Thép đen – Quyển III

Đặng Chì Bình

Post by Sơn râu 26 Oct 2023

Vinh danh người nhái

Đặng Chí Bình

Bài 49 

Khi các toán đã đi lao động rồi, trại vắng teo, mỗi buồng chỉ còn lèo khèo mấy người mệt, bịnh. Tôi ngồi đọc sách một lúc, mỏi cả mắt. Đang định ra sân làm vài động tác thể dục cho đỡ mỏi người thì mắt tôi chợt nhìn xuống sàn dưới, phía đối diện, thấy một anh ngồi thụt mãi vào trong góc sàn. Anh ngồi xổm, quấn chặt cái chăn chỉ thò ra đầu và 2 con mắt. Mắt anh cũng đang ngước nhìn tôi đăm đăm, ánh lên niềm vui chào đón; trong khi tôi cũng tươi nét mặt nhìn, để đáp lại nhã ý của anh, lòng tôi vẫn bàng bạc, ngạc nhiên: Anh là một trong bốn Người Nhái mới đến trại, anh cũng ở toán 2. Sáng nay, rõ ràng không thấy anh xuống y tế khám bịnh mà? Tuy trong lòng tôi hơi băn khoăn, nhưng chưa tiện hỏi. Tôi trèo xuống, ghé sang chỗ anh đon đả:

– Có biết hút thuốc lào không?

Anh mở chăn, xoay hẳn người ra niềm nở:

– Có, hút kỹ ấy chứ!

Nhìn 2 cái đầu gối của anh ngồi, cao gần chấm tai anh. Anh mặc mỗi chiếc quần đùi, do quần dài cũ của trại xé ra, nên gấu quần lờm xờm, lua tua. Thảo nào, anh phải quấn chăn. Ngay từ những phút ban đầu, chả hiểu sao tôi cảm thấy rất mến anh, và hình như anh cũng dành cho tôi lòng thiện cảm đặc biệt. Nghe giọng nói của anh hơi một chút cợn, để rồi khi biết tên anh là Lầu Chí Chăn, người Nùng. Tôi lại hân hoan ca tụng giọng nói tiếng Kinh quá sõi của anh. Còn một điều nữa, anh có một người mẹ già, hiện đang sống ở vùng cây Da Sà, Chợ Lớn. Người mẹ đó vẫn ngày đêm mỏi mòn ngóng chờ người con trai đã đi phương trời nào mất tăm, cũng tương tự giống tình cảnh mẹ của tôi.

Sau vài câu thăm hỏi, tôi đã hiểu, hai ngày trước anh bị đi kiết ra máu. Đêm qua mới cầm, vì vậy y tá cho anh nghỉ thêm ngày hôm nay. Rất lạ lùng là chỉ hơn một giờ sau, chúng tôi đã thân nhau ngay. Cả ngày hôm ấy, tôi đã chả đọc được tí sách nào. Tôi trèo xuống sàn dưới, hai anh em nằm đắp chăn chung, trao hỏi chuyện cuộc đời. Từ vài câu han hỏi lúc Chăn bị bắt, câu chuyện cứ gợi dần trí tò mò của tôi. Cuối cùng, không dằn được lòng, tôi đã đề nghị Chăn hãy tường thuật lại từ lúc bắt đầu vào ngành Biệt Hải cho tới khi bị bắt. Do lòng thiện cảm đã có sẵn với tôi, phần khác, có lẽ cũng muốn cởi mở một mảnh đời cho một người đang háo hức, chăm chú lắng nghe, vì vậy sơ lược, Chăn đã kể lại đời Chăn như sau:

Là một người dân tộc thiểu số nhưng cũng là người Việt, tuy gia đình anh vẫn dùng tiếng Quãng Đông là chính, quan điểm của Chăn: đây là cũng là quê hương Tổ Quốc của Chăn. Chính vì thế, khi có một chút trí khôn, hiểu biết, anh đã xin vào một trường Kinh để học chữ quốc ngữ. Cũng do học ở trường Việt nên Chăn quen biết rất nhiều bạn bè người Kinh.

Ngay từ lúc còn 9 – 10 tuổi, (từ đây là lời tâm sự của Chăn) tôi có một ông chú họ trên vùng Blao. Mỗi lần, ông chú xuống Chợ Lớn để thăm bố mẹ tôi, thường dẫn tôi đi chơi. Ông rất thương tôi và tôi cũng yêu kính ông như cha.

Khoảng năm 1959, vào một ngày Chủ Nhật, đột nhiên có người con trai của ông chú từ Blao xuống báo cho biết một tin rụng rời: Bố đã bị Cộng Sản đem ra phía sau nhà chặt đầu đêm hôm qua. Từ lòng mến thương người chú, một ý niệm đã hằn sâu vào bộ óc ngây thơ của tôi. Tại sao Cộng Sản dã man, tàn ác thế? Dù con mơ hồ chưa rõ ràng, nhưng tôi đã thấy Cộng Sản là kẻ phi nghĩa. Nếu tôi luyện được những bí kíp như những cao thủ trong truyện chưởng, tôi sẽ đi tiêu diệt Cộng Sản.

Sau này, càng ngày càng lớn lên, tôi nhìn thấy chung quanh, có nhiều bạn bè người Kinh cũng như người Nùng xin gia nhập quân đội để đi đánh Cộng Sản; lòng tôi càng háo lức thăm hỏi đó đây. Cuối năm 1963, lúc này tôi đã 21 tuổi. Do cơ thể cường tráng, cao lớn, lại rất thích bơi lội nên tôi đã nhờ một người Kinh, giới thiệu để tôi xin gia nhập lực lượng Người Nhái. Do sự nỗ lực, quyết tâm của tôi, tôi vẫn kiên trì làm nhiều thủ tục theo yêu cầu, nhất là khâu khám sức khỏe. Kết quả, đầu tháng 2 năm 1964, tôi được tuyển chọn đưa ra Đà Nẵng để dự lớp huấn luyện.

Huấn luyện gồm nhiều môn, nhưng chủ yếu là tình báo và phá hoại. Theo lịch trình thời gian sẽ học tập, huấn luyện trong vòng 8 tháng. Sau đó sẽ được huấn luyện bổ túc theo yêu cầu của mỗi chuyến công tác khác nhau. Trong thời gian huấn luyện được chia làm 3 giai đoạn:

       Giai đoạn I.

Gồm 6 tuần lễ, chuyên về thể dục, thể thao để thử nghiệm thể lực và sức chịu đựng dẻo dai của mỗi khóa sinh trong môi trường ở rừng núi cũng như ở biển cả. Trong 6 tuần này, có một tuần lễ cuối cùng, được gọi là “tuần lễ địa ngục”. Phải nói rằng gần như 24/24 thời gian của một ngày không được ngủ, nghỉ ngơi.

Huấn luyện viên được chia làm 3 tốp, thay phiên nhau để quần thảo khóa sinh. Họ cũng được chia thành 3 ca, mỗi ca 8 giờ. Không kể ngày hay đêm, bắt khóa sinh phải liên tục chạy, nhẩy, tập tành tối đa. Trong tuần lễ địa ngục này, có rất nhiều khóa sinh bị loại. Nếu khóa sinh nào vượt qua được tuần lễ gắt gao này thì được coi như tạm đủ tiêu chuẩn để tiếp tục theo học giai đoạn II. Tuy vậy, vẫn còn một trường hợp nữa, khóa sinh cũng sẽ bị loại. Nghĩa là, khóa sinh nào đã vượt qua tuần lễ địa ngục, đều phải được thử đeo bình dưỡng khí với một độ áp suất và thời gian nhất định. Nhiều người bị đau màng nhĩ nên cũng bị loại luôn.

       Giai đoạn II.

Gồm tình báo và phá hoại. Huấn luyện viên lẫn lộn Việt và Mỹ. Trong mỗi tuần lễ, dành 2 buổi cho huấn luyện viên Việt Nam, chuyên về tình báo. Tìm hiểu về sự tổ chức của xã hội Cộng Sản miền Bắc Việt Nam, từ nông thôn cho tới thành thị. Nhất là về mạng lưới tổ chức, bố phòng của bọn công an biên phòng dọc theo bờ biển Bắc Việt. Học cách khai thác tin tức từ một người dân thường cho đến một cán bộ nồng cốt của Cộng Sản.

Phần huấn luyện viên Mỹ chuyên về kỹ thuật phá hoại, bắt cóc và cấp cứu từ trong lòng đất địch. Mở đầu huấn luyện, học sử dụng từ súng cá nhân cho đến súng lớn 106mm, mìn và các loại chất nổ. Học cách tự chế biến các kiểu mìn bằng chất nổ theo ý muốn, để phá hoại các mục tiêu ở đất liền cũng như nằm sâu dưới nước. Huấn luyện phương pháp đột nhập, bắt cóc bộ đội, cán bộ hay tự cấp cứu ngay trong đất của kẻ thù. Học sử dụng và bảo trì một số dụng cụ máy móc để phục vụ công tác.

       Giai đoạn III.

Ôn tập lại toàn bộ những điều đã được học từ đầu. Phối hợp, thực tập với bên lực lượng của bạn là Hải Tốc Đĩnh (P.T.F.) là một loại chiến hạm nhỏ chạy với tốc độ khá cao. Giai đoạn này, loại PTF thường xuyên công tác ở hải phận Bắc Việt. Thực tập mang bình dưỡng khí nhảy dù xuống biển theo tọa độ, để lặn tới mục tiêu…

Nói về thời gian và những chi tiết của từng chuyến công tác thì tôi không thể nhớ hết được. Nhưng chắc chắn là không dưới 20 chuyến công tác xâm nhập vào hải phận Bắc Việt kể từ ngày tôi gia nhập lực lượng Người Nhái cho tới chuyến đi định mệnh này. Tôi sẽ kể về một vài chuyến công tác mà tôi nhớ được cho anh nghe. Cái chuyến công tác đầu tiên thì không thể nào tôi có thể quên được. Đó là vào cuối tháng 11 năm 1964.

Tôi được ghép chung với 2 người nữa thành một tổ 3 người. Hai anh này là Zếnh và Minh. Các anh đã đi công tác nhiều lần xâm nhập bờ biển miền Bắc rồi. Ngay trong tháng 6 vừa qua, lúc chúng tôi còn đang dự lớp huấn luyện, hai anh đã được PTF phối hợp đột nhập vào vùng bờ biển Thanh Hóa. Bất ngờ, các anh đã dùng hỏa lực mạnh, tiêu diệt toàn bộ lực lượng dân quân gác chiếc cầu Hổ, rồi đặt chất nổ phá gục chiếc cầu này. Chiếc cầu dài gần 100 mét trên quốc lộ số I thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa.

Chuyến công tác thành công mỹ mãn của hai anh trở về được anh em nồng nhiệt đón chào. Hôm sau, trại mở tiệc mừng, chúng tôi là khóa sinh mới cũng được dự.

Vì là lần đầu, nên tôi được đi với hai anh để học hỏi kinh nghiệm. Nhiệm vụ được giao cho tổ chúng tôi trong chuyến công tác này là phối hợp với PTF xâm nhập vào lãnh hải Bắc Việt. Bắn phá một trạm rada nằm cạnh bờ biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An. Sau đó, PTF sẽ khống chế và yểm trợ để 3 chúng tôi đột nhập bắt một số thủy thủ thuộc các đội đánh cá của tỉnh Thanh Hóa đem về Nam làm tài liệu sống để khai thác một số tin tức về tình báo địa phương.

Khoảng 10 giờ sàng, lúc này mặt trời đã chói chang trên khung trời Đà Nẵng. Chúng tôi gồm 2 chiếc Hải Tốc Đĩnh, nổ mày rời khỏi Đà Thành. Hai chiếc tầu hình con thoi xé nước tiến ra cửa biển hướng về phía Bắc. Nhìn cảnh vật hai bên bờ sông Hàn, tôi có cảm tưởng 2 con tầu như 2 con chó sói đang hồng hộc lướt nhanh trên mặt tuyết bao la để săn đuổi con mồi. Ra đến biển khơi, giữa muôn ngàn lớp sóng bạc đầu, tôi nhìn chiếc PTF đi chéo phía bên; trông nó như bay sát trên ngọn những lớp sóng cồn với tốc độ 30 -40 dặm một giờ. Để tránh rada và tầm nhìn của địch, tầu của chúng tôi đi mãi ngoài khơi cách bờ 50 – 60 cây số.

11 giờ đêm hôm ấy, như vậy chỉ sau 13 tiếng đồng hồ, tầu chúng tôi đã tới mục tiêu. Bất ngờ 2 chiếc PTF bẻ lái tiến vào bờ. Trong đêm tối, khi còn cách giàn rada của địch 3 – 4 trăm mét. Hỏa lực của chúng tôi là những mũi súng 106mm và 20mm, bắt đầu khạc lửa vào mục tiêu. Tuy có vài tràng đại liên bắn trả nhưng chả thấm gì với hỏa lực của tầu chúng tôi. Chỉ 5 phút sau, cả một vòng lửa lớn, đỏ ối, sáng rực đã bao trùm mục tiêu. Trong khi ở ngoài khơi, nhiều chiếc tầu đánh cá của địch nhốn nháo tháo chạy vào phía đất liền.

Do 2 chiếc PTF kèm uy hiếp, một chiếc tầu đánh cá của địch đã chịu trận. Với những thao tác, nhuần nhuyễn chuyên môn, 3 chúng tôi lao nhanh sang tầu đánh cá. Tước hết vũ khí và lần lượt giong họ về tầu của chúng tôi. Họ gồm 9 người, bao gồm cả thuyền trưởng. Để giữ an toàn tuyệt đối, chúng tôi phải trói cả 9 người lại. Trước khi rút lui, chúng tôi không quên dìm con tầu đánh cá của địch xuống đáy biển.

Với thời gian chớp nhoáng, từ lúc bắt đầu nhả đạn vào giàn rada cho tới khi bắt gọn đám thủy thủ của chiếc tầu đánh cá chỉ trong vòng 20 phút. Tôi vẫn không quên được, do cái bản tính tiểu tư sản, quân tử Tầu mà nhiều người trong chúng ta đều có. Khi kẻ địch thất thế bị bắt trong tay mình rồi, tình người của tôi lại trỗi dậy. Trước những bộ mặt tái mét, run rẩy của họ, tôi đã bóc từng múi cam đút vào miệng cho họ vì tay họ bị trói. Tôi đốt từng điếu thuốc, cầm cho từng người hút. Tôi còn nhớ rõ cái ông thuyền trưởng tên là Đán, đã thổn thức, ngập ngừng nói với tôi:         – Anh tử tế quá!

Tóm lại, chuyến công tác buổi đầu của tôi hoàn toàn thành công. Từ năm 1965 trở đi dường như tháng nào tôi cũng có mặt, ít nhất là 3 lần tại bờ biển miền Bắc, từ vĩ tuyến 17 cho đến đảo Bạch Long Vĩ. Thường, thường, với nhiệm vụ phối hơp chặt chẽ với PTF để phong tỏa, bắn phá các mục tiêu quân sự dọc theo bờ biển từ Quảng Bình cho đến Móng Cái. Đôi khi, đổ bộ do thám và dùng chất nổ để phá một số trạm tiếp tế nhiên liệu. đây là những trạm dừng chân, chuyển đổi để địch mang nhiên liệu, tiếp tế vào Nam.

Tôi nhớ một chuyến vào khoảng tháng 5 năm 1965. Toán của tôi gồm 6 người được chỉ định đi công tác, gồm có: Quý, Tăng, Văn, Bằng, Hoa và tôi. Ngay từ tối hôm trước, huấn luyện viên đã thông báo giờ giấc, chúng tôi phải mang đầy đủ vũ khí, quân trang, đồ nghề có mặt tại phòng hành quân. Sau khi nghe thuyết trình xong, chúng tôi được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Chúng tôi được nhận thêm hơn mọi khi 2 cây đại bác không giật 106mm và 6 thùng chất nổ.

Mục đích của chuyến công tác này là phối hợp với PTF nhằm tiêu diệt và bắt sống một số tàu, thuyền. Tin tình báo khai thác được từ những cái lưỡi sống cho biết: Hải quân Việt Cộng đã ngụy trang thành thuyền đánh cá hoặc vận tải để tránh sự oanh kích của không quân Hoa Kỳ. Mặt khác, chúng rình rập ngày đêm để chuyển vũ khí đạn dược vào Nam cho đồng bọn.

Xuất phát điểm cũng từ hải khu Đà Nẵng. Chuyến công tác này của chúng tôi gồm 3 chiếc PTF. Toán tôi được bố trí xuống 2 chiếc, mỗi chiếc 3 người. Còn lại chiếc thứ 3 dành cho người của toán bạn. Tầu rời bến từ lúc giữa trưa, cho đến chiều, chúng tôi đã vượt qua hòn Cơ (tức hòn Cọp). Vào khoảng 12 giờ đêm, chúng tôi được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Chỉ 5 phút sau, chiếc PTF đi đầu đã khai hỏa nổ súng bắn chặn một trong hai chiếc tầu của địch đang mở hết tốc lực, chạy về hướng có tầm hỏa lực yểm trợ của bọn chúng ở trong đất liền đang bắn ra.

Chiếc PTF đi đầu vẫn tiếp tục bám riết, nổ súng truy kích chiếc tầu địch đã trốn thoát vào bờ, đồng thời vẫn làm công tác yểm trợ, cảnh giới để 2 chiếc còn lại khống chế và dùng lao phóng thanh, hướng về chiếc tầu địch đang trong vòng vây ở ngoài khơi. Kêu gọi địch quân hãy bỏ hết vũ khí lên boong tầu và để 2 tay lên đầu. Bọn chúng trong thế cùng đã làm y như vậy, theo lệnh của tiếng loa. Với ngọn đèn pha cực mạnh của 2 chiếc PTF, chúng tôi có thể nhìn rõ từng động tác một của chúng. Văn, Bằng và tôi đang chuẩn bị với tư thế nhẩy sang tầu địch, kiểm soát, bắt tù binh và đặt chất nổ phá tầu. Thình lình, ngay lúc đó, một tia chớp nhoáng lên, xanh cả mặt biển. Một tiếng nổ xé tai gần ngay cạnh chúng tôi, thân tầu của chúng tôi run lên. Biết rằng có phản biến, ngay tức khắc, các họng súng của chúng tôi đồng loạt khạc lửa trùm lên tầu địch. Bọn đứng trên boong, không còn tên nào lọt sổ, ngay sau mấy chục giây đầu tiên. Sau 3 – 4 phút chiến đấu, tầu địch phát nổ tung. Ngọn lửa bốc cao rồi chìm dần, toàn bộ bọn chúng đã bị đền tội.

Phía cúng tôi, trên mỗi chiếc PTF có từ 10 đến 12 người, chỉ có 2 người bị thuơng. Một người, bị đạn làm rách một mảnh đùi, một người bị xước vai, chảy máu do một mảnh kính vỡ của tầu bắn vào. Tầu chúng tôi bị thủng một lỗ, đường kính vở khoảng 12 inches. Phòng rada bị phá hủy, nhưng rất may mắn, 2 buồng đầu lớn nằm sát ngay đấy lại không bị nổ. Lổ thủng ở phía trên mặt nước nên tầu vẫn tiếp túc chạy được. Toàn bộ nhân viên trở về Nam an toàn.

Thấy Chăn nói đã nhiều, phần khác, tôi lại vứa thèm thuốc, lại vừa mót đi tiểu, tôi hất chăn ra, vừa nhỏm dậy vừa quay lại Chăn:      

  – Mình đi giải lao đã, đi đái đi?

Chăn gật đầu rồi lồm cồm bò dậy. Thấy Chăn lúng túng, định với tay lên cái kệ gỗ trên phía đầu sàn để lấy cái quần dài mặc, tôi đẩy tay vào lưng Chăn:

        – Vẽ vời, đây ra nhà cầu, cần gì! Khoác cái chăn cũng được rồi.

Tôi nhìn Chăn đang đứng xuống đất để cuộn cái chăn vào người, vừa gầy, vừa cao nên cái dáng lại càng khều khoào, đôi chân hơi khòng như chân gấu, tôi nói đùa:

       – Chăn lại khoác chăn!

Chăn cười khềnh khệch. Ra đến ngoài mới biết, mặt trời đã lên cao đến 3 con sào. Chắc cũng khoảng 9 rưỡi, 10 giờ rồi. Trở vào buồng, hai anh em rủ nhau lúi húi bắn một điếu thuốc lào cho đời lên hương. Hai đứa lại nằm bên nhau, trong khi còn đang loay hoay hất cái chăn cho kín cả 4 cái chân, tôi chợt nghĩ đến một người, tôi quay lại hỏi Chăn:

        – Này, thế Chăn có biết ông Phan không?

Chăn quay hẳn sang, mở to mắt nhìn tôi, ánh mắt đầy ngạc nhiên như muốn hỏi: “Tại sao tôi lại biết Phan?” Tuy vậy sau một vài giây ngập ngừng, Chăn vẫn trả lời:

– Ồ, ông Phan là người phụ trách chung về tình báo ở Đà Nẵng.

– Chăn có gặp ông ta lần nào không?

– Ông ta có xuống trại mấy lần. Nhóm tôi cũng đã ăn cơm chung với ông ấy một lần.

– Chắc hẳn, bây giờ là thiếu tá rồi?

– Đúng rồi, tuy ông Phan chỉ mặc thường phục, nhưng có lần đại úy Đoàn Hùng phụ trách trại tôi, chào là thiếu tá Phan.

Nghe Chăn trả lời, óc tôi miên man chảy về những cảnh đời ngày xưa đã 9 – 10 năm rồi. Bây giờ Phan là như vậy. Hẳn rằng chẳng có khi nào, Phan còn nhớ lại một thanh niên; trong một chiều mây buồn lãng đãng ở Đà Thành năm xưa, Phan đã tiễn đưa người ấy vào vùng gió xoáy của cuộc đời. Bây giờ người thanh niên ấy còn hay mất, u uất trong đêm dài ra sao? Dòng đời đã khép kín. Đẩy sâu vào hố thẳm của thời gian, Phan đã quên mất rồi. Tôi lắc lắc cái đầu, như muốn vẩy, muốn xua những trong đời không muốn nhớ.

Để góp phần đẩy, xô những hình ảnh làm tím thẫm lòng mình tan vào mây gió, tôi quay sang Chăn nói như giục:

– Bây giờ Chăn cho nghe tiếp chuyến đi định mệnh này đi!

Chăn đang nằm ngửa, mắt trứng trừng nhìn lên những tấm ván của sàn trên. Hình như mắt Chăn đang dõi tìm về một chân trời, có những cảnh đời nhiều hương sắc của mảnh đất Ngũ Hành Sơn. Chăn quay lại nhìn tôi, ngập ngừng một lúc, rồi lại xoay đầu nhìn về chỗ cũ của mấu tấm ván, Chăn tiếp tục:

Ngày mồng 6 tháng 6 năm 66, cái ngày định mệnh cuộc đời của bốn chúng tôi. Chúng tôi gồm: Vòng Hợp Văn, toán phó; Lý Giòng Slau, toán trưởng, Dương Long Sang và tôi là toán viên. Tất cả là 4 người. Chúng tôi được chỉ định đi chuyến công tác này, địa điểm và mục tiêu của công tác, chúng tôi đã đi 2 lần rồi. Để rồi lần này (lần thứ 3) đã đi thẳng một lèo, vào nhà tù của Cộng Sản.

Lần thứ nhất: Tầu chúng tôi đi gần đến điểm đổ bộ thì đột ngột có lệnh của bộ chỉ huy, gọi tầu của chúng tôi phải quay về.

Lần thứ hai:

Cũng gồm 3 tầu PTF. Khi tầu đến điểm đổ bộ, chúng tôi đang chuẩn bị rời tầu để tiến vào mục tiêu thì chiếc tầu của tôi không hiểu vì sao đó, bỗng nhiên bị phát hỏa. Máy móc của tầu không thể sử dụng được nữa. Mục tiêu đổ bộ bị lộ, chúng tôi quyết định phải quay về, hủy bỏ công tác.

Đêm ngày 6/6/66. Chúng tôi lại được chỉ định đi tiếp chuyến cống tác đã phải bỏ dở 2 lần trước. Nhiệm vụ chính của công tác là do thám, quan sát và chụp ảnh một hải cảng mới, thường có tầu của nước ngoài hay ra vào.

Tôi còn nhớ rất rõ, vào một ngày Chủ Nhật, hôm ấy, chúng tôi một nhóm 4 người lái xe sang thành phố Đà Nẵng chơi. Một lúc sau, một anh trung sĩ liên lạ, lái chiếc xe jeep sang tìm chúng tôi về, vì có lệnh cấm trại 100%. Chúng tôi đã từ chối không trở về trại, chỉ vì huấn luyện viên trực tiếp của chúng tôi là ông Brawne đã đi nghỉ mát 2 tuần ở Hồng Kông. Trước khi đi, ông ấy đã căn dặn 2 – 3 lần với chúng tôi: “Trong thời gian tôi đi Hồng Kông, không một ai có thể điều các anh đi bất cứ nơi nào, mà không có sự ủy nhiệm của tôi”. Vì vậy chúng tôi dứt khoát, không về trại.

Đến buổi chiều, lại có 2 người Mỹ cũng đi một chiếc xe jeep, sang gặp chúng tôi. Một trong 2 người này, tôi biết rõ, ông ta làm việc ở bên khu trại Bạch Đằng, Đà Nẵng. Trước đây, ông này thường đi thực tập với tôi. Còn lại người Mỹ kia, rất lạ với chúng tôi. Ông ta tự giới thiệu với chúng tôi, ông ta mới đến đây được 2 ngày; hiện nay, ông là trưởng huấn luyện viên của chúng tôi, thay thế ông Brawne đã trở về Mỹ. Sau đó ông ta nói chuyện với chúng tôi rất là tâm lý. Ông ta nói rằng, trước khi đến gặp chúng tôi, ông ta đã nghiên cứu nhiều lần, rất kỹ về quá trình những công tác của chúng tôi. Ông ta hết sức khen ngợi về những thành tích mà chúng tôi đã tháo vát, linh hoạt, dũng cảm đạt được. Cuối cùng, ông khuyên chúng tôi hãy trở về trại,,, rồi thì sẽ có cuộc họp riêng với ông ta…

Buổi tối hôm ấy, chúng tôi bốn người đuợc gọi lên văn phòng, để gặp cái ông Mỹ đó, người huấn luyện viên mới của chúng tôi. Ông ta tỏ ra là một người khá giầu kinh nghiệm về tâm lý con người. Ông ta khêu gợi lòng ham muốn tang bồng, hồ thỉ của người con trai; đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, dân tộc. Chỉ sau hơn một giờ, ông ta thuyết phục, chúng tôi đã hăm hở, tự nguyện nhận đi công tác, bất cứ khi nào mà kế hoạch yêu cầu.

Ngay từ 7 giờ sáng, ngày 6/6/66, chúng tôi bốn người đều hân hoan chuẩn bị hành trang, vũ khí để đi công tác. Thường ngày, mỗi buổi sáng chúng tôi phải tập thể dục, thể thao và bơi lội một tiếng rưỡi đồng hồ, nhưng hôm đó, chúng tôi không phải tập thể dục theo toán.

Nói là chuẩn bị chứ thật ra, chả có cái quái gì phải chuẩn bị cả, vì rằng công tác đối với chúng tôi đã như cơm bữa rồi. Về tất cả những thứ cần thiết, để đi công tác thì đã có những bộ phận khác lo sẵn. Điều quan trọng nhất của chúng tôi, là ổn thỏa về mặt tinh thần là xong hết. Cũng như mọi khi, chúng tôi rời bến tại hải khu Đà Nẵng, vào lúc gần trưa ngày 6/6/66.

Đoàn tầu gồm 3 chiếc PTF. Trên đường đi đến mục tiêu, bốn anh em chúng tôi đã bàn thảo, sắp xếp và xác định lại một lần nữa, những công việc phải làm, của từng người. Chúng tôi cũng lần lượt kiểm tra lại tất cả những vật dụng, mà chúng tôi cần phải mang theo.

Khoảng 1 giờ sáng, ngày 7/6/66 thì đoàn tầu đã đưa chúng tôi đến điểm đổ bộ. Chuyến công tác này, người trực tiếp đi theo trên Hải Tốc Đĩnh, tiễn đưa chúng tôi là đại úy Đoàn Hùng. Ông này là trưởng trại Mỹ Khê, thuộc sở phòng vệ duyên hải. Trước khi chúng tôi rời tầu mẹ, ông Hùng lần lượt bắt tay từng người của chúng tôi và chúc tụng. Làm sao tôi quên được cái buổi chia tay chẳng muốn nhớ ấy. Theo kế hoạch đã quy định, chúng tôi lợi dụng đêm tối sẽ bí mật bơi vào một khu rừng non an toàn, ở gần ngay bờ biển. Một ngày trời ở đấy, để chúng tôi chụp ảnh những tầu bè của địch ra vào và quan sát, do thám mục tiêu.

1 giờ đểm hôm sau, tầu PTF sẽ lại ra đón chúng tôi, ở ngoài khơi theo những tín hiệu của máy hồng ngoại tuyến. Chính vì vậy nên dại úy Hùng, lúc chia tay đã ân cần hỏi chúng tôi:

– Mai, khi chúng tôi ra đón, các anh cần ăn gì, tôi sẽ mua cho?

Tôi đưa mắt nhìn ông Hùng và những anh còn lại trên chiếc PTF, tâm trạng dửng dưng như một buổi đi thực tập ở trong Nam, vì thế tôi đã vừa cười vừa trả lời. “Có lẽ không cần phải mang thức ăn, chỉ cần mua cho chúng tôi ít cam, hay quít là được rồi”. Tôi có biết đâu rằng, cam hay quít đó, mãi mãi cùng với hình ảnh đại úy Hùng và các anh em còn lại trên tầu, đã và đang lùi dần vào sau cánh cửa đời đã khép kín; bốn chúng tôi đã sang một cảnh đời khác từ đây.

Chúng tôi, bốn người lao mình xuống biển trong màn đêm dầy đặc; nước đang réo lên trong những lớp sóng bạc đầu. Đoàn tầu quay mũi tăng tốc độ, vọt trở về hướng Nam. Âm thanh của những chiếc máy tầu dội lên, nhỏ dần rồi mất hẳn, chỉ còn tiếng ì ầm của sóng biển và những tiếng bơi lội bì bõm của bốn anh em chúng tôi.

Theo tôi ước tính, chậm nhất là 3 giờ sáng, chúng tôi sẽ đến được mục tiêu đã ấn định. Với một khoảng dài trên dưới 1 cây số, thông thường. chỉ cần 1 tiếng đồng hồ là đã tới rồi. Khi còn ở trại, các huấn luyện viên đã chọn những địa điểm tương tự, hoặc khó khăn phức tạp hơn, để cho chúng tôi thực tập đi, thực tập lại rất nhiều lần như vậy rồi. Hôm nay, chúng tôi không dùng bình dưỡng khí, mà chỉ bơi bằng tay, vì phải kéo theo một chiếc thuyền cao su nhỏ để chở theo một số dụng cụ rất là cồng kềnh.

Trong màn đêm đen tối mịt mù, dầy đặc khói sương, chúng tôi cứ bơi mãi. Khi xem đồng hồ thì đã 4 giờ sáng, nghĩa là chúng tôi đã bơi được 3 tiếng đồng hồ rồi, nhưng nhìn về hướng đất liền, trong ánh sáng lờ mờ, chỉ thấy có trời với nuóc. Tuy không nói ra, nhưng trong bụng người nào cũng có phần thấm mệt, đã 3 giờ đồng hồ ngâm dầm ở dưới nước lạnh rồi. Chúng tôi mở hải bàn, xác định lại một lần nữa. Hướng đi và góc độ vẫn chính xác. Tuy lạnh và mệt, chúng tôi vẫn nỗ lực hướng về mục tiêu bơi tiếp.

Gần 5 giờ sáng rồi, mà nhìn về hướng mục tiêu, vẫn chỉ là trời nước bao la. Khi thuyết trình ở phòng hành quân, huấn luyện viên và những người liên hệ, đã cho chúng tôi biết: Điểm từ tầu mẹ vào đến đất liền không quá 800 mét, nên không có lý do gì mà phải mất đến 4 giờ đồng hồ bơi cả. Tay và chân vẫn đều đều những động tác lướt đi trong nước, nhưng nỗi băn khoăn trong lòng chúng tôi càng lúc càng lớn. Nhìn về phía mục tiêu, tuy chưa thấy một hiện tượng gì của đất liền, nhưng về phía tay mặt, thỉnh thoảng có những luồng chớp sáng. Lúc đó, chúng tôi chưa xác định được là cái gì, vì màn đêm vẫn còn quá dầy đặc.

Theo quy định, chúng tôi phải vào đất liền, đến khu an toàn trước khi trời còn mờ sáng, nhưng lúc này chân trời phía Đông đã có mầu sữa đục, mà hướng đất liền vẫn chỉ có nước với trời gắn liền nhau. Đầy hoang mang lo lắng, Lý Giòng Slau quyết định mở máy ra để liên lạ với tầu mẹ, mặc dù có lệnh cấm nghiêm ngặt. Chỉ đến ngày hôm sau, khi tầu đến đón trong giờ quy định mới được mở máy ra liên lạc mà thôi. Sở chỉ huy cho rằng, nếu mở máy liên lạc, rất dễ bị địch phát hiện bằng máy kiểm thính. Nhưng Slau loay hoay mãi, không hiểu vì lý do gì, do nước biển hay trục trặc về kỹ thuật, máy cũng không liên lạc được.

Đã gần 6 giờ sáng rồi, chúng tôi đã thất vọng hoàn toàn, vì trời đã sáng dần mà chúng tôi vẫn cách bờ khoảng chừng 600 mét. Vừa lạnh, vừa mệt rã rời nhưng chúng tôi vẫn động viên nhau tiếp tục bơi vào. Theo không ảnh mà chúng tôi đã được nghiên cứu thì nơi chúng tôi đến là chỗ không có người, nếu có chăng nữa củng chỉ họa hoằn một vài người đi làm rừng đốt than mà thôi. Đến khoảng 6 giờ 30, nhìn vào phía bờ cảnh, vật đã hiện lên lờ mờ, thậm chí chúng tôi đã nhìn thấy cả những bóng người di chuyển. Tuy chẳng ai nói với ai nhưng đều hiểu cuộc đời chúng tôi đã trôi, chuyển sang chỗ đen tối, tàn lụi. Chúng tôi cấp tốc quyết định phá hủy toàn bộ máy móc và lưới rada chở trên thuyền cao su, đồng thời cho nổ luôn cả chiếc thuyền chìm xuống đại đương.

Lúc này gió rất mạnh và cũng có thể vì gần bờ biển nên sóng càng lớn, Văn và Slau bị sóng đánh tôi dạt về phía Nam., còn tôi và Sang cứ bơi thẳng theo tọa độ vào bờ. Dù tiếng ầm ào của sóng biển, chúng tôi cũng đã nghe thấy tiếng quát tháo, hò hét ở trong phía bờ. Mặt trời vừa chui lên khỏi mặt nước làm cảnh vật sáng hồng lên nhưng lòng chúng tôi đã đen thẫm lại khi 2 chiếc tầu tuần của công an biên phòng Thanh Hóa bắt cách bờ khoảng 200 mét vào lúc 7 giờ sáng.

Khi tôi bị đưa lên bờ, lố nhố đầy người, bộ đội, du kích, súng ống, gậy gộc, họ cứ nhao nhao lên hò hét chửi bới. Chỉ 15 phút sau, qua những tiếng hò hét của họ, chúng tôi cũng đã biết Văn và Slau cũng đã bị tầu tuần của công an biên phòng Nghệ An bắt rồi, vì chỗ đó là giáp giới của 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An.

Vào bờ, lúc này chúng tôi chưa bị bịt mắt và đánh đập, tôi xác định được vị trí chúng tôi đổ bộ bị sai khoảng từ 5 tới 7 cây số so với không ảnh mà chúng tôi đã được nghiên cứu. Mặt khác, theo như thuyết trình ở phòng hành quân đã quy định, điểm rời tầu mẹ đến đất liền khoảng cách từ 800 mét cho đến 1000 mét. Nhưng điều đau lòng là thực tế nó đã xa bờ từ 4000 cho đến 5000 mét. Chăn vừa nói đến đây thì ngoài cổng trại đã có tiếng ầm ầm, vì các toán đã về, tôi chỉ kịp đập nhẹ vào tay Chăn:

– Để dịp khác tiếp tục nhé!

Rồi vội vàng tôi trèo lên sàn, về chỗ nằm đắp chăn….

24/8/1990


Chú thích: Hiện nay Lầu Chí Chăn, Trịnh Văn Truyện, Nguyễn Cao Sơn, Hoàng Dụ (Tarzan)… đã có mặt tại Mỹ.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 26 oct 2023

Ai đã cho Shihanouk ăn …cứt gà sáp?

Đặng Chí Bình

Bài 48

Hôm nay, toán 2 đi lao động ở lán mộc thủ công về, vừa vào đến cổng trại đã nghe thấy tiếng loa oang oang, làm cho mặt ai cũng tươi tỉnh hẳn lên. Nhìn thái độ phấn chấn của mọi người, vừa đi về buồng tôi vừa suy nghĩ. Tâm lý con người thật cũng kỳ lạ! Trước đây, tiếng loa cứ nheo nhéo suốt ngày đêm, thì ai cũng đau đầu, nhức óc, chửi nó là “con mẹ chửi thuê đầu đường, xó chợ”. Vậy mà bẵng đi không có nó, lại thắc mắc, lại mong. Lòng con người thật cũng khó mà chiều!

Từ mấy ngày trước, có mấy người thợ điện của trại vào mắc hệ thống dây và loa cho các buồng. Nhớ đến Phan Thanh Vân, tôi hỏi thăm mấy anh thợ điện. Khi nghe tôi hỏi, mặt anh nào cũng ngơ ngác, rồi như chợt nhớ ra, một anh đã trả lời lấp lửng: “Hình như Phan Thanh Vân đã được chuyển về Hà Nội gần một năm nay rồi, chúng tôi là những người mới, nên không biết rõ”. Thấy họ không biết gì hơn, tôi không hỏi nữa. Lòng tôi cũng thấy vui vui vì đường đi của Vân càng ngày, càng mở rộng mở.

Thảo nào mà chúng mắc đài, mắc dây rối rít cả lên. Dù chúng tôi chẳng còn lạ quái gì nữa, vậy mà vẫn phải nói. Hể khi nào chúng bắt tù nghe đài, đọc báo là tình hình có lợi cho chúng. Còn khi nào đài bị hư, báo bị nghẽn đường v.v… là phải hiểu, chúng đang bị khốn đốn, tình hình đang bất lợi cho chúng. Đài cứ ra rả sáng, trưa, chiều, tối, chúng chưởi bới Nixon là con diều hâu. Về hội nghị Paris. Chúng chửi Nixon và Thiệu ngu xuẩn và ngoan cố. Chúng sẽ tăng cường sức mạnh để đè bẹp sự ngoan cố, thực dân của Mỹ v.v… Nhân dân thế giới đang sôi nổi ủng hộ chúng. Nhân dân Mỹ phản chiến chống chính phủ Mỹ. Đặc biệt nhất, chúng làm rùm beng nhất là một chiến dịch to lớn quy mô chào mừng hội nghị nhân dân Đông Dương 3 nước Việt, Miên, Lào.

Anh chàng Shihanouk đã bạc đầu ra rồi, mà vẫn hí hửng nhai cứt gà sáp của Cộng Sản. Tôi vẫn hiểu rằng, trước đây, bây giờ và sau này còn nhiều người to đầu, tài ba nửa mà vẫn nhai cứt gà sáp của Cộng Sản huống gì Shihanouk. Cái điều đáng nói là người nào tỉnh sớm và người nào tỉnh muộn mà thôi. Nhưng hầu hết, hoặc đại đa số, khi còn khẩu súng trong tay, khi còn nhiều của cải, sức mạnh đầy đủ, khi còn phây phây, nhởn nhơ ở một nước tự do thì không bao giờ tỉnh. Lúc đó ai cũng nhìn thấy Cộng Sản là một người đạo mạo, hiền từ, yêu chuộng hòa bình trên hết, chỉ chiến đấu cho công bằng và tình người. Chỉ khi nào, ai đó không còn những cái ưu thế ở trên, bấy giờ mới nhìn thấy bộ mặt thực của Cộng Sản là một con quỷ có ngà. Bạn còn vũ khí trong tay, bạn có thể bắn chết nó thì hãy tin chắc chắn không bao giờ Cộng Sản làm mất lòng bạn, chúng sẽ tìm mọi cách ve vãn, nào là hòa bình, tình người, hữu nghị, làm sao cho bạn lỏng tay súng, thậm chí cất súng, bẻ súng đi. Lúc đó, bạn sẽ bắt đầu hiểu Cộng Sản, mà mỗi khi hiểu thì thường thường đã muộn.

Sáng hôm nay, nhìn tấm ảnh to tướng ngay ở trang nhất tờ báo Nhân Dân, thấy Shihanouk và vợ (bà hoàng Monic) mặt hớn hở, tươi như hoa, đứng bên cạnh Tôn Đức Thắng và Phạm Văn Đồng. Tôi cầm tờ báo trầm ngâm, nhìn tấm hình, dòng tư tưởng của tôi cứ trào lên vơi đầy. Tôi đặt giả thuyết: Những người này, đang hớn hở, ca tụng nhau đây. Nhưng nếu Shihanouk và Monic được toàn quyền quyết định số phận của Tôn và Đồng, tôi tin chắc rằng họ chỉ muốn Thắng và Đồng là bạn, sống thân thiện hòa bình. Ngược lại, nếu Thắng và Đồng được toàn quyền quyết định số phận của vợ chồng ông hoàng Shihanouk, chắc chắn, đôi vợ chồng này phải đi cải tạo, mỗi người mỗi nơi. Vì mục tiêu của Cộng Sản là tiêu điệt các tư tưởng, mọi quan điểm không là Cộng Sản (phi vô sản) nhất là tư tưởng phong kiến, muốn cưỡi cổ nhiều người của mấy ông hoàng bà chúa này.

Khác nhau một trời, một vực như vậy đấy! Shihanouk có hiểu như thế không? Khi Cộng Sản cần ai thì chúng nâng người đó lên tận mây xanh. Shihanouk đến Hà Nội, chúng đón rước như một ông thánh. Chúng trải nhung dọc đường phố trước chủ tịch phủ để Shihanouk đi. Đài, loa ngày đêm ra rả ca bài hát “Nhân Dân Đông Dương” mà chúng bốc thơm rằng đây là nhạc và lời của thái tử Shihanouk, chúng ta dịch sang Việt ngữ. Cả nước, ngoài xã hội cũng như trong tù, mọi người phải tập hát thuộc như bài ca “giải phóng miền Nam”.

Mỗi toán đi lao động, đều cử một người biết nhạc ở lại trại, để cán bộ văn nghệ trại phổ biết và tập cho hát ở hội trường. Tối về anh đó lại dậy cho toàn thể toán của mình.

Chuyện hát xướng ở trong tù của Cộng Sản là thường xuyên. Đây là nỗi ấm ức, khổ tâm của nhiều người. Ai cũng thấy, chúng nó đang bắt mình, giam mình ở trong tù, chúng coi mình là kẻ tử thù đối kháng, mà chúng vẫn tuyên bố công khai là phải tiêu diệt. Vậy mà hàng ngày phải ngồi ca vang những bài hát ca tụng đảng và bác, mạt sát, chửi bới chính ngay mình. Nếu ai chỉ cần có ý thức một chút thôi, cũng thấy ngượng mồm. Chính vì cái oái ăm, ngược xuôi trong lòng như thế, nên nhiều người mỗi khi phải hát tập thể, ngồi cứ cúi gằm mặt xuống, không chịu hát. Nhưng rồi đâu có yên được. Tên cán bộ phụ trách đứng nhìn, quan sát từng người và bị chỉ đích danh như: Lê Liễu, Quốc Anh, bác Tiến đã bị chúng nạt nộ, hạch hỏi, quy cho là còn tư tưởng phản kháng ở trong máu, trong xương. Cho nên bất kỳ ai, dù không hát cũng phải há mồm, nhóp nhép như mọi người mới yên.

Nhưng phải thừa nhận, cái phương pháp bắt người ta hát mãi một bài. Trên loa, trên đài, mọi người chung quanh đều hát, cứ nghe đi nghe lại cái bản hát đó, lời ca, ý nhạc, nó ngấm, nó luồn, nó lách vào trong lòng mình lúc nào không hay.

Tôi phản ứng từ ý thức, dứt khoát không bao giờ chịu hát hay học những bài ca chó chết đó, nếu chúng nó không bắt tôi phải đứng hát một mình hay hai người. Mà lại chả bao giờ có cái cảnh 1 hay 2 người hát, vì tôi có phải làm văn nghệ đâu, cho nên, hầu như rất ít khi tôi hát những bài ca đó thành lời. Thế mà, sau này tôi thuộc đến gần chục bài hát của Cộng Sản. Để đến nỗi, ở một lúc nào đó, mỗi khi thấy lòng diệu vợi, bâng khuâng, miệng bộc phát lên mấy lời ca ông ổng. Thì lại là lời ca, tiếng nhạc của Cộng Sản. Đã rất nhiều lần, khi óc tôi đang nghĩ một chuyện khác của cuộc đời, tự nhiên tôi hứng tình, hát vang một lời ca trong một bản nhạc nào đó; dân dần hát đến chỗ “diệt đế quốc Mỹ, diệt lũ tay sai bán nước”, hoặc lại “Hồ Chí Minh muôn năm” thì óc tôi chợt mới tỉnh, tôi vội bẻ quẹo sang một điệu nhạc, lời ca của miền Nam thân yêu. Tôi vẫn bị vấp như vậy nhiều lần. Thế mới kinh khủng chứ!

Ngay như bài ca “Nhân Dân Đông Dương”. Sau đến hơn 20 năm mà tôi vẫn có thể nhớ ra được một đoạn: “Ta hát bài ca, đi lên chúng ta bên nhau Việt, Lào, Khme anh em. Cùng chung dòng sông…Mêkông đắp xây mối tình…kết đoàn chống kẻ thù chung. Hôm nay đánh Mỹ…sát vai cùng nhau đấu tranh…Ta nguyền đồng tâm gìn giữ núi sông…Chung xây hòa bình … giữ gìn đất nước chúng ta…Sáng tươi dưới trời tự do…”.

Nó dễ thuộc, dễ nhớ mãi không quên như bài “Giải Phóng Miền Nam” của chúng vậy. Bài “giải phóng” này do Huỳnh Minh Siêng, mà Siêng lại là Lưu Hữu Phước, tác giả bài “Tiếng Gọi Sinh Viên”, sau được đổi thành bài Quốc Ca kính yêu của chúng ta. Bởi vậy, tôi tin rằng: bài “Nhân Dân Đông Dương” là của Lưu Hữu Phước rồi Cộng Sản gán cho Shihanouk, vừa để đề cao bốc thơm, lấy lòng y, lại vừa có ý nghĩa chính trị nữa.

Đã lâu lắm, từ ngày chuyển ra trại này, do những kéo lôi của nhiều khía cạnh trong cuộc sống tù, tôi chưa hề nghỉ một ngày bệnh nào. Vả lại hôm qua, nhờ ông Tụ, tôi đã mượn được cuốn “Tư Bản Luận” của Marx cho nên sáng nay tôi quyết định xin nghỉ ốm một ngày để đọc cho đã.

Vấn đề nghỉ ốm trong toán cũng thật là tế nhị. Do cái tỷ lệ 2 phần trăm quái ác, chẳng biết có từ bao giờ, vì thế toán nào, hàng ngày cũng chỉ được nghỉ từ 1 đến 2 người là cùng. Bởi vậy phải biết nhìn nhau mà xin nghỉ ốm. Trừ những người bị ốm nặng đặc biệt không kể, hoặc những tai nạn đột xuất. Cho nên, cứ trung bình một tháng rưỡi nghỉ một lần là biết điều. Anh nghỉ rồi còn cho người khác nghỉ nữa chứ! Anh nghỉ hôm nay rồi, mai lại xin nghỉ nữa thì ngay y tá trại cũng không cho anh nghỉ rồi, huống chi còn ở toán nữa. Anh muốn nghỉ bệnh, ngay lúc kẻng báo thức 5 giờ, phải đến chỗ toán trưởng báo cáo, xin ghi tên vào sổ khám bệnh. Người xin ghi tên thường phải báo cáo to để cả buồng cùng nghe; để người khác định nghỉ thì tự thôi để ngày khác.

Sau đó, người xin nghỉ nhờ người khác đặt rổ hay bát lấy bữa sáng dùm rồi cầm cuốn sổ, có toán trưởng đã ghi tên mình, chờ cán bộ vào điểm xong, hộc tốc chạy xuống phòng y tá ở dưới khu nhà bếp để đặt lấy chỗ, đợi cho tới khi y tá gọi tên toán mình vào khám bịnh. Nếu như vì lý do nào đấy y tế không cho nghỉ thì vội vàng về mà ăn sáng, còn xếp hàng theo toán đi lao động.

Cuộc đời mà, bất cứ ở đâu cũng vậy. Nguyên tắc là như thế, nhưng nó vẫn có luật trừ. Chẳng bao giờ có sự công bằng theo đúng nghĩa cả. Vẫn có cái cảnh người thì ăn không hết, người lần không ra. Khi tôi cầm cuốn sổ chạy xuống tới phòng y tế, thì đã có hàng 30 – 40 người ở mảnh sân con xếp hàng, đang chờ sát cạnh phòng y tế. Hình sự lẫn chính trị, kẻ đứng người ngồi; người khoác chăn, người quấn áo. Sau khi tôi đặt sổ xong, cũng ra tìm một chỗ ngồi chờ. Tôi đang lơ đãng đưa mắt nhìn những hàng cây trên chỏm đồi phía bên kia vẫn còn rúc đầu vào đám sương sớm thì tiếng quát tháo trong phòng y tế làm tôi tiến lại nhìn vào. Không ngờ, y ta lại vẫn chính là tên Thái từ trong trại E. Một bác già, hình như ở toán 6 bên khu chính trị đang nhăn nhó, nằn nì với y xin cho nghỉ vì bác bị đi ỉa chảy suốt đêm qua. Tiếng Thái đanh đanh:

– Tôi nói, không được là không đuợc. Đây chỉ là xáo trộn của bộ tiêu hóa, về uống ít nước đi là khỏi!

Bác già cuốn sổ đi ra, mặt nhăn như bị. Lại một cậu hình sự chừng 21 – 22 tuổi. Hai chân lều khều như chân con hạc, khoác chiếc chăn rách, cứ van xin y cho nghỉ, vì cậu ta bị sốt cả đêm qua. Tiếng Thái gắt gỏng:

– Cặp nhiệt không lên, về đi làm!

Đến lượt toán 2, tôi tiến vào. Thái, ngửng lên thấy tôi, đã vồn vã thăm hỏi. Khi biết tôi không có bịnh gì, mà chỉ mệt, muốn xin nghỉ một ngày. Y đon đả bắt tay, bảo tôi về nhà nghỉ đi. Khi tôi ra tới cửa buồng, y còn ghé tai nói nhỏ:

– Nếu mai anh còn mệt, muốn nghỉ nữa thì cứ ghi tên vào sổ bệnh, mà không cần phải xuống nữa.

Tôi cảm ơn và chào y ra về. Dòng liên tưởng của tôi cứ cuộn vào trong óc, hẳn rằng Thái chưa quên được trận tôi đánh tên Tân trật tự ở trại E và thái độ của Hoàng Thanh đối xử với tôi. Một tiếng thở dài mà tôi cố nén lại cứ rỉ dần ra. Đời là thế! Người ta làm cách mạng, người ta đi chiến đấu để đòi hỏi sự công bằng cho xã hội. Nhưng người ta lại không làm cách mạng, không chiến đấu với sự bất công ngay trong lòng của chính mỗi người. Bởi vậy, sự bất công trong xã hội loài người cứ còn tồn tại mãi mãi; mặc dù rồi đây còn nhiều thế hệ khác sẽ vẫn còn chiến đấu với sự bất công của con người.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 26 Oct 2023

Một chuyện tình hi hữu

Đặng Chí Bình

Bài 47

Chả biết Gôm xoay xở quan hệ sao đó, quen được với anh Khuê là thư ký nhà bếp. Nghe đâu 2 người cùng ở Hà Nội. lại đã biết nhau từ khi chưa đi tù. Chính vì thế Gôm biết được một câu chuyện tình đặc biệt ở dưới khu nhà bếp. Tối hôm qua, trước khi Gôm kể lại cho tôi nghe câu chuyện đó, Gôm đã hỏi tôi:

– Anh Bình có còn nhớ, hơn 2 tháng trước, cái nhà hủi ở khu cách ly phía cuối trại bị cháy không?

Tôi vừa cười, vừa nhìn Gôm, chưa hiểu mục đích của Gôm định nói cái gì, vì vậy, tôi vẫn trả lời thăm dò:

– Anh chàng Lộc hủi trốn tù chứ gì?

Gôm trề môi xuống:

– Đấy, đấy…Câu chuyện tình bắt đầu từ đấy đấy!

Tôi buồn cười vì anh chàng này dùng nhiều chữ “đấy” quá. Đời tù khô khan như nằm trên nồi rang, tôi cũng muốn nghe một câu chuyện tình cho đời thêm âm ẩm lại. Hơn nữa, câu chuyện tình này lại ở ngay dưới nhà bếp, vì vậy, tôi háo hức giục Gôm:

– Bạn cứ kể đi, khỏi cần phải mở đề nữa!

Nhìn anh chàng Gôm cứ mó cái này, xếp cái kia, tôi nóng cả tiết. Tôi biết tính anh chàng ngày là như vậy. Cứ gợi một câu chuyện, cho đến khi nào người ta thích nghe là anh chàng bắt dầu khệnh khạng, làm điệu. Biết tỏng như thế, nên tôi đứng dậy định trèo xuống sàn:

– Thôi, tôi đi về chỗ đọc sách!

Gôm vồ cả 2 tay kéo tôi lại, miệng hềnh hệch:

– Thôi mà, xin huynh đừng nổi giận hết cả đẹp trai đi!

Tôi ngồi lại mà niềm thích thú cứ rung mãi ở trong bụng. Nếu Gôm biết rằng, Gôm chẳng kéo lại thì tôi cũng ở lại, để giục Gôm kể câu chuyện tình ở trong tù ấy bằng đuợc. Gôm đã kể nội dung câu chuyện tình đó như sau:

Anh chàng Lộc này, chả biết bị cái tội gì bên phía hình sự. Anh ta bị bắt vào tù từ khi nào, vì sao anh ta bị hủi và cũng hủi từ bao giờ thì cũng chả ai tìm hiểu, vả lại cũng không có điều kiện. Chỉ biết khi trại này xây dựng lại. Mãi phía cuối trại, cách nhà bếp khoảng 50 mét, có một căn nhà con, chung quanh có rào nứa che kín. Đấy là khu cách ly của người hủi. Nhà bếp hàng ngày vẫn đưa một suất cơm, thường đặt ở cổng hàng rào. Bệnh hủi đã ăn cụt của anh ta hết 3 ngón chân và một góc tai bên phải. Anh chừng 24 hay 25 tuổi. Có lẽ vì con hủi nên da mặt anh ta rất hồng hào, sáng sủa. Một mình anh sống đơn độc trong căn nhà hoang vắng đó với căn bệnh quái ác của cuộc đời.

Chẳng biết ai cho hay anh kiếm ở đâu và tự bao giờ, một cuốn thơ của Hàn Mạc Tử. Lúc nào cũng thấy anh cầm ở tay. Có lẽ vì dồng căn bệnh nên cùng một niềm u uất, cấu, xé tim gan, anh đã gửi, buộc hồn anh vào những vần thơ ngâm, dầm trong máu của Hàn Mạc Tử? Rồi chẳng biết, anh có những tính toán sao đó về cuộc đời của anh. Một đêm anh đã đốt căn nhà cách ly với loài người đó của anh. Lợi dụng đêm tối và lúc tụi cán bộ đang hỗn loạn chữa cháy, anh đã trèo qua tường trại để trốn. Nhưng chỉ 15 phút sau, anh đã bị trói gô, giong về trại, đưa ngay vào nhà kỷ luật.

Thời gian ở nhà kỷ luật này, duyên đời lúc nào cũng bay bổng khắp đó đây của đất trời, đã đến với anh. Trong trại nữ, nhà kỷ luật đang sửa lại, nên có một nữ tướng đấm, đá Hồng Đào bị giong ra, nhờ kỷ luật ở trại chính; vì tội đã đánh bị thương nặng một đồng phạm.

Trong nhà kỷ luật, do những buổi ra ăn cơm nước gặp nhau, rồi do nhưng sợ tơ đời nối duyên, Hồng Đào và Lộc hủi đã nhìn nhau mà say đắm. Tình yêu trong sáng thì không phân biệt tuổi tác, giầu nghèo, sang, hèn và xấu, đẹp, chỉ đơn thuần là tiếng nói của hai trái tim; nó độc lập với ngoại cảnh. Tình yêu có tính toán một ít, thì vẩn đục một ít; tính toán nhiều thì vẩn đục nhiều. Có phải ai trong cuộc đời này cũng được hưởng cái tình yêu kỳ diệu nguyên thủy đó đâu?

Có lẽ, ai cũng phải nghĩ đến cái nỗi thuơng đau, niềm bất hạnh của một kiếp người mang cái bệnh hủi. Cho nên, anh chàng Lộc hủi bất hạnh nhưng được cuộc đời thuơng. Chỉ sau nửa tháng vào nhà kỷ luật, cán bộ đã tha cùm. Trong khi chờ nhà cách ly làm lại, Lộc hủi cứ ở trong nhà kỷ luật, nhưng không còn là một người bị kỷ luật nữa. Vì vậy một đêm, do những sợi dây tơ đồng, anh đã dũng cảm trèo tường sang chỗ Hồng Đào bị cùm. Rồi những buộc, nén, gò ép của cảnh đời tù đã mau chóng tạo lên một cuộc mưa gió trên ngọn sầu đông. Đường đi quen lối, cứ như vậy tiếp diễn hàng đêm. Trong cái chỗ cùng khổ, đen tối của cuộc đời vẫn có thể nở những bông hoa hạnh phúc ngất ngây của loài người. Hỏi rằng trên cỗ long sàng của bậc đế vương với chỗ ngục tối, người bị hủi, người bị cùm, ai đã mê dại đã đầy hơn ai? Âu, đây cũng là một sự sắp xếp, an bài kỳ diệu của tạo hóa. Sự sung sướng và khổ đau, ai cũng được hưởng bằng nhau trong cuộc đời!

Nửa tháng, Hồng Đào kết hạn kỷ luật trở về trại nữ. Nhưng cũng chỉ hơn nửa tháng sau Hồng Đào lại bị kỷ luật, để phải trở lại nhà kỷ luật của K1. Đối với mọi người đó là căn nhà kỷ luật, nhưng đối với Hồng Đào và Lộc hủi thì đó lại là căn nhà hạnh phúc. Cứ như vậy, dòng thời gian quấn quít, ôm chặt cuộc tình cho đến lần thứ 3 Hồng Đào lại bị đi kỷ luật nữa. Nếu cuộc đời cứ trôi đều đi như vậy thì quả là không còn thi vị, mà cuộc đời thực tế lại đầy thi vị cho nên nó đã chẳng trôi đều. Chỉ vì nó không trôi đều nên cuộc đời mới biết câu chuyện tình hi hữu ấy. Nếu không, chỉ giữa hai người thì có trời mới biết mà thôi.

Tên Tập cán bộ giáo dục đã đặt vấn đề. Khi đặt vấn đề, thì y phải để ý theo dõi, rình mò. Mà đã rình thì phải bắt được cả đôi chim đang đu đưa trên ngọn cây sầu đông. Khi đó Hồng Đào có thai hơn 2 tháng. Bắt được như vậy, ban giám thị giận lắm, nhưng không thể kỷ luật Hồng Đào được nữa mà bắt về trại nữ. Để cho Hồng Đào ôm trọn một khối tình, có xuống tuyền đài vẫn chưa tan. Hiện giờ Lộc hủi vẫn còn đang nằm trong nhà kỷ luật.

Gôm đã ngừng kể một lúc rồi, mà tôi và Gôm vẫn cứ ngồi im. Hình như lòng mỗi người đang lắng đọng vào cái nỗi đầy vơi, bồng bềnh của cuộc đời.

Trưa hôm nay, tôi vừa nói chuyện với anh Thành tôi vừa lục tìm trong cái thư viện con con của trại trung ương số I. Tôi cố gạn lọc, may ra còn cuốn nào có thể tạm xem được. Móc ở mãi trong kẽ của một ngăn tủ sách, thấy một cuốn sách mỏng bìa bọc bằng một miếng giấy xi măng đã cũ. Nhan đề của cuốn sách viết dài thoòng: Những Phong Trào Văn Hóa Đấu Tranh Chống Thực Dân Pháp Trước Cách Mạng Tháng Tám. Viết theo dạng hồi ký. Tôi lần dở một vài trang, chợt tôi nhìn thấy một tấm hình chụp 5 người. Tấm hình có chú thích phía dưới: Ban chủ trương, biên tập của tờ báo “Le travail” ở Hà Nội. Tấm hình chụp ngay trước cửa tòa báo.

4 người biên tập viên là: Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thái Mai và Phạm Văn Đồng. Chủ nhiệm là ông Nguyễn Văn Tiến.

Nhìn thấy tấm ảnh bác Tiến, tôi bỏ cả cuộc nói chuyện với anh Thành coi thư viện. Tôi mượn cuốn sách chạy về buồng. Bác Tiến còn đang lục đục ở ngoài nhà ăn. Vui mừng như năm ngoái nghe tin Hồ Chí Minh hộc máu ra chết, tôi rối rít khoe:

– Bác ơi! Có ảnh của bác chụp trước tòa báo Le Travail đây này!

Mặt bác Tiến tươi hẳn lên, quay lại, trong khi bác còn cho tay vào túi áo móc cái kính ra, tôi cứ líu lo:

– Có cả Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu nữa bác à!

Một số người, trong đó có cả 3 anh tu sĩ là: Sĩ An, Quốc Anh và Phùng Văn Tại cũng xô đến mà coi. Qua bức hình này, bác Tiến càng được anh em kính nể hơn. Ngược lại, những tên cán bộ, nhất là tên Đức, thiếu úy trưởng ban giáo dục. Hễ khi nào thấy bác, chúng lại sai bảo, hành hạ chơi, coi như một cái thú vui của chúng.

Sáng hôm qua, buổi gần trưa, lúc trại đi lao động về, có một nhóm 4 người tù mới. Nghe đâu thuộc Biệt Hải, Người Nhái vừa chuyển từ trại Thanh Liệt đến. Trông 4 người tuy xanh xao gầy guộc nhưng đều cao lớn. Họ đều còn trẻ cả, chỉ trong khoảng từ 24 đến 27 tuổi là cùng. Buổi chiều, một anh được phân về toán xẻ là Lý Giồng Slau, còn lại là 2 anh phân về toán 2 là: Lầu Chí Chăn, Dương Long Sang và Vòng Hợp Văn. Cả 4 anh đều là gốc Tầu, quốc tịch Việt. Nghe Nguyễn Văn Gôm kể lại, các anh đều ở bên Chợ Lớn.

Sở dĩ tôi nghe Gôm và Trần Như kể lại loáng thoáng như vậy chỉ vì tôi chưa vội vàng, vồ vập buổi đầu. Mặc dù trong lòng tôi cũng đang ngứa ngáy muốn biết những tình tiết, nội vụ của nhóm Người Nhái này. Cũng chính vì cái nhóm Người Nhái này đến trại ngày hôm qua, chiều nay ở chỗ nhà ăn trong lúc chờ tên cán bộ trực trại vào “cho gà vào chuồng”; bác Tiến, Gôm, Nhu và tôi hãy ngồi tán chuyện gẫu. Gôm, Nhu và bác Tiến hẳn từ lâu đã được nghe nhiều do chính những người biệt kích, gián điệp trong Nam ra kể sơ lược lại về bản thân mỗi người. Chính quyền miền Nam huấn luyện biệt kích, gián điệp rồi tung ra miền Bắc ra sao, họ đều đã có những cái nhận định chung, nhưng hôm nay họ lại đem vấn đề đó ra hỏi lại tôi.

Lòng người dân miền Bắc, như tôi đã trình bầy trước đây, khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lũ tướng, tá đảo chính hồi cuối năm 1963, họ vẫn hướng về mảnh đất phía Nam của tổ quốc. Nhất là những người đã phải vào tù, những lúc lòng họ tím thẫm, tối đen nhất, họ lại hướng về miền Nam, mong mỏi nhìn thấy một nguồn tia sáng hy vọng, hòng giải thoát cái cảnh đời ngục tù của họ.

Bởi thế, khi ở trong tù họ lại được gặp chính những người miền Nam ra Bắc để hoạt động chống Cộng Sản, hầu hết họ đều tò mò muốn tìm hiểu về miền Nam, nơi mà lòng họ vẫn và đang ngưỡng vọng trong mỏi mòn. Tóm lại họ đã hỏi tôi như sau:

– Các anh, dù là biệt kích, biệt hải, lôi hổ hay gián điệp, chúng tôi thấy các anh được đào tạo rất công phu, được trang bị đầy đủ đến chân răng, kẽ tóc. Nhưng có một điểm quan trọng bậc nhất là các anh không được trang bị về tư tưởng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt, tùy tiện mà thôi. Có phải thế không?

Trước mặt tôi, tuy họ không nói thẳng ra, nhưng tôi hiểu trong lòng của họ muốn nói tư tưởng ở đây là “Lý tưởng và lòng căm thù giặc”. Tôi hiểu đây là một cái lỗi, chẳng phải của riêng ai, mà nó đã nằm sẵn trong cái đáy của cái xã hội của những nước tư bản rồi, nghĩa là ngay từ nước Mỹ chứ không phải chỉ ở miền Nam Việt Nam. Do lòng tự mãn tin vào vũ khí và sức mạnh của tiền bạc nên đã coi nhẹ cái khâu tinh thần này. Thậm chí, hầu hết đều mang một quan điểm, cứ để tùy tiện lòng của mỗi người đối với kẻ thù. Tôi cứ cấp súng, giao tiền cho anh để anh đi đánh Cộng Sản. Nếu gia đình anh có nợ máu với Cộng Sản thi anh đánh hăng, nếu không, anh có đánh kẻ hời hợt thì cũng tùy anh.

Chính ngay bản thân tôi, cũng ấm ức cái thắc mắc này. Tôi nhìn chung, bao nhiêu toán biệt kích đi ra miền Bắc, đa số đã vào trại giam miền Bắc, nếu không nói là còn cao hơn nữa. Thậm chí cứ gửi toán này ra, bị mất tích, lại gửi toán khác ra, lại cũng biệt tăm. Vậy mà sau đó vẫn cứ gửi tiếp. Nỗi ấm ức này đã thúc hối tôi cũng đi phỏng vấn đủ thành phần, từ trong Nam xâm nhập vào miền Bắc để hoạt động chống Cộng Sản. Để rồi, tôi được nghe người ta giải thích như một giai thoại nghe mà cười méo cả miệng thế này. Ngay từ khi còn ở các trại Long Thành (Bà Rịa), Mỹ Khê, Sơn Trà (Đà Nẵng) cũng đã có nhiều anh em thắc mắc. Anh em thấy toán nào ra đi cũng thường không về, mà bây giờ đến lần họ lại phải ra đi, cho nên họ đã hỏi thẳng ngay những cố vấn Mỹ này cởi vòng xoắn đó như sau: “Các anh cứ yên tâm ra đi, nếu có bị bắt cũng không sao. Chỉ cần các anh cố giữ lấy cái đầu (nghĩa là đừng chết). Chúng tôi muốn gửi các anh ra đó, để Cộng Sản huấn luyện tư tưởng cho các anh. Sau này tư tưởng của các anh sẽ được tôi luyện già dặn, trở thành sắt thép để chống lại Cộng Sản”.

Đành rằng đây chỉ là một lời giả tạo, một lời khích lệ, hứa hẹn để yên lòng người đi. Nhưng về một khía nào đó, ít nhiều nó cũng có giá trị thực tế. Thực tiễn đã cho thấy, những người càng ở tù lâu trong tay Cộng Sản bao nhiêu, lòng họ càng cứng rắn chống Cộng Sản bấy nhiêu. Có những người lúc ra đi, dù chưa có ý thức chống Cộng Sản, thì rồi cũng trở thành người chống cộng từ trong máu. Vì vậy, tôi cũng tạm lấy cái ý này, gượng gạo trả lời bác Tiến, Gôm và Nhu, tuy trong lòng tôi lại nghĩ hoàn toàn khác.

Hơn một tuần lễ sau, tối hôm nay, tên cán bộ Y trực trại vừa vào điểm buồng đi ra. Từ gần 3 năm xưa, ngày đầu tôi lên trại, cũng tên Y này đã dẫn tôi vào phân trại E. Khi trở ra trại này, cũng 6 – 7 tháng rồi, mãi hôm nay tôi mới lại thấy y. Vẫn dáng dấp quân sự, với những bước đi dài, dõng dạc, chỉ có khác, cầu vai của y bây giờ mang cái lon thuợng sĩ. Dòng tư tưởng của tôi còn đang lãng đãng, bần thần suy nghĩ về tên Y này, bỗng anh chàng Gôm nổi hứng bất tử, đứng ở giữa buồng cao giọng tuyên bố:

– Đồng bào hãy chú ý: Một nguồn tin nóng hổi vừa thổi vừa ăn à…nghe, tôi vừa mới nhận được 10 phút trước đây!

Nhiều người im lặng quay lại, Hoàng Đức Tùng từ sàn trên nói vọng xuống:

– Nói ngay đi, đang chờ nghe đây!

Để nửa phút cho cả buồng im lặng, bán tín, bán nghi với cái tếu của Gôm, bấy giờ Gôm mới dõng dạc từng lời:

– Một thiếu nữ 17 tuổi đã bắt cóc 4 thiếu niên mang vào rừng hơn 3 tháng nay. Sáng hôm nay mới tìm thấy thì 4 chàng thiếu niên đã bò đi không được.

Gôm tuyên bố xong, quay ngoắt vào nhà cầu để đi đái. Trong khi căn buồng sôi nổi, râm ran lẫn lộn tiếng cười, tiếng nói. Người hỏi thế này, người hỏi thế kia, chả ai nghe rõ cả. Cho đến lúc các tổ vào ngồi sinh hoạt buổi tối. Nhiều anh còn hấp háy, thấp thỏm về câu chuyện 4 cậu thiếu niên, chả biết anh chàng Gôm này nói thực hay nói đùa.

Tôi cũng hiểu Gôm thỉnh thoảng hay tếu, bốc đồng nhưng cũng phải thừa nhận anh ta có cái tài săn tin, nhất là về những mối tình đặc biệt trong cái thế giới nhà tù này. Buổi tối hôm ấy, chẳng còn phải do tôi đến với anh chàng Gôm để tìm cách biết về câu chuyện nóng hổi đó nữa. Rất nhiều người trong buồng, sau khi sinh hoạt xong đã đổ xô đến vây quanh chỗ Gôm, bắt Gôm phải nói rõ sự việc.

Trong một cái xã hội hàng ngàn người, lẫn lộn chính trị, hình sự này. Chả hiểu Gôm đã nhận được một nguồn tin từ một đường dây nào đó thì không biết. Đường dây nào thì cũng không ngoài những bộ phận tự giác, mà trại tù nào cũng phải có. Gôm đã kể nội dung như sau:

Cách đây 3 ngọn đồi và một khoảng rừng già, nghĩa là xa đến 7 – 8 cây số về hướng Tây, có một trại tù thiếu niên tuổi từ 12 đến 17. Trại này có cái tên mỹ miều, tiến bộ đễ đánh lừa thiên hạ: “Trường phổ thông công nghiệp I”, chứa chừng trên dưới 400 em, vừa trai, vừa gái. Con gái chỉ có một phần mà con trai chiếm đến 3 phần. Tuy có hàng rào ngăn chia 2 khu trai, gái ở riêng biệt nhưng bếp chung và học chung một dẫy nhà. Trại nằm chỉ cách 2 cây số bên trái tỉnh lộ Lào Cai với Yên Bái. Trại cũng có ban giám thị và quản giáo nhưng được gọi thay là ban giám đốc và các thầy cô. Một đại đội công an vũ trang, hàng ngày mang súng đưa các em ra ngoài trại lao động. Các em cũng được chia thành tổ, toán. Nửa ngày ở nhà học văn hóa và học nghề rèn, mộc, xẻ; nửa ngày đi lao động trồng khoai, trồng sắn, trồng rau và làm ruộng. Để cho các thầy cô có thể đi sát với các em, và cũng để khác với trại tù một tí, các thầy cô tuy có phòng riêng nhưng cũng ở cùng khu với các em.

Trong một khung cảnh nửa nhà tù, nửa trường học, trai gái lẫn lộn như vậy, cứ hình dung, tưởng tượng thì biết bao nhiêu cậu chuyện xẩy ra hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Nhưng người ta vẫn nói, thèm cái gì thì hay nghĩ và hay nói về cái đó. Những tin tức khác, có thể Gôm đã loại bỏ, mà chỉ chú ý về những giai nhân và những chuyện tình giật gân. Nào là, có thầy giáo cứ mang riêng từng nữ sinh vào rừng tập dậy tập thể dục, để rồi nhiều thầy giáo mất lon, mất việc, có khi phải vào ấp. Nào là, có hai học sinh nhìn thấy cô giáo ngon thơm như múi mít, đang đêm rủ nhau đột kích vào buồng cô giáo, trói tay chân cô giáo xuống giường rồi hè nhau đu đưa trên ngọn cây sầu đông. Trước khi bị trói, cô giáo đã hành động rất thông minh đúng bậc thầy. Trong bóng đêm đã vảy kịp cái bút máy có mực vào những kẻ “ong non ngứa nọc châm chọc hoa rữa”, để rồi sáng hôm sau đã tìm ra đích thủ phạm là 2 chú “dê còn buồn sừng thích húc dậu thưa”.

Nhưng câu chuyện sốt dẻo được Gôm chú ý nhất là cô Yến Cổ Am, nghe đâu cô là gái của làng Cổ Am, Bắc Ninh. Cô này có đôi mắt một mí và một chiếc má lõm đồng tiền. Đặc biệt, cô có một cơ thể rất nẩy nở của tuổi trăng gần tròn.. Rất năng động và tháo vát, vì vậy không những cô là toán trưởng của một toán 32 người, cô còn là tự giác của trường nũa. Toán của cô trồng chè và hái chè. Bên khu con trai có 4 cậu choai choai chơi một băng với nhau là Minh Cò, Đạt Chộp, Hổ Mưu, còn một cậu nữa quên tên, tuổi từ 15 đến 17. Chả biết cô Yến Cổ Am hẹn hò,, dỗ dụ làm sao đó, bốn cậu quyết tâm đi theo tiếng gọi của đò đưa để cho cô Yến dẫn lên một ngọn đồi hoang có một căn hầm tăng xê bỏ phế từ thời chống Pháp. Vì cô Yến là tự giác nên đã lén mang được chăn chiếu và một vài thứ đồ dùng tối thiểu cho các cậu ở một nơi cách xa trường đến gần 2 cây số. Thỉnh thoảng đôi ngày, có khi một ngày cô Yến lại mò lên vừa tiếp tế thức ăn vừa cùng các cậu thượng đài giao đấu.

Thời gian cứ thế trôi đi. Trong trường cũng như ban giám đốc đều nghĩ rằng các cậu đã biến về miền xuôi rồi, cho nên cũng chỉ ra lệnh tầm nã thường lệ, vì cả nước đang có chiến tranh chống Mỹ. Câu chuyện, 4 cậu thanh niên trốn trại, dần dần chìm vào quên lãng của thời gian đến nay đã hơn 3 tháng.

Tên Dũng là một hạ sĩ quan vũ trang, 25 tuổi. Tuy đã có vợ, một con ở quê nhà miền Thanh Nghệ, nhưng y làm công tác ở nơi núi rừng heo hút đêm, ngày chỉ nghe thấy gió ngàn rên rỉ, lòng y càng nặng trĩu những lúc gió mưa và những buổi tối trời. Trong những xê dịch, quan hệ của cuộc sống ở trường tù này, đã nhiều lần y nhìn thấy Yến Cổ Am mơn mởn đào tơ. Đêm ngày y dệt chiếc lưới tình mong bủa được con chim Yến làng Cổ Am. Bản tính phóng đãng của con mồi như vậy, nên lưới của y chả cần dệt xong thì con mồi đã ngoan ngoãn chui vào vòng tay của y. Rồi từ đấy, cô gái Cổ Am 17 không phải chỉ bẻ gẫy một sừng trâu mà những 4 -5, để đường đi phải rẽ 3 -4 ngả.

Tên Dũng đã đu đưa nhiều lần trên ngọn cây sầu đông với cô Yến. Y thấy cô Yến có những thời gian, và những hướng đi bất thường nên y lập tâm theo dõi. Vào một ngày đẹp trời có nhiều mây bay, gió thổi, tên Dũng đã theo, rình và bắt tại trận 4 cậu dê non. Tuy cậu nào cũng chỉ còn da bọc xương với những đôi mắt thất thần trắng hếu, vậy mà vẫn hăm hở, lần lượt thay phiên nhau “ấy” với cô gái Bắc Ninh. Thật là chẳng sai, mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo…đồi. Thấy vậy y giận quá! Nếu anh chàng Dũng chịu suy xét, hiểu chuyện đời…là như vậy thì cứ ngậm miệng tiến bước trên con đường đi như cũ. Có thể vì giận nên mất khôn; nhưng có lẽ y tưởng, phát hiện được 4 tên vượt ngục này, vai y sẽ thêm một sao nữa và đảng cũng sẽ tín nhiệm y thêm, nên y đã cấp tốc về báo cáo với ban giám đốc. Thế là cả một tổ chim lớn trên đồi hoang bị bắt gọn, 4 chú “ong non” đã phải vừa đi vừa bò về trại.

Cuối cùng câu chuyện vỡ banh ra hết. Anh chàng Dũng vũ trang có công đã phát hiện được tổ chim, nên chỉ bị lột lon cho về nhà đuổi gà cho vợ. Đến đây câu chuyện của cô Yến Cổ Am vẫn chưa hết. Sáng hôm sau, Nguyễn Văn Gôm được lệnh ở lại trại để gặp cán bộ. Đến trưa, chúng tôi đi làm về thì được biết Gôm đã bị đi kỷ luật rồi. Chúng tôi chưa dám kết luận vì sao, tuy vậy Bùi Tâm Đồng vẫn nói đùa:

– Chắc ban giám thị gửi Gôm vào nhà kỷ luật gặp Lộc hủi để tìm hiểu thêm về cuộc tình giữa Hồng Đào và Hộc hủi.

Hơn một tuần sau, Gôm ôm chăn chiếu trở về buồng, mặt buồn rười rượi nói nhỏ với tôi:

– Mẹ cha nó, chắc thằng Phi tổ tôi chứ không ai. Ban giám thị kết tội tôi làm ảnh hưởng đến tinh thần lao động của trại viên.

Tôi đùa, cũng nói nhỏ với Gôm:

– Họ kết tội như vậy quả không sai, mấy đêm nay tôi vẫn còn mơ màng về câu chuyện của cô Yến Cổ Am đấy, cứ khắc khoải mãi giấc ngủ có yên đâu.

Mặt Gôm còn mệt và xanh tái, vậy mà miệng vẫn toét ra cười:

– Hơn một tuần lễ để chân trong cạm, tôi càng giận thấu xương cô gái làng Cổ Am này. Sau này, nếu tôi gặp một cô Yến khác nào, tôi sẽ chạy tránh ngay ra xa.

Tôi đã biết tỏng anh chàng Gôm này rồi. Thấy gái như người khát nước thấy quả mơ, nhưng bác Tiến ngồi bên cạnh đã ngạc nhiên, quay lại hỏi Gôm:

– Mình không thích người ta thì thôi, chứ việc gì mà phải chạy ?

Như giũ sạch cái buồn vừa đi kỷ luật về, Gôm đã đon đả:

– Cháu chạy ra xa lấy chớn, để lao vào cho mạnh hơn bác ạ!

Đúng là cái nết, cho kỷ luật chết cũng không chừa.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 26 Oct 2023

Những chiếc trực thăng giấy

Đặng Chí Bình

Bài 46

Đang từ một khung cảnh nhỏ của trại E, toán 2 được chuyển về trại chính này như bị rơi tõm vào một thế giới to rộng, bao la. Đã 5 – 6 tháng trôi qua rồi, đã hết cái mùa Đông u buồn lạnh lẽo để bước gần tới ngưỡng cửa của cảnh trời Xuân. Trong một cái trại có hàng nghìn phạm nhân với bao nhiêu khu vực khác nhau. Mỗi một ngày là bao nhiêu chuyện xẩy ra, vậy mà hầu như tôi rất ít biết; chỉ vì tôi cứ miệt mài vào sách với vở. Nhất là kỳ này, sau khi có bao nhiêu tập sách hay của cái thư viện con con này tôi đã lục lọi đọc hết. Bây giờ chỉ còn các loại con cá, lá rau như: Anh Hùng Lúp, Bế Văn Đàn, Lê Văn Tám, Nông Trường, Hợp Tác Xã với những tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa v.v… Thành thực mà nói dù đói (tinh thần) tôi cũng không thể ngốn những loại này được. Còn một loại sách nữa, cũng rất nhiều người không đọc, cá biệt có một ai đó cũng ra vẻ ta đây có trình độ, có tư tưởng sâu sắc, mượn một vài cuốn về thì lại cũng vứt lây, vứt lất ở sàn trên hay sàn dưới trong buồng. Có ai nhìn thấy, mó đến, lặt một vài trang rồi cũng vất lại chổ cũ. Đó là những sách triết của các nhà lý luận. tư tưởng của chủ nghĩa Cộng Sản.

Bản thân tôi cũng vậy. Tôi thèm đọc sách lắm, vì đó là một sở thích của đời tôi, thế mà mỗi khi rờ đến những loại sách đó tôi cũng thấy chán. Phần vì tôi đã học triết bao giờ đâu. Tuy thời gian hơn một tháng ở số 2 J. Jacques Rousseau bên Chợ Lớn, cũng tí toe, ngúng nguẩy một tí với triết chứ đã biết quái gì đâu. Phần khác, sách triết vừa khô khan khó hiểu, có khi đọc cả trang mà chả hiểu gì. Nào những thượng tầng kiến trúc, những hạ tầng cơ sở; nào những bản chất với hủy thể v.v… cứ rối rít, tít mù cả lên.

Nhưng hết sách rồi, tôi buồn quá! Tôi cảm thấy cuộc sống ở trong tù khô cằn hết hẳn ý nghĩa đi. Và vào một ngày Chủ Nhật đó, tôi đã vớ đại một cuốn: Sự Khốn Cùng Của Nền Triết Học Đức. Tuy không hiểu lắm nhưng cứ nhồi đại vào, nhưng càng đọc óc tôi càng sáng ra. Rồi những học thuyết này, những tư tưởng kia. Những chủ nghĩa này đối kháng, mâu thuẫn với chủ nghĩa kia v.v… Lénine chửi Trosky, mạt sát Causky; Causky rủa sả Lénine. Người này viết sách lý luận chửi người kia, tôi muốn biết vì sao mà họ chửi nhau, họ chửi thế nào? Đúng hay sai? Thế là dần dà, tôi mê mệt, say sưa vào những cuốn sách loại đó.

Ngày đi lao động, trưa, tối, những ngày nghỉ, tôi chỉ ngoại giao với tên trật tự Tân, để bí mật có tí dầu lửa (điều này chả có khó khăn gì giữa Tân và tôi). Đốt một ngọn đèn con, chụp đèn bằng cái lọ pénicinine cắt thủng đít. Tối nào tôi cũng đọc sách đến 10 giờ, thi đua với Nguyễn Văn Gôm. Gôm học toán, tôi xem sách triết. Tôi cũng làm những bản thu lượm những tư tưởng chính của từng cuốn sách.

Trong trại tù, sách hiếm hoi,có cuốn này thì thiếu cuốn kia. Anh em khác làm đồ tư cho cán bộ như cái thước kẻ, thước mét, cái hộp con v.v…để mong cán bộ cho gói trà, bao thuốc lá. Nhưng tôi chỉ mong cán bộ mượn cho những cuốn sách mà tôi cần, ở trên thư viện của cơ quan.

Tôi đường hoàng ghi chép vì tôi đã dùng sách để cải tạo tư tưởng còn đầy rẫy lạc hậu của tôi đúng như ý đồ của họ. Như vậy là tôi tiến bộ quá ấy chứ, tôi còn sợ gì? Như trên tôi đã trình bầy. Chỉ vì mải mê vào sách vở cho nên rất nhiều sự việc xẩy ra ở trong trại, có khi ngay chung quanh mình mà tôi chỉ ỡm ờ nghe. Nhưng có một sự việc tôi không thể bỏ qua.

Khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12/1970. Không khí sinh hoạt của trại khác hẳn, nhất là bên ngoài trại phía cán bộ. Những toán tự giác như lâm sản, có lệnh nghiêm ngặt phải có mặt ở trại trước 5 giờ chiều. Tù đi lao động ra vào trại bị kiểm soát gắt gao. Bên ngoài, xa xa trên những ngọn đồi cây chung quanh trại, lấp ló đây đó là những chiếc trực thăng bằng giấy, làm to như thật. Có đủ cánh quạt và mầu sắc cũng như những chữ số để phân ra từng loại máy bay. Không ai có thể suy đoán được, họ làm như vậy để làm gì, nhất là đã lâu để làm gì, nhất là đã lâu rồi trại không có đài hay báo chí.

Đêm đêm, có những tràng súng trung liên, tiểu liên, thậm chí cả đại liên đã khua động lòng người tù. Người ta bàn tán, nào là đảo chính ở Hà Nội, nào có rất nhiều truyền đơn rải ngay chung quanh trại v.v…

Tôi hiểu đây là những nguồn tin có thể từ những tụi cán bộ rỉ tai tung ra. Nhưng cũng có thể từ ngay chính anh em ở trong tù. Do sự bế tắc cùng khổ của đời tù tội, người ta thường mơ ước, tưởng tượng, hình dung những điều tốt đẹp đến với họ, từ một sự tưởng tượng của một cá nhân nào đó. Thí dụ: một anh đêm nằm không ngủ được, nhìn thấy những hiện tượng súng nổ, cán bộ ra vào nghiêm ngặt…lại không biết rõ lý do nên anh ta suy đoán: bên ngoài xã hội, trong chính quyền có phe thân Liên Xô, phe thân Trung Cộng; phe này lật đổ phe kia thì dứt khoát cuộc đời mình sẽ thay đổi. Sáng hôm sau, anh đó gặp một người bạn thân, vẫn thường trao đổi, bàn bạc tình hình mỗi khi có một hiện tượng lạ. Anh này kể lại sự suy đoán của anh ta, nhưng để cho người bạn chú ý đến lời nói của mình, ý kiến của mình hơn, anh đó đã nói với vẻ như thật là anh đó đã bí mật nghe được từ tự giác, hay của cán bộ v.v… Anh sau lại tiếp xúc với một người bạn thân khác. Anh đã kể lại sự việc hoàn toàn như một nguồn tin, không còn là một sự suy đoán nữa, không quên thêm vào, bớt ra cho câu chuyện có vẻ tình tiết. Và cứ như vậy, truyền miệng, rỉ tai. Trong một trại giam, phương pháp thì thầm, rỉ tai này thật hữu hiệu. Tụi cán bộ trại giam dùng nó bao giờ cũng đạt kết quả theo ý muốn. Sau này sẽ minh chứng dần bằng những người thực, việc thực cụ thể.

Từ hơn 1 tháng nay, tôi lại được chuyển về làm mộc ở trong lán thủ công. Lán thủ công ở đây rộng gấp 2 lần lán thủ công của trại E, nhưng cũng chỉ có hai toán như cũ: toán 3 xẻ và toán 2 mộc. Ông cán bộ toán 2 kỳ này là Lê Trí Miễn. Da y đen đen, tuy còn rất trẻ, chỉ khoảng 24 – 25 tuổi, nhưng tôi vẫn gọi là ông. Khác với tên Sỹ chó chết trước đây đã đi đâu mất tiêu rồi. Chưa hiểu sau này ra sao, nhưng ngay từ những ngày đầu, qua những ánh mắt, cử chỉ, tôi thấy có thiện cảm với ông ta. Và chính ông Miễn cũng dành cho tôi nhiều điều đặc biệt. Nhưng phải nói đặc biệt nhất lại là ông cán bộ toán 3. Tên ông ta là Tụ. Tôi có thiện cảm với ông Miễn hơn ông Tụ, nhưng ông Tụ lại mến tôi và tin tưởng tôi một cách mà tôi không ngờ được.

Ông Tụ phụ trách toán 3. Tuy toán 3 cũng có nhiều biệt kích, nhưng ông ta không có liên quan gì với tôi cả. Lúc đầu, tôi quen biết ông chỉ vì ông ta nhờ tôi bào cho mấy cái thước kẻ (phải có kỹ thuật tốt mới làm được thước). Ông ta cho tôi mấy điếu thuốc lá Tam Đảo. Tôi không nhận, lại nhờ ông mượn sách. Rồi qua một vài quan điểm trao đổi; càng ngày ông ta càng có thiện cảm với tôi. Tôi vẫn dè dặt, vả lại như tôi đã nói, tôi có thiện cảm với ông Miễn hơn.

Cho đến một buổi, tôi ra chỗ nhà cầu cuối lán thủ công để đi cầu. Rõ ràng tai tôi nghe nho nhỏ giọng hát quen thuộc ngày xưa của Thanh Thúy. Vừa tò mò, vừa ngạc nhiên, tôi men theo một bờ cỏ tiến dần về phía giọng hát từ ở một cái nhà con, chỗ làm việc của cán bộ toán 3. Căn nhà làm việc đó cũng bằng căn nhà con làm việc của cán bộ toán 2. Hai căn làm giật lại phía sau cách xa lán xẻ và lán mộc. Hai căn dựng cách nhau khoảng 50 mét.

Nhìn vào căn nhà đang có tiếng hát, tối om, cửa đóng kín. Tuy chỉ là vách nứa, lợp tranh nhưng cũng kín đáo. Bây giờ tôi nghe rõ ràng là bài “Chiều mưa biên giới” do ca sĩ Thanh Thúy hát. Ôi, giọng hát lả lướt, truyền cảm nồng đượm như ánh nắng mùa Đông sưởi ấm những cõi lóng khắc khoải, băng giá đã cuốn chặt hồn tôi. Cả một nỗi niềm chất chồng thuơng nhớ về miền Nam thân yêu đã nén chặt trong lòng tôi nhiều năm, hôm nay đã túa ra thành giọng hát ngọt ngào thuơng yêu ruột thịt. Tôi gục đầu vào sau vách cho hồn chảy dài vào lời ca tiếng nhạc. Bất chợt, cánh cửa sổ trên đầu tôi mở ra làm tôi choáng váng. Ông cán bộ Tụ cũng mở to mắt nhìn tôi. Hai mặt chỉ cách nhau 50 phân.

Như tên trộm bị chủ nhà bắt quả tang ở trong nhà. Tôi còn lúng túng lựa lời chống đỡ rồi tìm cách chuồn thì ông ta nhỏ nhẹ thân tình:

– Anh Bình đấy à, vào trong này!

Tôi đang lo sợ bị truy, chụp về tư tưởng, không ngờ còn được ông gọi vào trong nữa chứ. Đắn đo một giây rồi quyết định đi vào.

Vừa bước qua ngưỡng cửa, ông đã đóng chốt then cửa phòng lại. Ông chỉ chiếc ghế đẩu vẫn thường dành cho phạm nhân ngồi, nói nhỏ:

– Ngồi đi!

Cũng là tiếng “ngồi đi” như nhiều những cán bộ khác vẫn bảo tù, nhưng qua giọng và cách nói hôm nay của ông Tụ, tôi có cảm tưởng khác thuòng. Nó dịu êm, thân mật như của một người bạn đối với một người bạn.

Quả vậy, gần nửa giờ ở trong phòng của ông Tụ có lúc nghe nhạc, có lúc nói chuyện tình cảm giao du giữa một người và một người, chứ không phải giữa cán bộ với tù nhân. Rồi từ buổi ấy, thỉnh thoảng tôi lại lỉnh sang gặp ông, vì cùng trong khu thủ công. Vả lại phạm nhân mà gặp cán bộ thì có gì là khác thường đâu. Những giữa tôi và ông Tụ, tuy không ai nói ra nhưng hai bên đều tự hiểu, sự quan hệ này chỉ là riêng hai người chẳng nên để cho bất cứ người thứ 3 nào biết.

Chẳng hiểu ông Tụ có những cái nhìn, những nhận định thế nào về tôi, có lần ông ta dám nói một ý với tôi thật là táo bạo: “Mỹ không hiểu biết gì về miền Bắc cả. Mỹ cứ ném bom thế này thì giải quyết cái gì? Nếu Mỹ và Sài Gòn đem quân đánh thẳng ra đây thì sẽ có đại đa số người dân đi theo, trong đó có tôi.” Trong lòng tôi thì ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, nhưng để bắt kịp một chỗ nối đổi mầu, mặt tôi thản nhiên, đầu tôi gật gật, tôi giơ một ngón tay cái ra trước mặt ông ta, giọng tôi trầm trồ: “Ông có cái nhìn thật là sắc!”

Thái độ đó của tôi, cũng muốn nói ý với ông Tụ là: “Tôi đã hiểu anh, cứ tự nhiên và anh yên tâm. Anh đã gặp một người có ý thức và có tâm hồn, dám chịu thiệt hại đối với người tri kỷ lắm.”

Sau đó, sự quan hệ giữa tôi và ông Tụ, tuy không dầy, chỉ thưa thớt bề ngoài nhưng có chiều sâu. Do đó qua ông, tôi đã biết thêm cũng như xác minh được một số tin tức bên ngoài.

Chính vì vậy, ngay từ đầu tháng 12/70. Qua ông Tụ, tôi đã được biết sở dĩ tất cả các trại giam trên miền Bắc đều phải thực tập canh gác, báo động đêm ngày. Phải làm những trực thăng quân sự giả, nhưng cũng có chỗ là thật, để đánh lừa không ảnh của máy bay Mỹ. Bởi vì Mỹ đã bất ngờ cho máy bay trực thăng xuống một trại giam ở Sơn Tây đã đuợc di chuyển đi 3 – 4 tháng trước đấy rồi. Trại giam đó nhỏ, bây giờ chỉ nhốt tù hình sự mà thôi.

Gần 3 giờ sáng ngày 21 tháng 11, có 6 trực thăng của Mỹ, thình lình đến trại giam Sơn Tây. Hai chiếc đáp xuống bên trong trại giam, 4 chiếc vòng đảo trên trời để bắn phá bộ đội tiếp viện bên ngoài. Chúng bắn chết một số bộ đội canh gác trại, phá khóa các buồng giam, nhưng bên trong toàn là tù hình sự. Sau gần nửa giờ lùng xục, chúng chẳng tìm được một tên phi công nào. Khi tháo lui, một chiếc trực thăng bị gẫy cánh quạt vì vướng cành của một cây bàng, phải nằm tại chỗ ở trong sân trại. Báo hại, họ đã bắt theo cô Nguyễn Thị Linh làm văn thư mang vào Nam. Cô Linh lại là cháu ruột của dại úy Côi, giám thị ở K3 thuộc trại Phố Lu này.

Khi về trại, tôi chỉ kể riêng cho Gôm và Quốc Anh nghe mà thôi. Gôm cứ xuýt soa ca ngợi số phận của cô gái có cái tên là Linh. Bất ngờ cô ta đã “linh hỏi” lẹ từ một cảnh đời nhầy nhụa, đói khổ sang một cảnh đời ngọt ngào sắc hương. Tôi thì nghĩ, có thể cô Linh còn sang đến tận xứ Cờ Hoa ấy chứ, vì tình báo Mỹ phải cần cái lưỡi sống của cô.

Còn một tin tức đặc biệt nữa cũng do ông Tụ đã làm tôi ngẩn người ra vì ngỡ ngàng. Đó là phi thuyền không gian Apollo 11 do hai phi hành gia người Mỹ đã đổ bộ xuống mặt trăng vào tháng Bẩy năm 1969. Chắc hẳn thấy thái độ của tôi còn đầy băn khoăn nên ông Tụ đã vào góc phòng lục trong đống báo cũ lấy ra một tờ Quân Đội Nhân Dân rồi chỉ vào một góc phía dưới của tờ báo: – Đây này, anh đọc đi!

Chỉ có 2 giòng chữ đơn giản ở mãi cuối tháng 3: “Sau nhiều lần thất bại, ngày…tháng 7 năm 1969, phi thuyền Apollo 11 của Mỹ mang 2 phi hành gia là (tôi quên tên) đã đổ bộ xuống mặt trăng.” Nguồn tin này, về trại tôi chỉ kể riêng cho bác Tiến, bác Lẫm và Gôm nghe, nhưng chỉ vài ngày cả trại đã thì thầm bàn tán. Phải nói kỳ đó hầu hết chúng tôi đều bàng hoàng suy ngẫm về con người, đã đặt chân lên cung Quảng đánh dấu một kỷ nguyên mới cho nhân loại, vậy mà hơn một năm sau chúng tôi mới biết.

Phải chi còn Má!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 25 Oct 2023

Bà ‘chằn’ của người viết hồi xửa, hồi xưa là con gái Cần Thơ. Con gái Cần Thơ thì không cắc cớ, nhưng em là trường hợp ‘ngoại lệ’! Yêu là phải lựa ‘thằng’ thông minh, học giỏi, con nhà giàu rồi mới chịu ‘ưng’ cho nó ‘phẻ’! Làm như là Hoa Hậu Venezuela không bằng?

Mà muốn biết thông minh hay không thì ‘em’ thường ra câu đố cho ‘chàng’ giải đáp; để coi cái IQ (xin đọc theo kiểu Việt Nam mình) của ‘chàng’ ra sao? Giống như bây giờ mấy thằng Úc, trước khi mướn người làm, thường ‘interview’. Không qua được ‘interview’ là mình tiêu. Vậy thôi!

“Tiếng anh ăn học lảu thông! Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường?”

Câu trả lời dễ ợt: “Em về đếm sạch cỏ vườn! Ra đây anh nói: mấy đường khăn lông!” Hỏi vậy mà cũng bày đặt hỏi!

Nhưng có lần em chơi khó, hỏi: “Anh là dân Mỹ Tho. Anh nói: Má anh có quầy bán cơm tấm để nuôi anh ăn học trên đường Huyện Toại. Mà anh có biết Huyện Toại là ông nào vậy hông?”

Mình bí! Nhém chút nữa là em cho mình rớt rồi! Nhưng có lẽ nhờ ‘đẹp trai’ và nói hơi ‘dai’ nên em cho đậu vớt. Dù em cho đậu vớt nhưng không trả lời được cho em: “Huyện Toại là ông nào?”  Người viết rất tức tối! Rất: ‘Hận đời đen bạc! Hận kẻ bạc tình! Hận cả gia đình! Hận luôn hàng xóm!’ Nghĩa là hận hết ráo! Và trong trường hợp nầy người viết còn hận luôn mấy ông soạn sách giáo khoa nữa đó!

Như quý độc giả thân mến từng biết: Trước 1975, thời trung học, từ lớp đệ thất tới lớp đệ nhứt, năm nào cũng có môn Sử Địa, 2 giờ một tuần. Một giờ Sử, một giờ Địa. Giờ học đã ít, mà chương trình học thì ‘thiên la địa võng’. Học Sử Việt từ thuở ‘Được Voi đòi Hai Bà Trưng’ cho tới thời ‘Bảo Đại’! Học từ ‘Tây mũi lõ’ cho tới ‘Tàu khựa, Tàu phù’. Học thiệt nhiều nhưng biết chẳng bao nhiêu vì ‘lớt lớt bên ngoài như xài thuốc đỏ’. Nhưng có cái ngộ, kỳ kỳ là địa phương mình, nơi mình ăn dầm nằm dề thì bù trất? Học trò hổng biết xa hơn cái lỗ mũi. Sử anh hùng dân tộc ngay chính quê hương bản thổ của mình thì mấy ổng không cho vô chương trình. Không học! Sao biết?  Nên thấy tên ông Huyện Toại mình cứ tưởng người dưng?

Phàm muốn dạy dân yêu nước phải bắt nguồn từ gia đình. Gia đình là rường cột quốc gia mà! Phải thương yêu cha mẹ, anh em trước. Lớn lên một chút thì bà con cô bác… rồi láng giềng thôn ấp. Lúc ‘dậy thì’, râu măng ‘tí chút’, bể tiếng khàn khàn như con vịt đực… mới ngó qua cô em láng giềng, người em cách giậu mồng tơi xanh rờn chớ! Thương như vậy mới tuần tự nhi tiến và hợp lẽ giềng mối với Đất và Trời!

Vì là phe ta, nên người viết mới bỏ công ‘buồn’ mấy ông soạn chương trình giáo khoa Sử  Địa hồi trước 75 lắm nha! ‘Mấy thầy soạn chung chung, ta bà thế giới quá! Còn học trò như ‘em’ lại không biết ất giáp gì về địa phương, về cuống rún chưa lìa, về quê hương bản thổ hết trơn hết trọi á!’

Gần 40 năm sau, xa quê, xa cái xã Điều Hòa, cái Thị Xã Mỹ Tho ngày mất nước, quê người, Melbourne, đêm nay viết bài nầy thì con đường Huyện Toại mới trở lại mà hành hạ đứa học trò từ lúc tóc còn xanh mơn mởn ngày xưa cho đến đầu chớm bạc bây giờ!

Ổng là ải? Ông là ai? Là ai? Là ai? Bèn làm cái nghiên cứu, lục lọi thì thấy rằng: Ông Huyện Toại thực ra là Huyện Thoại. Tây, nó viết bỏ chữ h nên thành Toại. Tên họ ổng là: Đỗ Trình Thoại, người thôn Yên Luông, huyện Kiến Hòa, trấn Định Tường (bây giờ thì thuộc huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang).

Năm Quý Mão (1843), đậu Cử nhân tại Trường Hương Gia Định, được bổ làm Tri huyện Tân Hòa (bao gồm khu vực Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay) nên được mọi người quen gọi là Huyện Thoại.

Tây đánh Lục Tỉnh Nam Kỳ, ông chống lại. Vào tờ mờ sáng ngày 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu), ông cùng 600 nghĩa quân đánh đồn Gò Công do một sĩ quan hải quân Pháp là Paulin Vial và 27 quân sĩ trú đóng.

Huyện Toại dùng gươm giết được một tên lính Hải Quân Bodiez và đâm trọng thương trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bản xứ sự vụ Gò Công.  Nhưng sau đó, bị trúng đạn, ông hy sinh tại trận tiền cùng với 14 chiến sĩ khác.

Để trả lời một câu hỏi về chính quê nhà mình… mà cần tới 40 năm mới làm được! Thiệt nghĩ mắc cỡ quá! Nhưng trễ còn hơn không!

Sau khi dựng em yêu đang ‘ngáy như sấm’ dậy, để nghe ‘trả lời một câu hỏi’ 40 năm về trước. Người viết còn nhắc cho ‘em yêu’ về quan niệm hồi xưa đi chọn vợ của mình như thế này: chỉ cần có hai điều kiện thôi. Một chánh, một phụ. Chánh là phải đẹp! He he! (con vợ nghe, nó khoái quá trời?) Phụ là phải biết nấu cơm tấm để về nhà tiếp Má mình đi bán… để nuôi mình!

Nhớ ngày xưa em nói em yêu có anh thôi! Không ai ngoài anh nữa? Và em là con gái Cần Thơ chỉ biết làm bánh cống. Còn cơm tấm, chịu thua! Thua thì bỏ. Em nghe hăm; sợ không được làm ‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’, nên năn nỉ ỉ ôi: “Anh dạy em đi!”

Người viết từng chạy bàn cho quầy cơm tấm của Má mòn gần chục đôi dép nên rành sáu câu vọng cổ, bèn soạn cái ‘giáo án’ nầy để ‘Dạy con dạy thuở còn thơ. Dạy vợ dạy thuở bơ vơ mới về!’ Trước hết là bày cách cho em lấy lòng Má của mình; sau là cho em biết thế nào là lễ độ!  Chớ hổng phải bất cứ cái gì cũng ong óng lên: “Tui biết hết” đâu nha!

Người viết dạy em rằng: Dĩa cơm bì sườn ngon phải nhiều màu sắc đẹp mắt như tranh Picasso. Trắng của cơm, vàng ươm của sườn nướng, đỏ của cà rốt, xanh của dưa leo. Sườn nướng phải mềm, thơm. Bì thịt, thính và bông da ăn phải ngứa răng. Đồ chua phải giòn, nhai rau ráu. Nếu muốn, chơi thêm một trứng gà ốp la nữa cho nó bổ… ‘thận’?

Sườn nướng phải là thịt ‘cốt lết’ ngon, tẩm mật ong, muối, nước mắm, dầu hào, dầu mè, tỏi, hành khô, hạt tiêu cho ngấm rồi đem nướng vỉ than. Chu choa, mỡ  cháy xèo xèo, khói thơm bay xa… ba cây số!

Còn bì thịt là thịt nạc mông hoặc thịt nạc vai, ướp muối, hạt tiêu, tỏi, đường, nước mắm.  Xong đem ram cho vàng rồi xắt sợi.

Phần nước mắm: nước mắm ngon Phú Quốc, hiệu ba con cá cơm, đựng trong tỉn. Nấu sôi, vớt bọt, nêm đường, giấm, tỏi với ớt bằm pha thêm vài trái dừa xiêm.

Còn đồ chua là cà rốt, đường, giấm, muối, có thể thêm củ cải trắng với dưa leo và cà chua ăn kèm cho đỡ ngán.

Còn phi mỡ hành: hành lá rửa sạch, thái nhỏ, trộn vào tô hành một ít dầu ăn, phi trên bếp khoảng 30 giây để hành vừa chín tới.

Nấu cơm tấm, sau khi đã nhặt hết mấy hạt sạn nho nhỏ còn lẫn trong tấm. Làm ẩu tả, còn sót sạn, cắn nghe cái ‘bốp’ là gãy răng. Không nấu kiểu thường, trừ trường hợp muốn ăn cơm cháy với tép mỡ rắc đường, mà phải đổ tấm, sau khi vo sạch, vào từng vỉ nhỏ, xăm xắp nước, bỏ vào nồi lớn, hấp. Thêm vài cái lá dứa cho thơm ‘râu’!

Sau khi hướng dẫn em yêu thật tỉ mỉ phần lý thuyết, tính dắt ‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’ về thưa với Má là: con đi học ở Cần Thơ kiếm được một đứa về đỡ tay đỡ chân cho Má nè! Nhưng chưa lần nào em được ‘hân hạnh’(?) làm dâu thì Má bị tai biến mạch máu não và ra đi khi tuổi mới 40. Má ơi!

Tháng Sáu, Melbourne, trời cuối thu, sắp sang đông. Gió nhiều, mưa cũng lắm. Tới ngày giỗ má rồi. Năm nay như mọi năm, vợ con sẽ làm cơm tấm sườn bì cúng má. Chính tay con sẽ làm nước mắm với ‘bí quyết gia truyền’ nầy cho hai thằng con, hai đứa con dâu và 4 đứa cháu nội ăn, để tụi nó ngả nón cúi đầu mà khâm phục Tía nó cũng biết làm… chớ không phải chỉ chuyên ‘dóc tổ’!

Con đường Huyện Toại, quầy cơm tấm của má ngày xưa đi suốt theo con cả thời niên thiếu cho mãi đến bây giờ!

Thu Melbourne, lá vàng đã đầy trên lối! Dĩa cơm tấm ngày xưa, con đường Huyện Toại và bài hồi ức nầy làm con nhớ Má biết bao nhiêu!

Vợ con, ‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’, nói rằng: nó cám ơn Má nhiều biết bao nhiêu vì Má đã đẻ ra con và cho nó một người chồng rất dễ thương… và dễ dạy!

‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’ nói một câu rất ăn tiền là: “Phải chi Má còn sống! Giờ dẫu Má có già, có quên trước quên sau hoặc tánh tình khó khăn gì đi chăng nữa, em nhứt định làm bổn phận dâu con… mà dâu ‘ngọt’ chớ hổng có chua; hết lòng phụng dưỡng Má của anh như Má của em! Nhứt định không bao giờ ‘xúi bẩy’ anh đưa Má vô Nhà Dưỡng Lão (Nursing Home) đâu nha?!”

đoàn xuân thu.

 melbourne

Những con cua trong giỏ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 25 Oct 2023

Tháng 4 năm 1975, người viết đang đi dạy học rồi đột nhiên mất nước, mất trường, ‘mất dạy’… nên không biết phải về đâu? Phần là gốc sĩ quan biệt phái, về quê cũ, lỡ có thằng cách mạng 30 tháng 4 cà chớn nào trong xóm nó ghét, nó điềm chỉ thì phải vô hộp cải tạo là ‘tàn đời hoa mộng’! Ở ngoài, nhà tù lớn, ăn bo bo đói rã ruột ra rồi mà còn phải đi học tập cải tạo, phải chui vô nhà tù nhỏ, không có ai thăm nuôi, thì bỏ mạng sa tràng là cái chắc. Cho nên phải nuốt nhục mà bám theo; chứ trong lòng ai nào có muốn vậy đâu! Chỉ thầm trách là ‘Nguyễn Tổng Thống’ ra đi mà không bảo gì nhau, không cho hay gì ráo trọi và cũng hỏng chịu dắt tui theo?

Trường mở lại, các thầy, các cô tứ tán khá nhiều nên thiếu… Trong khi chờ cho đám sinh viên Văn Khoa, Luật Khoa chuyển qua Sư Phạm học 6 tháng ra trường mà trám vào chổ trống đó thì chúng nó đành lưu dung tức là dung thứ ‘giáo ngụy’ cho dạy đỡ…để chờ ngày ‘đá đít’ chớ có tốt lành gì đâu mà hòa giải dân tộc như tía con nó thường hay ra rả?

Khoảng thời gian nầy người viết ngẫu nhiên quen với Nguyễn Viết Kỷ. Tay Kỷ nầy tốt nghiệp đại học Sư Phạm Vinh, (10+3), dạy văn, theo xe tăng Trung Quốc tràn vô Sài Gòn…rồi bò xuống Vị Thanh, (tỉnh Chương Thiện hồi xưa), nhẩy ngang hông lên làm giám hiệu.

Sau đó đụng chạm, giành ăn với cấp ủy địa phương về chuyện tiền nong, gái gú sao đó nên bị hạ tầng công tác chuyển về làm giáo viên quèn, dạy chung trường với người viết.

Bất mãn nên Kỷ thường rủ rê người viết ra chợ huyện nhậu chơi cho quên cái tình đời đen bạc, đồng chí với nhau mà nó nỡ chơi tui!

Thường đề tài trên bàn nhậu là chuyện văn chương cho nó ‘lành’. Chớ bàn chính trị lỡ nó ‘ốp’ mình thì sao. Trong cái chế độ đầy ‘tai vách mạch rừng’ nầy ai mà dám tin ai cho được phải không?

Có lần, anh ta thuật lại một giai thoại nầy hỏng biết có thiệt hay không? Người viết chỉ xin phép thuật lại nguyên xi như vầy hầu quý độc giả thân mến.

Chuyện rằng: Tố Hữu có làm bài thơ: Kính gửi Cụ Nguyễn Du! “Hỡi người xưa của ta nay. Khúc vui xin lại so dây cùng Người”?

Xuân Diệu nghe vậy, phê ‘lén’ Tố Hữu là: “Tài Tố Hữu chỉ tới cái đầu gối của Nguyễn Du” mà cũng đòi so dây cùng Người. Tại sao tài chỉ tới ngang cái đầu gối? Nghĩ cho kỹ thì thấy ông Xuân Diệu nầy thâm thiệt?

Và hỏng biết tay nào mách lẻo mà tới tai ông trùm văn nghệ của Đảng. Chu choa ton hót lấy điểm như vầy chắc chết ‘tui’, nên mặt xanh như tàu lá chuối, chối bai bải là: ‘Em nào dám nói anh Lành như vậy đâu. Nó ‘cáo’ oan em đó’ Hu hu!

Tố Hữu, nhà thơ công thần của chế độ, leo lên tới Bộ Chính Trị, làm Phó Thủ Tướng giá lương tiền.  Chọc tới ảnh là mất sổ gạo như chơi!

Giai thoại văn nghệ nào cũng thực thực hư hư. Cái thực là Tố Hữu đòi so dây với Cụ Nguyễn Du. Còn hư hư là biết ông Xuân Diệu có nói như vậy hay không? Hay là tay cung thủ nào đó đã bắn một mũi tên làm trúng một lượt hai con ‘chim’ cho bỏ ghét!

Sau Tố Hữu, Cù Huy Cận cũng là nhà thơ, cũng bò lên tới chức Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa. Khi ông về hưu rồi, ông Xuân Sách thấy giậu đã đổ nên bìm leo, bèn ‘giỡn mặt’ chơi cho đỡ lòng căm tức; chứ nếu ông Huy Cận còn tại chức mà viết như vậy là dám cùng chung số phận với Quang Dũng Đôi Bờ hoặc Hữu Loan Màu Tím Hoa Sim là về nhà đuổi gà cho vợ nhe em?

Xuân Sách dán nhãn ông Cù Huy Cận là nói dóc mà theo tiếng Hà Nội ngàn năm văn vật là nói dối! Rồi tiện tay ông ‘quất’ cho mấy câu: “Các vị La hán chùa Tây phương. Các vị gầy quá, tôi thì béo. Năm xưa tôi hát Vũ trụ ca. Bây giờ tôi hát Đất nở hoa. Tôi hát chiến tranh như trẩy hội. Đừng nên xấu hổ khi nói dối. Việc gì ủ mặt với mày chau. Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu!”

Thì ra một số nhà văn, nhà thơ miền Bắc đã dùng tài văn thơ của mình mà chửi bới, đấm đá, dẩm đạp lên nhau… vì kẻ ăn ngập mặt mà người lần không ra. Giành ăn rồi dùng thơ văn xỏ xiên nhau thiệt là bậy bạ quá! Mà ‘chơi’ nhau nặng quá, không ‘tình nghĩa giáo khoa thư’ gì ráo trọi? Sao không nghĩ có lúc mình lại phải gặp mặt nhau?

Thời Tây thuộc địa vậy mà còn đỡ hơn nhiều. Nhà văn, nhà thơ đều tự nguyện vác trên vai mình một thiên mệnh là khai trí nhân dân để chờ thời cơ giành độc lập! ‘Văn dĩ tải đạo’ chờ không phải ‘văn dĩ tà đạo’ như bây giờ.

Chính vì vậy mà anh bạn văn của người viết ‘bức xúc’ lắm? Anh còn mang máu Lục Vân Tiên trong người: Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha! Nên khi thấy chữ nào ‘Bên Thắng Cuộc’ dùng sai thì anh ‘bức’ và ‘xúc’ luôn cho sạch. Chuyện nào bố láo, bố lếu là anh la rùm lên “Bớ làng nước ơi! Coi mấy ‘giả’ viết tầm bậy tầm bạ như vầy nè trời!”

Chuyện văn chương mà anh bạn văn lại muốn ‘ân oán giang hồ’ chi vậy? Người viết thì ‘an nhiên tự tại’ và ‘an bần lạc đạo’. Chuyện ai muốn viết gì thì viết, sai đúng thì kệ người ta. Rảnh đâu mà gây thù chuốc oán vậy hả?

Anh bạn nhà văn thì không chịu cái tánh lè phè thường dân Nam Bộ của người viết nên rầy rà quá. Anh nói: Theo cụ Nguyễn Đình Chiểu ‘văn dĩ tải đạo’ và để chứng minh cái thiên chức của người cầm bút, anh bèn đọc cho người viết nghe bài thơ  Nợ Bút Nghiên của La Quốc Tiến:

Về Ba Tri nghe người làng đồn rằng. Cụ Đồ Chiểu dù sớm mù đôi mắt. Về già, tai lại còn bị điếc. Nhưng mỗi khi muốn viết. Người đều bảo: “Hãy để ta tự tay mài mực. Các con múc cho thầy gáo nước. Ta cần rửa và lau mặt. Trước khi soi vào nghiên gương mặt của mình” Cụ Đồ gọi đó là chút nợ bút nghiên.”

Theo cụ Nguyễn Đình Chiểu viết văn là truyền bá cái đạo nghĩa thánh hiền. Và văn là người, nên khi cầm cây viết lên là lòng mình phải thật và tâm mình phải sáng, phải trong mới được!

Anh nói nhà văn, nhà thơ là phải học Cụ Nguyễn Đình Chiểu Lục Vân Tiên sống có tư cách như vậy mới được!

Còn bây giờ vài ông văn sĩ Bắc Hà sau 75, tràn vô miền Nam trù phú kiếm ăn thì đáng chán và đáng ngán lắm chú ơi! Không thèm giữ gìn sĩ diện của nhà văn, nhà thơ gì ráo trọi?

Thay vì tìm hiểu nền văn học phương Nam sau 21 năm đất nước bị chia cắt (1954-1975) nó phát triển ra làm sao? Có cái nào hay; cái nào dở để học hỏi thêm mà mở mắt, sáng với người ta thì lại giở cái giọng huênh hoang, khoác lác một tấc tới trời của ‘Bên Thắng Cuộc’ mà chê bai vô lối ?

Mấy ‘ổng’ chứng tỏ ta đây là ‘duy ngã độc tôn’ nên đem Sơn Nam, một trong những nhà văn được coi là nổi cộm, nổi bật, nổi trội nhứt của văn học Miền Nam ra mà ‘dợt’ trước. Chưa chắc mấy ‘ổng’ có đọc hết và có hiểu nổi Sơn Nam không đi nữa mà dám mở miệng ‘phê bình’ như vầy:

 “… Sỡ dỉ Sơn Nam không được lãnh giải thưởng gì đó ngoài trung ương, vì chỉ nhờ biết tiếng Tây, đọc các bài viết cũ rồi viết lại chứ không có công trình gì…”?

Đi xa hơn nữa là chê hết ráo:“Người Miền Nam nói chung, cả nhà văn nữa, viết như nói!”. Câu này có ý chê “Văn miền Nam dở.”(!?), do nói sao viết vậy, nhiều từ ngữ đời thường, câu cú không thành, ý tứ không chặt…”.

Bình tĩnh, từ tốn, Ông Sơn Nam ‘phản biện’ như vầy:  “… Không phải cứ ghi âm lại cuộc nói chuyện của người Nam Bộ là thành văn chương được đâu…Văn chương Nam Bộ có một cái gì khác nữa kìa. Đó là thứ văn chương gần với ngôn ngữ nói, không nặng trau chuốt mượt mà, làm mất đi bản sắc đời thường, vốn có những “góc cạnh” của nó!”.

“Với ‘Đồng quê’ của Phi Vân, ta thấy ‘văn nói’ nào phải lấy cái máy ghi âm để ‘thâu băng’ rồi phát ra, viên thơ ký đánh máy lại là xong. Đó là một kỹ thuật riêng, đòi hỏi tay nghề, câu nào phải cải biên, nói theo người viết nhạc là “biến tấu” lại, tóm gọn hoặc kéo dài ra. Chữ nghĩa trên trang sách khó diễn đạt lại giọng điệu hoặc bộ tịch của người nói. Về mặt nầy, tôi thấy Phi Vân lúc bấy giờ đâu khoảng ba mươi tuổi đã thành công”.

Như vậy nhà văn Sơn Nam đã đem ông Phi Vân (1917-1977) với tập truyện ‘Đồng Quê’ mà trong đó nổi tiếng cho tới bây giờ là truyện ngắn “Trao Thân Con Khỉ Mốc’ ra mà ‘đá’ với mấy tay ‘Bên Thắng Cuộc’ vì đừng ỷ mình làm lớn, quan chức văn nghệ rồi nói cho thơ ký đánh máy lại và lại gọi đó là văn chương?

Tuy nói vậy nhưng ông Sơn Nam bổn tánh xuề xòa của Hương Rừng Cà Mau dĩ hòa di quý, kẻo nó thù vặt lại mất công lo bể nồi cơm vì lẽ ‘cơm áo không đùa với khách thơ’?! Nên ông nói:

“Có thể nhiều người không thích lối văn này, riêng tôi lại khác. Thôi, đó là chuyện sở thích. Ai thích thứ gì thì tùy!”

Thôi! Cứ để cho dân ngu khu đen như tui đọc rồi sẽ biết ‘ông’ nào hay ‘ông’ nào dở liền hà?

Tuy nhiên cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng! Giờ thì tới phiên mấy chú nhỏ… mà dám vuốt râu hùm! Xin quý độc giả thân mến đọc một đoạn ‘nhăng nhố’ nầy cho biết:

“Chơi với nhà văn Sơn Nam bền bỉ mấy chục năm nó không nói cho ông biết nó đọc gì của ông. Đến khi Sơn Nam sắp về trời nó mới liệt kê 14 cuốn sách của ông, kể cả cuốn Chuyện xưa tình cũ in năm 1958, năm nó mới hai tuổi, khiến Sơn Nam quá ngạc nhiên. Chưa hết, nó còn tính cho ông những gì ông chưa in thành sách, cả thảy hơn mười nghìn trang. Nghe thế Sơn Nam rưng rưng nước mắt, nói tao chết cũng vui rồi, ít nhất có một người nhớ tao, đó là mày.

…Dần dà mới biết chẳng những thơ nó hay, văn nó cũng hay không kém. Hai tập bút kí về đất rừng Cà Mau nó viết từ những năm tám mươi đến giờ đọc vẫn sướng. Đặc biệt mảng tản văn vài trăm cái về những nét đặc sắc văn hóa miền Tây và văn hóa Việt thì nói thật trừ Sơn Nam không ai bì được… Mình vẫn nói vui với bạn văn, nói thằng Tín là ông Sơn Nam đời mới. Anh Sơn Nam nghe chúng nó nói lại thì cười, nói Sơn Nam chỉ văn hóa Nam Bộ thôi, thằng Tín có cả văn hóa Việt. Tức Sơn Nam là một bộ phận của thằng Tín. Nói xong ông ngửa cổ cười lớn, như phát hiện điều gì to lớn lắm.”

Thiên hạ chắc cười cái rần khi thấy hai ‘chú’ nầy đem nhà văn ‘Sơn Nam’ vô làm cái cớ để vái lạy lẫn nhau?!

Phải thiệt vậy hông ? Hay đặt chuyện bốc phét đây cho nổi ? Sao tui nghi quá à nha? Ông Sơn Nam có nói vậy không? Chú nào nói dóc là ‘bà bẻ cổ’ đó nha!

Anh bạn văn và người viết đều nhớ rằng: Nhà văn Sơn Nam xưa giờ chưa có ‘Chuyện Xưa Tình Cũ’ nào hết ráo! Nếu có na ná là ‘Chuyện Xưa Tích Cũ’ viết chung với nhà văn Tô Nguyệt Đình xuất bản năm 1958 mà thôi.

Và cũng nên nhớ rằng ‘chú Tín’ nào đó sanh năm 1956, còn nhỏ hơn con gái lớn của nhà văn Sơn Nam là Đào Thùy Hằng tức Mỹ Linh tên gọi ở nhà, sanh năm 1951. Thì ‘chú Tín’ nầy còn chưa đẻ khi nhà văn đã cầm bút từ rất lâu trước đó! Sao dám đặt chuyện “Tức Sơn Nam là một bộ phận của thằng Tín!” cho được hỡi mấy ông nội con nít!

Còn nếu nói là giỡn chơi thì ít nhứt cũng phải chừa cái bàn thờ ra chớ? Giỡn chơi như vậy mà gọi là ‘nói vui’ thì người viết đọc thấy hỏng có cái gì ‘vui’ hết trơn hết trọi?!

Trộm nghĩ: Người viết văn là người tao nhã và để xứng đáng với lòng độ lượng của độc giả xưng tụng, gọi mình là văn sĩ, thi sĩ thì nên cư xử cho nó đàng hoàng một chút!  Đừng biến mình thành những con cua trong giỏ thấy ai trèo cao hơn mình mà quơ càng kéo xuống! Vì làm như vậy coi kỳ lắm nha quý hỡi các ‘nhà văn đáng kính’!

đoàn xuân thu.

Melbourne

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 25 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Nha Trang, tháng tư năm 1984

Bài 41

Khi lá thư tôi gửi cho cha tôi bị hoàn lại còn dán kín, tia hy vọng cuối cùng về một đời sống khá hơn rút cuộc đã bỏ rơi tôi . Ngày tháng qua, tôi thấm dần với nỗi thất vọng, chán chường, đành chấp nhận nó, tự nhủ lòng rằng bất hạnh là một phần của cuộc đời tôi. Với những cái chết của Ánh Nguyệt và dì Đặng lùi xa dần vào quá khứ, và sự bạo hành mà tôi phải chịu đựng từ bàn tay của bọn công an còn mới mẻ trong tâm tưởng, tôi chú tâm xây dựng một đời sống bình thường, ít sóng gió. Tôi cố quên đi những nỗi kinh hoàng mà tôi đã trải qua. Vào năm 1984, tôi được mười bẩy tuổi, Jimmy mừơi lăm và bé Ti lên chín. Quần áo chúng tôi đã rách bươm sau bao nhiêu năm dài không được thay bằng quần áo mới. Những miếng vá chằng vá đụp, lớp trên đè lớp dưới, trông thật tả tơi, khó coi. Mẹ tôi đành phải tìm mua quần áo cũ ở những cửa hàng bán đồ tầm tầm, đem về cặm cụi sửa chữa cho vừa với tầm vóc của chúng tôi. Mặc những bộ đồ xốc xếch ấy ra trường, chúng tôi trở thành cái đinh lôi cuốn sự chú ý của thầy cô và bạn học. Sự diễu cợt của họ thật là tàn nhẫn, nhưng không thể tránh được. Jimmy và tôi đánh nhau với tụi nhóc gần như cơm bữa, nhưng không đứa nào mách mẹ vì chúng tôi hiểu rằng mẹ chúng tôi đã có nhiều nỗi lo âu, phiền muộn chất chồng lên cuộc đời bà.
Cho tới lúc này, mẹ tôi đã moi móc đồ đạc trong nhà để đem bán tất cả những gì có thể bán được. Lần lượt, từ chăn màn cho tới khung cửa sổ, đá vân cẩm ngoài ngưỡng cửa, v v … đến cả một phần tôn của cái mái bếp cũng được gỡ ra đem bán. Tới hồi không còn gì để bán nữa, mẹ tôi lại trở ra chợ. Lần này, vốn liếng quá ít, bà chỉ còn cách thu dọn một chỗ nhỏ xíu ngay lối đi vào chợ để bán cháo cá. Thực khách là những bà nội trợ trong xóm ngày ngày ra chợ ăn hàng rong.
Mỗi ngày từ rạng đông, mẹ tôi đã trở dậy, trước tất cả mọi người trong nhà. Bà vào bếp hâm lại nồi nước dùng mà bà đã sửa soạn sẵn từ tôí hôm trước, chiên những miếng chả cá, hấp mì và xếp rau xà lách vào hộp đựng rau sống. Khi nồi nước dùng đã sủi tăm và mùi cá chiên thơm phức toả khắp nhà, mẹ tôi xếp tất cả vào trong một cái thúng sơn dầu bóng loáng. Thúng bên kia, mẹ tôi xếp những cái bát đàn, đũa, muỗng và các thứ gia vị. Tới lúc cái đồng hồ treo tường nhà bác tôi reo ngân nga sáu tiếng, thì mẹ tôi nâng gánh hàng nặng trĩu trên vai, rảo bước ra chợ.
Những ngày cuối tuần không đến trường, Jimmy và tôi giúp mẹ bớt chút công việc khó nhọc. Mẹ tôi thường đem em bé Ti đi theo. Nó tha thẩn sau mẹ tôi, một tay ôm tô rau xà lách, một tay cầm cái chổi. Hai mẹ con đi xuyên qua những xóm làng và những cánh đồng lúa. Tới khu chợ, mẹ tôi bầy hàng ngay dưới đất, nơi một gốc cây sồi. Bé Ti ngồi chơi với cái gối của em ngay bên viả hè bẩn thỉu trong khi mẹ tôi sửa soạn để đón khách ăn hàng, bỏ thêm vào lò vài mẩu than bà đem theo trong cái hộp thiếc, để giữ hơi nóng.
Buổi trưa, sau khi đã bán đến tô cuối cùng, mẹ tôi dẹp cái cửa hàng tí hon lại và sửa soạn công việc thứ hai. Trong khi bé Ti đợi bà ở gốc cây sồi, trông chừng mấy cái thúng, mẹ tôi cầm chổi quét đường, quét tới quét lui, cho tới khi toàn thể khu vực dẫn vào chợ sạch láng. Chủ những quán quay mặt ra đường trả mẹ tôi một chút ít thù lao nhỏ để giữ cho lối đi được sạch sẽ. Mẹ tôi thường đùa với chúng tôi rằng mẹ đã quét đi những tháng năm gian truân, khổ sở của mình.

Vào những ngày mưa bão, khi mà những trận cuồng phong hú qua những tàn cây, mẹ tôi cúi gập người, đầu đội cái nón tơi, cố gắng vun quét cho rác khỏi bung ra khắp phố, trông thật đau lòng. Mẹ tôi càng ngày càng gầy, da cháy nắng nâu sậm. Mái tóc hầu như bạc trắng rối bù xù, xơ xác, phủ quanh đầu bà như bông gòn. Đôi mắt long lanh, đầy quyến rũ một thời của bà, từ lâu rồi, đã lu mờ, nay mang thêm nét ảm đạm, lạnh lùng.
Rất may là tôi lại có nguồn lợi tức đều đặn. Qua một loạt bài dự thi viết văn do ủy Ban Giáo Dục tỉnh Nha Trang tổ chức, tôi đạt được một học bổng hàng tháng được lãnh mười lăm ký gạo và một trăm năm mươi đồng. Đồng thời nhờ vậy, tôi được gia nhập một chân trong hội những cây bút trẻ, một tổ chức có uy tín. Từ đó, thay vì hàng ngày đến trường, nền học vấn mà tôi đạt được là nhờ tham gia các hoạt động của hội.
Đời sống trở nên nhẹ nhõm trong khoảng dăm bẩy tháng trời. Ấy thế rồi, vào thời gian học lớp mười một, trong khi các học sinh khác chuẩn bị cho kỳ thi tuyển vào đại học sắp tới, ông giám đốc hội của tôi từ chối không chịu nộp đơn xin thi tuyển vào đại học cho tôi. Ông ta khuyên tôi rằng, là một thành viên của “giai cấp phản động”, đến đây là tôi đã đi đến tận cùng con đường học vấn của tôi rồi. Tương lai tôi sẽ không có gì nhiều mà chọn lựa. Tôi chỉ có thể trở thành, hoặc là giáo viên phụ khuyết, hoặc là thầy dạy kèm trẻ tư gia mà thôi. Trong xã hội này, dù tôi có được đào tạo, huấn luyện thêm cũng không có triển vọng nào cả.
Giấc mộng vào đại học tan tành, tôi phải xét lại sự lụa chọn. Dù cố gắng đến mấy, tôi cũng không thể trốn thoát cái quá khứ không thuận lợi của tôi. Lòng ham muốn lìa bỏ Việt Nam lại nổi lên thôi thúc tôi. Thế nhưng lần này mẹ tôi không còn tiền để hỗ trợ tôi, hoặc là bắt liên lạc được với những người vượt biên để giúp tôi trốn thoát. Mà ngay như nếu mẹ tôi có khả năng, thì tôi cũng đã quá hãi hùng với chuyến đi trước để mà thử thời vận thêm một lần nữa.
Trong nỗi niềm tuyệt vọng, tôi nghuệch ngoạc đại những cái thư gởi tới Liên Hiệp Quốc và Toà Đại Sứ Mỹ ở Thái Lan, xin họ giúp. Không nơi nào trả lời. Dường như những lời cầu khẩn của tôi tan biến vào không khí ngay khi rời khỏi đầu ngón tay tôi ở nhà bưu điện.
Rồi một ngày nắng đẹp vào tháng tư kia, tôi nhận được lá thư đầu tiên từ Bangkok. Hai tay run rẩy, tôi xé mở phong bì. Mùi nước ngoài từ trong phong bì toả ra tràn ngập hai buồng phổi tôi . Lá thư được in trên một trang giấy tái chế biến mầu nâu, như sau:


Văn phòng liên lạc thiện nguyện (J.V.A.)
Phân bộ người tị nạn
Toà Đại Sứ Hoa Kỳ
Bangkok, Thailand


Kiên nguyễn thân mến


Trong thời gian qua, anh đã nhiều lần gửi thư yêu cầu chúng tôi cung cấp đơn xin tái định cư tại Hoa Kỳ. Căn cứ vào những dữ kiện mà anh đã cung cấp trong những lá thư, chúng tôi muốn giải thích về những quyền lợi mà anh có thể được hưởng. Chiếu theo đạo luật về tị nạn ban hành năm 1980, Hoa Kỳ đã ký với chính phủ Việt Nam một hiệp định liên quan đến trường hợp các trẻ em lai Mỹ Việt bị bỏ lại sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975. Chương trình ra đi có trật tự (O.D.P.) qui định rằng tất cả những trẻ em nào có cha là người Mỹ sẽ được coi là đủ điều kiện để định cư ở Hoa Kỳ. Anh được phép rời Việt Nạm Điều này sẽ được thực hiện trong vòng trật tự, chúng tôi sẽ giúp anh tìm một người bảo trợ tại một số những hội thiện nguyện tái định cư. Thông báo về đạo luật này sẽ được phổ biến tại địa phương cùng với đơn xin tái định cư. Để tiện cho anh, chúng tôi gởi kèm theo với thư này một bản sao của tờ đơn đó.
Dầu vậy, anh không thể gửi đơn trực tiếp cho chúng tôi. Thủ tục phải đi qua chính quyền địa phương. Khi nào anh nhận được giấy thông hành (giấy xuất cảnh) của nhà chức trách, hội bảo trợ của chúng tôi sẽ sắp xếp một người bảo trợ và sẽ cung cấp những dịch vụ khởi đầu công cuộc tái định cư cho anh và gia đình.
Rất trân trọng sự hợp tác của anh.

Chân thành,
Richard C. Cooke
Đại diện văn phòng thiện nguyên.

– Đính kèm: A/S
Trong cái oi nồng của buổi trưa hè, tôi đứng đờ ra ngay ở ngưỡng cửa, hàm trễ xuống. Cổ họng tôi nghẹn cứng, không thốt lên được lấy một tiếng. Lá thư ngắn ngủi, nhưng tin tức mà nó đem tới thì như trời long đất lở đối với tâm hồn tôi. Tôi hồi tưởng những năm dài gia đình tôi sống trong thống khổ, cuộc đào tẩu thảm hại của tôi và biết bao con đường gian nan, đau đớn mà tôi đã bước kể từ khi thiên đàng sụp đổ. Chưa hề có lấy một giây phút hạnh phúc kể từ cái ngày tôi được nghe cái từ ngữ “con lai giống”.
Ngón tay tôi cứ mân mê, sờ soạng lên những dòng mực đen của lá thư, tự hỏi trong nỗi niềm hân hoan, xúc động: “Ai là người đã đánh máy bức thư này ? Họ sống ra sao? Họ như thế nào? ” Họ dường như ở quá xa, thế nhưng, một phần của họ ngay đây, nằm gọn trong cái tin tức mà họ gửi cho tôi này. Hàng ngàn hình ảnh chạy qua óc tôi, kết lại thành một câu hỏi lớn: “Trong cái tin này, bao nhiêu phần sẽ trở thành sự thật? ” mặc dù đã gặp biết bao nỗi thất vọng trong quá khứ, tôi muốn tin bức thư này, muốn nuốt chửng nó, để mỗi lời nói, mỗi nét mực, tan hoà, trở thành một với tôi. Lá thư đến đúng lúc, đem lại cho tôi sức mạnh và sự hỗ trợ tinh thần mà tôi đang rất cần để tiếp tục sống nổi. Không có nguồn tin này, tôi không thể hình dung được chuyện gì sẽ xảy ra cho tôi. Tôi ngồi đó, mắt đẫm lệ, cho đến khi nền trời ngả sang mầu tím nhạt.
Tối hôm đó, khi mẹ tôi bước thấp bước cao, mệt mỏi trở về, tôi đón mẹ tôi ở ngoài cổng với nụ cười hớn hở. Sau khi giúp bà mang hai cái thúng vào bếp, tôi treo áo, nón và bưng cho bà một chậu nước mát để bà rửa mặt. Jimmy kéo cái ghế độc nhất trong nhà ra cho ông ngoại. Ông tôi ngồi dưới ánh đèn vàng vọt, trông ra ngoài cửa sổ, chờ đón hoa qùynh nở vào lúc nửa đêm.
Đến bữa cơm tối, tôi giơ bức thư ra, cố gắng hết sức dịch bức thư ra tiếng Việt. Mẹ tôi nhìn sững tôi bằng cặp mắt mở lớn, hoảng hốt, dường như cái tin quá lớn lao, trong nhất thời, bà không cáng đáng nổi. Jimmy chắp hai tay lại, đầy xúc động. Tôi tiến đến cửa sổ với ông tôi. Bên ngoài, vườn cây đã chìm vào bóng đêm đầy bí mật. Cách chúng tôi mấy bước, bụi cây qùynh tẩm trong không khí mát mẻ, khô ráo, mùi thơm phảng phất quyện thêm với hương thơm của những bụi hồng. Những chiếc nụ trắng nõn nà, thanh tú như những ngón tay của người đàn bà qúi phái, vươn từ phía ánh sáng toả ra từ phòng tôi, chờ đơi ánh trăng lên giúp nó hé nở.
Một lát sau, mẹ tôi hỏi:
– Họ muốn chúng ta làm gì tiếp theo, hả con?
– Chúng ta phải điền đơn, mẹ ạ. Rồi chúng ta phải chụp hình, xin chữ ký của ông chủ tịch phường, rồi nộp đơn. Sau đó chúng ta sẽ ngồi chờ chuyện kế tiếp.
Mẹ tôi lẩm bẩm:
– Con làm gì thì làm. Chuyện này sao mẹ thấy có vẻ khả nghi và rắc rối quá. Miễn là đừng kỳ vọng quá nhiều.
Kéo tôi lại sát cạnh, ông tôi thì thầm:
– Thử thời vận đi cháu. Có mất gì đâu.
Ngày hôm sau, tôi dậy sớm. Trời còn tối thui, tôi đã có mặt ở trụ sở ủy Ban Hành Chính phường. Sau ba tiếng đồng hồ chờ đợi ở cửa văn phòng ông Ba Quì tôi nhận được tờ đơn có đóng dấu và ký tên bởi người thư ký của ông ấy. Sau đó, tôi tiến hành thủ tục qua ngả Sở Di Trú và Ngoại Kiều, một toà nhà cao tầng toạ lạc cách biệt thự họ Nguyễn chỉ có ba quãng đường ngắn ngủi. Mùi gió biển thổi qua những đường phố đông đúc nhắc nhở tôi rằng cái bãi biển quen thuộc chỉ ngay gần đây thôi.
Sở Di Trú đã đầy ắp những khuôn mặt lo âu, khắc khoải, tay ôm cứng những xấp giấy. Lúc đầu, tôi tưởng mình lộn địa chỉ, đi lạc vào một văn phòng bác sĩ đông khách, vì cách kiến trúc rất giống kiểu. Phía cuối, nơi có một tấm kính lớn ngăn chia căn phòng, có rất nhiều kệ chất đầy hồ sơ từ sàn lên đến trần nhà. Một số hồ sơ hẳn đã bị bỏ quên từ lâu, gáy bìa đã ngả mầu nâu, đầy bụi bậm. Đằng sau cửa kính, cô tiếp viên ngồi thưỡn trên nghế nghiền ngẫm cuốn Những Kẻ Khốn Cùng của Victor Hugo. Không rời mắt khỏi cuốn sánh, cô ta trao cho tôi một con số. Mũi cô chun lại một cách khó chịu khi cô bảo tôi hãy kiếm một chỗ mà ngồi đợi.
Tôi nhìn quanh phòng đợi để kiếm một cái ghế trống, nhưng không còn. Phần đông đang ngồi ngay dưới đất ăn bữa trưa hoặc bồn chồn nhìn nhau. Đây là một ngày quan trọng đối với tất cả mọi người. Và cái viễn tượng được ra đi chiếu tia hy vọng lên mặt họ. Tôi bước ra hành lang, hoà nhập với nhóm đông đang chờ ngoài đó.
Một người đàn ông trạc ba chục tuổi chen vào sát tường, châm điếu thuốc lá. Hắn ngẩng đầu nhìn tôi với vẻ tò mò lộ liễu. Ngoài nét mặt thon thon, thanh nhã của người Châu Âu, toàn bộ đặc điểm của hắn đều mang vẻ tang thương, tơi tả và mệt mỏi của bất cứ một người Việt Nam nào. Tôi đứng ngay lối vào, chăm chú nghe tiếng gọi số phát ra từ phía trong.
Gã đàn ông vẫy tay về phía tôi:
– Này, em thuộc diện gì?
– Xin lỗi, anh nói gì?
Hắn lại hỏi theo kiểu khác, có ý muốn tôi hiểu:
– Tại sao em đến đây?
Tôi cũng trả lời một cách lưỡng lự:
– Thì cũng đại khái. Có cái chương trình gọi là O.D.P.
Người đàn ông phà một làn khói thuốc cho nó lan toả rộng ra, nói:
– Có, anh biết cái chương trình đó. Nó dành cho con lai. Anh đệ đơn sáu tháng nay rồi. Hôm nay anh đến để hỏi xem tình trạng của anh ra sao. Xem thử đơn của mình đã được gởi ra Hà nội chưa.
Tò mò tôi túm lấy hắn:
– Làm đơn có khó không?
Hắn lắc đầu:
– Không đâu. Chỉ điền vào cái mẫu rồi nộp cho họ. Phần khó khăn là ở giai đoạn chờ đợi.
Tôi nói:
– Cám ơn anh nhiều.
Người đàn ông hít vào một hơi thuốc, khi hắn thở ra, lời nói kèm theo làn khói thuốc:
– Này, nhìn anh, em có tin rằng anh là con lai Mỹ không?
– Em không biết, còn anh, anh tin không?
Hắn gãi cằm, lưỡng lự:
– Ờ, cũng không chắc mấy. Cha anh là người Pháp. Anh mong là có thể qua mặt họ khi vào phỏng vấn. Em nghĩ anh có lọt không?
– Em không biết nữa, anh ơi. Nhưng mà, chúc may mắn.
Hắn nói:
– Cám ơn, anh cũng chúc em như vậy. À, thế em có mang cái gì cho ông trưởng phòng không đấy?
– Không, em không biết rằng phải làm chuyện đó.
Người đàn ông gật gật đầu, vẻ hiểu biết:
– Em không “phải” làm, nhưng em “nên” làm. Có thủ tục “đầu tiên”, hắn sẽ gửi thư của em đi mau hơn.
Anh ta di di cái mẩu thuốc lá thừa vào bức tường dơ bẩn và bước trở vào phòng đợi.
Cuộc gặp gỡ với viên trưởng phòng di dân của tôi thật là ngắn ngủi. Trong căn phòng rộng, tràn ngập những bó hoa và quà tặng. Hắn ta ngồi ườn người trên chiếc ghế to kềnh. Sau lưng hắn, xuyên qua một cửa sổ rộng, phong cảnh đẹp đẽ của bãi biển xanh ngắt trải ra mênh mông. Hắn ta trạc ngoài bốn chục, mập quá khổ. Cổ áo sơ mi trắng và cái cà vạt có vẻ như xiết vào cái cổ núng nính của hắn quá chặt, làm cho bộ mặt bự của hắn đỏ rần lên. Cặp má tròn trịa đồ đôi mắt lên thành hai đường mỏng dinh, như hai nét bút lông. Hai chân hắn ghếch lên bàn lúc tôi bước vào phòng.
Hắn la lớn để át tiếng sóng gầm:
– Mày muốn gì?
Giọng hắn vọng vào tường, vang lên, càng tăng thêm sức mạnh của uy quyền.
Tôi ôm lá đơn một cách cẩn thận ở trên ngực, trả lời:
– Tôi đến đây để hỏi về cái chương trình có tên là O.D.P.
Hắn với tay về một cọc giấy trên mặt bàn, hỏi:
– Mày muốn xin đơn?
– Thưa ông, không. Tôi đã có đơn rồi.
– Thì điền đi
– Dạ, đã điền rồi.
– Nếu vậy đưa đây.
Tôi đưa cho hắn cái bìa trong đó có mấy lá đơn. Mắt hắn gặp cái nhìn chằm chằm của tôi bèn quay qua nhìn vào cái núi quà ở dưới đất, rồi lại nhìn qua tôi. Vài giây nặng nề qua, hắn thở dài, chấm dứt buổi gặp mặt. Cái nhìn của hắn trở thành băng giá:
– Đây là biên nhận. Hộ của mày đứng số ba trăm năm mươi lăm.
Hắn đưa cho tôi mảnh giấy nhỏ rồi ném tập hồ sơ của tôi xuống dưới đất, trên nóc những cái khác.
Tôi hỏi:
– Thưa ông, tôi phải chờ bao lâu?
– Tao không biết, mà cũng không cần biết. Đơn đã ra khỏi tầm tay tao rồi.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 25 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 40

Tối hôm đó, cơm nước xong, tôi phụ mẹ tôi rửa bát ở bờ giếng. Mọi người trong gia đình bác tôi thì đang quần trong phòng của chị Ánh Nguyệt cùng với một ông bác sĩ. Ngọn đèn cầy dưới đất, ngay cạnh chúng tôi, lặng lẽ ứa ra những giọt nến đỏ, bóng ngời, chảy dài xuống chiếc đĩa đồng. Ánh sáng le lói chỉ đủ cho mẹ tôi có thể có thể nhìn thấy công việc bà đang làm. Mưa đã tạnh. Dưới giếng sâu tối đen như mực. Mỗi lần tôi thả gầu xuống để múc nước chỉ thấy có một tiếng va chạm ướt át vẳng lên. Tiếng cót két của sợ dây thừng cũ kỹ xiết vào cái trục quay khi gầu nước được kéo lên nghe rền rĩ. Sau khi đã đổ đầy chậu, tôi ngồi xuống bên cạnh mẹ, lên tiếng:
– Mẹ ơi, con muốn hỏi mẹ cái này, được không mẹ?
Mẹ tôi đáp:
– Được chứ- Mẹ có còn nhớ chút gì về cha con không?
Mẹ tôi ngập ngừng. Mái tóc dài của bà phủ gần kín gương mặt nên tôi không nhìn thấy một nét biểu lộ nào. Quơ lấy bát đĩa, mẹ tôi nói:
– Mẹ có nhớ đôi chút.
Tôi hỏi tới:
– Cha con giống ai hả me?
Chùi tay vào cái khăn dắt bên cạnh mình, mẹ tôi ngước mắt nhìn lên trời cao. Dưới ánh sáng mờ mờ, đôi mắt mẹ tôi trông tối lại và bí mật như cái bóng tối trong cái giếng sâu kia. Mẹ tôi mơ màng:
– Đã bao nhiêu năm qua rồi. Sao bỗng nhiên con lại muốn biết?
Tôi nhún vai:
– Con cũng không biết nữa. Tò mò thôi mà, mẹ. Ai cũng có cha. Con muốn biết cha con còn sống không, vậy thôi.
– Cha con vẫn còn sống, đâu đó ở bên Mỹ ấy.
– Ông ấy có biết gì về con không hả mẹ?
– Có, con à. Khi cha con ra đi, mẹ mới sinh con được ba tháng.
– Mẹ ơi, mẹ gặp cha con trong trường hợp nào?
Mẹ tôi vươn vai, rên lên nho nhỏ, phàn nàn là mỏi lưng. Trong bóng đêm mờ ảo, mọi sự vật chung quanh chúng tôi dường như thật là yên tịnh. Trời trở lạnh. Bằng một giọng nhẹ nhàng, thì thầm như tự nói với mình, mẹ tôi kể cho tôi nghe về cuộc tình của bà với cha tôi:
Đáng lẽ ra mẹ được gả cho con trai của bạn ông ngoại. Ngày đó, không có cái chuyện lấy nhau vì tình, mà là vì môn đăng hộ đối. Tối hôm trước ngày cử hành hôn lễ, mẹ lén nhìn trộm mặt chú rể tương lai, dĩ nhiên là nhờ có sự trợ giúp của cậu út con. Cậu và mẹ trốn sau một bụi tre phía ngoài nhà hắn ta suốt hai tiếng đồng hồ dài dằng dặc trước khi nhìn được mặt hắn lần đầu tiên. Thiên địa ơi, sao mà hắn xấu khổ xấu sở! Mẹ khóc như cha chết, tủi cho thân phận mình. Làm sao mà có thể sống với người đàn ông này suốt đời! Thế là ngay đêm hôm đó, cậu của con, cũng trạc tuổi con bây giờ, đưa mẹ ra xe buýt để vô Sài Gòn.
Tôi ngắt lời:
– Mẹ ơi, bỏ nhà đi mà mẹ không sợ à?
– Sợ thôi hả? Mẹ thật là kinh hãi nữa ấy chứ. Nhưng cái gì mà mẹ đã định thì nhất quyết phải làm cho được. Ông ngoại điên tiết lên, thẳng tay trừng trị cậu của con rồi phóng vào Sài Gòn tìm mẹ. Trước khi ông ngoại vào tới Sài gòn, mẹ đã kiếm được việc làm rồi. Mẹ làm bàn tay mẫu cho một tiệm kim hoàn. Mẹ không chịu trở về. Ông ngoại phải xin lỗi nhà trai và hoàn trả lễ vật cho họ để từ hôn. Thật là một vụ tai tiếng lớn, may thay, ông ngoại không vì chuyện này mà từ mẹ. Mấy tháng sau đó, nhiều người Mỹ tới Việt Nam. Người mình đua nhau học tiếng Anh để hy vọng kiếm một việc làm tốt với người ngoại quốc, lương cao, và được trả bằng đô la thay vì tiền Việt. Mẹ rất hứng khởi với nền văn hoá đa dạng của họ nên mẹ ghi tên hoc lớp Anh văn ban đêm. Mẹ gặp cha con ở Sài Gòn, khi đó cha con đăng báo tìm một thông dịch viên, mẹ tới để được phỏng vấn, rồi kết quả là ở lại qua đêm. Cha con cao lớn, tóc nâu đen và rất đẹp trai, như tài tử điện ảnh. Ổng hớp hồn mẹ! Đoạn tiếp theo thì con biết rồi đó. Cha mẹ dọn về Nha Trang rồi thì mẹ mang thai con. Năm sau, con ra đời.
Trước mặt chúng tôi, bát đĩa đã được rửa sạch, lau khô, xếp gọn gàng trên khay. Mẹ tôi tiếp tục, giọng nhỏ nhẹ, ngậm ngùi:
– Khi con vừa được ba tháng thì cha con ra đi. Cha con rất buồn vì phải bỏ con lại. Thật ra thì ông đề nghị được mang con theo ông ấy, nhưng mẹ từ chối. Con có một người cha tốt như tất cả mọi người, con à. Dù chỉ sống với nhau có một thời gian ngắn, nhưng cha con đã yêu con vô cùng.
– Cha con tên là gì vậy mẹ?
Mẹ tôi thở thật sâu:
– Mẹ không nhớ.
– Sao mẹ lại không nhớ tên cha? Mẹ sống chung với ông ấy mà.
Mẹ tôi giải thích:
– Ông ấy là xếp của mẹ. Giống như tất cả mọi người trong công ty, mẹ gọi ông ấy bằng họ, ông Russo, mà thôi. Con có biết đã bao nhiêu năm trôi qua rồi không? Mẹ phải cố gắng xoá mờ hình ảnh này trong tâm khảm, con à.
Tôi hơi có ý trách:
Mẹ tôi phá lên cười:
– Mẹ thật sự không tin điều đó. Cha con chưa bao giờ biết tên thật của mẹ. Ông thường gọi mẹ là Nacy Kwan. Nhưng tên mà làm gì? Chẳng quan trọng đối với tụi này. Đó là vào thập niên sáu mươi ấy mà, ui dà!
Tôi hỏi:
– Mẹ có tin rằng đôi khi ông ấy còn nhớ tới mình không?
– Chắc chắn là có chớ.
– Liệu ông ấy còn muốn có con không?
Mẹ tôi nhíu mày:
– Mẹ không biết, con à. Nhưng nếu mà mẹ là cha con, chắc chắn là mẹ muốn có con rồi. Cha mẹ nào cũng hãnh diện vì có một đứa con như con, Kiên, con là đứa con ngoan.
Tôi đứng dậy vuốt nhè nhẹ lên mái tóc bà:
– Cám, ơn mẹ, mẹ ơi.
Đêm hôm đó, sau khi mọi người đã vào giường, tôi bò dậy rót thêm dầu vào cây đèn cũ. Cái giường mới của tụi tôi làm bằng bao bố tời đựng gạo đã phế thải do Tín lượm về từ sở của hắn. Nằm trên đó, tôi viết nháp lá thư gởi cho cha tôi, dù đã có sự giúp đỡ của cuốn từ điển Anh -Việt, và với vốn liếng ít ỏi văn phạm Anh mà tôi đã thâu thập được ở trường, quả thật ngoại ngữ là thứ khó khăn hơn tôi tưởng tượng. Dưới bóng đèn mờ, tôi cố gắng gởi gấm vào lá thư những điều tôi mong cha tôi biết, e ngại rằng liệu ông có thể hiểu được qua lá thư này chăng.
Lá thư như sau:

Thưa ông Russo,
Con là con trai cha tại Việt Nam. Cha chưa biết con. Tên con là Kiên Nguyễn, mười bốn tuổi. Con sinh ngày 12 tháng năm năm 1967. Đó là năm cha rời Nha Trang.
Sáng nay, khi con tìm được địa chỉ của cha, con thật là vô cùng mừng rỡ. Con đã chờ đợi cha từ bao nhiêu năm. Con nghĩ đến cha hàng ngày và mong mỏi được gặp cha.
Xin hãy đem con đi Mỹ. Con không có lý do gì để mà sống ở Việt Nam. Con luôn luôn bị đói và buồn bực. Con không có quần áo mới hoặc chăn. Con phải ngủ trên hai cái bao bố đựng gạo vì không có giường. Sau những cơn mưa, muỗi bay quanh nhiều vô kể và ban đêm ở đây lạnh vô cùng. May ra cha còn nhớ những chuyện này vì trước kia cha đã từng ở đây.
Xin viết thư cho con. Con mong nhận được tin tức của cha. Con không thể gửi ảnh cho cha vì hiện nay con chưa có. Nacy Kwan gửi lời thăm cha. Mẹ nói rằng cha yêu con và sẽ săn sóc con. Con rất mong những lời mẹ nói là đúng sự thực.

Con của cha
Kiên Nguyễn

Tôi đọc đi đọc lại lá thư, cố gắng sửa lỗi càng nhiều càng tốt trước khi bỏ vào phong bì. Rồi thì, mệt đừ với niềm hân hoan và hy vọng. Tôi lăn ra ngủ, tay còn ôm lá thư trên ngực.
Sáng hôm sau tôi dậy sớm, dự định đem khoe bức thư với chị Ánh Nguyệt. Vừa tới bếp thì tôi bị mẹ tôi chận lại. Tay bà cầm đôi đũa bếp. Sau lưng bà là chảo cơm chiên mỡ đang xém xèo xèo. Từ trong nhà bác tôi, vẳng ra ba tiếng chuông ngân rền trong sương sớm. Có mấy vị sư mặc áo vàng thấp thoáng trên lối vào nhà bác tôi, giữa mấy khóm hồng.
Mẹ tôi hỏi:
– Con định đi đâu?
-Con đi gặp Ánh Nguyệt.
Mẹ tôi buồn rầu:
– Thôi con ơi! Ở lại đây đi con, Ánh Nguyệt đã qua đời đêm qua rồi. Đừng làm phiền gia đình nó.
Tôi loạng choạng ngồi xuống, cái tin làm cho tôi chóng mặt và sững sờ. Bên ngoài, mưa đã tạnh, mây trắng lững lờ trôi trên nền trời nắng đẹp, ánh sáng phản chiếu từ những mảng sân đẫm nước lóng lánh như báo hiệu đã sang hè.
Một lúc sau, từ dưới sàn, tôi gượng đứng dậy bước ra khỏi bếp. Nơi bàn ăn nhà bác tôi, ông tôi ngồi như người mất hồn. Trước mặt ông là ly cà phê chưa hề đụng đến. Ngoài sân, bác trai với sự phụ giúp của các vị sư, đang tháo cái cửa lồng để thả hàng trăm con chim sẻ. Chúng rối rít vẫy cánh dưới nền trời nắng tưng bừng trước khi biến mất vào không trung. Bên ngoài phòng Ánh Nguyệt, bác gái nằm gục trên nền nhà, đầu tựa vào cái ngạch cửa xi măng. Bác than vãn thảm thiết trong khi đám con gái xúm xít xung quanh bác. Ngay khi vừa nhìn thấy mặt tôi, bác ngừng khóc, nhỏm dậy, nhào tới tôi, hỏi:
– Tao muốn biết nó nói gì với mày đêm qua.
Tôi giả bộ:
– Ai? Cháu không hiểu bác đang nói gì.
– Ánh Nguyệt, con tao. Nó đã nói chuyện gì với mày?
Tôi lắp bắp:
– Cháu không thể nói, thưa bác. Đó là chuyện riêng.
Bà rền rĩ:
– Tại sao không nói được? tao là mẹ nó. Nói cho tao biết.
– Thưa bác không thể được. Cháu đã hứa với chị ấy. Vả lại, chuyện đó không còn quan trọng nữa.
Ánh giận dữ trở lại mắt bà trong khi Hồng kéo bà đi ra xa tôi. Bà gào lên:
– Không quan trọng? Mày dám nói thế hả? Nó đợi mày bao nhiêu tuần, chờ mày trở về để có thể nói điều gì đó với mày. Mày dám không chia sẻ những điều con gái tao nói với mày à?
Tôi lắc đầu chạy mất.
Ngoài vườn, tôi gặp ông Ba Qùi đang bước về phía bếp nhà bác tôi, ông niềm nở:
– Ơ! Mày về rồi à?
– Thưa ông vâng.
– Hay quá! Tao có tin vui báo cho mày. Tao đã nói với ông hiệu trưởng. Ông ta bảo rằng mày cứ vui chơi thoải mái mùa hè này. Khoá học tới, mày có thể trở lại trường. Nhà trường đã thẩm định hạnh kiểm của mày nên sẽ không có sự trừng phạt nào đâu.
Tôi nhìn thẳng vào mặt ông:
– Xin cảm ơn ông. Hay là tôi nên nhờ mẹ tôi cảm ơn ông giùm tôi.
Nụ cười biến mất, ông cáu kỉnh:
– Đồ con lai vô ơn! Mẹ mày chẳng là cái thá gì. Bộ mày tưởng mẹ mày là bà hoàng chắc? Còn mày nữa, từ nay tránh xa con gái tao. Mày với không tới nó đâu. Khôn hồn thì đừng làm tao trở thành một trong những kẻ thù của mày.
– Nếu không vì mẹ tôi, tại sao ông giúp tôi?
Ông ta xua tay:
– Cút mau, tao phát lợm giọng với mày rồi.
Tôi bước qua mặt ông, đi thẳng ra nhà bưu điện để gởi lá thư cho cha tôi.
Ba tháng sau, một buổi sáng thứ bảy, người bưu tá tìm tôi để trao cho tôi lá thư mà chỉ nhìn phong bì, tôi nhận ra ngay lập tức. Cái thư bị trả về, chưa hề được mở ra, sau khi đã du lịch vòng quanh thế giới. Một dấu ấn đỏ chạy qua chỗ viết địa chỉ cha tôi có kèm theo hàng chữ “Hoàn trả lại người gửi – Địa chỉ không rõ”

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 25 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 39

Chúng tôi ngủ qua đêm tại Cam Ranh. Sáng hôm sau, xe đò tới Nha Trang. Trời đổ mưa từng đợt. Bây giờ là vào những ngày của tháng năm, mây xám che kín cả bầu trời và những cơn gió điên cuồng thổi tốc cơn mưa nặng hạt qua thành phố. Nước mưa tạt vào mặt khi mẹ tôi và tôi bước qua cách cổng trước khu nhà của chúng tôi. Những hạt nước mưa bắn tung toé trênmặt các chỗ trũng nước trong vườn đe doạ một sự ngập lụt trên mặt đất vốn đã sũng nước rồi. Dưới cây ổi, lũ vịt của nhà bác tôi đang đứng bất động, dấu mỏ vào trong cánh, và nhìn thời tiết bên ngoài bằng những con mắt hé mở. Bên dưới cánh cửa chớp nơi cửa sổ phòng ngủ của tôi, một đàn kiến mối đang lăng xăng tìm chỗ khô ráo làm nơi trú ẩn.
Chúng tôi đi vào nhà bằng lối cửa sau. Đem những bao bị vào trong bếp xong, mẹ tôi lôi từ phòng của bà ra một cái chiếu bằng cói và trải ra trước đôi chân lấm láp của tôi. Nhìn từ ngưỡng cửa, căn phòng của tôi nom rộng rãi hơn mọi khi. Cái tủ đứng, cái tủ có ngăn kéo đựng quần áo và cả những cái giường của chúng tôi đều biến mất.
Như để trả lời cho những thắc mắc trong lòng tôi, mẹ tôi nói:

– Để có tiền đút lót cho con được thả, mẹ bán tất cả rồi.
Mọi người trong nhà đều ngồi cả trong phòng của ông ngoại tôi, không nghe thấy tiếng chúng tôi trở về vì trời đang mưa to. Căn nhà nom tối tăm, ảm đạm vì chỉ có chút ánh sáng luà qua những cửa sổ. Ông ngoại tôi nằm ruỗi trên đệm như đang đắm chìm trong kinh Phật. Cái ống điếu còn nằm hững hờ ở một bên miệng của ông. Khung giường của ông tôi và bàn thờ cậu cũng không còn, chỉ để lại dấu tích mờ nhạt trên nền sàn xi măng mầu xám. Căn phòng trở nên trơ trụi ngoại trừ mấy món đồ của bà ngoại tôi. Bên cạnh tấm gối của bà, vẫn còn cái chầy và cái cối bằng đồng mà ngoại tôi vẫn thường dùng để giã trầu, kế đó là cái giỏ đựng quần áo của ngoại.
Thằng em tôi lúc đó đang ngồi quay lưng ra, bóp chân cho ông tôi. Ngay gần đó, em gái tôi chơi đùa với con Lu đang nằm cuộn mình bên cạnh cái gối của Bé Ti. Một bàn tay nhỏ xíu của nó nắm lấy cổ dề để cho con Lu nằm yên, còn tay kia thì vuốt bộ lông và nựng nựng vào cái nếp nhăn của con chó.
Lu là kẻ đầu tiên nhận ra sự hiện diện của chúng tôi. Nó nhẩy lên từ bàn tay của em gái tôi, vẫy cái đuôi và suả lên vài tiếng. Jimmy chaỵ lại với chúng tôi, mặt nhợt nhạt đi vì xúc động. Dưới ánh sáng lờ mờ, khuôn mặt của nó xanh xao như tạc bằng đá hoa cương. Tôi ôm chầm lấy nó và cảm thấy thân mình của nó run rẩy trong vòng tay của tôi.
Ông ngoại tôi lúc đầu còn sững sờ, sau thì quá đỗi vui mừng. Ông nhỏm dậy và ra hiệu cho tôi lại gần. Ông nói với tôi giọng đầy xúc động:
– Cám ơn Trời Phậtt đã phù hộ cho con được bình an.
Rồi ông lắc lắc cái đầu ra vẻ ngao ngán, nói tiếp:

– Lại đây với ông đi, tôi nghiệp cháu tôi.
Khi chúng tôi đang ngồi quây quần sau bữa ăn trưa, Bà bác của tôi tiến vào bếp bằng lối cửa sau. Mới chỉ cách vài tháng mà trông bà già đi đến cả chục tuổi. Khuôn mặt của bà xọp đi, đầy mệt mỏi và có vẻ khắc khổ hơn là bình thường. Ngay cả mái tóc vốn dầy và dài, bây giờ nom cũng mất sinh khí và đuỗn ra như một cái đuôi ngựa. Bà hấp háy đôi mắt sưng húp vì khóc và nói với tôi một cách ngượng nghịu:
– Mừng cháu đã về.
Rồi bà cúi nhìn xuống chân và tiếp:
– Vui lòng gíup bác một chuyện. Con gái bác nó muốn gặp cháu.
Tôi ngẩng lên nhìn mẹ tôi khi đó vẫn giữ im lặng và nhìn chăm chú vào bát cơm. Ông ngoại tôi khẽ vỗ lên vai tôi và nói:
– Đi đi, Kiên. Ánh Nguyệt nó vẫn đang chờ cháu. Đi gặp và chào từ giã chị ấy đi. Chừng mười lăm phút nữa ông và mẹ cháu sẽ gặp cháu.
Bác tôi lấy khăn hỉ mũi ầm ĩ. Vâng theo lời ông, tôi đứng dậy và đi theo bác.
Cái divan bằng gỗ gụ trước đặt ở trong phòng khách mà chị Nguyệt hay nằm trên đó trong suốt thời gian bệnh tật, nay được dời vào phòng chị theo lời chị yêu cầu. Vài bông sen mới nở và một ly sữa được đặt trên một cái quầy ở gần đó. Ánh sáng từ bên ngoài vào chiếu lên khuôn mặt trang điểm quá lố của chị thành những bệt trắng đen, khiến cho chị nom giống như một con búp bê Nhật Bản.
Vừa trông thấy tôi, chị Ánh Nguyệt ho lên dữ dội. Thân mình của chị gập lại trong vòng tay của ông bác tôi, cố hớp lấy chút không khí, hai tay chị ôm lấy ngực. Cả gia đình chị đều đứng rải rác ở bên ngoài phòng và nhìn chị, im lặng. Cơn ho cứ mỗi lúc một tăng mạnh hơn cho đến khi chị thổ ra một búng máu trên divan. Áo của chị cũng sũng máu, một phần bắn xuống sàn nhà bên dưới. Sau cùng, cơn ho dịu đi và chị vẫy tôi.
Tôi tiến lại gần giường của chị, bà bác thì đứng ngay bên cạnh tôi. Tôi nhấc một tay của chị lên và giữ lấy trong tay tôi, cảm thấy những ngón tay của chị lạnh như nước đá. Cha của chị bất giác kéo chị ra xa tôi.
Chị Ánh Nguyệt nhấc đầu lên. Mí mắt của chị năng triũ che lấp hai tròng đen. Chị thì thào:
– Em về rồi. Cuối cùng thì chị cũng còn được thấy em. Chị thì sắp hết rồi, Kiên ạ
Tôi chớp mắt, nghẹn ngào. Chị nói tiếp:
– Ba ơi, ba để cho con một lát riêng với Kiên, được không?
Đôi lông mày rậm rap. của ông bác tôi nhíu ngay lại. Chị nhắc:
– Con xin ba làm ơn. Chỉ ít phút thôi.
Ông bác đứng dậy và nói với tôi:
– Ngồi xuống đây và đỡ lấy chị. Có chuyện gì xảy ra thì kêu liền. Tụi tao ở ngay bên ngoài.
Tôi ngồi bên giường của chị, chị lùi mình lại, ngả vai vào ngực tôi. Thân mình của chị trơ xương, mỏng manh như thủy tinh. Đôi môi của chị xanh tái chị cố gắng mỉm cười, nhưng cũng chỉ có một bên mép của chị là nhếch lên được thôi. Một vệt máu đang đông dần trong không khí và biến thành mầu nâu sậm trên làn da xanh xao của chị.
Khi chỉ còn hai chúng tôi, chị Ánh Nguyệt thì thầm:
– Sáng nay chị đợi lâu ghê ông đưa thư mới đến, nhưng vẫn không có tin của anh Tống Ty.
Tôi nói tiếp:
– Tội nghiệp chị quá.
Chị nói:
– Này chị có cái này cho em.
Tôi xua tay:
– Đừng, chị Moonlight. Chị không phải cho em cái gì hết. Hãy cứ khoẻ lên thôi.
– Tin chị đi. Em sẽ thích cái này. Nhưng hãy đỡ chị nằm xuống trước đã.
Tôi nhẹ nhàng đặt chị nằm xuống giường và nhích ra xa để lấy chỗ cho chị. Chị chậm rãi lùa tay vào trong áo gối và mò mẫn tìm. Khi tìm thấy, chị lôi ra và giữ chắc nó trong lòng bàn tay. Miệng chị nhoẻn cười, vẻ mặt ảm đạm:
– Giá chị khoẻ thêm một ngaỳ để ra bãi biển, bơi lội dưới nước, nô đùa dưới nắng, thì đổi gì chị cũng đổi. Em có biết cảm giác như thế ra sao không? Dĩ nhiên là em đang mạnh khoẻ, em làm sao biết được. Em muốn đi chơi lúc nào không được. Nhưng đừng bao giờ lạm dụng nó nhé, Kiên à. Đời sống quí gía vô cùng.
Tôi gật đầu.
Chị ngước lên trần nhà để tĩnh trí lại, rồi tiếp tục:
– Cái ngày em lên chùa Long Sơn với chị, chị còn nhớ em cầu khẩn đức Phật Ngàn-Mắt-Ngàn-Tay về ba của em.
Tôi nói một cách cay đắng:
– Ờ, em cũng cầu xin cho sức khoẻ bà ngoại, nhưng bà vẫn mất. Và bây giờ, nhìn chị coi. Phép lạ không luôn luôn xảy ra với người nghèo đâu, chị Moonlight ơi.
Chị nài nỉ:
– Đừng có mất niềm tin. Ít nhất thì cũng đừng mất lòng nhân, Kiên ạ. Chị biết là em hận đời ghê lắm, và hơn ai hết, chị hiểu được cảm giác của sự bị ruồng bỏ. Hãy nhìn vào chị với cái bệnh tật này. Thiên hạ ai cũng sợ bị lây, đâu ai dám lại gần chị!
Chị ngừng nói và hớp lấy không khí.
– Chị ơi, chị sẽ khá hơn mà. Cứ từ từ thôi.
Chị lắc đầu:
– Điều đó không còn quan trọng nữa. Chị muốn xin lỗi em về gia đình của chị. Chị muốn em tha thứ cho họ.
Tôi tránh cái nhìn tha thiết của chị:
– Em không hiểu chị nói cái gì vậy.
– Xin em! Hãy tha thứ cho họ. Chị muốn nói với em một điều bí mật quan trọng. Em hãy hứa với chị là em sẽ dùng cái điều này mà làm tốt. Đừng xài nó để chống lại gia đình của chị. Em có thể thù ghét họ vì những chuyện họ gây ra cho gia đình em, nhưng chị thực không muốn có một cuộc khiêu chiến khác xảy ra trong nhà này.
Tôi nắm lấy tay chị:
– Chị Moonlight ơi, bất cứ chị muốn cái gì. Em xin hứa theo ý chị.
– Không, chị sắp chết rồi. Em phải thề chị mới chịu.
Tôi oà lên khóc và gật đầu. Người thư thái hẳn. Chị giơ bàn tay lên và xoè mấy ngón để lộ ra một mảnh giấy nhỏ. Mọi nếp nhăn trên giấy đã ngả sang mầu nâu đậm, còn mực viết ở trên thì đã phai mờ. Tôi đón lấy trên tay chị. Nó có vẻ như là một mảnh của cái bao thư, có nét chữ mẹ tôi nguệch ngoạc vài chữ ngoại ngữ. Tôi hỏi:
– Cái gì thế này, chị Moonlight.
– Đấy là điạ chỉ của ba em. Bây giờ nếu em muốn thì em có thể ghi thư cho ông ấy được rồi.
Quá kích động, tôi lắp bắp:
– Làm thế nào chị có được cái này. Mọi thư từ đều đã đem chôn và bị mất từ mấy năm nay rồi. Mẹ em đã xới tung cả bồn cỏ lên để tìm rồi mà.
Chị Ánh Nguyệt nấc lên vì nghẹn đờm. Rồi bỗng nhiên, hai má của chị xanh xao bỗng hồng lên rồi trở thành ửng đỏ, nhưng rồi chị trấn tĩnh lại và thở một vài hơi thật sâu. Bà bác tôi ló đầu vào dòm chừng nhưng chị ra hiệu cho bà lui ra. Chị nói:
– Kiên ạ, chị không có lời giải thích cho em. Chẳng có lời lẽ nào chị nói ra lại có thể bào chữa cho được thái độ của gia đình chị. Bây giờ thì em hiểu tại sao chị không trao cái này cho em sớm hơn. Làm ơn vì chị, em đừng tiết lộ cho ai nhé.
Tôi ngắm nghía mảnh giấy trong tay:
– Có đúng là điạ chỉ của ba em không. Cái tên bị mất đi một nửa.
– Chị cũng thấy. Nhưng chị chỉ có thế. Chị cầu cho em có nhiều may mắn để tìm ra cha em. Và đến khi đó thì…
Chị ngừng lại. Tôi nói:
– Thì sao hả, chị Moonlight?

Chị nức nở:
– Em hãy tìm anh Tống Ty cho chị. Nói với anh ấy rằng trái tim chị tan nát. Nói với anh ấy rằng chị đã chờ anh ấy theo anh ấy yêu cầu, nhưng người đưa thư không bao giờ tới.
Tôi lau những giọt lệ trên mặt chị, và hôn lên trán chị trước khi ra khỏi phòng. Mẹ của chị đẩy cách cửa ra, chaỵ ùa vào. Ông ngoại tôi đi theo tôi trở về nhà, thắp một ngọn nến trước ông táo rồi chuẩn bị pha trà. Tiếng than khóc của bà bác tôi vang vọng yếu ớt, cuốn đi theo mưa.

Female rickshaw pullers of Tokyo – in pictures

Issei Kato/Reuters

Mon 2 Oct 2023 17.15

Photograph: Issei Kato/Reuters

Post by Sơn râu 25 Oct 2023

Akina Suzuki, 19, drives a rickshaw around Asakusa district in Tokyo.

Photograph: Issei Kato/Reuters

Những người kéo nữ thường bị thu hút bởi nghề do nam giới thống trị thông qua mạng xã hội, điều này đã mang lại cho một số người trong số họ một lượng người theo dõi mạnh mẽ trong nước và quốc tế. Ngoài thể lực tốt, người kéo xe còn phải có kiến ​​thức sâu rộng về Tokyo và biết cách thu hút khách du lịch. Người kéo đi bộ hoặc chạy trung bình 20km (12 dặm) mỗi ngày. Những tài xế nổi tiếng nhất kiếm được hơn 1 triệu yên (5.500 bảng Anh) mỗi tháng

• Những người kéo xe kéo tham dự cuộc họp buổi sáng ở quận Asakusa của Tokyo

  • Học viên Yumeka Sakurai, 20 tuổi, được đồng nghiệp dạy lái xe kéo
  • Sakurai gia nhập Tokyo Rickshaw sau khi thấy những người kéo xe tích cực quảng bá bản thân trên mạng xã hội và sau bốn tháng đào tạo, giờ đây cô tự hào chở được hành khách trên chiếc xe kéo của mình
  • ‘Tôi đã xem nhiều video về những phụ nữ chăm chỉ tập luyện và trở thành tài xế xe kéo. Họ đã cho tôi niềm tin rằng tôi cũng có thể làm được nếu cố gắng hết sức’, Sakurai nói
  • Yuka Akimoto, 21 tuổi, khoe giấy chứng nhận nhân viên của mình. Cô nói về công việc: “Tôi không phủ nhận rằng thời gian đầu công việc vô cùng khó khăn. ‘Tôi không phải là vận động viên thể thao và chiếc xe đẩy có vẻ nặng nề.’
  •  Người kéo xe Shiori Yoshida (phải), 28 tuổi, giúp đồng nghiệp mới làm quen Riho Arai, 19 tuổi, chuẩn bị đi làm tại văn phòng ở quận Asakusa
  • Akina Suzuki, 19 tuổi, lái xe trong chuyến tham quan có hướng dẫn viên cho một gia đình từ Đài Loan quanh quận Asakusa. Xe kéo có thể nặng tới 250kg (551lb)

Akina Suzuki (phải) và Misato Otoshi, 30 tuổi, phát trực tiếp trên mạng xã hội để quảng bá hoạt động của mình

Shiori Yoshida cố gắng thu hút khách hàng tham gia chuyến tham quan có hướng dẫn

Aika Terayama, 20 tuổi, lái xe kéo quanh quận Asakusa

Yumeka Sakurai trong giờ học lái xe và hướng dẫn viên du lịch

Sakurai (trái), nhận phản hồi sau buổi học từ người bạn kéo xe Mii Suzuki, 24 tuổi, đang đảm nhận vai trò huấn luyện viên tại công ty

Yuka Akimoto chuẩn bị xe kéo của cô trong nhà chứa xe

  • Misato Otoshi lái xe kéo quanh quận Asakusa

Xe kéo đi ngang qua Kaminarimon ở Tokyo

  • Akina Suzuki lái xe quanh quận Asakusa
  • Suzuki chụp ảnh một gia đình đến từ Đài Loan