This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Một điều thật phấn chấn trong lòng tôi! Đúng 7 ngày sau khi bị cùm hai chân, hôm đó vào sáng thứ Ba, tôi đang nằm bơi lội trong nỗi sầu khổ đau vì hai cái chân mỏi nhức trong cùm, với cái đầu cứ cắn buốt từng cơn, bỗng cửa buồng xịch mở. Tên Chiến bước vào, trước bốn con mắt mở to của tôi và anh Đà, không biết có chuyện gì với người nào trong chúng tôi. Tên Chiến nhìn tôi, vẻ trịnh trọng:
– Hôm nay, lệnh Ban Giám Thị chỉ cùm anh một chân!
Tôi thấy như truyền vào cơ thể một nguồn sinh lực, vội vàng nhấc cùm và nhấc chân ra. Tôi ôm cái bô, cùng anh Đà đi vào nhà tắm. Trên đường đi, nhìn thoáng mặt tên Chiến, hôm nay tôi thấy mặt y trông thật dễ coi; hai con mắt y đăm đăm nhấp nháy nhìn tôi nhơn nhơn với cái vẻ như vừa ban ân huệ cho một người cùng khổ.
Từ nay, chỉ phải cùm một chân, tôi nằm ngồi sẽ bớt được trăm phần khó khăn. Chỉ còn cái đầu, vẫn ngày đêm hành hạ tôi, như Phật Bà Quan Âm hành ông Tề Thiên Đại Thánh ngày xưa!
Những ngày sau đó, đầu tôi càng cắn nhức, nhiều lúc như muốn điên lên. Trước kia, thỉnh thoảng một tháng, có khi đôi ba tháng, tôi mới bị nhức đầu một lần. Tôi chỉ ngậm 1 viên Aspirine, hay Aspro, tan hết viên thuốc là khỏi. Nhưng, từ sau ngày tôi thắt cổ không chết, hậu quả đến với tôi là chứng bệnh quái ác này. Tôi cứ nằm miên man,óc vẫn không ngừng nghĩ suy vơi đầy. Tôi nhìn, rồi suy ngẫm, biết bao nhiêu gian khổ từ ngày tôi bị bắt. Biết bao nhiêu lần tôi sát nách với cái chết chỉ trong tấc gang. Giòng suy tư về những chìm nổi của kiếp người, cứ chảy dài trong tâm tưởng tôi.
Từ những thực tiễn đau thuơng, tôi thấy rằng: Đời một con người chỉ là một chuỗi dài những con dấu cộng giữa những giai đoạn thuận tiện và khó khăn. Khi ở giai đoạn thuận tiện, con người hớn hở, vui tươi, nụ cười không tắt trên môi. Ngược lại, khi ở giai đoạn khó khăn, mặt mày sầu héo khóc lóc, than van, oán trời, oán đất. Vậy, sự sầu héo, đau thuơng, rên rỉ này có thể thay đổi cái công thức của một đời người trên, trở thành chỉ là những giai đoạn thuận tiện được hay không? Hỏi là trả lời. Ai cũng thấy là không thể được, trừ phi không phải là người. Như vậy, sự sầu héo, rên rỉ đó đã không giải quyết được gì, còn mang một cái hại, tùy theo mức độ.
Trước nhất, khi anh sầu héo, chán nản, anh sẽ bi quan, tiêu cực mọi mặt trong cuộc sống. Mặt mày ủ dột như thần sầu. Ngay ngồi lên nằm xuống cũng chán chường, chậm chạp, nhìn đâu cũng thấy một mầu xám úa. Suốt ngày đêm chỉ thở vắn than dài, thì trí óc còn làm sao thoải mái khôn ngoan, minh mẫn để hòng tìm ra một phương cách cải tiến từ giai đoạn khó khăn sang thuận tiện? Huống chi, đã xông vào miền bão tố, vùng lửa đạn để chiến đấu. “Ngay những ai kia, đã chiến thắng mà không từng chiến bại? Ai khoe khôn, mà đã chẳng từng bị dại, đôi ba lần?”
Tôi đã sai lầm, sai lầm trầm trọng gần hai năm nay, cứ ngày đêm rên rỉ ngụp lặn trong biển sầu. Cuối cùng, không những tôi không giải quyết được vấn đề, mà còn đa mang thêm những di hại nữa. Phải dũng cảm chấp nhận mọi thương đau trên đường đi tới:
Trên đường đi, nhiều cay đắng âm thầm,
Hãy nhận lấy để dồn vào………sâu kín!
Bằng xuơng, bắng máu, tôi mới rút ra một thực tế: Không được phép chán cuộc sống này, bao giờ cũng phải trang bị tư tưởng lạc quan tích cực cho mình. Tôi nhớ đến một câu danh ngôn của Pháp, nhưng không nhớ tên tác giả: “Quand on n’a pas ce que l’on aime; il faut aimer ce que l’on a!”(Khi mình không có cái mình thích, thì hãy thích cái mình có). Bây giờ tôi có cái gì? Ngày 2 bữa cơm ngon tuyệt vời. Mỗi bữa cơm, cứ thấp thỏm đợi chờ, mong ngóng. Rồi khi được hưởng thụ, có cái sướng vập vồ, khao khát mà khi còn ở ngoài đời, một bữa ăn sang nhất cũng không thú bằng, sướng bằng.. Bởi vì trong thực tế, hạnh phúc của cuộc đời có cái tiêu chuẩn quái náo đâu. Cho nên, người xưa đã rút ra:
“Tri túc, tiễn túc, đãi túc hà thời túc,
Tri nhàn, tiễn nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn”.
Và, tôi cũng xin làm theo cụ Nguyễn Công Trứ. Theo sách sử, mãi tới năm 42 tuổi, cụ mới thành đạt. Còn trước đó, cụ đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, gian nan, nghèo túng. Với “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”…..Trong những giai đoạn này, ngoài những giờ nhào nặn văn chương để chuẩn bị cho ngày tới, cụ phải tự tạo cho mình những cái cụ chưa có thể có, bằng cách tìm một lối thoát cho tinh thần. Nghĩa là siêu thoát, để quên cái thực tại bần hàn.
Tóm lại, nếu không có cái mình thích, hãy thích những cái mình có. Cái “có” của tôi trong cảnh này tuy cũng có, nhưng có phần hạn hẹp, tôi phải tạo nên “cái” tôi chưa có vậy. Do đó, tôi thả hồn bay khắp phương trời, tha hồ theo ý muốn; và tôi vẫn nhởn nhơ nhìn tụi cộng sản. “Mày bắt được tao, mày giam tao, cùm tao, nhưng đố tụi mày giam cùm được tư tưởng của tao đấy”
Một quan điểm nữa. Tôi nhớ đến một câu trứ danh của Madame de Maintenon: “Nếu khi nào anh bị đau khổ, bất hạnh, liều thuốc thần tuyệt vời để chữa khỏi, là anh hãy chỉ nghĩ đến những người đang khổ đau, bất hạnh hơn anh!”. (Quand vous vous trouvez malheureux, songez aux plus malheureux que vous; c’est un remède qu’est infaillible!).
Theo quan điểm của tôi, những tư tưởng thuộc loại “Hoa Thơm Cỏ Lạ” của phương Tây và Cổ Học Tinh Hoa của phương Đông đều được rút tỉa ra từ cuộc sống thực tiễn của loài người, qua nhiều thời đại. Tất nhiên, chẳng phải chúng ta chỉ áp dụng nó một cách rập khuôn, cứng ngắc. Mà phải suy lý, phân tích để thích ứng với thực tế, thời đại của chúng ta. Nghĩa là có bổ sung, hoặc sửa đổi đôi chút, nhưng tôi thấy điều này cũng chỉ hạn hữu. Điều quan trọng là ta có áp dụng nghiêm chỉnh hay không mà thôi. Thí dụ: Anh bị cùm một chân, hãy chỉ nghĩ đến người A, người B đang bị cùm hai chân, đến C cụt chân, đến D lòa đôi mắt v.v… Nếu chêm vào đấy, anh nghĩ đến hình ảnh của một người bạn anh đang ở Sài Gòn đang đèo một cô gái trên xe vespa Italy phây phây lượn lờ trên phố phường để khoe hương, khoe sắc, tất nhiên hiệu lực sẽ giảm đi.
Chỉ có một đêm mầy mò suy nghĩ, sáng hôm sau, tôi nhìn cuộc đời đã thay đổi hẳn, không cón cái mầu xám xịt, héo úa của mọi khi. Tinh thần của tôi được nâng cao rõ rệt. Nhân sinh quan của tôi thay đổi hẳn. Cũng từ đấy, tôi suy nghĩ đến cơ thể của mình. Tôi đang mang cái bệnh đau đầu quái ác này, lại không có thuốc chữa, vậy chính mình phải tự cứu lấy mình. Tôi nghĩ đến phương pháp Dưỡng Sinh (relaxation) của phương Tây, Yoga của Ấn Độ, Đề Khí Vận Công của nghiệp võ, và phương pháp Cốc Đại Phong của Trung Quốc. Tôi rút tỉa những tinh túy nhất, phù hợp với thực tế của cơ thể tôi trong điều kiện này. Tôi cũng lại nhớ đến phương pháp “Long Live” mà một tờ tuần báo Mỹ, đã có công phỏng vấn 100 cụ già nhất, ở khắp nơi trên thế giới (Tất nhiên toàn những cụ trên 100 tuổi cả), rồi đúc kết lại. Câu hỏi chính là: “Vì sao cụ sống lâu như thế?”. Tùy theo chủ quan của mỗi cụ. Các cụ trả lời từ nguyên nhân chính, đến nguyên nhân phụ. Sau đó, tôi trộn lộn tất cả, rồi tự rút ra một phương pháp tạm gọi là “A”, để áp dụng cho chính mình. Tôi cứ áp dụng, rồi lại bổ sung, hoặc sửa chữa, sao cho phải đạt được 3 điểm:
– Không mất nhiều thời gian.
– Đơn giản, có thể ở đâu và lúc nào cũng làm được.
– Hiệu quả cao nhất.
Phương pháp “A” chỉ cần từ 15 đến 20 phút mỗi ngày. Nằm thẳng cẳng. Đầu không gối gì, để chân và tay ở tư thế hoàn toàn thoải mái, hơi thở đều đều, từ tốn, mắt nhắm lại. Lúc đó, sẽ thấy một mầu, có thể là mầu xanh, vàng, hồng, đỏ v.v… Dùng ý chí chế ngự sao cho chỉ còn một mầu duy nhất, hiện ra trong óc mình. Như vậy vừa đạt được tinh thần chế ngự mạnh, lại vừa giữ được óc nghỉ ngơi, không một sự việc gì có thể xâm nhập. Những ngày đầu hơi khó khăn, để chế ngự duy nhất một mầu. Nhưng với quyết tâm, sẽ làm được, và dần dần trở thành thói quen.
Tôi cứ thực hiện như vậy một cách nghiêm chỉnh. Vì không có đồng hồ, tôi phải nhẩm đếm 300 lần bằng hơi thở, để ước định thời gian tập. Sau này thế nào không biết chứ ngay trước mắt, tập xong, mở mắt ra, tôi cảm thấy tinh thần sảng khoái, mắt sáng ra như sau khi chợp được một giấc ngủ ngon.
Còn về mặt tập thể dục. Tôi nghĩ rằng, trên đời này không có một vị thuốc nào, kể cả cao, sâm, nhung…..có thể tốt, bổ bằng thể dục, với điều kiện làm sao cho đúng. Bởi vì, qua thực tiễn cuộc sống, kết hợp với sự suy lý phân tích, ta phải thấy: Ngay cơm gạo là thứ bổ nhất để nuôi sống con người, nhưng nếu ăn quá độ thì không bội thực, cũng làm cho con người mệt mỏi, tức bụng, còn yếu, mệt hơn khi chưa ăn. Tập thể dục, hay tập võ cũng vậy, đừng thấy người ta làm sao, rồi mình cũng làm thế. Cơ thể con người tuy có nhiều cái chung, nhưng cũng có nhiều cái riêng. Về mức độ, lại hoàn toàn khác nhau. Anh A ăn 3 bát cơm, không sao, rất khỏe, nhưng, anh B ăn 3 bát cơm, sẽ khó chịu, muốn bệnh. Anh A cữ 10 lần tạ, khỏe ra, ngực, tay nở nang; anh B muốn cố gắng để cho sức khỏe bằng anh A, nên cũng tập như vậy, da tái lại, gầy đi, nhiều khi còn bị một số chứng bệnh về tim nữa.
Từ những suy luận trên, tôi tập một số động tác thể dục thích ứng với cơ thể ngồi tù một chỗ; ăn vừa không đủ no, vừa thiếu chất dinh dưỡng, lại bị cùm một, hoặc hai chân.
Một điều nữa, con người sống được là do hai yếu tố chính là thực phẩm và khí trời. Cả hai thứ đều cần thiết và gắn bó với nhau như một chất hữu cơ. Có thứ này mà thiếu thứ kia, con người cũng không sống được. Tuy vậy, về mặt nào đó, không khí cần thiết hơn. Cụ thể, nhịn ăn một vài ngày, không chết; nhưng chỉ cần thiếu không khí trong 10, 20 phút, là đời đi tong! Thế mà, không khí lại vô vàn, vô tận ngay chung quanh ta. Cộng sản chỉ có thể hành người tù về thực phẩm, về cái dạ dầy. Nhưng, về không khí, chúng đành chịu thua. Vậy, tôi phải biết lợi dụng tối đa không khí để bù lại phần nào, điều chúng muốn hành tôi về thực phẩm, và những mặt khác của sơ thể.
Tôi nhớ lại, khi tôi vào lớp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, họ đo “pi nhê”. Khi đo vòng ngực, bắt thở hết ra để đo, rồi hít vào thật đầy, đo. Hai lần đo cộng lại chia đôi. Khoảng cách, thở ra hít vào của mỗi người khác nhau. Có người thì 3, 4 hay 5 phân; cá biệt, có anh tới 8, 9 phân. Sự rộng, hẹp này, hoàn toàn không phụ thuộc vào người có ngực nở, to con hay nhỏ con. Người ta gọi khoảng cách đó là khoảng “Sống” của mỗi người. Có người to con, khoảng “Sống” lại nhỏ hơn người bé con. Như vậy, nếu việc gì làm cần sự dẻo dai, bền bỉ, lâu mệt, người có khoảng “Sống” lớn sẽ hơn người có khoảng “Sống” nhỏ. Thí dụ như chạy, hay trèo núi chẳng hạn, nhiều người to con, trông rất “văm”, thế mà chỉ một lúc là phờ râu tôm.
Ai cũng biết, phổi con người thở ra thán khí (CO2): khí dơ, có hại; và hít vào là dưỡng khí (O2). Vậy, lá phổi cũng như miếng vải trắng, muốn nhuộm được tốt nhất, phải giặt sạch chất dơ bẩn. Nghĩ như vậy, mỗi buổi sáng, tôi đứng một chân xuống đất, tập một số động tác, và bắt đầu tập thở. Trước hết, tôi thở ra, từ từ, rất dài; hết hơi rồi. Nhưng trong phổi còn thán khí nhưng đọng, chưa ra hết, tôi lại tiếp tục thở ra cho đến khi không còn thở ra được nữa. Bấy giờ, tôi mới hít vào và cố gắng hít thật nhiều cho căng lồng ngực. Để cho các tế bào phổi đủ thời gian tiếp nhận hết dưỡng khí, tôi lại ưỡn ngực, ngưng một, hai giây, rồi mới từ từ thở ra. Cứ như vậy, 10 lần thôi.
Điều quan trọng nhất là không cần tập nhiều, (vì tập nhiều thường mất nhiều thời gian nên chóng chán) nhưng phải tập thường xuyên, ngày nào cũng tập. Tất cả chỉ mất 10 hay 15 phút. Tôi thấy cơ thể mình có tiến triển theo chiều hướng tốt. Tinh thần cũng vậy. Thế là tôi nâng quyết tâm, dù thế nào, ngày nào cũng sẽ tập như vậy, như rửa mặt và ăn cơm, cho tới khi chết. Chỉ bỏ tập trong trường hợp bị ốm bịnh, không ăn được cơm.
Từ đấy, ngày nào cũng vậy, dù buồn vui, dù gặp bao nhiêu chuyện bất ngờ, căng thẳng, tôi vẫn giữ quyết tâm tập thể dục và một lần làm phương pháp “A”. Thậm chí, có điều kiện nằm không, mỗi ngày tôi làm phương pháp “A” hai lần. Một lần buổi sáng và một lần trước khi đi ngủ. Một điều lợi tôi thấy ngay là trước khi ngủ, tập xong, gối đầu lên gối, chỉ 5, 10 phút là ngủ ngay. Óc không căng thẳng như mọi khi cứ trằn trọc 2, 3 tiếng vẫn không ngủ được. Hơn nữa, tôi thấy bệnh quái ác nhức đầu của mình có vẻ giảm đi, những cơn đau đầu thưa dần.
Anh Đà ở buồng tôi chừng hơn 20 ngày… Một hôm, vào buổi chiều, tên Chiến mở cửa bảo anh ôm hết quần áo ra trại chung. Vì chân bị cùm, tôi không thể giúp đỡ dọn với anh, đành rằng trong tù chả có quái gì nhiều, nhưng nó cũng là một hành động tình cảm khi anh đi, và có nhiều hy vọng là…..không bao giờ thấy và gặp lại nhau nữa. Do đó, tôi chỉ ngồi nhìn anh gấp chăn màn, bằng ánh mắt tiễn chào lưu luyến.
Trước mặt tên Chiến, anh cầm một gói thuốc lào, cái điếu, và một bao diêm đưa cho tôi:
– Anh giữ cái điếu này lại mà hút, tôi được ra trại chung!
Tôi xúc động trước tấm lòng của anh, dù vậy, tôi vẫn nói:
– Anh mang điếu đi theo để hút, vì đó cũng là kỷ niệm của anh!
Anh cười, giọng phớt đời:
– Ồ, ngoài trại chung thiếu gì. Anh em đông, nhiều người có.
Tên Chiến thò cổ vào quát:
– Mau lên, dềnh dàng mãi!
Anh ôm bọc chăn màn ra còn ngoái cổ lại:
– Anh ở lại khỏe!
Cửa đóng rồi, tôi vẫn còn mân mê cái điếu, suy nghĩ mãi về ân tình của một người cùng khổ, tặng cho một người khốn cùng khác.
Tôi lại trở về tình trạng ở một mình. Tên Chiến có lẽ hàng ngày quan sát thái độ của tôi, thấy tôi năng nổ lạc quan, không còn ủ rủ lầm lì, đến độ con ruồi đậu vào mũi cũng không buồn đuổi. Tất nhiên, y đã có báo cáo với cấp trên, và chúng thấy chẳng cần người ở với tôi, kẻo sợ tôi lại tự tử nữa. Ngay chính ánh mắt của y bây giờ, tôi nhìn hàng ngày cũng dường như có chút thiện cảm, không lạnh lùng, ác cảm như trước. Trong những lần ra đổ bô, lấy cơm, trả bát, nhiều lúc bắt gặp ánh mắt của y nhìn tôi với vẻ tò mò. Tôi hơi băn khoăn, không hiểu y có ý định gì đối với tôi, trong khi bản chất của y là một kẻ phớt đời, nói ít mà làm mạnh. Buồng nào tỏ ra ngang bướng, y trị đến nơi. Y nghiêm như vậy nên xà lim rất im lặng. Thỉnh thoảng cũng có vụ tuyệt thực, của một buồng nào đó, y mở cửa, thấy không ra lấy cơm, y chỉ hỏi vì sao không ăn, Tùy theo cách trả lời, nếu người tù tỏ ra không muốn ăn để chết, v.v… Y đóng cửa và nói rằng:
– Tôi sẽ không mở cửa buồng anh nữa. Khi nào anh cần ăn, báo cáo tôi!
Và, y đã làm như lời nói, không nom, nhìn gì đến nữa. Y vẫn thường nói to với những buồng nào tuyệt thực:
– Anh nào muốn chết, cho chết luôn!
Y rất ghét thái độ hèn nhát, hoặc nịnh bợ, trong khi hầu như đa số các tên cán bộ khác lại rất thích.
Ngày 12 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bước vào nhà chứa máy bay với râu tóc bờm xờm. Trong suốt thời gian ở Mogadishu, tôi không cắt tóc lần nào. Tại nhà chứa máy bay, mọi người tỏ ra rất vui mừng khi gặp lại chúng tôi. Họ biết chúng tôi đã có mười lăm ngày sống trong lòng địch và họ đã nghe một số điều về những việc chúng tôi thực hiện ở đó. Một số lính biệt kích Ranger chạy đến chỗ chúng tôi và nói: “Rất cám ơn các anh đã sát cánh bên chúng tôi khi chúng tôi bị mai phục”. Những người khác đều muốn hỏi: “Các anh đã thực hiện sứ mệnh gì vậy?”
Chúng tôi sống chung với lực lượng Delta, đội Điều hành Tác chiến CTT và lực lượng Giải cứu Bán chuyên nghiệp PJ. Đội CCT là lực lượng dò đường trong các chiến dịch đặc biệt của Không quân. Họ có thể nhảy dù xuống một khu vực bất kỳ và thực hiện trinh sát thực địa, điều hành bay, bắn chi viện và chỉ huy, kiểm soát và liên lạc trên mặt đất. Họ đặc biệt hữu dụng với chúng tôi khi gọi chi viện từ trên cao. SIGINT đã thu nhận khá nhiều người trong đội này. Lực lượng PJ của Không quân cũng tham gia các chiến dịch đặc biệt. Nhiệm vụ chủ chốt của đội này là giải cứu các phi công bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương và tiến hành sơ cứu thương trị bệnh. Cả Delta và Đội đặc nhiệm SEAL số 6 đều được bổ sung thêm lực lượng của CCT và PJ. Một chiếc tàu của Đội đặc nhiệm SEAL số 6 gồm tám thành viên có nhiệm vụ tấn công một tòa nhà được bổ sung thêm một PJ làm nhiệm vụ trị thương. Tương tự, đội cũng được bổ sung một CCT mang một chiếc radio trên lưng và làm nhiệm vụ gọi Không quân trợ giúp. Mặc dù, họ không giỏi việc đột nhập bằng SEAL hay Delta, nhưng là những tay chuyên nghiệp trong lĩnh vực của mình – hơn rất nhiều so với SEAL hay Delta. Việc bổ sung họ vào lực lượng SEAL và Delta là sáng kiến tuyệt nhất từ trước tới nay của JSOC. Do trình độ tác chiến của họ không thể so được với SEAL, đặc biệt là khả năng cận chiến trong thành phố nên chúng tôi làm quân xanh để huấn luyện họ. Trong khóa huấn luyện, một PJ và một CCT đã vượt qua kỳ sát hạch. Sau đó, họ lại xoay vòng sang huấn luyện ở Delta. Trong thời gian ở cùng với các đơn vị của Không quân, họ cứ thế xoay vòng tập luyện cùng Đội đặc nhiệm SEAL số 6 và lực lượng Delta. Tại nhà chứa máy bay, bốn chúng tôi hay cùng với CCT và PJ lang thang ra ngoài chơi vì chúng tôi đã biết họ khi cùng huấn luyện tại Dam Neck, Virginia. Giống như lực lượng Delta, họ thường để râu tóc gọn gàng để trông giống lực lượng biệt kích Ranger. Tuy nhiên, nước da xanh nhờ trên đầu đã làm họ lộ tẩy hết.
Đội chúng tôi có một cậu tên Jeff. Cậu ta khá điển trai và có sức hấp dẫn mạnh đối với Casanova. Thậm chí, thỉnh thoảng họ còn ra ngoài chơi cùng nhau. Một CCT khác tên là Dan Schilling. Cậu này ba mươi tuổi, tính tình cởi mở và sống ở Nam California. Dan rời bỏ lực lượng dự bị của Lục quân để gia nhập CCT. Ở giữa nhà chứa máy bay, chúng tôi thường chơi bài trên một chiếc bàn gấp dùng để lập kế hoạch. Dan vẫn hay mời tôi xì gà. Cậu ta rất thích hút loại xì gà Hoàng gia Jamaica Maduros.
Tim Wilkinson bỏ công việc kỹ sư điện để gia nhập PJ. Còn Scotty là chỉ huy của đội PJ.
Gần chiếc bàn lập kế hoạch của lực lượng Không quân, CCT và PJ để một con búp bê, tên là Gina Nữ thần Tình yêu, là món quà sinh nhật cho một lính không quân của vợ Dan Schilling và bạn gái của Jeff. Trên cổ búp bê vẫn còn dính miếng giấy báo giá. Sau một chuyến thăm của các Nghị sỹ, Gina bỗng dưng biến mất. Điều này thật là nực cười!
Lực lượng biệt kích Ranger đông đảo hơn cả, nhưng họ vẫn rất thận trọng về đường phân giới ảo. Đường phân giới này giống như một bức tường phân cách khu vực của chúng tôi với lực lượng biệt kích Ranger. Có lẽ do họ tôn trọng tính chất công việc bí mật của chúng tôi hoặc tiếng tăm của chúng tôi. Tuy nhiên, cho dù là vì nguyên nhân gì đi chăng nữa, họ đã tạo cho chúng tôi một không gian riêng. Nhiều gã trong lực lượng Delta luôn có quan điểm Nếu không phải người của Delta, chẳng có việc gì phải giao thiệp cả. Có lẽ một số người trong Đội đặc nhiệm số 6 cũng có quan điểm như vậy, nhưng ở đây chúng tôi chỉ có bốn người. Nếu cả bốn chúng tôi đều thuộc Đội Anh cả Đỏ thì có thể chúng tôi còn kiêu ngạo hơn. Chỉ có bốn lính SEAL ở châu Phi nên chúng tôi buộc phải đi chơi cùng với ai đó.
Khi ở trong khu nhà chứa máy bay, chúng tôi mặc áo phông, quần soóc và đi dép tông. Khi mặc quân phục, chúng tôi không đeo biển tên hay đeo cầu vai quân hàm. Với chúng tôi, cấp hàm không có nhiều ý nghĩa như đối với lực lượng biệt kích Ranger và sĩ quan thông thường. Trong các đội đặc nhiệm của SEAL, chúng tôi thường noi gương chỉ huy của mình bởi danh tiếng của họ hoặc một số kỹ năng đặc biệt họ sở hữu. Không giống các sĩ quan thông thường, lính đặc nhiệm của SEAL thường gọi các sĩ quan của họ bằng tên thật hoặc biệt hiệu. Chúng tôi cũng không tuân thủ cấp trên một cách vô thức như những con rô bốt. Đơn giản là bởi chỉ huy cấp trên ở SEAL không đồng nghĩa là anh lãnh đạo tất cả − ngoại trừ về mặt văn bản giấy tờ. Trong thực tế, chúng tôi phải lựa chọn vũ khí và chiến thuật cho phù hợp với mỗi môi trường và tình huống cụ thể.
Lúc 9 giờ tối, chúng tôi bị pháo kích. Giờ đây, pháo kích vào chỗ chúng tôi là chuyện xảy ra như cơm bữa. Một số nghĩ ra trò chơi cá cược. Mỗi người sẽ đặt cược một thời điểm bất kỳ dự đoán xảy
ra cuộc pháo kích với giá đặt cược là 1 đô-la. Ai dự đoán đúng thời điểm xảy ra cuộc pháo kích, người đó sẽ thắng. Chẳng có ai đưa tin về hành tung của Aidid cả.
Hôm sau, ngày 13 tháng Chín năm 1993, mặc dù là sĩ quan cao cấp của SEAL, nhưng Sourpuss không làm gì và chẳng chỉ đạo gì cả. Anh ta ngồi viết thư cho vợ. Gã Mập lùn kiểm tra cách thức gọi trực thăng của lực lượng QRF khi cần hỗ trợ. Chúng tôi cũng được phép ra ngoài tuần tra cùng với lính biệt kích Ranger khi không có việc gì để làm.
Một đoàn xe Pakistan đến tiếp tế. Theo lệnh của Tướng Garrison, Casanova và tôi lên máy bay đi cùng với Steve (một tay súng bắn tỉa của Delta thường xuyên làm việc với tình báo quân sự), Tư lệnh Assad và binh lính Pakistan dưới quyền chỉ huy của Assad. Chúng tôi lái xe qua thị trấn về phía tây bắc, gần Sân vận động Pakistan. Ở đây, quân Pakistan canh phòng rất chặt chẽ. Nơi họ ở rất gọn gàng và sạch sẽ. Họ không tùy tiện như binh lính Italia, những kẻ đang muốn làm chúng tôi suy yếu.
Suốt đêm hôm đó, quân của Aidid nổ súng bắn vào một chiếc trực thăng của chúng tôi và chúng sử
dụng Trường Đại học Quốc gia Somali bỏ hoang làm nơi ẩn náu. Casanova và tôi trèo lên đỉnh của một chiếc tháp sáu tầng. Từ vị trí đó, chúng tôi có thể nhìn thấy nhà của Osman Ali Atto – chuyên gia tài chính và là quân sư đắc lực của Aidid. Atto sử dụng số tiền thu được từ buôn bán ma túy (chủ yếu là lá cây Khat), cướp bóc và bắt cóc tống tiền để mua vũ khí và tài trợ cho quân của Aidid. Bên cạnh nhà Atto là một gara sửa xe ô tô. Gara này là một tòa nhà đồ sộ, được xây bê tông kiên cố và không đổ mái. Trong gara, các thợ cơ khí đang sửa chữa xe ô tô, xe ủi và đang lắp súng máy cỡ nòng .50 caliber được đặt trên giá đỡ ba chân vào thùng chiếc xe bán tải. Đây chính là gara ô tô Aidid dùng để tổ chức buổi họp khích lệ tinh thần binh lính hôm chúng tôi còn ở Pasha. Nếu bắt được Atto, chúng tôi sẽ cắt được nguồn viện trợ tài chính cho quân Aidid. Atto chính là kẻ nắm giữ hầu bao và điều tiết cuộc chiến. Không có gì quan trọng diễn ra ở nhà Atto, ngoại trừ bóng điện ngoài hiên nhấp nháy theo chu kỳ ba lần một. Có lẽ đây là một dạng ám hiệu, nhưng chúng tôi không thấy bất cứ hoạt động nào trong nhà. Việc bắt Atto chỉ là vấn đề thời gian.
Ngày 14 tháng Chín năm 1993, chúng tôi tiếp tục quan sát gara ô tô của Atto. Mọi người tấp nập ra vào. Có ba thợ cơ khí đang sửa xe. Casanova và tôi phát hiện một người nhìn giống Atto, đang nở một nụ cười lớn khoe hàm răng trắng bóng.
Chúng tôi chụp lại hình, sau đó truyền dữ liệu qua đường truyền mật cho các sĩ quan tình báo để họ nhận xem người trong ảnh có phải là Atto không. Chúng tôi đã mất dấu khi hắn rời gara và lái xe đi.Cùng ngày, một biệt kích của Ranger nghĩ là đã phát hiện ra Aidid trong một đoàn xe. Lực lượng Delta đột kích vào tòa nhà và khi đó mới phát hiện ra người bị bắt giữ là Tướng Ahmed Jilao chứ không phải là Aidid, mặc dù Jilao cao to và trắng trẻo hơn Aidid và là đồng minh thân cận của Liên Hợp Quốc. Aidid trở nên giống như minh tinh Elvis Presley, người ta thấy hắn ở mọi nơi nhưng thực tế lại chẳng phải là hắn.
Vào ban đêm, khu ở của lính Pakistan bị pháo kích từ những bụi cây và các tòa nhà gần đó dội vào. Tư lệnh Assad nói: “Chúng tôi sẽ tiếp tục bị pháo kích. Các anh có thể giúp chúng tôi chứ?”.
“Chúng tôi có thể phát hiện ra chúng bằng kính hồng ngoại và bắn pháo sáng vào chúng và các tay súng của ông có thể nhả đạn vào khu vực đó”. (Pháo sáng là loại đạn phốt-pho chiếu sáng mặt đất bằng sức nóng).
Chúa đã phù hộ nhóm du kích vì đêm hôm đó, chúng không bắn thêm lần nào nữa.
Hai ngày sau đó, ngày 16 tháng Chín năm 1993, 3 phụ nữ vào nhà Atto và chỉ có hai người trở ra. Một người đàn ông cũng bước vào. Một cuộc họp khác nữa đang diễn ra, có cả Atto. Dường như hắn
phụ trách, hướng dẫn mọi người thực thi kế hoạch.
Casanova rời khỏi tháp ở khu của lính Pakistan và di chuyển gần hơn tới bức tường còn sót lại đối diện với nhà Atto. Casanova nhận thấy mọi người bước vào ngôi nhà gần gara ô tô chứ không phải vào thẳng nhà Atto. Chúng tôi gọi trực thăng của lực lượng QRF đến pháo kích, ba quả pháo nổ nhưng chẳng quả nào nổ gần nơi đó cả.
Sau đó, chúng tôi trở lại nhà chứa máy bay ở khu quân sự. Tại đây, chúng tôi báo cáo vắn tắt tình hình cho một Đại úy của Delta.Trong báo cáo, tôi nói: “Đi tuần tra cùng biệt kích Ranger chẳng có vấn đề gì, nhưng chúng tôi muốn đi một mình. Chúng tôi sẽ biết phải xử trí ra sao khi bị tập kích, nhưng lại không biết lính biệt kích Ranger sẽ xử trí như thế nào trong tình huống đó”.
Viên Đại úy chấp thuận lời đề nghị.
“Ngoài ra, chúng tôi còn đề nghị thực hiện các chuyến bay do thám Mogadishu cùng với lực lượng
QRF.” “OK.” Casanova và tôi đến trụ sở của CIA và chia sẻ tin tức tình báo về hành tung của Atto với họ.
Đây là lần đầu tiên Casanova và tôi đi chung máy bay cùng lực lượng QRF. Chúng tôi nhận thấy quy định tham chiến của họ khác với chúng tôi. Họ được phép cho đạn vào hộp tiếp đạn nhưng lại không được phép lên đạn khi đối phương chưa bắn họ. Còn với chúng tôi, súng luôn lên đạn sẵn nên chúng tôi chỉ việc mở chốt an toàn và nhả đạn. Ở vùng chiến, quy định này của lực lượng QRF thật là nực cười.
Một hôm, Casanova và tôi lên một chiếc Humvee cùng với lực lượng QRF. Tôi ra lệnh: “Khóa chốt an toàn và lên đạn”. Các binh sĩ QRF ngỡ ngàng nhìn tôi. “Cái gì?”. Trời tối dần, đường phố và nhà cửa đã lên đèn. Súng của tất cả chúng tôi đều được khóa chốt an toàn và lên đạn sẵn. Casanova và tôi phải chịu trách nhiệm hoàn toàn nếu xảy ra thiệt hại cho đồng đội.
Lần tiếp theo, một số biệt kích Ranger. Casanova và tôi lại lái xe Humvee đến khu ở của QRF. Số binh lính từng đi cùng với Casanova và tôi trước đó vội vã phóng xe theo chúng tôi và vẫn nhớ mệnh lệnh đầu tiên của chúng tôi “khóa chốt an toàn và lên đạn”.
Sau đó, nhiều binh sĩ có cơ hội đi cùng chúng tôi. Họ thường đứng thành hàng để đợi chiếc Humvee do Casanova và tôi lái. Chúng tôi cười hạnh phúc khi thấy họ tranh nhau để được đi cùng chúng tôi.
Lúc 12 giờ đêm, chúng tôi lên trực thăng với QRF. Hai chúng tôi ngồi một bên cửa máy bay.
“Khóa chốt an toàn và lên đạn”.
Hai tay súng bắn tỉa của QRF ngồi ở bên cửa còn lại. Súng của họ cũng “khóa chốt an toàn và lên đạn”.
Tổ bay của chúng tôi thường chờ đợi cho đến khi bị bắn trước thì mới bắn trả, nhưng họ chỉ mang theo vũ khí hạng nhẹ và hai khẩu RPG buổi đêm hôm trước. “Hãy bắn bất cứ kẻ nào bạn cảm thấy bị đe dọa”. Nếu ai hướng súng nhắm vào chúng ta hoặc ở tư thế sẵn sàng tấn công chúng ta hay đứng ở vị trí bắn thì chúng ta có thể nhả đạn vào chúng.
Mặc dù ban ngày nhiệt độ ở Mogadishu trung bình cao hơn 31°C, nhưng đến đêm xuống còn 15°C. Trong quá trình bay do thám ở Mogadishu phát hiện ra nhiều đống lửa được đốt ở các tầng trên của các tòa nhà bỏ hoang. Tôi hiểu những người tị nạn ngồi quanh các đống lửa này để sưởi ấm.Hai người Somali dưới đất chĩa súng vào chúng tôi. Casanova giương khẩu CAR-15 nhắm vào họ. Anh siết cò hạ gục một tên. Tên còn lại bỏ chạy giữa các tòa nhà. Viên phi công không thể giúp chúng tôi tiếp cận được hắn.
Cũng đêm hôm đó, đặc nhiệm Delta dùng khẩu CAR-15 bắn ba phát vào ngực một thủ hạ của Aidid.
Thật không may, một đặc nhiệm khác của Delta phải cuốn gói về nước. Viên đặc nhiệm này thuộc biên chế của một trong những đơn vị chiến đấu tinh nhuệ nhất trên thế giới. Anh ta đã vô tình nhả đạn vào nhà chứa máy bay. Có thể hành động này đã cướp đi sinh mạng của một ai đó. Tôi vẫn nhớ như in nét mặt của viên đặc nhiệm sau hành động đó – anh ta biết điều gì sẽ đến với mình. Tướng Garrison và những người khác rất giận dữ. Mặc dù viên đặc nhiệm được huấn luyện để chiến đấu, nhưng giờ đâylại phải đóng gói súng ống và quay trở về Mỹ. Hồ sơ quân nhân của anh ta cũng sẽ bị ảnh hưởng. Chúng tôi có thể chịu đựng được nỗi đau thể xác và sự khổ cực, nhưng bị loại bỏ khỏi hàng ngũ là sự trừng phạt nặng nề nhất. Điều này mãi sau này tôi mới hiểu.
Ngày hôm sau, 17 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi trèo lên đỉnh tháp ở khu trại của binh lính
Pakistan để thay ca cho Gã Mập lùn và Sourpuss vì họ đã ở đó theo dõi gara ô tô của Atto ba giờ rồi.
Một mật vụ của CIA đi vào trong gara ô tô và xác minh xem người trong đó có phải là Atto hay không trước khi chúng tôi đột kích đa lực lượng. Đột kích đa lực lượng ít nhất cũng có một trăm người tham gia, bao gồm một xe Humvee, một vài trực thăng Little Bird chở lính bắn tỉa Delta và một vài trực thăng Black Hawk chở biệt kích Ranger và đặc nhiệm Delta. Khi nhận được tín hiệu: viên mật thám đi vào giữa gara, dùng tay phải bỏ chiếc mũ màu vàng đỏ xuống và đi vòng quanh khu vực Casanova và tôi sẽ phát tín hiệu tấn công. Đây quả là trách nhiệm to lớn với hai chúng tôi.
Chúng tôi phát hiện ra Atto sẽ có cuộc họp trong gara ô tô vào 7 giờ 30 phút hôm sau. Lực lượng
HUMINT quả là tuyệt vời khi cho chúng tôi biết chính xác thời gian và địa điểm cuộc họp. Thật buồn là trước đây, chúng tôi không có được những tin tình báo giá trị như thế khi theo dõi Aidid.
Lực lượng Delta đã từng dùng radio phát lệnh cuộc tấn công bắt Aidid, nhưng lại bị nhầm. Tối hôm đó, Casanova ở lại tháp, còn tôi nấp bên bờ rào tại khu ở của lính Pakistan và nhìn qua bức tường bên cạnh trại trẻ mồ côi để tiện quan sát. Từ lúc nhá nhem tối tới tận đêm, có quá nhiều hoạt động diễn ra nơi đây. Sau đó, nguồn tin của HUMINT cho biết một trong số các tay lái xe người Somali đã bí mật sử dụng thùng xe để vận chuyển vũ khí và đạn dược, kể cả đạn pháo. Xe này treo cờ của trại trẻ mồ côi phía trên và do đó dễ dàng qua được các trạm kiểm soát. Tôi không nghĩ rằng người ở trại trẻ mồ côi biết tài xế sử dụng xe vào mục đích này, nhưng nó giúp chúng tôi trả lời được câu hỏi về cách thức vận chuyển vũ khí, trang bị của Aidid.
Ngay từ lúc 6 giờ sáng, ngày 18 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bắt đầu theo dõi gara ô tô của Atto từ trên đỉnh tháp. Lúc 8 giờ kém 15, viên mật vụ của CIA, để ria mép, đầu đội mũ vàng đỏ, mặc áo phông xanh và váy macawi kẻ sọc xanh trắng, xuất hiện tại gara ô tô. Anh ta sẽ kiếm được 5.000 đô-la nếu thành công. Sau 25 phút, anh ta vẫn chưa ra ám hiệu thống nhất từ trước. Rồi Atto cũng đến. Đi cùng với y là các vệ sỹ và một người đàn ông đứng tuổi. Chúng tôi chỉnh radio nhưng vẫn đợi tín hiệu từ viên mật vụ trước khi phát lệnh tấn công.
Thay vì đưa ra tín hiệu như đã hiệp đồng, viên mật thám hành động rất sơ xuất. Anh ta dang tay sang một bên, vòng tay lên đầu cầm lấy vành mũ, giơ chiếc mũ lên cao, rồi vòng tay theo đường vòng cung hạ mũ xuống bên hông. Nếu là một vệ sỹ của Atto, hẳn tôi đã bắn chết tên ngốc này ngay lập tức. Tôi hoàn toàn nghĩ rằng viên mật vụ này sẽ bị sát hại ngay trước mắt mình, nhưng thật may chẳng ai để ý hành động thái quá đó.
Casanova và tôi phát lệnh đột kích đa lực lượng. Lực lượng QRF ngay lập tức có mặt. Những chiếc trực thăng Little Bird và Black Hawk bay rợp trời. Ngay tức khắc, các đặc nhiệm Delta tụt dây xuống đổ bộ vào phía trong gara ô tô, còn các biệt kích Ranger đổ bộ phía ngoài bao vây gara ô tô và các trực thăng Little Bird chở các tay súng bắn tỉa của Delta bay lượn bên trên để bắn chi viện. Người của Atto chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Lực lượng bán vũ trang xuất hiện ở ngôi nhà kế bên, nhắm bắn trực thăng. Các phóng viên cũng xuất hiện và ngay lập tức tay súng bắn tỉa Dan Busch ném bom phát sáng để các phóng viên sợ hãi tháo lui khỏi vùng chết. Sau này, nhóm phóng viên hồi tưởng lại rằng rất nhiều lựu đạn đã được ném về phía họ. Đúng là những tên ngốc vô ơn. Nếu là lựu đạn thì chúng đã bị giết chết hết rồi. Sau này, chính Dan nói cho tôi biết có điện thoại gọi sang từ Lầu Năm Góc và anh đã phải giải thích cho cấp trên hiểu là anh không ném lựu đạn sát thương vào đám phóng viên.
Sau khi bò qua bức tường và ra ngoài rìa của chiếc tháp sáu tầng, tôi nằm sấp xuống. Khẩu CAR-
15 của tôi có viên trong hộp tiếp đạn và một viên đã lên nòng. Casanova đảm trách nửa trái gara ô tô,
còn tôi nửa phải. Qua kính ngắm, tôi phát hiện một tên trong lực lượng bán vũ trang của Aidid cách chỗ tôi nằm chừng 500m đang nhắm bắn trực thăng từ cửa sổ. Tôi siết cò bắn trúng ngực. Hắn ngã ngửa ra phía sau và vĩnh viễn nằm đó.
Một tên khác cầm AK-47 vọt ra từ cửa thoát hiểm bên hông tòa nhà, cách chừng 300 m, giương súng nhắm bắn đặc nhiệm Delta đang tấn công gara. Tôi bắn hắn ta từ phía trái và viên đạn xuyên qua người. Hắn đổ vật xuống cầu thang mà vĩnh viễn không hiểu cái gì đã giết chết mình.
Cách chỗ tôi nằm khoảng 800 m, một gã vác vai khẩu RPG, chuẩn bị phóng bắn trực thăng. Mỗi lần chỉnh thước ngắm ở khoảng cách khác nhau tốn khá nhiều thời gian. Do vậy, tôi lấy thước ngắm ở tầm bắn 900 m, rồi tôi tự tính toán khoảngcách dựa theo tầm bắn đó. Lấy điểm chuẩn là ức của tên đang cầm khẩu RPG, tôi siết cò. Viên đạn trúng ngay dưới mũi hắn. Mọi người thường cho rằng khi dính đạn, nạn nhân sẽ ngã ra sau, nhưng thật ra phải ở hướng ngược lại mới đúng. Viên đạn xuyên qua ở tốc độ cao nên kéo hắn ngã về phía trước, đập mặt xuống đất. Tên này đã kéo cò khẩu RPG khi đang ngã và viên đạn găm ngay xuống mặt đường phát ra tiếng nổ Bùm!
Ngồi trên trực thăng, các tay súng bắn tỉa của Delta nhìn thấy phát bắn của tôi. Vài phút sau, một chiếc trực thăng bay ngay sát nóc tháp. Các tay súng bắn tỉa hét lên và giơ ngón tay cái lên chúc mừng tôi. “Đồ chết tiệt”. Thật may là cả Casanova và tôi đều ở tư thế nằm sấp, nếu không gió từ cánh quạt có thể hất phăng chúng tôi khỏi chiếc tháp. Delta bắt được 15 tù binh, nhưng các biệt kích Ranger ở trong các xe Humvee không kịp đến để bao vây vòng ngoài. Atto đã đổi trang phục cho một thủ hạ và chạy trốn theo lối cửa sau của gara. Hắn đã tẩu thoát.
Rạng sáng ngày 19 tháng Chín năm 1993, tôi nhìn thấy lực lượng QRF đang đột kích vào những ngôi nhà cách chỗ chúng tôi đứng khoảng 500m. Lực lượng QRF chỉ mang theo một số khẩu súng cá nhân và súng RPG. Lực lượng bán vũ trang của Aidid đã bắn nhầm vào đoàn xe buổi sáng hôm đó. Từ trên tháp, qua kính ngắm đêm, tôi nhìn rõ quân địch. Tôi nhấc bộ đàm và hướng dẫn trực thăng đến bắn vào quân của Aidid. Trực thăng của QRF nã đạn .50 caliber và 40 li xuống như mưa, trong khi lực lượng QRF trên mặt đất tấn công dữ dội như thể trời long đất lở. Một số tên cố chạy thoát nhưng cuối cùng đều bị giết chết dưới họng súng của Casanova và tôi.
Chúng tôi đã sử dụng tháp này rất hiệu quả, nhưng người của Aidid cũng hiểu ra vấn đề. Một người phụ nữ dừng lại và ngước mắt nhìn chúng tôi. Sau đó bà đưa tay lên cứa cổ hàm ý muốn cắt cổ cả hai. Chúng tôi hiểu rằng vị trí ẩn nấp này đã bị lộ và nhận được lệnh tạm rời tháp một vài ngày. Chúng tôi rời khu ở của binh lính Pakistan lúc 5 giờ chiều và có mặt ở nhà chứa máy bay vào 5 rưỡi. Gần chục tay súng bắn tỉa Delta đón chúng tôi ở cửa trước, giơ hai tay lên cao và đập vào tay chúng tôi chúc mừng chiến thắng. “Wasdin, anh cừ quá!” Một người trong số họ nhìn chằm chằm vào các tay súng bắn tỉa Delta khác. “Nếu phải lựa chọn ai đó, nhất định tôi sẽ chọn Wasdin!”
Sau đó, Casanova và tôi sử dụng tia laze để đo khoảng cách thực từ chỗ tôi nằm bắn đến chỗ tên bị tôi bắn trúng đầu hôm đó, tổng là 846m. Đây là phát bắn chính xác nhất trong đời binh nghiệp của tôi. Từ sau lần đó, quan hệ của tôi với nhóm Delta được cải thiện rõ rệt. Nhưng có một điều tôi không bao giờ nói với họ là tôi thực sự đã ngắm bắn vào ngực gã đó.
Lúc 2 rưỡi sáng, ngày 20 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bay cùng QRF đến tận 6 giờ kém 15. Trong chuyến bay, chúng tôi phát hiện thấy một người đàn ông đang dựng một máy phát sóng di động. Chúng tôi nghĩ, mình đã tìm ra được vị trí đài phát thanh của Aidid ở Mogadishu. Chúng thường sử dụng đài này để truyền đạt mệnh lệnh, phương thức pháo kích và tuyên truyền: Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ muốn chiếm Somali, đốt Kinh Koran và giết hại trẻ sơ sinh. Ngay cả khi quân của Aidid bị tổn hại và thất bại, đài phát thanh này vẫn rêu rao là đã giành thắng lợi nhằm tiếp tục khích lệ người dân gia nhập hàng ngũ của Aidid. Casanova và tôi không được phép bắn gã đang dựng cột phát sóng này, nhưng chúng tôi cũng kịp đánh dấu vị trí có thể là nơi đặt trạm phát sóng của đài phát thanh.
Lực lượng của QRF hỏi liệu chúng tôi có thể bay với họ tất cả các tuần được không. Họ đã rất nỗ lực trong thời gian qua bởi muốn trở nên giỏi như các tay súng bắn tỉa của SEAL.
Cuối ngày hôm đó, Kền Kền liên hệ với chúng tôi. Một viên mật vụ của anh ta báo cáo Atto sẽ ở nhà riêng vì có một cuộc họp diễn ra tại đó. Chỉ có bốn chúng tôi mới là những đặc nhiệm có thể xác minh được Atto vì chúng tôi thường xuyên nhìn thấy hắn. Kền Kền muốn một đặc nhiệm SEAL và một vài đặc nhiệm Delta đi cùng. Chúng tôi quyết định để Casanova đi, nhưng thật tiếc nhiệm vụ bị hủy bỏ.
Chuyến bay của chúng tôi cùng lực lượng QRF cũng bị hủy bỏ. Mặc dù chúng tôi đã lên xe Humvee sẵn sàng đột kích vào nhà Atto, nhưng rồi lại cũng hủy bỏ. Lần nào cũng chuẩn bị, hủy bỏ, rồi lại chuẩn bị. Chẳng biết bao giờ mới hết tình cảnh này. Sự việc này đúng là mệt mỏi nhưng không làm mất đi động lực của tôi. Cho dù là thách thức gì đi chăng nữa, tôi luôn biết mình đã chọn công việc này và phải tiếp tục cố gắng. Tại Trung tâm Huấn luyện Tác chiến Đặc biệt dành cho các đặc nhiệm của SEAL tại California, huấn luyện viên Stoneclam từng nói với chúng tôi, “Tôi phải nghiêm khắc với tất cả học viên, thậm chí cả về lý trí”. SEAL nổi danh là tinh gọn so với cả bộ máy quân sự quy mô lớn
và cồng kềnh. Điều này đòi hỏi chúng tôi phải kiên nhẫn. Tôi và tất cả đồng đội đều có chung suy nghĩ này. Chúng tôi học được cách kiểm soát cảm giác để khỏi rơi vào tình trạng chán chường. Tôi biết mình có thể vượt qua được những thách thức trong môi trường luôn biến động. Không phải mọi điều đều luôn đúng theo kế hoạch. Ngay cả với kế hoạch hoàn hảo nhất, thì khi đạn bắt đầu bay, kế hoạch đó cũng sẽ thay đổi.
Ngày 21 tháng Chín năm 1993, mật vụ Abe báo cáo đã trông thấy Osman Atto ở Lido gần ngôi nhà bí mật cũ Pasha của chúng tôi. Trong quá trình xử lý tin tình báo, chúng tôi luôn phải xác định được đó
là tin thật hay tin vì thành tích cá nhân. Tôi không nghĩ có viên mật vụ nào đó muốn lừa dối mình, nhưng họ có thể thổi phồng tin tức để nhận tiền. Abe dường như không nằm trong nhóm người này. Abe là người ăn nói nhẹ nhàng và không bao giờ mất bình tĩnh như những người khác. Anh ta rất bình tĩnh và các báo cáo của anh bao giờ cũng dựa vào thực tế. Chúng tôi thích làm việc với “Abe trung thực”. Trong bộ phim kinh điển Black Hawk Down – Diều hâu gãy cánh, một người lính nào đó đã đánh dấu xe Atto bằng cách dán lên trên nóc xe một miếng băng dính màu xanh ô liu chỉ dùng trong quân đội. Hành động này trông giống cảnh quay trong serie phim Điệp viên 007 về James Bond. Tuy nhiên, trong thực tế, Cơ quan Bảo đảm Kỹ thuật của CIA đã gắn một thiết bị theo dõi vào trong chiếc gậy có tay cầm bằng ngà voi làm quà tặng Aidid. Kền Kền đã sửa lại chiếc gậy và giao cho Abe để đưa cho một liên lạc viên thường xuyên tiếp xúc với Atto. Liên lạc viên này sẽ trao cây gậy cho Atto như một món quà tặng. Trong khi người liên lạc, mang theo cây gậy, lái xe đến phía Bắc Mogadishu, một chiếc trực thăng sẽ lần theo tín hiệu từ thiết bị nói trên. Khi chiếc xe dừng lại đổ xăng, Atto xuất hiện. Một mật vụ gọi điện báo cho Kền Kền biết Atto đã ở trong ô tô. Kền Kền dùng bộ đàm gọi cho Delta.
Delta xuất kích. Trực thăng tấn công đậu gần ngay trên đầu chiếc xe và một lính bắn tỉa nã đạn vào động cơ làm chiếc xe chết máy. Atto mở tung cửa ra và bỏ chạy. Tên vệ sĩ dùng AK-47 bắn vào đội xung kích nhưng một lính bắn tỉa đã bắn tên vệ sĩ bị thương ở chân. Các đặc nhiệm nhảy ra khỏi máy bay, lao nhanh về phía tòa nhà và bắt sống Atto.
Lực lượng Delta còn lại tạo thành một vòng tròn bao vây tòa nhà. Quân Somali đốt lốp ô tô để ra hiệu cứu viện. Một số tiến về phía các đặc nhiệm Delta đang bao vây ngôi nhà. Rồi một đám đông kéo đến, chúng dùng súng AK-47 và RPG nhắm bắn trực thăng. Các tay súng bắn tỉa ở một chiếc trực thăng và các khẩu súng máy ở chiếc trực thăng khác bắn xối xả vào đám người này, hạ gục khoảng mười đến hai mươi tên và buộc chúng phải thối lui.
Bên trong tòa nhà, lực lượng Delta dẫn Atto lên nóc nhà, ở đó, một chiếc trực thăng đã đợi sẵn để đón.
Sau đó, khi đã quay trở lại quân doanh, Delta nói với chúng tôi “Chúng tôi không chắc liệu tên bị bắt có phải là Atto hay không. Liệu các cậu có thể đến đó và nhận diện hắn giúp chúng tôi được không?”
Casanova và tôi đi bộ đến chỗ giam giữ Atto ở đầu bên kia của đường băng gần khu nhà CIA ở. Atto bị nhốt trong thùng một chiếc công ten nơ. Trong bộ phim “Black Hawk Down”, nhân vật Atto là một gã to con, luôn ăn mặc bảnh bao, hút xì gà và hay nói mỉa kẻ bắt giữ hắn. Trong thực tế, mặc dù mặc áo sơ mi và váy macawi, hắn vẫn sụt sùi và van lơn xin được tha tội. Thấp lùn, gầy gò như một cán chổi và lắc lư như chiếc lá trong gió, Atto nhìn Casanova và tôi như thể chúng tôi là Thần chết đến mang hắn đi vậy. Tôi cảm thấy tiếc cho Atto. Tôi bị giằng xé giữa hai trạng thái. Một phần muốn nhào đến ôm và nói với hắn “Mọi việc sẽ ổn thỏa thôi”, nhưng một phần lại muốn rút súng bắn vỡ mặt hắn.
“Đúng, chính hắn đây”, Casanova nói. “Tôi không biết”, tôi nói đùa. “Trước đây, mỗi lần thấy hắn, hắn đều đang nở nụ cười lớn với hàm răng trắng bóng.”
Casanova nhìn gã thông dịch. “Bảo hắn nếu không cười, chúng tao sẽ đánh cho hắn một trận lên bờ xuống ruộng đấy.
Atto đã cười trước khi các thông dịch viên có thể dịch.
Trước đây, chúng tôi không biết Atto nói được tiếng Anh. Casanova và tôi đập tay vào nhau chúc mừng và cùng nói “Chính là hắn ta đấy!”Delta đưa hắn đến nhà tù trên một hòn đảo ngoài khơi Somali. Một bức thư ngắn gửi tới Atto khuyên hắn nên gặp các phóng viên để mở cuộc hội đàm với Liên Hợp Quốc ở Somali. Chúng tôi phán đoán, bức thư này khả năng được gửi từ Aidid – con cá lớn mà chúng tôi vẫn chưa bắt được.
Mùa hè thứ hai đã bắt đầu. Chúng đã thu chăn lại. Tuy trời chưa nóng, nhưng muỗi đã mỗi ngày một nhiều. Tôi nằm vật ra, nhắm mắt, để mặc cho giòng tư tưởng tràn dâng như sóng biển sầu. Tôi chợt nghĩ đến cái biên bản kỷ luật mà tên Chiến đọc. Chúng chẳng nói tới chuyện tôi xé quần để làm gì. Tôi xé quần áo đánh thừng tự tử! Vậy mà trong biên bản, chẳng có một câu nào, hay một ý nào nói đến việc tự tử của tôi cả. Trong dạ cũng hơi băn khoăn, nhưng thôi cũng mặc, chúng muốn nhào nặn thế nào kệ chúng. Thân mình bây giờ, có còn là của mình nữa đâu!
Đầu tôi cứ cắn nhức không thể chịu được. Nó như muốn nổ tung ra. Không thể nào nằm yên được nữa, tôi chống tay bò dậy, lấy hai tay đập đập vào đầu. Tôi đã báo cáo với tên Chiến mấy ngày nay, nhưng vẫn chả có viên thuốc nào, cũng chẳng thấy mặt mũi y tá đâu. Suốt cho đến chiều tối, tôi không thể nằm được, ngồi lên thì đầu đỡ nhức hơn. Nhưng, ngồi mãi hai chân mỏi rừ trong cùm. Tôi rũ rượi dựa vào tường, cố gắng chịu đựng cơn đau, cái mỏi.
Đột nhiên, có tiếng đập cửa ầm ầm của một buồng nào đó, rồi im lặng. Chừng một phút sau đập nữa, mấy lần như vậy. Tiếng chân của tên Chiến từ phía ngoài vừa đi vào, vừa quát:
– Buồng nào làm cái gì vậy?
Một giọng nói như gào:
– Tôi ở xà lim đã ba tháng rồi! Hơn một tháng nay không thấy gọi hỏi gì tôi cả. Đề nghị cho tôi gặp chấp pháp để xem sự việc của tôi như thế nào? Ngày nào cũng để tôi thế này, chịu sao được!
À ra buồng số 10, dẫy đối diện với tôi, ở phía trong. Giọng tên Chiến chắc đanh:
– Câm ngay cái mồm! Anh muốn gặp chấp pháp, phải nghiêm túc đề nghị, không được làm ầm xà lim! Lần sau, tôi cùm cổ anh lại!
Giọng số 10, bỗng dưng, như nức nở:
– Xin cán bộ cho tôi gặp chấp pháp. Tôi sợ lắm rồi! Suốt ngày ngồi trong cái buồng con một mình thế này, tôi điên mất!
Tên Chiến dịu giọng:
– Được rồi, nằm im đi, tôi sẽ phản ánh cho!
Tôi chẳng hiểu buồng số 10 tội gì. Không bị cùm, mà còn như thế! Qua tiếng nói, tôi đoán chắc khoảng 25, 30 tuổi.
Xà lim lại trở về im ắng, chỉ còn tiếng rên ư ử phía trong, không rõ là buồng nào. Tôi vào xà lim I đến nay đã ba, bốn tháng rồi, từ lúc mới vào tôi chỉ nghĩ đến cái chết nên chẳng còn tâm trí đâu mà để ý đến các buồng khác ở chung quanh, như hồi còn ở xà lim II và III. Hàng ngày, bao nhiêu chuyện xảy ra trong cái xà lim nhiều buồng như thế này, tôi cũng chả cần biết. Vì vậy, vào đây đã lâu, tôi vẫn chưa biết gì, dù là khái niệm về các buồng. Ngay bây giờ đây, ngoài hai cái chân trong cùm nhức mỏi, tôi còn phải ôm đầu để chống đỡ với cơn đau từng chập.
Đêm đã khuya, thế mà tôi vẫn chưa dám nằm. Đầu đã đau như búa bổ, nhưng óc vẫn cứ suy nghĩ đầy vơi hết chuyện này, chuyện kia của cuộc đời. Người ta nói rằng: “Sầu héo!” Nghĩa là khi sầu, người ta sẽ kém ăn, ít ngủ, người sẽ gầy đi, teo lại, cho nên mới bảo là sầu héo chăng? Một ý nghĩ buồn cười chợt đến trong óc tôi: Nếu ai sầu buồn thì thở ra khói đen. Nếu người nào càng sầu nhiều, khói càng nhiều, càng đen. Miền Bắc này, chắc luôn luôn ngày đêm sẽ bị khói đen bao phủ. Nhất là Hỏa Lò khói sẽ đen kịt, sẽ phải đốt đèn điện ngày đêm, may ra mới thấy đường đi!…
Sáng hôm sau, mới gần tới giờ làm việc, cán bộ chưa mở cửa các buồng cho đổ bô, tên Điền coi nhà tiếp tế vào gọi tôi đi cung. Đã khá lâu, gần một tháng rồi, không gọi. Hôm nay không biết có chuyện gì? Ra tới phòng cung, tôi thấy hai tên Đức và Thành. Cả hai nhìn tôi chằm chằm, nhất là cổ tôi bây giờ vẫn còn một vết thâm nâu chung quanh. Tôi đoán mau như vậy, bởi vì vừa đây, trên đường đi cung qua một cài hè trước một phòng khách có cánh cửa kính, tình cờ hôm nay mở ra, thoáng nhìn qua tấm kính, tôi đã bần thần ngạc nhiên không thể ngờ được con người trong kính lại là tôi. Thật là kinh khủng! Cùm kẹp, khổ đau và lo lắng cung kẹo đã tàn phá con người tôi đến thế. Đồng thời, tôi cũng chú ý đến cái cổ của tôi, mặc dù chín ngày rồi, vết thâm vẫn còn. Tên Thành chỉ ghế dịu giọng:
– Anh ngồi đi! Lâu rồi, chúng tôi không gặp anh. Dạo này anh có khỏe không?
Vẫn chỉ là một câu hỏi xã giao lấy lệ như mọi khi của chúng. Cũng như những lần trước, tôi cúi đầu dè dặt:
– Dạ, tôi vẫn đều đều!…..
Tên Đức, từ nãy lúi húi mở cặp hồ sơ, rút ra một số giấy tờ, bây giờ y mới lên tiếng:
– Lâu nay, anh có theo dõi đài không?
Phải nói, ít lâu nay, tâm trí tôi cứ lẩn quẩn ngày đêm với những ý nghĩ của người sắp lìa bỏ cõi đời, nên chuyện gì tôi cũng không cần biết nữa. Phần khác, 4 cái loa to ở xa mãi giữa sân trại chung, chĩa ra 4 dẫy buồng chung quanh, nên trong xà lim chỉ nghe loáng thoáng. Thêm nữa, là buồng số 3 của tôi lại nằm mãi phía trong, càng khó nghe hơn. Dù vậy, tôi vẫn trả lời:
– Thưa ông, tai tôi dạo này nghe rất kém, nên không rõ!
Tên Đức ngần ngừ một lúc, rồi hỏi:
– Vậy anh có biết hiện nay, ở miền Nam đang đảo chính xoành xoạch không?
Tôi biết là y chỉ muốn làm ruỗng nát thêm lòng tôi ra, nên tôi trả lời cộc lốc:
– Không ạ!
Những câu hỏi bâng quơ từ nãy tới giờ chỉ là mở đề, lúc này với vẻ mặt lạnh lùng, tên Đức bất chợt hỏi:
– Khi anh ra Hà Nội, anh thường ra đền Ngọc Sơn để làm gì?
Tôi hơi điếng người. Có vấn đề liên quan đến tài liệu “M” rồi chăng? Dù không nhìn thẳng, tôi cũng biết chúng đang theo dõi nét mặt của tôi. Tôi vẫn bình thản, và để thăm dò, tôi trả lời:
– Thưa các ông, như tôi đã viết và trình bày nhiều lần trước đây, Hà Nội nói chung, và riêng đền Ngọc Sơn không những là một thắng cảnh nổi tiếng của đất nước, đối với riêng tôi, nơi đó còn mang nhiều kỷ niệm của buổi ấu thời, nên tôi thường ra thăm lại.
Tên Đức đứng bật dậy, giơ tay chặn không cho tôi nói nữa, y quắc mắt:
– Anh đừng dùng luận điệu cũ rích đó nữa! Tôi nói cho anh biết: Anh đã ra đền Ngọc Sơn để liên lạc với một cô gái! Hiện nay, chúng tôi đã nắm được đầy đủ vấn đề. Vậy, dù anh có không nói ra, cũng không được nữa đâu! Do đó, khôn hồn anh hãy khai rõ mọi chi tiết. Bây giờ, đừng trách gì chúng tôi nữa!
Tôi thấy tim mình tưởng chừng như thắt lại. Nghe từng lời, từng ý nó nói, óc tôi suy nghĩ rất nhanh, và nét mặt vẫn không biến đổi. Tới bây giờ đã gần hai năm rồi, phải chăng đường giây “M” hoạt động, chúng đã “vồ” được? Nếu không, tại sao mãi tới bây giờ chúng mới hỏi? Nhưng, tại sao chúng chỉ nói đến đền Ngọc Sơn, mà không nói đến vườn hoa “Con Cóc”? Như vậy, nếu sự việc liên quan tới tài liệu “M”, có thể hiểu theo hai chiều hướng:
1) Do từ Sài Gòn. Nhưng, Sài Gòn không thể biết tôi giao tài liệu ở đâu. Chỉ biết nơi gặp đã được chỉ định là trên cầu Thê Húc.
2) Do đường giây “M”. Bây giờ bị chúng “vồ” được rồi, đường giây “M” đã phải khai báo ra. Nhưng nếu đã khai gặp ở đền Ngọc Sơn, sẽ phải khai nhận tài liệu ở vườn hoa “Con Cóc”, chứ ở đền Ngọc Sơn không có gì cả.
Cuối cùng, để biết rõ thêm ý chúng, tôi trả lời, mắt giả vờ mở to ngạc nhiên:
– Các ông làm tôi thật ngạc nhiên, tôi không hề nói chuyện với một cô gái nào trong đền Ngọc Sơn cả!
Tên Đức quắc mắt, gầm lên, đập mạnh tay xuống bàn:
– Đến giờ phút này, anh còn ngoan cố như thế! Vậy anh có lợi dụng mấy đứa trẻ con để gặp cô gái ấy không?
Tên Thành từ nãy vẫn ngồi yên, bây giờ cũng gắt:
– Anh Bình! Anh phải biết điều. Anh không khai thật ra, những hình phạt đau đớn sẽ đến với anh ngay sau đây! Anh sẽ hối không kịp!
Trong khi chúng quát nạt, óc tôi cứ nghĩ tiếp. Dứt khoát không phải do người của chúng nằm trong Cục ở Sài Gòn rồi. Bởi vì, nếu đã biết một, thì phải biết hai, có khi phải biết cả ba là khác. Nghĩa là nếu đã biết tài liệu “M”, phải biết tài liệu “X”, hoặc 3 lá thư của Linh Mục Hoàng Quỳnh. Khi chúng quát tháo xong, tôi đã rõ nguyên nhân rồi. Thì ra là thế! Tôi cảm thấy người nhẹ nhõm hẳn lên. Nếu tôi không bình tĩnh và tỉnh táo tính toán, tôi có khi đã “không khảo mà xưng rồi!” Suýt nữa!…Tôi đã tưởng phen này chắc chết với chúng. Thật là hú vía!
Vì thế, làm như chợt nhớ ra, tôi tươi mặt ngửng lên:
– Trời ơi! Tôi nhớ ra rồi, các ông đa nghi thật. Phải nói đó là một chị phụ nữ, chứ không phải là một cô gái. Hôm đó…tôi không còn nhớ ngày nào; tôi ra đền Ngọc Sơn chơi như mọi khi. Ngồi nhìn mấy em nô đùa, đuổi nhau. Các em vui đùa, nhưng các em lại dùng những câu rất tục tĩu, tôi nghĩ ngay người lớn cũng ít khi nói những câu này…Lúc đó, một chị cũng ở gần đấy mới tiến lại chỗ các em, chị nói là chị mới ở quê ra Hà Nội. Chị khuyên các em không nên nói tục bậy bạ, ví các em là cháu ngoan Bác Hồ, là mầm non của Đảng vĩ đại, đang ra sức vun trồng, là thiếu nhi Thủ Đô, lá cờ đầu vẻ vang của cả nước v.v… Nhưng không ngờ, có thể vì thấy chị là phụ nữ, lại là một phụ nữ quê mùa nên các em đã chửi lại, thậm chí chúng còn lấy những cục đá con ném chị nữa… Tôi thấy chị đó có ý thức tốt đối với xã hội, nên tôi đã đứng lên nghiêm giọng mắng các em… Phải nói, tôi và chị ấy cũng không hề nói chuyện với nhau… và tôi cũng không hề biết tên chị là gì.
Tên Đức và Thành nghe tôi nói như vậy có vẻ bớt nóng, nhưng tên Đức vẫn còn khẳng quyết:
– Anh đã lợi dụng lúc ấy để trao tài liệu cho chị ta!
Câu nói của y càng làm sự việc sáng tỏ. Do đó, tôi cũng bình tĩnh khẳng định:
– Tôi không biết vì sao các ông lại biết được sự việc ấy. Trước đây, những chuyện như vậy, cũng như hàng nghìn việc của một người, một ngày đi ra phố đã gặp, tôi kể với các ông làm gì. Nếu hôm nay các ông không nhắc đến, tôi cũng quên luôn. Vì vậy, tôi xin đoan quyết là: Tôi không hề nói chuyện hay đưa bất cứ một cái gì cho chị ta. Các ông đã biết rõ, các ông cứ điều tra, nếu tôi sai, tôi xin chịu hình phạt nặng nhất của nhà nước.
Tên Đức vẫn nạt nộ:
– Anh đừng già mồm nữa, anh tưởng chúng tôi không biết à! Anh ra miền Bắc, bất cứ anh làm cái gì chúng tôi cũng biết hết. Anh đi những đâu, làm cái gì, anh tưởng chúng tôi là mộc đấy à?
Thấy y nói như vậy, để đánh một đòn sâu hơn nữa, tôi cười nói:
– Vâng, bây giờ các ông đã biết hết rồi. Bởi vì, ngay từ khi tôi bị bắt, tôi đã thành khẩn khai chi tiết mọi sự thật rồi.
Y lại quát to hơn:
– Anh không khai chúng tôi cũng đã biết, anh hiểu không?
Tôi vẫn cười, nhìn y bằng ánh mắt không tin. Trong khi đó, tôi suy đoán: Tại sao cho đến bây giờ, chúng mới hỏi tôi sự việc ấy. Điều tôi thấy trước mắt là, cho đến bây giờ, vụ án của tôi chúng vẫn chưa tin, chúng vẫn còn đang điều tra. Còn để trả lời câu hỏi trên, vì chỉ đứng một phía cho nên thiếu cơ sở cụ thể, do đó tôi chỉ dám nói có thể ở mấy điểm sau đây: Chúng chưa thỏa mãn về vụ án của tôi, nên chúng phải nghiên cứu lại toàn bộ vấn đề. Từng ngóc ngách, từng khía cạnh, đều phải rà lại; trong đó, chúng cũng nghiên cứu chi tiết lại toàn bộ những bản tường thuật báo cáo của những tên đã theo dõi tôi. Rồi để thẩm tra lại, chúng gọi tôi lên, và để đè chừng bắt bóng, chúng cứ khẳng quyết như sự thật là vậy, rồi xem thái độ của tôi ra sao. Như vậy, tôi chẳng có gì lo lắng nữa, vì thực sự tôi chẳng liên quan cóc khô gì với chị đó cả.
Tên Thành nhìn tôi một lúc, rồi đột nhiên hỏi:
– Anh muốn tự tử để theo chân Ngô Đình Diệm phải không? Anh định tự tử để chôn chặt sự bí mật của anh à?
Tôi tỏ nét mặt buồn buồn, rồi trả lời như tôi đã viết trong tờ kiểm điểm. Tên Thành cười, nói như khích:
– Tôi không tin như anh nói. Anh là một người khôn ngoan, lại có chí, anh sẽ không tự tử vì sự khổ cực của giam giữ.
Tôi cũng cười:
– Thưa ông, tôi có chí quái gì đâu. Bất cứ lúc nào tôi cũng không thiết cuộc sống này. Ngay bây giờ đây, tôi cũng không muốn sống nữa.
Tên Đức thấy cứ nói những chuyện không đâu, hơn nữa cũng gần hết giờ, nên nói:
– Thôi, cho anh về suy nghĩ để khai rõ sự việc của anh với chị phụ nữ đó trong đền Ngọc Sơn.
Tôi đứng lên, nhưng nói một cách khẳng quyết:
– Thưa ông, tôi không có gì để suy nghĩ nữa. Chuyện đơn giản như thế, tôi đã thưa rõ rồi!
Trên đường về xà lim, lòng tôi trĩu nặng ưu tư, như vậy, vụ án của tôi vẫn chưa ổn. Chúng vẫn còn chưa tin, Vậy, với điều kiện có thể, một mặt chúng sẽ tăng cường nhiều biện pháp, thủ đoạn để khai thác tôi; mặt khác, chúng chỉ thị cho những bộ phận của chúng nằm vùng ở miền Nam tìm tòi những gì có liên quan, dính dáng đến tôi, để hòng làm sáng tỏ vụ án. Chỉ còn mong một điều, một điều không may cho tôi là tôi đã bị chúng phát hiện ngay ngày thứ 3, khi vừa tới Hà Nội. Nhưng, chính từ điểm bất lợi có tính cách quyết định này, mặt trái của sự việc ấy cũng có một điều lợi nhỏ cho tôi: Vì chúng đã theo dõi mọi hành động, đường đi nước bước của tôi từ những ngày đầu này, nên chúng rồi sẽ có thể tin được là tôi đã “không làm gì”, đúng như “lời tôi đã khai báo”. Tôi đã tự phân tích để xác định vấn đề theo chiều hướng như thế, và….. điều đó cũng làm cho bệnh đau óc của tôi càng trầm trọng thêm.
Ngay chiều hôm ấy, có tiếng khóa loạch xoạch mở cửa buồng, tôi nhìn ra, một người chừng 30 tuổi ôm một túm bọc chăn màn lách cửa bước vào. Phía ngoài cửa buồng, tên Chiến nói với người mới:
– Anh hãy để chăn màn, quần áo của anh ở sàn bên này. Ra đi cung đã!
Anh đó ngơ ngác đặt bọc quần áo xuống, liếc nhìn hai chân của tôi đang trong cùm, rồi vội vàng ra theo tên Chiến.
Cửa đóng rồi, tôi nhìn thoáng sang bọc chăn màn. Vì lúng lúng vội vàng, anh đó đã để tung tóe cả ra. Tôi thấy rất nhiều bao diêm và thuốc lào, vài khúc bánh mì nhỏ, mấy cái keo giấy…..Nhưng, thuốc lào và bao diêm đã thu hút hết tâm trí của tôi rồi. Tôi cũng băn khoăn chẳng hiểu anh này tội gì, vừa vào đã bị gọi đi cung ngay?
Một mặt, có người vào nằm thêm với mình, cũng đỡ buồn. Nhưng mặt khác, trong trường hợp tôi đang bị cùm hai chân, những buổi cơm nước, đổ bô, tôi sẽ không được mở cùm nữa. Như vậy, hai cái chân không được cử động, sẽ càng chóng bị liệt.
Gần hết giờ làm việc, cửa mở, anh đó đi cung về. Khi nãy, lúc tôi ra lấy cơm, tên Chiến bảo tôi lấy một gáo dừa nữa múc nước và cầm thêm một suất cơm vào cho anh mới. Vì vậy, suất cơm của anh tôi vẫn để ở cuối chỗ cái cùm bên phía sàn của anh. Sau khi cửa đóng, vì tôi đã có kinh nghiệm, nên bảo anh, khi thấy anh quay lại lúi húi định sắp xếp các thứ:
– Anh hãy ăn cơm đã. 15 phút nữa, cán bộ sẽ mở cửa bắt trả bát ngay!
Anh quay lại nhìn tôi, dáng vừa ngỡ ngàng lại vừa buồn buồn, hai mắt cứ mở to nhìn hai cái chân của tôi trong cùm:
– Tôi mệt lắm, không muốn ăn!
Tôi hiểu ngay, anh mới bị bắt, đầu óc còn đang căng thẳng đầy lo lắng, còn bụng dạ thiết đến ăn uống, nhất lại là cơm tù. Trong khi ấy, bụng tôi vẫn đói, ăn cho đã bây giờ phải 3 suất! Nhưng, do lòng tự trọng, làm sao tôi dám mở miệng nói “để tôi ăn cho” được. Anh nhìn chân tôi, có vẻ băn khoăn hỏi:
– Anh làm sao mà bị cùm thế?
Thấy anh chả hiểu được tình tiết, nên tôi chỉ trả lời đơn giản:
– Tôi bị kỷ luật!
Tôi hỏi lại anh ngay:
– Anh bị bắt bao giờ?
– Một tuần rồi!
Tôi ngạc nhiên:
– Thế mấy ngày trước, anh bị giam ở đâu?
– Buồng số 9 ở ngoài trại chung!
– Bị bắt về tội gì?
– Tôi lái xe khách, đường Tây Bắc, chở hàng lậu.
Như vậy, anh này bị tội hình sự. Vậy, tại sao phải vào xà lim? Tôi tỏ vẻ tình cảm, hỏi anh:
– Tội hình sự ít vào xà lim lắm. Vậy, đang ở trại chung, vì sao anh lại phải dọn vào đây?
Nét mặt anh cũng đăm chiêu:
– Tôi cũng chẳng hiểu sao nữa. Từ hôm tôi bị bắt vào, mới đi cung 3 lần. Xe tôi chỉ chở có 5 ký chè búp, có khi phải bị từ 3 tới 6 tháng.
Anh vẫn cứ nhìn hai cái chân tôi:
– Anh bị bắt về tội gì, cùm ghê thế?
Tôi đã suy đoán được vấn đề. Chắc hẳn là chúng sợ tôi lại tìm cách tự tử nếu để tôi một mình. Những tội chính trị khác cho vào giam với tôi, chúng xét thấy không có lợi. Cho nên, mang một anh hình sự vào nằm với tôi một thời gian, vô thuởng vô phạt. Như thế, anh này chắc cũng chẳng ở lâu với tôi. Nghĩ vậy, tôi trả lời:
– Tôi là giáo viên trường Phổ Thông Cấp II ở Phủ Lý. Tôi theo tư tưởng “xét lại”.
Anh cười hồn nhiên, vẻ vô tâm:
– Các anh làm chính trị ghê nhỉ!
Rồi như anh chẳng quan tâm đến vấn đề “chính chị, chính em”, anh nhìn suốt sàn tôi một lượt rồi hỏi:
– Anh có hút thuốc lào không?
– Cũng có hút chút ít, nhưng tôi chưa có gia đình tiếp tế!
Anh vồn vã, tự nhiên:
– Ồ, thuốc lào tôi thiếu gì! Anh hút phè ra thì thôi!
Vừa nói, anh vừa kéo ra một buộc 5 gói thuốc lào…Qua một lúc chuyện trò, tôi thấy anh kiến thức hạn hẹp, nhưng ở anh, thể hiện ra là một con người khinh bạc, giang hồ, vì thế tôi cũng tự nhiên:
– Tôi thấy anh có điếu đâu?
– Sẽ làm, có ngay! Làm bằng bao diêm, có cơm dán rồi.
Giữa lúc ấy, cửa mở. Tôi biết là phải trả bát. Bát cơm vẫn để nguyên, anh ta không ăn. Tôi vội giở cái quần đùi rách ra, nói:
– Anh hãy đổ suất cơm vào đây: đem trả, phí đi, vừa để tôi ăn, vừa dán điếu!
Anh đó, tên Đà, vừa đổ bát cơm vào chiếc quần lót rách tôi đang giơ ra, vừa trách tôi:
– Thế mà từ nãy anh không ăn. Tôi cũng quên không mời, không biết anh đói. Lúc trưa, tôi “quất” 3 cái bánh chưng con với khúc bánh mì, bây giờ hãy còn no.
Trả bát xong, anh vào, lúi húi lấy hộp thuốc đánh răng bằng nhôm. Anh dùng tay bóp phía đầu ra, rồi chỉ bằng cái đầu cán bàn chải đánh răng, anh hì hục, loay hoay. Có lúc anh mài mài xuống sàn xi măng. Chỉ một lúc sau, đã có một chiếc nõ điếu bằn nhôm con con, xinh xắn. Anh lấy ra 3 bao diêm không. Anh dùng những tờ giấy bàn gói thuốc lào, phết bánh chưng dán 3 bao diêm vào với nhau để làm thân điếu. Vừa miệt mài làm, anh vừa chuyện trò với tôi.
Với thái độ lính tráng, bụi đời, anh vất sang tôi hai cái bánh:
– Đừng ăn cơm nguội đó nữa. Ăn mấy chiếc bánh này này!
Thấy anh chỉ có ba, bốn cái bánh; hơn nữa, rồi đây anh sẽ đói, nên tôi xua tay:
– Đừng phí phạm như vậy, anh Đà ạ! Còn dài ngày, rồi đây anh sẽ đói nhiều. Tôi ăn chỗ cơm này, tốt chán rồi!
Tôi ném trả lại cho anh 2 cái bánh. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, anh đã làm xong cái điếu vuông vắn, rất xinh. Anh “bắn” điếu thuốc đầu tiên với nét mặt thỏa mãn, say sưa. Rồi, anh đưa điếu, diêm và thuốc sang cho tôi. Điếu kiểu này, hút hơi khó khăn, vậy mà tôi cũng say đáo để.
Phải nói, đêm hôm đó tình cờ lại có thêm suất cơm, tôi ăn xong rồi nằm nghe cái bụng trổi lên những khúc nhạc đê mê, dịu dàng, êm tai. Con tì, con vị cũng rủ nhau tham gia vào buổi “dạ vũ” độc nhất vô nhị từ gần hai năm nay này. Mà quái, cái đầu của tôi hôm nay cũng như hưởng ứng ít nhiều với cuộc vui đó, vì thấy đỡ nhức hẳn đi…
Những ngày sau đó, qua những lúc trao đổi, chuyện trò, tôi hiểu được sơ sơ về anh. Anh đã đi bộ đội, và đã phục viên được 4 năm nay. Nhờ chạy vạy, xoay sở mạnh nên anh được lái xe đường trường cùng Tây Bắc. Anh có vợ và hai con. Theo anh, trên miền Bắc hiện nay, nghề lái xe khách đường dài là dễ kiếm ăn nhất, và nhất là nếu lại biết cách “móc ngoặc” với khách. Thỉnh thoảng chở giấu hàng lậu cho khách như chè, gạo, v.v… thì cũng kiếm ăn ra trò. Anh có khả năng kiếm ăn giỏi, nên tính anh rất rộng rãi, lính tráng, khác hẳn với tên Hoàn, tên Tân và cả anh Hoàng Hùng.
Mãi tới khi thấy mũi cay xè, tôi mở mắt thấy lố nhố mấy người, rồi tôi cứ nấc lên, và không thở được nữa. Tôi lại mê man. Đầu tôi vẫn nóng như nung, và như vang vang một hồi còi ai thổi rất dài, đôi lúc ngân nga như tiếng sáo diều…..Rồi tôi tỉnh lại. Mãi một lúc lâu, tôi mới nhìn rõ một người mặc quần áo xanh đang đè chặt ngực tôi. Tôi cảm thấy khó thở. Cố gắng lắm, tôi cũng chỉ thở được khò khè. Bây giờ, tai tôi mới nghe được tiếng người nói, nhưng rất nhỏ:
– Sống rồi!
Người mặc quần áo xanh mặt trắng trẻo, chừng tuổi tôi, cầm tay tôi và nhìn tôi với một vẻ đầy thương cảm. Anh ta cúi sát tai tôi nói:
– Đừng dại mà tự tử. Hãy cố gắng mà sống!
Tôi muốn với anh ta lời cảm ơn, nhưng tôi không nói được, chỉ đưa mắt nhìn anh ta với vẻ biết ơn. Một lúc sau, tôi thấy một người mặc áo “blouse” trắng ôm khay thuốc đi vào. À, ông Huệ y tá. Ông ta cầm chiếc ống nghe trên khay thuốc đeo vào tai, rồi vạch ngực áo tôi lên, đặt ống nghe chỗ này, chỗ khác. Lúc này tôi đã nghe rõ hơn chung quanh, có hai tên áo vàng là tên Nhiễm vẫn trực xà lim III và tên Kế trực ở ngoài trại chung. Tên Kế tay đang cầm sợi dây thừng bằng vải của tôi, một phía đầu dây có vết cắt.
Y tá Huệ nghe ngực tôi một lúc, rồi lấy một gói thuốc gì, bột vàng vàng đổ vào một chiếc ly nhỏ cùng với một chút nước còn lại, trong cái gáo dừa ở buồng tôi. Y quấy một lúc rồi đổ vào miệng tôi, dịu giọng:
– Anh uống cái này đi!
Cổ họng đau quá không nuốt được, nên tôi chỉ nhấp từng ngụm nhỏ. Ly nước chỉ có một chút mà tôi uống mãi mới hết. Mùi thuốc gì hăng hăng như mùi rau cải bẹ sống.
Sau đó, y lấy chai dầu nóng, dùng bông xoa chung quanh cổ của tôi. Vừa xoa, y vừa nói:
– Anh chết thiệt thân anh thôi! Đừng nghĩ quẩn mà dại như thế!
Tôi nằm nghe, chẳng muốn nói gì. Vả lại, cũng không nói được. Một lúc sau, chúng ra hết và đóng cửa buồng lại. Lúc này trời đã sáng! Phần đau, phần mệt, tôi lại lịm đi lúc nào không biết…..
Mãi tới khi nghe tiếng người gọi, tôi mở mắt ra, trời đã sáng rõ. Tên Chiến, cán bộ trực xà lim, quắc mắt nhìn tôi:
– Hôm qua, anh dám đánh lừa cán bộ Kim rồi thắt cổ hả?
Tôi nhìn y nhưng không nói được. Y có vẻ bực tức, một lúc, có lẽ hiểu tôi không nói được vì thấy cái cổ sưng to lên của tôi. Y trở ra đóng cửa, và mở các buồng cho ra đổ bô.
Đến khoảng 9 giờ, cửa lại mở. Lần này là tên Trì, Thượng Úy Phó Giám Thị và tên Chiến đứng sau lưng y. Tên Trì với giọng miền Trung nặng chịch:
– Anh định tự tử theo chân Ngô Đình Diệm?
Tôi nhìn y, lắc đầu. Y cười nửa miệng, nói với giọng giễu cợt:
– Anh muốn trung thành với Ngô Đình Diệm, anh ôm bí mật xuống lỗ để báo cáo với y hỉ?
Thái độ của lão thật đểu cáng, tôi quay mặt vào phía trong nằm im. Trước khi ra, y còn quay lại đe:
– Rồi đây, đến lúc muốn sống cũng không đuợc sống!
Tôi hiểu, với cộng sản, dù tòa án của chúng đã xử anh tử hình và chờ ngày đem bắn, anh tự tử chúng cũng vẫn cứu sống, để rồi chính chúng thi hành bản án. Chúng muốn bóc lột cả chủ quyền thiêng liêng nhất là sự sống, quyền sở hữu sơ đẳng của con người. Huống chi, tôi vẫn còn đang trong thời gian bị khai thác. Chúng phải cần tôi sống để moi chứ.
Cả buổi sáng hôm ấy, chúng không cho tôi ăn uống gì. Vì thế, tôi càng mệt lả, nằm li bì mãi tới chiều. Tới giờ cơm, tên Chiến mới mở cửa, nhìn tôi quát:
– Bò dậy, ra lấy cháo!
Cả người mệt lả vì đau và vì từ chiều hôm qua tới giờ không có gì trong bụng, tôi cố gượng dậy mà mắt hoa lên. Nhưng, tôi hiểu là nếu không cố gắng ra lấy cháo ăn, càng đói càng khổ mình, chứ chúng không bao giờ bưng vào cho. Những người tù hình sự làm việc bưng thùng cơm ở ngoài kia thì lại không được phép trông thấy người trong xà lim, nên chắc chắn chúng cũng không cho mang giúp vào. Tôi chập choạng đứng lên, tưởng muốn ngã. Cổ tôi sưng to, không quay đi quay lại được. Tôi vịn sàn, vịn cửa, rồi hai tay lần theo tuờng lảo đảo, chậm chạp ra chỗ lấy cơm.
Tới nơi, tôi thấy chỉ là một bát nước cháo. Tôi cảm thấy mệt quá, ngồi bệt ngay xuống hè, cố nâng bát cháo lên húp. Thấy mằn mặn, chắc có pha ít muối.
Tên Chiến không muốn mất thì giờ, định giục tôi mang bát cháo vào trong buồng, nhưng khi nhìn thấy tay tôi bưng bát cháo húp còn run run chực đổ xuống nền mấy lần, nên y chỉ thúc:
– Mau lên!
Vì bụng đói, tôi cố gắng húp. Nhưng, cái cổ đau, cuống họng của tôi bây giờ hình như bé đi, tôi chỉ húp được từng chút một, và mỗi lần nuốt xuống như có mảnh chai cào vào cuống họng, rát như bỏng. Phải đến mười lăm phút sau, tôi mới húp hết bát cháo.
Tên Chiến tỏ ý rất bực bội, tôi vừa bỏ bát xuống, y đã cộc lốc:
– Vào!
Tôi lại chậm chạp đứng lên, lần theo tường lảo đảo vào buồng.
Hai ngày húp nước cháo, rồi sau đó ăn cháo 3 ngày. Bây giờ, tay trái của tôi bỗng dưng xuội hẳn ra như bị liệt; còn phía trên đỉnh đầu, suốt ngày đêm cứ cắn như kim châm. Tôi hiểu rằng đây là những phản ứng hậu quả của cơ thể vì việc thắt cổ tự tử.
Ngay ngày thứ ba, khi bắt đầu được ăn cháo, chúng đã bắt tôi bỏ chân vào cùm rồi. Tâm trạng tôi lúc này thực buồn nản ghê gớm. Đúng là cái nghiệp mình phải trả, chưa dứt được. Muốn chết cũng không xong! Bây giờ, lại mang bệnh đau óc và xuội tay. Sống như thế này, còn khổ biết chừng nào!
Tôi nằm nhớ lại hôm tôi thắt cổ, và suy đoán qua những hiện tượng lúc đó. Phải rồi, khi tôi trèo lên mép cửa sổ, chắc chắn là ánh đèn điện giữa trần của căn buồng, đã chiếu bóng tôi xuống lối đi phía chân tường, sát bên ngoài buồng giam (nhưng vẫn là bên trong Hỏa Lò). Một tên công an vũ trang thỉnh thoảng đi tuần tra bên ngoài, phía sau xà lim, hoặc đang đứng canh trên một vọng gác gần đó, giữa đêm khuya vắng lặng, thoáng thấy một bóng loay hoay ở cửa sổ, hẳn y nghi là có tù đang chuẩn bị tìm cách trốn, nên đã bí mật theo dõi và tiến sát gần cửa sổ. Lúc bấy giờ, một phần do tâm trạng của một kẻ sắp lìa bỏ cõi đời, chẳng quan tâm đến những sự việc chung quanh nữa; phần khác, vì tôi không có định trốn, nên tôi chỉ chú ý đến việc thực hiện “kế hoạch” tự tử của mình mà không để ý gì đến sự việc bên ngoài. Vì vậy, tôi đã không phát hiện kịp.
Sau khi theo dõi một lúc, thấy tôi loay hoay với thừng dây tròng vào cổ, y đã đoán được ý đồ của tôi nên quát hỏi. Rồi mặt khác, y chạy ngay vào báo cho cán bộ. Rồi, có lẽ y cũng theo cán bộ vào buồng tôi. Như thế, y phải là cấp chỉ huy của công an vũ trang, và phải quen biết cán bộ quản giáo, y mới vào buồng giam đặc biệt này được. Vậy, tên mặc quần áo công an vũ trang “màu xanh” vuốt ngực tôi và nhìn với vẻ thiện cảm chính là người đã quát tôi bên ngoài cửa sổ chăng?
Nghĩ lại, tôi không biết nên trách vì mình không chết được là tại y, hay cảm ơn vì còn sống được là nhờ y? Bần thần một lúc, tôi thấy trong lòng mình như dâng lên một mối thiện cảm với y. Do từ một bộ óc còn chút tình người, từ một trái tim vẫn còn đỏ máu tươi nhân đạo trong chế độ đã hết tình người. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, anh vẫn là một cây sen quý. Vậy mà, tôi chả biết anh là ai, dù mai đây có gặp lại!
Tóm lại, từ ngày vào Hỏa Lò tới nay, đã ba lần tôi đến sát với cái chết. Chúa, Trời vẫn bắt tôi phải sống để nhận những đắng cay, tủi nhục của một kiếp lao tù.
Sau 5 ngày ăn cháo, cổ tôi dần dần đỡ đau, bây giờ, tôi đã nói được, nhưng vẫn khào khào như con ngan đực. Người tôi đã đói rã rời triền miên vì 5 ngày ăn cháo, nên cơ thể càng cồn cào, mệt mỏi. Tuy nhiên, một điều làm tôi phấn khởi hơn là nhờ sự tích cực tập cử động, cánh tay trái của tôi từ từ đã đưa lên đưa xuống được; sau nhiều lần dùng tay mặt giúp sức đưa lên đưa xuống. Có hưng phấn một chút vì tay trái cử động được, thì lại lo âu thêm vì cái đầu ngày càng nhức nhiều hơn. Cái bệnh đau đầu này làm tôi lo sợ không ít.
Ngày thứ 6 kể từ ngày tự tử hụt, tôi bắt đầu được ăn cơm. Bây giờ, bữa cơm thường rất lâu, vì tôi phải nhai thật kỹ từng miếng nhỏ. Tên Chiến thông cảm, nên tới giờ trả bát, y mở hết các buồng khác trước, rồi sau cùng mới mở buồng tôi.
Chiều hôm đó, tên Chiến mở cửa gọi tôi ra bàn trực. Tôi không biết sẽ có chuyện gì. Sau khi bảo tôi ngồi, y nghiêm mặt, lạnh lùng:
– Hôm chủ nhật vừa qua, anh đã đánh lừa cán bộ, do vô tình đã không cùm anh. Rồi anh xé quần áo trại đánh thừng, đang đêm tự tử. Anh đã vi phạm trầm trọng nội quy xà lim. Hôm nay, tôi gọi anh ra đây, cho phép anh viết kiểm điểm. Anh chuẩn bị ra sao, đánh lừa cán bộ thế nào, vì sao anh định tự tử?…..Tùy theo bản viết kiểm điểm của anh thành khẩn trình bầy và nhận khuyết điểm đến đâu, cách mạng sẽ theo đó để có biện pháp xử lý.
Nói xong, y mở ngăn kéo rút ra 3 tờ giấy trắng, đưa một cây bút với lọ mực cho tôi, rồi chỉ vào cái ghế:
– Hãy đem ghế ra góc sân kia ngồi viết!
Tôi đem cái ghế ra góc sân như y bảo, rồi ngồi bệt, ghệ xuống hè, để giấy lên mặt ghế làm bàn. Nội dung chính tôi viết: Tôi xác định là có tội với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bởi vì rõ ràng tôi đã xâm nhập vào Thủ Đô Hà Nội. Nhưng, vì có lòng thích xã hội chủ nghĩa, nên tới Hà Nội tôi đã không hoạt động gì cho chính quyền miền Nam cả. Khi bị bắt, tôi đã thành khẩn khai báo tất cả sự thực ngay từ đầu. Nhưng, đã gần 2 năm rồi, tôi vẫn bị cùm kẹp ở trong xà lim. Nghĩ rằng trước sau cũng chết và quá đau thương tủi hận vì nhà nước và cách mạng không hiểu cho lòng thành thực của mình, nên tôi đã tìm cách tự tử. Còn sống ngày nào, thì chỉ là những ngày tâm tư bị dằn vặt khổ đau, v.v…
Tôi đang viết, bỗng nhiên có tiếng đập vào cánh cổng xà lim thình thình. Tên Chiến ngồi ở bàn hất tay bảo tôi:
– Vào ngay nhà tắm, đóng cửa lại!
Tôi hiểu là có người đi cung được cán bộ giong về. Ở xà lim, tù nhân khác buồng không được phép nhìn thấy nhau. Một lúc, chắc hẳn đã đưa tù đó vào buồng rồi, tôi nghe tên Chiến nói to:
– Nhà tắm ra đi!
Có lúc cũng đang viết, cán bộ vào gọi buồng nào đó đi cung, tôi cũng lại phải chạy vào nhà tắm….. Tuy ngồi viết, nhưng tâm tư tôi cũng đầy vơi với bao nhiêu nỗi niềm của cuộc đời. Nhìn những tảng mây trắng đang lững lờ theo gió bay về phương Nam xa xôi, lòng tôi như muốn nhắn nhủ, gởi gắm nỗi nhớ thương chất chồng đang đầy ắp trong tôi về phương trời bên ấy. Một đàn sẻ năm, sáu con vụt sà đáp xuống phía cuối góc sân, nhảy nhót tung tăng, ríu rít chuyện trò với nhau. Sân xà lim vắng lặng đìu hiu, làm gì có đồ ăn cho chúng. Chỉ có những đám rêu xanh mọc bám dài theo chân tường. Chúng thi nhau mổ lấy, mổ để, chẳng hiểu món ăn của chúng là những ngọn rêu xanh, hay những chú côn trùng trong đám rêu xanh ấy? Tôi chợt nhớ lại những đoạn đời ấu thơ nơi quê nhà. Bạn bè dăm ba đứa cũng nhảy nhót tung tăng suốt ngày. Bây giờ, tôi ngồi đây, trong cảnh này! Một tiếng thở dài nhè nhẹ lê thê như tự xót thương cho số phận của mình! Ngày ấy, nay còn đâu! Mùi rêu xanh ẩm mốc, mùi của những chiếc lá bàng khô, và mùi cống rãnh xông lên, tất cả quyện lại thành một thứ mùi hăng hăng, nồng nồng như mùi của một ngôi chùa hoang, hay miếu cổ. Càng làm tăng lên sự tịnh mịch hoang vắng của xà lim. Mặc dù nơi đây nằm giữa thủ đô Hà Nội. Đầu tôi lại tự nhiên cắn nhức, tôi viết đại cho xong, rồi đưa nộp cho y. Lúc đó, cũng đã gần hết giờ buổi chiều. Sáng hôm sau, vừa đến giờ làm việc, cửa buồng tôi đã xịch mở, tên Chiến tay cầm một tờ giấy, nhìn tôi lạnh lùng:
– Anh hãy nghe lệnh kỷ luật của Ban Giám Thị:
“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Bộ Công An
Lệnh kỷ luật
Tên: Đặng Chí Bình xé quần trại, đánh lừa cán bộ, vi phạm trầm trọng nội quy xà lim. Nay quyết định: Cùm hai chân trong thời gian 7 ngày. Kể từ ngày…..tới ngày…..
Ban Giám Thị trại,
Phó Giám Thị
Lê Trì.”
Chao ôi! Lại cùm ư! Cổ tôi hãy còn sưng, tiếng nói của tôi còn chưa rõ, đầu tôi vẫn đau nhức như kim châm mà không có thuốc, bây giờ lại cùm hai chân! Tuy nói chỉ 7 ngày, nhưng như những lần trước đây, làm sao tôi tin được, mà sống cũng không sống được!
Y trở ra, rút chốt cùm, và bắt tôi bỏ cả 2 chân vào. Như cái xác không hồn, như cái mày, tôi theo lệnh hắn cho thêm chân nữa vào cùm…..
Chờ mãi rồi thời cơ cũng đến. Hôm ấy là Chủ Nhật. Chiến, cán bộ trực xà lim nghỉ, một cán bộ khác vào thay thế trực ngày Chủ Nhật. Thực là trời giúp để tôi thực hiện được kế hoạch. Gần 8 giờ, tôi nghe tiếng mở cổng xà lim, tiếng chân nhè nhẹ và tiếng chùm chìa khóa lọc xọc. Khi vào tới bàn trực, tiếng xô ghế, rút ngăn kéo bàn, rồi đóng lại, tiếng ném chùm chìa khóa lên bàn, tiếng khì khì thở lúc nặng, lúc nhẹ. Không sai vào đâu nữa, đúng lão Kim già rồi!
Lão này, phần vì già phải đeo kính trắng, mắt nhìn tơ lơ mơ; nhưng phần chính, so với các tên công an khác, lại tương đối dễ tính. Có lần, y trông thấy một người đứng lên sàn nhìn ngoài, lại chỉ mắng và giáo dục mấy câu chứ không cùm. Cũng vì thế, hôm nào lão trực, hết buồng này báo cáo hỏi cái này, lại tới buồng kia hỏi cái khác, xà lim hôm ấy có vẻ rộn ràng hẳn lên. Lại còn điều này cũng rất đặc biệt, khác hẳn với những tên công an ác ôn kia, trước khi mở cửa cho các buồng ra đổ bô, lão đi mở cửa con suốt một lượt, thấy buồng nào bị cùm là cúi xuống rút chốt cùm ngay. Rồi cho tới khi tù ra đổ bô, lấy cơm ăn, xong lúc trả bát vô, bấy giờ lão mới cùm lại. Buổi chiều cũng như vậy.
Tôi suy nghĩ mãi vẫn chưa hiểu vì sao lão có lòng rộng rãi với người tù như thế. Có thể lão đã già rồi, trông lão phải hơn 60 tuổi; đầu lão tóc đã bạc hơn một nửa, mà lão chỉ có cái lon Thượng sĩ. Lão sắp sửa xuống lỗ, trong tâm tư chắc lão muốn có chút phúc đức để khi chết được thanh thản. Phần khác, theo tên Tân nói, lão là cán bộ lưu dụng, đã là cai tù ở Hỏa Lò. Vì thế, thời 1954 trở về trước, cũng có thể khi ấy, những tên Cộng Sản bị tù mua chuộc và lợi dụng lão, rồi kết nạp lão vào tổ chức. Như vậy, lão đã có nhiều thời gian sinh hoạt, giao tế trong quỹ đạo quốc gia, đã thấy được lẽ thiện ác, ân oán ở đời. Bây giờ, 10 năm sau, cũng vẫn…coi tù, thực tế cũng vẫn là anh cai tù. Hơn nữa, hẳn phần nào lão đã thấy được thực chất cái chế độ mà trước đây lão tưởng bở. Cho nên, cuối cùng lão tự hiểu là trong đời: Ở hiền gặp lành; càng khôn ngoan lắm, càng oan trái nhiều. Dầu sao, đây cũng chỉ là sự suy đoán của tôi về lão, trong khi thiếu cơ sở cụ thể, vì vậy, chưa hẳn đã là đúng.
Cửa mở, đến lượt buồng tôi đi đổ bô. Tôi ôm bô vào nhà tắm, thoáng nhìn bộ mặt lão, lòng tôi dâng lên một mối băn khoăn. Hôm nay, tôi sẽ phải lợi dụng cặp mắt kém và tính tốt của lão. Nếu thực hiện được mục đích của mình, lão sẽ phải bị kiểm thảo tơi bời, có khi còn bị kỷ luật hoặc hạ từng công tác nữa. Lương tâm tôi áy náy, thấp thỏm. Nhưng, tên cán bộ Chiến, trực chính xà lim, đầy khôn ngoan, quỷ quái, xem chừng tôi không thể lừa y được. Còn tên Điền, phụ trách việc nhận quà tiếp tế của thân nhân tù, và tên Bằng “mắt lồi” vẫn không kém phần tinh quái. Chỉ còn có lão Kim già này thôi. Đành vậy! Chẳng lẽ chỉ vì những suy nghĩ về lương tâm vụn vặt “tiểu tư sản” đó, lại bỏ cả mục đích của mình sao?
Vì thế, ngay từ lúc trưa, tôi lấy chiếc ba lô vẫn gối đầu, gấp cuốn lại thành một đoạn dài, thay cho khúc chân từ đầu gối xuống cổ chân. Buổi chiều, khi lão Kim đến rút cùm cho tù nhân đi đổ bô lấy cơm. Trong khi chờ đến lượt buồng mình, tôi tập thử mấy động tác cho thực nhanh, nhuần nhuyễn, hầu như chỉ trong một phút; cởi quần, co một chân vào sát mông, mặc quần, ngồi ngay vào sàn. Lấy cái ba lô đã buộc sẵn, đút vào chỗ ống quần không có chân, để nối với cái túi vẫn đút bàn chân mọi khi. Làm đi làm lại hai, ba lần cho thuần thục.
Từ sáng, tôi đã để ý khi lão mở một buồng nào cho ra trả bát, múc nước (ở thùng nước đặt tại mé hè chỗ bàn trực) lão thường ra theo, ngồi vào bàn, có khi cầm chùm chìa khóa đập chơi xuống bàn, có khi mở sổ trực ra nhìn. Dáng điệu chậm chạp, cho tới khi tù cầm gáo nước đi vào buồng, bấy giờ từ bàn lão mới đứng dậy, đi theo vào đóng và khóa cửa. Thời gian từ bàn lão đi theo tới cửa buồng khoảng hơn một phút. Thừa sức để tôi làm những động tác đã thực tập.
Gần 4 giờ chiều, đến giờ lão mở các buồng cho trả bát, tôi cũng hơi hồi hộp. Lão mở buồng số 1. Chẳng hiểu buồng số 1 báo cáo hỏi lão cái gì, một lúc lâu đến 5 phút, lão mới đóng cửa cài then và khóa. Buồng số 2 từ hôm tôi đến không thấy mở cửa bao giờ, vậy là không có người. Rồi cửa buồng tôi mở. Tôi lấy dáng đi chậm chạp. Lúc đặt bát cũng như khi múc nước, tôi liếc nhanh, thấy lão ngồi vào bàn, rút ngăn kéo đang lục tìm cái gì.
Tôi trở vào buồng. Hơi căng thẳng, tôi làm rất lẹ, trong khi tai vểnh lên nghe tiếng bước chân lão. Tôi vừa hoàn thành xong, và lấy cái chăn khoác lên người thì bước chân lão đi vào. Khi tới buồng tôi, lão thò cổ vào buồng nhìn tôi một lúc, rồi nhìn chân tôi. Tim tôi hơi thắt lại. Tại sao lão lại nhìn tôi lạ lùng thế? Tôi vẫn ngồi yên như vậy, chờ cho lão mở hết các buồng…..Rồi đợi đến 5 giờ, một tên cán bộ khác đến nhận thay “ca”, đi mở các cửa con kiểm tra…..Mãi đến 6 giờ, xà lim mới trở về yên tĩnh, vắng lặng. Từ chiều, bao nhiêu tâm tư, trí óc mải tập trung để thực hiện xong bước đầu của kế hoạch, bây giờ tôi như mới hoàn hồn, trở về với nỗi đầy vơi của kẻ sắp giã từ cõi đời.
Tôi ngồi gục đầu rũ rượi, ngụp lặn trong một trời khổ đau, uất hận. Óc tôi cứ bập bềnh nổi trôi trên giòng sông thê lương. Trước đây, tôi từng nghe nói đến những người chán đời tự tử, mỗi người mỗi tình huống khác nhau. Còn tôi, tôi vẫn tha thiết với cuộc đời, tôi không chán đời, lòng tôi vẫn khao khát với cuộc sống con người. Nhưng, chỉ vì một cái thế, điều kiện hoàn cảnh đã dồn tôi đến chỗ phải xa lìa cuộc sống. Yêu thuơng đời tha thiết, mà phải xa lìa! Một nỗi đau dầy vò, cấu xé dâng lên đè tôi gục xuống sàn, lịm dần vào đêm thâu… để chờ giờ khởi sự.
Đêm khuya im vắng, thỉnh thoảng một tiếng rên rỉ vọng lên từ một buồng nào đó. Đôi khi một tiếng rú giật lên, dài lê thê vang vào đêm trường của một ai đó, chắc trong một cơn ác mộng hãi hùng.
Lúc này, chắc hẳn 1, 2 giờ khuya, có tiếng bước chân lạo xạo bên ngoài, phía sau xà lim. Có lẽ là tiếng bước chân của một tên công an vũ trang đi tuần tra. Tôi bò dậy, cởi cuộn thừng, tôi vận cuốn chung quanh bụng ra, giấu dưới chân. Tôi tìm bó tăm, cởi ra, lấy sợi ny lông “chì mật”. Tôi muốn mẩu “chì mật” này sẽ theo tôi về lòng đất, vì thế, tôi đút sâu vào hậu môn. Tôi đang loay hoay đút mẩu “chì mật” thì thoáng nghe có tiếng bước chân, động lá khô ngoài sân xà lim, tôi vội vàng nằm xuống, lấy chăn đắp che kín cả người, cả cùm, chỉ để hở cái mặt. Một lúc, cửa sổ nhỏ bật mở. Như vật là một tên cán bộ đến thay “ca” trực. Cứ hai tiếng một “ca”.
Tôi lại bò dậy, lấy cuộn dây dưới chăn ra. Trước hết, tôi thắt chặt nút một đầu dây, rồi lại buộc thanh một nút tuột thòng lọng. Vừa buộc, tôi vừa nhìn lên hàng song sắt ở cửa sổ là một mét rưỡi. Từ mặt sàn xuống đến nền nhà là 60 phân. Như vậy, từ mép dưới của cửa sổ xuống tới mặt nền là 2m10. Tôi hiểu, thường thường người ta muốn thắt cổ tự tử, phải làm sao khi đã thắt rồi, dù muốn cởi ra cũng không được nữa. Bởi vì, con người ai cũng thế, khi sắp tắt thở, do phản xạ tự nhiên, không còn theo ý định của mình nữa, sẽ tìm mọi cách để thở. Như vậy, việc thắt cổ ấy sẽ khó thực hiện được, nếu tôi đứng trên sàn, buộc dây lên song cửa sổ, rồi đạp chân cho người treo lủng lẳng xuống nền nhà, lúc đau đớn vì không thở được, tôi sẽ vùng vẫy với hai tay lên mép cửa sổ, để kéo người lên; hoặc dạng hai chân ra để đứng vào hai sàn bên, làm sao chết được.
Vì thế, tôi phải trèo lên mép cửa sổ, rồi thắt theo lối chuyên môn đặc biệt do nghề nghiệp dạy cho, mới hy vọng…..chết được!
Trong lúc lúi húi buộc dây, tôi nhìn sợi dây oan nghiệp sẽ kết liễu đời mình. Một niềm xúc động tự nhiên trào vào lòng. Hình ảnh mẹ tôi hiện ra nhìn tôi đăm đăm Rồi hình ảnh bố tôi, các em tôi. Tôi nghĩ đến Cục Tình Báo miền Nam. Nghĩ đến miền Nam thân yêu cách xa vời vợi…Tôi khóc. Không phải vì tôi sợ chết (chứng tỏ tôi đang tìm đến với tử thần). Cũng không phải tôi tiếc thương cõi đời này. Đó chỉ là những giọt lệ tủi hận, của một kiếp người chết trong tăm tối, âm thầm uất nghẹn. Rồi đây, không một ai của miền Nam, kể cả bố mẹ và các em tôi, biết là tôi chết trong tủi hận thế này. “Xin bố mẹ tha tội cho đứa con bất hạnh này!” Tôi lẩm bẩm, quỳ lên, hướng về miền Nam lạy 3 lần, xin vĩnh biệt cuộc đời!…
Tôi đứng lên, thọc một đầu dây vào lưới thép, thắt thật chặt vào chân một cái song sắt. Tôi trèo lên cửa sổ. Ngoài mối thòng lọng, bên trên tôi thắt một nút nữa. Nút này tôi chỉ thắt hờ một lần, để nếu kéo mạnh hai đầu, dây sẽ rút chặt lại. Tôi leo hai chân lên như ngồi xổm ở mép cửa sổ. Tôi đút đầu váo cái nút thắt hờ phía trên. Hai tay quàng xuống phía dưới hai đầu gối, rồi đút vào cái thòng lọng và rút buộc chặt hai cổ tay lại. Lúc này, tôi chỉ cần đẩy nhẹ cho người lạng ngã ra là xong. Khi ấy, nút thòng lọng đã buộc chặt hai tay mình, muốn rút ra cũng không được nữa vì cả sức nặng của cơ thể. Hai chân càng đè nặng hai tay, sẽ rút chặt cái nút ở cổ. Vì sức mạnh của cơ thể, càng giẫy dụa, nút ở cổ tay càng chặt và nút ở cổ càng rút vào. Lúc này, người tự tử không muốn chết nữa cũng đành phải gặp tử thần để về lòng đất thôi. Trừ khi…..có người khác cứu.
Chỉ 5 phút ngồi trên mép cửa sổ, tôi đã làm xong tất cả, chỉ cần đẩy nhẹ người ra một cái là xong hết mọi chuyện!
Bỗng, một tiếng quát to vang lên trong đêm khuya, ngay dưới cửa sổ, phía đàng sau xà lim:
– Anh kia! Trèo lên đó làm gì đấy!
Tôi giật mình, vội hất người ra lao xuống nền, đầu thoáng nghĩ: Chỉ mười phút thôi! Nghĩa là chỉ trong 10 phút, không còn cứu được nữa.
Tôi chỉ thấy cổ mình bị giật mạnh, rồi đầu tôi nóng ran như lửa đốt. Và, tôi không biết gì nữa…
Tui có anh bạn già, vốn là Bắc Kỳ di cư, theo tàu há mồm vào Nam tìm tự do vì chúng tôi muốn sống.
Anh bạn già vong niên nầy lớn hơn tui tới một con giáp, tức 12 tuổi lận. Cả hai đều tuổi Mùi con dê xồm, khoái ăn sua đũa.
Nhưng tui thì mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao; còn ảnh thì lè phè áo thun, quần xà lỏn, có hàm râu dê… Mới gặp lần đầu trông phát ghét!
Nhưng chơi lâu rồi đâm ra khoái vì anh bạn già nầy trên thông thiên văn; dưới tường địa lý nên cái chuyện gì bí… tui hay hỏi ảnh để học hỏi thêm… Bởi chữ rằng học thầy không tầy học bạn mà!
Chơi với nhau nhiều lần, gia phả cả ba đời của nhau đều biết hết ráo. Nhứt là chuyện ở Sài Gòn mình! Dẫu xưa hai đứa chưa từng biết mặt nhau… Cho mãi tới khi lưu lạc quê người, mới tha hương lại ngộ đồng hương!
Từ Bắc vào Nam năm 54, lúc được 15 tuổi đầu, nên ký ức về 36 phố phường Hà Nội, ảnh cũng còn nhớ chút đỉnh.
Vô Sài Gòn thì vốn nhà tư sản, có của ăn của để nên Thầy U của ảnh mua một căn nhà ở mặt tiền đường Cao Thắng để bán bánh cuốn Thanh Trì.
Có lần tui hỏi: “Anh còn nhớ tiệm bán bánh mì Hòa Mã ở đường Cao Thắng khi tụi mình còn nhỏ không?”
Mới đầu đi học về ngang qua, tui đọc ba xí ba tú, tiệm bán bánh mì mà sao lại tên là Hà Mã? Tui bỏ mất chữ “O” của người ta!
Anh chê tui dốt, rồi cắt nghĩa đùi là: “Tớ đoán vợ chồng ông chủ tiệm cũng là Bắc di cư như tớ thôi! Ra đi, đêm nhớ về Hà Nội, nhớ về quê cũ vời vợi non đoài; nên lấy tên quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún của mình để đặt cho tên tiệm.
(Phố Hòa Mã kéo dài từ phố Lò Đúc đến phố Huế, có chùa Thiên Quang này xưa là cung Đổi Mã, tức là nơi vua đổi xiêm áo thường, mặc lễ phục vào tế ở đàn Nam Giao.)
Năm rồi, ảnh có về Sài Gòn để làm đám giỗ Thầy U. Trở qua, ảnh cho biết là Sài Gòn mình giờ đổi thay nhiều lắm. Tên đường đã khác: đường Phan Đình Phùng, đường Trần Quý Cáp, toàn là những nhà nho yêu nước, phải bỏ mình khi chống lại thực dân Pháp, là anh hùng dân tộc nhưng không hiểu lý do gì cũng bị VC đổi tên?
Duy đường Cao Thắng vẫn còn. Và tiệm bán bánh mì Hòa Mã, sau cuộc biển dâu nầy vẫn còn đó!
Tớ có ghé ăn để tìm lại hương vị cũ. Nhưng chỉ còn hương gây mùi nhớ mà thôi; chắc tại cái lưỡi của tớ đã bao lần nếm mùi tân khổ nên đổi khẩu vị rồi chăng?
Tớ gọi một phần bánh mì thập cẩm, tức hầm bà lằng sắn cấu, như trứng gà ốp la, thịt nguội, xúc xích, chả cá, chả lụa,… được chiên trong cái chảo nhỏ.
Rồi thêm một ít hành tây, ăn với bánh mì còn nóng, kèm với đồ chua là những miếng củ cải được xắt thành từng lát lớn, ăn kèm theo cho đỡ ngán!
Chỉ tốn có 45.000 đồng, tức bằng 2, 3 đô Úc của mình.
Bữa nào chú muốn ăn sáng theo kiểu bánh mì Hòa Mã, tớ sẽ lịnh (cha oai dữ he!) cho con Hà Mã nhà tớ làm để hai anh em mình vừa ăn vừa uống với bia lon!
Đang tán dóc, hai đứa rủ rỉ rù rì với nhau, tưởng hổng ai nghe! Ai dè chị nhà, dân rặt ri Nam Kỳ quốc, đang trong bếp, già rồi mà cũng còn thính tai, hỏi vọng ra: “Ai là con Hà Mã nhà anh? Đồ Hà Bá!”
Tui nghe ảnh gọi chị là con Hà Mã dấu yêu; còn chị gọi ảnh là đồ Hà Bá, tui chưng hửng vì không biết Hà Mã và Hà Bá khác nhau cái chỗ nào cà?
Anh bắt đầu gọi vợ của ảnh là “con Hà Mã dấu yêu của anh ơi” là khi ảnh đọc được chuyện vui như vầy nè: Một bà cụ, 65 tuổi, nằng nặc đòi ly dị với ông cụ sau 45 năm chia bùi sẻ ngọt.
Quan tòa hỏi: “Vì sao bà muốn ly dị khi đã quá già như vậy?” “Chồng tôi xúc phạm tôi! Ông ấy dám gọi tôi là “con Hà Mã dấu yêu của anh ơi!””.
“Ông ấy nói vậy khi nào?” “Tôi không nhớ rõ lắm, chắc cũng hơn 40 năm rồi!”
“Hơn 40 năm, xa lơ xa lắc, xa mút mắt, sao bây giờ bà mới đòi ly dị?” “Tại tuần trước, thằng cháu ngoại chở tôi đi Sở Thú coi con Hà Mã của Phi Châu mà Úc mới nhập qua đây!”
Tui về, lên Google, tìm hiểu thêm về “Em Hà Mã dấu yêu của anh” thì thiên hạ cho biết rằng: “Hà mã”, từ Hán Việt, dịch nghĩa từ Hy Lạp hippopotamos, gồm hippos nghĩa là “ngựa” và potamos nghĩa là “sông”! “Ngựa sông” tức Hà Mã!
Hà Mã là loài có vú, nặng cả tấn, sống nửa ở nước nửa trên cạn ở các con sông, hồ và các đầm lầy rừng ngập mặn Tây Phi.
Dù có hai đôi chân ngắn và thân hình bè bè, vẻ bề ngoài hiền lành, cục mịch, nhưng lại hung dữ. Đặc biệt là xấu đau xấu đớn! (Như con vợ tui vậy! He he!)
Chị nhà nghe thằng chồng cà chớn chống xâm lăng của mình chọc quê như vậy mà lạ thay không thấy giận hờn gì hết ráo?…
Chớ tui mà dám hỗn hào như vậy; va vào tay con vợ tui, là tui chết… chắc!
Chị nhà nói: “Mới đầu nghe thằng chả giỡn chơi quá hớp như vậy, chị cũng giận lắm đó chú. Người phụ nữ kỵ nhứt là bị chồng mình chê xấu.
Nhưng vợ chồng sống với nhau gần cả đời rồi! Trước sau cũng phải chia lìa đôi lứa, đi đầu thai thuộc dải ngân hà khác nhau; dễ gì còn gặp lại lần thứ hai thì giận hờn một lời nói đùa cốt chỉ để vui của chồng …thì té ra là người bất trí hay sao?!
Chớ chị đã từng đoạt giải hoa hậu cấp phường, thì sắc đẹp đối với chị đâu còn cần phải cầu chứng tại Tòa!”
Người ta nói: Tài sắc mà. Có tài là có sắc mấy hồi!
Mình có tài, kiếm hàng triệu đô rồi bay đi Đại Hàn, đập hết khuôn mặt ra, đại tu lại, thành hoa hậu mấy hồi hè?!
Dẫu ảnh cho chị là “xú phụ” đi chăng nữa thì ảnh cũng là “xú phu”! Cũng xấu hoắc, lùn tịt cao có thước mốt; chớ có cao ráo đẹp trai, tốt mã như Phan An, Tống Ngọc gì cho cam? Nồi nào úp vung nấy mà!
Chị tha thứ cái tội ảnh ăn nói vô duyên! Hổng biết hồi xưa bà mụ nào móc miếng cho ảnh?
Nhưng đọc chuyện xưa thấy vợ chồng Án Anh bên Tàu, thấy ảnh cũng không thua một ly ông cụ nào hết!
Bởi nhân gian, chuyện một chồng một vợ, chung sống từ thuở cưới nhau đến răng long đầu bạc ở nước Úc nầy, giờ đây không phải là chuyện bình thường. Hiếm có lắm!
Mấy anh mình giờ khoái bay về trong nước, được mấy em chân dài mà não ngắn thủ thỉ thù thì; bay trở qua đây đòi phụ rẫy con vợ già; mới là điều đáng trách.
Nhưng anh Hà Bá của nhà nầy đã bay về Việt Nam làm đám giỗ bà cố nội ảnh biết bao lần nhưng vẫn một lòng chung thủy với chị đây! Há không đáng khen sao?
Chị hỏi sao anh cầm lòng cho đậu trước mấy con Tiểu Long Nữ đó; thì ảnh cười hè hè rồi bảo: “Anh cũng khoái quá đi chớ! Nhưng hổng có con yêu nữ nào nó chịu khoái lại anh!”
Chị biết tỏng là: Tụi nó đâu khoái gì mấy ông già hết xí quách, mà chỉ khoái đồng đô la Úc! Nhưng cái thẻ ngân hàng ảnh đi, chị giữ rịt ở đây thì làm sao ảnh rút tiền được để mà bao gái?
Nhưng thâm tâm, chị thán phục ảnh học theo sách của Án Anh bên Tàu:
Án Anh có nhiều công trạng đối với nước Tề, Tề Cảnh công đến chơi nhà, thấy một người đàn bà liền hỏi: “Có phải là nội tử của quan Tể tướng đó không?”
“Bẩm phải!”
Cảnh Công cười hè hè, bảo: “Bà nhà đã già mà còn xấu nữa. Ta có một ái nữ có thể cho Tể tướng được!”
Án Anh chấp tay nói: “Lúc trẻ người ta lấy mình là mong rằng lúc già có thể nhờ cậy được. Vợ thần tuy già xấu nhưng thần vẫn quý trọng, không dám phụ rẫy nghĩa tào khang!”
Thói đời mà: “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”, cái thói xấu đó đã thành cái “mode” thời thượng rồi”. Nhưng với Án Anh thì “Phú quý bất năng dâm…” đã làm cho mình phải phục lăn ra đất.
Còn bên Anh Cát Lợi kia kìa! Hãy xem Thái tử Charles (bà con mình hay gọi là Thái tử “Chao” chắc có lẽ ông nầy khoái hẩu xực món vịt nấu chao hay chăng?), con của Nữ hoàng Elizabeth II, người sẽ kế thừa ngai vàng Vương quốc Anh.
Năm 1981, Thái tử Charles kết hôn với Công nương Diana Spencer, rồi ly dị với Công nương vào năm 1996; vì đồng sàng mà dị mộng.
Một năm sau, Công nương Diana qua đời trong vụ tai nạn xe hơi trong đường hầm ở Paris.
Năm 2005, Thái tử Charles kết hôn với Camilla Parker Bowles, tình xưa mà ông không quên được; dù so với công nương Diana sắc nước hương trời thì Camilla xấu hoắc!
Rồi đương kim Tổng thống Pháp Emmanuel Macron kết hôn với Brigitte Trogneux, người lớn hơn ông 24 tuổi và là cô giáo cũ của ông tại trường trung học La Providence, Amiens vào năm 2007; thì không xứng đôi vừa lứa là cái chắc rồi!.
Nhưng ông bà ta thường nói: “Cái nết đánh chết cái đẹp! Tốt gỗ hơn tốt nước sơn!”
Chồng vợ yêu nhau, phải có lòng độ lượng, tha thứ cho nhau, vì đời mà… ai cũng có biết bao lầm lỗi! Hà huống gì một lời nói chơi chớ?
Anh Hà Bá của nhà chị chỉ biết nói phét mà thôi; vì tài hèn sức mọn, dở ẹt hà! Nhưng chị yêu ảnh là vì ảnh có óc hài hước.
Anh chê chị xấu như Chung Vô Diệm, gọi chị là con Hà Mã dấu yêu của anh thì chị sẽ âu yếm gọi ảnh là thằng cha Hà Bá. Huề!
Chỉ cần kiểm duyệt, cắt bớt chữ “con Hà Mã”; chỉ còn chữ dấu yêu là mình vui rồi. Hi Hi!
Thiệt là nhưng lời nói như khuôn vàng thước ngọc. Nghe chị bày tỏ cặn kẻ khúc nôi, thôi lần tới, chị có làm bánh mì theo kiểu tiệm Hòa Mã ở Sài Gòn năm cũ, tui sẽ dắt con vợ tui theo!
Nhớ làm cho vợ chồng tui hai phần nhe, để bà “chằn lửa” của tui được lắng nghe lời chỉ giáo cực kỳ hữu lý của chị.
Đời mà nịnh đầm một chút đi… để có ăn miễn phí là tui làm hè! Ngu gì mà giỡn vô duyên, chọc quê con vợ hiền của mình là: “Con Hà Mã dấu yêu của anh chớ?”
Chiều Chủ Nhựt, 29 tháng Bảy rồi, anh chị em cựu sinh viên Ðại học Khoa học Sài Gòn có làm cái buổi họp mặt bỏ túi tại nhà anh bạn, chỉ cách nhà tui có một giậu mồng tơi xanh rờn.
Bất cứ một hành động nào cũng vậy muốn thành công phải có hội đủ ba yếu tố là: thiên thời, địa lợi với nhân hòa.
Thiên thời là chiều Chủ Nhựt bà con mình rảnh là cái chắc. Bắt đầu lúc 3 giờ, ai ham nói dóc cho vui thì lù lù tới sớm, tới đúng lúc đồng hồ khỏ bon bon ba tiếng, nói sùi bọt mép một hồi cho đã chừng hai tiếng, tới 5 giờ đói bụng ăn tối là vừa.
Dù chữ rằng ‘ăn nói’. Ăn no mới có sức mà nói… Nhưng bên Úc nầy hình như ngược lại bà con mình khoái nói hơn là ăn nhe! Thưa tui cũng vậy! Khoái nói, khoái nổ hơn ăn.
Mở đầu buổi họp mặt là anh nhạc sĩ thuộc ca đoàn sắp xếp dàn nhạc một người, gồm cây piano điện và cây đàn guitar thùng, cùng hai cái “mi-cà- rô’ hiệu Yamaha (đọc là Già-mà- ham).
(Những người đã làm khổ đời ‘phe ta’ mà còn cười hí hí!)
Thấy mấy anh làm MC nổi tiếng, nên tui cũng ham, chụp lấy một cái ‘mi cà rô’ để mở màn, giới thiệu chương trình văn nghệ cho nó xôm tụ, sôi động cái không khí trầm buồn của mùa Ðông Melbourne lạnh quéo cả râu là: “Xin mời quý anh mình hợp ca bản: ‘Ngựa phi đường xa’ của nhạc sĩ Lê Yên.
Một chị bạn đồng môn, thuộc ban SPCN, hỏi ngặt: “Ở đây có anh nào ‘ngựa’ đâu?” Tui giả lả, cười như ngựa hí: “Có chớ! Tui nè!”
Ðề nghị ‘ọt rơ’ nên tui đành hát thì thầm: …Ngựa phi ngoài xa thật mau. Lúc nguy nàn ta yêu thương nhau
Lúc bên đời quyết sức phấn đấu/Giống Tiên Rồng hết sức phấn đấu/ Cùng mây nước ta hát vang lừng trong nắng vàng …”
“Ê! Nói dai nói dài nói dở ẹc. Mỗi người được quyền nói hai phút mà thôi!” Thiệt một lời của anh bạn nầy bắn ra xối xả làm tan nát lòng nhau!
Bị chặn bản họng, tui nhớ mà thương mấy ông MC dẫn chương trình ca nhạc, dẫu tốn bao nhiêu là công sức chuẩn bị nhưng nói sao cho vừa lòng người? Nói rộng người cười nói hẹp người chê! Cái nghề làm dâu trăm họ mà!
Thôi! Tui về bàn, tiu nghỉu ngồi, rót ra ly rượu đỏ, ực một cái để nuốt trọn nỗi sầu đời bởi tìm được người tri kỷ trên bước đường tỵ nạn, lưu lạc nầy cũng khó dàng trời mây như tìm một cánh chim bay! Em bay biển Bắc mà tui tìm biển Ðông.
Anh bạn ngồi gần tui an ủi nghe thương hết sức: “Bữa nay tui cũng xin nói nhiều, xin cái lỗ tai của anh cảm phiền. Tui cũng biết người ta bỏ ra chỉ 5 năm để học nói và suốt cả đời để học cách im lặng. Nhưng tui với bà xã tui đang trong cao điểm mùa chiến tranh lạnh. Ở nhà tui chỉ ‘diện bích’, nói chuyện với bức tường, suốt cả tháng nay. Bữa nay có cơ hội xin anh cho phép tui ‘khai khẩu’ sợ để lâu tui bị ‘á khẩu’ thì nguy!”
Nói về: ‘Gọi đò ơi đi!’ Sở dĩ tui chọn đề tài đó là vì trong cái ‘email’ gởi cho cả bọn, kêu réo họp mặt với nhau như gọi đò trên sông vắng. tiếng kêu gọi đò ơi chìm trong mùa đông tỉnh lặng; không ai thèm trả lời ai kêu tui đó gì ráo.
Thoạt kỳ thủy chỉ được có 19, 20 mạng. Ít quá, nên ông ‘Cả’ tổ chức buổi họp mặt, giận lẫy, tính Melbourne tình xù!
Nhưng gia chủ kiêm khổ chủ can gián rằng: “Có bao nhiêu chơi bấy nhiêu mà… Tùy tấm lòng!” (Nhưng ông anh, vốn dân xứ Quảng quê mình, phát âm chữ ‘lòng’… làm tui nghe hơi giựt thịt)
***
“Dù là tiếng mẹ đẻ của mình, muốn xài cho nó trúng khía, phải tìm hiểu từ nguyên cũng không phải dễ; nhưng công khó nầy cũng tạo nhiều lý thú để mình xài tiếng Việt ngày càng vi diệu hơn… để giỏi nghề viết văn, viết báo.
Ông anh nghe tui nổ lốp bốp, tưởng bụng tui có tới 3 bồ chữ như Cao Bá Quát nên hỏi: “Tại sao lại gọi là xe đò?”
Theo nhà văn Sơn Nam, thì ngày xửa ngày xưa đồng bằng Nam Kỳ sông nước chằng chịt, phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò, ghe, mãi cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây.
Thời ấy đường bộ chưa phát triển, xe đến bến, khách phải đi tiếp bằng đò nên người ta gọi là “xe đò” cho tiện.
Vin vào cách cắt nghĩa của ông Sơn Nam, có người ‘tán’ thêm là: Người Bắc gọi xe đò là xe khách hoặc xe ca, còn người Trung lại gọi xe đò giống như người Nam. Vì hầu hết các chủ xe chạy miền Trung là dân Sài Gòn nên ‘xe đò’ trở thành phương ngữ chung cho tiện (?!).
Tui lại nghĩ khác. Ðò chở khách chạy dọc dòng sông thì gọi là đò dọc. Chạy ngang sông thì gọi là đò ngang, chạy tới bến nấy rồi quay về bến cũ. Vì vậy ‘Bến sông’ dành cho đò, còn ‘Bến xe’ là dành cho xe!
Chở khách đi từ bến nầy rồi quay về bến cũ giống như ‘đò’ sông chở khách ngược xuôi vậy; nên gọi là xe đò.
(Còn chữ giả đò thì sao? Bị hỏi quá xá là ngặt, tui phang đại vầy nè: ‘Giả đò’, nầy giống như ‘đò’ trong chữ xe đò; là hành động gì đó, cứ tới cứ lui hoài hè…
Như “Giả đò mua khế, bán chanh. Giả đi đòi nợ thăm anh đỡ buồn”
Giả đò là giả bộ giống con đò, chạy tới chạy lui hoài hè. Có chanh chua gần chết mà còn giả bộ (giả vờ) chạy tới để mua khế. Chứ thật bụng là em cần ‘trái’… khác!
Rồi chàng mặc quần xà lỏn đưa võng tòn ten ngoài hàng ba, thấy em bẹo hình bẹo dạng hoài hè: “Nè em hai! Mua khế bán chanh đã rồi giờ đi đâu vậy? “Em đi đòi nợ, nợ tình kiếp trước giờ nầy phải trả cho xong!”
***
Rồi có chú em nho nhỏ năm nay chưa tới sáu mươi, nghĩa là chiến tranh vệ quốc của miền Nam chống CS Bắc Việt, chú em chưa tới 17 tuổi, chưa đi lính mà nghe bậc đàn anh đi phép về nói: “Ngủ đò sông Hương ngoài Huế quá đã” là sao hả anh hai?
Ngủ “chay” hay ngủ “mặn”? “Ngủ đò’ hay ‘ngủ giả đò’? ‘Ngủ đò ngu sao mà ngủ giả đò’.
Nhưng sợ con sư tử Hà Ðông nó biết chuyện ăn chơi dẫu hồi chưa lấy nhau, nó nổi ghen sảng lên là tiêu tùng bộ đồ lòng hết ráo… nên anh giả nai, cắt nghĩa đen là: “Dọc theo sông Hương phía dưới cầu Trường Tiền có một bến đò “dã chiến” luôn có vài chục chiếc thuyền nhỏ đậu rải rác ngày cũng như đêm để rước khách nhàn du lên thuyền xong có thể đặt mua một vài món uống và ăn rồi được chủ thuyền đưa ra khỏi bờ và thả dọc theo dòng sông Hương nước chảy lững lờ, nhẹ nhàng và chậm chạp. Thời gian trên thuyền có thể một vài giờ hoặc cả ngày đêm tùy hai bên thoả thuận. Khách có thể là bạn văn nghệ, bạn thơ, bạn nhậu xuống để đàn hát, ngắm trăng ngâm thơ. Bởi Huế là đất thơ, đất của những tao nhân mặc khách; xưa giờ cũng vậy!
Ðó là ngủ chay! Còn ngủ mặn là: khách, một đôi nam nữ xuống để đánh cờ người!
Tui hồi đó hổng có làm cái vụ nầy rồi nhưng tui biết. (Có những chuyện mình chưa làm; hoặc không làm mình cũng biết đó thôi)
Cái biết đó là giống như Nguyễn Bắc Sơn: “Mai ta đụng trận ta còn sống. Về ghé Sông Mao phá phách chơi. Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một ngày vui!”
Mấy anh mình (khoảng 70 đổ lên) xưa đi lính, lội suốt bốn vùng Chiến thuật: ‘Tôi thường đi đó đây, bùn đen in dấu giày… áo đường xa không ấm gió phương xa, nghìn đêm vắng nhà’…. ra Quảng Trị, Vùng Một, đánh nhau với CS, lúc về Huế dưỡng quân đều biết cái vụ nầy!”
Tiền nhiều thì nguyên đêm gọi là ‘ngủ đò’, tiền ít thì… ‘lắc đò’. Thay vì ‘Sông Mao’ trong bài thơ, là đò trên ‘Sông Hương’ của mấy chị em ta! Do đó ‘Ngủ đò’ nghĩa là: xuống đò mà ngủ… He he!
Ông nào giờ từ hải ngoại về Việt Nam, mà nhất định không tin ông Bùi Giáng phán rằng: “Dạ thưa phố Huế bây giờ! Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương” cứ nằng nặc ra thăm để “ôm Huế vào lòng sẻ chia đắng cay gian khổ mặn nồng…” Rồi bay lại qua đây, khoe khoang thành tích, con vợ nhà chắc chắn trăm phần trăm sẽ ‘tra hỏi’, rồi đôi khi ghen quá… mất khôn sẽ tăng cường độ lên là ‘tra khảo’ “Về Huế anh có đi ngủ đò, lắc đò không vậy?”
Nếu có, thì cái chắc ông anh mình bị con sư tử Hà Ðông nó bẻ giò… về cái tội ngủ đò! Xin thành kính phân ưu, thành thật chia buồn với ông anh mình đã già mà còn khoái chuyện trăng hoa!
Chưa đầy nửa năm sau khi Casanova và tôi kết thúc khóa học bắn tỉa, chúng tôi nhận nhiệm vụ: Bắt thủ lĩnh phiến quân Mohamed Farrah Aidid và các thủ hạ của y. Được đào tạo tại Moscow và Rome, Aidid đã từng phục vụ trong lực lượng cảnh sát thực dân Italia trước khi gia nhập quân đội và sau đó trở thành một vị tướng của quân đội Somali. Phe cánh của Aidid (Habar Gidir), phe cánh của Muhammad Ali Mahdi (Abgaal) và các phe cánh khác đã hùa nhau lật đổ nhà độc tài Somali. Sau đó, các phe phái này đánh nhau tranh giành quyền kiểm soát Somali. Hai mươi nghìn người Somali đã thiệt mạng hoặc bị thương, sản xuất nông nghiệp đình trệ. Mặc dù cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc thông qua “Chiến dịch Vãn hồi Hy vọng – Operation Restore Hope” viện trợ lương thực cứu trợ, tuy nhiên, quân của Aidid đã tịch thu rất nhiều số lương thực này bằng cách hăm dọa hoặc sát hại những người không hợp tác với y. Sau đó Aidid đã bán lương thực cho các nước khác để đổi lấy vũ khí. Nạn đói hoành hành, cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người và nỗi thống khổ của người dân ngày càng gia tăng. Mặc dù các nhà lãnh đạo khác của Somali đã cố gắng để đạt được một thỏa thuận hòa bình, nhưng đều bị Aidid từ chối.
Ngày 5 tháng Sáu năm 1993, binh lính Pakistan tham gia nhóm viện trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc đã vào Somali để kiểm tra một kho lương thực tại một đài phát thanh. Khi đó, những người thuộc phe phái Aidid tụ tập biểu tình bên ngoài. Binh sĩ Pakistan vẫn tiến vào và hoàn tất việc kiểm tra. Khi họ đi ra, nhóm người biểu tình đã tấn công và giết chết 24 binh sĩ Pakistan. Sau đó, chúng chặt đứt chân tay, moi ruột moi gan và lột da những binh sĩ xấu số này.
Vụ việc này khiến Đô đốc Jonathan Howe, đại diện thường trực tại Liên Hợp Quốc phụ trách vấn đề Somali, vô cùng kinh hoàng. Ngay lập tức, ông treo giải thưởng 25.000 đô-la cho ai cung cấp thông tin về hành tung của Aidid. Cùng đó, Howe còn nhờ Bộ Chỉ huy Đặc nhiệm Liên quân (JSOC) giúp đỡ.
Ngày 8 tháng Tám năm 1993, người của Aidid sử dụng bom điều khiển từ xa sát hại bốn lính Mỹ. Hành động này được ví như giọt nước làm tràn ly. Tổng thống Bill Clinton bật đèn xanh cho JSOC hành động. Đội thực thi nhiệm vụ gồm bộ tứ bắn tỉa chúng tôi được gom từ Đội đặc nhiệm SEAL số 6, lực lượng biệt kích Ranger, lực lượng Delta, lực lượng đặc nhiệm số 160 và một số từ các lực lượng khác. Lực lượng đặc nhiệm 160, có biệt danh “sát nhân bóng đêm – Night Stalker”, đã lái trực thăng bay nhanh trong đêm ở độ cao thấp (để tránh bị rađa phát hiện). Chúng tôi tiến hành chiến dịch Rắn Chúa (Operation Gothic Serpent) theo ba giai đoạn: trước tiên, triển khai quân đến Mogadishu và xây dựng một căn cứ ở đây; thứ hai, theo dõi hành tung của Aidid; thứ ba, nếu chúng tôi không bắt giữ được Aidid thì theo dõi và bắt các trợ thủ của y để lần ra dấu vết.
Tại khu tập trung ở Dam Neck, Virginia, bốn chúng tôi gồm Gã Mập lùn, Sourpuss, Casanova và tôi sẵn sàng lên đường đến Somali. Chúng tôi tập luyện, chuẩn bị trang thiết bị, nuôi tóc và râu dài. Công tác chuẩn bị của chúng tôi có cả việc mã hóa các bộ đàm bằng giọng nói. Đây là phần việc tốn rất nhiều thời gian bởi chúng tôi phải nhập rất nhiều mã và tất cả các mã đều phải giống hệt nhau cho tất cả các bộ đàm cầm tay. Chúng tôi đã thống nhất tần số chung. Là một lính bắn tỉa, tôi phải liên lạc với cộng sự của mình là Casanova và sau đó hai chúng tôi phải liên lạc với bộ đôi bắn tỉa khác là Gã Mập lùn và Sourpuss. Tiếp theo chúng tôi phải liên lạc với cơ sở tiền phương. Tôi đã kiểm tra cẩn thận tất cả các trang bị thiết yếu. Sau đó tôi thử lại súng lần cuối. Mặc dù không biết chính xác nhiệm vụ được giao phó, nhưng chúng tôi đều chuẩn bị cẩn thận tất cả mọi thứ.
Sau khi hoàn tất công tác chuẩn bị, chúng tôi bay đến Fort Bragg, Bắc Carolina − trụ sở của Bộ Chỉ huy các Chiến dịch Quân sự đặc biệt và một số bộ chỉ huy của các đơn vị khác, nằm trong khu vực có diện tích hơn 60.000 héc ta, được bao bọc bởi cây xanh và đồi núi. Ở đó, chúng tôi nhận được thông tin chi tiết hơn về nhiệm vụ của mình. Chúng tôi xếp các hộp thực phẩm chồng lên nhau và chuẩn bị mang theo thì một sĩ quan bảo: “Các anh không cần làm điều đó, chúng tôi mang theo rất nhiều thức ăn rồi.”
Vì vậy, chúng tôi bỏ lại thực phẩm ở doanh trại của lực lượng Delta.
Các giảng viên Viện Ngôn ngữ Quốc phòng đã dạy chúng tôi một số cụm từ quan trọng trong tiếng
Somali: đứng lại, xuống, lùi lại, nhanh lên…Vài ngày sau, nhận được thông báo chiến dịch có thể bị hoãn nên chúng tôi bay về Dam Neck.Sau đó, một sĩ quan của lực lượng Delta gọi điện thông báo “Chiến dịch vẫn tiếp tục nhưng không phải để tóc dài và râu rậm.” Vì vậy, chúng tôi cắt tóc, cạo râu gọn ghẽ và bay đến Fort Bragg.
Ngày 27 tháng Tám năm 1993, chúng tôi lên chiếc máy bay vận tải C-5A thường dành chở lính biệt kích. Sau mười tám giờ bay, chúng tôi đáp xuống sân bay Mogadishu nằm trong khu tổ hợp của Liên Hợp Quốc. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Ai Cập bảo vệ vòng ngoài. Bảo vệ phía trong là lực lượng gìn giữ hòa bình của Italia, New Zealand, Rumani và Nga đảm trách. Chúng tôi được bố trí ở và sinh hoạt tại một nhà chứa máy bay cũ ở phía tây đường băng. Phía trước nhà chứa máy bay là một tòa nhà hai tầng mái lệch − Trung tâm Hoạt động Chung (JOC). Các ăng-ten đâm tua tủa trên mái nhà trông chẳng khác gì gai nhím.
Một viên sĩ quan đưa chúng tôi đến nơi ở của Tướng Garrison. Phía trong căn nhà, Garrison không treo ảnh gia đình hay để những đồ dùng lặt vặt, do đó, ngay khi có thông báo, ông có thể đi mà không để lại bất kỳ một dấu vết nào. Viên trợ tá đã đánh thức ông dậy khi chúng tôi đến. Garrison nhìn chúng tôi một lượt và nói: “Xin chào, sao tất cả đều để tóc ngắn? Tôi muốn tất cả để tóc dài, như vậy mới có thể hòa mình vào dòng người trong thành phố và tác chiến được.”
“Chúng tôi được thông báo ngài muốn chúng tôi cắt tóc ngắn, thưa ngài.” Khi đó, chúng tôi ngờ rằng Delta đã cố tìm cách loại bọn tôi khỏi các hoạt động, đưa bộ binh đi nhưng lại chỉ dùng hải quân để tác chiến.
Tuy nhiên, Tướng Garrison vẫn cho chúng tôi biết kế hoạch hành động. Ông cho biết bốn chúng tôi sẽ là nhân tố chủ chốt của chiến dịch và giao nhiệm vụ.
Sau cuộc họp với Garrison, chúng tôi liên lạc với Cơ quan Tình báo Tín hiệu (SIGINT) do một sĩ quan thông tin của CIA điều hành. Cơ quan này có nhiệm vụ thu thập tin tức bằng cách chặn thu tín hiệu giữa con người (tình báo thông tin liên lạc) và những bức xạ điện từ phát ra từ công nghệ đối phương như các thiết bị vô tuyến điện, radar, hệ thống tên lửa đất đối không, máy bay, tàu chiến v.v… SIGINT kết hợp giữa giải mã thông tin mã hoá với phân tích đường truyền: nghiên cứu ai đang đánh tín hiệu đi đâu và bao nhiêu tín hiệu được đánh đi. Họ có thể chặn thu cả trên thông tin di động, vô tuyến điện và thậm chí còn nghe được cả các cuộc hội đàm từ rất xa. Đa số nhân viên trong cơ quan SIGINT đều nói được hai hoặc ba ngôn ngữ khác nhau và có máy bay dành riêng.
Tiếp theo, chúng tôi đến khu ở của CIA trên đỉnh đồi để gặp một đặc vụ CIA, vốn là cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam, bí danh là Kền Kền (Condor). Cấp trên trực tiếp của Kền Kền là cụm phó cụm hoạt động, là một người Mỹ gốc Italia có bí danh Báo gấm (Leopard). Họ đều phải báo cáo tin tức lên cụm trưởng cụm tình báo CIA, Garrett Jones, bí danh Trăng Khuyết (Crescent). Jones có thân hình đậm và bộ ria kẽm. Khi nói chuyện với nhau, chúng tôi thường ví CIA là “Tín đồ Kitô hữu trong hành động” và đôi khi chính các đặc vụ của CIA cũng dùng biệt hiệu này để tự gọi mình. Ở Somali, họ gặp khó khăn, bởi việc đánh cắp bí mật của một nước vô chính phủ là điều vô cùng gian khó.
Trước khi chúng tôi đến, Washington không cho phép CIA vào hoạt động trong thành phố vì thấy việc làm này quá nguy hiểm. Khi chúng tôi có mặt, CIA đã có thể xâm nhập vào thành phố Mogadishu. CIA giới thiệu sơ qua cho chúng tôi những nét chính về thành phố Mogadishu, trong đó có một số nét về văn hoá và lịch sử. Họ cũng đặt bí danh cho chúng tôi dựa theo cấp hàm: Sierra 1 là Sourpuss; Sierra
2 là Gã Mập lùn; Sierra 3 là tôi và Sierra 4 là Casanova. Ngôi nhà bí mật của chúng tôi sẽ được gọi là Pasha, tước hiệu của một người có chức vị cao trong đế chế Ottoman. Ahmed làm nhiệm vụ phiên dịch cho chúng tôi. Hiếm khi nào Ahmed nhìn thẳng vào mắt tôi khi nói chuyện và có vẻ anh ta là người dễ bị kích động. Viên mật vụ chủ chốt người Somali tên là Mohammed. Mặc dù là người ưa mạo hiểm, ông ta lại rất nghiêm túc trong công việc.
Sau buổi gặp mặt với các đặc vụ CIA trên đồi, chúng tôi trở về nhà chứa máy bay và xin cấp bốn loại lựu đạn: AT-4, lựu đạn cay, lựu đạn phát sáng và lựu đạn nổ. Chúng tôi còn đề nghị cấp một chiếc đèn hiệu loại SST-181 để máy bay bay qua có thể xác định được vị trí của chúng tôi khi cần. Chúng tôi cũng học cách bảo vệ ngôi nhà bí mật của mình trong trường hợp kẻ thù tấn công hoặc cách thoát thân khi kẻ thù đánh chiếm. Đêm đó, chúng tôi ở trong nhà chứa máy bay cùng với lính Mỹ, tổng cộng khoảng 160 người. Mỗi người có một chỗ nằm với diện tích 1,2 x 2,4m. Chỗ tôi ở có 4 chiếc cọc gỗ để mắc màn. Những con diều hâu lao xuống vồ bắt những con chuột to cỡ con cún con tha lên xà nhà cho bữa tối. Giữa các bức tường thép đều có một khoảng trống nhất định nên luôn có ánh sáng rọi vào. Các cửa ra vào nhà chứa máy bay luôn để mở. Những chiếc trực thăng nằm lặng lẽ trên đường băng, không khí sặc mùi dầu mỡ. Do khu đất chúng tôi ở cao hơn các khu khác nên tôi có thể nhìn thấy ánh sáng lóe lên từ các cuộc đọ súng ở Mogadishu. Có một lá cờ Mỹ treo trên rui nhà phía sau chúng tôi. Tôi có thể cảm nhận được vị mặn của nước biển lẫn trong không khí vì biển ở ngay phía sau nhà chứa máy bay. Mặc dù nơi ở có đầy đủ tiện nghi nhưng cả bốn chúng tôi không được phép ở lại lâu. Aidid đã bắn ba quả đạn cối nổ ngay gần nhà chứa máy bay như một “nhã ý” chúc chúng tôi một đêm an lành. Một người nào đó đã tinh ý quay những bóng điện của nhà chứa máy bay hướng xuống dưới.
Thứ Bảy, ngày 28 tháng Tám năm 1993, chúng tôi mã hoá radio cầm tay loại PRC-112 trước khi xuất phát. Bên ngoài, thời tiết vô cùng khắc nghiệt, đoạn đường nhựa dưới chân như muốn tan chảy khi cuốc bộ đến chỗ máy bay trực thăng. Tôi đeo kính râm Oakley mắt để giảm bớt sự chói chang của mặt trời và kiểm soát cơ thể lấy lại cảm giác yên bình. Mặc dù khi đeo kính râm thì không thể giao tiếp bằng mắt nhưng nó lại giúp ngụy trang, dọa người khác, che giấu cảm xúc và ý nghĩ. Giống như một người bạn tốt, kính râm là món đồ chúng tôi luôn mang theo bên mình.
Một số binh sĩ thuộc lực lượng Delta đã ngồi sẵn trên đó và chiếc máy bay sẵn sàng cất cánh để bay
huấn luyện. Phi công thuộc lực lượng đặc nhiệm số 160 đều là những tay lái hàng đầu thế giới. Họ nói với nhóm Delta: “Chào, xin lỗi, chúng tôi phải tiến hành một chiến dịch thực thụ. Các anh biết đó, chúng tôi cần phải để những anh chàng này lên cùng”. Nhóm Delta lầm bầm và tỏ ra không vui: “Lạy Chúa, chúng tôi không muốn chen chân trong chiến dịch này.” Chúng tôi lên trực thăng và nói “chúng tôi sẽ kể lại với các anh khi quay về.”
Bốn chúng tôi chia nhau ngồi ở hai bên cửa máy bay để, chân để buông ra bên ngoài. Sau khi cài chặt thắt lưng an toàn, chiếc trực thăng bắt đầu cất cánh. Nhóm Delta trở thành các chấm nhỏ xíu khi máy bay đạt độ cao. Chiếc trực thăng đưa chúng tôi vào sâu trong vùng lãnh thổ của Somali để có thể tìm được đường chính và đường phụ phục vụ cho việc đi và về ngôi nhà bí mật. Mặt trời chói chang và khung cảnh chiến tranh khiến chúng tôi cảm tưởng Mogadishu như chìm trong biển lửa. Các thánh đường Hồi giáo là những kiến trúc duy nhất cả hai bên tham gia cuộc nội chiến không dám động đến. Còn lại đa số các tòa nhà đều bị phá huỷ. Người dân sinh sống trong các túp lều có vách làm bằng bùn, mái tôn trong mê cung của những con đường đất. Những đống bê tông đổ nát, những khối sắt thép bị vặn cong và khung xe cháy nằm rải rác khắp nơi. Quân phiến loạn tay cầm súng AK-47 ngồi trong thùng các xe vận tải quân sự chạy băng băng trên đường phố. Lửa từ các đống rác, đống kim loại và lốp xe ô tô ngày càng cháy to. Những cột lửa này trông giống như phát ra từ địa ngục.
Quay trở lại khu biển, chúng tôi do thám tìm địa điểm cất hạ cánh máy bay gần ngôi nhà bí mật để bảo đảm nhanh chóng lên đường khi nhận nhiệm vụ đột xuất. Trong chuyến bay, do thám các vị trí trên bờ biển để khi cần chúng tôi cũng có thể xuất phát bằng đường biển. Vùng biển này có bãi cát màu trắng và nâu nhạt. Hẳn nơi đây đã từng là một khu nghỉ mát lý tưởng.
Kết thúc chuyến trinh sát, chúng tôi lái chiếc Humvee ra khỏi khu ở qua một chiếc lỗ bí mật ở hàng rào phía sau và đi ngược lên đồi. Ở đây, nhân viên của CIA giới thiệu ngắn gọn cho chúng tôi hiểu về tình báo con người (HUMINT). Công nghệ rất hữu ích trong hoạt động gián điệp, nhưng chúng chẳng mấy ý nghĩa nếu không có người dũng cảm đột nhập vào lãnh thổ đối phương. CIA nêu ra những vấn đề hợp lý – con người có thể nghe, nhìn còn công nghệ thì không làm được điều đó và do vậy không hiểu được bối cảnh xung quanh.
Gã Mập lùn sử dụng sơ đồ của Pasha để lập kế hoạch tiếp cận ngôi nhà bí mật và phân công nhiệm vụ cho từng người. Anh ta giao cho tôi nhiệm vụ tuần tra, cảnh giới và giao cho Casanova nhiệm vụ chỉ đạo hành động trong cuộc chiến. Gã Mập lùn cũng tiến hành thử các thiết bị thông tin liên lạc. Sourpuss rất thích kiểu tập luyện bơi và chạy của Đội đặc nhiệm SEAL số 6, nhưng khi bước vào thực hành, Sourpuss lại tỏ ra kém cỏi cả về tài năng và nghị lực. Lẽ ra phải đóng vai trò trung tâm dẫn dắt và lập kế hoạch, nhưng anh ta lại tự giới hạn vai trò của mình ở mỗi việc bố trí ai là người đứng trên mái nhà Pasha và ở thời điểm nào. Bốn chúng tôi cũng bắt đầu xây dựng một sa bàn về thành phố Mogadishu. Trước khi xuất phát, Trăng Khuyết đưa cho chúng tôi bản tóm tắt các nhiệm vụ. Mặc dù chúng tôi đã gặp CIA, SIGINT và thông dịch viên của mình, chúng tôi sẽ vẫn phải hợp tác với họ ở huyện Lido, phía bắc tỉnh Mogadishu, gần trung tâm đầu não của kẻ địch. Tại Pasha, chúng tôi sẽ có thêm nhiều người khác tham gia cùng: lực lượng bảo vệ, đầu bếp và các mật vụ – là những người dân địa phương cung cấp tin tức tình báo cho chúng tôi. Trăng Khuyết nói với chúng tôi: “Nếu các anh không thoải mái với bất kỳ người nào, họ sẽ ra đi. Giờ là lúc các anh thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong trường hợp các anh bị lộ, Tướng Garrison sẽ đưa các anh ra khỏi đó trong vòng mười lăm phút. Chúc may mắn!”
Tờ mờ sáng thứ Hai, ngày 29 tháng Tám năm 1993, chúng tôi bay trên trực thăng Black Hawk khoảng
5 km về phía tây bắc, băng ngang thị trấn để đến sân vận động Mogadiscio. Đây là sân vận động quốc gia của Somali có sức chứa tới 35.000 người, nơi tổ chức các trận đấu bóng đá và các sự kiện khác. Chỉ chưa đầy năm phút chúng tôi đã tới nơi. Do nằm trong khu ở của lính Pakistan nên chúng tôi gọi đó là sân vận động Pakistan. Từ đây, chúng tôi lên ba xe tải của người bản địa. Nhưng do chỉ cần hai chiếc nên chúng tôi sử dụng chiếc thứ ba làm xe hậu cần và cũng phòng bất ngờ một xe nào đó hỏng trên đường đi. Nhìn những chiếc xe này, tôi cứ nghĩ phải có một phép lạ nào đó thì chúng mới chạy được. Người Somali thường sử dụng đồ dùng cho đến khi hỏng không thể dùng được nữa. Người làm cho đống sắt vụn này chuyển động được quả là những tay siêu hạng.
Chúng tôi lái xe ra khỏi sân vận động vào thành phố. Không khí trong thành phố sặc mùi nước tiểu và phân người hòa trộn với mùi xú uế bốc từ nạn đói, bệnh tật và tuyệt vọng. Những mùi vị này lởn vởn trong không trung như một đám mây đen bao trùm lên thành phố. Nó làm trái tim tôi nghẹn lại. Người Somali đổ chất thải thô ra đường phố rồi sử dụng chúng và phân động vật làm nhiên liệu đun nấu bằng những chiếc bếp sắt tròn hoen gỉ. Những đứa bé ở độ tuổi tiểu học mang súng AK-47. Chúng tôi đã được biết bệnh tả đang hoành hành trong thành phố vì nguồn nước bị ô nhiễm. Mogadishu trông như phần còn sót lại của thế giới cổ tích − nhiệm vụ của chúng tôi là phải ngăn chặn những kẻ ác độc và cứu vớt dân lành. Chuyện này không thành vấn đề, chúng tôi là lực lượng SEAL. Đây là điều chúng tôi phải làm.
Lái xe khoảng gần 1 km, chúng tôi đến Pasha. Lính canh người Somali mở cổng để chúng tôi vào. Trước đó, chúng tôi đã phái một mật vụ đưa cho họ chiếc radio để làm công tác chuẩn bị đón chúng tôi. Ở mỗi thời điểm có bốn lính bảo vệ Pasha. Bốn người khác sẽ luân phiên đổi ca. Tất cả những lính canh này đều luôn cảnh giác cao độ.
Những cánh tay gầy nhẳng, khẳng khiu của họ làm cho khẩu AK-47 trông to tướng. Họ mặc áo ngắn tay. Chúng tôi phóng nhanh vào bên trong và lính canh đóng cổng lại.
Pasha là tòa nhà hai tầng được bao quanh bằng các bức tường bê tông cứng nhắc. Trước đây, nó là nhà ở của một bác sĩ giàu có. Ông này đã cùng gia đình bỏ chạy khi Somali không còn là nơi an toàn cho họ nữa. Tình trạng đói nghèo ở Somali là nguyên nhân gây ra nạn trộm cướp. Do vậy, người ta đã xây các bức tường bê tông xung quanh ngôi nhà. Các thợ xây đã cắm các chai thủy tinh lên các lỗ trên bức tường khi bê tông còn ướt, sau đó đập bỏ phần đầu của những chai này khi bê tông đã khô. Bất kỳ ai muốn trèo qua bức tường đều phải trèo qua những chai thủy tinh vỡ. Mặc dù biện pháp này khá hiệu quả, nhưng trông bức tường thật mất mỹ quan. Vào một buổi tối, có tiếng súng nổ cách đó hai nhà. Sau đó, chúng tôi được biết đó là tiếng súng chủ nhà bắn tên cướp. Những tên cướp thường xuyên lượn lờ qua chỗ chúng tôi ở bởi khu vực này có nhiều người khá giả sinh sống. Bên trong, nước được lấy từ vòi nhờ trọng lực chứ không bằng áp suất. Khi mở các van, nước sẽ chảy xuống từ chiếc thùng để trên mái nhà. Tuy nhiên nước chảy rất chậm. Chúng tôi không thể uống nước này nếu chưa cho chạy qua thiết bị lọc Katadyn để loại bỏ các vi trùng gây bệnh. Đôi khi chúng tôi đun nước sôi để dùng, nhưng phần lớn là dùng nước đóng chai. Theo mức sống của người Somali, chúng tôi là những người khá giả. Tôi chắc rằng khi vị bác sĩ này bỏ đi, hẳn ông đã mang theo tất cả đồ nội thất còn tốt. Trong nhà chỉ còn lại một chiếc bàn. Tôi có một chiếc giường cỡ 1,2 x 2m và một chiếc chiếu mỏng. Tuy nhiên, so với việc phải sống trong lều và ngủ trong bùn đất như hầu hết mọi người trong thành phố thì cuộc sống của chúng tôi vẫn sướng như vua. Khi chúng tôi tháo dỡ hành lý ra, một lính canh gầy gò có cân nặng ước chừng 55 kg cúi xuống cầm lấy một túi đồ khá nặng. Tôi đang định xách lên nhưng anh ta nằng nặc đòi tôi để anh ta mang giúp. Anh ta nhấc bổng túi đồ đặt lên vai và bước lên cầu thang.
Đầu bếp người Somali của chúng tôi đến đúng hẹn. Ông ta nấu món ăn halal theo chế độ ăn uống của Đạo Hồi – không thịt lợn, không rượu v.v… Thức ăn Somali là sự kết hợp cách nấu nướng của các nước Somalia, Ethiopia, Yemen, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ và Italia với nhau. Cách nấu ăn này bắt nguồn từ lịch sử giao thương lâu đời của Somali. Bữa sáng, chúng tôi ăn bánh ngọt nhân kếp mỏng và có hình thù giống bánh mì. Loại bánh này tên là bánh canjeero. Đôi khi chúng tôi ăn cháo boorash phong cách Italia kèm với bơ và đường.
Bữa trưa, đầu bếp nấu các món ăn từ loại gạo hạt dài basmati. Ông nêm thêm một vài gia vị như hành, tỏi, quế, thì là và cây xô thơm để món ăn hấp dẫn hơn. Chúng tôi cũng ăn cả mì ống baasto kèm với món hầm và chuối, chứ không ăn kiểu mì ống sốt vang.
Đầu bếp ninh nhừ đỗ azuki bằng ngọn lửa liu riu trong khoảng nửa ngày. Sau đó, ông cho đường và bơ vào để nấu thành món ăn tối cambuulo. Đồ uống ưa thích của tôi là trà Rooibos đỏ, có hương vị thơm và ngọt tự nhiên. Tại Pasha, chúng tôi không bao giờ ăn đồ ăn đóng gói. Giá như biết trước thức ăn ở đây tuyệt vời như thế này, chúng tôi đã chẳng mang theo những gói đồ ăn này.
Mặc dù không được cung cấp đầy đủ những đồ ăn dinh dưỡng cần thiết, nhưng những người lính bảo vệ không bao giờ nghĩ đến việc lấy đồ ăn chúng tôi không dùng đến. Chúng tôi phải mời, thậm chí phải nói khéo để họ nhận số thức ăn đó. Chúng tôi cho họ tất cả số đồ ăn đóng gói mang theo, ngoại trừ những gói có chứa thịt lợn vì họ theo Đạo Hồi nên không được phép ăn. Tuy nhiên, họ chỉ ăn một ít, còn lại mang về cho gia đình. Ngoài ra, chúng tôi còn cho họ những vỏ chai nước để họ dùng làm đồ đựng nước. Theo phong tục, họ thường bắt tay chúng tôi và sau đó đặt tay chúng tôi lên ngực trái (nơi có trái tim) của họ như một cử chỉ thể hiện sự tôn trọng và biết ơn đối với chúng tôi. Người thông dịch viên bảo chúng tôi rằng những lính bảo vệ rất hạnh phúc khi người Mỹ có mặt ở đây. Họ rất thán phục vì chúng tôi đã rời xa gia đình, mạo hiểm tính mạng đến đây để giúp đỡ họ. Mặc dù một số phương tiện truyền thông cho rằng chúng tôi đến đây để bắt nạt người Somali, nhưng họ đều chẳng tin điều này. Tôi nghĩ đa số người Somali đều muốn chúng tôi giúp họ kết thúc cuộc nội chiến nơi đây.
Nếu tính ra tiền thì chi phí của những bữa ăn này vượt xa số tiền phòng thân Đội đặc nhiệm SEAL số 6 cấp cho chúng tôi. Tôi cuộn tròn những đồng 100 đô-la của mình lại và nhét vào báng khẩu CAR-15. Tôi lên kế hoạch cho riêng mình trong trường hợp buộc phải bỏ trốn khỏi đây. Khi đó, tôi sẽ tìm một ngư dân Somali và thuê anh ta đưa tôi xuống bờ biển Mombasa, Kenya. Ở đây, quân đội Mỹ sẽ bố trí người đón và chăm sóc tôi.
Nhiệm vụ của các mật vụ người Somali là ngày nào cũng phải đến Pasha, do vậy Kền Kền đã nói cho chúng tôi một số kí tín ám hiệu để hiểu được hành động của các mật vụ này. Chẳng hạn, bình thường người mật vụ phải đến Pasha từ hướng đông nam, nhưng anh ta lại đến từ hướng tây nam, khi đó chúng tôi phải hiểu rằng anh ta đã bị cưỡng ép làm điều này hoặc anh ta đang bị theo dõi. Lúc này, chúng tôi có nhiệm vụ phải bắn chết cái đuôi đang bám theo anh ta. Người mật vụ của chúng tôi có thể thực hiện một hành động rất đơn giản như dừng lại một vài giây ở một góc quặt nào đó và chúng tôi phải nhanh chóng nhả đạn tiêu diệt kẻ bám đuôi. Nếu anh ta dừng lại hai lần thì chúng tôi phải nhả đạn kết liễu cả hai tên theo sau. Quy trình đưa ra ám hiệu của chúng tôi đủ kín kẽ để kẻ địch không thể nhận ra chúng tôi đã ra hiệu cho nhau mặc dù những tín hiệu này rất đơn giản và dễ nhớ. Trước khi hành động, chúng tôi đã ôn lại các ký tín ám hiệu với các mật vụ. Theo bố trí, đặc nhiệm SEAL trên mái nhà có nhiệm vụ kín đáo bảo đảm sự an toàn cho quá trình lui tới của người mật vụ và phát hiện kẻ trà trộn. Thông thường, khi người mật vụ đến vào buổi tối thì đều cầm theo một chiếc đèn hồng ngoại hoặc đèn nhấp nháy. Động cơ chung nhất của các mật vụ này là tiền. Mặc dù, đôi khi họ giúp đỡ chúng tôi vì một lý do cao cả nào đó, nhưng đa số đều bị đồng tiền sai khiến. Tuy nhiên, ở một đất nước nghèo đói như Somali thì số tiền chúng tôi phải trả cho họ là không nhiều lắm.
Cùng ngày, bốn lính thuộc Cơ quan Tình báo Tín hiệu (SIGINT) cũng đến. Họ đến bằng con đường khác chúng tôi. Ngay khi đến, họ dựng phòng làm việc trông giống hệt phòng điều khiển phóng tên lửa vào không gian của NASA, có các màn hình, các nút điều khiển, thiết bị chuyển mạch. Họ dựng cột ăng-ten và các thiết bị khác trên mái nhà. Nhìn bên ngoài, nơi này chẳng khác gì trụ sở đài truyền hình CNN.
Gã Mập lùn triệu tập mọi người lại và phổ biến kế hoạch đột nhập và tháo lui. Như mọi khi, gã mang bên mình con dao Randall. Thật đúng là “Người bé, dao lại lớn”. Tôi tóm tắt lại kế hoạch tác chiến. Casanova chia bốn chúng tôi thành hai cặp tuần tra: Tôi cặp với Casanova, còn Gã Mập lùn cặp với Sourpuss.
Tấm sa bàn về thành phố của chúng tôi hoàn tất, nó che khuất toàn bộ bức tường lớn nhất trong ngôi nhà. Khi mật vụ nói cho chúng tôi biết khu vực nguy hiểm, chúng tôi sẽ đánh dấu vị trí đó bằng các đinh ghim và mã hoá bằng toạ độ ô lưới để khi cần có thể gọi điện tấn công vào vùng đó. Trong một bản tóm tắt riêng, một mật vụ đã chỉ cho chúng tôi biết những vị trí lãnh chúa Somali, Mohamed Farrah Aidid có thể trú ẩn. Ngay lập tức chúng tôi đóng các đinh ghim lên các vị trí này trên sa bàn: Khách sạn Olympic, các doanh trại của các sĩ quan v.v… Sau đó, chúng tôi gửi các tọa độ dưới dạng tám chữ số này cho Trăng Khuyết.Cùng ngày, hai mươi viên đạn cối đã nã trúng sân bay, trung tâm hoạt động chiến thuật và trụ sở CIA. Một viên rơi gần ngay khu ở của CIA và thổi bay tất cả các cửa sổ của căn phòng này. Rõ ràng, thuộc hạ của Aidid đã phát hiện ra các mật vụ lui tới nơi ở của CIA. Cũng trong ngày hôm đó, một loạt đạn nữa lại bắn vào khu chúng tôi ở. Chúng tôi tăng cường tuần tra canh gác Pasha gắt gao gấp hai lần so với trước đó và giải thích cho mọi người hiểu khái niệm “thu dọn và tẩu thoát”: thu dọn các máy mã của SIGINT, bỏ chúng vào một chiếc ba lô, dùng lựu đạn nhiệt phá hủy các thiết bị khác của SIGINT, ấn định điểm tập trung và sau đó rút lui.
Đêm đầu tiên, Casanova và tôi gác trên mái nhà. Mùi thối giống mùi xác chết động vật ngập tràn trong không khí. Tôi lẩm bẩm: “Chẳng biết mùi quái quỷ gì mà kinh tởm thế”.
Thứ Hai, ngày 30 tháng Tám năm 1993, tôi đưa mắt nhìn những ngôi nhà xung quanh để xem mùi kinh khủng đó bốc ra từ đâu, nhưng mùi đó đã biến mất. Trong khi tôi đang nhâm nhi chén trà ở tầng dưới thì một mật vụ viên đến đưa tin. Tôi mời anh ta cốc trà.
Anh ta lịch sự từ chối.
Tôi cố nài “Không vấn gì đâu, anh cứ uống đi.”
Anh ta chỉ uống một nửa cốc cứ như kiểu tôi ban cho anh ta một vật gì đó vô cùng giá trị vậy. Người
Somali luôn hành xử kiểu đó vì không muốn người khác nghĩ họ quá tham lam.
SIGINT thông báo cho chúng tôi là họ vừa chặn thu được một cuộc trao đổi giữa bộ phận điều khiển bắn với bộ phận bắn. Theo đó, các tay súng sẽ bắn từ những vị trí được ngụy trang kín đáo, còn lực lượng điều khiển sẽ quan sát xem các viên đạn có trúng mục tiêu hay không. Nếu đạn pháo nã trúng mục tiêu, người điều khiển sẽ đánh giá mức độ thiệt hại của đối phương. Bộ phận điều khiển bắn khuyên bảo “không được nhai lá ‘Khat’ trong khi bắn và khi đánh giá mức độ thiệt hại sau trận đánh”. Khat là một loài cây ở Somali. Lá cây này có chứa chất kích thích tạo cảm giác hưng phấn, làm mất cảm giác thèm ăn và tạo ảo giác. Người dùng sẽ bỏ vài chiếc lá vào miệng và nhai giống như nhai thuốc lá. Đa số các tay súng của Aidid làm nhiệm vụ của mình là để mong được đổi lấy lá Khat. Nhóm người này phải phục tùng Aidid để tiếp tục được cung cấp lá Khat thỏa mãn cơn nghiền, giống như những tên ma cô cho gái điếm hút chích để dễ bề kiểm soát. Do loại lá này làm mất cảm giác ngon miệng nên Aidid không cần phải cho họ ăn nhiều. Đội quân này rõ ràng không có tinh thần kỷ luật cao. Mặc dù không có điều gì xảy ra trong thời gian này, nhưng sau đó, SIGINT sử dụng vô tuyến điện gọi máy bay đến không kích vào các khu vực quân sự và đã thắng lợi khi diệt được một số trận địa pháo của đối phương.
Tối hôm đó, mùi thối lại bốc ra. “Cái quái gì vậy?” Tôi rời mái nhà, bí mật đi đến ngôi nhà kế bên. Tôi nhìn thấy một cậu thiếu niên đang ngủ trên một tấm đệm ngay dưới mái hiên. Khi cách một đoạn khoảng 10 m, tôi đã hiểu mùi thối bốc ra từ đâu. Sau này tôi mới biết, cậu bé trạc 14 tuổi đó đã giẫm phải mìn ở sân trường. Quả mìn lấy đi cả chiếc chân phải của cậu. Một phần chân trái cũng bị quả mìn thổi bay. Vết thương không được chữa trị đang dần chuyển sang giai đoạn hoại tử. Thuộc hạ của Aidid đã cài đặt chất nổ ở sân trường sát hại hoặc gây thương tật cho trẻ em với mưu đồ không để các em trưởng thành và gia nhập quân đội. Vết thương ở chân của cậu bé bốc mùi quá khó chịu khiến gia đình của cậu không thể chợp mắt nổi. Do vậy, họ mới bắt cậu phải ra ngoài hiên ngủ. Ban ngày, họ lại đưa cậu vào trong nhà. Tôi đã đề nghị CIA cho phép giúp cậu bé. Tuy nhiên, yêu cầu này không được chấp nhận vì họ sợ bị lộ.
Chúng tôi nhận thấy hoạt động trên con đường phía trước Pasha và các tòa nhà bên cạnh rất tấp nập từ lúc 22 giờ đêm đến 4 giờ sáng hôm sau. Theo tin tức báo cáo, Aidid thường tung người ra hoạt động vào thời điểm đó, do vậy lúc 3 giờ sáng, lực lượng Delta đã dùng dây thừng tụt ra khỏi ngôi nhà Ligato Lig. Họ bắt được chín người. Nhưng thật không may, tất cả số bắt được này đều là nhân viên của Liên Hợp Quốc và lính canh người Somali. Delta trắng tay trong vụ này. Thứ Ba, ngày 31 tháng Tám năm 1993, một mật vụ phát hiện thấy Aidid trong một chiếc xe. Trăng Khuyết muốn viên mật vụ triển khai ngay một máy phát sóng di động trong xe, nhưng Kền Kền không muốn hy sinh viên mật vụ này nên đã bác bỏ kế hoạch vì nó quá mạo hiểm.
Aidid lẩn như trạch. Thay vì ở nhà, hắn sống với người thân. Mỗi nơi hắn chỉ ở một, cùng lắm là hai đêm. Khi di chuyển, đôi khi hắn sử dụng cả một đoàn xe mô tô hộ tống, nhưng có lúc hắn chỉ sử dụng một chiếc xe đưa đón. Hắn thường ăn mặc giả gái để tránh bị phát hiện. Trong phe cánh của mình, Aidid rất được sùng bái nhưng các phe cánh khác lại chẳng ai ưa hắn cả. Casanova và tôi ăn vận quần áo giống người dân địa phương và sử dụng chiếc xe Jeep hiệu Cherokee để đi trinh sát. Chiếc Jeep này đã bị va đập một vài lần nhưng nó đã được chúng tôi bí mật bọc thép. Tôi vấn khăn trên đầu, mặc áo sơ mi hoa kiểu Somali và mặc chiếc váy macawi ra ngoài chiếc quần dã chiến của mình. Nhờ bộ râu tốt lên và nước da ngăm đen mà tôi dễ dàng qua mặt đám lính gác người Ả Rập. Về vũ khí, chúng tôi mang theo khẩu CAR-15 có lắp ống giảm thanh. Chúng tôi để dưới chỗ ngồi và lấy chiếc váy phủ lên. Bên trong túi đồ của chiếc quần dã chiến, tôi còn nhét thêm một khẩu CAR-15 và một khẩu súng lục SIG 226 cỡ nòng 9 mm trong áo sơ mi.
Cùng đó, tôi nhét thêm một con dao gấp, bấm tự động cực sắc vào túi đồ trong chiếc quần dã chiến. Túi bên phải tôi để bộ sơ cứu khẩn cấp.
Theo quy định của SEAL, chúng tôi chỉ được phép ăn vận gọn nhẹ. Điều này luôn chứa đựng đầy rủi ro, chẳng hạn, nếu một con gấu xuất hiện trong rừng, hẳn là chúng tôi không đánh đuổi được nó. Tuy nhiên, ăn mặc gọn nhẹ giúp chúng tôi dễ dàng trà trộn, thuận lợi cho hoạt động thu thập tin tức tình báo. Điều này đòi hỏi chúng tôi phải biết thích nghi với tình huống. Tuy nhiên trong trường hợp bị lộ, chúng tôi được phép nổ súng và bỏ chạy. Casanova lái xe còn tôi chụp ảnh. Tôi phát hiện ra một vị trí có thể làm chỗ đậu cho trực thăng để lực lượng Delta và người bản xứ đi cùng có thể đổ bộ. Sau đó, chúng tôi còn tìm được tuyến đường giúp Delta đổ bộ bằng ô tô. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm ra một điều thú vị khác nữa. Trước đây, mặc dù người của chúng tôi đi bộ hoặc lái xe hay bay lơ lửng trên những chiếc trực thăng để thu thập thông tin, nhưng chúng tôi vẫn băn khoăn tự hỏi chẳng biết người của Aidid vận chuyển đạn pháo cho đội quân của họ bằng cách nào. Nhưng giờ đây, mọi việc đã rõ. Tôi nhìn thấy hai người phụ nữ đi cạnh nhau. Trên tay mỗi người bế một đứa bé. Ngay lập tức tôi xoay ống kính về phía họ và phóng to lên, tôi đã nhìn thấy đầu của đứa trẻ ở trên tay của một người phụ nữ, nhưng trên tay người phụ nữ thứ hai không phải là đứa trẻ mà là hai viên đạn pháo. Suýt nữa cách ngụy trang này đã qua mặt được tôi. Trong quá trình đi do thám, chúng tôi đã tìm ra được phương cách đưa quân vào và rút quân khỏi Pasha. Ví dụ, khi đến thời điểm đổi quân, chúng tôi lái xe đến một lò mổ lạc đà bỏ hoang ở bên bờ biển, đánh tín hiệu cho một chiếc thuyền chở lực lượng SEAL thay thế và đưa xe cho họ, còn chúng tôi lên thuyền ra tàu. Lực lượng SEAL thay thế không cần phải mang theo nhiều đồ vì chúng tôi đã để lại các thiết bị nặng, cồng kềnh của SIGINT và các vật tư khác ở Pasha.
Lò giết mổ này đồ sộ như một dãy nhà lớn trong thành phố. Trước đây, lò giết mổ do người Nga sở hữu, nhưng đã bị bỏ hoang từ khi xảy ra nội chiến. Họ chỉ lấy thịt và xương lạc đà, những bộ phận còn lại họ đều ném xuống đại dương. Vùng biển dọc theo bãi biển vốn từng được coi là một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới, giờ đây đầy rẫy các loài cá mập: cá mập đầu búa, cá mập trắng và cá mập hổ. Tôi chưa bao giờ sợ bơi ở bất cứ nơi nào nhưng lại không muốn bơi ở vùng biển đó. Ngay cả người dân địa phương cũng không muốn làm điều này, nên bãi biển này chỉ dành riêng cho nhu cầu của chúng tôi. Như một món quà, bãi biển rất gần Pasha. Ở dưới biển có thể dễ dàng nhìn thấy lò giết mổ do lò này che khuất cả một vùng bãi biển rộng lớn. Sử dụng những chiếc xuồng Zodiac (loại xuồng cao su gắn mô tơ bên ngoài) hoặc RHIB để vào bờ là điều vô cùng lý tưởng.
Chúng tôi quay trở lại Pasha. Tối hôm đó, cậu bé ở ngôi nhà kế bên rên la đầy vẻ đau đớn. Tôi hiểu đứa trẻ đã phải chịu đau như thế nào với vết thương như vậy. Phải giúp đứa bé mới được. Casanova, một y sĩ của SIGINT tên là Rick và tôi quyết định đột nhập vào nhà cậu bé. Chúng tôi lấy vải đen bịt kín mặt lại chỉ để hở hai con mắt, mang theo súng MP-5. Không do dự, chúng tôi phá vỡ cửa, trói bố mẹ và người dì của cậu bé lại và đặt họ nằm trên sàn nhà gần tường. Tất nhiên, họ sợ chúng tôi sẽ giết họ. Chúng tôi mang đứa bé vào trong nhà để cha mẹ cậu có thể chứng kiến những điều chúng tôi sẽ làm. Rick mở hộp đựng dụng cụ ra. Chúng tôi rửa vết thương bằng dung dịch sát trùng. Cậu bé vô cùng đau đớn. Chúng tôi đã phải lấy tay bịt miệng cậu lại để giữ cho tiếng la hét của cậu không đánh thức cả khu phố dậy. Cậu bé lịm đi trong cơn đau. Chúng tôi cho cậu uống thuốc kháng sinh, băng bó vết thương lại và tiêm hai mũi kháng khuẩn vào hai bên mông cậu trước khi biến mất vào màn đêm.
Thứ Tư, ngày 1 tháng Chín năm 1993, trong khi quan sát từ mái nhà, chúng tôi thấy một ông lão đánh xe lừa chở gạch vỡ. Khi trở về, ông cũng vẫn chở số gạch vỡ này. Cái quái gì đây? Chúng tôi đã lệnh cho một viên mật vụ theo dõi ông lão. Viên mật vụ phát hiện ông lão giấu đạn pháo dưới gạch. Chúng tôi báo cáo lên trên và nhận lệnh thủ tiêu ông lão.
Một lính bắn tỉa phải có lý trí mạnh mẽ, có niềm tin vững chắc vào tôn giáo hay một triết lý nào đó để đủ tỉnh táo không sát hại người bừa bãi. Trong chiến dịch Beltway năm 2002, lính bắn tỉa John Allen Muhammad đã nổ súng giết chết mười người và làm thương nặng ba người dân vô tội. Bắn súng có thể tạo cho con người cảm thấy mình mạnh mẽ. Một lính bắn tỉa giỏi không được phép để những xung lực này tác động chi phối. Mặt khác, khi một lính bắn tỉa không vượt qua được hội chứng Stockholm, người lính đó khó có thể hoàn thành được nhiệm vụ. (Năm 1973, tại Stockholm, Thụy Điển, một nhóm cướp đã bắt giữ các nhân viên ngân hàng làm con tin. Trong thời gian sáu ngày bị bọn cướp bắt giam, nhóm con tin lại trở nên có cảm tình với bọn cướp. Ngay cả sau khi được giải cứu, nhóm con tin vẫn ra sức bênh vực bọn cướp.) Qua một thời gian tìm hiểu lối sống và thói quen, lính bắn tỉa sẽ có hiểu biết tường tận về mục tiêu của mình. Trong một số trường hợp, lính bắn tỉa trở nên có cảm tình với mục tiêu. Tuy nhiên, lính bắn tỉa phải gạt bỏ được điều này. Khi thời gian đến, lính bắn tỉa phải hoàn tất nhiệm vụ của mình.
Trên mái nhà Pasha, Casanova và tôi nấp sau một bức tường. Tôi chĩa khẩu Win Mag về phía ông già, cách chỗ tôi nấp chừng 500m.
Casanova ngắm ông lão qua kính ngắm điểm. “Chuẩn bị. Ba, hai, một, bắn, bắn.” Mục tiêu trong tầm ngắm của tôi, tôi bóp cò ngay. Tiếng “pằng” đầu tiên, nhưng không phải vào ông lão mà vào con lừa. Đang mong đợi ông lão sẽ ngã xuống, nhưng lại là con lừa, Casanova chặc lưỡi tỏ vẻ tiếc nuối. Ông lão bỏ chạy. Một lúc sau, ông lão chỉ còn là một chấm nhỏ, nhưng con lừa nằm chết ở đó. Không ai ra mang xác con lừa về và nó vẫn mắc vào chiếc xe kéo. Mọi người bỏ mặc con lừa nằm chỏng trơ giữa đường như vậy.
Sau đó, một viên mật vụ cho chúng tôi biết ông lão đó không muốn chở đạn pháo, tuy nhiên quân của Aidid đe dọa sẽ giết chết cả nhà nếu ông từ chối vận chuyển. Tôi cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm vì đã không hạ sát ông lão. Cùng ngày, lực lượng của SIGINT chặn thu được cuộc trao đổi trên vô tuyến điện về kế hoạch pháo kích của đối phương vào nhà chứa máy bay. SIGINT biết được tần số liên lạc của lực lượng pháo thủ. Ngay lập tức, họ đã thông báo cho sở chỉ huy để bố trí thời gian cho mọi người ẩn náu trước khi đối phương pháo kích vào. Không ai bị thương trong vụ pháo kích. Trong chiến tranh, báo động trước một vài phút là điều vô cùng quý báu.
SIGINT thường xuyên nghe lén các cuộc trao đổi vô tuyến điện giữa bộ phận bắn và điều khiển bắn của quân Aidid. SIGINT đã triển khai máy bay oanh kích tiêu diệt các trận địa pháo của đối phương. Ngoài ra, chúng tôi còn chuẩn bị sẵn lá Khat cho các pháo thủ nghiện. “Các anh không nhất thiết phải nghiện ngập giống người của Aidid đâu. Lá Khat đây, cầm lấy và nhai đi.” Họ cười nhăn nhở, phô ra những bộ răng ố vàng, đen xỉn. Tôi hiểu, cho người nghiện nhai lá Khat là điều khủng khiếp, nhưng nó có thể cứu họ thoát chết khỏi các cuộc pháo kích và khỏi các cuộc phản kích của chúng tôi. Quân của Aidid giờ đây bắt đầu khó phối hợp với nhau trong các cuộc pháo kích.
Đêm đó, chúng tôi phát hiện một gã vác súng AK-47, đứng trên ban công ngôi nhà phía sau. Tôi mở chốt an toàn khẩu CAR-15 và hướng chấm đỏ vào đầu của hắn. Chúng tôi luôn gắn ống ngắm quang học (ACOG) trên tất cả các khẩu CAR-15. Đây là loại kính ngắm điểm tầm ngắn, chạy nguồn điện 1,5 vôn. Vào ban đêm, nó sáng hơn so với ban ngày gấp 10 lần nên chúng tôi không gặp trở ngại gì khi tác chiến trong đêm tối. Chấm đỏ xuất hiện trong kính ngắm khi đã tìm được mục tiêu. Điểm này tiên tiến hơn nhiều so với kính ngắm laze. Tôi chỉ đợi gã thanh niên đó chĩa súng về phía mình là bóp cò nhả đạn, tuy nhiên, hắn không làm vậy. Sau khi nói chuyện với số lính bảo vệ của mình, tôi mới vỡ lẽ. Hóa ra gã thanh niên cầm súng AK-47 đó là một lính bảo vệ của chúng tôi. Hôm đó, anh ta về nhà và bắt chước chiến thuật bảo vệ từ trên mái nhà của SEAL. Tất nhiên, gã đần này chẳng nói cho chúng tôi kế hoạch đó và có lẽ gã cũng chẳng biết đã bị chúng tôi phát hiện. Chúng tôi bảo anh ta “Cậu suy nghĩ như vậy là tốt, nhưng lần sau nhớ nói cho chúng tôi biết, bởi nếu không hành động ngu dốt đó sẽ làm cậu hối không kịp.”
Sáng thứ Năm, ngày 02 tháng Chín năm 1993, chúng tôi họp bàn kế hoạch và sắp xếp các vị trí trong thời gian tới. Pasha đang vận hành tốt, nên chúng tôi cần phải duy trì bộ máy này sau khi hoàn thành nhiệm vụ và có lực lượng khác thay thế.
Vài ngày sau đó, chúng tôi có được thông tin cần thiết. Aidid rất giàu có. Cô con gái đang học đại học của Aidid có nhiều bạn ở châu Âu, Libya, Kenya và nhiều nước khác. Ai đó đã gọi điện vào máy di động của cô ta và SIGINT đã nghe trộm được. Mặc dù hắn ta di chuyển liên tục nhưng con gái của y đã mắc sai lầm khi đề cập đến nơi ẩn náu của hắn. Một viên mật vụ đã giúp chúng tôi xác định được ngôi nhà đó. Máy bay do thám P-3 thu nhận được tín hiệu từ đoàn xe hộ tống Aidid, nhưng ngay sau đó đoàn xe ngừng liên lạc và chúng tôi để mất Aidid trong mê cung của các tòa nhà.
Vào buổi tối, Casanova và tôi nằm trên mái nhà Pasha để bảo vệ vòng ngoài. Trong thời gian ở Pasha, chúng tôi hay chơi trò bẫy chuột. Chúng tôi dùng hạt đậu phộng lấy từ gói đồ ăn sẵn để làm mồi nhử. Chúng tôi buộc dây vào một chiếc gậy và gắn một chiếc hộp trên đó. Thông qua kính nhìn đêm, chúng tôi thấy chuột bò vào. Casanova giật dây, nhưng thật tiếc con mồi đã chạy thoát trước khi chiếc hộp rơi xuống đầu nó. Sau đó, chúng tôi cải tiến kỹ thuật bẫy này khoa học hơn. Tôi tháo rời một số chiếc bút bi và sử dụng lò xo bút bi tạo thành đường đi duy nhất dẫn đến chiếc hộp. Bên trong hộp có đặt một vài hạt đậu phộng. Ngay lập tức, một con chuột bò gần đến bẫy và vào trong hộp. Những sợi dây đóng chặt cửa lại và nhốt chặt con chuột trong hộp.
“Bắt được mày rồi”, tôi thì thầm. Casanova mỉm cười.
“Tiếp theo chúng ta sẽ làm gì?” – Tôi hỏi. “Giết nó chứ còn gì nữa.”
“Giết nó bằng cách nào?” “Cậu nói vậy là có ý gì?”
Trong khi chúng tôi mải bàn về cách giết con chuột thì nó đã thoát ra khỏi chiếc bẫy và chạy mất.
Lần sau đó, chúng tôi làm một chiếc hộp nhỏ hơn để chuột không có nhiều khoảng trống do đó nó sẽ khó trốn thoát hơn. Con chuột bò vào bên trong. Bẫy sập xuống. Tôi giận mạnh chân xuống chiếc bẫy. Con chuột chết, đồng nghĩa với việc chiếc bẫy cũng bị hỏng. Theo cách này, mỗi chiếc bẫy chỉ giết được một con.
Tôi cảm thấy vui sướng khi đã giết chết được một con chuột. Giờ đây tôi lại tiếp tục làm một chiếc bẫy khác để bắt con thứ hai. “Này, đến đây,” Casanova khẽ gọi.
“Gì vậy?” Tôi trườn đến chỗ Casanova.
Anh ta chỉ tay về phía ngôi nhà bên kia đường, chỗ chúng tôi đã cắt cử hai lính canh gác từ ngày hôm trước. Ở đó, có ba người đàn ông đang tìm cách vào nhà. Họ đã chọn nhầm nhà trong khu phố. Giá họ tìm cách đột nhập vào ngôi nhà này trước khi chúng tôi cắt cử người canh gác thì chúng tôi sẽ nói Liệu thần hồn, biến khỏi đây ngay. Giờ đây số lính canh của chúng tôi đã ở trong nhà và việc xử lý số người này là trách nhiệm của chúng tôi.
Casanova xử lý gã bên trái còn tôi xử lý gã bên phải. Di chấm đỏ vào mục tiêu đầu tiên của mình, tôi siết cò. Chân của hắn khụy xuống trước khi đổ gục. Casanova cũng diệt gọn mục tiêu của anh ấy. Tên ở giữa được sống lâu hơn hai tên đồng bọn một vài tích tắc vì ngay sau đó, cả Casanova và tôi đều nổ súng diệt hắn. Nếu ba kẻ đột nhập chỉ là những tên trộm thông thường thì chúng đã bị trả một giá quá đắt cho hành động đó.
Sau đó, SIGINT nghe lỏm được câu chuyện tại quán bar ở khu phố đó và biết quân của Aidid đang đi thu thập tin tức. Có thể bọn chúng đang lên kế hoạch tấn công chúng tôi. Pasha được đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi thậm chí bố trí cả tên lửa chống tăng AT-4 và đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài. Hóa ra không phải quân Aidid đi thu thập tin tức mà chúng đi tuyển quân.
Một viên mật vụ nhìn thấy Aidid nhưng không thể xác định chính xác ngôi nhà hắn đang lẩn trốn. Thông tin này là cơn ác mộng đối với chúng tôi. Mặc dù các mật vụ cùng vào cuộc để xác định ngôi nhà nhưng những nỗ lực này bất thành. Một máy bay của lực lượng SIGINT bay từ châu Âu sang giúp chúng tôi. Chiếc máy bay này đã đến vào buổi tối hôm đó nhằm góp phần lần tìm và xác định chính xác nơi ẩn náu của Aidid. Hoạt động này giúp ích cho chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi có thể sử dụng máy phát và đưa ra các cảnh báo hiệu quả hơn. Nó cũng giúp chúng tôi có thể chặn thu thông tin tốt hơn là chặn thu từ tầng thượng ngôi nhà chúng tôi đang ở.
Ngôi nhà lớn ngay bên phải Pasha là nơi cư trú của Đại sứ Italia. Tại đây, viên Đại sứ đã tổ chức một bữa đại tiệc với sự tham gia của đông đảo quân nhân Italia. Italia đóng chiếm tại Somali từ năm 1927 đến năm 1942. Năm 1949, Liên Hợp Quốc giao cho Italia ủy trị một số vùng của Somali. Sau đó, vào năm 1960, Somali giành độc lập. Giờ đây, lính Italia đã thực sự trở thành những thằng khốn khi chơi trò hai mang. Bất cứ khi nào máy bay Black Hawk hoạt động, lính Italia lập tức dùng đèn tín hiệu báo cho dân địa phương biết lính Mỹ đang tới. Nhưng đồng thời, binh sĩ của họ lại sử dụng hình thức tra tấn bằng điện đối với tù binh Somali, hãm hiếp phụ nữ và chụp ảnh ghi lại những chiến tích của chúng.
Liên Hợp Quốc cáo buộc Italia đã hối lộ Aidid và ra lệnh phải cử người thay Đại tướng Italia Bruno
Loi. Chính phủ Italia lại đề nghị Liên Hợp Quốc phải chấm dứt những hoạt động hiếp đáp Aidid.
Giancarlo Marocchino là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn. Y bỏ trốn khỏi Italia vì tội trốn thuế và đã cưới một cô vợ người Somali trong gia tộc Aidid. Khi Liên Hợp Quốc tịch thu vũ khí của lực lượng bán vũ trang Somali, quân đội Italia đã giao số vũ khí thu được này cho Giancarlo. Người ta ngờ rằng sau đó Giancarlo đã bán lại cho Aidid.
Italia đã rót hàng nghìn tỷ lia vào Somali dưới chiêu bài viện trợ. Với sự giúp đỡ từ những nhân vật như Aidid, ngay cả khi Aidid chưa trở thành lãnh chúa quyền uy, hầu hết số tiền này đã rơi vào túi của các quan chức Italia và bạn bè của họ. Italia xây dựng đường cao tốc nối liền Bosasso với Mogadishu. Giancarlo Marocchino đã nhận tiền “lại quả” sau dự án này. Marocchino cũng gây dựng được mối quan hệ gần gũi với nhóm phóng viên nhờ việc bỏ tiền bỏ của thết đãi họ trong thời gian lưu trú ở Mogadishu.
Một cựu chiến binh Nga, sống cùng khu phố với chúng tôi, cũng chơi trò hai mang. Trước đây, ông ta được đào tạo qua về tình báo và giờ đây đang hoạt động như một lính đánh thuê. Ông ta làm việc cho cả hai bên miễn là nhận được thù lao. Chúng tôi nghi ngờ ông ta giúp cả hai bên dò tìm các vị trí bí mật và tuyển mộ binh lính. Có vẻ ông ta bắt tay với quân Italia để cùng làm việc này. Gia đình Sicili đã dạy tôi cách nấu ăn là những người rất yêu qúy nước Mỹ. Ngược lại, các hành vi của quân lính Italia ở Somali giống như những cú đấm giáng vào chúng tôi.
Chúng tôi đã nhận được báo cáo cho biết có thể Aidid đã mua được loại tên lửa đất đối không Stinger. Đây là loại tên lửa vác vai có thể bắn hạ được máy bay.
Tôi, Casanova và y sĩ của SIGINT lại một lần nữa đột nhập vào nhà của của cậu bé bị thương ở chân. Lần này gia đình cậu không còn sợ hãi như lần trước đó, tuy nhiên, họ cũng chẳng cảm thấy thoải mái. Chúng tôi còng tay họ lại trước khi chữa trị vết thương cho cậu bé. Vết thương của cậu đã khá hơn nhiều. Lần này, cậu không la hét hay vãi tè ra quần khi chúng tôi rửa vết thương nữa.
Sáng ngày 3 tháng Chín năm 1993, chúng tôi chuẩn bị đến khu quân sự. Những lính bảo vệ người Somali trinh sát đường đi trước khi chúng tôi ra. Trong chuyến đi, lính bảo vệ đã áp dụng chiến thuật tách nhóm. Theo đó, nếu có kẻ bám đuôi, chúng sẽ buộc phải chia đôi lực lượng thành hai ngả khác nhau hoặc đi theo một hướng theo kiểu năm ăn năm thua. Chúng tôi đã được đào tạo cơ bản chiến thuật ở trường học, nhưng những người bảo vệ lại rút ra kinh nghiệm này từ cuộc nội chiến và sẵn sàng áp dụng khi cần. Họ quả là những người rất thông minh.
Khu quân sự được canh phòng cẩn mật với sự bảo vệ của lính bắn tỉa, các tháp canh và các vị trí bắn. Chúng tôi cầm đèn hồng ngoại và bấm nháy để báo hiệu chuẩn bị nâng cấp mức độ bảo vệ an ninh cho Pasha. Khi ở đó, chúng tôi có cuộc họp với lực lượng Delta, kể cho họ nghe chi tiết các vụ pháo kích và các điểm nghi ngờ có bố trí lực lượng pháo thủ. Họ trèo lên mái nhà chứa máy bay và bắn do thám: những tay súng bắn tỉa bắn vào những khu vực nghi ngờ có lực lượng pháo thủ và hy vọng lực lượng SIGINT có thể chặn thu được các cuộc trao đổi ở những nơi trúng đạn. Khi Tướng Garrison phát hiện ra, ông đã mắng chúng tôi một trận thậm tệ. Ông không thích hành động bắn do thám này.
Đêm hôm đó, chúng tôi trở lại Pasha giúp lính bảo vệ hiểu rõ hơn về công việc của chúng tôi và cách thức thực hiện nhiệm vụ. Casanova mang theo đèn hồng ngoại và đi một vòng quanh ngôi nhà. Mắt thường không thể nhìn thấy đèn hồng ngoại. Tôi cho những lính bảo vệ nhìn qua kính nhìn đêm KN-250 nên có thể thấy ánh sáng lấp lánh trên người Casanova. Những người lính canh này há hốc mồm ra vì kinh ngạc như kiểu thể lần đầu tiên thấy vật thể bay lạ (UFO). Họ hạ kính nhìn đêm xuống để quan sát bằng mắt thường, rồi lại nhìn Casanova bằng kính nhìn đêm một lần nữa. Giọng của họ liến thoắng, tay chân khua loạn cả lên như là vừa viếng thăm UFO khiến cả Casanova lẫn tôi đều cười thú vị. Vào lúc tối muộn, chúng tôi cùng với Cá Đuối (Stingray), đang làm việc dưới quyền của Kền Kền đến trình diễn những tính năng ưu việt của loại đèn nháy hồng ngoại và các thiết bị khác cho viên cảnh sát trưởng xem. Viên mật vụ chủ chốt, phụ trách mảng tuyển quân, đã nói cho viên cảnh sát trưởng phương thức hoạt động của chúng tôi. Kết quả, viên cảnh sát trưởng cảm thấy rất yên tâm và đồng ý cử người cộng tác với chúng tôi. Đổi lại, ông ta nhận được 50.000 đô-la. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu, ông ta chỉ cần sử dụng 1.000 đô-la trong số đó là đủ để chi trả cho 20 hay 30 người chịu làm việc với chúng tôi, số còn lại đương nhiên ông ta bỏ vào túi mình.
Casanova và tôi lại đột nhập ngôi nhà của cậu thiếu niên bị thương. Bố mẹ cậu ngoan ngoãn ra chỗ sàn nhà gần tường chứ không cần chúng tôi phải giục. Người dì tay bưng khay trà, quỳ xuống mời chúng tôi.
Tôi cầm một cốc lên và mời gia đình cùng uống. Tuy nhiên họ từ chối.
Lần này chúng tôi mang theo một phiên dịch viên để hướng dẫn gia đình cách chăm sóc cậu bé. Gia đình cậu bé rất nghèo và những cốc trà là điều duy nhất họ có thể làm để cám ơn chúng tôi. Họ đã từng mời thầy mo về chữa trị nhưng rõ ràng việc làm này chẳng cứu chữa được cậu bé.
Giờ đây, vết thương của cậu không còn bốc mùi nữa, nhưng đôi khi vẫn lên cơn sốt. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn quyết định phẫu thuật thêm cho cậu một lần nữa. Sau đó, chúng tôi đưa cho gia đình một số viên kháng sinh amoxilin. Chúng tôi dặn: “Cho cháu uống ba lần mỗi ngày trong vòng mười ngày”.
Tôi thấy lợi của của cậu bé đang chảy máu. Trong mồm cậu đầy máu.
Người y tá thốt lên: “Cậu ấy bị bệnh sco-bút rồi”. Người mắc bệnh này là do thiếu vitamin C trong thức ăn hàng ngày. Trước đây, các thủy thủ thường hay bị nhiễm căn bệnh này. Bác sĩ phẫu thuật người Scotland tên là James Lind thuộc Hải quân Hoàng gia Anh phát hiện ra rằng những thủy thủ nào hay ăn loại hoa quả như cam chanh thường ít mắc bệnh Sco-bút. Do chanh là loại quả dễ tìm ở các thuộc địa của Anh ở vùng Caribê nên Hải quân Anh đã cung cấp nước trái cây này cho các thủy thủ. Từ đó, thủy thủ Anh có biệt hiệu là “limey”. Limey có nguồn gốc từ chữ lime-juicer, có nghĩa là máy ép nước chanh.
Ngày 4 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi lái xe ra ngoài trinh sát tuyến đường dự phòng, dò tìm trận địa pháo của đối phương và để nắm vững địa bàn hơn. Sau đó, một viên mật vụ cho biết quân của Aidid đã cài hai quả mìn trên đường để phục kích các phương tiện đi lại của Mỹ. Hai quả mìn được cài ở đúng con đường chúng tôi đến gặp lực lượng Delta ở khu quân sự ngày hôm trước. Tôi tin rằng, chúng hẳn đã biết chuyến đi của chúng tôi nhưng chúng đã đón trượt.
Trong khu phố, hàng ngày các bé gái phải đi 1,6 km mới đến được nơi lấy nước và mang về nhà. Ở sân trước, một bé gái chừng bốn tuổi đang tắm cho đứa em mới hai tuổi của nó. Hầu hết mọi người Mỹ đều không nhận ra họ may mắn đến thế nào! Chúng tôi thầm cám ơn những hành động của các bé gái này
bởi nó làm mọi người ý thức hơn về cuộc sống đang có của mình.
Đến thời điểm này, chúng tôi đã trở thành người nổi tiếng, kiểm soát được khu vực rộng lớn. Khi Casanova thấy các cô cậu học sinh, anh gồng tay và hôn vào đó. Nhóm học sinh bắt chước liền. Một nhóm học sinh tụ tập lại và chúng tôi phát kẹo, socola, bánh Tootsie và kẹo cao su cho các em. Đúng vậy, mặc dù việc làm này làm lộ vỏ bọc của chúng tôi, nhưng Kền Kền nghĩ, đây là một việc làm có ý nghĩa để giành được tình cảm của người dân địa phương. Tôi đồng ý với anh.
Tôi mang một túi cam sang cho cậu bé bị thương ăn, nhưng cậu lại không ăn được vì axít xitric làm xót chỗ lợi đang chảy máu. Casanova giữ chặt cậu bé, còn tôi đổ nước hoa quả vào mồm cậu. Sau hai ba lần, cậu bé không còn cảm thấy xót nữa. Cuối cùng cậu khỏi bệnh sco-bút. Để giúp cậu bé, Kền Kền nói dối CIA là cậu bé có họ hàng với một viên mật vụ của chúng tôi. Một viên mật vụ mang cho cậu bé đôi nạng, còn tôi cho cậu mượn chiếc xe lăn.
Sau này, cậu bé ra ngoài hiên và nhìn thấy chúng tôi khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ trên mái nhà của Pasha. Cậu mỉm cười và vẫy tay chào chúng tôi. Đây là chiến dịch thành công nhất của tôi ở Somali. Để làm việc này, tôi đã không tuân lệnh cấp trên trực tiếp của mình. Đúng là cầu xin sự tha thứ tốt hơn là xin phép làm một việc gì đó.
Aidid bắt đầu vận hành chiến dịch “Con tim và Khối óc”. Hắn công khai chống lại người Mỹ và bắt đầu tuyển quân ngay trong khu vực của chúng tôi: hắn tuyển tất cả chẳng chừa một ai từ già tới trẻ.
Các mật vụ báo cho chúng tôi biết tuyến đường Aidid sử dụng để vận chuyển tên lửa Stinger: từ Afganistan qua Sudan, Ethiopia vào Somali. Đây là số tên lửa Afganistan chưa sử dụng đến và nằm trong số tên lửa Mỹ cấp cho Afganistan để đương đầu với Nga. Một vài năm sau đó, Chính phủ Mỹ đã bỏ tiền ra mua lại các tên lửa Stinger này với giá 100.000 đô-la một quả mà không nói rõ lý do.
Aidid nhận được sự giúp đỡ từ Al Qaeda và Tổ chức giải phóng Palestine (PLO). Khi đó, chẳng mấy người biết đến tổ chức Al Qaeda. Al Qaeda đã gửi các cố vấn đến huấn luyện cho quân của Aidid chiến thuật phòng thủ tác chiến trong thành phố và cung cấp vũ khí giúp Aidid. Trong thời gian này, Al Qaeda còn dạy quân Aidid cách cải tiến kíp nổ tiếp xúc trên đầu đạn của loại súng phóng lựu RPG thành các thành kíp nổ hẹn giờ. Thay vì phải bắn thẳng vào trực thăng, RPG có thể phát nổ gần cánh quạt đuôi, yếu điểm của các máy bay trực thăng. Nếu bắn RPG từ đỉnh mái nhà sẽ dễ lộ và dễ dàng bị các tay súng trên máy bay tiêu diệt nên Al Qaeda đã hướng dẫn quân Aidid đào hố sâu trên đường. Bằng phương pháp này, họ có thể tránh bị trực thăng phát hiện. Mặc dù ở thời điểm đó, tôi không biết việc này, nhưng rõ ràng các cố vấn Al Qaeda đến Somali thời điểm đó có cả Bin Laden và Mohammed Atef. Tương tự, PLO đã cử cố vấn và gửi phương tiện sang giúp đỡ Aidid. Giờ Aidid muốn nhắm đến mục tiêu là các nhân vật cấp cao trong chính quyền Mỹ.
Lực lượng SIGINT chặn thu được bức điện có nội dung về âm mưu phóng tên lửa tấn công vào Đại sứ quán Mỹ. Hơn nữa, các mật vụ còn cho chúng tôi biết lính Italia làm việc ở các trạm kiểm soát của Liên Hợp Quốc trong thành phố tiếp tục cho phép quân Aidid đi lại tự do. Do đó, quân của Aidid chỉ tìm đến các trạm kiểm soát của người Italia và dễ dàng tự do đột nhập vào sân sau của Mỹ và một số khu vực khác.
Hai trong số các vệ sĩ Aidid muốn bán đứng chủ nhân của họ để đổi lấy món tiền thưởng 25.000 đô-la. Do đó, Báo Gấm muốn gặp họ tại Pasha.
Để đến được Pasha, Báo Gấm lập kế hoạch di chuyển qua trạm kiểm soát của người Italia đúng gần một nhà máy mì ống cũ kỹ, được gọi là trạm kiểm soát nhà máy mì ống. Tuy nhiên, Báo Gấm lại không biết trạm kiểm soát này vừa được người Italia giao lại cho người Nigeria. Chỉ vài phút sau khi bàn giao, quân của Aidid đã phục kích và giết chết bảy lính Nigeria. Tối hôm đó, tôi nghe thấy âm thanh của một cuộc giao tranh ngay gần Pasha. Rõ ràng, bọn chúng đã bắt đầu đánh hơi thấy vấn đề. Tình huống này đòi hỏi chúng tôi phải khẩn trương hơn. Chưa đến 8 giờ sáng Chủ nhật, ngày 5 tháng Chín năm 1993, Báo Gấm và bốn vệ sĩ đi trên hai chiếc Isuzu Troopers phóng ra khu Liên Hợp Quốc. Khi họ tới trạm kiểm soát nhà máy mì ống, một đám đông bu lấy họ. Ở phía trước cách khoảng vài trăm mét, lốp xe cháy và bê tông đổ làm tắc nghẽn con đường. Lái xe của Báo Gấm nhấn ga vượt qua ổ phục kích. Bốn mươi chín viên đạn găm vào xe của họ. Một viên xuyên qua áo và trúng vào cổ Báo Gấm. Người tài xế tiếp tục rồ ga xuyên qua ổ mai phục và đưa Báo Gấm đến bệnh viện trong khu Liên Hợp Quốc. Sau khi truyền gần 5 lít máu và khâu 100 mũi, Tướng Garrison đưa Báo Gấm đến chữa trị tại một bệnh viện ở Đức. Báo Gấm được cứu sống.
Cuối ngày hôm đó, tôi nghe thấy những tiếng nổ của loại súng cỡ nòng 50 caliber, loại đạn có thể xuyên thủng tường, bắn từ hướng tây bắc, cách chỗ chúng tôi chừng 300 – 500m.
Vụ bắn này cộng với vụ phục kích trước đó giúp chúng tôi hiểu rằng mình sẽ bị tấn công. Tình trạng sẵn sàng chiến đấu được ban bố và chúng tôi đều vào vị trí tác chiến. Tôi đã gọi một chiếc AC-130
Spectre đến phòng khi chúng tôi cần sự giúp đỡ. AC-130 Spectre là loại máy bay có thể bay nhiều giờ liên tục, mang hai khẩu pháo Vulcan M-61 cỡ nòng 20 li, một khẩu pháo L/60 Bofors cỡ nòng 40 li và một khẩu bích kích pháo M-102 cỡ nòng 105 li. Các bộ cảm biến tinh vi và radar giúp phát hiện kẻ thù trên mặt đất. Bạn có thể thả một con thỏ trên một sân bóng đá và chiếc AC-130 Spectre sẽ dễ dàng làm thịt con thỏ này. Tôi đã được đào tạo về khả năng của loại máy bay này và cách gọi máy bay đến trút đạn xuống kẻ thù tại thao trường Hurlburt ở Florida. Điều này làm cho tôi rất phấn khích, chúng tôi đã sẵn sàng hạ gục một số binh lính của Aidid. Tuy nhiên, số phận lại mỉm cười với quân của Aidid khi chúng chọn ngày khác để tấn công.
Cùng ngày, chúng tôi phát hiện ra một trong những mật vụ chủ chốt bị lộ và chúng tôi buộc phải đưa anh ta rời khỏi Somali.Lúc 8 giờ tối, một viên mật vụ báo cáo Aidid đang ở nhà một bà dì của hắn. Kền Kền điều một máy bay trực thăng đến chở Cá Đuối và viên mật vụ đến căn cứ và báo cáo vắn tắt tình hình cho Tướng Garrison biết. Tất cả những người ở Pasha đều rất hưng phấn. Tất cả những gì chúng tôi đã làm ở Pasha − từ việc điều hành các mật vụ, lực lượng SIGINT… đã mang lại thời khắc quý báu này. Tình báo giỏi và màn đêm là lá chắn vững chắc bảo vệ đội xung kích của chúng tôi. Thậm chí, viên mật vụ thậm chí còn có trong tay sơ đồ của ngôi nhà. Đây là điều lý tưởng cho đội hành động đặc biệt khi tiến hành xâm nhập. Aidid là của chúng tôi.
Tuy nhiên, yêu cầu bị từ chối. Đến giờ, tôi vẫn không biết tại sao. Kền Kền và Cá Đuối thực sự bị tổn
thương. “Chúng tôi sẽ chẳng thể có được một cơ hội khác qúy báu như lần này!”
Những người còn lại cũng chẳng thể tin vào quyết định này. “Whiskey Tango Foxtrot ?!”
Theo bảng chữ cái ngữ âm quân sự, ba từ trên viết tắt là WTF và có nghĩa là “Chó chết thật!”
Tôi rất bực mình vì chúng tôi đã miệt mài làm việc chỉ để đổi lấy kết quả là nhiệm vụ quan trọng bị bỏ qua. Có vẻ như người đáng trách trong vụ này là bộ phận chính trị trong quân đội. Tôi cũng cảm thấy bức xúc trước hành vi đối xử với lực lượng CIA. “Kền Kền, tôi thành thật xin lỗi. Tôi không biết cái quái quỷ gì đang diễn ra nữa. Tôi chẳng hiểu nổi tại sao chúng ta lại không thực hiện phi vụ này.”
Kền Kền không giận chúng tôi, nhưng anh ta rất hận Tướng Garrison. “Nếu Garrison không cho thực hiện phi vụ này, thì ông ta phái chúng ta đến đây làm cái quái gì? Tại sao lại phải làm tất cả những việc này, tại sao phải ném tiền vào đây, đẩy chúng ta vào nguy hiểm, đẩy các mật vụ vào nguy hiểm.”
“Nếu chúng ta vào cuộc”, tôi nói hộ Kền Kền nửa câu còn lại “Chúng ta đã có Aidid”. “Chó thật, cậu nói đúng, lẽ ra chúng ta đã có Aidid”.
Khi đó, tôi cũng tức điên lên với Garrison. Khi quá tức giận, tôi thường trở nên im lặng. Kền Kền và tôi đều có chung một nỗi khổ và từ sau vụ việc đó, tôi chẳng nói chẳng rằng. Những người khác biết ý và dành cho tôi một không gian riêng. Tất cả chúng tôi đều tiếc nuối vì bỏ mất cơ hội thực hiện nhiệm vụ.
4 giờ sáng, ngày 6 tháng Chín năm 1993, từ trên mái nhà Pasha, Casanova và tôi nghe thấy tiếng nổ của xe tăng. Khi đó, chúng tôi vẫn chưa biết Aidid đã có xe tăng, nhưng chúng tôi vẫn dự phòng tên lửa chống tăng AT-4.Vài giờ sau, Casanova và tôi nói chuyện này với Gã Mập lùn và Sourpuss. Vừa nghe xong, Sourpuss đã phản đối: “Không thể có xe tăng ở đây được”.
“Chúng tôi phải biết mình đã nghe thấy tiếng động cơ gì chứ”, tôi nói.
“Tôi không tin,” Sourpuss nói. “Điều vớ vẩn này có thể gây ấn tượng với CIA đấy, còn với tôi thì không.”
“Đúng thật là…”
Cũng buổi sáng hôm đó, một viên mật vụ bị bắn chết khi vừa bước chân ra khỏi xe của mình.
Chẳng bao lâu sau, viên mật vụ thứ hai cũng bị bắn vào đầu. Viên mật vụ này là anh trai của người giúp việc cho chúng tôi. Anh ta là một người tốt. Anh ta đồng ý làm mật vụ không phải vì tiền mà để giúp phe cánh của anh giành thắng lợi và chấm dứt cuộc nội chiến. Ánh mắt người hầu phòng chẳng thể che giấu được nỗi buồn to lớn trước sự mất mát này. Dường như mọi việc vẫn chưa dừng lại ở đây, viên mật vụ thứ ba đã bị quân Italia đánh một trận thập tử nhất sinh.
Chúng tôi nhận được mật báo về việc Aidid đã sở hữu súng phòng không. Phe cánh Aidid tiếp tục lớn mạnh và ngày càng hoạt động tinh vi hơn nhờ sự hậu thuẫn của Al Qaeda, PLO và sự làm ngơ của quân Italia. Người dân bản địa cũng nhận ra sự phát triển này và đều tỏ ra muốn gia nhập vào đội quân của Aidid.
Một mật vụ báo cho Delta biết Aidid đang ẩn náu trong khuôn viên cũ của Nga. Vì vậy, Delta đã theo sau viên mật thám này và bắt mười bảy người, nhưng không có Aidid trong nhóm này. Chỉ có hai trong số mười bảy người bị bắt là nằm trong số những kẻ bị săn lùng. Họ đã bị giam giữ, hỏi cung và rồi được phóng thích. Delta đã có một màn trình diễn tác chiến trước người của Aidid: máy bay bay vào, dùng dây thừng tụt xuống và sử dụng lực lượng biệt kích Ranger để bảo vệ những người vừa xuống.
Ngày 7 tháng Chín năm 1993, một mật vụ chủ chốt của chúng tôi đến muộn bốn giờ đồng hồ. Chúng tôi nghĩ anh ta đã bị giết chết.
Cuối cùng anh ta cũng xuất hiện “Tôi đến để nhận nhiệm vụ tối nay”. “Xin lỗi, anh đã bị xóa tên.”
“Xóa tên ư?”
“Nhiệm vụ bị hủy bỏ. Tối nay không có nhiệm vụ nào giao cho anh hết.”
Buổi tối hôm đó, Casanova và tôi hộ tống Kền Kền mang tiền đến cho một mật vụ. Các mật vụ chỉ huy thường giàu có, có tầm ảnh hưởng lớn và sở hữu một số nhân viên dưới quyền. Kền Kền đến tận nhà các mật vụ chỉ huy chứ không gọi họ đến bởi ông muốn kiểm tra số lượng và nhận mặt các tân binh, để biết các mật vụ chia cho họ bao nhiêu tiền và giao nhiệm vụ cho họ như thế nào. Cuộc gặp kéo dài khoảng tiếng rưỡi. Trong khi Casanova và tôi đứng bảo vệ bên ngoài, chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ cách đó khoảng 200m về phía bắc.
Gã Mập lùn và Sourpuss nhìn thấy một số người rời khỏi cuộc đọ súng, chạy về hướng chúng tôi. Họ dùng vô tuyến điện hỏi: “Có phải các anh đang cần sự giúp đỡ không?”.
“Không, chúng tôi không tham gia.” Nếu chúng tôi bắn pháo hiệu xanh, Gã Mập lùn và Sourpuss sẽ gọi trực thăng, rồi mở đường đến hỗ trợ chúng tôi trước khi trực thăng có mặt.
Khi đêm đã về khuya, chúng tôi trở lại Pasha và tôi đã bắt được con chuột thứ hai.
Ngày 8 tháng Chín năm 1993, biệt kích Ranger báo cáo đã phát hiện một chiếc xe tăng cũ của Nga cách thành phố khoảng hơn 3 km và đã tiêu diệt chiếc tăng này. Tôi nhắc Sourpuss về tiếng nổ của chiếc xe tăng mà Casanova và tôi đã nghe thấy vài ngày trước đó, “Thấy chưa? Đó là xe tăng đấy. Cậu biết không, chúng gây ra tiếng ồn trong quá trình di chuyển.” Sourpuss bỏ đi.
Ngày hôm đó, Abe đã trở thành mật vụ chủ chốt của chúng tôi. Chúng tôi đưa cho anh ta một chiếc đèn nháy hồng ngoại và một chiếc đèn hiệu gắn nam châm. Anh ta có vẻ rất tự tin là sẽ tiếp cận được Aidid nên chúng tôi báo động lực lượng Delta để họ sẵn sàng.
“Aidid đang di chuyển,” Abe gọi báo. Tuy nhiên, khi màn đêm buông xuống, Abe đã để mất dấu
Aidid.
Mặc dù SIGINT không chặn thu được bất kỳ cuộc trao đổi nào, nhưng một số tiếng nổ vẫn vang lên ở hướng sân bay. Đội pháo thủ của Aidid đã tìm ra được phương thức liên lạc với tổ bắn và tổ điều khiển bắn mà không bị SIGINT chặn thu. Chó thật, chúng đã thay đổi cách liên lạc.
Ngày 9 tháng Chín năm 1993, Tướng Garrison nhận được lệnh tiến hành giai đoạn ba – theo dõi các thủ hạ của Aidid.
Delta cho máy bay lượn trên bầu trời Mogadishu để biểu dương lực lượng: khoảng 10 – 12 chiếc trực thăng Little Bird và 20 – 30 chiếc trực thăng Black Hawk. Các tay súng bắn tỉa ngồi trên những chiếc trực thăng Little Bird trang bị các loại súng, rocket và tên lửa. Những chiếc trực thăng Black Hawk hạng trung cũng trang bị súng, rocket và tên lửa. Các đội đột nhập của Delta và biệt kích Ranger nhanh chóng đu dây tụt xuống mở các cuộc tấn công ngay khi vừa đặt chân xuống mặt đất. Ý tưởng của việc làm này là để chứng tỏ chúng tôi mạnh hơn Aidid và làm cho Aidid ít hấp lực hơn với người dân với hy vọng hắn không tuyển mộ được lính mới.
Cùng ngày, gần nhà máy sản xuất mì ống – cách sân vận động Pakistan khoảng 2 km, các kỹ sư công binh đơn vị 362 của Lục quân tiến hành dọn dẹp đường tỉnh lộ Mogadishu. Một trung đội xe bọc thép Pakistan bảo vệ họ trong khi Lực lượng Phản ứng Nhanh (QRF) đứng bên sẵn sàng hỗ trợ khi cần. QRF được tập hợp từ Sư đoàn sơn cước số 10 của Lục quân, Trung đoàn Không vận số 101 và Trung đoàn Không vận số 25 và đóng quân ở khuôn viên một trường đại học bỏ hoang và Đại sứ quán Mỹ cũ.
Các kỹ sư công binh đang ủi một vật cản ra khỏi con đường thì một đám đông người Somali ùa đến. Một người Somali rút súng bắn một phát rồi nhảy lên xe tải trắng phóng đi. Các kỹ sư công binh dọn xong vật cản thứ hai. Rồi đến vật cản thứ ba: những lốp xe cháy, đống sắt vụn và một chiếc rơ moóc. Ai đó đứng trên ban công tầng hai bắn vào họ. Các kỹ sư và lính Pakistan bắn trả. Đối phương bắn mạnh hơn từ tứ phía. Đám đông chuyển các vật cản để chặn số binh sĩ lại. Các kỹ sư gọi trực thăng của lực lượng QRF đến. Trong vòng ba phút, các máy bay trực thăng Cobra đã đến. Hàng trăm người Somali có vũ trang tiến vào từ phía bắc và phía nam, sử dụng súng phóng lựu RPG bắn ra từ nhiều hướng.
Cobra dùng pháo 20 li và rocket 6,8 li nã vào đối phương. Nhiều máy bay khác của lực lượng QRF được điều đến giúp trong khi các kỹ sư tìm cách thoát thân, tháo chạy về hướng sân vận động Pakistan. Lực lượng bán vũ trang của Aidid bắn đạn cối 106 li vào chiếc tăng đi đầu của Pakistan làm chiếc xe tăng bốc cháy. Một chiếc xe ủi chết máy nên các kỹ sư vứt nó lại. Khi 30 lính Somali cố tìm cách chiếm đoạt chiếc xe bỏ lại này, hai quả tên lửa TOW đã quật ngã chúng và phá hỏng chiếc xe. Hai kỹ sư và ba lính Pakistan bị thương trong quá trình rút chạy về sân vận động. Một lính Pakistan tử thương. Tính tới thời điểm đó, đây là trận chiến lớn nhất xảy ra ở Somali.
Theo nguồn tin tình báo của chúng tôi, Aidid có tham gia trận chiến này và hắn chỉ huy cuộc mai phục ở nhà máy sản xuất thuốc lá gần đó. Hơn một trăm người Somali chết và vài trăm người bị thương, nhưng Aidid đã thắng lợi vì tiếp tục khóa được con đường này, hạn chế được sự chuyển quân của Liên Hợp Quốc. Hơn nữa, các phương tiện truyền thông còn lên tiếng bênh vực Aidid khi phát đi bản tin nhiều “thường dân vô tội” Somali đã thiệt mạng. Tôi ghét các phương tiện truyền thông tự do của chúng tôi. Ngồi một chỗ mà chỉ tay năm ngón thì ai chả làm được. Tổng thống Clinton cũng vô tình giúp Aidid khi tuyên bố tạm dừng các chiến dịch tác chiến tại Mogadishu cho đến khi cuộc điều tra hoàn tất. Chính trị luôn bao trùm lên cuộc sống của người dân Mỹ. Aidid nã pháo vào Pasha. Súng máy và súng bộ binh nổ gần sát chỗ chúng tôi hơn. Chúng tôi vẫn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Lực lượng bán vũ trang của Aidid cũng nã pháo vào trạm kiểm soát của Nigeria ở hải cảng Mogadishu, mới được quân Italia bàn giao.
Các mật vụ của Kền Kền trà trộn vào cuộc họp được tổ chức ở gara ô tô. Mục đích của cuộc họp là để Aidid khích lệ tinh thần binh lính. Chúng tôi muốn biết Aidid có thực sự xuất hiện ở đó không. Tuy nhiên, hắn đã không đến.
Lúc 5 giờ sáng ngày hôm sau, ngày 10 tháng Chín năm 1993, quân của Aidid đã pháo kích dữ dội hơn vào trạm kiểm soát ở hải cảng Mogadishu.Cùng ngày, một mật vụ thông báo với chúng tôi rằng người của Aidid đã biết rõ về Pasha. Chúng biết cả những loại xe và loại súng của chúng tôi cũng như biết rõ Kền Kền trước khi chúng tôi xây dựng căn cứ ở Pasha.
Aidid phục kích đoàn phóng viên người Somali của CNN. Người phiên dịch và bốn lính bảo vệ của chúng tôi bị sát hại. Quân của Aidid đã nhầm phái đoàn phóng viên của CNN là chúng tôi. Chúng tôi cũng phát hiện thấy một phóng viên Italia đã dàn xếp để có một cuộc phỏng vấn với Aidid. Một viên mật vụ đã đặt một chiếc đèn hiệu bên trong xe của phóng viên này để chúng tôi có thể lần được dấu vết của anh ta. Hẳn tay phóng viên này đã nhận thấy có gì đó không ổn bởi vậy hắn đến nhà một tay trong của chúng tôi thay vì đi gặp Aidid với hy vọng chúng tôi sẽ tấn công vào đó. Thật may, chúng tôi đã cử một mật vụ làm nhiệm vụ xác minh vị trí trước khi tấn công.
Mặc dù vậy, CIA vẫn quyết định vào cuộc. Chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi nhận được tin, người của Aidid sẽ phục kích chúng tôi. Thay vì hai đặc nhiệm SEAL làm nhiệm vụ cảnh giới, hai người còn lại nghỉ ngơi, chúng tôi quyết định bố trí ba đặc nhiệm SEAL cảnh giới và một người nghỉ ngơi.
Ngày 11 tháng Chín năm 1993, mãi tới 7 giờ sáng hôm sau tôi mới đi ngủ. Đêm hôm đó, không có cuộc phục kích nào. Sourpuss đánh thức tôi dậy lúc 11 giờ và cho tôi biết là quân của Aidid đã áp sát chỗ chúng tôi.
Một viên mật vụ khác cho chúng tôi biết những thằng khốn đang muốn lấy đầu viên chỉ huy đội bảo vệ của chúng tôi bởi chúng đã phát hiện ra Abdi làm tay trong cho CIA. Trong số những người bảo vệ cho chúng tôi có cả con trai của Abdi. Abdi chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho những viên bảo vệ khác; hơn nữa, ông ta còn có trách nhiệm bảo vệ sự sống của họ. Ông là người có địa vị cao trong dòng tộc. Ông đã chấp nhận đẩy gia đình vào nguy hiểm khi làm tay trong cho CIA. Cũng phải nói rằng việc ông đồng ý giúp CIA còn có động cơ kiếm tiền, nhưng động cơ lớn hơn là mở ra tương lai sáng sủa hơn cho dòng tộc. Giờ đây ông đã bị lộ. Sau này chúng tôi phát hiện ra kẻ bán tin là gã người Italia.
Condor gọi điện cho Tướng Garrison. “Chúng tôi bị xâm nhập và chúng tôi cần ra khỏi cái nơi chó chết này.”
Lúc 3 giờ chiều, chúng tôi để lại các thiết bị không cần thiết như những gói đồ ăn sẵn, sau đó tất cả mọi người ở Pasha gói ghém đồ đạc và lái xe đến sân vận động Pakistan. Trực thăng đến đón lúc 7 rưỡi tối và đưa chúng tôi trở lại nhà chứa máy bay ở khu quân sự.
Khi hồi tưởng lại, lẽ ra chúng tôi nên đuổi người Italia ngay từ ngày đầu tiên đến Pasha cũng như nên triệt hạ ngay tên lính đánh thuê người Nga. Sau đó, chúng tôi nên tận dụng cơ hội đột nhập vào ngôi nhà bí mật và bắt Aidid. Tất nhiên là nếu cấp trên để chúng tôi bắt Aidid khi hắn đang ẩn náu ở nhà bà dì thì tốt biết mấy.Mặc dù đã mất Pasha nhưng chúng tôi vẫn còn mục tiêu để hành động.
Giai đoạn này, thỉnh thoảng chúng mới gọi cung tôi, lúc thì điểm này, lúc thì điểm kia bắt tôi khai lại.
Chúng hy vọng dùng thời gian để lung lạc tôi, do đó chúng vẫn khích lệ, phỉnh phờ, xen lẫn đe dọa, hòng một lúc nào đó tôi không kìm hãm được, phải khai những điều mới với chúng. Nhưng, lúc này tâm hồn tôi như chết rồi! Trời đất đối với tôi bây giờ chỉ còn là một màu đen kịt. Tôi không còn sức phấn đấu nữa! Tôi căm hận cuộc đời, căm hận cả con người. Ngày đêm, tôi chỉ nghĩ đến cái chết! Chết là giải pháp đẹp nhất để giải quyết hết mọi khổ đau, dằn vặt, vò xé trái tim đã nhăn nhúm rỉ máu vì cuộc đời đã chà đạp, bóp nặn quá nhiều.
Chân tôi vẫn trong cùm, đêm ngày sưng buốt. Đi cung, gặp chấp pháp bây giờ tôi căm hận, không cần nói đến cùm nữa. Chấp pháp lại càng không bao giờ nói đến hay hỏi tôi bị cùm thế nào, nên tình trạng cứ thế trôi đi.
Một hôm, vào cuối tháng 1 năm 1964, tên Tư mở cùm, mở cửa buồng, bảo tôi ôm chăn chiếu chuyển đi chỗ khác. Tôi vội vàng vơ gọn chăn chiếu, ôm một bọc đi theo y. Ra khỏi xà lim II, y bảo tôi đi trước, chỉ vào phía trong sân trại chung, y đi đàng sau. Theo hướng y ra hiệu bằng tay, tôi tập tễnh đi mãi vào phía trong cùng đến một cái cổng sắt nhỏ, cánh cửa cũng bằng sắt. Một bức tường thấp chừng 2 mét rưỡi xây vòng cung, bên trên chăng 5, 6 lần dây điện trần, chạy dọc theo tường, ngăn cách với sân trại chung bên ngoài. Y đẩy cửa, tôi bước vào một cái sân nhỏ, diện tích khoảng 25m x 10m. Ở phía góc sân có chăng một số dây thép để phơi quần áo. Trên sân rụng đầy lá bàng khô, do một cành bàng to vươn vào từ cây bàng lớn ngoài trại chung, cạnh bức tường.
Quang cảnh thật là im lìm, vắng lặng. Tiếng sột soạt của những chiếc lá bàng khô, nghe rõ mồn một theo từng bước chân của y và tôi khi đi qua sân. Vào một căn nhà sài, tối lờ mờ, tôi thấy một cái bàn và một cái ghế trong một khu trống, có lẽ là phòng trực xà lim. Y tiến đến trước buồng số 3, mở cửa rồi cúi xuống rút chốt cùm.
Đã ở xà lim khá lâu, tôi cũng có chút ít kinh nghiệm. Mặc y đứng chờ, tôi vào buồng, cúi xuống gầm sàn lấy cái chổi thanh hao quét rác bụi, trên chiếc sàn tôi sẽ nằm. Tôi bỏ bọc chăn chiếu lên sàn, rồi lại cúi xuống kéo cái bô ra khỏi gầm sàn, mở nắp. Bên trong, phân và nước giải của người ở trước đã đen xì. Tôi ôm bô phân ra cửa:
– Báo cáo ông cho đổ phân, vì phân đã lâu ngày, khó ngửi quá!
Y nhìn vào bô, ngần ngừ, rồi gật đầu. Chỉ tay về phía cạnh buống số 1, y nói:
– Khẩn trương lên, vào đổ bô đúng lỗ cầu tiêu, rồi lấy một bô nước dội cho sạch!
Tôi bước vào cánh cửa chỉ định, ngay phía ngách trái là một lỗ cầu tiêu, bên ngoài là một chỗ rộng có một vòi nước to, cao hơn mặt nền chừng 1 mét để tắm giặt. Vừa tráng bô, tôi vừa suy nghĩ về cái “cầu tiêu”. Chắc hẳn cầu tiêu này dành riêng cho cán bộ, chứ tù làm gì có thời gian để được vào đó đi cầu. Khi trở ra, tôi liếc nhìn thấy xà lim I sâu hun hút rất nhiều buồng, ngay đối diện với buồng số 3 của tôi là buồng số 14. Như vậy, xà lim này to gần bằng cả hai xà lim III và II gộp lại. Tôi chợt nhớ, có lần tên Tân nói với tôi là xà lim I thời Pháp thuộc, gọi là “xà lim án chém”. Tên Tư thấy tôi còn lúi húi đút chiếc bô vào gầm sàn, y quát:
– Bỏ chân vào, dềnh dàng mãi!
Tôi vội vàng nhấc cùm và cho một chân vào. Trước khi chốt cùm, y còn thò cổ vào nhìn rõ chân tôi đã ở trong cùm chưa, y mới đóng và khóa cửa. Tiếng chân lão lạo xạo đạp lên những chiếc lá khô ngoài sân, xa dần ra phía cỗng.
Lại im lặng. Thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng sột soạt của những chiếc lá khô theo từng cơn gió lăn lóc, trên sân gạch phía bên ngoài. Tôi đang đưa mắt nhìn toàn bộ căn buồng, đột nhiên một giọng ồm ồm cất lên:
– Anh bạn buồng số 3 mới vào, khỏe không?
Tôi ngạc nhiên, vểnh tai nghe, phán đoán. Tiếng nói phát ra từ mãi tít phía trong, chắc của một buồng nào đó. Vì tôi chưa nắm rõ, cho nên tôi chỉ ho một tiếng to như đáp lại, không trả lời.
Trong ánh sáng tờ mờ, toàn bộ căn buồng cũng giống như bên xà lim II, chỉ khác ở miếng cửa sổ lớn phía sau đóng bè ra một cái khung gỗ, bọc kín cửa sổ, như một cái hòm không có đáy để không khí vào buồng. Có thể vì lâu ngày, những tấm ván co rút, nên hở từng khe rộng. Qua những khe hở này, tôi nhìn thấy bức tường Hỏa Lò là một trại giam lớn do Pháp nghiên cứu xây lên. Nhưng, đến tay Cộng Sản, vì chúng cũng đã từng đi tù nhiều, chúng đã thấy được những kẽ hở tù nhân có thể lợi dụng để liên lạc, gọi hỏi với tù nhân bên trong xà lim.
Vì đầu óc tôi đang ngâm dầm trong “hũ” sầu đau não nề, nên tôi chẳng thiết suy nghĩ thêm. Nằm lịm dần vào đêm thâu nới nỗi niềm nghẹn uất, xen lẫn những tiếng thở dài khắc khoải chập chờn, mãi tới khi, tôi mơ màng nghe tiếng chìa khóa lẻng xẻng, tiếng cửa đóng ình ình, tôi mới dậy. Trời đã sáng tỏ.
Quản giáo đã đến làm việc từ bao giờ, đang mờ cửa cho các buồng ra đổ bô.
Không một tiếng nói. Chỉ có những tiếng đóng cửa, tiếng mở cửa, với những tiếng bước chân xèn sẹt nhiều lần, và lâu. Như thế, hầu như buồng nào cũng có người.
Đến lượt buồng tôi. Sau khi được rút chốt cùm và mở cửa, tôi khập khiễng ôm bô nước tiểu đi ra. À, tên cán bộ Chiến. Tôi thấy y một vài lần những buổi tôi đi cung. Y là Thượng sĩ, người miền Bắc, thái độ và tác phong của y như một nhà quân sự: Lạnh lùng, ăn nói cộc lốc, đôi lúc có ánh mắt nhìn phớt đời, một nét hơi khác với những tên công an khác.
Rồi cho đến lúc lấy cơm, cũng như trả bát của các buồng, tôi không hề nghe thấy một tiếng nói, dù nhỏ. Tất cả chỉ là những âm thanh của sự vật, những tiếng xèn xẹt vội vã của đôi bàn chân người, qua lại phía trước cửa buồng tôi. Những ngày sau đó cũng thế, ngày nào cũng như ngày nào, im lìm vắng lặng.
Nhiều lúc, tôi cảm tưởng như đang ngồi trong một cái nhà mồ hoang vắng nơi nghĩa địa, tha ma, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài.
Trời đã sang Xuân, nhưng cơn rét cuối Đông vẫn kéo dài. Vẫn còn những trận gió mùa Đông Bắc về muộn, đem theo những giá buốt hành hạ những kẻ khốn cùng.
Ngón chân và ngón tay của tôi vẫn mọng đỏ, ngứa buốt đêm ngày. Những tháng trước đây, tôi chịu đựng một cách kiên trì bao nhiêu gian khổ, cùm kẹp, đói khát, đau đớn, nhưng trong tôi vẫn còn một niềm tin, một cái đích là Tổ Quốc miền Nam tự do của tôi, đang trên đà tăng trưởng một mặt: Kinh tế giầu mạnh, quần sự hùng cường, lòng dân thống nhất, để một ngày nào đó đè bẹp được lũ cộng đỏ bạo tàn, cứu nhân dân miền Bắc khỏi cảnh tăm tối lầm than rên siết, đưa ánh sáng mặt trời đến khắp nơi trên nửa Bắc của Tổ Quốc Việt Nam thân yêu này, trong đó có tôi. Dù rằng, do những khắc nghiệt của cảnh sống tù đầy tôi có mất đi, vẫn còn ôm ấp trong lòng một niềm tin như vậy mà chết. Nhưng bây giờ, nhìn về miền Nam, tôi phải cụp mắt cúi đầu xuống. Một nỗi tủi hận len lén rỉ dần vào tim tôi.
Trước đây, trái tim tôi đã chết một nửa vì tôi sa cơ vào bàn tay kẻ thù, phải bao nhiêu đắng cay uất hận, nửa đó đã đen xì, lạnh lẽo; nhưng, tôi vẫn còn một nửa đỏ, nửa này vẫn còn cuồn cuộn máu hồng tươi thắm, sôi sục ngày đêm, có cơ làm ấm lai cả một trái tim. Nay, nửa đỏ còn lại của trái tim đó đã dần dần đen xạm, hết sinh khí, hết nhựa đời…..Tư tưởng chết nhen nhúm dần, ám ảnh tôi suốt ngày đêm, cứ lởn vởn như một nghiệp chướng trói chặt tấm thân tàn.
Đêm nay cũng như nhiều đêm trước, sau một giấc ngủ đầy khắc khoải với bao nỗi đắng cay của kiếp tù đầy, tôi mở mắt mệt nhọc ngồi dậy. Chẳng biết lúc này là giờ nào trong đêm, như thường lệ tôi lựa thế đúng một chân xuống đất, cúi xuống gầm sàn lấy cái bô lên, để chuẩn bị đi đại tiện. Vì ăn uống không đủ, lại còn bị cùm cứ phải nằm yên một chỗ, nên thường đi về đêm. Sau khi đã để cái bô lên sàn, đúng nơi thuận tiện nhất, tôi lựa nghiêng chiếc chân trong cùm, quỳ môt chân để ngồi lên bô. Trời vẫn lạnh như cắt da thịt, tôi khoác chiếc chăn, mặt nhăn nhó vì ngón chân, ngón tay bị cước, vì cạnh cùm đang nghiến vào ống xương chân, vì miệng bô đã nhiều chỗ rỉ sét hằn sâu vào hai bên mông, vì thế ngồi gò bó, người phải gù vẹo đi một bên, và vì táo bón…Cho nên, chừng 20 phút sau, quá đau mỏi, tôi dịch người để chuyển thế. Vô ý, cả bô phân và nước giải đổ nằm ra sàn. Còn người tôi lạng trượt, bật ngửa đầu xuống nền. Do cái chân trong cùm nên đầu tôi không thể xuống tới nền, nhưng cái chân bị cùm khứa mạnh đứt một miếng to, máu loãng chảy chan hòa. Lưng đập vào mép sàn đau điếng, mãi tôi mới bò dậy được. Chăn chiếu, quần áo đầy nước giải, đây đó dăm ba hòn phân trên chăn, trên sàn.
Trời rét buốt như kim châm vào da thịt. Ôi! Kiếp tù, còn cảnh nào cay đắng hơn. Tay chân quần áo chỗ nào cũng nước đái. Chỗ cổ chân đau buốt, máu vẫn chảy, tôi chỉ biết lấy tay bóp hai mép đứt để đỡ chảy. Máu bây giờ loãng quá không đông được! Không có cái gì, một miếng giấy hay miếng vải để buộc cho máu cầm. Làm sao được nữa hả trời! Một tay nắm vết thuơng, một tay lật chiếc bô lên, rồi cũng chính mình phải bốc những hòn phân của mình vào bô. Tôi cố lựa thế nhấc cái bô xuống nền, rồi cũng phải dùng bàn tay để vét những vũng nước giải, trên sàn xuống dưới nền.
Vì nước giải ướt, người tôi tự nhiên run lên cầm cập, hai hàm răng cứ canh cách đánh vào nhau. Thôi đành máu chảy kệ máu, tôi cố hai tay vắt chỗ chăn ướt, còn một khoảng khô, tôi cứ phải cuốn đại vào người cho đỡ lạnh đã. Nhưng, người tôi vẫn cứ run bần bật, không có cái gì là ấm cà. Cuộc đời nhiều lửa quá! Cho tôi xin một ngọn lửa đời, người ơi!
Vết thuơng ở chân tôi, khi nãy máu đã ngưng chảy, nhưng bây giờ vì cái chân cũng run lật bật, làm vết thương rung động, máu lại rỉ ra. Cứ như thế này, tôi cũng chưa biết mình sẽ ra sao. Bỗng chiếc cửa con xoạch mở. Tôi chả nhìn rõ ai, vội vàng lập cập:
– Báo cáo cán bộ…!
Một giọng khàn cộc lốc:
– Cái gì?
– Thưa cán bộ, chân tôi bị thuơng, máu chảy ra không cầm được, xin cán bộ cho tôi một tí thuốc lào hay thuốc lá, tôi rịt cho cầm máu?…
Tôi cố chỉ chỗ máu chảy, nhưng tôi biết ở vị trí chỗ cửa con như thế, không thể nào nhìn góc độ này được, nên tôi quệt một tay xuống chỗ máu dưới sàn đã đông tím lại, rồi giơ bàn tay đầy máu ra. Vẫn khàn khàn như tiếng ngan đực:
– Làm sao bị thuơng?
– Thưa ông, tôi đi ngoài ngồi trên bô bị trượt ngã…..
Không một tiếng trở lại, cửa con đóng lại. Tôi cũng chẳng có thể đoán được người đó là ai, dù ngày mai tôi có gặp. Có thể, người đó không hút thuốc lá cũng như thuốc lào, đã phải đi xin người khác. Một hành động đúng nghĩa của tiếng “Người!” Trong những lúc thế này, thuốc lào, thuốc lá đắp vết thuơng là một thần dược. Chỉ một tí là cầm máu.
Máu không chảy nữa, và hơi ấm trong người đã có chút ít, mặt sàn và chiếu cũng khô một chút, nên tôi thấy đỡ run, nhưng người tôi vẫn rã rời như sắp hết hơi thở. Không nằm được nữa vì chăn chiếu hãy còn ẩm ướt, tôi lấy chiếc vỏ ba lô vẫn gối đầu, giở ra trùm kín cổ, rồi ngồi nghiêng, dựa vào tường nhắm mắt chờ trời sáng.
Tôi cứ ngồi nghe ngóng tiếng đêm thâu với cõi lòng đã rửa nát, tả tơi. Tôi nhìn thấy những ngày tới của đời mình, còn đầy rẫy chất chồng thương đau. Để bấu víu vào kiếp sống, tôi phải cố tìm một đốm lửa, dù là đốm lửa sắp tàn trong cái đêm đen dày đặc, cả bốn phương đều mịt mùng tăm tối này…..Nhìn lại suốt quá trình của đời mình, từng mảnh đời to nhỏ xê dịch đẩy xô, theo ngọn cuồng lưu của kiếp người:
– Học hành không thành đạt; đời vẫn lang thang, dật dờ, tay trắng.
– Nhiệm vụ bé nhỏ đất nước trao cho, không có tài, khả năng lại hèn kém, nên đã thất bại, rơi vào tay kẻ thù.
– Đối với gia đình phụ mẫu, thiếu bổn phận làm con, làm anh. Chưa có một việc nhỏ nào gọi là đền công ơn trời biển, của đấng sinh thành.
– Trước đây, khi còn ở Sài Gòn, thường tỏ với cơ quan và các linh mục mình là một thanh niên coi thường nguy hiểm, coi cái chết như một giấc ngủ. Nhưng trong thực tế, đêm hôm chúng đưa đi bắn, đã són đái toát mồ hôi ra. Như thế, rõ ràng là một người hèn, sợ chết.
Đời một con người hèn kém tầm thường như vậy, có gì để đáng sống cho tốn cơm xã hội, cho chật chỗ loài người! Tuy đạo Công Giáo cấm ngặt con chiên tự tử nhưng, tôi đã cầu xin Chúa và Mẹ Maria quá nhiều rồi. Lòng tin của tôi đối với Chúa cũng khủng hoảng, tan hoang như lòng người dân miền Nam đối với chính quyền lúc này. Nhìn khắp bốn phương, tôi không còn một điểm nào để bấu víu, dù cho tạm bợ, để sống. Huống chi trước mắt, với sự hành hạ đày đọa của kẻ thù như thế này, trước sau, sớm muộn gì tôi cũng sẽ chết. Như vậy, tôi còn phải chịu nhiều khổ đau cay đắng, tủi hận nữa, rồi cũng chế! Như thế, quả là vô lý, uất ức! Tôi được sinh ra làm một con người giống như mọi người khác, tại sao tôi không có chủ quyền với bản thân tôi? Thượng Đế đã ban cho tôi cái quyền tối ưu thiêng liêng của con người là sự tự do. Cộng sản đã tước đoạt của tôi hết: từ miếng ăn, tấm áo, đến cả những động tác thong dong tối thiểu nhất của cơ thể. Chỉ còn sự sống của tôi. Quyền tối thượng này chỉ dành cho Chúa và tôi mà thôi. Vậy, Chúa ơi! Ở niềm tin này, con xin giành lấy chủ quyền sự sống của Chúa với con, khỏi tay lũ chó má vô thần. Con xin quyết định lấy sự sống của con.
Sau bao ngày đêm đấu tranh tư tưởng gay gắt, cuối cùng, tôi quyết định từ giã cõi đời này. Chết trong lúc này là chiến thắng kẻ thù, là xóa sạch hết mọi vấn đề. Từ đấy, óc tôi dập dờn nghĩ đến bố mẹ, các em, họ hàng, bạn bè quen biết. Nghĩ đến các nhà bác học, những học giả, những nhân vật nổi danh. Có những người đã phải trải qua bao nhiêu năm công phu mệt mài học tập, nghiên cứu, bao nhiêu năm lăn lộn làm nên những sự nghiệp lẫy lừng có lợi cho dân, cho nước, cho xã hội loài người. Họ đáng muôn ngàn lần sống, lại lăn đùng ra chết, để lại tiếc thương cho nhân quần xã hội như: Quang Trung, Nguyễn Thái Học, Pascal, Kennedy, Khái Hưng, Hàn Mạc Tử, Bethoven, v.v… Họ đáng sống, cần sống, thì lại chết. Còn loại thấp hèn vô ích như tôi, cần chết thì lại sống. Nếu cái chết của tôi được thay cho những người ấy, cũng còn có chút ý nghĩa…..
Đã quyết định rồi, bây giờ, tôi chỉ còn…..tìm cách chết! Tôi nhìn lên cái thế của chiếc cửa sổ phía sau. Tôi nhìn đến bộ quần áo sọc họ vừa phát cho tôi ngày 16 tháng 10 vừa qua, vải hãy còn bền tốt. Tôi nghĩ đến lão Kim già mắt lơ mơ, hay trực vào những ngày Chủ Nhật…..dần dần tôi hình thành một kế hoạch nhỏ để… chết!…
Ngay hai ngày hôm sau, tôi bắt đầu thực hiện kế hoạch. Hàng ngày, lợi dụng những lúc cán bộ mở cửa, hay đóng cửa buồng cũng như cửa nhà tắm, có những tiếng xọc xạch ầm ầm, tôi xé quần ra thành những miếng dài dọc theo quần, mỗi miếng rộng độ 4, 5 phân. Vải còn tốt nên rất dai, lúc đầu tôi phải dùng răng cắn ra, rồi từ chỗ cắn mới xé được. Xé vào những lúc ồn ào có hai điểm lợi: có âm thanh che lấp tiếng xé vải, và chắc chắn nhất, là cán bộ đang bận mở hay đóng cửa, không thể rình ở chỗ cửa con.
Rồi chỉ cần đánh một chiếc thừng dài độ 1 mét 20 đến 1 mét 40 là được rồi. Thế mà cũng phải mất hơn 4 ngày. Trong quá trình, lúc đi đổ bô cũng như lúc lấy cơm, trả bát, tôi đều phải cuốn trong người, bởi vì bất chợt cán bộ hay vào ngó buồng, đôi khi lục tung chăn chiếu khám xét, khi mình còn ở trong buồng tắm.
Lúc bện thừng, tôi thường phải làm trong chăn, hoặc ngồi thế gập chân lên cùm, rồi quay phía trong sát góc, từ chỗ cửa con nhìn vào không thể nhìn thấy. Cửa con thường bất chợt mở chẳng có một quy luật nào. Hoặc, cán bộ có thể đứng bên ngoài rình nhìn vào mà không cần mở cửa con, theo một cái khe phía trên cửa nhỏ, để quan sát theo dõi được nửa buồng. Vì chưa quen đánh thừng, sau nhiều lần rút kinh nghiệm, cuối cùng, tôi đã có một chiếc dây dài 1 mét 40 phân, đánh loại thừng 3 sợi vặn rất săn, đường kính chừng 2 phân rưỡi, rất nhẵn nhụi bền chắc. Tôi luôn quấn trong người để hễ có thời cơ là thực hiện tiếp kế hoạch.
Trong thời gian này, có hai lần gọi tôi đi cung. Cũng truy hỏi, cũng dọa nạt, cũng nhử mồi. Nếu những tên chấp pháp tinh ý, sẽ thấy tôi không còn những nét lo âu, sợ sệt, hoặc băn khoăn đấu trí như mọi khi, và nếu chúng sờ vào bụng tôi, sẽ thấy một cái dây to tướng đang được quấn chặt ở trong quần.
Tôi còn gần một bao diêm, từ ngày nào Hà Tĩnh lấy đồ chôn, tên Thành mua cho, tôi vẫn giữ, hàng ngày tôi vẫn thỉnh thoảng lấy ra nhìn nhãn hiệu trên bao diêm, hình một anh công nhân đang cầm búa giơ lên cao, chẳng biết sẽ…nện vào cái gì? Tôi cũng thường lấy ra nhìn chiếc lược và bó tăm, trong đó vẫn còn “lõi” chì mật. Bây giờ, tâm tư của tôi lúc nào cũng như sắp giã từ cõi đời này. Tôi nhìn bất kỳ một cái gì cũng với ánh mắt vĩnh biệt, từ cái chăn, chiếc chiếu, cho đến đôi dép Thái Lan đã mòn, đứt một quai, cả chiếc lược sừng con duy nhất còn lại, khi còn ở Sài Gòn. Tôi cứ thường lấy những que diêm ra xếp thành chữ trên sàn: “Đặng Chí Bình chi mộ!” trong một cái khung hình chữ nhật cũng bằng que diêm, như mộ bia, rồi ngồi nhìn những chữ đó hàng giờ, với bao nhiêu nỗi đầy vơi của kiếp người.
Trong cái tắc tị của tinh thần, tôi suy nghĩ đến thuyết luân hồi của nhà Phật. Tôi nhắm mắt, hình dung mơ màng, khi tôi chết đi, kiếp sau biết đâu tôi chẳng là vị tướng tài ba chỉ huy một đoàn quân hàng chục vạn người, đập tan lũ cộng thù, giải phóng đồng bào miền Bắc mà kiếp này, tôi đã không làm được. Hoặc biết đâu, tôi lại đầu thai làm con, của một trong lũ Bộ Chính Trị miền Bắc, lớn lên, chính tôi sẽ là người đào mồ chôn cái chế độ, gọi là xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Nếu tôi đầu thai là một phụ nữ, tôi sẽ là một cô gái hiền dịu, tôi sẽ khôn khéo đem cái sắc đẹp của tôi để phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân, góp phần tiêu diệt lũ cộng thù của dân tộc. Nếu không, ít ra tôi cũng có một lập trường rõ ràng, là chỉ yêu và lấy những ai một lòng thực sự vì dân vì nước, trong lúc quê hương dân tộc đang hồi lầm than nghiêng ngửa như lúc này. Chứ, dứt khoát tôi không lấy những loại chỉ suốt đời lao vào công việc, cũng như học hành, đạt những bằng cấp cao để cốt vinh thân phì gia, quên hết cả giống nòi. Loại này, nói đến quê hương, Tổ Quốc, chỉ nói ở cái lỗ miệng, còn thực tế lại chỉ lo tranh giành địa vị, nấp dưới những bình thường này nọ để …..xui người khác ăn cứt gà. Những loại đó, đừng hòng! Bởi vì, chính thái độ của người phụ nữ có tác dụng huyền diệu giáo dục và nâng cao tinh thần của nam nhi rất nhiều. Ngược lại, cũng do thái độ của nữ giới đã làm hư hỏng biết bao nhiêu người trai. Họ chỉ biết lăn xả vào tìm tiền và danh vọng để phục vụ…..phụ nữ.
Tôi cứ hình dung, tưởng tượng, đặt giả thuyết là tất cả những người Việt Nam thân yêu của chúng ta, từ gia đình đến học đường, cho đến ngoài xã hội, ngoài những vấn đề giáo dục học vấn, phải hun đúc những người thanh niên thấy rõ trách nhiệm với quê hương dân tộc, nhất là khi đất nước gặp cảnh lâm nguy, lầm than…..và, riêng với nữ giới, ngay từ khi còn nhỏ trong gia đình cũng như trong học đường, đã được giáo dục uốn nắn, khích lệ để được trang bị một quan điểm, lập trường là chỉ yêu và lập gia đình với những thanh niên có lòng vì dân vì nước thực sự, đồng thời, phải biết khinh bỉ chán ghét những người thanh niên nào chỉ nghĩ đến mình, đến đại vị, đến phú quý giầu sang, dù quê hương tan tành, dù dân tộc có rên xiết thê lương. Mặt khác, ngoài xã hội, từ báo chí đến các phương tiện tuyên truyền, cũng như quan niệm trong quần chúng, bằng mọi khía cạnh, phải đề cao cổ vũ những người phụ nữ nào đó những hành động cao đẹp ấy, nêu lên những tấm gương chói sáng cụ thể bằng người thực, việc thực, v.v…..một cách đích đáng. Nếu được như vậy, tôi dám hy vọng rằng, chỉ trong một hay hai thế hệ là cùng, lúc đó thanh niên Việt Nam sẽ không thiếu gì người tài, không thiếu gì người lăn xả vào hiểm nguy khi vận nước gặp hồi nước sôi, lửa bỏng; và ngày mai của dân tộc ta, sẽ không thiếu những gương anh dũng, quyết tử vì Tổ Quốc như Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái, Hoàng Thụy Năm, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ v.v… Thế giới lúc đó, khi nói đến Việt Nam, sẽ phải nói với thái độ như nói tới nước Nhật hay Do Thái vậy.
Hầu hết thế giới và chúng ta, khi nói tới dân tộc Nhật, thường chỉ chú ý tới tinh thần võ sĩ đạo của người Nhật là sẵn sàng chết cho quê hương, mà quên là người con gái Nhật đã góp phần chủ yếu để cho nhân dân Nhật có nét tự hào đó. Chúng ta, ai cũng thấy rất đơn giản là, một người vợ miệt mài ra sức làm cho người chồng một bữa ăn ngon, nếu người chồng biết ca ngợi, đề cao đích đáng, hãy tin đi, sẽ có và còn nhiều bữa ăn như thế, hoặc hơn thế nữa. Ngược lại, người chồng lại thờ ơ, không có một thái độ, hay một lời nói để khen ngợi bữa ăn đó, lần sau it khi có; nếu còn có, người làm cũng chỉ vì ở cái thế bắt buộc mà thôi…..
Óc tôi cứ chảy dài theo dòng suy tưởng vào một giấc mơ. Giấc mơ ấy, có lẽ cuối cùng cũng vẫn chỉ là…..một giấc mơ!
Thân tôi hèn, chí tôi thiển; hơn nữa, vì hoàn cảnh bất hạnh đau thương của tôi, tôi đang muốn tìm đến cái chết để lìa bỏ cõi đời này. Chỉ mai kia, tôi đã về với cát bụi mây ngàn…..Trước khi trở về lòng đất mẹ, tôi chỉ biết kêu gọi những bậc Cha Anh, những nhân vật lỗi lạc, những người giầu có, người góp công, người góp của, cùng chung một mục đích để làm những việc này một cách tận tâm, tận lực, lăn xả cho mục đích, giấc mơ đó sẽ hiện thực được, và sẽ trở thành truyền thống yêu nước quên mình của quảng đại nhân Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Khi đó, hẳn là tôi không còn trên cõi đời này, nhưng, những uất khí không còn trong bộ xương nữa.
Tôi mở mắt ra, như bừng tỉnh một cơn mê để trở về với thực tại. Tôi xoay lại thế ngồi, nhìn lên cửa sổ phía sau, từ mặt sàn xi măng đến mép dưới của cửa sổ cao độ 1 mét 50 phân. Bức tường dày 50 phân. Một hàng song sắt to tướng ở giữa, ngăn đôi cái độ dày của bức tường, phía trong 15 phân, phía ngoài 35 phân. Một lượt lưới thép ép sát phía trong song sắt. Lưỡi thép đan thành những lỗ hở vuông mỗi bề 3 phân.
Tôi xoay lại thế ngồi khác để nhìn cái chân trong cùm. Vì muốn tạo điều kiện cho kế hoạch ngày tới, từ hàng nửa tháng trước, tôi đã lấy cái quần đùi rách, quấn chân tôi thành một cục như một cái tổ. Mỗi lần mở cùm thay chân, tôi chỉ việc rút ra rồi lại đút chân kia vào. Cá biệt, có tên cán bộ cẩn thận, trước khi đóng chốt cùm, còn vào nhìn kỹ, khi trông rõ cái chân tôi nằm trong cùm rồi, mới chịu ra đóng chốt, và đóng cửa.
“…..Thắng Lợi Bất Ngờ Của Việt Cộng” …..Miền Nam Đảo Chánh .
Đặng Chí Bình
Bài 43
Hôm nay là mồng 2 tháng 11 rồi. Những trận mưa phùn đầu Đông làm ẩm ướt cả không gian, cả ngày u ám không có mặt trời. Thỉnh thoảng một cơn lạnh tái tê len qua cửa sổ, luồn vào trong xà lim, như đem theo niềm cô đơn băng giá, để đầy đọa thêm người tù đói khổ.
Cũng như những buổi trưa khác, tôi đang nằm lặn ngụp trong nỗi đầy vơi trăm hướng, của cuộc đời tù tội, mặc cho tiếng léo nhéo của chiếc loa lắm mồm. Chợt nghe một giọng the thé:
“…..Theo nguồn tin mới nhận được, cái gọi là Hội Động Tướng Lãnh của Ngụy Quân Sài Gòn đã làm một cuộc đảo chính, lật đổ chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm…..”.
Tim tôi như thắt lại, tôi bò nhổm dậy, mắt mở to, tai vểnh lên như muốn hút hết mọi âm thanh của chiếc loa.
Phía bên ngoài, một số cán bộ cũng đang huyên náo, bàn tán xôn xao. Một tiếng quát nhẹ của một người nào đó:
– Các đồng chí hãy yên lặng, để nghe đã!
Tiếng loa vẫn oang oang:
“…..Quân đảo chính đã làm chủ tình hình. Anh em Ngô Đình Diệm đang bị bao vây dưới hầm dinh Gia Long. Không khí Sài Gòn rất căng thẳng và nghẹt thở…..”
Tôi bàng hoàng và hoang mang cực độ. “Vận nước đã đến ngày điêu linh rồi chăng?”, tôi than thầm. Đây là sự thực hay tuyên truyền của Cộng Sản? Tuyên truyền nào cũng có nguyên tắc của nó. Có những sự việc: “Không” không thể nói thành “Có” được…..Về lý trí, tôi biết đây là một sự việc thực. Nhưng về mặt tình cảm, tôi cố níu kéo, cho là một chuyện tuyên truyền của Cộng Sản, nhằm gây hoang mang cho tinh thần mọi người, chứ không có thực.
Từ khi bị bắt, tôi chưa bao giờ đọc kinh cả. Thế mà hôm nay, trước mối hiểm nguy cho một cá nhân, nhưng cũng có thể là mối nguy cho cả dân tộc, tôi không biết làm sao, chỉ còn biết cầu xin Chúa, cầu xin đấng tối cao hãy che chở cho cụ Ngô, người mà cả cuộc đời tôi kính yêu, trọng nể.
Thường ngày, sáng cũng như chiều, tôi chờ đợi bữa cơm như tâm trạng ngày còn bé mong mẹ về chợ. Càng gần giờ cơm, tai càng vểnh lên nghe ngóng âm thanh những tiếng xền xệt, bình bịch của tiếng chân mấy người tù hình sự, khênh chiếc chõng có thùng nước nóng và một số bát cơm vào lối đi giữa của xà lim. Tiếng “kịch” của chiếc chõng để xuống nền; tiếng “xàn xạc” của đít thùng tôn đựng nước cọ xuống nền xi măng…Rồi lại chờ lắng nghe tiếng chân cán bộ với tâm trạng xốn xang: Sao cán bộ đi đâu mãi, không thấy trở về cho tù ăn cơm. Để rồi khi nghe tiếng lẻng xẻng của chùm chìa khóa. Tôi chắc rằng, mắt tôi phải sáng lên: Hạnh phúc đã đến rồi! Đôi khi tôi cũng bị mừng hụt, vì đó chỉ là tiếng chìa khóa của cán bộ Hoa, Bằng, hoặc Kim vào gọi một người nào đó đi cung…..
Hôm nay trái lại, cơm đã khênh lên lúc nào tôi cũng không hay. Mãi tới khi cán bộ mở cửa buồng, bảo ra lấy cơm, tôi mới giật mình choàng dậy, như vừa tỉnh một giấc mơ nhiều máu lửa. Lấy cơm vào rồi, tâm hồn tôi vẫn còn lửng lơ đâu đấy, không còn cái thú thèm khát, vồ vập ăn như mọi ngày. Đầu óc tôi đang xáo trộn bao nhiêu nỗi chất chồng, đường nọ, ngả kia với niềm thấp thỏm mong chóng đến 5 giờ chiều, để nghe bản tin xem tình hình Sài Gòn diễn tiến như thế nào.
Mong mãi, rồi cũng đến 5 giờ. Phải nói rằng, từ ngày về miền Bắc, chưa bao giờ tâm tạng tôi lại bồi hồi háo hức, tập trung tư tưởng để lắng nghe tiếng loa như vây giờ. Tiếng loa mà tôi vẫn ghét như một “con mụ chửi thuê lắm mồm!”…
Tình hình Sài Gòn vẫn căng thẳng. Vẫn thiết quân luật ngày đêm, nhưng có chiều hướng phe đảo chánh đã thành công đến 90%. Họ đang gửi tối hậu thư bắt ông Diệm phải ra hàng, nếu không họ sẽ cho dinh Gia Long tan thành bình địa…..Qua bài bình luận của Hà Nội, chúng cố ý tỏ ra khách quan, (ra cái điều đứa nào trong chúng mày, tao cũng phải diệt). Nhưng ai cũng ngửi thấy, chúng mong muốn phe đảo chính thành công. Người chúng sợ nhất, cho nên chúng thù nhất, là Ngô Đình Diệm. Bộ chính trị của chúng đang phải điên đầu, tính trăm mưu ngàn kế, để làm sao hạ được ông Ngô Đình Diệm xuống, bằng bất kể giá nào. Thế mà, bây giờ lại có những kẻ thay chúng để làm công việc đó, hẳn chúng đang bắt tay nhau với những đôi mắt long lanh chào mừng “Thắng lợi không ngờ!”.
Đêm hôm nay nằm hoài không ngủ được, tôi trằn trọc suốt năm canh mong chờ trời sáng để nghe “con mẹ lắm mồm”. Đôi chân vẫn giá buốt trong cùm, tấm thân gầy thấp thỏm suốt đêm thâu! Tiếng gió Bấc than gào như tiếng núi sông báo hiệu với con cháu giống Lạc Hồng, vận nước đã đến ngày tơi tả thê lương.
Mùng 3 tháng 11. Sau một đêm dài thao thức quằn quại, hôn mê giữa chán chường và hy vọng, tôi thấy bản tin sáng hôm nay, cũng chưa nói lên điều gì rõ ràng lắm. Có tin anh em Ngô Đình Diệm đã chui vào đường hầm bí mật, ôm theo một va-li vàng và kim cương (?). Sau bữa cơm sáng, tôi lại nằm đợi nghe bản tin buổi trưa, nhưng vì suốt đêm qua không ngủ, tôi thiếp đi lúc nào không biết. Mãi cho tới khi quản giáo mở cửa cho đi đổ bô buổi chiều, tôi mới choàng thức dậy.
Cơm chiều xong, cũng như hôm qua, tôi ngồi chờ đợi tới 5 giờ chiều. Hôm nay, lòng tôi không mềm rũ như hôm qua. Óc tôi liên tưởng tới cuộc đảo chính ngày 11-11-1960. Biết đâu chẳng có một thế cờ quật ngược lại phe đảo chính. Một niềm hy vọng nhen nhúm dâng lên trong lòng tôi. Tôi không thấy hồi hộp lo lắng như hôm trước, khi bản nhạc dạo quen thuộc của đài phát thanh Hà Nội trỗi dậy trước giờ phát thanh. Và, cũng là lúc báo hiệu giờ tan tầm của các nhà máy, xí nghiệp.
Những tiếng gọi hỏi nhau í ới, những tiếng rì rầm bàn tán của bọn cán bộ, tập trung tại chỗ để xe đạp để lấy xe, hôm nay hình như đông hơn mọi ngày. Có thể trước khi về, chúng còn muốn nán lại ít phút để nghe bản tin, chúng cũng nôn nóng đợi chờ. Chúng không ngờ, cách một bức tường dầy 50 phân, có một người, và có thể một số người, cũng đang nôn nóng đợi chờ như chúng. Hai sự chờ đợi này chắc hẳn mâu thuẫn đối nghịch nhau. Tiếng ả xướng ngôn viên rành rọt:
“…..Theo nguồn tin vừa nhận được: Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu trốn đến một ngôi nhà thờ ở Chợ Lớn, do một linh mục người Tầu tên là Tam trông coi. Ở đây, do lòng căm phẫn cả quần chúng, nên có người đã tố cáo với phe đảo chính. Phe đảo chính đã đến bắt Diệm và Nhu lên một xe bọc thép M-113. Trên đường giải về Bộ Tổng Tham Mưu, khi qua đường Hồng Thập Tự, phe đảo chính đã hạ sát Nhu và Diệm bằng nhiều phát súng ngắn và dao găm. Hai tên đã chết ngay tại chỗ trên xe bọc thép…..”.
Tai tôi ù lên! Mũi tôi như nghẹt thở! Cái cửa sổ và mấy chiếc lá nho bên ngoài kia như đang nhẩy múa quay cuồng trước mặt tôi “Có thật không?”, tôi tự hỏi, “Hay đây chỉ là một cơn ác mộng?”.
Những tiếng reo hò của lũ cán bộ ngoài sân như nhắc nhở tôi “Đừng mơ hồ nữa!”. Có hai tên vừa chạy ra phía cổng, vừa hò to:
– Ngô Đình Diệm đổ rồi!
– Ngô Đình Diệm bị giết rồi!
Chao ôi! Tiếng hò làm một luồng lạnh buốt từ xương sống chạy ngược lên gáy ôi. Tóc gáy tôi như dựng lên, người tôi nổi gai ốc. Tiếng hò đã ra tới cổng rồi, dư âm của nó còn như vặn xé trái tim đã đầy ắp khổ đau của tôi.
Chúng ta nhiều người đã thấy, nói chung, những tên cán bộ Cộng Sản thường lầm lì, lạnh lùng ít nói. Không giống như các anh Thiếu úy, Trung úy của ta, thường tươi cười, có khi nô đùa trước người khác. Đối với bọn cán bộ trại giam, những nét đó lại càng rõ hơn. Thế mà hôm nay, chúng hò reo, nhảy lên. Điều đó, nói lên nổi vui mừng to lớn quá, chúng không kìm hãm nổi, nên đã để bộc phát ra như vậy.
Trong chúng ta, những ai đã ít nhiều hiểu Cộng Sản đều thấy rằng, cái mũi của chúng tương đối thính lắm. Cho nên nếu khi nào chúng ca tụng, đề cao một cá nhân, một tồ chức hay một quốc gia nào, điều đó có nghĩa là cá nhân đó, tổ chức đó, hay quốc gia đó đã hoặc đang làm những điều thiệt hại cho thế giới tự do, và có lợi cho Cộng Sản. Ngược lại, khi chúng chê bai, chửi bới cá nhân, tổ chức, quốc gia, v.v… có nghĩa cá nhân đó, tổ chức đó, quốc gia đó đã làm những điều trái nghịch lại. Mặt khác, cứ đo lường sự hung hãn chửi bới, cũng như tâng bốc ủng hộ của chúng, sẽ thấy được mức độ lợi hại hoặc hại của đối tượng, cho phe ta hay phe địch….. Điều này gần như trở thành một công lý, chỉ trừ một vài trường hợp hạn hữu cá biệt, mới không đúng, khi chúng dụng ý gây mâu thuẫn.
Trong bối cảnh của nước Việt Nam lúc này, một nhà nước do Cộng Sản chiếm đóng thống trị. Còn một nửa, Cộng Sản đã đặt một chân lên, bằng cái gọi là “Mặt trận giải phóng” với những khu vực bưng biền, với một số thôn bản xen kẽ. Ngay trong nội bộ miền Nam, chính quyền chưa đủ thời gian, hoặc chưa đủ khả năng để khẳng định được ai là người của đối phương, ai là người của ta. Lòng dân còn ngang ngửa, chưa biết ai là chính, ai là tà! Vậy làm chính trị, ai cũng phải thấy là: Bất cứ một cuộc binh biến nào trong lúc này, bất cứ một vụ lộn xộn thay ngôi đổi chủ nào, cũng đều nguy hiểm, có lợi ghê gớm cho Cộng Sản. Nghĩa là thiệt hại ghê gớm cho phe quốc gia!
Về ông Diệm, thử nhìn tất cả các bộ mặt gọi là chính khách ở miền Nam, ai hơn hoặc bằng ông Diệm? Dù ông Diệm cũng còn nhiều điểm chưa đúng!
Nếu không có cái tốt hoàn toàn, chúng ta phải chọn cái tốt vừa vậy. Huống chi, “Nhân vô thập toàn”. Không làm, mới không phạm sai lầm!
Bất cứ ai, làm việc, hành động, tất yếu phải có những điều sai lầm. Vậy, trong quá trình xử sự công việc, ông Diệm có điểm gì sai? Tôi cũng như quần chúng thuộc loại dân đen, thấp cổ bé họng, không thể sửa chữa được cho ông đã đành. Nhưng, nếu một ông Tướng không thể sửa được, nhiều các ông Tướng phải sửa được. Một ông Bộ Trưởng không thể sửa được, đa số các Bộ Trưởng sẽ sửa được. Một dân biểu không sửa được, thì cả Quốc Hội, v.v…với điều kiện: vì dân, vì nước, đạt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên hết! Không bằng biện pháp này, thì phương pháp khác. Nếu quyết tâm các ngài sẽ sửa chữa được cho ông Diệm, nhất là khi những cái sai lầm ấy không phải là cơ bản.
Tóm lại, Dương Văn Minh và bè lũ đã lật đổ và giết chết ông Diệm, phải nhận một trong hai lỗi lầm, hoặc cả hai sau đây:
– Không nhìn thấy cái lợi ghê gớm cho Cộng Sản.
– Nhìn thấy, nhưng vẫn gục đầu mà làm.
Không một lý do nào, không một biện luận nào, không một quốc tế này, tình hình kia, có thể phủ nhận thỏa đáng hai điểm trên.
Vậy, nếu ở điểm:
1) Các ông làm chính trị, các ông không nhìn thấy một điểm sơ giản như thế. Các ông không đủ khả năng lãnh đạo quần chúng nhân dân là chúng tôi đâu! Hãy nằm im đi! Dẹp!
2) Các ông đã để cá nhân các ông lên trên Tổ Quốc. Loại này cho đi tầu suốt!
Những điểm lợi cho Cộng Sản thì nhiều, nhưng điểm ghê gớm nhất là: Khi một chế độ có cuộc đảo chính, mà cuộc đảo chính đó chỉ có mục đích tranh giành quyền lợi cá nhân, muốn ăn chia xôi thịt. Lúc đó sẽ xẩy ra tình trạng gì? Trong chính quyền: Cán bộ thuộc mọi lãnh vực, quân đội cũng như hành chính; ngoài nhân dân ai ai cũng thế, đều tự thấy đây là một xã hội không ổn định, một chế độ lộn xộn. Như vậy, tất yếu lại sẽ có cuộc đảo chính khác. Không tin tưởng được nữa, hảy lo thủ cho bản thân! Cũng chẳng còn dám ủng hộ ai! Có gì là chắc nữa đâu! Lòng dân ly tán, lòng quân nghiêng ngả.
Điểm mạnh của một cá nhân, một tập thể, một quốc gia là ở tinh thần, chứ không phải thể chất, vũ khí hay tiền bạc. Vậy, tinh thần của cán bộ và người dân như trên, rã rượi không còn lòng tin. Làm sao chống cộng?!…..
Ngay lúc này, Cộng Sản miền Bắc đã ngửi thấy điều đó, là tinh thần quân dân miền Nam đã và đang bị khủng hoảng. Chứng cớ, sau những buổi họp bàn thảo luận của đảng, ít ngày sau, chính những tên chấp pháp đã nói thẳng vào mặt tôi:
– Chúng tôi nói thực cho anh biết, tình hình miền Nam lúc này…..Nếu không do vấn đề chính trị quốc tế, vuốt mặt vướng mũi, chúng tôi chỉ cần 5 sư đoàn tinh nhuệ đánh dọc từ Bến Hải vào tới Sài Gòn, không khó khăn lắm…..Chỉ cần nghe tin có đại bình đến, lòng quân, lòng dân đã như trên thì chỉ có chạy. Càng gây hỗn loạn, để rồi cuối cùng tất cả đều phải buông súng…..
Đó không phải là những lời nói huênh hoang không có cơ sở. Tôi nhìn bao quát miền Nam, rồi nhìn toàn diện miền Bắc lúc bấy giờ, tôi thừa nhận lời tuyên bố đó có giá trị.
Thực vậy, nếu ai nhìn quán triệt vấn đề sẽ thấy: Khi lòng quân và dân nghiêng ngả thì sẽ rơi vào cái thế “Cuốn chiếu” tất yếu. Kẻ thù dùng một lực lượng tối đa; thần tốc, vũ bão chiếm điểm A, thì điểm B sẽ chạy. Điểm B chạy, thì C, D, E lần lượt cuốn vó hết. Lúc này, thì người có tài thánh cũng đành chịu đứng nhìn, sự hỗn độn, vô chính phủ của quân đội lẩn dân chúng bồng bế chạy mà thôi.
Một vấn đề nghiêm trọng nữa, không hiểu những người chủ trương hạ ông Diệm, trong đó có những Tướng, Tá và cả một số người Mỹ, có biết và luờng được những gì xẩy ra trên nửa nước phía Bắc Việt Nam này hay không? Có thấy được sự khủng hoảng, rã rượi tinh thần của người dân miền Bắc ở mức độ nào hay không?
Tôi tin rằng, dù cho họ uống sâm nhung, đầu óc họ cũng không thể nghĩ được mức độ tai hại đến như thế! Về việc hạ bệ ông Diệm đã trở thành cái nhân nẩy mầm, để cây trưởng thành cho tới khi kết trái, là 30 tháng 4 năm 1975!
Quả thế, mọi từng lớp quảng đại quần chúng nhân dân miền Bắc, sau 8, 9 năm bị lũ Cộng Sản khát máu, dùng bạo lực sắt thép để kìm kẹp thống trị. Họ vẫn nhẫn nhục chịu đựng ngày củng như đêm. Những khi thấy lầm than tăm tối, trong lòng họ vẫn trỗi lên những niềm hy vọng sáng tươi ở chân trời phía Nam, nơi có cụ Ngô mà lũ lãnh đạo miền Bắc ăn không ngon, ngủ không yên. Không những chúng không làm gì được miền Nam, chúng còn đang lo ngay chỗ ngồi của chúng ở miền Bắc cũng không vững. Vì sẽ có ngày Bắc tiến! Bây giờ, niềm hy vọng của họ tan tành, vì cuộc sống, vì nồi cơm, họ đành phải tích cực yêu cái chế độ hiện tại vậy. Hàng triệu tấm lòng như thế, dần dần trở thành triệu triệu những giòng nước nhỏ, góp lại thành thác cuồng xô vỡ bờ tháng 4/75.
Những người quật cường, có tính năng hoạt động, hoặc bộc phát do cá nhân, hoặc đã tổ chức thành những tập thể để chiến đấu với lũ cộng tham tàn khắp nơi, từ rừng sâu, góc biển, đến thôn làng thành phố…..Cũng biết bao người đã sa vào tay giặc, và đang bị giam cầm đầy ải trong ngục tù. Nhưng, những người trong tù cũng như những người còn đang chiếc đấu bên ngoài, vẫn kiên trì dũng cảm chịu đựng gian khổ, chiến đấu với lũ cộng thù, để chờ đại quân miền Nam ra giải phóng. Bây giờ, hy vọng của họ trở thành mây khói. Thậm chí, nhiều cá nhân cũng như tổ chức đã tuyệt vọng đầu hàng giặc, mà tôi đã gặp ở các trại trung ương sau này.
Hôm nay, mồng 4 tháng 11. Đã 8 giờ sáng rồi, trời còn âm u đen kịt. Mưa rơi nhì nhẹt suốt đêm thâu, mà giờ đây vẫn còn dầm dề, rả rích như giọt lệ sầu của người Mẹ hiền núi sông đang rã rượi, vật vã khóc thuơng đàn con Việt gặp một tai ương đau đớn.
Cả đêm qua, tôi đã bàng hoàng mê tỉnh với những giấc mộng hãi hùng. Người tôi rã rượi như một tầu lá úa trong mưa dầm gió Bấc. Đôi chân gầy vẫn giá buốt trong cùm gông, những ngón chân, ngón tay càng sưng lên nhức buốt. Nhưng cái đau đớn của thể xác bây giờ chỉ là thứ yếu, nhường chỗ cho cái đau ruỗng nát cả niềm tin. Cái đau tan tác cả một hướng đời, bơ vơ lạc lõng như con thuyền mục nát trên đại dương, đang bị bão tố dập vùi không còn định hướng.
Tôi nằm lịm đi, đang ngụp lặn trong một trời khổ đau, bỗng cửa con xoạch mở. Tôi mệt nhọc, chống tay bò dậy nhìn ra. Chiếc mũi và cặp kính trắng thập thò qua song cửa con. Một giọng miền Nam quen quen:
– Anh dạo này có khỏe không?
Chà, tên Võ, tên chánh giám thị Hỏa Lò, hơn một năm trước đã vào tha cùm tôi. Tôi vội vàng tươi tỉnh:
– Cảm ơn ông, tôi vẫn thường thường…..
Y nói với vẻ hồ hởi:
– Hôm qua anh có nghe đài không?
Tôi đã thấy chạm vấn đề, nên cộc lốc:
– Có!
Như tràn từ một nỗi hân hoan trong lòng, y xì ra:
-Đối với chúng tôi, miền Nam bây giờ không còn đối thủ nữa. Tôi nói với anh là vấn đề thống nhất chỉ còn là thời gian thôi.
Á! Thì ra y mừng quá! Y không biết thổ lộ với ai cho đã, bằng nói với một người từ miền Nam ra. Cho nên, mới sáng sớm y đã vào xà lim không kể gì mưa gió, gặp tôi để cho giãn cái bọc sướng vui của y ra. Mà lão sướng vui bao nhiêu, thì tôi ngược lại bấy nhiêu. Cho nên, để câu chuyện qua nhanh càng tốt, tôi chậm chạp trả lời:
– Thưa ông, tôi cũng nghĩ vậy!
Trước khi đóng cửa con lại, y cười cởi mở:
– Thôi nhé! Hãy cố giữ gìn sức khỏe!
Hôm nay sao lịch sự thế! Khi vui người ta cũng dễ dãi…..Hai hôm sau, mụ Hoa vào gọi tôi đi cung. Khi tôi ra phòng cung, tôi thấy 3 tên Đức, Nhuận và Thành. Mặt tên nào cũng tươi roi rói, sau khi chỉ ghế cho tôi ngồi, tên Đức đã hỏi ngay:
– Mấy ngày nay, anh có theo dõi đài không?
– Thưa ông, có!
– Anh thấy thế nào?
Dù đang cúi xuống, tôi cũng biết là cả 6 con mắt của chúng đang tập trung theo dõi thái độ của tôi. Vì vậy, tôi trả lời, vẻ bình thản:
– Thưa ông, nghe đâu có vụ đảo chính, và họ đã giết anh em Ngô Đình Diệm rồi!
Tên Nhuận giọng thử ý:
– Tôi biết mấy hôm nay anh buồn lắm, vì chủ anh đã chết rồi! Tôi nghĩ, như vậy là tốt cho anh đấy! Anh không còn phải mắc mớ điều gì nữa. Hãy tự cứu lấy mình, hãy khai báo hết với cách mạng. Còn như thằng Dương Văn Minh và một lũ Tướng, Tá, anh cũng biết đấy, chỉ là đồ bỏ! Rồi đây, chúng nó chỉ tranh giành nhau làm tay sai cho Mỹ, không hơn không kém!
Tôi vờ ngạc nhiên:
– Thưa ông, tôi buồn, hôm nào tôi chả buồn. Còn ông nói Ngô Đình Diệm là chủ của tôi, không đúng. Bởi vì tôi cũng chưa được nhìn thấy ông Diệm bao giờ cả. Hơn nữa, tôi cũng chẳng có ân huệ hay hận thù gì với ông ta. Còn khai báo, ngay từ đầu, tôi đã thành thật khai báo hết rồi, chứ không phải đợi tới bây giờ….
Tên Thành vội vàng cướp lời tôi:
– Anh nói vậy mà nghe được à!? Diệm là người Công giáo, anh cũng là người Công giáo, tất nhiên anh phải ủng hộ ông ta chứ?
Tôi vẫn tỏ vẻ ngạc nhiên, cãi lại:
– Thưa các ông, như tôi đã nói với các ông nhiều lần trước đây, bố mẹ và họ hàng nhà tôi chỉ làm thuơng mại, buôn bán. Chỉ có mình tôi do sự bồng bột của tuổi trẻ, do ảnh hưởng của phim ảnh nên đã ngây thơ nhận nhiệm vụ của họ, ra ngoài miền Bắc. Chứ thực lòng tôi, ai là Tổng Thống, ai là Chủ Tịch cũng thế, vì tôi có hiểu gì về họ đâu! Vả lại, đối với tôi bây giờ, họ lại càng vô nghĩa nữa. Tôi đã chán ghét họ nhiều lắm rồi!
Thành lộ vẻ ngạc nhiên, gằn giọng:
– Sao anh lại cho là vô nghĩa đối với anh?
Mặt rầu rầu, tôi trả lời:
– Tôi bây giờ đã hiểu! Ngay khi ông Diệm còn sống, tôi đã thuộc loại đứa con đem bỏ chợ. Không một ai ở Sài Gòn lúc này còn nhớ đến tôi, có chăng chỉ còn bố mẹ và các em tôi. Huống chi, tôi sống hay chết, những người đảo chính còn quan tâm đến làm gì. Như vậy rõ ràng họ còn có nghĩa gì với tôi đâu…..?
Có lẽ tên Đức thấy chỉ là những câu đối đáp lằng nhằng, không đưa đến vấn đề gì, nên y đổi giọng:
– Theo anh, tình hình miền Nam rồi sẽ như thế nào?
– Thưa ông, tôi chẳng biết gì để nhận định. Nhưng, tôi cho rằng với tình hình như thế, rồi đây các Tướng sẽ tranh giành nhau, cắn xé nhau, xã hội sẽ càng lộn xộn. Chắc rằng “mặt trận giải phóng” do đảng lãnh đạo sẽ đứng lên cướp chính quyền một cách dễ dàng.
Cả 3 đứa sáng mắt lên, tên Nhuận cười rộ:
– Khá lắm, anh làm tham mưu được đấy!
Tôi lúng túng, dè dặt:
– Tôi hiểu các ông cười chế nhạo tôi. Các ông hỏi, tôi phải trả lời. Tôi nghĩ thế nào, thì nói thế, chứ tôi làm sao để biết được những vấn đề lớn ấy.
Tên Đức nghiêm giọng:
– Tôi nói thẳng cho anh biết, trong điều kiện tình hình hiện nay, vì lý do chính trị quốc tế, vì những khía cạnh liên quan ràng buộc, nếu không, chúng tôi chỉ cần 5 sư đoàn, đánh từ Bến Hải dọc vào tới Sài Gòn, không khó khăn gì lắm!
Nghe y nói tôi tỏ vẻ rất tin tưởng:
– Như vậy, tôi thật mừng! Các ông sẽ vào bắt được cả Cục Tình Báo Miền Nam. Lúc đó, cách mạng sẽ hiểu được sự thành khẩn của tôi.
Để chúng tin hơn, tôi nói một vài sự việc lơ mơ:
– Về ông Diệm này, tôi nhớ đến vụ đảo chính (1-1-1960). Lúc đó,dư luận dân chúng miền Nam rất chê ông Diệm. Từ trước, ông vẫn lấy cây trúc ẩn biểu hiện lòng dạ thanh liêm, đạo đức trong sáng của ông. Từ những ý nghĩ cho đến lời nói, tất cả đều là mẫu mực tiết khí của người quân tử. Khi ông ta bị ở vào cái thế cùng quẫn, bị “hội đồng cách mạng” lúc đó vây hãm trong Dinh Độc Lập. Ông đã tuyên bố trên làn sóng điện, trước quốc dân đồng bào, cam kết với “hội đồng cách mạng” là ông bằng lòng chấp nhận sự thỏa hiệp với “hội đồng cách mạng” như một sự đầu hàng. Thế nhưng, sau đó, khi một số đơn vị ở các quân khu về tiếp ứng, phá được vòng vây và dẹp phe đảo chính, ông Diệm đã nuốt lời hứa, lời cam kết trước đó. Như thế, ông ta đâu còn là bậc quân tử mà cây trúc là biểu hiện?
Cả 3 đứa cùng cười, tên Đức giọng phân tích:
– Diệm xử sự như vậy, không có gì sai cả. Chỗ này, ông ta đã hành động rất đúng. Bởi vì, lời nói hay lời cam kết trong lúc bị uy hiếp, cưỡng bức, hay dưới một áp lực, đều không có giá trị.
Ngồi nhìn và nghe y nói, tôi thấy y cũng có kiến thức và hiểu biết. Từ những sự phân tích trên, tôi chợt suy ngẫm thêm: Thời đại ngày nay, trong kho tàng lý luận muôn mặt, muôn màu mà Cộng Sản đang lợi dụng, ta không nên lạ lùng ngạc nhiên khi thấy Cộng Sản xé bỏ tất cả những lời cam kết, những hiệp định chính tay chúng đã trang trọng ký kết. Chúng vẫn có muôn ngàn lý do để giải thích cho đồng bọn và những người dân dưới quyền chung một cách hợp lý. (Chúng chỉ giữ lại những hiệp định, những lời cam kết nào, chúng thấy có lợi cho chúng mà thôi). Lời giải thích của chúng sẽ: nào là lúc đó do áp lực kinh tế, vì dân chúng quá đói khổ, khi đó tình hình biên giới căng thẳng, lúc đó v.v… và v.v… Vậy, cá nhân hay quốc gia nào đừng thắc mắc, than vãn trách móc chúng, mà hãy trách sự ngây thơ ấu trĩ của chính mình, vì chưa hiểu rõ bản chất của chúng mà thôi!…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.