Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Đời hoạt động của người nữ gián điệp…bất hạnh!

Đặng Chí Bình

Bài 21 

Những ngày đầu thuật lại chuyện, nước mắt chị Bắc vẫn cứ vòng quanh. Nhìn dáng chị đứng viết, thỉnh thoảng chị quay lại, đôi mắt đỏ hoe, tôi có cảm tưởng như chị kể lể nghẹn ngào. Nội dung sơ lược như sau:

………………………………………….

“Đời hoạt động, bây giờ bị bắt, đã là không may rồi; nhưng, ngay đời tình cảm của tôi cũng đầy nước mắt đau thương. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả ở ngoại thành Hà Nội. Tôi là nữ sinh Trưng Vương của những năm 1948-1949. Bấy giờ, tôi đang yêu một nam học sinh trên tôi 3 lớp. Khi đó, tôi đang thi Trung Học Phổ Thông và anh ấy thi phần II Tú Tài. Chúng tôi đã yêu thương nhau hơn 4 năm rồi. Anh đã được gia đình tôi công nhận. Vì vậy, thường xuyên hàng tuần, thậm chí, hàng ngày anh vẫn đến kèm dạy thêm cho tôi. Chúng tôi và gia đình đều đã có ý định chờ anh và tôi thi xong sẽ làm lễ cưới. Hai ngày sau khi thi đỗ, như mọi lần, anh đạp xe đến thăm tôi. Lúc về, trở ra tới đầu phố, chẳng hiểu thế nào mà, anh bị một chiếc xe GMC cán vỡ óc, chết ngay, còn chiếc xe đạp cũng bị gẫy đứt đôi.

“Được tin sét đánh, tôi tưởng như trời sập. Tôi đã định tự tử theo anh, nhưng nhiều lần đều bị gia đình ngăn cản. Dù chưa cưới, nhưng tôi quyết xin gia đình cho tôi đưa đám anh, như một người vợ. Sau đó, tôi nguyện khép chặt cửa lòng, quyết định suốt đời sẽ không lấy ai nữa, bỏ ngoài tai những lời khuyên nhủ của bố mẹ và bạn bè.

“Tôi đã xin về một vùng quê xa xôi ở Hưng Yên, rồi Bắc Ninh để dạy học. Gần hai năm tôi sống thu mình như một nhà tu hành. Lấy các em học sinh làm nguồn vui của đời. Tôi cương quyết khước từ nhiều người tìm cách rấp ranh, muốn xây dựng gia đình với tôi. Tôi cũng tưởng như vậy là yên thân. Nhưng, chiến tranh đã không để cho các em học sinh được yên lành đi học. Thành ra, tôi cũng chẳng còn chỗ để dung thân, đành lại trở về Hà Nội.

“Khi ấy là 1952, chiến tranh ngày càng ác liệt. Một đêm, tôi không ngủ được, và chợt tìm thấy một hướng đi cho đời mình. Đó là, vào quân đội. Mấy ngày sau, tôi thực hiện ngay ý định của mình, dù gia đình có ngăn cản. Là con gái, lại có bằng Trung học Phổ thông, mà anh đã biết, bằng “Diplôme” của 1952 về trước, cũng có nhiều giá trị lắm. Cho nên, quân đội rất hoan nghênh, ưu đãi tôi. Chỉ phải 6 tháng huấn luyện quân sự sơ sơ, tôi đã được đeo lon Thiếu Úy, làm việc văn phòng trong bộ Tổng Tham Mưu.

“Quân đội là nơi thu hút biết bao những người anh hùng, những nhân vật lỗi lạc tài hoa của đất nước. Nhất là lại ở bộ Tổng Tham Mưu, nơi có đủ mọi binh chủng, có đủ mọi loại quái kiệt, xuất chúng. Cho nên, tôi, một cô gái Thiếu Úy, tuổi mới 22, 23; không “đổ” với nhân vật này, rồi sớm muộn cũng “đổ” với nhân vật tài hoa khác. Cho nên, cuối cùng, trái tim sắt đá, cánh cửa lòng đã định mãi khép chặt, nay đành mở toang, để đón nhận một nhân vật hào hoa mã thượng, là Thiếu Tá Trần Ngọc Tính.

Trái tim tưởng như khô cằn, hết nhựa tình yêu từ khi mối tình đầu tan nát, bây giờ lại chảy tràn trề nhựa sống, cho mộng tràn gối chăn, cho tình tràn trước ngõ. Để rồi, một đám cưới linh đình hoa bướm với xá pháo đỏ ngập sân…

Đùng một cái, đất nước chuyển mình, Hội nghị Genève ký kết. Lúc này, bụng đã có mang 4, 5 tháng, tôi được điều động sang bộ  phận đón rước và lo di chuyển cho gia đình binh sĩ di cư vào Nam. Tôi nỗ lực, tích cực công tác lo cho thân nhân, gia đình, vợ con quân đội, nên thường xuyên đi ra, đi vào giữa Sài Gòn và Hà Nội. Cũng giai đoạn này, nhà tôi được chuyển vào Nam và được thăng lên cấp Trung Tá. Tôi miệt mài công tác, cho tới khi trở dạ sinh được một cháu trai mới tạm nghỉ. Cháu trai thật xinh và bụ bẫm. Tôi và anh Tính đặt tên cho cháu là Trang; Trần Ngọc Trang.

Tôi những tưởng do mình ăn chay, ở lành, ngày ngày cầu xin Trời Phật độ trì, cho nên Trời Phật đã đền bù cho tôi một cuộc sống tràn trề hạnh phúc giữa thế giới tự do. Nhưng cũng bất ngờ, lại một tin sét đánh nữa đến với tôi. Trong một chuyến công tác, chồng tôi cùng hai, ba người nữa lái chiếc xe “díp” lên Đà Lạt; rồi không hiểu vì sao, trên một khúc quanh, lại gặp trời ẩm ướt, chiếc xe đã bị lao xuống vực thẳm. Hai người bị thương nặng; hai người bị chết, trong đó có chồng tôi.

Tôi như điên rồ, gào thét, vật vã mấy ngày đêm. Nếu không vì giọt máu của tôi và anh ấy cỏn đỏ hỏn, lần này, tôi không thể sống được nữa. Tôi còn thiết gì cõi đời đầy máu và nước mắt này. Tôi quá ư đau đớn! Ruột tôi đêm ngày như vặn xé, đứt ra từng khúc. Vì vậy, cho dù bao nhiêu lời khuyên giải, bao nhiêu lời úy lạo của quân đội cũng như chính quyền, tôi đều bỏ ngoài tai. Tôi không cần biết thế giới này tự do hay Cộng Sản, tôi cũng chẳng còn ý niệm về chính trị cũng như con người.

Lúc này, cũng sắp hết hạn 300 ngày di cư của Hải Phòng. Tôi đã như một người điên, không còn đủ sáng suốt nghĩ suy, quyết định ôm con trở về Bắc với gia đình tôi. Sống, chờ đứa con khôn lớn, rồi tôi xin thí phát ăn mày cửa Phật. Tôi gạt hết mọi lời ngăn cản của bạn bè, ngay của chính quyền cũng như quân đội. Cuối cùng, vì thấy tôi đau khổ quá, họ cũng đành ngao ngán thở dài, để mặc tôi ôm con trở về quê cũ.

Tôi trở về Hà Nội. Trên đường đi vì có con dại, nên tôi không gặp khó khăn gì. Tôi về sống với bố mẹ và họ hàng ở khu lao động Thịnh Hào, ngoại ô thành phố Hà Nội

Tôi trình bầy tất cả sự thật đời tôi với nhà cầm quyền địa phương của Cộng Sản. Vì đấy là thực tế, họ cũng thấy rằng cuộc đời tôi quá nhiều đau thương về mặt tình cảm. Thêm nữa, ở địa phương, hầu như suốt ngày đêm, tôi chỉ quấn quít với con tôi, cho nên họ cũng để yên, không làm phiền hà gì cả. Nhưng, điều chính mà sau này tôi mới biết, là vừa về chiếm lại nhiều thành phố, nhiều xóm làng, Cộng Sản còn nhiều công việc khác to lớn, cấp thiết hơn phải lo, cho nên chúng mới để cho tôi sống yên thân. Mặt khác, càng những năm sau này, các em, các cháu tôi phải đi nghĩa vụ quân sự. Vậy là gia đình ngày càng có nhiều người trong hàng ngũ Cộng Sản. Vả lại, chính tôi, để được yên thân, ngay trong địa phương tôi cũng tỏ ra tích cực họp hành, học tập, tham gia mọi sinh hoạt v.v… Tôi cũng chả cần biết thế giới này ngược hay xuôi nữa. Cuộc đời tôi cứ thế đều đặn như vậy theo thời gian trôi đi, cho mãi tới đầu 1960. Lúc đó, cháu bé đã 5 tuổi, đã bắt đầu cắp sách đến trường.

Vào giai đoạn này, có lẽ đám đầu não Tình Báo miền Bắc, phát hiện được ra tôi như là một người có đầy đủ điều kiện và khả năng, chui được vào trong giai cấp lãnh đạo của chính quyền miền Nam để hoạt động: – Đào Thị Bắc, một phụ nữ đã từng làm việc ở bộ Tổng Tham Mưu, bản thân lại là cựu sĩ quan, có chồng là trung tá Trần Ngọc Tính. Như vậy, thiếu gì bạn bè, những bạn bè quen biết trước đây, ngày nay, hẳn có người đã leo lên nhiều chỗ đứng cao của quân đội, cũng như của chính quyền Sài Gòn. Một chỗ dựa, một thế đứng vững chắc. Không còn một “miếng mồi” nào tốt hơn miếng mồi Đào Thị Bắc.

Từ chỗ chúng tìm tòi nghiên cứu để nhận định, đến khi đã thấy rồi, chúng chỉ còn bắt tay thực hiện. Chúng nghiên cứu tỉ mỉ tư tưởng, cuộc sống của Bắc qua những đoàn thể địa phương, và chính quyền sở tại. Khi đã phân tích nắm được chỗ ưu, chỗ nhược của Bắc rồi. Tùy theo điều kiện, chúng lựa dần dần bằng nhiều hình thức khác nhau, từ nhiều phía khác nhau, để đi đến với Bắc. (Tới đây, chị Bắc không xưng là “tôi” nữa, mà chỉ viết xưng tên).

Sau nhiều lần gặp, cuối cùng chúng ngỏ ý, với những lời phỉnh phờ, dụ dỗ, khích lệ có nghiên cứu. Nào là, Bắc đã thích cách mạng nên với về với cách mạng; nào là, Bắc là một người dân thì, phải có trách nhiệm với đất nước, với cách mạng, v.v…và v. v… Nghĩa là, trong cái thế bị chi phối từ nhiều phía, Bắc đã phải đồng ý để chúng tuyển mộ và huấn luyện những bài học cần thiết, về hoạt động tình báo.

Sau gần một năm huấn luyện bí mật, nghiên cứu thực tập nhuần nhuyễn vỏ bọc, cũng như các đường dây liên lạc, Đào Thị Bắc đã được Tình Báo miền Bắc tạo điều kiện hợp lý, hợp tình, để ôm đứa con 5 tuổi vượt tuyến vào Nam. Lý do vượt tuyến, rất đơn giản hợp tình, hợp lý đó là: tuy đã chán hết mọi sự đời, ôm con về Bắc, tưởng được sống âm thầm, yên ổn nhưng, vì điều kiện xã hội miền Bắc nên cũng phải lao động, làm thợ may trong một hợp tác xã và tham gia hầu hết các buổi học tập của xóm giềng. Nghĩa là tỏ ra tích cực để được sống yên nhưng, dần dần, càng ngày càng bị để ý. Những tên công an xóm, xã dùng đủ mọi hình thức o ép, đe dọa. Hơn nữa, cuộc sống cũng mỗi ngày một khó khăn, không thể chịu đựng nổi được nữa, nên nhen nhúm dần tư tưởng trốn trở lại miền Nam đã lâu. Mãi tới dịp này, khi gặp thời cơ thuận tiện đưa đến, mẹ con đã luồn lọt, cuốn gói ôm nhau lội sang bên kia bờ sông Bến Hải. (Tất nhiên, những “khâu” này, chúng đã phải dàn dựng như thật, và “lô gích” nữa). Khi đã qua sông Bến Hải rồi, giai đoạn đó, bất cứ ai vượt tuyến cũng đều được đón tiếp để đưa về Huế, rồi đưa vào Sài Gòn ở trại đón tiếp đồng bào vượt tuyến bên Gia Định.

Đúng như mọi dự tính của tình báo Hà Nội. Ngay khi vào tới Sài Gòn, Đào Thị Bắc, đã được nhiều bạn bè khi nghe được tin, đã sang trại đón tiếp đồng bào vượt tuyến Gia Định để thăm hỏi. Trong đám này, có Trung Tá Xuân là bạn của Trần Ngọc Tính và Bắc ngày xưa. Cũng chính Trung Tá Xuân đã bảo lãnh và đón mẹ con Bắc ra trại, về một cư xá sĩ quan ở tạm. Trung tá Xuân cũng là một nhân viên…Tình Báo của Sài Gòn…

Đến đây, chẳng hiểu vì tư tưởng của Đào Thị Bắc thích thế giới tự do, hay vì nghệ thuật khai thác, móc nối của Tình Báo Sài Gòn cao tay, cuối cùng Đào Thị Bắc đã khai báo hết sự thật với Tình Báo của Sài Gòn, mà đại diện là Trung Tá Xuân.

Tình Báo Sài Gòn, cũng nằm trong lề lối chung của chính quyền miền Nam, là làm việc, hời hợt, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc của mình; ưa hình thức đao to, búa lớn, nhưng bên trong rỗng tuếch. Như vậy, làm sao tìm ra được một kế hoạch hoạt động tinh vi. Một kế hoạch mà muốn thành công, đòi hỏi phải nhiều tâm sức, vắt óc tính toán, mổ xẻ phân tích nhiều ngày đêm. Thậm chí, ăn sẽ không ngon, ngủ sẽ không yên nếu chưa tìm tòi nghiên cứu được một kế hoạch thỏa đáng! Hoặc, sẽ đau đầu, nhức óc, về việc tại sao công tác vừa qua lại bị thất bại! Nhân viên, bị bắt, bị chết! Phải coi nhân viên đó như ruột thịt của mình. Luôn luôn phải đào sâu, xét kỹ từng vấn đề để rút tỉa kinh nghiệm.

Những người chịu trách nhiệm của cơ quan tình báo phải làm việc theo phòng cách: vì việc nước, phải gửi, phải phái người anh, người em, người con mình vào đất địch để hoạt động. Nếu người anh ấy, người con ấy bị bắt, bị chết, thái độ của mình sẽ ra sao? Từ đấy sẽ thấy là, phải coi việc nước như việc nhà.

Tóm lại, với cách làm việc, với lề lối phong thái như trên, làm sao có được một kế hoạch tốt. Cá biệt, có điều gì thành công, hầu như phần lớn là do may mắn mà thôi. Hay, nói theo cách thông thường, là hôm đó, hay lúc ấy, “trời đi vắng”!

Chính vì vậy, khi thấy Đào Thị Bắc khai báo, hay nói đúng ra là thú hết những âm mưu, ý đồ của Tình Báo miền Bắc, Tình Báo miền Nam đã vội vàng ra cái vẻ “tương kế tự kế”, bí mật tuyển mộ lại Bắc. Tất nhiên, lại phải huấn luyện theo “lò” Tình Báo của Sài Gòn. Rồi, một mặt vờ cung cấp một số tin tức không phải thiết yếu để hòng “thả con săn sắt, bắt con cá rô”. Một vài năm sau, cố vờ tạo lên một sơ hở của Bắc để SàiGòn nghi ngờ, nghĩa là thúc ép tình báo Cộng Sản là “động rồi đấy, hãy đưa Bắc về Hà Nội đi; nếu không, SàiGòn sẽ bắt”.

Phần vì, đánh giá khả năng của đối phương qua đôi dép râu, qua bộ quần áo cà quỷnh; rồi nhìn từ chỗ đó, để suy ra những khả năng khác của kẻ thù; nên đã không thấy một điều quan trọng thiết yếu của Cộng Sản: Chủ trương của chúng là “chỉ dùng người ngu”. Dùng những thuộc hạ chỉ biết nghe lời. Dù người lãnh đạo có ra lệnh lầm, thuộc hạ cũng cứ cắm cúi thực hiện. Không có, và không cần loại thuộc hạ bàn ngang, tán láo. Loại thuộc hạ này không làm được gì cả. Cứ nhìn những thuộc hạ đầy ngu ngốc, đầy cà quỷnh, đầy ngây ngô, khỉ mán trong rừng…mà quên đi là những tên lãnh đạo trong bộ chính trị của chúng là những tên cáo già, chỉ ngày đêm nghĩ suy, tính toán. Không phải một vài tên, mà là 15, 16 tên như vậy. Hầu như chúng đã thấy trước được nhiều vấn đề (sau này, tôi sẽ minh chứng cụ thể). Một bộ óc trong cái tập thể ấy, sẽ không kém gì một bộ óc khôn quái của chúng ta. Ba cái đầu, hơn một cái đầu. Ở đây, 15, 16 cái đầu chắc chắn phải hơn một cái là ông Tổng Thống. Huống chi, những cái đầu của những vị nguyên thủ phía ta, đến quá nửa thời gian lại dành cho hưởng thụ, phục vụ cho những tham vọng cá nhân và gia đình. Như vậy, làm sao đặt để được một kế hoạch thấu đáo. Làm sao chống lại được Cộng Sản miền Bắc, mà không phải hết cầu cứu với ông lớn nước này, lại cầu cứu với ông lớn nước khác! Nếu các ông ấy không giúp, tất yếu là …đổ.

Tóm lại, về tình huống của chị Đào Thị Bắc: nếu đầu não của Tình Báo Sài Gòn là người hiểu biết kẻ thù, phải thấy ngay là, những loại người như Bắc, không bao giờ Cộng Sản tin dùng cả. Chúng chỉ dùng theo thời gian, theo những yêu cầu đòi hỏi của những giai đoạn ấy; rồi sau đấy; sẽ cho phép “ngồi chơi xơi nước” nếu làm tốt cho chúng. Còn, trong quá trình công tác, lại có gì sai trái, tùy theo mức độ chúng gạt luôn, hoặc cho vào “ấp”. Chúng không tin Bắc, đã không tin, chúng phải theo dõi, để ý. Chỉ cần một hiện tượng không bình thường là chúng đã phát hiện ra ngay rồi. Như thế, cố gắng đẩy chị Bắc về miền Bắc, chẳng khác gì đẩy chị vào tù, hay nói khác, đẩy Đào Thị Bắc vào chỗ…chết!

Như vậy, người lãnh đạo Tình Báo miền Nam lúc ấy, phải nhận một trong hai khuyết điểm sau:

– Chưa đủ hiểu sự tinh quái của Cộng Sản.

– Hiểu, nhưng vẫn còn đẩy Đào Thị Bắc đi. Một là để lấy tiếng vang, hoặc may ra có kết quả. Còn nếu không, chết, mặc xác; tù rục xương cả cuộc đời, cũng không cần biết!

Nếu là khuyết điểm trên: còn gì để nói nữa (!). Chiến đấu với kẻ thù mà không đánh giá được kẻ thù! Còn nếu là khuyết điểm ở dưới: người chỉ huy vô nhân đạo. Bất cứ một nhà nước nào, một tổ chừc nào, một cá nhân nào, làm việc không có hậu như vậy, sớm muộn sẽ bị thất bại, đổ vỡ.

Đào Thị Bắc, từ tim gan, ruột phổi cho đến giòng máu đang chảy trong cơ thể là người quốc gia, nghĩa là Bắc là con ruột của ta. Con ruột mà ném vào miệng cọp thì thật là hết ý! Vậy, không thể lấy lý do mượn tay kẻ thù, để trừ đi một người ta cần chặt bỏ. Riêng tôi, khi xem chị Bắc viết thuật đến đây, tôi hiểu Tình Báo Sài Gòn mắc cả hai khuyết điểm trên, cũng chỉ vì lề lối làm việc hời hợt.

Trở lại sự việc Đào Thị Bắc:

…Cho tới đầu năm 1965, theo kế hoạch của miền Nam, chị Bắc báo cáo với Cộng Sản là đã bị lộ. Sài Gòn đã nghi ngờ. Sau một thời gian bảo Bắc đợi lệnh, cuối cùng, vào đầu tháng 5, lệnh từ Hà Nội cho Bắc về. Tất nhiên lại một sự dàn dựng của cả hai bên để Bắc rời Sài Gòn về miền Bắc…

Khi chị Bắc qua sông Bến Hải thì được đưa tuột về ngay Hà Nội. Chúng đưa chị đến ngôi nhà số 23 phố Hàng Đường, lên một căn buồng ở trên gác, phía dưới là một cửa hiệu quốc doanh. Khi vào trong buồng, chúng đưa cho chị một tập giấy, bảo chị hàng ngày hãy viết lại tất cả mọi sự việc từ khi vào Nam: làm những cái gì, giao thiệp với những ai, đi những đâu…một cách chi tiết.

Chị bị coi như giam lỏng, giấy tờ chúng thu hết với lời khích lệ là viết tốt, viết xong mới cho về với gia đình.

Gần một tháng trời cặm cụi viết, khi viết xong, nộp cho chúng rồi, chị tưởng là chỉ hai, ba ngày nữa sẽ được cho về thăm gia đình. Nhưng, chúng đã mắng, đã nạt nộ chị, là chúng đã biết hết mọi sự thật. Thậm chí, chúng đưa và nêu cả hình ảnh, chứng cớ. Thế là chị Bắc đành phải khai báo sự thật. Là Sài Gòn đã tuyển mộ chị, huấn luyện chị. Và, tương kế tựu kế, để chị về Hà Nội, nằm trong tổ chức Tình Báo miền Bắc, hoạt động cho Sài Gòn v.v… và v.v… Khai, viết xong một lần nữa, chị bị chúng đưa thẳng vào buồng số 6, mà tôi đã gặp.

Trong suốt những lần đứng viết thuật lại mọi sự việc cho tôi, lúc nào nước mắt chị cũng lưng tròng, nét mặt đầy vẻ khổ đau. Chị cũng hiểu, đời chị đến đây là hết! Chị không còn thiết bất cứ một điều gì trên cái cõi đời này. Nếu trong chị còn le lói chút ánh sáng nào, đó chính là giọt máu duy nhất của chị và của người chồng kính yêu. Cháu vẫn còn ở miền Nam, năm nay đã 11 tuổi rồi, hiện nay đang sống với một người họ hàng ở đường Phan Thanh Giản. (Bây giờ, tôi không thể nhớ rõ số nhà là bao nhiêu nữa).

Từ lúc, chị biết tôi cũng là người của chính quyền miền Nam, lại cùng gặp nhau trong cảnh khốn cùng này, ánh mắt chị nhìn tôi đã thay đổi hẳn. Cũng là ánh mắt ấy, nhưng trước đây mỗi khi chị nhìn tôi, hãy còn cái nhờn nhợt của màu nâu, cái màu của nhiều rụt rè, băn khoăn, xa lạ; bây giờ, nó đã đổi sang màu xanh, cái mầu của thân thương, ruột thịt, người trong một nhà. Chính chị đã viết, đời chị lúc này đang như cánh bèo bị nước cuốn chìm nổi, dập vùi, chơ vơ lạc lõng, thế mà cơ duyên gặp được tôi. Cánh bèo ấy như được dạt vào đám bèo to; tuy rằng giòng nước vẫn còn đẩy đưa đám bèo này đi mãi…Thấy chị nghĩ như vậy, tôi cũng cố giả vờ ra vẻ là một đám bèo cho chị dựa: chứ thực ra, trong lòng tôi cũng mịt mùng chả biết đường đi ngả nào, còn đấy hay mất đi lúc nào cũng đâu có hay.

Một lần, sau khi cán bộ đã đi ra, tôi lại gọi chị đứng lên nói chuyện. Chị phàn nàn, băn khoăn là quần áo của chị bị mấy chỗ tuột chỉ và đứt mấy khuya áo, nhưng không có kim. Tôi cũng hiểu, gặp khó khăn, chị viết như vậy để kể lể, cũng chỉ như là san sẻ tâm sự; chứ chị làm sao có thể nghĩ rằng tôi lại có kim. Chiếc kim của tôi thực vô cùng quý giá, chẳng bao giờ rời khỏi mình tôi; nhưng với chị, tôi có thứ gì để tiếc chị nữa. Bởi vậy, tôi nói với chị là tôi có kim. Mắt chị mở to, miệng chị mấp máy như nửa tin, nửa ngờ, cho là tôi nói đùa. Nhưng, nét mặt của tôi đang nghiêm trang nghĩ cách nào để đưa được kim cho chị. Và, tôi đã tìm ngay được một cách. Tôi vội viết: “hãy ngồi xuống, chờ một tí”.

Tôi lấy cái kim ra, xỏ vào một sợi chỉ, buộc thắt lại. Nối hai, ba sợi chỉ dài độ 3, 4 mét, rồi buộc một đầu vào một đoạn cọng cuốn chổi thanh hao dài khoảng 2, 3 phân. Tôi trèo lên sàn, gọi chị và viết: “Hãy cúi sát xuống nền phía cửa. Tôi sẽ “búng” cái cuống chổi sang. Chị nhặt lấy kéo về. Còn muốn dùng chỉ thêm, ngay trong chăn của trại, cứ cách hai sợi, rút một sợi, không sao cả. Một cái chăn có thể rút được 15, 16 sợi chỉ, mỗi sợi dài trên 2 mét. Tha hồ khâu vá”. Sợ mất cái kim, tôi dặn chị, khi nào tôi ho hai tiếng, chị cứ việc khâu. Nếu nghe một tiếng ho, cất ngay đi. Tôi sợ cán bộ bất chợt đi vào, đứng rình thấy chị Bắc khâu, vừa bị tịch thu kim, lại vừa bị cùm nữa. Còn một tội to hơn là…phá hoại tài sản của xã hội chủ nghĩa.

Thế là chị có kim. Chị bắt đầu việc khâu vá, trong khi đó tôi gọi anh Nguyễn Lân, buồng số 4, đứng lên nói chuyện…

Khói bay vô mắt!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Con của máviết xong một bài văn, đôi khi đọc lại thấy cũng có cái trúng mà cũng có cái trật; nhưng điều mà con sắp nói ra lần nầy chắc chắn là trúng. Trúng trăm phần trăm! Cái đó là: Ai cũng có Mẹ, ai cũng có Má hết! Và ai cũng thương Mẹ, ai cũng thương Má mình sâu thẳm tận đáy lòng. Con cũng không là ngoại lệ!

Chiều cuối năm, quê người, năm hết, tết đến chợt nhớ Má, nhớ Ba biết bao nhiêu mà nói!

Nhớ năm 1964, ông Trưởng Ty Bưu Điện Ban Mê Thuột đương nhiệm, bất ngờ  ôm hết tiền trong két sắt, dắt vợ con mà dông tuốt qua Lào. Số tiền nghe đâu cũng khẳm, lên tới vài ba triệu, (lúc đó là rất lớn, vì vàng chỉ khoảng hai ngàn đồng một lượng). Đó là tiền của mấy ông chủ đồn điền cà phê trên cái xứ Ban Mê Thuột nầy gởi.

Ban Mê Thuột là đi 7 phút đã về chốn cũ, đi lâu hơn Pleiku được 2 phút, vì lớn hơn một chút. Mấy ông nhà văn, gốc lính, đến đây viết bài gọi tưng nó lên, là thủ phủ cao nguyên, nơi đóng bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Ban Mê Thuột viết tắt là B.M.T nên thiên hạ chơi chữ, đặt cho vài cái mỹ danh là ‘Bụi Mù Trời!’; vì tỉnh lỵ vốn nằm trên vùng đất bazan, đỏ quạch, sình tới ống chân, nhão hoét khi mùa mưa tới, rất tốt cho mấy đồn điền trồng cà phê. Mùa nắng, xe qua, cuốn theo từng lốc bụi mù. Xứ rừng, chim kêu, vượn hú, vui sao được? Nên còn gọi là cái xứ ‘Buồn Muôn Thuở!’

Sau cái vụ thụt kết rồi chạy của ông ‘thần’ nầy, mấy xếp lớn trên Tổng Nha Bưu Điện lo sốt vó, bèn điều một ông khác từ Sài Gòn lên trên ấy để sắp xếp, kiểm tra lại sổ sách coi ông Trưởng Ty cũ chính xác ôm theo hết bao nhiêu tiền, để biết mà bồi thường cho khách hàng ký gởi. Ông nầy không muốn đi, bèn xách giấy vô nằm nhà thương, né, vì sợ chết… do tình hình chiến sự ở vùng cao nguyên lúc đó đã bắt đầu ác liệt. Quốc lộ 14 từ Ban Mê Thuột đi Buôn Hồ, ngược về hướng Bắc lên tới phố núi cao, phố núi đầy sương, Pleiku, hay chạy về hướng đông, hướng biển, để tới Tuy Hòa bị VC cắt hoài bằng cách đắp mô, giựt mìn, phục kích công voa. Từ Sài Gòn ra Ban Mê Thuột phải bay bằng máy bay cánh quạt  DC-3 của hãng Hàng Không Việt Nam.

Ba bị điều đi, mấy ổng hứa: “Đi đi! Hai tháng rồi về!”, nên không thoái thác được, dù Ba Má rất đông con. Cả 7 đứa leo nheo lóc nhóc ở Cư Xá Bưu Điện Hai Bà Trưng. Ba đi, phải làm giấy ủy quyền cho Má tới cuối tháng là ra phòng lương bổng của Tổng Nha Bưu Điện lãnh một phần lương về để nuôi mấy đứa con. Nhà nghèo, chỉ có một đầu lương của Ba. Giờ còn phải chia hai. Nhà vắng Ba như thiếu cái cột cái, thiếu cái mái. Gió! Trống huơ, trống hoác!

Tới bữa, cơm không thiếu nhưng đồ ăn thì dè xẻn lắm! Có bữa không có đồ ăn luôn! Má phải nấu cơm hơi nhão rồi nén lại, cuốn vô mo cau, xong dùng chỉ tét thành từng khoanh như bánh tét cho tụi con chấm với nước mắm kho quẹt ăn mà trừ bữa. Hồi còn Ba ở nhà, Ba đi đánh máy mướn thêm, nên cũng có đồng vô đồng ra mà đắp đổi. Ba đi, nhà vắng, tiền cũng ‘hẻo’ theo luôn. Và Má dàu dàu buồn vì vắng chồng vốn đã quen hơi hướm! Sớm tối có nhau!

Mấy ông quan lớn, ăn trên ngồi trốc, thiệt không có chút từ tâm nào mà hiểu, mà cảm thông cho hoàn cảnh gia đình của cấp dưới! Mấy ổng chỉ lo cho thân mấy ổng mà thôi! Hứa hão là Ba đi chỉ hai tháng ; mà rốt cuộc Ba phải xa nhà, xa vợ, xa con hơn cả năm trời. Ở nhà chỉ Má, một mình, chèo chống!

Má thương con ăn đói, nên cuối tháng ra sở lãnh lương của Ba về, Má xuống cái tiệm bán bê thui nằm gần cầu Kiệu và chợ Tân Định mua đâu khoảng 300 gram thịt bê thui.  Về, má bắt chảo lên cho mỡ vào, xào với đậu phộng, bún tàu, củ hành. Dọn ra một dĩa, nhỏ xíu, lớn hơn bàn tay một chút. Vậy mà khói bay lên, thơm phức. Con chạy u ra chợ, mua về thêm bốn ổ bánh mì thiệt bự! Rồi Má kêu mấy anh em con xúm lại mà ăn!  Mà ngộ! Má không ăn gì hết! Hỏi: “Sao Má hõng ăn gì hết! Má!” “Ờ! Má xào, cái hơi nó lên no rồi! Tụi con ăn đi!”

Nhỏ khờ đâu biết Má nói vậy là để nhường mấy miếng thịt bê ít ỏi, bé tí teo đó cho đám con mình. Nên tụi nhỏ thiệt tình tranh nhau đớp láng! Dĩa thịt bò hết sạch, vẫn còn thòm thèm, ngẩng nhìn lên, thấy mắt má chớp chớp. Má nói bâng quơ: “Củi ướt quá, khói bay vô mắt Má!”

Sau nầy lớn lên, xa Má, xa Ba, con lập gia đình, rồi bận bịu lo cho vợ cho con. Nước mắt cứ chảy xuôi hoài vậy sao cà?  Rồi vợ chồng con cái bỏ nước ra đi. Và Má với Ba đều mất. Ngẫm lại! Có trả hiếu được đồng xu cắc bạc nào đâu để bù lại những ngày Má nhịn; cho đám con mình đỡ thèm ‘cao lương mỹ vị!’ Mà thiệt thịt bê thui xào đậu phộng đâu có phải là ‘cao lương mỹ vị’ gì cho cam ở cái đất nước Úc Châu này!

Cuối năm, quê người, vậy là con xa Má gần hai mươi năm rồi đó mà không về tảo mộ. Xin má đừng buồn! Con nhớ khói bếp quê nhà dữ lắm! Con cũng muốn về quê cũ, thăm mộ má, thắp một nén nhang để thưa với má rằng: Thằng con của Má ngày xưa giờ đây không còn đói nữa; mà phải nói còn hơn là no đủ. Là phủ phê, là thừa mứa! Hõng phải chỉ có tụi con không đâu mà bất cứ người nào, rất bình thường như làm hãng ở đất nước Úc nầy cũng y như vậy! Nếu con về tảo mộ má chắc là được rồi, chắc cũng có đủ tiền để mua vé máy bay, bay về với Má; nhưng về khi quê nhà mình vẫn còn tan hoang, con no đủ trong khi bà con mình vẫn chìm trong thiếu đói, thì trong tận đáy lòng con, con thấy mình hình như có lỗi với quê hương mình nhiều lắm đó! Má ơi!

***

“Chiều em đi chợ Footscray, mua dùm anh ba ký bê thui!”

Vợ con, hơi ngạc nhiên, hỏi lại: “Mua chi nhiều dữ vậy? Ăn hõng hết, bỏ tủ lạnh, thịt cũ lần sau ăn, hõng có ngon! Mà anh muốn ăn món gì?”

“Đừng có cãi! Mua cho anh ba ký! Tiền nè!

Vợ con nghe lời chồng sai, bèn cầm tiền te te, rẹt rẹt đi ra chợ. Về nhà, nó hỏi: “Anh muốn ăn món gì? Để em làm!”

“Thì bê thui xào củ hành, đậu phộng với bún tàu!”

“À! Bê thui xào lăn!”

Rồi nó bày ra thớt, thịt bê thui xắt nhỏ, vừa gắp, trộn với tương hột, nước cốt dừa, đậu phộng rang. Uớp thêm gia vị: hạt nêm, tiêu, đường, hành tỏi bằm, bột cà ri, bún tàu, nấm mèo, ớt tươi rồi thêm hành tây, hành lá, mò om! Đủ hết trơn hõng thiếu một món gì! Rồi nó xẹt xẹt, bật lò ga nghe cóc cóc, đặt chảo lên cho nóng, đổ dầu ô liu, hành, tỏi vào phi vàng, xào với bột cà ri. Thơm phức! Xong trút thịt vào chảo chung với nấm mèo, hành tây, nước cốt dừa. Lấy cái xạng mà xào tới xào lui! Nước từ cả ba ký thịt bê thui tươm ra, hơi sắc lại, là nó bắc xuống bếp. Đổ thịt bê thui lên từng cái một, trên một chồng dĩa chừng chục cái, rắc đậu phộng đâm dập dập; rồi ngắt mấy cọng mò om rắc lên mặt dĩa.

Con nhỏ nầy cũng biết nấu ăn quá chớ nhưng chắc ‘tài’ không bằng Má đâu! Con nghĩ vậy nhưng để trong bụng chớ nói ra làm chi cho nó tự ái! Phần hồi xưa, đói, má nấu đã ngon, con ăn cái gì thấy cũng ngon hơn bây giờ nhiều!

Móc ‘mobile phone’, gọi hai thằng con. “Hai đứa chở mấy đứa cháu về thăm ông bà nội chiều cuối năm nhá!” Nửa tiếng sau, hai chiếc xe lần lượt ngừng cái kịt trước cổng; mấy đứa nhỏ chạy ào vào nhà: “Hello! Ông Nội! Hello! Bà Nội! Cha! Thơm quá!”

Thằng con lớn, nịnh, đến bên, chép chép cái mỏ, nheo mắt hỏi: “Má cho tụi con ăn cái gì mà thơm quá tay vậy?” Thằng kế nói: “Bữa nay anh em mình trúng mánh ‘ăn’ rồi!”

Vợ con trả lời tụi nhỏ: “Ờ! Ba tụi con muốn ăn bê thui xào đậu phộng, củ hành với bún tàu đó mà! Người ta gọi là bê thui xào lăn! Vậy mà ổng hõng có biết gọi tên nó là gì!”

Vợ con dọn lên bàn, ê hề, cho mỗi người một dĩa. Con nói: “Dọn cho anh thêm hai dĩa nữa để anh mời Ba Má về ăn!” Sau đó với hai đứa con trai, hai đứa con dâu và bốn đứa cháu: “Thôi! Mấy đứa ăn đi!”

Rồi con khóc!  Đứa cháu gái nhìn con trân trân, ngạc nhiên hỏi: “What’s wrong? Ông Nội?”

Giựt mình, con trả lời: “Ờ! Khói bay vô mắt Nội đó mà!”

Nhưng ở đây xài bếp ga mà! Làm gì có khói! Phải rồi khói bếp của quê nhà!

Quê người, gia đình đông đủ chiều cuối năm, thức ăn ê hề, dư dả đến mức thừa mứa trên bàn; mà Ba Má đã mất hết còn đâu!

doanxuanthu

Huyền thoại bạn!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Theo từ điển, huyền thoại là một câu chuyện không có thật, kỳ lạ, hoàn toàn do trí tưởng tượng thêu dệt nên… Như bài “Huyền thoại Mẹ”của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chẳng hạn!

Còn huyền thoại bạn là tình bạn không hề có thật, theo nhân sinh quan của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, trưởng ban nhạc trẻ Phượng Hoàng vào những năm 60, không có bạn bè thân thích, nên sống cô đơn và chết trong cô độc.

8 giờ sáng ngày 11, tháng Năm, năm 2003, tại nhà  đường Hồ Hảo Hớn, phường Cô Giang, quận Nhứt – Sài Gòn, nhạc sĩ Lê Hựu Hà, (1946-2003), được phát hiện nằm chết trong phòng, xác đã bắt đầu phân hủy. Trong nhà đèn vẫn sáng, tivi vẫn mở, quạt máy vẫn quay! Đời vẫn trôi!

Phần số Lê Hựu Hà giống như lời tiên tri trong bản nhạc nổi tiếng ngày xưa “Hãy ngước mặt nhìn đời” của ông:

“Cười lên đi em ơi/ Dù nước mắt rớt trên vành môi/ Hãy ngước mặt nhìn đời/ Nhìn tha nhân ta buông tiếng cười

Ta không cần cuộc đời / Toàn những chê bai và ganh ghét .

Ta không cần cuộc đời/ Toàn những khoe khoang và thấp hè .

…Yêu thương gì loài người/ Ngoài những câu trau chuốt với đời

Ngoài những toan tính trong tiếng cười/ Và những âm mưu dọn thành lời

Ta chỉ cần một người/ Cùng với ta đợi chết mỗi ngày /Rồi hóa thân trong loài hoa dại / Để muôn đời không biết đớn đau

Cười lên đi em ơi/ Cười để giấu những dòng lệ rơi/ Hãy ngước mặt nhìn đời/ Chờ ngày xuôi tay xong kiếp người!”

Xong một kiếp người sống cô đơn, chết trong cô độc, người nhạc sĩ tài hoa nầy đã về miền vĩnh cửu cũng tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Còn đối với Tổng thống Mỹ Donald Trump, tình bạn cũng là một huyền thoại!

Mới làm chủ Tòa Bạch Ốc được 8 tháng mà Hollywood đã tính dựng phim về cuộc đời của vị Tổng thống, xưa giờ và cả trong tương lai không giống ai và cũng không ai dám giống!

Nghe nói phim nầy sẽ do tài tử Mỹ Tom Hanks, chuyên trị tâm lý nhân vật cực kỳ phức tạp sẽ đóng vai Tổng thống Donald Trump!

Truyền thông Mỹ đặt cho Donald Trump biệt danh là: “Gã cao bồi đơn độc! Người biệt kích cô đơn!” Tức là không có bạn bè gì ráo trọi!

Thời niên thiếu, gia nhập học viện quân đội ở New York, ai cũng biết Donald Trump chỉ qua cái tên; vì Trump vốn con một đại gia ngành địa ốc; tuy nhiên các thiếu sinh quân nầy không ai biết rõ về Trump cả. Vì sau khi ăn tối cùng nhau là Trump ‘hô’ biến vô phòng riêng của mình, nơi Trump cảm thấy là nơi thoải mái nhất!

Rồi từ trường Fordham chuyển tới trường Đại học Pennsylvania, Trump không thèm nói một lời từ biệt, ‘good bye’ với bất cứ một ai.

Tốt nghiệp đại học, ra đời, về sống ở Manhattan, New York trong cao ốc của gia đình mình; quây quanh Donald Trump chỉ là những người thân cận nhứt trong gia đình.

Rất hiếu thắng, ai thân cận mon men tới gần đều bị Trump tìm cách tiêu diệt.

“Anh không thể nào kết bạn với ông ta. Ông ta tạo ra nhiều kẻ thù hơn là bè bạn!” Những người trong giới kinh doanh địa ốc đều cố gắng lánh xa Trump.

Trump không bao giờ cười trước lời nói đùa của kẻ khác. Cho dù tính hài hước là đức tính căn bản và cần thiết để có được tình bạn. Tình bằng hữu không có trong từ vựng của đời Trump.

Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình: “Ông có bạn thân không?” “Tôi có rất nhiều bạn nhưng bạn thân thì khó để nói là có hay không!”

“Vợ ông có phải là bạn thân nhứt của ông không?” “Bà ấy là người bạn lớn của tôi. Thân phụ tôi cũng vậy! Ngoài ra, tôi không tin ai khác!”

Các nhà tâm lý học bèn nhào vô lý giải, căn theo lời Trump từng tâm sự loài chim biển là: “Anh ấy (Freddy Trump Jr lớn hơn Donald Trump 8 tuổi) cả tin vào nhiều người quá! Một lỗi lầm chết người. Họ lợi dụng anh ấy; điều đó đưa đến việc anh ấy bị nghiện rượu và cuối cùng qua đời khi chỉ mới 43 tuổi. Đó là bài học của tôi. Đúng ra! Anh ấy đừng nên tin bất cứ một ai!”

“Xưng là bạn thì thực ra không phải là bạn! Họ cư xử như những người tốt, lịch sự nhưng sau lưng sẵn sàng rút dao ra, đâm sau lưng bạn!

Hãy nghĩ xa hơn để thấy rằng: Gọi là bạn bè mà chúng muốn cướp công ăn việc làm, muốn chiếm nhà, muốn cướp tiền và chúng muốn giựt luôn vợ của mình!”

Trump cho rằng thế giới nầy nhẫn tâm, tàn bạo, đầy thú tính; là một bọn ‘chó ăn thịt chó’! Trump bèn dựng nên một bức tường quanh mình và không cho phép bất cứ một ai xâm nhập!

“Tôi ghét dựa dẫm vào bạn bè. Tôi dựa vào sức mình là chánh. Người bạn thực sự là gia đình tôi!” “Có qua nhiều câu chuyện về người bị giết hại bởi kẻ mà họ đã từng hết lòng tin cẩn!”

“Tôi chỉ yêu tui thôi thế nên rất khó có người phụ nữ nào chịu làm vợ mình!” Chính vì vậy Trump có tới 3 đời vợ!

“Song thân tôi là những người bạn tốt nhứt!” Dẫu vậy, khi thân phụ qua đời năm 1999; thân mẫu một năm sau đó, Trump cố gắng không để rơi nước mắt vì Trump không tin nước mắt sẽ giúp ích được cái gì?

Đắc cử Tổng thống Mỹ, cầm đầu Hành pháp; nhưng bên Lập pháp, trong Quốc hội và ngay cả trong đảng Cộng Hòa của chính mình, Donald Trump không có ai là bạn cả. Chỉ là quan hệ trên công việc; vì lợi ích của đôi bên khác nhau quá xa!

“Nếu ở thủ đô Washington DC cần một người bạn thì hãy nuôi một con chó!”

Càng ngày Trump càng tự cô lập mình trong Tòa Bạch Ốc! Đây là tuýp người không chịu nghe ai khác bảo phải làm gì, nói gì, đi đâu, ai cần gặp, ai không nên gặp; ai có thể trò chuyện; không hoặc nên công du tới chỗ nào?

Donald Trump cố gắng tự kiểm soát lấy chính bản thân mình mà không cần ai khác dạy bảo! Thế nên các cố vấn thân cận của Trump muốn làm điều nầy trước hay sau đều thất bại cả!

***

Bây giờ Donald Trump là con người nắm giữ quyền lực nhứt trên thế giới. Là một trong những lời nguyền kinh hoàng nhứt (của những người chống Mỹ) đã trở thành hiện thực!

Trump từng nói: “Là một ngôi sao truyền hình, một người nổi tiếng, mình muốn làm gì cũng được mà! Có thể rờ rẫm, sờ sẫm, mò mẫm hôn hít mấy em! Làm gì cũng được hết ráo!”

Phụ nữ Mỹ cự nự quá xá trời; nhưng Floyd Mayweather, 40 tuổi, một võ sĩ quyền Anh huyền thoại, đánh 50 trận chưa thua, từng kiếm tới 300 triệu đô Mỹ trong cuộc thượng đài tỉ thí và thắng Conor McGregor gần đây, vỗ tay tán thưởng: “Ông ấy đã nói như một người đàn ông đích thực. Mọi người có thể không thích sự thật này, nhưng ai chẳng kích thích khi thấy một vòng ba nảy nở”.

Mayweather khoe khoang là: “Có ít nhất bảy bóng hồng bên cạnh! Vì chỉ có một bạn gái thì xem như chẳng có gì!” “Hãy nói chuyện với phụ nữ sau khi đã chốt cửa”!

(Tưởng cái gì, giàu cả vài trăm triệu đô như ông mà chỉ có 7 em cũng bày đặt khoe! Tui mà giàu cỡ đó, tui sẽ có gấp 10 lần chí ít là cũng 70 em; vì tui vốn già hơn sống hổng bao lâu, sẽ để lại gia tài… và tui vốn đẹp trai hơn! He he!)

Mã tầm mã! Ngưu tầm ngưu; nên Mayweather từng được mời dự lễ đăng quang Tổng thống Mỹ của Donald Trump vào ngày 20, tháng Giêng, năm 2016!

Rồi cả hai lại gặp nhau, chụp hình kỷ niệm chung, cười tí toét ở Tòa Bạch Ốc chỉ 8 ngày sau đó.

Thành ra giới truyền thông Mỹ nói Donald Trump cô độc, không có bạn bè là tui hổng có tin đâu nhe!

Riêng tui, tui rất sợ sống cô đơn; sợ không đứa nào chịu chơi với tui hết ráo vì cái tánh ‘cà chớn’ của mình!

Tui khoái chơi với bạn, nhứt là bạn nhậu. Tui chỉ ghét thằng bạn nào đi nhậu hoài với tui mà hổng chịu móc túi trả lần nào. Còn ngoài ra, tui đều khoái hết ráo!

Vì bằng hữu, từ Hán Việt, là bạn bè, thân bằng, hảo hữu, thân hữu. Tui khoái giao bằng kết nghĩa! Giao du bè bạn!

Chỉ cần: “Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ?” (Giao thiệp với bạn bè, có thành tín hay không?)

Bạn thân nhứt trong cuộc đời là quà tặng của phần số hên mới gặp; do ông Trời ông thương ổng khiến nó chịu chơi xả láng với mình!

Đó là người đầu tiên bạn nghĩ tới khi tính lập ra kế hoạch, làm một chuyện gì đó?

Đó là người đầu tiên bạn nghĩ tới khi cần người nói chuyện. Đôi khi bạn gọi cho nó mà không nhứt thiết phải có chuyện gì để nói; hoặc để thổ lộ chuyện quan trọng nhứt trong đời mà ngay cả con vợ bạn cũng mù tịt luôn. Nhứt là chuyện mèo chuột!

Khi bạn buồn, họ tìm đủ mọi cách để làm bạn vui. Họ là bờ vai cho bạn tựa vào thổn thức khóc hi hi! Hu hu!

Trong nhiều trường họp họ hứng lấy viên đạn đồng chữ nổi; bởi vì họ cực kỳ đau đớn khi phải nhìn thấy bạn bị bắn què giò.

Tay súng gầm lên: “Ta sẽ giết người bạn thân nhứt của nhà ngươi. Không! Hãy giết tui trước đi!”

Thân đến nỗi khi em yêu trốn đi với người bạn thân nhứt mà tui lại nhớ thằng nầy mới chết! “My wife ran off with my best friend and I sure do miss him!”

Kết bạn, tui chẳng nghĩ giàu nghèo gì ráo; chỉ cần biết nhậu (dẫu chỉ sương sương cho thắm giọng càng tốt; vì ít tốn tiền rượu) và biết nói dóc cho vui vẻ cả làng là được.

Có những lúc ta cần bằng hữu hơn cần cả gia đình. Bạn hữu hiểu ta hơn vì cùng lứa tuổi, cùng đương đầu với những rắc rối của cuộc đời rất giống như nhau.

Một người được coi là may mắn khi có được một người bạn chân thật. Vì vậy: Đừng bao giờ từ bỏ tình bạn thâm giao bấy lâu nay. Vì nó cũng như là rượu quý. Càng lâu càng ngon. Càng già càng tốt hơn!

Tui sẽ tốt hơn… còn bạn sẽ già đi!

Người bạn sẽ làm cuộc đời mình thêm nhiều màu sắc tuyệt đẹp. Thế nên cần sơn mới lại căn nhà là tui lại kêu một đứa đến!

Tui đã từng ân cần căn dặn những người bạn thân, là ‘ní’ của tui rằng:

“Khi bạn đang sa vào rắc rối và cần lời khuyên bảo: Hãy gởi tin nhắn cho tui nhe!

Nếu cần một người bạn nhậu hãy gọi cho tui. Mưa gió bão bùng, tui cũng sẽ trùm áo mưa, trốn em yêu mà đi nhậu với bạn!

Nhưng nếu kẹt quá, bạn đang cần tiền thì số điện thoại của tui không liên lạc được đó nhe.” He he!

Huyền thoại bạn với tui là có thực tới 100%!

Hữu thù bất báo… phi quân tử!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Hữu thù bất báo… phi quân tử!

đoàn xuân thu

Nhớ năm 72, sau khi học làm lính một khóa dài 9 tháng, ở Trường Bộ Binh Thủ Ðức, mấy thằng bạn lính của tui lên đường ra mặt trận thì tui lại được biệt phái về trường cũ để dạy học.

Chánh phủ mình hồi xưa quan niệm rất đúng đắn rằng: Dẫu đất nước vẫn đang còn chìm trong chiến tranh ác liệt thì cái học, cái tương lai của dân tộc nầy, bằng cách nầy cách nọ, phải được đặt lên ưu tiên ở hàng đầu!

Nên thay vì cầm súng, cái đám giáo chức, dứt cháo, trong đó có tui được chánh phủ gởi về trường cầm phấn…

Cầm cái sự vụ lịnh của Thiếu tá Nguyễn Văn Xin, Chủ sự Phòng Ðộng viên của Bộ Giáo dục, nằm trên đường Lê Thánh Tôn, thủ đô Sài Gòn về nhận nhiệm sở ở Cần Thơ.

Có lẽ 9 tháng quân trường chưa đủ lâu để làm tui bay đi mùi sữa ‘Babilac’, nên ông gác dan chận lại khi tui mới dợm bước qua cổng trường:

“Ê! Thằng kia! Chuông reo vào học đã lâu, giờ mới vác cái bản mặt tới. Chuyên đi học trễ không hà… mà còn hổng chịu mang hiệu đoàn nữa hè.”

Cha chả! Ông làm gác dan trường mà muốn nhảy lên làm thầy Giám thị một cách ngang xương hè?

Tui bèn từ tốn cắt nghĩa: “Tui đi học là hồi xưa kìa. Còn giờ tui đi dạy chú ơi!”

“Ủa! Thầy là giáo sư mới đổi về hả? Tui đâu có biết… Cứ tưởng học trò họ vè không hè! Thôi cho tui xin lỗi nghe!”

***

Hồi xưa làm Hiệu trưởng trường công lập cấp tỉnh là oai lắm. Phụ huynh gọi là ông Ðốc không hè. Cỡ mới ra trường như tui được ông Giám học tiếp đã là hân hạnh lắm rồi, đâu dám đòi hỏi gì hơn.

Nhưng chuyện đó với tui không quan trọng bằng cái chuyện điền tên vào bảng lương để cuối tháng lãnh lương. Vì có tiền mới có thực… Mà có thực mới vực được đạo của Thánh hiền phải không nào?

Ông Giám học xếp thời dụng biểu cho tui dạy lớp Ðệ tứ, nhưng tui cứ nằn nì là: “Thưa thầy cho tui dạy lớp Ðệ thất đi!”

Ông Giám học có vẻ không bằng lòng khi thấy tay thầy giáo lơ mơ và lơ ngơ mới ra trường nầy không kính nể cấp chỉ huy đúng mực, không tuân theo lịnh phân công, còn càm ràm xin xỏ lôi thôi nầy nọ nên dấm dẳn tra vấn tui là:

“Tôi xếp thầy dạy lớp Ðệ tứ là ưu ái cho thầy có nhiều cơ hội dạy thêm để kiếm tiền mà cưới vợ… Nhưng tại sao thầy cứ nhứt quyết đòi dạy lớp Ðệ thất vậy hả?”

Tui bèn kiên nhẫn và từ tốn trả lời cho ông Giám học rõ là: “Chẳng qua hồi xưa tui học lớp Ðệ thất tới hai năm nên có rất nhiều kinh nghiệm.”

***

Ngày đầu tiên nhận lớp, chưa kịp đặt đít ngồi xuống bàn Giáo sư, thì lấp ló ngoài cửa lớp có một phụ huynh dắt một thằng nhóc con xin phép được vào lớp. Tui bước ra chào đón thì: “Úy! Trời đất ơi! Người xưa của tui đây mà!”

Em cũng vừa ngạc nhiên đến sững sờ, vừa bỡ ngỡ che ngang vành nón lá, nói: “Nếu Thầy có nghĩ tới tình xưa nghĩa cũ dẫu không cùng nhau nên duyên mới lỗi cũng tại em, xin Thầy dạy cho cháu nên người! Ðừng có thù dai, thù vặt mà khẻ tay hay bắt nó quỳ gối tội nghiệp.”

Gọi em là người xưa! Chẳng qua hồi còn đi học, thằng anh ruột của em cũng là bạn tui, học hành siêng năng giỏi dắn ngồi chính giữa. Tui và một thằng nữa ngồi hai bên.

Cả hai đứa tui đều làm biếng học bài nên lúc nào thầy cô cho bài làm trong lớp là phải nhờ bạn hiền giúp đỡ bằng cách cho cọp dê.

Bù lại tụi tui sẽ hùn tiền đãi nó uống cà phê sữa đá ở quán Năm Dưỡng gần trường.

Có lần mang điểm bài thi về cho Tía tui ký tên rồi nộp lại theo yêu cầu của Giáo sư, Tía tui có vẻ hổng có hài lòng, nên cật vấn tui rằng:

“Sao điểm bài thi lục cá nguyệt của con thấp vậy?”

“Thưa Tía! Tại khiếm diện ạ!”

“Sao ngay ngày thi mà con lại khiếm diện, trốn học?”

“Dạ đâu có! Tại thằng bạn ngồi kế bên con nó nghỉ!”

***

Một hôm đến nhà tìm nó để rủ đi uống cà phê Năm Dưỡng thì người mở cổng cho tui vào là em gái của nó. Dịp may hiếm có nên tui cười he he mở miệng làm quen là: “Xin lỗi, Chủ Nhật vừa rồi hình như anh thấy em đi Sở Thú chơi phải không?” “Phải. Anh ở chuồng nào vậy?”

Câu trả lời thiệt làm tan nát lòng tui.

Mười năm sau, gặp lại, chắc em thấy tui được làm tới chức giáo sư ‘quèn’, em tiếc hùi hụi con chim ngày xưa, em ngu không bắt để bây giờ hồn em phải chìm trong phương trời viễn mộng! Cho đáng đời em! He he!

Rồi vài tháng sau, con em mang vào lớp cái thư phụ huynh mời tui đi ăn đám giỗ ông nội của nó!

Cái gì cái, được mời ăn là tui không bao giờ từ chối. Ðôi khi còn đến sớm sủa để khỏi phải ăn xà bần nữa kìa.

Ðón tui trịnh trọng trước cửa nhà là thằng chồng của em. “Úy trời đất ơi! Thằng chồng của em lại là thằng bạn học chí cốt của tui ngồi chung bàn năm cũ đây mà!”

Thì ra trong lúc tui tấn công em trực diện thì nó lại tiêu lòn, nước chảy đá mòn nhờ nhà nó giàu tiền giàu bạc, giàu vô thiên lủng, nên nó đem tiền ra mua chuộc tình em để biến tui thành một kẻ tình thua!

***

Vô bàn nhậu, làm sương sương vài ly là tui quên mất tiêu mối hận lòng năm cũ! Tui bồi hồi nhớ lại kỷ niệm xưa ở Sài Gòn, lang thang chợ đời, sau nhiều năm gặp lại ngoài đường, có lần tui hỏi nó:

“Ðậu Tú tài hai rồi mày tính đi thi vô trường nào vậy?”

“Tao hả? Thi vô Ðại học Y khoa, làm bác sĩ!”

“Ủa! Tao nhớ lúc trước mày tính thi vô Ðại học Kiến trúc mà?”

“Tại lúc trước ba tao còn làm bên xây dựng!”

“Còn sau đó?” “Ổng làm chủ trại hòm!”

“Nhưng ba tao cũng mất rồi! Tao là con một nên hưởng toàn bộ gia tài. Ăn cả đời còn chưa hết nhưng con vợ tao cứ khăng khăng đòi mở “phéc-mơ-tuya” để bán.

Ờ, tao nghĩ vợ tao, như mầy biết, vừa đẹp và có duyên ăn nói như nó mà mở “phéc-mơ- tuya” thì chắc chắn 100% đắt khách rồi, nên tui cũng tính chiều theo ý nó! Mầy thấy sao?”

“Ý mầy nói là vợ mầy muốn cái ‘pharmacy’ phải không? Chớ mở ‘phec mơ tua’ ra thì bán cái gì hè?”

***

Vài năm sau, mất miền Nam, VC đánh tư sản mại bản, nghe nói vợ chồng nó cũng lâm vào cảnh đói khổ như tui.

Vì gốc sĩ quan biệt phái, nên tui bị VC đuổi không cho dạy nữa, từ Cần Thơ tui trở về Sài Gòn cũng như vợ chồng nó từ vùng kinh tế mới trốn về vậy.

Một hôm, khoảng năm 78, 79 gì đó tình cờ gặp lại nó ngồi quán cóc uống cà phê trên lề đường Lý Thái Tổ, nó nói: “Sao tao thấy mầy suốt ngày mặc áo bỏ vô quần, giắt viết trong túi cầm sổ đi tà tà hoài vậy?” “À tao kiếm sống bằng ngòi bút!”

Thằng bạn tui gục gặc đầu, thán phục: “Sao làm nhà văn hay nhà báo?” “Ðâu có! Tao đi ghi số đề!”

Sau đó nghe đồn gia đình nó đã thuyền ra cửa biển!

o O o

Trong Luận Ngữ của Khổng Tử có câu: “Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ” (Khách từ phương xa tới mà không vui sao được!)

15 năm sau nữa, đó là tâm trạng của tui sau một cuộc vượt biển đầy hiểm nguy lại may mắn gặp người năm cũ.

Một chiều, rinh theo chai rượu đỏ, vợ chồng tui đến ghé thăm vợ chồng nó ở Footscray, Melbourne.

Ðứa cháu nội của tụi nó ra mở cửa xong, nó gọi vọng vô: “Bà nội ơi! Có ai gọi ông nội bằng thằng đến kiếm kìa!”

Và người xưa của tui, vợ của thằng bạn tui, ra mở cửa, thấy em yêu của tui trước, bèn cất giọng khàn khàn: “Nè! Cháu muốn hỏi thăm nhà ai?”

Tui bèn nói: “Bà xã của anh đó! Ở Việt Nam mới qua định cư được hai năm!”

“Sắc đẹp dẫu chẳng bằng ai. Chỉ thua người mẫu với chân dài” về nâng khăn, móc túi…

Phải em xưa đừng hỏi tui ở chuồng nào? Thì đôi ta đã chung một chuồng, cùng tóc bạc như nhau, sau bao năm vầy duyên can lệ!

Quá đã! Không có cuộc trả thù nào ngọt ngào cho cái đắng cay ngày cũ bị em hỏi anh ở chuồng nào cho bằng cái lúc nầy đây!

Ðúng là ‘hữu thù bất báo…phi quân tử’ diễn Nôm là có thù mà không trả thì “sẽ không lớn nổi thành người”!

BÃI ĐÁP “NÓNG”

Sherman Batman, MSG RET. Edited by: Robert L. Noe, Cpt. MACVSOG 

Vũ Đình Hiếu dịch

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Lời giới thiệu:

 Đây là bức thư Sherman Batman viết, gửi cho Gerald Denison, toán biệt kích Ohio, và một biệt kích SOG ngồi ghế sau phi cơ quan sát “Covey”. Bức thư viết ngày 6 tháng Mười Hai năm 1999, kể lại chuyến xâm nhập của toán biệt kích Illinois.

        Tôi không còn nhớ bãi đáp đưa toán biệt kích xâm nhập, nhưng rất “nóng” (có địch quân nơi bãi đáp). Bãi đáp để cho toán Illinois xâm nhập là một khoảng trống giữa đám rừng, cây cao và rậm rạp, nên phải thả rơi từ trên một độ cao xuống. Tôi đã đặt chân xuống càng (chân) trực thăng, chuẩn bị nhẩy xuống, bên cạnh là người xạ thủ đại liên M-60 sẵn sàng nhả đạn.

        Nhưng khi nhìn vào bên trong hàng cây xung quanh bãi đáp. Chúa ơi! Tôi chưa từng thấy lính Bắc Việt đông như thế. Họ đang tiến ra chỗ chiếc trực thăng đang đáp xuống. Lập tức, tôi nhẩy vào bên trong trực thăng và cùng với người xạ thủ đại liên nổ súng. Viên phi công trực thăng cũng vội vàng kéo cần lái cho trực thăng bốc lên cao.

        Chuyến xâm nhập này, tôi đem theo Joel Haynes làm toán phó (1-1, One-One) cho tôi vì ông bạn James M. Tramel “lạnh cẳng” viện cớ đau răng không đi được. Điều này không hoàn toàn đúng, anh ta có hẹn đi nha sĩ ở Pleiku (bệnh viện của quân đội Hoa Kỳ) ngày hôm sau. Hôm đó, anh ta ngồi trên chiếc trực thăng phụ “bay theo” (chase), để chứng kiến cảnh toán biệt kích Illinois “ị” ra quần nơi bãi đáp trực thăng.

        Trong lúc chiếc trực thăng “bốc” lên, tôi trông thấy khẩu đại liên .50 của địch bắn vào trực thăng. Người lính Bắc Việt xử dụng khẩu đại liên rất chính xác, anh ta cố tình “đem” chiếc trực thăng xuống cho một chuyến thăm viếng. Tôi chưa kịp thay băng đạn mới, chiếc trực thăng trúng nhiều viên đạn đại liên, tiếng đạn trúng vào trực thăng nghe rất rõ.

        Để trấn áp hỏa lực của địch, viên phi công, chuẩn úy Mehlman gọi trực thăng võ trang Cobra vào cứu, bắn xung quanh bãi đáp. Chiếc Cobra bay vào bắn hỏa tiễn làm cho địch im tiếng súng và chiếc trực thăng “slick” chở toán biệt kích bay thoát ra ngoài.

        Tôi ngồi dựa lưng vào thành máy bay, nghĩ lại những giây phút kinh hoàng vừa qua. Joel Haynes chìa mũi súng M-16 ra ngoài bắn xuống một phát, vỏ đạn nóng hổi văng vào người tôi. Theo phản ứng tự nhiên, tôi đứng bật dậy phủi áo cho vỏ đạn rơi xuống, rồi nhìn thấy cái bao tay của mình cũng đang từ từ rơi xuống mặt đất.

        Chiếc trực thăng trúng đạn lỗ chỗ khắp nơi, tôi không lo chỉ “tiếc rẻ” cái bao tay. Trước khi lên đường, tôi ghé nhà kho xin đôi bao tay mới. Bob Howard, một người rất nổi tiếng trên bộ chỉ huy Trung (CCC) Kontum, được thăng ba cấp bậc một lúc, từ trung sĩ nhất lên trung úy và sau đó được ân thưởng huy chương Danh Dự (Medal of Honor) cao quý nhất của người Hoa Kỳ. Bob nhắc nhở tôi “Batman! Đây là đôi bao tay thứ hai tôi cho anh trong vòng hai tuần lễ. Anh để mất nữa, về đây tôi sẽ đá đít!”… Tôi bật cười… Kỳ này về Bob Howard sẽ giết mình! Nhớ lại những lời của Bob Howard, làm tôi bớt lo, quên đi đám lính Bắc Việt nơi bãi đáp trực thăng.

        Câu chuyện chưa kết thúc ở đây. Chiếc trực thăng chở toán biệt kích Illinois vẫn phải bay về Việt Nam, đáp trong bãi đáp ngay trước cửa hầm quân y trên căn cứ hành quân tiền phương Dak To. Chiếc “slick” bay trên đầu ngọn cây khoảng 20 thước, hướng về biên giời Lào-Việt. Được khoảng hai phút, người xạ thủ đại liên M-60 vỗ lên đầu tôi, nói thật to (để át tiếng động cơ trực thăng) “Anh ta bị trúng đạn!”. Tôi đã “coi lại” những biệt kích quân trong toán của tôi, không ai “ăn đạn”, mặc dầu sàn trực thăng có nhiều lỗ đạn xuyên qua. Tôi lên tiếng “Ai bị trúng đạn?”. “Phi công”.

        “Như cứt!”. Tôi bỏ ba lô xuống sàn trực thăng, bước lên buồng lái. Viên phi công phụ (co-pilot, Peter pilot), chuẩn úy Gagnon ngồi ôm đùi phải bị trúng một viên đạn, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn. Tôi lấy cuộn băng cá nhân ra, băng tạm cho anh ta. Tôi định chính cho anh ta thêm một mũi morphine cho bớt đau, nhưng anh ta không chịu… vẫn phải lo nhiệm vụ lái chiếc máy bay trực thăng.

        Lúc mới nghe anh ta từ chối chích morphine, tôi chưa hiểu. Nhìn qua phiá phi công chính, chuẩn úy Mehlman, tôi hiểu ngay. Anh ta “vi phạm” luật phi hành của tiểu đoàn 52 Không Trợ (trực thăng của Lục Quân cũng được gọi như cấp tiểu đoàn, đại đội…), bay vào bãi đáp mà không kéo lớp kính che mắt xuống. Hậu quả, bị nhiều mảnh kính trước trực thăng (bị đại liên 50 của địch bắn) vỡ văng đầy mặt và đầu, khuôn mặt anh ta đầy máu. Nặng nhất là một, hai mảnh trúng mắt trái, chẩy máu và không thể nhắm lại được. Tôi lấy dụng cụ cứu thương (First Aid) lau mặt cho anh ta. Tôi không dám đụng đến con mắt trái, lau máu dính con mắt bên phải còn tốt, rồi trấn an anh ta… chắc không có gì đâu.

        Cuối cùng chiếc trực thăng về đến Dak To, hai viên phi công được y tá đem cáng ra bãi đáp khiêng vào hầm quân y. Toán biệt kích Illinois “Trơì đánh không chết”, gồm có tôi, Joel Haynes, và mấy biệt kích quân Thượng, không một người bị xây xát, trầy da tróc vẩy, lên một trực thăng về bộ chỉ huy Trung ở Kontum.

        Tôi xem sơ qua chiếc trực thăng, bị trúng đạn nhiều, nhiều lắm! Ít hôm sau, tôi liên lạc với viên phi công chính Steve Mehlmam được cho biết, chiếc trực thăng bị trúng 137 viên đạn. Tôi nghĩ con số đúng, vì ngoài khẩu đại liên .50, còn biết bao khẩu AK đưa lên trời… tha hồ bắn vào chiếc trực thăng.

Phần trả lời, bổ túc của Denison.

        Hai câu chuyện đã xa xưa bao nhiêu năm. Tôi vẫn còn cảm thấy hào hứng. Trí nhớ của anh vẫn còn rất tốt. Tôi xin bổ túc một vài điều. Mục tiêu cho toán biệt kích Illinois xâm nhập hôm đó là I-6, một chuyến hành quân “khẩn cấp, gấp rút”, do đó anh bạn không có thì giờ bay thám thính, quan sát mục tiêu trước (Trước khi xâm nhập, người trưởng toán thường bay quan sát khu vục xâm nhập (mục tiêu) trước để chọn bãi đáp cho trực thăng thả toán biệt kích).

        Anh đã nhờ tôi trong buổi sáng hôm đó “Chọn cho tôi một bãi đáp tốt”, trước khi tôi ra phi trường Kontum để bay trên chiếc phi cơ thám thính “Covey” (ngồi ghế sau).  Nhiệm vụ của tôi đi bay trên chiếc “Covey” ngày hôm đó và tôi đã chọn “lỗ hổng” giữa đám rừng già để trực thăng thả rơi xuống trên bãi đáp. Tôi biết “lỗ hổng” hơi hẹp nhưng không ngờ “kẹt” như vậy.

        Tôi vẫn theo dõi “lỗ hổng” đó trước khi trực thăng đưa toán biệt kích Illinois vào, và mừng rỡ khi chiếc trực thăng từ từ hạ xuống “lỗ hổng”. Các trực thăng võ trang Cobra bay vòng bao vùng cho chiếc “slick” chính bay vào… Tiếp theo là những tiếng đạn nổ vang trời như điạ ngục. Theo lời phi hành đoàn kể lại, chiếc trực thăng bị trúng 139 viên đạn, trong đó 59 viên là đạn đại liên .50… Ô! hấp dẫn lắm!

 Dallas, TX.

vđh

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdi

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Trở về cuộc sống đời thường

Howard E. Wasdi

Bài 16

Khi ra khỏi quân đội, cuộc sống của tôi đứng giữa ngã rẽ hoặc sẽ giàu có hoặc sẽ chết đói. Ở thời điểm vẫn đang nhận trợ cấp thương tật của Hải quân, tôi nhận được lời mời huấn luyện cho đội bảo đảm an ninh Thế vận hội mùa Hè 1996 ở Atlanta. Khi đó, 1.500 đô-la một tuần là một khoản tiền lớn đối với tôi, đặc biệt so với số tiền quân đội trả. Tôi giải ngũ và nhận công việc này. Trong thời gian này, tôi còn nhận huấn luyện cho Cục Quản lý Trại giam Liên bang (SORT) và nhiều cơ quan khác nữa. Công việc đòi hỏi tôi phải đi lại nhiều. Được trả 500 đô-la một ngày, tôi nghĩ mình sắp giàu đến nơi rồi.

Tính riêng trong mỗi phi vụ, số tiền tôi được trả công là rất hậu hĩnh, nhưng các phi vụ cứ đến rồi lại đi. Thời điểm giữa các phi vụ huấn luyện, tôi lại gặp khó khăn về tài chính. Với mong muốn có cuộc sống ổn định hơn, tôi đã gia nhập lực lượng cảnh sát Bãi biển phía bắc Miami, Hallandale, Broward, Florida, một địa điểm nổi tiếng với các cuộc đua chó và lượng lớn khách du lịch người Canada. Sau hơn sáu tháng huấn luyện, tôi trở thành sĩ quan cảnh sát.

Trong khi tuần tra, tôi đeo kính râm hiệu Revo, do công ty kính mắt Luxottica của Italia sản xuất theo công nghệ của NASA. Các loại kính mắt nhãn hiệu Ray-Ban và Oakley cũng do công ty này sản xuất. Kính râm Revos có thấu kính trong suốt, chống phân cực tốt nhất và chúng tạo cho người đeo cảm giác rất thoải mái. Do tôi là một tân binh nên một sĩ quan huấn luyện tân binh luôn đi cùng với tôi. Một hôm, tôi phát hiện một chiếc xe Cadillac bị đánh cắp đang chạy phía trước. Tôi yêu cầu lái xe dừng lại. Một chiếc xe tuần tra khác cũng tham gia vào cuộc truy đuổi và chúng tôi bật còi hú của cảnh sát lên. Chiếc xe bị đánh cắp rê vào bên đường. Ngay khi chiếc xe dừng, một thanh niên da đen trạc tuổi 17 hoặc 18 gì đó nhảy ra khỏi xe và bỏ chạy. Chúng tôi dừng xe ngay phía sau chiếc xe bị đánh cắp. Viên sĩ quan huấn luyện tân binh nhảy ra khỏi ghế và chạy về phía chiếc xe Cadillac bị đánh cắp và bắt tên lái xe, một thanh niên béo phì. Mở cửa bên ghế lái, tôi chạy ngay khi chân vừa chạm đất.

Tôi đuổi theo tên vừa bỏ trốn. Nhảy qua bụi cây và hàng rào. Trong khi rượt đuổi, chiếc dùi cui và bộ đàm của tôi rơi ra lúc nào không biết. Nhưng chiếc kính râm thì không bị rơi. Chúng tôi chạy qua đám đông và chạy vượt sang khu phố bên cạnh. Đột nhiên, tôi mất dấu tên bỏ trốn. Một người đàn ông đang tưới cỏ ở chiếc sân trước chỉ về phía sau nhà của ông. Tôi từ từ tiến về phía sau ngôi nhà, nhưng tên bỏ trốn đã nhìn thấy tôi và tiếp tục bỏ chạy. Cuối cùng, khi hắn đang chạy băng qua đường, bất thình lính tôi xuất hiện, vật hắn ngã xuống đường. Một sĩ quan cảnh sát đang lái chiếc xe zeep dừng lại giúp tôi. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi bắt được tên trộm này. Viên sĩ quan này nói: “Đây là cuộc rượt đuổi dài nhất tôi từng biết.”

Nếu tên trộm không phải vừa chạy vừa kéo quần thì có lẽ hắn đã tuột khỏi tay tôi rồi. Tôi bắt hắn đứng dậy sau khi đã còng hai tay lại, chiếc quần của hắn lại tụt xuống. Tôi lấy chiếc còng khác mắc khuy quần hắn vào chiếc còng trên tay hắn để chiếc quần không tụt xuống. Viên sĩ quan huấn luyện tân binh đi cùng tôi lái xe tuần tra đến. Tên trộm quay đầu lại và nhìn vào biển tên của tôi “Ngài sẽ không đánh tôi chứ, Sĩ quan Wasdin?” “Tất nhiên là không. Tại sao cậu lại hỏi thế?”

“Tôi chỉ nghĩ rằng đó là những gì cảnh sát hay làm. Đánh đập chúng tôi. Đó là lý do tại sao tôi đã bỏ chạy.” “Này, cậu nghĩ sai về cảnh sát rồi”. Khi tôi chuẩn bị đưa cậu bé lên xe, một sĩ quan khác đã dùng tay đẩy cậu bé vào xe. Tôi vội quát lên: “Này, buông tay khỏi tù nhân của tôi. Nhớ đừng có chạm tay vào cậu bé thêm một lần nào nữa.”

Sau này tôi còn tịch thu được một số vũ khí từ vài gã lang thang. Mọi người dặn tôi phải cứng rắn hơn với bọn trẻ. Tôi hiểu điều đó, nhưng tôi không tuân theo nguyên tắc đó. Hóa ra kẻ đánh cắp xe là tên lái xe chứ không phải cậu bé bỏ chạy. Cậu chỉ là trẻ lang thang được chủ thuê khoảng hai mươi hoặc ba mươi đô-la một ngày, có nhiệm vụ đưa xe bị đánh cắp đến người mua và mang tiền về cho chủ. Cậu bé này làm thuê cho ba bốn ông chủ gì đó. Những người chủ chỉ thuê những đứa trẻ tuổi vị thành niên để tránh bị khởi tố như khi thuê những người đã trưởng thành.

Tôi để hai tên này ngồi sau xe của tôi, rồi lái xe đi. Tên bỏ chạy hỏi tên mập lái xe: “Tại sao mày không chạy?” Tên mập cãi lý: “Ừ, mày vẫn bị ông cảnh sát da trắng này bắt đó thôi. Mày giải thích sao về điều này?” “Đây không phải là người đàn ông da trắng bình thường. Mỗi lần tao quay đầu lại, đều nhìn thấy ông ta ở ngay phía sau.” Tôi mỉm cười.

Tại Đồn Cảnh sát Hallandale, tôi làm một số thủ tục đối với hai nghi can. Sau đó, tôi đưa chúng lên Sở Cảnh sát Broward để giam giữ chúng. Tôi thấy bàn tay và đầu gối của tên bỏ chạy bị rách khi bị tôi vật ngã trên đường. Hắn ta cần được khâu một vài mũi. Tôi đưa hắn đến bệnh viện.

Quá trình làm thủ tục khám bệnh mất tới 45 phút. Đã quá giờ ăn trưa, tôi còng tay hắn vào một hàng rào và đến quán McDonald trong bệnh viện mua đồ ăn. Tôi trở ra với suất ăn sẵn 25 đô-la. Cậu bé nhìn chằm chằm vào xuất ăn của tôi.Tôi hỏi “Cháu có đói không?” “Dạ, không đói lắm.”

“Lần cuối cháu nhét một cái gì vào dạ dày là khi nào?” “Cháu ăn súp từ tối hôm qua.”

Trời đất! Tôi quay trở lại quán ăn McDonald và mua cho cậu bé suất ăn như của tôi. Khi trở ra, tôi hỏi “Nếu bây giờ chú tháo còng tay ra để cháu ăn như một con người, liệu cháu có bỏ chạy nữa không?” “Không, thưa ngài Sĩ quan Wasdin. Cháu hứa với chú, cháu sẽ không chạy nữa. Cháu hứa đấy!” “Cháu cũng hiểu đấy. Chú sợ chạy lắm rồi. Nếu cháu bỏ trốn lần nữa, chú có thể sẽ bắn cháu.” Chúng tôi cười khúc khíc.

Tôi tháo còng tay cho cậu bé. Cậu bé cám ơn tôi. Cậu ta há miệng rất to ngoạm lấy miếng bánh. Sau đó, tôi quay lại quầy bán đồ ăn và mua thêm thức ăn cho cậu bé. Sau khi ăn xong, chúng tôi ngồi đợi ở phòng cấp cứu. Cậu bé nói “Chú chẳng giống các cảnh sát khác chút nào.” “Có nhiều cảnh sát như chú hơn là cháu nghĩ đấy.”

“Cháu chưa bao giờ nghĩ một sĩ quan cảnh sát sẽ mua cho cháu một cái gì đó để ăn.”

“Cháu biết những gì? Nếu cháu đến bên các nhân viên cảnh sát và xin họ đồ ăn, họ sẽ cho cháu ngay thôi. Họ có thể cho cháu một gói bánh hoặc một đồ ăn gì đó, nhưng chắc chắn họ sẽ không cho cháu tiền đâu.”

“Cám ơn chú.”

Cậu bé rất lịch sự, không ngớt lời cám ơn tôi. Có vẻ đó là một cậu bé tốt nhưng bị bạn bè xấu rủ rê. Tôi cảm thấy rất vui khi giúp cậu bé theo cách đó, nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn bởi chẳng biết với tình cảnh của cậu thì cậu sẽ ra sao. Sau này, cứ khi nào tôi nhìn thấy cậu bé trên đường, cho dù đang làm gì chăng nữa, cậu cũng dừng lại vẫy tay chào tôi. Đôi khi, cậu bé còn chạy đến nói chuyện với tôi nữa.

Khoảng một hai tuần sau, tôi phải trả giá cho lần rượt đuổi bộ đó. Cổ và phần thắt lưng trở xuống đau khủng khiếp. Một cảnh sát ở Bắc bãi biển Miami khuyên tôi nên đến bác sĩ nắn xương khớp chữa trị. Lúc này tôi vô cùng tuyệt vọng. Tôi chợt nhớ đến bác sĩ nắn xương khớp mà ngài Đại sứ Negroponte từng bảo tôi. Cuối cùng tôi cũng đến gặp người thầy lang nắn xương khớp. Ông bảo tôi “Để thuận lợi cho đi lại, các bác sĩ phẫu thuật đã lắp thiết bị xoay chân phía ngoài cho anh. Thiết bị này ảnh hưởng đến hông phải của anh. Anh bị đau từ khung xương chậu đến cổ. Đó là lý do tại sao anh ngủ không ngon giấc và những cơn đau đớn liên tục tấn công anh.”

Sau ba lần nắn chỉnh, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, tôi ngủ một mạch từ tối đến sáng. Tôi tiếp tục đến nắn xương tại đây hai lần một tháng. Kết quả thật kỳ diệu. Tôi đã trở lại được với cuộc sống trước kia của mình. Ở thời điểm đó, tôi nghĩ các bác sĩ nắn xương khớp giống như những người trị bệnh bằng mát xa hay tương tự như vậy. Tôi không hề biết, họ đã phải học hành rất nghiêm túc để trở thành bác sĩ chuyên ngành này. Là một sĩ quan cảnh sát, tôi không còn bắt gặp đứa trẻ nào với những dấu tích của những trận đánh đập như đứa trẻ tôi gặp hồi mới nhận công tác. Mà nếu có gặp, chắc hẳn tôi cũng sẽ chẳng hỏi nhiều. Tôi sẽ chuyển đứa trẻ ngay cho các cơ quan có thẩm quyền và cha của đứa trẻ hẳn sẽ phải vào nhà lao thăm con. Về mặt tài chính, tôi nhận thấy cũng không thể tiếp tục công việc này được nữa. Với mức thu nhập 45.000 đô-la một năm, hẳn sẽ giàu to nếu sống ở Jesup, Georgia nhưng đây lại là Hallandale, Florida. Công ty sản xuất áo giáp cá nhân cho quân đội và cảnh sát hàng đầu thế giới Point Blank Body Armor thuộc Tập đoàn PACA ngỏ ý mời tôi về làm việc cho một chi nhánh của công ty ở Tennessee. Thu nhập 75.000 đô-la một năm quả là một con số vô cùng lớn, đặc biệt là ở Tennessee. Vì vậy, tôi bỏ ngành an ninh và tiếp nhận công việc mới này. Sống trong một thị trấn nhỏ, tôi thấy mình thật giàu có. Blake đã ổn định việc học hành ở trường mới và cuộc sống cứ thế êm ả trôi.

Là một phần trong chương trình quảng cáo sản phẩm áo giáp, Công ty giao cho tôi nhiệm vụ dạy các chiến thuật và vũ khí đặc biệt (SWAT) cho Kane Kosugi, một ngôi sao võ thuật người Mỹ gốc Nhật để vào vai trong chương trình trên truyền hình Nhật Bản mang tên Kinniku Banzuke (Những tài nghệ mới). Kane mặc một chiếc áo của Đội Thực thi Nhiệm vụ Đặc biệt (SMART) do tôi thiết kế. Anh ta là một người luyện tập chăm chỉ và tiếp thu rất nhanh. Công việc ở Point Blank đòi hỏi tôi phải đi lại khắp thế giới ở: Abu Dhabi, Dubai, Paris và bất cứ nước nào có hợp đồng lớn đối với công ty. Khi tôi đi công tác, Blake ở cùng với bạn bè. Khi Point Blank thay đổi bộ máy lãnh đạo, tôi không thích kiểu quản lý mới này.

Tôi trở lại Jesup để Blake và tôi được gần gũi hơn với con gái tôi, Rachel. Tôi lên kế hoạch huấn luyện cho lực lượng cảnh sát các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất chiến thuật và vũ khí đặc biệt (SWAT) theo hợp đồng của Thụy Sĩ. Bạn tôi, Tom McMillan, đã chuẩn bị một sân tập cho tôi ở Folkston, Georgia để tổ chức huấn luyện. Hợp đồng này thật béo bở. Từ trước đến nay, tôi chưa bao giờ kiếm được 5.000 đô-la một tuần. Tôi đang mong đợi đến giây phút này. Ngày 11 tháng Chín năm 2001, chúng tôi đã hoàn tất những khâu cuối cùng của kế hoạch và chuẩn bị bắt đầu tiến hành thì xảy ra vụ khủng bố vào Tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại thế giới. Sự kiện này đã thay đổi tất cả, làm cho kế hoạch huấn luyện phải tạm hoãn. Một giải pháp tạm thời được đưa ra trước khi vấn đề có thể được giải quyết. Ron, anh trai tôi tìm cho tôi công việc làm nhân viên bán hàng cho hãng xe GMC.Tôi đồng ý nhận việc này để duy trì cuộc sống. Thật ngạc nhiên, số tiền tôi kiếm được từ việc bán xe còn nhiều hơn tất cả những công việc tôi từng trải qua. Khách hàng yêu quý tôi. Thế rồi Blake vào học trung học.

Tôi thậm chí còn bắt đầu hẹn hò trở lại. Cuộc hẹn hò đầu tiên là với một người lúc nào cũng theo dõi tôi. Nghĩ lại thấy thật buồn cười. Cô ta thường gọi điện cho tôi và nói “Anh thường chỉ mất 20 phút để từ nơi làm việc về nhà. Hôm nay anh mất tới 35 phút. Chuyện gì đã xảy ra vậy?”.

“Em nói nghiêm túc đấy chứ?” Một tối, cậu em họ tôi Sandy vừa cười vừa nói với tôi: “Cô ấy đứng ở bụi cây bên ngoài nhìn vào cửa sổ nhà anh đấy”. Tôi phì cười vì chuyện đó.Sandy cũng cười theo. Cảm thấy khó chịu về việc này, tôi nghĩ mình phải đi kiểm tra mới được. Cô gái hay theo dõi tôi không đứng ở bụi cây bên ngoài nhà mà ngồi trong xe của cô đỗ cách nhà tôi một vài nhà để tiện bề theo dõi tôi. Tôi đã hẹn hò không đúng người. Tôi vô cùng thất vọng. Một lần khác, tôi hẹn hò với một người phụ nữ rất hấp dẫn. Ngay giây phút gặp mặt, ham muốn trong tôi trỗi dậy, tôi muốn ăn nằm ngay với cô ta. Trong khi ăn tối tại một nhà hàng, tôi hỏi: “Sở thích của em là gì vậy? Gần đây em có đọc cuốn sách hay nào không?”

“Kể từ khi tốt nghiệp trung học phổ thông, em chẳng bao giờ đọc sách cả.” “Em có sở thích gì không?” “Em thích nghe chương trình phát thanh của cảnh sát và thích xem chương trình Đô vật thế giới.” Tôi nghiêm mặt lại và nói “Vậy à”.

“Vâng. Chương trình phát thanh của cảnh sát giúp em gần gũi với cộng đồng hơn. Qua đó, em biết ai đang gặp rắc rối và nơi nào sẽ có cảnh thú vị để xem. Nếu cảnh sát chuẩn bị tiến hành bắt giữ hay diệt một ổ tội phạm lớn, em sẽ đến xem.”

Trời đất. “Và sở thích khác của em là gì?”

“Chương trình Đô vật thế giới. Em thích đô vật Stone Cold Steve Austin.”

Giá như đừng nói gì, thì cô ấy quả là cô gái tuyệt vời. Sau bữa tối, tôi đưa cô ta về nhà nhưng chẳng buồn hôn tạm biệt cô ta. Cô ta rất buồn. Tôi tự hứa với bản thân sẽ không có bất kỳ một cuộc hẹn hò nào nữa. Ở hạt County chẳng có cô gái nào phù hợp với tôi cả. Vào một buổi chiều thứ Bảy, ngày 19 tháng Một năm 2002, tôi về nhà với hai gói thịt gà mua ở Nhà hàng gia đình Sybil. Thịt gà ở nhà hàng này rất ngon. Có những người sẵn sàng lái xe hàng trăm cây số chỉ để đến thưởng thức món thịt gà ở đây. Blake và tôi đang chuẩn bị ăn thịt gà và xem bộ phim O Brother, Where Art Thou? tôi vừa thuê về thì cậu em họ Edward gọi điện cho tôi: “Tối nay, Deidre và em sẽ ra ngoài chơi. Cô ta có một người bạn và em muốn anh ra ngoài cùng”. Tôi biết đây hiển nhiên là kiểu sắp xếp cho một cuộc hẹn hò. Tôi trả lời dứt khoát “Không.”

Hai phút sau, Deidre gọi điện tới nài nỉ “Howard, chiều lòng tụi em đi. Em chưa bao giờ nhờ anh giúp điều gì cả. Debbie đã từng có một cuộc hôn nhân tồi tệ và cô ta sẽ đi cùng với chúng em nhưng cô ta không muốn làm người thừa. Anh chỉ đến với bọn em cho có bạn có bè thôi. Anh là người luôn thích vui vẻ mà. Em sẽ không bao giờ nhờ anh làm bất kỳ điều gì khác nữa đâu. Em hứa, chỉ một lần này thôi.”

Trò gạt người đây mà. Tôi rất tức giận nhưng vẫn bỏ hộp thịt gà xuống và nói “Blake, bố có cuộc hẹn phải ra ngoài đây.” “Thật vậy à? Con tưởng bố sẽ không bao giờ hẹn hò nữa.” “Ừ, bố cũng có muốn đâu.”

Edward và Deidre đưa tôi đến căn hộ của Debbie. Deidre giới thiệu: “Debbie, đây là người tôi từng kể với cậu và tôi muốn cậu gặp.” Deidre làm cả Debbie và tôi bối rối. Bốn chúng tôi đi chung một xe. Tôi hành động như kiểu, Này, tôi là Howard Wasdin. Cô em cần phải hạ mình trước tôi. Phải thể hiện sự tôn trọng đúng mực với tôi. Cô ta tỏ thái độ hoàn toàn ngược lại như kiểu. Này, tôi chẳng thèm quan tâm anh là ai.

Ồ, nhưng thật khác lạ, cô ta ăn nói thật nhã nhặn và lịch sự. Tôi băn khoăn chẳng biết cô ta xuất thân từ đâu? Hai chúng tôi đã có một bữa tối tuyệt vời, cười nhiều và nói chuyện rất tâm đầu ý hợp.

Tôi vẫn nhớ như in lần đầu tiên tay tôi chạm vào người cô ấy khi chúng tôi đang xem phim cùng Deidra và Edward. Ngay lập tức, tôi cảm nhận một luồng điện chạy qua người cả hai. Chúng tôi tiếp tục cuộc vui thêm vài phút nữa. Sau đó, tôi lái xe đưa Debbie về nhà. Khi chúng tôi đến nhà cô ấy, chúng tôi tiếp tục trò chuyện trong nhà. Cuộc nói chuyện đầy ắp tiếng cười. Tiếng cười dẫn đến sự kết nối, sự kết nối đưa đến nụ hôn và nụ hôn làm tim tôi muốn nổ tung. Tôi quên cả thời gian, nhưng tôi vẫn nhớ nếu là một quý ông lịch sự thì tốt nhất là nói lời chào rồi ra về. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy như đất dưới chân sắp sụp. Cả hai chúng tôi đều không có ý định tìm kiếm một cuộc hẹn hò trong lần gặp này nhưng ông tơ bà nguyệt đã xe duyên chúng tôi.

Cô ấy tiễn tôi ra cửa. Trước khi ra về, tôi không quên nói “Anh đã có một buổi tối thật tuyệt. Cám ơn em.”

“Em cũng vậy.” Tôi hỏi: “Tại sao em không gọi cho anh vào ngày mai chứ?” Tôi lớn lên ở Screven, Georgia dưới sự dạy bảo nghiêm khắc của cha mẹ. Cha mẹ tôi luôn dạy tôi phải biết cách cư xử lịch sự như một quý ông. Hành động vừa rồi chẳng ra chất quý ông chút nào cả, mà nó sặc mùi Howard Wasdin. Tôi chưa bao giờ phải cầm điện thoại gọi điện cho một người phụ nữ nào. Họ đều gọi cho tôi trước. Ngay cả người phụ nữ đứng trước mặt tôi này cũng sẽ phải làm vậy cho dù cô ta có được nuôi dạy để trở thành một quý bà.

“Em không biết anh được nuôi dạy như thế nào nhưng mẹ em dạy em không được gọi điện cho đàn ông. Nếu anh muốn nói chuyện với em, anh sẽ phải gọi điện cho em trước.” Nói xong cô ấy đóng sầm cửa lại.

Tôi thực sự bị tổn thương. Trên đường lái xe về nhà, mặc dù giới hạn tốc độ là 90km/h nhưng tôi phóng rất nhanh, có lẽ vượt giới hạn tốc độ khoảng 70 km. Mặc dù, tôi được nuôi dạy để trở thành một quý ông nhưng tôi lại trở thành người quá tự phụ. Cô ấy hoàn toàn đúng. Có chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy? Tôi biết, lẽ ra tôi nên nói “Anh là Howard Wasdin, hãy gọi điện cho anh nhé!” Sau này, tôi càng tôn trọng Debbie hơn.

Cả ngày Chủ nhật tôi ngồi đợi điện thoại từ Debbie. Nhiều lúc, tôi đã cầm máy lên định gọi điện cho cô ấy nhưng rồi lại không, bụng thầm bảo, cô ấy sẽ gọi cho mình ngay thôi mà. Cô ấy đã không gọi điện.

Sáng thứ Hai, tôi gọi điện cho Debbie. Chúng tôi đi ăn trưa cùng nhau. Vào cuối tuần, chúng tôi hẹn hò nhau. Tuần nào cũng vậy, chúng tôi đều hẹn hò cho tới khi kết hôn. Mặc dù, tôi từng thề sẽ không bao giờ chui đầu vào rọ lần nữa nhưng ngày 17 tháng Một năm 2003, anh trai Ron đã đứng ra tổ chức lễ cưới cho Debbie và tôi. Giờ đây, mỗi khi gặp Ron ở nơi công cộng, anh đều rất vui khi thấy chúng tôi hạnh phúc bên nhau và anh thường đùa “Khi tổ chức lễ cưới cho hai em, anh đã sử dụng loại keo tốt nhất đấy.”

Doanh số bán xe của tôi không đạt yêu cầu mặc dù những người tốt bụng ở Wayne luôn tìm đến tôi mua xe, thể hiện sự yêu mến tôi. Họ biết tôi lớn lên trong cộng đồng của họ và rất trân trọng thời gian tại ngũ của tôi. Tôi bắt đầu tính đến việc học tập để trở thành bác sĩ nắn xương khớp. Tôi vào làm tại một nhà máy hóa chất. Người bạn cũ trong lực lượng CIA là Kền Kền giới thiệu cho tôi một công việc tại một công ty an ninh ở Braxin. Tuy nhiên tôi đã từ chối vì thấy rằng công việc này không thể kéo dài khi tôi có tuổi. Tháng Mười năm 2004, Debbie và tôi đã nói chuyện với đại diện Bộ Cựu Chiến Binh của tôi. Họ đồng ý trả tiền học phí cho tôi nếu tôi theo học nghề nắn xương khớp. Debbie và tôi đến thăm trường đại học chuyên ngành cột sống, xương, khớp. Trên đường về, tôi thấy có nhiều lý do khiến tôi khó có thể theo học ở đây. “Tôi không thể vừa làm việc vừa đi học trong giờ hành chính. Chúng tôi sẽ phải thắt chặt hầu bao. Khóa học này mất rất nhiều thời gian. Không khéo tôi phải bỏ học dở chừng cũng nên. Lúc này tôi rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.”

Debbie tức giận nói: “Nửa phần đời còn lại của anh sẽ trong khốn khổ – không bao giờ cảm thấy mãn nguyện, không bao giờ tìm được công việc mà anh yêu thích nữa. Nhưng nếu anh theo học ngành này. Càng bắt đầu sớm bao nhiêu, anh càng hoàn thành sớm bấy nhiêu. Anh sẽ cảm thấy hạnh phúc với công việc của mình. Còn nếu không, bốn năm nữa khi nhìn lại, anh sẽ nói: ‘Nếu hồi đó mình đi học thì giờ mình đã tốt nghiệp rồi.’” Ôi, tôi đã lấy được người vợ tuyệt vời.

Tháng Một năm 2005, tôi bắt đầu học ngành nắn xương khớp tại trường Life University ở Marietta, Georgia. Mặc dù tôi rất thích chuyên ngành nghiên cứu của mình nhưng một phần nhỏ trong số bạn cùng lớp của tôi có lối suy nghĩ rất lập dị. Số người này luôn phản đối bác sĩ y tế, kim tiêm và thuốc men. Thậm chí một giáo sư của trường còn nói với chúng tôi “Tôi sẽ không bao giờ tiến hành hồi sức cấp cứu hay hà hơi tiếp sức cho những người đang sắp chết.” Ông sẽ chỉ nắn xương cho những bệnh nhân sắp chết và tất cả chỉ có vậy thôi. Có một cặp vợ chồng, cả hai đều là bác sĩ nắn xương khớp, đã quen nhau và kết hôn khi còn đang học. Ba năm sau khi tốt nghiệp, người vợ qua đời vì bị nhiễm trùng tai do họ từ chối chữa trị theo y học hiện đại. Đối với trường hợp này, chỉ một liều kháng sinh là đã đủ để cứu sống người vợ rồi. Họ luôn giữ quan điểm rằng bác sĩ nắn xương khớp chỉ có một phương châm duy nhất là trị bệnh cứu người và dựa vào sức mạnh nội sinh của mỗi người. Họ làm tôi nhớ đến thầy mo, người không chữa được bệnh cho cậu bé tôi từng giúp đỡ ở Somali. Đa số bạn cùng lớp và các giáo sư đều không có lối suy nghĩ này và đa số các bác sĩ nắn xương khớp cũng không có lối suy nghĩ trên. Đó chỉ là một phần trăm nhỏ bé mang lại tiếng xấu cho những người hành nghề bằng liệu pháp nắn xương khớp.

Khi tôi đang học năm cuối, bố dượng tôi mắc bệnh xơ gan cổ trướng. Bụng của ông cứ phình to lên như một quả bóng.

Thép đen -Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Một phương pháp liên lạc thần kỳ!

Đặng Chí Bình

Bài 20

Buổi chiều nay, sau khi hết giờ làm việc. Tôi đang ngồi khoác chân, dựa tường, gõ liên lạc với chị Bắc (chắc cũng đang ngồi như tôi, chỉ cách nhau một bức tường), bất chợt, cửa sổ nhỏ mở.

Tôi hơi giật mình. Khi tôi nhìn lên, cửa sổ con đã đóng, lại có tiếng mở khóa cửa lớn. Tôi chồm vội xuống đất, cứ tưởng là chúng đã phát hiện ra tiếng gõ liên lạc giữa buồng tôi và buồng số 6; nhất là người mở cửa lại là tên Trì, Phó giám thị. Cái mặt y đầy thịt. Cái đầu cắt tóc ngắn. Hai cái môi xám xịt, ngọ ngoạy dưới cái mũi vừa to, vừa sần sùi. Nhất là hai con mắt y trắng nhờn nhợt. Y đứng nhìn tôi một lúc, rồi lại đưa mắt nhìn khắp buồng một lượt.

Tôi thấy rõ tim mình đập mau hơn, chẳng hiểu y muốn gì mà từ nãy cứ lừ lừ chẳng nói. Mãi một lúc sau, với cái giọng miền Trung quả tạ, y mới lên tiếng:

– Anh có cái gì mang ra hết đi!

Tôi cảm thấy hơi hụt hẫng vì sự bất ngờ này. Thật ra, trong tù tôi cũng đã dọn buồng nhiều lần. Nhưng lần này, tôi thấy tiếc nuối cái buồng. Thứ nhất, chính từ căn buồng này, tôi được tha cùm; thứ hai, số 6 và số 4 là hai người bạn tôi mới quen, chưa biết hết về nhau đã phải chia tay. Chia tay không một lời từ biệt. Nhất là, với số 6, người bạn tù mà tôi tin là cuộc chia tay này sẽ làm chị buồn nhiều hơn tôi. Vì chị là đàn bà, lại có tuổi rồi; chắc rằng nước mắt, sẽ còn phải chảy nhiều nữa.

Tôi muốn gõ mấy cái để như lời từ biệt số 6; nhưng tên Trì cứ đứng nhìn, nên tôi cứ phải vờ tìm cái nọ cái kia để kéo dài thời gian. Tôi cứ vờ như xong rồi, ôm bọc đi ra, tới gần cửa lại sực nhớ, quay vào lấy cái bàn chải, rồi tới cái lược, v.v…mục đích mong y đi ra, để tôi gõ vài cái gọi là giã biệt, hoặc vĩnh biệt (?) người đồng chí, và đồng cái nghề “hang một lỗ” này. Chắc y cũng đã hơi sốt ruột nên quay ra. Y vừa quay người, tôi lẹ tay gõ vào tường mấy cái nhè nhẹ.

Tôi ôm đổ chăn chiếu ra khỏi cửa, đừng chờ y chốt và khóa buồng số 5 lại. Tôi đang lắt lay, thấp thỏm, không biết y sẽ đưa tôi đi phương nào? Thì không ngờ! Tại sao lại có thể có hai cái không ngờ xảy ra chỉ trong chốc lát: Y qua ra mở buồng số 11! Buống số 11 lại…đối diện với buồng số 6. Nhưng, một điều khác cũng quan trọng không kém đối với tôi là, buồng số 11 nhìn ra được ngoài sân xà lim. Đã từ hơn một năm nay ở xà lim I này, tôi mơ ước được chuyển qua phía dẫy bên này, có được nhiều ánh sáng vì cửa sổ to phía sau, nhìn ra sân xà lim không bịt gỗ, và quan trọng là được nhìn cái sân, được nhìn cảnh vật bên ngoài (dù rằng cái bên ngoài cũng vẫn là ở trong tù). Nhìn toàn bộ cây bàng, và tôi có thể sẽ biết mọi bộ mặt trong xà lim, một cách rõ ràng nhờ cái sân này; vì buồng nào chả cần phải tắm giặt và rồi phải ra sân phơi quần áo.

Tôi đã vào buồng rồi, lòng vẫn còn bồng bềnh, khấp khởi trong nỗi vui của đường đi rộng mở dần. Không hiểu số 6 có biết tôi được dọn sang phía đối diện không?

Có lẽ, khi chúng nhìn bản sơ đồ giam người ở xà lim I, chợt thấy số 5 và 6 là hai tên gián điệp cùng của Sài Gòn, nên đã nảy ra ý nghĩ là tại sao lại để cạnh nhau “nhỡ chúng liên lạc với nhau bằng “morse” thì sao!”. Vì vậy, chúng đã chuyển tôi sang dẫy đối diện.

Từ ngày tôi vào Hỏa Lò đến nay, ngoài những chuyện to lớn là tự tử và trốn tù ra, những nội quy như liên lạc, hay chuyện trò với các buồng khác, hầu như chúng không hề thấy tôi vi phạm. Hơn nữa, cũng đã gần 4 năm, chúng hành tôi ở những chỗ tăm tối rồi. Bây giờ, chúng cho tôi ra ánh sáng một tí kẻo tôi “củ” một cách vô ích, trong khi tôi còn phải là một con vật, để lao động trả nợ sau này cơ mà.

Đối với tôi, tất cả những chuyện gì đó, sau hãy xét; bây giờ, tôi được chuyển sang đây, khác nào như cá lại mọc thêm cánh, chim lại còn biết lặn xuống nước nữa. Tôi đang vừa vẩn vơ nghĩ ngợi, vừa quét dọn cho sạch sẽ cái buồng (vì đây là nơi tôi vừa tập thể dục, vừa đi bộ giải trí hàng ngày), chợt có tiếng cán bộ từ ngoài cổng xà lim vào.

Tiếng mở cửa sổ nhỏ, từ buồng số 1 đi dần vào tới buồng tôi. Tôi đã biết y là cán bộ Vân, béo ụt ịt, người miền Nam, đang đi kiểm tra người để nhận bàn giao phiên trực. Y mở cửa con rồi, chỉ khép lại chứ không cài chốt phía bên ngoài. Có lẽ để thuận tiện cho y khi đi ‘tua’ khẽ mở ra, không cần phải mở chốt, không có tiếng động, kiểm tra mà tù không biết.

Tôi chờ cho tới khi y đi ra. Thậm chí, tôi nghe đoán được tiếng bước chân y đi tới đâu, tôi trèo ngay lên sàn nhìn theo phía sau lưng y. Lúc ra khỏi cổng, y còn khép cổng lại.

Bây giờ, phải nói, tôi làm chủ tình hình ở xà lim này. Dù vậy, như tôi vừa trình bày ở trên, trong xà lim sẽ có một vài người nằm vùng, kiểu khổ nhục kế. Nếu không biết điều này, không những bị chân vào cạm, lại còn nguy hiểm hơn vì đôi khi thò cái tư tưởng thật của con tim mình ra, mâu thuẫn với những điều mình đã khó nhọc che dấu và khai báo từ trước tới nay. Để một vài ngày nữa đã, tôi phải kiểm soát được rõ ràng ai là địch, ai là bạn hãy hay.

Ngay tối hôm đó, tôi thử dùng cách liên lạc không tiếng nói. Tấm sắt nhỏ che chiếc cửa con khép hờ, ai không biết, tò mò muốn nhìn ra ngoài, lấy ngón tay mở rộng ra. Đẩy ra thì được, nhưng muốn khép lại như cũ thì ngón tay không thể kéo lại được. Cán bộ trở lại, thấy cánh cửa mở to, biết ngay là tù đẩy ra, sẽ chửi mắng, nạt nộ. Nhưng, nếu khôn lanh một tí, cứ tha hồ đẩy rộng ra, nhìn thoải mái. Nghe tiếng cán bộ sắp vào, dùng một cọng chổi thanh hao (buồng nào chả có chổi) có một cái cành, để làm cái ngoéo kéo lại. Hoàn toàn chủ động, đẩy ra kéo vào theo ý mình.

Do đó, tôi đẩy thẳng ra, vừa để nhìn rõ, lại vừa đưa mũi ra hít không khí bên ngoài trong lành hơn là trong buồng. Tên Vân, người miền Nam, không được quái lắm, cho nên khi kiểm tra phía dẫy buồng đối diện, y mở toác cửa sổ ra. Còn phía bên tôi, khép hờ. Bây giờ, tôi đẩy ra, hai bên cửa sổ nhìn thông thống sang nhau, chỉ cách một lối đi chừng 2 thước. Tôi nhìn sang buồng số 6 thấy im ắng không động tĩnh gì. Như thế này, chứng tỏ chị Bắc không hề biết tôi lại sang buồng đối diện. Có thể vì thấy tôi đi, chị Bắc buồn bã quá, không chịu theo dõi nghe ngóng. Phần khác, cũng có thể chẳng phải ai cũng tò mò tinh quái như nhau.

Tôi chõ mồm ra ho mấy tiếng, rồi nhìn qua lỗ cửa sổ nhỏ mỗi bề 18 cm vào buồng số 6. Vẫn không hề thấy động tĩnh gì. Cũng vì từ trước tôi không ho, nên số 6 không biết tiếng ho của tôi. Tôi không gọi, vì không muốn các buồng chung quanh biết tôi định liên lạc với số 6. Tôi đi bách bộ hàng nửa tiếng đồng hồ, nhìn sang bên số 6, vẫn lặng như tờ. Hàng tiếng đồng hồ sau, cứ loay hoay bực dọc mãi, tôi đã kéo cửa sổ nhỏ lại, đi nằm, thoáng nghe tiếng kéo bô ở bên buồng số 6. Tôi liền bò nhổm dậy, lại đẩy cửa sổ ra, nhìn sang, thấy thấp thoáng một cánh tay trần với một khoảng vai có cái áo lót màu đen. Tôi định ho gọi, nhưng cảm thấy hơi bất lịch sự, nên lại thôi, đành chờ. Chắc rằng, thế nào trước khi vào màn, chị Bắc thế nào cũng phải nhìn ra cửa sổ nhỏ một lần, vì cửa sổ đang mở toang toác ra như vậy. Lúc đó, chắc chị sẽ giật mình khi thấy bộ mặt của tôi, chỉ cách có 2 mét. Thật đúng là đàn bà, chị loay hoay một lúc, rồi giơ tay nhấc cánh màn lên, định chui vào ngủ, không hề nhìn ra ngoài!

Không được! Tôi đành chõ mồm ra ho gọi. Cũng phải ho hai, ba tiếng, tôi mới thấy chị Bắc quay mặt ra. Khi nhìn rõ tôi, phản ứng đầu tiên của chị là luýnh quýnh, rồi vội lấy chiếc áo khoác lên người, làm cho tôi buồn cười. Thế rồi, chị Bắc nét mặt tươi rói, áp sát mặt vào cửa sổ con, cười, nhìn tôi bằng ánh mắt long lanh, như thể lâu ngày gặp được người bạn thân.

 Trong cảnh xà lim vắng lặng, chúng tôi nhìn nhau, không thốt một câu, vì không muốn cho buồng khác biết. Nhưng, chỉ bốn mắt nhìn nhau, mà cũng nói được rất nhiều, tôi cảm thấy như bao nhiêu nỗi niềm ứ đầy trong lòng được vơi bớt.

Tôi cũng hiểu là chị Bắc hoàn toàn tin tưởng nơi tôi đã tinh quái để gác cán bộ, nên thái độ của chị rất bình tĩnh, chị áp mặt vào khung cửa sổ nhỏ mà không sợ hãi gì cả. Như hai người câm điếc, tôi dùng tay ra hiệu ý muốn nói với chị Bắc là: Ngày mai, khi nào tôi “ho 2 tiếng, chị đứng lên sàn” bên đó, tôi cũng sẽ đứng lên sàn bên này, rồi tôi sẽ chỉ chị cách nói chuyện. Chỉ có bấy nhiêu ý, mà hai tay tôi, mắt tôi, vừa múa máy, vừa nháy nhó, mãi chị Bắc mới hiểu. Cứ thỉnh thoảng tôi lại ho hai tiếng, mỗi khi tay phải làm lại, động tác chỉ trỏ như lần trước.

Cũng vừa lúc ấy, thoáng một tiếng động nhỏ bên ngoài sân, tôi vội vàng ra hiệu tay cho chị Bắc vào màn; còn tôi, nhẹ nhàng kéo cửa sổ con lại, rồi cũng lên sàn nằm. Một lúc sau, tiếng bước chân nhè nhẹ đi vào; đến cửa buồng tôi, thấy cánh cửa sổ hé to ra một tí, lại đẩy vào như cũ. Tôi biết nhưng vờ nhắm mắt như đang ngủ say. Tôi tự nghĩ, khi chưa bị bắt, mình còn qua mặt hàng bao nhiêu tên phản gián, huống chi ở đây chỉ có một tên, lại là một tên công an đơn thuần, làm quái gì có nghiệp vụ!

Ngay đêm hôm ấy, tôi suy nghĩ từ những điều kiện thực tế của các căn buồng của xà lim, để tìm ra một kiểu liên lạc tốt nhất. Chỉ một lúc, tôi đã tìm ra được một cách liên lạc hữu hiệu. Xà lim I thật tĩnh mịch và hoang vắng, cho nên chả một tên cán bộ nào lại điên rồ ngồi một mình trong đêm khuya khoắt, để rình mò. Chúng chỉ thỉnh thoảng vào đi “tua”. Bây giờ, tôi ở phía dẫy bên này, lại không bị cùm, có thể nói một cách chắc chắn là nếu tôi muốn, tôi luôn luôn dư sức chủ động nắm được đường đi nước bước ra vào, của bất cứ một tên cán bộ tinh quái nào. Tóm lại, ngay đêm hôm đó, tôi đã tìm ra được một phương thế liên lạc toàn bộ trong xà lim, dù cho có cán bộ ngồi thường xuyên ở bàn trực xà lim chăng nữa.

Sáng sớm hôm sau, ngay khi cán bộ trực chưa đến, tôi đã đứng lên, ho gọi số 6 để thí nghiệm. Số 6 đứng lên hớn hở tươi cười khi nhìn thấy tôi. Với thế đứng của hai người, tôi tính toán hình dung hai thế đứng nhìn nhau, qua hai khung cửa sổ phía trên cửa ra vào. Khung cửa này, bề nằm 60 phân, bề cao 50 phân, có 5 chấn song sắt to, bên trong có ghép lưới thép đan, mỗi mắt ba phân vuông. Như vậy, từ hai khung cửa này, tôi và số 6 nhìn sang nhau, đều thấy một khoảng tường hình chữ nhật theo khung cửa sổ, nghĩa là một tấm bảng 50×60 phân. Vì hơi chéo, nên tôi phải tính toán vị trí của số 6 nhìn “tấm bảng” đó ở bên tôi trên tường. Bằng ngón tay trỏ, tôi chỉ viết chữ in; thí dụ: “CHỊ CÓ NHÌN RÕ KHÔNG?”. Vừa viết, tôi vừa quay lại nhìn chị Bắc. Mặt chị tươi roi rói gật lia lịa. Tôi lại viết “CHỊ VIẾT ĐI,” để tôi điều chỉnh tấm bảng cho tôi nhìn thấy trên tường, bên chị bằng hiệu tay.

Thế là từ đấy, chúng tôi có thể liên lạc với nhau bất cứ lúc nào, dù có cán bộ hay không. Tuy vậy, để bảo đảm an toàn cao nhất, trừ những lúc cần thiết, còn thông thường tôi để cho cán bộ ra khỏi xà lim, mới nói chuyện. Mật hiệu đã định sẵn. Tôi “ho một tiếng” là “có cán bộ”, chị Bắc chỉ việc ngồi xuống; “ho hai tiếng” là “gọi nói chuyện được”, chị Bắc đứng lên.

Cũng với phương pháp này, ngoài buồng số 6, buồng tôi cón có thể nhìn sang hai buồng ở hai bên buồng số 6 là buồng số 5 và buồng số 7 nữa. Và cứ như vậy, số 5 nhìn sang dẫy tôi cũng được ba buồng là 12 đối diện, và 11, 13 ở hai bên. Rồi, buồng này có thể làm trung gian cho buồng kia, từ đấy, có thể nói chuyện, liên lạc toàn bộ các buồng trong xà lim. Dù cán bộ có ngồi ngay đấy canh, thậm chí có những tên cán bộ mẫn cán tích cực kê ghế ngồi đọc sách hàng mấy tiếng đồng hồ để rình, cũng không bắt được chúng tôi liên lạc với nhau. Tù liên lạc với nhau, phải nói chuyện. Ở đây, dù ngồi cả ngày để canh chừng, chúng cũng chẳng nghe thấy một tiếng; có chăng chỉ là tiếng ho, tiếng khạc mà thôi.

Lúc đó, tôi nghĩ nếu bọn thực dân Pháp ngày xưa và bọn Cộng Sản bây giờ, biết được là có một phương pháp liên lạc chuyện trò với nhau như thế này, chắc chắn chúng không bao giờ thiết kế xây xà lim có hai dẫy buồng đối diện nhau nữa. Mục đích của xà lim là không cho người này trông thấy người kia (trừ trường hợp chúng chủ ý để hai người trong cùng một buồng) để gây áp lực tâm lý. Làm cho tù hoang mang, giao động và không thể hỏi han, trao đổi những khúc mắc khó khăn trong khi cung kẹo. Tâm lý của con người nhiều khi rất lạ kỳ, chỉ cần nhìn thấy một người khác cùng vào nghĩa địa, tha ma với mình, tự nhiên mình sẽ thấy mạnh bạo hơn lên. Nhưng, khi chỉ có một mình mình trong rừng sâu, đêm khuya, với những ngôi mả hoang, là rợn tóc gáy, rùng mình, rồi cảm thấy cô đơn, không có ai bấu víu. Mục đích của xà lim là như vậy.

Chính vì chúng thấy tôi và số 6 ở cạnh nhau không tiện, nên phải cho sang dẫy đối diện. Sang dẫy đối diện, nếu liên lạc mới nhau bằng lời nói, dù canh kỹ đến đâu thì đi đêm mãi, thế nào chả có ngày gặp ma. Hơn nưa, chúng còn có người gài vào nằm thường trực ở một buồng nào đó trong xà lim, ngoài nhiệm vụ chính là moi tin những người cùng buồng. Nói cách khác, sở dĩ, tôi có thể tung hoành, chủ động sự liên lạc, chuyện trò trong cả xà lim I, chỉ vì Cộng Sản chưa biết rõ khả năng của tôi, cũng như những kẻ hở của chúng. Nếu chúng biết, chúng thừa sức hóa giải, thừa sức ngăn cấm tuyệt nọc. Cho nên, để cho đối phương biết được về mình, là điều tối nguy hiểm. Vậy mà, Mỹ, cũng như thế giới tự do cứ tự…vạch áo cho Cộng Sản xem lưng, để rồi vắt chân lên cổ mà chạy.

Từ một người lính, cho đến một người dân bình thường, ai cũng nói, cũng thuộc câu “Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng”; nhưng tôi có thể nói ngay rằng nhiều chiến lược gia, những nhà quân sự cầm quyền của  phe ta chỉ đọc phương châm đó như là con vẹt thôi. Còn thực tế, thế nào là hiểu đối phương? Thế nào là hiểu mình? Tôi dám nói là họ chưa đủ hiểu. Nếu hiểu, đã không phải chạy hết chỗ này, rút hết chỗ kia. Có nói, lại đổ cho lý do này khác… mà không thấy cái khuyết điểm: hời hợt, rỗng tuếch của chính mình.

Khi đã chuyện trò với chị Bắc được mấy ngày rồi, tôi thấy bây giờ cũng thuận tiện cho nên tôi đã nói thật với chị là tôi cũng ở trong Nam ra. Tôi cũng kể sơ qua gần một tháng trời, khi còn ở bên ngoài, tôi đã đấu tranh đầy thủ đoạn với tụi phản gián Hà Nội. Cuối cùng, tôi ngỏ ý muốn chị thuật lại cuộc đời của chị ra sao, mà lại vừa là gián điệp cho Cộng Sản, lại vừa cho Sài Gòn, để bây giờ phải vào xà lim, thân gái một mình thế này?

Tôi nghĩ, cứ mỗi ngày một tí, điều gì cần rõ, tôi lại sẽ hỏi thêm. Sau khi tôi yêu cầu như vậy, mắt chị đỏ lên, mí mắt rung rung, ngấn lệ long lanh chảy dài xuống má, chị làm cho tôi cũng xúc động, phải nhìn ra hướng khác. Vừa thổn thức chị vừa viết, nội dung:

– Như một cơ duyên, tôi rất sung sướng được gặp anh ở đây. Tôi đã suy nghĩ mấy ngày hôm nay. Đời tôi đến đây coi như chấm dứt rồi. Nhưng vì tôi còn một đứa con trai duy nhất hiện vẫn ở miền Nam. Vậy, tôi xin kể lại chi tiết đời tôi, như một lời giối giăng và gởi gấm giọt máu của tôi cho anh.

Tôi nhìn chị viết, đôi vai gầy rung rung, thỉnh thoảng lại đưa chiếc khăn trắng lên chùi mắt. Tôi lại liên tưởng đến đời mình. Chị giối giăng ký thác cho tôi ư? Trong cảnh này, tôi hay chị, ai là người sẽ về lòng đất trước, chị có biết được không? Mặc dù lòng mình đầy vơi những nỗi niềm, nhưng nhìn chòm tóc bạc trên đầu chị, nhìn cái dáng đứng nghiêng nghiêng làm cái cổ chị rụt lại; tôi đành phải đè nổi niềm của mình xuống, để gọi là làm “cái cọc mục cho rêu bám” vậy!

Từ hôm ấy, trừ những ngày chị phải đi cung, bất kể ngày đêm, tôi và chị thường đứng viết “nói chuyện” với nhau. Thậm chí, nhiều lần, tôi còn giúp chị được những ý kiến để hóa giải một phần nào mưu mô, đòn phép của chấp pháp.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Người nữ gián điệp của Sài Gòn!

Đặng Chí Bình

Bài 19

Buổi trưa hôm nay, gió bỗng nổi nhiều hơn, trời đã lành lạnh, xà lim mới cho mượn chăn. Vì thế sau khi ăn cơm sáng, buổi trưa tôi đã nằm đắp chăn cho ấm, rồi lim dim đi vào giấc ngủ ngày lúc nào cũng không hay.

Một lúc, tôi chợt giật mình tỉnh dậy, vẫn nằm im trong chăn, tôi lắng nghe: Ngoài tiếng gió rung những lá bàng ở ngoài sân, tôi đinh ninh không lầm là có nghe thấy, không những bằng tai mà còn bằng cảm giác, một tiếng động lịch kịch phía sàn bên kia… tường. Nghĩa là bên buồng số 6. Chỗ sàn tôi nằm ở sát buồng số 6. Lạ, số 6 từ nửa tháng nay không có người mà!… Nói chung, xà lim dạo này tương đối vắng, có tới 3, 4 buồng không có người. Chính vì thế, khi nghe thấy tiếng động vào sàn, tôi ngạc nhiên. Nhưng vẫn nằm yên lặng, tôi cố vểnh tai chờ nghe có tiếng động nào khác không?

“ Chả lẽ trong khi tôi đánh một giấc ngủ trưa, có người vào buồng số 6 mà tôi không biết? Tại sao mải không vào, lại… đợi đến khi tôi ngủ mới vào?”, tôi tự nhủ. Rồi lại nghĩ cũng có thể vì mới thức giấc, thần kinh còn đang chơi vơi nên tưởng lầm như vậy chăng?

Cục kịch! Lần này thì rõ ràng rồi! Rõ ràng tiếng động của ai đó nằm bên kia tường giở mình. Phải rồi, một người bạn, một đồng loại, một sinh vật cũng nằm song song với mình, chỉ cách một bức tường dày 20 phân. (Tường ngăn giữa hai buồng dày 20 phân; còn tường trước và sau dày 50 phân).

Để tìm một nguồn an ủi, trong cái vắng lặng heo hút, lẻ loi; tôi rút tay ra khỏi chăn, gõ nhè nhẹ vào tường hai cái: Cạch! Cạch!

Im ắng như tờ. Vẫn chỉ có tiếng gió lướt thướt rì rào chui luồn qua mái ngói. Tôi lại gõ thêm hai tiếng nữa như chào, như gọi người bạn mới, nằm cạnh nhau… Cũng vẫn không có một âm thanh nào đáp lại!

Tôi suy nghĩ: có lẽ, người bạn mới bị bắt vào, tâm hồn còn đang giao động, hoang mang; cho nên ai gõ, mặc ai, lòng đang đảo lộn đất trời, cuộc đời tan tác, vào tù rồi, còn thiết cái quái gì nữa!

Tôi thông cảm với người bạn mới, tâm trạng nghiêng ngả ngược xuôi khi cuộc đời rơi xuống hố, cho nên, tôi lại gõ nữa, như lời thăm hỏi an ủi của một người. Tôi vểnh tai lên nghe ngóng một lúc. Vẫn yên lặng như không có người. Tôi băn khoăn, thấp thỏm, chả lẽ tôi mơ? Hay, buồng bên ấy có…ma!…Nghĩ như vậy thôi, chứ ngay ban ngày, ban mặt…

Tôi thấy mỏi người, liền xoay lại thế nằm quay sang phía khác, không hướng mặt vào tường nữa. Một lúc sau, hai mắt lim dim thả hồn lơ mơ vào giấc tỉnh say. Thình lình, một âm thanh vang lên như tiếng xiết, trượt mạnh vào tường của một vật gì bằng gỗ? Không nằm mơ! Tôi xoay hẳn thế nằm lại, và giơ tay gõ nhè nhẹ vào tường “cạch, cạch!”. Bây giờ thì có hai tiếng gõ đáp lại, rất nhẹ, và thưa. Chính lúc này, tôi cũng không hiểu tại sao, chỉ nghe hai tiếng gõ mà lòng mình thấy vui hẳn lên. Với tay lấy cái lược sừng ở đầu sàn, tôi khua canh cách rốt rít vào tường như reo vui, như vỗ tay chào đón người bạn mới. Bên kia im lặng. Chừng nửa tiếng sau, tôi lại khe khẽ gõ hai tiếng nữa. Cũng có hai tiếng đáp lại, như hiểu ý định tôi nói gì.

Tới bữa cơm chiều. Sau khi lấy cơm vào rồi, tôi cố chờ không ăn vội, lắng nghe. Khi cán bộ mở buồng số 6, lấy cơm xong, cửa đóng; tôi nghe rõ tiếng bát đặt lên cái cùm như tôi bên này. Tôi liền gõ tường liên tục 5, 6 tiếng nhẹ, như ý mời anh bạn xơi cơm. Anh cũng ríu rít gõ đáp lại. Chỉ là những tiếng động thay lời, mà tôi thấy lòng mình hân hoan, ấm áp hẳn lên. Khi ăn xong, tôi cũng gõ, và cũng có tiếng vồn vã trả lời. Rồi trả bát, vào buồng, lại đi nằm. Cứ thỉnh thoảng, tôi lại nhè nhẹ gõ hai tiếng vào tường như muốn hỏi anh bạn buồng bên đã ngủ chưa? Hay có buồn không?… Anh cũng luôn sốt sắng gõ đáp trả lời tôi. Dần dần rồi tôi đi vào giấc ngủ đêm thâu.

Ngủ được một giấc khá dài, tôi chợt choàng thức dậy. Đêm đã khuya, nhớ đến anh bạn nằm sát bên cạnh, tôi lại “cành cạch” hai tiếng thật nhẹ, để nếu đã ngủ, anh bạn cũng không vì thế mà mất giấc. Vẫn thấy hai tiếng trả lời. Rồi, tôi lại thiếp đi; được một chốc, lại tỉnh. Lại gõ, vẫn có tiếng trả lời. Tôi ngạc nhiên. Như vậy là anh bạn bên ấy không ngủ ư? Suốt đêm, cứ lúc nào chợt tỉnh, tôi gõ, cũng đều thấy tiếng gõ trả lời!?…Gần về sáng, tôi thấy thương người bạn cả đêm sầu héo không ngủ được, nên tôi lấy cái lược gõ liên tục 7, 8 cái liền. Vừa như trách anh sao không ngủ, vừa như an ủi đừng buồn nữa. Anh bạn cũng đáp ứng vồn vã như hiểu ý tôi.

Chính vì chẳng nói thành lời, nhất là trong cảnh heo hút, vắng lặng thế này, lòng tôi càng bị lôi cuốn.

Ngày hôm sau, tôi muốn chờ nghe tiếng nói của anh bạn với cán bộ để có chút ý niệm về anh. Nhưng, đến buồng anh, lúc đổ bô, cũng như khi lấy cơm, trả bát, tôi không hề nghe thấy một âm thanh gì khác, ngoài tiếng những bước chân xèn xẹt đi qua lại trước buồng tôi. Vì lòng háo hức, muốn biết về người bạn nằm cạnh buồng, nên chiều hôm đó, đợi khi mở buồng số 6 ra lấy cơm, tôi ghé đầu sát đất, để nhìn qua khe hở, rộng chừng độ nửa phân, giữa mép dưới cánh cửa và nền nhà. Hai đôi bàn chân mờ mờ bước qua trước cửa buồng tôi, một đôi bàn chân dép râu đen đen của tên cán bộ Dư; còn đôi bành chân kia đi dép Thái Lan, quai đỏ. Đôi bàn chân rất trắng và nhỏ…như của phụ nữ làm tôi giật mình. Phải chăng người nằm phía bên kia, chỉ cách nhau một bức tường dày 20 phân, vẫn đêm ngày gõ chuyện trò với tôi là một người…phụ nữ?…

Vẫn như trước, tôi gõ mời xơi cơm. Ăn xong, lại gõ như chào đã ăn cơm cong. Bây giờ, bất cứ lúc nào tôi gõ là bên ấy lại gõ trả lời ngay.

Đêm hôm ấy, vào lúc nửa khuya, tôi chợt giật mình thức dậy, và tai nghe tiếng nức nở, nỉ non văng vẳng, lẫn vào tiếng gió rít của đêm thâu, nghe thật não nùng. Tiếng khóc, rõ ràng là âm thanh của một người nữ. Thổn thức, nấc lên từng cơn nghẹn ngào như cầu cứu, như van xin sự giúp đỡ của cuộc đời!

Tôi ngồi bật dậy, xác định hướng của tiếng khóc. Đúng là bên buồng số 6. Tôi vội vàng gõ mạnh mấy cái vào tường như hỏi tại sao lại khóc? Hãy nín đi thôi! Không có tiếng trả lời và tiếng khóc cũng ngừng bặt. Để động viên và an ủi, tôi gõ dồn dập thêm mấy cái. Có tiếng gõ trả lời, và đặc biệt là không còn khóc nữa, như hiểu ý.

Tôi suy nghĩ một cách chủ quan rằng, có thể trong khi tôi ngủ, người bạn tù nữ ở buồng bên đã gõ gọi, mà tôi không biết; rồi người bạn tù tự dưng cảm thấy tủi thân, giữa đêm khuya vắng lặng không ngủ được, nghĩ đến thân gái sa chân vào chốn ngục tù. Chung quanh im lìm, heo hút như nghĩa địa tha ma, chỉ thấy bốn bức tường lạnh lẽo và hai cái cùm to đen xì nằm im ỉm. Một nỗi cô đơn dâng lên, chỉ còn biết khóc.

Chợt một ý nghĩ đến với tôi: Người nữ này tội gì? Chính trị hay hình sự? Ở Hỏa Lò đã gần 4 năm, tôi chưa thấy người phụ nữ nào bị giam một mình ở xà lim cả. Phải nói, xà lim lúc ban ngày đã vậy, huống chi ban đêm, nhất là những đêm mưa dầm gió bấc không ngủ được, cứ trằn trọc một mình một bóng trong căn buồng hẹp vắng vẻ, cô liêu, chỉ nghe những tiếng rên la, hoặc tiếng hét trong cơn mê sảng của các buồng khác; ngay đàn ông cũng ít người chịu đựng được nổi, huống hồ là đàn bà. Do đó, thường chúng phải giam hai người để dựa vào nhau những lúc tối lửa tắt đèn; hoặc giả để không vì chán nản và tuyệt vọng quá mức mà nảy ra ý định tự tử. Thế mà bây giờ lại chỉ có mỗi một phụ nữ trong buồng số 6? Buồng này, tôi đã từng ở, và cũng là nơi tôi đã có kỷ niệm trốn tù bất thành. Buồng đó ở đúng chỗ gẫy khúc của xà lim, nên rộng hơn các buồng khác một chút. Vì vậy, nỗi hoang vắng lại càng lớn thêm ra. Một mình, cứ ngồi đấy suốt đêm, ngày, chỉ có thối ruột ra thôi.

Nhận thấy tiếng gõ của mình làm cho buồng số 6 ngưng tiếng khóc, tôi nảy ra ý định phải tìm cách liên lạc được với buồng số 6, để an ủi và hiểu rõ về người bạn tù “láng giềng” này. Nếu liều lên tiếng hỏi, dù có theo dõi được sự ra vào của cán bộ để không sợ bị bắt; nhưng, kinh nghiệm đã qua cho biết, trong xà lim không phải là không có những loại người của Cộng Sản cho vào nằm cùng buồng, dùng khổ nhục kế, để moi tin, để khai thác cũng như điều tra một người nào đó, hoặc qua những lời đối thoại hỏi han nhau giữa các buồng… Như vậy, che dấu được cán bộ xà lim, nhưng chấp pháp vẫn biết tôi có liên lạc với buồng số 6. Phần khác, buồng số 6 là phụ nữ, các buồng khác họ cũng muốn nói chuyện với buồng số 6, nhưng số 6 không chịu trả lời; vậy càng bất tiện nếu tôi lên tiếng. Tôi nằm nghĩ ngợi, suy tính. Cuối cùng, tôi nghĩ thử đánh kiểu “morse” xem sao, có thể số 6 hiểu lối đánh này. Vì lối này khá thông dụng, ngay trong Hướng Đạo cũng có dạy. Nghĩ thế, tôi lồm cồm bò dậy. Bằng sống chiếc lược sừng nhỏ, với khuỷu đốt ngón tay, tôi hỏi: “Ai đấy?”, im lặng một lúc, rôi tôi nghe tiếng bàn tay xoa xoa lên tường, như trả lời không hiểu.

Vậy là số 6 không biết lối đánh “morse”, tôi hơi nản lòng. Nhưng, chợt nảy ra một phương pháp khác…

Trước hết, tôi gõ nói về ngày bị bắt của tôi. Nếu số 6 thông mình, hiểu được, sẽ trả lời tôi ngày bị bắt của số 6. Đêm khuya, hơi lành lạnh, tôi lấy cái chăn khoác lên người. Rồi bắt đầu, tôi gõ hai tiếng:”Cạch, cạch!”. Sau khi số 6 cũng gõ hai tiếng trả lời như mọi khi, cũng có nghĩa là lúc này số 6 đang lắng tai nghe. Tôi lại lấy sống chiếc lược sừng để gõ, vì tay gõ mãi cũng thấy đau đau. Tôi bắt đầu gõ:”Cạch cạch…24 lần, ngừng lại; gõ tiếp 6 lần, ngừng lại; 1 lần, ngừng; 9 lần, ngừng, 6 lần, ngừng; 2 lần, ngừng. Tôi chờ đợi, nghe bên kia tường có âm thanh rê đi rê lại, hình như của một cái cán quạt thì phải, như có ý nói là không hiểu, chưa hiểu!

Tôi lập lại một lượt như trên. Vẫn tiếng rê ở trên tường. Tôi hiểu “vạn sự khởi đầu nan” là chuyện thường tình; vậy cần phải kiên trì, đừng nản lòng. Từ suy nghĩ này, tôi lại gõ đúng như trên một lượt nữa. Im lặng. Tôi ngồi bên này tường, hình dung ở bên kia, số 6 đôi mắt đang tuy mở, nhưng sẽ chẳng nhìn thấy một cái gì rõ, chỉ vì óc đang bận suy tính về những tiếng gõ của tôi ở trên tường. Chợt, tiếng cán quạt đập rối rít vào tường một lúc, rồi ngừng lại. Và bắt đầu gõ: 24-6-1962. Mắt tôi lúc này hẳn sáng lên, tay tôi cũng cuống quít đập cả lược, cả tay vào tường (dĩ nhiên tôi cũng kềm chế để âm thanh tiếng đập cũng như tiếng gõ không quá lớn đến độ các buồng khác cũng nghe thấy rõ). Vừa mừng vì số 6 đã hiểu; lại vừa thích thú vì số 6 tỏ ra thông minh. Sau đó, số 6 gõ hai tiếng:”Cạch cạch”. Tuy không quy định, nhưng tự nhiên hai tiếng gõ bây giờ như thay cho hai tiếng gọi nói chuyện. Tôi đáp lại hai tiếng như trả lời: “Sẵn sàng”! Rồi, số 6 gõ “25 (ngừng” 9 (ngừng) 1965. Tôi đập chiếc lược lia lịa vào tường mừng rỡ. Như vậy, số 6 đã bị bắt hơn một tháng rồi. Hôm nay, 18-10-1965. Và, cũng có nghĩa là số 6 đã hiểu tôi bị bắt đến nay đã 3 năm rưỡi rồi.

Tôi gõ tiếp: Ngày, tháng, năm sinh của tôi. Tôi được trả lời: Ngày, tháng, năm sinh của số 6. Số 6 năm nay đã 37 tuổi. Hơn tôi những 10 tuổi.

Điều buồn là đến đây, cách nói chuyện kiểu này gặp trở ngại. Tôi muốn hỏi tên số 6, và bị bắt về tội gì, v.v… nhưng đành chịu. Thật là tức, suốt đêm ngày ngồi không, mà chẳng nói chuyện với nhau được.

Bần thần nghĩ ngợi một lúc, chợt trong đầu tôi lóe lên một tia sáng. Phương pháp này tuy hơi mất công lúc đầu; nhưng khi quen, cũng tạm được. Ngay “morse” khi mới tập, cũng nhiều bỡ ngỡ, khó khăn. Nhưng, cứ dùng mãi, đánh mãi, sẽ quen và trở thành gần như nói chuyện bình thường vậy. Muốn nói chuyện tạm được với nhau, cách gì cũng phải qua vần a, b, c…Ở đây, hãy dùng vần chữ Việt, 23 chữ cái: A, B, C, v.v… Vậy A: 1, B: 2, C: 3, v.v… cho tới Y: 24. Để giản đơn và ngắn gọn hơn cứ 10 là một tiếng “thình” của gót bàn tay đập vào tường. Thí dụ: Chữ “Y” là thình thình, cạch, cạch, cạch, cạch. Chữ “K” là thình; chữ “N” là thình, cạch, cạch, cạch, v.v…

Sau khi nhẩm tính xong, vấn đề kế tiếp là làm sao để số 6 cũng biết như mình. Tôi hiểu số 6 cũng đang tức bực, không biết cách gì để hỏi và nói chuyện với tôi.

Bắt đầu, tôi gõ “cạch, cạch” là tiếng gọi “nói nhé?”; và sau khi số 6 đáp trả hai tiếng “sẵn sàng!”, tôi gõ “cạch”, rồi nói to:”A…À…À…”; “cạch, cạch” lại hô “Bê…ề…ề…”; “cạch, cạch, cạch” lại hô “xê…ề…ề…”. Tôi ngừng, lắng nghe, âm thanh cái cán quạt bên số 6 rê đi rê lại trên tường một cách chậm chạp. Tôi lại làm như trên một lần nữa. Một lúc, một lúc, bỗng tiếng cán quạt đập liên hồi vào tường. Rồi số 6 gõ lại:”Cạch (ngừng); cạch, cạch (ngừng); cạch, cạch, cạch (ngừng); cạch, cạch, cạch, cạch (ngừng).

Tôi cũng đập rối rít; thậm chí cả gót chân của tôi cũng rung rung, đập đập xuống sàn cho số 6 thấy nỗi vui mừng của tôi. Sau đó, tôi gõ: 5 cạch, 1 cạch, 1 thình 1 cạch, 7 cạch; rồi lấy cái sống lược kéo một cái trên tường nghĩa là sang chữ khác: 3 cạch, 8 cạch, 9 cạch, 1 thình 3 cạch, 8 cạch, kéo lược. Ngừng một lát, bên số 6 cứ xoa xoa tường, ra vẻ không hiểu. Tôi lập lại lần nữa. Số 6 rối rít gõ lại cho tôi…

Tôi được biết tên số 6 là: Đào Thị Bắc, Bằng phương pháp cổ lỗ sĩ ấy, tôi và chị Bắc say mê nói chuyện với nhau đêm ngày; trừ lúc ăn cơm hay đi đổ bô thôi. Đêm nào cũng thức khuya để nói…chuyện. Một điều tôi không tưởng tượng được chị Bắc lại là…gián điệp của Sài Gòn.

Bốn, năm ngày đầu còn chậm chạp, khó khăn để hiểu nhau; nhưng sau đó, nghe gõ là đã biết ngay chữ gì. Hơn nữa, có nhiều chữ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong câu chuyện, chúng tôi gõ “tắt”, nên càng nhanh hơn. Thí dụ: Chữ “Bình”, chỉ cần gõ chữ “B”, và “Ba”; là “Bắc”; hoặc “CP” là “chấp pháp”, v.v…

Sau khi biết được chị Bắc là điệp viên của Sài Gòn và cũng là điệp viên của miền Bắc nữa, tôi càng ngạc nhiên. Như thế, chị Bắc là loại gián điệp “hai mang” ư? (Agent double). Tôi hỏi, chị lại bảo là không phải. Rất nhiều điều tôi muốn biết rõ về chị; nhưng phương pháp liên lạc này không cho phép hỏi được nhiều, nhất là chờ thời gian, nghĩa là hỏi dần dần, vì dạo này, chị thường phải đi cung luôn.

Những lúc chỉ đi cung, tôi nằm trong buồng lại thấy buồn. Kể cũng kỳ, trước đây, cứ một mình lùi lủi mấy năm trời có sao đâu; thế mà những lúc chị đi cung, tôi thấy như thiếu vắng một người bạn tâm tình đồng chí. Tôi nghĩ đến buồng số 4. Một điều vui mừng là anh chàng này cũng tỏ ra rất thông minh. Tôi chỉ giải thích vài lần, anh và tôi đã nói chuyện được rồi. Tên anh là: Nguyễn Lân, ở Quảng Bình, anh cũng cùng tuổi với tôi. Bố anh là liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Anh là sinh viên du học ở Roumanie. Anh mới bị bắt, và bị đưa vào Hỏa Lò ngay.

Về phần tôi, vì sự việc dài giòng, phức tạp, cho nên tôi chỉ nói với anh tôi là giáo viên Cấp II ở Phủ Lý. Chỉ có tên tuổi là tôi nói thật thôi. Ngay cả với số 6, tuy tôi đã biết chị là đồng chí, đồng nghiệp, nhưng tôi cần tìm hiểu thêm nhiều về chị Bắc đã; bây giờ cũng cứ tạm nói là giáo viên. Rồi dần sau tôi sẽ nói thực.

Tự dưng, tôi nôn nao muốn nhìn thấy con người thực của chị Bắc ra làm sao. Đến ngày Chủ Nhật đó, tên Bằng trực. Tôi chỉ theo dõi một lúc, đã nắm được hướng đi nước bước của y. Cứ mở cửa một buồng xong, y lại trở ra bàn ngồi; trong 5, 10 giây sau, người tù trong buồng mới ôm bô đi ra. Có khi y đã ra tới gần bàn, trong này người tù mới ra khỏi buồng. Có thể, y muốn ra ngay để khỏi phải đi cạnh một anh tù hôi hám, lại ôm cái bô thối hoang. Vả lại, y vừa ra tới bàn đã đứng quay lại nhìn tù ôm bô ra rồi. Có thể y nghĩ là như vậy thì tù làm sao có thể liên lạc với nhau trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó được.

Vì nắm được như thế, cộng thêm sự háo hức muốn nhìn mặt của số 6, và lại không muốn báo trước cho số 6 biết; cho nên, khi tên Bằng mở buồng số 6, tôi đã chuẩn bị trước, trèo đeo ngay lên khung cửa sổ lớn phía trên cửa ra vào. Mặt tôi giô lên, lộ ra ở chiếc khung có lưới thép. Trèo lên đứng kiểu này không phải dễ; phải có một cánh tay và một cái chân khỏe mạnh đủ để có thể chịu đựng sức nặng của cả cơ thể.

Số 6 ôm bô ra đi; tôi phải công nhận “trường” mắt của số 6 tương đối bén nhạy. Mặt tôi cao hơn số 6 đến 1m2, 1m3; thế mà số 6 đã ngửng lên trong khi ôm bô đi ra. Bốn mắt nhìn nhau, chả dám nói một câu. Bỗng số 6 cúi ngay xuống, có thể tên Bằng đã từ ngoài nhìn vào, tôi vụt tụt xuống. Lòng bâng khuâng nghĩ ngợi về con người của chị Bắc.

Mặt chị hơi dài, da trắng, môi dưới hơi thưỡn ra. Trên đầu chị, phía trước bên trái có một chùm tóc bạc giữa những lọn tóc đen buông xõa phía sau vai. Chị mặc một chiếc áo trắng, quần đen, như người nửa tỉnh, nửa quê. Nhưng, tôi cũng hiểu, quần áo đây chỉ là cách trang bị cho một “vỏ bọc” sống ở môi trường miền Bắc mà thôi.

Có một điều tôi hơi băn khoăn, là, khi bất chợt chị nhìn thấy tôi, đôi mắt chị sáng lên, tỏ ra một sự vui mừng như lâu ngày mới gặp lại người thân; nhưng ngay sau đó, một nỗi buồn như chiếc màn đen bỏ xụp xuống khuôn mặt của chị. Vì sao thế? Tôi chả hiểu được. Vì vậy, khi chị từ nhà tắm về, tôi im lặng không gõ nữa; và chị… cũng im luôn.

Chẳng hiểu vì lý do gì, làm như là thi gan với nhau, không ai chịu gõ gọi nhau nữa. Cho đến suốt bữa cơm chiều, tôi ăn xong, trả bát, sang gõ hỏi anh Lân mấy câu, rồi chào đi nằm ngủ… Mãi tới khoảng 10 tối, thoáng nghe có tiếng người khóc nức nở, trước nhỏ, sau to dần, tôi bò dậy lắng nghe. Thì ra tiếng khóc của chị Bắc. Đã từ nửa tháng nay chị không khóc; bây giờ tại sao lại thổn thức trong đêm khuya? Nếu là một người có lập trường ý thức chính trị rõ rệt, thì ngay gặp một người phụ nữ bình thường trong cảnh này, tôi cũng phải tìm mọi cách, tùy theo điều kiện, để an ủi, giúp đỡ; huống chi đây là một đồng chí, một chiến hữu, vừa là một đồng nghiệp của mình. Vì vậy, tôi không nghĩ ngợi lôi thôi nữa. Tôi gõ cành cạch hai tiếng để gọi. Im lặng. Một lúc, tôi lại gõ hai tiếng. Lần này, chị Bắc đã trả lời, mặc dù rất nhẹ và rời rạc.

Tôi hỏi: “Tại sao chị khóc?”. Chị trả lời: “Buồn, nên khóc”. Tôi chỉ biết khuyên chị hãy nhìn cảnh tôi, để mà vui. Tôi đã bị bắt từ hơn 3 năm rồi, mà vẫn còn nằm ở buồng tối đây này. Vả lại, buồn có giải quyết được vấn đề tha sớm hay muộn đâu. Do cách gõ, cho nên tôi chỉ nói được vài ý, mà cũng nói không hết, thường người nghe phải cố suy đoán thêm.

Nói chung, sau đó chị hết khóc. Và những ngày sau, tôi và chị tiếp tục gõ thăm hỏi nhau đêm, cũng như ngày.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Nằm…..đếm mùa Thu qua

Đặng Chí Bình

Bài 18

Trời đã lại chuyển sang Thu. Cứ mùa Thu rồi lại mùa Thu. Tôi cứ nằm đây để đếm mùa Thu qua, cho đến mùa Thu nào là mùa Thu cuối cùng?…Trên đài nheo nhéo là cho đến hôm nay, miền Bắc đã bắn rơi được…1261 máy bay Mỹ đủ loại; và đã bắt được nhiều phi công… Cứ mỗi trận đánh, hoặc trong một ngày, trên đài, trên báo chúng thường thông báo rõ ràng. Thậm chí, nhắc đi nhắc lại con số máy bay Mỹ các loại bị bắn rơi trên miền Bắc, cộng vào từng ngày nâng tổng số là bao nhiêu chiếc. Nhưng, riêng về phi công, thì chúng luôn luôn nói lấp lửng: hôm nay bắt thêm 3 tên, hôm khác bắt thêm hai tên, hôm khác nữa bắt thêm một số tên v.v…nhưng không hề tuyên bố, đã nâng tổng số là bao nhiêu phi công. Điều đó, chứng tỏ là ngay từ lúc này, Việt Cộng đã có ý đồ dùng vấn đề phi công để làm áp lực với Mỹ sau này.

Ai cũng hiểu, Cộng Sản ra cái vẻ thông báo với thế giới từng trận đánh, và con số “1261 máy bay Mỹ bị hạ cho tới nay” là phóng đại.

Tôi tưởng tượng một câu chuyện về số máy bay Mỹ bị hạ trên miền Bắc, rồi cười một mình:

“Một hôm Mao Trạch Đông nhấc điện thoại đặc biệt hỏi chuyện Hồ Chí Minh:

-A lô! Chú Hồ đấy hả?

-Dạ, em đây. Anh cần dạy gì em?

-Trên đài và báo chí, chú mày nói đã hạ được 1261 máy bay Mỹ. Chỗ anh em trong nhà, chú mày phải nói thực với ta: Đúng ra chú mày hạ được bao nhiêu cái?

-Thưa, anh hỏi em phải nói thực, để cùng nhau rút ra những bài học kinh nghiệm. Thú thực, chỉ có 514 cái thôi anh ạ.

Một tiếng “thình!”, Mao giận quá nên đập tay lên bàn:

-Chú mày lại bịp cả ta nữa! Theo tin của cơ quan tình báo tại chỗ của ta thì, Bắc Việt từ khi có chiến tranh phá hoại của Mỹ tới nay, mới bắn rơi được 184 cái thôi! Đến ta với chú mày vừa là đồng chí, vừa là anh em mà chú mày còn bịp, thì trên cái cõi đời này, còn ai mà chú mày không bịp nữa?”.

Sáng hôm sau, mùng 2 tháng 9. Mọi năm vào những ngày này, ôi, cứ là nhức cả đầu với tiếng loa. Nào là, thuyết minh cảnh diễn binh, biểu tình; nào là bài diễn văn trang giang đại hải… Nhưng năm nay, chúng đã im lìm làm lễ trước rồi, trong một xó xỉnh núi rừng nào đó. Bởi vì, hầu hết bọn đầu não Cộng Sản Hà Nội đâu còn ở thủ đô nữa; chỉ trừ những trường hợp cá biệt, một hay hai tên đi về tiếp xúc với các phái đoàn ngoại giao mà thôi!

Chẳng hiểu hôm nay, máy bay Mỹ có vào “thăm” miền Bắc, hoặc Hà Nội không đây? Có thể, người Mỹ lịch sự, hay có “giơ” chơi kiểu người lớn! Tôn trọng văn hóa các dân tộc, và nhân phẩm. Dù rằng có phải vì thế mà lính bị chết nhiều, hoặc thua Cộng Sản, thì cũng không thể chơi kiểu tiểu nhân như Cộng Sản được? Cho nên, bà con có thể cứ yên tâm đi cày cho khỏe vào, mà hưởng ngày “Cuốc Khéo”!…

Mãi gần 9 giờ, cán bộ mới vào mở các buồng cho tù ra đổ bô. Đến lượt buồng tôi, vừa mới ra khỏi cửa, tôi thoáng thấy tên Dư hôm nay mặc quần áo đại lễ vàng ươm, ủi cứng ngắc. Hai miếng “hàm” chuẩn úy đỏ loẹt, mới toanh gắn chéo vào hai bên ve áo. Mặt y tươi roi rói dưới cái mũ kê-pi cũng màu vàng, có chiếc đai đỏ như máu. Tôi có cảm tưởng cả bộ quần áo, và cái mũ như bằng giấy, nhất là nhìn xuống đầu hai tay áo của y, một bên chỉ thấy chùm chìa khóa đang rung rung, lúc lắc; còn bên chỉ nhìn thấy có hai, ba đầu ngón tay giữa thò ra chừng một đốt, đang ngọ nguậy. Cả con người lão trông, có lúc y hệt như những hình nhân xếp đầy ở ngoài hè, trên phố hàng Mã thời trước 1954. Nhưng, có lúc như những người nhà “đòn” đội mũ, mặc đồng phục để khênh quan tài người chết.

Vào buồng tắm, tôi vừa cọ bô vừa suy nghĩ. Đâu phải những tên cáo già Bộ Chính Trị miền Bắc không thấy như vậy! Nhưng, vì chúng đã hiểu, chính những cái “quê một cục” ấy là một yếu tố không thể thiếu, để tạo nên sức mạnh của chế độ đấy! Chúng thừa hiểu những bộ đồ “đờ luých” cắt may vừa vặn, những sự ngang bướng, lấy le, trở thành hình thức oai phong, nhưng trống rỗng tâm hồn hoặc chỉ bàn tán chửi đổng, cấp trên mà thôi! Cho nên, như con rắn, chỉ cần cái đầu thật khôn lanh, tinh quái, còn phần đuôi chỉ biết theo đầu, thì mới mạnh được.

Lúc ôm bô trở ra, dù đã hiểu thế, nhưng khi thấy tên Dư (người thì bé nhỏ, mà y lại tỏ ra bộ điệu quan trọng nữa chứ, khi y di chuyển chỗ này đến chỗ kia, trông nó cứng ngắc như trong cái hộp, giống như con ốc “mượn hồn” đang đi trên bãi cát ở biển), tôi phải qua đi chỗ khác, để cho hai cái mép của mình được thoải mái kéo rộng ra hai bên.

Khi ra lấy cơm, tôi lại thấy hai tên Chiến và Nhiễm cũng như hai con ốc “mượn hồn”, đang từ ngoài cổng xà lim đi vào. Tên Chiến lên thiếu úy, tên Nhiễm cũng lên chuẩn úy. Mặt tên nào cũng tươi roi rói. Tôi nhớ là mới năm 1963 vừa rồi, chúng đã được lên một lượt nữa. Phải chăng, hoàn cảnh đã dẫn đến thời chiến, những tên Bộ Chính Trị phải cần mua, phải cần “bơm” nhưng tên cán bộ cơ sở, hạ tầng trong mọi ngành nghề của toàn quốc? Tôi không được nhìn thấy cán bộ của các ngành khác, cho nên tôi chưa dám kết luận.

Ngày hôm sau, mới sáng ra, tên Bằng đã gọi tôi đi cung sớm. Đã khá lâu rồi, phải tới 2, 3 tháng nay, không hề gọi tôi đi. Chả hiểu hôm nay lại có chuyện gì mới? Khi ra khỏi cổng xà lim, nhìn ra sân trại chung, tôi thấy đã khác lạ hẳn với trước dây. Từ mấy căn nhà cạnh xà lim II, ra tới cái chòi, có mắc bốn cái loa ở giữa sân, bây giờ đã đóng cột quây cót lại thành một khu riêng. Những lá cót đóng, che cao chừng 2m2. Nhưng, phía dưới chân để hở ra chừng 30 phân của cái tường cót, thấy rất nhiều những cái chân trắng, đầy lông lá. Đa số là đi chân không, chả có giày, dép đi. Tôi hiểu ngay là mấy buồng kia, cạnh xà lim II, là chỗ giam phi công Mỹ. Phải quây cót ra, chiếm một phần sân, để hàng ngày cho phi công Mỹ ra tắm rửa, ăn uống. Phải quây cót lại vì Cộng Sản không muốn tù Mỹ và tù Việt Nam nhìn thấy nhau.

Tôi mải ngoái cổ nhìn những bàn chân to, nhưng gầy (thỉnh thoảng có những bàn chân đen ngòm, xen lẫn với những bàn chân còn quấn băng từng cục), mãi tới khi một tiếng quát làm tôi giật mình:

-Không đi, nhìn cái gì?

Tôi quay lại, tên Bằng đang lừ đừ nhìn tôi. Tôi tỏ vẻ trầm trồ, nói với y:

-Bắt được nhiều phi công quá!

Y lạnh lùng, chẳng trả lời tôi. Khi tôi ra tới chỗ phòng trực, cũng vừa lúc có hai tên cán bộ chấp pháp lạ, đang nhận lãnh hai anh phi công, một anh cao lênh khênh gầy nhỏng và một anh tầm thuớc có bộ râu quai nón chổi xể. Anh có bộ râu quai nón đưa mắt nhìn tôi hai lần; chẳng hiểu anh nghĩ gì? Chắc anh thấy một thân hình trắng xanh, ốm tong teo với đôi mắt trắng dã, nên anh nhìn chăng? Nghĩ thế, vì mấy lần trước đây, khi bị đi gọi cung, ra tới sân trại chung, tôi thấy một đám tù thanh niên rách rưới, tuổi khoảng trên, dưới 20, chỉ trỏ tôi với nhiều tiếng nói to:

–   Nguyễn Văn Trỗi, chúng mày ơi!

Tôi cũng không hiểu tại sao đám tù đó nhìn tôi lại gọi là “Nguyễn Văn Trỗi”? Phải chăng chúng nhìn thấy tôi từ ở trong cổng xà lim ra, phía sau có một cán bộ áo vàng; và có thể tôi có một dáng dấp giông giống như tên Nguyễn Văn Trỗi “chó chết” chăng, nên chúng đã thì thầm gán ghép cho tôi? Phải nói, sự gán ghép này chẳng làm cho tôi vui gì. Nhất là tôi cũng chẳng nhìn thấy hình ảnh tên Trỗi ra làm sao?

Khi ra tới sân trước, tức là sân có giàn nho, trên hành lang thang đi qua các phòng, tôi liếc vào cũng thấy một vài anh mũi lõ, mắt xanh đang ngồi ở chiếc ghế đẩu của bị can, giống như tôi vẫn ngồi. Như thế, điều này cho phép tôi hiểu, dạo này một số trong ngành chấp pháp của miền Bắc đã được học lớp cấp tốc Anh văn, hoặc những người đã giỏi Anh văn được huấn luyện để bổ sung cho ngành chấp pháp, nhằm tăng cường người hỏi và khai thác phi công Mỹ về tin tức, về những phương pháp, cũng như nghệ thuật không chiến và bắn phá, v.v…

Kẻ hỏi cung tôi hôm nay là tên Đặng, người Huế. Kỳ này y lại đeo kính trắng nữa chứ. Một tên cán bộ lạ đang giở chồng hồ sơ dầy cộm trên bàn. Tôi chưa xác định được vấn đề gì, cho nên, theo thói quen như mọi khi, tôi ngồi yên cúi đầu và chờ đợi. Với giọng miền Trung giòn và cứng, tên Đặng bắt đầu lên tiếng:

-Dạo này anh khỏe hỉ?

-Thưa ông, tôi vẫn bình thường.

Y nhìn tôi đăm đăm qua đôi mắt kính, rồi chậm rãi:

– Hôm nay, chúng tôi nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ của anh. Đã hơn ba năm rồi, tư tưởng của anh không có gì chuyển biến, chỉ vì anh đã mang sẵn trong người giòng máu phản động. Chính vì vậy, anh chỉ thấy chủ nghĩa xã hội nghèo nàn, lạc hậu, người dân phải đẩy xe bò, không có tự do đi lại, v.v… Anh làm sao nhìn thấy sức mạnh đang vuơn lên như Phù Đổng của toàn dân, một sức mạnh mà Mỹ, một tên hiếu chiến siêu cường hùng mạnh nhất thế giới, cũng đang phải điên đầu, ngang ngửa. Rồi đây, thời gian sẽ gột rửa giòng máu phản động trong con người của anh. Vậy, anh hãy nghe tôi đọc. Những đoạn nào trước đây anh đã khai báo nhưng chưa ký, bây giờ yêu cầu anh ký vào.

Cúi đầu, ngồi yên nghe y nói, tôi nhớ lại một buổi gần 3 năm về trước, hai tên Nhuận và Thành đã vui vẻ hỏi tôi nhận định về xã hội chủ nghĩa: Điều gì đồng ý? Điều gì tôi không đồng ý?

Tôi nhìn toàn bộ. Ngay từ cái gốc, Cộng Sản chỉ là một chủ nghĩa bịp bợm người ngây thơ, người lười suy nghĩ, để rồi cuối cùng khi mình bị chúng trói được rồi, chúng mới lột mặt nạ ra cho xem bộ mặt thật. Chúng chỉ là một lũ quỷ mắt đỏ, mồm xanh, răng nanh dài thượt, nhọn hoắt, chuyên ăn thịt người. Lúc đó, mình có muốn chống lại, đã muộn rồi!

Trong cái thế của tôi lúc đó, khi hai tên Thành và Nhuận hỏi, tôi vẫn không có ý kiến, hoặc nói ngược hẳn lại ý nghĩ, rằng tôi thích xã hội chủ nghĩa lắm. Mãi tới khi tên Nhuận cam đoan những lời nhận định, góp ý xây dựng của tôi sẽ không ảnh hưởng gì đến tôi cả, thì vô lý, không biện chứng; nên đành chỉ nói điều mà ai cũng trông thấy. Đó là cảnh người kéo xe bò, v.v… thấy họ cực khổ quá, nhưng tin chắc rằng ít năm sau sẽ khá hơn… Tôi cố ý nói như vậy để chúng mới tin là “tôi thích Cộng Sản” và cũng có một vài điểm tôi thấy chưa tốt. Tôi còn lạ gì lời dụ dỗ, hứa, hay cam đoan của Cộng Sản! Chỉ có thế. Bây giờ, sau hơn 3 năm rồi, chúng lại đem cái đó ra để sỉ vả tôi. Càng thêm một bài học cho tôi!

Chúng chỉ đọc sơ lại, rồi đưa tôi ký. Nhiều chỗ, chúng chẳng đọc cứ đưa tôi ký. Tôi cũng chẳng ngán gì. Dù bảo tôi ký vào bản án tử hình bây giờ, tôi cũng ký. Hơn nữa, tôi cũng tự hiểu, khi đã ở trong tay chúng rồi, những chuyện này cũng chỉ là hình thức. Nếu chúng định giết, định bắn, thì có lý bằng trời chúng cũng bắn, cũng giết. Vậy, ít ra phải hiểu nhau một tí chứ! Chính tôi đã nói thẳng với tên Đặng là khỏi cần phải đọc lại, mất công, cứ xem chỗ nào cần tôi ký, cứ đưa đây! Cả hai tên đều nhìn tôi bằng ánh mắt dịu mềm. Vậy mà cũng tới trưa, tôi mới được chúng cho về. Trên đường theo lão Bằng về xà lim, khi qua sân giàn nho, lão Bằng gặp một tên cán bộ, nên y ra hiệu tay bảo tôi chờ, để ý nói chuyện với tên cán bộ đó.

Mấy tháng nay, mới lại nhìn thấy màu trời. Trời mùa Thu thăm thẳm trong xanh. Một vài áng mây trắng lưa thưa đây đó, như những bông cúc, bông huệ trắng dính vào miếng vải xanh cánh chả. Mũi tôi đang tưởng tượng mùi huệ, mùi cúc, chợt mắt tôi nhìn thấy mấy đốm trắng bé tí ti, sáng chói như những con cò trắng bay rất cao.Đến khi tôi chợt nhận ra, đó là những chiếc máy bay, cũng là lúc còi báo động hồng hộc rú lên như con bò mộng bị thọc tiết, nấc lên từng đợt ùng ục. Rồi súng và bom nổ rầm trời…

Hôm nay, tôi mới trông thấy máy bay Mỹ nhào xuống như điện chớp; và những đường đạn phía  dưới bắn lên khắp đó đây như những đường chỉ trắng, ngắt từng quãng đều nhau chọc thẳng lên bầu trời xanh, trông như những tua khói trắng của chiếc pháo bông, sau khi nổ trong đêm hội hoa đăng.

Tôi mải mê ngửa cổ nhìn lên trời, bỗng tôi thót người vì tiếng quát giật giọng:

-Chui vào đây! Muốn chết à!?

Tôi nhìn về phía tiếng quát. Mãi trong một lỗ hầm tối om, ở một góc sân, một bàn tay áo vàng đang thò ra vời tôi rối rít. Tôi chạy tới gần cửa hầm, nhìn vào bên trong, thì ra tên Bằng cùng với 4, 5 tên áo vàng nữa, tôi chả biết ai với ai. Tên Bằng đang trợn trừng nhìn tôi. Tôi vừa cúi đầu chui vào, y đã cầm tay tôi lôi tụt vào trong, làm tôi ngã chúi đầu vào y.

-Ai cho phép anh đứng đấy nhìn máy bay?

Tôi nghĩ bụng: “Tôi cho phép tôi đứng chứ ai!” nhưng tôi chỉ nhỏ nhẽ trả lời:

-Thưa ông, tôi tưởng không được vào hầm với các ông!?

Y chẳng biết phải nói gì với tôi thế nào, cuối cùng, chỉ buông thõng:

– Vớ vẫn!

Ngồi trong hầm nhìn ra, tôi chỉ thấy một luống hoa hướng dương đã gần tàn, che lấp cửa hầm. Bên ngoài, bom cứ rơi, đạn cứ nổ. Có vào trong hầm, nghe những tên cán bộ thì thầm nói chuyện, tôi mới biết là đa số cán bộ Hỏa Lò phải chạy chui vào trong hầm, là vì chúng sợ máy bay Mỹ thì ít, mà sợ mảnh đạn phòng không rơi vào đầu thì nhiều. Qua câu chuyện của chúng, Hà Nội đã có nhiều người bị thương, thậm chí có người chết vì…mảnh đạn của đại pháo và trung pháo phòng không.

Hơn một tiếng đồng hồ sau, còi mới báo an. Tên Bằng giục tôi về xà lim ngay. Khi về qua sân trại chung, tôi thấy sân vắng tanh. Như vậy, mỗi khi có còi báo động, tất cả tù phải vào trong buồng.

Biệt Kích Lôi Hổ qua “Huyền Thoại Biệt Kích Cowboy” của tác giả Orchid Thanh Lê

Post by Sơn râu 2 Oct 2023

 Xin vinh danh sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam.

Một buổi sáng khi lớp học bắt đầu, tôi háo hức nói với người sinh viên:

– Tôi vừa nhận được một điện thư có thông tin liên quan về hồ sơ ngày 28 tháng 3 năm 1968 từ một người ký tên Cowboy Khánh Đoàn.

Bất ngờ anh sinh viên bật dậy từ ghế ngồi, chồm lên phía trước với vẻ mặt rạng rỡ:

– Cowboy Khánh Đoàn ư? Chúng ta gặp may rồi vì sẽ được thêm nhiều thông tin hữu ích. Cô có biết rằng Biệt Kích Mỹ thời chiến tranh Việt Nam khi nghe đến tên “Cowboy Khánh Đoàn” thì ngả mũ khâm phục không?

– Tôi nào biết! Chẳng phải Cowboy chỉ là một chàng trai đội mũ rộng vành, đi ủng có gắn miếng thép ở gót để thúc ngựa, mặc quần jean Levi’s hoặc quần da, cưỡi ngựa giỏi, hay tham gia đấu súng và bắn giỏi bằng cả hai tay, uống rượu trong quán nơi thường xảy ra các cuộc xung đột đó sao?

– Chưa đủ cô ạ. Rộng hơn, Cowboy còn có nghĩa là một người hùng thích phiêu lưu bất kể mọi tình huống hiểm nguy, theo đuổi một nghề nghiệp đòi hỏi sức chịu đựng bền bỉ và lòng can đảm phi thường; nhất là từ khi hàng loạt phim Hollywood về miền Tây hoang dã ra đời thì hình ảnh chàng chăn bò dần được thay thế bằng hình ảnh một chàng trai hành hiệp trượng nghĩa chiến đấu chống lại cái ác.

– Vậy huyền thoại Cowboy của lịch sử Mỹ có liên quan gì đến Cowboy Khánh Đoàn?

Nghe tôi thắc mắc, anh sinh viên mỉm cười:

– Dĩ nhiên tôi có thể kể cho cô nghe những điều tôi biết về người Biệt Kích Lôi Hổ với biệt danh “Cowboy” này nhưng nếu cô hỏi ngay nhân vật chính thì chẳng phải nhiều lý thú hơn sao?

Phải đấy, tôi thật sự muốn biết về Biệt Kích Lôi Hổ nói chung và người có biệt danh Cowboy nói riêng. Tôi tự tìm hiểu sơ qua về Biệt Kích Lôi Hổ trước khi liên lạc với người mình muốn chuyện trò.

Bối cảnh thành lập Biệt Kích Lôi Hổ bắt đầu từ đầu năm 1964 khi Mỹ muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát và phá hủy những mật khu và đường mòn Hồ Chí Minh mà Bắc Việt dùng để chuyển quân và vũ khí với ý đồ thôn tính miền Nam.

Để tránh vi phạm luật lệ qui ước về hiệp định chiến tranh quốc tế ký kết tại Genèva năm 1954, Mỹ thành lập Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam (Military Assistance Command Vietnams Studies and Observation Group – MACVSOG) mà trong đó những thanh niên khỏe mạnh, tinh nhuệ, đa số là người Nùng, được chọn để trở thành Biệt Kích Lôi Hổ. Việc huấn luyện, lương hướng, quân trang, quân dụng do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát và được hưởng qui chế tương đương như những quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ phục vụ tại Việt Nam.

 Những gì tôi biết về Biệt Kích Lôi Hổ quá ít ỏi. Cowboy lại kiệm lời, kín đáo, không dễ khơi chuyện. Ngoài những thông tin ông cung cấp nhằm hỗ trợ công tác của Văn Phòng tôi đang trợ giúp, ông không thổ lộ gì hơn. Cuộc nói chuyện qua điện thoại với ông dẫn đến điều tôi muốn biết nhân vật lịch sử nào mà Cowboy yêu thích thì được ông trả lời bằng câu hỏi ngược lại:

– Thế cháu có biết cuốn phim “PT-109” mà trong đó chú thần tượng nhân vật cựu tổng thống Kennedy vào thời điểm đó mới mang cấp bậc trung úy Hải Quân?

– Dạ, có chứ! Cháu còn nhớ sự kiện PT-109 đã đi vào âm nhạc Mỹ với sáng tác mang tên “PT-109” của Jimmy Dean.

Cuốn phim dựa trên nội dung câu chuyện thật của cựu tổng thống Kennedy được sản xuất từ năm 1963 đã đi vào lòng người xem những cảm xúc nhất định. Chú cháu tôi hào hứng nối tiếp nhau nhắc lại nội dung câu chuyện:

“PT-109 là sự kiện chìm tàu phóng ngư lôi mà thuyền trưởng là cựu tổng thống Kennedy đang mang cấp bậc trung úy vào năm 1943 thời Chiến tranh Thế giới thứ hai. Sứ mệnh của tàu phóng ngư lôi là di chuyển sát với một tàu khu trục Nhật Bản ở Solomons trong bóng tối và sau đó tấn công bằng ngư lôi. Sinh hoạt trong vùng chiến sự ở Nam Thái Bình Dương luôn đầy hiểm nguy, khó khăn và thiếu thốn. Tàu PT-109 của trung úy Kennedy không có liên lạc bằng vô tuyến, không được trang bị dẫn đường bằng radar trong lúc bị tàu khu trục Amagiri của Nhật Bản cắt ngang qua mũi tàu theo đường chéo. Trung úy Kennedy ngã nhào xuống, va vào vách ngăn thép. Hai thủy thủ mất tích. Bảy người bị rơi xuống vùng biển đầy cá mập trong tiếng la hét hoảng loạn. Còn 11 người, họ bấu víu vào vòm tàu bị lật úp, lênh đênh cả đêm trên biển Thái Bình Dương, xung quanh là các hòn đảo của kẻ thù.

Không thức ăn, không nước uống, không sóng vô tuyến, không bè cứu sinh, không thuốc men. Tất cả đã bị dạt tứ tung trên mặt biển. Tàu trôi chậm về phía nam. Khi nhận thấy tàu sắp chìm, họ quyết định bỏ tàu và bơi vào bờ. Trung úy Kennedy dùng răng giữ dây buộc phao cứu sinh của một thủy thủ bị bỏng nặng và cõng người này trên lưng, bơi về phía hòn đảo cách đó gần sáu ki-lô-mét.

Họ mệt lả, kiệt sức khi tới được hòn đảo hoang vắng. Họ phải bò vào các bụi cây để trốn tàu của Nhật. Trên đảo không có thức ăn, nước uống, không có gì có thể tận dụng được nhằm duy trì sự sống. Hòn đảo là một cái bẫy tử thần mà đường kính chỉ vỏn vẹn 91 mét. Trung úy Kennedy quyết định bơi từ đảo này đến đảo khác để tìm xem có tàu PT nào đi ngang qua không. Cuối cùng, anh đã dẫn cả đội tới đảo Olasana và thủy thủ đoàn PT-109 được cứu thoát.”

Hiển nhiên là cuốn phim đã ảnh hưởng sâu đậm đến định hướng binh nghiệp của Cowboy: chọn Biệt Kích Lôi Hổ để chiến đấu với kẻ địch, với bệnh tật, với thiên nhiên, để trải nghiệm mưu sinh thoát hiểm, và để được trui rèn trong nghiệp vụ tình báo và kỹ thuật tác chiến.

Nghe tôi nhất định nhận là có chung họ Hồng Bàng với ông và nằn nì ông kể thêm về Biệt Kích Lôi Hổ nhằm hiểu đúng hơn, Cowboy phải bật cười:

– Vậy thì chú sẽ bắt đầu từ kỷ niệm đầu tiên lúc gia nhập Biệt Kích.

Ngày ấy chàng trai vừa được tuyển mộ đang trong thời gian chờ đợi để đơn vị tuyển đủ quân số cho trung đội. Buổi trưa ngày thứ ba tại Sở Liên Lạc, anh bước vào khu nhà ăn đến quầy lấy thức ăn bỏ vào khay và quay tìm chỗ ngồi. Phòng lớn phía ngoài chật cứng, chỉ còn chỗ trống trong phòng nhỏ được ngăn bởi bức tường cao ngang thắt lưng có bảng hiệu chữ O gắn trước cửa (khu vực dành riêng cho sĩ quan) ở xa hướng tay phải. Với khay thức ăn trên tay, anh điềm nhiên bước đến chỗ ngồi nơi góc tường. Lúc anh vừa bắt đầu ăn thì có anh nhà bếp người Mỹ da ngăm, khá to con tiến đến bàn anh.

– You cannot sit in this room. (Anh không được ngồi trong phòng này.)

– Let me finish my lunch, please. (Xin để tôi ăn trưa xong cái đã.)

Anh chàng Mỹ xem chừng giận dữ, quát lên như ra lệnh:

– No. Stand up! Get out of the room now or I’ll punch you out of here. (Không được. Đứng dậy ngay! Bước ra khỏi phòng ngay bằng không tao thụi cho mày ra khỏi đây.)

Bất cần. Ông bà ta có câu “Trời đánh còn tránh miếng ăn”. Anh thản nhiên vừa ngồi ăn vừa nhớ lại lời của mấy tay Nùng dặn nhau chỉ mới cách đây một, hai hôm: “Đi lính Lôi Hổ mà không ba gai là bị đuổi về không được nhận đâu!”

Thình lình anh nhà bếp phóng tới chộp tay trái anh định lôi tuột ra khỏi phòng. Với phản ứng tự nhiên, anh đưa tay lên đỡ gạt bằng cách chặt ngay đúng huyệt nơi cườm tay của hắn ta cùng lúc tiện thể đứng dậy thả cùi chỏ tay còn lại ngay ngực hắn trong chớp mắt. Đòn trúng nhẹ nhàng nhưng hắn đã phải loạng choạng thối lui. Anh bình thản nói với hắn:

– You don’t have the right to do that. I must protect myself. (Anh không được quyền làm thế. Tôi buộc phải tự vệ thôi.)

Tay phải anh với cái ghế sắt để thủ thân (thật không uổng phí công lao của bố mẹ cho đi học võ thuật từ lúc chín tuổi để cường tráng thân thể), lúc này có anh Mỹ khác ngồi cách hai bàn đứng dậy nói to như hét:

– Take it easy, you guys! (Mọi chuyện ổn thôi, các bạn!)

Rồi anh ta quay sang anh nhà bếp:

– Let me take care of it! (Để tôi lo!)

Anh nhà bếp xụi lơ, bỏ đi.

Anh chàng Mỹ mới này khoảng trên dưới 30 tuổi, trông sáng sủa, cao ráo làm sao! Anh ta bưng khay thức ăn của mình bước đến bàn anh ngồi, nói năng lịch sự:

– May I sit here? (Tôi ngồi đây được chứ?)

– Certainly! (Đương nhiên rồi!)

– Are you a fresh soldier? I havent seen you before. (Lính mới hả? Hồi nào đến giờ tôi chưa thấy anh.)

Không để anh kịp trả lời, anh chàng Mỹ điển trai tiếp tục nói, “Thôi chúng ta nói bằng tiếng Việt đi. Anh có biết đây là phòng ăn của sĩ quan không? Anh muốn làm sĩ quan hả? Tôi là Trung úy Lực Lượng Đặc Biệt chính gốc, chịu trách nhiệm tuyển mộ và huấn luyện trung đội tân binh này, nhưng chưa tìm ra thông ngôn. Tôi nghe anh đối đáp với anh John nhà bếp khá sành sõi tiếng Mỹ, nên có thể nào cho tôi nói chuyện bây giờ với anh như một cuộc phỏng vấn không?”

Thế là cuộc phỏng vấn bất ngờ diễn ra. Đoàn Văn Khánh quê ở Chương Nghĩa Đoài, gần Bùi Chu, Phát Diệm, di cư vào Nam cùng với gia đình năm 1954. Khánh được gia đình cho theo học Pháp ngữ cấp tiểu học. Lên đến trung học thì bố Khánh, một người thức thời, khuyên anh nên chọn theo học Anh ngữ. Khánh đã có thể hưởng một cuộc sống an phận: anh là con trai độc nhất trong gia đình, có giấy chứng nhận sắc tộc thiểu số nên anh được miễn dịch. Tuy nhiên, bản chất khí khái không cho phép Khánh chấp nhận như vậy. Anh muốn làm nhiệm vụ người trai thời chiến bằng cách xếp bút nghiên gia nhập Biệt Kích hầu dễ dàng thoả chí tang bồng.

Cuộc đàm thoại thay cho phỏng vấn kết thúc với biên bản ký nhận hoán chuyển tình trạng hồ sơ của Khánh từ làm lính Biệt Kích chỉ mới ba ngày thành làm thông ngôn. Khánh bắt đầu làm quen với bộ quân phục đồ beo nút đồng, mũ bành to vè, và khẩu Revolvo (Ru-lô) nòng dài và giây đạn (có nhét đạn chung quanh) đeo lủng lẳng. Trông ra dáng một Cowboy oai hùng.

Tôi nối tiếp cuộc nói chuyện bằng câu hỏi:

– Cháu nghe nói tân binh Biệt Kích Lôi Hổ được đưa đến huấn luyện tại các căn cứ tiền đồn hoặc kế bên các trại Lực Lượng Đặc Biệt dọc theo hành lang biên giới như Khâm Đức, A-Shau, hay Khe Sanh, phải không ạ?

– Đúng đấy, nhưng Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng tại Long Thành là nơi trắc nghiệm, tuyển chọn lại và cấp giấy chứng nhận mỗi khóa huấn luyện cho Biệt Kích Lôi Hổ. Đôi khi Biệt Kích cũng được gởi đến các quân trường khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà để có giấy tờ phù hợp chuyên ngành. Những căn cứ huấn luyện này tùy thuộc vào mục tiêu của các nhiệm vụ để cung cấp huấn luyện cần thiết: Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù thì cấp bằng dù, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ chuyên huấn luyện về chiến thuật hành quân biệt động như rừng núi sình lầy hay hành quân viễn thám, Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt tại Đồng Bà Thìn phụ trách huấn luyện dây tử thần, bắn tỉa, vân vân.

– Biệt Kích Lôi Hổ cũng nhận huấn luyện căn bản tương tự như bao binh chủng khác, phải vậy không chú?

– Đại loại, huấn luyện căn bản của Biệt Kích Lôi Hổ bao gồm huấn luyện vũ khí đủ loại, di hành, cứu thương, mìn bẫy, mưu sinh, thoát hiểm, phản ứng cấp thời, bắt tù binh, võ thuật cho cận chiến, thậm chí đôi lúc có võ sư tiếng tăm ngoại quốc được thuê về dạy.

Cowboy cho biết thêm rằng Biệt Kích Lôi Hổ còn được huấn luyện tự do theo sở thích và khả năng để trở thành điêu luyện bằng cách học hỏi từ bậc đàn anh. Tốp tân binh nghe đi tập bắn thì khoái chí, mang một lần bốn thùng đạn, đến bãi bắn có đàn anh hướng dẫn, chỉ cách tháo, ráp súng tại chỗ và tập bắn vào bia bằng các-tông; dùng đại liên và súng lục bắn cho hết bốn thùng đạn, bắn tự do thoải mái chứ không theo bài bản như ở các quân trường: “Một viên đạn nạp. Nhắm từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi. Nín thở. Bóp cò.” Tối về tai người nào người nấy rát bùng, cấp chỉ huy quát gọi cũng chẳng nghe. Vài hôm sau được gọi đi tập bắn tiếp, tân binh rút kinh nghiệm chỉ mang một hoặc nửa thùng đạn, che bít hai tai, bắn kiểu tự do như trong xi-nê, tập đi tập lại cho đến khi bắn không cần phải nhắm mà vẫn trúng đích. Sau vài lần huấn luyện di hành, nếu cảm thấy nặng thì đổi súng khác nhẹ hơn, và cuối cùng đối với bất cứ loại súng gì (của địch lẫn của ta) Biệt Kích đều sử dụng rành rẽ.

Càng nghe càng hiếu kỳ, tôi hỏi thêm:

– Thế huấn luyện Biệt Kích Lôi Hổ có khác biệt cụ thể nào so với các binh chủng khác, thưa chú?

– Sự khác biệt ở chỗ là Biệt Kích Lôi Hổ được huấn luyện hàng ngày hàng giờ mà chính bản thân họ cũng không ý thức được là đang được huấn luyện. Qua sinh hoạt đời thường, họ được các toán trưởng Mỹ ngầm quan sát để hướng dẫn những bài học tình báo, thử thách lòng dũng cảm, sự nhạy bén khôn ngoan, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm biết bảo tồn danh dự và hy sinh cho chiến hữu, vân vân.

– Lý thú lắm, chú ạ!

– Thêm một khác biệt nữa là Biệt Kích Lôi Hổ không được huấn luyện quân cách như diễn hành hay chào kính bởi vì càng che dấu tông tích nơi công cộng thì càng dễ dàng thi hành phận sự.

– Quả là Biệt Kích Lôi Hổ phải trải qua bao thực tế để khả năng và thành tích chiến đấu được xem xét, trắc nghiệm và đánh giá kỹ lưỡng; do đó để được công nhận là một Biệt Kích Lôi Hổ xuất sắc trong toán thám sát ắt là một thử thách lớn.

– Không sai. Đã có biết bao tay giang hồ ngang tàng gia nhập Biệt Kích Lôi Hổ mà cũng phải đào ngũ ngay từ thời gian đầu huấn luyện. Cháu biết đấy, an toàn sinh mạng luôn là hàng đầu ở bất cứ tình huống nào cho nên mỗi lần nhận nhiệm vụ, Biệt Kích Lôi Hổ đều phải thực tập đội hình, vũ khí tác xạ, điều nghiên địa thế, khí hậu, phương tiện và vị trí di chuyển, phân công, cứu thương, vân vân. Các toán viên phải bảo đảm phối hợp hành động ăn ý dù chỉ thể hiện qua ánh mắt hoặc bằng cử chỉ để hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp.

Chuyển sang khía cạnh quyền lợi của Biệt Kích Lôi Hổ, tôi thẳng thắn hỏi ông:

– Phía Mỹ đãi ngộ Biệt Kích Lôi Hổ ra sao, thưa chú?

– Tùy theo toán trưởng Mỹ đề nghị dựa vào thành tích đạt được mà phía Mỹ tăng lương. Thỉnh thoảng có tháng Biệt Kích Lôi Hổ được lãnh lương hai lần, cũng có tháng lên đến ba lần. Chuyện khó tin nhưng vẫn xẩy đến với Biệt Kích Lôi Hổ của các toán thám sát. Bởi thế ở Huế có câu hò rằng “ơ…ơ… khi mô sông Hương cạn nước ơ…ơ… thì Lôi Hổ mới hết tiền”.

Tôi hỏi Cowboy về chuyện thăng cấp của riêng ông và được biết sau vài chuyến di hành huấn luyện vào sâu mật khu bên kia biên giới, cũng có những lần đụng địch quân, Cowboy được thăng cấp bậc là Trung úy Biệt Kích Lôi Hổ. Trung đội trưởng long trọng gắn hai baza màu đỏ bên hai cầu vai của Cowboy trước hàng quân.

Cowboy kể thêm rằng những lần đi công tác hay về phép Biệt Kích Lôi Hổ không phải qua bất cứ hệ thống kiểm soát nào của phi trường và cũng không phải chờ đợi. Xe của Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát sơn màu đen không có bảng số, chỉ treo một cái thẻ bằng cỡ căn cước, ra vào cổng phi trường trình cho Quân Cảnh xem là được ngoắc tay cho đi qua.

Tôi nghe đến đây thì buột miệng:

– Kể thì oai quá!

– Thật ra Biệt Kích Lôi Hổ như tụi chú rất giản dị và bình thường, tương tự như bao người lính khác của các binh chủng oai hùng thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; hoặc e là không bằng họ nữa là khác.

Vẫn lời lẽ khiêm tốn, Cowboy không quên nhấn mạnh rằng những chiến tích mà các toán thám sát Lôi Hổ lập nên còn được sự yểm trợ của những đôi cánh thép trong các chuyến bay thả biệt kích dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh của Phi Đoàn Thần Phong 219. Phi đoàn 219, hậu thân của biệt đoàn 83, tăng phái cho Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát, được phi công của hai phía Việt-Mỹ và các Biệt Kích biết dưới danh hiệu “Kingbee”. Mặc dù không trú đóng cùng căn cứ với Biệt Kích nhưng mức độ hiểm nguy của nhiệm vụ thả và bốc toán của phi đoàn 219 không thua gì nỗi chết rình rập bên Biệt Kích Lôi Hổ. Các phi công Thần Phong gan dạ và tài tình, bất kể thời tiết xấu hay đạn pháo đối phương bủa vây vẫn bằng mọi cách đáp xuống để đem Biệt Kích và xác chiến hữu ra khỏi vòng vây địch.

Ông đồng thời nhắc đến một nhân vật anh hùng trong Phi Đoàn Thần Phong 219 cũng được mệnh danh là “Cowboy”.

– Thế còn chú thì sao? Cháu được biết một nhiệm vụ mà chú thi hành đã có mã “Cowboy” để liên lạc truyền tin. Nhưng từ lúc nào và tại sao biệt danh “Cowboy” gắn liền với tên tuổi của chú trong sự ngưỡng mộ vượt bực của Biệt Kích Mỹ?

Ông cười vang:

– Do từ một câu chuyện được nhắc rồi nhớ chứ thực sự bản thân chú không nhớ.

Đó là sau lần đụng địch bị thương phải cưa bỏ chân và không thể tác chiến được nữa, Cowboy được điều phái đến phòng truyền tin.

Một buổi sáng mở cửa phòng làm việc, Cowboy Khánh Đoàn bất ngờ thấy trong phòng lố nhố các trưởng ban, một số sĩ quan, và một người Mỹ ăn vận dân sự. Một trưởng ban giới thiệu Cowboy với người Mỹ này:

– Đây là người mà ông đã muốn gặp từ tối qua đến giờ.

Người Mỹ quay qua chăm chú nhìn Cowboy, hỏi một loạt “Mày là Cowboy?”, “Mày trú đóng tại Tiền Doanh 1?”, “Mày thuộc toán thám sát ALABAMA?”, “Mày giữ vị trí 02?”.

Cowboy đi từ ngỡ ngàng này sang ngỡ ngàng khác. Mỗi câu hỏi được đáp với một cái gật đầu.

– Mày có biết tao là ai không?

Lần này câu trả lời là cái lắc đầu kèm theo cái nhíu mày.

Người Mỹ tiến sát gần, nhìn sâu vào mắt Cowboy:

– Mày đúng là Cowboy rồi.

– Thì chớ sao nữa!

– Ô-kê, nếu mày thực sự là Cowboy thì tao sa thải mày ngay từ lúc này.

Đến lúc đó thì Cowboy nổi nóng. Bản chất ngang tàng trỗi dậy, Cowboy lớn tiếng:

– Tao cóc cần biết mày là ai hết. Tao chỉ biết mày đuổi việc tao là hết sức phi lý vì tao đang cần tiền nuôi vợ con. Cho tao biết lý do sa thải đi.

– Rõ ràng mày không biết hoặc không nhớ tao là ai hết sao?

– Tao đã nói tao chẳng nhớ mày là thằng quái nào rồi mà.

– Tao đã cố tình nhắc đến Tiền Doanh 1, rồi toán thám sát ALABAMA, rồi vị trí 02, vân vân, thế mà mày vẫn không thèm nhận ra tao nữa ư?

Giọng nói lộ vẻ thất vọng rõ rệt, rồi bất ngờ người Mỹ dang hai tay ôm ghì lấy Cowboy thiếu điều nghẹt thở, đoạn quay qua nói với mọi người:

– Cái cấp bậc trung tá của tao ngày hôm nay là của nó. Cái chức vụ Chỉ huy trưởng Cố vấn Quân Đoàn 1 sắp tới của tao cũng là của nó.

Cowboy đứng như trời trồng, ngẩn ngơ.

Người Mỹ ăn vận dân sự chính là trung tá Granham. Cùng ngày, tại buổi lễ nhận chức vụ mới, vị trung tá kể lại câu chuyện trước sự hiện diện của các chiến hữu tham dự.

“Ngày đó, trung tá Granham còn là đại úy, nhận nhiệm vụ truyền tin nhập với toán Cowboy. Xảy ra đụng địch, phía đối phương quăng lựu đạn chày. Máu toé đầy mặt viên đại úy khiến hắn tối tăm mặt mũi không mở mắt được, giãy giụa, thét la đau đớn.

Cowboy lúc đó đang ẩn nấp sát bên cạnh viên đại úy, cảm thấy bất ổn, không còn giải pháp nào khác hơn, chỉ còn cách chĩa họng súng ngang mang tai hắn ta, rít khẽ:

– Mày không im miệng là tao cho mày đi luôn.

– Tao trúng rồi. Làm sao đây?

– Để tao tính.

Từng được huấn luyện cứu thương, Cowboy mở vội ba-lô sơ cứu tại chỗ: băng bó tạm, tiêm ngay morphin để viên đại úy bớt rên rỉ. Viên đại úy vẫn không thể mở mắt được nên Cowboy quyết định chớp nhoáng: lệnh cho toán ở lại cự địch và đồng thời bắn yểm trợ để anh cõng viên đại úy chạy đến nơi trực thăng cứu thương sẽ đáp. Với khuôn mặt nhòe nhoẹt máu và bệt bùn đất, viên đại úy nằm đó nghe rõ mồn một chỉ thị của Cowboy, gượng bò lên bám vai anh, trút bỏ ba-lô cá nhân để giảm trọng lượng, gắng nương theo để Cowboy cõng chạy men theo sườn đồi.

Những tưởng rằng chiến tranh khiến con người ta trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn nhưng kỳ thực chính chiến tranh tạo ra lắm thứ hết sức đời thường. Cái đời thường ở đây chính là tình chiến hữu sống chết có nhau.

Hai tiếng đồng hồ có dư, tính từ lúc Cowboy cõng chạy người chiến hữu bị thương trên lưng và miệng liên tục thốt ra lời khích lệ trong giọng nói hổn hển, ngắt quãng: “Mày ráng chút nữa. Đừng lo. Có tao bên mày đây.” Khoảng cách đến bãi đáp không quá xa nhưng sức nặng quá tải khiến Cowboy phải nghiến răng, thở hồng hộc lên đồi xuống dốc. Vùng biên giới Lào tựa chảo đang rang cát. Nóng thiêu. Khô bỏng. Mồ hôi tuôn ròng mờ mắt. Hai thân người đổ chập thành một bóng dài trong một đôi chân đang rảo chạy. Đôi chân vững chãi ấy có vài lần chậm lại để liên lạc truyền tin hay quan sát tình hình, phán đoán, và quyết định hành động ứng biến. Chỉ khi nghe tiếng cánh quạt của trực thăng nặng nề vang dội trên đầu thì Cowboy biết mình đã tròn trách nhiệm với chiến hữu.

Biệt Kích Lôi Hổ đa số là dân tứ xứ ở Việt Nam, trai tráng độc thân, vào sinh ra tử cùng nhau biết bao lần, lúc bình thường cũng như lúc lâm nguy họ đều chia sẻ hy sinh cho nhau. Họ không có gì để mất mát hay đổi chác nên cũng chẳng cần bon chen, so đo tính toán. Họ không thích bị ai ăn hiếp và quan niệm cái quý giá nhất là mạng sống con người. Dẫu chỉ còn một chiến hữu sống sót thì cũng phải bằng mọi giá đưa người chiến hữu ấy trở về cho bằng được. Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, tình huynh đệ chi binh ngấm vào xương vào máu họ rồi. Cowboy cho rằng điều mình làm không là ngoại lệ.

Thành thử ra, sau khi viên đại úy bị thương được tải lên trực thăng an toàn, Cowboy quay trở lại nhập toán cùng anh em tiếp tục thi hành nhiệm vụ. Cowboy quên phắt câu chuyện.

Ngược lại, những giờ phút sống chết bên nhau thấm đẫm tình chiến hữu lại không dễ phai mờ trong tâm trí của viên đại úy ngày đó tức viên trung tá khi gặp lại Cowboy. Lời kết ông gửi đến các chiến hữu đang lắng nghe câu chuyện là: “Tôi tuy là người Mỹ nhưng rất ngưỡng mộ Biệt Kích Việt. Họ liều lĩnh, bất khuất, và nhất là không bỏ rơi chiến hữu. Cowboy lúc đó đã có thể bỏ rơi tôi vì tôi rên la làm cho đối phương dễ truy kích và có thể bắn chết anh ấy nhưng Cowboy đã không màng đến mạng sống của mình mà còn tìm cách an ủi cho tôi giảm đau đớn. Từ trước đến nay tôi chưa phục ai mà chỉ phục Cowboy. Một Cowboy thực sự.”

 Phi đoàn trực thăng 219 hay Biệt đoàn 83 Thần Phong – Long Mã tức Biệt đội Delta cũ (The Immortal King Bee) chuyên phụ trách những phi vụ thả và bốc các toán Biệt Kích nằm trong vùng địch, dọc đường mòn HCM, có khi sâu vào biên giới Lào và Cao Miên. 

 Lần “sa thải” đó đã cất nhắc Cowboy lên chức vụ đại đội trưởng Đại đội An ninh Cố vấn Quân Đoàn 1.

Các lời khâm phục từ Biệt Kích Mỹ được miệng truyền miệng nhanh chóng. Thêm nhiều câu chuyện được kể về những lần đụng địch khác mà Cowboy cùng vào sinh ra tử với anh em và sự ứng biến tài tình của Cowboy đã cứu nguy cho cả toán. Biệt danh “Cowboy” là một dấu ấn vinh dự trong cuộc đời cầm súng của ông.

Nhân khi tôi nhắc hỏi về chuyện cái chân bị cưa bỏ sau lần đụng địch, Cowboy bồi hồi:

– Cháu có biết không, sở dĩ chú nhớ quá rõ ngày 19 tháng 8 năm 1971 vì đó là ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trong bài diễn văn của ông rằng “Ai đứng trên giòng sông Tchepone (Lào) thì người đó thắng cuộc.” Điều trùng hợp là ngày đó toán thám sát của chú đang ở trên giòng sông Tchepone. Chú bị thương ở chân và được trực thăng tải về trị thương tại Bệnh viện 95 của Mỹ ở Đà Nẵng. Không may là cái hố mà anh em kéo chú ra khỏi là một hố bom nên chân chú bị nhiễm trùng gây sốt cao. Các bác sĩ hội chẩn và báo cho chú biết phải cưa khúc chân đó bằng không sẽ bị hoại tử mà chết.

– Xem ra chú không còn lựa chọn nào khác ngoài giải pháp cưa bỏ chân?

– Không phải vậy cháu ạ. Cháu nghĩ xem, chú sinh ra để chiến đấu mà bây giờ cắt bỏ chân thì chi bằng để chú chết sướng hơn.

Ông trầm ngâm giây lát và nói tiếp:

– Cháu biết mà, bác sĩ Mỹ chỉ thực hiện ca mổ với sự đồng ý của bệnh nhân, cụ thể là ký vào giấy tờ hoặc có nhân chứng. Y sĩ đoàn thấy xem ra khó thuyết phục để chú đồng ý cưa bỏ chân nên họ ngầm vận động các toán Biệt Kích Mỹ-Việt kéo đông đến bệnh viện vòng trong vòng ngoài nhất mực khuyên chú cưa bỏ chân để anh em còn thấy mặt.

Rồi ông chùng giọng:

– Hỏi cháu rằng chú còn biết nói gì nữa? Anh em sống chết hết lòng với nhau là vậy. Thời gian trị thương tưởng nhanh nhưng hóa ra lâu quá, mãi đến tháng tư năm sau chú mới được xuất viện. Chẳng phải vì bác sĩ Mỹ không giỏi đâu, ngược lại đằng khác, nhưng là do chú: đang ngồi xe lăn mà thấy anh em đến thăm là chú đứng bật dậy đi hiên ngang về phía họ định tay bắt mặt mừng nhưng quên rằng mình đã cụt chân. Nào phải một lần, ít nhất ba lần như thế nên đầu xương rớt ra, phải làm lại…

Ký ức về thời cầm súng hiện hữu trong tim, trong óc Cowboy mỗi ngày, kể bao lâu mới hết!

 Cách đây hơn 5 năm, Cowboy được vinh danh là hội viên danh dự của Hiệp Hội Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ bao gồm các hội viên từ các cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai, Triều Tiên, Việt Nam, Grenada, Somalia, vùng Balkans, Afghanistan, Iraq, vân vân. Dịp đó, một người Mỹ ăn vận dân sự sải bước đến vỗ vai thân mật hỏi Cowboy “Mày nhận ra tao không hả Cowboy? Tụi mình cùng là toán viên tại Tiền Doanh 1 đây mà.” Người Mỹ dân sự chính là cựu thiếu tướng Eldon A. Bargewell. Thấy Cowboy gục gặc đầu, ông tướng cười sảng khoái “Mày chịu nhận tao rồi vậy tụi mình chụp một tấm ảnh làm kỷ niệm đi, Cowboy.”

Nhân thể, tôi liên tưởng đến một vị tướng khác, chuẩn tướng Terry Tucker, thời còn tại nhiệm với chức vụ chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Nhiệm Hỗn Hợp (Joint Task Force Full Accounting – JTFFA) vào cuối thập niên 90, đã hết lời ca ngợi khi bất ngờ biết được Cowboy tuy đã mất một chân mà vẫn tình nguyện sang Lào để hỗ trợ đội công tác tìm kiếm hài cốt của các biệt kích Mỹ trong nhiều năm liền. Nghe tôi nhắc nhớ, Cowboy chia sẻ với tôi rằng ông chỉ đơn thuần muốn đem đến một sự an ủi cho hương hồn của các Biệt Kích Mỹ-Việt, các chiến sĩ Thần Phong còn bơ vơ trong rừng núi bạt ngàn của xứ người, chưa được trở về đất mẹ.

 Góp công sức tìm kiếm chiến hữu mất tích đã đành, mà đối với chiến hữu đã hy sinh, Cowboy cũng đậm tình. Tôi biết điều này qua lời kể của Martha Cryan, em gái của Biệt Kích Mỹ Kenneth Cryan. Khi được báo tin về cái chết của anh trai, Martha quá đỗi buồn đau, chỉ ít lâu sau cùng gia đình chuyển sang Châu Âu sinh sống trong suốt 24 năm. Khi trở lại Mỹ, điều đầu tiên cô làm là đến thăm anh trai Kenneth tại Nghĩa Trang Quốc Gia Golden Gate ở Bruno, California, đúng vào Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong. Bất chợt thấy một cựu chiến binh Châu Á trong quân phục và bê-rê xanh đang quì trước mộ của anh trai mình, cô lặng người xúc động. Hỏi ra mới biết rằng Cowboy là chiến hữu của Kenneth. Nhiều năm trước đó khi thông tin về những hoạt động của Biệt Kích Mỹ-Việt ở lãnh thổ Lào chưa được bạch hóa, Martha nào biết gì hơn ngoài sự thông báo về cái chết của Kenneth. Giờ đây cô được nhận niềm an ủi lớn lao là anh trai cô đã từng có chiến hữu đồng cam cộng khổ nhớ đến mình và bất kể dù còn sống hay đã chết, tình đồng đội của họ bất diệt.

Đối với các chiến hữu còn sống vất vưởng bên quê nhà, Cowboy còn trăn trở hơn.

Biệt Kích Lôi Hổ được tuyển mộ để thế thân cho lính Mỹ thành thử ra không có số quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chỉ có mã hoặc ẩn số do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát. Tiếc thay, các toán thám báo Biệt Kích Lôi Hổ trên danh nghĩa chỉ được liệt kê là Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam mà không được xem là một đơn vị tác chiến.

Nếu hoàn tất nhiệm vụ, thì sống. Dẫu thương tích đầy mình hoặc thậm chí hy sinh tính mạng, thì không huy chương nào được trao tặng hoặc truy tặng. Bị lộ, bị bắt thì họ không được hưởng chút quyền lợi nào từ qui chế tù binh Genèva; ngay cả các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá Quốc Tế cũng không biết cách nào để can thiệp.

Xem ra, một khi người lính tình nguyện gia nhập cuộc chiến không qui ước thì phải chấp nhận qui luật của cuộc chơi. Một cuộc chơi quyết liệt và tàn nhẫn. Dù sống hay chết thì tên của họ cũng đều nằm trong bóng tối.

Cho đến thời điểm hiện tại, Biệt Kích Lôi Hổ vẫn chưa được công nhận thuộc về một quân đội nào, một chính phủ nào. Công nhận tính chính danh của Biệt Kích Lôi Hổ đồng nghĩa với trách nhiệm của chính phủ sở tại là thực hiện quyền lợi cựu chiến binh cho họ.

– Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, danh dự được công nhận vẫn là điều quan trọng hơn quyền lợi.

Cowboy thốt lời khẳng khái để rồi lời tâm sự tiếp sau nghe chút gì chua xót:

– Từ ngày đặt chân sang Mỹ, chú đã cùng với anh em phối hợp thu thập chứng cứ, lập hồ sơ để chính phủ sở tại cứu xét trường hợp Biệt Kích Lôi Hổ. Đồng thời, các chiến hữu Biệt Kích Mỹ cũng nỗ lực không ngừng nghỉ để vận động chính giới lưu tâm. Đến giờ này vẫn chưa có được số hồ sơ tại tòa án thì còn nói gì được đây? Thú thực đã có những khi chú rất chán nản.

Chúng tôi ngậm ngùi trao đổi nhau tiếng thở dài tháng tư.

– Xin chú Cowboy đừng tuyệt vọng!

Yên lặng từ đầu giây điện thoại bên kia.

– Chú Cowboy ơi, đừng bỏ cuộc!

Vẫn yên lặng. Tôi ước ao có đôi đũa thần biến ước mơ của Cowboy thành hiện thực hơn là gắng thốt ra những lời an ủi vụng về của mình.

Giây lâu sau Cowboy cất lời khẽ đủ tôi nghe:

– Không đâu! Chú sẽ không tuyệt vọng. Chú sẽ không bỏ cuộc. Anh em còn cần chú.

– Bravo chú Cowboy! Hội ngộ Biệt Kích Mỹ-Việt năm nay, cháu sẽ thu xếp đến sớm trước một ngày để gặp mặt chú.

Kể cũng lạ! Chú cháu tôi ở cách nhau chưa đầy hai tiếng đồng hồ lái xe, vậy mà không chịu gặp mặt ngay.

Phải đợi thêm một thời gian nữa sẽ đáp máy bay đến một nơi họp mặt để chung tay chung sức và để cùng chia sẻ về một hy vọng một ngày trong tương lai Biệt Kích Lôi Hổ gốc Việt sẽ được công nhận là cựu chiến binh Mỹ, những người đã từng cống hiến và hy sinh trong công cuộc bảo vệ chính nghĩa.

Vậy mới là duyên ngộ. Phải vậy không chú Cowboy?

*

Chú thích của người viết: 02 là chức vụ thông ngôn trong các toán thám sát của Biệt Kích Lôi Hổ.

Orchid Thanh Lê