This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chúng tôi chôn cất bà tôi vào một buổi chiều thứ hai, ba ngày sau khi bà tôi mất. Xe nhà đòn thả chúng tôi xuống lối vào nghĩa trang, cách xa thành phố khoảng năm mươi cây số và nằm dọc theo chân núi. Phía bên dưới, chỉ cách khoảng trăm thước là mặt biển đầy gợn sóng. Chúng tôi lê bước im lặng trên con đường dốc lổn nhổn đá dẫn tới khu mộ phần. Tiếng gió than van thổi qua những khu ruộng muối trắng làm lay động lá cờ tang hai mầu đen trắng trên đầu chúng tôi. Những giọt mưa gay gắt hắt vào mắt chúng tôi cay xè. Cả đoàn người lầm lũi bước qua vùng đất hoang tàn. Những tia chớp lóe trên bầu trời biến những đám mây thành những ánh đèn nê-ông. Rồi tiếng sấm nổ liền theo gầm thét trên khoảng không ầm ầm như như những tiếng bom. Jimmy và tôi đi bên cạnh mẹ tôi. Bộ quần áo tang trắng và khăn tang trên đầu chúng tôi ướt sũng vì nước mưa mằn mặn, và loang lổ vết bùn. Ông tôi khom người một cách nặng nề trên chiếc ba -toong, khập khiễng bên chiếc quan tài sơn đỏ bóng đang được khiêng lặc lè trên vai của mấy người con bà bác tôi. Mí mắt của ông sưng mọng lên như bị ong chích, chớp chớp một vài giọt lệ. Phía sau cách vài bước, chị Loan đi một mình. Tiếng than khóc rống lên át cả tiếng tiếng kèn và tiếng sáo. Chị Loan tới nhà tôi ngay hôm sau bà tôi mất. Hôm đó chị bận một bộ trang phục, quần áo veste mầu đen, may cắt kỹ, nhưng chị đã thay ngay bộ quần áo tang chế mầu trắng. Ngồi trên sàn nhà, cạnh quan tài bà tôi, mặt chị đỏ bừng, bối rối. Mái tóc của chị cột thành một búi lớn dưới chiếc khăn tang cột bằng vải bông thoang thoảng thơm mùi hoa nhài. Mẹ tôi quay sang, khẽ vỗ lên vai chị hỏi: – Thế nào, có khoẻ không? Lâu lắm mới gặp Loan. – Em vẫn bình an, cám ơn cô. – Còn ông Trần, vẫn khoẻ chứ? Chị cười buồn: – Có vấn đề. Chúng em bị điều tra. Đó là do một phần của đại hội sửa sai lần thứ sáu để chống lại thành phần thoái hoá trong nội bộ Công sản. Chính phủ có chứng cớ rằng ông Trần không còn là một thành phần cốt cán hay là một con người Xã Hội Chủ Nghĩa trong tư tưởng của ông ấy nữa. Từ cái ngày ông tịch thu căn nhà của cô và chiếm dụng làm của riêng, họ đã ngờ rồi. Sống trong nhà với ông ta bây giờ trở nên hết sức căng thẳng. Những ngón tay mềm mại của chị đan siết vào nhau, đặt ngay ngắn lên đùi. Máu khô đóng thành từng vành mầu tím trên những cái móng tay cụt ngủn, bị cắn nát bởi thói quen của chị. Mẹ tôi gợi ý: – Nếu hai người có con với nhau thì may ra tình trạng sẽ khá hơn. Một đứa trẻ mới sinh bao giờ cũng mang theo sự may mắn. Chị Loan quay mặt đi. Giọng của chị hạ xuống như thì thào, chúng tôi phải ráng lắm mới nghe được: – Em không thể có con được. Vì vụ phá thai, dạ con của em mang quá nhiều vết seọ. Bác sĩ nói rằng nó không còn giữ trứng lại được nữa. Chị đứng dậy và đi ra ngoài. Bây giờ đây, tiếng khóc của chị cất lên sau quan tài của bà tôi. Chị lăn mình xuống đất kêu than: – Bác ơi, sao bác lại bỏ chúng con mà đi? Từ nay, ai sẽ dậy dỗ con lời hay tiếng thiệt, bác ơi. Chị lau mặt bằng hai tay đầy bùn. Sình lầy dính đầy mái tóc dài của chị, làm ố cả bộ quần áo thành những vệt lớn. Bà bác tôi phải dìu chị cho tới khi đến mộ phần. Gió lồng lộng thổi lá cờ tang bay phần phật trong khu nghĩa trang trải dài dưới bầu trời xám ngoét. Một cái mộ hình chữ nhật đã được đào từ trước. Đám anh họ tôi, theo sự hướng dẫn của ông chủ nhà quàn, từ từ hạ cái quan tài xuống bằng hai sợi thừng lớn giữ song song ở hai đầu. Bác tôi và chị Loan vừa khóc vừa nhào xuống nắp quan tài. Mấy người anh họ của tôi lôi hai người ra trong khi những phu nhà đòn lấp đất xuống mộ. Mưa lại trút xuống dữ dội. Vị nước mưa the the ở đầu lưỡi. Bàn tay mẹ nắm tay tôi xiết chặt hơn. Nước mắt hoà lẫn nước mưa chan hoà trên khuôn mặt bà.
° ° °
Ở nhà, sau trận mưa đột ngột, bầu không khí khô và tĩnh lặng. Mẹ tôi và Dì Đặng đã đi chợ. Đồ ăn duy nhất còn lại trong chạn là ba củ sắn lớn, một món ăn rẻ tiền ở Việt Nam. Tôi định đem hấp lên làm bữa ăn tối. Bỗng nhiên, ở phía đằng trước nhà, có tiếng yếu ớt của ông tôi đối chọi với một giọng đàn bà oang oang the thé đầy tính chất gây hấn. Tôi vội vã chạy ra ngoài thì thấy một bà lạ mặt, tuổi trung niên đang cãi vã với ông tôi. Hai gò má bà ta đầy những vết bầm loang lổ. Mặt bà ta đỏ lên vì phẫn nộ. Bà chỉ ngón tay vào ông tôi và nói bằng giọng Bắc nặng nề. Cô bé bận áo đỏ mà tôi hay chơi chung ở ngoài bến tầu đang đứng nép vào cạnh bà. Kim nhìn tôi, mắt buồn rười rượi. Tôi hỏi: – Có chuyện gì thế? Ông tôi nói bằng một giọng cáu kỉnh: – Mấy người này muốn gặp mẹ cháu. Ông đã nói là không có nhà mà họ vẫn không chiụ đi. Người đàn bà vừa cao vừa gầy và giọng của bà ta thì gay gắt vì giận dữ: – Tôi đứng đây cho đến khi gặp mặt cái con đĩ nếu nó còn dám thò mặt ra. Kim giật cánh tay của mẹ: – Thôi mình đi, mẹ ơi. Con xin mẹ đó. Tôi phản đối lại: – Mẹ tôi không phải là con đĩ. Bà ta sấn lại dí mặt mình vào đầu mũi tôi. Mùi lông gà vịt thoát ra từ bộ quần áo của bà. Bà ta sắn tay áo lên để lộ thêm nhiều vết bầm trên cánh tay và cả ở quanh cổ nữa rồi nói: – Ông chồng của tao làm đấy. Ông ấy đánh tao suýt chết chỉ vì mẹ của mày. Đừng có nói nó không phải là con đĩ. Tôi lắp bắp: – Mà bà là ai? Ông chồng của bà là ai? Người đàn bà hãnh diện vỗ tay vào ngực mình: – Tao là bà Ba Quì, vợ của ông phường trưởng. Mẹ mày không biết cái tầng địa ngục nào mà dám cà chớn với tao. Trong đầu óc tôi hiện ra hình ảnh của viên trưởng phường với mái tóc bạc và nụ cười lôi cuốn: – Ông Ba Quì? Không thể như thế được. Hai người biết nhau sơ sơ thôi mà. Chắc bà ta lầm ai rồi. Kim nài nỉ: – Thôi xin mẹ, đi về đi. Mẹ gây ầm ĩ ở đây rồi. Bà Ba Quì đáp: – Tao đếch cần, cho cả thế gian này biết, tao không đi. Từ phía bên kia đường, có tiếng gọi to với sự hả hê chờ đợi sẵn: – Kiên ơi mẹ mày về rồi kìa. Bà Ba Qùi chạy ngay ra đường và la lên: – Con dâm phụ đâu? thò mặt ra đây. Cô con gái của bà nhìn tôi, đôi mắt tràn đầy vẻ đau đớn. Tôi nhớ lại bãi biển đầy cát với vẻ ngoài xa bao trùm bởi những làn sóng bạc và đôi môi cô gợi lên hình ảnh những cánh hoa hồng. Cô quay đi, chạy vội theo mẹ. Tôi đuổi theo họ. Mẹ tôi và Dì Đặng dừng lại từ xa, tận cuối phố. Có người nào đó trong đám đông bên ngoài đã báo trước cho hai người về mụ đàn bà điên khùng, thì vừa lúc bà ta hùng hổ nhào đến. Đám đông đi theo bén gót bà ta với sự háo hức được coi một đám đánh nhau. Mụ đàn bà cất tiếng hỏi: – Trong hai đứa chúng mày, đứa nào là con đĩ đây? Dì Đặng tiến lên, hỏi bằng giọng điềm tĩnh: – Tôi giúp bà được gì đây? – Tao đang tìm một con đĩ, tên nó là Khuôn. – Muốn nói với bà ấy thì hẵng nói với tôi trước đã. Mụ đàn bà đảo mắt nhìn ngay vào mẹ tôi, nói: – Hừm mày đúng là con đĩ đây rồi. Thằng chồng khốn kiếp của tao rên rỉ tên mày ngay lúc nó đang nằm trên bụng tao. Rồi nó đánh tao để che dấu sự xấu hổ của nó. Mười lăm năm tao chờ chồng tao đi phục vụ tổ quốc. Tao không bao giờ ngờ lại bị đối xử thế này. Chính mày đã làm nó trụy lạc, con điếm thối tư bản kia. Rồi mụ huých Dì Đặng, xô dì qua một bên để xông tới mẹ tôi. Dì Đặng ngã ngay xuống đất trong khi mụ quào lên mặt mẹ tôi bằng những móng tay sắc. Cô con gái của mụ và tôi nhẩy tới phía sau để kéo mụ lại, nhưng đã quá trễ. Mụ ta đã túm được mớ tóc của mẹ và giật mạnh bằng hết sức của mình, giật đi giật lại cái đầu của mẹ tôi theo kiểu người ta rũ cái khăn trải giường để làm cho phẳng lại. Cùng một lúc. Mụ với chân đá một cách tàn bạo vào bụng mẹ tôi. Dì Đặng đứng dậy, túm lấy mụ ta và giằng mấy ngón tay của mụ ra khỏi mái tóc mẹ tôi. Mụ Ba Quì vùng vẫy để thoát nhưng hết hơi và cuối cùng ngã quỵ xuống. Tôi giữ một bên eo của mụ và nhìn mụ thở dốc. Bên cạnh tôi, Kim im lặng khóc. Mẹ tôi ngả người lên Dì Đặng. Mái tóc của bà xoã tung xuống mặt và những vết cào đỏ au hiện ra thành vệt trên hai má của bà. Bà la lên với mụ Ba Quì: – Tao chẳng dính dáng gì với chồng mày cả. – Đừng có nói láo. Nó nói hết cho tao về mày rồi. Chuyện này chưa xong đâu. Tao sẽ làm đủ mọi cách cho mày rữa thây trong tù. Mẹ tôi nói, giọng lạnh lùng: – Cút khỏi nơi này ngay. Về đi. Muốn dạy ai bài học, trước tiên hãy dạy chồng mày đi đã. Nếu có thể thì dạy hắn đừng đi ăn vụng nữa. Tao chẳng có sợ cái lời đe doạ rỗng tuếch ấy đâu. Mụ đàn bà đứng dậy, vừa nắm lấy tay con gái, vừa nói: – Để rồi coi! Kim quay lại phía tôi. Đôi mắt của nàng mở lớn, đầy đau khổ: – Tại sao lại là mẹ của anh? Mụ ta vừa kéo con gái đi, vừa đẩy cho đám đông dãn ra. Tôi nhắm cả hai mắt lại. Đứng ở đâu đó phía bên kia đám người tò mò, mẹ tôi lên tiếng gọi tôi.
Hàng năm, nhóm Hoa Kỳ cùng các đồng minh Thái Bình Dương tham gia cuộc tập trận quân sự ở Thái Lan, Cobra Gold. Cobra Gold là cuộc tập trận quân sự đa quốc gia lớn nhất mà Mỹ tham gia và diễn ra trong hơn 30 năm. Năm 2015, Cobra Gold bao gồm 26 quốc gia và lần đầu tiên có cả Trung Quốc. Cuộc tập trận giúp tăng cường khả năng tương tác giữa các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là khi phối hợp ứng phó với một cuộc khủng hoảng như Sóng thần và Bão lớn.
Chiến dịch này bao gồm một cuộc tập trận bắn đạn thật, một cuộc tập trận tại sở chỉ huy và (cũng như nhiều cuộc tập trận quân sự) một cuộc hành quân mang lại lợi ích cho người dân địa phương. Ngoài ra còn có một bài tập huấn luyện sinh tồn trong rừng, trong đó Thủy quân lục chiến Thái Lan huấn luyện quân đội Hoa Kỳ tìm nước, loại thực phẩm nào an toàn để ăn (bọ cạp!), và nổi tiếng là trình diễn cách họ khuất phục một con rắn hổ mang.Sau khóa huấn luyện trong rừng, những người tham dự có thể tham gia phong tục uống máu rắn hổ mang của người Thái.
Sĩ quan trưởng Thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan Cấp 1 Pairoj Prasansai, Tiểu đoàn trinh sát, Sư đoàn thủy quân lục chiến trình diễn cách bắt một con rắn hổ mang cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cùng Đại đội A, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn thủy quân lục chiến số 3 trong khóa học sinh tồn trong rừng rậm ở Ban Chan Krem, tỉnh Chanthaburi, Vương quốc Thái Lan Thái Lan, ngày 17 tháng 2. Lớp học được tổ chức để dạy các kỹ thuật sinh tồn cơ bản trong rừng của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong khuôn khổ Cuộc tập trận Cobra Gold 2013 (CG13). CG 13, lần thứ 32, được thiết kế để thúc đẩy an ninh khu vực và đảm bảo ứng phó hiệu quả với các cuộc khủng hoảng khu vực bằng cách huy động một lực lượng đa quốc gia hùng mạnh từ các quốc gia có chung mục tiêu và cam kết an ninh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. (Ảnh của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ của Trung sĩ Matthew Troyer/Đã phát hành)
Sĩ quan trưởng Thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan Cấp 1 Pairoj Prasansai, Tiểu đoàn trinh sát, Sư đoàn thủy quân lục chiến trình diễn cách bắt một con rắn hổ mang cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cùng Đại đội A, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn thủy quân lục chiến số 3 trong khóa học sinh tồn trong rừng rậm ở Ban Chan Krem, tỉnh Chanthaburi, Vương quốc Thái Lan Thái Lan, ngày 17 tháng 2. Lớp học được tổ chức để dạy các kỹ thuật sinh tồn cơ bản trong rừng của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong khuôn khổ Cuộc tập trận Cobra Gold 2013 (CG13). CG 13, lần thứ 32, được thiết kế để thúc đẩy an ninh khu vực và đảm bảo ứng phó hiệu quả với các cuộc khủng hoảng khu vực bằng cách huy động một lực lượng đa quốc gia hùng mạnh từ các quốc gia có chung mục tiêu và cam kết an ninh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. (Ảnh của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ của Trung sĩ Matthew Troyer/Đã phát hành)
Sĩ quan cấp 1 của Thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan Pairoj Prasansai, phải, Tiểu đoàn Trinh sát, Sư đoàn Thủy quân lục chiến nuôi máu rắn hổ mang, có thể là nguồn năng lượng hữu ích, cho Thượng sĩ Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Jerry Clark, tiểu đội trưởng, Tiểu đội 1, Trung đội 1, Đại đội A, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 3 Thủy quân lục chiến trong khóa học sinh tồn trong rừng rậm ở Ban Chan Krem, tỉnh Chanthaburi, Vương quốc Thái Lan, ngày 17/2. Lớp học được tổ chức để dạy cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ kỹ thuật sinh tồn cơ bản trong rừng như một phần của Bài tập Cobra Gold 2013 (CG13). CG 13, lần thứ 32, được thiết kế để thúc đẩy an ninh khu vực và đảm bảo phản ứng hiệu quả trước các cuộc khủng hoảng khu vực bằng cách huy động một lực lượng đa quốc gia hùng mạnh từ các quốc gia có chung mục tiêu và cam kết an ninh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. (Ảnh của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ của Trung sĩ Matthew Troyer/Đã phát hành)
Một lính thủy quân lục chiến thuộc Đơn vị Viễn chinh Thủy quân lục chiến số 31 uống máu rắn hổ mang chúa trong lớp học sinh tồn trong rừng do Thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan giảng dạy trong khuôn khổ Cobra Gold 2013 tại đây, ngày 20 tháng 2. Uống máu rắn hổ mang là một kỹ thuật sinh tồn được sử dụng để duy trì hydrat hóa và bổ sung chất dinh dưỡng khi ở trong rừng nóng. Cobra Gold thể hiện quyết tâm của Hoa Kỳ và các quốc gia tham gia trong việc tăng cường khả năng tương tác cũng như thúc đẩy an ninh và hòa bình trên toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương. MEU thứ 31 là MEU duy nhất được triển khai liên tục ở phía trước và là lực lượng sẵn sàng của Thủy quân lục chiến ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Cpl. Kyleigh M. Porter, đến từ Montross, Va., ăn một con bọ cạp vào ngày 8 tháng 2 tại Ban Chan Krem, Thái Lan, trong cuộc tập trận Cobra Gold 2015. Thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan đã trình diễn một số chiến thuật sinh tồn trong rừng và yêu cầu các tình nguyện viên Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tham gia. Porter là nhân viên điều hành vô tuyến của Phi đội Hỗ trợ Không quân Thủy quân lục chiến 2, Nhóm Kiểm soát Không quân Thủy quân lục chiến 18, Cánh Máy bay Thủy quân lục chiến số 1, Lực lượng Viễn chinh Thủy quân lục chiến III. (Ảnh Thủy quân lục chiến của Hạ sĩ Isaac Ibarra/Đã phát hành)
Một lính thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan hôn đầu rắn hổ mang vào ngày 8 tháng 2 tại Ban Chan Krem, Thái Lan, trong cuộc tập trận Cobra Gold 2015. Thủy quân lục chiến Thái Lan đã trình diễn một số kỹ thuật sinh tồn bao gồm cách bắt rắn hổ mang và uống máu của nó. Uống máu rắn được coi là biện pháp cuối cùng trong trường hợp không còn gì để uống. Các phương pháp sinh tồn khác như đốt lửa, ăn nhện và bọ cạp cũng được dạy. (Ảnh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ của Hạ sĩ Isaac Ibarra/Đã phát hành)
Các binh sĩ Quân đội Hoàng gia Thái Lan thuộc Trung đoàn bộ binh 31, Lực lượng triển khai nhanh, Đội cận vệ Kings, trình diễn cách điều khiển và vô hiệu hóa đúng cách một con rắn hổ mang chúa cho các binh sĩ Quân đội Hoa Kỳ thuộc Sư đoàn bộ binh 25 trong một cuộc tập trận trong rừng ở Trại 31-3, Lopburi, Thái Lan, ngày 10 tháng 2 năm 2015. Cuộc huấn luyện được tiến hành như một phần của cuộc tập trận chung Cobra Gold 2015. (Ảnh Quân đội Hoa Kỳ của Thượng sĩ Steven Hitchcock/Đã phát hành)
Lance Cpl. Dakota Woodward, đến từ Brandon, Florida, uống máu rắn hổ mang trong cuộc tập trận Cobra Gold 2015 vào ngày 8 tháng 2. Thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan đã chỉ cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nhiều phương pháp sinh tồn trong rừng rậm khác nhau. Uống máu rắn được coi là biện pháp cuối cùng trong trường hợp không còn gì để uống. Woodward là chuyên gia quản lý phân phối của Trung đoàn Hậu cần Chiến đấu 35, Tập đoàn Hậu cần Thủy quân lục chiến số 3, Lực lượng Viễn chinh Thủy quân lục chiến III. (Ảnh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ của Hạ sĩ Isaac Ibarra/Đã phát hành)
Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ Sgt. Kurt Bellmont, trung sĩ trung đội, Trung đội 3, Đại đội A, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 3 Thủy quân lục chiến truyền máu rắn hổ mang cho Thủy quân lục chiến của mình, có thể là nguồn năng lượng hữu ích cho Thủy quân lục chiến của anh ta trong khóa học sinh tồn trong rừng rậm ở Ban Chan Krem, Chanthaburi tỉnh, Vương quốc Thái Lan, ngày 17 tháng 2. Lớp học được tổ chức để dạy các kỹ thuật sinh tồn cơ bản trong rừng của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong khuôn khổ Cuộc tập trận Cobra Gold 2013 (CG13). CG 13, lần thứ 32, được thiết kế để thúc đẩy an ninh khu vực và đảm bảo ứng phó hiệu quả với các cuộc khủng hoảng khu vực bằng cách huy động một lực lượng đa quốc gia hùng mạnh từ các quốc gia có chung mục tiêu và cam kết an ninh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. (Ảnh của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ của Trung sĩ Matthew Troyer/Đã phát hành)
Cũng vì buổi sáng hôm Chủ Nhật đó, tôi nói chuyện với Hoàng Thanh nên đã quên buổi hẹn với Lê Văn Kinh. Chiều hôm ấy, tuy Kinh và tôi có gặp nhau nói chuyện ở hội trường, nhưng Kinh tiếp tôi như một sự gắng gượng, thiếu hẳn nét cởi mở của những ngày trước. Tôi hiểu rằng, cái nguyên nhân chính cũng chỉ vì cái buổi nói chuyện của tôi với Hoàng Thanh khi sáng. Chính vì thế, tôi biết nội dung sự việc của Lê Văn Kinh chỉ sơ lược, nhưng sau tôi đã gặp đám thủy thủ cùng vụ với Kinh. Trong đám thủy thủ này lại có nhiều người đã đưa tôi ra Bắc trước đấy mấy tháng nên vụ án sông Gianh lại tương đối có chi tiết. Nội dung chính như sau:
Đây là một trong những kế hoạch đầu tiên, trong chủ trương dùng người nhái bất ngờ xâm nhập bờ biển miền Bắc của cộng sản để phá hoại những công trình quân sự, để trả đũa phía cộng sản đã thành lập mặt trận giải phóng và càng ngày càng gia tăng quấy phá miền Nam.
Do những tin tức tình báo và do những tấm không ảnh chụp được của máy bay Mỹ, nên đã nhìn rõ về giòng sông Gianh. Giòng sông đã đi vào lịch sử của dân tộc, nó đã làm mốc ngăn chia đất nước trong giai đoạn chúa Trịnh và chúa Nguyễn phân tranh.
Cơ quan tình báo trung ương của miền Nam phát giác, phía sâu trong nội địa hàng chục cây số, trên giòng sông Gianh có một số tầu thuộc hải quân miền Bắc. Từ căn cứ sâu hiểm này, những chiếc tầu đó lén lút chuyển vũ khí vào miền Nam qua những mật cảng trong khu vực ranh giới của Việt Nam và Cămpuchia. Để triệt hạ tại gốc, tình báo miền Nam hoạch định một công tác đặc biệt: dùng người nhái bí mật đột nhập vào sông Gianh, dùng hải mìn đánh chìm những chiếc tầu này.
Sau nhiều ngày nghiên cứu tuyển lựa, tình báo Sài Gòn đã chọn được 4 người nhái quả cảm và có nhiều kinh nghiệm:
1/ Lê Văn Kinh, dân sự, cao 1 mét 82, nặng 73 kg. Anh đã đạt nhiều thành tích trong những công tác thủy chiến ở miền Nam.
2/ Nguyễn Văn Tâm, quân sự, cao 1 mét 78, nặng 70kg. Một huấn luyện viên người nhái đã tình nguyện tham gia công tá đặc biệt này.
3/ Nguyễn Văn Thảo, quân sự, cao 1 mét 78, nặng 68kg. Một con rái biển của biệt hải miền Nam.
4/ Võ Chuyên, quân sự, cao 1 mét 75, nặng 70 kg. Một hung thần xung kích. Do truyền thống gia đình đã có nhiều hận thù sâu nặng với cộng sản, anh đã có nhiều lần tử chiến với quân cộng sản. Ngực anh đã xâm hai chữ “sát cộng”, thề không đội trời chung với kẻ thù là lũ công khát máu.
Trong số 4 người quả cảm, ưu tú của người nhái được tuyển chọn này, có hai anh Tâm và Chuyên những năm trước đấy đã được đi dự khóa luyện đặc biệt đầu tiên về biệt hải ở Đài Loan. Khi đó các anh còn trong liên đội quan sát I do thiếu tá Phạm Văn Phú làm liên đội trưởng và đại úy Lê Văn Tất làm liên đội phó, trực thuộc sở khai thát địa hình do đại tá Lê Quang Tung chỉ huy.
Các anh được huấn luyện bổ sung và thực tập công tác ở một doanh trại đặc biệt bên Mỹ Khê, Đà Nẵng. Ngoài những huấn luyện viên về chuyên môn, người trực tiếp chỉ huy là ông Phan và ông Lý (ông Phan cũng là người đưa tôi đi ở Đà Nẵng, ông Lý tôi cũng đã nói tới nhiều lần khi tôi còn ở Đà Thành), và một người cố vấn Mỹ tên là Robert, cũng là một con cá kình của người nhái Mỹ.
Vào một ngày cuối tháng 10 năm 1962. Khoảng 10 giờ sáng tại một bến hẻo lánh bên biệt khu hải quân gần Sơn Trà, Đà Nẵng, cả ông Phan, ông Lý và Robert cố vấn đã hân hoan, niềm nở cùng 4 chúng tôi (từ đây là lời Lê Văn Kinh) sắp xếp, chuẩn bị với những vật dụng trang bị từ vũ khí đến hải mìn. Chiếc hải thuyền đưa chúng tôi đi, trang bị như nhiều thuyền đánh cá khác ở những vùng ven biển. Thủy thủ đưa chúng tôi gồm 10 người, trong đó có bác Vương Tiến An làm thuyền trưởng và anh Nguyễn Dụ là thợ máy. (Anh Dụ này cũng là thợ máy trong chuyến đầu tiên của tôi đổ bộ hụt ở ranh giới 2 huyện Kim Sơn và Nga Sơn). Khi đó tôi chỉ biết tên anh là Tarzan theo Phan gọi.
Đặc biệt trên hải thuyền có một chiếc thuyền gỗ con. Chiếc thuyền gỗ này làm giống hệt theo kiểu những chiếc thuyền con dùng để đánh đáy ở các cửa sông ngoài miền Bắc. Theo kế hoạch, khi hải thuyền đến ngang cửa sông Gianh sẽ lảng vãng ở ngoài khơi chừng 15 hay 20 cây số. Thả chiếc thuyền con xuống biển, bên trên vờ có 2 người ngồi chèo thuyền, nhưng thực tế, thuyền lắp ngầm một máy cực mạnh, có thể chạy 10 – 12 hải lý giờ.
Chiếc thuyền con sẽ tùy theo hoàn cảnh của từng đoạn đường, lúc dùng máy, lúc dùng chèo len lỏi vào cửa sông, lẫn vào những thuyền đánh đáy khác. Cứ thế rồi tiến sâu dần vào mục tiêu để thực hiện công tác. Theo quy định đã được phân nhiệm rõ ràng khi còn ở trong phòng hành quân ở Mỹ Khê thì:
Anh Võ Chuyên là toán trưởng. Anh Nguyễn Văn Tâm là toán phó. Khi đến mục tiêu thì cả 4 người, mỗi người sẽ ôm một hải mìn nổ chậm. Loại mìn này có chỗ điều khiển, bấm nút để điều chỉnh thời gian mìn nổ. Mỗi hải mìn nặng trên 3 kg. Sau khi quan sát tại chỗ, anh Võ Chuyên chỉ định từng mục tiêu cho mỗi người. Cuối cùng chính anh cũng phải ôm một hải mìn đến đặt, để phá một chiếc tầu mà chính anh đã tự nhận.
Sau khi ông Phan, Lý và Robert đã kiểm tra lại đầy đủ mọi vật dụng cho chuyến đi là những cái bắt tay nồng nhiệt, những lời chúc thành công và hẹn ngày mai, cũng vào giờ này sẽ ra đây đón do những người ở lại. Chúng tôi rời bến hải khu lúc 11 giờ, cái lúc mặt trời đang mở to mắt, quắc lên từ trên cao nhìn thẳng xuống hải thuyền. Trên hải thuyền còn lại tất cả 14 người gồm, 10 thủy thủ và 4 chúng tôi. Con thuyền rẽ sóng âm thầm ra khơi, hướng về phía Bắc.
10 giờ 15 phút tối hôm đó, bác An thuyền trưởng báo cho chúng tôi biết là thuyền đang ở ngoài khơi cách cửa sông Gianh từ 15 đến 20 cây số. Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị hành trang, đồ nghề. Cuối cùng, chúng tôi hè nhau đẩy chiếc thuyền con từ trên thuyền lớn xuống biển.
Đã được phân công từ trước, 3 người thủy thủ to khỏe, nhanh nhẹn tháo vát sẽ chèo và lái thuyền con đưa chúng tôi đến mục tiêu. Ba anh thủy thủ, sau này chúng tôi được biết tên là Hoàng Bài, Trịnh Văn Truyện và Nguyễn Dụ là thợ máy. Thuyền con rời hải thuyền lúc 10 giờ 35 phút.
3 thủy thủ, 4 chúng tôi gồm tất cả là 7 người, trên chiếc thuyền con, mở máy lầm lủi, tiến sâu vào cửa sông Gianh. Hơn 1 giờ sau, trong cái lấp loáng mờ ảo giữa nước với trời, chúng tôi đã nhìn thấy những ánh đèn đầu le lói của những chiếc thuyền đánh đáy ngoài cửa sông. Chúng tôi cùng bảo nhau, một mặt tắt máy đi, mặt khác cũng thắp lên ngọn đèn con như những thuyền của họ.
Len lỏi qua những bè đáy, có lúc rất gần, chúng tôi trông thấy cả những bóng người ngồi trên những con thuyền nhỏ đánh đáy. Theo những hoạch định ngay từ ngoài khơi, 4 chúng tôi và anh Hoàng Bài nằm sát xuống sạp thuyền, che bạt ở trên. Như vậy, trông xa chỉ có anh Nguyễn Dụ và Truyện chèo thuyền. Tuy chúng tôi nằm, mà lòng vẫn bồn chồn, hồi hộp, căng thẳng trong những giờ phút đã tiếp cận với kẻ thù. Thậm chí, có lần chúng tôi còn nghe thấy cả giọng Quảng Bình nặng chịch hỏi ré lên:
– Sao về sớm rứa!
Tiếng hỏi thọc sâu vào tiếng sóng rầm rì; chúng tôi đều bảo nhau là hãy im lặng không trả lời. Qua được vùng đáy, thuyền chúng tôi đã vào hẳn bên trong cửa sông. Mập mờ, hai bên bờ sông, cảnh vật thấp thoáng chìm trong màn đêm và sương đục. Cửa sông Gianh rộng đến hàng cây số, nhưng càng sâu vào trong, càng hẹp lại. Vắng lặng, chỉ có tiếng gió thì thầm nói chuyện với tiếng sóng đêm, chúng tôi ngồi hết cả dậy, mở máy tiến vào mục tiêu. Trong cái mờ ảo của bóng đêm trên mặt sông, xa xa, chúng tôi đã nhìn thấy một vài ánh đèn lấp ló trên cao, khoảng ngang mái nhà. Kinh nghiệm cho chúng tôi biết, đấy là những chiếc đèn canh đêm trên chòi lầu.
Lúc này đã 12 giờ 15 phút, thuyền chúng tôi giảm ga, giảm tốc độ, cho tới khi chúng tôi đã nhìn rõ những chiếc tầu thân xám xậm đang nằm say sưa ngủ trên mặt sông. Nước thủy triều đang dâng lên cao, tắt hẳn máy, dùng chèo, chúng tôi tiến sát gần những chiếc tầu. Trong một cái hủng sông phía bờ trái, có nhiều cây dại mọc trùm xuống mép nước, chúng tôi lần mò, lách thuyền vào. Thuyền chúng tôi chỉ cách những chiếc tầu của địch từ 100 đến 150 mét là cùng. Trong màn sương đêm, chúng tôi đều trố mắt quan sát toàn bộ khu vực có thể nhìn được, không kể những chiếc thuyền gỗ nhỏ, chỉ có 6 chiếc tầu, 3 chiếc khằm xuống hẳn, vì chứa đầy hàng bên trong.
Khi đã quán triệt tình hình và điều kiện tại chỗ, anh Võ Chuyên đã phân công rõ ràng: Lê Văn Kinh và Nguyễn Văn Tâm có nhiệm vụ gắn mìn, phá 2 chiếc tầu chéo phía trong cách khoảng 150 chục mét. Nguyễn Văn Thảo và chính anh Chuyên sẽ phá 2 chiếc ngay phía trước mặt, chỉ cách 90 đến 100 mét. Hai chiếc này thật to, mỗi chiếc dài đến 30 mét, lại chở nặng khẳm.
Theo quy ước đã thống nhất khi mọi người rời thuyền con: sau khi dùng chuyên môn gắn hải mìn vào nơi thân tầu đã quy định. Để thời gian nổ chậm là 2 giờ rồi bấm nút, rời mục tiêu, bơi ngay về chỗ thuyền con. Phòng hờ một vài trục trặc bất ngờ, nên đã đều nhất trí để thời gian mìn nổ là sau 2 tiếng đồng hồ. Thực ra, thời gian bơi đến mục tiêu, gắn mìn, rồi trở về thuyền con, thuyền con chạy ra thuyền mẹ là hải thuyền đang chờ ở ngoài khơi chỉ hết khoảng 1 giờ 30 phút đến 1 giờ 40 phút là cùng. Nghĩa là khi hải mìn nổ, thì cũng là lúc hải thuyền đang trên đường trở về Đà Nẵng rồi.
Tính ở trên là tính theo cái lẽ thông thường của cuộc đời. Tính nước chảy xuôi theo giòng, mà cuộc đời lại vẫn có cái lẽ không thường của nó và những giòng nước chảy ngược lại thì ít ai tính được. Bởi vậy, (từ đây theo lời của các anh Truyện, Hoàng Bài và Nguyễn Dụ. Ba người thủy thủ còn lại trên chiếc thuyền con. Sau này, 1972, tôi gặp ở trại chính Phố Lu thuật lại) khi các anh Kinh, Tâm và Thảo đã xuống nước bơi đi đến 5 – 10 phút rồi, anh Võ Chuyên mới đeo các đồ nghề người nhái, ôm mìn tụt xuống nước.
Sau khi anh Chuyên đã xuống nước rồi, bơi được hơn một chục mét, không hiểu nghĩ thế nào, anh lại bơi quành trở lại thuyền, ra hiệu cho anh Truyện trao cho anh khẩu tiểu liên ở trên thuyền mà anh muốn mang theo. Anh Truyện vừa trao khẩu súng cho anh Chuyên, thình lình một ánh sáng vàng chóe, loáng lên trong đêm đen. Rõ ràng, anh Truyện nhìn thấy chiếc tầu lớn phía trước mặt được phân công cho anh Thảo đặt mìn phá, bỗng dưng nhẩy chồm lên khỏi mặt nước, một tiếng nổ tưởng xé màng tai. Một làn hơi ép xô mạnh đến làm quay ngang chiếc thuyền con đang ở cách chiếc tầu đến 90 mét. Cả một khoảng sông sóng cuộn lên. Chúng tôi nhớn nhác mất cả tinh thần, vội vàng kéo anh Chuyên lên thuyền. Nhìn về phía anh Tâm và Kinh, trời tối đen kịt, không thấy bóng dáng các anh đâu. Nước lại chảy xiết, lúc này khắp nơi vang lên tiếng kêu, gọi nhau, tiếng quát tháo inh ỏi rồi tiếng còi hụ báo động ong ỏng rên lên. Thấp thoáng đã có những vệt đèn pin vạch kẻ màn đêm chằng chịt thành nhiều nét. Chúng tôi trên thuyền con đã hơi chợt hiểu. Có thể anh Thảo, trong lúc chìm sâu dưới đáy nước tinh thần lại căng thẳng nên đã điều chỉnh, bấm nút nhầm từ 2 giờ như đã quy định thành 1 phút hay 2 phút. Và như vậy, hẳn rằng thân xác của anh cũng đã tan theo quả mìn định mệnh, không những phá được tầu của địch mà còn giết cả người đặt mìn.
Do chúng tôi suy đoán như vậy, cho nên chúng tôi chỉ hướng về nơi các anh Tâm, Kinh đón các anh rồi tẩu vi thượng sách. 5 phút, 10 phút tình thế nước sôi, lửa bỏng, nhưng vẫn bặt dáng các anh. Chúng tôi suy đoán, có lẽ vì nước chảy quá mạnh, các anh khó bơi ngược trở lại thuyền con, vì vậy, chúng tôi chèo thuyền con về phía các anh để đón. Nhưng trong đêm tối mịt mù, lúc này khoảng gần 2 giờ đêm. Thời gian như căng trên sợi chỉ, không thể cho phép chúng tôi chờ chực được nữa. Nhất là khi đã có vài tràng súng AK đanh đanh thọc vào sông nước, vắt vào đêm trường, kết hợp với những tiếng máy ca nô khởi động rú lên. Bốn chúng tôi quay mũi thuyền trở ra và mở hết tốc độ…chuồn.
Trên đường tháo chạy, đã có những chiếc ca nô rượt theo bắn đuổi. Do sự bắn trả quyết liệt của anh Chuyên, nên chúng nó đuổi rất chậm. Chúng tôi lại không có súng (đến đây là lời tường thuật của anh Truyện, thủy thủ). Khoảng 3 giờ 30 sáng, thuyền con của chúng tôi chạy ra tới thuyền mẹ. Lúc này, rất nhiều tầu và ca nô từ trong bờ, vừa tiến ra bao vây vừa bắn xối xả. Cả đại liên lẫn tiểu liên, đạn réo lên ào ào về phía thuyền của chúng tôi. Chúng tôi vừa bắn trả, vừa mở máy tối đa chạy về hướng Nam. Dọc đường, gặp những ca nô và thuyền từ trong bờ xông ra chẹn đường chúng tôi về. Với một ý chí quyết tử, chúng tôi mở máy xông bừa vào thuyền chúng. Trước sự dũng mãnh thà chết của chúng tôi, chúng phải tránh dạt để thuyền chúng tôi đi.
Trời sáng dần, rồi mặt trời ngoi lên nhìn rõ cảnh và vật. Phía sau chúng tôi, lổm nhổm nhiều tầu và ca nô biên phòng của cộng sản đuổi theo. Thuyền chúng tôi chỉ có 4 khẩu tiểu liên của 4 người nhái. Ba khẩu của các anh Tâm, Kinh, Thảo để lại thuyền, chúng tôi là thủy thủ, hầu hết là dân sự, chỉ chuyên nghề chài lưới, vì thế, anh Chuyên đã chỉ bào cấp tốc cách xử dụng tiểu liên để chiến đấu trong giờ phút ngồi trên nồi rang này.
10 giờ, rồi 11 giờ, lù lù, một đoàn tầu 4 chiếc của hải quân cộng sản từ Đồng Hới tiến ra chận đường của chúng tôi. Nhìn chiếc hải thuyền nhỏ bé, với những chiếc tầu to nhỏ phía trước, phía sau, tôi có cảm tưởng chiếc hải thuyền như con nai tơ đơn độc bị một đàn sói thèm thịt bao vây trên thảo nguyên bao la hoang vắng, không còn một hướng, một phương nào cho con nai vàng chạy thoát.
Vòng vây càng lúc càng xiết chặt dần, nhất là lúc này trên hải thuyền đã có 3 – 4 người bị thương. Anh Chuyên đã bị một viên đạn đại liên gẫy nát cánh tay trái. Tôi (tức Truyện) bị một viên đạn AK bắn rách hông, xuyên vào ngực phía phải anh Hùng đang đứng phía sau. Tầm viên đạn oan nghiệt sau khi vào tôi đã yếu đi, nên đến ngực anh Hùng nó không đủ sức xuyên qua. Hải thuyền đã bị vỡ nát nhiều chỗ, vì vậy, chúng tôi đành đau đớn nhìn nhau để mặc cho đời trôi theo giòng nước chảy ngược.
Lúc những tên cộng sản đầu tiên bước lên hải thuyền, cũng là lúc một phát súng chát chúa giật lên, làm choáng hồn mọi người. Những tên cộng sản thụt lùi lại mấy bước, mặt nhớn nhác. Chúng tưởng chúng đã bị lọt ổ phục kích. Nhưng đó chỉ là phát súng cuối cùng của anh Chuyên đã tự kết liễu đời anh. Anh đã thực hiện đến cùng lời thề thiêng liêng của giòng họ: không đội trời chung với cộng sản.
(Xin nghiêng mình, cúi đầu trước anh linh của anh. Anh đã quyết tử để làm vẻ vang, sáng chói lý tưởng tự do bất khuất trước bè lũ cộng sản khát máu.. Nhớ xưa (1958), cái ngày nền đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta trăm hoa còn rộ nở khắp nơi nơi ở miền Nam, anh đã chiếm giải nhất trong một cuộc thi lực sĩ đẹp, và người nữ sinh hoa khôi của miền cát trắng hiền hòa Nha Trang đã e ấp choàng vòng hoa danh dự vào cổ người trai hùng. Rồi những sắp xếp của duyên đời để anh và giai nhân ấy đã nên duyên chồng vợ, làm xôn xao lòng ngưỡng mộ của miền Thùy Dương một thời. Anh chị đã có hai mặt con. Ngày nay, sau gần ba chục năm dài, chị và hai cháu đang ở đâu? Còn sống hay thế nào? Chị và hai cháu có biết rằng anh Chuyên đã anh dũng nằm xuống cho quê hương? Chị và hai cháu hãy ngửng mặt lên với lòng tự hào đã có một người cha, một người chồng sống bất khuất xứng đáng nhưng khi anh phải nằm xuống còn làm cho kẻ thù kinh hồn, run sợ.)
Chúng trói giặt cánh khuỷu từng người, rồi đưa chúng tôi vào trong bờ. Khi vào đến bờ thì anh Hùng đã chết rồi, có lẽ viên đạn đã lọt vào phổi của anh. Như vậy, anh Hùng cũng đã thực hiện được ý định của anh trước đây. Anh là người vượt tuyến vào Nam năm 1960. Khi anh đã đến được bờ của đất tự do, anh có tự hứa rằng: rồi đây, thà anh chết cho tự do, còn hơn sống trở lại chế độ cộng sản. Những năm, tháng trước đây, mỗi khi anh thổ lộ tâm sự anh thường nói với mọi người như thế.
Chúng đưa chúng tôi về trại giam Quảng Bình, giam riêng mỗi người mỗi nơi. Riêng tôi, có lẽ phần vì bị thương, phần khác tôi chỉ là một người đưa thuyền nên chấp pháp chỉ xuống buồng hỏi sơ 4 -5 lần về lý lịch cũng như sự việc. Mãi hơn 2 tháng sau tôi được đưa ra xử trước tòa án nhân dân ở Quảng Bình tôi mới gặp lại anh Tâm và anh Kinh.
Đến đây về phía Lê Văn Kinh tường thuật lại: sau khi tôi nhận hải mìn, tôi và Nguyễn Văn Tâm bơi về phía 2 chiếc tầu mục tiêu của chúng tôi. Khi gần tới chiếc tầu, tuy chẳng cần ai phải nói với ai. Do những kinh nghiệm qua nhiều lần công tác, chúng tôi đều im lìm lặn xuống nước, vì sợ bất ngờ người canh gác ở trên tầu nhìn thấy. Mục tiêu của tôi và Tâm tuy cùng một hướng nhưng cũng ở cách xa nhau hàng 5 chục mét, trong khi chỉ cần 5 mét đã không nhìn thấy người rồi. Khi tôi bơi đến sát con tầu mục tiêu của tôi, tôi lặn xuống phía đáy. Tôi đang chuẩn bị gắn hải mìn vào chiếc tầu thì đột nhiên như có người dùng cái vồ dầm, phang mạnh vào đầu tôi. Tôi không thở được nữa, tay tôi buông rơi cả hải mìn và hồn tôi dật dờ, lãng đãng lạ lùng, rồi tôi không biết gì nữa. Một lúc, tôi mơ màng mở mắt ra, trời đen kịt, tôi không biết đâu là phương hướng. Tay tôi sờ thấy bờ đất và tôi tỉnh dần. Trong cái hỗn mang của sự sinh tồn, tôi thấy cần phải bơi về phía chiếc thuyền con, điểm hẹn sau khi đã gắn mìn.
Khi tôi bơi về đến nơi thì thuyền con mất hút, tôi hoang mang, mất tinh thần. Tôi bơi khắp đây đó mò mẫm trong bóng đêm để tìm con thuyền cứu mệnh. Nhưng nỗi lòng của tôi cũng đen tối như đêm đen lúc này. Trong bóng đêm, tiếng hò hét, tiếng quát tháo xen lẩn tiếng máy tầu nổ râm ran. Thỉnh thoảng xa xa vài tràng súng AK ré lên, vọng lại, càng làm cho hồn tôi kinh đảm tái tê. Tôi lạc lõng, bơ vơ nhìn vào đêm tối. Tôi thấy rõ đời mình đang lăn đi bằng ánh mắt não nề, xót xa. Người tôi rã rời, đầu tôi tê dại, bồng bềnh. Tôi tấp mình nằm im trong một hốc cỏ dại mé sông. Trời càng sáng thì đời tôi càng đen thẫm lại. Chúng đã tìm thấy tôi, chúng hè nhau lôi tôi lên bờ. Chúng nó đạp, đá; chúng nó lấy báng súng phang tôi lia lịa, cuối cùng tôi ngất đi. Đến khi tôi tỉnh lại thì chúng đã trói gô giặt 2 tay về phía sau từ bao giờ rồi, chúng giong tôi về trại giam Quảng Bình. Tôi nhớ rõ, khi tôi tỉnh lại, tôi thoáng thấy anh Tâm cũng đang bị một đám đông vây lại đạp, đánh. Rồi mỗi người mỗi hướng từ đấy. Vì có nhiều người cùng bị bắt trong một vụ, nên chúng khai thác chả khó khăn gì. Không thể che dấu được gì khi chúng lấy người này để khai thác, gài bẫy người kia. Cuối cùng ai cũng phải khai thực hết. Chính vì vậy, chỉ hơn 2 tháng sau, chúng đã đem vụ án sông Gianh ra xử. Phần khác vì lý do chính trị chúng muốn đưa những tội phạm ra xử sớm để trấn an lòng người và tranh thủ lẽ phải đối với dư luận thế giới.
Phiên tòa chúng tuyên truyền rầm rộ, mời nhiều phóng viên ngoại quốc và dân chúng tham dự đông đảo. Sau một ngày, qua những thủ tục, hình thức xỉ vả, huênh hoang đe dọa, nâng lên, đập xuống của lũ vẹt không hồn, không tim chúng kết án:
Nguyễn văn Tâm, chung thân. Vì đã gài xong mìn, mà chúng đã tháo gở kịp trước thời gian.
Lê Văn Kinh, 20 năm.
Nguyễn Dụ, thợ máy, 12 năm.
Hoàng Bài, Trịnh Văn Truyện, mỗi người 6 năm.
Bác Vương Tiến An già, 5 năm.
Thủ, Hoàng, Thiêm v.v… mỗi người 3 năm.
Xử xong, chúng chuyển cả nhóm về Hỏa Lò, rồi chuyển lên trại Mỏ Chén, Sơn Tây. Đến năm 1966, chúng lại chuyển anh em thủy thủ và Tâm lên trại Yên Thọ, thuộc tỉnh Phú Thọ. Riêng Lê Văn Kinh thì được chuyển về phân trại E thuộc trại trung ương số I, Phố Lu, Lào Cai này.
Hôm nay là Chủ Nhật, một Chủ Nhật không phải đi lao động xã hội chủ nghĩa vinh quang. Nhưng không đi lao động thì không có ăn sáng. Quen mỗi buổi sáng có mấy mẩu sắn nhét vào dạ dầy, hôm nay phải nhịn teo nên ai cũng bải hoải, rã rời. Hầu hết mọi người, sau khi chờ cán bộ vào điểm số xong, đều nằm trở lại, để ngâm dấm với cái bao tử rỗng. Cho nên lâu lâu có một Chủ Nhật được nghỉ lao động thì vui thật; nhưng cái bụng lại bị lép kẹp thì chẳng còn vui mấy.
Tôi cũng nằm rán cho hồn bồng bềnh một lúc. Chợt nhớ hôm nay sẽ gặp Lê Văn Kinh để biết sơ lược về vụ án người nhái ở sông Gianh, tôi bò nhổm dậy, xuống giếng rủa mặt.
Ánh nắng sớm, đã nhuộm vàng mấy ngọn nứa phía cuối sân. Nền trời xanh thẳm, cao ngất. Chéo phía tây, những lớp mây trắng đục hình vảy cá, xếp đều đặn trông như một cái tổ ong khổng lồ. Phía trên của lớp mây ửng lên, vàng chóe như viền của những chong đèn cù trong ngày hội. Cây rừng im ả không một làn gió, vài chiếc lá nứa mỏng dính, nhè nhẹ ngút ngắc, đong đưa càng nói lên cái êm ả của một buổi sớm trong rừng già.
Ngoài sân, trong hội trường, đây đó cũng có vài bóng người. Hẳn cũng như tôi, muốn gửi hồn vào thiên nhiên vắng lặng của buổi sớm mai trong ngục tù. Những mầu sắc rực rỡ tươi rói dưới nắng Xuân của mấy bông bách hợp đã kéo tôi lại bên luống hoa trước ngôi nhà số I. Một cây thược dược ngay ở đầu luống chỉ chừng tuổi mười sáu, có một chiếc nụ còn buộc kín, trên đầu hơi loe, thò ra một giải con con mầu tím xậm băng trinh. Bên cạnh là một đóa hoa đến thì nở rộ, vươn cao. Những cánh hoa nhung mượt, tím ngắt, hơ hớ, e ấp còn ngậm mấy giọt sương đêm, dáng dấp như một cô tiểu thư đài các, trâm anh đang đứng cạnh mấy nàng thôn nữ cúc vàng đại đóa phía bên trong.
Một con bướm cánh vàng hoe, thân và đầu đen thẫm, lả lơi rời bông hoa bách hợp kép để sà đến cô nàng thược dược đang lắc lư đợi chờ. Cái mùi thanh thanh ngòn ngọt của thế phiệt trâm anh quyện chặt vào cái mùi nồng nồng, ngầy ngậy của mộc mạc thôn dã phả dài vào ánh nắng Xuân. Hồn tồi ngất ngây, quên cả thực tại đến nỗi, đã rỉ ra mấy câu thơ cóc nhẩy:
Muôn hồng ngàn tía, sắc hoa tươi,
Nhún nhẩy, đong đưa mỉm miệng cười.
Tôi còn đang thả hồn chìm lắng vào một trời sắc hương thì một giọng nói đanh và ấm cất lên ngay phía sau lưng đã làm tôi tỉnh hẳn một giấc mộng ngày:
– Trong mấy luống hoa này, anh thích loại hoa nào nhất?
Tôi quay lại, hơi điếng hồn! Tôi không thể ngờ vì đó là Hoàng Thanh, ông ta mỉm cười với tôi. Mắt tôi còn kịp thấy nhiều người ở những cửa buồng, và ở phía xa xa đang nhìn về phía tôi và Hoàng Thanh. Ngay đầu luống hoa nhà số II, từ nãy có 2 -3 người đứng cũng đã lủi đi mất.
Sau một giây bàng hoàng lúc đầu, vì tôi không thể nghĩ Hoàng Thanh lại vào trại ngay buổi sáng sớm ngày Chủ Nhật như thế này. Tôi lại liên tưởng đến cái ngày ông ta thả cùm tôi hơn nửa tháng trước, vì vậy tôi cũng mỉm cười, gật đầu chào ông ta. Hoàng Thanh, nhìn như không cần chú ý vào nét ngỡ ngàng của tôi, ông ta hất hàm vào luống hoa và nhắc lại câu hỏi khi nãy.
Trong lòng tôi thực sự cũng hơi chờn, vì dù sao thì y cũng là một tên hung thần ác ôn. Tôi định tìm một thế rút lui để tránh vạ là hơn, nhưng nhìn mặt y lúc này rõ ràng cởi mở, không có mùi sát khí. Tôi tự nghĩ, thì mình cứ nói chuyện đàng hoàng đã sao. Nghĩ thế, tôi ung dung trả lời:
– Thưa ông, mặc dù mấy bông hồng và vạn thiên kim đẹp thật, nhưng tôi vẫn thích thược dược hơn. Cái đẹp của nó có vẻ khép kín, khiêm tốn.
Mắt Hoàng Thanh sáng lên long lanh, đầu y gật gật, nét vui lộ hẳn ra mặt:
– Riêng về điểm này, sao anh lại giống tôi thế!
Rồi như ý tưởng của y được khơi dậy, y vồn vã kể lại cái ngày y được cử đi học ở bên Trung Quốc. Vì thích hoa, ngày Chủ Nhật, y đã đạp xe đạp hơn 20 cây số để thăm một cái trại hoa khổng lồ ở ngoại ô Bắc Kinh. Y kể, tả lại bao nhiêu loại hoa hiếm quý; rồi những buổi, y đi thăm những vườn hoa ở Ngọc Hà, Hà Nội v.v… Khi có kẻ “đồng thanh tương ứng” đã làm cho tôi say sưa cũng kể và tả lại những vườn hoa trác tuyệt của Đà Lạt mộng mơ mà tôi đã có dịp đến thăm khi mới di cư vào Nam.
Từ những chuyện chuyên đề về hoa, khi đề cập tới cái cao quý của bông sen, tôi liên tưởng tới những bộ hoa tứ bình. Hoàng Thanh thấy tôi nói về tứ bình, y chặn lại hỏi ngay:
– Anh có hiểu nhiều về những bức họa của Việt Nam và Trung Quốc không?
Tôi hơi chột dạ, vẻ ngượng ngập lúng túng lộ ra:
– Thưa ông, về lãnh vực hội họa thì tôi chả biết gì cả. Tôi chỉ thấy một bức tranh đẹp thì thích ngắm nghía chứ tôi chả hiểu xuất xứ, nội dung của nó. Tôi chỉ biết mấy bộ tứ bình, vì hồi tôi còn ở trong Nam, tôi có một người bạn vong niên làm sơn mài. Anh đã chỉ cho tôi biết mấy bộ như: Cúc, Trúc, Lan, Mai và một bộ nữa là: Liên, Áp, Lộc, Tùng, Mai Điểu, Trúc Tước.
Y quay lại hỏi tôi như khảo bài:
– Thế, anh có biết những bộ đó thuộc về thời nào không?
Thật mình đã dốt, lại cứ muốn tỏ ra ta hiểu biết nên đã thò đuôi ra cho y nắm:
– Thưa ông tôi không biết!
Hoàng Thanh coi như cái kém cỏi của tôi là đương nhiên, dù tôi đã 30 tuổi đời nhưng đã có 6 năm nằm trong ngục tối. Bởi vậy, y nói như giải thích:
– Hai bộ đó thuộc đời Đường!
Rồi một phần vì đang say sưa trong câu chuyện, phần khác, cũng muốn khoe cái hiểu biết của mình, y niềm nở hỏi tôi:
– Anh có bao giờ nghe nói về “bát cảnh danh họa” của Trung Quốc chưa?
Phần vì cũng hơi tò mò, phần nữa cũng muốn “đắc nhân tâm” làm cho y vui lòng nên tôi lắc đầu, mắt mở to háo hức chờ đón. Hình như tôi đã gãi đúng chỗ ngứa của y. Y quay lại dựa hẳn vào chiếc hàng rào nứa của luống hoa. Rồi như y chuẩn bị để tôi có thể tiếp nhận hết được những ý nghĩa tinh túy của những bức họa, y nói:
– Như anh đã biết đấy, trong cuộc đời cái gì vui thì thường hay nông cạn, không có chiều sâu, người ta dễ quên đi. Bởi vậy, những tác phẩm bất hủ của loài người thường có nội dung buồn. Nỗi buồn nó mới gậm nhấm lòng người da diết. Sau mỗi khi y nói tên một bức họa, y lại vừa như giải thích vừa như bình phẩm như sau:
1/ Tiêu Tương dạ vũ.
Đêm khuya mà mưa dầm trên sông Tiêu Tương thì thật buồn.
2/ Yên tự vãn chung.
Tiếng chuông thu không trong một ngôi chùa vắng thì buồn ơi là buồn.
3/ Giang Thiên mộ tuyết.
Một nấm mộ hoang, tuyết phủ bên một giòng sông tịch mịch.
4/ Ngư thôn tịch chiếu.
Một xóm chài lưới đầu ghềnh phản chiếu ánh chiều tà vắng lặng.
5/ Sơn thị tình lam.
Một cái chợ trên miền sơn cước; chiều tàn, dăm chiếc lều xiêu vẹo, vài bóng người trên sườn đồi.
6/ Viễn phố quy phàm.
Một cánh buồm trôi về bến xa vời giữa cảnh trời nước mênh mông.
7/ Bình sa lạc nhạn.
Trên bãi biển chiều vắng lặn, một cánh nhạn lẻ loi lạc đàn.
8/ Động Đình Thu nguyệt.
Trăng thu trên hồ Động Đình. Tĩnh lặng chỉ có tiếng cú kêu lẫn vào tiếng gió ngàn.
Theo Hoàng Thanh, cũng vào lần đi học ở Trung Quốc 1957, y đã gặp một họa sĩ già đang bị nhà nước Trung Quốc quản chế ở Quế Sơn đã cho y biết. Bây giờ đã là năm 1968. Như vậy đã 11 năm, mà y còn nhớ rành rọt như nhớ một bài học thuộc lòng.
Tôi và Hoàng Thanh đứng cạnh luống hoa trước ngôi nhà số I cứ miên man chuyện trò cho tới khi kẻng bom ở cổng rổn vang lên, báo hiệu giờ lấy cơm trưa. Cả y và tôi đều choàng tỉnh, không ngờ thời gian lại đi mau như vậy. Lúc đầu còn nói chuyện hoa, sau ra chuyện họa, mà họa thật. Ngay từ buổi chiều hôm ấy, rất nhiều anh em trong trại đã nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh lùng, khinh khỉnh. Cả Lê Sơn, Quý Cụt, Nguyễn Huy Lân v.v… họ cũng có thái độ lạnh lùng với tôi. Tôi thật buồn, làm thế nào để thanh minh được? May, chỉ có bác Lẫm và Vân mới thông cảm với tôi. Mấy ngày sau, bác Lẫm đã gặp riêng tôi, hỏi vẻ buồn trách:
– Sao Bình lại chuyện trò vui vẻ với Hoàng Thanh như bạn vè thân thiết thế? Bình có biết rằng nó đã giết chết bao nhiêu người của chúng ta rồi không?
Tôi cũng buồn, trả lời bác Lẫm, đây là một chuyện hoàn toàn vô tình. Hơn nữa, theo sự suy nghĩ và quan điểm của tôi lúc ấy: dù có phải giết nhau, nhưng chúng ta vẫn có thể lịch sự với nhau. Điều đó chỉ chứng tỏ lòng mình, lập trường của mình đã được tôi luyện vững chắc rồi. Tuy thái độ lịch sự, lời nói mềm mỏng nhưng nó có thép ở trong. Tuy thế, tôi cũng đã thấy khuyết điểm của tôi. Tôi nhìn nhận, đó là bài học cho tôi.
Theo quan điểm của đại đa số anh em tù giai đoạn ấy là không bao giờ được cười cợt, đùa bỡn với kẻ thù. Thái độ phải nghiêm chỉnh, lạnh lùng khi phải tiếp xúc với cán bộ. Tôi là người ít nhiều có nghiệp vụ để hoạt động chính trị. Tôi hiểu rằng, đôi khi để đạt được mục đích tối hậu, có nhiều khi phải để quần chúng hiểu lầm mình. Nhưng phương cách ấy, ở đây, lúc này không thích hợp. Tuy vậy, sự thật trước hay sau bao giờ cũng chỉ có một. Bởi vậy, những ngày sau đó, anh em cũng đã dần dần hiểu ra nên đã trở lại bình thường, chỉ có riêng tôi vẫn phải suy nghĩ về Hoàng Thanh. Tôi vẫn chưa trả lời được vì sao, y đã tha cùm cho tôi, và vì sao y có vẻ có thiện cảm với tôi? Suy nghĩ hướng nào cũng có mâu thuẫn, chỉ có thể tạm chấp nhận cái lý, tình cảm riêng tư đặc biệt của mỗi người, mà nhiều khi chính người đó cũng không lý giải được. Mặc dù cùng gặp một lúc, chưa hề tiếp chuyện nhưng tôi lại ưa người này, mà lại không ưa những người kia, làm sao mà giải lý? Cũng có thể là một con cáo già cao tay nên đã làm mờ cái nhìn của tôi, đã không thể nhìn rõ được y chăng? Thời gian và sự việc tôi sẽ làm sáng tỏ.
Trong những câu chuyện anh Bách kể cho tôi nghe, có một chuyện làm cho lòng tôi cũng thấy hơi hơi thích thú nên không thể quên được. Nhưng để ý nghĩa của câu chuyện đó thêm sáng tỏ, tôi phải trình bầy một vài sự việc có liên quan:
Ai cũng biết miền Bắc Việt Nam, hầu như đến 7 – 8 phần mười đất đai là núi và rừng, lưu cữu từ hàng bao nhiêu ngàn năm, nơi hợp lưu chất chứa, tích tụ và xuất phát của giòng giống Bách Việt. Ngày nay còn lại những nhánh, chỉ, riêng biệt bao gồm hàng 5 chục tộc như Mường, Mán, Mèo, Xạ Phang, Thái, Nùng v.v…mà mỗi tộc lại tin tưởng thờ cúng một số thần thánh, một số ma quỷ trong nơi rừng sâu hoang dã, hẻo lánh, đầy huyền bí man dại, cách biệt hẳn với thế giới văn minh của loài người; những âm binh, thiên tướng, ma trành, ma xó, thày mo, thày pháp, thư, ếm v.v… Còn nữa, nào là long mạch, quy mạch, mồ mả, thầy tướng, thầy số, thầy đồng, các cô, các cậu, tạo nên hàng ngàn, hàng chục ngàn những câu chuyện ma quái, thần thánh ở các địa phương cứ như thật, tưởng như ai cũng trông thấy hết, mà ai cũng hơn một lần nghe người khác kể lại.
Những sự việc đó, cứ thông truyền từ đời nay qua đời khác, từ thế hệ này thế hệ kia. Nó lan tràn chui sâu, luồn lách vào từng đường gân, thớ thịt trong tim, óc của mọi người. Thậm chí cho tới bây giờ, những thứ ma quỷ đó vẫn còn ngự trị ở trong lòng nhiều người, chưa biết đến đời nào mới hết? Lòng tin tưởng ấy đã gắn liền vào xương, vào thịt của họ. Đến nỗi tôi nghĩ rằng, đối với nhiều người thà họ bị giết chết, chứ không thể diệt được lòng tin của họ vào những điều dị đoan, mê tín. Điển hình, tôi xin tường thuật lại 2 câu chuyện thực tế đã xẩy ra trong một khoảng đời ấu thơ của tôi tại quê tôi.
Câu chuyện thứ nhất:
Nhà tôi ở ngay cạnh con đường chính của huyện. Ban ngày có nhiều người đi chợ qua lại. Vì không có điện nên cũng như nhiều những vùng quê khác, ban đêm thì tối đen như mực, dành cho thế giới huyền bí, ma quái, ghê gớm, không ai biết được. Cách nhà tôi khoảng hơn nửa cây số, có một cây đa thật to, gốc rễ chằng chịt chiếm hẳn một khoảng đất rộng. Nó to đến người ta đã làm ở trong gốc của nó một cái miếu lớn mà người ta có thể ra vào được. Trong miếu này và chung quanh gốc đa, người ta chất, người ta treo la liệt những ông bình vôi đủ kiểu, đủ loại. Cây đa có rất nhiều cành, nhiều ngọn um tùm, che rợp bóng hàng mẫu đất. Người ta nói cây đa này đã có từ hàng trăm năm, và ngọn của nó soi bóng sang mãi bên Tầu, vì Tầu nó để của và ếm thầy, bùa ngải để giữ của, giữ vàng. Cây đa này gọi là cây đa Hòa Lạc, vì nó nằm trên quãng đường huyện của làng Hòa Lạc.
Tôi đã được nghe hàng trăm câu truyện rùng rợn, kinh hoàng, dựng tóc gáy về cây đa này. Để rồi suốt thời gian ấu thơ của tôi, cây đa Hoà Lạc và cái đền hoang của bà chúa Đông Ngàn cũng gần đấy, đã làm tôi nhiều đêm không dám đi đái; trùm chăn kín đầu không dám cả thở mạnh, da gà nổi lên khắp tứ chi.
Một lần, một sự việc đã ghi hằn vào bộ óc non dại của tôi. Hôm ấy, huyện tôi có một đám rước lớn lắm. Đường làng, đường phố chỗ nào cũng đầy ắp những người. Trẻ con người lớn, ai cũng mặc những bộ quần áo đẹp nhất. Cờ, quạt, trống, kèn ầm vang cả xóm, ngõ. Hình như đó là ngày nào đám của các ông thần, bà chúa ở trong huyện, mỗi năm chỉ có một lần.
Tuy tôi ở thôn công giáo, nhưng trẻ con chúng tôi rủ nhau đi theo xem đám rước suốt ngày; hơn nữa, tôi cũng có nhiều thằng bạn ở những thôn bên lương. Đám rước thật dài, cứ một đoạn lại có một chiếc kiệu. Những chiếc kiệu sơn son, thiếp vàng nhiều kiểu, nhiều loại thật lộng lẫy uy nghi. Mỗi chiếc kiệu thường có 8 người thanh niên khỏe mạnh, mặc đồng phục khiêng, vác trên vai.
Lũ trẻ con chúng tôi thích và chú ý nhất một người mặc quần áo đỏ chóe, đội mũ cánh chuồn. Ông ta chừng 4 chục tuổi, dáng cao lêu nghêu. Ông ta bước từng bước dõng dạc, từ tốn giữa đám rước. Giữa má ông ta có một cái lình rất to, xuyên suốt từ má này má kia. Chiếc lình bằng đồng, trông như cái đại đao của Quan Vân Trường thu nhỏ, dài chừng 1 mét. Phía chuôi nhọn hoắt, to bằng ngón tay, chọc xuyên thủng qua 2 má. Một người mặc quần áo xanh, 2 tay 2 chiếc khăn đỏ, đỡ ngang một đầu lình. Ông này cũng trang nghiêm đi song song với ông áo đỏ. Một người nữa, 2 tay kính cẩn giương cao một chiếc lọng xanh áo to tướng, che trên đầu cho ông áo đỏ xuyên lình. Phía sau, có nhiều các bà mặc áo xanh, áo đỏ, tay lần hạt, miệng niệm kinh. Người ta nói rằng, ông áo đỏ đang thăng đồng, thánh đã nhập.
Chúng tôi mở to mắt, lạ lùng nhìn chằm chằm vào 2 miếng bìa mầu vàng, hình tròn to bằng quả ổi, dán vào 2 bên má, chỗ chiếc lình xuyên qua. Rõ ràng, không hề máu chảy. Như vậy, 2 cái lỗ ở má của ông xuyên lình phải to để cái lình xuyên qua chứ!
Quá trưa một tí, tự nhiên đám rước chùn ứ lại, rần rật, xôn xao cả lên. Chiếc kiệu của bà chúa Đông Ngàn và chiếc kiệu của ông thần Thành Hoàng của làng Tuần Lễ xoay ngang ra, chồm lên phía trước, rồi giật lại phía sau, cuối cùng xông bừa xuống ruộng, chạy vung cả nước lên. Hai chiếc kiệu cứ như say rượu, điên đảo ở giữa cánh đồng, lúa đã gặt rồi. Trên đường hầu hết đám rước, già, trẻ, lớn, bé đều quỳ mọp xuống đất, mặt đều hướng ra hai chiếc kiệu, lậy như tế sao, miệng khấn vái, cầu, kêu inh ỏi. Chúng tôi lúc đó cũng xanh cả mắt, sợ quá cũng phải quỳ xuống theo mọi người. Người ta bảo, ông thần, bà chúa đang tức giận dân làng.
Câu chuyện thứ hai:
Tôi nhớ rõ, lúc ấy khoảng năm 1947, tôi đã lên 9. Quê tôi vẫn còn nằm trong vùng kiểm soát của Việt Minh.
Vào một buổi đó, tôi cùng mấy đứa bạn trốn học theo người ta sang một xã bên cạnh, xem một trận thư hùng của hai con gà chọi nổi tiếng trong khu vực. Thật không may cho tôi, trong khi tôi đang hớn hở vỗ tay hoan hô một “pha” gay cấn của hai con gà thì bố tôi đi với bác tôi, chợt ghé vào nhìn thấy. Điếng hồn, tôi bỏ đám gà chọi, lủi lẹ; cho đến chiều hôm ấy tôi cũng không dám về nhà. Tôi hiểu rằng, chắc chắn tôi sẽ bị một trận đòn nên thân. Đợi mãi lúc trời đã cập quạng, tôi mới dám mò về phía hồi sau của nhà tôi.
Không ngờ, hôm đó nhà tôi lại có giỗ (tôi chưa biết giỗ ai). Trong nhà, họ hàng, chú bác đến đọc kinh râm ran đầy nhà. Phía sau nhà tôi có một bụi hóp rất rậm dọc theo chiều dài của ngôi nhà. Bụi hóp này là ranh giới giữa nhà tôi và nhà bên cạnh. Một mình tôi cứ lủi thủi, tuy bụng vừa đói vừa sợ bị đòn nhưng vẫn tò mò theo dõi một đàn kiến nghệ đang chuyền đất lên làm tổ ở một cành hóp. Bất chợt, tôi nhìn thấy xác một con rắn to nằm dài, ghếch lên những cành hóp ở giữa bụi. Cái xác rắn dài đến 1 mét rưỡi, hãy con ướt nguyên. Chứng tỏ con rắn vừa mới lột xong. Khoái quá, nhẹ tay, khéo léo lần mò lấy được xác rắn, không hề rách một tí nào. Lòng hí hửng, tay mân mê cái xác rắn. Tôi chợt nghĩ đến bố tôi, có lần, nói chuyện với khách, ông đã ca ngợi xác rắn làm thuốc chữa được rất nhiều thứ bệnh. Vừa có ý nghĩ để cho bố ngạc nhiên, vừa nghĩ có thể thấy xác rắn to và mới lột như vậy bố sẽ vui; may ra sẽ giảm hay tha cho trận đòn không chừng.
Nghĩ xong, tôi mò đến gian buồng của bố tôi. Qua cửa sổ hé mở, nhìn vào, giường bố tôi nằm ngay sát cửa sổ, đã bỏ màn. Trong màn trống trơn, chắc bố tôi cùng họ hàng đang đọc kinh ở gian nhà khách. Tôi thò tay vào, khẽ kéo màn, đã dập dưới chiếu, cuốn tròn cái xác rắn, luồn đưa vào trong màn, rồi lại dập lại như cũ.
Khi đọc kinh xong, mùi xôi chè nồng lên, xông ra càng làm cho bụng tôi cồn cào. Chắc hẳn trong nhà đang chuẩn bị ăn. Không chịu được, tôi thập thò về phía nhà bếp, gặp ngay bà ngoại. Biết tôi đói, bà giúi cho tôi một nắm xôi và bảo: “hôm nay là ngày giỗ ông nội mày, cứ về bố mày không đánh đâu. Có gì tao xin cho!” Tin bà, nên tôi đã theo bà tôi vào trong nhà, ăn uống với đám trẻ con.
Bố tôi không thích ăn đồ ngọt và nếp, nên kiếu khách vào buồng nằm nghỉ. Bỗng từ trong buồng, bố tôi chạy giổ ra hớt hải kêu tướng: “rắn, rắn!” Vừa kêu, bố tôi vừa vội vàng ra lấy cái đèn to ở giữa nhà cùng một số đàn ông, xô vào trong buồng. Trong khi, bên ngoài trẻ con và đàn bà nhớn nhác, quýnh, dúm người lại. Dưới ánh đèn sáng trưng, trước mắt mọi người, bố tôi lôi từ trong màn ra một cái xác rắn to và dài thuỗn, hãy còn ướt. Để giữ muỗi, chân màn bố tôi đều dập chặt dưới chăn và chiếu, cửa màn đóng kín; mới một giờ trước đấy bố tôi ở trong màn ra gian nhà khách để đọc kinh. Vậy con rắn chui vào lối nào để lột? Và khi lột rồi thì con rắn cũng ra lối nào? Khắp chung quanh màn, chiếu vẫn còn dập y nguyên. Một sự lạ trước mắt mà không ai có thể hiểu được, không ai lý giải được. Trong đám khách họ hàng đọc kinh hôm ấy lại có một ông trùm và một ông thầy của nhà xứ.
Lại có một sự việc trùng hợp khá hòa nhịp nữa: bố tôi là một người có võ nghệ mà trong huyện có nhiều người biết. Gần một năm trời, do sự lôi kéo, phỉnh phờ của Việt Minh, bố tôi đã đi huấn luyện võ thuật cho du kích ở nhiều xã trong huyện. Điều này, các Cha và phía bên Công Giáo ở địa phương lúc ấy không thể chấp nhận được. Coi việc làm đó như là một hành động bỏ Chúa, phản giáo để đi theo lũ vô thần, quỷ dữ. Nhưng chẳng hiểu sao, do nguyên nhân nào, hơn một tháng trước, bố tôi bổng dưng từ bỏ không đi dậy võ cho du kích nữa. Chính vì thêm cái lắt léo này, cho nên ngay buổi tối hôm ấy, câu chuyện nghiễm nhiên trở thành một huyền thoại như sau: “hôm nay là ngày giỗ bố (ông nội tôi) hiển linh. Bố tôi đã bỏ đạo theo lũ vô thần nên tượng trưng là con rắn. Con rắn đã lột xác để trở về với Thiên Chúa ngay lành, tẩy trừ, gột rửa tội lỗi.”
Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ cũng đồn xa, nhưng phép lạ thì còn đồn xa hơn nữa. Một đồn mười, mười đồn trăm, những ngày sau đó rất nhiều người đến xem tại chỗ sự lạ. Cái xác rắn bố tôi đã để trong một cái hộp kính, đặt ngay tại gian nhà giữa nhà khách, cạnh buồng của bố tôi. Bất cứ ai đến cũng được xem tỉ mĩ xác rắn, và vào tận giường bố tôi để quan sát. Có nhiều những ông già, bà cả ở những huyện xa cũng mò đến nơi để được nhìn tận mắt. Thậm chí ngay Cha Xứ cũng xuống xem, rồi rao giảng sự việc ở nhà thờ nữa. Câu chuyện chỉ tự nhiên được thêm một chi tiết: cái xác rắn dài thõng thượt ngay chính giữa chỗ bố tôi nằm, trong khi thực tế thì tôi đã cuộn lại.
Chỉ có tôi, thời gian ấy, đã vô cùng ngạc nhiên; ngạc nhiên đến độ sợ hãi vì câu chuyện đã trở thành nghiêm trọng quá nên tôi không còn dám nói với một ai. Lúc đầu, mục đích chỉ muốn làm quà cho bố tôi để nhẹ trận đòn. Sau thấy diễn tiến của sự việc được nhiều người chú ý thì chỉ thấy mừng vì ông bố đã quên béng buổi trốn học đi xem chọi gà của tôi. Chứ đâu tôi có ngờ, câu chuyện càng ngày, càng mở rộng ra khắp huyện như vậy.
Rồi thời gian trôi đi, năm 1950, tôi ra Hà Nội; rồi vào Nam cho tới khi lại trở ra Bắc và cho tới bây giò. Do những đẩy xô, lôi kéo của cuộc đời, tôi chưa có dịp nào để trình bầy lại sự thật của sự việc này cho những người của muôn năm cũ ấy. Ngày nay, bố tôi, mẹ tôi đã mất và cả ai còn, ai mất của những ngày ấy. Hẳn rằng, cho tới khi họ nhắm mắt lìa đời, lòng họ vẫn sắt đá tin rằng con rắn sau khi lột xong đã biến mất là một sự lạ hiển nhiên, trông thấy, nên họ vẫn tin, như tin có mặt trời vậy.
Thế mà, theo anh Bách, vào cuối năm 1956. Sau khi cộng sản tiếp quản thủ đô Hà Nội ngày 10/1/01954 theo những thời gian đã ấn định của hội nghị đình chiến Genève. Hơn một năm trời cộng sản không hề đá động gì đến các tín ngưỡng của người dân, vì chúng còn bận lo nhiều chuyện khác lớn hơn, khi mới tiếp quản. Lúc này chúng đã nắm chắc mọi vấn đề chính rồi; cũng là lúc chúng đã theo dõi, moi móc, tìm tòi nắm chắc, xếp loại được mọi thành phần của người dân trong tay chúng. Bấy giờ chúng mới mở một chiến dịch rầm rộ đánh phá những cái mà chúng cho là dị đoan, mê tín v.v…trong quần chúng. Chúng phát động một chiến dịch dài ngày trên khắp miền Bắc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, nhất là những nơi hẻo lánh, hoang dã giữa rừng sâu.
Như trên đã trình bầy, chúng đã chọn, đã lọc ra những loại điển hình đầu sỏ của từng địa phương, từng bản làng.. Những thầy mo, thầy pháp tổ sư nổi danh nhất, đã dạy, đã đào tạo ra bao nhiêu học trò trở thành pháp sư làm ăn ở các địa phương khác. Những loại tổ pháp sư phải có dưới tay hàng chục ngàn âm binh, thiên tướng, khét tiếng linh thiêng, uy quyền như thần, như thánh. Từ thời Pháp thuộc, thời Bảo Đại, quan châu, quan phủ, không một ai dám động đến các thầy, sợ các thầy thư, các thầy ếm âm binh về phá gia cang v.v…Tùy theo từng tỉnh, huyện miền suôi, hay châu, phủ miền ngược. Cộng sản chọn những nhân vật nổi tiếng nhất, điển hình nhất, xin mời tất cả các vị về thủ đô Hà Nội, gồm trên dưới 100 người. Những tay tổ nhất về các lãnh vực huyền bí đều không thiếu mặt. Thậm chí, ngay cả các dụng cụ đồ nghề như kiếm, đao, thương, xuyên lình, hình nhân các loại âm binh; cả các loại sách vở tướng số, bùa ngải v.v…đều được đem đi theo với các thầy về Hà Nội.
Cộng sản để ngay các thầy tại phòng thông tin cũ (trước 1954) gần đền bà Kiệu, trông chéo ra cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm. Bên ngoài có công an vũ trang canh phòng cẩn mật. Hàng ngày có các cán bộ đến giảng dậy về nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người phải ra sức nhiệt tình giúp chính phủ gột rửa được những tệ đoan, mê tín trong óc đám quần chúng ít học, ít hiểu biết. Nếu anh nào chị nào (ông già râu bạc, bà già móm mém khi bị bắt, cộng sản đều gọi là anh chị) thành khẩn, ăn năn, tự phơi bầy những mánh khóe bịp bợm, thủ đoạn, tâm lý v.v… từ đời này truyền qua đời khác, reo rắc những thần, thánh, ma quái bịp bợm mọi người ra sao, nhà nước sẽ cứu xét tha cho về, làm lại cuộc đời lương thiện với vợ con, bản làng. Ngược lại, anh chi nào ngoan cố, cứ khư khư giữ, giấu cái món bí truyền ấy thì cứ ở đấy mà suy nghĩ.
Thôi thì các cụ, đại đa số đã già lão, yếu đau, trước đây, một bước đều có kẻ hầu, người hạ, một cái giơ tay lắm kẻ nâng đỡ, bây giờ, bị giam ở đây, một mình khổ cực, trăm bề thiếu thốn sao chịu cho nổi. Hơn nữa, ai cũng thấy bây giờ đã đổi đời rồi, không còn thể bịp thiên hạ mà sống được nữa, không gì bằng, hãy thành khẩn thú thật hết mọi mánh khóe, thủ đoạn bịp bợm trước đây của mình.
Đến đây, có một chi tiết không thể không nói được, đó là khi nhà cầm quyền cộng sản đã nhốt các vị ấy rồi, ngoài những bài học tập, những lời giáo dục ra họ có tuyên bố: nếu ai trong các anh chị cần lấy bất cứ thứ gì ở nhà nơi địa phương, về dụng cụ, về chất liệu để hành nghề, họ sẽ đến lấy cho. Nghĩa là, sẵn sàng tạo giúp cho anh chị nào muốn sai âm binh, thiên tướng, hoặc độn thổ, thăng thiên ra ngoài được thì nhà nước sẽ tha cho. Còn ai không làm được, thì chịu khó ở đấy mà ra sức học tập.
Có lẽ, các quý vị tổ sư chẳng nỡ sai âm binh hại cộng sản. Các thầy địa lý, chẳng bỏ xóa long mạch của những tên lãnh tụ Hồ, Đồng, Khu, Giáp. Các ông thần, bà chúa chẳng thèm nói chuyện với cộng sản, cho nên các bậc tổ sư, từ đầu bao nhiêu người, thì cuối vẫn còn bấy nhiêu người. Chỉ trừ thiếu đi khi các vị không thể chịu được những cay đắng, lầm than trong ngục tù phải chui về lòng đất thì không kể.
Gần 2 tháng trời, chúng lựa chọn, lọc lõi những bài kiểm điểm, tự thú nói lên sự việc một cách điển hình. Chúng chọn 10 người điển hình nhất, tổ chức một cuộc mít tinh lớn, mời đồng bào các nơi về dự. Mười người điển hình này, lần lượt ra trình bầy mọi mánh khóe, thủ đoạn lừa bịp người khác về các mặt: thầy pháp, lên đồng, đánh đồng cốt, xuyên lình cổ, má; các loại ma xó, ma trành, bủa ngải, thư, ếm…..trong gần 1 tuần lễ trước quần chúng nhân dân.
Sau đó, chúng cho đại đa số các thầy về địa phương quản chế giáo dục tiếp. Ngược lại, còn một số ít, khoảng hơn hai chục người ngoan cố, tìm cách xuyên tạc, che dấu mà cộng sản cho là không thể giáo dục được. Thì bị chúng cho đi vào ấp để những người này có điều kiện luyện tiếp âm binh cho thành cao thủ. Riêng phân trại E này có 6 người, mấy năm trước chết mất 2, bây giờ còn 4 người là Quách Cẩm, 72 tuổi ở toán 4. Quác Mơi, 56 tuổi ở toán xẻ. Lồ Phá Chi, 70 tuổi ở toán 5 (toán rau). Đèo Sín Kha, 58 tuổi ở toán 6 nông nghiệp.
Theo anh Bách, trước đây, đôi khi anh em trong trại thường hay hỏi đùa các cụ: “sao các cụ không sai âm binh nó rỡ hàng rào trại, hoặc bóp cổ hết lũ giám thị, để chúng mình về với vợ con?” Thì các cụ chỉ móm mém cười buồn mà không trả lời. Hiện nay, có thể vì gần cuối đời rồi mà còn bị búa đời phang cho túi bụi, kết hợp với những tủi nhục, đắng cay của cảnh tù đầy đã làm cho cụ nào cũng đờ đẫn, lù khù. Riêng Quách Mơi còn tương đối minh mẫn. Họ Quách đối với dân tộc Mường là một trong 4 họ danh giá, thế phiệt nhất. Quách Mơi nổi tiếng trong trại là người duy nhất thích ăn thạch sùng (mối) sống. Nếu ai bắt được con mối còn sống, có thể đổi được ít thuốc lào với Quách Mơi. Nhiều người khi bắt được con mối, cũng muốn nướng ăn, nhưng lại muốn cho Quách Mơi để được nhìn cách Quách Mơi nuốt con mối. Anh Bách nói, Quách Mơi không phải là nuốt mối, mà ông ta đặt con mối chui đầu vào miệng, rồi bóp mạnh cái đuôi con mối, tự con mối chạy chui xuống dạ dầy của ông ta.
Nghe anh Bách nói đến dây, tôi nôn nóng hỏi ngay:
– Thế, có biết Quách Mơi nuốt thạch sùng sống để làm gì không? Hay chỉ vỉ thiếu chất protéin?
Một lúc lâu, mới nghe anh Bách trả lời:
– Cũng đã có rất nhiều anh em hỏi, nhưng chưa bao giờ Quách Mơi nói lý do. Vì vậy có người đoán, có lẽ âm binh hay ma trành, ma xó trong bụng của Quách Mơi cần ăn thạch sùng sống, hay Quách Mơi đang luyện một món “bí kíp” mới, ai mà biết được.
Đến dây, cũng chưa phải là câu chuyện anh Bách kể làm tôi thích thú, nên ghi mãi trong lòng. Cái chuyện làm tôi thích thú, chỉ vì con mối, tức con thạch sùng của Quách Mơi lại có liên quan đến một câu chuyện buồn cười trong một đoạn đời ấu thơ của tôi.
Ngày xưa xa lắm (cứ nói ngày xưa cho nó có vẻ truyện cổ tích) khi ấy tôi độ 5 – 6 tuổi, nhà bố mẹ tôi thì ở dưới phố huyện. Còn nhà bà nội tôi thì ở mãi trên nhà quê xa lắm, cách nhà bố mẹ tôi đến 6 -7 cây số. Chả biết ông nội tôi chết từ khi nào, tôi chỉ thấy một mình bà tôi sống ở một căn nhà 3 gian, chung quanh có vườn, trồng nhiều cây cối.
Cái làng của bà nội tôi thật là nhà quê. Hầu hết dân làng đi chân đất, đàn bà mặc váy mà sau này người ta gọi đùa là quần một ống. Ngay bà tôi cũng chỉ có một đôi guốc đẽo bằng gốc một cây tre già; nó cong cong và cao lênh khênh. Bà tôi chỉ dùng để rửa chăn trước khi đi ngủ. Có lẽ bà tôi ở một mình buồn, nên ngay từ khi tôi được 3 -4 tuổi, bà tôi đã bắt tôi về ở với bà. Bà tôi chiều tôi hết ý, nên có rất nhiều chuyện xẩy ra trong thời gian này, trong đó có một câu chuyện liên qua đến con thạch sùng.
Như tôi đã nói, tôi khoảng 5 – 6 tuổi, tuy suốt ngày mặc áo, nhưng vẫn cởi truồng. Tôi chỉ có 2 cái quần, một cái quần đùi và một cái quần dài. Tôi chỉ được mặc khi theo bà xuống dưới nhà bố mẹ tôi, hoặc vào những ngày giỗ, Tết. Chính vì tôi cứ ở truồng như vậy, nên la cà, chơi bời thế nào không biết, cứ lâu lâu chim lại bị sao đó, nó sưng, nó ngứa ghê lắm.Càng gãi, càng xoa nó lại càng sưng to, đỏ mọng lên. Mỗi lần tôi bị như thế, bà tôi thường bảo:
– Mày lại bị con “ma mò” nó cắn rồi!
Với đầu óc của tôi thời gian ấy, tôi tưởng tượng ra con “ma mò” nó ghê gớm lắm. Đêm đêm nó thò những cái vòi đỏ choét quấn chặt, rồi cắn tôi. Tôi chỉ biết khóc, năn nỉ bà tôi chữa cho.
Thế rồi bà tôi chuẩn bị chữa cho tôi. Cái khâu đầu tiên là bà tôi phải tìm, rình bắt cho được một con thạch sùng. Có khi bà tôi không tìm ra hay không bắt được, bà tôi phải sang nhà một ông trùm họ (công giáo) tên là Việt ở xóm bên cạnh, nhờ bắt giùm. Khi có con mối rồi, bà tôi vào buồng lấy một cái lọ sành vẫn đựng chừng 2 kg đậu đen để dành cho ngày Tết nấu xôi hay chè. Bà tôi đổ đậu ra một cái thúng con, lấy cái lọ không, rồi bỏ con mối vào trong. Theo bà tôi giải thích, chữa bệnh “ma mò” này chỉ được chữa vào buổi tối mới linh nghiệm. Chờ cho trời tối hẳn, một đống tro than rạ còn nóng hổi. Bà tôi lấy một đôi đũa cả, đút phía đầu nhọn của đôi đũa vào đống tro than nóng. Xong rồi, bà tô bắt tôi ngồi xổm, giơ chim ra. Một tay, bà tôi cằm cái lọ có con thạch sùng ở bên trong; một tay bà tôi dùng đôi đũa cả đã dúi, vùi trong tro nóng. Nhanh nhẹn, bà tôi cứ gắp, vuốt vào chim tôi từ trong ra ngoài, rồi bỏ vào cái lọ. Mỗi lần bà tôi gắp bỏ lọ, miệng bà tôi lại lẩm bẩm:
– Gắp “bống” bỏ lọ này!
Tôi chỉ thấy nóng rát. Nhưng rất kỳ lạ, chỉ “bỏ lọ” chừng vài lần là đỡ ngứa hẳn đi. Nghỉ khoảng một giờ sau, lại gắp bỏ lọ một đợt nữa là khỏi. Khi xong việc, thường thường trời đã tối mịt. Bà tôi còn phải ôm cái lọ, lần mò ra tận ngoài cổng để đổ “ma mò” đi. Theo bà tôi, con thạch sùng nó thích ăn “ma mò” lắm.
Sau này tôi lớn lên, đôi khi nhớ đến việc gắp “bống” bỏ lọ này, tôi thầm nghĩ: đây là một sự mê tín dị rất kỳ khôi! Có thể là do những con mò gà (một loại rận, mát của gà) do tôi lê la, nghịch ngợm, chơi bời; chim thì da non, lũ mát gà này chui vào cắn. Bà tôi dùng đũa cả nóng vuốt, các chú mát dúm người lại rời ra, hay bị chết nóng nên tôi đã khỏi. Chứ chả phải con thạch sùng thích ăn “ma mò”.
Đây mới là đoạn tôi thích thú và nhớ mãi những ngày kỷ luật này với anh Bách: tôi cứ tưởng câu chuyện “ma mò” chỉ có riêng tôi bị, và cũng chỉ ở riêng vùng quê tôi mới có mà thôi. Không ngờ, anh Bách sau khi nghe tôi kể lại, cũng nói: khi anh còn nhỏ ở vùng Bắc Ninh, quê anh. Anh cũng bị “ma mò” và cũng chữa tương tự như vậy. Chỉ có hơi khác, anh Bách là do mẹ anh ta chữa, và bà gắp lại bỏ vào một cái túi vải, cũng có con thạch sùng bên trong, và cũng phải đưa ra ngoài ngõ đổ.
Tôi và anh Bách thật không ngờ có một câu truyện cứ tưởng chỉ riêng mình có, hóa ra lại giống nhau. Tuy chân đang đau buốt rã rời, và bụng đói cào cấu, thế mà anh Bách và tôi đã có thể còn cười thành tiếng được, khi cùng tưởng tượng lại cái cảnh bị gắp “bống” bỏ lọ và bỏ túi ngày ấy.
Một điều thật bất ngờ đối với tôi. Khoảng 1 giờ trưa ngày thứ Năm, kể từ ngày tôi phải vào nhà kỷ luật, đột nhiên cửa nhà kỷ luật loạch xoạch chiếc khóa rồi mở toang. Bây giờ chưa phải là giờ cơm, kẻng xuất trại 1 giờ vừa xong. Bởi vậy tôi vội chuẩn bị tinh thần để đón nhận cái bất ngờ, có thể đến với mình. Thoáng bóng tên Cẩn trực trại và tên Thái y tá. Tên Cẩn, mặt rất lạnh lùng, tiến đến trước cái cùm chân của tôi. Y ưỡn người, đứng nghiêm nói nhát gừng:
– Lệnh của ban giám thị, tôi tuyên bố tha cùm anh.
Trong khi tên Cẩn quầy quả trở ra bên ngoài cửa để rút chốt cùm, tôi bàng hoàng ngẩn hẳn người ra. So với những tội của những người đã đi kỷ luật, tôi đinh ninh, chuyến này ít ra cũng nửa tháng hay một tháng. Tên Thái, phụ tôi nhấc cái nửa cùm phía trên, để tôi rút chân ra. Mới chỉ là ngày thứ ba mà tôi đã đứng lên không được. Thái đã đỡ tôi ra hè ngồi đến 5 phút để xoa nắn bắp chân và đôi bàn chân, tôi mới cố gượng đứng lên được. Trong khi tên Cẩn đang khóa cửa nhà kỷ luật, tôi vịn tay tên Thái, quay lại phía trong nói to:
– Tạm biệt anh Bách, giữ gìn sức khỏe nhé!
Tên Cẩn đưa mắt lườm tôi, nhưng tôi lờ đi. Tôi đường hoàng vì nội quy của trại không có điều khoản nào cấm 2 người trao đổi tình người những lúc này. Chính vì thái độ mạnh dạn, không sợ tên Cẩn của tôi, nên tên Thái cũng tỏ vẻ muốn làm thân với tôi. Cụ thể, khi y dẫn tôi đển trước nhà số 3, tên Cẩn đang đi phía trước, tên Thái ghé vào tai tôi thì thào:
– Ông Cẩn định cùm anh lâu, nhưng Hoàng Thanh đã ra lệnh thả anh.
Về đến buồng, tôi vẫn nghĩ mãi, tại sao tên Thái lại có thể biết được tình tiết như vậy? Còn Hoàng Thanh? Dù tôi mới chỉ gặp y một lần, nhưng tôi cũng đã hiểu, y không phải là loại người thấp kém. Với con mắt tinh tế của y, tôi tin rằng y đã nhìn được tôi không phải là loại người mua bằng uy quyền và lợi lộc. Nếu mục đích y dùng ân huệ thả cùm này để mua tôi thì y đã có tài làm cho tôi nhìn sai lệch về y. Vậy y tha cùm tôi nằm trên ý đồ nào? Thời gian sẽ cho phép tôi hiểu rõ.
Việc tôi được tha cùm sớm như vậy, cũng làm cho anh em trong trại bàn tán không ít. Tên trật tự Tân và tên Thái y tá thấy rằng, sơn của chúng không ăn được mặt tôi nên chúng cũng không làm gì quá đáng để tôi phải khó xử cả. Cụ thể mấy lần, khi toán 2 về cổng trại, tên Tân khám nắn từng người. Lục soát những đồ nội quy cấm không được mang vào trại. Ba bốn cái đóm nứa trong người y cũng lôi ra. Bởi vì theo quy định, mỗi phạm nhân, mỗi ngày chỉ được đưa vào trại 1 cái đóm để hút thuốc lào đêm mà thôi. Nhưng khi y khám đến tôi, cả một bó đóm gần một chục cái, tôi dắt trong lưng áo. Y sờ thấy, y chỉ nhìn tôi một cái như ý nói: “tôi thấy rồi” mà không lấy bó đóm ra. Như vậy tôi cũng phải biết điều, không nên căng quá với y nữa.
Do tôi được thả cùm sớm, một số anh em chưa hoặc ít tiếp xúc với tôi, họ đều nhìn tôi bằng ánh mắt dè dặt, nghi ngờ. Ngược lại, những người mà tôi đã qua lại tiếp xúc nhiều, đã hiểu tôi, họ lại càng quý mến tôi hơn như Lê Sơn, Quý Cụt, Vân, Thú, nhóm Nông Quốc Hải, bác Lẫm v.v…
Một việc đã làm tôi rất xúc động. Tôi rất ngại ngần, giằng co không muốn viết ra nhưng suốt đời không thể quên được. Một buổi trưa, hơn một tuần lễ sau khi tôi được tha cùm. Lầu Phá Tra và Lồ Cao Chính, hai anh là người dân tộc, có thể họ đã theo dõi, để ý tôi từ trước mà tôi không biết. Họ kéo tay tôi, ra hiệu đi theo họ về phía sau của ngôi nhà số 3. Chỗ này có một bụi nứa che một góc khuất tương đối kín đáo với mọi hướng. Hai anh chẳng nói năng gì, vẻ mặt đầy xúc động, thành khẩn. Mỗi anh cầm một tay của tôi, cùng cuối xuống hôn rồi đặt tay tôi lên đầu của họ. Lầu Phá Tra nói chưa sõi tiếng kinh:
– Anh Bình, chúng tôi thích anh lắm! Sau này anh ở đâu, lúc nào anh gọi, chúng tôi sẽ đi theo anh suốt đời.
Thật bất ngờ, nên tôi bàng hoàng xúc động, không nói lên lời. Tôi đâu được xứng đáng để họ đặt lòng tin yêu như vậy? Dù vậy tôi cũng thân thiết cầm bàn tay họ và nhìn họ với mầu mắt của những người cùng đi một hướng. Tôi hiểu lòng họ thật chất phác, đầy ắp thủy chung, nhưng để phòng hờ tôi vẫn dặn họ không được nói sự việc này với những người khác. Những ngày tới, tôi sẽ nói chuyện tiếp với họ.
Khi về buồng cũng như đêm hôm ấy, tôi vẫn suy nghĩ về họ nhiều. Những người này, tôi chưa hề chuyện trò hay quan hệ nhiều với họ. Học chỉ nhìn tôi qua con người và những hành động, sinh hoạt hàng ngày, mà họ tin tôi như vậy. Tiền bạc, uy quyền có thể mua được nghĩa tình này đâu. Tuy sau đấy tôi còn nhiều vấn để với các anh, nhưng việc làm này của các anh đã làm lòng tôi khắc khoải không thôi. Những nỗi niềm vơi đầy tràn ứa bao nét hổ lòng.
Trưa hôm qua, lại có điều kiện nói chuyện lâu với Vân ở hội trường. Vân tỏ ra rất tán đồng việc tôi đánh tên Tân. Theo Vân, nó sẽ bớt hống hách, áp bức những người tù kém tài, yếu thế. Vân cho tôi xem hơn một chục tấm ảnh gia đình của bà chị tên là Phan Thị Hồng Ngọc hay Diễm Ngọc ở Pháp gửi cho. Nhìn những tấm hình, dù chỉ là một góc cạnh của một gia đình, nhưng cũng ánh lên những cảnh đời tưng bừng, tươi sáng đầy sắc hương của tự do và tình người.
Qua những tấm hình này, tôi đã là người xưa của phương trời tự do bên ấy mà vẫn còn thấy man mác, bâng khuâng thì hỏi rằng những người mà suốt đời chưa hề nhìn thấy một chiếc ô tô, chưa nhìn thấy một chiếc cravatte, họ sẽ suy nghĩ thế nào? Bởi thế, ngay khi Vân được nhận ảnh, ông Toán chánh giám thị đã căn dặn anh, không được cho nhiều người xem. Vân còn nói, thỉnh thoảng bà chị vẫn gửi cho mỗi lần 5 -6 trăm francs đến thẳng bộ công an. Nhưng do điều kiện ở trong tù, mỗi tháng chỉ cho tiêu vài chục francs. Vài chục này đổi ra tiền Việt cũng hơn một chục bạc chứ ít ỏi gì, cho nên hiện nay trong trại Vân là tay tư bản kếch xù nhất. Một tháng hoặc đôi ba tháng, trại thông báo bán bánh sắn và thuốc lào. Bánh làm bằng bột sắn, ở giữa có tý mật trộn với khoai lang làm nhân; bánh nướng rồi, mỗi chiếc cân nặng 1 lạng, giá mỗi chiếc 2 hào. Nhiều người chả bao giờ có tiền mua đã đành. Những người có tiền cũng chỉ mua 1 cái, 2 cái, cao nhất 5 cái là cùng, thế mà Vân mua cả 2 -3 chục cái. Đôi khi Vân thích ai, gọi vào cho họ một cái.
Phải nói trong trại E, Vân có một điều kiện riêng biệt duy nhất. Vân được như vậy, một phần do những điều kiện chủ quan. Phần khách quan hỗ trợ, theo Vân là ông Toán, thiếu tá giám thị trưởng của trại trung ương số I, ông ta cũng chột một mắt như Vân, trong chiến tranh 9 năm chống Pháp. Tuy khác nhau ở hai trận tuyến đối đầu, nhưng lại giống nhau ở chỗ cùng chột một mắt; nên ông ta có nhiều thiện cảm với Vân. Vả lại, Vân chỉ là một phi công đơn thuần, nên ông ta cũng không phải e ngại bị gán ghép là lệch lạc tư tưởng.
Một điều rất đặc biệt, có thể do nhiều ngày tâm sự, đổi trao nên Vân đã hiểu tôi. Hôm nay bất ngờ Vân cho tôi biết một việc tương đối nghiêm sâu. Hơn một tuần trước ngày tôi đến trại, Vân đã được cán bộ giáo dục gọi lên báo cho biết: mươi ngày nữa, sẽ có một người tù đến trại, tên này tư tưởng rất phức tạp, lại có kiến thức. Vân có trách nhiệm chuyện trò, tâm sự để tìm hiểu tư tưởng của tên tù đó là tôi. Bởi thế, chẳng phải ngẫu nhiên, mà tôi đã được sắp xếp từ trước cho nằm cạnh Vân.
Nghe Vân chân thành thổ lộ, tôi đã mở mắt to chăm chăm nhìn Vân. Đây là một vấn đề thật rộng, thật nhiều nghĩa. Đành rằng, ngay từ ngày đầu tôi đến trại, thấy nằm canh Phan Thanh Vân, kết hợp với những điều tôi đã biết về Vân ở dưới Hỏa Lò. Tôi đã hiểu, nằm cạnh Phan Thanh Vân là có vấn đề. Nhưng quan điểm của tôi đã có từ trước, như một phương châm xử thế, một hành trang luôn luôn mang theo mình trên đường đi tới. Đó là, đường của mình đang tiến bước có ưu thế hơn hẳn kẻ thù là nhân bản, tự do và thắm đượm tình người. Mình đã có cái ưu thế thực tế tuyệt đối này, tôi lại tự tin ở khả năng biết vận dụng, phát huy cái tinh túy, cái bản chất của thực tế đó. Bởi vậy, đối với người bị hỏa mù, lệch lạc tư tưởng làm tay sai, làm lợi cho kẻ thù. Hoặc ngay với chính kẻ thù đi nữa, mà tôi phải hay được tiếp xúc, tôi tin tưởng mãnh liệt là họ sẽ phải ngả theo sự thật. Chỉ vì cứ riêng sự thật không thôi, bản thân nó đã có lôi cuốn, thuyết phục đáng kể rồi. Nếu biết vận dụng nó chính xác về thời gian, không gian và điều kiện thì không một ai cưỡng nổi. Sau này có nhiều chuyện thực tế minh chứng.
Không phải đơn giản để Vân nói thực với tôi. Điều chắc chắn Vân đã phải hiểu rằng, tôi đã hiểu điều kiện và cái thế của Vân, phải tỏ ra, phải đóng cái vai là người cải tạo tiến bộ. Tôi cũng hiểu nữa rằng, trong cái giai đoạn tối tăm, đầy lừa lọc, phản trắc ở trong tù lúc này; đối với hầu hết mọi người, Vân vẫn khăng khăng đứng ở vị trí của một người thích cộng sản. Vân không cần băn khoăn, họ sẽ nhìn về Vân như thế nào.
Chỉ gần 2 tháng trời tôi đến trại, tôi sống chân thành. Sự chân thành toát ra từ một sức mạnh tiềm ẩn trong ý chí; đủ uy lực làm tan hết những ngại ngần, dè dặt, băn khoăn trong lòng Vân. Vân cũng hiểu rằng, nếu tôi báo cáo với cộng sản là Vân đã thú thực với tôi là được cán bộ giao cho nhiệm vụ theo dõi tư tưởng của tôi, thì Vân sẽ thiệt hại như thế nào, khi Vân vẫn còn nằm trong bàn tay của chúng. Vậy chỉ cần còn một chút băn khoăn thôi, thì Vân cũng không dại gì nói thật điều đó với tôi. Hơn nữa, Vân lại không phải là một người không tinh tế.
Tóm lại, qua sự việc này, tôi cũng biết rõ thêm là cộng sản đã đánh giá tư tưởng của tôi còn phức tạp. Nghĩa là chúng chưa thể kết luận tư tưởng của tôi ở hướng này hay ở hướng kia, sau hơn 6 năm tôi đã nằm trong tay chúng.
Vân cũng hỏi ý kiến tôi, vì lúc này Vân đang lo lắng, không hiểu cộng sản có thả Vân ra đúng hạn kỳ, của tòa án hay không? Vân đã nhìn thấy hầu hết những tù nhân hiện nay đang ở trong trại: án tập trung 3 năm gọi là “án dây chun” thì không kể, ngay những người có án 5 năm, 7 hay 10 năm mà tòa án cộng sản đã xử công khai đàng hoàng, hết án lại bị chuyển sang lệnh tập trung cải tạo. Và những người bị tập trung cải tạo 3 năm, đã ở thành 2 lệnh, 2 lệnh. Thậm chí, nhiều người đã ở đến 4 lệnh rồi như anh Hàm, anh Hiển (tu sĩ), Phùng Văn Tại, Thành Xuân Yên (phản tuyên truyền) đang ở ngay toán 2, vẫn chưa được nói động gì đến, là tù nữa hay tha cả. Nghĩa là những người này tù từ khi bắt đầu có chính sách tập trung cải tạo. Đã nhiều lần trước, cứ gần đến ngày hết hạn 3 năm, có anh nào dũng cảm, dám hỏi cán bộ là hết hạn tập trung rồi, sao tôi chưa được về? Thì luôn luôn được cán bộ trả lời với nội dung: chính sách cải tạo của đảng và nhà nước là cải tạo một người có tư tưởng xấu, tư tưởng phản động, trụy lạc, bóc lột trở thành người tốt. Vậy anh đã tốt chưa? Đến đây, ai cũng hiểu tư tưởng thì vô hình, làm sao để biết được xấu hay tốt. Vả lại, một con người mà bị bới, tìm thì ai mà chẳng có cái không tốt? Tóm lại, đây chỉ là một cái “chốt” để cộng sản muốn giam hay thả là tùy theo họ, chứ không phải do người tù cải tạo tốt hay xấu.
Vậy thắc mắc hay hỏi cán bộ, đều không giải quyết được mà còn bị quy thêm cho cái tội: “tư tưởng còn ngoan cố, không tin đảng, dám thắc mắc với đảng.” Bởi thế, bây giờ ai cũng ngậm miệng dù hết án hay hết hạn tập trung. Vân đã nhìn thấy hết như vậy, cho nên làm sao mà yên lòng được!
Dù sự hiểu biết của tôi về sự nham hiểm dã man, đầy thủ đoạn của cộng sản trong lĩnh vực giam giữ và trị người chưa nhiều, hãy còn nhiều hạn chế, nhưng riêng trong trường hợp của Vân, tôi đã nhìn thấy một cách vững vàng: “chúng sẽ phải thả Vân ra đúng với hạn kỳ của án xử. Tôi đưa ra những yếu tố cụ thể với Vân:
– Vụ án của Vân đã được viết lại và xuất bản thành sách, có nhiều công luận biết đến.
– Trong bức màn sắt, nội bất xuất, ngoại bất nhập, chỗ của chủ nghĩa cộng sản độc tài, khát máu đàn áp, tiêu diệt những gì phi cộng sản; bên ngoài, không ai biết hoặc chỉ biết mơ hồ. Những chuyện của Vân có người chị ruột ở Pháp, cộng sản đã cho liên lạc gửi tiền, thư. Chúng nó đang rất cần dư luận ở Pháp để tuyên truyền bịp bợm với thế giới.
– Vân chỉ là một phi công đơn thuần, không hề được đào tạo về nghiệp vụ tình báo.
– Gia đình không có nợ máu, đối kháng với cộng sản.
Xét kỹ, tha Vân đúng kỳ hạn, chúng sẽ có lợi hơn nhiều lần là giữ Vân. Do đấy, có thể trong điều kiện chiến tranh như hiện nay, chúng sẽ không thả ai dù hết án, nhưng chúng sẽ thả Vân. Tất nhiên, trong hoàn cảnh đất nước chia đôi. Chả bao giờ chúng lại thả Vân về miền Nam hay sang Pháp, mà chúng sẽ đặt một hình thức giam lỏng, ở một địa phương nào đó. Vả lại, với điều kiện quản lý người dân ở miền Bắc lúc này, tha Vân thì cũng như đem từ cái lồng nhỏ, bỏ ra cái lồng lớn mà thôi.
Vân ngồi nghe tôi trình bầy những ý kiến như thế, mặt sáng dần rồi tươi hẳn lên. Niềm lắng lo đang nặng trĩu trong lòng Vân, hình như được vơi hẳn. Tôi hiểu rằng, thông thường “việc người thì sáng, còn việc mình thì quáng”. Chẳng phải là Vân không nhìn thấy và hiểu như vậy, nhưng đôi khi sự việc của chính mình, lại không nhìn ra; trong khi người ngoài nhìn vào thì lại rất rõ.
Tôi ngồi nhìn Vân đang chúm môi thả một làn khói thuốc xám xịt, nhỏ tý, ngòng ngoèo, tan loãng dần vào ánh nắng Xuân đã ngả chiều. Mắt Vân đang lơ đãng nhìn vươn ra phía bên ngoài hàng rào nứa về một phương trời xa xôi. Hẳn rằng Vân đang vấn vít thả hồn về những cảnh đời ngày mai khi được thả ra ngoài trại giam. Hình ảnh ấy của Vân cũng làm cho lòng tôi bâng khuâng, chạnh nhớ đến cái đời riêng của mình còn đương mò mẫm trong con đường tăm tối dài lê thê biết đâu là cùng. Một tiếng thở dài được nén chặt trong lồng ngực đang rỉ dần ra.
Hồn tôi còn đang thả vào cõi bồng bềnh ngược xuôi, mắt tôi chợt nhìn xuống một bàn chân của Vân. Một ngón út bị cụt sát đến bàn chân, kéo theo một cái sẹo dài ngòng ngoèo trên mu bàn chân. Tôi liên tưởng đến câu chuyện còn bỏ dở lần trước, do đấy tôi lôi hồn Vân về thực tại:
– Ồ, ngón chân út của Vân bị cụt từ hồi nào thế?
Tôi vừa hỏi, vừa chỉ vào bàn chân có cái ngón cụt. Vân qua lại tôi cười, môi dưới hơi dề xuống nên cái miệng méo hẳn đi:
– Bị cụt ngay hôm máy bay rớt!
Rồi như một nỗi niềm đã chìm lắng trong đáy lòng được khơi dậy, Vân sôi nổi hẳn lên:
– Bình có biết không? Suốt từ ngày máy bay bị bắn rớt cho tới nay đã gần 7 năm rồi, mà tôi vẫn còn lạ lùng về cái ngón chân cụt này. Tôi ngạc nhiên vì không thể suy đoán được tại sao nó bị cụt? Tôi nhớ lại, hôm đó họ khênh tôi về, đặt trên một cái sân gạch của hợp tác xã thì phải. Rồi có lẽ thấy tôi bị thương tứ tung, máu ra nhiều quá, nên họ cho cáng tôi lên ngay nhà thương của tỉnh. Lúc này tôi đã hơi tỉnh, sau khi được băng bó tạm thời. Tôi được biết cả một tròng mắt của tôi bị lồi ra nên họ đã cắt rồi. Mặt, tay, mình mẩy nhiều vết thương. Riêng về chân tôi, theo bác sĩ và y tá ở đó, họ cũng ngạc nhiên. Bởi vì khi khênh tôi đến bệnh xá tỉnh thì 2 chân tôi vẫn đi giầy, đến đấy, họ chỉ chú trọng chữa, xức thuốc, buộc băng những vết thuơng ở mặt và tay thôi. Cho tới khi họ tháo đôi giầy ra thì một chân của tôi be bét những máu và ngón chân út đã bị đứt rời ra. Cái lạ là đôi giầy vẫn còn nguyên. Chính tôi, khi tỉnh hẳn vẫn còn được họ cho xem đôi giầy, trước khi đưa về phòng lưu trữ tài liệu, chứng cớ để ra tòa xử sau này. Vân tóm tắt cho tôi biết sơ lược như sau:
Khi máy bay bị bắn rơi đã bị đứt ra làm đôi, nửa đầu bị cắm ngập xuống một thửa ruộng cói. Còn nửa dưới thì nằm chổng kềnh cũng trên một thửa ruộng cói khác ở cách đấy hơn 300 thước. Xác chết, người bị thuơng, vật dụng văng vãi, rải rác tứ tung trong một đường kính hơn một cây số. Những người chết không kể, ai còn sống sót cũng đều bị thuơng. Thiếu úy Khánh bị thuơng nặng nhất, vì vậy cho tới ngày ra tòa, Khánh vẫn không thể ra được. Bởi thế, phiên tòa xử chỉ có Vân, Đinh Văn Khoa và Phạm Văn Đăng mà thôi.
Lắng nghe Phan Thanh Vân kể sự việc của anh, tôi thấy rõ anh là phi công trưởng, còn trung úy Thích là phụ. Ngược lại, trong cuốn “C47” điệp vụ xâm nhập miền Bắc mà cộng sản đã xuất bản thì trung úy Thích là phi công chính, Vân là phi công phụ. Điều thắc mắc này, tôi đem ra hỏi thì Vân hơi cúi đầu, trả lời hơi chút ngập ngừng:
– Đằng nào anh Thích cũng chết rồi. Tôi nghĩ khai như vậy, tôi sẽ nhẹ tội hơn.
Nghe Vân trả lời như vậy, tôi chưa thể thỏa mãn nên hỏi tiếp:
– Ồ, làm sao được! Chấp pháp hỏi cung có phải tay mơ đâu, còn các anh Khoa, Đăng nữa. Chúng là mộc hay sao mà chúng lại không biết khai thác những mâu thuẫn, riêng biệt từng người?
Vân nói nhỏ hẳn lại, khi thoáng thấy bóng một anh toán 5 đi qua:
– Thực ra vấn đề chính hay phụ không quan trọng lắm; vả lại, khi bàn giao nhiệm vụ này chỉ có anh Yên, anh Khánh, anh Thích và tôi. Anh Yên, anh Thích đã chết, anh Khánh lại còn không nói được nữa nên tôi mới qua mặt chúng được một chuyện nhỏ đó chứ tôi thừa nhận, chấp pháp họ tra hỏi, khai thác, không thể hoặc rất khó dấu diếm gì được họ.
Ngồi nghe Vân nói đến đây, tôi chợt nhớ lại Đinh Như Khoa, điệp viên bị kết án 15 năm. Đầu năm 1962, một buổi ra Cấp để phơi nắng với Hoàng Công An, tôi mở radio bắt đài miền Bắc nên đã nghe được buổi xử, vì vậy tôi hỏi Vân:
– Còn anh Đinh Như Khoa, hiện giờ Vân có biết ở trại giam nào không? Anh Đăng nữa?
Nghe tôi hỏi thế, Vân lắc đầu quầy quậy trả lời:
– Riêng về Đinh Như Khoa, sau ngày xử tôi không hề biết ở đâu. Trường hợp Phạm Văn Đăng, thợ máy bị kết án nhẹ nhất là 5 năm. Hai năm trước, một buổi tôi được gặp một ông cán bộ của bộ, từ Hà Nội lên đây để hỏi lại tôi một số việc. Để thăm dò về ngày hết án của tôi, tôi có hỏi về Đăng thì được biết: hơn 3 năm sau kể từ buổi xử án, Đăng vì quá yếu sức nên bị bệnh và đã chết rồi.
Thưa chữ có câu rằng: “Nụ cười mười thang thuốc bổ/ Không biết cười là lỗ mười thang!”
Nghĩa là trong bất cứ hoàn cảnh nào bạn ta cũng nên tìm được khía cạnh tích cực của cuộc đời để mà cười. “Hạnh phúc đời bạn ảnh hưởng rất sâu xa do trạng thái tinh thần của bạn” đó nhe!
Bởi sống quá kiểu cách, cẩn trọng từng lời ăn tiếng nói một cách thái quá, lúc nào cũng như đăng đàn đọc diễn văn: mở miệng ra là kính thưa dù cử tọa không có tội tình gì hết ráo mà cứ đòi ‘thưa’ người ta hoài hè!
Làm như vậy chẳng khác nào mình tự tra tấn mình. Tra tấn thì phải đau! Mà đau sẽ làm mặt nhăn như con khỉ đột; vì da mặt sẽ xếp li, ủi cách nào cũng không thẳng thớm lại cho được. Khuôn mặt khó đăm đăm như ai đau khổ vì bịnh trĩ, sẽ hằn sâu dấu vết mệt mỏi, dấu hiệu áp lực đè nặng của cuộc đời.
Y học cũng chứng minh rằng: Khiếu hài hước vô cùng hữu ích cho sức khỏe. Nếu vui vẻ, quý ông anh mình sẽ trông rất trẻ; vì giảm căng thẳng cho bản thân và con vợ với một bầy con lủ khủ không phải gánh đủ cái cảnh quạu quọ, mắng chó chửi mèo; tất tụi nó cũng vui lây. Gia đình thêm hạnh phúc!
***
Đừng cãi vã mà chi hỏng có lợi gì đâu như chuyện vui “Người thắng cuộc là…”
Một ông bố vừa trúng thưởng một món đồ chơi ở Hội Chợ, bèn xách về nhà. Xong tụ họp 5 con lại, coi đứa nào xứng đáng với món đồ chơi nầy?!
Bố hỏi: “Đứa nào dễ dạy nhứt? Luôn luôn làm theo lời của Mẹ mà không dám cãi lại bao giờ?”
Năm đứa con xúm lại, trao đổi ý kiến một lúc. Xong: “Okay! Daddy! Bố rất xứng đáng giữ món đồ chơi nầy!”
Con vợ mình mà nó nghe chuyện nầy rồi tui bảo đảm với quý ông anh là nó sẽ cười bò lăn, bò càng ra đất mà quên mất cái vụ nấu cơm để chiều nay Tía con mình đành nhịn đói cho coi nhe!
Nhưng nếu đám con mình đói bụng mà khóc tỉ ti “Mẹ ơi! Mẹ hỡi Mẹ đi đường nào?” trong lúc bố con bụng sôi ồn ột chờ em yêu đi chợ về thì mình kể cho nó câu chuyện nầy đi bảo đảm nghe xong sắp nhỏ sẽ cười ‘hi hi, híc híc’ mà quên luôn cơn đói!
Một con muỗi còn bé ngày đầu tiên bay ra khỏi nhà. Chiều con muỗi con bay trở về. Muỗi bố hỏi: “Sao chuyến bay khỏi nhà lần đầu như thế nào?”
Con muỗi con đáp lại: “Thật là tuyệt! Người nào thấy con cũng đều vỗ tay hoan hô con hết ráo!”
Quẳng gánh lo đi! Cười lên mà vui sống! Cái bí quyết hay nhứt là hãy cư xử như một đứa trẻ thơ. Sống như Lão Ngoan Đồng trong truyện võ hiệp của Kim Dung vậy.
Tuy là một nhân vật nổi tiếng trong tiểu thuyết võ hiệp, nhưng không phải do tác giả Kim Dung hư cấu 100% đâu; mà là một nhân vật có thật trong lịch sử của Chú Ba Tàu. Chu Bá Thông dù già háp, đầu sói sọi, râu bạc phơ nhưng tính tình ngây thơ, khoái giỡn chơi như con nít vậy!
Sống như con nít! Tại sao không? Vì trẻ con rất thành thật và chấp nhận người khác không phán xét, phê bình, chê bai, chửi bới gì ai ráo trọi.
Trẻ con không để ý tới màu da sắc tộc; nghĩa là chúng không kỳ thị bao giờ.
Như thằng cháu nội của tui nè! Nó đi nhà trẻ mà Úc trắng, Úc đen, Ấn Độ, Tàu, Việt Nam… nó đều chơi hết ráo.
Nó không quan tâm cái vụ nhà mầy lớn nhà mầy cao sao bằng nhà tao! Hay xe mầy đẹp mà thường hay xẹp… bánh chẳng hạn.
Nó chỉ khoái chơi ‘cút bắt’ như câu truyện dưới đây: Ông boss lớn của một công ty cần một nhân viên đến gấp để sửa những trục trặc về hệ thống kết nối máy tính của công ty.
Ông gọi điện thoại cho một chuyên viên về vi tính của công ty và nghe trên đường dây, giọng một đứa trẻ con thì thào trả lời nhẹ như gió thoảng: “Hello!”
“Có Tía ở nhà không cháu?” Giọng trả lời thì thào nhẹ như gió thoảng: “Có ạ!”
Sao kỳ vầy cà? “Vậy có Má ở nhà không cháu?” “Có ạ!”
“Cho bác nói chuyện với Má của cháu đi!” “Không được!”
“Vậy thì còn có ai khác quanh cháu không cho bác nói chuyện với họ đi!” “Dạ có! Cảnh sát!”
Ủa sao lại có mặt Cảnh sát ở đây nữa vậy cà? Chắc chuyện gì nghiêm trọng lắm đây!
“Cho bác nói chuyện với Cảnh sát đi!” Lại giọng thằng bé thì thào nhẹ như gió thoảng: “Không được! Cảnh sát đang bận lắm!”
“Bận làm gì vậy hả cháu?” Lại giọng thằng bé thì thào nhẹ như gió thoảng: “Cảnh sát bận nói chuyện với nhân viên cứu hỏa!”
Rồi ông boss nghe tiếng máy bay trực thăng bay vần vũ, tiếng cánh quạt phầm phập lan tới ống nghe.
“Có phải là tiếng trực thăng bay không cháu?” “Dạ phải.”
“Ối giời đất ơi! Chuyện gì đang xảy ra ở đó vậy? Tại sao các lực lượng khẩn cấp đều có mặt cùng một lúc?”
Thằng bé giọng cũng rất thì thào nhẹ như gió thoảng: “Họ đang tìm cháu!”
***
Còn nếu không sống như trẻ con được thì hãy bắt chước giống như một người tối nay ta chìm trong cơn say nên vui quá tay như câu chuyện “Từ tâm” dưới đây: “Một ông đang nằm trên giường với vợ thì nghe tiếng khỏ cửa. Lồm cồm ngồi dậy. Đồng hồ chỉ 3 giờ 30 phút sáng. “Tui không ra khỏi giường vào giờ nầy đâu!”
Rồi tiếng khỏ cửa lớn hơn. Con vợ nói: “Anh không chịu đi mở cửa hả?!”
Cực chẳng đã ông mới bước xuống lầu. Mở cửa ra, thấy một trự có vẻ đã quá sỉn, quá say, trên tay cầm một cái đèn pin, y lè nhè hỏi: “Ông có thể đẩy dùm tôi một lát được không?”
Bị phá giấc ngủ, quạu quọ, ông nạt: “Cút mẹ mầy đi! Mới có 3 giờ rưỡi sáng hè. Tao đang ngủ!”
Xong ông đóng cửa lại nghe một cái rầm thiếu điều làm sập luôn cái nhà!
Leo lên lầu, kể lại cho vợ nghe khúc nôi câu chuyện; con vợ không thông cảm lại lên mặt, giảng ‘moral’ như vầy: “Anh thiệt là ích kỷ à nha! Hỏng nhớ tháng rồi, đêm trời mưa như trút nước, trên đường đi đón con mà xe mình giữa chừng chết máy hay không?
Anh phải khõ cửa nhà người ta nhờ một ông ra đẩy tiếp, xe mình mới chịu khởi động lại đó! Nếu ông ấy cũng ích kỷ như anh kiểu: “Cút mẹ mầy đi!” Thì mình gặp rắc rối to rồi đó nhớ hông?”
Ông chống chế: “Nhưng thằng cha nầy nó xỉn quá xá quà xa rồi mà!”
“Thì đã sao nè! Khi người ta cần giúp đỡ thì một con người có lòng từ tâm là phải giúp người ta thôi!”
Nghe vậy, ông chồng lại lồm cồm bò ra khỏi giường, mặc quần áo vào, xuống lầu mở cửa nhưng không thấy thằng cha quá xỉn ở đâu, bèn gọi vọng ra:
“Nè ông bạn! Có còn cần tôi tiếp đẩy một tay nữa hay không?”
Thì có tiếng trả lời: “Dà! Cần quá đi chớ!”
“Nhưng ông đang ở đâu?” “Đây nè! Tui đang ngồi trên cái xích đu nè!”
Vậy đó! Cư xử như con nít hoặc một tay ưa say sỉn suốt ngày không bao giờ tỉnh đều vui vẻ cả làng hết ráo; nhớ đừng tính toán chi li như ông nầy đây mà chi cho nó nhức đầu, lên tăng xông rồi nhồi máu cơ tim bất tử nhe!
***
Chuyện rằng: Một ông già thích đi câu, viết email, đặt hàng giao tại nhà cho mình là: “Vui lòng gởi cho tôi một cái máy tàu chạy dầu cho chiếc thuyền câu của tui, y như quảng cáo của mấy ông đăng ở trang số 35! Nếu cái máy không có gì rắc rối tôi sẽ gởi chi phiếu đến cho quý ông!”
Một lúc sau ông nhận được trả lời là: “Xin gởi cho chúng tôi chi phiếu trước; nếu nó không có gì rắc rối, chúng tôi sẽ gởi cái máy dầu đến cho ông nhé!”
Và cũng đừng tìm cách ăn miếng trả miếng như vợ của ông nầy mà lượng đường trong máu vượt khỏi tầm kiểm soát lại khổ cho cái thân già.
“Lựa hàng trong siêu thị xong, em yêu đến quầy thâu ngân để trả tiền.
Lúc lục tung cái túi xách của mình mang theo, em để lộ cái bộ điều khiển từ xa của cái máy truyền hình!
Cô thâu ngân hơi ngạc nhiên hỏi: “Bộ lần nào đi chợ bà cũng mang theo cái điều khiển từ xa của TV hết ráo hay sao?”
“Đâu có! Chẳng qua bữa nay tui kêu ổng chở tui đi chợ. Ổng không chịu… nên tui trả thù bằng cách mang nó theo vậy mà!”
Phần em tính chơi mình là vậy. Còn với em mình cũng nên từ bi hỷ xả mỗi lần đi họp mặt với bạn bè trường cũ, lỡ nhậu cưng cửng đành nhờ em làm tài xế đưa về kẻo cảnh sát chặn lại thổi rượu bất tử là mất cái bằng!
Dẫu em yêu có điều khiển chiếc Mercedes, mới mua trả góp của mình, có kinh hoàng đến thế nào thì cũng đừng nên mở miệng chê bai mà chi kẻo làm em giận…
Chỉ cần kể cho em nghe câu chuyện nầy nè: “Tôi không biết là tôi tài xế lái xe tệ hại đến chừng nào khi cái bộ phận chỉ đường trong xe báo rằng: “Chạy 500 mét nữa, quẹo phải, dừng lại và cho tôi ra khỏi xe đi!”
***
Còn phần mấy em đừng nên để bụng châm chọc mà chi khi anh lỡ không thuộc bài… Dù trong lòng có bức bối và tức tối vì thằng chả làm ăn dở như hạch, thì xin mấy em hãy vui lên, cười lên khi đọc câu chuyện nầy:
“Một nàng gặp chàng ở quán rượu. Nhậu nhẹt xong nàng mời chàng về nhà của mình. Uống thêm vài chai nữa. Chàng cởi áo ra và đi rửa tay.
Em nhìn và nói: “Chắc anh là nha sĩ!” Anh hơi ngạc nhiên hỏi lại: “Sao em biết?” “Dễ ợt hè! Vì em thấy anh rửa tay luôn!”
Màn chót là hai đứa leo lên giường, hợp ca bản con đường tình ta đi.
Xong xả, em nhất định cả quyết: “Anh đúng là một nha sĩ mà!”
Lần nầy thì anh chàng, gật đầu xác nhận: “Đúng! Anh là một nha sĩ thứ thiệt.” Nhưng cách nào giúp em khám phá ra ngay chóc vậy?”
“Vì em không có cảm giác gì hết trơn hết trọi hè!”
Thế đấy, đọc xong bài nầy, xin quý em yêu hãy ráng cười lên đi! “Cười lên đi em ơi! Cười lên để giấu dòng lệ rơi!”
Năm 1880, người Anh đến làm ăn ở Zimbabwe, một đất nước Châu Phi lọt thỏm trong lục địa, không có biển nhưng lại có nhiều khoáng sản quý báu trong lòng đất: kim cương, đồng, sắt và than đá.
Rồi hàng ngàn trang trại mọc lên, biến Zimbabwe thành cường quốc nông nghiệp hàng đầu, vựa lúa mì cho cả Châu Phi.
Khoáng sản và nông sản dưới sự quản trị khéo léo của những tay thực dân da trắng người Anh đã biến Zimbabwe, từ hoang dã thành một đất nước thịnh vượng với thu nhập bình quân đầu người là 3,500 USD/người/năm.
Một con số rất lớn thời đó làm dân nhiều nước trên toàn thế giới đều thèm thuồng mơ ước.
Rồi Robert Mugabe xuất hiện, biến thiên đường trở thành địa ngục.
Robert Gabriel Mugabe sinh ngày 21, tháng Giêng, năm 1924 đã phát động một cuộc chiến tranh du kích theo đường lối marxism bạo lực chống lại cộng đồng thiểu số da trắng đang quản trị đất Zimbabwe vào những năm 1960.
R. Mugabe cọp dê, bắt chước, sao chép hình ảnh lãnh tụ Châu Phi, Nelson Mandela.
Tuy nhiên, Nelson Mandela chống phân biệt chủng tộc thì Mugabe lại phân biệt chủng tộc, căm thù người da trắng.
R. Mugabe đã tuyên bố:“Tôi sinh ra để chống thực dân. Bọn người da trắng không được phép sở hữu đất đai của đất nước tôi.”
R. Mugabe được dân ngu khu đen Zimbabwe tôn sùng là nhà cách mạng, một anh hùng giành độc lập cho Zimbabwe từ tay thực dân da trắng.
***
Từ năm 1980, Mugabe quốc hữu hóa toàn bộ các công ty khai thác mỏ, tịch thu nông trại của hơn 4000 trại chủ người da trắng.
Những người da trắng thiểu số ở Zimbabwe đã ồ ạt tháo chạy khỏi Zimbabwe.
(Cái nầy nghe cũng quen quen ở Việt Nam trong những đợt đánh tư sản mại bản)
Ðảng Mặt trận Yêu nước Thống nhất Quốc gia Châu Phi Zimbabwe (Zanu-PF) do R. Mugabe lãnh đạo, suốt 37 năm, đã quản lý đất nước theo chủ nghĩa CS!
Hậu quả là đất nước Zimbabwe khan hiếm thực phẩm, gây ra một nạn đói tồi tệ trong 60 năm trở lại đây.
(Cái nầy nghe cũng quen quen ở Việt Nam từ năm 1976 tới 1986)
Thiếu hàng hóa nhu yếu phẩm, Ngân hàng Trung ương in tiền vô tội vạ. Cứ 24 giờ qua, vật giá tăng gấp đôi, lạm phát hàng tháng 7.9 tỉ phần trăm.
Zimbabwe đã phát hành đồng bạc có mệnh giá cao nhất thế giới: đồng đô la 100 tỉ, quy đổi ra đô la Mỹ chỉ được 24 xu.
Bất cứ người dân Zimbabwe nào cũng là tỉ phú; nhưng để mua một ổ bánh mì, phải mang theo hai bao tải tiền.
Ðồng đô la Zimbabwe gần như vô giá trị. Giờ phải xài đồng đô Mỹ hay đô của Nam Phi. Người dân Zimbabwe thêm được cái nghề là đổi tiền lưu động ngoài đường.
(Cái nầy nghe cũng quen quen ở Việt Nam trong những đợt đổi tiền.)
Số thất nghiệp tăng lên như hỏa tiễn, nên kinh tế tăng trưởng âm 18%.
Theo thống kê, vào năm 2016, GDP bình quân trên đầu người của Zimbabwe là 370 USD/người/năm, thấp nhất thế giới.
Dưới sự cai trị sắt máu và ngu dốt của R. Mugabe, hơn 60% dân số 13.8 triệu người sống trong cảnh đói nghèo. Tuổi thọ trung bình của nam giới Zimbabwe là 43 tuổi, nữ giới là 42 tuổi.
Hơn 4 triệu người dân khoảng 1/4 dân số đã bỏ nước ra đi.
(Cái nầy nghe cũng quen quen ở Việt Nam khi đồng bào chúng ta vượt biên vượt biển.)
Ðối với những tiếng nói đối lập thì đàn áp một cách dã man tàn bạo, tra tấn, cầm tù hầu dẹp mọi cuộc phản kháng.
(Cái nầy thì nghe quá xá là quen!)
***
Còn đối với phe ta thì dùng tài nguyên đất nước chia chác để tạo bè kết đảng, bảo vệ lẫn nhau để duy trì quyền lực! Công an và quân đội được R. Mugabe đối xử hậu hĩnh để mua chuộc lòng trung thành.
Hoang tưởng là thuộc tính nổi bật của R. Mugabe. Ðể chứng minh với thế giới rằng Zimbabwe là một quốc gia tươi đẹp, Mugabe đã cho triệt phá hàng trăm ngàn ngôi nhà tồi tàn đẩy hàng triệu người dân vào thảm cảnh màn trời chiếu đất.
(Cái nầy nghe cũng quen quen! Sài Gòn sạch đẹp như Singapore.)
***
Ăn chơi gái gú vốn là thuộc tính của tất cả các nhà độc tài trên thế giới. Làm như chúng từ một lỗ chui ra vậy. Như Tổng thống Iraq Saddam Hussein, Tổng thống Libya Muammar Gaddafi, và R. Mugabe cũng không là ngoại lệ.
Nhân vật nữ từng nhảy cà tưng cà tưng trên chính trường của nước Zimbabwe là Grace Marufu sinh năm 1965, làm thư ký đánh máy trong Dinh Tổng Thống.
Emmerson Mnangagwa
Ðược Mugabe cọ quẹt sao đó, năm 1996, em cho chồng cũ vốn là phi công đi tàu bay giấy để leo lên làm Ðệ nhứt phu nhân trong đám cưới thế kỷ, tốn hàng triệu đô Mỹ với một ông già đáng tuổi ông nội mình.
Những tưởng, lấy con vợ nhì lúc em mới 31 cái xuân xanh mà anh đã 72 tuổi già (cách nhau tới 41 năm) sau vài hiệp quần thảo trên long sàng là chàng sẽ từ ngáp ngáp chuyển qua từ trần để em lên thay thế làm Tổng thống, được hưởng trọn của nổi, của chìm hàng tỷ đô la trôi lềnh bềnh trong những ngân hàng khắp thế giới từ Malaysia cho tới Hong Kong.
“Tôi nói với Mugabe rằng anh nên để em tiếp quản vị trí của anh! Em làm giỏi lắm. Ðừng lo lắng. Nếu anh muốn trao cho em vị trí đó thì cứ thoải mái mà làm.”
Ngạc nhiên thay, 21 năm sau Mugabe vẫn còn ngúc ngắc, ngồi lúc lắc trên ngôi cửu ngũ, nhắm mắt để đó chớ không phải ngủ.
Tay cận thần thân tín, Emmerson Mnangagwa, 75 tuổi, khét tiếng vì thanh trừng nhiều người trong cuộc nội chiến những năm 1980, và trấn áp phe đối lập sau nầy khi làm trùm tình báo chờ đã bao lâu! Nếu một mai anh sẽ qua đời xe nhịp đằm khơi là tới tui lên, tui đang là Phó mà.
Vì ghế Tổng thống Zimbabwe đâu phải là vi khuẩn HIV mà truyền qua đường tình dục.
Emmerson Mnangagwa có hỗn danh là Cá Sấu. Vì lúc nằm im re, không nhúc nhích cục cựa gì như một khúc củi mục, kiên nhẫn đợi con mồi đến gần là nhanh như chớp hả họng ra táp cái phập là xong!
Grace chỉ là một “tay mơ” dựa vào quyền lực của chồng chỉ cần chổng mông là làm Tổng thống hay sao? Ðâu đó được.
Vốn là một người phụ nữ rất thông minh, ghi tên học chỉ 3 tháng là được trường Ðại học Zimbabwe cấp bằng Tiến sĩ Xã hội học mà không cần bảo vệ luận án gì ráo (Cái vụ bằng Tiến sĩ nầy nghe quá xá là quen), nên em tức tối xài xể thằng cận vệ thân tín cũ của chồng mình là đồ rắn độc rồi xúi Mugabe hãy đập đầu nó đi!
Vốn thờ bà, Mugabe triệu tập Phó Tổng thống Emmerson Mnangagwa vào nghe chiếu chỉ. Ngu sao mà vô! Mnangagwa dắt theo thằng con trai vọt tuốt qua Nam Phi vấn kế đàn anh là Tổng thống Zuma.
Ðược bật đèn xanh, được đồng chí trong đảng và tướng lãnh quân đội vì sợ mất quyền lợi của mình, Tư lệnh quân đội Constantino Chiwenga – đồng minh của Mnangagwa, điều xe tăng trấn giữ các địa điểm trọng yếu trong thủ đô Harare.
Bộ trưởng Tài chính Ignatius Chombo, Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia Augustine Chihuri đã bị bắt nhốt! Mugabe bị quản thúc tại gia.
Kêu từ chức cho đỡ quê không chịu hả? Uống rượu thưởng không chịu; mà đòi uống rượu phạt.
Vậy là Chủ Nhựt, 19, tháng Mười Một, Ban Chấp hành Trung ương đã họp để đuổi Mugabe và vợ ra khỏi đảng.
Mugabe bị triệt buộc, đành viết đơn tự nguyện (?) từ chức, chấm dứt một triều đại suốt 37 năm trường.
Bị người dân chán ngán, vì Mugabe đã hủy hoại nền kinh tế, đưa đất nước đến chỗ khốn cùng. Dân lâm vào cảnh nghèo đói cùng cực, bởi bọn quan lại mạnh ai nấy cướp!
Ðây là một tội ác. Nhưng cái tội ác lớn nhứt của những chế độ độc tài trên thế giới là hủy hoại niềm tin của con người vào chế độ. Ai lên rồi cũng tàn ác như nhau. Cái đất nước như vậy không bao giờ khá được.
Nhiều người dân khao khát sự thay đổi cho đây là một bước đầu tiến tới sự cải cách về chính trị, nhưng đó cũng là một ước vọng hão huyền.
Phần đông dân chúng tỉnh bơ coi cuộc đảo chánh không đổ máu nầy là chuyện thanh trừng trong đảng cầm quyền, bảo vệ quyền lợi của các tướng lãnh, chớ không phải vì quyền lợi của dân ngu khu đen; nên dân Zimbawe tỉnh như ruồi, ngồi cười ruồi vậy thôi.
Chuyện Zimbabwe tuốt bên Châu Phi sao bà con mình nghe thấy quá xá là quen!
Bà ngoại của tôi không còn nói năng được nữa, chỉ có rên rỉ mà thôi. Bà tôi cũng không còn nhận ra được ai trong gia đình. Ngoại bỏ ăn, ngoại trừ mấy giọt súp do ông tôi cố bón vào trong cổ họng. Vì bệnh hoạn ngày càng nặng hơn, bọng đái và đường tiêu hoá của ngoại đã ngưng hoạt động. Nằm liệt trên giường, ngoại đại tiểu tiện lung tung. Chẳng một ai trong gia đình bác tôi chiụ gíup mẹ tôi một tay trong việc săn sóc bà. Mùi hôi thối bốc ra từ sự bệnh hoạn của bà đã trở thành một phần trong đời sống của chúng tôi. Ngay đến sự nhẫn nại của mẹ tôi cũng bị thử thách trong nhiều trường hơp. Như sau khi được tắm rửa sạch sẽ, ngoại tôi lại làm dơ dáy chiếc chiếu rách của mình. Một đôi khi tôi nghe thấy tiếng của mẹ tôi la lối ỏm tỏi ở phía sân trước, nguyền rủa cái sự bên gia đình bác tôi chẳng gíup gì cho bà, nguyền rủa luôn cả sự độc ác của bà ngoại tôi vì đã sống trong hoàn cảnh thê thảm, làm khổ con cháu như thế. Ngày này qua ngày khác, bà ngoại tôi cứ nằm bất động, nhìn ông tôi trừng trừng, qua đôi mí mắt cứng đờ. Rồi, lềnh bềnh giữa sự sống và cái chết, ngoại thều thào nói những gì không dứt. Tay ngoại quờ quạng như cố nắm bắt vật gì vô hình. Jimmy và tôi ngồi trên sàn nhà cách đó vài thước nhìn cơn mê sảng của bà ngoại và cầu mong thần chết mau chóng mang bà tôi đi. Một buổi xế trưa, khi tôi từ bến tầu trở về, mình sũng máu cá, đang bước trên đám cỏ mọc hoang rậm rì của khu vườn nhà bác, tôi chợt nghe thấy tiếng bà tôi gọi. Giọng tỉnh táo của bà khiến tôi ngạc nhiên, tôi ngừng lại ở cửa sổ phòng bà nhìn vào bên trong. Bà tôi nằm dán mình trên chiếc giường nhìn đăm đăm lên trần nhà. Tóc của bà gần như rụng hết để lộ ra vùng da đầu trắng nhợt và đầy những vết nhăn. Bà tôi không bận quần áo gì cả. Hai bàn tay giơ lên cứng đơ như đang bắt một con bướm vô hình. Bà đại tiện tại chỗ, phân và nước tiểu hoà lẫn với nhau nhiễu từ trên chiếu xuống nền nhà. Bà tôi hơi nhích cái đầu lên để đón cái nhìn của tôi, đôi môi run rẩy khi kêu tên tôi. Tôi muốn chạy ngay đến bên bà tôi, nhưng chân của tôi cứ như bị chôn một chỗ. Tôi muốn kêu to lên cho mọi người nghe thấy nhưng lời lẽ cứ bị vướng trong cổ họng nẻ của tôi. Tôi nhìn thấy hai hàng dọc kiến lửa bò dọc theo chân bà tôi và gậm nhấm da thịt của bà. Khiếp quá! Tôi không biết bọn kiến đã kéo đến từ bao giờ. Đôi mắt bà nhìn tôi không rời. Ggiọng bà yếu dần khi bà nài nỉ tôi tới gíup. Rồi hai bàn tay của bà rơi thõng xuống bộ ngực gầy hõm. Bà tôi thở hắt ra một lần cuối cùng trước khi vĩnh viễn ra đi. Lúc ấy, tôi bắt đầu la lên. Mới đầu, tiếng kêu của tôi thoát ra khỏi cổ họng nghe khàn như giọng vịt đực. Tôi hít một hơi dài rồi cố kêu lên nữa. Tiếng thứ nhì thoát từ phổi ra tôi nghe thấy xa lạ tưởng như là tiếng của ai khác. mặc dù vậy tôi vẫn la không ngừng. Chị Ánh Nguyệt chạy ra từ căn phòng của chị. Trông thấy tôi còn đứng ở cửa sổ phòng bà ngoại tay còn đang chỉ vào phòng, chị hiểu ra ngay tức thì. Thế là chị cũng la lên. Cái tin bà tôi từ trần lan rộng khắp xóm. Ông tôi lúc đó đang cuốc bộ ở ngoài đường theo thông lệ, còn mẹ tôi thì đang ở ngoài chợ. Lúc hai người trở về thì đã có một đám đứng bu quanh căn nhà của tôi. Cái tin dữ hầu như không làm ông tôi ngạc nhiên. Chẳng nói một lời, ông tôi đóng kín cửa phòng và ở trong đó một mình với thi hài bà tôi. Đám còn lại chúng tôi thì chỉ đứng ở bên ngoài chờ đợi. Chẳng có lấy một mống nào trong hai gia đình chúng tôi đã rơi một giọt lệ. Hoàng hôn xuống, mặt trời tan diụ đi trên những mái ngói đỏ. Càng lúc càng đông người kéo tới nhà tôi. Ông phường trưởng cũng đến đứng sau lưng mẹ tôi. Khuôn mặt ông ta sáp lại gần, chỉ cách mái tóc của mẹ tôi có vài phân. Ông ta thì thầm với mẹ tôi: – Xin chia buồn nghe cô Khuôn. Làng xóm đến đây để thu xếp với cô chuyện tang lễ. Mẹ tôi không nhìn lên, thì thầm lại: – Xin cảm ơn ông, nhưng chúng tôi lo liệu lấy được. Chúng tôi không muốn gây phiền toái cho ai hết. – Chẳng có gì là phiền hết. đây là vấn đề phường, khóm phải có trách nhiêm. quan tâm với cư dân của mình. Bác gái cũng là một thành viên của tập thể mà. Mẹ tôi ngẩng lên: – Thôi được rồi, thưa ông. Tôi biết, mặc dù ông là phường trưởng, nhưng ông vất vả lo tái định cư cho bà nhà và con gái ông từ Hà nội vào. Bây giờ, gia đình đoàn tụ sau mười lăm năm xa cách. Vậy tốt hơn là ông nên ở nhà để liên hoan chào mừng họ, còn chúng tôi có thể tự xoay sở cho chuyện của chúng tôi. Bác gái của tôi chen vào: – Dẹp đi, hãy để đồng chí cấp trên làm phận sự của ông ấy. Viên phường trưởng tỏ vẻ đau khổ. – Chị cô nói đúng đó. Nhưng nếu cô không cần tôi ở đây thì tôi xin rút lui. Truyền thống của dân tộc ta là bầy tỏ lòng kính trọng đối với người đã khuất. Tôi đã ra lênh. cho nhân viên trên phường chuẩn bị tang lễ cho bà cụ. Trước khi tôi đi, xin gửi lại cô lời chia buồn sâu xa nhất và lòng mong mỏi công việc được hoàn tất tốt đẹp của tôi. Nói rồi ông ta quay ra, lẩn qua cánh cổng trước. Một giờ sau, toán chung sự của nhà quàn kéo tới. Với sự tiếp tay của ông tôi, họ chùi rửa thi hài của bà tôi và tẩm bằng rượu đế. Khi rượu đã ngấm vào và làm mềm tứ chi, họ thay cho bà tôi một bộ quần áo mới. Họ lại dùng một sợi chỉ đỏ buộc hai ngón chân cái lại với nhau để tránh cho linh hồn của bà tôi khỏi lang thang vất vưởng. Một cái áo quan rẻ tiền được quét sơn mầu đỏ được mang vào phòng của ông bà tôi. Dưới đáy áo quan được rải một lớp cát để độn cho thi hài. Những gia đình giầu có thì độn lá trà thay cho cát. Người chết thuộc gia đình càng giầu có, sang trọng bao nhiêu thì lá trà mang dùng lại càng thuộc loại đắt tiền bấy nhiêu. Chúng tôi che phủ lớp cát bằng một lớp vải thô. Khi thi hài của bà tôi đã được đặt trong quan tài, một dĩa nhỏ đựng dầu đốt đèn được đặt dưới gầm quan tài để giữ cho linh hồn bà tôi được ấm áp. Những nén nhang đặt trong một cái lư lớn toả hương thơm ngát trong không khí. Đã tới lúc bạn bè, bà con tới cúng lễ. Đêm hôm đó cả gia đình tôi ngủ ngay bên cạnh quan tài để bà ngoại tôi có người cận kề. trên sàn xi măng lạnh lẽo, Dì Đặng và mẹ tôi thảo luận về những chi tiết trong việc chôn cất. Nằm bên cạnh hai người, Jimmy và tôi chìm vào giấc ngủ. Dì Đặng nhích người vào sát mẹ tôi, rồi ghé vào tai thì thào. Dù trong cơn buồn ngủ, tôi cũng nghe hết từng lời dì nói: – Chị Khuôn, lũ nhỏ đã ngủ hết chưa? Mẹ tôi trả lời: – Chắc là ngủ rồi. Gì vậy? – Tôi không muốn chúng nó nghe điều này, tôi sắp đi. – Đi đâu, đi về nhà chị hay tính chuyện đi vượt biên? Dì Đặng thì thào: – Tính chứ. Tôi đã tìm thấy một đường dây rồi. Chủ tầu cho tôi mang theo một người. Ba mẹ tôi thì đã quá già lại sống ở Sài Gòn. Vì tôi chẳng còn ai nên tôi định dẫn theo một đứa con của chị. Vậy chị phải quyết định nên để cho đứa nào đi. Tôi nằm im lặng, nhưng trong thâm tâm, tôi muốn gào lên, cầu xin mẹ tôi chọn lựa tôi hơn là thằng em. Sự im lặng của bà khiến tôi điên cuồng lên vì chờ đợi, nhưng tôi chỉ có thể nằm im bất động. Rồi tôi nghe thấy tiếng mẹ tôi thì thầm: – Phải trả hết bao nhiêu? – Không tốn một xu. Chúng mình là bạn tốt của nhau mà, phải không? Đó là một cách tôi ngỏ lời cám ơn bạn, bạn ạ. – Trong bao lâu nữa thì tôi phải trả lời? – Một tháng, bạn có thể quyết định sau đám tang. Mẹ tôi nói: – Vậy thì mình nói qua chuyện khác đi.
Thuốc bắc không chữa được cái chân nhiễm trùng của bà tôi. Trong suốt hai năm trời, chúng tôi đã chứng kiến tình trạng sức khoẻ của bà tôi cứ tiêu mòn đi cho tới khi bà không còn bước ra khỏi giường được nữa. Một buổi sáng chúng tôi nặn mủ vào một cái chậu. Ban đêm, tiếng niệm Phật của bà và tiếng lách cách của móng tay va chạm vào những viên tràng hạt vang vọng trong tai chúng tôi. Ông thầy lang gợi ý là bà tôi phải đem chân đi cưa tại bệnh viện thành phố. Nhưng thuốc men thì khan hiếm, khi kiếm ra thì lại qúa đắt mà bệnh viện cũng chỉ chữa chạy sơ sơ thôi, vì vậy bà tôi đành cứ nằm ở nhà chờ chết.
Một buổi trưa, mẹ tôi dẫn tôi đi vô rừng, nằm ở phía bên kia núi. Lần theo con đường mòn có cây cỏ mọc tràn ra, chúng tôi đi đến mấy tiếng đồng hồ cho đến khi gặp một khoảng đất rộng, chính giữa mọc một cây xoay cổ thụ….. Những rễ nhánh của nó từ các cành mọc chìa ra, thòng xuống đất nom như những lọn tóc. Trên mặt đất tràn đầy trái xoay có vỏ màu đen và mịn như nhung, rải ra như một tấm thảm sa tanh, khi bước chân tôi dẫm xuống, chúng bể ra, tạo thành những tiếng lép nhép. Mẹ tôi trỏ tay lên cao, và theo tay chỉ của bà, tôi thấy một cái chòi bằng tre treo tuốt trên ngọn cây nom như một cái tổ chim. Đó là nơi cư ngụ của ông thầy lang, một thầy pháp đã tạo dựng được tiếng tăm trong đám dân cư nghèo bằng những pháp thuật kỳ quái. Trong rừng, trời mau tối. Vì chúng tôi không được mời lên chòi nên đành tam. ngủ qua đêm trên mặt đất bên cạnh cây cổ thụ với những nhánh rễ chằng chịt. Trong bóng đêm ma quái của rừng sâu, ánh sáng từ ngọn đèn dầu lắc lư khiến cho cái chòi của ông thầy pháp sáng lên như một hộp diêm quẹt, giữ cho những loài thú hoang không lảng vảng đến gần. Sáng hôm sau, chúng tôi đón thầy pháp về nhà và đưa lão ta vào phòng của bà ngoại tôi. Thoạt trông thấy bà tôi, lão gìà hấp him mắt nhìn với vẻ tò mò. Rồi lão bảo mẹ tôi cột hai tay của bà tôi vào cọc giường để chuẩn bị cho cuộc giải phẫu. Đoạn lão dùng một con dao bén làm bằng xương đùi người ta rạch lên chân bà tôi. Một vòi mủ lẫn với máu vọt ra, phun cả lên mặt lão. Lão nốc một ngụm rượu rồi phun lên khắp chân của bà tôi. Sau đó, giống như ma cà rồng, lão chộp lấy chân bà ngoại, mút máu mủ và nhổ ra cái chậu để ở dưới. Rồi lão ta lại hút và lại nhổ trong suốt hai tiếng đồng hồ. Cuối cùng, lão đã hút sạch sẽ vết thương của bà tôi. Nhẹ nhàng, lão đặt chân bà tôi xuống giường, vẻ mặt thoả mãn, rồi ngồi xuống đất. Đoạn lão nói với mẹ tôi: – Xong rồi. Má cô sẽ khỏi. Nhưng mà không còn đi được nữa. Lời nói của lão thầy pháp thế mà đúng. Vết thương khủng khiếp của bà tôi sau vài tuần lễ đã lành lại, nhưng cẳng chân thì khô đét như một que củi, bầm đen và vô tri gíác. Tuy thế, căn bệnh ung thư lại lan vào nội tạng. Vào những ngày cuối của cuộc đời, bà tôi chỉ nằn trên giường, qua cửa sổ, đăm đăm nhìn vào khoảng không. Giống như một phần tâm trí của bà đã ra đi trước khi cơ thể của bà lâm chung.
° ° °
Tôi đã kiếm được việc làm sau giờ học, khiêng cá từ bến cảng vào chợ. Còn thằng Jimmy thì đi vô rừng đốn củi. Vì vừa phải làm việc, vừa trông nom bé Ti, nên trưa nào tôi cũng cột nó vào một cái cọc ở gần bờ biển, mặc cho nó khóc lóc van xin. Ở tuổi lên năm, bé Ti chậm hiểu và gầy còm. Để nó một mình trên bãi cát, tôi hòa vào đám đông toàn con nít ở bến tầu để chờ đợi những thuyền đánh cá trở về. Sau khi được một chủ thuyền mướn, tôi chạy xuống mạn thuyền, ở đó, cá đã được chất đống đầy ngập sap.. Một ngư phủ xúc những con cá vào một cái thúng sơn dầu hắc mầu đen láng rồi nhấc bổng đặt ngay ngắn lên đầu tôi. Máu cá và nước biển qua kẽ thúng chảy tong tong xuống lưng rồi qua gấu quần đùi, nhễu ra ngoài. Sức nặng của thúng cá làm tôi loạng choạng bước ra khỏi thuyền, tay gạt lũ trẻ sang một bên, mắt còn liếc dòm chừng em gái của tôi. Một ngày kiếm khá hay bết bát cũng còn phải tuỳ thuộc vào hai điều: một là ngư phủ có trúng mánh, đánh được nhiều cá hay không và hai là hôm ấy có nhiều con nít đi khuân vác, tranh giành công việc với tôi hay không. Mấy bà bán cá ngồi chờ trong chợ chỉ cách bến độ hai khu phố. Đôi khi may mắn, tôi mang được bốn chuyến. Đến cuối ngày tôi đi gặp ông chủ thuyền để nhận thù lao rồi hối hả trở về nhà nấu bữa cơm tối cho gia đình.
Một buổi chiều, trong lúc tôi đang nhích cho thăng bằng một thúng cá lớn trên đầu thì nom thấy một cô bé xà tới chỗ em gái tôi ngồi, cởi sợi dây tôi buộc tay bé Ti khỏi cái cọc gỗ. Cô này phải trạc chừng mười bốn, mười lăm tuổi, bận một cái áo cánh cụt tay mầu đỏ như mầu máu. Tôi tiến lại gần, mắt dán vào làn da nơi gáy của cô ta, trông mềm mại và trắng ngần như ngó sen. Rồi tôi quát lớn, cố tỏ ra càng hung dữ càng tốt: – Cô kia, ai cho cô làm chuyện đó Cô gái ngẩng đầu lên. Trên khuôn mặt khả ái của cô, đôi mắt thật to và sáng long lanh. Mái tóc dài, đen nhánh loả xoả xuống mặt. Rồi cô nhắm mắt lại như để suy nghĩ trước khi trả lời. Cả đại dương, cả bầu trời xanh, cả sự om sòm ở dưới bến cảng như nhạt nhoà đi trong tâm trí tôi. Khi tôi ngắm đôi môi hồng thắm của cô, nom như những cánh hoa thì cái thúng cá nặng chĩu và xông mùi hôi thối trên đầu của tôi cứ như là không còn nữa. Cô nói với tôi: – Anh không thể cột tay nó như vậy được. Tàn bạo quá. Tiếng cô nghe gay gắt và nặng với giọng mũi của người Hà Nội. Mọi người miền nam đều không ưa cái giọng nói biến âm của người miền bắc vì nó biểu trưng cho sự đàn áp của Cộng Sản. Nhưng với tai tôi thì lại khác, đến tiếng chim hót cũng không thể ngọt ngào bằng. Tôi ấp úng: – Không trói nó lại, nó chạy mất tiêu thì sao? – Nếu vậy thì tôi sẽ ở quanh đây và trông nó giùm cho. Tôi trả lời: – Tôi đâu có biết cô là ai. Làm sao mà tôi tin được người lạ? Cô ta cười phô hàm răng trắng đều và thẳng tắp: – Thật ra thì tôi có biết anh chứ. Ngày nào tôi cũng nom thấy anh và em của anh trên bãi biển. Nếu tôi mua một con cá ngừ của anh thì anh có tin tôi hơn không? – Cá bán không được. Không phải của mình Từ phía thuyền giọng một người lái cá tru tréo: – Ê! Thằng tóc quăn trở lại làm việc! Cô gái dục: – Đi đi. Đừng lo gì cho chúng tôi. Tôi trông em gái của anh cho. Bé Ti nhìn tôi chằm chằm vẻ sợ hãi, mặt của nó sưng vù vì khóc. Tôi quay đi, lòng ngượng ngùng, bối rối. Khi tôi bước xuống con đường để ra chợ, tôi còn nghe tiếng hai đứa cười đùa khúc khích với nhau. Lúc tôi quay trở lại để đón em tôi thì cô gái áo đỏ đã đi mất tiêu rồi. Mặt trời đã lặn, những tia sáng mầu tím lợt lung linh trên từng đợt sóng. Bé Ti ngồi trên cát đang ăn một cái chả giò. Nó cười rạng rỡ với tôi, nhe cả hàm răng không còn cái nào. Tôi hỏi: – Cô bạn hồi nẫy đâu? Em tôi trả lời: – Chị Kim đi mất rồi. Nó giơ tay lên và xoè mấy ngón để lộ ra một gói giấy đẫm dầu trong có một cái chả giò khác và nói: – Cái này phần anh. Kim. Trong đầu tôi vang vọng tên của nàng. Tôi đến chỗ em gái, bế nó lên khỏi bãi cát và hỏi: – Chị ấy có nói gì về anh không? Em tôi trả lời, giọng hào hứng: – Có chứ. Nhiều lắm.
Quân đội Hoa Kỳ được biết đến với những tiêu chuẩn cao – nhưng trong số tất cả các quân chủng tương tự, Thủy quân lục chiến đưa sự hoàn hảo lên một tầm cao khác. Và việc duy trì sự xuất sắc đó không phải là một thành công nhỏ, vì Quân đoàn đã đóng một vai trò nào đó trong mọi cuộc xung đột trong lịch sử Hoa Kỳ. Đó là bởi vì Thủy quân lục chiến hoạt động trên biển, trên không và trên bộ và có thể ứng phó với khủng hoảng trong vòng chưa đầy 24 giờ với toàn bộ lực lượng của một quân đội hiện đại.
Để chào mừng Quân đoàn, chúng tôi đã chụp một số bức ảnh đẹp nhất của họ từ trước đến nay.
Các Huấn luyện viên Rơi tự do của Thủy Quân Lục Chiến được giao cho Biệt đội Thủy Quân Lục Chiến – Fort Bragg, thả tro của Sgt. Brett Jaffe (1971-2012), một thợ đóng tàu Thủy Quân Lục Chiến, phía trên Phillips Drop Zone tại Yuma Proving Ground, Ariz., Vào ngày 26 tháng 7 năm 2012. | Ảnh của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
Sgt. Maj. Scott T. Pile nói chuyện với Đơn vị Viễn chinh Thủy Quân Lục Chiến số 11 Thủy Quân Lục Chiến và các thủy thủ lên tàu tấn công đổ bộ USS Makin Island đậu bên cầu tàu tại Căn cứ Hải quân San Diego ngày 9 tháng 8. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Lance Cpl. Kyle J. Palmer (trái), cầm chắc ống súng cối trong vai Lance Cpl. Samuel E. Robertson (phải), lính súng cối thuộc Trung đội Súng cối 81mm, Đại đội Vũ khí, Tiểu đoàn Đổ bộ Tiểu đoàn 2, Thủy Quân Lục Chiến số 7, Đơn vị Viễn chinh Thủy Quân Lục Chiến số 31, lấy một quả đạn cối khác trong cuộc tập trận bắn đạn thật chung, ngày 14 tháng 7. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thuộc Đội liên lạc Gruzia-9 và các binh sĩ Quân đội Gruzia thuộc Tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ số 33 tiến tới điểm rút lui trong Chiến dịch Sư Tử phương Bắc II ở tỉnh Helmand, Afghanistan, ngày 3 tháng 7 năm 2013. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thủy Quân Lục Chiến thuộc Lực lượng đột kích hàng hải của Đơn vị viễn chinh Thủy Quân Lục Chiến số 15 rời USS Essex (LHD 2) trên một tàu đột kích cao su chiến đấu trong Khóa huấn luyện tích hợp đơn vị viễn chinh Thủy Quân Lục Chiến số 3/Phi đội đổ bộ (PMINT) ngoài khơi bờ biển San Diego ngày 4 tháng 3 năm 2015. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cùng với Đại đội Fox, Tiểu đoàn Đổ bộ Tiểu đoàn 2, Thủy Quân Lục Chiến số 1 (BLT 2/1), Đơn vị Viễn chinh Thủy quân lục chiến số 11 (MEU), thực hiện khóa huấn luyện thiện xạ chiến đấu Bảng 3 như một phần của huấn luyện duy trì trên sàn đáp của máy bay. USS San Diego (LPD 22), ngày 1 tháng 10 | Ảnh của Gunnery Sgt. Rome M. Lazarus, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Huấn luyện viên hướng dẫn Sgt. Daniel Anderson động viên các tân binh trong quá trình rèn luyện thể chất tại Tổng kho Tuyển dụng Thủy Quân Lục Chiến Đảo Parris vào ngày 4 tháng 12 năm 2014. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cùng với Lực lượng đặc nhiệm ứng phó khủng hoảng trên không-mặt đất trên biển-Châu Phi leo dây trong cuộc vượt chướng ngại vật tại Căn cứ Hải quân Rota, Tây Ban Nha, ngày 26 tháng 2 năm 2015. | Ảnh của Lance Cpl. Christopher Mendoza, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Một lính Thủy Quân Lục Chiến chào cờ trong buổi lễ đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm Chiến tranh Thủy Quân Lục Chiến ở Washington. Buổi lễ kỷ niệm 70 năm trận chiến Iwo Jima. Với hầu hết các cựu chiến binh còn sống sót ở độ tuổi 80 và 90, những người lính Thủy Quân Lục Chiến còn sống sót đã đến thăm đài tưởng niệm để tưởng nhớ những người anh em trong vòng tay của họ. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Một lính Thủy Quân Lục Chiến giám sát từ trung tâm tiểu đoàn nhân sự thường trực của Trường Cơ bản trong chuyến đi bộ dài 10 dặm về phía tây của Căn cứ Thủy quân lục chiến Quantico, Va., Ngày 28 tháng 6 năm 2013. | Ảnh của Lance Cpl. Cường Lê, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thủy Quân Lục Chiến Từ Trạm tuyển dụng Lansing, Trạm tuyển dụng Grand Rapids Bắc và Nam, tham gia lễ khai mạc Giải khúc côn cầu cổ điển Grand Rapids Pond, ngày 25 tháng 1. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Huấn luyện viên hướng dẫn Sgt. Jonathan B. Reeves kiểm tra và kỷ luật các tân binh thuộc Trung đội 1085, Đại đội Charlie, Tiểu đoàn Huấn luyện Tuyển dụng số 1, tại Tổng kho Tuyển dụng Thủy Quân Lục Chiến Đảo Parris, Nam Carolina. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thủy Quân Lục Chiến với Khẩu đội Bravo, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn thủy quân lục chiến số 12, vội vàng nạp đạn cho một khẩu pháo M777 bằng đạn pháo 155 mm trong nhiệm vụ bắn nhiều phát như một phần của cuộc tập trận bắn kép kéo dài hai ngày tại Doanh trại Schofield, Hawaii, tháng 11 . 13, 2013. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thủy Quân Lục Chiến được giao cho Trung đội Trinh sát Lực lượng, Lực lượng Đột kích Hàng hải, Đơn vị Viễn chinh Thủy Quân Lục Chiến số 26, chuẩn bị thực hiện cú nhảy mở màn ở độ cao lớn (HAHO) từ CH-53 Super Stallion trong khóa huấn luyện duy trì cấp 3 ở Louisburg, Bắc Carolina. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Thượng sĩ. William Wickett, Tiểu đoàn Vô tuyến số 2, thực hiện một cuộc diễn tập cứu hộ trong thời gian Giảng viên Khóa học Sinh tồn dưới nước của Thủy Quân Lục Chiến tại Căn cứ Thủy quân lục chiến Johnson, N.C., ngày 5 tháng 3 năm 2013. | Ảnh của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Trung đội diễn tập im lặng của Thủy Quân Lục Chiến diễu hành trước Đài tưởng niệm Thomas Jefferson trên đường biểu diễn cho Lễ hội hoa anh đào ở Washington ngày 12 tháng 4 năm 2014. | Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Các tân binh của Công ty Ấn Độ, Tiểu đoàn Huấn luyện Tuyển dụng số 3, thực hiện động tác kéo xà trong một sự kiện huấn luyện thể chất tại Tổng kho Tuyển dụng Thủy Quân Lục Chiến San Diego, ngày 28 tháng 12. Trong sự kiện này, những người hướng dẫn diễn tập đã thúc đẩy mỗi tân binh cố gắng hết sức trong khi thực hiện từng hiệp bài tập . Hàng năm, hơn 17.000 nam giới được tuyển dụng từ Khu vực Tuyển dụng Miền Tây được đào tạo tại MCRD San Diego. | Ảnh của Lance Cpl. Angelica I. Annastas, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.