This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chiều hôm qua, một câu chuyện của anh Lê Văn Bưởi làm cho tôi và có lẽ cả khu A chính trị không thể quên được. Như tôi đã nói trước đây, khi còn trong trại E, anh Bưởi cứ lẽo đẽo cắp vở theo học lớp 2 bổ túc văn hóa vào những buổi trưa của trại. Lúc đầu còn nhiều anh em bàn tán, xầm xì; nhưng mãi rồi cũng thôi. Phần tôi nhìn về anh, vì anh và tôi càng ngày càng thân hơn do giống nhau ở nhiều điều kiện nên được nhiều chi tiết cụ thể hơn. Những tháng đầu anh mới chuyển về trại E, mặt anh thường tươi vui phấn chấn. Có thể vì anh còn đang ấp ủ một niềm hy vọng tràn trề trong lòng theo như anh đã tâm sự với tôi: “tôi có rất nhiều công lớn với đảng và nhà nước”. Nhưng rồi niềm hy vọng của anh cứ phai lạt dần theo thời gian, để rồi chính anh cũng chẳng còn bao giờ nhắc điều đó với tôi nữa.
Sau khi chuyển ra trại xây, trại chính này hơn một tuần. Một đêm mưa rơi tầm tả làm thao thức, khắc khoải bao tâm hồn người tù. Sáng hôm sau, cái chân phải của anh Bưởi, không hiểu vì sao đó bị co rút gâp lại, anh không đi lại được nữa. Cán bộ và y tế vào buồng khám, chỉ thấy anh rên rỉ, kêu la đau đớn. Họ nắn bóp, sờ mó chân anh nhưng chưa thể kết luận là bệnh gì. Nhìn cảnh sinh hoạt của anh ai cũng mủi lòng, thuơng hại.
Theo quy định của trại, ban ngày không ai được vào nhà cầu trong buồng để đại, tiểu tiện. Vả lại người làm vệ sinh đã lấy thùng đi từ sáng sớm rồi. Mọi người ốm bịnh ở lại buồng đều phải ra nhà cầu công cộng của trại. Anh Bưởi không đi được, nhẩy lò cò thì đau đớn, vì thế nhiều lần anh phải bò, lết đi ra rửa ráy. Những hôm nắng ráo đã đành, vào những ngày mưa dầm ướt át thì thật khốn khổ cho anh. Cũng có nhiều anh em thông cảm, trông thấy nên đã dắt dẫn anh đi.
Phải nói tôi rất thương anh. Anh cũng như tôi, một thân, một mình chẳng may rơi xuống vực thẳm của đời, đành lầm lũi, lê kiếp sống lầm than trong ngục tù tăm tối đã thổi ruỗng, não nề cõi lòng rồi. Bây giờ lại bị bán thân bất toại nữa thì còn cay đắng tủi cực đến đâu.
Chính vì thế, nhiều đêm tôi đã chui sang màn anh, thăm hỏi, ủi an, xoa bóp chân cho anh, đã nhiều lần tôi phải cõng anh ra nhà cầu của trại, cũng như ra rửa ráy, giặt giũ. Hơn một tháng sau. Hôm ấy, khi toàn trại đã đi lao động có một trung úy là bác sĩ trên tỉnh (Lào Cai) vào buồng khám bệnh cho anh Bưởi. Ông bác sĩ, có cán bộ y sĩ trại là thượng sĩ Thìn đi theo. Sau đấy, cả tên Đức trưởng ban giáo dục trại, rồi Thạc y tá của trại. Một đoàn người kéo vào buồng I để khám bệnh cho anh Bưởi.
Người ta dùng ống nghe, dùng vồ con gõ, đập khớp xương. Cuối cùng, một người khoác nách, hai người cầm chân anh Bưởi, họ ra sức kéo thẳng ra. Anh Bưởi đau đớn, kêu như bò rống, nhưng khi họ bỏ chân anh ra, nó lại gập lại như cũ. Phần vì không có thuốc để tiêm, phần khác không có đủ phương tiện để khám nghiệm cho nên chân anh Bưởi cứ đành bị gập như vậy. Cứ như thế kéo dài 3 – 4 tháng sau. Dĩ nhiên là anh Bưởi không đi lao động được.
Anh được ban giám thị cho tổ kỹ thuật của Đinh Sơn làm cho anh một cái nạng gỗ thật nhẹ và đẹp. Từ đấy cuộc đời anh đỡ nhiều nỗi khó khăn trong sinh hoạt. Trong buồng, nhất là những anh nằm gần anh Bưởi, họ nhìn thế nào về anh thì tôi không được biết, riêng tôi, cũng có lần tôi đặt vấn đề suy nghĩ. Tất nhiên, trong cuộc sống của con người, ai cũng đầy rẫy những vấn đề phải lo lắng suy nghĩ rồi, đâu cần bận tâm suy nghĩ về những câu chuyện của người khác. Nhưng sự việc cứ bầy ra trước mắt hàng ngày, nên rồi cũng có lần phải suy nghĩ tới. Nếu anh Bưởi không có bệnh, chân anh cứ co quắp suốt ngày đêm như vậy, thì làm sao anh chịu được. Nó sẽ bị tê buốt nhức nhối. Có lẽ những tên cán bộ giáo dục và những tên cán bộ y tế, cũng nghĩ như thế. Cho nên, một hôm chúng nó lại xuống buồng dùng băng quấn chặt chân anh Bưởi lại. Chúng xỏ lá nói là phải buộc như vậy để cái máu tê xuội nó không thể chạy lung tung khắp người, có khi nó còn chạy sang chân bên kia nữa.
Tôi nhìn anh Bưởi mà thương hại anh, nếu anh bị thật thì không nói làm gì, nếu giả thì không biết anh sẽ bị khó khăn như thế nào. Phải nói vì chuyện này, mà đã từ lâu tụi cán bộ giáo dục, đã gọi hầu như lần lượt khắp buồng lên để hỏi về anh Bưởi. Ngay chính tôi, đã 2 lần khi chúng gọi tôi lên để giáo dục, tên Đức đã hỏi tôi có nhận xét gì về cái chân của anh Bưởi. Một lần khác tên Tập trung sĩ (tên này là cán bộ giáo dục mới ở đâu về) cũng hỏi tôi về cái chân anh Bưởi. Trong lòng tôi, thực sự cũng có nghi là anh Bưởi làm giả, nhưng tôi nghĩ rằng: Thứ nhất, đây là một chuyện vô thưởng, vô phạt đối với mình; thứ hai, dù anh Bưởi có làm giả thì đó là một chủ trương của anh, một hình thức đấu tranh của anh đối với Cộng Sản. Nếu bất cứ ai có ý thức với đường đi của mình thì đều phải giúp đỡ anh, bao che, tạo điều kiện cho anh. Tuy vậy, để khỏi mang mối ưu lo về sau với một việc làm mà tôi đã cho rằng chưa đủ thấu quát, nên tôi đã đều trả lời:
– Tôi nằm ở sàn đối diện, nhiều đêm tôi thấy anh rên la ghê lắm! Chính tôi cũng thông cảm và giúp đỡ anh nhiều lần. Nhưng như ông đã biết đấy, hàng ngày tôi thường nỗ lực lao tác dựng nhà. Về buồng tôi chỉ đọc sách rồi mệt thì ngủ, nên tôi không biết rõ lắm.
Từ ngày chuyển ra trại chính này, Hoàng Thanh đi đâu biệt không thấy mặt. Nhiều lần ban giám thị xuống nói chuyện với trại ở ngoài hội trường, chỉ thấy tên Toán, Chuân, Mạch mà không thấy bóng dáng Hoàng Thanh đâu. Có lẽ y phải chuyển đi nơi khác! Hoặc có khi y buồn, vì không mang được cái tác phẩm kỳ vĩ của y là cái cùm hộp ra trại chính này, cho nên y đã bỏ đi chăng?
Mới hai tuần trước, tôi thoáng thấy cái dáng cao lênh khênh của y lững thững từ phía cổng trại đi xuống khu nhà bếp. Trông xa từ gần 200 mét, rõ ràng chiếc lon trên cổ áo của y còn tươi đỏ như máu, có 3 ngôi sao vàng lấp lánh mới toanh. Như vậy y đã lên thượng úy rồi. Dạo này những buổi sáng và những buổi chiều khi toàn trại đã đi lao động, đã có nhiều người được lệnh ở lại trại để đi gặp cán bộ. Tuy trước đây hàng ngày vẫn có người phải ở lại gặp cán bộ giáo dục nhưng từ ngày Hoàng Thanh về, mật độ đã dầy hơn. Anh Bưởi bị Hoàng Thanh gọi lên gặp mấy lần. Và chiều hôm qua khi chúng tôi đi lao động về thấy anh Bưởi không đi nạng nữa. Anh mang quần áo ra giếng tắm rửa như một người khỏe mạnh bình thường. Tôi và nhiều anh em khác mở to mắt ngạc nhiên, thì Nguyễn Văm Gôm và Trần Như nghỉ ốm ở nhà đã cười rộ lên, Gôm nhanh nhẩu:
– Hôm nay Hoàng Thanh gọi anh Bưởi ra ngoài chỗ khu ban giám thị. Chẳng hiểu Hoàng Thanh đã dùng phương cách gì, hay nói năng với anh Bưởi ra sao, chỉ biết khi anh trở về trại, anh đi đứng bình thường, và chiếc nạng chắc Hoàng Thanh giữ lại để làm kỷ niệm.
Nói đến đây, Gôm lại cười hô hố nói tiếp:
– Nghe đâu Hoàng Thanh đã ra lệnh cho anh Bưởi phải khỏi cái chân ngay lập tức, nếu không y sẽ thẳng tay trừng trị. Và anh Bưởi đã chấp hành lệnh của Hoàng Thanh để khỏi cái chân thật, sau gần 6 tháng què.
Câu chuyện què chân của anh Bưởi, làm cho anh em trong trại đùa vui như một giai thoại của nhà tù. Sau này thỉnh thoảng tôi nghĩ đến hành động này của anh Bưởi. Có thể tôi đã nhìn sai? Anh Bưởi làm như vậy để giải quyết điều gì? Phải chăng để cho Cộng Sản thấy anh què, sẽ tha anh? Hay anh làm thế để khỏi phải đi lao động? Kết hợp với việc đi học lớp 2, bổ túc văn hóa của anh, tôi cứ nghĩ rằng: Đây là hành động của một người nhìn việc đời chỉ từ một góc độ, trong khi thường phải nhìn từ rất nhiều phía.
Tháng 3/1970. Lúc này, về nghề mộc, ơn đảng và bác đã dạy cho tôi biết làm giường, bàn, tủ, ghế. Tôi đã trở thành một người thợ mộc chính dù chưa thể làm được những hàng mộc kỹ thuật, cao cấp như tổ kỹ thuật của Đinh Sơn.
Vì Mỹ đã thẳng thắn tuyên bố ngừng bắn phá miền Bắc và hẳn do những yêu cầu mới nào đó, trại rục rịch sẽ chuyển tù về trại xây, trại chính. Lê Văn Kinh, Nguyễn Văn Thú, Nguyễn Văn Bắc, tôi và một số người nữa được tách ra thành một nhóm theo bác Cát để tập làm nhà. Bác Cát đã có tay nghề 15 năm xàm nhà, dựng nhà ở miền Bắc. Bác bị bắt vì tội hoạt động trong đảng Liên Xã (Liên Minh Xã Hội) trong vùng Việt Trì, Phú Thọ. Bác bị bắt từ năm 1958.
Hàng ngày chúng tôi đi theo bác để tập xàm nhà. Làm nhà, tuy không luôn chân, luôn tay như làm mộc, nhưng rất nặng nhọc vất vả. Trời nắng hay trời mưa cứ phải phơi mặt ra ngoài sân. Hôm nay tôi phải tranh thủ, lén lút làm cho bác Tiến cái gối bằng gỗ. Cái kiểu gối giống như hình chữ nhân (X) để gối về mùa Hè cho nó mát. Thấy cái gối bác đang gối bằng một đoạn gỗ lim nặng chịch, tôi muốn làm tặng cho bác một cái gối kiểu mới mà không cho bác biết trước. Khâu làm đã phải lén lút che dấu, khâu đưa vào trại cũng không phải là dễ. Với người khác thì khó thật, nhưng như tôi đã trình bầy ở trên, tên Tân trật tự kỳ này rất biết điều với tôi. Thường thường mỗi khi toán về đến cổng trại, lúc y khám, vuốt, mò vào bụng, mò vào lưng tôi, thấy trà hay cái gi vi phạm nội quy, y nhìn tôi một cái như muốn nói “tôi bỏ qua đấy nhé” rồi y tiếp tục khám người khác. Vì vậy tôi tin tôi có thể mang chiếc gối về trại cho bác được.
Nhớ lại lúc giao thừa đêm trừ tịch của ngày Tết vừa qua. Giữa lúc chiếc loa treo ở trên cửa buồng, tên Tôn Đức Thắng đang phều phào đọc bản diễn văn chúc Tết thì bác Tiến bò nhỏm dậy. Bác thò tay sang màn tôi, đập vai gọi tôi dậy. Chẳng biết bác đã chuẩn bị từ bao giờ, bác rút trong túi áo ra một chiếc khăn mặt còn mới tinh. Một tay bác đưa chiếc khăn cho tôi, một tay bác đặt lên vai tôi, bác nói như thâm tình nhắn nhủ:
– Cháu Bình, đây là chiếc khăn mặt bác đã ủ trong người hàng tháng nay. Nhân dịp ngày Tết cổ truyền từ ngàn đời, linh thiêng của dân tộc, bác tặng cháu, để chuyển nhượng, để gửi gấm cho cháu những hoài bão mà bác còn đang làm dang dở cho quê hương. Thế hệ của bác đã về chiều tối rồi, nhiều việc bác không thể còn mà được nữa. Qua một số ngày bác trao đổi với cháu, bác tin tưởng rồi đây cháu sẽ phải làm được một cái gì cho đất nước, cho giống nòi.
Tôi thấy lòng xốn xang, bàng hoàng. Một nỗi sầu ray rứt, rỉ dần ra trong lòng tôi. Tôi là một tên vô danh tiểu tốt. Tôi đang bị sóng đời dìm vào đáy vực tăm tối, chẳng biết ngày mai, và cũng chưa biết sống chết lúc nào. Nhưng nhìn ánh mắt thiết tha trao gửi của bác, nhìn mái tóc đã trắng gần hết đầu, tôi đành nhận, nén chặt tiếng thở dài để cho bác vừa lòng. Tâm trạng của tôi như một người bị cụt chân, nhưng thấy một người già yếu đang ì ạch đẩy một chiếc xe bò lên dốc, lòng thì muốn ghé vai đẩy giúp mà khả năng không còn. Tôi cũng thông cảm với nỗi lòng của những người già, khi tuổi đã về chiều. Nhìn về phía trước, con đường còn dài ngút ngàn vời vợi mà gối đã mỏi, chân đã chồn và sức đã tàn, lực kiệt. Chắc rồi đây cũng lại sẽ đến lượt tôi, nếu như tôi không chết trẻ. Từ dạo theo bác Cát tập xàm nhà, để rộng chỗ đẽo và xàm, và cũng tiện chỗ để cho trâu kéo gỗ từ rừng về, chúng tôi được ra thao tác, lao động ở một bãi đất trống ngay cạnh lán thủ công. Không ngờ, vị trí của cái bãi này thật là tuyệt vời. Xa xa khoảng nửa cây số là cùng, trên chỏm một ngọn đồi về phía Đông, có một cây tùng già to tướng. Không biết nó đã bao nhiêu tuổi, nhưng khắp vùng này chả có một cây nào to như nó.
Mà cũng chỉ có nó là tùng mà thôi. Xa xưa chả biết ai đã trồng nó hay hạt giống từ một phương nào bay tới. Nó um tùm, kềnh càng ra rất nhiều cành làm tím thẫm cả một ngọn đồi. Cứ sáng nào cũng vậy, nhất là vào những hôm trời trong vắt, không một vẩn mây. Tôi vừa lao động, vừa chờ mảnh mặt trời từ phía bên kia đồi mò lên, để có 15 đến 20 phút, được ngắm, được nhìn, được ngây ngất với cái kỳ ảo của thiên nhiên, của núi rừng.
Hôm nay cũng vậy, sau trận mưa dài một ngày, một đêm, núi rừng cảnh vật như được cọ rửa, lau chùi như mới. Trời cao xanh thẳm, chéo mãi phía Tây vài vẩn mây gầy lởn vởn như sương khói. Làn gió hiu hiu làm đong đưa vài chiếc lá sồi non phía trước mặt. Cảnh núi rừng của một sáng cuối Xuân, đầu Hè thật êm ả lạ thường. Vài tiếng hót “cọt kẹt” của mấy con chim sâu trong khóm vi lan dại càng làm rõ cái vắng lặng quạnh hiu của cõi hồn.
Kia rồi! Mảnh mặt trời đỏ như một cục máu đã lấp ló dưới gốc của cây tùng phía đồi bên ấy. Vừa mới chăm chú để ý bác Cát chỉ cho cách xàm một đầu của cái xà thượng vào một cây cột quân, thế mà mặt trời đã leo lên tới cái chỗ tôi đợi chờ rồi. Liếc nhìn tên Sỹ, cán bộ toán, tay y đang chỉ trỏ nói chuyện với bác Cát ở góc chiếc lều con. Tôi ném vội cả cái bướm lẫn dùi vào thùng đồ nghề. Vờ chạy lại chỗ đống lửa để hút điếu thuốc, nhưng mắt tôi đã hướng về phía cây tùng.
Lúc này vào khoảng 8 giờ. Mảnh mặt trời vừa chui vào cái chỗ nhiều cành lá rậm nhất của cây tùng. Trong cái đám xanh thẫm như một bức màn, từng chùm ánh sáng thọc xuyên qua những khe hở của cành lá, loe ra mọi hướng như lan quạt. Trông như những ánh đèn pha cực mạnh trong buổi tối trời. Chẳng hiểu nó phản xạ ra sao, chùm thì mầu tím hoàng hôn, chùm thì mầu xan cánh chả; chùm vàng như lúa chín, chùm đỏ, chùm hồng, có chùm tím ngắt như mầu mắt giai nhân. Xuôi theo hai mé đồi, một mầu vàng chói, óng ánh viền trên những ngọn nứa. Một đàn cò trắng toát bay theo đội hình chữ “V” ngang lưng trời. Hồn tôi như luồn ra khỏi cơ thể để hòa lẫn vào thiên nhiên lung linh, mờ ảo.
Tôi liếc nhìn đây đó để tìm một ánh mắt ít nhiều đồng cảm với tôi trong lúc này, nhưng mọi người vẫn cắm cúi làm việc. Tưởng như cái đẹp hùng vĩ kỳ diệu này không hề có liên quan gì đến đời của họ. Lầu Phá Tra gò lưng với chiếc rìu đang đẽo cây cột cái ở phía đầu bãi đất. Không chịu được, tôi đã chạy đến kéo Tra nhìn về phía cây tùng. Anh ngẩng lên, mặt anh ướt đẫm mồ hôi. Vừa hổn hển thở, vừa nhìn về phía cây tùng, đầu anh gật gật không nói một lời. Tôi buồn một giây, trở về chỗ làm việc vì cũng là lúc cái giây phút thần kỳ của tạo hóa đã qua rồi. Những ánh đèn pha đã tắt, những mầu sắc mờ ảo lung linh đã loãng rồi. Mặt trời đã bò lên chỗ ngọn cao nhất của cây tùng.
Về đến chỗ làm một lúc rồi mà tôi vẫn còn băn khoăn mãi, không hiểu Tra gật gật đầu khi nãy là anh cùng đồng ý với tôi cảnh đó đẹp thật, hay ý anh định nói là anh đã nhìn thấy rồi? Tôi lại cúi xuống tiếp tục làm việc, nhưng óc tôi vẫn chảy dài vào một ý tưởng so sánh buổn cười: Khi nhìn một cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời, thì lại bảo là cảnh đẹp như tranh vẽ. Nhưng nếu nhìn một bức tranh vẽ thật đẹp, thật tài tình thì lại bảo tranh vẽ như cảnh thật.
Do những yêu cầu về chỗ ở, cho nên hầu hết toán 2 đều phải ra làm nhà hoặc phục vụ cho làm nhà. Nhiều những toán khác, trừ những toán trực tiếp sản xuất ra lương thực không kể, còn hầu hết các toán đều phải băm bã, đan tranh để lợp nhà.
Cuối tháng 8/1970, toàn trại E chuyển ra trại xây, vì ở ngoài ấy đã dựng xong 3 căn nhà và một căn bếp cho trại rồi. Khu kỷ luật cũ vẫn còn lại, như vậy những nét chính cho một trại giam đã hình thành: Có chỗ ở, chỗ nấu ăn và chỗ kỷ luật.
Trước ngày chuyển ra trại xây, lệnh ở trên cục Lao Cải (lao động và cải tạo) tha mười sáu người. Riêng toán 2 có hai anh được về: Lê Sơn, tập trung cải tạo 3 năm mà ở thành 11 năm. Thành Xuân Yên, tội chính chỉ có buôn lậu 5 kg chè búp với án phạt 6 tháng về hình sự. Nhưng khi tù bên hình sự anh lại hay chửi đổng, xuyên tạc chính sách nên trở thành phản động, bị tống sang bên chính trị. Anh phải lãnh cái lệnh tập trung cải tạo 3 năm, nhưng anh cũng đã ở thành 8 năm rồi.
Tôi nhớ lại về anh Yên, trong dịp học tập “lập công chuộc tội…” ở trong tổ học tập một lần anh đã phát biểu: “Tôi thấy đời sống ở trong tù còn thoải mái, dễ chịu, bình yên hơn ở nhà, vì vậy tôi xin biết ơn đảng và nhà nước, tôi muốn ở tù mãi”.
Buổi sinh hoạt có cán bộ chủ trì, lời phát biểu của anh có ghi biên bản. Nhiều người nhìn anh ngạc nhiên, nhất là tôi. Tôi nghĩ đây là một cách nói “lẫy” của anh. Nhưng khi phát biểu, mặt anh rất chân thành, tỏ ra đấy là ý nghĩ thực sự trong lòng anh. Tuy vậy tôi vẫn bán tín, bán nghi. Hôm sau tôi đã lựa lời hỏi riêng anh, anh đã giãi bầy tâm sự:
– “Anh thử tính xem, ở ngoài, tôi có vợ và 2 đứa con nhỏ với một mẹ già. Cả hai vợ chồng tôi đều làm cho hợp tác xã nông nghiệp ngay ở quê tôi. Năm nào cũng vậy, cứ chia bình quân đầu người, mỗi tháng là 14 kg thóc. Cả nhà 5 miệng ăn mà chỉ có 28kg thóc, ăn trong một tháng. Bữa cháo, bữa cơm cũng không đủ, rồi cảnh mẹ già thường bịnh hoạn, ốm đau. Vợ chồng tôi phải làm đêm, làm ngày, ngay ban đêm, giấc ngủ cũng không yên mà vẫn túng, đói nên tôi phải theo người ta đi buôn chè, để rồi bị bắt.
Tám năm tù. Hai năm sau ngày tôi bị bắt, mẹ tôi đã chết, vợ tôi đã bỏ nhà đi theo trai. Năm ngoái, đứa con trai 10 tuổi chết vì bệnh kiết lỵ. Còn lại đứa con gái 12 tuổi đang bị bệnh hen xuyễn, sống lây lứt trong hợp tác xã. Tôi mà được về bây giờ, tôi còn khổ cực, lo toan hơn ở đây nhiều. Trong tù tuy mất tự do, tuy đói, nhưng bữa nào cũng có ăn. Về quê, lại là người mang cái tội phản động đi tù về nữa, chẳng ai cho mình làm ăn gì, cho nên tôi nói thực với anh là tôi không muốn về”.
Ngày chuyển trại, hôm ấy cũng thật là vất vả. Do anh em tù đầy lâu dài, nhiều năm tháng nên đã có kinh nghiệm. Theo nguyên tắc, đồng thời cũng là một kế hoạch của trại giam là mỗi khi chuyển tù từ trại này đi trại kia, cán bộ thường giữ bí mật tối đa. Nhiều khi họ còn tung tin hỏa mù, đánh lạc hướng để cho mọi người tù bị bất ngờ nhất.
Đợt này tuy chỉ chuyển từ một phân trại này qua một phân trại khác của cùng một ban giám thị, vậy mà anh em tù cũng không hề một ai biết. Tuy mọi người có nhiều kinh nghiệm nghe ngóng, thăm dò, bén nhậy bắt, chộp từng hiện tượng, từng lời nói sơ hở của tụi cán bộ mà lại vẫn còn bị bất ngờ về cái không ngờ.
Thường thường nhà tù là hình thức của một xã hội thu nhỏ, cô đọng. Vì là cả một cuộc đời cho nên mỗi người đều có ít nhiều những cái riêng tư, bí mật. Tiền bạc, dao, lược, nợ nần, giấy tờ, hẹn hò v.v… Đùng một cái phải chuyển đi trại khác là mất luôn, thường là cả đời chả gặp lại nhau nữa.
Những tháng trước, do chuyển gỗ và dựng nhà ở trại xây, anh em ai cũng hiểu là sẽ chuyển trại, nhưng không biết khi nào. Khi mò mẫm, thu lượm những nguồn tin từ trăm tai, nghìn mắt của anh em đã nắm được ngày chuyển trại, cho nên ai cũng khôn khéo chuẩn bị ổn định những cái riêng tư của mình. Nhưng không ngờ ngay buổi sáng hôm ấy, khi ban giám thị có lệnh mang hết quần áo chăn, chiếu, công tư trang ra ngoài sân. Ai cũng lo buộc gói cẩn thận để khênh, gánh đi đường, thì bất ngờ được lệnh tổng kiểm tra. Đây là một điều rất hạn hữu, thông thường thì chỉ trại nào nhận tù đến mới khám, mới kiểm tra mà thôi. Chính vì thế, rất nhiều anh em bị tịch thu giấy tờ, sách vở (học Anh, Pháp văn lén lút) thậm chí cả tiền bạc.
Anh Bùi Tâm Đồng mặt nhầu như chiếc giẻ lau, rỉ tai thổ lộ với tôi: Anh có 2 tờ giấy 5 đồng (tiền ngoài xã hội, không phải loại tiền âm phủ của trại), anh đã hao tốn bao công sức đổi chác và giữ gìn từ mấy năm nay trong kế hoạch vượt thoát của anh. Thế mà, nếu anh không có cái nghệ thuật “búng” điêu luyện thì chắc chắn sẽ bị vừa mất của mà còn phải đi cùm nữa. Nghĩa là chỉ cần một, hai giây, hay một cái liếc mắt, dù cán bộ đang vuốt, khám người anh, tiền vẫn có thể vo viên búng đi xa hằng 5 – 6 mét mà không ai nhìn thấy. Từ trước người ta thường chú ý đến đối tượng cho vào miệng nuốt.
Khi ra đến trại ngoài, đã có 4 anh phải vào nhà kỷ luật. Ba anh vì tiền, một anh vì một lá thư có lời lẽ phản động, định lén lút gửi về gia đình, nhưng chưa kịp gửi. Còn lược nhôm, dao và đồ dùng thì bị thu vô kể. Toán 2 và 3 vẫn ở chung, cùng được chuyển vào nhà số một ở gần ngay phía cổng trại. Một chiếc cổng xây kiên cố 2 tầng còn lại không bị phá.
Như trên tôi đã nói, lúc này trại dốc toàn lực lượng để làm nhà và dựng nhà. Dựng nhà cho tù ở, lán cho tù lao động và dựng nhà cho cán bộ ở. Khu vực, đất đai trong vòng tường xây của trại rộng gấp 5, gấp 6 lần trại E. Do đấy từ buồng số I (phía gần cổng trại) xuống nhà bếp lấy cơm nước thật xa đến 300 mét. Bởi vậy, những ai phải phiên trực lấy cơm cho mâm, đều phải chạy mệt nghỉ.
Chỉ hơn 3 tháng sau, khi những làn gió lạnh mùa Đông ở mãi bên Trung Quốc bắt đầu mò về, đuổi dòng tộc những chú ve sầu đi về phương trời khác, thì trại đã tươm tất thành từng khu vực riêng biệt. Từ cổng trại đi vào, ngay phía tay phải là khu C gồm 3 căn nhà mới xây, kiểu cơ bản. Một loại nhà tường xây, lợp ngói, kèo, đòn tay…bằng gỗ xẻ vuông, lắp, ghép lại bằng đinh và bù loong (miền Bắc gọi là nhà kiến thiết cơ bản). Khi chúng tôi được chuyển từ trại E ra, thì đã có 3 căn nhà này rồi. Ba căn này vừa mới xây xong, mới lợp ngói và hoàn tất được 1 căn nhà, còn 2 căn nữa đang lợp ngói dang dở. Hẳn đây là những công trình mà công nhân bên ngoài đến làm. Chắc do sự ngăn cách giữa tù và công nhân xây dựng nên họ đã để lại cho tù làm tiếp. Mặc dù nghe nói như thế, nhưng chúng tôi chẳng thấy bóng dáng một người công nhân nào, có lẽ họ đã đi rồi khi chúng tôi đến.
Về phía tay trái là khu A, khu vực tù chính trị gồm có 4 nhà, mỗi nhà chứa hơn 100 tù. Đi vào nữa là nhà hội trường cho cả khu A và khu B. Khu B phía trong là khu tù hình sự, gồm có 5 nhà. Trừ khu C có 3 căn nhà xây cơ bản, toàn trại nhà đều bằng gỗ lợp phên nứa. Mỗi khu đều có hàng rào kín bằng nứa chẻ đôi, cao chừng 4 mét ngăn cách riêng biệt. Ba khu có 3 cái giếng riêng. Một cái giếng riêng cho nhà bếp nữa, như vậy toàn trại có 4 cái giếng nước.
Trên nguyên tắc, giữa các khu tuyệt đối không được liên lạc quan hệ. Dù vậy, với những cái tinh quái của người tù và những nhu cầu của cuộc sống trong tù, vẫn có một số người dùng nhiều cách, lén lút liên lạc để mua bán, đổi chác: trà, thuốc lá, thuốc lào v.v…giữa hình sự và chính trị. Chỉ có khu C, mới có một căn hoàn chỉnh, tuy đã có tù ở nhưng cách một bức tường cao, chúng tôi chưa biết gì về những người tù trong ấy.
Chung quanh trại là bức tường xây bằng đá hộc cao 5 mét. Tuy vậy phía bên trong vẫn có một hàng rào nứa cao 1 mét rưỡi, cách tường 1 mét, gọi là hàng rào cấm. Không kể nơi cổng, chung quanh trại có 4 chòi gác của công an vũ trang.
Như vậy vào cuối năm 1970. Trại chính trung ương số I Phố Lu, Lào Cai hay gọi là K1, xấp xỉ trên dưới một ngàn tù nhân, trong đó có hơn 400 là tù chính trị. Trại lúc này, vẫn do tên Phạm Huy Tân từ trong trại E ra làm trật tự, cả khu A và khu B. K2 là trại nữ cách K1 khoảng hơn một cây số đường chim bay. Còn K3, K4 và K5 thường ở rải rác trong rừng. K này cách K kia chừng 4 – 5 km.
Được chuyển về trại xây, đối với tôi có ý nghĩa và thích thú là nhất là ở hội trường có một thư viện con con, do một anh tên là Phạm Thành trông coi, quản lý. Anh là giáo viên cấp 2, bị tội hủ hóa, thuộc bên hình sự. Điều này thật là bất ngờ đối với tôi. Trước đây tôi không bao giờ nghỉ tới và cũng chả có ai nói với tôi, trong trại giam lại có thư viện.
Tôi nhớ lại, sau ngày chuyển ra K1 này hơn 2 tuần lễ. Sau những ngày bận rộn túi bụi buổi ban đầu cho tạm ổn chỗ ăn, chỗ ở. Tôi chưa có thì giờ nhìn hình thể cái trại nó ra sao, chứ đừng nói mò mẫm ra hội trường làm gì.
Một buổi trưa, sau 4 giờ liền, lao động dựng nhà mệt nhọc, về nghỉ ăn cơm. Ăn xong, tôi xách túi bát đĩa vào buồng, chuẩn bị đánh một giấc ngủ ngày mươi phút. Thoáng thấy anh Lê Liễu, nằm ở sàn dưới đang mải mê đọc một cuốn sách thật dầy. Trông thấy sách như trông thấy hoa, tôi xán đến. Đang nằm, quay lại, thấy tôi, anh bò nhổm dậy tươi cười, nói nhỏ:
– Ngồi chơi anh Bình!
Phần vì không muốn làm phiền những người bên cạnh đang ngủ trưa, phần khác, cũng chẳng muốn quấy rầy chính sự yên tĩnh của anh, nên tôi chỉ vào tập sách anh đã gập lại, hỏi khẽ:
– Anh đọc sách gì thế?
Lúc tôi hỏi anh cũng là lúc tôi đã nhìn thấy nhan đề cuốn “Chiến tranh và hòa bình” của Léon Tolstoi, khi anh đẩy cuốn sách nghiêng nằm ra. Bởi vậy tôi hỏi tiếp là sách của anh hay của ai?
Khi anh cho biết là trại có một tủ sách ở ngoài hội trường, tôi vội cám ơn anh và đi ngay lên hội trường. Vì muốn qua sông nên phải lụy đò, vì yêu sách nên tôi phải yêu cả người coi sách là chuyện cuộc đời rồi, nhưng còn một lý do nữa cũng không thể bỏ qua: khi hai người cùng một sở thích thì thường mến nhau. Anh Thành thích sách và tôi yêu sách nên dễ dàng trở thành bạn.
Thư viện trại I, nói là thư viện là nói theo lối ăn to, nói lớn của Cộng Sản, chứ thực ra cũng chỉ có khoảng hơn 400 cuốn sách. Đa số là sách lý luận chính trị, rồi đến nông trường, nhà máy, khoa học kỹ thuật. Tuy vậy có một số sách dịch cũng đáng đồng tiền bát gạo: Ruồi Trâu, Sông Đông Êm Đềm, Người Thứ 41 v.v…dịch từ sách của các nước xã hội chủ nghĩa. Trong trại, giai đoạn ấy có một cuốn sách khó mượn nhất, vì thường có đến hàng chục người đăng ký chờ mượn rồi. Đó là cuốn “X30 phá lưới”, một câu chuyện tình báo tưởng tượng khá ly kỳ, hấp dẫn giũa tình báo miền Bắc và nên đệ nhất Cộng Hòa miền Nam. Vai chính trong truyện là Phan Thúc Định, một tên điệp viên cao ráo, đẹp trai, học thức được cài vào cơ quan đầu não của chính quyền miền Nam. Nó tung hoành, xỏ mũi ông Nhu, bà Trần Lệ Xuân cho đến các tướng, tá. Thậm chí cả những tên CIA, Mỹ kếch xù, cũng bị Định dắt cho đi chơi mát.
Theo quy định, mỗi tù nhân được mượn một cuốn sách trong một tuần. Nếu cuốn sách nào hay, có khi phải đăng ký chờ 4 – 5 tháng sau mới được đọc. Nhưng như trên tôi đã thưa rồi, tôi và anh Thành đã trở thành bạn. Tôi nghiễm nhiên được đứng hàng thứ nhì trong 4 cái tiêu chuẩn, có nội lực vô cùng thâm hậu trong sinh hoạt xã hội dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt:
Nhất ngoặc (tiền)
Nhì thân (bạn, thân thuộc)
Tam thần (có quyền)
Tứ thế (quen biết những người có chức, có quyền)
Tôi chỉ chịu thua có đồng tiền. Vì đồng tiền càng trong một cái xã hội nghèo đói, thì uy lực của nó càng kinh hồn. Vì tiền là bà tiên, ông phật có khả năng hoán chuyển tất cả mọi vấn đề theo ý mình muốn. Tóm lại, tủ sách trại I do anh Thành quản lý, tôi tha hồ thao túng, và cũng từ đấy tôi miệt mài bạn bè với sách vở.
Tôi chuyển đối ý đồ của Cộng Sản. Chúng dùng sách báo để tuyên truyền, cải tạo tư tưởng của phạm nhân. Tôi lại dùng sách báo của chúng như những điểm tựa, những cơ sở để thắp lên ngọn đèn pha soi sáng thực tế. Dần dần cho phép tôi nhìn sâu vào bản chất của chế độ Cộng Sản.
Dạo này nhân số của trại càng ngày càng đông. Không những ở bên phía khu B hình sự, cứ vài ngày lại có một nhóm tù đến mà ngay bên khu A chính trị cũng vậy. Hôm qua có một nhóm 4 người mới nhập trại. Hai người về toán 3 xẻ, hai người về toán 2 mộc. Qua dáng dấp và cách ăn mặc, tôi có cảm tưởng cũng là người của miền Nam như chúng tôi.
Quả vậy, sáng hôm nay, một anh được phân công đi theo tôi làm thợ phụ, học xàm nhà nên tôi đã hiểu sơ sơ: anh tên là Nguyễn Cao Sơn, chuẩn úy, sĩ quan Thủ Đức khóa 20. Án phạt 20 năm. Một anh nữa cũng ở toán 2 là người Tầu. Anh tên là Trương Nàm Tráng, án phạt 12 năm. Hai người nữa ở toán 3 (xẻ) là:
Nguyễn Như Ánh – Án phạt 15 năm.
Trần Quốc Quang – Án phạt 10 năm. Anh này cũng là người Tầu, nói tiếng Việt còn chưa rõ.
Mấy hôm sau, tôi nghe dư luận: nội vụ của toán biệt kích này, có một vài ẩn khúc không bình thường. Tôi chủ trương, sau này có dip sẽ tìm hiểu kỹ lại.
Chẳng mấy chốc mà đã lại sắp sửa tới ngày Quốc Khánh mồng 2 tháng 9 rồi. Đời của những người tù ở miền Bắc, một năm chỉ đợi chờ có 2 dịp: mồng 2/9 và ngày Tết của dân tộc. Ai cũng hiểu là mong hai ngày ấy cũng chỉ vì những ngày ấy mới có chất tươi, mới có cơm không độn và mới cho đời người tù hiểu thấm thía cái ý nghĩa của một kiếp sống con người.
Còn những 3 ngày nữa, thế mà do những nguồn tin rỉ tai từ phía cán bộ, anh em trong trại đã biết rõ, mồng 2 tháng 9 năm nay sẽ ăn to! Riêng bứt cho bữa cơm sáng ngày Quốc Khánh là một con lợn cân nặng 40 kg. Về buổi chiều, một đặc ân kỳ vĩ, có một không hai của ban giám thị sẽ cho tù thưởng thức món… phở truyền thống của dân tộc.
Ối giời ơi! Thật là ngàn năm một thuở. Cái tiếng “phở” mà nhiều người tù đã quên béng đi từ cái dạo mới bị bắt kia. Trong này có ai còn dùng cái từ ấy làm gì nữa. Vậy mà mấy ngày hôm nay, trong trại, ngoài lán thủ công, cho đến trong rừng sâu, đồi dốc, chỗ nào có người tù lao động là chỗ ấy bàn tán nhắc nhở nhiều đến chữ “phở”. Tôi, Gôm và một số người bạn nữa, trong đó có cả bác Tiến và bác Lẫm cứ xoành xoạch lôi Nguyễn Tuân ra để mổ xẻ, bàn tán, tranh luận cứ rối rít tít mù cả lên về tuyệt tác “Phở” của ông.
Trại trung ương số I sẽ đặc cách giết một con trâu 2 tạ. Riêng phân trại E sẽ được phân phối 50 kg cả xương lẫn thịt. Còn một nguồn tin cũng không kém phần ghê gớm nữa: tối mồng 2/9 đoàn văn nghệ của trại chính sẽ vào diễn kịch tại trại E. Cái điều làm cho nhiều người trai trẻ, kể cả mấy ông già cứ nhìn nhau, lồi cả mắt ra là đoàn văn nghệ năm nay có những 5 giai nhân tuyệt cú mèo của trại nữ.
Cái này cũng không biết tại sao lại như thế, có lẽ trời bảo vậy. Anh nào cũng lục lọi, chuẩn bị một bộ quần áo đẹp nhất. Dù là quần áo trại hay của tư, nhưng chắc chắn là bộ quần áo mình phải vừa ý nhất. Những buổi trưa trong các buồng đã ít người ngủ hẳn đi. Người ta bận giặt giũ, tắm rửa. Người ta bận nhờ nhau cắt tóc, cạo mặt. Với những mảnh kính, mảnh gương con, những chiếc nhíp tự chế, người ta đang bận sửa sang cái đầu, cái mặt ở những chái hồi, xó hè.
Ôi chao, sao lòng người lại có nhiều nguồn vui rủ nhau cùng đến một lượt như thế! Phương ngôn đã dạy: “Phúc bất trùng lai”, vậy mà phở với giai nhân, cứ thập thò ở cửa miệng mọi người và hẳn rằng, nó len lỏi vào cả trong những giấc mơ của họ nữa. Tôi cứ thấy ở tôi, rồi suy ra thì đủ hiểu. Đêm qua tôi đã nằm mơ, được ăn một bát phở đầy, mùi hành, nước mắm, lá thơm đã làm tôi lúc tỉnh dậy thấy nước miếng còn chảy ướt cả mép. Rõ ràng, tôi ngửi thấy cả mùi phở xông lên ngào ngạt, vừa ngọt, béo, thơm đến ngứa cả cuống họng. Nghe đâu cả nột toán nữ gần 4 chục người, trong một tuần lễ xay bột và tráng bánh phở. Chưa được ăn mà người ta đã đùa vui kháo nhau. Chuyến này bánh phở, anh nào tinh mũi, sẽ ngửi thấy cả hơi tay, thậm chí cả hơi người của phụ nữ nữa đấy nhé.
Mong ngóng, chờ đợi mãi rồi ngày mồng 2/9 cũng phải đến. Ngay từ sáng sớm, những cái đầu gọn ghẽ, những bộ quần tươm tất; đeo, đội trên những tấm thân gầy, cứ đi ra đi vào cái hội trường và đi lên, đi xuống ở cái sân trại. Người ta cứ ngóng ra cổng, rồi lại nhìn nhau, mặt ai cũng tưởng như vừa mới được xức nước hoa “Ba Đình” không bằng, phởn phơ, tươi roi rói. Tôi ngồi ở hội trường với Gôm, cứ nhìn theo anh chàng Hoàng Đức Tùng và Trần Lào mà buồn cười. Hai anh đều là dân ở Thái Lan về nước.
Hai cái đầu vuốt nước chải thật mượt. Một anh thì chải quặt ra phía sau, như đít con vịt bầu. Một anh chải hất ngược, uốn một cái lưỡi trai meo méo, nằm trên một khuôn mặt gầy, làm đôi má và thái dương hõm vào, khúc khuỷu trông như con gà rừng đang vặt lông dang dở.
Cái anh có cái đầu đít vịt là Trần Lào. Cái quần tergal nâu, mang 4 cái dấu hắc ín to tướng “cải tạo” ôm lấy cái áo sơ mi mầu cứt ngựa bỏ trong thùng. Còn anh chàng Hoàng Đức Tùng thì hết chê. Vẫn bộ quần áo và đôi dép quai chéo lần trước, trong dịp Tết Nguyên Đán vừa rồi. Nhìn hai anh đi đi, lại lại, thỉnh thoảng lại nhìn ra phía cổng làm cho con mắt của tôi nhiều lần muốn tránh né, mặc dù tôi vẫn hiểu, họ chả có liên quan gì tới tôi.
Mãi tới khoảng 10 giờ. Mới đầu, còn lác đác một vài người thắc mắc, ngơ ngác nhìn ra phía cổng, phía khu cán bộ, vẫn thấy im ắng, lặng như tờ. Nhưng cho tới 11 giờ, thì cả trại ai cũng cảm thấy một sự bất thường. Có một vấn đề gì đó, mà không ai đoán được, thì cũng là lúc cán bộ nhà bếp vào trại cho lệnh: vẫn cứ ăn cơm thường như mọi khi, mà không cho biết lý do tại sao, trong khi tiếng loa ở các buồng thì im bặt vì đài bị hư.
Mọi người chả hiểu ra sao, nhiều những nguồn tin rỉ tai, linh tinh chả có một cơ sở nào cả. Bao nhiêu mộng mơ, hy vọng đều tan tành khói bay trong mây chiều. Mọi người đi ngủ, vẫn còn ấm ức, như mỗi người phải ngậm một cục sỏi ở trong mồm.
Hôm sau mồng 3/9, trại vẫn đi lao động. Thái độ của cán bộ, bộ đội âm thầm, lạnh lùng, miệng cứ câm như hến, nên chẳng một tên tù nào dám hỏi han gì. Nhưng cho tới sáng hôm mồng 4 thì mọi người mới vỡ lẽ: cáo Hồ xuống âm phủ để hầu hạ Karl Marx và Lénine.
Cũng mãi tới sáng mồng 4 lá cờ đen, mới chính thức kéo lên trên cây cột cờ chính ở trước nhà ban giám thị. Radio lại sửa được, tiếng đài lại nhí nhéo. Tiếng của đồng chí tổng bí thư Lê Duẩn oang oang dõng dạc:
….. Tổn thất này, thật là… lớn lao.
Đau thuơng này, thật là … vô hạn!…..
Anh em tù đã hiểu, nên cũng thông cảm cho ban giám thị. Tuy vậy, trong lòng mọi người vẫn oán giận lão già chó chết, vì nghe đâu lão chết đúng ngày mồng 2 tháng 9. Mãi không sao, chết bờ, chết bụi ở đâu không biết, lại mò đúng vào cái ngày oan gia này mà củ. Sáng nay, ở ngoài lán thủ công, trong một góc lán của bộ phận học nghề, lúc ấy chỉ có bác Tiến, Gôm và tôi. Ba người đang than vãn tiếc rẻ về bữa phở hụt, đột nhiên Gôm đứng phắt dậy, nghiêm mặt, nghiêng người, cũng oang oang dõng dạc tuyên bố:
Đau thuơng này, thật là…..oái oăm!
Tổn thất này, thật là…..thắt ruột!
Thực vậy, chả có gì bù đắp lại cho chúng tôi, có chẳng chỉ có ít nước muối và 2 chiếc bánh ướt. Báo hại, trong cái tuần lễ cả nước phải treo cờ rũ để tang này. Trước sau, trại có 12 người bị vào nhà kỷ luật, trong đó toán 2 có hai người là anh Cường và Trần Quốc Anh tu sĩ. Cái tội chỉ vì vô ý cười to về một chuyện khác, nhưng bị những tên Joóc báo cáo: đã tỏ ra thích thú, vui sướng vì Hồ Chí Minh chết.
Rất nhiều người, do phải chịu đựng quá dài, những năm tháng đầy đọa thuơng đau cùng cực, nên khi thấy Hồ Chí Minh chết đi, họ đều hy vọng mong chờ một chuyển biến, thay đổi mới ở ngoài xã hội, cũng sẽ đổi thay được phần nào cái đời lầm than của họ. Cụ thể nhất là Nguyễn Văn Gôm, một người có học, sắc sảo, bén nhậy về tình hình chính trị, đã sống 15 năm dưới chế độ Cộng Sản. Anh Lê Văn Bưởi, một đại úy tình báo của miền Nam ra Bắc hoạt động, đều nhận định, tin tưởng: Hồ Chí Minh chết đi, đường lối chính sách của chế độ miền Bắc cũng sẽ thay đổi. Để rồi trong một buổi chớp nhoáng mạn đàm ở hội trường giữa 4 người gồm anh Bưởi, Gôm, bác Tiến và tôi. Bác Tiến đã giải thích sáng tỏ:
Đã có những nhà ngoại giao, những chính phủ chưa hiểu rõ được Cộng Sản, chỉ vì họ cứ nhìn sự việc từ một ống kính của một nước tư bản để soi rọi, suy xét ở một nước Cộng Sản, cho nên hầu hết đều bị lầm. Để rồi kết quả sự việc xẩy ra lại khác hẳn, thì họ lại đổ cho lý do mới, còn vẫn khăng khăng cho sự nhận định của họ trước đây vẫn là đúng. Vì thế, những lần sau lại tiếp tục lầm nữa.
Thí dụ 2 quan điểm về cùng một sự việc:
1/ Lòng nhân đạo.
Tư bản: Đơn thuần, thấy ai sắp chết thì cứu. Thấy ai quá đau đớn thì chữa cho họ khỏi đau v.v…
Cộng Sản: Phải có tính giai cấp. Trước hết phải xem người sắp chết đó là loại nào? Nếu nó là một tên chống phá lại đảng, nó là một tên ở giai cấp bóc lột, thì cần phải đâm thêm cho nó chết ngay. Nhân đạo là tiêu diệt cái thiểu số, để cứu cái đa số mà chúng bịp bợm gọi là “nhân dân”.
2/ Sự công bằng.
Tư bản: Mọi người ai cũng như ai. Được đối xử như nhau trước pháp luật. Ai có tài thì được dùng, không hề có cái gì gọi là “tính giai cấp” nào ở đây cả.
Cộng Sản: Trước đây anh là chánh tổng, lý tưởng. Như vậy là cường hào ác bá đè đầu, cỡi cổ đám dân nghèo khổ, bây giờ đảng bắt chúng mày xuống nghèo khổ cho công bằng. Trước đây anh là tư sản, bóc lột người nghèo, bóc lột công nhân lao động, bây giờ để cho công bằng, đảng sẽ lấy hết tài sản của anh để trả lại cho người nghèo, cho công nhân thì học lại trở thành giầu, thành tư sản. Bởi thế, hãy để chính phủ, để nhà nước giữ vậy.
Trên đây chỉ là hai thí dụ nhỏ, trong muôn ngàn khía cạnh, của xã hội con người. Ngay cả về tình cảm, giữa hai xã hội, quan điểm cũng hoàn toàn khác nhau. Bởi vậy, hầu hết các nước dân tộc, tư bản, nếu vị nguyên thủ quốc gia bị giết hay bị chết bất ngờ, thì thường xã hội có nhiều thay đổi. Nhưng dưới chế độ Cộng Sản thì hầu như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Lãnh đạo đất nước là một tập thể, gồm những tên trong bộ chính trị, chúng quyết định mọi đường lối chính sách. Vậy nếu chỉ định tên này làm thủ tướng, tên kia làm chủ tịch v.v… Đều chỉ là một cái khung, một đường dây loa mà thôi. Cho nên có mất hay chết một tên này, hay vài tên khác thì nó vẫn như thế, chả có gì đổi thay cả. Điều này cũng đã giải thích vì sao, hầu như tất cả các nước Cộng Sản, những tên lãnh tụ cứ đi phây phây mà không đứa nào bị ám sát cả. Vì người ta đã hiểu rằng, có tốn công, tốn tiền, tốn người để ám sát một tên lãnh tụ Cộng Sản, thì cũng vậy mà thôi. Bài học được rút ra từ trường hợp của tên Lénine bị ám sát trước đây.
Cho nên rất buồn cười, có rất nhiều những chính khách, thấy một tên đại diện, hoặc một tên lãnh tụ Cộng Sản đi ra nước ngoài để họp hội nghị hay công cán, họ đã cố gắng mồi chài, lôi kéo để lấy cảm tình. Cứ tưởng như nếu mua được tên đó, là mua được cả chế độ của nước Cộng Sản ấy vậy.
Cuối Đông, đã sắp sửa sang Xuân, vậy mà thỉnh thoảng vẫn còn những đợt gió mùa Đông Bắc mò về muộn, làm cho tiết trời lạnh ngóm. Mấy ngày rồi thật là ảm đạm, âm u chả có tí ánh mặt trời nào. Mãi quá trưa này, mặt trời mới chịu thò mặt ra, nhìn cảnh vật một tí.
Đã hai tuần rồi, lạnh quá tôi chả dám tắm. Người có ngứa ngáy khó chịu lắm, thì cũng chỉ ra giếng múc một gầu nước, dúng cái khăn ướt, vắt khô rồi thò vào bên trong áo, lau sơ sơ. Nhìn lại, so với nhiều người, tôi vẫn còn vệ sinh, sạch chán. Hôm nay nhất định tôi phải uống thuốc liều, tôi đã rủ anh chàng Gôm ra giếng tắm cho vui. Nhưng y đã giẫy nẩy lên, như con đĩa phải vôi, đầu lắc quầy quậy, miệng y liến thoắng:
– Không có một kẻ nào trên cái cõi đời này, lại bắt được tôi đi tắm bây giờ cả, trừ có hai điều.
Thấy Gôm cố ý nói nhăng để không tắm, tuy vậy tôi vẫn hỏi, trừ hai điều gì? Nằm cuộn tròn trong chăn, Gôm thò ra hai ngón tay:
– Ông Trần Quốc Hoàn (bộ trưởng bộ công an) bảo: Tên Gôm kia, hãy đi tắm rồi ta sẽ tha cho về Hà Nội.
Nói xong rồi Gôm trùm chăn kín đầu. Tôi đã xách gầu và quần áo định quay ra cửa. Tôi cũng chẳng lạ gì anh chàng Gôm này, nhưng cũng thấy phảng phất một chút băn khoăn, nên lại quay vào hỏi tiếp:
– Thế còn điều hai?
Gôm lại hất chăn xuống, lò mặt ra, mắt long lanh nhay nháy:
– Một cô em thơm như múi mít nỉ non: Anh Gôm của em ơi! Anh dậy đi tắm rửa cho sạch sẽ, anh yêu nhé!
Nhiều người ngồi, nằm gần đấy cười ầm cả lên, đều biết là anh chàng Gôm tếu. Tôi vừa xách gầu chạy xuống giếng vừa nghĩ: Tù đầy mãi, nhũn quắt cả ruột, lại còn mơ em, với mận chị gì nữa.
Phải nói, mỗi lần dội thùng nước giếng vào người, nó lạnh thấy bốc khói ở người lên. Lạnh quá, không ai dám tắm, một phần nữa vì tắm ở giữa trời, gió thổi hun hút không có gì che. Tôi lúi húi phơi bộ quần áo trại, vừa giặt xong ở chỗ đám dây phơi, phía đầu hội trường. Người còn đang run bần bật như cầy sấy, thì anh Lương Yên đã đi đến. Một tay anh đút trong túi áo, mặt anh khó đăm đăm, như anh đang có một điều ấm ức trong lòng. Anh nói hơi phì phào vì khoảng trống của 3 chiếc răng cửa hàm trên của anh bị thiếu:
– Anh ra hội trường, tôi gặp anh tí!
Gật đầu, bảo anh ra trước, tôi trở vào buồng lấy chiếc ruột áo bông khoác cho đỡ lạnh rồi sẽ ra sau. Chưa biết anh gặp tôi có chuyện gì, vừa đi vào buồng tôi vừa nghĩ về anh: Từ dạo anh chuyển ở trại Vĩnh Tiến về, trong lớp học tập “Lập công chuộc tội chống Mỹ cứu nước”. Sau khi tôi viết xong của tôi, tôi được cán bộ chỉ định, viết tường thuật cuộc đời cho hai người là anh Sín Dẩu, người Tầu, đẻ ở Việt Nam và anh Lương Yên, người Việt đã ở Sầm Nứa (Lào) hơn hai chục năm.
Hai anh đều đang theo học lớp 1 bổ túc văn hóa, nên không viết được. Viết tường thuật cuộc đời là kể lại chi tiết những diễn tiến của đời mình, từ nhỏ tới lớn cho đến khi vào tù. Chính vì thế tôi đã biết tường tận nhiều chi tiết, quãng đời đã qua của anh Lương Yên.
Sơ lược: Do nạn đói của năm Ất Dậu (1945), lúc này anh 24 hay 25 tuổi. Tha phương cầu thực, anh lạc lõng sang Lào. Anh đi ở đợ, rồi làm công cho nhiều người Lào ở Sầm Nứa. Ba mươi tuổi đời, anh gặp một cô gái Việt, sinh đẻ ở Lào mới 20 tuổi, rồi nên duyên vợ chồng. Hai vợ chồng tuy nghèo khổ, sống trong một khu lao động ở ngoại ô thị xã Sầm Nứa. Dù cảnh sống đầy gian chuân cực nhọc, nhiều tủi hờn trên xứ lạ quê người, nhưng hai người vẫn dắt díu, đùm bọc nhau để sống. Anh chị đã có 4 mặt con.
Năm 1963, lúc này ở Lào có rất nhiều phe phái chính trị. Có đại sứ của Sài Gòn và cũng có tòa đại sứ của Hà Nội. Hai bên đều dùng nhiều thủ đoạn tuyên truyền, để lôi kéo Việt kiều về với phe mình. Ngoài ra cũng đầy rẫy những lực lượng bí mật, gây sức ép trong giới Việt kiều để tranh giành ảnh hưởng. Một lần có 2 người Việt Nam đến nhà thăm vợ chồng anh. Họ tự giới thiệu là cán bộ cụ Hồ, của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Chấp hành đường lối thương yêu dân, như con của cụ Hồ, nước nhà ngày nay đã độc lập; khắp cả nước đâu đâu cũng chỉ có tiếng hát, nụ cười, cụ Hồ nghĩ đến những người con phải lưu lạc, xa quê hương, tổ quốc. Cụ muốn tuyển chọn một số Việt kiều, thành phần cốt cán như gia đình của Lương Yên. Nhà nước sẽ đài thọ hết phí tổn, để đưa kiều bào về tham quan tổ quốc.
Những kiều bào nào được tuyển chọn, khi về nước sẽ được học tập đường lối mới, của một nước nhà độc lập; niềm tự hào, kiêu hãnh của mọi người dân. Sau khi biết được thời gian về thăm quê hương sẽ tùy theo ý của mỗi người, có thể dăm ba tháng rồi trở lại đón vợ con cùng về nước hoặc ở lại Lào là do mình quyết định. Hơn nữa, ai xa quê hương mà chả nặng lòng với đất nước, nên cuối cùng anh đã nghe theo họ về nước vì anh nghĩ: Đây cũng là dịp anh về chơi thăm quê nhà, sau mấy chục năm trướng xa vắng.
Khi đi qua khỏi biên giới Lào + Việt, thái độ của hai tên cán bộ đã khác hẳn. Lạnh lùng và hình như anh cảm thấy mình bị quản chế. Họ ra lệnh cho anh không được tự tiện, đi lang thang ra ngoài. Anh vô cùng lo lắng, anh hỏi họ thì được trả lời:
– Cứ đi rồi sẽ biết!
Cuối cùng họ đã đưa tuột anh vào Hỏa Lò Hà Nội. Hàng ngày phải đi khai cung, họ truy hỏi, gán ghép cho anh là CIA, là chỉ điểm cho Sài Gòn. Họ bắt anh khai ra hiện nay vũ khí là khẩu súng ngắn giấu ở chỗ nào trong nhà v.v…
Đến đây anh Lương Yên mới ngã ngửa người ra. Nhớ lại, đầu năm ngoái, một lần anh đi khuân vác hàng cho một chiếc xe vận tải, anh đã vớ được một khẩu súng lục, không biết của ai để rơi trong một góc xe. Táy máy, thấy của hiếm, anh đã mang về nhà cất đi. Mấy tháng sau, một lần vợ chồng cãi nhau, anh lại quá chén nên say, đã vào buồng lấy khẩu súng ra dọa vợ, rồi lại cất đi.
Mãi gần Tết vừa rồi, nhà túng bấn quá, anh đã gạ bán khẩu súng đó cho một ông chủ hiệu tạp hóa người Lào, ngay gần nhà anh với giá rẻ mạt là 200 đồng kít. Ông chủ hiệu tạp hóa đã biết rõ vợ con, nhà cửa của anh Lương Yên nên mới mua để phòng thân, giữ của.
Vì đây là một chuyện thực. Chắc hẳn, sau khi anh khai báo, Cộng Sản đã đến tận nhà ông chủ hiệu người Lào để xác minh. Khi họ đã biết rõ sự thật, nhất là anh Yên trình độ lại không biết đọc, biết viết. Nhưng đã trót bắt lầm anh rồi, đâu có thể thả trở lại Lào được nữa. Một cái lưỡi sống sẽ làm mất chính trị biết bao nhiêu, trong cái đám kiều bào vẫn còn lơ ngơ chưa tin hẳn vào cụ Hồ và cách mạng. Bởi vậy, một mặt cứ vờ quả quyết Lương Yên đã làm chỉ điểm cho Sài Gòn mà không chịu khai báo; mặt khác, tống Yên lên trại cải tạo, với cái lệnh tập trung thì đảng có mất mát cái quái gì đâu.
Vì tội trạng của Lương Yên như thế, nên ở trại Vĩnh Tiến cũng như trại này, sau hơn một tháng đến trại, là cho làm tự giác quét dọn, vệ sinh ở trong trại. Tự giác của Lương Yên ở đây là buổi sáng cũng như buổi chiều, anh phải quét dọn sạch sẽ trong toàn trại. Sáng một lần, chiều một lần được gánh cái rác bẩn đó ra một chỗ quy định, bên ngoài trại để đổ. Mặc dù mỗi lần ra vào cổng trại, đều phải báo cáo với công an vũ trang gác cổng.
Anh Lương Yên rất hiền lành tử tế, nhiều khi nghĩ đến anh tôi thật mủi lòng. Tôi hiểu rằng, anh đã ở tù 7 năm rồi, đã hơn 2 cái lệnh tập trung, nhưng cái tội của anh lại không thể tha được. Anh đã mang cái tội mà dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt, lại không ít người mắc phải. Đó là cái tội “Bị bắt lầm”. Nếu thả anh về Lào bây giờ, về chính trị hại cho chế độ gấp trăm lần hơn là giam anh. Giam anh, thì chỉ có một gia đình anh bị thiệt. Vợ mất chồng, con mất cha và đời anh sẽ chết dần ở trong tù. Càng giam giữ lâu, thì lại càng không thả được nữa.
Tôi ra đến hội trường, rải rác đây đó, một số người ngồi chuyện trò hay khâu vá, anh Lương Yên ngồi mãi trong một góc khuất phía cuối. Thận trọng, liếc nhìn chung quanh, anh rút trong túi ra một cái phong bì đã bị bóc mất tem và một lá thư đã bị xé làm nhiều mảnh. Giấy đã nhầu nát, vàng khè, nhiều chỗ chữ đã nhòe nhoẹt. Tôi hơi chột dạ, cầm vội mấy mảnh thư lên coi, vì rõ ràng đây là nét chữ của tôi; nhưng tôi đã chợt hiểu. Đây là lá thư anh Yên gửi về cho vợ con anh ở bên Lào mà tôi đã viết hộ anh, hơn 3 tháng trước.
Với nét mặt rầu rầu, tuy anh Yên nói nhỏ, nhưng giọng anh đầy uất hận:
– Sáng nay tôi ra đổ rác ở chổ cái hủng đất mọi khi. Lúc tôi cào cho đống rác cho gọn lại, thoáng nhìn thấy cái mầu phong bì giống mầu phong bì của tôi và khi cầm lên, thì rõ ràng là nét chữ của anh nên tôi đã lục tìm, moi móc nhặt hết về.
Nhìn mặt anh buồn rười rượi. Nhớ lại, tôi đã viết hộ anh cả thẩy 3 lá thư, từ khi anh về trại này hơn một năm rồi. Do lòng nhân đạo của đảng và nhà nước, chiếu cố đến tình cảm gia đình của mỗi phạm nhân, nhà nước quy định cho mỗi người tù, được gửi thư về gia đình mỗi tháng một lần. Do đấy, cứ vào mồng một mỗi đầu tháng, mọi người trong toán nộp thư cho toán trưởng, rồi toán trưởng đưa nộp thư cho cán bộ của toán. Thư không được dán, để cho cán bộ duyệt. Đầu tiên là cán bộ toán duyệt rồi đưa lên cho ban giáo dục duyệt lại một lần nữa.
Hoàn cảnh của anh Yên cũng thật ái ngại. Anh không có tiền, lại hiền lành chậm chạp, không có tài xoay sở, cho nên cứ ba bốn tháng anh mới gửi thư một lần. Bởi vì mỗi lần anh gửi một lá thư anh phải nhịn ăn sáng 3 ngày. Một suất sáng để đổi lấy phong bì và giấy, một suất để đổi lấy con tem và một suất sáng tặng cho người mà anh nhờ viết hộ lá thư.
Nhớ lại năm ngoái, lần đầu tiên tôi viết hộ lá thư cho anh. Anh đưa ra một cái túi vải, trong có một suất sắn sáng, anh có nhã ý mời tôi ăn. Tuy tôi vẫn đói, nhưng tôi hiểu đó là phần sắn buổi sáng của anh, anh phải nhịn, vì thế tôi từ chối không ăn. Anh cứ nằn nì mãi, để tôi phải đứng dậy nói dứt khoát: Nếu vậy tôi sẽ không biết hộ thư cho anh nữa, bấy giờ anh mới chịu. Chậm chạp, anh móc trong túi áo ra một lá thư của vợ anh. Theo anh, đây cũng là lá thư đầu tiên và duy nhất sau gần 7 năm anh về thăm tổ quốc, quê hương yêu dấu. Hơn 3 năm xưa anh đã nhận được, khi còn ở trại tù Vĩnh Tiến. Tôi cầm lá thư đã nhầu nát, do thời gian và có thể do đã không biết bao lần anh mở ra “đọc” nó.
Nét chữ nguệch ngoạc, lời thư của một người vợ với một đàn 3 đứa con dại, ngày đêm thuơng nhớ chồng. Những giòng chữ mộc mạc, chân chất với nỗi khắc khoải của những đêm dài vời vợi nhớ thương, làm cho lòng tôi cũng xốn xang, vơi đầy. Người chồng đã ra đi biền biệt mãi không về, bỏ lại một đàn con dại với người vợ trẻ. Chị đã phải nai lưng ra làm thuê, làm mướn. Phải chịu bao nhiêu đắng cay, tủi cực, chồng chất lên nỗi nhớ thương chồng, thương con và thuơng mình, đêm ngày đầy vơi, ngơ ngác giữa cuộc đời.
Vì muốn trung thực trình bầy rõ những nỗi nhớ, niềm thuơng của anh với vợ con anh, nên tôi phải gợi hỏi anh từng chi tiết, cụ thể. Làm sao tôi quên được, cứ mỗi lần ngồi viết thư cho anh. Hình ảnh một người, nếu gọi bằng anh thì quá già, nhưng gọi bằng bác thì quá trẻ vì anh mới khoảng 45 hay 46. Thời gian và những thương đau chất chồng của đời, đã vạch hằn trên lên trán, lên mặt anh nhiều vết nhăn. Chẳng hiểu trong lòng anh đã chất chứa, nén đầy hình ảnh vợ anh, con anh ra sao mà suốt lúc tôi viết thư, môi anh cứ run run mấp máy, mắt anh thỉnh thoảng lại đỏ lên, có lúc tuôn dài hai giòng lệ. Thậm chí, có lần quá xúc động anh gục xuống đôi tay khoanh để trên bàn, vai cứ rung rung thổn thức, làm gián đoạn cả ý thư tôi đang viết. Những giọt nước mắt nhỏ xuống, cho vợ con anh hay cho đời anh? Của một kiếp người! Ai đã vùi dập, chia cắt gia đình anh?
Tôi mần mò ghép lại lá thư bị xé, để đọc lại. Lá thư không hề nói một tí gì về chính trị. Hoàn toàn chỉ là tình cảm, nỗi nhớ thuơng vợ chồng con cái. Tôi chợt hiểu, chính cái nhớ thương này, nhớ thương thì phải buồn, phải sầu, đấy là lý do lá thư bị xé. Người xé thư, cũng không quên lấy lại con tem.
Sau một hồi suy lý, tôi bàn với anh Yên, cái mục đích chính là làm sao cho chị nhận được thư của anh, để cho lòng của chị ấy đỡ khắc khoải đêm ngày. Vậy lá thư, chỉ cần viết sự nhớ nhung bình thường mà phải nói đến vui chơi, học tập tiến bộ, khỏe mạnh, miệt mài hăng say công tác, nỗ lực cùng toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược v.v…
Chung quy, đã lại rơi vào cái bẫy của Cộng Sản,, dù hiểu chúng hay không hiểu chúng. Nghĩa là, chúng ta đã tự nguyện, tuyên truyền đắc lực không công cho chúng. Tôi cứ hình dung những người có trách nhiệm tuyên truyền của Sài Gòn ở Lào. Phần vì mãi hưởng lạc, hời hợt không có một kế hoạch tỉ mỉ, sâu sắc để lôi kéo lòng người. Phần khác, người ta không tin ai bằng tin người nhà của người ta cả. Chồng người ta, con người ta, họ sẽ tin hơn. Đây, lá thư của chồng người ta đã viết rành rành ra đây. Vậy mà bảo Cộng Sản xấu sao được. Một đồn mười, mười đồn trăm, cán bộ Sài Gòn nào mà tuyên truyền lại được?
Như thế, anh em tù nhân cứ viết thư, cán bộ cứ nhận thư, rồi gửi hay xé đi là tùy theo lá thư. Vậy nếu anh không tự hiểu, anh cứ viết đi theo kiểu của anh, rồi dài cổ ra mà ngóng thư trả lời.
Thưa người viết có anh bạn văn, xưa làm Hương giáo tức giáo làng. Là giáo làng dĩ nhiên là ảnh có mớ chữ; ăn đứt những người mù chữ; nên trong làng, ảnh thuộc hàng danh gia vọng tộc so với đám Hương chức (nhiều đứa chỉ biết chữ: ký tên!).
Sau nầy qua đây ảnh không còn làm Hương giáo nữa nhưng vẫn ráng giữ cho được cái tiếng của ngày xưa. Và để duy trì cái tăm tiếng đó bằng chính cái thực lực của mình không cho đứa nào xấu miệng nói là ăn mày quá khứ! Ảnh bèn thành lập cái Thi văn đoàn; tự ên phong mình làm Chủ tịch; còn em yêu của ảnh làm Phó Chủ tịch Nội vụ, Ngoại vụ, Tổng thơ ký kiêm Thủ quỹ.
Làm Chủ tịch Thi văn đoàn, ảnh thường tự mình xuất tiền túi ra, tổ chức ăn nhậu ở nhà cuối tuần! Mà bạn văn, bạn thơ ai tới, có vác thùng bia cũng được hoặc chỉ vác cái miệng không cũng không sao!
(Ảnh vốn là một con người hào sảng, có bà con xa với Mạnh Thường Quân tuốt tận bên Tàu). Bữa tiệc ăn nhậu là chính nhưng cái cũng chính luôn là tạo cơ hội cho các thi, văn hữu xướng họa đề thơ và bàn luận chuyện chính trường thế giới trên trời dưới đất.
Bàn luận đôi khi đưa đến tranh luận; rồi vì có chút đỉnh bia, rượu… hăng tiết vịt quá đưa đến khẩu chiến tức cãi lộn vì hỏng ai chịu mình trật hết trơn!
Nên với tư cách rất trang trọng là Chủ tịch Thi văn đoàn, ảnh nhiều phen phải đứng ra phân xử kẻ trúng, người sai. Như mới tuần rồi đây, nhà thơ Hai Ruộng và nhà văn Ba Rẫy đã cãi nhau một trận sanh tử lửa về cách dùng chữ Hán Việt: ‘tiếp kiến’!
Chẳng qua Tổng Thống Mỹ Barrack Obama đi thăm Nhựt Bổn và một ký giả tường thuật rằng: “Obama tiếp kiến Nhựt hoàng hôm 14 tháng Mười Một và hành động cúi chào quá sâu của ông đã khiến nhiều blogger ở Mỹ tức tối.”
Nhà văn Ba Rẫy bắt bẻ: “Viết vậy là sai. Động từ ‘tiếp kiến’ có nghĩa là Nhựt hoàng đón rước Tổng thống Mỹ Obama đến thăm chính thức.
Nghĩa là Nhựt hoàng là chủ; mà Tổng thống Obama là khách.
Nên câu nầy phải hoán đổi vị trí chủ từ với túc từ, thành: “Nhựt hoàng tiếp kiến Tổng thống Mỹ Obama”. Hoặc: “Tổng thống Mỹ Obama được Nhựt hoàng tiếp kiến” Anh Hương giáo gục gặc cái đầu, phán rằng: “Nhà văn Ba Rẫy nói đúng!” Nhưng nhà thơ Hai Ruộng thì phê phán nhà văn Ba Rẫy chuyên vạch lá tìm sâu. Rồi đơn cử trường hợp của chính cá nhân mình là: Có lần tui viết bài thơ về con cá sặt! Nhưng có độc giả phê là nhà thơ gì mà viết sai chính tả bét nhè như thế? Phải viết là con cá ‘sặc’ mới đúng nhe! Tui bức bối rồi tức tối trả lời rằng: ‘Sặt’ hay ‘sặc’? Cái vần ‘ặt’ hay ‘ặc’ nầy khó biết viết sao là trúng; vì Việt Nam mình không có Hàn lâm viện về ngôn ngữ nên chưa biết được tui viết trúng hay sai mà ông lại võ đoán như thế hử?
(Lỗi nhỏ như con thỏ mà cứ chỉ chỏ, chu cái mõ của mình vô! Cha! Cái nầy là xài xể, nói nặng bạn văn của mình đó nha. Mẻ hết một miếng cái tình văn nghệ của đôi ta rồi!) Anh Hương giáo thấy tình hình căng quá, cũng gục gặc cái đầu, phán rằng: “Nhà thơ Hai Ruộng nói cũng đúng!” Chị Hương giáo, là em yêu của anh Hương giáo, không đồng ý “Anh giáo nói vậy là không phải. Ở đây phải có kẻ đúng người sai chớ? Nhà thơ Hai Ruộng hay Nhà văn Ba Rẫy? Một trong hai mà thôi! Chớ không phải cả hai đều đúng cả!” Anh Hương giáo cũng gục gặc cái đầu và phán rằng: “Bà nói cũng đúng luôn!” Từ đấy anh Hương giáo có cái ‘bút danh’ là: Nhà văn Ba Phải! Ai cũng ‘phải’ hết ráo bà con ơi! Thưa sau bữa nhậu về, nằm gác tay lên trán mà suy nghĩ, tui thấy cách xử thế ba phải của anh Hương giáo vậy mà hay.
Vì nó tránh cho ta bao điều rắc rối không đáng có! Đời mà! Chuyện cơm áo gạo tiền còn quan trọng hơn chuyện thơ văn nhiều.
Văn chương, nhứt là ở hải ngoại nầy đây, là chuyện chơi cho vui chớ hỏng có ông nào kiếm sống được bằng nghề cầm bút đâu thì cãi nhau chi cho nó mất vui bữa nhậu chớ?! Em yêu của người viết nghe vậy, bèn phản đối: “Ông nói vậy sao phải hè! Thiên chức của nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa (và nhiều nhà nữa)… đâu phải ra đấy đàng hoàng; đâu có đập dập được nè!” Tui bèn gục gặc cái đầu và phán: “Bà nói cũng đúng luôn!”
Ôi! Nói như vậy để dập ngay đám lửa tranh luận với em yêu, không cho nó bùng lên! Kẻo cháy nhà! Vì kinh nghiệm xương máu cho tui biết rằng: Cãi lộn với vợ sẽ không bao giờ chấm dứt… Nếu mình là người nói sau cùng… Bởi lời nói sau cùng của mình sẽ bắt đầu một cuộc cãi lộn khác… Nó có thể dài như trường thiên tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình của Leo Tolstoy mà không bao giờ có hồi kết gì hết ráo.
Em yêu với cái sở học chưa đầy lá mít, mà dám cãi lý với nhà văn, trên thông thiên văn dưới tường địa lý như tui là vì em không có đọc văn học sử… bên Tàu! Nếu có, em sẽ biết phê bình văn thơ người khác; nhứt là tác giả là người có chức, có quyền là một điều vô cùng dại dột. Nó thù, nó ‘quánh’ cho lên bờ xuống ruộng, quần áo ướt nhem, dính đầy bùn đất! Vợ con bị ‘lan can’, vì bể cái nồi cơm, đói khổ, nheo nhóc, lang thang… chỉ vì tội nhỏ như con thỏ của chồng mình là thày lay, ỷ tài đi phê bình thơ của người khác. Văn học sử Tàu có ghi lại một bài học kinh điển và kinh nghiệm cho ai lỡ cầm bút như sau: Tô Đông Pha đọc thơ của Vương An Thạch (Tể tướng), thấy có hai câu: “Minh nguyệt sơn đầu khiếu/ Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”
Đông Pha chê vô lý: “Trăng sáng sao lại hót ở đầu núi, chó vàng sao lại nằm trong lòng hoa được?” Tô thi sĩ bèn lấy bút sửa chữ khiếu ra chữ chiếu, sửa chữ tâm thành chữ âm, thành ra: “Minh nguyệt sơn đầu chiếu/ Hoàng khuyển ngọa hoa âm” (Trăng sáng soi đầu núi/ Chó vàng nằm dưới hoa)
Hậu quả là Tô thi sĩ bị Vương tể tướng đì, đày đi phương Nam để lao cải (lao động, cải tạo) về cái tội ngu mà hay nói!
Ở đó, Tô thi sĩ thấy Minh nguyệt là tên con ‘chim’, và Hoàng khuyển tên con sâu. Chớ hỏng phải trăng sáng, chó vàng gì ráo….
Hối hận thì đã muộn! Tô thi sĩ đã bị Vương tể tướng thù vặt, đì sói trán luôn… vì không thuộc bài sinh vật học về ‘chim’, về ‘sâu’ của nước Tàu ta…
(Ngộ tả con ‘chim’ mà nị không biết ‘chim’! Nên ngộ cho con ‘chim’ nó mổ cho nị sáng mắt ra!) Từ ấy đọc đâu, tui để đó, cũng như anh Hương giáo Ba Phải, hỏng thèm ‘lan can’ gì trong những cuộc bút chiến của bất cứ một ai hết ráo; dù đôi khi thấy trật lất cũng không dám hở môi, làm tài khôn chỉ chỏ gì hết trơn, hết trụi! Cho nó lành…
Nhưng bữa nay, tức mình quá mà, dẫu biết thẳng mực tàu là đau lòng gỗ! Coi chừng ‘gỗ’ nó quạu nó ‘bổ’ mình; tui cũng phải nói , vì ông ký giả kịch trường nầy dám chê thần tượng của tui chớ! Thưa chắc bà con cũng từng nghe câu hát: “Sáng ăn cơm sườn, chiều ăn nước tương/ tối leo lên giường, nằm nghe cải lương… (” Hey, hey, hey, it’s a beautiful day!) Tui cũng như đa số bà con mình, dân Sè Gòn, đều khoái cải lương! Nên dù lúc no lúc đói, lúc sáng ăn cơm sườn, lúc chiều ăn nước tương; nhưng tối nào cũng nằm nghe cải lương… mới ngủ được! Chính vì khoái cải lương như vậy, nên cái gì có dính líu ít nhiều tới nó, mà tui trộm nghĩ là không trúng; tui ngứa miệng chen vô cãi liền hè. Cãi để bênh đôi soạn giả tài danh Hoa Phượng và Hà Triều (tuổi đời của hai ổng bằng Tía của tui) đã sáng tác ra cái tuồng Tuyệt tình ca hay hết biết… Vậy mà có một tác giả dám chê soạn giả; dù chỉ chê một, hai chi tiết nhỏ.
Sơ lược vở tuồng Tuyệt tình ca như vầy: Giáo Hương, dân Mỹ Tho, đổi về Vĩnh Long dạy học. Giáo Nguyễn văn Hương lập phòng nhì với cô giáo Lê thị Lan. Em tặng cho chàng một đứa con gái là Lê thị Trường An và một đứa con trai là Lê Long Hồ. (Cả hai đều theo họ mẹ vì là con vợ bé!) Trường An là tên một cái chợ, dưới chân cầu Cái Côn, xã Tân Ngải, trên đường từ Bắc Mỹ Thuận vào chợ Vĩnh Long. Còn Lê Long Hồ, vì tỉnh Vĩnh Long, thời Giáo Hương có bồ nhí, còn có tên là tỉnh Long Hồ…. Rồi Giáo Hương về chợ Vòng Nhỏ, Mỹ Tho thăm vợ lớn… Chiến tranh loạn lạc xảy ra… Giáo Lan bồng bế hai con tản cư và mất liên lạc với chàng từ độ ấy…
Hai mươi năm sau, giáo Hương làm ông Cò quận 9 tại Sài Gòn, bắt được một cô gái giang hồ tên Thoa mà chính thật là Lê thị Trường An…
(“Đứa con gái mà ngày xưa ảnh cưng như ngọc như vàng mà ngày nay đã quen cùng sương gió”) Lê thị Trường An (do Bạch Tuyết đóng) dẫn Cò Hương (Út Trà Ôn) về gặp lại em Lan (Út Bạch Lan)… Kỷ niệm xưa, ngày đôi ta còn đượm tình hương lửa ba sinh, tràn về như sóng nước trường giang của dòng sông Mỹ Thuận! (Mà ngộ cái nầy bà con ơi! Mấy ông có vợ nhỏ ít khi nào mà bỏ cho đành!) “Mỗi lần thấy bông ô môi điểm hồng trong gió chướng, mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng rộn rã đón xuân sang. Mỗi lần có dịp về Vĩnh Long, đi ngang Tân Ngải thấy nhà chợ Trường An là mỗi lần tôi nhớ đến mùa xuân của đầu năm binh lửa. Nhớ đến dáng người vợ trẻ đã chèo xuồng qua sông Mỹ Thuận để đưa tôi rời tỉnh Long… Hồ”… Rồi em Lan cũng đập cổ kính ra tìm bóng cũ, xếp tàn y lại để dành hơi, em thổn thức: “Đây, bộ bà ba lụa Lèo mà chồng tôi bận hai mươi năm về trước. Lượt sau cùng ảnh bận là buổi tối mà sáng ra ảnh ra bến Mỹ Thuận để về tỉnh Mỹ Tho”
Và Giáo Hương, ông Cò quận Chín, Út Trà Ôn xuống vọng cổ mùi rệu: “Tôi đang đứng trước mặt mình đây. Tôi đứng đây mà tưởng như đang đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, khi mình quay xuồng tách bến để trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn, con nước lớn lục bình trôi rời rạc. Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát mà bóng người thương lẩn khuất giữa sông… đầy.” Ông ký giả kịch trường nầy phê rằng: “Tiền hậu bất nhất! Lan nói Hương đi buổi sáng; mà Hương nói Hương đi, đi buổi chiều!”
Thưa ông ký giả kịch trường thân mến! Tui xin phản đối! Lan nói: “…Lượt sau cùng ảnh bận là buổi tối mà sáng ra ảnh ra bến Mỹ Thuận để về tỉnh Mỹ Tho” Theo ngu ý của tui, dân Nam Kỳ đặc sệt, thường hay nói: “Sáng ra… tức là tới ngày hôm sau” … Chứ không hẳn sáng ra phải có nghĩa là buổi sáng mà thôi! Dó đó viết như vậy là trúng… Hỏng có cái vụ ông nói gà bà nói vịt gì hết ráo ở đây nhe! Thưa! Còn nếu ông ký giả kịch trường nầy cứ khăng khăng: sáng ra phải là buổi sáng… (thì thưa, xin cọp dê y chang theo cách xử thế của anh Hương giáo, kiêm nhà văn Ba Phải) là: “Ông nói cũng đúng luôn! He he!”
Người viết có anh bạn nhậu rất ưa làm thầy đời, khoái làm thầy bạn bè về luân lý. Nên anh em bằng hữu đặt cho anh cái ‘nick name’ là “Tư Hiền Triết”.
Ảnh mập, bụng bự vì uống quá nhiều beer, rượu mà lại dạy tui về cách sao cho thân hình thon gọn như người mẫu, chớ đừng thành cái hột mít biết đi.
“Hãy ăn những món gì mình không thích. Hãy uống những thứ gì mình không ưa. Hãy làm những gì mình không khoái thì bảo đảm không bao giờ ú nu như con lợn.”
Tui có cái tánh xấu: Cái gì nghe không lọt lỗ tai là tui cãi, cãi miết, cãi sùi bọt mép chưa thôi nên bằng hữu đặt cho tui cái nick name là ‘Ba Cãi’.
“Trong bốn lạc thú trên đời, ăn uống được xếp hạng đầu. Anh lại khuyên tào lao như vậy thì thà chết sướng hơn!!”
“Nhưng cho tui hỏi anh dạy tui như vậy nhưng sao anh lại mập ú gấp đôi tui?” Anh cười hè hè nói: “Hãy làm những điều tui nói, đừng nói những điều tui làm!”
Dạy về cách ăn uống không lọt lỗ tai tui nên anh chuyển qua đề tài khác sống như thế nào cho có hạnh phúc ?
Ảnh thuyết rằng: “Bạn đang dùng tuổi trẻ để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua được tuổi trẻ. Bạn đang dùng mạng sống để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua được mạng sống.”
Tui cãi lại: “Thôi đi cha nội! Ðem lời nầy mà dạy dỗ giai cấp cần lao, tay làm hàm mới có mà nhai như tui, chắc anh muốn xỏ xiên, cợt đùa với số phận ‘con rệp’ của tui đó chăng?!
Lời dạy đời nầy nên dành cho các nhà tỉ phú như Donald Trump, Tổng thống Mỹ thì đúng hơn. Vì Trump đã hơn 70 tuổi rồi, sống chẳng bao lâu mà vẫn còn mải mê chạy theo tiền tài và danh vọng.
Tui hả? Hổng cần tới vài tỉ đô. Một triệu đô la là tui cười ha hả, cười kha khả rồi ăn chơi cho nó đã.
“Bạn đang dùng hạnh phúc để đổi lấy tiền, nhưng tiền lại không mua được hạnh phúc! Thế nên hãy tận hưởng cuộc sống, trân quý tất cả những gì mà mình có được, hãy yêu thương những người mà bạn yêu thương, vui vẻ mà sống trọn từng ngày.”
Tui lại phản bác. Phản bác hoài hè! “Khi chào đời khóc oe oe, không những ở trần mà mình còn ở truồng đưa trái ớt hiểm ra nữa. Nhưng sao mới sinh ra không cười mà lại khóc, vì đời khổ lắm Má ơi!
Hồi còn trong bụng Mẹ cứ phè phè, cuống nhau nối dây dinh dưỡng vào dạ con của Má. Ðâu phải làm gì mà đâu có đói bao giờ hè. Nhưng ngày vui qua mau. Sau 9 tháng10 ngày dù muốn nấn ná thuở vàng son cũng không được buộc phải chui ra.
Rồi lại tiếp tục lè phè thêm 20 năm nữa. Cơm có Má nấu, áo quần có Má giặt, mình chỉ mắc công mặc. Mậu lúi có Tía cho tiền túi… để rủ em yêu đi ăn đậu đỏ bánh lọt.
Nhưng ngày vui rồi cũng qua mau! Cưới vợ là lo rồi đó. Lo tới sói trán luôn. Rồi có con… lo đến nỗi giờ trán sói sọi.
Mình phải bán tuổi thanh xuân, tuổi tươi đẹp nhứt của đời người để cày sâu cuốc bẫm kiếm tiền về cho Má bầy trẻ đong gạo mà hình như cứ thiếu trước hụt sau hoài hè.
Chớ tui đâu có ngu mà cày sâu cuốc bẫm mà chi? Thầy đời khuyên tui cứ sống phè phè đi… Tới đâu hay tới đó. Nghe lời dạy tào lao bắc đế của anh có ngày ra nghĩa trang, anh sẽ đọc thấy tên tui, lý do chết là vì đói!
***
Lời ảnh nói ra như đàn khảy tai trâu nước đổ đầu vịt nên ảnh chuyển qua đề tài “Phải biết tri ân vợ mình như biết ơn má của mình…”
Chu choa chắc anh Tư Hiền Triết nầy đã bị chị nhà tẩy não rồi thì phải? Vì theo óc quan sát nhạy bén của tui: Số IQ của bà xã ảnh tới 100 thì số IQ của anh khoảng phân nửa, chỉ bằng 50 mà thôi.
Thiên tình sử giữa ảnh và chỉ cách đây cũng khá lâu đâu có ‘romantic’ gì đâu mà chỉ có tiếng chó sủa gâu gâu và máu chảy đầm đìa.
Chẳng qua một hôm anh Tư Hiền Triết đến nhà bạn chơi, tính rủ đi nhậu. Chó ùa ra sủa. Anh hốt hoảng lùi lại. Người bạn trong nhà bước ra cười nói: “Chó không cắn đâu. Anh biết cái thành ngữ xưa là: Chó sủa chó không cắn.” “Biết thành ngữ đó chớ! Anh biết, tui biết nhưng tui không chắc là con chó nhà anh biết thành ngữ đó hay không?”
Sợ chó cắn, không dám đến nhà bạn nữa, chiều buồn ảnh ra công viên ngồi đếm lá rơi.
Trên băng đá, mùa Thu vàng, lá rơi ngập lối, có một người em sầu mộng. Em không nghe rừng thu/lá thu kêu xào xạc/con nai vàng ngơ ngác/đạp lên lá vàng khô.
Cái khác với thơ Lưu Trọng Lư là không có con ‘lai’ ý quên con ‘nai’ nào hết mà có một con chó chạy quanh.
Anh ghé mông xuống ngồi và tìm cách làm quen với người đẹp: “Con chó của em có cắn không?” Em e thẹn trả lời rằng: “Con chó của em không có cắn.”
Nghe vậy khi con chó chạy lại gần anh thò tay ra vuốt đầu nó để lấy lòng người đẹp. Ai ngờ bị con chó phập một phát đau điếng.
Ðau quá, anh phùng mang, cự nự: “Sao hồi nãy em nói rằng con chó của em không cắn?” “Ừ em có nói vậy. Nhưng con chó nầy đâu phải là chó của em!”
Mấy hôm sau, anh đạp xe trên lối qua nhà em thì con chó ùa ra sủa. Ủa nhìn mặt con chó nầy sao thấy quen quen? Té ra là đích thị là chó của em mà em nói dóc.
Anh bèn núp bên hàng rào bông bụp xa xa cả tiếng đồng hồ chờ em có dịp đi ra anh sẽ chặn lại mà mắng vốn.
Rồi ngày nầy qua ngày khác, trên lầu em nhìn ra tưởng có thằng khùng nào trồng cây si trước lối đi nên dần dà lòng em rung động.
Thế là đôi ta vầy duyên can lệ! Ðêm động phòng hoa chúc. Chuyện gì xảy ra ắt đã xảy ra. Sáng hôm sau em yêu của ảnh chui vô bếp làm một bữa ăn sáng thịnh soạn. Trứng chiên, ham, khoai nghiền chan nước sốt thêm một cốc cam vắt đầy ú ụ.
Ảnh thầm nghĩ mình may mắn cưới được một người vợ hiền đảm đang, bếp núc quả là số một. Lịch sự như người Hà Nội, ảnh nói: “Cám ơn em đã chịu cực lo cho anh đủ đầy như thế.” Thì em yêu của ảnh trả lời là đây là bài học đầu tiên để anh thị phạm mà biết cách làm. Bởi Má em có dạy ngày em xuất giá như vầy: “Dạy con dạy thuở còn thơ. Dạy chồng dạy thuở bơ vơ mới về. Ngay ngày mai, sáng sớm chui vào bếp là anh chớ không phải em đâu.”
Rồi trong vòng tay âu yếm của em yêu, ảnh cứ an tâm mà sống.
Mới đây nè! Hai vợ chồng ăn mừng kỷ niệm thành hôn được 50 năm. Tại buổi tiệc, toàn thể khách mời, cũng như tui, đều muốn biết bí quyết nào mà hai vợ chồng có thể sống với nhau suốt một khoảng thời gian dài đến thế.
“Chúng tôi có một thỏa ước ngay ngày đầu mới cưới nhau là chuyện gì nhỏ là do con vợ tui quyết định. Còn chuyện lớn là do tui.
Rồi trong vòng 50 năm hôn nhân không có chuyện nào lớn xảy ra hết cả.”
Hôm rồi nè, đám giỗ Má ảnh, có mời tui, chỉ một mình tui đến nhậu vì em yêu của ảnh nói thiệt trừ tui ra, chỉ không thích mấy thằng bạn nhậu khác léo hánh tới làm phiền.
Thấy bạn mình già đã cô đơn cần bạn mà còn bị con vợ cô lập với bạn bè lòng tui cũng rất xót thương.
Thấy tui vác cái bản mặt tới ảnh mừng thôi hết biết! Thì chị nhà từ trong bếp bước ra phán rằng: “Nè anh Ba Cãi! Tui có làm di chúc để lại cho chồng tui rồi, kẻo một mai em có qua đời, xe nhịp đầm khơi thì ảnh sẽ làm theo hai lời ước nguyện đó.
Một là hãy đem xác tui đi thiêu cho đỡ tốn tiền. Hai là đem tro cốt đến rải trước cửa quán rượu gần nhà nè.”
Tui ngạc nhiên, thường thường người ta đem tro cốt rải ngoài biển khơi trùng trùng sóng vỗ, sao bà La sát nầy lại đòi đem rải trước cửa quán rượu của người ta, nên hỏi: “Sao lại rải tro cốt trước cửa quán rượu vậy chị?” “Nói thiệt nhe! Dẫu chết rồi, tui vẫn còn thương, còn yêu ảnh lắm nên chiều nào tui cũng muốn gặp ảnh đó thôi.”
Hèn chi Socrates đã từng nói rằng: “Cưới được một con vợ hiền thục, bạn là người hạnh phúc. Bằng ngược lại, bạn sẽ thành nhà hiền triết!”
Tui rất thích cái tựa “Nguyễn Thị Sài Gòn”, tên một bài hát của nhạc sĩ nổi tiếng đấu tranh Việt Dzũng.
Nhưng ‘Thị’ là chữ lót của một người đàn bà, con gái; còn tui là đàn ông, con trai, tất chữ lót phải là Văn; nên tui tự đặt tên mình là: “Nguyễn Văn Bến Nghé”.
Hai cái tên nầy chỉ đối nhau chan chát giữa ‘Thị’ và ‘Văn’. Còn cái họ Nguyễn, người Việt mình nhiều vô số kể, nên mấy em Úc tóc vàng mỏ đỏ ở Melbourne nầy đây muốn dụ dỗ tui ‘tù ti tú tí’, bao giờ cũng gọi tui là “Mít-tờ (Mister) Nguyen!”
Còn Sài Gòn và Bến Nghé (là cái bến mà người ta thường cho trâu, bò ra tắm) chỉ là một mà thôi!
Sài đọc theo âm ‘Prei’, tiếng Khmer, nghĩa là rừng. Gòn là bông gòn. Như vậy Sài Gòn là Rừng cây bông gòn.
Ông bà mình hồi xưa từ miền Trung vào miền Nam khẩn hoang, đến vùng đất mới nào, thấy có nhiều loại cây hơn chỗ khác thì lấy tên loại cây đó đặt tên cho vùng đất mới.
Chính vì vậy mình mới có các địa danh dễ thương như: Gò Cây Mai, Gò Sao, Gò Cây Quéo và Gò Vấp…
Cây Da (miền Bắc gọi là Cây Ða) nổi tiếng với địa danh Cây Da Xà. đường Da Bà Bầu… (Cây Da có nhà bà tên Bầu, chớ hổng phải da của bà đang mang bầu đâu nhe!) gần nhà ông Trường Kỳ nhạc trẻ…
Kinh rạch cũng mang tên các loài cây như: Rạch Bàng, Rạch Chiếc hay Hóc Môn (Rạch nước nhỏ có cây môn nước) hoặc Mười tám thôn Vườn Trầu, suối Lồ Ô (bà con với cây tre, cây trúc).
Nhà thơ Bùi Giáng có câu: “Hỏi rằng: người ở quê đâu? Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà!”
Mình đang ở Sài Gòn mà có người hỏi quê đâu? Sanh đẻ ở đây, lớn lên ở đây, mèo chuột gái gú ở đây, bị em yêu bắt làm tù binh, cũng ở đây! Rồi ăn nhậu, tụ bè tụ đảng cũng ở đây thì hỏi quê đâu là sao hè?
Tui cũng ở Sài Gòn khá lâu đó chớ, dù không liên tục nhưng gộp lại trước sau dẫu đứt khúc cũng khoảng 10 năm. Vậy mà hai thằng bạn nhậu nghe tui gáy te te là dân Sài Gòn mà quận Nhứt nữa, tụi nó cứ cười khằng khặc:“Ông chỉ là dân ở trọ đất Sài Gòn. Còn hai thằng tui là sanh đẻ ở Tân Ðịnh nè, là dân Sài Gòn chánh gốc, có trích lục thế vì khai sanh đàng hoàng do Chánh lục bộ của Tòa án cấp.”
Tranh Bảo Huân
Tuy nhiên hỏi phăng ngược lên đời trước nữa thì một đứa có ‘Thầy U’ đi tàu há mồm từ Bắc vào Nam, đứa còn lại có ‘Ba Mạ’ từ Huế, xứ thần kinh, bám xe lửa xuyên Việt vào tới Sài Gòn những năm 40.
Chính vì vậy mà hồi năm 1963, học Ðệ thất ở Petrus Ký, bạn cùng lớp tui không thấy thằng nào vỗ ngực xưng tên là ‘Made in Sài Gòn’ vì đứa nào cũng là dân tứ xứ.
Nhưng đến Sài Gòn là yêu Sài Gòn hè! Như ông nhạc sĩ Y Vân, sanh đẻ tại Hà Nội, vào Nam năm 1952, cũng khoái, nên la làng lên rằng: “Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi!” La xong còn nhảy ‘twist’ nữa mới đã!
Rồi nhà thơ Nguyên Sa, cũng người Hà Nội, vào Nam rồi cũng cảm nắng Sài Gòn.
“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
…Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết/ Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu.”
Vâng! Nắng Sài Gòn kinh lắm nhứt là vào đầu mùa Hạ, tháng Sáu, tháng Bảy.
Nhưng được cái là: nắng sớm mưa chiều! Mới nắng đó rồi bất ngờ Trời đế cho một trận mưa rào, ào ào ướt áo em yêu, ướt hết ráo cái áo dài của em may bằng vải Tetoron trắng mỏng dính.
Nên mưa Sài Gòn, (không phải tui tửng tửng với thời tiết gì đâu), là tui che dù, mặc áo mưa, dù đang ở trong nhà tạnh ráo, tui cũng ráng bò ra đường dòm, chắc bà con mình đã biết tại làm sao?
Rồi sau nầy mất nước làm thân lưu lạc, phiêu bạt quê người tới tận Melbourne nầy đây tui vẫn tự nhận mình là người Sài Gòn hè!
Mà nó đâu có chịu nằm im, cứ nhúc nhích hoài, gợi nhớ… nhứt là mỗi độ tháng Tư về.
Do đó khi ông Trịnh Công Sơn hỏi em yêu của ổng là: “Em còn nhớ hay em đã quên?” (Thì tui thấy hỏi vậy là thừa!)
Ông nhạc sĩ nầy sợ em quên, nên nhắc nhỏ em là: “Nhớ Sài gòn mưa rồi chợt nắng/ Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân? Nhớ đèn đường từng đêm thao thức…
…Nhớ đường dài qua cầu lại nối/ Nhớ những con sông nối hai dòng kênh / Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng…”
Tuy nhiên đang bùi ngùi thương nhớ Sài Gòn thì nhạc của ổng bỗng chuyển ‘ton’ một cách lãng xẹt hè: “Em ra đi nơi này vẫn thế… Thành phố vẫn có những ước mơ/ Vẫn sống thiết tha/ Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi”
Ðang dịu dàng hỏi ‘ní’: “Có nhớ Sài Gòn không? Thì đàn đứt ngang cung, nổi khùng lên: “Em đi thì kệ em chớ! Sài Gòn vẫn thế, còn ngon hơn ngày hổng có em!”
Tới đây là tui không đồng ý với ông nhạc sĩ (gió chiều nào che chiều đó) rồi đó nhe!
Một là Sài Gòn là thủ đô chớ không thành phố (?!)… gì ráo. Hai là: Bên cạnh một Sài Gòn hoa lệ với nhà cao tầng, trang phục hàng hiệu, xe cộ sang trọng là một Sài Gòn lam lũ, nhọc nhằn của những gánh nặng trĩu trịt hai vai của người bán hàng rong, của trẻ ăn xin, bán vé số, vất vả dãi nắng dầm mưa với hy vọng tối nay đi ngủ không phải với cái bụng đói meo.
Tui đi đã mấy chục năm mà chưa trở lại Sài Gòn, nhưng có nghe nói Sài Gòn giờ là một rừng bê tông, cao ốc… Vì CS muốn Sài Gòn giống hịt Singapore.
Úy trời đất ơi! Học cái hay thì học. Học cái ngu thì học làm gì.
Lý Quang Diệu xây cái Singapore trên một làng chài hoang vắng. Còn Sài Gòn có một kiến trúc tuyệt vời đâu phải ai cũng có, người ta thèm muốn chết mà không có được… Sao cứ chơi ngu đập và đập?
Viện lý do quy hoạch như hạch, bèn chặt dãy cây dọc đại lộ Nguyễn Huệ, trên đường Cường Ðể, đốn ngã hàng cây cao trước Quốc Hội ngày xưa…
Thực dân Pháp dẫu xâm chiếm nước ta cũng không đến mức ngu xuẩn và tàn nhẫn như vậy!
Năm 1862, sau khi chiếm Sài Gòn – Gia Ðịnh, Kiến trúc sư Pháp đã thiết kế Sài Gòn là một thành phố Vườn, một Paris nhiệt đới! Sài Gòn có Sở Thú, Vườn Ông Thượng (vườn Bờ Rô hay công viên Tao Ðàn, cũng nó đó đa! )
Ai cũng biết là năm 1868, Tây cất Dinh Norodom cho Thống đốc Nam Kỳ. “Vườn phía sau Dinh của quan lớn dân gọi là “Vườn Ông Thượng”
(Giữa vườn có một sân gạch, nên dân gọi là “Vườn Bờ Rô” (Préau tiếng Pháp, là “sân lót gạch”).
***
Tía tui rất thích chụp hình. Hồi xưa Chủ Nhựt, Tía dắt Má và đám con đi Sở Thú coi khỉ hay đi vườn Bờ Rô chụp hình….
Sau nầy xa quê, ngày anh em tui xúm lại làm đám giỗ Tía Má, đem những cái hình xưa cũ còn giữ trong ‘album’ ra coi.
“Nè cái hình nầy là Má bồng thằng Phương. Tao với anh Nhiên mặc quần ‘sọt’ mang giày ‘săng đan’, đầu chải bảy ba. Còn con Phượng, (em gái kế tui). thì mặc áo đầm tóc quăn (uốn tóc), thoa son môi của Má, vì Ba muốn làm đẹp cho đứa con gái của mình.
Còn thằng Quân trong hình, sao mầy lại khóc?” Thì thằng em tui cười khè khè nói: “Tại lúc đó tui khát nước… mía! He he!”
***
Nhớ Sài Gòn! Nhớ Bến Nghé! Nhớ nhà thơ Nguyễn Ðình Chiểu trong bài thơ ‘Chạy Giặc’ “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây/ Một bàn cờ thế phút sa tay? Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ đàn chim dáo dác bay/ Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Ðồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”
Và tui cũng tự hỏi Sài Gòn, Bến Nghé bị CS làm cho tanh bành tí bị như thế nầy mà: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này?”
Hai tháng ròng, tôi sống héo hon sau hàng rào giây kẽm gai. Thế giới không còn hiện hữu nữa. Mỗi đêm, trước khi đắm chìm vào giấc ngủ trên manh chiếu, tôi lấy một cục than nguệch một nét lên tường. Cuốn lịch này càng tăng lên thì hy vọng của tôi càng lụi tàn đi. Từ từ, tôi đổi lốt để trở thành một tù nhân. Lúc đi trong hàng một với các người tù khác, đầu tôi cúi xuống, hai vai so lại, dường như có một cái gì đó đang khởi sự kiệt quệ trong tôi. Vào buổi sáng ngày mười lăm tháng năm, ba ngày sau cái sinh nhật lần thứ mười bốn của tôi, sau bữa sáng, bọn con nít đã bị nhốt trong nhà ăn như thường lệ. Bên ngoài khu đất trống, viên cai tù đứng trên một chiếc ghế và đang dò trên một sấp hồ sơ mỏng. Tù nhân đứng xếp thành hàng, mệt mỏi, lờ đờ và dửng dưng. Tuy nhiên đằng sau cái nhìn trống vắng của họ, có nhen nhúm một tia hy vọng. Người cai tù dành thì giờ để đọc tên những người tới thăm nuôi trong danh sách ông ta cầm trên tay. Đứng ở cái chỗ cửa sổ nhỏ chen chúc cùng lũ trẻ, tôi nghe thấy có cả tên mẹ tôi. Tôi có thể cảm nhận được sự hiện diện của bà. Bà đang ở đâu đó sau tấm cánh cổng han gỉ kia, giữa đám đông huyên náo cũng tới để thăm thân nhân của họ. Mùi thịt chà bông, mùi xôi nếp và mùi cà ri thơm lừng trong không khí. Tôi cũng nghe tiếng nồi kêu loảng xoảng bên cạnh bếp lửa rộn rã mà họ nhóm lên để chống lại cái lạnh lẽo của buổi sáng sớm. Bằng một giọng ôn tồn không giống thông lệ, viên cai tù nói: – Ai có người thân mà tên vừa được đọc thì người ấy có thăm nuôi. Vậy hãy ở lại nhà trại cho tới khi được gọi. còn những người khác thì vẫn lao đông ngoài ruộng khoai như thường lệ. Sau cuộc thông báo, bon trẻ con vẫn phải ở trong nhà ăn tập thể, còn người lớn thì lục đục quay về chỗ ở của ho.. Vào lúc mười giờ rưỡi, tiếng chuông trên văn phòng của cai tù reo thật lâu làm ai nấy nhẩy bắn cả người lên. Chúng tôi chaỵ ùa ra khỏi dãy nhà trại và đứng xếp thành hàng một, lòng bồn chồn chờ đợi tới lúc được di chuyển. Phía sau tháp canh vào khoảng mười lăm thước và đối diện với khu chứa đồ phế thải, là khu dành cho khách thăm nuôi được xây bằng gạch nung, có cột xi măng và lợp ngói đỏ. Mọi người dồn ép và thúc đẩy nhau trong một khoảng chật hẹp để cố tìm gương mặt quen thuộc của người thân. Nhưng khi tôi nhìn thấy mẹ tôi thì mọi tiếng ồn ào và rối loạn đó chìm đi. Bà ngồi trên chiếc ghế băng ngay trước hàng ghế cuối cùng, kề cận với đám đông. Đã nhiều năm qua, đây là lần đầu tiên tôi thấy bà son phấn trang điểm chỉnh tề. Mái tóc đã muối tiêu của bà bới về phía sau thành buí tóc lớn, đơn giản. Đôi môi của bà vẫn mọng và rõ nét được thoa phớt lên bằng một mầu son tự nhiên. Nước da xanh xao và có tuổi của bà được che phủ bằng một lớp phấn. Sự trang điểm, tuy vậy không làm mẹ tôi xa lạ và dữ tợn như ngày xưa. Trái lại, bây giờ chính son phấn đã làm cho nét mặt của bà trở nên mềm mại, dịu dàng hơn, và khiến cho tôi cảm thấy gần gũi với bà hơn. Nom thấy tôi, bà vẫn ngồi yên trên ghế và nhìn sững. Đôi mắt của bà với những nét chì tô đậm, đã đẫm lệ. Tôi ngã qụi xuống trước mặt mẹ tôi. Bà giữ lấy đầu tôi trong hai tay, hai đầu gối tôi dựa lên đôi chân của bà. Tôi thấy nước mắt của mình ràn ruạ qua những ngón tay của bà và rớt xuống đùi bà, nhưng tôi mặc kệ. Đã từ lâu tôi không được khóc một cách công khai, mà nỗi thống khổ của tôi thì vô cùng. Mẹ tôi ôm lấy tôi vỗ về như ngày xưa tôi còn bé. Và giọng dịu dàng của bà thì thầm vào tai tôi, bà hát “Happy Birthday! chúc mừng sinh nhật con.”
Rồi bà hôn lên má tôi. Nước mắt của mẹ tôi nhỏ xuống cổ tôi, nhưng tôi cảm thấy khoẻ hơn trước, như được hồi sinh. Tôi nói: – Mẹ ơi, con không cứu được dì Đặng. Dì mất rồi. Mẹ tôi gật đầu:
– Mẹ biết, con à. chuyện dì mất mẹ biết từ mấy tháng nay rồi. Ba ngày sau khi con bị bắt, các ngư dân đã tìm thấy xác của dì dạt vào vịnh Cam Ranh. Cha mẹ của dì tới để làm đám tang. Bà ngừng lại, lấy cái bóp ra và nói: – Thôi mình nói chuyện khác đi. Mẹ không muốn xuống tinh thần nữa. Hãy nói về quà sinh nhật của con đây này. – Mẹ ơi, con không muốn bất cứ món quà nào đâu. Ở trong này con không được giữ bất cứ cái gì, chỉ trừ đồ ăn thôi. Đôi mắt của bà sáng lên: – Mẹ biết chắc chắn là con thích cái này. Bà moi ra một tấm giấy có ép plastic hẳn hoi và trao cho tôi: – Đây là quà của con, giấy thả con đó. Mẹ tới để đón con. Cứ khi nào con sẵn sàng xong là mình về. Tôi la lên một tiếng reo mừng, nhưng sự khích động của tôi đã vụt tắt ngay khi tôi trông thấy người lính gác bận bộ đồng phục mầu xanh đứng ở lối ra vào. Tôi hỏi mẹ: – Họ không cho con về thì sao? Bà quả quyết: – Đừng lo. Mẹ đã báo cáo với ông đội trưởng rồi. Ông tổng thư ký trưởng ở Nha Trang đã tự tay ký vào tờ giấy tha này rồi. Chẳng có ai dám cản con ra khỏi đây đâu. Bà mở cái bao ra và sắp xếp vài món đồ ăn trên lòng bà rồi ra hiệu cho tôi ăn. Mặc dù cái hộp đựng đồ ăn trong còn đậy nắp, tôi phát giác ra cái mùi vị của bánh tét gói trong lá chuối, mùi quen thuộc, béo ngậy, của món gà xào gừng, và trên hết thẩy, cái món mà tôi ưa thích nhất là món bò nghiền ướp tỏi, ớt, bọc trong lá nho nướng. Tôi ngốn mấy món ấy thật nhanh và nhìn lên mặt mẹ tôi. Đôi môi của tôi óng lên vì mỡ gà. Tôi nói: – Mẹ ơi, có điều này mẹ nên biết. Bà nhìn tôi, đôi mắt lộ vẻ thắc mắc. Tôi đứng dậy và nhìn chăm chú ra phía cửa sổ. Qua khu đất trống, tôi nhìn thấy một khuôn mặt đen đúa, tay đang nắm lấy sợi dây kẽm gai và nhìn chòng chọc vào tôi. Nắng gay gắt xói lên mặt của hắn ta, nhưng hắn vẫn đứng yên, bất động. Chỉ vào hắn, tôi nói với mẹ tôi: – Dượng Lâm đang ở kia kìa. Ông ấy cũng ở trong này đã sáu năm rồi. Mẹ tôi gật gù như một chuyện đương nhiên, như cái tin vừa rồi chẳng có gì làm bà phải xúc động: – Con đã có nói chuyện với hắn ta không? – Chút ít thôi. Ông ta có cái ý tưởng như thế này, ổng đổ thừa mẹ là người đã đưa ông ấy vô tù. Bà cắn môi dưới của mình: – À ra thế. Đã tới lúc mẹ và hắn phải nói chuyện với nhau rồi. Bà đưa mắt nhìn tôi, thoáng nét ưu tư: – Con nghe đây. Dù biết hay không, thì nay con đã lớn rồi. Mẹ nghĩ rằng con nên tham dự vào câu chuyện mà mẹ sắp nói với hắn ta. Mẹ muốn con đi với mẹ và chỉ nghe thôi, không nói gì hết nghe con. Mình gặp hắn chỉ khoảng mười phút thôi, đừng có sợ. Thôi mình đi. Bà quơ lấy một cái giỏ khác và lôi ra một chai rươụ cognac. Để lại mọi thứ trên sàn nhà, mẹ tôi tiến lại tên cai tù. Bà chào ông ta bằng nụ cười đon đả: – Thưa ông, xin ông gíup tôi một việc. Chai rươụ này chẳng đáng là bao, nhưng xin ông nhận cho. Tôi muốn được gặp người đàn ông đứng ở đằng kia. Tôi quen thân nhân anh ta và họ gửi lời nhờ nhắn với anh ta. Người cai tù mỉm cười phô ra hàm răng cáu bẩn khói thuốc. Đôi lông mày của hắn nhướng lên sau cặp kính mát tối thui. Hắn hỏi: – Nhắn cái gì thế? Mấy đầu ngón tay của mẹ tôi cà cà vào dấu ấn ở cổ chai, bà ấp úng: – Thật ra thì cũng chẳng có gì nhiều, ông ạ. Chỉ coi anh ta có mạnh khoẻ không, thế thôi. Gia đình của anh ta chỉ muốn biết có thế. Ông ta cầm lấy chai rươụ: – Năm phút thôi đấy nhé. Bắt đầu ngay đi. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi và kéo tôi ra khỏi phòng. Người cai tù kêu lên:
– Ê! – Dạ, thưa ông… – Dáng dấp nhà chị giống mênh. phụ lắm đấy… – Xin cám ơn ông. Ông ta gật đầu: – Tôi nói thật. Nếu tôi không nom thấy chị ngồi cùng với cái thằng con lai này thì không bao giờ có thể tưởng tượng được rằng chị đã từng là gái chơi cho tụi ngoại quốc bẩn thỉu. Tướng sang quá mà! Thật đó. Mẹ tôi nuốt nước miếng đánh ực rồi ùa chaỵ ra ngoài, băng qua khu đất hoang. Lâm đứng chết sững, mắt không rời chúng tôi, những khớp tay hắn nắm lên trên dây kẽm trắng bạch. Chúng tôi ngừng lại trước mắt hắn khoảng vài bước. Không ai nói với ai. Cuối cùng, mẹ tôi lên tiếng phá vỡ sự im lặng: – Chào Lâm. Mạnh khoẻ chứ? – Đ. M. Con điếm thối. Mẹ tôi chợt phá lên cười. Tay bà xiết chặt lấy tay tôi: – Sau năm, sáu năm trời không gặp, anh chỉ biết chửi bậy thôi à? Bộ anh không có gì thắc mắc để hỏi tôi hay sao? Nói đi, không nói thì tụi tui đi à. Hắn ta hít một hơi thật dài rồi chăm chú nhìn mẹ tôi: – Tại sao mày đẩy tao vào cái chốn này? – Ờ… Có khối lý do: anh là một ông bố tồi tệ, anh làm hoen ố thanh danh gia đình tôi, anh phung phí tiền bạc của tôi. Lâm túm lấy đũng quần của mình rồi hỏi: – Có thật không đó, Khuôn? Tao nghĩ mày ganh với tao vì tao có con c. bự, còn mày thì không, có phải không nào? Mẹ tôi xích lại gần, hơi thở bà phà vào mặt hắn: – Thằng lưu manh. Tao tống mày đi là vì mày hại con tao. Tao là một người mẹ, tao không có cách nào hơn là trả thù, thế thôi. Hắn ta lùi lại và nhìn tôi: – Cái gì… ? Tại sao mày biết. Phải nó nói với mày không?
Mẹ tôi gật đầu, vuốt tay lên tóc tôi, sự buồn bã lộ trên khuôn mặt: – Đúng. Bằng một cách gían tiếp, con trai tao đã cho tao biết. Phần lớn là qua hành vi của nó. Tự nhiên con tao đang vui vẻ như thế đó, vừa thấy mày là nó chết khiếp liền. Cũng giống như cái cách mà tao nhìn thấy ở con Loan. Mày có biệt tài Lâm. Mày mò tới ai là kẻ đó xấc bấc xang bang ngay. Lâm lầu bầu: – Vô lý… Mẹ tôi tiếp: – Dĩ nhiên còn nhiều bằng cớ khác nữa. Bao giờ tao cũng là kẻ biết điều. Nếu không có bằng chứng cụ thể, tao đã chẳng có thể trả thù. Có những đêm thằng bé khiếp đảm vì ác mộng. Lệ hoà lẫn với chì tô lông mi chảy xuống đôi má của bà: – Trong lúc tao bụng mang dạ chửa đứa con gái của mày, tao ngồi bên giường của nó coi nó trằn trọc thâu đêm. Môi nó cứ mấp máy kêu tên của mày. Rồi tao hỏi thẳng nó. Trong cơn mê sảng, nó đã kể hết cái chuyện đồi truỵ mà mày đã gây ra cho nó. Vậy tao phải làm gì đây? Ông trời xa quá, đợi ổng trừng phạt mày thì đến bao giờ. Vả lại, tao phải tìm cách nào đó để bảo vệ con tao, chấm dứt cơn ác mộng của nó. Bà quay đi, lấy mu bàn tay gạt những giọt lệ còn vương trên má – Vĩnh biệt, Lâm! Tao cầu cho mày rục xương trong tù. Lâm gọi với theo: – Chờ đã Mẹ tôi ngừng lại. Hắn hỏi: – Mày đã làm thế nào? Làm thế nào mà mày đã sai khiến được cả bọn chúng nó bắt tao? Mẹ tôi thở dài và quay lại đối diện hắn: – Trước hết, tao báo cáo với ông Trần về chuyện mày với con Loan, mày hiếp nó như thế nào, nó phải phá thai ra sao. Tao hay lắm, vừa lúc tao kể xong chuyện là hắn muốn bằm mày ra. Nhưng đối với tao, tội của mày mà cho mày chết liền thì quá dễ dãi cho mày. Ở tù rục xương, theo tao, thì hay ho hơn nhiều, nên tao lại phải kiếm một lá bài khác để hỗ trợ cho mưu toan của tao. Ông ba Qùi đã là cứu tinh. Với cái đầu óc của con này và hai lão phường trưởng chống lại mày thì mày có trốn đi đằng trời!
Hắn ta gào lên, nước bọt bắn tung toé: – Đồ đĩ! Mày giết con tao. Cho nên tao làm thế cũng chỉ là huề thôi. Mày không có quyền đem tao vô đây. – Mày cứ nói mãi về đứa con của con Loan mà không ngó ngàng gì đến đứa con gái của mày là con bé Ti. Bộ mày thật sự tưởng là tao tin cái chuyện mày biết quan tâm tới kẻ khác ngoại trừ bản thân mày hả? Hắn ta không trả lời, mẹ tôi tiếp: – Tao mang con tao về nhà, Lâm. Trong vòng vài tiếng nữa, chúng tao lại được hít thở bầu không khí tự do. Dù vết thương lòng do mày gây ra có sâu bao nhiêu đi chăng nữa, thì rồi nó sẽ lành lại theo thời gian. Nhưng còn mày, mày sẽ ở lại đây cho tới khi chết, như một con chó hoang. Và tao cho mày biết, sẽ chẳng có ai trên cõi đời này đoái hoài tới mày. Mẹ tôi quay lại phía tôi. Đôi mắt của bà phản chiếu ánh mặt trời mầu nâu xậm và lần đầu tiên chúng không lộ vẻ gì bí hiểm. Bà nói: – Bây giờ con đã biết câu chuyện rồi. Con cũng hiểu tại sao mẹ lại kết bạn bè với ông Ba Qùi, phải không. Cái đó gọi là trả thù. Và trả thù thì phải trả giá. Mẹ đã tới với ông ta mỗi lần mẹ xin một sự gíup đỡ. Ông ta nghĩ là ông ta ông ta đang lợi dụng mẹ, nhưng thực ra thì chính mẹ là người lợi dụng ông ta. Mẹ làm thế để có thể tống gã Lâm vào tù và gần đây nhất, là để đánh đổi lấy sự tự do của con. Sau này con lớn, tùy con phê phán mẹ về những điều mẹ đã làm, nhưng mẹ xin con hãy hiểu tại sao mẹ phải làm như vậy. Chính mẹ là người đầu tiên thừa nhận rằng những hành động mẹ đã làm là không đúng. Nhưng vì sự an toàn của con, vì sự an toàn của tất cả các con của mẹ, mẹ cũng sẽ chẳng ngần ngại gì mà làm y như thế, nếu cần. Một ngày kia, con sẽ phải gíup mẹ giải thích cho em gái của con để cho nó hiểu. Tôi hỏi: – Có phải ông ba Qùi bắt giữ ông Lâm không hả mẹ? – Đúng đấy, con. – Mẹ làm thế nào để ông ấy nghe lời mẹ? Bà vuốt lên đầu tôi và đáp: – Bí quyết là ở nụ cười, con ạ Nắm lấy tay tôi, bà dẫn tôi đi về khu nhà thăm nuôi để thu thập vật dụng của bà. Rồi chúng tôi đi ra cổng, ở đó đã có chuyến xe đò chờ sẵn dưới ánh nắng chói lọi. Hai tiếng đồng hồ sau, chúng tôi rời khỏi trại giam PK 34.
Tối hôm ấy, tôi thức dậy trong phòng giam mới, người run lẩy bẩy như thằn lằn đứt đuôi. Cái chiếu tơi dưới mình tôi ướt sũng mồ hôi, vậy mà tôi vẫn không ngớt run rẩy vì cái lạnh buốt phát ra từ tận trong xương tủy. Cơn đau cứ chaỵ ngược chaỵ xuôi suốt dọc xương sống, lan toả ra khắp các khớp tay chân. Bên trong trại không có điện. Còn nhà giam thì lại không có cửa sổ để thông gió. Hậu quả là không gian trong nhà tù luôn bị chìm vào bóng tối nhờ nhờ. Một môi trường tuyệt hảo cho lũ chuột đói ăn. Chúng ngoi ra từ rãnh nước ở phía sau, xông lên sặc suạ mùi hôi thối. Cặp mắt của chúng đỏ lừ, sáng rực lên khi chúng chaỵ đuổi nhau hay nhẩy lên những tù nhân để kiếm thức ăn. Có vài con gậm nhấm bàn chân tôi, răng phát ra những tiếng tic tic. Kiệt sức, tôi không thể xua chúng đi. Tôi chỉ còn nước ngọ nguậy ngón chân, hy vọng là chúng sớm bỏ cuộc. Nhưng đó chỉ là ảo vọng. Đêm tĩnh lặng. Những đứa trẻ khác cùng chung với chỗ của tôi thì chỉ ứ hự khi bị chuột rứt tóc hoặc cào vào da rồi lại tiếp tục ngủ ngon lành. Tôi nằm co quắp, cố gượng mình để giữ mấy củ sắn trong bao tử, bữa sắn mà tôi được chia phần chiều nay trong phòng ăn tập thể, khỏi phải ói ra. Khi cơn sốt lên cao, cái dạ dầy trở nên khuấy động càng lúc càng trở nên tàn bạo hơn. Tôi không còn chịu nổi, gập người nôn thốc nôn tháo ra sàn tuốt tuồn tuột mọi thứ ở bên trong. Trong khoảng khắc bọn chuột đã bu lấy cái đống bầy nhầy này. Tôi rê mình ra chỗ khác, nằm xuống. Cuối cùng, cái lạnh tàn khốc từ trong xương cũng nguôi đi. Năm giờ sáng, bản quốc ca được phát ra qua một cái maý thu thanh bán dẫn. Những nốt nhạc rít lên trong loa phóng thanh, tiếp theo là chuông rung liên hồi, gịuc giã mọi người là phải thức hết cả dậy. Bên ngoài, mặt trời còn ẩn sau dãy núi. Cả khu vực bị bao phủ bởi một lớp sương mờ mờ, ảm đạm, dầy đặc đến nỗi chúng tôi có cảm giác như mình đang bơi giữa những tầng mây. Ở khu đất trống, chúng tôi run lập cập vì cái lạnh lẽo của buổi hừng đông miền nuí, nên tập thể dục theo lời nhạc cho người ấm lên. Sau đó là bữa ăn sáng, mỗi người một khẩu phần gồm một chút cơm nhão trộn với ít cọng dền. Những con gíán chết nổi lều bều trong chén, và đất cát bám vào các rễ rau không được rửa khiến có mùi vị đắng nghét. Rồi thì người lớn phải ra xếp thành hàng ở trước trại. Bọn trẻ và tôi thì bị khoá lại bên trong phòng ăn tập thể cho tới tám giờ sáng. Chúng tôi nhìn mọi người sinh hoạt qua những cửa sổ được che chắn bằng chấn song và lưới sắt. Mỗi tù nhân phụ nữ được phân công một xe hai bánh chất đầy những dây khoai vừa mới được cắt và đã bó thành bó và sẵn sàng mang đi trồng. Họ đẩy những xe cút kít đó xuống con đường đi qua khu chứa vũ khí phế thải, qua cánh cổng chính của nhà tù để tiến về phía bên kia núi. Bọn lính canh theo sau bọn tù trên những xe ngựa kéo, lăm lăm những khẩu súng máy trên tay. Khi tới thời điểm giao công việc cho lũ trẻ con, một anh lính canh đi vào khu nhà bếp. Anh ta ngồi trên một chiếc ghế và mở sấp hồ sơ dầy cộm ra, kêu lên vài tên. Một người lính khác ló đầu qua cánh cửa ra hiệu cho tôi và hai đứa nhỏ khác đi theo. Chúng tôi đi theo anh ta đến một khoảng đất cách chỗ có cái hầm giam ngầm không xa lắm. Anh ta dừng lại trước một đống đá cao nghễu nghện, cách cái hàng rào hai lớp khoảng hai chục thước. Chẳng thèm ngẩng cái đầu hói lên nhìn chúng tôi, anh ta ra lệnh: – Ê, tụi bây. Khuân những hòn đá này chất ra ở hàng rào kẽm gai coi. Bắt đầu từ chỗ có vạch đen kia kià và đắp đá dài theo đó. Giống như tụi bay đắp nền cho cái hàng rào vậy. Hiểu chưa? Đây là công việc giao cho tụi bay trong ba tuần, làm cho xong, nếu không thì tao sẽ tìm cách trị tụi bây đó. Chúng tôi gật đầu vâng dạ. Người lính đi khỏi. Tôi nhấc lên khối đá đầu tiên và vần nó dọc theo con đường. Thoạt tiên, việc này chả có vẻ gì là vất vả lắm, và có việc làm cũng tốt. Nhưng khi mặt trời đã lên cao và nhiệt độ tăng lên dần thì cái lưng của tôi đã bắt đầu đau âm ỉ vì phải khòm khá lâu. Cơn sốt đã trở lại ăn lan ra khắp người tôi như những giọt axít. Bên cạnh tôi, hai đứa kia cũng chia sẻ chung sự đầy đoạ. Chúng cởi trần. Áo sơ mi cột vòng quanh thắt lưng để lộ ra những bộ ngực lép kẹp như ức chim sẻ. Hai vai của chúng xệ xuống và lưng thì oằn song song với mặt đất. Dưới sức nặng của những khối đá, chúng tôi loạng choạng cất bước. Ở phía bên kia hàng rào hai lớp, dượng Lâm đang qùi gối nhổ cỏ dại trên nền đất khô cằn bằng hai tay trần. Cặp mắt hắn đăm đăm nhìn tôi làm cho tôi phải quay đi chỗ khác. Bộ mã của hắn đã thay đổi rất nhiều so với hình ảnh trước đây tôi còn nhớ. Hai má sưng vều lên, đầy những vết tím bầm cả cũ lẫn mới. Cái mũi có vẻ như bị gẫy vài lần, bây giờ nom bẹp dí và vẹo hẳn đi. Trông hắn có vẻ quá mập, nhưng là cái mập bệnh hoạn, như thể dưới lớp da vàng bủng, hắn bị trương nước hơn là có nhiều mỡ. Hắn thì thào gọi tôi mỗi khi tôi tiến gần tới hàng rào: – Lại đây, chú hỏi cái này. Sau vài lần hắn gọi, tôi dừng lại và hỏi: – Ông muốn gì? Làm thế nào mà ông nhận ra tôi? Lâm ném một buí cỏ dại vào cái sọt đeo bên người nở một nụ cười nom cũng xảo quyệt như ngày xưa: – Hỏi buồn cười chưa? Thật tình mà nói, lúc đầu tao chưa chắc là mày, nhưng tao thử gọi tên mày mà mày quay lại thì còn ngôn ngữ gì nữa. Vả lại, cũng chẳng có khó gì mà không đoán ra. Lẵng nhẵng với đám tù kia, mày lạc lõng giống như con chó với bầy cừu. Hắn liếm môi, nói tiếp: – Ngoài ra, trong suốt sáu năm vừa qua, tao còn biết làm gì ở cái chốn này nếu không nghĩ đến gia đình mày. Còn mày sao vậy nhóc? bộ lên hụt con tầu đi tới thiên đàng nên phải dừng chân ở đây thăm thú Điạ Ngục, phải không? Còn má mày bây giờ ra sao? – Mẹ tôi bình an. Cảm ơn. Tôi trả lời rồi bỏ đi lượm cục đá khác. Khi quay trở lại, tôi lựa một chỗ cách xa hắn. Vậy mà hắn lại lén tới gần chỗ của tôi, giọng hắn thì thầm: – Không, má mày không bình an. Mày ở đây, chắc mụ ta cũng đang ngồi tù đấy thôi. Nó đâu, con đượi quỉ sứ? Tôi ngắt lời: – Đừng có mất công tìm kiếm. Bà không có trong này đâu. Cặp lông mày của hắn nhướng lên một cách đắc thắng. Đôi lòng trắng trong mắt hắn cũng đã vàng ệch như nước da của hắn: – Sự thật còn khá hơn là tưởng tượng của tao nữa. Mày đi tù thì cũng đủ giết má mày rồi. Cám ơn trời đất đã cho tao sống đến hôm nay để tao được nhìn thấy ngày hôm nay. Bây giờ có chết tao cũng hả dạ rồi… Hắn ngừng lại, cặp mắt hấp háy dưới ánh nắng. Thốt nhiên, nụ cười tắt trên môi của hắn: – Ngoại trừ cho mày vô tù là quỉ kế của con mẻ để bỏ rơi mày, cũng như sáu năm trước mẻ đã làm một lần như thế với tao? Tôi đứng thẳng người lên, quên cả cái đau lưng: – Ông khùng hả. Mẹ tôi không bao giờ làm cái chuyện thất đức như thế. Ông xui xẻo thì rán chịu, đừng có đổi thừa cho người ta. Cơn giận bừng bừng lên mặt, hắn đứng bật dậy, tay nắm lấy cái hàng rào như muốn xông lại đánh tôi. Từ phía sau hắn, một người cai tù đang đi tới. Không cần gọi Lâm, gã này dùng chân đá một cục đất đỏ về phía hắn. Cát văng lên trúng gáy lâm làm hắn sững người lại. Hắn cắn môi, rồi quay lại trực diện với người lính. Liếc nhìn cái số tù in trên ngực áo của hắn, người cai hỏi: – Có chuyện gì đó, anh X-không-sáu-bẩy-năm-tám? Hắn lắp bắp: – Thưa không có chuyện gì. Có con sâu chui vào trong đũng quần của tôi, thưa ông. Nhưng tôi đã đập chết nó rồi. – Tránh xa cái hàng rào ra. Đừng có để cho tôi phải quay lại một lần nữa. Dù anh có đau ốm hay không thì tôi cũng tặng anh một phát đạn vô đầu cho rồi đời. – Vâng thưa ông! Lâm trả lời và làm bộ như tiếp tục nhổ cỏ dại trên khoảng đất cằn cỗi. Ngay khi người lính coi tù vừa đi khuất, hắn lại thì thào với tôi: – Lắm lúc sự đời xảy ra chẳng giống như mình tưởng. Má mày là đồ phù thủy, Kiên ạ. Con mẻ tống mày vô cái trại tử này là có lý do, giống như mụ đã làm thế với tao. Mụ ta thù đàn ông có hạng, mà coi mày kìa, bắt đầu trổ mã thành gà trống rồi. Chuyện mụ ta hại mày thì cũng dễ hiểu thôi! Lòng đầy giận dữ, tôi phun một bãi nước bọt vào hướng hắn đứng, rồi bỏ đi. Lâm phá lên cười: – Nhìn tao đây này. Nhìn cho kỹ mặt tao đi, Kiên. Bởi tao bây giờ chính là hình ảnh tương lai của mày, nhóc. Đây là địa ngục và cũng là nhà mồ của mày, nơi mà dân vượt biên vào để vĩnh viễn chôn thây.
Bên trong căn hầm giam ẩm mốc, khoảng hơn nửa thước nước rỉ từ dưới đất lên tạo thành một cái giếng cạn. Lòng đất cực kỳ lạnh gía mặc dù nhiệt độ nóng bức ở bên ngoài. Trong khoảng tối tăm bùn lầy, có bóng dáng tù nhân lép nhép xê dịch chậm chap. để chưà chỗ cho tôi. Khi tôi đã chui vào hầm, ngươì cai ngục rút cái thang lên và hạ cánh cửa sập xuống. Đâu đó trong bóng tối, có tiếng đứa trẻ khóc. Rồi tiếng phụ nữ laỵ lục van xin. Giọng của bà ta dội vào bức tường gạch rồi tan biến đi. Dần dần, mắt tôi quen với bóng tối, tôi nhận ra hình dáng của hàng vài chục người tù đang ngồi chen chúc, sát cánh nhau. Chưa bao giờ tôi lại trông thấy một nỗi tuyệt vọng cùng cực đến như thế. Bỗng nhiên tấm ván cửa ở tầng trên lại bật mở và có tiếng động cơ nổ ầm ĩ. Mọi người đứng thót dậy và lao xao rên rỉ với nỗi lo sợ. Mặc dầu tôi không biết tiếng ồn ào đó có ý nghĩa gì nhưng tôi cũng trở nên hốt hoảng. Hai cái vòi nước to và chắc chắn xuất hiện, tuồn qua cách cửa rồi chĩa xuống chúng tôi. Trước khi tôi kịp chuẩn bị để thích ứng thì một tia nước lạnh buốt đã xịt vô tất cả mọi người trong hầm. Trẻ em khóc ré lên, bám cứng lấy mẹ của chúng. Đám người lớn thì ép sát vào thành tường, ưỡn ngực ra để chống lại sự tấn công dữ dội. Mặc dù trong cơn hoảng hốt, tôi vẫn cảm thấy luồng nước lạnh quét đi cái khô khốc đắng nghét trong miệng, khiến cho cơn khát trong cổ tôi dịu đi. Mấy cái vòi tiếp tục xịt nước trong mấy tiếng đồng hồ sau đó. Bên trong gian hầm này, mực nước đã dâng cao tới bụng của tôi. Dưới chân chúng tôi, nền đất trở nên mềm nhũn và trơn trượt. Sau cùng động cơ máy bơm được tắt đi, mấy cái vòi cũng được rút lên. Bóng tối một lần nữa bao trùm lên khoảng không gian đầy bất hạnh này. Tôi mất hẳn ý niệm về thời gian. Trong bóng tối bưng bít, ngày và đêm chẳng có ý nghĩa gì. Tôi ép mặt lên tường, thích hít thở cái mùi ẩm ướt của nó để tránh cái hôi hám bốc ra của hơn ba chục con người tuyệt vọng ở đây. Vài con bọ nhỏ xíu trườn trên khắp người tôi. Có con đậu ngay cách mũi của tôi nhưng tôi cũng không thèm đuổi chúng nó đi. Lạ thay, tôi càng chú ý đến sự hiện diện của chúng thì đầu óc tôi càng ít chú ý tới cái đau đớn của xác thịt. Điều ấy giữ cho tâm trí của tôi khỏi phát điên lên. Trước mặt tôi, cách vài bước, là một phụ nữ. Ngực áo bà ta mở banh ra. Bà ta đang ghì chặt đứa con chừng sáu, bẩy tuổi vào tấm ngực trần của mình. Đầu đứa trẻ ngả trên vai gầy trơ xương của mẹ nó. Đôi môi bà run rẩy vì lạnh đang lắp bắp nói điều gì tôi nghe không rõ. Tôi xích lại gần bà hơn và nói: – Thím nói gì, cháu nghe không rõ? Bà ta quẹt mớ tóc ướt khỏi mặt. Rồi cũng bàn tay ấy, bà rờ lên đầu đứa trẻ, chớp chớp mắt. Mấy lời từ miệng bà thốt ra tôi nghe không mạch lạc. Tôi lắc đầu: – Cháu vẫn không hiểu. Bà đẩy đứa con của mình về phía tôi. Trong bóng tối, tôi thấy thân hình bất động của nó được bọc bằng một cái chăn len. Bà mẹ nói, lần này nghe rõ hơn: – Ẵm nó giùm thím chút đi cháu. Tôi nhận đứa bé nặng nề trên tay của mẹ nó. Trong cánh tay tôi, đầu nó rũ lả về phía sau như con búp bê bị gẫy cổ. Cái chăn ướt rớt ra khỏi mặt con bé và mấy ngón tay của tôi chạm phải làn da nhăn nhúm và xù xì như một miếng da thuộc. Đôi môi của nó sưng phồng lên như hai con điả no căng trên khuôn mặt nhỏ bé và không còn sự sống.
Tôi thẩy cái xác của con bé trở lại vòng tay của mẹ nó và rú lên. Đầu óc tôi choáng váng. Người đàn bà nhận lại đứa con, lại ôm vào bộ ngực để trần của mình. Mặt bà vẫn giữ vẻ lạnh lẽo, không cảm giác. Tôi lùi lại cho xa hai mẹ con bà, tiếp tục kêu rú lên cho đến khi tôi mất thăng bằng và ngã xuống cái hầm phân bẩn thỉu. Sau khi tiếng rên rỉ của đám tù nhân nguôi bớt đi, nỗi tuyệt vọng vô tận, cơn đói cồn cào và cái gía lạnh không ngừng mang tới chặng thứ hai của sự đầy đoạ. Đầu óc tôi trống rỗng, không còn suy nghĩ nữa, thay vào đó, tôi thu mình lại, tự coi như rũ liệt cho đến khi cách cửa sập lại được mở lên. Tôi đã bị chôn vùi trong cái hầm dưới mặt đất này bao lâu rồi? Tôi chẳng thể biết được. Ánh sáng lùa vào làm chúng tôi lóa mắt. Giọng của người cai tù gầm gừ vang lên ở phía trên, báo tin thời hạn khổ hình đã chấm dứt. Vẫn cái thang lúc trước được thả xuống. Chúng tôi trèo lên như những bộ xương người từ dưới mồ chui ra. Cẳng chân tôi tê cóng, bầm tím và mưng mủ, líu quíu không tuân từ trí óc tôi nữa. Dưới ánh sáng mặt trời, chúng tôi xếp một hàng ngang, níu chặt lấy cách tay nhau để nương dựa. Cái động cơ lại rú lên xình xịch và mấy người gác lại chĩa vòi vào cơ thể chúng tôi để rửa đi những chất bẩn. Sau cuộc tắm gội, chúng tôi được trao mỗi người một bộ đồng phục mới dành cho tù nhân gồm cái quần ka ki đen, cũ đã bạc mầu, loại ” một khổ xài chung ” và một cái áo thung có tay mầu đen. Đứng trước chúng tôi, viên cai ngục khởi sự lên lớp. Mớ tóc rối beng của hắn trở thành mầu mực xanh dưới ánh nắng, To quá khổ với cái mặt nhỏ xíu. Hắn cố đọc một mảnh giấy nhầu nát qua đôi mắt kính râm. Sau vài lần cố gắng nhưng không thành công, hắn quẳng mảnh giấy qua một bên, rồi nói: – Cái hầm mấy người mới chui ra, dân ở đây gọi là động Nước Đái Con Yêu. Trong đám các người, có kẻ bị ốm nặng, thậm chí có kẻ đã mất mạng rồi. Nhưng tôi đoán chắc là chẳng có ai trong đám mấy người bị điếc cả. Vậy hãy nghe cho kỹ. Ở đây là trại PK ba mươi bốn, nơi cư trú của tội phạm bằng thuyền từ ba tỉnh Nha Trang, Cam Ranh và Tuy Hoà. Một khi mấy người vô tới đây thì bắt buộc phải tuân theo một số luật lệ. Trại này đặc biệt dành cho phụ nữ và trẻ em. Tất cả mọi người sẽ sống, ngủ và hoạt đông theo một guồng máy. Một ngày ba bữa, cấm không được mang đồ ăn vào trong nhà trại. Không ai được phép đi lại tự do trong trại, có nghĩa là muốn đi đâu thì phải đi từng hàng một, ngoại trừ con nít và người ốm bệnh, mấy người đó lao động trong trại. Phụ nữ bắt đầu lao động từ sáu rưỡi sáng đến bốn giờ chiều ngoài ruộng khoai lang ở bên kia núi Mỗi tháng, các người được viết một lá thư cho gia đình. Tôi không đảm bảo là thư tới nơi nhưng ai muốn viết gì cứ việc viết. Vào lúc này thì gia đình mấy người đã được thông báo cho biết là mấy người đang ở đâu, vậy chừng tháng sau thì có thể trông đợi có người tới thăm. Bất cứ kẻ nào bất tuân luật lệ hay có ý định bỏ trốn sẽ bị nhốt lại trong động Nước Đái Con Yêu. Có ai thắc mắc gì không? Chẳng có ai lên tiếng. Người cai tù nhún vai: – Tốt. Hãy đi theo cảnh vệ về trại. Chúng tôi cùng nhau bước qua khu đất rộng, theo con đường về phía trại. Tôi đi ở cuối hàng. Người đàn bà có đứa con chết di chuyển trước tôi vài bước. Bà ta thì thầm một bài hát ru con và đu đưa cái xác trên tay. Bỗng nhiên ở phía sau tôi, cách hai lớp hàng rào kẽm gai, một giọng quen thuộc, như vọng từ ký ức, gọi tên tôi lên. Tôi cảm thấy có một luồng điên chạy qua xương sống lưng của mình. Tôi quay lại. Một người đàn ông tì trên hàng rào ở trại giam phía bên kia. Tay của hắn níu lấy hàng rào kẽm gai. Tôi không nhận ra được mặt hắn ta, nhưng cái giọng thì vẫn y nguyên. Hắn nhe răng ra cười và vẫy tôi: – Ê! Kiên! Kiên đó à? Dượng Lâm đây, còn nhớ không? Một người lính túm lấy hắn lôi ra khỏi hàng rào. Nhưng nụ cười trân tráo vẫn còn in trên khuôn mặt của hắn. Tôi muốn bỏ chạy, nhưng đầu gối của tôi loạng choạng. Tôi muốn lên tiếng nhưng lời lẽ cứ mắc nghẽn trong cổ họng. Chung quanh tôi, mọi vật như tối sầm lại. Trong khi phấn đấu để giữ sự tỉnh táo, tôi tự hỏi tại sao hắn ta vẫn còn nhận ra tôi mặc dầu cách biệt đã gần sáu năm.
Không lực Mỹ vừa công bố loạt ảnh các thành viên biệt đội Guardian Angels (Những thiên thần bảo vệ) thực hiện hoạt động nhảy dù cứu hộ trên bầu trời Afghanistan.
Không lực Mỹ vừa công bố một loạt hình ảnh các thành viên biệt đội Guardian Angels (Những thiên thần bảo vệ) thực hiện hoạt động nhảy dù cứu hộ trên bầu trời Afghanistan. Những hình ảnh đầu tiên cho thấy một nhóm “Thiên thần bảo vệ” thuộc Đội Cứu hộ Viễn chinh 83 chuẩn bị cho cú nhảy dù tầm cao HALO cạnh chiếc máy bay vận tải quân sự C-130J Super Hercules. HALO là kỹ thuật nhảy từ trên cao và bật dù khi xuống thấp, giúp giảm thiểu rủi ro cho binh sĩ khỏi hỏa lực địch.
(Ảnh: DVIDS)
Kiểm tra dù cho nhau. (Ảnh: DVIDS)
Khi đã ở trên không trung, họ chờ đợi cho đến khi bay tới vùng trời cần đến. (Ảnh: DVIDS)
Trước khi nhảy, một trợ lý kiểm tra vùng nhảy. (Ảnh: DVIDS)
Và cú nhảy được thực hiện. (Ảnh: DVIDS)
Thả người từ độ cao cả nghìn mét. (Ảnh: DVIDS)
Rồi rơi tự do. (Ảnh: DVIDS)
Mở dù. (Ảnh: DVIDS)
Cuối cùng là trôi qua lớp khói vàng, báo hiệu đến vùng đáp. (Ảnh: DVIDS)
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.