This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bài 5 Tháng Tư, 29-30, 1975 Suốt tám tiếng đồng hồ sau đó, tôi và Jimmy nằm ngủ trong một góc hành lang của tòa đại sứ, trong khi người lớn ngồi chờ chuyến trực thăng trở lại. Mẹ tôi cố gắng đánh thức tôi dậy ăn trưa, ăn tối, nhưng trong cơn mê ngủ, tôi đẩy tay mẹ tôi ra. Lúc tôi thức dậy thì mặt trời sắp sửa lặn. Những tia nắng cuối ngày chiếu một màu vàng cam tái nhợt lên thành phố. Vẫn còn phảng phất mùi hơi cay trong không khí. Từ khung cửa sổ nhìn thẳng ra cổng chính, tôi vẫn còn thấy đám đông và những người lính gác xô đẩy nhau, chỉ khác là bây giờ số người bên ngoài tăng lên gấp ba, và hung hản, cuồng nộ gấp đôi hồi sáng. Tất cả đều là đàn ông, còn đàn bà và con nít thì đã bỏ cuộc từ lâu. Một vài người trong đám đông có trang bị súng và lựu đạn, nhưng chưa một người nào dám dùng đến, mà chỉ dơ vũ khí lên cao trong một hành động hăm dọa. Quân cảnh được lệnh khóa cứng cổng, không cho bất cứ ai vào. Tôi trông thấy một vài tấm thẻ màu vàng lóe lên dưới nắng chiều giữa đám đông. Quân cảnh làm ngơ như không thấy.
Tôi lần mò leo lên thang gác, ra sân thượng theo lời mẹ tôi dặn lên gặp bà sau khi thức dậy. Dọc theo dãy hành lang dài, tôi mới nhận ra là toàn khu nhà đã bị bỏ trống, giống như một hộp diêm quẹt rỗng. Những người còn lại đều đã tụ tập trên sân thượng được trang hoàng rất tiện nghị Một phía là khu giải trí với một hồ bơi lộ thiên, những bộ bàn ghế nhựa có dù che và nhiều loại cây quý. Phần còn lại của sân thượng là một khoảng sân vuông vắn, bằng phẳng dùng làm bãi đáp cho trực thăng. Ngoài mẹ tôi, bà Đặng, ông David, còn có năm người Mỹ khác đứng trò chuyện bên cạnh hồ bơi. Hoàn cảnh của họ cũng giống như ông David, họ sót lại phía sau là dọ tự nguyện. Họ là một toán ký giả tự nguyện ở lại để chứng kiến sự sụp đổ của Sài Gòn. Giống như nhiều người khác, họ bị săn đuổi từ thành phố này sang thành phố khác, chứng kiến một cách vô vọng những sư đoàn cộng quân tiến chiếm dần từng thành phố. Và bây giờ, chính họ cũng lọt vào bước đường cùng, không còn biết phải chạy đi đâu. Việc duy nhất họ có thể làm bây giờ là chờ, hoặc là trực thăng hoặc là Việt Cộng. Nhưng khác với những người Việt chung quanh, người Mỹ có vẻ như không cảm thấy bị lôi cuốn vào trong cái làn sóng khích động của đám đông. Họ đứng với vẻ thờ ơ lãnh đạm bên hồ bơi, người nhể nhại mồ hôi vì khí hậu nóng bức, vừa ăn bữa cơm chiều vừa bàn luận về nền hòa bình của thế giới bằng những lời lẽ rất khôi hài.
Đến nửa đêm thì hầu hết mọi người chúng tôi không còn hy vọng gì nữa. Không ai buồn cựa quậy.Tôi ngồi trên nền xi măng bên cạnh mẹ tôi đang ôm thằng em trai tôi trong tay, đắm chìm trong cái thế giới riêng tư của bà. Cách đó vài bước, đối diện với chúng tôi, bà Đặng ngồi bó gối, đầu tựa lên hai cánh tay, ngơ ngẩn nhìn vào khoảng không phía sau lưng tôi như một kẻ mất hồn. Cứ mỗi lần nghe có tiếng động cơ, dù rất nhỏ, bà nhảy chồm lên vui sướng để rồi một giây sau nhận ra không phải là thứ bà đang chờ đợi. Sau đó bà lại ngồi bó mình như cũ. Trong sự im lặng đóng cứng chung quanh, chúng tôi có thể nghe rõ tiếng chuông nhịp từng giờ từ ngôi nhà thờ bên cạnh cho đến khi trời sáng.
Vào buổi sáng ba mươi tháng tư năm 75 hôm ấy, bên ngoài cổng tòa đại sứ, đám đông tụ tập đông đến nỗi che kín gần mười block đường. Từ trên cao nhìn xuống, con đường trông giống như một tổ ong khổng lồ, sùng sục phẩn nộ. Chúng tôi chán nản nhìn những chiếc trực thăng của những quốc gia khác đang lên xuống ở nhiều khu vực trong thành phố để vớt người, nhưng không một chiếc nào chịu đến với chúng tôi.
Thình lình, tất cả những chiếc loa từ các góc đường đồng loạt rú lên làm chấn động cả thành phố. Một giây sau, tiếng nói quen thuộc của tổng thống Dương Văn Minh vang lên trong không khí. Ông ta nghẹn ngào đọc một thống cáo đầu hàng, giao Sài Gòn cho cộng sản. Lúc đó đúng 10 giờ 30 sáng.
Cũng ngay giây phút đó, chúng tôi nhận ra hai chiếc trực thăng xuất hiện bay lượn ngay trên đầu chúng tôi. Một chiếc được sơn màu xanh thủy quân lục chiến. Chiếc thứ hai, nhỏ hơn nhiều, sơn màu bạc. Trông thấy hai chiếc trực thăng, bà Đặng khóc ré lên. Bà quỳ xuống cảm tạ trời đất đã nghe được những lời cầu nguyện của bà. Rồi tất cả chúng tôi cùng đồng loạt rú lên như tiếng lũ sói tru lên vào những đêm trăng tròn, có người nhảy múa trong sự hân hoan tột đỉnh.
Hai chiếc trực thăng dường như nhận hiểu được sự chú ý của đám đông trên những con đường bên dưới. Máy bay càng đến gần, tiếng la hét kêu gào của đám đông càng dữ dội. Những nắm tay đấm vào trong không khí, và người ta gào lên: “Cứu chúng tôi, đứng bỏ rơi chúng tôi… ”
Khi chiếc trực thăng màu bạc cách chúng tôi chừng hai chục thước, tôi trông thấy ông Đặng đứng ở cửa máy bay, mặc bộ đồ thường lệ, áo sơ mi trắng, quần đen, há miệng cười với vợ, vẻ đắc thắng. Ông ta khoảng bốn chục tuổi, đầu hói, người lịch thiệp, vui vẻ, hoạt bát. Chiếc nón bay quá rộng che lấp hết phần đầu và làm cho người ông trông nhỏ lại. Thân người ông được giữ lại bằng chiếc thắt lưng an toàn được móc vào thân máy baỵ Ông ta vẩy tay với vẻ sung sướng và ra dấu là đã nhận ra chúng tôi. Cánh quạt máy bay thổi từng cơn gió thốc tung tứ phía chung quanh chúng tôi như một cơn lốc. Chiếc trực thăng thứ hai bay vòng vòng quanh đó chờ chiếc thứ nhất đáp xuống trên sân thượng tòa đại sứ.
Nhưng biến cố xảy ra. Từ trong đám đông bất ngờ một loạt súng nổ vang. Tiếng đạn xé gió trong không khí, trúng vào bên hông chiếc máy baỵ Rồi tiếp theo là nhiều loạt súng nữa. Chiếc trực thăng hoảng hốt cố gắng bốc lên.
Bà Đặng chạy lại bên bờ tường sân thượng kêu la với đám đông bên dưới:
“Xin đừng bắn, xin đừng bắn. Chồng tôi trên đó… ” Bà ta nhảy lên nhảy xuống cho mọi người bên dưới có thể thấy bà rõ hơn. David đang núp dưới gầm bàn phóng ra kéo bà nằm xuống. Bà chống cự yếu ớt, miệng vẫn tiếp tục van xin: “Đừng bắn, xin đứng bắn… xin đừng… ”
Nhưng đã trễ. Viện đạn đã tìm đúng mục tiêu. Từ chỗ đang ngồi, tôi thấy chiếc áo trắng của ông Đặng nhuộm đỏ những giòng máu tóe ra từ những vết thương trên người mà ông đang rán dùng bàn tay chăn lại.
“Đừng đừng… ” Bà Đặng kêu thét lên.
Ông Đặng từ trên cào nhìn xuống vợ với vẻ ngạc nhiên ngơ ngác, tuồng như ông vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra cho ông. Một thoáng qua rồi ông gục xuống. Chiếc trực thăng quay một nửa vòng hất tung thân thể ông văng xuống mặt đất, chiếc giây an toàn vẫn còn quấn ngang hông. Một loạt đạn nữa trúng vào cánh quạt. Chiếc trực thăng quay tròn trong không khí trông như một con chim bị ná, khựng lại một tích tắc rồi đâm đầu xuống mặt đất nổ tung. Sức ép và hơi nóng, trong một thoáng, làm mắt tôi mờ đi không trông thấy gì cả.
Khung cảnh đột nhiên yên lặng, trừ ngọn lửa từ chiếc trực thăng nằm nghiêng bốc cháy đang lụn dần dưới bầu trời xanh và ánh nắng mặt trời chói chang. Trên không chiếc trực thăng còn lại lượn một vòng rồi biến mất vào trời cao. Đám đông bên dưới reo hò trong sự thỏa mãn.
“Đừng… ” Tiếng kêu của bà Đặng yếu ớt vang lên. Bà quỵ xuống trên nền xi măng. Mọi người chung quanh quá khích động đứng trơ ra mặc cho bà ta đổ xuống như một con búp bê nhồi bằng giẻ.
Từ một góc phố cách đó không xa, một đoàn quân Việt Cộng đang tiến dần về hướng tòa đại sứ trong tiếng kèn tiếng trống và một điệu nhạc quân hành lạ tai. Những chiếc xe nhà binh, xe tăng phủ đầy bụi đường rầm rộ tiến vào thành phố, trên xe chở đầy bộ đội. Một số giơ cao những lá cờ nền đỏ sao vàng, và cờ mặt trận giải phóng. Một số khác kéo giăng những chiếc biểu ngữ có những hàng chữ nghệch ngoặc. Tôi đọc được loáng thoáng như sau: “Chúng tôi đem hòa bình tới. Hãy xoa dịu những vết thương do bọn tư bản đã gây ra. Bắc Nam là anh em một nhà, chúng ta không nên đánh nhau nữa.” Tiếng nhạc vui quyện trong không khí, như có ý muốn xoa dịu những căng thẳng trên đường phố.
David quay sang nói với mẹ tôi:
“Xin lỗi bà, mọi việc xong rồi. Chiến tranh đã chấm dứt. Chúng tôi không thể giữ bà ở đây thêm được nữa . Xin hãy mang các con bà và bạn bà ra khỏi đây ngay trước khi quá muộn. Chúng tôi cũng sẽ rời khỏi chỗ này, và không đem theo một người Việt nào theo cả. Bà hiểu không?. Ra khỏi đây ngaỵ Chúc bà may mắn, chúc mọi người may mắn và nên thận trọng.”
Gom hết chút hơi sức còn sót lại, bà Đặng cố lết về phía chiếc trực thăng bị nạn với hy vọng tìm được xác chồng, nhưng bị cản lại. Chúng tôi bị đẩy mạnh ra khỏi cửa. Chúng tôi níu chặt lấy nhau cho đến khi ra tới ngoài đường lộ. Không một ai buồn chú ý đến chúng tôi khi chúng tôi băng ngang qua cổng, nhập vào giòng người chạy tán loạn ngược xuôi tứ hướng. Đoàn quân cộng sản diễn hành từ từ qua đường phố, giơ tay chào dân chúng đang đứng hai bên đường vừa phát cho dân chúng những tấm ảnh nhỏ in hình Hồ Chí Minh cùng với những lá cờ bằng giấy với vẻ trịnh trọng như đó là những báu vật. Cuối cùng đoàn quân tới trước Dinh Độc Lập. Họ dùng xe tăng ủi sập cách cổng sắt trong tiếng hoan hô, reo hò của mọi người.
Sài Gòn mất vào đúng 11 giờ 30 ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Nguyễn Bác Ái quê Đức Lợi, Đà Nẵng. Năm 1963, lúc ông mới 10 tuổi, trong một đêm, mẹ bảo ông đến gần bà để lén nghe đài phát thanh Bắc Việt loan tin Cộng Sản Bắc Việt đã bắt được cha của ông là Nguyễn Đức Nhơn, trưởng toán Bull Sở Bắc của Biệt Kích Mỹ miền Nam. Ông Nhơn bị tòa án Hà Nội xử chung thân khổ sai, với tội danh là làm gián điệp cho Mỹ đã xâm nhập để đánh phá lãnh thổ miền Bắc.
Ông Nguyễn Bác Ái. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Ông Ái tâm tình: “Kể từ đó, trong lòng tôi đã có sự hận thù với Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Vì thế, năm 1969, khi tôi mới 16 tuổi, tôi đã tình nguyện gia nhập vào đơn vị Biệt Kích Quân Lôi Hổ tại Căn Cứ FOB 4 Non Nước, Đà Nẵng. Người nhận tôi vào đơn vị này là Đại Úy Lưu Văn Thuần, thuộc đơn vị CCN (Control Center North) còn được gọi là Chiến Đoàn 1 Xung Kích, và đơn vị này cũng trực thuộc Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Quân Đội Hoa Kỳ.”
Tình nguyện vào Biệt Kích Quân
Khi mới vào đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, ông Ái đã tình nguyện đi nhảy toán, phục vụ dọc theo biên giới Việt Nam, Lào, Cambodia, và đường mòn Hồ Chí Minh để kiểm soát, chụp hình, thu thập tài liệu của Cộng Quân và truy lùng những đoàn xe Molotova, chiến xa của địch xâm nhập miền Nam. Khi phát hiện địch đang di chuyển xuống miền Nam thì toán của ông Ái sẽ gọi chiến đấu cơ hoặc quân đội của Hoa Kỳ đến tiêu diệt địch.
Ông Nguyễn Bác Ái lúc còn thư sinh. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
“Tổng số trong toán của tôi có 10 Biệt Kích Quân Việt Nam và hai Biệt Kích Mỹ. Nhưng không bao giờ đi đủ 12 người, cũng không đi với số lẻ cả, mà chỉ có từ 4, 6 hoặc 8 người. Vì sự cân bằng trọng lượng của trực thăng, nên quân số đi nhảy toán phải là số chẵn,” ông Ái cho biết thêm.
Cuối năm 1969, toán của ông Ái gồm sáu người được lệnh đến địa điểm tại biên giới Quảng Trị-Hạ Lào. Cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng 200 mét, toán này phát hiện hai lính Bắc Việt đang đi, nhưng không bắn hai người này. Vì theo những người có kinh nghiệm trong toán cho biết là khi địch đang di chuyển với số lượng quá ít, nghĩa là họ muốn “nhử mồi” cho toán Biệt Kích thấy được, rồi nổ súng thì họ sẽ biết là trên đường di chuyển đã bị lộ, nhưng thật ra thì địch đã chuẩn bị đi theo sau rất đông.
Ông Ái kể: “Vì thế, các Biệt Kích Quân vẫn im lặng mỗi khi phát hiện địch đi quá ít lúc đầu. Khoảng 20 phút sau, thì đoàn quân nhiều hơn đã xuất hiện. Sau đó, chúng tôi chụp hình, xong gọi chiến đấu cơ F-105 của quân đội Hoa Kỳ bay vào oanh tạc đoàn quân này. Toán Biệt Kích Quân trên đồi nhìn xuống thấy rất rõ cuộc oanh tạc này đã làm cho địch tổn thất rất nặng nề.”
Tháng Hai, 1970, vào một buổi trưa, toán của ông được lệnh nhảy xuống vùng Hạ Lào, và đã bị địch phát hiện. Nhưng vì hỏa lực của Quân Đội Hoa Kỳ lúc đó rất mạnh, nên địch không đá động với toán Biệt Kích ban ngày, vì chúng biết có sự hiện diện của máy bay thám thính Hoa Kỳ trên không đang kiểm soát hàng giờ.
Biệt Kích Quân Nguyễn Bác Ái tại căn cứ CCN (Chiến Đoàn 1 Xung Kích) tại Đà Nẵng. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Ông Ái kể: “Nhưng, địch lợi dụng lúc đêm tối, không có máy bay quan sát thì chúng mới tìm mọi cách truy lùng toán của chúng tôi để tiêu diệt hoặc bắt sống. Chúng tôi biết địch đang di chuyển rất đông, nhưng trước khi chúng tôi nhảy xuống thì chúng đã rút đi nơi khác không xa lắm. Sau đó, chúng tôi không đóng quân ở điểm đã nhảy xuống, mà di chuyển lên trên đỉnh đồi cao gần đó. Cộng Quân không biết chúng tôi đã di chuyển, nên chúng đã mò ra nơi bãi đổ quân lúc ban ngày để truy lùng chúng tôi.”
“Toán Biệt Kích Quân đang nằm trên đỉnh đồi và nghe địch ngụy tạo những tiếng hô to như ‘Đã tìm được rồi, đã bắt được rồi,’ và chúng cứ bắn vào những lùm cây để gây áp đảo tinh thần của toán Biệt Kích. Nhưng chúng đâu biết toán này đã di chuyển lên trên đồi cao, mà Cộng Quân cứ lục soát dưới chân đồi,” ông kể thêm.
Ông Nguyễn Bác Ái (hàng đầu, giữa) phục vụ tại Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Sáng hôm sau, toán Biệt Kích báo cáo về bộ chỉ huy chiến đoàn là nơi này đã có địch quân rất đông. Lực lượng Không Quân thám sát của chiến đoàn đã đến tận nơi để chụp không ảnh. Theo tình báo cho biết thì lúc đó địch đã ngụy trang rất nhiều cành cây rừng trên những đoàn xe Molotova hay chiến xa của địch để máy bay thám sát không nhìn thấy được.
Theo những tài liệu từ không ảnh cho biết, trên đường mòn Hồ Chí Minh đã có những bức hình chụp những lùm cây vào buổi sáng đến buổi chiều đã biến dạng về nơi khác, thì họ mới biết đó là những đoàn xe của Cộng Sản đã di chuyển quân vào miền Nam. Sau đó, các chiến đấu cơ của Hoa Kỳ đã dội bom vào đoàn quân xa, chiến xa của địch.
Ông Ái tâm tình: “Trong công tác này xem như toán chúng tôi thành công, vì đã phát hiện Cộng Quân đang di chuyển. Sau đó, chúng tôi được trực thăng đưa về phi trường Phú Bài, Huế. Rồi bằng đường không vận C-130 về căn cứ Đà Nẵng. Đây cũng là kinh nghiệm của tôi khi mới vào Biệt Kích Quân là khi đi công tác, mình là người bị địch đi săn để bắt sống, chớ không phải mình là người đi săn địch, vì chúng quá đông còn chúng tôi chỉ đi lẻ tẻ khoảng 8 người một toán là nhiều rồi.”
“Từ đó, tôi có quan niệm rằng, tuy toán của chúng tôi không nhiều, nhưng nhiệm vụ của những chuyến công tác đều nhảy vào lòng địch, thì sự sống sót là điều rất may mắn, kể cả việc không thể làm tròn bổn phận của mình cũng là đều thường xảy ra. Dù biết vậy, nhưng đã chấp nhận là một người lính Biệt Kích Lôi Hổ thì phải thi hành nhiệm vụ của mình trước, rồi chuyện sống còn là tùy theo số mệnh của người lính Biệt Kích Lôi Hổ,” ông nói thêm.
“Thật ra, lúc đang được huấn luyện để trở thành một người lính xung kích của đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, thì anh em chúng tôi cũng học được rất nhiều về những tài liệu học tập. Nhưng khi đối diện với thực tế, thì tôi học được từ những kinh nghiệm của những người đi trước mình nhiều hơn, và cũng nhờ vậy mà tôi đã có nhiều lần thoát chết dưới lằn đạn của địch quân,” ông nói tiếp.
Đơn vị Biệt Kích Quân bị giải thể
Cuối năm 1970, Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt của Hoa Kỳ đã từ từ rút quân ra khỏi Việt Nam, đồng thời cũng bàn giao Chiến Đoàn 1 Xung Kích lại cho Quân Lực VNCH. Những chiến binh thuộc các Đại Đội Xung Kích của Biệt Kích Lôi Hổ một số được giải ngũ, và một số được chuyển sang các đơn vị Biệt Động Quân Biên Phòng. Riêng các nhân viên nhảy toán như ông Ái thì được chuyển sang các binh chủng của Quân Lực VNCH, với cấp bậc binh nhì.
Ông Nguyễn Đức Nhơn, thân phụ của ông Nguyễn Bác Ái, tại Hoa Kỳ. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Ông Ái kể: “Tôi đã chọn tiếp tục cuộc đời của một người lính Biệt Kích Lôi Hổ, nên đầu năm 1971, tôi đến Trung Tâm 4 Tuyển Mộ Nhập Ngũ Đà Nẵng ghi danh để được trở thành một người lính của Quân Lực VNCH. Rồi sau đó, tôi được trở về đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, thuộc Toán Hải Yến của Chiến Đoàn 1 Xung Kích. Lúc đó, Chiến Đoàn được lệnh trở về căn cứ Biệt Kích Lôi Hổ ở Quảng Lợi, thuộc Vùng 3 Chiến Thuật.” Sau khi chiến đoàn về Quảng Lợi thì căn cứ này được dời về Long Thành, Biên Hòa, cũng là Trại Quyết Thắng, Trung Tâm Huấn Luyện của Biệt Kích Lôi Hổ.
Vài tháng sau, Nha Kỹ Thuật có chương trình tuyển mộ những quân nhân Biệt Kích Lôi Hổ ưu tú được gia nhập đoàn Thăng Long. Nhiệm vụ của đoàn này là nhảy ra Bắc Việt ngắn hạn từ một tuần hoặc ít hơn để phá hoại miền Bắc.
Ông Ái kể: “Lúc đó, vì cha của tôi vẫn còn bị giam giữ ở Bắc Việt, nên tôi đã ghi tên gia nhập đoàn Thăng Long. Anh em chúng tôi được huấn luyện nhảy dù ban đêm, phá hoại chất nổ, bắt tù binh, mưu sinh thoát hiểm… Sau khi học xong khóa này, đến đầu năm 1972, thì đoàn Thăng Long bị giải thể và được sáp nhập vào đoàn 68 của Sở Công Tác, thuộc Nha Kỹ Thuật.”
Cũng theo ông Ái, sau này khi được định cư tại Hoa Kỳ thì ông mới biết đoàn Thăng Long là một chương trình của cơ quan CIA, Hoa Kỳ đã huấn luyện một số quân nhân trong nhiều tổ chức khác nhau mà ít ai được biết, trong đó có đoàn Thăng Long để đưa những quân nhân này ra miền Bắc nhằm đánh phá ngắn hạn, nếu chính phủ Hoa Kỳ không ký được Hiệp Định Paris. Nhưng, Hiệp Định Paris đã được ký kết vào cuối Tháng Giêng, 1973, giữa Hoa Kỳ, VNCH với nhà cầm quyền Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, trong đó có đề mục ngưng bắn. Vì thế, đoàn Thăng Long đã bị giải thể, nên giấc mơ nhảy Bắc của ông Ái cũng không được theo ý nguyện của mình.
Sau đó, những toán Xung Kích Lôi Hổ chỉ đi công tác ngoài biên giới tại miền Nam và những biệt khu của Cộng Sản trong nội địa. Cuối Tháng Ba, 1973, toán của ông Ái được biệt phái về Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn.
Toán Bull trước khi xâm nhập Bắc Việt, 1962. Ông Nguyễn Đức Nhơn (bìa trái, hàng thứ nhất), cha ông Nguyễn Bác Ái. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Ông còn nhớ có lần toán của ông được lệnh nhảy vào biệt khu Lý Văn Mạnh ở Củ Chi. Khi đến nơi, toán này đã phát hiện những dấu vết của Việt Cộng còn để lại như những lằn treo võng còn trên thân cây, và những dấu vết từ những lằn bánh xe pháo binh của địch di chuyển. Toán Biệt Kích liền báo cáo về bộ chỉ huy Lôi Hổ ở Biệt Khu Thủ Đô và trung tâm hành quân Củ Chi cho biết là có sự hiện diện của địch.
Đầu năm 1973, những toán Biệt Kích Lôi Hổ không còn đi công tác ngoài biên giới, vì quân đội Hoa Kỳ không còn hiện diện ở miền Nam nữa, cũng như những hổ trợ của trực thăng để bảo vệ cho Biệt Kích Lôi Hổ càng ngày càng yếu kém.
Gần cuối năm 1973, ông Ái xin rời khỏi đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ để được về phục vụ cho những binh chủng khác. Quân đội đã chấp thuận đơn xin thuyên chuyển của ông, và có hai đơn vị tác chiến cho ông được chọn là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.
Thuyên chuyển về binh chủng Thủy Quân Lục Chiến
Theo ông Ái, ngày xưa, Biệt Kích Lôi Hổ là một đơn vị được phép để tóc dài vì lý do công tác. Binh chủng Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến rất nghiêm khắc về vụ lính để tóc dài. Cuối cùng, ông đã quyết định xin thuyên chuyển về Thủy Quân Lục Chiến.
Ông Ái được lệnh về phục vụ Đại Đội 4/Tiểu Đoàn 7 Hùm Xám, Thủy Quân Lục Chiến đóng quân ở Mỹ Chánh, Quảng Trị. Lúc đó, Thiếu Tá Phạm Cang là tiểu đoàn trưởng của Tiểu Đoàn 7.
Ông Ái được về phục vụ tại bộ chỉ huy của đại đội. Lúc bấy giờ thì cuộc chiến cũng đang nóng bỏng tại Quảng Trị. Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến có những cuộc hành quân từ ngã ba Long Hưng dọc theo Đại Lộ Kinh Hoàng (Quốc Lộ 1) cũng như ứng chiến từ nhà thờ La Vang đến sông Mỹ Chánh.
Ông Nguyễn Bác Ái (thứ tư từ phải, ngồi) tại Đại Hội Nha Kỹ Thuật 2019, Nam California. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Cuối năm 1973, Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến có quyết định thành lập một Đại Đội Đặc Công, nên mới tuyển chọn những chiến sĩ thiện chiến để được gia nhập vào đại đội này. Ông Ái đã tình nguyện vào Đại Đội Đặc Công Thủy Quân Lục Chiến, có biệt danh là Đại Đội Sóng Thần.
Các chiến sĩ của đại đội này được huấn luyện khoảng ba tháng. Trong lúc huấn luyện thì Thiếu Úy Đào Ngọc Kỳ từ Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến cho biết là cần một số chiến sĩ xuất sắc trong Đại Đội Đặc Công để đào tạo thành đơn vị Thủy Kích (Người Nhái) cho Bộ Chỉ Huy của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến. Có khoảng 60 anh em ghi tên đi học khóa này, trong đó có ông Ái.
Vợ chồng ông Nguyễn Bác Ái ở Beaverton, Oregon. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
BEAVERTON, Oregon (NV) – Cùng với khoảng 60 anh em ghi tên đi học khóa đào tạo thành đơn vị Thủy Kích (Người Nhái) cho Bộ Chỉ Huy của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, sau sáu tháng, ông Nguyễn Bác Ái là một trong 14 chiến sĩ được tốt nghiệp.
Những quân nhân này được giữ lại để yểm trợ cho Bộ Chỉ Huy Thủy Quân Lục Chiến, đóng tại Hương Điền, Phá Tam Giang, Huế, chớ không trở về Đại Đội Đặc Công Sóng Thần nữa. Nhiệm vụ của toán Thủy Kích là hằng đêm đi hành quân phục kích Cộng Sản từ Quốc Lộ 1 ra đến bãi biển, và từ sông Thạch Hãn đến cửa Thuận An. Ngoài ra, toán Thủy Kích còn có nhiệm vụ bảo vệ yếu nhân gồm các sĩ quan cao cấp và tư lệnh của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Lúc đó, Thiếu Tướng Bùi Thế Lân là tự lệnh của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến.
Toán Thủy Kích được chia ra làm hai thuyền, mỗi thuyền gồm bảy người. Những chuyến công tác hằng đêm thường đi chỉ một thuyền, bắt đầu từ 9 hay 10 giờ tối. Tàu Hải Quân vào Phá Tam Giang để kéo thuyền cao su của toán Thủy Kích vào vùng của địch đang đóng quân, rồi nằm tại điểm hành quân suốt đêm. Đến khoảng 4 giờ sáng thì Hải Quân sẽ vào kéo thuyền của họ ra khỏi vùng hành quân.
Người Nhái Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Bác Ái tại Phá Tam Giang, Huế. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Những công tác của toán Thủy Kích Thủy Quân Lục Chiến
Ông Ái kể: “Con sông Vân Trình từ biển nối dài vào Phá Tam Giang, cập theo sông này có ấp Vân Trình, các nhân viên trong ấp gồm ông trưởng ấp và 15 nhân viên Nhân Dân Tự Vệ được trang bị vũ khí để giữ ấp này. Có một đêm, toán Thủy Kích chúng tôi gồm bảy người trên một chiếc thuyền cao su bơi ra ấp này để gặp ông trưởng ấp và những anh em Nhân Dân Tự Vệ. Sau đó, chúng tôi xuống thuyền chèo về hướng Nam, cách ấp đó khoảng 200 mét, rồi nằm lại suốt đêm trên biển.”
Người Nhái Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Bác Ái tại Phá Tam Giang, Huế. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
“Trong đêm đó, chúng tôi nghe từ xa có tiếng chó sủa cả đêm, mà không biết lý do tại sao. Sáng hôm sau được tin từ Bộ Chỉ Huy của sư đoàn cho biết là trong đêm đó, Việt Cộng đã kéo về ấp Vân Trình, và họ đã bắt ông trưởng ấp cùng 15 Nhân Dân Tự Vệ giải đi hết rồi. Cũng may là chúng tôi đã di chuyển ra khỏi ấp, nếu đêm đó chúng tôi ngủ lại ấp này thì bảy anh em chúng tôi sẽ đụng độ lớn với đám đông Việt Cộng, và không biết số mạng của chúng tôi sẽ ra sao nữa,” ông kể thêm.
Đầu Tháng Ba, 1974, toán Thủy Kích được lệnh đi công tác ban ngày với phương tiện tàu Hải Quân. Hai chiếc PBR (Power Boat River) có nhiệm vụ đưa toán Thủy Kich đi công tác. Mỗi chiếc tàu này, phía trước có cây Đại Liên 50; hai bên hông tàu có hai cây Đại Liên 60; và sau đuôi tàu có một súng cối 30 ly.
Hai chiếc tàu này chạy từ Phá Tam Giang vào sông Vân Trình, tiến hướng sông Mỹ Chánh, rồi đến ấp Phú Nông, hai chiếc PBR ủi mũi vào ngôi làng này. Toán Thủy Kích chỉ đứng trên tàu quan sát, thì thấy trên bờ khoảng 30 thanh niên đang mặc quần xà lỏn áo thun đứng trên bờ nhìn xuống họ, mà không có phản ứng gì hết. Nhưng vì có tánh khả nghi, toán Thủy Kích chỉ đứng trên tàu chớ không đổ bộ lên bờ.
Ông Ái kể: “khoảng 10 phút sau, chúng tôi quyết định cho lui tàu trở về hướng Phá Tam Giang. Lúc lui tàu thì trung tâm hành quân Thủy Quân Lục Chiến cho chúng tôi biết là tin từ trung tâm hành quân Hương Điền, Quảng Trị đã báo cho trung tâm hành quân Thủy Quân Lục Chiến biết là tại ấp Phú Nông đã hoàn toàn bị Cộng Sản chiếm trong hai ngày qua.”
“Vì thế, những người thanh niên đứng nhìn chúng tôi đó là những tên Cộng Sản, vì chúng thấy hai chiếc tàu PBR có trang bị hỏa lực mạnh nên chúng không dám tấn công, mà chúng đợi toán Người Nhái đổ bộ lên bờ thì chúng sẽ tấn công để giết hoặc bắt sống,” ông kể thêm.
Đầu Tháng Ba, 1975, Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến được lệnh rút về Thuận An, không bao lâu thì di chuyển về phi trường Non Nước, Đà Nẵng để thế cho Sư Đoàn Nhảy Dù di chuyển về Sài Gòn.
Chiến sĩ Nguyễn Bác Ái, Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Toán Thủy Kích bảo vệ yếu nhân
Trưa 28 Tháng Ba, 1975, Đại Úy Nguyễn Quang Đan, chánh văn phòng của Tướng Bùi Thế Lân lệnh cho Trung Úy Nguyễn Văn Đào, Trung Sĩ Nguyễn Văn Vân và ông Ái làm cận vệ cho Thiếu Tướng Bùi Thế Lân.
Ông Ái kể: “Chúng tôi được lệnh lên trực thăng để hộ tống Tướng Lân đến Vùng 1 Duyên Hải. Khi đến nơi, chúng tôi đưa Tướng Lân xuống hầm trú của bộ chỉ huy để họp với Tướng Ngô Quang Trưởng, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tướng Lâm Quang Thi, Tướng Nguyễn Duy Hinh, và nhiều sĩ quan khác.”
“Lúc đó, ở bên ngoài Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải, rất đông đồng bào muốn vào bộ tư lệnh này xuống tàu Hải Quân để đi về Vũng Tàu và Sài Gòn. Trong lúc các vị tướng lãnh đang trong phòng họp thì chúng tôi đi vòng quanh bộ tư lệnh để tìm cách ứng phó nhằm bảo vệ cho các tướng lãnh. Đến khoảng 7 giờ tối thì Cộng Sản đã bắt đầu pháo dữ dội bằng đạn pháo 130 ly từ trên Đèo Hải Vân trực xạ xuống Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải, và những chiếc trực thăng của các tướng lãnh đều bị hủy diệt,” ông nói tiếp.
Tại phòng quân xa, ông Ái kể: “Tôi phát hiện một tên pháo binh của Cộng Sản ngụy trang lính VNCH đang gọi máy truyền tin để điều chỉnh tọa độ cho pháo binh của địch bắn vào Bộ Chỉ Huy Vùng 1 Duyên Hải. Tên này đã bị tôi bắn chết ngay tại chỗ. Rồi toán của tôi tiếp tục đi lục soát. Khi đến gần cầu tàu thì có thêm hai tên Việt Cộng nữa cũng đang gọi máy truyền tin để điều chỉnh pháo binh của địch. Hai tên này đã bị mấy anh Hải Quân bắt.”
Khoảng 10 phút sau thì địch ngưng pháo, có lẽ vì những ăng-ten của họ đã bị lộ. Các tướng lãnh cũng vừa họp xong. Mọi người đến cầu tàu thì tất cả những chiếc tàu đều rời bến lúc nào không biết. Lúc đó, dân ở bên ngoài tràn vào bộ tư lệnh để được xuống tàu.
Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến di tản về Vũng Tàu
Ông Ái kể: “Tướng Lân và Phó Đề Đốc Kỳ Thoại cùng anh em chúng tôi quyết định phải đi bộ dọc theo núi Sơn Trà, rồi leo sang phía bên kia núi để gọi tàu Hải Quân vào rước. Vì nếu đi bộ ra trước cổng bộ tư lệnh thì sẽ không an toàn. Đang bàn tính thì có một chiếc trực thăng bay tới, rồi đáp xuống rước Tướng Trưởng đi, còn Tướng Thi và Tướng Hinh thì không biết họ đã rút đi bằng ngõ nào. Chỉ có chúng tôi cùng Tướng Lân, Phó Đề Đốc Kỳ Thoại và kè thêm Đại Tá Nguyễn Thế Lương của Thủy Quân Lục Chiến đang bị thương chân còn ở lại.”
Sau đó, họ phải đi dọc theo chân núi Sơn Trà suốt một đêm để vượt qua rất nhiều tảng đá rất to, và phải cố gắng leo lên cao thì mới qua được những hòn đã khổng lồ. Khi qua đến bên kia chân núi thì lại bị Cộng Sản cho nã đạn pháo tiếp vào Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải.
Ông Ái kể: “Khi đến gần bờ biển, chúng tôi gọi tàu Hải Quân lần nữa. Nhưng gọi hoài mà cũng không có ai trả lời. Kể cả Phó Đề Đốc Kỳ Thoại lên máy mà cũng không liên lạc được. Ông ta mới đưa máy lại cho Thượng Sĩ Nguyễn Thế Thụy là âm thoại viên truyền tin của Tướng Lân. Ông Thụy rất rành về những tần số truyền tin của các tướng lãnh cũng như của các quân đoàn. Vì thế, ông Thụy mới liên lạc được Hải Quân đang ở ngoài biển khơi, xong đưa máy cho Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại nói chuyện.”
“Nhưng tàu Hải Quân vẫn không vào lúc trời còn tối. Chúng tôi vẫn đứng trên bờ chờ đợi. Đến hừng sáng thì có một chiếc thuyền cao su nhỏ ở ngoài khơi bơi vô bờ. Tôi nhìn xuống thuyền thì thấy hai Người Nhái, trong đó có anh Hiền là bạn của tôi. Tôi mới gọi anh ta: ‘Anh Hiền, tụi tôi trong này gọi cả đêm mà sao các anh không đưa tàu vô rước chúng tôi?’ Anh Hiền trả lời: ‘Không biết vụ gì mà trên bờ đều là mấy ông tướng gọi máy cả. Vì chúng tôi sợ Việt Cộng dụ tàu vô để tấn công, nên chúng tôi đợi gần sáng thì mới vào,’” ông Ái cho biết thêm.
Hai Người Nhái Hải Quân mới đưa Phó Đề Đốc Kỳ Thoại, Tướng Lân và một số sĩ quan ra tàu Hải Quân trước. Rồi sau đó, họ mới đưa những người còn lại ra chiếc tàu HQ 802. Khi tất cả lên được tàu Hải Quân, thì mới biết Tướng Trưởng từ đó bay về Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Chiến Thuật thấy không ổn, nên ông mới bay về căn cứ Non Nước của Thủy Quân Lục Chiến với Đại Tá Nguyễn Thành Trí, tư lệnh phó Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Đến sáng ngày 29 Tháng Ba, 1975, Tướng Trưởng và Đại Tá Trí bơi bộ cùng một số anh em Thủy Quân Lục Chiến từ trong bờ ra tàu Hải Quân.
Chiến sĩ Nguyễn Bác Ái, Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Sau đó, chiếc HQ 802 mới đưa tất cả mọi người đến Cam Ranh vào ngày 30 Tháng Ba, 1975. Lúc đó, toán bảo vệ yếu nhân đi theo Tướng Lân và một số sĩ quan để gặp Tướng Phú và Tướng Phạm Quốc Thuần. Tất cả quân nhân trong Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến được lệnh lên tàu HQ 802 cùng với các tướng lãnh đi về Vũng Tàu.
Đến Vũng Tàu ngày 2, Tháng Tư, 1975, Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến về đóng quân ở Vũng Tàu. Sau đó, Đại Tá Nguyễn Thành Trí được lệnh đưa một số đơn vị về Biên Hòa để bảo vệ tỉnh Biên Hòa. Riêng Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến vẫn ở lại Vũng Tàu.
Vượt biên sang Philippines
Ông Ái kể: “Ngày 22 Tháng Tư, 1975, tôi được lệnh đưa một tiểu đội Viễn Thám Thủy Quân Lục Chiến xuống bãi trước Vũng Tàu. Lúc bấy giờ, có hai chiếc tàu dân sự đang đậu ở đây, đó là chiếc Việt Tiến và Kim Dung. Tôi được biết hai chiếc tàu này đang tổ chức để đi vượt biên, chúng tôi được lệnh giữ hai chiếc tàu này không được rời bến Vũng Tàu, và chúng tôi ở trên tàu đó cho đến sáng 30 Tháng Tư, 1975, thì Cộng Quân bắt đầu pháo vô Vũng Tàu dữ dội.”
“Lúc đó, Tướng Lân bay trực thăng từ trong bờ ra gặp chúng tôi ở chiếc Kim Dung. Chúng tôi mới tháo súng đạn trên chiếc trực thăng đó, rồi đẩy chiếc trực này xuống biển luôn. Vì chiếc tàu Kim Dung đậu không xa bờ nên sợ Việt Công thấy chiếc trực thăng của Tướng Lân, rồi họ sẽ pháo ra chiếc tàu này.”
Khoảng 10 giờ sáng 30 Tháng Tư, 1975, trên tàu có một người cầm một radio đến thông báo với ông Ái rằng, Tổng Thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng và kêu gọi tất cả những quân nhân Quân Lực VNCH phải buông súng. Ông Ái mới đem cái radio này lên phòng lái để cho Tướng Lân nghe. Sau đó, Tướng Lân lệnh cho người mang máy truyền tin của ông thông báo cho các cấp chỉ huy của Thủy Quân Lục Chiến là từ lúc này, các quân nhân Thủy Quân Lục Chiến ai muốn ở lại đơn vị thì ở, còn những ai muốn về với gia đình thì tùy ý. Vì ông Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng.
Tướng Lân ra lệnh với mọi người: “Bây giờ, mình có thể nhổ neo đi được rồi.” Tàu bắt đầu chạy ra khơi. Khoảng một tiếng sau, gặp một chiếc tàu lớn gấp đôi chiếc Kim Dung, đó là chiếc Đại Dương của dân sự. Trên tàu này có khoảng 800 người, trong số đó có khoảng hơn 300 lính Thủy Quân Lục Chiến. Tướng Lân và anh em Thủy Quân Lục Chiến chuyển sang chiếc Đại Dương chạy về hướng Singapore.
Cựu Thiếu Tướng Bùi Thế Lân (trái) và Thủy Kích Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Bác Ái tại Đại Hội Thủy Quân Lục Chiến Dallas, Texas. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Ngày 4 Tháng Năm, 1975, chiếc Đại Dương cập bến Singapore. Tàu được cảnh sát và quân đội Singapore tiếp tế lương thực, nhưng không cho vào bờ. Sau đó, tàu đi về hướng Philippines.
Ông Ái kể: “Khi đến Philippines, chúng tôi gặp một trung tướng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã từng làm việc tại Việt Nam và ông cũng biết Tướng Bùi Thế Lân. Vị tướng Mỹ này nói tiếng Việt Nam rất rành. Lúc đó, ông ta mới đến bên tôi nói: ‘Bây giờ anh đã biết tôi là ai rồi.’ Vì lúc còn ở Bộ Tự Lệnh Hành Quân tại Quảng Trị thì ông tướng Mỹ này mặc đồ dân sự, với chức vụ là nhân viên của Liên Hiệp bốn bên để kiểm soát việc ngưng bắn. Nhưng khi gặp ông mặc đồ của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và đeo lon ba sao thì mình mới biết ông ta là trung tướng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.”
Trở thành sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Ông kể tiếp: “Ông tướng Mỹ đến đón Tướng Bùi Thế Lân và một số sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến. Sau đó, Tướng Lân và chúng tôi được đưa sang tàu Hải Quân Hoa Kỳ đi qua phi trường Clark, Philippines. Rồi từ đó, Tướng Lân và một số sĩ quan được đi máy bay đến đảo Guam. Riêng tôi, anh Vân và Trung Úy Đào muốn ở lại Philippines. Cũng nhờ ông trung tướng Hoa Kỳ giới thiệu chúng tôi là Người Nhái Thủy Quân Lục Chiến, nên họ cấp cho tôi tấm giấy phép được ăn uống tự do thoải mái như những quân nhân Hoa Kỳ. Gần một tháng sau, chúng tôi được đi sang đảo Wake.”
Ngày 5 Tháng Chín, 1975, ông Nguyễn Bắc Ái được sang căn cứ Fort Chaffee, Arkansas, rồi được bảo trợ về tiểu bang Oregon. Cuối năm 1977, ông Ái tình nguyện vào Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ được huấn luyện tại MCRD (Marine Corps Recruit Depot), San Diego.
Hai Thủy Kích Thủy Quân Lục Chiến Bác Ái (trái) và B. Ngọc tại Little Saigon, California. (Hình: Nguyễn Bác Ái cung cấp)
Sau khi học xong, ông được về đơn vị Viễn Thám của Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đóng quân tại trại Camp Pendleton. Sau đó, vẫn tiếp tục đi học nghề binh nghiệp. Sau khi đi học xong được lên cấp bậc thiếu úy.
Năm 1982, cha của ông Ái được chính phủ Cộng Sản Việt Nam trả tự do, và được định cư tại Hoa Kỳ.
Năm 1984, ông Ái xin giải ngũ với cấp bậc đại úy và về sống cùng gia đình tại tiểu bang Oregon. Ông Nguyễn Bác Ái đã từng làm quản lý cho một hãng của Đức đến 23 năm. Sau đó sang làm việc tại hãng Boeing cho đến bây giờ. Hiện đang sống cùng gia đình tại Beaverton, Oregon.
Ra sân, sau khi rửa mặt xong, tôi và bác Khánh lại lúi húi dọn dẹp chỗ “bàn” dài, để lát nữa chia cơm.
Sáng nào, từ ngày chuyển ra trại chung ngoài này, tôi cũng thấy cô Vân đặt một cái bàn con ở một góc sân, trên để khay thuốc, rồi hí hoáy phát và bôi thuốc ghẻ cho mấy đứa nhỏ. Tôi hiểu là thỉnh thoảng cô vẫn đưa mắt nhìn tôi. Cô muốn tôi ra xin thuốc từ mấy ngày nay, nhưng tôi cứ lờ đi coi như không biết. Tôi nghĩ sự việc rồi sẽ chẳng giải quyết được gì, mà chỉ làm cho trái tim rỉ máu nhiều hơn. Vả lại, trong điều kiện như thế này, tôi không có quyền làm buồn lòng một người con gái, dù là người đó thuộc phía đối phương. Danh dự của cá nhân tôi, và danh dự của chế độ nữa không phép tôi làm như vậy (nếu câu chuyện này vỡ lở ra, chúng sẽ có dịp bồi thêm là người của miền Nam chỉ trai gái, không có đạo đức, v.v…). Từ những suy nghĩ như trên, tôi cứ phải lẩn tránh. Bất đắc dĩ phải ra ngoài, tôi thường nhìn đi nơi khác.
Hôm nay cũng vậy, tôi dõi mắt xa xa, chỗ khe hở của tấm có vây ở sân, nhìn những cái chân trắng, đầy lông lá, đi đi lại lại. Óc đang miên man đầy vơi những nỗi niềm nghiêng ngửa của cuộc đời, chợt, một cậu bé đến cạnh tôi, thì thầm, mắt nhìn ra chỗ bàn cô Vân:
– Chú ơi! Cô y tá bảo mời chú ra cho cô hỏi gì ấy!
Tôi thấy rõ trái tim mình nhảy nhịp một cách bất thường. Cô Vân ơi! Thôi mà, xin cảm ơn tình cô. Xin hãy để cho tôi yên lành, lần mò trong quãng đường tăm tối của tôi! Dù đầu óc nghĩ như vậy; dù lòng chẳng có ý định và dù vẫn cố gắng cắm cúi lau bàn; tôi vẫn thấy trái tim mình nhảy lộn xộn loạn cả lên. Trong khi tai vẫn thoang thoảng nghe như có tiếng nói của ai đó luồn trong gió ở ngay phía sau mình, mà do những tiếng gọi nhỏ bé hun hút, từ trong hang sâu thẳm của cõi lòng tôi thúc giục đẩy đưa. Hai bàn chân tôi, từ từ tiến ra chiếc bàn cô Vân đang ngồi ghi ghi, chép chép. Rồi cô nhấc chai thuốc này, mở chai kia, như không hề chú ý đến tôi.
Tôi biết là cô đã thấy tôi ra, nhưng nét mặt cô lại rất lạnh lùng. Tôi cũng hiểu, lúc này cũng có hàng trăm con mắt đang để ý theo dõi, bởi vì dù muốn hay không, sự việc nằm ngay trước mắt người ta. Mãi một lúc, cô nhìn tôi, mắt cô run run, đang từ màu nâu chuyển dần qua máu lá mạ “nửa dòng”, rồi nhạt dần thành màu hoa thiên lý “con so”. Mặt cô thoáng hồng lên dưới ánh nắng nhạt của buổi sáng mùa Đông. Một bàn tay cô lơ đãng, đưa lên hẩy nhẹ mái tóc lả lơi buông xõa bờ vai. Môi cô mấp máy, thốt ra những lời run run trong gió Bắc hanh khô:
– Sao mấy ngày hôm nay, anh không ra?
– Ra làm gì cho buồn thêm!…
Tôi trả lời trong hiu hắt nghẹn lòng. Giữa lúc ấy, tên Lê, phó giám thị từ phía cổng trại chung đi vào. Cô Vân vội nhặt 3 viên thuốc trong khay, gói vào một miếng giấy nhỏ, rồi đưa cho tôi, nói nho nhỏ:
– Mai, gần cuối giờ, anh báo cáo ra đây xin thuốc!
Tôi cầm gói thuốc đi về chỗ bàn chia cơm, người còn bần thần như vào một buổi chiều lộng gió, ngồi một mình nhìn ra cửa biển mênh mông. Vân nhẹ trách tôi sao mấy ngày không ra, thế là rõ lòng cô đã chờ đợi mong mỏi đấy. Vân ơi! Tôi cũng mong, cũng nhớ lắm. Nỗi mong nhớ khao khát của tôi hẳn còn sâu đầy hơn Vân nhiều. Tôi biết rung động trước tình người, bén nhậy với ân nghĩa, thế mà tôi đã bị rào kín, bị bóc lột đến độ tàn bạo. Sáu năm dài buồn bã trong căn buồng hẹp, cùm kẹp lê thê, khổ nhục đã làm tôi thiếu khát mọi thứ. Tôi thèm khát mùi lá khô, mùi hoa bàng. Tôi ngẩn ngơ nhìn ánh nắng. Tôi thả hồn với mây chiều, với mưa phùn gió Bấc. Tôi đắm say nghe tiếng chim ríu rít trên cành bàng, những sinh vật duy nhất nơi đây không hận thù…..Tôi muốn được san sẻ cõi lòng, khát khao bầu bạn.
Thế rồi, Vân đã đến với tôi, với một tình người dạt dào trong sáng. Để rồi tôi đã được những phút ngập ngừng, hồi hộp, say sưa. Và Vân đã mong nhớ. Và chúng ta đã bao lần trằn trọc trong đêm khuya.
Nếu như thế đã là đôi chút của tình yêu, thì sao nhì? Phải chăng đó là phần tinh khiết cao quý nhất của con người mà sắt máu, khủng bố của chế độ này đã không đàn áp nổi? Và phải chăng, nó cũng chính là chứng nhân và thẩm phán của chân lý, của tình người, để tuyên án chế độ này?…
Đang nghĩ ngợi miên man, chợt Thọ “Lột” đến ghé vào tai tôi, thì thầm:
– Anh ơi! Mấy hôm trước, đài nói Nguyễn Chí Thanh bị mệt nặng, các bác sĩ đã tận tình cứu chữa ở Liên Xô, nhưng cuối cùng bị chết. Nhưng, thực ra, bên ngoài Hà Nội, người ta đồn là Nguyễn Chí Thanh bị bom B-52 chết ở Dầu Tiếng, trong Nam, anh a.
Để xác định rõ, tôi hỏi thêm:
– Em nghe thấy từ bao giờ, khi còn ở ngoài Hà Nội, hay mới đây? Theo em, nguồn tin này do từ cán bộ nói ra, hay từ những người nghe đài BBC, hay từ đài miền Nam?
– Thằng bạn em nghe đài Sài Gòn. Nó mới bị bắt vào, nói lại.
Tôi động viên ca ngợi nó:
– Cảm ơn em, em có những nguồn tin thật là tuyệt. Nhưng, nhớ đừng cho ai biết là em đã kể cho anh nghe!
Chiều hôm ấy, khi tôi vừa ra cửa (trật tự được quyền ra vào, nhưng cũng chỉ ở góc cửa buồng mình), thấy buồng bên cạnh có 4, 5 anh đang thập thò ở cửa. Lại nghe tiếng nói của một người nào đó, rất quen đang nói chuyện vời một anh đứng gần đấy. Cái tiếng khàn khàn, đờn đợt, trọ trẹ miền Nam, tôi ghé gần một cậu, hỏi nhỏ về người có tiếng nói rất quen đó. Với hai con mắt him híp như mắt con heo nái, liếc đi liếc lại, long sòng sọc; miệng cười hềnh hệch, nhe những chiếc răng bàn cuốc, trong góc có một chiếc răng vàng đã bẹp dúm một bên. Chính anh ta đã nghe thấy tôi hỏi cậu kia, nên đã ưỡn thẳng người lên, rồi trả lời với vẻ ta đây:
– “Long Châu Sa” Lê Văn Lương, mới ở trại trung ương về đây!
– Trại nào?
– Trại I Phố Lu, Lào Kay.
– Tại sao lại về?
– Vụ án phải xử lại.
– Thế Nguyễn Văn Căn, sao?
Y mở to mắt nhìn tôi, như hỏi sao tôi biết, nhưng miệng y vẫn trả lời dù chưa hiểu vì sao tôi lại biết chuyện của Căn:
– Đã bắn 3 năm nay rồi còn đâu!
Dù đã biết vậy, nhưng tôi vẫn thấy tim mình như thắt lại khi nghe tin cụ thể về anh Căn. Anh đã chết rồi! Như vậy, ngày từ ngày đó, ngày tôi đào thoát, rồi bị đưa vào cát xô gần hai tháng, là thời gian anh Căn bị đưa đi bắn. Tôi nhắm mắt, gục nghiêng đầu một phút để mặc niệm hương hồn của anh. Anh đã hy sinh cho quyền làm người của nhiều người.
Tên Lê Văn Lượng cũng đi trại trung ương 3 năm nay rồi. Y lại mới được đưa về đây. Mồm y ông ổng huênh hoang kể những chuyện trên trời dưới đất ở trên trại trung ương, miền núi rừng hẻo lánh xa xôi. Năm, sáu người, ngay trong phòng tôi, cũng ngồi hếch mắt, há mồm nghe, trong đó có cả bác Khánh. Riêng tôi, tôi cứ bần thần suy nghĩ về tên người Việt gốc Căm pu chia này, một tên đểu giả vô lại (tôi cho là chưa từng thấy một người nào khả ố, lật lọng đến như vậy), lại liên quan đến tổ chức tình báo Trần Minh Châu tức Cập. Một tổ chức gián điệp được cài lại tứ 1954, dây dưa rất nhiều ẩn khúc. Anh Cập, đầu mối đã bị xử tử năm 1957. Rồi cuối cùng năm 1958, Căn và Lượng mới bị bắt, vì Lượng giết một đứa bé ở Hàng Bạc để bịt miệng, tứ đấy mà bị lộ. Căn đã bị xử tử năm 1964. Lương bị xử án chung thân, bây giờ lại được gọi về xử lại.
Đang miên man nghĩ ngợi về y, chợt nghe y nói tới một chuyện làm tôi chú ý. Y kể lại, năm 1964, miền Bắc có bắt được một vụ biệt kích. Toán biệt kích này có tên là toán “Boone”, gồm 5 người: Đinh Sơn, Nguyễn Công Thành, Nguyễn Huy Lân, Nguyễn Văn Phú và Nguyễn Văn Mạnh. Chẳng hiểu vì lý do gì, toán này khi nhẩy xuống đất, biết đã bị bao vây, nên tất cả đều hàng hết, hàng ngay.
Cộng Sản miền Bắc đã lợi dụng vụ này để làm chính trị. Đài phát thanh, báo chí, chúng làm rùm beng hàng mấy tháng trời, trong nước cũng như ngoài nước, để chuẩn bị cho một phiên tòa với nhiều đại biểu của cả nước và có cả sự tham dự, của nhiều phóng viên quốc tế, v.v… Chúng xử ròng rã 3 ngày, với bao nhiêu trỏ hề, làm đau lòng những người có giòng máu quốc gia và làm mát mặt những tên đít đỏ như rệp. Cuối cùng, để khuyến khích, cổ vũ các toán biệt kích sau này, khi ra Bắc sẽ đầu hàng ngay. Mặt khác, để chứng tỏ cho thế giới thấy chế độ xã hội chủ nghĩa “Lương tâm của loài người, đỉnh cao của trí tuệ, đầy lòng nhân đạo, thương yêu người dân như con cái trong nhà, như anh em ruột thịt, máu chảy ruột mềm v.v…”, chúng trang trọng tuyên bố tha bổng. Đài phát thanh, báo chí trong và ngoài nước bốc thơm như mít. Nhưng, bây giờ tên Lê Văn Lượng chết tiệt lại nói là, nếu các bạn muốn gặp các anh biệt kích đó, xin mời lên trại trung ương số I, Phố Lu, Lào Kay.
Câu chuyện y kể làm mọi người bâng khuâng, thấy đầy rẫy vô lý. Dù rằng y là một tên lỗ mãng, đểu cáng, nhưng có những sự việc y không thể dựng đứng lên được. Thí dụ như sự việc này, bởi vì người và việc còn đấy. Nội vụ đã đưa ra tòa, cả nước chứng kiến, bao nhiêu phóng viên quốc tế quay phim, chụp ảnh; mặt khác nữa, ngay những bị can, sau khi được tuyên bố tha bổng, lại bị đưa cả vào tù, đời nào họ chịu (!), Chính phủ ăn nói với họ ra làm sao? Cho nên, rằng muốn tin, nhưng lại không thể tin, chỉ vì sự việc còn cách một không gian từ Hỏa Lò lên trại Phố Lu. Vì vậy, câu chuyện này cũng để nó đấy, thời gian sẽ làm sáng tỏ sau.
Nhưng, có một điều chưa thể quên ngay được về câu chuyện này là, sáng hôm sau, chả biết tên chó má nào đã thọc với quản giáo. Thế là cả một buổi sáng, buồng số 5 phải ngồi tập trung lại, có tên Kế dự. Lượng phải ngồi riêng một chỗ để toàn buồng…”giúp đỡ” bằng cách sỉ vả, mạt sát y là thằng nói láo, phản tuyên truyền, xuyên tạc đường lối giáo dục, cải tạo nhân đạo của đảng, chính sách khoan hồng độ lượng của cách mạng, v.v…Cả một nhà nước to lớn, cả một đảng Mác xít, Lê-nin-nít vĩ đại bao giờ lại thèm làm những chuyện trẻ con, lừa bịp như vậy, còn đâu là uy tín, còn đâu là nét mặt phúc hậu của “cha già dân tộc” là Hồ Chí Minh?…
Gần hai tiếng đồng hồ, mỗi người mỗi phát biểu sỉ vả. Ngồi ở buồng bên cạnh, tôi còn sốt cả ruột gan, nóng ran cả mình mẩy, huống chi Lượng. Phải nói là y tối tai, tối mắt, quay cuồng như con thú ngồi trên nồi rang. Dù y có cương cường, ngông hách đến chừng nào, cũng phải quỵ mọp đầu xuống trước hơn một trăm cái miệng châu vào bủa lưới ụp xuống đầu y.
Người ta nói “chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết”, huống chi ở đây hàng hơn một trăm người, lại có “chính quyền” đứng làm ngáo ộp nữa! Ở đây, phải hiểu “chính quyền” là vũ khí bạo lực. Cho nên, cuối cùng anh đã cúi đầu nhận tội nói láo, phản tuyên truyền, chuyện không, nói có. Để chuộc tội, anh xin nhận “15 ngày kỷ luật cát xô, ăn cơm muối ngày một nắm”.
Câu chuyện này vẫn chưa chấm dứt ở đây, còn dài mãi đến năm 1982, và đến… bây giờ. Tôi, do hoàn cảnh tù đầy đẩy đưa, sẽ minh oan cho Lượng bằng người thực, việc thực. Không những chỉ câu chuyện này, mà còn biết bao nhiêu những cái bí ẩn, trong một góc của cả một bối cảnh thê lương dài 30 năm của đất nước, sẽ được phanh phui ở những trang tới.
Buổi tối, tôi đang ngồi chuyện trò với bác Khánh, Phúc “Thổ” lại ghé vào tai tôi nói thầm, tay chỉ vào một góc buồng có 6, 7 cậu đang ngồi:
– Mời anh lại chỗ chúng em một tí!
Tôi ngạc nhiên, nhưng cũng đứng dậy theo Phúc. Trong đám có cả Thọ “Lột” và mấy cậu nữa cũng là những tay có hạng trong làng dao búa của Hà Nội. Chẳng biết các cậu “xoay sở” từ lúc nào, những tên đàn em, kẻ canh gác cán bộ, đứa vào nhà xí dùng giấy đun được một ca nước trà. Thấy thế, tôi nhìn tất cả ngụ ý hỏi là các cậu làm vậy, không sợ tên Hưng và những loại chó “thọc” với cán bộ hay sao? Phúc “Thổ” cười một cách tỉnh bơ, không cần giữ ý:
– Anh ơi! “Sơn ăn từng mặt” thôi, anh ạ. Thằng Hưng hay thằng nào, cũng chỉ dám hống hách, cáo cầy với những cánh nào non thôi. Chứ chúng nó mà không biết điều với bọn em, chúng em sẽ cho nó “ăn bã trầu” ngay. Vì vậy, anh đừng để ý làm gì.
Rồi nó nhìn tôi giọng tình cảm:
– Chúng em được gặp anh, chúng em quý anh lắm. Cho nên, đứa nào trêu chọc đến anh, đúng là tên đó tới số.
Thọ “Lột” ngồi im lặng từ nãy, bây giờ rót ít nước trà vào chiếc bát con duy nhất, vừa đưa cho tôi, vừa nói:
– Xin mời anh cả! Như vậy, suốt gần 6 năm ở xà lim, anh không hề có mùng mền gì ư? Mấy đêm hôm đầu, chúng em dậy đi giải, thấy anh bó người trong như cái thây ma chết rồi.
– Chúng cháu thấy chú bó người nằm thẳng cẳng, kín đầu đuôi, nhiều đêm phải rủ mấy đứa mới dám vào đi tiểu.
Phúc “Thổ” quay lại chỗ mấy cái ba lô, ôm ra một cái mùng cá nhân, một quần “tê tơ rông” vàng, với một chiếc áo “bơ lu dông” màu cứt ngựa để trước mặt tôi:
– Đây là tất cả những thứ chúng em đã chuẩn bị cho anh, anh hãy dùng tạm. Anh yên tâm, chúng em sẽ lo cho anh có đủ quần áo.
Lòng tôi thật xúc động và ngạc nhiên trước tình cảm của các cậu này. Tôi nói trong cảm động:
– Anh rất biết tấm lòng của các em. Nhưng, ở trong xà lim hàng 6 năm, anh đã chịu quen rồi. Các em cũng chả có, vậy các em cứ để lại dùng. Chỉ cần tấm lòng các em quý mến anh, là anh đã được an ủi nhiều rồi. Con người của anh phong sương, chẳng thích lệ thuộc vào hình thức. Các em hãy nghe anh, cất đi!
Phúc “Thổ” nói, giọng đầy vơi tình cảm:
– Anh Bình ơi! Bọn chúng em như những người lính không nhà, tuy có nhiều lúc thật xác xơ, đói khát, nhưng cũng nhiều lúc thật đế vương. Những cái này, chỉ là những cái vặt, không là gì đối với bọn chúng em cả. Nhiều khi, một cái quần may hàng năm, sáu mươi đồng; nếu cần chỉ đổi lấy một cái bánh mì 5 hào, cũng xong. Chúng em quý trọng anh, vì anh có những cái “giơ” của lính, nghĩa là không nói nhiều.
Vừa nói, nó vừa giũ chiếc quần, chiếc áo giục:
– Anh mặc thử luôn. Anh đừng phụ lòng của chúng em!
Không làm sao được, tôi đành đứng lên mặc thử. Thằng Minh “Trố” cười hô hố:
– Vừa quá! Anh hãy còn đẹp giai lắm, chỉ phải hàm dưới anh thiếu 3 cái răng, mỗi khi anh cười, trông như lỗ châu mai của lô cốt thời Tây vậy.
Cả tôi cũng cười vang vì cách ví von của nó. Thằng Tiến “Ga” xách đến một đôi dép râu thật “nền”, đặt trước chân tôi:
– Em tặng anh đôi dép này. Ra đây, anh vẫn còn cứ đi một chiếc guốc méo, với một chiếc dép mòn mãi!
Tôi ngạc nhiên, nhìn chân nó vẫn đang đi một đôi, tôi hỏi ngay:
– Dép ở đâu em có mà tặng anh?
Nó kéo nghệch cái miệng lên, giọng ra vẻ anh chị:
– Anh ơi, người lính, có là dùng, không hỏi là ở đâu cả!
Sáng hôm sau, trong giờ sinh hoạt, tôi đang đọc báo mục “nông nghiệp”, ca ngợi “quê hương 5 tấn” Thái Bình, tôi nghe mấy tiếng cười đùa xìn xịt ở một góc của mấy cậu choai choai. Tiếng bác Khánh đã bảo chúng yên lặng mấy lần, nhưng đâu vẫn hoàn đấy. Xem ý, mặt ông Khánh đã đỏ lên vì tức bực. Những đám thiếu niên này, quen sống trong giới bụi đời, chỉ biết nể sợ đám đàn anh của chúng mà thôi. Chúng thường tuyên bố thẳng là, ngay cán bộ chúng nó cũng không sợ bằng đàn anh; bởi vì, cán bộ chỉ bắt giam chúng vài tháng, dăm ba tuấn; chứ suốt đời, chúng phải sống với đàn anh. Nếu trái lời, không lúc này thì lúc khác sẽ bị hành tội. Chỉ trừ khi chính chúng có lực, có thế khỏe hơn hẳn đàn anh, không kể, Mà xem ý ra những chuyện làm “Zoóc” (làm “chó”, trong Nam gọi là “ăng ten”, điểm chỉ) chúng nó kỵ ghét nhất. Kế tới là những chuyện o bế chính quyền, trật tự, vệ sinh, v.v… Những tên đàn anh không bao giờ quát nạt đàn em cả, nhiều khi còn ủng hộ nữa.
Cũng vì vậy, ông Khánh bực bội lắm. Nhưng, trong mấy đứa cười đùa có một thằng tên là Trung Lý Thu, chừng 15, 16 tuổi, trông cao ráo, khỏe mạnh, lại được một số lau nhau rất nể sợ. Mắt nó cũng gừ gừ nổi gai nhìn lại ông Khánh, như trêu tức. Ông Khánh không chịu được nữa rồi. Ông đứng bật dậy, xắn tay áo, chỉ tay vào mặt thằng Trung Lý Thu, gầm lên:
– Mày không đáng tuổi con tao, biết không? Mày là con tao, tao sẽ đánh bỏ bố mày!
Thằng Trung Lý Thu cũng đứng dậy. Mắt nó quắc lên, cũng chỉ tay về phía ông Khánh, trước cả buồng:
– Thật là may cho ông đấy! Ông mà là bố tôi, thì tôi cũng đánh bỏ cha ông rồi!
Cả buồng cười rộ. Tôi cũng buồn cười, nhưng chỉ rung rung dưới bụng với tí ở ánh mắt, chứ mặt vẫn phải ra vẻ không có ý kiến. Mặt bác Khánh tím lại, hai thái dương bác giật liên hồi, hai bàn tay cứ nắm lại, rồi lại mở ra nhiều lần. Hai bên quai hàm của bác bạnh ra, làm những bắp thịt con chạy lên, chạy xuống. Tôi hiểu bác giận lắm! Bác muốn xông đến đánh thằng Thu gục xuống, bác mới hả. Nhưng, chắc bác cũng kịp hiểu. Bao nhiêu đàn anh, đàn em của nó, có để bác làm theo ý bác không. Hơn nữa, đêm hôm nó sẽ đánh “đòn ngủ” làm sao mà phòng bị mãi được. Tôi đã hiểu bác cũng chẳng ưa gì Cộng Sản, nhưng vì trót làm trật tự, đã trót lên tiếng với chúng nó, phải nói đến cùng mà thôi. Điều quan trọng là bác không hiểu tâm lý thanh niên, nhất là lưu manh.
Tên Hưng ngồi đấy cũng không dám có ý kiến. Về phía tôi, cũng là trật tự, nhưng tôi lại là người đọc báo, vậy tôi cứ lờ đi cũng chả ai trách tôi được. Trong dạ, tôi muốn bỏ cái việc sinh hoạt đọc báo của kẻ thù này, trong buồng càng lộn xộn, càng tốt. Nhưng, phải nhìn rõ vấn đề, tất cả buồng vẫn nằm trong tay Cộng Sản, anh không nên làm gì quá, làm quá sẽ mất tất cả, sẽ khó khăn thêm, trừ phi anh ở cái thế nói chuyện tương đương với Cộng Sản. Còn ở đây, trong buồng hổ lốn, mất trật tự, vì tên buồng trưởng nhát, Cộng Sản sẽ đưa một tên “đuya” vào. Vì tên cán bộ không có tài, chúng sẽ đưa tên có khả năng đến. Chúng có trăm ngàn cách để trị, để làm cho khó khăn thêm, khi anh vẫn còn nằm trong tay chúng.
Tóm lại, tôi thấy sự việc đã vừa đủ rồi, nên tôi lên tiếng. Tôi cũng hiểu, cái thế của mình chỉ đủ đến lúc này mới lên tiếng, và cũng chỉ được phép một lần thôi. Không biết, tiến quá, sẽ hỏng. Nghĩ như vậy, tôi quay lại phía bác Khánh, dõng dạc:
– Thôi, bác Khánh ngồi xuống, bác đừng chấp với các cháu!
Ngoái lại thằng Trung Lý Thu, mắt tôi nhìn nó như có tia lửa, nhưng miệng tôi thì nhỏ nhẹ, tình cảm:
– Cháu Thu hãy ngồi xuống. Chú tin là cháu đã hiểu vấn đề.
Nó hơi lưỡng lự một chút, rồi ngồi xuống. Với thái độ lưỡng lự của nó, dù chỉ là mấy giây, tuy trong thâm tâm, tôi cũng không vừa ý lắm. Nhưng, tôi cũng biết là với cái thế có được của tôi, từ khi vào buồng này, chỉ dùng được đến đấy. Nếu không tự biết, tự kiềm chế, tiến thêm ít nữa là có vấn đề. Nếu muốn tiến thêm nữa, sau này lựa dịp, một buổi nào đó phải thử sức với các đàn anh của chúng nó ở trong buồng đã. Chuyện đó, những ngày tới hãy hay! Bây giờ, đã đến giờ chia cơm, và sau đó, còn phải ra gặp cô Vân xem cô muốn nói gì.
Tôi cũng biết, từ đầu câu chuyện lộn xộn trong giờ sinh hoạt, những con mắt của Thọ “Lột”, Phúc “Thổ” và một số tên lớn tuổi khác ở trong buồng đều không bỏ sót một cử chỉ, một thái độ nào của tôi.
Ngày hôm nay, mưa Đông nhì nhẹt từ sáng, sân trại vắng hẳn. Các buồng, sau khi chia cơm xong ở mé sát dưới hàng hiên, đều được phép lấy cơm vào trong nhà ăn.
Những hạt mưa nho nhỏ, theo từng cơn gió giăng, đan thành những tấm mành mành thưa ngoài sân trại. Trên trời cao, từng cụm mây đen to tướng lổm ngổm, có lẽ đầy nước, đang chậm chạp từ phương Nam lững lờ mò về phía Đông Bắc. Trong khi những làn gió lạnh buốt thổi từng hồi, làm giạt những hạt mưa xiêu chéo về hướng Tây Nam. Lác đác đó đây vài túm lá bàng úa đỏ còn sót lại trên cành, như cố đeo đẳng níu kéo với mưa Đông. Cuối cùng, cũng lần lượt theo từng cơn gió trong mưa, dăm ba chiếc chao đảo rời cành về cội muộn. Vài con chim sẻ run rẩy núp sát dưới mái hiên, đang xù lông, rụt cổ, nhìn những tấm thân gầy thiếu áo dưới sân. Ở sát tường, dưới hiên phía cuối buồng 4, chỗ chiếc bàn con của y tế, là một chiếc lưng ong, thon thon làn áo bông màu bộ đội. Hai lọn tóc gióc đuôi sam, được thắt hững hờ bằng hai sợi len đỏ, đang cong cong dẫy dọn theo gió. Thỉnh thoảng ngút ngắc như nhắc nhở tôi, đừng quên lời dặn hôm trước của chủ nhân.
Trước bàn, hơn chục người tù xếp hàng một. Những tấm chăn rách tả tơi họ khoác trên người đã không đủ kín, để lộ ra những đôi chân khẳng khiu da bọc xương, nhưng lại sần sùi như chân gà do những mụn ghẻ lở, mủ máu. Giữa hàng dài những đôi chân gầy, thỉnh thoảng lại có hai cái chân mập ú, to quá khổ bình thường, mọng núc những nước. Tất cả đều run rẩy dưới cái lạnh cắt da của mưa phùn, gió Bấc.
Một tiếng thở dài nhè nhẹ, như nỗi niềm ê chề của đất nước và con người, khẽ thoát ra ngay bên cạnh tôi. Tôi quay lại, đôi mắt đầy vết nhăn của bác Khánh đang lơ đãng nhìn xa xa, phía bên ngoài Hà Nội. Bác đang nghĩ gì? Phải chăng tiếng thở dài vừa rồi là cho vợ con bác? Ngồi bên nhau, cùng nhìn một cảnh đời, nhưng ai hiểu được nỗi lòng của ai?
Thấy đã gần cuối giờ, chỗ bàn cô Vân chỉ còn một, hai người, tôi vờ như chợt nhớ ra:
– Tí nữa quên! Cô y tá hẹn hôm qua ra lấy thuốc.
Nói một câu trống không như vậy, rồi tôi đứng dậy, đi ra, tiến lại chỗ bàn y tế. Làm trật tự có cái lợi như vậy, vừa được ngồi ở ngoài thoải mái, vừa được ra gặp y tá không phải hỏi ai. Bình thường, tù muốn gặp y tá xin thuốc, phải báo cáo cán bộ, nếu không có cán bộ thì báo trật tự.
Tôi đã đến sau lưng cô Vân rồi, đã nhìn rõ những hạt mưa lóng lánh thủy tinh, gắn đầy trên hai cái đuôi sam đen mượt của cô. Làn hương thơm quen thuộc của những ngày cuối ở xà lim, lại bủa kín người tôi. Chân tôi như ngập ngừng không muốn bước, thế mà cô Vân hình như có mắt ở phía sau, cô cất tiếng nói êm nhẹ, trải dài vào trong gió:
– Anh Bình có lạnh không?
Tôi vừa tiến ra trước bàn, vừa như nói cho mình mình nghe:
– Đã có người làm ấm cả không gian, còn lạnh gì nữa!
Hai má cô au lên màu hoa đào, mắt cô ngỡ ngàng nhìn từ vai xuống đến chân tôi. Môi cô rung rung nhếch lên để hở ra màu trắng muốt, của những chiếc răng hình hạt na đều đặn; một bàn tay cô khẽ đưa ra mân mê hộp dầu cao “Sao Vàng” ở mé chiếc khay:
– Quần áo ở đâu, mặc oai thế?
Đến lượt tôi cũng hơi lúng túng ngượng ngùng, tôi trả lời ngắt quãng:
– Mấy cậu ở trong buồng cho, bắt phải mặc…
Cô cúi xuống mở chiếc ngăn kéo, lôi ra một cái ví nhỏ. Cô vừa mở ví, lấy ra một cái khăn mùi xoa lụa trắng con con, vừa nói vẻ thẹn thùng:
– Anh Bình thêu cho Vân cái khăn nhé?
Tôi ngạc nhiên ngơ ngác:
– Tôi có biết thêu thùa gì!
– Vân đã thấy anh thêu cái túi rồi. Anh muốn thêu gì cho Vân cũng được!
Tôi chẳng hiểu cô nghĩ thế nào, lại bảo tôi thêu khăn cho cô. Điều này cũng đã nói lên một phần bản chất đồng quê còn trắng trong, chất phác của cô. Tôi nhìn cô, cô nhìn tôi. Góc chiếc khăn lụa trắng cong lên, lất phất như ve vuốt bàn tay của người con gái Xuân thì. Dù tôi biết thêu chăng nữa, cô không thấy rằng trong trại chung, với hàng trăm thanh thiếu niên như vậy, lúc nào, và tôi ngồi đâu để thêu dệt mộng đời lên chiếc khăn tay? Cô đã mơ, tôi phải tỉnh! Tôi đã thấy rằng đã đến lúc chẳng thể còn chơi vơi, đu đưa với võng đời mãi được nữa. Chuyện này, đâu có phải chuyện đùa chơi. Tôi muốn tỏ một thái độ dứt khoát rồi đi vào buồng, nhưng nhìn đôi mắt của cô như than van mời gọi, như oán trách giận hờn, tôi phải nhìn đi nơi khác; rồi nói một câu ngược hẳn với ý định trong đầu:
– Tôi biết thêu làm sao, và thêu cái gì:…
– Một cành hoa đào với hai con chim. Nếu không, anh vẽ để Vân thêu cũng được.
Tôi buồn cười về ý tưởng ngộ nghĩnh của cô. Tôi chẳng hiểu tại sao cô lại thích những chuyện vơ vẩn như vậy, khi giữa cô và tôi có một bức tường cách ngăn cao vời vợi.
Một cơn gió lạnh thoảng qua làm đong đưa mấy chùm lá bàng vàng úa trên cành. Một chiếc lá chơi vơi, chao đảo trong gió, sà xuống cạnh khay thuốc trên mặt bàn giữa cô và tôi. Một tấm thân gầy đầy ghẻ lở trượt chân ngã, nằm sóng xoài ở mé sân phía bên kia. Đây đó vang lên những tiếng cười khô man rợ, thờ ơ. Một làn hơi nóng dâng lên trong người tôi, đẩy thành một quyết định. Tôi lạnh lùng, nhìn thẳng vào mắt cô Vân:
– Xin cảm ơn nhiều, và xin giã biệt.
Nói rồi, tôi quay ngoắt đi về buồng, tai còn nghe tiếng gọi yếu ớt “Anh Bình!” tuôn dài vào trong mưa Đông phía sau lưng.
Vào trong buồng, lòng tôi buồn vời vợi như thi trượt. Tôi bần thần ân hận về câu nói cuối cùng của mình.Tàn nhẫn quá! Tôi tưởng như âm vang của câu nói còn đâu đây. Nhưng biết sao được, tôi đâu muốn thế. Hơn nữa, hậu ý của tôi thì trái hẳn lại. Tôi không muốn Vân đau khổ hơn vì tôi. Vân ạ, chúng ta đều đang chết héo hắt trong cõi lòng. Chúng ta không được hưởng chung một bầu trời, một vầng trăng. Tôi thương Vân đã không thể tự do sống ngay thẳng với lòng mình. Vân chỉ là một con thiêu thân cho những ngông cuống, ích kỷ của bọn họ mà thôi. Chúng bắt tôi phải mang tội, phải có tội với chúng, với tình của con người, Vân với tôi có gì để lên án, để thù ghét nhau đâu?
Nhưng, tôi đã phải nói những lời cứng cõi, lạnh lùng, tàn nhẫn với Vân. Vân ơi! Tôi không can can đảm để nhìn cặp mắt trong xanh chứa một trời mơ, hẹn ước của Vân nữa. Tôi hiểu, dưới đáy mắt Vân là một khung trời thênh thang lộng gió, mà chúng ta cùng ao ước là những cánh chim hải hồ, đan nhau bay lượn, hay nhỏ bé hiền lành như đôi chim khuyên nhảy nhót trên cành hoa đào một sớm Xuân. Nhưng Vân ơi, tất cả chỉ là ảo vọng! Tan vỡ rồi, còn tàn nhẫn gấp bội. Bởi thế, tôi không còn can đảm để tiếp tục. Tôi đã ngây ngất, nhưng tôi lại sợ hơi thở thơm nồng. Tôi lẩn tránh sống mũi xinh xinh, làn má có lông tơ, óng mượt của Vân.
Vân ạ, đừng hiểu lầm lòng tôi. Tôi không muốn Vân bị sa thải, bị coi là hủ hóa, và nhất là sẽ bị kiểm thảo, rồi có khi sẽ bị ngồi trong xà lim, cùm kẹp tàn tạ như chị Bắc, như tôi. Dù có chua xót, nhưng chúng ta đừng nơi đây. Những gì đã qua, hãy coi là những kỷ niệm khác thường trong cuộc đời, một sự khác thường ý nghĩa và lý tưởng, Vân nhé!…
Khi bước chân vào nhà tiêu, tôi gặp thằng Hỷ “Con” một mình đang đi giải, tôi thân mật hỏi:
– Này cháu, mọi khi ngày nào cô y tá cũng vào đặt bàn ở đấy cho thuốc à?
Nó ngơ ngác nhìn tôi, băn khoăn một lúc, rồi vừa lúc lắc cái đầu, vừa trả lời:
– Trước kia, cô ấy ít vào cho thuốc lắm chú ạ. Có khi hàng tuần mới có một lần thôi. Chắc kỳ này có nhiều thuốc, nên ngày nào cô cũng vào cho.
Tôi vừa trở về chỗ, vừa suy nghĩ. Có thể việc phát thuốc lại trở về tình trạng cũ thôi, nghĩa là cả hàng tuần cô mới lại vào. Đành vậy!…
Ở một góc mái hiên có một chiếc bàn kê tạm, để chỗ cho cán bộ làm việc. Chẳng ai xa lạ, chính là tên chuẩn úy Kế, người miền Nam. Khi tôi mới vào Hỏa Lò, y mới có hạ sĩ. Sau khi tôi ngồi vào chiếc ghế nhỏ để cạnh bàn, y lật quyển sổ to, hỏi tên tuổi và sơ qua về lý lịch của tôi để ghi. Xong, y nhìn tôi nói vẻ dìu dịu:
– Trong buồng, anh là người lớn. Vậy, tôi giao cho anh nhiệm vụ là trật tự và đọc báo.
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng lại chợt hiểu ngay. Từ nãy, chắc chắn là tên Hưng trưởng buồng đã gặp tên Kế này, và đây chắc hẳn cũng do ý kiến của tên Hưng! Tôi đang định từ chối, y đã nghiêm trang:
– Đây cũng là một hình thức để cải tạo tư tưởng của anh. Chúng tôi sẽ đánh giá anh tùy theo thái độ tích cực hay tiêu cực trong nhiệm vụ này.
Thành ra, ý định từ chối của tôi chả có dịp thốt ra nữa. Tôi chỉ nói một cách yểu sìu, không mấy mạnh bạo:
– Người tôi ốm yếu, làm thế nào được việc trật tự. Vậy, tôi xin đọc báo thôi!
Y lắc đầu, rồi nói:
– Không được! Trật tự buồng có 4 người chứ không phải mình anh. Anh không được từ chối.
Xong, y nhếch môi nói như cười:
– Anh đừng lấy vẻ ốm yếu ra mà che mắt tôi. Tôi còn lạ gì anh nữa!
Tôi cũng hiểu là trong nhà tù, làm việc với cán bộ, dù cứ một chức vụ gì to nhỏ, đều sẽ mất lòng anh em. Tuy thế, với ý thức chính trị của mình, tôi sẽ có chủ trương sau. Bây giờ trước mắt hãy cứ tạm nhận.
10 giờ: giờ đọc báo và sinh hoạt. Tất cả các buồng đều phải vào buồng mình, ngồi tập trung hết lên bệ xi măng, nghe đọc hai tờ báo “Quân Đội Nhân Dân” và “Nhân Dân”. Những bài cần đọc, đều được cán bộ đánh dấu bằng bút chì đỏ. Bác Khánh, Thọ “Lột” và tên Hưng giữ trật tự. Bác Khánh khoảng 55, 56 tuổi, nhưng người trông còn khỏe mạnh, rắn chắc, dù tóc đã điểm sương mà da dẻ vẫn hồng hào. Bác ghé gần tai tôi nói nhỏ:
– Anh vào buồng này, toàn tụi lưu manh lau nhau là may đấy. Chúng nó vào, ra tù soành soạch, vì vậy mỗi ngày, chỉ có sáng một giờ, chiều một giờ đọc báo, rất ít khi sinh hoạt. Chứ anh xem, ở các buồng bên kia, sáng hai tiếng, chiều hai tiếng ngồi “sinh hoạt tư tưởng”, bới móc, cấu xé nhau mới điên đầu.
Đọc báo xong, đã 11 giờ. Cơm, nhà bếp đã đưa lên: một thúng cơm, và một sọt bát đĩa bằng sắt tráng men. Trật tự và các tổ trưởng phải ra nhận và chia cơm. Sát mé hàng hiên là những cái “bàn” ghép bằng hai tấm ván, dài mươi mười lăm mét. Buồng tôi, lớn nhỏ 174 người. Mỗi xuất cơm được hai lưng bát con. Chỉ có một cái bát con và cái môi phải chia sao cho thật đều. Xếp bát ở trên bàn thành 5 hàng. Khi chia gần về cuối, có thể thiếu, có thể thừa. Nếu thiếu, một anh phải lấy muỗng con đi tùng suất lấy bớt ra, tùy theo một muỗng, nửa muỗng, hoặc một phần ba muỗng, v.v… Nếu thừa, thì đi “tản” thêm cho mỗi suất một phần ba, hay một phần năm muỗng tùy theo. Người chia canh, người chia cơm, người sắp xếp, người so đũa. Khi đã đếm đi, đếm lại, thấy đủ rồi, mới báo cáo cán bộ cho buồng ra. Cứ hàng một, mỗi người đến lấy một suất cơm, một suất canh. Rồi, ra sân, mỗi người tìm một chỗ ngồi ăn.
Buồng tôi, vì phần lớn là lũ trẻ con, nhàng nhàng, nhơ nhỡ. Lại là dân lưu manh trộm cắp, anh chị nên chúng hay sinh sự, đánh nhau, bắt nạt nhau… lúc ăn, lúc chơi, cũng như lúc ngủ. Vì vậy, phải có người lớn. Người này, chúng phải nể sợ chúng mới nghe; chứ gặp người lớn lù khù, hiền lành, chúng thường chửi lại.
Có thể do tình trạng chiến tranh, tinh giảm cán bộ để dành cho chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại miền Bắc và chiến trường “B”, nên tên Kế phải phụ trách hai buồng. Buồng số 4 là buồng chúng tôi và số 5 ở sát ngay bên cạnh. Buồng số 5 hầu hết là thanh niên và người lớn. Tuy cùng một cán bộ phụ trách, nhưng hai buồng có quy chế khác hẳn nhau. Buồng số 5 phải sinh hoạt chính trị tư tưởng chặt chẽ như nhiều buồng khác.
Ăn cơm xong, tù lại xếp hàng đôi để cán bộ kiểm người cho vào buồng. Để biết rõ thêm về thằng Thắng “Trắng”, con của Bảo Hưng Long, tôi đến ngồi bên cạnh và tình cảm hỏi chuyện tiếp. Chính vì tôi hay ngồi nói chuyện trò thân mật với nó, nên cả buống có dư luận là tình cờ trở về miền Bắc, tôi đã gặp lại một thằng cháu ở trong tù.
Qua thằng Thắng, tôi cũng biết sơ lược tình hình của Hàng Bạc từ 54 tới bây giờ. Thằng Hoan “Thọt” Hàng Bạc, rồi con của Chấn Hưng, thằng Hùng em cô Mi nhà Ngọc Chương, và rất nhiều cậu cùng tuổi, hoặc sấp sỉ tuổi tôi, đều đã đi… tù về tội lưu manh trộm cắp; một số tù về tội phản động, phản tuyên truyền.
Nói chung, bố mẹ bị “đánh tư sản”, vừa bị đi tù vừa hết của cải. Nếu còn ai không bị tù, đi làm cũng chỉ được đồng lương…chết đói! Ai đi làm cũng chỉ đủ để nuôi sống…người ấy. Bố làm nuôi bố, mẹ làm nuôi mẹ. Con cái nheo nhóc, không đủ ăn. Làm bố mẹ mà không nuôi được con cái 10, 15, 16 tuổi thì làm sao bảo được chúng? Một khi chúng phải tự kiếm ăn, chúng không còn sợ bố mẹ nữa. Bố mẹ chưởi con, con cãi, thậm chí cũng chưởi lại bố mẹ. Cuối cùng để rồi con cái phải “dạt vòm” sống lang thang trộm cắp. Cá biệt, cũng có bố mẹ còn chôn dấu được của cải, rồi do lòng thương con, nên vẫn cố gắng bù đắp nuôi con cho đi học tiếp, tùy theo đến lớp 7, lớp 8, có khi đến lớp 9, lớp 10 (hệ 10 năm). Nhưng kết cục, nhà nước cũng không cho vào đại học với nhiều nguyên nhân. Đến lúc này, bố mẹ cũng đành bỏ con, và con cũng đành bỏ bố mẹ. Con cái chỉ còn hai con đường: đi bộ đội, hoặc gia nhập giới…lưu manh.
Bao nhiêu tấm gương trước đây, ai cũng nhìn thấy, với cái “đuôi” là con nhà khá giả, tư sản ngày xưa, vào bộ đội, dù có tích cực một sống hai chết, cũng là một tên bị phân biệt thành phần; nghĩa là không có lối thoát, mặc dầu chỉ muốn sống một cuộc sống bình thường, làm ăn của một người dân, cũng không thể được. Chỉ còn một giải pháp thứ hai, dù biết rằng đi theo là hủy diệt tương lai, cũng đành, vì còn những phút tự do, những phút ngất ngưỡng cuộc đời khi kiếm được tiền: đó là “dạt vòm” vào giới lưu manh trộm cắp, bụi đời.
Những ngày sau đó, tôi hỏi thăm nhiều cậu trong buồng. Mỗi cậu mỗi tình tiết khác nhau khi trả lời hai câu hỏi:
1. Nguyên nhân, hoàn cảnh nào đã đưa đẩy em vào giới lưu manh trộm cắp này?
2. Hãy kể cho anh nghe một “cú” làm ăn của em, mà em cho là nổi bật nhất, được nhiều tiền nhất, kỳ công nhất?
Qua những câu trả lời của rất nhiều thanh niên về hai câu hỏi này, tôi đã nhìn ra cái lúng túng, mâu thuẫn của những tên lãnh đạo xã hội chủ nghĩa miền Bắc.
Chủ trương của chúng là dân phải…ngu! Dân ngu, mới dễ bảo; nói thế nào dân cũng tin, nói sai, dân cũng không biết. Có như vậy, mới vững cái ghế ngồi của những tên vua không ngai của một nền “quân chủ mới”. (Quân chủ cũ, chết đi nhường ngôi lại cho con cháu. Quân chủ mới, chỉ được hưởng hết đời mình, đồng thời lại không được làm “ngai”; bình mới, rượu cũ). Nhưng, ngoài mặt chúng lại phải bịp bợm, tỏ ra xã hội chủ nghĩa là cách mạng, là văn minh tiến bộ, khoa học, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”……Chúng đã phải làm ra cái vẻ cổ vũ “toàn dân đi học”. Nhưng, trong chương trình học, tất cả chỉ nhằm đào tạo một loại người biết nghe lời, không được tìm hiểu những cái sai, lầm trong những điều đảng dạy. Nào là: “…trung với đảng, hiếu với dân…” vân vân, và vân vân…..Đảng bảo, chỉ biết nghe lời và chấp hành.
Một mâu thuẫn của nội tại vấn để đẻ ra là: nếu cổ vũ dân đi học mãi, dân sẽ khôn, sẽ biết những cái bậy, những cái bịp, những cái nói láo tinh vi của Đảng. Do đó, chủng phải ngăn dân lại từ cửa đại học. Cần lý do? Chúng có hàng triệu lý do; hoàn cảnh đất nước, nghĩa vụ quân sự, tiêu chuẩn điểm, lý lịch, v.v…và v.v…Chúng chỉ cho những ai thuộc loại cốt cán của cách mạng lên đại học. Mà cốt cán của cách mạng thì ai cũng biết tỏng là loại người nào rồi: phải là gia đình nhiều đời nghèo. Mấy đời khổ cực ngu đần, bây giờ đảng mới cho ngóc đầu, sung sướng, tất nhiên sẽ tuyệt đối nghe lời đảng (mặc dù, hơn chục tên Chính Trị Bộ đều là…con nhà khá giả, con ông cháu cha ngày xưa; nghĩa là ở thành phần địa chủ, hoặc tiểu tư sản), Phải là gia đình liệt sĩ. Chúng đã phồng mang trợn mắt, dùng mọi cách “Xui người dân ăn cứt gà”. Ai đó, ăn cứt gà, không may, bị chết, con cái lúc đó là con liệt sĩ. Lúc này, chúng lại khích con cái thù bố, thù mẹ (có biết đâu vì ông bố dốt, bị chúng xúi ăn cứt gà nên chết) và như vậy, chúng đã buộc chặt đứa con, đứa cháu đó vào dưới trướng của chúng rồi. Những người này, chỉ biết trung thành và tuyệt đối nghe lời chúng.
Trên đây là hai thành phần cốt cán của đảng đấy. Dù như vậy, trên đại học, cũng như khi đã tốt nghiệp, còn nhiều chặng, nhiều “khâu” lọc. Cuối cùng, những người thành đạt ra, phải “đạt” những tiêu chuẩn sau:
– Đảng bảo sao, hãy làm như vậy. Việc gì đối với đời là trái, đảng bảo là phải, hãy tin điều đó là chân lý. Kẻ nào làm ngược lại là chống đảng. Ai cũng hiểu, tội chống đảng sẽ ra sao rồi.
– Phải tự nguyện lấy mạng sống để bảo vệ đảng (là bảo vệ chỗ ngồi của 15, 16 tên thuộc Bộ Chính Trị).
Nếu ai cũng hiểu như vậy, đừng ai chê: sao tên giám đốc này ngu, tên giáo sư kia dốt, tên tiến sĩ nọ du học Liên Xô mà chẳng khá về chuyên môn, v.v… Từ đấy suy ra, cũng đừng chê: dân biểu này là hốt rác; nghị sĩ kia là con sen v.v…
Sẽ có người nói, nếu Cộng Sản dùng người như vậy, đất nước nghèo khổ, sẽ lạc hậu dần. Tóm lại, nước nghèo, dân khổ lắm.
Đây cũng là một chuyện đau đầu của những “ông” Bộ Chính Trị nhà ta. Chúng chỉ có thể chọn một trong hai cách:
1. Dân sẽ sướng, đất nước phồn vinh. Như vậy, dứt khoát không còn chỗ cho chúng ngồi nữa, vì chúng thống trị bằng lừa bịp và bạo lực. Đất nước là của chung mọi người dân, chẳng phải của riêng ai. Mỗi thế hệ biết bao nhiêu người tài ba, đạo đức mới, thế mà chúng cứ chễm chệ ngồi suốt đời trên “ngai” được sao?
2. Ngược lại, chỗ ngồi vững chắc, nhưng dân sẽ nghèo khổ, đói khát, v.v…
Không cần nghĩ lâu, ai cũng thấy là bọn lãnh tụ Cộng Sản đã lựa chọn cách nào rồi. Từ đấy, cũng suy ra, chưa có ai chê nền quân sự của Cộng Sản là lạc hậu và nghèo nàn. Vũ khí của Cộng Sản cũng như những kinh phí về quân sự, của chúng thường hơn hẳn phe quốc gia (để sáng tỏ vấn đề này, xin xem những phần sau vì phải dựa vào thực tế diễn tiến).
Lúc này, tôi chỉ xin mở vấn đề như sau: nếu ai nhận định hoặc hiểu nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân các nước Cộng Sản nói chung nghèo nàn và khổ cực, không những trước đây, bây giờ và mãi mãi sau này. Người đó nhìn như vậy là đúng! Nhưng, cũng lại đánh giá như vậy về quân sự của Cộng Sản Việt Nam, hoặc của các nước xã hội chủ nghĩa khác thì thực là sai lầm. Sai lầm ở chỗ: những phương tiện để phục vụ cho đời sống con người, dưới chế độ Cộng Sản thì vô cùng lạc hậu (vì đó là chủ trương của chúng); nhưng, những phương tiện để phục vụ về an ninh, quốc phòng, cũng như để tấn công, hoặc xâm lược các nước khác của Cộng Sản lại vô cùng phong phú, tân tiến.
Đừng nghe Cộng Sản kêu la túng quẫn, đừng nhìn Cộng Sản nợ các nước, hoặc các nhà băng quốc tế, mấy năm không trả được, v.v… mà bảo là các chính phủ Cộng Sản nghèo túng. Tin như vậy là chưa hiểu Cộng Sản. Tất cả đều nằm trong sách lược của chúng cả. Khi nào các bạn thấy vũ khí cũng như nền quốc phòng của chúng nghèo nàn, lạc hậu, các bạn hãy tin Cộng Sản nghèo túng. Còn ngược lại, chớ bao giờ tin, kẻo lầm, rồi lại vắt chân lên cổ mà chạy dài!
Một khi đã hiểu như vậy, xin đừng chê người dân dưới chế độ Cộng Sản là “cù lần”, khi họ nói “ti vi chạy đầy đường”, “cá thả vào bồn vệ sinh nuôi”, v.v… để rồi ta cứ chạy và chúng cứ thắng.
Nếu ta chê bai, chế riễu người dân dưới chế độ Cộng Sản là quê mùa dốt nát; cán bộ với bộ đội mán về thành phố, v.v… chẳng khác gì là ta chê một người câm không biết nói vậy.
Buổi sáng hôm sau, vẫn quen như nếp sống trong xà lim, mới 6 giờ, tôi đã thức dậy, định tập thể dục, nhưng căn buồng đầy người như thế này, không khí lại hôi thối, vì vậy, tôi phải đành tạm bỏ tập thể dục.
Bác Khánh già cũng dậy sớm, bác khoác chăn đến ngồi bên cạnh tôi. Nhìn bác, tuy mái đầu đã muối tiêu, nhưng dáng dấp vẫn nhanh nhẹn khỏe mạnh, đôi bàn tay thật to với những ngón tay chuối mắn, tôi tươi nét mặt nhìn vào bộ ngực của bác nói:
– Bác có bộ ngực “cốt xì lô” quá! Chắc thời thanh niên bác cũng thích thể thao?
Mắt bác sáng lên, rồi quay hẳn lại phía tôi như được gãi trúng chỗ ngứa:
– Trước, tôi là một cây quần vợt ở “Septo”. Các loại thể thao điền kinh, môn nào tôi cũng hữu hạng.
Rồi như muốn khơi mạch cho nỗi niềm vơi bớt, bác nói tiếp, giọng như thì thầm:
– Đời tôi hận lắm anh ạ! Hình như mỗi đời người, dịp may chỉ đến một lần, bỏ lỡ rồi, đành ôm hận suốt đời. Năm 1954, tôi đã xách va-li xuống đến Hải Phòng rồi. Nhưng, hai ngày ngồi chờ tầu vào Nam, tôi lại lẩn thẩn nghĩ đến mấy cái nhà ở Hà Nội, nghĩ đến nhà tôi và các con, nên tôi lại mò về.
Nói đến đây, hình như có một sự cấu xé dày vò trong lòng, mặt bác nhăn lại, bàn tay đập mạnh xuống đùi:
– Chỉ vì vợ với con, nhà với cửa, để rồi nhà cửa cũng mất; con cái cũng lang thang mỗi đứa mỗi nơi; vợ chồng suốt năm chật vật lê thê, vặc, cãi nhau như mổ bò. Cuối cùng, bây giờ đem thân vào tù vì tội buôn lậu…
Đột nhiên, mặt bác lại hồng lên, môi trên nhấp nháy rồi cong lên:
– Vậy mà anh ạ, nghĩ cho kỹ tôi vẫn còn là may đấy. Luồn lọt, đi làm tài xế chạy xe cho xí nghiệp xe khách, nên cũng yên. Chứ hầu hết những nhà tư sản, có máu mặt dưới chế độ cũ, đa số đều bị bắt ngay từ 1956-1957 rồi. Nhiều người đã tự tử, đã chết trong tù…Thật là cả một nửa nước, ai cũng bị lừa.
Ngồi nghe bác thì thầm tâm sự, tôi càng quý và thương bác hơn. Tôi chỉ mới vào đây độ ba, bốn ngày, bác đã tin tưởng thổ lộ như vậy, nên tôi cũng thử đặt vấn đề hỏi bác, vì sao bác vội tin người như vậy? Bác cười, nhìn tôi, mắt nheo nheo lại:
– Cậu ơi! Hơn một chục năm sống trong xã hội đầy lừa lọc, phản trắc đã làm cho những giác quan của chúng tôi thêm bén nhậy. Vì vậy, gặp một người, chỉ qua vài lần nói chuyện là chúng tôi ngửi thấy vấn đề, an ninh hay bất trắc rồi cậu ạ. Nhưng, cậu hãy cảnh giác tên Hưng.
Tôi khẽ mỉm cười cảm ơn bác đã có lòng tin tưởng. Bỗng dưng cái chăn cuộn 3 đứa của Thắng “Trắng” giẫy lên đùng đục, rồi một tiếng hét ré lên. Thằng Phúc “Lủi” bé tí, bị đạp thọt ra ngoài chăn, đang khóc.
Nhìn cái bàn tay con con đầy ghẻ lở của nó đưa lên quệt nước mắt, trông thật là tội. Tôi chạy lại, đập vào vai thằng Thắng. Nó và thằng Hạnh “Chui” ngồi bật dậy, nhớn nhác dụi mắt. Tôi hỏi:
– Sao cháu lại đạp thằng Phúc ra ngoài?
Thằng Thắng giẫy nảy, chối:
– Không phải đâu! Tại cháu đang nằm mơ, thấy một con rùa to cứ chui vào trong chăn cắn chân cháu, nên cháu mới đạp đấy chứ!
Tôi và ông Khánh cùng cười, thương cảm cho đầu xanh sớm phải cảnh gió bụi, chỉ vì mười mấy tên hung đồ. Tôi móc túi “vê” cho mỗi đứa một điếu thuốc:
– Thôi, ra đây cho mỗi đứa “bắn” một “bi” rồi hãy ngủ lại!
Cả ba đứa toét miệng ra cười, trông như miệng ba con ốc nhồi. Nhìn thằng Phúc “Lủi” ngồi cuộn trong cái mép chăn, chỉ bé bằng con chó con, tôi tò mò hỏi:
– Cháu 11 tuổi, vậy cháu bắt đầu ăn cắp từ bao giờ?
Ra cái vẻ ta đây là “người nhà” của chú, thằng Thắng nhanh nhẩu trả lời thay:
– Nó biết ăn cắp từ ngày 4 tuổi, chú ạ. Nó đã có 12 lần “tiền sự” rồi đấy! (Nghĩa là 12 lần bị bắt, không xử).
Tôi ngạc nhiên hỏi ngay, với vẻ không tin:
– Bốn tuổi làm sao biết ăn cắp?
– Mẹ nó đã mất nhiều công dậy nó. Mẹ nó cứ bế nó chen lẫn vào những đám đông, như chỗ lấy vé ở rạp xi nê hay rạp hát. Nó lựa thế (theo mẹ nó bảo) thò tay sang túi áo người khác để lấy kính, lấy bút máy, có khi cả tiền. Nếu không may bị họ bắt được, người mẹ xin lỗi là cháu nó trẻ con, táy máy, đùa nghịch. Thấy người mẹ bế đứa trẻ, đa số không nghi ngờ gì cả, mất cảnh giác dễ bị mất lắm.
Tôi vẫy tay ra hiệu cho thằng Thắng đừng nói, để tôi nghe chính thằng Phúc “Lủi” trả lời, tôi hỏi tiếp:
– Thế lần cháu “mổ” (móc túi. Lính mổ: loại móc túi) được nhiều nhất là bao nhiêu tiền và cách đây bao lâu?
Đôi mắt đang hấp him như hai mắt con mèo nhìn đám gà con bới thóc ở sân, đột nhiên mở to, sáng lên như thấy một chú gà con rời mẹ chạy lại gần chỗ mình:
– Tết năm ngoái, cháu “mổ” được một lần nhiều nhất là 180 đồng.
– Ở đâu và của ai?
Tôi hỏi với một vẻ trầm trồ ca ngợi, một chiến công hiển hách. Thằng nhỏ càng sáng mắt lên đầy phấn khởi trả lời:
– Hôm đó, cũng sắp sửa Tết như kỳ này, cháu xuống Hàng Gai. Cháu đang chen vào Bách Hóa định mua một hào kẹo, chợt cháu thấy một bà xách cái lẵng hoa, cũng đang mua hàng. Bà mở lẵng ra lấy ví, móc tiền trả cái áo cánh. Thấy ví dày cộm, đầy tiền, cháu liền “tăm” bà ta suốt buổi chiều hôm ấy. Nhiều lần cháu không biết làm sao được. Mãi đến lúc bà ấy xuống ga Hàng Cỏ chen vào mua vé tàu, cháu mới chui vào theo, rồi dùng lưỡi “lam” mới, cháu “chích” lẵng của bà. Vậy mà phải gần nửa tiếng đồng hồ lo âu, hồi hộp, cháu mới lấy ra được. Xong, cháu lủi lẹ.
Tôi hiểu, dưới chế độ miền Bắc lúc này, có tiền nhiều như vậy, không là thủ quỹ thì cũng là cán bộ về tài chính của nhà nước. Tôi lại hỏi:
– Thế cháu đem tiền về làm gì, đưa đi đâu, hay gửi ai?
Nó cười rộ lên nghe như tiếng dê kêu:
– Chúng cháu mỗi đứa đều có nhiều chỗ gửi tiền. Các bà bán nước trà, các bà bán hàng cơm. Lúc có tiền thì gửi; lúc khó khăn không kiếm được, thì các bà bán chịu cho, chú ạ.
– Lúc này cháu còn tiền gửi không?
– Còn chứ chú! Cháu vào “hao” (Hỏa Lò) một, hai tháng trở về, chúng cháu phải có tiền chứ. Nếu không, lúc mới về làm sao dám đi kiếm tiền!
Thằng Thắng nhịn từ nãy, bây giờ được thể nói thêm vào:
– Chúng cháu ít khi bị bắt lắm. Nếu có một vài chục hay cái đồng hồ, thường không bị vào “hao” đâu.
Tôi đang vê điếu thuốc, tai vẫn mơ màng nghe, chợt ngạc nhiên, quay lại hỏi thằng Thắng:
– Là thế nào? Chú chưa hiểu có tiền, làm sao lại không bị vào “hao”?
– Có gì đâu, chú! Các chú công an ở các khu phố, mặc thường phục cũng như đồng phục, thường đi bắt chúng cháu ấy; chúng cháu đã nhẵn mặt, biết tính từng người. Nhất là chú Ngọc ở khu Hoàn Kiếm. Thường thường đi làm ăn, chúng cháu cứ để sẵn 10 đồng, có khi là một cái đồng hồ cũ giá độ 15, 20 đồng, cùng quá thì 5 đồng ở trong túi. Không may, hôm nào đó, bất chợt bị “vồ”, tiền hay đồng hồ bị công an khám thấy, giữ để làm tang vật. Rồi, công an cứ nắm tay giong về đồn. Trên đường đi, nếu có tiền như trên, công an thường vờ bảo “đứng đây, tao vào đi tiểu (hoặc mua cái gì đó, tùy theo), mày chạy đâu, chết với tao”. Tuy vâng, dạ nhưng phải hiểu là “hãy lủi lẹ, và không bao giờ được hỏi hay nói gì về số tiền công an giữ cả”. Vấn đề này, hai bên đều tự hiểu ngầm. Hầu hết chúng cháu, lớn nhỏ ai cũng hiểu thế…..
Thì ra là vậy, tôi thầm nghĩ khi nghe thằng Thắng nói. Tôi đang định hỏi tiếp với 3 đứa chúng nó, thì quản giáo đã đến mở cửa. Tới giờ hành chính rồi…..
Về tới xà lim, người tôi chưa hết bàng hoàng về một chuyển hướng, một lối rẽ của cuộc đời tù. Hôm nay là mồng 2 tháng 12 năm 1967. Như thế, tôi đã ở 5 năm và gần 6 tháng trong buồng tối xà lim. Đất nước, cũng như cuộc đời đã bao nhiêu đổi thay.
Đã ở trong xà lim hơn 5 năm, có biết bao nhiêu kỷ niệm, dù phần lớn chỉ là đắng cay, tủi nhục; nhưng bây giờ phải rời đi, tôi cũng không khỏi cảm thấy…bâng khuâng. Vơ vội chăn chiếu, tôi nhìn chiếc áo trấn thủ và cái chăn, rồi ngập ngừng hỏi Dư xem thế nào? Dư bảo, trại chung thì cũng là Hỏa Lò, vậy cứ ôm cả chăn lẫn các thứ đi. Nhớ đến Lương và Nguyễn Lân, tôi liền ho hai tiếng, khạc hai tiếng như lời chào từ giã bạn bè. Tên Dư đứng ngay đấy, nhưng làm sao hiểu được ý nghĩa của tiếng ho và tiếng khạc.
Tên Dư dẫn tôi qua cái sân rộng của trại chung. Trên đường đi, gọi là tình nghĩa với nhau (tôi không thể phủ nhận được là tên Dư có chút cảm tình cá nhân với tôi. Hơn 3 năm nay, hàng ngày trông thấy nhau đều đều. Hơn nữa, biết đâu chả lại phải có thêm ý kiến của y tôi mới được ra trại chung này. Về thủ tục, hẳn rằng, trước khi giám thị Hỏa Lò quyết định, phải xin ý kiến của sở công an, của cấp trên, rồi phải gọi cán bộ trực chính của xà lim I để hỏi về…tôi nữa chứ!), nghĩ thế, tôi liền nói với Dư là tôi rất biết ơn y, và còn thêm một câu:
– Chúc ông và gia đình mạnh khỏe.
Y cũng tình cảm dặn dò:
– Anh hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe.
Y dẫn tôi mãi qua chiếc sân rộng, tới chỗ có hành lang dẫn vào “cát xô”, nơi mà gần ba năm trước, tôi đã từ đó bò về xà lim I. Y mở khóa một cánh cửa sắt to, cao. Cánh cửa này gồm hai phần: phần trên, cao hơn đầu người, là những chấn song sắt to gần bằng cổ tay; phần dưới, bịt kín bằng sắt, thành ra trong ngoài không nhìn thấy nhau.
Tuy đã ở tù 5 năm rưỡi trong Hỏa Lò, nhưng tôi chưa hề biết trại chung như thế nào. Nhìn vào trong buồng, tôi thấy lố nhố đầy người; hàng trăm con mắt to nhỏ đang tò mò nhìn ra phía tôi. Tôi ngạc nhiên quá chừng chừng. Tù gì mà có cả…trẻ con bé tí, chỉ độ 6, 7 tuổi. Toàn buồng ước độ 150 đến 170 người: thanh niên, choai choai, nhơ nhỡ, nho nhỏ…quần áo lôi thôi, lếch thếch, vá chằng, vá đụp; ghẻ lở kềng càng; đen đũi gầy guộc. Có hai người lớn đã đứng tuổi; khoảng hơn chục thanh niên; số còn lại, toàn loại lau nhau.
Một ông chừng 40 tuổi tiến đến phía tôi, tự giới thiệu là Phan Tấn Hưng, buồng trưởng. Anh chỉ cho tôi một chỗ trống gần anh. Anh lại chỉ một người nữa, tóc đã điểm sương, giới thiệu là bác Nguyễn Văn Khánh, tài xế lái xe đò đường Hà Nội – Hải Phòng.
Anh Hưng là người miền Nam, cán bộ tập kết, tội hủ hóa và tham ô (tình ái lăng nhăng và ăn cắp của công). Trông y trắng trẻo, vẻ có học. Đặc biệt là đôi mắt của y, nửa phần trên đen mờ mờ, rất hay nhìn trộm. Lúc đầu, y và một số thanh niên mặt căng căng, khinh khỉnh, nhìn tôi một cách thăm dò. Sau khi biết tôi là một điệp viên xâm nhập Hà Nội, rồi dư âm về chuyện đánh một cán bộ phọt phân ra để đào thoát vẫn có một vài người nhắc lại (dù câu chuyện đã hơn 3 năm rồi). Những bộ mặt câng câng, khinh khỉnh, những thái độ lành lạnh, ngang ngang… biến sạch, nhường cho những nét mặt hân hoan, niềm nở.
Thôi thì, thuốc lào, thuốc lá hút tơi bời. Nhất là dăm thanh niên và trẻ con, vây vòng ngoài để hỏi chuyện. Một thanh niên chừng 22, 23 tuổi, cao ráo, trông như một học sinh, sau khi nghe biết sơ sơ về tôi, hai tay y vồ lấy tay tôi lắc lắc như gặp một người thân quen đã lâu ngày:
– Hơn ba năm trước, em ở buồng 6, có một anh nhà bếp lên thuật lại chuyện anh đánh cán bộ để trốn. Rồi anh bị đánh gần chết, đưa vào “cát xô”. Họ nói, anh là một điệp viên cừ khôi của chính quyền miền Nam, được đào tạo nhiều năm ở Tokyo. Anh còn có đệ nhị đẳng huyền đai nhu đạo nữa.
Tôi rất ngạc nhiên, y nói về tôi như một huyền thoại, chẳng có một cơ sở nào cả. Thế mới thấy cái “huyền diệu” của những tin đồn.
Y tự giới thiệu là Hoàng Hữu Phúc, biệt hiệu, Phúc “Thổ”, cầm đầu giới “chềnh vòm” (dân đi ăn trộm) khu Năm Đồng. Y đã học hết lớp 9 Phổ Thông (chương trình 10 năm, sau này Cộng Sản mới đổi thành hệ 12 năm). Mới 24 tuổi đã có 6 “tiền sự” (có bị bắt dăm ba ngày, có khi đôi ba tháng, nhưng không ra tòa) và một tiền án. Năm 1964, đã bị xử hai năm rưỡi tù, đi trại trung ương. Mới được tha chưa được 6 tháng, bây giờ lại bị bắt, vẫn là tội cũ. Phúc “Thổ” chỉ một tên có nước da ngăm ngăm, đôi mắt thật sắc, với một chiếc sẹo dài nằm vắt chéo từ mí mắt trái xuống mé tai, làm cho đôi mắt trái của y kéo xếch lên, trẻ con hẳn không dám nhìn. Y tên Thọ “Lột”, trùm dân “xô bè” (giật đồ trên xe lửa rồi nhẩy xuống sông, hoặc xuống đường, khi xe đang chạy), cũng trạc tuổi với Phúc “Thổ”. Y cũng đã học hết lớp 10.
Sơ qua như vậy, tôi thấy ở trại chung, riêng trong căn buồng này chỉ có hai ông Hưng và Khánh là tội buôn lậu và tham ô, còn hầu hết là anh chị, lưu manh, trộm cắp.
Kẻng cấm, 9 giờ tối, theo nội quy trại chung, tù đều phải đi nằm và không được nói chuyện. Đám anh chị thật ưu đãi khách mới. Chúng đã dành cho tôi một chỗ tương đối khô ráo, một mình một chiếc chiếu con, bên cạnh Phúc “Thổ” và Thọ “Lột”; nghĩa là được nằm ở chỗ “Giai cấp lãnh đạo” trong cái buồng ấy. Chúng có rất nhiều tay chân, kẻ hầu người hạ.
Mới nhìn phiến diện, tôi đã thấy từ trên xuống dưới có rất nhiều thành phần thứ bậc. Ngay như một điếu thuốc lào, chúng hút xong; loại nào được hút sái nhì; loại nào được hút sái ba; để rồi đứa cuối cùng cầm cái điếu, “kéo” đến gân cổ lên, nhưng lúc há mồm nhả khói, chỉ còn vài sợi lờ mờ, trong khi điếu thuốc đã thành tro từ bao giờ và đã chui tọt vào nõ điếu lâu rồi. Trước khi nằm xuống ngủ, Phúc “Thổ” còn ghé vào tai tôi thì thầm:
– Trước đây mà được gặp anh ở ngoài Hà Nội, thật là hết ý! Em bảo đảm với anh là, anh ở Hà Nội hàng năm, chẳng bao giờ tụi công an, phản gián “ngửi” thấy hơi của anh. Chuyến này, nếu anh được ra, chúng em là thổ công, là những con rận, con chấy trong quần áo của chúng. Nếu không vì đói phải trộm cắp bừa bãi, muôn đời chúng đừng hòng mó được sợi tóc của chúng em.
Cuối cùng, y nói nhỏ:
– Tên Hưng già là loại “Zoóc” (ăng ten, điểm chỉ trong Nam). Nhưng, nó phải biết điều với chúng em, nếu không, chúng em đã xin nó tí huyết rồi.
Tôi nhắm mắt, óc vẫn còn vẩn vơ nghĩ đến những điều Phúc “Thổ”. Y tỏ ra rất quái. Y lại là loại lưu manh có học nữa, cho nên những cái nhìn của y tương đối có giá. Tôi cũng hơi băn khoăn suy nghĩ, vì sao tụi Cộng Sản lại đưa tôi vào buồng này, gồm hầu hết là lưu manh, cắp trộm của Hà Nội. Mỗi tuần, có một chuyến đưa đi trại Mai Lĩnh và Kỳ Sơn.
Trại Mai Lĩnh ở gần chùa Trầm, Hà Đông, là một trại lớn “dành cho” nhi đồng… hư. Trại Kỳ Sơn ở Hòa Bình, cũng là một trại lớn, giam tù thiếu niên… hư. Trong Hỏa Lò, khu trại chung có hơn một chục buồng, nhốt đủ mọi loại tù. Có hai buồng chuyên giam loại chính trị nặng. Vậy tại sao chúng lại đưa tôi vào một căn buồng toàn loại trộm cắp này?
Có thể, chúng có những chủ trương như sau: tuy tôi bị bắt đã gần 6 năm, nhưng cũng chỉ là nằm một mình ở trong buồng kín, chưa biết gì nhiều ở bên ngoài cả. Ngược lại, trong Hỏa Lò cũng chả ai biết về tôi. Sau vụ tôi vượt ngục không thành, qua đó, chúng cũng đã thấy tư tưởng của tôi cũng chả tốt đẹp gì. Vậy, nếu cho giam chung với những buồng chính trị, tôi càng làm “xấu” những người còn đang thời gian khai thác, chưa thành án. Mặt khác, chúng hãy cho tôi vào buồng toàn tụi lưu manh, trộm cắp lau nhau, để tên Phan Tấn Hưng theo dõi tư tưởng, thái độ của tôi một thời gian, từ đấy chúng nhìn rõ về tôi hơn.
Trên đây, cũng chỉ là sự suy đoán, tôi phải đợi thời gian và thêm sự việc, mới có thể kết luận được. Tôi cứ miên man suy nghĩ, rồi chìm dần vào giấc ngủ chập chờn. Đêm đầu tiên ở trại chung, giấc ngủ không yên. Cứ chốc chốc lại giật mình tỉnh thức, vì tiếng thét giật đùng đùng như bị dao chém ở chỗ này, hay tiếng gào khóc lạy van ở góc kia…của những cháu nhỏ nằm…mớ.
Gần sáng, tôi ngồi dậy, muốn tìm chỗ đi giải. Mãi gần góc nhà xí, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn “60” nến, còn 4 cậu choai choai, độ 15, 16 tuổi, bị cùm mỗi cậu một chân. Đây là loại cùm “suốt” (giống như ở xà lim Hà Tĩnh mà tôi đã bị cùm). Loại cùm này tương đối thoải mái. Tù có thể di chuyển chân, hoặc đứng dậy được, vì cùm chỉ có hai cái khoen lồng vào trong một cái “suốt” sắt. Tùy theo “suốt” dài, ngắn và tùy theo chỗ cùm rộng hay hẹp, loại cùm này có thể cùm được rất nhiều người. Đây là một hình thức để kỷ luật những phạm nhân nào ngang bướng, hoặc vi phạm nội quy của trại. Đôi khi cũng dùng để trấn áp, hay khai thác… tùy theo những sự việc mà Cộng Sản muốn.
Cách thiết kế để xây dựng những căn buồng này, hẳn cũng do từ thời Pháp thuộc. Buồng làm theo hình chữ nhật, kích thước dài khoảng 15m, rộng 10m. Ở giữa là một cái bệ xi măng lớn chiếm gần hết buồng, kích thước dài 12m, rộng 7m; bệ xây cao hơn nền chừng 50 phân; lối đi là phần còn lại ở chung quanh bệ, rộng chừng 1m rưỡi.
Có thể thời Pháp thuộc, tù chỉ nằm trên bệ xi măng, còn lối đi bên dưới, chung quanh, để dép, guốc chăng? Nhưng bây giờ dưới chế độ cách mạng nhân dân, vì quá đông, cho nên tù nằm la liệt, cả trên bệ lẫn lối đi.
Tôi phải bước qua nhiều cậu đang nằm tụm 5, tụm 3 để vào… cầu tiêu. Mở cánh cửa nhà cầu, tôi thấy, dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu bé xíu, căn nhà cầu này rất nhỏ. Trên nền nhớp nháp, nồng nặc mùi phân và nước giải. Thảo nào, suốt đêm, khi ngủ thì thôi, lúc thức giấc, mũi tôi luôn luôn ngửi thấy một mùi khai, thối tràn ngập căn buồng. Từ xà lim ra trại chung, tôi vẫn đi đôi “guốc, dép” của tôi. Nhưng, vì không muốn làm mất giấc ngủ của những người tôi sẽ bước qua, nên tôi đã đi chân đất vào cầu tiêu. Cũng vì vậy, trên đường đi và về chỗ nằm, thỉnh thoảng tôi thấy như chân mình dẫm vào cái gì mềm, kêu bóp bép. Ánh sáng quá mờ, tôi đã không thể đoán được là cái gì?
Về tới chỗ nằm, tôi chả làm sao ngủ được nữa. Mùi phân, mùi nước giải, mùi hơi người lâu ngày không tắm rửa, mùi quần áo nhiều ngày không giặt, trộn lẫn với không khí trong buồng thành một mùi chua chua, khăm khẳm cay sè làm đầu tôi váng rất nặng nề. Trước đây, ở xà lim, tuy cũng phân, cũng nước giải, cũng quần áo thời gian lâu ngày không giặt, cũng thân thể lâu ngày không tắm rửa, nhưng những hơi hướm đó, chỉ là của một người, mà người đó là chính… mình, cho nên thật dễ… ngửi, chả thấy cay mũi, nặng đầu như bây giờ.
Trời đã sáng hẳn. Tiếng loa nghe rõ mồn một, đang ra rả điệu nhạc dạo đầu của đài tiếng nói “Quân Đội Nhân Dân”, rồi tiếp theo là cái giọng the thé của cô xướng ngôn viên: “…Quân đội nhân dân, trung với đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành; khó khăn nào cũng vượt qua; kẻ thù nào cũng đánh thẳng!…”
Một khẩu hiệu thúc giục, nêu lên như một bức hình tâm lý, ngày nào cũng đập vào óc mọi người, dần dà đã in vào nếp nghĩ, nếp nhìn. Để đến một lúc nào đó thành hiển nhiên như một công lý tất yếu. Rồi những sự việc sau đó, nếu xẩy ra hợp với nội dung khẩu hiệu, là thuận; nếu xảy ra ngược lại là nghịch, là làm cho người ta băn khoăn ngạc nhiên, như một tín đồ thuận thành làm trái với lẽ đạo.
Vì là buổi sáng sớm ở trại chung, nên tôi phải bị động theo cái chung của mọi người. Đã gần tới giờ làm việc rồi, mà hầu hết cả buồng còn nằm, từng cụm, từng cụm với nhau mê mệt ngủ. Tôi không hiểu tại sao họ lại có thể ngủ nhiều như vậy được? Có lẽ, trong đêm họ có nhiều khắc khoải thao thức, hay do tuổi trẻ bất cần đời, cứ buông trôi, để mặc cho đời trôi theo giòng nước… đục? Tôi lại phải tiếp tục nằm chịu trận, rán mà nghe cái “con mẹ lắm mồm” nheo nhéo, một cách bất khả kháng… Rồi, đến cái mục “Các em thiếu nhi”. Nghĩ cũng lạ, nghe gần 6 năm rồi, tôi chẳng thấy một bài ca nào, bảo các em nghe lời của cha mẹ cả. Trái lại, ngay từ khi các em mới bập bẹ biết nói, đã dạy phải nghe lời … bác, lời đảng mà đại diện trước mắt là các cô, các thầy giữ nhà trẻ và giảng đạo của đảng. Nào là:
“…Ra vườn hoa em chơi, hoa sắc trắng nhìn em hoa cười. Nghe lời cô, em ngoan em không hái một bông hoa nào, vì hoa này là…của chung…”
Cộng Sản đã theo đúng phương châm “Dạy trẻ từ thuở còn thơ”. Chúng lại còn phát huy cao độ hơn nữa là chú ý ngay từ “khâu” chọn hạt giống, như:
“…Hạt giống đỏ…được chăm nom vun sới, thành lớp cây xanh vươn dưới…mái trường…”.
Tôi đang nằm bực bội nghe miệng lưỡi của Cộng Sản xui trẻ con ăn … cứt gà, thì cậu Phúc “Thổ”, vừa bò dậy vừa nói, trong ngái ngủ, khi cậu nhìn thấy ánh mắt tôi:
– Anh dậy sớm thế! Đêm qua anh có ngủ được không?
Tôi vừa lồm cồm bò dậy, vừa trả lời:
– Đã ngủ thì phải được. Nhưng cậu có ngửi thấy ngột ngạt phân và nước giải không?
– Không anh ạ! Người ta bảo: “Ở gần nhà xí mãi không còn ngửi thấy thối nữa”, anh!
Vừa nói, y vừa đi vào cầu tiêu. Tôi dõi mắt nhìn chéo xuống phía tay phải chỗ lối đi. Đêm qua tôi thấy một tồ chăn cuốn, chẳng có chiếu, một cái chân dài nghệu, đầy ghẻ thò ra ngoài chăn, tôi cứ tưởng một người; bây giờ cái tồ chăn đó mở ra, đến 3 đứa ngồi dậy. Một đứa, lớn nhất, da trắng, mặt rất kháu khỉnh, chừng 13, 14 tuổi. Nó đã cao, giờ lại gầy, thành ra những cái tay, cái chân lêu nghêu, kềnh càng như những cái chân con nhện. Hai đứa kia bé tí; một đứa đứng chỉ cao tới ngực, còn một đứa chỉ ngang tới rốn của thằng lớn. Chính vì vậy, đêm qua tôi mới tưởng chỉ có một người.
Cả ba đứa, tuy ngồi dựa lưng vào tường và vẫn khoác chung một cái chăn rách, nhưng 6 con mắt dã cứ thập thò liếc nhìn chiếc điếu cầy tôi đang chuẩn bị “bắn” một điếu buổi sáng. Chúng nhìn tôi bằng những con mắt vừa thèm thuồng muốn xin được hút sái nhì, hay sái ba; nhưng lại vừa sợ sệt, vì như vậy là… phạm thượng. Hôm qua, chúng đã thấy tôi được cả buồng quý nể (trong đó có cả bậc “trùm” của chúng). Tôi liếc nhìn chung quanh và thấy cũng còn nhiều con mắt trắng lấm lét, rụt rè nữa muốn được cái vinh hạnh hút sái nhì, hoặc sái ba. Tôi vẫy tay, gọi cái cuộn chăn 3 đứa đến. Mắt chúng đều sáng lên ngập ngừng tiến đến, ngồi cả xuống trước mặt tôi lấm lét nhìn tôi như chờ lệnh. Cả ba đứa, chân tay đều ghẻ kềnh càng. Tôi rút gói thuốc lào, hôm qua Thọ “Lột” đã đưa biếu, ở trong túi ra, vê cho mỗi đứa một điếu. Tôi hỏi đứa lớn:
– Cháu tên gì?
– Thưa chú, cháu là Thắng, mọi người gọi cháu là Thắng “Trắng”.
– Thế bố mẹ cháu ở đâu?
– Ở Hàng Bạc ạ!
Tôi ngạc nhiên và vội vàng hỏi tiếp:
– Cháu ở 127.
Tôi vồ vập:
– Phải hiệu Bảo Hưng Long không?
Nó mở to mắt ngạc nhiên:
– Sao chú biết? Đấy là cậu mợ cháu!
Đến lượt mắt tôi lại căng ra vì ngạc nhiên, tôi dồn dập hỏi nó về cô Thuận, về thằng Hòa, thằng Hiếu, cô Tám v.v… Cả một khung cảnh ngày xưa của phố Hàng Bạc những năm 1952, 53, 54!…Lúc đó, tôi làm thợ vàng cho hiệu Tân Hưng, Bảo Hưng Long và Đức Hưng. Ba mẹ con, Bảo Hưng Long là chị của Tân Hưng, tức cô Thuận, hoa khôi Hàng Bạc 1952. Như thế, Thắng “Trắng” phải gọi Hòa, Hiếu là cậu. Tuy thời gian ở Hà Nội, tôi làm thợ kim hoàn, nhưng tôi vẫn đi học Pháp văn, cho nên vừa là thợ, vừa là học sinh, 15, 16 tuổi.
Điều tôi băn khoăn suy nghĩ mãi là, những gia đình này ngày xưa, là loại thế phiệt trâm anh, đài các, trong giai cấp trưởng giả, vậy mà bây giờ con cái là loại lưu manh, đầu đường, xó chợ? Tại sao họ chóng sa sút thế? Không kìm được tò mò, tôi hỏi thằng Thắng:
– Tại sao cháu không đi học, lại đi cắp trộm, cậu mợ cháu không nuôi cháu à?
– Cháu đã “dạt vòm” lâu lắm rồi. Bây giờ, cậu mợ cháu đã … từ cháu.
– Chú không biết à, “dạt vòm” là bỏ nhà đi bụi đời ấy mà!
Tôi quay lại nhìn thằng nhóc con, mặt nó đương vênh vênh lên như vẻ ra đây cũng là dân bụi đời. Tôi cũng thấy vui vui nên hỏi ngay:
– Cháu tên gì?
Thằng Thắng nhanh nhẩu trả lời thay:
– Nó là Phúc “Lủi” đấy chú ạ!
– Sao lại là Phúc “Lủi”?
Cả hai đứa đều cười ầm lên, thằng Thắng nói tiếp:
– Nó lủi nhanh lắm chú ơi! Nó đã vào chỗ đám đông thì có giời tìm. Nó toàn chui dưới khe háng người ta để lủi. “Cá” (công an) bắt được nó rồi thấy nó bé tí, cứ nắm lỏng tay, bất ngờ, nó giật tay ra, chạy ngay vào đám đông.
Tò mò, tôi lại hỏi:
– Năm nay, cháu bao nhiêu tuổi rồi!
Nó đứng hẳn dậy, một tay đè vạt áo xuống che cái bụng ỏng, lồi cả rốn ra:
– Cháu 11 tuổi rồi!
Tôi ngạc nhiên nhìn thằng Phúc “Lủi” đứng, người nó bé con chỉ bằng đứa trẻ lên 5, lên 6 bình thường ở trong Nam; cái mặt hơi choắt lại vì gầy; nhưng đặc biệt, đôi mắt của nó thật sáng và nhanh. Tôi đang định hỏi tiếp thì cán bộ đã đến mở cửa điểm số.
Cứ hai người một, cầm tay nhau đi ra để cán bộ điểm. Trong lúc đi ra, tôi nhìn xuống nền nhà, thỉnh thoảng có những điểm trăng trắng ngó ngoáy, bò chỗ nọ, chỗ kia. Đêm qua, lúc đi tiểu, tôi đã dẫm phải mà không đoán được đó là cái gì. Đó chỉ là những con bọ to nhỏ từ những đống phân trong nhà xí bò ra. Tôi thấy hầu hết chẳng ai để ý tới những con bọ này cả.
Khi ra tới sân, tên Hưng buồng trưởng dẫn tất cả đến một góc sân, có cái bể nổi, cao hơn mặt sân chừng sáu, bẩy mươi phân, gồm hai ngăn, mỗi ngăn rộng chừng 1 mét vuông. Nước bể đã đầy, nhưng một vòi chảy vào thì trong, nhưng nước ở trong bể lại lờ lờ. Trên mặt nước lều bều những váng ghét, của những buồng trước đã rửa. Hàng trăm người, mà chỉ có độ chục cái gáo. Vì vậy, nhiều đứa thò luôn tay vào bể, vốc một ít nước xoa lên mặt mấy cái, như mèo, thế là rửa mặt xong.
Chỉ có 15 phút rửa mặt, rồi tất cả lại xếp hàng đôi trở về chỗ quy định của buồng trong vạch vôi, ngồi xuống. Trong buồng đang quét dọn, mỗi ngày cắt ra 4 người quét dọn, làm vệ sinh buồng và nhà xí. Trong buồng chỉ một đêm mà hôi bẩn như vậy. Ngồi ở sân, tôi hỏi một cậu, tên Tiến “Ga” ngồi bên cạnh:
– Các cậu ngủ như thế, bọ bò lổm ngổm vào chăn chiếu, làm sao ngủ?
– Anh ơi, rồi quen đi hết! Nhiều đêm đang ngủ thấy ngứa tai, móc ra là một chú bọ. Bọ chui vào quần áo là thường, anh ạ.
Nghe y nói, tôi cũng thấy người ngưa ngứa. Tôi phải luồn tay vào trong áo, vừa gãi, vừa đưa mắt hỏi Tiến “Ga”. Y cười thành tiếng:
– Anh nằm trên bệ xi măng là giai cấp trên rồi, không có bọ đâu, nhưng là rận đấy. Rận, ở trong buồng thì không ai là không có.
Thảo nào! Tuy là mùa Đông, nhưng buổi sáng cũng có một lúc ánh nắng nhàn nhạt. Tôi đưa mắt nhìn toàn bộ cái sân rộng của trại chung. Lổm ngổm đầy tù, mỗi buồng chiếm một khoảng sân. Buồng nào cũng đang có người cởi áo ra để…bắt rận. Tôi đang mải nhìn hai buồng phía gần xà lim I vừa rửa ráy xong và đã vào buồng, ngồi xếp hàng 10 để…”sinh hoạt chính trị”, bỗng một cậu chộp lẹ một cái vào cổ áo tôi. Tôi quay quắt lại, thì ra thằng Phong “Trố”, hai ngón tay trái và trỏ của nó đang kẹp chặt giơ ra, miệng nói:
– Rận của anh nè!
Tôi ngửa bàn tay cho y bỏ vào. Con rận “xề” đen xì, nằm ngửa hơ hơ, đang giơ những cái chân con tí giẫy dọn tìm cách lật úp lại. Mới có một đêm, rận đã bò cả ở bên ngoài áo. Tôi chợt thấy cả người ngứa ran. Chỗ nào trong áo, tôi cũng cảm thấy như có rận chui rúc vào. Tôi vừa quyết định phải cởi áo ra xem sao, thì bác Khánh đến, chỉ tay về phía một cái bàn và bảo tôi là cán bộ gọi.
Là tác phẩm, những người con trai và con gái, con nuôi, con riêng của vợ mình, đều tổ chức ăn mừng ‘Happy Father’s Day’ mỗi năm để vinh danh tác giả.
Không có các bực ‘tác giả’ nầy là thế giới đã tiêu vong!
Chẳng qua “Father’s Day” của Úc cọp dê theo Father’s Day của Mỹ về cách ăn mừng, na ná như nhau, nhưng ngày lại khác vì phải tuân theo thời tiết!
Vì ở Úc, tháng Sáu, là đầu mùa Ðông, mưa suốt, bão lụt liên miên thì ăn mừng cái nỗi gì hè? Nên Úc tự tiện dời Father’s Day qua Chủ Nhựt đầu tiên của Tháng Chín khi mùa Xuân tới!
Ở Mỹ, Father’s Day, là Chủ Nhựt thứ ba của tháng Sáu, rơi vào ngày hạ chí, mùa Hè.
Father’s Day tổ chức lần đầu là do sáng kiến của Sonora Smart Dodd, có thân phụ tên là William Jackson Smart, đã một mình gà trống nuôi một bầy con tới 6 đứa.
Mother’s Day, năm 1909, Sonora nghe một ông Mục sư thuyết giảng về tình mẫu tử, nhưng mình lại không có Mẹ, chỉ có Cha nuôi mình khôn lớn.
Có ngày Từ Mẫu sao lại không có ngày Từ Phụ cho nó công bằng chớ?
Ðem cái ý tưởng nầy đạo đạt với ông Mục sư và đề nghị lấy ngày 5, tháng Sáu hằng năm, là ngày sinh nhựt của thân phụ mình, để tổ chức ‘Father’s Day’ đầu tiên trên nước Mỹ.
Nhưng vì gấp gáp quá, làm không có kịp! Phần ngày 5, tháng Sáu, mỗi năm mỗi khác. Nó có thể rơi vào thứ Hai, thứ Ba gì đó, ngày bận đi làm kiếm cơm, thì ai mà rảnh… để nhớ tới công sanh thành dưỡng dục của Tía!
Nên ông Mục sư nầy dời qua ngày Chủ Nhựt thứ ba của tháng Sáu, ngày Hạ chí, bắt đầu mùa hè rực nắng… chơi mới đã!
Thế là Father’s Day đầu tiên vào ngày 19 tháng Sáu năm 1910, tại Spokane, Washington do Hội Thanh Niên Cơ Ðốc (Young Men’s Christian Association) tổ chức để cho có nhiều người tham dự mới tạo được cái phong trào.
Giới truyền thông gồm báo chí, tạp chí truyền hình, phim ảnh ‘lăng xê’ bằng cách ra những số đặc biệt về Father’s Day.
Mới đầu chỉ là một cú gọi hay tấm thiệp từ các đứa con để chúc mừng “Happy Father’s Day!”
Rồi tại các trường học, thầy cô biểu học sinh tự tay làm lấy quà tặng để chúc mừng thân phụ.
Cả nhà, (cho Má ăn theo Ba), đi chơi ở công viên, đi Sở Thú coi khỉ ăn chuối, đi xe đạp xuyên rừng, đi bơi, đi câu cá nếu yêu đời hoang dã.
Ngoan đạo thì đi nhà thờ cầu nguyện, sau đó đi xem phim về tình Phụ tử!
Về quà tặng: Thằng cháu nội của tui, 5 tuổi, học lớp prep, tự tay vẽ một tờ 100 đô la, đề tặng cho tui, tức ông Nội (ăn theo Father’s Day) của nó!
Tui vò đầu, hỏi đứa cháu yêu: “Con có thích dàn trống Nội mua cho làm quà hôm sinh nhựt của con không?”
“Dạ thích lắm. Vì mỗi lần con không chơi trống là Tía móc túi cho con 10 đô la hè!”
Rồi quà cho Tía ‘hảo ngọt’ là sô cô la (chocolate) mà hồi xưa có người dịch là ‘súc-cù-là’.
Về ăn: Tía nào có tâm hồn ăn uống, không sợ cao máu, cao mỡ, cao đường thì mời Tía đi ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối ở nhà hay đi ăn ‘yum cha’ nhà hàng Tàu, bún nước lèo Sóc Trăng nhà hàng Việt, ăn tom yum nhà hàng Thái hay ăn sushi của nhà hàng Nhựt Bổn gì gì đó! Ở Footscray nầy đều có hết!
Về mặc: Tía khoái diện kẻng, đi họp hội Cựu học sinh trường xưa năm cũ, chống gậy lên sân khấu, trịnh trọng đọc diễn văn, thì con cái mua cho Tía áo vest ở tiệm ‘David Jones’ và giày “Made in Italy”
Nghĩa là tác giả muốn gì thì một đống tác phẩm xúm lại chiều chuộng, năm chỉ một lần, có đông vui hao đâu mà sợ!
***
Thưa năm nào cũng vậy, tới Father’s Day là tui lại nhớ tới Tía tui, người đã mất rồi, năm tới là 20 năm chẵn.
Nhớ để cảm thông rằng: “Làm Cha khó lắm! Phải đâu chuyện đùa!”
Vậy mà Tía tui đã làm Cha một cách dễ ợt. Chẳng qua là vì tình phụ tử vô bờ bến đối với đám con mình vậy thôi.
Cũng như những người cha khác, người muốn tui học giỏi hơn con thiên hạ. Mà đau lòng thay, tui lại học dở mới chết.
Sau nầy qua Úc, tui thấy Tía Úc cũng khoái con mình học giỏi như Tía tui thôi.
Nên có chuyện vầy: “Thầy giáo môn Lý Hóa hỏi: Khi nào đạt tới điểm sôi? – Dà khi Tía em nhìn thấy cái học bạ của em.”
Hoặc: Tía hỏi: “Con có thích học lớp Bốn không?”- “Con không thích lắm. Khó quá!”. “Ðối với Tía thì lớp Bốn là ba năm đẹp nhứt trong đời đi học của Tía đấy!”
Rồi cũng như những người con khác. Hồi thơ ấu, dưới mắt tui, Tía là một anh hùng cái thế, cái gì cũng biết, cái gì cũng làm được hết. Tía tui giỏi hơn Tía tụi nó.
Không có Tía kề bên, con không biết sẽ làm sao như thằng Úc con dưới đây:
“Tại chuồng cọp của Sở Thú, Tía nói cọp là loài ăn thịt sống rất hung dữ, nó có thể tấn công cả con người khi có dịp.”
“Giời ơi! Lỡ nó sút chuồng ăn thịt Tía thì con đâu biết phải đón chuyến xe bus số mấy để về nhà. Hu hu!”
Nhưng từ từ, lúc lên mười bảy, bẻ gãy sừng trâu, tuổi nổi loạn, thì mấy thằng con Úc hoặc con Việt được sanh đẻ ở đây, lại nhìn thấy: “Tía mình là một ông già xưa, mù vi tính, chơi games không biết, không biết xài mobile phone, tiếng Anh ù ù cạc cạc, đã lạc loài trong thế giới văn minh.”
Mấy thằng con trứng đòi khôn hơn vịt nầy quên mất ngày xưa yêu dấu khi xưa ta bé ta chơi nghịch trên đầu, trên cổ đến nỗi: “Tía không cho con ngồi trên vai của Tía nữa nếu chú mầy cứ rứt tóc của Tía hoài.” “Ðâu có! Con chỉ muốn gỡ miếng kẹo cao su của con ra thôi mà!”
Bây giờ nghe nói trong nước, mấy quan chức Cộng Sản cũng chăm lo cho con của mình, con của vợ lớn, con của vợ bé, hay con của bồ nhí gì gì… cũng chăm lo hết ráo vì nhà mặt phố, bố làm to mà để thua sút con mấy đồng chí mình đâu có được hè.
Vậy là: “Một thằng con vừa mới có bằng lái muốn Bố nó mua một chiếc xe hơi xì po”. Bố sẽ mua cho con nhưng với ba điều kiện.
Một là: “Con phải ráng học, từ rày về sau không được để môn nào có điểm 2, điểm 3 mà phải từ điểm 5 trở lên.
Hai là con phải nghiên cứu chánh trị học Mác- Lê- Nin vì nhà ta ba đời theo Cộng sản.
Ba là con phải cắt tóc cho gọn gàng; không được để râu um tùm che khuất cả cái mồm và để tóc bùm sùm như một cái tổ quạ.
Sáu tuần lễ trôi qua, thái tử đảng lại nhắc Bố mình về chiếc xe ‘xì po’!
“Bố rất hãnh diện về con! Từ hạng bét lớp leo lên, giờ học giỏi hơn được, năm, mười đứa khác. Nhứt là con đã được điểm ưu về môn Triết học Mác- Lê- Nin
Nhưng bố lại rất không hài lòng vì con vẫn để râu um tùm che khuất cả cái mồm và để tóc bùm sùm như một cái tổ quạ.
“Bố à! Con có suy nghĩ về điều đó chớ! Nhưng lúc nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê -Nin thì thấy Các Mác, thủy tổ của Chủ nghĩa Cộng Sản, cũng để râu um tùm che khuất cả cái mồm và để tóc bùm sùm như cái tổ quạ!
“Con nhận xét rất chính xác; nhưng con quên một điều là Các- Mác mạt rệp nên đâu có tiền mua chiếc xe nào. Muốn đi đâu, người đều xài ‘lô ca chưn’ hết đó sao?
Không được Bố mình mua cho chiếc xe xịn để làm yêng hùng, đi đua mỗi tối trên đường cao tốc, nên thái tử đảng nầy sa đà vào cờ bạc, gái gú, hút xách và chơi cả hàng đá (ice), nên Bố nó cố gắng dạy con mình về tác hại của rượu chè be bét bằng cách bỏ một con lãi vào một ly rượu mạnh Vodka của đồng chí Putin. Con lãi chết ngắc!
“Vậy con rút ra bài học gì từ cái thí nghiệm nầy?” “Dà! Bài học đó là: Nếu mình uống rượu mình sẽ không bị bệnh sán lãi ạ!”
***
Thưa! Bất cứ tuổi nào, già khú đế như tui mà khi thân phụ mình mất đi rồi mình vẫn là một đứa bé mồ côi!
Nhưng có sanh là có diệt, lẽ thường của Tạo Hóa không ai cãi lại được. Thế nên còn cha, còn mẹ còn vui! Mất cha, mất mẹ bùi ngùi đời con!
Năm nay, Father’s Day sẽ là ngày Chủ Nhựt, 18 tháng Sáu năm 2017. Ai may mắn còn cha sẽ mang bông hồng đỏ. Ai mất cha rồi là trắng cả màu bông, bông hồng trắng!
Tui xin gởi một bông hồng đến những người cha bên Mỹ nhe! “Happy Father’s Day!”
Thưa! Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ, Tây Sơn tam kiệt, lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh rồi lật đổ luôn cả nhà Hậu Lê.
Nguyễn Nhạc làm chức biện lại (thu thuế) nên còn gọi là Biện Nhạc.
Biện Nhạc mang tiền thu thuế đánh bạc thua hết tiền, cùng quẫn phải nổi dậy, tạo phản thành công, mà lập ra Nhà Tây Sơn, rồi tự phong mình là Thái Đức Hoàng Đế (từ năm 1778 tới năm 1788).
(Hiệu trà Thái Đức sau nầy chắc “cọp dê” theo tên ông?!)
Có thể nói là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới mà một người vì ham mê cờ bạc, thua sạch bóc, lại làm nên nghiệp đế! Vậy cờ bạc đâu phải là bác thằng bần đâu nè?
Thưa còn bây giờ, cờ bạc không phải là bác thằng bần… mà là triệu phú đô la Mỹ nữa đó!
Sáng ngày Một, tháng Mười Một, năm 2016, lúc 3 giờ rưỡi sáng, một ông Mỹ gốc Việt, (Tiếc quá tui không có bà con gì với ổng hết ráo) tên Qui Nguyen, (cũng là người Quy Nhơn nên tui e rằng ổng là hậu duệ ưu tú của Thái Đức Hoàng đế?!), đã đánh bại đối thủ Gordon Vayo đến từ San Francisco, đoạt giải vô địch thế giới về Poker (Phé) tại thành phố Las Vegas, tiểu bang California.
Qui Nguyen, 39 tuổi, định cư ở Mỹ năm 2001, lúc mới 24 tuổi, đi làm móng cho một tiệm nail ở quận Cam, tiểu bang California, để nuôi vợ và một con trai lên 4 tuổi.
Có lẽ thấy rờ rẫm tay chưn mấy em Mỹ trắng, Mỹ đen và Mễ hoài… mà tiền ít quá, nên Qui Nguyen bắt đầu chơi Poker vào năm 2003 và sớm danh trấn giang hồ là: “Tommy Gun” nhờ vào lối chơi tố xả láng, tố tá lả đến nỗi địch thủ không biết đường đâu mà rờ.
Đoạt chức vô địch, thì ngoài 8 triệu đô Mỹ tiền thưởng, Qui Nguyen còn nhận được một chiếc vòng tay, trị giá 50.000 USD, làm từ 427g bạch kim và vàng cùng hơn 2.000 viên kim cương và đá quý hơn 44 carat, như một chứng nhận có cầu chứng tại Tòa dành cho Đệ Nhứt Kỳ Bẽo!
“It’s so exciting, I don’t know what to say!” (“Đã quá! Biết nói gì bây giờ!”)
Thưa bà con! Poker mà bà con mình hay gọi là Phé! Và trong chuyện cờ bạc, bà con mình đã sáng tác ra rất nhiều tiếng lóng, hay bá chấy!
Tiếng Việt mình Cờ bạc là kỳ bẽo! Tiếng Mỹ từ Poker là phé ta có ‘poker-face’ tức mặt lạnh như tiền, mặt phớt tỉnh, nghĩ gì không ai biết, làm gì không ai hay!
(Em yêu của tui, mỗi lần giận, có khuôn mặt ‘poker-face’! Nghĩ gì tui không thể nào đoán ra được bài tẩy! Nên lúc nào cũng lo ngay ngáy sợ em Lan xuống tay tàn độc là tàn đời của Điệp!)
Thưa bà con! Tui vốn là sò quỷnh (nhà quê); đôi khi đông địa (nhiều tiền) chỉ dám chơi đánh bạc nho nhỏ với mấy thằng bạn cho vui ba bữa Tết! Tui đều thua hết ráo. Thua sặc máu!
Ăn tui hết tiền, thấy cũng tội nên an ủi tui bằng cách lấy tiền tui thua… dắt tui ra chợ Tham Tướng, Cần Thơ nhậu, rồi tụi nó cười hè hè, bảo: Tui không có tay đổ bác! Tui là ‘mển’ lớ ngớ nên bị các thợ xẻ mần thịt trên sòng bài.
Thiệt tại tui hỏng biết cách đánh bài cho tới nơi tới chốn. Người ta đánh cao; tui đánh thấp! Tui biết đánh bài cào tức bài ba lá, đếm nút lượm tiền thôi.
Ôi nhớ xưa theo thằng bạn học tới nhà nó ăn Tết! Mấy đứa em gái của nó, đẹp xuất sắc trong vai tì nữ, đang trải chiếu đánh bài, nên tui xà xuống làm một tụ là phụ! Cái chánh là được ngồi gần để ‘hửi’ mùi hoa cau hoa bưởi trên tóc của mấy em!
Em làm cái, chìa ra bộ bài tây 52 lá, ỏn ẻn: “Mình muốn xào bài, kinh, xóc, chẻ hay làm gì đó thì làm đi. Chơi bài cào.”
Em cứ bù với một nút hoài nên tui lủm hết trơn tiền lì xì của em. Làm em buồn muốn sa lệ! Tội nghiệp quá xây những lâu đài cát mơ, tui trả tiền lại mà em nhứt định không lấy! “Dám chơi là dám chịu thua!”
Em không ‘lấy’ tiền lại… mà sau đó em ‘lấy’ tui… mới chết!
Số tiền lỡ dại ăn của em năm xưa đó, hỏng có bao nhiêu, mà bà con ơi, tui trả mãi; trả mãi tới giờ cũng chưa có dứt! Hu hu!
***
Thưa Tây nó gọi là Poker mà ta gọi là Xì phé. Nói thiệt cái môn đấu trí nầy tui cũng ù ù cạc cạc lắm. Vì tui có trí đâu mà đấu.
Tui bèn tầm sư học đạo, xin thọ giáo với một anh bạn khá nổi danh trên chốn giang hồ, đã từng tán gia bại sản, vì đem tiền giúp Crown Casino ngoài city đủ để xây một bức tường trong sòng bài tráng lệ lung linh! Cứ nửa giờ phun lửa một lần, dọc theo bờ Nam sông Yarra, để chết cha mấy con thiêu thân cắm đầu vào đây mà đánh bạc!
Theo lời sư phụ chỉ dạy và chỉ đại: “Đánh phé là một môn cờ bạc hên xui may rủi; nhưng cũng có đấu trí, có chiến tranh tâm lý! Đôi khi bài nhỏ nhưng cũng dám tố sảng, tố xả láng… để sáng về sớm!”
Địch thủ non gan, bỏ chạy là mình hốt. Còn nó trường vốn, ‘cổ tại’, (thằng nầy hỏng ngán thằng nào)… thì đôi khi mình lại mậu lúi cũng hỏng chừng?!
Sư phụ dạy gì đệ tử nghe xong rồi để đó! Chớ nhào đầu ra Casino, lý thuyết rồi thực hành; thiệt đệ tử không dám! Vì khi đi ăn mặc đàng hoàng; khi về còn có cái quần ‘xà lỏn’ mà thôi!
Xưa ông bà mình có dạy: ” Nghe vẻ nghe ve/ Nghe vè cờ bạc/ Đầu hôm xao xác/ Bạc tốt như tiên/ Đêm khuya hết tiền/ Bạc như chim cú/ Cái đầu sù sụ/ Con mắt trõm lơ/ Hình đi phất phơ/ Như con chó đói/ Chân đi cà khói/ Dạo xóm dạo làng/ Quần rách lang thang/ Lấy tay mà túm…“
Rồi Sách Luân Lý Giáo Khoa Thư. Sách do Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản, của quý thầy: Trần Trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận có dạy rằng: “Cờ bạc rất hại cho người ta. Ai đã ham mê cờ bạc thì không còn thiết làm lụng gì nữa và không biết lấy đồng tiền làm quí. Khi được thì ăn tiêu xa xỉ, khi thua thì vay công, mắc nợ. Thường có người chỉ vì cờ bạc mà vong gia, thất thổ đến nỗi phải đi ăn- mày, ăn-xin, ăn-trộm, ăn-cướp, làm nhiều điều xấu xa, phi pháp.
Anh Tuyên coi việc giữ tiền cho một nhà công- nghệ. Anh là một người máu mê (ham mê) cờ bạc. Vợ con đã nhiều lần khuyên răn mà anh không nghe. Hễ có đồng nào là đánh thua hết, rồi thành ra mang công, mắc nợ mỗi ngày một nhiều lên. Đến hạn không trả được, sẵn tiền của chủ, anh lấy đem tiêu, không nghĩ đến sự nguy hiểm về sau.
Được ít lâu, việc phát giác ra, anh phải bắt. Lúc ngồi trong ngục tối, anh nghĩ đến thân phận mình và đến cái khổ nhục để cho vợ con, thì tự lấy làm hối hận lắm. Nhưng ăn năn thì sự đã rồi, hối hận cũng không làm gì được nữa.
Cách ngôn: Cờ bạc là bác thằng bần/ Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm!”
***
Chắc bà con mình ai cũng nghe chuyện cô Ba Trà (Trần Ngọc Trà) một hoa khôi của đất Sài Gòn năm cũ.
Nàng đẹp lắm, đẹp đổ quán xiêu đình nên làm mê hoặc, khuynh đảo bao nam nhân lẫy lừng cùng thời! Từ những vị thiếu gia miệt tỉnh đến các quý ông học vị, học hàm thành thị, văn nhân đa tình…Vì em…thiếu đều nhém chút nữa phải tán gia bại sản!
Mỹ nhân tự cổ như danh tướng! Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu!
Người đẹp như một đóa hoa mãn khai vậy thôi, sớm nở tối tàn nên không chơi cũng uổng?!
Hoa khôi đất Nam Kỳ ngày cũ cờ bạc bằng tiền vô thiên lủng của mấy tay cổ tại, lại háo sắc, như Bạch công tử đất Mỹ Tho hoặc Hắc công tử đất Bạc Liêu phải thất điên bát đảo! Vì đua nhau tung tiền ra cung phụng để được gần em.
Tiền của đại gia chớ của ông cha mình gì đâu mà tiếc?! Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt. Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!
Người đẹp như con thiêu thân lao vào chốn đỏ đen. Lúc đỏ thì ăn bạc vạn, lúc đen thì cháy túi; nhưng thản nhiên như không!
Đứng lên, phủi tay rời sòng bạc, cô Ba Trà lại ‘triết lý’ vụn: “Tiền của như bụi đất – Tình nghĩa mới thiên thu!”
“Em đẹp anh ‘chi’! Em hết đẹp, em tàn bông… là anh dông! Tình nghĩa gì ở đây hè?! Đồng tiền cuối cùng của thiên thì trả địa… Hỏng có bền!
Còn đồng tiền của tui làm đổ mồ hôi sôi nước mắt thì muốn hoang phí cờ bạc cũng hỏng dám. Thua hết làm sao mà dám về nhà đây?!
Nhưng, hỡi ôi, em yêu của tui là người đa nghi. Cứ sợ tui lâm vào vòng đổ bác là nợ như Chúa Chổm. Xin em đi đâu một chút với bạn bè là em luôn luôn nghĩ tui đi đánh bài?!
Tuần rồi, trời vừa sập tối, chiến hữu hối tui đi nhậu! Sợ em yêu cấm cửa; tui bèn len lén chui cửa sau, dzọt.
Nửa khuya bò về, hơi cưng cửng, sợ em yêu thức giấc tra hỏi lôi thôi nên tui lẳng lặng cởi quần áo, chui vào phòng ngủ. Ai dè em vẫn còn thức, nằm đọc sách.
Thấy tui trần như nhộng, em kêu lên: “Trời ơi! Bữa nay anh thua hết ráo rồi hả?”
28 tháng 4, 1975 Sau khi ông Lâm bỏ đi, mẹ tôi ngồi im lặng mấy giờ liền, nét mặt không hề thay đổi. Vú Loan ôm chúng tôi ngồi trên sàn xe. Tôi lặng lẽ nhìn đêm xuống trên thành phố trong tiếng lửa cháy, tiếng bom nổ, tiếng than khóc tiếp tục vang lên. Ngồi trên sàn xe, hai tay bịt chặt tai, tôi có cảm tưởng mọi việc dường như biến mất đi, những sự việc đang diễn ra chung quanh tôi hình như không còn là thực nữa; có vẻ như tôi đang ở trong một cuốn phim câm với một hậu cảnh toàn một màu đen trắng. Sự im lặng khô cứng ấy bám lấy tôi cho đến khi mẹ tôi lên tiếng cho biết chúng tôi phải trở về lại nhà. Đêm xuống dường như làm cho thành phố bớt vẻ khủng khiếp. Trên đường dắt díu nhau về nhà, nỗi sợ hãi lo âu trong lòng chúng tôi giảm dần xuống. Hầu hết đèn đường đều bị vỡ nát, số còn tốt thì lại không xài được vì tình trạng thiếu điện. Chung quanh chúng tôi nhiều bóng đen âm thầm chuyển động. Chúng tôi không biết rõ là họ đang lục tìm xác thân nhân hay chỉ là những người đi hôi của như những con cho sói đi tìm mồi. Thỉnh thoảng, một tia sáng lóe lên trên bầu trời theo sau là những tiếng nổ kinh hồn của bom, của lựu đạn, của súng liên thanh gây hoang mang lo lắng cho toàn khu vực. Từ chỗ chiếc xe bỏ lại cách nhà chúng tôi không xa lắm nhưng phải mất hơn hai tiếng đồng hồ len lỏi qua những con đường kẹt cứng chúng tôi mới về đến nhà. Xe du lịch, xe vận tải chồng chất lên nhau như những đống sắt phế thải chặn cứng các ngả đường. Ông bà ngoại tôi vẫn còn trốn dưới hầm. Qua khung cửa tò vò, họ nhận ra chúng tôi ngay và vội vàng lên tầng trên mở cửa cho chúng tôi vào. Chỉ mới trong mấy giờ đồng hồ mà ông bà ngoại tôi như đã già thêm hàng chục tuổi như không còn một chút sinh lực nào. “Ông Lâm đâu?” Là câu hỏi đầu tiên họ hỏi chúng tôi. Mẹ tôi nhún vai: “Con không biết. Tụi con cãi nhau trên xe rồi hắn bỏ đi. Về hướng phi trường.” “Quân khốn nạn!” Ngoại tôi lầm bầm. “Con tính làm sao bây giờ?” Ngoại tôi hỏi. “Con không biết.” Mẹ tôi lắc đầu. “Con nghĩ là chúng ta cứ ở đây chờ xem.” Ông nhìn mẹ tôi. Ông nói, đắn đo từng chữ như không muốn làm cho tôi và em tôi hoảng sợ. “Ba nghe radio nói là Sài Gòn sẽ đầu hàng. Quân đội gần như đã tan hàng. Phía bên kia quá mạnh; có vẻ như không ai, không có cái gì có thể ngăn chận họ được nữa. Con quyết định làm gì thì nên làm ngay bây giờ. Chỉ còn một ngày mai nữa thôi. Ông tướng ra lệnh là mọi người nên cẩn thận vì trong các ngày sắp tới tình hình có thể hổn loạn không lường được.” “Sau khi con đi thì bà Đặng có gọi lại.” Bà ngoại tôi nói, tay vẫn lần chuỗi hạt bồ đề. “Bà ấy hỏi con. Con nên gọi lại cho bà ấy coi sao.” Mẹ tôi gật đầu: “Được, con gọi ngaỵ” Mẹ tôi nhắc ống điện thoại lắng nghe một lúc rồi ném mạnh xuống với vẻ chán nản. “Đường giây bị cắt cha nó rồi.” Mẹ tôi nói một cách giận dữ. Quay sang bà tôi, mẹ tôi hỏi: “Chị ấy có nhắn gì với mẹ không?” “Có, bà ấy nói chờ máy bay trực thăng gì đó. Bà ta cũng hỏi giấy xuất cảnh của má, nhưng má nói con mang theo cả rồi. Rồi bà ấy cúp máy. Cũng khoảng bốn năm giờ rồi.” Mẹ tôi dòm ra ngoài đường phố vắng lặng. Bà cắn môi ra vẻ suy nghĩ. Bàn tay xoa xoa lớp vải lụa trên bụng trong khi tất cả chúng tôi cùng nhìn bà chờ đợi. Một lúc lâu sau, mẹ tôi đi đến một quyết định. Mẹ tôi đẩy chúng tôi về phía ông bà ngoại và nói: ” Ba má trông chừng giùm các cháu. Con sang nhà chị Đặng một lát sẽ về ngaỵ” “Con không nên đị” Bà ngoại tôi khóc. “Con không nên đi, bên ngoài nguy hiểm lắm. Con không thể bỏ tụi nhỏ ở đây với ba má được.” Ông ngoại tôi nói thêm vào. Từ góc hầm, khuôn mặt chìm khuất vào bóng tối, vú Loan lên tiếng. Giọng chị nhỏ như thường lệ, nhưng rõ ràng. “Thưa bà Khuôn, tôi vẫn còn là người ở của bà. Bà cần gì xin cứ sai bảo. Nếu bà cho phép tôi sẽ sang nhà bà Đặng thay cho bà. Tôi sẽ nhắn bất cứ điều gì bà cần nhắn cho bạn bà.” Mẹ tôi ngó thẳng vào vú Loan. Một thoáng ngạc nhiên hiện trên khuôn mặt bà tuồng như đó là lần đầu tiên bà trông thấy người tớ gái trong nhà. Bà tiến về phía Loan. Bà đưa tay xoa mặt Loan nhưng chỉ những đầu móng tay của bà là chạm da thịt Loan. Vú Loan co rúm người lại, vẻ hoảng sợ. “Chắc không?” Mẹ tôi hỏi. Vú Loan gật đầu “Chắc. Thưa bà .” “Vậy thì đi ngay đị” Mẹ tôi nói. “Nhớ cẩn thận và cố gắng về sớm.” Cô gái tiến về phía cửa hầm, rồi dừng lại. Vú từ từ quay lại đứng đối diện với mẹ tôi. Với vẻ khó khăn và lúng túng, chị vừa cắn móng tay vừa nói, nhưng lời lẽ rõ ràng, minh bạch: “Nếu con không trở lại trong vòng nửa giờ, thì có lẽ con gặp phải một bất trắc gì đó. Trường hợp đó xin bà đừng chờ nữa, mà nên nghĩ đến biện pháp khác. Thưa bà Khuôn, có một việc con định thưa với bà từ lâu nhưng chưa có dịp, xin bà cho con nói một lần cho nhẹ lòng trước khi con đi. Con muốn xin lỗi bà từ lâu về chuyện xảy ra giữa con và ông Lâm.” Trong khi vú Loan tiếp tục nói, mẹ tôi đứng nhấp nhổm không yên. “Con thật không muốn bà chứng kiến việc ấy trong đêm bà bước vào phòng con ở Nha Trang. Nhưng con không có cách nào khác. Con không kháng cự lại được. Ông ấy mạnh quá, ông ấy làm dữ, dọa đuổi con ra khỏi nhà nếu con không chiều ông tạ Thưa bà, suốt đời con, bao lâu con còn ở dưới mái nhà bà, con không bao giờ muốn làm bà đau lòng. Xin bà tha thứ cho con trước khi con đị” Vú Loan bắt đầu khóc sụt sùi. “Đừng bận tâm về chuyện đó nữa.” Mẹ tôi lắc đầu. “Mọi chuyện đã qua rồi. Ông ta đã bỏ đi. Không còn vấn đề gì nữa cả. Cô chỉ nên cẩn thận. Chúng tôi sẽ cầu nguyện cho cộ Nhớ về sớm.” “Thưa bà vâng.” Vú Loan trả lời trước khi biến mất vào trong bóng đêm âm u bên ngoài. * Khoảng một tiếng đồng hồ sau, vú Loan trở về như đã hứa với chúng tôi. Vú đem theo một người giúp việc của bà Đặng. Cả hai đều thở hổn hển sau khi chạy băng ngang qua đường phố. Nét sợ hãi vẫn còn phảng phất trên khuôn mặt họ. Ngay sau khi họ bước vào nhà, mẹ tôi hỏi ngay: “Chuyện gì xảy rả Họ đã đi rồi à? Cô có gặp được ông bà Đặng không? Cô biết họ đang ở đâu không?” “Con đã gặp bà Đặng.” Loan vừa thở hổn hển vừa nói. “Bà ấy vẫn còn đang chờ tại nhà. Bà ấy gởi cho bà chủ cái này.” Vú Loan lấy bức thư trong túi áo ra giao cho mẹ tôi. Mẹ tôi giật vội lấy và đọc lớn cho cả nhà nghe. “Chị Khuôn, Tôi không biết là nên vui hay buồn khi nghe những tin tức về gia đình chị. Khi tôi gọi điện thoại đến nhà chị nói chuyện với bác hồi chiều, lúc đó tôi có cảm tưởng là giờ này chị đang trên đường đi đến Thái Lan. Rồi con Loan đến mang theo lá thư của chị. Hiển nhiên là chị đã trể chuyến bay cuối cùng rời khỏi Sài Gòn. Tôi nghe đầy đủ tin tức báo cáo về những việc đã xảy ra chiều hôm ấy. Tôi không biết là mình nên vui hay buồn. Một mặt, tôi cảm thấy an tâm, và vui mừng là còn có chị Ở đây để chia xẻ với tôi những khó khăn; mặt khác tôi thật buồn vì hoàn cảnh không may của chị. Chị đã phải trải qua bao nhiêu đau khổ bất hạnh chỉ trong một thời gian ngắn như vậy. Nhưng, dù sao thì chúng ta trở lại sum họp như trước. Để tôi kể cho chị nghe những việc đã xảy ra cho chúng tôi kể từ lần cuối cùng chúng ta gặp nhau vào hai ngày trước. Như chị đã biết, ông nhà tôi từ trước đã cố gắng tìm mọi cách để có được giấy thông hành cho tôi và hai thằng con trai. Nhưng không may cho tôi, chỉ riêng có hồ sơ của tôi là bị thất lạc qua đường bưu điện. Dù tôi đang rối ruột lắm nhưng tôi cũng không thể trách nhà tôi được; anh ấy đã làm hết sức để có thể mang tôi ra khỏi cái quê hương khốn khổ này. Chiều hôm qua, sau khi các con tôi nhận được giấy thông hành, thì một dịp may hiếm có đã xảy ra. Nhà tôi và các con được phép rời Sài Gòn trên chuyến trực thăng cuối cùng với mấy nhân viên ngoại giao Mỹ, trong đó có một người là bạn thân của nhà tôi từ nhiêu năm trước. Người bạn thân của chồng tôi khuyên rằng tôi không nên tháp tùng theo gia đình vì tôi không có giấy tờ hợp lệ, sẽ gây nhiều rắc rối, trở ngại cho mọi người khi đến phi trường Băng Cốc. Họ toàn là những nhân viên ngoại giao quan trọng, nên rất thận trọng không muốn bất cứ việc gì có thể gây nguy hiểm cho bản thân họ. Thế là tôi phải đứng một mình trên nóc tòa đại sự chứng kiến cảnh chiếc máy bay chở những người thân trong gia đình tôi biến mất trong bầu trời mà lòng tự hỏi không biết đến bao giờ mới cơ hội gặp lại họ. Chị cũng là một bà mẹ, chắc chị biết là tôi đau khổ biết chừng nào sau cái biến cố đã xảy ra ngày hôm qua. Xin báo chị một tin vui là nhà tôi và các cháu đã đến Băng Cốc không có gì trở ngại, họ đang ở trại tạm trú chờ chuyến bay đi California. Trước khi đường giây bị cắt, nhà tôi có gọi điện thoại cho tôi. Nhà tôi hứa là trong ít ngày tới sẽ cùng với chiếc trực thăng hôm trước trở lại đón tôi. Tôi biết nhà tôi là người tháo vát, xông xáo, chuyện gì cũng có thể làm được nên tôi tin là nhà tôi sẽ trở lại. Vì vậy mà tôi chờ, chưa mất hết hy vọng. Tôi viết thư này cho chị với một đề nghị mà tôi nghĩ là chị sẽ không từ chối vì, hơn ai hết, tôi biết tình cảnh không còn chọn lựa nào khác của chị. Thực ra đây là ý kiến của nhà tôi, và cũng chỉ là một chuyện trao đổi đơn giản. Chị thì cần đi và tôi cần giấy thông hành, chúng ta có thể hợp tác trao đổi. Chị có thể cho tôi mượn giấy thông hành và vé máy bay của bác. Bác nói với tôi hồi chiều là hai bác không có ý định đi đâu cả, cho nên tôi đoán là bác chưa cần tới giấy thông hành lúc này. Khi anh Đặng trở lại với chiếc trực thăng, mà tôi tin chắc là nhà tôi sẽ trở lại, gia đình chị có thể tháp tùng tôi sang Băng Cốc. Tới đó rồi thì tôi vẫn sẽ tiếp đụng đóng vai là một thân nhân của gia đình chị cho đến khi nào chúng ta đến California. Khi sang tới Mỹ rồi thì tùy ý chị muốn ra riêng hay ở chung với chúng tôi bao lâu cũng được. Trong trường hợp nào thì chúng tôi cũng xin hứa sẽ là những người bạn đồng hành tốt nhất của gia đình chị. Xin chị nhớ cho là chúng ta phải hành động ngay vì không còn thì giờ nữa. Tôi sai một người giúp việc khỏe nhất qua để giúp đưa chị và các cháu sang nhà tôi. Khi chị đến đây thì chúng ta sẽ đi ngay đến tòa đại sứ. Tôi có cách để lọt vào trong. Xin chị rán giúp để tôi có thể gặp lại các con tôi. Chị là hy vọng cuối cùng của tôi đấy. Nguyện xin Bồ Tát phù hộ chúng ta. Thân mến, Nguyễn Đặng.”
Sau khi đọc xong lá thư, mẹ tôi nhướng mắt nhìn ông bà ngoại tôi hỏi ý kiến. Không ai nói lời nào. Cuối cùng mẹ tôi lên tiếng phá tan sự im lặng ngột ngạt: “Ba nghĩ thế nào?” “Theo như bà ấy nói trong thư thì con không còn cách nào khác, trừ trường hợp con muốn giữ mấy đứa nhỏ ở lại đây, mà điều đó thì ba nghĩ là con không bao giờ muốn. Cho nên nếu ba là con thì ba sẽ đi ngay đến đó.” Ánh mắt của ngoại tôi chùng xuống theo từng lời ông nói. Bà ngoại tôi cũng đồng ý với chồng: “Con rán thử lần nữa coi sao. Còn nước còn tát. Cứ lấy giấy thông hành của má mà đi đị” “Còn vú Loan thì sao?” Tôi hỏi, nghe giọng mình vang lên lạ lùng như trái banh dội đi dội lại trong phòng. “Con Loan sẽ ở lại đây chăm sóc cho ông bà, phải vậy không Loan?” Ông tôi nói thay cho vú Loan. Ông nhìn thẳng vào mặt chị, cái nhìn của ông diễn tả nhiều hơn những lời ông nói. “Thưa bác, vâng.” Vú Loan trả lời. Nét mặt chị không buồn không vui. Chị cúi mặt nhìn xuống đất, không nói gì thêm mãi cho đến khi chúng tôi rời nhà. Chúng tôi lặng lẽ từ giả mọi người rồi theo người dẫn đường của bà Đặng bước ra ngoài trời đêm. Bên kia đường, chuông đồng hồ trên nóc nhà thờ Đức Bà điểm ba tiếng. Nhà bà Đặng cách nhà chúng tôi chừng mấy block đường, chỉ mất chừng năm phút, qua một vài khúc quẹo là chúng tôi đến trước của nhà, không khó khăn gì mấy. Bà Đặng đón chúng tôi bằng một giọng nói nhỏ nhẹ nhẩn nhục, khác với thói quen nói năng rổn rảng ồn ào thường ngày. Mắt bà ta đỏ và sưng húp lên. Trong tay bà, một chiếc khăn giấy đã bị vò nát. Tóc bà rối bù như một cái ổ chim, chỉa lởm chởm trên đầu. Một vết lấm màu nâu sậm dính trên ngực áo bà trông như một bàn tay phù thủy mò mẫm bà mỗi khi bà cử động. Bà Đặng nắm chặt lấy tay mẹ tôi và cảm ơn liên hồi. Chúng tôi vào nhà ngồi trên chiếc trường kỷ trong phòng khách. Bà Đặng sôi nổi với niềm khích động mới mẻ: “Tôi biết thế nào chị cũng tới.” Bà ta nói. “Chị là tia hy vọng cuối cùng của tôi. Tôi cầu nguyện suốt đêm. Ngày hôm qua khi hay tin chị đi rồi, tôi điếng ruột điếng gan, không biết phải làm gì nữa. May sao con nhỏ ở của chị tới, tôi mới thấy còn chút hy vọng. Cảm ơn Trời Phật.” Bà hỷ mũi sột sột rồi cẩn thận chùi vào chiếc khăn giấy nhàu nát. Khi bà ngẩng lên nhìn mẹ tôi, mắt bà đầy lệ. “Chị Khuôn ơi, chồng tôi, con tôi đi mất hết rồi.” Bà rên rỉ thảm thương. “Tôi biết.” Mẹ tôi nói. “Xin chia buồn cùng chị.” Bà Đặng cố nén tiếng khóc: “Tôi có mặt ở đó.Tôi không làm sao có thể quên được.” Bà nói. ” Trên nóc tòa Đại Sứ với mấy đứa con. Thằng út Tuấn vẫn còn cầm chiếc cà rem sút cù là. Nó cố nhảy vào trong mình tôi. Ba nó và mấy người khác phải kéo nó ra. Thằng bé mới ba tuổi, nhưng chị biết không, nó biết chuyện gì đang xảy ra. Nó níu áo tôi gào lên “mẹ Ơi, mẹ Ơi.” Nghe tiếng nó khóc mà tôi tan nát ruột gan. Bàn tay nó dính đầy sô cô la còn dính trên ngực áo tôi đây.” Bà ta cúi nhìn xuống những vết kem hình một bàn tay nhỏ phía trên ngực và nở một nụ cười buồn bả. “Họ mang con tôi đi rồi. Tôi quỵ xuống khóc thảm thiết, tôi khóc lóc như mưa trong khi họ mang con tôi đi mất. Tôi chỉ muốn chết. Chị Khuôn ơi, tại sao lại xảy ra những chuyện như vầy? Chừng nào thì những chuyện kinh khủng này mới chấm dứt hả chị?” “Cũng sắp rồi. Chị nên giữ mình, chỉ còn vài ngày nữa chị sẽ gặp lại chồng con.” Mẹ tôi nói. “Chúng ta phải đi ngay bây giờ. Tôi không muốn nhà tôi trở lại mà không thấy tôi.” Bà ta đứng dậy, bước vội vả băng ngang căn phòng. “Chị sẳn sàng chưa. Chị muốn mang gì theo thì chuẩn bị ngay đi. Chúng ta đi ngay bây giờ. Xin lỗi phải gấp rút như vầy, nhưng tôi không thể chờ được nữa.” Bà vổ tay, hò hét một cách giận dữ với những người giúp việc đang chạy tới chạy lui thu dọn đồ đạc. “Nhanh lên! Nhanh lên!”
Tòa Đại Sứ nằm ngay phía bên kia công viên. Như đã tiên liệu trước, chúng tôi đụng ngay một đám đông dân chúng đang giận dữ bu quanh trước cổng. Họ kêu gào năn nỉ không một chút kết quả trước những người lính gác người Việt trang bị đầy đủ súng ống, đứng thản nhiên phía sau chiếc cổng sắt. Chúng tôi níu chặt lấy nhau để khỏi bị làn sóng người đẩy lạc ra xạ Bà Đặng hét lên với anh dẫn đường, cũng là người đàn ông đã sang nhà tôi mấy giờ trước đây, trao cho anh ta một thẻ căn cước màu vàng có hình của bà ta. “Tìm ông David. Chú có gặp ông ta rồi, nhớ không? Cái ông cao cao tóc vàng đứng ở góc đàng kia kìa. Cái ông duy nhất mặc thường phục đó. Chú không thấy mặt ông ta được đâu vì ông ta đang mang mặt nạ chống hơi độc. Thấy chưa? Tốt. Đưa cho ông ta cái này. Nói với ông ta bằng tiếng Mỹ, đừng nói tiếng Việt, bảo ông ta cho chúng tôi vào. Nhớ đưa cho ông coi thẻ này. Chúng tôi chờ ở đây. Đi nhanh lên trước khi ông ta lại trở vào trong.” Anh dẫn đường cầm lấy chiếc thẻ rồi không một chút chậm trể, lấn ngay vào đám đông. Chúng tôi lui ra xa một chút đứng nhìn anh ta tả xông hữu đột tiến lại gần chiếc cổng. Mắt mọi người đều đỏ hoe và sưng lên vì hơi caỵ Anh dẫn đường gây được sự chú ý của người đàn ông Mỹ nhờ quơ quơ chiếc thẻ trước mặt ông ta.
David thò tay qua khung cổng sắt đón lấy chiếc thẻ rồi đảo mắt nhìn quanh tìm bà Đặng. Cách một con đường, chúng tôi nhảy choi choi, quơ tay trong không khí để ông David có thể nhìn thấy, đồng thời kêu lớn tên ông. Nhưng trước khi ông ta có thể mở cổng cho chúng tôi vào, những người lính lại xịt hơi cay vào đám đông. Mọi người ngã lăn ra đất, vừa há miệng ra để thở, vừa ói mửa.
Những người quân cảnh vội vàng mở cánh cổng sắt, dùng nòng súng đấy đám đông ra xạ David và ba người quân cảnh khác xông về phía chúng tôi. Ông ta ôm ngang hông bà Đặng kéo bà băng ngang đường. Bà giảy dụa chỉ về hướng chúng tôi, vừa la lên bằng một thứ tiếng Anh bập bẹ: “Cho họ theo với. Họ là bạn tôi. Hai đứa con trai và một bà. David giỏi lắm. Cảm ơn, cảm ơn. Họ đi với tôi, bằng trực thăng. Xin làm ơn.”
Chỉ một thoáng, David hiểu ra ngay những điều bà muốn nói. Ông ta ra dấu cho mấy người lính. Một người bồng thằng em tôi, một người nữa vác tôi lên vai. Người cuối cùng bồng mẹ tôi trong đôi tay đầy lông lá của mình. Tôi há miệng ra thở, phổi chứa đầy hơi cay như muốn nổ tung. Tôi không lên tiếng được, không thở được, cũng không thấy gì khi bị vác đi ngang đám đông như một bao gạo. Nhưng tôi cảm nhận được những bàn tay giận dữ cào cấu, níu kéo lấy tôi từ mọi phía. Tôi nhắm mắt và thầm mong rằng mình chết đi cho thoát nợ.
Cuối cùng tôi được đặt nằm trên một nền xi măng láng bóng. Một người nào đó phủ lên mặt tôi một chiếc khăn ướt, tạm thời làm giảm những cơn nhức nhối. Phổi tôi bắt đầu giản ra và tôi hít một hơi dài. Dưỡng khí tràn vào, xua đi những cơn đau đớn. Tôi cố gắng quan sát chung quanh. Dù hơi cay vẫn còn đầy trong không khí, tôi cũng nhận ra là mình đang ở bên trong tòa Đại Sứ. Thằng em trai tôi đang nằm bên cạnh, khóc thút thít, tiếng khóc của nó yếu ớt nghe như tiếng một con mèo con đang đói bụng. Tôi nghe tiếng mẹ tôi đang dỗ cho nó nín. Một tia nắng mặt trời chiếu xuyên qua khung cửa sổ trên cao nhảy múa trên người tôi. Hơi ấm của tia nắng như vỗ vào tóc tôi, thì thầm bên tai tôi rằng bình minh đã đến.
Bài 3 Sài Gòn, tháng Tư, 1975 Đến Sài Gòn, chúng tôi thuê một căn nhà hai từng nằm trên một con đường có nhiều ngôi nhà xây theo kiểu Tây. Cách đó vài block đường là Dinh Độc Lập, nơi tất cả các vị Tổng Thống của miền Nam đã từng cư ngụ. Không quen với khung cảnh mới, tôi và thằng em trai suốt ngày chạy lên chạy xuống thang lầu, thò đầu vào dòm tất cả các phòng, hoặc ghé mắt nhìn ra thế giới xô bồ bên ngoài qua các khe hở của khung cửa sổ. Cả hai đứa tôi, không đứa nào thực sự hiểu được vì sao gia đình phải dời vô đây. Trong khi cả gia đình chìm đắm trong lo âu, chúng tôi được thả lỏng để chạy nhảy khắp nhà.
Sài Gòn chìm trong hổn loạn. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bất ngờ từ chức vào ngày 23 tháng 4 năm 1975. Thu nhặt đồ tế nhuyển, cùng với tất cả tài sản, ông ta lên máy bay trốn ra khỏi nước. Quốc hội cố gắng trấn an quần chúng, bầu Trần Văn Hương lên làm Tổng Thống kế kiếp. Nhưng lại đến lượt ông phá kỷ lục là một người giữ chức vụ tổng thống ngắn nhất trong lịch sử Viêt Nam: 4 ngày. Chiều ngày 27 tháng 4, do sự yêu cầu của quốc hội, tân tổng thống Dương Văn Minh xuất hiện ở hành lang Dinh Độc Lập để ra mắt quần chúng. Minh kích thích quần chúng bằng một loạt những hứa hẹn nghe rất bùi tai. Nhưng cuối cùng, giống như cái chính phủ bát nháo của ông, cái kế hoạch nghe rất nổ của ông sụp đổ tan tành.
Qua các cuộc nói chuyện của người lớn tôi nghe lén được thì mẹ tôi mang chúng tôi vào Sài Gòn là để chuẩn bị trốn đi ngoại quốc nếu miền Nam sụp đổ. Trong mấy tuần lễ đầu, mẹ tôi móc nối được với một số người và chuẩn bị đầy đủ giất tờ xuất cảnh cũng như giấy máy bay để chúng tôi có thể rời nước bất cứ lúc nào cũng được. Tuy nhiên, cứ mỗi lần chúng tôi dự tính ra đi thì ông bà Ngoại tôi nhất định không chịu đi theo. Thêm vào đó, Sài Gòn có vẻ như không muốn nhận cái thực tế phủ phàng đang xảy ra trên cả nước. Vẫn còn những cuộc hội họp, những buổi tiệc tùng thì vẫn còn hy vọng. Ngày nào chúng tôi cũng chào từ biệt các người bạn của mẹ tôi. Con đường ra đi của chúng tôi không có vẻ gì trở ngại, ngày nào cũng có máy bay lên xuống phi trường, và chúng tôi được bảo đảm là sẽ có chỗ. Chúng tôi nán lại trong thành phố và chờ đợi.
Trong nhà, tình trạng căng thẳng giữa mẹ tôi và vú Loan không có cách gì giải quyết được. Vú Loan tìm mọi cách tránh mặt mẹ tôi, nhưng đó là điều không thể nào làm được vì mẹ tôi có vẻ như hiện diện khắp mọi nơi, mọi chỗ. Không còn bận việc như lúc còn làm ở ngân hàng, mẹ tôi có vẻ như đang mấp mé bên bờ của sự khủng hoảng. Cái tính nết thất thường của bà càng trầm trọng hơn khi chúng tôi nhận được tin tức ở nhà do dì tôi chuyển vào.
Dì tôi báo tin rằng từ khi Việt cộng chiếm Nha Trang vào ngày 2 tháng tư, dì đã bị chỉa súng ăn cướp mấy lần. Gia đình dì tôi đã rời bỏ căn biệt thự nhà Nguyễn sau khi bọn cướp tràn vào lấy mất chiếc Mercedes của mẹ tôi cùng với một số tư trang, tiền bạc bà cất dấu trong nhà.
*
Rạng sáng ngày 28, trước khi mặt trời mọc, mẹ tôi nghe được cái tin mà mọi người đang chờ đợi: một giọng nói hoảng hốt loan báo trên đài phát thanh rằng Việt Cộng đang vào Sài Gòn. Mẹ tôi sai Loan kêu tôi dậy. Không một lời giải thích, vú Loan dắt tôi xuống tầng dưới, một căn hầm rộng 4×5 thước tây mà người chủ nhà trước đã đào trong nhà bếp phòng tránh đạn trong trường hợp có giao tranh. Mọi người khác trong gia đình đều đã có mặt. Trong một góc tối, bà ngoại tôi ngồi như một bức tượng bên cạnh một bóng đèn mờ. Trên tay bà đang cầm một xâu chuổi được kết lại bằng những hột bồ đề lấy từ loại cây bồ đề nơi Phật Thích Ca đã ngồi tu luyện trước khi thành chánh quả. Ngón tay ngoại tôi lần đếm từng viên bồ đề, mắt nhắm nghiền, miệng lâm râm những lời khấn vái không nghe ai nghe rõ. Bên
cạnh bà, ông ngoại tôi ngồi bên chiếc bàn duy nhất trong phòng, tay bịt tai như không muốn nghe những tiếng động kinh khiếp bên ngoài. Chiếc gậy mây ông mua từ hồi giải ngũ, sau khi bị thương ngang mông trong thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bực đại úy, đặt nằm bên cạnh.
Cách đó vài bước, ông Lâm nằm trên chiếc sofa, với mái tóc đen bóng sấy chải kỹ lưỡng như thường lệ. Trông ông ta có vẻ tươi tỉnh và thoải mái. Trong một chỗ khuất, thằng em tôi đang đứng bên cạnh mẹ tôi, tay ôm con gấu nhồi bông ngang ngực. Mẹ tôi đứng tựa lưng vào cửa sổ, tóc cột túm ra sau gáy, mặt bà xanh xao không trang điểm trông già cổi, khô rốc dưới ánh sáng mập mờ. Một tay bà đặt ngang chiếc bụng chữa đã khá lớn vun lên dưới lớp áo ngủ như có ý muốn bảo vệ chiếc bào thai trong bụng. Lúc tôi và vú Loan bước vào phòng thì mẹ tôi đang bàn chuyện với ông ngoại tôi.
“Thưa ba, chúng ta phải rời khỏi đây ngaỵ” Mẹ tôi nói. “Chúng ta không còn nhiều thời gian để lảng phí nữa.”
Ông ngoại tôi bỏ hai tay ra ngẩng đầu lên. Hai mắt ông là hai hố sâu chứa đầy sợ hãi, nhưng ông lắc đầu kiên quyết:
“Ba đã nói với con nhiều lần rồi, và bây giờ ba nhắc lại lần nữa là ba sẽ không đi đâu cả. Ba sinh ra trên mảnh đất này thì sẽ chết trên mảnh đất này. Cả mẹ con cũng vậy.”
Bà ngoại tôi vẫn lặng lẽ tiếp tục cầu nguyện, không tỏ lộ một chút xúc động nào. Tôi không biết bà ngoại tôi có để tâm đến cuộc đối thoại hay không. Trong suốt cuộc đời làm vợ của bà, ngoại tôi chưa bao giờ làm một việc gì mà không có sự đồng ý của ông ngoại tôi. Ông tôi quyết định là quyết định cả cho bà rồi.
Ông ngoại tôi nói tiếp:
“Ba không thể sang Mỹ được. Ba không muốn đi tới một xứ lạ, không biết tiếng tăm, không biết phong tục tập quán. Ba thà chết ở đây, dưới tay bọn Việt Cộng, bên mồ mả tổ tiên hơn là sống vất vưởng như cái bóng ma bên những người ngoại quốc xa lạ. Con đi đi. Đem các con của con theo. Đừng có phí thì giờ chờ đợi ba và mẹ con nữa. Đừng lo cho ba nữa, ba mẹ sẽ không sao đâu. Ba đã sáu mươi bốn tuổi, lại tàn tật. Chẳng có ai trên thế gian này, kể cả trong cái thế giới của việt cộng, lại nở làm hại vợ chồng một ông già như bạ Đừng vì ba má mà trể nải công việc.”
Mẹ tôi vẫn nài nỉ:
“Con năn nỉ bạ Xin ba nghĩ đến mấy đứa cháu của bạ Ba cũng biết là con không thể bỏ ba mẹ một mình ở đây được mà; nhưng nếu con ở lại thì các cháu lãnh đủ.”
Ông tôi quyết liệt:
“Ba không đi đâu cả. Bất cứ con nói gì cũng không làm ba đổi ý đâu.”
Mẹ tôi hiểu được lòng yêu mến quê hương của ông ngoại tôi nhưng bà cũng ý thức được rằng Việt Nam là một xứ sở của kỳ thị. Qua bao nhiêu thế hệ liên tiếp chiến đấu chống lại sự cai trị của ngoại xâm, từ Tàu, Nhật, đến Pháp, thành kiến đó đã mọc rễ trong đầu của tất cả mọi người Việt Nam. Vì lẽ đó mà mẹ tôi lo sợ cho tương lai của hai anh em tôi.
Chín năm trước, một kỹ sư người Mỹ sang làm việc tại Sài Gòn đã mướn mẹ tôi làm thông ngôn; rồi tình yêu nảy nở giữa hai người, và kết quả là tôi đã ra đời trong mối quan hệ dị chủng đó. Nước da trắng và mái tóc quăn của tôi tố cáo rõ ràng nguồn gốc của cha tôi. Có lẽ sự hiện diện của tôi làm thức tỉnh lương tri của ông hoặc có lẽ cảm động về tình yêu thắm thiết của mẹ tôi mà trước khi về nước ba tôi đã vét hết số tiền có được trong ngân hàng trao cho mẹ tôi. Số tiền hơn ba chục ngàn Mỹ kim ông trao cho chúng tôi thời đó là một gia tài lớn đối với bất cứ người Việt Nam nào. Mẹ tôi dùng số tiền này, và sự quen biết của mình để mua một cổ phần trong một ngân hàng.
Vài năm sau mẹ tôi lại kết hôn với một sĩ quan người Mỹ, và Jimmy, em tôi, ra đời. Cha Jimmy rời Việt Nam vào năm 1971, cùng với những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam trở về với gia đình họ. Ông cũng là một người tử tế. Số tiền ông để lại đủ cho mẹ tôi trang trải nợ nần mắc phải sau khi cất ngôi biệt thự và còn dư để sửa sang, tu bổ thêm nhiều chỗ. Mẹ tôi cho xây một bức tường cao chung quanh ngôi biệt thự, không những để tránh những con mắt tò mò của thế nhân mà còn để che dấu chúng tôi với thế giới bên ngoài, giống như che dấu một điều ô nhục. Cứ như chúng tôi là một loại không nên được phô bày ra.
Nhưng đến bây giờ thì mẹ tôi đã ý thức được rằng chẳng có cái bức từng nào trên thế gian này có thể che chở cho chúng tôi khỏi bị xã hội ruồng bỏ, rẻ rúng. Cái bí mật mà mẹ tôi luôn luôn tìm cách che dấu lại là một điều không thể nào che dấu được. Trong nỗi tuyệt vọng, mẹ tôi biết là chúng tôi sẽ phải lớn lên trong một xã hội đầy thành kiến, sẽ bị bỏ rơi như một loài lúa mọc hoang. Cho nên hy vọng duy nhất của chúng tôi là rời khỏi Việt Nam đến một nơi ít thành kiến hơn. Mẹ tôi ôm hai chúng tôi trong tay, nhìn ông ngoại tôi với nét mặt buồn rầu.
“Xin ba tha lỗi cho con.” Mẹ tôi nói. “Vì tương lai của các cháu, con phải ra đi”
Mẹ tôi quay sang nhìn Loan, giọng bà chùng xuống:
“Loan. Đi lấy hành lý.”
Rồi bà bảo chúng tôi:
“Lại hôn từ giả ông bà ngoại đi. Nhớ hôn cho thật lâu. Đây là lần cuối cùng các con thấy ông bà ngoại.”
Chúng tôi làm theo lời dạy. Bà ngoại tôi thả xâu chuỗi xuống nền nhà và ôm chầm lấy chúng tôi. Những giọt nước mắt chan chứa yêu thương lăn dài trên khuôn mặt đầy những vết nhăn khi bà ôm hôn chúng tôi. Ông ngoại tôi ôm tôi chặt đến nỗi gần như làm tôi nghẹt thở, và tôi có cảm tưởng như cái hôn kéo dài không bao giờ dứt. Ngoại thì thầm vào tai chúng tôi rằng ông yêu thương chúng tôi lắm. Cuối cùng khi vú Loan xuất hiện ở cửa với hành lý trên tay thì ông buông chúng tôi ra. Vú Loan giúp chúng tôi thay quần áo, thu góp một ít vật dụng cần thiết rồi dắt nhau ra xe.
“Đem con Loan theo với con. May ra nó có giúp được gì chăng.” Ông ngoại tôi vừa nói vừa đẩy Loan về phía chúng tôi.
“Ba nói sao?” Mẹ tôi dừng lại giữa phòng. “Nó không đi với chúng con được. Nó không có vé.”
Ông Lâm từ trước vẫn giữ im lặng, lên tiếng:
“Rồi sao? Ai cũng biết bà là người đàn bà nhiều quyền thế, bà muốn dời núi lấp sông gì mà không được. Nhưng không ai muốn bà làm chuyện đó, chỉ xin bà cho đứa con gái này đi theo thay vì bỏ nó lại đây. Thôi mà, đừng làm khó nữa. Lâu lâu làm phước một lần. Ai biết đâu được chuyện này sẽ để phước đức lại cho bà.” Mẹ tôi liếc nhìn ông ta trong khi ông ta tiếp tục nói: “Tôi nghĩ là được. Bên ngoài đang lôn xộn, cảnh sát không thể kiểm soát hết giấy tờ của tất cả mọi người được. Mà dù cho họ có hỏi giấy tờ đi nữa thì với sự quen biết rộng rải của bà, tôi tin chắc là chúng ta cũng có thể đưa lén cô ta theo được. Nhưng thật tình mà nói, vấn đề không phải là có làm được hay không nhưng là bà có muốn đưa nó theo hay không thôi.”
“Câm miệng ông lại.” Mẹ tôi nói.
“Được, bà nói gì cũng được.” Ông ta nhún vai rồi bỏ đi.
“Đem nó theo.” Ông ngoại tôi lập lại. Giọng ông nghe như một mệnh lệnh chứ không còn là một đề nghị nữa. “Ba có một món nợ lớn với ba nó lúc cả hai lãnh chung một viên đạn. Ba đã hứa với chú ấy là sẽ săn sóc cho nó. Lâu nay ba đã giữ được lời hứa ấy; bây giờ đến lượt con tiếp tục nhận lãnh cái trách nhiệm này. Ba mong con làm tất cả những gì có thể làm được để giúp cho nó, mà cũng là cho bạ Ngoài ra, nó còn có thể chăm nom săn sóc cho mấy đứa nhỏ. Thôi đi lẹ lên. Ra khỏi nhà trốn đi cho nhanh lên, đừng có cãi nhau nữa. Nếu vì một lý do gì mà con không thể đưa nó theo được ở ngoài phi trường thì ít ra nó cũng có thể trở về cho ba má biết tin tức của các con, hiểu chưa?”
“Dạ, thưa bạ” Mẹ tôi miễn cưỡng gật đầu. Không kịp cho mẹ tôi có cơ hội đổi ý, vú Loan chạy ào ra, leo lên xe ngồi nép vào trong một góc. Mẹ tôi lên xe sau cùng. Bà ngồi nhìn thẳng phía trước, như không muốn biết có sự hiện diện cô gái trong xe.
Lúc ông Lâm cho xe rời nhà, tôi vẫn trông thấy hai khuôn mặt buồn bả thê lương của ông bà ngoại tôi dán sát vào khung kính cửa sổ hình bầu dục của căn hầm chỉ cách mặt đất chừng một thước. Mẹ tôi ngồi thẳng lưng, mặt lạnh như tiền. Từ chiếc máy radio, vẫn giọng người nữ xướng ngôn viên chúng tôi đã nghe vào buổi sáng, run rẩy loan báo là Việt Cộng đã vào thành phố. Mức tiến công của Cộng quân như một đàn châu chấu tràn trên đồng lúa, nhanh chóng và không ngăn chận được.
*
Sài Gòn thở hấp hối những giờ phút tự do cuối cùng. Không khí hổn loạn tràn ngập khắp nơi; sự hoang mang hiện rõ trên nét mặt mọi người trên đường phố. Từng toán tù nhân có võ trang xông vào nhà dân, hò hét chạy ngược chạy xuôi trên đường phố, nổ súng bắn lên trời. Đường phố ngập đầy bàn ghế, lưu thông bị ứ động Những vật dụng bị ném ra đó được đốt cháy, có thể do vô tình mà có thể do hữu ý. Lữa khói bốc lên càng gây thêm bao nỗi kinh hoàng. Những người lính rã ngũ chạy khắp các ngã đường, quăng vũ khí vào thùng rác, hối hả lột bỏ những bộ quân phục cứ như nó đang bị đốt cháy. Vài đứa trẻ lạc cha mẹ đang co rúm người ngồi khóc ở một góc đường. Trên đầu chúng một ngọn dừa bốc cháy, những tàn lữa rơi phủ lên mình chúng. Từ trong khung cửa xe nhìn ra, chúng như đang bị thiếu sống trong một cuộc tế thần.
Chúng tôi không tiến được bao xạ Đường phố chật cứng một rừng người chạy loạn tuyệt vọng đang đổ xô về hướng phi trường. Khi ra đến đường lớn, chúng tôi nhận ra một sự thật phủ phàng là không thể đi đâu được cả. Ngút tầm mắt chúng tôi, con đường tràn ngập xe dân sự và những chiếc thiết giáp quân sự. Những tiếng kêu la đầy hãi hùng lo sợ vang lên trong không khí nóng bức. Người ta bỏ xe chạy bộ, chen lấn nhau, đạp dẫm lên nhau để tiến về phía trước. Xác chết bị dày xéo thành những hình thù kỳ dị, nhe răng nhe lợi như thách thức với cuộc đời. Cạnh chiếc xe chúng tôi chừng vài thước, trên vĩa hè, xác một người đàn bà có mang, bụng rách toang vì bị dẫm đạp lên, bên cạnh bà là cái thai nhi đang chết dần, rung nhẹ lên dưới đám ruồi nhặng bu đầy. Vũng máu đen dưới thân thể người đàn bà khô dần dưới sức nóng gay gắt của mặt trời. Mẹ tôi run rẩy thu người trên ghế, kéo chúng tôi vào sát mình bà. Dòng người cuốn nhau trôi đi như giòng nước. Tiếng khóc của những đứa trẻ lạc cha mẹ, tiếng kêu cứu của những người bị cướp, tiếng nhạc vang lên từ máy radio, tiếng súng nổ, tiếng rên rỉ của những người bị thương tất cả trộn lẫn thành một mớ âm thanh hổn tạp của một bản hòa tấu kinh hoàng. Những tiếng kêu than ai oán bốc lên cao, hòa với những giọt nước mắt của tột cùng thống khổ bốc thành hơi quyện kín không gian như nước bốc thành hơi trong không khí.
Ngồi trong xe, tôi và thằng em trai sợ hãi không dám lên tiếng. Ông Lâm không còn cái vẻ thư thái vô lo nữa. Mái tóc dài của ông phủ lên chiếc trán trơn bóng đẫm mồ hôi. Những ngón tay cầm vô lăng của ông tái nhợt. Ông lắc đầu thở dài liên tục, hai mắt trợn tròn trắng dã.
Ông Lâm vừa nhận còi vừa hét ầm lên trong nỗi bực dọc. Ông quay sang mẹ tôi:
“Xuống mẹ nó xe đị” Ông cằn nhằn. “Ngồi mãi đây chẳng được gì đâu. Bà dắt mấy đứa nhỏ xuống đị”
“Ông điên rồi sao? Thử nhìn đám người kia coi; tôi không ra khỏi chiếc xe này đâu.”
Ông Lâm chồm sát vào mặt mẹ tôi. Những sợi gân cổ ông căng phồng lên như những con sâu. Hai người gườm gườm nhìn nhau. Cuối cùng ông Lâm lên tiếng trước:
“Vậy thì đưa vé máy bay và giấy thông hành của tôi đây. Tôi chán nghe theo lịnh của bà rồi, con đàn bà hung dữ. Có bà hay không có bà tôi cũng đị”
Mẹ tôi ngồi yên không nhúc nhích.
“Đưa ngay đây” Ông ta hét lên.
Tiếng hét giận dữ của ông ta dường như làm cho mẹ tôi giật mình. Bà lắc đầu như xua đuổi những ý nghĩ gì đó trong đầu rồi thò tay lấy chiếc bóp.
Ông Lâm nhìn theo bàn tay mẹ tôi.
“Đưa luôn cái vé và giấy thông hành của bà nữa.” Ông ta ởm ờ: “Tôi dắt con Loan theo với tôi.”
“Tại sao là nó?” Mẹ tôi hỏi.
Ông Lâm nhìn chăm chú vào một vật gì đó trên sàn xe.
“Nó đang mang thai đứa con của tôi.”
Vú Loan bật khóc tấm tức. Mẹ tôi làm ngơ không để ý đến Loan. Sau một tiếng thở dài, mẹ tôi nhìn ông Lâm dịu giọng:
“Tôi cũng đang mang thai đứa con của ông. Ông giải thích sao về chuyện đó với tôi? Ông không biết là tôi cũng mang thai con ông hay sao?” Mẹ tôi hỏi.
“Rồi sao? Bà không cần tôi. Bà chưa bao giờ cần đến tôi.” Ông ta nói bằng một giọng chua chát. “Tin tôi đi. Bà sẽ không hề hấn gì đâu.”
Ông ta giật lấy chiếc bóp trên tay mẹ tôi, lục tìm giấy tờ. Ngoài những giấy tờ cần thiết ông ta còn hốt một nắm giấy bạc. Vẫy vẫy nắm giấy bạc trước mặt mẹ tôi tuồng như để chọc tức, ông ta lên tiếng: “Coi như bà trả công tôi hầu hạ bà lâu naỵ”
Ngồi ở cuối xe, vú Loan cuối cùng lên tiếng: “Tôi không đi với ông đâu. Tôi ở lại đây với bà chủ.”
Ông ta quay sang nhìn Loan như nhìn một người điên, rồi nở một nụ cười nham nhở: “Tốt, cái thứ ở đợ ngu xuẩn. Cứ ở lại mà làm khách đị”
Ông ta lựa ra tấm vé và giấy thông hành cùng với chiếc bóp của mẹ tôi rồi ném trả lại trên đùi bà. Lão nhét tấm vé máy bay cùng với giấy thông hành vào túi quần trước. Miệng nở một nụ cười, ông ta ngồi lại vào ghế, sửa lại quần áo rồi mở cửa xe bước ra ngoài. Trước khi đi, ông ta còn quay lại nhìn chúng tôi:
“Cả đám ở lại vui vẻ.” Đó là những lời cuối cùng ông ta nói trước khi biến mất vào đám đông.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.