This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi đã nhìn thấy cái cùm, tác phẩm của Hoàng Thanh. Sau khi mở cửa nhà kỷ luật, tên Thái y tá mở cùm theo lệnh của tên Cẩn. Đứng ở cửa, tên Cẩn quát, bắt tôi bỏ cả 2 chân vào. Cùm xong, trước khi y đóng cửa, tên Cẩn còn quay lại gằn giọng:
– Anh không coi chúng tôi ra cái gì cả!
Tôi chỉ nói:
– Thưa ông, đây là chuyện riêng của tôi và thằng…..
Tôi chưa nói hết câu, y đã đóng cửa, đi rồi. Trong ánh sáng lờ mờ, tôi loay hoay, cọ cựa đôi chân, tìm một cái thế dễ chịu một chút. Quả cái cùm này thật đáng nể. Chả trách Lê Sơn đã nói: “Hitler có sống lại, còn phải quỳ xuống tôn tụi này là tổ sư”. Chiếc cùm là một súc gỗ lim với những đai thép kiên cố, chắc chắn. Một bề 35 phân, một bề 60 phân, có 2 khuy sắt, bằng loại sắt tròn, đường kính 2 phân nằm gần phía 2 đầu. Vì thế phải có 2 then sắt cài, thọc vào hay mở ra từ phía ngoài vách. Trông cái cùm giống như một cái hộp, nên anh em trong trại còn gọi là cái cùm hộp. Nhìn nó thật thô sơ, nhưng quả thật là nguy hiểm, vì nó chiếm từ cổ chân lên đến gần đầu gối. Hai đầu bàn chân lại đút vào 2 cái lỗ đục sẵn nằm ở nửa súc gỗ phía trên. Do thế, khi bị cùm thì cái chân chỉ di chuyển cựa quậy được trong khoảng 90 độ.
Tôi đã từng tập luyện, kinh qua nhiều năm tháng với cái cùm ở Hỏa Lò do thực dân Pháp chế tạo, nhưng với cái cùm này tôi cũng phải kinh hồn. Khi bị cùm, chẳng khác gì như đi giầy ống. Còn một điều đáng sợ nữa, có rất nhiều rệp, nhưng không thể cho ngón tay vào gãi và cũng không thể bắt rệp được. Đành chịu ngứa ngáy cũng như để cho rệp hút máu. Trước đây nghe Lê Sơn nói, và nhất là kỳ Tết vừa qua, nhìn thấy một số người bị kỷ luật được tha, thấy họ phải bò ra, không đi, không đứng được. Tôi chẳng nói ra, nhưng trong lòng nghĩ: “họ yếu thật, mình còn bị mấy năm với chiếc cùm ghê gớm ở Hỏa Lò v.v…”. Nghĩa là, chưa thấy quan tài nên chưa đổ lệ. Ngồi ở dưới đấy giếng rồi tưởng trời chỉ nhỏ như cái vung đậy nồi cơm của nhà mình vậy.
Bây giờ đã quá trưa rồi, thấy cái bụng cứ kêu ọ ọ, ẹ ẹ như tiếng của những thân cây tre làng cọ xiết vào nhau trong những tháng Hè, tôi mới chợt nhớ ra là, trưa nay tôi chưa được ăn. Từ ý nghĩ này, tôi chợt nảy nghĩ đến tên Tân. Chết rồi! Hàng ngày nó vẫn thường đưa cơm cho kỷ luật ăn. Chuyến này, hẳn tôi sẽ có nhiều khó khăn với nó đây. Chân lại bị cùm, tôi phải nâng cao cảnh giác nghe ngóng mọi hiện tượng, đề phòng mọi vấn đề. Với một tên tiểu nhân như vậy, tôi phải con chừng từ cơm ăn, nước uống và mọi thái độ ra vào của nó. Tuy thế, nghĩ lại chuyện vừa qua, tôi vẫn bằng lòng, không hề ân hận một chút nào, vì đấy là chuyện cuộc đời mà, chả trách được. Thấy việc phải làm thì cứ làm rồi kệ nó.
Chợt thoáng có tiếng lịch kịch, rồi tiếng nước giải chảy tong tong vào ống nứa gần phía đầu nhà kỷ luật làm tôi lạ lùng hết sứ. Theo tôi biết kỳ Tết đã tha hết mọi người trong nhà kỷ luật rồi cơ mà, còn mỗi bác Lê Tài Chương thì đã chết, vậy ma hay là người? Nghĩ một lúc, tôi lên tiếng:
– Anh bạn nào bị cùm ở phía trong ấy đấy?
Một giọng ấm và cứng cất lên vồn vã:
– Có tôi đây, anh vì sao phải vào thế?
– Đánh nhau với tên Tân.
Tôi cũng háo hức đáp lại anh. Lòng thấy vui hẳn lên, có bạn để nói chuyện, đỡ sầu. Tôi hỏi lại anh:
– Thế, anh bị kỷ luật vì chuyện gì?
Im lặng một lúc rồi anh thủng thẳng:
– Tôi cũng chẳng biết nữa, gọi đi là phải đi!
Tôi vẫn chưa quên cái đói nên hỏi lại anh:
– Anh ăn cơm chưa?
– 2 giờ mới có cơm chứ!
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng tôi chợt hiểu. Kỷ luật chỉ được ăn một bữa mà thôi. Thế mà bao nhiêu ngày ở ngoài, đã nói chuyện về kỷ luật ở đây với nhiều người, vậy mà tôi cứ tưởng kỷ luật ở các trại trung ương vẫn ăn 3 bữa dù chỉ ít thôi. 9 kg gạo cho 1 tháng. Thế mới biết trong cuộc đời, nhiều cái phải bắt tay mình làm thực tế mới hiểu được hết chi tiết. Chỉ nhìn và nghe, chưa đủ!
Qua một lúc chuyện trò, tôi biết tên anh là Vũ Đình Bách. Anh ở số 57 phố Hàng Đậu, Hà Nội. Anh bị án tập trung với tội phản tuyên truyền, phản cách mạng, bị bắt từ đầu 1963. Hiện nay anh ở toán 4 nông nghiệp, rất thân với anh bác sĩ Hiệp cùng toán. Chính vì thế, khi tôi nói mới lên trại, anh đã biết ngay tôi là Bình. Chỉ vì anh đã biết, tôi đã đấu cờ với anh Hiệp và bác Lẫm để tranh giải cớ tướng trong dịp Tết vừa qua, cho nên anh nói chuyện với tôi rất cởi mở.
Khoảng 2 giờ chiều, có tiếng chìa khóa mở cửa nhà kỷ luật. Tôi ngồi bật dậy, quan sát, nghe ngóng. Mắt tôi đã liếc nhìn cái ống nứa để đi giải, đang đựng phía đầu sàn. Từ sớm, tôi đã có chủ định, với cái ống nứa duy nhất này để tự vệ, tôi chả sợ tên Tân, dù y có dao, có gậy. Không ngờ người đưa cơm kỷ luật hôm nay lại là tên Thái y tá. Một điều làm tôi ngạc nhiên hơn nữa là tên Thái lại tỏ ra niềm nở, thiện cảm với tôi. Y cho biết tên Tân, tay còn đang bị bó thuốc. Rồi y tỏ ra như tán đồng việc làm của tôi, nào là tên Tân quá lắm, hách dịch hay bắt nạt tù, nhất là những bác già và những người dân tộc.
Chỉ qua vài câu chuyện tôi đã thấy ngay tên Tân và Thái, cũng chẳng ưa gì nhau. Cái không ưa nhau của những con chó tranh nhau để làm vừa lòng chủ, để cho chủ thương, chủ hài lòng. Chuyện đó là của họ, chả nhằm nhò gì đến tôi, tôi chỉ thấy một điều may. Chẳng hiểu có phải do sự nghiên cứu của ban giáo dục, sợ tên Tân vào nhà kỷ luật làm liều để trả thù tôi, hay vì sao đó mà không để làm cho tên Tân đưa cơm. Dù sao tôi cũng xin cảm ơn, điều này làm nhẹ hẳn nỗi lắng lo từ sáng vẫn đè nặng trong lòng tôi về tên Tân.
Cái cùm của Hoàng Thanh, quả thật là ghê gớm. Mới chỉ sau 6 tiếng đồng hồ cùm, hai chân tôi đã cắn buốt như có nhiều mũi kim châm vào. Nó nhức nhối từ ở trong xương, trong tủy, tôi có cảm tưởng từ đầu gối trở xuống đến bàn chân, ngón chân máu bị đông đặc lại, máu ở bên ngoài không thể chạy xuống dưới đấy được. Chỉ nằm xuống một tí là hai chân nóng lên rần rật, buốt ngứa như có hàng chục con ong vàng đang đốt. Hai bàn chân tê, cắn như vậy, mà cái cùm quái ác này, không làm sao với tay tới để xoa nắn được bàn chân của mình. Chỉ vì đôi chân không thể nghiêng hẳn bên này hay bên kia cho nên cũng không thể co hẳn lại được.
Cái nạn đi đái, đi ỉa mới thật đáng sợ, mặc dù sàn nằm đã được khoét một cái lỗ đường kính khoảng 8 phân ngang chỗ hậu môn của người bị cùm. Mỗi khi muốn đi đái hoặc ỉa, trước hết phải chịu đau, nhoài người với tay tới mé vách cầm cái ống nứa, gò người xuống đút ống nứa vào gầm sàn, kê đầu vào một miếng gỗ đã đóng sẵn, sao cho đúng lỗ chỗ mình ỉa hoặc đái xuống. Sau đó cởi quần, phải nhích người sao cho tụt được quần xuống gần sát đầu gối. Khi ỉa hoặc đái phải rướn người, chống hai tay xuống sàn lấy gân nâng đít lên thì mới rặn được. Mỗi lần ỉa xong chẳng lẽ không rửa, mà một gáo dừa nước đổ rửa rồi mà ngay tay cũng còn phân chưa sạch huống chi là đít vì không còn cái tay nào nữa để chống nâng đít lên được. Cho nên mỗi lần ỉa, tuy không hề thấy tủi nhục, lòng tôi không hề uất ức nhưng mắt tôi vẫn mờ đi vì nước mắt chảy ra do những co thắt của đường gân thớ thịt.
Ai đã nghĩ ra kiểu cùm này, giúp ý kiến Hoàng Thanh, hay chính Hoàng Thanh đã nghĩ ra?Dù là ai thì cũng đáng được kính nể, chiếc cùm như một tuyệt tác góp phần vào nền văn hóa mới của xã hội cộng sản đi đến mức tuyệt đỉnh.
Bụng đói, chân nhức buốt, lúc đầu rệp cắn còn thấy ngứa, hay những con rệp đã ăn no rồi, không cắn nữa thì tôi cũng chả nhìn thấy mà biết được. Chúng nó no hay đói, cắn hay không cắn nữa thì tôi cũng đành chịu, vì chả có cách nào móc tay vào trong súc gỗ để gãi hay để bắt chúng. Bù lại, trong cái heo hút, lủi thủi một mình lại có anh Bách để chuyện trò. Mặc nhiên, tôi được có cái cảm nghĩ, hiện đang có một người nữa cũng đang chịu những nỗi niềm cay đắng, nhức buốt như mình là tự thấy lòng nhẹ đi được một nửa rồi. Tuy rằng anh Bách chỉ bị cùm một chân, nhưng cũng gọi là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu mà lị! Vả lại, anh Bách lại là một người kể chuyện rất hay. Anh đã kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện xẩy ra ở Hà Nội và của miền Bắc sau năm 1954 nên cũng quên được phần nào cái nhức nhói của đôi chân và cái vặn vò, rên rỉ của dạ dầy đòi ăn.
Tôi bị tên Cẩn cùm cả hai chân, có thể tên Cẩn đã ghét tôi từ trước. Phần khác, y muốn trị cái tội dám đánh trật tự, người đại diện uy quyền của y ở trong trại.
Hôm nay đã 15 tháng Giêng 1968. Thấm thoát tôi đến trại E này đã hơn một tháng rồi. Thời tiết ấm dần, đôi ngày, dăm ba trận mưa Xuân phun bụi nước khắp núi rừng. Cây cối bắt đầu đâm hoa, nẩy lộc. Đồi núi chuyển dần từ mầu xanh xậm thành mầu con gái hơ hớ với trời Xuân. Tuy thỉnh thoảng vẫn còn một vài anh chàng gió mùa Đông Bắc lì lợm, vẫn thập thò mò về lả lướt với nàng Xuân mới lớn, nhưng cũng chỉ dăm thì, mười họa mà thôi.
Hôm qua, Phan Thanh Vân được cán bộ dẫn giải ra trại chính để gặp ông Toán, thiếu tá giám thị trưởng trại trung ương số I, về thì thầm cho tôi biết toàn trại sắp sửa vào đợt học tập chính trị vài ngày. Chuyện đó còn xa, tôi biết vậy, lòng tôi còn đang bận rộn với toán Boone biệt kích của Nguyễn Huy Lân.
Ngay khi tôi còn ở dưới Hỏa Lò Hà Nội, toán biệt kích này đã gây ra rất nhiều dư luận bàn tán khác nhau, nên sự ngộ nhận cũng không ít. Đây là một toán biệt kích điển hình đối với dư luận miền Bắc. Toàn toán đã không chiến đấu, mà đã ra hàng ngay. Nhà cầm quyền miền Bắc mời các phóng viên ngoại quốc cũng như đại biểu các tỉnh, các cơ quan toàn miền Bắc về dự phiên tòa kéo dài ròng rã 3 ngày ở Hà Nội. Kết cuộc phiên tòa, chúng đã trang trọng tuyên bố tha bổng toàn bộ toán Boone biệt kích. Chúng mở một chiến dịch tuyên truyền rầm rộ qua báo chí và đài phát thanh. Chúng huênh hoang về độ lượng khoan hồng của đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa, dạt dào thương yêu những đứa con lạc mẹ, nay đã biết ăn năn quay về với cha mẹ. Chúng vừa được về mặt chính trị đối với trong nước cũng như ngoài nước, mà chúng còn dùng sự kiện đó để phỉnh phờ, dụ dỗ những toán biệt kích khác ra sau.
Tôi lợi dụng mọi điều kiện có thể để gặp gỡ, tiếp xúc với từng người của nhóm biệt kích này. Sau nhiều buổi tôi gặp Nguyễn Huy Lân, Nguyễn Văn Thú, Đinh Văn Sơn và Nguyễn Văn Bắc để chuyện trò tìm hiểu, tôi thấy rõ một điều là tất cả nhóm này đều không muốn nhắc lại những chuyện đã qua của toán họ, chắc hẳn họ đều mang một tâm trạng chung khá nặng nề:
– Thấy hổ lòng với anh em đồng phạm, vì họ đã ra hàng.
– Được tha bổng, nhưng thực tế vẫn tù như những người tù khác.
Tuy rằng hiện nay ở trong trại, nhìn bề ngoài, nói chung họ đều là những người cải tạo tiến bộ; trừ có Nguyễn Văn Thú là lao động cải tạo ở cái thế cầm chừng bắt buộc. Anh phải giữ ở cái mức bình thường như nhiều người khác để tránh sự hạ mức ăn, bị trù đập, hay phải đi kỷ luật.
Nguyễn Văn Bắc – tổ trưởng tổ 4 của toán 2 (mới được cán bộ chỉ định thay Lê Khắc Dũng. Dũng đã vi phạm nội quy, Lù Chần Páng đã tố giác trong một buổi sinh hoạt toán trước đây).
Phạm Công Thành – toán phó toán nhà bếp (ai được ở toán nhà bếp đã là một đặc ân, hoặc cải tạo tiến bộ rồi).
Chính vì lý do trên, tôi đã phải vận dụng khả năng nghề nghiệp một cách hơi vất vả mới có một số nét khái niệm về toán Boone này. Trước đây, khi tôi còn ở buồng số 5 trại chung, với đám tù thiếu niên dưới Hỏa Lò, tôi cứ tưởng toán Boone này chỉ có 5 người là:
Nguyễn Huy Lân – toán trưởng.
Đinh Văn Sơn – toán phó.
Nguyễn Văn Thú – toán viên.
Phạm Công Thành – toán viên.
Trần Mạnh Hùng – toán viên.
Nhưng bây giờ thôi hiểu thực tế, toán Boone có những 9 người.
Từ năm 1963, trại huấn luyện biệt kích Long Thành được điều khiển, do những huấn luyện viên Mỹ và Việt lẫn lộn. Trong thời gian huấn luyện, Đinh Văn Sơn và Nguyễn Huy Lân là 2 toán trưởng của hai toán khác nhau. Do những xáo trộn của cuộc binh biến 1-11-1963 lật đổ ông Ngô Đình Diệm, nhiều người biệt kích đã đào ngũ trốn khỏi Long Thành. Toán của Lân và của Sơn cũng có một số người bỏ trốn. Rồi do những yêu cầu của những công tác trong mặt trận tình báo tung người ra Bắc hoạt động nên đã sát nhập 2 toán vào làm một, lấy tên là toán Boone. Ban chỉ huy của trại Long Thành đã sắp xếp như sau:
Nguyễn Huy Lân – toán trưởng (bao quát toàn bộ)
Đinh Văn Sơn – toán phó (đặc trách tình báo)
Nguyễn Văn Bắc – toán phó (đặc trách phá hoại)
Hồng Tôn Khải – truyền tin số I (chính)
Vũ Gia Thoa – truyền tin xố II (phụ)
Nguyễn Văn Thú – toán viên
Trần Mạnh Hùng – toán viên (liên đội 31 biệt kích)
Ngọc – toán viên
Phạm Công Thành – toán viên, đồng thời là người dẫn đường.
Công Thành, sinh quán ở Nghệ An, vượt tuyến vào Nam năm 1961. Anh ta là thổ công vùng biên giới Lào + Việt, Nghệ An, vì vậy tổ chức đưa anh vào toán Boone để dẫn đường. Bởi vì địa bàn hoạt động của toán Boone bao gồm những khu vực Bản Hang, Nông Hét, Mường Xén, Con Cuông, thuộc biên giới Lào, Việt Nghệ An. Khoảng tháng 6 năm 1964, lúc 1 giờ của một đêm cuối tháng không trăng sao, toán Boone xuất phát bằng một chiếc C47, sơn đen. Sau hơn một giờ bay trong đêm tối, chiếc máy bay đã lao tới mục tiêu. Toàn toán đã được lệnh nhẩy dù xuống một bãi đáp gần bản Hang, sát biên giới Lào, Việt, trong một khu rừng già của dẫy Trường Sơn.
Địa điểm tập kết là Con Cuông gần sông Lam (tên khác là sông Cả). Con sông này bắt nguồn từ Lào chảy sang Việt Nam xuôi vể của biển là Bến Thủy, gần thành phố Vinh, Nghệ An. Nhiệm vụ của toán:
– Chấm tọa độ.
– Theo dõi sự di chuyển xe cộ, bộ đội trên quốc lộ 6 và 7.
– Rải truyền đơn gây hoang mang cho địch, khích lệ, hỗ trợ sự nổi dậy của dân chúng.
– Lập chiến khu, làm đầu cầu cho những toán kế tiếp ra sau.
– Bí mật bắt mối với nhân dân trong địa bàn hoạt động.
Chính vì do sự sắp xếp, sát nhập 2 toán biệt kích này làm một, đã gây ra nhiều mâu thuẫn giữa người của 2 toán. Hơn nữa, người của 2 nhóm này cũng lẫn lộn dân sự và quân sự nữa. Nguyễn Huy Lân là một thượng sĩ trong quân đội, trong khi Đinh Văn Sơn lại là dân sự. Ngoài ra Sơn coi Lân là người thiếu kiến thức, không đủ khả năng lãnh đạo toán, cho nên Sơn và nhóm của Sơn không phục, không chịu nghe lệnh của Lân. Điều này, không biết những người có trách nhiệm tung toán Boone vào đất địch có biết hay không? Tôi nghĩ rằng, thà họ nhận là không biết thì còn ít lỗi lầm hơn.
Nói về chiếc C47. Khoảng hơn 2 giờ đêm thì tới mục tiêu, trời vẫn tối đen như mực. Phần vì tinh thần, tư tưởng của toán Boone chưa được trang bị đủ mức yêu cầu, phần khác chưa đủ kinh nghiệm hoạt động trong đất địch. Bởi vậy, ngay từ khi xuống dù đã thất lạc hỗn độn, mỗi người mỗi nơi. Đến khi trời sáng, mãi tới gần trưa mới tập họp lại được thì toán chỉ còn 7 người. Thiếu mất 2 người là Hồng Tôn Khải, truyền tin số I và Ngọc là toán viên. Mọi người chia nhau ra các hướng để đi tìm. Mãi gần về chiều mới thấy dù của anh Ngọc gác lên một cành cây đổ, ở cạnh một bờ suối, nhưng không thấy người. Lục lọi, xem xét kỹ cũng không thấy dấu vết gì tỏ là anh Ngọc bị thuơng, hay bị thú rừng ăn thịt. Rồi mãi tới gần tối mới tìm thấy dù và xác của anh Khải, thịt, xương be bét dưới một thung lũng đầy mây rừng. Toàn nhóm đã xác định, dù của anh Khải không mở, như một cục thịt từ ở trên trời rớt xuống nên cơ thể mới bị nát bấy như vậy.
Đến đây, toàn toán ai nấy đều hoang mang lo sợ vì anh Khải là truyền tin chính, một cột trụ để liên lạc với Sài Gòn thì đã chết rồi. Vũ Gia Thoa, truyền tin số 2, lúng túng, không đủ chuyên môn để sử dụng máy liên lạc với Sài Gòn. Như thế, coi như toán đã bị đứt liên lạc ngay từ đầu với trung ương. Tình trạng, bất lợi hỗn độn như vậy càng khoét sâu nỗi hoang mang, giao động trong lòng mỗi người. Lúc này, không còn ai bảo ai nghe được nữa, mỗi người mỗi ý kiến. Cuối cùng, Nguyễn Huy Lân động viên những người còn lại cứ quyết định di chuyển tìm đường về địa điểm tập kết ở Con Cuông.
Khi trong lòng mỗi người đã rối bời, lo lắng thì lòng tin vào mục tiêu đi tới cũng mất dần. Do chân chùn, lòng nản, tinh thần rã rời ngại khó, ngại khổ nên di chuyển rất chậm chạp. Cho tới khi đã hết lương thực mà mục tiêu vẫn còn ở đâu chưa thấy. Tinh thần càng khủng hoảng, sa sút, người này đổ lỗi cho người kia, thậm chí cãi nhau, chửi nhau hỗn độn không khác chi cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.
Theo anh Nguyễn Văn Thú, tới ngày thứ 11 hay 12, kể từ lúc toán nhẩy xuống bãi đáp thì bị lộ và bị bao vây. Khi có tiếng loa của đội quân bao vây, chõ vào rừng kêu gọi toán ra đầu hàng, thì trong nhóm càng lộn xộn. Người đồng ý ra hàng, người không, để cuối cùng Trần Mạnh Hùng dùng súng uy hiếp toàn toán phải đầu hàng để sống. Phạm Công Thành đã cởi ngay chiếc áo maillot trắng đưa cho Vũ Gia Thoa, buộc vào đầu một cành cây, giơ lên đi trước tiến ra ngoài, tỏ dấu toàn thể toán xin đầu hàng vô điều kiện. Sau đó, đoàn bộ đội bao vây đã trói gô từng người rồi giải về nhà giam Thanh Chương, trực thuộc quân khu 4. Chúng giam riêng mỗi người mỗi buồng để truy cung, khai thác từng ngày.
Sau hơn 4 tháng cung kẹo, khai báo, chúng chuyển toán Boone về Hà Nội và đưa ra tòa xử công khai như đã trình bày ở trên. Đặc biệt là, khi tòa vừa tuyên bố tha bổng toàn thể nhóm Boone biệt kích, thì Vũ Gia Thoa được một người họ hàng cao cấp trong chính quyền của cộng sản bảo lãnh. Và cũng từ đấy, không ai còn biết tin tức gì về Vũ Gia Thoa nữa. Khi xử xong, chúng chuyển toán Boone về trại giam Yên Thọ hơn một năm, rồi lại chuyển về Phố Lu, trại trung ương số I ở Lào Cai này từ năm 1966.
Do toán Boone đầy rẫy những mâu thuẫn nội bộ từ ở trong Nam cũng như khi ra Bắc, bởi vậy, chúng thường giam riêng, và chế dộ đãi ngộ cho mỗi người cũng khác nhau. Hiện nay, (1968), Trần Mạnh Hùng được hưởng chế độ 18 đồng (tiêu chuẩn chung cho một tù nhân ở các trại giam miền Bắc là 12 đồng). Hùng lại được làm toán trưởng toán nhà bếp ở trại Phong Quang, trại trung ương số II ở Yên Bái. Phạm Công Thành vì có công đã cởi chiếc áo maillot trắng làm cờ hàng, nên khi đến trại E này, được cho làm toán phó, toán nhà bếp. Từ hôm tôi đến phân trại E này đã hơn một tháng, tôi cũng chưa nhìn thấy Phạm Công Thành. Cái chính, chỉ vì qua dư luận của anh em trong trại, tên Thành nhà bếp rất tiến bộ và đểu cáng. Đôi khi những anh em được nghỉ một ngày bệnh ở trên toán, xuống bếp xin tý nước sôi để pha trà hay thích uống nước uống nóng, y đã quát tháo, chửi bới quầy quậy đuổi người ta về. Thậm chí nhiều lần y đã ném ca, đập gô anh em, do đấy tôi cũng ghét luôn chả muốn tìm gặp y để làm gì. Tôi để ý, tên Thành cũng không quan hệ đi lại với những người cùng toán Boone của y ở trên các buồng.
Trong khi chuyện trò, tôi có hỏi anh Thú:
– Tại sao tòa đã tuyên bố trắng án, tha bổng nhưng vẫn đưa vào trại tù, các anh không phản đối hay thắc mắc à?
Mắt anh Thú long lanh, quắc sáng, miệng cười gằn như mếu, trả lời:
– Ở Yên Thọ, tôi đã bị cùm hơn 2 tháng gần chết vì dám chắc mắc hỏi ban giám thị trại về chuyện này. Khi đến trại này, hai năm trước, Bắc cũng tâm sự, thắc mắc với một đồng phạm, rồi bị họ tố, Bắc cũng bị đi cùm gần 1 tháng phải bò ra, cho nên…
Thú nói đến đây thì không nói nữa, anh lái sang chuyện khác. Tôi cũng đã tự hiểu nên cũng chả bao giờ đề cập đến chuyện ấy nữa.
Sáng hôm nay Chủ Nhật, một buổi sáng Chủ Nhật không phải đi lao động xã hội chủ nghĩa. Tối qua, tôi có hẹn với Lê Văn Kinh, hôm nay ra hội trường nói chuyện. Mục đích tôi muốn biết sơ lược nội vụ câu chuyện của anh trong vụ sông Gianh. Trong khi chờ Kinh còn đang đi tắm giặt ở giếng tôi ngồi ở hội trường nói chuyện với anh Hiển. Vũ Mạnh Hiển, một chủng sinh (đại chủng viện công giáo) bị bắt tập trung cải tạo chỉ vì cái tội: chủng viện đã được nhà nước giải tán, chính phủ khuyên mọi người trở về lấy vợ, lập gia đình, anh Hiển lại không chịu lấy vợ, cứ quyết một lòng hiến dâng đời mình, trọn vẹn đức tin nơi Chúa. Anh mới được thả kỷ luật dạo Tết, người anh bây giờ hãy còn gầy nhom và xanh tái.
Ngồi nói chuyện với anh, mắt tôi đang lơ đãng nhìn một con nhện đen, có những bộ chân dài ngoẵng đầy lông, đang chăng tơ làm tổ trên ngọn những cây nứa khô của hàng rào trại. Con nhện đang loay hoay trèo lên, trèo xuống nhiều lần. Nhìn vị thế của cái tổ mới nó đang làm, tôi hiểu rằng nó phải chăng 4 sợi tơ ở 4 điểm chính làm cái khung thì mới làm được cái tổ. Nhưng nó mới chăng được 3 điểm, còn một điểm nữa mãi chéo ở đầu một ngọn nứa hơi cong. Thấy dáng điệu có lúc ngần ngừ, có lúc tất bật của nó, tôi nghĩ rằng nó đang điên đầu, tính toán làm sao để mắc được đường tơ lên ngọn cây nứa cong ấy. Ồ, tôi đã lầm, nó đang chờ, đang đợi một làn gió quẩn ngược chiều. Nó trèo lên mãi một ngọn nứa cao, đít nó dụi, dính một mối tơ vào đấy, rồi nó buông thõng người cho rơi sâu trở xuống đến hơn một mét. Khi nó theo dây tơ leo lên về chỗ cũ, có một sơi tơ mỏng manh, lấp lánh dưới ánh nắng sớm, theo gió đong đưa, hất nhẹ đến cái điểm thứ 4 ấy. Sợi tơ chạm vào ngọn nứa cong là dính liền. Thế là con nhện, nhanh nhẹn theo sợi tơ leo sang ngọn nứa cong. Nó từ từ kéo căng sợi to. Vậy là nó đã đạt được 4 điểm tựa chính của cái mạng lưới mới để săn con mồi.
Lòng tôi đang rộn lên một nguồn vui nhè nhẹ như chia xẻ với sự thành công của con nhện, thì chợt có tiếng bình bịch của chân người chạy phía hiên sau hội trường. A, tên Tân, trật tự, mắt y đang trợn lên như mắt con lợn nhúng nước sôi. Một tay y vẫn cầm chiếc gậy, như mỗi khi y đi tua một mình trong trại; một tay y đang giằng co một chiếc rổ con, có mấy ngọn rau tầu bay với bác Thẩm Tố Lân, người gốc Tầu. Bác Lân 2 tay đang kéo cái rổ lại, miệng nói tiếng Việt chưa sõi lắm, giọng như năn nỉ:
– Anh à, tôi sót cái luột quá! Mấy hôm nay tôi có cái bụng táo bón, không ti cầu tược. Tôi bòn tược mấy cái lau dại này tể chốc nữa ăn với cơm.
Tôi nhìn thoáng thấy trong chiếc r ổ con có một nắm rau, những ngọn rau tầu bay con con và mấy ngọn rau rệu. Trong trại, khắp nơi không có một chỗ nào có những ngọn rau dại mọc được mà còn lại. Bởi vì có một ngọn nào mới chú, không người này thì người khác đã vặt ngay rồi. Thậm chí, họ móc họ đào lần lấy hết cả gốc, rễ của nó rồi còn đâu. Tôi chợt nhớ đến mấy cây rau tầu bay phía sau lán vernie, và một bụi rau rệu mọc dưới cái rãnh cạnh nhà cầu ngoài lán mộc. Mấy cây rau tầu bay này cũng vậy, cứ đâm ra được một vài ngọn con thì đã có người vặt rồi. Cả bụi rau rệu cũng thế, hễ ngọn nào mới thò ra được một vài lá cũng đã cụt luôn. Chính tôi mấy lần mò ra định kiếm mấy ngọn cho đỡ sót ruột, vì bữa cơm toàn ăn với muối rang, vậy mà đều hụt vì người khác đã hái rồi.
Tên Tân đang dư dứ cái gậy vào đầu bác Lân, rồi y giật cái rổ rau, ném mạnh xuống đất. Y lấy chân đạp bẹp cái rổ, rồi di di, di lại cho mấy ngọn rau nát bét:
– Nội quy cấm ăn rau sống, anh còn chống đối tôi hả?
Nhiều người ngồi trong hội trường lúc ấy, ai cũng lộ vẻ căm phẫn với việc làm của tên Tân. Nhưng họ vẫn ngồi yên, có lẽ họ đều nghĩ trong cảnh này hãy chịu nhẫn nhục để sống yên thân. Họ đều hiểu rằng đằng sau tên Tân còn có một con ngáo ộp là ban giám thị và những tên cán bộ, cho nên họ chỉ ngồi nhìn ra. Tôi cũng hiểu như vậy, nhưng có lẽ một phần vì lòng khinh ghét có sẵn với tên Tân từ dưới Hỏa Lò, phần khác do bản tính hãy còn hơi liều bất tử nên tôi đã đứng dậy, tiến đến và quắc mắc nhìn tên Tân, dù rằng lời nói của tôi còn mềm mỏng:
– Người ta sai thì anh phải từ tốn nhắc nhở người ta chứ! Anh có hành động tàn ác không còn tính người như vậy à?
Ngay từ lúc thấy tôi tiến đến, y đã hơi chờn. Chắc hẳn y vẫn chưa quên được ở buồng số 4 xà lim II, Hỏa Lò. Một lần, y có những thái độ bẩn thỉu, khi y lấy cơm từ ngoài chõng vào cho tôi, tôi đã đập nhau với y ở trong buồng. Lúc ấy tôi bị cùm một chân mà y còn không dám tiến lại gần, y phải dùng cái chăn bông dầy của y, từ ở một góc xa tầm tay của tôi, để quật nhau với tôi. Nhưng lúc này trong trại, y đầy uy quyền, không ai dám cãi lại với y cả. Phần khác, trước mặt nhiều người y không thể chịu ở cái thế nhún nhường thua kém, vì vậy, t chỉ cái gậy vào mặt tôi nạt nộ:
– Mày cấu kết với nhau để chống đối hả?
Thực sự trong lòng tôi tuy căm tức và khinh ghét nó lắm. Tôi đã có chủ trương, một buổi nào đó thuận tiện tôi sẽ xả cái khinh đó ra với nó, nhưng chưa phải hôm nay. Khốn, lòng tôi đã nóng lên rồi. Tuy vậy, tôi cố kìm lại, tôi chỉ hất mạnh cái gậy của y ra:
– Hãy ngậm cái miệng của mày lại!
Nói rồi, tôi đi về chỗ, nhưng y như một con hổ nhẩy theo, giơ cao chiếc gậy vụt vào cổ tôi. Tôi lạng người, hụp xuống tránh chiếc gậy, cũng là lúc tôi gắn cái gót chân vào ngực y. Y hự lên một cái, khựng lại rồi như điên rồ, y quật tôi túi bụi, miệng lải nhải văng tục:
– Địt mẹ mày, gián điệp, biệt kích, vét đĩa này!
Tôi không còn kiểm soát được tôi nữa, tôi chẳng còn nghĩ đến lợi hay hại nên cứ đấm đá thả dàn. Sau một hồi quần thảo, chẳng hiểu tôi vung vẩy tay thế nào không biết, đấm trúng vào mặt y một cú làm chồn cả tay tôi lại. Mũi y có máu chảy ra, vậy mà y vẫn còn hung hăng, cầm cái gậy choi choi đâm tôi. Lựa thế, tôi bắt được cánh tay cầm gậy của nó. Tôi đưa vào một thế khóa, định bẻ gẫy cánh tay của nó. Nó gào lên thảm thiết, nhiều anh em trong trại đã chạy đến. Lê Sơn chen đẩy mấy người, tiến lại, để tay lên vai tôi:
– Thôi, anh Bình!
Tôi biết rằng, tôi chỉ cần gồng mạnh lên một chút là cánh tay nó sẽ bị bẻ giặt gẫy. Mồm nó vẫn kêu như bò rống. Tôi hiểu nếu bỏ tay nó ra bây giờ, đang hung máu, nó sẽ làm phiền tôi nữa. Tôi còn đang lưỡng lự thì tên Cẩn trực trại và mấy tên công an vũ trang từ cổng trại chạy vào. Tên Cẩn xông đến quát:
– Anh Bình, buông tay ra ngay!
Tên Tân mặt xám lại, nhăn như khỉ ngửi phải mùi mắm tôm. Tay trái y đõ cánh tay phải, người y khòng xuống, văn vẹo. Tên Cẩn mặt tím bầm, chỉ tay vào tôi:
– Anh dám đánh trật tự phải không? Anh muốn làm loạn à?
Rồi y quắc mắt, nói như ra lệnh:
– Về ôm chăn chiếu đi kỷ luật, rồi sẽ giải quyết!
Khi tôi quay về buồng để lấy chăn chiếu, còn nghe mấy người đứng ở đó nhao nhao lên, có cả tiếng của Lê Sơn:
– Báo cáo ông Cẩn, anh Tân đã đánh anh Bình trước, anh Bình phải tự vệ.
Tôi nhớ sau vụ bác Lê Tài Chương chết ở trong nhà kỷ luật, hai hay ba ngày. Một buổi sáng khi các toán đang xuất trại đi lao động, anh Lân đứng báo cáo với tên Kích, cán bộ toán như thường lệ mỗi buổi sáng. Sau đó, anh đi xuống chỗ toán đang xếp hàng dài, nhìn tôi:
– Bình ở lại trại gặp cán bộ.
Hơi bàng hoàng lo lắng, tôi không biết có chuyện gì? Nhiều anh em trong toán quay lại nhìn tôi bằng những ánh mắt hơi ngạc nhiên. Đành rằng, hàng ngày không những toán 2 mà còn ở nhiều toán khác nữa, vẫn có nhiều anh được lệnh ở lại trại để gặp cán bộ, nhưng hôm nay là lần đầu đối với tôi, cho nên tôi vẫn e ngại.
Trại đi lao động chừng gần một tiếng thì tên Cẩn trực trại vào buồng II. Trong buồng trống trơn, chỉ con hai anh Hiển và Khải mới ở nhà kỷ luật ra, còn yếu chưa đi làm được. Thấy tôi, y ra hiệu tay theo y ra cổng trại. Đến công, y ngửng mặt lên nói với tên công an vũ trang cộc lốc:
– Đồng chí, tôi nhận một phạm ra ngoài.
Quay lại, y chỉ tay về khu ban giám thị, chéo phía trái của cổng trại bảo tôi đi, y đi theo phía sau. Ngòng ngoèo một con đường nhỏ lát gạch, dài chừng một trăm mét. Tên Cẩn hất hàm về phía một căn nhà nhỏ, bên cạnh chiếc nhà khác to lớn của giám thị:
– Anh vào trong đó!
Tôi còn hơi ngập ngừng đứng trước cửa buồng, thì một giọng rất đanh, khô lạnh giá phía trong:
– Vào đi!
Tôi hơi ngỡ ngàng, một tên cán bộ lạ hoắc, tôi chưa hề nhìn thấy bao giờ. Y đeo chiếc lon trung úy đã bạc mầu. Dáng y cao, thành ra người rong rõng gầy. Bộ mặt y hơi dài, xương xẩu nên có nhiều góc cạnh; đặc biệt là đôi mắt, sắc, lạnh loang loáng. Tất cả nói lên, y là một người tinh quái, nham hiểm, lạnh lùng. Nhìn tôi một lúc, y chỉ vào chiếc ghế đẩu để trước bàn, hách dịch:
– Cho anh ngồi!
Tôi ngồi chừng một phút, y mới cất tiếng nói, lần này lại có vẻ hơi nhẹ nhàng:
– Anh lên trại này được bao lâu rồi?
– Thưa ông gần một tháng ạ.
– Tôi hiểu, lúc này trong óc anh đang băn khoăn muốn biết về tôi là ai ở đây. Rồi anh sẽ biết, không muộn!
Nói xong, y xoay người nhìn ra chiếc cửa sổ con hướng về phía trại giam một lúc, rồi quay lại nhìn tôi, nói tiếp:
– Hôm nay, tôi gọi anh lên đây, buổi đầu ta gặp nhau. Tôi muốn anh thoải mái nói chuyện thẳng thắn; để minh xác vấn đề, tôi cũng thẳng thắn với anh: hầu hết các anh, không hoặc chưa bao giờ thích chúng tôi, mà còn căm thù nữa. Nếu các anh nói là yêu cách mạng, yêu xã hội chủ nghĩa thì cũng chỉ ở mồm, ở miệng mà thôi.
Nói đến đây, y ngừng lại một lúc. Cầm chén trà đang còn vương vít một ít khói, uống một ngụm, rồi y lại nói tiếp:
– Điều đó tôi cũng không trách các anh, bởi vì các anh đã bị bắt vào quá sớm, hoặc đã lâu. Các anh không có điều kiện để nhìn thấy tận mắt, cuộc sống xã hội bên ngoài đang đổi thay từng ngày, tiến bộ rõ rệt. Do đấy, anh nào cũng ôm chặt khư khư cái mớ ước viển vông cho tới ngày chui vào lòng đất. Tiếc rằng, tôi không đủ quyền hạn, tôi sẽ cho các anh đi nhìn, đi xem, đi nghe tận chỗ. Hiện nay, quân và dân ta đang kiên trì, dũng cảm nối tiếp truyền thống bất khuất của ông cha, đánh cho giặc Mỹ, tên đầu xỏ đế quốc của thời đại, phải run sợ đang chờ ngày bại trận, rút về nước không xa nữa.
Nếu ai trong các anh còn chút lương tâm của người Việt Nam, trong tim, trong phổi thì cũng đều hởi lòng, hởi dạ. Chính tôi vừa qua, có dịp về công tác ở Hà Nội, tôi cũng không ngờ sự lớn mạnh của nhân dân ta vĩ đại như vậy. Ý kiến của anh ra sao, anh cứ phát biểu thực sự những suy nghĩ của anh.
Ngồi nghe y nói, tôi đã mường tượng y là Hoàng Thanh. Mới hôm qua, hôm kia đây, ở ngoài lán thủ công, trong câu chuyện, có đề cập đến việc bác Chương bị chết ở trong nhà kỷ luật, Lê Sơn đã nói, từ khi anh ta ở trại này 5 năm nay, Hoàng Thanh đã cùm chết gần hai chục người rồi. Thế mà hôm nay, y lại tỏ ra cởi mở, hay không phải y là Hoàng Thanh? Để thăm dò tôi mạnh bạo phát biểu:
– Thưa ông, nghe những lời ông nói quá rộng lớn, có nhiều điều, tôi chưa hiểu đến. Phần do tuổi đời, phần do sự hiểu biết của tôi hạn hẹp. Cũng do sự hiểu biết còn non dại của tôi, nên tôi đã sai lầm phạm tội với nhân dân. Bởi vậy lúc này, tôi chỉ biết ngày đêm tâm niệm tin tưởng tuyệt đối vào đường lối giáo dục cải tạo những người tội lỗi, sai lầm của nhà nước. Tôi sẽ đem hết sức mình ra lao động để tự cải tạo bản thân, để mong một ngày được hưởng lượng khoan hồng của đảng và nhà nước, tôi được trở về làm lại cuộc đời. Điều này…
Tôi đang nói thì y khua tay bắt tôi ngừng:
– Thôi! Tôi đã đoán trước nội dung anh sẽ nói như vậy rồi. Anh nói theo một bài học khuôn thước như mọi người. Tôi lại không muốn nghe những điều như vậy. Thôi được, để thời gian! Này, gần tháng nay, chắc anh đã nghe những đồng phạm bàn tán về tôi ra sao?
Tôi còn dè dặt, ngập ngừng, thì y lại nói tiếp:
– Như: ác ôn, tàn ác đã giết nhiều người này, phải không? Nên đã làm cho anh phải đắn đo, e ngại? Anh phải hiểu rằng, họ chỉ đứng từ một vị trí rác rưởi nhìn tôi, nên họ không thể hiểu được cách làm việc của tôi. Còn anh, tôi nghĩ rằng anh là con người thức thời, anh phải nhìn vào thực tế…
Nói tới đây, mắt y quắc sáng nhìn tôi như có tia lửa. Bàn tay y giơ ra về phía tôi, xòe ra, rồi lại nắm vào:
– Hiện nay, anh đang nằm gọn trong tay tôi, tôi mở thì anh sống, tôi bóp thì anh sẽ chết. Bây giờ, tôi cho anh về để mà suy nghĩ, chọn cho mình một sinh lộ. Hôm nay, anh có nói nữa thì cũng toàn là những chuyện không thật, mà tôi lại không muốn nghe.
Hơn một tiếng đồng hồ tôi gặp y, khi về trại rồi mà tôi vẫn còn phải suy nghĩ mãi về y. Có một điều tôi đã cảm nhận trong lòng như một nguyên tắc: dù cho chính y là Hoàng Thanh, tinh khôn, ác ôn, nham hiểm, nhưng đã nói nhiều thì tôi cũng không sợ mấy. Một điều nữa, tôi để ý trong suốt buổi gặp y; y không hề đả động gì về tình hình đang nóng bỏng ở miền Nam. Điều này càng cho tôi thấy rằng, những suy đoán của tôi về tình hình chiến sự đã có chiều hướng đúng.
Buổi chiều đi lao động, qua Lê Sơn và Quý Cụt, tôi đã biết chính y là Hoàng Thanh. Một tên hung thần của trại trung ương số một phố Lu, Lào Cai. Tôi chưa biết rõ về y lắm, nhưng phải nói y có một cái uy đáng nể. Thấy y về, không khí trong trại có vẻ nặng nề khác thường. Từ cán bộ, bộ đội cho đến tù nhân trong trại hầu như đều trầm lặng, ít nói, ít cởi mở hẳn đi. Tuy vậy cũng có một sự việc làm cho anh em buồng số II khi đi lao động cứ liếc nhìn nhau cười thầm bằng ánh mắt hoài.
Đêm vừa qua, lúc gần sáng, tôi còn đang chìm sâu vào giấc ngủ muộn thì có tiếng chửi bới quàng quạc như vịt được tháo chuồng, làm cả Vân và tôi đều choàng tỉnh dậy. Mùi phân và mùi nước tiểu thối hoăng lên ở trong buồng. Anh chàng Lê Ngọc Phi, chân không guốc dép đang đứng ở giữa buồng, gào thét, chửi bới như một tên khùng. Thì ra, đêm y dậy vào nhà cầu; đến khi trở về chỗ, màn và chăn chiếu của y đầy nước tiểu và phân người. Chẳng biết ai đã bí mật, theo dõi chờ y vào nhà xí, đã hắt một lon cứt và nước đái vào chăn màn của y. Bây giờ chăn màn ướt át, đầy cứt và nước đái, y không còn chỗ nằm nữa. Phi thuộc toán ba xẻ gỗ, chỗ y nằm ở sàn dưới phía trước, gần cạnh chỗ toán trưởng Đinh Khắc Sản.
Mới vào Xuân, trời vẫn còn lạnh căm căm, bên ngoài vẫn tối om, có lẽ mới khoảng 3 hay 4 giờ sáng. Tiếng gầm thét, chửi rủa của tên Phi làm cho cả buồng nhốn nháo, nhiều người thức dậy. Đây đó một vài tiếng cười. Một giọng nói từ góc phía đầu nhà của sàn trên dội lên như giễu cợt:
– Nào biết ai bây giờ! Tôi mà biết đứa nào tôi sẽ đập nó chết cho anh thỏa lòng. Thôi đi ngủ đi, mai ra báo cáo cán bộ sớm!
Lại có những tiếng cười nữa của nhiều người. Anh chàng Phi càng phát khùng, y gầm lên:
– Các anh phải biết rằng tôi được ban giám thị giao cho trách nhiệm theo dõi, để ý tất cả các anh ở trong buồng này. Còn nhiều những lời nói và việc làm phản động của các anh, tôi đã thông cảm không báo cáo hết với cán bộ, vậy mà các anh còn chưa biết điều.
Tiếng cười ồn lên ở trong buồng. Anh Lân buồng trưởng đứng ra giữa nhà nói to:
– Bây giờ, tất cả buồng im lặng, đi ngủ để mai còn đi lao động. Anh Phi cũng đi ngủ, sáng mai cán bộ sẽ giải quyết.
Tên Phi càng như điên khùng, không kể gì buồng trưởng hay ai, y quay lại xửng cồ cả với Lân:
– Chăn màn toàn cứt với với nước đái thì ngủ thế nào?
Buồng càng cười dữ, có anh cười ré lên như dê kêu. Bất chợt có tiếng báng súng đập mạnh vào cánh cửa:
– Buồng này làm cái gì mà ầm lên thế! Các anh muốn phá trại hả?
Anh Lân tiến ra định báo cáo, thì tên Phi xộc đến, len ra trước sát cửa:
– Báo cáo ông cán bộ, chúng nó đổ cứt và nước đái đầy chăn màn của tôi.
Giọng tên công an vũ trang hách dịch:
– Đứa nào?
– Thưa, tôi không biết!
Im lặng một lúc, chắc tên cán bộ thấy chẳng giải quyết gì được trong lúc này (y làm gì có chìa khóa, và đâu được quyền mở cửa buồng), vì vậy y lại quát:
– Toàn buồng tuyệt đối im lặng. Tôi thấy anh nào còn rì rầm, mai cho đi kỷ luật,
Bấy giờ tên Phi mới chịu im. Lủi thủi về chỗ ngồi ghẹ vào mép sàn. Từ hơn một tuần trước, qua anh em tôi đã biết tên Phi này là một bần nông ở vùng Bắc Ninh. Trong cuộc cải cách ruộng đất, y là thành phần cốt cán. Y đã cuồng nhiệt hăng say tố cáo, đánh phá địa chủ ở địa phương. Vì vậy gia đình y được chia một căn nhà khá khang trang của một người địa chủ đã bị xử bắn. Sau đó y được bầu là nông hội trưởng. Nhưng khi có chính sách sửa sai, người ta lấy nhà y để trả lại cho vợ con địa chủ.
Từ đấy, y bất mãn trong công tác, phát ngôn những lời bừa bãi, mất chính trị. Y bị chính quyền mới của xã, giáo dục nhiều lần, lại còn truất phế chức nông hội trưởng của y. Y càng lồng lộn bất mãn thêm để cuối cùng phải vào trại giam từ năm 1957. Y bị cái án dây thun tập trung với tội phản tuyên truyền. Vào trại giam, lúc đầu y cũng chống đối, chây lười lao động, thường hay vi phạm nội quy đã nhiều lần phải đi kỷ luật. Nhưng từ ba, bốn năm nay, chẳng hiểu do sự phỉnh phờ, khích lệ dụ dỗ của ban giáo dục với y thế nào, y bắt đầu làm Joóc (antenne). Càng ngày y càng lao sâu vào con đường làm chó săn cho ban giám thị.
Dần dần, hành động lén lút, hèn mạt của y không thể che mắt được ai. Cả buồng, cả trại đều biết, không còn ai dám gần y để chuyện trò tâm sự nữa. Từ hơn một năm nay, y và chủ y đã tìm ra một phương kế khác. Trước đây, hàng tuần, hàng tháng, mỗi ngày, có khi đôi ba ngày lại gọi vài anh ra gặp cán bộ giáo dục. Trong những người này, dĩ nhiên, lẫn lộn người cải tạo tốt, người cải tạo xấu, người làm joóc, người không. Mục đích để tung hỏa mù, không cho tù biết ai làm chó, ai không làm chó. Đấy là một cách của người chủ bảo vệ cho những con chó của chúng. Cán bộ giáo dục không gọi tên Phi nữa, nhưng cứ thỉnh thoảng, có khi một tháng, có khi hai tháng không chừng, tên Phi lại tìm chuyện gây sự, rồi chửi nhau, có khi đánh nhau với một đồng phạm. Như vậy cả hai đều báo cáo tình hình trong trại, trong toán và về những cá nhân.
Ngay cả điều này rồi cũng không qua mắt được những người tinh tế. Vì vậy họ phải ngăn chận những con chó ăn cứt, làm thối cả mọi người này, bằng cách rỉ tai những người thân tin. Mặt khác, tùy theo điều kiện họ có thể làm được những gì mà cán bộ cũng như nhiều đồng phạm khác không biết như: lén rút quai dép râu (ở đây, mất quai hay mất dép thì đi đất, không có mà mua), có khi lấy một chiếc ném ra rừng. Hoặc gói phân đút vào trong bọc quần áo của những tên joóc v.v…
Cho tới sáng, tôi nằm mãi không ngủ được, đầu óc cứ quanh quẩn về việc vừa xảy ra. Tôi hiểu rằng, trong buồng này không phải chỉ có một mình tên Phi làm joóc, mà còn nhiều người nữa. Do trình độ kiến thức và do sự tinh quái nên họ thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và mức độ làm joóc cũng khác nhau. Chứ tên Phi này, do văn hóa không có, nên sự hiểu biết tinh vi cũng hạn chế. Tuy làm joóc nhưng cũng chỉ nói lên được những điều vặt vãnh, bề nổi bên ngoài mà thôi. Tôi lại nghĩ đến, không biết anh nào, hay một nhóm nào đã có những hành động thể hiện được lập trường và ý chí của họ đối với kẻ thù và lũ chó săn của chúng. Rồi đây tôi cũng phải tìm hiểu.
Trời sáng dần. Khi tên Cẩn trực trại điểm xong vừa ra tới cửa, tên Phi đã hấp tấp ra trước mặt y, nghiêm cứng người báo cáo chuyện cứt, đái lúc ban đêm. Tên Cẩn trở lại vào xem chỗ chăn màn của tên Phi. Mặt y đỏ dần lên tỏ vẻ tức tối lắm. Y hiểu rằng, cứ để tình trạng này tiếp diễn, thì rồi đây không còn ai dám làm joóc chu chúng nữa. Nhưng chắc y cũng biết rằng, ngay lúc này làm sao y có thể tìm ra thủ phạm được. Bởi vậy, sau khi y gọi anh Lân ra ngoài hè hỏi gì đó, y tiếp tục đi điểm buồng khác.
Chiều nào, lúc 3 giờ rưỡi là lo chạy xe đến trường để rước đứa cháu nội gái tan học về, người viết luôn gặp một anh bạn già đã đến trước chờ con. Lâu dần… rồi quen.
Người viết ham vui, cưới vợ sớm, nên lên chức sớm… đến rước cháu nội. Còn anh bạn già nầy, tuổi cũng gần bằng người viết, nhưng chắc hổng ham vui gì cho mấy… nên mãi tới năm 35 tuổi, ảnh mới cưới vợ. Chị nhà lại thuộc ‘tuýp’ người không mắn đẻ nên mãi gần chục năm sau, ráng hết sức mới móc được trong túi ra cho ảnh được một nàng công chúa. Thôi cưng hết biết!
Và khi nàng công chúa nầy đi học mẫu giáo chung với cháu nội của người viết thì ảnh đã quá… quá… bên kia nửa chừng xuân, trên năm chục rồi còn gì nữa. Cha già con mọn nên ai thấy cũng thương. Ai biểu trầm đò chi cho nó trễ!
Anh chỉ buồn bã trả lời: “Tại chiến tranh mà! Đâu ai muốn. Chỉ sợ ra trận lỡ có bề gì thì con dại cái mang vành khăn tang trắng!”
Đám học trò nhỏ híu ríu rít theo chân cô giáo từ trong lớp ra, để vào phòng họp ngồi, đứng… chờ phụ huynh tới rước. Thấy ông, bà hay cha, mẹ đến, cháu vội chào cô giáo, kiểu Úc, bằng cách ‘high-five’ rồi theo người rước ra xe. Tuổi thơ là mùa xuân lá rất non xanh.
Người viết làm ông; còn ảnh là cha nhưng rước cháu, rước con đều tay bồng, tay bế như nhau mặc dù nó hơi nặng rồi đó nha! Tay xách cặp, nón. Năm tới cháu vô lớp một, chắc ông bồng hết nổi rồi thì để ông nội cõng vậy. Rồi lớp Hai, lớp Ba, ông càng già, cháu càng lớn, cõng hổng nổi nữa thì mình dắt. Đúng là tuổi già… Mùa xuân lá khô.
Chiều nay đến hơi sơm sớm, ảnh bắt tay, ‘Chúc mừng Năm mới’ ‘Happy New Year’ làm mình sực nhớ. Ờ hé! Sắp hết Tháng Chạp rồi. Mùa xuân đã ‘dông’. Ngày dãn ra; đêm thun lại. Mùa hè đổ lửa Úc sắp đến. Những hàng cây hôm qua còn xanh lá… mà bữa nay những mảng lá xanh đã cháy vàng trong nắng đỏ.
Cuối năm các hội đoàn như hội cựu học sinh, hội cao niên… thường hay tổ chức tiệc tất niên ở nhà hàng, mình cũng lò dò đến… để ráng tìm vui. Bà con xúm lại hỏi: “Năm nay có về Việt Nam ăn Tết không?” Câu hỏi nầy mình nghe năm ngoái, rồi năm nay và chắc lại là năm tới. Câu trả lời là không? Quê cũ còn đâu nữa mà về. Nhà xưa tanh bành trong đạn lửa, thành phố xưa chúng đập tanh bành, rồi cất lại… cho giống Singapore. Về chi nữa cho thêm đau lòng mình lắm lắm!
Nhớ năm rồi, may mắn được hai đứa con trai, dâu, cháu nội dắt hai vợ chồng người viết đi Sunshine, ăn ‘yum cha’ nhà hàng Tàu để mừng Năm mới của Việt Nam?!
Vợ chồng, con cái, cháu chắt ngồi đầy một bàn. Rôm rả, vui quá chừng chừng! Ăn xong, tính móc bóp ra trả tiền như mọi khi. Hai đứa con trai xúm vô cản: ‘Ba à! Để cho tụi con tính bữa nay. Mấy ngày khác thì phần của Ba. Hi hi.’
Ngày vui, nhưng đêm, khi mấy nhỏ đã vọt xe về ngủ, (dẫu Tết Việt Nam) để sáng mai đi làm. Lại cô đơn! Già khó ngủ! Một mình rót một ly rượu đỏ. Ngồi tư lự cho tới nửa đêm để tiễn biệt một ngày năm cũ. Hẹn năm tới. Vâng Tết quê người buồn như vậy dù đã ráng hết sức để tìm vui.
Còn quê mình xưa, Tết là những ngày vui lắm. Dẫu đất nước vẫn còn chìm trong cơn đạn lửa. Tết, ngày đầu năm lại là ngày đoàn tụ, dẫu đi năm sông bảy suối, chín núi ngàn đèo cũng lặn lội về thăm.
Tây thì khác, Giáng Sinh mới là ngày đoàn tụ gia đình, ăn bữa cơm chung gồm ông bà cha mẹ và con cháu trở về quần tụ dù mỗi đứa một nơi, tha phương cầu thực. Tết Tây, tụi nó xúm nhau ra ngoài city để xem đốt pháo bông đêm Giao Thừa. Đếm ngược đồng hồ, bụp, cả bầu trời xanh vàng tím đỏ, rồi hai đứa ‘hun’ nhau.
Giờ nầy đêm nay, cuối năm, ngồi một mình trước ly rượu nầy một mình con lại nhớ về quê cũ giờ đã xa hàng ngàn dặm biển, con lại nhớ đến Ba, nhớ Má, nhớ nhà xưa biết bao nhiêu mà nói. Những mùa khác, đêm đêm con cũng mơ, cũng nhớ về quê cũ nhưng năm cùng tháng tận con lại còn nhớ ác liệt hơn nữa? Kỷ niệm xưa… tràn về như sóng.
Nhớ hồi xưa nhà mình trong hẻm chợ Hai Mươi gần Ngã Tư đường Phan Thanh Giản và đường Cao Thắng. Con đi học trường tiểu học Bàn Cờ trong Cư Xá Đô Thành, lớp Nhì tức lớp Bốn bây giờ. Một bữa, cô giáo cho bài tập vẽ một bông hoa cúc. Hồi nhỏ, con nghĩ ba cái gì cũng biết, cái gì ba cũng làm được. Con nít ở thành nhà cửa san sát, không có được một khoảng đất trống nho nhỏ nào để trồng cây, trồng bông, trồng hoa, thì làm sao có diễm phúc để biết bông cúc mặt tròn, mặt méo ra sao mà vẽ. Con nhờ ba vẽ giùm. Vô lớp cô giáo cho Ba một điểm. Thiệt cô của con không có con mắt thẩm mỹ chút nào.
Rồi lên lớp Nhứt, tức lớp Năm bây giờ, ba nộp đơn cho con thi vào Đệ Thất. Hai tuần sau kỳ thi, ba dắt con tới cổng trường Petrus Ký gần bùng binh Ngã Bảy Cộng Hòa, dò xem kết quả đậu rớt ra sao? Con được 56 điểm đậu hạng 176. Cái thằng đậu hạng chót chỉ được 45 điểm nghĩa là con của ba giỏi hơn con của người ta được 11 điểm. Còn cái thằng đậu thủ khoa được 81 điểm. Tên nó là Âu Dương Khoát nhưng không có bà con, dây mơ rễ má gì với Tây Độc Âu Dương Phong. Cái Trung tâm luyện thi Đệ Thất của nó, đậu chiếc xe Renault thời Bành Tổ, bắt ống loa trước cửa trường, la rùm, quảng cáo cho mấy đứa lỡ thi rớt năm nay, năm tới nhớ tới học nhe bây. Cái hay là cậu học trò đậu thủ khoa nầy phải thi tới lần thứ ba mới chiếm được bảng Trạng Nguyên. Mới thấy hồi xưa chỉ thi tuyển vào lớp Đệ Thất thôi mà đã trần ai khoai củ!
Ba dò thấy số báo danh của con mình trên bảng vàng, mừng quá, bèn móc túi ra cho con mười đồng, rồi dẫn con về đường Cao Thắng, trước cửa rạp hát bóng Đại Đồng để ăn hủ tiếu bò vò viên. Ôi! Tô hủ tiếu con ăn thời thơ dại đã lâu sao nhớ tới thuở bạc đầu.
Chú Tiều tay không bóc bò vò viên thường và bò vò viên gân bỏ vào nồi nước súp đang sôi sùng sục trên bếp. Bò viên trụng trong nồi nước lèo nóng dần lên, cắn vào còn xì khói, mới thấy hết cái vị ngon, giòn hết sẩy. Chén tương đen tương đỏ được rắc thêm một chút ớt sa tế cay nồng ở phía trên. Những miếng cải bắc thảo muối rắc lên mặt tô hủ tiếu bò viên với ngò gai xắt nhuyễn. Tô hủ tiếu bò viên nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Cầm đũa lên ‘lua’ hủ tiếu, lấy muỗng múc bò vò viên, cắn nghe cái xực! (Người Triều Châu phản Thanh phục Minh không được, quang gánh chạy về phương Nam chỉ mang theo hủ tiếu bò vò viên mà sống hùng, sống mạnh, sống ‘phẻ re’ cho đến tận bây giờ. Ôi cái miền Nam dễ thương của cha con mình đã dang tay đón biết bao nhiêu người cùng khốn mà cuối cùng, cay nghiệt thay, là cha con mình không còn sống nổi nữa… phải bỏ nước ra đi!)
Mười một tuổi, mười hai tuổi, sức đang lớn, ăn nhiều, ăn mạnh. Một tô hủ tiếu bò vò viên chưa đã miệng, còn thòm thèm, dù mồ hôi từ chân tóc đã tươm ra đầy lên mặt, rồi chảy từng giọt, từng giọt một trên má. Ngon quá là ngon mà!
Ba kêu thêm cho con một tô gân, lòng bò, lá sách, tổ ong… cùng bò viên. Con cũng tự nhiên, cắm đầu quất láng. Cái lạ là Ba không ăn gì hết chỉ ngồi gần con và uống một cái xây chừng.
Ăn xong, ba trả tiền. Trên đường về nhà cho má hay là con thi đậu. Cả hai cha con mình cười hỉ hả. Năm chục năm sau con đã tìm được câu trả lời tại sao ba lại không cùng ăn với con? Câu trả lời rất đơn giản là nhà mình nghèo không có đủ tiền để trả.
Rồi lớn lên con ráng vào đại học, ngưng ngang giữa chừng vì Mùa Hè đỏ lửa nổ ra. Rồi giầy sô áo trận. Chiều cuối năm nào, dù bận hành quân, cũng mong (dù không bao giờ có), được đi phép, trở về nhà mình đoàn tụ. Con đã xa má, xa ba, xa mấy em, xa người yêu để đi trong mùa xuân lá khô. Đi trong vùng hành quân vùng xa xôi đá sỏi biết buồn. Đi giữa lạnh sang đông… Để hy vọng: Rồi có một ngày. Sẽ một ngày chinh chiến tàn…Trả súng đạn này. Khi sạch nợ sông núi rồi Anh trở về quê, trở về quê. Tìm tuổi thơ mất năm nao… Nhưng một mùa xuân hòa bình chỉ là ảo vọng.
Rồi mất miền Nam, ba và con lưu lạc quê người. Đã hai mươi mùa Xuân quê nhà con xa. Và hai mươi mùa lá khô ở Úc mà ngày quay trở về sao thấy vẫn còn xa! Ước vọng gia đình ta có Ba; bay trở về quê cũ thăm lại Má đã nằm yên dưới ba tấc đất ở ngã ba Hòa Tịnh, Mỹ Tho đã vỡ tan.
“Mộ má nhìn ra lộ Đông Dương. Như trông như ngóng người thương trở về. Người thương nay đã trở về. Dẫu tro than vẫn câu thề ngày xanh! Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy; anh mới đành xa em.”
Mười lăm năm trước, khi ba trở bệnh nặng ở Adelaide, từ Melbourne, trời sụp tối, con ra nhà ga ‘Southern Cross’ đi xe lửa suốt đêm về thăm ba kẻo không còn kịp nữa.
Đêm sau, Chủ Nhựt, lúc từ giã Ba, con quay trở về nhà để Thứ Hai đi làm; con móc trong túi ra hai trăm đô nói: ‘Ba giữ để uống cà phê.’
Hồi xưa, Ba cho con thì cả hai cha con mình đều cười. Bây giờ, con cho lại Ba thì cả hai cha con mình đều khóc.
Con bây giờ, chiều cuối năm viễn xứ, như là chiếc lá khô… Nhớ nhà xưa, nhớ Ba, nhớ Má… Có giọt lệ nào ứa ra từ chiếc lá khô trong quê người cuối năm chiều lửa đỏ.
Thưa! Ðời ông sơ, ông cố mình từ miền Trung khô cằn sỏi đá, dắt díu vợ con vào vùng đất mới, Ðồng bằng sông Cửu Long nầy lập nghiệp thì cái đầu tiên phải nghĩ tới là kiếm cái chỗ cất nhà để có chỗ che mưa đụt nắng chớ! Bởi có an cư mới lạc nghiệp được.
Cất nhà là phải lựa rẻo đất nào cao ráo, mùa nước nổi không có ngập tới nhà mình. Cái rẻo đất cao đó là giồng do phù sa bao đời tích tụ, nên đất xốp và màu mỡ… Thế mới có câu hát là trên đất giồng mình trồng khoai lang. Cha! Củ nào củ nấy nó bự ế kinh luôn. Chính vì vậy mà quý “anh Hai” mình ít khi bị vợ bỏ lắm?!
Cái tiếng tăm cái vùng đất làm chơi ăn thiệt nầy vang ra tới ngoải; bà con mình nghèo không đất cày, lũ lượt kéo vô! Cứ bám dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậu! Ai tới trước khai khẩn trước; ai tới sau khai khẩn sau! Chừng mười hay hai chục mẫu là thường. Nên nói điền chủ ở Nam Kỳ Lục Tỉnh là phải nói vài trăm mẫu trở lên cho chó chạy cong đuôi mới được coi là điền chủ.
Khi các khu đất giồng đã bị nạn nhân mãn, do cưới nhau sanh con đẻ cháu, chắt, chít… thì bà con mới tới đành cất nhà sàn mà ở! Mùa nước nổi vẫn phẻ re, cao lắm là nước mấp mé bờ hè. Muốn đi nhậu thì chịu khó chống xuồng ba lá một chút qua anh Hai hàng xóm, cách chừng vài rẻo đồng.
Thưa! Ðồng bằng sông Cửu Long! Ðồng thì đúng quá xá mà bằng thì chưa chắc. Dù đất năm nào cũng được phù sa bồi lấp; tuy vậy cũng còn chỗ cao, chỗ thấp.
Cao thì gọi là Gò như Gò Công, Gò Quao hay Giồng như Giồng Riềng, Giồng Dứa! Còn thấp thì gọi là Vũng như Vũng Liêm, Vũng Thơm chẳng hạn!
Cuối dòng sông, chín cửa đổ ra Biển Ðông mà mùa nước nổi thường là từ Tháng Chín âm lịch khi Biển Hồ bên Campuchia đầy, nước tràn ra, trôi về xuống hạ lưu qua sông Tiền, sông Hậu.
Nước nổi nhảy bờ, cứ tìm cái vùng trũng mà lấp cho đầy (như vùng Tứ giác Long Xuyên chẳng hạn). Ðầy nước và phù sa trong đó lắng xuống bồi đắp năm nầy qua năm nọ; đời nầy qua đời khác cả ngàn năm nên bây giờ quê mình mới có Ðồng bằng Sông Cửu Long. Mới hôm qua còn đồng không mông quạnh mà bữa nay nước dâng lên từ từ là thấy mênh mông luôn như biển.
Trời thương trên cánh đồng giờ mênh mông biển nước đó có một loại lúa của Trời cho mà bà con có nơi cũng gọi là lúa ma! Nước dâng tới đâu là chú vọt lên tới đó; vì cây lúa cũng như con người mà thôi. Bám vào đất nhưng phải ngoi lên mặt nước mà thở chớ!
Ðến lúc nước giựt thì thân cây lúa rạp mình trên đất; chờ bà con xách liềm, hái, cù nèo ra gặt, về giã gạo trăng thanh là có nồi cơm chiều! Hột cơm ngon ăn đứt mấy cái loại lúa Thần Nông sau nầy chừng vài cây số!
Thưa! khi những về lục bình từ đồng đất Campuchia bị ngập, tróc rễ trôi về là mùa nước nổi đó bà con ơi! Nước đầy mặt sông, đầy kinh rạch thì tràn vô ruộng! Một là rửa phèn, hai là mang theo phù sa là một loại phân bón thiên nhiên của ông Trời ban tặng cho cánh đồng thêm màu mỡ. Ba là cùng với con nước đục ngầu đẫm phù sa, là các loại cá lội theo vào ruộng đồng đẻ trứng! Miễn phí hổng tốn cắc nào nên khoái làm sao đâu. Dân mình đâu có nghe lời mấy thằng ngu mà đắp đê làm chi cho phí của Trời!
Mùa mưa trên thượng nguồn đã hết, nước sông ít thì mực nước đứng lại và rồi hạ xuống rất nhanh gọi là “nước giựt”.
Miệt Tân Châu Hồng Ngự nước giựt trong đồng giựt ra sông mà miệt hạ lưu Vĩnh Long Cần Thơ nước lại nổi. Ông Trời công bằng chia đều hết, không sót một ai.
Ðến lúc nước giựt từ trong các đồng ruộng chảy ra, cùng với vô số cá lúc nhúc từng bầy, nhất là loại cá linh, ùa theo nhau tràn vào các kinh rạch để ra sông lớn. Dân đặt lờ, đóng đáy bắt cá dọc theo các kinh rạch này. Cá nhiều tới mức phải giở lưới lên xả bớt; kẻo bị rách lưới.
Mùa nước nổi ngày một chút cứ lên tà tà chơi, rất hiền hoà khác hẳn với các mùa lũ lụt tàn phá dữ dội như ở miền Bắc hoặc miền Trung. Do đó nói miền Tây lũ là hổng trúng chút nào! Lũ khác lụt chớ! Lũ, nước lên cái ào; còn lụt nước lè phè ngày vài tấc! Năm nào mưa nhiều nước lắm thì lụt là cùng… Nghĩa là những căn nhà vùng trũng, nước lé đé dưới sàn ra phải chịu khó leo lên bộ ván ngựa mà ăn cơm vậy.
Cái khác với ngoài Trung ngoài Bắc là nhà miền Tây đa phần lợp lá; ít có cái lợp bằng tranh; vì dừa nước dọc theo kinh rạch nó vô thiên lủng! Nhưng mấy tay nhà thơ, nhà nhạc cứ mái tranh không hè! Chắc để dễ gieo vần, dễ hát… nhưng mà trật lất!
Ðồng bào miền Tây mình bao đời nay, sống chan hòa với thiên nhiên như vậy hàng trăm năm rồi… mà có nghe ai khóc lóc than thở gì đâu?
Thưa vốn là dân ‘’vưỡn’’; nên tui chỉ biết mùa nước nổi về là bà con mình vui lắm. Có cá mà ăn; có phù sa cho ruộng. Dân nhậu thì càng khoái nữa! Rủ nhau vài đứa lên mấy rẻo đất cao, nơi rắn, chuột đang chùm nhum trên đó, mặc sức bắt về lột da khìa với nước dừa hay xào sả ớt ăn với cơm trắng.
Sau nầy đột nhiên tui nghe mấy cô ca sĩ khi mùa nước nổi quê tui về… lại đấm mặt, đấm mũi, nước mắt chảy ròng ròng, than khóc như vầy mới lạ!
“Không còn con sông, nước dâng tràn lên bãi bờ!/ Anh về quê em, khắp nơi như là biển khơi!/ Chập chờn mái tranh ngoi lên giữa ngọn triều dâng!/ những đàn gà con bơ vơ đứng nhìn trời xanh!
Bao ngày trôi qua lũ cao dâng thêm nữa rồi!/ Không còn nhận ra tiếng ai đi tìm người trôi!/ Mẹ ngồi dưới mưa tay ôm ấp trẻ lạnh căm!/ Xóm làng chìm trong bao la những nỗi đau này!
Ôi! Nước lũ dâng cao dâng cao dâng theo bao nỗi sầu đau!/ Ôi! Nước tràn bờ đê nước tràn bờ đê tang thương khắp một miền quê!
Bên bờ đê cao mái tranh tạm che kiếp người!/ Ơi đồng bằng ơi, biết bao thân phận nổi trôi!/ Còn một trái tim ai ơi nhớ lại Miền Tây/ “Nhiễu điều” mà thương dân ta lắm nỗi đoạn trường!”
Nước nổi tràn về bà con mình lòng vui hổng có hết mà sao ông nhạc sĩ và cô ca sĩ la làng chói lói… Coi bộ thảm thiết quá vậy ta?
Thì ra ông nhạc sĩ nầy là dân sanh đẻ ở Sài Gòn, cô ca sĩ cũng vậy… Nên đâu có biết mùa nước nổi là cái giống gì đâu! Ổng chỉ coi truyền hình rồi ổng khóc ròng! Vì cứ tưởng nước nổi ở miền Tây cũng làm khổ dân như cái đất Sài Gòn của ổng bây giờ hễ cứ mưa là lụt!
Nói nào ngay ông nhạc sĩ cũng thành thật bày tỏ cái tưởng tượng như cái ‘tưởng voi’ của mình như vầy: “Bài hát ‘Quê em mùa nước lũ’ được viết từ… gợi ý của ca sĩ Hương Lan. Qua truyền hình, tôi thấy ống kính quay cận cảnh một bà mẹ ngồi thu lu trong góc tối ôm xác đứa con ướt sũng, gương mặt mẹ thất thần dường như bà đã khóc con đến không còn nước mắt. Cảnh tan hoang điêu tàn, nước ngập mênh mông, đàn gà chạy táo tác…”
Bài hát được (ngu ngơ) phủ sóng trên khắp mọi miền quê hương đất nước, góp phần kêu gọi đồng bào cả nước hướng về… miền Trung ruột thịt mỗi khi mùa lũ tới (?!)
À há! Té ra ông viết Quê em mùa nước lũ ở đồng bằng sông Cửu Long nầy để hướng về lũ Miền Trung đó đa!
Thế mới hay nhà văn Sơn Nam khuyên một câu rất chí lý: ‘’Viết văn làm nhạc gì cũng phải biết Sử Ðịa nhe mấy cha! Kẻo trật bàn đạp!’’
Thưa theo ngu ý của tui là mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long tràn về là mình cười mình vui mới phải. Còn khóc, còn rên như bài hát nói trên là để dành cho khi quê mình khi không còn mùa nước nổi nữa mới đúng.
Mà đâu có lâu! Năm nay, năm 2015, Miền Tây không có mùa nước nổi. Úy Trời!
Nghĩa là ruộng không có phù sa và con cá linh sẽ trở thành đặc sản. Ðứa nào có tiền mới được quyền ăn, nghèo là chịu khó nhịn thèm đi nhe cưng! Ðó mới chính là thảm kịch. Mới đáng khóc ròng!
Mà tại ai gây ra để quê mình không có mùa nước nổi, để nước mặn Biển Ðông xâm thực, ngược dòng tới 80 cây số từ cửa biển! Tới chừng đó nước uống sợ còn không có… Chớ nói chi tới cá, tới tôm.
Thủ phạm là mấy đứa phá rừng là một. Mấy đứa làm đập thủy điện là hai!
Ðó là Thằng Trung Cộng, xây hằng chục cái đập thủy điện khổng lồ trên đất Vân Nam. Rồi quân phiệt Thái Lan xúi Lào Cộng xây đập thủy điện trên dòng sông Mekong để bán điện cho nó, làm “Mùa nước nổi” ở đồng bằng sông Cửu Long thành cổ tích.
Ðâu phải nó chảy qua địa phận nước nị rồi nị muốn làm gì cũng được.
Sáng hôm sau, lúc tỉnh dậy tôi thấy buốt nhói gấp bội ở thắt lưng của mình. Ngay cả lúc thở cũng thấy đau. Tôi bò ra khỏi giường và cố lết thật chậm ra cầu tiêu, đi ngang qua phòng của chị Ánh Nguyệt. Chị đang ngồi đờ đẫn trước gương, ngắm nhìn hình ảnh chính mình. Lối đi tới nhà cầu tưởng như dài vô tận. Cứ mỗi bước đi, tôi lại thấy cả ngàn đốm đen nổ tung trong mắt của mình. Đau quá, tôi cũng chẳng buồn đóng cánh cửa lại.
Khi đi tiểu nửa chừng thì tôi phát hiện được rằng thay vì nước tiểu, tôi đã đái ra máu. Những giọt đặc quánh, mầu đỏ tía cứ tuôn ra làm tôi hết hồn vía. Tôi vội kéo chiếc quần cộc lên dù chưa xong, để mặc cho nước tiểu cứ tiếp tục tuôn ra phía trước quần, rồi tôi loạng choạng đi tìm mẹ tôi. Bà đang ở trong phòng ông bà tôi cùng Dì Đặng. Mẹ tôi kéo chiếc quần của tôi xuống để kiểm soát nhưng chẳng thấy có gì bất thường ngoại trừ chỗ máu tôi đái ra. Hốt hoảng, bà la toáng lên: – Ôi trời ơi, nó bị cái gì thế này. Chị Đặng ơi, gíúp giùm tôi với. Dì Đặng lắc dầu: – Nó bị đánh chấn thương ở bên trong rồi. Phải mang nó đi bác sĩ. – Tôi làm gì có tiền mà chở đi bác sĩ. Mà cái bọn sinh viên thực tập ấy thì làm được cái gì? Tụi nó lúc nào cũng ngơ ngơ ngáo ngáo, chẳng bao giờ biết mình làm cái gì hết. Dì Đặng góp ý: – Vậy thì mang nó đi thầy lang của bà cụ, coi ông ta nói sao. Sau khi khám xét, Ông lang tuyên bố rằng tôi đã lãnh một cú chí tử vào một bên thận. Nhưng vì tuổi tôi còn non và khoẻ mạnh, vết thương sẽ lành lặn hẳn. Sau vài thang thuốc đắng nghét do chính ông ta bốc cho tôi, máu cũng cầm lại.
° ° ° Một tuần sau, ông bà tôi cũng từ bệnh viện trở về. Cái chân của bà ngoại tôi vẫn sưng to và nhoi nhói đầy mủ nhìn từ xa, nó đen xì giống như một qủa cà tím, to tướng và chín rục. Ngoại ngồi trên ghế dưới bóng cây mít ngoài vườn, lắng nghe chị Ánh Nguyệt đọc kinh Phật lâm râm. Gió chiều nóng nực thổi qua tàn cây có những nhánh uốn lươn. như một đàn rắn. Làn da rám nắng của hai người phản chiếu ánh sáng mặt trời. Ngoại tôi vùi chân trong lớp cát nóng. Tâm trí ngoại dường như chìm sâu trong những chương kinh Phật. Còn chị Ánh Nguyệt, trong mấy tháng vừa qua, sức khoẻ của chị suy sụp thấy rõ. Cứ sáng ngủ dậy là chị lại bắt đầu ho khọt khẹt… Bên bờ giếng, chị ngồi gục đầu giữa hai đầu gối hàng giờ để khạc đờm cho bật ra khỏi hai lá phổi. Đôi khi chị khạc ra cả máu. Hai má của chị vốn ngày xưa giòn dã như mầu nước trà tầu nay vàng bủng beo. Chị rất kỹ lưỡng, lúc nào cũng che dấu vẻ bệnh hoạn của mình dưới một lớp trang điểm. Nhiều khi chị đánh lớp phấn qúa dày nom như nghệ sĩ cải lương sắp lên sân khấu. Nhìn thấy tôi bước vào khu vườn, chị gật đầu chào: – Khoẻ chưa Kiên? – Cám ơn chị, em bớt rồi. – Cái lưng đau ra sao rồi? – Khá hơn nhiều. Thuốc bắc ông lang đó khá tốt. – Chị muốn lên chùa xin vài món thuốc linh chữa bệnh ho của chị. Em có muốn đi với chị không? Thuận tiện, em xin mấy vị sư cho em thứ gì đó để chữa cái lưng đau. Nếu không thì mình lên chùa cầu Phật độ trì cho sức khoẻ của bà ngoại. – Vậy thì đi. Lý do tôi nhận lời mời của chị khá đơn giản. Tôi rất thích chị Nguyệt. Do bệnh hoạn nên đã mấy tuần nay chị không gặp anh Ty rồi. Tôi cũng nhớ những đêm chị còn khoẻ, tôi đã làm lính gác cho hai người hôn nhau vụng trộm sau bụi cây xứ ở cuối xóm. Ngôi chùa nằm ở một triền núi, cách nhà chúng tôi khoảng hai chục cây số. Dân địa phương gọi là Long Sơn Tự. Cửa chùa rộng mở cho người đau ốm ở khắp mọi nơi. Mỗi chuyến đi, chúng tôi phải bỏ ra mất hai mươi phút trên xe buýt và thêm hai mươi phút leo núi nữa. Từ dưới đất trèo lên chính điện có tổng cộng một trăm bốn mươi hai bậc đục vào núi đá. Chị Ánh Nguyệt đi chậm rãi, cứ mươi bước lại phải dừng trên những bậc đá nhưng rồi chúng tôi cũng tới được cái sân rộng tràn đầy khách thập phương. Đứng ở hành lang, người ta có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố và các khu lân cận. Nền hành lang lát bằng gạch men mầu xanh đậm luôn luôn được các tín đồ lau chùi sạch bóng, lóng lánh ánh nắng mặt trời như một mặt biển. Ở chính giữa nền là một đóa sen khổng lồ với những cánh sen chạm bằng đá cẩm thạch. Đài sen là một bệ hình trụ tám mặt, diễn tả tám cánh cửa địa ngục. Ngồi chỉnh tề giữa đóa sen là một tượng Phật cao bằng toà nhà bốn tầng, tạc bằng đá cẩm thạch mầu trắng, hai tay chắp gọn ghẽ vào đùi, Phật ngồi mắt nhắm như trầm trong tĩnh lặng. Người ta đồn rằng, nguyên thuỷ, con mắt thứ ba của tượng Phật làm bằng một viên ngọc lục rất lớn, Nhưng qua thời gian đã thất lạc hoặc bị lấy trộm đi. Bây giờ, một bóng đèn mầu xanh được thay thế để che lỗ hổng trên trán Phật ánh sáng của ngọn đèn soi xuống khuôn mặt an nhiên tự tại, tồn giữ vẻ tôn nghiêm của nơi này dù có vô số khách thập phương tới chiêm bái mỗi ngày. Những mái chóp mầu đỏ và các cây cột mầu vàng kim được dưng. lên ở phía sau tượng nom cũng đẹp đẽ và cổ kính như ngọn núi có ngôi chùa toạ lạc. Trong chính điện lúc nào cũng tràn ngập khói hương. mỗi khách hành hương đều được phép cầu xin một điều ước. Bàn thờ Phật được đặt ở trong cùng của chính điện, được trang hoàng bằng nhiều tượng Phật đủ cỡ, đủ loại. Hầu hết tượng Phật đều được thếp vàng hay làm bằng đồng thau. Một cái lư được làm bằng đồng đỏ được đặt ở chính giữa là nơi để cắm những nén hương. Xếp thành hàng ở hai bên chính điện là những vị sư mặc áo vàng đang ngôì toạ thiền. Dọc theo triền núi, một giải nước chảy qua vách đá rót xuống mái chùa ở phía sau điện thờ chính, chảy xuống sàn rồi theo ống cống tuôn xuống dòng sông ở phía dưới. Hơi nước từ đó toả lên quyện lấy mùi nhang như một làn hương thơm tho và giữ cho trong chùa quanh năm được mát mẻ. Ở mé bên phải của ngôi chùa, một con đường nhỏ được lát gạch đỏ dẫn đến một khu ở đó có các vị sư phân phát thuốc nam. Cuối con đường, sau khu rừng tre rậm rịt, là một ngôi nhà tranh nhỏ được dùng làm chỗ chữa trị cho bệnh nhân. Chờ cho chị Nguyệt lấy số thứ tự từ một ni cô đang đứng ở cửa xong, chúng tôi bước vào bên trong phòng đợi. Sau khi chị được thầy cho ba thang thuốc, chúng tôi đi tản bộ ra hành lang trên chùa. Dưới chân chúng tôi, thành phố nhỏ xíu nom như đồ chơi con nít. Chị Nguyệt hỏi tôi: – Hồi nãy ở trong chùa em cầu điều gì vậy? – Em cầu xin cho bà ngoại sớm được khỏi bệnh. Rồi em khấn Phật xin Ngài cho em biết tin tức về ba của em. – Trong đó có nhiều Phật, vậy em cầu ông Phật nào, Kiên? Mà này sao em tham quá vậy, cầu tới hai điều lận! Tôi thở dài: – Em biết. Nhưng em cầu ông to nhất ở chính giữa có nhiều tay ở chung quanh mình. Em hy vọng là ổng bự như vậy, có thể ông dư cho em một lời cầu xin nữa. – Em hỏi ổng rằng ba em là ai? Có bao giờ nghĩ tới em không, có biết rằng em đang hiện hữu không? Chị Ánh Nguyệt nhướng mắt lên: – Sao em hỏi toàn những câu hỏi khó thế? Nếu ngài trả lời không được thì sao? – Thì em cứ tiếp tục trù ổng hoài cho tới khi nào ông trả lời em mới thôi. – Em muốn biết về ba để làm gì, hả Kiên? Tôi trả lời không cần suy nghĩ: – Em ghét sống ở đây. Em cầu cho ba em mang em về Mỹ cho rồi. Chị Ánh Nguyệt bắt đầu cất tiếng hát. Trong buổi chiều oi bức, giọng của chị nghe buồn thảm hơn cả tiếng khóc. Tôi hỏi chị để ngắt bài hát buồn bà ấy: – Còn chị với anh Ty thì sao? Khi nào chị lại gặp anh ấy? – Không biết nữa. Có thể vài năm nếu chị may mắn. Tuần vừa rồi, anh ấy bị gọi đi nghĩa vụ quân sự sang đánh nhau ở Căm -Pu Chia. Cuối tháng này thì anh ấy khởi hành rồi. Tôi choáng người, nhìn chị: – Thật à? Tôi không thể tưởng tượng nổi cái hình ảnh của anh Tống Ty mặc bộ quân phục. Đăm chiêu, tôi nói tiếp: – Mà hôm nay là ngày cuối tháng rồi. – Đúng vậy. Trưa nay, anh ấy đi rồi. Tôi nhìn chị như không tin: – Vậy sao chị không ở nhà để chào từ biệt anh ấy? Chị không trả lời. Bỗng nhiên tôi, chợt hiểu ra:
– Chị không đi với em tới đây để hốt thuốc mà là để cầu Phật phù hộ cho anh ấy, có phải không? Chị cười buồn: – Đúng. Nhưng mà chị biết anh ấy không đi Căm-Pu-Chia đâu. – Sao chị biết? – Ảnh nói với chị là ảnh vượt biên. Chị cầu nguyện cho anh đi thoát. Mỗi người có một điều ước, thì đó là lời cầu xin của chị. – Chị ơi… – Kệ nó đi, bây giờ trời đã trễ. Có thể anh ấy đã đi mất rồi. Thôi mình về đi. Chị đứng dậy khỏi chiếc ghế dài. Tôi đưa tay cho chị vịn.. Chị níu chặt lấy. Tôi cam đoan với chị: – Đừng lo. Lần sau mình tới đây, em sẽ cầu xin cho sức khoẻ của chị, chị Moonlight ơi. Chị mỉm cười, nghiêng người hôn nhẹ lên má tôi. Môi chị lạnh ngắt: – Cám ơn em, cưng. Nhưng nếu em cầu xin cho chị rồi thì ai cầu xin đức Phật về ba cho em đây? Tôi nhún vai: – Chuyện đó chờ từ từ cũng được. Chị là bạn thân duy nhất của em trong căn nhà đó. Em thà là mong chị có sức khoẻ còn hơn là chuyện kia. Sau đó tôi nghe Duy nói anh Tống Ty đã đi Tân Gia Ba vào đúng cái lúc mà chúng tôi đang ngồi tại băng ghế đá dài ở trên chùa buổi trưa hôm đó. Mẹ của anh đã đút lót cho nhiều công an trong thành phố để anh có thể trốn thoát. Một tháng sau chị Ánh Nguyệt đã nhận được thư anh, đóng dấu từ bưu điện Tân Gia Ba. Đó là lá thư duy nhất và cũng là lá thư cuối cùng mà chị nhận được từ anh Tống Ty.
Từ nhà tôi đi bộ ra quán mì – ngay cạnh một chuồng trâu cũ mất khoảng mười lăm phút. Phía đằng sau, thấp thoáng dưới ánh đèn mờ nhạt là đường rầy xe lửa. Mùi phân trâu hoà lẫn mùi thịt heo nướng phảng phất trong không khí. Quán này đúng ra là một phần phụ nối từ một căn bếp của một tư gia nối dài ra tới ngoài vườn bằng mấy cái bàn lớn và mấy cái ghế dài. Chủ quán là một bà trung niên, quần áo nồng nặc mùi cà ri và mỡ cháy. Bà ta ngồi trên một cái ghế đẩu nhỏ bằng gỗ bên bờ giếng để rửa thịt con heo. Mái tóc muối tiêu của bà được bới về đằng sau một búi nhỏ trên đầu và được cài bằng một cái lông nhím. Ngay cạnh chân bà là một nồi chứa đầy dồi luộc, có những khúc tràn ra ngoài lơ lửng trên mặt đất bùn. Bụng con heo được xẻ dọc từ cổ xuống tới tận đuôi, bị banh ra dưới bàn tay thiện nghệ của bà, phô ra cho thấy cả những vết máu bầm bên trong. Dưới ánh sáng mờ mờ của căn bếp, hai nôì nước dùng đang sôi sùng sục bốc mùi gia vị, mùi cá, mùi thịt lan toả vào bóng đêm. Chúng tôi ngồi trên một chiếc ghế dài. Bà chủ quán ngừng công việc, rửa tay trong một cái chậu rồi lơ đãng nghe mẹ tôi gọi các món ăn. Bà ta hỏi: – Các cô có muốn nhấm nháp thứ gì trước không – Không, xin cám ơn. Bà cho tôi ba tô mì vịt tiềm cho mấy đứa nhỏ, tô lớn nhất ấy. Bà ta nhìn mẹ tôi và Dì Đặng: – Vậy còn hai cô, không ăn gì cả sao? Cả hai đều đồng loạt lắc đầu.
Tại bàn bên cạnh, một cô gái mãi dâm ăn mặc nửa kín nửa hở, đang ngồi chung với một ông khách. Họ dính vào nhau, tay chân quặp cứng vào nhau cứ như một cặp sinh đôi dính chặt kiểu “siamese twin” miệng thì sì sụp tô mì. Ngồi ở đầu ghế bên này, mẹ tôi đùa nghich với mái tóc ngắn của tôi. Bà hỏi: – Hồi chiều con dẫn mấy đứa đi đâu vậy? – Con dẫn Jimmy và bé Ti đi gặp chị Loan. Mẹ tôi gật đầu, nhận xét: – Mới mười một tuổi đầu, con tính được như vậy là giỏi đấy. Nhưng nghĩ như thế nào mà con lại đi gặp chị Loan? – Hết cách rồi, nhưng mà con biết là tụi con phải ra khỏi nhà. – Tới chị Loan rồi thì sao? Bà chủ quán quay lại với một khay đồ ăn. Những cái bát đặt trước mặt chúng tôi đều có những bông hoa men đã bạc cả mầu. Hơi khói bốc ra từ lớp nước dùng sóng sánh mầu vàng hung toả lên mặt nóng rực. Bụng tôi quặn thắt lại, nước dãi trong mồm ứa cả ra. Tôi vắt một miếng chanh vào bát của tôi.
Ở bàn kế bên, cô gái điếm bỗng nhiên ngồi thẳng ngay dậy, la chói lói về phía cuối sân bằng một giọng thô bỉ: – Cút ngay, đồ đĩ ngựa! Trên bả vai trần và cánh tay của cô xuất hiện những vết lở lốm đốm mầu đỏ loét như những bông mười giờ. Cô ta tiếp tục la lối: – Bỏ cái trò theo tao bén gót đi! Bà chủ quán mì nhún vai, giải thích với chúng tôi một cách tự nhiên: – Nó là lũ con nó đấy. Tụi nhỏ đêm nào cũng mò tới đây dòm miệng. Mà đêm nào mẹ chúng cũng chửi om xòm, đuổi chúng đi. Jimmy nói: – Cháu có thấy đứa nào đâu? Bà chủ quán trả lời: – Dĩ nhiên là làm sao thấy được. Mấy đứa nó đen thủi đen thùi, khó mà nhìn thấy, nhưng qủa thật chúng ở ngoài ấy đấy. Tôi nhìn vào bóng tối dầy đặc. Trời không có một vì sao, trên con đường hẹp không có lấy một ngọn đèn đường. Nhưng qủa vậy, tôi có thể nhìn thấy hai cặp mắt sáng quắc nhìn chúng tôi như mắt của những con sói đói. Dì Đặng hỏi: – Lai Mỹ phải không? Bà chủ quán gật đầu: – Loại cơm cháy! Mẹ tôi nhận xét: – Như vậy tàn nhẫn quá. Nếu cô ta không muốn giữ chúng nó thì tại sao không đem cho đi. Bà chủ quán đăm chiêu: – Ui dà! đừng tưởng cô nàng không thử rồi. Cái con mẹ tồi tệ này đã lần lượt bán đi gần hết lũ con ngay từ lúc chúng vừa mới nhú lên cái răng sữa đầu tiên kìa. Nhưng hai đứa nhỏ này không bán được. Đã là con gái lại Mỹ đen, ai mà thèm. Mẹ tôi im lặng, bà ta tiếp: – Để tôi nói chuyện này nghe còn thê thảm hơn nữa. Mấy tháng trước đây, mẻ mất đứa con gái, con chị của hai đứa này, chừng mười hay mười một tuổi gì đó. Con bé ấy vẫn la cà ở đây xin ăn. Một hôm có mấy thằng chộp nó ngay tại đây, ngoài lề đường. Ba thằng đàn ông. Tụi nó móc ngoặc sao đó với con mẻ để mua trinh đứa nhỏ. Rồi tụi nó mang con bé vào tuốt trong cái trại bỏ hoang ở bên kia. Một thằng đút cái của nó vào miệng con bé trong khi hai thằng kia ghìm nó xuống. Tội nghiệp con bé đâu có biết gì, nên thay vì chiều thẳng chả, nó lại cắn của chả.
Mẹ tôi ngắt lòi bà ta, nhìn chúng tôi nói:
– Ăn đi tụi bay. Đừng có nghe chuyện của người lớn. Dì Đặng lên tiếng: – Tôi có nghe chuyện ấy rồi. Tụi nó lấy đá đập bể đầu con nhỏ tới chết. Bà chủ quán gật đầu: – Đúng đó. Đập đầu con nhỏ như đập ruồi vậy. Chả ai nghe kêu la gì hết vì lúc đó có chuyến xe lửa chạy rầm rầm. Rồi chúng nó đút tiền cho con mẻ để nó câm mồm. Công an không tìm thấy thủ pham., thế là con nhỏ chết lãng nhách. Chả ai buồn quan tâm. Dì Đặng trầm ngâm: – Tôi nhớ ra con bé ấy rồi. Tóc của nó rậm rì, nom xa giống như cái tổ ong vậy. Bà chủ quán nói: – Cái đầu ấy đã bị cạo hôm trước khi nó chết. Tóc nó xoăn tít, có cái đồ gì lọt vào là mất tiêu. Lúc cạo đầu, xấp nhỏ kiếm ra được đủ thứ lọt trong mái tóc, nào là bàn chải đánh răng, lược, kẹp giấy, dây thung, còn gì nữa có trời mà biết. Nói cho mà nghe, lũ con của cô là may mắn lắm đấy, vì chúng nó da trắng. Ít ra thì chúng nó còn có cơ mà sống. Chứ lũ cơm cháy thì sui tận mạng. Tôi đã ăn xong và để cái tô không lên lại trên bàn. Em gái tôi thì nhấm nháp tô mì của nó chậm chạp như một con miu. Mẹ tôi nhìn tôi một cách ngạc nhiên: – Sao con ăn lẹ thế? Có muốn gọi thêm một tô nữa không? Tôi ngần ngừ: – Nhưng sao mẹ không ăn? – Mẹ không thấy đói. – Có chuyện gì xảy ra hả mẹ? Tại sao lâu thế mẹ mới về nhà? Mẹ tôi xoay mặt, tránh cái nhìn chăm chú của tôi: – Con chẳng muốn biết đâu. – Dĩ nhiên là con muốn biết chứ. Tụi con bao giờ cũng chỉ nghĩ đến mẹ. Mẹ đi Sài Gòn phải không? Mắt bà nhìn sững những móng tay: – Mẹ bị bắt ở Sài gòn vì buôn bán không có giấy phép. Nhưng cái thật sự ngán ngẩm không phải là thời gian nằm tù mà là chuyện mất hết cả vốn liếng. – Chuyện xảy ra như thế nào? – Ai mà biết! Dì và mẹ đang ngồi ăn sáng ở ngoài chợ thì thấy một thằng chệt ngồi ăn sáng ở bên kia. Mẹ cũng nghĩ nó là một tay buôn. Mẹ với dì mới qua nói chuyện phiếm. – Chuyện phiếm – Chuyện buôn bán ấy mà. Thế là nó rút ngay khẩu súng ra và còng ngay mẹ với dì ở ngay đám đông rồi thẩy vô tù. Tôi đẩy cái bát không ra xa: – Vậy con chẳng ăm thêm nữa đâu. Mẹ đâu có nhiều tiền. Dì Đặng chen vào: – Đừng có lo. Dì còn vài cái giấy cụ Hồ đỏ chói trong túi đây. Chúng mày cứ việc ăn thoải mái đi. Khuya hôm ấy, sau khi đặt bé Ti và Jimmy trong phòng ngủ của ông bà, mẹ tôi tới chỗ giường ngủ của tôi. Bà ngồi xuống mép giường, nhìn tôi với đôi mắt đầy đau khổ. Sắc đẹp vốn đã từng một thời được giữ gìn cẩn thận trên gương mặt của bà nay đã biến mất từ lâu, chỉ còn lại một nét tuyệt vọng, khốn cùng. Trong khoảng khắc, tôi gần như không nhận ra bà là ai và sự xa lạ này làm tôi bồn chồn. Bà hỏi tôi: – Nếu mẹ không trở về nữa thì con sẽ tính sao? – Con cũng chẳng biết nữa, mẹ ơi. Con chờ đến khi mẹ về thì thôi. – Nhưng nếu mẹ không về nữa thì sao? – Sao lại không. Mẹ có bổn phận với tụi con mà. – Nếu mẹ chết đi rồi thì còn bổn phận gì nữa! điều đó sẽ có lúc xảy ra. Mà nếu như vậy, thì con sẽ làm gì, Kiên? Tôi bắt đầu khóc: – Con không biết. Xin mẹ đừng hỏi con những câu hỏi khó như thế nữa. Nói cho con biết con phải làm gì. Con tính dẫn tụi nó đi ăn mày nếu mẹ không quay về. Jimmy thì nó tính bán con Lu nhưng chúng con không đành. Mẹ tôi bật khóc: – Con có tính bỏ rơi các em của con không? – Không đâu mẹ
Bà ôm chầm lấy tôi, nước mắt của bà hoà lẫn với nước mắt của tôi: – Tội nghiệp con tôi. Cho dù con thoáng có ý nghĩ bỏ rơi các em mà ra đi, thì cũng chả cần phải xấu hổ vì điều đó mà làm gì. Mẹ cũng hiểu, con ơi! Bà giơ tay áo lên quệt mắt rồi tiếp: – Nhưng mọi sự yên ổn rồi. Mẹ còn đây và các con đã an toàn. Thôi, ngủ đi. Lúc bà đi ra, tôi lên tiếng gọi bà. Mẹ tôi quay lại hỏi: – Cái gì nữa thế, con? – Mẹ ơi, xin mẹ đừng bỏ chúng con, nha mẹ.
Sau khi có Chiến thuật Trực Thăng Vận, binh chủng Nhảy dù không còn xử dụng phương tiện nhảy dù để hành quân. Nhưng Nha Kỷ Thuật và binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt vấn còn xử dụng nhảy dù đêm để đưa các Toán Thám Sát xâm nhập vào các an toàn khu cuả địch nằm sâu trong nội địa Lào, Campuchia với nhiệm vụ khuấy phá, bắt cóc, tìm kiếm Bộ chỉ huy đầu nảo, Trung tâm huấn luyện, nơi giam giữ tù binh, kho hậu cần v…..v Các Toán hành quân được huấn luỵên nhảy dù đêm tại Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế. Để bảo đảm bí mật, sau khi tham dự thuyết trình Toán được đưa vào khu CẤM cách biệt với thế giới bên ngoài cho đến lúc lên đường. Người ta thường dùng máy bay C.123 hoặc C.47, thả ở cao độ thật thấp, để tránh độ dạt quá xa……. Và trong đêm tối, khi ánh đèn sau đuôi máy bay báo hiệu điểm nhảy, từ màu đỏ hoang rợn chuyển qua màu xanh ma quái, những thiên thần Biệt kích như cánh dơi đêm, lao mình mất hút trong khoảng không gian đen tối, chấp nhận những hiểm nguy đang chờ chực dưới đất!
Vào khoảng năm 1970, để tránh những khuyết điểm khi xâm nhập bằng nhảy dù đêm như: Nhân viên trong Toán thường hay bị thất lạc vì ảnh hưởng của gió, nhảy dù tự động không thể lái dù cùng rơi vào một điểm, máy bay phải bay thật thấp nên thường bi trúng phòng không của địch, tiếng ồn của động cơ máy bay không giữ được yếu tố bí mật ..nên Bộ Chỉ Huy Nha Kỷ Thuật bắt đầu tổ chức một số Toán xâm nhập đêm bằng nhảy dù điều khiển(HALO). Có lợi thế là máy bay thả Toán từ cao độ trên 18.000 bộ, rơi xuống 2000 bộ mới mở dù, có thể dùng các thế rơi để bay gần nhau và lái dù rớt cùng một điểm.
Để chuẩn bị cho các chuyến xâm nhập nói trên, Bộ Chỉ Huy Nha Kỷ Thuật ủy nhiệm cho Sở Liên Lạc phối hợp với cơ quan cố vấn đối nhiệm Special Operation Group mở những khóa học Nhảy dù điều khiển ở Okinawa và Trung Tâm Huấn Luyên Yên Thế. Cuối năm 1970, chuyến xâm nhập đầu tiên bằng nhảy dù HALO do Toán Hỏa Lôi thuộc Chiến Đòan 2 Lôi Hổ đảm nhận. Chuyến công tác được may mắn không gặp nhiều tổn thất như những chuyến công tác bình thường, nhưng có riêng những đặc thù,ảnh hưởng không ít đến tinh thần của các nhân viên tham dự. Xin kể lại như một minh chứng hùng hồn cho hoạt động của Nha Kỷ Thuật nói riêng, Quân lực VNCH nói chung để đánh tan những luận điệu xuyên tạc về tinh thần chiến đấu của Quân dân miền Nam trong công cuộc chống lại sự xâm lăng của thế giới Cọng Sản.
Một nén hương lòng thương tiếc đến Chuẩn Úy Nguyển Sơn thuộc Chiến Đòan 1 Xung Kích đã tử nạn trong khóa học HALO, Cố Biệt kích Lâm Savel, Cố Biệt kích Nguyển văn Do, Biệt kích Ngô Xuân Mẫn, Toán Hỏa Lôi đã cùng tôi đảm nhận công tác, Trung Uý Trương Quế Minh P2 Sở Liên lạc theo dỏi, thông dịch, Cố Trung Úy Lưu văn Khiết tiếp vận liên lạc hành quân, Đại Úy Trương văn Ái tiếp nhận khi trở về..v….v
Kính nhớ đến Đại Tá Nguyễn văn Minh, Cựu Chỉ Huy Trưởng Sở Liên lạc, một vị chỉ huy khả kính, hết lòng với những số phận khắc nghiệt, đã theo dỏi, lo lắng, can thiệp yêu cầu phương tiện ứng cứu kịp thời giúp cho những con tốt đen hòan thành sứ mạng.
Được nghỉ xã hơi bốn ngày, sau chuyến công tác khuấy rối vùng đich ở Tây Bắc Khe Sanh, mới lang thang được hai ngày thì Thường vụ Lê Nam kiếm tôi cho biết phải vào Trại để trình diện Trung Tá Chiến Đòan Trưởng gấp. Vừa bước vào văn phòng chưa kịp làm thủ tục trình diện, Trung Tá Nguyễn thế Nhả đã khóat tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Tôi cảm thấy an lòng khi nhìn thấy nụ cười hiếm hoi trên khuôn mặt khắc khổ của vị Chỉ Huy Trưởng có tiếng là nghiêm khắc. Trầm ngâm vài dây ông cất tiếng:
_Thời gian trên Kontum, cậu có lẹo tẹo với cô gái nào không? _Dạ thưa, không.
_ Cậu có làm gì liên quan đến luật pháp, có đánh lộn với đơn vị nào không?
_Da thưa không
Sau vài giây im lặng, ông có vẻ ngạc nhiên chép miệng:
_Lạ thật… Tôi vừa nhận lệnh Sài Gòn cho cậu lên trình diện Chiến Đoàn 2 gấp, không hiểu tại sao. Tôi cho phép cậu được đi ra ngoài thu xếp những công việc riêng, nhưng tối nay cậu phải vào ngủ trong trại, sáng mai 5 giờ Hạ Sỉ 1 Duyệt sẽ đưa cậu vào phi trường sớm, cậu nghe rõ chưa?
Tôi khẻ đáp:
_Dạ, Trung Tá.
Tôi đứng dậy đưa tay chào định quay ra, thì ông bước đến gần bên, đưa tay bóp nhẹ như vổ về trên vai tôi và nói tiếp:
_Theo tôi nghỉ là trên Chiến Đòan 2 đang cần cậu đảm trách công tác nào đó, một thời gian ngắn rồi cậu sẽ về lại dưới này. Trong lúc cậu đi vắng, Trung sỉ 1 Tà Cô sẽ tạm thời thay thế cậu coi Toán, tôi sẽ lưu ý với ban 3 sắp xếp cho Toán Hải Phong được ở nhà ứng chiến đợi cậu về. Nếu nhu cầu bắt buộc thì tôi sẽ cắt cử một sỉ quan khác tạm thời đưa Toán đi công tác.
Ông xiết chặt tay tôi với lời cầu chúc may mắn, tôi nhận ra trong ánh mắt lạnh lùng thường nhật của ông một chút thương cảm. Rời văn phòng Chỉ Huy tôi lẩn thẩn bước xuống dãy nhà của Toán, trong lòng mang nặng nhiều lo nghỉ. Các Toán hành quân được bổ sung từ Chiến đòan này qua hoạt động khu vực Chiến Đòan khác là chuyện bình thường, nhưng chưa bao giờ có trường hợp biệt phái cá nhân như tôi. Bước vào phòng Toán Hải Phong, Tà Cô đang ngủ, biệt kích Mang Lô đang lau nhà. Thấy tôi Ma Lô có vẻ mừng rở, nắm tay tôi kéo ra ngoài với giọng thì thầm:
_Hồi đêm Tà Cô say rượu lảm nhảm chưởi mày cả đêm Thiếu Úy. Tôi hỏi tại sao, nó nói em không biết. Tôi bảo nó đi quanh kiếm Biệt kích Pan, King và A Cươi về cho tôi gặp.
Thật tội nghiệp cho các Biệt Kích người Thượng, quê hương ở xa mù tận Khe sanh, Lao Bảo. Được tuyển mộ vào Biệt Kích biên phòng Làng Vei. Sau khi mất Khe Sanh họ tình nguyện qua Lôi Hổ theo đơn vị về căn cứ Phù Bài rồi chuyển vào Căn cứ Non Nước. Gia đình họ người còn, kẻ mất trôi nổi về định cư ở Mai Lộc, Đông Hà. Lâu lâu họ mới xin phép về thăm làng, thăm bản, đa số họ chỉ thích sống quây quần với nhau trong Trại. Hồi tôi mới về, Toán Hải Phong bị mất tích, Trung Tá Nhả giao cho tôi thành lập lai Toán. Đang lúc thiếu nhân sự thì Tà Cô từ Đaị Đội xung kích muốn qua Thám Sát. Tôi và Tà Cô biết nhau hồi còn ở binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt vì cùng học chung khóa Nhảy Dù ở Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù. Khóa hoc này ai cũng biết Tà Cô, vì sau một tuần được huấn luyện các thế té nhào lộn dưới đất thì lên nhảy chuồng cu. Đến phiên Tà Cô nhảy Huấn Luyên viên hô:
_Chuẩn bị..
_Sẳn sàng.
_Go
Tà Cô la lên:
_Dạ khoan đã Thượng Sỉ
Huấn luyện viên hỏi:
_Tai sao không nhảy?
Tà Cô trả lời:
_Dạ thưa.. cái bụng muốn nhảy, mà cái chân không muốn nhảy.
Sau mấy lần như vậy không nhảy được, cuối cùng Tà Cô phải xin HLV thuốc bồi, nhờ vị HLV đạp thât mạnh mới ra khỏi chuồng cu. Cả khóa học ai cũng cười vì những câu nói mộc mạc.
Tà Cô về Toán Hải Phong mang theo một số Biệt Kích thân tín. Hắn là một người lính can trường, có nhiều kinh nghiêm xương máu trên trận địa, nhưng tính tình quyết đoán, mang mặc cảm là người Thượng bị coi thường, nên hay nổi cơn vì những câu đùa không đúng lúc. Những người theo hắn chỉ biết phục tùng, nên dễ bị hắn sai khiến xúi dục. Đợi tất cả anh em trong Toán có mặt, tôi đánh thức Tà Cô dậy và hỏi lý do tại sao hắn chưởi tôi, hắn tỏ vẻ bẻn lẻn:
_Có chi mô Thiếu Úy, em say mà.
Tôi nghiêm mặt:
_Tôi có gì không đúng anh nói ra đi.
Sau một lúc bối rối hắn nói:
_Dạ cuộc hành quân vừa rồi, Toán phục kích, tại sao Thiếu Úy không cho anh em bắn chết, mà chỉ cho bắn bị thương và tối đó lại bắt anh em phải ngủ đêm trên ghềnh đá nhọn hoắc, thì làm sao ngủ được?
Tôi nhẹ nhàng giải thích cho hắn biết. Toán vừa nhảy xuống là bị đich phát hiện theo dỏi, khu vực công tác thì rừng chồi xen kẻ những đồi tranh, đồi lét nên rất khó lẫn trốn. Đây là cửa ngỏ xâm nhập vào miền Nam, nên ngoài những đơn vị cơ hửu, còn có những Toán được huấn luyện chống biệt kích gián điệp chuyên nghiệp. Sau bốn ngày liên tục tránh né, chúng tôi bị địch tìm thấy dấu vết khi đang leo lên một đỉnh đồi, sau lưng thì địch đang nổ súng báo động tập trung truy đuổi, trước mặt là đồi lét bịt kín, A Cươi đi tiền đạo dù khéo léo cách mấy cũng không tránh khỏi gây những tiếng động nghe răng rắc, buộc lòng tôi phải cho Toán nằm lại, tổ chức một cuộc phục kích cấp thời và ra dấu cho anh em chỉ bắn địch bị thương, mục đích để địch phải băng bó cấp cứu cho nhau làm trì hỏan sự truy đuổi. Sau đó chúng tôi phải chạy băng qua một đồi tranh khá cao và chui xuống một đường thông thủy được cỏ tranh phủ kín giữa hai sườn đồi, với vị trí này tương đối kín đáo, có hai sườn núi che chở nếu chận địch, nhưng khó kiếm được một chổ ngồi thoải mái vì đất đã bị bào mòn qua những cơn mưa, chỉ còn trơ lại ghềnh đá tai mèo lởm chởm, len lỏi đi xuống một đoạn khá xa, tôi cho Toán dừng lại ngủ đêm.
Là một Toán Thám Sát nhảy vào lòng địch với nhiệm vị khuấy phá, chúng tôi đã mất yếu tố bí mật, địch đã đề phòng, Bộ Chỉ Huy hành quân muốn duy trì sự có mặt của chúng tôi càng lâu càng tốt, để khủng bố tinh thần của địch trên đoạn đường xâm nhập đầu tiên. Sau những ngày bi truy đuổi và chạm địch, thần kinh chúng tôi ai nấy căng thẳng, cơ thể mệt mỏi, nếu kiếm một vị thế bằng phẳng, chắc chắn không ai có thể cưởng lai cơn buồn ngủ, nếu trong đêm đich bò đến làm sao phát hiện được. Nghe tôi giải thích xong, hắn gải đầu năn nỉ:
_Em xin lỗi Thiếu Úy, em đi hành quân nhiều, nhưng chưa bao giờ nhảy Toán nên em không biết thâm ý của Thiếu Úy, tha tội cho em.
Tôi khuyên nhủ vài câu, để làm cho hắn bớt sự áy náy và thông báo cho mọi người biết tôi phải đi Kông Tum, tôi giao nhiệm vụ cho Tà Cô chăm sóc anh em như lời Trung Tá Nhả căn dặn.
Suốt cả đêm tôi không thể nào chợp mắt, nghe tiếng động lạch cạch tôi ngồi dậy thì thấy Ma Lô đang loay hoay nấu nước sôi pha cà phê, Tà Cô phì phà điếu thuốc lá, PanKing, A Cươi ngồi trùm chăn bất động, không khí như lắng xuống trong giây phút sắp chia tay. Vừa nhắp từng ngum cà phê do Ma Lô mang đến, vừa nhìn từng khuôn mặt chất phát, như cố ghi lại những nét thân quen. Đời lính, hợp tan, còn mất là chuyện bình thường, nhưng lòng tôi không khỏi chùng xuống khi biết mình phải xa những người lính mà giờ đây tôi biết họ đã đặt hết tin yêu vào tôi. Lý tưởng với những sáo ngữ đối với họ quá xa vời, họ chỉ biết chiến đấu để bảo vệ màu cờ sắc áo và sẳn sàng hy sinh tính mạng vì cấp chỉ huy của họ.
Tôi khóac ba lô lên vai và nói vài lời từ biệt rồi bước đi với cỏi lòng nặng trỉu, A Cươi chạy theo nhét vội gói thuốc Pall Mall vào tay tôi với lời nói chân tình:
_Thiếu Úy, mày lấy gói thuốc mang theo mà hút cho ấm.
Tà Cô cũng nói chen vào:
_Thiếu Úy, mày đi mau mà về với anh em. Nếu mày không về thì mày làm việc ở mô cho anh em đi theo.
Tôi ậm ừ cho xong chuyện, xe bắt đầu chuyển bánh, tôi nắm chặt tay từng người và quay mặt đi, cố đè nén niềm cảm xúc đang dâng trào. Hình bóng những người lính thân yêu khuất lần, tôi cảm thấy thật lạnh, thật cô đơn trong chuyến đi đệnh mệnh. Chiếc máy bay C.123 đã chờ sẳn tự bao giờ, sau vài phút khởi động, máy bay di chuyển ra phi đạo rồi cất cánh lao vút lên cao trong sương mù dày đặc.
Xuống phi trường Kông Tum, một vị Đại Úy cố vấn và chiếc xe jeep đang chờ sẳn, ông ta đưa tôi về thẳng gặp trực tiếp Trung Tá Hồ Châu Tuấn, Chiến Đòan Trưởng Chiến Đòan 2, ông cho biết:
_Moa được lệnh Sài gòn tiếp nhận Toa, trước hết Toa xuống liên lạc với Chuẩn Úy Lê Ánh nhận lại Toán Hỏa Lôi.Trong lúc chờ đợi công tác, Toa huấn luyện chiến thuật và thể lực cho Toán. Kể từ giờ phút này, Toa sẽ trực tiếp làm việc với vị Cố vấn này. Có điều gì Toa không hiểu hoặc thắc mắc Toa cho Moa biết, Moa sẽ nói lại với phía đối nhiệm.
Tôi khẻ dạ, quay qua nháy mắt với vị cố vấn để làm quen rồi vội vàng đi xuống khu nhà của Toán. Gặp lại Lê Ánh người bạn thân cũ cùng tất cả anh em biệt kích đã có thời gian hoạt động bên nhau, chúng tôi tay bắt mặt mừng, những âu lo hầu như tan biến trước cuộc hội ngộ bất ngờ. Chúng tôi kéo nhau ra thành phố ăn một bữa cơm họp mặt với niềm vui chất ngất. Đời lính là thế, hợp rồi tan, tan rồi hợp, làm sao biết được ngày mai, nên chúng tôi tạm quên đi những lao đao lận đận, để sống những giây phút ồn ào trong tình đồng đội thân thiết trong ly rươu đắng, bên ly cà phê đậm đặc, thả hồn bay lảng đảng theo làn khói thuốc….
Hơn nữa tháng luyện tập để chờ đợi, tôi được viên Đại Úy thông báo chuẩn bị lên đường, thêm một lần nữa tôi vô cùng ngạc nhiên vì chưa được thuyết trình hành quân, chưa biết nhiệm vụ thì làm sao có thể biết được nhu cầu trang bị mà Toán phải mang theo. Sáng hôm sau, chúng tôi được đưa ra phi trường, giả từ thành phố Kông Tum heo hút với bao kỷ niệm. Cũng là một chuyến đi như bao chuyến đi khác, nhưng trong tôi dấy lên sự bịn rịn khác thường, những con đường nhựa nghèo nàn, những hàng cây lặng lẻ, giòng suối Dakbla trãi dài uốn khúc như mái tóc của người sơn nử dần dần xa khuất. Tôi cảm nhận một điều gì đó không rỏ nét, tất cả anh em dù không nói ra, nhưng chắc chắn cùng chung một thắc mắc về một chuyến công tác ly kì:
_Không biết mục tiêu hành quân.
_Di chuyển bằng máy bay C.123
_Không biết nhiệm vụ và thời gian công tác ..v…v
Hơn một giờ, máy bay hạ dần cao độ, chúng tôi đã nhìn thấy thành phố Sài Gòn thấp thóang dưới những áng mây và tiếp theo là những mảng rừng cao su hiện ra dưới tầm mắt, chúng tôi đã đóan ra công việc sắp làm khi máy bay đáp xuống phi trường của Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế, Long Thành. Đó là ôn tập lại Nhảy dù điều khiển để đảm nhận công tác đặc biệt nào đó.
Sau hơn một tháng huấn luyện kỷ thuật nhảy đêm, xử dụng máy tìm nhau, chúng tôi được tham dự thuyết trình hành quân, trong phòng thuyết trình ngoài các phần hành chuyên môn cố vấn Mỷ, về phía Việt Nam có sự hiện diện của Đai Tá Nguyễn Văn Minh. Vị Trung Tá cố vấn phụ trách thuyết trình chỉ cho chúng tôi điểm nhảy trên những ô vuông của tấm bản đồ được che kín và cho biết vắn tắt nhiệm vụ, Toán sẽ từ điểm nhảy di chuyển từ hứơng Đông sang hướng Tây nghe ngóng, báo cáo. Nếu nhân viên nào bị thất lạc thì hoạt đông độc lập, sẽ cho lệnh triệt xuất khi Bộ Chỉ Huy đã nhận được những tin tức cần thiết. Đại Tá Minh nói vài câu để khích lệ tinh thần, ông cho biết đây là cuộc hành quân có tính chất đặc biệt mà người Mỷ muốn thử coi khả năng của các Toán Việt Nam, ông tin rằng với kinh nghiệm sẳn có, chúng tôi sẽ vượt qua những thử thách để hòan thành nhiệm vụ, sau đó ông giới thiệu với chúng tôi Trung Úy Trương Quế Minh, sẽ giúp chúng tôi trong mọi vấn đề giao dịch. Các Toán viên trở về phòng ngủ để chuẩn bị lên đường, riêng tôi được giữ lại để cho biết thêm một vài điều cần thiết.
Cái màn đen che lấp tấm bản đồ được gở xuống, phơi bày những ám hiệu màu đỏ, đánh dấu những vị trí nghi ngờ nơi đóng quân, hệ thống phòng không của địch. Ông cho biết máy bay do thám kỷ thuật tìm thấy có nhiều làn sóng vô tuyến phát xuất từ khu vực này,nên nghi ngờ nơi đây có thể là Bộ Chỉ Huy hoặc địa điểm trích trử lương thực của địch Ông nói:
_Cách đây gần hai tháng, Chiến Đòan 3 đã cho một Toán chuẩn bị nhảy xuống khu vực này, nhưng khi trực thăng vừa hạ thấp cao độ thì bị phòng không bắn rơi. Chiến Đoàn 3 tiếp tục cho một Toán xâm nhập bằng nhảy dù đêm cũng bị thiệt hại, cả hai lần chúng ta bị mất hai Toán và hai máy bay. Bộ Chỉ Huy quyết định các anh sẽ xâm nhập bằng phương tiện nhảy dù điều khiển, hy vọng với cao độ trên 18.000 bộ máy bay sẽ tránh được phòng không, các anh sẽ rơi xuống 2000 bộ thì mở dù. Thời gian hoạt động tùy thuộc vào các tin tức của các anh gởi về, những chi tiết này chỉ riêng mình anh biết, nếu không có gì thắc mắc thì anh về cho Toán chuẩn bị, tối nay sẽ lên đường.
Những tin tức vừa được ông cố vấn tiết lộ làm tôi không khỏi chóang váng, nhiệm vụ chỉ quan sát và báo cáo mà phải nhảy bằng dù điều khiển, hai Toán của Chiến Đòan 3 thiệt hại cùng hai chiếc máy bay báo hiệu mục tiêu khó nuốt, suốt hơn một tháng nhảy ngày nhảy đêm, thần kinh như muốn căng ra, cơ thể nhào lôn giữa không trung làm rêm cả người. Tôi muốn chúng tôi phải có thời gian ổn đinh tinh thần và thể xác trước khi công tác, nhưng mục tiêu đã thuyết trình rất khó trì hỏan, tôi thử liều đề nghị cho chúng tôi được nghỉ hai ngày để dưởng sức. Ông nhìn tôi có vẻ thông cảm, nhưng ông không có quyền, phải có sự chấp thuận của thượng cấp ở Sài Gòn.
Trung Úy Minh thông báo cho biết, đề nghị của tôi đã được chấp thuận. Lẻ ra chúng tôi phải di chuyển vào khu CẤM, nhưng trong khu cấm cũng có mấy Toán của chương trình Đề Thám (Việt Cộng chiêu hồi) đang chuẩn bị hành quân, nên căn phòng ngủ của chúng tôi trở thành khu cấm tạm thời, nội bất xuất, ngoại bất nhập, có thêm một ông Đại Úy và một ông Trung Sỉ xuống sống chung với chúng tôi, Biệt Kich Nguyễn văn Thể và Cao văn Noi bị gảy chân trong lúc huấn luyện sau khi băng bột đã được trả về Kông Tum, chỉ còn lại 4 người. Sau khi suy nghỉ rất kỷ, tôi cho anh em biết những tin tức mà tôi vừa biết, sao phải dấu chứ, khi tình nguyện theo học Halo là chúng tôi đã chấp nhận tất cả, tôi kêu anh em ngồi gần lại và kể hêt sự việc, để không khí bớt ngột ngạt tôi nói nữa thật nữa đùa:
_Lần đi này có thể không trở lại, anh em mình ai có muốn trăn trối điều gì cho vợ con, người yêu thì nói với Trung Úy Minh, ông sẽ chuyển lời lại cho. Chúng ta có hai ngày để dưởng sức rồi lên đường, anh em có ý kiến gì không?
Như gải đúng chổ ngứa của đề tài Ngô Xuân Mẫn châm chọc:
_Lâm Savel có nhắn gì cho cô Hoa thì nói đi, hay là xin phép về một đêm chia tay cho bi đát nảo nùng.
Mẫn trước đây là lính Thiết Giáp, nhưng ưa thích phiêu lưu nên tình nguyện về Lôi Hổ. Hắn có đai đen Thái cực Đạo, xử dụng đỏan côn rất giỏi, nên hắn là nhân vật chính khi Toán có công tác bắt cóc tù binh. Lâm Savel là người Việt gốc Miên ở vùng 4, gia nhập vào các Toán Biệt Kích Tiền phong Delta, thuộc Lực Lượng Đặc Biệt, sau được chuyển qua Biệt Kích Lôi Hổ, thân hình to lớn, có sức vóc nên thường phải mang máy truyền tin cho Toán. Tính chân chất thiệt thà, tin dị đoan và nhất là mê gái nên thường bị anh em trêu chọc. Hắn trả miếng:
_Đ.m mày lo cho cái thân voi của mày đi, nhìn mày tao nghi quá…. chắc chuyến này sẽ là lá vàng phủ kín đời …. anh Mẫn. Giọng hắn khàn khàn kéo dài đời anh Mẫn như ca vọng cổ, rồi cười toe toét đưa hai cái răng vàng sáng chói.
Nguyễn văn Do thọt vào:
_Hình như có điềm báo trước cho hai đứa mày, có cần tao cúng cô hồn giúp chúng mày không vậy?
Biệt Kích Do trước mang cấp Thượng Sỉ, ở binh chủng Nhảy dù, vì bất mản với vị Thiếu Úy Đà Lạt mới ra trường thiếu kinh nghiệm nhưng muốn chỉ huy, nên hắn bỏ qua Lôi Hổ, hắn có gia đình với hai đứa con trai kháu khỉnh, nhưng máu giang hồ vẫn chua nguội lạnh, thích cuộc sống dọc ngang, tính trầm tỉnh, có nhiều sáng kiến để giải quyết trong những lúc hiểm nguy, nên được anh em đặt cho cái biết danh Do Khổng Minh. Câu chuyện chọc phá nhau cứ thế tiếp diễn, những nụ cười bởn cợt vang lên, nhưng tôi biết chỉ là gượng gạo, không thể nào khỏa lấp được những lo nắng đang dâng lên trong lòng mọi người.
Sáng hôm sau Trung Úy Minh xuống cho biết:
_Ngày hôm qua anh Do đề nghị BCH trợ cấp cho anh em một số tiền và hai ngày phép để đi chơi rồi sau đó về đi hành quân, ông Trung tá cố vấn cho biết là sẽ chấp thuận nhưng với điều kiện là sau khi hòan thành nhiệm vụ.
Tôi hết sức ngạc nhiên và tức giận, tôi hiểu đây là một câu nói đùa của Do trong lúc tôi đi đâu đó. Trung Úy Minh vô tình làm nhiệm vụ thông dịch, nhưng trong hòan cảnh này không thể nói đùa một cách vô ý thức, hình như bao nhiêu lo nghỉ, bực dọc dồn nén bấy lâu được dịp bùng phát, tôi trừng mắt nhìn về phía Do:
_Ai cho phép anh đề nghị như vậy? Anh và tôi đối xử với nhau như tình anh em, nhưng anh phải nhớ khi có công việc tôi là cấp chỉ huy của anh, muốn gì anh phải nói cho tôi biết trước… Anh là Biệt kích, tôi là Sỉ quan, nhưng chúng ta đều được yểm trợ qua ngân khỏan viện trợ của Mỷ, nhưng chúng mình không phải là loại lính đánh thuê, chúng mình hảnh diện phục vụ cho một lý tưởng cao đẹp, danh dự và tính mang của người lính không thể đem đánh đổi lấy đồng tiền và một vài ngày buông thả, anh có thể từ chối công tác, tôi sẽ tìm mọi lý do để anh ở nhà. Toán rất cần anh, nhưng quân đội sẽ không cần những người mang ý tưởng bệnh hoạn như anh.
Quay qua phía Trung Úy Minh tôi hậm hực:
_Còn Trung Úy, đã là một sỉ quan đâu có thể chuyện gì Trung Úy cũng phải thông dịch!
Do cúi gầm mặt giải thích:
_Chỉ là câu nói vui, nhưng tôi không ngờ anh Minh lại trình lên trên. Xưa nay anh em mình chưa bao giờ nặng lời với nhau, bây giờ anh đã nói vậy thì tôi xin được ở nhà.
Cơn giận như đã vơi đi, tôi nhỏ nhẹ:
_Vậy thì anh ở nhà, tôi thấy anh còn hai cháu trai rất dễ thương, dành thì giờ săn sóc tụi nó được ngày nào hay ngày đó.
Tôi hỏi tiếp:
_Còn Mẫn, Lâm Savel, anh nào từ chối công tác thì nói luôn đi.
Lâm Savel lí nhí:
_Tôi cũng bị đau cái lưng, không biết có nhảy được không!
_Còn Mẫn thế nào?
Hắn trả lời chắc nịch:
_Anh đi thì tôi đi, anh ở nhà thì tôi sẽ ở nhà.
Tôi kết luận:
_Vậy thì Do và Savel ở nhà, tôi và Mẫn sẽ đi
Tôi nhờ Trung Úy Minh nói với ông Đại Uý cố vấn xin cho Savel và Do được ở nhà vì lí do Savel bị đau lưng và Do bị đau bụng bất ngờ. Vị cố vấn đi lên phòng hành quân một lúc rồi trở lại cho biết là Bộ Chỉ Huy đã chấp thuận và ông còn nói thêm:
_Đi công tác bằng nhảy dù Halo, 4 người là không tốt, 3 người thì tạm được, 2 người là tốt nhất. Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã hết hai ngày, tối nay chúng tôi sẽ lên đường, có lệnh chuyển Do và Savel vào khu cấm, ở lại đó cho đến khi Toán hành quân trở về. Đột nhiên Do thay đổi ý định xin đi hành quân:
_Tôi xin lổi anh về chuyện đã xảy ra, tôi không thể nào yên lòng khi để anh và Mẫn lẻ loi đi vào chổ chết, tôi biết tôi không có tài cán gì, nhưng có thêm một tay súng, dù có chuyện gì xảy ra cũng có thể dựa vào nhau để chống đở.
Tôi im lặng suy nghỉ một lúc rồi nói:
_Thôi lở đã trình lên trên rồi, Do yên tâm ở nhà, nói tới nói lui kỳ lắm. Hơn nữa đi là đi, ở nhà là ở nhà, không nên đổi ý sẽ thành điềm không tốt.
Do cố năn nỉ:
_Tôi đã suy nghỉ kỷ rồi, xin anh cho tôi đi. Còn chuyện sống chết là do số trời, nếu lần đi này mà anh với Mẫn có mệnh hệ gì, tôi đành lòng được sao, hơn nữa anh em mình hoạt động trong đơn vị này là phải chấp nhận tất cả, anh hiểu tính tôi mà.
Lâm Savel cũng chen vào:
_Tôi cũng xin đi, đ.m. chết thì chết sống thì sống, sợ cái quái gì chứ.
Mẫn cười trêu chọc:
_Vậy thì mày viết giấy bàn giao cô Hoa lại cho người khác, rồi hắn cao giọng lè nhè kéo dài bài hát:Tao biết….. mi đi…. chẳng trở về!
Mọi người gượng vui cười xòa,trong lòng tôi cũng cảm thấy yên tâm vì dù sao bốn người cũng ấm hơn , có bất trắc cũng dễ xoay xở. Tôi báo cho vị cố vấn biết dù bị bệnh nhưng Do và Savel vẫn cố gắng đi hành quân được, ông mĩm cười đưa một ngón tay cái lên biểu hiện niềm hân hoan một cách đểu cán. Sau này tôi mới biết, những câu chuyện xảy ra giữa chúng tôi hai vị cố vấn này đều biết, vì hai ông hiểu và nói tiếng Việt rất giỏi.
Khỏang 10 giờ tối, chúng tôi nhận đồ trang bị hành quân, người ta đã chuẩn bị đầy đủ thức ăn cho từng người trong ba lô, súng đạn AK, quần áo ka ki vàng, nón tai bèo giả trang, dù lưng, dù bụng v…v rồi lên xe ra phi trường. Hai ngày được nghỉ thật ra làm đầu óc căng thẳng thêm, chúng tôi dựa lưng thiếp đi trong sự mệt mỏi ở cuối phi đạo, chỉ chợt thức tỉnh khi nghe tiếng rít của máy bay C.130 đáp xuống đường bay. Chúng tôi lên máy bay thì gặp Đại Tá Nguyễn văn Minh và Đại Tá Cố vấn Trưởng, sau những cái bắt tay thật chặt, hỏi han sức khỏe từng người, cửa máy bay được khép kín, chúng tôi đứng chụm lại quanh tấm bản đồ được trãi xuống sàn, để nghe phi hành đòan thuyết trình về lộ trình bay và sự yễm trợ về không lực, tôi nhắc lại cho anh em nhớ ám hiệu nhận nhau và hướng tẩu thóat khi bị thất lạc để máy bay dễ tìm kiếm. Đại Tá Minh đưa cho chúng tôi mỗi người một ổ bánh mì và lon Coca, chúng tôi cố ăn để lấy sức, máy bay gầm gừ thêm một hồi rồi cất cánh.
Tôi cố nhắm mắt để quên những lo nghỉ, nhưng đầu óc tỉnh như sáo. Người thân, bạn bè, em gái hậu phương, thành phố với những ánh đèn rực rở, giờ này có ai biết là chúng tôi sắp lao vào nơi nguy hiểm, đánh đu với tử thần! Máy bay bắt đầu nâng cao độ từ 1000 bộ rồi 12.000 bộ và lên dần,… tôi liếc nhìn đồng hồ là 12giờ 45’,tôi đi đến từng người để chỉnh lại đồng hồ cho giống nhau, kiểm soát lại đồng hồ cao độ, viên Huấn Luyện Viên có nhiệm vụ thả Toán ra dấu cho chúng tôi mang mặt nạ dưỡng khí. có tiếng chuông báo hiệu, cửa máy bay phía sau bắt đầu được nâng cao, ngoài trời ánh trăng hơi mờ mờ, gió thổi thốc vào từng cơn, hai vị Đại Tá và các nhân viên trên máy bay thắt dây an tòan, tất cả trong tư thế sẳn sàng. Một hồi chuông nhẹ nhàng vang lên, vị HLV ra dấu cho chúng tôi bỏ mặt nạ đứng dậy, Đại Tá Minh vổ nhẹ trên vai chúng tôi, biểu thị lời chúc may mắn, hồi chuông thứ hai, chúng tôi níu vào nhau đi lần ra phía cửa và hồi chuông thứ ba báo hiệu, ngọn đèn đỏ ghê rợn sau đuôi máy bay chuyển qua màu xanh ma quái, chúng tôi lao ra khỏi máy bay trong tiếng hô lanh lảnh của vị HLV: GO
Vừa ra giữa không trung chưa kịp lấy thế bay, thì cái ba lô đeo lủng lẳng dưới chân giựt mạnh làm tôi bị rơi ngửa, tôi đang lấy lại thăng bằng để lật sấp thì thấy lóang thóang ba bóng đen rơi qua mặt, tôi co hai chân, xuôi tay thành mũi tên, chúi đầu xuống lao vun vút đuổi theo. Theo kế hoạch tôi nhảy ra trước, sau lưng dù của tôi được xịt lân tinh chiếu sáng làm chuẩn cho các toán viên bay theo và khi dù mở trên chóp dù của tôi có ngọn đèn màu xanh báo hiệu cho các toán viên lái dù theo, nhưng tình thế thay đổi, tôi phải cố căng mắt nhìn ba bóng đen phía dưới để bay theo họ. Kim đồng hồ cao độ truột dần, không khí chao động làm bộ áo bay rộng thùng thình bay phừng phực, càng xuống thấp càng bị sức hút của mặt đất độ rơi càng nhanh. Tôi giật cho dù mở ở độ cao 2000, phía dưới ba bóng dù lơ lửng, tôi níu dây thượng thăng quay mặt về cánh dù gần nhất và cho dù lạng theo. Dù từ từ rơi đúng hướng, nhìn xuống mặt đất là một màu đen mù mịt,100… 50….. 10 bộ, tôi lấy thế chuẩn bị, co hai chân khép chặt hạ bộ, dùng hai cánh tay che mặt, đầu cúi gập vào dù bụng, hai mắt nhắm kín, phú thác sinh mạng cho những vật cản dưới đất.
May mắn tôi rớt xuống trong một đám cỏ khá dày, dù phủ trên một tàn cây thấp, tôi nhẹ nhàng đập khóa an tòan, mở bộ đai dù, tháo cây AK bên hông đề phòng, im lặng nghe ngóng…Sau vài phút không nghe tiếng động của địch, tôi mở máy phát tín hiệu, cuốn dù, tháo bỏ những trang cụ không cần thiết cho vào túi dù mò mẩm dấu vào bụi rậm. Thời gian chờ đợi như dài ra, tiếng chíp.. chíp tín hiệu phát ra thật buồn, nghe như tiếng chim sâu lạc đàn, 5 phút,10 phút tôi nghe tiếng lay động của cây cỏ, tôi húyt ám hiệu, có tiếng đáp trả, một bóng đen đang tiến về hướng tôi, nhìn dáng dấp tôi nhận dạng là Nguyễn văn Do, chúng tôi chia nhau bố trí và tiếp tục chờ đợi. Vài phút sau, người tìm đến là Lâm Savel, hắn còn mặc nguyên bộ đồ bay, tay xách cái túi dù trống rổng. Hắn cho biết là dù bị mắc cây cao, gần con đường lớn, hắn không gở được, tôi và Do phải phụ với hắn để tháo dù xuống đem cất dấu. Theo dự trù thì sau một tiếng đồng hồ chờ đợi, chúng tôi sẽ phải di chuyển, nhưng còn thiếu Ngô Xuân Mẫn, không biết giờ này hắn như thế nào, tôi sợ hắn bị tai nạn bất ngờ, những cành cây vô tri vô giác sẽ làm cho hắn gảy tay! gảy chân! hay dù bị treo lơ lửng trên cành cây cao, hắn không thể nào xuống đất, những tưởng tượng không tốt cứ hiển hiện trong đầu óc. Hơn 2.30 sáng rồi, chúng tôi không thể chờ đợi được nữa, địa điểm chúng tôi rơi xuống tương đối trông trải, phải di chuyển gấp, trời sáng mà chưa ra khỏi chổ này thì tất cả sẽ bị lộ. Tôi phá bỏ máy tín hiệu và dặn nhỏ Do, Savel trên lộ trình đi, quan sát kỷ chung quanh và trên cành cây may ra tìm thấy Mẫn, chúng tôi di chuyển thật chậm vừa nghe ngóng vừa quan sát, khu vực này cây mọc khá thưa, chen lẫn với cỏ voi cao tới ngực, sương khuya thật lạnh, đôi giày bố ngụy trang đã thấm ướt, chúng tôi tìm một bụi rậm để nghỉ chân và liên lạc báo cáo về BCH.
Trời sáng dần, có tiếng gà gáy thoang thỏang đâu đây, có nhiều tiếng người nói chuyện, rồi tiếng chuông leng keng văng vẳng rồi lớn dần. Một đàn bò ước lượng hàng ngàn con đang gặm cỏ khắp khu vực, mấy con bò đến gần chổ chúng tôi ẩn trú, ngửi mùi hôi lạ nhìn sửng chúng tôi và hét lên như báo động, bất chợt tôi thấy một bóng người núp sau lùm cây nhìn chúng tôi chằm chặp, đầu súng CKC nhô hẳn lên khỏi ngon cây, tôi vội khều Lâm Savel nói nhỏ:
_Ê, Vel tụi nó thấy mình rồi kìa, anh dùng tiếng Miên kêu tụi nó lại thử coi.
Lâm SaVel hỏi:
_Đâu?…đâu? Tôi chưa kịp trả lời thì bóng người hụp xuống, chỉ cách nhau chừng 30 thước, tôi lia vội một tràng AK, không thấy tiếng súng bắn trả tôi nói nhanh:
_Chạy Lâm Savel
Cứ thế chúng tôi bương cỏ mà chạy té lên té xuống, mặc cây gai cào rách cả hai tay. Có ba tiếng súng báo động sau lưng, chúng tôi lại càng chạy thục mạng cố né tránh xa những nhà cửa của địch được làm dưới những tán cây lớn, chợt nghe tiếng súng nổ phía trước, Lâm Savel nhào xuống bắn chống trả, tôi nhào lên bắn yễm trợ ra dấu cho Do đằng sau vừa trờ tới chạy về hướng khác, tôi và Vel vừa rút theo vừa bắn cầm chừng, cũng mất hơn bốn tiếng bôn tẩu, chúng tôi mới thóat khỏi sự truy đuổi, mồ hôi ra như tắm, hơi thở hổn hển, khát nước và mệt quá ba chúng tôi dừng nghỉ bố trí ở gốc cây to ven bờ suối cạn, dù không cảm thấy đói nhưng chúng tôi thay phiên nhau vừa canh địch vừa nhai từng ngụm gạo sấy, uống nước cầm hơi. Chưa đầy 30 phút, một toán quân địch đi men theo bên kia bờ suối tìm đến, chúng tôi thay phiên nhau vừa chạy vừa bắn chận, nhờ hai bên bờ suối có hai hàng tre gai làm chướng ngại vật, nhờ gốc cây lớn che chở, nhờ những gò mối nằm rải rác giữa rừng giúp chúng tôi có vị thế tác xạ chính xác, nên sự truy duổi của địch bị chậm lại. Đang chạy, đột nhiên Lâm Savel vấp cành cây khô té xuống, không đứng lên nổi:
_Tôi bị trặc giò rồi, không thể chạy được nữa.
Một chút bối rối tôi nói:
_Anh bò chun trốn dưới cỏ, tôi và Do sẽ nhử địch đuổi theo chạy về hướng khác.
Vừa chạy, thỉnh thỏang tôi nổ súng, để cố dụ địch đuổi theo, tiếng súng nổ, tiếng la hét nghe văng vẳng đằng sau, bây giờ không cần phương hướng, tôi và Do cắm đầu cố chạy, thóat được càng xa càng tốt, tiếng súng của địch thưa dần rồi mất hẳn, chúng tôi chạy chậm lại, rồi ngồi bệt xuống cỏ nghỉ một chút lấy sức, nghe ngóng động tỉnh. Rừng cây im lặng đáng sợ, chỉ nghe gió thổi rì rào, chúng tôi tiếp tục hành trình, cẩn thận băng qua một quảng rừng chồi, trước mặt lai hiện ra một đám rừng thưa đầy cỏ voi chen chúc, thấy cỏ mà ngán, cỏ ngăn bước chân, cỏ để lại dấu vết trước sau gì địch cũng tìm ra tiêu diệt. Tôi quyết định chun dưới cỏ, Do bò trước, tôi bò sau, vừa bò tôi vừa lấp lại dấu vết, cứ một đoạn chúng tôi dừng lại nghe ngóng rồi tiếp tục, được một khỏang khá xa, chúng tôi ẩn trốn cạnh mấy gốc cây. Tôi biết chắc chắn là địch không dễ gì bỏ qua cuộc săn bắt, chúng đang rình mò ở đâu đó, tôi nghỉ là chúng đã bị thương vong ít nhiều, nên bây giờ chúng cẩn thận hơn. Trời đã ngã về chiều, bất chợt chúng tôi nghe tiếng máy bay từ xa vọng lại, tôi mở máy liên lạc, quá mừng rở khi nghe tiếng phát ra từ chiếc máy nhỏ, như mơ hồ từ cỏi nào đó vọng lại, tôi ra dấu cho Do phòng bị, tôi nằm sát xuống đất, kê sát máy vào tai và miệng, lấy chiếc khăn tam giác bịt kín chổ hở tôi thì thầm:
_Nhạn trắng, nhạn trắng chim sẽ nghe.
Tiếng trong máy la lên như mừng rở:
_anh nghe tôi rõ không trả lời
_Nghe rõ năm trên năm, xin báo để anh biết, một chim sẽ bị lạc đàn khi rời tổ, bị đụng ổ kiến lửa của Manh mẻ lúc 9 gây go, một chim sẽ khác bị gảy cánh lúc 2 gây go, hiện tại còn 2 đang bị bủa lưới. Tình hình khu vực có rất nhiều nhà ở, nhiều bò, nghe có tiếng heo, gà.
_Nhận đủ bạn, tôi sẽ làm việc với bạn sau 15 phú quốc, chúc may mắn.
Tôi tắt máy và nhìn đồng hồ, 4 giờ 45,. 5 giờ tôi sẽ mở máy liên lạc lại, Do nhìn tôi như thầm hỏi, tôi lắc đầu buồn bả, nghe tiếng rột rạt từ xa, chúng tôi biết là địch đang tìm tới, tôi nói với Do:
_Khi nào tụi nó thấy mình mới bắn, còn không thì nín lặng.
Mười lăm phút chờ đợi trôi qua chậm chạp, mở máy thì đã nghe tiếng gọi của Sỉ quan tiếp vận liên lạc, muốn biết tọa độ hiện tại của chúng tôi, tôi cho tọa độ rồi nói thêm:
_ Số nhà không chính xác, xin vào vùng chúng tôi sẽ hướng dẫn.
Tiếng máy bay mất hút, không còn liên lạc được nửa, tôi biết địch vẫn bao chung quanh, chúng tôi hy vọng máy bay vỏ trang hoặc F5 mở cho chúng tôi một con đường máu để chạy thóat thân, nhưng nhớ đến hệ thống phòng không dày đặc của địch khi thuyết trình hành quân và trời đã ngả về chiều,mọi hy vọng mong manh tắt ngấm, không ai chịu đem một lực lượng hùng hậu để chỉ cứu hai người lính nhỏ bé mà có thể xảy ra nhiều thiệt hại.Thật bất ngờ chúng tôi lại nghe tiếng máy bay, lần này càng lúc càng gần, tiếng của Sỉ quan liên lạc lại vang lên:
_Chim sẽ, chim sẽ anh hướng dẫn cho tôi đến thăm nhà của anh đi.
Tôi chỉnh hướng theo địa bàn và dùng phương pháp đồng hồ để điều khiển máy bay, tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi nghe được cả tiếng trực thăng, niềm hy vọng lại nhen nhúm. Tiếng súng phòng không 12 ly 7 bắt đầu nổ lắp bắp trên bầu trời, tôi lấy tấm Pano vén cỏ trải ra, máy bay thật thấp, tiếng động cơ của máy bay O2 gaò lên lồng lộn, như gà mẹ đang nóng lòng muốn cứu đàn con gặp nạn, tôi nói khẻ: Bingo…bingo báo hiệu là máy bay đang bay ngang qua vị trí.
_Tôi đã nhìn thấy anh, đề phòng bọn kiếng lửa đang ở chung quanh, báo anh mừng là Mặt trời cho phép anh tư tưởng xung phong, anh chuẩn bị tôi sẽ hướng dẫn anh ra bàn bi da. Tiếng nói vừa dứt, máy bay vút lên cao, đánh một vòng tròn rồi lao xuống thả một quả khói và bay xuôi về hướng đông. Bốn chiếc Cobra sà xuống bay theo bắn những tràng Đại liên xối xả chen lẫn những quả rốc két, khói bụi mịt mù, tôi và Do quàng tấm Pano vào cổ chạy theo hướng trực thăng đã dọn đường, ra một khỏang trống, một chiếc trực thăng CH.53 từ đàng sau lướt tới, thả xuống cho chúng tôi chiếc thang dây, tôi và Do đu vào thang, móc khoen chử D vào móc an tòan, máy bay cất cánh lấy cao độ qua hết ngon cây rồi bay thẳng. Ở trên cao tôi mới thấy được tòan cảnh, những đường đi màu đỏ của đạn đạo đan xéo nhau của máy bay bắn xuống, phòng không của địch bắn lên như pháo bông, hai chiếc F.5 đang thay phiên nhau thả bom, tôi thấy lòng phơi phới, có thóat qua những nguy hiểm mới thấy được quý giá của sự sống.
Máy bay đáp xuống phi trường Quảng Lợi, nơi Bộ Chỉ Huy tiền phương của Chiến Đòan 3 trú đóng, vị Đại Úy cố vấn đã chờ sẳn đưa chúng tôi vào hầm trạm xá để giải trình, ông cho biết là Ngô Xuân Mẫn cũng an tòan đang trên đường về và Lâm Savel bị gai tre đâm hư một con mắt cũng đựợc máy bay bốc thẳng về bệnh viện. Tôi mừng muốn rơi nước mắt, vậy là anh em còn đủ, niềm vui trở về trọn vẹn. Lát sau Mẫn về đến, chúng tôi ôm chầm lấy nhau, nước mắt đoanh tròng. Hắn cho biết dù của hắn rơi phủ trên tàn cây, sát nhà của địch, nghe tiếng động tụi nó rọi đèn tìm kiếm, Mẫn chỉ tháo kịp dù và xách súng chạy, sáng ra nghe tiếng xe, tiếng người nói chuyện thật gần, nên cả ngày hắn núp trốn trong bụi gai, khi nghe tiếng trực thăng đến gần, hắn khóac Pano vào cổ, tìm ra chổ trống và được trực thăng đón về. Sáng ra, vị cố vấn ra hiệu cho biết máy bay B.52 đã dọn sạch mục tiêu.
Vừa bước lên khỏi hầm, chúng tôi gặp Đại Uý Ái, tính tình vẫn sôi nổi như ngày nào ở binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt
_Ủa mày vừa về hồi đêm hả? Tao đem xe ra đón nhưng tụi Mỷ dành đi đón, tao tưởng là Toán của bên Chiêu Hồi. Chiều hôm qua, hai chiếc H.34 của phi đòan 219 chờ ở đây, chắc là để đón tụi mày về Sài Gòn giải trình, nhưng Mỷ muốn giải trình ở đây, anh em xách tàu không về, có lẻ vì sương mù nên đụng nhau rớt hết rồi, tao vừa cho Toán đi nhảy lượm xác.
Số mệnh không biết đâu mà lường, Sau mấy chục năm biết bao vật đổi sao dời, biết bao nhiêu kỷ niệm đời lính, biết bao nhiêu lần thóat chết trong đường tỏ kẻ tóc, nhưng chuyến hành quân HALO vẫn là kỷ niệm không bao giờ phai nhạt, mỗi lần chợt nhớ lòng tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những khuôn mặt thân quen giờ đây người còn kẻ mất, mà thương cho số phận mình, số phận anh em đồng đội.
Nằm một lúc, tôi chợt nhớ đến toán Boone. Mấy ngày trước có lúc tôi chuyện trò với anh Lân, có lúc với anh Thú hoặc Đinh Sơn. Tôi đã cảm thấy trong nội bộ của toán biệt kích này có những điều khúc mắc. Hầu như ai cũng tránh né không muốn nhắc lại sự việc đã qua của toán họ.
Tôi biết hiện nay ở trại này toán của họ có 5 người. Riêng Phạm Công Thành được ở dưới toán nhà bếp. Ngay trong buồng này có 4 người là Nguyễn Văn Bắc, Đinh Văn Sơn, Nguyễn Văn Thú và Nguyễn Huy Lân. Qua cái nhìn của tôi, trong một số ngày qua thì anh Thú tương đối chân thành và cởi mở.Anh vẫn kiên định, duy trì lập trường chống cộng, nên dễ tâm sự hơn.
Ngoài ra còn Lê Văn Kinh người nhái nữa. Vụ án ở sông Gianh tôi đã loáng thoáng nghe từ trước. Lại cón câu chuyện bỏ dở của Vân nữa. Tôi đã có ý định lợi dụng trong dịp Tết này, sẽ tìm biết những điều cơ bản về mấy vụ này. Nghĩ thế, tôi bò bật dậy trèo lên chỗ anh Thú.
Còn đang chuyện trò với anh Thú thì bỗng có ánh đèn bão lấp loáng ngoài sân. Rồi có tiếng lạch cạch, chìa khóa mở cửa buồng. Buồng lại ồn ào, náo nhiệt lên. Nguyễn Thạc, toán trưởng nhà bếp gọi Nguyễn Huy Lân và Đinh Khắc Sàn ra nhận bánh chưng cho toán 2 và 3. Bên ngoài cửa, tên Tân trật tự cầm chiếc đèn bão, đang đứng cạnh tên Cẩn cán bộ trực trại. Một thùng nước sôi còn khói nghi ngút được đặt ngay giữa nhà.
Sau khi cửa đã đóng, nhiều người tíu tít, ca, gô, cốc chạy đi, chạy lại lấy nước pha trà. Thật là nhộn nhịp, tưng bừng, cứ vui như ngày…Tết. Mùi bánh, mùi lá còn nóng hổi nồng nồng, ngan ngát của nàng Xuân, ai ngửi thấy mắt cũng sáng lên long lanh. Có 6 món để tượng trưng cho ngày Tết của dân tộc, chúng tôi đã có đến 3, lại là 3 món quan trọng nhất, chính yếu nhất thì hỏi rằng ai mà không vui sao được? Này nhé:
Thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ
Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh.
Còn ba cái món pháo nổ, nêu cao với câu đối thì có nhằm nhò gì với chúng tôi trong tình thế này? Chưa hết, còn nữa, sau khi gọi tên từng người để phát bánh chưng xong, anh Lân ra đứng giữa nhà cao giọng:
– Toàn buồng yên lặng, chú ý: một tin giật gân mới nhận được!
Đâu đó đều im bặt. Mọi người đều hướng về anh Lân đợi chờ. Nguyễn Huy Lân nói sôi nổi như tràn ứ, nét hưng phấn:
– Một ân huệ của ban giám thị, toán nhà bếp nâng cao tinh thần phục vụ trại viên. Đặc biệt sáng ngày mai, trại sẽ có cháo…lòng…
Tiếng hò, tiếng vỗ tay, tiếng đập sàn, tưởng đến rung rinh cả căn buồng ra. Ôi, sao lại có nhiều cái vui thế này? Kiếp con người như lúc này, thật đáng sống biết bao!
Đã hơn 10 giờ khuya. Mọi người ăn nhiều hơn và uống nước cũng nhiều hơn nên cũng phải ra vào nhà cầu nhiều lần hơn. Không hiểu tại sao, khi mở cửa vào nhà cầu, tôi tưởng như nghẹt thở, mắt cay xè, không mở ra được. Anh nào cũng bịt mũi, nín thở đi tiểu vội vàng rồi chạy ra. Thì ra cái mùi như “acid” đó là do hành nén. Thật cũng lạ kỳ! Ăn nhiều hành nén nước giải lại có cái mùi ghê gớm như thế! Nhưng lòng của con người còn lạ kỳ hơn nữa. Vừa mới xốn xang, hồn bay bổng ngất ngây, vui như cỡi…ngựa, thế mà về chỗ nằm đắp chăn một lúc. Tâm tư đã tơ vò nặng trĩu. Cuộc đời, gia đình, đất nước nổi trôi, tấm thân tù tội, ngổn ngang lớp lớp đã dần dần len vào cuốn chặt hồn tôi.
Đêm càng về khuya, càng vắng lặng. Thỉnh thoảng một vài tiếng hú, rống dội lên dài lê thê của những con vượn, xen lẫn tiếng rúc của cú rừng ăn đêm, từ trong rừng sâu vọng về, càng khắc khoải não nề cho người tù nằm nghe.
Gió rừng đêm nay cũng thật lớn. Gió luồn qua những kẽ hở của vách nứa, gió lách qua những tấm phên tre của mái nhà, đẩy những cái lạnh cuối Đông vào trong buồng. Tiếng khàn khàn, đùng đục, vi vu của những lỗ kèo, lỗ đòn tay nữa, trên mái nhà với tiếng xào xạc, ray rứt của lá rừng. Nằm càng nghe, lòng càng co thắt.
Đột nhiên một âm thanh lạ hoắc, te te, rè rè như tiếng nai con gọi mẹ, xa xôi lơ lửng lẫn vào trong gió. Một tiếng nữa, trong hơn, ro ro…róc rách như đứa bé trai đứng tồ vào chiếc lu sành ở chái hồi. Lại một tiếng nữa, cất lên gầm ghì, tỉ tê, ẽo ợt như tiếng mèo gào ráng đêm trên mái nhà. Hồn tôi lập lờ chơi vơi cuốn lượn theo những âm thanh lạ như thực, như mơ, bập bềnh trong sương khói. Chợt, Vân nằm bên cạnh đập mạnh vào người tôi:
– Buồn quá Bình ơi! Dậy nghe mấy người dân tộc thổi khèn.
Như choàng tỉnh một cơn mộng ngày, tôi tung chăn ngồi bật dậy. Trong bóng tối, sáng lờ mờ, phía góc sàn dưới, gần nhà cầu, một đám người dân tộc, đến gần hai chục người ngồi quây quần bên nhau, yên lặng đăm chiêu. Có bốn, năm người đang tấu lên những khúc nhạc buồn dân tộc, gọi hồn quê hương trong rừng thẳm. Thì ra những âm thanh lạ mà tôi cứ tưởng trong mơ, lại là có thật ở ngay trong buồng. Từ những năm tháng cũ trong tuổi ấu thơ, tôi đã đọc những trang sách, tả về tiếng khèn man dại của người dân tộc thiểu số: Mường, Thổ, Mèo, Mán, Thái v.v… Trong rừng già hẻo lánh, nơi biên cương như: Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn đầy lam sơn chướng khí, huyền bí của vùng Việt Bắc. Bây giờ tiếng khèn ấy đang nỉ non tấu lên ngay ở đây, trong buồng này giữa đêm Trừ Tịch.
Lòng tò mò, đã giục tôi tiến lại gần đám người dân tộc. Thấy tôi đến, Lầu Phá Tra và Sín Dẫu đang ngồi ngay đầu sàn, đã dịch ra một chỗ cho tôi ngồi. Nhìn sang sàn bên, Vân cũng đang lúi húi tìm thế ngồi với mấy người dân tộc khác. Trong bóng mờ của khói trà, khói thuốc lào; những ánh mắt, những khuôn mặt, quen thuộc, ẩn hiện thấp thoáng: Lý A Chén, Lồ Cao Diu, Lồ Cao Chính, Quách Mơi, Lù Chằn Páng, có cả nhóm của Hùng, Nông Quốc Hải. Nhìn kỹ, tôi hơi ngạc nhiên, lại có cả Thạch Rươn biệt kích, gốc Cămpuchia, nhà ở Trà Vinh; A Peng, Vàng A Páo biệt kích, người Lào. Người thì ngồi cúi gằm như để hồn tìm về một thế giới riêng tư, người thì cặp mắt lờ đờ nhìn vào bóng tối đăm đăm như gởi gấm tâm tư về nơi núi ngàn.
Họ im lặng buông lơi tâm tư để mặc cho tiếng khèn ve vuốt, nắn xoa hồn họ. Tôi cũng chăm chú nhìn vào những chiếc khèn, mà 4, 5 người đang hất lên, hạ xuống theo hơi thở nén lúc đầy, lúc vơi cho âm thanh trầm bổng lúc dài, lúc ngắn.
Những tiếng khèn, nhiều kiểu khác nhau, đều ghép bằng những ống nứa con con, cắt ra từ những cánh nứa nhỏ. Mỗi ống dài, cái thì 10 phân, cái thì 15 phân. Họ khéo léo ghép với nhau thành nhiều kiểu: kiểu khèn 1 ống, 2 ống, cứ cái đến 6, 7 ống, trông như những cái lỗ của tổ con tò vò. Hồn tôi cũng bị chìm sâu, cuốn hút vào tiếng khèn man dại. Nhiều lúc 3, 4 tiếng khèn cùng rú lên như những hồn oan, lạc lõng trong đêm rừng. Có lúc nghe như những lời gào thét, rên xiết não nề của những kiếp người tủi cực, mò mẫm trong tăm tối. Tôi ngồi âm thầm, cúi mặt hàng giờ.
Hẳn lúc này cũng đã Giao Thừa. Giọng một con chó rừng hú dài trong rừng sâu, như ngoáy vào đêm khuya, đệm vào những tiếng khèn ai oán. Ruột tôi như co lại, vặn vò, ép nặn cho rỉ dần ra từng giọt, cái sầu thiên thu của nhân thế. Một nỗi buồn lai lán, mênh mông ập vào, làm tâm hồn tôi rã rượi. Tôi không thể nào ngồi dậy được nữa, nhìn sang Vân thì anh cũng đã về chỗ nằm từ lúc nào.
Về tới sàn mình, tôi nằm lịm đi, để mặc cho thân xác chìm nghỉm vào nỗi sầu tràng giang của đời. Những tiếng khèn vẫn tỉ tê, rả rích dẫn dần tôi vào giấc ngủ nặng nề, nhiều ngắc ngoải.
Những tiếng lịch kịch ngay bên cạnh, làm tôi choàng tỉnh dậy. Trời đã sáng rõ. Hôm nay không có kẻng báo thức. Tôi ngạc nhiên, thấy nhiều người đổ xô ra những cửa sổ phía trước nhà, để nhìn ra sân. Qua một kẽ chấn song tôi nhìn ra, tên Cẩn trực trại, tay cầm chìa khóa đang đứng trên hè hội trường một mình. Tôi đang lạ lùng sao y chưa đi mở cửa, điểm sổ các buồng, thì y đã quay hướng về 3 buồng, cao giọng dõng dạc từng tiếng:
– Các trại viên ở trong buồng im lặng, chú ý! Các anh hãy phấn khởi nghe tin đột xuất vui mừng cho cả nước: “theo đài phát thanh của chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam. Đúng không giờ đêm vừa qua (31/01/1968), quân và dân toàn miền Nam, từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu, đã đồng loạt nổi dậy, tấn công Mỹ, Ngụy ở khắp các thành phố và thị xã. Chúng ta đã làm chủ được nhiều tình, nhiều thành phố. Ngay tại Sài Gòn, nơi hang ổ cuối cùng của ngụy quân, ngụy quyền, quân và dân ta đang tiêu diệt từng ổ đề kháng lẻ tẻ của chúng.
Tên Cẩn vừa dứt lời, trong các buồng, bắt đầu có những tiếng vỗ tay lác đác, rời rạc. Sau dần dần om lên như pháo rang, tưởng như các căn nhà cũng bị rung rinh lên. Ngay trong buồng 2, anh này ngơ ngác nhìn anh kia vỗ tay, rồi cũng vỗ theo. Tôi bàng hoàng, trong lòng đang đau như cắt, nhưng thấy mọi người vỗ tay; cả Vân nữa, đã bắt đầu hai tay đập mạnh vào nhau đôm đốp, nên tôi cũng phải vỗ như mọi người. Hầu như ai cũng tự hiểu rằng, dù trong tim, trong lòng anh ra sao không cần biết, nhưng trước sự việc này, nếu anh không vỗ tay như mọi người, thì hậu họa không thể tránh khỏi, vì đây là vấn đề tư tưởng.
Cũng những tiếng vỗ tay ấy, của cùng những con người ấy, mà ngay lúc buổi đêm rồi, nó làm bừng bừng mối hân hoan, niềm hạnh phúc buông lơi, bay lượn với hồn Xuân, nhưng lúc này, chúng như trăm ngàn cái kim, cắm sâu vào trái tim tôi và chắc chắn cũng vào nhiều những trái tim khác trong căn buồng này. Vỗ tay mắt ai cũng trắng dã ra. Người nào cũng phờ phạc, rũ rượi như những chiếc lá vàng khô trong mưa gió. Tin như sét đánh, làm tôi bủn rủn, rụng rời.
Chẳng hiểu những người lãnh đạo, có trách nhiệm ở miền Nam có hiểu được những mưu mô, nham hiểm của cộng sản hay không? Hay các ngài đang bận rộn tổ chức những buổi tiệc linh đình, những buổi dạ vũ quay cuồng, phè phỡn đón Xuân, lo là tay súng để rồi mà khóc than cho thân phận, cho gia đình, ôm hận, không phải một đời mà ngàn đời?
Ngay từ trong đêm tôi cứ tưởng rằng, sáng hôm nay tôi sẽ đón một nàng Xuân hiền hòa, đôn hậu, sắc nước hương trời, nhưng nàng Xuân hôm nay ủ rũ, rách rưới, tả tơi. Vả lại, tôi cũng chẳng còn bụng dạ nào để nhòm ngó đến nàng nữa. Tôi chán chường cả cháo, cả cơm, cả thi đấu cờ và cả không muốn dự cái lễ bắt buộc chúc Tết đầu năm, của ban giám thị ở hội trường. Tôi chỉ muốn nằm im lìm một chỗ, để nghe tim mình ê chề, rỉ máu. Nhưng vì những tên chó săn, nhất là tên Cẩn thường xuyên ra vào từng buồng xục xạo, ngó ngấp, cho nên ai cũng thế, trừ những đã ốm bịnh từ hôm qua, hôm nay dù có ốm thật, thì cũng phải cố gượng mà cười, mà vui. Ai nằm, dù chỉ nhớ nhà, hoặc tỏ vẻ buồn phiền chuyện riêng tư của đời mình, đều có danh sách lên ban giáo dục. Về điểm này, chúng đã có nhiều kinh nghiệm về những diễn tiến tư tưởng tất yếu của từng loại người. Nghĩa là tùy theo từng người khác nhau để chúng quy kết mức độ tư tưởng mà xử lý khác nhau.
Ngay từ lúc 8 giờ, chúng đã cho người mắc một chiếc loa to, trên chòi gác phía cổng, để hướng vào trong trại. Chiếc loa chắc bắt nối từ một chiếc radio ngoài phòng của ban giám thị. Nó bắt đầu ra rả nói về tình hình chiến sự ở miền Nam. Nào là chúng đã làm chủ tình hình ở Huế, cũng như nhiều nơi khác chính quyền cách mạng đã thiết lập những guồng máy hành chính, cũng như quân sự ở từng địa phương để duy trì an ninh cho dân chúng. Mặt khác, chúng cũng đang ráo riết truy lùng những phần tử có nợ máu với nhân dân v.v… Chúng đang chiến thắng. Chúng hiểu những tin tức này sẽ làm ruỗng lòng, làm tan nát niềm tin của những tên tù phản động này.
Thực sự, lòng tôi cũng bối rối, hoang mang không ít. Tuy có một điều tôi vẫn còn khúc mắc, trong mối hy vọng lờ mờ. Trong miền Nam lúc này, quân đội Mỹ và đồng minh còn đến 4, 5 trăm ngàn người, cộng sản Việt Nam có thể bắt, hoặc tiêu diệt được hết sao? Mà đã không thể tiêu diệt hết được, thì đâu có thể chúng nuốt trọn miền Nam nhanh chóng như vậy? Chính vì một điểm mơ hồ để bấu víu niềm tin này đã giúp tôi gắng gượng được phần nào, cho bộ mặt và thái độ không quá bi quan, rã rượi.
Tôi lại tiếp tục đi tham gia đấu cờ. Tình hình đang nóng, lạnh chưa ngã ngũ, lòng ai cũng bối rối, chưa ai dám tâm sự bàn tán với ai sợ mang di họa. Mọi người chỉ giao tế bình thường trong sinh hoạt. Không một ai dám nhắc đến, hay gợi đến cái nóng bỏng của miền Nam, dù ai cũng đang đầy ắp, lắng lo tơ vò trong lòng mình. Thường chỉ nhìn nhau bằng những ánh mắt dè dặt, dọ dẫm trong đám mây buồn.
Trong khi đang ngồi đấu cờ với anh Hiệp của toán 4 nông nghiệp, tôi chợt nhớ đến một hình ảnh lúc sáng của tên Cẩn. Cũng khoảng lúc 8 giờ, anh em tù đang chia cháo lòng ở sân, ngoài cổng mấy anh tù thợ điện, đang mắc chiếc loa, thì tên Cẩn từ ngoài cổng đi vào. Hôm nay, khác hẳn mọi khi, y đeo kềnh kềnh bên hông một chiêc radio transistor của Nhật. Dáng đi khệnh khạng khác thường, ngực y hơi ưỡn ra. Cái mặt y mới buồn cười, một bên má hơi hóp, nên nó méo hẳn đi. Cái môi trên của y mới lạ nữa, hàng ngày nó đã vẫu ra rồi, hôm nay nó lại cong, loe ra như một cái phễu. Khoan thai, y thong thả bước, nhàn du như một chủ nhân ông trước đám nô lệ. Mắt y giương giương lên nhìn mọi người.
Một đám tù ùa đi theo trầm trồ, xum xoe (loại người này, lúc nào và ở đâu cũng không thiếu) nhìn chiếc radio mà có lẽ lần đầu tiên họ mới nhìn thấy trong cuộc đời. Một anh có vẻ hiểu biết, cất tiếng hỏi:
– Thưa cán bộ, cái đài này của nước nào mà đẹp thế ạ?
Tên Cẩn đã trèo lên hè nhà cố I. Y quay lại, dưới ánh nắng sớm, mặt thộn ra một lúc nghĩ ngợi, rồi như đã nhớ ra một điều gì rất khó:
– À, cái này ma…ze…gia pan đấy! (made in Japan).
Bây giờ ngồi đánh cờ với anh Hiệp, nhớ đến, tự nhiên tôi bật cười thành tiếng. Anh Hiệp đang gặp nước cờ bí, lại tưởng tôi cười anh, nên cau mặt lại nhìn tôi. Vừa cười, vừa lắc đầu, tôi nghĩ bụng, làm sao mà thanh minh để anh hiểu được. Ngày hôm nay, từ sáng tới chiều tôi đã đấu ba ván cờ. May mắn thế nào, tôi lại thắng cả ba. Sáng mai, mùng hai tôi phải chuẩn bị vào vòng bán kết. Chiếc loa ở cổng trại cứ léo nhéo suốt ngày. Lòng tôi cũng đầy mâu thuẫn: thực sự, tôi chả muốn nghe tiếng đài chó chết ấy làm gì. Càng nghe nó, tôi càng tím thẫm sượng sùng, cúi đầu. Nhưng nếu không nghe thì lại không biết gì, dù chỉ là khái niệm những diễn biến nóng hổi của miền Nam thân yêu lúc này, nên đành lòng ngồi nghe nó rỉa ráy, châm chọc tim gan của mình.
Sáng mồng hai, tôi đấu vối bác Hiểu già toán 3, tôi lại thắng để đứng đầu bảng B. Bảng A, người duy nhất còn lại chính là bác Lẫm Hà Nội. Như vậy, không còn tránh đi đâu được, chiều nay tôi phải đương đầu với bác một trận chung kết để tranh giải nhất và nhì ở bàn cớ lớn ngoài sân.
Phần vì tinh thần của tôi không được tập trung, phần khác tôi vẫn kiêng nể cái “uy” hai năm vô địch trại của bác, nên trong tâm cũng gờn gợn, băn khoăn. Nghĩ lại, những năm tháng ở trại học sinh Pavie Lamothe, Phú Thọ, miền Nam. Thời gian này có Lê Quang Huyến cũng ở buồng 4 với chúng tôi. Nó có bộ óc thông minh đặc biệt, nhất là về toán. Sau khi nó tốt nghiệp tú tài toàn phần ban B xong, để chuẩn bị cho năm tới thì toán đại cương (math general), nó đặt mua những sách báo chuyên đề về toán ở hải ngoại, có những bài toán hóc búa để giải. Cờ tướng là món chơi sở thích của nó, vì cờ cũng có liên quan đến cái óc tính toán. Ngoài những sách báo dạy về cờ, nó còn sưu tầm những ván cờ nổi tiếng của những tay cờ vô địch Bắc, Trung, Nam. Nó cũng đặt mua tờ tuần báo duy nhất về cờ tướng của người Tầu bên Chợ Lớn. Ngoài ra những trận cờ nổi danh của kỳ vương Lý Chí Hải ở Hồng Kông sang đấu tại Sài Gòn nó cũng không bỏ sót. Thảng hoặc, tôi cũng xem sách báo và đấu cờ với nó, vì vậy tôi cùng có phần nào tin vào khả năng của mình.
Khi được biết tôi đúng đầu bảng B, nhiều anh em quen biết đều ngạc nhiên, vì chả khi nào tôi nói chuyện về cờ tướng cả, cũng như ghé lại nhìn những bàn cờ họ đang đấu chơi với nhau vào những ngày Chủ Nhật.
Tôi không ngờ, trận chung kết cờ chiều nay thật đông khán giả tham dự. Có cả tên Cẩn trực trại và mấy tên cán bộ, bộ đội vũ trang cũng vào xem. Anh em đứng vây kín cả một bàn cờ rộng mỗi bề hàng chục mét ở giữa sân. Khi rút thăm để được tiện nghi dành quyền đi trước, tôi nhìn bác Lẫm mãi. Bác phải ngoài 60, tóc đã điểm sương. Mặt bác rất hiền, phải nói là phúc hậu nữa là khác. Mới nhìn thấy bác mà tôi đã đem lòng nể kính ngay, vì vậy tôi vội nhã nhặn nói:
– Từ lâu, cháu vẫn trọng kính những người có tuổi, Bởi thế, bác cho cháu được giữ đạo lý đó, xin mời bác đi trước, không phải rút thăm nữa.
Hơi ngần ngừ, nhìn tôi một lúc, rồi bác gật đầu đồng ý. Không nói một lời, mặt bác tươi lên như cười, thong thả bước vào bàn cờ. Ngay nước đầu, bác đẩy con tốt biên: 1 tiến 1.
Tôi hiểu đây là một người thận trọng trầm tĩnh, vừa nhã nhặn, vừa không coi thường đối thủ. Mục đích chỉ để thăm dò, bắt mạch đối phương. Tôi cũng hiểu rằng cờ tướng là một môn tranh hơn thua không những bằng thế, bằng mưu, mà còn bằng tâm lý nữa. Có những đối thủ cáo già, họ đi những bước đầu hơi hớ hênh, hoặc ngập ngừng. Họ chỉ trỏ, tính toán nước này, nước kia tỏ rằng không có chủ định, để đối thủ tưởng lầm rằng là một tay cờ bình thường, mà chết. Ngược lại, cũng có người ngay từ đầu, đi những nước rất lạ, cách đặt quân vững trải, tỏ ra đầy tự tin; mục đích gây hoang mang cho đối thủ, chứ thực ra họ chả có gì sâu sắc cả. Thậm chí họ còn đánh “võ miệng”, nào là đã từng đấu với nhân vật này, hạ nhân vật kia để hù về mặt tâm lý nữa.
Một mái đầu xanh với một mái đầu bạc đăm chiêu tính toán để hạ nhau. Như trên tôi đã trình bày, phần vì tôi vẫn nể cái “uy” của bác (tâm lý chủ bại thì ít khi thắng), phần khác, tôi chưa hề đấu bàn cờ rộng thế này bao giờ. Nhìn nó bao quát, lạc hẳn đi, làm giảm hẳn trí có tính toán của tôi. Hơn nữa, những tác động ồn ào, bàn tán của người xem cũng làm loãng những trù liệu của tôi đối với đối thủ. Tuy vậy, tôi cũng tạo dựng, lựa nhiều nghi binh để được vào một vài thế có lợi cho tôi, cho nên hơn một giờ sau, bàn cờ đã nghiêng hẳn về phía tôi.
Tôi còn đủ bộ xe pháo mã, trong khi bác Lẫm kém tôi một con mã, mà còn ở thế bị tấn công. Hai đấu thủ cờ, xấp xỉ tài năng, một chín, một mười. Bên nào đã hơn quân rồi mà còn được ở thế tấn công, thì hầu như bàn cờ đã được định đoạt.
Mặt bác Lẫm lúc này, đỏ gay, thỉnh thoảng bác phải dùng chiếc khăn đỏ đang quấn ở cổ để lau trán, lau mặt. Mặt tôi cũng nóng bừng, nhất là lúc này nhiều người xô đến gần cổ vũ, góp ý (thói đời, người ta chỉ phù thịnh thôi). Ngay tên Cẩn đã nhìn tôi, nói to như động viên khích lệ:
– Không ngờ Bình lại cao cờ thế, nhiều mưu lắm!
Mãi đặt hết tâm hồn vào những thế hơn thua của cuộc cờ, tôi đã quên béng đi, hay không hề nghĩ đến một điều to lớn khác. Đến lúc này, nghe tên Cẩn nói, tôi mới thót nghĩ ra. Tôi chợt hiểu, tôi còn nông nổi hiếu thắng lắm! Còn non lắm mà lại cứ tưởng mình đã già dặn rồi. Tất cả những ý nghĩ luẩn quẩn trên đã tác động vào tâm trí tính toán thế cờ của tôi. Tôi còn một nhược điểm nữa rất to lớn. Mặc dù lúc đầu nhiều việc thường thận trọng, trầm tĩnh tính toán, nhưng khi gần đến thắng lợi, đến thành công lại rơi vào cái hố chủ quan. Mà đáng lẽ ra, chỉ được phép vui mừng, lỏng tay súng khi đã tiêu diệt hết kẻ thù. Phải vẫn thận trọng, cảnh giác, dè dặt tới lúc bàn cờ kết thúc. Chính vì những nhược điểm trên, cuối cùng, tôi đã rơi vào những cái thế bị động, mở đường máu thoát thân của bác Lẫm.
Kết lại, đánh cờ là đấu trí, dù ở khâu nào, lý do nào tôi cũng đã thua trí của bác Lẫm. Tôi thua bác thực sự, không hề ân hận, áy náy vì tôi còn quá nhiều nhược điểm. Nhưng rất nhiều người, kể cả những tên cán bộ lại cứ cho là tôi có ý nhường bác Lẫm. Thậm chí, cho đến chiều muộn, khi ban tổ chức phát giải thưởng, bác Lẫm còn vỗ vai tôi:
– Cậu đã nhường tôi.
– Chính cháu không hề nghĩ lại được vào chung kết. Cháu tưởng, cháu sẽ bị loại ngay từ những vòng đầu. Chứ đấu được với bác như thế, cháu đã thấy may mắn và khá rồi đấy!
Tôi chân thành nói với bác Lẫm như vậy.
Về bóng bàn của Phan Thanh Vân, anh cũng chỉ ở giải nhì, còn Đinh Sơn chiếm giải nhất, cả hai đều là đấu thủ miền Nam.
Về sau này, thật không ngờ, ván cờ ấy tôi bị thua bác Lẫm, nhưng tôi lại được một cái khác to lớn hơn, ý nghĩa và tình người hơn. Sau đấy, bác Lẫm lại mến tôi đặc biệt. Một buổi trưa tôi đang ngồi ở hội trường, bác mang cho tôi một lưỡi dao cạo “Gillettte” còn mới, bác nói:
– Cậu phải thường xuyên cạo râu cằm đi, mà chỉ để râu trên mới đẹp.
Lưỡi dao cạo ở trong tù rất hiếm, nên vô cùng giá trị. Tôi bẻ đôi, cất kỹ dùng đến 8 năm sau mới mất (cùn thì mài). Cứ thỉnh thoảng bác lại dấu đút cho: khi thì củ sắn, củ khoai nướng, khi nắm rau luộc. Vì bác ở toán rau, nên được ra ngoài đồng làm việc.
Những năm sau, mỗi khi nghĩ đến trận cờ năm ấy, tôi vẫn thấy vui. Khi ấy, nếu có đủ lực thắng bác Lẫm thì cũng nên thua vì kết quả lại còn được nhiều cái hơn, huống chi tôi lại thua thực. Như vậy, trong cuộc sống, nhiều khi không tính mà lại làm đúng.
Chiều ngày mồng 4 Tết, khi toán chúng tôi đi lao động về thì chiếc loa to ở cổng trại đã được tháo đi rồi. Lý do là chỉ ráp nối cho trại viên nghe đài ngày Tết mà thôi. Thực ra thì không phải vậy. Qua một số nguồn tin rỉ tai từ một vài người có thân nhân lên tiếp tế sau Tết, loáng thoáng cho biết vụ Tết Mậu Thân, không phải Việt cộng hoàn toàn chiến thắng như đài, báo của cộng sản tuyên truyền. Nghe đâu, quân của chúng bị vây ở Sài Gòn và nhiều nơi khác, bị bắt và bị chết nhiều lắm v.v… Nguồn tin này, đối với tôi thì có thể tin được. Bời vì nó gần như một quy luật: khi nào chúng nó chiến thắng thì chúng bắt tù phải nghe đài, phải đọc báo, đêm ngày, nó ra rả sủa vào tai. Còn khi nào chúng thua, tin tức bất lợi cho chúng thì đài bị hư, báo bị tắc đường, xe không đến trại được v.v…
Có một điều làm day dứt lòng tôi mãi nhiều năm. Ngay chiều tối, khi các buồng đã điểm xong, khóa cửa rồi, tên trực trại Cẩn và tên Tân trật tự, lại xách đèn bão đến buồng 2. Tên Cẩn đọc tên 4 người toán 2, ra lán thủ công để đóng một cỗ quan tài, đột xuất. Hơn một giờ sau, khi 4 người trở về buồng thì mọi người mới biết: bác Lê Tài Chương trong nhà kỷ luật đã chết rồi. Nghe tin mà tôi điếng người, ngẩn ngơ. Mới vào kỷ luật có khoảng 10 ngày, sao mà đã chết? Dù bác có yếu, nhưng sao có thể chết nhanh như vậy? Ôi, một kiếp người vô nghĩa đã trở về với cát bụi hư không.
Chẳng hiểu bác chết vì tự tử hay vì sao, mà sau đó tôi không hề nghe một ai bàn tán gì đến cả. Ngay tên Tân trật tự, hàng ngày y đưa cơm trong nhà kỷ luật; bác Lê Tài Chương lại là chủ tịch đảng của nhóm y, đồng vụ với y, nhưng sự việc vẫn kín bưng như hũ nút, chẳng một ai biết rõ.
Trước đây, đã nhiều lần tôi định đến với bác để tìm hiểu và học hỏi thêm, Ai ngờ đâu, một kiếp người lại giản dị, dễ dàng ra đi nhanh như thế!
Tôi mới uống được lưng chiếc ly nứa con, thì tiếng kẻng đã rống lên rồi. Cũng tiếng kẻng ấy, mọi khi tôi ghét cay, ghét đắng, nhưng hôm nay nghe nó thánh thót, ngân nga có lúc như tiếng sáo diều trưa hè ở quê xưa. Bởi vì hôm nay nó tử tế; lịch sự hiền ngoan lắm; nó trang trọng mời bà con xuống bếp lấy cơm Xuân, để đón đêm trừ tịch..
Không khí cả buồng, cả trại sôi ồn lên như giữa buổi chợ phiên. Chúng tôi, chả ai cần nói, cũng đều tạm dẹp chuyện nước nôi, đển đến tối hãy hay. Bây giờ phải đi lo cái chuyện quan trọng, chuyện lớn, nó liên quan đến cái hạnh phúc hay buồn khổ của đời người.
Ra đến ngoài sân, nườm nượp những người. Ai cũng rảo bước chạy, như một giòng nước chảy xuôi về phía nhà bếp. Ngày thường 2 người trực mâm, một người chia cơm, một người chia canh. Nhưng hôm nay vì tình thế quá căng thẳng, nên mâm nào cũng đều phải tăng cường thêm 2 người nữa là 4. Chỉ mươi phút sau, giòng nước lại chảy ngược từ nhà bếp túa ra về các ngả.
Những ngày thế này thật là một cái nạn với một số đông người, nhất là tôi lúc này, một người mới tới trại. Hàng ngày chỉ cần 2 cái để đựng, một cái lấy cơm và một cái lấy canh hoặc muối, là đủ rồi. Hôm nay, trời đất ơi, những năm món, tôi bấn xúc xích cả lên! Lấy cái gì để đựng bây giờ đây, hỡi cuộc đời? Làm sao mà mượn được ai trong này! Những món mà mới chỉ nhắc đển tên thôi là nước miếng đã rỉ ra rồi:
1. Thịt lợn kho – 1 soong cho cả toán
2. Rau cải bắp trắng sào mỡ – mỗi mâm một soong
3. Khoai tây hầm xương lợn – mỗi mâm một soong
4. Lòng lợn xào chou-fleur – mỗi mâm một soong
5. Hành nén chua – mỗi mâm một soong
Tôi chỉ có một cái rổ con để lấy cơm. Còn có mỗi cái đĩa, thế mà những năm thứ, làm sao đây? Người ta gọi nhau í ới, râm ran cả sân lên. Dáng ai cũng tớn tác khẩn trương. Nhóm này gọi “anh Bình ơi, đặt bát lấy khoai tây”, nhóm kia gọi “anh Bình ơi, đặt bát lấy cải xào”.
Tôi hiểu rằng, phải có đủ bát thì họ mới chia lẹ được. Bởi vì, từ mấy ngày trước, trong khi chuyện trò tôi đã biết: những hôm có tươi thế này họ chia chác cẩn thận lắm. Ấy là còn may, soong thịt lợn kho là quan trọng nhất, anh Lân toán trưởng chịu trách nhiệm đã giữ soong thịt để chia sau. Tôi bấn cả người lên! Chạy ra, chạy vào, nhìn ngược, nhìn xuôi, cuối cùng tôi lật đật tạt vào buồng, lục lấy cái khăn mặt bằng vải áo tù, ở dưới Hỏa Lò đặt đại ra để lấy hành nén. Nhưng đển đây, lại có một khó khăn trở ngại nảy ra: mọi thứ chia đặc biệt này, đều phải gọi tên. Nó đã trở thành một nguyên tắc không ai được quyền thay đổi, kể cả cán bộ hay ban giám thị. Người ta có rổ, hay đĩa sạch sẽ, nên khi gọi tên, ai lấy phải phần tôi đựng bằng giẻ thì làm sao họ bằng lòng?
Cả mâm 10 người nhìn nhau không tìm ra 1 cách giải quyết cho ổn. Bất chợt anh Đồng lên tiếng:
– Nếu tôi lấy phải cái khăn của anh Bình, tôi đồng ý đổi lại với anh.
Thấy vậy, Toàn và cậu Sáng cũng lên tiếng đồng ý như anh Đồng. Nghĩa là, nếu lấy phải cái khăn vải của tôi, họ cũng đồng ý đổi lại với tôi. Thế là bắt đầu chia. Hành nén, một củ thường có 2 hay 3 nhánh. Có nhánh to, nhánh nhỏ, nhánh vừa. Họ tách đều ra, rồi chọn 10 nhánh tương xứng bỏ vào 10 phần. Mười nhánh khác cũng thế. Cuối cùng khi đã chia xong, thì mỗi phần chừng độ 12, 13 nhánh.
Bắt đầu làm thủ tục gọi tên. Anh Đồng quay mặt ra phía hàng rào trại. Anh Yên cầm 1 phần lên, hỏi to:
– Ai?
Anh Đồng vẫn quay lưng, không được ngoái nhìn lại, trả lời:
– Anh Sáng!
Thế là cậu Sáng cầm lấy phần ấy. Anh Yên lại cầm phần khác lên hỏi “Ai” tiếp. Cứ như vậy cho đến phần thứ 9. Còn người cuối cùng không gọi đến tên, thì còn 1 phần là của người đó rồi. Chia xong hành, còn cái soong không, nhiều người muốn đến giành, nhưng anh Đồng và đa số anh em trong mâm đều đồng ý là để cho tôi. Đấy là nhã ý của họ với người mới đến trại, vì còn nhiều người nữa cũng không đủ bát đĩa.
Tôi đành giữ cái soong, rồi đem đĩa đi lấy từng thứ đem về đổ lẫn lộn vô soong. Chợt thấy ồn ào ở phía mâm ăn 18 kg, tôi xách chiếc soong theo, chạy lại. Kinh và Vân đang xừng xộ, chỉ vào mặt nhau. Nghe đâu Kinh múc nước khoai tây hầm chia không đồng đều. Chẳng có thì giờ để nghe rõ câu chuyện, tôi lại phải chạy về mâm để lấy phần.
Đến lần chia cải bắp xào mỡ, cũng phải gọi như vậy. Cho đến khi chia khoai tây hầm xương, lại có vấn đề hơi phức tạp, vì cả soong khoai chỉ có 3 – 4 cái xương, lại cái to, cái nhỏ. Chưa nói, ngay khoai cũng thế, có củ to, củ nhỏ, củ cắt đôi, củ không cắt. Cuối cùng củ nào họ cũng cắt làm đôi, rồi nhìn tương xứng 10 miếng bỏ 10 phần. Khi chia gần hết chỉ còn 2 miếng thì họ cắt mỗi miếng ra 5 phần đều nhau, để bỏ vào 10 suất. Nước gân riêng, đong bằng thìa, còn chừng 3 thìa thì họ đong bằng cho mỗi suất 1 tí cho đủ 10 phần đều nhau. Vài miếng thịt con lẫn trong nước đều được vớt riêng ra. Trong xương còn dính tí thịt nào cũng lấy ra hết, rồi trộn đều. Mỗi phần được ¼ thì thịt vụn nhừ. Còn 3 cục xương, chúng tôi thỏa thuận quyết định cứ bỏ đại bất kỳ 3 phần nào. May cho ai, người đó trúng số, sẽ hên cả năm. Xong rồi, họ lại tiếp tục cầm từng phần để gọi tên.
Đến chou-fleur xào lòng lợn. Vì một cỗ lòng lợn cho cả trại hơn 300 người, ai cũng hiểu, dù ngăn chận cách nào đi nữa, toán nhà bếp cũng phải chấm mút ít nhiều, vậy thì cỗ lòng còn lại được bao nhiêu? Cho nên 1 soong chỉ còn 4, 5 miếng ruột con con. Tuy vậy khi chia, cũng phải để nước riêng. Chou-fleur cũng phải cắt nhỏ hơn, và mấy miếng ruột cũng phải thái nhỏ thành 10 miếng đều nhau để mỗi suất có một miếng. Gan,phổi thì chẳng thấy đâu, nếu có thắc mắc thì được nhà bếp trả lời, nó lẫn vào toán khác. Cứ toán này lại cho là gan, phổi về toán kia, nhưng thực tế chả có toán nào có cả.
Đến cơm, hôm nay là cơm không độn, cơm trắng, cơm đặc biệt của cả 1 năm mới có. Bởi vậy, lại càng cần được đảo rời, trên dưới đều nhau, không chỗ nào để vừng. Vì ai cũng hiểu, cơm vừng thì nặng cân hơn cơm rời, cơm trên đã bốc hơi nên khô, cân sẽ được nhiều, cơm dưới ấm sẽ nặng cân v.v… Dù như vậy, khi cân xong, vẫn phải một anh quay đi và một anh cầm bát gọi tên.
Đến phần chia thịt mới là trọng tâm của vấn đề, một soong thịt chia cho cả toán. Lúc này các mâm đã chia xong, 5 mâm đưa đến 5 cái soong không.
Anh Lân được 2 người phụ giúp, trước hết gạn riêng nước ra hết, còn thịt được xúc vào 1 cái bát nhôm rồi đem cân như cân cơm ở trên. Cẩn thận, xúc nạc, mỡ tương xứng đều nhau, sau đó là chia nước. Nước cũng phải đảo đều vì váng mỡ nằm bên trên, ai cũng hiểu, từng thìa chia, tản đều nhau cho 5 phần. Năm người đại diện của mâm, lại một người quay đi gôi tên mâm như trên, nghĩa là 1, 4, 3, 5, 2 chẳng hạn. Phải gọi lung tung không được gọi thứ tự, vì người ta nghi ngờ có sự ăn ý; sắp xếp giữa người gọi và người cầm bát hỏi. Bây giờ về đến mâm, không đủ nhiều thịt để cân, bởi vì mỗi suất chỉ độ 3, 4 miếng, vậy miếng mỡ, miếng nạc thì làm sao? Đành phải dùng dao con cắt những miếng mỡ, miếng nạc riêng ra. Trông tương xứng bỏ cho 10 phần đều, càng về cuối càng phải cắt nhỏ.
Nước, nếu có nhiều váng mỡ ở trên thì lấy thìa nhỏ, khẽ múc nước váng đó chia cho đều đủ 10 phần, rồi sau mới múc chia nước phía dưới.
Sau khi làm xong, người chia mới hỏi ý toàn thể anh em trong mâm. Phần nào tương đối hơn, phần nào tương đối ít, hoặc ít ngon v.v…Anh em chỉ, chỏ điều chỉnh. Khi đã thỏa thuận tổng quát lại có 1 anh quay đi, để cho 1 anh hỏi v.v…
Nhìn cảnh chia chác phức tạp như vậy, tôi rất thắc mắc. Đứng cạnh anh Đồng nên tôi mới hỏi ngay anh?
– Này, đã chia tương đối đều rồi, tại sao còn phải gọi nữa, cho phiền? Bát đĩa lại phải trao trả lại? Nghĩa là, anh này lấy phải cái bát của anh kia, thì lại phải đổi trả bát lại. Nhiều khi rất lung tung, lộn xộn. Của anh A lại về anh B, nhưng bát anh B lại về anh H, mà bát anh H lại ở anh A v.v… Cứ tìm bát đổi lại, đã nhiều phiền phức rồi.
Trong khi chờ chia các món, nói chuyện với anh Đông và Quý Cụt tôi đã hiểu thêm nhiều sự việc. Sống cảnh cùng khổ này nó đẻ ra nhiều điều ti tiện, tính toán, lừa lọc vặt vãnh lắm! Trước đây mỗi khi có chất tươi, sau khi chia xong. Thường làm 19 tờ giấy con viết tên 10 người trong mâm, rồi 1 anh gấp lại, xóc đều bỏ vào cạnh mỗi phần một miếng. Bấy giờ cứ việc mở giấy ra, tên ai ỏ phần nào thì người đó nhận. Nhưng, dần dà đã có sự khôn lanh khi gấp giấy. Người gấp giấy, chỉ cần chú ý một cái giấy tên mình, rồi tìm phần nào có vẻ nhiều, hoặc ngon hơn thì bỏ miếng giấy đó. Hiển nhiên là không ai yên tâm, tin tưởng được. Thậm chí đã có tên lỳ lợm, khi đã chia xong sắp sửa bỏ phiếu, thấy suất nào có vẻ nhiều hay ngon, anh to nhổ đại một bãi nước bọt vào. Như thế sẽ không ai dám lấy phần ấy nữa, vậy là về anh ta.
Tóm lại, trước đây đã xảy ra nhiều chuyện lắm rồi. Cái tâm lý chung của mọi người trong cái cảnh thiếu thốn thương đau này là, mắt nhìn suất của người khác thường cứ thấy nhiều hay ngon hơn của mình. Mà như vậy thì trong lòng buồn lắm, ăn sẽ giảm ngon đi. Làm sao lòng còn được thảnh thơi hoàn toàn để thưởng thức trọn vẹn cái món ăn trọng đại 1năm dài đăng đẳng mới có này. Thậm chí còn buồn cả đêm, cả 2 ngày Tết, có khi còn kéo dài cả năm, vẫn buồn mỗi khi nhớ đến cái phần ít, không công bằng của mình trong dịp đầu năm. Vì vậy dù chia đã đều rồi, vẫn phải gọi tên, như thế về mặt tâm lý, sẽ bằng lòng, sẽ thỏa đáng. Ngon hay không ngon, nhiều hay ít, đấy là do cái số phận của mình thôi. Có như vậy mới hoàn toàn yên tâm để tận hưởng cái vưu vật, hiếm có của đời tù.
Cũng có nhiều tên cán bộ, cả giám thị nữa, vào đứng nhìn cảnh tù chia chác thế này. Họ đều lắc đầu, giờ giọng khuyên răn v.v… Họ chỉ khuyên răn, mà họ không thể ra lệnh, vì họ cũng hiểu đây là tiêu chuẩn của người tù được hưởng. Họ chỉ lấy lời khuyên tù không nên chia chác ti tiện như vậy, hơn kém một vài hạt cơm, một tí thịt, thì có sao đâu v.v… Nhưng đều vô hiệu. Những người tù ai cũng vậy, họ đã phải đổ mồ hôi, nước mắt đến tàn lụi xác thân mới được hưởng những thứ này. Nó là sự sống của họ, là thịt là máu của họ. Một hạt cơm là một tí thịt, tí máu của họ để họ sống. Họ chỉ muốn có sự công bằng với nhau, chứ họ không hề chống đối chính quyền, chống đối ban giám thị.
Cuối cùng, những tên cán bộ ấy và những tên giám thị nọ, vẫn không thể hiểu được cái bé nhỏ ẩn tàng trong lòng người tù, đã bị đói khổ nhiều năm, tháng. Bất kể một ai, dủ cho danh giá như là một tổng thống, một nhà bác học, một nhà hiền triết hay một ông triệu phú, nếu phải ở vào cảnh này, thì họ cũng sẽ như vậy. Chỉ trừ họ không phải là người, chứ đã là người thì cũng chỉ là một sinh vật nên phải cần sống đã. Trong đám tù cùng khổ ở đây, cũng có nhiều người trước đây, đầy hào hoa phong nhã. Đã một thời, đã từng coi miếng ăn là sự tầm thường, hèn hạ của con người như Phan Thanh Vân, bác sĩ Hiệp, hay như ông Hinh mù tư sản đài các, thanh lịch của Hà Nội v.v…
Sau khi chia cơm nước xong, bóng chiều đã ngập ngừng dâng lên. Từng mảng tối thẫm với nhiều hình thù kỳ dị đang từ những bìa rừng lẩn thẩn bò ra, che mờ dần cảnh vật. Trên chỏm những ngọn núi xa xa, còn rơi rớt chút ánh vàng loãng nhợt. Một đàn vạc trắng giăng hàng như một cánh cung, đang mải miết bay về phương Bắc. Một con chim rừng phía sau trại, thỉnh thoảng cất giọng đều đều “bắt cô trói cột” mà sau này, những tên cán bộ phụ trách dân công chiến trường miền Bắc, đã đặt trẹo đi là “khó khăn khắc phục”. Nhưng lúc này, tôi lại cứ nghe ra là nó hót “chết ai cũng mặc”. Một nỗi mênh mông khắc khoải, luồn dần vào giọng hót của con chim, cùng với đêm Trừ Tịch giữa rừng hoang, đang ùa về đè nặng hồn tôi. Không gian, núi rừng đã ngã mầu xám sậm. Vài chiếc lá nứa vàng khô rời cành lắc lư, chao đảo đìu hiu trong buổi chiều muộn để về lòng đất ẩm.
Tôi thấy sân vắng, thưa hẳn người ra. Trong hội trường cũng chỉ còn lác đác dăm ba người. Mà ngay cả những tiếng ồn ào, râm ran cũng đã lắng dần vào yên lặng. Hơi ngạc nhiên, như mọi bữa, sau khi chia cơm, canh xong lúc ăn uống cũng còn ầm ĩ chán.
Một tay cầm rá cơm, tay ôm cái soong thức ăn lẫn lộn, tôi cũng đi vào buồng. Tôi cứ tưởng chỉ có mình tôi mới có ý định riêng là sẽ không vội vàng gì cả, chờ cho cán bộ điểm xong đâu đấy, bấy giờ mới thong thả thưởng thức cái của ngon vật lạ này trên cái cõi đời tù. Thế mà khi vào buồng, sàn trên, sàn dưới, hầu như mỗi người đều đã ở chỗ của mình. Họ ngồi yên lặng, nét mặt nghiêm trang, thỉnh thoảng họ cúi gầm đầu xuống những món ăn, nét mặt thành khẩn, ngoan ngoãn như ngồi trước một bậc trưởng thượng rất mực tôn kính. Chỉ có một vài người, chắc không thể chịu đựng được, lấy tay nhón một vài miếng nhỏ, bỏ vào miệng để nhấm nháp trước, chứ họ cũng đều muốn chờ điểm xong đã như tôi.
Ngay anh chàng Vân ở bên cạnh cũng đang ngồi thừ người ra nhìn đám thức ăn, đang để tênh hênh ra trước mặt. Chẳng biết Vân đang nghĩ gì, nhưng tôi hiểu anh không muốn nói chuyện lúc này. Tôi xin được tôn trọng và trong lòng tôi cũng muốn được yên lặng. trong những giờ phút thiêng liêng này như anh.
Hôm nay tên cán bộ ngồi ở trên chòi gác ở cổng trại, chẳng hiểu vì tâm hồn y cũng đang vơi đầy với đêm cuối năm giữa rừng sâu hoang lạnh, để tâm hồn thẩn thờ, để mắt đăm chiêu rọi tìm vào cõi xa xăm đen tối những hình dáng thân nhân, ruột thịt, hay y có lệnh hôm nay gõ kẻng điểm muộn, nên mãi y cũng chẳng chịu gõ để anh em tù phải chờ?
Mãi rồi tiếng kẻng cũng réo vang lên trong cái tịch mịch của núi ngàn. Sau khi điểm xong, cửa đóng, then cài khóa kỹ.. Hơi ồn ào một chút lúc đầu vì những tiếng rít của điếu cầy và vì ai cũng vào nhà cầu để đẩy ra hết những cái nước thừa cho nhẹ lòng.
Ánh của chiếc đèn bão treo lủng lẳng giữa nhà, càng làm cho căn buồng thêm mờ ảo, mông lung. Tôi ngồi xếp chân tròn ngay ngắn, thụt sâu lên phía đầu sàn, trong bóng tối. Nhẹ đưa mắt một lượt chung quanh phía sàn dưới, rồi nhìn về chiếc soong và rá cơm của mình phía trước mặt. Lòng hơi gợn lên một chút xót xa, khi thấy soong thức ăn của tôi, lộn tùng phèo các món. Nhưng không sao, xá gì mấy cái tiểu tiết ấy. Bởi vì, từ nãy tới giờ tôi đã phải nuốt vào nhiều lần nước chân răng rồi.
Ngay từ lúc chia, tôi đã biết chắc là phần của tôi có 4 miếng thịt lợn, mầu nâu xậm, óng lên những mỡ rồi. Miếng to nhất phải bằng đến 4 đốt ngón tay ghép lại, chứ có chơi đâu. Nghĩa là, một bề 3 phân, một bề 4 phân và dầy đến gần một phân. Bây giờ tôi vẫn còn nhìn rõ, nó nằm lù lù một góc soong kia. Người tôi đã nóng lên rần rật rồi, tay chân đã thấy ngứa ngáy ran lên. Nhưng tôi phải trầm tĩnh, không vội vàng, dù cái mùi ngọt ngào, ngầy ngậy thơm phức cứ xộc bừa vào mũi tôi. Óc tôi còn đang bận suy nghĩ là nên hưởng cái gì trước? Hơi hoang mang, ngập ngừng một giây trong lựa chọn. Cuối cùng tôi quyết định: đầu tiên, cái đầu tiên phải là một miếng thịt đã!
Tay đã cầm cái thìa cụt Toàn cho, lăm le từ nãy. Bây giờ tôi khẽ nương nhẹ, xúc một miếng cho gọn ghẽ vào trong cái thìa. Trước khi cho miếng thịt vào miệng, mắt tôi lại phải liếc thiên hạ chung quanh một cái nữa đã. Yên tâm, trong bóng tôi, chả ai nhìn thấy tôi. Ngửa cổ, tôi há hốc miệng ra; hai đầu gối của tôi tự nhiên động đậy rồi rung lên. Từ từ, tôi đẩy miếng thịt vào giữa hai hàm răng. Dập mạnh, hai hàm cắn mạnh, vất chiếc thìa vào soong, tôi nằm vật ngửa trên cuộn chăn phía đầu sàn. Cương quyết tôi không nhai, cứ ngậm chặt hai hàm răng vào miếng thịt như vậy. Mắt nhắm nghiền, tôi im lặng nghe ngóng. Ruột tôi cứ cuồn cuộn, vặn vò, giẫy dọn gây ra những tiếng ơ…ợ, e…ẹ liên hồi. Tôi hiểu, ruột và dạ dầy của tôi đang vật vã kêu xin, van nài tôi, mau cho chúng được hưởng chút ân tình đặc biệt của trời, mà từ lâu lắm rồi, chúng khao khát, mòn mỏi mong chờ.
Mãi tới lúc này, tôi mới chịu chấp nhận lời khẩn cầu của chúng, mới chịu nuốt những dòng nước miếng, đã đầp ắp miệng tôi từ nãy. Đột nhiên hai hàm răng tôi mở ra, rồi thong thả lại cắn vào miếng thịt. Lại từ từ há ra, rồi lại tiếp tục dập mạnh vào. Ba, bốn lần như vậy, như một nghệ nhân đang điều khiển trống, trong một ban nhạc, chân đang nhận bass: pạch…pạch…pạch… Tôi không còn nghe thấy tiếng vật vã, của ruột và dạ dầy nữa, nhưng lại còn có một tiếng khác, rất lạ. Tiếng róc rách của một giòng suối trong vắt đang chảy từ cuống họng tôi xuống dạ dầy, mà tôi lại tưởng là những giọt nước nhểu của mái tranh đầu hè trong những trận mưa.
Một lúc lâu lắm tôi mới ngồi dậy được. Liếc nhìn anh chàng Vân, cũng đang nằm ngửa hơ hơ trong khi miệng anh vẫn nhai nhóp nhép. Kệ anh. Tôi quay lại tiếp tục thuởng thức dần những thứ vưu vật của trời, lúc này đã hoàn toàn thuộc quyền của tôi.
Chỉ mới 40 phút sau, tất cả đã sạch trơn, dù tôi đã cố ý dềnh dàng kéo dài lúc hưởng thụ. Thế mà xem ý ruột, gan và dạ dầy của tôi sẵn sàng lịch sự xin nhận nữa. Tôi thầm nhủ lòng và cũng như nói nhẹ với chúng, xin vui lòng đợi đến ngày mai. Lúc này tuy mới 8 giờ tối, trong buồng đã nhiều người đi nằm đắp chăn. Có lẽ ai cũng vậy, sau một bữa ăn không bình thường, anh nào cũng muốn nằm cho tâm tư, bồng bềnh nổi trôi với cuộc đời.
Theo truyền thống hàng năm, đêm nay và đêm mai (mồng một Tết) không có kẻng cấm, đi tiểu, đi cầu đều không phải báo cáo cán bộ như mọi khi. Nghĩa là tự do, thức hay ngủ cả đêm, đó là quyền của anh. Mọi người cũng đã được thông báo ngay từ buổi chiều: đặc biệt đêm nay, đêm Trừ Tịch, 9 giờ cán bộ sẽ mở cửa phát bánh chưng và nhà bếp sẽ cho mỗi buồng 1 thùng nước sôi, để tù nhân pha trà đón Giao Thừa.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.