gang ra trước mặt, tuy tầm cỡ không bắt mắt lắm nhưng có còn hơn không, bày đặt lên giọng đạo đức lỡ nó nghe theo thì mất quyền lợi. Sẵn hôm nay chủ nhựt tôi làm một ổ bánh kem cắt ra được mười sáu phần, trong giờ cà phê tôi đem chia cho mỗi người một phần. Con Linda thì thích uống rượu hơn ăn bánh nên còn dư ra mấy miếng. Để khỏi áy náy cho cái tánh giả nhân giả nghĩa của mình. Tôi lấy một miếng bánh đưa nó và kêu nó ra bàn ngồi ăn để nó khỏi khui ra ba cái chuyện xấu máu của đám đực rựa trên tàu.  

*
Linda thường bận quần Jeans, áo thì lộn xộn không thời trang gì hết nhưng kín đáo hơn Maria. Tên nào lố lăng là bị nó chỉnh hoặc chửi thẳng mặt, tánh hung dữ của nó làm nhiều người không thích, nói đúng hơn là không người nào dám đụng tới. Thường thì sau giờ làm việc, trước giờ ăn nhóm officers ngồi nhậu với nhau trong phòng. Không hiểu sao hổm rày nó ngồi uống vài chai rồi bỏ ra ngoài boong hoặc đi lòng vòng đâu đó chờ tới giờ nó mới vô ăn. Hôm nay không biết mắc chứng gì nó vô bếp mang cái mặt hầm hì hỏi tôi:
– Bếp, bánh của tui đâu?  Nhìn cái mặt méo hóp và cái mỏ nhọn hoắc, hàm răng đưa ra hơn lúc bình thường, trông giống như cái mỏ con dơi. Tôi muốn cười một cái nhưng sợ nó bị quê nên tôi lấy miếng bánh bỏ vô dĩa đưa ra: 
– Phần của mầy đây.  Cầm miếng bánh đứng tần ngần một lát, không biết nghĩ gì nó đưa miếng bánh lại và nói:
– Thôi, ông cho Maria ăn luôn đi. Thiệt là đàn bà con gái! Uống mấy chai rồi lẩm ca lẩm cẩm chẳng ra gì hết. Tôi day ngang tiếp tục làm công chuyện. Nhưng thấy nó còn la cà đứng xớ rớ tôi mới hỏi:
– Sao mầy không vô phòng uống bia?  Như bắt được chuyện nó nói:
– Sau chuyến nầy tui về.
– Vậy à? Ai xuống thay cho mầy?
– Thằng Viktor, người Ukraina.
– Tao nghe ông thợ máy và con Maria nó cũng về và người thay Maria cũng đến từ Ukraina.
– Đúng rồi, nhưng người ta chưa xuống tàu mà mấy người ngày nào cũng ngồi nói xấu người ta hết.
– Thời gian đầu chưa quen là vậy nhưng vài năm sau thì đâu cũng vào đó hết thôi.
– Ông nghĩ vậy sao?
– Đương nhiên, thế giới thay đổi từng ngày từng giờ mà. Như ngày trước hông có con gái theo nghề hàng hải, tới khi bắt đầu có vài cô theo tàu thì cánh đàn ông cũng bàn tán xôn xao, chê nầy chê nọ nhưng bây giờ đàn bà lên tới chức thuyền trưởng, còn thuyền phó và thợ máy con gái cũng nhiều thì có nghe ai nói gì nữa đâu.
– Nhưng tôi thấy In Đô và Phi Luật Tân cũng sang đây làm vậy mà đâu có ai nói gì.
– Mầy nên nhớ In Đô và Phi Luật Tân và tao là Việt Nam đến từ những quốc gia nghèo bên Châu Á, không bằng cấp, cam phận làm những công việc lặt vặt mà dân mầy không làm, với đồng lương ít ỏi không đáng để ai ganh tị hết. Những người tới từ Đông Âu họ chiếm những địa vị tốt, lương cao dĩ nhiên có cạnh tranh với đám officers người bản xứ.  Nghe tôi nói nó đứng gật gật đầu, cùng lúc đó thấy có mấy thủy thủ đi vô phòng ăn nó mới chịu đi ra.     

  *
Mỗi khi tàu ghé bến tôi hay lên internetcafe lục lạo lấy tin tức hoặc những bài viết nào hay bỏ vô bộ nhớ nhỏ đem xuống tàu, khi tàu ra khơi, rảnh rang tôi mới đem in ra giấy nằm đọc. Máy in nằm trên phòng lái, mỗi lần in tôi phải leo lên bốn chiếc thang, mỗi chiếc mười hai bậc. Sáng hôm ấy tàu vào kinh Drogden chạy dọc ven bờ  Đan Mạch sắp sửa chui qua chiếc cầu bắt từ Copenhagen nối qua Malmör. Lúc đó nhằm giờ trực của Linda. Mấy lần trước lên in bài vở nó chỉ chào tôi một cái rồi giao máy cho tôi,  khi tôi in xong đi xuống và chào qua chào lại một cái nữa rồi thôi. Không hiểu sao sáng nay nó đứng sau lưng chờ tôi in xong nó hỏi:
– Ông viết gì đó?
– Cái nầy không phải tao viết, tao đương tìm coi nguồn gốc người Viking.
– Viking là một nhóm người ô hợp thì làm sao có nguồn gốc được.
– Ồ, vậy à?
– Ông biết gì về đám người nầy.  
Tôi khoa tay một vòng ra biển:
– Tao chỉ biết Viking là một đám cướp biển lừng lẫy từ Âu sang Mỹ, xuất xứ từ vùng Scandinavia nầy hồi đầu thế kỷ mười một mười hai.  
Nó chỉnh lại:
– Viking để lại nhiều tiếng xấu nhưng họ không phải là ăn cướp.
Tôi dí dỏm:
– Theo tao nghĩ thì kẻ nào giết người cướp của thì kẻ đó không cướp biển thì cũng cướp bờ.  Nghe tôi nói con nhỏ ngập ngừng một lát rồi tiếp:
– Nhưng những người nầy có theo đạo Tin Lành.  
Tôi pha trò:
– Vậy thì gọi họ là plunder religion.  
Con nhỏ ngạc nhiên:
– Ông nói gì? Plunder religion nghĩa là gì?
 Tôi lấy cây viết nằm trên bàn hoa tiêu và vở tập nháp cạnh bên hải đồ viết hai chữ đạo tặc tổ bố và cắt nghĩa bừa:
– Tiếng Việt có danh từ đạo tặc, ám chỉ những người cướp của nhà giàu đem cho người nghèo hoặc những thầy tu đi ăn cướp. Viking tuy cướp giựt nhưng họ có theo đạo thì cũng có thể gọi là đạo tặc.
 Linda cười lớn:
– Tui biết Viking cũng nhiều nhưng chưa nghe ai nói như ông.  
– Ha ha… nhờ vậy mới làm cho mầy cười được.
– Cái gì nữa?
– Từ ngày xuống tàu tới nay đây là lần đầu tao mới thấy mầy cười tươi như hoa tulip đầu mùa xuân.  Nghe tôi khen bất ngờ con nhỏ sựng một chút rồi ngập ngừng:
– Tại ông nói chuyện nghe mắc cười quá.
– Vậy thì tao gặp may.
Giọng Linda trở nên vui vẻ lạ thường:
– Ông nhớ tui là đàn bà mà, cũng biết khóc nữa.
– Nhưng tao chưa thấy mầy khóc chỉ thấy mầy lầm lì.
– Nếu tôi giỡn mặt đám con trai thì khó làm việc lắm, nhứt làm đám In Đô ngu ngốc mà lại không biết tôn trọng đàn bà.
Chuyện đối phó với cái đám người tạp nhạp thì tùy mỗi người, mầy có cách của mầy.
– Tôi thấy ông cười và ca hát suốt ngày sao hay vậy?
– Mầy nghĩ coi, chỉ vì có miếng ăn mà mỗi ngày đầu bếp lắng nghe biết bao nhiêu chuyện vô lý, nếu tánh tình tao nóng nảy, cố chấp thì mỗi ngày tao phải tức giận tới bao nhiêu lần.  
Con nhỏ đứng suy nghĩ một hồi rồi hỏi:
– Có mấy đầu bếp như ông?
– Tao nghĩ ai cũng làm được chớ không riêng đầu bếp. Một cái trứng hay một miếng bánh có thể làm người ta thù hằn, chửi bới, thậm chí tới đánh nhau. Nhưng cũng một cái trứng và miếng bánh có thể giải hoà, làm cho người ta vui vẻ. Vậy tại sao ta không chọn cách thứ hai để cư xử với nhau cho cuộc sống nầy được tốt đẹp thêm lên.
– Dù sao ông cũng là đàn ông nên dễ dàng hơn. Còn tui là đàn bà con gái chung chạ với đám đàn ông thì biết ai tốt ai xấu để đối xử.  
Tôi cười lớn:
– Ha ha… cũng vì mầy sợ người xấu lạm dụng nên mầy đề phòng, cũng vì đề phòng mà mầy nhìn chung quanh toàn là người xấu.
– Không phải tôi đương nói chuyện với người tốt đây sao?
– Vậy thì tốt lắm, cám ơn mầy, tao đương đọc lịch sử nhóm đạo tặc Viking, có chỗ nào không hiểu tao sẽ hỏi, mầy góp ý với tao nhé.
– Ô Kê!  Tôi đi tới cầu thang định bước xuống, Linda nói vói theo:
– Nè, chữ Plunder religion không có nghĩa gì hết, ông dùng không ai hiểu đâu.
Tôi ngoái lại:
– Không sao, mầy hiểu là đầy đủ ý nghĩa lắm rồi.
– Nghĩa gì?
– Nghĩa là hôm nay tao thấy mầy vui vẻ và cười tươi như hoa. 
– Rồi ông được gì?
– À, một câu hỏi rất hay.  Lúc đó tàu đã qua khỏi chiếc cầu bắt ngang nối hai bờ Đan Mạch và Thụy Điển. Tôi chỉ tay vô thủ đô Copenhagen còn mờ trong sương sớm:
– Mầy coi kìa, nhờ mầy cười mà sáng nay tao thấy biển có thêm phần duyên dáng.
– A ha, cái ông Bếp khùng!   Baltic zee 16 – 1- 2008
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Trên Bến Brega

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Buổi sáng tháng bảy, sáu giờ mười lăm phút, nắng đã chói chang như muốn xóa tan hơi lạnh ven sa mạc ban đêm còn đọng lại. Gió từ ngoài khơi Địa Trung Hải lồng lộng thổi vào nhưng không làm giảm sức nóng của mặt trời mỗi lúc một tăng. Trên bến Brega công nhân đã tề tựu đông đủ, họ chờ thủy thủ trên tàu xoay cần trục, tháo móc những container thì lập tức bắt tay vào việc cất hàng.  Có một nhân viên Triều Tiên lên phòng việc của thuyền trưởng lo thủ tục nhận hàng. Xong. Ông xuống từng dưới, thấy tôi ngồi mình ên trong phòng ăn, ông chào làm quen. Còn sớm chưa đến giờ làm việc nên tôi có thời giờ rảnh rỗi rót cà phê ra mời. Trong lúc uống cà phê ông kể tôi nghe, công ty Dong Ah (Đông Á) của Nam Triều Tiên, qua Libia thực hiện dự án khoan lấy nước ngọt từ phía nam chuyền ngang sa mạc vô các thành phố miền Bắc cho dân chúng xài, và đặt ống lòn dưới lòng đất theo hình xương cá dẫn nước vào những vùng đất khô cho đất thấm ướt để nhà nông dễ bề trồng trọt. Dự án lớn, kéo dài hơn chục năm, vì vậy Đông Á cần rất nhiều công nhân. Họ nhận người từ những quốc gia có mức sống thấp như: Phi Luật Tân, Thái Lan, Bangla Desh và Việt Nam.   Nghe có người Việt, tôi liền ra boong đứng ngó lên đám công nhân tạp chủng. Tôi có thể phân biệt người Bangla Desh nước da nâu, người Thái phần đông gốc Hoa nên hao hao giống người Phi Luật Tân và người Việt. Nhưng giữa đám công nhân hỗn hợp, tôi thấy có một vài người ốm, mặt xương, da đen nám, má hóp, có vài anh răng hô, nếu tôi không lầm, đây là những người Việt ở miền Bắc. Như để xác nhận, một người đàn ông độ tứ tuần tới trước mặt tôi, anh cười:
– You you Việt Lam?
Tôi khôi hài nói bằng tiếng Việt :
– Hỏi vậy cũng hỏi.  Thôi, nói tiếng Việt cho chắc ăn cha nội. Ngập ngừng một lát, anh ta cất tiếng:
– Anh người Việt Lam à ?
– Dĩ nhiên, chánh hiệu con rồng vàng. Anh móc thuốc ra mời. Tuy bỏ thuốc đã lâu, nhưng tôi cũng rút một điếu gắn lên môi hút xã giao. Có lẽ anh ta ngượng trước những câu dí dỏm của tôi, nên rít hết mấy hơi thuốc, phà khói phì phèo mà vẫn chưa bắt được chuyện.
Thấy vậy tôi bèn giả lả:
– Các anh mần gì ở đây ?
– Bọn nầy bốc hàng cho công ty Đông Á. Có ba người nữa thấy anh nọ bắt được chuyện cũng men tới. Tôi chợt nhớ ra, nãy giờ gặp đồng hương mà cứ dí da dí dỏm quên đi phép xã giao thông thường. Tôi bèn chìa tay ra bắt từng người và tự giới thiệu tên mình. Các anh ấy cũng lần lượt giới thiệu tên họ; Ngà, Bi, Hải, Cường.
Sau màn giới thiệu, tôi hỏi :
– Mấy anh ở đâu? Anh Bi chỉ tay lên cái container để trên bến cảng:
– Tụi tôi ở trong cái công-ten-nơ kia.
– Trời đất! Bao nhiêu mạng người dồn trong một cái công-ten-nơ có bây lớn?
– Không, bọn tôi ở tạm để làm việc, chiều về trại ngủ.
– Trại ở đâu vậy ?
– Ở cách đây hai chục cây số.
– Gần thành phố Benghazi hông ?
Ngà chen vào:
– Được gần phố thì ngon rồi, trên sa mạc đấy.  Lúc đó, tên xếp người Triều Tiên đi tới đi lui trên kè đá, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Các anh lật đật từ giã tôi để ra boong làm việc. Tôi cũng trở vô bắt đầu công việc của mình.  Tên xếp người Triều Tiên xuống tàu xin bữa ăn sáng. Ăn xong, chưa chịu đi, ông ta còn đứng la cà trước cửa phòng bếp. Trong lúc tôi đương dọn rửa, thấy trên cổ hắn có đeo cái tu hít, tôi mới hỏi :
– Ông mần việc bến cảng chớ có phải thể tháo gia đâu mà đeo tu hít ? Như bắt được chuyện, ông cười:
– Mầy coi, công nhân của Đông Á có nhiều quốc tịch khác nhau, ngôn ngữ bất đồng, lại thêm bến cảng ồn ào, vì vậy tao dùng tu hít cho dễ điều khiển, chớ la hét bằng miệng suốt ngày tao sẽ bị tắt tiếng liền. A, đây là mánh khóe nhề nghiệp. Tôi đưa ngón tay gõ gõ tay lên đầu khen ông một cái:
– Ông thông minh lắm ? Nghe tôi bốc. Ông hỉnh cái mũi tịt hãnh diện cười tươi.  Mười giờ sáng Ngà đi qua đi lại trước của sổ, mặt cứ ngó láo liên vô phòng ăn của thủy thủ đoàn. Thấy vậy tôi bèn đi ra chào:
– Nghỉ việc rồi hả ?
– Vâng, bọn em nghỉ giải ‘nao’.
– Giải lao với gì vậy ?
Ngà chỉ tay lên kè đá, nói :
– Với nước ‘nã’ đấy anh. Ở đây chỉ có Ngà nói chữ l thành chữ n, những anh em còn lại nói giọng Bắc, nhưng không giống Ngà. Tôi ngó lên bến, các anh công nhân tụ quanh một thùng nước đá, múc nước chuyền qua từng người trong một cái ca, các anh vừa uống vừa trò chuyện vui vẻ. Thấy vậy tôi mới vô lấy cho Ngà một lon nước ngọt, anh hỏi xin thêm ba lon. Từ đó trở đi, tới giờ nghỉ Ngà không lên bờ, đã vậy còn rủ thêm Bi, Cường, Hải ở lại tàu chờ tôi cho nước ngọt để giải ‘nao’.  Bi và Cường đã ngoài bốn mươi tuổi, Ngà và Hải tuổi vừa mười chín, bốn người mần việc ngoài boong nên tôi tiếp xúc, nói chuyện được nhiều hơn các anh em làm trên bến. Khi mặt trời đứng bóng, tôi men lên cái container có gắn máy điều hòa không khí dành cho toán công nhân Việt Nam nghỉ trưa. Vừa bước vô tới cửa, tôi thấy anh em nằm ngủ la liệt. Tôi bèn day trở ra. Chợt một anh thấy tôi, lật đật ngồi dậy kêu, làm cả đội giựt mình thức giấc. Mắt nhắm mắt mở, các anh dồn chỗ và mời tôi ngồi. Thấy các anh nhiệt tình, tôi cũng không ngần ngại bước vô, ngồi phệt xuống, dựa lưng vô vách, giả lả hỏi :
– Mấy anh cơm nước chưa mà ngủ ngon quá vậy ?
– Xong rồi anh. Một anh nói thêm :
– Nhưng ăn cơm cá bậy bạ thôi chớ chả có mẹ gì. Mần việc cạnh sa mạc, gió tung cát bụi đầy đầu đầy cổ, cho nên các công nhân người nào cũng trùm miếng vải trắng từ đầu phủ xuống khỏi vai, nếu không bụi cát dính vô người trộn lẫn mồ hôi, lâu ngày ăn lở da. Khi nghỉ ngơi anh em tháo nón tháo khăn xuống. Nhưng có một em nhỏ trạc mười bảy mười tám tuổi, nếu không có những vết cắt, cạo gió còn bầm trên trán, trên cổ, thì da dẻ trắng trẻo, bô trai như công tử bột. Có lẽ em từ Việt Nam mới qua nên chưa đậm nét phong sương. Thấy mặt xanh như tàu lá, vẫn để trùm nguyên khăn, nón, tôi biết ngay em bị bịnh.
Tôi hỏi :
– Em tên gì ?
– Dũng.
– Bịnh sao không ở nhà nghỉ ngơi ?
Dũng cười buồn không đáp.
Ngà trả lời thay :
– Nghỉ bị trừ tiền đấy anh.
– Bộ mấy anh hổng có bảo hiểm sức khỏe sao ?
– Không anh, nhưng khi mình bệnh có bác sĩ chữa cho.
Tôi day qua Dũng, hỏi :
– Sao em hổng xin đi bác sĩ ?
– Em đi hôm qua rồi.
– Bộ bác sĩ cắt, cạo gió cho em đó hả ?
Cả đám cười rộ lên.
Ngà tiếp :
– Đâu phải anh, bác sĩ cho vài viên thuốc uống. Nhưng đêm qua thấy Dũng nó sốt quá, anh em mới cạo, cắt cho đấy chứ.
– Người ta bịnh mà hổng cho nghỉ rủi đương mần việc chết rồi sao ?
Giọng Bi mỉa mai :
– Thì gia đình được lãnh vài trăm đô.
Tôi lảng sang câu chuyện :
– Còn chuyện giải trí trong trại của anh em, và đời sống tinh thần có thoải mái lắm không ? Các anh phân vân câu tôi vừa hỏi nên tất cả im lặng.
Lát sau, một anh nói :
– Ngoài cái vi-đê-ô ra chẳng có mẹ gì hết.
– Còn chứ, Bi cay cú, tối buồn khó ngủ, cả bọn sụt cặc lẫn nhau cho đỡ buồn. Đúng là giọng của chiến sĩ từng vào sanh ra tử. Mặt bên phải anh Bi có một vết thẹo, nếu tôi đoán không lầm, vết thẹo do chiến tranh gây ra, may nhờ bộ râu quai nón che bớt phần nào, nếu không nhìn anh tưởng đến một tay dao búa, chớ hổng phải dân lương thiện. Lời nói của anh có hơi cay cú thời thế, nhưng nhờ tánh thành thật, nghĩ sao nói vậy mà tôi có cảm tình với anh ngay lúc đầu. Tôi day qua hỏi chuyện anh :
– Anh mần ở đây bao lâu rồi ?
– Gần ba năm.
– Chị nhà vẫn liên lạc thường xuyên hả anh ?
– Vâng.
– Anh được mấy cháu ?
– Ba, hai giai một gái.
– Mỗi tháng anh vẫn chuyển tiền về đều đặn chớ ?
– Không anh, mỗi năm tụi Đông Á chỉ ứng trước ba chục đô, còn bao nhiêu nó giữ lại, khi mình về nó đưa nốt.
– Như vậy còn chị và mấy cháu ở nhà sống ra sao ?
– Vợ tôi dạy học.
– Lương giáo viên thời này sống sao nổi.
– Thì tự bán buôn thêm mà sống. Tôi ái ngại thấy mình tò mò hơi quá đà chuyện gia đình của anh. Tôi bèn khôi hài để trớ sang chuyện khác.
– Ba năm qua xứ sa mạc phơi cu khô queo, khi về nhà bà xã muốn xài dám phải ngâm nước quá.
Cả đám cười rộ, anh cũng cười, nói :
– Địt mẹ, bỏ cả bốn năm cay vàng mới đi được, tưởng ngon, ngờ đâu qua đây chơi với lạc đà.
Tôi ngạc nhiên:  
Ủa, mần công mà cũng phải đóng thuế nhiều như vậy sao ?
Anh Bi ừ hử như chưa tìm ra câu trả lời.
Anh Cường chen vô :
– Không phải đóng thuế đâu anh, đây là tiền trà nước lo giấy tờ.
– Giấy tờ gì mà mất cả hai cây vàng ?
– Thì người nầy vài vé, người kia vài vé, tới khi đi được mất hơn cả chục vé đấy.
Tôi thắc mắc :
– Vé là cái gì vậy ?
– Mỗi vé là một trăm đô đấy anh.
– Xin lỗi, Đông Á trả cho các anh mỗi tháng được bao nhiêu ?
– Từ một trăm năm chục đô đến hai trăm hai chục, ăn ở, áo quần họ bao.
– Công nhân nước khác cũng vậy sao ?
– Không anh, người mình họ trả lương thấp hơn Phi Luật Tân và tụi Thái.
– Ngộ vậy, tôi nói, bốn năm cây vàng, qua đây mần cả năm chưa lấy lại vốn.
– Thì vậy. Tiếng xoay cần trục, tiếng động của các xe chở hàng ồn ào trở về. Tên xếp lùn đi tới đi lui ngoài sân, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Anh em lật đật đứng dậy đội khăn, đội nón. Tôi cũng phủi đít đứng lên từ giã các anh bước ra ngoài. Dưới nắng chang chang, gió lồng lộng, cát bụi bay ngợp trời. Mấy người Triều Tiên tụ lại một nơi, kẻ đứng, người ngồi trong chòi che mát. Miệng quát tháo, tay chỉ trỏ đám công nhân, trông giống như những viên tướng chỉ huy đứng phía sau ra lịnh xua quân xông trận.  Trưa hôm sau, Ngà ngoắc tôi ra boong, dẫn tới góc khuất bên hông tàu, mắt ngó láo liên, không thấy người dòm ngó, anh lận ngực áo móc ra một xấp báo giơ cho tôi. Thì ra, hôm qua tôi hỏi các anh có báo chí Việt Nam cho tôi xin đọc ké. Hôm nay Ngà đem xuống mà mặt mày lấm lét như tên ăn trộm. Cầm xấp báo trên tay, lòng ray rứt. Tôi ráng gượng cười, nói :
– Cám ơn Ngà nhé, nhưng mà nè, báo chí chớ bạch phiến, hay đồ lậu gì đâu mà em sợ.
– Nhưng phải cẩn thận chứ anh, tụi Ni-Bi kỳ lắm, mình sơ ý nó thấy được nàm khó dễ phiền phức.  Thiệt ra thì xứ Libie nầy cũng kỳ cục lắm. Trước khi tàu ghé bến, sách báo phim ảnh khiêu dâm, bia và rượu phải đem để vô một phòng, chờ quan thuế xuống kiểm xong, họ khóa phòng lại bằng cọng kẽm có bấm nút chì. Trong thời gian tàu đậu lại bến, ai coi phim con heo, uống bia rượu họ bắt được sẽ bị phạt ba ngàn mỹ kim. Tuy nhiên những nhân viên cao cấp thường xuống tàu hỏi xin thuốc thơm và rượu mạnh. Mỗi chuyến về Âu châu, thuyền trưởng chuẩn bị sẵn trong phòng rượu mạnh, thuốc thơm, dành khi trở qua tặng cho các quan, nếu không thì các ngài sẽ cho đệ tử xuống tàu lục lọi, moi móc tùm lum. Thấy tôi và Ngà đứng nói chuyện, Cường đi lại đứng cạnh bên. Lát sau anh hỏi tôi:
– Trên tàu có thịt lợn không anh ?
– Có chớ.
– Hơn cả năm rồi em chưa thấy miếng thịt lợn.
– Phải rồi, xứ nầy đạo Hồi mà. Ngà chen vô, nói :
– Bọn Ni-bi thờ nợn đấy. Tên xếp chạy lúp thúp tới lui trên kè đá, miệng thổi tu hít, tay chỉ trỏ hối thúc đám công nhân. Thấy hơi chướng mắt, tôi hỏi :
– Xếp nó sai khiến công nhân như vậy sao ?
Ngà vọt miệng:
– Vậy mà nhằm nhoà gì anh, thằng nào lạng quang nó đánh bỏ mẹ đấy.
– Như vậy hai anh đứng đây một hồi coi chừng có chuyện.
– Không sao, tụi em tới giờ giải  nao đấy anh.
Tôi chợt nhớ ra :
– Anh Bi và Ngà chờ tui một lát. Cầm xấp báo đi vô để trong phòng. Tôi xuống mở tủ lạnh lấy hai lon nước ngọt ra cho mỗi người một lon. Nhận hai lon nước, hai anh đi tới chỗ khuất người mở ra uống. Tôi ngước mặt nhìn lên bầu trời cao thăm thẳm, nền trơi xanh ngát, trong veo nắng cứ gay gắt đổ xuống đầu những công nhân khuân vác. Trên đọt ống khói của nhà máy lọc dầu, lửa phun lên cả chục thước, khói đen cuồn cuộn làm ô nhiễm không gian.  Buổi sáng, tên xếp ăn điểm tâm xong, hắn đi lại đứng trước cửa phòng bếp, mặt nghiêm nghị,  kêu:
– Bếp!
Tôi day lại :
– Chuyện gì ?
– Ông đừng đem đồ cho mấy người Việt Nam của ông nữa.
– Sao vậy ?
Hắn giơ chéo hai tay ra dấu bị trói :
– Tụi Libie bắt được bỏ tù đó.
– Sao ông xuống tàu ăn uống hà rầm mà hổng ai bắt ông bỏ tù hết ?
– Vì tao cao hơn tụi nó. Tôi định nói xốc hắn một câu cho bỏ cái thói tự cao tự đại, chợt tôi nhớ ra, trong những ngày sống tại đây, tôi cũng có ít nhiều kinh nghiệm đối với xứ đạo Hồi. Cảnh sát rắc rối dàn trời, chuyện bé xé ra to. Mặc dù chánh quyền nơi đây không thích Mỹ, nhưng những người tới từ các quốc gia tư bản, mỗi khi bị phạt phải tính bằng Mỹ kim. Biết đâu điều hắn nói là sự thật, thì rắc rối cho anh em. Đến đây tôi không còn thành kiến với hắn ta nữa, bèn đổi giọng khôi hài:
– Ông đâu có cao?
Hắn cãi lại :
– Tao cao. Tôi bước lại đứng cạnh bên, giơ tay lên cằm gạt chéo qua đo, đầu ông vừa ngang cằm tôi.
Tôi nói :
– Ông thấp hơn tôi cả tấc. Vỡ lẽ ra hắn hỉnh cái mũi xẹp cười sằng sặc trông mặt hắn giống y chang mặt con chim mèo. Tôi lại mở tủ lạnh rót cho hắn một ly nước cam và cám ơn ông đã nhắc nhở tôi một chuyện khá nguy hiểm. Hôm về Âu châu, tôi có mua bánh kẹo và gom góp một mớ áo quần định chuyến nầy qua tặng các bạn. Nhưng sau khi nghe tên xếp lưu ý, tôi đâm e ngại. Có lòng tốt trên những quốc gia kỳ khôi như vầy lắm khi mang hoạ vào thân. Mặt trời tròn như chiếc mâm, ngoan ngoãn nằm sau một lớp màn trắng đục. Buổi chiều khô khốc, không ánh hào quang, không ráng đỏ nhưng gay gắt nóng. Tiếng động cơ của các xe tải đã ngưng bặt. Coi như ngày làm việc đã qua, công nhân đứng tụm năm tụm ba trên bến tán gẫu. Một anh người Tàu gốc Thái, đô con có bộ ngực lực sĩ, da ăn nắng xạm đen, ở trần, áo vắt lên chiếc vai trần bóng lưỡng. Đi tới truớc mặt tôi, cười vui vẻ. Đột nhiên anh cất tiếng:
– Ở đây không có l. ! Cả đám đực rựa ở trong sa mạc lâu ngày, thèm khát đàn bà, dằn không được, hễ có dịp là mở miệng nói tục một cách trơn tru. Có lẽ anh ta tập nói tiếng Việt chỉ một câu duy nhứt nên phát âm rất rõ ràng. Tôi hỏi anh nói tiếng Việt thạo không. Anh ta nhún vai lắc đầu rồi bỏ lên bến. Lúc đó Hải lại đứng cạnh bên tôi.
Day qua, tôi nói :
– Vậy là xong hết một ngày. – Vâng. Hải vừa móc thuốc mời vừa hỏi :
– Tàu anh sang Ý à ?
– Ừa, tối nay tàu khởi hành.
– Ý văn minh không anh ?
– Văn minh gì ? Hải ngập ngừng:
– Em…em muốn biết bên Ý giàu không đấy ?
– Như vậy thì nước Ý văn minh hơn Việt Nam mình nhiều.
– Nước mình còn nói làm chi nữa. Phì phà mấy hơi thuốc, Hải tiếp :
– Bọn em muốn theo tàu qua Ý, nhưng không biết qua đó người ta có nhận mình không ? Tôi ái ngái nhìn Hải. Gần hai chục năm sống đời hồ hải, tôi đã chứng kiến nhiều vụ trốn theo tàu, nhưng mười lần may ra thoát được một. Đó là thời điểm cách đây hơn chục năm, còn bây giờ thì khó lắm. Tôi lơ đãng ngó lên bến thấy Ngà, Bi, Cường đứng trên kè đá nhìn xuống, trông mặt người nào cũng có vẻ khẩn trương. Lòng bâng khuâng không biết phải làm sao, vì câu chuyện đột ngột quá. Tôi thân mật vịn tay lên vai Hải ôn tồn:
– Hải à, chuyện nầy phiêu quá nên anh không dám ý kiến với em đâu.
– Không sao, anh cứ nói, bọn em nhờ anh đấy.
Tôi lắc đầu:
– Cá nhân tui, bất quá chỉ giúp anh em cơm ngày ba bữa trong chuyến đi, nhưng tuyến của chiếc Elsa nầy, sang Ý rồi trở về Tripoli không đầy một tuần lễ. Người ta sẽ bắt em trả lại, vì trên tàu nầy ai cũng biết tụi em là người của Đông Á.
– Thế anh có cách nào giúp bọn em không ? Tôi nhìn gương mặt đen xạm vì nắng, gió sa mạc, đôi mắt em sáng đầy nghị lực và giọng nói cương quyết. Không nỡ làm ngơ, cuối  cùng tôi cũng đưa ý kiến :
– Nếu em muốn đi thì phải biết phân biệt cờ của những quốc gia trên thế giới. Tôi chỉ tay qua chiếc tàu đậu cạnh bên:
– Hải coi kìa, đó là tàu Panama, cờ sau lái là cờ quốc tịch, còn cờ trên ngọn cột hàng hải phía trước là của Libie, tức là cờ của quốc gia tàu đến. Khi đọc được cờ rồi còn phải biết tàu đó chạy tuyến nào, tốt hơn hết nên chọn những chiếc chạy không tuyến nhứt định.
Hải chận :
– Thế là sao anh ?
– Nghĩa là tàu ghé ở cảng nầy một lần rồi không biết chừng nào mới trở lại nữa.
– Họ có liệng mình xuống biển không anh ?
– Theo luật hàng hải và lương tâm con người thì không, nhưng cũng nên cẩn thận. Trước đêm muốn trốn thì phải chuẩn bị hộp quẹt và nước. Hộp quẹt phòng khi xuống khoang người ta đóng hầm lại, lỡ bị kẹt không lối ra thì xé áo quần đốt gây khói để người trên tàu biết mà giở nắp hầm cho lên, còn nước phải đủ uống hơn một ngày. Muốn chui lên phải chờ tàu chạy ít ra cũng hai mươi bốn giờ đồng hồ, nhưng phải đợi ban ngày ban mặt, có đông đủ thủy thủ đoàn mới chui ra, như vậy có thằng gian ác muốn làm ẩu cũng không làm được. Tôi hỏi để kích động tinh thần :
– Hải dám hông ?
Giọng em cả quyết, nói :       
– Dám chứ anh.
– Vậy thì về bàn lại với anh em, nhưng còn chuyện nầy nữa.
– Chuyện gì anh ?
– Khi xuống tàu cứ liệng bỏ hết giấy tờ, tạm thời lờ đi cái quốc tịch của mình là có hy vọng.
Đôi mắt Hải sáng lên:
– Cám ơn anh, để em về bàn lại với anh em. Mấy giờ tàu anh chạy?
– Mười giờ hoa tiêu xuống. Lúc đó Hải nhìn thấy xe bus chở công nhân của Đông Á từ ngoài tung cát chạy vô, em bắt tay chào từ biệt và vội vàng đi nhanh lên bến.  Từ đó tới nay, mỗi lần chứng kiến cảnh những người từ bỏ quê hương mình, để chọn cuộc sống trốn chui trốn nhủi nơi đất lạ. Lòng tôi ray rức nhớ tới những công nhân ở bến Grega và ân hận chuyện tôi đã chỉ đường đi cho họ. Nếu thật sự họ bỏ trốn thì cả bọn sẽ đi về đâu và có được an toàn tới bến bờ không. Hay là đã bỏ mạng như những người nhập cư bất hợp pháp bỏ mạng trên đường. Tôi cầu mong cho các bạn kia đừng chui xuống những con tàu vô định, để sau khi hết hợp đồng họ còn được trở về quê hương gặp lại những người thân đang đêm ngày trông đợi.
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đàn… hặc!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Hồi năm ngoái, trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, mấy thầy bói bên Hong Kong thi nhau bói! Vì nếu chó táp phải ruồi, phước chủ may thầy, trúng một cái là thân chủ đến xem nườm nượp, mặc sức mà hốt tiền đô (Hong Kong).

Người thì nói: Tám năm trước, năm 2008, tại bà Hillary Clinton hơi nóng nảy, mạnh bạo, hơi tự mãn về bản thân trước Barack Obama, nghĩ mình phải là người chiến thắng nên rốt cục đã thua.

Còn năm nay, năm 2016, Bà Hillary Clinton có gương mặt hoàn hảo nhất, đôi mắt sắc, khuôn mặt dài, mũi cao và môi mềm mại, cằm bạnh và má nở so với đối thủ Donald Trump.

Bà chỉ cần phùng mang trợn má là thắng chắc! Nước Mỹ sẽ có Nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử. Bói trật lất hè!

Một ông thầy bói Tàu khác thì coi cái lông… mày xong, bèn phán rằng:

“Theo tướng số về lông! Lông mày rậm, thẳng sẽ có may mắn nhiều hơn những người có lông mày cong”.

Có lẽ Trump nghe được điều này nên đã nhờ ông thầy này tỉa bớt lông mày, làm nó bớt cong cong! Phần lông mày đã tốt; Trump có một gương mặt vuông vức như cái bánh chưng nên Donald Trump mới thắng.

Nghe Donald Trump thắng, Thầy khoái quá, tán thêm rằng: 2016 là một năm tốt đẹp cho Donald Trump, do sao Thái Dương chiếu mệnh!

Rồi cách đây 500 năm, trong bài thơ sấm như của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm của ta vậy, tiên tri Nostradamus đã ám chỉ Trump cũng sẽ thắng cử Tổng thống đó thôi! Nhưng cái khúc sau là sẽ bị đàn hặc?

Chu choa! Thầy bói này chết nhăn răng, chết mất đất cả hằng 5 thế kỷ rồi mà coi bộ đoán trúng phóc đó nhe.

Nhưng đàn hặc là gì? “Đàn… Hặc là vừa đánh đàn vừa cười hặc hặc!”

Làm Tổng thống Mỹ mà bị đàn hặc, rầu muốn chết, mà bụng dạ đâu mà ngồi vừa đánh đàn vừa cười hặc hặc đây ông?

Không đồng ý với cách giải nghĩa tiếu lâm đó, tui tầm chương, giở tự điển Hán Việt ra coi thì thấy như vầy: “Đàn hặc, động từ, có nghĩa là Quốc hội Mỹ gồm Hạ viện và Thượng Viện luận tội một viên chức công quyền nào làm điều phạm pháp.”

Còn từ điển tiếng Anh thì cắt nghĩa đàn hặc là impeach, động từ: “to charge (a public official) with a crime done while in office”

(Truy tố một viên chức chánh phủ phạm tội hình sự lúc đang tại chức).

Thí dụ là: “Congress will vote on whether or not to impeach the President”. (Quốc hội sẽ bỏ phiếu để xem có nên truy tố Tổng thống hay không?)

Trong lịch sử nước Mỹ, thế kỷ 19, bị đàn hặc, Tổng thống Andrew Johnson cũng thoát tội trong cuộc bỏ phiếu của Thượng viện.

Năm 1988, Tổng thống tài hoa và đào hoa Bill Clinton cũng bị đàn hặc vì che giấu vụ thổi kèn saxophone với người đẹp thực tập sinh tại Tòa Bạch Ốc là em Monica Lewinsky. Nhưng Thượng viện đã không đạt được đủ 2/3 số phiếu biểu quyết để phế truất Bill Clinton!

Chỉ có Tổng thống Nixon buộc lòng phải từ chức trước khi Hạ viện có thể đưa ông ra xét xử về vụ bê bối, nghe lén đảng Dân Chủ, vụ Watergate.

Còn lần này thì Tổng thống Donald Trump đang bị giới truyền thông Mỹ nhào vô cắn xé… “Mãnh hổ, tui e, nan địch quần hồ?!”

Hai tờ báo mạng New York Times và Washington Post đang đua nhau tìm sự thực về quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua.

Lúc 5 giờ chiều thứ Hai, ngày 15 tháng Năm, Washington Post đưa một tin động Trời là: “Tổng thống Trump đã tiết lộ cho người Nga biết một tin tình báo được xếp loại tối mật!”

Tin tối mật thì chỉ Hội đồng An Ninh quốc gia của Mỹ biết mà thôi. Đâu ai, dẫu là Tổng thống Mỹ, lại có quyền muốn “xì” ra cho mấy thằng Nga nó biết hè?!

Không chịu để địch thủ bỏ lại, chưa đầy 24 tiếng đồng hồ sau đó, New York Times cho nổ tung một cái tin còn động trời hơn nữa là: “Cựu Giám đốc Cục Điều Tra Liên bang Mỹ có hồ sơ cho thấy Tổng thống Donald Trump cố gây sức ép để FBI ngưng cuộc điều tra nhắm vào Cố vấn an ninh quốc gia Michael Flynn vì có liên lạc với Nga.”

Triều đại Trump hết cái xì căng đan này tới cái xì căng đan khác trong vòng chỉ hơn 3 tháng, Trump lên ngôi cửu ngũ, đã làm sống lại cuộc đua giành giựt độc giả cực kỳ quyết liệt giữa hai tờ báo lớn nhứt Hoa Kỳ.

Quyền tự do ngôn luận theo Tu Chính án thứ nhứt ngày một mạnh lên. Dân Mỹ giờ đây nhận được tin thứ thiệt chứ không còn tin giả như Trump đã từng kết tội và đòi FBI bắt bỏ bót giới truyền thông Mỹ.

Cả hai tờ Times và Post đều hát khúc khải hoàn, hoan ca; vì ấn bản báo mạng, nhanh, lẹ, nóng hổi vừa thổi vừa đọc, được thêm cả trăm ngàn bà con xúm vô mua quá trời hè.

Báo giấy, báo in, tin tức chậm như rùa, đã thực sự cáo chung, dầu không muốn cũng lăn ra ngủm củ tỏi.

Thế là mấy ký giả kiểu xưa, vừa hút thuốc lào, ngồi rị mọ tuần viết một, hai bài… đang ôm con vợ nhà khóc i ỉ! Giờ biết sống làm sao đây bà nó ơi?

Thì mấy ký giả trẻ của thời tin học thì reo mừng tở mở.

Cuộc đua quyết liệt của hai tờ @nytimes and @washingtonpost này làm tui cực kỳ hãnh diện, lỗ mũi to bằng trái cà chua của Mỹ.

Nguyên văn là: “Makes me proud to be a journalist. Bravo!”

Tui cho là hai tờ báo này ngây thơ; đang cố tình giết một con gà đẻ trứng vàng!

Nếu Trump không còn làm Tổng thống nữa. Không còn tàn chi quái đao, tự lấy đao mà cắt thịt xương mình… thì anh em nhà báo chúng ta còn đề tài nào nữa mà viết hè?!

Bấy lâu nay, nhờ Trump anh em mình có thêm chút cháo bào ngư mà giờ này mấy ông quyết đảo chánh Donald Trump, (nếu thành công), chắc tụi mình chỉ còn ăn cháo trắng…

Đối với Trump không có đúng hoặc sai. Chỉ có thắng và thua. Mà lần này có vẻ sẽ thua nên các cố vấn lòng thấp thỏm cho tương lai. Mất job rồi mình sẽ về đâu?

Trump cũng trở nên gay gắt, rầu rĩ, xì nẹt các cố vấn là “đồ ăn hại”, ngay cả đối với con rể dấu yêu, Jared Kushner.

Các dân biểu Liên bang và Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đang nghĩ đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng Mười Một, năm 2018! Toàn bộ 435 ghế Hạ viện cũng như 1/3 trong 100 ghế Thượng viện phải được bầu lại.

Bây giờ mà sơ sẩy ủng hộ Trump, dân Mỹ ùn ùn bầu cho đảng Dân Chủ; coi chừng lúc đó mất ghế như chơi!

Nhứt là khi Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ chỉ định một Công tố viên đặc biệt để điều tra tận tường việc liên hệ với Nga của Putin. Không một ai trong đảng Cộng hòa dám lên tiếng bênh vực Tổng thống phe ta hết ráo!

Những xì căng đan liên tiếp như những đám mây mù che phủ cả Tòa Bạch Ốc sau khi Tổng thống Trump đuổi việc Giám đốc FBI James Comey.

Một Thượng nghị sĩ Cộng Hòa than nghe thấy thương luôn: “Chẳng lẽ không thể có một ngày không xảy ra khủng hoảng hay sao? Tôi chỉ mong muốn điều đó”.

Các nhà lập pháp bảo thủ của Hoa Kỳ đã bắt đầu xầm xì to nhỏ với nhau là: “Tổng thống Pence!” Tính thay ngựa giữa dòng: Donald Trump làm thuyền trưởng dở như hạch thôi để Thuyền phó Mike Pence lên thay để đảng Cộng Hòa vượt qua cơn giông tố này.

Nếu không thuyền chìm là cả đám sẽ chết chìm hết ráo cho mà coi.

Pence ít tạo ra kẻ thù! Pence là một con chiên ngoan đạo! Chúa Nhựt nào cũng đi nhà thờ xem lễ.

Tánh tình Pence điềm đạm hơn! Không chửi bới, xúc phạm một ai, không dùng trang mạng xã hội Twitter chửi thiên hạ để không cho thiên hạ chửi lại mình.

Chính vì vậy, mà Thượng nghị sĩ John Cornyn, trước là một Tổng Chưởng Lý của tiểu bang Texas, nghe phong phanh được đề nghị làm Giám đốc Cục điều tra Liêng Bang FBI đã từ chối: “Thôi gạch tên tui ra đi nha!”

Với lý do là: Chưa bao giờ đất nước chúng ta cần một Giám đốc FBI độc lập và có uy tín như lúc này!”

Chánh án Tòa Chống Án Liên Bang Merrick Garland thuộc đảng Cộng Hòa cũng lắc đầu “No! Thank you”

Rồi Dân biểu Cộng Hòa, Trey Gowdy, của South Carolina cũng: “Hỏng có tui!”

“Tất cả đã bỏ Trẫm đi hết rồi Hu hu! He he!”

Nói nào ngay khi Donald Trump đắc cử cũng làm nhiều bà con mình hy vọng đổi đời.

Đổi đời thì có… Nhưng đổi từ tệ qua quá xá tệ; nên bà con hỏng ai ham, đã cạn đi lòng kiên nhẫn; chỉ muốn Donald Trump “biến” cho rồi!

Báo chí Mỹ vừa chơi hai cái tin, cùng một nội dung, là hai ông cụ, một 91 tuổi và một 75 tuổi, trong giờ hấp hối!

Thân nhân bèn: “Chúng tôi cho cụ hay rằng tiến trình đàn hặc ông Trump vừa mới bắt đầu, (một tin hoàn toàn “cuội”, fake news), nhờ vậy cụ cười khặc khặc rồi thanh thản ra đi.”

Đối với tui thì hoàn toàn khác. Năm ngoái, trước khi có kết quả bầu cử khi theo dõi những lời phát biểu “cà chớn” cà cháo và cà pháo của Trump, tui cũng không thích lắm.

Nhưng từ khi Trump bất ngờ thắng cử ngoài dự đoán của hàng triệu triệu bà con nước Mỹ cũng như trên toàn thế giới; thì tình cảm của tui dành cho Donald Trump đã thay đổi hoàn toàn. Bởi tánh tui là thấy sang bắt quàng làm họ hè!

Từ không thích chuyển qua thích ít! Ngày qua ngày lại thành thích nhiều và thích đủ thứ ở Trump.

“Tội nghiệp là tỉ phú Mỹ kim, vợ đẹp con ngoan, nhà cao cửa rộng, già sống còn không bao lăm mà bon chen chi cho nó khổ dữ vậy nè?”

Trump than: “Làm Tổng thống Mỹ khó hơn tôi tưởng. Rồi nhớ vô cùng đời sống trước khi vào Tòa Bạch Ốc” Làm tui muốn rớt nước mắt cảm thương!

Nếu Trump từ chức tui buồn lắm nhe! Thiệt là một người bạn tốt biết bao của tui.

Người đã dạy cho tui biết bao câu tiếng Mỹ cực kỳ dễ hiểu; vì vốn từ vựng của Người xài chỉ chừng độ 500 chữ, nên tui dễ nhớ dễ thuộc.

Hai là khi nói dóc mà muốn thiên hạ tin thì hãy thuyết phục họ chỉ bằng hai chữ “Believe me!”

Nếu không còn làm Tổng thống nữa, Trump sẽ bỏ tui thui thủi một mình trong vòng vây của địch, (tức em yêu của tui)!

Vì mỗi ngày đi làm về mệt; còn bị em yêu giận hờn cấm vận, đuổi ra “sofa” nằm ngủ, tui đâu còn dịp gặp mặt bạn hiền.

Cứ cầm remote control, bấm nghe cái cốc là bạn hiện ra ngay! Ngày cũng như đêm; để “believe me!” Hi hi.

“Đừng từ chức! Cứ “fight! fight” Chịu chơi; chơi tới cùng như Trump vừa chém gió vừa hứa đó! Nhớ nhe!”

Da vàng mũi tẹt!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Bà con mình ở hải ngoại, như nước Úc nầy đây, thường nghe cảnh báo: “Con nít mà không được ai trông chừng sẽ bị bán cho rạp xiếc!”

Vì con nít rất lí lắc! Má nó chỉ rời mắt có chút xíu thôi là tụi nó đã quậy tưng lên, làm diễn viên xiếc rồi.

Chẳng qua có chuyện vầy: Busan (âm Hán Việt: Phủ Sơn), hay còn được gọi là Pusan, là thành phố cảng lớn nhất của Đại Hàn, dân số khoảng 4 triệu người, lớn thứ nhì tại Đại Hàn sau Seoul.

Giáo sư Robert Kelly, người Mỹ, dạy tại Khoa Chính trị học và Ngoại giao, Đại học quốc gia Busan (Đại Hàn), trong căn phòng làm việc của mình ngay tại nhà, đang trả lời phỏng vấn truyền hình trực tiếp với đài BBC, hôm 10 tháng Ba.

Giáo sư Đại học chuyên về bán đảo Triều Tiên cũng có nhiều; nhưng Robert tức Bob, được BBC, hãng thông tấn nổi tiếng của nước Anh mời là trúng mánh nhe!

Một là có danh, nhiều khán giả truyền hình biết mặt, biết tên! Hai là có lợi, vì phỏng vấn là được trả tiền đó.

Không gì sung sướng hơn là làm việc ngay tại nhà, gần vợ, gần con. Muốn chạy qua nựng con một chút; hay hun vợ một cái là phẻ re hè. Được em yêu tiếp thêm năng lượng bất cứ lúc nào mình muốn thiệt không khoái lắm ru?

Nên phu nhân của vị Giáo sư nầy, bà Kim Jong-a, cô giáo dạy yoga, chắc cũng lấy làm sung sướng và hãnh diện nên cùng hai đứa con mình: bé gái Marion, 4 tuổi và bé trai James, mới 8 tháng tuổi, ngồi xem ông xã mình đem cái sở học ra trả lời nhà đài, được truyền hình trực tiếp trong phòng khách.

Marion, mới ăn sinh nhựt trong trường về, còn phấn khích lắm; giờ lại thấy Tía mình xuất hiện trên truyền hình nên mở cửa phòng làm việc của Tía mình, tay cầm đồ chơi, vừa đi vừa nhún nhẩy như đang múa ba lê! Vô kiếm chắc để báo tin vui cho biết là Tía đang có mặt trên truyền hình kia kìa..?!

Thằng nhóc tì James ngồi trên xe tập đi cũng vội vã bường theo!

Giáo sư Kelly thấy trên màn hình con gái mình mở cửa bước vào: “Thôi rồi! Hư bột, hư đường hết ráo rồi! Cũng lỗi tại tôi sơ ý quên đóng cửa đó mà!”

Sợ nhà đài BBC chê mình làm ăn không chuyên nghiệp, lần nầy chắc không có lần sau; nên miệng xin lỗi nhà đài, tay đẩy con ra…

Bà Kim Jong-a hoảng hồn vọt theo vào, (cố cúi rạp người xuống chắc để né cái camera, tránh bị thâu hình trực tiếp trên Skype), kéo hai đứa con ra, cho chồng mình tiếp tục trả lời phỏng vấn.

Marion không chịu ra, dù bị kéo, miệng hỏi mẹ bằng tiếng Hàn là: “Tại làm sao mà kéo nó ra khỏi Tía nó vậy hè?”

Thiệt là một tình huống dở cười dở khóc trước hàng triệu bạn xem đài trên toàn thế giới.

Nhưng tiền hung hậu kiết. Thấy xui mà lại hên, trên Facebook, hơn 84 triệu lượt người xem, khiến gia đình Kelly nổi như cồn! Bà con mình chú ý đến hai nhóc tì đang hát xiệc, vui quá mạng, hơn là việc ông giáo sư Kelly nhận định về phán quyết lịch sử của Tòa án Hiến pháp phế truất nữ Tổng thống Nam Hàn Phác Cận Huệ!

Nổi tiếng, ăn khách là truyền thông nó lại mời phỏng vấn nữa hè. Lại vô mánh!

Lần nầy, hôm 15 tháng Ba, ông bà giáo sư diện cho hai đứa con mình rất là bảnh tỏn. Marion mặc áo khoác, vì Nam Hàn đang mùa Đông, mang kiếng màu hồng.

Dụ khị con nít ngồi yên, có tham khảo sách vở đàng hoàng nên bà giáo sư cho một cây kẹo để Marion ngồi mút. Được một cái bánh, James, bận rộn hai cái tay nhỏ xíu đút vô mồm…

Có kẹo, có bánh… mắc ăn rồi nên không chộn rộn làm xiếc nữa mà chi… Ai muốn làm, muốn nói gì thì xin cứ tự nhiên nhe!

Giáo sư Kelly chia sẻ: “Khi con bé mở cửa, tôi đã thấy qua màn hình. Tôi biết chuyện này không ổn rồi! Nhưng ráng nhịn cười! Con nít mà! Hãy để cho chúng tự nhiên… như con nít!”

“Tôi nghĩ việc đó dễ thương đấy chứ. Vợ tôi xứng đáng được gắn ‘mề đai’, vì đã làm một việc thật tuyệt vời, cố cứu vãn tình huống không ai lường trước được!

Tôi đã mắc phải sai lầm nhưng không ngờ lại biến gia đình mình trở thành ngôi sao trên YouTube.

 Chúng tôi rất vui về tình cảm bà con mình dành cho bọn trẻ. Xin cảm ơn các bạn.”

***

Rồi tui cũng trộm nghe công viên Hyde Park ở thủ đô Luân Đôn nước Anh, từ năm 1872 tới nay, chánh phủ Anh dành cho dân Hồng mao một nơi để ai muốn đến đó diễn thuyết, muốn nói gì thì nói, bất cứ đề tài gì mà không bị chụp mũ là thế lực phản động bao giờ!

Thời buổi internet thì còn tiện lợi hơn, tự do hơn nữa; ai muốn nói gì thì nói… bất cứ đề tài gì trên các trang mạng xã hội như Facebook, Youtube. Bấm chuột nghe cái cốc là nó hiện hình liền! Cái quan trọng là bá tánh có chịu nghe mình nói xàm, nói bá láp hay không?

Chỉ một hạt cát mà bà con mình tìm thấy được một đại dương, xôn xao cãi nhau ì xèo, ông nói gà bà nói vịt như cái chợ Cầu Ông Lãnh vậy!

Có người cho rằng: “Cuộc phỏng vấn trên BBC hài hước nhất, thú vị nhất mà tôi từng được xem trên BBC nhưng tôi không thể cười nổi khi chứng kiến Marion bị Tía đẩy ra và bị Má lôi đi.”

Có người lại hỏi tại sao không đứng dậy, dắt con mình ra khỏi phòng, chỉ chừng vài giây thôi, rồi vào trả lời phỏng vấn tiếp?

Thì có tay khác đầu óc hơi ‘bị’ tiếu lâm trả lời là: “Máy thu hình thấy ông Giáo sư mặc đồ lớn thắt cà vạt phía trên khi ổng ngồi. Đứng dậy, sợ bà con mình thấy ổng mặc quần xà lỏn sao cha? Ha ha!”

Người binh vực thì khen ông Giáo sư rất chuyên nghiệp, tôn trọng nhà đài và bạn xem đài. Ông Giáo sư thương con đó chớ; chính vì vậy mà cháu bé muốn vào phòng làm việc của Tía mình lúc nào cũng được. Cửa không khóa là mở cửa vào thôi hè!

Chương trình hài của New Zealand đã làm một video ăn theo! Thay vì giáo sư Kelly, lại là bà Kate Wordsworth đang trả lời câu hỏi về khủng hoảng chính trị ở Nam Hàn thì đứa con gái bước vào.

Bà bế con lên, cho nó ngồi lên đùi, đút vào miệng cháu cái núm vú, không phải của mình mà của cái bình sữa! Khi đứa thứ hai bước vào, Bà đưa cho nó một món đồ chơi.

Sau đó, bà mẹ ba đảm đang nầy còn lấy gà nướng ra khỏi lò, chùi bồn cầu ‘toilet’ và thậm chí còn dư tay dùng kéo cắt dây điện của bom hẹn giờ trong khi vẫn tiếp tục nói chuyện với đài truyền hình BBC.

Cái video clip nầy ca ngợi chị em ta; rồi đá khéo cánh đàn ông chúng ta dở như hạch, có như vậy mà cũng không biết giải quyết ra làm sao cho xuôi chèo mát mái!

Rồi bà con mình ở không, ghiền ‘facebook’, kẻ nói qua người nói lại đưa đến một cuộc tranh luận nẩy lửa về chủng tộc, da trắng, da vàng và cuộc hôn nhân dị chủng. Một nhà đài bèn phóng tác video clip nầy thành một tiểu phẩm hài hước nhưng đầy tính phê phán rất sâu cay.

Bằng cách cho xuất hiện một người phụ nữ Á Châu, ăn mặc có có vẻ xốc xếch “Chị vú em của ông bước vào kìa?” “Không! Đó là vợ tôi!”

Kế đó một người phụ nữ Á Châu khác cũng lôi thôi không kém bước vào.

“Chị người ở của ông kìa!” “Không! Đó là má vợ tui!”

Rồi một ông già Á Châu, vẻ lam lũ bước vào.

“Người làm vườn của ông kìa!” “Không! Đó là ông già vợ tui!”

(Mấy thằng Tây da trắng nó cười ai lấy phụ nữ Á Châu làm vợ là phải nuôi hết cả gia đình bên vợ nữa!)

Cuối cùng có một bà da trắng, cầm trên tay một bức tranh rón rén bước vào.

“Mẹ ông kìa!” thì ông Giáo sư hốt hoảng hỏi: “Bà là ai?”

Người phụ nữ đó chạy biến đi. “Nè! Xì tốp!”

Té ra bà da trắng nầy đi ăn trộm tranh!

Phụ nữ Á Châu, mũi tẹt da vàng, mắt một mí thường bị truyền thông phương Tây mô tả là nanny, tức vú em, tức bảo mẫu, kẻ giúp việc, đầy tớ, khúm núm trước ông chủ da trắng, là chủng tộc thượng đẳng, ưu tú nhất.

Do đó vợ của giáo sư Robert Kelly là Kim Jung-a, người Nam Hàn, mới bị nhầm là vú em, là bảo mẫu.

Ê! Cái nầy đúng hồi thế kỷ thứ 19, thuở huy hoàng của đế quốc Anh mặt trời không bao giờ lặn!

Bây giờ là thế kỷ 21 rồi! Muốn có một người vợ Á Châu đảm đang, hết lòng nâng khăn móc túi mình không phải là dễ rớ tới cọng lông chân của em đâu nha!

Muốn rớ tới cọng lông của em là phải giàu chừng 13 tỉ đô la Mỹ mới được đó.

Hỏng thấy ông chủ bự của đài Fox News, ‘mông xừ’ Rupert Murdoch giàu xụ vậy mà còn bị á xẩm Wendi Deng cho đi tàu suốt; sau khi tuốt của chàng chừng vài trăm triệu đô thôi.

Á xẩm Hong Kong bên hông Tàu Cộng mắc như vậy; nhưng còn chưa nhằm nhò gì với một người em Việt gốc Hoa, Priscilla Chan! Tía má em không phải là dân Hong Kong mà chính thực là bên hông Chợ Lớn, nhưng em sanh ở cái đất nước Cờ Hoa!

Phải giàu hạng 5 trên toàn thế giới, phải trẻ tuổi, tài cao, tài sản xỉu xỉu có 56 tỉ đô Mỹ như Mark Zuckerberg mới được làm Huyện Trìa mà đi khám điền thổ của Thị Hến.

Dẫu da trắng, thuộc chủng tộc siêu đẳng gì gì đó… mà móc bọc thì đừng có hòng!

***

Như vậy, so với mấy thằng còn đầu óc kỳ thị chủng tộc, coi da trắng là siêu đẳng thì tui may mắn hơn tụi nó nhiều. Vì em yêu của tui cũng là xẩm lai da vàng như nghệ! Được em yêu ‘OK Salem’ là coi như tui có tài sản cả tỉ đô rồi đó. Con vợ tui nghe tui nịnh ‘sảng’ như vậy nó khoái quá trời.

Chịu làm vợ của tui là tui khoái quá rồi; nhưng được voi đòi Hai Bà Trưng, phải chi em sản xuất cho tui một đứa con gái, để nó làm diễn viên xiếc cho Tía nó cũng nổi tiếng như ông Giáo sư Kelly vậy; vì em chỉ cho tui được có hai thằng cu hè.

Thì em chu cái mỏ cong cong, phán rằng: “Con trai hay con gái là do Trời định sao mình chịu vậy! Càm ràm cái gì hỏng biết nữa hè?

Còn xét về Bảo sanh viện Từ Dũ, nhiễm sắc thể X, Y gì đó là do anh; chớ nào phải do em.

Do cái phần cứng và cái phần mềm của anh lập trình sẵn. Em chỉ là cái máy in ba chiều, 3D thôi. Anh làm sao là em in ra y hịt vậy hè. Đổ thừa là hỏng có được đâu nhe!

Phần có con gái cũng lo lắm; chớ có sướng ích gì đâu!

Ông bà mình xưa giờ thường nói:“Có con gái lớn trong nhà như hũ mắm treo giàn bếp!”

Nó ngoan thì đi tiệc tùng xong, về nhà, leo lên giường ngủ.

Bằng không nó đi tiệc tùng xong, leo lên giường ngủ, rồi mới về nhà! Thì vợ chồng mình chỉ còn có cái nước khóc tiếng Tiều!”

doanxuanthu

melbourne