Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by7 Sơn râu 10 Oct 2023

Đường Lên Núi Rừng 

Đặng Chí Bình

Bài 2

Trời gần trưa đã hừng nắng. Tự nhiên một số đứa nhấp nhổm lố nhố chỉ trỏ nhìn chéo về bên phía trái đường làm cho bao nhiêu con mắt đều hướng về phía đó kể cả hai tên công an vũ trang. Tôi cũng nghểnh đầu liếc theo ra. Từ chéo mải phía trong của một nghĩa trang “liệt sĩ” có hai ngôi mộ nằm song song nhau, đất còn vàng au:

– Mả phi công Mỹ!

Lại có đứa nói:

– Mả phi công của ta nữa!

Lung tung beng, tôi chả hiểu ra sao thì thằng Thu đã ghé vào tai tôi thì thầm:

– Có gì đâu chú! Gần hai tháng trước, ầm cả Hà Nội lên về chuyện màng lưới cao xạ phòng không ở Kỳ Sơn này. Một buổi trưa thấy có hai máy bay quần đuổi nhau từ phía Hà Nội lên đây. Họ tập trung cao xạ bắn như pháo rang. Cuối cùng hạ được cả hai cái đó. Hai phi công lái hai chiếc máy bay đó đều bị chết. Nhưng có một điều là một phi công của ta và một của Mỹ. Vì lộn xộn nên cũng không biết cái nào đuổi cái nào và đều lầm tưởng là máy bay Mỹ cả. Nhất là lúc đó Hà Nội đang có trận không tập của nhiều máy bay Mỹ. Vì vậy họ đã chôn cả hai viên phi công cạnh nhau, cùng một nghĩa trang.

Khi xe đi rẽ vào một con đường thì những đứa trẻ lại nhốn nháo lên; thì ra đã đến trại Kỳ Sơn rồi! Lúc xe ngừng, trong lúc chúng ồn ào, í ới gọi nhau khi được lệnh xuống, tôi chưa biết ra sao nên vẫn cứ ngồi yên.

Con Thanh Móm định mang luôn cả gói đồ xuống cho tôi, thì tên chuẩn úy Nhượng đã hẩy tay ra hiệu:

– Anh ngồi lại đấy!

Chỉ một mình thằng Trung Lý Thu kịp cầm tay tôi lắc lắc:

– Chắc họ đưa chú đi trại trung ương. Thôi, chú đi khỏe nhé!

Tôi chỉ mỉm cười chào lại nó, không nói một lời. Lúc này tôi mới thấy buồn heo hút. Nhìn đàn trẻ ríu rít như đàn sẻ tranh nhau ăn, lòng tôi nặng chĩu bời bời. Biết thân mình trôi dạt về đâu? Nhìn đôi tay chắp lại trong khoen cùm, đến những đàn trẻ đang xếp hàng đôi đi vào cổng trại cho một tên công an đang cầm cái bút và quyển sổ điểm số. Qua chiếc cổng trại bằng tre nứa ghép lại thành một cái khung có chòi gác, tôi nhìn lướt vào phía trong. Có bảy tám dãy nhà tranh dài thượt cứ song song hai cái một. Màu đất của sân, của vách còn ẩm sau trận mưa đêm hãy còn xám xịt. Bao bọc chung quanh trại là hai hàng rào thép gai dựng cao chừng hai mét. Phía ngoài, bên trái trại trong những lùm tre xanh um tùm, có bốn năm cái nhà cũng bằng tranh. Một ngọn cờ máu, sao vàng đang lơ láo ngơ ngác, giẫy dụa trên ngọn một cây luồng dài. Có lẽ đấy là khu của ban giám thị và công an vũ trang coi trại. Nhìn sang phía phải của trại là hai dãy lều xiêu vẹo cột tre, không có vách, trống trơn. Bảy tám con trâu gầy giơ xương. Mắt con nào cũng đầy rỉ, đang nhai rơm do hai đứa nhỏ bốc từ một chiếc xe bò bên ngoài vào.

Một đoàn các cậu loai choai đi hàng dọc, đang từ một con đường hẻm phía sau trại, tiến về phía cổng trại; có một tên công an áo vàng vác súng đi phía sau. Cậu nào cũng è vai gánh hai sọt sắn (củ mì) nặng trĩu, mặt đỏ gay.

Khi đoàn gánh gồng đi ngang qua khu chuồng trâu, một cậu nháy mắt với một cậu đang bốc rơm cho trâu. Cậu gánh sắn, cố lắc gánh đẩy rơi xuống đường một củ sắn bằng bắp tay. Cậu bốc rơm, lợi dụng chờ tên bộ đội phải đi một khúc quành che khuất. Nhanh như một con sóc, xông ra nhặt ngay củ sắn nhét vào cạp quần bên trong tà áo. Nhưng không kịp nữa rồi, tên bộ đội cũng vừa thò mặt ra khỏi chỗ khuất đã nhìn thấy. Y hộc tốc chạy lại quát:

– Mày vừa ra ăn cắp sắn phải không?

Cậu ôm rơm, chừng mười lăm hay mười sáu tuổi, hai cẳng chân đen đũi, khẳng khiu như hai ống nứa ngâm. Mặt tái mét, hai tay chắp vào nhau vặn vẹo lúng túng:

– Thưa chú, cháu không dám! Cháu chỉ ra…

”Bốp” một cái báng súng CKC quật ngang vào hông đã chặn mất câu nói của cậu bé. Cậu ngã đổ vật ra bờ cỏ. Củ sắn từ trong bụng lăn lông lốc ra ngoài. Tên công an định tiến đến đánh nữa, trong khi cậu bé đang cong lưng lên, mồm méo xệch, mặt nhăn như chiếc giẻ. Nhưng không biết y nghĩ thế nào, y chỉ cúi xuống nhặt củ sắn rồi đi theo đoàn tù gánh gồng đang đặt những gánh sắn trước cổng trại chờ điểm số. Trước khi đi, tên công an còn quay lại dứ dứ khẩu súng vào cậu bé đang nằm vặn vẹo.

– Ta tha cho, lần sau đưa vào trại lập biên bản kỷ luật!

Một lúc sau, cậu bé mới lào cào bò dậy. Hai tay ôm bên hông ngắc ngoẻo mà còn ngoái bộ mặt nhăn nhúm lại những gánh sắn đầy ắp xa xa phía cổng trại, như luyến tiếc. Chân cậu chậm chạp đi dần về phía chuồng trâu, khác hẳn với dáng điệu khi ra vồ củ sắn.

Ngồi một mình trên xe cùng với tên công an, tôi ngẩn ngơ theo dõi cảnh đó bầy ra trước mắt. Một tiếng thở dài không chủ định xì xì dần ra như muốn đẩy bớt nỗi tủi nhục đắng cay của những cảnh đời trâu ngựa. Tôi liếc mắt nhìn tên công an đang dựa lưng vào thành xe. Tay y hờ hững cầm khẩu CKC dựng trước mặt; mắt hướng về mấy ngọn tre đang lắc lư với gió bên hông trại.

Giòng suy tư của tôi vẫn cứ chìm nổi miên man, cho tới lúc nhìn thấy một anh chừng ba mươi tuổi, mặc chiếc áo bông rách đã vá chằng vá đụp. Anh ôm một bọc quần áo cũ với hai nắm cơm trèo lên xe. Anh chìa bàn tay xần xùi đưa cho tôi một nắm cơm bọc trong một miếng lá chuối:

– Phần anh đấy, tôi cũng đi trại đây!

Hai tay tôi giơ ra đỡ nắm cơm; chưa kịp nói, hỏi gì thì đã nghe tên Nhượng ở dưới xe đã nghiêm giọng nói với anh:

– Chiếu cố anh là thành phần tự giác tiến bộ, tôi không khóa tay. Nhưng nếu trên đường đi anh lộn xộn tôi sẽ xử lý ngay!

Anh mới lên, mặt tươi hẳn ra, có vẻ xum xoe:

– Thưa cán bộ, cháu đã được ban giám thị cho làm tự giác ở trại này một năm rồi. Án cháu chỉ còn một năm nữa thôi, cháu chả dại đâu!

Nói rồi anh ta ngồi vào một góc thùng xe, bẻ nắm cơm ăn với vẻ hí hửng ra mặt. Thấy thái độ của anh ta như vậy, tôi trở nên rất lạnh lùng như một người câm không biết nói trên suốt đường đi. Xe lại chuyển bánh rẽ ra phía đường cái.

Lúc này mới quá trưa thế mà trời đã sầm lại. Phía Đông Bắc xám xịt, từng cuộn mây đen đang túa về trùm lấp cả bầu trời. Một đàn cò trắng từ những triền đồi trọc phía ấy đang vội vàng theo gió bay về chân trời phương Nam xa xa. Vài nếp nhà tranh chìm lần vào những lùm cây xanh hai bên đường.

Mưa lại bắt đầu nhì nhẹt rả rích của buổi cuối Đông. Từng làn gió Bấc đẩy những luồng lạnh cắt da vào xe. Không gian mờ mịt tím ngắt như cõi lòng tôi lúc này. Lạnh run, tôi muốn lấy cái màn từ trong bọc ra quấn vào người cho đỡ rét, nhưng hai tay tôi loay hoay mãi mà không mở được mấy nút buộc của chiếc tay nải. Chỉ vì tôi không ưa anh ngồi cùng xe, nên nhất định thà chịu lạnh chứ không nhờ. Hình như anh ta cũng thấy nét lạnh lùng của tôi, nên anh ta ngồi quay mặt về phía đầu xe, dựa đầu vào thành xe nhắm mắt.

Bụng đói cật rét, người tôi lạnh run lên. Dù hai tay bị khóa chặt tôi vẫn cố gắng gặm dần nắm cơm hẩm với muối rang mà anh tù tự giác vừa đưa cho tôi lúc nãy. Xe đã chạy được gần một tiếng. Có lẽ bây giờ cũng phải gần hai giờ chiều. Tôi đang nhắm mắt, người vẫn dập dờn rung rinh theo chiếc xe đang lầm lủi trên con đường dài thì những tiếng trống thùng thùng. Rồi tiếng loa gào ré lên: “Nỗ lực, tích cực, tất cả cho vụ mùa Đông Xuân”. Tôi mở choàng mắt ra thì hai bên đường đã là những cánh đồng lúa. Chung quanh xa xa đã có nhiều những dãy núi cao dựng đứng, mây đen phủ kín ngọn. Một cánh đồng trải dài tới chân núi, đây đó đã có nhiều chỗ lúa chín vàng. Hương nồng, ngào ngạt, của lúa chín, lùa vào đầp ắp trong xe.

Qua làn mưa giăng mờ mịt, ở ngay chéo bên một con đường làng ăn ra đường cái, một đoàn đến hai mươi người, đa số là đàn bà con gái. Người thì khoác áo tơi lá, người thì khoác miếng nylon đang cúi gò lưng, bì bõm gặt lúa. Trên bờ cắm mấy lá cờ đỏ đang rũ rượi vì ướt. Hai băng khẩu hiệu trắng chữ đỏ cắm ngay trên đường làng:

“Không bỏ trời mưa, không chừa trời nắng”
“Không xa mặt trời, không rời mặt trăng”

Một anh cũng khoác chiếc ni-lông, đội mũ cối, cầm chiếc loa đi trên bờ đang hò hét. Xe đã chạy xa rồi, tôi chỉ còn trông thấy chiếc loa khua lên, khua xuống nhưng không nghe thấy lời. Nhìn cảnh người nông dân cặm cụi làm việc trong cái lạnh cắt da, tôi chợt nhớ đến một bài học thuộc lòng khi tôi lên mười, hay mười một tuổi, học tiểu học dưới chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” ở quê tôi:

“Hôm qua, hôm nay, lại ngày mai.

Người dân quê còng lưng cho khó nhọc.

Từ ngàn năm đè chĩu lấy hai vai.

Họ làm việc, làm việc và làm việc.

Từ tinh sương dậy trước cả đàn gà.

Đêm tối mù giá lạnh sương sa”.

Bài học thuộc lòng này, những người cộng sản đã khêu gợi, nêu lên những nỗi đắng cay, lầm than, tủi nhục của người nông dân dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân phong kiến. Tuy hai thời đại, nhưng vẫn cùng một cảnh đời. Có hơi khác. Cũng vẫn gò lưng bì bõm đất trong mưa phùn gió bấc. Nhưng bây giờ có trống, có loa và có cả khẩu hiệu. Còn một điểm khác nữa do công lao của người cộng sản: ngày xưa người nông dân gặt lúa xong phải đưa về nhà. Còn bây giờ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt, lương tâm của loài người thì người nông dân gặt xong được gánh lúa đó lên nhập kho của nhân dân.

Mải đắm chìm trong mớ bòng bong thế sự ngược xuôi, chiếc xe ngưng lại lúc nào tôi không hay. Cho đến lúc thấy tên công an vũ trang nhẩy xuống đường rồi quay lại xẳng giọng:

– Đi xuống!

Tôi hơi bàng hoàng, vội vàng kéo bọc quần áo về cuối thùng xe. Loay hoay mãi tôi mới xuống đất được. Trời vẫn sụt sùi mưa bay nhè nhẹ. Một con đường đất chênh vênh ngoằn ngoèo chia hai ba ngã. Nẻo nào cũng khuất hút vào những triền đồi bạt ngàn là sắn và khoai lang. Ngay phía trái trên một bãi bằng rộng là một bức tường thành xây bằng đá hộc cao 4-5 mét. Bên trên tường chăng nhiều đợt dây thép gai, nhiều chỗ đã ngã xiêu vẹo. Dưới chân, lau, cỏ đã mọc có chỗ đến lưng bức tường. Ngay mặt đường, cách khoảng 300 mét phía đầu xe là một chiếc cổng to xây kiên cố. Hai cánh cổng không còn nữa. Bên mép tường chỉ còn lại những chiếc bản lề to tướng đã cáu rỉ.

Bên trên cổng là một căn nhà lầu có nhiều phòng quét vôi vàng đã loang lổ. Nhìn chéo vào bên trong cổng, không còn một căn nhà nào. Rải rác đây đó là những đống gạch vữa trên những nền nhà cao thấp, cỏ dại mọc um tùm. Chứng tỏ chỗ này đã bỏ hoang phế hàng năm. Dù tôi chưa có ý niệm một trại tù tuy chưa biết vì sao lại bỏ hoang.

Tên Nhượng sau khi đã dặn dò người tài xế, y quay lại tôi và anh tù hình sự (dọc đường tôi đã biết, khi nghe anh ta nói chuyện với tên công an vũ trang). Tay y chỉ con đường dốc phía bên phải:

– Đi theo con đường kia!

Đến lúc này tôi buồn đi tiểu quá rồi nên tôi nói thẳng với y. Thật là buồn cười. Gần một ngày trời ngồi chết dí ở trên xe thế mà y còn nhìn tôi với ánh mắt vừa nghi ngờ vừa khó chịu. Cuối cùng, y quay lại tên vũ trang:

– Đồng chí đưa anh ta đi tiểu!

Chỉ là một bụi cây dại ngay gần cạnh mé đường, thế mà tên công an cũng phải cầm súng đi sát ngay phía đàng sau. Thật là khó khăn lúng túng chỉ vì hai tay chặt cứng trong khoen cùm. Tuy đau mỏi rã rời, tôi cũng phải mỉm cười: đi tiểu cũng có kẻ cắp súng theo hầu. Hai tên công an to khỏe lực lưỡng, một tên súng dài, một tên súng ngắn mà vẫn phải nể sợ một thằng tù gầy ốm khỏng khoeo. Chúng không dám mở khóa tay cho tôi. Cũng vì vậy, trên đường đi tôi thật vất vả với bọc quần áo.

Đường dốc, ướt át trơn như xoa mỡ. Từng luồng gió lạnh như kim châm vào da thịt. Cảnh núi rừng hoang vắng trong mưa. Tấm thân gầy gập ghềnh bước cao, bước thấp ngã nghiêng. Đường lầy lội có hai tay làm thăng bằng thì dễ đi. Hai tay đã chắp lại, rồi phải xách gói đồ nên khi đến một đoạn chênh vênh ngang lưng đồi, tôi bị trượt chân ngã nằm ngửa hơ hơ. Bọc quần áo tung mãi vào vườn sắn bên cạnh đường. Quần áo tay chân đầy bùn đất, tôi phải cố gắng nhiều mới đứng dậy nổi.

Chắc hai tên công an cũng đã thấy nỗi cực nhọc, khó khăn của tôi. Phần khác, chúng thấy tôi đi thật chậm chạp, tên Nhượng chỉ tay lớn tiếng với tên hình sự:

– Anh hãy ôm bọc quần áo cho anh ta!

Tôi ngạc nhiên, vì thấy mặt anh tù hình sự tỏ ra rất tươi, lăng xăng đến ôm gói đồ của tôi. Chỉ một lúc sau tôi đã hiểu: Anh ôm gói đồ chẳng phải vì muốn giúp tôi mà là anh thích thú được làm theo lệnh của tên công an.

Con đường đi dần vào một rừng nứa rậm um tùm. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nứa rừng, rậm rạp với những ngọn cao lêu nghêu đầy lá, đang vật vờ ngã nghiêng theo từng cơn gió. Những cành lá rũ rượi lao xao, xào xạc như tiếng rền rĩ than van triền miên của núi ngàn cô tịch. Vài tiếng chim hú lên, mãi trong rừng sâu càng làm cho lòng tôi thêm lạnh. Những hạt mưa bay dồn cuốn vào nhau từng đợt phả vào mặt người như xát muối. Đôi tay lạnh cóng trong khoen cùm cứ phải giơ ra ngoài mưa gió.

Xa xa chéo phía dưới chân đồi trước mặt, một lá cờ đỏ ối đang vật vờ giẫy giụa, giữa cái nền xanh đen bạt ngàn của núi rừng. Đây đó khuất nẻo trong những lùm cây, mấy dãy nhà tranh thấp thoáng nằm rải rác chung quanh chiếc cột cờ mầu trắng.

Tôi cứ lần mò lê bước trên con đường mòn gồ ghề chênh vênh ướt át. Khi đến một lối rẽ xuống một triền đồi trọc, một đoàn tù hơn 30 người đang đánh luống trồng khoai lang ngay cạnh đường đi.

Tôi bàng hoàng bâng khuâng dõi mắt nhìn. Họ còn quá trẻ, chỉ từ 18 đến 25 là cùng. Quần áo đủ kiểu lam lũ rách vá tả tơi, không đủ che kín những tấm thân gầy khẳng khiu co ro, run rẩy trong mưa phùn gió bấc. Người cuốc, người xẻng, cứ hai người một luống đất dài. Ở một góc xa, trong chiếc lều con ọp ẹp che bằng mấy tấm phên nứa, một tên công an áo vàng đang ngồi chỉ trỏ gì đó với một anh tù đang đứng khóm róm cạnh lều. Ngay trên đường, một tên công an vũ trang trùm kín cả người và súng bằng một chiếc áo tơi nhựa mầu xanh bộ đội. Y đang đi đi lại lại coi đoàn tù lao động.

Khi còn ở Hỏa Lò, tôi đã được nghe nói nhiều về những người tù phải đi lao động ở các trại giam trung ương. Nhất là khi tôi được biết, rồi tôi sẽ phải đi tù ở những nơi đó. Tuy vậy, tôi vẫn chưa thể hình dung đầy đủ được những cảnh đời tù tội nơi núi rừng biên cương hẻo lánh. Lúc tôi đi ngang qua, nhiều người dừng cuốc đưa những đôi mắt trắng xám trân trân nhìn theo.

– Tù mới chúng mày ơi!

– Cán bộ thì phải!

Những âm thanh cụt ngủn, dội lên rồi tắt ngủm trong mưa Đông. Họ sẽ nghĩ gì khi thấy súng dài, súng ngắn áp giải một người bị khóa chặt đôi tay; lại còn có một người ôm bọc quần áo theo hầu nữa.

Tên Nhượng, mắt vẫn hướng về khu có lá cờ. Lạnh lùng, hắn không hề một lời chào hỏi tôi với người đồng chí của hắn ở bên đường.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 10 Oct 2023

Giã Từ Hỏa Lò

Đặng Chí Bình

Bài 1

Mưa vẫn nhì nhẹt rả rích lê thê, gió Đông hàn từng làn tái tê, vẫn gầm rít vi vu, cả bầu trời xám xịt đìu hiu. Chiếc xe vẫn nặng nề, lầm lủi tiến ra ngoại thành, phía Bắc Hà Nội.Từ nãy, tâm tư tôi đầp ắp bao nhiêu nỗi niềm đầy vơi trong nỗi chia cắt, mối yêu đầu của người con gái đất Hưng Yên nhiều màu mỡ và trong cảnh giã biệt Hỏa Lò, nơi sáu năm dài đằng đẵng, chồng chất bao nhiêu cuồng phong bão tố của đời tôi.Những hình ảnh lúc chia ly ở cổng Hỏa Lò, đang bao trùm đè nặng tâm trí tôi. Mắt tôi mở nhưng như mơ, chẳng nhận rõ vật gì, thì đột nhiên một tiếng quát giật giọng “Đứng lại” của một tên công an vũ trang, làm tôi bàng hoàng như choàng tỉnh một cơn mê.Chiếc xe ọp ẹp cũ kỹ đang từ từ ngừng lại. Nhanh như một con sóc, tên công an vũ trang vừa quát đã nhảy xuống đường. Tên cảnh sát ngồi ở trên chỗ tài xế cũng đã nhảy xuống theo. Hai tên đang hộc tốc đuổi theo một chiếc bóng con con chạy lủi vào một đám cây xanh, phía bên phải đường. Thì ra đây đã là con đường lên Hòa Bình, đã xa Hà Nội rồi.

“Đoàng!” Một tiếng súng nổ rổn rang vào mưa Đông, rồi hai tiếng súng nữa liền nhau. Một tiếng hét rống lên như con dê bị thọc tiết, trải dài vào mưa gió nghe thật thê lương thảm thiết. Trong xe ồn ào, nhiều đứa trẻ nhấp nhổm nhớn nhác. Tên công an vũ trang còn lại trên xe vật ngang khẩu CKC, lách cách lên đạn quát:

– Tất cả chúng mày ngồi im, đứa nào lộn xộn tao xử lý!

Lúc này tôi mới để ý toàn bộ trong xe; ngoài gần hai chục đứa nhừng nhừng nhỡ nhỡ lại có sáu, bảy đứa con gái, trong đó có hai đứa lớn, mười lăm, mười sáu tuổi. Tôi nhớ lại lúc ở cổng Hỏa Lò, khi lên xe vì tay tôi bị khóa thằng Trung Lý Thu đã quát con Thanh Móm: “hãy ôm gói đồ cho chú Bình”.Thế mà tâm hồn tôi đã bị người Hưng Yên cuốn hút hết, đến bây giờ con Thanh Móm ôm gói đồ quần áo của tôi, ngồi ngay bên cạnh mà tôi đâu có để ý.Tôi lướt mắt nhìn thằng Trung Lý Thu, thằng Tiến Ga, con Tuyết Còi và con Thanh Móm, những đứa lớn nhất và có vẻ tinh nhanh nhất, đứa nào cũng ngồi yên phăng phắc, mắt đều lấm lét nhìn qua làn mưa giăng về phía những tiếng nổ và tiếng thét khi nãy.

Kia rồi, trong màn mưa bay dầy hạt, từ phía một cái hủng đất cây lá rậm xì. Một bên là tên công an vũ trang, một bên là tên cảnh sát ở Hỏa Lò đang xách hai tay của một đứa nhỏ, chừng mười bốn mười lăm tuổi. Người nó ốm nhom như con chão chàng. Một bên mắt sưng tím gồ lên như một quả ổi, máu đang rỉ ra theo nước mưa chảy xuống đỏ cả mặt. Chiếc chân phải đã gãy lìa từ dưới đầu gối, lủng lẳng trong ống quần, cũng đã bị rách còn dính một tí. Chiếc ống quần đỏ lòm lẫn với bùn đất của nó, đang dật dờ nhấp nhô theo chỗ đất cao thấp mà hai tên công an đang kéo lê đi.Mấy tiếng ồn ào thốt ra từ lũ trẻ đang ngồi:

“thằng Hoàng Sún chợ Mơ”.

Đã về đến xe, mắt thằng Hoàng nhắm nghiền, mồm dề ra méo xẹo, vẫn rên rỉ:

– Lạy các chú tha cho cháu, cháu xin chừa, cháu muốn về với mẹ cháu!

Từ ở trong mấy đường hẻm, hai bên đường đã có năm sáu tên du kích đeo súng ống nhớn nhác chạy tới. Những cặp mắt mở to băn khoăn, háo hức muốn biết là chuyện gì. Một chiếc xe Commanca bộ đội chạy ngược chiều, đến đó cũng dừng lại. Ba bốn tên đeo quân hàm trung úy, thiếu úy chạy bổ sang ngơ ngác. Chúng nhìn toàn bộ suốt lượt trên xe, rồi nhìn thằng Hoàng Sún, bây giờ đã được xách bỏ lên phía cuối xe. Quần áo ướt át đầy bùn đất, lẫn với máu đang gào ư ử như con lợn bị cắt tiết đã ra gần hết máu, miệng nó vẫn thều thào hổn hển ngắt quãng:

– Lạy…các…chú…tha…cho…cháu!

Tên cảnh sát Hỏa Lò quay lại lạnh lùng nói với những tên bộ đội và du kích như muốn xua đuổi đi:

– Có gì đâu, trốn tù đấy mà!

Nhưng một tên trung úy bộ đội, chừng ba mươi tuổi nghiêm mặt, tay chỉ vào chiếc chân gẫy của thằng Hoàng Sún:

– Đồng chí phải đưa nó vào bệnh viện băng cho nó ngay. Máu ra và bùn đất thế kia thì nó chết mất!

Mấy tên công an tỏ vẻ rất bực bội, cuối cùng tên cảnh sát Hỏa Lò nhìn thẳng vào tên trung úy gằn giọng:

– Chúng tôi có công vụ đặc biệt, không phải đi chơi!

Nói rồi y ra hiệu tay cho tên công an vũ trang:

– Lên xe đi, muộn rồi!

Xe đã chuyển bánh. Những tên bộ đội và những tên du kích nét mặt người nào cũng trầm tư, vẫn đứng dưới mưa bay nhìn theo chiếc xe. Họ nghĩ gì, thì làm sao tôi biết được. Nhưng có một điều, dù họ có nghĩ gì chăng nữa. cũng không thể rời khỏi cái nồi cơm, là chỗ họ đang đứng hiện nay trong xã hội này.Tiếng máy xe già cũ kỹ vẫn rống lên trên con đường lồi lõm đầy ổ gà, cũng không làm át được tiếng rên đau đớn, quằn quại, nghe đến não nùng của thằng Hoàng Sún.Nhìn bàn chân gãy đã xám đen trong bùn và máu; nhìn chỗ đầu gối nó một mảnh xương vỡ nhọn hoắt phủ mấy miếng thịt lầy nhầy đã xám ngoét, máu vẫn rỉ ra, người tôi nóng lên. Liếc nhanh hai tên công an, thằng Trung Lý Thu; rồi nhìn đôi tay trong khoen cùm, tôi mạnh bạo quay sang con Thanh Móm nói to:

– Cháu cởi bọc của chú ra lấy một cái quần trại đưa cho thằng Thu nó quấn buộc chặt phía trên đầu gối cho nó, đừng để máu chảy mãi!

Con Thanh hơi rụt rè, lấm lét nhìn tên vũ trang, nhưng rồi nó đứng dậy làm ngay. Thằng Thu lách ra khỏi chỗ, hăm hở buộc quấn cho thằng Hoàng Sún. Hai tên công an mặt vẫn lạnh lùng, không nói một lời. Chúng vờ quay đi nhìn cảnh vật hai bên đường. Thấy vậy, thằng Tiến Ga cởi ngay cái ruột áo bông nó đang mặc, đắp cho thằng Hoàng. Bây giờ mặt thằng Hoàng đã xám đen lại; vết thương ở trên mắt nó không còn chảy máu nữa. Có mấy đứa thốt lên “nó chết rồi”, nhưng một tiếng rên ai oán như xé tim người nghe, rồi vẫn những tiếng thều thào, lảm nhảm không rõ: Lạy… chú…!

Chúng tôi đều đưa mắt nhìn nhau, mặt rầu rầu. Con Thanh Móm và một đứa con gái nhỏ nước mắt đoanh tròng. Nhiều đứa khác, mắt cũng đỏ lên. Con Thanh gục hẳn vào vai tôi, vai nó cứ run lên thổn thức. Có lẽ nó cũng chạnh nỗi niềm cho cuộc đời lầm than gió bụi không nhà không cửa của nó chăng? Chính tôi, lòng cũng quặn thắt, rối bời. Nhìn quê hương, dân tộc lầm than rên xiết, rồi nghĩ đến chính mình, tấm thân tù tội đang đi vào rừng sâu nước độc tăm tối nơi đâu. Nhìn những giọt nước mắt thơ ngây thổn thức vơi đầy của chúng, tôi có cảm nghĩ rằng đây cũng là nước mắt của tôi đang khóc cho quê hương, tuổi trẻ và cuộc đời.

Đột nhiên thằng Hoàng Sún thét rống lên một tiếng rồi giãy đành đạch. Mắt nó mở to trợn trắng dã, làm những đứa ngồi gần nó xô dúm lại với nhau. Mồm nó cứ nhóp nhép nói kêu cái gì đó nhưng không nghe thấy tiếng. Đôi tay và chân nó xuội dần rồi im bặt. Hai bên mép nó rỉ ra hai giòng máu tím xậm. Đôi mắt chỉ còn lòng trắng cứ tưởng như đang ngước lên nhìn tên công an vũ trang ngồi trên ghế, chếch phía đầu nó để xin chú tha cho. Chiếc quần trại của tôi quấn buộc chỗ đùi nó, bây giờ ướt đẫm máu. Những đứa con gái bắt đầu kêu gào, khóc râm ran cả lên. Ngay nhiều đứa con trai cũng la hét om sòm. Bây giờ thì chính mắt của tôi cũng thấy cay cay, cồm cộm rồi. Xe đỗ lại, tên chuẩn úy cảnh sát Hỏa Lò mở cửa xuống xe. Y tiến lại nhìn vào xác thằng Hoàng Sún lúc này đã nằm duỗi dài phía sát cuối thùng xe. Mồm tóm tém, mắt y quắc lên sắc lạnh:

– Chúng mày khóc cái gì? Im ngay! Đứa nào muốn trốn, trông gương đấy, tao sẽ bắn bỏ hết!

Tiếng quát của y đã làm tụi trẻ con im bặt, đưa những đôi mắt trắng dã lấm lét sợ sệt nhìn y. Hai tên công an vũ trang và y lùi ra bàn với nhau một lúc, trong khi tên tài xế chừng bốn mươi tuổi, cũng mặc bộ đồ vàng công an nhưng không đeo quân hàm, đi xuống cúi vào nhìn xác thằng Hoàng rồi lại lạnh lùng lên xe ngồi. Hẳn y đang cho đây cũng chỉ là một câu chuyện bình thường, y có lạ đâu. Đã gần mười giờ, mưa bay đã tạnh, trời hừng sáng dần. Chúng trao đổi với nhau lâu lắm. Có lẽ chúng thấy để xác thằng Hoàng trên xe, không có cái gì che đậy mà đưa đến trại sẽ tác động đến tư tưởng của nhiều đứa khác, lại còn ảnh hưởng đến chính trị nữa. Cuối cùng tên chuẩn úy, một mình đi rẽ vào một đường giong về phía làng xóm bên trong.Một tên công an vũ trang ra phía hông xe đem theo một cuộn dây thừng dài, hì hục buộc những mép bạt. Chỗ khi sáng thằng Hoàng đã lợi dụng lúc xe chậm chạp bò lên dốc, nhẩy xuống chạy trốn.

Khoảng nửa giờ sau, tên chuẩn úy Nhượng (Tiến Ga đã cho tôi biết tên, y mới đổi về Hỏa Lò) từ trong đường hẻm đi ra với một tên khoảng ngoài bốn mươi mặc áo bốn túi. Theo sau có hai tên thanh niên du kích cấp một chiếc chiếu rách. Chắc chúng đã trao đổi với nhau từ trước. Đến xe, sau khi tên mặc áo bốn túi ngó qua xác thằng Hoàng, y hất hàm ra hiệu cho hai tên du kích nhấc xác thằng Hoàng, bỏ vào chiếc chiếu đã trải sẵn dưới đường. Chúng quấn lại rồi mang vào một đường hẻm khác chỗ nhiều cây cối rậm xì. Tên mặc áo bốn túi còn đứng lại nói gì một lúc với tên Nhượng rồi mới đi theo về phía hai tên du kích. Xe lại bắt đầu chuyển bánh. Tôi nghĩ đến chiếc quần của tôi sẽ theo thằng Hoàng về lòng đất lạnh, rồi tôi liên tưởng đến những tiếng kêu xin của thằng Hoàng trước khi chết. Bây giờ nó đã đạt được ý nguyện là các chú đã đồng ý thể hiện lòng nhân đạo của Đảng, tha cho nó về với mẹ!Chuyện của thằng Hoàng cứ ám ảnh lòng tôi. Tôi cúi gầm, óc cứ miên man suy nghĩ về những cảnh đời, của những kiếp người thì có tiếng thì thào vào tai tôi:

– Bố mẹ nó ở chợ Mơ. Bố nó là bộ đội phục viên đấy chú ạ!

À thì ra thằng Trung Lý Thu. Trong lúc lộn xộn nó đã len lách ngồi bên cạnh tôi từ lúc nào. Tôi liếc nhìn tên công an, rồi quay lại cũng nói nhỏ:

– Cháu hãy nhớ lấy địa điểm này, khi nào được tha ra nhớ về báo cho bố mẹ nó biết.

Nó đặt một tay lên chiếc còng số 8 của tôi vừa mân mê vừa nói thì thầm:

– Chú yên trí, chẳng cháu thì nhiều đứa khác nó cũng về báo.

Trẻ con thì cũng thường dễ vô tâm. Mới lúc nãy, đứa thì khóc, đứa thì kêu, dúm dó sợ sệt, thế mà bây giờ đã lại trêu chọc nhau chuyện trò ầm ỷ, để tên công an vũ trang thỉnh thoảng, lại phải quay vào đe nẹt.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 9 Oct 2023

Bài 10
Dì O nói đúng. Ngôi trường tư thục nơi tôi theo học hai tháng trước đây bây giờ trở thành trụ sở phường. Cộng sản để cho mấy vị mục sư và dì phước ở trong ngôi nhà nhỏ dành cho mục sư trong thời gian chờ đợi, nhưng nhà thờ thì bị đóng cửa và trường học bị trưng dụng thành cơ sở nhà nước. 
Mẹ tôi bước vào văn phòng hiệu trưởng và qua lớp cửa kính mờ mờ chỉ thấy một dáng người ngồi phía sau bàn viết. Gần cửa ra vào, một chiếc bàn nhỏ kê sát vách tường. Một người đàn bà mặc áo quần công an ngồi phía sau chiếc bàn đó chận mẹ tôi không cho đi xa hơn. Phải mất một giây mẹ tôi mới nhận ra chị ta . Chỉ mới mấy tháng trước đây, chị ta còn là một công nhân hốt rác, thường hay tới khu nhà bếp của dì O bằng cửa sau để nhận thức ăn thừa cho các con mình. 
Nhìn thấy mẹ tôi, nét mặt chị ta hằn lên một nỗi ganh ghét. Chị nhướng mày nhìn mẹ tôi từ đầu tới chân: 
“Tôi tới đây đăng ký hộ khẩu cho gia đình.” Mẹ tôi nói. 
“Chị trốn ở cái xó nào vậy hả? Ba tuần lễ. Chị cút ở đâu?” Chị ta hỏi. 
“Tôi và gia đình bị kẹt trong Sài Gòn. Chúng tôi đã cố gắng để về sớm.” 
“Láo! Quân phản cách mạng! Chị trốn ở đâu, làm cái gì chúng tôi biết hết.” Chị đàn bà công an rút tờ giấy trên bàn ném cho mẹ tôi: ” Muốn gặp khóm trưởng thì ngồi chỗ kia điền vào đơn này. Chị làm được không? Có cần tôi nhắc lại không?” 
“Tôi hiểu, cảm ơn.” Mẹ tôi lầm bầm. 
Phía trước bàn công an, đối diện với bức vách có một dãy ghế. Có bảy người đang chờ trình diện khóm trưởng. Ông ta đang ngồi một mình trong phòng không tiếp ai cả. 
Lúc mẹ tôi định bỏ cuộc thì một giọng nói vang lên từ phía sau cánh cửa làm mẹ tôi thấy rờn rợn nơi sống lưng. Giọng nói đó nghe rất quen thuộc, vì đó chính là giọng của người làm vườn cho mẹ tôi trước đây “Đồng chí Sáu.” Ông ta nói. “Có phải bà chủ Khuôn đó không? Cho bà ta vào. Tôi đợi bà ấy lâu rồi.” 
Trong phòng, người làm vườn của mẹ tôi, ông Trần ngồi dựa ngữa trên ghế, hai chân trần gát lên mặt bàn. Lòng bàn chân ông ta chai thành từng cục và dơ bẩn, móng chân chỉ còn là những mãng da chai cứng do hậu quả của nhiều năm làm việc trong bùn. Mới không lâu trước đây, công việc của ông ta là trồng và chăm sóc nhiều loại hoa quý trong sân trước nhà tôi. Mặc dù ông ta làm việc rất giỏi, chẳng có người nào trong nhà nhớ được là đã có lần nào tiếp xúc chuyện trò với ông, trừ mẹ tôi, mà việc tiếp xúc của bà cũng chỉ để sai bảo làm cái này cái nọ. 
Nói chung, cái ông Trần mới này cũng chẳng khác gì ông Trần mà mẹ tôi đã biết. Mẹ tôi vẫn nhận ra mấy chiếc răng hư của ông ta, vẫn còn hai chiếc răng cửa hàm trên lòi ra đâm thẳng xuống hàm dưới làm khuôn mặt ông trông có vẻ gian xảo láu lỉnh như một con thỏ tinh khôn. Tuy nhiên mẹ tôi cũng nhận ra được hai điều đổi khác nơi ông. Thứ nhất là nụ cười đắc thắng luôn nở trên môi. Thứ hai là ông ta không còn mặc áo rách nữa mà là một bộ đồ đen ủi thẳng

nếp. 
“Lâu không gặp bà, bà chủ Khuôn.” Ông ta nói với mẹ tôi khi bà bước vào. “Vườn hoa của bà ra sao? Vẫn còn trổ bông chớ hả?” 
” Ồ… Thưa ông Trần… ” Mẹ tôi ngập ngừng tìm lời. “Tôi không… tôi không được biết… Chắc ông cũng biết là tôi rất bất ngờ khi gặp ông ở đây. Tôi xin lỗi… ” 
Ông ta khoát tay: “Bà không cần phải xin lỗi. Được ngồi đây và chứng kiến sự ngạc nhiên trên mặt bà tôi cũng mãn nguyện rồi. Cái vườn hoa của bà ra sao rồi? Cây kiểng nữa?” Ông ta lập lại câu hỏi lúc nãy, vừa quan sát những biến đổi trên khuôn mặt mẹ tôi với một sự khích động mãnh liệt. 
“Tôi không còn một cây kiểng nào cả. Một số bị ăn cắp, một số bị chết. Nhưng như vậy cũng tốt, vì tôi không cần chúng nữa. Nhưng thưa ông, xin ông đừng gọi tôi là bà chủ nữa. Tôi bây giờ chỉ là một người đàn bà bình thường, trong khi ông là người trên trong khóm. Ông nói đùa như thế, chắc ông không biết là tôi rất ái ngại trong lòng.” 
“Tôi hiểu rất rõ những cảm giác của bà bây giờ. Tuy nhiên, tôi không giởn với bà, thưa bà. Bà có biết tại sao tôi hỏi bà về khu vườn của bà không?” 

“Dạ không, thưa ông. Rất tiếc là tôi không biết. Ông Trần, tôi biết cái vườn hoa đó đẹp là nhờ công lao chăm sóc của ông. Nó luôn luôn là vườn hoa kiểu mẫu, là một niềm vui cho nhiều người.” 
“Ha! ha! Nhưng tôi vui không nổi. Tôi làm việc như một người nô lệ cho cái bọn nhà giàu kiêu căng phách lối của bà trong bao nhiêu năm quạ Tôi không cần biết nó đẹp tới cỡ nào. Tôi chỉ biết là tôi phải đổ mồ hôi và máu của tôi lên cái mảnh đất khốn nạn đó. Tôi hỏi bà là vì tôi muốn nói cho bà biết chính tôi là người đã phá hủy tất cả những cây cối khốn nạn trong cái vườn của bà đó” Giọng ông ta rít lên đầy phẫn nộ. “Bà có biết là tôi chán ghét bà và cái công việc bà bắt tôi phải làm đó tới mức nào không? Tôi thù những buổi tiệc tùng của bà, cái đời sống xa hoa phung phí của bà và cái thái độ ngạo mạn khinh người của bà. Tôi thù ghét cái cảnh ngày ngày bà ngồi trước gương, săm soi chải chuốt tô vẽ mấy cái móng taỵ” Ông ta nhổ một bãi nước miếng xuống mặt đất. “Tôi chỉ tiếc cái là bà không có mặt ở đó để chứng kiến cảnh tôi và những đồng chí của tôi phá sập cái dinh thự của bà. Đã lắm! Nhưng bây giờ tôi phải hỏi bà kẻo quên, hôm nay bà muốn tôi làm gì cho bà đây, thưa bà Khuôn?” 
Mẹ tôi ngồi phịch xuống ghế, và rán giữ bình tỉnh nhưng giọng vẫn run run: 
“Tôi không ngờ đã làm ông buồn lòng đến như vậy. Tôi cứ tưởng là ông thích công việc đó. Tôi không cố tâm đối xử bất công với bất cứ ai. Thành thật xin lỗi ông.” 
“Câm miệng lại. Bà nên để dành những giọt nước mắt cá sấu đó cho người khác. Tôi chỉ muốn biết bà đến đây làm gì?” 
“Tôi đến đăng ký hộ khẩu cho gia đình.” 
Ông ta đứng dậy, lấy tập giấy và cây viết ném lên đùi mẹ tôi. 
“Tốt lắm. Bà cầm cuốn tập này sang phòng bên cạnh ngồi đó. Bà phải suy nghĩ cho kỹ trước khi viết, và tôi muốn bà thành thật khai báo tất cả những việc bà đã làm trong quá khứ. Tôi muốn tất cả những việc mà tôi biết, tôi từng chứng kiến trong các năm qua tại ngôi biệt thự đó phải được chính cái bàn tay kiêu ngạo phách lối viết ra, hiểu chưa?” 
“Vâng, thưa ông.” 
Mẹ tôi ngồi hai tiếng đồng hồ để kể lại cuộc đời của bà qua mười trang giấy. Sau khi đã đọc kỹ nội dung, mẹ tôi đứng dậy bước đến cửa phòng ông Trần. Bên ngoài đã có thêm hai người nữa vào đợi với bảy người đã có mặt từ sáng. Người đàn bà công an đã bỏ đi. Mẹ tôi gõ cửa và được ông ta cho vào. Vào đến bên trong rồi, mẹ tôi đưa cho ông ta tập giấy. 
Không buồn ghé mắt vào đọc lấy một chữ, ông ta xé toẹt xấp giấy. Ông ta lắc đầu, chỉ ngón tay vào mẹ tôi, hai hàm răng rít lại: 
“Chưa thành khẩn! Viết lại.” 
Mẹ tôi phản đối: 
“Nhưng ông chưa đọc.” 
“Chưa thành khẩn! Viết lại.” Ông ta lập lại.” 
Sau ba lần viết đi viết lại như vậy, mẹ tôi bắt đầu hiểu ra đây chỉ là một trò chơi của ông tạ Cứ như vậy, ngồi một mình trong phòng, mẹ tôi kể lại cuộc đời bà, hết trang này đến trang khác, hết lần này đến lần khác. Hết giấy, ông Trần lại thảy cho mẹ tôi tập khác. 
Sau tám lần xé những xấp giấy khai báo của mẹ tôi, ông Trần nhận thấy mẹ tôi không còn đáng ngại nữa. Ông nói: 
“Bà vẫn chưa thông suốt, đúng không?” 
“Tôi thật sự không hiểu ông muốn tôi làm gì, thưa ông?” Mẹ tôi đáp lặng lẽ. “Tôi đã ngồi đây khai báo suốt ngày, không ăn uống gì cả, và lại đang mang thai. Các con tôi đang đợi ở nhà. Nếu ông không muốn thấy mặt tôi nữa, xin ông tha cho tôi được về để săn sóc cho các con; tôi sẽ đi khuất mắt ông ngaỵ” 
“Như vậy chẳng hóa ra dễ dãi cho bà quá à, bà Khuôn? Bà muốn tôi làm như vậy à? Hay là bà muốn tôi gởi bà và gia đình bà vào trại cải tạo để cho bà học tập thêm?” 
“Thưa ông, tôi không muốn vậy. Tôi chỉ muốn đắng ký cho gia đình, tôi chỉ muốn có hộ khẩu hợp pháp. Những việc tôi làm trong quá khứ đã qua rồi, tôi không còn có thể thay đổi được nữa. Tuy nhiên bất cứ những việc gì ông nghĩ là tôi đã làm sai trong quá khứ, tôi cũng chưa hề làm việc gì chống lại nhà nước. Tôi không giữ chức vụ gì trong chế độ cũ, tôi cũng không cầm súng bắn lại những người cộng sản. Tôi không phải là kẻ thù của ông.” 
“Ngồi xuống đó.” Ông ta ra lệnh và nhìn mẹ tôi như nhìn một con sâu, ông ta nạt: 
“Bà là tên tư bản, như vậy là kẻ thù của tôi.” 
“Tôi từng là một tư bản.” Mẹ tôi cãi lại. “Nhưng bây giờ tôi mất hết không còn một đồng. Tôi bây giờ là một người đàn bà nghèo, không một xu dính túi, giống như nhiều người khác. Và tôi cũng không ngại chuyện phải bắt đầu lại từ con số không.” 
“Còn cái tòa lâu đài nhà Nguyễn thì sao? Bà vẫn còn làm chủ chớ?” 
Mẹ tôi không trả lời. 
Ông ta dựa ngữa ra trên chiếc ghế da, mĩm cười: 
“Bà vẫn còn coi mình là người nghèo, không một đồng xu dính túi không bà Khuôn?” 
“Ông muốn tôi làm sao?” Mẹ tôi buông xuôi. 
“Tôi muốn bà thấy rằng hễ bà còn tài sản, tư hữu thì bà và chính quyền miền Nam là kẻ thù. Chúng ta đang xây dựng một xã hội mà mọi thứ là của chung của mọi người.” Ông ta chồm sát vào mặt mẹ tôi, hơi thở nồng nặc mùi hôi. “Bà là vật cản trên con đường tiến đến tương lai của chúng tôi. Những loại người như bà phải bị tiêu diệt để chúng tôi có thể tiến tới.” 
“Ông muốn tịch thu căn biệt thự, phải vậy không?” Mẹ tôi hỏi. 
“Theo tôi biết, căn biệt thự không phải là tài sản duy nhất của bà. Chúng tôi có lấy một phần tài sản của bà, coi như bà chứng tỏ lòng thành khẩn với chính quyền mới thì có gì sai đâu?” 
Ông Trần nói đúng. Căn biệt thự không phải là bất động sản duy nhất mà mẹ tôi đang làm chủ. Trước khi xây ngôi biệt thự, ông bà ngoại và mẹ tôi ở trong một ngôi nhà nhỏ nằm trên miếng đất của dì tôi. Căn nhà có ba phòng. Phía trước, đối diện với đường cái là phòng khách rộng chừng ba chục thước vuông, kế sau đó là phòng ngủ của ông bà ngoại tôi cũng rộng chừng ba chục thước vuông. Cái nhà kho nhỏ phía sau được cải biến thành phòng ngủ cho mẹ tôi. Từ hồi ông bà ngoại tôi dời về khu biệt thự nhà Nguyễn, họ mang theo tất cả bàn ghế giường tủ, căn nhà đó gần như bị bỏ trống. Trên cùng một miếng đất là nhà của dì tôi; bà sống với chồng và mười bốn người con. Cả hai nhà dùng chung một phòng tắm, phòng ăn và giếng nước. 
Trên mặt giấy tờ thì mẹ tôi làm chủ căn nhà đó. Căn nhà kế cận do dượng tôi đứng tên. Căn nhà cũ của mẹ tôi cách căn biệt thự nhà Nguyễn chừng 5 cây số, nằm ở một vùng quê chung quanh là những cánh đồng lúa. Tưởng tượng tới cảnh trở về căn nhà cũ đó sống chung với họ hàng và trâu bò, gà vịt, mẹ tôi cảm thấy thật chán nản trong lòng. Không biết làm sao hơn, mẹ tôi đành phải phản đối: 
“Căn nhà đó được cất cho ba má tôi. Tôi chỉ đứng tên thôi.” 
“Nhà bà, nhà cha mẹ bà. Ai thì cũng là người trong gia đình bà cả. Khác nhau cái gì? Chúng tôi cần cái nhà rộng đó của bà để làm trụ sở.” Ông ta nói. 
“Sao ông không lấy căn nhà nhỏ ?” 
Ông Trần đứng dậy, đá chân vào chiếc ghế phía sau. “Nghe đây, cái quân tư bản bóc lột ngoan cố. Tôi muốn dễ cho bà mà bà lại làm khó tôi. Bà không muốn rời căn nhà đó hả? Được. Để coi bà chịu được bao lâu trong tù, bỏ con cái ở nhà. Đồng chí Sáu, vào đây.” 
Người đàn bà công an xuất hiện ở cửa, hai tay chống nạnh, mặt cau có. 
“Có tôi, đồng chí Trần.” Bà ta trả lời. 
“Đem cái quân phản cách mạng này vào trung tâm cải huấn. Giữ ở đó chờ đưa ra tòa án nhân dân. Tôi phủi tay, để tòa án nhân dân định tội như đối với những tội nhân khác. Chào bà, bà Khuôn. Chúc bà ngủ trong tù vui vẻ.” 
Mẹ tôi nắm chặt hai tay vào nhau năn nỉ: 
“Không phải ý tôi là vậy, xin ông đừng bỏ tù tôi. Ông Trần, tôi năn nỉ ông, chúng ta có thể bàn lại chuyện này.” 
Người đàn bà công an nắm lấy cánh tay mẹ tôi kéo giật đi. Ông Trần đi vòng qua bàn, đến đứng đối diện với mẹ tôi. Ông ta vung tay, rít lên: “Không bàn gì nữa. Phải tiêu diệt để tiến lên.” 
Ông ta mỉm cười rồi bước ra khỏi cửa, bỏ mẹ tôi và người đàn bà công an lại phía sau. Ra đến bên ngoài, ông ta nói với đám người đang ngồi chờ: 
“Năm giờ rồi, trụ sở đóng cửa. Tất cả ngày mai trở lại.” 
Người đàn bà công an không có còng nên cột tay mẹ tôi bằng sợi giây dừa. Bà ta kéo mẹ tôi trên đường phố, không để ý gì đến những con mắt sợ hãi của mọi người chung quanh. Đến trung tâm cải huấn, bà nhốt mẹ tôi vào một xà lim, rồi bàn giao lại cho người gác tù. Nằm trong bóng tối, trên nền xi măng lạnh, mẹ tôi lo sợ cho tính mạng mình cũng như cho chúng tôi ở nhà. Đến sáng thì mẹ tôi hoàn toàn kiệt quệ, nhưng trong bụng bà, em bé đang chòi đạp. 
Sáng ngày hôm sau, ông Trần đến gặp mẹ tôi cũng với nụ cười như khắc trên môi. Ông ta đứng bên ngoài chấn song nhún vai trước những lời van xin của mẹ tôi: 
“Xin thả tôi ra” Mẹ tôi năn nỉ. “Ông có thể lấy căn nhà. Tôi sẽ ký giấy tờ.” 
“Tôi không biết là có còn cần ngôi nhà của bà nữa hay không, bà Khuôn.” Những lời trêu chọc của ông ta như dao cắt vào lòng mẹ tôi. 
“Xin thả tôi ra. Tôi còn có cha mẹ già và con dại phải chăm sóc ở nhà. Họ chưa làm điều gì chống lại ông và nhà nước. Ông Trần, xin ông nghĩ lại. Xin ông nghĩ đến họ, xin ông thương xót cho đứa bé còn ở trong bụng mẹ mà tha cho tôi. Nếu tôi chết thì tất cả sẽ chết theo.” 
Ông ta thọc tay vào túi áo trước lấy chiếc chìa khóa. Lúc mở cửa xà lim, ông ta thì thầm vào tai mẹ tôi: “Bà quyết định như vậy thật là khôn ngoan. Lấy nhà thế mạng. Bà phải đi ra khỏi khóm này, tránh xa tôi. Đem gia đình bà theo và làm lại cuộc đời ở một nơi không ai biết đến bà, thù ghét bà như chúng tôi ở đây. Phải đi ngay ngày mai để tránh hậu hoạn. Bà có hai mươi bốn giờ để chuẩn bị, bà hiểu chưa?” 
Ông ta quay sang đám công an, nói bằng một giọng chỉ huy. 
“Các đồng chí nghe đây. Tôi thả bà này ra vì bà ta đã tỏ ra ăn năn hối hận về những lỗi lầm trong quá khứ, và đã hiến ngôi nhà duy nhất của bà cho cách mạng. Bà ta là bằng chứng rõ ràng về chủ trương khoan hồng và nhân đạo của nhà nước ta, trước sau như một. Chúng ta đã thay đổi bà từ một tên tư bản khát máu thành một công dân lương thiện, và một cá nhân vị thạ Chúng ta mong đợi bà ta sẽ khắc phục làm tốt hơn nữa. Xin chúc mừng bà, bà Khuôn.” 
Mẹ tôi chạy một mạch như bị ma đuổi cho đến khi về đến nhà. 

* 

Ngày kế đó là sinh nhật tôi, nhưng nó cũng chỉ là một ngày bình thường như mọi ngày vì không có tổ chức gì. Chúng tôi trở lại Nha Trang đã được 72 giờ. Mọi người trong gia đình đang bận rộn thu xếp đồ đạc nên không ai để ý đến tôi. Sài Gòn mất chỉ mới được mười ngày, nhưng tôi có cảm tưởng như mình đang già đi rất nhanh. Chúng tôi biết là phải dọn ra khỏi căn biệt thự trong ngày 12 tháng 5. 
Ngay khi mọi thứ được gói ghém, sắp đặt xong và chúng tôi sắp sửa rời nhà thì chuông cửa reo. 
“Kiên, công an đến, cháu mở cửa cho họ vào.” Ông ngoại tôi nói như đã biết từ trước. 
Tôi vội vả chạy đến kéo tấm phên bằng nhựa che ngang cửa ra vào. Trước mặt tôi không phải là toán công an mà là một người đàn ông trông dáng điệu mệt mỏi, lếch thếch. Đầu ông ta cạo trọc, bóng lên dưới ánh sáng mặt trời, râu ria tua tủa, che kín gần hết nửa khuôn mặt. Người đàn ông nhìn tôi mỉm cười: 
“Ê, Kiên, Nhớ tao không?” Ông ta hỏi. Tôi nhận ra ông ta ngay nhờ giọng nói. “Tao, Lâm đây, thằng ngốc. Mẹ mày có nhà không?” 

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 9 Oct 2023

Bài 9
Chúng tôi đến Nha Trang vào sáu giờ sáng. Chiếc xe nhà binh chỉ dừng lại mấy phút để thả chúng tôi xuống. Chúng tôi nói mấy lời vội vả chào từ biệt toán bộ đội trước khi họ tiếp tục cuộc hành trình rồi cuốc bộ về nhà trong sự lo âu sợ hãi. Thành phố Nha Trang như khoát lên người một lớp da thịt mới. Tất cả mọi nhà đều treo cờ mới. Đường phố vắng tanh. Thành phố trông sạch sẽ nhưng không có sinh khí, ngoại trừ những chiếc loa ở mỗi góc đường đang phát thanh bản hiến pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chũ Nghĩa Việt Nam. 
Về tới nhà, chúng tôi chứng kiến một cảnh tàn phá ngoài sức tưởng tượng. Chiếc cổng sắt bị ủi sập, rác rến, bùn đất ngập lên tới thềm cửa. Phân người tung tóe khắp nơi, biến mặt tiền căn nhà từ một màu xanh nhạt thành một màu nâu dơ dáy. Hầu hết các cửa sổ đều bị đập phá. Những mảnh kính vở nằm đầy trên mặt đất, trên sân, và trong hồ tắm bẩn đục. Cỏ mọc thành rừng gần muốn phủ hết sân trước. Những loại cây kiểng quý bị lấy trộm hoặc bị nhổ trốc gốc nằm phơi rễ trên nền xi măng. Bức tường gạch bao quanh nhà mà mẹ tôi rất yêu thích bị phá sập sát mặt đất, hàng giây leo trước đây bò phủ trên mặt tường cũng cùng chung số phận. Càng bước gần đến căn nhà, lòng chúng tôi càng thêm tan nát. Chiếc cửa chính làm bằng gỗ mun chạm trổ cầu kỳ, tinh xảo bị gở ra đập tan thành từng mảnh. Bên trong đồ đạc bị phá tan hoang giống như có hàng ngàn kỵ mã cởi ngưa dày xéo lên. Chúng tôi đi dọc theo hành lang, châm dẫm lên trên những mảnh lục bình vở nát, lòng bao xiết kinh hoàng. Căn nhà chìm trong sự im lặng ngoại trừ tiếng bước chân của chúng tôi dội đi dội lại từ phóng này sang phòng khác. Có vẻ như trong nhà chẳng còn ai. 
Tuy nhiên, không phải chỉ có chúng tôi trong nhà. Một người nấu bếp và hai người giúp việc vẫn chưa rời bỏ nhà. Lúc bọn cướp tràn vào, họ trốn dưới nhà bếp nằm cách nhà chính một khoảng ngắn và vẫn trốn dưới đó cho đến bây giờ. Khi nghe tiếng chúng tôi trở về, họ mừng rỡ chạy ùa lên. 
Người nấu ăn là một bà cụ bằng tuổi với bà ngoại tôi và đã giúp việc cho nhà tôi cả chục năm quạ Trước chúng tôi cứ ngỡ là bà không có hàng hàng thân thích nào cả vì bà chẳng bao giờ nói gì về gia đình mình. Chúng tôi càng tin chắc điều đó hơn khi suốt thời gian ở với chúng tôi bà chẳng hề xin đi đâu, mà cũng chẳng có ai đến thăm viếng. Bà ngoại tôi thường hay nhắc lại chuyện bà nấu bếp đến xin việc đi có một mình với một chiếc giỏ nhỏ trên taỵ Lúc đó ông ngoại tôi phục vụ trong quân đội, nên bà tôi cần một người giúp việc trong bếp. Bà ta ít nói nhưng làm việc siêng năng và nấu ăn rất ngon. Tôi không biết tên bà ta là gì, chỉ biết mẹ tôi dạy chúng tôi kêu bà là dì O vì bà thường hay nằm ngủ trong bếp với cái miệng há ra tròn như một chữ O. 
Còn hai người giúp việc đang đứng bên cạnh bà nấu bếp là con của một gia đình đông con ngụ cách chúng tôi vài block đường. Cả hai đều chưa lập gia đình và khoảng trên bốn mươi tuổi. Thay vì chạy về nhà, họ chọn ở lại trong căn phòng mẹ tôi cung cấp cho mà nếu làm việc chỗ khác họ không dễ gì có được. Trông thấy chúng tôi trở lại, họ mừng đến nổi không làm sao ngưng được tiếng khóc và cứ đưa tay ra nắm lấy hai anh em tôi. Họ lập đi lập lại với ông bà ngoại tôi là họ rất vui khi thấy chúng tôi trở lại an toàn và lành lặn. 
Dì O chặt một trái dừa, đổ nước vào nồi cơm nếp đang sôi trên bếp trong khi chúng tôi ngồi bệt xuống sàn nhà, lắng nghe những lời kể lể líu lo như chim của hai người giúp việc. Họ kể tỉ mỉ nhưng gì đã xảy ra trong thành phố từ khi chúng tôi bỏ đi. Mấy ngày trước khi cộng sản đến, tù nhân trốn ra đập phá cướp bóc nhà chúng tôi nhiều lần, rồi sau đó đến lượt bọn cướp đến tìm vàng bạc chôn dấu, có một số người đến tìm chúng tôi. Dì O và hai người giúp việc gần như đã hết hy vọng, ngỡ là chúng tôi đã ra khỏi nước trước khi Sài Gòn mất. 

Ở Nha Trang cộng sản đã bắt đầu việc tiếp thu từ mấy tuần trước. Công việc kiểm tra dân số đã được thực hiện, trước tiên là tình nguyện ghi danh. Theo số tin tức họ thu lượm được thì trong đợt đầu, cộng sản đã bắt đi một số các viên chức cao cấp phục vụ trong chính quyền và quân đội cũ. Những người này nửa đêm bị dẩn ra khỏi nhà còng tay rồi mang đến một nơi bí mật nào đó. Nhà nước không thông báo gì nhiều cho thân nhân, vợ con những người bị bắt ngoại trừ tên cái trại bí mật: Trại cải tạo, ở đó họ sẽ được học tập tính ưu việt của xã hội mới. 
Cộng sản chia Nha Trang thành nhiều phường, và mỗi phường thành nhiều khóm, mỗi khóm quy tụ chừng mười lăm gia đình. Đứng đầu mỗi khóm là một khóm trưởng do dân bầu lên, thường là những người trong bộ đội, hoặc là những người nằm vùng từ trước. Chuyện bầu cử chỉ là một vấn đề hình thức vì ai cũng biết trước là người trưởng khóm đã được chỉ định rồi. 
Dì O bới xôi ra chén, bỏ lên trên mặt một ít dừa trước khi đặt xuống sàn nhà trước mặt chúng tôi, rồi nói với mẹ tôi lần đầu tiên từ khi gặp lại: 
“Bà phải ra văn phòng khóm đăng ký cho gia đình, càng sớm càng tốt nếu bà không muốn có thêm vấn đề.” 
Mẹ tôi nhìn Dì O với vẻ ngơ ngác không hiểu: 
“Vấn đề? Chị muốn nói là họ tìm tôi? Vấn đề chị nói đó là vấn đề gì?” 
Dì O nhún vai, chỉ tay vào hai anh em tôi “Vấn đề đây.” Dì ngước nhìn qua cửa sổ. Chúng tôi nhìn theo ánh mắt của dì, bắt gặp ngôi biệt thự dấu mình sau một cây dừa lớn: “Vấn đề đó.” Bà nói với mẹ tôi. 
Mẹ tôi ngồi im trong khi người bếp già tiếp tục: 
“Mang theo tất cả căn cước, kể cả những giấy tờ gì bà có. Họ muốn biết tất cả mọi thứ. Nhưng bà tin tôi đi, trước khi bà tới đó thì họ đã biết rất rõ về quá khứ của bà rồi.” 
“Ai là khóm trưởng? Tôi đi đâu để gặp ông ấy hay bà ấy?” Mẹ tôi hỏi. 
“Đừng hỏi tôi. Tôi nghĩ là bà nên tới đó để tự tìm hiểu lấy thì tốt hơn.” Dì O đáp. “Phải chuẩn bị sẳn sàng. Vậy thôi. Văn phòng ở ngoài trụ sở khóm.” 
“Trụ sở khóm ở đâu?” 
“Bà biết rồi, thưa ba chủ. Ở trường học cũ của cậu ấm Kiên.” 
Mẹ tôi nhỏm người lên. Quay sang Dì O, mẹ tôi nói: 
“Xin đừng gọi chúng tôi là bà chủ, cậu ấm nữa. Trong tháng qua, tôi đã mất tất cả. Tôi bây giờ cũng nghèo mạt như những người khác. Nếu các người muốn tôi còn sống để nuôi con thì xin đừng gọi tôi bằng những danh xưng như vậy nữa.” 
Mẹ tôi đứng dậy bước ra khỏi nhà bếp. Dì O nói theo: 
“Bà nên đi nói với mọi người trong phố như vậy; và khi bà gặp khóm trưởng thì cũng nên nói với ông ta như vậy. Nếu không thì ông ta cũng sẽ gọi bà là bà chủ. Vì đó là điều mà bà muốn mọi người gọi bà trước đây, bà quên rồi sao?” 
Mẹ tôi chạy ra khỏi nhà và biệt tăm trong suốt buổi chiều còn lại. Khi đêm đến, ông bà ngoại tôi nhìn đồng hồ thắc thỏm lo âu. Bà ngoại tôi không ngủ được cứ đi ra đi vào cổng nhìn ngược nhìn xuôi về cuối con đường. Trong nhà, vú Loan tìm cách kể chuyện cho hai anh em tôi nghe cho quên mọi việc. Tuy thế, hai anh em tôi cũng chỉ đòi gặp mẹ. Nỗi lo dâng cao và cuối cùng em tôi òa ra khóc. Một lát sau tôi cũng khóc theo. Vú Loan ngồi bên cạnh giường nhìn chúng tôi khóc cho đến mệt lã rồi ngủ thiếp đi. 
Mẹ tôi không trở về nhà cho đến chiều hôm sau, người bà trông xanh như một tàu lá. Bà vụt vào nhà, bước vô phòng ngủ rồi đóng sầm cánh cửa lại. Ông bà ngoại tôi chạy theo, gỏ cửa nhưng không có kết quả. Mẹ tôi ở riết trong phòng suốt buổi chiều hôm dó, không màng tới những lời hỏi han của ông bà ngoại tôi. Đến tối, ngoại tôi sai tôi mang một khay cơm lên phòng cho mẹ tôi. 
Tôi đến trước cửa phòng, một tay giữ mâm cơm, tay kia gỏ nhè nhẹ vào cánh cửa. Một khoảng thời gian dài nặng nề trôi qua, rôi tôi nghe tiếng mẹ tôi hỏi vọng ra “Kiên?” 
“Dạ, con vào được không?” 
Tôi nghe tiếng mẹ tôi rời khỏi giường bước đến mở cửa. Bà đứng trước mặt tôi với đôi mắt quầng thâm và tóc tai rối bù. Bà nhìn tôi như nhìn một người xa lạ rồi thò tay đỡ lấy mâm cơm. Tôi bước vào phòng và nghe tiếng cánh cửa khép lại phía sau. 
Căn phòng trông thật bừa bộn, có vẻ như mẹ tôi đã xốc tung mọi vật lên. Trong chiếc khắn trắng nằm ngay giữa giường một mớ nữ trang sáng lấp lánh dưới ánh đèn. Mẹ tôi đặt mâm thức ăn trên mặt bàn trang điểm, rồi thắt chéo chiếc khăn tay gói mớ nữ trang vào đó. Xong đâu đó mẹ tôi nhấc tôi lên đặt ngồi trên chiếc ghế kê trước một tấm gương đã bể nát. Mẹ tôi quỳ xuống trước mặt tôi, hai mắt đen như ngọc trai của bà nhìn chăm chăm vào mắt tôi. Tôi nghe như có luồng điện chạy ngang sau gáy. 
“Kiên con.” Mẹ tôi thở dài. “Có quá nhiều việc mẹ muốn nói với con mà không biết phải bắt đầu từ đâu. Để mẹ bắt đầu từ chỗ này: mẹ không còn thể coi con như một đứa bé được nữa… ” 
“Dạ, thưa mẹ.” 
“Con bao nhiêu tuổi rồi Kiên? Con nói cho mẹ biết được không?” 
“Bốn ngày nữa là con tám tuổi, thưa mẹ.” Tôi đáp, nghĩ thầm rằng câu trả lời sẽ làm mẹ tôi vui lòng. Nhưng phản ứng của bà trái ngược lại. 
“Ồ, đúng rồi. Sắp tới sinh nhật của con rồi, phải không? Kiên, con nghe mẹ nói đây. Con là đứa con lớn nhất của mẹ. Con phải giúp mẹ. Mẹ không thể làm một mình được. Con hiểu không?” 
“Hiểu, thưa mẹ.” 
“Con phải rán lên. Mẹ sắp sửa sinh em bé cho nên con phải giúp mẹ. Bắt đầu từ bây giờ con không thể cứ gặp chuyện gì không vừa ý, khó khăn là ồ lên khóc, và cũng đừng gây thêm phiền phức cho mẹ. Con phải tự lo cho con và săn sóc em con; mai mốt em bé ra đời con cũng phải trông nom em bé nữa. Con rán giúp mẹ, con có chịu hứa với mẹ như vậy không, Kiên?” 
“Thưa mẹ, con hứa.” 
“Con hứa gì nào?” Mẹ tôi hỏi gặn lại. 
“Con hứa không khóc, phải cứng rắn, săn sóc cho Jimmy và em bé.” 
Mẹ tôi ôm tôi vào lòng một lúc thật lâu. Rôi bà tiếp: “Con ngoan lắm. Còn hai việc nữa, mẹ muốn con, không… , mẹ mong con hiểu. Việc thứ nhất là mẹ muốn con giữ kín những chuyện con biết. Không được nói cho bất cứ ai nghe bất cứ chuyện gì dù có bị hăm dọa. Con còn nhớ những xác chết mình thấy ngoài đường phố không? Nếu con thố lộ bất cứ chuyện gì thì mẹ cũng sẽ chết như vậy đó, cả con cũng vậy, ông ngoại bà ngoại cũng vậy, em con và em bé cũng vậy.” 
“Không được nói gì cả. Người ta sẽ giết mình.” Tôi lập lại. 
“Giỏi!. Việc thứ hai là con giữ vật này cho kỹ như giữ mạng sống của con vậy.” Bà bỏ cái gói nữ trang bc trong chiếc khăn tay vào túi áo tôi. “Mẹ chỉ còn lại có chừng đó. Không có những thứ này chúng ta cũng sẽ chết. Đừng cho ai thấy cũng đàung làm mất, con hiểu không?” 
“Sao mẹ không giấu đỉ” 
“Thì mẹ giấu trong túi áo con đó. Chỉ có mẹ và con biết thôi, nhớ chưa?” 
“Dạ nhớ! Con phải giữ nó bao lâu, mẹ?” 
“Mẹ cũng chưa biết bao lâu; có lẽ lâu lắm. Mỗi đêm trước khi đi ngủ con vào đây đưa cho mẹ thấy cái gói này để con khỏi bỏ quên nó đâu đó, nhớ chưa?” 
“Dạ nhớ rồi!” 
“Giỏi, thôi con đi ra mời ông bà ngoại vào đây cho mẹ nói chuyện. Nếu vú Loan hỏi con mẹ nói gì với con thì con trả lời sao?” 
“Con không nói gì cả.” Tôi trả lời. 
Mẹ tôi thở ra một hơi dài như trút được một gánh nặng, rồi nói với tôi: “Vậy mới là con của mẹ. Bây giờ con ra mời ông bà ngoại vào đây.” 
Tôi chẳng phải đi đâu xạ Ông bà ngoại tôi chạy vội lên lầu ngay sau khi nghe tiếng cửa phòng ngủ mẹ tôi mở ra. Tất cả chúng tôi ngồi trên giờng ngủ của mẹ tôi, nghe bà kể những việc đã xảy ra cho bà ngoài trụ sở khóm nơi bà đến đăng ký hộ khẩu ngày hôm qua. 

Đời Nhảy Toán / Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật

Toán Hải Sơn CCN (Command Control North) 
Chiến Đoàn 1 Xung Kích / Sở Liên Lạc / Nha Kỹ Thuật 

Post by Sơn râu 9 Oct 2023

Khác hơn thường lệ, chiều nay mới bốn giờ toán chúng tôi đã được ăn cơm. Xong một lân nữa lệnh kiểm soát lại đồ đoàn. Toán chờ xuất phát. Thiếu úy Điệp (Phạm ngọc Điệp) trưởng toán (One zero), sáng nay đã bay Covey Ov10 quan sát bãi đáp, dự thuyết trình mục tiêu. Chuyến này Trung sĩ Quang (Trần Quang) toán phó (One one) phụ trách điện đàm, còn lại là bốn toán viên Biệt kích quân (BKQ). Tôi BKQ Hải (Nguyễn văn Hải) Thông dịch viên. BKQ Nguyễn duy Châu Khinh binh (point man) BKQ Hào (Lê thanh Hào) M79 sau cùng BKQ Cường (Nguyễn mạnh Cường) đoạn hậu.

Sáu người trong toán được đưa lên chiếc xe bít bùng, đậu trong sân. Đây là căn cứ đươc xây dựng đặc biệt để người bên ngoài không thể nhìn thấy gì bên trong. Thiết kế ba dẫy nhà liền nhau tạo thành chữ U. Mọi cửa phòng bên trong, mở ra chung mọt cái sân. Phía trước cái cổng sắt đặc liền, luôn có người gác, cửa đóng im ỉm. Đó là căn cứ Biệt kich nằm trong phi trường Nakhon Phanom (NKP). Xe bít bùng mở cửa sau, rồi de khớp vào cánh cửa hông của chiếc trực thăng CH53 Jolly Green. Bằng cách này người bên ngoài không thể nhìn thấy cái gì được chuyển từ xe lên trực thăng. Tức thì cửa trực thăng được đóng lại ngay, rồi tiếng đề pa của động cơ cánh quạt rít lên, từ từ xoay nhấc bổng rời bay đi.

Nhìn qua khuôn cửa, trời đă nhạt nắng. Lên đến cao độ, trực thăng bay với sự hộ tống của hai Khu truc cơ A1 Skyraider đến từ lúc nào và đang bay kèm hai bên. Xem đồng hồ đã qua nửa giờ bay, nhìn qua cửa, bóng chiếc Covey OV10 (FAC) ánh lên cùng nắng chiều tà. Thiếu tá Thụ (Nguyễn văn Thụ) Sĩ quan Điều Nghiên và Không Thám, ra hiệu cho Toán chuẩn bị. 



Một Thượng sĩ người Mỹ đã đứng trước cuộn thang dây. Không có bãi đáp, Toán được xâm nhập bằng thang dây. Trực thăng nặng nề hạ độ cao. Ngoài cửa sổ chiếc A1 đang lao xuống dọn bãi đáp bằng đại bác 50, tiếng như bò rống. Toán đã sẵn sàng. Trực thăng ồ một tiếng lớn, rít lên rồi từ từ đậu bên trên ngọn cây bao quanh một hố bom trống trải. Toán từng người một leo bám vào thang dây lẹ làng đáp đất.

Toán đã tiếp được đất an toàn, coi như xâm nhập thành công …Có tiếng rên và tôi quay ngoắt lại. Cường nhóc sao nửa mặt đầy máu. Nhanh như cắt tôi nắm lấy máy truyền tin từ Quang gọi Covey báo cáo tình hình và mô tả vết thương. Nhìn máu chan hòa nửa gương mặt, Hào đang loay hoay phụ băng vết thương. Trước tình thế tôi thật sự nghĩ là nghiêm trọng và xin triệt xuất. Hỏi nguyên do chỉ vì cạnh ngoài chấn thang tự nhiên đập thẳng vào đầu. Người Mỹ trên Covey hỏi lại một lần nữa. Tôi đáp chắc chắn cái đầu nó bị bể. Thế rồi lệnh triệt xuất được truyền xuống. Trực thăng trở lại, sáu người leo lên thang, lựa chỗ cho đủ đứng rồi móc cái móc từ người vào thang. Thiếu úy Điệp người cuối cùng ở vị trí cuối thang ra hiệu trực thăng bay đi.

Về đến phi trường NKP trời đã về đêm, dưới ánh sáng đèn trên trực thăng tôi thấy Cường nhóc ngoài cái băng trên đầu, trông nó như chả làm sao cả. Tôi giật mình khi người y tá vào trong khoang tầu săn sóc vết thương cho Cường. Thiếu tá Thụ đứng bên tỏ vẻ lo lắng vì thấy vết thương quá nhẹ… Xe bít bùng chở Toán đang đường về căn cứ. Ngồi trong xe ai ai củng tỏ vẻ ngượng ngập nhất là tôi và Thiếu úy Điệp. Nhìn cái băng cá nhân tí tẹo trên trán Cường nhóc mà thấy xốn sang trong dạ và chuẩn bị đối phó bởi báo cáo của mình không xác thực . Xe đã vào trong sân căn cứ. Thiếu tá Thụ vội vàng, trước nhất xuống xe đi thẳng vào phòng Hành quân, dẫy nhà bên hai Toán người Thượng nhìn có vẽ soi mói trong ánh đèn pha trên cột cao dội ánh sáng chói chan xuống sân. Một Trung sĩ người Mỹ gọi tôi và Điệp lên phòng Hành quân. Cửa vừa mở, hai tôi bước vào chưa kịp dơ tay chào, đã gặp ngay nét mặt nộ khí xung thiên của Thiếu tá người Mỹ trưởng căn cứ. Sau một hồi dữ dằn mắng chửi với khoa tay múa chân, khỏi cần thông dịch. Ông ta giờ có vẽ nguôi và đang giải thích về chi phí cùng những khó khăn của một quá trình xâm nhập. Thiếu tá Thụ ngồi bên hoàn toàn yên lặng… Bây giờ thì ” Này các bạn, với tư cách Trưởng căn cứ, tôi tuyên bố Toán của các bạn đang trong mục tiêu ” Rồi tiến đến bắt tay Thiếu úy Điệp và vỗ vào vai tôi ông nói giọng gằn từng tiếng ” Nhớ, đừng quên học thêm tiếng Anh bạn ạ”.

Thiếu tá Thụ đánh thức chúng tôi dậy vào lúc năm giờ sáng, thông báo ba mươi phút nữa Toán đươc đưa ra sân bay. Cường nhóc ở lại NKP… Toán còn lai năm người hành quân.

Chiếc MC130 Blackbird, loại có râu móc trước mũi đề bốc Toán theo kiểu James Bond 007 (Fulton Skyhook Extraction System). Cửa sau đã mở sẵn chờ đợi cửa sau của xe bít bùng chở Toán. Thiếu tá Thụ không đi theo. Máy bay lập tức ra phi đạo rồi cất cánh. Hơn nửa giờ bay, giờ phi cơ đang chuẩn bị hạ cánh, cái cảm giác nặng chịch trong lòng cùng buốt hai tai, tạo cho tôi cảm giác bay bổng nhưng rất khó chịu trong người. Một xe GMC chạy đến tận cửa sau máy bay đón chúng tôi. Nhìn vào nóc nhà xây trước mặt, trên nóc nhà hàng chữ. Phi trường Kontum. GMC chở Toán đên một khu vực cũng nằm trong phi trường, trên sân sáu chiếc Kingbee sơn mầu blackbird đang chờ, sẵn sàng cất cánh.


Từ trực thăng, cảnh núi rừng trùng điệp. Bên dưới, đám mây trắng kéo thành một vệt dài dưới ánh nắng như chưa đủ sức làm tan loãng. Gió phần phật lốc vào làm ran rắt trên mặt cùng tiếng ầm ĩ của động cơ trực thăng. Người xạ thủ trực thăng, cạnh tôi mời thuốc hút.

Đảo một vòng, trực thăng chở Toán bắt đầu đáp xuống, theo sau những chiếc đã xuống trước. Đoàn King Bee sáu chiếc, chỉ chở năm hành khách. Dưới bãi đáp, một Trung úy người Mỹ thông báo phi hành đoàn cùng toán trưởng vào dự thuyết trình. Ngay tức thì, Thiếu úy Điệp, đưa cây Car 15 cho tôi, rồi vào phòng Hành quân.

Hai chiếc Kingbee cất cánh và một trong hai chở theo Toán. Vượt qua những ngọn đồi thoai thoải tiếp nhau, xa xa dẫy núi xanh mờ chắn ngang. Gió dữ dằn tung lốc ào ạt quanh quanh. Những đám mây lạ lạc bất thần tạt cái lạnh êm êm. Hai chiếc Cobra, đến từ lúc nào đang song hành hộ tống. Sự phối hợp không quân bài bản, nhuần nhuyễn với độ chính xác cao. Dưới kia giòng sông đỏ ngầu mầu đất ngoằn ngoèo chia cắt giữa núi cao và đồi cây. Xa kia, tầng mây trắng như cố bám lấy núi rừng và tuyệt vời hơn nữa, những đám mây mỏng nhỏ lang thang tạo thành bức tranh thần tiên lãng đãng. Người xạ thủ trực thăng ra dấu Toán chuẩn bị. Nhìn ra ngoài, đã thấy rõ chiếc OV10 (FAC) bay đằng xa. Theo thuyết trình hai chiếc Kingbee sẽ đáp xuống cùng một lúc hai bãi đáp khác nhau và chỉ có một chiếc là chở Toán, nhằm đánh lừa địch. Trực thăng hạ độ cao. Chiếc Cobra đang dọn bãi bằng đại liên sáu nòng và M79 tự động. Bằng vào một động tác hạ nhanh, trực thăng sát đất rồi trườn xa một quãng. Đáp vội trên con suối cạn, đá lởm chởm. Toán chúng tôi nhanh chóng thoát vào rừng cây.

Cơn mưa ngày qua để lại dấu tích dễ nhận trên bề dầy của lá rụng, nơi sinh sản và cũng là căn cứ của loại vắt độc hại. Mùi khai nồng, hăng hắc của cây lá bung lên như muốn giao tình với ánh nắng trên cao. Nhưng nắng chẳng đủ sức xuyên qua tàn cây xòe rộng dù rằng nắng đang trực diện với đất. Lặng lẽ chúng tôi cố gắng di chuyển thật nhanh để tránh cái lộ của bãi xâm nhập. Khi máy bay đi rồi, chắc chắn ở gần đây, địch sẽ đến và thám thính.

Dự đoán không lầm, khi anh em ngồi nghỉ rồi ăn trưa, đất vẫn còn nhão, thêm sự tĩnh lặng, lẫn tiếng thú rừng thi thoảng âm vang rồi vọng lại. Tiếng súng địch bắn để báo động cho nhau. Rõ nhất vẫn là tiếng gà rừng mà tất nhiên không thể thiếu ở bất cứ một khoảnh rừng nào. Thiếu úy Điệp cùng Châu đang căn lại bản đồ lấy phương hướng. Hào thì vẫn cái mùi mắm ruốc xả kinh niên mà mỗi chuyến hành quân, vợ tịch thu hết lương khô, xong phát cho một hũ Ruốc xả có thề ăn dè được cả tháng. Có tiếng Covey lên bao vùng, tôi mở điện đàm chờ đợi. Toán phó Trần Quang đã giao điện đàm cho tôi để thế chỗ Cường nhóc đoạn hậu. Tiếng Đại úy Ginh (Trần trung Ginh) trên Covey gọi Toán, tôi chuyển ngay bức điện đã làm sẵn, rồi nhanh chóng di chuyển, đâm sâu vào mục tiêu. 



Khu rừng thật rậm rạp. Châu vất vả lắm để mở đường. Len tỏi, lạng lách, đánh vật với cây rừng, khi mà yêu cầu đi đúng đường. Chốc chốc hắn lại phải xem la bàn. Thiếu úy Điệp đi kế Châu, cây Car 15 luôn sẵn sàng bảo vệ. Trời quá chiều, ánh nắng hắt những tia cuối cùng. Muỗi như vã vào mặt và vắt thì nhiều vô kể, nó đi tìm mồi như người làm xiếc, di chuyển uốn dẻo thân mình rồi bung tiến tới mồi rất chính xác nếu chúng tôi lộ ra khoảng da thịt. Điệp đả chọn được chỗ nghỉ ăn cơm chiều. Có tiếng hú vọng lại, trầm ấm, lan tỏa rồi hình như lại dội lại. Trên tàn cây lao xao tiếng chim gọi nhau, thiếu đi giọng hót mượt mà ban mai. Tiếng súng địch quân vẫn thi thoảng nổ gọi nhau hay báo hiệu gì đó… Tay lấy lọ thuốc muỗi, xoa thêm vào mặt và tay để đối phó với sự tấn công quyết tử của vắt và muỗi. Nhá nhem tối, Toán đi tìm chỗ ngủ, lý tưởng nhất vẫn là gốc cây to, rễ bạnh. Trung sĩ Quang lên đi đầu. Di chuyển êm, chậm chạp và cẩn thận nghe ngóng. Trời tối hẳn, ánh trăng tỏa vằng vặc từ lúc nào. Đứng nghe ngóng một hồi lâu. Thiếu úy Điệp ra lệnh ai hút thuốc thì hút đi… Cẩn thận vì khói thuốc tỏa rất xa và đó là cái mùi không có ở núi rừng. Kinh nghiệm cho thấy, có Toán địch theo dõi cả ngày, đêm đến, chỉ vì mùi thuốc lá dễ nhận, địch âm thầm bao vây và tấn công. Xong , Quang gài lại trái mìn M14 rồi di chuyển tìm chỗ ngủ. Địa điểm ngủ đêm đã được đồng ý. Toán chúng tôi hạ bàn tọa… Một đám mây đen lao thẳng vào mặt trăng, trời bỗng tối xầm rồi lại sáng. Ba lô là gối, lá cây rừng làm nệm. Dưới ánh trăng từng ngọn gió nhẹ lay động cây lá truyền tải ánh sáng phản chiếu lung linh. Cảm giác như lạc vào cõi kinh dị. Nghĩ bụng phải nhắm mắt lại ngay và đừng suy nghĩ cố mà tìm giấc ngủ. Đây là một kinh nghiệm, vì đã có những toán viên không ngủ được trong tình cảnh này, đã thút thít khóc gọi mẹ, để rồi bị chế giễu và sa thải, hay những toán viên đào ngũ chỉ vì đã từng để lại tiếng thở dài trong đêm hành quân.

Trời sáng, sương đêm còn ướt nơi ngực, là đà quẩn trong gió, sương mù mỏng dần theo gió núi lành lạnh. Thông lệ Toán có một tiếng đồng hồ đễ vệ sinh và chuẩn bị cơm nước trong ngày. Point man Châu trở lại vị trí dẫn đầu, giờ đang cùng Thiếu úy Điệp căn lại phương hướng, xong  Điệp đưa cho tôi bức điện tin vừa viết bằng mật mã. Bất giác tôi nhìn Châu, khăn mầu lá cây cột trên trán, cái răng vàng nhìn thấy rõ bởi cái miệng hắn hô, trên gương mặt lầm lì, xa vắng như nhớ vợ. Tự nhiên tôi bật lên tiếng cười. Lệnh di chuyển, ngoái lại thấy Trần Quang đang xóa dấu vết. Tiếng súng báo hiệu hôm nay, bên này đã trả lời. Cánh rừng bớt rậm, nhưng cây lớn nhiều. Thỉnh thoảng vài trái cây ném xuống từ trên cao, nhìn lên thằng khỉ đang nhăn răng cười tay gãi gãi vào nách. Không gian bao trùm âm thanh núi rừng, nắng chếch trên cao, sưởi ấm cái lạnh bên dưới nhưng không đủ sức. Châu bất thần ngồi xuống tay ra thủ hiệu dừng lại, mắt nhìn Điệp và tôi. Quan sát động tĩnh rồi ngó về phía trước… Một con đường mòn chắn ngang hướng di chuyển. Phân công ba người yểm trợ, Điệp và tôi lum cum đi lên thám thính… Con đường rất ít lá cây, có nơi nhẵn nhụi, lạ lùng nơi kia loang một vũng nươc nhỏ như có ai mới vừa tiểu tiện. Hoảng hốt tôi kéo Điệp trở lui, miệng lầm bầm “đồng chí mái” Điệp hỏi lại “sao Hải biết”. Đến nơi đồng đội đang chờ, tôi giải thích… Vết lỗ đái nhỏ, xâu in trên đất, tại vũng nước loang tròn, hạn chế thì dứt khoát đó là tác phẩm của phụ nữ, các bà. Gọn ghẽ và thẩm mỹ. Thiếu úy Điệp phất tay ra dấu, vượt đường mòn từng người một, yểm trợ lẫn nhau, đi trên lá cây. Bở hơi tai, chúng tôi đến đươc nơi có thể ngồi nghỉ. Có tiếng Covey trên bầu trời. Điệp vội vàng thêm vài chi tiết vào bức điện. Đại úy Ginh từ Covey đang gọi Toán, tôi trả lời và mau chóng chuyển ngay bức điện. Bây giờ tôi mới nhận rõ Thiếu tá Thụ trên Covey. Hai ông đều nói tiếng bắc nên dễ lộn.


5
Tiếp tục tiến vào mục tiêu. Nửa tiếng ăn buổi trưa, Toán vội vã di chuyển để tránh địch theo dõi. Châu dừng lại bên tảng đá cao ngút đầu, ngồi xuống rồi đưa tay chỉ. Một con suối rộng, nước chảy lặng lờ trong kẽ đá. Xa xa mà mắt thường có thể nhìn thấy, bên bờ suối, trên dốc thoai thoải, nép vào những cây cao. Hai dẫy nhà bằng cây rừng tre lá, ẩn nấp dưới những tàng cây. Thấp thoáng vài bóng người. Bên này suối, xa hơn một tí, những ngôi nhà ngắn và nhỏ, lọt xâu giữa những tảng đá lớn. Vài tên bộ đội đang lấy nước.

Toán nhanh chóng di chuyển càng xa càng tốt, nhắm hướng hạ lưu. Thấy có vẻ ổn, Toán dừng lại bàn bạc và đồng ý xin không kích. Định vị trên một vị trí có vẻ kín đáo và thuận tiện cho tác chiến. Tôi vừa ăn trưa vừa lo bắt liên lạc với FAC (Covey OV10), nhưng không được đành phải xài tới hệ thống máy cấp cứu P90. Một lúc sau, khọt khẹt và tiếng trả lời hỏi: Sóng cấp cứu của ai lên với tần số…Tôi thông báo mật danh và được trả lời hãy đợi.

Mười phút trôi qua, động cơ ì ì của Covey càng lúc càng rõ. Trong máy PRC74 đã nghe rõ tiếng gọi Toán. Một ông tây điều không, trả lời mật danh và chuyển lên bức khẩn điện, tôi yêu cầu Không-quân. Mười phút sau khi nghiên cứu bức điện và điều không. Lời yêu cầu được chấp thuận. Báo cáo với Điệp, hiểu ý Quang và Hào lẳng lặng lấy trong ba lô hai trái mìn Claymore, hỏi ý Điệp nên gài ở đâu. Chớp nhoáng Toán đã ở vào vị trí chiến đấu. Nép vào góc hai cục đá to, giữ cái PRC74 ở vào nơi tương đối an toàn. Tôi đang ở giữa bốn đồng đội. Trên tầng cây cao sau lưng, tiếng kêu ré lên đuổi nhau ầm ĩ của đàn chim, chúng đang tung chưởng đánh nhau.

Covey lúc này đang vòng trên đầu chúng tôi. Hắn gọi Toán và xin mở cửa sổ (ý muốn thấy vị trí Toán bằng chiếu gương).Tôi cầm cái gương dưa lên mắt, ngó hướng mặt trời, lấy ánh sáng hội tụ tròn mờ trong gương và qua lỗ nhắm giữa gương chỉnh điểm ánh sáng tròn mờ lên thẳng Covey đang bay….À thấy rồi, xin cho mục tiêu. lúc này không còn cần mật mã, mà nói trực tiếp và bạch hóa.

-Lima charlie (tên Covey)nghe đây, ngay tại triền suối, hướng Tây, khoảng cách 1000 mét

-Pa pa oscar (tên Toán) nhận rõ, chuẩn bị panel cho oanh kích.

Một Phantom F4 lúc này đang bay trên trời.

-Papa oscar đây là Li ma charlie. Tao sửa soạn làm tình, xin cho ý kiến và trải panel vàng.

Một cú bay xuống như tia chớp, chiếc Covey lao nhanh trực chỉ mục tiêu và trái rocket đã được bắn ra. Nhìn làn khói trắng bốc lên, tôi ước lượng và gọi Covey.

-Lima charlie. Mục tiêu 200 mét về hướng bắc. Ngay triền suối.

-OK Papa oscar. Hãy nhìn đây.

Covey đảo nửa vòng cung, đầu chúc xuống, thêm một trái rocket thứ hai xuống mục tiêu. Máy bay múc thẳng lên cao, nghiên nghiên rồi ngừa bụng lên trời, tí sau mới lật lại, bay bình thường. Với câu hỏi:

-Papa oscar. Đúng mục tiêu chưa. Tao chơi có khá không?

-Lima charlie, Đúng rồi, thật tuyệt. Anh trình diễn giống như Elvis Presley.

-Cám ơn cám ơn Papa oscar. Ha, ha, ha, ha.

Liền tiếp theo sau, chiếc F4 xà xuống một trái bom ghim ngay mục tiêu khói trắng chỉ điểm.Tiếng nổ vang dội và một cột khói lửa bao trùm bốc cao. Ngay đầu tiên hắn đã xài loại 500 cân anh.Trên bầu trời lúc này còn thêm chiếc A1 Skyraider chả biết đến từ lúc nào? bất thần theo sau chiếc F4

6 Máy bay như ngừng lại khi khai hỏa một loạt đại bác 50 và rồi hất ra tung tóe như đậu vãi những trái bom bi cứ như nắm tay một, rồi nghiêng nghiêng tăng tốc vút lên cao. Chợt tôi hoảng hốt, nhìn thấy làn đạn xanh, đỏ từ dưới đất bắn lên.

-Lima charlie. Đồ chơi có gai, ngươi thấy gì không?  xanh, đỏ đang lên với bạn.

 -Cám ơn, Papa oscar, thấy rõ 5 trên 5, có lẽ còn trước cả bạn. Nó sẽ câm họng.

Chiếc Phantom tiếp đến bổ nhào xuống và cắt một lúc hai trái bom, rồi biến mất sau cột khói mịt mù. Tiếng nổ khủng khiếp tạo sư chấn động, mà chỉ nhũng kẻ có tinh thần thép mới không khỏi sợ hãi khi mắt chứng kiến cảnh hãi hùng bom đạn, khói lửa bao trùm

-Papa oscar ghi nhận có tiêng nổ phụ. Xin xác nhận.

 -Lima charlie…Đúng rồi và cháy dữ dội, có thể là kho tồn trữ nhiên liệu.

Trên cao họ tinh tường thật, lúc này bình tâm tôi mới nhận ra và báo cáo…Tới tấp đánh vào mục tiêu, chiếc A1 bổ nhào ném thêm hai trái bom Napalm. Một vệt dài toàn lửa cháy dần loang, tung lên những cuộn khói đen kịt. Trên bầu trời đã mất hút chiếc F4 và chiếc A1 cũng nhỏ dần. Sau đám mây cuồn cuộn trắng. Chỉ con lại chiếc Covey quần đảo, để ghi nhận cùng xác định kết quả.

-Papa oscar…Tạm biệt, thằng nhóc. Ta đã biết mi là ai rồi. Chuyển lời khen đến mi, con trai. Ta đi lo phần việc tiếp theo.

 Tháo gỡ hai trái mìn claymore phòng thủ. Quang và Hào đã sẵn sàng di chuyển. Ngoái nhìn mục tiêu, vẩn tiếng nổ rời rạc và lửa khói bốc cao. Toán nhanh chóng vượt con suối trống trải. Biến vào khu rừng bên kia… Tiếng súng quanh quanh vẫn bắn cú một truyền tin … hay đang có một cuộc lùng sục của địch. Chiều tà mang mầu nắng vàng ệch soi rọi trên khuôn mặt mỗi người. Tàng cây rừng thưa cao ngất không đủ sức che chắn ánh nắng chiếu ngang tạo cảnh thu não lòng trên cùng hình ảnh năm cái bóng đổ dài như ma quái chập chờn. Cố gắng di chuyển thật nhanh để kiếm tìm sự che chắn. Toán bất chấp sự hiểm nguy, vì chẳng còn con đường khác. Phải nhanh chóng thoát khỏi khu rừng thưa này.


Mọi lo lắng rồi cũng qua, địa thế lại thuận tiện. Chúng tôi ăn cơm trong ánh sáng còn sót lại trong ngày. Tìm được chỗ ngủ, khi bóng tối bao trùm. Núi rừng bỗng trở nên yên lặng kỳ quái, như cố đẩy lùi những xao động vừa qua. Vài tiếng hú gọi nhau thê dài như có vẻ nhớ nhau. Trong ánh trăng chiếu rọi xuyên cành. Năm chúng tôi im lìm, lặng lẽ đi vào giấc ngủ.


7
Tiếng ngáy của thằng Hào làm tôi tỉnh giấc, chửi thề trong bụng, tôi nhoài người đưa tay lay gọi nó “mẹ cái thằng, đồ chết tiệt, ăn cho đẫy mám ruốc vào, ngủ rồi ngáy ” Xem đồng hồ, mới bốn giờ sáng. Tôi nín cười vì bất chợt được thưởng thức bản hợp tấu tiếng người ngáy và gà gáy xen lẵn tiếng đệm âm trầm của thú rừng xa xa. Điệp hình như cũng đã thức. Trần Quang xích lại phía tôi rủ hút thuốc. Tôi buột miệng dút khoát”không được”.Anh trăng treo ngang in nguyên cành lá trên gương mặt tẽn tò của Quang đã xấu lại càng xấu thêm.

Hai trái claymore phòng thủ đã được thu hồi.Toán chuẩn bị di chuyển. Sương mù dầy đặc làm hạn chế tầm nhìn và cái lạnh ướt hai hàng mi. Có tiêng súng nổ rồi bên này đáp lại. Địch đang truyền tin cho nhau. Đến một con suối cạn, bên kia dốc cao. Ngồi quan sát địa hình… Châu và Điệp đang so lại bản đồ và địa bàn. Hướng đi được xác định, phải vượt suối và khắc phục dốc cao. Châu và Điệp sang trước, ba người bên này yểm trợ. Đã có nhửng hòn đá theo chân của Châu, Điệp lăn xuống lòng suối, phát ra những tiếng va chạm lớn theo đà lăn, gây sự nguy hiểm, chú ý nếu địch ở gần đây. Bắt đầu ba người còn lại vượt qua dưới sự yểm trợ của hai người sang trước.

Vào ngay hướng đi của Toán, phía trước thoai thoải cánh rừng thưa, cây cao,bóng cả. Nắng chói rọi một mầu vàng vào từng đốm bãi cỏ bên dưới mà không bị che khuất bởi những tàn cây dâm mát. Xa xa tít ngoài, bìa rừng xanh thẵm, đẹp như tranh vẽ.

Địa thế thật bất lợi và rất nguy hiểm cho di chuyển và tác chiến. Lộ nguyên hình trong nhiệm vụ Thám-sát đồng nghĩa với nhất chín,nhì bù. Thiếu úy Điệp ra lệnh phòng thủ đợi Covey, vì thường vào giờ này đã lên bao vùng. Một con khỉ đực lông vàng, to lớn có vẻ đầu đàn, nhăn nhở cười trên cây, tay gãi gãi mân mê khoe quả quí. Ở phía xa kia  lũ chim líu lo, đanh đá đánh nhau hay đùa giỡn ầm cả một góc rừng. Có tiếng ì ì quen thuộc của Covey rồi Thiếu tá Thụ gọi. Tôi gửi ngay bức điện, Điêp đưa cho hồi sáng rồi trao máy cho Điệp trực tiếp xin yểm trợ …Lệnh chấp nhận và Toán bắt đầu di chuyển. Covey vọng ngay trên đầu.

Bở cả hơi tai, mồ hôi nhễ nhại. Cuối cùng cũng đã vượt qua trở ngại. Yên tâm hơn với địa thế hiện tại. Vẫn tiếng súng cú một quen thuộc, rồi tiếng đáp trả. Sự đe dọa tinh thần căng thẳng hay một cuộc bao vây đang hình thành vì điên tiết bởi trận oanh kích ngày qua. Point man Châu bỗng dừng lại. Tôi và Điệp lên quan sát. Con đường rộng, cách chúng tôi chừng tám hay mười mét, ngang hướng đi của Toán. Lên tiếp cận con đường, Điệp chụp ảnh và ghi nhận… Đường rộng hai mét, dấu vết thường xuyên và đang sử dụng, lá cây không bao phủ hết, lòi cả đất. Một vết trượt ngắn để lại dấu dép nghiên nghiên. Ngoắc tay ra hiệu cho Toán đi lên, chúng tôi vượt qua con đường.

Nửa tiếng nghỉ ăn trưa. Một tiếng hú lạ tai dài hơi ở hướng bắc, bên này cũng hú đáp lại. Chúng tôi nhìn nhau, lòng cũng đã hiểu. Sự sợ hãi ập tới chen lấn và len lỏi trong tôi. Nhưng rất may chỉ thoáng qua. Ý tưởng vượt khó, lồng lẫn vài gương mặt mấy em cava, xinh sắn thơm như mít, đã làm tâm hồn dịu lại. Mồ hôi chẩy dài trên mặt người đi đầu thật vất vả. Cái mặt bóng lưởng bởi thuốc bôi trừ muỗi và vắt nay lại càng bóng thêm vì mồ hôi. Bất giác mọi người nhìn nhau như muốn hỏi… Tiếng chim ré lên lao xao như đang gặp người lạ… “Kệ mẹ nó, tiếp tục, chả có chi”  Tiếng nói khẽ của Thiếu úy Điệp nghe đanh vả gọn. Vẻ lừng khừng. Châu lại tiếp tục mở đường.

Một cơn dâm buổi chiều, che khuất ánh nắng đã ngả về tây. Ranh giới của rừng rậm,lui dần về phía sau. Trước mặt dốc thoai thoải trống trải tối mù bởi nhũng tàn cây xòe rộng. Nhũng cây cổ thụ vút lên cao vẻ thách thức. Một con đường lớn băng ngang ở phía trước chia cắt bên kia rừng chồi non, bên này cổ thụ. Toán khựng lại, án binh bất động. Thật đáng ghét, đành chờ tối hẳn… Trung sĩ Quang và Hào vùa giăng xong hai trái mìn phòng thủ. Vẫn tiếng súng phát một của địch, vẫn tạo ngay sự khủng bố tinh thần. Chẳng làm chúng tôi mê mụ đi.

8

Cơm vừa xong,thì trời vừa tối. Ngồi đợi trăng lên, nhưng thiết nghĩ trăng cũng chẳng đủ sức soi rọi qua những tàn cây rậm rạp, nhưng có thể cũng đủ để không khỏi va chạm. Âm thanh núi rừng bỗng bừng bừng trỗi dậy,ma quái, huyền bí, não nuột tiếng thú khàn đục vọng dội thê lương như mãi mãi cô đơn. Ánh trăng vừa treo chếch, cũng là lúc Toán tới chạm con đường. suýt vấp ngã bởi chỗ trũng trên con đường, bước băng ngang khoảng năm bước, lại một vết trũng. Cho tôi hiểu ra rằng, đây là con đường cho xe hơi chạy. Báo cáo xong với Điệp… Lệnh qua đường, tìm chỗ ngủ.

Lắng nghe động tĩnh, nhìn đồng hồ đã mười giờ đêm. Thấy an toàn. Điệp ra lệnh cho Quang và Hào đi gài claymore phòng thủ… Cố dỗ giấc ngủ, bằng cách nghĩ một chuyện vui rồi vật vờ chìm dần… Bỗng giật bắn người lên, tiếng nhẹ xoay người từ đồng đội. Vểnh tai dựng đứng, nghe cho rõ hơn… Từng bước, từng bước. Tiếng bước chân và cành cây khô gẫy. Địch đang di chuyển thẳng vào Toán. Ánh trăng lao xao qua kẽ lá, không đủ để nhìn rõ quang cảnh. Tiếng bước chân bỗng ngừng lại. Không khí nặng nề lại nặng thêm. Tôi suy đoán địch chỉ cách chúng tôi chừng bốn hay năm mét. Nhưng rồi có tiếng khụt khịt, xong đi thẳng về chỗ chúng tôi. Thở phào nhẹ nhõm, mọi người hiểu ngay chỉ là thú rừng. Đến gần, con heo rừng cao cả thước đứng đánh hơi một chặp, mới chịu ra đi… Mẹ kiếp, đêm đến thấy vợ chưa về, bực tức đi tìm… Làm hú hồn.

Nằm yên được một chặp.Trong đêm tĩnh lặng.Tiếng động cơ ì ì nặng chịch, ngay sau lưng chúng tôi. Chắc chắn trên con đường tối qua, với hai vết lõm hai bên. Gà gáy lao xao tứ phía, lâu lâu xen lẫn tiếng người ồn ào nhưng chẳng rõ nói gì. Trăng đang gặp núi cao bên hông, tỏa ánh sáng mờ đục đùa giỡn cùng sương mù bay bay theo gió. Nghĩ lại quả là đêm của những giật mình.

Liên lạc xong với Covey, chúng tôi lại bỏ sau lưng những gì đã qua. Ngày mới lại đến, bình thường như đang trong mục tiêu.?! Mới mười giờ sáng, cái không khí oi nồng, nắng gắt trên cao và gió, gió biến đâu mất. Thời tiết tạo những cơn mưa đầu mùa. Thấy một địa thế ưng ý. Thiếu úy Điệp cho Toán nghỉ lại ăn trưa. Một chiếc phản lực lang thang ầm ĩ trên không. Ăn cơm xong, tôi thấy đau bụng lạ kì. Mượn chai dầu gió của Châu, dùng móng tay cái tôi cạo hai bên khủy tay, nhưng chẳng hết đau. Hay tại hũ mắm ruốc của Hào mà mình đã xin, sơi khi sáng.Điệp nhìn tôi e ngại. Tôi kêu Quang đưa viên thuốc và rồi  “Điệp coi dùm ba lô máy”. Tôi tất tả ra ngoài, vẹt xong lá cây, khoan khoái phóng thích của nợ. Kéo quần lên trong trạng thái thoải mái. xoay lưng chưa kịp về chỗ. Súng ầm ầm nổ chát chúa. Tôi chỉ kịp nghe tiếng của Điệp “Hải chạy đi”

9

Nhanh như chớp, tôi nhắm thẳng hướng bốn người vừa khuất. Mặc cho gai rừng quất vào mặt và cổ, cố sức phóng cho kịp đồng đội chạy trước… Thế rồi cám ơn Chúa, chúng tôi cũng đã cùng nhau một nơi. Vui thoáng qua. Bất giác tôi và mọi người cùng nhìn nhau. Chiếc ba lo máy của tôi vẫn còn trong trận địa. Ứa gan và hoảng hốt, rút vội cái máy P90 phóng làn sóng cấp cứu. Rồi nóng nẩy, điên tiết tôi nói “Trở lại lấy máy ngay,chần chừ là không kịp” Tự động tôi lao lên trước dẫn đầu, trở lại trận địa, mà cách đây chẳng bao xa.

Bên dưới gốc cây, chiếc ba lo nằm ngang, chứng tỏ khi ra lệnh rút Điệp đả cố kéo mang theo. Quan sát động tĩnh, tôi cẩn thận nhôm từng bước, bốn đồng đội yểm trợ phía sau. Chỉ còn lại khoảng ba mét nữa,tôi dần bò vào.Ngồi dậy sốc cái ba lo vô vai,thở phào nhẹ nhõm. Chỉ là đám trinh sát địch. Dưới kia hai tên địch chết nằm xấp, vũ khí văng xa. Thiếu úy Điệp ra dấu lại đây, di chuyển. Tôi ra thủ hiệu chờ một tí, lẹ làng băng xuống lấy cây AK gần nhất, tiếc rẻ nhìn cây AK còn lại, tôi tặc lưỡi… Ôi, cũng chỉ làm quà cho mấy ông Tây mà thôi.

Cây rừng chằng chịt, cản trở nhiều và lấy đi bao sức lực. Nhìn đôi găng tay đen của Châu, đã thấy rõ những vết sước tráng ởn… Mừng rỡ khi nghe tiếng Covey. Bật điện đàm tôi gọi ngay.

-Hotel bravo đây Whisky yankee Toán đụng địch, xin trợ giúp khẩn cấp.

-Whisky yankee. Tao đang tới, yên tâm.

Tôi nhận ra ngay tiếng nói đặc biệt của Đại úy Storter, thanh tao như gái.

Lấy cẩm nang mật mã, tôi đọc và gửi lên Covey báo rõ tình hình và xin triệt xuất vì Toán đã bị lộ.

Tam nghỉ mệt ngồi chờ quyết định. Hào đang mân mê cây AK và lắc lắc tay ra dấu vô ích, súng hết đạn rồi.Trong máy có tiếng gọi Toán và Đại úy Storter thông báo, yêu cầu đã được chấp thuận và xin cửa sổ nhà tôi. Móc trong túi áo ngực lấy cái gương,chiếu thẳng lên Covey.

-Whisky yankee. Đi về hướng đông 200 mét,có bãi đáp.

Thông báo cho Thiếu úy điệp. Toán vội vã di chuyến, tẽ ngang hướng đông, được chừng 100 mét. Phía trước cây rừng thưa, từng bụi rậm rải rác chen lấn nhau. Điệp ra dấu ngồi xuống, quan sát địa thế. Toán đang đứng trên ngọn đồi. xa xa một khoảng trống bãi cỏ vàng, nhởn nhơ dưới ánh nắng vàng quá trưa. Thót người vì tiếng hú ngay sau lưng, kèm theo tiếng người. Rất nhanh, Toán đều tìm được mỗi người một gốc cây và sẵn sàng. Tôi gọi ngay cho Covey báo đụng địch và xin trợ giúp… Tiếng chân người xen lẫn những cánh tay vẹt cây rửng, từ từ đến thẳng chúng tôi… Sự căng thẳng, hồi hộp trên từng nét mặt, gần tôi, Hào đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt. Tôi, tim như ngừng đập theo từng tiếng bước chân của địch. Châu và Điệp tay đang mở bao bi đông nước trong có chứa khoảng hai mươi trái lựu đạn mini… Loạt đạn đầu tiên của Trung sĩ Quang đã làm hai tên địch đi đầu vật ngửa, mà chẳng kịp nhìn thấy ai…Tiếng hô hoán, ra lệnh bỗng chốc ầm ĩ sau loạt đan của Quang. Tiếp đó,cái không khí nặng nề lại đè lên hiện trường, kèm theo mùi thuốc súng cộng lá cây rừng. Bên này đồi ,nghe thấy tiếng quát thúc dục. Toán chúng tôi đang bị bao vây bằng hai cánh quân. Địch đã đến gần và trực diện với chúng tôi bằng những loạt đạn phủ đầu áp đảo. Nép vào gốc cây, nhìn nhũng vết đạn cày sước, đất bắn tung tóe. Tôi gọi Covey trong lúc bốn đồng đội tác chiến.

-Hotel bravo. Anh có mang theo đồ chơi không,bật khói vàng cho anh chơi nhá.

-Whisky yankee, rất tiếc tôi không trang bị đồ chơi.Hãy cố gắng…Con hổ mang đang trên đường đến… Chạy ra bãi đáp sau lưng.

Bằng vào hỏa lực của mình.Toán cầm cự nhờ vào địa thế thuận lợi trên cao. Chúng tôi chơi lựu đạn dễ dàng và chính xác. Quang bò ra sau chúng tôi lo gài trái claymore để mở đường máu, tay đang sởi cuộn dây điện bấm mìn… Bất thần tiếng hô “Muốn sống đầu hàng đi, chúng mày bị vây chặt rồi “Đáp trả bằng một băng đạn vào chỗ tiếng nói. Nóng nẩy và điên tiết tôi gào lên “chửi thề”.  Bên dưới Quang đã gài mìn xong ra hiệu cho Toán rút xuống từng người. Đòn cân não và những loạt đạn qua lại chứng tỏ địch không đông… Giờ này địch đã chiếm được vị trí cao mà chúng tôi mới bỏ lại. Bên gốc cây to, bạnh.  Điệp chỉ chiếc balo rách, đạn cày phá tung bên hông, nước trong bi đông giờ còn nhỏ giọt. Trên kia bốn cái xác địch nằm dài xuôi tay quanh những tay súng lâu lâu xuất hiện bắn xối xả vào chúng tôi. Địch đang chờ tiếp viện để làm cỏ Toán tôi.

10 /last

Tiếng súng xối xả của cả hai bên đánh bật đi tiếng Covey, mà có để ý mới nghe thấy. Tôi vẫn bấm mở máy điện đàm để Covey có thể theo dõi tình hình và thưởng thức diễn tiến trận đánh bằng âm thanh. Có tiếng thét thúc dục của cấp chỉ huy địch. Những lằn đạn cày sới, hất tung đất cát lên cao và lả tả vỏ cây văng vãi trên đấu và vai. Cây M79 của Hào tỏ ra thật hữu hiệu, áp đảo trận địa. Hào chứng tỏ sự nhanh nhẹn,thông minh, chính xác trong tác chiến. Cây M79 của hắn thật tuyệt vời đã làm khưng lại cuộc tấn công, vì sau tiếng nổ của những trái M79. Phía địch gần như phải lo chống đỡ hoặc ẩn núp. Nhuần nhuyễn trong bài bản chiến thuật, lúc này mới thấy được tính hữu dụng của những giờ khó nhọc thực tập. Chiếc Covey xà xuống thật thấp, bay theo kiểu khủng bố với tiếng động cơ hết cốt. Xẹt,ào ào trên trận địa. Đèn xanh đã được bật trong chiến thuật quen thuộc. Covey gọi tôi.

Whisky yankee Phá vòng, chạy thẳng ra bãi đáp hướng đông.

Tôi báo cáo cho Điệp, hiểu Điệp ra lệnh chơi lựu đạn… Bất chấp Toán đồng loạt đứng lên. Mỗi người tay lựu đạn lấy hết sức ném về phía đối phương. Trung sĩ Quang nổ trái claymore. Toán chúng tôi hè nhau, vắt giò lên cổ, chạy thục mạng, nhắm hướng đông có bãi đáp. Dưới sự che khuất bởi khói và đất cát mịt mù của lựu đạn và mìn nổ. Cố hết sức, kết cục cũng ra được tới bìa rừng và thấy rõ những chấm đen của trực thăng đang lao tới. Thoải mái và phần nào lạc quan. Nét hân hoan hiện lên tửng khuôn mặt chờ đợi trực thăng bốc về.

-Whisky yankee. Con trai,mở cửa đi

Thiếu úy Điệp ra khỏi tàn cây rồi lắc gương.

-Whisky yankee. Thấy rồi. tiến ra khoảng trống, một trưc thăng sẽ bốc hết Toán.

Tiếng trực thăng chém gió đang quần ngự trên đầu. Hai chiếc Cobra, vòng chờ đợi sự điều khiển của Covey. Trên cao bốn chiếc Kingbee vẫn chưa chịu hạ thấp.

-Whisky yankee, ra ngay bãi đáp và chuẩn bị panel vàng. Hải, coi chừng phía bìa rừng.

Toán chạy thẳng ra bãi trống, phất panel vàng theo mật lệnh, trong lúc loạt rocket đầu tiên bốn, năm trái đươc phóng xuống nổ tung dài theo bìa rừng… Xa luân chiến… Tiếp theo sau, Cobra thứ hai, bay đầu chúc chúc… Tiếng đại liên mini, cùng 40ly tự động nghe phần phật, rồi nổ văng vãi dưới đất. Hai chiếc Cobra đảo vòng hai cũng là lúc chiếc Kingbee đang xuống bãi đáp. Phía sau hỏa lực của Cobra lập thành hàng rào thép cho Kingbee. Chiếc Cobra thứ hai lù lù phía sau… Nằm vội xuống đất, trong khi từ bìa rừng, cách Toán khoảng 50 mét, tiếng súng thi nhau nổ… À,mày chơi cú chót… Tôi thấy rõ chiếc Kingbee xẹt ngang qua đầu. Cây đại liên M60 phun ra lửa. Người xạ thủ đứng hẳn lên, vãi đạn xuống bìa rừng. Nhưng trực thăng bỗng bốc lên cao.

Hỏa lực của Cobra chơi bằng đủ mọi đồ chơi hiện có.Toán chúng tôi nằm chết dí tại bãi đáp. Địch đang nỗ lực chơi máy bay, tạm tha cho chúng tôi. Vẫn xa luân chiến, hai Cobra thi nhau tận dụng mọi hỏa lực và đang áp tải chiếc Kingbee xuống bãi. Người xạ thủ trên Kingbee nổ tới tấp vào bìa rừng, trong khi hỏa lực từ Cobra cày tung tóe đất cát. Một địa ngục lửa thép… Nhưng, rõ ràng là một thằng điên đứng chạy với cây thượng liên nồi xối xả bắn vào trực thăng. Lạ lùng cây M60 trên trưc thăng không làm hắn ngã được. Kingbee đáp hẳn xuống bãi. Hai Cobra vẫn bân bịu ở bìa rừng. Nhưng không thể ngăn được chừng cả chục tên địch đứng chạy bắn đuổi theo chiếc Kingbee. Trên trực thăng, tôi dơ cao khẩu AK chiến lợi phẩm dí dí thẳng vào mặt đối phương.

Toán về đến CCC (Snowden Hall) . Trời vừa ập tối. Nhân viên phòng Hành-quân ra đón, tay bắt mặt mừng. Chiếc Kingbee đang được soi đèn đếm vết đạn. Ông Thiếu tá người Mỹ dơ cao cây AK tôi mới trao, miệng cười ha hả. Trên sân lúc này chỉ còn ba chiếc Kingbee, hỏi ra, một chiếc bận đưa người xạ thủ bị thương lên tận Pleiku.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 9 Oct 2023

Trời Mùa Đông Hà Nội…Suốt Đời Làm…..Chia Ly!

Đặng Chí Bình

Bài 38

Tôi cứ tưởng, lại sẽ được đón nhận một cái Tết nữa ở Hỏa Lò, một cái Tết đầu tiên ở trại chung. Thế nhưng, mới chừng mươi ngày sau ngày xử án, vào một buổi sáng sớm, mới khoảng 4 giờ, trời còn tối đât, rét căm căm, mưa bay nhì nhẹt, đã có một lũ cán bộ vào mở cửa buồng, rồi đọc tên 50, 60 người gọi ra sân, hầu hết là trẻ con và thiếu niên, trong đó có tôi là người lớn duy nhất.

Khi chúng tôi ra tới sân, tên Lê mới tuyên bố là đi trại. Một số đi Mai Lĩnh, một số đi Kỳ Sơn.

Vì đột suất, vội vàng, nên tôi chỉ bắt tay từ giã được một số cậu thanh niên, với những cái ôm chặt hẹn hò, ngày mai của cuộc đời. Chính các cậu ở lại, và ngay cả một số cậu đi, thậm chí ngay cả tôi đều băn khoăn. Chả lẽ chúng lại cho tôi đi trại Kỳ Sơn là trại toàn loại thiếu niên hư từ 13 đến 17 tuổi, chỉ có một mình tôi là người lớn, và lại là tội chính trị nặng cân nhất?

Tay tôi xách một ba lô quần áo (bây giờ, lại có quần áo, chăn màn do các cậu ấy trang bị cho), lẽo đẽo theo một lũ thiếu nhi rách rưới, ghẻ lở ra phía cổng Hỏa Lò.

Khi đoàn tù ra tới cổng, một tên cảnh sát lạ, tay cầm một cái còng số 8, tiến đến yêu cầu khóa tay tôi. Thân tù từ 6 năm rồi, đã mặc nhiên quen thuộc, chấp nhận mình không còn là của mình nữa, mà là của người khác, nên tôi mặc chúng muốn làm gì thì làm.

Mới 5 giờ sáng đã phải ra cổng! Trời chưa sáng hẳn, trong cái nhếch nhác ướt át của mưa Đông, thế mà, vẫn có một người chạy từ trong dẫy nhà cán bộ ra, dưới mưa rơi, mớ tóc bồng bềnh chưa kịp chải; đến nỗi những đôi mắt của tên Lê và lũ cán bộ mở to, quay cả về hướng người vừa chạy tới.

Tôi đã thấy rồi, từ lúc nãy, còn ở xa kia. Hai tay tôi đã bị chúng khóa chặt; nhưng, chúng không thể khóa được trái tim đang nhảy nhịp rộn rã của tôi, khi thoáng thấy bóng hình ai. Từ buổi xem xi nê bữa ấy cho tới nay, phải nói, tôi đã lẩn tránh nhiều lần, rồi vắng hẳn. Tôi tưởng rằng, chắc cô cũng nhận ra là tình cô đã trao không nhằm chỗ. Tôi cũng yên lòng nhẹ gánh ra đi về miền núi rừng heo hút, làm bạn với mây ngàn, gió núi trong cảnh đời ngục tù, tủi nhục lầm than…..

Hôm nay cô còn ra đây làm gì? Điều này cũng nói lên, chuyện ra đi của tôi bất ngờ đối với cô; và cả lệnh này nữa, phải từ Bộ, từ Sở xuống, nên cô mới không biết. Tên Lê hướng về phía cô hỏi giật giọng:

-Chạy đi đâu? Ra đây làm gì, sớm thế?

Tay cô đang cầm hai chiếc lọ con con, cứ giơ ra phía trước. Mặt cô tái mét, thở hổn hển, đứt quảng, chưa thể nói lên lời. Mãi một lúc sau, cô mới chỉ hai đứa nhỏ là thằng Phúc “Lủi” và thằng Hỷ “Con” (hai đứa đang run lập cập, khoác nửa mảnh chăn rách tả tơi):

-Cháu hẹn hôm nay cho hai đứa này thuốc ghẻ, thế mà chúng lại phải đi trường, sợ trên đó hiếm. Vả lại, đã hứa cháu phải cho chúng.

Ghẻ thì nhiều đứa ghẻ kềnh, ghẻ càng, thế mà chỉ có hai đứa được cho. Cũng chẳng hiểu hai đứa có xin không, mà lúc này cô phải chạy như ma đuổi để đưa thuốc. Tôi nhìn thấy, cô tiến đến đưa thuốc cho hai đứa, mắt cô lại đăm đăm nhìn tôi.

Ôi, màu hoa thiên lý đã đong đầy mắt ai, giờ chỉ còn là màu héo úa, tan tác. Những hạt mưa phùn lấm tấm đẫm ướt bờ mi. Đôi môi mọng ướt căng đầy, của những buổi trưa yên tĩnh trong xà lim ngày nào, giờ tái nhợt như run run thổn thức…Sợ tên Lê và một số tên cán bộ để ý thấy, tôi phải quay nhìn những cây sấu phía bên kia đường, cũng đang ướt át. Dưới mưa, chúng cũng run rẩy như thông cảm với nỗi niềm bàng hoàng xót xa, trong lòng người con gái đang phải nhìn mối tình đầu tan vỡ. Tôi nén một tiếng thở dài.

Đoàn tù trẻ con theo nhau lần lượt ra hai chiếc xe vận tải (kiểu GMC) đã cũ mèm. Gần 40 đứa nhỏ lên xe để đi về trại Kỳ Sơn, Hòa Bình. Chúng nó phải đỡ tôi mới trèo được lên xe. Trên xe, đã có hai tên công an vũ trang mang hai khẩu CKC, ngồi hai bên phía cuối. Băng trên “ca bin”, một tên cảnh sát Hỏa Lò ngồi cạnh tài xế.

Qua màn mưa giăng mong mỏng, từ một góc khuất phía cổng Hỏa Lò, cô Vân cầm chiếc khăn trắng thỉnh thoảng đưa lên mặt. Chẳng hiểu cô lau nước mắt hay thấm nước mắt? Những giọt lệ xót xa! Có phải cô khóc thương những em nhỏ tuổi còn non, đã sớm phải cảnh tù đầy? Hay cô nhỏ lệ cho một mối tình dang dở?…..

Tôi lờ đờ nhìn đường phố Hỏa Lò hoang vắng, không một bóng khách bộ hành; nhìn những hạt mưa nhảy múa quấn quít theo từng cơn gió lạnh; nhìn đôi tay mình ép chặt trong khoen cùm số 8, tôi chợt nhớ đến lời một bản nhạc buồn của nhạc sĩ Phạm Duy, lời của Cung Trầm Tưởng:

“…..Trời mùa Đông Paris, suốt đời làm … chia ly…..”.

Mùa Đông Hà Nội! Đẹp và buồn hơn nữa, mùa Đông “Hilton”! Vĩnh từ Người Hưng Yên!…..

Xe chuyển bánh. Những hạt mưa phùn cũng làm ướt cả mắt tôi. Hỏa Lò mờ dần…..Chiếc xe chậm chạp, chui dần vào mưa Đông…..

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 9 Oct 2023

“Bản Án” Việt Cộng Dành Cho Đặng Chí Bình!

Đặng Chí Bình

Bài 37

Hôm nay đã 29 tháng 12 rồi. Ngày mai là ngày tôi sẽ phải ra trước vành móng ngựa.

Dù trong thâm tâm, tôi đã hiểu là dưới chế độ Việt Cộng, vấn đề xử, hay không xử, cũng chỉ có tính cách ý niệm thôi; và tuy rằng lúc này tôi nhìn về Cộng Sản còn nhiều mặt chưa hiểu, hoặc cũng chỉ hiểu một cách phiến diện, mức độ; tôi cũng thấy rằng có án, hay không có án, án nặng hay án nhẹ, chưa phải là khâu quyết định. Nhất là với loại tội của tôi và trong hoàn cảnh đất nước hai miền như thế này. Chính vì lý do đó, ngày ra tòa đến nơi, tôi cũng không thấy nhiều băn khoăn, bận tâm.

Về chiều, lúc gần hết giờ, bác Khánh ở ngoài sân vào, bảo tôi ra gặp cán bộ Kế. Khi tôi đã ngồi vào chiếc ghế trước bàn y, mặt y trang nghiêm nhìn tôi một lúc, rồi nói:

– Bây giờ, cho anh rửa ráy, tắm gội sạch sẽ. Sáng mai dậy sớm, quần áo gọn gàng. Ngay từ 7 giờ rưỡi, sẽ có cán bộ vào dẫn anh ra tòa ngày mai.

Thực ra, từ ngày tôi chuyển từ xà lim ra buồng này, do tên Kế phụ trách, tôi cũng không ưa hắn lắm. Rất ít khi tôi ra bàn ngồi nói chuyện với hắn. Trong khi đó, thỉnh thoảng hắn vẫn gọi bác Khánh, hay Thọ “Lột” là trật tự ra nói chuyện. Vì vậy, thấy hắn nói như thế, tôi đứng lên ngay và nói xin đi ra rửa mặt.

Đúng như tên Kế nói, sáng hôm sau, mới 7 giờ rưỡi, chưa tới giờ làm việc, tên Bằng đã vào mở khóa gọi tôi ra. Sau khi đã khóa buồng lại, y hỏi tôi ra vẻ quen thuộc nhưng vẫn lạnh lùng:

– Từ ngày ra trại chung, anh có khỏe không?

Tôi cũng khô khan:

– Cảm ơn ông, khỏe!

Ra tới phòng trực, tôi thấy có hai tên cảnh sát mặc đồng phục lạ hoắc. Chắc hai tên này ở bên tòa cử sang nhận lãnh tôi. Sau khi đã ký vào sổ, một tên quay lại tôi, vừa móc trong túi rết ra chiếc còng số 8, vừa gằn giọng:

– Theo thủ tục, anh đưa tay, tôi khóa lại!

Thấy thái độ của chúng khô khan, tôi cũng chả buồn nói năng chi. Tôi giơ cả hai tay cho chúng hì hục khóa.

Một tên đưa tay ra hiệu tôi đi trước. Hai tên đi theo phía sau, đeo súng ngắn. Ra khỏi cổng, nhìn thấy phố “Hỏa Lò”, tôi đăm chiêu nhìn chỗ tôi đã tuột xích xe đạp, cả chỗ tôi đã ném chiếc xe và những chỗ tôi đã chạy, cách đây đã hơn 3 năm rồi. Cả một đoạn phim buổi trốn tù ngày ấy như hiện ra trước mắt tôi. Thế mà đã ba năm rưỡi rồi. Bao nhiêu là đổi thay!

Ra hết đường “Hỏa Lò”, chúng bắt tôi rẽ tay trái, đi về phía tòa án Hà Nội cũ. Từ ngày trở vào Hà Tĩnh lấy những vật dụng chôn dấu đến bây giờ, đã gần năm năm rồi, tôi mới lại nhìn thấy một góc phố phường của Hà Nội.

Một số người qua lại đưa mắt tò mò nhìn tôi, một tên tù bị khóa hai tay, đàng sau có hai tên áo vàng áp tải. Họ nghĩ gì, khi trên mảnh đất này chuyện tù đầy, gia đình nào chả có! Về phần tôi, trong tâm tư mình, tôi nhìn những người qua lại thấy thật xa lạ, như của một thế giới khác; tôi chẳng còn dính dáng gì đến những cảnh đời sống của họ; mặc dù nguyên nhân tôi phải ở trong cảnh này, có phần liên quan đến họ. Sao bây giờ xa lạ thế! Tôi nhè nhẹ buông một tiếng thở dài như để vơi đi nỗi niềm nặng chĩu trong lòng.

Khi tới cổng tòa án, chúng dẫn tôi đi tít mãi vào sâu phía trong, qua một số hành lang, tới một căn buồng nhỏ. Chúng ra hiệu cho tôi vào đó ngồi chờ. Hai tên cảnh sát đứng gác phía ngoài cửa.

Tôi ngồi, hồi tưởng lại mười mấy năm về trước. Lúc đó, vào khoảng 1953, tôi còn là một cậu bé, cùng mấy người bạn, một hôm, rủ nhau xuống tòa án xem đầu lâu người chết. Chúng tôi đã vào những căn hầm phía sau của tòa án Hà Nội, nhìn từng đống đầu lâu trắng hếu, với hàm răng nhe ra như cười, và hai hố mắt sâu hoắm, lẫn với những ống xương tay, chân xếp đầy những căn hầm. Người lớn nói rằng, đó là đầu lâu giặc Thanh cướp nước bị quân ta tiêu diệt, trong trận vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789.

Cảnh tòa án ngày ấy, so với bây giờ, chẳng hề thay đổi. Có chăng, chỉ khác tấm biển đỏ loẹt to tướng ngay phía cổng ra vào:” Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội”; và nhà cửa, tường vách rêu phong thẫm màu hơn. Tôi còn đang đầy vơi với bao nỗi niềm mới, cũ, hai tên cảnh sát đã ra hiệu cho tôi đi theo vào một căn buồng khác nhỏ hơn.

Hàng tiếng đồng hồ sau, chúng mới mở khóa tay cho tôi, rồi dẫn qua một cửa nhỏ ra một căn phòng rộng thênh thang. Trong phòng, đã có một số người ngồi sẵn từ bao giờ. Ở một góc, một tên đeo kính trắng, mặc áo “vét tông”, ngồi trong một cái khung đánh “vẹc ni” mầu cánh kiến, bóng loáng. Đối diện phía góc bên kia, cũng có một tên ngồi trong một cái khung như vậy. Như thế, tất cả có 5 tên.

Hai tên cảnh sát giong tôi vào một cái khung, cũng bằng gỗ hình cong cong; bây giờ tôi mới hiểu đó là… vành móng ngựa. Hai tên cảnh sát lùi ra phía sau, ngồi vào hai chiếc ghế đầu, cách tôi khoảng 2 mét.

Không một tiếng động, vắng lặng, nặng nề; trừ những tiếng lật trang giấy loạt soạt, tiếng cục kịch của những chân tay đụng vào bàn, tiếng tích tắc của quả lắc chiếc đồng hồ to đang chậm chạp đu đưa ở trên tường. Mấy hàng ghế dành cho khách ngồi dự trống trơn. Toàn bộ trong phiên tòa, kể cả hai tên cảnh sát và tôi, vỏn vẹn chỉ có 8 người. Chỉ riêng tôi, duy nhất, không có ghế ngồi, cứ phải đứng chơ vơ trong cái vòm khum khum hình móng ngựa.

Đột nhiên, một tiếng “cộc” khô khan của chiếc vồ nhỏ bằng gỗ, do một tên ngồi phía trái đập xuống bàn, làm rung rinh tấm hình lão râu dài treo ở trên tường, phía chính giữa. Tên đập vồ, đứng dậy dõng dạc:

– Kính thưa các đồng chí, phiên tòa đã bắt đầu. Kính mời đồng chí đại diện Công Tố Viện phát biểu.

Tên đeo kính trắng ngồi ở trong một khung gỗ đứng dậy, tay cầm một tập giấy, y hắng dặng một cái để lấy giọng trước khi đọc:

“Kính thưa đồng chí Chánh Án, đồng chí đại diện Viện Kiểm Sát, đồng chí đại biểu Nhân Dân Thành Phố Hà Nội.

“Đứng trong vành móng ngựa là tên Đặng Chí Bình, tức v.v… và v.v… Y là tay sai của Mỹ Diệm. Y đã được Trung Ương Tình Báo của Mỹ và Ngụy quyền miền Nam đào tạo, huấn luyện công phu, rồi bí mật đột nhập vào thủ đô Hà Nội, để thực hiện những âm mưu cực kỳ phản động, chống phá cách mạng. Nhưng, trước sự lãnh đạo tài tình của đảng, và màng lưới trăm tai nghìn mắt của nhân dân, y đã bị phát hiện và bị tóm cổ. Trông mặt y ra vẻ thư sinh,ngơ ngơ ngác ngác, nhưng y lại là một tên vô cùng nguy hiểm, suốt ngày đêm lang thang khắp mọi nơi. Ăn cơm từ mỗi bữa hai hào, đến những bữa 20 đồng. Ngủ trọ mỗi đêm từ hai hào không có màn, đến 6 đồng một đêm. Y luồn lọt chui rúc khắp hang cùng ngõ hẻm, tiếp xúc với đủ hạng người. Bị bắt rồi, y còn ngoan cố bao che đến cùng, những tội ác của Mỹ Diệm. Một lần, y đã lợi dụng sự vô tình của đồng chí chấp pháp, định đánh chết đồng chí ấy để đào thoát về Nam, v.v… và v.v…

Y đọc bài, đọc mãi, nào là phản động từ trong máu, trong xương tủy, đã ăn nhiều bơ thừa sữa cặn của đế quốc Mỹ; nào là đề nghị tòa xử đích đáng, để làm gương cho kẻ khác, v.v…

Tôi chả nhớ hết được. Y đọc hàng tiếng đồng hồ. Hai chân tôi đứng đã mỏi nhừ. Mắt tôi cứ lơ đãng, hết nhìn chiếc quả lắc đồng hồ đong đưa, lại nhìn hình tên Hồ Chí Minh. Tên cáo già này cũng đang đăm đăm nhìn tôi. Tâm trạng của tôi lúc này là, giá chúng cho tôi nằm ngủ, còn chúng muốn xử tôi bao nhiêu, xử thế nào cũng được, mặc! Bởi điều quan trọng là, nếu chúng xử tôi công khai, có quần chúng nhân dân dự, có phóng viên báo chí quốc tế….., tôi nghĩ, ai cũng sẽ như tôi, đằng nào cũng chết tàn lụi trong tay chúng; vậy, với điều kiện có thể làm được, chả ai dại gì không nói lên một số sự thật cho nhân dân và thế giới biết. Như vậy còn có một chút ý nghĩa. Tôi đã chuẩn bị một số ý từ những ngày hôm trước. Nhưng cho đến hôm nay, tôi mới hiểu là chúng xử tôi, chẳng có một người dân nào dự cả. Vậy, tôi còn quan tâm, để ý nhiều làm gì, nên mặc cho chúng sỉ vả, nhiếc mắng. Điều quan tâm là chúng đã xử sắp xong chưa, để tôi còn về chén tí cơm đã, đói và mệt rồi.

Hết tên Công Tố Viện, lại đến tên Viện Kiểm Sát Nhân Dân đứng lên để kết tội. Hắn lại như con vẹt nhắc lại:”…Kính thưa đồng chí Chánh Án, đồng chí đại diện Công tố viện, đồng chí đại biểu Nhân Dân…”. Nào là “…không những ta đang xử tội tên Đặng Chí Bình mà ta còn xử cả hai tên hung đồ, đứng sau phía sau y (tôi giật mình quay lại, tưởng chúng lại xử cả hai tên cảnh sát), là tên đầu sỏ đế quốc Mỹ và tên Ngô Đình Diệm (ông ấy chết rồi, còn đâu)…”. Giọng y lè nhè như thèm thuốc lào. Y nhắc lại những ý của tên Công Tố Viện lúc nãy, rồi “khai triển” thêm để kết tội và sỉ vả. Mới chỉ có hai tên nói, đã hết buổi sáng. Tòa nghỉ, để 1 giờ chiều tiếp tục. Hai tên cảnh sát lại khóa tay, giong tôi về Hỏa Lò.

Vào trong buồng, nhiều anh em đến thăm hỏi, tôi đều nói chưa xử xong. Tôi chỉ kịp ăn vội lưng bát cơm trong 5, 7 phút đồng hồ, tên Bằng đã lại vào gọi tôi tiếp tục đi rồi. Khi tới phòng trực, tôi thấy vẫn là hai tên cảnh sát lúc sáng.

Sau khi tôi vào phòng xử, tên đại biểu Nhân Dân Thành Phố (sao mà lắm nhân dân thế) đến lượt đứng lên. Lại cũng nạt nộ, sỉ vả. Tay y run rẩy cầm tờ giấy, mắt y lơ láo sau chiếc kính lão. Môi dưới y thưỡn ra như môi con cá ngão. Mỗi khi y nhấn mạnh hay kéo dài, chiếc môi đó lại dề ra như mồm con chão chuộc xám xì, đầy bọt. Nào là “…dưới sự lãnh đạo tài tình của Hồ Chủ Tịch, dưới ánh sáng của đảng tiền phong của giai cấp công nhân…”; nào là “…nâng cao vũ khí chuyên chính vô sản, đập tan mọi kẻ thù phản động trong cũng như ngoài nước, để chóng hoàn thành sứ mạng lịch sử của đảng Mác xít, Lê nin nít là nhuộm hồng trái địa cầu này”, v.v… và v.v… Y ca ngợi, y bốc thơm chế độ của y như múi mít. Rồi, y chỉ tay vào tôi, nước bọt văng vãi tứ tung, y gào lên:

– Tên Đặng Chí Bình này thật là nguy hiểm, y vờ vịt nói thích bác Hồ, muốn theo cách mạng, mục đích chỉ để che đậy những tư tưởng, những ý đồ cực kỳ phản động của y. Cụ thể, y đã định đánh chết cán bộ của ta để đào thoát. Vì thế, là đại diện của nhân dân, tôi đề nghị các đồng chí hãy xử phạt đích đáng, như một cái tát vả vào mặt tên đầu sỏ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam!…

Tôi thấy, y cứ nhai đi, nhai lại một vài ý luẩn quẩn. Chẳng qua, y cũng chỉ là một trong những cái máy, hay cái băng đĩa ghi và phát âm mà thôi. Vậy mà cũng ra vẻ sừng sộ để đến nỗi tên Chánh Án ngồi bên cạnh phải nhăn mặt lau má mấy lần, vì nước bọt ở mép y văng ra một cách vô tổ chức.

Tóm lại, 3 tên nói thì cả 3 tên cũng chỉ kết tội và sỉ vả. Cuối cùng, tên Chánh Án chỉ vào mặt tôi, tuyên bố:

– Cho phép bị can phát biểu ý kiến một lần!

Hai chân tôi như tê đi vì phải đứng quá lâu. Với quan điểm của tôi, như đã trình bầy ở trên, tôi thong thả trả lời:

– Kính thưa tòa, tôi tin rằng những việc tôi làm và những tình tiết nội vụ đã được các ông xác định. Qua phiên tòa này, tôi càng nhìn rõ chế độ ưu việt của nhà nước ta hơn. Xin hết ý kiến.

Một tiếng vồ đập nữa, tòa vào trong phòng nghị án. Mười phút sau, vồ lại nện, chúng lục tục kéo ra.

Tên Chánh Án đã ngoài 50 tuổi, tôi nhớ nhất là y có cái mũi hếch, làm nhiều khi tôi cứ tưởng như y đang ngửa mặt nhìn lên trần nhà. Y ra cái vẻ trịnh trọng tuyên bố:

“Xét rằng:

– Vì tính chất nghiêm trọng của tội trạng,

– Vì sự an ninh của nhân dân và Nhà nước,

– Để nâng cao tinh thần cảnh giác, đối với những âm mưu nham hiểm của Mỹ Ngụy trong thời chiến.

– Để thể hiện sự khoan hồng nhân đạo của chế độ, lấy giáo dục cải tạo là chính.

Tòa quyết định:

Xử phạt tên Đặng Chí Bình, tức v.v… 18 năm tù giam và 5 năm mất quyền công dân.”

Hai tên cảnh sát dẫn tôi vào một căn phòng khác, trong đó đã có một người, trạc 40 tuổi, ngồi với một chồng hồ sơ trên bàn. Y chỉ tôi ngồi xuống một chiếc ghế đối diện, giọng Bùi Chu như tiếng gà Tây ỏn ẻn:

– Theo quy chế của tóa án Nhân Dân, tòa cho phép phạm nhân được quyền ký giấy chống án trong vòng 15 ngày, kể từ ngày tòa tuyên án. Vậy, anh có ký giấy chống án hay hông?

Dù lúc này, tôi chưa hiểu Việt Cộng lắm, tôi cũng hiểu là dưới chế độ Cộng Sản, khi chúng đã định xử mình bao nhiêu năm, nếu mình chống án, như vậy lại sang tội tư tưởng ngoan cố, không thừa nhận mức độ của tội trạng, còn chống lại sự phán xét của…đảng. Từ xưa tới nay, đảng đã bảo, đã xét, đã phê phán điều gì, có sai bao giờ đâu!.

Tóm lại, chống án, không những không giải quyết được gì mà chỉ có hại. Nghĩ như vậy, tôi lắc đầu gạt ngay là không có chống chung gì cả. Tuy vậy, tôi vẫn phải ký vào một bản… không chống án. Ừ thì ký, có sao đâu. Đầu óc tôi đang ngây thơ nhẩm tính một con toán cộng: 18 năm. Mình đã có 6 năm ở xà lim Hỏa Lò rồi, chỉ cón 12 năm nữa. Năm nay, 29 tuổi. Hai mươi chín với 12 là 41 tuổi. Còn trẻ chán! Dứt khoát là còn trẻ hơn ông già 50 mà.

Hai tên cảnh sát lại khóa tay tôi, giong về Hỏa Lò. Lúc tôi vào buồng, anh em đến thăm hỏi, sau khi biết được tôi bị 18 năm, nhiều cậu lắc đầu, lè lưỡi. Như vậy là hết cuộc đời rồi!

Cho tới mấy ngày hôm sau, nhiều cậu cũng phải băn khoăn một điều là, tại sao không thấy tôi buồn mấy. Thậm chí nhiều cậu hỏi:

– Chúng em lấy làm lạ! Thái độ của anh sau khi nhận một bản án 18 năm, vẫn không khác gì những ngày trước?

Thực ra, tôi cũng suy nghĩ để thấy được nguyên nhân. Ở đây, có hai khía cạnh của vấn đề, tuy không rõ nét, nhưng nằm ẩn tàng trong sự việc, để thành một cái khung bên trong của thái độ bên ngoài của tôi.

Thứ nhất, nếu nói về sự việc, tình tiết diễn tiến công khai trên giấy trắng mực đen, 18 năm là quá nặng. Bởi vì, tuy tôi có nhận nhiệm vụ của Chính quyền Sài Gòn bí mật xâm nhập Hà Nội; nhưng tôi không hề hoạt động, hay làm bất kể việc gì cho Sài Gòn. Gần một tháng trời, tôi chỉ đi chơi lang thang, tìm xem cảnh cũ, thành xưa. Rồi tới khi bị bắt, tôi đã vội vàng khai báo ngay sự thật, và chỉ giốc một lòng yêu xã hội chủ nghĩa, với khẩu hiệu như kim chỉ Nam: nếu không làm gì lợi được cho cách mạng, thì cũng dứt khoát không làm gì hại cho cách mạng.

Thứ hai, với những tư tưởng và những sự việc tôi đã làm, 18 năm là quá nhẹ. Nếu cứ như thực tế sẽ còn nhiều người nữa đồng vụ cùng ra phiên tòa, để rồi dứt khoát phải có một vài người không còn chỗ đội mũ, trong đó cũng dứt khoát phải có.. kẻ đang ngồi viết mấy dòng này!

Chính vì những niềm sâu kín như vậy, cho nên thái độ của tôi đều lặn sâu vào bên trong, để bên ngoài vẫn bình thản như những ngày trước đấy.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 9 Oct 2023

Phim “Thần Thoại”: Một Thủ Đoạn của Cộng Sản!

Đặng Chí Bình

Bài 36

Sáng hôm nay, trời không mưa nhưng rét thật ngọt. Cứ vào giờ bắt đầu làm việc (8 giờ), sân trại lại nhộn nhịp tấp nập đầy người. Quen lệ, khi ra tới chỗ bể rửa mặt, tôi vừa rửa vừa đưa mắt về phía cửa buồng số 8, buồng giam những tội phạm chính trị “nặng ký”.

Sự để ý chờ đợi của tôi, chẳng phải vì buồng ấy có nhiều người tội nặng (tôi có biết tội lỗi của họ ra làm sao đâu). Sự chú ý của tôi chính là, bao giờ cũng vậy, khi buồng ấy xếp hàng đợi đi ra cho cán bộ điểm, ở hàng cuối cùng, một hình ảnh quen thuộc luôn luôn lôi cuốn tâm trí tôi: một anh, chừng 30, 35 tuổi với chân phải cụt đến sát háng và tay phải, từ vai, chỉ nhô ra một đoạn chừng mười phân, nghĩa là cũng cụt từ phía trên khuỷu tay. Vì chân và tay đều cụt về một phía, cho nên đầu nạng chống vào nách của anh, phía bên tay cụt, phải có một cái quai bằng dây vải, đeo và buộc vào vai anh. Chỗ ngang bụng lại có một sợi dây nữa, quàng ra buộc chiếc nạng để giữ cho ép sát vào người. Cổ anh đeo một cái túi vải lủng lẳng trước ngực, trong có hai cái bát bằng hai nửa chiếc gáo dừa to và một ống “ghi-gô” nhôm. Thành ra, trông người anh quấn đầy dây nhợ. Chỉ có tay trái anh, trông thật rắn chắc, chống và điều khiển chiếc nạng một cách lẹ làng, nhuần nhuyễn. Dù vậy, dáng bước đi của anh cứ phải lệch về một bên. Mỗi một bước đi, gân cổ và gân trên bàn tay trái của anh nổi phồng lên như những con giun đất. Đặc biệt, da mặt và da tay của anh trắng trẻo, hồng hào. Có lẽ, cũng một suất cơm như vậy, chỉ phải nuôi có một nửa cơ thể. Anh có đôi mắt thật sắc, long lanh khác thường. Nét mặt lạnh lùng, tôi chưa bao giờ thấy anh cười. Tôi chẳng hiểu vì sao anh tàn tật như vậy, và anh đã gây lên tội gì để bây giờ phải vào tù?

Nếu chỉ có vậy, sự việc tôi bị lôi cuốn cũng chỉ ở chừng mực nào đó thôi. Ở đây, ngoài những dây nhợ buộc khắp người anh, còn một cái dây thừng nữa buộc vào vai trái anh, thòng ra phía sau buộc vào cổ tay trái của một anh khác, khoảng 40 tuổi, rất cao mà lại gầy, nên trông càng lênh khênh. Đôi mắt anh phía sau này, chắc đã lòa từ lâu, vì chúng thụt sâu vào thành hai lỗ đen ngòm, lờ mờ mấy đùm dĩ trắng đục. Tay phải của anh lòa cầm một chiếc gáo dừa, tay trái anh chống một chiếc gậy nhỏ, hai chân anh lần bước theo chiếc gậy, chiếc gậy lại theo hướng của sợi dây do anh cụt phía trước dẫn. Điều làm tôi thắc mắc là anh mù hầu như lúc nào cũng ngửa mặt “nhìn” lên trời. Nhiều lúc; tôi cứ tưởng anh nhìn cái gì cây bàng, hay đang theo dõi những tảng mây lững lờ trôi trên nền trời xanh xám, của mùa Đông.

Một điều nữa làm tôi thắc mắc không ít là, ngay chung quanh, kể cả trẻ con, người lớn trong buồng tôi, chả một ai quan tâm, để ý nhìn anh mù và anh què đó cả. Đã từ hàng nửa tháng nay rồi, tôi không chịu được nữa. Đến bên Phúc “Thồ”, tôi hướng về chỗ hai anh đang giúp nhau lúi húi rửa ráy ở mé bể nước phía bên kia, hỏi:

– Này, hai anh kia mù với què, còn làm gì nên tội mà bị bắt, cậu có biết không?

Phúc “Thổ” quay lại, nhìn tôi đăm đăm, với một chút rung rung ở đuôi mắt, như ngạc nhiên cho câu hỏi ngây thơ của tôi:

– Họ vẫn gây tội tốt ấy chứ anh! Lên trại trung ương, anh sẽ còn gặp khối người mù, người què.

Tôi nói, giọng đầy thắc mắc:

– Mù với què còn nhìn thấy gì, còn đi đâu được, mà gây nên tội?

– Anh mù, cũng như anh què, anh quên họ còn cái…mồm nữa là chi! Tội ở cái mồm ra đấy, anh ạ. Sau này, đi trại, tìm hiểu kỹ, anh sẽ thấy hầu hết bao nhiêu tội, bao nhiêu người bị bắt đều do cái miệng cả. Tụi Cộng Sản ghép chung cho cái tội là “phản tuyên truyền” đó mà.

– Sao không đưa họ đi trại, còn để họ ở đây?

– Em cũng không biết nữa. Anh mù kia kìa, trước đây ở buồng 11, nhưng chẳng có ai chịu dẫn cũng như lấy cơm cho. Sau, không hiểu sao, lại đưa sang số 8 với anh què này.

Cả buồng tôi đã trở vào rồi, một mình tôi ngồi ở cửa buồng, mắt vẫn nhìn về phía buồng số 8, anh mù và anh què đang dắt díu nhau lò dò, chậm chạp vào buồng. Chẳng biết các anh đang nghĩ gì, các anh cảm thấy cuộc đời ra sao, có bao giờ các anh buồn không? Các anh đã vào trong buồng rồi, mà hồn tôi vẫn còn bồng bềnh thương cảm, cho những kiếp người đầu thai nhầm…không gian.

Tôi vẫn ngồi đấy, vẫn mở to mắt nhìn ra sân; nhưng, hồn tôi đã cuốn chặt vào nỗi đầy vơi của kiếp người, nên chỉ nhìn loáng thoáng, lố nhố những hình người di động, chẳng còn trông rõ được ai. Tôi lơ mơ thấy như từ phía cổng phòng trực, có mấy người mang những cái gì trông giống như những cái sào tre thật dài. Ngạc nhiên, tôi lấy lại thị giác, định thần nhìn kỹ, thì ra thật dài. Ngạc nhiên, tôi lấy lại thị giác, định thần nhìn kỹ, thì ra thật vậy. Ba anh tù “trại thợ”, kẻ ôm những cái sào tre, người ôm những dây nhợ và một miếng vải trắng to?…

– Tối nay lại có chiếu bóng rồi!

Tiếng Thọ “Lột” ồm ồm phía sau lưng đã trả lời cho câu hỏi còn đang băn khoăn trong đầu tôi. Rồi, trong buồng ồn ào, nhao nhao lên như buổi “mít tinh” đến giờ giải tán. Thọ “Lột” chạy sang bàn một tên cán bộ ở trước cửa buồng 10 một lúc, trở về; thế là cả buồng đã biết tin, tối nay chiếu phim: “Nàng Công Chúa Tóc Vàng” của Tiệp Khắc. Tôi quay sang hỏi Thọ “Lột”:

– Thường thường bao lâu mới chiếu phim một lần, hở cậu?

– Cũng tùy, anh ạ. Nhưng thông thường thì hai tháng một lần.

– Thế lần trước, chiếu phim gì?

– “Lút Mi Na với tên Phù Thủy Râu Xanh”.

Tôi nhớ lại khoảng thời gian gần một tháng trời lang thang trên hè phố Hà Nội trước khi bị bắt, chợt thoáng thấy hiện lên trong đầu một vấn đề khác thường. Tôi hỏi Thọ “Lột”:

– Này, tại sao miền Bắc xã hội chủ nghĩa hay chiếu phim thần thoại thế? Cậu có biết nguyên nhân vì sao không?

Mắt cậu ta mở to như lần đầu, mới được nghe ý tưởng lạ lùng này:

– Anh hỏi, em mới chợt thấy. Hầu như các phim nhập cảng từ các nước xã hội chủ nghĩa đa số đều là phim thần thoại! Em cũng chưa hiểu vì sao cả.

– Cậu có thấy chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương “duy vật” nghĩa là, không những họ không tin chuyện thần thoại, mê tín; mà còn chống đối, bài trừ nữa không? Thế mà, ngược lại, phim ảnh lại đầy dẫy những phim hoang đường loại đó! Cậu biết vì sao lại có sự mâu thuẫn đó không?

Cả ông Khánh và Phúc “Thổ” cũng chạy ra ngồi nghe, thành ra cả ba người đều đờ đẫn cả mặt. Có lẽ đây là lần đầu tiên họ gặp một người đặt ra câu hỏi này; mặc dù, sự việc từ lâu vẫn bầy ra trước mắt, nhưng mọi người vô tình, không để ý. Ông Khánh nói vẻ sốt sắng:

– Chính điều này, ngay khi còn ở ngoài, đã có lần tôi thấy hơi lạ; nhưng tôi chỉ cho là dân chúng thích xem phim thần thoại, nên họ hay quay, thế thôi!

– Như vậy, bác lại quên một điều: dưới chế độ Cộng Sản, văn nghệ phải được chỉ đạo! Văn nghệ “Cộng Sản” phải hướng con người chỉ nhìn và đi về một phía nhất định, do bọn đầu não đưa ra; và; không bao giờ văn chương, kịch nghệ, phim ảnh, v.v…được dùng để chiều theo thị hiếu, hay ý thích của quần chúng cả. Cứ đặt vấn đề như vậy, rồi xóa bỏ những mâu thuẫn đối lập; cuối cùng sẽ thấy được rõ câu trả lời. Tôi tin là, khi chưa đặt vấn đề thì không nói, chứ đã đặt ra, rồi bác và hai cậu sẽ trả lời được thỏa đáng thôi!…

Chiều nay, tụi trẻ trong buồng xốn xang, vui vẻ hẳn lên với những háo hức, chuẩn bị chốc nữa sẽ được xem chớp bóng. Chính ngay những người lớn, trong đó có tôi, khi thấy trời chuyển gió mạnh, cũng phập phồng sợ trời mưa, khiến buổi chiếu phim sẽ bị ngưng lại. Riêng với tôi, đã 6 năm, ngày đêm chỉ trông thấy 4 bức tường xà lim, nên bây giờ cũng muốn “cải thiện” con mắt một tí.

Gió thổi nhanh một hồi, rồi dịu lại, tuôn dài chất ngọt vào cái lạnh đêm Đông hanh. Chờ mãi rồi cũng đến giờ ra sân trại. Bảy giờ 30 phút. Buồng nào, do cán bộ buồng ấy chịu trách nhiệm điểm số, dẫn ra đến chỗ quy định của mỗi buồng.

Tối nay, sân trại được “tăng cường” thêm mấy bóng điện 60 watts nữa mỗi góc; nhưng cũng không đủ sáng cả sân. Bóng tối vẫn chiếm nhiều hơn ánh sáng. Quá mười mét là chả con nhìn rõ mặt người.

“Xem hát ngồi xa. Xi nê ma ngồi gần”, đó là hai nơi dành cho khách ít tiền, hoặc thấp cổ, bé vai, ở đâu cũng vậy. Cho nên, trật tự, buồng trưởng…được ngồi gần phía các hàng ghế cán bộ, nghĩa là mãi phía cuối, xa màn ảnh. (Tất nhiên, tù cũng có ghế là…nền sân trại).

Một đoàn cán bộ lục tục kéo vào. Ngoài mấy mụ Thơ, Hoa, cũng có vài người đàn bà nữa, chắc là vợ con của cán bộ. Tiếng the thé, ỏn ẻn của mấy mụ cũng lôi cuốn biết bao cái đầu, chìm sâu trong bóng tôi, đều nghiêng dần theo vài mái tóc dài, mãi cho đến khi họ tới chỗ những hàng ghế phía sau mới thôi.

Trong cái mờ tỏ, sáng tối ấy, bỗng thoáng một bóng hình làm trái tim tôi nhảy nhịp không đều. Cô Vân đang đi sau tên Lê, Thượng Úy. Hôm nay, cô Vân mặc chiếc áo bông màu hoa cà điểm những chiếc hoa trắng to tướng, lấp loáng từng mảnh trong ánh sáng đèn. Tôi biết rằng, sân trại với hàng ngàn người và ánh sáng lại mờ tối như thế này, chả bao giờ cô nhìn thấy tôi đâu. Phần tôi, cũng đã từ hàng tuần lễ nay chẳng còn gặp cô nữa. Từ buổi tối tôi đột ngột bỏ vào buồng cho tới hôm nay, cô cũng không vào cho thuốc nữa. Thôi, cái gì đã qua rồi, cho qua luôn. Tôi chẳng cần biết cô ngồi chỗ nào phía sau lưng. Tôi vẫn để mắt lên vuông vải trắng dùng làm màn ảnh, treo chơ vơ giữa cây bàng, đang lắc lư, đung đưa với gió.

Tám giờ, một số ngọn đèn được tắt đi cho đỡ sáng và phim bắt đầu chiếu. Phim thời sự, chiếu một cảnh trên đường phố Mỹ với dân chúng biểu tình, phản đối quân Mỹ vào chiến đấu ở miền Nam Việt Nam. Dần dần, cảnh phim đưa về Sài Gòn. Cảnh lính Mỹ, lính Triều Tiên ngồi trên xe “cam nhông”, mỗi anh một chai rượu ngất ngưỡng, đang buộc dây kéo lê hai em bé Việt Nam ở dưới đường, với những giọng cười hô hố, khi thấy máu chảy khắp người và tay chân các em.

Cảnh đường phố Sài Gòn làm cho tình thương, nỗi nhớ chất chồng từ bao lâu nay trong lòng tôi sôi sục, dâng lên như thác lũ. Ôi cảnh cũ thân thương của Thành Đô. Tôi chưa cần biết nội dung của cảnh phim, tâm hồn tôi đang tràn ngập với dáng cũ hình xưa, với bao nỗi niềm thương nhớ, nhớ thương tràn đầy. Từng cảnh đời xa xưa ấy thoáng ẩn, thoáng hiện trong óc tôi. Một cuốn phim đang quay trước mắt, và một cuốn phim nữa cũng đang chiếu trong lòng tôi. Lúc này, cuốn phim trong lòng đã lấn át cuốn phim trước mặt. Mãi tới khi những tiếng hò, gầm thét:”…dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi!…” Cứ lặp đi lặp lại của cảnh phim trước mắt, đã làm cảnh phim trong lòng tôi tắt phụt lúc nào không hay. À, thì ra đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Từng đoàn, từng đoàn xe Honda 5, 6 chiếc một, dàn hàng ngang đang chạy chầm chậm từ phía đường Đồng Khánh, Chợ Lớn, tiến về Sài Gòn, trong một cuộc biểu tình của sinh viên học sinh, với những biểu ngữ phản đối chính phủ Thiệu vi phạm nhân quyền, dân chủ…Những người ngồi trên xe Honda, toàn là thanh niên trẻ tuổi, nam có, nữ có. Các cậu thanh niên đeo kính trắng, dáng dấp thư sinh hào hoa này; các cô thiếu nữ vẻ đài các trâm anh kia, tất cả, với những bầu máu nóng hổi của tuổi trẻ đang… hò hét tưởng đến vỡ đường phố:”dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi!?…

Nhìn cảnh phim, trong thâm tâm tôi hiểu rằng, nếu sau này Việt Cộng chiếm được miền Nam, khẩu hiệu các cậu, các cô sinh viên học sinh đang hô hào kia mới có túc từ, nghĩa là mới đủ nghĩa. Hiện nay, mới chỉ là gọi, giục đồng bào dậy mà đi; nhưng chưa biết… đi đâu, và đi đến đó để…làm gì? Vì là chuyện của ngày mai nên tôi chỉ giả thiết, không dám khẳng định; nhưng với cảnh sống của người dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc hiện nay, tôi có thể nghĩ tương tự như thế này:

– Dậy mà đi…về miền quê làm ruộng.

– Dậy mà đi…vào nhà tù Cộng Sản nằm dài.

– Dậy mà đi…về những nông trường, nhà máy lao động đến kiệt tàn sức khỏe.

– Dậy mà đi…làm thủy lợi, dân công.

– Dậy mà đi…còn cái gì đem đi bán, để mua tí gạo mà ăn, chứ nằm đấy thì sẽ chết đói đấy…

– …Hỡi đồng bào ơi!…

Đó, chỉ khi nào Việt Cộng chiếm được miền Nam, khẩu hiệu đó mới có túc từ, chủ từ với cả những câu tương tự vừa nêu trên.

Tôi dám chắc mấy trăm người hào hoa phong nhã, mắt biếc môi hồng đang hò hét biểu tình kia không hề biết một ký gạo giá bao nhiêu tiền. Vì sao vậy? Chỉ vì thường ngày họ không phải nghĩ, làm sao kiếm được gạo để nấu cơm ăn đây. Trong khi những người cùng tuổi với họ đang ở miền Bắc này, suốt ngày đêm chỉ tính toán làm sao kiếm được gạo, cho đầy cái dạ dầy luôn luôn lép kẹp. Cả mấy trăm người đang phởn phơ biểu tình này, cũng đều không bao giờ biết được rằng: nếu không có những chiến sĩ đang đổ máu nơi chiến trường; và những người như chúng tôi đã bỏ phí cả tuổi thanh xuân, (mà lẽ ra cũng đang phây phây như các bạn bây giờ), hoặc đã về với đất mẹ, để chỉ còn lại những bộ xương khô. Hay còn biết bao người đang lầm than rên xiết với bao tủi nhục, uất hận trong tay kẻ thù; thì làm sao các bạn còn cảnh đài các trâm anh đó, để cắp sách đến trường, để tốt nghiệp thành ông này, bà nọ?…Không, 1000 người thì cả 1000 người, không có một ai nghĩ đến điều đó đâu.

Xét cho cùng, lỗi này không phải hoàn toàn do họ, mà do lũ sâu dân mọt nước lãnh đạo chế độ miền Nam. Ngay chỗ ngồi đang bình yên, chễm chệ trên đầu cổ mọi người của lũ này, cũng do bao nhiêu người đã phải đổ xương máu nơi chiến địa mới có, thế mà chúng còn chả bao giờ nghĩ tới vì đâu và vì sao chúng được ngồi như vậy, nữa là những người thanh niên trẻ tuổi kia.

Chúng tôi đang chết dần, chết mòn cho hạnh phúc của những thanh niên tuổi trẻ này đấy; thế mà giờ đây, họ đang đạp lên chúng tôi để hoan hô, ủng hộ, mời gọi, đón rước kẻ thù. Càng nhìn cảnh phim, trái tim tôi càng rỉ máu nhiều hơn. Tôi gục đầu xuống, đang lịm đi dần vào niềm tủi hận, chợt một bàn tay đặt nhẹ lên vai tôi:

– Anh ơi! Sao họ sướng thế, họ lại ngốc như vậy, hở anh! Họ đang đòi sống cảnh sống của chúng em như thế này, họ mời bằng lòng chăng?

Tiếng nói của Phúc “Thồ” như những cái kim châm thêm vào trái tim đang chảy máu của tôi. Tôi trả lời trong sượng sùng, héo hắt:

– Họ ngốc và có lỗi ư? Nhưng, những người ngốc và có lỗi nhất chính là những người lãnh đạo của chế độ miền Nam, cậu ạ!

Rồi óc tôi cứ chảy dài mãi vào cánh đồng tư tưởng mênh mông, đến nỗi đã vào phim lúc nào, tôi cũng không hay…

Cảnh phim đến đoạn nàng công chúa ngồi một mình trong đêm, bên cửa sổ và đang gửi hồn về nơi phương trời xa thẳm, nơi có người trai tuấn kiệt đã hơn một lần làm tâm hồn nàng xao xuyến; thì ngay phía sau nàng, một con yêu cao lêu nghêu, với đôi mắt lồi như hai con ốc bưu, đỏ lòm, lấp ló trong mớ tóc bùm xum xõa phủ gần kín mặt, đang giơ đôi tay khẳng khiu với những chiếc móng nhọn hoắt, chậm chạp tiến đến gần nàng. Nhưng, nàng đâu có hay, đôi mắt mơ màng vẫn đắm chìm vào giấc mộng ngày hoa.

Bỗng, một tiếng rú ùng ục, nấc nghẹn, rồi mãi mới rống lên một hồi dài ngoáy sâu vào màn đêm, như tiếng con trâu đực bị chọc tiết rống lên chết dần vì hết máu.

Điện tắt phụt. Tối như đêm ba mươi. Xòe bàn tay trước mặt không nhìn thấy. Những tiếng ồn ào, những tiếng quát tháo, những tiếng còi lẫn với tiếng súng rền vang khắp mọi nơi. Người ta không sợ bom rơi, súng bắn từ máy bay Mỹ vào Hỏa Lò, bằng sợ mảnh đạn, do đạn ở dưới đất bắn lên nổ ở trên không, rơi như mưa rào ở trên trời cao lao xuống. Chẳng ai bảo được ai lúc này. Mạnh ai ấy chạy giạt vào các hàng hiên của các mái buồng chung quanh. Trong sân trại, có một số lỗ hầm trú ẩn dành cho cán bộ; nhưng bây giờ, giữa cái chết và cái sống, ai bảo đảm chỗ nào là của riêng cán bộ nữa?

Nếu tôi muốn chạy vào chỗ nấp, tôi phải là một trong những người đầu đến đích. Nhưng, chẳng hiểu sao, tôi vẫn rề rà chậm chạp. Có lẽ, tôi đã nhớ lại những đêm còn ở xà lim I, phải đứng mãi thấy được một góc, hay một mảnh con bầu trời Hà Nội. Lúc này, ở giữa sân trại, dù còn vướng vít mấy cây bàng và những nóc nhà; nhưng, cả một bầu trời đêm rộng mở trước mắt, tôi cứ lưỡng lự trước chạy đi nấp, hay ngồi lại đây.

Đột nhiên, một bàn tay ai đó nắm chặt lấy tay tôi. Tôi đang ngạc nhiên, mở to mắt để cố phân định, thì tôi đã ngửi thấy mùi ngầy ngậy ngọt lịm quen rồi ngày xưa ấy; và đồng thời, cũng là lúc tay tôi phản xạ tự nhiên nắm lấy bàn tay kia, Bàn tay lạ thật, mềm như có lót tơ. Tim tôi bóp nhẹ lại vì bất ngờ! Trong bóng đêm mịt mờ, tự động đôi tay tìm đến đôi tay. Tôi thoáng nghĩ, sao nàng bạo vậy? Làm sao biết tôi ngồi chỗ này? Giữa tiếng bom rơi, đạn nổ và những tiếng máy bay gầm rít như xé bầu trời. Tự nhiên bàn tay cô Vân nóng, rồi run lên! Chẳng hiểu vì cô sợ bom đạn, hay vì niềm xúc động trong lòng?

Lòng tôi xốn xang, đầy vơi hỗn tạp. Một luồng run rẩy nóng lên ở phía hông, rồi vai tôi nằng nặng. Cô Vân đã gục vào tay tôi, vẫn chẳng một lời. Tôi chẳng hiểu cô đang suy nghĩ gì? Tôi cảm thấy trời đất, không gian đều tan biến. Tôi cũng chẳng còn ý niệm về cảnh bom rơi, đạn nổ. Tôi chỉ thấy thích thú ngồi như thế này mãi mãi.

Giữa những tiếng lộp độp, một tiếng “choeng!” vang lên ngay cạnh đâu đây, làm cả hai tấm thân đều giật mình, vội ôm chặt lấy nhau. Vân co rút người lại như cần sự che chở. Tôi thấy bừng lên niềm hãnh diện, như thể tấm thân tôi đang gồng lên, chống lại những mảnh đạn rơi loảng xoảng ấy. Tôi sung sướng cảm thấy mình vẫn còn khả năng để chở che, để làm chỗ ẩn núp cho…một người.

Bỗng, một tiếng thét như có lưỡi dao cứa họng ai ở một góc sân, kèm theo là một tiếng gọi hớt hãi, giật đùng đùng của tên Lê:

– Vân, Vân đâu?

Tiếng gọi như chọc vào tai mọi người nhiều lần. Như choàng tỉnh một giấc mơ, cô Vân run rẩy, bàng hoàng gở nhẹ tay tôi ra, rồi cô đứng dậy, lủi nhanh về phía tiếng gọi.

Cho đến khi tôi đã đứng nép vào đám đông dưới một mái hiên, tôi vẫn chưa hiểu tại sao, bằng cách nào tôi đã từ giữa sân vào đây nhanh như vậy. Phải chăng, đó là phản xạ tự nhiên của con người để bảo vệ sự sống, sau khi bừng tỉnh một giấc mơ ngày?

Những tiếng lộp độp, choeng choeng vẫn rải rác trên mái nhà, dưới sân, càng lúc càng mau. Bất chợt, một làn chớp xanh lè như làm cho bầu trời đêm rạn nứt ra, rồi một tiếng nổ inh tai, làm rung chuyển cả Hỏa Lò. Một làn hơi mạnh làm bay tốc áo quần, một tiếng gào thê thảm gần phía phải của tôi. Chẳng biết ai bị mảnh bom hay mảnh đạn?

Tôi vẫn say sưa ngửa mặt lên ngắm nhìn bầu trời. Một tiếng rít vèo vèo, roàn roạt như điện giật vụt sát qua Hỏa Lò, làm những cành bàng khẳng khiu trơ trụi lá, rung lên động đất. Chẳng biết tiếng rít của máy bay hay tên lửa? Cả một bầu trời tím thẫm đầy những hoa khói và những làn tuyết rơi ngược đủ màu. Bỗng, từ phía Đông Hà Nội, hai chấm lửa mầu da cam đang chúc đầu bay thẳng xuống Hỏa Lò, càng lúc, càng to dần, cho đến khi trông rõ như hai cái thúng đỏ lừ, chói lòa làm tôi phải nhắm mắt lại. Nhiều bàn tay quờ mạnh vào tay tôi cùng giật sấp xuống, một làn chớp lóa mắt mọi người. Hai tiếng ùng ục làm đất dưới chân rung giật lên như vỡ ra; những viên ngói trên mái rơi rào rào xuống. Vài tiếng thét giật giọng. Một đám cháy ngay sát Hỏa Lò. Trời đang mùa Đông mà tôi cảm thấy nồng nực. Mùi lửa cháy, mùi bom đạn làm không khí dẻo queo lại, thở hít rít rìn rịt.

Hơn một tiếng đồng hồ, còi mới báo yên. Tiếng loa đang ra rả hoan nghênh tinh thần anh dũng chiến đấu của bộ đội, máy bay, tên lửa, phòng không và toàn dân, đã hạ thêm 6 máy bay Mỹ nữa, nâng tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên Bắc lên… “X” cái; bắt thêm 3 “giặc lái” (cái này không nói tổng số bao nhiêu). Trong khi đó, Hỏa Lò vẫn chưa có điện. Chẳng hiểu máy bay Mỹ đã đánh trúng vào nhà máy điện, hay biến điện nào. Thật là ồn ào, hỗn tạp: tiếng gọi nhau í ới; tiếng quát tháo của cán bộ; tiếng rên rỉ của mấy người bị thuơng. Trong bóng tối đen, chỉ có những ánh đèn “pin” quệt ngang, chạy dọc của cán bộ điểm số tù đi vào từng buồng. Tuy rằng lộn xộn, nhưng rồi sớm muộn cũng sẽ ổn, cũng chẳng có chuyện gì xảy ra. Vì, muốn ra cổng Hỏa Lò, còn phải qua 3 lần cửa sắt nữa, và cửa nào cũng có bộ đội canh gác cẩn mật.

Sáng hôm sau, chỉ mới mở cửa ra sân được một lúc, đã có nguồn tin thật sớm. Hôm qua, ở Hỏa Lò, ba người tù bị mảnh đạn phòng không. Một xuống bệnh xá chết ngay từ đêm qua, vì mảnh đạn rơi gẫy xương vai, thọt xuống phổi; một anh bị sượt vào đùi; còn một anh mất hai ngón chân. Chỉ có anh mất hai ngón chân là tội chính trị; còn hai anh kia là hình sự.

Lễ Tạ Ơn!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 8 oct 2023

Thưa không phải tới sau nầy người miền Nam chúng ta mới lìa quê hương cố thổ để đến một vùng đất mới! Mà cách đây vài trăm năm ông bà ta đã dắt díu, dìu nhau vào vùng đất phương Nam để lập nghiệp.

Sau khi xóa sổ nước Chiêm Thành thì tổ tiên ta tiến mãi, tiến mãi… đến cuối đất cùng trời, tức tới Mũi Cà Mau mới dừng lại… Vì đi nữa là bị… ướt!

Vùng đất tân bồi đó, là Nam Kỳ ngày nay, khi những di dân ngoài Trung tràn vào vẫn còn là một vùng đầm lầy nê địa, rừng hoang cỏ rậm, thú dữ tràn đầy… ‘Dưới sông sấu lội… Mà trên rừng cọp đua!’

“Tới đây xứ sở lạ lùng / Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê”

Rồi bà con ta hợp quần lại thành làng xã! Đất cũ đãi người mới! Làm chơi ăn thiệt, no ấm dần lên, tạo nên cái tánh hào phóng: chơi mát trời ông Địa luôn của người dân Lục Tỉnh Nam Kỳ.

Thưa ông Địa, là ông thần coi sóc đất đai (giống như ông Trưởng Ty Điền Địa của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa mình khi xưa vậy), là một người trung niên chuyên ở trần, mập mạp, ‘ví’ xệ, miệng cười hể hả, tay cầm quạt, tay cầm điếu thuốc lá… Vẻ no đủ, phương phi, hào sảng!

Thế nên phàm việc gì có đụng chạm đến đất đai như đào ao, đào giếng, xây cất, mở vườn, mở ruộng, đào huyệt… tất cả đều phải cúng ông Địa.

Ngay cả ngày Tết, múa Lân mừng năm mới, ta cũng thấy ông Địa, mang chút hơi hướm hài hước của người dân dễ chịu, dễ chơi, chín bỏ làm mười, phe phẩy quạt vì cái khí hậu miền đất mới nầy vừa nóng vừa ẩm ướt, nhảy cà tưng theo nhịp phèng la và tiếng trống!

Những cửa tiệm buôn bán, bà con mình cũng thờ ông Địa! Tượng nhỏ đặt dưới đất! (Địa là đất mà đặt trên cao hỏng đất ổng đâu có chịu nà!)

Sáng mời ông Địa một ly cà phê sữa, một điếu thuốc ba số 555 hẳn hoi, gắn trên tay! Đôi khi mua may bán đắt, ông Địa còn được hối lộ cả thịt heo quay và bánh bao nữa đó!

Trước là cúng ông Địa sau là đợi tới chiều, hú thằng cha chủ tiệm kế bên qua, hai đứa mình nhậu.

Còn lỡ bán ế, (bán cái gì cũng mắc gấp rưỡi, gấp đôi thiên hạ thì làm sao bán đắt cho được chớ?), bèn đổ thừa ông Địa, đem ổng vụt tuốt xuống sông; rồi thỉnh ông Địa khác về mà cúng!

Do đó, khi phải tha phương cầu thực bất cứ phương Trời nào, bà con mình tới vùng đất mới, ngày nào cũng đều tạ ơn Trời và Đất. Tạ ơn Trời mình lập bàn Thiên trước sân nhà. Tạ ơn đất mình thờ ông Địa!

Người Mỹ cũng vậy thôi, chỉ khác cái là người Mỹ một năm Tạ ơn chỉ một lần! Lễ Tạ Ơn hằng năm, rơi vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ tư tháng Mười Một. (Chớ không phải luôn luôn là thứ Năm cuối cùng vì đôi khi trong một tháng Mười Một, có tới 5 thứ Năm lận đó!)

Lễ Tạ Ơn được những di dân đầu tiên đến Hoa Kỳ tổ chức cách đây khoảng 400 năm.

Tháng Chín năm 1620, tàu Mayflower gồm 121 người rời Âu Châu! Sau hai tháng vượt biển, ngày 9 tháng Mười Một năm 1620, tàu Mayflower cập bến Mỹ Châu.

Mùa Đông ở Bắc Mỹ thật khắc nghiệt, kéo dài từ cuối tháng Chạp đến hết tháng Ba năm sau. Sau mùa Đông đầu tiên đó, lạnh giá đã quật ngã nhiều di dân. Trong số 102 người đến nơi bình an giờ đây chỉ còn 55 người sống sót.

Mùa Thu năm 1621, những di dân thu hoạch vụ mùa đầu tiên thật sung túc. Họ có đủ lương thực dự trữ cho mùa Đông và đủ sống cho đến vụ mùa năm sau. Nên một bữa tiệc linh đình kéo dài trong ba ngày được tổ chức. Đó là Lễ Tạ Ơn Thượng Đế và Đất đai (Trời và Đất) đã giúp cho những người chạy trốn sự bách hại về tôn giáo ở quê nhà Anh Cát Lợi được tồn sinh trên vùng đất mới!

Thời gian dần trôi, di dân đổ xô đến Bắc Mỹ càng đông. Họ xây dựng vùng đất này thành một khu vực trù phú. Lễ Tạ Ơn tổ chức có đều đặn hơn nhưng vẫn còn tánh cách địa phương, mạnh ai nấy ‘tạ’! Năm 1774, dân Mỹ quyết đòi độc lập. Họ bất mãn trước sưu cao thuế nặng do mẫu quốc Anh áp đặt trên thuộc địa và các sắc thuế này cứ tiếp tục gia tăng.

Cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài từ năm 1773 đến năm 1783 kết thúc thành công. Năm 1793, tại Paris, chính phủ Anh ký hòa ước và công nhận nền độc lập của Hoa Kỳ.

Cuối cùng, năm 1863, Tổng Thống Abraham Lincoln quyết định công bố Lễ Tạ Ơn là một ngày quốc lễ!

Kỳ lễ kéo dài từ thứ Năm đến hết cuối tuần, tới 4 ngày, nên cả nước Mỹ lên xe, tàu, xe lửa hoặc máy bay, dọc ngang như mắc cửi để mọi người trong gia đình gặp lại nhau, dù ở xa cả ngàn cây số cũng về.

Về gặp để cùng nhau đi Nhà Thờ tạ ơn Chúa; rồi cả gia đình về nhà cùng nhau ăn bữa tối.

Trên bàn tiệc Lễ Tạ Ơn, luôn luôn có bắp, khoai tây nghiền, các loại bánh pie, rau, thịt heo muối, ngỗng hoặc vịt quay và dĩ nhiên không thể thiếu món Gà Tây quay để nhắc lại bốn chú gà tây rừng đã có mặt trong buổi Lễ Tạ Ơn đầu tiên tại nước Mỹ.

Trong niềm vui của sự bình an, sung túc và đoàn tụ của Lễ Tạ Ơn, người Mỹ luôn nhớ tới những kẻ không may mắn như mình, nhớ lại 47 người đã chết trong mùa Đông đầu tiên, dùng dịp này để giúp những người nghèo khó.

Những người di dân đầu tiên đã từng được những người Da Đỏ (mà Christopher Columbus, (vì dốt Sử Địa), đã từng gọi họ là Indian, tức người Ấn Độ) cứu giúp, do đó một trong những truyền thống của Lễ Tạ Ơn là giúp đỡ những người mới đến.

Hằng năm, Hoa Kỳ đón nhận hàng triệu người trên thế giới đến định cư, với nhiều lý do, đoàn tụ gia đình hay là người tỵ nạn.

Đoàn tụ gia đình thì thường có người trong gia đình bảo trợ, giúp đỡ bước đầu. Còn đối với những người tỵ nạn cô đơn, người dân Mỹ cũng không hề quên họ.

Cộng đồng Việt Nam mình đã liều mình, vượt biên, vượt biển, vượt thoát chế độ Cộng Sản ở quê nhà để tìm kiếm tự do trên nước Mỹ, bây giờ số người đã lên tới vài triệu, trong lòng họ luôn nhớ những ngày đầu đặt chân tới, nước Mỹ đã mở rộng vòng tay chào đón họ!

Một người Việt tỵ nạn mình đã nói: “Tôi cám ơn nước Mỹ, vì nước Mỹ đã cho tôi sự bình yên trong tâm hồn. Đối với tôi, nước Mỹ không phải là thiên đường, nước Mỹ là một cuộc sống đời thường, và tôi cám ơn nước Mỹ đã cho gia đình tôi cuộc sống đời thường, đã cưu mang cho gia đình tôi, cho tôi được sống và hưởng những gì mà chính trên ‘quê hương thứ nhất’ chúng tôi chưa hề được có.”

Thưa anh bạn văn của người viết cách đây hơn 30 năm có em xưa ở đảo Kuku, Indonesia, sau mỗi người đi mỗi ngã. Em lên phương Bắc, về Mỹ; anh xuôi Nam về Úc, dưới chùm sao thập tự. Vậy là đôi ngã đôi ta; đã bao năm nước chảy qua cầu mà em vẫn nhớ cái tình sầu năm cũ!

Em hỏi: “Úc có Lễ Tạ Ơn không anh?”

“Lễ gì Úc cũng có nhưng Lễ Tạ Ơn thì không!” “Vì Úc tới đây người dân bản địa thấy cái bản mặt là ghét… nên vác cái boomerang ra phang vài đứa bị lỗ đầu nên nó giận nó không Tạ Ơn đứa nào hết ráo! (Boomerang là cái vũ khí bằng cây, hình chữ V, phang đi hỏng trúng ai thì nó quay trở lại, do thổ dân Úc chế ra đó đa).

Không như người Mỹ lúc đầu tạ ơn dân da đỏ đã giúp mình… Rồi sau đó, lại cỡi ngựa, móc súng bằn bùm bùm làm mấy tù trưởng giắt lông chim, vẻ mặt vằn mặt vện chạy chí chết vào trong núi!

Anh bạn văn bèn hỏi lại người xưa: “Em có Tạ ơn Mỹ hay không?”

Thì em ỏn ẻn trả lời rằng: “Người Việt mình, một dân tộc nhơn nghĩa mà anh. Uống nước là nhớ nguồn. Ai giúp mình dù ít dù nhiều là mình phải tạ ơn chớ!”

“Thế nên, ngày Thanksgiving năm nay, 26 tháng Mười Một, em sẽ làm một cái tiệc Tạ Ơn theo truyền thống Mỹ Việt đề huề, đi mua một con Gà Tây chừng 15, 20 pounds, về nhồi ruột bằng nếp xào với hành tím, tôm khô và lạp xưởng, làm nước xốt cũng chế biến từ ‘gravy’ của Mỹ nhưng pha thêm ‘maggi’ vào cho đậm đà và có ‘mùi Việt Nam’.”

“Xong em đút lò. Nó vàng ươm, em sẽ mang ra, đặt trên bàn, lấy I-phone 6 chụp vài cái hình rồi gởi qua bên Úc để anh… ‘xơi’!”

Thưa người viết có một thằng bạn thân đi du học hồi trước năm 75 lận, kể cho nghe một chuyện vui về Lễ Tạ Ơn đầu tiên của nó trên nước Mỹ như vầy: “Theo truyền thống, Lễ Tạ Ơn của Mỹ là phải có Gà Tây, tức Turkey nên có đứa gọi đó là ‘Turkey Day’! Để san sẻ bớt tội lỗi của dân Mỹ mình vì giết Gà Tây quá xá, nên năm nào Tổng Thống Mỹ cũng phóng sinh, tha chết cho một con trong buổi lễ tại Tòa Bạch Ốc.

Cái truyền thống nầy thấy cũng hay hay đấy chớ! Vì con Gà Tây nó cũng dễ thương lắm. Giữ nhà là khỏi chê, không thua gì ngỗng mà sợ còn hay hơn mấy chú chó cò của mình nữa kìa. Thấy người lạ là nó kêu ‘lót lót’. Còn thấy con nít là nó nhảy lên nó đá làm thằng nhỏ khóc mò!

Hồi xưa tui đã từng bị Gà Tây đá rồi đó nhen bồ nhưng tui không hề giận nó, không thích ăn thịt Gà Tây dù đút lò hay quay gì chăng nữa. Thịt nó dở òm hà! Ăn thịt gà ta sướng hơn!

Năm đầu qua Mỹ học, năm đó không hiểu sao tuyết rơi nhiều hơn mọi năm, bao nhiêu cây cành cảnh vật đều bị tuyết ôm trắng xóa, con bạn Mỹ cùng trường Đại học, đẹp như Beyonce vậy! Tui e rằng con nhỏ nầy khoái mùi nước mắm của tui hay sao đó mà em dẫn tui về nhà em ăn cái Lễ Tạ Ơn đầu tiên ở trong đời tui.

Hôm sau, em còn trao tặng kỷ vật tình em là con Turkey còn sống để tui đem về nuôi cho đỡ nhớ nhà. Mà quan trọng hơn là nhìn gà để nhớ tới em ‘‘yêu’’… vì năm tới em sẽ đổi qua trường Đại học khác. Em nói: “Mỗi lần anh nghe con Turkey nó kêu ‘lót lót’ là anh nhớ tới em nha!” Tui nói: “I will!”

Ôm con Turkey của em (ôi hình bóng người thương!) trên đường về, tui bị một thằng Mỹ đen, bự gấp đôi tui, chận lại.

“Ê! Mầy ôm con Turkey của Beyonce đi đâu đó?”

“Turkey nào?”

“Thì con Turkey mầy cặp dưới nách mầy đó, thằng nhóc Chinese!”

“Tao không phải là Chinese! Tao là Vietnamese! Nhưng không phải chuyện của mầy! (It’s none of your business!)” Ỷ lớn con, nó tính ‘bú li’ tui chớ!

Nó nói: “Lễ Tạ Ơn đã hết! Turkey Day is over! Thế nên những gì mầy làm với con Turkey nầy thì tao sẽ làm giống hịt như vậy đối với mầy nhe thằng nhóc!”

“Nếu mầy bẻ giò con Turkey nầy, tao sẽ bẻ giò mầy! Nếu mầy bẻ cánh nó; tao sẽ bẻ tay mầy!”

“Sao giờ thì nghe rõ rồi; mầy sẽ làm gì với con Turkey nầy đây hả?”

Tui trả lời: “Ờ! Tao sẽ hun cái ‘đít’ của con Turkey nầy rồi thả cho nó đi!”

“Còn mầy! Nói là phải giữ lời đó nha!”

Xong tui dông như gió! Vì tui vẫn còn muốn gặp lại em Mỹ yêu của tui mùa Lễ Tạ Ơn năm sau!

Lấy chồng từ thuở 13!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 8 Oct 2023

Tảo hôn, với tảo trạng từ nghĩa là sớm. Hôn, động từ nghĩa là lấy vợ hoặc lấy chồng. Như vậy tảo hôn là lấy vợ hoặc lấy chồng quá sớm khi chú rể và cô dâu chưa tròn 18 tuổi.

Tảo hôn có ba loại: Loại thứ nhứt vợ già, chồng còn con nít. Loại thứ hai chồng già, vợ còn con nít. Loại thứ ba cả hai vợ chồng đều là con nít hết ráo.

Loại thứ nhứt vợ già lấy thằng con nít nó xảy ra hà rầm hồi xưa thiệt là xưa ở miền quê Việt Nam mình.

Em đi lấy chồng nhưng thực ra bên nhà chồng em là phú hào trong làng muốn bóc lột, cưới em về cho thằng cu tí để em ở vú không công.

“Chàng bé tí teo, nghe lời cha mẹ em đi theo chồng. Khác gì ở vú không công!

Chồng em mũi dãi thò lò. Mặc quần thủng đáy nó bò như cua.”

-Loại thứ hai chồng già vợ còn con nít.

Xui cái là lấy chồng gặp nhầm thằng chồng làm biếng nhớt thây không chịu làm ăn gì ráo để nuôi vợ nuôi con… Nên em than nghe đứt ruột rằng: “Lấy chồng từ thuở 13. Ðến năm18 em còn thơ ngây.  Chồng em sáng xỉn chiều say. Ruộng đồng thì nhác lại mê đá gà. Chồng người đánh giặc phương xa. Chồng em ở nhà gà đá gãy chân.”

Chỉ giỏi ra đường tụ bè tụ đảng ăn nhậu với đá gà. Về nhà thì chỉ giỏi cái vụ ‘ấy ấy’ mà thôi. Ngoài ra làm cái gì cũng dở ẹc. Nấu cơm thì cơm nửa sống, nửa chín. Rửa chén bát thì làm bể khiến hai đứa phải ăn cơm bằng miểng vùa.

Nên: “Lấy chồng từ thuở mười ba. Chồng chê em bé, chẳng nằm cùng em.

Khi em mười tám trăng lên. Em nằm dưới đất chồng lôi lên giường

Một thương anh bảo rằng thương. Hai thương anh bảo rằng thương

Có bốn chân giường gãy một còn ba.”

***

Còn loại thứ ba là cả hai vợ chồng đều là con nít.

Xa quê đã lâu, tui cứ tưởng cái hủ tục tảo hôn, cái tệ nạn xã hội thời phong kiến đã biến mất rồi chớ. Ai dè không phải vậy.

Ðọc báo mạng thấy những làng sơn cước thuộc tỉnh Khánh Hòa nạn tảo hôn rầm rộ như giặc Tàu Ô vậy đó.

Chú rể dân tộc thiểu số Raglai mới 15 tuổi còn cô dâu mới 10 tuổi thôi hè.

Già làng cản: “Con bé còn nhỏ, như cái cây mới nhú cành, làm sao làm vợ, làm mẹ cho được?”

Nhưng đàng trai lẫn đàng gái nhứt định không nghe, họ nói tụi nó thương nhau thì cho cưới thôi.

Trăm năm hạnh phúc đâu chưa thấy, chỉ thấy vợ chồng bé tẻo teo nầy phải theo cha mẹ lên rừng phát rẫy tỉa bắp để còn có cái bỏ vào mồm.

Rồi rừng núi hoang vu chim kêu vượn hú tối lửa tắt đèn hai vợ chồng chui vô mùng nói chuyện.

Hết chuyện nói… mới có chuyện làm là: đầu năm sanh con trai, cuối năm sanh con gái.

“Vợ chồng nó còn nhỏ đâu biết làm gì ăn… Nhà 6 miệng ăn đều trông chờ vào mấy sào bắp. Cạp bắp riết nên hàm răng ai cũng nhô ra như cái bừa… Khổ lắm!”

Ðúng là: “Bướm vàng đậu nhánh mù u. Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn.”

Như nhìn quanh quất trên thế giới không phải chỉ có miền núi nước ta mới bị nạn tảo hôn hoành hành dữ đội đâu.

Mà Châu Phi nhứt là nước Yemen nè, con nít mới 8 tuổi mà đã gả chồng. Rồi Châu Á như nướcNepal, Ấn Ðộ, Pakistan, Bangladesh. Thiếu nữ, thiếu niên nước này khi mới vừa dậy thì, thậm chí còn chưa kịp dậy thì đã bị gia đình buộc phải lấy chồng, lấy vợ.

Bé gái cỡ 11, 12 tuổi gả (hoặc bán) cho những người đàn ông trên 40, 50 tuổi. Mấy nước nầy đàn ông được đa thê, được cưới hoặc mua nhiều vợ, nếu có tiền…

Thế kỷ 21 rồi phải văn minh đi chứ! Làm vậy gớm ghiếc quá hè!

***

Bà con mình khoái hát ‘karaoke’ chắc đều biết bài ‘Ðám cưới đầu Xuân’ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh

“Ngày xửa ngày xưa. Ðôi ta chung nón, đôi ta chung đường…

Lên sáu lên năm, đôi ta cùng sách, đôi ta cùng trường…

Chiều nao đuổi bướm, bướm bay vô vườn mà nước mắt rưng rưng…

Trò chơi trẻ con, em cô dâu mới chưa nghe nặng sầu/ Chú rể ngẩn ngơ, ra hái hoa cà, làm quà cưới cô dâu.”

Mới lên 6 lên 5, tối ngủ còn đái dầm mà bày đặt cái chuyện vợ chồng, chuyện người lớn, chú rể đi hái hoa cà làm quà cưới cô dâu… Ðúng là con nít quỷ nhe!

Bên Úc nầy cũng có chuyện y hịt như chuyện ‘Ðám cưới đầu Xuân’ đó thôi!

Chuyện rằng: Thằng Tó Nì (Tony) mới 10 tuổi, cắm cúi viết một thư tình cuối mùa thu cho con Ly Sà (Lisa) học chung lớp 5 ở trường Tiểu học như vầy: “Chiều nay tan học, Tó Nì hẹn Ly Sà ra công viên. Hai đứa mình nói chuyện… rồi ‘hun’ nhau nhé!”

Con Ly Sà đọc thơ xong lại cắm cúi viết thơ trả lời, là: “Nếu hẹn nhau ra ngoài công viên để chỉ mỗi làm cái việc đó thì chú mầy hãy xuống lớp 1 mà học!”

***

Làm nhạc, viết văn đặt chuyện để cổ vũ cho tình thơ dại lấy đại với nhau trong tưởng tượng thì chẳng lôi thôi cò bót gì ráo…

Bằng làm thiệt trong thực tế cuộc đời… là rồi đời luôn chớ không phải chỗ để giỡn chơi đâu.Vì luật lệ nước Úc nầy cũng nghiêm khắc lắm.

Muốn kết hôn hợp pháp thì con trai hay con gái ít nhứt phải 18 tuổi.

Chính vì vậy mà một thanh niên 35 tuổi cưới một em bé mới 14 tuổi, tức nhỏ hơn mình tới 20 tuổi làm hôn lễ theo Hồi giáo, nhưng chưa vui sum họp đã sầu chia ly. Ðuốc hoa còn đó mà chỉ 5 ngày sau chú rể nầy bị phú lít Úc bắt nhốt về tội cưỡng ép hôn nhân.

Bà Tòa phán rằng: “Hành động nầy về mặt đạo đức là không thể biện minh được!”

Bà Tòa công nhận rằng di dân tỵ nạn khó có thể hội nhập nhanh chóng với một nền văn hóa mới, tuy nhiên cứ cãi chày cãi cối là vì bị can đến từ nền văn hóa chấp nhận nạn tảo hôn là không có được.

Bị can chắc chắn biết rằng em bé nầy chỉ 15 tuổi hoặc còn nhỏ hơn vì em còn mặc đồng phục đi học.

Luật sư cãi không lại bà Tòa nên chú rể lắc đầu khóc ‘hu hu’ khi bị tuyên án 18 tháng tù.

Bị nhốt hết 12 tháng rồi và lúc ngồi gỡ lịch có hạnh kiểm tốt nên Bà Tòa ra lịnh thả ra nếu nó chịu đóng 2000 đô tiền bảo chứng.

Giáo sĩ của cộng đồng Hồi giáo Bosnian ở Noble Park, Melbourne, Úc Châu chứng nhận cho lễ tảo hôn nầy cũng bị văng miểng. Trong cuộn băng ghi lại hình ảnh đám cưới thì giáo sĩ nầy dạy đời cô bé là: “Nếu chồng vui về chuyện gì đó thì hãy làm nó. Còn nếu chồng không vui về chuyện gì đó thì đừng có làm.” Giáo sĩ nầy dạy đời… rồi rồi đời vì bị phú lít Úc bắt nhốt.

Giáo sĩ nầy cãi tui đâu có làm gì sai đâu hè!? Chứng nhận vợ chồng như vậy để tụi nó được phép đi chung với nhau trước mặt bàn dân thiên hạ mà thôi.

Bà Tòa nghe không lọt lỗ tai nên ra lịnh nhốt ông Giáo sĩ ẩu xị nầy hai tháng tù và bắt đóng 2500 đô tiền bảo chứng.

Hội đồng Hồi giáo tiểu bang Victoria công khai phê phán cuộc hôn nhân nầy. “Với nước khác, hôn nhân ở tuổi thiếu niên được phép theo nền văn hóa của nước đó. Nhưng ở Úc là không. Những người Úc theo đạo Hồi chúng ta phải tìm hiểu và tôn trọng luật pháp của Úc Châu.”

Hội đồng Giáo sĩ thì cách chức ông nầy. Cảnh sát Úc thì hủy bỏ cái ‘lái sần’ được quyền ủy nhiệm chính phủ Liên bang… dám cả gan mà chứng hôn thú cho một vụ tảo hôn.

Chữ rằng nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc. Ðừng có cà chớn lớn họng: “Quê tui là như vậy đó!” Nhớ nhe mấy thằng ông nội con nít ‘ấu dâm’!