Một! Hai! Ba! Dzô!

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Chuyện rằng: Một con vợ Úc đang tù tí với bạn tình trên giường thì nghe tiếng chồng mình đút chìa vào ổ khóa. “Nằm yên đi! Thằng chả xỉn lắm; không để ý thấy anh nằm trên giường với em đâu!”

Y như kinh! Chồng Úc leo lên giường, híp con mắt rồi hè; tính ngáy ‘o o’ nhưng: “Ủa trong chăn sao lòi ra tới 6 cái bàn chưn hè? Sao kỳ vậy hè? Đúng ra là phải có 4 thôi chớ? Chuyện gì đã xảy ra ở đây vậy em yêu?”

“Chắc tại anh xỉn quá nên đếm nhầm. Leo xuống khỏi giường rồi đếm lại coi!”

Chồng Úc tuột xuống, đếm: “Một, hai, ba, bốn! Em yêu của anh bao giờ cũng đúng hết! He he!”

Vâng! Úc đây, nhậu cũng danh trấn giang hồ vậy đó! Vô Liquorland, chuyên bán rượu bia của Úc, ôi thôi tùm lum nhãn hiệu. Rượu vang đỏ, vang trắng, rượu mạnh trong nước, ngoài nước. Từ rượu rẻ tiền cho tới mắc tiền vài ngàn đô một chai rượu đỏ 700 ml cũng có.

Thủ hiến Barry O’Farrell của tiểu bang New South Wales, năm 2014, bị buộc phải từ chức vì nhận quà tặng nhưng quên khai báo, một chai rượu vang đỏ giá sơ sơ chỉ có 3 ngàn đô Úc thôi!

Rượu mắc, uống chắc thơm râu! Vậy mà đối thủ chánh trị nỡ lòng bứt râu, lôi ông xuống, khỏi cái job cũng rất thơm!

(Còn lương cu li của tui, đành nhậu rượu rẻ rề. Vài chục đô một chai rượu mạnh Jack Daniel’s. 15 đô cho một hộp giấy, đựng 4 lít rượu đỏ, cũng say như thường! Tiền mình làm mình nhậu nên hỏng sợ đứa nào bứt râu mình hết ráo!)

Phần bia bọt thì mỗi người Úc nốc hết 74.2 lít năm, xếp hạng 19 trên bảng phong thần. Âu cũng có số má trên chốn giang hồ đó chớ.

Người viết có thằng Úc làm chung uống bia thay nước lã. Khát là khui một lon bia làm cái ót, cạn hết ráo hè.

Bia có ghiền không? Có chớ. Chính vì vậy trong mơ, ta thấy em về; thì Úc trong mơ ta thấy về cả một biển bia.

Bởi có chuyện vầy nè: Hai ông mướn thuyền đi câu. Máy hư, thuyền trôi giạt. Một ông lượm được chiếc đèn thần đang dập dềnh trên con sóng.

Lấy vải áo cọ vào chiếc đèn và quả nhiên ông thần hiện ra. Ông thần nầy đặc biệt khác hơn những ông thần khác là chỉ ban cho một điều ước duy nhứt chớ không phải là ba.

Không cần đắn đo suy nghĩ gì cho lâu lắc “Xin thần hãy biến biển nước mặn nầy thành một biển đầy bia đi!”

Quả nhiên màu nước xanh thẫm của biển mênh mông biến thành màu bia vàng óng ánh. Quá đã. Cả hai cứ múc lên rồi ngồi nhấm nháp.

Nhưng cuối cùng căng thẳng giữa hai đứa nổi lên. Tên còn lại sỉ vả bạn mình: “Thật là một lời ước ngu ngốc! Bây giờ bụng đầy beer, mình biết ‘xì trum’ ở đâu, ngoài ngay tại trong chiếc thuyền nầy hả?”

Con gái Úc cũng uống nhưng nhấm nháp chút rượu mạnh hay chút rượu đỏ lúc hẹn hò ăn tối với anh yêu, cho má thêm hồng để làm duyên chớ ít có say bí tỉ không biết trời trăng gì ráo như mấy đứa con trai Úc đâu.

Nhưng em yêu kêu: Tốp bớt lại mà thằng chả đâu có nghe; nên em đặt ra cái chuyện ngụ ngôn vầy chửi chơi cho hả giận!

Một con heo vào quán rượu gọi một lít bia. Uống xong, hỏi bồi bàn chỗ đi ‘wee wee (tức đi tè)? “Cuối phòng, bên tay trái!”

Một con heo khác vào quán rượu gọi hai lít bia. Uống cạn, bèn hỏi chỗ đi ‘wee wee’ ? “Cuối phòng, bên tay trái!”

Một con heo khác lại đến quán rượu gọi ba lít bia. Uống xong bèn đứng dậy.

“Sao ông không hỏi phòng vệ sinh ở đâu?”

“Không cần! Trên đường về nhà, ta vừa đi vừa ‘wee wee’ cũng được mà!”

Tháng rồi, người viết được một bạn ní mời đi ăn đám gả con cho Tây.

Cô dâu Việt, chàng rể Úc gốc Ý, đi từng bàn cám ơn bậc chú bác đã đến chung vui.

Thằng nhóc nầy không biết phong tục lễ phép bên đàng gái gì ráo. Đứng cạnh chỗ tui ngồi, nó cầm ly bia sóng sánh, lắp bắp vài câu tiếng Việt: “Xin mời tụi bây! Một! Hai! Ba! Dzô!”

Chào hết 40 bàn khách, thằng rể quý nầy gục luôn ngay tại chỗ… Cho mầy hết hỗn hào nhe con!

Thưa mới đây tui có đọc cái tin vịt rất là giựt thịt như vầy: Một nhà khoa học vừa công bố công trình nghiên cứu của mình về bia cho thấy rằng: Trong bia có chứa nhiều hormornes (hóc môn) nữ.

Hậu quả là quý ông anh mình, ai uống bia nhiều sẽ biến thành đàn bà ráo trọi.

Cuộc khảo sát trên 100 quý ông anh mình, mỗi ngày, mỗi người uống 3 lít bia thì sẽ mập ra như con ‘ột’, lập đi lập lại những lời vô nghĩa lý, rất dễ xúc động hay khóc lóc vô cớ, không lái xe được, hay cãi lộn về những điều nhỏ nhặt và không bao giờ chịu mở miệng ra xin lỗi; dù biết chắc rằng mình đã sai!

Hèn chi trong nước mấy quan chức cỡ chóp bu trong nước đang kêu gào thảm thiết là: bà con mình phải ráng đẻ cho đủ hai con. Mấy ông đừng có tối ngày đi uống bia hoài, nam trở thành nữ hết, bổn phận truyền giống chẳng có lo vì uống bia sướng hơn thì dân số sẽ lão hóa, sẽ già đi, không có người thay thế làm việc thì ai đóng thuế để nuôi nhà nước đây hở Trời?

Năm 2016, người Việt Nam mình cạn sạch có 3,8 tỉ lít bia, thành vô địch Đông Nam Á và có số má trên khắp địa cầu.

Hãng thông tấn tầm cỡ thế giới CNN vừa có đi một bài về ‘Bia Hoi’. (Không bỏ dấu, giữ nguyên văn, xin bà con mình đọc là Bia Hơi chớ không phải Bia Hôi!)

Ai cũng biết bia là thức uống có cồn, gas do loài người đã chế ra cách 5 thế kỷ trước Công Nguyên. Từ thuở hồng hoang ấy, bia tràn tới đâu cũng đều được nhiệt liệt hoan hô: “Một! Hai! Ba! Dzô!”

Bia được sản xuất từ lúa mạch và hoa bia (hoa houblon) lên men để chuyển tinh bột thành đường rồi đường thành bia. Hòa thêm nhiều hương liệu khác nhau để thêm ăn khách. Bia, ngon, bổ lắm nhe vì có nhiều vitamin nhóm B và các nguyên tố vi lượng.

Màu vàng sóng sánh bọt của bia, mùi hơi đăng đắng, thơm thơm, đưa lên mũi cách 5cm ngửi, uống nghe cái ót trong cái nắng chiều nhiệt đới thì đã tới mấy ông Trời.

Chiều xuống, đi nhậu ở Việt Nam bây giờ là đi uống bia hơi, trên hè Phố Cổ, Hà Nội: Hàng Bạc, Hàng Mã, Hàng Gỗ,… hay đường Bùi Viện, Phố Tây ở Sài Gòn…

Phe ta, đàn ông có, đàn bà cũng có, Tây cũng như ta, ngồi chen chúc quanh những chiếc bàn nho nhỏ, trên những cái ghế con con: “Một! Hai! Ba! Dzô”, vui hơn Tết tới!

Ôi nhớ xưa! Cái thời XHCH, xếp hàng cả ngày, xách can nhựa đi mua bia hơi mà mấy em mậu dịch viên ăn gian dân nhậu, nhẫn tâm pha thêm nước lã vào… đã qua rồi.

Giờ dừng xe cái két bên lề đường, kêu một vại bia, giá một lít khoảng chừng 70 xu Mỹ, rẻ chán so với Úc nầy đây tới 5, 7 đô; thì ngu sao mà mình không nhậu chớ ? Để mỗi chiều tui chọn một niềm vui!

Dù rẻ, nhưng người uống đông như ruồi nên giờ đây có tới 12 hãng giải khát lớn, nhỏ nhẩy xô vào giành giựt quyết liệt thị trường bia hơi nầy.

Công ty Pasteur Street Brewing Co chuyên sản xuất bia hơi khai trương năm 2015, ăn nên làm ra nên bán qua cả Malaysia, Australia, Hong Kong còn tính xuất qua cả Mỹ, Nhật và Châu Âu vào cuối năm nay.

Rẻ nhưng ngon, nên năm 2016 chiếm được 3 cái huy chương vàng tại Hội thi Asian Beer và huy chương vàng World Beer Cup .

So với thế giới, thu nhập tính trên đầu người của Việt Nam không bằng ai nhưng cái khoảng ăn nhậu chắc cũng không ai bằng mình.

Thống kê cho thấy: nước Cộng Hòa Czech, . thu nhập đầu người 18, 953 đô một năm, sa cạ già trẻ lớn bé nốc hết 142.6 lít, là vô địch nhậu bia.

Nước Mỹ giàu gấp 3, thu nhập đầu người 58,714 đô một năm, nhưng nốc ít hơn, chỉ 75.8 lít , chiếm hạng 17.

Việt Nam mạt, một năm kiếm được chừng 2, 3 ngàn đô mà dám nốc tới 42 lít, chiếm hạng 48. Nghèo mà chịu chơi… cho nó mạt luôn! He he!

Nhưng nói nào ngay bà con lao động, tay làm hàm nhai, không nhìn thấy tương lai cho đất nước, tương lai cho chính bản thân mình, nên dục tửu phá thành sầu, nhậu cho đỡ cái buồn rầu thì cũng còn hiểu được.

Nhưng cái đám quan chức CS, ăn như xáng xúc mà làm như lục bình trôi, sướng quá, đâu có buồn rầu gì cho vận nước, mà cũng nhậu tưng bừng tá lả.

Vì không nhậu với lãnh đạo làm sao mà được đề bạt lên chức. Không nhậu cùng đồng chí, không tạo bè kết đảng… nhậu lỡ có gì ai đứng ra mà binh vực hay che chở cho mình?

Nhưng ông Trời công bằng lắm! Ai nhậu bằng tiền mồ hôi nước mắt của chính mình làm ra thì đâu dám nhậu nhiều. Vui thì có vui chút đỉnh thôi, nên bịnh hoạn do tác hại của bia rượu so với đám quan chức CS thì ít hơn nhiều.

Chuyện rằng: Một quan chức CS cấp cao nhậu quá xá, làm da mặt vàng khè như nghệ, sợ chết nên đi khám bác sĩ.

Sau khi làm cả đống xét nghiệm, bác sĩ bảo ‘quan’ là: “Tôi có tin xấu dành cho đồng chí! Đồng chí đã bị ung thư gan giai đoạn cuối, vô phương cứu chữa. Đồng chí còn đúng một tháng và hai tuần lễ nữa để sống!”

Quan bước ra gặp thằng con lớn đang chờ để chở về nhà.

“Nè con! Người CS chúng ta có một truyền thống rất tốt đẹp, đáng duy trì là vui ta cũng ăn mừng mà buồn ta cũng ăn mừng luôn!”

“Điều không may, buồn, đã xảy ra. Bố bị bệnh ung thư gan giai đoạn cuối, chỉ còn một khoảng thời gian ngắn ngủi để sống. Thôi hãy lái xe ra quán rượu làm mỗi người chục lon đi con!”

Sau khi cạn vài lon, nỗi buồn đã vơi bớt đi rất nhiều. Tiếng cười rộn rã nổi lên. Thêm vài lon nữa nhé!

Những đồng chí thân thiết đang nhậu trong quán, thấy hai bố con ăn mừng rôm rả bèn đến hỏi lý do? “Báo cáo với các đồng chí! Tao chỉ còn vài tuần để sống. Bác sĩ nói: Tao bị bệnh ‘Ết'(AIDS), bệnh liệt kháng!”

Tất cả các đồng chí đều thành thật chia buồn, thành kính phân ưu… sớm; khi nghe tin dữ. Sau vài lon bia nữa, họ đi khuất mắt để tôn trọng quyền riêng tư của bố con, nhậu để vĩnh biệt nhau.

“Bố à! Hồi nãy Bố nói Bố bị bệnh ung thư gan mà sao giờ Bố lại nói với mấy đồng chí, là: Bố bị bệnh ‘Ết’, bệnh liệt kháng!” “À! Vì khi Bố đã đi rồi! Bố không muốn bất cứ thằng đồng chí nào léng phéng với Mẹ của mầy!”

Một mảnh đời rạn vỡ!

đoàn xuân thu

December 10 th, 2014.

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Đọc xong bài phóng sự điều tra của ký giả David Montero, “Who was Tuan Nguyen?” đăng trên nhật báo Los Angeles Daily News ngày 25 Tháng Mười, nhiều người Việt tị nạn chúng ta, nhiều người không cầm được nước mắt!

Bà Kristin Chan, 42 tuổi, đã đạp nhầm chân ga thay vì chân thắng, đâm sầm chiếc Jeep Liberty của mình vào cửa trước tiệm Jolly Donuts, bán bánh ngọt và cà phê ở góc đường Roscoe và DeSoto giết chết một người khách hàng đang ngồi uống cà phê trong quán và làm bị thương bốn người khác. Cảnh sát không nghĩ là tài xế nầy gây tai nạn vì chịu ảnh hưởng của bia rượu hay ma túy.

Băng hình an ninh ghi lại vào ngày Thứ Bảy, 4 Tháng Mười năm 2014 cho thấy nạn nhân đến tiệm uống cà phê nửa tiếng đồng hồ trước khi anh bị xe đụng chết.

Đã ba tuần trôi qua mà không có người thân nào đến nhận xác nạn nhân. Năm 2014, tại thành phố Los Angeles, số người chết vô thừa nhận, theo Sở Pháp Y cho biết là có 5 người không phân biệt được giới tính nên gọi là ‘Undetermined Doe’; nếu là nữ được đặt tên là Jane Doe, có 89 người; nếu là nam, John Doe 296 người. Nạn nhân trong tai nạn xe cộ nầy theo cảnh sát tới giờ nầy chưa xác định được nhân thân nên mang tên là John Doe 278.

Video an ninh từ ngày 4 tháng 10 năm 2014 cho thấy người đàn ông được gọi là Tuấn Nguyễn 53 tuổi. Nguyễn là người vô gia cư trong ba mươi năm ở Canoga Park. ẢNH JOLLY DONUTS

Đêm John Doe 278 bị đụng chết, trong túi anh đầy những tờ vé số đã cạo, 350 đô la tiền mặt, một điện thoại di động hiệu Samsung. John Doe 278 chưa từng gọi cho ai và cũng không có ai gọi cho anh cả. Điện thoại di động nầy anh dùng chỉ để chơi ‘gêm’.

John Doe 278 là một người không nhà, cô độc, có thói quen đến quán Jolly Donuts lúc 9 giờ tối mỗi đêm, mua một tách cà phê và cắm cái điện thoại di động nầy vào ổ điện để ‘sạc’ pin. Trong tiệm chỉ có hai cái bàn đặt gần ổ điện; nếu lỡ có ai ngồi rồi thì John Doe 278 kiên nhẫn chờ cho đến khi nào nó trống!

Thói quen của John Doe 278 khi bước vào tiệm bỏ cái nón kết kiểu của cầu thủ chơi dã cầu ra, gọi một ly cà phê, giá một đô la, uống với sữa bột có thêm đường chớ không uống với sữa tươi.

Giờ định mệnh đêm Thứ Bảy, 4 Tháng Mười đó, lúc 9 giờ 36 phút 34 giây, có 6 người ngồi rải rác trong tiệm. Chiếc bàn quen thuộc của John Doe 278 đêm ấy không có ai ngồi. Cái điện thoại Samsung chưa ‘sạc’ đầy pin thì chủ nhân của nó đã chết.

Anh là ai? Những người buôn bán ở đó cho Cảnh sát biết vài chi tiết về nạn nhân. John Doe 278 là một kẻ không nhà đã hơn 30 chục năm nay. Anh tên là Tuấn; họ là Nguyễn, sanh năm 1961.

Cảnh sát tìm ở cơ quan cấp bằng lái xe, danh sách có 632 người cùng tên, cùng họ, cùng năm sanh. Lục trong hồ sơ Cảnh sát không tìm được dấu vân tay vì tuy là kẻ không nhà nhưng anh chưa hề phạm tội, chưa hề làm điều gì lôi thôi với luật pháp.

Một con người không hề có tên trong bất cứ một hồ sơ lưu trữ nào, của bất kỳ một cơ quan nào, theo hệ thống lưu trữ bằng điện toán, là không hiện hữu… dù Tuấn đã và đang có mặt trên đất nước Hoa Kỳ nầy suốt hơn 30 năm qua! Giờ chết đi, không xác nhận được nhân thân, chỉ là một tấm thẻ bài màu xanh cột vào ngón chân cái bên phải, tấm chăn phủ xác cũng màu xanh, nằm trong cái hộp đựng xác của văn phòng giảo nghiệm y khoa với bí danh là John Doe 278.

Nhưng John Doe 278 cũng có một cuộc đời! Theo bà Lori Huỳnh năm nay 77 tuổi, bà biết Tuấn hơn 20 năm về trước. Câu chuyện của Tuấn, một người tị nạn, đến nước Mỹ vài năm sau Tháng Tư 75, khi Sài Gòn sụp đổ, cũng âm hưởng tương tự như là câu chuyện của đời bà Lori Huỳnh, một người vượt biển.

Sau khi trốn khỏi Việt Nam năm 1980, đến Hoa Kỳ, Lori Huỳnh, năm 1986, mua lại tiệm Violet Nails Salon! Bà để ý đến một thanh niên dáng vẻ Á Châu, gầy ốm, hay lang thang trong bãi đậu xe một mình. Tối ngủ quanh quẩn trong một ngõ cụt đàng sau các cửa tiệm ở góc đường Roscoe và DeSoto.

Thoạt đầu bà mời anh thanh niên nầy một ly cà phê để làm quen và những cuộc nói chuyện rời rạc giữa hai người trong suốt 2 năm, được kết lại, vẽ nên cuộc đời của Nguyễn Tuấn.

Trong số khoảng 200 ngàn người tị nạn đã chết trên biển vào những năm 70 và 80, năm 1988, Tuấn, một lần duy nhứt, kể cho bà nghe là cả gia đình cha mẹ, (có thể còn có anh em nữa?) tất cả đều đã chết hết trên biển trong thảm trạng thuyền nhân. Và Tuấn là người duy nhứt trong gia đình còn sống sót!

Năm 2007, sau khi bán tiệm neo của mình đi, bà Lori Huỳnh không có cơ hội gặp Nguyễn Tuấn thường như trước nữa. Bà đã yêu cầu người chủ mới tới hãy chăm sóc Tuấn dùm bà. Họ đồng ý! Và khi anh mất, họ cùng nhau đến đặt hoa nơi hiện trường tai nạn xảy ra để tưởng niệm người xấu số!

Nguyễn Tuấn là con của một gia đình công chức Sở Thủy cục và Điện lực Sài Gòn! Tuấn từng học Petrus Ký, một trường trung học danh tiếng ở miền Nam. Anh có năng khiếu về Toán. Mặc dù sống hàng ba thập niên trên đường phố, đôi khi anh ngồi còn giữ thói quen ngồi vẽ những biểu đồ đơn giản. Trên cái túi đeo lưng của anh, luôn luôn có một cuốn sách.

Bà cũng kể cho Tuấn nghe về chuyến vượt biển của mình. Sau 75, gia đình bà phải tan đàn xẻ nghé vì người chồng phải đi học tập cải tạo! Về chiếc tàu trôi dạt với 300 người trên đó và phải sống 6 tháng trên một hòn đảo kinh hoàng, gần nước Nam Dương, trước khi đặt chân lên nước Mỹ!

Vì chia sẻ cùng chung một phần số, trong nhiều năm liên tục, bà Lori Huỳnh hay mang thức ăn đến cho anh. Bà nhớ Tuấn rất thích ăn mì.

Tuan Nguyen chưa từng nhờ vào bất cứ trợ cấp nào của chánh phủ Mỹ, anh tự kiếm sống bằng cách nhặt những lon bia rồi đem bán, lãnh đổ rác cho tiệm giặt quần áo kế bên tiệm neo trong suốt 32 năm trời!

Kate Leone, chủ nhân của viện thẩm mỹ Maine Affair Beauty Lounge thuật lại: “Một tối Chủ Nhựt, bà quên khóa cửa tiệm. Ngày Thứ Hai lại nghỉ. Sáng Thứ Ba quay lại, hoảng hốt khi thấy cửa vẫn còn mở, sau khi xem xét không thấy mất cái gì; coi lại hệ thống an ninh ghi hình của cửa tiệm, bà biết tại sao đã không bị ăn trộm; vì anh Tuan Nguyen đã ở đó suốt ngày Thứ Hai để canh chừng tiệm cho bà! Dù phải bận ra ngoài chỉ một chút, khi quay lại, anh vẫn xem xét lại để đoan chắc là không có ai đột nhập vào lúc mình vắng mặt!

Bà Maria Avila, người cắt tóc cho anh một năm hai lần, đã khóc khi nghe anh tử nạn. Maria nói để tôi cắt tóc miễn phí cho; nhưng anh không chịu! Lần nào cũng nài nỉ trả cho tôi 10 đô la, công cắt tóc.

“Anh ấy nghĩ chúng tôi đã chăm sóc cho anh ấy nhưng thực ra anh ấy mới là người đã chăm sóc cho chính chúng tôi”. “He thought we were looking out for him, but he was looking out for us,”

Cô Brooke Carrilo, 42 tuổi, cũng là một kẻ không nhà, sau khi bị mất việc không trả nổi tiền nhà, phải sống trong một chiếc xe, gợi nhớ vài kỷ niệm với Tuan Nguyen.

Brooke làm việc thiện nguyện cho một nhà thờ, nấu nướng và phục vụ bữa ăn cho những kẻ không nhà vào mỗi Thứ Năm nơi Tuan Nguyen thường hay ghé qua. Brooke dọn bữa ăn cuối cùng cho Tuan Nguyen vào ngày 2 Tháng Mười tại nhà thờ, hai ngày trước khi anh mất. Hôm đó, Tuan Nguyen ăn một dĩa mì Ý (spaghetti) và uống một ly nước trái cây.

“Anh ấy là một phần của chúng tôi trong một khoảng thời gian dài! Một năm không ai nghĩ là dài nhưng một năm không nhà, bụi đời như vậy là khoảng thời gian rất dài. Huống hồ hơn những ba mươi năm!”

Đôi mắt Brooke Carrilo đẫm lệ khi nghe tin Tuan Nguyen đã chết. “Một ngày xe bị hết xăng, anh móc túi cho tôi chút đỉnh tiền đổ xăng! Để tôi có thể di chuyển từ chỗ nầy qua chỗ khác nhằm tránh sự quấy nhiễu của Cảnh Sát tuần tra” “Một con người tử tế, nhân hậu, không làm phiền nhiễu bất cứ một ai!”

Tuan chỉ có hai tật xấu: hút thuốc (tự mình vấn lấy) và mua vé số cạo! Cách đây không lâu, trúng được 800 đô, anh mua hoa tặng cho tiệm neo và nước hoa tặng cho mấy cô làm trong tiệm!

Hiện thời Tuan Nguyen đang nằm trong nhà xác, gần với khoảng 200 xác vô thừa nhận khác. Nếu không có bà con thân nhân nào đến nhận xác, anh sẽ được lấy mẫu DNA để lưu trữ. Từ 2 tới 4 tháng, xác John Doe 278, sẽ được đưa tới lò thiêu của quận Cam! Sau đó tro xác được lưu giữ tại nghĩa trang của thành phố Los Angeles. Tháng Chạp, thành phố sẽ làm một buổi lễ đơn sơ để chôn cất tất cả tro xác của những người chết vô thừa nhận vô cùng chung một huyệt mộ! Trên bia mộ chỉ đề duy nhứt năm những nạn nhân vô thừa nhận đã qua đời: 2014!

Cuối cùng Nguyễn Tuấn đã trở về nhà!

Có độc giả tự hỏi: “Tại sao một con người nhân từ, có tinh thần trách nhiệm như thế lại sống 30 năm ở ngoài đường? Tại sao anh ấy không xin phiếu trợ cấp thực phẩm (food stamps) và chương trình trợ cấp tổng quát (General Relief) của chính phủ?” Vâng cũng có người đã giúp anh tìm một chỗ tạm cư; nhưng sau đó anh lại trở về đời ‘homeless’; vì theo anh ở đó vẫn còn người đối xử tử tế với anh!

Ký giả bài phóng sự điều tra nầy phỏng đoán: “Tôi nghĩ đây là câu chuyện bi đát của một người không quên được các thảm kịch mình đã trải qua; rồi sau đó không còn muốn trở về với đời sống thực tế nữa!” “Tôi đoán trong chuyến vượt biển, cái chết của cha mẹ anh kinh khủng lắm nên anh mới thành một con người khác hẳn chúng ta.”

Thưa! Người viết bài nầy đã từng gặp một thanh niên tị nạn Việt Nam ở Fleminton, Melbourne, Úc Châu, bề ngoài có vẻ rất bình thường, một hôm tình cờ bước vào một căn ‘flat’ của chánh phủ cho anh mướn. Trong nhà không còn một khoảng trống nào, từ phòng khách vào tới nhà bếp. Toàn là những chai nước ngọt đủ cỡ, đựng đầy những nước. Khi được hỏi chứa nước nhiều như vậy để làm gì? Thì mặt anh đột nhiên trở nên nhăn nhúm, thống khổ như hình tranh lập thể của họa sĩ Picasso, anh trả lời: “Ông không biết! Chớ nước quý lắm đó!”

Ôi! Những thảm kịch kinh hoàng của thuyền nhân trên biển. Những bi kịch không thể nhạt phai, những chấn thương tâm lý không bao giờ hồi phục. Chúng ta vô tình thản nhiên đi qua những niềm đau đó. Bác sĩ có thể chữa lành những vết thương về thể chất; còn những chấn thương tinh thần nầy mãi mãi sẽ không yên cho đến khi nạn nhân về với mộ!

Xin anh Nguyễn Tuấn (tên Việt Nam), Tuan Nguyen, (tên Mỹ) và John Doe 278, (tên một xác chết vô thừa nhận), đã sống một cuộc đời lặng lẽ, đã chết trong cô đơn, sẽ được bình yên phía bên kia cuộc đời, sum họp với cha mẹ, với anh em… Chắc sẽ làm đời anh bớt đau đớn hơn chăng?!

Vĩnh biệt anh! Một hình tượng của thảm trạng thuyền nhân Việt Nam!

đoàn xuân thu – melbourne.
(Theo David Montero, Los Angeles Daily News.)


Nguyễn Tuấn, ‘sống vô gia cư, chết vô thừa nhận,’ đã có nơi an nghỉ cuối cùng

Hà Giang/Người Việt

(nguồn: http://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nguyen-tuan-song-vo-gia-cu-chet-vo-thua-nhan-co-noi-an-nghi/)

Thày Phong Nguyên, đại diện của chùa Liên Hoa nhận hũ tro cốt của Tuấn Nguyễn từ nhân viên Los Angeles Crematorium Cemetery hôm cuối tháng Ba, 2017. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

GARDEN GROVE (NV) – Sau một thời gian dài nằm chơ vơ trên chiếc kệ trong nhà kho của nghĩa địa quận Los Angeles, chiếc hộp màu nâu mang tên ‘John Doe No. 278,’ nhỏ gọn và dày hơn cuốn sách bìa cứng một chút, bên trong đựng tro cốt của Nguyễn Tuấn, một người chết vô thừa nhận, vừa được quận Los Angeles cho phép thầy Phong Nguyên, đại diện Hòa Thượng Thích Chơn Thành, mang về chùa Liên Hoa, thành phố Garden Grove, chờ ngày làm lễ cầu siêu.

Buỗi lễ cầu siêu đầy tình đồng hương này sẽ được Hòa Thượng Thích Chơn Thành, viện chủ chùa Liên Hoa, đích thân chủ trì, từ 2 giờ chiều đến 4 giờ chiều, ngày Thứ Bảy, 15 Tháng Tư, tại địa chỉ 9561 Bixby Avenue, Garden Grove, CA 92841.

“A Di Đà Phật! Nghe tin một đồng hương vô gia cư chết đã lâu mà không có ai giúp đỡ, chúng tôi rất hoan hỉ và sung sướng đón nhận anh để làm lễ cầu siêu giúp anh mau siêu sanh tịnh độ.” Hòa Thượng Thích Chơn Thành bày tỏ đồng thời kêu gọi: “Xin các cơ quan truyền thông báo chí tiếp tay phổ biến tin về ngày làm lễ.”

  • ‘Sống vô gia cư, chết vô thừa nhận’

Nhiều người Việt quan tâm còn nhớ câu chuyện Nguyễn Tuấn, một người Việt vô gia cư, thiệt mạng tại chỗ vào tối 4 tháng Mười, 2014, khi một chiếc xe SUV đâm thẳng vào tiệm Jolly Donuts trên đường Roscoe ở Canoga Park, trong lúc ông đang ngồi uống cà phê ở chiếc ghế quen thuộc hàng ngày bên trong cửa tiệm.

Khi chết, trong người ông Tuấn hoàn toàn không có bất cứ giấy tờ gì, vì thế cảnh sát Los Angeles đặt cho ông cái tên ‘John Doe No. 278.’

Tên ‘John, họ Doe,’ là biệt hiệu thường được cảnh sát đặt cho những người đàn ông vô danh, và 278, là tổng số người đàn ông vô danh chết trong quận Los Angeles, tính cho đến tối hôm ông Tuấn qua đời.

Cổng vào Los Angeles Crematorium Cemetery. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

Thám tử điều tra của cảnh sát Canoga Park đến tiệm Jolly Donuts trên đường Roscoe ở Canoga Park, nơi ông Tuấn hàng ngày lui tới, để tìm danh tánh nạn nhân. Ở đây, tuy nhiều khách hàng lẫn nhân viên quen mặt, thậm chí có người rất có thiện cảm với ông, nhưng cũng không thể cho cảnh sát biết gì hơn là “nghe đâu” tên ông là “Tuan” (Tuân hay Tuấn) và họ là “Nguyễn”.

Mong tìm thêm manh mối, cảnh sát đưa dấu tay của ông vào kho dữ liệu, nhưng cũng không tìm được gì, vì ông Nguyễn Tuấn chưa bao giờ bị bắt giữ. Việc đưa tên ông với ước đoán năm sinh vào DMV cũng không mang lại kết quả khá hơn, vì DMV tìm thấy có hơn 600 người có cái tên tương tự sinh cùng năm.

Theo bản tường trình viết ngày 9 Tháng Mười Một, 2014 của phòng giảo nghiệm, người ta không tìm thấy trong máu ông Nguyễn Tuấn có dấu hiệu của một người uống rượu. Cũng không có dấu hiệu hút ma túy, cần sa, thuốc phiện, hay những loại thuốc giảm đau. Nói tóm lại, ông Tuấn là người tương đối có sức khỏe tốt và cuộc sống lành mạnh.

Khi được biết tin chùa Liên Hoa sẽ tổ chức lễ cầu siêu cho ông Tuấn, bà Hoa Tăng, chủ tiệm Violet Nails, cách tiệm Jolly Donuts khoảng một dặm, nơi mà trước đây ông Tuấn thường lui tới, chia sẻ sự ngạc nhiên với nhật báo Người Việt.

“Trời hơn hai năm rồi! Tưởng có chùa nào xin tro ổng về cúng lâu rồi chứ. Bữa hổm đi đến cái chùa nhỏ nhỏ gần đây tôi thấy trên bàn thờ có tấm hình ổng uống cà phê trong tiệm donut trước khi bị đụng chết đó mà.”

“Có chắc là tro của ông Tuấn không chị?” Bà Vân, một người làm nail khác trong tiệm thoáng ngừng cắm cúi săn sóc đôi bàn tay của khách, ngẩng đầu lên hỏi.

Khi được nghe tả sơ về quy luật bảo vệ thân xác của người quá cố kể cả của những người sống vô gia cư, chết vô thừa nhận, cũng như hành trình hơn hai năm của ông Nguyễn Tuấn từ lúc đột ngột qua đời, đến khi hũ tro cốt được quận Los Angeles trao cho thầy Phong Nguyên, bà Vân chép miệng: “Vậy chắc là người ta thờ hình ảnh và thờ hồn ổng thôi!”

Bà Hoa Tăng nhẹ gật đầu như tỏ sự đồng ý với người bạn đồng nghiệp, rồi băn khoăn: “Ổng người tốt mà đàng hoàng lắm. Thôi tụi tôi gửi ít tiền nhờ chị mang về chùa Liên Hoa nhờ thầy cúng dùm cho ổng được không?”

“Lễ cầu siêu ngày 15 hả? Ồ, 15 là Thứ Bảy chắc phải làm không xuống được. Mà xa quá, đi hơn một tiếng, chắc khó xuống lắm. Thôi kệ, chị cứ gửi báo lên đây tôi để trong tiệm, ai biết ổng thì người ta xuống cúng.”

Bà Hoa ngập ngừng đề nghị, rồi không nén được thắc mắc: “Mà hơn hai năm rồi sao chùa Liên Hoa còn theo xin được tro ổng về cầu siêu hay vậy?”

Hũ tro cốt của Nguyễn Tuấn tại Los Angeles Crematorium. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

  • Mong một lễ cầu siêu!

Chùa Liên Hoa không phải là nơi duy nhất muốn hương hồn Nguyễn Tuấn có được một lễ cầu siêu tử tế.

Ngay sau khi Nguyễn Tuấn qua đời, ký giả David Montero của báo Los Angeles Daily News đã có một loạt bài viết để tìm tung tích ông, cũng như nói về sự thương tiếc nhiều người quanh vùng Canoga Park dành cho con người tốt bụng mà cuộc đời bất ngờ chấm dứt trong tai nạn thảm khốc đó.

Bài phóng sự điều tra của David Montero khiến nhiều người khắp nơi thương cảm, muốn xin thi hài ông về mai táng ngay khi sự việc mới xẩy ra. Nhưng việc một người xa lạ xin mang một thi hài vô danh, vô thừa nhận về mai táng hoàn toàn không dễ, vì quận Los Angeles, theo quy luật, trong một thời hạn nào đó, phải bảo vệ mọi người khỏi mọi sự lừa đảo, kể cả người đã chết.

Vẫn theo ký giả David Montero, bà Sue Lim, một nhà môi giới địa ốc ở Huntington Beach, từng liên lạc với văn phòng giảo nghiệm tử thi về việc xin một lệnh tòa để cho phép bà chôn cất ông Nguyễn Tuấn một cách hợp pháp, làm buổi lễ đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng, nhưng lúc ấy, tòa quyết định không trao xác của Nguyễn Tuấn cho ai, cho đến khi được thân nhân nhận diện.

Không chỉ một mình bà Sue Lim, nhiều người khác, xúc động về chuyện của Tuấn Nguyễn, như bà Christina Nguyễn trong cộng đồng người Việt chúng ta, cũng từng theo dõi sự việc, cũng muốn bỏ tiền ra để lo cho ông một đám tang tươm tất, nhưng tất cả, trong thời gian đó, đều đã bị cánh cửa quy luật chặn lại.

Cảm thương cho hoàn cảnh của ông, ký giả Montero từng viết: “Nếu lúc sống Nguyễn Tuấn đã sống trong vòng tay thân thương quen thuộc, đón nhận những cử chỉ ân cần, sự chăm sóc nhỏ bé nhất của những người thương ông và hiểu ông, thì sau khi ông ra đi, những người quen biết ông, xót xa nhất vì cái chết của ông, đã hoàn toàn bất lực không thể làm gì được cho ông…”

Sau gần sáu tháng, khi mọi nỗ lực nhận diện ông đều thất bại, và cũng không ai thành công trong việc chứng minh họ là người thân của ông, quận Los Angeles hỏa thiêu thi hài Nguyễn Tuấn hôm 25 tháng Ba, 2015, và vào sổ hai ngày sau.

Hỏa thiêu xong, họ bỏ tro cốt ông vào chiếc hộp nhỏ dán nhãn ‘John Doe No. 278,’ mang đến trao cho nhà kho nghĩa địa quận Los Angeles. Tại đây, hộp tro cốt của ông được xếp lên một cái kệ, chờ đến tháng Mười Hai năm 2017, khi ông dự trù được mai táng trong cùng một nấm mồ với hàng trăm, có khi cả ngàn những tro cốt vô thừa nhận khác, trong một đám tang tập thể hàng năm của quận.

Buổi chiều hôm 29 Tháng Ba 2017 nắng đẹp nhưng thỉnh thoảng vẫn có những ngọn gió se lạnh ấy, khi tro cốt của ông được đưa từ nhà kho nghĩa địa quận Los Angeles về chùa Liên Hoa, người vô gia cư Nguyễn Tuấn đã đến được nơi an nghỉ cuối cùng.

Tuấn Nguyễn may mắn hơn những người chết vô thừa nhận khác, vì ông là thành viên của một cộng đồng, trong đó mọi người biết thương yêu đùm bọc lấy nhau!

Thân phận dư thừa

Nha Trang – 1978

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Bài 18

Ba năm trôi qua, gia đình tôi vẫn sống bên cạnh nhà của bác tôi. Mẹ tôi rất bận rộn trong công việc trông em bé Ti và thu nhập của chúng tôi chỉ trông có mỗi vào việc bán đi những đồ nữ trang của bà. Chúng tôi vẫn chỉ mặc những bộ quần áo mang đi từ biệt thự họ Nguyễn hồi trước. Trong mấy năm qua, Jimmy và tôi chẳng bao giờ có thêm quần áo mới vì mẹ tôi chỉ có nối thêm gấu quần và nới thêm thắt lưng để cho chúng tôi mặc vừa. Ngày hai bữa, món ăn chính thanh đạm của chúng tôi vẫn là cơm mà mẹ tôi đong ở chợ với giá tám đồng mỗi giạ. Dù mưa hay nắng, chúng tôi vẫn quay cuồng bên nhau để sống qua ngày.
Càng lớn, mầu tóc của tôi càng sậm hơn. Tôi cũng chả hiểu có phải là ước vọng của mẹ tôi khi bà tưới thuốc nhuộm lên đầu tôi hồi trước hay là do lòng khao khát của tôi, mong mỏi được hoà nhập với đám trẻ con trong xóm. Đến khi tôi được mười một tuôỉ, mái tóc vàng hoe của tôi ngả sang mầu nâu sậm. Ngay cả trong những ngày hè nóng nhất, ánh nắng mặt trời cũng không thể tẩy được nó cái mầu óng ánh bạc nguyên thuỷ.
Jimmy và tôi theo học tại trường tiểu học, ở đó chúng tôi tập trung vào các môn học như toán, văn, sử và khoa học. Tất cả đều được dạy theo quan điểm của người Cộng sản. Cô giáo San vẫn tiếp tục dạy ở lớp tôi. Cô còn mở thêm lớp dạy miễn phí ở ngay nhà cô vào mỗi chủ nhật. Những bài giảng tại đó, theo tôi còn nhớ, là những bài duy nhất không có mầu chính trị.
Cô San sống trong một ngôi nhà hai tầng cách chỗ tôi ở khoảng vài con phố. Cô dùng tầng dưới để sản xuất nước mắm, có ba cái chum lớn bằng đất nung, luôn luôn đầy nhóc, đặt ở đó. Mỗi chum chứa chừng một trăm đến một trăm rưởi ký cá và ướp bằng cũng chừng đó số lượng muối. Cô giải thích với chúng tôi rằng làm nước mắm là nguồn thu nhập chính của cô. Dạy học chẳng qua chỉ để cho vui thôi. Mùi cá ươn xông lên hôi nồng nặc, từa tựa mùi thối của răng sâu nhưng còn tệ hơn nhiều. Cái mùi kinh niên ấy bám vào quần áo cô, xông lên mái tóc, và như một loại chướng khí cuốn lấy thân thể cô. Bọn người lớn, đặc biệt là cánh đàn ông thì tránh xa cô. Họ sợ cái khác thường cố hữu ấy của cô. Nhưng lũ trẻ thì lại bị lôi cuốn bởi tính tình nồng ấm của cô và riêng tôi thì, qủa thật, không ai thấy cô có sức thu hút hơn tôi.
Cứ đến mỗi buổi chiều chủ nhật là chúng tôi lại náo nức đón chờ cái buổi học thêm ở nhà cô. Ngồi trên sàn trong căn phòng ngủ lộn xộn của cô, giữa những bộ quần áo rải rác, chúng tôi chờ cô xuất hiện như khán giả chờ minh tinh. Trong một những môn ưa thích của cô là Anh ngữ. Cô thường nói với chúng tôi :
– Cách duy nhất để chúng ta xây dựng đất nước là học hỏi kỹ thuật của các nước khác. Mà làm thế nào để có thể tiếp thu được những kỹ thuật của họ ? Hãy khởi sự bước đầu là học thứ ngôn ngữ quốc tế: đó là Anh ngữ.
Cô nháy mắt với chúng tôi và nở một nụ cười tinh quái:
– Hôm nay, mình đừng học theo sách. Thay vào đó là một cuộc khảo sát từ ngữ, được không ? Trong giờ tới, ai cũng đều phải nói tiếng Anh. Trò chơi này rất khó, nhưng các em cứ thử xem. Sẽ vui đấy.
Chúng tôi hăm hở vì bị kích động. Từ bỏ không nói tiếng mẹ đẻ trong một cuộc bàn cãi giữa những đám đông như thế là điều cấm kỵ theo luật, nhưng lúc này chúng tôi lại cho là tự nhiên và vô hại. Khi cảm thấy chúng tôi còn ngập ngừng, cô San nói tiếp:
– Hãy giữ bí mật giữa chúng mình nghe, các trò.
Rồi cô đổi đề tài Anh ngữ và buổi học bắt đầu:
– Duy went out last night.
Tôi thấy bạn tôi ngồi thẳng lại. Còn cô San thì chỉ ngay một cô bé có tóc đuôi ngựa nhún nhảy và nói tiếp :
– Chi, hãy tiếp tục với cái ý đó.
Chi suy nghĩ trong khoảng mười giây rồi cẩn thận nói :
– Duy went out with a girl last night..
Có vài tiếng cười khúc khích trong đám học trò. Hình ảnh của Duy với người bạn gái có vẻ tức cười dù nói bằng bất cứ ngôn ngữ. Cô San hướng về phía tôi và nói:
– Kiên, tiếp tục đi.
Tôi đặt câu thật nhanh trong đầu rồi nói:
– Who was that girl?
Cô San nói:
– Câu hỏi hay đấy. Vậy, Duy hãy cho biết cô gái ấy là ai?
Duy đứng lên, gãi tai, ấp úng, nhìn cả lớp cầu cứu. Một vài người thì thào câu trả lời và hắn chộp lấy như người chết đuối vớ được cọc:
– The girl was.. was.. was.. my.. mother.
Hắn la lên như thế, giọng lạc đi vì quýnh quáng. Còn chúng tôi thì ngả ngốn vào nhau vì cười. Đứng dựa lưng vào tường, cô San cũng phì cười nữa. Trong bóng tối của căn phòng, tôi cho rằng cô là một phụ nữ rất đẹp, gần giống như ảo ảnh.
Hôm ấy, khi tan buổi học, cô San bảo tôi ở lại sau. Cô nói:
– Kiên à, em có nghĩ là cái mớ tóc này sẽ hoàn toàn hết quăn khi mình.. ờ.. cắt nó thật ngắn đi không?
Cô lướt những ngón tay trên đầu tôi với vẻ suy tư. Có cái gì đó trong cung cách cô đưa ra câu hỏi khiến tôi ngẩn người, e ngại. Tôi trả lời:
– Con cũng không biết nữa. Nhưng tại sao cô lại hỏi thế?
– Nhà trường đang chuẩn bị tổ chức liên hoan chào mừng ngày thống nhất đất nước. Ban giám hiêụ đã lựa chọn lớp mình đi đầu đoàn diễu hành vì thành tích học tập tốt của lớp. Kiên thì lại là học trò giỏi nhất của cô nên cô định chọn Kiên cầm quốc kỳ đi đầu toán.
Ngừng lại một giây, cô nói tiếp:
– Chỉ có một vấn đề nhỏ là cô e rằng cái bề ngoài của Kiên có thể gây ra sự bối rối của khán giả thôi.
– Nếu cô muốn thì con sẽ đi cắt tóc ngay ngày mai.
Cô gật đầu:
– Đúng đó, cưng, cô nghĩ cách đó là tốt nhất. Cứ làm thế đi, cô sẽ dành cái vinh dự ấy cho em.
Một áng mây đen chợt thoảng qua mặt cô:
– Kiên, hãy làm tốt nhé. Chúng ta cũng chẳng còn được gần nhau bao lâu. Nhà trường sẽ nghỉ hè sau cuộc diễu hành. Em sẽ lên bậc trung học và cô sẽ chẳng còn nhiều dịp gặp lại Kiên nữa.
– Con sẽ tới thăm cô thường xuyên.
Cô nói giọng buồn bã:
– Rồi sẽ thấy. Thật khó mà hoạch định được cái gì cho tương lai. Ngay cả chính cô, có thể có mà cũng có thể không chắc là sẽ còn ở lại đây.
– Đương nhiên là cô sẽ ở lại để giúp những học sinh khác chứ. Mà cô có thể đi đâu? Cô là cô giáo mà, cô San.
Cô cắn xuống cái môi dưới và quay đi. Bên ngoài, trong bầu không khí oi ả, lũ bạn cùng lớp của tôi đang rượt đuổi nhau chạy tới quán bán nước trái cây ép ở cuối đường, tiếng cười đùa vang vọng lại. Cô San lục trong buồng để lấy ra một cái túi làm bằng da giả. Cô mò mẫm trong đó vài giây rồi ngẩng lên, tay hất cái lọn tóc dầy đang phủ xòa lên khuôn mặt. Cô trao cho tôi mấy tấm phiếu màu đỏ và nói:
– Cô có mấy cái tem phiếu dành cho giáo viên còn xót lại từ hồi đầu học kỳ vẫn chưa dùng đến. Vậy tại sao em không giữ lấy rồi đem mua mấy tập vở mà xài ? Năm học tới, em sẽ cần vở mới, phải không?
Chế độ mới đã dành riêng cho các thầy cô giáo một loại tem phiếu để họ có thể mua những đồ dùng sách vở bằng giá rất rẻ. Để bù đắp thêm vào cái đồng lương đạm bạc của mình, nhiều thầy cô đã phải mang những tem phiếu này bán ở ngoài chợ đen. Hành đông bất ngờ và hào phóng của cô San khiến tôi ngạc nhiên. Cái ý nghĩ đem khoe với mẹ tôi những tập vở mới và nhìn thấy vẻ mặt vui vẻ của bà đã khiến tôi muốn cầm ngay lấy xấp tem phiếu. Nhưng ngay lúc đó, cái mặc cảm về sự thiếu thốn nghèo túng lại trở về khiến cho hai má tôi nóng bừng lên vì xấu hổ. Tôi lùi lại và lắc đầu:
– Đó là những món quà quí, con không dám nhận đâu, thưa cô.
– Tại sao không nhận?
Tôi thở dài, tìm câu trả lời:
– Tại mẹ con đã mua ở chợ đủ đồ dùng cho chúng con rồi.
– Cô biết. Cô đã nhìn thấy bà hôm nọ. Mẹ và cô đã nói chuyện với nhau hàng giờ. Bà ấy buồn phiền vì muốn mua quần aó mới cho em và em của em, nhưng lại không đủ tiền, sau khi đã mua sách. Cho nên cô nghĩ là cô có thể giúp bà bằng mấy cái phiếu này, vì qua năm mới em cần rất nhiều tập vở chứ chẳng phải vài cuốn như năm nay đâu.
Tôi hạ thấp giọng:
– Chúng con lo lấy được.
Cô San nhiú mày:
– Kiên, em xấu hổ vì mình nghèo à?
Tôi cố tránh cái nhìn đăm đăm của cô bằng cách tập trung nhìn vào cái đốm nắng chiếu dưới đất. Cô ấn mấy cái tem phiếu vào tay tôi rồi tiếp:
– Không nên xấu hổ vì hoàn cảnh thấp kém hay tình trạng xuất thân của mình. Thực ra, em nên tự hào. Này nhé : em không còn là một dân tư bản nữa. Dưới mắt người Cộng sản, em đã đạt tới điạ vị thấp kém nhất mà lại đạt yêu cầu nhất, đó là thuộc giai cấp nghèo khó. Vậy hãy phấn khởi lên, vì từ nay em chẳng còn gì để mà mất lại có khối điều để được. Yên hẵng, còn nữa.
Cô lại lục cái tuí lần thứ nhì rồi nói:
– Cầm lấy món tiền này đi. Cô muốn em đi hớt tóc để các thầy cô trong trường khỏi bình phẩm người tiên phong mới tinh của cô trong cuộc diễu hành. Cô muốn mọi người hoàn toàn hãnh diện giống như cô khi họ nhìn thấy em dẫn đầu cuộc diễu hành. Thôi về đi. Em còn có nhiều việc vặt vãnh phải làm, mà cô thì cũng thế.
Cô vừa vuốt lên tóc tôi, vừa đẩy tôi ra cửa. Tôi lúng túng nói với cô lời cám ơn không mạch lạc lúc ra về.
Ngày hôm sau, lần đầu tiên tôi đến một tiệm hớt tóc ở ngay trong xóm. Từ trước tới nay, mẹ tôi thường xuyên hớt cho tôi. Tiệm hớt tóc, là nơi chỉ có đàn ông tới hớt và tiả lông muĩ, chỉ là một cái lều nhỏ cất sơ sài bằng bốn cái cọc gỗ và một tấm vải nhựa mầu đen. Nó được dựng dưới một cây sồi lớn chỉ cách trường tôi vài bước chân. Người thợ hớt tóc đã cắt tóc cho tôi theo kiểu nhà binh. Những đồ nghề của ông nom cũ kỹ như ít nhất đã hai chục năm rồi, thỉnh thoảng ông lại đem mài chúng loẹt xoẹt trên một miếng da bò đóng vào thân cây. Tóc trên chóp đầu tôi được ông xén cao hai phân, ngoài ra còn bao nhiêu thì ông cạo nhẵn bằng một lưỡi dao cạo sáng loáng.
Suốt ba tuần lễ tiếp theo, dưới sự giám sát của cô San, chúng tôi tập diễu hành dưới sân trường như những cậu lính nhỏ. Còn học sinh của các lớp khác thì xếp hàng đi sau, thứ tự tùy theo thành tích.
Một tuần trước ngày diễu hành, cô San không tới trường. Ngay cả các giáo viên cũng không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra cho cô. Người được cử thay thế dạy lớp tôi là một thầy trạc ngoài ba mươi với mái tóc bóng nhẫy và hàm răng sỉn dến nỗi làm nụ cười thầy xám xịt. Thầy này cũng thế, tránh bàn luận về sự vắng mặt của cô San.
Một buổi sáng, cũng theo như thông lệ, trước khi giờ học bắt đầu, toàn trường phải đứng xếp hàng nghiêm chỉnh trong sân trường. Tôi đứng ở ngay phía sau tập thể, hết sức chú ý. Khi bản quốc thiều cất lên từ cái loa, thì vai trò của tôi là phải đi xuống dọc theo lối đi chính giữa, qua cái bục chính để tiến tới cột cờ.
Khi nghe đoạn nhạc mở đầu : “Đoàn quân Việt Nam đi..” tôi dấn bước tới, đầu ngẩng lên cao, mắt nhìn phía trước, lưng ướn thẳng. Lá quốc kỳ trong tay tôi với nền đỏ và ngôi sao vàng ở chính giữa.
Sau khi tất cả mọi người đã chào lá cờ xong, ông giám hiêụ bước lên bục gỗ. Đặc điểm của ông, vốn lúc nào cũng nghiêm trọng, hôm nay lại càng thêm nóng nẩy, thô lỗ. Những nét nhăn nhúm trên mặt của ông chảy xệ, cái miệng mín lại mỏng như một nét bút chì ẩn ở phía dưới hàm ria lưa thưa. Nhìn trừng trừng cử toạ một hồi, ông với tay tắt cái máy phát thanh vừa mới chơi xong đến cuối cùng của bản quốc ca. Ông gõ ngón tay lên cái micro để thử âm thanh làm nó rít vang cả lỗ tai mọi người. Rồi, một tay ông cầm micro, tay kia vẫy ra hiêụ cho tất cả chúng tôi im lặng, ông bắt đầu nói, giọng của ông hối hả, mất bình tĩnh, vang vọng tới tân làn sương còn lảng vảng dưới những lùm cây:
– Tất cả hãy lắng nghe đây, tôi biết là mới đây có những lời xì xào trong trường, nhất là về cô San, giáo viên lớp 5 C. Hẳn anh chị rất tò mò muốn biết vì sao cô ấy lại vắng mặt. Tôi khuyên các anh chị nên dẹp chuyện ấy đi.
Ông lại rà soát mọi người bằng cặp mắt cú vọ và tiếp:
– Nếu các anh chị hỏi : “Tại sao lại đẹp chuyện đó đi” ? vậy đây là câu trả lời của tôi: Đấy không phải là vấn đề của các trò. Bất cứ ai, nếu còn tiếp tục tọc mạch vào chuyện đó thì sẽ bị xem như một hành động phản CM vậy. Kẻ nào mà bị phát giác vi phạm thì đừng có hòng tôi khoan hồng. Sẽ bị đuổi ngay lập tức. Bây giờ, trước khi các anh chị trở về lớp học, tôi muốn bàn qua về một vấn đề khác nữa.
 Nhìn thẳng về phía tôi, ông ta lấy lại vẻ bình tĩnh mọi ngày:
– Ban giám hiêụ đã quyết định bầu chọn một người mới, đi tiên phong cho cuộc diễu hành. Để chiếm được vinh dự đi đầu, người đó phải làm hơn cái chuyện thành tích xuất sắc về học tập. Nghĩa là còn phải phát huy tinh thần tập thể giữa các bạn cùng lớp, với cả các thầy cô. Rồi còn phải tham gia sinh hoạt ngoại khoá và còn là một biểu tượng tích cực của toàn trường. Nguyễn Kiên là một học trò giỏi, nhưng cũng không có nghĩa là người xuất sắc nhất để đại diện cho trường. Trường ta còn có nhiều trò khác vượt quá cả Kiên trong mọi lĩnh vực. Vì thế nhà trường sẽ xếp đặt lại, thay thế Kiên bằng một người đi tiên phong khác để dẫn đầu đoàn diễu hành, như thế sẽ đạt nhiều thành công hơn.
Ông ta sải bước lại chỗ tôi đang đứng. Điềm nhiên, ông ta giật lấy lá cờ trong hai tay tôi và trao lại cho anh lớp phó của tôi.
Quay về phía đám học trò, ông nói:
– Phần nói chuyện của tôi đến đây là kết thúc. Các trò có thể quay về lớp học.
Ông ta vất cái micro lên bục nghe cái thịch rồi bước khỏi sân khấu, hai tay khoanh trước ngực.
Khi mọi người giải tán khỏi sân trường, mặt tôi đỏ dừ vì nhục nhã. Không nói một lời, tôi lủi khỏi đám đông và lẩn đi ngay. 
Mùa hè năm 1978 ấy đánh dấu ba năm sống dưới chế độ Cộng sản. Mặc dầu chính quyền mới đã tiếp thu thành công miền nam Việt Nam, nhưng nhiều công dân của chế độ cũ vẫn hy vọng người Mỹ quay trở lại, và mỗi tối thứ hai, họ vẫn lén nghe các bản tin tức của đài BBC. Khi đời sống ngày càng khó khăn thì niềm hy vọng lại càng trở thành một thứ xa xỉ duy nhất mà Cộng sản vẫn chưa tóm được. Buồn thay, đối với nhiều người, hy vọng trở nên một sức mạnh tiêu cực cầm giữ đời sống của họ trong lao tù của sự chờ đợi phù phiếm. Thay vì tận hưởng đời sống, nhiều người đơn thuần coi như sống chỉ là tồn tại. Trường hợp này cũng xảy ra với gia đình tôi.
Mẹ tôi chẳng hoàn tất được chuyện gì trong ba năm liền ngoại trừ sự chờ đợi. Bà hy vọng là chế độ Cộng sản sẽ sụp đổ hoặc vì sự lạm phát, hoặc vì lý do yếu kém của guồng máy nhà nước. Bà cũng chờ đợi một cuộc nổi dậy có thể xảy ra, hay một cuộc chiến tranh lật đổ chế độ mới vì sự căng thẳng giữa quần chúng và các cán bộ lúc nào cũng mạnh mẽ. Nhưng sự chờ đợi lê lết kéo dài quá lâu, mọi khí thế trong lòng chúng tôi đã tắt nguội dần. Sự tủi hổ không còn chiếm vị thế ưu tiên trong đầu óc mẹ tôi nữa. Mớ nữ trang cất dấu trong tuí quần của tôi đã được bán dần mòn để cho gia đình tôi được sống sót. Cuối cùng thì mẹ tôi khánh tận và chúng tôi bước vào đường cùng.
Thối chí với sự chờ đợi trong vô vọng, mẹ tôi đã thuê một quầy hàng trong ngôi chợ lớn nhất tỉnh, cách nhà tôi khoảng năm cây số. Gian hàng của bà chỉ là một cái ngăn rộng chừng mười mét vuông chen vào giữa hai gian hàng, một của người bán xôi, và một là tiệm bán bánh mì. Ngôi chợ, bao gồm hàng trăm dân tiểu thương như mẹ tôi, được chia thành nhiều khu vực riêng, như khu bán cá, khu bán gia súc, rau cỏ, vải vóc, đồ dùng về điện, thuốc men và ở ngoài bìa xa nhất là nơi bán những sản phẩm của nông trại. Xa hơn đó nữa, là chỗ đổ rác của thành phố, một thứ siêu thị của lũ lang thang không nhà.
Mẹ tôi bán gạo là chủ yếu, thêm vài thứ sản phẩm trồng trọt khác như khoai tây, đậu. Tuy vậy, người Cộng sản cũng ghé mắt vào những loại buôn bán như kiểu của mẹ tôi, vì họ cho là loại tiểu thương này làm cho hàng hoá trở nên đắt đỏ và làm sáo trộn nền kinh tế. Trong một bản tuyên cáo, chính quyền cấm thành phần trung lưu được buôn bán tự do và gửi nhiều toán đi tịch thu hàng hoá. Họ hứa hẹn với mẹ tôi là nếu từ bỏ gian hàng thì sẽ kiếm cho một công việc khác. Nhưng dù đã thoả thuận như thế, đơn xin việc của mẹ tôi vẫn luôn luôn bị từ chối.
Gian hàng của mẹ tôi chỉ tồn tại được có vài tháng thì bị bắt phải đóng cửa. Chỉ vài phút trước khi có cuộc đột nhập, mẹ tôi đã tẩu tán được một số hàng hoá qua mấy người bạn hàng. Sau đó là những cuộc lục soát tinh vi hơn, toàn diện hơn mà không hề thông báo trước.
Ở ngoài chợ, hầu hết các bạn hàng đều kém may mắn hơn mẹ tôi. Chính quyền, thông qua các đội tình nguyện trẻ tuổi, đã xông vào các cửa tiệm vào lúc nửa đêm, tịch thu tất cả các loại hàng hóa đã được kiểm kê. Rồi hôm sau, họ bắt chủ tiệm trưng ra giấy tờ biên nhận buôn bán, chứng tỏ họ có quyền sở hữu đối với món hàng đó. Làm sao mà có được, vì hầu hết các hàng hoá chỉ là mua đi bán lại ở chợ đen, làm gì có giấy biên nhận. Thế là phải nộp phạt cho những hàng hoá tồn kho và các thương gia bị quét sạch sẽ.
Vào cái hôm mà đội thanh thiếu niên tới đóng cửa gian hàng của mẹ tôi, trong cơn giận dữ và thất vọng vì chẳng có món nào có giá trị, họ đã đập phá tan hoang. Một thành viên của toán, một đứa con gái mới chừng mười bốn tuôỉ, trong bộ đồng phục mầu xanh đã xiả xói vào mặt mẹ tôi với giọng khinh bỉ:
– Thử coi bà còn dám mở lại gian hàng chống phá CM này nữa không ? Chúng tôi sẽ quay lại kiểm tra thường xuyên cho bà biết tay.
Rất lâu sau khi họ đi khỏi, mẹ tôi vẫn ngồi trên sàn, đầu cúi xuống, không nhúc nhích. Ở bên ngoài, một bóng người bước vào gian hàng của mẹ tôi, ngừng lại ở ngưỡng cưả để quan sát bà. Từ chỗ mẹ tôi ngồi, bà chỉ có thể nhìn thấy một đôi chân dơ dáy của người khách thọc trong đôi dép râu rẻ tiền..
Bà ngẩng lên nhìn và thấy khuôn mặt quen thuộc của bà Đặng lúc ấy cũng đang chăm chăm nhìn bà. Ba năm sống dưới ách Cộng sản đã biến người bạn ồn ào của bà thành một phụ nữ già nua và nhút nhát. Tuy nhiên tiếng cười của bà Đặng vẫn còn dễ lây lan, vang lên như tiếng pha lê khi bà nhận ra mẹ tôi. Bà la lên:
– Trời phật ơi! Chị đó à, Khuôn? Chao ôi, chuyện gì đã xảy ra cho chị thế?
Mẹ tôi nhìn đăm đăm một cách ngây dại vào khoảng không gian phía sau khuôn mặt của bà Đặng. Quá xúc động vì cuộc hội ngộ bất ngờ, Bà Đặng qùi xuống sàn giữa đống chai lọ vỡ, mẻ và gục khuôn mặt vào cổ của mẹ tôi. Tuy nhiên mẹ tôi không ôm lại bà. Đầu óc của mẹ hình như ở đâu đó bên kia sự hôi thối, lầy lội của ngôi chợ, tiếc nuối sự mất mát của mình.
Nhiều ngày sau, mẹ tôi vẫn còn nằm liệt giường và từ chối ăn cơm với gia đình. Bà nói với Jimmy và tôi về việc bỏ rơi chúng tôi để đi sống ở một nơi nào khác. Một đôi khi, bà còn tính đến chuyện cả nhà, trừ ông bà ngoại tôi, sẽ tự tử tập thể cho thoát nợ đời. Sợ hãi vì những cơn xuống tinh thần đó, Jimmy và tôi tránh vào căn buồng của bà y như thể đó là khu vực của người cùi.
Nhưng may mắn thay, với nhiệt tình của dì Đặng, đến thăm viếng thường xuyên, mẹ tôi quyết định đi tiếp con đường đời. Bà lại dấn mình vào việc buôn bán.. Tuy rằng bà có sẵn kinh nghiệm làm ngân hàng, vấn đề cạnh tranh với người khác để mua đi bán lại kiếm sống, đối với bà là một ý nghĩ chua chát. Dầu vậy, bà biết là mình vẫn phải tìm ra một cách nào đó để mà có được bữa ăn hàng ngaỳ cho gia đình.
Cũng mùa hè năm ấy. Chị Loan trở về từ toán thanh niên xung phong. Sau ba năm trời lặn lội trong rừng cùng với trên hai trăm thiếu nữ khác cùng đơn vị, chị đã chứng tỏ là có tinh thần phục vụ cho chính quyền mới và thời hạn phục vụ của chị đã qua.
Vào cái hôm mà tôi bị ông giám hiêụ cho ra rìa khỏi vụ diễu hành, trên đường trở về nhà, tôi bắt gặp chị trên đường phố giữa đám đồng chí của chị. Mặc dầu chị mặc bộ đồng phục quá khổ mầu xanh may bằng vải ka ki dầy che lấp tất cả các đường nét phụ nữ, tôi vẫn nhìn thấy ngay khuôn mặt khả ái của chị. Sau nhiều năm làm việc dưới ánh nắng gay gắt, nước da của chị đã biến thành mầu nâu. Trên lưng chị là một cái ba lô đựng tất cả tài sản, nom nặng nề như đeo đá trên thân hình mảnh mai của mình. Chị nhoẻn miệng cười khi nhìn thấy tôi vừa chạy vừa réo to tên chị. Chúng tôi ôm lấy nhau thật lâu, chan hoà nước mắt khi thấy mỗi người đều có sự thay đổi. Chị hỏi tôi:
– Sao em không viết thư cho chị. Bộ em không nhận được thư nào của chị hay sao?
Tôi trả lời:
– Không, chẳng có thư nào hết. Em không viết cho chị vì chả biết chị ở đâu. Chị đã gửi đi bao nhiêu thư tất cả?
Chị có vẻ bối rối:
– Chị không biết nữa. Nhiều đấy. Lúc ban đầu chị viết mỗi tuần một lá. Có khi chị còn nhờ một người bạn chuyển tay nữa. Thật là kỳ cục khi em chẳng nhận được lá thư nào.
Đăm chiêu một lát, chị tiếp:
– Khó có thể tin là mọi thứ đều thất lạc. Thật quá tệ, nhưng sống trong những điều kiện như thế này thì em cũng biết nó như thế nào rồi. Cũng chẳng sao, điều quan trong nhất là cuối cùng chị em mình gặp lại nhau, phải không. Dẫn chị về nhà gặp má đi em.
Tới ngưỡng cưả, hai chúng tôi bị con chó của Jimmy chặn lại. Nó vẫy đuôi mừng rỡ và liếm lên mặt của chúng tôi bằng cái lưỡi nham nháp của nó. Nó không còn là một con chó nhỏ nữa mà đã to lớn gần bằng vóc dáng của một con chó bẹc-giê trưởng thành và sức nặng của nó làm chị Loan liểng xiểng. Nó sủa oang oẳng lên làm chị Loan hết hồn, lùi lại phiá sau tôi:
– Nó không thể là con Lulu, phải không?
Chị hỏi rồi lại tự trả lời:
– Dĩ nhiên là không rồi. Con chó này đâu có cái chân què.
Tôi gãi vào sau cái tai con chó của em tôi và trả lời:
– Lulu chết rồi. Đây là con chó đực. Nó tên là Lu.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Bài 17

Mùa hè năm 1975 ấy mưa nhiều hơn nên đất không kịp thấm. Khắp nơi trong thành phố đều có những vũng nước đọng tạo điều kiện cho ký sinh trùng nảy nở khiến cho bệnh tật tràn lan với một tốc độ nhanh chóng. Bệnh sốt rét, bệnh kiết lỵ và bệnh lao thi nhau hoành hành. Trong cố gắng kiềm chế, nhà nước cộng sản thiết lập một hệ thống y tế huấn luyện cho mọi người để họ có thể tự săn sóc chính họ. Cứ mỗi tuần ba lần, một nhóm y tá lại kê bàn ra bên ngoài cổng phường, phân phát cho mỗi người một liều thuốc ký ninh để ngăn ngừa bệnh sốt rét. May mắn thay, xóm tôi chưa thấy xảy ra bất cứ một thứ dịch bệnh nào.

Tháng tám chậm chạp trôi qua trong khi thành phố điều chỉnh theo sự sắp xếp mới. Một hôm bác trai tôi hối hả chạy vào nhà tôi. Vì sự sai lầm trong quá khứ mà bác bị giam trong trại tập trung mất một tuần lễ. May mắn thay, ông tôi lại được bãi miễn cái loại gian khổ ấy vì sự tàn tật của mình. Vào cái hôm mà bác tôi được thả ra, ông tới nhà tôi để cảnh giác mẹ tôi về những tin tức thâu lượm được trong trại giam.

Trên khắp thành phố, người Cộng sản đã thi hành một chiến lược mới để triệt hạ chủ nghĩa tư bản, khởi sự từ dân giầu có cư ngụ ở khu phố tầu, sau lan tới các phú hộ ở miền quê. Đó là một kế hoạch khá giản dị. Mỗi ngày, cán bộ của nhà nước chỉ định đại một khu vực dùng làm mục tiêu. Tại mỗi nơi này, họ lục soát tất cả mọi nhà và đặc biệt họ chuyên chú tới tất cả những người có máu mặt trong vùng. Muc tiêu chính là để tìm ra của cải bị cất dấu hoặc những bằng cớ chứng tỏ rằng đương sự đã phạm trọng tội trong quá khứ. Trong khi nhân viên nhà nước lục soát đồ đạc, của cải thì mọi người trong nhà bị dồn hết vào một góc. Bất cứ vật gì có giá trị đều bị tịch thu hoặc bị phá hủy tức thì. Nếu gia chủ bị phát giác là có dính líu tới quá khứ một cách nặng nề, tùy theo mức độ tội phạm, đương sự sẽ bị giải tới trại giam tù cải tạo hay chờ bị đưa ra toà án xét xử. Ngay cả bọn con nít cũng không tránh khỏi cuộc lục vấn vì có nhiều trường hợp cha mẹ chúng đã khôn ngoan cất dấu của cải nơi con cái.

Với sự trợ giúp của các anh em họ tôi, Mẹ tôi đã làm một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng đồ tế nhuyễn, của riêng tây, lựa ra những món kỷ niệm có liên quan đến quá khứ vàng son của bà, nhất là những cái có dính dáng đến cha tôi và cha của Jimmy. Bà đem dấu tất cả vào một cái hộp đựng giầy, nhét thêm vào đó một nửa số nữ trang. Nửa số còn lại thì vẫn còn được cất dấu trong túi quần của tôi. Chờ lúc đêm xuống, bà đem hộp giầy ra chôn ở sân cỏ phía trước.

Tại nhà bên cạnh, gia đình của Duy không có may mắn như thế. Bọn Công sản đã lục lọi từng xó xỉnh, đào bới lung tung. Lúc trở ra, họ còng tay ba của Duy mang đi, trên một chiếc xe vận tải nhà binh. Mẹ của Duy chạy theo chồng rền rĩ khóc than như một con thú bị thương trong khi chiếc xe vẫn lầm lũi chạy trên con đường đất bụi, nhả đám khói đen đặc vào mặt bà. Giữa lúc tôi đang đứng bên cạnh bà tôi trên sân cỏ phía trước để coi quang cảnh nhốn nháo ở nhà hàng xóm thì chị Moonlight đến đứng ngay sau lưng tôi. Chị trỏ tay về anh Tống Ty và thì thào vào tai tôi :

– Kiên à, em đưa cái này cho anh ấy giùm chị nhé, 

Chị dúi vào tay tôi một tờ giấy nhỏ. Tôi hỏi lại 

– Bây giờ à ? Đưa giữa vào lúc như thế này sao ?

– Phải rồi. Ngay bây giờ 

Nói xong chị đứng dậy bỏ đi trước khi bố mẹ của chị kịp nhìn thấy. Tôi tiến về phía cửa nhà bên cạnh và đảo mắt tìm anh Ty trong đám lố nhố của gia đình anh. Anh đứng ngay bên cạnh bà mẹ, cánh tay ôm lấy ngang lưng của bà để cho bà đừng khỏi xỉu. Bà khóc ngất trên vai của anh bất kể sự tò mò nhòm ngó của mọi người qua lại. Trước cảnh tan hoang, anh Ty tỏ ra cứng rắn và vững vàng. Anh không nhận ra tôi lúc tôi luồn tới gần anh. Còn Duy thì ngưng khóc và nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên.

– Xin lỗi nhé, Duy !

Duy không trả lời tôi. Đứng lẫn trong đám anh em hoảng hốt thất thần của Duy, tôi cảm thấy lạc lõng khi họ kéo nhau vào nhà. Lúc anh Ty đi qua trước mặt tôi, tôi nhét vào tay anh mảnh giấy của chị Moonlight. Trước khi anh kịp bước đi thì tôi đã thì thào vào tai anh :

– Của chị Ánh Nguyệt đấy. 

Anh nói cảm ơn và tôi chạy về nhà. Tới sân trước, tôi thấy chị Ánh Nguyệt đang đứng ở đó, nháy mắt với tôi và mỉm cười.

Sau khi chờ đợi cả mấy tuần lễ coi người Cộng sản có biện pháp gì mẹ tôi nhận ra rằng, sau khi đã lấy được căn biệt thự thì họ chẳng còn coi chúng tôi như một sự đe doạ ghê gớm nữa. Thấy an tâm, mẹ tôi đi thu lượm lại những món đồ đã chôn. Nhưng bà thất đảm khi thấy cái hộp đã chôn nay biến mất. Sau năm tiếng đồng hồ xới tung cả đám cỏ lên, bà cho rằng cái hộp đã bị cuốn trôi ra biển vì có dòng nước ngầm ở dưới. Tình trạng này cũng thường xảy ra khi người ta đem chôn đồ vật mà lại đào qúa sâu.

Mấy tháng cuối cùng trước khi mẹ tôi sanh nở, không khí trong gia đình càng lúc càng nặng nề, khó thở. Vì cả gia đình tôi chẳng ai có công ăn việc làm nên tất cả phải sống nhờ vào việc bán dần các món nữ trang của bà. Chuyên thai nghén cũng không được suông sẻ như bà trông đợi. Ở tháng cuối cùng bà gặp trục trặc hai lần. Lần băng huyết thứ nhì lại còn kèm theo những đợt quặn đau rút khiến cho bà nghĩ rằng đứa bé sẽ bị đẻ non. Trong lúc rối trí, bà hối hả chạy tới bệnh viện, nhưng ở đâý cho biết là chưa có triệu chứng đẻ. Thế là bà lại hối tiếc vì đã tốn tiền chi phí cho bệnh viện trong lúc tiền bạc eo hẹp.

Cũng vào thời gian đó, dượng Lâm bị ông trưởng phường gọi đi làm lao động tập thể trong mười lăm ngày, mà thực chất là là sự khổ sai cưỡng bách trong một khu rừng cách thành phố năm mươi cây số. Lâm đã từ chối không đi. Vì sợ rắc rối, mẹ tôi đã thuê một người anh họ của tôi đi thay. Thật ra, sự đánh tráo như thế này thường thường là xuông lọt. Nhưng, trong cái ngày xui xeỏ đó, tay trưởng phường tình cờ phát giác ra sự thay thế gian trá này khi ông dự định đưa Lâm lên làm tổ trưởng lao động. Và ông ta nhận ngay ra đó là anh Lễ chứ không phải là dượng Lâm.

Dù cho dượng Lâm đã thoát được chuyện này, không có rắc rối gì quan trọng xảy ra, nhưng sự mâu thuẫn giữa gia đình tôi và ông ba Qùi, viên trưởng phường, đã tới một ngã rẽ mới. Theo ông ta, thì nếu gia đình tôi có khả năng thuê mướn được kẻ thay thế thì có nghĩa là chúng tôi còn giữ được của cải mà không khai với nhà nước. Tình trạng này khiến cho mẹ tôi và dượng Lâm càng xa cách nhau hơn, đến nỗi chẳng ai nói với ai một lời. Một vài người trong xóm còn cho rằng mẹ tôi và dượng Lâm chẳng còn có vẻ là một cặp bồ bịch nữa.

Cứ mỗi ngày qua đi, mẹ tôi lại tỏ ra khó chịu và bứt rứt. Những cơn mưa dầm và cái bụng bầu càng ngày càng to đã khiến cho bà mất hết kiên nhẫn, ngay cả đối với những chuyện vụn vặt. Vào một buổi tối, giờ cơm, chúng tôi ngồi trên sàn ăn cơm với cá mặn do bà ngoại tôi nấu. Kể từ khi chị Loan đi khỏi, bà ngoại tôi thay thế làm công việc vặt trong nhà như bếp núc, dọn dẹp, giặt giũ. Nếu không bị hành bởi bệnh tê thấp, bà tôi đã có thể là một đầu bếp giỏi. Nhưng, cũng như tối hôm đó, hầu như tất cả mọi bữa, chúng tôi đều chỉ có cơm với cá khô mà thôi.

Mẹ tôi đang ngồi im lặng ăn, bất thình lình ở phía đối diện, dượng Lâm cau mày nói :

– Nhìn tôi đây này.

Mẹ tôi vẫn tiếp tục ăn coi như chẳng nghe thấy gì. Trong khi ấy, Jimmy lấm lét nhìn hai người. Tôi nắm lấy tay nó và biết rằng nó sắp khóc. Sự im lặng của mẹ tôi khiến dượng muốn điên lên, tay ông ta đập xuống sàn, to tiếng hơn :

– Tại sao cô không nhìn tôi ? Tôi chịu hết nổi cái thói bỉ mặt này nữa rồi.

Vẫn thế, cách trả lời độc nhất của mẹ tôi là tăng thêm sự ghẻ lạnh. Dượng quát :

– Đừng có giỡn mặt với tao, con đĩ thối.

Trong cơn giận dữ, lời xỉ nhục của dượng vọt ra nghe khàn cả giọng. Rồi dượng ném cả nửa bát cơm đang ăn vào mẹ tôi rồi bỏ ra ngoài châm thuốc lá. Những hạt cơm bắn tung toé lên tóc, lên cả mặt mẹ tôi mà bà cũng không buồn phủi đi. Bên cạnh tôi, Jimmy bắt đầu lên tiếng khóc.

Khuya đêm ấy, dượng Lâm luồn vào trong giường của tôi. Đang nằm sấp, tôi không biết rõ có dượng mãi cho đến khi tôi bị sức nặng của dượng đè lên mới choàng dậy. Hắn ta dùng tay bịt mồm tôi lại để tôi khỏi la lên. Tôi choáng váng tỉnh giấc mà không biết có chuyện gì đã xảy ra. Bên tai tôi, giọng của hắn thì thào :

– Mày mà kêu tao bẻ gẫy cổ.

Thoạt tiên tôi chắc là mình đang ở trong một cơn ác mộng, và tôi cố vùng vẫy để thức dậy. Nhưng bàn tay của dượng đè chặt lên mặt tôi và đem tôi trở về thực tế. Tôi cố giâỹ giuạ để thoát ra khỏi sự ghì cứng của hắn và cố hớp chút không khí. Nhưng tôi không có đủ sức mạnh để thoát ra khỏi, tôi cảm thấy nghẹt thở. Chắc là tôi chết quá. Tôi thầm van xin và cảm thấy óc căng phồng lên như một qủa bóng đầy hơi, sắp phát nổ. Tôi nghĩ đến Lulu và thầm hỏi rằng trước khi chết, con chó của tôi có cùng một cảm giác hãi hùng như thế này hay không. Yếu dần, tôi không còn vùng vẫy được nữa. Ngay khi tôi ngừng cựa quậy thì dượng lơi những ngón tay ra, không ghì lên mặt tôi nữa, khiến chút không khí có thể ùa vào trong phổi của tôi. Tôi hăm hở hớp lấy sự sống, đến nỗi phát nghẹn vì đờm của chính mình. Dượng gằn giọng, thì thào :

– Nghe đây và nghe cho kỹ, thằng nhóc. Sau này mày lớn lên, nếu muốn trách ai đã gây ra chuyện này thì hãy trách mẹ mày. Mụ đã gây sự trước, ngay khi mụ giết đứa con chưa chào đời của tao.

Giọng của dượng tuy gần mà nghe xa văng vẳng. Tuy nhiên tôi cũng hiểu được ông ta nói cái gì, những lời lẽ ấy nhiễu vào tâm hồn tôi như những giọt mực. Ở bên ngoài, trời đã về khuya, có ánh trăng chiếu qua khung cửa sổ soi rõ mọi vật trong phòng, kể cả những ngón tay như những móng vuốt bấu sâu quanh cổ tôi. Dượng một tay kéo cái quần pyjama của tôi xuống, và cởi cả quần của dượng, còn tay kia thì vẫn giữ cứng lấy tôi. Tôi vừa sợ hãi vừa cảm thấy nhục nhã nhưng cũng vẫn chẳng hiểu dượng toan tính làm cái gì. Trong cơn bối rối và hoảng loạn, tôi cảm thấy người tê cứng lại. Rồi bất chợt một cơn đau điếng như một làn sóng ùa vào cơ thể của tôi trong khi dượng hầm hừ và nhún nhẩy trên mình tôi. Tôi muốn gào lên mà không thể được. Tôi cũng không còn khóc được nữa, tất cả trong tôi chỉ còn là một sự trống rỗng cứ mỗi phút lại tăng trưởng hơn, lạnh lùng hơn.

Trước khi rời khỏi thân mình tôi, dượng dứ dứ nắm tay lên mặt tôi và nói :

– Giữ kín chuyện này giữa tao với mày thôi, nhóc, lần sau thì tao có thể nhẹ nhàng hơn. Nếu mày ngu đến nỗi đi mách mẹ mày thì tao sẽ tìm tới thằng em của mày.

Hắn ta chẳng cần cảnh cáo để bịt miệng tôi lại. Sự nhục nhã và cô đơn mà tôi cảm nhận không phải là những cảm giác mà tôi muốn chia sẻ với bất cứ ai. Tôi nằm vùi trong đống gối, lắng nghe tiếng chân của hắn rời xa và cố gắng ngăn chăn. sự tuỉ nhục đang ăn xói vào tâm hồn của mình.

Hắn đã đi khỏi rất lâu mà tôi vẫn nằm trần truồng, bất động trên giường. Đầu óc tôi trống rỗng. Tôi đắm mình vào cái vỏ kén, như đã chết, lạnh lẽo, không hồn, và vào cái giây phút ấy thì tôi chỉ còn có cách đó để yên thân.

Ngày hôm sau tôi ngủ vùi dưới tấm khăn trải giường trùm kín đầu. Tới giờ ăn sáng, mẹ tôi đi tìm tôi. Bà thấy tôi run rẩy dưới tấm khăn. Lo lắng, bà kéo tung ra để quan sát. Tôi nhìn chăm chăm lên trần nhà ở phía sau khuôn mặt của bà.

Một tay bà quơ lấy tôi, tay kia thì đập vào tôi rồi bà kêu lên :

– Dậy đi, Kiên.

Thấy tôi vẫn chẳng nhúc nhích, giọng bà trở nên hốt hoảng :

– Có chuyện gì thế, con nói đi. Con bị cái gì thế ? Ôi trời ơi, máu ở đâu ra thế này ?

Sự hoảng hốt của bà lôi tôi trở về hiện tại, với căn phòng, nơi mọi người đang tò mò nhìn tôi. Nằm ườn ngang giường, dượng Lâm ngó tôi dòm chừng. Cái nhìn tăm tối của dượng giật tôi ra khỏi trạng thái ngơ ngẩn. Tôi lắp bắp :

– Con.. con như thường mà mẹ. Con chỉ hơi mệt thôi.

Mẹ tôi rờ lên đốm máu khô trên nệm giường, hỏi :

– Vết máu này ở đâu ra vậy ? Con chảy máu ở đâu vậy kìa.

Dượng Lâm xen vào :

– Nó bình thường mà. Hãy để cho nó yên.

Mắt hắn không rời tôi trong khi vẫn nói với mẹ tôi :

– Sáng sớm hôm nay nó hơi bị chảy máu cam. Tôi đã giúp nó cầm máu rồi. Có phải không, Kiên ?

Tôi gật đầu. Nhưng mẹ tôi không chịu. Bà cau mày vẻ hoài nghi :

– Chảy máu cam à ? Không thể như thế được. Xưa nay có bao giờ nó bị chảy máu cam đâu. Có chắc như vậy không ?

Hắn qủa quyết :

– Chắc vậy mà. Để yên cho thằng bé nghỉ ngơi đi. Nếu tình trạng nó không thấy khá hơn thì tụi mình sẽ mang nó đi bác sĩ được không ?

Những lời của hắn có vẻ như đã làm cho mẹ tôi dịu đi, bà đặt tôi nằm dựa lưng trên gối. Dượng níu lấy vai của mẹ tôi, dẫn bà ra ngoài.

Chỉ một chút sau, hắn quay lại, lật cái khăn trải giường lên và nói :

– Dậy, đi ra khỏi giường ngay. Mày phải làm cho má mày tin là mày không có ốm. Nếu không, mẹ mày mà moi ra mày đã là cái thứ gì trong đêm hôm qua thì tao sẽ không che dấu cho mày nữa.

Hắn đẩy tôi ra khỏi phòng, thẳng tới sân cỏ phía trước. Tôi ngồi ở bậc thềm, tay ôm lấy bụng một hồi lâu. Cái đau ngầm ở bên trong làm cho tôi thấy khổ sở. Tôi cũng đang còn cảm thấy máu rỉ ra trong quần lót và mùi của nó làm tôi phát buồn nôn. Ở phía bên kia bức tường, Duy giơ tay vẫy, ra hiệu cho tôi qua bên đó. Cố quên chuyện đã xảy ra, tôi qua chơi với nó và con Ngốc mãi tới tận bữa cơm chiều.

Đêm hôm ấy mẹ tôi qua giường tôi, kéo tôi vào lòng. Bàn tay mềm mại của bà đặt lên trán tôi để xem nhiệt độ. Nằm trên giường của hắn, dượng Lâm hé mắt nhìn qua. Sự hiện diện của hắn làm cho tôi bồn chồn, mẹ tôi hỏi :

– Con thấy thế nào, Kiên ?

– Con khoẻ rồi 

– Có chắc không ? Mẹ thì không thấy như vậy.

Sau một chút yên lặng, bà nói tiếp với giọng đầy lo lắng :

– Kể cho mẹ nghe chuyện gì đã xảy ra. Mấy tuần lễ qua rồi, chẳng lẽ con vẫn còn giận mẹ vì chuyện con Lulu.

Thay vì trả lời bà, tôi nhắm mắt lại giả vờ ngủ. Mẹ tôi tiếp :

– Con à, tuy là việc khó cho mẹ, nhưng mẹ hứa là ngày mai sẽ tìm cho con một con chó khác nếu con hứa với mẹ là sẽ khoẻ lên.

Tôi mở mắt ra. Dưới ánh sáng mờ nhạt, khuôn mặt mẹ tôi hằn lên vì những nếp nhăn mới. Mắt bà đẫm lệ. Tôi khẽ lắc đầu trước lời gợi ý ấy. Bà hỏi :

– Con không muốn một con chó khác à ?

– Không.

– Vậy nói với mẹ con muốn cái gì. Con chó bên nhà hàng thịt vừa mới đẻ xong. Mẹ đã nói với ông ta là để dành cho con một con chó nhỏ rồi. Nếu con không ưng thì mẹ làm gì với con chó ấy.

– Cho Jimmy. Con không thích chó nữa, mẹ à.

– Được rồi, nếu con chắc chắn như thế. Nhưng hãy khoẻ lên, mẹ cần con.

Bà hôn tôi rồi tắt ngọn đèn nhỏ và đi ra ngoài. Lúc bà đi khỏi. Trong bóng tối, tôi dè trước sự mò tới của dượng Lâm bằng từng sợi gân thớ thịt của tôi. Nhưng sau cùng thì tiếng ngáy như kéo gỗ vang lên trong sự im ắng của căn buồng và rồi tôi còn nghe tiếng ú ớ những điều gì vớ vẩn trong cơn mơ.

Tôi bò ra khỏi giường cầm theo cái gối. Lặng lẽ, tôi nhón gót lần ra khỏi phòng để tới khu vườn.

Bên ngoài, từng cum. mây nặng triũ treo lơ lửng trên những lùm cây báo hiệu cơn mưa đang tới. Cây cối biến dang như những con quái vật đang rên rỉ theo gió. Trí tưởng tượng của tôi biến mọi thứ trong vườn thành những hình dị dạng chung quanh tôi. Nhưng dù vậy, đây cũng còn là nơi đỡ đe doạ hơn nhiều so với căn buồng của tôi.

Tôi ngả mình nằm xuống thềm nhà. Trên cao khoảng ba mét, cái mái hiên bằng tôn che gần hết tầm nhìn của tôi lên bầu trời. Cách xa tôi một khoảng ngắn, ngôi mộ của Lulu nằm dấu trong lòng đất. Sự hiện diện của nó có vẻ cũng làm vơi đi nỗi lo lắng của tôi và tôi bắt đầu cảm thấy thư thái hơn. Giấc ngủ đến với tôi rất mau nhưng chẳng kéo dài. Từ rất sâu trong tiềm thức, tôi nhớ lại lời đe doạ của dượng Lâm, giọng của hắn như vang vọng lên : ” Này, Kiên. Lần sau tao sẽ tìm tới em của mày. Lần sau tao sẽ tìm tới em của mày. Lần sau tao.. “

Tôi chồm lên khỏi nền đất lạnh và chạy tuốt vào trong nhà. Nín thở, tôi đi chân đất và rón rén qua giường của Lâm. Em tôi đang ngủ say nên không biết có tôi tới bên cạnh. Tôi lay nó dậy, bịt mồm để nó khỏi kêu lên. Jimmy mở mắt ra và nhìn sững tôi. Tôi thì thào vào tai nó :

– Dậy, đi theo anh.

Mắt nó hấp háy, nhưng nó không kêu lên và cũng thì thào với tôi :

– Mình đi đâu vậy ? 

– Đừng hỏi. Cầm theo cái gối và cứ đi theo anh.

Tôi đỡ nó ra khỏi giường và dẫn nó ra vòm cổng phía trước. Jimmy không hỏi thêm gì nữa mà chỉ nhìn tôi bằng đôi mắt tin cậy. Tôi bảo nó nằm xuống mặt hè, Tôi cũng nằm xuống, lấy tay choàng lên nó để che cho nó khỏi lạnh chừng  nào tốt chừng đó. Chúng tôi ôm lấy nhau ngủ khi mưa bắt đầu rơi. Cái mái hiên đã che cho chúng tôi khỏi bị mưa hắt xuống gần suốt một đêm trường.

Sáng hôm sau, mẹ tôi điên tiết lên khi phát giác chúng tôi không có ở trong giường. Đang ngủ ngon thì nghe bà thét lên đong đỏng bên tai chúng tôi :

– Dậy ngay lập tức ! Tại sao tụi bây lại ngủ ngoài mưa thế này ?

Chúng tôi choàng dậy ú ớ, nhưng chẳng biết nói sao. Mẹ tôi rên rỉ :

– Trời ơi, cái lũ này. Tại sao tụi bay làm phiền tao đến như thế. Nói đi, tao đã làm gì mà phải lãnh qủa báo này.

Rồi bà quay sang tôi :

– Còn mày, bộ không nhớ những gì tao dặn đêm qua sao ?

Phía sau bà là ông ngoại tôi, đứng tựa cửa và nhìn chúng tôi với vẻ lo ngại. Nằm trên sàn, Jimmy bỗng hắt hơi. Khuôn mặt của nó đẫm mồ hôi và đỏ như đang lên cơn sốt. Mẹ tôi la lên :

– Coi kìa, thằng em mày phát ốm lên rồi.

Bà bế nó lên tay và hầm hè với tôi :

– Vô trong ! Tao sẽ giết cả hai đứa tụi bay ! 

Bà đặt Jimmy vào giường rồi quay sang tôi :

– Có phải chính mày đem em ra ngoài ngủ đêm qua, phải không ?

Tôi sợ hãi, gật đầu. Bà rít lên :

– Tao biết mà. Mày có điên không hay là mày muốn nổi loạn chống lại tao đây ?

Bà túm lấy vai tôi. Những móng tay của bà, với cung cách quen thuộc, bấu vào chỗ có da có thịt của tôi. Tôi đau đớn la lên :

– Con xin lỗi. Tại đêm qua con sợ quá.

– Sợ ? Mày sợ cái gì ?

– Con không biết, mẹ ơi.

Ông ngoại tôi bỗng chen vào :

– Thôi. Nó còn bé mà. Chúng nó đã bị đầy đoạ đến thế mà vẫn còn chưa đủ sao ? Từ từ rồi chúng nó quen dần với tình thế mới, con ơi. Khi đứa trẻ sợ thì ắt phải có lý do. Vậy sao không hỏi nó mà cứ đánh nó như kẻ thù vậy ?

Mẹ tôi quát lên :

– Nó hư đốn rồi. Nó làm cho thằng kia phát ốm lên. Rồi không biết nó còn giở cái trò trống gì nữa đây. Con biết làm sao bây giờ ?

Ông tôi noí :

– Đừng có la lối nữa. Ắt phải có chuyện gì ghê gớm xảy ra cho các cháu của ba, khiến chúng nó phải bỏ cái giường êm ấm ngay giữa khuya khoắt mà kéo nhau ra ngủ giữa trời lạnh như thế chứ. Cứ để ba hỏi nó cho.

Rồi ông quay sang tôi, hạ thấp giọng xuống, thì thào :

– Kiên, nói cho ông nghe tại sao con không ngủ trong giường đêm hôm qua. Tại sao con lại ngủ ngoài trời như bọn lang thang không nhà không cửa thế ? Con trốn chạy cái gì vậy ?

Tôi không trả lời ông. Cơ thể của tôi quá suy sụp khiến cho mặt tôi nóng lên và choáng váng. Tôi phải đứng dựa lưng vào tường cho khỏi ngã.

Ông tôi thở dài thất vọng. Quay sang phía mẹ tôi, ông nói bằng một giọng mạnh mẽ bất thường :

– Đây là sự sắp đặt mới. Kể từ hôm nay, thằng Kiên sẽ ngủ với ba, còn thằng Jimmy thì tạm thời thì ngủ với bà ngoại. Như vậy có thấy khá hơn không hả cháu ?

Tôi gật đầu. Với vẻ hài lòng, ông tôi quay về buồng ông. Từ trên giường, dượng Lâm rít lên qua kẽ răng và bước ra ngoài. Mẹ tôi bực bội càu nhàu :

– Con hy vọng ba không làm hư chúng nó 

Rồi bà cũng bước ra ngoài, giận dỗi nện chân thình thịch.

Ở ngoài cửa trước, ông hàng thịt bỗng xuất hiện với con chó nhỏ nằn yên ổn, ngoan ngoãn trong lòng bàn tay. Chẳng ai chú ý đến ông ta trừ em tôi. Nó nhẩy ra khỏi giường, chạy tới ông ta để đón lấy con chó và khẽ kêu lên sung sướng.

Ông tôi giữ lời hứa. Hằng đêm, ông đu đẩy ru tôi ngủ trong vòng tay của ông, cố gắng tối đa để giúp tôi xua tan đi cơn ác mộng. Cùng lúc đó, ở phòng bên, Jimmy cũng ngủ cạnh bà ngoại trên giường của nó..

Mẹ tôi đã tới cữ, vào tháng chín, đẻ sớm mất hai tuần lễ. Trong căn phòng dơ dáy của bệnh viện, cạnh khu phòng hoa liễu, mẹ tôi sanh em bé gái. Ngay từ giây phút đầu tiên mà nó bị đẩy ra thế giới bên ngoài, nó khóc liên tục như thể bị đau đớn không ngừng. Mẹ tôi gọi nó là bé Ti, một cái tên phản ánh sự dửng dưng của bà đối với nó.

Vài ngày sau, dượng Lâm tới thăm. Mẹ tôi đang cho bé Ti bú. Hắn cúi xuống dòm vào đứa con gái của mình. Mẹ tôi tránh không nhìn hắn. Với giọng mệt mỏi, bà hỏi :

– Anh muốn gì, Lâm ?

Dượng thì thầm :

– Chẳng còn muốn gì ở đây nữa. Phải tìm cách ra khỏi cái đống bùi nhùi này thôi.

Và không đợi mẹ tôi trả lời, hắn tiếp :

– Thành thật mà nói, tôi với cô đã chán nhau qúa rồi. Để cho cô thoải mái hơn, tôi đã tính ra một cách.

Mẹ tôi nói :

– Anh có thể nghĩ ra được cái trò gì ?

– Tôi có mối rồi.

– Hắn cúi đầu xuống, dí sát mũi vào mặt mẹ tôi, tiếp :

– Tôi cần một mớ tiền để vượt biên !

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 19 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Binh sĩ SOF làm nhiệm vụ bí mật ở Afghanistan tháng 4-2014 – Ảnh: Quân đội Mỹ

Kỳ 2 – Vì sao Mỹ lập lực lượng tác chiến đặc biệt?

TTO – Lực lượng tác chiến đặc biệt của Mỹ ít quân nhưng đang gánh vác trách nhiệm phần lớn hoạt động tác chiến tại các điểm nóng.

Từ một đội giải cứu con tin nhỏ vào năm 1979, lực lượng này liên tục phát triển, đến nay đã lên khoảng 75.000 quân hoạt động trên hơn 80 quốc gia, bao gồm cả các nhà thầu dân dụng.

Phi vụ Iran bất thành, JSOC ra đời

Từ những năm 1950, quân đội Mỹ sử dụng thuật ngữ “lực lượng đặc biệt” để chỉ lính mũ nồi xanh bộ binh. Vài thập niên gần đây, thuật ngữ này đã được thay thế bằng cụm từ “lực lượng tác chiến đặc biệt” (SOF). 

Danh hiệu SOF bao quát hơn vì bao gồm biệt đội SEAL của hải quân, biệt đội Delta và mũ nồi xanh của lục quân, biệt động quân của thủy quân lục chiến hoặc đội điều không của không quân.

Tác giả Mark Bowden nhận xét trên tạp chí The Atlantic (Mỹ): muốn biết vì sao các chiến dịch đặc biệt chiếm vai trò trung tâm trong hoạt động quân sự Mỹ, cần điểm qua quá trình phát triển của SOF. 

Trong quá khứ, các đơn vị quân đội Mỹ hoạt động theo kiểu “duy ngã độc tôn”, không ai tán thành lập ra một lực lượng tinh nhuệ hơn hẳn làm nhiệm vụ đặc biệt. Tổng thống John F. Kennedy đã đi ngược với suy nghĩ đó khi quyết định phát triển mạnh lực lượng mũ nồi xanh.

Sau đó, đại tá Charlie Beckwith từng phục vụ một thời gian ngắn trong lực lượng đặc biệt không quân Anh (SAS) tại Malaysia đã đề xuất thành lập lực lượng Delta bắt chước theo mô hình SAS. Kế hoạch của Beckwith bị bỏ xó. 

Đến đầu tháng 11-1979 đã xảy ra sự kiện các sinh viên Iran tràn vào Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bắt giữ con tin. Trước đó có hai vụ giải cứu con tin ngoạn mục. Năm 1976, đội đặc nhiệm Israel giải cứu hơn 100 hành khách trên chuyến bay bị không tặc ở sân bay Entebbe (Uganda). Một năm sau, đặc nhiệm Đức lập chiến công tương tự ở Mogadishu (Somalia).

Ngũ Giác Đài sực nhớ tới kế hoạch của Beckwith. Chiến dịch Móng vuốt đại bàng (Eagle Claw) nhằm giải cứu con tin Mỹ ở Iran bằng lực lượng đặc biệt khởi động vào ngày 24-4-1980 song đã không vượt qua chặng đầu tiên là bay đến Tehran. 

Các máy bay trực thăng loại lớn phải hạ cánh ban đêm trên sa mạc Iran để tiếp nhiên liệu. Quả cầu lửa bùng phát ở bãi đáp làm tám binh sĩ thiệt mạng. Đây là một trong những chiến dịch giải cứu thất bại nặng nề nhất trong biên niên sử quân đội Mỹ.

Kết quả điều tra của Ủy ban Holloway xác định Ngũ Giác Đài không chuẩn bị gì cho các chiến dịch mang tính chất táo bạo, phối hợp, chính xác đồng thời có tình trạng thiếu hợp tác giữa các cơ quan như phải trầy trật mới có bản thiết kế đại sứ quán ở Iran hay các phi công hải quân lái trực thăng qua sa mạc không tập luyện trước theo yêu cầu. Từ đó, Ủy ban Holloway khuyến nghị thành lập Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt hỗn hợp (JSOC).

Các binh chủng không thích ý tưởng này. Sau khi ra đời, JSOC bị đối xử như con ghẻ, chưa có ngân sách riêng và hệ thống chỉ huy làm việc rất miễn cưỡng. Tháng 10-1983, Tổng thống Ronald Reagan ra lệnh đánh chiếm đảo quốc Grenada với lý do đưa 600 sinh viên y khoa Mỹ trên đảo về nhà. JSOC giữ vai trò chủ công trong chiến dịch.

Nhà Trắng khen ngợi chiến dịch thành công, thật ra chiến dịch diễn ra hết sức lộn xộn. JSOC chủ yếu sử dụng bản đồ du lịch vì bản đồ địa hình quân sự không có. Bốn binh sĩ SEAL chết đuối trong quá trình thám sát. JSOC không nắm chính xác các binh sĩ Grenada và Cuba ở đâu trên đảo, quân số bao nhiêu, sử dụng vũ khí nào. 

Các toán không liên lạc được vì tần số vô tuyến không được điều phối. Trong bốn trực thăng Black Hawk nhồi nhét 15 biệt động quân mỗi chiếc đã có ba chiếc rơi xuống biển. Thêm ba người chết. Rốt cuộc trong doanh trại Calivigny không có binh sĩ Cuba hay Grenada nào. Thiếu tướng Richard Scholtes chỉ huy JSOC phải điều trần thất bại trước ủy ban quân lực Thượng viện vào tháng 8-1986.

Trực thăng Mỹ giải cứu con tin bốc cháy trong sa mạc Iran ngày 26-4-1980 – Ảnh: AP

Tổ chức mạng lưới tình báo – tấn công phối hợp

Sau sai lầm ở Grenada, Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt Mỹ (SOCOM) được thành lập. Nhờ hai thượng nghị sĩ Sam Nunn và William Cohen bảo trợ, SOCOM có hệ thống quản lý và ngân sách riêng. 

Ngân sách hằng năm hiện nay khoảng 13 tỉ USD, chiếm 2% chi tiêu quân sự. Uy tín của SOCOM tăng lên vì chỉ huy là một vị tướng hoặc đô đốc bốn sao. Các chiến dịch đặc biệt của SOCOM được báo cáo trực tiếp cho bộ trưởng quốc phòng.

Sử dụng quân đội chính quy giống như sử dụng búa tạ, còn sử dụng lực lượng đặc nhiệm giống như dùng con dao đa năng Thụy Sĩ. Nhiệm vụ của SOF được mở rộng hơn. SOF nổi như cồn sau vụ đột kích ở Panama năm 1989 bắt giữ nhà độc tài Manuel Noriega áp giải về Mỹ truy tố các tội buôn ma túy và rửa tiền. 

Trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Iraq bắn tên lửa Scud sang Israel. Chỉ trong vài ngày, các toán JSOC (thuộc SOCOM) đã lập chốt thám sát trong sa mạc và loại bỏ các dàn tên lửa Iraq. Tìm kiếm và tiêu diệt đã trở thành một đặc sản khác của SOF.

Viễn thông hiện đại đã thay đổi chiến tranh không quy ước. Định nghĩa về JSOC cũng đã thay đổi lần nữa. SOF không chỉ là các đặc nhiệm hay xạ thủ nhảy toán từ trực thăng mà trở thành mạng lưới tình báo – tấn công phối hợp toàn diện. Giải cứu con tin, săn người, tìm và diệt đã trở thành các hoạt động chính. Kịch tính nhất là chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden ở Pakistan năm 2011.

Các toán SOCOM đã đảm trách cuộc chiến chống các mạng lưới khủng bố Hồi giáo ở châu Phi và châu Á chủ yếu thông qua công tác huấn luyện quân đội địa phương. Mạng lưới tình báo và các phương tiện không quân của Mỹ đã mang đến cho các chiến binh người Kurd, người Iraq và người Syria lợi thế áp đảo trước tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS).

Dưới thời Tổng thống Barack Obama, SOCOM hoạt động rất tích cực. Ngoài các hoạt động triển khai lớn ở Trung Đông còn có các đơn vị nhỏ hơn ở Niger, Chad, Mali, Hàn Quốc, Philippines, Colombia, El Salvador, Peru và hàng chục quốc gia khác. SOCOM được ưu ái vì hai lý do: một là lực lượng tinh nhuệ và hai là lực lượng thực hiện nhiệm vụ với giá rẻ (chỉ cần cử 10 đặc nhiệm thực hiện một công việc thay vì điều động 100.000 quân).

Đến thời Tổng thống Donald Trump, tuy ông đã tiến hành nhiều đợt rút quân, nhất là ở Syria và Afghanistan nhưng nhiệm vụ của SOCOM cứ tiếp tục phình to. Mục tiêu ưu tiên là chống chủ nghĩa cực đoan bạo lực như Taliban, IS, Al Qaeda và al-Shabaab (Somalia).

SOCOM đã tổ chức không kích tiêu diệt thủ lĩnh IS Abu Bakr al-Baghdadi ở Syria năm 2019, sử dụng máy bay không người lái giết chết thiếu tướng Iran Qassem Soleimani ở Iraq năm 2020. SOCOM còn được giao nhiệm vụ phát triển các phương án dự phòng cho xung đột với Iran và CHDCND Triều Tiên. 

SOF được điều động đến châu Âu giáp với Nga và soạn thảo kế hoạch ngăn chặn Trung Quốc. Năm 2017, trách nhiệm kiểm soát vũ khí hủy diệt hàng loạt đã được chuyển giao từ Bộ tư lệnh Chiến lược Mỹ cho SOCOM.

Đi đầu sử dụng trí tuệ nhân tạo

Khi tướng Stanley McChrystal chỉ huy JSOC vào năm 2003, ông đã cải tiến JSOC và SOCOM để biến lực lượng tác chiến đặc biệt trở thành thợ săn-sát thủ hiệu quả. Ông nhận ra khả năng số hóa thông tin có thể dẫn đến mục tiêu nhanh chóng.

Các toán đặc nhiệm nhờ công nghệ hỗ trợ đã phát hiện và kết liễu Abu Musab al-Zarqawi cầm đầu Al Qaeda ở Iraq vào tháng 6-2006. Để cạnh tranh trên chiến trường hiện đại có máy tính hỗ trợ, SOCOM đã đi đầu trong việc sử dụng trí tuệ nhân tạo.

———————

Tình báo Israel lần ra dấu vết Abu Jihad cách Israel hơn 2.400km. Lực lượng Sayeret Matkal xuất quân phối hợp cùng lực lượng đặc nhiệm hải quân và đặc vụ Mossad thực thi kế hoạch tiêu diệt.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí BÌnh

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Một chiều vấn vương

Đặng Chí Bình 

Bài 12

Trong buổi nói chuyện với Lê Sơn, Lý A Chén này, tôi thấy rằng: Lê Sơn là một con người có kiến thức, khá lanh lẹ, bén nhậy. Vì thế, anh đã nhìn sâu, nhìn sát được nhiều vấn đề nên có nhiều hiểu biết về cái chế độ mà anh đã nhiều năm xả thân phục vụ, cũng như hiện nay đang nằm trong nhà tù của nó. Bản tính của anh lại ngông cuồng, hơi kiêu ngạo. Một người như vậy thì không thể nịnh bợ, sum soe, báo cáo lập công một cách hèn nhát. Còn Lý A Chén là người dân tộc. Tuy anh không nói rành tiếng Kinh, nhưng anh có cái láu cá, khôn lanh riêng của người thiểu số. Những chuyện lớn như trốn tù, phá trại, ăn cắp lớn của trại thì anh ta sẽ không ngần ngại, gì mà không báo cáo. Chứ còn những chuyện vặt vãnh như: vài lời nói phản động, dăm ba củ sắn, cái lược v.v… thì hẳn anh ta cũng biết dành ra một cách sống thích hợp.

Cũng một phần do sự chân thành nhã nhặn của tôi, nhưng cũng do sự hiểu biết và hiếu đượm tình người của các anh nữa nên buổi nói chuyện cởi mở có ít nhiều tin tưởng. Tuy vậy, từ sớm ý định của tôi muốn biết về anh Khải bị đi cùm sáng nay và còn nhiều điều nữa muốn thăm dò, hiểu biết, nhưng xét ra chưa vội. Hãy để những ngày tới cho tôi có thể nhìn kỹ hơn; vả lại thời gian buổi trưa cũng đã gần tàn.

Buổi chiều ở ngoài lán thủ công. Lê Sơn thấy tôi cũng làm được nhiều việc trong vấn đề sơn, vẽ và kẻ băng khẩu hiệu, phần nữa do phong cách sống trọng người của tôi nên anh đã thể hiện sự quan hệ thân mật hơn:

– Anh làm như vậy, chỉ ít ngày nữa là công việc chạy lắm. Mình phải biết điều chế cho vừa phải thôi, kẻo mệt về sau.

Anh cũng cho tôi biết, chỉ còn hơn 10 ngày nữa là Tết, vì vậy những khẩu hiệu này là để chuẩn bị treo dán cho trại cũng như cho cơ quan trong dịp Tết. Lê Sơn còn khoe: cứ vào dịp này hàng năm anh sẽ phải lên cơ quan để trang trí nhiều ngày, và như vậy có nghĩa: trà và thuốc lá là không chạy đâu được. Anh cười, nói thêm:

– Bộ đội và cán bộ có biết chó gì đâu!

Vừa để hưởng ứng, và cũng vừa muốn đề cao Sơn một tí cho anh vui, tôi cũng cười:

– Họ phải như vậy thì anh mới nổi bật và mới èo ọt với họ được chứ!

Không ngờ anh lại lắc đầu quầy quậy, nói giọng hơi bực:

– Thế mà có được cái chó gì đâu. Sang, hẩu lắm là một gói trà Đoàn Kết 2 hào, hay gói thuốc lá Trường Sơn 3 hào là hết bã.

Nói rồi, anh cúi xuống chỉ cho tôi làm tiếp một số công việc. Xong rồi anh hạ giọng:

– Bình làm đi, làm vừa phải thôi. Để ý thấy cán bộ hay người lạ lên đây, ho 2 tiếng báo động cho tôi.

Dặn tôi xong, anh quầy quả đi khuất vào phía trong nhà. Một lúc sau, tôi vào trong góc nhà chỗ Lê Sơn đang cắm cúi, hì hụi tôi mới hiểu: anh đang cưa một chiếc lược bằng nhôm. Thấy tôi vào, ngừng tay, anh rút trong túi áo nâu ra một cái bọc con bằng vải đen, bên trong là một cái lược nhôm sáng bóng. Anh nương nhẹ bọc nó trong miếng vải sợ tay sờ vào làm mờ cái bóng soi gương được của chiếc lược. Anh đưa cho tôi xem rồi nói trong dáng tự hào:

– Hiện nay lược nhôm này đang được anh em trong trại ưa chuộng lắm, để làm quà khi gia đình lên thăm. Ngay cán bộ, bộ đội cũng có người lén lút nhờ làm, cũng để làm quà cho thân nhân mỗi khi họ được về phép. Nhất là trại nữ tiêu thụ mới nhiều.

Tôi cầm, ngắm nghía chiếc lược: phía đầu có một cành hoa hồng cả nụ, hoa, lá uốn éo, mềm mại; phía chuôi là hai con thỏ say đắm ôm nhau. Nét khắc thật là điêu luyện, tuyệt vời. Nghe những chuyện anh nói tôi đã hiểu. Nhiều phạm nhân ở trại này cũng như ở các phân trại khác không thể làm lược được như Lê Sơn vì nhiều lý do: thời gian, uy tín, nguyên liệu là nhôm và dura, lại không biết liều lượng pha chế giữa nhôm và dura của máy bay Mỹ để cho lược vừa cứng vừa bóng, chưa nói là khả năng cưa và khắc nữa. Rất nhiều điều không thể, nên chỉ có mình Lê Sơn làm được chiếc lược tuyệt hảo như vậy. Điều đáng nói nữa là Lê Sơn biết kìm chế ở mức điều kiện cho phép, tham thì đổ, vỡ. Tất nhiên anh phải bắt mối với những anh tự giác để chạy nguyên liệu cũng như tiêu thụ. Giá Lê Sơn bán là: cái nhỏ 2 đồng, cái vừa 3 đồng, cái lớn 4 đồng.

Để có ý niệm thì một đồng bạc ở trong trại E hay trại trung ương số I lúc này thật là không nhỏ. Lương cả tháng của một người tù tập trung cũng chỉ có 1 đồng. Một ngày công lao động là 4 hào. Nếu ai lao động làm về một cái gì đó như mộc, rèn, xẻ. Có làm chết cha, chết mẹ gầy cả người đi thì một tháng mới may ra vượt được 3 – 4 ngày công. Như vậy cũng chỉ có 1 đồng 20 hay 1 đồng 60. Nhưng cả toán cũng chỉ dăm ba người làm được thôi.

Qua chuyện trò với Lê Sơn về việc này, tôi cũng có suy nghĩ: tôi mới lên trại được vài ngày, Lê Sơn và tôi tiếp xúc với nhau chưa nhiều, vậy hẳn anh cũng có cái nhìn về tôi như thế nào. Tôi cũng hiểu về kinh nghiệm sắc sảo, tinh tế xét đoán con người thì tôi chỉ là học trò của anh. Mới lên trại tù lạ, chung quanh toàn những người e dè, lấm lét, câm lặng trong một bầu không khí ngột ngạt mà lại được gặp ngay Lê Sơn. Tôi còn được hưởng cái thích thú nữa là có người đã hiểu mình và dám tin mình. Chính vì vậy mà ngay chiều hôm ấy tôi đã hỏi Lê Sơn và anh Quý có cánh tay cụt là tổ trưởng lán vernie này. Vì anh chỉ có một tay nên toàn trại đều gọi anh là Quý Cụt. Tôi không thể ngờ Quý Cụt lại cùng vụ với Phạm Huy Tân. Cả câu chuyện về cái đảng “Tân cách mạng Việt Nam phong trào” gọi tắt là TÂN PHONG từ trong hố sâu của thời gian 4 năm xưa ở Hỏa Lò lại ùa về tràn ắp lòng tôi. Chợt nhớ đến ông Chương chủ tịch đảng mà tôi ngưỡng mộ từ lâu; săn đón tôi hỏi Lê Sơn:

– À, vụ của Quý Cụt, nghe đâu còn người nữa là Chương thế nào?

Lê Sơn ngước đầu lên nhìn tôi, hơi một chút ngạc nhiên, rồi chẳng hiểu anh nghĩ sao, cúi đầu chậm rãi:

– Ông Chương đang ở toán 3 ấy!

Hỏi Sơn sang một chuyện khác, vì tôi chủ trương sẽ có một buổi gặp ông ta khi điều kiện cho phép. Nói chuyện với Sơn tôi được biết thêm: chẳng hiểu khi bị bắt, nội bộ đảng này có mâu thuẫn khai báo ra sao đó. Hiện giờ, giữa thằng Tân và Quý Cụt chẳng bao giờ nói chuyện với nhau, như muốn tránh nhau.

Mới khoảng 4 giờ chiều mà mặt trời đã đi đâu mất. Trong nhà vernie, ánh sáng nhạt đi rồi thẫm dần. Ngoài hiên đã có những hạt mưa li ti, trăng trắng như rây bột. Nhìn những hạt mưa bay đang quấn quít, dẫy dụa trên cây nứa cụt phía chái hồi như vẫy gọi, như nhắc nhở tôi về cái thú xưa. Cái thú ngay từ những ngày hoa mộng còn cắp sách đến trường mà bạn bè thân của tôi ai cũng đã biết. Dù đang làm gì, hễ cứ thấy mưa phùn bay là tôi mặc quần áo ra khỏi nhà, đi dưới mưa bay. Tại sao lúc này tôi lại không hưởng cái có thể của tôi, dù chỉ từ đây ra đến nhà cầu phía cuối lán thủ công? Nghĩ thế, tôi đứng dậy ra ngoài. Không được cái thú đi đường dài dưới mưa, thì ngồi nhìn mưa bay vậy. Thà chịu mùi hôi, tôi lên nhà cầu ngồi. Trong mưa bay dầy hạt, tôi đưa mắt nhìn toàn bộ khu thủ công. Nó là một hình thang méo, cạnh dài là phía cổng, nhìn xa xa là lá cờ và khu giám thị. Giữa khu giám thị và khu thủ công là một con đường đất rộng, dẫn ra phía trại xây đã hoang tàn mà tôi đã nhìn thấy trên đường vào đây, mấy ngày trước.

Chung quanh khu thủ công rào bằng những cây nứa chẻ đôi. Nứa dựng đứng, ghép sát vào nhau; buộc, kên chặt vào những chiếc cọc gỗ to chôn sâu xuống đất. Tuy rào nứa, nhưng chỉ có một lượt, lại thưa mắt cáo nên đứng ở trong lán nhìn ra ngoài đường, nếu có người đi lại cũng thấy thấp thoáng. Khác hẳn với hàng rào của trại giam, được kên chặt 2 lần của cả cây nứa, nên kín mít giữa trong với ngoài; vững chải, kiên cố như tường xây.

Trong khu thủ công gồm có hai lán dài chính và mấy chiếc nhà phụ. Lán dài nhất là lán làm mộc. Một gian đầu có vách kín dùng để kho chứa đồ, còn lại là 7 – 8 gian trống trơn không có vách. Mỗi gian có 4 cầu bào làm mộc đặt phía hai bên, để ở giữa có một lối đi rộng dọc theo nhà. Một lán chính giữa ngắn hơn là của toán xẻ gồm chừng năm sáu gian. Mỗi gian có 3 cặp xẻ với những khúc gỗ lớn dựng hơi nghiêng. Hai người một cặp với chiếc cưa to, dài ngoẳng. Một người đứng cao bên trên, một người đứng dưới, suốt ngày cứ kéo cưa lừa xẻ. Anh nào làm khỏe thì ăn 18 kg chất bột; anh nào làm vừa thì ăn 15 kg, còn anh nào làm yếu thì về….. không được bú mẹ mà được đi kỷ luật cùm.

Một chiếc lán nhỏ hơn, ngay cạnh lán của toán xẻ; có một số bác già yếu, tật nguyền, đan lát ở một bên. Còn một bên là một chiếc bễ lò rèn, cứ thở phì phò suốt ngày. Có lúc như cãi nhau với tiếng khò khè xẻ gỗ của toán 3 bên cạnh. Nhưng có lúc lại như thủ thỉ, nồng đượm, đắm say của chàng với nàng. Thực vậy, bất cứ ai đã vào đến khu thủ công này đều không thể quên được bản hợp xướng vĩ đại của trại E nơi núi ngàn Hoàng Liên Sơn.

Dài theo cả ngày, tiếng pắc pắc liên tục như tràng pháo tép của dùi đục, của búa con thuộc lán mộc. Tiếng pang pang của búa tạ lò rèn; tiếng khò khè than thở của toán xẻ; tiếng phì phò, phì phò hổn hển của đôi bễ cứ quyện vào nhau, quấn quít lấy nhau, xoáy lên một cộng hưởng tuyệt vời của bản đại hòa tấu: “lao động là vinh quang muôn đời”.

Nhìn ra phía hai đầu, có hai gian nhà được dựng tách rời, riêng rẽ ở hai khu đất trống. Đó là hai nhà làm việc của hai tên cán bộ quản giáo toán hai và ba. Ngoài một căn chòi nhỏ ngay phía cổng có một tên vũ trang gác. Phía sau lán, có hai chiếc chòi cao làm sát vào hàng rào, cũng có hai tên vũ trang. Mỗi đứa một chòi, ngồi trên đó.

Mưa càng lúc càng dầy, càng nặng hạt. Tôi ngồi đã ê cả chân mà lòng vẫn còn muốn ngồi nữa, nếu không thấy 2 bác già đang run rẩy, đứng chờ dưới mưa lạnh thì tôi vẫn chưa về lán. Tôi ngồi viết, vẽ được một lúc lâu, đã mỏi cả người, vậy mà hồn tôi vẫn chưa hết chơi vơi với gió mưa ở ngoài trời. Nhìn những chiếc lá hình quả trám của cây Chò phía hông lán mộc, giẫy lên đành đạch từng hồi như muốn báo cho trại E biết, nàng Đông Bắc đã lại mò về.

Một nỗi nhớ nhung từng cơn như bẹo, chí lòng tôi. Cũng mưa bay, cũng gió thổi, mới buổi sáng hôm qua ở cái miền nhiều thương đau và cũng nhiều ngây ngất ấy; bây giờ xa vời vợi. Chẳng biết rằng, có lúc nào đó, người ấy còn nhớ đến tôi, đến một kẻ phải ôm một kiếp tù. Tay tôi làm việc, thỉnh thoảng tôi cứ nhìn ra mưa bay. Trong làn mưa lung linh ấy, rõ ràng một bóng hình thuôn thuôn, mềm mại với chiếc áo bông loang lổ hoa cà và làn tóc buông lơi vẫn đượm ngát mùi hoa nhài. Một vần thơ chẳng còn nhớ của thi nhân nào cứ lảng vãng trong hồn tôi:

Để thương, để nhớ cho đời.

Để vương vấn lại cho người xa xôi.

Nỗi nhớ từng cơn, từng cơn cứ cuồn cuộn lồng lên xé nát lòng tôi. Lúc giã từ, tôi cứ tưởng rằng, rồi đây ở nơi núi rừng hoang vắng, trong chỗ đen tối, lầm than của ngục tù; một trái tim đã bị cuộc đời vò xé, băm vằm tả tơi thì còn sá gì chuyện thương yêu. Nhưng người hỡi, tôi đã lầm!

Tôi đang để hồn đắm chìm vào niềm thương, nỗi nhớ thì chợt nghe có tiếng động ở chiếc cửa của hàng rào gỗ phía bên ngoài. Thoáng thấy tên cán bộ toán đang bước lên hè, tôi nhẹ ho 2 tiếng để báo động cho Lê Sơn. Từ lúc sáng do anh Lân, tôi đã biết tên của lão cán bộ toán là Kích, trung sĩ cán bộ tập kết. Khi y bước vào nhà thì Lê Sơn đã cầm bút vẽ đang choài người trên tấm khẩu hiệu như đang mải mê làm việc. Quý Cụt, tay còn cầm chiếc cọ từ phía trong đi ra lên tiếng trước:

– Chào cán bộ ạ!

Chúng tôi đều quay lại chào y, vừa gật đầu, y vừa tiến lại chỗ tôi, nhìn những chữ tôi đang tô vẽ. Mặt y hơi sáng lên, chiếc đầu hơi nhúc nhích gật. Một tia nhỏ hài lòng nhoáng lên trong mắt y. Lê Sơn đứng hẳn lên quay người lại, với giọng Nghệ An khìn khịt:

– Còn 3 băng khẩu hiệu lớn nữa trên ban giám thị mà sơn đỏ và trắng đã gần hết. Đề nghị cán bộ phản ảnh với ban giám thị cho cán bộ đưa sơn vào để chúng tôi còn làm kịp thời gian trên đã ấn định.

Tên cán bộ đã bước gần lại chỗ đống lửa đang âm ỉ cháy giữa nhà. Hai tay y rút ra khỏi túi, quơ quơ trên ngọn lửa vừa lướt nhìn một lượt chung quanh nhà rồi lay lứt giọng miền Nam:

– Các anh phải nhớ, sơn phải về mãi Hà Nội mới mua được, vì thế phải triệt để nâng cao ý thức tiết kiệm và bảo quản tốt. Dù là ở trong lán mặc lòng, mỗi ngày khi làm xong phải đem sơn bỏ vào tủ khóa lại.

Thấy toàn những chuyện không nhằm nhè gì đến mình, tôi lách mở cửa sau, lại ra nhà xí để đi giải nữa. Bên ngoài gió Đông Bắc càng lúc càng mạnh, những hạt mưa phùn càng to và dầy đặc hơn. Con đường mòn đã lầm bùn lên nhớp nháp, nhiều vết chân đi. Vừa đi giải tôi vừa run cầm cập, càng về chiều, trời càng lạnh. Đã cuối Đông, nàng Xuân sắp về với núi ngàn sao mà còn lạnh thế! Tôi nhìn những ống vầu to tướng cưa vát miệng. Hơn một chục ống dựng hàng loạt, nghiêng dựa vào một cây nứa nằm ngang, được buộc chặt vào hai chiếc cọc gỗ. Ống thì lưng lưng, ống thì đầy nước tiểu. Sáng hôm nay, qua Quý Cụt tôi đã hiểu: đây là một nguồn phân hữu cơ có giá trị kinh tế của trại. Nghe Quý nói, làm tôi nhớ đến buổi sinh hoạt của tổ Phan Thanh Vân tối hôm qua. Một anh đã phê bình một anh là đã đi giải không đúng chỗ quy định, làm lãng phí nhiên liệu. Nghe thấy lạ lùng khó hiểu, tôi cứ tưởng là họ đang phê bình một anh nào đó đi tiểu bậy bạ không đúng chỗ làm mất vệ sinh, chứ đâu có nghĩ là lãng phí nhiên liệu. Một ý nghĩ làm bụng tôi cũng nhúc nhích buồn cười: phải gọi là nhân liệu mới đúng.

Khi tôi trở về lán vernie thì tên cán bộ đã ra rồi. Tiến gần lại đống lửa, hơ tay cho đỡ cóng. Quý Cụt quay lại nhìn tôi, nói rổn rang như rắc sỏi:

– Bình mới nhập trại mà hên thật! Trời này, trong khu thủ công chỉ có lò rèn và lán vernie là duy nhất có lửa sưởi.

Tôi còn ngơ ngác chưa hiểu trọn ý của Quý Cụt, Lê Sơn đã giải thích:

– Mùa Đông rét căm căm, lạnh thun chim lại; được lao động trong lán là hạnh phúc rồi! Những toán làm rau, làm ruộng, vào rừng chặt cây, vác nứa v.v… Bình cứ tưởng tượng là thấy rồi. Trong lán thủ công, cái lửa của lò rèn là cái lửa của nghề nghiệp rồi, không nói. Còn lán vernie, dầu và vernie cần khô mới bóng nên phải đốt lửa.

– Như vậy là chúng ta bị sưởi, chứ không phải được!

Tôi nói tiếp, làm cả 3 đều cười thành tiếng. Trời càng về chiều gió càng lộng. Gió rào rào ở phía rừng cây thổi thốc vào trong nhà từng đợt. Nếu đóng cửa, có đống lửa thì cũng tương đối ấm. Nhưng lại bị tối lờ mờ thì làm sao mà viết với vẽ? Do đấy, dù lạnh đến cứng cả ngón tay không cầm được bút vẽ thì cũng đành phải mở cửa ra. Nhưng mỗi khi nghĩ đến, chẳng phải ở đâu xa, ngay anh em ở dưới lán mộc thôi, chung quanh, trống trơn không có vách, liếp, họ còn lạnh thế nào mà vẫn phải chịu, thì mình đây đã may mắn hơn họ nhiều rồi. Cứ nghĩ như thế là thấy bớt hẳn lạnh đi nhiều.

Khi toán tập họp ra về thì trời càng thẫm lại. Đứng ở sân tập họp, anh nào cũng áo bông, áo tơi chằng đụp, lếch thếch lôi thôi. Lại còn những chiếc mũ nữa chứ! Thôi thì đủ kiểu, đủ mầu, từ những mảnh chăn rách, đến những miếng dạ đã rụng hết lông tơ đều có thể túm, véo thành một chiếc mũ để chống cái lạnh của đất trời. Tôi cứ nhìn về phía Vân mãi. Dáng anh đã cao, lại đội một chiếc mũ, chẳng biết do anh hay người khác thiết kế: nửa dạ, nửa vải, tùm hụp che gần kín mặt; chỉ có một con mắt. Mỗi khi anh nhìn về phía này hay phía kia, tôi cứ cảm thấy lấp ló như mắt con cú mèo. Còn anh chàng Nguyễn Huy Lân nữa, thùm thụp khoác một chiếc áo bông tã cũng chằng đụp, không biết nên gọi nó là mầu gì. Chỗ nâu, chỗ đen, chỗ xám nhưng chỗ nào cũng xỉn lại vì vải đã lâu ngày và lâu ngày không giặt. Anh đang ôm một chồng sổ sách đi từ đầu hàng trở xuống dưới mưa bay dầy hạt. Cứ đến một đôi, đầu anh lại gật một cái, môi nhóp nhép như chào; nhưng thực ra anh đang đếm nhẩm số người anh điểm.

Người đứng trong hàng đã run, mà người đi điểm cũng ngắc ngư. Một phần nữa là bụng anh nào cũng chả có cái quái gì để có calo chống lạnh cả. Ai cũng mong cho nhanh, cho chóng, làm lẹ để còn về tổ ấm trong nhà tù. Mưa, gió rét lạnh như vậy mà khi toán về đến cổng trại vẫn thấy một anh đứng cạnh cổng, tay cầm một gói lá giong dại. Trong gói có chừng 3 lạng lá cải bắp già đã luộc rồi. Bên cạnh, là một bác chừng 45 hay năm chục tuổi, hay tay đang ôm 3 – 4 củ sắn nướng, nhiều chỗ đã đen xì. Cả hai cùng khoác áo tơi lá cũng đã tả tơi nhiều chỗ rách. Hai cái mặt thì tái ngoét, hai cặp môi xám xịt, cứ đứng chơ vơ ngoài gió lạnh, mưa Đông. Hai chiếc áo tơi lá cứ rung tít mãi lên, không hiểu vì gió hay vì người? Khi về đến gần ngang buồng, đang đi cạnh anh Bùi Tâm Đồng, tôi hỏi anh giọng băn khoăn:

– Tại sao họ không ăn ở ngay ngoài đồng, mang về trại làm gì để bị phạt, đứng lạnh khổ như vậy?

Anh Đồng quay hẳn sang nhìn tôi đăm đăm một giây, ánh lên vẻ lạ lùng rồi mặt anh trở lại tự nhiên. Chắc hẳn rằng anh đã hiểu, chỉ vì tôi chưa biết mới hỏi. Vừa đi vào buồng, anh vừa nói:

– Đôi khi toán làm ở ngoài đồng được cải thiện. Hoặc anh nào đó lén lút, xoay sở kiếm chác được cái gì cố liều, giấu mang về trại. Nếu may mắn mang thoát được vào trại sẽ ngấm ngầm móc ngược đổi lấy giấy viết thư, tem, phong bì hoặc thuốc lào, mà nếu không thì báo. Thiếu gì người có tiền, nhưng đói muốn mua.

Dù là mưa bay, nhưng mái tranh cũng nhì nhẹt nhỏ giọt. Mặt sân vẫn bùn đất, nhếch nhác vì thế các toán đều phải chia cơm canh ở những mái hiên hay vào trong hội trường. Trong lúc chia cơm, thỉnh thoảng tôi vẫn rõi mắt về hai người bị phạt còn đang đứng run rẩy ở phía cổng trại. Lòng tôi cứ ngậm ngùi, đầy vơi cho một kiếp người. Không biết bạn bè có ai lấy dùm cơm, canh cho họ hay không?

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Tiền âm phủ

Đặng Chí Bình

Bài 11

Thời gian ăn, ngủ, lao động luôn luôn có hạn khít khao. Vì thế khi toán 2 bắt đầu nhập trại; những anh đi hàng đầu, đôi nào vào đến bên trong cổng trại là đã vội vã chạy về buồng. Người nào đến phiên trực của mâm thì chạy rẽ ngay vào nhà bếp để lĩnh cơm, canh. Khi xếp hàng ở bếp chờ lĩnh được rồi, hai tay bê soong canh hay cơm chạy hộc tốc về ngay buồng. Tìm đến chỗ vẫn chia cơm, canh của mâm đặt xuống, rồi lại hấp tấp chạy về buồng mình lôi bát đũa của mình ra. Người nào trực mâm thì cũng giữ cân của mâm. Hai người lúi húi chia cơm và canh. Những anh không phải ngày trực mâm thì cũng chả được nhàn rỗi. Sau khi đặt bát lấy cơm, canh cũng tất bật chạy xuống giếng múc gầu nước về để khi ăn xong rửa bát. Vả lại cũng cần lo toan mọi việc cho nhanh chóng để còn về đứng chứng kiến người chia cơm canh thì mới yên lòng. Trong hoàn cảnh đói khổ, thiếu thốn thế này thì chẳng ai tin được ai.

Tôi chạy vội về buồng lấy chiếc rổ và chiếc rá cơm để ra lấy cơm, canh. Nhìn thấy chiếc đĩa nhôm của Lê Sơn, liếc lên sàn trên, thấy Lê Sơn đang lúi húi lấy đồ trên cái kệ. Tôi giơ cao cái đĩa gọi với lên:

– Anh Sơn! Tôi gửi lại anh cái đĩa để anh lấy cơm.

Chắc đang bận lục tìm cái gì, quay lại anh chỉ nói ngắn ngủn:

– Anh cứ dùng đi, tôi có rồi!

Không đủ thời gian để trả lời anh, tôi lập cập mang cái đĩa lẫn rổ ra chỗ chia cơm, canh. Chỗ cơm cũng như chỗ canh, mọi người đã đặt đủ bát đĩa rồi, chỉ còn thiếu một mình tôi. Nhiều người quay lại có vẻ sốt ruột. Một anh cầm chiếc đũa cả bằng nứa, đang đảo sùng sục soong cơm ngô, quay lại nhìn tôi:

– Sao chậm thế! Mọi người đang chờ mỗi mình anh.

Mặt anh còn rất trẻ, trắng trẻo mà nói tiếng kinh lại không rõ. Thấy tôi còn vẻ ngơ ngác chưa quen. Anh Đồng đã cầm chiếc rá lót ny lông của Toàn đưa hôm qua ở tay tôi. Anh đưa đến đặt ở chỗ chia canh, rồi kéo tôi lại chỗ chia cơm, chỉ anh trắng trẻo đang đảo cơm:

– Đây là anh Lù Chằn Páng. Hôm nay anh Páng và anh Yên trực mâm, Thành Xuân Yên.

Anh vừa nói vừa chỉ lại chỗ một anh chừng 40 tuổi đang cặm cụi chia canh. Một cậu đứng bên cạnh tôi, chỉ vào con số 10 ghi ở soong cơm thắc mắc:

– Sao, mâm 5 của mình hôm nay lại chỉ có 10 suất?

Anh Páng vẫn đang đảo cơm, ngửng mặt lên:

– Anh Khải đi kỷ luật sáng nay, quên à?

Tôi cứ băn khoăn, tại sao Páng cứ ngồi đảo cơm mãi, để cơm nguội hết. Tôi hỏi anh Đồng thì anh đã giải thích: việc này đã trở thành thông lệ của mọi năm rồi. Cơm cân, vì vậy phải đảo trên dưới cho đều, không còn để vầng, tảng. Cơm vầng và bên dưới, ướt sẽ nặng cân. Trước đây đã xẩy ra nhiều chuyện chửi bới thậm chí đấm, đá nhau chỉ vì cơm ướt, cơm khô. Cho nên bây giờ năm nào cũng vậy, trước khi cân đều phải đảo lộn, đánh cơm tơi ra.

Tôi đang nhìn mười chiếc gồm: rổ, rá, đĩa, bát đủ kiểu, đủ mầu đặt lộn xộn một đám giữa sân thì anh Páng đảo soong cơm đã rời đều. Anh chọn lấy một chiếc bát tráng men to mầu xanh thẫm trong đám lộn xộn rổ, rá này. Chiếc bát thứt thẹo, nhiều chỗ sét rỉ đã đen sì như mụn ghẻ đang làm vảy. Hẳn nó ra đời đã lâu ngày và đã vật lộn nhiều với cuộc sống lam lũ với bao lần thất cơ, lỡ vận. Quay lại, anh với chiếc túi vải xanh kiểu dân tộc Mèo để bên cạnh. Chiếc túi đã đụp vá bằng 2 -3 miếng vải vừa nâu vừa đen; chắc đã lâu ngày không giặt, đầy cáu ghét. Anh lấy trong túi ra một cái bát sành con để xúc cơm ở soong vào chiếc bát xanh lớn chừng 2 bát cơm con ở gia đình. Anh khẽ đặt vào một chiếc cân mà một anh trong mâm đang giơ ra chờ. Tùy theo chiếc cán cân, bổng lên hay hạ xuống. Anh rút trong túi áo bông ra một chiếc cùi dìa con bằng nhôm. Cẩn thận, anh lấy ra hay cho vào chỉ từ mươi hạt cơm đến nửa thìa là chiếc cán cân đã ngang bằng trước sự chấp nhận của gần mười cặp mắt đang nhìn chằm chằm. Xong rồi, anh cầm chiếc bát xanh to đổ vào một cái rổ, rồi lại tiếp tục cân suất thứ hai.

Trông anh “thao tác” nhẹ nhàng, nhuần nhuyễn; hầu như mỗi lần xúc cơm, anh ước lượng, ướm thử bằng mắt, nên nhiều lần cân không phải lấy cơm ra hay cho thêm vào. Thật là tài, có thể do lâu ngày, cái tay xúc, cái mắt nhìn đã thành quen. Tôi đang đứng coi anh Páng cân được 5 -6 suất thì Toàn từ dưới giếng xách gầu nước về đặt vào một góc sân, rồi đến kéo tay tôi lại chỗ chia canh.

Bây giờ tôi mới để ý. Canh gì sền xệt có mầu trắng xam xám; mãi đến khi anh Yên dùng cùi dìa bửa những cục to ra làm đôi, ba miếng tôi mới hiểu là sắn. Anh nhẹ nhàng xúc những cục sắn nấu chưa tan bỏ đều vào các bát, các rổ. Nếu cục nào to thì anh lại xắn bớt ra chuyển cho phần khác. Khi những cục sắn đã chia tương đối đều thành 10 suất, anh mới lấy, cũng một chiếc bát sành con múc cái nước sền xệt đổ vào từng suất cho đều. Khi đã làm hết lượt, còn một ít nào trong soong, anh lại lấy một chiếc muỗng nhôm múc thêm cho suất này, suất kia điều chỉnh cho đều tùy theo mắt anh quyết định. Đôi khi lại theo ý những người đang đứng theo dõi. Người bảo đổ thêm cho suất này, người bảo đổ thêm cho suất kia.

Thực ra điều này do tâm lý người đứng nhìn. Chỉ thấy bát mình ít hơn bát người khác, nên cứ chỉ chỏ lộn xộn. Cho nên, từ lâu đã nghiễm nhiên trở thành một nguyên tắc là không ai được chỉ hay nói. Hãy để tùy quyết định của người chia, vì ngày khác, đến lượt mình chia cũng được hưởng quyền đó.

Khi cầm cái rá đựng canh của tôi lên, thấy ướt nhèm. Nhìn xuống chỗ để chiếc rá, đất khoang ra một chỗ hãy còn ướt nguyên. Như vậy, miếng ny lông của Toàn lót hôm qua quá cũ nên đã bị rò. Tay còn đang cầm cái đĩa của Lê Sơn, tôi trút vội canh sang chiếc đĩa nhôm. Để chiếc đĩa nhôm chồng lên cái rá; đến lấy rổ cơm rồi theo Toàn vào hội trường.

Buổi trưa, trời còn sáng. Trong hội trường lại có nhiều bàn ghế vì nó vừa là nhà ăn, lại cũng vừa là hội trường dùng cho khi học tập hay khi ban giám thị nói chuyện. Lúc này người ta vào ngồi ăn kín cả hội trường. Dù tôi đang thích ăn sắn, vậy mà canh sắn lại đăng đắng do những củ sắn đã chạy máu, hơn nữa chỉ nấu với muối thành một thứ sền sệt, nên nhai với cơm ngô mãi không nuốt được. Tuy vậy, vì bụng đói nên cũng nuốt nhanh.

Ngồi nhai cơm, thoáng nhìn thấy Phan Thanh Vân và Lân ngồi cách hai ba bàn. Tôi và Vân đều gật đầu cười khi mắt gặp nhau. Nhìn thấy bát cơm của Vân hơn hẳn suất sơm của tôi với Toàn. Tôi ngạc nhiên hỏi Toàn mới hiểu được khái niệm: Toán hai có năm mâm, trong đó một mâm đặc biệt ăn 18 kg, ba mâm ăn 15 kg mà mâm chúng tôi là một. Ngoài ra còn một mâm ăn 13 kg, những người bị đi kỷ luật ăn 9kg thì không kể. Mâm ăn 18 kg là những người lao động khỏe, có năng suất, vượt chỉ tiêu lao động của trại. Hơn nữa, họ còn phải là những người cải tạo tiến bộ, không hề vi phạm nội qui của trại. Hàng tháng, hàng quí và hàng năm họ thường được bình bầu là những cá nhân xuất sắc của trại.

Mâm ăn 15 kg là những người lao động chỉ đạt chỉ tiêu. Tuy có người trong nhóm này làm vượt chỉ tiêu, lao động tích cực nhưng có thể vì khâu tư tưởng, hoặc tỏ ra không năng nổ, tích cực làm gương cho những phạm nhân khác v.v… nên họ vẫn ăn ở mức 15 kg. Mâm 13 kg là những người không đạt chỉ tiêu lao động, hay phạm nội qui hoặc hay đau yếu v.v…Toàn nhấn mạnh:

– Em vừa nói là nhìn cái chung như thế. Nguyên tắc là vậy nhưng trong thực tế cũng có đầy rẫy những điều khó kiểu. Có nhiều người đang ăn ở mức thấp, lại nhảy lên mức cao hay ngược lại. Cũng có người lao động rất khỏe mà không bao giờ được ăn 18 kg. Nhiều vấn đề trong toán, không ai hiểu được lý do.

Nghe Toàn nói như thế, làm tôi chợt nhớ tới Lê Sơn, nên hỏi Toàn:

– Thế Lê Sơn ăn mức bao nhiêu?

Nuốt hết miếng cơm, Toàn chậm rãi:

– Lê Sơn thì hết nói. Chẳng ai kể được với anh ta. Hứng thì làm, không hứng thì ì ra, chỉ làm phất phơ. Đi kỷ luật xoành xoạch ấy. Ngang bướng, cứng cổ với cán bộ lại hay phạm nội qui nhưng anh ta có nhiều tài. Vì vậy ban giám thị cứ phải cần đến anh ta luôn. Có lúc ban giám thị cứ phải lờ khuyết điểm của anh ta đi, chỉ khi nào qua lắm mới đưa anh ta đi kỷ luật. Năm ngoái, anh ta còn dám làm tiền giả của trại nữa. Anh ta làm tinh vi đến nỗi nếu không có người tố cáo thì không ai phát hiện được.

Tôi hơi ngạc nhiên khi nghe Toàn nói đến tiền trại. Chắc Toàn cũng hiểu rằng tôi chưa hề nhìn thấy loại tiền đó bao giờ, nên anh ta thò tay vào ngực lấy ở túi áo trong ra một miếng bìa giơ cho tôi: đây là một đồng này. Loại lớn nhất là năm đồng, sau đó là hai đồng, một đồng, 50 xu, 20 xu, 10 xu, 5 xu. Loại nhỏ nhất là 5 xu. Loại tiền 5 dồng to nhất, tờ bìa lớn gấp rưỡi tờ 1 đồng này. Rồi cứ nhỏ dần cho tới đồng 5 xu. Đồng 5 xu thì một bề 2 phân, một bề 2 phân rưỡi. Thấy tôi bần thần ra dáng chưa hiểu thì Toàn nói tiếp như giải thích:

– Những tiên này chỉ lưu hành trong trại tù trung ương số 1 Lào Cai bao gồm 5 phân trại mà thôi và trao đổi giữa tù và tù. Đôi khi tiền dùng để nhờ cán bộ mua hàng. Cũng có khi ban giám thị thông báo bán thuốc lào, kẹo, đường. Vì trại có mía, nên lâu lâu ba bốn tháng lại bán mía hay mật.

Trong trại, anh em thường gọi tiền này là tiền âm phủ vì ra ngoài xã hội không tiêu được. Cầm miếng bìa một đồng, tôi nhìn mãi. Tuy đơn giản nhưng với điều kiện hiện nay ở trong trại E mà làm được giả thì cũng chỉ có được một hai người.

Một miếng bìa mỏng mầu xám nhạt hình chữ nhật, một bề khoảng ba phân rưỡi, một bề năm phân. Một khung như con dấu này có một đường bờ rộng hai ly. Cái khung giữa miếng bìa, phái trên có chữ “một đồng”. Hai bên, phía dưới, một bên chữ “ban giám thị”, (có chữ ký). Một bên có chữ “C/B tài chính” (có chữ ký). Toàn bộ tờ giấy bạc đều in bằng mực mầu xanh cánh trà. Triện mộc của ban giám thị trại cải tạo trung ương số một đóng ½ vào một góc của tờ bìa.

Sau khi rửa đĩa, rổ xong với Toàn, tôi cố đưa mắt tìm anh Lê Sơn để trả lại cho anh chiếc đĩa và cảm ơn anh đã cho tôi sắn. Lúc này, nhà ăn đã thưa người vì thế tôi đã nhìn ngay thấy anh còn ngồi ở một bàn cuối. Anh đang nói chuyện với một anh tôi đã quen mặt. Phải rồi! Anh này là Lý A Chén, hôm qua cùng với anh Sín Cà ốm bệnh ở trong buồng mà tôi đã gặp. Anh ta là người dân tộc, chả hiểu là dân tộc gì? Lê Sơn tươi nét mặt khi thấy tôi đến. Đặt cái đĩa lên bàn, tôi nói trong niềm hoan hỷ ân tình:

– Anh đã thông cảm những khó khăn của buổi ban đầu, xin gửi lại anh cái đĩa.

Sơn vừa dịch người lại để chỗ cho tôi ngồi xuống chiếc ghế dài, vừa nói giọng người lính:

– Anh cứ giữ mà dùng, ở đây dần dần rồi sẽ có đủ. Để ý làm gì những cái vặt ấy!

Rồi anh chỉ người cùng bàn đối diện, quay lại tôi, cười giới thiệu:

– Đây là Lý A Chén, tự giác của toán mình đấy!

Tôi cũng cười, nói là đã biết anh Chén từ hôm qua rồi, chỉ không ngờ anh lại là tự giác của toán thôi. Qua buổi nói chuyện này, tôi hiểu thêm được một số vấn đề mới. Như vậy, mỗi toán có một người tự giác, người mà có thể ra vào trại đi lao động, không cần phải có cán bộ đi coi. Anh tự giác này, tất nhiên đã được thử thách lâu ngày về nhiều mặt. Anh có trách nhiệm phải chạy lo nhiều khâu ở bên ngoài cho toán như: nguyên vật liệu, dụng cụ hoặc trông nom, bảo quản tài sản v.v… của toán ở bên ngoài trại. So với toán trưởng, trật tự thì quyền hạn và nhiệm vụ khác nhau.

Trong trại, thì trật tự là nhất. Ra chỗ lao động thì do toán trưởng điều hành toán. Nhưng trật tự và toán trưởng không thể ra vào trại mà không có cán bộ dẫn giải. Vì thế, trật tự và toán trưởng vẫn phải thân mật, hẩu với tự giác. Chính do thành phần tự giác này là đầu mối móc ngoặc, mua bán, đổi chác thầm lén với các phân trại khác và đôi khi cả với người dân của những bản làng trong khu vực. Cũng qua Lê Sơn và anh Chén trong gần một giờ ở buổi trưa này tôi đã nắm vững được giờ giấc sinh hoạt của trại:

Sáng sớm, 5 giờ: kẻng báo thức. 6 giờ 30: kẻng tập họp đi làm. 7 giờ: kẻng xuất trại. 11 giờ: kẻng về trại buổi trưa. 12 giờ 30: kẻng tập họp đi lao động buổi chiều. 13 giờ: kẻng xuất trại. 17 giờ: kẻng về trại. 18 giờ: kẻng thu tù vào buồng. 21 giờ, tức 9 giờ tối: kẻng cấm, tất cả đi ngủ. Như thế là tròn một ngày của tù. Theo Lê Sơn nói: trước đây, trại còn nhiều lần kẻng như:

Kẻng giải lao 15 phút giữa giờ lao động buổi sáng. Kẻng vào lao.

Kẻng giải lao 15 phút giữa giờ lao động buổi chiều. Kẻng vào lao.

Kẻng thu dụng cụ 15 phút trước 11 giờ, giờ tù về trại buổi sáng.

Kẻng thu dụng cụ 15 phút trước 5 giờ chiều, giờ tù về trại.

Kẻng lấy cơm buổi sáng. Kẻng lấy cơm buổi chiều.

Nghĩa là, suốt ngày tiếng kẻng, chát chúa khua đập vào tai mọi người. Có thể chính ngay lũ cán bộ cũng điên đầu, đinh tai, nhức óc suốt ngày đêm với tiếng kẻng. Bởi thế, bây giờ bỏ sót, nên mỗi ngày chỉ còn lại 9 lần kẻng mà thôi.

Thông thường, buổi trưa tù đi lao động về, chia chác cơm nước, ăn uống chỉ trong vòng nửa giờ. Do đấy, từ 11 giờ 30 phút cho đến 12 giờ 30 phút là lúc kẻng tập họp đi làm. Mọi người phải nằm nghỉ, ngủ trong một giờ để hồi sức tiếp tục lao động buổi chiều. Trong một giờ ngủ trưa này, nếu anh không ngủ được thì tuyệt đối không được gây một tiếng động làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của người khác. Đó cũng là nội quy của trại và trong những điều khoản của 12 điều “nếp sống văn hóa mới”.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Những ngày đầu trong lán thủ công

Đặng Chí Bình

Bài 10

Sau đó, tôi định bước vào chỗ mấy ống bễ, thì phía lán của toán 2 đang ầm ầm những tiếng nói to như cãi nhau. Tôi vội vàng trở về lán vì cũng nhác thấy tên cán bộ toán và Lân đang từ trong buồng con đi ra và đang tiến về chỗ đám cãi nhau.

Một đám đông, độ mười mấy người trong đó có cả Phan Thanh Vân, Bùi Tâm Đồng cạnh chỗ một đống to vỏ bào ở góc sân. Có hai người đang đỏ mặt tía tai giằng co mấy tấm ván gỗ. Khi tên cán bộ đến, thì hai anh này đều bỏ tấm ván xuống rồi tranh nhau báo cáo. Tên cán bộ mặt đanh lại, chỉ vào người có dáng mảnh khảnh (sau này tôi mới biết tên anh là Châu), cho báo cáo trước. Anh Châu, tuy đã tỏ ra lễ phép nhưng vẫn còn toát ra nỗi uất giận trong giọng báo cáo:

– Báo cáo cán bộ, những tấm ván này, mấy hôm trước anh Lân toán trưởng đã phân về cho tổ chúng tôi. Chúng tôi chưa kịp lấy về thì tổ anh Vân hôm nay đã cho người ra khuân về.

Anh kia, người lùn tịt, hẳn là ở tổ Vân, cũng hấp tấp báo cáo:

– Thưa ông cán bộ, anh Châu đã nói không đúng, những tấm ván này, ngay từ tuần trước, tổ chúng tôi đã mất thời gian chọn lựa từ trong đống gỗ ra. Chúng tôi đã sắp xếp chuẩn bị từng khâu theo kế hoạch lao động của tổ chúng tôi.

Tên cán bộ nhăn mặt lại, dõng dạc giọng miền Nam:

– Bây giờ, không được ai dùng những tấm ván này. Tất cả hãy về chỗ, không được lãng phí thời gian trong lúc lao động.

Mọi người đều dãn ra, đâu trở về đấy, không còn một tiếng ho hay hắng dặng. Nhìn và nghe cảnh này, tôi cũng chịu. Có lẽ tôi không hay chưa hiểu nổi vì sao. Tôi đang định chuồn ra phía sau để tránh mặt tên cán bộ thì Lân đã trông thấy. Nhìn tôi, Lân cao giọng:

– Anh Bình lên cho cán bộ gặp!

Tên cán bộ liếc nhìn tôi như ý bảo theo y, rồi quay lưng lại đi về phía căn nhà con. Tôi lặng lẽ, chậm chạp đi theo phía sau y. Khi tới cửa, tôi ngừng lại, thì y đã chỉ chiếc ghế đẩu trước bàn của y rồi nhìn tôi nhẹ nhàng:

– Anh vào ngồi đây!

Y cúi xuống, lật qua mấy tờ ở tập sổ hay hồ sơ ở trước mặt, đoạn ngẩng lên nhìn tôi, thong thả:

– Anh tên gì?

– Dạ thưa,  Đặng Chí Bình.

Y lại nhìn xuống cuốn sổ. Tôi liếc nhìn toàn bộ trong chiếc phòng con. Trong góc chỉ có một chiếc tủ con bằng gỗ mộc, một cánh khép hờ. Trên mặt tủ, một cành hoa giấy mầu vàng nhạt, chắc vì lâu ngày nên đã xỉn lại. Bên cạnh là một chiếc lọ mực Waterman cũ kỹ không có nắp. Trên vách, phía sau lưng y, tấm hình tên Hồ già dán vào vách nứa. Đôi mắt lão lờ đờ vàng kệch vì tấm tranh đã sờn mép. Bên dưới có khẩu hiệu viết tay: “Hồ chủ tịch muôn năm”, nét chữ còn mới, rất mềm. Nhất là hai bông hồng hai bên vẽ thật tươi, đầy sinh động, nhìn như hoa thật. Tôi cứ lơ đãng nhìn hai đóa hồng, trong lòng thầm ca ngợi người họa sĩ thì y lại hỏi:

– Trước đây, anh có biết tí gì về nghề mộc không?

Câu hỏi giống hệt anh chàng Phan Thanh Vân, tôi vội trả lời:

– Thưa, tôi không biết!

– Anh có nghề gì?

Tôi vừa lắc đầu, vừa nói “không”. Y hơi cau mày, hỏi tiếp?

– Vậy trước đây ở miền Nam, anh làm nghề gì?

Tôi định nói, tôi biết làm nghề thợ vàng, nhưng tôi trả lời:

– Trong Nam, tôi chỉ đi học!

Mặt y có vẻ hơi dịu lại. Chiếc môi xam xám của y hơi rung rung. Nhìn tôi có vẻ nhẹ nhàng, tay y gập tập sổ lại, nói với một giọng mà tôi cảm thấy chân thành:

– Hiện nay ban giám thị chiếu cố cho anh hưởng 15 kg chất bột một tháng. Anh phải ra sức tích cực cải tạo lao động, nghiêm chỉnh chấp hành mọi điều khoản nội quy trại đã đề ra; ra sức phấn đấu trong lao động và học tập tiến bộ. Bây giờ anh xuống gặp anh Lân, toán trưởng đưa anh về tổ anh Quý.

Qua dáng dấp, cách nói, cách nhìn của y, tôi cứ cảm thấy y tương đối có tấm lòng thẳng thắn, bộc trực của người miền Nam. Cho nên tôi cũng nhìn lại y bằng ánh mắt dìu dịu tình người trước khi chào y và đi xuống lán.

Vừa xuống đến lán, anh Lân từ một cầu bào phía đầu lán đã đi lại phía tôi. Sau khi tôi nói với anh là cán bộ phân công tôi về tổ anh Quý, nhưng anh tỏ vẻ như đã biết rồi. Anh vẫy tay tôi đi theo vào một căn nhà xép làm nối liền với lán về phía sau. Đi qua một cái giậu gỗ thấp, vừa bước lên mấy bực thềm tôi đã thấy anh Lê Sơn, người đã cho tôi suất sắn sáng hôm nay; chiếc đĩa nhôm của anh tôi vẫn còn giữ. Anh đang cúi khòm người xuống nền đất viết, kẻ một khẩu hiệu lên một miếng bìa mầu trắng vừa to, vừa dài. Đây đó những hộp sơn, những bút vẽ để bừa bãi. Chung quanh vách, trên bàn còn treo nhiều băng khẩu hiệu vẫn còn tươi mầu mực, chắc là đang để cho khô.

Lán phụ này tuy có hai gian, nhưng chỉ thấy có hai người làm việc. Anh Lân vào gặp một anh phía trong cũng đang lúi húi quét sơn, hay dầu bóng vào một cái đầu giường còn mới nốt bào. Thấy Lân đến, anh đó đã đứng lên, tôi hơi ngạc nhiên vì anh chỉ có một tay. Anh Lân chỉ tay về phía tôi, quay nói với anh đó vẻ đầy thân tình:

– Bình nó về tổ Quý đấy nhé!

Từ nãy tới giờ, tôi đang băn khoăn; sao tự nhiên hôm nay Lân đối với tôi có vẻ vồn vã, thân tình hơn thì Lân đã hạ thấp giọng làm tôi đã hơi hiểu:

– Như vậy là Bình cũng ở trong Nam ra à?

Nghe thấy thế, Lê Sơn và Quý đều liếc nhìn lại phía tôi, Lân vẫn vừa cười, vừa nói tiếp:

– Thấy cậu ăn mặc chỉnh tề, tưởng cậu là cán bộ hay sinh viên du học bị bắt chứ, ai ngờ!

Trong khi nói thế, mắt anh ta vẫn cứ nhìn trân trân vào chỗ hàm dưới thiếu mấy cái răng cửa của tôi. Lê Sơn, từ lúc tôi vào vẫn cặm cụi tô vẽ, bây giờ đứng hẳn lên niềm nở, vẫn giọng Nghệ An nặng chình chịch:

– Hay quá, đang bù đầu, vào đây làm với anh em mình cho vui.

Khi Lân đã quay ra, trở xuống lán mộc thì anh Quý nhìn tôi nói nhỏ nhẻ, tuy cũng giọng miền Trung:

– Bình được vào tổ này là hay đấy! Đây là tổ vernie chỉ có tôi và Lê Sơn. Khi nào công việc nhiều thì mới gọi thêm người phụ, bình thường chỉ có hai người, nên văn nghệ lắm; không rắc rối, sinh hoạt như những tổ khác.

Nhìn thoáng qua công việc làm, tuy không phải năng khiếu của tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy thích thú hơn là đi học mộc. Hơn nữa, thấy hai người tính tình cởi mở, gần gũi đã làm giảm hẳn nỗi nặng nề, lắng lo trong lòng tôi lúc mới bước chân vào khu thủ công này; cho nên tôi cũng tỏ sự chân thành:

– Những việc này tôi chưa hề biết làm, mong các anh chỉ dẫn dần dần cho.

Lê Sơn chỉ bức khẩu hiệu đang kẻ dở dưới sàn hỏi tôi:

– Những chữ này chắc anh kẻ, viết thừa sức?

Tôi đang nhìn chăm chú một cành hồng tươi roi rói, còn thắm au lên mầu mực mới. Những chiếc lá uốn éo, mềm mại tự nhiên, những cánh hoa lả lướt lung linh làm tôi cảm thấy như có làn hương ngan ngát, thoang thoảng của một cành hồng nở rộ đón Xuân sớm. Cho nên khi nghe câu anh hỏi, tôi chỉ lắc đầu và hỏi lại anh một cách trầm trồ:

– Thế hai đóa hồng trên buồng ông cán bộ cũng do anh vẽ đó ư?

Anh cười hềnh hệch, đôi mắt lươn của anh càng nhắm tít lại. Luồn trong giọng trả lời của anh có nét tự kiêu:

– Ông ta muốn thì tôi phải chiều. Tôi chỉ phóng tay mươi phút, thế mà cũng được hai điếu Điện Biên đấy!

Chắc để hưởng ứng cái tài của Lê Sơn, anh Quý cũng tiến lại vừa cười, vừa nói:

– Lê Sơn có tài hai tay vẽ như một. Hầu hết những ngày lễ, Tết của trại cũng như của ban giám thị, bao nhiêu khẩu hiệu cũng đều do Lê Sơn vẽ cả. Thậm chí, những trang trí phòng ốc để đón các phái đoàn quan khách cũng đều phải gọi đến Lê Sơn. Ngay ở ngoài trại chính, khi có việc cũng cử cán bộ vào gọi Lê Sơn.

Tôi nhìn Lê Sơn bằng đôi mắt ngưỡng mộ, sốt sắng hỏi anh:

– Ngoài những cánh hồng tươi thắm, nổi bật như thật là biệt tài của anh; anh có vẻ được những loại hoa khác hoặc như chim, bướm v.v…?

Anh gật gật đầu, mắt anh càng như nhắm lại, sôi nổi trả lời tôi:

– Tôi không phải là họa sĩ, nhưng nhiều thứ tôi làm được.

Nói rồi, anh liếc nhìn về Quý, lúc này đã lại cặm cụi vào chiếc đầu giường cách xa 4 – 5 mét; anh quay lại hạ thấp giọng chỉ đủ mình tôi nghe:

– Ở trong này, chúng nó bóc lột mình đến xương tủy, tội gì mà đưa máu cho chúng nó hút!

Tôi ngẩn người ra nhìn, nghe anh ta nói. Tôi chưa hiểu gì về anh và anh cũng chưa hiểu gì về tôi; thế mà anh phát biểu một câu động trời như vậy, tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Nhưng xem ý anh ta cũng chẳng quan tâm, để ý xem thái độ của tôi khi nghe anh nói thế, ra sao. Tôi ngồi sát lại bên anh, chỉ băng khẩu hiệu anh đang kẻ, nói nhẹ nhàng:

– Tôi không có khả năng kẻ chữ như anh, nhưng để tô những nét anh kẻ rồi thì tôi làm được.

Mỉm cười, tôi nói tiếp như đùa:

– Tôi không có khả năng sáng tạo, nhưng lại có khả năng mô phỏng. Nghĩa là anh cứ chỉ dẫn, tôi sẽ làm được theo ý anh.

Nói rồi, tôi lựa một cái bút vẽ, cũng gò người cặm cụi tô những chữ anh đã kẻ. Như vậy cũng có thể thay được cái thời gian mà anh phải tô, để bắt đầu kẻ khẩu hiệu khác. Vừa làm vừa chuyện trò, chỉ có hai người nên cũng thoải mái. Hơn nữa, công việc này cũng ít nhiều là nghệ thuật nên không bị thúc ép mấy. Chính những lúc chuyện trò, trao đổi này, sơ lược tôi được biết về anh:

Anh là thiếu úy, làm quân báo hơn một năm, rồi về làm cận vệ cho ông Hồ Tùng Mậu. Anh đã theo ông Mậu đi khắp nơi trong những nẻo núi rừng Việt Bắc trong cuộc chiến tranh trường kỳ chống Pháp. Thậm chí anh đã lặn lội 2 – 3 lần theo ông Mậu sang Trung Quốc. Nhưng sau, phần vì cá tính của anh trực, thẳng thắn xen lẫn ý ngông cuồng. Phần khác, anh đã lập được nhiều công trạng với khả năng của anh, nhưng anh đã không được đền đáp xứng đáng. Trong khi nhiều kẻ không có tài, chỉ biết cách luồn cúi, nịnh bợ thì lại nhẩy lên vùn vụt trên đường hoạn lộ. Chính vì anh mang sẵn trong lòng sự bất mãn để cuối cùng anh bị bắt vào tù với cái tội “phát ngôn bừa bãi” và “chểnh mảng nhiệm vụ được giao”. Bắt anh là lệnh tập trung 3 năm. Nhưng hiện nay anh đã sang lệnh thứ 4, nghĩa là đã 11 năm rồi.

Mải mê làm việc, và cũng mải mê trao đổi nghe chuyện của anh thì một hồi kẻng, dòn vang lên từ phía cổng trại làm tôi ngơ ngác nhìn Lê Sơn. Anh đã từ trong góc nhà, chỗ gần chiếc bàn có chồng bìa để kẻ khẩu hiệu đi ra, miệng rối rít giục:

– Bình xếp gọn sơ các thứ lại cho gọn ghẽ còn ra tập họp điểm số, 11 giờ rồi!

Tôi liếc nhìn ra lán mộc. Cả một bản đại hòa tấu các loại âm thanh hỗn độn lúc này đã ngưng bặt. Mọi người đang lục đục xếp gọn dụng cụ. Khi chúng tôi xuống đến lán mộc thì toán 2 và 3 đã xếp hàng đầy ở sân rồi. Anh Lân đang điểm người toán 2, quay lại nhìn chúng tôi đang chạy ra. Chắc rằng anh đã thấy đủ số, nên tiến đến chỗ 2 tên bộ đội vũ trang đang đeo súng đứng gần đấy. Anh Lân lại phải đứng nghiêm chân, thẳng người báo cáo con số.

Toán nào về đến cổng trại đều phải đứng lại. Trước khi toán vào trại, tên trật tự Phạm Huy Tân và tên Cẩn trực trại đến đầu toán. Lần lượt từng anh một, giơ hai tay thẳng lên đầu. Tên Tân dùng hai tay vuốt hai bên nách; vuốt lưng, bụng, hai chân từ háng trở xuống trước sự chứng kiến của tên trực trại Cẩn. Những ngày sau tôi đã hiểu rõ: nội quy cấm đưa vào trại mọi loại kim khí, mọi thức ăn (rau, sắn, gạo v.v…) củi, đóm, trà. Nếu trật tự khám thấy ở trong người anh nào thì anh đó phải đứng ra một bên phía trong cổng trại, chờ cán bộ sẽ xử lý kỷ luật. Nhẹ nhất là mấy chiếc đóm nứa để hút thuốc lào. Hoặc một mẩu sắn con, hay nắm rau dại luộc. Anh đó cũng bị đứng giam trơ trơ ra ở cổng trại. Ráng chịu rét về mùa Đông; nắng cháy về mùa Hè hàng nửa giờ, có khi hàng giờ. Trong khi cơm nước không có ai đi lấy cho, tới khi được tha thì cơm đã nguội. Phải ăn hộc tốc, vội vàng để còn kịp giờ lại phải đi lao động. Thôi thì phải chịu nhiều thứ khó khăn sau đó. Chưa nói đến tối hay cuối tuần còn bị tổ, toán nạo cho mềm người.

Tên trật tự Tân, phần vì phải tích cực làm tròn hết mình nhiệm vụ được giao. Càng tìm khám ra được các thứ vi phạm nội quy thì càng có thể, được lòng tin của giám thị và cán bộ. Phần khác, nếu trật tự thông cảm hay tốt với người quen chẳng hạn. Thí dụ: sờ bụng anh đó thấy gói trà, lờ đi để anh đó mang được trà vào trại. Buổi tối hay Chủ Nhật, họ sẽ lén lút, vụng trộm đun nấu trà để uống (nội quy cấm tuyệt đối không được đun nấu trong trại, trừ nhà bếp). Uống trà, nấu thì phải có khói nên những tên joóc (antene) sẽ báo cáo, hoặc chính cán bộ rình bắt được. Lúc đó, khuyết điểm của tên trật tự sẽ lòi ra. Bởi vậy, để không phải lo hậu họa, tên Tân chẳng để qua cho một ai. Khi đến lượt tôi phải giơ tay lên cho tên Tân vuốt người. Một nỗi sượng sùng, nhục nhã cứ rỉ ngấm dần vào để lòng se sắt ngậm ngùi cho một kiếp tù.

Sau khi tên Tân khám xét xong, bấy giờ tên Cẩn mới lùi về phía cổng trại thì anh Lân tiến lên đứng nghiêm trước mặt y rồi hô ta, dõng dạc:

– Toán 2 xuất trại 49. Nhập trại 49, đủ. Xin cán bộ cho nhập trại.

Một Chút Quà Cho Quê Hương!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 13 Oct 2023

Những năm 80, người đi thì đi rồi… người chưa đi vẫn tiếp tục… trốn ra đi nếu có vàng đóng cho chủ tàu. Còn đa số dân nghèo chạy ăn từng bữa thì ở lại chịu trận!

Vật chất đói thì khỏi nói rồi; tinh thần thì còn khổ hơn. Không được nói, thấy được thì nhìn… rồi để đó! Cấm nói tùm lum mà trở thành “phản động”?!

Nhạc thì ra rả Quốc Hương! Già xấu thấy tội nghiệp luôn! Già cúp bình thiếc! Gần 5, 6 chục tuổi rồi… mà lên đài truyền hình “cưa sừng làm nghé”… đội nón tai bèo, mang súng AK… hát Trường Sơn Ðông Trường Sơn Tây!

“Ðường ra trận mùa này đẹp lắm?”

Giỡn chơi hoài “cha nội”! Ra trận là đánh nhau! Là có chết chóc, có thương vong dù ở bên nào đi chăng nữa! Tui hỏng tin! Ði bắn nhau “ì ì” chớ đâu phải đi “picnic” đâu… mà rảnh rỗi Trường Sơn Tây nhớ “o” Trường Sơn Ðông đây “cha nội”?

Mà bữa nào truyền hình cũng có mặt “ổng” hết trơn. Chán như “cơm nếp nát!” Bà con mình muốn ổng đừng lên “truyền hình” nữa mà “tàng hình” luôn cho “phẻ” con mắt và “phẻ” cái lỗ tai!

Ðó là về tinh thần! Còn về vật chất thì đói xanh như tàu lá chuối! Nhà nào có con chạy được vài năm trước, giờ nó gởi về cho một thùng “quà” chừng hai, ba chục “pounds” là mừng như trúng số!

Người viết không có anh em nào chạy được vì lẽ là nhà nghèo… hỏng có vàng… vậy thôi! Nên đành “ké” mấy thằng bạn nhậu khác… có anh em thơm thảo gởi về tí chút, “an ủi” chiều cuối năm. Tụi nó đem thuốc tây hay vải vóc ra chợ bán được một mớ rồi “hú” người viết: “Ê! chiều xuống quán Tám Lư ở đường Trần Hưng Ðạo mà uống bia hơi nhe!”

Quán nhậu chiều cuối năm cũng rôm rả lắm! Ða số uống rượu thuốc là rượu đế (gạo hay nếp) pha màu cho nó dễ “ực.” Ai trúng mánh như bàn nhậu của người viết và mấy thằng bạn thì mới dám uống bia hơi!

Ðầu hôm, thằng con của chủ quán ham vui, vác cái đàn ghi ta ra nhập bọn… đờn “tửng từng tưng,” chơi nhạc “cách mạng” Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây do Hoàng Hiệp phổ thơ Phạm Tiến Duật.

Nửa khuya, thiên hạ tan hàng, về nhà hết ráo, quán gần dẹp, nó ra kéo cửa lại! Ở trong, còn bàn nhậu duy nhứt của người viết vẫn chưa tàn; nó chơi bản:

“Một Chút Quà Cho Quê Hương”

Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay.
Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con quê hương quá đọa đầy!

Gởi về cho chị dăm ba xấp vải
Chị may áo cưới hay chị may áo tang?
Gởi về cho em kẹo bánh thênh thang
Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng!

Con gởi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây.
Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy
Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình!

Em gởi về cho anh một cây bút máy
Anh vẽ cuộc đời như ước vọng mong manh.
Gởi về cho mẹ dăm gói chè xanh
(Xin) Mẹ pha hộ con (dòng) nước mắt đã khô cằn!

Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa
Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương.
Gởi về cho em chiếc nhẫn yêu thương
Em bán cho đời (để) tìm đường vượt biên!

Con gởi về cho cha vài viên thuốc ngủ
Cha rũ cuộc đời trong trong tử tù chung thân.

Gởi về Việt Nam khúc hát ân cần
Mơ ước yên lành… trong giấc ngủ… da… vàng…!

Lần đầu nghe “chú” hát đâu biết là nhạc của ai nhưng phải công nhận là hay! Nhạc như vậy mới gọi là nhạc chớ! Nghe tưởng tượng như tác giả ở hải ngoại vừa đi siêu thị về, lui cui đóng thùng, gởi về cho ba má, anh chị em người một chút… Vừa làm vừa nức nở!

Trong thâm tâm, ước gì mình cũng “may” như tác giả, được có tiền, được đi siêu thị, mua rồi đóng một thùng quà gởi về nhà cứu đói. Mình muốn làm người gởi chớ hỏng muốn làm người được thăm nuôi đâu!

Sau này vọt được; mới biết bài này là của ông Việt Dzũng. Rồi chiều nay nghe tin ổng mất ở Huê Kỳ, tại bệnh viện thành phố Fountain Valley, quận Cam, tiểu bang California, hồi 10h35” sáng, ngày 20 tháng 12 năm 2013, chỉ mới 55 tuổi!

Nghe tin… như mình đang đi mà bị hụt chưn… lảo đảo muốn té!

Chưa hề được gặp ông, chỉ nghe nhạc của ông. Nhạc của ông là một phần đời kỷ niệm bi thiết đó của mình!

Xin cám ơn ông! Ông là “Một chút quà cho quê hương!” Mà người viết được “ké” vào trong đó một chút nước mắt khi nghe năm xưa! Và bây giờ khi nghe tin ông mất!

Melbourne buồn thê thiết!

Đoàn Xuân Thu

July 31st, 2020

Post by Sơn râu 13 Oct 2023

Là một đứa trẻ lớn lên tại Úc, thằng cu, con tui, cư xử giống hịt như Úc vậy! Hổng có cái vụ Tía nói mà con phải luôn luôn khoanh tay cúi đầu “Yes! Mommy” đâu nhe!

Mới hôm qua nè, bất đồng ý kiến với Má nó, thằng cu bèn hùng hồn tuyên bố rằng: “Con không muốn bị kiểm soát. Con muốn tự do, con yêu con nhỏ nào là con yêu. Yêu cho con; chớ hổng yêu cho Má! Thôi con đi đây!”

Nói xong, cu cậu ôm bịch rác đựng quần áo, tính tếch luôn ra cửa. Tui lật đật chạy theo. “Tía đừng có ngăn cản. Hãy để con đi!” “Không! Tía đâu có ngăn cản, nhưng xin con hãy đợi một chút, Tía đi với con!”

Hai Tía con tui lon ton ra cửa thì một chiếc xe Cảnh sát đậu xịt ngay trước mặt. Thầy đội quay kính xe tuần tra xuống, hỏi: “Ði đâu đó ông nội với thằng con nít? Thành phố đã bị cô lập, bị giới nghiêm rồi. Ai cũng bị quản thúc tại gia trong sáu tuần lễ sắp tới. Cà lơ phất phơ ngoài đường là lãnh cái giấy phạt 1,652 đô Úc đó nhe!”

Nghe vậy, hai Tía con tui bèn riu ríu bước vô lại chiếc lồng son của Má nó. Hu hu!

o O o

Ðúng như thầy đội Úc đã cảnh báo rồi cảnh cáo: Tiểu bang Victoria, có cái thủ phủ Melbourne của tui, đang bị chánh phủ tiểu bang cách ly, cô lập giai đoạn 3. Giai đoạn 3 là: Ði làm thì được. Giận vợ xách gói ra đi thì không được.

Ðời người tóm lại chỉ có hai mục ăn chơi. Chơi thì chánh phủ tiểu bang nầy cấm tiệt rồi. Sòng bài đóng cửa, máy kéo đánh bạc cũng ngừng quay. Nhà thổ cũng đóng cửa luôn. Mấy nàng Kiều chổng mông la Trời như bọng! Thế nên mấy anh mình buồn nào hơn đêm nay, bị trầm cảm nặng, bị bịnh tâm thần, cười đó, khóc đó cũng khá là nhiều!

Ði đám cưới lần thứ ba của thằng bạn nhậu cũng không được. Chỉ được phép có ba người. Cô dâu, chú rể và thằng cha làm nghi lễ kết hôn. Ði đám ma để tiễn bạn nhậu về bên kia thế giới vì bị ung thư gan chỉ được có 10 người. Cho dù thằng cha nầy hồi sanh tiền vốn rất quảng giao. Bạn nhậu của ảnh còn đông hơn cả quân Nguyên. Giờ chỉ có mấy cái thiệt là cần thiết mới được phép làm. Như cho đi chợ mua đồ ăn cho vợ. Nếu chánh phủ cấm tiệt hết thì đói nhăn răng chết cả lũ; trước khi chết vì con ‘coronavirus’ của Tàu.

o O o Mới tháng trước thôi, chánh phủ tiểu bang Victoria nầy đã đè được cái đường cong trong đồ thị, chỉ số người bị nhiễm con coronavirus COVID-19 xuống rồi nên xả cảng rồi mà! Giờ sao mấy ông chánh phủ lại nhốt tụi tui vô chuồng hết ráo vậy?

Thì ông Thủ hiến tiểu bang Victoria, Úc Châu (tương đương với Thống đốc bên Mỹ) trả lời rằng: “Ðây không phải là sự trừng phạt! Ðây là để bảo vệ cho ông bà và những người thân yêu. Biện pháp khắc nghiệt nầy đâu ai muốn kể cả tui!”

Ý của ổng, theo tui hiểu, là: “Còn sống mới còn mèo chuột tưng bừng, còn đi nhậu tá lả. Chớ chết là hết! Là ‘on-bon phi-nan’!”

Nghe vậy, tui thầm nghĩ đừng có cho tui uống nước đường để nhốt tui nhe! Nhưng mấy cái đài truyền hình số 7, số 9 của Úc đâu có dễ bị dụ! Mấy ‘giả’ mời ông Thủ hiến nhà ta xuất hiện trên đài để mà cật vấn:

“Xin ông đừng có đổ lỗi cho dân ngu khu đen nhe vì tiểu bang Victoria nhiễm con coronavirus mỗi ngày tới hằng trăm ca mới. Làm tiểu bang NSW về hướng Bắc, tiểu bang Nam Úc về hướng Tây nó rét, nó cấm cửa không cho tụi tui héo lánh chạy xe vào. Còn mấy tiểu bang xa hơn như Bắc Úc, Queensland hay Tây Úc, mình bay lên để tắm biển chơi thì nó đều mời mấy anh vô đây! Nhốt hết ráo cả bọn trong khách sạn năm sao tới 14 ngày. Nhưng chi phí là do mấy ông móc xỉa chớ chánh phủ tiểu bang tui không có bao đâu nhe!”

“Lỗi nầy tại ai?” Xong mấy nhà đài truyền hình nầy đế thêm: “Tại chánh phủ của ông hợp đồng vớ vẩn ăn chia với công ty an ninh tư nhân để kiểm soát những khách sạn cách ly dân Úc từ hải ngoại trở về. Mấy tay an ninh tư nhân nầy chỉ được huấn luyện có 5 phút về cách phòng dịch. Thế là mấy chú (tỉnh bơ như người Hà Nội) ‘tù ti tú tí’ với mấy em đang bị cách ly. Xong, đem con ‘coronavirus’ về lây cho con vợ nhà. Con vợ nhà lại lây cho thằng cha hàng xóm. Rồi thằng cha hàng xóm lây qua luôn cả xóm! Nên tình hình rất là tình hình như vậy đó!”

Xong báo, đài còn nhao nhao lên đòi ông Thủ hiến phải từ chức, đi chỗ khác chơi đi, để cho đứa khác nó làm! Tội nghiệp ông Thủ hiến mặt xìu xuống như đưa đám ma, nói: “Tui xin tạ tội nhưng để tui ngồi lại để chống con ‘coronavirus’ Vũ Hán nầy cái đã.”

Nhưng đời mà! Xưa giờ cũng vậy. Vận đen của anh nầy lại là cơ may cho em khác cất giọng kỳ thị phân biệt chủng tộc để mà câu phiếu. Nên có chuyện rằng:

Chiều thứ Sáu, thằng nhóc Johnny ngồi trong lớp học thì cô giáo bảo:

“Các em nghe đây: ai trả lời được một trong những câu đố này thì cô sẽ cho về sớm bữa nay và được nghỉ học ngày thứ Hai tới.”

Ai khám phá ra Châu Úc và vào năm nào?

“Thưa cô thuyền trưởng Cook năm 1788” Jimmy Nguyen trả lời.

“Giỏi lắm Jimmy! Em có thể về sớm và được nghỉ ngày thứ Hai tới.” “Thưa cô không! Lớn lên em muốn làm bác sĩ nên em phải siêng học. Em không muốn nghỉ ngày thứ Hai đâu!”

Thình lình cuối lớp có đứa hét tướng lên: “Tổ cha thằng Châu Á!”

Cô giáo giận dữ hỏi: “Em nào nói đó?” “Pauline Hanson, năm 1996”.

Trả lời xong, Johnny chạy ù ra cửa, còn nói vói lại: “Gặp lại cô vào ngày thứ Ba nhé!”

o O o Pauline Hanson, 66 tuổi, là lãnh tụ một đảng chánh trị nhỏ chút éc, có tên là ‘One Nation’, đang làm Thượng nghị sĩ Liên bang Úc thuộc tiểu bang Queensland, thấy con ‘coronavirus’ hoành hành dữ dội ở tiểu bang Victoria bèn chụp lấy cơ hội để nhào vô kiếm ăn bằng cách tự hỏi rồi ‘bả’ tự trả lời!

“Tại sao những tòa nhà cao tầng của chánh phủ cho dân nghèo mướn vòng quanh Melbourne như Flemington, North Melbourne… phải bị cô lập? Bị nội bất xuất; ngoại bất nhập? 

Tại vì cư dân không chịu tuân nghe lời chánh phủ biểu phải giãn cách xã hội, đừng lại gần nhau hơn 1.5 mét. Ở trong mấy cái chúng cư nầy có rất nhiều người nghiện rượu, nghiện ma túy. Thiếu hai thứ đó, tụi nó chịu không có nổi nên la làng chói lói lên!

Là di dân từ các nước bị tàn phá về chiến tranh được đến Úc nầy đây, vốn hào phóng về tiền an sinh xã hội, là sướng quá cha rồi mà cứ la làng hoài hè? Tiếng Anh thì không chịu học. Không chịu đồng hóa vào dòng chánh mạch của Úc. Cà chớn như vậy nên có thể gián tiếp gây ra cái chết cho người Úc của chúng ta.”

Giới truyền thông Úc nghe vậy bèn hỏi Pauline có trái tim hông; xong cấm bà Thượng nghị sĩ xuất hiện trên đài truyền hình; vì cái tội loan truyền những thông tin sai lệch, gây chia rẽ dân Úc để thủ lợi về chánh trị.

Bà Thượng nghị sĩ nầy phản pháo là: ‘Tôi có trang Facebook riêng của mình để kết nối với mọi người. Hai năm tới tui lại ra tranh cử! Không muốn tui thì đừng bỏ phiếu cho tui. Ðùng chụp cái mũ kỳ thị chủng tộc lên đầu tui. Quyền tự do ngôn luận mà!”

o O o

Mấy người bạn văn bên Mỹ cũng xót thương hoàn cảnh của tui bèn gọi qua hỏi thăm tới tấp: “Sao rồi mậy?”

“Thành phố, buồn nằm nghe khói tỏa. Người lưa thưa chìm dưới sương mù”. Vắng hoe như Chùa Bà Ðanh hè mấy anh ơi!

Dục tửu phá thành sầu, tui rót ra một ly rượu đỏ ‘quất’ nghe cái ót để mong sau cơn mưa trời lại sáng.“Còn cầm bằng sau cơn mưa trời lại tối thì sao chú em?” “Ờ trời lại tối thì tui đi ngủ! Ðể trong con mơ và mớ, tui lại nhớ tới: “Quỳ bên em trong góc giáo đường. Tiếng kinh cầu đẹp mộng yêu đương. Chúa thương tình sẽ cho mình mãi mãi gần nhau!”

Tình tui bất khả lậu! Xin bà con độc giả kín miệng, đừng tiết lộ giấc mơ hoa nầy cho con vợ tui hay nhe!

ĐXT