This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sáng hôm sau, trời Sài Gòn thật đẹp. Một vài vầng mây trắng lững lờ trên nền trời xanh nhạt.
Đúng 8 giờ, ông Hương đậu xe ở một góc phố, đi bộ lại (đó là cách thận trọng thường xuyên của ông ta). Chúng tôi đã nhìn thấy, mỗi người một túi xách ra xe. Một cái bắt tay, vài nụ cười, không một lời nói, chúng tôi cùng lên xe.
Xe ra khu Bạch Đằng, đón một người cuối đường Hai Bà Trưng, quẹo về Trương Minh Giảng, lên khu Vườn Lài đón thêm hai người nữa. Không kể ông Hương, xe đã năm người, như vậy là hết chỗ.
Trong khi xe lao về phía Chợ Lớn, cả năm chúng tôi không biết xe sẽ đi về đâu.
Khi xe ra tới đầu Quốc Lộ số 4 đường xuống Mỹ Tho, một trong ba người kia tỏ vẻ hiểu biết nói nhỏ:
– Chắc đến trường Cây Mai.
Tôi chẳng biết trường Cây Mai dạy cái gì nên đưa mắt hỏi, anh đó khẻ giải thích:
– Đào tạo tình báo cảnh sát.
Thực tế không phải vậy, khi đi tới ngã tư Phú Lâm, xe đi chậm lại, rẽ vào chiếc cổng có hai cánh cửa sắt đóng im ỉm mang số: 365.
Như đừng chờ sẵn ở phía trong, một người quần áo bà ba nâu vội vàng ra mở cổng. Xe đi thẳng vào, đến cửa một ngôi nhà to thì ngừng lại. Chúng tôi xuống xe theo ông Hương lên gác.
Trên lầu đã có chín người nữa, trong đó, một người đã lớn tuổi vào khoảng ba mươi lăm, bốn mươi, làm tôi chú ý nhiều hơn vì hâu hết chúng tôi từ hai mươi đến hai mươi lăm.
Trong căn nhà rộng có nhiều buồng nhỏ, nhưng một phòng thật to, có lẽ là phòng khách đã kê sẵn 14 chiếc giường vải, có mùng, chăn, gối của quân đội thứ tự theo từng giường. Điều này nói lên số người đã được đón đủ.
Một người mặc pyjama xanh nhạt, đeo kính trắng, chừng ba mươi tuổi, từ dưới nhà lên. Ông Hương quay lại phía chúng tôi giới thiệu:
– Đây là ông Lâm Giám thị, một người sẽ thường xuyên ở với các anh em, khi có điều gì cần thiết, các anh đến gặp ông sẽ được giải quyết.
Ông Lâm mỉm cười và bắt tay mọi người, ông cũng là người miền Trung. Sau đó, lại có hai người mặc đồ nâu nữa từ dưới nhà lên. Ông Hương cho biết họ sẽ phục vụ chúng tôi về cơm nước. Tất cả ba người này nói tiếng miền Trung.
Theo ông Hương và ông Lâm, đây là một lớp học tập thể. Bất cứ tập thể nào cũng có nội quy để ổn định trật tự. Vậy, trước hết chúng tôi phải tự đặt bí danh, và từ nay, trong mọi sinh hoạt học tập cũng như ăn ở, chúng tôi sẽ bắt buộc gọi nhau theo bí danh đó. Tôi là J. hay John. Lý là K. hay Karl. Giới hạn tối đa việc ra ngoài phố. Ra ngoài, nếu gặp ai hỏi, chỉ trả lời, chúng tôi là một số sinh viên Kinh Tế và Chính Trị, vì muốn tìm hiểu chủ nghĩa nhân vị, nên mượn căn nhà này để nghiên cứu học hành trong mấy tháng Hè.
Đây là một ngôi nhà hai tầng, rất kiên cố, có nhiều phòng. Chung quanh có tường xây, dây thép gai bao bọc.
Theo dân chúng ở chung quanh, ngôi nhà này trước đây thuộc Phòng Nhì của Pháp, nay thuộc về Phủ Tổng Thống. Cuối cùng, ông Hương nhìn chúng tôi, gợi ý:
– Để thuận tiện trong sinh hoạt, có lẽ các anh nên chọn bầu ra một người trưởng toán.
Chúng tôi toàn những người chẳng hề biết nhau. (Điều này ông Hương biết nên đã có dụng ý). Làm sao biết được đạo đức và khả năng của nhau, cho nên tất yếu đều nhìn về người lớn tuổi nhất. Ông Hương đồng ý ngay. Anh đó tên Đạo.
Qua những bữa cơm, và trong tủ lạnh luôn luôn có đầy đủ nước ngọt, bia, chanh, đường để giải khát thoải mái, tất cả chúng tôi đều phấn chấn tin tưởng vào viễn ảnh ngày mai của lớp học.
Tối hôm đó tôi xuống buồng của giám thị, theo lời hẹn của ông ta. Ngay buối nói chuyện đầu này, ông đã có vẻ có cảm tình với tôi như một người em, tên ông là Cao Đình Tiệu, tu xuất, vào quân đội. Qua ông, tôi đã biết được nhiều chuyện chung quanh lớp học.
Sáng hôm sau, cà mười bốn người chúng tôi lên một chiếc xe “Dodge 4” mui phủ kín mít. Xe đi lên phía Sài Gòn, nhưng chẳng ai biết sẽ đi về đâu. Cuối cùng, xe đi thẳng vào một tòa nhà to lớn chẳng khác gì một tòa lâu đài, có hai cổng to hai bên để xe ra vào, không có lính gác. Trong sân, vài con ngỗng kêu í ới, sân có trồng cỏ và hoa, êm đềm như một tư gia. Đó là căn nhà số 2 đường Jacques Rousseau. Sau này, tôi biết là nhà của Cựu Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tham mưu trưởng Quân đội Quốc Gia thời 1954 về trước.
Chúng tôi được hướng dẫn vào một phòng phía bên phải. Trong phòng, đã có mặt ông Hương và mấy người lạ đóng bộ đàng hoàng. Họ chạy lăng xăng chuẩn bị bàn ghế, cờ quạt. Vách tường, cửa của văn phòng đều được bọc da, để ngăn cản âm thanh với bên ngoài. Trên cao, giữa tường, treo một lá cờ Tổ Quốc lớn, và ảnh cụ Ngô, phía trên đình hương trầm nghi ngút. Bên cạnh, phía dưới, có máy ghi âm. Chúng tôi 14 người ngồi mấy hàng ghế phía cuối.
Đúng 9 giờ, một người đi vào. Có tiếng hô nghiêm, chúng tôi đứng dậy. Người đó bước lên bục. Sau khi làm thủ tục chào cờ hát quốc ca, mặc niệm, ông ta với cặp mắt như tỏa ánh sáng sau đôi kính trắng thật dầy, và bằng giọng Huế ấm và nặng, ông vừa tha thiết nhắn nhủ, vừa nghiêm nghị ra lệnh. Nội dung:
– Các anh là những thanh niên, sẽ trở thành rường cột của Tổ Quốc trong tương lai. Bởi thế, hãy ra sức cố gắng học tập, công tác, để không phụ lòng tin tưởng và thương yêu của Tổng Thống. Lúc này, đang đi công cán đặc biệt, nên Tổng Thống không kịp ra dự buổi khai giảng lớp học hôm nay. v.v..
Ba mươi phút sau, người đó về ngay.
Chiều hôm đó, ông Minh (Phó giám đốc lớp học) giảng về Chủ nghĩa Nhân Vị.
Giờ sau, ông Hương giảng về Chủ nghĩa Cộng Sản.
Lần đầu tiên chúng tôi được nhìn hai tấm nình to tướng khổ 40×60 phân của Engels và Karl Max. Ông lướt qua những nét chính vể Chủ nghĩa Cộng Sản với những diễn tiến theo thời gian từ Đệ Nhất Quốc Tế đến Đệ Ngũ là Tito Nam Tư, (dĩ nhiên là đứng từ goc độ của thế giới tự do để nhìn về Chủ nghĩa Cộng Sản). Ông Tạo, Chủ sự Phòng Thương Mại, giảng về Kinh Tế và Xã Hội. Ông Đức giảng về tự do và con người, v.v…
Tất cả chỉ là mở ra một bức tranh khái niệm về từng lãnh vực. Tuy vậy, chúng tôi vẫn phải làm bài với những đề tài như:
– Con người và Xã Hội.
– Chủ nghĩa Cộng Sản và con người.
– Nền Kinh Tế chỉ huy và tự phát. v.v…
Chúng tôi được tha hồ tham khảo sách báo ngoài xã hội. Phải nói, lúc đầu tôi cũng hơi ngạc nhiên, tại sao lại cho chúng tôi học những món như vậy. Phải hơn một tháng sau, tôi mới hiểu rõ.
Hằng ngày đi học bằng xe bít bùng, bọc kín như bưng… Tôi để ý, thường thấy những chiếc xe du lịch ra vào đậu trong sân số 2 Jean Jacques Rousseau, lại phải lấy vải bịt số xe. Những người trên xe hầu hết là ngoại quốc, nam cũng như nữ. Thái độ của họ tỏ ra nhanh nhẹn và cũng kín đáo khác thường.
Trong những giờ giải lao, chúng tôi lang thang ngoài sân, khi gần ra phía cổng thì bị giảng viên gọi vào. Họ nói:
– Các anh không nên ra ngoài đó, có thể bị chụp ảnh.
Những điều như vậy, càng gợi trí tò mò của tôi. Tôi suy đoán, có thể không chừng đây là một chỗ tới lui của nhiều tay điệp viên quốc tế chứ không chơi đâu, do đó, tôi tìm mọi cách để mong biết được tên thật của các giảng viên. Tôi hiểu họ dùng toàn tên giả. Thí dụ: Ông Minh giảng về Chủ nghĩa Nhân Vị lại có cái thắt lưng mang chữ K. Hoặc ông Đức, có lần thoáng trong lần giải lao, ông Minh lại gọi là ông Thái. Tôi muốn biết rõ tên thật và chức vụ thực của họ. Phần khác, tôi còn ghi tất cả những số xe, bất kể loại gì ra vào ngôi nhà số 2 này. Tôi cho rằng rồi đây ở Sài Gòn, hay ở đâu, nếu tôi gặp những chiếc xe đó, địa điểm và chủ nhân ấy đều có dính dáng đến tình báo. Điều đáng trách của tôi, là ghi tất cả tên cũng như số xe vào một cuốn sổ tay, mà tôi thường bỏ trong người.
Trong những buổi lên lớp cũng như những bài làm ở nhà, nhiều lần tôi được khen là có những ý kiến sâu sắc; nhất là ông Hương, Giám đốc, càng tỏ ra thân mật quý mến tôi hơn.
Hàng tuần, trưa thứ Bảy, chúng tôi được nghỉ học, về nhà. Tối Chủ Nhật trở lại.
Qua chuyện trò sinh hoạt, sau nửa tháng, tôi đã biết trong số 14 người này có nhiều anh đã có phần I, phần II Tú Tài. Đa số là con ông cháu cha, con cháu Tỉnh Trưởng, Chủ sự,v.v… Vì vậy, tôi và Lý càng hoan hỉ tin tưởng vào tương lai của mỗi người.
Học được hơn nửa tháng, một hôm, tôi không thấy cuốn sổ tay nhỏ của tôi đâu, tôi thắc mắc tìm hoài mọi chỗ, hỏi cả Lý, cũng không thấy. Tôi cho là, có thể nhiều lần đi trên xe, xe vừa đông lại vừa xóc, cuốn sổ rơi xuống đường rồi chăng, chứ tôi đã tìm hết mọi chỗ rồi. Tôi cũng đã hỏi toàn thể anh em, nhưng không một ai biết. Mãi rồi cuốn sổ tay đó cũng đi vào lãng quên.
Một buổi tối, sau khi học và làm bài vở xong, tôi chợt nhớ tới cuốn sổ tay, tôi quyết định mở va li tìm hết lại một lần nữa may ra thấy chăng. Lục lọi, tìm mãi cũng không thấy. Tôi chợt nhìn thấy gần nửa bánh pháo “Đại Quang” ở trong góc va li, thứ pháo nổ xác tan nhỏ như vảy ốc. Bánh pháo này hồi Tết còn thừa, tôi định để dành cho Tết sang năm.
Sẵn tinh nghịch ngợm ngang tàng, tôi rút ra một chiếc pháo trước mặt Lý và mấy anh em còn thức. Miệng đang ngậm điếu thuốc, tôi bình thản từ từ đưa ngòi pháo vò đầu điếu thuốc đang cháy; khi ngòi đã xì lửa, tôi vẫn lạnh lùng nhìn chiếc ngòi xì dần rồi nổ ngay ở tay, ngang ngay trước mặt tôi chừng hai mươi phân, chỉ vì tính ngông cuồng tỏ với mọi người là mình gan lì.
Mọi người ngồi đó không ai nghĩ là tôi dám đốt pháo như vậy, mà chỉ cho tôi đùa bỡn, nên không kip có ý kiến can ngăn.
Tiếng nổ dữ dội, âm vang trong ngôi nhà như tiếng lựu đạn khiến mọi người xanh mặt, kể cả tôi! Anh em đứng cả dậy. Ba người bếp ở dưới nhà cũng hộc tốc chạy lên, mặt mày nhớn nhác. Sau khi biết nội vụ mấy người làm bếp và tất cả anh em giúp tôi nhặt từng mảnh pháo vụn. Giám thị Lâm hôm đó tình cờ lại đi chơi vắng. Lúc đó đã 10 giờ tối.
Tôi liếc nhìn xuống đường chỗ ngã tư Phú Lâm, thấy một người quân cảnh và hai cảnh sát, đều ngước nhìn lên lầu tòa nhà 365, rồi một người lây xe gắn máy chạy về phía Sài Gòn.
Tôi xuống nước năn nỉ ba người bếp và các anh em đừng để sự việc này cho ban Giám Đốc biết.
Dọn xong, tất cả đều đi ngủ lại. Riêng tôi nằm bồn chồn lo lắng. Tôi cảm thấy sự việc sẽ không đơn giản. Tôi không yên lòng, với tay sang lay Lý dậy, thì thầm:
– Tao thấy sự việc này sẽ không phải lộ từ phía dưới lên, mà có khi từ phía trên xuống.
Lý trấn an tôi:
– Không sao đâu, hãy đi ngủ đi!
Tôi nằm, tuy có lo lắng, nhưng tuổi trẻ, nên dễ đi vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Tôi đang say mê ngủ, ai đó đến lay người tôi, tôi mở mắt: Cao Đình Tiệu. Ông nhớn nhác, mắt không kính, tóc rối bù, chắc cũng bị đánh thức dậy, ông nói hổn hển:
– Dậy, mặc quần áo xuống ngay dưới nhà gặp ông Hương!
Thật là chết! Tôi ngồi bật dậy. Xuống đến lưng cầu thang, đã nhìn thấy ông Hương, ông Minh, quần áo lôi thôi, dáng vẻ còn ngái ngủ. Lúc đó đã 2 giờ đêm.
Tôi hồi hộp nhìn các ông ấy. Điều làm tôi buồn khổ, hổ thẹn nhiều là ông Hương, ông Minh, ông Tiệu, nghĩa là cả Ban Giám Đốc, cũng như giám thị, trước đây đề cao và quý tôi nhất, cho nên tôi chỉ biết cúi đầu.
Chắc hẳn ông Hương đã hỏi ba người bếp chi tiết sự việc rồi. Ông Tiệu không biết gì vì đi chơi. Câu đầu tiên ông Hương hỏi tôi:
– Bình có biết hôm nay là ngày gì không?
Tôi tường ý của ông muốn hỏi như vậy để tôi phải trả lời. Hôm nay là ngày tôi đã gây ra một việc đáng tiếc, nên cứ cúi đầu, ngồi im.
Có lẽ ông Hương (45 tuổi) đã hiểu cái bồng bột quá trớn của một người thanh niên, ông nói luôn:
– Hôm nay là ngày 15 tháng 5, sinh nhật của Karl Marx. (Thảo nào ngã tư Phú Lâm được tăng cường thêm hai cảnh sát và một quân cảnh). Ông Hương nói tiếp:
– Bình có biết việc Bình làm đã chấn động nhiều cơ quan, kể cả Phủ Tổng Thống không?
Vì là ngày sinh nhật của Karl Marx, nên các cơ quan an ninh tăng cường hoạt động để ngăn chận, những manh nha của Cộng Sản. Khi nghe tiếng nổ, nếu ở một chỗ bình thường, cảnh binh chỉ việc vào điều tra tìm hiểu; và thấy do đốt pháo thì chỉ phạt 20 đồng theo quy định hồi ấy.
Ở đây, tiếng nổ lại phát ra từ ngôi nhà 365. Cảnh sát nũng như quân cảnh đều hiểu ngôi nhà đó thuộc trung ương, nên không dám vào khám xét. Nhưng vì sự việc xảy ra trong khu vực trực tiếp trách nhiệm của họ, nên bắt buộc họ trình báo cáo cấp trên. Đồn trưởng báo Quận, Quận hỏi ý kiến Nha Giám Đốc. Nha Giám Đốc cho căn nhà đó là của An ninh Quân đội, thuộc Phủ Tổng Thống. Lời tường trình được báo về cấp cao nhất, và cuối cùng truyền ngược xuống Ban Giám Đốc lớp học.
Mặt của ông Hương, Minh, Tiệu như bàn tay bà già. Mặt tôi có lẽ dài ra gấp rưỡi ngày thường.
Ông Hương chậm rãi nói:
– Không thể dùng quyền để ém nhẹm vụ này, vì như vậy càng làm cho các cơ quan khác nghi ngờ. Cho nên, ngày mai cảnh sát sẽ vào đây lập biên bản. Vậy, hãy nói với họ đây là một số sinh viên, học tập Chủ nghĩa Nhân Vị trong dịp Hè. Một người trong lúc vui chơi đã nghịch, gấp một chiếc pháo giấy đập mạnh bằng tay, vì ở trong tòa nhà, nên nó đã vang to như vậy.
Ông Hương bắt ông Tiệu lấy giấy gấp thành một cái pháo, mà học sinh vẫn chơi. Tôi phải thực tập, cũng nổ. Nhưng làm sao bằng pháo thật!
Đến đây, tôi cũng suy nghĩ. Tại sao ông Hương không nói thẳng với cảnh sát là tôi nổ pháo, mà phải làm trò như thế, cảnh sát tin sao được. Tôi cho rằng, có lẽ một phần ông Hương muốn cho đỡ khuyết điểm cho tôi với trên, phần khác cho chính ông ta (tại sao lại tuyển mộ một học viên có những hành động nhố nhăng như thế).
Sáng hôm sau, một xe “díp” cảnh sát chở ba người, kể cả Đồn trưởng, vào gặp ông Tiệu và tôi. Thái độ cảnh sát rất nhã nhặn, dè dặt, và tỏ ý, đây chỉ là nguyên tắc, vì vậy, họ cũng không bắt tôi phải đập pháo giấy. Nghĩa là họ không tin, nhưng việc phải làm, cho nên họ ghi đầy đủ sự việc theo lời khai vào sổ trực.
Ông Tiệu còn nhăn nhó nói:
– Địa điểm học này đã bị lộ, có thể sẽ phải chuyển đi nơi khác.
Sóng gió lại bình lặng! Chúng tôi lại tiếp tục học hành. Tuy vậy, từ đấy tôi rất ngượng nên thường tránh mặt, không muốn gặp ông Hương và ông Minh nữa.
Hơn một tuần sau, vào lúc 7 giờ tối, một anh bếp gọi tôi xuống gặp ông Giám thị. Khi xuống tới buồng ông Cao Đình Tiệu, tối thấy trên bàn một chai rượu mạnh. Mặt ông đỏ gay và thật buồn. Thấy tôi, ông hất hàm ra hiệu cho tôi ngồi xuống. Rồi quay mặt nhìn ra cửa sổ, chậm rãi:
– Bình có một quyển sổ tay nhỏ phải không?
Thoáng nghe tim thót lại, tôi gật đầu lo lắng nhìn ông.
– Bình có biết quyển sổ đó hiện nay đang ở đâu không?
Tôi nói trong đắn đo, dè dặt:
– Đã mất hơn nữa tháng nay và tìm mãi không thấy.
Ông quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào mặt tôi, dõng dạc:
– Hiện giờ, nó đang nằm trên Phủ Tổng Thống!
Ôi chao, sao tôi có nhiều việc thế này! Lòng tôi hoang mang, hoảng sợ nhìn ông. Ông hỏi tiếp:
– Ai là người giới thiệu và bảo lãnh Bình vào lớp học này?
– Cha Mai Ngọc Khuê.
Mặt ông buồn thiu, thổ lộ:
– Tôi không có em trai, từ ngày tôi gần Bình, tôi rất mến và coi Bình như em trai của tôi. Chiều nay tôi đã tham dự một cuộc họp hai tiếng đồng hồ. Tôi đã vận dụng nhiều lý luận để binh vực cho Bình, nhưng địa vị và quyền của tôi chỉ có giới hạn. Cuộc họp đã quyết định xong vể Bình rồi. Họ sẽ giao Bình sang An Ninh Quân Đội, Bình sẽ bị sát hạch, khai thác, có khi bị tra khảo nữa. Vậy ngay bây giờ, Bình vể khẩn khoản nói với Cha Khuê, may ra uy tín của người sẽ cứu được Bình.
Ông còn hỏi:
– Có tiền đi tắc xi không?
Ông mở ví móc đưa tôi 50 đồng.
Tôi như ngồi trên lửa, khua tay rối rít cám ơn nói là đã có tiền rồi. Tôi đứng lên chuẩn bị đi ngay sang khu Lăng Cha Cả, ông còn kéo tay tôi lại:
– Tại sao Bình ghi hơn chục cái số xe để làm gì? Cả tên thật và chức vụ của các giảng viên nữa?
Mặt tôi buồn rười rượi. Tôi thú thật với anh là vì tò mò. Anh giục tôi đi ngay, về thú thực hết với cha Khuê. Trên đường về, tôi nghĩ ngay tới Đạo, ngưởi Trưởng toán. Mục đích ở trên đưa nó vào để theo dõi chúng tôi về tư tưởng. Nghĩ cho cùng, tôi chỉ giận mình ngu xuẩn, nhố nhăng, không thể trách Đạo được vì đó là nhiệm vụ của anh ta.
Những năm tháng sau này, nhiều khi suy nghĩ lại sự việc trên, tôi thấy, trong cuộc đời, chuyện may rủi không một ai dám phủ nhận, nhưng cũng phải thừa nhận là “bản tính tạo nên cuộc đời”. Thực tế, tính một người ưa động, coi thường nguy hiểm, thích đấm đá, dao búa, buôn lậu, hoặc hoạt động chính trị, làm cách mạng, v.v… Đời người ấy, nói chung, sẽ nổi chìm bất thường. Ngược lại, một người sợ chuyện nguy hiểm, rụt rè trước những việc mới lạ, cá biệt không kể, nói chung, đời người đó trôi đều phẳng lặng. Cho nên, bản tính của tôi đã như thế, tôi phải gánh lấy hậu quả tất yếu, kêu trời làm chi!
Về gặp Cha Khuê. Trước đây người vồn vã vui tươi với tôi, bây giờ, sau khi tôi trình bày sự việc, mặt người thật lạnh lùng xa lạ. Người chỉ nói một câu: “Làm như vậy đấy!” Tôi thật buồn và thẹn. Nếu không vì chuyện cấp bách, tôi chẳng đến người làm chi nữa.
Trở về, hôm sau tôi vẫn tiếp tục đi học ở số 2 Jean Jacques Rousseau, nhưng là những ngày đầy lo âu, nghe ngóng.
Buổi học cuối tháng đó, chúng tôi đến lớp nhưng không học. Chúng tôi được lệnh ngồi chờ. Từng người được gọi vào một căn buồng phía trái để làm việc, khá lâu. Mỗi khi một người mở cửa buồng bước ra, tôi hỏi, họ đều lắc đầu. Mãi tới lúc Lý ra, tôi hỏi, hắn chỉ vắn tắt:
– Lấy tiền, và viết giấy cam đoan, ông ấy dặn tao tuyệt đối không nói gì với người khác.
Gần về cuối, tôi mới được gọi. Gặp ông Hương, tôi ngượng ngùng, nhưng ông lờ đi. Nội dung sinh hoạt riêng từng người là:
– Ký vào mấy tờ giấy và lĩnh 2,500đ.00 một tháng (học, được nuôi ăn ở lịch sự, lại còn có lương!)
– Một tờ cam đoan đã đánh máy sẳn. Tuyệt đối không kể một sự việc gì vể lớp học cho một ai khác, kể cả gia đình. Nếu vi phạm, sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn.
– Về nhà chờ, khi nào có người tới đón, sẽ đi học tiếp tục.
Sau đó, chúng tôi ra về. Tôi những tưởng tai qua nạn khỏi, nhưng không phải vậy. Thỉnh thoảng, tôi vẫn đến nhà Lý chơi để xem tình huống gọi, đón như thế nào. Một hôm, tôi đến nhà Lý như mọi lần, được người nhà Lý cho biết, sáng sớm đã có người đến đón Lý đi rồi. Thôi, thế là tôi đã bị thải. Để cho sáng tỏ hơn , tôi phải liều. Tôi vội vàng phóng xe xuống 365. Lúc đó đã là giờ trưa, rất im vắng. Tôi lên tuột trên gác thấy Lý và 9 người nữa đang ngủ. Tôi lay vai Lý dậy, rồi chúng tôi cùng xuống dưới nhà. Lý nói, mặt buồn buồn:
– Ông Hương đến đón tao đi ngay, nên không kịp viết giấy để lại cho mày. Tao có hỏi ông Hương về mày. Ông trả lời “Hãy biết phận mình thôi”.
Tôi thấy Lý cũng không biết gì hơn, tôi hẹn Lý cuối tuần về sẽ nói chuyện. Tôi vào buồng anh Tiệu, anh cho biết: “Không gọi, có nghĩa là loại rồi” và “Lớp học bây giờ chỉ còn mười người!”
Như vậy là tôi đã hiểu. Mục đích của một tháng học đó chỉ là để tìm hiểu và để lọc người. Trừ anh Đạo trưởng toán có nhiệm vụ riêng không kể, 3 người đã bị loại.
Ruột tôi thật là héo úa! Anh Tiệu thây tôi buồn, anh đặt tay lên vai tôi, vừa như tâm tình vừa như an ủi:
– Dù học lớp này hay không, Bình hãy đến với tôi. Nhưng không nên đến đây nữa. Bây giờ là giao thiệp giữa cá nhân tôi và Bình.
Anh cho tôi số nhà riêng và hẹn gặp vào những ngày cuối tuần.
Trên đường về nhà, tâm tư tôi nặng chĩu trái sầu. Tôi nghĩ đến lời anh Tiệu khi nãy: “Trong lớp học đó, Bình được Ban Giám Đốc khen ngợi là trội nhiều mặt, tháo vát, nhanh nhẹn, nhưng …”
Vâng, trong cuộc sống con người, chữ “nhưng” và chữ “nếu”, hai chữ quái quỷ này có lúc làm cho con người sung sướng ngất ngây bao nhiêu, thì nhiều khi chúng cũng làm cho người ta đau khổ chất chồng, đầy máu và nước mắt bấy nhiêu. Đôi khi tàn lụi cả cuộc đời cũng vì chúng.
Xa quê đã lâu, bộ nhớ tiếng Việt của tui ngừng dung nạp chữ mới. Có bao nhiêu là xài bấy nhiêu nên rơi rớt dần, nghèo dần; thêm phần quên cũng bộn bởi bịnh lẫn.
Bịnh lẫn trước sau gì cũng tới nhưng theo lời khuyên của bác sĩ để nó tới từ từ, không tới ngay cái rụp, là mình phải tập thể dục cái bộ não đang già lão của mình bằng cách đọc.
Đọc tới, đọc lui, rồi lật xuôi, lật ngược cái chữ ra… là tập thể dục; hay hết biết đó nhe!
Dẫu siêng năng giỏi dắn như vậy nhưng xin thú thiệt là đầu óc tui độ rày sao ngu quá chừng hè?
Tựa đề một bài báo là: “Chân dài 1,76m: Phụ nữ đẹp không làm kinh tế khó hạnh phúc!” mà nghĩ hoài cũng không hiểu mới chết!
Thiệt bấy lâu nay, cứ nghe mấy nhà báo quốc doanh trong nước viết bài, chạy theo lăng xê mấy em hoa hậu phường, quận, huyện, thành phố… là em chân dài tới nách, tui nghĩ dài như vậy là quá xá là dài rồi.
Nhưng bài báo nầy tác giả lấy thước ra đo cho biết chân dài 1 m 76. Cỡ hươu cao cổ chớ hỏng có thua. Nhưng đọc kỹ thì tác giả nầy nói em cao chỉ 1 m 76 hè. Thiệt làm nghề viết báo mà láu táu; hỏng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt gì hết trơn hè. Còn phụ nữ đẹp không làm kinh tế khó có hạnh phúc là sao? Phụ nữ đẹp hay xấu ai không làm kinh tế để sống? (Đừng làm kinh ‘thế’ là được)
Nhưng ‘làm kinh tế’ là làm gì? Có phải là đi kiếm tiền, làm ăn buôn bán gì đó thì nói huỵch tẹt ra cho rồi, chớ không phải là em đẹp, lấy được đại gia để ở nhà ‘chơi’ thôi! Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đi cha nội để cho bà con độc giả mình đừng có hiểu lầm em gái nầy được không nè? Cái nầy tui không hiểu là do tác giả hành văn rối rắm! Nhưng đôi khi có chữ nào mới mới, tui cũng hỏng hiểu luôn.
Ngôn ngữ là sinh ngữ, là sống và sanh sôi nảy nở làm tui chạy theo muốn ná thở. Như tiếng Anh chẳng hạn, theo BBC, mỗi năm nó đẻ thêm ra chừng 1000 từ mới. Tiếng Việt mình nó cũng biết đẻ như tiếng Anh chớ bộ. Như mới đây, tui thấy một em ‘đẻ’ ra chữ thả thính (?!). Lạ quá, làm tui phải lính quýnh tìm coi nó có nghĩa là gì?
“Thính là rang gạo cho vàng rồi giã mịn. Thính có mùi thơm rất hấp dẫn, vì thế người ta thường dùng để làm mồi câu cá hay đặt vó tôm, vó tép.
Thả thính để nhử cá đến cho mấy em câu. Thì ra, mấy em coi mấy anh là cá tra, cá vồ …thấy là đớp liền hè. ‘Thả thính’ bây giờ lại có nghĩa là cố tình hấp dẫn ai đó, làm cho họ bị lôi cuốn, bị ‘hít hít’; rồi bước chót là tù ti tú tí… và móc ví!
Em bèn soạn ra một số khuôn mẫu về ‘thả thính’ bằng cách chụp hình rồi phụ đề Việt ngữ như “Mận! Anh có muốn vướng bận vì em?” Rồi “Tắc! Mọi thắc mắc về anh em đều muốn biết!”“Dưa hấu! Anh có cất giấu tim em!”
Rồi: “Đào! Em chỉ muốn bước vào tim anh!” Rồi: “Sắn! Em thật may mắn khi được anh yêu”.“Dứa! Em hứa sẽ bên anh!”
Rồi: “Bơ! Sao anh thờ ơ với em đến thế? “Rồi “Dâu! Anh có thương em đâu!” Nhưng “Xoài! Vì sao em cứ thương anh hoài!”
Rồi hù “Quýt! Em suýt nữa là quên anh!” (Người em sầu mộng nầy viết bài đăng báo mà vẫn còn lọng cọng về chính tả! ‘Suýt’ viết bằng chữ ‘sờ’ (suýt) chớ hỏng phải là chữ ‘xuýt’ nghe em).
Rồi nhõng nhẽo, ẹo qua ẹo lại, cong cớn “Xoài Mút! Nhớ một chút thôi!”.
Rồi cái nầy tới giai đoạn kịch liệt nè “Mít! Anh vừa khít với tim em!”
(Vừa khít với tim em thì được; chớ vừa khít với cái khác là phải kinh qua thực hành mới biết khít hay không?)
Hồi xưa ông bà mình nói: Trâu tìm cột chớ cột chẳng tìm trâu! Nghĩa là con trai ‘dê’ con gái; chớ con gái dẫu nhìn thấy chàng thèm nhỏ dãi cũng phải vén lên, kẻo đời lại thị phi! Còn bây giờ thì nam nữ bình quyền, bất luận thằng ‘cu’, cái ‘hĩm’ nào cũng được quyền ‘thả thính’. Thế nên em nào có muốn ‘thả thính’ xin chỉ cần chụp hình: mận, tắc, dưa hấu, đào, sắn, dứa, dâu, bơ, dâu, xoài, quýt, xoài mút, mít là tui hiểu ngay hè. Đừng phụ đề Việt ngữ mà chi; coi chừng con sư tử Hà Đông của tui đọc được là tui vong mạng.
***
Rồi mấy tháng trước ở Sài Gòn, có cái vụ dẹp vỉa hè do một tay Phó quận Một tên ‘Hải’.Hải dắt theo một đám lâu la, sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao. Người nách thước, kẻ tay đao. Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…tràn ra đường phố Sài Gòn, quận Một.
Ai cũng biết người dân ngu khu đen Miền Nam mình hồi mất nước tới giờ, ít có ai chen được vào cái quận Một, trong hẻm còn chưa được; huống hồ gì nhà mặt phố thì bố phải làm to để ‘bu’ nó giành chỗ giữ xe!
Hậu quả đương nhiên là Hải đụng phải ổ kiến lửa. Nó xúm lại, cắn Hải nhức thấu trời.
Trước hết là nó xúm lại cắn vào cườm tay phải của Hải, đang đeo đồng hồ hiệu ‘Patek Phippe’, giá tới 40 ngàn đô Mỹ.
(Úy trời đất! Đồng hồ gì mà mắc dữ vậy? Tui hỏng tin bèn lên coi giá Patek Phippe’, trên Google. Té ra nó chỉ loại ‘tầm tầm’ thôi. Có cái hơn cả 100 ngàn đô lận đó!)
Đám kiến lửa nầy hỏi: “Lương chưa quá 20 triệu đồng mỗi tháng lấy đâu ra để ông Hải sắm hàng hiệu đắt tiền?”
Nhưng có người lại bao che cho Hải nói: “Hải nổ thôi. Chớ đó là hàng “Made in Hong Kong bên hông Chợ Lớn! Giá chỉ vài triệu tiền VN, bằng 100 đô Mỹ hè!”
Vậy mà tụi nó cho rằng Hải nhà ta bố láo, lấn riết tới hè: “Nếu chơi hàng giả để lòe thiên hạ, bộ Phó Hải hỏng biết là đã vi phạm pháp luật, tội tiêu thụ đồ gian, đồ giả hay sao chớ?”
Tới đó thì phe Hải cà lăm; nên Hải giận dỗi, nộp đơn từ chức. Bà con bán hàng rong chổng mông, hoan hô ầm ỉ. “Chú em nầy ngon; không nói hai lời, “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”.
Tuy nhiên bà con mình bé cái lầm. Phó Hải chỉ nhõng nhẽo chút thôi; coi quan anh có nhảy ra binh vực thằng em nầy không? Tiếc là hỏng có quan anh nào rảnh ở không để mà can gián hết ráo! Chú em mầy xin nghỉ thì anh mầy cho nghỉ, để đứa khác nó làm.
Kẹt phé, Hải đành muối mặt vì sợ lỗ, âm thầm rút đơn để tiếp tục phục vụ nhân dân?! (Vì ngu sao mà nghỉ? Lấy gì ăn?)
Bà con mua gánh bán bưng, đầu đội trời, chân mang dép, lê trên vỉa hè hừng hực cái nóng của Sài Gòn còn bị Phó Hải, mặt đằng đằng sát khí, rượt cho chạy mất dép, phỏng cả chưn, tưởng nó xin nghỉ thiệt, ai dè nó chơi đểu, nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay, nên âu yếm đặt tên Hải là “Hải Cẩu”.
Có người cắt nghĩa là Hải chuyên ‘cẩu’ xe về đồn Công an nhốt nên gọi là ‘Hải Cẩu’.
Nhưng bà con khác nói cắt nghĩa như vậy là không biết, không hiểu hết cái ảo diệu của tiếng Việt mình ở Sài Gòn! Không đủ ‘đỉnh cao trí tuệ’ để hiểu chữ ‘cẩu’ ở đây là chữ ‘cẩu’ trong “cẩu xực xí quách” đó nhe!
***
Chữ ‘Hải Cẩu’ đã hay rồi chữ ‘Thả Cá Trê’ còn hay hơn gấp trăm lần.
Chẳng qua là mấy cái trạm thu tiền mãi lộ trong nước giờ đây không thèm xài chữ“Trạm Thu Phí” nữa mà đổi thành “Trạm Thu Giá”.
Vậy là có một bác tài xế, lái dừng xe ngay trước mặt em Bắc Kỳ (hai nút), thích ăn ‘rau muống’ đưa ra một một cái rỗ đựng đầy ‘giá’ sống. Em lắc đầu quầy quậy, ‘em chả, em chả’!
Thấy vậy, bà con mình nói hồi nhỏ tới lớn, tui chưa biết chữ nầy nè. Nó có nghĩa gì vậy cha nội? Thì bà con khác trả lời là đi hỏi thằng “Thả Cá Trê”.
Thêm một từ mới nữa rồi hè. Tiếng Việt trong nước coi bộ uống nhầm thuốc giục sanh sao mà mắn đẻ dữ vậy cà?
Lại nhờ bà con trong nước cắt nghĩa dùm. Thì “Thả Cá Trê” nói lái chữ “Thể Cá Tra”; nghĩa là Thể như con cá tra gặp cái gì cũng đớp hết.
‘Thể’ đây là Nguyễn Văn Thể, đương kim Bộ trưởng GTVT. Cái ghế nầy lúc trước là của Đinh La Thăng. (Xin lỗi! Xui thấy mẹ!)
Thăng lên tới đâu chưa thấy mà Thăng lại ‘thăng’… vô hộp; đếm tới 31 cuốn lịch. Năm nay thằng chả cũng gần 60 rồi… coi như hỏng có ngày ra.
***
Tui có thằng bạn học cũ thời trung học, mới được con cái bảo lãnh qua Úc nầy định cư. Họp bạn trường xưa, lớp cũ bù khú, lúc lời qua tiếng lại; thằng bạn già nầy có xài vài tiếng hơi ‘là lạ’ cái lỗ tai.
Thì thằng bạn khác rầy là: “Mầy đừng có xài chữ VC”. Bất ngờ bị ‘xì nẹt’, nai tơ ngơ ngác, nó hỏi lại: “VC, bộ tụi nó cũng có chữ nữa hay sao? Dốt thì làm gì có chữ đâu cha nội?!” Và trận cãi lộn bùng nổ dữ dội.
(Nhậu, tui kỵ nhứt là bạn bè cự cãi! Tranh luận thì được. Vì sợ văng miễng, tui bèn đứng chính giữa làm trọng tài.)
“Vậy mầy cắt nghĩa cho tao vài chữ như ‘ùn chứ không tắt’ là gì?” Thằng bạn mới qua nói: ‘Kẹt xe’. Rồi ‘giải phóng mặt bằng’ là gì? Là ‘cướp đất’!’
“Rồi đồng chí trên nằm trên giường với vợ đồng chí dưới là gì?” “Là nằm nghỉ mệt!”
Thằng bạn từ Việt Nam mới qua sau khi trải qua kỳ thi vấn đáp rất gay go xong, rồi cạn ly rượu, mếu máo, gạt nước mắt: “Mấy thằng bây may mắn chạy được qua đây trước, tao chưn ướt, chưn ráo mới qua, không thương thì thôi; nỡ nào tụi bây xúm lại ăn hiếp tao?”
“Tao hồ nghi, xa quê lâu, tiếng Việt tụi bây chắc quên hết cả rồi. Trước khi nghỉ chơi, tao cho tụi bây thêm vài chữ mới nữa về nhà mà gặm nhé. Đừng có chụp mủ tao! Oan tao lắm… Hu hu!”
Hổm, con tao dắt đi rừng chơi, bị lạc, tao nói: “Tía con mình ‘chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ’ rồi. Nó cũng không hiểu; tao phải cắt nghĩa cho con tao nghe:
“Chủ nghĩa xã hội là “Đi hoài không tới!”; còn “Thời kỳ quá độ!” nghĩa là “xà quần, xà quần; không biết đường ra!”
Mai mốt nguôi nguôi giận, tụi bây rủ… tao sẽ nhậu nữa. Nhưng lúc nào mà tao nói‘Đỉnh cao trí tuệ’ thì ý tao muốn nói là: “Ngu chết mẹ đó nhe!”
Vào một buổi tối cuối Xuân 1959, trời thật nhiều gió. Những hàng me trên đường “16” vật vờ, nghiêng ngã theo từng đợt gió mạnh. Từng đám lá me khô nhỏ dảy dụa cuốn đuổi nhau như đám ong vàng, gây nên những tiếng xào xạc, trên mặt đường.
Buổi tối đó là ngày thường nên khu nhà thờ Tân Sa Châu, gần Lăng Cha Cả Tân Sơn Nhất Sài Gòn rất vắng vẻ. Xa xa một vài ánh điện từ ngoài đường Trương Minh Ký hắt vào, càng làm cho khu vực nhà thờ mập mờ, chỗ sáng chỗ tối.
Nhìn sang phía bên kia nhà thờ, tôi thấy thấp thoáng trong một góc tối mấy người cũng có vẻ như chúng tôi, nghĩa là cùng chờ giờ hẹn với một người.
Mãi 8 giờ 15, từ đầu đường “16”, một chiếc xe “díp” thường dân đi tới và từ từ đỗ lại, trong bóng tối của một cây me bên đường, cách xa nhà thờ một khoảng.
Một bóng người bước xuống và đi về phía nhà thờ. Chúng tôi chả ai nói ra, nhưng cùng hiểu đó là người chúng tôi đang đợi. Lẩn trong bóng tối, chúng tôi chỉ thấy người đó mặc áo blouson xám, đội mũ “phớt”. Ông ta đi vào khu buồng cha Khuê phía đầu nhà thờ.
Chừng 10 phút sau, một chú bé giúp lễ ra sân mời chúng tôi vào. Cha Khuê không giới thiệu, nên chúng tôi chỉ biết gật đầu chào. Sau khi ông ta nói với Cha Khuê, xin mượn một phòng học ở trên lầu, ông quay lại phía chúng tôi với giọng Huế nặng chình chịch:
– Mời tất cả các anh em lên trên gác!
Chúng tôi nhìn nhau, chẳng ai nói một lời lục tục bước theo ông lên trên lầu.
Trong phòng, chúng tôi gồm 8 người, kể cả ông chú họ tôi. Chính tôi lúc này cũng không hiểu vì sao chú tôi cũng vào ấy ngồi. Hầu hết chúng tôi đều ở lứa tuổi thanh niên; chú tôi trông riêng biệt hẳn không những về tuổi tác, mà còn vì dáng dấp phong độ như một “chính khách” nữa. Chính sự hiện diện của chú tôi, cũng đang làm cho ông người Huế không ít băn khoăn. Ông nhìn chú tôi, nửa như muốn hỏi, nửa như e ngại đắn đo. Có lẽ chú tôi cũng thấy vậy, nên ông đã đứng dậy, rồi cùng ông người Huế đưa nhau ra chỗ ban công nói gì với nhau một lúc. Sau đó, chú tôi xuống lầu.
Tôi nhớ lại hơn một tuần trước, thằng em trai đi phố về, gọi tôi rối rít:
– Chú Thường gọi anh ra gặp cô chú có việc cần.
Ông Thường là một người từ trước tới giờ tôi vẫn kính nể, ông những ông là bậc cha chú, mà vì kiến thức uyên bác trong nhiều lãnh vực, và sự giao thiệp rộng rãi của ông trong xã hội. Vì vậy, tôi đã vội vàng ra nhà chú tôi ngay.
Sau những phút ân cần thăm hỏi thằng cháu về học hành, thi cử, mắt ông sáng thêm ra nhìn tôi, nói:
– Hiện nay, Phủ Tổng Thống tổ chức một lớp học đặc biệt chỉ dành cho mươi người. Những người phải được bảo đảm với Phủ Tổng Thống bởi những người có thế lực. Vậy nếu cháu thích, chú sẽ giới thiệu cho.
Những năm tháng mài đũng quần trên ghế nhà trường, kết hợp với thực tiễn cuộc sống đã dần hình thành trong tôi một nhân sinh và thế giới quan. Một người con trai được sinh ra trong đời này, lớn lên, lấy vợ, đẻ con, già, bệnh rồi … chết. Như vậy đi không rồi cũng trở về … không; có khác gì con người chỉ là cái mắc áo, và là cái nơi để hàng ngày đổ cơm vào? Tư tưởng hào hùng đầy lửa sống của cụ Nguyễn Công Trứ đã cuốn hút, thấm đậm vào tâm hồn non trẻ của tôi; đã luồn lách vào từng tế bào của trái tim nóng hổi; để rung lên những điệu nhạc tang bồng vẫy vùng ngang dọc của người con trai. Cho nên, mới nghe chú nói, tôi đã vồ vập nhận lời ngay, và nhờ chú tôi giới thiệu.
Ngày hôm sau, chú đã dẫn tôi sang gặp linh mục Mai Ngọc Khuê để giới thiệu tôi với người.
Cha Khuê đã hỏi nhiều về thân thế, gia đình, quá trình cuộc sống, và một số quan điểm của tôi đối với xã hội, đối với quê hương dân tộc.
Người rất chú ý, khi chú tôi giới thiệu từ bé tôi đã có nhiều năm luyện tập võ thuật. Cuối cùng người tỏ ra hài lòng nhìn tôi vừa gật gù:
– Như vậy là một thanh niên văn võ toàn tài.
Câu khen quá đáng của người đã làm tôi đỏ mặt. Khi từ giã cha Khuê, trên đường về nhà, tôi hỏi chú tôi có biết gì về lớp học đặc biệt này hay không?
Thực ra, chú chỉ là một người quen thân với Cha Khuê qua nhiều lần trao đổi về chính trị, thời cuộc… chứ về lớp học này, chú chẳng biết gì hơn những điều tôi nghe Cha Khuê nói.
Khi chú tôi đã xuống dưới lầu, ông người Huế trở lại lớp học. Ông quay nhìn tôi, nở một nụ cười thiện cảm trong lúc tay ông mở chiếc cặp đen để trên bàn. Sau đó, ngững lên nhìn tất cả chúng tôi, nét mặt nghiêm trang, ông nói rành rọt:
– Các anh là những người được giới thiệu bảo đảm để theo lớp học này. Tôi rất hân hoan, tin tưởng, vậy trước hết các anh hãy điền, ghi vào tập lý lịch sau đây.
Ông vừa giơ một tập giấy, vừa nói nội dung và cách thức ghi chép vào những chỗ trống theo câu hỏi. Tập lý lịch in sẵn này cũng như nhiều tập lý lịch khác, ngoài phần đề cập về bản thân và cuộc sống, còn thêm hai mục:
– Quan điểm tư tưởng, hoài bão.
– Kể 3 người bạn thân nhất, ghi rõ tên tuổi và địa chỉ.
Gần 1 giờ sau, khi chúng tôi làm xong thủ tục lý lịch, ông căn dặn mấy việc:
– Trở về nhà, chỉ được nói với gia đình, bạn bè là chuẩn bị để đi dự một lớp huấn luyện, về thanh niên Cộng Hòa.
– Mỗi người hãy chờ ở nhà! Ông sẽ đến tiếp xúc riêng từng người theo địa chỉ trong bản lý lịch. Nếu có việc gì cần kíp phải đi đâu, viết giấy ghi rõ nơi đến và khi nào trở về, để lại dặn người nhà.
– Lúc đầu phải nhờ người giới thiệu là trung gian; nhưng bây giờ tuyệt đối không nói là nhận được hay không. Nếu người giới thiệu có hỏi, chỉ nói vẫn chờ, chưa thấy gọi.
Khi chúng tôi ra về, đã 10 giờ 30 tối. Chú tôi đã về nhà. Cha Khuê đã vào phòng đọc kinh. Đến lượt tôi chào ông người Huế, ông tiến lại bên tôi, nói:
– Bình, tí nữa theo tôi ra xe nói chuyện nhé!
Hơi ngạc nhiên, nhưng tôi chợt hiểu. Hẳn là Cha Khuê, hoặc chú tôi đã có lời nhắn nhủ.
Lúc ra tới đướng 16, ông đi thong thả bên tôi, đặt tay lên vai tôi ra chiều thân mật, ông hỏi tôi về cuộc sống, về học hành, v.v… Cuối cùng, ông nói:
– Tôi rất mến và tin tưởng ở Bình. Do đó, tôi muốn Bình giới thiệu cho tôi một người bạn thân, đồng chí hướng như Bình.
Là một thanh niên hãy còn nhiều bồng bột; nghe ông nói tôi thấy lòng tự hào và nghĩ ngay tới Nguyễn Vĩnh Lý, một người bạn rất thân học ở Chasselop Laubat. Anh vừa đậu phần I Tú Tài Pháp, anh cũng có một số hoài bão, ước mơ như tôi.
Sau khi ông ghi xong số nhà, đường phố của Lý do tôi nói, ông lại đặt tay lên vai tôi, giọng tình cảm dịu dàng:
– Tôi sẽ tiếp xúc với Lý, bây giờ Bình về, chúng ta sẽ gặp lại.
Trên đường về nhà và cả đêm hôm đó trước khi đi ngủ, tôi miên man suy nghĩ về diễn tiến của buổi tối ở nhà thờ Tân Sa Châu. Mặc dù chưa biết chút gì về lớp học, nhưng những hiện tượng mà tôi đã nhìn và nghe cả buổi tối hôm trước, đã làm tôi triền miên tưởng tượng viễn ảnh của một ngày mai, trong giấc ngủ muộn.
Sáng hôm sau, tôi phóng xe sang nhà Lý ở khu Đa Kao Cầu Bông rất sớm. Tôi kể cho Lý nghe về sự việc tối trước và nói đã giới thiệu với ông đó rồi. Lý rất mửng rỡ và hỏi liên tiếp những câu mà tôi cũng mù tịt:
– Lớp này là lớp gì? Học ở đâu và học gì? Thời gian bao lâu? Học xong, làm gì?
Tuy vậy Lý rất vui và tin tưởng tôi nên Lý sẽ chờ ông người Huế đó đến gặp. Tôi dặn Lý:
– Mày tiếp xúc với ông ấy, thử moi thêm, may ra biết rõ hơn.
Chừng 10 ngày sau, Lý xuống nhà cho biết: Đã gặp và hoàn tất lý lịch. Lý có hỏi tên, được ông bảo cứ gọi ông là Hương (tôi cho là tên giả). Ngoài ra Lý không biết gì hơn những điều tôi đã biết.
Chúng tôi phải chờ hơn một tháng trời. Có lẻ đây là thời gian sắp xếp chuẩn bị lớp học. Cũng có thể có những người đã bí mật đến xóm giềng, thẩm tra về từng người của chúng tôi. Một hôm, Lý xuống nhà tối với một vẻ phấn khởi:
– Ông Hương bảo tối nay mày đến nhà tao ngủ, 8 giờ sáng mai (tức là ngày 28 tháng 4), ông sẽ đến đón đi tham dự lớp học. Phải chuẩn bị quần áo, sinh hoạt trong một tuần.
Chúng tôi, hai đứa xốn xang bàn tán rất nhiều nhưng vẫn chẳng hiểu được gì hơn. Đêm hôm ngủ ở nhà Lý, hai anh em nằm bên nhau trong căn gác hẹp, nhỏ to rì rầm rồi đi dần vào giấc ngủ nhiều mộng mơ, về ngày mai của cuộc đời.
Trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ tới lại có một ngày ngồi viết câu chuyện của đời tôi. Từ bối cảnh của đất nước, do những xô đẩy của giòng đời, tôi đã nhận một nhiệm vụ nhỏ bé để xâm nhập vào đất địch, và tôi đã rơi vào tay kẻ thù. Như vậy, trước sau gì tôi cũng chỉ là một kẻ bất tài, thất bại, chẳng có gì đáng kể lại cho người khác. Hơn nữa, một số bạn bè thân quen còn ngăn cản tôi đừng viết.
“Anh hãy lo cho cuộc đời của anh trước đã, đời anh đã khổ nhiều rồi. Vả lại, dù anh có cặm cụi viết ra, tác phẩm của anh rồi cũng chung số phận như bao nhiêu tác phẩm khác, của những người đã đi tù về viết lại. Người ta thờ ơ, không thèm đọc. Trên xứ người, lớp trẻ còn phải lo học hành, lớp lớn phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày và lo cho tương lai, họ đâu còn quan tâm đến những chuyện đã qua của quê hương dân tộc. Anh nên đi tìm một công việc làm nào đó, là thực tế nhất.”
Nhìn vào thực tế, rồi nghĩ lại hoàn cảnh tỵ nạn của mình, tôi thừa nhận những lời khuyên của bạn bè là xác đáng, và tôi đã xông vào cuộc đời mưu sinh. Nhưng rồi nhiều đêm nằm khắc khoải, tâm sự trĩu nặng, vơi đầy với bao niềm quặn thắt vẫn thấp thỏm không yên về quê hương đất nước và đời sống, bao nỗi giằng co vò xé, gậm nhấm cõi lòng. Những tiếng kẻng của nhà tù Cộng Sản, đi theo gần hết cả cuộc đời, vẫn như ám ảnh, quấn chặt hồn tôi:
Thoảng nghe “phôn” réo bên tai,
Giật mình tưởng kẻng sớm mai nhà tù!
Hình ảnh những bộ xương vẫn còn di động trên chốn lao trường, những nấm mồ hoang lạnh giữa rừng sâu; dư âm những tiếng thở dài lê thê xen lẫn những tiếng rên xiết quằn quại trong đêm dài tăm tối… Và những cặp mắt khát khao nhắn nhủ ngày tôi chia tay, vẫn lảng vảng vấn vít trong hồn; tất cả như đang khẩn nài, gào thét, đòi hỏi tôi phải thực hiện “bản di chúc sống” của họ.
Tôi biết, dù mình sức hèn tài mọn, nhưng vẫn còn may mắn hơn biết bao các bạn bất hạnh còn lại trong tù. Cho nên, tôi tự cảm thấy mình đang khoác lấy một trách nhiệm, mang một bổn phận – nếu có thể được phép nói như vậy – để vuốt mắt cho những người đang uất hận, ứa máu bầm gan trong gông cùm xiềng xích của bè lũ cộng nô Hà Nội.
Tôi ước mong tập hồi ký nhỏ mọn này, sẽ là một ngọn nến nhỏ trong trăm ngàn ngọn nến to lớn khác, được thắp lên trong mờ mịt u tối của chế độ phi nhân Việt cộng. Nếu đốt được ngọn nến đó. Dù leo lét, tôi cũng cảm thấy vui sướng đã thể hiện được phần nào trách nhiệm của mình đối với “bản di chúc sống” kể trên.
Lời chót, tôi chỉ biết lần lượt tường thuật lại sự việc, như tháo dần một cuộn chỉ ra từ đầu đến cuối. Và, vì vấn đề an ninh cùa năm, bẩy người đặc biệt, nên tôi bắt buộc phải đổi tên và địa điểm sống ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Cũng từ ý thức tôn trọng sự thật, kính mong quý vị thông cảm và tha thứ.
Trong xà lim Hỏa Lò của Việt Cộng, người tù bị cùm hai chân trên bệ xi măng, bề ngang chừng 65 phân. Cùm sắt dầy và lạnh, được đóng đai kiên cố để nghiến chặt cổ chân của nạn nhân. Hai tay bị xiềng ngược ra sau, nên tù nhân phải nằm nghiêng. Và dịch, lết ra mép sàn xi măng để giải quyết nhu cầu vệ sinh, phân rơi vãi tung toé ra khỏi mặt bô đặt dưới đất. Ngày này qua ngày khác, nạn nhận bị liệt cả hai chân, và sống trong hôi thối ẩm mốc của xà lim như một con thú.
Nhưng nạn nhân còn cái mồm, nghĩa là còn được một chút tự do có giới hạn của những tiếng thều thào, những lời rên xiết, hay những tiếng la hét chưởi rủa.
Và khi đó, một vật dụng kỳ quái tượng trưng cho nền dân chủ ưu việt của chế độ Cộng Sản mới được đem ra áp dụng. Đó là cái cùm mồm. Bằng sắt, có bắt đinh ốc và lò xo, để khóa cứng hàm nạn nhân. Để người tù không thể chửi chế độ, chưởi lảnh tụ hay la hét gì được nữa. Người tù đã nêu đích danh Hồ Chí Minh ra chửi, ngay giữa Hỏa Lò Hà Nội, để mong được giết, hoặc được bắn, để sớm chấm dứt cảnh dở sống dở chết của mình. Nhưng Việt Cộng, chúng không nóng ruột hấp tấp như vậy, chúng đã phát minh ra cái cùm… mồm.
Không có gì quý hơn độc lập tự do. Câu nói mới thấm thía và khốn nạn làm sao!
*
Trong dãy xà lim, tù nhân được một con chuột nhắt, gầy bé như ngón tay, chui vào thăm.
Trong tù, ngoài đá, mồ hôi và máu kết đen trên nền xi măng, còn có gì để quyến rũ một con chuột? Vậy mà con chuột đã chui vào, bị bắt, chạy thoát, rồi ít bữa sau lại bò vào. Vì ở bên ngoài, trong vùng tự do của súc vật, nó đói. Trong nhà tù, nó con hy vọng mong manh là tranh hạt cơm với người tù bị xiềng, bị liệt.
Mỗi ngày, người tù để dành vài hạt cơm cho người bạn bốn chân này. Đấy là cõi giải thoát của người tù, một chút tình cảm san xẻ với một con vật xấu số, để thấy là mình vẫn còn sống.
Con chuột nhắt này cũng có tội, nó đã bị tên công an quản giáo lấy chân di chết. Trong Hỏa Lò tù nhân không có một sự giải thoát nào, dù chỉ bằng cách kết bạn với một con chuột nhắt đã bị bẻ răng.
Không có gì quí hơn độc lập tự do. Câu nói mới hiểm độc và ghê khiếp chừng nào.
*
Cũng trong Hỏa Lò, tù nhân được biết đến một người đã có hình ảnh nổi tiếng thế giới. Người anh hùng Điện Biên, trong Đại đội năm xưa đã hồ hởi cắm lá cờ chiến thắng trên nóc hầm Bộ Chỉ Huy của de Castrie. Anh đã kết thúc cuộc đời vẻ vang của anh trong Hỏa Lò, như một tù chính trị. Tội của anh là đã lầm tưởng những điều Việt cộng nói là sự thật. Không, điều đó chưa phải là một cái tội. Tội của anh là đã nêu lên câu hỏi về sự thật đó. Người bộ đội gốc tiểu tư sản yêu nước này, là một điển hình của biết bao người khác đã vỡ mộng và chết kẹt, giữa những điều đảng nói và những điều đảng làm. Bị nghiền nát không âm vang.
Trong Hỏa Lò, điều ghê rợn nhất chính là sự im lặng. Đời sống im lặng và cái chết im lặng. Tất cả đều âm u một mùi tử khí của nghĩa địa. Và, khác biệt giữa sự sống và cái chết có khi chỉ là một tiếng thở nhẹ trong xà lim số 7, không ai hay biết. Làm sao con người có thể nghe thấy cái chết khi bị bao vây giữa đám quỷ sống.
Cũng vì vậy, dù chẳng được ai nói, chỉ qua những dấu vết còn ghi trên mặt đá, người tù cũng được biết nơi đây đã có thời cùm hãm Thụy An. Nhà văn nữ một thời nổi tiếng vì cái chết tức tưởi của nhà cách mạng Đỗ Đình Đạo. Cũng tưởng là mình có công với chế độ.
Trong Hỏa Lò Hà Nội, có rất nhiều người đã tưởng lầm như vậy. Họ là cán bộ, là đảng viên, là thường dân, là trí thức… Họ là chiếu rọi của xã hội bên ngoài, với những điển hình kinh hãi như dưới một ống kính hiển vi. Chỉ vì tưởng lầm.
*
Tác giả thì không nhầm lẫn về bản chất chế độ. Ông là người đã di cư vào Nam thời Genève. Ông được huấn luyện bởi Cục Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để tung ra Bắc hoạt động. Ông là một điệp viên, một trong những chiến sĩ của bóng tối, đã tìm ra tới Hà Nội, để thi hành những điệp vụ, cho đến nay vẫn còn được giữ bí mật.. Công tác vừa hoàn tất, thì ông bị bắt. Năm đó là năm 1962, thời mà miền Nam chúng ta vẫn còn mù mờ về thực trạng miền Bắc. Mười tám năm tù đã cho ông một kinh nghiệm hiếm có.
Ông đã sống, và đã thấy tận mắt với cái nhìn tỉ mỉ, những cảnh tượng, tưởng chỉ có thể xảy ra trong trí não một người bất bình thường. Một cuốn phim kinh dị được dựng lên bởi nhiều tên đạo diễn bịnh hoạn. Toàn thể chế độ Việt cộng, và trong đáy sâu của Hỏa Lò, đời sống lao tù Việt cộng, và kết quả những phát minh ghê khiếp nhất.
Nếu sự thực có vượt khỏi trí tưởng tượng của chúng ta, chỉ vì chúng ta đánh giá sai chế độ Cộng Sản, đánh giá sai cái bệnh quỷ quái của chúng.
Điều đáng nói ở đây, tác giả Đặng Chí Bình, bút hiệu hay bí danh điều đó thực không quan trọng, đã không đi vào một cuộc thi đua kinh tởm. Nghĩa là không phải nhớ lại, hay nặn ra những chi tiết ghê người nhất. Sự thật bình thường vốn đã đủ làm ta khiếp hãi…
Tác giả Đặng Chí Bình không phải là một nhà văn. Ông chưa khi nào cầm bút viết văn. Và, chính như ông tâm sự “Trước sau gì tôi cũng chỉ là một kẻ bất tài, thất bại, chẳng có gì đáng kể lại cho người khác”.
Ông chỉ bị thúc giục phải thực hiện một bản di chúc sống cho những người hiện vẫn kéo lê kiếp sống trong lao tù Việt cộng. Ông phải viết để nhắc nhở mọi người là dưới ánh mặt trời, vẫn còn một cõi mờ mịt u tối của chế độ Việt cộng phi nhân. Ông muốn thắp một ngọn nến nhỏ để soi vùng quỷ dữ, để vuốt mắt những người đã gục ngã vì đại nghĩa dân tộc, để vuốt ngực cho những người đang ứa máu bầm gan trong gông cùm Việt cộng.
Chính vì ông không muốn làm văn chương, mà chỉ viết theo ký ức được lần giở như tháo dần một cuộn chỉ từ đầu tới cuối, hồi ký của ông mới làm ta khiếp sợ. Tất cả ngôn ngữ ông dùng, lối nhìn lối nói, và cả cách đem chính mình ra hồn nhiên châm biếm. Tất cả bút pháp của ông đều phản ảnh một điều: Ông nghĩ sao, và nhớ thế nào thì viết ra như vậy. Có cái gì đó làm ta muốn run bắn lên trong cách ông thản nhiên kể lại câu chuyện.
Hơn hai mươi năm đã qua rồi. Ông bình thản lần giở cuộn chỉ của đời mình trong tù… Những tiếng rên xiết, tiếng người tra tấn người, tiếng xích lê trên sàn đá, và cả sự yên lặng cuồng nộ vẫn vang lên từng nhịp, theo giòng chỉ kéo dài từ những ngày tháng âm u của cõi chết.
Ông không làm văn chương, nhưng khi văn của ông mới làm ta rùng mình.
*
Tuy nhiên, điều đáng nói nhất trong hồi ký vẫn chưa phải là những mô tả về vùng đất của quỷ. Điều làm ta sững sờ nhất cũng không phải là sự sống trong cõi chết âm u, mặc dù sức phấn đấu của con người vẫn làm ta bàng hoàng theo từng trang sách.
Điều đáng nói, và đây là sự kỳ diệu nhất của tập hồi ký, chính là sự trỗi dậy của tình người trong thế giới của loài thú.
Ngay trong Hỏa Lò, đêm đêm tù nhân vẫn biết là có ai đó kín đáo qua lại giúp đỡ họ. Nhiều khi chỉ là một câu hỏi thăm ngắn gọn, lạc giọng, hoặc một tiếng thở dài thông cảm. Hay một mẩu thuốc lào được luồn qua kẽ cửa, để giúp người tù cầm máu… Vào giờ đó, chỉ có quản giáo canh giữ Hỏa Lò mới được đi lại bên ngoài. Người đó là ai? Tù nhân không biết, chỉ biết là trong đám quản giáo, vẫn còn có người có được một chút nhân tính, và lặng lẽ làm cử chỉ của con người. Lặng lẽ thôi, nếu không, chính họ sẽ bị đổi vị trí, từ ngoài vào trong xà lim.
Việt cộng muốn biến con người thành loài thú. Nơi chúng có thể thành công nhất, chắc phải Hỏa Lò Hà Nội. Nhưng, cũng tại nơi đây, tác giả đã sống và đã thấy sự chiến thắng của loài người. “Cộng sản không thể nhuộm đỏ được hết tâm hồn loài người”. Ông kết luận như vậy.
Và ông đã nhìn ra rất đúng. Vì công tác của ông chỉ có thể hoàn tất, khi ở miền Bắc có những người vẫn tiếp tục chiến đấu, từ những năm 1960. Một vị linh mục, một người bác sĩ, một thiếu nữ áo nâu quần ka ki… Và biết bao nhiêu người anh hùng vô danh khác. Ngay cả những người nông dân hồn hậu, những nạn nhân hàng đầu của chế độ Việt cộng, họ sống chật vật trong cảnh tăm tối mà vẫn có những hành động chói sáng tình người…
Sự kiện Đặng Chí Bình đã trải qua tuổi thanh xuân trong một thế giới thú vật, và đã trở lại nguyên vẹn cùng chúng ta, với những mô tả tinh nghịch, những lời nói thành thật về những lầm lẫn của chính mình, với những phê phán rất bình thản và độ lượng về thói xấu của con người, sự kiện đó cũng chẳng là một điều kỳ diệu sao?….
Ông là người đã đội mồ sống dậy, và cái sống nhất trong tác phẩm của ông, chính là cái chất “người” mà nhiều khi ông đã sợ mất, nhiều khi ông đã thấy mất ở nơi khác… Cũng vì vậy, Thép Đen là một tác phẩm lớn. Không chỉ ở nội dung, tình tiết, mà còn ở ý nghĩa rất nhân bản của tác giả. Xin cảm ơn Đặng Chí Bình, đã tranh đấu để tồn tại, để vượt thoát, và để ghi lại chon chúng ta sự thắng thế của loài người trên loài quỷ.
Năm 1985, tôi viết xong hai tập hồi ký Thép Đen I & II. Hai năm sau mới tìm được nhà in và phát hành. Năm năm sau Thép Đen tập III mới ra đời. Từ khi Thép Đen I & II được in đến nay đã 15 năm. Trong thời gian đó phần vì sức khoẻ, phần vì gánh nặng gia đình, tôi hầu như không viết lách gì, cũng không sinh hoạt báo chí gì cả. Nhưng thật ngạc nhiên, cứ thỉnh thoảng tôi nhận được một lá thư độc giả nói về Thép Đen. Cả thảy có hơn 300 lá thư. Đài phát thanh Việt Ngữ Quê Hương ở Bắc Cali, Đài Sống Trên Đất Mỹ ở Nam Cali… cho đọc Thép Đen. Có cả những đài cho đọc mà tôi không được biết, chỉ biết do thính giả quen. Bây giờ thì ngoài sách Thép Đen, còn có cả băng audio và đĩa CD Thép Đen nữa.
Trong hân hạnh ấy, tôi tự hỏi làm sao mà Thép Đen được đón nhận như vậy? Trước và sau Thép Đen có biết bao hồi ký về lao tù và thời cuộc. Có nhiều bí mật chính trị được phanh phui. Bao nhiêu vị tướng lãnh thuật lại những giai đoạn gay go của đất nước. Bao nhiêu nhà văn tên tuổi ghi lại những cảnh sống tù đầy mà nếu không có văn chương tài năng, khó có thể nói lên những trạng huống cũng như cảm xúc day dứt và cùng cực. Trong khi đó tôi chỉ là một điệp viên không tên tuổi, thi hành một công tác giới hạn, hầu như bị bịt mặt trước thời cuộc, cũng chưa bao giờ viết văn, và ngoài Thép Đen cũng chưa viết gì đáng kể. Hỏi bạn bè, mỗi người cho một ý kiến. Cuối cùng tôi đoán rằng, ngoài một số yếu tố về văn mà Thép Đen cùng góp phần với các tác phẩm khác, có lẽ tính xác thực một cách mộc mạc của Thép Đen đã lôi cuốn độc giả suốt mười mấy năm nay chăng? Có độc giả gửi thư sửa cho tôi số nhà ở phố Hàng Bạc. Có người nhận là vợ của một trung tá cho tôi biết rõ nhiều chi tiết của sự việc ngày ấy v.v… Nhiều độc giả hỏi cô Vân bây giờ ra sao?
Nếu các độc giả muốn biết về cô Vân ra sao một phần, thì tôi muốn biết đến một trăm phần, và không phải chỉ có cô ấy mà là tất cả cảnh cũ người xưa của 40 năm trước. Tôi mơ ước có một ngày được về rờ những bức tường xà lim, cái cùm chân và cùm mồm. Tôi khát khao được nhìn thấy cô Vân để tìm xem cô còn những nét gì ngày xưa, và cô còn nhớ tôi không. Tôi muốn được tay bắt mặt mừng với những bạn tù, nếu họ còn sống, để ôn lại những ngày bị đầy đọa trong kiểu tù đầy chắc chỉ còn sót lại cuối cùng trong bước tiến hóa của con người nhân tính từ thế kỷ này.
Đã gần 20 năm, tôi chưa về được. Nhưng may cho tôi, có một vị linh mục trẻ và một bạn trẻ độc giả đã lần theo giai đoạn của Thép Đen để đến tận nơi, ghi lại bằng hình ảnh, và quí nhất một anh chị bạn đã gặp “người muôn năm cũ”, của đất Hưng Yên nhiều mầu mỡ, còn thu vào băng hình video mang về cho tôi. Xin quý vị tha lỗi, nếu tôi nói rằng, không ai có thể hiểu hết được tôi sung sướng đến mức độ nào! Có đến vài tháng trời, tôi như sống trở lại những ngày xưa ấy, chỉ trừ không có cái xà lim và không có cùm.
Cho nên, một phần để đáp lại sự đón nhận của độc giả, một phần Thép Đen những lần in trước đã không còn, tôi quyết định cho tái bản với sự bổ sung nhiều hình ảnh mới có được. Một điều ngạc nhiên cho chính tôi là, cũng như viết văn, tôi chưa hề vẽ bao giờ, vậy mà chỉ bằng trí nhớ, tôi vẽ được cái cùm mồm, cùm chân, xà lim… trong khi viết Thép Đen gần giống như cái hình chụp bây giờ, cả về hình dáng cũng như kích thước. Vậy, chính vì tính xác thực tạo nên sự hấp dẫn và thuyết phục cho Thép Đen thì lần tái bản này, tôi hy vọng có thể góp thêm vào sự xác thực ấy.
Sau hết, tôi xin cảm tạ vị linh mục trẻ, anh chị bạn thân và một độc giả thanh niên nhiều nghĩa tình. Đã giúp tôi giải tỏa được phần nào nỗi niềm trong lòng tôi.
Chiến tranh Việt Nam đã đi vào dĩ vãng. Sau 30 năm ít người còn nhớ tới. Để quý độc giả có thể hình dung được tầm mức quan trọng của mặt trận An Lộc cũng như chia sẻ được sự khốn khổ của những người dân cũng như các chiến sĩ từ thủ tại mặt trận này, tôi xin trích ra đây một bài báo của tạp chí Time viết về trận An Lộc tháng 6 năm 1972 mà tôi đã lược dịch ra sau đây (Cũng cần phải nói thêm rằng, mặc dù phóng viên chiến trường đã đến tận nơi quan sát, cũng không tránh phải một vài chi tiết sai lầm.)
An Lộc, quận châu thành của tỉnh Bình Long, cách thủ đô Sài Gòn miền Nam Việt Nam 60 dặm về hướng Bắc. QuÂn đội Bắc Việt khởi sự tấn công tỉnh này từ 30 tháng 3 năm 1972. Với 3 sư đoàn Cộng Sản bao vây, An Lộc đã bị pháo kích hằng ngày với những trận pháo khủng khiếp nhất trong toàn bộ chiến tranh Đông Dương.
Thành phố này cũng đã chịu đựng nhiều cuộc tấn công liên tiếp bằng bộ binh, xe tăng của quân đội Bắc Việt và cả những cuộc không tập không ngừng của phản lực cơ chiến đấu cơ Mỹ cũng như pháo đài bay B52.
Một đạo quân tiếp viện của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị cầm chân bởi địch quân dọc theo Quốc lộ 13 suốt trong hai tháng qua. Cho tới cuối tuần này vòng vây An Lộc vẫn chưa được giải tỏa. Tuy nhiên, viện quân Dù đã bắt tay được với đội quân trong thành phố. Với sự yểm trợ của không lực đồng minh và sức chiến đấu cực kỳ dũng cảm của những chiến sĩ tử thủ Việt Nam Cộng Hòa, An Lộc đã được giữ vững lâu hơn trận Điện Biên Phủ.
Đặc phái viên chiến trường của tuần báo TIME, Rudolph Rauch và nhiếp ảnh viên Lê Minh đã tìm cách tới thành phố An Lộc bằng trực thăng tuần qua. Rauch là một trong hai phóng viên chiến trường Mỹ đã tới An Lộc ngay từ đầu của trận chiến. Sau đây là bài tường thuật của anh
Có lẽ chỉ còn lại sáu tòa nhà còn đứng vững trong thành phố, nhưng không một mái nhà nào còn nguyên vẹn. Không điện, không nước. Mọi đường phố đều bị cày nát bởi những hố pháo kích và ngổn ngang những đống gạch vụn như mọi bãi chiến trường.
Bất cứ nơi nào khi bạn đặt chân xuống là lại đạp nhầm lên những mảnh đạn đầy dẫy trên lối đi. Cả thành phố chưa tới 10 chiếc xe còn sử dụng được. Khi tôi tới chỉ còn độc nhất một chiếc xe Jeep là có đủ bốn đánh. Những chiếc còn lại vì bánh xe bị bể hết nên chạy trên những niềng xe và cảnh quen thuộc thường thấy 7 hay 8 người lính Việt ngồi trên những chiếc xe Jeep nghiêng ngả chạy vì bánh xe không còn nữa.
Mới hai tháng trước, có khoảng 30,000 thường dân ở An Lộc. Hiện hiện nay chỉ còn lại có 2,000. Không kể khoảng chừng 1,000 người bị sát hại bởi pháo của Việt Cộng, số còn lại chen chúc nhau tại một ven làng phía Đông của thành phố, làng Phú Đức. Không có địa điểm quân sự ở làng này nên ít là mục tiêu của pháo kích. Tuy nhiên khi cường độ mặt trận đã dịu xuống ở thành phố vào đầu tháng 6 thì số pháo kích tại làng này lại tăng lên.
Trắng Bạch Như Sứ. Bệnh viện tỉnh lỵ đã di tản vào 8 tháng 5. Sau khi đã bị pháo, có lẽ chẳng may thôi, làm cho 30 thường dân tránh nạn bị tử thương. Kể từ đó những thường dân bị thương đều được săn sóc tại một ngôi chùa ở Phú Đức. Ở đây không có giường nằm và chỉ có vài tấm nệm mà thôi.
Đa số những người bị thương nằm trên nền đất bẩn thỉu hay những đống vải rách. Một đứa nhỏ chết vì bệnh phong đòn gánh vì thiếu thuốc chủng ngừa. Nằm co xoắn lại như một con rắn được phủ bằng một tấm mền rách nát. Cách đó hai bước một bà già đang nằm hấp hối vì thiếu dinh dưỡng. Bà này đã nằm trong hầm hơn hai tháng, trước ăn cơm sau ăn cháo. Khi thực phẩm cạn dần, bà ta phải ăn bất cứ thứ gì có thể ăn được. Bà ta có một sắc mặt trắng bạch như đồ sứ và ruồi đậu phủ đầy mặt bà ta.
Ông Tỉnh Trưởng, Đại tá Trần Văn Nhựt, đã ra lệnh chia khẩu phần gạo cho từng người. Từng bao gạo đã được chuyển qua hàng rào dây kẽm gai cho những người nào còn có sức tới đó lấy được. Một người gầy đét với một chiếc chân cụt nhảy tới, đã lúng túng không biết nắm lấy gạo hay giữ cây nạng. Anh ta ngã bổ nhào xuống nhưng vẫn còn cố gắng nhét bao gạo vào cạp quần.
Thiệt hại bên phía quân đội còn đáng thương hơn bên phía thường dân. Bệnh viện độc nhất của họ hiện giờ đã biến thành một công sự chiến đấu. Một vài thương binh đã ở đó lâu cả tháng rồi. Người bị thương nhẹ nấu nướng săn sóc cho các đồng đội bị nặng hơn. Những dụng cụ không còn được khử trùng đúng quy tắc nữa, và chỉ may khâu vết thương cũng không còn. Bác sĩ Nguyễn Văn Quý đã giải phẫu 200 trường hợp trong hai tháng đã phải dùng chỉ bao cát để may vết thương.
An Lộc đã đứng vững sau những cuộc tấn công nặng nề hơn tất cả những thành thị nào trong cuộc chiến này. Ngày khủng khiếp nhất là ngày 11 tháng 5 khi khoảng 7000 trái đại bác, súng cối, hỏa tiễn đã rơi xuống một khu vực có thể dễ dàng băng qua được trong 10 phút. Một Cố vấn Mỹ đã nói đó là ngày mà một người mạnh khỏe muốn uống thuốc làm cho táo bón để khỏi phải đi ra ngoài. Nhu cầu thiên nhiên hình như còn dễ dàng chịu đựng hơn.
Không lực Mỹ và Việt liên tục thả bom suốt trong ba ngày tôi ở tại An Lộc. Đủ mọi loại hỏa lực đã được dùng đến: đại liên, bom CBU, bom thường. Cuối cùng hai giờ trước khi mặt trời lặn, một phi tuần B52 đã trải thảm khoảng 900 thước phía Tây Bắc vào một nơi tập trung xe tăng của Cộng quân. Tuy nhiên các khẩu pháo của địch quân vẫn di chuyển và vẫn tiếp tục pháo vào thành phố. Hiện nay tình thế ở An Lộc được coi như đã yên tĩnh mặc dù hằng ngày vẫn còn khoảng 200 trái pháo vào.
Không quân Việt Nam có nhiệm vụ tản thương đã không muốn tới một quãng đường thuộc Quốc lộ 13 này dùng để làm nơi bốc thương binh. Để đánh lạc hướng những xạ thủ Cộng quân tập trung súng vào quãng đường này để ngăn ngừa máy bay tản thương, các phi công trực thăng thường đáp xuống bất cứ chỗ nào trên khúc đường khoảng hai cây số ấy. Trên nguyên tắc, mỗi phi vụ tản thương, nơi hạ cánh phải được chỉ định trước để gom thương binh tới chờ sẵn gần đó. Nhưng chẳng bao giờ chuyện đó xảy ra. Thay vì đó, các trực thăng bay dọc theo quốc lộ rất thấp chỉ cách từ hai đến ba bộ trên mặt đường. Trong khi những người ở trên máy bay nhảy xuống thì chỉ những người bị thương nhẹ mới có thể leo lên máy bay được. Thỉnh thoảng những người nằm trên cáng, mà họ đã phải đợi tới hai giờ dưới sức nóng gần 100°F, được nâng cao ngang vai của đồng đội chờ để được tải lên máy bay. Nhưng lúc đó trực thăng sà xuống chừng 10 giây rồi lại bốc thẳng đi, để lại người bị thương với một lớp bụi đỏ mới của đất Bình Long và như vậy lại phải chờ thêm hai giờ nữa.
Nếu bị phá vỡ, An Lộc sẽ là một chiến thắng vĩ đại cho quân đội miền Bắc. Nhưng nó đã không bị sụp đổ do công của Không Lực Mỹ và ý chí kiên cường của những quân nhân Việt Nam và những Cố vấn Mỹ tử thủ trong thành phố đó. Những người lính đã bắn nhau để dành những đồ tiếp tế thả dù và viện quân thì không có công gì vì đã bị cầm chân tại quốc lộ 13 suốt hai tháng trời bởi một địch quân ít hơn nhiều.
Điều quan trọng là thành phố này đã đứng vững. “Một cách độc nhất để nói về trận An Lộc là phải nhớ rằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã có mặt ở đây, còn quân đội Bắc Việt thì không ” một Cố vấn Mỹ đã tuyên bố như vậy. “Bất cứ một lời phê bình nào khác đều là bất công cho người Việt Nam. ”
Tuy nhiên trong một tương lai gần, An Lộc đã chết – chết như hàng trăm bộ đội Bắc Việt đã chết trong vùng Bắc thành phố vì bị trúng bom của máy bay đồng minh mà mùi hôi thối từ những xác chết đó đã khiến cho sự hít thở không khí An Lộc thêm khó khăn khi những luồng gió nhẹ thổi về lúc xế chiều.
Cách hay nhất có thể nói là thành phố này đã chết một cách anh hùng và rằng – trong một năm kể cả việc mất Quảng Trị và Tân Cảnh – đó không phải là một thành quả tầm thường.
Tôi nghỉ ở nhà được một tuần. Sau đó tôi lên trình diện tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 73 Quân Y Biên Hòa. Tôi nghe danh ông Liên Đoàn Trưởng, Đại tá Lương Khánh Chí lâu rồi. Từ hồi tôi còn ở Trung Đoàn 43, ông có sở thích chơi súng và bắn súng rất cừ. Tôi được nghe ông Trung Đoàn Trưởng, Trung tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng, kể rằng có lần ông đi cùng Đại tướng Đỗ Cao Trí ra Côn Sơn chơi. Hôm đi săn, một con sóc vừa vọt qua, ông chỉ dơ súng lên để nhẹ một cái đã bắn trúng con vật ngay trước những cặp mắt khâm phục của mọi người. Tôi ngây thơ hỏi:
– Thế ông ấy không nhắm sao bắn trúng được.
Trung tá Hùng cười:
– Ông ta không cần nhắm. Ông ta chỉ có một con mắt thôi.
Quả thực vậy, nghe nói ông ta bị thương bể mặt, hình như bị mìn, hư mất một con mắt. Do đó ông bắn không cần nhắm. Ông ta nhỏ con, gương mặt méo mó vì mất một phần xương khá lớn trên mặt.
Tôi được Trung tá Liên Đoàn Phó, bác sĩ Lâm Đại Quang dẫn đến chào ông Đại tá Liên Đoàn Trưởng. Ông thấy tôi đi đôi giày rách vì pháo kích làm thủng một lỗ lớn ở phần trước, tỏ vẻ không bằng lòng. Ông nói:
– Về đây hết đánh nhau rồi, anh nên bỏ đôi giày ấy đi.
Tôi vội nói:
– Thưa Đại tá tôi không có đôi nào khác.
– Vậy thì anh Quang, ra lệnh cho tụi nó trang bị lại toàn bộ cho những quân nhân của mình về từ mặt trận Bình Long đi.
Y sĩ Trung tá Lâm Đại Quang vội nói :
– Dạ được, tôi sẽ làm ngay bây giờ.
Rồi ông kêu thủ kho tới ra lệnh cấp phát quân trang, quân phục cho tôi.
Thực ra thay vì phải đi xin, tôi đã đi đôi giày rách ấy, dụng ý khổ nhục kế để các xếp lớn thấy tự động cấp đồ cho.
Sau phần trang bị xong, hai ông Liên Đoàn Trưởng và Phó kéo tôi vào văn phòng nói chuyện.
Đại tá Lương Khánh Chí mở đầu:
– Liên Đoàn tuy ở xa nhưng những việc làm của các anh trên đó chúng tôi đều được báo cáo đầy đủ. Liên Đoàn rất vui mùng vì anh đã tận tâm làm việc giúp các thương binh ở mặt trận. Hiện nay với tình thế chiến trường như anh đã thấy, nhu cầu về cấp cứu Quân Y rất cao. Liên Đoàn đã tổ chức xong một Đại Đội Cấp Cứu và thấy anh rất xứng đáng để điều khiển Đại Đội này. Với kinh nghiệm giải phẫu và kinh nghiệm chiến trường sẵn có của anh, tôi nghĩ rằng anh sẽ giúp cho Liên Đoàn rất nhiều nếu anh nhận lời làm Đại Đội Trưởng mới thành lập này.
Khi nghe ông Liên Đoàn Trưởng ngỏ lời với tôi như thế, tôi nghĩ rằng ông đang ở trên mây. Ý kiến của ông không hợp lý chút nào. Vì khi mới ra trường tôi đã là Đại Đội Trưởng Đại Đội 43 Quân Y rồi. Nay thêm những kinh nghiệm giải phẫu dã chiến, kinh nghiệm chiến trường mà ông lại đề nghị cho tôi một chức vụ như vậy thì tôi không thấy hợp lý. Tuy nhiên để tránh làm phật lòng ông, tôi nói:
– Thưa Đại tá, tôi chỉ muốn làm việc trong một bệnh viện lớn để có cơ hội học hỏi thêm. Nhất là tôi không phải Quân Y Hiện Dịch mà chỉ là Y Sĩ Trưng Tập thôi. Đáng lý ra tôi không phải nhập ngũ vì là con trai độc nhất của một góa phụ. Như Đại tá đã thấy, tôi đã tình nguyện phục vụ hết mình. Nay tôi muốn được làm việc tại một đơn vị tĩnh tại như Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi không còn muốn phiêu lưu nữa.
– Tôi thông cảm tình cảnh của anh. Đó là đề nghị của Liên Đoàn thôi. Anh cứ suy nghĩ đi rồi trả lời tôi sau cũng được. Nhân tiện đây tôi muốn anh Quang lái xe đưa anh Quý đi một vòng coi bệnh viện của Liên Đoàn mới thành lập thuộc Đại Đội Quân Y Cấp Cứu. Nếu anh nhận lời anh sẽ là Chỉ Huy Trưởng của căn cứ này. Nó ở trong khu Long Bình, một trong những doanh trại của Mỹ bàn giao lại cho quân đội ta. Liên Đoàn được chia một số trại dùng để làm bệnh viện như một thứ Bệnh Viện Dã Chiến vậy.
Tôi liền theo Y sĩ Trung tá Lâm Đại Quang ra xe Jeep lái về hướng Long Bình, nơi căn cứ cũ của Mỹ.
Trong thời gian thụ huấn khóa Giải Phẫu Cấp Cứu Binh Đoàn, tôi đã đi thực tập tại bệnh viện 24th Evac và bệnh viện 93rd Evac của Mỹ tại căn cứ Long Bình nên không lạ gì những căn nhà tiền chế mái tôn cong vòng bán nguyệt này. Chỉ khác là mấy năm trước, những căn nhà này trông còn vững chắc, còn trang bị đầy đủ, nhà nào cũng có máy lạnh. Nay bàn giao lại cho phe ta với chỉ sau hai năm tôi không ngờ nó lại xuống sắc đến mức độ tàn phai như thế.
Máy lạnh hoàn toàn không còn. Các cửa sổ và cửa ra vào đều phải mở rộng, nếu không những căn nhà tôn chùm hụp ấy sẽ biến thành những lò nướng. Tôi bước vào bên trong chỉ thấy hai hàng giường bệnh, ngoài ra chẳng có trang bị gì cả. Tôi thấy đã có một số thương binh nằm đây, toàn bệnh nhẹ, có vẻ như là một nơi an dưỡng hơn là một bệnh viện. Vì khu này không có cây cối nên hôm đó gió thổi luồn vô những căn nhà tiền chế đó một cách khá tự do khiến những người thương binh phải lấy áo trùm đầu cho dễ chịu.
Ông Liên Đoàn Phó hỏi tôi :
– Sao, anh Quý thấy sao?
Tuy trong lòng tôi nản lắm, nhưng nhìn ánh mắt của ông tôi thấy ông không thể nào chấp nhận một câu trả lời phủ định được. Nên tôi tìm cách đánh trống lảng lái qua một khía cạnh khác mà không trả lời trực tiếp vào câu hỏi.
– Thưa, tôi thấy chỗ này rộng lắm, có thể chứa đến 400 thương binh. Khi cần, có thể còn hơn nữa.
– Anh nói đúng. Chúng tôi phải tranh đấu ghê lắm mới được Quân Đoàn chia cho chỗ này. Mọi việc đều sẵn sàng cả. Anh nào về đây thì coi như cỗ đã dọn sẵn chỉ mời ông xơi thôi. Thực ra Liên Đoàn đang cần một người biết giải phẫu, tận tâm, có kinh nghiệm nắm chỗ này. Nếu anh nhận lời ông Liên Đoàn Trưởng vui lắm. Ông đã nhắm anh từ lâu rồi.
Tôi lại cố tình lái câu chuyện sang vấn đề khác. Tôi hỏi:
– Thế nhiệm vụ chính của Đại Đội Cấp Cứu này là gì? Có phải di chuyển không?
– Có chứ. Trong tương lai sẽ có nhiều trận đánh lớn. Nơi nào cần thì đại đội sẽ đến. Nhưng anh đừng lo. Ít khi anh phải đi lắm. Anh ở đây chỉ huy thôi. Dưới quyền anh sẽ có ba y sĩ phụ tá cho anh.
– Thưa anh, theo tôi khi hữu sự đơn vị trưởng phải đi trước, lo tổ chức đơn vị đàng hoàng rồi mới giao cho phụ tá. Còn cứ ở nhà không chỉ huy được đâu.
– Khá lắm. Đồng ý hoàn toàn.
Tôi nói chuyện đưa đẩy một hồi rồi ra xe về lại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn. May quá ông Liên Đoàn Trưởng đã về rồi vì hết giờ làm việc nên tôi không phải trả lời những câu hỏi tôi không muốn. Tôi lái xe về Sài Gòn. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ và phải làm nhanh, không sẽ kẹt. Dù sao trong quân đội khi cấp trên đã ra lệnh, dù muốn dù không tôi vẫn phải tuân theo.
Tôi nghĩ cách hay nhất phải đi từ trên cao xuống. Tôi dự định sáng mai sẽ tới Cục Quân Y gặp Phụ Tá Lục Quân, Y Sĩ Trung tá Nguyễn Đức Liên để trình bày ý định của mình là muốn xin về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa đúng với khả năng chuyên môn về giải phẫu của tôi.
Đúng mười giờ sáng tôi tới Cục Quân Y. Đúng là số tôi gặp may. Tôi ngồi đợi ở văn phòng Phụ Tá Lục Quân chưa đầy 5 phút, bác sĩ Liên tới. Bác sĩ Liên vui vẻ nói chuyện rất cởi mở. Tôi biết Bác sĩ Liên từ khi mới vào năm thứ nhất sinh viên Y Khoa. Lúc ấy Bác sĩ Liên đang học năm thứ năm. Nhìn năm ngôi sao đỏ chót thẳng hàng trên túi áo của anh, tôi phục lắm. Trên túi áo tôi chỉ có một ngôi sao. Còn lâu lắm tôi mới có nhiều sao như vậy. Đó là người đàn anh đầu tiên tôi tiếp xúc khi tôi bước chân vào Bệnh Viện Bình Dân thực tập về ngành Ngoại Khoa. Có thể anh không còn nhớ tôi, một đàn em rất non mới bước chân vào ngưỡng cửa của bệnh viện, nhưng tôi đã có cảm tình với anh ngay từ ngày đầu, vì anh đối với tôi rất tử tế, chỉ bảo từng tí một. Do đó tôi đã không quên anh.
Sau khi tôi trình bày xong, Bác sĩ Liên nói :
– Anh xin về Tổng Y Viện Cộng Hòa rất hợp lý. Chuyện bày vẽ lập ra một Đại Đội Quân Y Cấp Cứu có vẻ không thực tế lắm. Vì bây giờ mình có những phi vụ trực thăng tản thương rồi. Nếu có thương binh chỉ cần tản thương gấp về các bệnh viện. Nơi đây có đầy đủ phương tiện săn sóc thương binh hơn là tạo một Đại Đội di động theo chiến trường. Tôi thấy hoàn toàn không hữu hiệu, lại còn tốn công tốn của, tốn thêm các đơn vị Bộ Binh phải lo bảo vệ cho Đại Đội. Việt Cộng chỉ bắn vào vài chục quả thì đại đội ấy cũng bị tê liệt ngay chẳng còn làm gì được nữa. Lúc đó lại ôm đầu máu mà chạy thôi. Hao tổn bao nhiêu quân trang quân dụng cùng những dụng cụ thuốc men nữa.
Tôi hơi thắc mắc hỏi :
– Nếu Cục đã thấy sự vô ích của đại đội tại sao lại không ngăn cản Liên Đoàn?
– Cục không muốn xen vô những quyết định của Liên Đoàn. Thực ra sau khi Mỹ bỏ căn cứ Long Bình, một căn cứ quá rộng lớn. Quân Đoàn III không đủ người để sử dụng toàn bộ căn cứ đó nên mới chia cho Liên Đoàn một phần. Chẳng biết làm gì nên anh Chí mới cho tổ chức Đại Đội đó. Tôi cho rằng chẳng chóng thì chày nó cũng đi vào quên lãng thôi.
Bác sĩ Liên gốc Nhảy Dù, hình như có vẻ thích tôi lắm. Anh nói tiếp:
– Anh Quý cứ ở lại đây. Không đi đâu hết. Tôi sẽ trình lên Thiếu Tướng Cục Trưởng bổ nhiệm anh về Tổng Y Viện Cộng Hòa làm việc. Nhưng trong thời gian chờ đợi tôi đề nghị anh hãy viết lại mọi việc xảy ra ở Bình Long như một cuốn hồi ký vậy. Tôi sẽ để dành cho anh một văn phòng có bàn giấy đàng hoàng. Mỗi ngày anh đến đây ngồi viết như đi làm, bao giờ xong hãy sang bên Cộng Hòa làm việc.
Rồi không để tôi trả lời có bằng lòng hay không, anh Liên bốc điện thoại gọi Y Sĩ Đại úy Quản Quan Hoa coi về báo chí của Cục Quân Y ở phòng bên, tới giới thiệu với tôi và nói ý định của anh về việc để tôi viết hồi ký trận An Lộc.
Anh Hoa mồm mép nói như nước chảy, đúng là nhà báo. Anh tán thành ngay ý kiến của xếp. Còn nói thêm nếu tôi cần gì anh sẽ hết lòng giúp đỡ. Xong anh Liên nói với tôi:
– Bây giờ để tôi vào trình Thiếu Tướng Vũ Ngọc Hoàn xem ông có rảnh không, tôi sẽ dắt anh vào chào ông một tiếng.
Vài phút sau anh Liên hiện ra ở cửa gật đầu làm hiệu để tôi vào chào Thiếu Tướng Cục Trưởng. Tôi bước vào văn phòng giơ tay nghiêm chỉnh chào theo đúng lễ nghi quân cách. Thiếu Tướng Hoàn, mặt mũi phương phi, lấp lánh cặp kiếng trắng mỉm cười ra hiệu cho tôi và Bác sĩ Liên ngồi xuống hai chiếc ghế trước bàn làm việc của ông. Ông nói:
– Anh bác sĩ Liên có cho tôi biết ý định của anh muốn xin về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Việc đó đối với tôi không có gì trở ngại. Rồi ông quay sang Bác Sĩ Liên nói tiếp: Anh cứ bảo tụi nó làm sự vụ lệnh thuyên chuyển anh Quý về Cộng Hòa khu Ngoại Khoa. Cục Quân Y đã được Liên Đoàn báo cáo rất tốt về anh trong những ngày anh làm việc tại An Lộc. Chúng tôi rất hãnh diện về anh. Anh về Cộng Hòa làm việc là đúng lắm rồi. Không phải đi đâu nữa.
Tôi nghe nói vậy, trong lòng rất mừng. Tôi nói :
– Xin cảm ơn Thiếu Tướng.
Ông giơ tay ra bắt tay tôi:
– Bây giờ anh về nghỉ ngơi. Sửa soạn tinh thần vào làm ở Cộng Hòa. Sẽ rất bận rộn.
Tôi đứng dậy cảm ơn ông Cục Trưởng một lần nữa rồi theo Bác sĩ Liên ra cửa. Sau khi khép cửa lại, tôi nói với Bác sĩ Liên:
– Xin anh miễn cho vụ tới đây viết hồi ký. Thực ra tôi đã viết ngay tại đó rồi. Giờ chỉ cần xem lại sửa vài đoạn văn để đọc cho nó đỡ ngang tai thôi. Khi nào xong tôi sẽ đưa cho anh Hoa xem. Cuốn hồi ký này thực ra tôi viết cho những người trong gia đình đọc để có thể chia sẻ những tin tức và cảm nghĩ của tôi trong những giờ phút thập tử nhất sinh ở An Lộc.
– Không sao nếu anh không muốn tôi cũng không ép. Vậy anh cứ về nghỉ ngơi, chừng tuần sau khi có sự vụ lệnh anh sẽ tới trình diện tại Tổng Y Viện Cộng Hòa để làm việc.
Anh bác sĩ Liên nói xong, bắt tay tôi. Tôi từ giã đi về, trong lòng rất vui vì đã tránh khỏi phải đi Biên Hòa nhận công tác. Tôi không thích và thấy không thực tế như Bác sĩ Liên cũng đã đồng ý.
Chỉ trong vòng nửa ngày tôi đã giải quyết được một công việc rất vừa ý. Nếu biết được việc gì đã xảy ra chắc ông Y Sĩ Đại tá Lương Khánh Chí không vui lắm vì thấy tôi đã dám qua mặt ông, đi thẳng lên tận thượng đỉnh nói chuyện, không qua hệ thống quân giai.
Khi biết tôi đã chọn Tổng Y Viện Cộng Hòa, Y Sĩ Trung tá Trịnh Cao Hải, Y Sĩ Trưởng khu ChỉnhTrực của bệnh viện đã cười khẩy, nói với tôi:
– Sai lầm, cậu chọn đây là sai lầm. Cậu đã chịu cực khổ bao nhiêu ngày rồi tại sao không chọn những bệnh viện khác như Trưng Vương, Trần Ngọc Minh cho khỏe mà lại đem đầu vào đây chịu cực nữa. Tôi đã chán ở đây lắm rồi. Tôi đang muốn xin ra thì cậu lại xin vào.
Tôi biết đàn anh có lý. Nhưng tôi cũng biết đàn anh đã già rồi đâu còn trẻ như tôi, hăng say như tôi. Tôi cũng có cái lý của tôi khi chọn ở đây.
Tôi thích đàn anh nói thẳng như vậy. Những tay khác không dám nói ra điều đó. Tuy nhiên tôi có cảm tưởng, qua giọng nói, thì hình như đàn anh có vẻ cay cú một cái gì. Tôi được biết đàn anh lên Trung tá lâu lắm rồi mà vẫn dậm chân tại chỗ không chịu rửa lon mới. Đàn anh lại có tài. Hồi còn là sinh viên, đàn anh là một trong những sinh viên xuất sắc của trường. Tôi nghĩ bụng nếu đàn anh được trọng vọng một chút, được cất nhắc một chút chắc chắn sẽ không có những lời bất mãn đâu. Tôi cũng nghe nói bác sĩ Hải sắp sửa được giải ngũ đúng như nguyện ước của anh. Có lẽ sau đó anh sẽ hết giọng bất mãn.
Đúng một tuần sau tôi được tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa như Y Sĩ Thiếu Tướng Cục Trưởng đã hứa. Trong thời gian đó tôi cũng được tin bác sĩ Phúc và bác sĩ Chí, hai người bạn cùng tử thủ ở An Lộc với tôi cũng đã từ chối những lời mời mọc về Liên Đoàn để về làm việc tại Trung Tâm 3 Hồi Lực, sát bên Tổng Y Viện Cộng Hòa. Thì ra hai ông bạn tôi cũng khôn không kém. Lại chọn được một bệnh viện lý tưởng, không bị bận rộn như tôi. Hai vị cứ tà tà làm việc không phải thức đêm trực gác khổ sở như bên Tổng Y Viện.
Khoảng tháng 9, tôi nhận được sự vụ lệnh thăng cấp Thiếu tá đặc cách tại mặt trận từ Bộ Tổng Tham Mưu gửi tới, đúng như lời hứa của Tổng Thống. Tuy trong lòng khoái chí lắm, nhưng tôi không vội đeo lon ngay. Tôi ỉm đi, tỉnh như không, vẫn đi làm với cái lon Đại úy màu đen dã chiến như thường.
Người đầu tiên được biết tin mừng này dĩ nhiên là mẹ tôi. Bà mừng lắm. Bà đã cho các em tôi biết ngay khi chúng đi làm về. Em Minh tôi nói:
– Má mở tiệc ăn mừng đi chứ!
– Đương nhiên rồi. – Em Tuệ tôi tiếp lời.
Má tôi nói:
– Để Chủ Nhật tuần sau. Má nghe nói có cả anh Cương cũng từ Kontum về nữa. Mình làm mời luôn cả anh ấy tới với hai bác, cô chú cho vui.
– Như vậy là Bình Long anh dũng với Kontum kiêu hùng sẽ gặp nhau. – Em Nguyệt tôi vội nói xen vào.
Buổi chiều đó cả nhà tôi đều vui vẻ bàn chuyện về bữa tiệc ấy cùng hoạch định những món ăn phải làm.
Được lên Thiếu tá tôi cảm thấy cảm thấy thích thú lắm. Vì thuộc ngành Quân Y, lên lon hoặc được tưởng thưởng huy chương rất là khó khăn vì Quân Y có đánh đấm gì đâu. Nên lúc nào cũng bị lép vế hơn bên tác chiến. Năm 1971 khi tôi về theo học khoa Giải Phẫu Binh Đoàn tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, tôi mới là Trung uý vậy mà chỉ sau một năm trở lại đây tôi đã lên Thiếu tá rồi. Vì khi tôi rời Cộng Hòa lên Bình Long nhận nhiệm sở mới, tôi cũng nhận được sự vụ lệnh lên Đại úy. Những ai không biết thì thấy như là một năm lên hai lon. Dù sao thì tôi cũng là một trong những người lên lon nhanh trong ngành Quân Y.
Một buổi chiều sau khi làm việc xong tôi lái xe ra về. Nửa đường chợt nhớ là tôi để quên quyển sách ở văn phòng. Tôi bèn lộn lại lấy, gặp hai anh bạn tử thủ của tôi đi về từ Trung Tâm 3 Hồi Lực. Tôi thấy trên cổ áo hai người sáng choang cái lon mai bạc. Tôi mỉm cười vui vẻ giơ tay lần lượt vẫy chào hai người.
Anh Chí và anh Phúc sung sướng chào trả lại tôi nhưng đồng thời hai người đều có phản ứng giống nhau khi nhìn thấy trên cổ áo tôi vẫn ba bông mai đồng đen dã chiến tối tăm, không có gì thay đổi. Hai người, xe trước xe sau đều giơ tay đập đập vào cổ áo ra hiệu, nhướng mắt như hỏi tôi sao không mang lon mới. Tôi chỉ hơi nhún vai nghiêng đầu trả lời hai người bằng dấu hiệu như vậy. Không biết họ nghĩ làm sao. Vì đi ngược chiều nên chỉ trong một hai giây là chúng tôi đã xa khỏi tầm nhìn của nhau rồi. Tôi nghĩ rằng họ đoán là tôi chưa nhận được sự vụ lệnh thăng cấp. Chứ không thể nào ngờ được rằng tôi cố tình ỉm đi xem sao.
Tôi thích thú cái trò chơi trẻ con đó của tôi. Là mình đã nắm chắc cái tin vui trong tay rồi nhưng vẫn tỉnh bơ như chẳng có gì thay đổi cả. Tôi giữ kín cái vui của mình không muốn chia sẻ với ai khác. Cho đến cuối tháng mười, một tuần lễ trước ngày Quốc Khánh 1 tháng 11 năm đó, tôi nhận được một lệnh từ Tổng Tham Mưu qua văn phòng của Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện ra lệnh cho tôi phải tới trình diện tại Cục Tâm Lý Chiến để sửa soạn tham dự lễ Quốc Khánh. Vì tôi đã được Liên Đoàn 73 Quân Y đề nghị làm chiến sĩ xuất sắc toàn quốc về tham dự lễ Quốc Khánh năm nay, 1972.
Tôi nghĩ rằng đến nước này thì đành phải mất tiền mua lon mới rồi. Thế là trước khi tới Cục Tâm Lý Chiến, tôi bèn lái xe lên đường Lê Thánh Tôn vào một tiệm chuyên bán đồ huy chương cùng những thứ quân trang, quân dụng mua vội một cặp lon Thiếu tá rồi trở về nhà, tự đứng trước gương gắn lấy cho mình.
Đợt chào mừng ngày Quốc Khánh năm nay, tất cả có được 195 người chiến sĩ xuất sắc được đề cử từ các đơn vị chiến đấu gửi về. Trong đó tôi lại là người có lon cao nhất. Thành thử đương nhiên tôi là người đại diện cho toán chiến sĩ xuất sắc năm nay.
Trong toán này cũng có hai bác sĩ được tuyển chọn. Đó là Y sĩ Trung úy Lê Văn Thại thuộc Liên Đoàn Biệt Động Quân và Y sĩ Trung Uý Tô Phạm Liệu thuộc Sư Đoàn Dù. Bác sĩ Liệu là người về từ căn cứ căn Charlie nơi Trung tá Nguyễn Đình Bảo,Tiểu Đoàn Trường đã đền nợ nước khi hầm qua ông bị trúng một pháo.
Bác sĩ Liệu đã may mắn thoát chết trong trận này. Bác sĩ Liệu tướng to con rất oai trong bộ đồ Dù cùng cái mũ đỏ mà Liệu đã nói với tôi là gửi mua từ bên Pháp. Bác sĩ Liệu là người có tài ăn nói đâu ra đấy, lưu loát. Bất cứ chuyện gì trên trời dưới biển đều được trình bày một cách rành mạch như đọc trong sách ra vậy. Liệu vẫn thường tự nhận là mồm ăn mồm, tức là chỉ dùng lời nói cũng đủ thắng đối phương rồi. Bác sĩ Thại nhỏ con hơn, người Bình Định có đệ tam đẳng Thái cực đạo. Anh đã từng nổi tiếng đánh một tên Mỹ đen to lớn dềnh dàng, ỷ thế ăn hiếp một anh xích lô đạp khiến tên Mỹ này kêu cha kêu mẹ ôm đầu máu chạy có cờ. Hai ông bác sĩ xuất sắc này lại là bạn cùng lớp với nhau nên tâm đầu ý hợp lắm, nói chuyện liên miên không ngừng nghỉ. Vì tôi là lớp đàn anh, lại lớn lon nên hai tay y sĩ anh hùng này hơi nể và chúng tôi trở thành một toán riêng.
Nhưng khi Liệu hỏi tôi:
– Anh ở đơn vị nào về đây vậy?
Tôi biết tay này muốn thử bản lãnh của tôi xem ra sao. Có phải là dân ngon lành không. Nghĩa là có phải dân chì ra tuyến đầu không, mà được chọn làm chiến sĩ xuất sắc. Bởi vì một Y sĩ Thiếu tá thì không thể đi hành quân ở những đơn vị tác chiến được. Ở những đơn vị này chỉ có những Y sĩ Trung uý mới ra trường mà thôi.
Tôi đoán hai bạn trẻ này nghĩ tôi có cổ cánh, quen biết lớn mới được đẩy lên thôi chứ không thể nào bì với những người đã xông xáo nơi tuyến đầu như họ được. Tôi muốn trêu hai vị y sĩ xuất sắc này bên trả lời:
– Tôi ở Tổng Y Viện Cộng Hòa.
Nói xong tôi cười thầm trong bụng. Tôi biết hai người bạn trẻ này sẽ bị hố to với tôi, sẽ hiên ngang đi vào bẫy của tôi. Tôi chỉ muốn đùa cho vui thôi chứ không có ác ý. Vì dù mới quen nhau tôi đã thấy mến hai vị đồng nghiệp trẻ tuổi vui tính và nhiều tài lạ này.
Quả nhiên vừa nghe thấy tôi trả lời như vậy, cả hai cùng nhướng cặp mắt lên nhìn nhau tỏ vẻ vừa kinh ngạc vừa hơi có chút khinh thường, như thầm nói với nhau là: Ở hậu cứ an toàn như vậy mà cũng được đề cử làm chiến sĩ xuất sắc. Liệu hỏi tiếp giọng có vẻ hơi mỉa mai:
– Chắc trong năm vừa qua anh đã mổ nhiều lắm, cứu được nhiều người lắm? Hay là anh đã phát minh ra được nhiều phương thức mổ tân kỳ phải không?
Tôi vẫn chưa chịu buông tha, tôi gật đầu trả lời:
– Đúng vậy. Tôi đã cứu được gần 250 người, đúng ra là 248 người.
Liệu với Thại gật gù nhưng trông nét mặt của hai người, tôi vẫn thấy có những nét không phục lắm. Liệu cho hỏi:
– Thế anh làm ở Cộng Hòa lâu chưa?
Đến nước này thì tôi thấy không thể nào giấu được nữa. Tôi làm bộ nhún vai trả lời:
– Tôi làm ở đó cũng được gần ba tháng.
Thại từ nãy đến giờ im lặng chợt hỏi tôi:
– Thế trước đây anh ở đơn vị nào?
– Tôi ở bệnh viện tiểu khu Bình Long.
Cả hai đều ồ lên một tiếng, cùng cười thoải mái. Liệu nói:
– Thế là đàn anh chơi tụi này một cú đau lắm đấy nhé. Đàn anh cứ làm bộ ỡm ờ. Tụi này nghi ngay mà. Ở những đơn vị tĩnh tại như Cộng Hòa làm sao được đề cử vào chiến sĩ xuất sắc. Đàn anh đùa dai quá. Được lắm. Khâm phục, khâm phục. Đúng rồi bây giờ tôi mới nhớ ra có đọc bài báo TIME có nhắc đến tới tên anh. Phải anh là người đã dùng chỉ nylon bao cát để may các vết thương không?
Tôi mỉm cười gật đầu:
– Đúng rồi, chính tôi đó. Lúc đó hết chỉ đành phải tự xoay sở lấy. Nhưng chỉ có hai, ba ca thôi. Mấy ngày sau tiếp tế được nên không xài chỉ bao cát nữa vì sợ bị nhiễm trùng.
Sau lần nói chuyện đó, ba chúng tôi trở nên thân nhau hơn. Trong suốt tuần lễ chào mừng các chiến sĩ xuất sắc nhân ngày Quốc Khánh năm đó, chúng tôi đều đi chung với nhau.
Vì là người đại diện cho các chiến sĩ xuất sắc đợt đó nên tôi được ban tổ chức tức Cục Tâm Lý Chiến đưa cho mấy bài diễn văn đã làm sẵn. Tôi chỉ đứng đọc mà thôi. Bây giờ tôi mới thấy đằng sau hội trường chính trị. Một chút thôi. Ý tôi muốn nói là những sắp xếp khi ra trước đám đông. Sĩ quan hướng dẫn cho phái đoàn chiến sĩ xuất sắc này là hai người, một Đại úy, một Trung úy thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Hai người này lo phần ăn ở cho phái đoàn. Chúng tôi được ở tại khách sạn Ambassador đường Công Lý do dòng họ Lê ở Bình Định làm chủ.
Thoạt đầu phái đoàn được vào dinh Độc Lập yết kiến Tổng Thống, dự dạ tiệc ngay tại khuôn viên dinh Độc Lập. Mỗi chiến sĩ xuất sắc được Tổng Thống tặng 10000 đồng và một hộp quẹt Zippo có khắc chữ ký của Tổng Thống. Đại tướng Cao Văn Viên tặng mỗi chiến sĩ 5000 đồng.
Các chiến sĩ ai cũng được thưởng huy chương, đồng thời ghi rõ tiểu sử cùng chiến công vào một cuốn sách. Tôi được trao tặng Nhân Dũng Bội Tinh.
Tôi chưa bao giờ nghe tới tên cái thứ huy chương này. Không hiểu nó đã có từ đời nào hay mới được tạo ra. Tôi hỏi hai sĩ quan phụ trách, họ nói huy chương này quý lắm, chỉ sau có Bảo Quốc Huân Chương thôi. Họ còn nói thêm: bác sĩ được huy chương này là nhất rồi. Tôi cũng cố tin như vậy cho xong việc.
Trong bữa dạ tiệc tại vườn dinh Tổng Thống, tôi được ngồi bàn đặc biệt, có Tổng Thống, Đại tướng Cao Văn Viên, Đề Đốc Chung Tấn Cang, bà Nguyễn Thị Hai, chủ nhân công ty dược phẩm cùng tên và quý vị Chủ Tịch Thượng Hạ Viện. Cùng với tôi có thêm ba chiến sĩ xuất sắc nữa. Tôi ngồi cạnh Đại tướng Cao Văn Viên. Ông hỏi tôi:
– Thiếu tá thuộc đơn vị nào?
– Thưa Đại tướng, tôi ở Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, An Lộc.
– À, Thiếu tá là bác sĩ ở An Lộc hả?
Tôi gật đầu đáp:
– Thưa vâng. Tôi tham dự trận này suốt từ đầu tới cuối.
Đại tướng Viên liền quay sang Tổng Thống Thiệu nói:
– Thưa Tổng Thống, Thiếu tá đây là bác sĩ tại Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, An Lộc.
Ông Thiệu đang nói chuyện với bà Hai nghe vậy liền quay sang nhìn tôi, mỉm cười rồi nhíu mày như cố nhớ một điều gì. Ông nói:
– Tôi có lên đó, hình như tôi không gặp bác sĩ ở đó.
Tôi thầm nghĩ ông này hay thật. Làm đến Tổng Thống chắc cũng phải có một cái tài nào đó. Tôi vội giải thích:
– Khi Tổng Thống lên ủy lạo binh sĩ thì trùng với ngày tôi về phép nên không được hân hạnh tiếp kiến Tổng Thống.
Câu trả lời của tôi làm Tổng Thống Thiệu thích thú. Mọi người trong bàn cùng trầm trồ nhân cơ hội này ca ngợi trí nhớ dai của Tổng Thống có một không hai. Ông Thiệu cười hài lòng và có vẻ hãnh diện về trí nhớ của ông.
Tôi nhận thấy tiếng ông như tiếng chuông. Chắc là một thứ quý tướng nên ông mới lên tới chức vị cao nhất nước như vậy. Trong buổi tiệc ông cũng hay nói chuyện tiếu lâm làm mọi người vui vẻ, đỡ căng thẳng vì ngồi gần mặt trời.
Tôi thấy Đại tướng Viên là gốc Dù nên vuốt ông một câu:
– Thưa Đại tướng, An Lộc giữ vững được một phần cũng nhờ những đơn vị của sư đoàn Dù và Biệt Cách Dù.
Đại tướng Viên gật đầu đáp:
– Đó là một trong những đơn vị xuất sắc nhất của quân đội ta.
Tôi tiếp tục hỏi một câu mà vừa ra khỏi miệng tôi thấy là hơi cù lần một chút:
– Thưa Đại tướng thế tại sao mình không cho thành lập thêm vài sư đoàn Dù nữa để áp đảo tụi nó giành thắng lợi cho mình?
Đại tướng Viên nhìn tôi, thấy tôi hoàn toàn ngây thơ cụ về vấn đề nhà binh nên ông, như một người anh cả kiên nhẫn giảng giải cho tôi hiểu vì sao:
– Tại bác sĩ không biết chứ, thành lập một sư đoàn nhiêu khê lắm, có cả một danh sách rất dài để làm. Người thì mình có nhưng tiền thì không. Thành lập một sư đoàn Bộ Binh không thôi đã tốn rất nhiều rồi, nói chi tới một sư đoàn Dù lại tốn gấp đôi. Quân đội không đủ tiền làm chuyện đó.
Sau khi yết kiến Tổng Thống, chương trình ngày hôm sau phái đoàn phải đi tới thăm viếng Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hòa, cũng có Tổng Thống cùng các nhân vật trong chính phủ đi tế lễ các hương hồn tử sĩ đã vị quốc vong thân. Buổi chiều chúng tôi được Tòa Đô Chánh đãi tiệc, có ông Đô Trưởng Đại tá Đỗ Kiến Nhiễu chủ tọa, Lại những bài diễn văn đã được soạn sẵn cho tôi đọc, lại vỗ tay, lại đủ thứ. Thú thực tôi không khoái lắm. Ngày hôm sau chúng tôi được đi coi triển lãm chiến lợi phẩm tịch thu của Việt Cộng trên khắp các mặt trận đem về trưng bày tại sân vận động Hoa Lư, đường Đinh Tiên Hoàng. Tôi thấy trong đó có ba chiếc xe tăng T54 của Việt Cộng còn mới nguyên được trưng bày trên sân cỏ. Tôi biết một trong những chiếc đó đã bị quân ta tịch thu tại An Lộc. Nhiều súng lớn đủ loại, cả những súng phòng không cao nghều nghệu.
Tổng Thống Thiệu chủ tọa xong, đi xem một lượt rất nhanh rồi đi về. Tôi ngồi trên những ghế cao phía xa cùng với một số người khác không hòa mình vào đám đông. Tôi đề phòng nhỡ có đứa nào muốn ám sát Tổng Thống, mình đi gần lại bị vạ lây. Tôi thấy có một đoàn nữ sinh mặc áo trắng đứng quanh sân chào mừng Tổng Thống và quan khách.
Tôi nhận thấy họ chỉ là nữ sinh giả thôi. Vì trong đó có nghệ sĩ Mộng Tuyền cũng mặc áo dài trắng lẫn lộn với mấy người đẹp khác. Tôi thấy Tổng Thống đứng hơi lâu bên Mộng Tuyền, cười nói thoải mái. Tôi có nghe đồn Tông Tông khoái cô nghệ sĩ này lắm. Mà quả thực cô có duyên và rất đẹp.
Sau khi đi xem hết một vòng, Tông Tông lên xe về. Tôi mới lững thững đi xuống, chợt thấy Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đeo kính trắng đang tà tà tới. Tôi định tiến lại chào ông, nhưng thấy hai bên ông có đám vệ sĩ gườm gườm nhìn, còn ông Thủ Tướng thì mặt lạnh như tiền coi như không có ai ở chung quanh cả. Tôi vội quay đầu đổi hướng lui nhanh ra phía khác.
Sau buổi sáng đi xem triển lãm chiến lợi phẩm, chiều hôm đó đoàn chúng tôi được Quốc Hội đãi tiệc. Tiếp tục ngày tới là Thượng Viện rồi lần lượt các quận trong đô thành Sài Gòn thay phiên nhau mỗi quận một ngày tiếp đãi chúng tôi.
Tôi còn nhớ ngày Quốc Hội đãi tiệc phái đoàn chúng tôi. Sau khi tan tiệc ra về, chúng tôi đi thang máy xuống đường cùng một số dân biểu. Một vị dân biểu trẻ tuổi bước tới tự giới thiệu:
– Tôi là Nguyễn Trọng Nho, rất biết ơn các bạn đã hy sinh rất nhiều để bảo vệ nền Cộng Hòa công chính của chúng ta.
Anh đưa tay bắt tay tôi rất chặt. Chưa bao giờ có người bắt tay tôi một cách chí tình đến thế. Anh như muốn chuyển cho tôi tất cả những nhiệt tình yêu nước của anh. Tôi thấy anh có một sức hấp dẫn lạ lùng với người đối diện. Tôi chỉ nghe danh anh từ những năm trước là vua sinh viên xuống đường chống độc tài gia đình trị. Bây giờ tôi mới được hân hạnh nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt, thật là thích thú. Tôi thấy buổi tiếp tân hôm nay ít ra gặp được Dân Biểu Nguyễn Trọng Nho cũng làm cho thấy tôi thấy đỡ nhàm chán một chút. Chúng tôi không có cơ hội nói chuyện nhiều, chỉ gặp gỡ trong giây phút thôi rồi mọi người lại đi một ngã. Nhưng chỉ trong giây phút ngắn ngủi đó, tôi cảm thấy vui và có cảm tưởng như đã gặp một người mình tin tưởng được.
Ngày hôm sau là ngày Thượng Viện đãi tiệc chúng tôi tại một tửu lầu ở trong Chợ Lớn. Đáng lẽ chúng tôi phải đi cùng với phái đoàn nhưng bác sĩ Liệu có sẵn xe Jeep ở hậu cứ sư đoàn Dù, đề nghị ba chúng tôi dùng xe đó đi riêng.
Vị Trung úy Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị có nhiệm vụ hướng dẫn phái đoàn giống như một ông bầu, ngần ngừ có ý định không chịu vì ông ta không muốn gây xáo trộn trong chương trình ông đã có trách nhiệm thi hành cho thật đúng. Sau vì cả nể, ông đồng ý cho tụi tôi được dùng xe Jeep đi riêng đến địa điểm tiếp tân. Không ngờ hôm đó kẹt xe. Chúng tôi đến trễ nửa tiếng, vào tới bàn tiệc thì mọi sự đã bắt đầu. Thay vì tôi lên đọc bài diễn văn soạn sẵn cảm ơn các vị Thượng Nghị Sĩ, một chiến sĩ xuất sắc khác đã được ông bầu phái đoàn đưa lên thay.
Vì đến trễ nên chúng tôi quả thực đã làm xáo trộn chương trình đã ấn định từ trước. Ông sĩ quan điều hợp phái đoàn chắc phải một phen lên ruột. Ông nhìn chúng tôi với ánh mắt như trách móc. Chúng tôi chỉ có nước ngồi cười trừ thôi. Sau bữa tiệc, cả ba chúng tôi đến ngỏ lời xin lỗi ông sĩ quan điều khiển chương trình. Dĩ nhiên ông ta cũng bỏ qua.
Nhân dịp tham dự phái đoàn chiến sĩ xuất sắc này tôi đã được biết thêm hai người bạn mới, ngoài hai ông bác sĩ trẻ ở đơn vị Dù và Biệt Động Quân. Đó là Hạ sĩ Cường của tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và Thiếu úy Trí, Trung Đội Trưởng Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
Thiếu Úy Trí người Sa Đéc. Một sự tình cờ ban tổ chức đã sắp xếp cho hai chúng tôi ở chung một phòng tại khách sạn Ambassador trong suốt những ngày thủ đô chào mừng phái đoàn chiến sĩ xuất sắc toàn quốc nhân ngày Quốc Khánh. Vì vậy chúng tôi có dịp nói chuyện với nhau sau những bữa tiệc khi về phòng. Sau khi tắm rửa xong, chúng tôi thấy thoải mái sau một ngày tiệc tùng tại các quận đô thành. Tôi gợi chuyện anh bạn cùng phòng.
– Anh được chọn làm chiến sĩ xuất sắc về trận nào vậy?
– Trận Bắc ChơnThành
Tôi vội cướp lời anh:
– Trên Quốc lộ 13 phải không?
Trí ngạc nhiên hỏi tôi:
– Ủa, sao bác sĩ biết?
– Tôi là bác sĩ Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, An Lộc. Tụi tôi bị vây ở đó cả tháng rồi. Cũng chỉ vì mấy cái chốt tụi nó đóng tại phía bắc Chơn Thành, nên chiến đoàn đặc nhiệm lên không được để giải tỏa cho tụi tôi.
– Đúng rồi vì tụi Việt Cộng nó đóng chốt chặn giữ giữa Quốc lộ 13 trên đường vào An Lộc. Sư đoàn chúng tôi lên không được. Hao tốn cũng khá nhiều. Thay hết đơn vị này đến đơn vị khác. Sau cùng tới lượt đơn vị tôi. Tôi cũng chỉ là thư sinh mới ra trường thôi, thực ra cũng được gần hai năm. Nhưng những thời gian đầu tôi ở bên tiếp vận. Vì thiếu sĩ quan nên tôi bị đổi ra đơn vị này.
Tôi cũng thấy như vậy, ông bạn mới của tôi nhỏ con, không có vẻ gì là dân tác chiến cả. Bề ngoài trông ông bạn trẻ của tôi chỉ hợp với nghề văn phòng. Nên tôi cũng tò mò muốn biết chiến thuật của ông làm sao mà thắng được địch để trở thành chiến sĩ xuất sắc. Tôi hỏi tiếp:
– Rồi sau đó thế nào?
– Nhận được lệnh, tôi lo, chỉ sợ làm không được việc thì tức lắm. Tôi hỏi mấy đơn vị trước xem tụi Việt Cộng đánh đấm ra sao. Họ đều nói, tụi nó có đánh đấm gì đâu. Nó cứ cho đóng chốt rải rác. Chốt nọ bảo vệ chốt kia. Tên nào chết thì có ngay tên khác thay thế. Cho nên quân mình dường như không thể tiến lên được một bước nào. Biết được vậy, tôi nằm suy nghĩ mấy đêm liền, kêu mấy Hạ sĩ quan nhiều kinh nghiệm chiến trường tới bàn bạc tìm kế phá tụi nó. Họ đều nói là muốn phá chốt chỉ có một cách là phải đánh đêm thôi. Không dùng súng mà dùng lựu đạn. Ban ngày chúng tôi quan sát địa thế chiến trường. Những chỗ nào tình nghi có chốt đều được ghi rõ. Ban đêm chúng tôi dùng Starlight scope của Mỹ viện trợ cho dùng để quan sát ban đêm. Rồi chúng tôi cho lính mình bò lên tận nơi thẩy lựu đạn vào chốt. Cứ từ từ như vậy chúng tôi đã tiến lên được cả cây số. Chúng tôi đã nhổ cả mấy chục cái chốt mà thiệt hại của quân mình rất ít. Ông Chỉ Huy Trưởng của tôi rất mừng. Vì vậy tôi mới được tuyên dương và trở thành chiến sĩ xuất sắc.
– Hay lắm. Đúng là muốn nhổ chốt chỉ có cách đó thôi. Nhưng tôi lấy làm lạ, là tại sao không đem B52 trải thảm là dẹp chốt dễ dàng không?
– Tôi thấy không lợi. Dùng B52 chỉ có hiệu quả khi nào địch tập trung quân lại thôi. Còn nó đóng chốt, tổng số quân chỉ chừng một đại đội là cùng thì không bõ, rất tốn kém, lại có khi không trúng nữa vì diện tích mục tiêu quá nhỏ.
– Nếu vậy mình dùng nghi binh. Chắc chắn tụi nó có kiểm thính. Mình làm bộ là sẽ cho B52 trải thảm. Để cho địch bắt được mấy cái tin ấy qua radio. Chúng tưởng thật, rút quân về khu an toàn thế là mình có quyền đường hoàng đi mà không bị một thiệt hại nào cả.
Thiếu úy Trí cười nói:
– Bác sĩ cũng giàu tưởng tượng thật. Kế đó cũng hay lắm. Nhưng làm sao mình biết được là tụi nó bắt được tin B52 trải thảm, làm sao kiểm chứng được tụi nó sẽ rút quân. Tôi nghĩ chỉ có một cách như tôi đã trình bày là tung quân cảm tử đánh đặc công như tụi nó. Nghĩa là gậy ông lại đập lưng ông thì mới có kết quả.
– Không sai, bằng chứng là anh đã thành công và đang về đây dưới danh nghĩa chiến sĩ xuất sắc nên tôi mới có cơ hội gặp anh.
Sau lần đó anh lại trở ra đơn vị nhưng lần này anh cho tôi biết là đơn vị của anh sẽ rút về Vùng IV không còn ở Vùng III nữa. Từ ngày đó tôi không còn có duyên gặp anh nữa. cầu mong sao anh được bình an, sống sót qua được cuộc chiến này.
Còn trường hợp của anh Hạ sĩ Nhảy Dù tên Cường, tôi được biết khi ngồi chung xe buýt với anh trong chuyến đi các quận đô thành dự tiệc. Cũng cùng một câu hỏi:
– Anh đã dự trận nào mà được trở thành chiến sĩ xuất sắc vậy?
– Thưa anh, em dự trận Quảng Trị.
Cường xưng em với tôi rất tự nhiên. Không giống như một cấp nhỏ đối với cấp trên. Trong cách xưng hô của Cường đối với tôi, tôi cảm thấy có một điều gì đặc biệt. Một sự tình cảm thật thà giữa những người trong gia đình, ruột thịt. Chỉ cần một giây phút đầu mà thôi, là chúng tôi đã cảm thấy thân nhau như từ lâu lắm. Đó là đầu mối của một tình thân lâu dài về sau.
– Kể cho anh nghe chiến công của em đi.
– Chiến công của em dễ dàng lắm. Chính em chẳng thấy có gì đặc biệt cả. Em ngạc nhiên khi thấy mình được đề cử làm chiến sĩ xuất sắc năm nay. Em cứ nghĩ là được cái Anh Dũng Bội Tinh gì đó là cùng.
Đúng lắm, đó là tâm trạng chung của hầu hết các chiến sĩ xuất sắc. Khi cố gắng thi hành phận sự, có ai nghĩ là mình sẽ được đền bù này nọ đâu. Chúng tôi chỉ cốt sao chu toàn bổn phận là mừng rồi. Cường còn rất trẻ, chỉ mới 23 tuổi. Trông anh Hạ sĩ Nhảy Dù can trường này vẫn còn những nét học sinh mặc dù cũng đã hơn hai tuổi lính và dự khá nhiều trận rồi. Nhưng theo Cường trận Quảng Trị là trận gay go nhất. Tôi khuyến khích Cường kể tiếp:
– Chiến công nào cũng là chiến công cả. Cường kể tiếp đi.
– Hồi ở Quảng Trị, tiểu đội của em ở ngay tuyến đầu. Hai ngày rồi tụi em bị dậm chân tại chỗ vì mấy cái chốt ngang sườn đồi. Nó nhìn thấy mình mà mình không thể nhìn thấy nó. Vì tụi nó có lợi thế ở trên cao, lại có hầm núp đàng hoàng. Trong khi quân mình từ dưới đi lên rất là trống trải. Dù hy sinh cách mấy cũng không tài nào lên để phá chốt được. Có kiểm soát được ngọn đồi đó thì mình mới có lợi thế đánh ngang hông để dứt điểm tụi nó được. Ông Đại Đội Trưởng của em rầu rĩ quá. Em thương ông quá vì ông không phải thuộc loại thí quân coi thường sinh mạng binh sĩ. Em suy nghĩ làm sao dẹp được mấy chốt đó thì mới sướng được. Em bàn với ông Thiếu Úy Trung Đội Trưởng của em là để em dẫn hai tay tình nguyện theo em đi vòng xa mấy chỗ đó, lên cao hơn một chút rồi đi thẳng xuống cái chốt khó nhai nhất ở ngay chính giữa sườn đồi rồi bất ngờ đánh xuống lật ngược lại cái thế thượng phong của tụi nó làm cái lợi thế của mình. Túng thế quá ông Trung Đội Trưởng của em đành gật đầu ưng thuận cho em đi. Vì biết rằng rất nguy hiểm cho tụi em. Chết dễ như chơi vì mình không biết địch còn bao nhiêu chốt nữa chưa phát hiện được đang chờ đón mình.
Tôi ngắt lời Cường, nói:
– Nguyên cái vụ tình nguyện đi phá chốt nguy hiểm như vậy cũng đáng tuyên dương công trạng lắm rồi. Vậy mà Cường còn khiêm nhượng mãi. Thôi kể tiếp đi, đến hồi gay cấn rồi đó.
Cường mỉm cười gật đầu tiếp:
– Em dẫn 2 đồng đội tình nguyện đi ra xa khoảng nửa cây số rồi thận trọng tụi em bò lên đỉnh đồi. Em chọn chỗ có cỏ tranh mọc cao hơn đầu người, cẩn thận đi từng bước một vì sợ nó gài mìn. Em bò lên được lưng chừng sườn đồi thì có tiếng hỏi: K nào vậy? Em giật thót cả người, nhanh trí khôn em đáp bừa: K3 đây đồng chí. Đồng thời em đứng thẳng dậy, thấy lố nhố ba thằng lính chính quy Bắc Việt. Chúng nó cũng đã trông thấy em, một thằng kêu lên:
– Ngụy Dù đồng chí ơi.
– Nó chưa nói dứt câu em đã lia một băng M16 vào cả ba tên. Chúng gục ngay tại chỗ không kịp bắn một phát nào. Em cho một người lên trước thám hiểm xem có còn đứa nào không. Chúng chỉ có ba tên mà thôi. Em cho một anh bạn về báo cho trung đội em biết. Đồng thời chuyển quân qua con đường tụi em đã dọn sạch. Nếu tụi nó biết, tấn công hai đứa tụi em thì em cũng có quân tiếp viện. Sau khi còn lại hai tụi em, em đặt một trái mìn Claymore trên lối mòn mà em đoán tụi địch sẽ đi qua. Xong xuôi chúng em vô hầm chốt của tụi nó ngồi chờ. Vì chung quanh không có chỗ nào trốn núp được. Chừng 10 phút sau em thấy ba tên đi dọc theo lối mòn nói chuyện với nhau rất tự nhiên như chẳng có gì xảy ra cả. Thì ra nơi tuyến đầu tiếng súng nổ là thường và chắc tụi nó ỷ y phía này không có quân mình nên không quan tâm mấy. Em bấm quả mìn khi chúng nó còn cách đó chừng 10 thước. Tiếng nổ của trái mìn vang lên, em thấy ba đứa biến mất chẳng thấy vết tích đâu cả. Chỉ thấy dấu máu đầy chỗ chúng đứng thôi. Hai mươi phút sau thì trung đội của em lên tới nơi. Từ đó chúng em nhổ những chốt còn lại rất dễ dàng. Đó, chiến công của em đó anh ạ. Cũng là may thôi. Nếu địch đừng tưởng lầm tụi em là quân tụi nó, cứ chờ cho tụi em tiến lên, lia một tràng AK là em đâu có dịp gặp anh ở đây.
– Đúng rồi Cường ạ. Con người ta có số cả. Nhưng Cường quả thật can đảm và cũng đa mưu túc trí chứ chẳng chơi đâu.
Cường cười hồn nhiên, nhưng chợt giọng em trầm xuống:
– Chiến tranh cả anh ạ, vì mạng sống của mình em phải làm thế. Em thấy nếu mình không hạ nó thì nó cũng chẳng tha mình. Nên em phải ra tay trước. Tuy nhiên em thấy thế nào ấy. Tụi nó còn trẻ lắm, em độ chừng 18, 19 tuổi thôi, bằng tuổi thằng em trai em. Em còn ông bác ở ngoài Bắc. Biết đâu mấy tên địch không may đó lại là bà con của em thì đau lắm.
Tôi vội an ủi Cường, mà thật ra cũng như nói với chính tôi để quên đi cái cảnh nồi da xáo thịt:
– Thôi chuyện đã qua rồi. Miễn là mình còn sống là may rồi. Đừng nghĩ lẩn thẩn nữa.
Rồi tuần lễ chào mừng các chiến sĩ xuất sắc toàn quốc nhân ngày Quốc Khánh năm 1972 cũng qua đi. Mọi năm, phái đoàn còn được cho đi xuất ngoại sang bên Đài Loan thăm viếng và trao đổi kinh nghiệm chống cộng tại nước này một tuần. Nhưng năm nay vì thời sự chiến cuộc có vẻ khẩn trương, lại thêm Mỹ Việt Nam hóa chiến tranh cũng như những diễn biến về hội nghị Hòa Bình Paris giữa Mỹ với chính phủ Cộng sản Hà Nội nên cái món du lịch nước ngoài bị hủy bỏ. Số tôi là thế. Có tiếng nhưng chẳng có miếng. Đã là số mạng thì còn gì nữa đâu để buồn.
Thế là sau một tuần phè phỡn, tôi lại được trở về với công việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi lại bắt đầu một cuộc đời mới, lại có những kinh nghiệm mới, vui có buồn có. Tôi lại có cơ hội phục vụ các đồng đội của tôi, tuy cùng một môi trường, nhưng với một kỹ thuật cao hơn, hữu hiệu hơn. Đứng như lòng mong muốn của tôi là tay nghề của mình phải lên cao, lên cao mãi.
Kể từ ngày đi phép về được ba tuần, một hôm vào cuối tháng 7, tôi được tin bác sĩ Lê Quang Tín đang trên đường lên Bình Long để thay thế anh Phúc.
Ba tuần chờ đợi ấy thực dài. Thà không biết để sự việc tự nó đến lúc nào thi đến, nay biết rồi chúng tôi chờ đợi, đếm từng ngày một rất sốt ruột.
Trời dạo này ở Bình Long hay mưa, gần như ngày nào cũng có một trận. Mưa ở đây hơi đặc biệt một chút là mưa nắng cùng một lúc. Chính trong một trận mưa nắng đó mà bác sĩ Tín, người tụi tôi đang mong đợi đã tới.
Sau khi giúp bác sĩ Tín để gọn đồ vào một chỗ xong, tôi với anh Phúc sơ lược tình hình hiện tại cho bác sĩ Tín nghe, cùng kêu tất cả các anh em Quân Y từ các hầm khác tới giới thiệu với bác sĩ Tín để cho biết mặt nhau. Phụ tá với bác sĩ Tín là hai bác sĩ khác mới ra trường cũng đang trên đường lên đây.
Tôi và anh Phúc dẫn bác sĩ Tín sang hầm chỉ huy để giới thiệu Tín với Đại tá Tỉnh Trưởng. Nhân cơ hội đó tôi nói ngay:
– Thưa Đại tá bây giờ đã có người thay thế. Sau khi bàn giao xong chúng tôi muốn được từ giã Đại tá về Liên Đoàn 73 Quân Y trình diện để nhận công tác mới.
Đại tá Nhựt nói:
– Được rồi, bàn giao xong bác sĩ muốn đi lúc nào thì đi. Chừng một hai tháng nữa chắc moa cũng đi chỗ khác. Chỗ này đâu còn gì đâu, để cho ông Thành coi.
– Như vậy nếu ngày mai có trực thăng tới, xin phép Đại tá chúng tôi sẽ theo máy bay về Lai Khê luôn.
Đại tá Nhựt gật đầu:
– Được, chúng mình sẽ còn có ngày gặp nhau.
Tôi với anh Phúc, Bác sĩ Tín lần lượt bắt tay Đại tá Nhựt rồi đi về hầm mình.
Sáng hôm sau, chúng tôi được tin có hai chuyến trực thăng tới vào khoảng 1 giờ trưa. Tôi với anh Phúc đã sửa soạn xong rất gọn và nhẹ. Tôi chỉ có một túi xách tay, anh Phúc cũng vậy. Chúng tôi từ giã các nhân viên và bác sĩ Tín rồi lên xe Hồng Thập Tự ra chỗ sân ở bãi đáp cùng với mấy người lính Nhảy Dù đi phép. Khi máy bay vừa đến, bay là là trên mặt đất, không đậu hẳn xuống đất, có lẽ là đề phòng, nếu địch pháo thì sẽ vọt lên lẹ hơn.
Chúng tôi chạy nhanh để nhảy leo lên máy bay. Tôi lên sau cùng vừa phóng người lên chưa nắm được điểm tựa nào thì máy bay đã bốc vọt lên cao làm tôi chới với suýt nữa té lộn xuống. May có người lính ngồi ở gần đưa tay kéo áo tôi kịp lôi vào. Lúc đó tôi mới ngồi lên được trên ghế, cột nịt dây an toàn xong nhìn ra thì thấy anh Phúc đã ngồi đối diện, đang mỉm cười nhìn tôi. Tôi thầm nghĩ: Tay này nhanh thật. Không biết dọt lên hồi nào mà đã yên vị như vậy.
Khi máy bay cất cánh lên đầu ngọn cây thì bắt đầu pháo địch nổ. Tôi thấy hai trái rơi cạnh bãi đáp khoảng 100 thước. Bụi đất tung mịt mù toàn cát đỏ. Chỉ trong tích tắc máy bay đã ra khỏi vòng pháo, lướt mình trên những ngọn cây cao su thẳng đường về hướng Lai Khê.
Thế là sau hơn một năm làm việc tại Bình Long-An Lộc, tôi đã rời khỏi tỉnh lỵ này với một số kỷ niệm khó quên.
Về tới Sài Gòn, đọc lại những tờ báo cũ tả trận chiến đó, tôi thấy nó lớn ghê gớm và cũng rất quan trọng. Nếu để địch quân chiếm đóng được tỉnh này thì ảnh hưởng tâm lý với dân chúng toàn miền Nam sẽ rất lớn. Các nhà báo cả trong và ngoài nước đã so sánh trận này với trận Điện Biên Phủ năm 54. Chỉ khác là trận này quân ta đã giữ vững được vị trí, đẩy lui được địch quân.
Năm trước khi tôi tới đây, thành phố đang trên đà phát triển. Tôi thấy nếu không có chiến tranh tỉnh này sẽ là một trong những tỉnh trù phú nhất của Vùng III Chiến Thuật. Khi tôi ra đi thì nơi này đã trở thành bình địa. Những thay đổi đó cùng với cái may mắn được sống sót đã cho tôi nhiều suy nghĩ. Tôi có cảm tưởng như là người vừa được sống lại. Vậy phải sống làm sao cho ra người.
Tôi chợt nhớ tới bài thơ “Bán Than” của Đại tướng Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư khi ông bị cách chức vì đã thua quân Mông Cổ một trận. Ông lên rừng đốn củi bán than để làm kế sinh nhai. Tôi thích nhất hai câu:
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt Hơn thiệt nài chi gốc củi tàn
Tôi thực ra bây giờ không phải là một gốc củi tàn, nhưng là một con người mới. Có những ngày địch pháo tới 10 ngàn trái vào tỉnh lỵ trên một diện tích giới hạn như vậy, mà tôi không bị một mảnh đạn nào. Kiểm điểm lại, tôi đã thoát chết bốn lần, hai lần tôi tin phải có một phép lạ nào đó đã run rủi cho tôi được thoát nạn. Đó là tôi đã di chuyển lên hầm bác sĩ Phúc đúng vào đêm phòng tôi bị pháo trúng và một lần khác khi đứng nói chuyện với mấy anh Quân Y Tá dưới tàn cây trứng cá tại sân bệnh viện. Tôi muốn sống cho xứng đáng với lòng từ bi của Trời Phật đã ban cho tôi. Làm gì thì làm cũng phải là đồng tiền tốt, phải lương thiện và cưu mang những người khốn khổ, giúp đỡ những người nghèo khó thế cô. Thực hành như vậy trong hoàn cảnh xã hội này thật khó. Nhưng cố gắng chắc cũng được, hoặc ít ra cũng vạch ra cho mình được một con đường đúng để đi, không bị cám dỗ bởi những đồng tiền không tốt.
Khoảng 45 phút sau, tôi an toàn xuống máy bay tại hậu cứ Sư Đoàn 5. Tôi với anh Phúc hỏi thăm đường tới doanh trại Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Tôi kiếm bác sĩ Trần Nguyên Tường, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Quân Y, bạn cùng lớp với tôi xin giúp đỡ phương tiện về Sài Gòn. Thời may có một xe Hồng Thập Tự sắp sửa rời Lai Khê chuyển thương binh về Tổng Y Viện Cộng Hòa, tôi với anh Phúc liền quá giang chuyến đó để khỏi phải chờ lâu. Một giờ sau tôi đã có mặt tại Sài Gòn, bấm chuông nhà. Hôm ấy là ngày Thứ Bẩy, các em tôi đều ở nhà cả. Mọi người đều vui mừng đón tôi. Lần này không có cái ngạc nhiên bất ngờ như lần nghỉ phép kỳ trước. Nhưng thật vui vì mẹ và các em tôi được biết là tôi không phải trở về Bình Long. Tuy tôi chưa biết sẽ nhận công tác ở đâu, nhưng tôi biết chắc chắn là tôi được ưu tiên chọn chỗ mới.
Tôi nhanh chóng làm mọi giấy tờ cần thiết, sửa soạn trong chớp mắt là xong. Tôi kêu tài xế xe Hồng Thập Tự, nhờ chở giùm tôi ra bãi đáp. Bây giờ hầu như hàng ngày đều có những chuyến bay trực thăng đi đi về về liên lạc giữa An Lộc và Lai Khê, hậu cứ của Sư Đoàn 5. Nhân dịp này tôi mang theo phần lớn đồ đạc của tôi, gần như dọn nhà, chất lên xe Jeep Hồng Thập Tự, vẫn do tài xế Mệnh lái. Thực ra cũng chẳng có gì nhiều: một thùng sách vở, cây đàn guitar Yamaha, hai vỏ đạn đại bác. Còn cái ba lô tôi đeo vai là đủ.
Kỳ này hành khách của chiếc trực thăng chỉ có năm người. Mấy người kia cũng đi phép như tôi. Do đó tôi ngồi trên máy bay rất thoải mái. Đứng ở dưới đất nhìn lên trực thăng, thấy nó bay có vẻ chậm, giống như khi ngồi trên trực thăng bay cao, ta cũng có cảm giác như vậy. Vì những cảnh ở dưới đường như không thay đổi nhanh như máy bay. Khi cất cánh xong, phi công cho trực thăng bay là là trên đầu ngọn cây để tránh hỏa tiễn của địch. Tôi thấy tốc độ của nó cũng nhanh lắm. Chẳng trách là dù địch có muốn bắn cũng không trở tay kịp.
Gần một giờ sau, tôi đã an toàn tại hậu cứ Sư Đoàn 5 ở Lai Khê. Tôi gặp Thiếu tá Diệm, ông đã được phái lên đây mấy ngày trước và cũng đang ở đó để lo việc tiếp vận cho Tiểu Khu Bình Long. Ông Diệm bảo tôi chờ ông một chút vì đang dở nói chuyện với một ông Trung tá thuộc Sư Đoàn 5. Sau đó, chúng tôi lên một xe Jeep rồi thẳng đường về Sài Gòn, rời rừng cao su nơi Tổng Hành Dinh của Sư Đoàn 5 đóng quân. Trong khoảnh khắc, tôi đã thấy hai bên đường toàn là ruộng lúa xanh tươi ngút ngàn. Trông rất vui mắt, rất thanh bình.
Thật trái ngược hẳn với những cảnh hầm hố, xe tăng, bom đạn ở mặt trận, chỉ trong một thời gian rất ngắn, tôi đã đi từ địa ngục để trở về khung cảnh bình thường của người đời. Tôi mới nhận ra một điều rất lạ là không khí sao thơm tho ngọt ngào như thế. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới được cảm nhận thấy vị ngọt của không khí. Suốt gần ba tháng trời sống trong mùi hôi hám của mấy trăm xác chết, của khói súng, của không khí tù hãm trong hầm. Ngay cả khi về tới Lai Khê nhưng ở trong vườn cao su vẫn còn khói xăng và mùi quần áo nhà binh. Chỉ khi xe ra tới ngoài đường với hai bên là đồng lúa, tôi mới cảm được vị của không khí, hương của lúa, của đồng nội và của thiên nhiên.
Thật là sảng khoái, thật là thiên đàng. Tôi hỏi ông Diệm:
– Ông có thấy không khí ngọt chưa?
Ông Diệm gật đầu, cười nói:
– Thấy chứ, tôi đang tính hỏi ông. Hít thở không khí này tỉnh cả người. Sau trận này, ông đã tính xin đổi đi đâu chưa?
– Tôi cũng chưa biết nữa. Nhưng chắc tôi xin về một bệnh viện nào đó khu Sài Gòn. Có thể là Tổng Y Viện Cộng Hòa cho gần nhà. Ông biết nhà tôi chỉ mình tôi là con trai. Mấy năm nay xa nhà rồi, bây giờ là dịp để tôi có thể được ở gần gia đình. Còn ông thì sao?
– Để xem đã. Mình đã chịu khổ nhiều rồi. Bây giờ mình có quyền lựa chọn. Tôi đợi xem chỗ nào ngon, cờ tới tay là phất liền.
Nghe ông Diệm nói, tôi nghĩ thầm: Ông này khôn thiệt! Chợt một ý nghĩ thoáng qua trong đầu, tôi liền hỏi:
– Còn ông Nhựt thì sao?
– Có thể ông ấy sẽ nắm một Sư Đoàn nào đó để mau lên Tướng. Đó là đường đi của các ông ấy.
– Ông có tính đi với ông ấy không?
– Cũng còn tùy. Như tôi đã nói với ông, nếu có chỗ ngon thì đi, không thì mình binh đường khác. Nhưng gì thì tôi chỉ ở Vùng III này thôi. Không đi đâu hết. Gia đình tôi ở Sài Gòn, các cháu đang đi học đâu vào đấy cả rồi. Nay mà dời đi xa thì lại xáo trộn tất cả, tội cho chúng nó.
Tôi chợt nhớ tới một thắc mắc từ lâu, vẫn để trong lòng chưa có dịp hỏi ai cả. Nay nhân tiện cùng ông Diệm về cùng đường, vui câu chuyện tôi liền hỏi xem ông có thể cho tôi biết được thêm gì không để giải tỏa những thắc mắc của tôi.
– Này ông, tôi có vấn đề này muốn hỏi ông thử xem ông có chia sẻ được gì không?
Thiếu tá Diệm nhìn tôi, nói:
– Ông cứ nói đi, tôi biết gì sẽ trả lời ông ngay.
– Này nhé, ông thấy trận này khá lớn phải không?
– Đúng! Sao ông?
– Quân mình cũng có tới cả sư đoàn chứ không ít, phải không?
Ông Diệm gật đầu, tôi nói tiếp:
– Tôi nghe radio, thấy họ so sánh trận này với trận Điện Biên Phủ nhưng trong thâm tâm, tôi lại thấy không có vẻ gì là ghê gớm cả. Có lẽ tại vì tôi không ở trên tuyến đầu nên không thấy những cảnh thịt nát xương rơi chăng? Hay là tại vì tôi không ở trong Bộ Chỉ Huy nên không có một cái nhìn tổng quát của trận đánh mà chỉ nhìn trên một phạm vi nhỏ hẹp nên không thấy được mức độ to lớn của trận này?
– Đúng vậy, thực ra ông chỉ nhìn được một mặt của trận này thôi. Đúng ra, ta phải nhìn trên một bình diện rộng lớn cả toàn tỉnh Bình Long. Những cuộc điều quân bố trí từ Lộc Ninh tới Chơn Thành mới thấy được sự nghiêm trọng của trận này. Ngay ở Lộc Ninh, Thiết Đoàn I rồi Trung Đoàn 48, Trung Đoàn 52 bị trận địa pháo vây khốn, bị phục kích ra sao. Nhất là ở cầu Cần Lê, quân mình bị thiệt hại ra sao. Còn khi tới An Lộc, đa số quân bao vây của địch đã bị B52 loại bỏ rồi. Như ông đã thấy đấy, cũng không có gì gay cấn lắm. Nhưng tại mặt trận đồn điền Quản Lợi, mình cũng phải trả một giá khá đắt mới giữ vững được An Lộc đấy. Thực ra còn nhiều chi tiết ghê gớm nữa trong trận đánh này. Quân Dù lên tiếp viện mình đã phải dùng những chiến thuật tốc chiến tốc thắng, phải hy sinh, phải quyết tâm như thế nào mới bắt tay được với mình. Nếu không, mình đã bị tụi nó xơi tái rồi còn đâu. Thôi, dù sao mình vẫn còn may mắn, còn được sống sót sau trận đánh kinh hoàng này là phúc đức bảy mươi đời nhà mình rồi ông ạ.
– Đúng vậy nhưng tôi thấy có một điều gì đó hơi bất công ông nhỉ. Những người đã hy sinh, đã nằm xuống, chẳng bao lâu sẽ bị lãng quên. Những người may mắn sống sót sẽ được lên chức, lên lon và được làm anh hùng.
Ông Diệm ngắt lời:
– Đời là vậy ông ạ. Thôi, cứ vui những cái mình có là được rồi. Ai có phận nấy nhờ, chẳng nên thắc mắc làm gì.
Vừa đi vừa nói chuyện, chẳng bao lâu đã tới Sài Gòn. Tài xế rẽ vào ngã ba Hàng Sanh rồi theo sự chỉ dẫn của tôi, đi theo đường Chi Lăng qua Lăng Ông, qua nhà thương Nguyễn Văn Học. Chẳng mấy chốc đã tới khu nhà tôi ở cư xá Chi Lăng, ngay ngã tư Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Xe dừng trước cổng. Tôi bấm chuông. Mẹ tôi ra mở cổng. Trông thấy tôi, mẹ tôi mừng lắm, nét mặt tươi cười rạng rỡ cả lên. Mẹ tôi thấy ông Diệm, liền mời:
– Mời ông vào nhà chơi xơi nước.
Ông Diệm cũng mong về nhà ngay nên thoái thác:
– Xin cụ cho để khi khác. Tôi vội về nhà ngay kẻo các cháu mong. Thế nào tôi và nhà tôi cũng đưa các cháu sang đây chào cụ.
Thông cảm với ông Diệm, mẹ tôi không ép:
-Vậy thôi, để ông về nhà cho sớm.
Ông Diệm lên xe, bảo tài xế vòng xe lại đi về nhà ông ở cư xá Trương Minh Giảng.
Lúc mẹ tôi vừa mở cổng ra, hai con chó của tôi, con Bi và con Lu chạy ra vẫy đuôi đón tôi. Chúng rít lên những tiếng vui mừng, tranh nhau quấn quít bên chân tôi. Bi cao hơn, nó thuộc loại giống chó Phú Quốc, có xoáy trên lưng hình thù như cái bình bông. Lông nó pha đen vàng xám giống như lông mấy con chó Béc-giê. Đôi khi tôi gọi nó là thằng Bình. Còn con chó Lukia, thấp và dài trông cục mịch, lông đen, không nhảy cao được, chỉ tới đầu gối tôi thôi. Cách đây mấy tháng trời không gặp mặt tôi, hai con chó vẫn còn nhớ, đón chào một cách nhiệt tình như thế.
Mẹ tôi giúp mang mấy đồ đạc của tôi vào nhà. Tôi đặt hai cái vỏ đạn chiến lợi phẩm của tôi ở chỗ nhà để xe. Mẹ tôi cầm giùm cây đàn guitar vào nhà. Tôi khuân thùng sách và cái túi ba lô để dưới chân cầu thang.
Tôi ngồi xuống cạnh cái bàn con trong nhà bếp. Mẹ tôi lúc này mới nhìn kỹ tôi hơn, bà nói:
– Sao con gầy thế?
– Tại ăn cơm sấy với thịt hộp không, nhưng con vẫn thấy khỏe, không sao cả. Tóc má cũng bạc đi nhiều. Các em đi làm chưa về hả má?
– Ừ, tụi nó năm giờ chiều mới về tới nhà. Thấy anh về, chắc tụi nó mừng lắm.
Mẹ tôi vừa nói vừa hỏi:
– Con có muốn uống nước chanh không?
Tôi lắc đầu, đáp:
– Cho con ly nước lạnh thôi. Con đang khát nước.
Mẹ tôi đi ra mở tủ lạnh, chợt bà vui mừng nói:
– May quá, còn bình cháo nước lạnh đây. Đang khát mà uống nước này thì đỡ khát ngay.
Vào mùa hè, mẹ tôi thường hay nấu cháo thật loãng, chắt lấy nước, pha thêm chút xíu đường cho ngon miệng rồi để tủ lạnh làm nước uống trong ngày. Tôi thích món giải khát này lắm. Tôi đỡ lấy ly nước cháo trong tay của mẹ tôi. Tôi uống từng ngụm đầy, thấy ngon ngọt vô cùng, uống tới đâu, tôi tỉnh người tới đấy. So với ly nước đá lạnh mà anh bạn Đức cho tôi uống dưới hầm Chỉ Huy thì ly nước này còn ngon và mát hơn nhiều.
Mẹ tôi ngồi nhìn tôi thưởng thức món nước cháo ướp lạnh. Nét mặt bà tươi vui, tràn đầy hạnh phúc. Người mẹ nào mà chẳng vui mừng khi thấy con mình trở về từ địa ngục. Tôi uống hết ly nước, mẹ tôi hỏi:
– Con uống thêm ly nữa nhé!
Tôi vội trả lời:
– Thưa, con đủ rồi. Ly nước cháo ngon quá nhưng không nên uống nhiều. Để từ từ đã, con sợ lâu ngày không uống, dạ dày chưa quen sẽ gây đau bụng.
– Thôi, con lên lầu tắm rửa đi. Mẹ sửa soạn làm cơm, nấu xôi cúng ông bà đã phù hộ cho con. Nhân thể cũng mừng con thoát nạn về đây được an toàn.
Trước khi đi lên lầu, tôi ra ngoài phòng khách đi xem một lượt những đồ vật quen thuộc trong nhà. Mọi thứ vẫn còn nguyên như cũ, chẳng có gì thay đổi. Phòng của tôi ở trên lầu cũng vậy. Tắm rửa xong, tôi cảm thấy buồn ngủ. Tôi vào phòng nhặt tờ báo lên coi, chưa được một phút thì mắt ríu lại. Những mệt mỏi từ mấy tháng nay, bây giờ mới thấm. Nhất là sau một thời gian di chuyển, hết trực thăng lại đi xe hơi về trên một quãng đường gần 100 cây số. Tôi đã thấm mệt và giấc ngủ đến với tôi nhanh chóng.
Tôi ngủ một mạch tới chiều. Tôi chỉ tỉnh dậy khi nghe thấy nhiều tiếng nói lao xao ở dưới nhà. Mở mắt ra. Tôi phải định thần một lúc mới nhận ra là mình đang ở nhà tại Sài Gòn chứ không phải còn ở trong hầm cứu thương ở Bình Long. Tôi nghe tiếng em Minh tôi hỏi:
– Ủa đồ đạc của ai đây má? Anh Quý về hả má?
– Ừ của anh đó, anh mới về trưa nay. Đang ngủ trên lầu.
Tiếng em Tuệ tôi nói:
– Vậy hả má. Thế là bà má mừng nhé.
Tiếng em Nguyệt tôi xen vào:
– Bộ chị Tuệ không mừng sao?
– Mừng chứ. Nhưng bà má mừng nhiều hơn. Con trai cưng của má đã về là bà yên chí rồi. Thế là bây giờ bà má hết rầu rĩ rồi nhé.
Em Tuệ tôi thường hay trêu má tôi nhất.
Rồi tiếng chân chạy nhanh lên cầu thang. Tôi đã tỉnh ngủ hẳn, đứng dậy bước ra khỏi phòng. Tiếng mẹ tôi vọng từ dưới bếp:
– Này, chúng mày để yên cho anh ngủ.
– Không sao đâu má, để cho anh dậy sửa soạn ăn cơm là vừa. – Em Tuệ tôi vừa đi vừa nói.
Tôi thấy ba bộ mặt tươi vui như Tết hiện ra đầu cầu thang. Vừa trông thấy tôi em Tuệ tôi cao giọng:
– Anh ấy khỏe như vậy mà ở nhà bà má cứ lo lắng cho anh ấy hoài.
Em Minh tôi từ tốn hơn:
– Trông anh ấy gầy đi nhiều chứ!
Nguyệt thì chỉ đứng mỉm cười thôi không nói gì. Trong nhà Nguyệt là người ít nói nhất.
Thế rồi anh em chúng tôi lại rần rần chạy xuống bếp ngồi ngay tại bàn ăn nhỏ cho tiện. Những câu hỏi lại được các em tôi thay phiên nhau đặt ra liên miên bất tận. Má tôi sau cùng phải nói:
– Thôi các con ngừng đi, dọn cơm ra ăn không có anh đói rồi.
Em Tuệ tôi nói:
– Anh biết không ở nhà má lo cho anh ghê lắm. Đêm nào tụi em cũng nghe đài BBC thấy nguy hiểm cho anh quá. Có đêm má nằm mơ thấy anh bị Việt Cộng bắt trói trong rừng cây cao su, quần áo trắng bê bết máu. Sáng ra má kể chuyện làm tụi em đứa nào đứa ấy mặt mũi buồn xo. Sau má bèn lên coi ông thầy bói mù người làng. Má vừa mở miệng ra hỏi ông về anh thì ông Mù biết ngay là anh, liền nói: Người con trai của bà, năm nay hạn nặng lắm nhưng nhờ phúc đức ông bà để lại nên tuy vậy mà cũng không sao.
Má lại hỏi về giấc mơ của má, thì ông Mù vẫn nói rằng không có đổ máu đâu. Tiền hung hậu kiết. Má nghe vậy cũng được yên lòng một tí nhưng ngày đêm vẫn lo.
Tôi vội ngắt lời hỏi:
– Thế ông Mù còn nói gì nữa không?
– Không, má chỉ cần hỏi xem anh có an toàn không mà thôi.
Tôi cười nói tiếp:
– Nếu anh là ông Mù thì sẽ đoán rộng ra là cuối năm anh sẽ được thăng cấp, được huy chương thì mới gọi là đoán mò mà hay. Vì sau những trận chiến lớn như vậy ai sống sót được đều có thưởng cả.
– Thôi để em kể tiếp cho anh nghe. Một buổi sáng bà Diệm tới nhà mình nói có mấy bà bạn biết nếu muốn liên lạc với Bình Long thì phải vào ty Bưu Điện Chợ Lớn mới có đường dây. Bà ấy rủ em đi chung vì bà ấy không biết đường. Em phải đi dò hỏi biết bao thì giờ, hẹn lên hẹn xuống, đợi cả nửa ngày mới tới phiên mình được nói chuyện với anh. Rốt cục ông anh lại ít nói quá. Nói có mấy câu rồi cúp. Chẳng hỏi được gì nhiều. Tức quá đi thôi.
Thấy em Tuệ tôi trách móc tôi cũng thông cảm, chỉ còn nước ngồi cười trừ. Tôi nói:
– Điều quan trọng nhất ở nhà muốn biết là anh có mạnh khỏe bình an không. Còn anh thì muốn biết ở nhà có sao không. Nếu mọi sự đều bình thường cả thì những chuyện lẻ tẻ khác đâu có gì đáng để nói đâu. Vả lại cần phải ngắn gọn để cho người khác khỏi phải chờ lâu.
– Đành rằng thế nhưng cũng phải nói một vài câu cho bõ công em chờ đợi, chứ cụt lủn thì chán chết.
Em Minh tôi xen vào, chuyển câu chuyện sang đề tài khác:
– Thế kỳ này anh về được bao lâu?
– Được một tuần. Sau đó chừng một tháng có người thay thế rồi sẽ xin đổi về Sài Gòn luôn.
Mẹ tôi nghe nói vậy mừng lắm. Bà vội hỏi:
– Thế con đã biết được đổi về đâu không?
– Con chưa biết. Nhưng nếu muốn gần nhà chỉ có Tổng Y Viện Cộng Hòa thôi. Nhưng ở đó thì làm việc cũng cực lắm.
– Ừ, gần nhà là được rồi. vất vả một chút cũng không sao.
Tôi cũng nghĩ vậy, cực đến mấy cũng không thể nào bằng những ngày tháng tôi làm việc trong trận chiến này. Hơn nữa về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, được coi như là một bệnh viện cấp cao nhất trong quân đội, chắc sẽ có nhiều nhân tài, có nhiều cơ hội để tôi học hỏi thêm, có cực một tí cũng không sao.
Bữa cơm gia đình đoàn tụ tuy giản dị nhưng thật vui. Tôi ăn cơm rất ngon miệng. Xong xuôi chúng tôi ra ngồi ngoài phòng khách tiếp tục nói chuyện. Hết chuyện nhà đến chuyện họ hàng. Tôi hỏi thăm tin tức của anh Cương, con trai bác Hai tôi, thì được biết anh hiện đóng ở Kontum ngành Pháo Binh. Mặt đó cũng đang có áp lực nặng của địch. Ngoài ra mọi người khác trong họ đều bình an cả. Trước khi lên phòng, tôi không quên lấy ra hai cuốn phim tôi chụp ở Bình Long đưa cho em Tuệ. Tôi nhờ gửi đi Hawaii rửa vì tôi không tin mấy quán ảnh ở Sài Gòn, sợ chưa rửa được hình màu dương bản. Các em tôi phải đi ngủ sớm để đến mai tiếp tục đi làm.
Ngày hôm sau là ngày tôi đi chào họ hàng. Tôi ra thăm bác Hai tôi, cô chú tôi, và ông anh trưởng tộc, anh Quyền, con trai bác Cả tôi, người rất vui tính, tất cả mọi người đều thích anh ấy. Chính anh là người đã dạy cho tôi chích thuốc, chích thịt, chích mạch, dùng ngay thân thể anh để làm vật thử cho tôi. Thành ra khi tôi vào học Y Khoa tôi đã có kinh nghiệm chích đủ mọi thứ rồi. Gần chiều tôi trở về nhà vì không muốn mẹ tôi ở nhà một mình, sợ bà buồn.
Ăn cơm chiều xong chúng tôi ra phòng khách coi TV. Đến tin chiến sự Bình Long. Những hình ảnh quen thuộc hiện lên. Tôi chợt chú ý khi xướng ngôn viên cho biết Tổng Thống Thiệu đang đi thăm viếng, ủy lạo các anh em chiến sĩ tử thủ ở An Lộc. Hình ảnh Tổng Thống Thiệu đứng giữa các anh chiến sĩ, đằng sau là một xe tăng của địch bị bắn hạ. Nhiều người leo lên cả xe tăng. Tổng Thống Thiệu tươi cười sau khi xuất khẩu đọc một bài diễn văn ngắn ca tụng sự chiến đấu anh dũng của toàn thể quân dân các cấp tại mặt trận Bình Long. Tổng Thống tuyên bố: Tất cả quân nhân tham chiến tại mặt trận Bình Long đều được đặc cách thăng lên một cấp. Vì có công giữ vững được Bình Long qua bao đợt tấn công của địch quân với quân số gấp ba lần, Tổng Thống tặng cho danh hiệu Bình Long Anh Dũng.
Những ngày sau tôi chỉ quanh quẩn ở nhà với mẹ tôi, không muốn đi đâu cả. Tôi biết mẹ tôi đã lo lắng cho tôi quá nhiều, nay tôi thoát hiểm về thăm nhà, tôi muốn dành nhiều thì giờ với mẹ tôi cho bà được vui. Thực ra tôi cũng chẳng thích đi chơi nếu không có gia đình cùng đi. Tôi có nhiều sách báo truyện ở nhà tôi tha hồ đọc. Tôi chẳng thấy buồn chán gì cả.
Thấm thoát đã hết một tuần phép. Đến ngày tôi trở lại Bình Long, ông Diệm cho xe tới đón tôi lên Lai Khê rồi từ đó đi trực thăng trở vào An Lộc. Tôi tới nơi vào khoảng 3 giờ chiều. Xuống máy bay tôi đã thấy có xe Hồng Thập Tự ra đón. Thì ra ông Diệm đã liên lạc với Bộ Chỉ Huy sau khi rời Lai Khê, cho biết ngày giờ tôi lên nên mọi sự mới được ăn khớp như vậy.
Bước trên từng bậc thang xuống hầm, tôi đi qua Phòng Mỗ tới phòng tôi. Vừa bước vào đã thấy anh Phúc nằm ngước mắt lên nhìn trần nhà như đang nghĩ ngợi điều gì. Tôi chắc đàn anh lại nhớ tới vợ thôi chứ chẳng có việc gì khác. Nghe thấy tiếng động, anh Phúc nhìn ra, thấy tôi anh vội nhổm dậy nói:
– Anh thật hên, ở Sài Gòn anh có nghe tin gì không?
Tôi ngơ ngác hỏi:
– Không, mà chuyện gì vậy anh?
Anh Phúc thở ra nói:
– Mới ngày hôm qua thôi, một phái đoàn cố vấn Mỹ tới thăm, vừa ra khỏi trực thăng di chuyển về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu thì bị một trái 75 ly của Việt Cộng bắn trúng làm một thông dịch viên và hai sĩ quan Mỹ chết ngay tại chỗ. Một thiếu tá Mỹ gẫy tay, còn ông Thiếu Tướng Tallman bị thương trầm trọng mang vào hầm này cấp cứu. Nhưng người Mỹ này nặng lắm. Mang được vào vào hầm rất là khó khăn, vất vả lắm mới khiêng được vào để trên bàn mổ. Nhưng vết thương nặng quá không thể làm gì được. Chỉ băng bó xong, truyền nước biển rồi có ngay trực thăng chở về Long Bình. Thật là náo loạn cả lên, khẩn trương vô cùng. Lúc đó chỉ có mình tôi lo đủ mọi thứ, nếu có anh thì đỡ cho tôi hơn. Anh hên thật, đỡ phải chịu những những cảnh giật gân khổ sở như vậy. Khi phái đoàn bị trúng đạn, nằm la liệt ở ngoài bãi đáp, họ gọi xe Hồng Thập Tự cùng bác sĩ đem đồ tới cấp cứu rồi chở những người bị thương về đây. Chỉ có mình tôi chỉ huy mấy tay y tá mà tới năm, sáu người vừa chết vừa bị thương lại còn sợ chúng pháo nữa vì ở ngay khu trống trải. Địch quân ở trên đồi gió trông xuống rõ mồn một. Thực là khủng khiếp. Tới lúc máy bay trực thăng tản thương tới, bốc hết nạn nhân đi xong tôi mới hoàn hồn, thân thể rã rời, mệt mỏi lạ lùng.
Tôi thấy tôi may mắn thực. Tôi đã không phải chịu cảnh kinh hoàng đó. Mà cũng tội cho anh Phúc phải ra tay nhận lãnh một số thương binh nhiều hơn là y tá của mình. Đồng thời anh lại không phải là bác sĩ giải phẫu cấp cứu, nên điều hợp những việc này thật ngoài tầm tay của anh. Nhất là người bị thương lại là một sĩ quan cao cấp của Mỹ.
Tôi an ủi anh:
– Rồi cũng xong, phải không anh? Định mệnh đã an bài. Khi Tổng Thống Thiệu đến đây sao êm, không một trái pháo nào vậy. Tôi thấy cũng lạ. Ông Tổng Thống hên thật. Còn ông Tướng Mỹ này thì lại xui cùng mình. Thế Đại tá Nhựt có sao không anh?
– Mạng ông ấy lớn lắm. Không hiểu sao hôm ấy ông không ra đón.Thường thường có Tướng tới thăm, ông Tỉnh Trưởng hay thân hành ra đón lắm. Nếu ông Nhựt mà ra bãi đáp là lãnh thẹo rồi. Đúng là con người có số mạng. À mà anh về kỳ này thấy có tin tức gì mới không?
– Không, tôi về cũng chỉ ở nhà thôi không đi đâu cả. Nên không biết gì hơn anh ở đây. Nhưng dù sao tôi thấy chúng mình cũng sắp sửa được đổi đi chỗ khác rồi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.