This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Alexandre Meneghini and reporting Sarah Marsh, Reuters
Wed 3 May 2017
Post by Sơn râu 27 Oct 2023
Những con cua đến từ các khu rừng xung quanh băng qua đường cao tốc để sinh sản trên biển ở Playa Girón Ảnh: Alexandre Meneghini/Reuters
Hàng năm, sau mùa giao phối, hàng triệu con cua đất đỏ, vàng và đen xâm chiếm Playa Girón, ở phía đông của Vịnh Con lợn hay Bahía de Cochinos. Cua di cư từ các khu rừng xung quanh đến vịnh để đẻ trứng ở biển. Emilie Lannegrand, một du khách người Pháp, cho biết: “Thật ngạc nhiên và ấn tượng khi thấy nhiều con cua cùng một lúc và chúng băng qua rất nhanh”.
Càng cua chọc thủng ô tô trên đường ven biển
Cua thường sống về đêm, xuất hiện vào lúc bình minh và hoàng hôn và băng qua những con đường ven biển để sinh sản. Theo Jorge Luis Jimenez, quan chức bộ khoa học làm việc tại công viên quốc gia, mặc dù nhiều con bị ô tô đè lên nhưng điều này không đe dọa đến sự sống còn của loài này.
Edian Villazon, người điều hành túp lều bán đồ ăn đối diện biển này, cho biết: “Ba mươi đến bốn mươi người có thể vào mà bạn không hề nhận ra”. ‘Chúng tôi phải luôn đóng cửa lại.’ Anh ấy không phục vụ thịt cua vì thịt được cho là có độc, mặc dù nhiều người dân địa phương vẫn săn bắt chúng để tiêu thụ.
Đối với người dân địa phương, việc bắt cua là một việc làm ăn tốt. Ito Molina, 45 tuổi, cho biết khách du lịch sẽ vui vẻ trả 10 USD cho việc sửa lốp, gần bằng một nửa mức lương trung bình của bang (khoảng 25 USD/tháng). Anh ta sử dụng bao cao su để vá lốp xe vì chúng rẻ và sẵn có. Ông nói: “Tất cả ô tô đều đi dọc theo con đường này và đều bị thủng lốp. ‘Vậy nên chúng tôi đứng đó và sửa lốp’
Cua đã tới mép nước
Sau khi thả trứng, cua trưởng thành trở về hang rừng, trứng nở ở biển và sau đó cua con trở về rừng dưới dạng ấu trùng megaopapa
Một du khách bước gần một con cua ở Playa Girón. Số lượng du khách đã tăng lên trong những năm gần đây, song song với sự bùng nổ du lịch nói chung kể từ khi căng thẳng Mỹ-Cuba
Các loài sinh sôi nảy nở nhất là Gecarcinus ruricola và Lateralis, không phải là loài đặc hữu của Cuba
Một con cua đẻ trứng ở biển
Bức tượng con cua khổng lồ trên tấm biển ở lối vào Playa Larga
Sáng hôm nay, sau khi toán 2 cũng như các toán khác, xếp hàng đôi ra đến chỗ quy định, ngồi chờ cán bộ gọi toán xuất trại như mọi khi, anh Tiềm toán trưởng tiến ra gần cổng trại chỗ đám đông cán bộ, bộ đội vũ trang để báo cáo như thường nhật với ông Lê Trí Miễn, cán bộ toán. Tiềm trở về chỗ toán ngồi xếp hàng, anh đến chỗ tôi tươi mặt:
– Ông Miễn chỉ định phân công Bình với Nguyễn Thanh Đương, hôm nay vào K2 sửa chữa sàn và cửa. Bình theo toán ra lán thủ công lấy dụng cu, rồi có cán bộ dẫn vào K2.
Mấy người ngồi gần nghe thấy đều ồ… ồ… lên, anh chàng Gôm ré lên:
– Tôi xin tình…
Anh Đồng ngồi cạnh đấy đã cắt câu nói của Gôm:
– Không phải ai cũng được vào K2; phải tương đối nghiêm trang, đứng đắn, chứ ồn ào như cậu, vào đấy để làm loạn à?
Ra tới lán, sau khi anh Tiềm đứng nghiêm trang báo cáo với tên công an võ trang, con số toán vừa xuất trại theo thủ tục, tôi và Đương chạy về phía cầu bào của mình để lấy dụng cụ. Tôi còn đang lúi húi xếp vài cái dụng cụ cần thiết vào cái hòm con cho Đương xách đi, thì anh Tiềm tiến lại cầu bào, bảo tôi:
– Ông Miễn bảo Bình lên gặp ông!
Khi tôi bước vào căn buồng riêng của ông, ông nói ngay:
– Tôi định để anh Chăn đi với anh, nhưng anh ấy phải ở lại tổ kỹ thuật, vả lại “thầy 1 thợ đôi” anh chỉ cần 1 thợ phụ thôi.
Khi tôi chào ông bước ra, ông ta còn nói với theo:
– Tôi tin tưởng nơi anh.
Tôi và Đương xách hòm dụng cụ và cái cưa con đi ra cổng lán thủ công, cũng là lúc một tên công an võ trang đang đứng với ông Miễn ở cổng lán, đi ra theo.
Mây trời lãng đãng vài vạt lửng lơ không một ngọn gíó, cây rừng đứng im phăng phắc. Mới giữa tháng năm mà hôm nay sao nóng lạ? Chỉ hơn 2 cây số đường mòn, mà áo tôi và Đương đã ướt đẫm mồ hôi; tên công an đi phía sau chắc cũng chảy nước! Chẳng nói với nhau một lời, tuy cùng một quê hương nhưng thành 2 thế giới, mỗi bên đều có một bức tường riêng.
Trong khi tôi với Đương thì ríu rít chuyện trò, như được xổ lồng, phơi phới đón nhận cảnh núi rừng thiên nhiên. Tôi dõi mắt theo một đôi bướm vàng đang đuổi nhau, chúng lả lơi luồn dưới cành này, lách qua mấy cành kia nhởn nhơ nhung nhăng, phớt lờ coi như không có chúng tôi đang đi ở trên đường; nghĩ lại cảnh đời của mình, một hơi thở dài nhè nhẹ xì ra không nín được.
Kia rồi, đã tới cổng của trại nữ, trại vây bọc bằng nứa cây, giống như phân trại E tôi đã ở. Nhìn thoáng bên trong có chừng 7, 8 ngôi nhà tranh dài như lán chúng tôi, ngoài khu A trại chính. Một nữ cán bộ, mặc bộ đồ vàng, chừng ba chục tuổi, tay cầm một cuốn sổ và một nữ tù trẻ hơn mặc áo sọc, quần đen ra cổng đón chúng tôi. Tên vũ trang nói gì với cán bộ nữ, bấy giờ y quay lại mới mở miệng nói với chúng tôi:
– Khoảng 5 giờ chiều tôi sẽ trở lại đây đón các anh!
Chúng tôi đều dạ …theo thủ tục, trong khi y đã quay ngoắt đi trở lại con đường rừng. Người nữ cán bộ quay lại vẻ mềm mỏng:
– Các anh đã ăn sáng chưa? Tôi là cán bộ trực trại, còn đây là chị Mai, trật tự thi đua của trại, chị ấy sẽ dẫn các anh đến buồng số 3 có một cái sàn bị sập, có gì cần cứ nói với chị.
Thấy người nữ cán bộ trực trại thái độ nhã nhặn, nên tôi cũng cởi mở:
– Cảm ơn bà… chúng tôi đã ăn sáng rồi!
Rồi tôi quay sang cô Mai trật tự, hơi gật đầu như chào:
– Cô vui lòng dẫn chúng tôi tới ngôi nhà số 3.
Không hiểu vì lý do gì, cô Mai có vẻ hơi ngập ngừng không được tự nhiên, khi dẫn chúng tôi đi. Tôi tươi mặt dịu dàng hỏi:
– Một sự tình cờ được gặp cô, cô có thể vui lòng cho chúng tôi thăm hỏi cô một chút, có được không ạ?
Cô nhỏ nhẻ khe khẽ:
– Anh cứ hỏi đi!
Tôi thấy cứ thẳng thắn nêu vấn đề, điều gì mình muốn biết. Quan điểm của tôi: cởi mở thì sẽ gặp cởi mở, hoặc ngược lại, vì thế tôi nói thẳng:
– Dù sao chúng ta cũng đều là tù cả, tôi đã bị tù 10 năm rồi, còn cô?
Cô mở to mắt hỏi như ngạc nhiên:
– Anh tội gì mà ghê thế? Em bị bắt hơn 2 năm rồi!
Để trông cái thông thường, cần giản dị:
– Tội của tôi thuộc về tư tưởng xét lại hiện đại! Còn cô?
Thấy cô có vẻ ngập ngừng, ngại ngần, tôi nói luôn:
– Nếu cô thấy hơi ngại, thì thôi! Không sao cả!
Cũng là lúc đến một cái cửa, tôi nhìn lên thấy số 3 bằng sơn trắng: Vào trong buồng, nhìn dọc sang hai đầu nhà; cũng sàn trên, sàn dưới bằng gỗ giống như những lán chúng tôi đang ở. Cô Mai dẫn chúng tôi tới gian thứ hai phía trái, sàn dưới bị gẫy sập xuống. Một cái cửa vào nhà cầu bị rơi bản lề ra, nên cửa phải dựng ở bên cạnh. Một gian khác có mấy tấm ván long đinh ra, vài chỗ khác không đáng kể. Cả buồng có 3 người bị ốm, có lẽ ông Miễn đã biết trước nên đã bảo tôi đem đi, 2 hộp đinh 5 phân đóng sàn.
Đương và tôi, bắt đầu bỏ đồ nghề hì hục thao tác, chúng tôi làm được khoảng 1 giờ, nóng quá tôi xin lỗi 3 người bịnh để cởi trần. Khoảng 10 giờ, cô trật tự Mai đưa đến cho chúng tôi một cái rá con đựng sắn luộc, chừng hơn 1 ký còn đang bốc khói, cô nói một cách ngại ngần:
– Đây là sắn ở nhà bếp còn thừa, bà cán bộ trực trại bảo em đưa lên, mời các anh.
Dù trong bụng chúng tôi đang đói, nhưng cũng không khao khát ăn như thế, tuy vậy tôi cũng nói thẳng ý này.
– Xin cảm ơn cô Mai, chúng tôi đã ăn sáng ở trại, nhưng cô đã đưa ra chúng tôi xin nhận, và nhờ cô cám ơn bà cán bộ trực trại.
Trong lúc cạy sửa 1 số sàn, chúng tôi thấy ở những chỗ kẽ, phía dưới sàn 2, 3 miếng bằng gỗ nhẵn nhụi như cái chầy con, đường kính khoảng 2 phân rưỡi đến 3 phân, dài chừng 14, 15 phân. Nguyễn Thanh Đương giơ ra hỏi tôi, tôi cũng lắc đầu, chịu chết, chẳng biết họ dùng những cái đó để làm gì, nên chúng tôi cứ để lại chỗ cũ, sau khi sửa sàn xong. Một lúc sau, cô Mai đến nhẹ nhàng nói:
– Gần 12 gìờ, xin các anh nghỉ tay, mang dụng cụ lên chỗ phòng trật tự. Các anh ra giếng rửa mặt, tay chân, rồi trở lại phòng trật tự đã có cơm sẵn.
Miệng nói tay cô chỉ cho chúng tôi một gian nhà con con, gần phía nhà bếp.
Tôi và Đương đang lúi húi rửa tay chân, mặt mũi, thì ầm ầm, bình bịch, tiếng la hét, rồi một đám đông hàng trăm người già trẻ lớn bé, nhàng nhàng nhỡ nhỡ, đàn bà, con gái, trần truồng như nhộng, từ cổng trại ùa vào trong giếng…
Thật là bất ngờ, tôi và Đương quýnh cả lên! Tội nghiệp anh chàng chủng sinh Đương, cố chạy ra cửa giếng, bị họ đẩy xô vào ngã xấp, ngã ngửa mặt đỏ như gấc chín. Còn tôi cũng chẳng hơn gì, tôi không biết làm sao, chạy ra không được. Phải nói 4, 5 chục người xô vào trong giếng, quần áo họ đã vắt hết lên liếp chung quanh giếng; họ giật lấy cả cái gầu tôi đang rửa.
Trong thâm tâm cũng muốn nhìn cho rõ khi họ cởi truồng, nhưng vì họ đông quá, làm cho tôi không dám mở mắt ra nhìn, đành lấy khăn mặt che đôi mắt bằng hai tay, mặc cho họ đẩy xô chỗ này, sang chỗ khác. Giữa những tiếng la hét, những tiếng cười rũ rượi và nước dội xối xả. Mãi hàng mươi phút sau tôi và Đương mới thoát ra khỏi giếng, mất cả dép và khăn mặt mà không dám vào lấy.
Suốt đời tôi không quên được, anh chàng Đương ngày nay (2002) đã là một linh mục thuộc địa phận Qui Hậu, Tân Kỳ, Nghệ An, cho tới khi về với Chúa thì cũng chắc chẳng thể quên.
Thực ra, bên trại tù đàn ông của chúng tôi, thì mùa Hè nào cũng vậy. Cả khu trại có một cái giếng, cho nên toán nào cũng thì thọt, mánh với công an võ trang cho về sớm mươi phút trước. Về chậm, về sau, giếng chỉ còn nước đục; nếu không nói là cạn hết, chỉ còn nước bùn.
Nhưng trước đây, ở trại tù đàn ông chúng tôi, cái cảnh vào khỏi cổng trại, là tranh thủ vừa chạy vừa cởi quần áo để xông vào giếng, là chuyện bình thường. Nhưng bây giờ tôi mới hiểu do hoàn cảnh khó khăn bên trại nữ cũng vậy, chỉ mấy anh chàng bộ đội vũ trang ở mấy chòi gác là bở. Mùa Hè, ngày nào cũng được rửa mắt để nhìn, để chiêm ngưỡng những “miếng ngọc” của trời.
Trời sáng dần, nhìn sang phía hai chiếc ao 1 và 3 đã thấy những bóng người trong sương trắng. Đầu óc tôi vẫn còn chìm nghĩm vào những dòng tư tưởng mênh mông; bỗng tiếng của anh chàng Gôm, trong đám vớt bèo ở dưới ao ré lên:
– Đỉa …! Đỉa…!
Rồi y chạy bổ lên bờ. Tiếp theo có nhiều tiếng gào giật đùng đùng:
– Đỉa ….! Đỉa ….! … Nhiều đỉa quá!
Một số người nhào vào bờ. Chàng Gôm mặt tái ngoét, hai tay thay nhau bấu, lôi một con đỉa hẹ như cái sơ mít đang bám phía trên đầu gối, chân nhẩy giẫy đành đạch. Gôm lính quýnh mãi không lấy được con đỉa ra, cứ dứt đầu này thì đầu kia nó lại bám vào da. Thương hại, tôi chạy lại bên Gôm, nhổ một bãi nước bọt vào tay, rồi xát vào đùi Gôm, chỗ con đỉa bám. Tôi lôi con đỉa ra một cách dễ ợt, rồi ném mạnh ra xa vào chỗ đống bùn, trước những con mắt mở to của Lê Văn Kính và thầy tu Nguyễn Thanh Đương. Kinh người miền Nam hỏi tôi một cách trầm trồ:
– Bình bạo thế! Làm sao lại phải dùng nước bọt?
Tôi cười thản nhiên:
– Ồ, còn nhỏ, tôi mò cua bắt ốc là thường. Còn nước bọt nó trơn, con đỉa không bám được vào da nữa. Người ta nói: “Dai như đỉa đói” là như thế!
Miễn, cán bộ toán và tên CAVT (công an vũ trang) cũng tươi mặt mỉm cười nhìn tôi. Phía cuối toán cũng có vài anh nữa ở dưới ao, đang ném những con đỉa ra mãi tít xa ngoài giữa ao. Một số anh nhanh nhẩu quát:
– Hãy ném đỉa lên bờ, ném xuống ao, nó trở lại cắn nữa!
Cả cái vòng tròn của cái ao to, nhiều toán cũng ném đỉa tứ tung. Xa xa hai chiếc ao hình sự và K2 cũng đang í-ới về đỉa. Bỗng có tiếng những cô gái hét lên, chạy xôn xao, nhưng xa quá nên tôi chỉ thấy thấp thoáng trong sương mờ. Có mấy anh ở dưới ao, hướng về tên CAVT cao giọng:
– Đề nghị cán bộ, cho mấy chúng tôi tình nguyện sang bắt đỉa cho phía phụ nữ đó ạ!
Tên vũ trang đứng gần phía đống lửa, mắt y long lanh nhìn sang phía K2, đầu lắc lắc, miệng y lại cười cười. Tôi có cảm giác tưởng như y muốn nói:
– Nếu tự nguyện sang bắt đỉa cho phụ nữ được thì tôi chả để đến phần các anh đâu!
Lẫn vào trong tiếng trống, tiếng loa hò hét; bỗng một hồi kẻng lanh lảnh phía cổng trại như ngoáy vào sương mù làm cho những tiếng loa, tiếng trống im bặt. Giờ hạnh phúc, giờ giải lao, giờ ăn sắn bồi dưỡng đã đến rồi; một đoàn người gánh gồng từ trong cổng trại đang tiến ra các bờ ao. Nguyễn Huy Lân và mấy anh tổ trưởng toán 2 đang lúi húi trải một tấm nylon xanh cũ, nhiều chỗ đã đen nhẻm xuống đất gần chỗ đống lửa, để cho anh nhà bếp đặt gánh sắn còn bốc hơi.
Mùi sắn thơm ngọ, phả vào trong màn sương đặc, nhưng chợt có một mùi thơm khác, mùi thơm lạ, mùi của mều, của protéin. Mùi thơm ngậy, luồn vào trong gió rồi lách vào mũi của mỗi người, làm cho nước miếng của tôi đã rỉ ra trong miệng. Tôi nhớn nhác nhìn về phía đống lửa: Bùi Tâm Đồng, Lê Văn Kinh, Nguyễn Văn Gôm và Lò Văn Lui, anh nào mồm cũng đang nhóp nhép nhai. Mặc, đám đông đang ríu rít chia sắn bồi dưỡng, tôi sà đến chỗ đống lửa. Miệng còn đang nhai, Lê Văn Kinh giơ cho tôi một miếng đen đen cháy, bằng ½ ngón tay út vồn vã:
– Còn một con cá bống cơm đây, phần Bình.
Nước bọt đã ứa ra miệng, tôi cầm lấy với ánh mắt biết ơn. Của quý mà anh em dành cho; miệng nhai, mũi ngửi nó vừa thơm vừa bùi lại ngầy ngậy, mắt sáng ra háo hức:
– Cá bống cơm ao bèo bồng, sao mà ngon thế hở trời!
Tôi chợt thắc mắc:
– Sao cá bống mà lại không có xương sống?
Cả 4 người đều cười như nắc nẻ:
– Đỉa đấy ông bạn ơi! Làm gì ra có cá bống!
Nghe thế, tôi cũng thấy hơi nhờn nhợn, lợm giọng nhưng kệ nó, vì ngon quá! Hơn nữa, cả 4 người họ đang đi lùng sục bới trong những đống bùn. Từ sớm tới giờ mọi người vất đỉa lung tung, bây giờ lại đi tìm. Anh nào chưa nếm mùi “cá bống cơm” thì còn lửng lơ, chỉ nhìn quan sát tò mò. Anh nào đã nếm mùi thì đều đôn đáo, tay cầm sắn, mồm nhai, nhưng mắt vẫn nhớn nhác nhìn đây đó để tìm “cá bống cơm”. Thậm chí có mấy người còn lội hẳn xuống ao, chân tay khua động nước, rồi đứng yên chờ cho đỉa đến cắn, bắt đem lên nướng. Thành ra giờ đây lại đi tìm đỉa, chứ không còn sợ đỉa nữa.
Câu chuyện “cá bống cơm” này đã hơn 30 năm, bây giờ Lê Văn Kinh (người nhái) đang ở Florida đôi khi trên phone tôi và Kinh vẫn còn nhắc lại để rồi hai ông già còn cười, cùng nhớ lại “Đàn cá bống cơm ao bèo” của muôn năm cũ.
Gần nửa đêm hôm qua, tôi giật mình thức giấc vì tiếng báo cáo đi cầu của anh Lồ Cao Diu ngay sàn trên, đối diện với tôi. Tôi cứ nằm nghe tiến gió rừng rì rào lẫn với những tiếng gáy cò cử của một số người trong buồng: bỗng hai tiếng sấm đoành… đoành ở phía Tây, làm rung rinh cả căn buồng. Rồi nhu có một chiếc xe lửa nhiều toa gầm ghì chạy ngang dọc trên bầu trời. Những lằn chớp nháy, có lúc xanh lè ngoài cửa sổ, một trận mưa như đổ nước xuống từ trên trời.
Mưa rào rào xối xả vào mái nứa, vào phên tre, gió càng mạnh thốc vào cửa sổ. Đã có nhiều người dậy hút thuốc lào, đi vào nhà cầu, nên không ai còn phải báo cáo nữa. Thực ra cái khâu tù đi ỉa, đi đái đêm phải báo cáo này, đã từ lâu không còn nghiêm ngặt áp dụng nữa, như tôi đã trình bày 2 năm trước đây, ở phân trại E; cho nên giờ đây các buồng đi cầu đêm, rất ít người báo cáo. Có chăng chỉ còn một số người, đa số là dân tộc hãy còn do thói quen, tính mộc mạc ngoan ngoãn chấp hành.
Nằm mãi nghe sấm chớp, gió mưa gào thét tôi chợt nhớ tới giọng ca rên rỉ khàn khàn, đùng đục, dài lòng thòng của ca sĩ Thanh Thúy trong bài “Mưa Rừng” thủa nào:
Mưa rừng ơi… Mưa rừng.. Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên, phải chăng mưa buồn vì lòng người…. Mưa sầu vì tình đời … Lá vàng rơi lìa cành … gợi ta nỗi niềm riêng….. Ôi! Ta mong ước xa xôi, nhưng đêm mãi cô đơn. .. gửi tâm tư về đâu?… Mưa thương ai? Mưa nhớ ai?….Mưa rơi như nhắc nhở, mưa rơi trong lòng tôi… Mưa rừng ơi! Mưa rừng…. Tìm đâu hỡi ơi… bóng ngày xưa?……
Rồi tôi đi vào giấc ngủ muộn lúc nào không hay.
Sáng hôm nay, trời trong xanh không một vẩn mây, cảnh vật núi đồi như được lau chùi cọ rửa sạch sẽ đêm qua. Ngồi xếp hàng đôi, bên cạnh Đinh Sơn BK, tổ trưởng tổ kỹ thuật, chờ cán bộ Ý trực gọi đến toán 2 xuất trại như mọi khi, Sơn ghé sang tôi hỏi nhỏ:
– Bình có biết máy bay của Lâm Bưu trên đường chạy trốn, bị tên lửa bắn rơi tan xác ở Tân Cương do chính Mao trực tiếp ra lệnh không?
Tôi lắc đầu, ngạc nhiên vồ vập:
– Tin ở đâu, có chắc không?
Sơn càng nói nhỏ hơn nữa:
– Do tự giác, ngoài dân họ đồn ầm lên! Họ nói do đài BBC đưa tin.
Phần vì thấy sự việc còn mãi ở bên Tàu xa xôi, không trực tiếp giải quyết gì đến cảnh đời của mình; phần khác tâm trí tôi còn bao nhiêu thấp thỏm với ngôi nhà xây số 3. Đêm qua, khoảng 2 giờ tôi nghe nhiều tiếng xon xao và tiếng chân của một số đông người, đi từ cổng trại đi vào. Thấy bác Tiến đã dậy rồi, tôi ghé sang mùng bác nói nhỏ:
– Bác ơi! Không biết tù ở đâu đến, mà lại đến khuya thế?
Bác thì thào:
– Bác cũng không đoán ra!
Rồi bác nhấc màn chui ra, đi vào nhà cầu.
Mới sáng sớm, khi cán bộ điểm xong, tôi phải phiên trực mâm lấy sắn sáng. Tôi chạy hộc tốc như các mâm khác, xuống bếp để lĩnh soong sắn. Vì có giao tình riêng với anh Khuê toán trưởng nhà bếp, tôi đã lủi vào buồng anh thăm hỏi, tù nào ở đâu chuyển đến đêm qua? Do những liên hệ phục vụ cơm nước, nên anh đã cho biết: có 52 Biệt Kích thuộc trại Phong Quang Yên Bái chuyển đến ngôi nhà số 3 đêm qua.
Lúc đầu, chắc chưa phân bổ tổ, toán để lao động nên không thấy có ăn sáng. Hàng ngày, cứ khi nào xuất trại xong 9, 10 giờ sáng, nhà bếp mới khênh cơm nước lên, đi thẳng vào trong cổng khu nhà số 3.
Hầu hết anh em BK (Biệt Kích) ở trại 1, đều băn khoăn nghe ngóng tìm hiểu xem có những ai quen biết, thậm chí có cùng toán BK của mình chăng? Mới hơn một tuần, Gôm ở dưới buồng của anh Thái y tá về cho biết: sáng nay có một anh BK từ ngôi nhà số 3, được khênh xuống bệnh xá, hơn một giờ sau đã chết rồi. Nguyễn Văn Thú, Chăn và tôi định kín đáo chiều nay đi làm về, sẽ ghé xuống xem BK đó là ai? Vì sao chết để cùng chia sẻ gọi là một chút nghĩa tình của anh em. Nhưng cho tới lúc chúng tôi đi làm về, thì anh Thái lén lúc cho biết: Đã đem đi chôn lúc 2 giờ trưa rồi. Anh Thái ghé vào tai tôi như nói riêng:
– Do may mắn nên Thái biết được tên người chết là Vũ Khắc Hải, chết do bệnh lao, suy nhược, vì không có thuốc.
(Mãi gần một năm sau, khi Hiệp Định Paris 27-1-1973 sắp ký, tôi mới biết rõ anh VKH thuộc toán Roméo gồm 10 người, ra Bắc từ 19 tháng 11-1965)
Thật là bất ngờ, tối hôm qua, sau khi cán bộ trực Ý vừa điểm buồng xong chừng 40 phút; anh em vừa họp tổ sinh hoạt hàng tuần, lại có tiếng chìa khoá rủng rẻng ở cửa buồng, rồi cửa mở. Cán bộ Ý bước vào buồng, bên ngoài còn lố nhố một số CAVT. Hắn đứng giữa nhà dõng dạc:
– Những anh có tên sau đây, chuẩn bị công, tư trang quần áo khi gọi đến tên trong vòng 10 phút, phải ra khỏi buồng để chuyển trại.
Ai cũng mắt mở to, thao láo nín thở lắng nghe; lần lượt 19 anh, hầu hết là BK của toán 2 và 3. Tôi tập trung tinh thần lắng nghe, đợi gọi tên mình, óc lướt nhanh những gì còn mắc mứu với những người trong buồng, cũng như buồng khác. Trong buồng của toán 2 (mộc) và 3 (xẻ) gồm 97 người. Có chừng 20 BK gián điệp; còn lại là những người dân tộc và chính trị địa phương. Tôi bàng hoàng không hiểu ra sao; có những toán chia đôi, xẻ 3 không theo một cái khuôn thước nào, có toán đi hết:
Toán Strata:
Nguyễn Cao Sơn, Nguyễn Như Ánh đi
Trần Quốc Quang, Trương Nàm Tráng ở lai
Toán Người Nhái Cancer:
Lầu Chí Chăn, Lý Giòng Slau ở lại.
Dương Long Sang, Voòng Hợp Văn đi.
Ngay đêm ấy, nhà bếp đã được lệnh bí mật chuẩn bị cơm nước đi đường. Cho đến sáng hôm sau, cả 3 Biệt Kích ở toán rau cũng phải đi, bao gồm 22 người. Còn lại 6 người ở lại trại I là:
– Lầu Chí Chăn
– Lý Giòng Slau
– Lê Văn Bưởi
– Đặng Chí Bình
– Trương Nàm Tráng
– Trần Quốc Quang.
Đặc biệt, trong những người đi, có cậu Hoàng Mạnh Hùng. Ngay từ đầu năm 1968, tôi ở dưới Hoả Lò lên vào phân trại E gặp cậu, tôi và cậu đã mến nhau coi như anh em. Tôi đã trèo lên sàn trên để giúp Hùng, buộc gói chăn màn. Hùng là dân tộc Nùng, thuộc toàn Samson BK, ra Bắc ngày 5-10-1966. Tôi xin sơ lược vài nét về toán Samson:
Toán gồm có 8 người. Địa bàn hoạt động tại Điện Biên Lai Châu vùng ngã ba Trung Quốc, VN và Lào. Ngày 5-10-1966 từ Long Thành đi trên hai chiếc trực thăng ghé qua Thái rồi qua Lào đến địa bàn hoạt động.
1. Vương Văn Can, toán trưởng bị chết trận (3-12-1966)
2. Nông Quốc Hải, toán phó (đã chết ở trại Quyết Tiến)
3. Shè Khừu Sáng, truyền tin (hiện ở Atlanta – Mỹ)
4. Hoàng Mạnh Hùng, toán phó (hiện ở New York – Mỹ)
5. La Văn Thịnh, toán viên
6. Nguyễn Văn Châu, năm 1977 được cho ra công nhân (đểu) Hồng Thắng rồi mất tích. Cho tới nay không biết.
7. Lưu Văn Y, chết trận ngày 3-12-1966
8. Văn Tế Xương, toán viên. Vì một chiếc đồng hồ đeo tay, bị giết ở biên giới Miên Việt (1987)
Toán được tiếp tế lần thứ nhất: 5 kiện hàng có 3 máy truyền tin (13-10-1966)
Lần thứ hai: 10 kiện hàng (28-11-1966)
Rồi bị lộ, chiến đấu chống trả. Toán bị 2 chết và 1 bị thương là Sáng, gãy một chân và lòi một mắt. Toàn toán bị bắt ngày 3-12-1966. Một chuyện như giai thoại, theo Hoàng Mạnh Hùng mới kể lại (2004): Trước ngày đi công tác, trong khi đo giầy cho Sáng, Sáng lấy một chiếc giầy vẽ một con mắt to tướng. Khi ra Bắc chiến đấu, Sáng bị bắn lòi một con mắt, như vậy phải chăng là một cái “điềm”?
Chúng tôi cũng nhiều dọ dẫm, nhưng tù nhân không một ai biết số BK ở trại 1 đã chuyển đi đâu? Một sự chuyển đổi có dụng ý: Đêm ngày hôm sau, đúng là ngày 3 tháng 2 (ngày thành lập đảng Lao Động VN) thì 71 người BK từ trên trại Quyết Tiến, Cổng Trời, Hà Giang chuyển về ngôi nhà xây số 1. Từ đấy liên hệ nhớ ngày BK ở trại 1 chuyển đi là 2-2-1972. Chúng tôi đoán tình hình bên ngoài có chuyển biế; ngày đầu tháng 2-1972 tù trại 1 chuyển đến, chuyển đi xoành xoạch làm xáo trộn toàn bộ trại, tù nhân cũng như cán bộ. Tiếp theo lại có mấy đợt tha tù chính trị miền Bắc như tu sĩ, phản tuyên truyền, phản cách mạng và tù dân tộc thiểu số nữa (Sau này, chúng tôi mới hiểu CS chuẩn bị để ký hiệp định Paris)
Riêng về toán 2 mộc, sau khi cả Nguyễn Huy Lân (Toán trưởng) và Đinh Sơn (tổ trưởng tổ kỹ thuật) chuyển đi; anh Nguyễn Trọng Tiềm tù chính trị miền Bắc lên làm toán trưởng. Tôi là tổ trưởng tổ kỹ thuật (thay Đinh Sơn), chuyên đóng những hàng kỹ, gỗ quý, thường làm cho các cán bộ đặt là chính.
Trước đây lực lượng Biệt Kích hầu như đảm nhận những sản phẩm chính yếu của toán mộc. Giờ đây do những anh em tù chính trị miền Bắc là nồng cốt. Khá tay nghề chỉ còn tôi và Lầu Chí Chăn đều trở về tổ kỹ thuật, để làm hàng đặt của cán bộ các phân trại. Cán bộ toán 2 vẫn do ông Lê Trí Miễn phụ trách, hàng ngày chúng tôi vẫn đi lao động trong lán thủ công phía trái của trại. Do những xáo trộn như tôi đã trình bầy, bây giờ ngay đầu lán mộc, cạnh tổ kỹ thuật của tôi lại có một tổ làm guốc (mặt hàng mới) gồm 4- 5 người, do anh Phạm Phú Lục làm tổ trưởng.
Qua trao đổi tâm tình, được biết anh Lục là người Bình Định, cán bộ huyện tập kết, Anh bị bắt vì có tư tưởng chống đối đường lối lãnh đạo độc tài của đảng Lao Động, đã bị bắt 6 năm rồi. Khi còn ngoài xã hội, anh đã từng phục vụ trong một cơ sở thủ công về dép, guốc phụ nữ ở Hải Phòng. Sáng nay anh ghé sang tôi, đứng nhìn Chăn và tôi đang thao tác một cái tủ lệch, kiểu Đức bằng gỗ lát cho ông Toán, chánh giám thị trại. Lúc chỉ còn mình tôi Lục đến sát tôi nói nhỏ:
– Bình có biết Kissinger sang Trung Quốc chuẩn bị cho Nixon sẽ sang gặp Mao đấy?
Tôi vừa lắp cái bản lề cánh tủ, vừa hỏi lại Lục:
– Tin ở đâu mà đặc biệt thế?
Lục nheo nheo cặp mắt, miệng nói như vội vàng:
– Cứ biết thế, đừng hỏi!
Rồi Lục bước vội sang tổ guốc, cùng lúc ấy Chăn và Phùng Văn Tại lặc lè, khênh một tấm ván gỗ mỡ về. Tại cùng tổ của tôi, anh là một chủng sinh, cũng cái tội không chịu bỏ tu để về nhà lấy vợ; tôi cũng nói sơ qua sự việc đó với Chăn và Tại.
Mấy ngày nay, nhìn sang toán xẻ, tôi thấy có nhiều tù lạ. Chăn đã cho biết, đó là những Biệt Kích ở trại Quyết Tiến trong khu nhà xây số 1. Trong khi thao tác, tôi nhìn sang, thấy dáng dấp mấy anh em quen quen. Lợi dụng sự đi lại trong giờ giải lao, tôi lỉnh sang. Đúng như rằng, tôi vừa ghé sang đến toán 3, thì một anh còn trẻ từ một góc trong chạy vội ra mừng rỡ, vồ vập:
– Anh Bình! Anh lại ở đây à?
Tôi cũng vui ra mặt, ôm chầm lấy, đó là Lưu Nghĩa Lương. Từ ngày ở xà- lim 1 Hoả Lò tôi ra trại chung (cuối 1967) 5 năm bất ngờ gặp lại. Mừng rỡ như chị gặp em, tíu tít bao nhiêu chuyện, Lương ríu rít:
– Nguyễn Phương, Hoàng Cung, Trịnh văn Truyện, Hoàng Trọng cũng có ở đây anh ạ!
Tôi choáng người, vừa nhìn dáo dác vừa hỏi ngay:
– Đâu? Đâu?…
Lương đã dẫn tôi ra sân sau, của toán 3. Tôi choáng vì mấy người đó là thủy thủ trên con thuyền định mệnh, đã đưa tôi ra Bắc 10 năm xưa. Tôi mới bước chân tới sân sau, một việc tuy nhỏ bé, nhưng đã khắc ghi vào lòng tôi cho đến bây giờ. Vì nó nói lên sự thủy chung, tư cách ứng xử truyền thống nho phong của một con người. Tôi bước vào, có 5- 6 anh đang cởi trần trùng trục, mồ hôi nhễ nhại, chắc vừa cưa xẻ, ngồi nghỉ mệt: Anh Nguyễn Phương (chuyến đi của tôi anh là Tarzan thợ máy dễ mến), các anh Cung, Truyện thoáng thấy tôi, vội vàng với tay lấy cái áo đang treo ở cột khoác vào, rồi đều quay lại, hơi thấp đầu nói nhỏ:
– Chào ông!
Tôi quá cảm động cũng không nói lên lời, thành ra lí nhí:
– Cám ơn các anh!
Có thể trong một phút bất ngờ, phản xạ tự nhiên? Các anh quên mất các anh là tù và tôi cũng là tù.
Tuần trước, tôi và Lầu Chí Chăn lên gian vernie, do Qúy cụt làm tổ trưởng. Ngồi nói chuyện với Qúy, tôi và Chăn đều ngửi thấy mùi “cồn” nồng nặc. Chỉ ngửi mùi cồn, mà người cũng thấy lâng lâng, hồn muốn bay la đà nhấp nhổm. Thế là Chăn và tôi đã lén lút thì thầm: Nếu vernie này, lọc qua một cục bông gòn thì có thể uống được.
Đời bây giờ tăm tối mịt mù, hãy thử cho say một bữa, cho lòng đê mê, cho hồn bay bổng lên cuộc đời một lần, cho sướng. Bàn tính, chuẩn bị, theo dõi mọi tình huống.
Qúy cụt được cán bộ toán tin cẩn, giao chìa khoá kho, nhưng chúng tôi đã dạm thử nhiều lần, thấy không kết quả. Còn Phạm Phú Lục tổ guốc là phụ tá cho Qúy (Qúy cụt tay không thể mang vác), thường xuyên ra vào kho. Sau khi tôi dạm ý, anh ta đã đồng ý ở mức độ: coi như không hề biết dù có trông thấy.
Đành phải trù liệu một kế hoạch nhỏ. Bắt buộc phải cho bác Lương Yên người Lào, gốc Việt, làm vệ sinh của toán tham gia. Bác có điều kiện gác tên công an võ trang ở chòi gác, cách lán chừng 5 chục mét và coi cán bộ, bất chợt đi ra thì làm hiệu tay.
Tôi sẽ nói chuyện với Qúy cụt, để giữ nó mươi phút. Chăn ở một cái ngách, luồn trèo lên mái nhà kho. Khéo léo cắt, tháo lạt buộc những tấm phên nứa trên mái, rồi chui xuống; đã chuẩn bị một ống nứa chứa chừng một lít. Sau khi xong, trèo lên, buộc lại trong vòng 10 phút. Sau những chuẩn bị táo bạo, kết quả: Lầu Chí Chăn đã dũng cảm thi hành công tác, một cách mỹ mãn: chiều hôm đó đã có một ống nứa đầy vernie, nút kín, dung tích gần một lít, giấu trong cầu bào của tôi.
Cái khâu lọc vernie không thể thực hiện được, vì cái mùi cồn nồng nặc. Đã từ những tháng trước, tôi có giao tình “hẩu” với anh trật tự mới của trại là Shi-ha Nam (người Campuchia). Tên Việt anh ta là Nam, nhưng chúng tôi gọi đùa là Shi-ha-Nam (Campuchia khi đó có ông vua Shihanouk) rồi thành tên, cả trại đều gọi. Nghe nói anh ta mang tội buôn lậu thuốc phiện, tù bên phía hình sự. Cho nên tôi chịu trách nhiệm đưa vernie vào trại. Tôi đã chuẩn bị, nếu bị lộ tẩy thì nói là đem vernie về đánh lại mấy cái hòm (rương) đã quá cũ v.v… của chúng tôi.
Với nhiều những ứng biến khéo léo, buổi chiều thu quân hôm ấy, tôi đã đưa lọt vernie vào buồng giấu kỹ. Cái khâu lọc vernie làm cho tôi nát óc; ngay sau khi cơm nước xong, tôi chạy sang gặp anh Hiệp ở buồng số 1 bên cạnh (Hiệp đã đánh cờ với tôi ở phân trại E), không ngờ quá dễ dàng giải quyết cái khâu này. Vernie gồm có cồn và cánh kiến hoà tan, bây giờ chỉ cần đổ một ít nước lạnh vào, cánh kiến sẽ nổi lên, vớt hết đi, nước còn lại có mầu sữa loãng, lại đỡ mùi hăng của cồn xông lên.
Quan điểm của tôi và Chăn là khi mình có một món ăn ngon, muốn cho mọi người thân quen được thưởng thức. Bạn bè thân quen thì hàng chục, tôi hiểu rằng hễ nhiều người biết thì sẽ lộ. Khâu đổ nước vớt cánh kiến, lúc đầu chúng tôi định giải quyết ở trong nhà cầu, nhưng thấy thường xuyên có người ra vào, nên quyết định làm ở trong mùng. Tôi, Chăn và anh Lương Yên đều nằm sàn dưới, không tiện; Phạm Phú Lục nằm sàn trên, nhưng Lục e ngại vì anh có trách nhiệm trong kho vernie.
May quá, anh Hưng, một dân chơi Hà-Nội như Nguyễn Văn Gôm (Gôm không hẩu rượu nên không để tham gia). Hưng thuộc toán 3 nằm cùng buồng với toán 2. Do một sự tình cờ, Hưng chui vào gầm sàn để tìm chiếc dép râu, mà anh cho là một người bạn nào đó đã trêu anh, vì thế anh đã nhìn thấy ống nứa đựng vernie. Tôi phải dàn xếp, sau khi biết nội vụ, Hưng rất hân hoan, nồng nhiệt xin tham gia. Hưng đã háo hức thì thào vào tai tôi:
– Anh Bình có biết không? Ngày xưa còn đi học ở Hà-nội, em là con sâu rượu. Bị bắt hơn 4 năm nay em thèm, em nhớ hơn cả người yêu; xin anh cho em tham gia, với lòng tự trọng, em xin giữ bí mật, dù có bị thiệt hại.
Thấy Hưng khẳng khái và nhiệt tình tôi và Chăn đều để Hưng cùng thưởng thức. Hưng lại ở sàn trên, nên tối hôm đó, sau khi cán bộ điểm xong, Hưng bỏ mùng sớm. Hưng lấy lý do thấy người khó chịu, Chăn chui vào mùng, 2 người làm việc. Tôi chịu trách nhiệm “ghếch” quan sát, phòng hờ mọi tình huống. Vả lại, thông thường, khi điểm xong nếu không sinh hoạt tổ, toán thì tùy theo, tụm 5, tụm 3 chuyện trò tán gẫu. Nhiều người đi nằm vì muốn yên tĩnh hoặc mệt mỏi v.v…
Để giảm bớt nguy cơ bị phát hiện, tôi bàn với Chăn: chơi theo lối cá lẻ, nghĩa là mỗi người 1 ly (ống nứa con) vào mùng của mình thận trọng mà hưởng. Ba người kia biết tôi và Chăn, còn 3 người ấy không hề biết cùng uống tối hôm đó. Sau khi sắp xếp ổn, mỗi người đều có 1 ly riêng vào mùng tự thưởng thức.
Phần tôi, chao ôi! Sao mà đê mê thế hỡi trời! Đúng là: Chiến đấu càng gian nan, chiến thắng càng vinh quang. Tôi trang trọng nói rằng: Không phải ai cũng được hưởng cái thú Lưu Linh tuyệt vời như chúng tôi. Giữa cái nghiêm khắc ngặt nghèo; cái khổ đau tràn lối, bị o-ép tứ bề của nhà tù CS mà được hưởng cái ngất ngưởng đê mê và cũng tê tái cuộc đời, thì mới cảm nhận đến cái đáy cùng bủn rủn, ngất ngây của kiếp người. Tôi xin cảm tạ ông thần Lưu Linh!
Khoảng hơn 9 giờ, tai tôi nghe rõ vừa kẻng cấm xong, chừng mươi phút; bỗng anh chàng Hưng ở sàn trên ông ổng rời rạc, rên rỉ bài thơ “Say Đi Em” của Vũ Hoàng Chương:
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Chưa cuối xứ Mê Ly….
Chưa cùng trời Phóng Đãng…
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn.
Say không còn biết chi đời…
Đất trời nghiêng ngửa.
Mà trước mắt thành sầu… chưa sụp đổ.
Thành sầu, không sụp đổ… Em ơi!
Không thể được, tôi bò dậy, trèo vội lên và chui vào mùng của Hưng. Hưng đang nằm ngửa, chân giạng ra, hai tay chới với giơ lên phía đình màn, miệng vẫn gầm gừ như con chó đang tranh ăn, tôi đập khẽ vào ngực Hưng:
– Làm cái gì vậy Hưng?
Hưng gạt tay tôi ra, mồm còn lảm nhảm:
Trời say ta cũng lăn quay.
Ở đời được mấy lần say mà già.
Tôi bịt miệng Hưng và ghé sát vào tai:
– Muốn cả lũ vào kỷ luật, cùm ư?
Hưng im bặt và như tỉnh ra. Tôi lại ghé sát vào tai Hưng nói tiếp:
– Bản lĩnh của người con trai, lý trí vững mạnh của Hưng đâu? Hãy uống một ngụm nước rồi nằm im.
Nói rồi, tôi với tay lấy chai nước ở phía đầu giường, mở nút đưa cho Hưng. Như có một sức mạnh tiềm ẩn, Hưng ừng ực uống hai ngụm, còn nói khẽ:
– Xin lỗi anh Bình!
Rồi Hưng nằm xuống trong thái độ tỉnh táo; ngồi thêm chừng 2 phút, tôi mò xuống chỗ Lương Yên. Anh nằm như chết và đang kéo gỗ. Tôi lại trèo lên mùng Phạm Phú Lục, anh ta cũng nằm ngủ rồi. Tôi lại lỉnh xuống mùng của Chăn. Thấy nằm yên ắng, tôi cầm tay, Chăn nói như bình thường:
– Yên trí, không sao đâu!
Buột miệng tôi nói khe khẽ với vẻ tự hào và hơi ích kỷ:
– Thế mới xứng đáng là Người Nhái chứ!
Tôi vào đi tiểu, rồi mò về mùng chui vô, lòng vừa buồn vừa vui. Vui vì xem ra sự việc đã ổn, buồn vì tiếc, cả 10 năm trường, được cái may mắn diện kiến với cụ Lưu Linh, nhưng không được hàn huyên, tâm sự.
Đêm nay nằm trằn trọc mãi không ngủ được; tôi chợt nhớ đến lúc sinh hoạt của toán buổi tối hôm qua. Nghĩ đến bộ mặt ngơ ngác, nhớn nhác của anh chàng Phạm Phú Lục, bụng tôi còn cười rung lên. Đã trở thành thông lệ hàng năm, cứ mỗi độ Hè về tù lại phải tắm “khô” nghĩa là, tắm không cần nước.
Tuy vừa hết Xuân mới chạm đến Hè mà trời đã nóng chảy mỡ, nhất là ngồi trong một cái buồng chật chội hàng trăm người. Tuy hầu hết anh em đều cởi trần, nhưng ngồi sinh hoạt mồ hôi lúc nào cũng nhơm nhớp. Nhiều anh cái tay tẩn mẩn cứ vân vê lưng, tay, cổ của mình; hàng 5- 6 ngày không có điều kiện tắm rửa nên nó ra hàng cục ghét. Cái tay buồn cứ vò mãi, vê mãi, ghét thành từng cục, có khi bằng hột đậu xanh, cá biệt có khi bằng hạt đậu đen rồi búng đi tứ tung trong buồng.
Vì thế có anh đang ngồi bị “độp” một cái vào mặt, có khi vào tai, vào cổ v.v… Lúc đầu người nào chưa hiểu thì giật mình ngơ ngác, nhìn khắp chung quanh xem có ai trêu ném mình, có khi nhìn lên mái nhà, suy đoán là con mối hay con gián ỉa?
Tối hôm qua, anh chàng Lục đang phồng mang, trợn mắt phát biểu ý kiến xây dựng phê bình anh Lê Văn Bưởi, không chịu lao động tích cực, mà chỉ làm cầm chừng. Đột nhiên, một cục ghét bắn ngay vào mắt anh, Lục giật mình nhìn khắp mọi người tưởng ai ném anh ta, nhưng họ đều ngồi yên, không ai nhìn, anh đành cúi xuống giụi mắt. Chỉ có người búng viên ghét ấy, thì cười rung bụng và cứ mỗi lần nghĩ tới, bụng tôi lại rung lên bần bật (kể cả lúc bây giờ ngồi viết lại).
Sáng hôm nay, sau khi Ý, cán bộ trại vừa điểm buồng xong quay đi, tôi là một trong những người đầu tiên ra sân. Như mọi buổi sáng, tôi tranh thủ chạy ra sau nhà làm vài động tác tay chân, cố hít thở cái không khí ban mai của một ngày trong hai, ba phút.
Mấy đêm trước giấc ngủ của tôi không yên, tâm tư cứ khắc khoải vơi đầy, chỉ vì chiều hôm ấy cách đây ba ngày, ở dưới phòng y tế của anh Thái, do một sự tình cờ, một em tù hình sự vừa mới nhập trại, xuống xin thuốc hắc lào, đã nói đến cô y tá Hỏa Lò. Tôi đã vồ vập hỏi, nhưng em không hề biết gì hơn về người Hưng Yên. Em chỉ xác định là bốn tháng trước ở Hỏa Lò, em có xin thuốc hắc lào của cô Vân y tá, 1 lần.
Cô Vân ơi! Ngay đầu 1968, trong buổi giã từ não nuột dầm dề mưa rơi ấy ở Hoả Lò, đã hơn 3 năm rồi, tôi vẫn lầm lũi quằn quại trong ngục tù tăm tối, nơi rừng núi biên cương. Tôi không hề biết một tin tức gì về cô cả, để rồi chỉ nghe thoáng đến tên cô, lòng tôi đã xáo trộn mấy đêm nay. Rất may đêm qua, tôi ngủ được một giấc đã đầy, bù lại.
Phía Đông đỏ rừng rực, rồi mặt trời mò lên; xa xa chéo phía Tây Nam, rặng Hoàng Liên Sơn (Fan-si-pan) mây trắng che phủ ngọn, cũng vàng ửng lên rực rỡ. Một đàn vạc trắng hình cánh cung, đang sải cánh bay về hướng Đông Bắc.
Nhìn mấy tảng mây trắng hồng từ hướng nam lững lờ bay đến, tôi có cảm tưởng chúng đang mang theo những hơi hướng ngọt bùi, ruột thịt, tha thiết của gia đình, bạn bè thân quen phương trời bên ấy. Tôi rướn người, kiễng chân lên để hít lấy cái hơi thương nhớ, vời vợi của 9 năm dài đằng đẵng. Từ nơi sâu thẳm của cõi hồn, một giọng hát nỉ non, tỉ tê nghe rõ mồn một: “Hôm nay… Sàigòn… bao nhiêu tà áo… khoe mầu phố vui… Riêng tôi một mình… tâm tư sầu lắng… đi trong bùi ngùi… Sàigon ơi…”
Bỗng tiếng Lầu Chí Chăn dội lên, từ cửa sổ phía sau nhà:
– Anh Bình không đặt bát để lấy sắn à?
Như choàng tỉnh một cơn mơ ngày, tôi vừa “ờ… ờ” vừa chạy ra sân trước. Nhìn các mâm đang ồn ào tíu tít chia sắn sáng, tôi chợt nhớ tối qua sinh hoạt toán, Nguyễn Huy Lân đã rành mạch tuyên bố:
Theo chỉ thị của ông Miễn cán bộ toán 2, ngôi nhà cơ bản số 3, còn bảy cái cửa ra vào chưa lắp cánh xong. Vì thế năm người, được phân công làm trong trại gồm:
Lê Văn Kinh, Bùi Tâm Đồng, Lầu Chí Chăn, Nguyễn Thanh Đương và Đặng Chí Bình.
Tạm thời ĐCB làm tổ trưởng, chịu trách nhiệm kỹ thuật. Vẫn xuất trại theo toán ra lán thủ công để lấy dụng cụ. Sau khi lấy dụng cụ, cán bộ toán 2 sẽ dẫn cả tổ trở vào trại. Gần cuối giờ, cán bộ toán lại vào trại đón tổ ra lán để cất dụng cụ, rồi cùng về trại trả số tù”.
Cùng những ngày tổ mộc lắp cửa, cũng có một tổ xây đang lợp ngói cho xong nóc nhà, mà đám công nhân xã hội còn làm dở. Một buổi trưa, tôi đang hì hục cắm cúi làm, thì Chăn đi vệ sinh về, ghé tai tôi nói nhỏ:
– Anh em lợp nhà ở trên nóc, nhìn sang sân khu nhà số hai thấy có nhiều người tụm năm, tụm ba cởi áo phơi nắng, bắt rận.
Gợi trí tò mò, xế trưa tôi trèo lên chỗ anh em lợp nhà. Đúng như rằng, ngoài sân khu nhà cơ bản số hai có chừng hơn hai chục người: người đứng, người ngồi, đi đi lại lại. Có nhiều bác tóc đã muối tiêu, và cũng gầy xanh như chúng tôi. Vì từ xa, nhìn thẳng, khoảng cách từ 60 đến 80 mét nên chỉ nhìn nhau. Thỉnh thoảng có anh giơ tay vẫy vẫy chào, nhưng không thể biết một tí gì về nhau cả. Khó khăn đẻ ra sáng kiến, tôi chợt nhớ tới cách liên lạc khi còn ở xà-lim I Hoả Lò. Tôi trèo xuống chỗ làm, kiếm được tấm gỗ mỏng nhẹ để làm cửa, bề chừng 60, bề chừng 40 phân. Vì có chủ ý, tôi xách miếng gỗ, lại trèo lên chỗ đám lợp nhà.
Mất dăm phút ra hiệu tay, khua vẫy nhiều anh em ở sân bên ấy đổ xô đến, ngước mắt nhìn lên. Để an toàn, tôi nhờ một anh toán xây, để ý cán bộ dưới sân bên ngoài. Tôi giơ miếng gỗ quay lại, chậm chạp, dùng ngón tay trỏ, tôi viết từng chữ theo lối in, vào tấm gỗ: “ANH NHÌN THẤY KHÔNG?”
Lần đầu, họ đều tỏ ra lơ mơ và lắc đầu. Tôi thong thả làm lần nữa. Nhiều người khua tay mừng rỡ, đầu gật gật. Tôi bảo các anh, tìm cái gì viết lại cho tôi. Mấy người chạy vào nhà, rồi một người cầm ra một miếng gì, như cái nia con mầu nâu xám, đường kính khoảng 80-90 phân. Một anh cầm, một anh viết kiểu chữ in như tôi. Ở dưới sân nhà số hai an toàn hơn, họ chỉ cần để ý phía cổng khu của họ. Ngược lại, chúng tôi ở trên nóc nhà trống trải hơn, nhưng cũng có cái lợi, ở trên cao, quan sát ngay từ cổng trại, cán bộ ra vào chúng tôi đều trông thấy. Còn công an vũ trang ở các chòi gác thì quá xa, dù cho có nhìn cũng chả hiểu gì, chỉ coi như đám tù đang lao động mà thôi.
Hơn một giờ liên lạc, tôi vừa đoán vừa hiểu được: Bên ngoài mới có một cuộc đảo chính hụt giữa phe thân Liên Sô và phe thân Trung Cộng, khoảng cuối năm 1967. (Cũng là giai đoạn, CS Hà-Nội đưa tôi ra tòa). Phe thân Trung Cộng do Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh đứng đầu, có chính quyền trong tay nên đã thắng thế; bất ngờ bao vây bắt nhiều người thuộc phe thân Liên Sô, do Võ Nguyên Giáp đứng đằng sau hậu thuẫn, và bị ghép tội là bọn xét lại hiện đại. Trong những người thân Liên Sô bị bắt có: Hoàng Minh Chính viện trưởng viện triết học, Vũ Đình Huỳnh trợ lý của HCM và Đặng Kim Giang thiếu tướng, phó chủ nhiệm tổng cục hậu cần. Phe này có nhiều người trong giới quân sự tham gia.
Phần tin tức về chúng tôi, tôi cũng cho họ biết sơ lược. Trong trại I này chúng tôi có chừng hơn 2 chục Biệt Kích từ trong Nam ra Bắc hoạt động chống Cộng Sản, thường đã tù từ 9, 10 năm rồi.
Do cách liên lạc không thuận tiện, nhưng phần chính là sợ trong đám tổ xây có antene, và cả khu nhà số hai bên ấy nữa, chúng tôi đã biết thế nào đâu. Vả lại thấy đã tạm đủ nên tôi và Chăn quyết định, không liên lạc tìm hiểu thêm nữa.
Chiều nay thứ Sáu, không khí trong trại nhộn nhịp khác thường. Nguồn tin từ các cán bộ toán cho biết khu A (chính trị) cũng như khu B (hình sự) sẽ lao động xã hội chủ nghĩa Chủ Nhật này (Một Chủ Nhật nghỉ, một CN Lao Động XHCN đã trở thành thông lệ ở các trại giam từ lâu). Chúng tôi sẽ móc bùn, vớt bèo, làm cỏ toàn bộ 3 chiếc ao lớn thả cá trước khu của ban giám thị trại. Cái điều làm cho khí thế của trại sôi nổi, là nguyên nhân có ban thi đua do cán bộ giáo dục Bùi Huy Tập làm trưởng ban, trực tiếp chấm điểm giữa 3 khu tù nhân của trại. Khu A trách nhiệm chiếc ao giữa, khu B trách nhiệm chiếc ao trước khu công an vũ trang, còn chiếc ao thứ 3, phía trái của khu ban giám thị do K2 (trại nữ) đảm trách.
Đây là điểm mấu chốt làm cho khu nào cũng xốn xang bàn tán, chuẩn bị. Điểm đặc biệt của lần LĐXHCN kỳ này là, do sự trù liệu công việc, ban giám thị trại quyết định:
– Tù nhân sẽ làm Lao động XHCN liên tục từ 8 giờ sáng đến 2 :30 chiều, chỉ trừ nghỉ 15 phút để tù giải lao ăn sắn bồi dưỡng lúc 10 giờ sáng, và 30 phút ăn trưa lúc 12 giờ. Thường LĐXHCN chỉ làm nửa ngày, tức 4 giờ.
Cứ nhìn khu A này, tôi đã hình dung ra cái cảnh rạo rực chuẩn bị sửa soạn quần áo, đầu tóc của mỗi người, nhất là những người còn trẻ, còn một chút nhựa xuân nào trong người ở 2 khu B và K2 kia.
Ngay từ trưa thứ Bảy, toán nhà bếp, có các anh tự giác của mỗi toán xuống phụ giúp gồm hơn 2 chục anh: Họ được lệnh gồng gánh, cuốc xẻng, xe ba gác để đi đào sắn. Tiêu chuẩn bình quân đầu người LĐXHCN được hưởng 8 lạng sắn kể cả vỏ. Nhà bếp K1 phục vụ khu A và B, bếp K2 phục vụ K2. Không biết phía đàn bà con gái bên K2 có mong ngóng được nhìn thấy đàn ông, con trai bên K1 hay không, chứ bên K1 này thì từ rừng sâu, trong lán thủ công đến ngoài nương khoai, đồi sắn, vườn rau; đâu đâu nơi nào có tù lao động đều say sưa bàn tán rôm rả trong cái dịp ngàn năm một thuở này.
Đúng thế, trừ trường hợp cá biệt, còn thông thường, đàn ông, đàn bà chúng tôi hàng năm chả nhìn thấy bóng dáng của nhau. Thậm chí anh Nguyễn Văn Thú (Biệt Kích), tối qua ở trong buồng đã nói: Lâu ngày quá, anh đã quên cả đàn bà, con gái. Đến nỗi anh đã ngẩn ngơ cả đêm, mà vẫn không thể hình dung ra thế nào cả. Anh chỉ thấy họ tuyệt vời lắm! Họ là một thứ vưu vật, là lẽ sống của cuộc đời v.v…
Anh Thú cứ ông ổng ca tụng người đàn bà, con gái mãi. Rất nhiều người tán đồng phụ họa; nhưng cũng nhiều người phản đối. Anh Bùi Tâm Đồng đã đứng hẳn lên sàn dõng dạc:
– Vừa thôi, anh Thú ơi! Anh cứ làm như, nếu trên cõi đời này không có đàn bà con, gái thì chúng ta không sống được hay sao?
Hàng 4, 5 cái miệng đều rống lên:
– Đúng! Đúng! Không sống làm gì nữa!
Giọng một anh từ trong nhà cầu đi ra, gào lên:
– Nếu biết chắc trên đời này không có và không còn đàn bà, con gái, sáng sớm mai tôi sẽ cắn lưỡi, xin từ giã tất cả các qúy bạn để về với Chúa ngay.
À… anh chàng Gôm! Tôi đã thấy hơi lạ, từ lúc trong buồng sôi nổi bàn chuyện đàn bà, con gái mà không thấy anh chàng này tham gia. Đang ồn ào náo nhiệt sục sôi cả căn buồng thì bỗng có tiếng báng súng đập vào vách nứa ầm ầm; giọng một tên công an vũ trang quát:
– Buồng này làm cái gì, ồn ào như cái chợ vậy?
Giọng khàn khàn của anh Thành Xuân Yên từ tốn:
– Thưa cán bộ, họ đang tranh luận, nếu trên đời này không có đàn bà, con gái thì họ sẽ tự tử hết!
Im lặng một lúc, rồi giọng tên vũ trang đã hạ xuống:
– Bậy bạ! Thì nói nhỏ vừa nghe thôi!
Thấy thế, trong buồng lại râm ran trở lại. Anh Lân buồng trưởng đã phải ra đứng giữa buồng khoắng tay:
– Toàn buồng trật tự yên lặng! Các anh bàn chuyện đàn bà, con gái thì nói cả đời không hết! Đây là chuyện thực của đời tôi. Từ ngày tôi bị bắt đã 8 năm rồi, có một điều tôi ân hận nuối tiếc lớn nhất, vẫn ngày đêm dằn vặt lòng tôi.
Rồi anh im bặt. Có nhiều tiếng hối thúc:
– Nói ra đi! Nói ra đi!
Cũng lại ầm cả lên. Tôi cũng tò mò, đến bên Lân cao giọng:
– Các anh đừng làm ồn, để anh Lân nói ra đã!
Rồi tôi quay lại anh Lân như thúc giục:
– Anh nuối tiếc ân hận điều gì thế, hãy cho chúng tôi biết đi!
Anh cười và tỏ vẻ thành khẩn:
– Hiện nay, tôi đã có 4 mặt con: 2 trai và 2 gái, vậy mà tôi vẫn chưa nhìn thấy cái của vợ tôi nó như thế nào cả. Tôi ân hận sao lại không nhìn rõ một lần cho đã, để bây giờ khỏi hối tiếc!
Cả buồng réo lên:
– Không tin được! Không tin được! Vô lý!….
Cuối cùng, anh Lân đã thong thả chậm chạp như tâm sự:
– Tôi xin thú thực với các anh em. Bởi vì chúng tôi ở nhà quê, chỉ khi nào đêm khuya, tin chắc cả nhà đều đã ngủ yên thì 2 vợ chồng mới… tò te mà thôi. Thường trời tối giơ bàn tay không nhìn thấy, thì nhìn làm sao được cái kia?
Câu chuyện này, cho đến bây giờ đôi khi tôi vẫn còn nhớ lại. Vừa đây, tháng 8-2003, tôi có dịp sang tiểu bang Philadelphia, do một sự tình cờ, tôi gặp lại anh Nguyễn Huy Lân, anh mới đi HO sang Mỹ 1994. Anh ở một town gần đấy, khi biết tôi sang, anh đã lái xe đến thăm, 23 năm mới gặp lại nhau, trong một bữa cơm có mấy anh Biệt Kích nữa, nhớ lại câu chuyện LĐXHCN ở trại Trung Ương Số I Phố Lu, Lào Cai, đầu năm 1972, tôi đã tươi mặt hỏi lại anh:
– Thế nào, Lân Mều! Từ ngày được tha về với gia đình, anh đã nhìn rõ cái “miếng ngọc” của anh chưa?
Cả bàn tiệc cười ngặt nghẽo như đê bị dò khi nước lụt.
Xin trở lại buổi LĐXHCN. Đêm hôm đó, khi nằm chưa ngủ được, đầu óc tôi miên man nghĩ đến anh chàng Lân Mều này. Tôi còn nhớ rõ 4 năm xưa (1968), khi ấy tôi từ dưới Hoả Lò mới lên trại Trung Ương Số I, rồi được chuyển vào phân trại E do Hoàng Thanh làm giám thị.
Tôi được phân bổ về toán 2 làm mộc, cũng do Nguyễn Huy Lân làm toán trưởng. Khi biết tôi cũng từ trong Nam ra Bắc, lại cùng ở trại định cư Nam Hà thuộc phường 6, quận Tân Bình, anh và tôi rất quý mến và thân nhau từ đấy. Mùa Đông, tôi thường sang chỗ anh nằm đắp chăn chung, chuyện trò tâm sự. Khi biết tôi còn thanh niên chưa vợ, có lần anh hỏi tôi:
– Tao hỏi thực mày, mày đã nhìn thấy cái “hến” của đàn bà chưa?
Sau khi Lân biết tôi chỉ nhìn thấy của các bé gái còn nhỏ 4,5 tuổi. Một buổi tối, Lân trêu tôi. Anh đứng ở giữa nhà nói to với cả buồng:
– Thằng Bình nó ngố lắm! Nó cứ tưởng cái “hến” của con gái khi lớn lên vẫn vậy. Nó không biết là khi đứa con gái bắt đầu 11-12 tuổi thì cái “hến” cứ xoay dần, để rồi đến 18 tuổi cho tới khi thành đàn bà thì nó nằm ngang hẳn ra.
Ngay khi ấy, tôi cũng không tin và hiểu là Lân mều muốn trêu tôi mà thôi. Tuy vậy, một hôm tôi đã hỏi Gôm. Gôm cười hềnh hệch và nói là cá biệt, có người nó còn ngược hẳn lên. Để rồi mấy tháng sau, nhân một lúc vui, tôi hỏi thẳng bác Lẫm. Bác cười bằng mắt bảo tôi:
– Yên tâm đi, sau này sẽ biết.
Sáng hôm sau chủ nhật, trời cũng chẳng chiều lòng người, sương mù kéo dầy đặc. Tới khi kẻng tập họp để chuẩn bị xuất trạo đi lao động XHCN mà sương khói vẫn còn mịt mù, chỉ nhìn rõ người và cảnh vật xa chừng ba chục mét. Xa hơn nữa, thì chỉ thấp thoáng bóng người mơ hồ trong sương đục. Để phòng ngừa, Ban Giám Thị cho lệnh phải tăng cường mỗi toán thêm một công an vũ trang nữa. Rặng Hoàng Liên Sơn hôm nay cũng biến vào mây trời mất tiêu, chỉ còn lại một mầu rêu già xám xịt phía chân trời.
8 giờ, tiếng trống thùng… thùng … của hai tay trống nhà bếp phía cổng trại làm rung rinh lòng mọi người. Hai chiếc biểu ngữ đỏ nẹt, chữ trắng, đã nhìn rõ dần. Một cái của khu A viết: “Vì Miền Nam ruột thịt, một người làm việc bằng hai”. Một cái của khu B. Từng toán, lần lượt ra khỏi cổng trại.
Khi toán 2 ra đến khu vực đã được phân công, đảm trách ở chiếc ao giữa. Nguyễn Huy Lân lấy ra một tờ giấy đã viết sẵn, anh cao giọng thong thả đọc từng tên. Một số người già yếu ở trên bờ làm cỏ, chan đất, đắp bờ. Còn hầu hết trai trẻ, đều phải xuống nước vớt bèo, móc bùn. Riêng tôi, vì có chút kỹ thuật, nên được ở trên bờ để san và đắp bờ.
Trời đã về cuối Xuân, nhưng nước vẫn còn lạnh căm căm. Cái chính là bụng đói, thì cật rét; cởi áo ra, người anh nào cũng chỉ còn xương sườn với da, tay chân khẳng khiu, khòng khèo. Mới sáng thứ Bẩy hôm qua, anh Lương Yên làm vệ sinh, cho biết bên khu B hình sự, có hai cậu được khênh xuống bệnh xá đều chết vì ăn quá nhiều vỏ sắn, bụng chương lên, không đi cầu được. Thế mà khí thế lao động vẫn hăng say. Tiếng trống, tiếng loa hô hào vẫn oang oang, thình thình như một đám hội của đình làng.
Khoảng gần 10 giờ, mặt trời đã ló ra nhìn cảnh núi rừng âm u trong sương đặc, nhưng gió lộng hơn nên vẫn lạnh. Trong toán 2, người ở dưới nước, người trên bờ, mặt anh nào cũng tái ngoét, răng đánh vào nhau cặp cặp. Mọi người đề nghị cho đốt lửa hút thuốc và cũng sắp đến giờ giải lao ăn sắn bồi dưỡng. Được lệnh của BGT, một số anh tự giác đem xe ba gác vào khu thủ công toán xẻ và toán mộc, lấy phoi bào và những đầu gỗ thừa. Chỉ nửa giờ sau mỗi ao đã có một đống lửa to, mọi người nhìn cho ấm mắt, và cũng ấm lòng thôi, chứ chưa ai được đến gần đâu.
Từ sớm tới giờ, tôi vừa làm vừa ngẩn ngơ suy nghĩ. Đói khổ, lầm than triền miên như vậy mà không khí lao động vẫn sôi nổi, không ngưng nghỉ. Tại sao như vậy? Càng ngẫm nghĩ, càng kính nể và bái phục cái tài khích lệ, phỉnh phờ, đe doạ ép buộc kết hợp với cái dạ dày để chỉ huy con người của CS. Phải hàng chục thứ liên kết, mỗi cái một ít, từ ngoài xã hội đến trong gia đình, để có một sức ép tứ phía.
Rõ ràng mọi người không muốn làm, mà rồi vẫn phải làm, làm với một thái độ hăng say, nồng nhiệt. Suy kỹ đã thấy sáng tỏ: Nội dung không quan trọng bằng hình thức. Mà ngay từ xa xưa, ông cha chúng ta đã thấy: “Cách ăn không bằng ý ở”. So với sự cho tiền, cho ăn, cho vật dụng, cái cách đưa, cách cho, cách đối xử quan trọng hơn. Phương Tây cũng có câu: “Của cho không bằng cách cho”. Cái cách thể hiện câu nói, quan trọng hơn nội dung câu nói.
Ai cũng thấy, kể cả người CS cũng thấy họ làm nhiều điều sai, nhiều điều thiệt hại đến người dân, với đất nước, nhưng họ chỉ cần nghiên cứu thấu đáo phương cách thực hiện. Muốn quán triệt, họ cần phải có nhiều bộ óc, cùng nghiên cứu mọi mặt của một vấn đề. Rõ ràng: bốn người trình độ như nhau, qủy quái tinh khôn như nhau; nếu ba người hợp lại để chống một người thì hầu như cái tất thắng là ở phía ba người.
Truyền thống từ nhiều đời, Đông cũng như Tây, ông cha đều đã dạy: “Ba cái đầu hơn một cái đầu”. Đông người mà cùng nhìn về một phía, cùng đem hết tâm hồn và trí lực để thực hiện một mục tiêu thì thành công.
Chứ đông mà “Ông chẳng, bà chuộc”, “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, người nầy kích bác, chống phá người kia, kéo bè, kết cánh để gây mâu thuẫn, đả phá lẫn nhau, thì lại không bằng một người. Tôi nhớ đến một câu danh ngôn của Napoléon: “Một vị tướng tồi, còn hơn 2 vị tướng giỏi”. Việt Nam ta cũng có câu “Nhiều thầy, thối ma”.
Phương pháp của người CS là: Trên cao nhất có bộ chính trị, sau đó là có một ủy ban trung ương, các cơ quan đoàn thể đều có đảng ủy: tỉnh, huyện, xã thôn đều có. Khâu nào cũng có tập thể cùng bàn bạc thảo luận nghiên cứu thấu đáo từng sự việc theo nguyên tắc “Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Từ đấy suy ra: Thế Giới Tự Do của chúng ta đã phù hợp với lòng người; chúng ta không hề lừa lọc, bịp bợm người dân, nên có chính nghĩa. Vậy chỉ cần nghiên cứu về phương pháp thực hiện, đã thấy tính hơn hẳn của chúng ta đối với CS rồi.
Cứ mỗi độ tháng Tư về, những người tha hương như chúng ta lại nhớ, lại bùi ngùi trong tấc dạ với lòng thương cảm hướng về đồng bào ruột thịt, đã bỏ mình trên bước đường trốn chạy Chủ nghĩa CS, để tìm tự do.
Về thân phận những người Việt Nam tỵ nạn CS, phiêu bạt quê người, nhà thơ Du Tử Lê viết về cái chết: “Vùi đất lạ thịt xương e khó rã/ Hồn không đi sao trở lại quê nhà?”
***
Bán đảo Kuku chỉ là môt trong hàng chục trại tỵ nạn CS dành cho người Việt Nam khắp vùng Đông Nam Á.
Kuku là một rẻo rừng dừa trên đảo Jemayah, thuộc quần đảo Anambas, tỉnh Riau, cách thủ đô Jakarta của Nam Dương hơn 1300km.
(Kuku có nghĩa là “Cậu”, theo tiếng Hoa! Vì cách đây hơn nửa thế kỷ có một người Tàu đã đến đây khai hoang để trồng dừa. Ông là một người tốt bụng, thường giúp đỡ dân nghèo nên được mọi người thương mến gọi bằng “Cậu”. Sau đó, dân địa phương ở đây đặt tên rừng dừa này là Kuku.)
Từ năm 1979 đến giữa thập niên 1980, có lần lượt khoảng 40.000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân lên Kuku. Cả Nam Dương thì con số này lên đến 180.000 thuyền nhân.
Khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời trại tỵ nạn Kuku để chuyển về trại tỵ nạn Galang, chờ đi định cư ở một nước thứ ba; Kuku lại trở về hoang vắng, tiêu điều như thuở ban sơ.
Cả một rẻo rừng rộng lớn, từng xôn xao bóng hàng chục ngàn người tỵ nạn năm nào, bây giờ chỉ là một vạt rừng dừa xanh ngăn ngắt, hoang vu!
Bãi biển thênh thang ngày xưa bây giờ hẹp lại vì rừng lấn dần ra biển! Cầu tàu, rồi các dãy lều tạm cư đã biến mất vào hư vô? Chỉ còn xác mấy chiếc thuyền vượt biên trơ sườn; vì cát biển theo hàng vạn đợt thủy triều, nắng gió đã chôn vùi phần đáy, nhưng vẫn còn ráng nhú mũi ghe lên nắm níu, như một bia mộ của một thời dâu bể!
Ðâu rồi lán trại, chùa, nhà thờ, văn phòng Cao ủy? Ðâu rồi trạm xá ? Ðâu rồi bãi đáp trực thăng trên đỉnh đồi?
Những năm 80, hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết… Xác tấp vào bờ hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe… Thảm lắm!
Các câu chuyện thuyền nhân bi thảm đó như thể mới vừa xảy ra hôm qua đó thôi!
Khi những người năm cũ trở lại rừng xưa đã khép, không còn gì nữa cả. Nếu còn chỉ là mộ thuyền nhân nằm rải rác trên đồi thân nhân đến viếng mộ phải băng qua con suối hoặc trảng cỏ và những con dốc cheo leo.
“Con tôi chết! Chồng tôi chết! Vợ tôi chết… Hiện giờ còn đang nằm lại ở Ku ku!”
Mỗi ngày ít nhất có một người chết. Khi họ chết rồi cũng không có gì để liệm, chỉ có một bộ đồ dính thân. Bà con đào một cái lổ, hạ huyệt, lấy một cục đá hay cành cây viết họ tên người chết mà thôi.
“Mộ phần thuyền nhân hoang phế, mộ bia nghiêng ngã, bể gãy, cỏ mọc cao tới đầu rất thảm thương” khiến người trở lại viếng thăm không cầm được nước mắt trong hoàng hôn bủa lưới nhanh trên biển, ráng chiều từ từ lặn xuống cuối chân mây!
***
Ngày định mệnh! 30 tháng Tư, năm 1975! Dương Văn Minh đầu hàng và Sài Gòn sụp đổ!
Tướng VC Trần Văn Trà lừa phỉnh “Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam thắng Mỹ”.
Để sau đó quân nhân dẫu cấp bậc thấp nhấp trong hàng sĩ quan là Thiếu úy đều phải đi tù, ít nhứt là 3 năm.
Cấp Đại úy hoặc Thiếu tá có người bị tù đày tới 10 năm. Nên: “Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp/ Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu/Mười năm mặt sạm soi khe nước? Ta hóa thân thành vượn cổ sơ!”*
Ra tù cũng đâu dễ gì yên, lại tiếp tục bị kềm kẹp, bị o ép, bị đày ải. Từ một nhà tù nhỏ ra một nhà tù lớn hơn. Đâu cũng là tù… thì làm sao mà sống?
Nên người mẹ phải cắt ruột mình, đưa con ra ngả ba sông! “Đất lành, quê, giờ là đất dữ/ Cải tạo xong, an phận không xong, thì phải chịu, nén lòng vượt biễn/ đưa con buồn, vàm, ngã ba sông.
…Vào chỗ chết tìm ra chỗ sống/ tử biệt buồn hay nỗi sanh ly?/thuyền ra biễn, ngàn trùng biễn sóng vỗ ngàn sao – dỏi mắt con đi.
Đêm ác mộng nhớ ngày năm cũ/ đưa con buồn, vàm, ngã ba sông/ xót má xa con, trời vần vũ/ đêm mịt mùng… má sợ bão giông.
Con chạm đảo, má mừng hết biết/ công an hầm hè, hỏi nó đâu?/ “nó vượt biên rồi, giờ đở khổ/ còn thân già …nhốt…cũng chẳng sao”.
Còn đã có gia đình có vợ, có con rồi thì phải chẻ hai, xẻ đàn ta nghé. Người cha, tù cải tạo 10 năm về, dắt con đi trước. Vợ ở lại lỡ có bất trắc gì thì ở ngoài còn có người bươn chải để thăm nuôi.
“Năm 1987, lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi đâu có ngờ đó là lần cuối tôi còn thấy mặt mẹ. Thuyền chở theo 114 người, ra khơi, may mắn là được tàu Tây Đức vớt và đưa trại tỵ nạn Hong Kong. Năm 1988, tôi qua Úc!”
Năm 1989, nghe nói trại tỵ nạn toàn vùng Đông Nam Á sắp đóng cửa vào tháng Tư, không thể chờ được nữa, mẹ tôi liều chết ra đi.
“Mẹ tôi mất khi tàu đã gần tấp vô đảo. Thi thể được bà con chôn cất trên đảo Kuku! “Trong nhiều năm liền, tôi vẫn thấy mẹ tôi trong giấc mơ!”
“Sao mình có thể để mẹ nằm lại lẻ loi nơi đảo vắng? “Dù mỗi lần thăm, là một đường xa vạn dặm, mất hai ngày rưỡi chỉ để đi-về.”
Băng qua một trảng cỏ, vượt qua một sườn dốc, cây cối rậm rạp để lên viếng mộ nằm cạnh một bãi đáp trực thăng, chỉ có tiếng gió xào xạc và vài tiếng chim lẻ loi trên ngọn đồi u tịch!
Khi ánh nắng cuối ngày sắp tắt, trước lúc rời đảo về lại đất liền, nguời con chí hiếu nầy đi một vòng thắp những nén nhang cho những đồng bào xấu số vùi thân nơi đất lạ, nằm lại ở Kuku.
***
“Bao năm qua rồi về lại Ku Ku chiều thu lá rụng sóng biển khóc, khóc thương người uổng tử! Rụng lá vàng, sao nỡ rụng lá xanh?
Vượt trùng dương, ngàn cơn bão, em đã đến Nam Dương: đất nước ngàn, vạn đảo; em chạm cửa thiên đường, cửa chưa mở…cơn sốt rừng ập đến, chiều thu buồn, em nằm lại Kuku!
Hòm cao ủy phủ thân người yêu dấu, thay vòng tay anh ấm… tấm nilong/ Mộ chí đề tên, ngày em mất, mả lạn… tàn phai sương gió thời gian/ Mộ chí khắc bằng dao để lòng đau… anh nhớ…
Rượu cay đắng mang theo/ rửa cốt người yêu dấu/ chiếc nhẩn cưới còn đây, thương hoài…tay áp út/ Bài thơ khóc em chiều Kuku ngàn thu vĩnh biệt; anh mang hài cốt em theo mình vĩnh biệt Kuku! Kuku! Chiều thu lá rụng/ rụng lá vàng, sao nỡ rụng lá xanh?”
“Tháng Sáu, năm 1982, sau một chuyến hải hành gian nan đã đến được Kuku, Nam Dương. Mừng vì đến được bến bờ tự do chưa thỏa thì đau đớn thay chỉ hai tháng sau, cơn sốt rừng ác tính đã mang vợ tôi đi mãi mãi!”
Một thuyền nhân tỵ nạn ở Ku ku ngày xưa hồi tưởng: “Tôi đã chôn theo em gương, lược, áo quần! Chiếc nhẫn cưới em vẫn còn đeo trên ngón tay áp út!”
Mộ em trên sườn đồi, cạnh bãi đáp trực thăng, là một vùng đất sét pha cát, khá xốp, chứ không phải đá núi nên chiếc quan tài của Cao ủy trong đó xác bọc bằng một tấm nilong lúc hạ huyệt cũng sâu tới hai thước đất.
Một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ, tên em và ngày mất được khắc lên trên đó
Giờ khai quật, cẩn trọng đào xuống gần hai tiếng đồng hồ, chiếc áo quan hiện ra, nắp ván thiên đã mục rã thành cát bụi sau thời gian dài đăng đẳng…
Trên nền xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, tôi thu nhặt toàn bộ mẩu xương cốt, những di vật, gương lược và chiếc nhẫn cưới ngày xưa trên ngón tay áp út tôi đã từng chôn theo em, được bỏ trong chiếc bọc ni lon.
Hài cốt được hỏa thiêu dần dần biến thành tro trắng! Cát bụi đã trở về cát bụi!
Nhìn lên đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một dải khăn tang nghìn trùng xa cách
Xin tạ ơn đất trời Kuku, dẫu quê người, vẫn rộng lượng cho xác thân em tạm nương náu suốt 37 năm qua.
Ngày xưa, khi chiếc tàu Cao ủy xa dần Kuku, tôi đã thầm nói lời từ biệt với em và hẹn ngày trở lại. Bây giờ tôi trở lại vì ai nỡ bỏ em mồ hoang cỏ lạnh cho đành!
Trời Kuku bỗng đổ một cơn mưa rừng nhiệt đới! Cơn mưa rừng nhiệt đới ngày xưa phân ly, tôi đi, em ở! Và cơn mưa rừng nhiệt đới chiều nay tôi trở về Ku Ku để tìm lại em…”
***
Năm 1954, hơn cả triệu đồng bào miền Bắc chạy trốn chủ nghĩa CS di cư vào Nam; nhiều gia đình đã phải chịu cảnh phân ly.
Phim: ‘Chúng tôi muốn sống’ ngày ấy không phải là một phim chỉ để tuyên truyền mà là lời cảnh báo rất ghê rợn trên con đường vượt thoát chủ nghĩa CS.
Hành trình vượt biển, vượt biên cả triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta sau ngày 30 tháng Tư mất nước còn thê thảm hơn, gấp vạn lần!
Có những chiếc thuyền mà tất cả thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả!
Đồng bào ruột thịt cũa chúng ta cũng hằng biết rằng đặt chân xuống thuyền là phó thác số phần mình cho nhiều rủi, ít may. Nhưng tại sao hàng hàng lớp lớp lũ lượt nhau ra biển?
Chỉ có câu trả lời duy nhứt đúng là: “Thà chết! Còn hơn là sống mòn mỏi trong gông cùm của một đời nô lệ!”
Là: “Chủ nghĩa Cộng sản còn đáng sợ hơn cái chết!”
Thánh kinh cũng dạy rằng: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.
CS Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam tự do đã làm bao gia đình ly tán, phân ly! Đó là tội ác!
Tháng Tư lại trở về trên quê người viễn xứ! Xin hãy rót xuống một giọt rượu để giải oan cho những cái chết tức tưởi trong cuộc biển dâu nầy!
Quán hủ tiếu chú Tửng, ở đầu hẻm, là nơi tụ họp những hào kiệt tứ xứ. Hồi chiến tranh thì bà con tản cư chạy giặc lên rồi mắc kẹt luôn! Sau 75, hết bom đạn ì ì tối ngày, họ cũng không thèm về xứ! Dù chánh quyền CS cứ hăm he mẻ răng là: “Không hồi hương là phải đi vùng kinh tế mới”. Hăm thì hăm; ở thì cứ ở. Cùi đâu còn sợ lở!
Ông cố chú Tửng là người “Nước Tiều”, huyện nghèo Triều Châu tỉnh Quảng Ðông. Tửng không phải tửng tửng, khùng khùng đâu. Khôn dàng trời mây đi! Chú Tửng quen tất cả bà con trong hẻm. Chú Tửng rất hề hà, dễ chịu. Ai ăn hủ tiếu, uống cà phê, làm xị rượu mà chưa có tiền thì thiếu chịu. Chưa thấy ai giựt bao giờ. Ăn quịt mất mặt với bà con lối xóm. Dân Sài Gòn coi cái mặt, cái sĩ diện của mình rất quan trọng. Mất mặt là mất cái miệng để ăn, mất cái mũi để thở, mất con mắt để đá lông nheo! Mất hết ráo thì mặt mũi nào mà sống cho được chớ?
Nghe nói hồi trước 75, Bề, tức tía của chú Tửng rất giàu. Ổng có một nhà máy xay tuốt miệt Sóc Trăng. Việt cộng vô đánh tư sản mại bản. Nhà máy bị sung công. Bề của chú Tửng còn giếm một mớ vàng cho mấy đứa con mình theo mấy xì thẩu ở Ðường Giữa, Sóc Trăng vượt biên. Chú Tửng phải ở lại nối dõi tông đường. Em gái chú Tửng được qua Mỹ.
Chú Tửng có lần cao hứng khoe: “Em của ngộ ngon lắm nha. Qua Mỹ, làm bác sĩ thú y, chuyên nuôi khỉ đột cho mấy nhà dịch tễ học làm thí nghiệm thuốc chích ngừa. Ngộ có kêu nó gởi về cho ngộ đúng 494 con khỉ!”
Bà con xúm lại hỏi:“Chi nhiều dữ vậy? Bộ chú tính bỏ nghề bán hủ tiếu để lập gánh hát xiệc hả?”
“Ðâu có nè! Ngộ gởi ra Hà Nội để tặng mấy ông, bà trong Quốc hội!”
“Ðể làm đồng chí hả?”
“Ðâu có nè, để thí nghiệm thuốc chích ngừa COVID-19”
Nói xong. chú nheo mắt nháy nháy, cười trông rất đểu, làm bà con cười ầm lên vì ai cũng hiểu.
Khách hàng cật ruột của chú Tửng là Tư Quảng. Tư Quảng bỏ xứ vô Sài Gòn lập nghiệp hồi trước 75. “Vì quê hương anh nghèo lắm em ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn. Trời hành cơn lụt mỗi năm…”
Vô Sài Gòn, Tư Quảng bị lây cái tánh lè phè, sống rất huỡn! Trời chưa hưng hửng sáng là Tư Quảng đã bò ra quán hủ tiếu của chú Tửng làm sương sương một cái xây chừng chẩu (cà phê pha rượu trắng). “Lỳ một lam” – làm một ly, như xe cần đổ xăng mới chạy. Tư Quảng đi khuân vác để kiếm cơm. Chủ Nhựt nghỉ, Tư Quảng ngồi tới trưa. Vợ Tư Quảng phải sai con gái ra kêu về ăn cơm, Tư Quảng mới chịu xách đít về.
Nhân vật có máu mặt trong xóm nầy là thằng Tám Công an khu vực, con rể của Tư Quảng. Nó là dân sanh đẻ ở xóm nầy; nhưng tía nó là liệt sĩ thời chống Mỹ! Học hết lớp 9, nó được đi làm Cảnh sát Giao thông. Ra đứng đường đón xe tải để làm luật. Có lần thằng Tám bị một tài xế bị làm luật hoài nên nổi điên cứ lái xe bang bang ủi tới. Thằng Tám phải nhảy lên cabin đeo tòng teng. Nhém chết, hoảng quá Tám bèn xin về làm Công an khu vực. Kiếm tiền thêm để sống bằng cách bao che cho con vợ nó, là con gái của Tư Quảng, ghi số đề. Phơi số đề chiều phải nộp lên huyện đề. Huyện đề lại là bà con đầu ông cố nội với chú Tửng.
Tóm lại dân trong hẻm, đứa nầy cũng biết đít đứa kia có mấy khía; gài thế với nhau nên không ai ngán ai hết ráo.
Nhưng trong cái đám lộn xộn dây mơ rễ má nầy cũng có người đàng hoàng. Người đó là thầy Hai, một thầy giáo đã về hưu. Thầy rất được khách quen trong quán chú Tửng kính trọng; vì chữ của thầy nhiều hơn hết thảy.
Sáng Chủ Nhựt, Tư Quảng ngồi tréo ngoảy trong quán, đọc báo oang oang cho người nghe một chút.
“GDP Việt Nam năm 2020 ước tính sẽ đạt 340.6 tỷ USD. Việt Nam sẽ là nền kinh tế lớn thứ 4 Ðông Nam Á vào năm 2021”.
Tư Quảng vừa đọc tin, lâu lâu dừng lại để bình loạn: “Nghĩa là bây giờ thì chưa. Ðó chỉ là tương lai, là sẽ, là truyện viễn tưởng”.
Rồi Việt Nam (lại sẽ) qua mặt Singapore, Malaysia một cái vù. Xịt khói mịt mù cho cha con, chồng vợ tụi nó hửi chơi.
Trong khi Philippines, Thái Lan, Malaysia và Indonesia trong thời đại dịch COVID-19 nầy đều chết cha hết ráo; thì Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 1.6%.
Mấy ông khách khác cũng trong xóm nghe vậy bèn hỏi: “Thiệt vậy hông? Mừng quá xá!”
“Ê! Tin chánh thức của báo nhà nước! Hỏi như vậy là hơi bán tín bán nghi. Bộ xưa giờ ông anh bị xí gạt nhiều quá hay sao nên chuyện gì cũng phải hỏi lại cho nó chắc?”
Tư Quảng bỏ tờ báo xuống bàn: “Nói như rứa thì Việt Nam chỉ được con số GDP để mà đăng báo nhưng tiền sao tao hổng thấy nó mặt tròn mặt méo đâu cả?”
Thầy Hai bèn trả lời: “Bộ chú Tư không thấy Tàu Cộng đang cố sức vượt Mỹ để thế giới biết lãnh tụ Tập Cận Bình theo lý luận Mác-Lê rất là ưu việt hay sao? Biết đâu tiền đó của Việt Nam dùng trả cho Tàu để xin cho quá giang vượt luôn cả Mỹ… He he!”
Chú Tửng đang xốc xốc cái vợt trụng hủ tiếu trong thùng nước sôi chen vô: “Hà cái lầy! Nên chạy ngang hàng với Mỹ, đừng nên vượt qua Mỹ!”.
“Chú Tửng thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo tài tình của đảng ta đến vậy hay sao?”
“Hà cái lầy! Vì vượt mặt Mỹ, nó chạy sau thấy cái quần mình… thủng đít thì kỳ lắm nhe!”
Tư Quảng vẫn ngoan cố đề nghị: “Cứ chạy qua mặt nước Mỹ luôn đi. Nếu Yankees thấy quần mình thủng đít thì đảng ta chỉ cần lấy cái mo cau che cái mông lại là xong!”
Ngồi thu lu một mình trong góc, thằng Tám Công an khu vực bèn chen vào:“Tía với mấy bác, mấy chú đừng có phát biểu linh tinh, phản động như thế! Ðừng có đem hình ảnh nước ta mặc quần thủng đít đi chạy đua với đế quốc Mỹ nhé. Theo bài báo nầy, thì nước Việt Nam anh hùng của chúng ta đã từng đánh hạ 3 thằng đế quốc: Nhựt, Pháp, Mỹ thì chuyện kinh tế là chuyện dễ ợt. Việt Nam ta giờ chỉ sau có Indo. Thái ta bỏ rồi. Mục tiêu 2025 là Hàn Quốc. Còn Indo và Thái, đảng ta không quan tâm!”
Nghe cái loa phường quay lại cuốn băng cũ, ngứa lỗ tai, thầy Hai buột miệng: “Tám à! Chú mầy nói cái chuyện nầy hồi năm 1975 thì được. Bây giờ là năm 2020 rồi!”
Bữa nay, thầy Hai uống mật gấu hay sao mà gan thiệt? Chớ bấy lâu thầy chỉ nghe thiên hạ bàn, rồi tủm tỉm cười chơi cho khỏi lôi thôi phường khóm.
Cạn cái ly xây chừng chẩu cái ót, thầy Hai lấy hết can đảm mà thực thi quyền tự do ngôn luận của mình: “GDP thu nhập của cả một nước tùy theo dân số nhiều hay ít. Dân nhiều làm ra nhiều của cải; dân ít làm ra ít. GDP của Mỹ đứng hạng nhứt trên thế giới nhưng đời sống dân Mỹ chưa thể nói là hơn dân các nước Bắc Âu như Thụy Ðiển, Na Uy, Phần Lan.
Mức sống của dân Ðài Loan, Singapore, Nam Hàn còn cao hơn cả dân Trung Cộng và Việt Nam dù GDP cả nước có thấp hơn nhiều. Tại sao vậy?
Muốn biết dân một nước có sống hạnh phúc hay không là phải căn cứ vào nhiều tiêu chí khác: như thu nhập của từng người, có tự do dân chủ, sống hạnh phúc hay không?
Chỉ dùng một tiêu chí GDP để đánh trống thổi kèn, mình tự khen mình, là “misleading information”; là xí gạt người ta.
Thằng Tám Công an khu vực về suy nghĩ lại rồi sáng mai ra dạy thêm cho con dân tụi tui được mở mang cái đôi mắt hí nầy nhe!”
Thằng Tám khu vực nghe thầy Hai xỏ xiên mình có đôi mắt hí; hổng biết chống chế ra làm sao nên nín khe hè. Còn Tư Quảng lại cười khè khè: “Chết cha mầy chưa! Ai biểu ngu mà còn dám chọc nhầm ổ kiến lửa?”
Với số tiền bán sợi dây chuyền của chị Loan, mẹ tôi đưa chúng tôi vào Sài gòn sớm hơn kỳ hẹn cuộc phỏng vấn một tuần lễ. Chúng tôi tạm trú ở nhà hai cụ thân sinh ra dì Đặng. Hai vợ chồng già sống heo hút trong một căn xép nhỏ, cách dinh Độc Lập có vài con đường. Cái căn xép này trước kia đã từng là nhà bếp của họ. Còn cái nhà lớn bên cạnh, nơi mười năm trước mà chúng tôi đã gặp dì Đặng. trên đường đi tới máy bay trực thăng thì đã bị cắt sẻ nhiều lần bán cho nhiều chủ rồi. Nay hai cụ chỉ còn lại căn nhà bếp và cái nhà tắm nhỏ xíu. Chỗ ở quá sức là nhỏ, dù chỉ dành cho hai cụ già, tuy vậy, hai cụ Hom đã nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi. Sài Gòn đã thay đổi quá nhiều kể từ khi chấm dứt cuộc nội chiến. Giống phần đông những cư dân bực bội, mệt mỏi, nếp sinh hoạt của thành phố cũng hiện lên vẻ khó sống. Những căn nhà đã có một thời xinh xắn, dễ thương, nay đổ nát, bị mối mọt gậm mòn. Tường sơn tróc lở, thay vào đó là những mảnh rêu xanh. Qua những lỗ hổng mà xưa kia là cửa sổ, đó đây, có những khuôn mặt bẩn thỉu của đám con nít thờ ơ nhìn khách qua đường. Xe đạp và xe xích lô tràn ngập trên những đường phố nhỏ hẹp, tạo nên một dòng âm thanh triền miên ồn ào điếc tai. Tóm lại, tiếng động ầm ỹ náo nhiệt của thành phố là một âm điệu mà chúng tôi khó có thể làm quen được. Tôi bước qua những phố phường xa lạ, lòng lo âu về những thủ tục rắc rối của cuộc ra đi. Tôi sợ phải đối diện với những mối lo của tôi. Tôi không biết số phận sẽ dẫn gia đình tôi và tôi đi về đâu nữa. Tương lai chúng tôi là một điều bí ẩn. Sự đi hay ở của chúng tôi hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của những người vô danh, xa lạ, mà tôi sẽ chẳng bao giờ biết về họ. Thành phố Sài Gòn vào thời điểm 1985 thì rất là tù túng, ứ nghẹn, tràn ngập rác rưởi. Vào những ngày nóng nực, bụi bậm bay mù mịt, không ngừng toả xuống mọi vật như một dòng suối tuyết mầu đen. Tôi sớm nhận ra bài học là không mặc mầu lợt khi đi ra ngoài. Mọi thứ sẽ bám bẩn rất nhanh, nhất là khu trung tâm Sài Gòn, nơi mọi người đổ xô nhau đi từ chỗ ô nhiễm này đến chỗ ô nhiễm khác. Lá thư đính kèm với những giấy thông hành của chúng tôi ghi địa chỉ của sở Di Trú là số 4 đại lộ Duy Tân, một con đường nổi tiếng với những cây me cao vút, xum xuê, rực rỡ. Tàn cây me đan vào nhau che phủ lòng đường giống như một cái vòm. Dinh Độc lập cũng chỉ cách nhau khoảng vài con phố, ẩn sau những hàng cây lá xanh rờn đó. Vào sáu giờ rưỡi sáng, gia đình chúng tôi đã chờ sẵn ở ngoài cổng sở Di Trú cùng với khoảng hai chục trẻ lai Mỹ và gia đình họ. Tất cả đều đợi xe buýt chở chúng tôi đến địa điểm phỏng vấn, cách khoảng một giờ xe. Vào thời gian đó, lệnh cấm vận giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được thi hành rất chặt chẽ. Để có thể làm việc tại Việt nam, nhân viên Cơ Quan Thiện Nguyện Hoa Kỳ mỗi buổi sáng phải từ Bangkok đáp máy bay đến một thị xã bên ngoài Sài Gòn và ra đi trước khi trời tối. Chúng tôi đi xe buýt đến gặp nhân viên đại diện vào những giờ đã được chỉ định. Đia điểm làm việc toạ lạc trong một khu dinh cơ, có lẽ hồi trước là tài sản của một nhà thầu giầu có. Dấu vết của sự xa hoa vẫn còn thấy rõ ở đó. Căn nhà nằm trên sườn đồi, nhìn xuống rừng cao su, xây theo kiểu chữ U, với hai cánh tả hữu vĩ đại nối vào căn trung tâm còn to lớn gấp bội, ôm lấy hàng hiên rộng mênh mông bằng đá cẩm thạch mầu đỏ. Những căn phòng rộng với những cửa kính khổng lồ ở tầng lầu thứ hai được dùng làm văn phòng. Qua khung kính trong vắt, tôi có thể nhìn thấy những người ngoại quốc tay cầm hồ sơ, tay cầm bút đi tới đi lui.. Một người nào đó trong bọn họ cũng có thể là người đã đánh máy cái thư đầu tiên gửi cho tôi. Và nay họ chính là người quyết định số phận của tôi. Từ một khoảng cách thật là ngắn ngủi, khuôn mặt họ sao mà đẹp đẽ, sáng sủa và cũng thật là xa lạ biết bao! Sao mà tôi lại mong muốn được trở thành một trong số họ đến thế! Và, lần đầu tiên từ bao nhiêu năm nay, tôi không thấy xấu hổ vì bộ mặt rặt Mỹ của tôi. Ngắm nhìn họ, tôi nhận thức được tôi từ đâu tới và tôi nên tùy thuộc vào đâu. Sự xuất hiện của họ đã khuấy động trong tôi một nỗi niềm khắc khoải dâng lên ngùn ngut. Như đọc được tâm trang. của tôi, mẹ tôi kéo tay tôi, chỉ vào những người Mỹ, nói: – Nhìn kìa, Kiên! Con có biết thế là gì không? Con chim ưng mẹ đã kiếm ra con của nó rồi đó! Trong khi chờ đợi được gọi tới tên, chúng tôi quây quần quanh cái bàn hình chữ nhật kê ở một phía bên hàng hiên. Mỗi chúng tôi đều cố gắng mặc bộ đồ bảnh tỏn nhất, theo với thời trang hiện đại của thành phố, quần Jean, áo luạ rộng hoặc áo sơ mi sọc rằn. Phần lớn con lai trong nhóm tôi ở khoảng từ mười hai đến mười chín tuổi. Họ nhìn nhau không rời, cố gắng giấu giếm sự tò mò vào cái vỏ lãnh đạm một cách lễ độ. Đứng cách xa cả nhóm là một đại gia đình gồm mười sáu người. diện quần áo đẹp, đeo nữ trang đắt tiền, trông rực rỡ như một bầy công. Họ túm tụm với nhau dưới một gốc cây phi lao, ăn bánh đâụ xanh lấy ra từ cái giỏ đựng đồ đi picnic. Một cô gái cỡ mười bốn, tóc vàng hoe thẳng mướt, mắt xanh, đứng một cách nhút nhát trong đám, tay bưng một bình lớn đựng trà đá sữa bột. Người đàn bà lớn tuổi nhất trong đám, mập đến nỗi khi bà ta ngồi, cặp mông của bà nuốt chửng cái ghế. Bà lớn tiếng gọi cô bé với giọng rõ ràng, hả hê: – Cho mẹ chút gì để uống đi, con gái út của mẹ. Bà ta lập đi lập lại câu đó nhiều lần, cười sằng sặc như là câu nói đùa có duyên lắm vậy. Lớp phấn dầy từ hai đuôi mắt bà ta rạn ra. Gia đình bà tỏ ra ngượng ngùng mỗi khi bà ta kêu cô bé là con gái. Họ lẩm bẩm với nhau một cách dè bỉu, che dấu sự khó chịu của họ trong những câu chuyện hàn huyên dỏm. Khi tên gia đình tôi được gọi lên, chúng tôi chaỵ vội đến gặp người phỏng vấn chúng tôi ngay tại chân cầu thang. Bà ta là một người da đen, mặc một bộ đồ lịch sự mầu xanh đậm, đẹp đẽ và xa lạ như một con búp bê bằng sứ. Mùi nước hoa của bà ta bay ra thơm lừng không gian như mùi hoa hồng trong vườn nhà bác tôi sau cơn mưa. Một viên thông dịch Việt Nam đứng sau bà ta mấy bước. Sau mấy câu chào đơn giản và những cái bắt tay, họ dẫn chúng tôi lên lầu. Ngay sau khi bà ta mở cửa mời chúng tôi vào, một luồng hơi lạnh từ chiếc máy điều hoà không khí toả ra đã cuốn tôi vào cái lịch sự, nồng nàn của tây phương. Tôi hít một hơi dài, bỗng nhiên, nước Mỹ đã nằm trong lồng ngực tôi. Bên cạnh tôi, mẹ tôi bật lên tiếng khóc. Ngay sau cuộc phỏng vấn, chúng tôi vội vã rời Sài Gòn, không có cơ hội để thưởng ngoạn thành phố. Chúng tôi không có khả năng tài chính để có thể chịu đựng nổi sự chi tiêu tốn kém nơi đô thị. Ngoài ra, nơi ở của hai cụ Hom quá nhỏ bé để có thể chứa một gia đình đông như gia đình chúng tôi. Mẹ tôi bảo em Jimmy ở lại nhà cụ Hom để theo dõi lịch trình các chuyến bay và danh sách người ra đi, được công bố hàng ngày ở sở Di Trú. Sau này, khi đã về đến Nha Trang, chúng tôi liên lạc với em phần chính là điện tín. Nhiệm vụ của tôi là lo việc giấy tờ. Theo chính phủ Việt Nam, người nào muốn lìa bỏ đất nước, phải hội đủ ba loại giấy tờ chủ yếu, đó là, chữ ký của sở Nhà Đất, giấy không thiếu nợ của Ngân Hàng Trung Ương và giấy chứng nhận của sở thuế, Mục đích là để chứng tỏ rằng người ra đi không còn là chủ sở hữu động sản nào, không nợ nần Ngân hàng nhà nước, và không thiếu thuế. Đối với chúng tôi, thời gian không còn lại bao nhiêu. Tin đồn về việc gia đình tôi gặp được phái đoàn Mỹ về tới Nha Trang trước chúng tôi. Đứng chờ chúng tôi tại trước cổng nhà là một hàng dài những con lai. Phần lớn họ là những đứa trẻ vô gia cư, quần áo bẩn thiủ rách rưới, những nước da xanh xao và những khuôn mặt trẻ con đã mất đi nét bụ bẫm. Họ nhìn chúng tôi đầy hy vong. Rất nhiều em còn mang theo tờ đơn mà chúng đã lấy từ văn phòng Di Trú. Bước cạnh mẹ và em Bé Ti tôi đưa tay ra với cái then cửa. Hai đứa bé da đen đứng ngay hàng đầu tiên nhe răng ra cười với tôi. Một đứa rụt rè: – Chú Kiên ơi, xin chú giúp chị em chúng cháu. Chúng cháu cần điền cái đơn này nhưng không biết đọc và viết. Đứa em nói thêm: – Chúng cháu có ít tiền đây để trả công cho chú. Cô ta mở bàn tay ra cho tôi trông thấy tờ giấy hai chục đồng nhàu nát. Chắc là cô bé đã nắm chặt tờ giấy bạc từ lâu lắm rồi, nên nó gần như mủn ra vì mồ hôi tay trong lòng bàn tay cô ta. Cô ta cẩn thận nhét tờ giấy bạc vào tay tôi. Hai cô bé dường như cùng một tuổi, cỡ mười ba, mười bốn. Đầu tóc chúng to xù như cây thông kiểng. Tôi đẩy tờ giấy bạc về phía cô bé, nói: – Giữ lấy, anh không lấy tiền của em đâu. Nhưng đừng lo, anh sẽ giúp em điền đơn. Mẹ tôi lên tiếng: – Tôi gặp mấy cháu ở đâu nhỉ. Phải tiệm mì trên đường Lê Chân không? Hai đứa bé đồng thanh: – Thưa bà đúng đấy ạ – Trời! Từ bấy nhiêu năm! Bộ tụi con vẫn lang thang ngoài đường hả? Mẹ tụi con đâu? Một đứa trả lời: – Mẹ cháu chết năm ngoái. Bác sĩ bảo bị bệnh giang mai. Tụi cháu tự kiếm ăn từ đó đến nay. Tôi cầm mấy tờ đơn trong tay chúng. Tò mò, tôi hỏi: – Sao các em biết gia đình anh hôm nay trở về? Cùng một nụ cười ngây thơ, hồn nhiên, sáng trên hai khuôn mặt, chúng trả lời: – Chúng em nghe được tin may mắn của gia đình anh từ hôm thứ hai ở ngoài chợ. Từ hôm đó chúng em đã đợi ở đây là ba ngày rồi. Hôm đó tôi điền được trên hai chục tờ đơn. Ngày hôm sau lại có thêm nhiều trẻ em tới, đem thêm nhiều tờ giấy. Mãi cho tới lúc đó tôi mới nhận thức được con số kinh hoàng về số trẻ lai bị bỏ rơi ở thành phố tôi ở. Mỗi sáng, khi nhỏm dậy, tôi nhìn thấy ít nhất khoảng mười khuôn mặt nhú ra từ đằng sau hàng kẽm gai, nhìn săm soi vào nhà. Tất cả đều lộ vẻ lo sợ, ngập ngừng, nhưng đầy hy vọng và tin cậy. Tất cả đều mong được sờ vào tôi, để đích thân cảm nhận được cái hiện thực đầy ý nghĩa về những người Mỹ mà tôi đã tiếp xúc. Đối với hầu hết những đứa trẻ này, chuyện xảy ra cho gia đình tôi là giấc mơ mà chúng khao khát cho bản thân được sống vào một ngày nào đó trong tương lai.
Tối đó, sau bữa cơm, tôi lỉnh vào giường để nghiên cứu mấy tấm giấy thông hành mà chúng tôi mới nhận được từ Hà Nội. Tờ giấy có chiều ngang mười phân, chiều dài ba mươi phân, gấp làm tư, mỏng manh dễ rách như bất cứ một tờ giấy nào đó. Trang ngoài mầu trắng, đóng dấu có biểu tượng của nước Việt nam – một vòng đỏ tròn trên cái cờ với cái sao vàng ở giữa, viền bằng những nhành lúa chín. Ở đưới đáy cái hình đó, nhánh lúa vàng được bện vào nhau và cột bằng cái nơ đỏ, có hàng chữ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được in ngang bề mặt. Phía dưới cùng là hàng chữ “Thông hành số 40783 ATH1”. Bên trong là hình tôi nhìn thẳng vào máy ành, dọc theo là khoảng trống dành cho chữ ký của tôi. Phần còn lại của tờ thông hành có nền xanh nhạt, đóng đầy những vết con dấu đỏ, phần lớn ghi ngày 30 tháng Năm, năm 1984. Hấp dẫn nhất là câu “Người cầm tờ giấy này được phép rời khỏi Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trước ngày 30, tháng Năm, năm 1985 để tới nước Hoa Kỳ”. Tôi đọc đi đọc lại mấy hàng chữ đó cố gắng tận hưởng cái nghĩa của nó. Bên ngoài, có tiếng mẹ tôi gọi ra phụ rửa bát. Tôi gấp mấy tờ giấy thông hành lại, đứng dậy vươn vai rồi bước ra. Mặc dù mới trải qua một trận mưa, vậy mà căn bếp không có mái cũng đã gần như khô rồi. Đó đây, chỉ còn lại một vài vũng nước đọng dưới sàn phản chiếu lóng lánh dưới bầu trời trong vắt, không một gợn mây. Mẹ tôi đứng trong bóng tối ngó ngó sang nhà bác tôi, chờ đợi. Gió lạnh thổi hun hút qua phòng ăn trống trải, lướt vào quần áo mỏng của mẹ tôi phần phật. Bước chân của tôi đi tới làm mẹ tôi giật mình. Đặt một ngón tay lên miệng ra hiệu cho tôi im lặng, mẹ tôi thì thào: – Suyt. ! Đừng làm ồn. Mẹ đang chờ bác. Tôi dừng lại. Có tiếng nước dội ào ào từ trong phòng tắm vọng ra qua hành lang. Một thoáng sau, tôi nghe tiếng mở cửa ra rồi đóng lại, rồi tới tiếng guốc quen thuộc của bác tôi lộp cộp tiến lại gần. Rồi thì chính bác tôi hiện ra dưới ánh sáng bạc nhược của ngọn đèn bếp, tay còn đang thắt giải rút quần. Mẹ tôi hắng giọng: – Chào chị. Bác tôi nhìn lên, kinh ngạc: – Ờ… hờ… chào! Trong bóng tối của cái hành lang, đôi mắt bác tôi sâu hoắm làm mặt bà giống như một con cú mèo. Bác tiếp: – Tôi không trông thấy cô đứng đấy. Cô làm tôi sợ gần chết. – Xin lỗi chị. Chắc chị đã nghe tin hôm nay chúng tôi nhận được giấy thông hành. Bác tôi sốc lại quần áo cho chỉnh tề, vừa trả lời: – Có, tôi biết. Mừng cho cô. – Cảm ơn chị. Tôi có vài chuyện muốn bàn với chị. Tôi đang nghĩ đến chuyện phải bán căn nhà và dọn vào Sài Gòn. Ngày đi Mỹ cũng không còn xa và tôi cần kiếm chút đỉnh tiền để lo công việc. Bác tôi ngắt lời: – Đừng nói với tôi chuyện đó bây giờ. Cô cần phải bàn bạc với ba sắp nhỏ. – Tại sao vậy? Đó là nhà của tôi và tôi sẽ bán nó. Tôi chỉ muốn cho chị biết dự tính của tôi vì chị là chị ruột. Tôi không cần phải trình với chồng chị.
Bác tôi mở miêng ngáp dài: – Tôi nghĩ cô nên nghe theo lời tôi. Sáng mai mình sẽ gặp nhau. Mẹ tôi gật đầu: – Được, nếu chị quyết định như vậy. Thế mai mấy giờ? – Chín giờ sáng mai, tại phòng khách nhà tôi. Sáng hôm sau mẹ tôi dậy sớm mặc dầu không phải sửa soạn bán hàng ngoài chợ. Ngồi lặng lẽ trên một cái ghế đẩu nhỏ trong bếp, mẹ tôi châm nước sôi để pha trà gừng cho ông ngoại tôi. Gió hun hút thổi qua cái lỗ hổng lớn mà xưa kia vốn là cửa sổ, đưa luồng hơi lạnh giá uà vào trong phòng khiến cho tôi tỉnh ngủ, tuy còn nằm nướng lại. Mấy cái bao tời cũ rách lổn nhổn thay cho giường cứ châm chích vào da lưng tôi. Tôi lật lớp bao bố lên, rút ra mấy cái thông hành mà tôi đã dấu, đọc lại một lần nữa những cái chữ nhỏ xíu, bâng khuâng tự hỏi làm sao mà chúng tôi có thể rời khỏi Việt Nam trước ngày hạn chót là ngày 30 tháng Năm năm 1985. Jimmy cũng đã nhỏm dậy. Nó vừa gãi đầu vừa bước vào bếp. Mẹ tôi đưa cho nó một ly nước lạnh cùng với cái bàn trải đánh răng đã trét đầy muối trộn chung với baking – soda. Nó chải răng, xúc miệng xong bèn hất chỗ nước dư ra vườn qua một cái lỗ hổng trên tường. Bên ngoài, xóm giềng bắt đầu nhộn nhịp. Đó đây, nào là tiếng ồn ào trong mọi nhà, tiếng gà gáy, tiếng mở cửa đóng ken két, và tiếng trẻ con ôn lại bài lần chót trước khi tới trường. Muôn vật đều như bừng lên một vẻ sạch sẽ, sáng sủa sau cơn mưa, cùng với mùi đất ẩm tràn ngập trong không gian. Chiếc đồng hồ treo tường bên nhà bác tôi điểm chín tiếng âm vang qua khu vườn. Mẹ tôi mặc cái áo luạ mầu xanh lơ sậm gần như mầu đen, có điểm những bông hoa dành dành nhỏ xíu đã bạc mầu và cái quần nylon đen. Đó là bộ quần áo tươm tất độc nhất còn lại của mẹ tôi, và nó cũng chỉ được dùng vào những trường hợp thật là đặc biệt. Tóc mẹ tôi được cột túm ra đằng sau. Dáng bà đi đứng cứng ngắc với đôi mắt nhìn thẳng về phía trước. Bà thở một hơi thật dài rồi bước ra khỏi bếp, đi qua khu vườn. Jimmy và tôi nhìn theo bà qua khung cửa sổ cho đến khi bóng mẹ khuất sau cái cột cao phủ đầy rêu ở nhà bác tôi. Nhưng, chỉ một khoảng khắc sau, bà đã đẩy tung cửa nhà bác tôi, giận dữ phóng ra. Tay bà dứ dứ trên đầu, miệng thì la lớn: – Ba ơi, ba đâu rồi? Ông ngoại tôi thò đầu ra khỏi phòng, nét mặt ngơ ngác. Mái tóc của ông tôi xù tung, dựng đứng trên đầu, trông như đám lông nhím. Ông tôi hỏi: – Có chuyện gì thế con? Mẹ tôi bước ào qua cửa bếp, vừa đá phốc cái ghế ra khỏi lối đi, vừa thét: – Ba! Có việc con cần nhờ ba giải quyết. Xin ba đi với con. Quay qua Jimmy và tôi, cũng một giọng, bà ra lệnh: – Tuị bay nữa, mặc đồ vào rồi theo mẹ. Trước khi hai đứa tôi mặc đồ xong, mẹ tôi đã lôi chúng tôi sải bước trở lại phòng khách nhà bác tôi. Đi sau chúng tôi vài bước, là ông ngoại. Bác trai tôi đang ngồi bên bàn cà phê, quay lưng lại bàn thờ Phật, hai tay bác khoanh trước ngực. Qua cặp kính dầy, đôi mắt bác trừng trừng nhìn chúng tôi. Phía sau bác, như một trung đội lính đã sẵn sàng để ra trận, tám người con trai của bác đã đứng sững, như để yểm trợ cho cha họ. Ở một khoảng nhỏ trên bức tường sau lưng bàn thờ Phật, có treo tấm hình chị Ánh Nguyệt ghép gọn ghẽ trong một khung hình mầu đen, cạnh đó là hình bà ngoại tôi. Khói hương nghi ngút từ bàn thờ toả ra bầu không khí vốn đã căng thẳng. Trong sự im lặng lạnh lùng, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng tích tắc không ngừng của cái đồng hồ. Mẹ tôi lên tiếng hỏi trống không: – Bà chị đáng kính của tôi đâu rồi? Bác trai tôi dùng cùng một giọng điệu để trả đũa: – Vợ tôi không tham dự cuộc họp được vì mắc bân việc bất thình lình. – Còn chuyện gì có thể quan trọng hơn chuyện này? Bộ bà ta sợ đụng mặt tôi hả? Bác trai tôi nói: – Về việc này, vợ tôi không quan trọng. Cô muốn gặp chúng tôi ở đây hẳn có lý do. Tai sao cô không nói ra điều cô cần nói rồi ra về? Ông ngoại tôi lên tiếng: – Anh có tính mời chúng tôi ngồi không đây? Bác tôi nói: – Xin ba tha lỗi. Quay sang Lễ, người con trai lớn nhất, bác ra lệnh: – Kéo ghế cho ông ngoại. Như người máy, Lễ bước ra khỏi hàng, nhưng mẹ tôi đã vẫy tay ra hiệu cho anh ta ngưng lại và nói: – Dẹp cái hình thức giả dối ấy đi. Việc này chỉ tốn có một phút thôi. Tôi muốn mấy người biết rằng tôi đang dự tính bán căn nhà của tôi. Bác tôi nói: – Rất tiếc! Cô không thể bán được! Mẹ tôi nhướng một bên lông mày: – Tại sao không? Đó là nhà tôi, phải không? Tôi là người đứng tên trong văn tự. Bác tôi quay sang người con lớn nháy mắt ra hiệu. Lễ bèn mở cái hộp nhỏ để đàng sau bàn thờ Phật, lôi ra một sấp giấy tờ, đưa cho cha. Mẹ tôi nguýt: – Hứ Bác trai tôi bắt đầu giở những trang giấy đặt trước mặt, lên tiếng: – Cô Khuôn, cô nói rằng cô là chủ căn nhà, đúng vậy. Tuy nhiên, cô không thể bán căn nhà của cô được vì tôi là chủ miếng đất mà căn nhà của cô toạ lạc. Điều đó được ghi rõ trong hồ sơ điạ bộ đây. Khi nào bình tĩnh, cô có thể nghiên cứu giấy tờ, nếu như cô không tin tôi. Mặt tối sầm lại vì giận, mẹ tôi nói: – Mấy năm trước tôi đã mua lại khoảng đất đó của anh rồi. Thằng con lớn của anh vừa đúng mười lăm tuổi cái hôm anh dẫn nó lại biệt thự của tôi. Tôi còn nhớ tặng nó cái xe đạp đầu tiên mà nó có, đồng thời đưa cho anh nốt số tiền thanh toán miếng đất cộng với chi phí sửa sang. Cha mẹ tôi và con anh chứng kiến việc đó. Sao bây giờ anh dám trở mặt? Ngoài ra, trên thực tế, so với số tiền mà tôi đã đưa cho gia đình anh trong bao nhiêu năm nay, ít ra tôi cũng đã mua đứt toàn thể khu vực này từ lâu rồi. Ông ngoại tôi gật đầu một cách trầm ngâm: – Tôi tuy già nhưng chưa lú lẫn đâu. Tôi còn nhớ ngày hôm đó như in. Lễ, cháu có nhớ không? Lễ tránh cái nhìn đăm đăm của ông ngoại. Mẹ tôi dằn tay lên ngực như để trấn tĩnh. Đoạn, bà nói với bác tôi: – Tôi biết làm gì bây giờ? Tôi cần tiền để lo cho chuyến đi. Anh có ý kiến gì để chúng ta có thể giải quyết không? Bác tôi đấm mạnh nắm đấm xuống mặt kính của cái bàn cà phê, dằn từng tiếng, như ông ta đang nói với một đứa bé lên năm bướng bỉnh: – Tôi không cần biết cô làm cái gì. Cô không được bán đất của tôi. Đó là câu trả lời cuối cùng. Rồi ông ta đóng sấp hồ sơ, hai bàn tay va vào nhau cái chát. Sự im lặng trở lại căn phòng. Cuối cùng, mẹ tôi hất mái tóc ra khỏi gương mặt, lên tiếng: – Được lắm, tuị bay toàn đồ ăn cướp. Nếu tao không bán được căn nhà, tao sẽ phá tan hoang, từng viên gạch một. Tuị bay đừng hòng chiếm được căn nhà, ngày nào mà tao còn sống. Chưa có xong đâu. Rồi bà lao ra ngoài, đồng thời vẫy tay làm hiệu cho Jimmy và tôi di theo. Có tiếng cười lớn của lũ anh em họ đuổi theo chúng tôi vang trong khu vườn. Năm phút sau, Tín xuất hiện ngoài bếp. Ánh nắng xuyên qua lỗ hổng trên bức tường phòng ngủ của tôi chiếu lên khuôn mặt đầy mụn của hắn. Hắn chớp mắt lia liạ. Mẹ tôi bước ra khỏi phòng, nạt lớn: – Mày còn muốn cái chết dấp gì nữa đây? Tín lắp bắp: – Cháu đến để lấy mấy cái bao bố chứa gạo. Ba cháu cần để chứa đồ. Jimmy phản đối: – Lấy cái giường của em đi hả? rồi em ngủ ở đâu? Mẹ tôi bảo Jimmy: – Đừng cãi, con Quay qua Tín, bà nói giọng ráo hoảnh: – Lấy hết đi. Đem tất cả những thứ khốn nạn ra khỏi nhà tao đi. Em Bé Ti khóc: – Mẹ ơi, nền xi măng lạnh lắm. Mẹ tôi ôm mặt, thổn thức: – Lạnh thì lấy giấy báo lót mà nằm. Cần quái gì mấy cái bao tải ấy.
Tháng chín dương lịch mang lại mùa mưa tới. Từ hơn hai tuần nay, một màn mây xám luôn bao phủ bầu trời. Gió gào thét, quất rầm rập vào những hàng dừa. Qua khung cửa sổ lớp học, hằng ngày tôi chỉ còn nhìn thấy những lớp nước trắng xoá đổ không ngừng xuống thành phố vốn đã ngập lụt khắp nơi.
Vào những ngày mưa, mẹ tôi nhận thấy khó khăn mà bán hết nổi nồi cháo. Dù bà có đậy điệm kỹ lưỡng, khách hàng cũng không thể thưởng thức món ăn một cách thoải mái trong khi gió giật từng hồi ngoài đường phố bùn lầy, quất những giọt mưa năng hạt xuống đầu họ. Quần áo mẹ tôi sũng nước và cái thuốc nhuộm rẻ tiền nhuộm áo mẹ tôi, nay gặp nước bị ra mầu, chảy loang lổ xuống thân hình bà một loại chất lỏng mầu đen. Rất nhiều ngày mẹ tôi gánh về nồi cháo còn ế nguyên. Sau lưng mẹ, em gái tôi đuổi bắt bong bóng nước dưới đất, tay nắm chặt cái gối ướt sũng. Cùng với số vốn còm cõi của mẹ tôi rơi rụng dần, chúng tôi có thể nhìn thấy đấu hiệu của một hồi kết thúc tàn khốc. Một buổi chiều sau tiết học cuối cùng, tôi vội vã rời trường văn, tay giơ cái dù rách che đầu. Bên ngoài, phía sau cổng sắt lớn của nhà trường, Kim đứng co ro trong một cái áo mưa lớn quá khổ mầu vàng, kéo lên che kín nửa khuôn mặt. Tôi phóng qua cổng, làm tung toé những đám lá rụng trên lối đi lát gạch, để gặp nàng. Ngó thẳng vào mặt tôi, Kim nói: – Anh Kiên ơi, em tìm thấy anh rồi. Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy Kim ngoài cổng trường. Đã nhiều tháng qua, từ ngày tôi ra tù, chúng tôi chỉ bí mật gặp nhau ban đêm, hoặc là dưới gốc cây mộc lan gần nhà, hoặc ngoài cánh đồng lúa ở sau bếp nhà nàng mà thôi. Tôi hỏi: – Có chuyện rắc rối hả? Nàng lại gần tôi. Hàng lông mi của nàng vừa dài vừa rậm, rung rinh như đôi cánh bướ . Tôi có thể nhìn thấy cặp mắt nàng mở lớn như những khung cửa, mời gọi tôi đắm đuối thả hồn. Tất cả mọi thứ ở Kim toả ra đều dường như mong manh, trực giác tôi bừng lên ý muốn bảo vệ nàng. Dĩ nhiên là tôi không thể quên được tất cả mọi thứ mà gia đình Kim là tiêu biểu. Với những ý nghĩ mâu thuẫn đó, tôi đứng chết trân như tượng dưới trời mưa như trút nước. Kim lên tiếng: – Về ông ngoại anh. Em vừa nhìn thấy ông trên đường phố, đang đứng nghe Toà Án Nhân Dân. Hôm nay chi bộ đảng Cộng sản triệu tập một phiên sử để loại trừ những “hiện tượng tiêu cực” trong nội bộ chính quyền tỉnh. Khi em tới, em trông thấy ông ngoại anh đang đứng trong đám đông. Có quá nhiều người tham dự em hơi lo cho sự an toàn của ông. Nàng hạ thấp giọng, tiếp tục: – Sao anh lại hỏi “có chuyện rắc rối phải không”? – Tại sao anh giật mình khi anh thấy tự nhiên em đến đây, vậy thôi. – Tại sao em cứ phải cần có một lý do mới gặp anh được? Câu vừa nói của nàng mhư một luồng hơi ấm mơn trớn tôi, khiến cho tôi quên bẵng cả bản thân và trận mưa không dứt hạt . Đối với tôi bây giờ chỉ còn là người con gái mảnh khảnh với đôi mắt nhung và cái cách nàng nhìn tôi mà thôi. Kim nói: – Chúng ta đi thôi. – Đi? Đi đâu? Kim cười: – Đi tìm ông ngoại anh chứ ai, rõ ngố. Tôi yên lặng gật đầu, tay quờ ra nắm lấy tay nàng, dẫn nàng qua những đường phố có những cành cây sồi rậm rạp lơ lửng trên cao. Ngón tay nàng mềm mại cọ nhẹ trong lòng bàn tay tôi. Niềm rạo rực được kề cận với Kim cùng với nỗi băn khoăn, lo ngại bị thiên hạ bắt gặp đang cùng đi với Kim tay trong tay ngay tại khu phố lớn nhất của thành phố Nha Trang giữa ban ngày khiến cho tôi cảm thấy choáng váng. Chúng tôi đã đi qua khu chợ chính. Kim dẫn tôi đến khu đất trống, nơi nàng đã trông thấy ông tôi. Đó là nơi có sáu đại lộ của thành phố gặp nhau, nay bị ngăn lại bởi những tấm cản và đã có đông nghẹt những người tò mò đến coi. Công an mặc đồng phục khắp nơi. Bất chấp mưa gió, dân chúng đã đứng nghẹt đường, chờ đón chương trình mà chính phủ đã loan báo cách đây mấy ngày. Chuyện chưa xảy ra, nhưng đám đông đã ồn ào hưởng ứng. Bên kia đường, tôi trông thấy ông tôi đứng dưới một cái cột đèn, tay dựa vào cái ba toong. Người ông ướt đẫm nước mưa nhưng hình như ông không quan tâm tới thời tiết. Mắt ông nhìn đăm đăm, dường như đang suy nghĩ lung lắm. Kéo tay Kim, tôi nói: – Anh trông thấy ông rồi. Tụi mình làm thế nào băng qua đường được nhỉ? Kim hét lên để át tiếng ồn ào: – Đi theo em. Phải mất cỡ hai mười phút chen chúc trong đám đông, chúng tôi mới đến cạnh một viên công an . Xa xa, có tiếng giầy đinh giậm thình thịnh. Kim vỗ nhẹ vào vai viên công an, hắn quay lại nhìn, mắt hắn đỏ ngầu vì bị nước mưa quất, nàng nói với hắn: – Anh có thể cho phép chúng tôi băng qua đường được không? – Chờ chút đã. Tù nhân đang đi tới. Như để phù hoạ với lời phát biểu của anh ta, ngay tại lối rẽ ở đầu phố, một đoàn người xuất hiện, có đdội công an dẫn đầu. Những biểu ngữ bay phần phật trong gió, phơi bày những khâủ hiệu như sau: “Chiến dịch sửa sai chống lại bọn phản đông len lỏi vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản” và “Tư tưởng sai lầm và hành vi chống chủ nghĩa xã hội của bọn phản bội đích đáng lãnh trừng phạt nặng nề của Toà Án Nhân Dân”, những dòng chữ viết bằng mực đậm mầu trên nền vải trắng. Viên chỉ huy công an ngồi trên chiếc xe jeep di động đọc những lời ca ngợi Cộng sản qua chiếc loa phóng thanh. Sau mỗi câu, hắn ngừng lại để tới lượt đám đông hoan hô. Tù nhân, ít ra cũng cỡ ba chục người, bước lảo đảo thành hai hàng, đầu cúi gục, tay bị trói giật ra sau lưng. Những chiếc mũ giấy – Loại mũ các diễn viên hề Trung Hoa đôi khi trình diễn – gán họ với những chiêu bài “phản bội”, “phản động” Và “chống chủ nghĩa xã hội”.
Khi bọn tù nhân đi qua đám đông, từ hai bên đường, dân chúng ném loạn xạ vào họ nào là trái cây thối, gạch đá, đồng thời hô lên những khẩu hiệu “Đảng Cộng Sản muôn năm” và “cảnh gíac trước âm mưu nham hiểm của bon bành trướng Trung Quốc và đế quốc Mỹ”. Có những bàn tay giận dữ đấm lên không trung và có những giọng hét khàn khụa kêu gọi pháp luật. Bên kia đường, ông tôi nặng nhọc tiến từng bước, dò dẫm cái gậy xuống mặt đường. Bàn tay ông run rẩy chìa ra. Theo hướng mắt ông đang nhìn, trong đám tù nhân, tôi nhân ra gương mặt thân yêu của chị Loan.
Ngay khi nhận ra ông tôi, chị dừng lại, đầu gối khuyụ xuống rồi chị ngã gục trên mặt đường ướt át. Cái mũ kỳ cục tuột khỏi suối tóc dầy của chị và biến mất dưới bước chân của đám đông. Tôi nhìn thấy sợi dây thừng quấn quanh cổ chị quàng theo hình chữ X trước ngực, vòng xuống cột giật hai tay chị về phía sau lưng. Với đôi chân trần, trông chị bé bỏng, thậm chí như một bé gái nhỏ.
Ông tôi khập khiễng bước về phía chị Loan. Ông vuốt vai chị, áp mặt chị vào lòng ông và vuốt tóc chị. Miệng ông tôi mấp máy nhưng tôi không nghe thấy vì đường phố quá ồn ào. Viên công an đứng ở góc phố nhận ra cảnh tượng trìu mến này, bèn sấn tới, dùng súng hất ngược ông tôi ra. Sức mạnh và sự hung hẵn của hắn đẩy cả ông tôi và chị Loan ngã vật xuống đất. Ông tôi bật ngửa, bàn toạ nên. mạnh xuống lòng đường. Tôi hét lên:
– Ngoại ơi! Ông tôi không trông thấy tôi. Tôi liệng cái dù rách xuống đất, gặt phắt viên công an đang giữ chặt Kim và tôi tại chỗ, lao vào đám đông. Ông tôi chống khuỷu tay nhìn quanh, ánh mắt ngơ ngác. Tôi nâng ông dậy, phủi rác rưởi bám trên quần áo ông. Kim đuổi theo được tôi, đứng luẩn quẩn bên cạnh. Viên công an đã hất ngã ông tôi đứng cách đấy mấy bước, cái lưng hắn che khuất chị Loan khỏi tầm nhìn của chúng tôi. Tôi nhận ra hắn là tay chân thân tín của ông Ba Qùi. Tôi hỏi ông ngoại: – Ngoại ơi, ngoại có sao không? Ông tôi đáp: – Ngoại không sao. Dẫn ngoại lại với Loan, ngoại muốn từ biệt nó. Viên công an đã cản chúng tôi hồi nãy xỉa tay về phía chúng tôi, cảnh cáo: – Cấm không được biểu lộ tình cảm với tù nhân. Tôi khuyên hai người hãy dẫn ông già đi khỏi nơi đây ngay đi. Bỗng có tiếng người la hét, chửi bới những tù nhân nên viên công an quay về phía họ để nghe ngóng. Tôi đứng thẳng lên, nói với Kim: – Em trông chừng ông ngoại giúp anh. Anh đi chào từ biệt chị Loan giùm ông. Thừa lúc viên công an lơ đãng, tôi vụt chạy tới với chị Loan. Qùi xuống bên cạnh chị, tôi nhận ra tên Trần cũng ở gần đó. Ngực hắn còn tòn ten treo một tấm bìa cạc tông, có ghi như sau “Tôi vốn là một đảng viên, nhưng tôi đã làm điều ô nhục đối với Đảng và phản bội tổ quốc. Tôi ác của tôi đã vượt trước sự khoan hồng”. Vừa nhìn thấy tôi, một nét xấu hổ thoáng qua mặt hắn ta. Môi trên của hắn ta sưng vù, phồng ngược. lên, lộ ra một lỗ hổng đen ngòm, Hai chiếc răng cửa dơ bẩn đã rụng mất. Hắn ta vội vã nhìn ra phía khác. Chị Loan vẫn tiếp tục qùi gối đưới đất. Mái tóc đẫm nước mưa xoã xuống mặt, có vài sợi dính trên miệng chị. Cặn lòng trứng và hột cà chua bê bết trên quần áo chị. Đầu óc tôi choáng váng như đang ở trong một cơn ác mộng. Tiếng ồn ào của cái đám đông phẫn nộ nhỏ dần. Tôi với tay ra, vuốt má chị. Chị Loan úp mặt vào hai bàn tay tôi, khóc mùi mẫn, vai rung lên bần bật. Bỗng nhiên tôi cảm thấy lưỡi chị lè ra khỏi miệng, mềm và ướt, lướt qua làn da của tôi. Lẹ làng, chị nhả cái gì đó vào lòng bàn tay tôi. Rồi chị ngẩng đầu lên nhìn tôi, một sợi dây chuyền vàng kèm theo một miếng ngọc thạch mầu xanh lá cây cỡ bằng đồng tiền trung hoa cổ, lấp lánh dưới ánh chiều xám xịt. Tôi nắm lại không kịp suy nghĩ. Chị Loan nói: – Cất đi, Kiên. Khi chị mới tới gia đình em, bà ngoại em cho chị. Nói với mẹ là chị trả lại cho mẹ em. Bỗng một cú điếng người giáng vào lưng tôi, khiến cho tôi ngã sấp về phía trước. Ngó lên, tôi thấy viên công an đứng lù lù ngay phía trên tôi, đôi mắt trợ giộc, vừa dùng báng súng đánh tôi, vừa giận dữ hét: – Đã bảo không được gần cái tụi phản động! Kim rú lên: – Đừng! Nàng để ông tôi ngồi trên viả hè, chạy vội lại chụp lấy cánh tay gã công an. Nhìn thấy Kim, vẻ hung tợn của tên công an đổi sang thành sợ hãi. Hắn lắp bắp: – Xin lỗi cô hai, tôi không nhận ra cô. Kim nắm tay tôi: – Chúng tôi đi ngay bây giờ, không làm phiền chú nữa. Kim và tôi đến với ông tôi rồi cả ba vội lẩn vào đám đông. Màn đêm bao phủ quảng trường, mưa đã tạnh. Phía ngoài rạp hát Tân Tân có một cái sân khấu lộ thiên lớn treo đèn mầu quay ra phía quảng trường. Trên bục gỗ, phía bên trái, có một cái chắn bằng gỗ dùng làm vành móng ngựa cho tội nhân. Ngay chính giữa, có ba ông quan toà ngồi trên một cái ghế dài nhìn xuống hàng đầu là chỗ bọn tù nhân ngồi. Vì là Toà Án Nhân Dân, nên không cần đến bồi thẩm đoàn và luật sư. Hơn nữa, trong suốt thời gian toà sử, bị cáo không được phép lên tiếng. Đại biểu Nhân Dân đã quyết định xong tội của họ. Bây giờ là lúc tuyên án mà thôi. Chúng tôi đứng trong bóng tối, theo dõi nghi thức từ đằng sau hàng trăm cái đầu nhấp nhô. Mọi người chen ra, chen vô khỏi hàng ghế của họ, to tiếng dành nhau chõ^ ngồi tốt hơn. Quà vặt chuyền tay nhau như thể người ta đi xem văn nghệ vậy. Tôi đứng thẫn thờ, nhìn chằm chằm vào chị Loan trong đám tù nhân. Chị ngồi, đầu cúi gằm, vai rút lại, dấu mặt giữa hai đầu gối. Hai cánh tay chị bị trói giật về đường sau. Tôi đau lòng khi nhìn tình cảnh chị bị như vậy. Để khai mạc phiên tòa, viên công an bắn ba phát súng. Tiếng súng vang lên khắp quảng trường khiến cho đám đông im bặt. Một số người trong số những ông toà đứng trước cái loa phóng thanh, tay cầm một tờ giấy. Tất cả như mờ ảo trước mắt tôi, cho tới khi tôi nghe gọi tên chị Loan. Hai viên công an vừa đá vào chị vừa quát tháo, lôi chị lên chỗ đứng của bị cáo. Một viên công an nhét giẻ vào mồm chị. Một ông toà lên tiếng cáo buộc chị và chồng chị cái tội đạo đức suy đồi, mà họ gọi là “một biểu hiện tư hữu cực kỳ nguy hiểm của thành phần nông dân Cộng sản: Bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn xét lại chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mao”, họ đã phản bội tổ quốc, bắt tay với bọn phản động. Họ xúc phạm thanh danh của Đảng Cộng Sản. Và, vì những tội kể trên, viên quan toà phán: – Bọn chúng phải bị trừng phạt! Chị Loan bị kết án mười lăm năm tù khổ sai không có cơ hội được giảm khinh. Chồng chị bị kết án tù chung thân. Sau phiên toà, cả hai bị đẩy xuống khỏi sân khấu, lên xe đi luôn. Mẹ tôi ngồi chờ ông ngoại và tôi dưới gốc cây ổi gần lối vào. Sau trận mưa, không khí trở nên mát mẻ. Những quả ổi chín rữa rơi rải rác gần chân bà ẩn hiên giữa làn hơi nước trong vườn đang bốc lên thành một lớp sương mờ ảo, lãng đãng trên mặt đất những hình ma bóng quế. Khi mẹ tôi mừng rỡ ôm lấy ông cháu tôi, tôi ngửi thấy mùi đồ ăn chiên tỏi còn vương vất trên quần áo của bà. Tôi chú ý đến cái phong bì dầy trên tay bà. Mẹ tôi kêu lên: – Đố cái gì đây? Chúng ta có giấy phép xuất cảnh. Trong vòng ba tháng, chúng ta sẽ vào sg để dự cuộc phỏng vấn tại toà Lãnh sự Mỹ. Kiên, cuối cùng thì công lao khó nhọc của con chạy giấy tờ đã được đền bù . Tối nay chúng ta sẽ ăn mừng vận may bằng một bữa cơm thịnh soạn. Trong cơn thảng thốt vì cái tin đến bất ngờ, tôi đưa cho mẹ tôi sợi dây chuyền. Giọt lệ mừng vui của tôi có lẫn chút vị đắng ở ngay đầu lưỡi. Mẹ tôi nhìn săm soi sợi giây hỏi: – Cái gì đây? – Của chị Loan. Chị ấy nói chị hoàn lại cho mẹ. Ông ngoại và con từ phiên toà xử chị ấy trở về. Mẹ tôi nhìn ông tôi, buồn rầu nói: – Ba ơi, con … Ông tôi giơ tay chận lại: – Thôi con ạ, đừng … Rồi vừa khập khiễng bước về buồng, ông vừa nói: – Không phải lỗi của ai cả, con ơi. Tôi hỏi mẹ tôi: – Mẹ ơi mình sẽ làm gì với cái này? Mẹ tôi trả lời không chút ngần ngại: – Chúng mình làm lộ phí vào Sài gòn chứ còn làm gì nữa? Tôi đề nghị: – Mẹ có thể bán sợi dây. Nhưng còn miếng ngọc, cho con giữ được không hả mẹ? Đó là vật độc nhất chị Loan để lại. Mẹ tôi cau mày: – Con có chắc là con muốn như thế không? Tôi gật đầu. Mẹ tôi thở dài, tách miếng ngọc thạch ra khỏi sợi dây chuyền vàng rồi đưa cho tôi: – Được, vậy hãy cầm lấy ngay trước khi tao đổi ý. Nếu mà mày vô phước làm mất thì đừng có trách tao.
Nguyễn Chuyên – Ðinh Như Khoa – Nguyễn Hữu Thảo và các Chiến hữu đã yên nghỉ trong lòng đất mẹ
Cá kình NGUYỄN VĂN TRÂM
Post by Sơn râu 26 Oct 2023
(Sở Bắc và Sở Khai Thác Ðịa Hình)
Buổi chiều cuối Hạ bên bờ biển Mỹ Khê, trong ngôi nhà nghỉ mát yên tịnh. Nó không ồn ào rầm rộ như một cuộc hành quân qui mô, nhưng rất quan trọng, tỷ mỷ cẩn thận với những trang bị đặc biệt và mìn định giờ.
Tại căn cứ nầy có anh Ba là người điều khiển và huấn luyện Toán Công Tác cùng với ba người Mỹ tên Bil, Dan và Bob phụ trách kỹ thuật và thực tập. Anh Phan điều khiển và huấn luyện Toán Biệt Hải.
Toán Công Tác người nhái có nhiệm vụ phá hoại gồm bốn người: Tôi (anh Tư) và anh Năm, hai đứa chúng tôi từ Liên Ðoàn 77 Sở Khai Thác Ðịa Hình, còn anh Sáu và anh Bảy do Hải Quân gởi qua. Toán Biệt Hải gồm mười hai người có nhiệm vụ lái tàu hoặc thuyền đưa Toán Công Tác đi hoạt động dẫn đường đi và đón về.
Sau nhiều tháng thực tập, nghiên cứu địa hình, địa thế, không ảnh, kiểm soát lại dụng cụ, hôm nay là thời điểm xuất phát vào cuối mùa Hạ năm 1962.
Dưới ánh sao lờ mờ, một chiếc thuyền lớn trang bị máy chạy dầu với lưới đánh cá nằm gọn dưới cột buồm. Thủy bàn gần tay lái. Một chiếc thuyền cao su chưa bơm hơi và chiếc thuyền gỗ nhỏ sức chứa độ mười ngưới. Ở giữa thuyền gỗ có một lỗ vuông thòng xuống nước là chỗ để gắn máy nổ nhỏ cho Toán Công Tác và người hướng dẫn di chuyển trong sông. Thuyền được cải trang thành thuyền đánh cá của ngư dân trong vùng trên bờ nhìn xuống không thể phân biệt được là thuyền của Toán Công Tác. Toán nầy thương xuyên công tác ở Vịnh Hạ Long, Móng Cái, Bạch Long Vĩ.
Toán Công Tác được trang bị gọn và nhẹ gồm: Hai đèn bấm điện tử để liên lạc giữa hai thuyền. Súng lục để tự vệ khi cần. Mìn đặc biệt định giờ có thể sử dụng từ 5 phút đến 30 ngày. Một đơn vị hỏa lực nhỏ cho tập thể sử dụng khi cần để tháo chạy.
Màn đêm phủ xuống, những bóng đen bắt tay từ giã trong tiếng “Good luck” của ba anh bạn Mỹ.
Tiếng sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền nghe lách tách,thuyền hướng mũi ra khơi. Bầu trời đầy sao, nhìn quanh là biển cả bao la, với bản tính tự tin, dày dạn với công tác thường xuyên nên một số đã an giấc. Riêng mấy anh em chúng tôi còn ngồi hướng tầm mắt về phía trước tuy chưa phải lúc cảnh giác địch vì một đêm và một ngày sau thuyền mới tới địa điểm công tác. Mặc dù vậy, chuyến đi bí mật vào đất địch, đầu óc luôn suy nghĩ kỹ lại những việc phải làm trong đêm mai. Ðang triền miên suy nghĩ, có tiếng nhắc nhở các anh nên nghỉ đi để đêm mai mà công tác chứ.
Chiều ngày hôm sau, thì anh thuyền trưởng và thợ máy nói đến rồi. Lúc nầy thuyền còn đang ngoài hải phận quốc tế từ từ tiến vào bờ, khi nhìn thấy lờ mờ một giải màu xanh đậm thì đúng chín giờ tối. Thuyền lớn thả neo, thuyền máy nhỏ đã được hạ thủy. Nhanh nhẹn mà không gây một tiếng động. Bốn chúng tôi qua thuyền nhỏ cùng ba người hướng đẫn viên nhắm cửa Sông Gianh tiến vào. Tiếng máy nổ rất nhỏ mà thuyền lướt đi rất nhanh đã qua khỏi khu Phà, chúng tôi quan sát thấy trên bờ mấy bóng đèn như đom đóm. Yên tâm, chúng tôi bắt đầu mang trang bị, dụng cụ sẵn sàng. Khi chúng tôi nhìn qua ống dòm thấy bóng đèn xanh nhỏ phía trước. Nếu không để ý kỹ, nó như một ngôi sao trong đêm tối phía dưới là ba bóng đen đậm, đúng là tàu hải quân Cộng sản rồi, chúng đang neo tại vị trí đúng như trong không ảnh. Cho thuyền chạy qua để quan sát thật kỹ, trở lại ghi nhận điểm tiếp đón, rồi quay lại điểm thả. Anh Bảy xuống trước, đến tôi, sau cùng là anh Sáu. Lặng lẽ bơi đến gần tôi thấy rõ mục tiêu mới lặn để khỏi lạc vị trí. Tôi lặn tới gắn mìn vào thân tàu phía dưới gần chân vịt là nơi có buồng máy.
Khi tôi bắt đầu tìm hướng lặn ra xa thì thình lình một tiếng nổ lớn vang lên. Tôi cảm thấy đầu óc choáng váng rồi bất tỉnh một hồi lâu. Khi tỉnh lại tôi biết là mìn nổ quá sớm. Nhờ những lườn tàu nằm cách nhau khá xa nên tôi đã thoát chết. Kế hoạch đã bị lộ. Tôi cố gắng trấn tĩnh tinh thần lặn tới vị trí tiếp đón. Khi đã xa vừa nhẹ trồi đầu lên để quan sát thì thuyên tiếp đón đã không còn nữa, lại nghe một tiếng la thất thanh ở trên bờ và tiếng chân chạy vội, tôi liền lặn ra xa bờ. Lúc nầy đầu còn choáng váng căng thẳng, chưa tính lên bộ hay tiếp tục đi dưới nước. Quyết định là phải thoát bằng đường bộ, ngày trốn nghĩ tối đi. Từ vị trí công tác vào sông Bến Hải chỉ có một trăm cây số. Càng lo khi nghe tiếng máy động cơ của tàu địch. Nguy rồi, đèn của địch chiếu sáng rọi quét toàn vùng và di chuyển dần ra cửa biển. Khoảng cách giữa tôi và tàu không quá ba mươi thước. Hễ khi ánh đèn quét về phía tôi, thì tôi lặn xuống, ngửa mặt nhìn lên khi không còn ánh sáng, ngoi lên mặt nước quan sát. Cứ thế nhiều lần như vậy. Giữa khoảng thời gian nầy tôi nhìn thấy hai chiếc xà lan không người tôi liền đứng vào giữa khe ẩn nấp. Ánh sáng đèn vẫn tìm kiếm, càng lúc tàu chạy càng xa dần cho đến khi yên lặng. Tôi lần mò ra phía sau. Cuối xà lan thì giật mình vì hai chiếc thuyền của dân cột gần đó. Im lặng quan sát hồi lâu thì ra trên thuyền không có người. Bơi nhẹ đến gần. Một chiếc có mui kín, chiếc bên cạnh không mui, nhìn vào khoan thuyền, một tia hy vọng mỏng manh, tôi liền nhẹ nhàng nhổ cây sào lên, đẩy ra giữa giòng sông mới trèo lên thuyền. Dưới cái nón lá là cái rổ có ít tôm, rổ thứ hai là cá nhỏ, thực phẩm đây rồi. Nắng nóng mùa Hạ cứ phơi khô, gặm nhắm dần cũng được mấy ngày. Dấu vật dụng xuống dưới chổ đứng, tôi lắp chèo vào. Lúc nhỏ tôi đã thạo chèo ghe. Cứ chèo ra ngoài hải phận quốc tế thì yên tâm. Trong người độc nhất chiếc quần xà lỏn. Lấy nón đội lên, nhờ xuôi nước nên thuyền đi khá nhanh.
Trời đêm ba mươi tối đen như mực, thuyền đã ra gần cửa biển. Bất thình lình hai ngọn đèn pha chiếu sáng ngay vào thuyền của tôi. Nguy rồi, bọn chúng đã đón ở cửa sông. Thoáng nghĩ nhanh. Ngồi xuống thả bình hơi, thủy bàn, đồng hồ chỉ còn lại cây súng lục. Dự tính ít nhất cũng hạ được mấy tên, dành cho mình một viên. Suy nghĩ đổi thế thì lỗ quá. Qua bao nhiêu tháng, năm được đào tạo, học tập, huấn luyện mà trả với cái giá như thế sao? Ðến lúc nào đó quá sức chịu đựng thì tự sát. Nhưng ánh đèn pha chói sáng choang không nhìn thấy tên nào cả, đành phải thả súng xuống nước luôn. Có tiếng hỏi từ trên tàu: Ai? Ði đâu đó?
Tôi trả lời: Tôi đi mừng lưới.
Hỏi: Tại sao đi có một mình?
Trả lời: Hôm nay vợ con bệnh, mừng chung với người ta.
Dưới ánh sáng đèn pha chúng đã phát hiện ra cái áo cao su và chân vịt (chưa kịp thả, có thả nó cũng nổi trên mặt nước) dưới chổ đứng của tôi nên chúng la lên tên Biệt Kích đây rồi. Không biết bao nhiêu tiếng lên đạn, sẵn sàng nhả đạn nếu tôi có hành động gì. Chưa tính ra phải làm gì trong lúc cùng, thì bốn, năm tên nhảy qua thuyền đánh đập tới tấp vào người tôi, bảo đầu hàng.
Bọn chúng lấy giây trói khuỷu cánh tay tôi lại đưa vào bờ. Hai tên cầm súng chỉa vào tôi và cầm chắc sợi giây thừng khoảng cách 3, 4 thước. Trời vẫn chưa sáng. Hừng đông dẫn tôi đi, sáng ra thì chúng bịt mắt. Trong lúc khập khễnh từng bước, bên tai nghe tiếng nói của dân đi làm hỏi ai đó các anh: Biệt Kích đó. Có tiếng ồ, to béo quá, đen thui. Ðến khi chúng nó bảo dừng lại, ngồi trên chiếc ghế, trói vào một cây cột. Không nghe tiếng nói, mà chỉ nghe tiếng chân đi lại nhiều. Chiều thì chúng đưa tôi lên vào trại Quảng Bình. Phòng nhỏ hôi hám, lại bị cùm cả hai chân, chúng mới mở mắt cho tôi. Phần ăn là bát cơm gạo lức đỏ, mấy cọng rau muống, làm sao nuốt vô được, ôn lại càng thắc mắc. Tại sao qua bao nhiêu ngày tháng tôi và Bill đã kiểm tra thử đồng hồ rất chính xác. Vậy tại sao?
Không kể ngày đêm chúng đều kêu lên hỏi cung. Trước mặt là cái bàn nhỏ, bàn đối diện là năm tên hỏi cung, hết tốp nầy đến mấy tên khác. Chúng hỏi đơn vị, nơi xuất phát, bao nhiêu người, nhiệm vụ làm gì?
Tôi chỉ trả lời ra thám sát bến phà Sông Gianh, đo độ dốc bờ sông, mức nước, độ sâu. Trách nhiệm cấp trên giao cho tôi chỉ có vậy thôi. Còn để làm gì thì tôi không biết. Vì tôi bị bắt tại cửa sông mà.
Cá Kình Nguyễn Văn Trâm (tên thật Nguyễn văn Hùng) đứng giữa, mặc áo trắng, ở hàng sau cùng, kế Dân Biểu Bob Dornan.
Chỉ Huy Trưởng Sở Bắc, Cố Ðại Tá Ngô Thế Linh đứng ở hàng sau, người cuối cùng bên tay phải.
Mở ngoặc ở đây một tí. Chúng hỏi tôi trong Nam ăn tiêu chuẩn bao nhiêu? Ngẫm nghĩ hồi lâu tôi trả lời: Tiêu chuẩn là gì? Xã hội tự do làm gì phải có tiêu chuẩn. Tên ngồi giữa đập bàn cái rầm, làm gì có ăn uống bừa bãi vậy. Rõ ràng mấy tên nầy đều bị mù quáng cả trong sinh hoạt.
Trải qua đã hơn mười ngày. Chúng không khai thác được gì ở tôi. Cuối cùng chúng đưa toàn bộ vật dụng hình ảnh ra chứng minh và nói rằng anh là một người đại ngoan cố, tất cả đều bị bắt hết rồi. Gây tội lỗi trong Nam chưa đủ còn ra phá hoại thành quả Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc! Cuối cùng tôi nhận là ra phá tàu hải quân.
Một trò hề mà tôi đã ý thức được như sau:
Một người độ hơn 50 tuổi, tự giới thiệu là luật sư, cùng đi với một người nữa độ chừng 30 tuổi, xưng là thư ký. Mỉa mai quá! Thư ký mà mang xắc cốt công an. Tôi cũng thừa biết CS làm gì có luật để mà cãi chứ, mà có phát biểu cũng phải nói theo đường lối CS mà thôi. Ông ta nói một hơi. Tôi liền trả lời. Việc tôi làm đã rõ ràng, không cần phải biện hộ. Tự bản thân tôi trả lời cũng đủ rồi. Mấy lần sau trong câu nói của luật sư như khẩn thiết, cho nên tôi nói nhiệm vụ của ông được họ giao phó thì tùy, hiểu biết như thế nào thì nói như thế đó, tôi không xin xỏ, không bào chữa, vì tôi làm việc cho Tổ Quốc, thi hành nghiêm chỉnh kỷ luật Quân đội đã giao phó.
Hai mươi ngày sau thì mở phiên tòa.
Tám giờ sáng, chúng còng tay tôi và dặn nếu trên đường đi mà đồng bào có hành động gì thì không được chống đối lại. Ðến đây tôi mới biết mọi người đều bị bắt. Không có anh Năm và anh Bảy. Sau nầy ở chung trại tôi mới biết anh Bảy chết tại chỗ vì mìn nổ, còn anh Năm tử thương sau khi chống trả quyết liệt với chúng trên biển. Các anh kể lại rằng khi biết bị lộ, nhân viên thuyền nhỏ chạy ra thuyền lớn nhổ neo chạy thoát. Thuyền chạy cả máy lẫn buồm suốt đêm hôm đó cho đến gần trưa hôm sau thì tàu Hải quân CS chạy máy lớn hơn nên đuổi kịp, ban đầu thì chúng nó bắn bao vây, cố ý muốn bắt sống tất cả. Anh em trên thuyền bắn trả lại bằng trung liên BAR, súng phóng lựu. Hai bên vừa chạy vừa bắn nhau như trong phim.Vũ khí trên tàu CS thì lớn hơn và đầy đủ, con bên thuyền thì chỉ bắn để phòng thân, cuối cùng hết đạn. Lúc nầy anh Năm trúng đạn, vài người khác bị thương, quyết định của thuyền trưởng là lao mũi thuyền đâm vào tàu địch, hai bên cùng tan vỡ. Vị trí lúc nầy gần Cồn Cỏ, nơi ranh giới Nam – Bắc. Tàu Hải quân máy mạnh, nên nhanh hơn. Thuyền của ta luồn lách mãi sau cùng bị tàu địch càn lên chìm. Lập tức chúng bắt những người còn sống đưa lên bong tàu phủ bạt kín, vội vã trở ra Bắc.
Thường trong cái xui, còn có cái hên cho một người. Anh ta lặn núp vào trong cánh buồm. Vì đây là ranh giới giữa hai bên, bọn chúng sợ quân ta có thể tấn công nên vội vàng rút lui. Anh ta sống lênh đênh trên biển cả một ngày một đêm với một tấm ván thuyền, và vớt được vài trái cam. Nhờ tàu Hải Quân mình đi tuần, anh ta cởi áo lót vẫy và được Tàu Hải Quân ta cứu thoát.
Trở lại phiên tòa quân sự Quân Khu IV. Viên Trung tá chánh án, hai Ðại úy phụ thẩm, viên Thiếu tá Viện Kiểm Sát, một Thư ký, hội trường đông nghẹt người. Chúng bắt loa ra cả sân Vận Ðộng cho dân chúng nghe. Quay phim, chụp hình. Mục đích của chúng bày trò cho thật to chuyện để nói với thế giới là miền Nam xâm phạm miền Bắc.
Ghê rợn nhất là lời buộc tội của viên công tố, thôi thì đủ điều để mà phát biểu, gán ghép bao nhiêu điều ác cho Chánh phủ VNCH. Hai luật sư biện hộ cho hơn mười người đều nói theo bản luận tội, nói là biện hộ cho nó có lệ thôi, chớ chế độ Cộng Sản làm sao dám đưa luật ra mà cãi, dám nêu lên cái đúng cái sai nếu không muốn gỡ lịch hàng năm. Phiên tòa kéo dài hai ngày đêm. Trước khi nghị án, tôi phát biểu một công dân sống trong chế độ phải làm tròn nhiệm vụ, kỷ luật Quân đội, phải thi hành trách nhiệm được giao phó. Việc tôi làm đã rõ ràng. Tòa xử như thế nào thì tùy tòa mà thôi.
Uất ức, tức tối muốn điên cả cái đầu. Nếu phá được cả ba chiếc tàu không bị lộ thì phiên tòa hôm nay dành cho bọn chúng, chứ không phải mà anh em Chiến hữu chúng tôi.
Kết thúc phiên tòa: Tôi, tù chung thân; anh Sáu, tù 20 năm; thuyền trưởng, tù 16 năm; thuyền phó, tù 6 năm; thợ máy kiêm hướng dẫn viên, tù 18 năm; hai anh tù 5 năm; bảy anh tù 3 năm; một anh tù 2 năm vì anh này chưa đến 18 tuổi. Bản án là một trò hề. Hai năm hay chung thân đều cùng chung một số phận ở tù từ 18, 20, 22 năm mới ra tù..
Sau đó chúng đưa đi các trại tù lao động khổ sai. Thôi thì không kể xiết những cảnh lao lý cực hình mà bọn chúng đã hành hạ chúng tôi. Ðúng! Ai có nếm mới biết mùi. Tôi muốn nêu lên vài điểm để làm sáng tỏ vấn đề thực tế cho những ai còn mơ tưởng về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nó ác độc như thế nào.
Chúng tôi đã trải qua các trại như Sơn Tây, hai lần trại Hà Giang thường gọi là cổng trời. Hà giang Bắc một đi có, về không. Trại Phú Lu Lào Cai, Tuyên Quang là trại cuối cùng. Về đây vì CSVN sợ Trung Quốc tấn công.
Quá trình mấy chục năm trong lao tù tàn độc dã man của CSVN, tôi nêu lên đây những tình thần tranh đấu bất khuất, những thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong hoàn cảnh cùng chung số phận.
Ðiển hình và quyết liệt nhất là vụ tuyệt thực bảy ngày năm 1973 của anh em chúng tôi tại Phu Lu, Lao Cai.
Ngày ấy lên hội trường họ cho chúng tôi biết đã ký Hiệp Ðịnh Paris. Lúc nào phần thắng cũng thuộc về CSVN. Theo chủ trương của Ðảng. Chánh phủ, một số cán bộ lên hướng dẫn cho chúng tôi học tập, trong đó có vấn đề gọi là bồi dưỡng, rêu rao là nhân đạo nhằm mục đích nếu sau nầy có được trao trả bớt phần nào với bộ xương cách trí, da bọc xương, một bóng hình còn di động được tố cáo tội ác dã man của chế độ lao tù Cộng Sản.
Họ đủ điều thuyết phục chúng tôi, bày trò bàn thờ Tổ quốc rồi tuyên thệ không gây thêm tội ác, cũng như phá hoại các công việc của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.
Trước mặt họ chúng tôi cũng ừ hữ, gật, cũng hứa hẹn, vì đang còn trong cái thế phải vờ chấp nhận. Làm thế nào mà họ có thể hiểu hết được trong tiềm thức của chúng tôi. Miễn làm sao được đặt chân lên miền Nam đã.
Họ giết chết cha mẹ, họ hàng, anh em, vợ con của những người dân vô tội trong dịp Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968. Mối thù không đội trời chung với Cộng sản.Lúc nầy là thời điểm căng thẳng, bốn phía chòi canh bốn cây đại liên sẵn sàng nhả đạn tiêu diệt, nếu chúng tôi bạo động, và toán tù hình sự sẽ là vật hy sinh trước. Sở dĩ vì sao chúng tôi biết được tin tức nhờ anh em chúng có liên lạc được với tù là những phần tử bất mãn, oán hờn chế độ Cộng Sản thông tin cho chúng tôi biết để đề phòng.
Từ đó chúng tôi tuyệt thực tranh đấu đòi trao trả, vì anh em đã nghe đơn vị Dù được trao trả rồi.
Hàng ngày tên công an trực đưa thức ăn vào đều bị anh em la ó, phản đối, tên công an đã nói rằng tôi vào đây để nghe các anh chửi bới, các anh không ăn thì đưa về. Sau đó chúng dở trò thâm độc ly gián anh em để hành động dã man hầu dập tắt tinh thần đấu tranh đang dâng cao.
Tên công an tự giới thiệu là người của Bộ đưa xuống tuyên bố “hôm nay các anh chuyển trại” bắt tất cả hơn trăm người tập hợp, chung quanh là bộ đội có võ trang với tư thế sẵn sàng để đàn áp. Chúng kêu tên từng người lên xe, năm chiếc xe bắt đầu chuyển bánh. Chúng sắp đặt trước, chiếc xe đầu chở 21 người, chúng nghi là có khả năng lãnh đạo, trong đó có tôi chạy thẳng lên trại Quyết Tiến Hà Giang. Mấy tiếng đồng hồ sau, bốn xe kia quay trở lại trại, lùa tất cả vào phòng khóa cửa.
Anh em tranh đấu cho rằng Cộng Sản đưa số anh em đó đi thủ tiêu rồi. Chúng kêu từng người nói là lên sinh hoạt, thật chất là đưa vào phòng kỷ luật còng chân lại, dùng thủ thuật hành hạ dã man. Chúng đánh ông già Trình thuyền trưởng rụng cả hai hàm răng, các anh em khác người bầm ngực, bầm lưng, hộc máu mồm không được săn sóc chữa trị chi cả. Chúng lại chuyển tiếp một số anh em đợt hai lên Hà Giang. Phòng kỷ luật chật hẹp, tường đất dày 5 tấc, nền nhà luôn có nước đọng, khí hậu âm u rét buốt có ngày xuống 4 độ âm, mỗi ngày ăn một chén bắp độ chừng 5 đến 60 hạt, vài hột muối trắng. Mục đích của chúng hành hạ cho đến chết thì thôi. Số chết ở trại nầy hơn ba chục anh em.
Trong một buổi sáng tên công an vào cho sinh hoạt, trước khi bắt đầu, nó bảo các anh hát một bài đi. Một anh liền trả lời: Chúng tôi chỉ biết hát nhạc vàng, không biết hát nhạc đỏ. Chúng liền đưa anh bạn ấy đi vào hầm và cùm hết chín tháng.
Bản thân tôi hai lần ở trại Quyết Tiến Hà Giang. Trại nằm sâu trong rừng. Khí hậu ở đây vô cùng khắc nghiệt. Một năm cộng lại có hơi nắng vài ba tháng, còn lại là mưa gió, sương mù cách nhau 3 thước không nhìn thấy nhau. Những lúc này chúng tôi đều bị nhốt trong phòng. Mỗi lẫn có gió mùa Ðông Bắc thổi về cơn lạnh thấu xương. Ðói lạnh, ghẻ lở vô cùng cực khổ. Làm mà không đủ mức ấn định chúng dùng hình thức vô nhân đạo hạ mức ăn. Lao động khổ sai nên bị cụp xương sống, rối loạn thần kinh.
Một lần tôi bị kỷ luật cùm một tháng. Nguyên nhân là cái khăn lau mặt của tôi có ba sọc đỏ đem phơi ngoài trời. Một tên nào đó báo cáo với tên công an nói tôi treo cờ VNCH. Sau buổi sinh hoạt kiểm điểm chúng kết luận tôi còn mong đợi Chánh phủ miền Nam. “Lúc này là thời kỳ oanh tạc miền Bắc”.
Kể về tội ác của Cộng Sản thì không giấy bút nào có thể tả hết những thâm độc của chúng.
Hồi tưởng lại gần một phần tư thế kỷ bị giam cầm, hơn mười ba năm sống dưới ách thống trị độc tài tàn ác của chế độ Cộng Sản, con người là cái xác không hồn, già yếu và bệnh tật.
Viết bài này tôi không có tham vọng nói lên điều sai hay đúng, chỉ mong mỏi những người còn lại, bạn đồng đội đốt nén hương để tưởng nhớ, thương tiếc và tri ơn các bạn đã hy sinh cho Tổ Quốc.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.