This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Năm 56, một truyện ngắn gởi báo Tiếng Dội được ông Trần Tấn Quốc, chủ báo, nồng nhiệt đón nhận.
“Xin giới thiệu cùng quý độc giả thân mến : tân truyện Đường về Đồng Tháp của Đoàn Hùng Việt”.
Đoàn Hùng Việt là bút hiệu của ba tôi. Từ đó, ba tôi viết cho nhiều báo khác… kể cả các tuần báo như: Nhân Loại, Bông Lúa.
Lúc ấy, Sơn Nam mỗi tuần một truyện ngắn trên Nhân Loại như:
Hương rừng Cà Mau, Tình nghĩa giáo khoa thư, Hát bội giữa rừng, Mùa “len” trâu…
mà sau này gom lại thành tuyển tập“Hương rừng Cà Mau’ do nhà Phù Sa của Ngọc Linh phát hành năm 62. Cái tình văn nghệ của phụ thân tôi và Sơn Nam từ độ ấy. Bác Sơn Nam hơn ba tôi hai tuổi nhưng hai người gọi nhau là anh. Ba tôi gọi anh Sơn Nam còn bác Sơn Nam gọi ba tôi là anh Việt. Ngoài Sơn Nam ra ba còn có các bạn văn khác như: Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh, Kiên Giang Hà Huy Hà, An Khê, Dương Hà…
Nhà văn Ngọc Linh chuyên viết truyện dài với tựa rất thơ như: “Buổi chiều lá rụng…Mưa trong bình minh” gởi tặng ba hình một người đẹp với dòng chữ: “Thân tặng anh Đoàn Hùng Việt và ký tên. Hình người đẹp đó là Kiều Chinh đang là diễn viên điện ảnh.
Nhà văn Ngọc Linh ăn mặc bảnh bao, chải chuốt, quần áo láng cón, đầu bi- ăng- tin bóng lưỡng, chạy Vespa. Còn Sơn Nam tóc dựng đứng, mặt như lưỡi cày, môi dầy, răng hơi hô, mắt kèm nhèm dưới đôi kính cận. Áo trắng, xắn tay, bỏ vô thùng đàng hoàng nhưng mang dép lè phè… đi bộ.
Nhưng cả hai đều tài hoa và đào hoa…như nhau. Cho nên Sơn Nam đặt tên con gái là: Đào Thúy Hằng và Đào Thuý Nga thì cũng chẳng làm ai ngạc nhiên… Hằng là tên trong giấy tờ, còn tên ở nhà là Mỹ Linh. Nga là Ngọc Ánh. Thúy Hằng là tên Thẫm Thuý Hằng; còn Thúy Nga là tên ca sĩ, vợ Hoàng Thi Thơ. Sau này Sơn Nam có thêm một người con gái nữa là Đào Thúy Liễu, tên ngoài là Trinh.
“Lúc đó, Sơn Nam có người bạn viết báo tên Đoàn Hùng Việt, làm việc ở Bưu điện Mỹ Tho. Sát vách nhà chú Việt có căn nhà bỏ trống nên chú đề nghị Sơn Nam đưa vợ con về thuê ở.” Lời của Mỹ Linh .
Tôi là láng giềng, sát vách với con văn hào được hai năm, thường ra ruộng mò cua, bắt ốc hay chạy qua nhà nghe say mê bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ.
Năm 59, ba tôi đổi đi Bưu Điện Cái Bè, tôi xa Mỹ Tho, không còn đi bắt ốc, hái rau với Mỹ Linh và Ngọc Ánh ngoài ruộng nữa. Không còn qua nhà nghe bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ hay ngồi trước cửa nhà nhìn xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho, súp lê, chạy xịt khói nữa… Bưu Điện Cái bè, làng Đông Hòa Hiệp, là biệt
thự rộng minh mông, chánh phủ mướn của ông Hội đồng Đôn. Không điện, không nước. Không điện thì đèn măng sông. Nước thì nước sông, gạo chợ..
Sơn Nam một, hai tháng mới về thăm vợ con một lần ở Mỹ Tho, rồi nhơn tiện ghé Cái Bè ở chơi với ba tôi năm, bảy bữa.. Nói là ghé chơi chứ thực là ông về để viết. Sáng hai ông ăn sáng với hột gà ốp-la, muối tiêu…bánh mì bán dạo, nóng dòn. Uống cà phê phin kiểu Pháp. Bột cà phê bỏ vô phin, rót chút nước lạnh cho cà phê nở ra rồi rót nước thiệt sôi vào. Cà phê đen rất đậm, ít đường. Buổi sáng hương cà phê thơm ngát… Tôi hưởng nước nhì… Cả hai đều ghiền thuốc lá và ghiền nặng. Ba hút ngày một gói Melia vàng, hai chục điếu, Sơn Nam cũng không chịu thua, một gói Bastos.
Tới giờ ba tôi đi làm việc, chỉ cần mở cửa là tới văn phòng, thì Sơn Nam rút vô phòng, lấy sổ đầy chi chít những chữ ra xem… rồi viết… Trưa ăn cơm chung, chiều uống chút đỉnh rượu, rồi ngủ. Má tôi lo nấu ăn, đãi bạn văn của chồng mà không một tiếng than van. Tụi nhỏ được ăn ngon hơn một chút…thường là canh chua cá lóc với cá sặc rằn kho tộ. Sau đó là Rạch Giá và Sài Gòn, những nơi ba tôi đổi đi, ông đều có đến thăm.
Năm bảy lăm, mất nước, ba tôi bị bắt đi cải tạo hết sáu tháng, dù suốt đời chỉ làm Bưu Đìện, liếm tem, cò, phát thơ chứ “làm cái chó gì đâu” mà có nợ máu với nhân dân…vậy mà cũng bị ở tù. Ba tôi tù về lại Sài Gòn, đường Lý Thái Tổ kiếm sống bằng nghề đánh máy mướn. Người ta làm đơn xin thăm nuôi chồng, con ở tù vì đủ mọi lý do..mà lúc đó ai mà hỏng ở tù…mới là lạ. Bây giờ, quê người, viết bài nầy bằng computer, khỏ nhẹ nhàng lên “keyboard” là chữ hiện lên, tôi lại nhớ và thương ba tôi nhiều hơn nữa. Thương những ngón tay cong vòng vì phải gõ lọc cọc suốt ngày trên cái máy đánh chữ “Olympia” cổ lỗ sỉ để kiếm gạo nuôi một bầy con, thân gà trống… vì má tôi đã mất lâu rồi…
Có lần, khoảng năm 80, từ Cần Thơ đi gạo lậu về Sài Gòn, ghé thăm ba, tôi lại được dịp gặp Sơn Nam. Sáu giờ chiều, dẹp bàn máy, hai ông già, bạn văn, dắt nhau ra Ngã bảy ăn cơm bụi. Bây giờ không còn canh chua cá lóc, cá sặt rằn kho khô hay cá lóc nướng trui, uống rượu “con cọp” nữa rồi! Mà là một khúc hũ qua hầm trong canh toàn quốc, uống rượu bọt đường…
Tôi cứ tưởng Sơn Nam ở tù hồi Việt Nam Cộng Hoà, giờ còn được tiếp tục cầm bút thì chắc ổng phải làm quan…ngon rồi chớ… dè đâu cũng vậy… thì sao nhờ vả được hởi trời! Tôi hỏi ba tôi hay là bác Sơn Nam giấu, vì sợ cha con mình mượn tiền, chứ con đọc báo thấy bài của ổng nghe “mùi cách mạng” lắm mà ba?
“Hỏng có đâu con, bác Sơn Nam nói mấy thằng biên tập nó chen vô, hỏng cho, nó hỏng đăng, đói.” “Người viết phải giao thiệp với chủ báo để biết họ cần gì, đặng mình viết mà không sợ phải “lạc đề”, nếu bài “lạc đề” thì dù có hay mấy họ cũng ném sọt rác. Khi đưa bài báo đến tòa soạn báo, họ muốn biên tập, xử lý ra sao cũng mặc kệ, miễn là họ… trả tiền sòng phẳng. Những gì họ biên tập, cắt xén thì khi in thành sách, ta cứ việc “phục hồi” lại nếu thích”. (Lời Sơn Nam)
Cái tình văn nghệ giữa ba tôi và Sơn Nam dể chừng hơn bốn chục năm nhưng thời gian có hề gì. Cái tình nghĩa giáo khoa thư giữa thầy phái viên báo Chim Trời và độc giả Tư Có của cái xứ Cà Bây Ngọp, chỉ một đêm …Hai ông ăn cá lóc nướng trui, uống rượu “ông cọp”…rồi sau đó cùng chui vô mùng… nói chuyện: “QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ”
Cái tình văn nghệ giữa các ông với nhau là một chút “Hương Rừng Cà Mau” thoang thoảng nhưng lại thơm tới ngàn sau.
đoàn xuân thu – melbourne Đoàn Xuân Thu – 10/11/2011 (gởi Trần Bang Thạch.)
Trần Bang Thạch, bạn văn, Houston Texas, cách tôi một biễn Thái Bình viết:
“cứ tà tà mần văn như vậy!”
Mèn ơi ! đọc thơ bạn hiền gặp lại chữ “ mần” khoái tỉ tê…như quê người, tình cờ gặp lại em xưa mà vợ mình không hay, không biết… Tôi xa chữ “mần” đã khá lâu, dễ chừng năm chục năm rồi có lẽ. Hồi tôi còn nhỏ, bạn văn của ba, như Sơn Nam đến nhà tìm :
“Ba có nhà không cháu? “Thưa bác Sơn Nam, ba con đi mần việc.” Tôi vòng tay lại.
Ba tôi, mần việc là mần việc; mần văn là mần văn. Nhưng với Sơn Nam mần việc là mần văn. Mần văn là mần việc!
Hồi tắm sông còn ở truồng, tôi đã kính trọng mấy bác nhà văn, bạn của ba, vì nghĩ làm sao mà có thể viết được những truyện ngắn làm người ta rớt nước mắt như vậy chớ? Trong trí óc non nớt đó, nhà văn không phải là người thường mà là người thượng… tức thuộc cõi trên.. Sau nầy lớn lên đi học, thầy cho dăm ba chữ dằn bụng, đọc Sơn Nam tôi càng “ê càng” ổng hơn! Có lẽ trong làng văn chương Việt Nam, Sơn Nam là người duy nhất sống trọn một cuộc đời bằng chữ nghĩa và sống vì chữ nghĩa. Ông sống để viết và viết để nuôi cuộc sống. Ngay những năm đầu tiên đặt chân lên đất Sài Gòn, manh áo, chén cơm của ông đã bắt đầu từ trang viết.
“Trước 1975, tôi đồng thời viết cho bảy tờ báo. Sau năm 1975, tôi tiếp tục công tác với nhiều tờ báo. Thật ra, tôi mê viết văn hơn viết báo và với tôi, viết văn bao giờ cũng là trọng tâm. Tôi viết báo để kiếm sống và để giải trí. Tôi quan niệm: Viết văn để viết văn, để yêu nước chứ không nhằm một mục đích nào khác.”
Sơn Nam viết văn là vậy còn cái tánh ổng là sao cà? Hãy lục tìm vài chỗ:
Có nhà báo nói là thích Sơn Nam ở chỗ ông thân tình, dễ gần, không lên mặt kênh kiệu với bất kỳ ai. Ông xuề xòa, vui tính, dường như tôi chưa hề thấy ông giận ai bao giờ. Cái này không đúng lắm đâu. Sơn Nam có giận chớ… mà giận dữ với “Tây” mới oai.
“Hiền hòa, nhỏ nhoi vậy, nhưng ông đã nổi giận thì thật ghê gớm. Cũng phim Người Tình, trong cảnh đám cưới ở chợ Sa Đéc, có mấy chục cụ ông, cụ bà mặc khăn đóng, áo dài đóng vai nhà trai, nhà gái. Giờ nghỉ trưa, thấy mấy cụ ngồi bệt dưới đất ăn cơm, trong khi đoàn phim vào nhà hàng ăn đàng hoàng, ông đã nổi giận thực sự. Mặt bừng bừng sát khí, ông đứng giữa nhà lồng chợ ra lệnh gọi đạo diễn ra cho ông nói chuyện. Chủ nhiệm đoàn phim vội hét lính dọn bàn ghế mời các cụ ngồi ăn.”
Giận “Tây” đã là ngon mà ổng còn đổ cộc với “ta” nữa, như trong truyện “Âm dương cách trở”:
Ông già hớt tóc vỉa hè bị công an khu vực xét hộ khẩu. Ông nói: “Tôi sống ở đây gần trọn một đời người, chỉ biết mình là công dân của Tổ quốc Việt Nam thôi”. Anh công an hỏi: “Vậy theo ông thế nào là Tổ quốc?”. Ông già nói: “Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn”.
Hồi cha sanh mẹ đẻ tới bây giờ thú thiệt là : tôi chưa hề may mắn được bực thức giả nào đó định nghĩa tổ quốc thâm trầm hơn nữa!
Dù ước có vài ba người bạn chơi được, không ba trợn…
Nhưng Sơn Nam xui quá… lại gặp hai người: một ở Bắc Ninh: một ở… Hãy nghe:
Khi chụp ảnh chân dung nhà văn Sơn Nam, các nhiếp ảnh gia rất chú trọng tới “chi tiết đặc tả” là đôi tai… ngoại cỡ của ông. Có độc giả ở Bắc Ninh tên là Nguyễn Đình Tự đã đặt câu hỏi với ông:
Nhà văn Sơn Nam có lỗ tai đạt kích cỡ khoảng 7 cm x 20 cm. Có lẽ vì vậy mà ông… nghe được lắm chuyện xưa tích cũ hay ho về vùng đất Nam bộ để viết lại thành nhiều tác phẩm giá trị về đất nước, con người Đồng bằng sông Cửu Long…
Có đúng vậy không nhà văn?”…Sơn Nam đã trả lời rất một cõi U Minh rằng:
“Tai tôi quả là cũng có to hơn người bình thường một chút, nhưng không phải vì do nghe nhiều mà tai to đâu. Thiếu gì người “tai to mặt lớn” mà chẳng bao giờ biết lắng nghe gì cả”.”
Một câu hỏi ba trợn và một câu trả lời có thể ở tù.
Nhưng chưa hết, Sơn Nam còn gặp một ông ba trợn nữa. Ông viết rằng:
“Sơn Nam, có lẽ, vì tuổi đời đã cao nên không còn nghe và thấy được những tiếng kêu thương và cảnh đời vô vọng (đến thế) từ nơi sinh trưởng của ông.”
Hội cao niên nghe được …tôi e nó sẽ lôi ông ra ba tòa quan lớn.. vì tội “age discrimination” Sau đó… còn thêm:
Sơn Nam qua đời vào ngày 13 tháng 8 năm 2008 nhưng ông đã chết (trong tôi) hơi lâu, trước đó.
Cái này thì ông đúng chỉ 50 %… vì Sơn Nam chết mà không mất vì ổng còn để lại “Hương Rừng Cà Mau”. Riêng tôi với ông, dù cũng mần văn, theo chữ Trần Bang Thạch, nếu chết là mất vì mình không để lại cái gì hết …ngoài một nhúm tro.
Có đọc, đừng giận nhe bạn, bớt giận mà nghe Sơn Nam nói:
“Với tôi, hạnh phúc lớn nhất là không gây thù chuốc oán với ai, không ai ghét mình…(Nếu lỡ người ta oán ghét mình thì cũng đành cam chịu!)”
Tôi cũng ao ước giống hệt Sơn Nam là: “Có người tới thăm nói dóc chơi”… Nói dóc… vui hơn mần văn… anh Trần Bang Thạch ơi?!. đoàn xuân thu – melbourne
Hồi xưa, ở quê nhà Việt Nam, khi hệ thống ngân hàng chưa phát triển chưa được người dân biết tới nhiều, làm được bao nhiêu là bà con mình mua vàng cất giấu để làm của, phòng thân.
Rồi từ từ có Tín Nghĩa ngân hàng của ông Nguyễn Tấn Đời, Thần tài cầm hai xâu tiền, bà con mình bắt đầu gởi vào để kiếm chút đỉnh lời! Tiền đẻ ra tiền; chớ vàng nó không biết đẻ (?!)
Sau 30 tháng Tư, năm 75, tiền mồ hôi nước mắt của dân mình gởi ngân hàng đã bị VC cướp trắng trợn. Nên từ đó niềm tin vào ngân hàng vừa chớm nở đã bị lung lay rồi bay luôn theo gió…
Chúng ta ra đi mang theo quê hương, mang theo phong tục tập quán. Tập quán về đồng tiền liền khúc ruột! Nên bà con người Việt mình hồi mới qua khoái giữ tiền mặt trong nhà hơn là đi gởi nhà băng, có thể vì cái kinh nghiệm đau lòng năm cũ!
Mấy tên đạo chích Úc biết cái tỏng đó nên khoái kiếm nhà người Việt, mà hộp thơ trước cửa tràn đầy không ai lấy; vì cả nhà về Việt Nam ăn Tết, để nhập nha!
Vào nhà rinh luôn con heo mình bỏ ống (Úc gọi là “piggy bank”. Pig là con heo). Úc thì bỏ tiền xu, tiền cắc, còn người Việt thì bỏ tờ 100 đô không hà. Con heo đất nầy coi vậy mà mập hơn con heo thứ thiệt gấp nhiều lần!
Qua Úc, hai vợ chồng cày tối tăm mặt mũi, con cái thì học mặt mũi tối tăm; đâu có ai rảnh mà ở giữ nhà. Ráng cày sâu cuốc bẫm mua cái nhà thiệt xịn cho Úc nó hết hồn chơi. Còn căn nhà rực rỡ đó… chỉ để tối vợ chồng con cái về nằm ngủ.
Bị ăn trộm hoài hè nên bà con mình bắt đầu nhờ ngân hàng của Úc giữ cho chắc ăn, vì chuyện bị giựt tiền như VC nó làm là rất khó xảy ra.
Hai là rút ra đút vô, chỗ nào cũng có máy rút tiền tự động, nên cũng dễ, chớ không nhiêu khê rùa bò như ngày cũ ở Việt Nam.
Cái tập quán thứ hai là chơi hụi. Cái nầy tới giờ bà con mình vẫn chưa từ bỏ được dẫu nó có quá nhiều bất trắc.
Chẳng qua là khi bà con mình vượt biên, vượt biển tới đây chỉ có bộ đồ dính da và đôi dép dưới chân, trên răng dưới dế… muốn có vốn để mần ăn, ra ngân hàng để vay tiền đâu có đứa nào cho. Có thóc mới cho mượn gạo chớ!
Vậy là cái khó nó ló cái khôn; Úc không cho mượn thì bà con mình quay về với cộng đồng mình, xúm nhau lại chơi hụi.
Chơi hụi đã bắt đầu giúp những di dân Việt nhanh chóng mua nhà, khởi sự kinh doanh, hoặc giúp đỡ cha mẹ, anh em còn kẹt lại ở quê nhà!
Thực ra không phải là giới mua bán có máu mặt mới hay chơi hụi vì cần vốn để mần ăn mà những người làm lương ba cọc ba đồng cũng chơi nữa!
Dân cu li, cổ xanh, có đồng nào xào đồng nấy, cứ hai tuần tiền lương sở gởi vô tài khoản, mình bèn rút ra gần hết, chỉ chừa chút đỉnh tiền túi, lỡ đi đường đạp bánh tráng của người ta mà có tiền đền! (Một ông chồng ngoan hết biết!) Tiền chợ vừa khít; nhưng người vợ hiền, mẹ đảm Việt Nam mình cũng ráng chờ đồ sale, giảm giá 30 tới 50% off mới mua. Để dành một chút, chơi hụi nho nhỏ để kiếm thêm tiền lời cò con, tiền đẻ ra tiền, để lâu lâu hốt có chừng chục ngàn cho chàng bỏ túi đem theo, bay về nước uống bia ôm… (Người vợ, trong mơ, còn… không không thấy!) Đó là mặt tích cực của hụi…
Hồi xửa hồi xưa chị em mình chơi hụi gọi là chơi; vì tiền lời không phải là mục đích chánh mà vì tình chòm xóm với nhau, chị em mình góp tiền lại để cho bà con nào đó có chút đỉnh vốn mần ăn…
Cái tình nghĩa xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau là vậy đó!
Nhưng từ từ “chơi hụi” nó bay mất chữ “chơi” đi chỉ còn là hụi. Và hụi biến tướng theo chiều hướng xấu xa là “hụi ma, giựt hụi, bể hụi, v.v…”
Hụi viên phải cười đau khóc hận vì gặp phải một tay chủ hụi lừa đảo, bịp bợm, bất lương!
Bằng không vừa mới hốt hụi được số tiền kha khá là có tay nó nghe lời ba nó dạy “Con ơi ghi lấy lời cha. Một đêm ăn cướp, bằng ba năm làm!” tính phỗng tay trên.
Nên nửa đêm về sáng, trời vẫn còn tối, tay nầy đã phục sẵn trước nhà người ta để ra tay ăn cướp tiền người ta mới vừa hốt hụi.
Mới đây nè, báo The Age của Úc, có đi một bài về hụi trong Cộng đồng người Việt của mình!
Sau một buổi tối bận rộn tại nhà hàng ở St Albans, về hướng Tây của thủ phủ Melbourne, ông chủ nhà lái xe chở vợ mình về nhà ở Maidstone thì đã 1 giờ 15 phút sáng.
Người vợ mở cửa xe và quay bước vào bên trong. Bất thình lình có một tay bất ngờ từ bụi cây nhảy ra và đâm vào cánh tay bà.
Người chồng nhào vô cứu vợ, đánh nhau với tên cướp nhưng bị nó đâm năm nhát. Khi ông chảy máu nằm trên lối lái xe vào nhà, tên cướp bỏ chạy tay không vào bóng tối.
Cảnh sát mới đầu nêu nghi vấn có thể tên nầy tính cướp số tiền thu được hôm nay của nhà hàng. Nhưng hai vợ chồng nạn nhân nầy mang về nhà đêm đó tới khoảng $40,000 Úc kim (gần $30,000 Mỹ kim).
Cảnh sát Úc hỏi: “Where does the money come from?” (Tiền đó ở đâu ra vậy?).
Câu trả lời là: “Đó là tiền hốt hụi!”
Như vậy ai đã biết là hai vợ chồng chủ nhà hàng hốt hụi được rất nhiều tiền vào đêm đó?
Khoanh vùng, loại suy, cuối cùng ngày 8, tháng Năm, các thám tử thuộc Altona North Embona Taskforce đã bắt giữ và truy tố một tay, 28 tuổi, ở St Albans, về tội mưu toan ăn cướp có vũ khí, cố ý gây ra thương tích nghiêm trọng.
Nghi can bị giam để ra hầu Melbourne Magistrates Court vào ngày Một, tháng Tám, năm 2017.
Mặc dù chơi hụi không phải là bất hợp pháp, nhưng cảnh sát Úc vì mù tịt cái vụ hụi hè nầy nên, coi đó là rất gây phiền hà, vì gây nhức đầu quá hà!
Cabramatta ở Sydney; Richmond ở Melbourne, bà con người Việt mình đã từng xôn xao vì những vụ bể hụi, chủ hụi ôm tiền, ta bà thế giới về đâu, trong lúc hụi viên giận muốn điên vì mất tiền, mếu máo sầu vì mất của!
Có người lên tăng xông, mạch máu não trên đầu kêu bực bực; làm đám con cái phải chở đi nhà thương cấp cứu vì sợ buồn giận quá ba má đi luôn thì đám cháu nội, ngoại ai mà giữ đây hè?
Ai chơi hụi cũng muốn kiếm tiền lời. Tuy nhiên lời càng cao, do hụi càng mắc thì xác suất bị giựt cũng cao hơn nhiều. Từ đó có những động từ như giựt hụi, hụi ma, bể hụi, v.v…
Giựt hụi là hụi viên hốt rồi, dông luôn không thèm đóng tiền hụi trả lại cho người ta và theo hợp đồng chủ hụi phải chịu trách nhiệm trả thay.
Còn bể hụi là do chủ hụi đánh bài thua, gom tiền hụi chừng vài chục dây đôi khi lên tới cả triệu đô la trốn về Việt Nam, trốn kỹ lặn sâu vì biết chắc rằng chủ hụi làm bể hụi mà cứ nhong nhỏng đi nhậu ngoài chợ Footscray là coi chừng hụi viên nó xin tí huyết làm tiết canh!
Chơi hụi, là hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau vì không có tài sản thế chấp, bảo đảm.
Dây hụi thực chất là một vòng tròn mắt xích, mỗi hụi viên chính là một mắt xích. Đứt một mắt là xong! (Game is over!)
Biết vậy nhưng: “Mọi người đều chơi hụi. Đó là một cách thức để chúng tôi tiết kiệm và mượn được tiền.”
Hậu quả là trong cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Sydney, cảnh sát Úc đang mở một cuộc điều tra về một chủ hụi ở Marrickville đã lừa gạt các hụi viên tới hàng chục triệu đô la, chuyển số tiền hụi đó ra ngoại quốc và chuyển vào tài sản cá nhân,
Rồi ở Richmond, Melbourne đã bị nhiều vụ bể hụi. Có vụ lên đến 9 triệu đô Úc.
Những vụ lừa đảo hụi hè nầy gây rắc rối, gây bối rối làm tai tiếng cho cộng đồng mình, thiệt hại quyền lợi, do đóng tiền cho chúng giựt, của cử tri, nên dân biểu Anthony Albanese, đơn vị Grayndler ở Sydney, nơi có đông cử tri gốc Việt, là Phó lãnh tụ đảng Lao Động , năm 2007 đã phải báo động với Quốc hội Liên bang Úc, về những rủi ro trong việc chơi hụi của Cộng đồng người Việt.
Rồi các nhà khoa bảng của Úc phải nhào vô nghiên cứu để tìm ra những vấn nạn về xã hội nầy mà đề xuất cho chánh phủ tìm phương cấp cứu.
Giáo sư Roslyn Lê, thuộc trường đại học Swinburne, đã phỏng vấn các chị em đang lâm vòng lao lý, thì thấy rằng: Vì nợ hụi, giống như cát lún từ từ, nhiều chị em mình phải trở thành những con lừa vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, hay nhận chăm sóc xưởng trồng cần sa cho những tay trùm ma túy.
Có một nữ tù nhân đang thọ án 12 năm, đã từng là chủ hụi, bịt giựt hụi, mất nhà hàng, mất nhà năm 2008, đã tham gia vào việc vận chuyển một số lượng ma túy giấu trong bồn ngâm chân trong một thùng container gần 160 ký ma túy, trong đó có methamphetamine trị giá $50 triệu, cocaine trị giá $32 triệu, và thuốc lắc trị giá $6 triệu.
Tuy nhiên! Cấm chơi hụi đâu có được vì đó là quyền tự do của công dân Úc; nên các chuyên gia về hụi chỉ biết khuyên rằng: Chị em mình chỉ tham gia vào dây hụi do người chủ hụi xưa giờ đầy uy tín. Đừng qua bề ngoài hào nhoáng, ăn to nói lớn, nhà cao cửa rộng, vàng vòng phô trương, quan hệ rộng…
Phải biết rõ chủ hụi vợ con mấy đứa, có ai cờ bạc, xì ke hút xách gì không?
Phải chọn lựa kỹ càng các hụi viên khác. Có công ăn việc làm, kiếm được bao nhiêu để coi hốt hụi rồi còn đóng hụi chết hay không; hay lẳng lặng mà dông?
Phải có sổ sách rõ ràng, chứng từ đầy đủ để lỡ có bề gì thì đi thưa mới được.
Cảnh sát Úc bây giờ bớt lù khù rồi, cũng biết chuyện hụi hè nầy nên khi bị giựt hụi là nạn nhân có thể đi thưa chớ không còn cái vụ huề cả làng như xưa được nữa.
Tuy nhiên, tui là người vốn đa nghi như Tào Tháo. Thà mình phụ người chớ không để người phụ mình… nên cứ ‘cảnh báo rồi cảnh cáo’ em yêu của tui hoài hè!
Có đồng nào vợ chồng mình xào đồng nấy! Đừng có hụi hè gì ráo trọi.
Bởi hụi hè coi chừng vì hụi mà có ngày vợ chồng con cái mình phải ra hè mà ở nhe!
Xưa nay chỉ thấy tô phở bò, gà theo chân người Việt tỵ nạn tràn lan và nổi danh toàn thế giới; còn tô hủ tiếu quê mình hình như đã tàn phai nhan sắc. Chớ hồi xưa trong nước, nhứt là Lục tỉnh Nam Kỳ, tô hủ tiếu quê mình vẫn vô địch quyền vương, độc cô cầu bại. Tô phở Bắc mon men về tới cái đất Mỹ Tho danh trấn giang hồ về hủ tiếu cũng đành phải chịu xếp ve luôn. Mỹ Tho có cả hàng chục tiệm hủ tiếu chỉ loe ngoe vài ba tiệm phở tái, nạm, gầu… Phở Bắc chỉ làm “đại ca” trên chốn giang hồ Sài Gòn, ngay cả vô Chợ Lớn cũng phải chào thua. Hủ tiếu là của người Tàu, người Quảng Đông; còn người Triều Châu thì ăn hủ tiếu bò vò viên, tức “ngầu dục viễn!” Nổi tiếng nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho! Nó khác với hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế, bún mắm Sóc Trăng. Hủ tiếu Mỹ Tho của người Quảng Đông nhưng bánh hủ tiếu lại do người Việt ở Gò Cát, bên bờ kia sông Bảo Định, vùng ven thành phố Mỹ Tho làm. Bánh hủ tiếu bằng bột gạo, không pha bột mì, bột lọc. Sợi hủ tiếu tươi chỉ cần trụng sơ với nước nóng là trong, giòn và dai và dẻo hơn các loại bánh hủ tiếu mềm xèo ở Chợ Lớn.
Cái thùng nước lèo của mấy xe hủ tiếu Mỹ Tho có hai ngăn. Một là nước sôi để trụng bánh; một ngăn chứa nước lèo, có vị ngọt từ xương, giò heo và khô mực nướng cùng với củ cải. Thịt heo nạc xắt mỏng như tờ giấy quyến, gan heo trải lên mặt tô rồi chan nước lèo lên, rắc tiêu. (Sau nầy người ta thêm phèo non, tôm thẻ và trứng cút… Nhưng ăn thấy nó làm sao đâu vì làm mất cái vị, cái mùi hủ tiếu!) Hủ tiếu là phải ăn với giá sống, hẹ, cải xà lách, củ hành phi. (Đừng có bỏ rau tần ô rau ghém vô, ăn lãng xẹt hè). Nêm nếm là phải có xì dầu và giấm đỏ. Nêm bằng nước mắm y, rồi vắt chanh vào (để ăn phở) là trật lất.
***
Sở dĩ tui nói kỹ từng chút một về tô hủ tiếu là vì em yêu của tui là “á xẩm.” Tía vợ tui là Chú Sồi, chuyên nghề bán hủ tiếu. Chính vì khoái ăn hủ tiếu mà tui mới “cuỗm” được Quế Thanh, tên con vợ tui đó. Chú Sồi có một chiếc xe có thành vách ba bên, lộng kiếng vẽ hình trong truyện Tam Quốc như Quan Công phò nhị tẩu, Giang tả cầu hôn, Đương Dương trường bản, Khổng Minh tọa lầu. Ở giữa xe là một thùng nước lèo, bốc hơi nghi ngút, những rổ nhỏ đựng bánh hủ tiếu, mì nhỏ, mì lớn, hoành thánh, dầu cháo quẩy.Hồi xưa lúc đói bụng, trong túi lại có kha khá tiền, tui bèn tấp vào lề, ngồi lên cái ghế xếp, trước mặt xe, có miếng ván hình chữ nhựt gài chốt bè ra, đủ đặt vừa tô hủ tiếu. Lập tức chú Sồi đon đả: “Hà cái lầy thằng Tửng ‘xực mý dệ’ (ăn cái gì)?”
(Thằng nhỏ nào Chú Sồi cũng kêu là Tửng hết trơn hè. Hèn chi sau về làm rể cho Chú Sồi tui cũng bị hơi tửng tửng!) Tui chơi lại tiếng Tàu luôn, cho dù tiếng Tàu của tui là loại “Tào Lao”:
“Dách cô phảnh, thím xực xí quách…tố tố sủi!” (Một tô hủ tiếu nhiều xí quách, nhiều nước lèo). “Hầy lá!” (Được rồi!)
Đưa tay đón lấy tô hủ tiếu từ bàn tay búp măng của á xẩm Quế Thanh, con gái chú Sồi, tui xịt một chút xì dầu, giấm đỏ, gắp thêm vài lát ớt, xốc bánh hủ tiếu lên, gắp một đũa khá lớn đưa vào miệng, bắt đầu hẩu xực. Nước lèo nóng, cay vì ớt, vì tiêu, hơi nước lèo phả vào mặt, mồ hôi tươm ra ướt cả lông mày. Tui chiến đấu quyết liệt, hai hàm răng kêu kèn kẹt, chỉ trong chốc lát là tô hủ tiếu cạn queo. Quế Thanh mang cho tui cái bình trà “Thái Đức’ bằng nhôm nóng hổi, rót cho tui một ly rồi hỏi: “Hẩu lớ hia Tửng?” (Ngon không anh Tửng?)
Tui cười hè hè:
“Hẩu hẩu” (ngon ngon)! “Nị hụ len, hụ len!” (Em đẹp lắm). Em nguýt tui một cái thậm thượt dài chừng 3 cây số, xổ luôn một tràng tiếng Việt:
“Tía em nghe được là rượt anh chạy có cờ đó nhe! Ai biểu hia Tửng no bụng cững lên, dám dê ‘tiểu thư’, con cưng của Tía!” *** Rồi sau khi CS chiếm miền Nam, gia đình bà con mình ai cũng đều suy sụp, ai cũng mạt, không còn tiền ăn hủ tiếu. Xã hội mình trước 75, dù đang chịu đựng cuộc chiến đẫm máu kinh hoàng để vệ quốc vẫn còn chút ổn định nhưng khi tiếng súng ngưng rồi tàn phá còn hơn cả lúc chiến tranh.
Người dân bị bức hại, bị trả thù, bị đe dọa cướp nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, bị đày đi kinh tế mới. Đêm nào công an Phường cũng xét hộ khẩu để bắt người đem đi nhốt khơi khơi. Không còn chịu đựng nổi, bà con mình ai nấy cũng âm thầm nhưng rất quyết tâm là tìm đường ra biển. Muốn ra biển là phải biết đường sông vì tất cả các dòng sông đều xuôi dòng ra biển, nên phải chấp nhận cuộc sống gạo chợ nước sông, đời sương gió buôn bán qua ngày dò đường để dzọt. Phần trên đường bộ bọn chúng rào đường chặn ngõ ác liệt không bán buôn gì được hết. Thế là ở những ngã ba sông: chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Lục Sĩ Thành (Trà Vinh), chợ nổi Cái Răng, Phong Điền và chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp, (Cần Thơ) nổi lên. Tui trở về Mỹ Tho thăm Quế Thanh lần cuối trước khi đi. Không biết lành dữ thế nào, tui nói với em rằng:
“Nị ráng chờ chừng nào biết Tửng nầy chết chắc, rồi hãy đi lấy chồng nhe!” Chú Sồi nghe được, kêu tui lại biểu:
“Tửng à! Nị dắt nó đi luôn đi. Thương nhau là sống chết phải có nhau, đồng tịch, đồng sàng, đồng quan, đồng quách mới được lớ!” Người ta thương hồ khấm khá thì có ghe lườn, ghe cui, ghe rỗi, ghe cà vom… mui lợp ván chắc chắn, chịu được nắng mưa. Còn hai đứa tui nghèo, nhờ Chú Sồi vét hết trong nhà được chưa tới 5 chỉ vàng, mua cho một chiếc ghe tam bản be kèm, lợp mui giả khung bằng nan tre đan bện lá dừa nước, chạy máy đuôi tôm “Kohler 4.” Sáng em bán hủ tiếu, tui bán cà phê, nước đá và rượu trên chợ nổi Cái Răng. Chiều về một bến sông nào đó qua đêm thì Quế Thanh chèo mũi, tui chèo lái hoặc căng bốn góc mền nhờ gió đưa đi cho đỡ tốn xăng.
***
Chợ nổi họp theo con nước lớn, 5 giờ sáng tiếng máy ghe, thuyền trên chợ nổi cứ bồng bềnh trên sông trong tiết trời mờ mờ đục đục đẫm hơi sương. “Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng
Giang hồ gạo chợ nước sông, dù có á xẩm em yêu kè kè một bên nhưng bữa nào đi bán một mình cũng có vài em bẹo hình bẹo dạng với tui. Con gái đồng bằng trên sông nước, gió thổi phần phật lật lên vạt áo bà ba, có cái gì trăng trắng làm tui cũng thèm nhểu nước miếng hè. “Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi.
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê!”
Thôi thì cám cảnh nhau, tui lén Quế Thanh, cho em thương hồ ăn chịu hủ tiếu, chừng nào có tiền trả cũng được mà giựt luôn cũng hổng sao! Có em bạo dạn ướm lời:
“Nước xuôi chạy gió buồm mền,
muốn vô làm bé, biết bền hay không?”
Nhưng Quế Thanh, em yêu của tui, đánh hơi được, nhứt định không chịu; nếu tui rước thêm một con “ngựa bà” nữa xuống ghe là em sẽ nhảy xuống sông tự trầm mà chết. Sau sợ tui lạc lòng, nấn ná lâu sanh biến, nên Quế Thanh về lại Mỹ Tho “ráp” với mấy xì thẩu có đóng tàu vượt biên cho hai đứa tui, vốn quen kiếp sông hồ làm “taxi” đưa khách ra cá lớn.
Hôm cuối cùng, đưa khách bị bể, không dám quay vô, tui với em bèn ngộ biến phải tùng quyền, leo đại lên thuyền theo luôn ra cửa biển. Cái đó gọi là “canh me!” Vật đổi sao dời. Đá mòn sông cạn. Trần ai chớp mắt trăm năm mộng. Gần 4 chục năm rồi, đêm đêm bên Quế Thanh, mơ màng tui vẫn còn nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền hủ tiếu thương hồ trên chợ nổi năm nào.
Vào một buổi trưa, tôi đang nằm chờ nguồn ánh sáng chiếu vào buồng như mọi khi, mắt tôi đang lim dim, lả lướt trong niềm suy tưởng về những nỗi chìm nổi của cuộc đời; bỗng tai tôi thoáng nghe một tiếng động khẽ, mơ hồ phía dưới nền căn buồng. Tôi hé mắt, liếc xuống: Chà, một chú chuột nhắt, bé tí tẹo, đang ngồi “xổm” dưới gầm sàn phía bên kia, hai… “bàn tay” bé tí tẹo, đang chụm lại đưa lên miệng, như đang gậm nhấm cái gì. Thấy tôi mở mắt ra nhìn, “y” định chuồn. Tôi phải hết sức im lặng, không dám cả thở mạnh, trong khi óc tôi suy đoán thật nhanh: phía cửa, cánh cửa sát xuống nền, “y” không thể ra vào được, chỉ một lối duy nhất, cái lỗ để nước chảy ra ở phía chân tường, chỗ đầu giường. Lỗ này chỉ lớn bằng mặt chiếc đồng hồ đeo tay, nghĩa là đường kính khoảng 2 phân rưỡi đến 3 phân là cùng, cái lỗ chỉ lọt một quả bàng ăn thông ra một cái rãnh phía ngoài tường.
Chắc rằng những “cơ sở” làm ăn cũ của tên chuột này bị động vì …cuộc băn phá của máy bay Mỹ, “y” chưa tìm được đất sống, cho nên tạm thời “y” phải lang thang thăm dò…vùng đất hứa. Thấy lỗ, “y” chui vào buồng tôi. Thật đáng buồn cho “y”. Đất “hứa” này chỉ có gạch, xi măng, đá với sắt, không có đến cả mùi thực phẩm nữa, nói chi đến hạt cơm rơi mà bò vào. Á! Thôi chết rồi! Vừa nghĩ đến cơm, tức khắc như một phản xạ lóe lên trong đầu, tôi bò nhổm dậy nhìn nắm cơm tôi để ở cuối sàn phía chân cùm. Dạ dày của tôi đã giặt sạch phơi khô từ 4 giờ chiều hôm qua cho tới giờ đã 20, 21 tiếng rồi. Tôi đang chờ đến 4 giờ chiều để được ăn một lúc cả hai suất. Với bao nhiêu hy vọng của lúc đợi chờ giờ hạnh phúc, mặc dù dạ dày đang dán chặt vào nhau, thế mà giờ đây, khăn bọc nắm cơm đã bị cắn thủng ra, cơm vãi tứ tung. Nhìn những hạt cơm vương vãi, ruột tôi như…đứt ra từng khúc! Chắc cũng phải mất đến ba, bốn chục…hạt cơm rồi, chứ không ít đâu!
Tôi cũng hơi ân hận vì thiếu điềm đạm. Thực ra khi nhìn thấy con chuột, một sinh vật, tôi cảm thấy trong lòng dâng lên một chút ấm cúng, bớt lẻ loi. Chính vì vậy, tôi đã không dám trở mình, không dám cả thở mạnh, sợ con chuột chạy đi mất. Tới lúc, bất chợt phát hiện nắm cơm, tôi không còn kịp bình tĩnh nữa, vội bò nhỏm dậy, khiến cho chú chuột đã phải cong đuôi chuồn vào lỗ mất tiêu; để rồi bây giờ, vừa tiếc…cơm, vừa tiếc phút gặp gỡ…”người bạn” mới quá ngắn ngủi.
Tôi chợt thoáng có ý nghĩ, có thể con chuột ấy sẽ trở lại nữa?…Nếu vậy, làm sao bắt được nó, thì thật là tuyệt vời! Dù rằng đối với tôi lúc này, cơm gạo là xương, là máu, tôi cũng quyết định hy sinh mỗi ngày hai mươi hạt cơm cho “người bạn”, để đổi lấy sự sống chung bạn bè, để cuộc sống đỡ cô đơn, heo hút, lủi thủi một mình.
Con chuột nhắt này xem ra cũng quái lắm! Chân tôi lại bị cùm, tay không thể với tới cái lỗ dưới nền phía đầu giường. Làm sao đây để bắt con được con chuột này? Người và vật, ai khôn hơn ai? Nhưng, tôi cũng biết rằng khôn hay dại, còn phụ thuộc vào cái thế nữa. Tôi nằm hoạch định một kế hoạch thật tỉ mỉ để khắc phục những nhược điểm về cái thế của mình. Làm sao phải thật nhịp nhàng ăn khớp với nhau.
Trưa mai tôi sẽ cố ý để lại mươi hạt cơm ngay dưới nền, ở mãi phía trong, xa cái lỗ, mãi chỗ sát cửa ra vào. Trên sàn, tôi vờ nằm ngủ, tay thủ sẵn cái chổi thanh hao,cầm ngược phía đuôi chổi. Chờ cho chú chuột mò vào, tôi chỉ cần rất nhanh vươn người, đút chặn phía cuống chổi bít cái lỗ, con chuột sẽ không còn lối ra nữa. Dù vậy, tôi cũng khó bắt được nó. Chân ở trong cùm, nếu nó chạy về phía gầm sàn bên kia là ngoài tầm tay của tôi rồi. Như vậy, làm sao giải quyết? Khi cán bộ mở cửa, cán bộ thường hay rút chốt cùm trước. Vậy, tôi chỉ rút chân ra rất nhanh, nhảy ngay xuống trấn phía cửa, để cho con chuột phải vào phía đầu giường. Khi cán bộ mở cửa, mình kéo dập vào, rồi với một cái vồ lẹ, nhưng chính xác là sẽ bắt được. Kinh nghiệm vồ chuột, dù anh nhanh tới đâu, nhưng nếu cứ nhằm con chuột mà vồ, thường là trượt, hầu như không bao giờ được. Phải phán đoán con chuột sẽ chạy, chồm về phía nào, rồi vồ cách con chuột chừng 20 tới 25 phân. Nếu đoán trúng hướng chạy của chuột là vồ trúng (với điều kiện không sợ chuột cắn). Chỉ trong một phút này, cán bộ sẽ lại mở cửa và quát hỏi. Vậy, phải làm sẵn một sợi dây chỉ dài, se 6 lần thật bền, buộc sẵn thòng lọng một đầu; đầu kia cũng buộc sẵn vào cái cột chống sàn bằng xi măng, để khi bắt được chuột, xích nó lại ngay.
Cả buổi sáng hôm sau, tôi tính toán mọi việc với con chuột tinh ma này! Cho tới giờ trưa như mọi khi, tôi lại nằm lim dim, thỉnh thoảng he hé đôi mắt liếc nhìn cái lỗ. Tay tôi đã thủ sẵn cái chổi. Thế mà lúc đợi chờ cũng thấy hồi hộp lạ lùng. Tai tôi cũng vểnh lên nghe ngóng, đôi mắt thì hấp háy, lúc mở, lúc nhắm. Mười phút, hai mươi phút, rồi bốn mươi phút trôi qua, không thấy động tĩnh gì cả. Phải chăng con chuột đã biết tôi đang giương bẫy chờ nó? Hay hôm nay, nó kiếm được món ăn khác, nhiều và ngon hơn? Tôi đang phân vân, đã hơi nản lòng đợi chờ, bỗng thoáng nghe một tiếng động rất nhẹ. Ánh sáng chỗ cửa lỗ hơi tối đi, rồi mấy sợi râu thò ra thụt vào. Tôi như nín thở. Một chiếc mũi đỏ hỏn bé tí, rồi cả cái đầu thò ra. Đúng chú chuột hôm qua rồi. Xin mời bạn vào đây. Tôi xin lấy tình bạn bè đối xử. Tôi không làm hại bạn đâu!…Thái độ của con chuột hôm nay thật rụt rè. Nó cứ bước đi vài bước, lại dừng, nghểnh đầu, vểnh tai, nghiêng ngó về phía tôi. Hình như nó cảm thấy, hay ngửi thấy một không khí bất an. Có lẽ mắt, nhưng phải nói là mũi của nó đã ngửi thấy mùi thơm ngon ngất ngây của những hạt cơm đang mời gọi phía cửa ra vào. Biết là nguy hiểm, mất an ninh, nhưng vì dạ dày lép, miếng mồi lại mời gọi, làm cho nó mờ mắt, chân cứ tiến dần vào. Tôi bật dậy như một cái máy, chít ngay đầu cuống chổi vào cái lỗ, lối ra duy nhất của con chuột. Con chuột quả có khôn. Dù chưa thử, nhưng nó cũng biết ngay là không còn chỗ nào thoát ra, ngoài con đường duy nhất đó; vì vậy, nó chồm ra, cứ định chui đầu vào cái lỗ đã bị đầu cuống chổi của tôi bịt kín. Dĩ nhiên là không chui vào được.
Mãi một lúc, nó hiểu rằng không còn cách nào nữa, nó sắp bị bắt rồi. Nó rút vào gầm sàn phía bên kia, quay lại nhìn tôi bằng con mắt, tôi đoán là vừa khiếp sợ, lại vừa tức giận. Ngược lại, tôi nhìn nó bằng con mắt…hữu nghị, bạn bè; nhưng chẳng biết nó có hiểu như vậy không? Giữa lúc ấy, chốt cùm tôi xoạch mở. Đã chuẩn bị từ trước, lẹ như chớp, tôi chồm xuống đất chận ngay phía cửa, vì tôi nghe tiếng then cửa đã rút để mở cửa. Trong hoàn cảnh cấp bách từng giây, con chuột tuy bé tí, nhưng vì thấy thế nguy, nhảy những cú nhảy bật lên như lò xo, rất cao. Thậm chí, nó quýnh quá, nhảy cả lên sàn cao đến 60 phân. Tôi vồ cú đầu, trượt! Lợi dụng ngay cái đà đang xiêu đi của cú vồ trượt, tôi lẹ tay vơ một cái như bắt ruồi. Thế mà lại trúng ngay chú chuột. Nó nằm gọn trong tay tôi, đầu ngút ngắc tìm thế cắn.
Đang lúc đó cửa mở, tên Dư thò đầu vào quát:
– Anh làm cái gì đấy?!…
Mắt y mở to vừa ngạc nhiên, vừa bực tức. Tôi vội vàng vừa cho chân con chuột vào sợi chỉ tôi đã buộc thòng lọng sẵn, cột chân nó lại, vừa thở hổn hển trả lời rời rạc:
– Thưa ông, tôi…vồ con chuột!
Y nhìn con chuột rồi nhìn tôi; lúc đầu, y có vẻ khó chịu, mắt quắc lên; nhưng sau, ánh mắt của y dịu dần xuống như thông cảm với cái tính còn trẻ con của tôi, y chỉ dấm dẳn:
– Đập chết, rồi vứt vào nhà xí kia!
Tôi ôm bô ra, vừa khẩn khoản:
– Thưa ông, tôi buồn quá! Ông cho phép tôi nuôi nó mấy ngày thôi, chứ tôi có cơm đâu mà nuôi nó lâu?
Chắc y thấy rằng con chuột bé tí teo, chẳng hại gì. Hơn nữa, như tôi đã nói qua, y cũng thông cảm với tôi chút ít; vì vậy y chẳng nói có đồng ý hay không, chỉ giục tôi đổ bô mau lên.
Tôi tỏ vẻ rất ngoan ngoãn, chạy vội vào đổ bô, tráng xong, báo cáo ra liền. Tôi mang bô vào buồng, lại trở ra lấy cơm ngay, vì đã có cơm rồi.
Sau khi cùm đã chốt, cửa đóng, tôi cảm thấy căn buồng như ấm cúng hẳn lên. Sau nhiều ngày đêm heo hút một mình, hôm nay, tôi có “người bạn” mới, người bạn đầy tin tưởng. Dù tôi có ăn nói linh tinh điều gì về tư tưởng, tôi cũng chẳng lo gì về hậu họa, cho nên tôi sẵn sàng hy sinh mỗi bữa mươi hạt cơm, không hề ân hận.
Trước khi ăn, tôi lấy một hạt cơm ném cạnh nó như một cử chỉ mời mọc. Nó nghiêng cái đầu bé tí, ngó bằng con mắt lấm lét. Hai cái tai và hai mắt nó cứ giương lên, cụp xuống tỏ vẻ sợ sệt, chưa yên tâm. Vì vậy, hạt cơm vẫn để đấy, con chuột không ăn. Tôi vừa ăn, vừa thỉnh thoảng lại nhìn con chuột. Nó cũng nhìn tôi, rồi lại nhìn hạt cơm, nhưng nhất định không ăn. Dành cho nó dăm hạt cơm, còn tôi chén hết.
Sau khi trả bát rồi, giờ đây thật yên lặng, chỉ còn con chuột với tôi. Tôi chẳng tìm được cách nào để nói cho nó biết, hiểu được lòng tôi đối với nó là hòa bình, hữu nghị, chỉ là tình bạn bè, hai bên cùng có lợi… Hàng mấy tiếng đồng hồ, cứ ngồi nhìn con chuột lại đăm chiêu suy nghĩ, mong tìm ra một lối giải quyết, để có một cuộc sống chung hòa bình giữa người và…chuột. Vô kế khả thi, nản lòng, tôi đành nằm xuống đi ngủ, sau khi bỏ nốt mấy hạt cơm xuống nền nhà, gần bên nó.
Chợp mắt được một lát, tôi giật mình thức dậy. Nhìn xuống chỗ con chuột, thấy nó vẫn ngồi chồm hỗm, ngước đôi mắt tí hin lên nhìn tôi, những hạt cơm vẫn còn nguyên trên sàn. Có lẽ nó không ngủ? Tôi mặc kệ, lại nhắm mắt ngủ tiếp. Tôi nghĩ, rồi trước sau gì nó cũng phải ăn cơm. Nó cũng là một sinh vật như tôi; nếu mai không ăn, thì ngày kia sẽ phải ăn. Tôi thoải mái đi vào những suy tư của riêng mình.
Sáng hôm sau, khi tôi mở mắt ra, nhìn xuống nền nhà, con chuột đã …biến mất rồi, cả những hạt cơm cũng bay hết; chỉ còn một đoạn chỉ ngòng ngoèo, chơ vơ nằm đó. Chà, tôi thật là ngố, và đánh giá quá thấp “người bạn” mới này. Chuột mà cắn, chỉ gì lại không đút; trừ có giây kim loại thôi. Thế mà sao tôi không nghĩ ra. Thật là tiếc công, lại tiếc cả người bạn chưa thân đã bỏ nhau rồi. Anh bạn ra đi, vẫn không quên chén sạch mấy hạt cơm của tôi… mời.
Bây giờ, chắc gì nó trở lại nữa. Dù vậy, trưa hôm sau, tôi vẫn để lại mấy hạt cơm, cho nó thấy mồi, biết đâu nó lại vào nữa thì sao? Mãi gần mười ngày sau, tôi đã tưởng không bao giờ trông thấy nó nữa, thì cũng vào một buổi trưa, không khí cuối Hạ vẫn còn oi nồng, tôi đang nằm mơ màng chờ giờ cơm chiều, mắt lơ đãng nhìn đây đó chẳng có một chủ định gì, từ chiếc cửa sổ nhỏ, đến chiếc cùm; rồi chợt nhìn đến chỗ mấy hạt cơm dưới nền nhà, tôi thấy đã biến mất. Ngồi bật dậy, tôi đưa mắt nhìn quanh kỹ hơn, không một âm thanh, dù nhỏ bé. Xà lim vẫn yên ắng như tờ. Vậy là chú chuột đã trở lại? Hay một chú chuột khác? Thế là, tôi quyết định ngày hôm sau lại chủ ý rình.
Trưa hôm sau, cũng mấy hạt cơm làm mồi, và như lần trước…tôi lại tóm được chú chuột ngày xưa ấy.
Có thể thời buổi khó khăn, nó đã tha phương cầu thực nhiều nơi, nhưng vẫn không tìm được nguồn sống, trừ căn buồng của tôi. Tuy đã bị bắt một lần và đã …đào thoát được, (chắc lúc nó thoát, đã tự hứa sẽ “cạch” đến già, không bao giờ trở lại cái buồng của tôi nữa…)
Nhưng, khốn thay, mò mẫm đến đâu cũng chẳng có gì đút bụng; cho nên, vì sự sống còn, biết là đầy dẫy hiểm nguy, nó cũng đành phải xông vào chỗ chết để tìm cái sống vậy. Và, lại rơi vào tay tôi. Âu là, dù khôn, dù biết, nhưng vẫn không tách rời khỏi điều kiện,
Lần này, tóm được nó, tôi không thể nhân nhượng, tôi không thể để nó có một điều kiện nào thoát khỏi tay tôi một lần nữa. Vì thế nên khi ra trả bát xong, và sau khi đã bị cùm, khóa đâu vào đấy rồi, tôi cúi xuống cầm sợi dây, kéo vào, lựa thế chộp nó. Nó lồng lộn, tìm cách vuột ra, nhưng làm sao được, chân đã bị buộc rồi. Nắm chặt nó trong lòng bàn tay, nhìn đôi mắt thất thần của nó, tôi lịch sự:
– Chỉ vì tôi muốn sống chung với “bạn”, vậy bạn vui long cho tôi mượn bạn…hai cái răng cửa!
Tôi hiểu rằng, nếu nói được tiếng người, chắc chắn nó sẽ phản đối kịch liệt. Đời nào nó lại đồng ý với cái lý do kỳ khôi ấy. Khốn, đây cũng là cái lý của kẻ khỏe trên cõi đời này mà. Thế là tôi vặn nghiến hai cái răng của nó. Từ nay đừng hòng cắn dây buộc để thoát cũi, xổ lồng nữa nhé…!
Người và vật ở với nhau, mãi rồi cũng thành quen. Nó không còn sợ tôi như buổi ban đầu nữa. Thậm chí, đã có lần tôi cho nó rúc cả vào bụng tôi. Cuộc sống của tôi, kể từ ngày có nó, thấy ấm cúng hẳn lên…
Tối nay, cũng như mọi tôi, tôi đang ngồi đùa bỡn, chuyện trò với…con chuột, đột nhiên súng nổ như bắp rang, xen lẫn những tiếng ùng ục rung trời chuyển đất. Hôm nay đặc biệt không có còi hụ, như vậy, Mỹ đã có một phương pháp nào đó để đánh lừa màng lưới “ra đa” của Cộng Sản. Chiếc cánh cửa xà lim rung lên bần bật như trái đất rùng mình. Con chuột hôm nay hình như cũng sợ quá, chui mãi vào chỗ rốn của tôi, Cái tay nó cứ ngọ nguậy, nhất là những cái lông mõm của nó cứ chà đi xát lại, da bụng của tôi làm tôi nhiều lúc nổi da gà, nhưng cũng thật…đê mê.
Đèn bỗng phụt tắt. Không biết đường dây điện bị đứt, hay nhà máy điện bị đành? Cả tiếng loa vẫn hồng hộc quát tháo om xòm bây giờ cũng câm bặt. Trời tối đen như mực. Những ánh chớp nhấp nháy xanh lè liên tục với những tiếng đạn nổ, bom rơi. Tôi rất tiếc là cái chân bị cùm, và tôi phải ở xà lim, chứ lúc này mà được nhìn ra ngoài trời, hẳn là như được dự một đêm hoa đăng muôn hồng, nghìn tía của ánh hào quang.
Hơn một tiếng đồng hồ sau, còi hụ mới báo an, nghe ư ử như con bò cái gọi đực kéo dài.Vừa ngắt giọng như hết hơi thì súng và bom lại nổ tơi bời; những làn chớp lại nhấp nháy liên hồi như trong quán rượu nhảy đầm vậy.
Tôi không thể tưởng tượng được đạn của Cộng Sản ở đâu mà nhiều thế. Không biết bao nhiêu khẩu pháo bắn “liên chi hồ điệp”, không lúc nào ngừng, tưởng như vỡ cả bầu trời Hà Nội ra! Mà dạo này, mật độ của máy bay Mỹ bắn phá Hà Nội càng nhiều hơn. Có đêm 3, 4 trận; có ngày liên tục không biết bao nhiêu trận. Có khi lại bẵng đi cả nửa tháng yên lành; rồi lại sùng sục đạn réo, hỏa tiễn bay và máy bay rơi, cũng như tơi bời người chết. Tôi hiểu, Mỹ đã dùng nhiều chiến thuật, nhiều thủ đoạn để đánh Hà Nội nói riêng, và miền Bắc nói chung. Nhưng, như tôi đã trình bày ở trên, Cộng Sản đã nghiên cứu được hết. Tình trạng này, cũng giống như kẻ đi buôn lậu, với lính “đoan” bắt hàng lậu. Người buôn lậu mỗi khi tìm cách giấu hàng mới, chỉ thoát được chuyến đầu. Sau, làm nữa, thế nào cũng bị lộ tẩy.
Hôm nay, là Chủ Nhật. Mãi gần 9 giờ, mới có cán bộ vào mở các buồng cho ra rửa. Đến lượt tôi, qua cách mở cửa, mở cùm, tôi đã biết là cán bộ lạ. Khi bưng bô ra khỏi cửa, tôi mới biết đó là tên Ba. Tay này rất lầm lì, ít nói. Y là trung sĩ, người Nghệ An, trước đây đã có thời gian trực ở xà lim III.
Lúc tôi mang bô vào, y đang ở trong buồng tôi. Y trừng mắt nhìn tôi, tay chỉ con chuột:
– Chuột nào đây?
– Thưa ông, nó chui vào buồng, nên tôi bắt nó!
– Ở trong này, ai cho anh nuôi chuột?
– Tôi thấy nó bé ti, nên buộc nó chơi cho đỡ buồn…
Y gằn giọng quát:
– Đập chết, vất ra ngoài!
Thấy y nổi nóng, tôi mềm dẻo trình bày:
– Thưa ông, tôi đã buộc, nuôi nó hơn nửa tháng nay rồi. Nó không làm ảnh hưởng gì đến xà lim cả ạ.
– Không được! Anh có nghe lệnh của tôi không?
Thấy tình hình căng, vì tiếc con chuột, dạo này đã quen tôi, nên tôi cố nằn nì:
– Xin ông thông cảm, ngày mai tôi sẽ giết nó, ném vào nhà xí!
Y quay lại tôi, xửng cổ:
– Bỏ chân vào!
Tôi ngồi ghệ vào sàn, rồi bỏ chân vào cùm. Y trở ra bên ngoài cửa, chốt cùm. Rồi y xồng xộc đi vào, lấy chân đạp mạnh vào con chuột. Tim tôi như thót lại. Con chuột rất lanh, nhảy tránh được. Y càng tức, co chân lên rồi đạp xuống lung tung nhiều lần. Vì bị vuớng sợi dây “oan nghiệp” mà tôi đã buộc vào chân nó, cuối cùng nó không tránh được. Nghe đánh ‘bẹt” một tiếng. Tôi nhìn con chuột ruột bị phòi ra; hai con mắt tí hon như hai hạt cườm đen trắng long lanh phọt hẳn ra ngoài, long thòng hai chân, hai tay nó run lên bần bật, rồi uể oải dần, cho tới khi ngừng hẳn.
Một luồng hơi nóng chạy ngược từ dưới cổ tôi lên trên mắt. Tôi nhìn tên cán bộ! Tôi muốn y phải giống như con chuột. Nhưng, chợt nhìn thấy cái chân mình trong cùm, rồi lại nghĩ đến cái thế của mình lúc này, tôi thấy như có một gáo nước lạnh dội vào đầu. Tôi đành cụp mắt xuống! Trước khi quay ra, đóng, khóa cửa, y còn ngoái lại nhìn tôi bằng đôi mắt lừ đừ khiêu khích.
Thân tôi thật hèn! Không bảo vệ được cho ngay… một con chuột. Cửa đã đóng lại, tôi nhìn xác con chuột bẹp dí, ruột gan lòi cả ra ngoài mà thấy như ruột gan mình cũng tìm dần lại.
Cái chết của con chuột, làm tôi suy nghĩ và buồn đến mấy ngày; liên tưởng đến cuộc đời, gia đình, xã hội. Bao nhiêu vấn đề đang diễn tiến, đổi thay, thế mà thân mình vẫn cứ nằm dài một chỗ nhìn ngày tháng dần qua… Đã ba năm bốn tháng rồi, nhìn về ngày mai, chưa biết đến bao giờ! Cái khổ cực kinh khủng nhất là cái chân cứ lằng nhằng ở trong cùm. Ngay đến nằm, hay ngồi, cũng còn không được tự do nữa, nói chi được ra ngoài, đi lại. Ở miền Nam, bao nhiêu cuộc đảo chính, bao nhiêu biến thiên, vũng lên… đồi, đồi thành… vũng! Bạn bè, thân thuộc ai còn, ai mất, ai lên đồi, ai xuống vũng? Trong khi quân đội Mỹ kéo vào ùn ùn. Một nỗi ngổn ngang trăm mối trong đầu.
Con chuột, “người bạn” mới, chết đi làm tôi rầu rĩ, nặng nề; rôi quên bẵng đi những nguyên tắc sống mà chình mình đã tự đề ra. Mấy ngày qua, lòng tôi cứ héo hắt, âu sầu. Tôi chợt nhớ đến một câu hát “Que sera sera! What ever will be …will be!”, phải rồi. Lúc này hãy buông trôi nó, có suy nghĩ mãi, cũng đâu giải quyết được gì! Tôi lại nhớ đến một ý thơ của Thâm Tâm, nhưng lộn xộn trong đầu:
“Mẹ thà coi như giấc ngủ ngày,
“Tình thà coi như…khói thuốc say,
“Em thà coi như chiếc là bay,
“Nước thà coi như…bát cơm đầy…”.
Nhưng, tôi hiện giờ, cũng chỉ được hưởng giấc ngủ ngày: còn khói thuốc say và nhìn lá bay thì đâu có! Chứ bát cơm đầy, thì bao giờ mới được hưởng?…
Mùa Hè đã chập chững bước tới. Đã có những chú ve sầu dậy sớm, sau một giấc ngủ dài Đông Xuân, đang nỉ non khóc tiếc thương giấc ngủ chưa được đã đầy. Hàng năm, tôi chẳng muốn cho những con ve sầu ngủ. Chúng ngủ, tức là mùa Đông đến. Mà mùa Đông, tôi ghét cay ghét đắng, chỉ vì những ngón chân, ngón tay của tôi, mùa Đông nào cũng sưng, nhức, buốt, và tôi cứ phải đêm ngày nằm trên sàn xi măng lạnh như giường nước…đá; bụng lại không đủ nhiệt, với quần áo hai mảnh bằng vải mỏng và một chiếc chăn đơn. Tôi nghĩ rằng chỉ cần một chút mỡ hay một chút đường hàng ngày, chân tôi đã không bị sưng. Hai thứ đó thật có nhiệt nhiều. Hoặc được ăn no chất bột, tôi cũng có nhiệt để chống lạnh rồi. Cho nên, tôi sợ mùa Đông lắm. Dù sợ như vậy, nhưng năm nào cũng phải đón nhận một lần, đến nỗi tôi coi mùa Đông là biểu tượng của sự lầm than, bất hạnh trên cõi đời này. Tôi nhớ đển một ý tưởng, không nhớ đã đọc được ở đâu, về mùa Đông, nhiều khi tôi buột miệng ngâm vang thành lời trong xà lim.
“Bạn đường ơi! Sắp hết lạnh rồi gió Bắc với mưa Đông. Để không bao giờ còn thấy bóng mây sầu vương vất nữa. Bạn ơi, nào có được!”.
Phải rồi, đó chỉ là một ước mơ, nào có được trong thực tế chữ cuối cùng thành “Rồi phải được!”, để tin tưởng, để hy vọng chứ!
Sáng hôm nay, cũng như buổi sáng khác, tôi đang ngồi đợi tới lượt mình ra đổ bô, bất chợt tiếng còi hụ báo động của thành phố rú lên dai lê thê, ư hử từng hồi rùng rợn, làm nghẹt tim mọi người.
Tên Dư quát ầm lên giục buồng số 7 vừa ôm bô ra, phải vào ngay. Y khóa cửa lại. Chắc y chạy ra hầm trú ẩn cá nhân đào ở một góc sân xà lim. Chỉ có một lỗ duy nhất cho y.
Một không khí khẩn trương, hồi hộp tràn khắp mọi nơi. Tiếng loa oang oang, rành rọt:
“Quân và dân toàn thành phố chú ý! Một tốp máy bay địch từ hướng Tây Bắc, khoảng cách X, độ cao M. Một tốp hướng Đông Nam, khoảng cách Y, độ cao R. Các khẩu đội chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu theo phương án K. Binh chủng “Tên Lửa” theo phương án G. Binh chủng Không Quân theo phương án H…”
Bắt đầu đạn nổ, bom rơi như pháo ran khắp cả bầu trời. Thỉnh thoảng những làn chớp nháy xanh lè với những tiếng ùng ục làm run rẩy không gian. Cánh cửa buồng tôi rung lên những tiếng bần bật, như động đất. Những tiếng lộp độp, choeng choeng rơi trên mái ngói, rơi ngoài sân xà lim. Mùi khét lẹt nồng nặc của thuốc súng. Mùi hăng hừng hực của lửa cháy. Thỉnh thoảng nghe râm ran tiếng khóc ở phía bên ngoài, xa xa. Xen vào đấy, đôi lúc, tiếng loa như gào lên:”…Một máy bay “Con Ma” bị tan xác phía Bắc Hà Nội. Hai “Thần Sấm” bị đứt đôi ở phía Nam, v.v… và v.v….”.
Lẫn vào những âm thanh náo động là những tiếng bồm bộp, như người cầm que đập vào cái thúng úp vậy. Tôi không thể suy đoán được, đó là tiếng gì. Mãi sau này, khi nghe trên loa nói nhiều về “bom bi”, tôi mới hiểu đấy là tiếng nổ của “bom bi”.
Tâm trạng của tôi lúc này thật lửng lửng, lơ lơ vì nhiều ý nghĩ đối nghịch: Trong xà lim, những người không bị cùm có thể sẽ chui vào dưới gầm sàn xi măng để núp. Còn tôi, chân trong cùm, chỉ cần một quả bom nổ gần làm gạch ngói rơi đè cũng đủ chết rồi, vì nằm phơi ra đấy. Nhưng, tôi cũng chẳng lo lắng gì. Nếu có phải vậy, cũng được, chẳng có gì để tiếc, hận. Trong khi ấy, tôi hiểu, các cán bộ ở Hỏa Lò đều đã chui xuống hầm, tùy theo nơi quy định gần chỗ làm việc của chúng. Tuy vậy, thỉnh thoảng, ngay trong Hỏa Lò, tôi cũng nghe thấy mấy tràng trung liên và đại liên, như thế cũng có người chiến đấu. Qua loa phóng thanh, hàng ngày chúng vẫn nói là khi máy bay địch vào bắn phá, mọi người quân cũng như dân, tùy theo điều kiện, trên mái nhà, trên ngọn cây, có súng gì dùng súng ấy, hãy nhắm thẳng vào máy bay địch mà bóp cò.
Tôi hiểu, đây là một phương pháp tâm lý rất tinh vi để động viên tinh thần chiến đấu của toàn dân, chứ chúng biết thừa, súng cá nhân mà bắn máy bay phản lực, thì…rất ư là ít kết quả; nhưng chúng được một cái khác to lớn để lòe bịp nhân dân thế giới: Đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm và thần kỳ của…toàn dân.
Tôi lửng lơ, man mác nghĩ suy và khi thấy máy bay vào phá thủ đô Hà Nội, tôi không thấy mừng, không thấy lòng dâng lên một chút niềm tin hay hy vọng gì. Bởi vì, tôi hiểu, dù sau đấy máy bay Mỹ bắn phá như thế nào chăng nữa, cũng không giải quyết được vấn đề. Mỹ và thế giới bên ngoài chưa hiểu rõ thực tế xã hội Cộng Sản, nhất là Cộng Sản Bắc Việt Nam!
Tôi hiểu từ trước tới nay, các nhà chiến lược, các tư tưởng gia về quân sự của Mỹ đã đánh giá một xã hội, một thành phố theo cách nhìn từ ống kính của những nước tư bản. Mỹ nhìn như vậy về một nước tư bản như Anh, Pháp, Nhật, hay Hòa Lan, Bỉ, v.v…Mỹ đánh giá rất đúng, rất chính xác, nhưng với Cộng Sản, nhất là Cộng Sản Bắc Việt Nam, thì hoàn toàn sai! Sai ở những điều kiện và yếu tố sau đây:
– Vì Hà Nội là một xã hội Cộng Sản, cho nên chúng đã điều hành được một cách hữu hiệu vì di tản và sơ tán, nhất là Mỹ lại đã báo trước sẽ đánh đến đâu, đánh đến mức độ nào. Cho dù không báo trước sẽ đánh đến đâu, đánh đến mức độ nào. Cho dù không báo trước, với cái xã hội tự do “không đúng lúc” của Mỹ, phía Cộng Sản đã biết nhiều vấn đề này ngay từ trước. Tôi nói “tự do không đúng lúc” có nghĩa là lúc hòa bình, tự do như thế là nhất; nhưng khi có chiến tranh, lại vẫn như thế, thì không biết còn gì để gọi nữa. Luôn luôn có những cơ quan, hoặc báo chí vạch áo cho…Cộng Sản xem lưng rồi! Tóm lại, tất cả mọi thứ gì cần thiết, chúng đã đem về vùng quê, vào núi, vào rừng, kể cả những cơ quan trung ương, kể cả dân chúng. Còn ở lại, chỉ toàn là những người trực tiếp bắn máy bay Mỹ, hoặc những người phục vụ chiến đấu mà thôi.
– Nhà cửa, và những công trình trên miền Bắc: Ngay thủ đô Hà Nội, cũng chỉ toàn những ngôi nhà nhỏ, đã cũ, mục từ mấy chục năm rồi; có bị tàn phá đổ xuống, cũng là khỏi phải mất công phá đi để làm lại mới. Còn ở ngoại ô, hầu như toàn nhà lá, cũng nho nhỏ như những chiếc lều. Ở các tỉnh, ngay ở thị xã, cũng chỉ nửa cây, nửa lá, nghĩa là nhà tranh vách đất. Nói chung, tất cả mọi phương diện sinh hoạt xã hội thật nghèo nàn, không có gì đáng kể cả. Chỉ duy nhất có một cái lại vô cùng giàu có, vô cùng to lớn, vô cùng hiện đại, đó là vũ khí.
Đây là một vấn đề lớn của chế độ Cộng Sản mà hiện nay nhiều nước, nhiều người nghiên cứu vẫn chưa hiểu rõ được. Hoặc lại hiểu sai, theo cách suy nghĩ, theo cách nhìn của những nước tư bản. Chính vì thế, Mỹ cứ ném bom bắn phá một đợt, một giai đoạn, rồi lại ngừng để nghe ngóng xem Cộng Sản Bắc Việt đã sắp chết chưa; đã sắp phải van vái Mỹ xin tha cho chưa. Mãi không thấy gì, Mỹ lại ném bom, bắn phá ác liệt hơn nữa; rồi lại ngừng để … nghe. Bởi vì, theo cách suy lý của Mỹ, Cộng Sản làm sao chịu nổi nữa. Rồi, mãi Mỹ cũng chả thấy thái độ hoang mang khiếp nhược của Cộng Sản. Chúng vẫn trơ trơ, thậm chí, các mặt trận ở miền Nam của chúng lại càng có sức đánh mạnh hơn. Người hoang mang bây giờ không phải là Cộng Sản, mà lại chính là Mỹ. Chính vì Mỹ đã không hiểu được kẻ đang phản đối đầu với Mỹ.
Nếu những phi vụ, những quả bom, những hỏa tiễn ấy đến bắn phá một thành phố, hoặc một cơ xưởng, nhà máy của Pháp, Ba Tây, hay Na Uy, v.v… chẳng hạn, thì đáng giá đồng tiền bát gạo. Nhưng, mang đánh phá ở miền Bắc thì thật là phí. Tôi dám quả quyết rằng, trừ sự cá biệt nào đó không kể, còn thường thường, một quả bom, một chiếc hỏa tiễn sau khi nổ, nếu nói về kinh tế, chỉ phá được một, hai, ba..phần trăm. Nghĩa là, tiền để chế tạo ra quả bom ấy, chiếc hỏa tiễn ấy còn đắt hơn nhiều lần cái mà nó phá được. Thế mà, Mỹ càng ném bom nhiều, càng bắn phá nhiều, đối với thế giới, Mỹ lại càng mất thế về mặt chính trị nhiều. Những túp lều tranh, hoặc nhà cửa bằng gỗ, bằng cây, bom bỏ cháy vùng, mấy hôm sau lại làm lại cái khác; trong khi máy bay Mỹ các loại, bị lưới lửa phòng không dày đặc, đến nỗi Mỹ phải kêu lên là, trong Thế Chiến Thứ II cũng không có nơi nào dày và ác liệt như vậy. Cho nên, dù người phi công Mỹ rất dũng cảm, dù nghệ thuật lái máy bay điêu luyện, dù nhiều kế hoạch kỹ thuật đánh phá tân kỳ, nhưng máy bay Mỹ rơi rụng cũng nhiều vì phòng không hiện đại của Cộng Sản.
Phần khác, hầu như các loại tính năng ưu cũng như khuyết của các loại máy bay Mỹ vào đánh phá miền Bắc, thậm chí có những loại mãi sau này, gần cuối, mới vào đánh như F-111A, hàng ngày trên loa, chúng đã ra rả, đọc vanh vách, khiến dân chúng bình thường cũng biết rồi. Cho nên, hễ Mỹ sắp sửa có một loại máy bay tối tân mới ra lò nào, chuẩn bị dùng ở miền Bắc, chúng đã biết đầy đủ tính năng, chúng đã yêu cầu Liên Xô cung cấp ngay loại vũ khí để hóa giải. Mặt khác, chúng chỉ dẫn cho bộ đội chiến đấu cố tránh, hoặc hạn chế những cái ưu của loại máy bay đó; ngược lại, hãy nhắm vào chỗ nhược và biết cách khoét thêm vào cái nhược này mà nện vào.
Tôi chưa nói những thiệt hại về mặt vật chất, khi đối phương đã biết rõ những loại vũ khí của đối thủ, riêng về mặt tinh thần, Cộng Sản đã có được một cái lợi to lớn. Khi thấy trên đài, trên báo đọc đi đọc lại vanh vách tính năng chi tiết từng loại vũ khí, cũng như máy bay tối tân của Mỹ, quân cũng như dân tự nhiên thấy một niềm tin vững mạnh vào sự lãnh đạo sáng suốt, của nhà cầm quyền Cộng Sản, và đồng thời tự hiểu dù vũ khí của Mỹ nguy hiểm tới đâu, một khi đã biết rồi, còn gì đáng sợ nữa; mà chỉ càng kính phục sự tài ba hiểu biết của giới lãnh đạo. Một khi quân và dân tin như vậy, điều đó trở thành sức mạnh thần kỳ đấy!
Tóm lại, dù Mỹ bắn phá như thế nào chăng nữa, cũng không giải quyết được vấn đề; nghĩa là bắt nhà cầm quyền Cộng Sản miền Bắc xuống thang đánh giá miền Nam chỉ là một sự hão huyền, ảo tưởng. Cộng Sản lại biết lợi dụng sự bắn phá ác liệt của Mỹ. Chúng giả vờ la làng để kêu gọi con tim chất phác, đầy lòng nhân ái của loài người để lấy chính nghĩa, để lấy sự ủng hộ.
Cộng Sản miền Bắc la làng vì lý do chính trị đó; chứ Mỹ đừng lầm là chúng sợ Mỹ. Sau này, với 12 ngày đêm oanh tạc, cho dù năm, mười lần như thế đi, cũng đừng hòng Cộng Sản xuống thang đánh phá miền Nam, chứ đừng mơ Cộng Sản đầu hàng như nhiều người suy nghĩ. Trái lại, Mỹ chỉ càng chuốc lấy những lời chửi bới của ngay bạn bè Mỹ.
Về sau này, một phần do thời gian cho phép, phần khác, tôi có điều kiện gặp bao nhiêu nhân chứng sống, bao nhiêu sự việc, người thực việc thực ở các trại giam trung uơng của Cộng Sản. Có những cơ sở thực tế để chứng minh, lý luận từng vấn đề.
Gần hai tiếng đồng hồ sau, còi lại hụ báo an, máy bay Mỹ lại đã rút lui sau khi bị hạ hơn 10 chiếc (theo đài Cộng Sản), với nhiều loại máy bay “Con Ma”, F-105, “Lưỡi Kiếm”, B-52, v.v… và bắt thêm được nhiều phi công.
Mãi tên Dư mới mở cửa buồng, tôi ra đổ bô rồi lấy cơm luôn. Khi máy bay Mỹ bắn phá, có nhiều tiếng lộp độp rơi trên mái ngói và dưới sân xà lim mà tôi thắc mắc không hiểu là cái gì; cho nên bây giờ lúc tôi ra chỗ mé sân múc nước, vì sẵn có tình tò mò, tôi liếc nhanh. Tôi nhìn thấy một mảnh kim loại đen xì, khòng khèo, cạnh rất sắc, tôi liền nhặt xem. Lão Dư đã coi tôi lâu ngày; lão biết tôi vẫn còn tính nghịch ngợm của thanh niên; tôi cũng biết vậy, nên ra nhặt đại vào đưa cho y, vẻ mặt tôi rất háo hức:
– Thưa ông, không biết mảnh gì đây, khi nãy tôi thấy rơi nhiều lắm. Cái này, ai đang đi, bị rơi trúng đầu, chỉ có chết!
Y cầm lấy ngó ngó, xem xem rồi chỉ vào trong bàn:
– Mảnh kia mới to kìa. Vì vậy, người ta phải đội mũ sắt, hay mũ rơm để đi lại, hay bắn trả máy bay Mỹ.
Thấy y có vẻ dễ dãi, tôi làm tới. Tay cầm gáo nước, tôi tiến lại bàn, thấy một mảnh kim loại to bằng 3 ngón tay mà y đã nhặt ngoài sân trại chung đem vào. Tôi cũng ngó xem, và với vẻ trầm trồ, hỏi lại:
– Không biết mảnh gì, rơi nhiều thế?
Tôi hỏi y để lấy cảm tình thôi, chứ tôi thừa hiểu đây là mảnh đạn của trung pháo, đại pháo phòng không. Nhìn qua hai mảnh, đã thấy ngay là hai loại đạn khác nhau. Tôi hiểu, chúng có nhiều loại đạn nổ theo từng độ cao. Y cũng muốn tỏ ra hiểu biết, nên nói chậm rãi:
– Đây là mảnh đạn súng phòng không của ta đấy!
Câu trả lời cũng nói lên sự chất phác, nông thôn của y. Nhưng, điều tôi chú ý hơn cả là y lại nói chuyện bình thường với tôi. Đây cũng là một hiện tượng hiếm thấy giữa cán bộ trực xà lim và tù.
Tôi nhớ lại năm, sáu tháng về trước; những ngày đầu tiên mới về trực xà lim I, y thường nhìn tôi bằng con mắt dò xét, không thiện cảm. Nhưng dần dần, thời gian cứ trôi đi, ánh mắt y cũng bớt dần sự soi mói, và thay vào đấy, là sự tò mò; cho tới bây giờ, lại có phần thiện cảm. Chứng cớ là thỉnh thoảng, y hay nói chuyện với tôi.
Phần tôi, nhìn lão, tôi thấy lão cũng phải trên 50 tuổi, người nhỏ bé, không có những cách ăn nói thô lỗ, cộc cằn như nhiều tên cán bộ khác, nên tôi thường tươi nét mặt mỗi khi nhìn thấy lão. Ngược lại, với những tên cán bộ ác ôn, lỗ mãng, cộc cằn, tôi thường lạnh lùng, lầm lì; có hỏi, tôi cũng chỉ trả lời nhát gừng.
Trưa hôm nay, tôi nằm hoài mà không ngủ được. Bên ngoài, trời nắng chang chang. Tôi nhìn làn da xanh tái, nhăn nhúm của chân tay mình. Đã mấy năm rồi, tôi thèm khát ánh nắng như thèm bát phở ngon lành, sực nức mùi hành, mùi tỏi, mùi thịt bò bốc khói mà không được ăn, chỉ được phép nhìn. Con người thật cũng lạ lùng, cái gì mất đi rồi, không còn cách nào lấy được nữa thì lại quý. Nhìn ánh nắng vàng thế kia, tôi ước gì được tắm mình trong đó một lúc. Da tôi tái, bủng ra là vì thiếu ăn, nhưng cũng vì thiếu ánh nắng mặt trời.
Mọi khi cũng giờ này, tôi thường nghe tiếng ồn ào của các em học trò trường mẫu giáo “Tân Trào” phía ngoài phố. Đôi khi, giọng đồng ca véo von của các cháu nhỏ, hòa lẫn với tiếng ve sầu râm ran, tạo thành một điệu nhạc trưa Hè quen thuộc. Nhưng, trưa hôm nay chỉ còn tiếng ve sầu đơn điệu nhặt khoan: có lúc dồn dập, réo rắt như trận mưa rào trên mái tôn; có lúc đột nhiên đều im bặt như phút mặc niệm của một binh đoàn trong lúc chào cờ. Thiếu, vắng hẳn tiếng ca hát của những con chim non trường Tân Trào. Có lẽ các em cũng đã đi sơ tán vùng xa Hà Nội?
Tôi đang vẩn vơ ngơ ngác với không khí của buổi trưa Hè, còi hụ lại hú vang. Như tiếng rống của con khủng long đang vật vã giãy chết vì vết tử thương, nấc lên hừng hực từng hồi. Tiếng hú làm những chú ve sầu cũng vội vàng bảo nhau nín bặt. Lại bom rơi, đạn nổ tơi bời; lại những tiếng gào thét giật giọng của chiếc loa to mồm. Ngay Hà Nội, một ngày máy bay Mỹ cũng vào mấy lần.
Trong lúc lửa cháy, đạn bay, với những tiếng gầm rít như xé vải của máy bay phản lực, chân ở trong cùm, tôi nằm ngửa tênh hênh nghe tiếng đạn bom. Có điều nào khẳng định sẽ không có một quả bom, không có một hỏa tiễn bắn vào nơi này? Trong cái hỗn loạn của tên bay đạn lạc, nơi nào là an toàn? Có chăng, may ra, chỉ ở dưới hầm trú ẩn. Bất ngờ, một tiếng rắc, sột, như tiếng ly vỡ trên nền gạch, vang lên ở trên mái nhà làm tôi giật mình. Chả nhìn thấy gì cả vì vướng trần nhà, nhưng qua âm thanh, tôi hiểu đã có vài viên ngói bể.
Khi máy bay Mỹ đã đi rồi, tôi đang băn khoăn là bên ngoài, Hà Nội, những gì đã xảy ra sau một trận không tập của hàng trăm máy bay Mỹ đủ các loại? Chợt, tiếng tên Dư, cán bộ trực xà lim, ong ỏng vang lên:
– Chiều nay, các buồng không đổ bô và rửa ráy. Ồng nước Hỏa Lò bị hư!
Như vậy, ống nước dẫn vào Hỏa Lò đã bị bom làm hư hại. Phía bên ngoài có tiếng gọi nhau ý ới, lẫn với những tiếng kêu la, xa dần rồi mất hút. Một mùi nồng nặc của khói xăng cháy làm nhức cả đầu.
Sáng hôm sau, tên Dư vào tuyên bố là từ nay các xà lim, các buồng chỉ được ra đổ bô một lần vào buổi sáng mỗi ngày. Buổi chiều cho ra lấy cơm mà không được đổ bô nữa.
Từ ngày Mỹ bắn phá Hà Nội, xà lim càng ngày càng vắng vẻ hơn. Ngay ngoài trại chung, tù cũng lưa thưa hẳn ra, có lẽ chúng đã chuyển đi trại trung ương hết, chỉ để lại những phạm nhân còn đang trong thời gian khai thác, hoặc liên quan đến những việc còn cần thiết.
Trưa hôm nay, tôi đang nằm mơ màng, chợt thấy buồng sáng hẳn lên, tôi ngạc nhiên bò nhổm dậy. Ôi, thật là đẹp! Một chùm sáng như một cái ống bằng giấy bạc thẳng băng, chọc từ trên mái nhà, xuyên chéo qua cửa sổ, đâm vào tường, ngay gần phía châm cùm của tôi. Tôi vừa nhìn những hạt bụi dẫy dọn bay trong chùm ánh sáng, vừa ngỡ ngàng, băn khoăn. Á, thì ra tiếng động như ly vỡ hôm qua đã làm bể một góc viên ngói, phía bên ngoài cửa sổ.
Mặt trời đầu Hạ, khoảng 1 giờ trưa, chiếu ánh sáng chói chang chọc thẳng vào buồng tôi một điểm tròn lung linh bằng quả cam, đường kính chừng 4, 5 phân đang le lói, nhấp nháy gần chân cùm. Thật là “buồn ngủ gặp chiếu manh”. Tôi xin cám ơn các anh phi công Mỹ. Của vưu vật trời cho, tôi phải đón nhận. Tôi vội vàng cởi ngay áo ra, xoay chân ngồi hẳn lên cùm. Rồi tôi giơ mặt ra cho chiếc gậy sáng chọc thẳng vào mặt tôi. Tôi rê dần xuống cổ, xuống đến ngực, hai cánh tay. Tôi vặn vẹo, xoay cánh tay sao cho chùm ánh sáng, như chiếc bàn chải hạnh phúc, quét xoa hết cả người. Từ bữa đó, trừ những ngày mưa, hoặc có mây nhiều, còn thì ngày nào tôi cũng được hơn một tiếng đồng hồ hưởng các tia tử ngoại, hồng ngoại của ánh sáng mặt trời. Cứ mỗi ngày, thời gian ánh sáng lọt vào buồng tôi lệch dần về chiều mươi phút, nhưng cũng chỉ trong một tiếng đồng hồ.
Một lần, tôi đang ngọ nguậy đưa cánh tay từ từ cho “chiếc gậy thần ánh sáng” chà xát, chợt cửa sổ nhỏ xịch mở: Chiếc mũi nhòn nhọn của tên Dư thấp thoáng ngoài cửa sổ. Y không hỏi, nhưng cứ đứng nhìn xem tôi làm gì. Một lúc, y hiểu, và từ từ đóng lại. Chắc y không thể ngờ người ta lại có thể quý ánh mặt trời đến như vậy. Nếu không vướng khuất mất cái khung gỗ phía sau cửa sổ, ánh sáng chiếu vào buồng tôi lâu hơn nữa. Vì vị thế của lỗ hổng, và cũng vì sự xoay chuyển dần của trái đất đối với mặt trời, cho nên thời gian luồng ánh sáng chiếu vào buồng tôi mỗi ngày mỗi ngắn lại.
Cũng thật là buồn cười! Có hôm, máy bay Mỹ đang ầm ầm bắn phá, tiếng đạn, tiếng bom, tiếng máy bay gầm rít quay cuồng, đảo điên giữa sống và chết ở bên ngoài; trong này, tôi vẫn cởi trần, đưa tấm thân gầy vặn vẹo, uốn éo, để cho luồng ánh sáng chà xát, coi như thế giới này chỉ còn có mội một …..mình tôi. Bởi vì, trong 24 giờ, chỉ có một tiếng đồng hồ cố định nắng chiếu vào buồng tôi thôi.
Hơn nữa, trong cảnh này, đối với tôi, sự sống và cái chết đâu có còn là vấn đề quan trọng nữa…
Kỳ này đã cuối Đông rồi, thế mà trời càng lạnh dữ. Có khi cả tuần lễ không thấy ánh mặt trời. Gió lạnh như cắt da, cắt thịt. Bên ngoài, mưa phùn rả rích, nhì nhẹt suốt ngày đêm.
Vì vậy, trong xà lim lại càng tối tăm, vả lại đôi bàn tay cũng sưng buốt, không cầm được kim khâu, cho nên hầu như suốt ngày tôi nằm đắp chăn là nhiều. Chỉ khi nào nằm nhiều quá đau lưng, tôi mới ngồi lên một lúc, rồi lại nằm xuống. Không còn cách gì khác, trong cảnh này, tôi lại nằm suy nghĩ mông lung hết chuyện nọ, tới chuyện kia. Tôi cứ nghĩ đi nghĩ lại nhiều lần câu chuyện chiếc khăn choàng tàng hình trong phim “Tên Trộm Thành Bát Đa”… Tôi thấy, để diệt chủ nghĩa Cộng Sản trên trái đất này, phải mất ít nhất sáu tháng. Trong sáu tháng ấy, tôi phải nỗ lực đi theo máy bay nhiều lần, hết nước Cộng Sản này sang nước Cộng Sản kia. Tôi phải cắt tai và giết nhiều lãnh tụ Cộng Sản. Nghĩa là…tôi phải vất vả nhiều lắm.
Vậy, đã mơ ước, thì mơ ước cho…đã. Sự ước mơ có giới hạn nào đâu? Cho nên, tôi lục lọi, tìm tòi một thần thông khác, sao cho nhẹ nhàng, đỡ vất vả và hữu hiệu, thần kỳ hơn… Tôi nghĩ đến “Cây Đèn Thần của Aladin”! Hiện giờ, với cảnh trong cùm, dạ dày luôn luôn “giặt sạch phơi khô” 23 giờ 40 phút trên 24 giờ, nghĩa là chỉ 10 phút vào buổi sáng và 10 phút vào buổi chiều, dạ dày bị ướt vì có tí cơm; chân tay lại sưng mọng đỏ, ngứa buốt ngày đêm;…và với những cảnh huống như vậy, trong mùa Đông lạnh giá này, nếu…tôi có đèn thần của A La Đanh, tôi sẽ làm gì?
Cái gì cần làm trước, làm trước. Tôi lấy cây đèn ra, gãi gãi mấy cái vào thân đèn cho ông thần hiện ra. Sau khi ông thần hiện ra, khoanh tay cúi đầu, lễ phép thưa:
– Kẻ thân là tôi tớ của chủ nhân, tuyệt đối phụng mệnh của chủ nhân!
Tôi phải ra lệnh ngay là hãy bẻ cái cùm nay ra, và chữa cho tôi khỏi đau và sưng ngón tay, ngón chân đã; bởi vì tay chân còn đau, ăn gì cũng không ngon.
Khi thần đã chữa xong, bấy giờ mới làm như A La Đanh, sai thần dọn một bữa ăn thịnh soạn, “chén” ngay tại sàn xà lim này. Nhưng, thần còn phải làm sao cho tôi khỏi rét, run quá! Sau đó, mang ngay tôi về một khách sạn nào đó, ở miền Nam, để tôi tắm rửa, thay quần áo tàm tạm, bình thường. Nghỉ ngơi cho khỏe. Ngày hôm sau, sai thần đưa về nhà thăm cha mẹ và các em; nếu thấy nhà túng thiếu, tặng ít tiền để tiêu xài tàm tạm. Nói chung, phải căn dặn thần không được để một dấu vết gì cho bất cứ một ai nghi ngờ có chuyện lạ lùng của Thần Đèn.
Việc cá nhân coi như tạm ổn, cũng phải mất hai ngày đấy chứ, bây giờ phải bắt tay vào nói chuyện đến Cộng Sản và thế giới loài người. Trước hết, tôi sai Thần Đèn đưa tôi xuống vùng rừng U Minh, chỗ không người, làm ngay một căn nhà rộng, chứa được độ từ 100 đến 150 người. Căn nhà để trống trơn, chỉ duy nhất có một cái bàn và hai cái ghế. Căn nhà rộng thênh thang sơn ba phần màu trắng, một phần màu đen. Chỉ trong chốc lát, giữa vùng U Minh vắng vẻ, hoang dã, đã có một căn nhà theo ý tôi muốn. Khi đã sắp xếp xong mọi việc, tôi ra lệnh rõ ràng cho Thần Đèn:
– Trước khi đưa ai về đây, đều làm họ bất tỉnh!…Hãy lần lượt bắt những tên Chủ tịch đảng Cộng Sản, hoặc Bí thư thứ nhất, hay Tổng bí thư của tất cả những nước Cộng Sản về đây đặt ở chỗ màu đen. Tên nào cũng khóa chân và tay. Không để bất cứ một loại vũ khí gì trong người chúng.
Tiếp theo, cũng vậy, tôi sẽ ra lệnh cho Thần Đèn làm phép cho họ tỉnh lại hết. Chắc ông nào, bà nấy cũng mở to đôi mắt ngạc nhiên, kể cả Tổng Thống Johnson, và Brejnev cũng thế.
Bước thứ hai, mở hết các khóa chân, tay, bắt ngồi tại chỗ. Trước khi bắt đầu nói chuyện, tôi ra lệnh cho thần là nếu trong quá trình tôi nói chuyện, tên nào có tư tưởng chống đối hay bướng bĩnh, thần cho hiện lên trán hắn một điểm tròn màu đen mà chỉ tôi mới trông thấy. Cuối cùng, một điều quan trọng tôi phải nhờ Thần Đèn, đó là vấn đề ngôn ngữ. Tôi vẫn nói tiếng Việt Nam, nhưng Thần Đèn phải hiển phép thế nào để tất cả mọi người trong nhà này, bất kể là nước nào, cũng đều hiểu toàn bộ những lời nói và ý của tôi…bằng tiếng của họ!
Xong xuôi, tôi đứng lên (vì từ sớm tôi vẫn ngồi ghế). Hàng mấy trăm con mắt đang mở to hướng về phía tôi. Đầu óc họ đang căng lên hàng trăm câu hỏi mà chưa được trả lời. Bằng một giọng rõ ràng, thong thả và trịnh trọng, tôi nói:
– Thưa quý vị, trước khi thưa cùng quý vị về nhiều vấn đề, tôi báo ngay cho quý vị rõ, chỗ quý vị đang ngồi là trên đất nước Việt Nam. Ngay việc quý vị hiện diện đầy đủ ở đây, không thiếu một bộ mặt lãnh tụ nào trên thế giới, hẳn quý vị đã thấy được quyền lực vô giới hạn của tôi rồi. Do đó, tuyệt đối quý vị đừng có bao giờ có ý tưởng cưỡng lại, hay chống lại, nếu không sẽ mang hậu quả tùy theo mức độ.
Hôm nay, tôi đưa tất cả quý vị về đây, để phổ biến một số việc cấp thiết trong thời đại chúng ta, trên quả địa cầu này.
Thực ra, vì tôi muốn sự việc diễn tiến một cách nhẹ nhàng, đẹp đẽ, nếu không với quyền lực vô song của tôi, tôi không cần đưa quý vị về đây làm gì. Tôi cứ bắt buộc quý vị phải làm theo ý tôi muốn, ngay tại nước quý vị, điều đó hoàn toàn vẫn được như thường. Cho nên, xin quý vị hãy hiểu và tin như thế. Riêng ông Johnson được mời lên ngồi ghế, bời vì nước ông là mẫu mực về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Ông lại có trách nhiệm phổ biến và chỉ dẫn các nước khác.
Bây giờ, xin quý vị hãy lắng nghe và ghi nhớ bốn điều bắt buộc sau đây:
Điều một: Hủy bỏ toàn bộ chủ nghĩa Cộng Sản. Hủy bỏ mọi cơ cấu nhà nước Cộng Sản.
Điều hai: Hủy bỏ toàn bộ chế độ nhà nước quân chủ.
Điều ba: Hủy bỏ toàn bộ vũ khí quy ước, kể cả những công thức đã được chế tạo cũng như sắp chế tạo. Riêng điều này, ngay khi quý vị còn ngồi đây, tôi đã ra lệnh triệt phá hoàn toàn, bất cứ che dấu bí mật như thế nào. Quý vị hãy tin như vậy. (Tôi lẩm nhẩm ra lệnh cho Thần Đèn đi thi hành).
Điều bốn: Đất nước của quý vị là chung của mọi người dân trong nước quý vị, không hề của riêng một ai. Mỗi một thế hệ, có biết bao nhiêu người tài ba, đạo đức, có khả năng lãnh đạo quốc gia ở mỗi nước.
Do đó, chế độ Cộng Hòa Dân Chủ của Mỹ hiện nay là tiến bộ nhất. Dù cho ai lãnh đạo chế độ ấy, có hiền và đạo đức như thánh thì tối đa cũng chỉ được hai nhiệm kỳ. Sau đó, xin mời xuống, cho người khác lên. Không những đất nước là của chung, còn một điều hiển nhiên nữa là, hễ ở lâu trên ghế lãnh đạo, sẽ trở thành độc tài và lừa bịp. Cho nên, bắt buộc toàn bộ các nước trên thế giới phải tổ chức nhà nước theo cơ cấu nhà nước Hoa Kỳ. Điều này Tổng Thống Johnson chịu trách nhiệm phổ biến và chỉ dẫn cho các nước khác.
Quý vị đừng bịp bợm rằng “tôi chỉ là Tổng Bí Thư”, “tôi chỉ là Chủ Tịch Đảng”, v.v… hoặc “đấy là do nhân dân muốn!” Không có “nhân dân” nào cả, chỉ có một nhúm người thích chủ nghĩa Cộng Sản, lấy nhân dân làm cái bình phong để được làm vua không ngai mà thôi.
Nói đến đây, tôi nhìn thấy trán của một số người ngồi trong đó đều có điểm đen, nhất là phía Cộng Sản, và những nước quân chủ. Vì vậy, trước khi tiếp tục nói chuyện, tôi đi xuống phía Cộng Sản. Với một con dao sắc như nước, hễ tên nào trên trán có chấm đen, tôi xẻo một bên tai. Mới xẻo được gần chục tai, nhìn lại trán của mọi người, tôi thấy điểm đen bay đi sạch trơn. Lúc đó, tôi bèn trở lại chỗ cũ, tiếp tục nói:
– Từ nay, xã hội loài người sẽ không có bất cứ một nước nào chơi kiểu đàn anh lấn át nước kia. Chỉ mới có hiện tượng ấy, người nguyên thủ của nước đó sẽ bị xẻo một cái tai để cảnh cáo. Do đó, tất cả chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ đem toàn bộ quỹ về quân sự và vũ khí nguyên tử vào quỹ An Sinh và Phúc Lợi Xã hội. Tăng cường các cuộc tham quan hữu nghị giữa các nước. Xóa bỏ dần các bất công nghèo đói. Các chính phủ mỗi nước phải chăm lo mọi mặt cho người dân, phải có trách nhiệm dẹp bỏ những mầm mống cướp, trộm, cùng các tệ nạn xã hội. Riêng những nước nào có ý đồ bá quyền, muốn chơi kiểu đàn anh với nước khác, tôi sẽ chịu trách nhiệm trừng trị.
Tôi hiểu, tất nhiên cũng sẽ có một số lộn xộn, một số sai lầm. Nhưng, do quyết tâm tạo lập một thế giới tốt đẹp, nhất là tôi lại có cây đèn thần, tôi sẽ làm được. Chỉ trong vòng một tháng là tối đa.
o O o
Tôi cứ nằm nhắm mắt mặc cho tư tưởng tung hoành. Những lúc như vậy, tôi không cảm thấy cái đói, rét, cùm kẹp, chân tay nhức buốt, cái cô đơn heo hút giữa ngày Đông giá lạnh với gió Bấc, mua phùn…hành hạ nhiều như lúc bình thường. Thậm chí đến nỗi, có khi cán bộ rút chốt cùm, mở cửa cho tôi ra đổ bô, chờ mãi không thấy tôi ra, y thò cổ vào buồng, thấy tôi vẫn nằm yên đắp chăn, chân đang rung lên như những dây đàn muôn điệu đang được dạo nốt nhạc ngày Xuân, bèn quát ầm lên:
– Anh này có ra rửa không?
Bất đắc dĩ, tôi chỉ trả lời hai tiếng: “Không ạ!”, rồi mặc cho y bực tức đút chốt cùm và đóng sầm cửa lại. Tôi vẫn cứ để hồn lang thang theo những hình ảnh của cuốn phim “siêu thoát”. Chỉ lúc lấy cơm, giấc mộng thần thông của tôi mới phải ngưng lại mà thôi.
Thấm thoát, rồi mùa Đông khắc nghiệt cũng phải qua đi, để nhường chỗ cho nàng Xuân về với thế nhân.
Bên ngoài, tuy trời đã vào Xuân; nhưng, trong xà lim có cái gì thay đổi đâu. Vẫn là những tiếng cùm, tiếng khóa, với những tiếng rên la của các buồng. Còn tôi, đôi chân và đôi tay vẫn ngứa buốt, vẫn ngồi trùm chăn ủ rũ, với cái dạ dày không dính nước. Nhưng, nghĩ tới mùa Xuân đến, trong lòng tự nhiên cũng ngẫu hứng, buột miệng ngâm nga vang cả xà lim một đoạn thơ Xuân của Nguyễn Bình thì phải, tôi cứ thay đổi đại theo hoàn cảnh của mình:
Xuân đã sang rồi, ai có hay
Tình Xuân chan chứa, ý Xuân đầy
Xà lim buồn lắm…Xuân không đến
Sao chẳng về đi, lại ở…đây?
Cửa sổ nhỏ xoạch mở, giọng tên Dư, vẻ sừng sộ:
– Ngâm nga, hát cái gì đấy? Anh muốn phá trật tự phỏng?
Tôi nhìn y, rồi nhỏ nhẹ trả lời:
– Thưa ông, thật là buồn! Nhớ nhà quá!
– Tôi cấm anh không được làm ồn trong xà lim!
Nói xong, y đóng mạnh xánh cửa sổ nhỏ vào như vẻ rất nghiêm khắc. Nhưng, tôi đã thoáng thấy trong ánh mắt của y khi nhìn tôi, một góc có màu xanh nhạt, như một sự dễ dãi và cảm thông: ”Tên này ở xà lim mãi, ngày Xuân nó cũng phải nhớ nhà một tí!”, mặc dù cái mồm của y quát tôi. Chính tôi, tôi cũng không hiểu tại sao mình lại có ý nghĩ như vậy khi tôi nhìn mắt y. Phải chăng, đã từ nhiều ngày, có nhiều hiện tượng nho nhỏ tổng hợp lại tôi nhìn ra được tự nơi y, tôi cảm thấy ở tận cùng của trái tim, y vẫn còn một số chất người?
Tối hôm nay, tiếng loa làm tôi phải chú ý lắng nghe với những bài bình luận, hoặc thông báo, cùng những lời cảnh cáo của chính phủ miền Bắc đối với Mỹ. Nào là, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Liên Xô, Kosygin, đích thân đi Hà Nội; Mỹ quyết định dội bom bắn phá toàn Bắc Việt; nào là hai Tiểu Đoàn đầu tiên của Quân Lực Mỹ đã rời Okinawa đi tới Nam Việt Nam, v.v…
Như vậy, sau bao nhiêu ngày đêm đe dọa, rồi chuẩn bị, rồi lại cảnh cáo lẫn nhau, bây giờ lửa cháy, đạn bay, bom rơi bắt đầu. Lúc này, tôi chỉ nhớ vào đầu 1965, có lẽ khoảng tháng 2, tháng 3 gì đó.
Tình hình miền Nam, tình hình miền Bắc đang như nước sôi lửa bỏng. Đất nước đang trong cảnh đầy vơi chìm nổi như thế, mà chân tôi vẫn đút trong cái cùm oan nghiệt. Ngày đêm, lòng tôi như lửa đốt. Tôi như con thú bị nhốt trong chuồng. Nhưng còn thú, dù là cọp, sư tử, hay voi đã ở trong chuồng, đâu có bị cùm nữa, và đâu có bị cho ăn đói.
Có những đêm, lòng ngổn ngang bao nhiêu nỗi niềm trăm hướng của đất nước, của gia đình, của cuộc đời, tôi không làm sao ngủ được. Cũng có khi, mệt quá thiếp đi trong đêm dài; rồi giật mình thức dậy, nằm nghe tiếng đêm thâu chầm chậm trôi qua, trong lúc hồn cứ dật dờ bay về phương Nam thân yêu với gia đình.
Hình ảnh người mẹ hiền lúc này đã sáng chói, che mờ nhiều bóng khác phía sau. Nhiều đêm, tôi nhớ mẹ tôi đến cái độ quắt quay, nỗi nhớ, niềm thương cứ cuồn cuộn trong lòng, ngút cao như núi. Niềm ước mong to lớn luôn luôn tràn ứ trong lòng là, được cầm tay người mẹ yêu quý mà vuốt ve, mà gục mặt vào cho những giòng nước mắt nhớ thương, nóng hổi tuôn tràn. Cho vơi đi phần nào cái se sắt của tình mẫu tử thiêng liêng. Nhưng, nào có được! Vẫn chỉ là ngút ngàn phương trời mờ mịt. Vẫn ngày đêm chỉ là những tiếng gọi thầm nỉ non, thiết tha từ trái tim rỉ máu. Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Khi đang ngụp lặn trong một trời thương nhớ đó, đầu óc tôi chợt lóe lên một ý nghĩ. Phải rồi! Thịt chỗ đầu rốn của tôi, đúng là thịt của mẹ. Người ta cắt cái ruột truyền sự sống của mẹ tôi với tôi, khi tôi được sinh ra. Vậy rõ ràng cho tay xuống rờ mó, vuốt ve cái rốn của mình, mắt lim dim tưởng như được gần mẹ, như ngửi thấy hơi hướng ngọt ngào của mẹ. Một nguồn nóng ấm đang tỏa dần ra trong cõi lòng lạnh giá của tôi. Và từ đó, nhiều đêm, dõi theo mãi những ngày xa mẹ, nơi núi rừng biên cương đầy lam sơn, chướng khí sau này, mỗi khi nhớ đến mẹ, tôi lại sờ rốn …của mình.
Dạo này, tiếng loa la ó suốt ngày đêm. Mỹ đã đem quân chiến đấu vào miền Nam.
Tôi nhìn và suy lý lại toàn bộ những mấu chốt, dữ kiện tản mạn từ sau Thế Chiến Thứ II; sau Chiến Tranh Cao Ly; vụ nói chuyện sức mạnh của Tổng Thống Kennedy với Krouchev, bắt Liên Xô phải nhường bước, mang những đầu đạn hạt nhân từ Cuba về, và rồi vụ Vịnh Con Heo. Rồi, với thực tiễn tình hình miền Nam, miền Bắc Việt Nam lúc này…Tôi thấy ngay hai yếu tố nổi bật quyết định:
Thứ nhất: Bất kể tình huống ra sao, Mỹ mang quân vào miền Nam Việt Nam là sai lầm. Trong điều kiện giữa 2 miền hiện nay, nếu Mỹ mang quân vào miền Nam. Vô hình chung đã tạo cho miền Bắc, cũng như cho cái Mặt Trận Giải Phóng của chúng, trở thành có chính nghĩa. Và tất yếu, vế kia là chính quyền miền Nam lại trở thành mất chính nghĩa.
Thứ hai: Bây giờ, đã mang quân đội vào rồi, rút ra phải có điều kiện, không phải tự nhiên, bình thường mà rút ra được.
Vậy, để giải quyết vấn đề “đã trót” này, chỉ có một biện pháp duy nhất. Nếu Mỹ không làm như vậy, chỉ trừ trường hợp là sau đấy, có những diễn tiến đặc biệt gì khác của thế giới, còn cứ bình thường Mỹ sẽ không giải quyết được vấn đề. Đôi khi còn nghiêng ngửa, khó khăn, dù sau đấy Mỹ có mang bao nhiêu quân vào miền Nam cũng vậy thôi.
Đó là: Một mặt, tương kế tựu kế, ngay trong lòng nước Mỹ, lợi dụng báo chí, Quốc Hội, (những cơ quan từ trước toàn vạch áo cho Cộng Sản xem lưng), bằng mọi cách làm sao để thế giới, và ngay báo chí của phe ta không hề biết. Tạo nên những tin tức để phe Cộng Sản, tin là Mỹ không bao giờ dám đem quân ra miền Bắc, sợ đụng Trung Quốc, có khi đụng cả Liên Xô nữa. Một mặt, bất ngờ, bằng nhiều đường hướng quân Mỹ và một số quân đồng minh, nhưng chủ chốt là của Việt Nam Cộng Hòa, chớp nhoáng, bất ngờ, thần tốc đổ bộ đánh ra miền Bắc, chấp nhận nếu có phải gặp Trung Cộng.
Tôi đã có hơn một tháng ngược xuôi khắp thủ đô Hà Nội, một số vùng nông thôn ở miền Bắc, hiểu được một cách cơ bản điều điện xã hội, lòng quân, lòng dân v.v…Tôi nói một cách có cơ sở là sẽ giải quyết miền Bắc về căn bản trong vòng nửa tháng. Từ đấy, giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam, và cả lẫn miền Bắc. Có thế ngoại giao kìm chân nhờ Nhật và Tây Đức, những phô trương ở lục địa khác. Chưa hẳn Trung Cộng và Liên Xô đã dám vào Việt Nam khi chuyện đã rồi.
Bởi vì, như trên tôi đã trình bầy, hãy nắm vững yếu tố “huyệt” thời nay “Hễ Mỹ làm quá, Liên Xô phải lùi; ngược lại cũng thế. Cả hai phe đều tự hiểu, nếu không như vậy là tự hủy diệt cả hai. Vậy, ai cao tay nắm được “huyệt” thì giải quyết lần được nhiều vấn đề. Nhưng, dù trong lãnh vực chính trị, hay quân sự cũng vậy: Yếu tố bất ngờ là nồng cốt trong mọi hành sử. Phải làm sao bịt được mắt đối phương lại mà đánh. Không có một kế hoạch nào thần kỳ cho bằng yếu tố “bất ngờ”.
Những thiên tài quân sự, cũng không thể trở thành xuất chúng, nếu trong quá trình xử lý sự việc, thiếu yếu tố bất ngờ! Bởi vì, muốn xử dụng yếu tố bất ngờ, cái trước hết (điều này không đơn giản, biết bao người, thực tế chưa hiểu rõ kẻ thù của mình, nhưng lại cứ tưởng là mình đã biết quá rõ) là, phải hiểu địch đã. Phải hiểu họ rõ, mới làm cho họ bất ngờ được…
Sáng hôm nay, cũng như mọi buổi sáng, tôi vừa ra đổ bô vào, tên Dư đã chốt cùm. Cửa đóng, được một lúc cửa sổ nhỏ lại mở. Tên Bằng “môi cá ngão” chỉ mặt tôi, cộc lốc:
– Đi cung!
Tôi đã biết tên này, tuy y ăn nói nhấm nhẵn như thế, nhưng y không đến nỗi ác ôn lắm.
Khi ra tới gần phòng cung, trên con đường hành lang nhỏ hẹp, tôi đang dõi mắt nhìn hai chiếc hầm trú ẩn tập thể to lồ lộ ở góc mé sân trước Hỏa Lò (sân có giàn nho), bỗng mắt tôi chợt nhìn thấy một người rất cao nhưng gầy, cũng mặc bộ quần áo sọc đỏ sậm giống tôi, đang đi từ phía đầu hành lang kia ngược lại hướng tôi, và cũng có một tên công an áo vàng đi kèm phía sau. Tự nhiên tôi thót tim khi nhìn thấy dáng đi lểu khều và đôi mắt…xanh. À, người Mỹ! Phi công Mỹ! Sở dĩ tôi chưa nhìn thấy ngay, vì tôi không ngờ được. Trong tâm, tôi cứ đinh ninh người đó cũng như nhiều người tù đồng bào mình mà tôi vẫn gặp, vì vậy mắt tôi cứ nhìn qua cái lăng kính của óc mình, tức là định kiến, cho nên khi bất chợt nhìn ra, tôi mới giật mình.
Anh phi công còn rất trẻ, chỉ khoảng 24, 25 tuổi như tuổi của tôi thôi. Nhưng đặc biệt, đôi mắt anh thật lơ láo, ngờ nghệch. Có lẽ anh đang có rất nhiều ngạc nhiên. Nhìn chung quanh anh, cái gì cũng lạ, không hề giống bất cứ cái gì trước đây, anh đã nhìn thấy ở nước anh; từ cảnh vật cho đến con người, nhất là dáng dấp, phong thái làm việc, cũng như sự đối xử. Chính vì thế đôi mắt anh trở nên ngờ nghệch chăng? Hay vì những phút bão tố tơi bời vừa qua, khi anh bị bắn rơi trên bầu trời, hãy còn ngập tràn nỗi bàng hoàng chưa phai nhạt trong anh?
Khi đi ngang qua nhau, anh nhìn tôi, tôi nhìn anh. Anh nghĩ gì, làm sao tôi biết được. Nhưng, có điều chắc chắn mà anh không thể ngờ được rằng, người anh vừa gặp cũng từ miền Nam, miền của tự do dân chủ đã vào mảnh đất này. Chỉ có khác, là anh đã xuống dù, công khai; còn tôi đã đổ bộ, bí mật; anh xuống đất vì bị bắt buộc; còn tôi mò vào là do tự nguyện. Dù hai trường hợp khác nhau, nhưng vẫn gặp nhau ở một điểm; đó là Hỏa Lò Hà Nội, mà các anh vẫn gọi là “Khách Sạn Hilton”.
Còn tôi khi nhìn anh, lòng tôi dâng lên một nỗi niềm vừa xót thương, vừa ngưỡng mộ biết ơn. Xót thương, ái ngại, vì các anh ở Mỹ, từ khi lọt lòng mẹ đã quen sướng. Bây giờ, trong cảnh này, dù rằng tôi hiểu các anh sẽ được hưởng một quy chế tốt hơn chúng tôi, nhưng tôi tin rằng các anh sẽ thấy khổ cực hơn chúng tôi. Ngưỡng mộ và biết ơn vì các anh thật hiên ngang, dũng cảm. Dù Hà Nội nói riêng, và miền Bắc nói chung với lưới lửa dày đặc, mà các nhà báo gọi là “những tọa độ lửa còn hơn cả Stalingrad trong Thế Chiến Thứ II”, thế mà vì sự tự do của một dân tộc khác, vì sự bần hàn khổ cực đắng cay của những người dân của một nước xa xôi, các anh đã dũng cảm nhận nhiệm vụ vinh quang, không nề hiểm nguy đến tính mạng, đi bắn những kẻ đàn áp tự do.
Tôi đi chiến đấu cho dân tộc, cho Tổ Quốc tôi; còn anh lại vì sự tự do của dân tộc tôi, cho nên tôi nhìn anh với sự ngưỡng mộ và biết ơn là thế.
Anh đã đi qua rồi, hình ảnh của anh và những suy nghĩ về anh vẫn quấn quít người tôi, mãi tới lúc tôi vào phòng cung.
Lại gặp Thành, và một người nữa, dù chưa hỏi cung tôi bao giờ nhưng tôi đã quen mặt. Đi lại cung kẹo mấy năm nay, tôi đã gặp và trông thấy y nhiều lần. Thậm chí, nghe họ gọi nhau, tôi còn biết y tên là Quý. Y có cái sẹo ở trên mí mắt, nên có người còn gọi y là “Quý lẹo”.
Qua nhiều lần thấy thái độ của y lúc đùa vui, cũng như trò chuyện với những tên cán bộ khác, tôi biết y không đủ kiến thức, cũng như mánh lới để hỏi cung những loại tội về tình báo; vậy sao hôm nay lại có y ở đây? Chỉ một lúc sau, tôi tìm ra được câu trả lời, dù rằng tôi không dám khẳng quyết, nhưng cũng tàm tạm thỏa mãn điều thắc mắc của tôi. Thời chiến, rất hiếm cán bộ. Đáng lẽ, bây giờ, cung kẹo tôi chẳng còn gì đặc biệt nữa, một mình tên Thành cũng được rồi. Nhưng, có lẽ tên Thành, cũng như Phòng 44 Chấp Pháp cảnh giác cao, sau vụ tôi đánh cán bộ trốn tù, nên gặp tôi bây giờ thường từ hai người trở lên. Sự suy luận này của tôi càng được chắc chắn hơn sau mấy ngày gọi cung tôi lia lịa, cũng chỉ có tên Thành hỏi, chứ tên “Quý lẹo”, tuy dáng cao lênh khênh, cũng chỉ ngồi làm vì thôi, thỉnh thoảng mới đóng góp một vài nụ cười, hoặc vài câu hỏi không đâu, không quan trọng.
Suốt buổi hỏi cung hôm ấy, và liền bốn, năm ngày hôm sau, tên Thành hỏi lại toàn bộ từ đầu chí cuối sự việc của tôi. Cũng truy đi, truy lại một số việc có thể y quên, hoặc bây giờ y mới nghi ngờ. Y ghi tóm tắt, thế mà cũng phải một tuần lễ mới xong. Cứ mỗi buổi, tôi phải ký vào bản y ghi, sau khi đã đọc lại. Như vậy, đây là một hiện tượng kết cung của tôi? Phần vì, đã truy hỏi tôi gần 3 năm trời với biết bao nhiêu tình huống gay cấn. Phần khác, thời chiến tranh, Mỹ bắn phá càng ngày càng ác liệt, chưa biết diễn tiến của cuộc chiến sẽ ra sao, cho nên hãy tạm đóng cung của tôi.
Sau đó, lại hàng ngày, hai buổi tôi ra phải ngồi viết bản tự khai ở một phòng nhỏ, có một cảnh sát mặc đồng phục, đeo súng ngắn gác. Giai đoạn viết này là lần thứ hai sau hơn ba năm ở Hỏa Lò. Tôi hiểu đó cũng là một phương pháp gạn lọc, so sánh của chúng. Vì hiểu như vậy, cho nên, hầu như những việc chính yếu (trong những điều tôi đã khai, điều gì còn cất kỹ trong đáy lòng) tôi đều ghi nhớ. Nhưng, khi viết lại, tôi bỏ bớt dần đi những sự việc râu ria. Như vậy mới “lô gích”, nghĩa là hợp tình, hợp lý. Óc con người ta thì quên dần đi là việc tất yếu. Lần viết sau, nếu lại có những việc lần trước chưa ghi, ấy mới là rắc rối.
Cũng phải gần một tháng mới xong. Điều chính là tôi chỉ viết với nhịp độ bình thường, và lại vừa phải suy xét cân nhắc khi viết.
Khi tôi viết được mươi ngày, một hôm, từ một phía cửa sổ phòng bên cạnh, tôi thoáng thấy anh phi công Mỹ, tôi đã gặp lần đầu tiên. Tôi nói lần đầu tiên, để phân biệt với những lần sau đấy trên đường tôi đi và về hàng ngày tôi cũng đã gặp 2, 3 anh phi công Mỹ khác nữa. Có một anh phải đến 40 tuổi, trông rất dữ tướng. Cũng như anh đầu, tay còn quấn băng. Anh nào cũng xanh xao và gầy. Những đôi mắt xanh, hoặc nâu đều ngả thành màu trắng.
Khi gặp lại anh phi công buổi ban đầu ở phòng bên, cũng là lúc anh nghiêng người, liếc nhìn thấy tôi. Ánh mắt anh hình như cũng đã nhận ra hình ảnh một người mà anh gặp. Mặt anh tươi hẳn lên, không còn nét đăm đăm nửa như dò xét, nửa như xa lạ lúc buổi đầu gặp anh nữa. Anh cũng đang lúi húi ngồi viết. Thỉnh thoảng đầu anh động đậy, rồi quay lại nhìn tôi. Tôi cũng ngẩng lên nhìn anh bằng một ánh mắt đồng cảnh và gởi đi tình cảm chào hỏi. Vài lần, không hẹn mà chúng tôi đã cười với nhau, dù chỉ là một nụ cười ngập ngừng không rõ nét.
Tôi để ý, bên anh không có tên cảnh sát ngồi canh như bên tôi. Có thể chúng nghĩ, anh mắt xanh, mũi lõ lồ lộ, đi đến đâu ai chả thấy ngay. Cho nên, chúng chỉ giao giấy bút, rồi ngồi ở một phòng xa, chờ. Tên cảnh sát phòng tôi cũng thấy tôi và anh phi công Mỹ thỉnh thoảng nhìn nhau. Nhưng, chắc y cũng nghĩ anh kia là người ngoại quốc, ngôn ngữ bất đồng; hai nữa, mỗi người một phòng nên kệ cho nhìn nhau, vì vậy y nhìn thấy cũng quay đi.
Hình ảnh anh phi công đó làm tôi nhớ nhất. Cho mãi đến sau này, dáng dấp, khuôn mặt của anh vẫn khắc ghi trong lòng tôi. Chứ ngay những ngày sau đấy, hàng trăm phi công ở Hỏa Lò tôi gặp, nhưng rồi tôi quên mặt ngay. Cũng có thể anh là một trong những phi công bị bắn rơi ngay từ những ngày đầu của vụ trả đũa 5/8/1964 mà theo đài Cộng Sản, hôm đó chúng hạ được 8 phi cơ, bắt được 3 phi công (thật hay chăng)?
Khi đã viết xong, tên Thành còn gọi tôi lên một buổi nữa, thái độ của y hôm đó có vẻ tươi vui, tình cảm. Y nói thẳng có thể y đi công tác xa một số ngày, với bộ điệu úp úp, mở mở như đi vào “B” ấy. Vừa như báo tin mừng được vào “B”, vừa như gián tiếp đe dọa “chuyến này tao vào Nam sẽ biết rõ về mày”.
Cuối buổi, hai tay y cuộn vo, xoay xoay hơn 100 trang giấy viết tay của tôi, vừa như thực vừa như đùa, y nói:
– Câu chuyện của đời anh, sau này đất nước thống nhất, viết lại cũng hấp dẫn đấy chứ!
Tôi hiểu là y sắp chia tay, y nói một câu chuyện cho vui, vì thế, tôi cũng cười, trả lời:
– Thưa ông, nếu phải có kiếp sau, tôi xin để kiếp sau. Chứ kiếp này. Đó là chuyện không tưởng.
Y và tên Quý đều cười. Sau đó, tên “Quý lẹo” dẫn tôi xuống phòng trực, trả tôi về xà lim. Trên đường về, tiếng loa cứ lải nhải khẩu hiệu:”Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đó là khẩu hiệu bịp bợm, dùng để bốc thơm mọi người, một hình thức xúi người khác ăn cứt gà: “Hãy nổ lực làm việc và công tác đi. Ngành ngành thi đua! Người người thi đua!”…Khẩu hiệu đó cứ ra rả, không ngày nào là không nói đến. Suốt những năm ở miền Bắc, tôi nghe đã nhàm tai. Thế mà bây giờ bỗng đỗi khác:
“Ta vì mọi người, mọi người vì chủ nghĩa xã hội”.
Vế dưới đã đổi khác hoàn toàn. Cách mạng mà! Phải luôn luôn thay đổi, luôn luôn đổi mới; nhưng thay đổi theo chiều hướng từ đường rộng rãi thênh thang đi vào con đường trước mắt cứ nhỏ hẹp dần. Đó cũng là một sách lược, một phương châm của những tên lãnh đạo Cộng Sản, không ngoài mục đích để thống trị người, và giữ cho chắc chắn chỗ ngồi của chúng!…
Johnny vừa hớt tóc vừa kể chuyện tiếu lâm cho tui nghe. Có lần ngủ mớ, nó hỏi ông Trời: “Tại sao những người con gái đều dễ thương và ngọt ngào đến thế? Còn vợ sao bà nào lúc nào mặt mày cũng hầm hầm?” Ông Trời trả lời: “Ta đã tạo ra người thiếu nữ đó. Và ngươi đã biến em thành bà chằn! Tại ngươi! Ðừng có cật vấn lôi thôi nhé!” Té ra ông Trời cũng ‘galant’, nịnh đầm. Cái gì cũng đổ thừa cho cánh mày râu!
Nói nào ngay, hồi mới qua Úc, tui đang sung độ, rạo rực hằng đêm, không ngủ được. Nên tui muốn có một mối tình nhỏ vắt trên vai trong những ngày mùa Ðông trời Melbourne lạnh quéo. Chủ Nhựt chợ Footscray nghỉ. Hẹn hò được một em xuất sắc trong vai tì nữ, tui dắt em vô rạp hát tối hù để tâm sự bằng tay. Em thỏ thẻ bên tai tui: “Em ăn chay vì em yêu động vật!” Tui bèn thỏ thẻ lại bên tai em: “Anh làm việc với động vật!” Em hỏi “Anh là bác sĩ thú y hả?” “Không! Anh bán thịt heo!” Ðèn bật sáng; em biến mất. Từ đó, không thèm tính chuyện se tơ kết tóc với ai nữa; tui cứ nhong nhỏng chạy vòng vòng cho mấy em nhểu nước miếng thèm chơi. Biết tui nhứt định để cao xạ phòng không, Johnny tâm phục, khẩu phục: ‘You sống như con ong, con bướm vậy mà khôn. Vườn thiếu gì bông. Ðừng sống ngu như tui, làm con chim bị em nhốt trong lồng cho tới xí lắt léo, chết!”
Johnny kể cho tui nghe: “Hơn hai ngàn thí sinh tham dự một kỳ thi tiếng Anh. Ðề tài là: “Hãy viết một câu có mang ý nghĩa hoà bình, tịnh yên và hạnh phúc cho đời mình.” Người đoạt giải nhứt đã viết: “Vợ tui đang ngủ’.
Khi trao giải thưởng, viên giám khảo ôm lấy thí sinh trúng giải mà nước mắt của ông ràn rụa rơi xuống đầy hai bên má!
Johnny kết luận: chuyện vợ chồng là một vở bi hài kịch từ thời ông Adam với bà Eva tới giờ mà chưa tới hồi kết; còn lâu mới vãn hát. Ðó là một vở tuồng có hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục. Chàng sắm vai kép chánh; nàng sắm vai đào chánh.
Chuyện rằng: “Một sinh viên đại học thầm yêu trộm nhớ cô bạn cùng lớp của mình. Một ngày cuối tháng Tám, không có mưa rơi lắc rắc, lạnh thấu xương, trời Melbourne chỉ có những đám mây bàng bạc lúc cuối Ðông, chàng xích lại, run run tìm hơi ấm để ngỏ lời xin hò hẹn. Nhưng nàng từ chối và đe dọa rằng em sẽ méc ông hiệu trưởng nếu anh còn làm phiền em nữa. Và chàng trai từ đó lặng câm. Vài ngày sau, em bất ngờ mượn một cuốn sách của chàng và viết: “Em cũng yêu anh. Xin lỗi vì đã làm anh tổn thương vào ngày hôm trước. Nếu anh tha thứ cho em, hãy đến gặp và nói chuyện với em!” Ba năm trôi qua, chàng trai không bao giờ đến gần cô gái nữa. Bài học rút ra là: nam sinh viên đại học không bao giờ mở sách!
Thiệt không đọc sách là dịp may cho cho chàng trai trẻ. Bằng với cái tính bộp chộp, em nhận lời yêu, rồi đồng ý lấy là mình có nước chết nhăn răng. Bắt đầu từ một cái rãnh nhỏ, theo thời gian nó lớn dần ra nuốt từ từ. Tới lúc nào đó nó nuốt luôn căn nhà, xe, thuyền, tài khoản ngân hàng và luôn cả tiền hưu trí! Hãy cảnh giác!
Johnny cũng dạy tui là đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn. Muốn làm con vợ hài lòng một trăm phần trăm ư? Nó còn khó hơn leo lên tới đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn. Phải bỏ chơi ‘game’ vì em. Mời em đi ăn tối. Mua nữ trang cho em. Thích những điều em nói; cho dù đó là những lời ngu ngốc. Hãy nhắm híp mắt mà yêu em. Chết vì em. Trời ạ?
Ngược lại mấy em muốn làm anh vui thì dễ ợt: “Hãy ở truồng và trên tay em có cầm một chai rượu Jack Daniel’s! Vì đời anh chỉ biết có tửu sắc mà thôi.”
Tuy vậy đừng có nghe mấy thằng khích tướng: “Beer và Whiskey là những kẻ thù tệ hại nhứt của con người. Gặp đâu quất đó. Vì trước kẻ thù mà bỏ chạy là những tên hèn nhát!”.
Nhớ uống chút chút cho nó sung độ thôi nhe. Chớ thiếu rượu ngáp như ông lên, bà xuống thì trước sau gì cũng bị vợ bỏ. Ðâu có em nào mà chịu ôm cái hũ hèm, nằm thao thức nghe nó ngáy như Hà mã rống bao giờ? Rồi ghiền rượu quá độ, sẽ bị liệt dương không làm ăn được gì hết ráo.
Johhnny kể: Một buổi tối nọ sau khi quất chừng chục ly whiskey, vợ chồng tui đang nằm trên giường. Tui lần theo mình em. Giữa chừng con vợ tui hỏi sao ngưng bất tử vậy? “Anh kiếm được cái ‘remote control’ của cái ti vi rồi!”
Vậy là mấy tuần sau, có chuyện lạ xảy ra. Có một thằng chúi đầu vào tiệm hớt tóc và hỏi: “Bao lâu nữa mới tới phiên tui được hớt tóc?” Nhìn quanh cửa hàng đầy khách, tui nói “Khoảng 2 giờ.” Nghe xong hắn bỏ đi. Vài ngày sau, cũng chính hắn ta đó thò đầu vào cửa và hỏi: “Bao lâu nữa tôi mới được hớt tóc?” Nhìn quanh tiệm rồi tui nói: “Khoảng 3 giờ”. Hắn lại bỏ đi.
Một tuần sau, cũng chính anh chàng đó chúi đầu vào cửa hàng và hỏi: “Bao lâu thì tôi có thể hớt tóc?” “Khoảng một tiếng rưỡi”. Hắn lại bỏ đi.
Tui quay sang thằng thợ làm chung: “Bob, giúp tao một việc” “Hắn liên tục hỏi phải đợi bao lâu để được hớt tóc, nhưng hắn ta không bao giờ quay lại. Hãy theo dõi để xem hắn ta đi đâu?” Một lúc sau, quay lại tiệm, cười ha hả. Bob nhìn tui, lau nước mắt và nói: “Hắn tới ngay nhà của mầy!”
Johnny nổi điên lên vì ghen. Nó cãi nhau với vợ một trận sanh tử lửa. Nó tính đập con vợ một trận cho bà già vợ nhìn cũng không ra. Nhưng nó sợ lính bắt về tội bạo hành gia đình. Johnny đành nuốt giận, chờ ra tòa ly dị để chia con, chia của.
Hôm sau đóng cửa tiệm về, nhà vắng tanh như chùa bà đanh. Có một bức thơ: “Xin lỗi vì đã cãi lộn với anh tối qua. Em đi làm về trễ. Bữa ăn tối để trên bếp của lò ga. Ga đã bật lên anh chỉ cần quẹt hộp quẹt là xong! Vĩnh biệt!
Tui có một anh bạn văn chuyên viết ‘jokes’ từ Melbourne gởi đăng báo tuốt bên Mỹ. Vì báo bên Úc bị mấy trang ‘web’ chùa làm ngã lăn ra chết hết ráo rồi! Tiền nhuận bút một bài đủ tiền mua một thùng beer Victoria Bitter, ảnh thường hú tui lại nhà ảnh nhậu. Nhậu đâu có được chạy xe, nên tui tà tà thả bộ ra chợ Footscray mua một hộp thịt quay bánh hỏi có trét mỡ hành tốn hết 15 đô để hùn thêm vô.
Chẳng qua bài phiếm của ảnh cũng có công sức của tui. Ảnh ‘cóp’ ý đâu đó trên ‘web’ rồi viết lại. Xong qua email, ảnh gởi cho tui đọc, coi có thêm bớt, nhấn nhá gì không? Ảnh nói viết chuyện đùa, chọc quê chê thói xấu của thiên hạ mà viết không khéo, nó đào mồ, cuốc mả ông bà mình nó đem đi đổ xuống sông. Kiếm 50 đô tiền nhuận bút chua lắm! Chớ không phải dễ như ăn cơm sườn hổng bị mắc xương đâu.
Bài tuần rồi của ảnh, có công sức của tui, là: “Một hôm chồng đi làm về. ‘Anh yêu! Phòng tắm trên lầu bị rỉ nước! Anh sửa nó cho em nhe?’ ‘Bộ em thấy tui giống thằng thợ sửa ống nước lắm sao?’. Vài bữa sau. ‘Anh yêu! Mái nhà bị dột! Anh sửa nó cho em nhe?’ ‘Bộ em thấy tui giống thằng thợ lợp mái nhà lắm sao?’ Vài ngày nữa trôi qua. ‘Anh yêu! Xe em ‘đề’ hổng chạy. Anh thay bình ‘ắc-quy’ mới cho em nhe!’ “Bộ em thấy tui giống thằng thợ sửa xe lắm sao?’
Ngày hôm sau ông chồng về, phòng tắm hết bị rỉ nước, mái nhà hết dột, và xe em ‘đề’ một cái là máy nổ ‘bùm bùm’! ‘À! Có một anh rất siêng năng đến sửa hết ráo cho em đó!’ ‘Tuyệt! Nó tính hết bao nhiêu tiền?’ ‘Em đâu có tốn cắc nào! Anh ấy nói sẽ làm miễn phí nếu em nướng cho anh ấy một cái bánh hoặc cho anh ấy ‘bùm’ một cái!’ “Vậy em nướng cho nó bánh gì?’ ‘Bộ anh thấy em giống con nhỏ thợ làm bánh lắm hay sao?’
Rồi chuyện thứ hai là: “Một nhà tình dục học đề một lý thuyết rằng: Vợ chồng yêu nhau ngày một lần là hạnh phúc nhất. Ðể coi lý thuyết của mình đúng hay sai, ổng bèn tổ chức một cuộc hội thảo đặc biệt dành cho các cặp vợ chồng. ‘Có bao nhiêu người ở đây yêu nhau ngày một lần?’ Một nửa số người giơ tay! Ai nấy đều cười toe toét. ‘Tuần một lần?’ Một phần ba giơ tay, nụ cười của họ kém tươi hơn một chút. ‘Tháng một lần?’ Một vài bàn tay khe khẽ đưa lên. Không thấy nụ cười nào. ‘Ðược rồi! Còn năm một lần thì sao?’ Diễn giả và toàn thể cử tọa ngạc nhiên thiếu điều té ghế khi thấy một ông ngồi tuốt phía sau nhảy lên, nhảy xuống, vẫy tay và huýt sáo tưng bừng.
‘Năm chỉ một lần? Sao ông bạn lại rất vui?’ Ông hét lên phấn khích: ‘Bữa nay đúng một năm nè!’
Hai chuyện nầy làm tui cứ đi vô, đi ra, đi xuống, đi lên, cười tủm tỉm hoài nên ‘em yêu’ tưởng tui bị khùng.
Nhưng tuần nầy không thấy ảnh kêu réo gì hết. Tui bèn gọi hỏi: ‘Sao im re vậy? Hết tiền hả? Cữ nhậu nầy tui chi. Nhậu chực của anh hoài, lương tâm nó cắn tui. Anh nói chuyện nhỏ. Tiền nhậu ai trả cũng được. (Chú trả thì anh vui). Ðừng bận tâm mấy cái lẻ tẻ , tính tình tính toán bần tiện mà hao mòn vóc ngọc.
Anh nói: tui buồn không nhậu tuần nầy là vì ông thầy, thần tượng của tui, vừa mới chết.
Thầy của anh là ai? Thầy tui là Geechy Guy người Mỹ. Tui học ông cách viết hài độc thoại. Ông thầy đi trình diễn kiếm bộn tiền. Ðệ tử đem đăng báo kiếm bạc cắc.
Geechy Guy tên thật là Michael Paul Cathers sinh ở Rochester, Michigan ngày 12, tháng 5, năm 1964.
Tháng 8, năm 1993, Geechy Guy được ghi vào sách Guinness vì kể 676 câu chuyện cười trong một giờ.
Geechy Guy vói chiếc áo khoác màu mè sặc sỡ không giống ai, xuất hiện trên nhiều ‘talk show’ như: “Star Search”; “The Tonight Show” with Jay Leno”; “The Late Late Show with Craig Ferguson”…
Với sự thông minh sắc bén, Geechy Guy có khả năng tìm thấy sự hài hước trong chuyện thường ngày ở huyện. Ông ấy cũng nổi tiếng viết ra những câu chuyện cười phức tạp, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều nghĩa. Những chuyện cười đó đòi hỏi khán giả chú ý cẩn thận mới cảm nhận được hết.
Geechy là một trong những diễn viên hài độc đáo và sáng tạo nhất hiện nay. Mỗi lần Geechy Guy xuất hiện, đèn điện thoại di động của khán giả bật sáng để chụp hình. Buổi trình diễn hài độc thoại của Geechy Guy trông giống như một buổi hòa nhạc rock”
Thí dụ như: “Anh có biết cách nhận biết khi nào bạn gái của mình béo quá hay không?” “Lúc em yêu mặc quần áo của vợ anh mà vẫn còn chật”
Rồi một anh bước vào phòng khám bịnh. Bác sĩ nói: ‘Anh còn 10 để sống!’ Anh hỏi lại: ‘10 cái gì?’. Bác sĩ nói: “9, 8, 7…”
Câu chuyện đùa có tánh tiên tri bi thảm nầy của Geechy Guy là điềm báo trước cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy ắp tiếng cười như lựu đạn nổ của ông.
Geechy Guy được người bạn cùng nhà nhìn thấy lần cuối vào trước 11 giờ sáng thứ Ba. Geechy Guy có thể ngủ liên tục 14 hoặc 15 tiếng. Việc ông ấy ở trong phòng lâu như vậy không có gì đáng ngạc nhiên cả.
Thứ Năm, ngày mùng 7, tháng 9, năm 2023, vợ cũ của Guy, Sharon Cathers, sống ở Leawood, Kansas, trong vài ngày qua đã cố gắng liên lạc với Guy nhưng không được. Cuối cùng bà ấy đã yêu cầu nhà chức trách đến kiểm tra vì Geechy Guy có các vấn đề sức khỏe như huyết áp cao…
Khoảng 12h30 trưa cùng ngày, Geechy Guy được phát hiện nằm bất động trong phòng ngủ. “Không có gì bất thường cả, ông ấy trông có vẻ yên bình, nằm ngủ say với tấm chăn che phủ trên vai.
Nhưng buồn thay Geechy Guy qua đời khi còn quá trẻ chỉ mới tuổi 59.
Thế giới từ nay thiếu vắng một tiếng cười độc đáo.
Geechy Guy thích hát nhạc của Billy Joel tựa đề là: ‘We did not start the fire’ (Chúng ta không phải là người châm lửa. Chúng ta đã cố gắng dập tắt nó). Thế giới nầy cần tiếng cười để dập tắt lửa hận thù đang ngùn ngụt cháy sao Geechy Guy lại sớm ra đi? Vĩnh biệt ông! RIP.
Mặc dù vết thương vẫn khiến tôi đau đớn vào ban ngày và mất ngủ về đêm nhưng ở một khía cạnh nào đó, tôi thấy mình đủ sức khỏe để đảm nhận sứ mệnh bảo vệ Đại sứ Mỹ tại Philippineses, John Negroponte vì kẻ nào đó hăm dọa sẽ lấy tính mạng của ông. Sau khi tốt nghiệp Đại học Yale, ông theo học ngành luật tại Đại học Harvard. Đến giữa chừng, ông bỏ ngành luật để theo ngành ngoại giao. Là người gốc Hy Lạp, ông thành thạo tiếng Anh, Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha và Việt Nam.Cùng đồng hành với tôi là Johnny cũng đến từ Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Anh ta đến Philippineses từ trước, có thể trong đợt triển khai lực lượng của Đội đặc nhiệm SEAL số 1. Ở Philippineses, anh ta có khá nhiều bạn bè, nhiều người trong số họ là nữ. Anh ta tự nguyện nhận trọng trách này có thể là vì sự vui thú. Lúc nào Johnny cũng vui vẻ. Chúng tôi sống trên tầng mười của một tòa nhà ở Makati, một khu phố cao cấp ở thủ đô Manila, thuộc sở hữu của một công ty bất động sản. Vào một tối đã xảy ra một trận động đất. Sự rung chuyển đã làm chúng tôi và cả người hầu phòng tên Lucy thức giấc. Cả Johnny và tôi đều ra khỏi phòng. Lúc đó, Johnny mặc chiếc quần lót ống rộng, còn tôi thì hoàn toàn khỏa thân. Phía ngoài cửa sổ, các tòa nhà đang lắc lư từ bên này sang bên kia. Tôi cũng nhận thấy tòa nhà mình ở đang lắc lư. Tôi hỏi: “Anh muốn làm gì trong tình huống này?”.
Johnny nở nụ cười trên khuôn mặt và nói: “Chúng ta chẳng làm được gì trong tình huống này cả. Mặc kệ nó, chừng nào chúng ta bị hất xuống đất hẵng hay.” Chúng tôi cười và quay vào giường ngủ tiếp. Công việc của chúng tôi bao gồm cả việc huấn luyện cho người dân Philippineses bảo vệ Ngài Đại sứ. Một số người chúng tôi huấn luyện hiện đang phục vụ trong lực lượng Cảnh sát quốc gia Philippineses. Chúng tôi huấn luyện họ lái xe mô tô ba bánh và huấn luyện mô hình tác chiến đồng đội kiểu hình thoi (một nhân viên đi bộ đến điểm tiếp xúc, hai bên là hai người đi kèm và một người đi phía sau) và chúng tôi còn huấn luyện nhiều thứ khác nữa. Chúng tôi đưa họ ra ngoài tập bắn súng Uzis. Uzis là loại súng có độ chính xác không cao và nói chung người Philippines có rất ít vũ khí hiện đại. Ngài Đại sứ thật may vì lực lượng bảo vệ này chưa bao giờ phải sử dụng vũ khí để bảo vệ ông. Chúng tôi đề nghị với sĩ quan phụ trách an ninh khu vực cho phép nhân viên an ninh Philippines mang súng ngắn thay vì súng Uzis để tăng độ chính xác. Tuy nhiên, đề xuất này không được chấp nhận. Trong lúc ngồi với Cảnh sát trưởng và sĩ quan phụ trách an ninh khu vực để nói về kinh nghiệm điều hành ngôi nhà bí mật của tôi hồi ở Somali, chúng tôi đi đến thống nhất trong việc lập kế hoạch tăng cường bảo vệ và kế hoạch đột nhập và rút lui đối với Đại sứ quán. Ngoài ra, chúng tôi còn đưa lực lượng lính thủy đánh bộ bảo vệ Đại sứ quán ra sân tập bắn để huấn luyện. Lúc đầu, họ có vẻ không hài lòng và nói: “Này, chúng tôi thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ. Chúng tôi đã được huấn luyện bắn súng rồi.” Tuy nhiên, sau vài ngày trên sân tập bắn với Johnny và tôi, họ đã mở rộng được tầm mắt khá nhiều. Họ tiếp thu khá tốt.
Đại sứ Negroponte làm việc không ngừng nghỉ, luôn bận tiếp khách và chơi tennis rất giỏi. Ông đối xử với chúng tôi như những người thân trong gia đình. Tôi cảm thấy thật gần gũi với con cái của ông, những người chúng tôi cũng có nhiệm vụ phải bảo vệ. Anh vợ ông, người gốc Anh, là người lịch sự và nhẹ nhàng. Họ mời Johnny và tôi đến ăn tối nhân ngày Lễ Tạ Ơn tại khuôn viên Đại sứ quán Mỹ ở Baguio, một tòa nhà hoàn hảo với các chùm đèn lộng lẫy và những bức tranh sơn dầu. Một ngày nọ, Johnny và tôi đi tiền trạm trước khi Ngài Đại sứ đến gặp bác sĩ xương khớp. Tôi đeo kính râm hiệu Oakley. Chúng tôi đi bộ đến quầy lễ tân và giới thiệu bản thân. Nhân viên lễ tân mời chúng tôi vào. Khi lục soát các căn phòng để tìm kẻ tình nghi, chúng tôi đã làm gián đoạn bữa ăn trưa của nữ bác sĩ xương khớp. Chúng tôi xin lỗi và tiếp tục công việc của mình. Sau đó, cuộc gọi đến từ Ngài Đại sứ, yêu cầu chúng tôi quay về gặp ông. Chúng tôi rời tòa nhà ở Makati và đến gặp Ngài Đại sứ. Ông lịch sự bảo chúng tôi: “Lần tới, nếu các cậu phải đến phòng khám của bác sĩ, nhớ đừng có gây phiền hà cho ai.” Thật tình cờ, vị bác sĩ này lại là một người bạn của Ngài Đại sứ. Chuyện này xảy ra trước ngày 11 tháng Chín một nên công tác an ninh chưa được ưu tiên, nhưng chúng tôi vẫn đến phòng mạch của bác sỹ trước theo cách chúng tôi được huấn luyện. Ngài Đại sứ giải thích: “Tôi từng bị chấn thương ở vai do đánh tennis và nếu cô ta không nắn lại xương cột sống cho tôi thì bây giờ tôi vẫn còn đau.” Tôi vẫn hoài nghi về khả năng chữa trị của các bác sỹ đông y và tôi không nghĩ họ có thể làm cho tôi khỏi đau ở cổ và chân nhưng tôi vẫn ghi nhớ trong đầu những lời dặn của Ngài Đại sứ. Tại Đại sứ quán, Johnny và tôi gặp một bác sĩ người Mỹ, trung tuổi và đang rất lo sợ cho tính mạng của mình. Ông cho biết mình là một bác sĩ chuyên làm từ thiện, chuyên cứu giúp người khác và hiện có một đám du thủ du thực đang tìm cách trấn lột và giết ông. Tôi hỏi “Làm sao ông biết?”. “Chúng đang theo dõi tôi. Chúng gọi điện đến khách sạn, kiểm tra xem tôi có ở đó hay không. Chúng vẫn đang ở khách sạn đợi tôi.” Johnny và tôi nói với nhân viên an ninh khu vực đang làm việc cho Bộ Ngoại giao: “Chúng tôi nghĩ đám du côn sẽ giết chết bác sĩ này mất.”Johnny và tôi mặc quần áo dân sự. Không muốn lộ diện là các nhân viên an ninh mật hay an ninh ngoại giao, chúng tôi không mang theo bộ đàm. Tôi thích mặc quần Kaki ống rộng nhiều túi vì loại quần này rất dễ mặc, có nhiều túi và trông khá hầm hố. Phía ngoài chiếc áo phông xanh dương của Hải quân, tôi khoác chiếc áo vét của một nhiếp ảnh gia với chiếc ống nhòm trước ngực và một chiếc đèn flash trong túi quần. Trong chiếc bao da bên hông là khẩu súng lục SIG SAUER có băng đạn 15 viên. Trong bao da đeo trên dây lưng là hai băng đạn dự phòng. Chiếc áo vét tôi mặc bên ngoài che kín khẩu súng lục và hai băng đạn dự phòng.
Để vị bác sĩ ở lại Đại sứ quán, hai chúng tôi lái chiếc xe con chống đạn đến khách sạn vị bác sĩ này đang thuê ở. Đây không phải là nơi dành cho giới thượng lưu như khách sạn Intercontinental, nhưng cũng không giống với nơi ẩn náu của bọn lưu manh. Khi còn cách khách sạn ba tòa nhà, chúng tôi leo lên tầng thượng một ngôi nhà. Từ đây, tôi gọi điện cho nhân viên đứng quầy và giới thiệu tôi là nhân viên an ninh ngoại giao. Sau khi giải thích cho nhân viên đứng quầy hiểu tình hình, tôi yêu cầu nhân viên đó vén tấm rèm ở phòng bác sĩ nọ thuê. Đồng thời, tôi cũng mô tả cho anh ta biết vóc dáng của tôi và hẹn thời điểm tôi sẽ đến.
Tấm rèm được kéo ra, chúng tôi dùng ống nhòm nhìn vào phía trong căn phòng. Hình như không có ai rình sẵn trong phòng. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì sẽ không xảy ra cuộc đấu súng khi chúng tôi đột nhập vào căn phòng. Nhân viên đứng quầy đã xác nhận là không có ai trong phòng. Điều này thật tốt.
Chúng tôi lái xe một vòng quanh khách sạn để xem có kẻ nào đang rình rập hay không. Sau đó, chúng tôi lái xe đến gần khách sạn hơn. Một chiếc xe cũ hiệu Junky, đỗ ngay trước khách sạn, có hai tên ngồi bên trong. Giác quan thứ sáu mách bảo tôi cần phải để mắt tới hai tên này. Chúng ăn vận không giống doanh nhân mà cũng chẳng giống đang ngồi đợi đón ai đó. Những người còn lại trong khu vực không có dấu hiệu khả nghi. Johnny đỗ xe gần góc của tòa nhà, ở đó anh có thể quan sát được phòng của bác sĩ nọ và những tên du côn chúng tôi nghi ngờ. Tôi rút khẩu súng lục từ bao da ra và cho vào túi trong của chiếc áo vét, để tay trên vành cò. Sau đó, tôi bước ra khỏi xe vào đi bộ đến khách sạn. Bên trong hành lang, đôi mắt của tôi quét qua tất cả những người và những đồ vật trông không bình thường. Theo nghiệp vụ được đào tạo, tôi có thể lướt mắt qua mọi người, để ý đến tư thế ngồi, cử chỉ của họ và qua đó biết được họ có phải là đối tượng gây nguy hiểm cho mình hay không. Một phần trong khả năng nhận biết này liên quan đến sự nhạy cảm của giác quan thứ sáu. Nó giống như việc bạn cảm thấy ai đó đang theo dõi bạn, bạn bất ngờ quay lại và phát hiện quả thực có người đang theo dõi mình. Nhân viên đứng quầy, có lẽ là người bà con của chủ khách sạn, đưa tôi đến cầu thang. Thang máy có thể là một cái bẫy chết người. Nó có thể bị dừng lại giữa các tầng. Có thể có ai đó đứng phía trên thang máy. Điều này không phải chỉ có ở trong phim ảnh. Hoặc một bất ngờ lớn xảy ra khi cửa thang máy mở. Nếu có sự sắp xếp này, nhân viên đứng quầy hẳn sẽ lo lắng hơn khi chúng tôi tiến gần đến phòng của người bác sĩ vì anh ta biết sẽ bị giết chết bởi kẻ mai phục hoặc giả không thì tôi cũng sẽ làm việc đó.
Chúng tôi bước vào cầu thang lồng. Tôi rút khẩu súng lục ra và ấn số tầng chúng tôi lên. Tôi đưa mắt nhìn lên xem có họng súng nào đang chĩa vào đầu mình hay không, rồi quét mắt qua những cầu thang trước mặt. Khi lên đến tầng bốn, tôi đang định bảo nhân viên đứng quầy ra trước thì anh ta đã làm rồi. Anh ta dẫn tôi qua hành lang và mở khóa cửa phòng của bác sĩ. Sau khi vào phòng, tôi khóa cửa lại. Tôi không muốn có bất kỳ vị khách không mời nào bất ngờ xuất hiện phía sau. Người nhân viên đứng quầy tiến vào giữa phòng và bắt đầu gói ghém đồ đạc cá nhân của bác sĩ – mọi việc diễn ra đều hoàn hảo. Nếu có kẻ nào đó tấn công thì trước tiên hắn phải tấn công người nhân viên đứng quầy. Nhìn thấy thái độ thoải mái của anh ta tôi hoàn toàn tin tưởng anh ta không gài bẫy mình. Tôi lục soát căn phòng đề phòng có kẻ đang ẩn nấp. Tôi lục soát nhà tắm, tủ đồ, gầm giường… nói chung là tất cả mọi ngóc ngách của căn phòng. Sau đó, tôi hạ thấp tấm rèm xuống ngang cửa sổ, ra dấu cho Johnny biết tôi đã ở trong phòng và mọi việc đều ổn. Nếu tôi không ra dấu cho Johnny trong vòng năm phút, anh ta sẽ lên phòng hỗ trợ tôi.
Nhân viên đứng quầy thu xếp chiếc va li kéo, một túi quần áo và một chiếc va li xách tay đựng đầy đô- la. Tôi băn khoăn tự hỏi không biết vị bác sĩ này lấy ở đâu ra mà nhiều tiền thế. Có thể ông ta mang tiền từ Mỹ sang để sống ở đây nhưng cũng có thể ông ta dính líu vào một vụ việc gì đó. Sau khi thu xếp đồ xong, nhân viên đứng quầy khênh đồ xuống cầu thang. Cảm thấy thoải mái hơn, tôi vẫn cầm súng trong tay nhưng không chĩa về những điểm tiềm ẩn rủi ro. Khi đến chân cầu thang, tôi bỏ súng vào túi. Tôi đưa mắt liếc nhanh khắp hành lang. Dường như mọi thứ đều ổn thỏa cả. Tôi cảm ơn nhân viên bán hàng và cầm lấy hành lý. Sau khi móc túi đựng quần áo vào va li xách tay, tôi kéo va li kéo bên tay trái, còn tay phải tôi xách va li xách tay. Khi tôi ra khỏi khách sạn, hai tên côn đồ nhìn thấy tôi. Dường như họ biết tôi đến khách sạn để làm gì và cũng biết tôi biết họ đứng đó để làm gì. Liệu chúng bay có dám hạ gục tao không? Nếu họ cử động, tôi sẽ bỏ va li xách tay xuống và nhanh chóng rút khẩu súng lục trong túi ra. Tôi có thể vừa bắn vừa di chuyển và chúng sẽ bị kẹt trong xe. Nếu chúng cố gắng làm điều đó, hẳn đó sẽ là một ngày tồi tệ đối với chúng.
Johnny lái xe đến và đậu ngay phía sau chúng. Nếu muốn bắn vào xe chúng tôi, bọn chúng phải ra khỏi xe và quay đầu lại. Khi đó, chúng không được bảo vệ bởi cửa xe nữa. Johnny bước ra khỏi xe với khẩu súng trong tay. Cánh cửa xe bảo vệ phần dưới cơ thể của Johnny. Sự xuất hiện của Johnny làm tôi cảm thấy thực sự an tâm. Tôi đi qua những tên côn đồ, ném hành lý vào sau xe và ngồi ở ghế sau. Hai tên côn đồ quay hẳn đầu lại nhìn chúng tôi, nói với nhau một vài câu gì đó rất nhanh. Johnny lái xe ra ngoài và đi một vòng tròn quanh khu nhà. Khi chúng tôi trở lại vị trí ban nãy, hai tên du côn đã mất dạng.
Chúng tôi đón bác sĩ tại Đại Sứ quán, đưa trả ông hành lý và lái xe đưa ông đến một cơ quan của Mỹ ở Manila, ở đây có nơi mua sắm và một nhà hàng. Chúng tôi giữ ông ở đó cho đến giờ chuyến bay cất cánh. Ông cứ liên tục cảm ơn chúng tôi. Khi lái xe đưa ông đến sân bay, chúng tôi đã phái một chiếc xe đi trước để thám thính. Ông tiếp tục nói lời cảm ơn chúng tôi “Hai cậu đã cứu sống tôi.” Chúng tôi đưa ông ta lên máy bay. Sau đó, ông đã viết thư đến Đại Sứ quán cảm ơn vì sự giúp đỡ của chúng tôi và điều này đã đem lại danh tiếng cho chúng tôi. Sau này chúng tôi mới phát hiện ra thực chất của câu chuyện rằng ông này đã hẹn hò với con gái một ông trùm. Cô ta bị ông ta đoạt mất đời con gái và hứa sẽ kết hôn với cô mặc dù đã có kế hoạch rời khỏi Philippines. Khi phát hiện ra điều này, ông trùm đã không chấp nhận lời hứa hôn và tìm cách xử lý tay bác sỹ. Có lẽ điều đó là hoàn toàn xứng đáng với hắn. Quá trình bình phục chấn thương của tôi còn mất một thời gian rất dài sau đó. Lúc này, vết thương vẫn hành hạ tôi vào ban ngày và làm tôi mất ngủ vào đêm. Nhiệm vụ bảo đảm an ninh ngoại giao là một công việc dễ dàng hơn rất nhiều so với nhiệm vụ của Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Lúc này tôi biết mình sẽ chẳng còn đủ khả năng để đảm nhận những công việc khó khăn như trước nữa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an ninh ngoại giao, tôi trở lại đội. Chúng tôi tiếp tục thực hiện những công việc thường ngày: chạy, tập bắn trong nhà và ngoài sân bãi. Tôi nhận ra, mình không thể hoàn thành tốt những công việc này.
Tôi nói với Chỉ huy trưởng của Đội số 6 “Tôi sẽ thu xếp đồ đạc và trở về Georgia vì vết thương làm tôi đau triền miên ở chân, hông và cổ. Tôi ngủ không ngon giấc.” Ở thời điểm đó, tôi không biết điều gì đang xảy ra với mình. Sau khi điều chỉnh dáng đi để bớt đau chân, tôi vô tình lại khiến thiết bị xoay chân lắp bên ngoài ảnh hưởng đến hông. Cổ tôi kéo theo chiều ngược lại và kết quả là bị đau lây.
“Tôi biết cậu là người như thế nào. Nếu cậu muốn, tôi sẽ chuyển cậu đến bất kỳ đội nào cậu muốn, kể cả đến làm huấn luyện viên ở trường Huấn luyện các bài cơ bản dưới nước (BUD/S). Cậu có thể chọn làm huấn luyện viên một trong những khoa ở đó: Tác chiến trên không, trên thuyền hay nâng cao khả năng chịu đựng dưới nước. Bất kỳ điều gì cậu muốn. Chỉ cần bảo với tôi và tất nhiên mọi việc đều do cậu quyết định.”
Tôi hiểu mình sẽ chẳng bao giờ có thể làm được những gì đồng đội của tôi đang làm. Tôi vẫn nhớ những lần tôi bước lên bậc cầu thang ở phòng tập bắn – phải bám lấy ba người để đi lên. Điều này chưa bao giờ xảy ra với tôi trước đó. Tôi biết thời kỳ đỉnh cao của mình đã qua. Giờ tôi không còn khả năng đó nữa. Tôi không giỏi, không nhanh và các giác quan của tôi không tinh nhạy như trước đây nữa. Chính xác mà nói, tôi không còn đủ sức khỏe để làm những gì trước đây tôi vẫn thường làm. Tôi nói “Cảm ơn Chỉ huy trưởng. Tôi sẽ không là một thành viên của đội nữa, tôi muốn bắt đầu một chương mới trong cuộc đời của mình. Làm một công việc khác để xem ngoài kia mọi thứ như thế nào”.
Gần như từ lúc trưởng thành đến nay, tôi đều gắn cuộc đời của mình với quân ngũ. Quyết định này quả là mạo hiểm: Chẳng biết tôi có thể làm gì trong thế giới dân sự?
Miên man chìm đắm trong mối tơ vò tư tưởng, bỗng nghe chốt cùm rút đánh xoạch một tiếng, tôi giật mình như choàng tỉnh một cơn mộng ngày. Thì ra, đã đến giờ lấy cơm chiều. Mải say sưa trong suy tư đến quên cả cái đói chờ cơm! Như vậy, quả thực tôi cũng thấy mình đam mê quá. Vấn đề tôi vừa trình bày, cũng đã lôi cuốn chính tôi nhiều, chứ hầu như khó có một cái gì làm tôi suy nghĩ đến độ quên được, sắp tới giờ cơm; nhất là lúc sau này tôi cứ thấy đói luôn. Có lẽ, thời gian ở “cát xô”, vì bệnh tật đau đớn, người hình như nằm một chỗ không xê dịch, nên tuy ăn uống có thiếu thốn hơn, chỉ vừa đủ sống, nhưng tôi cũng không thấy đói lắm. Bây giờ, trở về xà lim đã gần một tháng, cơ thể dần dần bình phục lại, kể cả tinh thần sau vụ trốn không thành cũng dần được ổn định; vì thế, cơ thể tôi càng đòi hỏi ăn quá chừng. Đến cái độ, chuyện cung kẹo, tin tức tình hình trên đài mỗi ngày mỗi diễn tiến gay cấn như: ”…Mỹ sắp đem quân chiến đấu vào miền Nam, các phái đoàn quân sự cao cấp của Liên Xô đến Hà Nội…”, nói chung tình hình đang ngày càng trở nên căng thẳng, hầu như tôi mặc kệ!
Tôi cũng hiểu rằng tình hình chính trị bên ngoài có tác dụng trực tiếp đến sinh mệnh đời mình, nhưng điều đó vẫn còn xa. Trước mắt, hàng ngày hàng giờ, là cái đói hành hạ dày vò cơ thể tôi. Hầu như, hàng năm, tôi khao khát thèm một bữa no, nghĩa là giá bất cứ có cái gì cho vào dạ dày cho căng căng một chút, để xem “cái no”…nó ra làm sao? Nhưng, ngày nào cũng như ngày nào, bữa cơm đến, chưa ăn, vừa quay đi quay lại một cái, đã hết rồi; chưa thấy tí gì trong bụng cả. Bụng muốn ăn đến ba, bốn; mà chỉ có một. Lại ở xà lim chỉ có một mình, xoay đằng trước, xoay đằng sau, cũng chỉ bốn bức tường, lấy cái gì nhét vào dạ dày bây giờ. Nếu giẻ mà ăn được, tôi cũng nhai. Lúc đó có lẽ tôi cứ phải ở truồng, bởi vì cứ vặt xé dần quần áo đút vào miệng. Cứ ngày này, qua ngày khác; tuần này, qua tuần khác; tháng này, qua tháng khác; rồi năm này qua, năm khác tới,…đêm ngày, lúc nào cũng đói.
Một đêm, không ngủ được vì đói, trằn trọc suy nghĩ rồi khó khăn đẻ ra sáng kiến; tôi tìm ra được một biện pháp để thuởng thức “cái no”, cho nó sướng đời một cái! Thế là cả một dự tính, và tôi quyết tâm thực hiện. Tự nhiên, trong dạ cũng thấy hưng phấn, đầy hy vọng chờ cho tới bữa cơm sáng hôm sau.
Vì có mục đích, nên tôi thấy cái đói hình như cũng đỡ cào cấu trong ruột. Khi lấy cơm vào, tôi đổ bát ra một cái khăn, chiếc khăn này làm bằng hai miếng giẻ to trong…nhà cầu, tôi đã vò kỹ nước và khâu lại. Tôi nhúng tay vào gáo nước rồi hì hục, thận trọng, nắm khăn chặt lại. Chỉ thỉnh thoảng có hạt cơm nào vô tình rơi ra, tôi mới cho phép mình…ăn. Tôi túm lại, lấy một sợi chỉ buộc, rồi treo lên cái que nhỏ cắm ở lỗ đinh trên tường. Xong, tôi quay lại húp hết bát canh, rồi chờ đem trả bát. Trả bát xong, lúc đó cũng phải 10 rưỡi, 11 giờ. Khi quản giáo cùm xong, tôi nằm xuống. Trước khi nằm, tôi ngồi nhìn nắm cơm treo lủng lẳng ở bờ tường trước mặt, như gửi gắm với nhiều hứa hẹn là chiều nay sẽ có một bữa căng bụng. Sẽ được thấy cái cảm giác “no”…ra làm sao, mà lâu ngày tôi đã quên rồi.
Tuy nằm, nhắm mắt, nhưng làm sao tôi ngủ được, chả có cái cóc khô gì trong bụng cả (có chứ, có một tí nước canh, và mấy ngọn rau muống già, đểnh đoảng nấu muối). Chắc có vài chú giun cũng đang lồng lộn dãy dọn trong ruột tôi, vì phát ra những tiếng kêu “ò ọ” kéo dài như tiếng của thân những cây tre làng xiết vào nhau vì gió trong những trưa Hè oi nắng. Kế nữa là, bao nhiêu hy vọng đợi chờ, bây giờ sắp được thưởng thức, bảo sao tôi ngủ được. Tôi nghe từng tiếng thời gian đi, cho tới giờ cơm chiều để mà đã đầy thưởng thức, sau những giờ phút vặn ruột, co gan.
Chờ mãi, rồi giờ hạnh phúc ấy cũng phải đến. Phải nói, lúc ôm cái bô ra đổ, trên đường đi nhiều lúc mắt hoa, chân lảo đảo như uống rượu say; nhưng trong dạ dày đầy tin tưởng là hạnh phúc sắp và sẽ đến. Rồi, cho tới khi ra cầm bát cơm chiều vào, bấy giờ, với một cử chỉ hết sức trang trọng, như chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn để đón một người mà mình quý trọng nhất đời. Tôi vừa ăn, vừa nghe tiếng reo vui của quần chúng tế bào dạ dày, đón chào những hạt cơm no lành theo nhau vào nằm dưới đáy bao tử. Ăn hết nắm cơm buổi sáng, lại ăn bát cơm buổi chiều, phải nói rằng có căng bụng. Tôi cứ tưởng tượng dạ dày của mình lúc trước co dúm, nhăn nheo chỉ một tí. Vì lâu ngày có bao giờ được chứa theo khả năng của nó đâu, cho nên các tế bào đã co lại để hàng ngày đón nhận có một phần ba, hay một phần tư số lượng nó muốn. Hôm nay đột nhiên lại đón nhận một số lượng gấp đôi, nó cũng căng rồi. Nó phải làm việc khác ngày thường, nên nó thấy mệt. Vì thế, sau khi trả bát, cùm xong, tôi cũng phải nằm vật ra. Lần này, không phải vì đói, mà vì căng bụng. Hơi mệt, thở hổn hển, nhưng mà chao ôi, sao con người sinh ra trên cõi đời này lại có lúc được no sướng thế, lại được ăn những hạt cơm kỳ diệu làm sao!
Sau buổi ấy, tôi thấy sáng kiến đó quả là tuyệt vời; tuy nhiên cũng rất mệt người. Vậy, để thích ứng nhất, mỗi tuần tôi chỉ làm hai lần vào thứ Ba và thứ Sáu.
Tuần nào tôi cũng áp dụng, như thế, mỗi tuần tôi được hai lần đã đầy; có khi đê mê suốt đêm cho tới sáng hôm sau. Cũng có hôm bất chợt, tên cán bộ trực trước khi đóng chốt cùm, còn vào buồng ngó nghiêng một lượt; khi thấy một gói treo trên tường, y hỏi và bắt tôi lấy xuống cho y xem. Tôi lấy xuống và trả lời:
– Báo cáo, tôi đang ăn bị đau bụng, gói lại để chốc nữa khỏi đau sẽ ăn.
Tất nhiên, y làm sao hiểu được nỗi niềm và ý định của tôi.
Sáng hôm sau, lại là ngày Chủ Nhật, một Chủ Nhật đầu Đông. Xà lim lạnh ngóm, lại càng thấy vắng lặng hơn. Những trận gió Đông Bắc mò về sớm, từng đợt chui qua cửa sổ, lách qua mái ngói, gây ra những tiếng vi vu rền rĩ, càng gợi nỗi nhớ nhà đối với người tù. Tiếng “con mẹ chửi thuê” trên chạng ba của cây bàng ngoài sân trại đã bị tắt họng, không nói được nữa. Như thế là đã đến giờ hành chính (giờ làm việc) mà vẫn chả thấy tên cán bộ trực vào mở cửa cho tù ra đổ bô? Hàng tiếng đồng hồ trôi qua, xà lim vẫn yên ắng. Chắc các buồng khác cũng như tôi, cũng đang băn khoăn thấp thỏm vì sự bất thường này, nhưng đều chưa có lời giải đáp. Bỗng nghe nhiều những tiếng ồn ào, chuyện trò của một đám đông người gồm cả đàn ông, đàn bà đang đi vào, từ phía cổng xà lim.
Tôi hơi cau mày, vểnh tai nghe, và phán đoán. Khi nghe thấy tiếng mở cửa buồng số 2, rồi số 13, tôi đã hiểu. Đây lại là một phái đoàn tham quan nào đó, chúng đang bịp bợm đưa đến Hỏa Lò, nơi xà lim án chém.
Tôi đang nghĩ ngợi mông lung, đột nhiên một giọng miền Trung rành rọt từng lời:
– Kính thưa các đồng chí, nơi đây thực dân Pháp vô cùng dã man, tàn bạo đã dùng những loại cùm thế này để cùm các đồng chí Hoàng Văn Thụ và Trần Đăng Ninh. Hai đồng chí ấy đã kiên trì chịu đựng gian khổ, lấy máu xương để nhuộm thắm tình giai cấp. Hai đồng chí đã quyết tử, để cho đảng ta quyết sinh. Chúng ta ngày nay được thừa hưởng những thành quả của cách mạng vinh quang do máu xương của các đồng chí đã nằm xuống.
Một vài tiếng phụ nữ xụt xịt, rồi nức nở. Trong cảnh vắng lặng, tiếng nức nở làm xao xuyến xà lim. Nghe những tiếng xụt xịt run rẩy của mấy người phụ nữ, óc tôi miên man liên tưởng đến những phương pháp dắt, lái tư tưởng quần chúng của Cộng Sản thật đáng nể. Chúng áp dụng một phương pháp tinh vi và tuyệt vời, tạo những điều không có trở thành có theo ý muốn của các tên lãnh đạo.
Muốn có những người chảy nước mắt khóc lóc trong các cuộc biểu tình phản đối Mỹ, hoặc chính quyền miền Nam đã tàn sát (?) dân làng, đàn bà và trẻ em ở đâu đó, chúng chỉ cần phóng đại sự việc thành ghê tởm, thảm khốc.
Cụ thể như vụ Phú Lợi ở Biên Hòa chẳng hạn, trước đây, ở trên đài, trên báo, thậm chí ở các cơ quan nhà máy, chúng bắt quần chúng phải học tập, mổ xẻ phân tích nữa. Rằng thì là, trong một cuộc biểu tình của một huyện nào đó ở Nghệ An, để phản đối sự tàn bạo dã man của chính quyền Sài Gòn, chính quyền đã cho thuốc độc vào thức ăn để giết hại hàng nghìn tù nhân ở Phú Lợi. Chúng sẽ diễn tả quần chúng trong cuộc biểu tình đó đã phẫn uất vô cùng với nhiều tiếng gầm thét, la ó, kêu gào, đau xót,…thậm chí đã có nhiều đồng chí đảng viên trung kiên, nhiều đồng chí đoàn viên ưu tú, và một số cảm tình đảng, cảm tình đoàn đã dạt dào tình thương giai cấp, đã nức nở thương các đồng chí ở nhà tù Phú Lợi như người nhà ruột thịt của mình, v.v… Chúng ca ngợi, đề cao những người khóc đó mới thực là gắn liền thịt da vào giai cấp, v.v…Để rồi, bây giờ chúng tổ chức cuộc biểu tình đó ở Hà Nội, chúng cũng reo hò, gầm thét, đả đảo chính quyền miền Nam.
Trong số hàng ngàn, hàng vạn quần chúng này, sẽ có nhiều đảng viên, đoàn viên, cảm tình đảng, đoàn, đang cuồng tín say sưa phấn đấu trong công tác, cũng như mong được vào đảng, vào đoàn. Vì trong lòng đang cuồng nhiệt, từ sự suy nghĩ, đến những xúc cảm tình giai cấp, tự ý niệm có thấy lòng xúc động và căm thù kẻ thống trị, mới là người của giai cấp vô sản thực sự; mặt khác, cũng để cho mọi cấp lãnh đạo thấy mình chính là người của giai cấp, cho nên tự nhiên thành xúc động “thật”, và nước mắt chảy ra. Rồi cũng nức nở như một số người khác vậy.
Như vậy, bây giờ sự “khóc” đã thành sự thật. Chúng đến gặp từng người, hỏi tên, phỏng vấn đưa lên đài, lên báo.
Chưa có sự thật, chúng còn làm ra thành có. Bây giờ, đã có sự thật rồi, chúng sẽ biết cách phát huy tối đa. Từ điểm đó, ta không lạ gì lắm khi xem những cuốn phim có nhiều người khóc nức nở để tỏ tình thương yêu những người bị tàn sát hàng loạt. Thậm chí, ta còn thấy những người đàn bà Ý, Pháp, Thụy Điển,…..khóc lóc, nước mắt chảy long tong, phản đối Mỹ đã ném bom tàn sát trẻ con, và đàn bà, v.v… Nhất là vụ Mỹ Lai sau này. Về mặt chính trị, điều này, chúng đã thu hoạch được những thành quả vô cùng to lớn. Những hình ảnh ấy có sức thu hút, lôi cuốn lòng người ghê gớm, và nhất là còn có…tác dụng dây chuyền.
Tôi phải thừa nhận, đấy là một nghệ thuật của chúng. Vậy, việc mấy con mẹ đang xụt xịt chảy nước mắt ở xà lim này, cũng không ngoài những tâm lý và điều kiện trên.
Mãi gần một tiếng đồng hồ, khi chúng đã đi ra rồi, cán bộ mới mở cửa buồng cho xà lim ra đổ bô. Nghe tiếng mở những chốt cùm, và đóng cùm ở các buồng, tôi chợt nghĩ, không biết các người tham quan lúc nãy có biết được xà lim này có 14 buồng. Vậy còn 12 buồng nữa, bên trong hiện giờ có bao nhiêu người đang bị những cái cùm của thực dân Pháp dã man ấy, khóa đôi chân không? Cho nên ở trên đời này, nhất là thời đại ngày nay, người ta lầm nhiều lắm, mà vẫn cứ đinh ninh là mình sáng suốt, đã biết rõ mới chết chứ!
Càng gần về trưa, trời càng sáng dần, có lẽ bên ngoài đã có mặt trời. Ban ngày về mùa Đông, ở miền Bắc, mặt trời hay nguợng ngập che màn, cho nên cảnh vật càng lạnh lẽo, đìu hiu.
Tiếng loa trưa đang ra rả nói về tên Nguyễn Đức Thuận nào đó, vì vậy, tôi lắng nghe. À! Chúng nó đang ca ngợi tinh thần kiên trì chịu đựng của Thuận trước sự đàn áp dã man vô nhân đạo, tàn ác nhất loài người, hơn cả phát xít Hitler, của chế độ Ngô Đình Diệm. Theo chúng, Nguyễn Đức Thuận đã bị giam hãm gần 3 năm trong xà lim buồng tối, thiếu thốn hết mọi thứ, đến nay mới được thả và chỉ còn da bọc xương. Nhân dân miền Bắc đang săn sóc, bồi dưỡng sức lực lại cho Thuận, để đồng chí Thuận sẽ viết lại những ngày gian khổ cùng cực trong bàn tay đầy máu của Ngô Đình Diệm, để tố cáo với thế giới loài người. Đó là một tấm gương bất khuất trong nanh vuốt của kẻ thù…
Hàng tháng trời, chúng cứ ra rả về Nguyễn Đức Thuận, y đang viết tác phẩm hồi ký “Bất Khuất”. Y là cán bộ trung ương, bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt. Sau gần 3 năm ở xà lim, chẳng hiểu vì sao bây giờ y được tha. Và được đưa về miền Bắc. Rồi cuối cùng, y làm Phó chủ tịch Tổng Công Đoàn, mà Hoàng Quốc Việt là chủ tịch.
Tôi không muốn nghe, mà cứ phải nghe, đầu tôi muốn nóng lên. Ít ngày sau, tôi đi cung, trên đài vẫn còn nói nhiều về tên Nguyễn Đức Thuận, với cuốn hồi ký “Bất Khuất” của y. Khi vào gặp chấp pháp, tôi chẳng sợ quái gì, tôi hỏi thẳng:
– Ở trên đài, dạo này, các ông đang nói về Nguyễn Đức Thuận bị chế độ vô nhân Ngô Đình Diệm bắt giam trong buồng kín xà lim gần 3 năm. Các ông bảo là Ngô Đình Diệm dã man tàn ác. Vậy trường hợp của tôi cũng đã gần 3 năm rồi, và còn chưa biết đến bao giờ thì sao?
Mắt tên Thành quắc lên. Từ trước, y vẫn là người có vẻ có cảm tình với tôi, chưa bao giờ nổi nóng như vậy. Y đập mạnh tay xuống bàn:
– Anh không được nói láo? Anh dám ví anh với người cách mạng à?
Thấy y nổi sùng, tôi im lặng, rồi nhỏ nhẽ nói:
– Thưa ông, tôi không bao giờ dám ví tôi với ông Nguyễn Đức Thuận. Nhưng, tôi thấy ông Nguyễn Đức Thuận ở cấp Trung Ương Đảng, mà Ngô Đình Diệm bắt được lại còn thả ra, cũng như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Đào Sĩ Chu, v.v…đều đã bị bắt, nhưng rồi cũng đã được Ngô Đình Diệm thả hết. Có lẽ, vì ông Diệm thấy họ là cán bộ Trung Ương của đảng, nên không dám giam lâu. Tôi thắc mắc, không biết, nên hỏi ông vậy thôi. Chứ tôi là loại “tép riu”, đời nào tôi dám ví với ông ấy.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.