Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 8
Hai khu chợ đối diện với sông Sài Gòn tràn ngập những khuôn mặt hoang mang lo lắng. Hai khu chợ này nằm sát cạnh nhau, chỉ cách một con đường nhỏ lúc nào cũng lầy lội và đầy rác rưởi. Khu chợ thứ nhất chuyên bán đồ tươi, từ rau cải, gà vịt đến cá tươi; khu chợ thứ nhì bán hàng khô với một số lượng lớn, như gạo, mắm muối, cùng với vải vóc, than củi. Mặc dù không khí sinh hoạt rất nặng nề, nhưng sự buôn bán trao đổi vẫn giữ được trật tự dưới những cặp mắt quan sát của bộ đội đứng rải rác khắp nơi. Người ta trao đổi tin tức trong lúc mua bán. Những tiếng thì thầm vang lên rầm rì trong không gian nghe như tiếng ruồi bay. 
Chẳng tốn bao nhiêu thời gian vú Loan đã tìm ra được mối thứ nhất. Lúc vào khu chợ thứ hai, chị gặp được một gia đình năm người đang tìm cách trở về Cam Ranh, một thành phố gần Nha Trang. Gia đình này không tìm được phương tiện, dự định sẽ đi bộ vượt hơn bốn trăm cây số đường đầy rừng núi, sinh lầy và cả những mìn bẫy còn sót lại sau chiến tranh. Sau khi nghe cái chương trình đó của họ, vú Loan chúc họ thương lộ bình an rồi dắt chúng tôi đi sâu vào chợ. 
Suốt buổi sáng chúng tôi len lỏi trong đám đông, tìm phương tiện về quệ Mẹ tôi mệt thở không ra hơi, mặt mày xanh mét. Ông tôi thỉnh thoảng bị bỏ rơi lại phía sau, vì vết thương cũ ở mông làm bước đi của ông trở nên khó khăn. Cứ mỗi lần chúng tôi dừng lại trước một đám đông để hỏi thăm tin tức, chúng tôi luôn luôn nhận được một phản ứng giống nhau: Thoạt đầu, họ im lặng nhìn chúng tôi, rồi mỉm cười nhã nhặn. Nếu họ biết cách, thì chắc họ cũng giấu nhẹm đi sau những nụ cười lịch sự đó rồi lẫn mất vào trong đám đông. 
Khi chúng tôi không còn chút hy vọng nào nữa thì tình cờ đụng ngay cái gian hàng bán thuốc nam của bà Tâm, trưng bày lỉnh kỉnh những giỏ hoa khô, rễ cây và vỏ cây. Bà ngồi phía sau những chồng thuốc nam chất cao như núi, chung quanh khách hàng đang bu lại hỏi han. Giọng bà cất lên át cả tiếng ồn ào của đám đông để tạo sự chú ý của người qua lại. 
“Chị cần gì?” Bà ta hét lên. “Thuốc này là thuốc ói mữa. Sắc hai chén còn một. Thuốc này là thuốc trị trỉ nội trỉ ngoại. Uống hai lần mỗi ngày sau bữa ăn. Thuốc này trị ho” 
Khi nhận ra mẹ tôi đang nhìn bà lom lom với cặp mắt giận dữ, bà ra dấu cho mọi người im lặng. Bà nhìn mẹ tôi rồi hỏi: “Hê, chị trông quen quá. A, tôi nhớ ra rồi. Chị là con chim mái với cái bụng thè lè. Việc đó ra sao rồi. Chị trông không được khỏe.” 
“Bà đoán coi.” Mẹ tôi hỏi vặn lại. “Bà nhìn tôi coi. Bà bán cho tôi cái thứ thuốc giả, mụ già. Tôi gặp bà ở đây là may lắm, bà trả lại tiền cho tôi.” 
Bà già đứng thẳng dậy giữa đám lá cây, chỉ ngón tay vào mặt mẹ tôi: 
“Chị điên hả? Muốn đòi tiền lại hả? Thuốc của già này không giả, chỉ có chị là giả thôi. Tôi đã cảnh cáo chị nhiều lần là có thể nó không có kết quả với chị. Bộ tôi làm chị phình bụng lên hả?” Bà nheo mắt nhìn mẹ tôi và vú Loan rồi tiếp: “Bà chủ và con ở chia chung một thằng, phải không? Đừng có qua mặt mụ già này. Cái thằng đĩ đực nào đó nó xài hai người như hai chiếc đủa. Nhưng tại sao mấy người còn lẩn quẩn ở đây làm gì, tôi tưởng cái đám phách lối, ngang ngược mấy người đã cút về quê rồi mới phải chớ?” 
Mẹ tôi giận run người. Chưa ai dám thốt những lời như vậy với bà trước đây. Bà bị làm nhục trước đám đông đang bu quanh nhìn chúng tôi xầm xì. Vú Loan đứng lặng im như tờ từ nảy giờ lên tiếng trả lời câu hỏi của bà Tâm: 
“Chúng tôi chưa tìm ra phương tiện về quệ Bà có biết cách nào không bà Tâm?” 
“Dĩ nhiên là biết.” Mụ già ưỡn lưng. “Không chuyện gì trong phố này mà mụ không biết. Nhưng tại sao mụ phải giúp cái con mẹ phách lối kia chớ? Ngày đầu tiên gặp cái bản mặt hảm tài của nó là mụ thấy ghét rồi, biết là mình xui xẻo rồi.” 
Vú Loan cúi xuống bồng hai anh em tôi lên rồi nói với bà già: 
“Xin bà giúp mấy đứa nhỏ này, chúng nó vô tội. Xin bà làm phước để đức lại cho con cháu, chỉ cho chúng tôi cách nào có thể trở về quê được.” 
Bà già ngó hai anh em tôi, nét mặt bà giản ra và cơn giận dịu đi phần nào. Bà lên tiếng, lần này với một giọng nhẹ nhàng hơn: 
“Hai trăm tiền công chỉ đường; năm trăm tiền vé. Tiền mặt.” 
Mẹ tôi la lên với vẻ sửng sốt: 
“Bảy trăm đồng? Cái mụ già thất nhơn bất đức này! Tôi chỉ còn bốn trăm đồng, không chịu thì thôi.” 
“Này, cái con ngựa cái, mụ không nói chuyện buôn bán với chị.” Bà vẩy vẩy ngón tay trước mặt mẹ tôi, rồi bà chỉ sang Loan: “Mụ đang nói chuyện với cô nhỏ này. Con nhỏ này khôn hơn nhiều.” 
Vú Loan nói với bà già: 
“Bà Tâm nghe bà chủ tôi nói rồi đó, chúng tôi chỉ còn có bốn trăm đồng.” 
“Thôi được, coi như tội nghiệp cho mấy đứa nhỏ.” Bà vỗ hai tay vào nhau. “Tôi sẽ có cách. Tôi sẽ đóng cửa hàng khoảng ba giờ rưởi. Trở lại đây lúc đó, nhớ mang theo tiền và hành lý. Mụ già này không rảnh mà đợi ai đâu.” 
Bà già quay sang với khách hàng. Chúng tôi đứng trơ ra đó, ngượng ngùng. Cuối cùng mẹ tôi vẩy tay ra hiệu cho mọi người quay về nhà. Những lời quảng cáo thuốc của bà già đưổi theo sau chúng tôi: “Ông cần gì thưa ông? Còn bà, thưa bà? Thuốc này trị bá chứng. Uống lúc bụng trống, hai lần một ngày, ngày hôm sau sẽ khỏe như trai hai mươi ngaỵ” 

Theo đúng lời dặn của bà Tâm, chúng tôi trở lại vào lúc ba giờ ba mươi, mang theo một ít hành lý. Bà ta đang dứng chờ chúng tôi. Tất cả thuốc men của bà đựng trong hai cái giỏ tre có quai để bà ta có thể quảy đi bằng một chiếc đòn gánh bằng gỗ. Bà ta kê vai vào chiếc đòn gánh và nhấc bổng hai chiếc giỏ tre một cách nhẹ nhàng. Bà tiến về phía chúng tôi, thảy một gói nhỏ gì đó cho vú Loan rồi ra dấu cho chúng tôi đi theo bà. 

Bà hỏi vú Loan mà không quay lại: 

“Có đem tiền theo không?” 

“Dạ có. Bà dắt chúng tôi đi đâu đây? Bà mới đưa cho cháu cái gói gì vậy?” Loan hỏi. 

“Cứ giữ đó. Tôi đưa cô đi kiếm.” Bà Tâm đáp gọn. 

Chúng tôi đi bộ chừng một tiếng đồng hồ, xa dần thành phố với mớ hành lý trên vai. Chúng tôi đi qua những khu nhà lụp xụp, những tòa nhà nhiều từng chen lẫn với những chiếc lều tôlẹ Dọc theo sông Sài Gòn, nhiều nhà sàn mọc lên trên mặt nước. Ra đến ngoại ô thành phố, trước mặt chúng tôi hiện ra một cánh đồng lúa mênh mông chạy dài đến tận chân trời. 

Đến lúc thần trí tôi không còn tỉnh táo nữa thì bà Tâm dừng lại. Trước mặt chúng tôi hiện ra một đồn lính cộng sản, có giây kẻm gai bao quanh một khoảng đất trống. Chúng tôi hoảng hốt thụt lùi lại. Một toán bộ đội chạy túa ra, không anh nào quá mười tám tuổi. Họ hườm súng trong tay có vẻ dè dặt khi chúng tôi tiến lại gần. Một vài người trong bọn họ nhận ra bà Tâm. 

Họ reo lên mừng rỡ với bà: 

“Mẹ Tâm, mạnh giỏi không? Mẹ có mang gì cho chúng con không đấy?” 

Mẹ tôi sợ quá không nói lời nào, nắm chặt lấy tay tôi. 

Loan hỏi bà già: 

“Chuyện gì đây? Bộ chúng tôi làm điều gì bà giận hả?” 

“Đừng sợ.” Ba ta nói nhỏ. “Tôi mang cô đến chỗ có xe để về quê đây. Cứ đứng yên để mụ già này lo cho” Quay sang đám bộ đội, bà ta mỉm cười: “Mẹ có mang cho các con một ít bánh bao.” Bà bảo vú Loan “Đưa gói bánh cho các đồng chí này đi con.” 

Loan thì thầm: 

“Gói bánh nào?” 

“Gói bánh tôi đưa cho cô lúc nãy đó. Đưa cho tụi nó.” Bà nói nhỏ. 

Đám bộ đội cầm lấy chiếc bọc từ tay Loan. Họ mở ra chia nhau những chiếc bánh bao và ăn ngay một cách vội vàng. Một thoáng những chiếc bánh hết sạch. Đám bộ đội nhìn bà Tâm mĩm cười, thức ăn còn dính ở kẻ răng. 

“Những người đi chung với mẹ là ai thế?” Đám bộ đội hỏi. 

“Mấy người lương thiện này là bạn của mẹ đang cần phương tiện về Nha Trang. Các con có toán nào đổi đi chiều hôm nay cho họ theo với.” 

Một người lên tiếng: 

“Vâng có ạ. Mẹ Tâm muốn là phải có ạ.Trung đội 306 sẽ đi Huế vào lúc tám giờ tối naỵ Họ sẽ xuống xe ở Nha Trang chiều mai. Nếu mấy người bạn của mẹ muốn thì phải chờ ở đây chứ chúng con không thể cho họ vào trại được.” 

“Phải, phải. Cảm ơn các con. Để mẹ căn dặn họ thêm một vài việc, được không các con?” 

“Được chứ!” 

Bà ta quay sang chúng tôi hạ thấp giọng: 

“Nghe đây, tôi đã tìm được chuyến đi cho các người rồi. Cái đám bộ đội con nít này dễ thương lắm, không làm rắc rối gì cho các người đâu. Các người đợi ở đây, ngồi chung lại đừng có đi lẻ tẻ, cũng đừng làm chuyện gì khả nghi, vì sắp tới giờ giới nghiêm rồi. Rồi, bây giờ trả tiền đây.” 

“Bây giờ bà đi đâu? Bà đâu có thể bỏ chúng tôi ở đây như vầy được?” Mẹ tôi hỏi. 

“Tôi không thể ở lại được. Tôi phải trở về nhà trước giờ giới nghiêm. Mấy người phải tin tôi.” 

Mẹ tôi móc gói tiền giấu trong chiếc nịt vú. Bà Tâm giật vội mớ tiền không muốn để cho đám bộ đội trông thấy. Gói tiền biến mất cũng nhanh như khi nó xuất hiện. 

“Vé xe của chúng tôi đâu?” Mẹ tôi hỏi. 

“Không cần vé xe gì cả. Đừng lo, mọi chuyện đã dàn xếp xong cả rồi.” 

“Tôi không tin được. Bà lại giở trò gian lận với chúng tôi lần nữa phải không?” Mẹ tôi nuốt nước bọt. “Bà nói hồi sáng là 500 đồng cho tiền vé, nhưng bây giờ bà dắt chúng tôi tới đây, trước cái trại lính đầy súng ống này rồi bảo chúng tôi chờ lên xe vào giờ giới nghiêm. Làm sao chúng tôi có thể tin bà trong tình trạng như vầy được?” 

“Tôi đã nói là đừng có lọ Mọi chuyện đã xếp đặt xong cả rồi.” Bà khạc một bãi đờm xuống đất. “Mụ già này làm ơn cho mấy người mà mấy người còn dám giở cái giọng đó ra hả? Mụ già này có nói là muốn mua bán gì với chị không hả? Tại sao chị không chịu khóa cái miệng lại để mụ già này khỏi nổi điên lên hả?” Bà nhìn mẹ tôi với vẻ khinh bỉ. 

“Làm sao bà quen được với đám bộ đội này?” Ông ngoại tôi hỏi chen vào. 

“Làm sao quen hả? Hay lắm. Tôi báo cho ông biết tụi nó đều là con của già này cả đấy. Già này đã nuôi dưỡng, tiếp tế cho hàng trăm đứa như vậy trong mười năm qua, dưới mũi của bọn tư bản các ông đấy.” Bà già nói với nụ cười khinh khỉnh. “Ông thấy chưa, những người nghèo khổ như già này mới gần gủi Việt Cộng. Cũng có thể nói già này là một trong những bà mẹ chiến sĩ, và cái đám tụi nó là con nuôi của già này đó. Nè, bây giờ công việc của tôi ở đây xong rồi, tôi phải về nhà trước giờ giới nghiêm. Chúc các người đi đường bình an.” 

Bà quay sang đám bộ đội chào từ giã. Dù đã già lắm, cái gánh nặng trên vai dường như chẳng ăn thua gì với bà. Bà vừa đi vừa cất tiếng hát lớn một bài hát ca tụng các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu trong khi bóng bà khuất dần vào bóng chiều bụi bặm. 

* 

Mãi đến chín giờ tối, chiếc xe chở bộ đội mới chịu khởi hành. Nhờ những lời gởi gấm của bà Tâm chúng tôi không gặp một trở ngại nào. Toán bộ đội cho chúng tôi lên ngồi phía sau xe lúc sắp sửa rời Sài Gòn. Khoảng bốn chục người chen nhau trong một chiếc xe chật hẹp, nhưng họ nhường cho chúng tôi một chiếc băng ghế cũng khá thoải mái ở góc trong cùng. Chúng tôi leo lên xe, rán co người lại cho nhỏ chừng nào tốt chừng đó. Tôi ngồi trên đùi vú Loan, em tôi ngồi nép mình giữa ông bà ngoại. Còn mẹ tôi ngồi trong cùng, dấu mình trong bóng tối hai tay ôm lấy bụng. 

Đám bộ đội mỉm cười chào chúng tôi. Quân phục của họ dính đầy mồ hôi và bụi bặm giống như cả mấy tháng rồi chưa giặt. Nhiều người trong đám họ ngồi xếp bằng trên sàn xe vì không đủ ghế, ngắm hai anh em tôi với ánh mắt tò mò. Tôi nhìn lại họ và mỉm cười. 

Chuyến đi về Nha Trang kéo dài tám tiếng đồng hồ. Được chừng hai phần ba đường, tôi ngủ gà ngủ gật tựa vào vòng tay của một anh bộ đội. Anh ta xoa xoa mớ tóc quăn của tôi, kể cho tôi nghe về gia đình anh ở ngoài bắc. Anh ta có một người em bị tật phải đi nạng mà năm năm rồi anh chưa được gặp lại. 

“Em lắng nghe nhé. Anh sẽ dạy em một việc này” Anh ta nói với vẻ hăng hái, nhìn mẹ tôi như có ý xin phép. Mẹ tôi co rút người lại trên ghế, tránh ánh mắt anh ta. 

“Anh sẽ kể cho em nghe những lời dạy của bác Hồ. Những lời dạy của bác dành cho tất cả các thiếu nhi miền nam. Nó có bốn điều. Em sẳn sàng chưa?” Anh ta nhướng mày lên bày tỏ sự hân hoan,vui sướng. 

“Bác Hồ là ai?” Tôi hỏi. 

“Hả? Chú nhỏ này!” Anh ta kéo tôi lại gần với nét mặt ngạc nhiên. “Bác Hồ là ai hả? Chà chà, là bác Hồ Chí Minh, vị cứu tinh của chúng ta, vị lãnh tụ vĩ đại của chúng tạ Tên tuổi người vang lừng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Qua bao năm, chỉ cái tên của người thôi cũng đủ phá tan xiền xích, giải phóng nhân dân ra khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ và ngụy quyền miền Nam. Làm sao mà em mê muội đến không biết được như vậy hả, chú nhỏ?” 

Mẹ tôi vội vàng nói mấy câu xin lỗi về sự ngu dốt của tôi. Anh chàng bộ đội trẻ gật đầu tỏ vẻ tha thứ, rồi tiếp tục giảng thuyết: 

“Điều một là.” Anh ta bắt đầu. “Yêu quê hương, yêu làng xóm” 

Nằm trong vòng tay lắng nghe giọng nói của anh ta, tôi chợt nhớ đến một trường hợp tương tự xãy ra trên bãi biển Nha Trang. Lúc đó, người lính là một quân nhân Mỹ đóng quân trong trại lính gần nhà tôi. Hôm đó tôi đang chơi đùa với mấy người bạn cùng lớp, chợt nghe một giọng nói ngoại quốc gọi chúng tôi, vẩy tay ra dấu cho lũ trẻ chúng tôi lại gần. 

Từ bên ngoài vòng rào kẻm gai, tôi nhìn thấy một anh lính mặt đỏ gay, tóc hoe vàng như bị cháy nắng. Anh ta cầm một mớ kẹo trong tay để dụ chúng tôi. Tôi tiến lại gần trong khi đám bạn rụt rè đứng ở xa xa nhìn. “Kiên” Đám bạn tôi kêu réo “Trở lại”. Không giống như chúng nó, tôi đã nhiều lần thấy những người ngoại quốc trong các buổi tiệc của mẹ tôi và hiểu chút chút cái tiếng nói buồn cười của họ. Tôi tiến lại gần hàng rào. 

“Chào em. Ăn kẹo không?” Người lính Mỹ hỏi bằng tiếng Mỹ. Tôi nhận thấy một tia xam xám trong đôi mắt trong như nước đá của anh. 

Tôi gật đầu. Anh ta ra dấu cho tôi lại gần hơn. Tôi tiến lại gần và thò tay qua hàng rào nhận món quà của anh. “Em ngoan lắm” Anh ta hỏi: “Em biết thổi bong bóng kẹo cao su không ?” Tôi lại gật đầu. 

Anh ta chạy vòng qua đầu kia hàng rào để ra ngoài với tôi. Lũ bạn tôi vẫn đứng ở xa xa, theo dõi. Anh lính không quan tâm đến vẻ xa cách của chúng, vẫn quay sang vẫy tay chào. 

“Em chia kẹo cho bạn em ăn chung với được không?” Anh ta đề nghị. 

Tôi nhún vai. Anh ta phá ra cười và vò đầu tôi. Tôi dẫn anh ta đi gần về phía các bạn; những chiếc kẹo trong tay tôi làm chúng bớt sợ hãi. Suốt buổi chiều hôm đó chúng tôi chạy nhảy nô đùa với anh lính trên bải biển trong tiếng sóng vỗ rầm rì dưới chân. 

Trước khi chúng tôi chia tay nhau, anh lính hỏi: 

“Ngày mai em và các bạn ra chơi với tôi nữa được không?” 

Tôi gật đầu rồi chạy đuổi theo đám bạn. 

Qua ngày hôm sau, tôi trở lại bãi biển một mình vì không thuyết phục được lũ bạn cùng đi theo. Anh bạn mới của tôi đang đứng đợi dưới một gốc dừa, tay cầm một bịch lớn đầy những gói kẹo đủ màu sắc. Tôi chạy lại với anh tạ Anh bồng tôi lên, tung tôi lên cao rồi giơ tay ra đón trước khi tôi rơi xuống đất. 

Tôi đưa anh về nhà giới thiệu với ông bà ngoại. Lúc gặp ông bà ngoại tôi trước cửa, anh lột nón sắt, cúi đầu chào, một hình thức tỏ lòng kính trọng những người già cả của người Việt Nam. Bà ngoại tôi pha cho chúng tôi hai ly nước chanh trong lúc chúng tôi ngồi trò chuyện bên hồ tắm. Anh nằm hàng giờ trên cỏ, xếp những chiếc thuyền giấy bằng tờ báo cũ rồi thả trôi lềnh bềnh trên mặt hồ bơi. Có lúc, tôi bắt gặp anh nằm nghiêng qua một bên mắt nhìn chăm chăm vào khoảng không. 

“Hê, anh Mỹ, anh có sao không?” Tôi khoát tay qua lại trước mặt anh. 

“Không sao.” Anh trả lời, mắt nheo lại vì chói nắng. “Tôi chỉ nhớ nhà, homesick. Em hiểu chữ homesick không? Tôi nhớ gia đình.” 

“Gia đình? Ồ, biết, em biết! Anh có hình không?” Tôi hỏi. 

“Có.” Anh ta nhỏm dậy “Em muốn coi hình gia đình tôi không?” Anh thò tay vào túi sau móc chiếc bóp. 

“Gia đình tôi?” Tôi dùng lại chữ gia đình tôi của anh bằng thứ Anh văn bập bẹ của mình, tay cầm mấy tấm hình đã cũ; có tấm đã nhàu như đã từng thấm nhiều nước mắt của anh. 

“Gia đình tôi.” Anh chỉnh cái tiếng Anh trật văn phạm của tôi cho đúng lại. “Không phải gia đình em.” 

Anh chỉ cho tôi từng người một. Anh nói anh sinh ra ở Wisconsin. Cái tên Wisconsin đối với tôi nghe cũng lạ lùng như màu mắt của anh. Ba mẹ anh trông hiền lành, dễ thương đang nhìn chăm vào ống kính. Anh có một người chị vừa mới lập gia đình. Tấm hình đám cưới chụp một người đàn bà thật đẹp đứng cạnh người chồng đang tươi cười trước cửa nhà thờ. Cô dâu cầm một bó hoa hồng trắng, tiệp với màu áo cưới và chiếc khăn voan che trên mái tóc. Trong bức hình đó có mặt em trai anh, khoảng trạc bằng tuổi tôi. 

“Em làm tôi nhớ đến thằng em trai, em biết không?” Anh nói, bàn tay sờ vào tóc tôi. 

“Vậy hả. Vậy thì vui lắm!” Tôi trả lời. 

“Ừ, tên nó là Tođ. Nó rất ngoan, và gầy giống như em vậy. Tôi nhớ nó lắm.” Anh sờ ngón tay vào mặt người em trong tấm hình. “Hôm qua, trước khi gặp em ngoài bãi biển, nhớ không?, tôi nói chuyện với nó trên điện thoại. Hôm qua là ngày sinh nhật của nó, nhưng tôi không có ở nhà để hát bài chúc mừng sinh nhật tặng nó. Nó sắp sửa đi trại hè. Lúc đó tôi buồn quá bỏ đi lang thang ra ngoài, tình cờ thấy em chạy chơi trên cát với đôi chân trần. Em trông giống như một đứa con trai Mỹ. Gặp được em tôi vui lắm. Chơi với em tôi có cảm giác như đang chơi với Tođ, chỉ có cái khác là nó nói nhiều còn em thì ít nói quá.” 

Tôi nín thinh. 

“Cảm ơn em.” Anh ta đột nhiên lên tiếng. 

“Về cái gì vậy anh?” 

“Về mọi chuyện; về ly nước chanh, về việc em chịu làm bạn với tôi, về cái nơi chốn này không còn xa lạ như hai ngày trước nữa.” 

“Tốt. Mai gặp lại anh nữa không?” 

“Mai không được. Mai tôi phải đi hành quân. Tôi sẽ vắng mặt một tuần kể từ thứ sáu này.” 

“Một tuần bắt đầu từ thứ sáu này?” Tôi đếm lớn tiếng từng ngày trên những đầu ngón taỵ “Mười ngày?” 

“Đúng vậy. Tới lúc đó em ra đợi tôi ở bờ biển được không?” Anh hỏi. 

“Được chứ!” 

Tôi đánh dấu từng ngày qua đi trên vách phòng ngủ. Đến ngày thứ mười, tôi chạy ra khu trại lính, nhưng dưới gốc dừa nơi chúng tôi từng gặp nhau không thấy bóng dáng anh đâu. Tôi ngồi trên bãi cát suốt buổi chiều hôm ấy chờ người lính trở lại. Mãi đến khi ngoại tôi kêu về ăn cơm chiều và mặt trời chìm vào đáy biển, tôi mới nhận ra là anh không tới. Ngày hôm sau tôi lại ra bãi biển, nhưng anh vẫn chưa về. 

Một tuần lễ sau, trong lúc đang chơi trò cút bắt, tôi thấy một chiếc xe nhà binh đậu trước trại lính, trong xe nhiều chiếc bao làm bằng vải áo mưa nhà binh chồng chất lên nhau, có chiếc dính đầy máu đã khộ Như có một lực vô hình nào đó kéo tôi lại gần hơn. Tôi chạy lại bên chiếc xe nhà binh, và có lẽ ánh mắt cương quyết của tôi đã làm cho anh lính gác Mỹ thương tình cho tôi leo lên chiếc xe nhà binh xem xét. Như trong một giấc mơ, tôi thò tay chạm vào một chiếc bao nằm sâu bên dưới. Ngay khi tôi chạm bàn bày vào, tự nhiên cái khóa vải bật mở và một mớ tóc hoe hoe vàng như cháy nắng rất quen thuộc lòi ra. Trong trạng thái ngẩn ngơ mất hồn, tôi tự hỏi là tại sao quen nhau bao lâu mà tôi không hề hỏi tên anh. Tôi nhảy xuống khỏi xe, cắm đầu chạy về nhà, không đủ can đảm kéo chiếc khóa vải đang chứa thân xác anh cho kín lại. Ngồi trên thềm cửa nhà mình, tôi mới nhớ ra là anh lính cũng chưa hề biết tên tôi. 

Đã mấy năm qua rồi. Người lính Mỹ đã chết. Cuộc sống gia đình tôi đang trải qua một giai đoạn đầy nguy hiểm và bất ổn. Giờ đây, một người lính khác đang chỉ cho tôi những lời dạy của bác Hồ. “Điều thứ tư là các cháu phải giữ vệ sinh… ” Nằm mơ màng trong vòng tay anh ta nhìn lên, tôi thấy trên khuôn mặt anh cái cảm giác cô đơn tôi đã từng bắt gặp trên nhiều khuôn mặt khác. Cái cảm giác bơ vơ lạc lõng của những người trẻ bị cuốn hút vào cảnh tàn phá của chiến tranh, chứng kiến bao chết chóc, đổ nát, mà lòng ước mơ tìm thấy được một cuộc sống có ý nghĩa hơn. 

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

Bài 7
Đêm nuốt phủ lấy chúng tôi lẹ làng như một trò ảo thuật. Trong nhà không có điện. Đúng ra là cả thành phố chìm trong bóng tối. Vú Loan từ trên lầu đi xuống cầm cây đèn cầy trong taỵ Bóng chị nhảy múa trên vách khi chị đi ngang qua căn hầm. 
Vú Loan làm bữa cơm chiều với gà xào măng và cải chiên. Bà ngoại tôi từ chối không chịu dùng cơm chung với chúng tôi mà chỉ nằm bất động trên tấm nệm, người phủ một tấm drap mỏng. Ông ngoại tôi ăn uống một cách khó khăn dường như những món ăn chẳng có chút hương vị nào. Những người còn lại ăn vội vả trong im lặng. Đến phần điểm tâm, vú Loan dọn ra món bánh chuối, một món ăn rất phổ thông của người Việt, chỉ tiếc là thiếu nước cốt dừa để tăng thêm mùi vị. Dù sao, hai anh em tôi vẫn thích lắm. 
Sau bữa cơm chiều mẹ tôi rút vào nhà tắm, còn vú Loan thì lên nhà bếp ở lầu trên. Khi mẹ tôi trở ra, người bà trông xanh hơn và có vẻ bồn chồn lo lắng hơn thường lệ. Bà ngồi ở đầu giường miệng cắn những chiếc móng tay với vẻ ưu tư, trong khi chúng tôi dè dặt tiến đến gần bà. Trông thấy chúng tôi, mẹ tôi mỉm cười giơ tay kéo em tôi ngồi vào lòng bà, tay xoa mớ tóc mới nhuộm đen của nó với vẻ mơ màng. 
Bà ngoại tôi quay sang đối diện với chúng tôi: 
“Uống bao nhiêu viên?” Ngoại tôi hỏi, không nhắm thẳng vào ai. 
“Cả ba viên.” 
“Trời đất ơi!” Bà ngoại tôi kêu lên. 
Thằng em tôi đưa tay nâng cằm mẹ tôi lên để bà chú ý tới nó và hỏi: 
“Mẹ!” 
“Gì đó con?” 
“Chừng nào con có thể ra ngoài chơi được hả mẹ?” 
“Không bao lâu nữa đâu con.” 
Em tôi hỏi tiếp: 
“Mẹ khỏe không?” 
“Mẹ khỏe. Còn con sao?” 
“Con cũng khỏe. Cảm ơn mẹ đã hỏi.” 
Nó trả lời dịu dàng. Một lát sau nó lại hỏi với một giọng đầy hy vọng: 
“Con ngủ với mẹ tối nay được không? Con không muốn ngủ một mình.” 
“Được! Nếu con muốn. Nhưng tại sao? Giường con cách giường mẹ có mấy bước thôi mà.” 
“Con không biết. Nhiều lúc nửa đêm thức dậy con thấy sợ. Con ngủ bên mẹ được không mẹ?” 
“Con muốn sao cũng được.” Mẹ tôi nói bằng một giọng đều đều, mắt nhắm lại như đang ngủ. 
“Còn anh?” Em tôi hỏi. “Anh Kiên có muốn ngủ chung với mẹ và em không?” Rồi nó quay sang mẹ tôi: “Anh Kiên ngủ chung với mình được không mẹ?” Nó nhìn vào mắt tôi trong khi chờ sự chấp thuận của mẹ tôi. 
“Được nếu nó muốn.” Mẹ tôi trả lời vẻ lơ là. 
“Anh muốn chứ! Phải không anh Kiên?” 
Tôi gật đầu. Thực sự tôi rất sợ ngủ một mình, để nửa đêm thức dậy, trong bóng tối nằm nghĩ về những chuyện không đâu. 
Tôi và em Jimmy, mỗi đứa nằm một bên mẹ tôi trên tấm nệm của bà. Tôi quàng tay ngang qua bụng mẹ tôi, nhìn bầu trời đêm bên ngoài của sổ và hai mẹ con cùng chìm dần vào giấc ngủ. Bên cạnh, cây đèn cầy được cắm trên mặt đất vẫn còn leo lét cháy, ánh sáng nhảy múa trên vách hầm tạo thành nhiều hình thù kỳ dị giống như hình ảnh những thiên thần tôi vẫn thấy trong các cuốn sách mà các Dì phước vẫn thường cho coi vào các buổi học ngày chủ nhật. 
Khoảng bốn giờ sáng, tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu la quằn quại. Tôi nhỏm dậy, nhìn quanh tìm mẹ tôi trong căn hầm tối đen. Chút ánh sáng duy nhất tôi thấy được một tia sáng xuyên qua kẻ hở cánh cửa phòng tắm. Đứa em trai tôi vẫn nằm ngủ bên cạnh, nằm nghiêng qua một bên người cuộn lại, hai đầu gối đụng vào cằm. Nó đang bú taỵ Tôi ngó dáo dác tìm mẹ tôi trong nỗi lo âu. Lúc tôi sắp khóc thì ông ngoại tôi hiện ra bên cạnh. Vòng tay ôm của ông làm tôi bình tỉnh lại. Trong đêm tối, hơi thở ông thơm mùi kẹo Jolly Rancher. 
“Đừng khóc, cháu.” Ngoại tôi thì thầm vào tai tôi. “Mẹ cháu không sao đâu. Có ông đây, cháu ngủ lại đị” 
“Mẹ cháu bị gì vậy ngoại?” Tôi hỏi. 
“Mẹ cháu bị đau bụng.” 
Tiếng la đau đớn của mẹ tôi từ phòng tắm vang ra như muốn xé rách căn hầm. Tôi nghe tiếng rồ rồ như tiếng nước xối trên nền xi măng. Rồi tiếng vật gì rơi xuống. Thằng em trai tôi cựa mình, mở mắt ra nhìn và nhận ra là mẹ tôi không có bên cạnh. Ông ngoại tôi ôm nó vào lòng dỗ dành như ông đã làm với tôi trong mấy phút trước. Trong vòng tay ôm của ngoại, hai anh em tôi lắng nghe tiếng kêu la, rên rỉ của mẹ tôi vọng ra từ phòng tắm. 
Rồi tôi nghe tiếng bà ngoại tôi vang lên, đầy lo lắng: 
“Không làm sao cầm máu được. Loan, con có cách gì không?” 
“Để bà chủ nằm xuống, đứng sẽ chảy máu nhiều hơn.” Loan đáp. 
“Tôi không nằm được. Đau quá!” Tiếng mẹ tôi vang lên. 
Thêm nhiều tiếng như tiếng nước phun ra, rồi vật gì đó chạm xuống nền nhà. 
Ông ngoại tôi kêu vọng xuống với vẻ lo lắng: 
“Chuyện gì vậy? Con nó có sao không bà? Có cần tôi giúp gì không?” 
“Không, ông trông chừng mấy đứa nhỏ. Ở đây tôi lo được. Chỉ rán làm sao cho máu đừng chảy nữa.” 
“Sao kéo dài lâu quá vậy. Tôi đi kêu bác sĩ bây giờ đây.” Ngoại tôi nói. 
“Cái gì?” Bà ngoại tôi hỏi lại, thở hổn hển. “Ông điên rồi sao? Đang giờ giới nghiêm ông ra ngoài cho bị bắn chết hả? Ông cứ ở đó canh chừng giùm mấy đứa nhỏ.” 
“Trời ơi!” Vú Loan la lên. 
“Chuyện gì vậy?” Bà ngoại tôi hỏi. 
“Bụng con quặn lên, bắt đầu đau. Có lẽ đến lượt con rồi. Xin bà giúp con.” Vú Loan nói. 
Cánh cửa phòng tắm bật mở và bà tôi thò đầu ra ngoài. Dưới ánh nến, bàn tay ngoại tôi dính đầy máu. 
“Ông giúp đưa dùm con nó ra ngoài.” Bà tôi nói với ông ngoại tôi. 
Ngoại tôi đứng dậy bước khập khểnh về phía phòng tắm không mang theo cây gậy chống. Một lát sau ông trở ra, đi thụt lùi về phía chúng tôi, hai tay ôm đầu mẹ tôi, bà ngoại tôi theo sau đỡ ngang lưng mẹ tôi. Thân thể mẹ tôi được quấn trong chiếc khăn trắng thấm đầy máu. Hai người đặt mẹ tôi nằm lên chiếc nệm đối diện. Bà co người lại như cái bào thai nằm trong bụng mẹ. Bà ngoại tôi vội vả trở vào phòng tắm để giúp vú Loan. 
“Mẹ, mẹ, mẹ có sao không mẹ?” Em tôi hỏi. Mùi máu tanh làm hai anh em tôi chóng mặt. 
Mẹ tôi không nói gì. Hai tay ôm lấy đầu, hai đầu gối co lên che ngang bụng. Ông tôi đứng bên cạnh giường. 
“Con thấy thế nào?” Ngoại tôi hỏi. 
Mẹ tôi không trả lời. Ngoại tôi lại hỏi với vẻ nôn nóng: 
“Con thấy đỡ chưa? Nói cho ba biết.” 
Hai tay vẫn ôm đầu, mẹ tôi trả lời: 
“Bớt ra máu rồi nhưng cái thai vẫn còn trong bụng.” 
“Ba biết rồi. Rán nghỉ ngơi đi, đừng lo lắng qua về chuyện đó. Để ngày mai đi khám bác sĩ coi sao.” 
“Chắc phải vậy.” Mẹ tôi đáp. 


Trong phòng tắm, bà ngoại tôi và vú Loan loay hoay thêm một tiếng đồng hồ nữa. Vú Loan không la hét trong đau đớn như mẹ tôi, chỉ thỉnh thoảng nghe chị lẩm bẩm và thở hổn hển rồi là tiếng nước dội trong bồn tiểu. Mẹ tôi nằm bất động trên tấm nệm suốt đêm hôm đó. Đêm tàn dần và cơn đau của mẹ tôi cũng giảm theo. Thân thể bà run nhẹ dưới tấm chăn mỏng, và máu vẫn tiếp tục rỉ ra dưới mình bà. Cuối cùng khi tia nắng đầu ngày nhảy múa trên chiếc nệm mẹ tôi nằm, tiếng mẹ tôi vẻ hoảng hốt: 
“Thuốc không có kết quả.” Mẹ tôi khóc rống lên. “Cái thai vẫn còn. Nó mới vừa đạp.” 
Tôi trông thấy nét mặt ông ngoại tôi giản ra. Bà ngoại tôi quỳ xuống đất cảm tạ trời đất. Mẹ tôi lại hét lên. Bà nắm tay lại đấm vào bụng mình: 
“Tại sao như vậy?” Mẹ tôi chửi toáng lên. “Cái mụ già quỷ sứ bán thuốc dõm. Tại sao? Tại sao?” Mẹ tôi tiếp tục đấm vào bụng mình, gào lên với cái thai: “Sao mày không chịu hiểu là tao không muốn mày. Sao mày không chết đi cho tao nhờ.” 
Hai anh em tôi ngồi im nhìn, không dám thốt một lời. 
Suốt mấy ngày sau đó, mẹ tôi chỉ nằm trên giường. Cuối cùng, đến ngày thứ tư thì mấy người cộng sản đến gỏ cửa. 
Trong nhà, mọi người sợ hãi ôm lấy nhau, nín thở nhìn ông ngoại tôi khập khểnh leo lên tầng trên mở cửa. Chúng tôi lắng nghe tiếng bước chân những người cộng sản băng ngang phòng khách. Chúng tôi nghe tiếng ông tôi trả lời những điều họ tra hỏi, và cái cách họ nói chuyện với nhau bằng một giọng bắc rặt nghe thật lạ tai. Lát sau họ mời tất cả chúng lên lên tầng trên. Bà ngoại tôi lên trước, tay vẫn cầm xâu chuổi như một tấm bùa hộ thân. Vú Loan dìu mẹ tôi. Sau cùng là hai anh em tôi. 
Khi chúng tôi lên hết tầng trên rồi, mẹ tôi ngồi vào một chiếc ghế trong lúc những người đàn ông lạ ngừng cuộc nói chuyện ngó chúng tôi lom lom. Quần áo họ nhàu nát, cũ kỷ và bạc màu. Người lớn tuổi nhất, khoảng 40, tóc muối tiêu, chỉ ngón tay cáu bẩn về phía chúng tôi: 
Ông ta nói lớn với ngoại tôi: 
“Còn ai dưới đó không? Tất cả đã lên hết chưa?” 
“Không còn ai, tất cả đã lên hết, thưa ông.” 
“Các đồng chí khẩn trương đi kiểm tra xem ông ta có khai thực không.” Ông ta ra lệnh cho thuộc cấp, rồi quay sang chúng tôi hỏi tiếp: “Tại sao các người trốn dưới đó mà không chịu ra ngoài chào mừng vận hội mới của tổ quốc. Các người trốn tránh cái gì hả?” 

“Chúng tôi chỉ là một đám đàn bà, con nít và những người già cả. Chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra. Xin ông tha lỗi cho chúng tôi.” Ngoại tôi trả lời. 
Ông ta lắc đầu. “Lý do nghe không được. Lúc này là lúc để ăn mừng chứ không phải để lẫn trốn.” Ông ta đảo mắt nhìn vào mặt từng người chúng tôi. “Nhà này của ông?” 
“Dạ không phải. Chúng tôi chỉ thuê lại.” 
“Chủ nhà hiện giờ ở đâu?” 
“Tôi không biết, thưa ông. Trước đây ông ta ở dưới Chợ Lớn, nhưng mấy ngày qua có nhiều thay đổi quá nên chúng tôi cũng không dám chắc.” 
“Vẫn còn nhiều thay đổi trong những ngày sắp tới. Chúng tôi đang tiến hành công tác tiêu diệt chủ nghĩa tư bản tại miền Nam. Nhưng các người báo cáo cho tôi biết nếu không phải là nhà của các người thì sao các người lại ở đây? Các người từ đâu tới? Có phải là bọn phản động chạy trốn cách mạng không?” 
Ngoại tôi nuốt nước bọt trước khi trả lời: 
“Dạ thưa ông. Chúng tôi từ thành phố Nha Trang vào. Chúng tôi không chạy trốn. Chúng tôi vào đây vì có lý do riêng. Thưa ông chỉ huy, đây là con gái tôi. Nó đang mang thai, mà vì trước đây nó sanh khó nên chúng tôi đưa nó vào Sài Gòn. Thưa ông, vì vào đây nó có thể sanh ở nhà thương Từ Dũ. Chúng tôi chỉ lo xa cho con gái chứ không có ý muốn chạy trốn cách mạng. Chỉ là trùng hợp khi vào tới đây thì cách mạng xảy ra thôi.” 

Người trưởng toán đó ghi lại tất cả những điều ông tôi nói. Ông ta tiến về phía mẹ tôi và quan sát bà. Mẹ tôi cúi nhìn xuống bụng mình để tránh cái nhìn của ông tạ Trong mấy ngày vừa qua, mẹ tôi đã sút cân nhiều đến nỗi tôi thấy được những đường gân xanh nổi lên trên bàn tay gầy ốm đang đặt ngay ngắn trên đùi bà. 
“Chị cảm thấy thế nào?” 
“Tôi vẫn thường, cảm ơn ông. Chỉ cảm thấy hơi yếu vì khí hậu nóng quá.” Mẹ tôi trả lời mà không ngước nhìn lên. 
“Chị có thể đi xa được không?” 
“Thưa ông, tôi phải đi đâu?” Mẹ tôi ngước nhìn ông ta.

 Đôi mắt bà long lanh chút van lơn pha lẫn mời mọc. Thường thường, ánh mắt đó của mẹ tôi làm cho đàn ông phải quỳ xuống trước chân bà. Nhưng nó có vẻ như chẳng có chút hiệu quả nào đối với người đàn ông này. 
Ông ta trả lời lạnh lùng: 
“Chị trở về quệ Trong hai mươi bốn giờ các người phải rời khỏi chỗ này. Đây là lệnh trên. Đất nước đã thống nhất. Mọi người phải trở về quê cũ. Các người cũng phải trở về trình diện với chính quyền địa phương.” 
“Chúng tôi trở về bằng cách nào?”

Ngoại tôi hỏi người chỉ huy. 
“Tôi không biết. Mà tôi cũng không cần biết. Tôi không có bổn phận phải tìm phương tiện di chuyển cho các người. Tuy nhiên, tất cả mọi người phải rời khỏi đây vào sáng ngày mai. Chúng tôi sẽ trở lại kiểm trạ Nếu tới lúc đó mà các người vẫn chưa rời khỏi đây chúng tôi bắt buộc phải mời về phường làm việc. Con nít đàn bà cũng không ngoại lệ.” 
Ông ta quay lưng ra dấu cho đồng đội rồi kéo cánh của đóng sập lại trước khi di chuyển sang căn nhà kế cận. 
Mấy người bộ đội chưa đi được bao xa, bà ngoại tôi đã quay sang ông ngoại tôi, nước mắt chan hòa:

“Ông ơi, chúng ta trở về bằng cách nào đây?” 
Ông ngoại tôi chỉ lắc đầu. Vú Loan đứng sau lưng mẹ tôi lên tiếng tằng hắng. Chị không còn cái vẻ e dè của một cô vú em trẻ tuổi được dạy dỗ phải biết giữ mồm giữ miệng trước khi mở lời. Biến cố trong mấy ngày qua đã biến chị thành một người đàn bà thông minh lanh lợi. 

“Thưa bác, cho phép con được nói.”

Chị nói mà không ngước mắt lên

“Nếu chính quyền mới đuổi chúng ta ra khỏi nhà thì chắc nhiều người khác cũng bị như vậy. Những người khác sẽ đi bằng cách nào? Chúng ta có thể hỏi thăm họ để làm theo hoặc đi theo với họ.” 

“Chúng ta làm cách nào hỏi thăm được?” Bà tôi hỏi. 

“Ra chợ hỏi.” Vú Loan trả lời gọn lỏn

Chúng ta đã một thời can đảm và ngu xuẫn

Sgm. Alfred “Al” C. Friend

Riêng tặng những cựu biệt kích SOG và những người đã hy sinh

Người dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

        Một buổi chiều sau những giờ tập luyện đổ mồ hôi trong khu rừng nhiệt đới, vài huấn luyện viên cùng với “học viên” thuộc đơn vị SOG vào câu lạc bộ uống vài chai bia xả hơi. Trung sĩ Jason T. Woodworth thuộc căn cứ hành quân tiền phương 2 (FOB-2) lên tiếng hỏi “Al, anh và Ben đã từng đi hành quân với toán biệt kích. Cảm tưởng thế nào? Ý tôi muốn so sánh với những khoá huấn luyện khác”. Tôi suy nghĩ vài giây, rồi trả lời rất thành thực.

        “Đầu tiên là chúng ta đang ở trên vùng đất của người Da Đỏ. Mình giống như con mèo đi nhón gót nhẹ nhàng trong một căn phòng đầy những con chuột đang ngủ. Anh phải biết rằng nếu một con tỉnh giấc, sẽ có một trận đánh nhau, và nếu chúng bắt được anh, mọi chuyện kết thúc! Tuy nhiên, anh là người Hoa Kỳ nên hy vọng sẽ được đi thăm một trại tù binh nào đó. Còn nếu anh là biệt kích quân người Việt hay Nùng, mạng sống của anh… kể như đi đứt! Khi anh vượt biên qua Lào hoặc Cambodia, trước một kẻ thù đông gấp bội, anh sẽ phải chiến đấu cho sinh mạng của anh.”.               

        Tôi và Ben cùng với trung sĩ Gene Williams là toán biệt kích thứ năm xâm nhập vào đất Lào. Trung sĩ nhất Charles “Slat” Petry, trung sĩ nhất William Card và trung sĩ Jim “Halo” Smith đã xâm nhập hai chuyến đầu với cùng kết qủa. Do đó phải tổ chức lại, chọn lựa toán viên và huấn luyện kỹ càng (con sâu làm rầu nồi canh).

        Trong tháng Năm 1968, trại LLĐB Khâm Đức có một tiểu đoàn thuộc sư đoàn Americal lên tăng cường, bị hai trung đoàn chính quy Bắc Việt tấn công, tràn ngập. Trong trận đánh này, quân đội Hoa Kỳ tổn thất nhân mạng 37 quân nhân. Trong tháng Tám năm 1970, bộ chỉ huy Bắc (CCN), đơn vị SOG, cùng với sư đoàn Americal phối hợp, mở lại căn cứ này, nhưng gặp phải phản ứng quyết liệt của quân đội Bắc Việt nên bộ chỉ huy Bắc phải bỏ luôn Khâm Đức (Trước đó, SOG xử dụng trại LLĐB Khâm Đức để đưa những toán biệt kích xâm nhập qua Lào). Những quân nhân SOG thuộc bộ chỉ huy Bắc (CCN) tham dự cuộc hành quân này gồm có: đại úy G. Jordan, trung sĩ nhất R.L. Noe (đi phép trong thời gian căn cứ bị tấn công), P. Bellofatto, trung sĩ A. Zapada, J. Lyman, M. Jordan, Billips, và M. Gonzales.

        Chúng tôi đến khu vực Khâm Đức vào cuối năm 1965, trên những ngọn núi gần biên giới Lào-Việt, nơi hướng tây nam thành phố Đà Nẵng. Ở đó đã có toán A-105 LLĐB/HK chỉ huy trại LLĐB Khâm Đức). Bộ chỉ huy Bắc thiết lập căn cứ hành quân tiền phương (FOB) ở đó.

        Tại các trại LLĐB ngoài vùng I chiến thuật, bạn bước ra khỏi cổng trước đã có thể bị bắn sẻ, phục kích trước khi ra đến phi đạo. Toán A LLĐB đến trại LLĐB Khâm Đức trước đó đã đặt rất nhiều mìn bẫy, khi toán này đến, cỏ tranh cao hơn đầu người đã phủ kín bãi mìn, không ai dám ra gỡ những quả mìn đó nữa.

        Mục tiêu của chúng tôi (toán biệt kích SOG) là những kho chứa đồ tiếp vận của quân đội Bắc Việt, dấu trong khu vực rừng núi rậm rạp, phiá bên kia rặng núi, trên đất Lào. Toán biệt kích SOG đã nằm chờ (thơì tiết tốt) cả tuần lễ, hy vọng trời sẽ quang đãng, hết mưa để thi hành công tác. Trung tá Raymond “Cherokee” Call ở Đà Nẵng (CCN) lợi dụng trời tốt, bay (trực thăng) lên Khâm Đức. Tôi rất “ngần ngại” thời tiết ở đây, khi đã xâm nhập vào đất Lào, bỗng dưng thời tiết trở nên xấu, kể như toán biệt kích “kẹt” luôn, chỉ còn nước lội bộ trở về. Nhưng bộ chỉ huy MACV thúc đẩy, nên toán biệt kích phải lên đường.

        Toán biệt kích xuống bãi đáp không có gì trở ngại. Nhưng như tôi đã lo ngại, khi chúng tôi vừa di chuyển, mây đen lại kéo đến che kín bầu trời, rồi bắt đầu mưa. Cơn mưa thật to, phải di chuyển qua bãi cỏ tranh dưới mưa là một cực hình. Chúng tôi nghĩ rằng, địch quân cũng chẳng đi lại trên đường mòn trong cơn mưa gió nên, nên mọi người đi trên con đường… cho đỡ cực nhọc.

        Toán biệt kích ăn mặc bộ quần áo “bà ba đen” ướt sũng nước. Ba biệt kích Nùng đi đầu dẫn đường, “Ski” (trung sĩ nhất Bernie “Ben” Dunakoskie), một thiếu úy LLĐB/VN và tôi đi phiá sau. Khi trời hết mưa, chúng tôi tiếp tục đi trên con đường thêm một đoạn nữa trước khi chui vào một bụi cây.

        Gần bụi cây, con đường uốn quanh, chúng tôi có thể quan sát cả hai phiá. Bỗng người biệt kích Nùng hướng đạo (nhiều kinh nghiệm, luôn đi đầu) ra dấu hiệu có một toán tuần tiễu của địch, nhưng không ai trông thấy để chuẩn bị. Khi toán lính Bắc Việt đến khúc quanh, ông thiếu úy LLĐB lên đạn khẩu tiểu liên K-9 Thụy Sĩ, rồi hai bên nổ súng.

        Người biệt kích Nùng vừa bắn vừa lui về chỗ toán biệt kích. Từ hai đầu con đường mòn, thấy xuất hiện thêm nhiều lính Bắc Việt. Chúng tôi vội nổ súng để yểm trợ cho người biệt kích Nùng rút lui, rồi cả toán rút lui qua một bụi cây khác. Trong khi địch tiếp tục bắn vào bụi cây chúng tôi đã rút ra. Người biệt kích Nùng cho biết địch có khoảng một đại đội.

        Trong khi toán lính Bắc Việt vẫn tiếp tục bắn cầm chừng đợi quân tăng viện, chưa dám tấn công, tôi ra lệnh cho toán biệt kích tiếp tục lui ra khỏi khu vực chạm súng. Trong toán biệt kích đã có người trúng đạn, Lon bị trúng một viên nơi vai, vết thương không nặng, tôi băng vội cho anh ta, rồi để anh ta đi phiá sau. Lúc này tôi và “Ski” lên dẫn đường cho toán biệt kích.

        Ra khỏi khu vực nguy hiểm, tôi dẫn đầu toán biệt kích chạy trở lại bãi đáp trực thăng. Sau khi chạy được khoảng một tiếng đồng hồ, thấy có vẻ an toàn, tôi cho lệnh ngừng lại để xem lại toán biệt kích. Thêm hai biệt kích Nùng bị thương nhẹ, chúng tôi băng bó tạm để không để lại vết máu trên đường rút lui.

        Lúc đó chúng tôi bắt đầu lo sợ (không như lúc nổ súng, sống… chết). Sau khi địch quân chấn chỉnh lại, chúng sẽ đuổi theo toán biệt kích. Và chúng tôi tiếp tục chạy, giữ khoảng cách với địch quân càng xa càng tốt, trước khi trời sập tối. Trên đường chạy, thỉnh thoảng chúng tôi ngừng lại để tôi chấm lại điểm đứng. Chúng tôi gặp nhiều đường mòn ngang dọc, có thể do người thiểu số bên Lào đi săn bắn. Chúng tôi tìm cách xóa dấu chân khi di chuyển, để địch quân không thể tìm ra lộ trình toán biệt kích di chuyển.

        Tôi ra lệnh cho toán biệt kích di chuyển nhanh, phải ra khỏi khu rừng cây rậm rạp mới liên lạc được với căn cứ hành quân tiền phương Khâm Đức. Chúng tôi tìm được một khoảng trống, trải tấm pano để nhận diện. Chiếc phi cơ quan sát FAC đã nhận ra toán biệt kích ở dưới, cho chúng tôi điểm đứng chính xác và hướng dẫn chúng tôi di chuyển đến một bãi đáp gần nhất để trực thăng vào đón. Bãi đáp cách vị trí hiện tại của toán biệt kích khoảng… ba cây số.

        Viên phi công FAC hỏi có áp lực của địch không? Tôi trả lời “có” bằng hai tiếng “click” bóp vào tay cầm cobinet máy truyền tin. Tuy nhiên FAC nói, mây thấp trực thăng không thể vào ngay được, hẹn sẽ đón toán biệt kích tại bãi đáp lúc 9:00 giờ sáng hôm sau. Tôi trả lời “OK!”, chiếc FAC vội bay đi chỗ khác để đánh lạc hướng địch quân. Chúng tôi lại đeo ba lô di chuyển để bù lại thời gian bị mất khi liên lạc với chiếc FAC và trước khi trời tối.

        Chúng tôi vừa đi vừa ăn, trước khi trời tối, tôi cho lệnh ngừng lại nghỉ để xem lại toán biệt kích. Vết thương của Lon vẫn còn chẩy máu vì phải di chuyển, tôi băng thêm một lớp nữa, rồi toán biệt kích lại tiếp tục lên đường cho đến khi trời tối hẳn. Chúng tôi tìm được một bụi cây lớn chui vào, nằm thành vòng tròn, đầu quay vào trung tâm để phòng thủ.         Nằm yên được khoảng một tiếng đồng hồ, chợt một loạt súng nổ vang ở xa vọng lại làm cả toán biệt kích giật mình. Đó là kiểu bắn “dọ dẫm” của địch, tôi nói khẽ với biệt kích Nùng tên Cẩn nằm cạnh “nói mọi người, khóa an toàn khẩu súng”. Bây giờ một phát súng nổ bất cẩn, chẳng khác gì “Lậy ông! Tôi ở bụi này” (Đúng vậy, toán biệt kích đang nằm trong bụi).

        Tiếng súng càng rõ hơn, cùng với tiếng người gọi nhau, tôi có cảm giác, tóc gáy mình dựng lên. Chúng tôi biết địch đang mong chúng tôi bắn trả lại. Lính Bắc Việt càng lúc càng gần về phiá toán biệt kích, tôi hồi hộp, hy vọng mọi người ai cũng giữ được bình tĩnh. Cuối cùng, chúng tôi nhìn thấy địch quân chỉ cách bụi cây khoảng 30 thước, cầm đuốc soi xuống đất tìm dấu vết, nhưng đám cỏ đã được chúng tôi đưa chân gạt qua lại làm đứng thẳng trở lại.

        Không biết làm gì hơn, một tên quạt vào trong bụi cây, nơi có toán biệt kích một loạt đạn, bay ngang đầu chúng tôi vài phân. Rồi tiếp theo, một tên khác bước vài bước về hướng bụi cây quan sát. Toán biệt kích “đứng tim”, tôi có cảm tưởng chúng không bao giờ đi khỏi chỗ này, một biệt kích Nùng sờ nhẹ vào tay tôi như chờ lệnh, nhưng chúng tôi vẫn nằm im. Ít phút sau, toán lính Bắc Việt bỏ đi, ánh đuốc cùng với tiếng người từ từ đi xa dần… Chúng tôi thở mạnh ra.

        Trước khi trời sáng, chúng tôi ăn thật nhanh rồi bắt đầu di chuyển về hướng bãi đáp. Toán biệt kích di chuyển thật chậm, cẩn thận nghe ngóng. Chúng tôi chỉ nghe tiếng chim hót chào mừng buổi sáng sớm. Bầu trời vẫn còn những đám mây xám, tôi hy vọng mặt trời lên sẽ làm tan bớt mây, để trực thăng vào đón chúng tôi.         Khoảng 6:30 phút, chúng tôi đến một giòng suối, nước chẩy từ trên núi xuống và sẽ đến bãi đáp trực thăng. Tôi quyết định cho toán biệt kích đi dưới suối để không để lại dấu chân, vả lại, trên bản đồ giòng suối sẽ đi đến bãi đáp để trực thăng vào triệt xuất toán biệt kích. Không sợ để lại dấu chân, chúng tôi di chuyển nhanh. Khoảng 7:30 toán biệt kích ngừng lại để nghỉ lấy sức, tôi coi lại vết thương của Lon, lấy nước suối rửa sơ qua vết thương, viên đạn vẫn còn nằm bên trong, anh ta nghiến răng để khỏi la. Sau đó tôi cột cánh tay lại, đồ ăn và những đồ nặng của Lon chia cho anh em trong toán biệt kích mang bớt. Hai biệt kích Nùng khác bị thương nhẹ cũng được thay băng, rồi đem tất cả những cuộn băng dính máu đi chôn, không để lại dấu vết.

Chúng tôi ngừng chân lúc tám giờ sáng, để liên lạc nhưng không có phi cơ nào trên bầu trời nên không được. Tôi lo lắng, với thời tiết xấu, phi cơ không vào được để “bốc” toán biệt kích. Trong chuyến xâm nhập đầu tiên vào đất Lào, cùng với trung sĩ nhất Petry, một trực thăng CH-34 thuộc phi đoàn 219 “King Bee” Việt Nam chở đại úy Larry Thorne bị rơi cũng vì thời tiết xấu thay đổi nhanh chóng. Đại úy Thorne cùng phi hành đoàn Việt Nam tử nạn.

        Khi toán biệt kích di chuyển đến, chỉ còn cách bãi đáp khoảng 200 thước, người biệt kích Nùng đi đầu nổ súng và từng loạt súng nổ tiếp theo, vang dội núi rừng. Có lẽ địch đã nghi ngờ, khu vực này có thể làm bãi đáp trực thăng, và chúng tôi đã đụng đầu với toán canh gác của địch. Các biệt kích quân Nùng, không do dự (vì địch ít người), chạy lên tấn công chớp nhoáng. Đạp lên đầu địch quân (có lẽ chỉ một, hai tên đã bị tiêu diệt), chúng tôi tiếp tục chạy đến bãi đáp. Đó là nguồn hy vọng của toán biệt kích, phải đến bãi đáp, tử thủ cho đến khi trực thăng vào cứu.

        Chúng tôi đến bãi đáp, việc đầu tiên coi lại toán biệt kích, đã có ba biệt kích Nùng bị thương nhẹ đang xé băng cá nhân băng tạm vết thương. Tôi ra lệnh cho “Ski” cùng với hai biệt kích Nùng đi quanh khu vực bãi đáp, coi chừng còn tên địch nào nữa không. Tôi đi lại chỗ Lon, anh ta gục vào một thân cây, khuôn mặt tái xanh vì đau đớn và kiệt sức. Phía bên phải áo của anh ta đẫm ướt máu, từ hôm qua đến giờ Lon đã mất nhiều máu vì phải di chuyển, phải chạy. Lon thực sự là một người can đảm, không kêu than. Tôi cởi áo anh ta ra, miếng băng đã đẫm máu đang nhỏ từng giọt máu xuống. Tôi thay miếng băng khác, cột chặt vết thương lại để cầm máu. Đến lúc đó tôi biết rằng Lon không thể chạy được nữa, và cả toán biệt kích cũng đã… hết đường.         Có tiếng súng nơi hướng “Ski” và Cẩn đang lục soát. Tôi đỡ Lon nằm xuống đất, lấy khẩu tiểu liên Thụy Sĩ K-9 của anh ta, tháo cơ bẩm vứt đi một nơi, khẩu súng một hướng khác. Tôi ra hiệu cho hai biệt kích Nùng lại, khiêng Lon ra bìa bãi đáp trực thăng nằm đợi. Lúc đó “Ski” và Cẩn lui trở lại, sau lưng họ có lính Bắc Việt chạy qua lại giữa những thân cây lớn. Tôi nổ súng làm chúng phải đứng lại, nấp sau thân cây. Toán biệt kích chỉ còn ba người chưa bị thương, tôi ra lệnh cho binh sĩ Nùng bố trí sau những hàng cây nơi bià rừng, quay lưng ra bãi đáp chống cự với địch. “Ski” bò ra giữa bãi đáp trải tấm Pano làm dấu cho trực thăng trông thấy, Cẩn bò theo bảo vệ “Ski”. Sau khi xong việc, cả hai di chuyển qua phiá bên kia, nằm bảo vệ bãi đáp trực thăng.

        Tôi mở máy truyền tin, cố gắng liên lạc. Bầu trời vẫn u ám, nhiều mây. Tôi biết rằng, đến buổi chiều nếu trực thăng không vào được, định mệnh dành cho toán biệt kích coi như… đã an bài. Khoảng 10:00 giờ sáng, tôi nghe tiếng khu trục A1 Skyraider bay vần vũ trên bầu trời, vội đổi qua tần số “Không-Lục” để liên lạc. Tiếp theo là tiếng trung tá Call, bộ chỉ huy Bắc (CCN) gọi danh hiệu của toán biệt kích.

        Trung tá Call báo cho biết đã cho một trực thăng tải thương đến. Tôi báo tín hiệu “Shining Brass” (Khẩn cấp! Toán biệt kích đang lâm nguy, có thể bị tiêu diệt). Khi phi cơ quan sát bao vùng nhận được tín hiệu “Shining Brass”, sẽ điều động tất cả các phi cơ: phản lực, khu trục, trực thăng võ trang, đang trên vùng hành quân Shining Brass của đơn vị SOG (Lào) bay về đánh giải vây để cứu toán biệt kích đang gặp nguy hiểm. 

        Tiếp theo tôi nghe tiếng phản lực cơ F-104 “Star Fighter” gầm thét trên bầu trời như đe dọa những đơn vị Bắc Việt đang tìm cách tiêu diệt toán biệt kích. Viên phi tuần trưởng gọi toán biệt kích.

–          Shining Brass! Shining Brass! Đây là Lancer Leader.

–          Lancer Leader! Đây là Shining Brass. Mừng khi nghe tiếng bạn!

        Viên phi tuần trưởng cười, trả lời.

–          Nghe nói bạn đang gặp khó khăn ở dưới. Chúng tôi giúp được gì không?

–          Bạn dọn dẹp xung quanh bãi đáp, cách khoảng 50 thước được không?

–          Nhận rõ!

        “Ski” từ phiá bên kia đầu bãi đáp chạy trở lại báo cáo, có nhiều địch quân đang tiến về bãi đáp, anh ta cùng với Cẩn quay trở lại với toán biệt kích. Tôi gọi Lancer Leader.

–          Lancer Leader! Đây Shining Brass, Có nhiều địch quân di chuyển nơi đầu bãi đáp cách khoảng 300 thước, bạn dọn dẹp chỗ đó luôn giùm tôi.

        Mấy chiếc phản lực F-104 lao xuống thả bom, tiếng nổ điếc tai. Trung tá Call gọi lại cho biết, trực thăng cấp cứu đang vào, toán biệt kích chuẩn bị. Viên phi tuần trưởng “chơi đẹp”, nói tôi cùng toán biệt kích lo chuẩn bị bãi đáp, anh ta sẽ làm nhiệm vụ “điều không”. Tôi ra lệnh khiêng Lon ra bãi đáp, gọi mấy binh sĩ Nùng đang bố trí nơi đầu bãi đáp chạy trở vào “Nhanh lên! Nhanh lên!”.         Thêm một phi tuần F-104 khác lên bao vùng. Cả toán biệt kích khiêng Lon đi vào khoảng trống bãi đáp. Toán bảo vệ của “Ski” cũng vào đến nơi, tôi vui mừng trông thấy cặp mắt Lon mở ra, có vẻ tỉnh táo. Tôi nghe tiếng động cơ trực thăng bay vào, đó là mấy chiếc trực thăng võ trang, bay vào bắn hỏa tiễn xung quanh bãi đáp. Rồi thì chiếc trực thăng H-34, Việt Nam do phi công Cowboy đáp xuống, anh ta đưa tay vẫy đám biệt kích. Tôi hối mấy biệt kích Nùng đưa Lon lên, cùng với mấy người bị thương. Chiếc H-34 cất cánh rời bãi đáp nhanh chóng.

        Chiếc thứ hai sẽ vào “bốc” những người còn lại của toán biệt kích. Chợt trung tá Call ra lệnh cho Mustachio (một phi công H-34 Việt Nam khác. Cowboy và Mustachio thuộc phi đoàn 219 trực thăng “King Bee” rất nổi tiếng trong đơn vị SOG) tránh ra khỏi bãi đáp vì cả trung đội lính Bắc Việt đã vào sát bãi đáp. Các trực thăng võ trang lại phải bay vào làm một tour nữa. Mustachio theo sau đáp xuống. Tôi, và “Ski”, viên sĩ quan LLĐB/VN cùng hai binh sĩ Nùng leo thật nhanh vào trong máy bay.

        Mấy trực thăng võ trang vẫn bay vòng trên đầu bãi đáp cho đến khi chiếc H-34 đã ra khỏi bãi đáp an toàn. Về đến bộ chỉ huy Bắc (CCN) ngoài Đà Nẵng, tôi cùng với “Ski” vào câu lạc bộ uống vài chai bia với hai phi công H-34 Việt Nam. Chiều hôm đó, tôi cùng với “Ski” lên một chiếc C-47 bay vào Saigon trình diện đại tá Arthur D. “Bull” Simon chỉ huy trưởng đơn vị SOG.

        Đại tá Simon muốn trưởng toán biệt kích gặp ông ta đã trước khi báo cáo kết qủa lên cơ quan MACV. Đối với ông ta… phải làm việc tận lực. Trả viên sĩ quan LLĐB về lại đơn vị, cho Lon về hưu, thuyên chuyển các biệt kích Nùng qua đại đội Xung Kích Hatchet Force.

Lời Cuối:

1.      Khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, những quân nhân mất tích bên Lào, không một người nào sống sót trở về.

2.      Trong các cuộc hành quân “vượt biên”, đơn vị SOG mất khoảng 400 quân nhân LLĐB Hoa Kỳ.

3.      Trong tháng Năm 1968, bộ chỉ huy Trung (CCC, Kontum), một toán biệt kích lâm nguy, phi công trực thăng Hoa Kỳ không dám đi. Phi công Cowboy (Việt Nam) bay vào cứu thoát toán biệt kích đưa về Kontum. Trên đường về căn cứ, Cowboy rớt trực thăng tử nạn, để lại vợ và một con thơ.

VĐH

Dallas, TX. 

Chết Tại Buôn Mê Thuộc

28/04/2010

Đào Như

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể, tác giả đã nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, với các bài “Tự Khúc”, “Dấu Chân Người Lính.” Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Sau đây là bài thứ hai trong loạt bài góp cho giải thưởng nhân dịp kỷ niệm 35 năm Tháng Tư 1975.
                                                                 * * *
 Xin ai đó khi đọc tựa đề đừng vội nghĩ ngay rằng tôi đang viết về” Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975″ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.Không, đây là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn và xảy ra tại Mỹ vào những tháng đầu năm 1997 đến năm 2000.

– Ông ấy và tôi đến Mỹ lâu rồi, thưa bác sĩ, từ năm 1984.
Bà vừa nói, vừa dùng ngón tay trỏ chỉ về phía người chồng. Bà ốm, cao người, tuy già lớn nhưng còn vẻ thanh tú. Bà nói giọng Quảng nam. Lúc đó, 1997, theo đúng ngày sanh tháng đẻ của bà trên thẻ-thường-trú, bà cắn đúng 65 tuổi!
Ngồi bên cạnh bà, người chồng im lặng, nhỏ con, ốm và thắp hơn bà nhiều, đứng tới mép tai bà là cùng! Ông ta có đôi mắt ti hí quầng thâm đen, mặt toàn xương, có nhiều vết hằn trên trán, chứng tỏ trong quá khứ ông cũng có những đêm thao thức không ngủ được!
– Thưa bác sĩ, bà ấy với tôi đến Mỹ, năm 1984, đúng vậy!
Nói đến đó ông ta nín thinh, hình như ông ta bị cụt hứng vì cái nhìn của bà vợ. Thấy vậy Trọng đỡ lời cho ông:
– Ông bà đến Mỹ theo diện nào” Có phải diện H.O. không”
– Mần ren mà diện H.O. được! Diện H.O đâu có đến Mỹ sớm dữ vậy! Với lại ông ấy đâu phải là sỹ quan…
Bà thở ra nhẹ, bà nói tiếp:
– Ông ấy thượng sĩ già! Chúng tôi đến Mỹ theo diện con lai!
– Khổ lắm Bác sĩ, ông thều thào. Tôi là lính của Sư Đòan 2, từ thuở chí tư, cày từ lính, được gắn lon thượng sĩ giữa 73, đến năm 75, mấy ổng vào, rụi om, mất hết! Ông ôm đầu than vãn nhức đầu, mất ngủ, chán chường, đêm ngủ thấy toàn ác mộng!
Và cuộc đối thọai sau đó hơn 2 tiếng đồng hồ, giữa hai ông bà và Trọng. Sau lần gặp gỡ này, Trọng được biết tên ông là Trần Thống, lúc đó ông 70 tuổi. Hai vợ chồng đều ăn tiền bịnh, và có thẻ khám bịnh số 93, dành cho người bị bịnh, bất lực lao động. Ông là lính của Sư Đoàn 2, ông lập đi, lập lại nhiều lần “tôi là lính của Sư Đòan 2, tôi ăn chịu với Sư Đòan 2, tôi trung thành với cây súng và màu đất đỏ”! Trọng ngạc nhiên, hầu như không hiểu được cách lý luận của ông ta. Theo ông thuật lại, giũa tháng 3 năm 75, Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân Đòan 2, sau khi nhận được lệnh hãy rút lực lượng theo kế hoạch ít thiệt hại nhất cho Quân Đòan, bảo vệ sinh mạng của chiến sĩ và gia đình họ. Tướng Phú sử dụng Liên Tỉnh Lô 7, nối liền Kontum, Pleiku, Phú bổn, Phú yên để rút lực lượng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa từ cao nguyên về các tỉnh duyên hải Miền Trung. Cũng như các chiến sĩ khác, ông cũng đùm túm vợ và 5 năm con theo Sư Đoàn rút về vùng duyên-hải. Trong cuộc triệt thoái này, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu những sự thiệt hại vô cùng to lớn, cũng như gia đình ông gánh chịu những mất mát đau thương: ông thất lạc đứa con trai 15 tuổi mà ông nghĩ “nó bị vùi dập nơi mô rồi”! Ông miêu tả cái chết của vợ ông: “Bà chết chổng mông ngay dưới chân tôi, nơi cái vực sâu 2 thước! Biết làm sao bây giờ, tôi đành chôn bà ngay tại chỗ đó. Tội nghiệp bà, thế chồng con một mình bà chết thê thảm quá! Tôi dựng một tấm bảng bằng tôn đề tên họ, để sau này mình có dịp may ra trở lại bốc mộ! Mà lâu bấy chừ có dịp mô đâu”. Ông mô tả “Cộng quân vô cùng tàn bạo. Lúc ấy Liên Tỉnh Lộ 7, một hỏa ngục kéo dài từ Cao nguyên đến các tỉnh duyên hải ..”! Về tới Tuy Hòa, sau hơn 20 năm lính, vốn liếng ông còn lại: 4 đứa con, cái quần xà lỏn, cái áo thun, và một tương lai đói thấy rõ! Cũng như các chiến sĩ khác, lúc đó ông cũng đi đến kết luận: “cuộc đời binh nghiệp của tôi chấm dứt từ đây”! Nghe oai và buồn! Thật bi hùng!

Còn Bà! Quá khứ của Bà đúng là mẫu mực: “Người Đẹp Thời Loạn- Hồng nhan đa truân”! Mà Bà đa truân thật. Bà trải qua nhiều cuộc tình, cũng như bà có nhiều đời chồng. Bà thường hay tiếc rẻ:
– Hồi đó tôi dỡ thật! Tôi có biết thuốc ngừa thai gì đâu! Thành thử với ông nào tôi cũng có con! Chỉ với ông này là tôi không có, khi tôi gặp ông, ông đã già rồi! Tôi lấy ông ấy như đũa có đôi! Bà nói như bà đã chủ động trong mọi lần bà sống chung với mỗi người đàn ông!
Bà sanh tại Hội an, lấy chồng về Huế. Ở Huế, ngòai Hòang tộc, Tôn thất, còn có nhiều vọng tộc khác như: Nguyển Khoa, Nguyễn Hữu, Trần Thanh…Hình như người chồng Thừa Thiên của bà là một thư sinh xuất thân từ vọng tộc Huế! Bà có hai con. Bà đẹp và sang. Chồng bà là sĩ quan Trung úy! Cấp bậc Trung úy của ông chồng Bà, theo Bà kể là Trung úy bất đắc dĩ, chứ ông ấy tốt nghiệp Đại học Sư phạm hệ 3 năm. Biến cố Mậu Thân, 1968, tai ương cho Huế và cũng là tai ương giáng xuống gia đình Bà! Chồng Bà bị Cộng sản giết chết và vùi thây trong mồ chôn tập thể! Nhà Bà bị máy bay Mỹ bắn rockets cháy, sụp đổ nát tan, trong cái quyết tâm của họ dành lại thành phố Huế trong tay Cộng sản! May mà hai đứa con Bà và Bà còn sống sót. Cơ cực quá rồi! Thôi thì đành phải “thoái thì về mẹ vậy “! Bà thu xếp, đầu 69, Bà dẫn 2 con về Hội an ở với cha mẹ. Lúc đó cha mẹ Bà cũng đã già, ảnh hưởng chiến tranh gia tài gần như khánh kiệt. Sở dĩ ông cụ bà cụ còn đựơc giây phút nhàn nhã, là nhờ mấy thằng con trai có hiếu, đi lính đi tráng cũng dành dụm gửi tiền về bù đấp cho ông bà! Những năm 67, 68, 69, chánh phủ Mỹ đổ quân ào ạt vào Việt Nam. Số lượng quân viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam lên đến con số kỷ lục hơn nửa triệu người! Cách Hội an về phía Nam, không đầy 90 cây số, căn cứ Chu lai của Mỹ được nới rộng.  Làm ăn với lính Mỹ có màu thăng hoa nhanh, giàu có và đỡ mệt nhọc!
Bà nói:
– Tôi gửi các cháu cho ông bà ngoại chăm sóc cho đi học. Tội nghiệp các cháu giống cha, chăm chỉ học hành, sau này thành thân hết!  Tôi lặn lội vào Chu Lai. Đâu có ham vui gì nữa, lúc đó tôi đã hơn nửa đời người! Tôi chỉ cần tiền nuôi các cháu và giúp đỡ cha mẹ. Tội nghiệp hai thằng em tôi, đi lính, đi tráng, lằn tên mủi đạn, khổ sở mà phải dành dụm gửi tiền về nuôi cha mẹ. Thấy vậy tôi không đành. Tôi là chị cả cũng là con gái một…Cuộc sống đưa đẩy tôi đến ngày tôi gặp Bob, 1970, tại một Night Box trong căn cứ Chu lai. Ông ta không phải quân đội, ông ta mặc đồ dân sự. Ông có xe, có tài xế riêng và hình như cũng có bác sĩ riêng nữa! Thật sự tôi không biết ông ta làm gì” Ông ta lúc nào cũng có gương mặt đâm chiêu, suy nghĩ. Có lẽ ông nghĩ về gia đình ông ta tại Mỹ, vợ ông, con ông và cha mẹ ông. Cũng như ông, tôi nghĩ về các con tôi, về Vinh, người chồng xấu số của tôi bị giết chết trong tết Mậu Thân, về cha mẹ tôi… Vì những điểm giống nhau đó, lúc đầu tôi chỉ cần tiền, nhưng sau hiểu nhau, chúng tôi đầu ấp tay gối với nhau thật sự. Ông ta cho tôi tiền nhiều lắm! Có tháng ông cho hơn cả 5, 6 trăm dollars. Ông thường nói đùa, ông cho tôi tiền còn nhiều hơn ông Tướng Kỳ cho bà Mai mỗi tháng! Thế là cuộc sống cứ vô tình đưa đẩy đến lúc mình trở thành…nói đến đây, mắt Bà hấp háy vài cái… ” Mít Saigòn “(Vỡ kịch Ms. Saigon) lúc nào mình cũng không hay! Cuộc tình lớn của bà và Bob được kết thúc bằng hòa ước Paris, ký kết giữa Lê Đức Thọ và Kissinger vào 23 tháng Giêng, 1973! Sau khi rút về nước khoảng tháng 3/73, Bob để lại cho Bà đứa con trai 9 tháng! Vào tháng 5/1973 bà tự biết thời làm ăn với Mỹ đã hết! Một lần nữa bà quyết định Về Với Mẹ. Bà đem tất cả tiền bạc và tài sản dành dụm được và bế đứa con lai về Hội an. Bà gặp sự phản đối dữ dội của hai đứa con bà. Ông cụ bà cụ vẫn giữ thái độ yên lặng. Phần thì thương và hiểu các cháu ngoại, phần thì cũng xót cho con gái của mình! Mà đâu có phải tại cháu hay tại con, như cụ bà thường than vãn:
– Tất cả đều trên trời rơi xuống! Như bom đạn chiến tranh! Như hỏa tiển, tai bay họa gửi!
Thời gian là ông thầy thuốc tài ba nhất! Dần dần thời gian xoa dịu các vết thương tâm: Cứt trâu để lâu hóa bùn; chẳng những thế mà cây có ở chung quanh bãi cứt trâu hóa bùn đâm ra tươi tốt hơn! Bà đem tiền về Hội an, bà xây dựng cơ sở làm ăn. Bà lập một quán cà phê. Mặc dấu ở tuổi 41, 42 bà vẫn còn nhan sắc, nhất là một người đàn bà từng trải như Bà, quán cà phe của bà   ăn nên làm ra! Gần miền, có anh chàng chưa có vợ, trẻ hơn bà đôi ba tuổi gì đó, trước 73 làm nghề thông dich cho Mỹ. Mỹ về nước, thất nghiệp, xin đến giúp Bà một tay!
Bà nói:
 – Xin đến làm không lương đó Bác sĩ! Và một năm sau, trời ơi! Tôi đâu có ngờ ở tuổi 42 mà tôi còn có thể có thai với “hén”. Thôi thì cũng đành thương nhau đậu gạo nấu cơm mà nuôi con! Đến 75 “mấy ổng” vào, quán xá vẫn sinh hoạt bình thường. Mấy tuần lễ đầu tháng Năm, mấy ổng hạch sách tí đỉnh.  Nhưng vấn đề là mình phải biết điều với họ! Cũng phải thôi! Mình là Ngụy mà có con lai nữa! Một cổ hai tròng! Nhiều anh cách mạng bảo nhỏ với tôi là đừng lo, đừng đóng cửa quán, có gì các anh ấy che chở cho!  Nhiều anh tốt bụng quá! Nhưng có một điều là thằng con lai của tôi, thằng Lùi, nó lớn như một thực tế đáng sợ: da trắng, tóc vàng, mắt xanh, trông giống cha nó, thương đứt ruột!
– Tại sao bà đặt tên con bà là Lùi ” Bà khiêm tốn quá vậy”
– Bác sĩ dạy quá lời!  Sự thật không phải khiêm tốn gì đâu! Tôi đặt tên cháu là Nguyễn Văn Lu-I để nhớ lại sự tích của cha nó tên là Bob. Khi sanh, nó đâu có giấy khai sanh, mải đến năm 76, sau khi Cách mạng vào, họ đòi hỏi khai sanh để lập hộ khẩu, mới đi làm khai sanh cho nó ở cái xã gần nhà. Ông cán bộ đội nón cối nhìn châm bẩm vào thằng con tôi, rồi ông ta nhìn vào giấy tờ tôi viết đàng hoàng: Nguyễn văn Lu-I, sanh tại Chu Lai ngày 12 /06/1972. Ông ta hất hàm hỏi tôi bằng giọng Bắc kỳ, ông nói đớt:
– Tiếng Việt đâu có tiếng Nu-I!
Ông ta tự ý sửa thành Lui, và cũng chính ông ta thêm cho nó cái dấu huyền cho nó hợp thời và dễ nghe hơn!
 – Bà không phản đối gì sao”
– Thưa Bác sĩ, Lu-I, Nu-I, Lui, Lùi có khác gì đâu! Cái giống gì cũng được! Hơi đâu mà kỳ kèo với “nón cối”!
– Sao lúc đó Bà không khai cháu Lu-I là con nuôi, bà lượm được, có ai hay biết gì đâu!
– Đâu có đành như vậy, Bác sĩ… Bà lấy giọng, nói cao hơn:
– Con của tôi! Tôi phải khai là con của tôi! Tôi mang nặng! Tôi đẻ đau! Trời cho nó cho tôi! Tôi phải đùm bộc nó chớ! Thưa Bác sĩ! Có chết tôi cũng chịu, đâu có lẽ nào mà mình chối bỏ giọt máu của mình!
 Thấy bà có vẻ giận, Trọng vội vàng xin lỗi bà.
 Bà liền đỡ lời:
– Tôi biết Bác sĩ không cố ý nói như thế! Nhưng…thưa Bác sĩ, sống là phải nhìn thấy trước. Năm 1976 vào khỏang tháng 7, bầt ngờ tôi nhận được thư của anh Hoành, anh ruột của anh Vinh. Anh chị Hoành cho tôi biết anh chị đã trở về Huế, và anh chị đang tu bổ lại căn nhà của cha mẹ chồng tôi ở đường Lý Thường Kiệt. Anh chị không có con. Anh chị có ý gặp tôi và hai cháu Hoa và Thăng, con của tôi và anh Vinh. Theo tôi biết, anh Hòanh là cán bộ lớn từ Hà Nội về. Anh ấy là anh ruột của anh Vinh, tập kết ra Bắc 1954. Anh ấy có du học Liên Sô năm hay sáu năm gì đó. Anh đậu Tiến sĩ tại Liên Sô. Nhân cơ hội này tôi nghĩ đem hai cháu gửi cho Anh Chị nuôi, cho tụi nó dễ bề học hành và tiến thân sau này! Các con tôi ở với anh chị như ẩn thân dưới cây dù che cho cái cán! Cả 3 mẹ con tôi đùm túm nhau về thăm Huế! Gặp anh Chị, anh chị mừng! Anh Hoành ôm hai cháu Hoa và Thăng vào lòng! Anh không dám khóc mà mắt cứ rưng rưng. Anh không hề nhắc đến anh Vinh, cái chết của anh Vinh, cũng như cái chết hao mòn của cha mẹ.
Anh ấy nói nghe mà chua xót:
– Cái gì của quá khứ có thể đúng cũng có thể sai, nhưng nó thuộc về quá khứ. Ta nên coi nóvĩnh viễn thuộc về quá khứ. Chúng ta hãy lo xây đắp những cái gì trước mắt chúng ta để có một tương lai hòa hợp và tươi sáng hơn! Vợ chồng tôi thấy cần giúp đỡ thím để chăm nom hai cháu Hoa và Thăng. Xin thím cho hai cháu về ở hẳn với hai vợ chồng tôi. Bây giờ là đúng lúc nhất để tôi lo sắp xếp cho các cháu vào trừơng cấp hai và cấp 3 ở Huế, Trường Quốc Học cũ đó!
Anh ấy vuốt tóc hai con tôi và nói tiếp:
 – Trường mà bác và ba của các con học chung với nhau từ thuở nhỏ.
Thưa bác sĩ, nghe đến đây tôi bùi ngùi nhớ lại anh Vinh. Cuộc chiến tranh của đất nước ta quá lâu, xé toang gia đình ra từng mảnh. Bên này cũng như bên kia, ai cũng không dám nhìn thẳng vào quá khứ đau thương, chẳng khác nào soi mặt mình trong vũng máu của chính mình, của gia đình, của anh em, của đồng bào đất nước! Anh Hoành dẫn hai cháu Vinh và Thăng đi thăm từng phòng trong nhà và anh ấy nói với hai cháu:
 “Bác và hai cháu, đang trở lại ngôi nhà của tổ tiên, của ông nội, bà nội, của cha con… Nơi đây, bà nội đã hạ sinh Bác và Cha con. Và cũng là nơi, cách đây mười mấy năm, mẹ của các con đã hạ sinh các con. Các con hãy ở lại đây, dưới mái nhà này, với hai Bác”!
Lời anh ấy như một khẳng định. Tôi nấn ná ở lại với anh chị và hai cháu thêm vài ngày. Tôi cũng băn khoăn khi thấy anh chị cũng không lấy gì sung túc! Chị ấy cũng con nhà quyền quý xưa của Hà nội, cho nên “đồng thanh tương ứng”, anh chị gặp nhau, yêu nhau. Anh chị kết hôn trong chiến tranh! Anh chị cũng có con trai lên tám, ở phố Khâm Thiên, Hà nội, đi sơ tán không kịp, bị máy bay B52 của Mỹ dội bom chết ngày Giáng sinh 1972! Vết thương nhức nhối đó anh chị chưa hề nói cho ai nghe, kể từ ngày trở về Huế. Trong lúc hai chị em tâm sự với nhau chị ấy mới nói:  “đó là vết thương tâm lúc nào cũng xuất huyết! Nghĩ về cái chết của chú Vinh, cái chết của con chúng tôi, nhà tôi nhiều đêm không ngủ được”.
 Khi còn chừng một ngày nữa tôi phải về Hội an, tôi mới thưa với anh chị Hoành:
“Anh chị nhận hai cháu Hoa và Thăng nuôi như con vĩnh viễn, em rất mừng! Nhưng gia đình anh chị thanh bạch, không lấy gì sung túc lắm, Em xin gửi anh chị 5 cây vàng để tiếp tay anh chị chăm sóc hai cháu về lâu về dài! Sau chuyến này, em nghĩ lâu lắm mới gặp lại hai con”.
 Và tôi khóc!
Anh Hòanh bước đến ôm lấy vai tôi, anh ấy nói:
 ” Vâng 5 cây vàng là một vốn lớn đối với đồng lương của chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ chế độ của hai vợ chồng tôi hằng tháng, đủ để cho vợ chồng tôi đùm bộc hai cháu, giữ lấy gia phong! Thím hãy đem 5 cây vàng này về Hội an mà đề phòng những bất trắc có thể xảy ra cho thím. Thím biết gia đình thím không hội đủ điều kiện ở lại thị xã Hội an làm ăn. Ngày mai tôi phải đi sớm vì có công tác đột xuất, hai cháu và vợ tôi, Viết Hương, đưa thím ra bến xe. Nếu sau này có bất trắc gì xảy đến, xin thím cho chúng tôi hay để kịp thời giúp đỡ thím.”
Nói xong anh ấy đi vào phòng trong.
Mười giờ sáng hôm sau Chị Viết Hương và hai con tôi đưa tôi ra bến xe đò về Hội an. Không biết nói gì trong lúc chia tay với hai con, tôi nhét vội trong túi áo thằng Hoa 5 cây vàng và bảo nó gìn giữ lấy để mà hộ thân cho nó cũng như cho em nó, coi như gia tài chia cho hai đứa nó. Tôi bảo:
“Con hãy đem gửi cho bác gái, đừng cho bác trai con hay”.
Tôi quay lại nhìn chị Viết Hương thì chị đang nhìn chỗ khác. Mãi đến lúc xe lăn bánh, chị mới quay lại nhìn mẹ con tôi. Hình ảnh của chị là niềm tin yêu sắt đá đối với tôi…
Nói đến đây, bà đứng dậy, đến ôm vai chồng ngồi bên cạnh cửa sổ, môi bà nở nụ cười hòa lẫn với nước mắt! Nhắc lại chuyện xưa, bà xúc động! Từ lầu 7 nhìn xuống, đừơng phố Broadway đang ấp ủ nắng hoàng hôn và bóng mát của khu phố.
Bác sĩ Trọng ôn tồn bảo:
 – Tuy có tuổi tác, nhưng lúc nào ông bà cũng san sẻ và gần gũi nhau. Điều đó làm cho tôi mừng!
Ông Thông, chồng bà, sôi nổi nói:
 – Mụ ấy vẫn vậy, từ trước đến bấy chừ! Thương chồng, thương con! Không nhờ mụ, cha con tôi chết đói từ lâu rồi, và không làm sao mà đến được Mỹ!
Lúc này Bà quay lại Bác sĩ Trọng:
 – Con chúng tôi lớn rồi bác sĩ. Tụi nó làm ăn tại North Carolina. Nghe cộng đồng Việt Nam ở Chicago đông, ông nhà tôi có nhiều bạn ở đây và lại nghe bác sĩ làm việc ở đây, cho nên hai vợ chồng tôi mới dời về đây cho ông ấy hôm sớm với bạn bè, và cũng để bác sĩ điều trị giùm cho hai vợ chồng! Bà than vãn:
 – Sao mà ai ai cũng buồn, đâu đâu cũng buồn! Nhức đầu không sao ngủ được! Ai cũng cô đơn, không gửi vào đâu được! Đêm nào ông nhà tôi ngủ cũng thấy chiến tranh, thấy thịt rơi máu đổ, thấy người giết người, thấy vợ ông chết thê thảm quá! Tội nghiệp ông ấy lúc nào cũng nhớ thương bà. Cuộc đời tôi còn nhiều gian truân lắm. Xin bác sĩ cái hẹn, lần tới để chúng tôi giải bày cặn kẻ hơn!
 Sau đó ông bà thường lui tới găp Trọng, để tư vấn tâm thần, nhất là ông Thống, để sinh hoạt với nhóm điều trị: “Câu Lạc Bộ 309.81”.

Thấm thóat, mới đó mà sự liên hệ giữa ông bà và Trọng gần đúng 3 năm! Một buổi sáng gần cuối tháng Tư, năm 2000, mùa xuân đang trên đường trở lại Chicago. Những mảng tuyết trắng xóa đang cố bám lấy nóc phố như những cố gắng cuối cùng của mùa Đông đang tàn lụi! Những người Da Đỏ trong những chiếc áo chòang dày cộm làm bằng da thú, mặt đỏ gừ, nồng men rượu, cúi đầu đi lang thang trong khắp phố Uptown, thuộc vùng phụ cận phía Bắc thành phố Chicago như những con gấu mộng du, ngái ngủ! Họ có vẻ lạc lỏng trên vùng đất quê hương mà chính tổ tiên họ đã dày công xây dựng qua mấy nghìn năm lịch sử!…
Cô thư ký phòng ngoài, điện thọai vào cho hay có thân chủ muốn gặp. Trọng vừa đứng dậy để ra đón, thì bà Sương, vợ ông Thống đã đứng trước mặt. Bà Nói:
 – Xin lỗi bác sĩ, đến sớm, mà không có hẹn trước.
 – Thưa bà, không hề gì vì tôi cũng không có hẹn với ai trong giờ này! Xin bà cứ tự nhiên.  Trọng vừa nói, vừa theo dõi những cử chỉ và những thay đổi trên nét mặt của bà.
– Thưa bà, thành phố Chicago, trong mấy tuần lễ qua, bị chôn vùi dưới tuyết lạnh. Tuần này trời ấm lại. Xem chừng như mùa Xuân đang trên đường trở về. Ở Mỹ thời tiết và 4 mùa, thay đổi nhanh thật. 
– Thưa bác sĩ, trong mấy tuần qua, vợ chồng tôi có ý muôn đến gặp bác sĩ, nhưng thời tiết tệ hại quá. Thấy hôm nay trời ấm, tôi vội đến bác sĩ ngay, vì tôi có vài điều cần thưa với bác sĩ hay, là ông nhà tôi nhập viện cách đây năm hôm! Bác sĩ Karnov, tại bịnh viện cho hay là ông nhà tôi có khả năng bị ung thư gan, và ông đang cho làm những xét nghiệm cần thiết. Nói đến đó, bà khóc!
 – Thưa bà, bà cần tôi giúp đỡ cho ông ở nhà những gì” Xin bà cứ nói, tôi sẽ cố gắng tối đa trong khả năng của tôi!
– Thưa bác sĩ ở tuổi ngòai 70, ông nhà tôi còn mắc bịnh ung thư thật oan nghiệt. Tội cho ông!
 – Thưa bà, ung thư là món nợ chúng ta phải trả ở tuổi già! Càng già tỉ lệ mắc bịnh ung thư càng cao! Tuy nhiên nếu quả ông mắc bịnh ung thư thật, thì hẳn nhiên đó là một điều chẳng lành cho bất cứ ai! Nhân loại ngày nay chết vì ung thư chiếm tỉ số cao nhất. Cho nên về phương diện trị liệu cho các bịnh ung thư, nó là điểm xoáy của các phương án điều trị. Do đó phương hướng điều trị ung thư tiến bộ hằng ngày. Có những bịnh ung thư, mới đây coi như không tài nào chữa đựơc thì ngày nay người ta ổn định nó dễ dàng! Tôi hy vọng bịnh viện sẽ tìm ra phương án, tiến bộ nhất, hiện đại nhất để chữa chạy cho ông.
 – Cám ơn bác sĩ! Bác sĩ Karnov cũng nói rồi! Ung thư gan không lâu lắm đâu! Bà khóc.
Trọng, tìm cách chuyển hướng câu chuyện:
 – Tính tới hôm nay ông bà ở đời với nhau được bao nhiêu năm rồi”
Bà Sương, đôi mắt xa vời, vừa nhìn ra cửa sổ, bà vừa nói:
 – Chúng tôi làm Tờ Sống Chung tại Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1982. Mẹ con tôi bị chính quyền Cộng sản chỉ định đi Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1981, sau khi họ hay biết người chồng sau cùng của tôi vượt biển bằng tàu, đụng đá ngầm, tàu đấm và chết tại ngoài khơi Mũi Din Phanrang! Thật là bi đát, bi đát hơn lúc Mậu Thân ở Huế! Mẹ goá con côi, tay bồng tay bế, bị áp đảo đi vùng KTMĐN2, vào mùa hè tháng tư 1981! Mùa hè ở đây nóng và khô cằn, thật nghiệt ngã! Vùng KTMĐN2 nằm phía Tây Đà nẳng, phía Tây Bắc Hội an. Vùng KTMĐN2 nằm sát chân núi Trường Sơn, gần đường mòn Hồ Chí Minh. Dân chúng được đưa về đây, để phá rừng trồng lúa và khoai mì. Nhà ở làm sẵn. Nhà tranh vách đất. Không có điện. Nước chỉ có con suối nhỏ. Chúng tôi san sẻ nước của con suối nhỏ này với trại tù lao cải của các sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, họ ở về phía tây chừng 2 cây số cách chúng tôi, sâu hút trong rừng Trường sơn! Sau này chúng tôi biết đó là trại Khe Hoa, còn gọi là B16. Đến ĐN2, vô tình Cộng sản sắp tôi ở cái chòi chung vách với ông Thống! Hộ khẩu của ông có 3 người làm ăn cực lực, sống kham khổ, khoai sắn không có đủ mà ăn, nước bùn không có đủ để mà uống! Ông Thống là
người ít nói. Ông giúp đỡ mẹ con tôi nhiều hơn là nói! Ông cho hay, 5 cha con đến ĐN2 hồi năm 80. Sau 6 tháng đầu hết phụ cấp lương thực, đói quá, 2 thằng con trai lớn của ông bỏ trốn về Buôn Mê Thuộc! Đứa đạp xích lô, đứa sửa xe đạp đầu đường gốc phố mà sống! Làm ăn gần gũi nhau, thấy ông Thống là người chân chất tôi mới để bụng thương ông! Chúng tôi làm tờ sống chung cuối năm 82.  Giữa năm 83 có tin cho hay là gia đình có con lai được đi Mỹ. Đó là bước đầu để khai thông quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Mỹ! Tội nghiệp ông Thống! Ông vô cùng mừng rỡ! Chúng tôi kết hợp con cái đi Mỹ. Thế là hai vợ chồng và 4 đứa con chúng tôi đến North Carolina giữa năm 1984. Như vậy, tính đến nay chúng tôi sống chung với nhau gần 18 năm!
 Ngồi nghe bà điểm lại quá khứ của bà sống với ông Thống, và nhớ lại cuộc đời của bà, những lúc bà sống với Vinh, với Bob, với người chồng cuối cùng của bà, Trọng thấy những điều u-uẩn bà mang nặng bấy lâu nay, khiến bà chuốc lấy triệu chứng trầm cảm nặng, khiến tâm linh bà mang nhiều sắc thái, lúc siêu thoát, lúc trần gian! Nhưng ở dưới đáy tận cùng của tâm linh bà, đó là tấm lòng chân chất và trung hậu. Tình yêu của bà với mỗi người đàn ông bà đã sống chung, bắt đầu mỗi người một khác, nhưng cuối cùng bà đã yêu thương tất cả những người chung chăn gối với bà với tất cả tấm lòng chân thật và trung hậu. 
 Bà nhìn đồng hồ. Bà đứng dậy xin kiếu Bác sĩ Trọng ra về. Bà cám ơn thì giờ quí báu mà Trọng đã dành cho Bà. Trọng đáp lại lời cám ơn của bà, và tỏ lời:
“Rất tiếc không giúp được gì cho ông ở nhà trong lúc này”! Tuy nhiên tôi muốn đến thăm ông tại bịnh viện”.
Sau khi cho Trọng địa chỉ bịnh viện, số điện thoại, só phòng bà Sương lầm lũi ra về.
Trọng đến thăm ông Thống vào lúc 3 giờ chiều. Ông nằm phẳng phiu trên giường bệnh. Con người của ông vốn đã gầy trơ xương, Trọng cứ nghĩ ông giờ này kiệt sức. Chợt thấy Trọng đến, ông liền đứng dậy bắt tay Trọng và ngỏ lời cám ơn Trọng đã bỏ thì giờ quí báu đến thăm ông. Trọng thật sự xúc động trước những lời lẽ chân thành của ông. Nhìn cái bụng cổ chướng và màu da đất sét của ông, Trọng biết ngay là ông không còn nhiều thì giờ nữa. Ngày tháng và thời khắc của ông đã bắt đầu điểm. Trọng đáp lễ với ông bằng cách nắm bàn tay của ông trong lòng hai bàn tay của Trọng! Ông vốn dĩ là người ít nói, hôm nay ông lại nói rất chậm, đắn đo suy nghĩ. Những điều ông sắp nói cho Trọng sau đây là những điều ông suy nghĩ trong nhiều năm tháng. Lần đầu tiên Trọng nghe ông gọi vợ bằng “bà nhà tôi”, thường thì ông chỉ gọi mụ ấy  mặc dù lúc nào ông cũng hết sức kính trọng yêu thương bà.
Ông Thống nói:
 – Thưa bác sĩ, tôi nghe bà nhà tôi nói mấy hôm rầy bác sĩ sẽ đến thăm tôi, vì thế tôi có ý đợi bác sĩ đến, để thưa bác sĩ vài điều.
Nói đến đây ông ngừng một chập, thật lâu, vừa suy nghĩ vừa nhìn vào mắt Trọng, ông nói tiếp:
 – Bác sĩ Karnov cho tôi hay là tôi bị ung thư gan. Có lẽ không do thuốc độc khai hoang Dioxin, màu vàng cam của Mỹ. Ông đã kiểm nhận qua máu của tôi, không có yếu tố hóa chất nào chứng minh điều đó. Lặn lội trên khắp chiến trường trong suốt hơn 20 năm, giờ ôm bụng chịu chết vì ung thư gan! May mà không phải thuốc khai hoang, Dioxin, màu vàng cam của Mỹ, nếu rủi mà như vậy thì làm sao lịch sử có thể soi rọi bóng tối sâu thẩm nầy! Bác sĩ Karnov cũng ở trong Lục Quân của Mỹ, đã từng tham chiến tại Việt Nam, cho nên ông rất thông cảm với tôi!
Tôi nài nỉ ông ấy nhiều lần cho tôi biết tôi còn sống được bao lâu nữa” Cuối cùng ông cũng ước đoán không quá 18 tháng. Ông cũng khuyên tôi nên thu dọn càng sớm càng tốt. Tôi cũng làm việc với tất cả các con của chúng tôi và bà nhà tôi. Tất cả đều đồng ý với quyết định của tôi là tôi sẽ về chết chôn tại Buôn-mê-thuộc! Ở quê nhà tôi còn hai thằng con trai lớn. Tất cả đều thành gia thất. Thằng cả đang ở tại nhà của tôi tại Buôn-mê-thuộc, nhà của tôi trước 75. Buôn-mê-thuộc là quê hương của tôi, tôi sanh ra tại đó, lớn lên tại đó! Cuộc đời của tôi chôn chặt dưới màu đất đỏ ấy. Cộng sản có thể chiếm đoạt quê hương tôi!  Cộng sản có thể tước đoạt quyền bảo vệ tổ quốc của tôi! Nhưng Cộng sản không thể nào thủ tiêu được lòng yêu nước của tôi! Tôi hy vọng bác sĩ đồng ý với vợ con tôi, cho tôi trở về non sông đất nước- trả tôi lại cho tổ quốc!
Nói đến đây ông dừng lại một hồi lâu, tuy thế Trọng cũng không dám cướp lời ông. Ông nói tiếp:
 – Thưa bác sĩ tôi còn một ý nguyện nữa: tôi phải về để bốc mộ vợ tôi. Bà nằm ở đó đã 25 năm rồi! Mưa gió tội nghiệp bà! Tôi sẽ đem bà về nằm gần nhà, ở Buôn-mê-thuộc. Sau này con tôi sẽ đặt tôi nằm bên cạnh bà.
– Sao ông lại hỏi tôi như vậy” Trọng hỏi! Đó là quyết định to lớn quan hệ tới vợ con ông, gia đình và tổ quốc! Tuy nhiên tôi cám ơn ông đã cho tôi vinh dự vô cùng to lớn ấy là được tham dự chuyện nhà của ông! Còn chuyện chúng ta quay đầu về tổ quốc là sự lựa chọn vô cùng chính đáng!
Ông Thống quay lại bảo vợ lấy cái phong bì đè dưới gối, trong đó có tờ di chúc ông viết cho vợ con ông. Bà Sương trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ngồi yên nghe chồng bà nói chuyện với Trọng, bà liền đứng dậy đến lấy phong bì đưa cho Trọng. Vì xúc động mắt của Trọng nhoè cả chữ. Trọng đọc thóang qua và chỉ nhớ vài giòng cưối cùng ông viết cho các con riêng của ông:
 “Các con tiếp Ba phụng dưỡng mẹ Sương của các con. Tuy bà không phải là mẹ đẻ của hai con, nhưng điều chắc chắn là nếu không có bà, thì không có cha con ta được như hôm nay! Có thế, Ba mới yên lòng về với tổ quốc, với mẹ đẻ của các con, bà đang chờ đợi Ba”!
 Từ giả ông Thống, ra khỏi bịnh viện lúc 5 giờ chiều, trời Chicago còn lạnh, dừng lại, ngước cổ kéo áo chòang cao hơn, Trọng chợt thấy hàng chữ điện tử trên nóc ngân hàng chỉ đúng hôm nay ngày 30 tháng Tư! Tim anh se lại! Anh cuối xuống, mở cửa bước vào trong xe. Ngồi vào ôm tay lái. Bóng tối vừa phủ xuống thành phố Chicago. Trọng lái xe hướng về nhà nhưng anh có cảm tưởng anh đang đi về một nơi vô định!./. *
Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.
Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.

Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.
Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: “Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.
Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.
Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.
Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.
Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…
Đào Như

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

Cuộc “so tài” của dân anh chị miền Bắc trong Hỏa Lò!

Đặng Chí Bình

Bài 35

Ngay buổi trưa hôm sau, tôi đang ngồi vạch cạp quần lên tìm mấy con rận vì ngứa quá, tên Hưng mò đến ngồi bên cạnh, rút thuốc lá Điện Biên ra mời tôi hút. Y hỏi chuyện ngủ, chuyện ăn loanh quanh. Tôi chưa biết y muốn cái gì mà cứ phải loay hoay mãi chưa chịu vào đề. Cuối cùng, y mới ra vẻ tình cảm:

– Tôi thấy, anh có một khả năng thật tốt. Sau này, anh sẽ phải đi trại trung ương cải tạo; tôi rất có cảm tình với anh, nên tôi muốn ngỏ ý giúp đỡ anh là… anh hãy tích cực dùng khả năng ấy, chắc chắn đường đi của anh trên trại trung ương sẽ rộng mở, không biết thế nào mà nói được.

Tôi vẫn chưa hiểu rõ ý hắn định nói gì, vì thế, tôi vẫn ngồi yên nghe tiếp. Nhưng, chính thái độ bình thản ngồi chờ y nói tiếp đó của tôi, lại càng làm cho y ngập ngừng loanh quanh; để rồi, tôi sốt ruột hỏi thẳng ngay:

– Anh muốn giúp tôi cái gì, hãy nói thẳng rõ ràng ngay đi, khỏi cần rào đón nữa.

– Có gì đâu, tôi hiểu anh sắp đi trại trung ương. Ở trong trại, có người tư tưởng tốt, có người tư tưởng xấu. Người có tư tưởng xấu cũng ví như một con bệnh và các cán bộ là bác sĩ. Nếu bác sĩ không biết căn bệnh của người bệnh, chữa làm sao được? Khi bệnh không chữa được, làm sao con bệnh khỏe mạnh về với gia đình, vợ con, bố mẹ? Vì vậy, anh hãy giúp những con bệnh đó, bằng cách tìm hiểu để biết người mắc bệnh nặng tới mức độ nào. Nếu anh phê bình góp ý, họ không hiểu được nhã ý của anh, họ sẽ giận anh. Vậy, chỉ có một cách tốt nhất là anh hãy báo riêng với cán bộ. Từ đấy, cán bộ mới biết được căn bệnh của họ để chữa trị. Có như vậy, anh đó mới khỏi bệnh, chóng về với gia đình. Như thế là anh đã giúp anh đó tiến bộ.

Đến đây, tôi đã ngửi thấy con người phân của y xông ra nồng nặc rồi. Nhưng, điều tôi băn khoăn là y đã nhìn tôi từ ở khía cạnh nào, để dám đến ngỏ ý với tôi như vậy? Thôi phải rồi, chính từ sự việc thằng Huy “Tồ” hôm trước, y đã suy theo lý của y và đánh giá là tôi thích lập công với cán bộ.

Từ khi vào đây, tôi đã thấy đủ về thằng Hưng này. Y lợi dụng bộ mặt trắng trẻo, học thức, ra vẻ đạo mạo, để tiếp xúc với các cháu nhỏ trong buồng. Tôi cũng thừa nhận, y có con mắt tinh tường, nhìn đối tượng nào cần tiếp xúc, hầu như đều là đúng. Nào là chú thương cháu; nào là dỗ ngon, dỗ ngọt… Trẻ con, dù lưu manh, dù tinh khôn đến mấy, cũng vẫn là… trẻ con, nên sớm muộn đều cảm động trước những lời nói khôn khéo của y và đã nói cho… “chú Hưng” biết tiền còn gửi ở đâu, gửi ai, gửi bao nhiêu và bao giờ v.v… Để rồi vài ngày sau, công an vào gọi tên, dẫn ra phố, đến tận những chỗ chôn giấu, những chỗ gửi tiền… lấy bằng hết. Khi đã biết khôn, thì đã dại rồi, cho nên đã rất nhiều đứa bị tên Hưng cho vào tròng. Nhờ cái tài che dấu, luồn lách giỏi của y, những đứa chưa bị đã ít biết về bộ mặt thật của tên Hưng này. Những đứa bị rồi thường phải đi trại ngay. Nhưng, y làm sao qua mắt tôi! Tôi đã trực tiếp, hoặc gián tiếp qua Phúc “Thổ” ngăn chận việc làm của y từ lâu. Nghĩa là, y ngồi nói chuyện với cháu nào, sau đó Phúc “Thổ” bí mật gặp lại cháu đó và hóa giải ngay. Vì y dựa vào “chính quyền” nên chúng tôi phải lén lút; nhất là tôi lại đóng vai lợi dụng ngược lại y, tôi cũng tỏ là người có nhiều tư tưởng “tiến bộ” để phù hợp với gần 6 năm cung kẹo của mình.

Nhưng, tôi không ngờ là bây giờ, chính y lại đến nói thẳng với tôi. Tôi muốn in bàn tay lên má nó, rồi cho nó mấy câu chửi; nhưng tôi đã kịp kìm xuống. Lạt mềm buộc chặt! Lưỡi mềm, sống lâu hơn răng cứng.

Dù nghĩ như thế, nhưng bực quá, nên tôi cũng phải nói ý cho y biết mới được. Tính vậy, tôi quay lại nói:

– Cảm ơn ý kiến giúp đỡ của anh nhiều. Nhưng, tôi muốn hỏi ý anh ra sao về một câu chuyện trong “Hán Sở Tranh Hùng”, tôi đã xem lâu lắm rồi, bây giờ chỉ nhớ ang áng nội dung như sau:

“Có một tướng của Hạng Võ tên là… Đằng Công thì phải. Một lần, do tình cờ may mắn, ông chỉ huy một đoàn quân lớn phục kích ở một nơi hẻo lánh, hiểm địa. Lúc này, Lưu Bang đang trong giai đoạn thất cơ lỡ vận, vừa bị thua nhiều trận xiểng liểng, còn một chút tàn quân lại chạy lủi vào ngay ổ phục kích của Đằng Công này. Chín mươi chín phần là chết, chỉ còn một phần là ngắc ngoải; dù vậy Lưu Bang cũng vẫn phải chiến đấu đến cùng, vì đã trót rơi vào cửa tử. Hai người đã quần thảo hơn 100 hiệp, nếu so tài chưa dễ ai thắng ai, nhưng cái thế này, Lưu ta sớm muộn cũng sẽ bị bắt hay bị giết mà thôi. Trong lúc thập phần nguy hiểm như vậy, chợt Lưu ta mới loé lên một ý hay. Ông ta đánh bậy một thế, rồi nhảy ra ngoài quát to:

– Bớ vị tướng tài giỏi và thông minh kia! Sở Vương và ta, hai người đang giành nhau thiên hạ. Hôm nay, ta gặp người cũng là người tài. Anh hùng quyết tử với nhau, thế nào cũng có người sống, người chết. Vậy không gì bằng hãy “pha vơ” thông cảm cho ta lúc này. Sau này, có dịp sẽ đền ơn đích đáng.

Nghe Lưu nói, Đằng Công suy nghĩ thấy cũng phải, và trong bụng cũng phòng hờ sau này, Hạng Võ có thua Bái Công, mình vẫn còn chỗ đứng. Thế là y thu quân, tha cho Lưu Bang.

Rồi, vật đổi sao dời, thế sự nổi trôi thăng trầm. Cuối cùng Lưu Bang thống nhất sơn hà, lên ngôi Hoàng Đế. Lúc này, Lưu là chúa tể thiên hạ, hiển hách như trời. Lưu đền công, định tội ân oán trong những ngày gian khổ, chiến đấu vào tử ra sinh. Đằng Công nhớ lại ơn tha chết cho Lưu ngày xưa. Ơn này đâu phải là nhỏ! Nếu lúc đó bắt, hoặc giết Lưu, làm gì Lưu còn ngày nay ngồi ngất nghểu trên ngôi cửu trùng. Đằng Công lặn lội đến gặp Lưu.

Khi đến nhà khách của triều đình, Đằng Công được một vị đại quan ra tiếp. Sau khi biết khách là Đằng Công đã có công vô cùng to lớn, đã tha chết cho Hoàng Đế ở trận “X” v.v… Chính ông quan lớn này, trên đường vào cung báo cho Hoàng Đế biết sự việc, cũng phải trầm trồ ca ngợi cái may có một không hai, của Đằng Công.

Khi vị quan quỳ mọp tâu trình sự việc xong, và y đang chờ sự hân hoan mừng vui của Hoàng Đế, được gặp lại người ân xưa, bỗng một tiếng quát gầm lên như sấm dậy, Hoàng Đế ra lệnh:

– Đem Đằng Công ra pháp trường chặt đầu ngay lập tức, để làm gương cho các quan và hậu thế! Ta không muốn nhìn kẻ một dạ hai lòng. Người phản trắc thì không một chế độ nào ưa cả. Lừa thầy, hại bạn, muôn đời ai cũng phỉ nhổ!…..”

Mặt tên Hưng sượng sùng ngồi nghe tôi kể chuyện. Tôi hỏi thẳng:

– Theo anh, Đằng Công và Lưu Bang, ai đúng, ai sai?

Y vừa chống tay đứng dậy một cách uể oải, vừa trả lời:

– Ồ, chuyện cổ xưa, bây giờ đâu còn phù hợp nữa…..

Rồi, y trở về chỗ của y nằm….. Chiều hôm đó, tôi và Thọ “Lột” đang cặm cụi chia cơm, một đoàn cán bộ công an lạ hoắc đi vào sân trại. Họ chia mỗi người đi về mỗi góc sân, đứng nhìn tù đang ăn, hoặc đang chia cơm.

Một tên chừng ngoài 30, có đôi mắt thật sâu, hàm râu lún phún đen xì như con sâu róm nằm cong cong, tòe ra hai bên phía dưới mũi. Tôi biết y đang khoanh tay trước ngực, đứng cheo chéo phía sau lưng tôi và đang nhìn tôi chia từng suất cơm. Lúc tôi ngẩng lên như xoay lại thế đứng cho khỏi mỏi, mắt tôi và mắt y gặp nhau. Y nờ một nụ cười xã giao, dìu dịu nói:

– Này, tôi hỏi thực các anh, các anh ăn suất cơm này có thấy đói lắm không?

Thấy cách ăn nói của y mềm dẻo, dễ lọt tai, tôi xoay hẳn người lại, thong thả nói:

– Thưa ông, phải nói là đói thật nhiều chứ ông. Ngay các cháu thiếu nhi, có thể còn phải ăn hai suất cơm không thế này, mới no. Chúng tôi phải ăn 3 suất mới đủ.

Nghe tôi nói, trán y cau lại như gặp một vấn đề thật khó hiểu. Cuối cùng, y nói như tâm sự:

– Tôi là cán bộ bên sở, được trình bày của các đồng chí bên “lao cải” (Cục Lao Động Cải Tạo), với tiêu chuẩn chất bột như vậy là đủ rồi đấy. Thế mà các anh lại kêu đói!? Tôi nói thực với anh, nhìn suất cơm này, ngay chúng tôi ở ngoài, mỗi bữa cũng chỉ ăn thế thôi. Như vậy là thế nào?

Nhìn mặt y có vẻ thành thật, nghĩa là y thực sự không hiểu được tại sao lại khác nhau như vậy. Thôi, cũng chẳng tiếc chút nước bọt, tôi bỏ hẳn cái bát xuống bàn, nói rành mạch:

– Thưa ông, cái này có gì đâu mà khó hiểu ạ. Con người sống được, nói một cái khái quát, phải cần có: “protit, lipit và glucit”. Nghĩa là chất mỡ, đạm và đường. Thí dụ, một ngày, một người trung bình phải cần một nghìn đơn vị chất đạm, một nghìn đơn vị chất mỡ và một nghìn đơn vị chất đường để sống và sinh hoạt. Ông ở ngoài tự do, lúc ông ăn một cái kẹo, tấm mía, quả chuối; uống ly nước chanh, v.v… trong đó có mỡ và đường đấy. Cơm ông lại ăn tí cá, tí thịt, tí đậu, cà chua, v.v… trong đó có mỡ và đạm đấy. Do đấy, chất bột chỉ cần hai lưng bát cơm là đủ rồi, đâu có đói nữa. Huống chi, đôi khi lại có những bữa tiệc tùng, ăn nhiều thì cơ thể đã có chất dự trữ, nên có ngày bỏ một bữa ăn cũng không thấy đói. Ở đây chỉ có suất cơm đơn thuần thế này; có khi ăn với tí muối rang, có khi chỉ vài cọng rau muống già nấu muối, như hôm nay. Ngoài ra, suốt ngày, ngày này qua ngày khác, không có một cái gì khác vào miệng cả. Như thế, suất cơm bây nhiêu phải lọc, chia, điều chế ra thành 3 phần trên, mỗi thứ chỉ được một tí. Sao không đói được, thưa ông…!?

Nghe tôi nói, mắt y sáng dần ra, trán y dãn thẳng không còn vết cau nữa; đến nỗi y quên là đang nói chuyện với một tên tù; y đập tay vào vai tôi cười rộ, thân mật:

– Phải, anh nói thật có lý. Thế mà trước đây, tôi cứ băn khoăn mãi không hiểu vì sao.

Thấy y cởi mở, chân thật, tôi chêm nhẹ một câu:

– Tôi nghĩ, “ở trên” nghiên cứu, đặt ra tiêu chuẩn này, không phải họ không biết như vậy. Họ còn biết hơn tôi nhiều nữa cơ!

Y mở to mắt nhìn tôi, vì chưa hiểu ý tôi định nói cái gì… Câu chuyện chấm dứt ở đấy, vì tôi còn phải làm cho xong phận sự…chia cơm của mình.

Buồng đã ăn cơm nước xong, vào, khóa cửa. Tối nay, hình như có vấn đề gì đó xẩy ra giữa một số thanh niên lớn ở trong buồng, mà tôi vô tình nên không biết. Mãi tới lúc thấy chúng đã xếp dọn trống hẳn một góc nền. Hơn nữa, lại, thấy Phúc “Thổ” cùng Thạch “Sẹo” đang cởi áo ra, tôi mới chợt hiểu.

Thằng Thạch “Sẹo” là “lính xô bè” của Hải Phòng. Tôi hiểu, trong giới anh chị bụi đời này, khi gặp những mâu thuẫn hay bất đồng trong việc “làm ăn”, thường phải giải quyết “vấn đề” với nhau bằng… võ lực. Tôi cũng biết uy tín và khả năng của tôi lúc này, đủ để dẹp vụ “thượng đài”. Nhưng, ngay trong thâm ý, tôi cũng muốn xem “tay nghề” của giới anh chị miền Bắc có gì đặc biệt không? Nghĩ như vậy, tôi liền xông đến không cần biết lý do vì sao phải thượng đài, tôi chỉ hỏi ai là trọng tài. Phúc “Thổ” chỉ Thọ “Lột”. Tôi biết Thọ “Lột” cũng là dân Hà Nội, vì vậy, tôi quay sang Thạch “Sẹo” hỏi:

– Cậu có đồng ý Thọ “Lột” là trọng tài không?

Thấy tôi hỏi, Thạch “Sẹo” như dàn nỗi băn khoăn ra:

– Em thú thực với anh, đây là đất Hà Nội, em kỵ nhất là “hội đồng”. Em cũng không muốn Thọ “Lột” là trọng tài. Em hiểu chúng nó đầy đàn em ở đây, nhưng vì cái thế danh dự, em phải “sô lô” với chúng.

Thấy ý kiến của Thạch “Sẹo” như vậy, tôi quay lại, cao giọng nói với toàn thể:

– Chuyện này, nếu tôi không biết thì thôi. Nhưng vì tình nghĩa giữa các cậu với tôi; mặt khác, vì tinh thần thượng võ, nên việc này phải được minh định rõ ràng. Trước hết, tôi xin hỏi các cậu: đây có phải là một trận thử sức, để phân rõ tài cao thấp của nhau không?

Đám đông các cậu chung quanh ồn ào, nhao nhao lên:

– Đúng thế đấy, anh ạ!

– Đúng đấy!

Tôi lại hỏi tiếp:

– Ở đây, chúng to không có đồng hồ; vậy, các cậu định đánh theo nguyên tắc nào, và như thế nào là thắng hay bại?

Mấy người đều định nói, nhưng Thọ “lột” nói hết ý của vấn đề:

– Đánh theo lối tự do, cho đến khi nào một bên giơ tay chịu thua.

Tôi nói rành rẽ:

– Như vậy, ba điều kiện sau đây phải được tôn trọng: thứ nhất, trọng tài là người phải cả hai đấu thủ Phúc “Thổ” và Thạch “Sẹo” thỏa thuận đồng ý. Thứ hai, dù thế nào khi dứt điểm cũng không trả thù. Thứ ba, tuyệt đối không bè phái, hội đồng.

Nhiều tiếng vỗ tay và nhao nhao hô đồng ý; rồi tiếng Minh “Trố” nói to:

– Đề nghị anh Bình làm trọng tài!

Lại có nhiều tiếng vỗ tay. Thấy vậy, tôi quay sang hỏi cả Phúc “Thổ” lẫn Thạch “Sẹo”:

– Cả hai cậu hãy thẳng thắn nói ý kiến của mình?

Cả hai đều gật đầu đồng ý. Nhiều tiếng vỗ tay! Tôi giơ cả hai tay, dõng dạc tuyên bố:

– Là trọng tài, tôi cương quyết bảo vệ những điều đã được nêu ra. Tôi sẽ xử lý ngay, nếu ai vi phạm. Và bây giờ, có thể bắt đầu.

Tôi vừa nói, vừa cởi chiếc ruột áo bông dầy mà Minh “Trố” mới lột của một thằng bạn mới vào, đưa cho tôi 3 hôm trước. Thằng Tiến “Ga” đã xông đến giữ chiếc áo bông cho tôi. Tôi đi một vòng, làm hiệu tay dẹp một chỗ khá rộng. Trời mùa Đông, gió lạnh căm căm, hai đối thủ vẫn cởi hết quần áo, chỉ mặc có hai chiếc quần xà lỏn. Thằng Phúc “Thổ”, trông dáng cao lênh khênh đến 1m70, da trắng trẻo nhưng đầy vẻ nhanh nhẹn. Ngược lại, thằng Thạch “Sẹo” chỉ cao khoảng 1m62, da ngăm ngăm, chân tay chắc nịch. Vết sẹo của dao chém trên mặt nó, rạch chéo một vết dài, chia chiếc mũi của nó làm hai phần. Phần dưới, phía cánh mũi phải xùi ra một cục thịt, làm cái mặt của nó càng thêm lầm lì. Tôi cầm, hai tay của hai cậu, chuẩn bị cho bắt tay. Quay sang Phúc “Thổ” tôi hất hàm hỏi:

– Nặng bao nhiêu ký!

– 57 ký!

Tôi quay lại Thạch “Sẹo”, nó trả lời:

– 60 ký!

Thằng Phúc thật láu cá! Vừa bắt tay, bỏ ra một cái, tay trái của nó đã quạt một cú lẹ như gió vào hàm phải của Thạch “Sẹo”, đồng thời xoay người đưa chân phải ghim vào ngực Thạch “Sẹo” một cái “hự”. Với hai đòn chớp nhoáng phủ đầu của Phúc “Thổ”, Thạch “Sẹo” chỉ tránh được cú đấm, đành chịu nhận cái gót chân như vồ đập vậy.

Cú đòn của Phúc “Thồ” thật đẹp. Nhưng, Thạch “Sẹo” cũng không vừa, bị ăn một cú gót chân đầu tiên, mặt nó xám lại thêm. Nhanh như một con vượn, nó tiến lên hai bước, quạt dứ cánh tay phải vào mặt Phúc “Thổ”. Phúc vội hụp đầu xuống tránh, thì vừa lúc đó, chân trái của Thạch “Sẹo” lên gối, trúng ngực Phúc “Thổ”. Một tiếng “ọc” ngọt lịm như tiếng chày đâm vào cối gạo. Phúc “Thổ” phải ôm ngực lui ra.

Hai đấu thủ đều đã ăn đòn, nên khí thế trận đấu bắt đầu bốc. Mắt của hai đấu thủ đỏ lên như mắt cá rói, chúng xông bừa vào nhau, đấm đá túi bụi.

Các cậu chỉ là người có đòn phép lúc đầu; nhưng càng về sau, càng đi vào “hổ lốn” quyền. Một điều tôi nhận thấy, thứ đòn của các cậu đánh nhau, hoàn toàn là do cuộc sống thực tiễn của anh chị bụi đời, chứ chẳng phải trong một lò quyền thuật nào. Vì có kinh qua một số đánh nhau, nên các cậu rút ra được một số đòn hữu hiệu.

Nhìn chúng quần thảo, tôi liên tưởng đến một số lò võ tôi đã được chiêm ngưỡng, hoặc tham dự. Tôi thấy, trừ những trường đặc biệt không kể, đa số những lò này chỉ giỏi về lý thuyết; tuy cũng có thực tập bằng những trận đấu với nhau. Nhưng, dù sao cũng không phải là đánh thật. Đánh thật ở đây nghĩa là đánh ở mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, bất kỳ đông người hay ít người; bất kỳ, dao, gậy, súng, gặp cái gì phang cái ấy…tử chiến, hạ nhau ngay.

Giới anh chị bụi đời thì ngược lại, trải nhiều thực tế, phải dự nhiều trận chém giết, nhưng lại không có lý thuyết. Như vậy, nếu ai có cả hai thứ lý thuyết và thực tế, chắc rằng đó mới là người đáng nể.

Trong thực tế, không ai có thể phủ nhận được rằng, ngay các võ sư đã từng nổi tiếng với bao lần thượng đài hạ địch thủ; nhưng khi đấu “võ đời”, nhiều người đã bị thua, bị chết. Các lò võ đối với “võ đời”, cũng như trường đại học với trường đời vậy.

Trong khi tôi đang để óc liên tưởng chạy dông dài, trận đấu vẫn nghiêng ngửa. Bất chợt, vì tránh một cú đá hậu của Phúc “Thổ”, Thạch “Sẹo” đã vướng vào góc bệ gạch giữa phòng, ngã đổ ngửa ra. Nhanh như một con sóc, Phúc nằm đè lên bụng Thạch, rồi xoay lật ngược người, đánh một cú khuỷu tay vào cái mũi sẹo của Thạch nghe cái “ịch”. Một giòng máu tóe ra, nhưng Thạch vẫn còn khỏe, đã co chân lại, đạp bật Phúc “Thổ” ra như một cái lò xo. Phúc “Thổ” ngã đập mặt vào cạnh bệ gạch, mắt tím bầm, sưng lồi lên một cục như quả táo (táo Việt Nam). Hai đứa ôm chầm vào nhau vật lộn, như hai con gấu đói bị thuơng. Máu ở lỗ mũi của Thạch “Sẹo” vẩy văng tung tóe, đỏ cả nền nhà.

Tôi thấy đã tới lúc phải chận cuộc đấu này lại. Tôi xoài chân xuống xà tấn, lách thọc vào hông giữa hai đứa; hai tay tôi xiết chặt hai tay chúng, rồi dùng vai hích bật hai đứa ra hai bên; mồm tôi quát:

– Thôi! Ngừng lại! Như thế đã đủ hiểu tài nhau rồi!

Chúng nó còn hăng máu, lồng lộn định xông vào nhau nữa. Nhưng tôi đã quắc mắt lên, với thái độ là nếu tên nào còn muốn nữa, tôi tiếp ngay.

Máu từ hai lỗ mũi của Thach “Sẹo” vẫn còn chảy. Tôi gọi thằng Tiến “Ga” xé cho tôi miếng giẻ; và kéo tay, bắt Thạch “Sẹo” ngồi dựa vào đống chăn, ngửa mặt lên. Trong buồng chẳng ai có một thứ thuốc men gì. Chỉ có mấy miếng giẻ rách, lau và bịt lỗ mũi của Thạch “Sẹo”, nên mãi một lúc sau mới cầm được máu.

Lúc này đã 9 giờ tối, Thạch “Sẹo” ngồi dậy, mặc quần áo, đi đi lại lại. Tôi sai mấy thằng quét dọn, lau chỗ máu dưới nền, trải chiếu; xong, gọi các cậu lại, ngồi nói chuyện.

Với tư cách trọng tài, tôi nhận định chung về trận đấu là hai bên đều có cái khá, cũng như cái kém. Thạch “Sẹo” không may bị ra nhiều máu. Người hiểu biết, không nhìn máu chảy để luận tài cao thấp. Tôi cũng ca ngợi các cậu đánh hay, nhưng chưa có nghệ thuật. Đấu võ cũng như đánh cờ. Loại cờ thấp, chỉ ham ăn nhiều quân của đối phương, và như vậy, tưởng mình thắng rồi. Loại cao cờ biết bầy trận, nhử mồi, rồi chờ, hoặc khích, dẫn dắt đối thủ xập bẫy. Xem những trận cờ như vậy mới hay!

Rồi, để làm nhạt phần nào những hận thù của chúng; tôi kể, hay nói khác đi, tường thuật lại mấy trận võ đài quốc tế từ 1954 đến 1961 tại Sài Gòn cho các cậu nghe. Tôi không quên kể lại một võ sĩ, tự nhận là giáo sư Đệ Tứ Đẳng huyền đai Nhu đạo. Để lật mặt ông này, quân đội đã phải tổ chức một đêm nhu đạo quốc tế năm 1960, tại sân vận động của Trung tâm huấn luyện Quang Trung, do giáo sư Nhật, đệ lục đẳng huyền đai Takata, từ Nhật sang làm chủ trì. Takata đã thách thức toàn bộ các giáo sư Mỹ, Anh, Pháp, Việt từ đệ tứ đẳng có mặt tham dự đêm Nhu đạo quốc tế đêm ấy, v.v… Cả buồng say mê theo dõi những diễn tiến của từn trận đánh. Tôi cũng nói đến cái hận, của hội quyền thuật Việt Nam với vụ thách thức của võ sĩ Samsaray, vộ địch quyền tự do của Căm-pu-chia. Trong đó, võ sĩ Vĩnh Tiên, vô địch Quyền Anh Đông Dương, phải chịu trận.

Nói chung, gần một tháng ở buồng này, do những điều kiện cụ thể, tôi được tiếp xúc với nhiều anh chị trong giới lưu manh, đủ mọi thành phần. Mỗi đứa là một cuộc đời trôi nổi, sóng gió. Cả một thế hệ trẻ lầm than rên xiết, không có lối thoát dưới chế độ Việt Cộng.

Phải nói là, tôi đã gặp cả một kho tàng, đầy những câu chuyện sống động, người thực, việc thực. Tôi tiếc mình không là một nhà văn, nhà báo để ghi nhận hết được những kho tài liệu sống này. Tuy vậy, những thực tế này đã là điều làm tôi phải suy nghĩ, tìm hiểu, và đã làm tôi ngạc nhiên không ít, so với sự hiểu biết của tôi về xã hội chủ nghĩa trước đây.

Với suy lý đơn thuần của tôi; trong xã hội chủ nghĩa, do những yêu cầu quản lý con người và an ninh xã hội, dân sẽ phải thiếu đói, và suốt ngày, suốt tháng, suốt năm chỉ cặm cụi lo toan cho miếng ăn để sống. Điều đó, tất yếu sẽ đẻ ra một số những tệ trạng xã hội như lưu manh, trộm cắp… lại là trẻ con, thiếu niên và thanh niên. Những loại người này, đã được sinh ra và lớn lên dưới dự giáo dục uốn nắn “trồng người” của chế độ xã hội chủ nghĩa!

Chính những điều tôi nhìn thấy này, càng cho phép tôi về sau, nhìn rõ Cộng Sản hơn, và là những dẫn chứng sinh động để lý giải sáng tỏ một vấn đề về phương pháp thống trị quản lý con người của Cộng Sản nói chung, và của bọn Việt Cộng nói riêng…

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

Vụ án Đặng Chí Bình sắp “được”…xử!

Một vụ vượt ngục “kỳ lạ” ở trại chung!

Đặng Chí Bình

Bài 34

Buổi chiều, đang giờ sinh hoạt đọc báo chờ cơm, tên Điền vào gọi tôi đi cung. Đã hơn nửa tháng ra trại chung, và gần hai năm nay, tôi không hề bị gọi đi cung kẹo gì nữa; vì thế, tôi cũng xốn xang, hồi hộp, chẳng hiểu lại có chuyện gì mới nữa đây?

Một số các cậu cũng băn khoăn nhìn tôi sửa soạn quần áo, vừa như tò mò, vừa như ngạc nhiên. Đã gần 6 năm rồi, sao bây giờ gọi đi cung? Trong khi tôi đang cầm cái lược của Phúc “Thổ” đưa, chải sơ lại cái đầu, Minh “Trố” đã bắt trên cổ áo phía sau của tôi hai chú rận kềnh. Vì đang vội vàng, nên khi ra tới hiên nhà, tôi quẳng hai chú xuống rãnh mé sân. Chứ nếu bình thường, các chú sẽ bị tan thân, nát thịt. Những loài hút máu người, cũng như đồng chí của các ngươi, làm sao mà chết toàn thây, yên lành được!

Khi ra tới phòng trực, tên Điền dẫn tôi vào một căn buồng con, sát ngay phòng giám thị. Một tên cán bộ thật lạ, chừng 40 tuổi, mặc áo “vét ca rô” đã sờn cổ, mang kính trắng thật dầy. Y đang cúi gầm đọc tập hồ sơ dầy cộm trên bàn, khi tôi vào, y ngẩng lên, miệng nở một nụ cười lịch sự, tay chỉ chiếc ghế đẩu trước bàn:

– Mời anh ngồi!

Lại thêm một điều ngạc nhiên nữa! Gần 6 năm rồi, tôi chưa thấy một chấp pháp nào lại mời bị can ngồi cả, nên tôi dè dặt ngồi vào ghế, mở to mắt nhìn y, đợi chờ.

Sau khi hỏi tên, tuổi, ngày bị bắt, sơ qua lý lịch, y hắng dặng một cái như gại giọng, ra vẻ quan trọng tuyên bố:

– Tôi là cán bộ bên Tòa Án Nhân Dân thành phố Hà Nội, báo cho anh biết: Viện Kiểm Sát Nhân Dân và Công Tố Viện quyết định sẽ đưa vụ án của anh ra xử vào ngày 30 tháng 12 năm 1967. Thể theo đường lối dân chủ nhân dân, tòa cho phép anh nhờ luật sư biện hộ. Vậy, anh có yêu cầu luật sư giúp đỡ anh không?

Hơi đột ngột, nên tôi rất bàng hoàng. Dù vậy, kết hợp những hiểu biết cũ của tôi với gần 6 năm trời vật lộn nghiêng ngửa trong bàn tay của chúng, đã cho tôi rõ: cơ quan Lập pháp, Hành pháp hay Tư pháp, hoặc bất cứ một cái tên gì khác, cũng chỉ là một tên hung thần duy nhất mồm đỏ, mắt lồi xanh lè là đảng Cộng Sản, chỉ huy sinh sát mà tôi. Bởi vậy, tôi ngẩng lên, nhìn thẳng vào mặt y, trả lời:

– Tôi cần luật sư để làm gì? Tội của tôi đến đâu, tùy đảng định đoạt.

Tôi định nói thêm là nhờ luật sư, để cho họ dùng lý luận sỉ vả mình thêm nữa ư? Dưới chế độ chuyên chính vô sản, luật sư nào dám mở miệng bênh vực kẻ thù giai cấp công nhân, mà không bị quy kết về tội tư tưởng? Nhưng rồi, tôi cứ giằng co ngập ngừng, và cuối cùng thôi không nói nữa, khi tôi hiểu đây đâu phải là chỗ để mình nói những điều như vậy.

Y cắm cúi ghi một lúc, rồi lại ngửng lên hỏi:

– Anh có họ hàng thân nhân, cần báo cho họ đến dự buổi phiên tòa không?

Tôi chợt nhớ đến bà dì ở 44 Lương Ngọc Quyến, nhưng đó chỉ là hình ảnh lướt qua trong óc. Bà chỉ là một bà dì họ. Huống chi, dù có bố mẹ tôi, các anh em tôi, tôi cũng không muốn báo làm gì. “Có gan ăn cướp, thì phải có gan chịu đòn”. Mình đã làm ăn không nên, thất bại, rơi vào tay địch, chết hay sống hãy gồng lên mà chịu. Cái gì tốt đẹp hãy cho gia đình hưởng, cái gì đau thương khổ cực, ráng một mình mình chịu, đừng bắt người thân buồn khổ với mình, vô ích. Vì vậy, tôi lắc đầu quầy quậy:

– Tôi không có ai là thân nhân, họ hàng cả!

Khi ký vào một số bản y đưa cho tôi, tôi cũng chẳng cần đọc để biết là giấy gì. Cứ thấy bảo ký, là ký. Dưới chế độ độc tài phát xít, mình đã ở trong tay chúng, chúng muốn làm gì chả được.

Trên đường trở vào trại, lần này, khác hẳn với những lần trước khi còn ở xà lim, phải dẫn về giao hẳn cho cán bộ xà lim. Khi dẫn tôi qua cổng trực trại chung, tên Điền hất hàm, ngoắc tay ra hiệu, nói:

– Đi về buồng, báo cáo với quản giáo là đi cung về.

Từ cổng đi qua một cái sân rộng để về buồng số 4 phải đến 200m. Sân trại đã có một số buồng vào rồi, thế mà trông vẫn lố nhố đầy sân. Một mình tôi thong dong chậm chạp, thả lỏng từng bước một. Khi đi qua cổng xà lim I, nhìn chiếc cổng đóng im lìm của đường xưa, lối cũ; cây bàng với dáng quen thuộc của những tháng năm qua, vẫn khẳng khiu với gió Bấc Đông hàn…gợi lại trong lòng tôi bao nhiêu nỗi niềm u uất. Nếu tôi được quyền, tôi sẽ vào thăm Dư.

Đầu óc cứ mênh mang trôi nổi bồng bềnh, chân vẫn tiến bước nhưng như không có hồn để chỉ huy. Chợt, trong đám đông tù đang ăn cơm phía ngoài cửa buồng số 8, một thanh niên chừng 20 tuổi, tay đang ôm bát cơm còn chừng một nửa, cứ lắc lư, giật giật cái đầu, cái miệng cứ chóp chép, há ra ngậm vào và nhay nháy cả cặp mắt nữa. Tôi tưởng y đang nổi hứng vừa ăn, vừa hát. Nhưng, tôi bỗng thấy miệng y đầy bọt chảy ra lòng thòng; mắt y trợn ngược lên trời chỉ còn lòng trắng; rồi y đổ kềnh ra sân, chân dẫy đành đạch; đầu đập xuống sân gạch kêu cồng cộc, đến chảy máu đỏ cả ra nền xi măng. Nhiều người chung quanh đều chạy lại nhìn, trong đó có hai tên Đản và Hồng, cán bộ buồng số 7 và số 8. Tôi ngạc nhiên, không hiểu tại sao không một ai ở ngay chung quanh đấy giúp đỡ người bị động kinh; trái lại đều đứng nhìn như xem một người đang làm trò và thỉnh thoảng lại còn có tiếng cười nữa. May quá, 2, 3 người đang chạy xô lại chỗ anh động kinh lúc này đang nằm đứ đừ, máu chảy chan hòa. Họ vội vàng quờ quạng…nhặt những hạt cơm mà người động kinh lúc ngã xuống, làm rớt cả bát cơm ăn dở bắn vãi tứ tung, chung quanh, đút vội vào mồm. Một người còn thò tay vào vũng máu, chỗ gần đầu anh bị động kinh, lấy ra một cục cơm, quệt quệt vào quần, rồi…bỏ tõm vào mồm nhai ngấu nghiến. Không cùng buồng, tôi không có quyền xông vào. Thấy một anh đúng gần, tôi hỏi ngay:

– Sao không có ai vào giúp đỡ người ta vậy?

Anh ta quay lại mở to mắt nhìn tôi như ngạc nhiên, rồi cười:

– Kinh phong, chứ có gì mà phải giúp đỡ! Bây giờ anh mới thấy à? Từ chiều đến giờ, sân trại đã 3 vụ như thế rồi, có sao đâu!

Tôi cúi đầu đi về buồng, vẩn vơ đầy vơi mãi về tình người…..

Đêm hôm đó, tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Làm sao để trả lời được rõ ràng cho chính mình, chúng sẽ xử tôi như thế nào khi đưa ra tòa. Tôi chủ quan nhìn lại toàn bộ vụ án:

– Có nhận nhiệm vụ của chính quyền miền Nam, xâm nhập vào thủ đô Hà Nội.

– Ngay từ đầu, không hề làm một việc gì để thực hiện nhiệm vụ ấy (điều này, có người của chúng bí mật theo dõi, đã thấy).

– Bị bắt, khai báo ngay sự thật từ đầu. Tuy có loanh quanh che dấu một vài điểm, nhưng chỉ là những cái râu ria như đường đi biển, lại khai đi đường bộ vì sợ gia đình bị trả thù…..

– Một lần định đào tẩu. Tự tử, không chết, chỉ vì muốn theo đảng, theo cách mạng, mà cách mạng và đảng không tin, vẫn giam cầm, không cho theo.

Chúng đã dùng bao nhiêu hình thức khai thác, mà hình thức ghê gớm nhất là thời gian. Đã 6 năm nằm trong xà lim buồng kín một mình, như vậy, xử thế nào đây? – Nếu là chế độ của ta ở miền Nam, hay thế giới tự do nói chung, bắt được một điệp viên Cộng Sản như vậy thì đối xử ra sao? Về phía thế giới tự do của chúng ta, tôi đã hình dung thấy rồi; nhưng đây là chế độ Cộng Sản. Nếu cứ nhìn trên thực tế, trên hồ sơ, giấy bút, về một khía cạnh nào đó, tôi còn tốt hơn là đầu hàng nữa ấy chứ.

Tâm lý con người, mỗi khi xét về mình bao giờ cũng chủ quan; nghĩa là chỉ nghĩ đến những khía cạnh tốt cho mình. Vì vậy, tôi cho là chúng sẽ xử tôi nhiều lắm là 10 năm. Đã ở xà lim được 6 năm, vậy tôi còn 4 năm nữa, đi trại trung ương lao động. Rồi khi đất nước vẫn còn chia đôi, khi kết án chúng sẽ cho tôi về một công, nông trường nào đó, như một hình thức anh Trí cho tới chết.

Phải nói là tôi đã phòng hờ, bỏ rẻ rất xấu cho tôi đấy. Có như vậy mới thấy được mức độ hiểu biết ấu trĩ, ngây ngô của tôi về Cộng Sản.

Cứ miên man suy nghĩ, tôi chìm dần vào giấc ngủ lúc nào không hay. Sáng hôm sau, tôi vẫn còn ngủ, những tiếng ầm ầm, ồn ào đã làm tôi giật mình tỉnh dậy. Tiếng loa phát thanh đang nói mục “thanh niên”, như vậy là mới 7 giờ sáng. Còn những một tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ làm việc, thế mà tôi đã nghe thấy tiếng chìa khóa lách cách, tiếng ồn ào bàn tán của đám đông cán bộ phía bên ngoài cửa buồng.

Tôi chồm dậy, thấy cửa lớn đã mở toang. Nhìn ra sân, tôi thấy cả tên Trì, Đại úy Chánh Giám Thị, cùng với một lũ áo vàng, tôi chưa nhìn rõ ai với ai. Tôi chưa hiểu chuyện gì, đã nghe tiếng mấy cậu từ ngoài đó chạy vào gọi:

– Ban Giám Thị gọi buồng trưởng và tất cả trật tự ra ngoài gặp Ban Giám Thị!

Khẩn trương, chúng tôi nhớn nhác 4 người gồm Hưng, bác Khánh, tôi và Thọ “Lột” ra sân. Chúng tôi vừa bước ra khỏi cửa, tên Bằng đã khóa ngay cửa buồng lại, vì chưa tới giờ làm việc và cán bộ trực chính chưa tới. Cả 4 chúng tôi đều ngỡ ngàng, ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì, ngoại trừ thấy một đoàn cán bộ hơn một chục tên. Trong đó có cả người Hưng Yên, từ nãy vẫn đăm đăm nhìn về phía tôi nhiều lần, nhưng tôi vờ như không nhìn thấy.

Khi thấy tên Lê đang cầm tay thằng Huy “Tồ”, một phản xạ tự nhiên đến trong óc tôi. Nếu tôi không nhớ lầm, tối hôm qua, vào khoảng 7, 8 giờ, thằng Huy “Tồ” này còn ở trong buồng, vậy tại sao mới sáng sớm tên Lê đã cầm tay nó dẫn vào? Tôi nhớ được chỉ vì thằng Huy “Tồ” này thường bị lũ trẻ con trêu chọc, bắt nạt. Giữa lúc đó tên Lê nghiêm nét mặt, hướng về phía tên Hưng, nhưng hỏi chung:

– Tối hôm qua, hay đêm hôm qua, các anh có thấy thằng này còn ở trong buồng không?

Một câu hỏi làm cho chúng tôi cảm thấy như vừa từ ở trên trời nhẩy dù xuống, anh nọ nhìn anh kia ngơ ngơ, ngác ngác, ú ớ như đang ngậm đầy miệng kẹo, chả biết trả lời ra làm sao. Phần vì trong buồng này hàng 150 đứa lau nhau, lắt nhắt, ai để ý làm chi. Phần khác, cửa buồng thường khóa từ 5 giờ chiều, đêm, ai có quyền mở. Cán bộ, bí mật mở lúc nào, chúng tôi ngủ làm sao biết. Vì vậy, chúng tôi không trả lời được.

Tôi nhìn thằng Huy “Tồ”, nó chừng 14 tuổi, tuy lùn nhưng lại có da thịt, nên người nó to ngang bằng đứa 16, 17; nhất là cái đầu nó cũng tương xứng với thân hình. Trời rét, nó lại chỉ mặc chiếc quần đùi, gấu đã rách tua, chân đi đất, trông dáng điệu thật là chậm chạp, ngây ngô. Có lẽ vì vậy, tuy trông to xác nhưng những đứa khác bé hơn vẫn bắt nạt được, cho nên gọi là “Tồ” vì thế. Nó còn được gọi một tên khác nữa là Huy “Vét đĩa”. Từ “Vét đĩa” của Hà Nội là để chỉ loại lưu manh không có tài cán gì. Bố mẹ không nuôi nổi, phải “vạt dòm”, it khi kiếm ăn được nên thường phải vào các quán ăn chờ khách đứng dậy xin… vét chén dĩa, xương xẩu thừa chút ít, hoặc châu đầu ở chỗ rửa chén bát, vét lại chút cơm thừa, canh cặn. Loại này, chỉ trên cấp “cái bang” (ăn mày) một bậc.

Nhìn nó, tôi moi lại trí nhớ. Không thể chệch vào đâu được nữa rồi. Rõ ràng, khoảng 8 giờ tối hôm qua, khi vào nhà xí đi giải, tôi còn nhớ thấy thằng nhóc con Hồng “Chột”, đã lừa cốc vào đầu thằng Huy “Tồ” một cái rồi lẩn vội vào chỗ đông. Trong khi hàng chục đứa cười rộ lên, thằng Huy chỉ biết ngồi khóc.

Như vậy, vấn đề được đặt ra là: có thể Ban Giám Thị bí mật, ban đêm vào mở cửa buồng lấy nó ra, vừa để thử cán bộ trực buồng là tên Chuẩn Úy Kế, vừa để thử buồng trưởng và các trật tự, để dạy cho họ một bài học về cảnh giác, phải chú ý vào nhiệm vụ của mình chăng?

Từ ý nghĩ đó, tôi giơ tay xin có ý kiến, vừa để minh oan cho Kế (tên Trì và một số cán bộ cho là Kế đã tắc trách, điểm sót lúc 5 giờ chiều hôm qua, khi khóa cửa) và cho cả chúng tôi. Tôi nói một cách khẳng định:

– Tôi đoan quyết là thằng Huy “Tồ” này, hồi 8 giờ tối hôm qua còn ở trong buồng.

Tôi dẫn chứng hình ảnh thằng Huy “Tồ” bị cốc đầu, như đã nói trên; trong khi đó, cô Vân lách lại gần chỗ tôi đứng, mặt tươi rói, hếch mãi lên nhìn tôi nói. Có lẽ thấy sự việc càng đi vào chỗ rối mù lên, tên Trì với cái giọng cối đá, gằn mạnh:

– Lúc hai giờ đêm qua, một đồng chí đang ngủ, nghe tiếng lịch kịch ở chạn bát, cho là chuột bọ, nên xùy đuổi. Nhưng, nằm một lúc lại thấy động đậy tiếp, vì vậy, đồng chí bật dậy, mò lấy đèn “pin” chiếu sáng lên để đuổi chuột đi. Không ngờ, đồng chí thoáng thấy một bóng người chui vào gầm sàn, đồng chí vội đến xem; cuối cùng là thằng này.

“Khi đưa về phòng Giám thị, ngay từ đêm, chúng tôi đã cật vấn nó nhiều lần. Nó vẫn khăng khăng là 5 giờ chiều hôm qua, lúc điểm số xong, khi cán bộ đóng cửa, nó đã lẻn ra ngay. Cán bộ vô tình không thấy. Mùa Đông, lạnh và đói, nó phải mò xuống bếp cán bộ kiếm thức ăn.”…

Tuy là lưu manh, ăn cắp, nhưng nó lại ngây ngô, tồ tồ, như vậy lời nói của nó phải được tin hơn. Trong khi đó, tôi lại khẳng định 8 giờ tối còn thấy nó ở trong buồng. Thành ra sự việc lại đầy mâu thuẫn, bí ẩn.

Tóm lại, Giám thị đã cho nó ăn no, dẫn xuống để chất vấn cũng như để chỉnh khuyết điểm của cán bộ trực buồng. Nhưng bây giờ lại rắc rối thêm. Chỉ còn một cách duy nhất, là đưa nó vào buồng để lấy nhân chứng đa số là lũ trẻ con, v.v…

Khi vào buồng, trước mặt bao nhiêu cán bộ (bây giờ có thêm tên Kế vừa đến, vì đã tới giờ làm việc), nhiều đứa trong buồng ngơ ngác không khẳng quyết được như thế nào. Nhưng, cũng có nhiều đứa khẳng định là tối hôm qua, thằng Huy “Tồ” vẫn còn ở trong buồng. Ngay thằng Hồng “Chột” cũng thừa nhận, đã cốc vào đầu nó khoảng 8 giờ. Thậm chí, Hùng “Lác” còn kể rõ ràng chừng 10 giờ đêm qua, thằng Huy “Tồ” còn nằm ngủ cạnh nó, còn kéo chăn của nó, và nó đã đạp cho một cái, thằng Huy còn ngồi khóc mãi.

Như thế, dứt khoát chỉ còn có hai vấn đề:

1) Đêm, phải có một cán bộ nào đó mở cửa buồng cho nó ra ngoài.

2) Chỉ có mộng du, hay…tàng hình!

Ý thứ hai không thực tế, vì dù là mộng du, nhưng cửa khóa, ra cách nào? Chỉ có ý thứ nhất! Vậy, cán bộ nào đã mở cho nó ra? Trong khi hỏi nó, nó lại lắc đầu, vẫn cứ nhất định là lúc điểm số xong, đã lẻn ra.

Sự việc đành bỏ dở, vì đã 10 giờ rồi. Phần Ban Giám Thị, về còn phải triệu tập buổi họp để cán bộ nào trực đêm, đã mở cửa cho nó ra thì thành khẩn nhận.

Tôi cũng thấy sự việc mâu thuẫn quá. Thằng Huy “Tồ” vẫn lủi thủi một mình, lúc ra sân, cũng như lúc vào trong buồng. Hầu hết những người tương đối hiểu biết ở trong buồng chỉ còn dự đoán là, có thể đêm khuya, mùa Đông lạnh giá. Thằng Huy “Tồ” lại không có chỗ nào, cho nó chui vào đắp chăn, vì vậy nó đã ra chỗ gần cửa ngồi khóc; rồi cán bộ nào đó đi trực đêm, thấy nó trẻ con lại ngây ngô, cho nên đã động lòng, mở cửa đưa nó ra ngoài, dẫn nó đến những căn buồng có hơi ấm chăng?…

Vì đây là một chuyện hơi lạ, nhất là cả Ban Giám Thị Hỏa Lò quan tâm đến, cho nên cậu lớn nhỏ trong buồng cũng tò mò muốn tìm sự thật. Các cậu đã tìm nhiều cách để hỏi thằng Huy “Tồ”. Thường nó không trả lời và cứ lủi thủi một mình (vì cái thân nó từ trước vẫn lẻ loi như vậy, chẳng ai chơi với nó); còn, nếu nó trả lời, lại cứ nói đã lẻn ra cửa, lúc điểm số 5 giờ chiều qua.

Cho mãi đến chiều hôm ấy, sự việc vẫn còn nằm im trong bí ẩn. Trong khi tất cả cán bộ Hỏa Lò và gần 200 người chúng tôi trong buồng, lòng vẫn thắc mắc không yên. Lúc gần trưa, cán bộ lại vào mang nó ra khu ngoài, điều nghiên, hỏi han gần 2 tiếng đồng hồ, rồi lại dắt về. Đành chịu không tìm ra manh mối. Điều khó, nó là trẻ con, lại ngây ngây, tồ tồ, điên điên, khùng khùng. Nếu không có những lời khẳng định của tôi và của một số đứa trong buồng, ai cũng tin như lời nó nói. Nó đã lợi dụng khi cán bộ điểm số xong, kéo cánh cửa lớn khép vào và khóa lại, nó đã lách, lẻn ra, cán bộ vô tình không biết.

Càng về chiều, câu chuyện càng được thêu dệt thành những huyền thoại ly kỳ. Nào là nó mộng du,  chui qua nóc nhà ra ngoài; nào là trong Hỏa Lò có một thầy phù thủy đã ếm bùa, gọi âm binh mang nó ra ngoài, nhiều cán bộ có óc phân tích, suy lý, hầu như ai cũng cho là chính Ban Giám Thị đã bí mật, ban đêm lấy nó ra ngoài. Mục đích để răn đe, đánh động vào tinh thần đề cao cảnh giác của cán bộ; nghĩa là mỗi người phải quan tâm chú ý đến trách nhiệm, trông tù của mình.

Riêng tôi, nhìn, nghe, suy xét, tổng hợp các hiện tượng, từ ánh mắt cho đến thái độ của tên Trì, tên Lê… Tất cả đều đã cho tôi thấy rằng đây không phải là một thủ đoạn. Như vậy đầu mối tất cả mọi vấn đề làm sao hãy tìm hiểu kỹ ở ngay thằng Huy “Tồ”. Với điều kiện của tôi, dĩ nhiên là không thể tìm hiểu được ở bên ngoài. Vừa nghĩ, tôi vừa nhìn thằng Huy đang ngồi khều những mụn ghẻ ở tay, lủi thủi một mình ở góc nhà. Bấy giờ đã 8 giờ tối! Từ sáng đến giờ, nhiều cán bộ đã vào hỏi nó; trong buồng nhiều cậu cũng đã đến hỏi nó, để rồi đành chán, bỏ cuộc, chẳng tìm ra được điều gì mới lạ hơn.

Tôi cầm cái điếu đến bên cạnh nó, vê một điếu thuốc lào bỏ vào nõ, rồi quay lại nhìn nó, tôi cười, tay đưa cho nó bao diêm:

– Cháu quẹt diêm giữ cho chú hút điếu thuốc!

Nó xoay hẳn người lại, cầm que diêm đánh lửa, giữ cho tôi hút với vẻ thích thú lắm. Nó muốn đỡ lấy cái điếu như để xin được hút sái nhì. Tôi vừa thở khói, vừa đưa tay làm hiệu, rồi tôi xì sái ra, và vê cho nó một điếu khác để hút. Sau đó, tôi tỉ mẩn hỏi nó về những mụn ghẻ, rồi từ từ đến gia đình, bố mẹ quê quán, một vài thú chơi của nó khi còn ở quê, v.v… Một lúc, cu cậu có vẻ thật say mê, hào hứng kể chuyện đi bắt tổ chim, câu cá v.v… Tôi tỏ ra thật trầm trồ theo dõi câu chuyện nó kể, thỉnh thoảng hỏi một vài câu để làm đòn bẩy. Tôi ca ngợi nó tài, rồi như thì thầm, tôi đẩy nhẹ sang vấn đề:

– Chỉ có mình chú biết là cháu tài lắm. Thế làm sao đêm qua cháu lại ra ngoài được? Cháu làm cách nào mà tài thế?

Nó cũng nói nhỏ hẳn lại, mắt nhìn lên cái khung cửa sổ phía sát mái nhà:

– Chú đừng nói cho ai biết nhé, cháu chui qua cái lỗ chấn song cửa sổ trên kia kìa!

Như một làn chớp xẹt qua đầu, tôi chợt hiểu. Tôi nhìn những khung cửa sổ lớn nằm dài theo tường của buồng. Nhưng chiếc song sắt, đường kính khoảng 2 phân 2, to tướng, dựng đứng từng hàng, từng hàng. Đứng dưới này nhìn lên, khoảng cách giữa các chấn song chừng độ 14, 15 phân. Từ nền nhà lên đến mép dưới cửa sổ cao chừng 2m50. Từ mép dưới cửa sổ lên đến mép trên cửa sổ chừng 1m20. Do những cái mấu sắt xây cắm vào trong tường (chắc trước đây dùng để chăng dây trong buồng và bây giờ không còn dùng nữa), nếu muốn trèo lên cửa sổ cũng không khó. Nhưng có một điều, như một ấn tượng tâm lý, là những cửa sổ đó, những chấn song đó đã được xây dựng, thiết kế từ thời Pháp thuộc như vậy, hẳn đã được những kỹ sư chuyên môn nghiên cứu kỹ). Cho nên, dù bao đêm, ngày từ năm này qua năm khác, bao nhiêu người nằm trong nhà tù này, vẫn nhìn lên cái cửa số ấy. Nhưng từ xa xưa, chả có ai điên rồ trèo lên đấy, đút đầu vào thử có ra được không. Thằng Huy “Tồ” lại là một thằng khùng khùng, dại dại, điếc không sợ súng nên mới làm những việc điên rồ như thế. Tuy vậy, nhìn thân hình thằng Huy “Tồ”, nhìn cái đầu của nó đã to như đầu người lớn rồi, ước lượng khoảng cách giữa các chấn song ở tít trên cao kia, tôi cũng chưa tin được dù nó đã kể rõ ràng:

– Đêm rét quá, chả có đứa nào cho cháu ngủ chung cả, cháu mới theo các mẩu sắt trèo lên cửa sổ, rồi cháu thử đút đầu vào. Chỗ này không lọt, cháu lại đút chỗ khác, mãi tới một chỗ vừa khít, cháu lách đầu, rồi cả người ra ngoài. Cháu mò mẫm ra khu Ban Giám Thị, kiếm được mấy mẩu sắn luộc, cháu ăn, Cháu ngủ một giấc ở trong một cái buồng có giường, có chăn mà không có ai nằm. Ngủ một lúc, lại thấy đói, cháu lại mò đi kiếm ăn nữa. Lần này, cháu bị bắt!

Muốn biết cụ thể và thật rõ ràng tận mắt, tôi chỉ còn một cách duy nhất là bảo nó leo lên lại thử. Nghĩ vậy, tôi vê một điếu thuốc nữa cho nó hút, rồi bảo nó trèo lên chui lại cho tôi xem, tôi cũng không quên khích lệ và tỏ vẻ tin nó.

Thế là cả buồng xôn xao cả lên. Trước hàng trăm con mắt, nó thoăn thoắt bám vào những mẩu sắt ở tường, trèo lên cửa sổ. Nó ghé đầu đút thử vào 3 khoảng trống giữa các chấn song, không lọt. Đến khoảng trống thứ tư, nó chui lọt cái đầu, rồi lách cả người ra ngoài. Tên Hưng vội vàng quát:

– Thôi, chui vào ngay!

Khi đó đã gần 10 giờ đêm. Cả buồng sôi lên như cái chợ! Hàng trăm đứa đều ngơ ngác tiếc rẻ là nếu biết thế từ trước đã ra khỏi “hao” từ lâu rồi.

Tên Hưng không kìm được nữa, ra chỗ cửa báo cáo ầm cả lên. Khi một tên cán bộ trực đêm đến hỏi, y đã trình bày như trên. Một lúc sau, cả tên Trì, tên Lê cùng lúc nhúc một lũ hơn một chục tên công an nữa theo sau, vào mở cửa buồng, hỏi tên Hưng. Một lát, chúng kéo ra đứng đầy ở sân, bắt thằng Huy “Tồ” trong này trèo ra cho chúng xem.

Riêng tôi, từ nãy cứ bần thần suy nghĩ. Khi phát hiện được là thằng Huy đã chui cửa ra ngoài, tôi chỉ nghĩ nó là trẻ con, cửa sổ lại làm thưa nên nó mới chui ra được. Nhưng, qua hai lần nhìn thằng Huy biểu diễn, tôi thấy đẻ ra một vấn đề khác, một vấn đề lớn hơn. Nếu tôi biết trước như thế này, tôi phải tìm mọi cách làm cho thằng Huy không bao giờ nói điều đó với ai cả: bằng cách trộ, dọa nó, cũng như tình cảm với nó.

Lúc này, tôi chợt hiểu, đây là một cơ mưu, một dụng ý của người thợ làm song sắt. Hàng 30, 40 khoảng cách giữa các chấn song, nhưng chỉ có một chỗ là có thể lách mãi sẽ chui qua được. Mắt thường của mọi người, nhìn khung cửa sổ ở trên cao với mỗi khoảng cách giữa các chấn song là 15 phân, thấy tất cả khoảng cách như đều nhau. Nhưng, trong một hàng ba, bốn mươi khoảng cách này, có một cái rộng hơn một phân, là 16 phân, dám chắc chả ai nhìn ra, trừ phi lấy thước đo từng khoảng cách một. Nếu không, mắt thường nhìn khoảng cách nào cũng thấy như nhau.

Vấn đế đã rõ ràng: thằng Huy “Tồ”, do cái ngu của nó, đã thành công. Nó nhìn cái cửa sổ lại “tưởng” có thể chui ra được, rồi tìm cách trèo lên, chui đầu vào. Mấy khoảng cách đầu không vừa, nếu người thường, ai còn chui nữa; nhưng với thằng Huy nó cứ thử từng cái, để rồi đúng phải cái khoảng cách duy nhất, do dụng ý của người thợ trước đây đã làm, nên mới gây ra câu chuyện thần kỳ, nếu không tìm ra nguyên nhân. Tôi nghĩ, có thể ngay các buồng khác của trại chung Hỏa Lò, cũng có những điều kiện chấn song như buồng số 4 trại chung này. Nhưng, ai đọc đến đây cũng thừa hiểu, lần này tôi đã để những ý nghĩ đó nằm yên ở một ngách trong lòng tôi.

Chúng gọi buồng trưởng và tất cả trật tự ra ngoài sân. Tên Trì hỏi tên Hưng là ai đã hỏi được thằng Huy “Tồ” thú thật đã trèo lên cửa sổ. Tên Hưng chỉ tôi! Tên Lê quay lại nhìn tôi bằng ánh mắt hơi nhay nháy:

– Anh hỏi nó thế nào, mà nó lại thú thật với anh?

Để khỏi lôi thôi lúc đó và để chúng không đánh giá thực được về mình sau này, tôi trả lời:

– Thưa, có gì đâu ông! Tình cờ tôi cho nó điếu thuốc lào, rồi tôi hỏi nó, không ngờ nó lại nói ngay ra như vậy.

Khi cô Vân vào sau, và biết tôi đã tìm ra manh mối, cô cố tìm cách đi sát lại gần tôi, nói khẽ:

– Anh Bình giỏi nhỉ!

Mặt tôi không tỏ một thái độ gì, làm như không nghe thấy lời cô, vì liếc thấy tên Lê và mấy tên nữa đang chăm chú nhìn mặt tôi, khi chúng thấy môi cô Vân mấp máy nhưng không biết nói gì.

Trong khi lòng tôi đang tím thẫm màu ân hận, tên Lê quay lại hỏi một tên cán bộ:

– Mấy giờ rồi?

Tên Hải mũi khoằm giơ cổ tay ra chỗ sáng xem, rồi nhanh nhẩu trả lời:

– Báo cáo thủ trưởng, 12 giờ đêm rồi!

Tên Lê nghiêm giọng:

– Đồng chí xuống ngay trại thợ, gọi đồng chí Đại dậy, chọn hai hay bốn thằng mang gỗ lên đóng bịt kín toàn bộ cửa sổ này. Dù có phải làm suốt đêm, cũng phải làm cho xong.

Chắc y sợ trong buồng còn bao nhiêu trẻ con lưu manh, đêm có thể chui ra làm loạn. Tóm lại, chúng vẫn chỉ đinh ninh là chấn song cửa hơi rộng, chứ chưa biết duy nhất chỉ có một khoảng cách rộng thôi. Chứng cớ, chúng đã cho đóng bít cửa sổ lại.

Vào buồng, đầu tiên là thằng Hưng buồng trưởng nhìn tôi, đánh một câu:

– “Xịa”, có khác!

Thế rồi từ đấy, tụi trẻ trong buồng có vẻ đề cao CIA, với nhiều chuyện hoang đường buồn cười.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

Lại thêm sự thật…đau lòng của “thiên đường Cộng Sản!”

Đặng Chí Bình

Bài 33

Giờ trưa đã sắp đóng cửa buồng, đột nhiên có tiếng láo nháo ngoài sân. Một số cậu chạy đến, đứng phía trong cửa buồng nhìn ra. Bác Khánh, Thọ “Lột” và tôi vì có trách nhiệm nên được ra hẳn ngoài. Thì ra từ phía cổng trại chung, tên Bằng đang dẫn hơn một chục đứa lỡ nhỡ, lau nhau đi về phía buồng này. Chỉ một vài đứa đi chân không, còn hầu hết đều đi dép, quần áo có vẻ còn sạch sẽ. Khi đến trước cửa buồng, tên Bằng quát, bắt chúng ngồi tập trung vào một chỗ, chờ cán bộ Kế về nhận tù mới.

Trong khi đó, bên trong buồng nhiều đứa đã ý ới, những lời thăm hỏi ríu rít với bên ngoài. Nào là: mày lại vào “hao” à? Thằng A, thằng C đâu? v.v… Ngược lại bên ngoài cũng hỏi vọng vào…

– Mày vào “Ấp” bao lâu rồi? Thằng X đi Kỳ Sơn lâu chưa? Thằng K còn đấy hay đi Mai Lĩnh rồi? v.v… cứ tíu tít như đàn sẻ tranh nhau ăn. Một số thằng đàn anh, nghĩa là những thằng lớn, đã chỉ trỏ… đôi dép của thằng X, tao nhận rồi; thằng thì nhận cái áo bông của thằng Y, cái dây lưng của thằng Z, cái mũ của thằng B, v.v… Có nghĩa, chốc nữa vào buồng, những thứ đó, ai phải nộp cho ai rồi. Đấy là một hình thức cá lớn nuốt cá bé, “trấn, lột” lại của nhau. Nhưng có một điều, ngay những đứa bị lột, cũng vui lòng hả hê cung tặng đàn anh.

Điều tôi đặc biệt băn khoăn là, hầu hết, vẻ mặt chúng nó vào tù chả buồn tí nào cả, vẫn nhâng nhâng chuyện trò cứ như đi…cắm trại vậy. Không hiểu được, nên tôi đành phải hỏi chung cả một đám:

– Này các cháu, các cháu vừa bị bắt vào, các cháu chả có vẻ gì buồn cả là làm sao?

Đa số những cái miệng con tí đều nhao nhao:

– Chú ơi, “hao” (có lẽ âm của tiếng house) đối với chúng cháu là nhà. Lang thang một thời gian, không may bị “vồ” là giai đoạn về nhà nghỉ. Rồi họ lại phải thả ra! Vì cứ giam mãi, Hà Nội sẽ hết cả trẻ con, chú ạ. Trẻ con Hà Nội đa số vừa đi học, lại vừa là lưu manh. Rất nhiều đứa đều có “phích” (sổ đen) bị giữ ở đồn công an một vài tuần, hoặc dăm ba ngày rồi. Chẳng bố mẹ nào có tiền cho con cái. Vậy, muốn tiêu, phải ăn cắp.

Tôi lại càng ngạc nhiên, hỏi mấy cậu 17, 20 tuổi:

– Như vậy chỉ có con trai thôi, còn con gái thì sao?

Chúng nó cười ngất:

– Anh ơi! Anh chưa đi sâu vào xã hội này, anh không biết. Cũng như chúng em, tuy hàng ngày vẫn cắp sách đến trường, nhưng một nửa ngày là lưu manh. Bởi vậy, con gái rất rẻ! Chúng em đi ăn cắp, có tiền, chỉ cho một bữa xi nê, một bát phở là đem các em đi “quất” được rồi. Chúng em có thể nói thực với anh là, hầu hết con gái Hà Nội bây giờ, khó có cô nào còn trinh cả. Chúng em bảo đảm với anh là, anh đi trên đường phố Hà Nội, cứ thấy cậu nào có vẻ “ăn diện” một chút, đều là lưu manh, ăn cắp hết. Con gái cũng vậy. Không lấy đâu ra mà tiêu xài, mà diện.

Tôi vừa nghe chúng nó nói đến đấy, tên Kế đã từ ngoài trại về. Lại ồm ồm lên khi hơn một chục đứa theo nhau vào buồng. Tên Hưng phải xóa chiếc bảng con treo ở cửa, ghi số mới của buồng thành 192.

Càng gần về cuối tuần, buồng càng chật. Thứ Sáu, thường có hai xe đưa loại tù con đi trại. Một xe đưa đi Kỳ Sơn loại từ 13 đến 17. Một xe đưa đi trại nhi đồng Mai Lĩnh, gần chùa Trầm, Hà Đông, loại từ 12 trở xuống.

Chỉ mới hơn nửa tháng ở buồng này, tôi đã tiếp xúc hàng mấy trăm đứa. Hết đợt kia đi, lại đợt này vào. Tùy loại, hoặc tùy điều kiện xe cộ, Việt Cộng bắt đám tù con nít này vào đồn công an ở khu phố đã, rồi tùy theo từng loại mới hay cũ, sau đó mới chuyển đển Hỏa Lò. Nhưng, cũng có loại, chúng đưa ngay vào Hỏa Lò. Cho nên, có lúc đưa vào vài chục đứa, có khi lại chỉ hai, ba đứa.

Khi cửa buồng đã khóa, và sau một lúc ồn ào của những màn thăm hỏi và… lột quần áo, v.v… Tôi lại muốn nghe tiếp câu chuyện còn bỏ dở của các cậu thanh niên. Vì vậy, tôi lại mò đến một đám gồm gần một chục đứa, trong đó có cả Phúc “Thổ”. Thấy tôi đến, các cậu tránh dịch ra một chỗ, mời tôi ngồi. Ngồi xuống, vẻ vồn vả, tôi hỏi ngay:

– Khi nãy đang nghe các cậu nói chuyện Hà Nội thật hấp dẫn. Chính tôi không thể ngờ được! Này, thế con gái cũng là lưu manh cắp trộm, họ có bị bắt không?

Mấy cái đầu đều ngẩng lên định nói; nhưng chỉ một mình Phúc “Thổ” lên tiếng:

– Có mà đầy, anh ạ! Ngay Mai Lĩnh cũng có ba nhà con gái. Còn Kỳ Sơn, riêng một trại bên cạnh trại giam. Cứ đủ 18 tuổi là chuyển lên trại trung ương như chúng em bây giờ. Gái Hà Nội lúc này, gần một nửa là gái điếm. Một phần là gái điếm “nghiệp dư”, một phần, tốt hơn, có bồ bịch là lưu manh như chúng em. Vì chỉ có chúng em mới có tiền, để cho các cô diện và tiêu thôi.

“Bây giờ, họ thấy Kỳ Sơn và Mai Lĩnh đầy ứ nhiều quá, em nghe nói, họ mới mở 3 trường lớn ở Lào Kay và Phú Thọ. Thực tế, đó là 3 trại giam thiếu niên lớn, nhưng họ lại gọi là: “Trường Phổ Thông Công Nghiệp I, II và III”. Cũng như trại Kỳ Sơn, đi làm lao động có công an đưa đi. Chỉ có khác, quản giáo được gọi là thầy cô.

“Khi con gái đủ 18 tuổi thì bị đưa vào trại Mỏ Chén ở Sơn Tây. Trại này có hơn 3000 người. Trong khi, ở mỗi trại trung ương vẫn có một trại nữ ở gần kế bên. Sau này, anh đi trại, anh sẽ thấy nhiều vấn đề”.

Rồi như để minh giải những lời nói của mình, Phúc “Thổ” chỉ mấy cậu đang nhấp nhổm muốn chêm ý kiến mà chưa có dịp:

– Đây, thằng Minh “Trố”, dân “nhảy nghẽo” (ăn cắp xe đạp), thằng Tín “Đen”, vua cởi “hiệng” (ăn cắp đồng hồ), thằng Đồng “Ma cô”, dân “đột vòm” (đêm vào nhà ăn trộm), thằng Thái “Gà”, “lính mồ”… Chúng nó tung hoành thường có một hay hai con rất “nốp” đi theo, nên thành công nhiều hơn. Trên tầu, xe hay đám đông, các em thơm như múi mít, cứ đứng áp vào người, hay đá lông nheo, các cậu nhà ta mặt cứ đực ra như đang bĩnh ấy, nên tha hồ chúng nó đến lột. Hàng trăm ngàn trò, có con gái là xong lẹ.

Ngay cái vụ Tòa Đại Sứ Pháp mất bao nhiêu đồ cổ quý giá, đã ầm cả Hà Nội lên, cũng do các cô em đến “chài” mấy anh lính gác, các cậu mới bò trèo vào được.

Tôi liếc nhìn thấy tên Hưng đang lúi húi ngồi hút thuốc, với bác Khánh ở mãi góc phía xa, liền đẩy nhẹ sang một tí vấn đề đất nước:

– Này, thế các cậu có thích nhà nước này không? Có thích bác Hồ không?

Cả 8, 9 thằng ngồi quanh đều cười ầm lên. Có mấy thằng hai bàn tay nắm chặt vào nhau, đưa cao lên đầu như lạy lạy ở trên không. Ba, bốn đứa đều định nói, nhưng thằng Minh “Trố” nói trước một cách dõng dạc:

– Em không nghĩ là anh lại hỏi chúng em như vậy. Chúng em nghĩ là anh đã thừa hiểu chúng em rồi. Em năm nay đã 23 tuổi, cũng đã học hết lớp 10, em nói một cách có giá trị là: không một người dân Hà Nội nào nói riêng, và cả miền Bắc nói chung lại ưa cái chế độ Cộng Sản chó chết này cả, chỉ trừ một số ít người có những ân huệ đặc biệt không kể. Chúng em chỉ mong miền Nam Bắc tiến. Lúc đó, dân và ngay nhiều cán bộ cũng quay súng bắn trở lại những lũ chỉ huy, lãnh đạo ngay. Anh nhìn thấy bộ đội hoặc tự vệ các nhà máy, quyết tâm tử chiến với máy bay Mỹ, thì tưởng là toàn dân miền Bắc chống Mỹ ghê lắm. Hiểu như vậy là hoàn toàn lầm. Chúng em cũng từng là bộ đội, là tự vệ rồi. Tất cả chẳng qua vì cái thế, vì nồi cơm, vì chỗ đứng. Nếu không bắn sẽ bị quy về tư tưởng, người này theo kèm người kia. Chứ bộ binh của miền Nam, hay Mỹ nếu ra đây, sẽ cuốn lôi từng mảng. Rồi như giòng thác vỡ bờ, toàn dân được dịp đứng dậy trả thù lũ khát máu.

Ngừng một chút, thằng Minh “Trố” lại phấn khởi nói tiếp:

– Anh có biết, niềm mơ ước, hoài bão của người dân Hà Nội sau này sẽ thực hiện bằng được, là cái gì không anh?

Tôi nhìn khắp lượt, gần 20 con mắt đang mở to long lanh chờ câu trả lời của tôi. Tôi cho là quá dễ dàng, nên trả lời ngay:

– Mơ ước là được đổi lại chế độ tự do, tư bản chứ gì!?

Mấy cái miệng đều toét ra cười, đầu lắc lắc. Thằng Phúc “Thổ” nheo nheo đôi mắt nói:

– Điều đó là dĩ nhiên rồi, ai cũng biết. Chúng em muốn nói một niềm mơ ước, sau khi đã diệt hết lũ Cộng này rồi cơ?

Chúng nó đều nhìn tôi với những con mắt đầy màu xanh mộng ước, trên những nét mặt rạng rỡ nhìn về ngày mai. Tôi đăm chiêu nghĩ suy một lúc, thấy câu hỏi mở rộng quá nhiều vấn đề để trả lời, cuối cùng, tôi cũng lúng túng, đành chịu thua. Minh “Trố” điềm đạm nói ngay:

– Có gì đâu anh phải suy nghĩ nhiều, hở anh! Sau này, anh được ra, anh cứ đi từ nội cũng như ngoại thành; anh hỏi bất cứ người dân nào nếu họ tin anh, ai họ cũng sẽ trả lời là: một điều khắc cốt, ghi xương, nếu họ không làm được, thì họ trối lại cho đời con, đời cháu của họ, phải thực hiện cho kỳ được, nếu không, con cháu của dân Hà Nội đều bất hiếu với tổ tiên; (nó như một lời nguyền của dân tộc); là hãy phá tan khu Ba Đình, và kiến thiết xây một nhà xí công cộng, đầy tiện nghi cho người Hà Nội xử dụng!

Óc của người Hà Nội thật là phong phú, làm tôi cũng phải phì cười. Một sự việc bao quát rất nhiều vấn đề của lòng dân, đối với một chế độ mệnh danh là… “đỉnh cao trí tuệ của loài người và lương tâm của nhân loại!…”

Thấy chúng tôi cười vui ròn rã chuyện trò, tên Hưng liền mò lại. Y mới đi được vài bước, thằng Phúc “Thổ” vẫn vờ coi như không biết, đường hoàng nói tiếp:

– Anh có biết thú vui của một số các ông 40, 50 tuổi ở Hà Nội bây giờ là thế nào không?

Tôi cho là một câu hỏi để che lấp câu chuyện trên, nên cười lắc đầu; không ngờ nó lại nói tiếp để giải thích:

– Cứ bốn, năm ông kiếm một căn buồng, đưa rượu và đồ nhắm đến, rồi đưa một con nhãi chỉ 13 đến 15 tuổi, bắt lột hết quần áo, ngồi hết lòng ông này, đến lòng ông khác. Các ông vừa bế, vừa uống rượu.

Tôi cho là nó nói đùa, nên cười nói:

– Các cậu bầy đặt lắm chuyện, làm gì có chuyện thế!

Nhưng, Phúc “Thổ” và mấy cậu đều nghiêm mặt. Minh “Trố” nói tiếp:

– Chuyện này có thực đấy, anh ạ! Phổ cập là đàng khác. Các ông quá chán chường, lại không có lối nào thoát. Này nhé, tiền thì không kiếm đâu ra, tuy chơi gái thì rẻ thôi, nhưng không có tiền để tẩm bổ, nhất là khi có bệnh nữa; cho nên, các ông thích “giải trí” theo kiểu ấy lắm, anh ơi!

Tên Hưng vừa đến, định ngồi xuống, nhưng thấy thái độ của chúng nó không muốn tiếp; hơn nữa, chúng lại đang nói chuyện gái, nên y lại đi vòng qua luôn. Tôi quay lại, nhìn khắp các bộ mặt một lượt, rồi nói:

– Các cậu có những thủ đoạn, mánh lới như tình báo ấy. Tôi nể các cậu đấy!

Phúc “Thổ” cười, mặt hơi đỏ lên:

– Anh quá khen làm chúng em ngượng, chẳng qua vì cuộc sống thực tiễn đầy mưu mô, lừa lọc, rình mò, theo dõi của cái xã hội này đã dạy chúng em phải như vậy để sống còn. Như thế gọi là đổi “gam” anh ạ! Nếu tên chó chết đến, mình đang nói chuyện mà im bặt, nó càng nghi. Phải vờ coi như không trông thấy nó, nhưng đổi thành đề tài khác, rồi vẫn nói chuyện bình thường.

Buổi chiều hôm đó, trời lại hanh nắng. Tôi đang đúng ngoài cửa buồng đưa mắt về mấy khu quây cót, nơi ngăn riêng của phi công Mỹ, chợt nghe những tiếng ầm ầm quát tháo, và thấy nhiều những cẳng chân lông lá chạy xô chỗ này, quẩn chỗ kia như có cuộc ẩu đả, đánh nhau; thì có tiếng tên Kế, đang ngồi ở chiếc bàn con kê sát mé hiên nhà, gọi tôi. Khi tôi tiến đến bàn y, y đưa cho tôi một chiếc chìa khóa và nói giọng rỏn rẻn miền Nam:

– Anh vô buồng, gọi hai thằng vệ sinh trực bữa nay, đem bô và chổi vô chỗ phòng cát xô phía trên, bắt tụi nó dội rửa, quét sạch phân với nước tiểu đi nghe!

Tôi vào buồng gọi hai thằng vệ sinh. Mỗi ngày có bốn đứa, vì vậy, thấy nói vào cát xô làm vệ sinh, cả 4 đứa đều tranh nhau muốn được phân công. Tôi thấy hơi lạ thì Phúc “Thổ”, đang đứng bên Thọ “Lột”, đã nói:

– Có gì đâu anh. Ba hôm trước có bốn con “mòng” bị đưa vào phòng cát xô kỷ luật vì tội trùm chăn đánh “zoóc” ở khu nữ. Trong đó, chúng em biết có con Điệp “Nổ” và con Yến “Lai”, nhiều đứa thích, nên chúng nó muốn theo anh vào cát xô đấy. Chúng em cũng muốn vào, nhưng không được.

Thọ “Lột” móc hai điếu thuốc Điện Biên đưa cho tôi, cười:

– Mời anh một điếu, còn một anh cho con Yến “Lai” giùm em.

Rồi nó quay lại, chỉ hai thằng 15, 16 tuổi, bé loắt choắt:

– Hai thằng này theo anh Bình vào làm vệ sinh, còn hai thằng kia về chỗ.

Tôi dẫn hai thằng vào mở khóa một căn buồng. Mùi khai thối nồng nặc. Giữa buồng là cái cũi hay cái chuồng bằng sắt với những chấn song to bằng cổ tay, dựng đứng từ nền tới trần nhà, cao khoảng hai mét, các chấn song cách nhau khoảng 10 phân. Cũi hình chữ nhật, rộng chừng 1m50 và dài khoảng 2m. Bên trong cũi, có 4 cô gái chừng 15 đến 17, cô cặp tóc, cô “phi dê”. Một cô da bánh mật, còn 3 cô thật sáng sủa. Chẳng có chăn chiếu gì; trời mùa Đông lạnh buốt, các cô phải nằm ôm nhau thành một đống ở giữa cũi.

Thấy tôi vào, các cô đều bò dậy. Quần áo, phần thì chật ngắn, phần thì rách hở hang, các cô đều đỏ mặt ngượng ngùng, ngồi co dúm lại, lấy đôi tay định che kín cả người. Tôi cũng hơi ngượng, quay bảo hai tên mang bô ra chỗ máy nước ngoài sân, lấy hai bô nước vào.

Từ nãy, tôi muốn hỏi cô nào là Yến “Lai” để đưa điếu thuốc của Thọ “Lột”, nhưng vì ngượng nên lúng túng, đứng yên, chờ hai đứa mang nước vào. Có lẽ nhìn thấy tôi như vậy, nên các cô bạo ra. Một cô ngập ngừng lên tiếng hỏi:

– Chú là trật tự ở đây đấy ư?

Thấy hỏi, tôi cung bạo thêm lên, dù không dám nhìn thẳng phía các cô. Tôi đã từng ở xà lim, đã từng ở cát xô dưới hầm, tôi hiểu cái lạnh chết người của sắt và xi măng. Một tình thương cảm dạt dào dấy lên trong lòng tôi. Những mái đầu xanh này vì đâu đã sớm phải trong cảnh lầm than tù ngục như thế này!? Tôi không còn thấy ngượng nữa, hỏi thăm ngay:

– Lạnh thế này, đêm các cô ngủ làm sao?

Hình như câu tôi hỏi đã chạnh nỗi niềm vẫn khép kín trong tâm tư, mắt cô nào cũng đỏ lên. Một cô, ngấn lệ long lanh, nói trong thổn thức:

– Rét lắm chú ơi! Cả đêm, chúng cháu cứ ôm nhau khóc, không ngủ được.

Trong khi tôi và các cô nói chuyện, hai cậu nhỏ vừa dội, vừa quét chung quanh. Sau khi đã biết được tên cả 4 cô, tôi đưa cả hai điếu thuốc lá, nói rõ một điếu của Thọ “Lột” gửi cho Yến “Lai”, còn tôi chỉ có một điếu, các cô hút chung mấy hơi cho đỡ lạnh. Tôi đánh diêm cho các cô hút. Một cô, vừa ngửa cổ thở cho khói bay lên trần nhà, mắt lim dim, vừa nói:

– Chú tử tế, thương người quá nhỉ!

Tôi nhẹ nhàng nói:

– Tôi chả tử tế đâu, chẳng qua tôi cũng từng ở cảnh như các cô, cho nên tôi thông cảm.

Lúc hai cậu đã quét dọn xong, hỏi tôi cho ra giặt chổi, rửa chân tay, một cô nhìn tôi ngập ngừng một chút, rồi hỏi:

– Chú ơi, chúng cháu muốn nhờ chú một việc. Chúng cháu, 3 người bị…

Nói đến đây, tự nhiên cô đỏ mặt lên không nói được nữa. Một cô khác rụt rè hỏi:

– Thế, chú đã có vợ chưa?

Tôi cũng hơi ngượng, chỉ lắc đầu, chẳng hiểu các cô có điều gì mà khó nói thế. Mấy cô có vẻ băn khoăn, đắn đo. Một lát, một cô kêu lên vẻ ngại ngần:

– Khó quá nhỉ! Thôi, chú cứ ra gặp bà Hoa, hay bà Thơ, bà y tá nói là 3 chúng cháu bị “ăn chay”, xin bà cho đi làm vệ sinh.

Thấy tôi nhìn bằng ánh mắt chưa hiểu ý, một cô nói tiếp:

– Chú cứ nói giúp với các bà ấy cho chúng cháu như vậy, các bà ấy hiểu ngay à!

Tôi nhận lời. Khi khóa cửa, ra tới sân vừa thoáng thấy bóng bà Hoa ở phía buồng số 9 đi ra, tôi đón đường báo cáo như trên. Bà đã gật đầu, mà tôi vẫn chưa rõ là vấn đề gì. Mãi khi về buồng, kể chuyện lại, mấy cậu đều cười, giải thích là các cô có “kinh nguyệt”. Thế mà bày đặt là “ăn chay”! Phụ nữ lắm chuyện thật! Dùng lắm cái từ có trời mới hiểu.

Lan man ngày sanh nhựt

Đoàn Xuân Thu

September 17th, 2020

Post by Sơn râu 7 Oct 2023

Gần hai tháng nay, tiểu bang Victoria, Úc Châu trong đó có thủ phủ Melbourne của tui bị cô lập giai đoạn 4, vì cơn đại dịch Coronavirus bùng nổ lần hai. Nhà hàng không cho khách vô ngồi ăn. Khách chỉ được “food to go” nói theo kiểu Mỹ hay “take away” nói theo kiểu Úc.

Tuần rồi, em yêu quạu, vì tui tắm làm nước văng tùm lum ra ngoài nên để trừng phạt cho “nó” sợ, em bèn đình công, hổng thèm nấu ăn gì ráo. Ðói quá, tui chạy xe ra quán phở mua một tô tái, nạm, gầu nhiều nước béo với hành trần về ăn đỡ, tốn hết 15 đô!

Trong khi đứng chờ, tôi thấy bằng tốt nghiệp trường Ðại học Y khoa Sài Gòn treo trên tường, trước quầy thu ngân của tiệm phở. Trong đó có ghi đầy đủ họ tên và chữ lót. Tên nghe quen quá làm tui nhớ tới một thằng “cu” cao ráo, đẹp trai, tóc đen nhẻm, cùng tên, học thời trung học đệ nhị cấp, khoảng 50 năm về trước, với tui.

Rồi một ông già đầu gần trọc lóc,  chỉ còn lơ thơ vài cọng tóc bạc bên hai mép tai, bước ra quầy thâu ngân. Tui hỏi: “Bán phở mà treo bằng bác sĩ chi vậy cha nội?”. Ổng nói: “Hồi xưa bên Việt Nam, tui làm bác sĩ đó chớ! Qua đây, học lại lấy bằng nhưng thi hoài không đậu nên đành đi bán phở. Tui treo cái bằng bác sĩ không còn giá trị nầy lên, một là để “nhát” thiên hạ; hai là chứng tỏ quán phở của tui cũng vệ sinh sạch sẽ  như cái nghề bác sĩ tui từng làm đó mà”.

Tui hỏi:“Vậy bác sĩ có từng học trường Petrus Ký ở Sài Gòn hay không?”. “Có! Có! Tôi đã từng học A2 và là một học sinh xuất sắc đấy!”, ông ấy trả lời, mắt lấp lánh tự hào.

“Bác sĩ tốt nghiệp Petrus Ký năm nào?”. “Năm 1970!”. “Tại sao ông lại hỏi tôi câu đó?”. “Mầy đã ở trong lớp của tao!”, tui kêu lên.

Ông ta chăm chú nhìn tui! Rồi với khuôn mặt héo úa, bụng phệ, tóc bạc, da nhăn, xấu xí, già nua, ngốc nghếch, lẩm cẩm, kính cẩn hỏi tui: “Dạ, thầy dạy môn gì?”.

Té ra thằng bạn học cũ cùng lớp thấy tui còn già hơn nó nữa nên nó tưởng tui là thầy của nó. Giống như mấy ông chồng thấy bà vợ của mình già mà hổng chịu dòm lại dung nhan, cái mặt “mẹt” của mình.

Tui già thiệt mà hổng có hay! Năm nay, tui lại ăn sanh nhựt lần thứ 70 rồi đó.

o O o

Có cha nội nhà văn bên Tây, có đứa nói là Pascal nhưng tui chưa gặp ổng để hỏi có phải chính ổng viết ra cái câu “Cái tôi đáng ghét!” hay không? Nhưng, ông Pascal có viết hay không, không quan trọng. Cái câu viết mới quan trọng. Cũng giống như con dâu, chồng nó mới quan trọng; còn bà già chồng thì nó đâu có “ke”.

Câu nầy có nghĩa, viết gì thì viết, đừng đem cái tôi ra mà “khoe” như con Thạch Sùng (tức con thằn lằn). Khoe xong rồi thua… nên chặc lưỡi hoài!

Nhưng nếu không viết về cái tôi mà viết về cái của người khác e rằng có ngày sẽ u đầu sứt trán. Nghĩa là chúng đọc xong, chúng quạu, chúng chọi tui cái lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc…

Nghe vậy, tui cũng hơi “ớn” (lạnh). Nhưng khổ nỗi, không viết về cái tôi thì tui viết về cái gì hè? Vậy là bài viết nầy, nhân ngày sanh nhựt, tui viết hổng để khoe “nhà mầy lớn, nhà mầy cao sao bằng nhà tao” mà chỉ để cám ơn hết ráo bà con đã gởi lời Happy Birthday đến tui nhe!

o O o

Trước hết, tui xin cám ơn gia đình (nhỏ) của tui. Cám ơn con vợ và hai đứa con tui. Con là nợ, vợ là oan gia! Hai cục nợ đã mua nhà ra riêng. Tới phiên tụi nó cày sâu cuốc bẫm để trả nợ cho “oan gia” của tụi nó.  Còn em yêu, tức con vợ của tui, oan gia của tui, thì vẫn còn đeo đuổi theo tui hoài vì tui chưa trả hết nợ mà tui lỡ dại mượn của em từ kiếp trước!

Cả năm nay, cũng như đa phần các cặp vợ chồng của mấy thằng bạn nhậu của tui, cơm không lành, canh không ngọt nên đôi ta đang tiến hành chiến tranh lạnh. Em về khép chặt môi em lại, thủ khẩu như bình để chống lại anh yêu. Vợ chồng già thiệt là quỡn!

Tối, viết giấy dặn em rằng:“6 giờ sáng nhớ đánh thức anh dậy để anh ra phi trường Tullamarine, đi Sydney công chuyện!”. Tối qua hơi quá chén, chín giờ sáng mới lồm cồm thức dậy, thấy tờ giấy em yêu bỏ trên gối: “6 giờ sáng rồi, dậy đi cha nội!”

Vậy là ở nhà! Em yêu “giận thì giận” nhưng “thương thì thương” cũng lui cui vào bếp, bật lò ga nghe cốc cốc, pha bột, chiên chừng 10 cái bánh bột chiên có tép, như bánh giá Mỹ Tho, cũng na ná bánh cống Bến Ninh Kiều, Cần Thơ để chàng ăn và uống Jack Daniel pha với Coke và nước đá.

Em dọn tất cả lên bàn kèm tờ giấy ghi dòng chữ “Help yourself” (tự phục vụ) và không quên đề thêm “Happy Birthday” người đã làm khổ đời em! Làm chồng mà cứ Hồng, Lan, Mai, Ðào, Cúc hoài. “Ngựa” thấy sợ luôn!

Cái nầy là lỗi của người đẻ ra tui. Em yêu có than phiền thì hãy “complain” với má tui. Chớ tui đâu có lỗi gì!

Còn hai “cục nợ” đã ra riêng gọi điện thoại giùm đám cháu nội, chúc mừng: “Happy birthday ông nọi” (nọi chớ hổng phải nội nhe). Vì thằng cháu, Axel, Úc nói tiếng Việt. Xong, cháu tui còn hỏi: “Where’s your birthday cake?”.

Hồi năm ngoái khi Melbourne chưa bị lockdown vì con Coronavirus nầy thì vui lắm. Tụi cháu khoái ăn bánh, sau khi hát Happy birthday xong, bèn giành nhau thổi đèn cầy. Ðứa nầy thổi trước, đứa sau khóc cự, phải đốt đèn lại cho nó thổi, nó mới chịu!

Tui có 4 đứa cháu nội, năm nay 2 đứa con thằng lớn chúc mừng. Còn 2 đứa: một trai, một gái, con thằng nhỏ sao im re? Chắc tụi nó bận chơi game!

Ðám em gái thì khỏi nói. Ðứa nào cũng gởi message chúc mừng Happy birthday. Con gái xưa giờ đứa nào cũng vậy: tế nhị, chú trọng tiểu tiết nên hổng thể nào quên sinh nhựt của một ai trong gia đình. Chính vì vậy, hồi cưới vợ, tui thích em yêu “cadeau” cho tui một đứa con gái để “dưỡng nhi đãi lão”, nuôi con gái lớn để trông cậy về sau, (con gái nên gả chồng gần. Có bát canh cần nó cũng đem cho) nhưng không được. Chắc tại kiếp trước, tui chọc trời khuấy nước, làm ác quá nên kiếp nầy phải trả?

“Thấy anh đăng bài trên báo, trên trang mạng xã hội hoài và anh cãi hăng tiết vịt nên tụi em biết anh vẫn còn rất trẻ và rất phẻ. Bằng không đâu có ai quỡn mà hung hăng dữ như vậy chớ?”

Còn 2 thằng em trai. Một thằng Happy birthday anh mình nhờ con vợ nó nhắc. Thằng kia quên. Chắc nó bận cãi nhau với vợ nó như tui vậy.

o O o

Bè bạn thì có nam có nữ cũng như đám em tui. Tui nhắc bạn gái trước nhe vì “lady first” mà! Bạn gái từ 18 tuổi, xa tới giờ! Cách nhau nửa vòng trái đất; em đầu sông, anh cuối sông; hổng uống chung dòng nước sông Tương gì ráo. Tương tư bất diện kiến mà vẫn nhớ nhau. Anh thành ông nội, em thành bà ngoại mà vẫn không quên, mới rầu chớ!

Rồi bạn nam! Chu choa mấy ông thần nầy ở Cali, Houston, Washington D.C, Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho… bạn học, bạn lính, bạn facebook… dẫu đang nhậu nhẹt tưng bừng với chiến hữu vẫn không quên gởi lời chúc mừng Happy birthday tui vì nhờ “thằng” facebook nó nhắc.

o O o

Xin cám ơn hết ráo nhe! Giờ tui đi rót thêm vài ly nữa. Nhậu cho niềm vui sanh nhựt của mình. Già thêm một tuổi và để quên đi nỗi buồn xứ xa, xa xứ.

Melbourne đã 2 giờ khuya rồi đó. Nhưng đời tui là một cánh hoa dạ lý hương chỉ nở về đêm. Ðêm thức, ngày ngủ thẳng cẳng; vì là cu li vốn làm đêm đã quen rồi. Thế nên bạn nữ hay nam trên toàn thế giới thấy trên facebook tui, đèn vẫn còn xanh; xin cứ gọi, hai đứa mình tán dóc chơi! Nhưng tui khoái nói chuyện với bạn nữ hơn. Vì giọng của mấy em êm đềm như mía lùi, như mật rót vào tai cho kiến bu lại cắn đứt lỗ tai của tui.

ĐXT

Làm chuyện tào lao!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 7 Oct 2023

Nhớ hồi còn nhỏ đi học, gom được mớ chữ nào hay mớ chữ nấy; vì hai cái lỗ tai của tui cấu trúc giống hệt cái bình thông nhau; lời thầy dạy vô bên ni nó chui ra bên tê, nên kiểm lại thấy còn kha khá là mừng quá xá là mừng!

Rời trường lớp đã quá xá là lâu, tui vẫn tiếp tục học ở trường đời. Chua chát thay! Trường đời dạy tui quá nhiều bài đắng cay, cay đắng… nên lúc nào sầu đời tui lại nhớ về trường học.

Ôi nhớ xưa! Quý thầy cô chia các môn học ra làm hai nhóm: Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội.

Khoa học tự nhiên thì môn Toán làm ‘chánh tổng’ là quá phải; không ai dám cãi.

Đứa nào giỏi Toán, ắt sẽ giỏi Lý, giỏi Hóa…

Nhưng những môn bên Khoa học xã hội nó dỡ ẹc hè! Ông Trời thiệt công bình! Chớ cho nó giỏi hết ráo, giỏi từ đầu tới đít, giỏi từ trước tới sau, môn nào cũng giỏi, nó nổ tưng bừng thì mấy đứa bạn học làm sao mà chịu đời cho thấu?

(Chẳng hạn như Cao Chu Thần tức nhà thơ Cao Bá Quát ỷ mình giỏi về thơ, dám tuyên bố trước toàn thiên hạ là: “Thế gian nầy có bốn bồ chữ. Quát nầy chiếm hai bồ; còn một một bồ cho bạn (nhậu) của Quát; còn một bồ nữa chia cho toàn thiên hạ?!)

Khoa học xã hội thì môn Văn làm ‘chánh tổng’; cái nầy cũng còn hơi lọng cọng vì theo ngu ý của tui thì môn Sử Địa phải làm trung tâm mới phải?

Vì khi thành lập nước, có đất là có Địa lý; rồi triều đại nầy qua triều đại khác có Sử ký. Địa lý và Sử ký phải có trước giai cấp nho sĩ làm thơ, viết văn.

Đút rồi… rút ra rằng: Sử Địa là cái nhụy để môn Văn dựa vào làm những cánh hoa rực rỡ muôn màu của lòng yêu nước. Yêu nước là phải biết đất nước mới yêu được chớ. Tất nhiên phải yêu Sử Địa!

Đôi khi buồn tình ngồi nhổ râu, gải rún, tui lại nhớ mấy môn học ngày xưa ta bé ta ngu, gọi là môn Sử ký, Địa lý là môn phụ… Ngẩm lại thấy nó không phụ chút nào!

Vậy mà trong nước bây giờ coi môn Sử Địa hỏng ra ‘càm ram’ nào. Khỏi thi cữ gì ráo. Học trò khỏi thi, bèn đem sách Sử Địa ra xé nát, từ trên lầu tung xuống bay lả tả trắng cả một sân trường. Thiệt là đau lòng ‘ông già’ nầy quá xá!

Tệ hại như vậy thử hỏi tại sao tuổi trẻ bây giờ lại tỉnh bơ, điềm nhiên tọa thị, lên Facebook ‘chít chát’ loạn xị với nhau chuyện tầm xàm bá láp trong lúc dầu sôi lửa bỏng, bọn giặc Tàu đang dòm ngó, lăm le muốn chiếm nước ta!

Hồi thời tui đi học có đỡ hơn một chút! Môn Sử Địa phải thi nhưng cũng bị xếp vào môn phụ, tuần chỉ có hai giờ. Rồi đi thi Tú tài, môn Sử Địa chỉ được xếp vào hệ số 1, trong khi môn văn hệ số 2, môn Toán hệ số 3 của mấy đứa theo Ban B (Toán, Lý, Hóa) thì thiệt là bất công nhe!

Thú thiệt là tui khoái đọc Sử vì tò mò, coi hồi xưa ông bà tiên tổ mình như Hoàng đế Quang Trung đại phá quân Thanh; rượt Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ  Nghị, có thắt cái bím đòng đưa, chạy có cờ để mà tự hào cho dân Việt.

Mấy ông soạn giả cải lương nhà mình đã từng dựa theo sách Sử Ký để viết tuồng hát vào mùng 5 Tết để kỷ niệm trận Hà Hồi, Ngọc Hồi khiến Sầm Nghi Đống leo lên Gò Đống Đa treo cổ, thè cái lưỡi ra dài ngoằng, chết ngắt!

Rồi từ cái kiến thức về Sử, về Địa, mình mới hiểu được câu ca dao: “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em!”

Câu thề hẹn nầy, nếu em yêu là người tinh thông môn Sử Địa tất rơi nước mắt, nước mũi chồm ngoàm vì cảm động!

Cầm bằng ‘qua’ tán tỉnh cho em bất tỉnh… bằng thơ… mà em lại ngơ ngơ không có ‘cảm’… là vì em dốt Sử, dốt Địa!

Em cứ nghĩ là thơ thường đối nhau chan chát mới hay; nên em võ đoán là: “xe lửa Mỹ đối với tàu Tây” thì tàu Tây là của mấy thằng Tây; tất xe lửa Mỹ là của mấy thằng Mỹ?! Hỏng phải vậy đâu! Xe lửa Mỹ đây là Xe lửa Mỹ Tho đó em!

Rồi một chàng xứ Mỹ kiên trì, nhứt quyết rượt theo ‘dê’, nhứt quyết gặp mặt nàng cho được, bằng cách ngăn sông Mỹ. “Chẻ tre bện sáo cho dầy. Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp em!”

(Thằng cha nầy, xin lỗi, ‘ba đía’ quá hè! Vì sông Mỹ rộng lắm, đôi bờ 3, 4 cây số cho chú em mình chẻ rụi cả một rừng tre, bện sáo từ thuở thanh xuân, tóc còn đen nhánh, đến đầu bạc trắng còn chưa chắc đã ngăn ngang được sông Mỹ để gặp được em. Lỡ may bện sáo xong; ngăn sông rồi gặp em thì anh gọi em là bà ngoại. Còn em gọi anh là ông ngoại!) Sông Mỹ đây là sông Mỹ Tho chớ hỏng phải sông Mỹ (quốc) đâu.

Nhưng sông Mỹ Tho là sông gì, ở đâu? Nếu dốt Sử Địa thì cách chi mà biết?

Té ra sông Mỹ Tho (tức Tiền Giang) và Hậu Giang là do con sông Cửu Long chẻ hai, trước khi vào đồng bằng sông Cửu Long, Lục tỉnh Nam Kỳ.

Sách Sử Địa dạy rằng: “Sông Cửu Long, lớn vào hàng thứ 7 của châu Á, hàng thứ 12 của thế giới, phát nguyên từ cao nguyên Tây Tạng, dài 4,909 km, chảy qua lãnh thổ 6 nước: Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam.

Dân Tàu đặt tên cho nó là Lan Thương Giang khi chảy qua vùng cao nguyên thuộc tỉnh Vân Nam. Khi vào nước Lào, nước Thái, dòng sông hùng vĩ nầy, dân xứ đó gọi là Sông lớn, là Mae Khong. (Tây đến, nghe Mae Khong thì viết thành Mekong vậy thôi!)

Vào Cambodia, nó là Tônlé Thum hay Tôn lé Mékông. Từ thủ đô Nam Vang, sông chia nhánh phụ là sông Bassac, tới Châu Đốc, thành sông Hậu Giang, ra biển bằng hai cửa: cửa Định An và cửa Trần Đề.

Còn nhánh lớn hơn, qua Tân Châu, thành sông Tiền Giang ra 6 cửa: cửa Đại, cửa Tiểu, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu.

Còn cửa Ba Thắc (Bassac) đã bị phù sa bồi lấp hồi thập niên 1970 nên trên thực địa, 9 cửa sông chỉ còn 8; Cửu Long sẽ thành ‘Bát Long’.

Tám cửa sông nầy bà con Miền Nam mình, giờ hải ngoại thương ca rành sáu câu vì cũng đã từng vượt biển, vượt biên qua đó!

Tuy nhiên với anh bạn vàng của CS Việt Nam, nhưng rất khó chơi, là Tàu cộng đã và đang xây vô số đập nước, chắn dòng, làm thủy điện ở thượng lưu thì vùng hạ lưu thuộc nước mình,  môi trường sẽ bị tàn phá nghiêm trọng, khiến bà con mình ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đủ.

Mùa khô, Tàu cộng chặn nước thì đồng bằng sông Cửu Long bị hạn. Còn mùa mưa, Tàu cộng đột nhiên xã nước, vì sợ bị vỡ đập, thì đồng bằng sông Cửu Long có ngày sẽ bị lũ quét văng luôn ra biển.

Tàu cộng thâm độc sẽ dùng dòng sông Cửu Long hiền hòa nầy, cái cần câu cơm của 5,7 chục triệu dân sống quanh lưu vực, thành một vũ khí lợi hại về kinh tế, về chính trị để chèn ép các nước trong vùng, bắt tuân thủ theo ý định của thiên triều.

Sông Mekong là của chung, của 6 nước, đâu phải của riêng chú mà chú muốn làm gì thì làm hả chú Ba? Thiệt là côn đồ và ngang ngược!

Các thức giả, có lòng với quê hương đất nước mình, đã gióng lên hồi chuông báo tử một dòng sông, la làng ỏm tỏi. Nhưng tiếc thay tiếng la thất thanh đó đã lan tỏa vào cõi hư không; vì nhà cầm quyền CS trong nước có lỗ tai mà lại không thích nghe, điếc đặc rồi bà con ơi!

***

Theo tui thì: địa danh là tên đất, tên sông, tên biển, tên núi, tên rừng.

Dòng sông nầy chảy qua quê tui, Mỹ Tho, nên bà con gọi nó là sông Mỹ.

Tui đã từng tắm mát sông nầy, uống nước sông nầy, chia tay em yêu cũng trên sông nầy, xuống ‘taxi’ ra cá lớn nằm bên Cù Lao Rồng cũng trên sông nầy, đi luôn ra cửa Đại cũng trên sông nầy; rồi dông tuốt luôn từ độ ấy để làm thân lưu lạc mà nhứt quyết không về cho đến khi nào đất nước Việt Nam mình, từ Nam chí Bắc được tự do, không còn gông cùm CS!

(Rồi cũng trên dòng sông nầy, ngang vườn hoa Lạc Hồng, dưới hàng dương cạnh mé sông, xưa là trạm cuối cùng của xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho, có cây da trốc gốc trôi rồi, em xa người nghĩa đứng ngồi không yên!

Nhìn ra giữa sông, có chiếc tàu Nhựt bị phi cơ đồng Minh đánh chìm hồi Thế chiến thứ hai là Cù lao Rồng, vì do phù sa tụ lại bồi dần lên đến năm Mậu Thân (1788) trở đi, thế đất có hình con rồng nằm.

Thế Tổ Cao Hoàng đế Gia Long, đặt tên chữ là Long Châu, dài chừng 2 dặm, làm la tinh (cái gò chắn), trấn ngoài thủy khẩu, che giữ trấn sở, chắn át sóng dữ, rõ ràng là một nơi thắng địa.” (Theo Trịnh Hoài Đức).

Sau nầy chánh quyền đặt tên là cồn Tân Long nhưng bà con mình vẫn gọi là Cù Lao Rồng… thì làm gì nhau?!

Như sông Cửu Long, nước nầy kêu vầy nước kia kêu khác cũng do dân sở tại đặt đấy thôi. Rồi cái cù lao nổi lên giữa dòng, vua gọi Long Châu; dân gọi cù lao Rồng. Rốt cuộc dân ăn; vua thua. “Dân vi quý! Xã tắc thứ chi mà!”

***

Sau khi quàng được cái tròng nô lệ lên cỗ dân VNCH mình, CS Bắc Việt đổi địa danh xưa giờ hết ráo; với ý đồ thâm độc là hủy diệt cái quá khứ huy hoàng của vùng đất mến yêu. Đó là một tội ác ắt sẽ bị trừng phạt vì ai dùng súng lục bắn vào quá khứ thì tương lai sẽ bắn trở lại bằng đại bác!

Chẳng hạn như VC đặt tên tỉnh Minh Hải, nơi cuối đất cùng trời, chạy ra tới Mũi Cà Mau. Minh Hải là biển sáng. Biển đâu lúc nào cũng sáng đâu? Chiều hôm tối rồi, nó cũng đen như mực mà thôi!

Xưa giờ ông bà mình gọi Bạc Liêu, Cà Mau thì tụi tui, phận làm con, làm cháu, cũng gọi Bạc Liêu Cà Mau…Nó biểu tui không nghe… thì làm gì nhau hè?

Thủ đô Việt Nam Cộng Hòa của bà con mình cũng vậy, chúng nhứt quyết đổi tên.  Đổi thì kệ nó chớ người dân mình vẫn gọi là Sài Gòn hè!

Quan nhứt thời dân vạn đại mà! Sài Gòn vẫn còn đó cho dẫu bị bọn cường quyền bắt làm khai sanh mới!

Tên đất trước tiên là do dân địa phương đặt.Thế nên mấy thằng ỷ cưỡng chiếm được chánh quyền, đặt tên nầy tên nọ, là làm chuyện tào lao bắc đế chỉ mất công!

Dân nó hỏng có xài đâu!

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Post by Sơn râu 7 Oct 2023

Bài 6
Sài Gòn. Tháng 5-75 

Sau khi Sài Gòn mất, mẹ tôi đem hai anh em tôi trở về ngôi nhà thuê gần công viên. Trong suốt bốn ngày đêm kế tiếp, chúng tôi trốn dưới hầm. Sàn nhà rất dơ và vách được làm bằng những bao cát chất chồng lên nhau. Cuối hầm là một phòng tắm nhỏ được thắp sáng bằng một bóng đèn mờ. Từ đó, một sợi giây điện được nối ra giữa phòng để thắp sáng một bóng đèn trần treo lủng lẳng trên nóc. Tuy nhiên vì tình trạng thiếu hụt điện nên chúng tôi thường xuyên phải dùng đèn cầy. Hàng ngày chúng tôi co người trong hầm, lắng nghe tiếng bước chân và tiếng đập cửa dội lại từ các cửa phòng bên cạnh. Chúng tôi trốn như một gia đình chuột trốn mùa mưa như vậy cho đến khi bị kéo ra thảy vào một hệ thống sinh hoạt mới. 

Cả nhà chỉ có mỗi một mình vú Loan là dám đi ra ngoài để tìm thức ăn, nghe ngóng tin tức, và làm những việc lặt vặt cho mẹ tôi. Trước khi ra ngoài, chị luôn luôn thay những bộ đồ đen để có thể hòa đồng vào với dân chúng trong thành phố. Mỗi lần chị ra ngoài, chúng tôi ngồi bên chiếc cửa tò vò chỉ cách mặt đất chừng vài tấc nôn nóng mong ngóng cái hình dáng nhỏ nhắn của chị trở về. Chợ búa cũng chẳng bán buôn gì nhiều. Trong lúc chiến tranh lộn xộn, chẳng ai dại gì đem bán thực phẩm đổi lấy tiền, vì sợ thực phẩm sẽ khan hiếm hoặc nạn lạm phát sẽ gia tăng trong tương lai. Trước đây, chợ búa là nơi trao đổi mua bán, nhưng bây giờ thì tràn ngập những người lính cộng sản. Vì sợ bị nhận diện, vú Loan không bao giờ ở lâu ngoài chợ. Mặc dù những số thực phẩm hiếm hoi chị mang về luôn luôn đã hôi mốc, nhưng nhờ những hiểu biết học được từ trường gia chánh, vú Loan đã chế biến thành những đĩa cơm rau, cùng với nước chấm rất ngon miệng. Chị nấu ăn ở tầng trên rồi mang xuống hầm cho chúng tôi. 

Những tin tức chị Loan thu nhặt được thường là tin đồn hoặc là những điều phỏng đoán của những người thiếu thông tin và lầm lẫn. Quan sát các hoạt động của người cộng sản là cách tìm ra cách ứng biến để sinh tồn. Điều trước tiên và quan trọng nhất là phải luôn luôn có cái bề ngoài như người cộng sản. Bị quy kết là đi ngược lại sẽ là một tai họa khủng khiếp. Không ai tin ai, ngay cả những người trong gia đình. Sự lo sợ nhắm vào chính quyền và các viên chức chính quyền mới; còn những người lính cộng sản, đại đa số họ có vẻ thân thiện, nhất là đối với trẻ con. Mọi người ý thức rõ ràng là giới nghiêm bắt đầu từ chín giờ tối, và bất cứ ai bị bắt gặp trên đường phố sau giờ đó có thể bị bắn tại chỗ không cần báo trước. Tin tức một số người bị bắn chết sau giờ giới nghiêm làm cho cả thành phố càng thêm lo sợ kinh hoàng. Để tạo ấn tượng là họ hiện diện khắp nơi, bộ đội Việt Cộng được chia thành nhiều toán nhỏ đóng rải rác khắp thành phố. Nhiều gia đình tự nguyện dâng nhà cửa của mình với hy vọng là những tội lỗi trong quá khứ sẽ được miễn trừ. Phần lớn các đơn vị bộ đội đóng trong các căn nhà bỏ trống, khách sạn, trường học, hoặc các ngân hàng dọc theo đường phố. 

Trong cái nhà tù mới của chúng tôi, hai anh em tôi trở thành một mối lo âu khủng khiếp của mẹ tôi. Từ trước giờ, bà luôn tìm mọi cách che dấu chúng tôi, tránh không để cho cái bề ngoài “Mỹ con” của chúng tôi gây nhiều tin đồn, suy diễn, phỏng đoán này nọ. Nhưng bây giờ thì cái áp lực đó vượt quá cái mức chịu đựng của bà. Co mình trong một góc tối của căn hầm, hai anh em tôi nhìn mẹ tôi suốt ngày đi tới đi lui như con thú bị nhốt trong chuồng. Và lần đầu tiên trong đời, tôi tự thấy thù ghét sự khác biệt giữa hai anh em tôi với những người chung quanh mà tôi vốn cũng không ưa thích gì mấy. Tôi muốn nhổ hết tóc tôi, lột da tôi, tháo bỏ đôi giày mắc tiền tôi đang mang trong chân. Tôi cầu xin cho một việc gì đó xảy ra, bất cứ việc gì cũng được để đôi mắt mẹ tôi không còn tràn ngập những mặc cảm xấu hổ, tội lỗi. Nhưng tôi chỉ ngôi thừ ra đó, cứng người trong nỗi sợ hãi và thầm cầu mong cho thời gian qua đi thật nhanh. 

Vào một buổi chiều sau hai ngày lẫn trốn, mẹ tôi sai Loan ra chợ mua một số thuốc nhuộm màu đen. Không một lời báo trước mẹ tôi chạy đến chỗ chúng tôi đang trốn chụp lấy chúng tôi bằng những chiếc móng tay nhọn hoắc của bà giống như đang chụp bắt những con gà bị nhốt trong chuồng. Không ngó ngàng đến những tiếng kêu khóc đầy hoảng sợ của chúng tôi, bà kéo lê chúng tôi trên nền xi măng lạnh lẽo tiến về phía phòng tắm. Mặc cho chúng tôi vùng vẩy, giãy giụa, mẹ tôi đổ phẩm đen lên đầu lên người chúng tôi và chà bóp liên tục tưởng như không bao giờ dứt. Tôi vẫn còn nhớ rõ cảnh tôi ngồi thu lu bên cạnh đứa em trai trong phòng tắm, hai bàn tay nhỏ xíu cố che lấy chiếc ngực trần. Mẹ tôi chà xát thật mạnh mà không nói một lời càng làm cho chúng tôi thêm hoảng sợ. Chúng tôi la khóc vì thuốc nhuộm làm rát da thịt. Bà chồm tới với đôi mắt ngây dại và những ngón tay nhọn chỉa thẳng vào mặt chúng tôi. 
“Ngậm miệng lại! Con trai không được khóc.” Bà đổ thêm thuốc nhuộm lên người chúng tôi. 
Chúng tôi không cách nào có thể vâng lời bà được nên vẫn khóc. Cuối cùng ông ngoại tôi chạy vào giang tay tát vào mặt mẹ tôi. Chỉ vào bóng hai anh em chúng tôi phản chiếu trong tấm gương, ông ngoại tôi hét lên: 
“Ngưng ngay cái hành động khùng điên đó lại. Thử nhìn coi mấy đứa con của mày có ra hình thù gì không? Mà cái việc khùng điên đó có giải quyết được gì không?” 

Mẹ tôi nhìn vào gương và đứng sững người. Trong gương là hai khuôn mặt bé thơ lem luốt phẩm đen và những giòng nước mắt chảy dài đang ngó lại bà. Khuôn mặt mẹ tôi đỏ nhừ, hai tay run rẩy, tràn ngập nét oán hờn làm mẹ tôi trông giống như một mụ phù thủy ác độc. Nhìn thấy hình ảnh chúng tôi trong gương, mẹ tôi bưng mặt khóc. 
Mẹ tôi quỳ gối xuống dùng mu bàn ta chùi những vết nhuộm trên mặt hai anh em tôi. “Mẹ xin lỗi hai con.” Bà nói dịu dàng. 
Hình ảnh người đàn bà loạn trí làm chúng tôi thất kinh hồn vía lúc nãy không còn nữa, và tiếng mẹ tôi thì thầm vào tai chúng tôi: “Mẹ không thể thay hình đổi dạng cho các con được. Mẹ không có cách nào. Các con đừng khóc. Lỗi tại mẹ. Mẹ không biết cái gì đám ám mẹ nhưng mẹ hứa là từ nay sẽ không để ai hại các con nữa. Bao lâu mẹ còn sống thì không ai có thể hại các con được.” 
Cả ba mẹ con ngồi ôm nhau khóc cho đến khi nước mắt cạn đi. Chiều hôm ấy mẹ tôi có một quyết định. Sau khi bảo hai anh em tôi lên lầu, bà tụ họp mọi người trong gia đình lại để bàn chuyện. 
Từ trên tầng trên, hai anh em chúng tôi rán lắng tai nghe những lời bàn chuyện của người lớn bên dưới, nhưng chẳng nghe được gì nhiều, ngoại trừ tiếng của ông ngoại tôi vang vang. Tôi chưa bao giờ nghe ngoại tôi giận giữ đến như vậy. “Không được. Ba cấm con không được làm như vậy, nguy hiểm lắm. Con điên rồi sao… ” 

Mẹ tôi kéo Loan sai chị đi ra ngoài rồi tiếp tục tranh luận với ông tôi chừng một tiếng đồng hồ nữa. Cuối cùng khi mẹ tôi xô mạnh cánh cửa bước ra ngoài, tôi còn nghe tiếng ông ngoại tôi đuổi theo sau: 
“Đừng kéo con Loan vào chuyện này. Nó còn nhỏ, chưa quyết định được đâu.” 
“Ba không thấy là cả hai đứa con không còn con đường nào khác hay sao?” Mẹ tôi đáp trả. 
“Nếu vậy thì chờ đến khi chúng ta về nhà rồi tính. Con không nên quyết định hấp tấp lần nữa trong ngày hôm naỵ” 
Mẹ tôi bước vào phòng tắm và đóng sầm cửa lại. Lát sau, vú Loan về đắt theo một bà già mà chị bảo là đang đứng chờ ngoài cửa. 
Từ tầng trên hai anh em lặng lẽ nhìn bà già đang đứng trước cửa nhà, tay mân mê chiếc bọc mang ngang ngực chờ vú Loan trở ra. Mặt bà đầy những nếp nhăn, lưng khòm xuống thành ra lúc nào cũng như đang nhìn xuống đất. Tóc bà thưa và bạc trắng. Khi biết chúng tôi đang nhìn, bà rán nở một nụ cười làm cái miệng móm không còn chiếc răng nào của bà trông giống như một cái lỗ đỏ lòm. Hai anh em có cảm tưởng như bà là một nhân vật trong truyện cổ tích, sắp sửa ôm cán chổi bay vào trong không gian. 
Vú Loan trở ra có mẹ tôi theo sau rồi cả hai dắt bà già xuống hầm. 
“Có phải bà là người thứ hai cần tôi giúp, trừ cô gái này?” Bà già hỏi “Bà có chắc là bà chỉ mới có thai ba tháng không. Nhìn bụng bà tôi nghĩ là phải hơn… ” 
Mẹ tôi quay lại ra dấu cho bà già im lặng. Vẻ mặt hai người không giấu được sự lo lắng. Bà già bước vào phòng đặt chiếc bị trên người xuống đất rồi thở ra nhẹ nhỏm. Trông thấy ông bà ngoại tôi đang đứng nhìn ở cửa hầm, bà ta gật đầu chào. 
Vú Loan giới thiệu bà già với chúng tôi: 
“Đây là bà Tâm, bà mụ duy nhất dưới phố hiện naỵ Bà được mọi người ngoài chợ tín nhiệm và giới thiệu cho chúng tạ Con có cho bà biết là chúng ta không phải là người ở đây, không quen biết ai nên bà đồng ý giúp.” 
“Thôi được rồi, đừng có giới thiệu dài giòng nữa. Chúng ta phải làm nhanh lên, tôi còn mấy vụ nữa đang chờ dưới phố. Tôi phải làm cho kịp trước giờ giới nghiêm.” Bà nói vội vã. “Sao các người sẳn sàng chưa?” Rồi bà chỉ hai anh em tôi. “Tóc của hai đứa nhỏ này bị gì vậy?” 
“Không việc gì đến bà.” Mẹ tôi nói với vẻ bồn chồn. “Để tôi đem mấy đứa hỏ này lên lầu cái đã.” 
“Không cần đâu. Chẳng có gì cho chúng nhìn thấy đâu. Tôi chỉ cho bà một ít thuốc để uống. Sẽ có kết quả trong vòng tám giờ. Và ngày mai thì bà không còn phải lo gì nữa cả.” 
“Nếu vậy thì đưa thuốc đây.” 
Bà già lục tìm trong chiếc bao mang theo trao cho mẹ tôi hai hộp gỗ nhỏ, chạm trổ một cách thô sơ hình hai con rồng đang ôm một viên thuốc bọc sáp bên ngoài. Bà già trịnh trọng đặt hai con rồng xuống nền nhà như hai báu vật. 
Rồi bà ngườc lên nhìn mẹ tôi với một vẻ mặt đầy ưu tư: 
“Tôi biết bà không thích tôi nhắc lại câu hỏi lúc nãy, nhưng tôi không thể không hỏi được. Tôi làm cái nghề này thì phải lo cho thân chủ. Bà có chắc là bà chỉ mới có thai ba tháng? Bởi vì bà trông như đang mang bầu sanh ba, hoặc là cái thai là thai voi. Cô kia… ” Bà ta chỉ vào vú Loan. “Cô ta uống thứ thuốc này thì không sao cả. Thấy không, cô ta chưa có bụng có dạ gì cả. Còn bà, tôi không biết được.” 
Đứng tựa lưng vào cửa hầm, ông ngoại tôi lên tiếng: 
“Con gái tôi chửa bốn tháng rồi.” 
“Tôi biết mà. Tôi phải nói cho bà biết, trường hợp của bà có thể thuốc không có hiệu quả gì.” Bà Tâm lắc đầu. “Ngoài ra còn rất nguy hiểm.” 
Mẹ tôi chận ngang: 
“Bà đừng lo cho tôi. Tôi không có cách nào khác, bà thông cảm chọ Tôi không thể có thêm con được nữa. Bà cứ trao viên thuốc chết tiệt đó cho tôi.” 
“Tùy bà.” Bà Tâm rùn vai. “Đây là hai hộp cho hai người. Bên trong là một viên thuốc màu đen. Tối nay, cứ ăn cơm như thường lệ, rồi trước khi đi ngủ thì uống viên thuốc này. Sáng mai thức dậy cái thai sẽ bị trục ra. Dĩ nhiên là có đau đớn và ra máu, đừng lo lắng lắm về chuyện đó. Còn hỏi gì thêm không?” 
“Một viên thôi? Bà nghĩ như vậy là đủ cho trường hợp của tôi không? Tôi có nên uống hai viên không?” 
“Bà? Tôi cũng nghĩ vậy. Còn cô gái kia một viên là quá đủ.” 
“Cho tôi thêm hai hộp.” 
“Như vậy thì nhiều quá đó bà.” 
“Không sao. Cứ đưa thuốc cho tôi.” 
“Tốt!” Bà Tâm thở dài. “Tùy ý bà, nhưng dĩ nhiên là sẽ phải thêm tiền.” 
“Tôi sẽ trả đủ cho bà liền. Nhưng bà cho tôi biết có phản ứng phụ gì không nếu tôi uống thêm liều?” 
“Dĩ nhiên rồi.” Bà Tâm gật đầu. 
“Thì nói ngay đi, cái mụ già này.” 
“Bà còn hỏi gì nữa. Thêm thuốc thì thêm chất độc, thêm chất độc thì ra máu nhiều hơn, đau đớn hơn. Bà muốn thì tôi bán cho, tuy nhiên bà nên suy nghĩ cho kỹ càng. Tôi không cản bà được mà tôi cũng không bảo đảm là thuốc này sẽ có kết quả cho bà. Trong suốt thời gian tôi làm nghề này, tôi chưa hề bán thuốc cho những người chửa quá ba tháng, vì ai cũng nghe lời của tôi, chỉ trừ có bà. Thành ra đừng có hỏi tôi việc gì sẽ xảy ra cho bà. Việc gì xảy ra cho bà tôi không chịu trách nhiệm đâu. Tôi đã cảnh cáo bà trước mặt già đình bà rồi. Bà uống thì rán mà chịu. Hiểu chưa?” 
“Khuôn… ” Bà ngoại tôi lên tiếng. 
“Không sao đâu má.” Mẹ tôi nói. “Con biết con đang làm gì mà.” 
“Có đúng không con? Có đúng con thực sự biết con đang làm gì không con?” Ông ngoại tôi lên tiếng hỏi với vẻ chán nản. 
“Tất cả là bảy chục đồng cho bốn hộp. Tôi bớt mười đồng lấy hên cho bà.” Bà già đứng lên ôm chiếc bọc vào ngực. 
“Cảm ơn.” Mẹ tôi nói trong khi trả tiền cho bà già. 
Không ai nói lời nào sau khi bà Tâm đi khỏi. Bốn hộp thuốc vẫn còn nằm trên mặt đất, với hàng chữ lóng lánh vàng nghệch ngoặc: “Ô Kim”. Phía dưới một hàng chữ khác nhỏ hơn: “Chỉ dùng cho đàn bà.” 
“Loan lấy một hộp.” Mẹ tôi nói với vẻ quả quyết. “Để ba hộp kia lại cho tôi.” 
“Dạ, thưa bà .” 
“Em có nên suy nghĩ lại không Loan?” Mẹ tôi nói với người tớ gái. “Em có quyền giữ cái thai lại nếu muốn. Em không nhất thiết phải làm những việc giống như tôi. Tôi có lý do riêng phải làm như vậy.” 
“Thưa bà chủ, em biết. Nhưng em cũng có lý do riêng của em. Em sẽ uống viên thuốc này.” 
“Vậy thì tùy em. Chúng ta như vậy là đồng hội đồng thuyền. Thôi, lấy hộp thuốc rồi đi lo cơm chiều.” Mẹ tôi thở một hơi dài. Vú Loan cầm hộp thuốc đứng dậy đi khuất vào cánh cửa. Ông bà ngoại tôi trở lại chỗ góc hầm như thường lệ không nói thêm lời nào. 
“Mẹ!” Tôi gọi mẹ tôi sau khi mọi người đi hết. 
Mẹ tôi hơi giật mình, ngước lên nhìn tôi chờ đợi. 
“Chuyện gì vậy mẹ? Mấy cái hộp này để làm gì vậy mẹ?” 
“Không phải chuyện của con.” 
Từ một góc hầm, ông ngoại tôi chen vào: 
“Tại sao không nói cho nó biết. Đừng có giấu nó. Nó cũng có quyền được biết những việc làm của mẹ nó chứ. Giải thích cách nào cũng được chứ đừng có nạt ngang như vậy. Nó không ngu đâu.” 
“Ba đừng có chen vô chuyện này.” Mẹ tôi nói với ông tôi một cách giận dữ, rồi quay sang tôi: “Không có gì đâu con. Mọi chuyện đều tốt đẹp. Những cái hộp này dành cho người lớn. Mẹ uống thuốc này sẽ làm cho mẹ khỏe hơn và nhỏ lại. Không đau đớn gì cả. Con hiểu không?” 
“Nó có làm cho em bé đau không mẹ?” 
Mẹ tôi ngồi bệt xuống sàn nhà run lên bần bật như bị một luồng điện cực mạnh chạy xuyên qua người. Rồi bà chồm dậy, chụp lấy vai tôi, đẩy tôi sát vào bức tường bao cát sau lưng. Bà cúi xuống nhìn sát vào mắt tôi, nghiến răng: “Mày biết gì về mấy viên thuốc này hả cái thằng lõi mất dạy? Nghe cho rõ đây. Không có em bé nào trong bụng mẹ cả nghe chưa. Ai cũng tưởng là mẹ có em bé nhưng không phải vậy. Mấy viên thuốc này là thuốc bổ, làm cho tao khỏe ra để có sức mà nuôi cái lũ chúng mày. Mày mà hở ra cho ai biết chuyện này là tao giết mày, nghe rõ chưa? Đi ra ngoài chơi, đừng có hỏi lăng nhăng nữa. Liệu hồn cái miệng mày.” 
Tôi gật đầu không dám nói gì thêm và cảm thấy những móng tay của mẹ tôi lỏng dần ra trên vai. Những vết bầm do móng tay mẹ tôi gây ra hằn trên da thịt tôi suốt đêm hôm đó.