This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
– Hãy giải thích trường hợp của anh thêm một lần nữa, thế mẹ anh là chủ căn nhà hả? Tôi ngồi trên mép ghế, đối diện với Trưởng Ban Nhà Đất. Hắn ta đang cúi đầu kiểm tra tập hồ sơ của tôi. Cái bút chì trong tay hắn lướt một cách giận dữ. Phía bên ngoài hai cái cửa sổ văn phòng, thành phố tắm trong nắng chiều. Trên khung cửa sổ, một con bọ bò chậm rãi về phía cây chanh, vỗ vỗ cánh. Tôi đẩy gói thuốc lá đắt tiền về phiá hắn, giải thích: – Gia đình tôi là chủ nhà. Bác tôi là chủ đất. Hắn nhướng cặp lông mày: – Tại sao không có chữ ký của chủ đất trên giấy tờ này? Ai thừa kế căn nhà bây giờ? – Thưa ông, tôi nghĩ là bây giờ nó thuộc bác tôi vì chúng tôi đã bỏ nó từ hai ngày hôm nay rồi. Viên trưởng ban lắc đầu, hít hà hàm răng một cách không tán thành. Xếp hồ sơ lại, hắn thẩy lướt nó ngang qua mặt bàn về phía tôi, nói: – Tôi không thể ký được. Có ký cũng vô ích. Hãy trở lại Nha Trang, bảo bác anh gỡ rối cho cái đống bùi nhùi này, rồi trở lại đây gặp tôi. Tôi phản đối: – Nhưng mà thưa ông, tôi không thể làm điều đó được. Chúng tôi sẽ ra đi ngày mai. Viên trưởng ban phá lên cười. Tôi nhắm mắt lại chờ đón những câu nói giễu mà tôi đã quen tai rồi. Hắn nhích lại gần tôi đến nỗi tôi có thể nhìn thấy những sơị lông mũi dài ngoằng, phập phồng theo nhịp thở, như là đôi cánh con bọ ở trên khung cửa. Hắn thì thào, nét đùa cợt hiện lên khuôn mặt: – Sao mà anh thiết tha muốn tôi đóng dấu ký tên vào tờ giấy này đến thế? Anh chịu đổi linh hồn lấy chữ ký không? Tôi tránh cái nhìn của hắn vì chẳng biết trả lời thế nào. Hắn ta tiếp tục cười, thẩy sấp hồ sơ vào đùi tôi, Xua tay: – Thôi cuốn gói đi! Làm mất thì giờ của mỗ, thằng lai ngu ngốc! Tôi nài nỉ: – Thưa ông, xin ông mở lòng thương mà giúp cho. Tôi không bao giờ quên ơn ông đâu. Viên xếp ngả người trở lại chiếc ghế da, ghếch hai chân lên bàn. Cặp môi hắn mím lại trong khi hắn ngắm nghía những ngón tay gọt tỉa tuyệt khéo. Tuyệt vọng, tôi sụp xuống qùi trên hai đầu gối, lết vòng quanh cái bàn đến sát cạnh hắn, ôm lấy tay hắn van xin: – Xin ông thương tôi. Ông là niềm hy vọng cuối cùng. Tôi hứa sẽ không còn bao giờ quấy rầy ông nữa. Hắn hất tôi ra và vội vã lau bàn tay bằng cái khăn mùi xoa trắng. Rồi hắn đứng dâỵ, tự rót cho mình một chung trà trên cái ấm gần đó, chậm rãi uống. Tôi vẫn quì dưới đất, chờ đơị. Cuối cùng, hắn ném cho tôi một cái nhìn khinh bỉ: – Mai trở lại. Nhớ đem, quà đến. Đây không có làm chùa cho ai cái gì hết ráo! Tôi phản đối: – Nhưng mà thưa ông, máy bay sẽ cất cánh sáng mai. – Đã nói rồi. Sáng mai, khi anh mang quà có giá trị tới, tôi sẽ ký. Chưa đến lúc đó, đừng làm phiền tôi nữa. Hắn đưa mắt nhìn qua cửa sổ, nơi có cành cây chanh đang rung rinh dưới ánh mặt trời. Tôi xếp sấp hồ sơ trên mặt bàn, bước ra. Đêm đó, trừ bé Ti, không ai trong gia đình tôi có thể ngủ được. Mẹ tôi nằm lặng lẽ trên sàn nhà, đắm chìm trong suy nghĩ. Cạnh tôi, Jimmy trằn trọc trở mình hoài. Tất cả các cửa ra vào và cửa sổ đều mở để hứng gió mát. Những cánh hoa hồng theo gió lac. vào phòng rơi lả tả dưới sàn trông như những giọt máu rải rác. Ngoài trời, sương đêm mù mịt. Tiếng tích tắc của cái đồng hồ trên mặt bàn vang lên rõ mồn một. Tôi nằm nghiêng, hai tay bó hai đầu gối. Sự xúc đông. dàn trải trong tôi: buồn bã, đau đớn, hối tiếc và khao khát. Từ bên ngoài, ánh trăng mờ toả tia sáng yếu ớt xuyên qua cửa sổ. Tôi ngắm bầy thiêu thân vờn dưới ánh sáng, đâm vào nhau tự sát, lòng tôi bâng khuâng tự hỏi mình còn giữ nghị lực được bao lâu. Có tiếng Jimmy thì thầm: – Anh Kiên, anh còn thức hả? Tôi quay mặt lại, nó hỏi tiếp: – Ngày mai mình sẽ ra sao? – Em sẽ ra phi trường với mẹ và em bé Ti. Lấy được chữ ký rồi, anh sẽ ra gặp em. Mẹ tôi lên tiếng, giong. đầy lo lắng: – Phi trường sẽ đóng cửa lúc mười một giờ sáng. Con phải gặp mẹ tại đó đúng giờ, có chữ ký hay không cũng mặc. Tôi hứa: – Dạ, mẹ ơi, nhất đinh. con sẽ có mặt tại đó trước mười một giờ. Buổi sáng, trời bỗng trở lạnh. Mẹ tôi nhỏm dâỵ trước tiên, lặng lẽ khuất sau cánh cửa phòng tắm với cái bàn chải đánh răng, trong khi Jimmy, Bé Ti và tôi thay quần áo. Hai em Jimmy và bé Ti được mẹ tôi mua cho mỗi đứa một bộ đồ bảnh tỏn để diện vào ngày trong. đại này. Súng sính trong cái áo sơ mi trắng tinh và cái quần tây xanh, trông Jimmy láng coóng như một đồng xu mới. Cả đôi xăng đan đen cũng mới tinh. Em gái tôi thì lụng thụng trong bộ áo đầm mầu tím lớn quá khổ, tuy vâỵ, nó cũng sung sướng cười khoe hai cái răng cửa bự như răng thỏ. Tôi sẽ mặc cái áo sơ mi cũ và cái quần ka ki rách. Đây là lần cuối cùng tôi gặp nhân viên sở Nhà Đất, tôi muốn cho họ thấy bộ mặt nghèo túng của tôi. Một cảm giác lo sợ bỗng bùng lên khiến tim tôi đập nhanh, đầu quay cuồng như bị trúng gió. Bộ quần áo không đủ dầy để cản lạnh, tôi vội rúc vào tấm khăn trải giường. Từ nhà tắm, mẹ tôi hiện ra với bộ đồ coi được nhất của bà, cái áo mầu xanh với những bông hoa dành dành xinh xắn và cái quần thâm bằng nylon quen thuôc. Đứng cạnh bàn, bà xếp vào túi xách của tôi chai rượu Cognac, hai tút thuốc lá và vài túi khô mực. Đưa cái túi xách cho tôi, Mẹ bảo: – Con đem cái này đến cho lão Trưởng Ban Nhà Đất để đổi lấy chữ ký của hắn. Bà cụ Hôm từ trong bếp đi ra, tay bưng một thố xôi đậu xanh. Mùi thơm của món điểm tâm đánh thức ông cụ dâỵ. Cụ bước ra khỏi giường, ngáp ồn ào, mò mẫm kiếm dôi dép trong bóng tối. Cụ bà lên tiếng mời chúng tôi: – Ăn một chút rồi hẵng đi. Trong khi gia đình tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất thì tôi đi bộ tới sở Nhà Đất lần cuối cùng. Mẹ tôi đã rúi vào tay tôi bốn trăm đồng và cái đồng hồ của bà để tôi có thể theo dõi thời giờ. Phòng đơị vắng tanh vắng ngắt với cái mầu xanh bệnh hoạn của rèm cửa. Tôi ngồi xuống chiếc ghế gỗ, nơi mà tôi đã trải qua năm ngày chờ đơị. Bên ngoài, mặt trời đang lên. ánh nắng vàng rực qua khung cửa sổ, nhẩy múa trên tường như những đôm hoa lung linh. Một giờ sau, từng nhóm nhân viên lục tục bước vào sở, vừa đi vừa ồn ào tranh luận với nhau về số điểm của trận đá banh gần đây nhất. Ngay khi viên Trưởng Ban Nhà Đất xuất hiện ở cửa, tôi đứng ngay dâỵ. Tay cầm ly cà phê, hắn ta bước ngang qua tôi mà không thèm đếm xỉa gì đến sự có mặt của tôi. Trước khi tôi kịp chào, hắn đã biến mất sau cánh cửa đóng kín. Viên thư ký vừa chỉ vào tôi vừa cười đùa oang oang với bạn đồng nghiệp: – Nhìn thằng nhãi kià! Mày vẫn còn đó hả, nhóc? Tao tưởng mày bay đi Mỹ hôm nay cơ mà, sao còn la cà ở đây mà chùi cái đít Mỹ lai của mày trên ghế chúng tao. Tôi tức ứ họng, nuốt hận nhìn qua chỗ khác. Thời gian chậm chạp trôi qua. Người tới kẻ lui nườm nượp, đem theo những giỏ đầy ắp quà tặng. Có những người vừa mới bước vào vài phút thấy mừng rỡ đi ra. Còn những người cùng cảnh ngộ bất hạnh như tôi thì cứ việc ngồi đồng ở đây mà chờ. Cuối cùng, vào chín rưỡi, tôi thu hết can đảm tiến đến bàn viên thư ký, vừa chỉ về phía văn phòng viên Trưởng Ban Nhà Đất, vừa nói: – Thưa ông, xin phép cho tôi gặp ông ấy. Hắn không thèm nhìn tôi, trả lời gọn lỏn: – Không! Tôi chìa ra một tút thuốc lá ra trước mặt hắn: – Xin ông giúp tôi, chỉ tốn có một giây thôi mà. Hắn chôp. ngay lấy món quà từ tay tôi, càu nhàu: – Lẹ đi! Tôi vội lách qua lối đi đầy nhóc bàn giấy, tới gõ cửa văn phòng viên trưởng ban. Một giong. quen thuộc vọng ra: – Vào đi. Tôi bước vào. Viên trưởng ban ngồi trên chiếc ghế da quay về phía hàng cửa sổ. Cái bút chì được kẹp trong những ngón tay xoay vòng vòng như con vụ. Hắn quay lại nhìn tôi. Rút quà từ trong cặp xách ra, tôi cẩn thận xếp từng món một trước mặt hắn. Với đôi mắt hé mở, hắn nhìn từ mặt tôi tới mấy món quà, vẻ thờ ơ. Tôi lắp bắp: – Xin ông làm ơn ký giấy tờ giùm tôi, tôi phải bắt kịp chuyến bay ngay bây giờ. Hắn cầm chai rươụ cognac lên xem xét rồi phán: – Ra ngoài kia chờ. Tôi nài nỉ: – Thưa ông, tôi cần chữ ký của ông càng sớm càng tốt. Tôi không thể lỡ chuyến bay. Hắn ngả ềnh người xuống cái ghế da, vươn vai: – Này, anh có tin tôi tí nào không đấy? Ra ngoài chờ! Tôi miễn cưỡng trở lại chỗ ngồi chờ. Nửa giờ trôi qua. Niềm uất ức trong lòng tôi bừng bừng tăng theo từng giây trôi qua. Cuối cùng, tôi đứng dậy phóng ra ngoài. Có tiếng viên thư ký vang trong tai: – Mai gặp lại nhen, thằng Mỹ lai. Ra tới đường, tôi phóng tầm mắt tìm xe tắc – xi. Nhìn đồng hồ, tôi biết chỉ còn lại có bốn lăm phút để kịp gặp mẹ tôi ở phi trường. Trong đầu tôi, cơn giận bốc lên cuồng cuộng khiến cho tôi hoa mắt, không còn nhìn được moị sự một cách sáng suốt nữa. Từ góc phố, một chiếc xích lô tiến lại gần tôi: – Câụ đi đâu, xin cho tôi chở. Tôi gật đầu nhẩy lên, bảo hắn: Phi trường Tân Sơn Nhất. Hắn vừa đẩy vào bàn đạp cho chiếc xe lao ra giữa đường, vừa nhỏ nhẹ: – Xin lấy rẻ cậu bốn mươi tám đồng thôi, chắc giá. Tôi ngả người xuống nêm da giả lép xẹp, không trả lời. Thành phố trôi qua loáng loáng, mơ hồ, với những người khách qua đường nhìn tôi như họ đã chứng kiến sự xỉ nhục mà tôi đã phải chiụ, với những căn nhà mái ngói đỏ và những lối đi tôi đã bước qua, tất cả chen chúc xuất hiên trước mắt tôi rồi tàn luị. Gió mát thổi tan những lo âu của tôi khi chiếc xích lô đã đưa tôi ra khỏi thành phố. Người phu xe báo: – Tới nơi rồi. Phía trước, cách khoảng trăm thước là cổng phi trường, tôi thấy đầy nhóc các loại xe, nào là tắc – xi, xe buýt, xe gắn máy. Xa xa, qua cánh đồng cỏ tranh mênh mông là mấy dẫy nhà mầu xám túm tum. vào với nhau. Con đường dẫn tới đó dài thăm thẳm, nóng bỏng dưới ánh mặt trời chói chang. Ngay tại cổng phi trường, một viên cảnh vệ ra hiêụ cho chúng tôi dừng lại. Sau khi xem xét kỹ căn cước người phu xích lô, hắn nói: – Anh không có giấy phép chạy xe phía trong phi trường. Quay sang tôi, sau khi kiểm tra xong giấy tờ hộ chiếu, hắn nói: – Còn anh này, có thể cuốc bộ hay tìm cách gì đó mà vào phòng đợi. Tôi hỏi hắn trong khi trả tiền cho người đạp xích lô: – Từ đây tới đó bao xa? Viên cảnh vệ đáp: – Khoảng ba cây số. Họ sắp đóng cổng rồi, tốt hơn là lẹ lên. Đồng hồ của tôi chỉ mười một giờ thiếu mười. Tôi la hoảng: – Làm sao tôi có thể tới đó kịp với mười phút? Trong đám chạy xe ôm gần lối vào, Tôi chú ý một anh chàng trẻ tuổi mặc áo sọc, anh ta ngoác mồm gào lên: – Này, muốn mướn tôi không ? tôi có thể chở anh vào tận trong đó. Tôi vội đáp: – Được. – Anh có bao nhiêu tiền? – Tôi móc túi lôi ra đếm xấp tiền giấy, rồi nói: – Ba trăm năm mười hai đồng là tất cả số tiền tôi có. Một cách lẹ làng, anh ta chộp số tiền từ tay tôi: – Được rồi. Chờ tại đây nhé. Mặt trời lên cao hơn, hun nóng moị thứ ánh nắng chiếu tới. Mấy người tài xế phi trường rút vào trong xe của họ để tránh cái nắng. Khi chàng trai trẻ xuất hiện trở lại, hai tay hắn dắt theo chiếc xe gắn máy cổ lỗ sĩ. Chiếc xe lẽo đẽo theo hắn trên đường như một con vật trung thành. Vừa vỗ nhẹ vào cái đệm, hắn vừa nói giọng hãnh diện: – Nó đây rồi. Chúng ta chuẩn bị đi được rồi. Tuy vậy, có một vấn đề nhỏ xíu với chiếc xe này. Câụ phải giúp tớ đẩy cho máy chạy vì nó không tự động nổ nổi. Nó mà chạy được rồi là, a -lê – hấp, câụ nhẩy phóc lên đằng sau lưng tớ nhé. Tôi thất vọng tột cùng. Cứ mỗi chướng ngại tôi gặp, mức độ khó khăn lại tăng. Lần này, chắc chắn là đã vượt quá sức chiụ đưng. của tôi. Chàng trẻ tuổi nhảy lên yên xe, quay lại ra hiêụ cho tôi đẩy. Tôi khom mình, ẩy vai, chạy trên con đường lồi lõm. Chiếc xe chậm chạp bò trước mặt tôi rít lên òng ọc như một người bênh. già. Rồi thì có tiếng máy nổ tanh tách, phun ra một làn khói xậm mầu tạt vào mặt tôi. Bất thình lình, chiếc xe tuột khỏi những ngón tay tôi, phóng về phía trước trong đám buị đỏ mù mit. Tôi đứng lại, ngắm nó chạy mà không thể ngờ được. Cái cảm tưởng như mình bị mắc lừa làm cho tôi giận điếng người. Tôi ngó quanh để tìm người cảnh vệ. Nhưng trước khi tôi kịp hành đông, chiếc xe quay trở về, chạy qua mặt tôi, queọ gắt một vòng rồi chậm lại. Nhún nhún một cách sốt ruột trên đệm, anh ta lớn tiếng kêu tôi: – Này, gì mà kỳ vậy? Sao không nhẩy lên? Lẹ đi, chúng ta không còn nhiều thời giờ! Tôi lao lên nệm xe. Mông quần ka ki của tôi rách xoac. một miếng, nhưng tôi chẳng quan tâm. Túm lấy eo hắn, tôi dúi đầu vào ôm chặt tất cả cái công trình của tôi. Hắn chở tôi đến tận cổng vào khu nhà và rồ máy để dừng. Tôi liếc nhìn đồng hồ, đúng mười một giờ. Tôi tới được đúng giờ chăng? Cách khoảng chừng trăm thước, cánh cửa kính lối vào khu xuất cảnh từ từ chuyển bản lề trong bàn tay của hai người lính gác. Người lái xe ôm quay lại, mặt đỏ bừng vì nóng, nói: – Chúc may mắn! Tốt hơn hết, hãy chạy mau. Tôi giơ tấm hộ chiếu lên, vừa vẫy, vừa la lớn về phía những người bảo vệ: – Xin chờ tôi với! Đằng sau tấm kính, hai người gác ngưng lại, nhìn nhau. Tôi phóng qua giữa hai cách cửa, quên cả cám ơn người lái xe ôm. Chiếc xe rú ầm ĩ trên đường một cách đắc thắng. Rồi tôi nghe thấy cánh cửa đóng lại sau lưng tôi.
Đôi dòng: Để tri ân những chiến sỉ ngành An ninh tình báo đã âm thầm chiến đấu và âm thầm hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, ngăn chận Cộng Sản xâm lược suốt cuộc chiến giữ nước trong giai đoạn 1954 – 1975. Đây là một chiến công có thật, tuy nhiên một số tên, nhân vật đã được thay đổi vì lý do an toàn cho bao người còn ở lại. Dù đã 36 năm qua, nhưng trong tâm trí chúng tôi, cứ tưởng vừa xảy ra vào ngày nào đó mới đây…Và còn biết bao công tác mà chưa hay không được kể ra đây, đành phải vùi chôn theo bánh xe thời gian đang quay… rất nhanh! Riêng tặng hai bạn CTM và CTT thuộc trung tâm Thẩn Vấn tỉnh Bình Thuận.
Khi vừa mới rời nhà người chị bà con trên đường Trần-Hưng-Đạo Chợ Lớn, linh tính báo cho Hai Hóa biết có một điều gì đó không được ổn lắm trong lần thăm viếng nầy. Đã ngụy trang đế có nhân dạng như một ông già nông dân từ vùng quê lên thủ đô Saì Gòn có việc riêng tư, Hai Hóa ăn mặc thật giản dị, với chòm râu cằn màu muối tiêu, lưa thưa, tuy nhiên phía sau cặp kính lão rẻ tiền là một cặp mắt sáng lanh lợi. Đã nhiều lần, ông ta đến thăm gia đình người chị bà con nầy, mục đích là để xin ít tiền lo cho chi phí gia đình gồm vợ và hai cô con gái, đã trưởng thành. Hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, vì là nạn nhân của một trận pháo kích của Cộng Sản trong dịp Tổng công kích Tết Mậu Thân, nhà cửa bị cháy và đổ nát, tài sản khiêm tốn của gia đình bị hủy hoại hoàn toàn. Cá nhân Hai Hóa bị mảnh pháo kích gây thương tích nặng nơi cánh tay, phải nằm bịnh viện Gia Định gần cả tháng trời mới bình phục. Sau biến cố tang thương nầy, gia đình ông ta phải sống bằng sự giúp đở của chính phủ qua chương trình cứu trợ nạn nhân chiến cuộc, cũng như nhờ vã vào lòng hảo tâm của họ hàng, như người chị bà con mà ông vừa đến để xin một ít tiền trang trải trong cuộc sống những ngày tới. Ngoái nhìn lại phía sau một lần nữa để chắc chắn là không có điều gì khả nghi. Hai Hóa rảo bước nhanh về hướng trạm xe buýt gần ngôi nhà mà Ông ta vừa từ giã. Đầu óc suy nghĩ mông lung về gia đình đang tạm trú tại nhà một người quen ở ngã ba Bình Triệu để chăm sóc khu vườn tược của người chủ nhà tại đây với số tiền thù lao khiêm tốn, vợ Ông buôn bán một sạp trái cây tạm bợ, ven quốc lộ 13, nơi tập trung nhiều xe khách chạy đường Sài Gòn – Bình Dương, cũng như xe be chở gổ rừng từ vùng Phước Long, Bình Long về Sài Gòn. Cô con gái út nay đã 16 tuổi, phụ với mẹ buôn bán, trông coi gian hàng sau giờ học. Riêng cô con gái lớn 19 tuổi, đã lập gia đình với một người lính Địa Phương Quân, cũng sinh sống gần nơi Ông tạm trú. Hai Hóa thường lo lắng về cuộc hôn nhân của cô con gái lớn nầy, vì mặc dù cả hai vợ chồng Ông đều không muốn con gái mình lập gia đình với người con rể nầy, nhưng tình yêu đã kết hợp đôi trẻ ngoài ý nuốn của cha mẹ. Cuộc sống gia đình coi như tạm ổn định, nhưng bản thân Hai Hóa vẫn còn nhiều điều lo nghĩ, suy tinh cho tương lai của bản thân cũng như của gia đình. Đang suy nghĩ mông lung bổng Hai Hóa nghe có ai đó vổ vào vai mình, vừa chào hỏi bâng quơ: – Mạnh gỉỏi không ông bạn, lâu quá không gặp. Đang lúng túng và quá bất ngờ vì không biết người chào mình là ai, thì bổng xuất hiện một người thứ hai kè bên hông trái, tức là hai người lạ mặt kẹp Ông ta vào giữa, cùng lúc ấy một trong hai người nầy xuất trình sự vụ lệnh cho biết cả hai là nhân viên an ninh và yêu cầu Ông làm theo lệnh của họ. Ngay lúc đó có một chiếc xe taxi chạy trờ tới mở cửa, Hai Hóa bị đẩy vào xe ngồi giữa hai nhân viên an ninh đó. Ông ta được cho đeo một cặp kính mát tròng kính đã được che kín để người mang không nhìn được lộ trình của chiếc xe. Chiếc xe taxi chạy hướng về trụ sở Bộ Tư Lệnh CSQG, phía sau là hai xe Honda với nhân viên chạy bọc hậu. Hai Hóa ngồi bất động giữa hai nhân viên an ninh, đầu óc Ông ta quay cuồng với nhiều câu hỏi mà không có câu trả lời nào cho đúng. Đây không phải là lần đầu tiên Ông ta đến nhà bà chị nầy, tại sao? Tại sao mà tin tức của ta bị lộ? Vào lúc nào bị lộ? Ông ta cố tìm câu trả lời thich đáng để đối phó với tình thế trước mắt. Ông ta nghĩ đến vợ con mình, đến tương lai đang chờ đợi gia đình mình… trước khi nghỉ đến tổ chức mà Ông ta đang phục vụ, bởi những gì đã xảy ra trong thời gian sau cuộc Tổng tấn công dịp Tết Mậu Thân, một phần nào đã ảnh hưởng đến tình cảm, suy nghĩ của Ông cũng như của vợ và hai đứa con thân yêu. Khoảng cuối năm 1966 khi đang công tác tại nông trường trồng mía tỉnh Thanh Hóa, lệnh từ cấp trung ương buộc Hai Hóa về Hà Nội trình diện tại Ủy Ban Thống Nhất nhận nhiệm vụ mới. Là một Cán Bộ miền Nam tập kết nên chuyện trình diện tại cơ quan nói trên cũng không làm cho Hai Hóa suy nghỉ gì nhiều, bởi đây là một tổ chức của đảng để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến bộ phận Miền Nam. Nhưng thực tế lại rất bất ngờ đối với Hai Hóa, bởi vì sau đó Ông ta lại làm việc với Cán Bộ Cục Nghiên Cứu, cơ quan phụ trách tình báo và quân báo lúc bấy giờ. Thì ra là Đảng đã có chủ trương đưa Ông ta trở vào miền nam hoạt động trong mạng lưới tình báo chiến lược nhằm móc nối với thân nhân là một sỉ quan cao cấp đang phục vụ tại cục An Ninh Quân Đội của chính phủ VNCH, cùng một mục tiêu khác nữa là cựu Bộ Trưởng Nộ Vụ, người nầy mặc dù đã không còn phục vụ cho chính phủ nhưng có quan hệ chặc chẽ với với các nhân vật cao cấp của Tòa Đại Sứ Mỹ. Nhân vật nầy cũng là người có họ hàng với Hai Hóa. Sau lần gặp gỡ với Cán Bộ Cục Nghiên Cứu để nhận nhiệm vụ tại Miền Nam, Hai Hóa được bố trí ngụ tại một ngôi nhà an toàn tại Hà Nội, được hướng dẩn chuyên môn về cách thức hoạt động mật hơn hai tháng, được cung cấp các loại giấy tờ tùy thân giả mạo do chuyên viên của Cộng Sản Đông Đức thực hiện với lý lịch ngụy tạo, được hướng dẩn kỹ lưỡng về cung cách sinh hoạt của xã hội Miền Nam, nhứt là ở địa bàn thành phố Sài Gòn. Trước khi lên đường xâm nhập Miền Nam bằng đường mòn Hồ Chí Minh. Cục nghiên Cứu đã tổ chức một buổi tiệc tiễn đưa Hai Hóa với nhưng lời lẻ động viên, khích lệ để hoàn thành tốt công tác giao phó. Hai Hóa đã phấn khởi lên đường với lời thề hứa sẽ tranh thủ móc nối được hai mục tiêu mà tổ chức đã chấm định. Trung thành với lý tưởng của đảng Cộng Sản mà đương sự đã có hai mươi năm phục vụ. Viễn cảnh được trở về Miền Nam hoạt động đồng nghĩa với việc gặp lại người vợ và hai cô con gái mà đương sự đã để lại nơi quê nhà vào năm 1954 để lên đường tập kết ra Miền Bắc theo sự bố trí của đảng. Hai Hóa đã lên đường xâm nhập vào Miền Nam với tâm trạng phấn khích sẽ gặp lại vợ con tại quê hương tỉnh Vĩnh Long thân yêu của mình sau bao năm xa cách. Chuyến đi trải qua nhiều nguy hiểm tưởng chừng như không thể tiếp tục vì bị máy bay B52 thả bom đánh phá liên tục, một phần bị bịnh sốt rét làm chậm trể cuộc hành trình, nhưng cuối cùng rồi Hai Hóa cũng vào được đến Miền Nam, trình diện tại phòng tình báo chiến lược thuộc Cục R để được hướng dẩn thêm về phương thức hoạt động, cách thức liên lạc, báo cáo. Sau đó đương sự liên lạc được với vợ con hiện đang cư ngụ tại tỉnh Vĩnh Long, và thời gian ngắn sau đó đưa cả gia đình lên ngụ tại một căn nhà thuê tại khu vực Hàng Xanh, Thị Nghè sinh sống bằng cách buôn bán trái cây để làm ngụy thức cho hoạt động mật của mình. Hai Hóa sau đó đã tìm đến nhà người chú bà con là một sĩ quan đang làm việc tại Cục An Ninh Quân Đội lấy lý do thăm viếng để tìm hiểu về công việc hiện tại của người nầy. Đương sự dùng ngụy tích là một hồi chánh viên vì viên sĩ quan nầy biết đương sự đã hoạt động cho Việt Cộng và đã tập kết ra miền bắc vào năm 1954. Sau nhiều lần đến thăm gặp vị sĩ quan nầy để tìm hiểu thăm dò tình cảm qua liên hệ gia đình, Hai Hóa đã đặt thẳng vấn đề móc nối xây dựng người bà con nầy để hoạt động cho Cộng Sản. Trái với mong đợi của đương sự, vị sĩ quan nầy đã từ chối thẳng thừng và đuổi Hai Hóa về, không cho đương sự đến nhà gặp gỡ nữa. Tuy nhiên vì nặng tình cảm gia đình nên vị sĩ quan nầy đã không có biện pháp nào đối với Hai Hóa. Về đối tượng thứ hai là vị cựu Bộ Trưởng Nội Vụ thì Hai Hóa cũng tìm cách tiếp cận nhiều lần, nhưng đương sự chưa dám mở lời tranh thủ. Một phần vì trình độ học thức quá chênh lệch giữa hai người, phần quan trọng nữa là lập trường của vị nầy chống Cộng quyết liệt, khó cho đương sự đặt vấn đề hầu móc nối cho tổ chức. Đã một vài lần Hai Hóa được giao liên hướng dẫn vào mật khu Suối Sâu thuộc quận Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh để sinh hoạt họăc báo cáo công tác với cán bộ của Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam. Đương sự cũng đã bị phê bình là công tác chưa có tiến triển gì đáng kể trong thời gian qua. Trong đợt Tổng Công Kích dịp Tết Mậu Thân của Cộng Sản vào Thủ Đô Sài Gòn nhà của Hai Hóa bị trúng đạn pháo kích của Cộng Sản. Phần đương sự bị mảnh đạn pháo trúng nhằm cánh tay bị thương nặng phải điều trị tại Bệnh viện Gia dịnh một thời gian, do đó đương sự mất liên lạc với tổ chức. Vì nhà cửa bị hư hại, đổ nát bởi đạn pháo kích của Cộng Sản nên gia đình đương sự được sự giúp đở của một người bà con xa cho tá túc tại nhà của người nầy nằm gần khu nhà thờ Fatima ở ngã ba Bình Triệu, phía Quốc Lộ 13 hướng đi về Bình Dương. Vợ chồng Hai Hóa có một sạp bán nước và trái cây ven quốc lộ để làm kế sinh nhai, vì khu vực nầy rất tấp nập xe đò chở khách và xe be chở gổ. Sau khi đã tạm ổn định, Hai Hóa tìm cách liên lạc với tổ chức là Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam bằng cách đến các khớp hẹn chính thức và dự bị hy vọng sẽ gặp lại người giao liên đã từng gặp đương sự trước đây. Tuy nhiên, việc làm nầy không có kết quả. Trong những lần đi tìm kiếm giao liên, đương sự vì cuộc sống túng quẩn nên cũng đã từng ghé ngang nhà người chị bà con tại Chợ Lớn để nhờ sự trợ giúp tài chánh cho gia đình, vì bà chị nầy cũng biết tình cảnh của đương sự. Chính vì liên hệ với gia đình bà chị nầy mà tung tích của Hai Hóa đã bị mật báo viên của Khối Đặc Biệt phát hiện, đưa đến việc câu lưu Hai Hóa. Trong thời gian bị giữ tại Khối Cảnh Sát Đặc Biệt để khai báo về quá trình hoạt động của đương sự, đặt biệt là giai đoạn xâm nhập vào miền nam để hoạt động cho Phòng Tình Bảo Chiến Lược, Hai Hóa đã tỏ ra thành khẩn cộng tác. Sau nhiều lần thử thách, động viên đương sự với sự đóng góp của vợ và hai con, Khối Đặt Biệt đã tranh thủ được Hai Hóa cộng tác để tìm cách xâm nhập vào Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam, một tổ chức tình báo quan trọng của Cộng Sản mà trong hai năm 1969, 1970 Khối Đặt Biệt đã đánh phá một số Cụm trực thuộc tổ chức nầy, câu lưu một số cán bộ như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Trần Ngọc Hiền v v… Kế hoạch xâm nhập mang ngụy danh “Thượng Đỉnh” được khai triển với tình báo viên Hai Hóa, nguyên là Thượng Úy của Cộng Sản, đã là một cuộc đấu trí ngoạn mục giữa Khối Cảnh Sát Đặt Biệt và Cục Nghiên Cứu của Cộng Sản Bắc Việt, cơ quan phụ trách tình báo và quân báo lúc bấy giờ của Miền Bắc. Khoảng sáu tháng sau ngày nhận lời hợp tác với Khối Cảnh Sát Đặc Biệt, Hai Hóa đã phát hiện được một cán bộ Cộng Sản từ Miền Bắc xâm nhập vào hoạt động trong lãnh thổ VNCH. Đương sự báo cáo đã từng gặp người cán bộ nầy khi còn công tác tại miền Bắc, qua sự giới thiệu của một người bà con. Người cán bộ nầy tên gọi là Đạt, là một kỷ sư, dạy học tại trường Bách Khoa Hà Nội, vợ của đương sự cũng là một giáo sư dạy cùng trường. Hai Hóa đã tình cờ nhìn thấy Kỷ Sư Đạt đi bộ trên đường Phan Thanh Giản gần Bệnh Viện Bình Dân. Một toán nhân viên hoạt vụ của Cảnh Sát Đặc Biệt được bố trí hưuớng dẩn Hai Hóa đi công tác tại khu vực bệnh viện để phát hiện mục tiêu là Kỷ Sư Đạt. Khoảng chừng một tháng sau công tác đã có kết quả, mục tiêu đã được phát hiện. Theo dõi đương sự được biết nơi cư ngụ là căn phố thuộc xã Phú Nhuận, thỉnh thoảng có đến có đến một ngôi biệt thự gần Bệnh Viện Bình Dân và một văn phòng trắc địa tai đường Nguyễn Huệ thuộc quận I Sài Gòn. Kết quả mật tra được biết đương sự xử dụng giấy tờ tùy thân giả mạo mang tên Phạm Đức, có tên trong tờ khai gia đình tại ngôi nhà ở Phú Nhuận. Sau một thời gian bố trí theo dỏi mục tiêu Phạm Đức để tìm hiểu thêm một số chi tiết cần thiết khác, Khối Đặc Biệt quyết định bí mật câu lưu đương sự để khai thác tin tức về tổ chức cũng như nhân sự liên hệ hoạt động với đương sự. Kết quả đưa đến việc bắt giữ thêm một số người có liên hệ, đặt biệt là tịch thu được một số tài liệu, mật mã đang được Cục Nghiên Cứu Bắc Việt xử dụng cho những hoạt động tình báo trong miền Nam. Đây là mật mã hiện đại nhất của Cộng Sản mà lần đầu tiên cơ quan an ninh của VNCH tịch thu được. Phạm Đức là một cán bộ tình báo chiến lược hoạt động đơn tuyến trực thuộc Cục Nghiên Cứu của Cộng Sản Bắc Việt. Đương sự đã xâm nhập vào Niềm Nam bằng đường biển, do tàu giao thông của Cục Nghiên Cứu chuyên chở từ hải cảng thành phố Vinh ra hải phận quốc tế hướng về phía nam để rồi sau đó cập vào bến ở bải biển Nha Trang. Vì các tàu nầy được ngụy trang là tàu đánh cá, có được sự yểm trợ của hải quân Liên Bang Sô Viết đang hoạt động trong vùng biển Thái Bình Dương, nên việc xâm nhập vào hải phận của VNCH thường được thực hiện thành công. Đó là lý do tình báo của Cộng Sản Bắc Việt thời gian sau nầy thường xử dụng đường biển để đưa người xâm nhập vào Miền Nam, cũng như đón cán bộ trở về Miền Bắc sinh hoạt, báo cáo công tác… Loại tàu xử dụng công tác giao thông liên lạc nầy được Cộng Sản thuê đóng tại Phan Rí, dùng loại máy Yamaha của Nhật có công xuất mạnh mà các tàu đánh cá thường dùng vào thời điểm này nên đã dể dàng trà trộn vào dòng ghe thuyền đánh cá của Miền Nam để hoạt động đưa đón cán bộ tình báo đang hoạt động tại lảnh thổ VNCH. Nhiệm vụ của Phạm Đức là xâm nhập vào giới trí thức của Việt Nam để gây dựng cơ sở hầu khi có giải pháp chính trị cho chế độ Miền Nam thì Cộng Sản đã có sẳn một lượng trí thức thiên tả để xử dụng sau khi ký kết được Hiệp Định Ba Lê. Sở dĩ Cộng Sản xử dụng Phạm Đức vì anh ruột của đương sự là một nhạc sỉ nổi tiếng tại Miền Nam đang dạy tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, có một quá trình cộng tác với Hội Việt Kiều yêu nước tại Paris khi đương sự còn theo học âm nhạc tại Pháp. Gia đình của Đức thuộc vào loại khá giả, học thức, có quan hệ rộng rãi trong giới thượng lưu của Sài Gòn lúc bấy giò. Bên cạnh các yếu tố thuận lợi cho trí thức vận, Cộng Sản còn nhắm vào mối liên hệ gia đình của Phạm Đức với một thành viên trong phái đoàn VNCH đang dự hội nghị bốn bên tại Paris, để có thể thu thập tin tức về đường lối chủ trương chiến lược của Chính Phủ VNCH tại bàn hội nghị. Sở dỉ Cộng Sản chú trọng vào công tác chính trị nầy là vì sau khi thất bại trong cuộc tổng tấn công vào Miền Nam dịp Tết Mậu Thân, Cộng Sản nhận thấy khó giành thắng lợi bằng giải pháp quân sự nên chuẩn bị cho một giải pháp chính trị sau khi hiệp định Paris được ký kết. Theo lời khai của Phạm Đức với Khối Cảnh sát Đặc Biệt, thì sau khi vào Sài Gòn hoạt động được một thời gian thì Cục Nghiên Cứu Bắc Việt chỉ thị cho đương sự theo giao liên đi từ Sài Gòn ra Nha Trang để được tàu giao liên đưa trở ra Miền Bắc báo cáo công tác cũng như để được hướng dẩn thêm về nghiệp vụ. Đương sự cũng được gặp gỡ vợ con trong dịp nầy, nhưng được dặn dò là không được tiết lộ bất cứ điều gì liên quan đến công tác tại Miền Nam. Sau đó đương sự lại được tàu giao thông, liên lạc đưa trở lại Miền Nam nhưng đổ bộ lên một địa điểm ở bãi biển Phan Rí và đón xe vào lại Sài Gòn. Là một điệp viên hoạt động đơn tuyến do đó đương sự nhận chỉ thị trực tiếp từ cơ quan đầu não chỉ huy tình báo của Cộng Sản Bắc Việt lúc bấy giờ là Cục Nghiên Cứu, qua hệ thống ngắn, theo giờ giấc đã quy định trước. Các điện văn gởi cho Phạm Đức đều được mã hóa và phải cần có đến 3 chìa khóa mới mở được. Để chuyển báo cáo về cho Cục Nghiên Cứu Bắc Việt thì Đức dùng mực hóa học để viết và giao cho giao liên mang về căn cứ cũ để chuyển đi. Do đã tịch thu được toàn bộ tài liệu mật mã tại nhà Phạm Đức nên Khối Đặc Biệt đã thu được tất cả điện văn từ Miền Bắc gởi vào cho Đức để chỉ thị công tác cho đương sự. Khoảng chừng ba tháng sau ngày câu lưu Đức, Khối Đặc Biệt chận bắt được một bức điện văn gởi cho Đức, nội dung thông báo ngày giờ, địa điểm, ám tín hiệu và mật khẩu để nhận nhau tại khớp hẹn chính thức và dự bị cho Đức đi gặp giao liên của Cục Nghiên Cứu. Cả hai khớp hẹn nầy sẽ thực hiện trong cùng một ngày, khớp hẹn chính thức vào buổi sáng tại một địa điểm thuộc Chợ Lớn, khớp hẹn dự bị vào buổi chiều tại một địa điểm thuộc Quận I của Sài Gòn. Mặc dù trong quá trình làm việc với Phạm Đức, Khối Đặc Biệt đã phần nào cảm hóa, tranh thủ sự hợp tác của đương sự nên đã tịch thu được tài liệu mật mã cũng như mực hóa học mà đương sự đã cất dấu tại một số vị trí rất khó phát hiện trong nhà nơi Đức đang tạm trú. Những đánh giá về sự thành khẩn của đương sự vẫn còn hạn chế, do đó vẫn còn có thêm những thử thách sau này để xác định đương sự đã chuyển hướng hay chưa và với một mức độ nào đó… Kế hoạch được phát thảo đầu tiên là tranh thủ Đức để đương sự đi gặp giao liên, vì có thể người giao liên nầy đã từng gặp Đức trước đây. Tuy nhiên như đã nhận xét về sự thành khẩn hợp tác của đương sự vẫn còn hạn chế, do đó kế hoạch đi gặp giao liên được thực hiện bởi một nam nhân viên của Khối Đặc Biệt đóng vai Phạm Đức. Người nhân viên nầy có nhân dạng hao hao giống Đức, được trang bị máy thu phát vô tuyến để cơ quan có thể theo dõi và ghi nhận nội dung cuộc tiếp xúc với giao liên và chỉ xuất hiện ở khớp hẹn dự bị để gặp người giao liên mà thôi. Riêng tại khớp hẹn chính thức cơ quan đã bố trí một toán hoạt vụ để quan sát, phát hiện mục tiêu tình nghi là giao liên, bí mật chụp ảnh các đương sự cho Đức nhận diện xem đương sự có lần nào tiếp xúc với người giao liên nầy. Kết quả cho thấy trong số những người tình nghi là giao liên bị chụp ảnh không có ai là người quen với Đức. Đúng mgày giờ theo quy ước đã định, người nhân viên đóng vai Phạm Đức đã tiếp xúc được với một người nữ giao liên, giao một báo cáo viết bằng mực hóa học sau khi đã mã hóa cũng như nhận một chiếc gương nhỏ hình tròn dùng để soi mặt từ giao liên, trong đó có chứa tài liệu. Việc trao đổi tài liệu nầy diển ra trong một quán nước gần địa điểm tiếp xúc. Nội dung cuộc tiếp xúc được cơ quan kiểm thính, ghi âm cùng chụp ảnh mục tiêu. Trước khi chia tay, một câu nói của người nữ giao liên nầy khi nhận xét rằng Phạm Đức có vẻ mập (nói đến người đóng vai Phạm Đức), đã tạo nên nghi vấn là có thể người nữ giao liên nầy đã từng gặp Phạm Đức trước đây. Do đó một quyết định tức khắc từ thượng cấp, ra lệnh cho bí mật câu lưu người nữ giao liên nầy để khai thác tin tức liên hệ. Sau khi làm việc sơ khởi với người giao liên nầy, khai thác nội dung tài liệu mà Cục Nghiên Cứu gởi vào cho Phạm Đức do người giao liên vừa chuyển giao, Khối Đặc Biệt quyết định khống chế, tranh thủ người nầy để hoạt động cho Khối bằng cách trả tự do cho y thị với điều kiện y thị phải cộng tác với Khối Đặc Biệt để xâm nhập vào tổ chức Tình Báo Chiến Lược đang dùng y thị làm giao liên. Để khống chế y thị hoat động công tác Khối Đặc Biệt đã tạm thời đưa con gái của y thị đang làm việt tại một quán kem ở tỉnh Quảng Ngải, vào Sài Gòn tạm trú dưới sự giám sát của Biệt Đội Thiên Nga để học nghề và tạo công ăn việc làm cho cô gái nầy. Một chuyến phi cơ đặc biệt chở người nữ giao liên tên Nguyễn Thị Gái cùng toán nhân viên hoạt vụ của Khối Đạc Biệt bay ra tỉnh Quảng Ngải để bí mật đón đứa con gái của bà Gái đưa vào Sài Gòn trong ngày, đồng thời giới thiệu bà nầy với cơ quan F/ Đặc Biệt tỉnh Quảng Ngải để y thị liên lạc sau nầy khi cần thiết. Bà Gái sẽ trở về Quận Mộ Đức với một báo cáo đã mã hóa, viết bằng mực hóa học mà Khối Cảnh Sát Đặc Biệt mạo danh Đức phát thảo để gởi cho Cục Nghiên Cứu Bắc Việt, báo cáo các công tác mà Đức đã làm trong thời gian vừa qua. Mọi việc đã diển tiến đúng như dự liệu của Khối Cảnh Sát Đặc Biệt. Khoảng hai tháng sau ngày xử dụng nữ giao liên Nguyễn Thị Gái, Cục Nghiên Cứu Bắc Việt đã đánh một điện văn gởi cho Phạm Đức yêu cầu đương sự ra Nha Trang để tiếp xúc với giao liên, ngày giờ, địa điểm tiếp xúc chính và dự bị tại thị xã Nha Trang cùng ám tín hiệu và mật khẩu được chỉ thị trong bức điện nầy. Một kế hoạch được phát thảo để lại xử dụng người nhân viên của Khối Đặc Biệt đóng vai Phạm Đức để đi gặp giao liên tại Nha Trang ở nơi khớp hẹn dự bị tại đường Độc Lập thị xã Nha Trang. Toán hoạt vụ của Khối Đặc Biệt sẽ theo dỏi giao liên sau khi đương sự chia tay với Phạm Đức giả để phát hiện liên hệ của đương sự. Một toán công tác của Khối Đặc Biệt đã được hướng dẩn tường tận mọi tình huống có thể xảy ra trong lúc theo dỏi mục tiêu nầy, có thể xảy ra bằng đường bộ, đường hàng không hoặc đường thủy. Cơ quan E Đặc Biệt của Bộ Chỉ Huy CSQG Khu 2 là đơn vị yểm trợ chủ yếu cho công tác nầy. Một tuần lễ trước ngày gặp giao liên, một toán công tác của Khối Đặc Biệt đã đáp chuyến phi cơ dành riêng cho công tác nầy đi Nha Trang, chở theo can phạm Phạm Đức nhằm mục đích nhận diện các mục tiêu tình nghi là giao liên được bí mật chụp ảnh tại khớp hẹn chính thức. Chiếc phi cơ vận tải nầy cũng chở theo phương tiện xe cộ cho công tác theo dỏi, cũng như có cả một xe “van” được ngụy trang cho công tác tình báo kỹ thuật như chụp ảnh, kiểm thính và ghi âm cuộc tiếp xúc với giao liên. Mọi công tác chuẩn bị được nghiên cứu từng chi tiết, bộ phận hoạt vụ được đi quan sát thực địa để nắm vững được tình hình khu vực hoạt động, cách thức ngụy trang để tránh bị lộ diện. Một căn phòng ngủ tại một khách sạn đối diện với địa điểm tiếp xúc ở khớp hẹn chính thức được thuê mướn để từ đó có thể dể dàng quan sát, chụp ảnh các mục tiêu tình nghi là giao liên xuất hiện tại khớp hẹn nầy. Nhân viên hoạt vụ đã phát hiện một người đàn ông trung niên có mặt tại khớp hẹn nầy, tình nghi là giao liên qua cử chỉ thái độ của đương sự.. Hình ảnh của đương sự được bí mật chụp, để đưa cho can phạm Phạm Đức nhận diện xem có phải là người quen đã từng gặp mặt trước đây không, tuy nhiên Đức cho biết đây là người lạ mặt. Do đó việc bố trí cho Phạm Đức giả đi gặp giao liên tại khớp hẹn dự bị không có trở ngại và kế hoạch được xúc tiến như đã định. Người đàn ông trung niên bị phát hiện vào buổi sáng nơi khớp hẹn chính thức lại xuất hiện tại khớp hẹn dự bị vào buổi chiều, đến trao đổi ám tín hiệu và mật khẩu với Phạm Đức giả và sau đó yêu cầu Phạm Đức giả đi với hắn ta, cách xa một khoảng cách ngắn để không mất dấu. Nội dung cuộc tiếp xúc được kiểm thính, ghi âm và chụp ảnh một cách bí mật. Cả hai sau đó lên một chiếc xe Lambretta 3 bánh chở khách chạy về hướng biển, xuống xe tại bải Chụt, toán hoạt vụ của Khối Cảnh Sát Đặc Biệt vẫn bám sát với một khoảng cách an toàn. Tại đây người giao liên dùng tay ra dấu cho một chiếc tàu đánh cá đang đậu ngoài bờ biển, rồi từ trong đám đông tàu đánh cá có một chiếc thuyền thúng do một người đàn ông chèo vào phía bờ, hướng về chổ người giao liên và Phạm Đức giả đang đứng. Nhân viên đóng giả vai Phạm Đức vội hỏi người giao liên: – Chúng ta đi đâu vậy ? Lúc nầy người giao liên quay sang đáp: – Chúng tôi nhận lệnh của thủ trưởng đưa đồng chí ra Hà Nội. Việc nầy thật bất ngờ ngoài dự liệu của cơ quan trách nhiệm điều khiển công tác, bởi trước đó không lâu, Phạm Đức đã được giao liên đón đưa ra miền Bắc để sinh hoạt và bồi dưỡng nghiệp vụ tình báo, do đó lần gặp nầy nhân viên đóng vai can phạm Phạm Đức chỉ được hướng dẩn gặp giao liên dể trao và nhận tài liệu, báo cáo. Tuy bị bất ngờ trước tình huống nầy nhưng người nhân viên hoạt vụ già dặn kinh nghiệm đã giữ được sự bình tĩnh và nói với giao liên là không có chuẩn bị việc đi ra Miền Bắc vì nghĩ đây là cuộc gặp gỡ định kỳ để giao tài liệu, do dó yêu cầu cho anh trở lại khách sạn đang tạm ngụ để lấy đồ đạc cá nhân. Sau một thoáng ngần ngừ, tay giao liên đồng ý và hối thúc Phạm Đức giả mau trở lại để lên đường. Phạm Đức giả quay bước trở ra đường lộ, tiếp xúc với sỉ quan chỉ huy công tác cùng với toán hoạt vụ đang bám sát mục tiêu. Dù nội dung cuộc tiếp xúc giữa người giao liên và Phạm Đức giả được kiểm thính, nhưng vị sỉ quan trách nhiệm vẫn lắng nghe người nhân viên đóng vai can phạm Phạm Đức báo cáo để đối chiếu với những gì đã nghe được qua hệ thống kiểm thính. Sau khi thảo luận, đánh giá tình hình diển tiếng của công tác vị sỉ quan trách nhiệm đã đi đến quyết định câu lưu chiếc tàu giao liên ngụy trang là tàu đánh cá cùng toàn thể thuyền viên gồm có 6 người kể cả người giao liên đã lên bờ đi gặp Phạm Đức giả. Tất cả toán giao liên nầy được đưa về tạm giữ tại E/ Đặc Biệt Bộ Chỉ Huy CSQG Khu 2 ở Nha Trang và sau đó được máy bay chở về Khối Đặc Biệt ở Sài Gòn để khai thác tin tức. Trong việc bắt giữ chiếc tàu giao liên Khối Cảnh Sát Đặc Biệt đã đánh lừa Cục Nghiên Cứu Miền Bắc sau đó bằng cách đã tung tin trên hệ thống phát thanh của đài Sài Gòn một bản tin ngụy tạo về một cơn gió lốc xảy ra ngoài khơi bờ biển Nha Trang đã làm chìm một số tàu đánh cá, thiệt hại một số nhân mạng, vào đúng ngày câu lưu chiếc tàu giao liên. Do đó khoảng hơn một tháng sau, Cục Nghiên Cứu lại đánh một bản tin gởi cho Phạm Đức yêu cầu đi gặp giao liên tại một địa điểm trong Chợ Lớn, có qui định ngày giờ ám tín hiệu, mật khẩu để nhận nhau. Cuộc đấu trí giữa Cục Nghiên Cứu Bắc Việt và Khối Cảnh Sát Đặc Biệt vẫn tiếp diển và công tác nầy chỉ ngưng sau khi Khối Cảnh Sát Đặc Biệt câu lưu anh của can phạm Phạm Đức, tức là nhạc sỉ Phạm Trọng với tội danh cung cấp và yểm trợ phương tiện cho cán bộ Cộng Sản hoạt động. Tin tức bắt giữ người nhạc sỉ nầy sau đó được báo chí Sài Gòn đưa tin qua tiết lộ của gia đình đương sự. Về phần tình báo viên Hai Hóa với công tác xâm nhập vào Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam của Trung Ương Cục vẫn tiếp tục khai triển, chờ cơ hội nối lại liên lạc với tổ chức nầy. Trên phương diện chuyên môn, đây là thành công đáng kể của Khối Cảnh Sát Đặc Biệt trong cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lược và những chiến công thầm lặng như kể trên đã góp phần đáng kể trong công việc bảo vệ Miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến 30- 4- 1975. Xin được thắp một nén hương để tưởng niệm và tri ân những chiến sỉ và đồng bào Miền Nam đã âm thầm ngã gục để bảo vệ tổ quốc thân yêu.
Một buổi sáng khoảng 8 hay 9 tháng 1-1973 tên Tập vào bảo chúng tôi, mang hết chăn màn v.v… Ra tới cổng đã có một công an võ trang với một cán bộ lạ; họ đưa chúng tôi lên một chiếc xe tải không có mui. Họ khóa tay cả 3 người lại với nhau, chỉ định tôi ở giữa anh Bưởi và Lương. Có nghĩa anh Bưởi và Lương còn một tay, riêng tôi cả hai tay đều bị còng, vì ở giữa hai người. Trên con đường gập ghềnh, chiếc xe lắc lư, chao đảo như trong cõi lòng héo úa, của chúng tôi.
Khoảng hơn 3 giờ chiều, tôi nhìn về phía trước là một khu có nhiều nhà tre nứa, nhất là lại thấy một khu rộng có hàng rào nứa dựng đứng thật cao. Chúng tôi đều hiểu đấy là một trại giam. Xe đi tuột vào trong khu hàng rào nứa; khi xe ngừng tên cán bộ vẫy tay bảo, chúng tôi xuống. Phần tôi, cả hai tay đều lằng nhằng, với anh Bưởi và Lương, nên loay hoay mãi 3 chúng tôi mới xuống đất được.
Tên cán bộ mở khóa cho chúng tôi, ra hiệu tay, hãy ngồi tại chỗ, ngay sân trại. Y quầy quả đi ra khỏi cổng, vào một căn nhà ngay trước cổng. Tôi đưa mắt nhìn vào phía trong, rất nhiều nhà lán sàn, lại chia ra làm nhiều khu. Một tên công an lạ, tay cầm miếng giấy từ cổng đi vào, mắt y lừ đừ nhìn chúng tôi, rồi lạnh lùng:
– Ba anh là ĐCB, Lưu Nghĩa Lương và Lê Văn Bưởi phải không?
Chúng tôi đều “dạ” nhè nhẹ.
Y cộc lốc:
– Bỏ tất cả đồ đạc, chăn màn ra, khám!
Cũng lúc đó một tên tù từ phía trong đi ra, ôm theo một chiếc hộp hắc ín. Sau này tôi biết tên là Bằng, trật tự của trại. Anh Bằng lục lọi quần áo, chăn màn chúng tôi. Bằng thấy có dấu đầy đủ nên khẽ hỏi :
– Các anh ở trại nào chuyển đến:
Tôi cũng nói nhỏ:
– Trung ương số 1 phố Lu, rồi hỏi lại – Đây là trại gì thế anh?
Bằng nói vừa đủ để 3 chúng tôi nghe:
– Trung ương số 2 Phong Quang, Yên Bái.
Theo lệnh của tên trực trại, Bằng dẫn cả 3 chúng tôi vào một cái lán ở gần đấy, ngay ngoài sân trại. Qua Bằng, tôi biết tên trực trại là Hường, y chỉ định cho chúng tôi 3 chỗ nằm, rồi ngắn gọn:
– Sáng mai sẽ được phân bổ tổ, toán!
Nhìn thoáng cả một căn lán dài, cũng giống như những lán tù bên trại 1, có hai, ba, người đang nằm, chắc là bịnh. Như tôi đã nói, phần vì mệt, phần khác cũng là phần chính, lòng đang ôm một mối sầu rười rượi, nên mỗi người đều về chỗ nằm, cho hồn dập dềnh vào biển đen, vùng Địa Trung Hải.
Những tiếng ầm ầm xôn xao, tôi bò dậy, các toán đi làm về, đầy buồng ồn ào cơm nước. Cho tới tối, ngồi nói chuyện với một anh chủng sinh tu sĩ bên cạnh, là Trần thế Khải người Hà Nội. Anh cho biết, cha anh là Trần tứ Hải cũng bị bắt và cũng ở trại này, nhưng ở toán khác, khu II ở bên kia. Qua anh Khải tôi biết sơ: Đây là phân trại B của trại Phong Quang, phân trại A xây, là trại chính ở phía ngoài cách đây hơn 5 cây số.
Ngồi nói chuyện với anh Khải, tôi để ý cách tôi mươi mét, phía chéo sàn bên kia có một bác già, từ nãy cứ ngồi yên xếp chân bằng tròn nghiêm trang; thỉnh thoảng làm dấu thánh giá. Anh Khải cho biết đấy là bác Túy, chánh trương một xứ đạo, bác chẳng nói chuyện với ai, chỉ thường ngồi một mình đọc kinh lần hạt. Như thế trong buồng hơn 100 người, hầu hết là tù chính trị ở miền Bắc, 1/ 3 là công giáo hoặc tu sĩ chủng sinh.
Sáng hôm sau, còn đang chia sắn sáng, một tên cán bộ lạ đi vào buồng, đi theo có tên Bằng trật tự. Tên cán bộ lạ có đôi mắt tí him nhập nhèm. Y chẳng đeo lon lá gì, chẳng hiểu y có một uy lực như thế nào, khi y bước vào buồng, tiếng râm ran chuyện trò im bặt, ai cũng nem nép khác thường. Y đến thẳng chỗ anh Bưởi và tôi, cười nửa miệng nhìn chúng tôi, giọng Thái Bình rang rảng:
– Anh nào là ĐCB?
Tôi nhổm lên trả lời nhè nhẹ:
– Thưa ông tôi!
Cái cười nửa miệng ngậm lại, rồi y nghiêm giọng:
– Anh đi làm theo toán mộc!
Y nhìn sang anh Bưởi:
– Anh là Lê Văn Bưởi? Lưu Nghĩa Lương đâu?
Cũng là lúc Lương đang lách khỏi 2 người, đến trước tên cán bộ.
– Thưa ông tôi là LN Lương!
Y nhìn Lương vài giây, rồi rành rọt:
– Anh theo trật tự về toán 5; còn anh Bưởi về toán 10.
Nói xong, lật đật y ra khỏi buồng, bấy giờ buồng mới râm ran, ồn ào trở lại. Qua anh Khải tôi được biết, y tên là Tằng, anh em vẫn gọi là Tằng toét. Y là cán bộ giáo dục, nhưng là một tên Hung Thần của trại Phong Quang này. Người ta vẫn thì thầm, thuật lại: Y đã cùm chết chú ruột của y, gần 2 năm trước đây.
Đến giờ trại tập họp đi làm, tôi theo toán ra ngoài sân trại. Trời! Một cái sân trại to như thế mà ngồi che kín khắp, toàn là tù; có lẫn 3, 4, toán là tù hình sự vì tôi thấy mấy cậu trẻ, rách rưới lau nhau; có cậu đi chân đất.
Toán của tôi chỉ gọi là toán mộc, có chừng hơn 20 người do anh Ngô Xuân Hòa làm toán trưởng. Khi toán xuất trại, toán rẽ phía trái rồi tiến dần lên một cái đồi con, trên đó có một cái lán mộc nhỏ, chừng hơn hai chục cái cầu bào. Chắc trong hồ sơ của tôi có ghi về tay nghề, nên được cán bộ toán phân công làm cửa chớp. Tên y là Nguyễn Đức Khẩn, đeo lon trung sĩ.
Buổi trưa toán về, vào đến trại, thấy một nhóm gần 60 người ôm đồm chăn chiếu ở sân; hỏi ra là ở trại Tân Lập chuyển đến. Mấy ngày sau, tôi gặp một anh ở Tân Lập tên Thành. Tôi được biết trại Tân Lập có rất nhiều Biệt Kích, cũng mới chuyển đến. Họ được ăn bồi dưỡng, chuẩn bị, để trao trả trong hội nghị Paris.
Có thể do ảnh hưởng những diễn tiến của hiệp nghị Paris, không khí trong trại có một chút cởi mở. Cụ thể những ngày cuối tuần, đã có một vài anh tù mở đường, mò từ khu nọ sang khu kia chơi. Vài ngày sau, lại có một nhóm tù, từ trại Vĩnh Tiến chuyển về, rồi lại một nhóm tù từ trại Nam Hà chuyển lên. Phần tôi tinh thần và thể xác cứ như con gà rù, bao nhiêu diễn tiến của sự việc chung quanh, tôi nhìn như những áng mây trôi trên trời. Tôi nhớ rõ, vào ngày 30 hay 31 tháng 1 năm 1973, ba chúng tôi đã chuyển sang trại Phong Quang khoảng hơn 2 chục ngày. Một buổi sáng sớm, tiếng loa ở cổng trại nheo nhéo những điệu nhạc, cũng khuôn khổ các tiết mục của mỗi ngày như mọi khi (Hầu hết tù nhân chả còn để ý đến); bỗng một bản tin đặc biệt là hội nghị Paris đã được 4 bên long trọng ký kết ngày 27-1-1973 v.v…
Một tia sáng loé lên trong đầu, tôi xốn xang muốn xông xáo, chỗ này, chỗ kia để trao đổi sự kiện này, với các anh em quen biết; nhưng tia sáng đó chợt tắt ngủm trong lòng tôi. Họ đưa chúng tôi đến trại này, tức là họ đã giấu chúng tôi đi. Với sự hiểu biết của tôi, về ý thức và cách làm việc của Mỹ và chính quyền miền Nam, tôi chẳng có một chút hy vọng gì.
Tuy thế, khi tập họp trại đi lao động sáng hôm nay, thái độ của các cán bộ có khác thường; mặt người nào cũng trầm ngâm ít nói hẳn đi. Ngay không khí thái độ, của đám đông tù ngồi ở sân, cũng trầm lắng khác mọi khi. Như vậy hiệp định Paris đã ký 27-1-1973, mà mãi hôm nay ngày 31 đài mới nói tới.
Không hiểu đến bao giờ chúng tôi mới có báo Quân Đội Nhân Dân và tờ báo Nhân Dân của Đảng để đọc, biết qua những điều khoản, trong Hiệp Định. Tôi tin rằng toàn bản hiệp định, sẽ được đăng trên 2 tờ báo này; trường hợp này công khai mà. Vả lại CS đã chủ động, thì họ phải có lợi rồi.
Kế sách giằng co của chúng, đã có kết quả (Hầu hết các bàn cãi để ký, một hợp đồng hay hiệp nghị nào. Kế sách của chúng là lì…. cò cưa). Từ trước đến nay, hầu như chúng ta đều thua, vì chúng ta không có lòng nhẫn nại, cứ bàn cãi những cái cũ nhàm chán mãi, mỗi ngày; có khi cả tháng, cả năm v.v… Sốt ruột, thôi phiên phiến cho xong! Thế là lại rơi vào cái chủ trương, của chúng.
Chiều nay là thứ sáu, tôi sẽ tìm cách lỉnh sang mấy khu 1 và 2. Thật là bao nhiêu người mới, sự việc mới, đặc biệt được gặp lại một số anh em tù chính trị địa phương (Miền Bắc) cũ ở trại phố Lu. Những người của muôn năm cũ, tưởng đã xa rồi…. không còn gặp lại nữa như: Bác Nguyễn văn Tiến, Lê Phiến, Lê Liễu, bác Lẫm, Bùi Tâm Đồng, Trần Nhu, Kiều Duy Vĩnh, Nguyễn Chí Thiện. v.v… Anh Vĩnh là một đại úy thời Liên Hiệp Pháp, đã một lần tôi ngồi uống trà với anh. Anh Thiện ở toán già yếu do tên cán bộ Khê phụ trách. Chiều chiều hoặc thứ Bẩy, Chủ Nhật, nhìn dáng anh Thiện cao gầy, xách lon guigoz trà cáu ghét, đi đôi guốc lộc cộc ngoài sân. Mấy anh Lê Văn Bưởi, Trần Nhu, Nguyễn Chí Thiện và Phùng Cung hay túm tụm chuyện trò ngoài sân, tôi cũng mặc. Tâm trạng của tôi vẫn chui rúc trong sương mù dầy đặc, như gà rù gặp chướng khí, nên chẳng muốn tiếp xúc tâm tình với ai. Hôm qua tình cờ có một chút niềm vui, tôi mới quen được 4 anh:
– Nguyễn văn Đằng,
– Hoàng đình Vinh,
– Tiệp và Thuần.
Hai anh Tiệp và Thuần (mấy năm lục lọi cái trí óc cằn cỗi của tôi mà không thể nhớ, được họ của các anh). Tôi nói về 4 anh này vì có nhiều lý do. Các anh là tù ở bên trại tù quân đội (những người bị bắt ở miền Nam, rồi bị bí mật đưa ra Bắc). Ở trại tù quân đội, hầu hết tù chưa hiểu CS mấy, nên có quy chế tốt hơn.
Các anh lập kế vượt ngục, chúng ráo riết truy lùng, nên đã bắt được. Để kỷ luật, chúng cho các anh vào trại tù của CA, ở miền Bắc như chúng tôi, đã hơn một năm rồi.
Do quan hệ cá nhân, tình người nên các anh và tôi rất qúy mến nhau. Sau đó, các anh và tôi qua lại chuyện trò thường xuyên hơn. Cá biệt, cậu Tiệp và tôi mỗi ngày mỗi tin tưởng nhau hơn, để có thể nói với nhau những chuyện, không thể nói với nhiều người.
Tiệp khoảng chừng 26, 27 tuổi, là thông dịch viên trong quân đội (VNCH). Qua 4 người này, tôi biết thêm trại Phong Quang này có hàng trăm Biệt Kích gián điệp. Sáu, bảy tháng trước họ chia làm 2, một nhóm chuyển về trại Tân Lập, một nhóm về phố Lu, mà tôi đã trình bày ở trên (52 Biệt Kích).
Vào khoảng giữa tháng 2, ban thi đua, đưa vào mỗi khu một tờ báo Quân Đội Nhân Dân và tờ Nhân Dân: Đúng là cá đói lâu ngày được ăn, chen chúc, giành giật tờ báo, châu đầu vào đọc ngấu nghiến. Tôi liếc sơ qua thấy có toàn bản các điều khoản của hiệp nghị Paris. Để cho mọi người đọc, tôi trở về lán.
“Muốn ăn két thì phải đi đào giun”, tôi mò lên phòng trật tự thi đua. Chỉ là một phòng xép ở trong, đầu hội trường, chừng 2 x 3 mét, kê vừa một cái bàn với mấy cái ghế. Thoáng nhìn thấy anh Bằng trật tự đang cắm cúi đọc tờ Nhân Dân; tôi chào rồi lách cửa bước vào. Do thái độ tự trọng, nhã nhặn của tôi, anh đã niềm nở tiếp chuyện. Chúng tôi đã quen nhau và ngay chiều ấy, tôi đã mượn được tờ ND rồi mang sang lán bác Tiến ở khu 2, để cùng đọc. Trên đường về lán, nhớ đến lời anh Bằng trật tự dặn khi nãy:
“Anh hay vào các khu khác chơi, nếu gặp ông Tằng, đừng để ông ấy bắt gặp, hơi phiền đấy!”
Ông Tằng thì ai mà chả ngán! Anh Bằng là trật tự thi đua, mà tỏ ra một người có tư cách. Nhiều tên trật tự mặt cứ câng câng, thái độ như một tên ác ôn hay sừng xộ, với mọi người.
Hôm nay tôi đã miệt mài đọc tờ báo mãi, có văn kiện Hiệp nghị Paris lập lại hoà bình, ở Việt Nam. Tôi nhớ hình như có 9 chương và khoảng 22 hay 23 điều khoản. Tôi tìm ngay đến chỗ trao trả tù binh, ở chương III. Trong chương này, tôi đọc kỹ điều 8a/ Trao trả nhân viên, quân sự và dân sự cho 4 bên.
Mãi trưa hôm sau, thứ Bẩy tôi mới thuận tiện sang thăm bác Tiến. Chỗ bác có Lê Phiến và Nguyễn quốc Anh đang chuyện trò. Giở tờ báo tôi chỉ vào mục trao trả, những thành phần tù nhân của 4 bên. Để cho bác yên tĩnh đọc và suy ngẫm, tôi liếc nhìn một tấm hình ở trang 3, trang phụ có 3, 4 thanh niên trẻ, mặt tươi hớn hở, đến ghi tên xin nhập ngũ ở bàn giấy thuộc huyện (không nhớ) tỉnh Hà Tây. Với dòng chữ to dưới tấm hình: Hoan nghênh tinh thần xung phong, gia nhập bộ đội của đoàn viên, thanh niên Huyện (Thanh Chương).
Chúng tôi nói chuyện với nhau một lúc, bác Tiến bỏ báo xuống, rồi dịu dàng như nói chuyện với các cháu con:
– Nội dung của bản hiệp định này, không thể mổ xẻ một lúc mà sáng tỏ. Bác chỉ muốn nói những sự việc chung quanh, nhưng nó lại không kém phần quan trọng, đối với CS. Kế sách của chúng là lắt léo, tráo trở, chúng phải tìm mọi kẽ hở, mọi mắt lưới, để chúng đạt những kết quả, có lợi cho chúng. Dùng những câu văn, những từ ngữ lập lờ, lắt léo, để có thể hiểu theo nhiều hướng.
Chúng nghiên cứu kỹ từng dấu phẩy, dấu chấm; chấm chỗ nào và phẩy chỗ nào. Sau hết, bác muốn lưu ý với các cháu, điểm này: Từ thế chiến I, II cho đến bây giờ, hầu hết các chính khách, các nhà quân sự, đều có ý niệm chung về một hiệp nghị hòa bình (đình chiến), là giai đoạn nghỉ ngơi, để lại sức rồi lại tiếp tục chiến tranh (đánh nhau). Đấy là những người có đầu óc cảnh giác, lo xa, nhưng với CS thì phải nhớ điều này : Đình chiến là giai đoạn nỗ lực, đẩy mạnh, xúc tiến cho chiến tranh cao nhất.
Nghe bác Tiến nói tới đây, đúng vào một mối đang băn khoăn trong lòng tôi, cho nên tôi tỏ thái độ muốn nói. Bác hiểu ý, nên nhìn cả 3 chúng tôi, hòa nhã:
– Bác cháu mình gặp nhau là để đổi trao bổ sung, những kinh nghiệm và hiểu biết, cho nên các cháu phải nói, phải hỏi, phải đặt vấn đề.
Tôi cầm tờ báo, nhìn Quốc Anh, Lê Phiến rồi nhìn bác Tiến, mở trang 3, chỉ vào mấy tấm hình đoàn viên:
– Bác ơi! Cháu nhìn tấm hình từ hôm qua, cháu cứ thấy một cái gì nó hơi không bình thường. Hiệp định Paris vừa ký, mà CS vẫn tuyển quân, rồi cháu lại vừa nghe bác lý luận về hiệp nghị hòa bình. Từ chỗ băn khoăn lạ lùng, dần dần đến lo lắng bác ạ. Qua lời bác nói, cháu cứ hình dung ở miền Nam, cuộc chiến vừa qua đã tạo thành những khu vực, bản làng xen kẽ giữa 2 bên. Hầu hết bên phiá VNCH từ trên xuống dưới, hành chính cũng như quân sự; dù người có lòng cảnh giác cao nhất thì cũng phải nghỉ ngơi 1 tuần, mươi ngày, sau một cuộc chiến dằng dai hơn 15 năm. Nhưng với CS chúng chủ động ký bản hiệp nghị này, chúng đã chuẩn bị hàng nhiều tháng, nếu không nói là hàng năm. Cứ nhìn cái đám tù Biệt Kích gián điệp, chúng đã chuẩn bị hàng năm trước, trước khi ký.
Các lãnh vực khác, nhất là quân sự, có những sự việc do những ngăn chận đối đầu của VNCH và của Mỹ, chúng không thể chuyển hàng (vũ khí) chuyển quân theo yêu cầu, theo ý muốn của chúng. Giờ đây là một giai đoạn, một thuở ngàn năm. Về quân sự: Sư đoàn này, binh đoàn kia, vũ khí lương thực… Chúng cho lệnh bên Paris kéo dài, giằng co điểm này, ý kia v.v… Khi tất cả các nơi, các chỗ tiếp ranh, các binh đội, súng ống, xe cộ chuẩn bị xong chờ sẵn, bấy giờ CS mới cho lệnh bên Paris ký.
Lúc đó là hàng sư đoàn, hàng trăm xe cộ ào ạt tiến. Trong khi các nơi, các quân binh chủng của VNCH, cũng đang chờ giờ ký, giờ hiệp nghị Paris có hiệu nghiệm. VNCH chuẩn bị chờ ký để làm gì? Tiệc đã nấu sẵn; hoa, pháo và cả súng (bắn chào mừng) nữa đã sẵn sàng. Khi giờ G đến, họ đều nhẩy lên, hoan hô, reo hò, mừng rỡ, cắm hoa đầu súng, thì cũng là lúc phía bên CS ngược lại. Để rồi… sẽ mang hận…. ngàn đời.
Chính tôi một buổi khác đã nói trước bác Tiến và Trần Nhu (tù miền Bắc, hiện đang ở Wichita KS): “Có thể vì hiệp nghị Paris này, miền Nam sẽ mất!” Tôi không nói theo ngẫu hứng, mà phải dựa trên những cơ sở cụ thể”.
Sáng hôm nay, cũng như mọi buổi sáng, sân đầy tù đang chờ cán bộ gọi xuất trại, bỗng có tiếng nói trẻ và rất trong:
– Bác Thiệu ơi! Chúng cháu mong bác ra Hà-Nội lắm!
Mấy tiếng cười rộ lên của mấy cậu choai choai phía bên 4 toán hình sự, nhiều người tù chính trị, cả mấy tên cán bộ đứng gần đấy, đều quay ngoắt sang đám tù hình sự. Nhưng rồi lại chìm vào cái im lặng, với những nét mặt trầm ngâm. Có lẽ còn rơi rớt cái dư âm, của cái hiệp định Paris vừa ký chăng? Một luồng liên tưởng đã xông vào giòng suy tư của tôi: “Bác Thiệu”! Nghe thật lạ! Có thể trong cái khuôn thước bác Hồ ở miền Bắc, mà lũ trẻ đã bị ấn, nhét vào đầu từ khi còn ấu thơ? Bây giờ chán chường, ghê sợ, kinh tởm bác này, thì tìm một cứu cánh là một bác khác, ở miền Nam? Trong những cái đầu còn nhiều mầu hồng, mầu xanh của các em, chỉ biết nhìn lên mây trời rồi gọi đại; chứ bác Thiệu làm sao xứng! Có chăng là cụ Diệm, một người ít ra có khí phách cương cường, có lòng tự trọng dân tộc. Thà chịu chết nhất định không thể chấp nhận, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm. Một người có ý chí, đứng thẳng bằng chính đôi chân của mình, dù rằng cụ cũng còn một số điểm, phải sửa đổi.
Trời đã bắt đầu vào Thu, tiếng ve sầu nỉ non ở những đám cây rừng, chung quanh trại đã thưa dần. Cái mầu vàng ươm ươm của trời Thu làm cho cảnh vật sạm lại, như chiếc đỉnh đồng hoen rỉ. Dăm chiếc lá vàng rời cành sớm, la đà, chao đảo, lửng lơ như nhõng nhẽo với nàng Thu, cả một năm mới mò về. Một buổi trưa tôi đang thơ thẩn một mình ở hội trường để chào đón cô Thu đã trở lại; để hít thở cái hơi nồng nàn của nàng Thu đã đến thì.
Những tiếng xôn xao ở phiá cổng của F3, đã kéo tôi về trại tù K3. Đã từ hơn một tháng nay, thường buổi trưa có các em phía bên tù hình sự, kéo sang phía cổng khu F3, để xin cơm và những thức ăn thừa. Tuy chẳng có đâu mà thừa. Có thể các anh, các bác khu F3 do tình thương yêu, lá rách ít, đùm bọc lá rách nhiều, nên đã cố dành lại ít cơm canh, có thể được để chia xẻ với các em bên đó.
Chính tôi và Chăn cũng có một buổi trưa mang cho một em ghẻ, lở, lại què chân, và một em cụt tay, hai suất cơm không, như một sự cảm thông nỗi bất hạnh của nhau.
Đặc biệt trưa nay có đến hơn một chục em, có cả một vài người lớn tù hình sự đứng phía ngoài cổng F3, thò những bàn tay gầy, khẳng khiu ghẻ lở vào xin ăn. Cũng hơn chục anh Biệt Kích, người thì bát cơm, bát rau; người thì vài miếng thịt với tí nước, miếng bánh mì chưa ăn hết, khúc xương heo còn chút thịt gân chưa gặm, đều đưa ra cho các bạn tù hình sự. Các em và các anh tù hình sự đã tranh giành nhau, cãi nhau như mổ bò, để rồi tên cán bộ trực trại phải đến quát tháo, đuổi đi. Tự nhiên một anh hình sự, đứng ở giữa sân gào lên:
– Sao các ông nói, bọn Biệt Kích gián điệp là ác ôn, hay ăn gan, uống máu đồng bào, mà bây giờ các ông lại cho họ ăn thịt cá ngon thế? Còn chúng tôi là con đẻ, của nhân dân thì khổ thế này?….
Tiếng gào của anh tù hình sự, làm cho chúng tôi và cả tên trực trại ớ ra… ngỡ ngàng. Tên trực trại sạm mặt lại mấy giây, rồi y quay ra phía tên hình sự quát rổn rảng:
– Họ, bây giờ khác; rồi đây đảng còn cho họ ăn không hết, đổ đi nữa đó. Các anh cũng không được phân bì!
Thấy những chuyện khó nghe, khó nhìn, tôi kéo tay Hính và Chăn đi vào buồng. Buổi tối hôm ấy, sau khi cán bộ trực vào buồng điểm xong bước ra, anh Nguyễn văn Tâm kỹ thuật tổ may, đứng giữa buồng nói to:
– Tôi được lệnh của cán bộ, xin các anh vui lòng lần lượt đến tôi để đo, sau này cắt may quần áo!
Cả buồng xôn xao suy đoán, là sắp được trao trả rồi. Nhất là, từ ít tuần nay, ra đường chúng tôi được gặp cán bộ trại, nam cũng như nữ cho đến cả anh Đại y tá, thái độ tình cảm, niềm nở khác thường. Thậm chí bà Hoàng cán bộ y tế của trại, khi bất ngờ gặp tôi trước khu ban giám thị, đã cong cớn chì chiết:
– Về miền Nam, thì đừng quên miền Bắc nhé!
Tôi chỉ cười, mà không nói gì; tôi hiểu chuyện đời không đơn giản như 2 + 2 = 4.
Nhưng nhìn lại mọi vấn đề, từ hiện tượng, đến thái độ lời nói của cán bộ của Bộ, của trại kể cả giám thị trưởng là ông Nguyễn Thành Cửu cũng thế. Một hôm tôi ở ngoài lán mộc, ông ghé qua xem cái giường đôi, tôi và Chăn đang làm dở. Trong một câu chuyện vui ông vồn vã nói:
– Sau này, anh còn làm gì đến cái nghề này nữa?
Tôi coi như ông ta nói đùa nên trả lời:
– Thưa ông, đây là nghề kiếm cơm của tôi, Đảng và nhà nước đã giáo dục dậy cho tôi cái nghề này, làm sao tôi bỏ được! Tóm lại với cái nhìn và cái hiểu của tôi, từ cán bộ Bộ, cán bộ trại họ đều đinh ninh, tin tưởng là số Biệt Kích gián điệp này, sẽ được trở về với gia đình ở trong Nam. Đến ngay bản thân chúng tôi, hầu như ai cũng nghĩ như thế (Họ làm sao hiểu được chủ trương, thâm mưu của bộ chính trị?). Riêng tôi, nhiều đêm ngày nghĩ suy, qua sách vở, qua phim ảnh kết hợp với kiến thức của mình. Rất nhiều sự việc trong thế chiến I và II, chuyện cổ, chuyện kim cho tôi hiểu đừng thấy đỏ mà kết luận là đã chín. Ông bà mình vẫn thường ca thán: Leo cây đã đến buồng rồi, mà vẫn không được ăn v.v…
Có những chuyến tàu trao trả tù binh; ra tới giữa biển thì nổ tan tành, chìm mất tiêu cả người áp tải, đến tù binh. Vậy phải thận trọng tối đa, với điều kiện có thể. Suy nghĩ như vậy, một buổi tối cuối tuần, tôi đã gọi Nông văn Hính và Lầu Chí Chăn; những hạt nhân đã được tôi luyện, thử thách. Sau khi tôi đưa ra ý kiến, và trình bày chung quanh sự việc; các anh đều thấy cái nguy hiểm: Có khi ở tù mãi không sao, nhưng phút cuối cùng tưởng chim đã xổ lồng, sẽ thực hiện những mộng đẹp, đã xây từ bao ngày tháng trước đây, lại trở thành Zêrô vào gió bụi.
Nghe tôi đưa ra sự việc như vậy Chăn và Hính đều có nét tư lự, suy tư. Thấy vậy, tôi cười kể cho Hính và Chăn nghe một sự việc người thật, việc thật như sau:
– Quá lâu ngày tôi không còn nhớ rõ do ai và bao giờ, nhưng có một anh ở trong tù bị bắt về tội vượt tuyến kể lại. A! Tôi nhớ ra rồi, anh ta là Nguyễn Chí Sơn, tình báo đặc công cấp huyện, tập kết từ trong Nam ra Bắc của CS. Năm 1964 anh ta muốn vượt tuyến (qua giới tuyến 17) vào miền Nam. Sau nhiều những chuẩn bị, luồn lọt, lắt léo, công phu, anh mò vào đến bờ sông Bến Hải.
Cái đêm hôm ấy, ra tới bờ sông, anh nhìn giòng nước lững lờ chảy ra phía cầu Hiền Lương, tâm hồn anh thanh thoát lâng lâng, với bao nhiêu mộng đẹp ngày mai. Anh nghĩ, biết bao nhiêu gian nan, khổ cực anh đã trải qua, chỉ còn một giòng sông này nữa và anh đã trườn nhẹ xuống nước, để bơi sang kia bờ.
Khi tới bờ bên kia, tuy mệt, nhưng sự sung sướng đã làm anh, quên cả mệt. Để thưởng nhận cái phút linh thiêng ban đầu của tự do, anh đã giang tay nằm xấp, ôm lấy mảnh đất tự do, qúy yêu của miền Nam. Ở giữa đám cây rừng, miệng anh gào to cho thỏa, cái sướng vui trong lòng:
– Ôi! Tự do đây rồi! Ta đã được tự do rồi!
Ngay lúc đó, hai tên CA thường phục, bẻ giật hai tay anh ra sau lưng khóa lại. Chỉ vì giòng Bến Hải, chỗ đó có một giòng nhánh, mà theo vĩ tuyến 17 thì nó vẫn còn thuộc bờ Bắc khu phi quân sự.
Trong niềm hưng phấn, lẫn lộn nỗi ưu lo, tôi hay thơ thẩn một mình ra những chỗ vắng vẻ trầm ngâm suy tư. Tình cờ tối hôm qua ở ngoài hội trường, nhìn thấy anh Tarzan dễ mến. Người thợ máy trên con thuyền định mệnh đã đưa tôi ra Bắc năm 1962, mừng rỡ, tình thâm tôi bắt tay anh mà giữ mãi chẳng muốn rời. Thấy anh đang chuyện trò với một người nữa, tôi chỉ mỉm cười, anh Tarzan (Nguyễn Phương) vẫn cầm tay tôi, hất hàm về người đó:
– Đây là anh Hưng 10 năm xưa, cũng là thủy thủ đưa anh đi chuyến đó!
Tôi mừng rỡ ra mặt, cũng bắt tay, nhưng không thể nhận ra anh; làm sao mà nhớ được! Nhân dịp này tôi tíu tít hỏi hai anh về chuyến đi, bị bắt của các anh; đồng thời tôi mong muốn được gặp lại bác thuyền trưởng già ngày ấy. Anh Hưng rối rít chạy vào buồng, rồi cùng ra với 2, 3 người nữa, anh Hưng chỉ một bác đã có tuổi nói nhè nhẹ:
– Đây là bác Vy Tiến An thuyền trưởng!
Câu chuyện hàn huyên rôm rả, nhưng cũng có nhiều tiếng thở dài. Nhóm thủy thủ do bác Vy tiến An làm thuyền trưởng, gồm 11 người bị bắt ở ngay bên ngoài cửa sông Gianh, ngày 28/ 6/ 1962. Như thế chỉ đúng một tháng sau (ngày tôi ra Bắc 28/5/1962), các anh đã bị bắt rồi ở một chuyến khác. Thương các anh, các bác và, tôi cũng thương tôi nữa. Cho đến nay (tháng 3-2004) tôi được biết 11 người Hải thuyền đó:
Vy Tiến An. Thuyền trưởng chết ở trại tù Thanh Phong Thanh Hóa 1981.
Hoàng Bài, Thủy thủ hiện ở California.
Hoàng Cung, Thủy thủ hiện ở California.
Nguyễn Hưng, Thủy thủ chết ở trại tù T52 Hà sơn Bình.
Nguyễn Phương (Tarzan) thợ máy, hiện ở Tortine Cali.
Ngay buổi tối, đến lượt tôi được đo giầy, đo quần áo, tôi tần mần cứ nhìn anh chàng Tâm đo chiều này, chiều kia. Đầu lại suy nghĩ về cái toán Người Nhái của anh, vụ án sông Gianh, tôi đã tường thuật ở tập 3 Thép Đen. Ra Bắc 26/ 6/ 1962. Vụ của anh có 4 người là:
Lê văn Thảo, chết ngay khi bấm nút mìn, nhầm từ 2 giờ thành 2 phút.
Nguyễn văn Tâm, Toán phó, hiện ở Cali.
Nguyễn văn Chuyên, Toán trưởng, không rõ.
Lê Văn Kinh, hiện ở Florida.
Khi Tâm đo gần xong, đột nhiên tôi hỏi:
– Anh có biết anh Chuyên sống chết ra sao không?
Anh chỉ nhìn tôi, như ngỡ ngàng rồi lắc đầu.
Trong đầu tôi lại loé lên một ý nghĩ: Không biết có liên quan gì, giữa chuyến của Lê Văn Kinh, toán Người Nhái (Frogman), và của bác thuyền trưởng Vy tiến An hay không? Tôi chưa có điều kiện hỏi.
Đã hơn một tuần rồi từ cái hôm Hính, Chăn và tôi bàn đến sự an nguy của chuyến tàu về Nam. Hôm nay, tôi có ý định gặp lại hai anh, thấy hai anh không có ý kiến gì; tôi đành phải thong thả trình bày:
– Vì sự sống còn của bản thân chúng ta, phải cần ít nhất 5, 7 người, tương đối bén nhậy tinh nhanh, phân công đều khắp những nơi cần thiết của con tầu, nâng cao cảnh giác tối đa: Mọi hiện tượng không bình thường, bất kỳ của thủy thủ đoàn, cũng như những thành phần của đối phương liên hệ. Tóm lại, không bỏ qua bất cứ một hiện tượng nào nghi ngờ, thái độ, ánh mắt của họ nhìn nhau v.v… Chúng ta đều ít nhiều có một chút chuyên môn, về mìn và chất nổ.
Hính và Chăn đều đưa ra ý kiến là phải có một người, chịu trách nhiệm điều hành, và đặt tên là gì? Tôi cũng lúng túng, xưa nay mình có quen kiểu đó đâu, nên nói đại: Hay là cứ tạm thời đặt là “Ủy ban hành động”. Lúc này chỉ cần 3 chúng ta, sau này diễn tiến tới đâu, mỗi người chúng ta đều nhắm, dự trù 2 người, như tiêu chuẩn đã nói. Khi gần cuối chúng ta mới báo, đưa họ vào ủy ban. Giữa 3 người (ý kiến 2 anh), tạm thời tôi làm tổ trưởng điều hành.
Buổi tối, khi sinh hoạt tổ, toán xong, Chăn ghé tai tôi:
– Anh Bình có muốn gặp mấy anh bộ đội miền Bắc, bây giờ là Biệt Kích không?
Tò mò, tôi nhận lời ngay, cuối cùng tôi đã gặp 3 anh:
1) Nguyễn Thế Hiên, Tiểu đội trưởng bộ đội Việt cộng.
2) Lò Khâm Thái, bộ đội VC.
3) Nguyễn Đình Linh, Đại đội trưởng bộ đội VC.
Ba anh này đều là bộ đội của CS, đóng quân ở Hòa Bình đã đào ngũ, trốn sang Lào rồi vào Sài Gòn. Sài Gòn đã tuyển mộ để huấn luyện tình báo, trở thành Biệt Kích. Ba anh đều đi bổ sung, cho một toán Biệt Kích đã hoạt động ở miền Bắc, các anh bị bắt ngày 9/ 9/ 1962.
Điều đáng đau lòng, với những tiếng thở dài cho tới nay, tôi được biết cả 3 anh đều đã sang bên kia thế giới. Riêng anh Nguyễn Thế Hiên, một lần đã cướp súng của một tên công an võ trang ở trại tù Thanh Phong Thanh Hóa, chạy vào rừng. Bị chúng truy đuổi theo và đã bị bắn chết đầu 1980. Giờ đây, tôi được biết 2 anh Thái và Linh cũng bị chết do cùm kẹp ở trại Thanh Phong. Tôi xin kính cẩn thắp nén hương lòng, cầu chúc cho linh hồn, các anh với lòng kính trọng, và biết ơn của tôi.
Đến đây, lòng tôi cũng nhiều day dứt không thể ghi nhớ được nhiều sự việc một cách rõ ràng. Nguyên nhân chính từ dạo đó (1972), tôi có nghĩ đâu sẽ có một ngày, được ngồi viết lại chi tiết những sự việc đã trông thấy, đã trải qua?
Buổi sáng ngày 20- 11-1972, khi F3 tập họp để đi làm như mọi ngày, tên trực trại đọc 3 tên ở lại trại:
Lưu Nghĩa Lương.
Lê Văn Bưởi.
Đặng Chí Bình.
Cả 3 chúng tôi đều nghĩ, lại sẽ lên gặp cán bộ của bộ. Sau khi F3 đã xuất trại gần 1 giờ, tên trực trại lại vào F3, y chỉ tay vào chúng tôi, cao giọng rõ ràng:
– Hai anh hãy chuẩn bị tất cả công tư trang của 2 anh, 15 phút nữa ra chờ phía cổng F3.
Chúng tôi nhớn nhác, vừa buộc gói chăn màn xong thì một tên cán bộ đi vào; thì ra là tên Bùi Huy Tập, cán bộ giáo dục của trại; chúng tôi đã nhẵn mặt. Hôm nay y rất lạnh lùng:
– Các anh ôm chăn chiếu theo tôi!
Tôi quay lại nhìn anh Bưởi, vừa như chào, vừa ngỡ ngàng không biết thế nào? Khi chúng tôi ra tới cổng trại, có một tên công an võ trang từ cổng tách ra, đi sau chúng tôi. Tên Tập đi trước rẽ về phía đường ra trại 1 (Dù đi tỉnh nào, cũng phải đi ra trại 1 rồi qua phố Lu).
Loay hoay hơn 3 cây số đường rừng, dù trời đã vào chớm Đông mà tôi và Lương cũng toát mồ hôi, vì đi bộ và ôm, vác. Nhưng cái làm chúng tôi mệt hơn cả là lòng hoang mang, không biết chúng đưa chúng tôi đi đâu, rời chỗ đang ăn uống no nê bồi dưỡng v.v…?
Khi tới cổng trại 1, tên Tập ra hiệu tay cho hai chúng tôi đi vào. Lại một bất ngờ nữa, có trời mới hiểu, chúng định làm gì? Rồi y chỉ tay tiếp, rẽ vào ngôi lán ở sát cổng. Đây là toán lâm sản, của những người tù chính trị địa phương. Nghĩa là chúng tôi lại trở về tù, như mọi khi, ăn chế độ 12 đồng. Phần vì mệt, nhưng cái chính là nỗi buồn hoang mang. Đời lại rơi xuống hố đen thẳm, như trước đây; vì thế cả Lương và tôi đều vất chăn màn vào chỗ chỉ định rồi nằm vật ra, im lìm như ngủ. Đến bữa, mấy anh toán lâm sản giục đem bát ra chia cơm, cả Lương và tôi chẳng còn thiết ăn uống gì, nên đều nói:
– Xin mời các anh chia cả cho toàn mâm, hôm nay chúng tôi không ăn!
Nằm im như ngủ, nhưng lòng tôi đang nghĩ lại trong đó, K3 đang ríu rít anh em ăn uống thịt cá, còn chúng tôi thì hết rồi! Nhìn sang Lương nằm bên cạnh, tôi đoán chắc Lương cũng chẳng hơn gì tôi.
Khoảng 2 giờ chiều, lại thấy anh Lê văn Bưỏi, mặt cũng dài và nhăn như cái giẻ, ôm chăn chiếu bước vào. Thủ đoạn gớm thật, một chút cũng thủ đoạn, chỉ có một con đường ngắn, từ K3 đến K1 hơn 3 cây số, ba chúng tôi chúng phải đưa làm 2 lần.
Tôi tin rằng tất cả các anh em Biệt Kích, ở F1, F2, F3 không một ai biết là ba chúng tôi, đang ở ngay K1 này. Đúng như thế, cụ thể mới đây trong một lần, tôi đi Cali để tìm tòi lại những dữ kiện, chuẩn bị viết cuốn Thép Đen 4, là cuốn cuối cùng cho xong món nợ nhỏ nữa, với quê hương.
Một bữa có 7 người ngồi ở phòng khách của nhà anh Hồ văn Sinh, trong đó có 5 người là Biệt Kích, có cả bác Hà văn Chấp, toán trưởng của toán Biệt Kích đầu tiên ra miền Bắc. Trong tù chúng tôi đều gọi là bác, năm nay bác đã 85 tuổi.
Tên toán của bác là CASTER (Mỹ là CASTOR), gồm 4 người ra Bắc ngày 27- 5-1961, do Nguyễn Cao Kỳ lái, địa bàn hoạt động thuộc Sơn La, Lai Châu.
Hà văn Chấp Toán trưởng, hiện nay ở Cali.
Đinh văn Anh, truyền tin trưởng, hiện nay ở Cali.
Lò văn Piếng, truyền tin phó. Tôi nghe loáng thoáng đổi hay ghép người, phái đoàn Mỹ phỏng vấn, anh bị từ chối, nên vẫn còn ở VN.
Quách Thức, hiện nay nghe nói đã chết ở VN.
Đúng một tháng sau, chuyến bay C47 (Cò trắng) do Phan Thanh Vân lái ra để tiếp tế ngày 2/7/1961, bị hạ ở Cồn Thoi, Ninh Bình. Tôi đã tường thuật ở Thép Đen III. (Hiện nay, tôi có bản viết như hồi ký” Người về từ cõi chết”. Ký tên” Cò trắng Phan Thanh Vân”. Nếu không có gì trở ngại, tôi sẽ in nó vào phần cuối tập này).
Trở lại ngôi nhà anh Hồ văn Sinh, tôi nhớ hôm đó là 16-11-2003. Có 7 người gặp nhau họp mặt, 5 Biệt Kích là.
Hà văn Chấp. (Đã nói ở trên)
Đinh văn Anh. (Đã nói ở trên)
Lưu Nghĩa Lương. Đã nói về Lương trong tập 2 Thép Đen.
Đặng Chí Bình.
Phạm Ngọc Ninh.
Trong toán Hadley, 11 người do Lê Văn Ngung làm toán trưởng, bị bắt 26-1-1967. Còn hai người không phải Biệt Kích là anh Phan Nhật Nam và anh Nguyễn Chí Thiện.
Trong một câu chuyện, đề cập đến buổi VC gọi đưa anh Bưởi, tôi và Lương đi, anh chàng Ninh phát biểu, như khẳng định.
– Khi đó và ngay cả bây giờ chúng tôi cứ nghĩ, nó (CS) đưa các anh ra để tha trước!
Anh Bưởi thì chết ở NY rồi. Tôi và Lương ngồi đấy, đều cười và nói:
– Nó chuyển ra ngay K1 rồi đưa sang trại Phong Quang.
Nhưng Phạm Ngọc Ninh vẫn cho là chúng tôi nói đùa chứ anh tin là CS đã tha chúng tôi rồi. Dù chuyện của 3 người, mà 2 người ngồi đấy là hai chúng tôi đều khẳng định, VC đưa chúng tôi vào tù trở lại. Ninh vẫn cứ tưởng chúng tôi nói vui đùa. Thấy vậy, tôi nghiêm mặt hỏi Ninh:
– Em nghe ai nói thế? Khi đó em đang ở trong F1, F2 mà. (vì Ninh nhỏ hơn tôi hàng chục tuổi, nên tôi vẫn gọi thế từ khi biết nhau).
Ninh thẳng thắn trả lời ngay:
– Khi họ đưa các anh đi tha, F3 ai cũng biết, kháo nhau ầm lên, hai ngày sau tin đó mới vào F1, F2 chúng em!
Tôi trình bày chi tiết một sự việc để thấy rõ cái thủ đoạn lắt léo, lừa lọc của CS. Sự việc của 3 người, mà 2 người còn sống ngồi ngay đấy, Ninh còn không tin. Nếu 1 hoặc cả 2 chúng tôi đều chết, thì ai mà thanh minh? Ngay buổi tối, khi ở nhà anh Sinh về Lưu Nghĩa Lương, đã hỏi thẳng tôi:
– Em vẫn chưa hiểu hoàn toàn, CS lắt léo vụ 3 anh em mình ở K3 ngày ấy, thì họ có lợi gì?
Tôi nhìn Lương bằng đôi mắt nheo nheo như cười; như muốn nói với Lương: Tôi biết Lương cũng hiểu nhưng, muốn thử xem trí của tôi, còn xài tạm được hay không mà thôi; hay đã lú lẫn, lẩn thẩn rồi; dù thế tôi cũng nói:
– Do anh em mình mỗi người đều phải mưu sinh; không có điều kiện chuyên trách ngồi nghiên cứu, đào sâu, xét kỹ những thủ đoạn lắt léo, lừa lọc của CS, cho nên chúng ta khó thể quán triệt. Tuy thế trong trường hợp này, anh cũng thấy CS có 3 điểm lợi chính:
1/ Bọn Biệt Kích gián điệp này chúng không muốn trả về miền Nam. Như một con nợ không muốn trả, mà người đòi lại lịch sự, hòa nhã, tư cách kiểu salon, bàn giấy thì chúng giấu bớt đi. Trước hết là những thành phần đi lẻ, không là một tập thể như một toán Biệt Kích, có sự ràng buộc liên đới với nhau. Chúng có muôn ngàn lý do nói về những cá nhân này: Anh ta đã chết bịnh ở một trại nào đó, năm nào đó. Ở trại X, anh ta đã trốn vào rừng, nghe đâu đã chết rồi v.v…
2/ Đây là những anh đã thực sự cải tạo tốt nhất; đã tố cáo mọi sai trái, để giúp đỡ những người chung quanh tiến bộ, vì thế Đảng và nhà nước đã tha, cho các anh ấy về với gia đình trước v.v… Niềm khích lệ, niềm cổ vũ cho những ai còn mơ hồ.
3/ Trong đám Biệt Kích còn lại, có những người sâu sắc suy đoán: Có thể chúng đem 3 người đi vào rừng thủ tiêu; chứng cớ chúng đưa đi 2 đợt, dù chỉ có 3 người. Gây ra những áp lực ngầm lo sợ cho bản thân mỗi người, hãy ngoan ngoãn yên lành, chịu đựng như thế.
Nói về cái thủ đoạn lọc lừa của CS thì nói mãi cũng không cùng. Tôi nhớ lại một sự việc ở Hội Nghị Genève 20-7-1954. CS đã làm cho thế giới, trắng mắt ra mà nhìn. Hội Nghị Genève có Ủy hội Quốc Tế 3 nước, một nước trung lập là Ấn Độ làm Chủ Tịch, còn 2 nước ở 2 phe: CS có Ba Lan, tự do có Canada.
Uỷ hội QT này có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, xem xét 2 phía, thực thi những điều khoản của hội nghị. Riêng điều khoản, dân chúng 2 miền Nam Bắc vĩ tuyến 17 được toàn quyền, ở lại hay sang phía bên kia sống, tùy theo ý muốn.
Đối với dân chúng miền Bắc thì Ủy hội và thế giới khỏi lo: Vì chính phủ VC đã tuyên bố rõ ràng : Chính quyền của chúng tôi từ dân mà ra, cho nên mục tiêu là phục vụ người dân. Nếu dân muốn, không những chúng tôi làm theo mà còn tạo mọi điều kiện thuận tiện dễ dàng, cho họ làm theo ý muốn.
Đến giai đoạn các điều khoản bắt đầu có hiệu nghiệm thực thi. Trong hội nghị, những buổi liên hoan tiệc tùng, họp hành CS cũng đã tuyên bố rõ, nhất là với phái đoàn Canada: Trên miền Bắc các ông có toàn quyền đi bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm để thăm hỏi dân chúng, có muốn di cư vào miền Nam.
Nhưng xin các ông cũng thông cảm cho chúng tôi. Mới tiếp nhận, chúng tôi chưa đủ khả năng kiểm soát được hết.
Chiến tranh vừa xong, súng ống, đạn dược đây đó còn nhiều, chúng tôi chưa thể quán thấu. Do đấy, nếu các ông muốn đi đến vùng nào, huyện nào xin các ông cho chúng tôi biết nơi và thời gian chính xác, chúng tôi có trách nhiệm giữ an toàn bảo vệ cho các ông. Các ông không còn lạ gì nữa, dân chúng mà mình chưa kiểm soát được, do những căm thù riêng rẽ cá nhân. Họ dùng súng chỗ nào đó “đoàng” một phát thì nguy hiểm, chúng tôi cũng có phần trách nhiệm v.v…
Mấy ông tư bản của chúng ta, cũng hiểu CS có nhiều độc hiểm. Mình đi làm đây lương năm, lương tháng lo cho vợ, cho con, cho bố, cho mẹ v.v… Xông xáo, xục xạo lắm, chẳng giải quyết được cái gì, nhỡ không may thì khổ vợ, khổ con v.v… Vậy để an toàn cứ nên làm theo họ (CS). Vậy bạn đến một vùng nào đó, thậm chí một xứ đạo nào đó, để thăm dò dân chúng. Bạn cứ yên trí là sẽ có những cuộc biểu tình phản đối, nếu không là cà chua, trứng thối đón tiếp bạn.
Với những lời lẽ hợp lý, chính danh:
– Các ông mơ hồ quá, nước chúng tôi đã độc lập tự do, bao nhiêu xương máu mới giành được lại muốn chúng tôi đi đâu v.v…
Tóm lại điều khoả đó của hiệp nghị đã vô hiệu hóa với CS.
Xin trở lại trại trung ương số 1 phố Lu, Lào Cai.
Giai đoạn này chúng tôi tất cả gồm 3 người tâm trạng chán chường, lo âu, trước mắt lại ăn đói, lại lầm than khổ cực.. Vì thế ngay khu A chính trị, cách cái sân trại phía hàng rào bên kia, chúng tôi cũng chả cần biết, còn các anh em tù chính trị miền Bắc nữa hay không?
Chừng hơn một tháng sau, gần Tết âm lịch, chúng tôi cũng tưởng sẽ ăn Tết ở K1. Chắc giai đoạn này, diễn tiến ở bàn hiệp nghị Paris, chúng đã thấy có chiều hướng chắc chắn, giấu bớt tù được. (Điều đương nhiên, chúng liên lạc chặt chẽ, thường xuyên giữa phái đoàn CS ở Paris với trong nước)
Một buổi sáng, vừa ăn sáng xong chúng tôi đang chờ kẻng tập họp để đi lao động như mọi khi, thì tên cán bộ Ý trực trại, hộc tốc từ ngoài cổng khu A đi vào buồng số 2. Đến cửa, hắn vẫy tay gọi anh Tiềm- toán trưởng toán 2- tới, rồi y rút trong người ra một cuốn sổ, dõng dạc:
– Những anh có tên sau đây, mang hết công tư trang theo tôi: Trần Quốc Quang, Trương Nàm Tráng, Lầu Chí Chăn, Lý Giòng Slau, Đặng Chí Bình, Lê Văn Bưởi.
Thật là bất ngờ, tôi hấp tấp, tíu tít thu dọn chăn màn, quần áo. Một số anh em còn ngoài sân, chạy xô vào buồng. Trước mặt tên Ý, tôi không nói từ giã được với bất cứ ai, kể cả anh Tiềm toán trưởng, đứng ngay đấy. Khi đi theo tên Ý ra sân, tôi chỉ kịp nhìn khắp một lượt anh em như chào giã biệt. Ngay lúc tôi lúi húi vơ xếp chăn mền, trong đầu thoáng nghĩ: mới sáng sớm, không biết họ chuyển chúng tôi đi trại nào, thuộc tỉnh nào….?
Vừa ra khỏi cổng khu, nhìn ra sân trại tôi đã nhìn thấy một dẫy tù chừng 7- 8 chục người. Họ xếp hàng đôi ôm đồm chăn màn, hòm xiểng như chúng tôi, ngay sát phía cổng trại. Mấy cán bộ lạ cùng mấy cán bộ trại I đi lại lăng xăng. Đặc biệt, tôi nhìn thoáng thấy ông Toán chánh giám thị ở phía trong cổng trại. Tên Ý dẫn 6 chúng tôi đến phía cuối của dẫy tù đó, cao giọng:
– Các anh xếp hàng đôi nối theo đây!
Tôi cũng đã nhìn thấy Lưu NghĩaLương, anh Tarzan và một số anh thủy thủ, tôi đã gặp mấy ngày trước ở toán 3. Như vậy họ là tù Biệt Kích ở trại QT chuyển về khu nhà xây trước đây, nhà số 1. Tôi hỏi mấy anh ở hàng cuối xem họ có biết sẽ chuyển đi trại nào không, nhưng họ đều ngơ ngác không biết như chúng tôi. Đoàn tù 73 Biệt Kích của trại Quyết Tiến và 6 chúng tôi ở trại I gồm 79 Biệt Kích. Đi áp tải có 4 công an võ trang, một tên cán bộ lạ, Bùi Huy Tập cán bộ giáo dục và tên Cao Văn Thục huấn luyện viên võ thuật của cán bộ trại I. Tên Tập đi đầu dẫn đoàn tù đi về phía trái, như thế là đoàn tù đi bộ. Tên Thục đi gần chúng tôi nhìn Chăn và Slau (Người Nhái) y nói như đùa:
– Trông đoàn đi cứ như là “Lính thủy đánh bộ” ấy!
Y nói rồi cười, nhưng chả có ai hưởng ứng, có lẽ vì mệt phải ôm, vác. Khi nãy, tôi đã hỏi lão Tập, chúng tôi chuyển đi đâu? Nhưng y đã lạnh lùng, cộc lốc:
– Cứ đi sẽ biết!
Thấy tên Thục có vẻ vui, tôi hỏi ngay:
– Thưa cán bộ, chúng tôi được chuyển về đâu mà đi bộ thế này?
Y nói cũng cộc lốc:
– K3.
Đi chừng hơn 2 cây số, thấy mọi người mang vác mỏi mệt, nên cán bộ cho nghỉ 10 phút. Giữa 2 bên là triền rừng khuất gió nên thật là oi ả, dù mới cuối tháng 3 sắp bắt đầu vào Hè. Thấy một anh Quyết Tiến cứ nhìn tôi như thiện cảm, tôi cười làm quen: Được biết anh là Nông Văn Hính, dân tộc Tầy, án của anh chung thân (hiện nay ở Cali), thuộc toán SWAN gồm 6 người:
1. Nông Công Định toán trưởng, chiến đấu, chết trận, ngay ngày đầu đổ bộ.
2. Đàm Văn Ngô phụ tá truyền tin, còn ở VN.
3. Đàm Văn Tôn (Tầy) tử trận ngay hôm đổ bộ.
4. Lý A Nhì toán viên, hiện ở Texas Mỹ.
5. Nguyễn Văn Ban Tử hình, trong một vụ vượt ngục.
Toán Swan hầu hết là người dân tộc Tầy. Ra Bắc ngày 4 tháng 9-1963. Địa bàn hoạt động thuộc Bắc Cạn. Lại nhìn thấy một anh ngồi cạnh đấy, mặt mũi trắng trẻo, nhưng có nét trầm ngâm, tôi nhìn anh rồi cười như chào; không ngờ anh lại vồn vã nói chuyện. Được biết anh là Nguyễn Phước trong toán Buffalo, nhẩy ở Quảng Bình ngày 9/6/1964.
Toán anh gồm 9 người, hiện nay ở đây chỉ có anh, rồi liếc mắt chỉ tay một người, đang đứng nói chuyện với tên cán bộ lạ, tên anh ta là Trương Bá Ngữ, cùng toán.
Sau này tôi được biết, những anh trong toán Buffalo gồm có:
1. Võ Khôn toán trưởng, được tha về chết (ở VN?)
2. Trương Bá Ngữ (hiện ở California)
3. Lê Chất (không rõ) từ 12/72.
4. Nguyễn Hóa Đều (chết ở trại Quyết Tiến cổng trời do bị cùm)
5. Nguyễn Khôi (chết trong nhà kỷ luật)
6. Nguyễn Huy (không rõ) từ 12/72
7. Nguyễn Phước (không rõ) từ 12/72
8. Lê Trang (không rõ) từ 12/72
9. Trần Hiệu (không rõ) từ 12/72
Tuy buổi đầu gặp anh, nhưng tôi đã thấy thái độ của anh, toát ra là không ưa Trương Bá Ngữ, cùng một toán Buffalo với anh. Gần trưa thì đoàn tù đến phân trại K3, một cái trại vừa phải (xấp xỉ phân trại E), chung quanh là 2 lượt nứa cả cây, chôn dựng đứng làm hàng rào của trại. Bên trong có 6, 7 ngôi lán dài cũng bằng tre, nứa và gỗ như nhà chúng tôi đã ở ngoài trại xây.
Sau khi vào trại, vào buồng, chúng tôi mới biết: trại chia làm hai khu, chính trị và hình sự. Khu chính trị lại chia làm 3 là F1, F2, và F3. Chúng tôi được dồn vào một cái nhà gọi là F3, gồm gần 100 người. Mấy ngày sau F3 được chia làm 2 đội. Đội mộc hơn 3 chục người trong đó có Lê Văn Bưởi, Lầu Chí Chăn và tôi, do Trương Bá Ngữ làm đội trưởng. Tên Dương Đình Thắng, là cán bộ ở Quyết Tiến về phụ trách. Còn lại gần 6 chục người là đội xẻ, may và công việc linh tinh. Woòng A Cầu là đội trưởng, Nguyễn Xuân Sang đội phó.
Phân trại K3 trước đây chỉ dành cho hình sự, do tên đại úy Nguyễn Thành Cửu làm giám thị. Bây giờ có thêm tù chính trị, nhưng toàn là Biệt Kích, Gián Điệp, từ trong Nam ra Bắc hoạt động, bị bắt, vẫn do tên Cửu làm giám thị. Đội mộc hàng ngày ra lao động tại một cái lán con, trên dốc đồi cheo chéo phía trái, trước ban giám thị.
Có thể do những cảm nhận sẽ có nhiều chuyển biến của tình hình, nên khí thế lao động của toán mộc và xẻ ở K3 không còn nỗ lực, hăng say như trước đây nữa. Ngược lại, tên cán bộ Thắng ở QT về, lại tỏ ra rất nghiêm khắc trong sinh hoạt. Y người bé choắt, chỉ có cái lon trung sĩ, lúc nào mặt y cũng cau có; gần một tháng trời, tôi chưa hề nhìn thấy một nụ cười nào của y. Không biết y được chỉ thị thế nào, trước toàn buồng F3 gồm mộc, xẻ, may, y tuyên bố:
– Hai người nói chuyện với nhau mà không có người thứ ba nghe thấy, là phạm nội quy, sẽ bị kỷ luật!
Tối nào cũng sinh hoạt rồi đọc báo 1 giờ cho tới khuya. Không khí ngột ngạt ngày đêm ép đè, không ai dám ngồi tâm sự chuyện trò với ai. Một hôm tôi nghỉ bệnh, đang ngồi nói chuyện với hai anh Đoàn Phượng và Lò Văn Cươm cũng nghỉ ốm ở sàn dưới. Bỗng thoáng nhìn thấy máu chảy từng giọt xuống, từ sàn trên, chéo phía chân tôi ngồi chừng 2 mét. Tôi trèo vội lên, thấy Lưu Nghĩa Lương (hiện nay ở California) đang nằm sấp xuống sàn. Tôi vội vàng kéo tay Lương, hốt hoảng hỏi:
– Sao vậy em? Em làm sao vậy!
Cũng là lúc tôi đã nhìn thấy một vệt cắt dài ở tay Lương, trong khi đôi mắt Lương nhắm nghiền. Chạy vội ra phòng y tá, thấy có một người, tôi hổn hển nói ngay:
– Ở F3 có người tự tử!
Tên y tá theo tôi về F3, đã có 5, 6 người đang nhớn nhác trèo lên sàn trên ngấp ngó Lương. Sau khi tên y tá (sau này tôi biết tên y là Đại) trèo lên, y lại trèo xuống, rồi ra thẳng cơ quan chỗ giám thị. Mười phút sau, tên Đại y tá, một thượng sĩ lạ và tên Thắng vào trại, đến nhà F3. Phượng, Cươm và mọi người đã về chỗ nằm của mình. Tên Đại về buồng y tá mang đến cuộn băng, cái kéo và một lọ thuốc rồi cùng tên Thắng trèo lên sàn trên.
Tuy tôi vờ nhắm mắt nằm, nhưng cũng không thể nghe được chuyện gì trên sàn Lương. Chừng 15 phút sau, cả 3 tên đều đi ra về phía phòng y tá, như cái máy, tôi phóng lên, thấy Lương nằm đắp chăn, tôi đặt tay lên vai, khẽ hỏi:
– Em có sao không?
Lương mệt nhọc, chậm chạp trả lời tôi:
– Em không sao đâu!
Liếc nhìn phía phòng y tá thấy bọn chúng trở ra, tôi lẹ làng về chỗ nằm. Cả 3 tên lại tiến vào F3; đứng ở cửa, tên Đại nói đủ nghe trong buồng:
– Lệnh ông cán bộ, tất cả những người ốm bịnh đều ra sân tập họp.
Đoàn Phượng, Cươm tôi và 3 người nữa đều lục đục kéo ra sân. Tên Đại, cho đi gọi cả anh làm vệ sinh của trại; tất cả 7 người ngồi ở sân. Tên Thắng nghiêm mặt nói rõ ràng:
– Câu chuyện của anh Lương hôm nay, tuyệt đối khi trại về không được nói cho một ai biết. Nếu ai không kín miệng, sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Nói rồi y vẩy tay:
– Các anh về chỗ!
Vào buồng một lúc, thấy chúng đã ra khỏi cổng trại, tôi trèo vội lên, lật chăn Lương, nhưng Lương đã nhắm mắt im lìm như ngủ say. Trèo xuống chỗ nằm đã thấy các anh Cươm và Phượng đang loay hoay hút thuốc lào. Tôi cũng sà đến làm một điếu!
Trong cảnh sống ngột ngạt, nghiêm ngặt ấy, mỗi người đều tự hiểu, tốt nhất là hãy “đậy” cái miệng của mình lại. Bởi vì nhiều lần, ai cũng thấy, khi có một tin tức gì lộ ra; có một tên antenne báo với cán bộ giáo dục, là ai nói tin đó. Cán bộ sẽ gọi người ấy lên hỏi, truy, cuối cùng sẽ đến gốc là ai. Vậy, phải tự hiểu để khỏi hậu hoạ lôi thôi, cứ im lặng là vô lo. Tôi, Phượng và Cươm thăm hỏi nhau chuyện khác: ngồi 3 người rất hợp pháp. Hôm ấy, tôi được biết sơ về anh Lò Văn Cươm: Anh thuộc toán Dauphine gồm 5 người là các anh:
1. Triệu Trung, toán trưởng (tử hình);
2. Nông Đức Vũ truyền tin (tử hình);
3. Hoàng Tồn, toán phó (hiện ở Iowa);
4. Lò văn Cươm, toán viên (hiện ở VN);
5. Đèo Văn Bạch, toán viên (hiện ở MA).
Toán này ra Bắc ngày 4/6/1963 địa bàn hoạt động tại Hà Giang.
Còn về anh Đoàn Phượng thuộc toán TELLUS gồm 4 người là các anh:
1. Nguyễn Văn Ngô, toán trưởng (hiện ở San José);
2. Nguyễn Cuông, toán viên (ở Mỹ);
3. Đoàn Phượng, truyền tin trưởng (chết, vượt biên 1982);
4. Đỗ Văn Tương, toán viên (hiện ở Mỹ).
Toán này ra Bắc 7/6/1963 địa bàn hoạt động tại Ninh Bình.
Cho đến trưa và chiều hôm ấy các toán của trại đi lao động về, không một ai biết, hay bàn tán gì về chuyện Lưu Nghĩa Lương tự tử.
Lợi dụng trong lúc vào nhà cầu, tôi chỉ nói nhỏ với Lầu Chí Chăn biết và cũng phải dặn kỹ, không nói cho người thứ 2 biết. Đến cả tuần sau, trong trại coi như không hề có sự việc Lương tự tử. Những khi chưa ngủ, nằm miên man suy nghĩ, tôi phải rùng mình kinh sợ, cho cái uy lực nhiều chiều ngang dọc của CS o-ép con ngươi. Khoảng hơn 10 ngày, khi vào K3, tôi biết trong khu F1, F2 có hơn 50 Biệt Kích, từ trại trung ương số 2 Phong Quang, Yên Bái chuyển về K1 (Khu nhà xây số 3).
Rồi đã tách làm 2 khi chuyển vào K3 thành F1, F2 trước chúng tôi 3 ngày. Do đấy K3 có khoảng 150 Biệt Kích và chừng 350 hình sự lưu manh, tất cả trại trên 500 người.
Trong một cái trại hơn 500 người tù, như một cái xã hội thu nhỏ. Trước đây ở các trại giam khác, cuộc sống lao tù thật đơn điệu, ngoài những chuyện đục, cưa, bào, xẻ, tắm rửa, ăn uống con cá, lá rau. Mà cũng không có con cá lá rau mà bàn, cho nên khi có một chuyện gì đặc biệt một chút, cứ ghé tai truyền miệng nhau, trong một ngày là cả trại đều biết. Cái tâm lý khao khát, tò mò, muốn biết chuyện lạ trong một nơi cùng khổ, nó đòi hỏi ghê gớm lắm.
Thế mà cái chuyện tự tử của Lưu Nghĩa Lương, cắt tay máu chảy có dòng xuống sàn dưới, cứ im thin thít như thịt nấu đông. Càng suy nghĩ, càng thấy cái sức ép ngầm của CS, khủng khiếp thật. Tôi thấy cuộc sống như thế thì sống làm gì, tôi không chịu được nữa.
Tôi bàn riêng với Chăn, mình phải chịu trận trước, rồi sao cũng được! Thế là ngày thứ Bảy cuối tháng 5, Chăn và tôi đường hoàng ở trong sân khu F3, hai người đứng riêng ra một góc sân, đi đi, lại lại, tâm tình nhỏ to chuyện trò. Ngay buổi chiều hôm ấy Trương Bá Ngữ và Vòng A Cầu được gọi ra khu giám thị về, yêu cầu F3 (mộc, xẻ) sinh hoạt có cán bộ Dương Đình Thắng chủ trì, để truy bức 2 người, Lầu Chí Chăn và Đặng Chí Bình chống phá và vi phạm nội quy.
Rất nhiều anh em thân quen lo cho chúng tôi, thế nào cũng phải đi kỷ luật và hạ mức ăn. Như trên tôi đã trình bày, nếu có phải đi kỷ luật, chúng tôi đồng ý chấp nhận. Khoảng 4 giờ chiều tên Thắng vào hội trường khu F3, gọi cả người ốm, bệnh ra hội trường sinh hoạt. Sau khi gần 100 người tụ tập đông đủ ở hội trường, tên Thắng mặt lạnh như tiền ngồi chủ tọa, có Nguyễn Xuân Sang toán phó (mộc) ngồi ghế bên cạnh ghi biên bản.
Để cho một phút mọi người im lặng trong không khí nặng nề, tên Thắng gằn giọng nhìn tôi và Chăn.
– Anh Bình và anh Chăn hãy đứng dậy!
Tôi và Chăn đều đứng lên một cách miễn cưỡng, xa nhau 5, 6 người; tên Thắng cũng đứng lên và cao giọng :
– Sáng nay, những ai đã trông thấy 2 anh Chăn và Bình nói chuyện riêng ngoài sân?
Có hơn chục cánh tay chậm chạp đưa lên. Y quay lại Chăn và tôi vẻ hằn học:
– Hai anh ngang nhiên chống phá và vi phạm nội quy một cách trầm trọng; hôm nay tôi cho phép tổ, toán hãy mổ xẻ, phân tích phê bình giúp đỡ để hai anh, thấy được mức độ sai trái của các anh.
Một anh tôi chưa quen đầu cắt cao, mặt hơi tròn, giơ tay xin nói. Còn 2, 3 người nữa cũng giơ tay xin phát biểu, qua nét mặt và thái độ, tôi thấy còn mấy anh nữa cũng còn muốn giơ tay. Tên Thắng chỉ tay cho anh mặt hơi tròn, đầu cắt cao phát biểu trước. Giọng anh hơi khàn, nhưng thái độ thật mạnh bạo:
– Thưa cán bộ, ngay trước mặt mọi người anh Chăn và anh Bình, đường hoàng rủ nhau ra một chỗ vắng, để nói chuyện riêng. Như vậy là các anh đã coi thường nội quy của trại và đã bỏ ngoài tai, lời cán bộ mới nhắc nhở nửa tháng trước đây.
Tên Thắng gật gật gật đầu, có vẻ thoải mái, y chỉ tiếp một anh khác đã giơ tay. Anh này người nhỏ bé, mặt hơi gầy gầy, tôi cũng chưa biết tên. Giọng anh nhỏ nhẻ, từ tốn:
– Thưa cán bộ, sáng nay tôi thấy hai anh thì thầm, to nhỏ ở chái hội trường, trong khi toàn buồng không một ai nói chuyện với nhau mà không có từ 3, 4 người trở lên. Tôi nghĩ rằng anh Bình và anh Chăn là thợ giỏi, thường đóng hàng cho cán bộ, mới dám ngang nhiên như thế. Tôi đề nghị các anh phải hoàn toàn chấp hành, nội quy của trại.
Thấy còn một số anh em nữa định phát biểu, tôi thấy không có gì khác hơn, nên tôi giơ tay xin nói. Tên Thắng và một số anh em có vẻ hơi ngạc nhiên, cuối cùng tên Thắng vẫy tay đồng ý cho tôi nói. Tôi nghĩ rằng cứ thong thả mềm dịu là tốt nhất, tôi nói với một thái độ nhã nhặn:
– Thưa cán bộ và toàn thể anh em trong buồng F3. Trước hết tôi phải cám ơn cán bộ và các anh em đã có buổi họp này, để giúp đỡ chúng tôi. Tôi thấy rằng không gì bằng là tôi xin trình bầy hết những suy nghĩ trong lòng tôi. Ở bất cứ tập thể nào đều cũng có nội quy, nhất là ở trong trại giam. Vì ý thức như thế, nên tôi đã có 10 năm ở trại giam rồi, tôi chưa hề vi phạm hoặc khi nào chống đối nội quy, từ ở Hỏa Lò, phân trại E rồi K1, cho tới K3 này.
Từ khi cán bộ ra chỉ thị: “Hai người nói chuyện, không có người thứ 3 nghe thấy, là phạm nội quy”. Từ ngày ấy hơn một nửa tháng nay, khí thế lao động, hăng say sản xuất của F3 đã giảm thấy rõ ràng (vì lý do khác, nhưng tôi cứ níu kéo vào đây để bảo vệ, để tăng cường cho ý kiến của mình) đã gây ra một không khí căng thẳng và anh em rất khó thực hiện được chỉ thị của cán bộ trong lao động.
Bây giờ một cặp xẻ, mỗi khi phải bàn nhau một điều gì khi gặp trở ngại về nghề nghiệp, lại phải gọi một người thứ 3 đến chứng kiến hay sao? Một cặp quai bễ lò rèn cũng vậy. Tôi và anh Chăn đang đóng một cái giường đôi đặt, cho ông Cửu (Giám thị K 3) chúng tôi đang gặp khó khăn nghề nghiệp, nên anh Chăn và tôi rất băn khoăn, ăn ngủ không yên (điều này tôi đã nói với Chăn trước). Chúng tôi sáng nay đang thảo luận với nhau sao để thứ Hai này, chúng tôi giải quyết cái giường ấy cho ổn.
Vả lại, 10 năm ở trại giam, tôi chỉ học thuộc và thi hành 4 tiêu chuẩn cải tạo, và 6 điều nếp sống văn hóa mới, mà thôi. Tôi chưa thấy cái nội quy nào như trên cả.
Trong khi tôi nói đến chỗ bàn nhau đóng giường, anh Chăn cũng giơ tay thừa nhận, tôi nói là đúng sự thật. Tên Thắng sạm mặt xuống, trong khi anh em mặt lại tươi lên, mắt các anh sáng lên nhìn tôi. Tên Thắng đứng lên định nói gì đó… Thì cũng là lúc tiếng kẻng giờ lấy cơm, nên tên Thắng xua tay nghỉ buổi họp. Đặc biệt, không phải đọc lại biên bản sinh hoạt buổi họp như mọi khi. Anh chàng Vòng A Cầu của toán xẻ và may cứ nhìn tôi cười. Ngay buổi tối hôm đó, cái anh người nho nhỏ, mặt gầy đã đến nói chuyện với tôi và Chăn, tỏ vẻ hãy thông cảm. Tôi đã bắt tay anh và vồn vã thăm hỏi anh, được biết anh là Thân Văn Kính, án chung thân.
Toán của anh là PEGASUS gồm 6 người. Ra Bắc 20/ 2 / 1963. Địa bàn hoạt động thuộc Lạng Sơn. Toán gồm có:
1. Thân Văn Kính, Toán Trưởng;
2. Hứa Viết Cóc, Toán Phó (Tử trận, trong chiến đấu ngay khi đổ bộ);
3. Lương Văn Phổ, Truyền Tin, không rõ từ 12/72;
4. Bành Viết Kim Toán viên, chết ở trại QT;
5. Hà Văn Thưởng Toán viên, bị tử hình trong một vụ trốn tù ở Yên Thọ;
6. Hoàng Văn Vân, chung thân, hiện ở Atlanta.
Sau đó, cái mặt anh hơi tròn, đầu húi cao cũng đến nói chuyện với chúng tôi, ý nói anh phải tỏ ra tiến bộ nên phát biểu vậy. Tôi nói là rất hiểu, không sao đâu. Và tôi thăm hỏi về toán của anh. Được biết anh là Bùi Văn Ân thuộc toán Bart. Gồm 5 người, ra Bắc 4/6/1963, địa bàn hoạt động thuộc tỉnh Nghệ An. Toán của anh gồm có
1. Bùi Văn Ân toán trưởng, hiện ở Oregon;
2. Đinh Văn Chúc, chết ở Gia Kiệm, Sài Gòn (về nhà chết);
3. Nguyễn Khắc Định, chết ở Rạch Giá (được tha về chết);
4. Nguyễn Văn Tập chết ở Gia Kiệm (tha về mới chết);
5. Trần Văn Thành chết ở trong tù.
Khoảng cuối tháng 5/72, hơi chéo phía trước trại giam K3 đã dựng rất nhanh 4 cái nhà con, do nhóm làm nhà của Vòng A Cầu làm. Mỗi cái chiều rộng chừng 3m, chiều dài khoảng 4m; đề những con số to 1, 2, 3 và 4 mầu đen, phía ngoài vách nứa. Chúng tôi trong trại nhìn ra, cũng như khi đi làm qua, không hiểu chủ trương 4 căn nhà đó để làm gì? Chừng vài ngày sau, khi đi làm ở lán thủ công, lại nhìn thấy ở sân ban giám thị K3, có một chiếc xe bus rất to và dài. Có nhiều người mặc thường phục, ra vào mấy cái nhà to, của khu giám thị.
Ngày hôm sau, khu F3 tập họp đi lao động, cán bộ trực trại gọi 4 người ở lại để gặp cán bộ là
– Đặng Công Trình,
– Thân Văn Kính,
– Lê Văn Bưởi,
– Lý Văn Chung tức Ngô Quốc Chung.
Chúng tôi đi làm, ai cũng băn khoăn không hiểu thế nào? Mãi trưa hôm ấy đi lao động về, tôi tìm mọi cách để hỏi thăm các anh. Anh Ngô Quốc Chung, rất kín đáo, ngại ngần. Anh nói cán bộ dặn tuyệt đối về trại, không được nói với bất kỳ ai, buổi gặp cán bộ hôm nay: không nói một điều gì với bất cứ ai đến thăm hỏi, nếu không anh sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm. Cuối cùng tôi không hề biết một tí gì. Những ngày sau đó, tôi tìm hiểu được biết sơ lược về anh.
Anh bị mất một mắt ở điểm nhẩy ngày 4/ 7/1963, anh là toán trưởng toán PACHER. Địa bàn hoạt động thuộc Lào Cai. Toán anh gồm 5 người:
1. Lê Văn Can, hiện nay không biết;
2. Phạm Quang Cảnh, ở lại miền Bắc;
3. Vàng Văn Chương, không rõ từ 12/72;
4. Đỗ Văn Thảo, không rõ từ 12/ 72;
5. Riêng anh Ngô Quốc Chung, sau này do giấy tờ lằng nhằng, ghép chuyện vợ con nên phái đoàn Mỹ từ chối, không thể đi HO. Hiện nay anh vẫn ở VN, không rõ sống hay chết. (Mới đây, đầu 2004, tôi được biết anh Chung đã được đến Mỹ, nhưng tôi chưa có dịp nói chuyện với anh).
Tôi thăm hỏi với anh Thân Văn Kính cũng nhã nhặn từ chối (anh Kính chết 3/5/2000 do bệnh ung thư ở Atlanta). Mãi tới hôm đó tôi mới gặp được anh Đặng Công Trình, anh đã hiểu tôi nên anh tin, mới cho tôi biết:
– Họ có vẻ là cán bộ của bộ, rất hoà nhã, lịch sự, mời thuốc lá uống trà; đàm đạo như bạn bè. Cán bộ chỉ hỏi thăm sơ về toán ra Bắc bao giờ, nhẩy ở đâu v.v… Đặc biệt họ rất quan tâm: ở những trại nào? Bị cùm kẹp ra sao? Có cán bộ nào ức hiếp? Hiện giờ có khỏe không? Có bệnh tật gì không v.v…
Anh Trình có cảm tưởng cán bộ đó là người của phía bên mình, tức là của chính quyền miền Nam.
Sơ lược tôi biết về toán anh Trình: tên toán SCORPION. Toán của anh gồm 7 người:
1. Nguyễn Xuân Phương, toán trưởng không rõ từ 12/72;
2. Nguyễn Văn Chỉnh, toán viên hiện ở TX Hoa Kỳ;
3. Nguyễn Văn Khải, toán viên không rõ từ 12/ 72;
4. Vũ Đình Nghị, toán viên chết ở trong tù trại QT;
5. Nguyễn Văn Thưởng, toán viên, hiện ở TX Hoa Kỳ;
6. Đinh Quý Mùi, anh này không về K3 phố Lu, Lào Cai.
7. Đặng Công Trình, toán phó, án chung thân. Anh đã chết ngày 21/8/1996 lúc 11 :30 AM tại Cali, do bị tai biến mạch máu não.
Toán anh ra Bắc ngày 17/6/1964, địa bàn hoạt động thuộc Yên Bái.
Còn anh Lê Văn Bưởi, cũng nói như anh Đặng Công Trình, anh Bưởi là người đi lẻ (điệp viên) như tôi. Tôi đã trình bày chi tiết về anh ở tập 3 Thép Đen. Một điều đau lòng là, anh Bưởi đã chết ở NY (Hoa Kỳ) ngày 27/ 10/ 1995, sau khi anh sang Mỹ diện HO được 3 năm. Tôi đã đến thăm mộ anh ở NY năm 1999. Anh Lê Văn Bưởi chết vì bệnh ung thư màng óc. Vợ con anh còn ở Đà Nẵng, VN.
Cuộc đời đã thể hiện như Cụ Nguyễn Công Trứ hiểu: Rút cục lại mỗi người, riêng mỗi kiếp!
Rồi từ đấy, buổi sáng, buổi trưa, mỗi ngày 2 lần, họ lần lượt gọi các anh ở F3; cũng có khi gọi F1, F2 có cán bộ vũ trang đi kèm sát ra tới các buồng con. Mục đích họ không cho F1, F2, có thể liên lạc được với F3 phía bên ngoài.
Một buổi chiều chủ nhật, chúng tôi đang ngồi tụm ba, tụm năm, ở hội trường, vừa hóng thở một chút không khí trong lành, vừa chờ kẻng cơm chiều. Bỗng nghe thoáng mấy tiếng gào thét, phía căn nhà số 3 bên khu hình sự. Nhiều người chúng tôi, đều tiến ra cổng khu F3 nhìn sang. Cửa nhà số 3 vẫn khóa, bên ngoài cửa, ngay ở dưới sân có 2 em hình sự chừng 18, 20 tuổi bị trói giặt 2 tay ra sau lưng, đang lăn lộn khóc, rên la. Hai tên công an thỉnh thoảng lại đá rồi đạp cả hai em hình sự nằm dưới sân, các em kêu gào thảm thiết. Trong khi còn một tên CA nữa đang cầm một đoạn gỗ như cái cán xẻng, thẳng tay giáng xuống 2 cái tay, thò ra ngoài chấn song của cánh cửa, bị khóa cái còng số 8. Tiếng hét ré lên:
– Gẫy, đứt tay của con rồi! Con lậy ông cán bộ!
Những tháng trước đây, nhiều ngày, tôi cũng có nghe thấy những tiếng la thét phía bên hình sự, đêm cũng như ngày, nhưng tâm trạng của tôi khi ấy: chính mình cũng chưa biết khi nào về lòng đất, huống chi chuyện thiên hạ, chuyện của đời, xin mặc cho đời; tôi không còn quan tâm. Nhưng hôm nay, đứng nhìn cảnh này, dạ tôi xót xa đầy vơi, tâm tư triền miên trong niềm sầu tê tái. Tôi chợt nhìn thấy mầu đỏ ối ở đôi tay bị khóa ở cửa, mầu đỏ loang lổ cả dưới đất. Ba tên công an VC tụm lại nói gì với nhau, rồi cùng hè nhau đá, đạp túi bụi vào 2 em đang nằm dưới sân, một giọng khàn khàn rên rỉ thốt ra ngay trong đám anh em:
– Đừng đánh nữa! Người ta chết mất!
Rồi một người nữa, nói như than van trong nghẹn ngào:
– Cùng đồng bào, sao mà ác nghiệt thế!
Tôi quay lại, ra bác Dâng, mặt bác mếu xệu như khóc. Trong khi một tên CA, hung hãn một chân đứng trên ngực, một chân gi gi trên mặt một em nằm dưới đất: Không còn tiếng rên la, tôi đã thấy mầu đỏ, chảy ra loang lổ. Một tên CA quầy quả vào phía trong, rồi y cùng với tên Đại y tá trở lại, khênh cả hai em khuất về bệnh xá. Hai tên CA còn lại, mở cửa buồng, mở khóa tay, em hình sự cũng đã bị ngất xỉu, chúng khênh em ra để ở sân. Một tên khóa cửa buồng, rồi cùng đi theo, khi chúng khênh em bị xỉu dưới sân, khuất vào phía trong.
Tất cả chúng tôi, mặt người nào cũng buồn rười rượi, tôi kéo tay anh Bưởi đi vào buồng. Cả đêm hôm ấy, tôi cứ thao thức mãi về một cảnh đời thương đau, tôi chứng kiến. Chỉ hai ngày sau, F3 chúng tôi được tập họp lại, bốn, năm tên cán bộ của Bộ vào tuyên bố: Từ nay chúng tôi được ăn chế độ bồi dưỡng, riêng về gạo tất cả đều ăn mức 18 kg. Từ đấy sáng cũng như chiều, ngày nào bữa cơm cũng có đủ thịt cá. Lại còn được tuyên bố: cứ 5 ngày lại có một bữa liên hoan, có kẹo bánh, thịt cá ê hề.
Từ buổi chúng tôi chứng kiến cảnh CA đánh các em hình sự (không biết vì lý do gì), mấy ngày sau, tôi tìm cách đến thăm hỏi chuyện bác Dâng. Không ngờ đây là nhóm thủy thủ Hải Thuyền đầu tiên bị bắt ở miền Bắc. Nhóm của bác gồm 10 người bị bắt ngày 14/ 1/ 1962. Như thế nhóm của bác đã bị bắt trước tôi 5 tháng, khi ấy tôi còn ở Sài Gòn. Tôi tò mò để hỏi những người trong nhóm là đưa ai (điệp viên) đi, nhưng các bác chỉ nói một người chừng 4 chục tuổi. Tôi hiểu và thông cảm, làm sao các bác biết được tên tuổi người mà các bác đưa đi, cũng như tôi. Nhóm thủy thủ này gồm 10 người:
1. Bác Vy Văn Dâng, thuyền trưởng, đã đến Mỹ, chết ở Sacramento.
2. Trần Văn Cương, Hiện nay (16-03-2004) ở San José.
3. Nguyễn Xuân Đình ở Los Angeles.
4. Lê Văn Đức, không rõ từ 12/ 72.
5. Nguyễn Xuân Hạ, chết ở Cali tháng 12/ 1995.
6. Trần Văn Nhung ở Sacramento.
7. Hoàng văn Sỏi ở Sacramento.
8. Đỗ xuân Thành ở Sacramento.
9. Nguyễn Văn Trình, không rõ từ 12/ 72.
10. Nguyễn Quốc Tuấn, không rõ từ 12/ 72.
Sau nhiều hiện tượng, thái độ của các cán bộ của Bộ, của trại và trao đổi một số anh em Biệt Kích, đã nhiều lần được gặp cán bộ của Bộ; rồi chính bản thân tôi đã phải gặp họ 2 lần, tôi đã dự đoán được ý đồ và chủ trương của họ. Vì chưa đủ yếu tố để khẳng định, cho nên tôi phải dùng từ “Có Thể”: có thể họ đang chuẩn bị để rồi sẽ ký hiệp định Paris đã dằng dai mấy năm rồi, nên họ dành quyền chủ động trước.
– Những đám BK gián điệp này họ không hề muốn trao đổi, hay trao trả cho phía Mỹ và VNCH. Như thế có khác gì thả hổ về rừng, để rồi phải lo hậu họa? Với những điều khỏan của Hiệp nghị, có thể họ không thể lắt léo, chuyển đổi lập lờ, đánh lừa nhiều khâu theo bản tính của họ (CS) được. Vạn bất đắc dĩ phải trao trả những Biệt Kích gián điệp này, CS phải nghiên cứu sao, để coi như đã cắt gân chân hết. Chúng có được về rừng, thì cũng chả còn làm gì được phiền toái, cho họ sau này.
Nguyên tắc bản chất của CS là: bất kể kẻ thù nào, nếu ai hiểu được những hiểm độc, lật lọng, tráo trở của chúng, hiểu đến chừng mực nào; CS nham hiểm, qủy quyệt là 10. A hiểu cái đó đến 4, B hiểu đến 3, C hiểu đến 7. Tùy theo để chúng có kế sách đối xử với từng loại. CS kỵ nhất là ai hiểu hết cái tẩy đen của chúng.
Tướng, tá, chính khách, hay học giả uyên bác mà chưa hiểu hết tẩy của CS. Không những chúng coi thường, mà còn tìm cách lợi dụng những điều chưa hiểu chúng. Nhưng một anh địa phương quân, một ông cha, một ông sư, hay một người bình thường dân dã, mà lại hiểu hết tim độc của CS, thì chúng thấy nguy hiểm hơn, chúng kỵ nhất. Nó sẽ tìm đủ mọi cách để tiêu diệt, hoặc hoá giải. Nếu không được thì chúng tìm cách hạ uy tín, hoặc mượn tay của kẻ khác giải quyết v.v… CS có trăm phương ngàn kế cuối cùng sao cho, ai chúng kỵ, cũng trở thành vô hiệu hóa.
Những người bộ gọi lên, bộ hành xử mỗi Biệt Kích mỗi kiểu, mỗi cách, mức độ khác nhau. Cá nào thì mồi nấy. Cán bộ hết sức nhã nhặn, bắt tay, vỗ vai coi như anh em một nhà, người cùng một nước. Nhẹ nhàng, khoét sâu những nhược điểm của Biệt Kích, gián điệp, của xã hội miền Nam, của Mỹ (xã hội nào, cá nhân nào chả có nhược điểm, chỉ ít nhiều và loại nhược điểm khác nhau).
– Anh bị cùm kẹp, tù đày bao nhiêu năm? Như thế thật tội nghiệp cho anh!
– Anh mất hết cả tuổi trẻ, tuổi hoa mộng! Anh thật may mắn, được sống sót đến ngày nay.
Y hỏi với thái độ và đôi mắt thật thương cảm; rồi y nhấn mạnh:
– Người đau khổ hơn cả là cha mẹ anh, vợ con anh v. v… Có khi nào, anh suy ngẫm, truy nguyên là do đâu không? Anh có biết hiện nay, những tên đã dạy anh, cấp chỉ huy của anh, chúng nó bây giờ ra sao không? Không những họ đã quên các anh rồi! Họ đào tạo xong một người, đẩy sang khỏi vĩ tuyến là lĩnh thưởng, lĩnh lương, hết trách nhiệm!
Trong khi Mỹ vẫn đài thọ lương năm, lương tháng của các anh, nhưng chúng đã lắt léo, tìm cách ăn chặn hết. Bố mẹ, vợ con của các anh vẫn khổ cực, lầm than. Vẫn phải chạy chọt cuộc sống, miếng ăn hàng ngày kết hợp với niềm thương nhớ, cùng với bao nhiêu nước mắt vì anh. Nói đến đây, thì hẳn anh đã nhận ra, cái nguyên nhân rồi?
Nếu chính quyền miền Nam, cán bộ miền Nam không hề ăn chặn lương của Biệt Kích gián điệp. Sự khêu gợi này đã làm cho chúng tôi phải suy nghĩ nhiều rồi. Huống chi, trong muôn một lại có hiện tượng, một số cán bộ ở Long Thành hoặc ở khâu khác, tìm cách ăn chận. Thậm chí còn lường gạt những người vợ trẻ, khi đi lĩnh lương của chồng là Biệt Kích, mới cưới bị bắt ngoài Bắc. Đem vợ con của người ta đi hết khách sạn này đến khách sạn khác. (Sự việc này có thật, người thực, việc thực, tôi chưa muốn nêu tên) .v. v… Sự khích lệ này càng càng hữu hiệu thần kỳ. Chúng biết chỗ mạnh của chế độ tư bản, tự do; chúng cũng biết và biết rất rõ những cái nhược của chúng ta.
Cái nhược điểm nội tại, nghĩa là có cái chế độ dân chủ tự do dân quyền, là có cái nhược điểm đó rồi. Nhất là tính giác ngộ về dân chủ, của người Việt chúng ta chưa cao đầy đủ như dân các nước, đã văn minh. Tính kèn cựa, bè phái, cá nhân, đố kỵ. Cái tôi to tướng, trâu buộc ghét trâu ăn, cục bộ, mầu cờ sắc áo, tín ngưỡng v.v. . . Đám BK gián điệp này, bất đắc dĩ bất khả kháng, chúng phải để họ về miền Nam. Họ không quậy phá, trở thành cái nạn kiêu binh, mới là lạ.
Chưa hết, CS còn phòng hờ nhiều tầng, nhiều khâu. Gần về cuối, những tên cán bộ của bộ, còn có cái trò:
– Anh đã thấy được cái tồi tệ của những kẻ tay sai cho đế quốc, thực dân mới. Vậy anh phải có trách nhiệm với dân tộc Việt Nam, với cách mạng. Nó tìm một vài cái ưu của mình để lôi mình vào cái thế không đồng ý, không gật đầu không được. Khi ấy cán bộ của bộ, mới đi vào chi tiết:
– Như anh đã đồng ý (nó coi như mình đã thỏa thuận), khi anh về với gia đình, về tới miền Nam; anh phải có trách nhiệm giúp đõ nhân dân, giúp đỡ cách mạng. Vậy bất cứ sau này (không kể thời gian nào) có một người đến với anh thì anh phải giúp đỡ? (Tất nhiên, lúc ấy anh nào cũng phải đồng ý).
Bấy giờ cán bộ mới nói:
– Làm sao khi ấy, để người cán bộ đó biết anh và để anh biết người cán bộ đó là người của nhân dân, của cách mạng? (đến đây, ai chẳng ngắc ngư, lúng túng).
Lúc đó y mới nói, cứ như vừa tìm ra một cách:
– Anh hãy viết vào một mảnh giấy này bất cứ điều gì, rồi anh ký tên. Sau này, bất cứ ai cầm mảnh giấy này đến gặp anh, thì đó là người của cách mạng. (lại lúng túng, không biết viết gì).
Cán bộ lại gợi ý như:
– Chẳng hạn anh viết: Hẹn anh ngày 20, hoặc tôi vẫn nhớ đến anh v.v. . . Rồi anh ký vào. Mục đích sau này, anh vẫn nhận ra đó là mảnh giấy, của chính tay anh đã viết.
Tôi hiểu, CS cũng hiểu, với đám BK gián điệp này không phải ai cũng tin, cũng mắc. Dù rằng CS đã lấy cứu cánh là phương pháp ngăn cách ra, hỗ trợ:
– Tuyệt đối anh không được nói với ai, chỉ có anh và tôi, nếu sau này không đúng, anh sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. (Khi còn trong tay chúng, thì 5 cái từ này có uy lực ghê gớm).
Nhưng “Nó lú lại có chú nó khôn”, phòng hờ có những tên biết rõ âm mưu của chúng đi nữa. Nhưng qua thăm dò (do những tên chó săn) đã thấy hữu hiệu, khi BK còn trong đang nhà tù. Thực thế, nó úp úp, mở mở, anh nào cũng lên gặp riêng cán bộ, có người nó đưa cho cả bao thuốc lá, gói trà thơm v.v. . . Thậm chí cả tiền: 5, 3 đồng bạc, nó gây ra ngay trong anh em BK gián điệp đã nghi ngờ lẫn nhau. Còn ở trong trại giam đã thế huống chi, khi về miền Nam tha hồ tố khổ nhau v.v. . . Những gián điệp biệt kích, khi đó quay ra chống nhau, làm rối loạn, phá ung thối xã hội miền Nam.
Nhất cử lưỡng tiện, không những không phải lo chúng thu tập những kinh nghiệm đã có với lòng căm thù cao hơn gấp bội, so với ngày chúng ra Bắc trước đây (ý này của Lê nin) một kẻ thù sau khi bị bắt xổng ra, nó sẽ căm thù ta, lên nhiều lần hơn.
Mới chỉ hơn một tháng bồi dưỡng ăn uống, tuy không nói là đầy đủ, nhưng không còn đói nữa. Hằng ngày, nhìn nhau anh nào cũng lên cân, lại sức trông thấy. Cũng như một cái cây, lâu ngày cằn cỗi vì thiếu nước, giờ đây tưới bón đầy đủ thì nó lớn trông thấy. Hơn nữa, cái tinh thần mới quan trọng, mỗi người biết bao nhiêu hy vọng, huy hoàng mơ mộng, xây đắp mộng ngày mai, cho nên trông ai cũng mắt sáng long lanh, da dẻ hồng hào trở lại. Cụ thể nhất là Lầu Chí Chăn (Người Nhái) hay Đèo văn Bạch anh nào cũng to lớn khác thường.
Qua phương cách bí mật liên lạc với trong F1 và F2 chế độ đãi ngộ, bồi dưỡng có phần khác với F3, chúng tôi được biết, trong F1 và F2 mỗi người được phát một cái khăn mặt, một bàn chải và một tuýt thuốc đánh răng. Trong khu lại có lược, kéo, dao cạo, tông đơ để cắt tóc cho nhau. Bên F3 hoàn toàn không có những thứ đó. (Hẳn ai cũng biết vì sao rồi).
Chiều hôm qua Chăn gọi tôi ra hội trường F3 nói chuyện, tâm sự (hai người chuyện trò, không còn ai để ý nữa). Từ cái buổi sinh hoạt toàn buồng để tố Chăn và tôi. Cũng có thể là do đúng lúc tuyên bố chế độ bồi dưỡng, nên mới cởi mở thế chăng? Chăn và tôi đang nói chuyện, Nông văn Hính cũng kéo đến rồi cả Lưu Nghĩa Lương nữa. Chúng tôi pha trà để câu chuyện thêm ấm cúng, Lầu Chí Chăn hỏi nhỏ:
– Tại sao F1, F2, lại có chế độ bồi dưỡng khác chúng ta? Anh có đoán ra không?
Đắn đo một lúc rồi tôi cũng nói:
– Chăn hỏi thế thì tôi cũng tịt thôi, nhưng tôi cứ dự đoán, chả biết có đúng hay không?
Chăn, Hính, Lương đều khích lệ:
– Cứ nói đi! chả đúng cũng không sao?
Thấy anh em ủng hộ, khích lệ tôi cũng nói đại:
– Đã gần một tuần nay, tôi cứ suy nghĩ về điều này mãi, lối nào cũng có mâu thuẫn, nên lại phải gạt đi. Chỉ còn hướng này có khả dĩ tạm thời chấp nhận. Hầu hết anh em Biệt Kích ở F1, F2 so với chúng ta đều là người mới. Họ ra Bắc từ 1965 trở đi, thậm chí có toán mới năm 1967 vừa đây. Như chúng ta đã biết mánh khoé CS: “cá nào, mồi nấy”. Những người ra sau, mới tù ít, chưa hiểu hết cái đểu giả, độc hiểm, trắng trợn, muôn mầu đổi thay của CS, như chúng ta nên họ mua kiểu khác. Người nào hay loại nào đã hiểu hết cái độc hiểm của chúng, thì chúng không cần mua nữa, chỉ có thủ tiêu hay giết.
Cả 3 người đều gật gật đầu, Hính nói:
– Anh Bình nói có lý đấy! Nhưng tại sao nhiều người cứ bị lừa mãi?
Nói về sự nham hiểm, lừa lọc của người CS; tôi nhớ đến lời của Đức Khổng Phu Tử xưa có nói với học trò : “Lý luận mà không giản đơn, hoặc phải lấy thí dụ cho người khác hiểu, thì chính người đó không có khả năng”.
Vậy tôi xin trình bày thế này:
– Nói về cái tài lừa lọc gây chia rẽ, chọc vào những huyệt mâu thuẫn, của từng loại người thì không ai bằng VC. Nó nguy hiểm ở chỗ; người bị mắc lừa ở mức độ, khác nhau mà vẫn không biết.
Tôi xin thí dụ:
Ngay cá nhân với cá nhân, giữa anh A và B, do mồm mép, tâm lý thu phục tình cảm. Nghĩa là do cái tài che giấu của anh A đã làm cho anh B thương cảm, tin tưởng để rồi A đã làm một cú lừa ngoạn mục đối với B. Như vậy sau này, đừng hòng bao giờ dùng miệng lưỡi, dùng phương pháp này nọ mà anh A lừa anh B lần thứ hai.
Thế mà, xin các anh hãy nhìn bằng sự thật, việc thật, hãy nhìn ngay vào quê hương đau khổ, mộc mạc của chúng ta:
Từ cái thời Sô Viết Nghệ Tĩnh 1930, thời mặt trận Bình Dân, với tờ báo Le Travail ở Hà-Nội, ta cũng không bàn đến vì xa quá. Hãy nói từ cái gọi là Cách Mạng Tháng Tám 1945, chính phủ liên hiệp với bao nhiêu thành phần quốc gia. CS gây mâu thuẫn xúc xiểm giữa những thành phần quốc gia với nhau. Phần khác, chúng bí mật thủ tiêu, nhưng nó lập lờ đánh lạc, để rồi những đảng phái, đoàn thể nghi ngờ lẫn nhau. Cuối cùng CS đã lừa được biết bao nhiêu người. Rồi diễn tiến cho tới hội nghị Genève 20-7-54. Một nửa nước bị lừa, điển hình là ông Thẩm Hoàng Tín, dược sĩ, đương kim thị trưởng thành phố Hà Nội. (xin xem TĐ 3, tôi đã trình bày).
Rồi qua trình diễn tiến đến hiệp nghị Paris 27-1-1973, cho tới khi mất nước, thì lại cả nước bị lừa. Đến bây giờ đây (tháng 10-2004) ở hải ngoại, (mỗi lần lừa để có lý do mới, nào là những thành phần bảo thủ đã chết hết rồi. Ngày nay có nhiều thành phần trẻ, tiến bộ v.v…) hẳn quý vị đã thẩm nhận, ở mức độ khác nhau như thế nào rồi?
Như thế mà nhiều người vẫn coi thường cái tài lừa lọc, khích động, chia rẽ, gây mâu thuẫn, mua chuộc ở mọi thành phần của cS. Không thấy: về lọc lừa, nham hiểm, sắt máu thì CS là sư tổ. Hơn nữa, thế giới tự do của chúng ta lại có quá nhiều cái nhược điểm nội tại.
(Cũng đã nhiều lần tôi đặt dấu hỏi: Mỹ, Pháp bị cho ăn mắm ngoé vì tiểu nhân với quân tử nên thường bị thiệt đã đành. Tại sao, cũng là người Việt mà chúng ta bị VC lừa nhiều thế, mà vẫn cứ bị lừa? Suy nghĩ mãi, chỉ có tạm thời chấp nhận: Thiên tính tự nhiên của người Việt dễ tha thứ, dễ quên hận thù, truyền thống “dĩ hoà vi quý”. Nhưng VC mang ý thức hệ CS sắt và máu, ràng buồng trong một cái tập thể, chỉ có máu và máu, không có tình người)
Hồicòn nhỏ, ba má tôi thường bắt ngủ trưa. Ba đứa nằm sắp lớp trên giường mà con mắt mở trao tráo. Con nít thích chơi hơn thích ngủ. Nhưng sợ bị đòn thì phải vậy chứ biết sao hơn? Thằng em nhỏ nhứt được cưng, nằm võng. Trong cái trưa hè của làng quê Đạo Ngạn, Mỹ Tho… gió hây hây thổi, má tôi ru: Gió đưa bụi chuối sau hè; anh mê vợ bé bỏ bè con thơ, con thơ tay ẵm tay bồng, tay nào xách nước tay nào vo cơm.” Nhưng ba tôi lại ru con, không bằng ca dao mà bằng bài ca vọng cổ:“Sầu Vương Biên Ải” Út Trà Ôn phát trên đài phát thanh Pháp Á: … “Thâu canh hồn ngơ ngẩn nhìn bóng trăng khuya lặng lẽ giữa đêm… trường…”
Nhữngnăm 50, miền Nam thanh bình, trù phú, thạnh trị. Đêm không giới nghiêm. Nhà tôi có cái ra-dô chạy đèn, lúc đó chưa có ra-dô tran-sit-to như sau này. Thời đó có cái ra-dô như vậy là “oách” lắm rồi.
Tối Thứ Bảy bà con lối xóm: bà dì, bà cô, bà thiếm xách theo giỏ trầu đến nằm, ngồi trên bộ ngựa trong nhà, vừa nhai trầu bỏm bẻm vừa thả hồn theo câu xàng xê, câu vọng cổ của tuồng cải lương trực tiếp truyền thanh trên đài phát thanh Sài Gòn. Ba tôi là người nghệ sĩ mần văn. Năm 1957, ông Trần Tấn Quốc, chủ báo Tiếng Dội, phụ trách trương kịch trường đầu tiên của làng báo Việt Nam, khuyến khích, thân phụ tôi viết kịch trường, phê bình những vở cải lương cùng với Thanh Tâm, bút hiệu của ông Trần Tấn Quốc, Phong Vân, Nguyễn Ang Ca và Việt Định Phương.
Cách phê bình của thân phụ tôi hơi khác, hơi lạ. Thay vì nhận xét về tuồng tích, phê phán khen chê soạn giả và diễn viên thì ba tôi lại lượm lặt những cảm xúc chân thành của bà con khán giả: bà Năm, cô Bảy, chị Hai, em Ba gom lại thành bài viết… Ông đóng vai kép độc như Việt Hùng chẳng hạn mà khán giả kêu ông bằng “thằng”, chửi ông tắt bếp thì ông đã thành công xuất sắc trong vai trò kép độc.
Còn “Sầu Nữ Út Bạch Lan’ xuống một câu vọng cổ mà ai nấy đều thút thít khóc thì xứng danh với “Đệ Nhứt Đào Thương”. Những mỹ danh này đều do ký giả kịch trường đặt cho họ.
Cách viết đó, nửa thế kỷ về trước, là mới. Còn bây giờ là xưa rồi. Bây giờ họ “comment” bài viết của mình đôi khi chửi tác giả như tát nước… thôi hết biết đường nào mà kể…?!
Tôi được ba dẫn theo đi coi cải lương. Ba mặc áo dài tay, gài nút măng-sét, thắt cà vạt. Tôi, áo trắng bỏ vô quần sọt, mang xăng-đan. Ba nói: mình ăn mặc chỉnh tề để tôn trọng người nghệ sĩ. Khi trình diễn, họ ăn mặc đàng hoàng, y trang, cảnh trí, mình là khán giả, tại sao không?
Theo ba, tôi vừa hào hứng vừa e dè khi vào hậu trường, nơi có bàn thờ tổ khói hương nghi ngút. Có bàn trang điểm, làm mặt của kép và đào. Có ban nhạc cổ đang so dây, nắn phím. Đàn kìm giữ nhịp song lang, cò, guitar phím lõm, sáo, tranh, bầu, trống. Còn dàn nhạc Tây thì ngồi gần hàng ghế danh dự chứ không ngồi sau cánh gà như dàn cổ nhạc…
Khi trình diễn thì có người đứng sau lưng phông màn nhắc tuồng và người kéo micro theo cái ròng rọc cho nghệ sĩ hát.
Ký giả kịch trường được ngồi ghế thượng hạng, thường là sát bên với soạn giả, còn gọi là thầy tuồng.
Xưa chỉ có soạn giả viết tuồng rồi phân vai cho nghệ sĩ. Chứ không có đạo diễn như bây giờ.
Năm 1957, đoàn Thúy Nga Phước Trọng về Mỹ Tho, diễn phúc khảo tuồng hương xa: “Khi Hoa Anh Đào Nở” của Hà Triều Hoa Phượng tại rạp Vĩnh Lợi đường Lý Công Uẩn của thầy Năm Tú, ba tôi là ký giả kịch trường được mời đi xem.
Cha con tôi ngồi sát bên hai bác soạn giả Hà Triều Hoa Phượng.
Kép chánh đêm diễn là Thành Được, năm ấy ông mới vừa mười chín tuổi, mặc áo kiểu hiệp sĩ Lã Sanh Môn, dắt gươm trên lưng.
Còn đào chánh là “Kiều nữ Bích Sơn” mặc kimono đi từng bước ngắn trên đôi dép cao của Nhựt.
Đoạn cuối vở tuồng còn ngâm hai câu thơ: “Cổng chùa đã khép lại rồi…” Dàn nhạc tây thì chơi “Ò e Robe đánh đu, Tạc dăng nhảy dù, Zoro bắn súng”. Và màn nhung buông xuống, em trở lại đời thường, trả lại phấn son.
Ba tôi được hai bác soạn giả Hà Triều Hoa Phượng mời đi ăn cháo khuya cùng anh em nghệ sĩ. Cái tình văn nghệ thuở ấy sao mà nồng ấm như tô cháo trắng tép rang có chan nước cốt dừa của ngày năm cũ.
Vài hôm sau, bài viết của ba lên trương kịch trường của nhựt báo Tiếng Dội, tạo dư luận háo hức chờ đoàn hát nhập thủ đô Sài Gòn, rạp Nguyễn văn Hảo ra mắt bà con mộ điệu.
Sau “Khi Hoa Anh Đào Nở” thành công vang dội, Hà Triều Hoa Phượng còn thêm “Đợi Anh Mùa Lá Rụng, Cầu Sương Thiếp Phụ Chàng”.
Năm 61, tuồng hương xa đã xa hương, Hà Triều Hoa Phượng chuyển qua tuồng xã hội mà vở đầu tiên là “Nửa Đời Hương Phấn”.
Hương, con nhà gia giáo ở vùng Lái Thiêu, bị một tên nhạc sĩ sở khanh dụ dỗ đến mang thai. Sợ dư luận đàm tiếu, cô phải lên Sài Gòn trốn tránh. Số phận cay nghiệt đã đưa đẩy Hương vào con đường bán phấn buôn hương, rồi tình cờ gặp được Tùng. Vì danh giá gia đình không cho phép Tùng lấy một người con gái bán phấn buôn hương. Cang, anh Tùng phản đối và bày kế chia rẽ, khiến Tùng cứ ngỡ Hương phản bội mình nên đã bỏ đi lấy vợ. Nhưng trái ngang, đau lòng, vợ Tùng, Dịu, là em ruột của Hương. Hương đã vào chùa quy y để quên đi mối tình dang dở! Thân phụ tôi nói: “Dịu chứ không phải Diệu do Ngọc Nuôi đóng. Vì Hương, Út Bạch Lan tên “The” trước khi thành gái giang hồ. Tên mùi vị quê nhà, mà The cho là “quê” nên đổi tên là “Hương”. Hương, tên đẹp, nhưng là Hương của “Nửa Đời Hương Phấn”.
Cách chọn tên của soạn giả thiệt thâm trầm! “Nửa Đời Hương Phấn”, phảng phất Marguerite Gautier trong Trà Hoa Nữ và Lan Điệp trước cổng chùa, đã lấy đi nước mắt biết bao nhiêu khán giả khóc thương cho một mảnh hồng nhan bạc phận!
Đó là chuyện ba mươi năm về trước, khi tôi còn thơ dại… theo ba.
Năm 90, từ Adelaide, Nam Úc… thằng Quân, em tôi gởi giấy bảo lãnh về cho thân phụ tôi đi. Ba không muốn. Vì ba già rồi, vì không muốn má tôi nằm lại một mình, không ai nhang khói. Quê nhà ai muốn bỏ mà đi.?!Tôi từ Cần Thơ “bay” về, nói “bay” nghĩa là về thiệt lẹ chứ Cần Thơ Mỹ Tho giàu có gì mà đi máy bay. Mà có máy bay đâu mà đi… Tôi thuyết phục ba tôi: “Em con lãnh ba đi, chắc nó có ở hai bên rồi, nên biết sướng khổ thế nào, nó không lãnh ba qua đó mà chịu khổ đâu. Đi khó về dễ! Ba cứ đi, nếu khổ quá thì về…” Ba tôi thấy tôi có lý. Tiệc tiễn hành, ba nói: “Bên đó chắc không có cải lương đâu con?!” Em gái tôi tìm được cuộn cát sét “Nửa Đời Hương Phấn” cho ba mang theo…
Cả nhà nghe bài Phụng Hoàng với Út Bạch Lan vai Hương, Thành Được vai Tùng và Ngọc Nuôi vai Dịu. “Dù em có thành hôn với ai đi nữa, thì chị cũng ráng về với… em; để mừng ngày em xuất giá. Cho vui lòng ba má chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con… Còn dượng ba đây- là một thanh niên- có học thức lại đàng hoàng. Chị vô cùng sung sướng; thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị đã ước mong!
Cha con tôi nghe hết mấy câu Phượng Hoàng này thì lại nhớ về hình bóng một thời thơ mộng cũ. Thời ba làm ký giả kịch trường dắt con thơ dại theo coi hát. Ba nói: “Mai, ba đi, mang theo hình ảnh quê nhà, hình ảnh má con và kỷ niệm nầy. Không biết ba còn có dịp trở về quê cũ nữa hay không?”
Ba tôi suốt một đời lao khổ vì con, chỉ hưởng được năm năm ở chốn thiên đường rồi vướng vào bạo bịnh, chiến đấu với bệnh tật ba năm nữa rồi thua cuộc. Trước khi đi vào hôn mê, ba trăng trối: “Tụi con mang tro than của ba về quê cũ. Ba muốn về cạnh má con! Sao đành bỏ má con một mình cho được…!”
“Nhà thương thí miền Tây con đâu ngờ lần cuối, ráng chiều cháy chân mây, ngày cuối cùng hấp hối, quê nhà! trái tim ba! ba nhìn con trăng trối…” “Mộ má nhìn ra lộ Đông Dương, như trông như ngóng người thương trở về; người thương nay đã trở về, dẫu tro than vẫn câu thề ngày xanh: ‘chừng nào xe lửa Mỹ bung vành; tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em’
Ba tôi mất hơn mười năm lẻ, anh em tôi vẫn chưa thực hiện được lời trăng trối tha thiết của phụ thân.
Vậy là hằng năm tới ngày giỗ ba, em tôi bay từ Adelaide lên, cả nhà đoàn tụ nhắc về kỷ niệm xưa của gia đình.
Phượng, em gái tôi, mang cuộn cát sét kỷ vật “Nửa Đời Hương Phấn” ra hát lại.
Thời gian hủy hoại dần tất cả. Cuộn băng nhão đi, chỉ còn nghe được câu đầu: “Dù em có thành hôn với ai đi nữa, thì chị cũng ráng về với ….. em!”
Thưa năm 75, tui cũng như những người khác là phải xách cái giỏ đệm đi học tập cải tạo cho thành người tốt. “ Ủa! Xưa giờ tui có làm người xấu bao giờ đâu mà bây giờ tui lại phải bị ‘cải tạo’ cho thành người tốt chớ ? ” Dạy ‘giáo’ là dạy cho con nít biết đọc, biết viết chớ để tụi nhỏ dốt đặc cán mai sao được, thì Giáo có tội lỗi gì? Thì tay cán bộ Tuyên huấn Thành ‘quỷ’ nói rằng: “Ðồng chí (?!) đừng có xỏ xiên tụi tui dốt đặc cán mai! Mấy đồng chí (?!) giáo viên không có tội cầm súng chống phá lại cách mạng nhưng các đồng chí có lỗi, lỗi nầy lớn lắm. Các đồng chí dạy học trò học toán cho giỏi, lớn lên tụi nó đi ‘đề lô’ pháo binh, chấm tọa độ chính xác đến từng mi li mét một, pháo ngay chóc hầm của Cách mạng, làm tụi tui chạy như vịt… Mà các đồng chí nói hổng có lỗi là sao hả?” “Kẻ thù Pháp, Nhật, Mỹ nào… ta cũng đều đánh thắng hết ráo. Bắc Nam gom về chung một mối, cả nước hòa lời ca?! Khó như vậy ta còn làm được… huống hồ gì cái chuyện kinh tế! Ðảng ta sẽ xây dựng gấp 10 lần ngày nay. Xong kế hoạch ngũ niên nầy cả miền Nam vừa được giải phóng đêm ngủ không ai cần đóng cửa nữa!” Ðúng vậy! Còn của cải quý giá gì nữa đâu mà sợ ăn trộm để đêm ngủ phải mắc công cửa đóng then gài chớ?! Thưa đói khổ như vậy; nhưng Trời lại thương cho trúng lô an ủi là tui có quen anh bạn tù cải tạo cũng giáo, giáo dạy Việt văn. Ở tù về, hai đứa thầy giáo ‘ngụy’ đều bị ‘thầy giáo tháo giầy’, ‘giáo chức dứt cháo!’ Anh bạn chạy xe đạp ôm; còn tui, tui đi bán vé số.
Chiều 5 giờ là ảnh rề rề chiếc xe đạp đến trước bàn vé số của tui đặt ở Công viên trước cổng Bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa hồi xưa, mà giờ VC đặt cái tên mới là Bệnh viện Ða Khoa Cần Thơ, để dò vé số. 6 giờ tối là tui xếp bàn vé số lại, leo lên cái ‘bọt ba ga’ cho ảnh chở vào chợ Tham Tướng, kêu một xị rượu thuốc và hai tô cháo vịt, lai rai… để thưởng công cho một ngày lao động vinh quang ! “Trời làm một trận lăng nhăng. Ông xuống làm thằng, thằng lại lên ông!”
Có hôm quất sạch tô cháo vịt và xị rượu đế, nổi hứng, mặt hồng hồng sáng trong trong, anh chơi luôn một bài thơ như vầy:
“Em giỡn chơi hay là em tàn nhẫn? Phụ anh rồi, tình không để… trôi xuôi. Em bỏ anh, em lấy chồng… thây kệ ! Nỡ lòng nào, em mời đến…chung vui? Anh đã đến dẫu lòng anh đưa đám. Mặt đám ma, miệng mếu… nở nụ cười. Anh… quân tử, trót lỡ làm… quân tử. Dẫu tình thua, tay vẫn bắt, vẫn cười… Em nhí nhảnh: “đâu rồi anh, quà cưới? Nhà thơ nghèo, tiền chẳng có bao nhiêu. Quà anh đi: thư tình xưa, em viết. “Em đốt đi, kẻo chồng biết, nó ghen!” Thì kỷ niệm.. ừ thôi… là kỷ niệm. Em đã quên khi em bước qua cầu. Lỡ chồng hỏi, từ xưa giờ… thùy mị. “Chỉ mình anh, không ‘nhăng cuội’ ai đâu!” Anh quân tử, trót lỡ làm quân tử. Tình em yêu, anh liệm kín, chôn sâu. An tâm nhé ! đừng vấn lòng… bội phản. Đời hợp tan… ai rảnh… để mà sầu? Dẫu giỡn chơi hay là em tàn nhẫn?. Thiệp cưới mời “anh đến để chung vui” “Anh đã đến, dẫu lòng anh đưa đám. Đêm say vùi làm tốn rượu em chơi!”
Chẳng qua, hồi còn đi dạy anh có tình nhỏ vắt lên vai với một em sinh viên Luật khoa năm thứ tư của trường Ðại học Cần Thơ, tính cưới Luật sư cho nó khoái. Ai dè 30 Tháng Tư 75 bất ngờ ập tới như trời sập. Xong ! Ba em ở trong rừng ra ! Nghe nói làm ‘thành quỷ, thành ma’ gì đó…. Em có kêu tui tới nhà ra mắt ba em; rồi hai người đàm đạo để kết tình ‘thương mến thương’. Nhưng hai chiến tuyến khác nhau: ‘đàm đạo’ cái gì… Chỉ có ‘đạn đạo’ mà thôi! Tía em bắn qua; là tui xẹt lại… Hổng có hưu chiến, ‘đánh đánh đàm đàm’ gì hết ráo! Có lần Tía em hỏi (xem tui cải tạo có tốt hay chưa) rằng: “Chủ nghĩa Tư bản và Chủ nghĩa Cộng sản khác nhau như thế nào?” Tui trả lời là: “Chủ nghĩa Tư bản là cái gì cũng bán. Còn Chủ nghĩa Cộng sản là cái gì cũng mua!” Ông trừng mắt, nghiến răng trèo trẹo: “Giáo Ngụy! Là đồ phản động!” Em yêu im lặng ngồi nghe hai người đấu khẩu sùi bọt mép… không dám binh ai bỏ ai, mặt em xanh chành như đít nhái. Tui thấy tới đây kể là xong rồi… Dễ gì ổng chịu gả con gái cưng của ổng cho một thằng ‘Giáo Ngụy’ như tui. Tui nổi khùng lên, chơi luôn. “Nãy giờ Bác hỏi con coi bộ hơi nhiều. Giờ tới phiên con hỏi Bác… một câu thôi: Ai đã tìm ra cái cạo râu bằng điện?” Ổng trả lời như con két “Đồng chí Liên Xô chớ ai!” “ Bác nói rất đúng: Đồng chí Ivan của Bác đã tìm ra… trong cái thùng rác đặt sau lưng Tòa Ðại sứ Mỹ ở Moscow ! He he!” Xong tui phủi ‘đít’ cái rẹt ra về ! Bữa sau em đến nhà để vĩnh biệt tình tui! Em nói tía em không chịu gả em cho một thằng giáo ngụy, cực kỳ phản động như tui! “Ôi! Yêu mà cũng phân chia giai cấp, địch ta, yêu theo lý lịch… thì nghỉ ‘yêu’ luôn cho nó phẻ!” Chiều chiều nhậu ở Ngã ba Tham Tướng, anh bạn, miệng hơi mom móm, được cứu vãn bởi một cái mụt ruồi duyên, cười chúm chím… đọc thơ cho tui nghe ! Nhậu ở đâu, ảnh đều ghi sổ được hết trơn mới hay chớ ! Bí quyết của ảnh được quyền nhậu trước trả sau là… làm thơ tặng cho em chủ quán ‘Tím Yêu’!
“ Ngã ba Tham Tướng, hàng cây bã đậu. Lá cho tàn, em quán nhậu bình dân. Anh, thầy giáo, tháo giầy, đi chân đất. ‘Mất dạy rồi!’, anh chạy xe đạp ôm. Sáng vất vả, chiều tà tà Tham Tướng. Xị rượu buồn, đêm ngủ khỏi nghĩ suy; Khách quen lung, dĩ nhiên… em tình cảm. Em cho anh ghi thiếu, lúc không tiền. Cuốn sổ nợ tên anh dài dằng dặc. Cụt vốn em sao? đành nhậu hơi thưa. Anh không đến, dăm ngày em đi kiếm. Thấy bóng em, anh nhớ tới nợ xưa… Dè đâu nói: “vắng anh, em nhớ quá!. Đến uống đi! đừng có ngại ngùng chi! Chuyện tiền bạc đâu phải là tất cả. Nhơn ngãi mình mới thật tựa thiên kim.” “Ghi thêm nữa làm sao anh trả nổi?. Em vốn nghèo, anh mạt, chết chùm sao?” “Đừng có sợ, nếu chết chùm, thì chết. Không kiếp nầy, em cho nợ kiếp sau, Anh thề hứa một lời… là ghi tiếp… “Ráng chờ em! đừng cưới vợ nghe anh!”. Sau đó, anh ‘biến’ mất tăm… Mới hay là anh đã theo em ‘Tím Yêu’ về tận cùng Năm Căn, Cà Mau sông nước quê em để : “Chim quyên xuống đất ăn trùng.
Anh hùng lỡ vận xuống rừng vượt biên!”
Mãi Tết rồi, tiệc tất niên của hội cựu học sinh trường nọ, khi Thầy Cô lên sân khấu để được vinh danh thì người viết chợt thấy: “Cha! lần nầy móm dữ nha… nhưng vẫn còn được cứu vãn bởi một cái mụt ruồi duyên, trông giông giống ai vậy cà?” Cầm ly rượu bước qua bàn anh ngồi, tui nói: “Xa em lâu, vẫn nhớ chiều Tham Tướng.
Buồn cuối năm, anh uống rượu quê người. Anh tiếc, anh thương một trời quê cũ. Tro tình ta vương kỷ niệm mù khơi!”
Ảnh nhận ra bạn hiền năm cũ năm trên năm (5/5) ngay lập tức ! Rồi cuối tuần, Thứ Bảy, ảnh mời tới nhà ảnh nhậu chơi, tui đi liền. Bước vào phòng khách, thấy ảnh chỉ có nuôi một con chuột bạch, làm thú cưng, đang chạy giỡn trong một cái lồng. Tui nói: “Cha! Con chuột nầy lớn quá ta!” Anh cười hi hi và trả lời: “Con chuột nầy là con chuột của chế độ Cộng sản Việt Nam ! Nó ‘xơi’ của đồng bào ta hơi ‘bị’ nhiều nên hơi ‘bị’ mập! Thịt của nó dành cho gia đình tui mùa Ðông nầy đó bạn!” Thiệt khẩu khí, 40 năm rồi, mà vẫn còn đúng y chang là ‘Thầy Giáo Ngụy’! He he!
Tôi bước qua đường phố vắng ngắt vào lúc nửa đêm. Từ sau những cụm mây tím dầy, vài tia sáng mờ ảo từ mặt trăng le lói xuyên qua vùng bóng tối. Xa xa, có tiếng xe lửa đang xùng xuc. giảm dần tốc độ. Ga xe lửa nằm ở ngay bên bờ sông nước đen xì xì vì những cống rãnh của khu dân cư gần đó tuôn ra. Một làn khói phun mờ mịt khi cái toa xe từ từ tiến lại, bốc lên một mùi khó chịu của nhiên liệu. Ngồi gọn lỏn trên một hòn đá bự là một bà già ngồi ôm một bình trà và một cái chén uống trà bằng men sứ. Sau lưng bà ta, cái cửa kính nhà ga phản chiếu hình bóng tôi dưới ánh trăng chênh chếch. Tôi vuốt mái tóc nhờn nhờn, sửa sang một chút để taọ một vẻ chỉnh tề, coi được. Bà già ngó tôi bằng cặp mắt toét, hấp him, rồi thận trọng ngó xuống bình trà, hỏi: – Muốn uống trà không, năm cắc một chung đấy. Rồi với vẻ nhiệt tình, bà tiếp: – Nhưng với con thì qua không lấy tiền đâu. Tôi lắc đầu từ chối lời mời, nhìn qua vai bà để tìm người bán vé. Phòng vé vắng tanh, không có lấy một bóng người nào, ngoại trừ người cảnh sát ngồi gà gật ngủ ở một góc. Nơi tay hắn, cái gậy tuần lập loè trong bóng tối. Bà già hỏi: – Con đi đâu? Tôi đáp: – Con đi Sài Gòn. Mua vé ở đâu vậy? Bà già lắc đầu: – Giờ này thì còn ai ở đây đâu mà bán vé! Nghĩ đến cảnh phải ở lại Nha Trang thêm một ngày, tôi phát hoảng: – Bà có biết cách nào để con có thể đi Sài Gòn tối nay không? Cây cột đèn thả ánh sáng lập loè vào khuôn mặt đầy vết nhăn của bà lão, bà nhìn tôi, hỏi: – Con có biết nhẩy tầu không? Tôi lắc đầu: – Dạ không. Bà cụ giải thích: – Dễ mà. Chờ cho xe lửa bắt đầu chuyển bánh, nhảy lên toa cuối cùng. Qua sẽ chỉ cho con chỗ núp để không bị tóm cổ. Khi tầu tới Sài Gòn, chờ cho khi nào nó tới gần ga, chạy chầm châm. thì nhẩy xuống. Cẩn thận đừng để gẫy chân là được rồi. Tôi thốt lên: – Vậy nguy hiểm quá, còn có cách nào để con kiếm được cái vé không hả bà? – Nếu làm đúng theo lời qua chỉ, con sẽ bình an. Hơn nửa số hành khách là dân đi lậu. Chỉ cần giữ được bình tĩnh và hoà lẫn vào đám đông là thoát rồi. Tôi thấy không còn con đường nào khác, đành lên tiếng: – Thôi được, con rất cảm ơn bà. Bà cụ đưa ra một ly trà đen, cái ly cáu bẩn với một chất gì đen kịt như những cái móng tay của bà, và hỏi: – Con muốn uống không? Qua mời mà. Tôi lễ phép lắc đầu. Ở trước cái bảng stop, một đám đông đang đứng túm tụm chờ xe lửa khởi hành. Tôi chào từ biệt bà cụ. Bà thì thầm:
– Qua biết con là ai. Cám ơn con đã giúp thằng cháu qua điền đơn. Tôi quay lại và nhìn vào mặt bà: – Cháu bà là ai vậy? Bà cụ vừa nói vừa vẫy tay: – Chẳng sao. Qua biết là tại sao con đi Sài Gòn. Ơn nghĩa của con làm cho chúng tôi, tôi không thể trả ơn được, nhưng tôi có thể cầu xin thần thánh phù hộ cho con đi bình an. Một ngày gần đây sẽ tới lượt thằng cháu tôi cũng sẽ đi trên chuyến xe lửa này, y như con vậy. Chiếc đầu máy di chuyển trên đường rầy bóng ngời, ré lên inh ỏi. Viên công an đang ngủ, choàng dậy, ngó quanh. Tôi cẩn thận tránh hắn, bước ngược về phiá bóng tối. Mười lăm phút sau, khi hành khách đã lên hết, tầu bắt đầu chuyển bánh. Vừa lúc nó lăn ngang qua tôi, tôi chôp. lấy cái tay vịn nhỏ lòi ra ở thành phía sau toa cuối cùng rồi nhẩy tót lên, y hệt như đã được bà cụ chỉ dẫn. Gió thốc vào tóc tôi dữ dội. Tôi ép sát mình vào cái cửa thép lạnh lẽo và nhắm nghiền mắt lại. Trong óc tôi, hình ảnh của Kim lại hiện ra thật là sống đông.. Mùi da thịt đàn bà của nàng còn như đọng trên ngón tay tôi, lòng tôi nổi lên những tình cảm rất là mâu thuẫn khi nghĩ về nàng. Tôi nhớ lại những giọt nước mắt nhỏ xuống khi ôm hôn tôi trong vòng tay, sự xúc đông. dâng lên bóp nghẹy trái tim tôi. Mặt tôi bừng bừng hổ thẹn. Bây giờ thì tôi hiểu được cái giá mà tôi phải trả về sự báo thù. Dù Kim có tha thứ cho tôi hay không, tôi cũng đã làm tan nát đời nàng. Cả về thể xác lẫn tinh thần. Tôi cũng chẳng hơn gì Lâm, hay cha của Kim, hay bất cứ một quân súc sinh nào tôi đã gặp trên đường đời. Tệ nhất là tôi đã phải sống với sự nhận thức ấy. Đó là cái giá mà tôi phải trả. Con tầu càng tiến sâu vào bóng tối, tôi càng nhận rõ khoảng cách giữa tôi và nàng tăng thêm. Nửa giờ sau, tầu dừng lại ở ga kế, vừa đủ để hành khách kịp co duỗi chân cho bớt tê cứng, trước khi nó tiếp tuc. lên đường. Chuyền từ toa này qua toa khác, tôi phát hiện một toa phụ chở đầy nông phẩm. Ngay lối vào, hai người đàn bà nằm dưạ vào nhau ngủ vùi. Tôi cẩn thận bước qua mình họ. Ôm chặt cái cặp trong tay, tôi lưạ một bao gaọ lớn, phẩy buị, rồi nằm lăn xuống cái giường tạm thời, rung rinh theo nhịp xe, tôi mau chóng chìm vào giấc ngủ. Cuộc viễn du chiếm thêm mười tiếng đồng hồ nữa để tới được Sài Gòn. Vừa nhìn thấy cảnh trí quen thuộc là tôi lao ra khỏi toa xe, hạ mình xuống bằng một bên hông. Xa xa, thoai thoải theo sườn đồi, thành phố nằm gọn trong vòng ôm của sông Sài Gòn, trông nhỏ xíu như cái đồ chơi của con nít. Nhà cửa xúm xít trong lòng chảo, kéo dài xuống sát tới mé sông. Những mái ngói đỏ ẩn hiện trong rừng cây thấp thoáng như những tia lửa giữa mặt trời. Tới ngã rẽ vào con đường buị đỏ, tôi nhẩy phóc lên một chiếc xích lô về nhà cụ Hom. Năm ngày tiếp theo, tôi tới Sở Nhà Đất Trung Ương, tìm mọi cách để kiếm cho được cái chữ ký cuối cùng cho hồ sơ ra đi của chúng tôi. Mỗi lần tiếp xúc với một nhân viên nào đó, là tôi lại được ném cho một lời từ chối. Ngày qua ngày, bộ mặt của tôi xuất hiện tại phòng đơị trở thành nguồn cảm hứng cho sự trửng giỡn của moị người, nhưng tôi quyết không bỏ cuộc. Tờ đơn nhầu nát trong tay tôi, ố bẩn vì chính mồ hôi của tôi và đã ngả vàng vì ánh mặt trời gay gắt chiếu vào. Mỗi chữ, mỗi dòng, nay đã trở thành một phần kỷ niệm trong ký ức của tôi. Hai ngày trước lịch trình gia đình tôi lên máy bay, tôi nhận được điện tín của mẹ tôi, như sau: “Ông ngoại đã mất đêm qua. Đừng trở về nữa vì mẹ và các em sắp lên đường đi Sài Gòn. Sẽ gặp con sớm. Thân yêu. Mẹ.” Tôi không còn thì giờ để mà khóc ông. Còn cả đống việc Tôi phải hoàn tất trước khi mẹ tôi tới. Trong một ngày, tôi lấy được vé máy bay, xong được vụ chích ngừa và khám tổng quát. Tối hôm đó từ cửa sổ, tôi nhìn thấy mẹ tôi bước vào nhà trên lối đi tối tăm trơn trơt. Em Jimmy, em Bé Ti theo sau, mệt mỏi và lảo đảo vì cuộc hành trình dài dằng dăc. Trên những bức tường của nhà hàng xóm, bóng dáng gia đình tôi nhẩy múa như hình nộm được điều khiển bằng giây. Có những cánh hoa hồng rải rác trên sân ướt, tàn tạ bên khe đá và mảnh kính vỡ. Mùi từ cơ thể và đất bám trên quần áo của moị người đã khiến cho tôi nhận ra ngay mẹ và các em tôi đi bằng xe lửa tới đây. Tôi bật đèn ngoaì sân, chờ mọi người bước vào. Cha mẹ dì Đặng lặng lẽ ngồi im lặng bên cái bàn chơi bài. Trước mặt họ là một bình trà nguội ngắt từ lâu, chẳng ai buồn rớ tới. Mẹ tôi bước lên cửa, ánh sáng vàng rực kỳ bí từ trên trần toả ra trên mặt bà. Đôi mắt mẹ buồn thăm thẳm. Một vòng tang đen quấn quanh cánh tay mẹ tôi để nhớ tới người đã khuất. Mẹ tôi thẫn thờ giống y như hôm bà bị mất căn biệt thự. Trong cái nhìn đăm đăm, niềm thống khổ về những nỗi bất công của cuộc đời tràn ngập trên mặt bà.
Để phá sự yên lặng, tôi hỏi mẹ: – Mẹ ơi, chuyện xảy ra thế nào? Mẹ tôi trả lời: – Mẹ cũng không biết nữa. Sáng hôm qua, khi ngủ dậy, mẹ thấy ông ngoại nằm trên giường, đã mất rồi. Chắc ông mất lúc nửa đêm. Có thể là bị nghẹt tim, hoặc có thể ông trút gánh nặng cho mình đi yên ổn. Ông ngoại đáng thương của tôi! Đến lúc chết ông vẫn còn quan tâm đến chúng tôi. Những dòng nước mắt lăn xuống má mẹ tôi, và ngay đó, tới phiên chính chúng tôi cùng khóc với mẹ. Bỗng nhiên tôi nhớ tới con chó của Jimmy, bèn hỏi nó: – Con Lu ra sao, Jimmy? Jimmy trả lời: – Tống Duy nhận nuôi. Nó cũng thích ở cái nhà mới lắm. Tôi hỏi mẹ: – Còn đám tang ông ngoại ra sao hả mẹ? Mẹ tôi đáp: – Gia đình bác sẽ sắp xếp đám tang. Cùng ngày đó, chúng ta lên đường sang Thái Lan. Tôi nói: – Chưa chắc chúng ta đi được, mẹ ơi. Con không xin được chữ ký. Trừ phi mẹ kiếm được ai đó ở Nha Trang chứng thực cho mẹ, con không thấy chúng ta có lối thoát nào khác. Mẹ tôi lau nước mắt, hắng giọng. Sự mệt mỏi đã biến mất mà thay vào đó, xuất hiện một giọng nói cương quyết: – Đừng lo, con. Chúng ta đã đi đến nước này, chỉ còn một cách là tiến tới. Chúng ta vẫn còn một ngày để chạy việc mà con.
Đêm về trên thành phố. Hàng cây đổ bóng xuống mặt đường, tiếng chim ríu rít trên cành và tiếng động cơ nổ lạch bạch ở cuối phố, tất cả đều phai mờ đi khi hoàng hôn xuống. Chung quanh cánh đồng lúa, tiếng dế rền rĩ và tiếng ếch kêu hoà lẫn với nhau thành một bản nhạc buồn tênh. Con đường dẫn tới nhà Kim vừa xa vừa ngoằn ngoèo. Không có đèn đường, tất cả chìm trong màn đêm mờ mịt, tôi mò mẫn trên con đường đầy mấp mô. Cái nóng đầu mùa hạ vẫn còn hừng hực khiến cho đất dưới chân tôi nóng như ở trong lò. Mồ hôi dầu nhỏ giọt xuống trán tôi làm tôi thấy sót cả hai mắt. Cũng không khó khăn lắm, tôi tìm thấy nhà Kim ở bên kia một con suối cạn. Sương lạnh bốc hơi từ con suối điều hoà cái nóng nhức nhối. Tôi khoan khoái hít thở bầu không khí mát mẻ từ đó toả ra. Xa xa, mọi phòng trong nhà của nàng đều chiếu ra ánh sáng của đèn huỳnh quang, trong khi cổng vòm bên ngoài thì chìm trong bóng tối. Nhà hàng xóm ở gần nhất cũng phải cách xa cỡ ba chục thước, cách biệt với nhà nàng bằng một khu ruộng lúa hoang. Cũng chẳng mất nhiều thời gian tôi đã tìm được Kim. Qua một lùm dây leo mọc um tùm và buị cây gai bọc quanh sân sau nhà nàng, tôi trông thấy nàng đứng bên bờ giếng. Thân thể nàng ướt rượt từ đầu đến chân. Làn ánh sáng mờ mờ hắt ra từ trong bếp toả trên mình nàng một thứ mầu đồng lấp lánh. Bộ quần áo của nàng dính sát vào thân mình nom như một làn da thứ hai. Cứ mỗi lần nàng xối một gầu nước lên người tôi lại ngửi thấy mùi hương của lá xả tươi mát thoang thoảng trong màn đêm. Cánh cửa bếp đang mở và tôi có thể nhìn thấy cái bóng cao cao của mẹ nàng đang chập chờn trên bếp lò. Tôi cẩn thận leo qua cái hàng rào lởm chởm, cố tránh gây tiếng động và cầu mong sự hiện diện của mình không làm cho nàng giật mình. Rồi núp mình trong bóng tối, sau phía buị tre, tôi thì thào gọi tên nàng, để cho gió mang cái đơn âm ấy đến tai nàng. Mãi đến lần thứ năm, Kim mới ngừng tắm và nhìn chăm chăm vào bóng đêm, phía có tôi đứng. Với hai cánh tay co lên ngực, nàng nhích lại gần tôi và lớn tiếng: – Ai đó? Tôi chui ra từ trong buị cây. Có tiếng mẹ nàng hỏi vọng ra: – Có chuyện gì thế, Kim? Tôi nói với Kim: – Đừng sợ. Anh đây, Kiên đây mà. Dưới ánh sáng mờ mờ, tôi thấy Kim ôm lấy ngực, hốt hoảng. Mấy giây trôi qua, rồi nàng nói với mẹ: – Không có gì hết, mẹ. Chỉ là một con sóc chaỵ ngang qua. Rồi nàng thì thào với tôi: – Kiên, em không biết là anh tới gặp em tối nay. – Anh có chuyện cần nói với em. – Vậy chờ em vài phút để thay quần áo đã. Em sẽ gặp anh ở ngoài con suối nhé.
Tôi lắc đầu: – Không, anh đã bị trễ rồi. Tối nay anh phải đi Sài Gòn, rồi đi Mỹ. Anh chỉ tới để chào từ biệt em thôi. Nàng bước tới thêm vài bước, và tôi thò tay ra, kéo nàng về phía tôi. Chúng tôi lẩn vào sâu hơn trong ruộng lúa, rời xa chỗ mẹ của nàng. Thân hình còn ướt đẫm của nàng dướn cong lên trong vòng ôm nóng hổi của tôi. Đã ôm Kim trong vòng tay bao nhiêu lần, tôi không thể quên được cái sự mềm mại của thân thể nàng. Tim tôi đập dồn dập trong lồng ngực như muốn nổ tung ra. Cái ý nghĩ chỉ gặp nàng một lần cuối cùng đã mang thêm can đảm cho tôi để làm cái điều mà tôi chưa từng dám làm. Tôi chộp tay lên ngực nàng. Kim kêu khe khẽ lên một tiếng, nhưng nàng không chống cự. Tôi khoả lấp miệng nàng bằng những nụ hôn, vẫn giữ chặt lấy thân hình của nàng trong khi cơ thể tôi bừng lên vì bị kích thích, thèm muốn dữ dội ân ái với nàng. Bên tai nàng, tôi thì thầm những câu không có mạch lạc: – Anh muốn em, thân mình của em. Mọi thứ về em đều đẹp tuyệt vời. Anh muốn ngắm chỉ riêng em thôi, không quần áo gì cả… Kim trả lời: – Em yêu anh. Anh có biết là em yêu anh ngay từ cái hôm đầu chúng mình gặp nhau trên bãi biển không? Tôi cởi khuy áo sơ mi của nàng, lột nó ra khỏi thân mình nàng. Nàng run rẩy như một con chim sẻ bị mắc bẫy. Đôi mắt nàng long lanh lệ. Tôi không hiểu tại sao nàng lại khóc, dù vậy, tôi cũng không muốn tìm hiểu để làm gì. Một ý nghĩ cứ vang dội mãi trong đầu tôi, đó là: tôi phải trả thù cho mẹ tôi và cho chính tôi. Sự trả thù lúc nào cũng phải kèm theo cái giá của nó. Tôi tự hỏi cái giá của tôi sẽ là gì? Tôi đặt tay lên cái quần nylon của nàng rồi kéo tuột nó rồi quăng ra đất, cạnh chiếc sơ mi của nàng. Say sưa với quyền năng mới của mình, tôi cũng cởi quần áo tôi ra, nhìn thân thể trần truồng của nàng run rẩy. Kim nói: – Em yêu anh. Ngay cả nếu như em không còn gặp anh nữa, thì em vẫn mãi mãi yêu anh, Kiên ạ. Tôi lấy tay che miệng nàng, bảo nàng: – Đừng nói nữa Chúng tôi nằm với nhau trên mặt cỏ, Và một cách chậm rãi, tôi đã vào sâu trong thân thể của nàng. Ban đầu hơi khó một chút, nhưng rồi thân thể của chúng tôi đã nhập lại làm một. Nàng càng lúc càng run rẩy hơn và trong một thoáng, Tôi bỗng thấy sợ hãi. Hình ảnh cha nàng, tên Trần, và của đám công an cộng sản tạm thời biến đi đâu trong đầu óc của tôi. – Anh có làm em đau không, Kim? Nàng không trả lời. Thay vào đó, nàng càng thổn thức hơn. Cảm thấy mình tội lỗi quá mức, tôi năn nỉ: – Anh xin em, cho anh biết là anh có làm em đau đớn không? Nàng trả lời: – Không. Không đau. Nhưng em sợ. – Sợ cái gì? Mấy sơị cỏ hoang dính bết lên mái tóc còn ướt của Kim. Nhìn xuống mặt nàng, tôi có cảm giác như đất đai nuốt chửng nàng vào lòng. Nàng quay mặt đi, thì thầm: – Em sợ là anh cũng mắc phải cái lỗi lầm y như cha của anh đã làm. Nhìn chúng mình coi. Anh sẽ sớm rời khỏi cái sứ sở này. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu em mang thai? Rồi con chúng mình sẽ ra sao? Sẽ lại là thứ thân phận dư thừa ngay cả trước khi nó được sinh ra và cha nó mang hai dòng máu. Những lời của nàng đâm nhói vào tim tôi, xuyên thẳng vào nỗi thống khổ mà tôi đã vùi sâu trong tận đáy tâm hồn. Tôi co người lại và rời khỏi nàng và quờ tay tìm mớ quần áo của tôi. Kim vội túm lấy tay tôi, mu bàn tay kia quệt hai hàng nước mắt: – Em xin anh. Đừng giận mà rời xa em. Em yêu anh. Anh muốn làm gì em thì làm nhưng xin anh hãy minh bạch với chính anh rằng tai sao anh lại làm như thế. Tôi ngắt lời nàng: – Thôi đừng nói nữa. Sao lúc nào cô cũng phải tỏ ra là mình giỏi hơn người vậy? Cô im mồm đi, cho tôi miễn mấy cái chuyện tình cảm của cô có được không? Cô muốn biết tại sao tôi đã làm như thế này à? Hãy thử nhìn lại mình coi. Bộ tôi với cô hợp nhau lắm hay sao? Cô thì với cái giọng nói kỳ cục sặc mùi cộng sản làm cho tôi muốn phát ói lên ngay từ lúc đầu tiên mới gặp nhau. Tôi thù cô, và thù tất cả những gì mà cô tiêu biểu. Tôi thù luôn cả cha cô với cái cung cách mà ông ta đối xử với mẹ tôi. Tôi thù tất cả bọn người phe cô, đã cướp đi tất cả những gì tôi có từ trước đến nay. Nếu tôi có thể hại một người trong đám bọn cô, tôi sẽ rời cái chốn này, thoả mãn. Nàng quơ bộ quần áo ở trước mặt nàng và nức nở: – Đừng có đi! Đấy không phải là những lý do mà anh tới đây tối nay. Hãy nói là anh tới đây vì anh yêu em. Anh đã hứa là không bao giờ làm khổ em mà, anh có nhớ không? Tôi bỏ đi. Tiếng rền rĩ của nàng dâng lên nhói buốt trong bóng đêm, một thứ âm thanh xa lạ giữa những tiếng dế nỉ non: – Hãy nói với em như thế một lần thôi trước khi anh xa em mãi mãi. Tôi đứng lại trên lối mòn, choáng váng vì những ý tưởng mâu thuẫn chaỵ qua đầu. Môi dưới của tôi run bần bật đến nỗi tôi cất lên lời một cách khó khăn: – Anh không nói như thế được, Kim. Anh không thể yêu em được. Anh không biết cách yêu đương. Rồi tôi lẻn trốn khỏi cơ ngơi của nhà nàng như một tên ăn trộm, bịt hai tai lại để khỏi nghe những lời khóc than của nàng. Khi tôi về tới nhà, cả xóm đã chìm sâu trong giấc ngủ. Mặt trăng mầu bạc trên cao nom như một mẩu móng tay treo giữa không gian mênh mông. Mẹ tôi ngồi bên giường của em bé Ti chờ tôi. Bà lùa tay vào mái tóc em tôi diụ dàng ru lên một bài nó ưa thích. Ngọn nến cháy leo lét trong một cái khay để gần đó. Ánh sáng phản chiếu lên tường taọ nên một hoạt cảnh với những hình ảnh méo mó, chập chờn. Mặc dù đã trang điểm đầy đủ nom mẹ tôi vẫn phờ phạc, mệt mỏi và già nua. Đôi mắt của bà trũng xuống, bao quanh bởi bờ mi nhăn nheo và ủ rũ. Làn da mặt của bà xệ xuống, héo hắt như một thằng hề. Bà hỏi tôi: – Con ở đâu về thế? Tôi tảng lờ câu hỏi của bà, lục lọi trong phòng để tìm cái ba lô, rồi hỏi: – Mấy giờ rồi, mẹ? – Mười một giờ. Con đã đi đâu nãy giờ vậy? – Con tạt qua chào từ biệt mấy người bạn.. Mẹ ơi, mẹ đã kiếm được tiền mua vé xe lửa cho con chưa? Bà nhún vai: – Rồi. Tôi nói: – Vậy tuyệt. Con sẽ duyệt lại với mẹ mớ hồ sơ. Con sẽ mang đi hết nhưng để lại cho mẹ một bản sao về giấy tờ nhà cửa. Mẹ phải cố làm sao để bắt họ ký ở đây, trong trường hợp con không xin được sự chấp thuận với mớ của con ở Sài Gòn. Phải không, mẹ? – Mẹ sẽ ráng. Mọi thứ ở cả trong buồng mẹ ấy. – À này, làm thế nào mà mẹ kiếm được tiền vậy? Bà nhìn thẳng vào tôi: – Chuyện làm thế nào mẹ kiếm được, chẳng có gì là quan trọng. Con không cần biết, hiểu chưa? Tôi bước vào căn buồng bà, mang theo ngọn nến. Sau khi bán đi cái mái bếp, nước đã gỉ vào trong phòng của mẹ tôi mỗi khi trời mưa. Trên tường, những tấm ảnh đen trắng chụp gia đình tôi được bọc bằng giấy bóng kính trắng, vài tấm chụp mẹ tôi với tôi, những tấm khác chụp mẹ tôi với Jimmy, tất cả đã hư hại vì hơi ẩm thường xuyên. Nước ảnh đã bong lên, rách ra và vàng ố ở các góc như tấm ảnh đã cũ kỹ từ năm chục năm. Trên mặt sàn, nơi trước đây kê cái bàn phấn của mẹ tôi, hồ sơ của gia đình tôi được gom thành từng chồng, xếp thành hàng, cao tới hơn nửa thước và dài trên một thước. Ròng rã đã ba năm theo đuổi tấm hộ chiếu, kết qủa mang lại là cái núi hồ sơ đó. Mẹ tôi đi theo vào. Bà ngồi dưạ lưng vào tường, nhìn tôi duyệt từng hồ sơ. Tới một sấp dầy cộm được cất dấu, gồm toàn giấy biên nhận của bệnh viện, buộc chằng bằng một sơị dây thung, tôi cầm lên giơ cho mẹ tôi và hỏi:
– Những cái gì thế này, hả mẹ? Bà trả lời thản nhiên: – Cái đó của tao. Mồi lần tao bán máu thì bệnh viện lại cấp cho một cái giấy biên nhận. Tôi bật lên một tiếng than nhỏ, rồi nói: – Có tới cả năm chục cái biên nhận ở đây. Sao mẹ lại làm thế? Sao mẹ không cho chúng con hay. Bà gạt đi và nói: – Ờ, thôi bỏ qua đi. Mẹ phải cho con, em trai con và em gái con đi học. Mỗi học kỳ, con cần nào là sách vở, quần áo, giầy dép, đủ mọi thứ. Trong mười năm liền chẳng có công ăn việc làm chắc chắn, chẳng có lơị tức, mẹ còn có cách nào lưạ chọn khác đâu? Chỉ vì không muốn cho con phải lo lắng nên chẳng bao giờ mẹ nói ra cho con biết. Tôi thở một hơi thật dài, lòng ngập tràn mặc cảm tội lỗi. Mẹ tôi kéo cánh tay tôi. Khuôn mặt bà giãn ra, những nếp nhăn quanh đôi mắt nhướng lên khi bà mỉm cười. Bà nói diụ dàng: – Nghe mẹ nói này, cưng. Con biết là việc học của con rất quan trọng đối với mẹ. Mẹ chẳng có gì cho con, ngoại trừ chỉ có một con đường sống tốt đẹp hơn cho cuộc đời con. Mà nhìn lại gia đình mình thử xem, đâu có đến nỗi nào! Con đã học hành giỏi giang ở trường. Con còn biết tìm tòi cách để mang cả gia đình chúng ta thoát khỏi cái đời sống khốn khổ này. Ngoài ra, con rất có hiếu với mẹ. Mẹ đoán chắc với con là kể từ nay, cuộc đời chúng ta sẽ sáng sủa hơn nhiều. Tôi nói một cách chua chát: – Có thể mình không ra khỏi đây được, mẹ ơi. Nếu cái lũ khốn không chiụ ký những giấy tờ này, chúng ta sẽ kẹt mãi mãi ở đây. Bà để một ngón tay lên môi: – Đừng có nói như vậy. Hãy lạc quan lên và Trời Phật sẽ phù hộ cho mình qua được hết. Tôi đứng dậy, nhét mớ hồ sơ vào trong ba lô. Đã tới lúc tôi phải nó lời từ biệt với bà. Tôi đứng một cách ngượng nghiụ trong phòng để tìm lời lẽ. Bà hỏi tôi: – Con sẵn sàng chưa? – Rồi, mẹ. Bà trao cho tôi ba tờ giấy một trăm đồng. Một ý tưởng thoáng qua óc, tôi chộp lấy tay bà, kéo hai tay áo lên để lộ ra những đường gân máu. Dưới ánh sáng lung linh của ngọn nến, tôi thấy có một miếng băng gạc quấn quanh ống tay phải của bà. Chung quanh, máu đã tụ bầm tím. Tôi kêu lên: – Thôi rồi, mẹ mới bán máu của mẹ hồi chiều nay phải không? – Thì như mẹ nói, có gì quan trọng đâu. Đi ngay cho kip. chuyến xe lửa. Tôi ôm mẹ tôi và ghì chặt lấy bà. Thân mình bà quá gầy guộc trong vòng tay của tôi. Bà nói: – Cầm tiền đi. Tôi nhón lấy hai tờ và trao lại cho bà tờ cuối cùng: – Con chỉ cần từng này thôi. Ngày mai mẹ phải đi mua thứ gì hay hay cho mẹ, hay là mẹ nhuộm tóc cho đẹp trước khi đi Mỹ. Bà gật đầu, nói: – Được rồi. – Vậy con chào mẹ. Vài hôm nữa mình sẽ gặp nhau.
Điện tín của Jimmy tới hôm thứ tư, ngày 21, tháng ba, năm 1985, nội dung như sau: “Cái list ra sáng nay tên nhà mình đứng hàng đầu. Ngày đi Mỹ là thứ tư, 28 tháng ba. Con về thăm ông ngoại. Biểu anh Kiên vô thế con. Thân yêu, Jimmy.
Tái bút, Anh Kiên, tất cả giấy tờ anh lo xong chưa?”
Câu cuối cùng làm u ám cái tin tức đầy phấn khởi mà bức điện tín mang lại, cản không cho tôi nhẩy cẫng lên vì vui. Đã hơn hai tháng rưỡi rồi mà vẫn không lấy được chữ ký của sở Nhà Đất, xác nhận đã giải toả căn nhà của mẹ tôi. Tất cả những viên chức mà tôi đã gặp trong cái văn phòng ấy đều gạt đơn của tôi sang một bên mỗi khi họ trông thấy tên của ông bác tôi trên chứng từ chủ đất. Cái trường hợp nhà một chủ, đất một chủ quá rắc rối nên chẳng có ma nào thèm sử lý, mặc dầu mỗi lần đến gặp họ, tôi đều mang theo thuốc lá đắt tiền, hoặc trà sen để làm “quà tặng” cho họ. Mối liên hệ giữa bà bác của tôi và mẹ tôi ngày càng tệ mạt. Hai người cãi nhau gần như cơm bữa với những la lối, năn nỉ và hăm doạ của mẹ tôi. Cuối cùng, đã tuyệt vọng, mẹ tôi đành đề nghị tăng không cái nhà cho bà chị và ông anh rể để đổi lại chữ ký của họ trong giấy tờ giải toả. Tuy nhiên, cả hai bác tôi đều sợ là họ bị đóng cái loại thuế thừa kế gia tài nên họ không chấp nhận ngay cả ý kiến đó, mặc cho mẹ tôi khóc hết nước mắt. Bác trai tôi cho rằng một khi gia đình tôi bỏ rơi căn nhà thì chuyện dĩ nhiên nó sẽ trở thành tài sản của bác, vì bác là chủ miếng đất. Nhất cử nhất động của bác có thể khiến cho nhà nước để ý, biết đâu có thể gây thiệt hại cho gia đình bác. – Đừng có chạy loạn lên, mày làm cho tao chóng cả mặt! Mẹ tôi quát em bé Ti trong khi hai người đi xuyên qua khu vườn. Tiếng ồn ào của xoong nồi và mùi thơm nồng nực của chả cá bay toả khiến tôi đứng bật dậy. Mẹ tôi ì ạch bước vào bếp, lên tiếng chửi đổng vu vơ. Hai cái thúng nặng trĩu đồ đè hai đầu đòn gánh hằn xuống vai mẹ tôi, đau đớn. Bà hạ cái cái gánh nặng xuống sàn, ngồi phịch xuống ngay bên cạnh, cầm nón quạt phành phạch. Mồ hôi ướt đẫm từng mảng lớn trên áo bà, nhất là ở hai bên nách. Bé Ti đứng ở ngay lối đi, tay ôm tô rau sống vơi một nửa. Như thường lệ, trông em gái tôi như người đang trong cơn mộng du. Tôi ngồi xuống cạnh mẹ, hỏi: – Hôm nay bán tệ lắm hả mẹ? Mẹ tôi đáp: – Quá tệ! Cả một dẫy đầy nhóc hàng cháo tranh dành với nhau. Có thử cho không cũng chẳng ai thèm! Tôi giơ cái điện tín của Jimmy ra. Mẹ tôi nhìn sững, mắt sáng lên. Bà quơ cánh tay tôi, ôm cứng, reo vang lên như đứa trẻ sung sướng. Đoạn, cả hai mẹ con tôi đều nhẩy cẫng lên trong khi mẹ tôi hân hoan vẫy vẫy bức điện tín cao quá đầu bà. Bé Ti cũng huà theo chúng tôi, dù nó chẳng biết lý do nào đã khiến cho mẹ con chúng tôi mừng đến phát điên lên như vậy. Khi chúng tôi ngừng lại để thở, tôi nói: – Mẹ ơi! Con phải ra đi đêm nay. Con muốn bắt kịp chuyến tầu nửa đêm đi Sài Gòn. Sáng sớm mai Jimmy sẽ về tới nhà. Mẹ tôi gật đầu đồng ý. Tôi tiếp: – Con cần chút đỉnh tiền để mua vé. Và mẹ phải cố lo cho xong cái vụ rắc rối về giấy tờ của căn nhà. Không có giấy tờ đó, mẹ biết đấy, chúng ta không rời bỏ khỏi cái đất này. Niềm vui biến mất khỏi gương mặt mẹ tôi nhanh y như lúc nó tới. Bà hoàn lại cho tôi bức điện tín, lẳng lặng cầm nón lên, bước ra ngoài. Tôi hỏi với: – Mẹ đi đâu đấy? Không quay lại, mẹ tôi nói to: – Mẹ kiếm tiền cho con đi. – Kiếm tiền? Bằng cách nào hả mẹ? – Chưa biết nữa. Con khỏi phải lo. Vào chơi với ông ngoại đi. Ông tôi ngồi trên cái giường lót bằng giấy báo trong phòng ông. Bên cạnh là cái giỏ đựng quần áo của bà tôi. Lặng lẽ, ông tôi lật những chiếc áo dài, rồi xếp ngay ngắn, có lần có lượt ở trước mặt. Hai mắt ông nhắm lại, những ngón tay tật nguyền vì phong thấp cứ vuốt mãi lên những đường viền, những mối nối của lớp vải đã phai mầu. Thỉnh thoảng ông tôi lại ấp cái áo lên mặt, hít vào thật sâu như là muốn chút mùi hương còn vương lại trong áo bà tôi có thể thấm sâu vào tận đáy phổi của người. Đôi môi ông hơi mấp máy. Trong cái yên tĩnh của buổi chiều tà, tiếng thì thầm của ông lan trong căn phòng nghe như tiếng gió rì rào, nhẹ nhàng cất lên những lời âu yếm với người vợ đã khuất. Cung cách đặc biệt này đã trở thành một nghi lễ đặc biệt của ông tôi kể từ ngày bà tôi qua đời. Đôi khi, cái cảm giác dường như bà tôi vẫn còn lẩn khuất đâu đây trong căn phòng với ông tôi khiến tuị tôi phát khiếp. Tôi goị to, hy vọng tiếng nói của tôi xua tan được vẻ u ám của căn phòng: – Ông ngoại ơi! Ông nhìn lên. Nắng trưa oi ả xuyên qua mảng tường trống tuôn vào phòng, đâụ lên mái tóc ông và trên sàn xi măng, hừng hực như hơi bốc lên từ nồi cháo nóng của mẹ tôi. Làn gió nóng bức lùa tôi lại gần ông hơn. Trông thấy tôi, ông nhếch môi cười, vỗ nhẹ tay lên sàn nhà ngay bên cạnh, bảo: – Lại đây, lại ngồi gần với ngoại nè. Tôi rời khung cửa lớn, lại gần và ngồi xuống cạnh ông, nói: – Ông ngoại ơi, tối nay cháu vào Sài Gòn. Ông ngoại tôi gật đầu: – Ngoại biết, cháu à. Hồi nãy mẹ con cháu nói chuyện, ngoại có nghe. Rồi ông quay lại sự chú tâm trở về với sấp quần áo. Đôi mắt ông trầm ngâm, những ngón tay mò mẫm trên chiếc áo dài nhung đen đơn gỉan, có hàng cúc bac. lớn và cái cổ cao theo truyền thống. Một vệt ố bẩn dài làm đổi mầu kéo từ vai cho đến phiá dưới bụng. Nơi khủyu tay đã mòn, lớp vải lót bên trong hiện lên qua lớp nhung rách Ông tôi diụ dàng nhỏ nhẹ: – Cháu có biết đây là cái áo mà bà ngoại thích nhất không? bà mặc trong mọi dịp quan trọng. Đi sắm đồ, đi ăn tối tại nhà hàng Le Colonial, Đi ngày ông lên chức đại uý, đám tang câụ của cháu… bà luôn luôn mặc chiếc áo này. Tôi hỏi: – Tại sao nó bị ố hả ông? Ông tôi bật lên tiếng cười nho nhỏ: – Tại ông đó. Ngày ông làm hư áo của bà, bà giận điên lên với ông. – Cái gì mà làm thành một vệt ố lớn thế, bộ ông ngoại đổ axít lên hả ông? Đang cười khúc khích ông phá lên cười sằng sặc. Với kỷ niệm xưa tràn ngập khuôn mặt, ông tôi nói: – Chuyện xảy ra lâu lắm rồi, chắc bà chẳng muốn kể cho cháu nghe đâu. Tôi nài nỉ: – Ông ngoại ơi! Ông giấu làm gì, kể đi mà. Cháu sắp đi xa rồi. Cho cháu chút gì để làm kỷ niệm về ông bà ở nơi xứ lạ quê người, đi ông! Ông tôi cười: – Ờ, cháu nói đúng quá. Ông cháu mình chả còn bao nhiêu thời gian với nhau. Thôi thì hãy nói chuyện vui về bà. Để ông sẽ kể đầu đuôi cho cháu nghe. Chuyện bắt đầu vào một đêm trăng tròn, đẹp, ông bà vừa đi ăn tối trở về. Bà ngoại bỗng nổi cơn ghen bậy. Cháu chưa thấy bà ngoại nổi cơn ghen đâu, còn hơn là sư tử Hà Đông. Mà càng ghen tuông càng dễ khiến cho người ta làm những điều khờ dại. Tôi cắt ngang: – Thế lúc đó cháu ở đâu? – Lúc đó cháu mới chỉ là một thằng nhãi con, hai, ba tuổi gì đó. Mẹ cháu thì vừa mới tân trang xong căn biệt thự. Tối hôm đó, ông muốn đi ra biển hóng tí gió mát cho tiêu cơm. Chẳng hiểu sao bà lại không tin, bà lén đi theo cách ba chục thước để dò thám. Ông biết là bà theo dõi ông, nhưng ông làm bộ như không biết. Ông đi lạch bạch như con chim cánh cụt trên bãi cát để cho bả thấy mắc cỡ mà bỏ về, nhưng bà vẫn theo ông sát nút. Cuối cùng, ông đứng lại, vươn vai nói nói thật to để bà có thể nghe được: “Ui da, mắc tiểu quá, đái ở đâu được bây giờ nhỉ”. Ông nghe tiếng bà cháu nhẩy vào một buị thông. Chờ một lát, ông quay ngược lại bước thẳng tới cái buị. Cái đầu tóc bả đen thùi lùi, ông còn thấy rõ, nhưng làm bộ đui, ông kéo khóa quần, nhắm ngay tóc bà mà tiểu xuống. Bà ngồi lặng thinh không nhúc nhích, ngay cả đến một cái nhích bắp thịt, nhưng ông có thể nghe thấy lời rủa thầm trong nhịp thở của bà. Rồi ông huýt sáo, chỉnh tề lại, lẩm bẩm trước khi đi: “Đây là hiệp một. Chắc sắp phải xả thêm hiệp hai”. Vẫn không có một lời nào. Bà cháu ngồi tỉnh queo, chờ ông quấn gói ra khỏi tầm mắt. Tôi phá lên cười. Ông tôi vỗ nhẹ lên vai tôi, nheo mắt trầm ngâm: – Tốt lắm, cứ cười đi. Cháu còn nhỏ mà ít cười quá. Ông mong điều đó sớm được thay đổi. Rồi ông nói tiếp: – Khi bà cháu về tới nhà thì ông và mẹ cháu đang ngồi trong phòng khách. Hai cha con cố làm ra vẻ tự nhiên, nhưng chỉ được một giây, khi nhìn thấy bà ướt mem và giận như điên, ông cười tới nỗi ngã bổ chửng ra khỏi ghế, còn mẹ cháu vì nín cười thành ra bị nấc cục suốt buổi tối. Cái áo hư hoàn toàn. Nước tiểu của ông mạnh đến nỗi nó ăn thấu qua lớp nhung như là chất a-xit. Bả tức quá, không thèm đếm xỉa gì tới ông suốt một tuần lễ. Tôi phát biểu ý kiến: – Hồi nào tới giờ cháu chưa hề thấy ông kể chuyện vui như vậy. Ông tôi với tay ghì lấy tôi. – Ông biết thế, cháu à. Ông lấy làm tiếc vì chúng ta đã xa cách nhau quá. Ông cũng lấy làm tiếc rằng thay vì có một người ông vui vẻ, đùa cợt, cháu chỉ có một người ông ngoại lặng lẽ, tật nguyền. Và ông cũng hối hận rằng đã giữ anh em cháu ở đây, trên cái mảnh đất tồi tàn khốn khổ này, nơi không thừa nhận các cháu. Đời đã xảy ra quá nhiều cay đắng, ông cũng không hiểu moị sự bắt đầu bị hư từ lúc nào. Ông chỉ còn biết cầu sao, đối với anh em cháu, đời cũng chưa đến nỗi quá trễ, để tuị cháu có một đời sống bình thản và hạnh phúc. Dù là các cháu ở đâu, nên nhớ rằng cuộc đời rất ngắn ngủi. Cháu phải tận hưởng mỗi giây phút trước khi nó trôi đi. Tha lỗi cho ông về những quyết định ngu xuẩn của ông. Ông đã quá ích kỷ và ương ngạnh. Tha lỗi cho mẹ cháu đã đánh mất tuổi thơ của các cháu. Mẹ cháu đã hy sinh tất cả đời mình cho mấy anh em cháu. Còn về bác gái cháu và cái gia đình ấy… Ông tôi thở dài, rồi nói tiếp: – Ông không biết cháu có thể tha thứ cho họ được hay không, nhưng ít nhất, cháu nên cố gắng giải thoát bản thân mình. Đừng để hận thù này tàn phá đời cháu thêm. Nếu cháu muốn đạt được hạnh phúc, đừng tìm về quá khứ, mà nên sống với hiện tại. Có nghiã lý gì nếu cứ ám ảnh mãi về chuyện đã xảy ra mà cháu cũng không thể thay đổi được nữa? Hãy biết sống và vui lên. Môt ngày kia cháu sẽ có gia đình riêng của cháu, vâỵ hãy nhớ lời khuyên của ông hôm nay. Tôi nói qua vai ông: – Ông ơi, sau khi chúng cháu đi rồi, ông sẽ ra sao? Ông tôi gật đầu: – Ông sẽ không sao đâu, đừng lo cho ông. Ông còn có kỷ niệm của bà ở đây, luôn luôn bên ông. Tôi ghì ông lần cuối. Ông hôn lên hai má tôi. Bao nhiêu năm đã qua mà hơi thở của ông vẫn còn ngát mùi kẹo Jolly Rancher. Bỗng nhiên tôi cảm thấy bé lại trong cách tay ông, như cái ngày tôi bước vào tuổi lên tám.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.