Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 18 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 12 Oct 2023

Kỳ 1 – Vụ đào thoát kỷ lục của đặc nhiệm Anh

TTO – Lực lượng đặc nhiệm gồm các đơn vị tinh nhuệ được huấn luyện nhiều kỹ năng chuyên biệt để thực thi nhiệm vụ đặc biệt trong chiến tranh không quy ước như hoạt động trong lòng địch, chống khủng bố, giải cứu con tin.

Chris Ryan lúc còn hoạt động trong SAS – Ảnh: INSTAGRAM

Có chiến dịch thành công và cũng không ít lần chiến dịch thất bại.

Tối 13-4-2022, Ngoại trưởng Ireland Simon Coveney đã đến thủ đô Kiev (Ukraine) để hội đàm với Chính phủ Ukraine về cách thức Ireland có thể tiếp tục hỗ trợ đất nước Ukraine bị tàn phá trong chiến tranh và bày tỏ thái độ ủng hộ nỗ lực của Ukraine gia nhập Liên minh châu Âu.

Theo báo Independent (Ireland), ông Coveney đến Ba Lan trước và được quân đội Ba Lan hộ tống đến biên giới Ukraine. 

Từ đây, lực lượng đặc nhiệm Ukraine hộ tống ông đến địa điểm an toàn ở Kiev đồng thời cùng với đội cận vệ cảnh sát Ireland cùng đi bảo đảm an ninh cho ông suốt chuyến thăm.

Phi vụ thám sát thiếu chuẩn bị

Nói chung, lực lượng đặc nhiệm là một trong những đơn vị then chốt trong quân đội các nước trên thế giới. 

Đơn vị tác chiến đặc biệt nổi tiếng nhất và được mô phỏng nhiều nhất thế giới chính là lực lượng đặc biệt không quân (SAS) của Anh như tác giả Leigh Neville đánh giá trong tác phẩm “Lực lượng ưu tú: từ A-Z về các lực lượng tác chiến đặc biệt hiện đại” xuất bản năm 2019. SAS đã sản sinh ra hình mẫu người lính đặc nhiệm can trường mà Chris Ryan là một nhân chứng sống.

Chris Ryan (tên thật Colin Armstrong) sinh năm 1961 gần Newcastle, gia nhập SAS năm 23 tuổi. 

Trong 10 năm làm người lính đặc nhiệm, ông đã tham gia nhiều chiến dịch công khai có, bí mật có, đã từng chỉ huy đội bắn tỉa và nhiều lần hoạt động ngầm ở nước ngoài. Chiến tranh vùng Vịnh bùng nổ năm 1991. 

Theo kế hoạch, các toán SAS của Anh phối hợp với biệt kích Mỹ sẽ xâm nhập sau phòng tuyến quân Iraq ở Iraq và Kuwait làm nhiệm vụ quấy rối và xác định vị trí các bệ phóng tên lửa đạn đạo Scud di động.

Đêm 22 rạng ngày 23-1-1991, một máy bay trực thăng Chinook của Anh cất cánh từ căn cứ tiền phương ở Saudi Arabia chở toán đặc nhiệm Bravo Two Zero thả vào sâu trong lãnh thổ Iraq. 

Toán đặc nhiệm gồm tám binh sĩ trung đoàn 22 SAS, trong đó Chris làm nhiệm vụ cứu thương. Toán đặc nhiệm đi bộ đến vị trí lập trạm quan sát dọc con đường tiếp tế chính của quân Iraq giữa thủ đô Baghdad và tây bắc Iraq.

Đến điểm lập trạm, toán đặc nhiệm mới nhận ra đất quá cứng nên rất khó đào hầm. Sau đó, máy truyền tin bị lỗi. Tuy bộ phận chỉ huy vẫn nhận được liên lạc nhưng toán không biết báo cáo đã được truyền tin hay chưa và không thể nhận chỉ thị phản hồi. 

Hơn 30 năm sau phi vụ thám sát ở Iraq, Chris giải thích với trang web Forces.net (Anh): “Chúng tôi có rất ít thông tin về địa hình, thời tiết, biên giới, bất cứ thứ gì. Trên thực tế bản đồ tôi dùng là bản đồ năm 1944. Áo khoác tôi mặc là áo từ Chiến tranh thế giới thứ hai, vì vậy phải nói trang bị ở mức tối thiểu”.

Một ngày sau đó, một người chăn cừu thuộc bộ lạc du mục Bedouin tình cờ bắt gặp toán đặc nhiệm Anh nên báo tin cho lực lượng dân quân Iraq. Chạm súng xảy ra. Toán đặc nhiệm quyết định bỏ lại các vật dụng không cần thiết và rút lui vì yếu tố bí mật không còn nữa trong khi quân Iraq với quân số vượt trội có thể bao vây. 

Song máy bay trên đường đến điểm hẹn phải quay trở lại vì gặp tình huống khẩn cấp. Toán đặc nhiệm quyết định dùng đèn chiếu báo hiệu cho các máy bay liên quân gần đó đến cứu rồi vô tình tách ra thành nhiều nhóm.

Đi bộ hơn 300km trên sa mạc

Chris Ryan cùng hai đặc nhiệm xác định hướng bắc và đi bộ về hướng biên giới. Trời lạnh đến mức đã có tuyết rơi. Ông kể: “Chúng tôi chỉ có hai khẩu súng… Tôi biết chúng tôi đang ở một nơi nguy hiểm. 

Tôi không quan tâm đến quân đội Iraq. Tôi biết vấn đề chúng tôi sắp đương đầu là giá lạnh và thời tiết”. Cuối cùng hai binh sĩ đi cùng không qua khỏi do hạ thân nhiệt. Vậy là Chris đơn thương độc mã trên lãnh thổ kẻ thù.

Sau bảy ngày tám đêm, ông đến được thị trấn biên giới Abu Kamal (Syria) sau khi đi bộ hơn 300km trong sa mạc. 

Ông nhớ lại: “Bảy ngày không thức ăn và ba ngày cuối cùng không nước uống. Tôi đã uống nước chảy ra từ một nhà máy hóa chất chứa đầy chất thải công nghiệp khiến tôi bị bỏng miệng. 

Vì vậy trong ba đêm cuối tôi không uống gì và cố đi bộ chừng 40km mỗi đêm. Tôi bắt đầu bị ảo giác, nhìn thấy hình ảnh con gái mình sống động đến mức tôi thấy mình chìa tay ra nắm lấy con gái và con gái tôi đã trò chuyện với tôi”.

Phía Syria đã bàn giao Chris cho đại sứ quán Anh. Ông được đưa về nước với thân thể đầy thương tích. 

Ông bị thương tổn do lạnh, sụt cân hơn 17kg, không còn móng, mủ chảy ra từ các chỗ phồng rộp, da lở loét nhiều chỗ và gan bị tổn thương. Trong toán đặc nhiệm tám người có ba người chết, bốn người bị bắt và ông là người duy nhất thoát khỏi Iraq. 

Đây là cuộc đào thoát dài ngày nhất trong lịch sử SAS. Các đặc nhiệm bị bắt được trả tự do sau khi chiến tranh kết thúc. Chris được thưởng huân chương quân công. Phi vụ thám sát xấu số đã trở thành chủ đề của nhiều cuốn sách và phim ảnh.

Chris đúc kết: “Bản năng và kỹ năng sinh tồn là một phần trong khóa huấn luyện cơ bản của SAS trong quá trình tuyển mộ”. Ông không còn đủ thể lực làm lính đặc nhiệm nên được phân công làm huấn luyện viên phụ trách tuyển mộ và đào tạo tân binh. 

Ông giải ngũ năm 1994, sau đó viết nhiều sách rất ăn khách và làm cố vấn cho các chương trình truyền hình với vai trò chuyên gia về sinh tồn và hoạt động đặc biệt. Ông còn thành lập công ty huấn luyện an toàn ở Mỹ.

Ông đưa ra những lời khuyên thiết thực về cách để tránh trở thành nạn nhân bị tấn công, bị bắt cóc, bị trộm xe, những gì cần làm nếu bị đe dọa hoặc bị bắt trong vụ tấn công. 

Ông hướng dẫn các mẹo như khi nào cần bỏ chạy, làm sao thoát khỏi kẻ tấn công, tự vệ thế nào hoặc nên làm gì nếu bị bắt làm con tin…

Bốn đơn vị chính của lực lượng đặc biệt Anh

SBS chống khủng bố tại Afghanistan năm 2001 – Ảnh: REDDIT.COM

Lực lượng đặc biệt Anh không phải là một đơn vị riêng, thường được bố trí thành nhiều toán nhỏ bí mật thực hiện các nhiệm vụ trực tiếp như đột kích, giải cứu con tin, chống khủng bố, tiêu diệt hoặc bắt sống trùm khủng bố, hoặc thực hiện một số nhiệm vụ sau chiến tuyến như thám sát, phá hủy mục tiêu, ngoài ra còn phụ trách huấn luyện binh lính nước ngoài.

Đơn vị nổi tiếng nhất là lực lượng đặc biệt không quân (SAS), hay còn gọi nôm na là “Trung đoàn”. SAS ra đời trong những năm 1941-1942, hiện nay gồm trung đoàn chính quy 22 cùng hai trung đoàn trù bị 21 và 23.

Kế đến là lực lượng đặc biệt hải quân (SBS) phụ trách giải cứu con tin trên tàu, giàn khoan dầu hoặc trong cảng, trinh sát dưới nước, phá dỡ mìn bẫy dưới nước.

Hai đơn vị ra đời sau này là trung đoàn trinh sát đặc biệt (SRR) và nhóm hỗ trợ lực lượng đặc biệt (SFSG). SRR hoạt động từ năm 2005 chuyên sử dụng tình báo tín hiệu và tình báo con người cùng máy bay không người lái để trinh sát trước khi đặc nhiệm đột kích.

SFSG ra đời năm 2006 phụ trách hỗ trợ huấn luyện, cung cấp quân, bảo vệ lực lượng, hỗ trợ hỏa lực hoặc tấn công nghi binh. Ngoài ra còn nhiều đơn vị hỗ trợ đặc nhiệm khác.

***************

Đại tá Charlie Beckwith muốn lập một đơn vị biệt kích ở Mỹ tương tự SAS ở Anh. Kế hoạch bị bỏ xó đến khi xảy ra vụ bắt cóc con tin ở Iran năm 1979. Từ một đội giải cứu con tin nhỏ, lực lượng tác chiến đặc biệt Mỹ đã phát triển đến 75.000 quân.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 12 Oct 2023

Sinh Hoạt Tổ, Toán

Đặng Chí Bình

Bài 6

Sau khi điểm xong, anh Vân quỳ lên (sàn trên, sàn dưới cách khoảng 1 mét 50, đứng lên không đủ) cứ lục đục sắp xếp quần áo với cái túi bát đĩa của anh trên cái kệ. Chiếc kệ gỗ làm dọc theo sát vách phía dưới của gầm sàn trên. Kệ đó ngay trên phía đầu nằm dùng để chăn màn, quần áo và những thứ vặt vãnh của mình. Mỗi người cũng được một khoảng dài 70 phân, bằng chiều rộng của chiếc chiếu mình đang trải nằm ở dưới sàn. Mãi một lúc lâu, Vân mới ngồi xuống, quay lại từ tốn. Giọng anh vẫn còn pha giọng miền Nam:

– Bình từ Hỏa Lò lên, đi cả ngày chắc mệt lắm?

– Lúc sớm, chứ bây giờ thì đã đỡ rồi!

Tôi vừa cười nhẹ, vừa trả lời. Để có “thượng phong” khi sớm Vân đã tỏ ra như đã biết rõ về tôi, tôi ghé sát gần Vân, hạ giọng:

– Vân chưa biết gì về tôi, chứ tôi đã biết về Vân hơi nhiều và…đã lâu.

Trong bóng tối mờ, một mắt của Vân mở to, long lanh đầy vẻ lắng lo lẫn ngạc nhiên. Anh hỏi hơi gấp:

– Anh biết về tôi thế nào?

Vân chưa nói hết câu, tôi đang được cái thích thú đã “trộ” ngược lại Vân thì anh Lân phía sàn bên kia, vừa kéo một điếu thuốc lào xong đứng ra giữa nhà nói to:

– Đề nghị các anh toán 2, hút thuốc rồi vào sinh hoạt tổ ngay để nghỉ sớm.

Tiếp theo đó, một anh có cái thân hình ngũ đoản. Đặc biệt có đôi môi dầy xám ngoét, cong tớn bọc lấy mấy chiếc răng cưa mốc thếch hô ra, to như những con nhộng tằm. Anh chừng 40 tuổi, tôi đã biết anh là Đinh Khắc Sản, do Toàn chỉ cho tôi khi còn ở ngoài sân. Anh ngồi từ trong sàn dưới phía cửa, thò đầu ra chỗ sáng nghễnh cổ, cao giọng nhưng vẫn khàn khàn như vướng đờm trong cổ:

– Tôi cũng đề nghị các anh toán 3 hút thuốc rồi ta sinh hoạt sớm.

Cả buồng lại ồn lên như một động cơ máy nổ lúc mới khơi động. Chỉ sau một, hai phút, các dáng hình đen thẫm tản mạn sàn trên, sàn dưới đã vón tồ lại từng cục rải rác khoảng cách đều nhau ở sàn dưới. Mỗi cục, tùy theo mươi hoặc mười lăm người là một tổ.

Từ lúc vào buồng tôi đã hơi có khái niệm: hiện nay tôi ở toán hai, là toán làm một thủ công do anh Lân làm toán trưởng. Toán này có 4 tổ gồm tất cả là 49 người. Toán 3 là toán xẻ gỗ do anh Đinh Khắc Sản làm toán trưởng. Anh có cái dáng dấp là một anh trương tuần ở nông thôn, mà tôi vừa nói đến ở trên. Tuy trong thực tế, trước đây anh là con một ông chánh tổng ở Phùng (Sơn Tây). Toán 3 chỉ có 2 tổ xẻ gỗ và một tổ rèn gồm 45 người. Toán xẻ này, động tác nghề nghiệp đơn giản; chỉ có kéo xẻ bằng tay, nên không phức tạp, rắc rối như bên toán làm mộc.

Như vậy, buồng số 2 (tức buồng ở giữa) tổng số là 95 người, kể cả tôi mới nhập. Do thế, toàn thể phân trại E tôi đã có thể dự đoán xấp xỉ trên dưới 300 người; sống âm thầm ở một nơi khuất nẻo sâu mãi trong rừng già.

Thì ra Phan Thanh Vân là tổ trưởng, tổ II của toán 2. Họ ngồi quây tròn, sinh hoạt ngay sát chỗ tôi. Riêng tôi, vì chưa được phân bổ về tổ nào nên đem mấy tờ nội quy, tiêu chuẩn cải tạo ra đọc. Thực ra tâm tư của tôi lúc này cũng đang bồng bềnh, chìm nổi với bao nỗi niềm ngược xuôi của một kiếp tù. Tôi chỉ muốn những phút vắng lặng, nằm yên hay ngồi trầm lắng để lần giở da diết cõi lòng. Vậy mà những lời phát biểu của cái tổ II ở bên cạnh cứ ngoáy, chọc vào lỗ tai của tôi.

Tiếng của Phan Thanh Vân reng rẻng cố ra vẻ nói tiếng Bắc nhưng nhiều chỗ vẫn te te, cà cà của miền Nam:

– Hôm nay tổ ta cũng sinh hoạt như thường nhật. Hiện nay, tổ mình có nhận của toán một kế hoạch nhỏ là hoàn thành 50 giường cá nhân, thời gian ấn định là 15 ngày. Nhưng trong đợt thi đua lập thành tích góp phần cùng cả nước chào mừng nhân dân ta anh hùng đã hạ 2000 máy bay của giặc Mỹ xâm lược. Tổ ta sẽ hạ quyết tâm, ra sức phấn đấu vượt chỉ tiêu 3 ngày. Như chúng ta đều hiểu: lao động là phản ảnh của tư tưởng. Muốn lao động tốt, đạt được hiệu quả cao thì phải có tư tưởng tốt. Vậy anh em hãy xoáy mạnh vào vấn đề tư tưởng trong buổi sinh hoạt hôm nay.

Vân đã phát biểu xong, miệng hãy còn tóm tém. Cục hầu ở cổ chạy lên, chạy xuống mấy cái, có lẽ nuốt nước bọt vì Vân vừa nói hơi dài. Một con mắt của Vân ngó nghiêng, chớp chớp như một bên mắt của con gà mái đang mắc đẻ. Anh lướt nhanh một vòng như thúc giục, cổ vũ trong tổ phát biểu ý kiến. Gần một phút chết, nặng nề với những nét mặt đăm đăm, đắn đo nhìn nhau như dọ dẫm, đợi chờ. Bỗng một anh giơ tay cao nói rất đanh:

– Tôi có ý kiến!

Trong bóng mờ, tôi nhớ không lầm, chính anh này lúc chiều chia cơm đã phát biểu “biết ơn đảng và bác”. Vân, nét mặt đang nặng nề tươi lên roi rói:

– Hoan nghênh anh Khải, người nổ phát đầu hôm nay. Xin anh phát biểu!

– Tổ tiên mình đã dạy: “có thực mới vực được đạo”. Tôi muốn một người làm việc bằng hai, bằng ba lắm. Nhưng nếu muốn cho cái máy nó chạy 10 giờ thì dầu phải đổ đủ 10 giờ, nếu chỉ đổ cho 6 giờ thì 4 giờ nữa máy làm sao chạy?

Môi anh Khải vừa dề xuống để ngắt câu, mắt ai cũng loáng sáng lên như ngọn đèn cạn dầu được đổ thêm. Chứng tỏ, ai cũng thấy sướng cái tai nghe anh Khải phát biểu như thế. Nhưng chỉ một thoáng rất nhanh, nét hân hoan như ánh đèn pin lướt qua trong đêm tối rồi tắt ngủm. Mắt họ lại sầm xuống lộ dần lên nét phản đối. Họ đều nhao nhao lên, 3 người giơ tay xin phát biểu ý kiến.

Mặt Vân cũng đã bốc máu hồng. Anh chỉ tay vào một bác có đôi tai to như ông địa, chỉ có khác là cái mặt quá dài và hai bên má hõm vào nên hàm răng càng vẩu ra:

– Mời bác Chánh phát biểu trước!

Ông Chánh hơi dướn người lên, liếc nhanh khắp lượt rồi quay về phía anh Khải, giọng miền Nam đặc sệt:

– Ngay từ đợt tổng kết cuối năm vừa qua, anh Khải đã nhiều lần phát ngôn bừa bãi. Cụ thể nhất, anh ta mới được tha kỷ luật ra mươi ngày trước đây. Nhưng anh vẫn chưa gột rửa được những tàn tích phong kiến trong bộ óc đã đen kịt, cáu rỉ của anh, nên anh nhìn sự việc chỉ một chiều, cục bộ. Trong khi cả nước mọi người như một vì miền Nam ruột thịt. Anh lại cũng không nhìn thấy bao nhiêu anh em đồng phạm khác làm và đã làm nhiều hơn anh mà không hề kêu đói. Họ vẫn hăng say lao động để tạo ra nhiều của cải vật chất cho trại. Trên quan điểm khắc phục mọi trở ngại khó khăn, họ xả thân thi đua trong phong trào “một người làm việc bằng hai” để góp phần cùng toàn dân đánh thắng tên đầu sỏ đế quốc Mỹ thì anh Khải vẫn lẩn quẩn trì trệ. Tôi thấy đây là chỗ khúc mắc tư tưởng của anh Khải, đề nghị tổ phải mổ xẻ để giúp đỡ anh.

Không khí tổ II căng lên. Trong khi các tổ khác cũng đang có nhiều anh phùng mang, trợn mắt; tay chân hất lên, hất xuống say sưa phát biểu. Tôi cố cúi xuống đọc bản “12 điều nếp sống văn hóa mới” mà tôi chả hiểu gì cả. Mặt chữ cứ hoa lên nhẩy chồm chồm vì bầu không khí ngột ngạt, đầy những tranh giành, cấu xé lọc lừa nhau trong buồng đã lôi cuốn hết tâm trí của tôi rồi. Nỗi ưu tư càng lúc càng tràn ắp lòng tôi.

Mãi hơn một tiếng đồng hồ sau, anh Nguyễn Huy Lân, toán trưởng từ trong một tổ phía góc buồng lại đứng ra giữa nhà cao giọng:

– Hôm nay chỉ sinh hoạt thường lệ của tổ, đề nghị các anh tổ trưởng ghi nhận những vấn đề chính để ngày mai thứ sáu sinh hoạt toán sẽ cùng đưa ra thảo luận. Bây giờ hãy tạm nghỉ!

Nhiều người ở những tổ của toán 2, sau khi nghe anh Lân tuyên bố đã đứng bật dậy vặn người, vươn vai làm cho toán 3 cũng giải tán dần. Đa số đều dồn ứ về phía nhà xí, chen chúc chờ vào tháo cống. Mấy chiếc điếu cầy, thi nhau rít lên như những tiếng kêu van, rên xiết của những kiếp người bất hạnh đang ngập chìm trong tăm tối lầm than.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 12 Oct 2023

Một Mảnh Đời Tù

Đặng Chí Bình

Bài 5

Sau khi đã đặt cái rá lót ny lông xuống sân để lấy canh, tôi đưa mắt nhìn rãi ra chiếc sân trại dài. Đầy sân, lố nhố chừng mươi người một nhóm, ồn ào, xôn xao, như đang mổ bò lúc làng vào đám. Chợt có tiếng huỳnh huỵch, ầm ầm ở gần bụi nứa phía cuối hội trường, ngay dưới cái khẩu hiệu dài nền trắng, chữ đỏ choét: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Một anh chừng 40 tuổi thấp lùn, và một anh chừng 30 tuổi gầy nhỏng. Cả hai đang trợn trừng mắt chồm vào nhau để thoi, trong khi tên trật tự Tân đang cầm cái roi, phải nói là cái gậy vì bằng một đoạn song dài đến một thước, đang chạy từ phía nhà bếp đến.

– Mày qua mắt anh em sao được. Đã nhiều lần rồi, mày cứ xúc cơm trên đã bốc hơi cân cho bát của mày. Cơm dưới hoặc vừng, tảng còn ướt thì mày cân cho người khác. Lưu manh, lưu manh chính trị!

Anh thấp lùn đang choi choi xỉa tay về phía anh gầy, hổn hển nói từng lời ngắt quãng. Anh gầy cũng chẳng vừa. Anh dề cái miệng, cong cái môi nhọn ra như môi con heo nái:

– Im mẹ cái mồm đi! Cứ làm ra cái vẻ trí thức, mồng 2/9 vừa qua đứa nào bưng soong thịt của toán từ nhà bếp lên, bốc thịt bỏ túi? Trí thức vét phân!

Tên Tân vừa chạy đến nơi, thấy không còn đánh nhau nữa. Dù vậy, có thể muốn chứng tỏ cái quyền uy của một người trật tự, y dứ dứ cái roi song về phía 2 người còn đang cãi nhau:

– Các anh là con người hay con vật? Miếng ăn mà cũng hục hặc đánh nhau!

Nghe tên Tân mắng 2 người, tôi liên tưởng tới thời gian y ở buồng số 4, xà lim II dưới Hỏa Lò Hà Nội, tới cái bánh chưng tới điếu thuốc. Một nỗi đầy vơi, khắc khoải với trò đời đen, trắng đang rỉ dần ra trong lòng tôi. Khi có những cảnh đời tốt đẹp, người ta thường dễ quên những ngày tối tăm, khổ đau của họ. Cảnh sôi động huyên náo như vậy mà chỉ 15 – 20 phút sau lại im phăng phắc, vì lúc này cơm, canh đã chia xong. Tùy theo chỗ dăm người, chỗ 3 người hoặc một mình, tìm một nơi riêng biệt để tận hưởng của ngọc thực ông trời đã ban cho loài người.

Một tay cầm chiếc rổ cơm, một tay cầm cái rá con đựng canh, tôi đang ngác ngơ, lúng túng để tìm một chỗ ngồi thì Toàn giơ tay vẫy vẫy tôi. Toàn đang ngồi ăn một mình trong một cái bàn khuất nẻo phía mấy tấm bảng đen trong nhà hội trường. Hội trường, hay cũng gọi là nhà ăn. Tuy có bàn ghế, nhưng trời mùa Đông, mới 5 giờ trong nhà đã mờ mờ tối nên đa số anh em thường trải những mảnh chiếu rách ngay ngoài sân ngồi ăn với nhau. Chỉ có một số người vì không có chiếu, hoặc thích ngồi trong bóng mờ để tìm cái thú vị trong cái ăn mới mò vào hội trường.

Tôi đã đặt cơm canh lên bàn. Tôi liếc nhìn đây đó tìm cách để ăn vì không có thìa, đũa thì Toàn đã moi trong chiếc túi con một cái cùi dìa bằng nhôm đã gãy cán, đưa cho tôi giọng niềm nở:

– Hãy dùng tạm cái này ăn rồi mai kia sẽ kiếm.

Tôi hơi xúc động đón nhận niềm dạt dào tình người của Toàn. Sau một vài câu chuyện thăm hỏi, Toàn lại ghé gần tai tôi vẻ thân tình:

– Anh Bình hãy dè dặt, thận trọng, ít ngày nữa anh sẽ hiểu.

Rồi Toàn thấp giọng nói như thì thào:

– Coi chừng Phan Thanh Vân nằm cạnh anh.

Tôi khẽ gật đầu và nhìn Toàn bằng ánh mắt đã hiểu ý. Ngay từ lúc mọi người đi lao động về, giữa biết bao nhiêu người tôi đã trông thấy hoặc đã gặp, có những ánh mắt nhìn tôi vừa như tò mò, soi mói, vừa như muốn làm quen. Nhưng hình như họ bị một áp lực chìm lẳn nào đó để rồi những ánh mắt ấy vừa chợt sáng, nụ cười vừa động đậy, đã rút lại ngay nghiêm nghị lạnh lùng. Qua những phút trao đổi của buổi mới gặp, tôi biết sơ qua là Toàn năm nay 23 tuổi. Lúc 9 – 10 tuổi, Toàn theo bố mẹ về nước. Vì có họ hàng thân nhân ở Hà Nội nên bố mẹ Toàn được nhà nước cho về sinh sống ở Ngọc Hà, vùng ngoại ô. Toàn đã đi học nhiều năm dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Nhưng qua những năm tháng, dần dần đời sống của gia đình càng khó khăn khổ cực. Ngay ăn uống hàng ngày cũng bữa đói, bữa no nên Toàn càng chán nản không thể học hành được nữa. Hơn nữa cuộc bắn phá của máy bay Mỹ cũng càng ngày càng ác liệt.

Chiến tranh và cuộc sống đã giằng co, kéo đẩy để Toàn cùng một người bạn nữa cũng ở Thái Lan về; rủ nhau tìm cách vượt biên bằng đường bộ, qua Lào trở về Thái. Sau bao nhiêu khó khăn nguy hiểm, khi tới biên giới Lào Việt thì không may bị bắt. Người bạn kia phải đi trại giam khác. Riêng Toàn, bị giam ở Hỏa Lò, Hà Nội 6 tháng rồi đưa lên trại trung ương số I Lào Cai và được chuyển ngay về phân trại E này từ đầu 1965. Toàn cũng bị án lệnh tập trung cải tạo 3 năm, đến nay đã quá hạn hơn 6 tháng rồi. Giai đoạn này Toàn tỏ ra rất bất mãn.

Toàn thích tâm sự thì tôi ngồi vừa ăn vừa nghe, chứ trong lòng tôi cũng đang rối bời với bao nhiêu lắng lo cho những ngày tới của cuộc đời. Suất cơm ngô tuy chỉ khoảng 2 bát cơm ở gia đình nhưng sau khi ăn xong, mắt tôi mới nhìn cảnh vật được rõ ràng. Quá mệt và đói từ sáng sớm tới bây giờ! Mãi lúc này tôi mới để ý nhìn 2 bông hướng dương to như 2 cái bát chiết yêu ở ngay đầu luống trước cửa buồng tôi. Mắt tôi cứ đăm đăm hướng về những đóa hoa vàng tươi mơn mớn đang đong đưa nhún nhẩy dưới mưa bay căng phồng sức sống đương thì. Chập chờn tôi gửi hồn về miền xuôi Hà Thành lẩn quất với dáng hình ai buổi sáng sớm hôm nay, thì một hồi kẻng rổn rang lên lanh lảnh làm rung rinh những ngọn nứa già đang lắc lư xào xạc với gió chiều.

Tiếng ồn ào lại réo lên như nồi cơm sôi già lửa. Mỗi người, mỗi nhóm tráng rửa qua thìa, đũa, bát bằng nước chứa trong những chiếc gầu tôn hoặc gỗ. Để kịp thời gian, ai cũng phải xuống chiếc giếng phía cuối nhà bếp lấy nước về trữ sẵn ngay từ lúc đang chia cơm. Tuy ai cũng ghé xuống chiếc rãnh giọt gianh cạnh hội trường để rửa. Dưới rảnh vẫn sạch trơn, chẳng hề có một hạt cơm hay cọng rau nào; cho nên vẫn không vi phạm điều nào trong 12 điều nếp sống văn hóa mới.

Sau hồi kẻng dứt là mọi người ở buồng nào vội vàng, đôn đáo vào buồng ấy; thứ tự ngồi hàng đôi. Theo quy định, người nằm sàn dưới ngồi phía trong, người nằm sàn trên thẳng chỗ, xuống ngồi phía ngoài. Mọi người đều ngồi xếp chân bằng tròng, thẳng lưng, hai tay để hai bên đầu gối; yên lặng, không một tiếng rì rầm.

Tên Tân xách chiếc đèn bão theo sau tên trung sĩ lúc sớm khám tư trang của tôi. Bây giờ tôi đã biết tên hắn là Cẩn, Chu Huy Cẩn, cán bộ trực của phân trại E. Y là người dân tộc thiểu số. Chẳng hiểu y có dính dáng gì với tên tướng Việt cộng Chu Huy Mân hay không? Một tay y cầm cuốn sổ điểm và chùm chìa khóa, một tay cầm cái bút. Khi tới trước cửa buồng, tên Tân đứng lại, tên Cẩn bước vào. Y thẳng đứng người, bước những bước đều nhau theo hướng phải. Mỗi bước chân là một đôi, y đi vòng chung quanh cái lối đi ở giữa nhà. Những lúc phải bước ngoặt sang phía trái hay phải, y đều xoay gót chân theo đúng tác phong quân sự.

Khi quành ra tới cửa, trong lúc y hý hoáy ký vào sổ trực, thì tên Tân đóng 2 cánh cửa lớn, khóa rồi chốt then ngang, bằng một súc cây bản 5 phân, 10 phân dài ngang qua cả hai cánh cửa.

Trong buồng, dù có một ngọn đèn bão thòng dây treo lủng lẳng ở giữa nhà nhưng ánh sáng chỉ mờ mờ, nhiều chỗ tối, chả nhìn rõ mặt người.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 12 Oct 2023

Người Xưa Mới Thật Là…Người Xưa

Đặng Chí Bình

Bài 4

Nhớ lại khi nãy nghe tên cán bộ hỏi tên Tân thì hôm nay là ngày 15 tháng, như vậy chỉ còn 15 hay 16 ngày nữa là đã Tết rồi. Tụi cán bộ Hỏa Lò để vừa đúng 15 ngày, hết hạn chống án, chúng đã vội vàng giải tôi đi ngay. Mà chỉ đi có một mình.

Giòng tư tưởng của tôi còn đang chảy dài về Hà Nội xa xôi thì tên cán bộ đã hối thúc:

– Ôm quần áo về buồng rồi hãy xếp!

Rồi y chỉ chiếc chiếu con và một chiếc chăn đơn đã nửa mục, khi nãy tên Tân đã mang đến:

– Chiếc chiếu và chăn kia phát cho anh. Phải triệt để bảo quản tài sản xã hội chủ nghĩa.

Mặc y nói, tôi cắm cúi túm vội bọc quần áo, rồi ôm chăn, chiếu đi theo y về phía căn nhà nằm ở giữa. Tay ôm bọc quần áo, nhưng mắt tôi đã bị mấy luống hoa dài, nằm dọc theo phía trước hè của mấy căn nhà cuốn hút. Nhìn thoáng qua những cánh hoa bách hợp, cúc đại đóa đang lắc lư, rung rinh theo từng làn gió nhẹ như đón chào, đã làm cho tâm hồn tôi giãn nở ra, bâng khuâng một vài giây trong cái dồn dập của buổi ban đầu đến trại.

Tôi theo tên cán bộ bước hẳn vào trong buồng. Căn nhà, trông hun hút thật dài, sàn trên, sàn dưới bằng gỗ để mộc, làm dọc theo hai bên vách nhà, để chừa ra một lối đi ở giữa nhà rộng chừng 2 mét. Cả buồng trống trơn, sàn dưới chỉ có 2 người nằm đắp chăn ở trong góc đang vội vàng bò dậy. Tên cán bộ chỉ cho tôi một chỗ ở sàn dưới, phía bên trong, gần ngay cửa ra vào. Tôi vừa để bọc quần áo và chiếc chiếu xuống sàn, y đã đưa cho tôi 2 tờ giấy in sẵn, nghiêm giọng:

– Từ ngày mai, đi lao động theo toán, nhưng tối về phải học thuộc 4 tiêu chuẩn cải tạo, 10 điều nội quy và 12 điều nếp sống văn hóa mới này. Trong một tuần, tôi sẽ gọi lên sát hạch, nếu không thuộc, anh sẽ chịu trách nhiệm.

Ngỡ ngàng, xốn xang với nhiều thứ mới, nên cho tới khi tên cán bộ đã ra rồi mà tôi vẫn còn ngồi ghệ vào mép sàn như bất động. Tay tôi vẫn còn mân mê 2 tờ giấy, mắt nhìn khắp căn buồng. Hai anh ở trong góc bây giờ đang lúi húi hút thuốc lào ở chỗ chiếc đèn con dưới gầm sàn. Kiểu chiếc điếu nứa này thật lạ, tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Nó có một chiếc nõ dài nghêu đến gần một gang tay. Tôi mỉm cười chào, khi 2 anh cũng vừa cười vừa tiến lại phía tôi. Một anh chừng 40 tuổi, dáng cao gầy cất tiếng khàn khàn hỏi tôi:

– Anh mới bị bắt vào?

Thấy tiếng anh trọ trẹ không rõ, tôi chỉ gật đầu và hỏi lại:

– Anh không đi lao động?

Xịt mũi mấy cái rồi anh từ từ:

– Hôm qua tôi có cái bệnh sốt!

Chỉ trả lời mấy tiếng mà anh cứ ngập ngừng, lúng túng mãi, tôi hỏi ngay:

– Anh tên gì?

– Tôi là Lý A Chén và anh này là Sín Cà.

Vừa nói anh vừa chỉ anh kia, đứng phía sau. Giữa lúc này thì đột nhiên nghe có tiếng ồn ào, sùng sục như chạy giặc ngoài phía cổng trại.

– Trại đã về!

Anh Chén vẻ nhớn nhác nói xong, rồi cả 2 anh hấp tấp về chỗ nằm đắp chăn như những người đang bệnh. Sau đó là những bước chân chạy rầm rập, đầy người chen chúc nhau vào buồng. Tiếng vất nón, ném áo tơi, tiếng bát nhôm, bát sành cọ xát, tiếng gầu tôn, thùng gỗ chạm nhau; tiếng chân chạy thình thịch, lẫn với những tiếng gọi nhau í ới buồng này với buồng kia. Tôi cứ ngồi ngây ra, mắt mở to nhìn một cảnh đời tất bật, lam lũ, lầm than. Hầu như ai cũng quần áo rách và nhem nhuốc, chỉ dăm ba người hoặc có chiếc quần lành hay áo không vá còn tươi mầu tro xậm.

Sau này tôi mới hiểu: một năm trại phát cho mỗi người 2 bộ quần áo. Phần vì sợi vải tạp không được bền, phần khác, lao động nặng nhọc quần quật với gió mưa, với mồ hôi, bùn đất nên chỉ 3-4 tháng là đã mục rách rồi. Cho nên ai cũng phải biết vá đụp cho lành nhất là vào những vụ Đông hàn. Cũng do khả năng và ý thích của mỗi người khác nhau, nên rất nhiều kiểu mũ, áo chằng đụp đủ mầu để che đầu, che tai.

Tôi đang ngẩn ngơ nhìn cảnh người chạy ngược xuôi vội vã trong nhà cũng như ngoài sân thì một bóng người mặc cái áo bông tã mầu nâu đất, to xù xụ. Chân anh đi dép râu dính đầy bùn, trèo lên sàn ngay cạnh tôi, để lấy 2 cái bát sắt to, tráng men mầu lá chuối non, cóc đã gặm nham nhở trên cái kệ phía trên đầu nằm. Tôi hơi ngỡ ngàng khi thấy anh chột một mắt. A, à Phan Thanh Vân đây mà! Trung úy phi công C47, trong điệp vụ máy bay bị bắn rơi ở Cồn Thoi, Ninh Bình năm 1960. Cũng là lúc mắt anh mở to nhìn tôi không chớp, nhưng có lẽ những thúc hối của việc cơm nước nên anh chỉ nói vội vàng:

– Tối vào buồng chúng mình sẽ nói chuyện.

Rồi hấp tấp, anh mang 2 cái bát sắt chạy ra sân. Tuy anh đã đi rồi, mà tôi vẫn còn băn khoăn ngạc nhiên. Lúc nhanh lại ký ức đầy hình ảnh xưa. Không! Chỉ có tôi mới biết về Vân, chứ Vân chưa hề biết về tôi. Do đấy, mai đây tôi sẽ phải làm sáng tỏ điều băn khoăn này của tôi.

Mãi lúc này mới thấy một anh chừng 40 tuổi, tay cầm một tập sổ sách vào buồng. Cởi chiếc mũ trùm tai, vất xuống chỗ sàn nằm ngay cạnh cửa ra vào, anh quay lại cười, chào tôi và niềm nở:

– Tôi là Lân, toán trưởng mà cũng là buồng trưởng. Anh có gì đựng cơm, canh đem ngay ra cho họ chia?

Lúng túng ra mặt, tôi làm gì có bát đĩa. Ngay lúc ấy, một anh ở sàn trên phía đối diện, cúi rạp người thò xuống một cái rổ con, bé như cái bát to:

– Tạm thời, cho anh mượn cái này để đựng cơm.

Chưa biết anh là ai, tôi chỉ biết giơ tay đón nhận tình anh và mỉm cười tỏ ý biết ơn. Anh Lân dẫn tôi ra sân, đến một chỗ túm tụm 9 -10 người đang đứng vây quanh 9 -10 cái vừa bát, rổ, rá con và một soong nhôm cơm ngô xay vàng ươm (hạt ngô xay vỡ thành nhiều miếng như tấm) đặt cả xuống nền sân đất. Một anh đang cầm cái môi con làm bằng một mảnh gáo dừa. Nhẹ nhàng, anh xúc từng môi cơm vào một cái bát nhôm, rồi đặt vào một cái cân do một anh đang cầm điều chỉnh. Cái cân thật đơn giản nhưng lại thật bén nhậy, chỉ vài hạt cơm hơn, kém đã thấy khác rồi. Nó chỉ là một chiếc que gỗ vót tròn, giùi 3 cái lỗ, khắc vài chỗ làm dấu nhất định, vài sợi dây và một hòn đá hay miếng gạch con là được rồi.

Khi anh Lân dẫn tôi đến nơi thì mấy người đều quay nhìn ra. Anh Lân quay lại cầm cái rổ ở tay tôi đặt xuống sân cạnh những bát khác. Tay anh chỉ vào con số viết bằng phấn ghi ở cạnh cái soong nhôm cơm:

– Anh Đồng, đây là anh Bình mới nhập trại, cùng ăn mâm của anh. Số soong ghi là 11 đấy!

Một vài anh quay lại mỉm cười với tôi như chào rồi lại tập trung mắt vào cái cân cơm. Bỗng một anh kêu tướng lên:

– Có chết cha người ta không chứ! Từ nãy, mình cứ đinh ninh 10 suất như mọi khi. Thấy soong cơm đầy, mình cứ lẩm nhẩm tạ ơn đảng, ơn bác mãi. Bây giờ thì xin rút!

Chỉ một mình anh nói, mọi người mặt vẫn lạnh lùng, không một ai hưởng ứng. Một vài ánh mắt rụt rè liếc về phía tôi. Anh Lân lại kéo tôi sang một đám bên cạnh cũng có 10 cái bát vừa nhôm, vừa sành đủ loại, Một soong nhôm canh, rau và nước đen sì, nhìn mãi mà tôi chưa hiểu là canh gì. Cho đến khi, một anh gắp từng miếng sau vào từng bát, tôi mới biết là lá rau cải bắp già. Nhưng không hiểu họ nấu với muối hay mắm gì mà lại có mầu đen. Anh Lân lại lên tiếng:

– Anh Bình đây chưa có bát đĩa, ai có tạm thời cho anh mượn bữa nay?

Một anh còn rất trẻ, chỉ chừng 20 hay 21 tuổi là cùng, quay lại vồn vã kéo tay tôi theo anh vào buồng. Anh trèo lên sàn trên, lấy cho tôi một cái rá con tý đã bục rách một bên cạp. Anh lục mãi trong bọc lôi ra một miếng ny lông xám đã cũ, nhẹ nhàng khéo tay, anh lót vừa vào chiếc lá để đựng canh. Tôi được biết tên anh là Toàn. Trong lúc trở ra chỗ chia canh, Toàn hỏi khẽ:

– Anh ở đâu đến?

– Hà Nội.

Toàn ghé gần vào tai tôi thì thầm:

– Em ở Thái về 1956.

Tôi đang định hỏi tiếp thì nhiều người ở phía mâm cơm đã hối hả giục:

– Mau lên còn vào buồng chứ!

Má của ta!

Đoàn Xuân Thu

Hồi thời Trung học, một giáo sư Việt Văn của tui là người Việt gốc Hoa nên rất giỏi chữ Tàu. Giảng một từ Hán Việt nào là thầy tui hay cầm cục phấn, chớ không phải bút lông vẽ lăng quằn lít quỵt một đống lãi của Trạng Quỳnh trên bảng.

Đám học trò không đứa nào hiểu cái gì hết ráo? Tui cứ thầm nghĩ trong bụng là tiếng Việt mình chưa hiểu hết thì mắc mớ chi mà học chữ Tàu hè?

Sau nầy tui thấy nghĩ vậy là sai bét nhè; vì tiếng Việt mình có nhiều chữ là từ tiếng Hán nên mới có từ điển Hán Việt của ông Thiều Chửu đó chớ?

Tui không phải khoái thơ văn Tàu, nhưng lại khoái ca dao. Khoái chí tử nên có lần nhờ thầy cắt nghĩa dùm câu ca dao: “Mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một, như đường mía lau”

Tui chỉ nghe chuối già, chuối xiêm, chuối sứ, chuối cau, chuối hột… hầm bà lằng chuối; chớ chưa nghe chuối ba hương. Thầy tui nói: “Hỏng biết”.

Tui không biết tiếng Hán; thầy không biết tiếng Nôm! Vậy là huề.
Sau nầy nằm gác chưn lên trán, tui thấy chuối ba hương không phải là tên chuối mà là nải chuối vùi trong khạp da bò, đốt tàn ba cây hương nó chín thơm hết biết.

Nghĩ vậy mà không biết trúng trật ra làm sao? Hỏi Google, Google cũng bí lù!

***

Ma cua ta 02Mà sở dĩ nhắc tới câu ca dao về Mẹ già mà toàn là nói về mấy món mình khoái hẩu xực không hè vì Ngày Từ Mẫu tức ngay Mother’s Day sắp tới 13, tháng Năm nầy đây.

Mà nhớ tới Mẹ, tui lại nhớ tới bài ‘Lòng Mẹ’ của nhạc sĩ Y Vân.

Nhạc sĩ Y Vân sinh năm 1933 tại Hà Nội. Mồ côi cha, nhà nghèo. Y Vân rất thương mẹ và các em.

Cuối thập niên 1950, Y Vân chơi nhạc cho các nhà hàng ở Sài Gòn. Hằng đêm, mẹ ở nhà giặt quần áo ở máy nước công cộng, có lần giặt đến 2 giờ sáng để ông có quần áo thay đổi mà đi trình diễn.

(Xin mở ngoặc ở đây là hồi xưa trong những xóm lao động ở Bàn Cờ đường Phan Đình Phùng hay chợ Hai Mươi, đường Phan Thanh Giản, ban ngày bà con mình phải xếp thùng dài dằng dặc trước phông tên để gánh nước về xài. Cho nên mẫu thân của nhạc sĩ Y Vân muốn giặt áo cho còn mình sớm hơn cũng không có được.)

Hình ảnh một từ mẫu thức đến quá nửa đêm giặt áo làm cho Y Vân tràn cảm xúc. Và bản nhạc Lòng Mẹ, điệu Slow, ton La thứ, theo nhịp võng ru con ra đời.

“Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu. Tình mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ. Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ. Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ…

Thương con thao thức bao đêm dài, con đà yên giấc, mẹ hiền vui sướng biết bao. Thương con khuya sớm bao tháng ngày, lặn lội gieo neo, mái tóc trót đành đẫm sương…”.

Y Vân mất ngày 28, tháng Mười Một, năm 1992 khi mới vừa đến tuổi ăn đáo tuế, tức 60 tuổi, như một phần số trong bản nhạc cùng tên ‘60 năm cuộc đời’ của ông.

Lúc Y Vân mất, thân mẫu ông nói:  “Người đời thường bảo: Con “đi” trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong!”Đúng là: Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt vào.

Sau nầy có những nhạc sĩ nổi tiếng khác cũng viết về người Mẹ như bài “Huyền thoại Mẹ” của Trịnh Công Sơn, nhưng bài hát nầy không xuất phát từ cảm xúc chân thật, chỉ là một huyền thoại về một người mẹ không có thật… nên thính giả nghe qua rồi bỏ.

Chỉ có bản Lòng Mẹ của Y Vân là chân thật nhất hay nhứt nên nổi tiếng nhứt từ xưa tới giờ.

***

Rồi sau khi chiếm được miền Nam, nhạc trên đài phát thanh và truyền hình chỉ ra rả những bài ca tụng chiến tranh, đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận… nên bà con mình ớn chè đậu thì cũng dễ hiểu.

Mãi cho tới năm 1985, chủ nghĩa CS trên toàn thế giới ngáp ngáp chuyển qua từ trần; nên bọn Tuyên huấn mới nới long lỏng một chút, cho hát những bài nhạc vàng ủy mị (‘Không ai đánh mà rên’ như lời cán bộ CS trước đó dè bỉu!)

“Dưới nắng hồng, tôi đi giữa, Gò Công/ Đất như cao, trời như thấp lại/ Trong khoảng không, trên sóng biển chập, chùng/ Chỉ còn lại, dáng mẹ hiền, Gò Công”

“Mẹ là tình, mẹ, biển, Đông/ Yêu nước dòng, sông Cửu Long,

Trong gian nan, giông bão, bao ngày/ Thời gian in, sương trắng, mái đầu”

Nghe cũng hay hay… nhưng đoạn kết lãng xẹt hè; (cho đúng với ‘lề phải’ nhe!)

“Trùng khơi, con sóng thì thầm, từng đêm như lời mẹ …ru/

Tình yêu… quê hương thiết tha/ Tình yêu non sông gấm… hoa!

Đất nước ơi… ngày vui thái bình/ Nay con về nghe tiếng đàn… mẹ…. ru!”

Ngày vui thái bình; non sông gấm hoa mà bà con ta ùn ùn nhào ra biển?

Sở dĩ gọi nhạc Gò Công là vì tác giả Hoàng Phương là người sanh đẻ tại Tân Thành, Gò Công năm 1943.

Ông không phải đi quân dịch vì bị tật chân nên sáng tác của ông mới được cho lưu hành chớ có liên quan đến lính tráng như những nhạc sĩ khác thì còn lâu.

Nói nào ngay Hoàng Phương đã nổi tiếng trước khi miền Nam lọt vào tay CS với bài “Hoa Sứ nhà nàng” do Chế Linh và Thanh Tuyền song ca.

Sau 30 tháng Tư, nhạc sĩ miền Nam mình chuyên về dòng nhạc trữ tình, tình yêu đôi lứa chung chung cũng bị chê là văn hóa đồi trụy, tàn dư nọc độc của Mỹ Ngụy nên đâu còn ai màng sáng tác nữa. Mà có viết thì cũng không cho phổ biến. Các hãng dĩa băng nhạc bị dẹp hết ráo rồi ai hát, ai thâu thanh?

Nhạc sĩ cũng cần cơm để ăn, cần tiền để sống chớ hỏng lẽ uống nước lạnh cầm hơi? Vậy là mạnh ai nấy tính. Người về làm ruộng, làm rẫy, đi kinh tế mới. Kẻ kha khá hơn, còn vàng cây, vàng miếng, là kiếm đường vượt biên ra biển.

Nhạc sĩ Hoàng Phương từ Sài Gòn lại khăn gói quả mướp về lại Gò Công làm nghề sửa đồng hồ và thợ bạc. Làm ăn khấm khá, đến năm 1985, ông mở thêm hai tiệm vàng là Kim Hoàng và Toàn Tân.

Năm 1986, khi Lê Duẩn đi bán muối; Nguyễn văn Linh leo lên được, coi bộ khoái chí tử, bốc đồng, (sau nầy lại run), ra lịnh những việc cần làm ngay là cởi trói văn nghệ sĩ.

(Té ra là từ 75 tới giờ văn nghệ sĩ nào cũng bị trói hết trơn hết trọi hè. Phải bị trói mới được cởi trói phải không?)

Rồi bản ‘Hoa Sứ nhà nàng’ lại được phát trên Phát thanh, Truyền hình. Vậy là cái máu văn nghệ bấy lâu xuôi xị êm re lại sôi ùng ục trong huyết quản, Hoàng Phương tự bỏ tiền túi ra làm băng nhạc Gò Công.

Chớ cứ ‘Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây’ mắc võng tòn ten hoài… mà không té. Rồi ‘Cô gái vót chông’; rồi ‘Mẹ đào hầm từ thuở lúc còn xanh nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc…’ mà cứ đào riết hoài… nên bà con mình ớn chè đậu đỏ…

Bà con mình thuở đó có đi qua Bắc Mỹ Thuận hoặc Bắc Cần Thơ nghe Tuấn Vũ, ca sĩ hải ngoại, theo các băng cassette nhét trong món quà cho quê hương, (đưa chút đỉnh tiền cho bọn Hải Quan ở Trạm Phát hàng Tân Sơn Nhứt để bọn chúng cho qua), làm mưa làm gió trên mấy cái máy cassette.

Để đua với Tuấn Vũ thì CS đưa em Bảo Yến ra chào hàng với những bài hát của Hoàng Phương gọi là Nhạc Gò Công. Và xưng tụng tác giả là Ông hoàng Nhạc Gò Công.

Ban ngày bên mặt, mấy quán cơm trên hai bờ Bắc còn e dè chơi nhạc Gò Công; chớ trời sâm sẩm sẩm tối, và hơi khuya khuya là xả giàn chơi nhạc Tuấn Vũ không hè.

Nghĩa là em Bảo Yến không thể nào ‘địch’ (xin đừng sửa lại trật lỗi chính tả nhe thầy cò) cho lại ca sĩ Tuấn Vũ, Việt kiều Mỹ. He he.

Năm 1989, Hoàng Phương cưới người vợ thứ hai là Mộng Vân. Hai người cất một căn nhà lá nhỏ trên bãi biển Tân Thành.

Nhưng thời đã hết; rất nhiều người sáng tác còn mùi mẫn hơn, không có cái vụ chen bất tử đất nước ơi ngày vui thái bình như hô khẩu hiệu vậy; nên ăn khách hơn; tiếng tăm Hoàng Phương, ông hoàng nhạc Gò Công dông luôn vào quá vãng. Vàng giả không bền là vậy!

Nên những năm cuối đời, Hoàng Phương suy sụp, phải bán cả hai tiệm vàng, nghề viết nhạc giờ lại bị ế, không nuôi nổi bản thân mình và vợ con nên người nghệ sĩ lăn lóc gió sương thường uống rượu giải sầu, lang thang một mình trên bãi biển.

Hậu quả của dục tửu phá thành sầu là Hoàng Phương lâm bịnh ung thư gan và mất ngày 19, tháng Mười, năm 2002.

Đám tang của ông được tổ chức tại căn nhà nhỏ tồi tàn của hai vợ chồng trên bãi biển Tân Thành trong sự lãng quên của nhiều người từng hâm mộ.

Con tằm phải trả nợ tơ mà. Hết tơ là con tằm hết kiếp! Ô hô! Ai tai!

Ngày Chúa Nhựt, 13 tháng Năm tới là Mother’s Day, ngày Hiền mẫu; tui lại lên Youtube nghe những bài hát về mẫu thân của nhạc sĩ Việt Nam mình.

(Chớ tiếng Anh tui dở ẹc nghe Mỹ hát về ‘Mum’ của nó là khó cho mình mà cảm hết! Chớ tui cũng biết bài nào nói về ‘Mum mum’ là cảm động hết trơn hè!)

Phải công tâm mà nói nhạc Việt nam mình, có bài làm mình cảm động một hai đoạn; chớ ít có bài nào làm mình cảm động suốt từ đầu tới dứt như bài ‘Lòng mẹ’ của nhạc sĩ Y Vân!

Tui cũng có Mẹ mà tui kêu bằng Má! Chớ hỏng lẽ tui từ đất nẻ chui lên. Tui thương Má tui cũng như mấy ông anh mình thương Mẹ vậy.

Nhưng cái khác Má tui hỏng phải là Mẹ Gò Công hay Huyền thoại Mẹ của Trịnh Công Sơn. Má tui là má của một thằng từng mặc áo lính, thất trận, đi tù CS.

Tui ở tù Má đi nuôi. Tui tù về Má đưa tui ra biển.  “Đêm ác mộng nhớ ngày năm cũ/ đưa con buồn, vàm, ngã ba sông, xót má xa con, trời vần vũ/ đêm mịt mùng… má sợ bão giông”.

Giờ Má tui mất rồi! Không trả hiếu được ngày nào hết trơn hè.

Má là quê hương! Quê hương là Má! Chắc Má tui hỏng có buồn trong bụng gì đâu!

Thằng con của Má là thằng tui; cũng tập tễnh viết văn làm thơ (dở ẹc) nhưng có cái hay là tui không bắt Má tui phải theo VC… như nhạc sĩ Hoàng Phương và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để tìm chút mồi cặn, rượu thừa!

Lợn lòng năm Hợi!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Oct 2023

Mùa khô (tháng Mười Một tới tháng Tư năm sau), sông Cửu Long vào mùa cạn kiệt. Gió chướng đầu mùa khô như báo là Tết tới sát bên ‘đít’ rồi, bà con ơi! Hãy cụ bị mà ăn Tết.

Năm nay, năm Kỷ Hợi, con heo, tui lại nhớ tới thịt heo, lòng heo. Trong tứ khoái, ăn, ngủ là tui khoái nhứt; do đó anh bạn văn biết ý, chúc mừng năm Hợi sướng như heo nhe!

Bà con mình ai cũng biết người theo Ấn Ðộ giáo thì bị cấm ăn thịt bò; người theo Hồi giáo, Do Thái giáo bị cấm ăn thịt heo vì cho con vật nầy ô uế. Chuyện ăn món nầy cữ món kia là quyền tự do cái miệng của họ.

Riêng tui khoái nhứt là món ‘thịt sống’. Xin mấy ông anh có thói trăng hoa, hảo ngọt nghe vậy, đừng vội vàng kết nạp tui vào đảng những người chồng hư đốn! Món thịt sống ở đây là ‘nem’ làm bằng thịt heo quết nhuyễn rồi để lên men, hơi chua chua đấy ạ.

Úc đây ít chen vào đời tư người khác, nhưng đụng chuyện ăn uống nó lại đi ‘bốt đờ sô’ vô đời tư của mình, tò mò, tọc mạch rồi muốn thử ăn cho biết. Úc rất thích phở bò, phở gà, chả giò, bánh mì thịt! Còn như mắm kho là nó bịt mũi, hột vịt lộn là nó bịt mắt chạy thiếu điều mất dép.

Thịt bò dân Úc khoái nhứt hạng nên đánh trống thổi kèn: thịt bò Úc ngon hạng nhứt thế giới, nếu không có thịt bò Kobe Nhựt Bổn đi thi. Nếu có, thịt bò Úc xuống hạng nhì.

Thịt heo nó cũng ăn như xúc xích (sausage) miền Bắc gọi là dồi; miền Nam kêu lạp xưởng; giăm bông (jambon), đùi heo sống được xát muối rồi sau đó phơi khô hay hun khói để giữ được lâu.

Còn bộ đồ lòng, hình như Tây chỉ khoái món patê (pâté) là gan ngỗng thêm mỡ, rau, gia vị, rượu vang để phết lên ruột bánh mì. Còn ngoài ra Tây bỏ hết ráo, không ăn, vì cho rằng trong bộ đồ lòng của con vật chứa nhiều vi trùng.

Thiệt là tào lao. Nấu trong nước sôi cả tiếng đồng hồ ông nội vi trùng cũng chết chớ đừng nói chi tới nó.

Tây không ăn ngay cả đầu, cánh, chân gà, vịt hay cá (thiệt là ngu thấy ớn hè!. Ðầu gà trong món gà xé phay để lên cái dĩa, lấy tô úp lại, lắc giống như lắc bầu cua. Cái mỏ gà hướng về đâu thì thằng đó uống. Cánh gà chiên bơ, chân gà tiềm thuốc Bắc, uống với la de là hết sẩy).

Khi lót tót qua Úc, em yêu thấy đầu heo, đầu cá Úc nó vứt vô thùng rác bèn mua rẻ về. Ðầu heo thì làm dưa cho chàng uống với beer; đầu cá nấu canh chua cho chàng ăn với bún. Tim, gan, phèo, phổi, ruột non, ruột già của heo Úc từng bỏ đi, em yêu nấu được biết bao nhiêu là món ngon, mình quất láng, ăn không bao giờ chán vì không bao giờ ngán. Thế là Úc không cho hay bán rẻ nữa, mà bán – và bán mắc. (đểu thật!)

Vì vậy công tâm mà nói trình độ văn minh ăn uống sao cho ngon của người Việt mình quả là cao hơn so với Úc, dù hình dáng mình lùn hơn tụi nó. Con heo dâng hiến hết cho xương thịt, kể cả bộ đồ lòng để nấu cháo lòng; chớ không phải cháo heo dành cho heo.

Trong ‘Ngọn cỏ gió đùa’ của Hồ Biểu Chánh (phóng tác theo Les Misérables của Victor Hugo), mất mùa đói kém, lũ con 7 đứa sắp chết đói tới nơi, nông dân cùng khốn Lê Văn Ðó lén bưng nồi cháo cho heo ăn nhưng chạy không thoát. Tù tới 5 năm!

Tui nghĩ nhà văn nước ta dựa vào sáng ‘tác’ của nhà văn Tây mà ‘phóng’; chớ miền Nam mình mưa thuận gió hòa, đất đai màu mỡ làm gì có chuyện đói đến nỗi phải đi ăn cắp cháo của con heo.

Hồi xưa, em yêu bán cháo lòng ngoài chợ. Sáng nào, trước khi đi dạy, tui tấp vô làm một tô. Riết rồi ghiền. Ngày nào không ăn người bần thần khó chịu sao đâu. Khách quen nên em ‘khuyến mãi’ dụ khị tình tui, bằng cách thêm vài miếng phèo, một lát khế, chuối chát, chấm mắm nêm đút vô mồm nhai sừn sựt! Thiệt đã cái lưỡi. Tống tiễn miếng phèo tới bao tử bằng một hớp rượu đế! Tui thấy mình đang làm vua (cỏ).

Chữ rằng: ‘Thợ may ăn giẻ. Thợ vẽ ăn hồ. Thợ bồ ăn nan. Thợ hàn ăn thiếc’ (nghĩa là làm nghề gì ăn nghề đó). Từ ngày tui lấy em Bảy bán cháo lòng tui không còn lo đói nữa. Bữa nào trời mưa, em bán ế, tui nhậu với đồ lòng, gồm phèo non, dồi trường, cuống họng heo, gan heo, tim heo, bao tử heo, huyết heo để trừ cơm.

Hồi xưa tui tin nghĩa nhân của con người lắm đó. Nhưng từ lúc đọc được câu ca dao: “nghĩa nhân mỏng dánh như cánh con chuồn chuồn!” Tui không còn tin ai nữa… kể cả tin tui. Nên hoàn toàn giao phó đời mình cho em yêu bóp lúc nào thì bóp không phải là một hành động thức thời.

Lẳng lặng thủ thân mình, tui học cách nấu cháo lòng của em để lỡ mai thiếp lại sang sông. Không lo chàng … bán cháo lòng độ thân!

Công thức nấu cháo lòng em giữ khư khư như của gia bảo, không tiết lộ cho ai, kể cả cho người em dâng hiến hết thảy; vì e chàng manh tâm bội phản như Trọng Thủy ăn cắp được cái nỏ thần của Mỵ Châu rồi quất ngựa truy phong. Dẫu em không chỉ dạy, tui cũng rình chôm bí kíp.

Dĩ nhiên, đã gọi là cháo lòng thì phải có cháo và có lòng. Cháo thì lấy gạo rang với 2 muỗng mỡ nước đã phi hành thật thơm. Nấu 3 lít nước thật sôi, đập giập vài củ hành tím, bỏ hành vào soong nước cùng chút muối, kế đó bỏ tim, gan, bao tử, phèo vào luộc chín. Trút gạo đã rang vàng vào, chờ gạo nở nhừ, nêm vào soong cháo nước mắm, đường cát, bột ngọt, tiêu. Vậy là xong dễ ợt hè.

Tuy nhiên, cái bí quyết: một là phải được thằng cha bán thịt heo, vì bạn hàng quen, giữ mối ngày nào cũng giao bộ đồ lòng còn tươi roi rói, nấu cháo mới thơm.

Hai là rau ăn với lòng heo. Heo khoái ăn loại rau nào thì mình cũng ăn loại rau nấy! Nào là húng quế, tía tô, kinh giới, dấp cá, đinh lăng, xà lách, ngò om, ngò rí, ngò gai, lá lốt, lá sung, lá cóc non, rau muống chẻ, rau má, rau răm…Ðủ loại rau nhưng thiếu không được là chuối xanh, khế xanh xắt lát, bắp chuối hột xắt mỏng.

Món ăn hay món nhậu của Việt Nam mình rất kén nước chấm. Lòng heo chấm nước mắm tiêu, nước mắm ớt là trật lất. Cá nấu cháo mới chấm nước mắm tiêu. Gà xé phay chấm nước mắm ớt. Còn lòng heo phải chấm với mắm nêm nguyên chất với tỏi bằm, ớt tươi, hành khô, thơm hay khóm (chưa chín lắm còn chua chua mới đặng, mới giảm được cái độ mặn của mắm nêm).

Lai rai lòng heo, sương sương trước đi. Tim, gan, phèo non, phổi, dồi trường kèm rau sống chấm mắm nêm, nhai rau ráu, chiêu một hớp rượu đế để tống tiễn lòng heo về trong bao tử của mình.

Chấm dứt bữa nhậu là tô cháo nóng hổi, có mấy miếng huyết heo, vài cọng gừng xắt, bỏ hành, ngò, rắc thêm chút tiêu và một muỗng ớt bằm ngâm giấm. (Ðừng bỏ thêm giá sống hay giò cháo quẩy, giặm thêm vô lãng xẹt hà. Ăn cần ngon chớ đâu phải ăn như heo mà cái gì cũng ‘sạp sạp’?!)

Do đó Tết năm nay, năm Kỷ Hợi, tui sẽ khẩn cầu em yêu, thay vì rước ông bà bằng cháo gà nên thế bằng món cháo lòng cho nó hợp với năm con Lợn. Ôi em yêu, người phụ nữ đã gan cùng mình, theo tui từ thuở thanh xuân tới thời bạc tóc, xin tạ ơn em vì: “Ðang khi lửa tắt cơm sôi.Lợn kêu eng éc, chồng đòi tòm tem/Bây giờ lửa đã cháy lên. Cơm thời đã chín, tòm tem thời tòm!”

Cái gì mình muốn là em chiều, thế thì kiếm em khác làm chi cho chúng nó khi mình ngu?

đoàn xuân thu.

melbourne

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả : Nhật Tiến

Post by Sơn râu 10 Oct 2023

Bài 12

Sau nửa tiếng đồng hồ gập ghềnh trên con đường mấp mô, chiếc xe vận tải ngừng lại. Đây là lần đầu tiên Jimmy và tôi trông thấy nơi cư trú mới của chúng tôi.

Nhà của bác tôi nhìn ra một con phố đầy bụi bậm phía bên kia một khu vườn rộng, được xây cất từ hai mươi năm trước, có mái đỏ và những cây cột mầu trắng, kiến trúc theo kiểu Âu Á một cách kỳ cục. Các cửa sổ đều có cánh cửa mầu xanh mở ra phía ngoài, nhưng lớp sơn qúa cũ nên bị rạn nứt lung tung để lộ ra cả phần gỗ mục bên trong. Nhà chỉ có một tầng trệt, nhưng cao, gồm sáu phòng nhỏ, tường quét vôi trắng mốc meo nhiều chỗ.
Khởi sự, căn nhà được tính xây cho một gia đình ít người, nhưng rồi nhân số trong gia đình bác tôi cứ gia tăng mãi, thành ra phải chen chúc nhau. Đã có lần bác dượng tôi phải nhờ mẹ tôi trợ giúp để cất thêm một căn trệt nữa phiá sau căn nhà chính. Cũng vì thấy bác tôi nghèo quá, mẹ tôi không đan tâm nên bà phải giúp thêm tiền.
Căn nhà gỗ mới cất sau này nằm ở giữa nhà bếp và buồng tắm, cũng thêm được ba buồng nữa. Hai người con gái lớn, Ánh Nguyệt và Tuyết, thì ở trong căn buồng sát với nhà bếp. Còn hai buồng kia thì dành cho lũ con trai gồm ba người lần lượt tên là Lễ, Thận và Nghiã.
Nơi cư trú mới của gia đình tôi ở phía tay trái căn nhà của bác tôi… Thoạt trông nó có vẻ hoang sơ và quá nhỏ hẹp. Nếu đem nhét toàn bộ khu này vào trong cái garage nơi nhà cũ của mẹ tôi, thì vẫn còn dư chỗ cho một cái xe nữa. Căn nhà này cũng quét vôi mầu trắng, nhưng nước vôi có vẻ mới hơn. Mới nhìn, nó trông giống như một cái hộp diêm khổng lồ hình chữ nhất, mái lợp tôn múi, không có cột. Phía sau nhà, bên kia giếng nước là căn bếp của bác tôi.
Bác tôi, bác dượng tôi và tất cả con cái trong nhà đều chạy uà ra đón chúng tôi ở ngoài cổng. Ai nấy đều tươi cười chào hỏi và xăng xái giúp ông bà ngoại tôi khuân đồ đạc vào trong nhà. Chẳng có mấy món đồ tránh khỏi hư hại từ biệt thự họ Nguyễn, nhưng ông bà ngoại và mẹ tôi thì cứ gom được chừng nào hay chừng ấy. Trong những thứ vớt vát lại được, vật cực kỳ có giá trị là cái hương án để thờ ông cậu của tôi, làm bằng gỗ mun, chạm trổ tinh vi và cân nặng dễ có tới trên một trăm ký lô.
Hồi sinh thời, ông cậu trẻ tuổi của tôi là của quí của cả nhà vì cậu là người con trai duy nhất trong số mười bốn người con còn sống sót qua được cái tuổi mười tám. Đến đúng mười chín tuổi thì cậu gia nhập hải quân. Năm hai mươi mốt thì cậu chết đuối trong khi đang bơi vào một buổi sáng kia tại căn cứ. Cái tin cậu mất làm ông tôi muốn quỵ. Ấy thế mà trùng hợp thay, tôi lại được sinh ra trong thành phố vào đúng ngày hôm đó. Bị giằng xé giữa hung tin và hỉ tín, ông tôi coi ngày sinh của tôi như một cái điềm và ông tin là linh hồn của cậu tôi đã vào đầu thai thành ra tôi. Cũng vì thế mà tôi trở thành đứa cháu cưng của ông.
Hương án được kê trang trọng nhất nơi căn phòng sinh hoạt gia đình mà bây giờ trở thành phòng của ông bà tôi, với cái giường ngủ được kê sát cưả sổ, cách chừng một mét là cái máy khâu. Buồng bên cạnh có ba giường ngủ dành cho ba người là chị Loan, Jimmy và tôi, ngay cạnh giường của tôi có một cái tủ đứng kê sát tường, lúc nào cũng khóa im ỉm. Mẹ tôi giữ chià khóa cái tủ ấy. Trong buồng cũng còn có một cái hộc có nhiều ngăn kéo đựng quần áo. Căn buồng cuối cùng thì ở phía sau nhà, rộng chừng hơn tám mét vuông vừa đủ kê cái giường của mẹ tôi và dượng Lâm và một cái bàn phấn nhỏ.
Trong khi chúng tôi kê dọn thì bác gái tôi ngồi trên một cái thùng các – tông phì phèo điếu thuốc cuộn bằng tay. Bác vừa đu đưa hai ống chân trong chiếc quần vải nylon mầu đen vừa ngó mẹ tôi soạn giường ngủ cho em Jimmy ở phía bên kia. Mấy đứa con của bác ngồi sát cạnh bên mẹ. Mặt chúng nhem nhuốc, mắt thao láo nhìn chúng tôi.
Vừa hắng giọng, bác vừa cất tiếng hỏi mẹ tôi:
– Đấy có phải là toàn bộ các thứ mà họ cho cô mang đi đó không ? Còn lại bao nhiêu thì mất hết hả?
Mẹ tôi gật đầu trong khi bác tôi nhìn bà hậm hực. Bác nhắc lại:
– Mất tất cả ư?
Mẹ tôi lại gật đầu. Bác tôi tiếp :
– Không thể tin nổi nhưng mà thật quá tệ.. Giá cô nhờ tôi giữ cho vài thứ trước khi chạy vãi đái ra quần thì có hơn không? Nhưng bởi vì cô không làm như thế, chắc cô cũng không màng tới việc tôi lấy một vài món đồ khi cô đang còn ở Sài Gòn. Này nhé, tôi mà không lấy cũng có đứa khác nó hốt, vậy tại sao không thể là tôi, chị ruột cô, đúng không ? Chẳng biết là cô nghĩ gì nhưng chắc chắn không có chuyện tôi trả lại cô rồi đó !
Mẹ tôi hỏi:
– Chị lấy được những món gì?
Bác tôi nhún vai:
– Chỉ bậy bạ vài thứ thôi. Phần lớn là cho lũ nhỏ. Tôi cũng chả nhớ đích xác là những món gì. Mà tại sao cô lại thắc mắc kia chứ?
– Chị có tìm thấy món nữ trang nào của tôi không?
Bác tôi cáu kỉnh:
– Dĩ nhiên là không rồi. Tôi còn chả biết cô dấu diếm những thứ gì trong nhà. Mà này, cô chớ vu cáo cho tôi cái tội lấy cắp những món nữ trang qúi giá của cô mà không xong với tôi bây giờ đâu.
– Tôi đâu có buộc tội chị. Tôi chỉ lịch sự hỏi thôi.
– Tôi chả cần lịch sự. Tôi cũng chả khuân tài sản của cô về nhà tôi. Có chăng là bây giờ tôi mang thêm cái xui xẻo vì phải sống ngay ở kế bên nhà cô nữa kià.
Mẹ tôi chẳng nói năng gì thêm nữa. Một sự im lặng nặng nề bao trùm cho đến khi bác tôi lại cất tiếng :
– Điều quan trong hơn cả là bây giờ cô tính sẽ làm cái gì đây?
– Tôi cũng chả biết nữa. Cứ bắt đầu bằng tay trắng thôi.
– Tôi e rằng cô cũng phải tính cái gì cho phù hợp chứ, cô em, cô đâu còn trẻ ở tuổi đôi mươi nữa, đã thế, tôi chẳng muốn làm buồn lòng cô, nhưng bây giờ lũ con pha giống của cô chắc chắn sẽ gây phiền cho cô đấy.
Mẹ tôi ngưng ngay cái việc làm giường cho em Jimmy và quay phắt về phía bác, hạ thấp giọng: 
– Xin chị giữ gìn lời nói khi đề cập đến lũ nhỏ nhà tôi. Hãy để tôi lo, đó không phải mối quan tâm của chị. Và cũng xin chị đừng bao giờ còn xài cái thứ ngôn ngữ ấy trước mặt con tôi.
Bác tôi lì lơm. 
– Tại sao không? Nếu cô không tập cho chúng nó đối diện với thực tế thì rồi cũng có lắm đứa sẽ vạch ra cho chúng nó thấy. Tới khi đó ấy à, úi dà, ở đó mà đòi họ nói năng ngọt ngào.
Chợt Jimmy lên tiếng hỏi:
– Pha giống là cái gì hở mẹ?
Mẹ tôi chưa kip. trả lời thì một đứa anh họ của tôi trạc mười bẩy tuổi, mặt đầy mụn, đỏ rừ và đòng đòng mồ hôi vì nóng, đã nhanh nhẩu đáp:
– Thằng pha giống là một thằng con lang chạ, mẹ nó sinh ra sau khi ngủ với một người ngoại quốc như mày đó.
Hắn vừa nói vừa dí sát mặt vào thằng em tôi như thách đố. Mắt hắn lé, hai cái tròng đen long lên sòng sọc một cách giận dữ ở hai bên sống mũi.
Mẹ tôi quát:
– Đủ rồi! Sao chị ngồi đực ra đấy để cho thằng con chị nói với tụi này bằng cái giọng đó!
Bác tôi lại nhún vai một lần nữa. Đôi mắt của bác lại hấp him qua làn khói thuốc:
– Thì tôi dạy con cái tôi tự do phát biểu ý kiến. Chúng nó đâu có ngu phải không?
Rồi bác cau mày:
– Nhìn coi, ai mới là kẻ phải đáng kêu ca. Ngay cả cô, dì ruột của chúng nó, cô cũng quen thói đối sử với chúng nó như một lũ bẩn thiủ. Thành thực mà nói, tôi chả ưa gì cái giọng của cô. Cô chẳng còn có thể lên giọng với tụi này như là cô đang còn giầu có. Đổi đời rồi mà!
Mẹ tôi cắm cúi xắp xếp cái giường mà chẳng thể thốt thêm một lời. Bác tôi lại tiếp:
– Có thể cô đã quen cái thói hầm hè với tôi, nhưng tôi chẳng thể làm thế với cô. Bề gì cô cũng là người em độc nhất của tôi. Vì thế, tôi hoan nghênh cô tới đây ở. Dẫu vậy, tôi thực tình muốn nói thẳng với cô một điều. Có thể cô nghĩ rằng muốn sống thế nào thì sống, theo ý của mình. Nhưng thật sự là khi đã sống bên cạnh nhau thì chẳng có dễ dàng như thế đâu. Mọi chuyện mà cô sẽ làm thì đều liên hệ đến chúng tôi. À, còn thêm một điều nữa, là tôi yêu cầu cô phải hủy bỏ bất cứ cái gì của cô còn dính dáng tới qúa khứ, bởi vì cô chẳng biết được rồi đây chuyện gì sẽ tới với cô! Dĩ nhiên là những gì giống như hai cái ti vi tổ chảng này đây..
Bác chỉ tay về phía hai anh em chúng tôi rồi tiếp:
– Cô không thể đem chúng nó dấu đi đâu được. Nhưng còn hình ảnh này, những điạ chỉ liên lạc, còn giữ là còn nguy hiểm đấy. Công an có thể ập vào ngay trong đêm tối, lục soát tất tần tật khắp cả khu. Nghĩ kỹ đi! Thôi, tôi để cho cô thu dọn. Nào, mình về đi, tụi bay.
Bác đứng dậy, búng điếu thuốc lá còn cháy dở qua cửa sổ rồi khạc theo một bãi đờm. Lũ con của bác nối đuôi theo sau bác trên đường về. Chị Loan xin phép ra tiệm mua đồ. Ông bà ngoại tôi nghỉ ngơi ở trong buồng. Mẹ tôi thì kiệt quệ nằm sượt trên giường của em Jimmy.
Ngay lúc đó, dượng Lâm bước vào, với vẻ mát mẻ của người vừa mới tắm rưả thoải mái xong. Râu ria của dượng caọ nhẵn, da dẻ sạch sẽ. Tên vai còn khoác cái khăn tắm, dượng ném mớ quần áo dơ vào một góc, rồi lồm cồm bò lại gần chỗ mẹ tôi cười cầu tài. Mẹ tôi nhỏm phắt ngay dậy và nhìn dượng trừng trừng. Dượng nài nỉ:
– Tha lỗi cho anh đi. Anh xin em đấy.
Dương giơ tay lên sờ vào chân mẹ tôi và ép môi lên làn da của bà. Nhanh như một con mèo hoang, mẹ tôi nhảy dựng lên và đạp ngay vào giữa mặt của dượng. Dượng ngã bật ngửa, phải chống người lên hai cùi chỏ, rồi từ từ đứng dậy vừa sửa lại cái khăn tắm xô lệch trên vai trong lúc mẹ tôi ngồi lại trên giường em Jimmy. Hai bàn tay nắm chặt lại, miệng khạc xuống sàn mấy tia máu, dượng nói:
– Đồ ngưạ hoang! Không vì đứa con trong bụng thì tao đã đánh cho bỏ mẹ.
Mẹ tôi đứng ngay dậy, ưỡn bụng, kéo áo để chường cái bầu ra rồi rít lên:
– Muốn đánh hả? Có giỏi thì đánh đi! đánh ngay vào đây này. Giúp tôi dứt bỏ được cái của nợ này của anh.
Dượng xỉa tay về phía bà:
– Tao cóc cần mày. Nhưng tên tao đã có trong sổ đăng ký, tao sẽ cứ ở đây bất kể mày có muốn hay không muốn. Nhưng nói cho mày hay, khôn hồn thì tập sống chung với tao, cái thứ đàn bà thối tha.
Dượng đá cái ghế chắn lối đi rồi bước ra.
Đêm hôm đó, sau khi mẹ tôi khóa chặt cưả buồng lại, dượng trèo vào giường của chị Loan. Từ trong bóng tối chỗ tôi nằm, tôi có thể nghe thấy sự lặng lẽ chống cự của chị như muốn đẩy dượng ra. Sau một hồi thở dốc, họ trao đổi lời nói với nhau. Tôi nghe thấy giọng dượng to lên, giận dữ:
– Cô làm cái gì? Tôi không thể tin được. Lại cái con gà mái mệ ấy nó xúi dục phải không?
Chỉ có sự im lặng, dượng tiếp tục nói nhưng lần này giọng nói có vẻ diụ đi và đầy vẻ hối tiếc:
– Sao mà em lại có thể vứt bỏ đứa con trong bụng ấy của anh được 
Chị Loan thì thầm:
– Buông tôi ra. Đây đâu có phải là quyết định của bà chủ. Có thể bà ấy gợi ý, nhưng chọn lưạ là do tôi. Tôi làm thế vì chính tôi. Chỉ có như thế thì tôi mới dứt đươc anh ra mà thôi.
Tiếng một cái tát vang lên trong bóng tối. Ngay sau đó tôi nghe thấy tiếng chị Loan nhẩy ra khỏi giường và giọng của chị xoáy vào trong bóng đêm:
– Nếu còn đánh tôi nữa, tôi sẽ đi báo cáo cho nhà nước biết. Còn dám theo vào giường tôi một lần nữa, thề có trời, tôi sẽ cắt tiết anh bằng cách nào để cho anh đau đớn nhất.
Tiếng bước chân của chị tiến về phía giường của tôi. Tôi cảm thấy khoảng mùng phía trên tôi được gạt ra và ngay sau đó là thân thể ấm áp của chị sà xuống bên tôi. Vừa run rẩy ôm ghì lấy tôi, chị vừa thút thít khóc. Còn dượng Lâm thì quay về phía giường của chị, nằm ườn cho tới sáng.
Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, thì chị Loan đã đi ra chợ một mình rồi. Chị đi miết đến độ cũng chẳng về ăn cơm chiều. Còn mẹ tôi và dượng Lâm thì cố tránh mặt nhau như tránh bệnh dịch. Nằm trên giường của chị Loan gần suốt cả ngày, dượng cuộn tròn trong tấm khăn trải giường đọc truyện kiếm hiệp. Mẹ tôi thì rút vào buồng, ngồi sắp xếp lại những lọ sơn móng tay của bà.
Jimmy và tôi thì thám hiểm ở bên ngoài và ngó lũ anh họ của tôi đang vầy trong đất cát. Mới đầu bọn con trai ấy giả bộ lờ chúng tôi đi, mhưng trong chốc lát chúng chạy lại sờ soạng chúng tôi, soi mói như là chúng đang quan sát một cặp đồ chơi treo trên cây giáng sinh.
Tôi biết được rằng người con trai lớn của bác tôi tên là Lễ, cỡ tuổi dượng Lâm. Anh ta đẹp trai và còn độc thân. Thú tiêu khiển của anh ta là ngồi chơi đàn guitare ở ngưỡng cửa trước nhà. Mấy cô gái trong xóm hay qua nhà chơi để nghe những bản nhạc tình của anh ta. Trong khi anh phập phừng với cây đàn, một vài cô trong đám còn hát theo. Mẹ anh thường ngồi ở gần đó ngó lại và biểu lộ ánh mắt hãnh diện.
Người con trai thứ nhì tên Thuận, là niềm vui và tự hào của bác tôi, vì anh ta đã tốt nghiệp chuyên viên ngành điện trường cao đẳng. Anh sống với cô vợ mới cưới tên Lan ở căn nhà gỗ phía xa nhất, cạnh nhà tắm. Mỗi lần tôi bước ngang qua buồng của anh, tôi đều thấy anh dí đôi mắt đeo kính thật dầy vào mấy dụng cụ trang bị về âm thanh to kềnh. Hiếm có khi nào thấy anh tỏ ra thích thú với cái gì khác hơn là lụi hụi làm việc trên bàn giấy. Sau ngày cưới, và cũng do ý kiến của bác tôi, chị Lan đã nghỉ dạy học để trở thành một cô vợ biết phục tùng.
Người con trai thứ ba, anh Nghĩa, là hình ảnh của ông bác tôi, y hệt như bố, anh ta dễ nóng nẩy và bề ngoài không có cái vẻ không thoải mái. Ngay cả má của anh cũng phải sợ anh. Sau hai năm nhì nhằng ở trường cao đẳng, anh bỏ học ở cái tuổi hai mươi bốn, chẳng có nghề ngỗng gì, cũng chẳng có tình yêu đành quay về nhà ăn bám. Nghiã ở chung với người anh mình trong căn nhà thứ nhì.
Hai cô con gái kế tiếp tên là Ánh Nguyệt và Tuyết, cũng đeo đẳng đại học cho tới khi Sài Gòn sụp đổ vào muà hè. Họ chui rúc trong một căn phòng mà trước đây là một phần phụ thuộc vào nhà bếp. Mặc dù hai cô chỉ mới chỉ ngoài hai mươi, nhưng cũng đã bị coi như là ế chồng, cam chịu cuộc sống độc thân. Cái nghèo công với học lực cao là sự kết hợp lãng nhách cản đường các chàng trai theo đuổi để tiến tới hôn nhân với họ.
Đám con kế tiếp của bác tôi là một bầy năm đứa, tuổi từ mười mười bốn đến mười chín cứ quấn quít bên nhau như một bầy sáo. Chính họ là cái đám nhòm ngó anh em tôi đầy vẻ ngạc nhiên. Với những bàn tay sần sùi, móng tay thì cáu đất, họ vò lên tóc và véo vào má chúng tôi. Người con thứ sáu của bác tôi tên Trí, được biết như một người e dè và có lễ độ. Kế tới là Tín, người lùn nhất và chắc nịch nhất. Chính hắn là cái tên mắt lé mà trước đây đã nói em Jimmy là thứ pha giống. Hắn ta mới kiếm được việc làm ở xưởng sản xuất những bao đựng gaọ, nhưng cái trách nhiệm mới đó cũng không giúp hắn tránh được cái thói cư xử như con nít.
Tín nhảy chồm lên lưng tôi, qủa quyết rằng tôi phải cõng hắn như một phần của sự ra mắt với gia đình hắn. Sức nặng của hắn đè bẹp tôi xuống nền đất bẩn. Mỗi lần tôi cố gượng dậy thì hắn lại nhún người để xô chúi mặt tôi xuống đất. Lũ anh em nhà hắn cười phá lên, khoái chí, một lát sau, Tín nhận ra là tôi yếu quá không cõng nổi hắn, hắn liền ra một cái lệnh khác. Hắn bắt tôi phải bò từ dầu vườn này qua đầu kia, chui qua những cái chân dạng háng của ba đứa em hắn. Trong khi tôi phải bò thì bọn nó đứng lù lù trên tôi, khạc nhổ phun phì phì lên lưng tôi và chọc vào sườn tôi bằng que để thúc dục tôi phải bò nhanh hơn.
Em tôi cũng phải chiụ chung số phân như tôi ở gần đó. Nhưng ngay khi bị lãnh một roi, Jimmy oà lên khóc, kêu réo ông bà ngoại, sợ ông bà tôi, bọn kia đành phải buông tha nó ra.
Dưới tàn cây chôm chôm sum suê cành và những qủa chĩu đỏ, thằng em tôi đứng với bốn đứa con gái nhỏ. Đứa lớn nhất trong bọn tên Hồng thì cũng trạc tuổi tôi. Cạnh Hồng là hai đứa sinh đôi tên Vân và Phong, còn đứa ít tuổi nhất tên Hào thì cùng tuổi với Jimmy. Đúng ra sinh nhật của hai đứa chỉ cách nhau có hai ngày.
Bên trong nhà, mẹ tôi không nhìn thấy chúng tôi chạy vào từ bên ngoài, trông như hai con búp bê rách mướp, quần áo tả tơi, người đầy vết bầm. Bà ngoại tôi phải lôi hai đứa ra rửa ráy ở ngoài giếng nước trong khi lũ anh họ tôi đứng bao quanh nhòm ngó mà không cất lên tiếng nào. Sau lần đó, Ông ngoại tôi dẫn hai đứa đi xin học lớp hè ở một ngôi trường cách nhà vài dẫy phố. Tôi được xếp vào lớp Ba C, cùng với Hồng và Hạnh. Còn em tôi thì học lớp Một A, cùng với hai đứa sinh đôi và chị Hào.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 10 Oct 2023

Bài 11

Dượng Lâm đứng chắn ở ngay lối ra vào và hỏi:
– Vô được không?
Tôi lùi lại. Dượng bước vô, mặt ngơ ngáo ngó quanh quan sát cái vườn ngổn ngang phiá sau lưng và những mảnh vỡ rơi vương vãi trong phòng khách. Mặt dượng nghệch ra như không thể tin nổi, thảng thốt hỏi:
– Ôi trời ! Xẩy ra chuyện gì thế này?
Hỏi thì hỏi vậy, dượng cũng thừa biết chuyện gì đã xảy ra, nên tự trả lời:
– Lại chúng nó tới quậy phá phải không.. mẹ của..
Dượng ngưng ngang vì bây giờ thì ông ta đã trông thấy mẹ tôi đang trừng mắt nhìn từ phía bên kia căn phòng. Khuôn mặt lem luốc của dượng đỏ ửng lên vì ngượng ngập, rồi dượng lắp bắp:
– Chào.. chào.. khoẻ không..
Mẹ tôi cau mày nhìn sốc vào mặt ông ta, rồi không thèm trả lời, bà khoanh tay đứng dưạ vào tường, vẻ mặt lạnh tanh trước sự bối rối của dượng. Ông ta đưa tay lên gãi gãi vào đầu, vẻ lúng túng, nói:
– Cô tưởng là sẽ không bao giờ gặp lại thằng tôi nữa phải không?  Ừa  mà còn biết nói gì, tôi cũng đâu có thoát. Hẳn cô phải khoái tỉ lắm rằng tôi đã gặp hết rủi ro này đến xui xẻo khác kể từ ngày tôi bỏ rơi mấy người đấy nhỉ.
Rồi tặc lưỡi:
– Mẹ kiếp, khủng khiếp thiệt, suýt chết ngoài phi trường mấy lần đấy! Nhưng nhờ trời, chưa có sao. Đôi khi tôi cũng tự hỏi sao một thằng trời đánh như tôi mà lại may mắn thế. Hôn nay tôi quay lại là vì cho rằng biết đâu cô chẳng nghĩ tới tình xưa mà bỏ qua mọi chuyện. Với lại biết đâu sẽ chẳng có lúc cô cần tới tôi chớ.
Mẹ tôi im lặng vì chối tai. Giọng dượng Lâm xìu xuống:
– Hừ.. cũng có thể là không..
Bây giờ thì mẹ tôi cất tiếng, bằng một giong cố trấn tĩnh nhưng nét mặt thì đầy vẻ thù ghét:
– Cút ngay!
Ông ta gượng gạo bào chữa:
– Coi kià! Tôi biết là cô đang nổi doá, nhưng tôi không trách đâu. Xin hãy nghe tôi nói đã, chứ chưa gì mà đã phủi ra như thế. Ôi da, cả cái tháng vừa rồi tôi cứ như người đã xuống điạ ngục biết bao nhiêu lần. Tôi không nghĩ rằng tôi còn có thể lãnh thêm búa bất kể từ cô hoặc ai khác. Nhưng tin tôi đi, thưa bà, tôi đã được bài học cay đắng về nhân qủa, nghiã là bất cứ điều gì sai trái mà tôi đã gây ra cho cô thì tôi đã phải trả giá, kèm luôn cả phần lời ! Nào bị ăn cướp, nào bị đánh đập. Rồi đến cái lũ CM ba mươi của bọn Cộng sản lạc hậu kia lại còn nhốt tôi vào tù hai tuần liền vì chỉ mỗi cái tội ngủ ngoài công viên nữa chứ ! Chắc ngoài tuị nó ra thì chẳng còn ai quan tâm đến sự sống chết của tôi. Để thoát khỏi cái cảnh ấy, có bao nhiêu tiền tôi đã phải móc hết ra rồi, bán luôn cả thẻ căn cước cũng như cái giấy thông hành. Đã ba bốn ngày nay tôi chẳng có hột gì vào bụng, chao ôi là mệt! Thôi, hãy cho tôi ở lại đây, ít ra cũng đôi ba ngày.
Mẹ tôi vẫn giữ im lặng trong khi dượng vẫn cứ tiếp tục lải nhải:
– Mà dù cô có muốn tống khứ tôi ra thì hãy cho tôi chút gì vào bụng và tắm táp cái đã.. thôi đi mà..
Bà chưa kịp trả lời thì từ bên ngoài có tiếng xe vận tải ồn ào. Như thế là tên Trần đã tới với đám công an. Qua khung cửa sổ, chúng tôi nhìn họ đậu xe bất kể chắn cả lối ra vào rồi hối hả chạy vô theo con đường dài dơ dáy xuyên qua khu vườn. Vừa thoat. thấy mẹ tôi đứng bên trong, tên Trần đã cười toe toét, vẻ sỗ sàng. Mái tóc của hắn ướt nhèm, chải tém về phía sau nom giống như một cái đuôi vit.. Vai hắn đeo lủng lẳng một cái sà cột bằng nylon mầu đen theo đúng mốt của những cán bộ thời bấy giờ. Hắn ra hiệu cho nhân viên đi theo mình vào nhà. Mẹ tôi quay về phiá dượng Lâm:
– Anh muốn ở lại phải không? vậy báo cho anh một tin chớp nhoáng: tôi không còn là người có quyền quyết định việc đó nữa. Anh phải hỏi ông ta trước.
Dượng Lâm bối rối:
– Ông nào? Ai vậy?
Mẹ tôi nhún vai:
– Nhìn đi rồi biết!
Dượng nhìn ra đám đông, vẻ bối rối:
– Chuyện gì thế này? Sao lại có công an đến nhà? Cô đã làm gì động trời vậy, Khuôn?
Mẹ tôi bước ra chào tên Trần ngay khi hắn ta đặt chân lên tới mép thềm đá:
– Chào ông. Ông tới thật đúng lúc. Chúng tôi vừa mới xếp dọn xong. Ông có còn nhớ anh Lâm này không?

Quay về phiá dượng, bà tiếp:
– Còn anh Lâm, chắc anh chả cần tôi giới thiệu về ông Trần đây. Nhưng có một điều mà anh đáng được biết, đó là kể từ hôm nay, ông Trần, vị chủ tịch phường của chúng ta, sẽ là chủ ngôi nhà mới này. Vậy thì, nếu tôi là anh thì tôi sẽ thận trọng tỏ thái độ cung kính đối với ông ấy ngay bây giờ đấy.
Dượng Lâm nhướng đôi lông mày lên như muốn hỏi, nhưng lại thôi. Còn tên Trần thì phá ra cười khi nhận ra dượng. Hắn bước lại gần, chộp bàn tay phải của dượng lên, lắc lắc:
– Đừng mang cái vẻ quá ngạc nhiên như thế. Tôi có khác đi bao nhiêu đâu. Mà cứ nhìn con mắt của anh thì tôi cứ tưởng mình thay đổi nhiều lắm rồi. Nhưng mà chính anh kìa, có thay đổi đấy. Trời, suýt nữa thì tôi cũng không nhìn ra anh nữa ấy chứ. Biết nói gì đây..
Rồi hắn nhún vai đổi giọng nghiêm chỉnh:
– Kể ra mắt anh cũng tinh vi khi còn nhận ra cái tên làm vườn này. Chính tôi lúc trước vẫn từng tưới những giỏ phong lan cho anh và ngủ sau cánh cửa bếp nhà anh. Chỉ có khác một điều bây giờ tôi là người chủ mới, giống như ngạn ngữ có câu : ” Sông có khúc, người có lúc “. Bây giờ đã tới cái lúc của tôi rồi!
Hít vào một hơi dài, hắn tiếp tục:
– Nào, cả hai vị. Đừng có thảm sầu quá. Anh vẫn còn ở với chị ấy đấy chứ?
Chỉ tay về phía mẹ tôi, hắn nháy mắt với dượng:
– Bây giờ chị ấy không còn là bà lớn Nguyễn chủ nhà băng, hét ra lửa, mửa ra khói nữa đúng không?
Dượng Lâm cố giữ điềm tĩnh, nhưng tên Trần không để ý tới dượng. Quay về phía mẹ tôi, hắn qùai tay ra phía sau móc ở trong sà cột ra một sấp giấy:
– Tôi đã lấy đại cái bằng khoán sở hữu chủ căn nhà của chị từ sở nhà đất rồi đấy. Chị phải biết đó không phải là chuyện dễ đâu nhé. Kiếm được nó chẳng khác gì đáy bể mò kim. Nhưng tôi cũng mò ra được. Tôi cần chị ký vào, kèm theo cả dấu tay nữa, đó là điều ta làm ngay được. Mấy cái chuyện lẻ tẻ còn lại, để đó tôi lo sau. Nào, chị đứng qua bên đây để tôi chỉ cho chỗ phải ký vào.
Mẹ tôi bước qua phía bên hắn và nói:
– Tôi sẽ ký bất cứ cái gì ông muốn, nhưng còn hộ khẩu của gia đình tôi thì sao? Tôi phải có cái đó thì mới rời khỏi nơi đây được.
Hắn gật đầu:
– Chắc chắn rồi. Tôi biết nỗi lo lắng của chị. Chẳng ai được coi là hợp pháp nếu không có sự chấp thuận của tôi. Mà điều đừng lo. Tôi đã mang đủ giấy tờ đây rồi. Ta sẽ hoàn tất mọi thứ ngay trong buổi sáng hôm nay.
Rồi hắn ta rút ra một tập hồ sơ dầy, bìa mầu xanh. Ở trang đầu tiên thấy có dòng chữ đánh máy bằng kiểu chữ đậm, mầu đen : “Sổ Hộ Khâủ – Tổ số 4 – Hộ Khâủ số 125091 – Chủ Hộ Khẩu: Nguyễn Thị Khuôn”
Hắn dò ngón tay cục mịch lên trang giấy giải thích:
– Con số 125091 là số của gia đình chị. Chúng tôi không muốn dùng chữ gia đình, nó đầy tính chất tư hữu, qúa xa lià tập thể. Cho nên chuyển thành hộ, giống như sinh vật học những tế bào riêng rẽ tập hợp thành một cơ thể vậy. Tôi khuyên chị một điều là sống chết chị cũng phải giữ lấy cái giấy này. Bây giờ thì nó chính là căn cước của chị đấy. Dù đi đâu, ở đâu chị cũng phải mang nó theo, cho đến khi các vị lãnh đạo thiết lập một hệ thống khác hoàn hảo hơn. Mặt khác, tên tuổi của mọi người trong gia đình chị đều nằm hết trong đây. Vậy mọi người phải luôn luôn ở cùng nhau. Khi tới đăng ký ở chỗ mới, chớ có điền thêm tên của ai vào mà cũng không được rút tên của ai ra. Sau sáu giờ chiều mỗi ngày là có lệnh giới nghiêm, mọi người phải ở hết trong nhà, vì sẽ có thể nhiều đêm trong một tuần lễ, nhà chị bị khám xét mà không cần báo trước. Đó là luật ! Tới lúc đó, các đồng chí công an sẽ chiếu theo tờ này và đếm từng đầu người một trong hộ. Nếu họ phát hiện ra có thêm người thì cả chủ nhà lẫn người dư ra là đều bị tống vào trại tù. Hiểu rõ tất cả chưa ? Được rồi, bây giờ thì tôi cần chị đọc chầm chậm cho tôi nghe cái điạ chỉ nơi sắp tới của chị.
Trong khi mẹ tôi đánh vần cho tên Trần cái điạ chỉ mới thì chị Loan và mọi người bước vào im lặng quan sát sự việc đang xẩy ra. Gã Trần hỏi mẹ tôi:
– Hộ của chị có bao nhiêu nhân khẩu?
– Thưa ông, có kể đứa bé trong bụng của tôi không?
Hắn nhướng mày lên:
– Đừng vớ vẩn. Bao nhiêu người trong hộ của chị, chỉ kể những người già, người lớn và con nít. Quên cái bầu đi. Khi tới lúc thì chị sẽ khai nó ở nhà hộ sanh.
Mẹ tôi trả lời:
– Vậy sáu người. Hai cụ già, hai phụ nữ và hai đứa con trai.
Dượng Lâm từ nãy vẫn đứng ở một góc như bị bỏ quên, bây giờ mới chen vào:
– Bẩy chớ! kể cả tôi là một người đàn ông trong nhà. Đừng có quên tôi chớ!
Tên Trần ném cho dượng một cái nhìn hăm doạ, quát:
– Tôi có cái vẻ gì là đang nói chuyện với nhà anh không?
Mặt của dượng đỏ lên, nhưng dượng không trả lời. Gã Trần nói tiếp:
– Chủ của cái hộ này không nhắc nhở gì với tôi về một nhân khẩu đàn ông hết. Vậy là tôi đồ chừng anh đã tự ý nhét đại tên anh vào hộ khẩu nhà này. Đúng vậy không?
Dượng Lâm cố nở một nụ cười:
– Thưa ông, tôi đã sống ở đây từ hơn nửa thập kỷ nay. Tôi có đủ tư cách là một thành viên trong gia đình, như bất cứ ai đang hiện diện, dĩ nhiên là ngoại trừ ông.
– Anh có cưới chị ấy hả?
– Không, nhưng tôi là bố đứa nhỏ trong bụng cô ấy.
Đến lượt mặt mẹ tôi đỏ bừng lên khi gã Trần quay về phía bà:
– Nghe này, chị Khuôn. Tôi không thể lý sự gì với cái tên điếm đực này. Tôi để tùy ý chị. Vậy thì sáu hay là bẩy đây? 
Mẹ tôi trả lời một cách qủa quyết:
– Hộ của tôi chỉ có sáu người thôi!
Bà định nói thêm gì đó nhưng tên Trần đã ngoắc cái ngón tay sần sùi vì chai cứng ra hiệu ngưng. Lông mày của hắn nhiú lại như để suy nghĩ rồi hắn nói:
– Gượm đã ! Cái tên hài hước nửa mùa này cũng có điểm xài được. Hộ này chẳng có ai là đàn ông ngoại trừ ông gìa của chị cũng có thể mút mùa trong trại cải tạo vì những tôị ác của ông ta. Mà ngay như nhà nước có khoan hồng vì ông ta bệnh hoạn, yếu đuối thì cũng không đủ lực lượng lao động cho hộ này. Vậy nếu tôi thêm cái tên đĩ đực này vào hộ khẩu của chị thì năng xuất lao đông nhà chị sẽ tăng gấp đôi. Ý kiến hay đấy, chị nghĩ sao? Ờ, có thể nhất thời chị không đồng ý với tôi, nhưng mai mốt rồi chị sẽ phải cám ơn tôi.
Như thế coi như hắn ta đã quyết định. Chẳng để cho mẹ tôi có dịp phản đối, hắn ta quẹt xuống sổ hộ khẩu gia đình tôi thành bẩy người. Ngay sau khi mẹ tôi ký tên vào cái bằng khoán nhà đất, gã Trần giao cho bà xấp hồ sơ đăng ký. Sắp xếp những giấy tờ còn lại cho vào túi sà cột, hắn quay sang chú ý tới chị Loan. Như một nông gia đánh gía một con bê, hắn lặng ngắm chị một lúc khá lâu và khi lên tiếng, giọng hắn không mang một vẻ gì gọi là thù hận:
– Loan! Năm nay cô mười tám phải không?
Chị Loan đáp:
– Dạ phải.
– Tốt! Tốt! Đây là cuốn cẩm nang chính trị mà tôi muốn cô đọc. Trong đó nói về một tổ chức gọi là Thanh Niên Xung Phong bao gồm những người trẻ như cô. Tôi khuyên cô hãy đọc để có thể tìm hiểu thêm về chuyện đó, tới lúc nào cô quyết định gia nhập, hoặc muốn biết thêm chi tiết thì, hoặc là hỏi các cấp lãnh đạo điạ phương, hay là hỏi tôi. Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng trả lời mọi thắc mắc của cô. Thực tế là, tôi quan sát cô lớn lên ở trong gia đình này và tôi đã thấy cô đã trở thành một thiếu nữ giỏi giang. Đất nước đã thay đổi rồi, cô sẽ có cơ hôị tiến xa hơn vì bây giờ là thời điểm những kẻ nghèo như chúng ta phải đứng lên để nhận lãnh trách nhiêm về vận mệnh của mình. Hứa với tôi là cô sẽ đọc hết cuốn này. Hãy giúp đỡ cho bản thân mình và cho đất nước, thay vì cứ quanh quẩn ở đây với cái mớ đang hấp hối này. Chẳng có luật lệ nào buôc. cô phải chết theo bọn tư bản mà trước kia cô đã từng phục vụ. Cái thời của bọn bóc lột cô đã qua rồi, cô hiểu chưa? 
Rồi hắn rúi cuốn sách vào tay chị Loan. Lúc hắn bước qua trước mặt mẹ tôi, hắn ta huýt sáo giòn tan, cái đầu bóng nhẵn gật gù lên xuống theo nhịp điệu. Ở phòng bên, những người công an khởi sự khuân vác những đồ đạc của chúng tôi ra xe. Chừng non một tiếng sau, chúng tôi cùng yên vị trên chiếc xe tải và chiếc xe chuyển bánh. Tôi ngồi ở phía sau, mắt chăm chú nhìn qua cửa xe để ghi nhận lần chót quang cảnh cũ. Qua bức tường vỡ và giàn dây leo đã sup. đổ, căn nhà còn đó nhưng mang vẻ trống rỗng và hoang tàn dưới ánh mặt trời chói lọi. Trong tâm tưởng của tôi, những hình ảnh của kỷ niệm cũ trôi qua như trong một giấc mơ. Tôi vẫn như thấy mình đang chạy từ phòng này qua phòng khác, cười giỡn với chị Loan đang đuổi theo phía sau. Mái tóc mới gội của chị bay tung lên như mây, toả ra mùi thơm như mùi gió biển. Tôi cũng hồi tưởng những lại những buổi liên hoan bất tận của mẹ tôi, ở đó, mọi người khiêu vũ bên cạnh hồ bơi, dưới ánh sáng mờ ảo đượm nhiều mùi hương lan toả trong không khí. Hình bóng của mẹ tôi như còn đó, ngồi trước bàn trang điểm thoa phấn lên bàn tay, suối tóc xoả xuống hai bờ vai.
Trong lúc những tư tưởng ấy làm tôi sao lãng, thì ở ngay bên cạnh tôi trong xe, mẹ tôi hai tay ôm lấy bụng, theo đuổi những ý nghĩ riêng của bà. Liệu cảm xúc của bà có giống như của tôi hay không ? Phía bên kia là em Jimmy, nom nó có vẻ như chẳng biết gì về những chuyện đang xảy ra. Nó cười với tất cả mọi người, phô ra hai cái răng cửa sún và nhìn ra đường phố với sự say mê, vô tư lự.

HALO (High Altitude Low Opening) / Skydiving (dù cánh dơi lướt gió)

Biệt Kích Nguyễn Văn Hải

Posted by Thoi Chinh Chien 

Post by Sơn râu 10 Oct 2023

1 – Bước qua năm 1970, những cuộc xâm nhập của SOG (đơn vị chuyên về hành quân Biệt-kích) bằng trực thăng gặp nhiều khó khăn, hay phải nói…xưa như trái đất!  Yếu tố bất ngờ, nhanh chóng thực hiện xâm nhập bằng trực thăng không còn được kết quả như trước, khi mà địch quân đã có những biện pháp chống lại. Đơn vị chống Biệt-kích của Bắc-việt càng ngày càng tỏ ra hoạt động hữu hiệu, nguy hiểm và thành công. Ý tưởng xâm nhập ban đêm đang được nói đến nhưng các trực thăng không được an toàn khi đáp. Chỉ còn cách nhẩy dù xuống mục tiêu. Nhưng nó đòi hỏi phải có những nhân lực hảo hạng.

          -Chỉ huy trưởng mới của SOG lúc này là Đại-tá John Sadler. Ông ta là người rất am hiểu về kỹ thuật nhầy dù và Skydiving (dù cánh dơi lướt gió) Thuật ngữ quân sự gọi là HALO (High Altitude Low Opening) Nhẩy dù ở độ cao 10.000 bộ (3.050 mét) Đề rơi tự do, khi còn cách mặt đất khoảng 1.000 hay 2.000 bộ (305- 610 mét) rồi mở dù lái đến mục tiêu. Quân đội Việt nam Cộng hòa chỉ có một số ít, thường là Huấn luyện viên Nhảy dù biết cách nhẩy loại này mà người ta gọi là Nhảy-dù điều khiển.

           -Giữa năm 1970 Đại-tá Sadler ra lệnh thành lập Toán HALO đầu tiên tại CCN. Toán Virginia (Toán Mỹ, người Thượng) được chọn gồm có ba Biệt kích người Mỹ, hai người Thượng và một sĩ quan Lôi-hổ Nha kỹ thuật…Toán lấy tên là Florida…được đưa sang Liên đoàn Biệt kích số 1 của Quân đội Mỹ đóng tại Okinawa (Nhật bản) để bí mật huấn luyện. Chương trình huấn luyện Toán HALO bắt đầu lên khung. Tại trại CCN, song song với phần đông là các Toán Mỹ…có tám Toán Việt-nam tại trại do những cán bộ Nha-kỹ-thuật chỉ huy và phối hợp trong chương trình OP 35 của SOG (hành quân Biệt-kích đặc trách đường mòn Hồ chí minh) Được lệnh tuyển chọn và thành lập Toán Dù điều khiển (HALO) đầu tiên thụ huấn tại Trung tâm huấn luyện Biệt-kích Long-thành gồm có một Sĩ quan Lôi-hổ và năm Biệt-kích quân (SCU) Special Commando Unit được người Mỹ chuyển giao cho Nha-kỹ-thuật chỉ huy. Rất tiếc trong khóa học người Sĩ quan thiệt mạng vì dù không bung. Chương trình bị trở ngại vì thiếu người chỉ huy dù rằng năm Biệt kích quân cũng đã xong khóa học.

              -Chiến cuộc có những bất lợi do sự rút quân của quân đội Mỹ. Quân đội Việt-nam-cộng-hòa không đủ sức trám vào những khoảng trống chiến thuật được người Mỹ chuyển giao. Trong khi quân Bắc-việt ồ ạt xâm nhập và phát triển hệ thống đường tiếp tế, xây dựng thêm các căn cứ chiến lược dọc theo biên giới Việt, Lào…trước sự bỏ ngỏ của Không-quân Mỹ.  Lúc này…SOG phải chiến đấu trong đơn độc. Mọi trợ cấp bị cắt dần dần…ngoài những gì hiện đang có. Đứng trước những khó khăn hiện tại thêm vào quân đối phương biết cách đề phòng và bố trí lực lượng đối phó đã đem lại cho SOG những trở ngại lớn lao kèm theo tốn thất đáng kể về nhân mạng. Đầu năm 1971. Trại được đổi tên mới … Lực lượng đặc nhiêm 1 (TASK FORCE 1) thay cho tên cũ …Sở chỉ huy Bắc (CCN) cùng với lệnh các Toán thám sát Mỹ không được phép xâm nhập qua Lào, Căm-bốt. Chỉ được hoạt động trong nội địa Việt-nam. Đúng ý của chương trình ” Việt-nam hóa chiến tranh” tiết kiệm xương máu lính Mỹ!  Để duy trì hoạt động ngoại biên, SOG đã xử dụng các Toán Lôi-hổ Nha-kỹ-thuật vào những mục tiêu tại Lào, Căm-bốt. Đó cũng chính là sự hãnh diện cho đơn vị Biệt-kích trên chiến trường theo đúng nghĩa.

            – Chiếc C47 của hãng vận chuyển Air America từ Đà-nẵng đưa chúng tôi lên Kontum. Vừa xuống phi trường tôi mừng rỡ vì người đón chúng tôi lại là Đại-úy Đại đội trưởng (A Company- Hatchet Force) trước kia ở CCN mà tôi, lúc ấy là Thông dịch cho ông. Tây-nguyên mùa này nắng nóng cuối Hè. Xe Jeep chở chúng tôi vừa ra khỏi tỉnh lỵ. Những đám mây đen lốm đốm dần trôi, chẳng tạo được cơn mưa trong cái nóng hầm hập của thời tiết gần trưa. Ba chúng tôi nằm trong số người đã huấn luyện Nhẩy-dù điều khiển (HALO) được lệnh lên Kontum (TASK FORCE 2) trước kia là CCC…phối hợp công tác. Lần đầu tiên lên đây tôi rất ngạc nhiên vì con quốc lộ dẫn vào tỉnh lỵ như bổ đôi căn cứ Biệt-kích…giống một nút chặn vững vàng bảo vệ cửa ngõ ra vào Tỉnh. Sau ba ngày thực tập chiến thuật và nhẩy hai sô dù đêm. Toán HALO phối hợp đã sẵn sàng gồm ba người Mỹ, ba người Việt-nam. Toán trưởng là Đại-úy cùng hai Trung-sĩ Toán phó. Lực lượng đặc biệt Mỹ. Mọi đồ đoàn đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Toán lên xe lúc trời vừa tối để ra phi trường. Cơn gió mát lạnh từ dòng sông Dak Bla hiếm hoi thổi tung chiếc khăn ngụy trang trên cổ lên mặt làm tôi có cảm giác xa lạ mênh mông trước những gì sắp xẩy ra.

2- Phần đồ đoàn cuối cùng…chiếc ba lô đã được gài vào vị trí dưới cái dù bụng…cây Car 15 thắt bên hông. Con người trở nên nặng nề, dệnh dạng đi ra phía sau đuôi phi cơ…chiếc MC 130 (Blackbird) Dưới ánh đèn sáng từng cặp mắt sau tấm kính trong bộ phận mũ che chắn đầu mặt, kiểm soát lẫn cho nhau. Vị sĩ quan nhiệm vụ thả Toán được lệnh trong chiếc mũ bay ra hiệu cho Toán sẵn sàng…còn hai phút nữa. Cửa phi cơ đã mở. Gió mạnh hồng hộc thổi vào nhưng tôi không cảm thấy lạnh như lúc cửa còn đóng. Đèn xanh đã được bật lên kèm theo tiếng hô của viên sĩ quan thả Toán. Chúng tôi đi vào không trung.           -Phản ứng tự nhiên tôi nhanh chóng lấy được thế bay. Đưa mắt nhìn xuống đã thấy đốm sáng lân tinh trên lưng người Trưởng Toán…đang chếch về mé trái. Lồng ngực bỗng trì nặng và tôi biết là mình đang trong đám mây. Xoãi tay trái xa thêm, tôi điều khiển thân mình vùn vụt bay theo điểm sáng lân tinh nhưng không xa quá tay để bảo đảm thân mình không bị lật hoặc chúi đầu! Trời đêm tối đen ngòm trừ ánh sáng đốm nhỏ lân tinh phía dưới. Nhìn đồng hồ cao độ tôi chuẩn bị nghe tiếng báo động trong hai tai…âm thanh tiếng reng nổi lên. Gồng hai tay, cụp dần vào hai vai…tay phải đã chạm chốt mở dù, tôi giật ra trong lúc toàn thân theo cái đầu chúi lao xuống…Tích tắc con người như được giữ lại rồi êm đềm tung lên trong lòng sung sướng vì dù đã mở và đưa mắt tìm hai dây lái. Nhìn đồng hồ đeo tay để xác định thời gian và đưa mắt tìm ánh sáng của Toán trưởng…lần này ở phía phải. Kéo dây lái căn hướng gió. Tôi cụp cánh dù dây lái tay phải bay theo điểm lân tinh khi mờ khi tỏ bên dưới. Đống hồ đeo tay đã chỉ gần hai phút tính từ lúc dù mở. Tôi tập trung chuẩn bị đáp đất. Hai tay kéo cụp dù, gống hai chân chụm bằng nhau tôi chờ đợi cú va chạm đầu tiên để bung dù nhằm làm giảm sức rơi. Nhìn bên dưới đêm đen như đen thêm và rồi soạt soạt…tôi vội bung dù hai tay co lại che chắn đầu. Thân mình va chạm vào cành cây, tai cũng đã nghe tiếng cây gẫy. Tiếng phịch vang lên rồi toàn thân ngã ngồi trên đất. Một cái gì đó làm đau nhói ở vai trái…nhìn đồng hồ đã ba giờ, năm phút sáng. Việc đầu tiên tháo cây Car 15 bên hông và vẫn nằm yên nghe ngóng động tĩnh. Loài chim ăn đêm kêu réo cùng tiếng côn trùng nỉ non xa vắng. Qua khoảng trống trên tầng cây bầu trời đầy sao . Tôi lần tháo chiếc ba lô, cái dù bụng và những đai dù chính. Một ý tưởng ngộ nghĩnh…tôi như một chiến binh mới vừa xâm nhập bằng trực thăng xuống mục tiêu! Công việc trước mắt kéo cái dù xuống cũng may nó không mắc dính trên cây và tìm cách chôn dấu. Gió đưa cái lạnh bất chợt với cơn thèm một điếu thuốc rạo rực. Tôi chặc lưỡi trùm cái dù nhẩy qua đầu tự thưởng cho mình một điếu thuốc…cơn thèm đã cho cảm giác tuyệt vời và quên đời một chốc. Thoải mái xong…bắt đầu đào đất bằng dao găm đi rừng để phi tang cái dù trong tiếng gà gáy dồn dập báo hiệu trời sắp sáng. Rắc lên vài vốc lá khô, tự mãn xoa tay cùng ánh sáng mờ mờ thấy cả làn sương bay bay. Tôi lấy ra chiếc máy…bật mở để tìm Toán trưởng. Đây rồi theo mũi tên chỉ và khoảng cách hiện lên 250 mét. Tôi theo máy di chuyển. Rừng cây chồi non nhưng chằng chịt dây leo cản trở. Bóng của một cây cổ thụ mờ trong sương sớm nhưng chẳng phải là hướng trong máy dò. Những giọt sương trên lá thấm dần trên khăn ngụy trang và hai vai. Khoảng cách trong máy được kéo xuống còn 150 mét. Một vài tiếng súng nổ về hướng Nam cách không mấy xa. Địch đi săn…tiếng bắn không phải là truyền tin hay báo hiệu gì đó, đúng hơn là hạ gục một con thú!  Con trăng mỏng dính xuất hiện từ lúc nào bên cạnh một ngôi sao sáng long lanh lấp lánh. Đàn chim ăn đêm tham ăn về muộn kêu réo hay nói chuyện với nhau vang vang đáp xuống tàng cây cổ thụ phía sau. Tôi chợt rùng mình trong cảm giác lẻ loi hay bởi cơn gió lạnh đang mơn man trên gương mặt đẫm sương. Tiếng của đàn chim đêm vẫn gơị mở hình ảnh quái dị, ma chơi…thần hồn nát thần vía!  Xua tan những vẩn vơ tôi nhìn vào máy. Con số 80, còn 60 mét nữa…số 20 trong máy là con số ấn định của Trưởng-toán để dừng lại.  Giữ cái “máy mẹ” Toán trưởng biết hết mọi khoảng cách và hướng đến của những “máy con” Ông ta chỉ việc ngồi cố định một chỗ để tiếp nhận dần Toán viên của mình. Khoảng cách 20 mét được ấn định để trao đổi mật khẩu nhằm tránh là quân địch. Nhìn vào máy, tôi qua khỏi bụi lau ngồi chờ đợi… “Juliet” tôi vội đáp ngay mật khẩu “Romeo” Rồi tiếng “vào đi” của Toán trưởng ở phía trước.

Phi cơ của Air America (Long Tiếng)

 3- Nét mặt hớn hở và câu nói “vào đi” lần này của Đại-úy Toán trưởng đã kết thúc tốt đẹp, thành công chuyến xâm nhập khi người Toán viên cuối cùng tụ tập. Nắng cũng đã nhấp nhô trên đỉnh núi. Rừng cây thưa toàn chồi non quá đầu người. Toán viên nhiệm vụ đi đầu (Point man) đang căn lại địa bàn chuẩn bị. Toán theo đội hình định sẵn bắt đầu di chuyển. Tiếng chim trên cành cây cao líu lo bên hông và đàn vắt đã xuất hiện dưới lá cây mục. Đại úy đi hàng thứ hai, trước tôi ra lệnh dừng lại khi nghe tiếng Covey đang đến. Toán phó người Mỹ đi đoạn hậu đang cầm chiếc gương chiếu lấy ánh sáng sẵn sàng ra hiệu cho máy bay (Covey) cạnh người xạ thủ M79 (Biệt kích quân người Việt) và sau tôi Toán phó người Mỹ phụ trách truyền tin (Radio man) đang liên lạc…Covey ở trên đầu có lẽ đã nhận xong vị trí Toán bằng gương chiếu và Đại úy đang ghi chép tọa độ Toán do Covey thông báo. Khác với xâm nhập bằng trực thăng bãi thả đã được ấn định chính xác cho thuyết trình hành quân. Nhưng với bằng dù sự chêch lệch tọa độ buộc phải có và xác định lại tọa độ là điều cần thiết. Toán tiếp tục di chuyển. Covey cũng đã ra khỏi vùng. Nắng chan hòa và tầng mây trắng phau như càng lúc càng cao! Khu rừng trước mặt xanh mờ sương lam đầy bí ẩn nhưng bên này khu rừng lau trổ cờ trong gió bạc một mầu nghiêng ngả nhảy múa cùng nắng vàng chan chứa! Không gian yên ả trừ lũ chim trên tàn cây cao đứng lẻ loi bên cạnh tảng đá nổi lên như lưng Trâu. Người đi đầu mồ hôi nhỏ giọt rất vất vả vì cây dây leo. Thi thoảng Đại úy cũng phải thay thế dẫn đường. Đàn vắt dưới chân lau nhau ngửi mồi nhưng chẳng làm gì được vì chúng tôi toàn thân kín bưng trừ ra khuôn mặt nhưng đầy thuốc trừ muỗi. Tôi bỗng tiếc cho bộ Dù nhẩy…đúng là đánh giặc theo kiểu nhà giầu cũng khác!

Căn cứ Air America (CIA)

             -Rừng cây cao, tối hun hút. Tôi như đi vào đường hầm gió lùa và lạnh lẽo. Nửa ngày chúng tôi đánh vật với khu rừng chồi chằng chịt những dây leo. Vạt rừng lau bên cạnh dễ đi nhưng không phải là hướng di chuyển vào mục tiêu. Tiếng kêu của thú rừng vòng vọng và đàn khỉ chí chóe trên cành như lạ lẫm nhìn chúng tôi. Bữa ăn quá trưa cũng đã xong. Đại úy căn lại bản đồ để lấy hướng đi. Ngồi bên cạnh, tôi nghe ông nói…còn khoảng năm cây số nữa!  Mục tiêu con đường có đường dây điện thoại mà một Toán thám sát đã báo cáo. Nhiệm vụ chúng tôi tiếp cận con đường tìm đường dây điện thoại để đặt máy thu mọi cuộc điện đàm và bắt tù binh nếu có thể. Trung sĩ truyền tin ngồi sau. Tôi nhìn và phì cười khi anh ta cố mò trong mông, lôi ra con vắt căng đầy máu trên tay. Cái mẹo mà khi còn ở Trung đội Thượng (Hatchet Force) trước khi vào rừng cứ kín đáo xoay lưng rồi ngắt bất cứ chiếc lá nào…nhai trong miệng cho nát rồi vất đi…có thể tránh được lũ vắt tấn công…nhưng theo tôi đã thực hiện nhiều chuyến…có hiệu quả đấy, trừ những con vắt tham, đói ăn điếc không sợ súng. Cách tốt nhất vẫn là áo quần kín bưng, tay và mặt luôn bôi thuốc trừ muỗi. Covey vừa bay ngang rồi biến mất như nhắc Toán…có tao đây! Chúng tôi đang xuống một con dốc thoải nhưng trước mắt là dẫy đồi cao. Thế đất như người ta gấp một tờ giấy. Mặt trời chiếu nghiêng, ánh nắng lung linh trên tàn cây, âm thanh xào xạc lắm khi rít lên cùng gió và gió chỉ đi qua không xuống được chỗ chúng tôi. Một tiếng súng nổ rất gần rồi liên tiếp hai phát như bắn vào Toán. Tôi sững người nhìn quanh…không có ai trúng đạn nhưng tự nhiên ngồi thụp cả xuống. Tiếng hú cất lên và giờ đây tôi đã xác định được vị trí tiếng súng. Có một tiếng hú ở xa hơn đáp lại. Tất cả đều nằm mé tay mặt của hướng di chuyển…cách chúng tôi chỉ khoảng hai, ba mươi mét.  “hú…heo rừng…đến đây, gánh về…hú hú” Toán ngồi yên chờ đợi diễn tiến. Nhìn quanh tôi đã thấy tự động từ lúc nào mỗi người chọn một gốc cây sẵn sàng. Thời gian qua đi, rừng trở lại thanh vắng. Toán di chuyển đang qua cái đồi nhìn xuống khe trải dài hun hút. Tiếng của con chim đất lạnh lùng kêu khắc khoải như muốn dẫn chúng tôi vào sâu…nhưng thật ma quái!  Ánh nắng đã khuất, qua khoảng trống bầu trời có tí ửng hồng trên tầng mây. Địa thế khác lạ với những cụm tre to lớn theo gió vặn mình răng rắc và ngọn ngả ngớn trên cao. Bên những bụi chuối có buồng chín còn một nửa bu đầy ong ruồi chưa biết thế nào là đêm tối. Đường dễ đi nhưng ẩm. Cây vừa đủ để che chắn hành tung. Toán dừng lại dựa lưng vào tảng đá chuẩn bị cho bữa cơm chiều rồi tìm chỗ ngủ đêm.

4-Choàng tỉnh trong mơ màng giấc ngủ. Tự nhiên tôi nhìn đồng hồ…tám giờ tối. Đã có tiếng cụ cựa trở mình của đồng đội. Động cơ xe lớn dần và gấp gáp như thử sức! Nó đang ở hướng Tây đúng hướng mục tiêu của chúng tôi. Tiếng người lao xao cùng tiếng động cơ náo động. Bản giao hưởng đêm rừng thêm mới với tiếng động cơ âm trầm cùng láo nháo tiếng người vang vang và quanh quanh côn trùng nỉ non lan xa hòa điệu. Một công trường khởi động hay đoàn xe thức giấc chuyển mình? Phải đợi thôi!  Mọi người chắc cũng như tôi đều thức dậy và lắng xem hoặc đang ước lượng khoảng cách? Một tiếng thú kêu rống như xé toạc không gian tiếp theo là giọng gầm gừ như đối nhau càng lúc càng to rồi thét vang…bỗng chốc mất hút trong đêm. Tiếng của đoàn xe đi xa để lại lao xao tiếng người như dần xa vắng. Nghĩ trong bụng, đoán chỉ là trạm vận chuyển. Đêm cháy dần như ngọn nến, tôi cố nhớ đến bầu trời xanh ngắt và sâu thẳm mênh mông…mênh mông…để dỗ dành lại giấc ngủ.

          -Có một thứ gì đang đi tới…tiếng động cây lá và bước chân nhịp nhàng quanh tiếng gà gáy vang. Trời đã sáng nhưng chưa rõ hẳn trong làn sương mù giăng găng, giơ tay lên mặt là chạm phải nhất là ở hàng mi. Mẩu C4 đang nấu nước cháy hết tạm ngừng. Một con chim lợn xà xuống thấp kêu thét một tiếng nghe rờn rợn. Nhìn những gương mặt căng thẳng tay lăm lăm trên cò súng trong thế ngồi dã chiến. Tôi bỗng phân định ra cái sự gì đó đang đến quyết không phải là địch quân!  Nhưng toàn thân cũng nóng lên theo từng bước chân căng thẳng. Thời gian như doãi ra rồi ngừng lại cùng một sự yên lặng chợt đến thật khó hiểu…Tiếng khịt khịt vang lên nhanh chóng đánh tan bầu khí căng thẳng cùng mọi cái thở phào nhẹ nhõm. Rồi từ bụi cây một con heo đen xì cái đầu đưa qua đưa về ngẩng lên nhìn chúng tôi. Nó đứng đó như khách xa lạ một lúc nhìn ngổ ngáo rồi tẽ ngang đi mất.  Mẹ kiếp…sáng sớm đã dợt hộp!  Cơn gió nhẹ bay cùng làn sương nổi hột làm cơn thèm cà phê chợt đến. Ngọn lửa C4 đang làm sôi ca nước…việc cấn thiết cho cái bao tử trong một ngày…đổ nước nóng vào hai bịch gạo sấy và nhâm nhi cà phê cùng thưởng thức điếu thuốc lá…thổi khói vào chiếc áo đi mưa để sát đất. Rừng yên lặng chỉ còn tiếng chim. Sương mù tự nhiên kéo đi đâu thật lẹ, chỉ còn những mảng mỏng luẩn quẩn bên vạt cây lá từng giọt đếm trên đất. Hai người Biệt kích Việt vừa gỡ xong mìn phòng thủ. Toán di chuyển.

           -Con đường chắn ngang. Tôi được lệnh theo Đại-úy lên thám sát. Đường nhỏ hẹp có dấu bánh xe đạp đi lõm hai bên nhưng bên này sâu hơn. Chứng tỏ địch vận chuyển thồ hàng từ hướng Đông sang Tây rồi lại dắt xe đi bộ trở về. Tôi được lệnh vượt qua đường sau khi đã lấy ít lá cây rụng lấp bên trên tạo thành một lối đi tránh để lại dấu vết. Toán phó, người cuối cùng vừa sang đang ngồi xóa dấu và gài lại trái mìn M14 chống theo dõi. Tiếng Covey ì ì đang lên vùng. Một mảng trời trong xanh bên cạnh khoảng mây trắng đùn từ dưới lên cao. Mặt trời đứng khựng trên tàn cây như cố xuyên thủng lớp sương mù đang muốn thoát khỏi sức hút của đất và cây rừng. Toán dừng lại bên một gốc cổ thụ có những dây leo to như cổ đùi rũ xuống. Đàn khỉ thấy người đang dáo dác trên cành và to nhỏ gì đó. Người Mỹ truyền tin liên lạc Covey…đọc mật mã chuyển bức điện. Sự cô đơn của rừng đầy kỳ bí và lạnh lùng! Toán tiếp tục di chuyển để lại đàn vắt như tiếc rẻ con mồi…lồm ngồm dưới lớp lá rụng dầy. Một mùi hương hoa thoang thoảng, tôi bất chợt nhìn lên tàn cây. Mầu hoa tím nhạt đua lay trong gió dịu hiền bên lá xanh phơn phớt…hoa gấp bội lần lá! Đại úy mới vừa trượt chân, tôi phải ghìm người lại, đơn giản là chúng tôi đang xuống con dốc. Nắng ở trên cao nhưng không thể xuyên rừng xuống được đất. Buổi sáng đi qua thật lẹ…tôi đã cảm thấy đói bụng. Những bước chân khám phá cũng đã mỏi…dù sao cũng cần phải tiếp thêm năng lượng. Đại úy quay lại nhìn tôi rồi nhìn đồng hồ tay chỉ vào bụng, ý muốn hỏi có mệt, đói không? Tôi cười đưa tay ra hiệu…Ông và tôi sức vóc không bằng nhau! Nhưng dù sao tôi biết chắc rằng cũng phải qua khỏi con dốc trước mặt…chỗ nghỉ quân phải có địa thế tác chiến tốt. Luồng gió từ khe sâu giống như hơi thở của rừng luôn lạnh lẽo, âm u và huyền bí! Một tiếng súng nổ ở hướng Tây…địch đang báo hiệu gì đó hay là một mệnh lệnh trong khu vực? Nó đã quá quen với những cuộc hành quân Biệt-kích nhất là khi địch biết chắc có Biệt-kích trong vùng, lúc đó tiếng súng bắn để nghi binh hay tạo một cái bẫy dụ chờ Toán vào vùng phục kích do họ chọn lựa. Tiếng của một con chim lạ kêu trong sâu nghe âm vang thật rền rĩ, cô đơn.

5- Bữa cơm chiều, ăn xong là di chuyển ngay. Trời nhá nhem, sự yên tĩnh đến đáng sợ của rừng luôn làm căng thẳng thần kinh! Buổi chiều qua đi với hai lần vượt qua loại đường gùi xuyên rừng và con suối cạn róc rách từ kẽ đá…nó chỉ đổ nước ra suối lớn vào mùa mưa. Bóng tối đến thật nhanh cùng đàn muỗi thét vang bên tai, tức tối vì mùi thuốc bôi trừ muỗi. Bóng đêm đã ngự trị nhưng Toán vẫn lần mò chưa tìm được một gốc cây ưng ý hay một địa thế có những tảng đá để ẩn mình. Tiếng của loài chim ăn đêm như thúc dục đến não lòng, kinh dị. Cơn gió lạnh chợt đến như xé lòng, buốt giá bủa vây. Toán dừng lại khi bước chân tôi đứng trẹo đi vì hai cục đá cao thấp. Gốc cây lớn ngay trước mặt đã được chọn và chỉ trong tích tắc mọi người đã yên vị cùng lúc người Toán phó và người dẫn đường (point man) gài xong hai trái mìn phòng thủ…ở ngay đường vừa di chuyển…cùng hướng vào mục tiêu.  Tôi ấm dần lên trong cái áo đi mưa, dựa người thoải mái vào ba lô và dây đạn khoác hờ vào hai vai rồi cởi khóa dây đạn trước bụng…Khi cần thiết…nhổm người dậy là mọi thứ đã sẵn nơi vai, chỉ việc gài chốt dây đạn là xong. Hướng thoát hiểm được ấn định luôn là phía trước…đường vào mục tiêu. Trong trường hợp đụng địch tại nơi ngủ đêm, sẽ có tiếng hô ra lệnh của Toán trưởng và hướng trái mìn Claymore của người đi đầu nổ tung…Đó là con đường máu thoát hiểm…Tôi đi dần vào giấc ngủ…lơ mơ trong điệp khúc đêm rừng gió rét.

             – Vừa mở mắt thức giấc. Tôi liền tạ ơn Chúa ban sự bình an trong đêm. Sương trên cành nhỏ giọt từng giọt xuống chiếc áo mưa. Nó lộp bộp nhiều hơn khi làn gió thổi trên cao. Sương mù giăng khắp và gà gáy dồn dập. Núi rừng vẫn một mực yên lặng và hình như tiếng chim trong gió khe khẽ lẩn khuất bên trên cùng tiếng côn trùng rời rạc, mệt mỏi với chức năng về đêm?!  Trời sáng dần, ngọn gió làm sương mù bay, tôi như ngủ trong cỗ màn tuyn trắng đục khi còn ở nhà chưa đi lính. Đại úy đang nấu nước sôi chuẩn bị cho cái bụng trong ngày. Mùi thuốc nổ C4 dùng nấu nước có mùi thơm thơm khi đốt lửa nhưng nó lại tạo khói khét lẹt lúc được kích hoạt nổ. Toán được phép mang theo những bánh thuốc nổ C4 dùng vào việc nấu nướng và khi hữu sự chúng tôi có thể gộp những bánh thuốc nổ C4 xài dở dang, tạo thành bánh lớn bởi độ dẻo của nó và gắn ngòi nổ đốn ngã bất cứ cây cao nào cản trở cho bãi đáp khi bất ngờ triệt xuất Toán. Điều quan trọng là phải tạo một lỗ sâu bằng cách ấn mạnh cây viết chì mà Toán trưởng vẫn dùng để ghi chép vào bánh thuốc C4 để cho ngòi nổ ở trung tâm, bảo đảm cho hiệu quả. Công việc của buổi sáng cứ tuần tự…sau màn vệ sinh cá nhân…Toán bắt đầu di chuyển.

            – Nắng trên cao và gió mang cái mùi ngai ngái của loại cây mọc trong khu vực. Có lá như lá me, chiều cao chỉ bốn mét, tàn xòe rộng, quả rũ xuống như giàn đậu đũa. Mọc sát cạnh nhau an phận dưới những tàn cây cổ thụ cao lớn che trời. Một chùm lan rừng tím xậm vụt lên từ cành lá, đùa giỡn cùng nắng ban mai. Có một con ong vừa vụt bay, nhanh chóng mất tích. Tiếng chim líu lo và đàn khỉ the thé đùa giỡn chuyền cành! Bên gốc cây Đại úy liên lạc với Covey…Ông mới chuyển xong bức điện và có vẻ như đang chờ sự gì đó? Toán lại lên đường sau tiếng Covey nhỏ dần đi bao vùng khác. Di chuyển dần lên cao, địa thế dốc trì nặng đôi chân. Bầu không khí thay đổi hẳn, mát rượi và thơm lừng hương hoa. Trên cao cả một vạt rừng hoa tím…mầu tím hồng nhạt từ cây rắc những bông hoa trên đất, theo cơn gió nhẹ bay bay cả vào người chúng tôi như mừng người chiến thắng! Ai có tâm hồn mà chẳng rạo rực trước cảnh này? Người dẫn đường đã lên tới đỉnh dốc. Mảnh trời xanh lấp ló bên trên tầng cây và bên dưới chen cùng những gốc cây tảng đá đen xì rải rác lồm ngồm như đàn rùa biển lên bờ. Đại úy ra lệnh nghỉ và ăn trưa. Gió từ dưới lũng thốc lên vút tận tầng cây rào rào lao xao. Toán phó đang hút thuốc lá, thở khói thuốc vào ngực áo mình, cạnh người xạ thủ M79 nhai cơm. Đại úy bận bịu với tấm bản đồ và cái địa bàn…căn, đo xác định lại phương hướng. Mùi ruốc thịt ba lát đậm đà sao nước mắm ngon nhai với cơm sấy trong miệng làm tôi nhớ về ký ức khi xưa còn bé…Cứ mỗi lần Mẹ làm ruốc thịt heo y như rằng tôi căn để ăn vụng, nhai không biết chán…Miếng ăn vụng tôi nghiệm ra rằng ở những nơi kín đáo ăn miếng càng nhỏ nhai càng khoái, càng khích thích tợn!  Tiếng Covey vừa bay ngang loãng dần về hướng Đông có lẽ nó lên đường về lại nơi xuất phát đổi tua cho chiếc khác bao vùng. Tôi cố gắng chống lại giấc ngủ trưa quen thuộc và thấy đời như là sự gì bất công tràn lan!   

  6- Tiếng cười đùa vang vọng xé tan sự yên lặng kỳ bí của rừng. Gió mạnh từ lũng liên tục thổi lên rồi luẩn quẩn làm đôi lúc giọng trong trẻo nhỏ nhẹ, đôi khi khanh khách vụt cao. Mọi người đưa mắt nhìn nhau và tôi đã thấy cái nhíu mày trên trán Đại úy. Tôi biết ông đang quyết định một việc gí đó? Vì nếu di chuyển ngay theo hướng vào mục tiêu, Toán sẽ bỏ lại sau lưng tiếng cười đùa của địch bên hông…chẳng phiền toái gì cả!  Y như tôi linh cảm. Đại úy đến bên Toán phó và họ thảo luận gì đó? Giờ thì cũng như mọi người tôi có thể ước lượng khoảng cách đến địch chỉ vài chục mét. Trở về Đại úy ra lệnh thám sát khu vực và tôi thông báo cho hai Toán viên biết. Người đi đầu đã đứng lên. Toán cứ theo hướng có tiếng người đi tới. Cây rừng tương đối dễ di chuyển. Sự che chắn tốt và chúng tôi cẩn trọng lần bước. Con Sóc đuôi dài leo vụt lên cây đến nửa chừng dừng lại nhìn chúng tôi. Tiếng người mỗi lúc một gần rồi đột nhiên tắt hẳn? Ánh nắng ngang tầm mắt nhưng lúc này bị tàn cây che chắn. Tiếng ì ì của Covey ở một nơi xa hướng Nam cho chúng tôi thêm tin tưởng. Toán dừng lại Đại úy ngoắc tay gọi tôi và cùng lên phía trước. Một con suối trước mặt cùng mắt tôi chạm ngay vào dẫy nhà sàn nằm nép bên suối ở sườn dốc. Một khoảng ánh nắng chiếu rọi tấy rõ con nước lao đi trong đá chắc chắn là không sâu. Nhìn gần, dưới dốc những trái su su ngồn ngộn trên dây leo cùng những luống khoai môn bên hàng ớt đỏ rực. Toán cảnh yên lặng như ma quái, đến nước dưới suối cũng câm lặng!? Tiếng của một con chim đất rúc lên nghe như kêu mời và một, hai, ba, bốn rồi năm người từ nhà sàn vừa đi ra. Nhìn kỹ ba dân quân và hai bộ đội. Không trang bị súng nhưng người bộ đội đi thứ hai quấn băng xanh mầu lợt trên đầu. Có tiếng gọi từ phía bên kia con suối nhưng chẳng hiểu nói gì? chỉ thấy cả năm người sắn quần lội qua. Nắng chiều tỏa ánh sáng chiếu chói lọi xuyên cành lá và chúng tôi phát hiện thêm những làn khói tỏa không muốn rời mái nhà. Một tên bộ đội bất chợt từ trong ra ngoài sân, cây súng chỉ thiên nổ một phát rồi lại tất tưởi trở vào. Tất cả mọi sự việc hẳn không qua được cái ống nhòm của Đại úy. Ông có vẻ say mê, rồi thình lình ra lệnh rút quân, di chuyển theo hướng vào mục tiêu. Ánh sáng ửng chiếu khắp trên vùng trời đằng Tây cứ như vầng than hồng lóe trong đêm. Người đi đầu phải luồn lách để tránh những cây dây leo trong một địa thế xuống dốc luôn phải hãm đôi chân. Trên một cành cây thấp ngước nhìn loài chim xâu bé tí thoăn thoắt nhẩy tìm mồi như chả biết thế nào đã gần đêm. Đại úy ra lệnh ngừng lại, chả gì cũng đã quá bữa cơm chiều. Đàn muỗi tự nhiên xô lại vây quanh cùng tiếng kêu của một loài chim lạ nghe đơn côi và khắc khoải. Cơm ăn vừa xong cũng là lúc bóng đêm vừa đến. Điếu thuốc lá cuối cùng trong ngày được phép, tất cả được thở sâu vào ngực áo. Lệnh qui định, nơi ngủ đêm cấm hút thuốc lá cho đến sáng ngày hôm sau. Toán di chuyển tìm chỗ ngủ đêm và hình như có tiếng ầm ì nơi xa vọng lại. Chân bước nhưng tai dóng lên để nghe…quả đúng vậy! Nó xen lẫn với điệp khúc đêm rừng quanh quanh và rõ nhất đanh nhất có một loài giống như tiếng Ve kêu mùa không biết mỏi với mầu Phượng rực nắng nhưng ở đây “tiếng Ve…?” trong đêm. Động cơ xe, giờ tôi có thể nói như vậy và xác định được càng lúc càng đến gần. Cơn gió làm lao xao cây lá. Những bước chân giữa đêm rừng đầy kinh dị, sợ hãi vây quanh…chân tuy bước mà lòng cứ mãi về phía sau chỉ sợ bị “vồ…” Dù rằng tôi biết chắc còn ba đồng đội đang đi theo. Một mùi hương hoa thoảng trong đêm nhưng không gây được sự thích thú kèm theo cái lành lạnh. Đại úy đi trước tôi đang ho vào vạt áo, có lẽ ông bị dị ứng “làn gió lạ” Một bóng đen to lớn án phía trước che dần bầu trời sao. Chúng tôi như bước vào con đường hầm gió lạnh và tối om. Gió ào mạnh bên trên rồi dịu đi chạm lá tựa tiếng réo rắt phong cầm lúc trầm lúc bổng. Tôi vướng vào một dây leo và chân chạm rễ cây suýt ngã. Đại úy ra lệnh nghỉ đêm và tiếng động cơ xe bỗng đứt quãng vuột biến. Tôi nghe Đại úy nói với Toán phó chỉ gài một trái mìn Claymore.   đường thoát hiểm vẫn là hướng vào mục tiêu. Gốc cây cổ thụ và những rễ bạnh nổi lên như ôm lấy chúng tôi. Tiếng kêu của con tắc kè tận trên cao chậm rãi từng tiếng chắc nịch giống như nắm đấm dội vào lồng ngực gây tưng tức hay có thể tầng cây dầy che lấp không gian thoáng đãng và sương mù tuy chẳng thấy nhưng cũng hình dung qua cái lạnh mơn man trên mặt, phơn phớt ẩm hơi.

7- Buổi sáng thức dậy, công việc tuần tự cứ như mọi ngày hành quân. Covey lấy xong bức điện rồi di ngay. Sương mù cũng tan biến để lại giọt mưa trên lá. Người đi đầu bỗng dừng lại, tay ra hiệu con đường phía trước. Ánh nắng chói lọi lọt qua tầng cây làm hai vai người đi đầu tỏa khói và tôi thấy Đại úy đang quan sát con đường. Theo lệ thường tôi lên để yểm trợ…vẫn là loại đường gùi để vận chuyển, nhìn những dấu chân in trên đường, chứng tỏ địch di chuyển thường xuyên nhưng hẳn nhiên chưa phải là con đường có đường dây điện thoại mà nhiệm vụ Toán phải tìm. Sáng nay khi chấm bản đồ Đại úy nói rằng chỉ còn khoảng hơn một cây số sẽ chạm mục tiêu. Chúng tôi băng qua đường sau khi Đại úy chụp vài pô ảnh. Địa thế khu rừng chồi rất ít cây to nhưng Toán đang đi vào bóng mát cùng tiếng chim lanh chanh trên cành cao. Một mảng mây trắng bấu chặt lấy bìa rừng trước mặt cùng ngọn gió làm lạnh hai vai và chắc chắn sẽ khô dần đi cái khăn ngụy trang. Tạm nghỉ chốc lát rồi lại lên đường. Hai con chim thật lớn tự đâu bay đến một con đứng quạt cánh trên tàn cây nhưng không đậu xuống còn một con bay vòng trên cất tiếng kêu la như vai trò của một huấn luyện viên!  Đại úy nhắc tôi “đi đi…” cũng vừa lúc súng nổ ở phía sau rất gần và tiếng đáp trả phía bên hông nghe đanh, nhọn như không cùng một loại súng. Khu vực bỗng trở nên đáng sợ. Tôi cảm thấy nhiều mũi tên đang bắn tới và cái lạnh chợt đến đang tỏa từ sống lưng đến gần mông. Đại úy ra lệnh dừng lại. Phía trước khe dốc lên cao trông như bức tranh với đụn mây trắng tinh khôi cuồn cuộn cùng bầu trời xanh thẳm. Tiếng hú từ xa vang vọng mà chỉ có thể là tiếng người cùng tạo cho rừng một thoáng kỳ quái, thâm trầm đến lạnh lùng. Giọng hú đáp trả hai lần nghe vọng dội âm thanh như đi từ Nam lên Bắc…Tôi tưởng tượng đến có một trận đồ đang vây hãm…giữa thanh thiên bạch nhật!  Chúng tôi đến gần sự hoạt động nơi địch đóng quân. Đại úy chỉ hướng cho người đi đầu và ra lệnh xuất phát. Nắng đã gần trên đỉnh đầu và làm khô mọi thứ ướt bởi sương sớm. Toán đang đi vào bìa rừng với cây cao bóng rợp. Vẻ âm u vắng lặng chào đón…nhìn, ai mà chẳng chột dạ?! Tôi theo thói quen xoay người ngắt một lá cây tiện nơi tay bỏ vào miệng nhai để chống vắt. Nụ cười của người Toán phó (radio man) đi sau nhìn tôi tinh quái và thoáng ngạc nhiên, dù rằng việc này tôi cũng đã giải thích lúc cùng thực tập. Rừng cây tương đối dễ di chuyển vừa đủ để che chắn. Những tảng đá chen nhau như đua cùng cây nhưng an phận bởi loài cây mọc từ trong đá xanh biếc nhưng thấp xỉn phát triển theo sức sống ở những đường kẽ và trũng cùng loại rêu xanh đậm bấu chặt. Chúng tôi ăn trưa ở gốc cây có những tảng đá rải rác vừa đủ để che đầu người ngồi. Ánh nắng chiếu rọi, giống những hạt kim cương thi thoảng hiện trên những khuôn mặt và điệp khúc rừng cứ mãi trôi theo thời gian bất tận! Tiếng ào ạt phía bên hông làm những cây chồi non nghiêng hẳn một vạt trước ngọn gió quẩn quanh quanh…rồi chạy đuổi về phía sau. Đại úy ăn xong ông lại căn hướng đi…Ông ta có vẻ sốt ruột, nóng lòng vì nhiệm vụ hoặc bởi những ước lượng đường di chuyển bị sai trật. Nhưng tôi nghĩ là không thể!  Lệnh di chuyển ngay đúng ra là phải có chừng một tiếng nghỉ ngơi. Nhưng cả Toán không ai tỏ vẻ uể oải ngược lại hăng hái tiến bước. Tôi cười nhìn lại đàn vắt cố công bò đến ngổn ngang…chúng cứ ngóc lên cao đưa cái vòi qua lại dò con mồi…tôi ngộ nghĩnh vẫy tay chào…chào lũ mày, Vắt.  Ánh sáng vẫn rọi trên khuôn mặt Đại úy vụt biến mất…nhìn lên hai con chim rất to vừa đậu vào tàng cây cất tiếng kêu như gọi con trong tổ? Ngọn gió quẩn hình như quay lại đẩy chúng tôi vào sâu. 

-Người đi đầu dừng lại ra hiệu có con đường. Đại úy nhìn tôi như ra lệnh cùng lên thám sát. Phía sau Toán đã ở vào vị trí chiến đấu dàn hàng yểm trợ hai bên và mặt sau. Ngồi xuống mép đường bụi rậm quan sát. Đường cơ giới, dấu bánh xe và vết chân dấu giầy trên đường…nhưng không thấy dây điện thoại. Đại úy nét mặt đang suy tính, con đường này rất đúng trong báo cáo. Tôi cũng biết như vậy và nghĩ là dây điện thoại chỉ có ở bên kia đường? Đại úy khoắt tay ra hiệu vượt qua…Vẫn là người phải sang trước để lập chốt yểm trợ…Men theo những đốm lá cây rụng tôi nhanh chóng vượt qua sáu… bẩy mét con đường thật êm ái và chân vướng ngay vào sợi dây điện thoại. Lập xong đầu cầu, quan sát hai mé đường tôi ra hiệu cho Toán di chuyển. Vẫn con gió quẩn lúc này thổi ào trên đường bốc lên những chiếc lá bay bay.

  8- Đại úy cũng vừa sang đường, tôi chỉ cho ông dây điện thoại. Nét vui mừng rõ trên mặt, ông buông một câu “tuyệt vời” và ngay lập tức ra lệnh di chuyển dọc theo con đường để chọn địa thế. Toán đã đến được một nơi cay chồi mọc cùng dây leo chằng chịt bên dưới, có những tảng đá rải rác…Một địa thế tác chiến tốt và quan sát cũng như ẩn nấp chả chê vào đâu được. Nắng đã siên ngang…chiều đi thật mau…cũng nhanh như chúng tôi vào vị trí. Đại úy và radio man nằm ở trung tâm để ghi âm. Tôi và người đi đầu (point man) hai đầu tả hữu còn Toán phó và người xạ thủ M79 án ngữ mé sau lưng. Hai trái mìn phòng thủ được gài hai đầu do tôi và Point man giữ. Lệnh cho hướng đào thoát là chốt phía sau của Toán phó. Con đường vẫn im lìm vắng lặng. Mé tay trái gió vừa bốc lên những chiếc lá trên đường tung cao rồi xoay tròn chạy ra xa. Dựa lưng vào tảng đá, tôi trong một bụi rậm bắt đầu tạo những khoảng trống nhỏ để tiện quan sát trên đường nhất là lỗ hổng để nhìn được vị trí đặt mìn phòng thủ. Đại úy đến bên tôi từ phía sau như là để kiểm soát và thông báo máy ghi âm của người Toán phó radio man đã hoạt động. Mặt trời đã lặn và bắt đầu cho đêm rừng. Miếng cơm nhai trong miệng bữa nay sao ngon lạ! Trời mây trắng nhưng phía Bắc cơn đen che hẳn nửa bầu trời. Con đường đi xuống lũng sâu quẹo hẳn vào núi cao. Bìa rừng cây cao rậm che chắn cho con đường lại là ranh giới giữa rừng già và rừng chồi non. Bóng tối đem bản giao hưởng rừng đêm cùng sương mù chen lấn. Gió bắt đầu lạnh thêm thổi từ trong sâu. Trong chiếc áo đi mưa tôi chợt rùng mình về sự lẻ loi, cô đơn…dù rằng chắc chắn cách đây chỉ khoảng mười mét là đồng đội! Tiếng của loài chim ăn đêm nghe não lòng gợi nét quỉ ma, chông chênh giữa thực và mộng…Bất chợt nghe từ thẳm sâu ký ức một khoảng trời học đường…ngày ấy những bài học làm người, bài học cuộc đời trước khi bước ra một sân chơi lớn: đời người. Mầu hoa Phượng đỏ như lửa ấy cứ rực mỗi Hè. Tàn mùa Phượng đã nghe mùa Thu gõ tiếng trống trường…lăn dọc thời trẻ con hoang dại. Lăn dọc những vui buồn không tuổi, không tên. Để bước vào những mùa thi…Lần cuối, năm ấy mình không qua nổi kỳ thi, sẽ là ngã rẽ cuộc đời! Trò chơi lớn bắt đầu…Xua đi những ý nghĩ, tôi tập trung vào giấc ngủ. Đưa mình lên bầu trời xanh thăm thẳm, cứ thế xa tít rồi xa tít và tôi ở trong vùng cao xa ấy.

          -Đêm qua đi, trời lại sáng và tôi thức giấc lúc còn tối có lẽ cái chân bị tê vì thế ngủ ngồi quái ác. Tiếng côn trùng nghe đã có phần rời rạc chỉ lũ gà là xung. Biết bao chuyến hành quân và ở bất cứ rừng núi nào tôi chỉ nghe tiếng gà chứ chưa bao giờ thấy chúng! Sự ẩn mặt của lũ gà rừng tôi chưa thể lý giải được? Ánh mờ mờ của sáng sớm làm tôi nhận rõ hơn phía trước mặt thung lũng chạy xa trong biển xanh ngàn cây. Xa hơn núi cao chắn lối và bên này con đường đang đi xuống sâu vào rừng. Cơn thèm cà phê ghê gớm làm tôi phải nấu nước thôi. Mùi chất nổ C4 bị đốt tự nhiên sộc vào mũi…không biết có phải của tôi…ô hay chắc chắn rồi! Hay thêm quanh đây đồng đội cũng đang nấu và tôi liền nghe tiếng “tắc kè” mật hiệu qui định…tiếng một rời rạc là liên lạc với nhau còn nhanh gấp gáp là báo động…Tôi liền đáp lại, Đại úy xuất hiện. Nhìn quanh ông yên tâm, xong lại biến. Đổi lại thế ngồi và thưởng thức ca cà phê cùng khói thuốc ém chặt say say. Gió nhẹ bay bay sương sớm thấy cả hột li ti rồi nhẹ nhàng rơi. Trời đã sáng, mây trên cao xa…cao hơn một ánh sao to lấp lánh chưa chịu nhường mặt trời mà tôi đoán cũng sắp lên khỏi núi hướng Đông. Tiếng chim trên cành cây cao càng rõ hơn náo động dần không khí…Ngày của rừng thật sự bắt đầu và tôi nghe tiếng súng nổ ở về hướng Tây.

           -Một mình lẻ loi, ngồi buồn chết đi được. Hai viên kẹo “cao su” trong khẩu phần ăn nhai lọt thỏm vẻ còn thèm thuồng không đã. Nghe bên vị trí của Đại úy vẫn một mực im lìm nhưng chắc chắn ít ra họ đã thu âm được hai cuốn băng. Ánh mặt trời chói lọi xuyên cành lá tức khắc đang đẩy lùi lớp sương mai mà giờ hình như đã tan biến. Có thể nó chạy trốn trước khi mặt trời đến! Tôi bỗng nhìn về hướng dốc con đường và mắt vừa chạm hai người đang dắt xe đạp đi lên. Tôi…miệng trong loa tay kêu “tắc kè” liên tục rồi nghe tiếng “tắc kè” đáp lại. Mật hiệu đã được nhận và chờ đợi cho sự sẵn sàng.

            9-Hai tên địch dần đi lên, chỉ một tên có mang súng, cây AK đeo trước ngực. Cả hai trang phục chính qui chính hiệu…nón cối, giầy vải, áo quần kaki xanh, lưng thắt dây da nâu loại Trung quốc. Tên đi sau mang cặp da bên hông, không súng. Vì đường lên dốc nên cả hai dắt xe đạp, loại Trung quốc, mầu đen, hai thắng tay liền với ghi đông lái. Tôi dõi theo từ bước đi họ lên, giờ thì có thể nhìn rõ mặt…tên mang súng còn rất trẻ có thể nói là con nít! Còn tên kia, mặt dầy dặn, khoảng ngoài ba mươi. Đếm từng bước chân có lúc chậm vì lên dốc vả lại còn phải dắt xe. Tôi cố chấn tĩnh…doãi tay gồng mạnh như để lấy lại sức và cái của chết người càng lúc càng gần cùng thời gian nóng lên và như ngừng trôi nhưng nhích dần. Một giọng hót mượt mà, thanh cảnh của một con chim trên cây giúp tôi phần nào thoát cơn căng thẳng đang lên và hai tên địch bất ngờ rẽ vào lề đường bên kia có tảng đá cao rồi dựng xe. Động tác rất nhanh hắn tháo cây súng khỏi cổ dự vào xe đạp rối tất tưởi đi đến bụi rậm gần đó…biến mất. Tên mang cặp vào sâu một tí thản nhiên thò tay móc “…” đứng đái nét mặt vẻ thoải mái, tay đu đưa rồi chợt rùng mình nghiêng hẳn người quay đi ra. Hình như có gió to nổi lên phía giữa con dốc, lá cây bay tung về bên kia đường và bóng rợp đen của đám mây dần dần từ sau lưng hướng Nam trôi từ từ lên hướng Bắc. Tên bộ đội con nít cũng vừa đi ra. Rất tự nhiên như đã quen thói lấy cái túi vải sau xe đạp, ngồi xòa xuống cục đá thấp tay kia móc ra hai nắm cơm, đưa cho tên kia một…thản nhiên cắn ăn một cách lạnh lùng! Trò chơi ú tim lại theo từng miếng nhai, thoáng chốc đã hết nửa nắm cơm. Khoảng cách vào quãng mười mét nhưng tôi thấy rõ còn hơn khi đi xem kịch diễn trên sân khấu. Sự hồi hộp căng thẳng cứ dần được đẩy lên có thể đã chạm vào được ánh nắng. Tôi bỗng nhiên tự trách sao lại chọn đầu dốc, nhưng đó là việc của Đại úy…về mặt chiến thuật rất có lợi cho tác chiến, nhưng tâm lý đã lên dốc là phải nghỉ ngơi?!  Giờ đây chắc mọi người cũng có ý nghĩ như tôi trước tình thế này. Vừa ăn xong tên con nít vơ lấy cây súng, tưởng đeo vào người nhưng không hắn chĩa lên trời nổ một phát xong nói ” Đi đi anh…để trưa về còn kịp cơm…”  Họ dắt xe ra đường tự dưng mắt tên bộ đội mang cặp da cứ nhìn chăm chăm vào bụi cây tôi ẩn nấp và một vẻ trù trừ gì đó hiện trên gương mặt hắn…khuôn mặt vừa đi qua vùng ánh sáng chiếu trực diện chói sáng từ tàn cây. Tôi thấy nhột nơi sống lưng và tâm trí tập trung ngay vào cò súng. Vẻ lanh chanh, tên con nít lên yên xe trước, gồng chân, cong người đạp lấy đà…còn tên đeo cặp, thênh thếch trên bi đan xe, một chân đẩy dăm bước, lên xe theo kiểu Pháp. Qua chỗ tôi, mắt hắn không hiểu sao cứ mãi chằm chặp nhìn như say mê? Đàn chim trên cao bỗng kêu réo loạn xạ. Nhìn lên có vài con bay tuá ra và hai con đuổi đánh nhau bay xà xuống đúng vào lúc bóng hai tên bộ đội mất hút bỏ lại sau ánh tia chớp phản chiếu phát ra từ hai chiếc xe đạp.  Không gian trở lại yên ả, tĩnh mịch. Chim trên cành cũng im tiếng sau màn báo động. Tai tôi nghe tiếng Covey ở một nơi xa vọng lại. Làn gió hơi lạnh mơn man trên da mặt và tôi nghe ám hiệu “tắc kè…” chậm rãi. Vội đáp lại và Đại úy xuất hiện đang ngồi xổm đi vào bụi rậm với câu hỏi đầu tiên “ổn chứ…” Dáng điệu nóng lòng ông hỏi tôi có nghe hai tên địch nói gì với nhau. Tôi dịch lại và xác định họ chỉ nói với nhau có một câu ” Đi đi anh…để trưa về còn kịp cơm…”  Nghe xong nét mặt của ông trở nên đăm chiêu suy nghĩ nhíu mày. Hai cặp mắt nâu nâu như chớp sáng. Tôi hiểu ngay ra rằng vai trò của người Thông dịch trong lúc này thật cần thiết!  Đại úy dặn dò một vài việc chiến thuật rồi theo thói quen lấy ra thanh kẹo “cao su” vừa nhai vừa đi khỏi. Một con sóc chạy trên đường, đến chỗ có ánh nắng dừng lại dương mắt nhìn quanh như muốn sưởi ấm. Lại một tiếng súng địch nổ ở hướng Tây chẳng bao xa. Hai bịch gạo sấy giờ thì no đủ…đã thành cơm. Tôi bắt đầu nhai phần cơm buổi sáng và nghĩ đến nhiệm vụ của Toán…Bắt tù binh. Trong thực tập, Toán phó là chuyên gia bắt tù binh. Ông ta có quyền quyết định ra tay hay không trong giây phút chót. Theo lệ thường địch quân vẫn cử người đi kiểm soát đường dây điện thoại và nhiệm vụ thu âm vẫn đi đôi với bắt tù binh. Khi được mật hiệu Toán phó chỉ việc dời chỗ ẩn nấp từ phía sau đi lên phía trái hay phải tùy theo hướng địch, phối hợp với Toán viên đã có sẵn để hành động. Nhưng việc quan trong vẫn là địa thế…có bãi đáp hay không? Thực tại Toán chúng tôi từ ngày qua đã phải luôn tránh những khoảng trống… còn mọi việc khác dĩ nhiên nằm trong kế hoạch…đều phải sẵn sàng tại căn cứ xuất phát.

 10- Nắng chếch ngang mặt. Đồng hồ đã chỉ mười giờ. Buổi sáng qua đi thật mau với vài lần phải trở mình để thoải mái cho thế ngồi, tránh tê chân. Không gian tĩnh lặng nhưng thi thoảng tiếng con chim đất kêu lên như thương nhớ!  “tắc kè…” tôi vội đáp lại mật hiệu rồi tức thời Đại úy xuất hiện. Vẫn câu hỏi đầu môi “ổn chứ…” Rồi ông ra lệnh bắt tù binh sau khi hỏi tôi ” Anh có nghĩ rằng hai tên địch lúc sáng sẽ trở về vào lúc trưa…” Tôi không chút ngần ngừ đáp lại “chắc chắn rồi…tự miệng họ nói ra mà.” Ông đưa cho tôi thanh kẹo rồi rút lui. Tình huống hiện tại người Toán phó phải đến chỗ của Toán viên đi đầu để xem xét địa thế và đón lõng hai tên địch. Phần tôi chỉ lo căn coi phía đường trách nhiệm và sau cùng là tháo trái mìn phòng thủ. Mọi việc chắc đã lên kế hoạch và sự bàn định giữa Đại úy và Toán phó hiển nhiên cũng đã xong trước khi đến tôi. Có giọng hú ở về cuối dốc và tiếng đáp lại hơi xa. Tôi căng mắt chờ đợi nhưng vắng lặng tút đến phần đường chìm vào rừng cây. Ánh nắng như phân chia con đường thành từng khúc có nơi loang lỗ chói chan, chỗ tối hù nhưng dài hơn, thấy cả cái lạnh lẽo âm u. Thời gian nhích dần và dĩ nhiên người trong cuộc cũng chuẩn bị mang tâm trạng căng thẳng. Tôi nhìn lại đồng hồ…nó nhích mãi mà chưa qua con số mười một!  Vùng lên, chửi đổng một tiếng trong bụng “đồ con rùa…” Tôi bò ra dịch dần đám dây leo để có thể mở rộng tấm nhìn về phía tay phải, nơi có thể sắp diễn ra cảnh sôi động chết người chỉ cách chỗ tôi khoảng chưa tới ba mươi mét. Vị trí mới không có tảng đá nhưng khi tác chiến tôi có thể thụt lui ẩn nấp một cách dễ dàng. Trên cây cao, tiếng của những con chim Mẹ dẫn mồi cho đàn con khi dồn dập lúc đứt khúc…nghe chanh chách!  Covey đang ở hướng Nam tiếng xa hẳn chúng tôi nhưng vọng lại có lúc rõ theo vòng bay. Nó đã được thông báo tình hình…chắc chắn là như thế và cái mắt xích trong cỗ máy chiến tranh đang hoạt động. Tôi sửa lại thế ngồi vì thấy tức nơi hông hay có phải tại mới ăn trưa…ăn quá sớm.  Thời gian cháy dần nhưng chậm. Sự căng thẳng theo nhịp kim đồng hồ được đẩy dần lên…đang ở con số mười một giờ ba mươi lăm. Rừng núi im như chết. Gió biến đi đâu mất làm gia tăng cái nóng trong người. Con tim tôi bỗng chỗi dậy khi đàn chim bất chợt kêu thé lên tiếng liên hồi. Tôi sửa lại thế ngồi mắt đăm đăm phía đường về của địch và thoảng nghe có tiếng người. Mọi sự chuẩn bị vào cuộc…cuộc chơi sinh tử!  Hai bánh xe đạp đang lao tới nhưng chưa thấy phần trên bởi bụi rậm án ngữ. Đột nhiên như một cánh đại bàng quái dị…tiếp sau là bóng cao lớn của Toán phó xuất hiện. Tức khắc hai thân người đổ nhào trên đường còn hai xe đạp văng xa. Đại úy và người truyền tin (radio man) chia nhau khống chế hai tên địch chưa kịp hoàn hồn bò dậy với nét mặt ngạc nhiên thất thần. Toán viên xạ thủ M79 cũng vừa xong nhiệm vụ thắt khăn vào miệng và bịt mắt tù binh…đã bị còng tay bằng chiếc còng nylon. Tôi vội gỡ mìn phòng thủ. Toán phó vừa phi tang đi hai chiếc xe đạp và hai mũ cối vào bụi rậm…trông thật oai bởi đeo hai súng và chiếc cặp da. Người đi đầu gỡ mìn vừa xong chuẩn bị di chuyển.  Mọi việc diễn tiến thuần thục như khi thực tập!  Bình tâm, khúc phim được điễn ngay trong đầu khi đang di chuyển. Hết sức nhanh chóng và thật đơn giản…Sự tấn công đầy kinh ngạc bằng chiếc áo lạnh đi rừng quả thật như một cánh đại bàng quất thẳng vào hai tên địch cùng một lúc. Tôi chứng kiến tận mắt như người đi xem kịch ngồi ở ghế hạng nhất. Cái khó khăn ở đây chính là lực tấn công…Toán phó hiển nhiên phải xoay chiếc áo, quật thật đúng lúc và đầy sức mạnh mới có thể đánh chính xác vào phía sau địch quân…không phải một mà cả hai…trong tình trạng đón đầu địch. Thật tài tình và nghề nghiệp…hai con mồi đều ngã về phía trước vừa vặn lọt vào tay của Đại úy và Radio man lao ra chờ sẵn. Tất cả đều được diễn ra trong thời gian cực nhanh…bằng những cái nháy mắt…rồi tức khắc Toán biến vào khu rừng chồi bên cạnh. Covey ở trên đầu từ lúc nào và Đại úy cũng đã đổi balo để trực tiếp giữ liên lạc. Một tiếng súng nổ ở hướng Tây. Tên bộ đội đi trước đứng khựng lại vẻ chần chừ nhưng khi mũi súng chĩa vào lưng, hắn mới chịu bước tới. Toán phó vừa đi vừa chiếu gương cho Covey. Đại úy bỗng ra lệnh đổi hướng, theo hướng Bắc…Covey đã chỉ điểm bãi đáp. Tôi và người Radio man rất bận với hai tù binh. Toán đã thoát ra khỏi vạt cây chồi đến một vùng cỏ tranh mịn óng vàng và hai chiếc A1 trên bầu trời đang đến theo cái dõi mắt của Đại úy. Ông ta ra lệnh trải tấm panel hồng đỏ và luôn chỉ điểm mục tiêu. Một rocket khói được Covey phóng ra và rồi loạt bom chùm từ A1 vãi tới tấp vào đúng khu rừng già có con đường. Tiếng súng địch từ dưới đất vang dội cùng tiếng người nghe lao xao hò hét…nhưng chưa thấy phòng không. Loạt bom napalm bùng lên khói lửa chạy dài cả vài trăm mét. Đại úy ra lệnh tôi và radio man mỗi người phụ trách một tù binh thoát trên chiếc trực thăng đầu tiên. Trên bầu trời hướng Đông những đốm trực thăng lớn dần và hai Cobra thế nào cũng đến trước. Tôi rút ra bình sịt gây mê…bằng cách sịt thẳng vào mặt mũi hai tên tù binh đang ngồi. Chiếc A1 xả loạt đại bác…tiếng nổ lan tràn từ trên lẫn bên dưới cùng với khói và lửa. Đoàn trực thăng nhanh chóng nhập cuộc. Sáu trực thăng thuộc phi đoàn 20 Air Commando biệt hiệu Green Hornets thuộc không quân Mỹ. Hai Huey gunship đang vòng trên bãi đáp và một chiếc xả loạt đại bác 20 ly dọn bãi. Đại úy ra dấu chuẩn bị…Toán viên đi đầu sẵn sàng phụ tôi khiêng tên tù binh lên trực thăng. Chiếc Gunship vừa vụt lên với hàng loạt tiếng đạn 40 ly nổ dài và sau nó chiếc Huey đang xuống bãi, cặp kè cùng chiếc Gunship theo yểm trợ. Toán phó radio man bồng tên tù binh đợi sẵn, cùng tôi cũng sẵn sàng. 

           – Trên đường về căn cứ, người sĩ quan rước Toán khui chai sâm banh. Tôi thấy rõ nút chai bắn vút ra ngoài cửa trực thăng. Bên dưới sàn hai tên tù binh vẫn còn bất tỉnh dù rằng đã được cột chặt vào trực thăng theo nguyên tắc. Một điếu thuốc hút tự do sao mà sướng thế! Nhất là hòa cùng sâm banh uống ngụm to chất ngất. Nghe trong cái mũ bay…người sĩ quan rước Toán nói ” Bên kia…Đại úy cũng đang uống mừng.”  Và theo tay chỉ…Nắng vàng chiều rực rỡ trên phông nền xanh cây lá.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 10 Oct 2023

Cố Nhân Bất Đắc Dĩ

Đặng Chí Bình

Bài 3

Càng về chiều trời càng âm u, ảm đạm. Nhìn hình ảnh đoàn tù đói khổ lao động bên đường, giữa rừng núi hoang vắng, tôi liên tưởng đến những ngày tới của đời tôi. Những nỗi niềm ưu tư dâng đầy, bủa kín lòng tôi theo từng bước chân lặn lội, gập ghềnh, rã rời trong mưa gió cho mãi tới khi rẽ ra một lối đi khang trang, sạch sẽ. Một căn nhà lá, được dựng ngay bên bụi nứa nằm phía trái đường đi. Tuy chỉ là một gian nhỏ, nhưng thật gọn đẹp, nền và vách còn au lên mầu đất mới. Một chiếc băng con mầu trắng hình chữ nhật, kẻ hai chữ “phòng đợi” mầu đỏ tươi, nét chữ thật mềm.

Tên Nhượng nói gì với tên công an vũ trang áp giải tôi, rồi quay lại nhìn tôi, tay y chỉ vào chiếc hè đất nghiêm trọng:

– Cho anh ngồi đây nghỉ, chờ. Đi đái phải báo cáo ông cán bộ này.

Phần vì mệt nhọc, phần vì tâm tư đang rối bời với bao nhiêu những bỡ ngỡ, lắng lo cho cảnh đời sắp tới, nên tôi chỉ dạ khẽ, đầu gật nhẹ như đã thấy lời của y dặn, rồi tôi ngồi bệt xuống vỉa hè của căn nhà. Vẫy tay ra hiệu cho tên hình sự đi trước, rồi y quầy quả cắp cặp hồ sơ đi theo sau, trên con đường đất rất phẳng phiu không một nhánh cỏ, dẫn vào khu nhà có lá cờ. Dọc theo hai bên của con đường nhỏ, thỉnh thoảng lại thấy một bụi hoa vạn thọ hay thược dược. Có thể đây là khu nhà của ban chỉ huy trại cũng không chừng.

Tôi liếc nhìn vào căn nhà nhỏ. Ngay giữa nhà là một chiếc bàn và hai cái ghế dài còn mới. Trên đường, dưới tấm hình lão Hồ râu dài là chiếc băng khẩu hiệu đỏ lẹt: tất cả cho miền Nam ruột thịt.

Lúc này tôi mới để ý đến tên công an vũ trang áp tải tôi từ Hà Nội. Y chỉ chừng 20 hay 21 tuổi. Nhìn y đang vặt từng chiếc lá nứa non, ném xuống đường mương bên cạnh. Mắt y đang bâng khuâng đờ đẫn hướng về mấy dẫy núi cao, mây mù phủ kín ngọn ở phía xa xa. Tôi nhớ lại buổi sáng, lúc thằng Hoàng Sún trốn chạy, chỉ còn một mình y là công an ở lại xe. Y đã lên đạn, hung hăng quát lũ lau nhau, trong đó có cả tôi đang ngồi:

– Chúng mày ngồi im, đứa nào lộn xộn tao xử lý!

Mặt y lúc ấy thật là lạnh lùng cô hồn. Tôi ghét y từ đấy, nên suốt trên quãng đường đi, tôi chả thèm gợi chuyện nói với y một lời. Nhưng bây giờ, nhìn mặt y còn non choẹt; hơn nữa, thỉnh thoảng y liếc nhìn tôi với ánh mắt dìu dịu, xen lẫn nét băn khoăn, tò mò. Để giải quyết cái sầu hoang vắng trên đất lạ, tôi mỉm cười nhìn y:

– Ông đã lên đây lần nào chưa?

Y quay lại hơi ngỡ ngàng, rồi dè dặt chậm rãi:

– Chưa bao giờ!

– Có lẽ ông Nhượng đã lên đây nhiều lần? Ông ta chả phải hỏi thăm ai và rất quen thuộc đường lối.

Mở to mắt nhìn tôi, rồi như một con rùa rụt cổ vào mai, mặt y đanh lại, im lặng không trả lời. Ngay khi tôi vừa cất mồm lên hỏi, lưng chừng đã thấy, tôi thật quá lố, vô duyên. Cũng may vừa lúc đó, một bóng người đang bước những bước dõng dạc tiến ra từ phía khu nhà có lá cờ. Khẩu súng ngắn đeo trễ cạnh sườn y, đang lắc lư với những bước thật dài của một thân hình cao lớn. Tay cầm mấy tờ giấy, khi y tới gần, tôi chỉ thoáng thấy mấy dấu triện đỏ ối. Ve áo chỉ có chiếc lon hạ sĩ, thế mà phong độ của y nghiêm nghị, lạnh lùng có vẻ như là một sĩ quan. Ngay từ còn ở xa, y đã nhìn tôi chằm chằm; lúc tới nơi, y và tên công an vũ trang hơi gật đầu chào nhau. Hất hàm về phía tôi rồi nhìn tên vũ trang, y buông một câu gọn lỏn như ra lệnh:

– Đồng chí hãy mở khóa cho nó!

Chẳng phải vì chiếc lon hạ sĩ, mà chính vì tác phong của y đã làm cho tên vũ trang vội vàng, lấy chìa khóa để mở còng tay cho tôi. Khi tên vũ trang vừa tháo xong còng, tên hạ sĩ nhìn tôi, tay chỉ vào phía trong, khu nhà có lá cờ, gằn giọng:

– Ôm quần áo vào đó!

Tên công an vũ trang sau khi đút chiếc còng vào túi áo mưa, quay lại, tươi nét mặt, chắc định nói hay chào tên hạ sĩ. Nhưng mắt y đã chùng xuống nét sượng sùng, vì tên hạ sĩ đã xoay gót đi theo tôi như quên mất y rồi. Mặc chúng nó đối xử với nhau, tôi nghĩ vậy. Hai cánh tay và hai vai ê mỏi rã rời, tôi đứng dậy vươn vai mấy cái; đôi tay đã mất tự do suốt từ sáng sớm ở dưới Hỏa Lò. Tôi ôm bọc quần áo chậm chạp đi trước, tên hạ sĩ lẽo đẽo đi phía sau. Khi đi qua mấy căn nhà có vẻ khang trang ngăn nắp; thấp thoáng mấy tên bận đồ vàng, nam cũng như nữ đang ngồi làm việc bên trong, với những tiếng máy chữ tí tách liên hồi.

Chéo phía bên kia cột cờ, chỗ có mấy luống hoa lớn là một căn nhà mái ngói đỏ au, mà sau này tôi hiểu là một loại nhà “kiến thiết cơ bản” của miền Bắc. Tôi đang bâng khuâng tự hỏi, từ nãy đến giờ, không hề thấy tên Nhượng đâu nữa, thì tên hạ sĩ phía sau giật giọng:

– Rẽ phía phải!

Y dẫn vào một con đường mòn, vòng ra phía sau một bụi nứa lớn, rậm um tùm. Ngay trước mặt là một căn nhà bếp rộng, ngọn lửa trong lò hừng hực đun hai chiếc chảo lớn đang sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút. Ba, bốn chị phụ nữ quần đen, áo vải; người thì lặt rau, người lúi húi quét dọn. Tên hạ sĩ dẫn tôi vào. Y chỉ cái phản gỗ, cạnh một bể nước con:

– Anh ngồi đây, cấm không được đi đâu!

Rồi y bước lên đường hiên của một căn nhà cạnh đó. Mấy chị phụ nữ đều quay lại nhìn tôi với những đối mắt tò mò, lấm lét. Tôi đưa mắt nhìn ra núi rừng bên ngoài; trời đã hết mưa phùn, nhưng lúc nào cũng âm u, đầy sương mù. Tôi không thể đoán lúc này là mấy giờ chiều. Một tên cán bộ áo xanh (công an vũ trang mặc đồng phục xanh, tới sau hội nghị Paris, chúng mới mặc đông phục mầu vàng như công an) chừng 40 tuổi, đeo lon trung úy, từ trong phía sau bếp đi ra, đến bên tôi. Chậm chạp, y hỏi, giọng quê một cục:

– Ở “Hà lội nên” à?

Thấy nét mặt y không có vẻ gì ác ôn lắm, nên tôi khẽ “dạ” như thừa nhận. Y quay lại mấy người phụ nữ, ra vẻ băn khoăn như ngạc nhiên, sao không có vũ trang dẫn giải? Thì một chị đã nhanh trí, chỉ tay về phía ngôi nhà trên:

– Báo cáo ban, cán bộ Ý vừa lên đó!

Chị đang nói thì cũng là lúc, tên Ý ở trên đó đi ra. Đến trước mặt tên trung úy, y chụm chân, giật đứng người, giơ tay nghiêm chào, đúng tác phong quân sự. Tên trung úy gật đầu nhè nhẹ:

– Đồng chí dẫn giải “ló” vào trại E?

Rồi y kéo tay áo xem đồng hồ, giọng lại thúc hối:

– Ba rưỡi rồi đấy, đi ngay đi!

Trên đường đi, tuy đôi tay không còn bị khóa, nhưng nhìn con đường mòn hun hút, chui mãi vào rừng sâu. Hết đồi tre, lại nứa rồi lại đồi vầu; mới 3 rưỡi chiều mà sương lạnh đã phủ kín chân đồi. Tâm tư nặng trĩu đầy vơi, tôi chớt nhớ đến một vần thơ hoa mộng:“Chiều nay sương khói mờ nhân ảnh. Ai biết lòng ai…..”

Tôi đang đắm chìm, buông hồn nhấp nhô theo từng bước chân, thì đột nhiên tên Ý đi sau nhẹ nhàng cất tiếng hỏi làm gián đoạn nguồn tư tưởng của tôi:

– Ngoài cái tên Đặng Chí Bình, anh còn cái tên gì khác nữa?

Tôi hiểu, có lẽ y thấy suốt từ lúc gặp, tôi tuy lạnh lùng không nói, nhưng vẫn ngoan ngoãn làm theo ý của y; hơn nữa, đường vắng chỉ có 2 người, buồn tình nên y hỏi tôi chăng? Vì vậy, tôi cũng nhã nhặn:

– Tôi còn một tên nữa là Lê Viết Hùng.

– Thế, tên nào là tên thật, lúc còn nhỏ của anh?

– Dạ, Đặng Chí Bình!

Lâu ngày, nên đi đã thấy mỏi chân, tôi đang định hỏi y trại E còn phải đi xa không thì tôi đã thấy thấp thoáng, từ một lủng rộng xa xa, mờ mờ trong sương đục; một lá cờ máu đang ngúng nguẩy, nhăn nhó trong gió chiều. Như vậy chỉ cách khu trại chính khoảng 2 cây số, đường chim bay. Lúc này thì khu nhà đó đã hiện ra, gồm 3 – 4 cái to, nhỏ. Tuy rằng chỉ bằng gỗ, lá nhưng chắc hẳn là nơi ở và làm việc của ban chỉ huy trại E. Vì tôi cũng đã nhìn thấy về phía trái không xa là một chiếc cổng gỗ to, cao lênh khênh. Trên chòi, một tên công an vũ trang đang đeo súng ngồi bên một chiếc kẻng sơn đen xì, làm bằng một cái vỏ của quả bom 50 kg.

Đến nơi, tên Ý dẫn tuột tôi qua cổng, vào hẳn trong trại. Y chỉ khoảng sân trống, cạnh một bụi chuối già phía trong cổng. Giọng y đã bớt lạnh lùng:

– Anh đứng đấy chờ!

Chân tiến đến khóm chuối, nhưng mắt tôi đang chăm chú nhìn vào những dẫy nhà trong trại. Loáng thoáng một vài người chống gậy, đang đứng ở hiên nhà nhìn ra, nên tôi cũng chả trả lời tên Ý. Trước khi ra cổng, y còn ngửa cổ lên chòi, nói với tên công an vũ trang gác cổng, cũng đang nghiêng đầu ngó xuống:

– Đồng chí cho gửi tên phạm!

Rồi y cắp chiếc cặp đen, bước những bước thật dài về phía khu nhà có lá cờ, ngay chéo cổng vài chục thước. Tôi mệt mỏi, ném bọc quần áo xuống sân rồi ngồi lên trên trốc, mắt vẫn vươn qua cái sân trại, hướng vào 3 ngôi nhà dựng theo một hàng dài.

Lúc này cảnh vật chợt hồng lên, vì phía Tây mặt trời hơi ló ra khỏi đám mây dầy, để nhìn lại cảnh chiều của núi ngàn. Một vài ánh nắng quái vàng ửng, nhún nhẩy trên mấy nóc nhà và những ngọn nứa khô của cái hàng rào thật dầy, chung quanh trại. Tôi còn đang mải mê nhìn một ông già tóc bạc phơ, lụ khụ chống gậy ở một góc sân, thì một tên cán bộ đeo lon trung úy từ ngoài cổng đi vào. Một tay y cầm quyển sổ, một tay cầm cái bút, tất tả đi vào giữa sân. Y chỉ tay vào chỗ 2 – 3 người đang đứng sớ rớ trên hè, quát to:

– Vào gọi trật tự ra đây.

Một tiếng dạ thật xốt xắng, rồi một người nhanh nhẩu đi về phía cuối trại, trong khi tên cán bộ quay lại phía tôi. Cái nhìn của y thật sỗ sàng, hách dịch để tỏ quyền uy. Có lẽ vì tôi vẫn còn ngồi yên trên bọc quần áo, mà lẽ ra phải đứng dậy, khi thấy y đến. Vì vậy, với vẻ hằn học y quát:

– Mở bọc quần áo ra, để kiểm tra!

Thấy thái độ của y như vậy, mặt tôi cũng lạnh lùng, không nói một lời. Ngồi xịch ra, tôi cúi xuống loay hoay cởi chiếc bọc. Cũng chẳng có cái quái gì, vài bộ quần áo, một chiếc màn cá nhân Phúc “Thổ” và Thọ “Lột” các cậu ấy chuẩn bị cho từ dưới Hỏa Lò. Khi tôi đã mở tung bọc quần áo để rải ra sân, y hất tay lên người tôi:

– Cởi cả quần áo ngoài!

Tôi hơi cau mày, vì trời rét lại ở ngoài sân, thì cũng là lúc mắt tôi chợt nhìn thấy tên trật tự. Tay y xách một cái hộp gỗ con đang từ phía trong tiến ra, dáng dấp thật quen thuộc. A, tên Tân, Phạm Huy Tân. Tên chó chết đã ăn cả vỏ chuối; đã gạ đổi thuốc lá lấy cơm của tôi ở buồng số 4 xà lim II, Hỏa Lò. Đã gần 5 năm rồi, lúc này trông y mập ra. Hai con mắt của y, hình như lồi ra hơn, có rất nhiều những tia máu đỏ, nổi gân ngoằn ngoèo trên tròng trắng. Mãi đến lúc y đến sát chỗ tôi, và khi tên cán bộ bảo y khám thật kỹ; đóng dấu vào hết quần, áo tư trang của tôi, thì mắt y chợt sáng ra một chút, rồi trở lại lạnh lùng ngay. Tôi đã hiểu, y đã nhận ra tôi. Ngay từ nãy, y cứ nhìn chằm chặp vào miệng tôi, chỗ 3 chiếc răng gẫy hàm dưới với đôi mắt vừa như băn khoăn, vừa như lạ lùng. Y ngờ ngợ là phải, vì khi tôi và y ở buồng số 4 xà lim II thì răng tôi đâu đã gẫy.

Tôi trù trừ đắn đo một lúc rồi, cũng đành phải cởi áo và cởi quần ra. Sau khi nắn nót, lục xét từng ve quần, xống áo, y lấy con dấu bằng gỗ có hai chữ “cải tạo” to tướng, dầm vào một cái khay đựng hắc ín đen xì. Tôi đã thấy cái ác ý của y là dầm thật đẫm hắc ín, rồi mỗi ống quần một dấu; áo thì một dấu phía sau lưng và hai dấu, hai bên vạt phía trước. Hắc ín đẫm đến nỗi, thấm cả sang những lần vải không đóng. Chỉ cái mùng cá nhân con mà nó đóng đến 8 cái dấu. Hắc ín đen nhẻm, nhớp nhúa hết đống quần áo. Mặt nóng lên bừng bừng, tôi định cho nó gục ngay xuống đó. Nhưng tôi nhìn tên cán bộ và khung cảnh của trại giam, một niềm nhẫn nhục đã đè xẹp nỗi uất hờn vào tim. Ngay khi còn từ Hỏa Lò, tôi đã hiểu tên Tân là một loại tiểu nhân, đồng thời còn là loại Zoóc (antenne trong Nam) nỗ lực nhất nữa. Vậy từ nay tôi sẽ chờ, khi có điều kiện hợp lý để giải quyết với nó.

Tuy trong lòng tôi đã có chủ trương như thế, nhưng khi tên Tân đứng lên, xách hộp đóng dấu mang đi, vẫn còn phải tránh ánh mắt, có lẽ hãy còn nhiều lửa của tôi.