Chú Tư Mạnh

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 30, 2018

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Chú Tư Mạnh

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 30, 2018

Truyện kể của ĐỖ DUY NGỌC

Những năm đầu của thập niên 80, sau năm năm lưu đày ở Củ Chi, tôi được về thành phố dạy một trường cấp ba ở gần nhà. Mỗi tuần chỉ có 12 tiết dạy của ba lớp cuối cấp, chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông. Rảnh rỗi dù thời gian này, cả nước đang đói. Nhưng tôi vốn vô lo, đến đâu hay đến đó, quanh quẩn với đồng lương chết đói, sống tạm qua ngày. Chẳng biết làm chi cho hết giờ, lại bày đặt chơi chim. Chơi ở vườn Tao Đàn, sáng sáng xách lồng chim, đạp xe ra, tụ nhau lại đấu láo và nghe chim hót. Và cũng từ đó thành lập một nhóm cùng ngồi với nhau. Người cao tuổi nhất nhóm là chú Tư Mạnh, hồi đó cũng khoảng năm mươi. Chú cao to như Tây, ăn mặc chải chuốt và thanh lịch như công chức cao cấp thời trước. Giọng rặt Nam bộ và hành xử cũng khá hào phóng với mọi người. Gia đình chú thuộc loại giàu có, hồi đó đa số đều đi xe đạp hoặc xe gắn máy cũ mèm, chú chơi xe Honda đời mới do đám viễn dương đem về bán, chiếc nào cũng giá mấy lượng vàng. Đôi khi cuối tuần, chú lại đến bằng xe hơi Peugeot có tài xế lái. Lúc đầu, ai cũng tưởng chú là cán bộ có chức vụ về hưu, nhưng dần dần hỏi chuyện hoá ra không phải. Chú là dân buôn bán từ xưa đến giờ. Chuyên bán vàng. Lúc đó nhà nước cấm dữ lắm, nhưng nhu cẩu xã hội vẫn có, nên chú vẫn tiếp tục nghề xưa, dù là mua chui bán lậu. Chú có đến ba căn nhà, toàn mặt tiền đường lớn, mà cái nào cũng to. Tụi tui cứ thắc mắc không hiểu với tài sản như thế mà sao gia đình chú lại thoát được mấy lần đánh tư sản khốc liệt vậy? Hoá ra là chú có người em ở rừng về, làm chức gì lớn lắm trong uỷ ban thành phố, nên tài sản chú được an toàn mà nghe đâu lại càng nhiều hơn khi có sự trợ thủ đắc lực của chú em. Sáng nào cũng vậy, chú đều chơi dĩa bò kho bánh mì có bốn miếng thịt lớn, chú bảo chú rất thích món này, ăn hoài không thấy ngán. Thường thường, chú ăn hai miếng, còn hai miếng bà chủ đã biết ý, luôn gói lại đưa chú mang về cho hai con chó Fox bé tí tì ti. Thời đó đói ăn, cả tháng làm giáo viên như tôi mới mua tiêu chuẩn được nửa kí thịt heo bạc nhạc với mỡ, nên thấy chú ăn sáng như vậy, tụi tôi thấy chú quá sang trọng, nên dù ngồi với nhau, tiếng nói của chú vẫn có giá trị hơn hẳn. Người giàu sang lúc nào cũng thế, giữa mọi người họ vẫn có vị thế cao hơn một bậc, bởi họ nhiều tiền hơn đương nhiên tiếng nói của họ được vị nể hơn. Chúng tôi càng nể chú hơn nữa khi gặp hai đứa con của chú. Chú có hai đứa con, trai lớn gần ba chục, cô con gái nhỏ khoảng hai lăm, hai sáu tuổi. Cả hai đều rất lễ phép và cũng vừa lập gia đình. Mỗi lần đi đâu xa hoặc cuối tuần về quê chồng quê vợ, con chú đều ra tận nơi sân chim để chào và xin phép chú về thăm cha thăm mẹ. Lần nào cũng cúi đầu, khoanh tay chào hết mọi người khi đền cũng như lúc đi. Chú hãnh diện về điều này, mà tụi tôi cũng đồng ý về sự hãnh diện đó của chú. Cái thời buổi nhiễu nhương, ông thằng thay đổi tá lả thế này, nề nếp gia phong lộn tùng phèo mà còn được những đứa con như thế thì hãnh diện là quá đúng rồi!

Nhưng hoá ra là đóng kịch cả, là mưu mô cả. Lần hồi, các màn kịch cứ he hé và lần lượt diễn ra, tụi tôi nhiều khi không tin được, không ngờ cuộc đời lại có nhiều chuyện khốn nạn đến thế. Khi xã hội Việt Nam bắt đầu mở cửa là lúc màn kịch bắt đầu.

Đầu tiên là căn nhà ba tầng ở Bùi Thị Xuân, căn nhà lâu nay giao cho anh con trai lớn ở và bán buôn. Một ngày đẹp trời vợ chồng anh về thưa với vợ chồng chú là anh ta muốn sửa sang lại để biến thành khách sạn, bởi bắt đầu sẽ có khách du lịch về, doanh nghiệp qua, đón đầu như vậy mới thắng lớn được. Nghe bùi tai quá, vợ chồng chúng nó từ xưa đến nay ngoan ngoãn, biết lo làm ăn, chưa hề làm mất lòng hai vợ chồng chú. Thế là sang tên cho chúng để chúng chúng mở doanh nghiệp, xin giấy phép xây cất. Lại còn cho chúng mượn 300 lượng vàng làm vốn. Hai vợ chồng an tâm phần thằng Hai. Chúng nó làm ăn thành công thì mình lo chi tuổi già, xem như chia gia tài trước cho chúng. Giải quyết nhẹ bâng.

Lại đến cô con gái, cũng một đêm mát trời, con gái nằm gãi lưng cho mẹ vừa thủ thỉ: Vợ chồng con cũng đã lớn rồi, ba má cho chúng con ra riêng đặng lo cho tương lai. Ba má giao cho tụi con cái nhà ở đường Nguyễn Đình Chiểu đang cho thuê, tụi con dọn về đó mở tiệm vàng, bây giờ nhà nước cho tư nhân mua bán vàng, làm ăn tốt lắm. Ba má vẫn ở nhà này, tuổi già cần yên tĩnh mà ở chung thế này nhiều khi các con của con quấy quá làm phiền ba má. Nói nghe lọt tai quá, nghĩ cũng hợp lí quá, sang tên nhà, đưa thêm 300 lượng làm hàng bán. Lúc đưa vàng, vợ chồng chú bắt phải có mặt con rể, hai vợ chồng cùng ký giấy mượn của vợ chồng chú 200 lượng, còn 100 lượng kia cho hai đứa bây làm vốn. Thế là xem như xong chuyện của hai đứa con, hai vợ chồng chú vui vẻ để lại tiếp tục sống cuộc đời hạnh phúc.

Đùng một cái, anh con trai lớn không biết làm ăn hùn hạp với ai, phải cầm cố nhà cửa, khách sạn. Rồi một ngày cả nhà trốn mất. Vượt biên. Khách sạn bị tịch thu, cửa khoá to đùng với tờ giấy dán chéo ghi: Vượt biên, phản quốc với mấy dấu đóng đỏ lòm. Chú Tư Mạnh ốm mấy tháng, vợ chú lên cơn đau tim phải vào cấp cứu. Thôi! Của đi thay người, chỉ mong gia đình nó đến nơi bình an. Nhưng rồi, tin đến chẳng bình an, anh con trai chỉ đi ra được đến bãi là bị gài bắn chết ngay tại chỗ để bọn dân quân, công an cướp vàng. Cô vợ và đứa cháu bay ra được tàu lớn, nhưng rồi bão đánh chìm đâu đó ngoài biển sâu. Vợ chồng chú suy sụp hẳn, chú vật vờ như mộng du, thương con, thương cháu đến đứt cả ruột. Một năm sau, không chịu thấu nỗi đau, không dằn nổi những cơn đau tim, vợ chú qua đời. Đến thắp nhang cho thím, nhìn thấy mái tóc mới qua mấy đêm đã bạc trắng của chú, chúng tôi xót xa cho bi kịch dồn dập đổ xuống gia đình của chú. Cô con gái và chàng rể quấn khăn tang lo hậu sự, nước mắt vẫn lả chã nhưng trong đầu cũng đang tính chuyện mốt mai. Thế rồi khi tro cốt của vợ chú an vị ở chùa, ngày cúng thất đầu tiên, hai vợ chồng cô con gái vẫn còn mang áo tang đề nghị với chú: má mất rồi, ba tuổi đã lớn, ở đây một mình chẳng có ai chăm sóc gần gũi, gia đình mình giờ chỉ còn con với ba, ba bán căn nhà này đi, cho chúng con mượn thêm, làm ăn bây giờ hơn nhau ở chỗ vốn nhiều mới mong thắng lớn, về ở với vợ chồng con, để con được săn sóc ba tuổi về già, lúc đau ốm, đỡ buổn lo, quạnh quẽ. Nghe đúng quá mà. Bây giờ chỉ còn mình nó, không ở với nó thì ở với ai? Một mình giữ tiền chi cho nhiều, đưa cho chúng làm ăn, có phải là sinh lợi hơn sao. Nỗi buồn chưa lắng xuống, nên chú Tư giao việc bán mua cho vợ chồng cô con gái, dọn về ở cùng con. Thế là cuối cùng, chú chỉ còn độc ngôi nhà này.

Lúc đầu, ông con rể bố trí cho chú ở lầu một, lên xuống cho dễ. Phòng này trước đây cháu ngoại của chú ở, bây giờ nó dọn lên phòng trên. Phòng tiện nghi, có cửa sổ, có máy lạnh, giường nệm êm, chú tự nghĩ thế cũng tốt, cũng là nhà của mình mà. Chú lại ra chơi chim với nhóm, dù không thường xuyên lắm. Tóc chú trắng xóa, khuôn mặt buồn không còn vui vẻ như trước, nhưng hàng ngày vẫn dĩa bò kho bốn miếng thịt, ăn hai miếng đem về hai miếng cho hai con chó Fox bé tí tì ti.

Nhưng cuộc sống vẫn chưa yên. Hai vợ chồng cô con gái bắt đầu kiếm chuyện. Đầu tiên là mấy con chim. Trước đây ông con rể khi ra chỗ chơi chim thường xách lồng ra xe cho chú, lặt cào cào cho chim ăn, hàng ngày phụ trách vệ sinh mấy lồng chim cho chú. Bây giờ ông con rể ngạo ngược bảo chim cò bẩn cả nhà, trưa nghỉ một tí cũng không yên bởi tiếng hót lanh lảnh của nó. Chú Tư tắm chim, phơi nắng cho chim, hắn đi ngang đá lồng lăn lông lốc và bảo: chật chội, vướng víu quá! Bực cả mình! Đôi mắt chú ngày càng buồn, miệng chú càng ngày càng ít nói. Rồi từ lầu một, chúng dời chú lên phòng sân thượng, ông con rể bảo cho chú lên đấy để chú tiện gần gũi với chim, để chim phía dưới mất vệ sinh, thức ăn rơi ruồi bu, kiến đậu, lông chim bay ảnh hưởng sức khoẻ của mọi người. Chú bằng lòng với sự sắp xếp của nó, dù mỗi lần lên xuống cầu thang, chú phải nghỉ thở mấy lần. Hồi còn ở dưới, đến bữa cô người làm hoặc cháu ngoại còn lên mời chú xuống nhà ăn cơm. Từ hồi lên trên này, chúng chẳng kêu, chẳng báo. Khi nào đói, chú lặng lẽ lần mò xuống ăn. Thức ăn lỏng chỏng như đồ thừa, nhiều lần ngồi ăn, chú rớt nước mắt. Chú thèm được một bữa cơm gia đình sum họp, đầy tiếng nói cười với những ánh mắt thương yêu. Mất hết rồi! Chẳng tìm đâu thấy nữa. Hàng ngày, chú xách lồng chim ra ngồi với chúng tôi chốc lát, đó là niềm vui còn sót lại trong ngày của chú, chú xem chúng tôi như người nhà, nên những chuyện buồn, bất hạnh của chú, chú đều kể cho chúng tôi nghe. Chú vẫn còn ăn món bò kho, nhưng không gói thịt về cho chó nữa vì chúng cũng đã bị cậu con rể đá chết rồi.

Nghe tin chú bệnh, nhóm chúng tôi đến thăm chú. Bước qua cửa, chúng tôi được đón bằng cái nguýt dài của cô con gái, cái ánh mắt bực bội của chàng con rể. Chúng chẳng chào một tiếng, chẳng hỏi một câu làm chúng tôi ngỡ ngàng, sao con người biến đổi một cách lạ kỳ như vậy? Chú Tư đón chúng tôi nơi phòng khách, kế bên cửa sổ nhìn ra sân, chú không dám nhìn thẳng mắt ai, ánh mắt như muốn xin lỗi, ngượng ngùng. Ngồi chưa nóng đít, anh con rể vừa nhả khói thuốc vừa nói vọng vào từ ngoài sân: Ba đưa mấy chú lên lầu, lát nữa tui có khách. Chú Tư nhìn ra, ánh mắt một thoáng như toé lửa, rồi hạ nhiệt ngay, cụp xuống đầy uất hận. Thấy không tiện, tụi tôi rút, ra về cũng không có một lời chào. Ai cũng chép miệng: Tội nghiệp chú Tư..

Cuối năm 92, nhóm chúng tôi tản hàng, anh Ba cộng hoà đi HO chuyến áp chót, anh Nam mắt kiếng đi diện đoàn tụ gia đình, tôi bỏ dạy sau một màn ác chiến với tay hiệu trưởng vừa nhậm chức, tôi rời bục giảng, mở công ty, chen chân làm doanh nghiệp. Công việc bận rộn, chẳng còn thời gian đâu mà chim với cò, nên cũng chẳng có dịp để gặp chú Tư Mạnh. Đôi khi gặp đám chơi chim ở Tao Đàn, hỏi thăm tin tức về chú, có người bảo gặp, có kẻ bảo không, định bụng bữa nào ghé thăm chú một bữa. Tình cờ một hôm đi qua nhà chú, thấy người ta đập xây cao ốc mới, hỏi thăm mới biết nhà đã thay chủ, không biết gia đình chú dọn đi đâu, có người bảo đã đi hết ra nước ngoài. Tôi bặt tin chú Tư từ đó, lòng vẫn mong chú khoẻ, hi vọng ở nước ngoài, có viện dưỡng lão, chú được vào đó cũng đỡ khổ thân.
*******

Tết Nguyên Đán năm 2005, thay vì tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trẻ bị bệnh ở khoa Nhi bệnh viện Ung bướu như mọi lần, công ty chúng tôi đổi hướng đi đến thăm những người già ở nhà dưỡng lão Thị Nghè. Thấy các bé còn nhỏ đã mắc bệnh nan y, thương cho chúng chưa hưởng gì ở cuộc đời đã mang bệnh chờ chết, đau xót lắm. Nhưng dù sao các cháu khi bệnh, đứa nào cũng có mẹ, hoặc cha, hay ông hay bà thay phiên chăm sóc. Còn ở đây, trong thế giới người già, là nỗi cô đơn cùng cực. Hầu hết các cụ ở đây đều không có gia đình, người thân, hoặc bị con cháu bỏ rơi. Họ cô độc trong những ngày tháng cuối của cuộc đời, họ chờ đợi trong vô vọng những ánh mắt thương yêu của người thân, họ khát khao được nhìn mặt, cầm tay cháu con, nhưng không bao giờ toại nguyện. Họ chậm chạp trong sinh hoạt và chậm chạp đến lần với cõi chết. Những căn phòng ẩm ướt, những áo quần chẳng lành lặn, những gói, những bao không biết đựng gì để đầy trên giường, dưới chân họ. Họ mừng khi thấy chúng tôi đến, họ vui khi nhận được quà, nhưng ánh mắt vẫn nặng trĩu nỗi muộn phiền. Ở cuối phòng, có một cụ già cứ lấy tay che mặt khi chúng tôi trao quà, tránh ánh mắt của tôi.
Tôi xong việc của mình, định ra, bỗng ông cụ buông tay, vươn cánh tay vẫy vẫy. Ông cụ gầy gò, da bọc xương, hai xương vai nhô lên như hai mảnh nhọn, bụng trương lên như trống. Tóc lơ thơ rụng gần hết, mắt đục lờ với khuôn mặt nhăn nhúm, vàng khè. Trên khuôn mặt đó, tôi tìm thấy một nét quen thuộc của ai đó mình đã từng gặp trong đời. Tôi chưa nhớ ra.
Ông cụ vẫn vẫy, tôi đi ngược trở lại và ông nắm lấy bàn tay tôi, nói nhỏ: Anh Ngọc phải không? Có còn nhớ tôi không? Tôi Tư Mạnh đây. Tôi giật mình, gai ốc bỗng rờn rợn, trời ơi! Chú Tư Mạnh đây sao. Cuộc đời sao vậy trời. Sao chú lại ở đây, sao chú ra nông nỗi này?

Tôi ngồi xuống ôm chặt lấy chú, chú cũng ôm tôi và chú khóc, nước mắt ướt đẫm vai tôi và tôi cũng khóc theo chú. Hai người ôm nhau khóc một hồi, có ông cụ giường bên nhìn tôi với ánh mắt chẳng có chút thân thiện: Con cháu, anh em gì mà bỏ rơi ông cụ mấy năm liền, giờ còn khóc lóc gì? Chú Tư xua tay: Không phải, không phải đâu, người quen thôi mà.
Chúng tôi ra ngoài sân, ngồi trên ghế đá nói chuyện. Tôi hỏi chú hay là mình qua bên đường uống cà phê. Chú gật, ánh mắt thoáng chút vui. Tôi xin phép cán bộ dẫn chú ra ngoài. Hai chúng tôi băng qua đường, chú đi khập khiễng, tôi phải dìu chú đi. Tôi hỏi chú muốn ăn gì không, chú nhìn tôi, ngập ngừng: Tôi…thèm ăn dĩa bò kho… dĩa bò kho bốn miếng thịt và ổ bánh mì thật dòn. Tôi chảy nước mắt ngồi nhìn chú ăn, chú ăn ngon lành, miếng thịt trệu trạo trong cái miệng móm mém gần hết răng của chú.
Và rồi chú kể cho tôi nghe tại sao chú có mặt ở đây mấy năm nay.


****
Anh biết không, con Hiếu, con gái khốn nạn của tôi, anh còn nhớ nó chứ? Tôi đặt nó tên Hiếu mà nó bất hiếu ác nhơn. Nó lấy hết tiền của tôi rồi lừa cho tôi vào đây. Hồi đấy, sau cái lần tôi bệnh mấy anh em vào thăm, thấy chúng nó tồi tệ quá mức rồi, tôi chịu hết nổi nên nói với vợ chồng nó trả vàng cho tôi để tôi đi kiếm chỗ khác ở, dứt tình cha con. Nhưng chúng lật lọng, bảo chẳng nợ gì tôi. Tức quá tôi thưa, tôi còn đủ giấy tờ mà. Toà xử chúng phải trả nợ cho tôi. Chúng lần lửa mãi, và có trả tôi một lần mười cây vàng, hẹn cuối năm thanh toán hết. Rồi bỗng dưng hai vợ chồng nó thân thiện, săn sóc tôi dữ lắm. Mua đồ này thức nọ cho tôi ăn, sắm áo quần mới cho tôi mặc, đối xử với tôi rất nhẹ nhàng. Tôi nghĩ, thôi thì con mình đã biết suy nghĩ lại, gia đình, thân thuộc tôi chẳng còn ai, có đứa em trai thì bệnh ung thư chết mấy năm rồi. Làm cha mẹ phải biết tha thứ cho con. Được mấy tháng thì một hôm nó nói mời cả nhà đi du lịch Nhật Bản, tôi vui lắm, hăm hở sửa soạn đồ đạc để đi đến mười ngày. Nhưng đến phút chót, lấy cớ có việc đột xuất, cả nhà nó ở lại, đành bỏ vé, nên tôi đi một mình. Đi du lịch cùng đoàn nên có bạn có bè cũng vui. Hôm đầu điện thoại về, còn nghe nó trả lời, hôm sau cũng còn, nhưng đến hôm thứ ba thì gọi mãi không được. Tôi sốt ruột nhưng cũng đành chờ cho đến ngày cuối, do vậy chuyến du lịch bỗng mất vui. Nào ngờ khi về đến nhà thì cửa đóng im ỉm, bấm chuông mãi thì có người thò đầu ra mắng, cái mặt lạ hoắc. Hỏi anh ta là ai? Anh ta hỏi vặn lại tôi là ai? Tôi bảo tôi là chủ nhà, anh ta cười hô hố bảo tôi điên, rồi bảo anh ta đã mua căn nhà này rồi, đừng có kiếm chuyện. Tôi như từ cung trăng rớt xuống, mồ hôi ra lạnh cả người và nằm thẳng cẳng giữa lề đường. Hàng xóm thấy vậy chở tôi đi nhà thương, đến khi tỉnh, được mọi người kể mới biết gia đình nó đi Mỹ định cư cả tuần lễ nay rồi, ai cũng tưởng tôi đã cùng đi với chúng nó. Thế ra nó lừa tôi, nó giả vờ thương yêu tôi để tôi mất cảnh giác, nó lừa tôi đi du lịch để nó giao nhà và ra đi. Nó cướp hết số vàng mà vợ chồng tôi cho nó vay. Nó khốn nạn thế đấy, nó mưu mô hiểm ác vậy đấy. Thế là tôi trở thành kẻ vô gia cư. Còn ít vàng tôi để ở nhà, chắc nó cũng lấy đi rồi, tôi chẳng có cách nào để sống nên khi hết bệnh ở nhà thương, chính quyền đưa tôi vào đây ở mấy năm nay.

Tôi nghe mà bàng hoàng, không tin nổi nếu như không gặp chú Tư ở đây. Tôi không ngờ trên đời lại có những đứa con như vậy. Rồi cuộc đời nó có an lành để sống không? Con cái chúng sẽ nghĩ gì khi biết được cha mẹ chúng đã đối xử với ông chúng như thế? Tôi thật sự khiếp hãi khi nhìn thấy con người ta vì đồng tiền mà bán cả lương tri.
Tôi khuyên chú đi bệnh viện vì thấy chú yếu quá, nhưng chú bảo chú không muốn chữa bệnh, chú chỉ mong được đi mau để khỏi phải đau khổ và dằn vặt. Chú xin tôi một điều là gắng đến thăm chú và khi nào chú mất, làm ơn đem tro cốt của chú để vào chùa cùng nơi với vợ chú.

Đó lại là lần cuối cùng tôi gặp chú, chủ nhật sau tôi ghé chú thì chú đã đi rồi, trên tay tôi vẫn còn mang cặp lồng món bò kho bốn miếng thịt mà chú ưa thích. Tôi lặng lẽ mang hủ tro cốt của chú vào chùa, làm thủ tục để cạnh hủ tro của vợ chú, từ nay hai vợ chồng sẽ mãi gần nhau và chú đi được vậy cũng là điều giải thoát cho một kiếp người. Mong chú đến nơi không còn khổ đau, gian dối và lừa lọc. Mong chú yên nghỉ nghe chú Tư Mạnh.
Saigon. Tháng bảy. 2015
DODUYNGOC

Chiếc vé lên tàu

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 17, 2018

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Chiếc vé lên tàu

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 17, 2018

Cầm chiếc vé của tuyến đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh, người Việt Nam nào còn ưu tư với vận nước đều cảm thấy căm phẫn và bị sỉ nhục. Một tuyến đường vừa giá quá cao phi thực tế, vừa thiếu thẫm mỹ, công nghệ lạc hậu, kéo dài thời gian xây dựng và lại đã có lúc phô ra cái lối trịch thượng, coi thường Việt Nam thông qua các bảng hiệu chỉ dẫn toàn chữ Tàu với chữ Việt nhỏ hơn ở dưới. Sự việc lùm xùm này rồi cũng rơi vào im lặng.

Bây giờ, tàu bắt dầu vận hành chạy thử lại lòi ra cái vé lên tàu. Tuyến đường xây trên đất Việt, để phục vụ người Việt, dù anh có cho vay tiền, thực hiện theo công nghệ của anh thì anh cũng chỉ là kẻ làm thuê cho đất Việt. Người Việt là chủ của công trình này, dù phải chấp nhận những thua thiệt bởi thói gian manh ngàn đời trở thành bản chất của Trung Hoa. Người Việt vẫn là chủ nhân của công trình, đó là sự thật không thể chối cãi.
Cái vé lên tàu bé tí toàn chữ Tàu trên và chữ Việt dưới, chữ nhỏ hơn. Cầm cái vé lên tàu, ta có cảm tưởng đang di chuyển trên đất Trung Hoa và ta là du khách.

Người Trung quốc đã thể hiện tư tưởng đại Hán ngay trong chiếc vé cỏn con này. Họ xem thường chúng ta và những người Việt có lương tri cảm thấy bị sỉ nhục khi cầm trên tay chiếc vé này. Họ làm chủ đất nước này bao giờ thế? Kiếm được khối tiền từ dự án này rồi lại trở thành chủ nhân của công trình này sao? Việt Nam là chủ công trình, có lãnh đạo là người Việt. Nhưng họ đang ở đâu? Họ lãnh lương, chia chác bổng lộc từ dự án, nhưng nhắm mắt làm ngơ, ngậm miệng ăn tiền, trở thành tay sai của những nhà thầu Trung Quốc. Khi xảy ra sự việc đều trả lời rất tiếc, sẽ khắc phục… Đều là lời nguỵ biện. Kẻ làm chủ trở thành tay sai đắc lực cho kẻ làm thuê, chuyện tréo ngoe chỉ có trong hàng ngũ quan chức Việt. Bất cứ tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài nào hoạt động, làm ăn trên đất Việt cũng phải chấp hành luật pháp Việt Nam.

Cái vé tàu bé xíu ấy nhưng nó thể hiện chủ quyền của một quốc gia. Chúng chiếm biến đảo, chúng ung dung ra vào đất nước này với thái độ nghênh ngang và ngạo ngược, chúng xem đất nước này như một tỉnh tự trị của chúng, chúng đổ bao thứ độc hại vào mâm cơm của người Việt, chúng lèo lái, nhúng tay vào đường lối chính trị của quốc gia, chúng lũng đoạn kinh tế …Đó là những việc lớn, ai cũng thấy, nhưng chúng cũng không từ những việc nhỏ để chứng tỏ âm mưu của chúng. Chiếc vé này là một minh chứng. Là người Việt, chúng ta phải có thái độ rõ ràng với việc này. Phải biết lòng tự trọng bị xúc phạm, phải thấy chủ quyền của đất nước đang bị xâm phạm để có cách hành xử với lũ bá quyền này. Không thể chấp nhận những cách thức ngạo ngược, coi thường dân Việt như thế này.

Hỡi những tên đang nhắm mắt nhận tiền để trở thành công cụ trong tay chúng, các người phải học để biết nhục, phải biết xấu hổ khi đứng trước cháu con, phải biết ngẩng đầu vì mình đang là chủ kia mà. Sao lại để chúng lộng quyền đến thế?

Từ chiếc vé lên tàu, ta thấy rõ một đám người có quyền lực nhưng hèn hạ và cam tâm làm con rối như thế nào. Ai đang là chủ của mảnh đất này? Âm mưu của lũ bá quyền thì thâm hiểm và chẳng lúc nào ngừng. Nhưng những người Việt liên quan thì thờ ơ, vô cảm, tắc trách trong công việc được giao phó.

Từ đó trong suy nghĩ lại có lo âu. Đất nước này sẽ đi về đâu? Không lẽ trong tương lai, mỗi người dân Việt phải trang bị cho mình thêm một ngôn ngữ là tiếng Tàu?
Buồn và căm phẫn.
13.8.2018
DODUYNGOC

Chén cơm chiên ngày Tết năm 1976

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 1 26, 2019

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Chén cơm chiên ngày Tết năm 1976

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 1 26, 2019

Tết năm 1976, vợ tui chưa về, tui ở Sài Gòn trên căn gác nhỏ ở hẻm 220 Trương Minh Giảng với mấy người bạn cùng quê. Trong đó có nhân vật tui viết trong truyện Bước không qua số phận. Nhân vật trong truyện tên Nhân. Đã qua gần mười tháng sau ngày bộ đội miền Bắc vào tới Sài Gòn. Đồng hồ, mắt kính, quần áo, giày dép lần lượt ra đi ở chợ trời. Rồi đến sách vở cũng ra vỉa hè đổi lấy bữa cơm. Đã đến thời gian đói. Bữa có bữa không, có nhiều ngày nhịn, có bữa chỉ có củ khoai. Bạn bè bắt đầu tản mát, mỗi đứa đi một phương kiếm ăn. Tui chẳng biết đi đâu, bám trụ căn gác gỗ có cầu thang gãy. Trước 75 tui đi làm cũng có lương cao, thuê căn phòng lớn trong ngôi nhà nhiều phòng ở số 220/100. Bộ đội vào, phường ra lệnh tiếp quản ngôi nhà vì chủ đã di tản, chuyển tui qua căn gác này. Bạn bè thấy thế đi theo nên diện tích căn gác nhỏ xíu mà có lúc chứa cả chục thằng, kể cả hai cặp vợ chồng thằng bạn mới cưới vợ. Chen chúc nhau sống trong lặng lẽ.

Bình thường khi có chút tiền, tui mua gạo nấu ăn chung với Nhân. Món ăn thường xuyên là trứng vịt. Luộc chín, cắt làm tư, ngâm vô chén nước mắm dằm ớt thật cay. Mỗi bữa mỗi thằng ăn một phần tư hột vịt, như vậy, cái hột vịt luộc hai thằng ăn được hai bữa cơm sáng chiều. Được như vậy là ngon rồi, khỏi phải nhịn đói. Thế mà có giai đoạn gạo cũng chẳng có mà nấu, hột vịt cũng chẳng có mà ăn. Đói vàng cả mắt, người xanh như tàu lá, đi liêu xiêu thấy gì cũng thèm. Lúc đó tui đang sinh hoạt trong đoàn kịch của Hội Văn nghệ Thành phố, hôm nào cũng tập kịch ở ngôi nhà của mẹ ông Tổng thống Thiệu chỗ 81 Trương Minh Giảng. Trưởng đoàn văn nghệ lúc đó là chị Kim Hạnh, vốn là trưởng đoàn Văn nghệ Vạn Hạnh trước 1975, sau này chị chuyền qua làm báo. Lúc đó gần Tết, không biết ai biết chuyện tui đang đói, mấy người trong đoàn họp lại quyên góp mua gạo cứu đói cho tui. Sau này nghe kể chị Kim Hạnh bảo tui sĩ diện lắm nên nếu đưa trực tiếp tui sẽ không nhận đâu, do vậy bọn họ phải lên kế hoạch. Những người thực hiện kế hoạch này giờ đa số ở nước ngoài cả. Đó là Châu Bảo, Bích Nguyen đang ở Mỹ, Tô Công Tròn đang ở Pháp, Dục đã mất ở Úc. Họ canh tui vừa ra khỏi nhà là chạy lên để bao gạo, chai nước mắm và mấy món linh tinh nữa ngay góc cầu thang. Họ trốn ở mấy góc hẻm chờ tui đi về mang gói quà ấy vào nhà rồi mới tản hàng. Tui không quên gói quà ấy dù đã hơn bốn mấy năm rồi. Tình cảm của các bạn quý báu biết bao vì lúc đó ai cũng nghèo và khó khăn. Nhờ mấy kí gạo đấy, Tết năm 1976 tui có gạo ăn. Có gạo nhưng chẳng có tiền để sắm đồ ăn, Tết nên cũng chẳng kiếm được công việc gì để làm, cũng chẳng còn ai buôn bán để bán mua. Ngày mùng một Tết, vét trong lon guigoz còn muỗng mỡ, tui xé sách làm củi, tui chiên cơm. Năm đó còn pháo nổ ì xèo, trưa mùng một tui ngồi ăn chén cơm chiên mà nước mắt ướt cả mặt. Tui ngóng về Đà Nẵng, nơi đó Ba Mạ các em tui đang hân hoan đón Tết, dù đất nước đã bắt đầu nghèo, nhưng gia đình tui chắc chắn vẫn có những món ăn không thiếu của ngày Tết. Còn ở phương xa này, tui đón Tết bằng món cơm chiên độc nhất, chỉ có chén cơm chiên với mỡ và nước mắm. Tui tủi thân, thương thân mình nhưng vì hoàn cảnh cũng không dám về nhà vui Tết với gia đình.

Mấy mươi năm qua rồi, bao nhiêu dâu bể, bao nhiêu đổi thay. Ba Mạ mất, anh trai mất rồi vợ mất, anh em xao xác bốn phương trời. Bữa nay, lại một cái Tết nữa đang đến, bỗng dưng nhớ chén cơm chiên của cái Tết đã xa lăng lắc. Nhớ đến tình cảm của những người bạn một thời.
26.1.2019
DODUYNGOC

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 17

Trong đời tôi đã trải qua nhiều nỗi đau buồn, lo sợ. Vậy mà khi nghe tin chị Yvonne bị công an bắt, tôi sợ run, như một góc trời của tôi đã sập. Chị Yvonne là người con thứ sáu của cậu Tư Diệp, anh của má tôi. Mợ Tư qua đời chừng hai năm trước ngày cậu tập kết ra Bắc một lượt với ba tôi và cậu Chín Thùy.

Chi Hai Yến là con chim đầu đàn của bảy người con của cậu mợ Tư. Chị là một cô giáo trường làng ở Cái Cui; trường do một chương trình của viện trợ Mỹ. Chồng chị Yến đi tập kết. Anh là đại tá Nguyễn Hoàng Phát, sau nay cầm đầu trận tấn công vô Cần Thơ vào ngày tết Mậu Thân. Gia đình tôi biết chị Yvonne đang bị giam ở bót công an trên đường Ngô Quyền, cách nhà chị Yến vài căn. Đó cũng là nơi chị Yvonne ở, để đi học và hoạt động. Mặt Trận ra chỉ thị cấm không ai được đi thăm chị. Gia đình chúng tôi quây quần bên nhau trong lo sợ. Tôi biết, trong gia đình tôi mỗi người có một mỗi lo sợ khác nhau. Riêng tôi, tôi có cảm tưởng cả bầu trời trên đầu chúng tôi nặng nề đầy mây xám, báo trước một cơn giông bão sắp đổ ập lên đầu. Tất cả chúng tôi đều im lặng, sẵn sàng chờ đợi. Tôi thầm tự hỏi, rồi cơn bão sẽ cuốn đi những cái gì, và có còn lại gì không?

Ngày chị Yvonne ra tòa. không một ai trong gia đình chúng tôi có mặt. Chị bị kết án 5 năm.

Năm năm! Dù chị và tôi không chung một lý tưởng, nhưng trong tình bà con ruột thịt, tôi đau đớn từng thớ thịt, khi tôi nghĩ đến cái bóng tối của nhà tù, nơi mà chị sẽ bị giam giữ suốt 5 năm. Tôi nhắm mắt cố hình dung ra chiều dài của quãng thời gian đó. Suốt cả bậc tiểu học là 5 năm, tức 1825 ngày, 43800 giờ và hơn hai triệu rưỡi phút. Trời ơi! chị sẽ làm gì trong chuỗi ngày đó trong tù? Nếu người ta xúc phạm tới tiết trinh của chị, tôi tin chắc chị sẽ cắn lưỡi tự tử, chớ không chịu nhục. Tôi cầu trời cho chị được yên thân trong những ngày buồn tủi, cô đơn trong tù. Tôi vái van cho má chị, ông ngoại, bà ngoại linh thiêng, về phù hộ chị.

Một hôm, một người đàn ông lạ ghé tiệm may, đưa cho má tôi một bức thơ. Mọi người đều nhận ra ngay chữ viết của Yvonne. Má tôi vội đem thư vô buồng đọc. Tất cả đi theo má, rồi chuyền tay nhau đọc lá thư ngắn ngủi của chị. Chị viết: “Khi mọi người đọc được thơ này, có thể người ta đã sửa soạn đưa tôi ra ngoài đảo. Đừng lo cho tôi. Đừng thăm viếng. Tôi sẽ không nhận bất cứ một cái gì từ bên ngoài gởi vô. Hãy giữ gìn sức khỏe”.

Tôi biết chị Yvonne muốn bảo vệ gia đình và tổ chức nên không cho ai vô thăm nuôi. Đó là hảo ý của chị, nhưng đối với tôi, tôi không thể làm ngơ được. Dù khác chính kiến, tôi vẫn là em của chị, không nỡ để chị ra đi mà không có một lời giã biệt hay một lời hứa hẹn. Ông nội của chị là ông ngoại của tôi. Chi đã dạy tôi viết chữ hoa, xài mực tím, thêu point de croix. Lúc nhỏ ở chung với nhau, đi học với nhau trong trường làng.

Tôi không muốn má tôi lo, nên đã lén đi thăm chị. Để đề phòng bất trắc, tôi tiết lộ cuộc viếng thăm nầy cho một mình Hải Vân biết. Nếu chẳng may không thấy tôi về, nó phải báo ngay cho cậu Hai Định, ba của anh Nguyễn Hồng Tuyền, một sĩ quan Không quân lúc bấy giờ. Tôi dò hỏi mấy thầy đội trong Phòng V, được biết những tù nhân sắp bị đày ra đảo bị nhốt trong khám lớn, bên cạnh dinh tỉnh trưởng Cần Thơ.

Tôi chuẩn bị một vài thứ cần thiết để đem vô cho chị, nhưng tôi đã hoàn toàn thất vọng, vì chị cương quyết không muốn gặp tôi. Vì vậy, không một ai trong gia đình tôi thấy mặt chị, cho đến ngày chị mãn tù sau đúng 5 năm. Trong thời gian ở tù, chị được coi là một tù nhân “gương mẫu”. Nhưng tôi biết rằng người ta chỉ có thể cầm tù cái thân chị, chớ không tiêu diệt được cái chí của chị. Dù sao cũng phải công nhận chị là một con người can đảm. Khi ở trong tù, chị vẫn hoạt động. Chị kết nạp đồng chí và móc nối với những cán bộ cộng sản, chờ ngày được trả tự do sẽ lại tiếp tục tranh đấu. Rồi cũng như ba của chị, khi được tự do, chị “mạnh” hơn trước và trưởng thành. Chị bình tĩnh tiêp tục công cuộc “chống Mỹ cứu nước”. Từ khám lớn Cần Thơ, chị đi bộ về nhà chị Hai Yến ở đại lộ Ngô Quyền, rồi sau đó đi thẳng vô mật khu.

Chị Yvonne bị tù nhưng tinh thần chị được tự do, thoải mái. Trong khi đó, tôi lại bị ám ảnh về nỗi đau khổ của chị. Người xưa vẫn thường nói: “Nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngọai”. Thế mà chị bị giam suốt 5 năm dài. Tôi có cảm tưởng chính tôi mất tự do, hay ít ra tự do của tôi cũng đi đe dọa. Với tinh thần khủng hoảng đó tôi bắt đầu chán việc làm, không còn thích viết những bài có tính cách tuyên truyền nữa. Hậu quả của cuộc khủng hoảng nầy là mấy bài bình luận của tôi “mất hẳn sắc bén”. Một hôm, thiếu úy Nam tỏ vẻ bực mình, hỏi tôi:

“Cô đang yêu hay thất tình?”.

Tôi ngạc nhiên nhìn ông, không nói gì. Ông nói tiếp:

“Dạo nầy cô viết bết lắm đó… Chuyện tình phải để ngoài cổng, nghe cô”.

Nghe ông nói vậy, tôi giựt mình vì chưa yêu ai, mà cũng không có ai xứng đáng để tôi thất tình. Có một người con trai đi theo sau lưng, đi trước mặt, đi bên bên cạnh tôi mấy tháng nay, nhưng khi biết ba tôi đi tập kết, anh ta giận, rồi tôi không còn bận tâm nữa. Ba không có ở nhà, ông bà đã về với tổ tiên, vườn đất lọt vô tay Việt Cộng, bạn bè có người chết trận, có kẻ trốn lính. Trốn không được, đã có cậu phải đi Quang Trung hoặc bị đi Thủ Đức. Bạn gái thì có đứa lấy chồng, có đứa lên Sài Gòn học tiếp, có đứa vô bưng để “chống Mỹ cứu nước”. Tôi hoàn toàn bơ vơ.

Tôi đành đề nghị với thiếu úy Nam cho tôi viết tin tức một thời gian. Ông chấp thuận ngay.

Một thời gian ngắn sau khi tôi vào làm cho Phòng V Quân Đoàn IV, đại úy Thịnh được lên thiếu tá. Chúng tôi chưa kịp ăn mừng ông lên lon, đã nghe tin ông được đổi về Sài Gòn. Đại úy Nguyễn Văn Chánh từ Sài Gòn xuống thay thế.

Sau đó vài ngày, vào một buổi sáng, tôi vừa ngồi xuống bàn viết thì thấy có tấm giấy mời lên Phòng II “lập tức”.

Phòng II đối diện với Phòng V, chỉ qua con đường lót sỏi trong trại Lê Lợi. Trong khi đi tới Phòng II dưới ánh nắng chói chang tôi tự trấn an không việc gì phải sợ hay hoảng hốt nhưng khi vừa nhìn thấy hai chữ “Phòng II”, cổ tôi khô và miệng tôi nghe chát. Tuy vậy, tôi vẫn thầm tự nhủ: “Việt cộng mình còn không sợ, sao lại sợ nhân viên Phòng II?”

Tại đây, tôi được gặp trung uý Chương. Ông chỉ ghế cho tôi ngồi rồi tiếp tục đọc tập tài liệu dầy cộm trên bàn viết. Tôi ngồi đợi ông chừng hai mươi phút. Tôi nhớ lời má dạy phải kiên nhẫn để đạt tới điều mình mong muốn, và cũng để dằn sự lo sợ vừa nảy sinh trong lòng. Chị Yvonne đi tù 5 năm vì chị theo Việt Cộng. Bây giờ Phòng II gọi tôi tới để điều tra, nhưng tôi theo quốc gia. Đó là khác biệt giữa tôi và chị. Không biết anh trung uý Bắc kỳ này có hiểu được sự khác biệt đó không? Người Bắc kỳ có hiểu nổi tâm trạng của người Nam không?

Khi trung uý Chương ngẩng lên nhìn tôi, mặt ông lộ vẻ nghiêm trọng, nhưng tôi nhận ra ngay cái vụng về của một người mới học diễn xuất. Ông bỗng cất tiếng hỏi một cách sống sượng:

“Nầy, cho tôi biết Đặng Văn Quang là ai?”.

Tôi bình tĩnh đáp:

“Ông Đặng Văn Quang là ba của tui”.

“Cô chắc không?”.

“Tui hổng hiểu câu hỏi của ông”.

Tôi đối đáp bằng một giọng nói nhà quê Nam kỳ để đối lại giọng Bắc kỳ của ông.

“Khai sanh của cô ghi là “Cha vô danh” Ông gay gắt nói.

“Ông Đặng Văn Quang là ba của tui.” Tôi nhỏ nhẹ nhắc lại câu trả lời cũ.

“Đặng Văn Khôi là cái gì của cô?”.

“Là anh ruột tui”.

Trung uý Chương đưa cho tôi một tờ giấy và một cây viết, rồi nói như ra lệnh:

“Cô ghi địa chỉ của mấy người này cho tôi”.

Tôi liếc nhanh tờ giấy rồi trả lời:

“Tui hổng có địa chỉ của họ, thưa ông”.

Trung uý Chương bỗng ngồi thẳng người lên rồi nạt tôi:

“Láo! Cô nói láo!”

“Tại sao ông dám nói tui nói láo?”.

Tôi là con gái mới lớn lên, chưa hề nạt nộ ai, mà cũng không bị một người đàn ông nạt nộ bao giờ. Nay ông trung uý này nạt nộ to tiếng, khiến mặt tôi nóng lên. Tôi cho rằng ông trung úy này là người thô lỗ, thiếu lịch sự. Tôi không còn nể nang, sợ sệt nữa. Muốn lấy lại bình tĩnh, tôi thầm đếm ngược: “Mười, chín, tám, bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai, một”.

Trung uý Chương đập mạnh tay lên bàn khiến cây viết nẩy bật lên, rơi xuống đất, rồi la lớn:

“Trả lời câu hỏi của tôi lên giấy ngay!”.

Tôi bỗng nhớ lại một chuyện cũ từ hồi còn ở trong chiến khu chống Tây. Một nông dân bị tình nghi là Việt gian, ngồi trước mặt người làm việc dưới quyền ba tôi. Lúc đó, tôi mới năm tuổi, còn Hải Vân lên hai. Chi giữ em hối thúc chị em tôi ăn cho xong bữa để đi coi “Việt gian” đang bị điều tra. Thì ra, khi thì kiến ăn cá, khi thì cá ăn kiến. Trước kia, ba tôi là cá sống, bây giờ tôi lại trở thành kiến rớt xuống sông, trước một con con cá mang lon trung uý. Đúng là cái nợ đồng Iần. Nghĩ vậy, tôi sửa soạn tinh thần để đối phó với ông trung uý này. Tôi bình tĩnh nói:

“Tui hổng có địa chỉ của ba tui, mà cũng hổng có địa chỉ của anh tôi nữa”.

“Họ có bảo cô nói láo nhà cầm quyền không? “Trung uý Chương gằn giọng hỏi. Tôi chưa kip trả lời, ông đã quát to:

“Trả lời tôi ngay!”.

Tôi bình tĩnh đáp:

“Hổng cô ai xúi biểu tôi điều gì hết”.

“Láo! Cô đừng có nói láo với tôi! Lần chót cô được tin tức của bố cô và anh cô là hồi nào?”.

Tôi bấm đốt ngón tay, rồi đáp:

“Đã chín năm rồi, thưa trung uý”.

“Cô nhận được mấy cái thư của họ?”

“Dạ, không có một cái nào hết “.

“Cô có chắc không?”.

“Chắc”.

“Thế là bố cô hết thương mẹ cô và chị em cô kể từ ngày ông gia nhập đảng cộng sản?”

Câu nói này tôi không bao giờ muốn nghe chút nào, vì tôi vẫn sợ cái ý nghĩ đó vô cùng. Không biết vô tình hay cố ý, trung uý Chương đã đụng chạm tới cái điều thiêng liêng nhất trong gia đình tôi. Thế là tôi nghe mặt nóng bừng vì giận. Tôi muốn đứng bật dậy để chửi thẳng vào mặt ông, nhưng tôi chợt nhận ra tình huống khó khăn của mình, của một con cá đang nằm trên thớt. Rủi người ta chặt tôi một nhát, rồi liệng tôi cho cá lớn ăn thì sao? Rồi tôi sẽ không bao giờ có thể gặp lại má tôi nữa thì sao? Tôi nắm chặt thành ghế để nén giận, cố gắng trả lời một cách bình tĩnh:

“Tui nghĩ là ba tui có viết thơ cho gia đình, nhưng thư không tới tay gia đình tui”.

“Cô có thương bố cô không?”.

Tôi mỉm cười. Lần đầu tiên tôi nhìn thẳng vào mắt viên sĩ quan, đáp:

“Dạ, tui thương ba tui nhiều lắm”.

“Dù ông ấy không viết thư cho cô và cho má cô 9 năm trời. Những người có chồng, có cha ở ngoài Hà Nội đã nhận được thư của người thân của họ, cô có biết vậy không?

“Họ may mắn hơn tui”. Tôi nói nhỏ.

Như một con chó săn, trung uý Chương giở trò siết cổ con mồi:

“Theo hồ sơ lý lịch này, thì bố cô mới có 55 tuổi, còn trẻ, lại có quyền hành trong tay, chắc ông phải nổi tiếng ngoài ấy lắm. Nổi tiếng mà độc thân thì không biết bao đàn bà con gái sắp hàng chờ đợi. Cô có hiểu ý tôi nói không?”

Tôi bèn lớn tiếng la:

“Ông đã xúc phạm tới danh dự gia đình tui!”.

Trung uý Chương làm ngơ trước lại phản đối của tôi, tiếp tục nói:

“Cô hãy trả lời câu hỏi của tôi. Cô có nghĩ là bố cô bây giờ đã có một người đàn bà khác không?

Tôi hậm hực hỏi lại:

“Ông muốn tui nói cái gì?”.

“Cô là con gái cưng của bố cô. Chắc cô sẽ ngoan ngoản nối gót bố cô chớ gì?”.

“Tui hãnh diện vì ba tui lắm, nhưng tui không nối gót được”.

“Như vậy cô là đứa con mất dạy”.

Tôi thản nhiên chấp nhận:

“Việt Cộng chê tui là đứa con bất hiếu. Ông biểu tui là con mất dạy. Nhưng tui chỉ hành động theo lương tâm của chính tui thôi, thưa ông”.

“Mà tại sao cô không đi theo con đường của bố cô?”.

Tôi trả lời chậm rãi và rành rọt từng tiếng:

“Tôi có thể cho ba tui một cánh tay, một cái chân, một lá gan, một trái thận, hay cả cuộc đời tui, nhưng tui không bao giờ dâng cho cộng sản linh hồn của tui, dù người đó là ba tui”.

Trung uý Chương cười nhạt:

“Cô nói láo giỏi đây. Nào, bấy giờ cô cho tôi biết ai đã giao công tác cho cô làm việc tại Phòng V?”.

Vừa nói ông vừa đi vòng quanh cái bàn tôi ngồi, như con thú dữ bao vây doạ nạt con mồi. Khi ông đi sát tôi quá, mùi dầu thơm rẻ tiền làm tôi bực mình. Cả cái cử chỉ phách lối và cái giọng Bắc kỳ nhà quê cũng làm tôi khó chịu. Tôi đã ở trong rừng sâu nước độc với thợ củi, thợ làm than, với dân đánh cá, với những người nuôi gà vịt, với bộ đội của Việt Minh, và với những tù nhân, tôi chưa bao giờ gặp ai có những lời nói, cử chỉ thô bỉ như ông trung ý này. Nhưng tôi vẫn phải bình tĩnh trả lời:

“Tôi không biết tuân lịnh, mà cũng chưa bao giờ học cách tuân lịnh ai”.

Trung uý Chương trở lại bàn giấy của ông, rồi cầm một xấp ảnh thẩy lên mặt bàn trước mặt tôi, ra lệnh:

“Coi kỹ những bức ảnh này, rồi cho tôi biết họ là những ai?”.

Tôi thấy tự ái bị xúc phạm nặng nề, nhưng tôi vẫn phải nén giận để cố giữ bình tĩnh. Tôi liếc nhìn xấp hình, thấy ngay đó là hình tôi, hình tôi ngồi trên xe bus, hình trên xe lambretta đi về Long Thạch thăm ông bà ngoại. Có một tấm hình tôi đi Cái Răng mua bánh mì Lý Ngầu với một thằng nhỏ cùng trường; anh nó là một Hiến binh. Tôi cũng nhận ra hình vườn ổi với sáu đứa bạn chụp ngày bãi trường năm 1963. Tôi kể từng tên đứa bạn trong tấm hình này, nhưng trung uý Chương không chú ý tới tên của bạn tôi, mà ông muốn biết những hành khách trên xe Lam hay xe bus là những ai. Làm sao tôi biết họ được, vì họ là những hành khách xa lạ đối với tôi, chỉ tình cờ gặp trên xe mà thôi. Nhưng trung uý Chương không tin tôi. Người của ông theo dõi tôi và những người hành khách này.

Bấy giờ tôi mới biết, tôi bị cả Quốc Gia lẫn Việt Cộng theo dõi. Ừa! Tôi thầm nghĩ, mình có làm gì quan trọng đâu mà sao người ta tốn công chú ý tới mình như vậy? Lúc học ở trường Nữ Tiểu Học Cần Thơ tôi chỉ là chân sai vặt của bà hiệu trưởng, đến các lớp đọc chỉ thị của bà cho học trò nghe. Lên trường trung học Phan Thanh Giản, tôi được thầy Trần Ngọc Nhung cho làm trưởng ban Thể Thao. Trong khi đó, chị Hiệp, trưởng lớp, bắt tôi làm trưởng ban quét lớp. Sau đó, tôi được “thăng quan tiến chức” lên làm trưởng ban trật tự. Nhưng “chức” này tôi giữ không lâu vì hay nói chuyện trong lớp, bị mấy thầy cho đi “công-xin” nhiều lần, nên phải trở lại làm học sinh quèn. Vậy mà cả một bầy cá mập lội theo tôi hoài?

Tôi đang suy nghĩ trong im lặng, một sự im lặng nặng nề, thì trung uý Chương bất ngờ cho tôi về Phòng V để làm việc. Tôi biết ông rình, nên tôi đi thẳng về văn phòng của mình. Rồi suốt buổi trưa hôm ấy, tôi như con mèo mắc mưa, ngồi nghe tim mình đập trong lồng ngực, mà không sao tập trung tư tưởng được. Đến đêm, tôi không ngủ được, vừa lo lắng vừa nghĩ ngợi, đầu óc rối beng. Tôi biết rằng buổi gặp gỡ sáng này giữa tôi và trung uý Chương chỉ mới bắt đầu; rồi sẽ còn có nhiều buổi nữa.

Đúng như tôi đoán, sáng hôm sau, Phòng II lại kêu tôi nữa. Lại cũng như hôm qua, trung uý Chương thẩy xấp hình lên bàn. Nhưng hôm nay, xấp hình không cột dây thung, nên hình văng đầy mặt bàn. Rồi ông tằng hắng, hạ thấp giọng, bắt đầu hỏi những câu hỏi mà tôi nghĩ ông đã biết câu trả lời qua điều tra của sở Bốn.

Cuộc thẩm vấn sáng nay kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ. Tôi vừa hồi hộp vừa lo sợ lại thêm cái bụng đói vì từ sáng chưa có miếng nào dằn bụng. Đến gần trưa, tôi bắt đầu buồn nôn. Trong thâm tâm, tôi muốn mửa ngay trong văn phòng, trước mặt trung uý Chương cho đã giận. Nhưng tôi chợt nghĩ đến Hải Vân, em của tôi. Nếu biết được cử chỉ thiếu lịch sự này, em sẽ trách tôi không biết chịu đựng. Tiếng giầy của ông trung uý vang lên trên sàn gạch trong căn phòng im lặng, làm tôi càng hồi hộp thêm, rồi thình lình ông đứng khựng lại ngay cạnh tôi, nói bằng giọng đe doạ:

“Tôi sẽ gọi cô trở lại đây, nhưng chưa biết ngày nào. Thôi, cô về đi!”.

Tôi nửa muốn chạy ra khỏi cái văn phòng hắc ám đó ngay, nhưng tôi lại nửa muốn ông tiếp tục thẩm vấn tôi cho đến hết, dài và lâu cũng được. Tôi muốn cho xong đi, vì mỗi lần bị Phòng II gọi là mỗi lần tôi bị nhân viên trong Phòng V chú ý. Mấy chị xù xì với nhau. Tôi coi chuyện này như một món nợ mà tôi phải trả. Rồi khi thấy trung uý Chương không có ý giữ tôi thêm nữa, tôi đành trở về Phòng V để làm việc. Nhưng từ phút đó tôi bắt đầu tưởng tượng ra những chuyện thật kinh khủng có thể xảy ra cho tôi. Biết đâu có một ngày nào đó tôi sẽ bị trung uý Chương treo ngược tôi lên nóc nhà, rồi đổ nước vô mũi tôi để bắt tôi khai hay nhận hết cả những điều tôi không biết hay không làm. Nếu tôi không khai (vì có biết gì đâu mà khai!) ông bắn vô đầu tôi, để mặc cho máu chảy ra hết. Không lẽ trung uý Chương sẽ dùng biện pháp đó với tôi?

Tôi cũng còn nhớ lời khuyên của bà ngoại: “Tuỳ cơ mà ứng biến”. Hoàn cảnh hiện tại, tôi biết ứng biến ra sao đây? Từ đó tôi ăn ngủ không yên. Lúc nào tôi cũng hồi hộp lo sợ. Vậy mà tôi không dám hở môi cho ai biết. Tôi giấu luôn cả má tôi, vì không muốn bà lo sợ lây; bà đã có cả hàng trăm hàng ngàn mối lo rồi. Sau ngày ông bà ngoại tôi qua đời, nguồn tiếp tế chánh đó bị dì Bảy chia cho các cán bộ Việt Cộng hết. Ngoài ra, má còn lo tiền ăn học cho bốn đứa con và hai đứa cháu nữa. Hàng ngày má phải làm việc tới khuya mới đi ngủ. Hậu quả của sự làm việc vất vả và lo nghĩ nhiều là bịnh đau bao tử. Bác sĩ cho biết má tôi đã mắc bịnh này. Vì vậy, tôi không thể cho bà biết chuyện khó khăn của tôi ở sở.

Tôi đành tự gồng mình lên để chịu đựng. Tôi tin là tôi có đủ nghị lực làm việc này. Không ai có thể hiểu tôi bằng tôi; mà cũng không ai dám tin tôi bằng tôi tự tin. Nghĩ như vậy, tôi cảm thấy yên tâm hơn. Tôi bèn ghi vào nhật ký của tôi như sau: “Mảnh đất này thuộc quyền sở hữu của tôi và của tất cả những người yêu nước, cũng như mặt trời là của những mảnh đất phì nhiêu và của những bàn tay nông dân. Không ai có thể phủ nhận được điều này”.

Mấy ngày sau đó, tôi lại phải ngồi trước mặt trung uý Chương. Lần này ông có vẻ bồn chồn và nghiêm túc hơn. Tôi ngạc nhiên khi nghe ông giở lại giọng Bắc ra nói chuyện với tôi, dù lần trước ông nói giọng Nam. Nhưng, với giọng nào ông không bẻ gãy được cây tre ốm yếu này, ông bắt đầu:

“Sao, có đã nói với mẹ cô về cuộc gặp gỡ giữa tôi và cô chưa?”.

Tôi nhún vai, đáp bằng một giọng phách lối, như để tự trấn an:

“Tôi thấy không cần phải nói cho má tôi biết. Tôi không có thói quen kể lại những chuyện xảy ra ở ngoài đường cho gia đình biết”.

Ông trung uý chớp mắt như đang suy nghĩ một điều gì, rồi nói:

“Tất cả đàn ông trong gia đình cô theo cộng sản. Trong nhà bây giờ chỉ có đàn bà và con nít thôi, phải không?

Tôi mỉm cười, đáp:

“Sẽ có một người đàn ông trong gia đình tôi khi em tôi lớn”.

Tôi cũng ngạc nhiên về giọng hãnh diện của tôi khi tôi nhắc đến Hải Vân. Trong khi đó, trung uý Chương có giọng nghi ngờ:

“Làm sao cô dám nói chắc như vậy? Nó là trẻ con?”.

Tôi bình tĩnh đáp:

“Bởi vì tôi biết chúng tôi là ai. Chỉ có ông là người không muốn biết về gia đình tôi thôi. Cộng sản thường nghĩ rằng đứa con của các cán bộ cộng sản sẽ trở thành cộng sản như cha mẹ nó. Nhưng rồi họ sẽ thất vọng đối với chị em chúng tôi”.

“Em trai của cô bấy giờ ở đâu?”.

“Nó ở với chị tôi trên Sài gòn để được yên tâm học hành”.

Tôi trở về Phòng V làm việc trước những cặp mắt tò mò đang nhìn tôi. Tôi cảm thấy khó chịu, và nghe như có khoảng cách giữa họ và tôi rộng thêm chút nữa.

Một hôm, trung uý Phước, người bạn duy nhất của tôi ở Phòng V, mời tôi xuống câu lạc bộ uống café. Trong khi nói chuyện, tôi cho ông biết tôi đang gặp khó khăn với Phòng II. Ông ngỏ ý muốn giúp tôi giải quyết những khó khăn đó, nhưng tôi dứt khoát từ chối. Ông đã giúp tôi xin được việc làm ở đây, thì tôi có bổn phận phải bảo vệ việc đó.

Trung uý Phước khuyên tôi:

“Đừng có thọc tay vô miệng cọp”.

Tôi chỉ cười và im lặng. Nhưng trong bụng tôi thầm nghĩ trung uý Chương chỉ là một con mèo rừng, chưa đủ khả năng trở thành cọp. Tuy nhiên, ngay lúc này, mèo rừng cũng có thể làm đời tôi điêu đứng.

Một đêm, không ngủ được, tôi xuống bếp lục nồi tìm đồ ăn, khi má tôi còn đang ngồi may. Trong một giây phút yếu lòng, tôi cho bà biết việc tôi đang bị Phòng II điều tra. Má tôi chăm chú nghe tôi kể, rồi bà bình tĩnh nói:

“Con nên kiếm người người nào sẵn sàng tin con, chớ đừng có bào chữa với người chú tâm buộc tội mình. Con phải tìm gặp ông xếp lớn nhứt của ông trung uý đó. Thằng trung uý nó muốn ăn hiếp con của Việt Cộng để lên đại uý”.

Tôi chợt thấy con đường mới hiện ra trước mặt. Lời khuyên của má tôi thật hợp lý. Từ lâu tôi giấu bà vì không muốn làm bà buồn lòng, lo lắng, trong khi bà đã có quá nhiều việc phải lo. Nhưng tôi quên rằng má tôi là một người can đảm và tháo vát, với bản tánh rất cương nghị. Một mình bà vừa làm mẹ, vừa làm cha trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước. Tôi muốn bảo vệ má, trong khi tôi không có một khí giới nào trong tay.

Lời khuyên của má tôi làm cho tinh thần tôi lên cao như diều gặp gió. Từ ngày gặp trung uý Chương, chưa bao giờ tôi vui như đêm hôm đó. Tôi ngủ một giấc ngon lành tới sáng,

Sáng hôm sau, với tâm hồn thanh thản, tôi đi làm sớm để tìm gặp trung uý Phước. Nhờ ông, tôi biết giám đốc Sở IV An Ninh Quân Đội là đại uý Trần Duy Bính, ông là người Bắc di cư, theo Thiên Chúa giáo. Tôi vội xin gặp ông ngay. Nhưng muốn gặp một ông giám đốc, nhất là giám đốc an ninh quân đội, đâu phải chuyện dễ. Tôi phải ghi tên tuổi và lý do. Cái tên Trần Ngọc Dung không nói lên được điều gì hết. Muốn cho ông giám đốc đặc biệt chú ý, tôi phải ghi vào mục lý do: “Con gái của Đặng Văn Quang”. Tôi còn nói với nhân viên văn phòng, là tôi có tin mật muốn nói riêng với đại uý giám đốc. Quả nhiên, tôi đi được mời vào văn phòng ông giám đốc.

Đại uý Bính trạc ngoài 30 tuổi. Tóc ông chải brillantine đen mướt. Bộ quân phục của ông được ủi thẳng nếp, ngay ngắn, chớ không nhàu nát như bộ quân phục của thiếu uý Nam, ông xếp của tôi. Tôi nghe thoáng mùi nước hoa cologne đặc biệt và mùi thuốc thơm. Một tay cầm ống điếu, một tay ông đưa ra bắt tay khi tôi vừa bước vào phòng. Cặp mắt sáng của ông làm tôi hơi bối rối. Nhưng ông cười nói cởi mở, làm cho bầu không khí bớt căng thẳng ngay. Sau mấy câu xã giao, tôi đi thẳng vào vấn đề ngay:

“Thưa đại uý, tôi tin là đại uý biết tôi đang bị điều tra”.

Ông trả lời:

“Tôi chưa được báo cáo kết quả”.

Giọng Bắc của ông nghe hay hơn giọng Bắc của trung uý Chương. Là dân Nam kỳ nên tôi không biết ai ở tỉnh nào ngoài xứ Bắc.

Tôi cố hết sức bình tĩnh nói:

“Thưa đại uý, theo ý tôi, cuộc điều tra này không giống như những cuộc điều tra lý lịch nhân viên khác trong Phòng V”.

Thật ra, tôi cũng không nghe nói có nhân viên nào cùng làm việc với tôi bị điều tra cả, những cứ nói liều để chứng tỏ tôi bị đối xử khác biệt.

Đại uý Bính chậm rãi trả lời:

“Trung uý Chương cho tôi biết là ông ta sẽ hỏi cô về ba cô”.

“Thưa đại uý, ông ấy biết về ba tôi nhiều hơn tôi biết về ba tôi, nhưng thật sự ổng không điều tra ba tôi, mà cố ý buộc tôi vào cái tội nằm vùng! Điều đó rõ ràng có tính cách vu cáo và doạ nạt”.

Tôi nói bằng một giọng trách móc, giận hờn, khiến đại uý Bính có vẻ khó chịu. Nhưng tôi nghĩ rằng có thể ông hiểu người miền Nam chúng tôi là những người thật thà, chất phác và ngay thẳng, nghĩ gì cứ nói toạc ra hết. Vì vậy, tôi nói tiếp:

“Thưa đại uý, đây là xứ sở của chúng tôi, nơi chôn nhau cắt rún của người miền Nam. Tôi là con dân của đất Cần Thơ, chánh phủ quốc gia có bổn phận phải tôn trọng quyền làm dân của chúng tôi chứ. Vì vậy, không nên khơi khơi kết tội mà không có một bằng chứng cụ thể nào, như trung uý Chương đang làm. Đó là một hành động ăn hiếp dân hiền lành vô tội như tôi trong mấy hôm nay”.

“Trần Thị Tố Loan có phải bà con của cô không? ” Bất ngờ đại uý Bính hỏi.

Tôi bình tĩnh trả lời:

“Dạ, chị ấy là bà con cô cậu của tôi”.

“Tôi có gặp cô ấy sau khi cổ bị bắt. Một người con gái quá lì lợm! ” Đại uý Bính lắc đầu.

“Chị tôi bị kêu ăn 5 năm tù!”.

Tôi nhìn thẳng vào mặt ông, rồi chậm rãi nói:

“Thưa đại uý, tôi tin rằng qua các cuộc điều tra và các hồ sơ mà phòng An Ninh đang có, đại uý đủ biết hết về gia đình, bà con của tôi. Tôi xin cam đoan với đại uý là tôi vô tội. Tôi không phải Việt Cộng; mà tôi cũng không phải là tay sai của cộng sản. Vậy, xin đại uý giúp tôi”.

Tôi nói vừa thầm khấn Trời Phật phù hộ cho tôi.

Đại uý Bính yên lặng nghe tôi nói, rồi chợt hỏi:

“Cô có thích việc làm của cô ở Phòng V không?”.

“Dạ”.

Tôi không dám nói thật dù thích muốn chết, sợ người ta nghi mình, mà sợ nói một tiếng “dạ” không thôi thì lại sợ không đủ, rủi ông đề nghị làm việc khác thì sao? Nhưng tôi biết nói gì bấy giờ? Tôi còn nhỏ quá, mà hành trang vào đời của tôi lại nhẹ tâng, chỉ có mấy lời giáo huấn của ông bà tôi, ba má tôi… Nào là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, nào là lòng ái quốc, nào là cách cư xử với bà con xóm giềng trong làng Bang Thạch…

“Cô có còn tin tưởng ở Quốc Gia sau khi chị cô bị bắt không?”. Đại uý Bính hỏi.

Tôi đáp ngay:

“Thưa đại uý, tôi thương chị tôi lắm, nhưng tôi biết, thời gian trong tù chỉ là một trở ngại nhỏ cho bước đi lớn của chị. Còn đối với tôi, chị là chị Tố Loan, mà tôi vẫn là tôi, người tin tưởng ở Quốc Gia”.

Ông đứng dậy trong khi tôi vẫn ngồi yên trên ghế, rồi vui vẻ nói:

“Được rồi, tôi sẽ nói chuyện với trung uý Chương”.

Đại uý Bính tiễn tôi ra cửa. Ra khỏi sở An ninh Quân đội II tôi thấy đời thật đáng yêu, đáng sống; lòng tôi nhẹ như được chắp cánh. Tôi vội vàng về nhà báo tin mừng cho má hay. Trước khi gặp đại uý Trần Duy Bính, tôi cứ tưởng ông công an nào cũng có nanh, có vuốt. Ngược lại, đại uý Bính có hàm răng trắng thật đẹp và nụ cười thật hiền.

Sáng hôm sau, khi tôi vừa bước chân vô sở, đã thấy thiếu uý Nam có mặt trước mọi người như thường lệ. Sự có mặt rất sớm của ông khiến tôi đôi khi thắc mắc, không biết ông có về nhà ngủ, hay ông ngủ luôn trong văn Phòng V có máy lạnh.

Vừa thấy mặt tôi, thiếu uý Nam đưa cho tôi một tờ giấy hồng. Khỏi nói, tôi cũng biết cái gì đang chờ đợi tôi từ sáng tới giờ. Đó là lệnh “trình diện tại văn phòng trung uý Chương ngay lập tức!”. Chữ viết tay của đại uý Chánh. Buổi gặp đại uý Bính khiến tôi bạo dạn ngồi xếp tờ giấy mầu hồng thành chiếc máy bay, rồi cho bay vô thùng rác. Thiếu uý Nam trợn mắt nhìn tôi, nói:

“Con trai của Chúa Jesus đòi gặp cô mà!”.

Tôi dí dỏm đáp:

“Nhưng con gái của Chúa Jesus hôm nay bận việc”.

Tôi vừa nói vừa nhìn vào chồng tin tức mà thiếu uý Nam mới lấy từ bên trung tâm hành quân về, rồi tiếp:

“Con trai của Chúa đành phải chờ bữa khác vậy”.

Thiếu uý Nam ngạc nhiên nhìn tôi một lát, rồi lắc đầu, trở về bàn làm việc của ông.

Những ai trong văn phòng biết chuyện tôi đang bị điều tra hồi hộp chờ xem tôi lăn lóc trong bão tố, rồi sẽ trôi giạt đến đâu. Còn tôi, tôi cũng mệt lả người, nên suốt ngày hôm đó tôi không tập trung được tư tưởng. Ngoài mặt tôi giả bộ bình thản, nhưng trong bụng, tôi cũng hồi hộp chờ chiếc xe thùng màu đen đến hốt tôi đi. Nhưng ngày đi qua, đi một cách êm ả như tỉnh nhỏ Cần Thơ. Rồi những ngày sau cũng không có chuyện gì xảy ra. Cuộc sống trở lại bình thường; trung uý Chương vẫn mang lon trung uý.

Một hôm, tôi cùng trung uý Phước tới câu lạc bộ, thấy trung uý Chương đang ngồi ở đó. Nhưng vừa thấy tôi, ông liền bỏ đi ngay. Tôi nhớ câu nói của Hải Vân: “Sau cơn mưa, trời lại sáng”. Mà trời sáng thật. Mỗi khi đi ngang qua Phòng II, tim tôi không còn đập như trống làng nữa. Rồi hình ảnh trung uý Chương cũng lu mờ dần. “Con ma” Chương không còn theo ám ảnh tôi nữa.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 16

Ban biên tập của chương trình phát thanh gồm có: đại úy Thịnh, chủ bút; thiếu úy Nguyễn Triệu Nam, cây viết và linh hồn của chương trình; và ba cô thơ ký đánh máy. Xướng ngôn viên là cô Thảo, một người đẹp không biết từ đâu giáng xuống Cần Thơ. Mỗi lần Thảo bước vô cổng trại Lê Lợi, xe Jeep ngừng chạy, gác cổng bị trặc cổ, lính Mỹ ở các văn phòng húyt gió, chim trên cành cũng giựt mình vỗ cánh bay xa.

Tôi được làm đệ tử của thiếu úy Nam. Chúng tôi ngồi chung cái bàn viết của ông đại úy Mỹ. Ông là nhiếp ảnh viên chiến trường, nên vài ba tuần ông mới về Phòng V một lần. Khi ông về, thiếu úy Nam và tôi chuyển ra cái bàn bên ngoài, hoặc chúng tôi đem giấy xuống câu lạc bộ làm việc. Tuần lễ đầu tiên, thiếu úy Nam cho tôi đọc báo quân đội do ông lựa chọn. Tôi phải đọc những bài ông làm dấu X bằng mực đỏ. Đó là những bài bình luận của cấp chỉ huy các binh chủng, và những bài của những cây viết “có tiếng” của Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Tôi còn là học trò thò lò mũi xanh, làm sao biết được những cây viết “có tiếng” trên Sài Gòn. “Có tiếng”, với tôi thời đó là Khái Hưng, Nhất Linh, Hồ Biểu Chánh, chuyện ma. Lê Xuyên nổi tiếng như cồn, nhưng má tôi cấm đọc. Tôi chỉ được đọc những sách má cho phép mà thôi. Thiếu úy Nam muốn tôi bỏ cách viết văn mà tôi đã học ở nhà trường. Ông muốn tôi hít thở cái không khí của tuyên truyền. Vì vậy, suốt tuần lễ đầu tôi phải cố gắng “nuốt” những bài viết khô khan trong đống báo quân đội mà thiếu úy Nam giao cho. Ông muốn tôi mau chóng “trưởng thành” như một người lính. Tôi thầm tự hỏi, một cô gái mới 18 vừa chân ướt chân ráo ra khỏi trường, dù có ăn gian thêm một tuổi cũng mới có 19, làm sao tôi có thể rượt thời gian để trưởng thành như một người lính được. Rồi ai hưởng cái tuổi mới dậy thì giùm tôi đây? Mà làm sao tôi có thể trưởng thành như một người lính của Quân Lực Việt Cộng Hòa được? Các anh ra chiến trường, luôn luôn nằm kề bên cái chết với cây súng, gối đầu bằng cô đơn, với những giấc mơ gia đình, đất nước và hòa bình? Tôi biết cái can đảm của tôi lớn bằng hai lá gan, nhưng chưa thể so sánh với cái can đảm của người lính chiến. Nghĩ vậy, tôi tự nhủ phải ráng học với ông thiếu úy này để làm việc.

Tôi gọi thiếu úy Nam bằng “ông Nam”, dù ông không bằng lòng, vì tôi chưa quen dùng cấp bậc để gọi một người trong quân đội. Ông rất kiên nhẫn, tử tế, và thích dạy học. Sau những giờ làm việc gấp rút để hoàn tất một chương trình cho cô Thảo thâu băng gởi xuống đài phát thanh Sóc Trăng, Thiếu úy Nam và tôi mới thực sự làm quen với nhau. Ông sanh trưởng trong một gia đình Nho giáo ở Hà Nội, di cư vào Nam cùng với hơn 800.000 người muốn sống tự do. Tôi không biết gì nhiều về quá khứ của ông, nhưng tôi có cảm tưởng ông không có nhiều cảm tình với đàn bà. Mỗi khi nói đến đàn bà, ông thường có giọng cay đắng. Một hôm, thấy tôi nhăn mặt khi nghe ông kể một chuyện tình, ông vội nói:

“Cô là con gái, chưa phải là đàn bà. Dù có già thêm vài tuổi, cô vẫn giữ được cái ngây thơ của cô”.

Thỉnh thoảng, ông cho tôi xem những bài thơ ông ca ngợi đàn bà. Có bài nói về một người con gái với lời thơ nhẹ nhàng. Có bài với những lời âu yếm dành cho một mối tình. Ông là người đa tình, đa cảm, nên dễ rung động trước vẻ đẹp của phụ nữ. Có người đáp lại tình ông, mà cũng có người đã phụ tình ông. Tôi thầm nghĩ rằng đa tình như thơ của ông có vẻ “mệt quá”. Những mối tình của ông, tôi ví như những sợi dây trói buộc ông lại, làm tim ông héo hắt. Nếu cứ mỗi lần yêu là “chết trong lòng một ít”, không biết lòng ông còn sống được bao lâu nữa? Hèn chi vọng cổ mới có câu hát “yêu là đau khổ, tình là dây oan”. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng tình yêu đẹp như trăng rằm, sáng như sao trên trời, vui như những ngày hội lớn, thơm như hoa bưởi, hoa cam… Khi nghe cô gái Cần Thơ định nghĩa về tình yêu như trên, thiếu úy Nam chỉ nói:

“Chúc cô may mắn”.

Ông hút thuốc liên miên, nên hai ngón tay vàng khè, môi thâm sì. Sau tuần lễ đầu, ông hỏi tôi có ghét khói thuốc không? Tôi biết nói gì bây giờ, vì tôi biết nếu không có khói thuốc là không có thầy, mà “không có thầy, đố mầy làm nên”. Tôi trả lời:

“Miễn ông đừng đổi hiệu thuốc khác là tôi chịu đựng được”!

Từ ngày đó, ông bớt nghiêm nghị với tôi. Ông tỏ vẻ thân mật với tôi hơn, coi tôi như mấy ông thượng sĩ, thiếu úy ở Phòng V. Nhưng ông vẫn còn nghiêm nghị với ba cô thơ ký đánh máy và cô xướng ngôn viên. Ông cho tôi đề tài để viết; còn tin tức tôi lấy trong báo cáo bên trung tâm hành quân. Tôi viết bình luận về những trận đánh trong vùng Chương Thiện, Sóc Trăng. Mỗi lần viết xong, tôi đưa cho thiếu úy Nam duyệt. Trong khi ông đọc, tôi ngầm theo dõi phản ứng của ông. Có lúc ông nhíu mày, có lúc ông lắc đầu nhè nhẹ. Điều làm tôi mắc cỡ nhứt, là cây viết màu đỏ của ông không ngừng di chuyển trên những trang giấy tôi viết. Có trang ông vo tròn liệng vô thùng rác, sắp những trang giấy còn lại cho ngay ngắn, rồi cất vào tủ của ông.

Ngày qua ngày như vậy cả một tháng dài. Tôi không biết ai thử tánh kiên nhẫn của ai, nhưng tôi vẫn nhớ “không thầy đố mầy làm nên”. Vậy là tôi cứ tiếp tục viết, thiếu úy Nam tiếp tục sửa, liệng thùng rác, và cất giữ.

Một hôm, sau khi đưa chương trình phát thanh cho cô Thảo, thiếu úy Nam kêu tôi theo ông xuống câu lạc bộ uống nước. Tôi thấy ông ôm một xấp giấy dầy cộm, xếp trong một bìa cứng. Tôi đoán xấp giấy đó là những bài tôi viết; tôi hồi hộp đi theo ông. Một là tôi lên đoạn đầu đài; hai là tôi chính thức trở thành một biên tập viên. Tôi tự trấn an: “Hổng sợ. Mình đã từng sống trong rừng U Minh, muỗi cắn không chết, rắn, cá bông chưa cắn chết, cũng không bị máy bay của thằng Tây bỏ bom trúng, thì những khó khăn sắp tới nên coi nhẹ như lông hồng”.

Thiếu úy Nam phê bình những bài tôi viết một cách thẳng thắn, chính đáng và xây dựng. Vấn đề lớn nhứt là tôi viết như viết báo cáo, nghĩa là quá trung thực. Ông nói:

“Chúng tôi có cả ngàn, cả vạn tay viết báo, nhưng Tiếng nói của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại vùng 4 Chiến Thuật không cần họ. Nếu cô chưa biết gì về cộng sản, tôi sẽ dạy cho cô biết về chúng. Nếu cô không thù ghét cộng sản, cô cũng phải cho cả ngàn cả vạn thính giả biết quân ta nơi chiến trường can đảm mức nào để diệt chúng. Không những thế, cô còn phải cho người dân thấy rõ bộ mặt thật tàn bạo của Việt Cộng. Chúng không phải là bạn của người dân, vì chúng thẳng tay giết hại đàn bà con trẻ”.

Thiếu úy Nam chỉ một tấm hình lớn của trung sĩ Mai Hòa mới chụp mấy ngày trước. Đó là hình một người đàn bà nằm trên vũng máu với một bầy con nít, đứa lớn nhất chừng mười tuổi, đứa nhỏ nhất chưa biết đi, đang khóc bên xác mẹ. Tôi đã từng nếm mùi chia ly, đã chứng kiến cảnh nhà tan cửa nát, và đã thấy những xác nạn nhân chiến tranh trôi lềnh bềnh trên sông. Vậy mà chưa bao giờ tôi phải đứng trước cảnh mấy đứa con nhỏ khóc bên xác mẹ. Tôi cắn môi, cúi mặt để cố nén cơn xúc động trong lòng, rồi gật đầu.

Thiếu úy Nam nói tiếp:

“Cô viết được, nhưng tôi muốn cô nhớ rằng cô không phải là một nhà báo, mà là một cán bộ tuyên truyền. Chúng tôi có phóng viên chiến trường, tin tức được chuyển thẳng từ mặt trận về. Cô cứ khai thác những tin đó để cổ vũ, động viên tinh thần người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời, cô phải làm nãn lòng bọn cán binh Việt cộng bằng cách cho chúng thấy tương lai của chúng mờ mịt, vì chúng tranh đấu cho một chính phủ ma”.

Tôi giựt mình khi nghe thiếu úy Nam gọi chính phủ của ba tôi là “chính phủ ma”. Nhưng tôi không dám phát biểu một lời nào. Thiếu úy Nam không biết gì về lý lịch của tôi.

Ông nói tiếp:

“Cô giàu tưởng tượng, nên ngòi bút của cô có thể trở thành một vũ khí sắc bén để đánh giặc nầy”.

Tôi nhìn thiếu úy Nam bằng cặp mắt cương quyết, rồi hỏi:

“Ông muốn nói là đánh thắng giặc nầy?”.

Tôi muốn cho ông biết tôi đã hiểu nhiệm vụ của tôi.

“Cô nói đúng!” Ông trả lời bằng một giọng nửa ngao ngán, nửa buồn rầu. “Đôi khi tôi thấy mình quen với chiến tranh như cái áo cũ, hay với một người đàn bà đã chung sống lâu năm đến độ chán ngấy, nhưng nếu không có cô ta thì tôi lại không sống được”.

Ông lắc đầu nhìn xuống ly cà phê, nói thêm:

“Thật ra, tôi cũng chả biết làm gì khi hết giặc”.

Tôi dò ý ông:

“Ông có thể xuất bản thơ của ông hoặc ông viết tiểu thuyết và sống một cuộc đời hạnh phúc bên người đàn bà ông yêu”.

Quả thật, viễn tượng một cuộc sống như vậy cũng làm tôi ham muốn, ao ước. Sống thanh bình bên người mình yêu không là một cuộc sống chứa chan hạnh phúc sao? Nhưng thiếu úy Nam vẫn có giọng buồn buồn:

“Tôi làm thơ chỉ để giải bày tâm sự của riêng tôi. Tôi cũng không biết sống hạnh phúc là sống làm sao?”.

Tôi nói:

“Là không có những trái hoả châu ban đêm, không có pháo kích giữa ban ngày, không còn nhận được tin những người thân của mình chết bất ngờ tức tưởi …”.

Thiếu úy Nam khẽ thở dài, chán nản:

“Cuộc chiến nầy sẽ không bao giờ dứt”.

Thiếu úy Nam dạy tôi về tuyên truyền như sau:

“Tuyên truyền là một nghệ thuật, làm với đầu óc chớ không phải làm với con tim”.

Rất may là tuyên truyền không làm với con tim, vì tim nhà thơ Nguyễn Triệu Nam mềm xèo.

Một buổi sáng, tôi ngồi ngoài phòng thâu băng để nghe cô Thảo đọc bản tin tôi mới viết. Tận đáy lòng, tôi hãnh diện vô cùng. Rồi tôi cũng được chấp nhận góp sức với quốc gia mà tôi đã lựa chọn và hết lòng tin cậy. Trước đó, dù được đi học trường công, nhưng lúc nào tôi cũng thấy hai chân tôi chưa đứng vững trong xã hội nầy. Bất cứ lúc nào người Quốc Gia cũng có thể hất chân con cái của Việt Cộng ra khỏi cuộc sống. Bất cứ lúc nào trường Phan Thanh Gian cũng có thể đuổi con cái của Việt Cộng ra khỏi trường.

Tôi đem về nhà 6,000 đồng kỳ lãnh lương đầu tiên sau hai tháng làm việc. Tôi đặt xấp tiền trên bàn trước mặt má tôi, rồi nói:

“Tiền nầy của má, con xin 200 để tụi con đi ăn bánh mì Lý Ngầu”.

Nhưng má tôi đưa cho tôi 500, rồi cất số còn lại vô hộc tủ của bàn máy may. Má nói hai tiếng “cám ơn” rồi tiếp tục việc. Tôi không ngạc nhiên khi thấy má không vui, vì tôi biết má không muốn tôi đi làm mà phải tiếp tục học, nhưng vì hoàn cảnh gia đình, mẹ con tôi phải chấp nhận.

Trưa hôm đó ở Phòng V, chúng tôi nhận được tin khẩn cấp từ quân y viện Cần Thơ cho biết thương binh từ mặt trận Chương Thiện chuyển về quá nhiều, nên bệnh viện thiếu máu. Bác sĩ Hiếu kêu gọi tất cả dân quân trong các trại chung quanh hiến máu. Tôi hưởng ứng lời kêu gọi, nên xin về sớm để tới quân y viện.

Ngoài cổng nhà thương, một rừng người nôn nóng chờ giờ mở cửa để được vô thăm thân nhân. Đó là những người từ trong vườn ra, chen chúc bên những người từ những tỉnh khác đến. Có những ông bà già mệt mỏi ngồi phệt xuống đất chờ. Có mấy bà khóc lóc vì biết thân nhân đang ở trong tình trạng nguy ngập, thập tử nhất sinh. Nghe họ than thở, tôi biết rằng có người đã không được gặp chồng hoặc con cả năm trời; khi được tin thì lại là tin dữ.

Người lính gác cổng mở hé cổng bệnh viện cho tôi, khi biết tôi đến hiến máu. Tôi xếp hàng sau bốn người đàn ông. Khi thấy cây kim của y tá đâm vô tay một người đang nằm trên bàn, tôi rùng mình, nhắm mắt lại. Sao cây kim dài hơn kim vá bao cà ròn nữa! Mùi nhà thương cũng làm tôi bủn rủn tay chân. Tôi thầm nghĩ rằng nếu bị bịnh tôi cũng không dám vô đây, vì có thể không có ngày về. Một cô y tá vội vàng chạy vô lấy bịch máu vừa có người hiến, rồi biến mất tiêu. Một cô y tá già nở nụ cười tươi, rồi hỏi tôi về loại máu. Tôi chỉ biết lắc đầu, vì tôi không biết. Cô y tá thở dài nói:

“Khổ quá! Không ai biết máu mình loại máu gì”.

Sau lưng tôi có tiếng một người đàn ông nói lớn:

“Tui biết máu tui là loại máu dê”.

Mọi người trong phòng cười rần lên làm bầu không khí nặng nề khó thở tan biến. Tôi quay lại nhìn mặt người đàn ông vô duyên đó. Tôi buột miệng nói với cô y tá:

“Máu của cháu nửa Mông cổ nửa Việt Nam”.

Tôi muốn dằn mặt người tự nhận có máu dê nầy cho bõ ghét.

Cô y tá nhận ra tôi, vì cô là bạn học của má tôi trước kia. Cô là cô Tám Quán, làm y tá trưởng bên dân y viện. Nay quân y viện thiếu y tá phải mời cô qua giúp. Cô nói với tôi:

“Thôi, ngồi xuống đây”.

Tôi vâng lời cô. Trong khi sửa soạn lấy máu của tôi cô tiếp tục than thở:

“Cả tuần nay cái gì cũng lộn xộn, ngổn ngang hết. Cô thức trắng đêm hôm qua tới giờ”.

“Sao cô không ngủ?”. Tôi ngây thơ hỏi.

Bà thở dài đáp:

“Làm sao mà ngủ được. Cái gì cũng thiếu: thiếu bác sĩ, thiếu máu, thiếu giường…”.

Tôi nằm chờ bà lấy máu mà không dám nhìn lên cánh tay. Tôi sợ quá nên khi cô Tám đâm kim vô tay, tôi cũng không cảm thấy đau. Rồi việc lấy máu xong lúc nào tôi cũng không hay.

Tối đó tôi trở lại quân y viện, vì tôi tò mò kiếm cô Tám Quán, muốn biết người lính nào đã được tiếp máu của tôi và tôi cũng muốn biết sự hiến máu của tôi có cứu sống được ai không?! Một lát sau, Cô Tám Quán cho tôi biết số Phòng Và số giường của người lính đã nhận máu của tôi. Nhưng tôi đến thì đã trễ, vì khi tôi bước vô phòng, thấy tấm vải trải giường trắng loang máu khô phủ lên xác một người. Tôi cảm thấy bơ vơ, tuyệt vọng và yếu đuối trước những cái chết mà biết bao nhiêu người đã cố gắng cấp cứu cũng không kịp. Chiến tranh như những cơn giông, cơn bão, những đợt sóng thần, cuốn đi không biết bao nhiêu sinh mạng.

Mười tám tuổi, tôi không có thì giờ làm con gái; cả ngày lẫn đêm chỉ suy nghĩ chuyện nước non. Tôi muốn đi lính, má không cho. Tôi muốn làm nhiếp ảnh viên chiến trường, lại nhút nhát không dám lao mình ra khỏi máy bay trực thăng.

Trong phòng, có một người đàn bà ngồi dưới đất, cạnh một chân giường. Bà gục đầu lên hai cánh tay để trên đầu gối; vai bà rung theo tiếng nấc rên rỉ, thảm thiết. Tôi muốn ra khỏi phòng, nhưng lại không nỡ bỏ bà ta một mình. Tôi nhẹ đặt tay lên vai bà. Bà liền ngước lên hỏi:

“Cô quen con tôi hả?”.

Rồi bà kéo tà áo dài lên chùi nước mắt. Tôi đáp:

“Dạ không. Cháu chỉ tới thăm”.

“Làm sao cô biết con tôi?”.

Nỗi thất vọng hiện lên gương mặt người mẹ. Tôi có cảm tưởng bà muốn gặp một người quen của con bà, để tìm một kỷ vật của con bà để lại. Tôi lại phải đính chánh:

“Tôi nói tôi không biết con của bà, nhưng cho bà biết tôi đã hiến mau để cứu thương binh”.

Người mẹ vịn thanh giường sắt đứng dậy, bước tới đầu giường giở tấm vải, vuốt tóc người con trai. Tôi không dám nhìn cảnh thương tâm đó.

“Nếu có mặt ba nó ở đây, người ta cứu sống con tôi rồi. Nó mới có 20 tuổi. Trời ơi, sao lại bắt con tôi đi? Tôi chỉ có một mình nó thôi”.

Tôi không biết nói gì. Má tôi có 7 đứa con, chỉ một người theo ba ra Hà Nội mà má tôi đã héo hắt cả cõi lòng vì nhớ thương anh. Đằng nầy người mẹ ngồi trước xác con của mình mà không có hẹn ngày trở lại.

Người mẹ cho tôi biết chồng bà là một sĩ quan đang tham dự cuộc hành quân ở Chương Thiện. Chính trong cuộc hành quân này mà người lính 20 tuổi đã hy sinh.

Hai nhân viên của nhà thương đem băng ca tới. Họ chuyển xác người lính sang băng ca. Bà mẹ chạy theo, đưa hai tay âu yếm đỡ lấy băng ca. Tiếng nói của bà đứt quãng trong tiếng khóc. Tôi đứng đó một hồi, tay vịn giường sắt nhìn người ta thay vải giường một cách nhanh nhẹn và vô tình, như họ đã làm việc nầy liên tục mỗi ngày mỗi tháng. Chiến tranh làm con người quen với cái chết. Không biết người ta có trân quý sự sống hay không, trong cái nhà chứa toàn những thương binh nầy? Tôi, đứa con gái mới lớn lên với nhiều tình cảm chất chứa, dễ xúc động trước những cuộc sinh ly tử biệt, không thể cầm lòng được. Tôi lặng người trước cái chết của người lính trẻ vừa rồi. Tiếng khóc than của bà mẹ làm tôi mất tinh thần. Khi người ta thay xong tấm vải tôi định bỏ đi, nhưng tình cờ nhìn sang giường kế bên.

Một người lính bị băng bó kín đầu, để hở hai con mắt, cái mũi, và cái miệng. Thân anh ta đắp một tấm vải màu kaki. Khi thấy tôi bước gần, anh nhìn tôi bằng đôi mắt lờ đờ như vô thần. Tôi gợi chuyện:

“Anh có khoẻ không?”.

Anh không trả lời tôi mà hỏi lại:

“Nó đi rồi rồi hả… cô? Thằng nhỏ đi rồi hả?”.

“Dạ. Còn anh khoẻ không?”.

“Việt cộng… cái kiếp chó đẻ nầy”.

Anh thương binh vừa chửi thề vừa quờ quạng cánh tay, đập lên thành giường làm cho giường rung rinh, rồi hậm hực nói:

“Mắt đui à? Giò tui cụt, cổ tui gẫy, làm sao mà khoẻ cho được!”.

Nghe anh nói, tôi mới biết anh bị thưang nặng như vậy. Tôi không biết nói gì với người thương binh nầy, vội vàng bước nhanh ra cửa. Ra khỏi khu đó, thấy có một nhà thờ nhỏ trong sân nhà thương, tôi rón rén bước vô. Tôi biết nói gì với Chúa đây? Một đứa con của Chúa vừa chết yểu; một đứa khác đang giẫy giụa vì những vết thương trầm trọng. Tôi chợt nhớ lại lời ông ngoại tôi hồi nào: “Chúa thương yêu con của ông, nhưng ông không có xen vô chuyện của mình ở đây”.

Millions of crab’s swarms along roads on Christmas Island as they make annual migration to the ocean

By Sara Malm for Mail online

Published 14 November 2017 

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Hàng triệu con cua màu đỏ ruby ​​đã bắt đầu hành trình hàng năm từ những ngôi nhà trong rừng ra biển để sinh sản trên Đảo Giáng sinh – thông qua những ‘cầu cua’ được thiết kế đặc biệt. Khối cua đất đỏ quằn quại đã rời bỏ hang của chúng và bắt đầu cuộc hành trình gian khổ đến Thái Bình Dương trong cuộc di cư cua đất hàng năm lớn nhất thế giới. Nhiếp ảnh gia Kirsty Faulkner đã ghi lại được cảnh tượng tuyệt đẹp khi Cua đỏ Đảo Giáng sinh di chuyển trên địa hình nhiều đá, những con đường đông đúc và những cây cầu và đường hầm được xây dựng đặc biệt – được thiết kế để giảm thương vong – vào cuối tuần này.

Chuyến đi an toàn! Hàng nghìn con cua ở đảo Giáng sinh sử dụng cây cầu được thiết kế đặc biệt để di chuyển từ rừng ra biển sinh sản. Cô Faulkner, người đã chuyển đến đảo Christmas nhiều năm trước, nói: ‘Thật không thể tin được, mọi người mà bạn nhìn thấy, cho dù họ lớn lên trên đảo hay những người như tôi mới chuyển đến đây gần đây, đều nghĩ điều đó thật tuyệt vời. ‘Đó là một điều tuyệt vời cho mọi người xem, nó không bao giờ cũ.’ Bà Faulkner, 40 tuổi, người gốc Perth, Australia, cho biết những con cua đang đi được nửa đường xuống đảo, chúng bò xuống những con đường được phong tỏa đặc biệt và sử dụng những cây cầu, đường hầm để chạy trên hoặc dưới đường. Kirsty nói: ‘Khi họ di cư, chúng tôi rất ý thức về nơi chúng tôi đi bộ và lái xe. ‘Chúng tôi có lệnh cấm đường tùy thuộc vào nơi có cua.

Cuộc hành trình lớn: Cua đỏ đảo Giáng sinh, một loài giáp xác độc nhất trên lãnh thổ nhỏ bé của Úc và ước tính có khoảng 45 triệu con thực hiện hành trình ra biển mỗi năm.

Tất cả đều rõ ràng: Trong thời gian di cư, chính quyền bang đóng cửa các con đường trên đảo để đảm bảo những chú cua có màu sắc rực rỡ có chuyến hành trình ra biển an toàn.

Cẩn thận: Hai đứa trẻ cố gắng vượt qua đội quân cua nhỏ đang băng qua đường trên đảo Giáng sinh.

‘Đội Công viên Quốc gia đã dựng rào chắn dọc theo nhiều con đường trên đảo để giữ an toàn cho chúng. “Các con tôi từ 11 đến 15 tuổi dùng cào vườn nhẹ nhàng gạt đàn cua ra khỏi đường để chúng không bị cán qua. ‘Những con cua có thể trông hơi đáng sợ trên video tua nhanh thời gian nhưng nó thực sự rất tuyệt vời khi được xem.’

Những con cua có thể được nhìn thấy đang di chuyển trên những con đường đông đúc và những cây cầu và đường hầm được xây dựng đặc biệt – được thiết kế để giảm thương vong

Cua đảo Giáng sinh có nhiều màu sắc từ màu đỏ tươi ngoạn mục thấy ở hầu hết các loài đến màu cam và thậm chí là màu tím.

Cua đỏ Đảo Giáng sinh là một loài giáp xác độc nhất trên lãnh thổ nhỏ bé của Úc và ước tính có khoảng 45 triệu con sống trên đảo. Trong thời gian di cư, chính quyền bang đóng cửa các con đường trên đảo để đảm bảo những chú cua có màu sắc rực rỡ có chuyến hành trình ra biển an toàn. Sau khi được sinh ra, cua đỏ con thực hiện hành trình kéo dài 9 ngày để trở về với cha mẹ trên Đảo, bất chấp sự tấn công của những kẻ săn mồi như kiến ​​điên màu vàng. Một số loài du nhập đe dọa quần thể cua trên đảo và ước tính có khoảng 10 đến 15 triệu con cua đã bị tuyệt chủng kể từ năm 1990.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Cố gắng, cố gắng,

Cố gắng nữa

Đặng Chí Bình

Bài 30

Một bà già tay run rẩy (chắc vì đói và mệt) đưa cho tôi hai miếng mì khô bé tí, mắt bà lại nhìn con chim! Tôi hiểu, cầm hai miếng mì khô, tôi cũng không biết làm sao cho nó ăn. Tôi buộc vào đầu một cái que một miếng, rồi giơ lên, chẳng hiểu vì sao, con chim cứ nhìn trân trân vào miếng mồi, nhưng vẫn lạnh lùng đứng yên, nó không thích ăn hay nó không ăn được? Nó cũng chẳng có thái độ gì, trong khi chính tôi, sáu bảy ngày nay chỉ có một hộp sữa, nhìn miếng mì khô, tôi cũng thèm lắm, nhưng phải mang vào trả lại bà cụ, với lời cảm ơn thay cho con chim. Khoảng gần trưa, tôi đang nằm lim dim vì mệt, thì có tiếng cậu Bạch kêu lên, như reo mừng:

– Ối trời ơi! ở đây có một hòm to lương thực!

Tôi xông đến ngay, trong một cái góc khuất, sát vào hầm máy dưới đáy của thuyền: mì sợi khô, gạo tẻ, gạo nếp v.v. .. Tôi hiểu ngay, đây là do thằng Lợi, chuẩn bị cho chuyến đi, ông Cường không hề biết, điều này đã nói rõ. Tôi suy đoán: chắc thằng Lợi lo mọi chuyện cho chuyến đi, từ máy móc cho tới khâu đóng thuyền. Ông Cường hợp đồng, chỉ là người lo bến bãi, đón khách v.v. . .

Ông Cường được nhận một số khách nào đó, theo thỏa thuận với thằng Lợi, nhưng tới ngày đi, ông Cường đã đưa quá nhiều khách để lấy vàng, lấy tiền, vì thế đã xẩy ra xô xát cãi lộn, để rồi thằng Lợi đã mang con cái trở lên bờ.

Lúc này ông Cường, cũng đã xô đến nhớn nhác nhìn hòm lương thực, tôi nhẹ đưa một câu để ông Cường này biết điều một chút. Tôi nói to, cho mọi người cùng nghe:

– Cái này là do thằng Lợi đây, nó không kịp nói với tôi, thì đã lên bờ rồi.

Ông Cường đang chỉ chỏ, định giải quyết những thực phẩm đó thấy tôi nói như thế, ông ta ngừng lại ngay như bị chạm huyệt. Tôi lờ đi và nói tiếp với mọi người:

– Lương thực này là của chung mọi người trên thuyền. Điều quan trọng bây giờ là nước, nước chỉ còn đủ dùng cho một ngày nữa, ăn nhiều bây giờ, lại càng phải cần nước nhiều. Do đấy, tôi đề nghị hãy chia đều cho mỗi người một chút, rồi từ từ theo điều kiện chúng ta giải quyết dần. Tôi xin minh định rõ ràng: Cũng như nước, quý vị đã giao cho tôi, lương thực cũng sẽ như thế.

Nói rồi tôi nhìn các cậu Bạch, Triết và Thâu, qua những buổi tâm tình các cậu ấy sẽ ủng hộ tôi. Hơn nữa, tôi làm theo đường chính, thực sự vì mọi người trong thuyền. Cụ thể sau khi tôi đưa ra ý kiến ấy, không những mấy cậu thanh niên giơ tay tán thành, ông già má hõm (sau này tôi đã biết tên là bác Kiệt) và anh chị gần cạnh tôi (người Miên) cũng lên tiếng đồng ý. Dù như thế, để cho nó êm vui, tôi quay lại nói như cùng phe với ông Cường:

-Ông Cường cũng đồng ý, giải quyết như thế phải không?

Ông Cường vừa cười vừa gật đầu, và cũng trở gót về phòng hoa tiêu. Tôi cười bước sang khoang bên, mấy bà, mấy cô, chào ầm lên như đùa:

– Chào ông thần nước!

Tôi biết là các bà đùa vui, nên tôi chỉ cười.

Tôi nhờ bác Kiệt và các cậu phân chia mỗi người một ít lương thực, tôi vẫn lưu ý là hết nước, ăn nhiều càng nguy hiểm, cho nên chỉ từ từ ít một. Mấy ngày trước, trong những lúc ngồi trao đổi chuyện trò với các cậu thanh niên, tình cờ tôi nắm được một ý là:

Cái hôm ở bến bãi lên thuyền có xô xát, lộn xộn là vì ông Cường cho khách, lên thuyền nhiều quá. Thuyền có thể bị chìm, nên thằng Lợi cương quyết không đồng ý. Hôm ấy, thằng Lợi đã mang con lên bờ, chứ nếu không, phe cánh bên ông Cường sẽ giải quyết thằng Lợi. Nghĩa là sẽ cho nó đi “mò tôm” ở ngay chỗ bến bãi. Tôi nghe mà người nóng lên và buồn cho lòng con người, dễ dàng phản nhau, chỉ vì đồng tiền. Nghe để biết vừa đủ thôi, bởi vì trong điều kiện hiện nay cứ đóng cái vai không hề quen biết Lợi là chính.

Vừa qua tôi đã hơi vội, nên đã lòi ra một chút, tuỳ theo sau này tôi phải tìm cách hóa giải, với ông Cường. Mặt khác, tôi không hề tỏ ra quen biết Lợi nhiều, mà chỉ nghe nói, khi đi đóng ghe thuê để kiếm ăn v.v. . . Vì trách nhiệm chung, cũng như nước, tôi mới có ý kiến. Tôi để mặc bác Kiệt và các cậu giải quyết lương thực, tôi cũng chỉ nhận phần như mọi người.

Con thuyền vẫn thay nhau chèo về hướng Bắc, khoảng 4 giờ chiều, con chim lạ bỗng bay đi, cũng về hướng Bắc. Như thế, càng chứng tỏ đã có chiều hướng đi đúng hướng, chỉ không biết rõ đấy là Căm-pu-Chia hay là Thái Lan mà thôi.

Mặt trời đã chui dần xuống biển, bầu trời cũng thẫm dần lại, bỗng từ phía Nam, một luồng sáng từ dưới nước chạy ngược lên trời. Mới chập tối mà đã có sao chổi đổi ngôi, tôi chưa từng được nhìn sao chổi, đổi ngôi ngoài khơi bao giờ, nên mới thấy lạ. Cậu Triết đang chèo, chạy vội xuống khoang gọi kêu rối rít:

– Có tầu đánh cá!

Nhiều người lại chạy xô lên sàn thuyền, đúng rồi xa xa rõ ràng có ánh đèn lấp loáng ở phía Bắc. Tôi cũng xô đến, tiếp tay chèo với mấy cậu thanh niên, điểm sáng càng ngày càng rõ ra, thậm chí tôi đã nhìn thấy cả bóng người đi lại. Mấy chị phụ nữ nhanh nhẩu, cho hai tay lên miệng làm loa, gào to:

– Xin cứu chúng tôi với!

– Chúng tôi không còn nước uống!

Tiếng gào lẫn vào tiếng sóng, thuyền của họ to gấp hai thuyền của chúng tôi. Có hai, ba người nhấp nhô cũng hướng về thuyền chúng tôi, nghe những tiếng ó é lẫn vào sóng gió của biển khơi. Tôi giơ một tay che gió ở tai, cố lắng nghe xem họ nói tiếng gì? Cao Miên hay Thái Lan? Vì xa đến hàng trăm mét nên, không thể phân định được. Thuyền của tôi, bà con xô lên càng đông, nhiều tiếng gào réo lên của cả đàn ông lẫn đàn bà:

– Cứu chúng tôi với! Chúng tôi không có nước uống!

Thuyền chúng tôi càng gần, đã trông rõ họ mặc quần áo đen và nâu, bây giờ thì đã nghe rõ:

– Làm sao mà cứu?

Câu hỏi bất chợt, làm chúng tôi ớ cả ra, không ai trả lời được. Chẳng lẽ nói chúng tôi đi vượt biên? Riêng tôi thì buồn và vui lẫn lộn. Tướng rằng sẽ nghe tiếng ngoại quốc: Thái Lan hay Miên, dù không hiểu nhưng lòng tôi sẽ vui biết mấy! Ai ngờ đâu lại là tiếng Việt, tiếng Việt lúc này, là tê tái lòng, chúng tôi vẫn còn trong khu vực của Việt Cộng. Rõ ràng con thuyền đó là đánh cá, cũng là lúc, tôi đã nhìn thấy một khẩu CKC ở bên vách thuyền. Tôi kéo vội tay cậu Triết, Thâu và Bạch ra sau, nói nhanh:

– Nếu họ sang thuyền mình, tôi sẽ thuyết phục họ vượt biên với chúng ta, nếu không được, tôi sẽ cướp súng của họ rồi cướp tàu Các cậu phải nhanh trí, ứng tiếp tôi nhé! Lúc này phải liều, để tự cứu mình!

Cả ba bốn cậu đều sốt sắng đồng ý! Tôi vỗ vào vai cậu Thâu và Triết, nói nhẹ như khích lệ:

– Hai cậu đã là dân vệ xứ Bình An, của cha Quỳnh mà!

Khi thuyền chúng tôi chèo cách chừng hơn 10 mét, một người cao lớn, nói giọng chỉ huy, giơ cả hai tay, xòe ra như đẩy lại:

– Ngừng lại đấy! Không được đến gần!

Như vậy, họ đã có kinh nghiệm với những người vượt biên. Họ không sang thuyền chúng tôi, và cũng không cho thuyền chúng tôi, đến gần. Bên thuyền ấy bẩy, tám người tiến ra nhìn chúng tôi, thuyền chúng tôi bây giờ nhiều bà mẹ đã mang cả con nít lên, ồn ào hỏi han qua lại. Họ đã biết chúng tôi vượt biên, thuyền chết máy đã một tuần, bây giờ xin nước uống!

Phía trên buồng lái, mấy người ra mũi thuyền, gào sang thuyền đánh cá, để nói chuyện. (Tôi chỉ quan sát chứ không hề lên tiếng). Nội dung những trao đổi:

Nếu ai sửa được máy, chúng tôi chạy được, chúng tôi có hiện vật là đồng hồ, một ít tiền, vàng v.v. . . để trả công!

(Họ cung cấp nước, nhưng không thể sửa máy).

Chúng tôi cũng đã biết: Vùng biển này ở bên ngoài Hòn Khoai, chỉ cách HK chừng 25 cây số. Tôi hiểu HK cũng đã sát với vùng biển của Cam Bốt, nhưng vẫn thuộc hải phận của Việt Nam.

Cả một tuần lễ, con thuyền chúng tôi lênh đênh, trôi đi, dạt về vẫn còn loanh quanh trong hải phận của VN. Họ đồng ý cho nước uống, họ ném sang một đầu cuộn dây thừng, buộc giăng giữa hai con thuyền, buộc những can nhựa, thùng nhựa lân chuyền giữa hai thuyền, họ cho được sáu can nhựa nước uống.

Phải thừa nhận dòng máu Việt trong con người của họ, vẫn còn hơi hướng, mầu sắc của Âu Lạc, vua Hùng. Họ chưa mất hết như những tên Việt Cộng bị nhữngdòng máu lai căng Cộng Sản, pha trộn vào để cạn hết tình người, không còn nghĩa đồng bào, nhìn những tình tự dân tộc như một sự cổ hủ, lạc hậu.

Bây giờ họ cho chúng tôi ba điều kiện để tự quyết định. Thuyền của họ trong đội thuyền đánh cá quốc doanh. Tôi hiểu, cái vòi hút của Đảng phải thò tới những thuyền đánh cá này. Có nghĩa, trên thuyền ấy phải có một tên, của cái Đảng lai căng mất gốc:

1) Nếu muốn tiếp tục ra đi thì cứ tự tiện.

2) Nếu muốn họ kéo vào Hòn Khoai (họ không có trách nhiệm gì, vì họ không quen biết. Họ cứ kéo thuyền vào, giao cho đồn công an).

3) Họ sẽ kéo thuyền về Minh Hải, cũng giao cho đồn công an. Nhưng là nơi họ về, địa phương của họ.

Chúng tôi, kẻo hết xuống khoang giữa của thuyền để lấy ý kiến chung. Tôi tranh thủ trao đổi vận động các thanh niên, bác Kiệt, cả gia đình của ông Cường. Bây giờ đã có nước rồi (Dè dặt cũng được bốn, năm ngày), lương thực dè xẻn cũng còn năm sáu ngày, vậy hãy quyết tâm ra đi tiếp, cứ chèo sang phía vịnh Thái Lan. Một số thì im lặng, mấy bà có con dại, cứ nằng nặc phải quay về, tôi cao giọng nói mấy nét chính:

– Thưa bà con trong thuyền, chúng ta đã mất bao nhiêu công lao, ngày tháng chuẩn bị. Chúng ta đã bị hơn một tuần lễ lênh đênh, đói khát trên con thuyền vô định giữa biển khơi, vì chúng ta đã xác định, chúng ta không thể sống dưới chế độ hà khấc sắt máu vô thần của Việt Cộng. Chúng ta ra đi chấp nhận mọi gian khổ, thậm chí cả mạng sống của chúng ta để đổi lấy tự do cho mình, và cho gia đình con cháu của chúng ta, vậy đây mới là một trở ngại bước đầu, chúng ta đã nản lòng, sợ sệt quay về?

Ba chị phụ nữ dẫn năm cháu nhỏ ra giữa, một chị đã quỳ xuống trước mặt tôi mếu máo:

– Tôi lậy ông, hãy cứu mấy đứa nhỏ này!

Tôi choáng người, vội vàng đỡ chị đứng dậy ngay, chị nói sụt sùi trong nước mắt:

– Đi về, đàn ông thanh niên bất quá bị tù một đến hai năm sẽ được tha, đàn bà con gái thì một vài tháng, rồi cũng được về. Nhưng nếu đi, thuyền không có máy, chẳng biết đến ngày nào, không chết vì bão tố, thì cũng chết đói, chết khát. Xin các ông hãy thương mấy đứa nhỏ, chúng nó có tội tình gì, mà bắt chúng nó chết!

Cái cá tính tình cảm lố bịch của tôi lại nổi lên, tôi nhắm mắt, ngửa mặt nhìn lên phía trời cao. Đời tôi đi chiến đấu chịu bao nhiêu gian khổ là cho người khác, trường hợp này cái cá nhân của tôi đã trở thành con số không. Tôi mệt nhọc, bước sang khoang bên, về chỗ nằm, tai tôi còn nghe nhiều tiếng:

– Thôi quay về! Quay về! Trong đó có cả những tiếng của những người khi sớm: Quyết ra đi!

Tôi nằm, tính toán lo lắng cho phận mình: Sẽ để tuỳ theo tình huống để ứng biến!

Khi ông Cường và một số đông xin họ kéo thuyền về Minh Hải, họ nói, còn cần ở lại đánh cá đêm nay, hai giờ chiều mai, bắt đầu quay về. Tôi cần phải ngủ, để lấy lại sức của những ngày vặn vò với số mệnh.

Sáng hôm sau, mặt trời đã dậy từ lâu, ồn ào, xôn xao ở trên sàn thuyền, người tôi cũng đã phần nào tỉnh táo, tôi mò lên và được biết thuyền bên ấy họ đã buộc hai cái thúng đậy bao tải, dù xa hàng chục mét, cũng còn thấy khói giẫy dọn mơ hồ. Họ có nhã ý nấu cơm nóng cho bà con thưởờng thức sau một tuần không có cơm. Quả như tôi đã suy nghĩ: Dòng máu của họ hãy còn trong lành, tinh khôi chưa bị pha thuốc mê, thuốc độc của chủ nghĩa ngoại lai Cộng Sản. Tôi chợt nghĩ đến những can dầu ở dưới hầm thuyền, không dùng đến, tôi gợi ý với ông Cường và các cậu thanh niên, nếu họ muốn, xin tặng họ, nếu không về đồn CA, chúng tịch thu cả thuyền. Mãi, họ đồng ý lấy năm, sáu can dầu trong hàng chục can, thuyền không dùng đến (mỗi can hai chục lít).

Đúng hai giờ như lời họ đã nói, họ ròng dây để kéo, cách xa thuyền họ chừng 7 mét. Quả máy thuyền của họ thật là khỏe, họ kéo thuyền chúng tôi đi băng băng. Qua một vài sự việc tiếp xúc tôi hiểu bên thuyền ấy có những người có tình, có nghĩa, có trước có sau. Tôi rất tiếc, không có điều kiện tiếp cận để tâm tình, trao đổi về kiếp sống của con người. Cho nên, điều kiện quyết định mọi sự việc trong cuộc đời.

Qua thăm dò, được biết họ sẽ kéo thuyền của chúng tôi về thẳng đồn công an của Minh Hải (vì cuộc sống, vì nồi cơm, họ không thể làm gì khác hơn).

Tình huống này tôi đã cân nhắc và quyết định. Được biết thuyền kéo về đến Minh Hải, sẽ vào khoảng 10 giờ đêm. Tôi hiểu: phải làm những cái gì người ta chưa, hoặc không nghĩ tới thì mới dễ, khi mà thuyền đã về đến đồn CA, thì khó trốn thoát. Có thể chúng có súng và còng tay mang theo xuống thuyền, chúng sẽ bắt đàn ông xuống hết hầm thuyền, rồi lần lượt chúng khóa tay từng người v.v. . . Vậy tốt nhất, bất ngờ nhất, khi thuyền kéo về đến gần đồn CA, họ phải đánh tín hiệu cho nhau (đêm tối) bằng đèn bấm, xác định khoảng cách, tôi sẽ xuống biển, lặn rồi bơi chéo về một hướng xa đồn CA. Không ai nghĩ là tôi dám xuống ở ngoài biển, khi còn xa bờ về ban đêm

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Ra khơi tìm tự do

Đặng Chí Bình

Bài 29

Trời tối đen, chúng tôi cứ đi mãi, hơn một giờ sau đến một vùng sông nước, họ nói sắp tới thuyền rồi, tuyệt đối im lặng! Khi tôi trông mờ mờ một con thuyền ở một bến sông, thì có tiếng cháu Thủy nho nhỏ (con gái lớn của Đạt) “chú Bình đâu?” Cũng lúc ấy, chiếc thuyền đã nổ máy.

Nhiều dòng người túa ra hỗn độn tranh nhau để xuống thuyền. Bất ngờ, một người ôm chầm lấy cổ tôi, có tiếng hổn hển sát tai tôi: “Cháu sợ quá! Chú Bình ơi!” Tôi đã biết là cháu Thủy, có cả thằng Thắng nữa. Tôi hiểu lúc này phải tranh thủ lên thuyền, con Thủy cứ nằng nặc ôm cổ, bắt tôi cõng qua một lỗ lội. Tay dẫn thằng Thắng, con Thủy ở trên lưng, trong những giây phút hối hả. Trên thuyền lại có tiếng vật lộn cãi vã, tôi cũng mệt quá rồi, tôi đặt cháu Thủy xuống và cao giọng:

– Các cháu leo lên thuyền, tìm chỗ ngồi đã.

Tôi hỗ trợ đẩy hai đứa lên thuyền. Con thuyền rất là “khẳm” lại chòng chành vì xô xát, có nhiều tiếng hô, tiếng quát, như đánh nhau:

– Không xuống nữa, thuyền đắm chết hết bây giờ?

– Lái thuyền ra đi!

Ồn ào, lộn xộn, thằng Lợi cầm vào tay tôi, nói khẽ:

– Mày đi, tao dẫn con tao lên bờ! Mày là đại diện thay tao!

Không còn kịp nói gì với nhau, thuyền quay mũi, rời bến, tiếng máy rú to dần, tôi nằm một góc. Ở dưới hầm thuyền la liệt, hỗn độn đầy người. Thuyền chạy chừng được một giờ thì có hai tiếng súng CKC, có tiếng ai nói hốt hoảng:

– Công an gọi vào!

Tôi nhoi lên nhìn ra ngoài, một ánh đèn xa xa trong chỗ tối đen, tôi dự đoán đây là cửa sông, ra biển. Tôi không hề biết ai với ai trên thuyền, nhưng vì mạng sống của chính mình, tôi nói to như ra lệnh:

– Cứ tăng ga, phóng ra khơi!

Con thuyền lồng lên rồi rẽ sóng, lại hai phát CKC nữa. Mặc! Thuyền vẫn phăng phăng, hướng về phía Nam. Sóng biển đã làm cho con thuyền chồm lên lắc lư. Cái nhược điểm say sóng cố hữu của tôi đã bắt đầu. Người tôi đã thấy nôn nao, khó chịu, tôi đã tìm được một chỗ nằm yên. Cháu Thủy từ một khoang bên mò sang bên này gọi:

– Chú Bình nằm ở đâu?

Tôi giơ một tay, dưới ánh sáng đèn dầu mé vách, cháu đã nhìn thấy, cháu bước qua một số người để đến bên tôi. Người tôi đã nôn nao quá rồi, mà phải đỡ cho cháu Thủy nằm bên cạnh. Tôi xin cảm ơn cháu Thủy, đã tin tường và quý mến tôi. Cũng đã có nhiều người nôn ọe góc này, chỗ kia, mùi của nôn mửa đã nồng nặc cả con thuyền.

Tôi muốn đẩy cháu Thủy đi chỗ khác, tôi không muốn mùi nôn ọe của tôi để cháu Thủy kinh tởm, tay tôi đẩy cháu Thủy đi, miệng chỉ mới nói: “cháu đi chỗ ….. ” thì tôi đã ồng ộc nôn cơm cháo ra rồi. Cháu Thủy và ai ở chung quanh cũng sợ dãn cả ra, cháu Thủy đã sang khoang khác, mà tôi vẫn còn tiếp tục nôn, mật xanh, mật vàng. Chuyến này tôi cũng xin cho ra hết, giống như ngày tôi đi con thuyền xâm nhập miền Bắc đầu 1962.

Có tiếng ai nói ngắt quãng:

– Đã ra….. Hải ……….phận Quốc Tế……… rồi!

Con thuyền càng chồm lên, nhào xuống, tiếng nôn ọe đây đó càng dồn dập, tôi thì rũ rượi như con “gà rù”. Do tôi nôn mửa nhiều, mùi chua khăn khẳn nồng nặc, dù chật chội, nhưng lớn bé ai cũng sợ tôi, họ đều cố nhích xa tôi, nên chỗ của tôi tương đối thoải mái nằm.

Thuyền đã chạy được gần hai giờ, chẳng ai nói ra, tuy sóng càng to, gió càng lớn nhưng trong lòng của mỗi người nỗi lắng lo bị CA bắt đã nhỏ dần. Đây đó đã nghe tiếng trẻ con khóc, tiếng gọi tên nhau í – ới. Một số người đi từ khoang này sang khoang thuyền kia, ngơ ngác sục sạo tìm người thân.

Con thuyền vẫn tròng trành lắc lư, nhấp nhô, tôi lại phải bò dậy để nôn nữa, ruột gan của tôi như xoắn quắt lại để nôn. Tôi có cảm tưởng tôi phải nôn cho ra hết cả bộ ruột, dạ dầy, phèo phổi của tôi. Cái bệnh say sóng này cũng thật lạ kỳ, không phụ thuộc vào trẻ hay già, phụ nữ, đàn ông, khỏe hay yếu, có thể do tính chất máu của mỗi người. Có nhiều người quay lại, ngó ngấp nhìn tôi . . . . . . Mặc, tôi lại nằm đổ vật ra! Có tiếng nói từ sàn thuyền vẳng xuống:

“Đã đi ngang qua Côn Sơn rồi !”

“Trời …….đã sáng ……rồi!”

Như có một nguồn sinh lực bừng lên trong người, tôi ngồi dậy và xem đồng hồ tay: 4 giờ 30 phút sáng ngày 15/1/81. Có lẽ tôi đã nôn thốc, nôn tháo nhiều lần, để rồi không còn gì để nôn ra nữa, nên người tôi tỉnh dần. Nhưng yếu tố chính là: Nỗi lắng lo bị bắt đè nặng trong lòng, đã nhẹ đi và niềm hy vọng của ngày mai, nơi phương trời càng lớn dần lên. Giọng nói khi nãy từ sàn thuyền lại vọng xuống:

– Thuyền đã đi qua Côn Đảo rồi!

Qua những khe hở của vách thuyền, ánh sáng đã vàng ửng lên, chắc mặt trời đã chui lên khỏi mặt biển. Đầu óc của tôi đang lần giở lại hình ảnh đêm vừa rồi, thằng Lợi và các con của nó, đã lên bờ trở về. Tôi chợt nhớ tới cháu Thủy và Thắng, con của vợ chồng Đạt nằm ở đâu? Như thế, chỉ còn hai cháu đi theo tôi. Chỗ này, chỗ kia bà con đã lấy thức ăn, thức uống ra để giải quyết cái dạ dầy của mỗi người, hẳn nó đã nhắc nhở. Trong túi của tôi có một cái giò lụa và hai cái bánh giò, do mẹ của tôi chuẩn bị, nhưng tôi chả cần ăn và cũng không dám ăn. Tôi đã có chút kinh nghiệm say sóng, trong những lần đi thuyền ra Bắc, không ăn lại khỏe người hơn là ăn.

Phần vì, tin tưởng con thuyền đã ra khỏi tầm kiểm soát của bộ đội, công an Việt Cộng. Phần vì, cả một đêm trắng chạy, chui rúc, bờ bụi, sợ hãi, lo âu. Phần khác nữa, say sóng nôn mửa suốt đêm, tôi nằm vật ra, lịm đi lúc nào không hay. Khi tôi mở mắt ra, lại thấy tối lờ mờ, tôi giơ tay cố hướng về chiếc đèn dầu, treo mé vách thuyền: 4giờ 30, tiếng máy thuyền vẫn rổn rảng lẫn với tiếng dạt dào của sóng biển.

Tiếng ọc ạch, nhóp nhép của sóng nước đập vào mạn thuyền làm tôi tỉnh ra thêm. Tôi nằm lắc lư theo con thuyền, óc phân định thời gian và sự việc, tại sao lại 4giờ 30? Phải chăng đã qua một ngày mà tôi không biết? Thiếp đi là đêm, tỉnh ra lại là đêm mà đồng hồ chỉ kém giờ hơn. Như thế, ít nhất phải qua một ngày rồi. Trời sáng lại dần, và lại đã có ánh nắng. Tiếng máy thuyền tự nhiên như mắc nghẹn, rồi hồng hộc lên, con thuyền rùng lên bần bật, tiếng máy như hết hơi, thở hắt ra rồi im bặt. Nhốn nháo, mọi người đều trợn mắt nhìn nhau, ngơ ngác. Tôi cảm thấy một sự bất thường, ngồi nhổm dậy, chung quanh tôi người chật như nêm cối, đàn ông, đàn bà, trẻ con, người lớn nằm ngổn ngang. Tôi lảo đảo đứng dậy, tìm chỗ mò lên sàn thuyền. Không khí trong lành của biển khơi như chui nhào vào trong phổi, tôi tỉnh hẳn. Trên sàn thuyền, cũng lố nhố đầy người đang đổ dồn mắt về khoang máy của chiếc thuyền. Ba người, đầy dầu mỡ từ trong khoang máy bước ra, mặt tái nhợt, một người thốt cao giọng:

– Máy bị lột “dên” rồi!

Tiếng la hét, trong đám đông lố nhố:

– Có sửa chữa được không?

– Chạy tối đa. . . quá sức mà!

Tôi chả hiểu lột “dên” là thế nào, nhưng những người xử dụng máy đã không có kinh nghiệm, bất cứ một loại máy móc gì để tối đa “gas” mà chạy mãi, thì phải hư là đương nhiên. Ngay con người cũng thế, chạy tối đa một lúc thì phải nghỉ hay chậm lại nếu không thì chỉ có lăn đùng ra mà “xỉu”. Bốn, năm người túm lại khoang máy kìm, búa, mỏ lết, hì hục hàng giờ cũng đành bó tay. Một người nói to như “phì” nỗi tuyệt vọng ra cho mọi người:

– Máy đã lột “dên”, chỉ có về xưởng máy “đại tu” mới sửa được!

Mặt trời đã quắc mắt như giận dữ nhìn theo mọi người trên sàn thuyền, con thuyền trở thành “vô định” giữa đại dương. Chung quanh, trên dưới chỉ có nước với trời, như trên hành tinh này có mỗi con thuyền “vô định” này mà thôi. Mặc cho gió, mặc cho sóng đẩy thuyền đi rồi lại đẩy về, như vậy con thuyền đã chạy được hai đêm và hơn một ngày. Không một ai biết con thuyền đang ở vị trí nào? Một khi không biết rõ vị trí, thì đều trở thành suy đoán mò linh tinh.

Người thì bảo có thể đây là bên ngoài Căm Bốt, người thì nói đã ở trong vịnh Thái Lan, có người còn bảo, có khi đã gần Mã Lai rồi. Khoảng 12 giờ trưa, phần vì niềm tuyệt vọng đã tràn ắp lòng tôi, rồi lại không có một cái gì trong bụng kể cả nước. Tôi chui xuống hầm thuyền, tìm về chỗ cũ nằm vật ra, tôi chợt nhớ đến cháu Thủy và Thắng từ hôm qua, tôi chưa biết các cháu ở chỗ nào?

Con thuyền dài chừng 15- 16 mét, rộng khoảng bốn mét rưỡi đến năm mét, có khoảng bốn, năm chục người cả trẻ con. Nghĩ đến cái giò lụa và hai chiếc bánh giò trong cái tay nải, tôi không dám ăn. Từ hôm trước tôi nhìn hai đứa nhỏ cứ quấn quít lấy mẹ nó, một bà chừng 35 tuổi, nửa tỉnh, nửa quê của miền Nam. Tôi lôi cái giò và cái bánh hãy còn thơm mùi lá, cầm ở tay ngập ngừng, người mẹ và hai cháu nhỏ đều nhìn tôi. Tôi cười, rồi hỏi dè dặt:

– Tôi không ăn, chị có thể vui lòng cho hai cháu ăn dùm?

Mặt hai cháu nhỏ tươi hơn ra, nhưng chị ấy lại ngần ngừ, tôi cố nhoài người sang đưa hết cho hai cháu nhỏ. Chị cầm giò và bánh, không nói gì nhưng ánh mắt của chị, như thay cho một lời cảm ơn! Người chồng ngồi dậy. nói với giọng trìu mến:

– Anh hai cố ăn “dô” đi, anh có ăn gì đâu!

Mặt người nào cũng hốc hác, quần áo tả tơi, đầu tóc rối bù, mới có hai ngày, hai đêm, mắt ai cũng lỗ đáo vào, trắng nhợt ra. Tôi cố đứng dậy định lần sang khoang phía cuối thuyền, để tìm cháu Thủy, Thắng. Đây đó những bãi nôn mửa, vỏ chuối, lá bánh thậm chí cả những “băng màn” của phụ nữ, đầy máu. Tôi lại quay về nằm vật ra, nghĩ đến tất cả những người này, trong đó phải có tôi xin về lòng đại dương, và xin hiến tặng những thân xác này cho những ông cá, bà cá, chúng tôi xin về nơi vĩnh hằng.

Buổi sáng ngày thứ ba (17-l), con thuyền vẫn tròng trành theo sóng biển, tôi mệt quá cũng chẳng muốn bò dậy làm gì. Có lẽ vì không ăn uống, nên tôi cũng không cần đại, tiểu tiện ba bốn ngày. Đồng hồ đã 6 giờ, khi tôi trở mình, ngay ở lòng (bụng) tôi có một hộp sữa ông Thọ. Tôi tưởng trong mộng mị tưởng tượng, tôi ngồi hẳn dậy ngơ ngác nhìn mọi người chung quanh, tay tôi vẫn cầm hộp sữa. Khi hai vợ chồng anh chị người Miên quay lại, tôi giơ hộp sữa lên, hỏi:

– Có phải của anh chị không?

Nhưng cả hai anh chị đều thiểu não lắc đầu, thấy hai người và nhiều người khác cũng rũ rượi và mệt mỏi, tôi chả hỏi nữa. Tôi cầm hộp sữa tới khi trời sáng hẳn, và tôi cũng tỉnh hẳn người. Không biết của một ân nhân nào? Tôi nhìn ai, khi họ quay lại, tôi cũng nghĩ là của người đó, nhưng rồi khi tôi hỏi, họ đều mệt mỏi lắc đầu. Thôi cứ cho là một ông tiên hay một bà tiên cho, bây giờ tôi đang cần cứ dùng đã. Vị ân nhân nào cũng sâu sắc thật, vì không ra mặt nên bắt người nhận, cho tới chết mới quên được. Tôi đã dùng một mũi dao díp dùi lỗ và như một thần dược, bây giờ tôi nhìn cái gì cũng rõ ràng. Hôm qua, hôm kia, nhìn ai cũng lờ mờ như có mưa phùn. Tôi ngồi lắc lư nghiêng ngả, hồn như lạc vào chốn “Thiên Thai”. Trên sàn thuyền rộ lên tiếng reo hò của đàn ông, phụ nữ:

– Có tầu ngoại quốc?

– Đứng lên chỗ cao mà vời!

Tôi nhào lên như có lò so, chẳng biết là Đông, Tây, Nam, Bắc (thuyền quay lung tung mà không có điểm tựa). Mắt thường nhìn sát phía chân trời, có một chấm trắng dài di chuyển. Gần hai chục người đứng trên sạp thuyền, đều giơ tay vẫy vời, cả tôi cũng vung vẩy như muốn nhẩy lên vì mừng, có tiếng nói như gào:

– Đem trẻ con lên đây, cho tàu nhìn thấy, nó mới tới cứu!

Người cởi áo trắng, áo đen, khăn đỏ ra vẫy, vung tứ tung. Thậm chí, có người còn quấn một cái khăn bông trắng, vào đầu chiếc đòn gánh giơ cao lên ngoáy, vẫy. Chấm trắng càng lúc càng mờ, rồi mất hẳn. Mặt trời lặn dần xuống biển, mọi khi thì tôi say sưa ngắm, nhưng lúc này thì hoàng hôn, hay bình minh cũng mặc. Nhìn bốn, năm cậu thanh niên, cường tráng thật khỏe mạnh, một áng liên tưởng về mình, trước những ngày xông vào vùng bão lửa, tôi mỉm cười với các cậu. Sau khi chuyện trò, vì là cùng hội, cùng thuyền tôi biết một cậu tên là Bạch ở bên khu Bình Xuyên, hai cậu nữa là Triết và Thâu dân chài lưới của Nghệ Tĩnh. Trông cậu nào cũng khỏe mạnh và đầy sức sống, dăm ba câu chuyện đổi trao, tôi thấy mến các cậu, và các cậu cũng thích nghe tôi nói chuyện.

Từ khi tôi biết có chuyến đi, tôi đã nhuần nhuyễn một “vỏ bọc”: “Tôi theo bố mẹ di cư vào Nam, bố mẹ đã chết hết, nhà nghèo, tôi đi làm thuê, làm mướn, nay học được nghề mộc. Thường người ta đóng thuyền, đóng bè, ai mướn tôi cũng làm để sống, biết làm tính cộng, tính trừ, học hết tiểu học. Mánh, thấy cái tầu này vượt biên thì tôi “căn me” (Không có tiền, thấy thuyền nào đi, thì lẻn trốn lên), may ra đi được nước ngoài, thì đỡ khổ”.

Đại cương, tôi lựa trong tư thế đó để nói chuyện với mọi người trong thuyền. Buổi chiều hôm ấy, tôi thoáng thấy một vấn đề sinh tử trầm trọng, cho mọi người trong thuyền. Qua năm sáu cậu tôi quen, tầu có 43 người, gồm cả gia đình chủ tầu. Đàn ông con trai 16 người, năm sáu ông già, bà già còn lại hầu hết là đàn bà, con gái và trẻ em. Từ mấy ngày qua, đây đó, tôi đã thấy những bà mẹ dội nước, từ những chiếc thau con tắm rửa kỳ cọ, cho những cháu nhỏ. Có những bà, những cô gái, cắm cúi rửa mặt ở những chiếc thau nhôm con.

Sáng tối, đêm ngày, tôi để ý ở trong góc, khoang giàn máy, có một bồn nước nhỏ tròn, nằm dài chừng 2 mét, cao khoảng 1mét. Mọi người đều đến múc nước, rửa ráy hay uống ở đấy. Tôi được biết bồn nước ấy là toàn bộ nước ngọt, để giải quyết ăn uống cho cả thuyền. Không hề có một ai trông coi, quản lý, mạnh ai đến lấy nước giải quyết cho cá nhân.

Con thuyền đã trở thành vô định, cả về thời gian (chưa biết đến bao giờ), về không gian (chưa biết sẽ trôi dạt về đâu), chỉ một trận cuồng lộ, giận khùng của biển khơi. Thuyền chạy, thì khả dĩ phần nào chống đỡ được với mưa bão, cuồng phong; thuyền chết máy, như chiếc lá trôi dạt giữa đại dương, ai cũng đã thấy chắc chắn nó sẽ xuống đáy đại dương, mà nằm. Sự sống và chết cho cả con thuyền, thế mà không một ai để ý đến. Tôi đến bồn nước mở nắp, quan sát, lấy que thăm đò, mới có hai ngày ba đêm mà nước chỉ còn một phần ba của bồn. Dung tích của cả bồn chỉ vào khoảng gần hai mét khối nước, bây giờ chỉ còn một phần ba thì còn lại bao nhiêu nước? Cứ cái đà như mấy ngày nay, có thể ngay chiều nay, hay ngày mai là hết nước. Về ăn, do thực phẩm của mỗi người, của mỗi gia đình mang theo còn có thể e dè tự túc. Nước uống mà hết, thì sẽ thấy tình huống ra sao? Tình trạng hiện nay của con thuyền, chỉ có trời mới biết.

Mấy cậu thanh niên, cũng theo tôi đang đứng chung quanh bồn nước. Những bà con ở trong khoang thuyền ấy, sau khi hiểu ra vấn đề, đều thấy rất nghiêm trọng về chuyện nước nôi. Một cụ già chừng sáu mươi lăm tuổi, đầu đã bạc trắng, hai má đã hóp lõm vào, nhưng đôi mắt vẫn còn sáng long lanh, tiến lại chỗ bồn nước. Giọng nói của cụ, tuy khàn khàn nhưng rất dõng dạc:

– Đây là sự sống và chết của cả con thuyền, các ông phải có biện pháp thế nào. Tôi thấy nhiều người đến đánh răng, rửa mặt, dùng nước rất là phung phí, nhất là ban đêm.

Tôi thấy sự việc này phải giải quyết hôm nay, và ngay từ bây giờ, tôi và nhiều người thấy cần mời chủ thuyền đến để bàn biện pháp. Cậu Triết đã nhanh nhẩu, lên chỗ phòng hoa tiêu một lúc, rồi đi xuống cùng với một ông chừng hơn bốn chục tuổi. Tôi được biết chủ thuyền tên là Cường, sau khi ông Cường nghe mọi người nói, ông đã hiểu. Chính ông, đã tỏ ra tự trách đã không để ý đến và không ngờ, lại nghiêm trọng như vậy. Nhiều ý kiến giống nhau và khác nhau, cuối cùng đều thấy cần thiết, phải có một người, điều hành quản lý nước.

Ồn ào, xôn xao bàn tán, ý kiến đa số, kể cả ông Cường, chỉ định tôi là người chịu trách nhiệm, quản lý và điều hành. Tôi tự thấy không thể đảm nhận được, vì tôi say sóng, nhiều lúc ngắc ngư “con tầu đi”, tôi thấy chính ông Cường làm công việc này là đúng và thích hợp. Nhưng ông Cường đã giẫy nẩy từ chối, vì hiện nay vợ của ông đang sốt nặng. Hai ngày nay không ăn uống gì ông thường xuyên phải săn sóc.

Tôi hiểu chẳng một ai muốn làm cái công việc “không đâu” này. Bận rộn và mất thời gian, nhất là trong lúc cuộc đời có thể đi “đứt” nay mai. Phải là một người có ý thức trách nhiệm, với tập thể chung quanh mình. Ông già bạc đầu, hõm má khi nãy đã để hai tay vào hai vai tôi, nói khàn khàn không ra hơi:

– Anh đừng ngại khó, ngại khổ giúp bà con trong thuyền đi!

Tôi đã thấy chẳng nên lằng nhằng, một sự việc không nên. Tôi giơ tay, nói với mọi người:

– Tôi sẽ đảm nhận với điều kiện: tất cả mọi người trong thuyền đều phải chấp nhận thực hiện, những điều đã cùng thỏa thuận đồng ý, cả chủ thuyền và cả tôi?

Mọi người nhao nhao lên đồng ý.

Tôi nói tiếp:

– Số phận của con thuyền chưa biết được kéo dài bao nhiêu ngày nữa, nước ở trong bồn đã gần cạn, chỉ còn một phần ba. Ông bà mình đã dậy: Lúc còn thì chẳng ăn dè, đến khi hết thì ăn dè, cũng chẳng ra. Vậy bắt đầu từ ngay hôm nay: Người lớn mỗi ngày hai ly (tôi cầm một cái ly, loại tám ly bằng một lít), một ly lúc 8 giờ sáng và một ly lúc 4 giờ chiều, trẻ con thì một ly.

Ngay bây giờ, mấy cậu Triết, Bạch và Thâu, cùng với tôi tìm cách khóa cái bồn nước. Chỉ mở lúc 8 giờ sáng, và 4 giờ chiều mỗi ngày.

Ông Cường, cứ nhìn theo tôi và các cậu loay hoay làm việc, tôi biết ông chỉ đoán tôi là một khách hàng. Tôi thì hiểu, ông chỉ có một nửa cổ phần của con thuyền, còn của thằng Lợi một nửa, mà hiện giờ tôi là đại diện, nhưng tôi cũng chả cần phải nói ra làm gì. Khoảng gần tối có tiếng hô hoán ầm ầm:

– Có tầu to lắm! Đang đến gần!

Tôi và nhiều người đều leo lên sàn thuyền, trong cái tối đen của nước và trời, rõ ràng có mấy ánh đèn sáng. Với sự ước lượng, phán đoán các điểm sáng đó, cách xa khoảng từ 8 – 10 cây số. Có người nói: “sao chúng ta không đốt lửa lên!” Ý kiến thật hay! Thế là mọi người moi móc giấy đủ loại, giấy báo, gói đồ v.v… Đốt lên một đống trên sàn thuyền, trong một chiếc mâm bằng nhôm, niềm hy vọng như tràn dâng trong lòng mọi người. Một cánh tay quàng ôm vào cổ, tôi quay lại: ồ, cháu Thủy! Thảo nào cánh tay thật là mềm và mát. Tôi cầm lấy, hỏi giật giọng:

– Mấy bữa nay, các cháu ở đâu?

Cháu Thủy nói như khóc:

– Cháu và thằng Thắng, nằm mãi trong góc phía đầu mũi thuyền.

Mọi tâm tư lúc này của tôi, đang hướng về mấy điểm sáng mơ hồ trong đêm đen, của biển trời. Tôi lấy một thanh gỗ, khều cho đám giấy trong chiếc thau, cháy to lên. Nhưng những điểm sáng, của chiếc tầu xa xôi cứ bé dần lại, để rồi mất hút vào cái tối đen vô cùng, của trời và nước. Nó cũng mang theo, cả những nguồn hy vọng sôi nổi, của mọi người trong con thuyền vô định.

Tôi quay lại, sàn thuyền đã vãn người. Nhìn chiếc thau đốt lửa, bây giờ chỉ còn vài túm giấy cháy dở đã tắt ngúm. Những tàn than, gió lộng của biển khơi đã quét sạch, rắc trên những lớp sóng bạc đầu, đang ưỡn lên gào, gọi lại “nàng gió” ngày đêm. Tôi lần mò về chỗ, mệt nhọc chìm dần vào giấc ngủ, nhiều khắc khoải lắng lo.

Hôm nay là ngày thứ năm, lênh đênh dật dờ, trong con thuyền vô định. Nhiều người đã nằm liệt luôn, ít còn nghe những tiếng bàn tán chuyện trò. Người tôi cũng như nhão ra, chẳng muốn bò dậy nữa, hộp sữa ông Thọ tôi đã dùng quá một nửa rồi, mỗi ngày hai lần, tôi chỉ mút chừng hai thìa con, rồi tôi uống nước. Tôi xin cúi đầu cảm tạ ân nhân, đã cho tôi điều kiện để tồn tại.

Tôi nhớ buổi tối hôm qua, một chị chừng ba mươi tuổi, bế đứa con trai khoảng ba tuổi đến bên tôi, có vẻ lấm lét. Tay chị cầm một chiếc ca nhôm, to chừng ba phần tư lít. Chị đặt chiếc ca xuống cạnh tôi, tay chị moi túi lấy ra một chiếc nhẫn vàng chừng một chỉ, chị ghé sát gần tôi nói khe khẽ:

– Em biếu anh chiếc nhẫn này! Anh giúp con em, một ca nước, nó cần pha sữa!

Tôi hơi đẩy tay chị ra một chút, nhìn nét mặt nhăn nhó của chị và cháu nhỏ, lòng tôi xót xa như quắt lại, tôi lắc đầu và nhẹ nhàng: “Không được chị ơi! Đây là của chung chứ có phải của tôi đâu!”

Thái độ quyết liệt của tôi, chị đứng dậy, bế con đi luôn. Chính ngay bản thân tôi, vì chỉ có ba thìa sữa, tôi cần có đủ nước để trang trải trong cơ thể, nên thiếu nhiều lắm. Hàng ngày tôi phát nước cho mỗi người, có người uống vội vàng ly vẫn còn đọng lại vài giọt, tôi đã uống tại đấy, để lấy ly đong cho người khác. Mỗi ngày nỗi tuyệt vọng trên nét mặt mọi người càng làm tái đi, mắt của mọi người cùng trắng nhợt ra, tóc tai, quần áo càng lôi thôi, lếch thếch hơn. Đến ngày thứ năm tiêu chuẩn nước, chỉ còn một ly cho cả ngày. Nước gần cạn rồi ông trời ạ!

Gần một chục chiếc tầu, tùy theo xa gần qua lại, ngày, đêm, trưa, chiều, nhưng rồi hình như những chiếc tầu đó (không biết của những nước nào). Chúng không hề có mắt, coi như trên đại dương này, chỉ có một chiếc tầu của họ mà thôi.

Cả thuyền, người tích cực vẫy vời tầu cứu nhất, cũng phải nản lòng, hình như lương tâm của thế giới, đã bị đóng băng rồi. Tối khuya hôm đó, một trận mưa miền nhiệt đới rào rào như đổ nước xuống, dù nhiều người đang mệt, đang ngủ đều xô lên sàn thuyền. Ai cũng ngửa đầu, hả miệng mặc cho những hạt mưa tự do rắc vào cho nó đã, nó sướng, bù lại những ngày, nước được coi như những giọt nhựa sống của con người.

Mấy đêm nay, tôi cứ nằm trằn trọc, quằn quại mãi nhìn con thuyền với 43 mạng người, cứ tiến dần đến chỗ chào từ giã cuộc đời. Bất khả kháng, nghĩ lối nào, mặt nào cũng tắc tỵ. Con thuyền từ bốn năm ngày nay cứ trôi đi, dạt về không có một điểm nào là “chằng” là “cứ” ở giữa cái mênh mông của biển cả. Ngày nào tôi cũng lên sàn thuyền, nhìn ra khắp chung quanh, cũng chỉ nước và trời.

Điều tâm lý lạ kỳ, cũng là nước biển xanh, cái mầu của những cặp thương yêu nhau mặn nồng, đã gọi là mầu xanh của “ái ân”. Nhưng sao lúc này, tôi nhìn cái mầu xanh của bể khơi, tôi thấy nó đen ngòm, chứa chất bao nhiêu những huyền bí, linh thiêng đe dọa. Vì nó sắp đưa tất cả chúng tôi, sang bên kia thế giới, sẽ ngoạm và nuốt trửng, tất cả chúng tôi nay mai vào mồm nó.

Đêm khuya tôi ngồi một mình, dựa vào vách buồng hoa tiêu, để nghe những âm thanh của biển đêm. Bỗng một đàn cá to tướng, đen như mun, nhổm lên mặt nước đuổi nhau. Tôi thấy rùng mình, lạnh xương sống, tướng như một lũ ma quỷ của Hà Bá, Diêm Vương lên giễu cợt, như báo cho chúng tôi biết: “Chúng tao sắp được ăn xác chúng mày “. Cũng những con cá ấy ở bể nuôi cá, hay những vùng biển khi đi trên tàu du lịch, thấy chúng hiền lành, như một lũ trẻ em nô đùa. Thế mà giờ đây tôi lại rùng mình nổi gai ốc, vì cái uy lực huyền bí, đe dọa của chúng.

Khắc khoải trằn trọc mãi trong đêm thâu, gần sáng tôi chợt nghĩ đến một ý niệm: Tại sao không làm những cái bơi chèo? Trong thuyền có nhiều đàn ông thanh niên, mỗi người hay hai người một cái để chèo? Do mặt trời từ mấy ngày nay, chúng tôi đã xác định được Đông Tây Nam Bắc, như vậy, ít ra còn chủ động phần nào.

Chứ không như mấy ngày nay, là cái kiểu tiêu cực: “nằm ngửa há miệng, rồi chờ sung rụng”. Sáng sớm hôm sau, tôi tập hợp các cậu thanh niên và chủ tàu, tôi đưa ra ý kiến. Hầu hết đều hoan nghênh và chúng tôi xúc tiến. Chủ tầu còn mấy hộp đinh năm phân khi đóng tầu còn thừa, với những thanh gỗ có thể lấy ra được của con thuyền. Tôi lại là thợ mộc, nên chả khó khăn gì, chỉ hai giờ sau đã có bốn cái “bơi chèo” cứng chắc, do chế biến. Tất cả đều đồng ý là cứ chèo về hướng Bắc, rồi tùy theo cơ trời. Chúng tôi dù muốn hay không cũng tự nguyện, xin giao cuộc sống cho đấng tối cao quyết định.

Đặc biệt những người chèo, tiêu chuẩn nước gấp đôi, nghĩa là họ được mỗi người một ly. Không có điểm tựa làm chuẩn, nhưng rõ ràng ai cũng thừa nhận con thuyền có lướt đi trên sóng. Tôi cũng được vinh hạnh mó tay chèo, tuy mệt, nhưng tinh thần của mọi người trong thuyền, được nâng cao rõ rệt. Còn thuyền đã có những nụ cười và tiếng nói, chứ không im lìm, như những ngày hôm trước.

Cho đến chiều ngày thứ sáu, tức là (ngày 20/l), vẫn cứ thay nhau tiếp tục chèo, cả đêm hôm ấy. Sáng ngày thứ bẩy, kể từ đêm 14/11, trời hôm nay đẹp lạ lùng! Nhất là vào khoảng 7 giờ sáng, có một con chim lạ, to như con chim câu, chân và mỏ đều đen tuyền, cổ có một khoanh vàng và một khoanh đỏ, cánh và đuôi màu trắng toát. Nó không hót, không kêu, chẳng biết từ đâu bay đến đậu ở cái chĩa ngang trên ngọn, của cây cột ở giữa thuyền.

Mấy ông bà già tin rằng nó mang theo cái may, cái hên cho những nơi nó đến. Nhưng tôi lại nghĩ, chim không thể ở giữa biển, mà phải ở chỗ có đất, có cây, như thế đất liền hay đảo, phải ở gần đâu đây. Chúng tôi đều căng mắt ra, nhìn khắp bốn phương nhưng vẫn chỉ là trời với nước. Tôi quay ra nói với các bạn, đang chèo:

– Xin các bạn cứ vững tay chèo? Phần thưởng sẽ đến với những người, có ý chí miệt mài, kiên định.

Con chim cứ vẫn đậu yên chỗ cũ, bản thân tôi không có cái gì, tôi quay nói to với mọi người:

– Chắc con chim này nó cũng đói! Nó phải từ ở nơi xa xôi, chỉ có một con thuyền này giữa đại dương, nên đậu đại xuống nghỉ cánh. Nó cũng có hoàn cảnh lỡ “cơ” như chúng ta, bà con ai có còn thức ăn ngô, gạo hay mì cũng được, cho tôi xin một chút cho nó!

Mọi người nhìn nhau, chẳng ai nói một câu. Tôi hiểu, chẳng còn ai có lương thực, nên tôi ngửng lên nói to với con chim. Cứ coi như là, nó hiểu:

– Chim ơi! Thông cảm nhé! Chúng tôi cũng sắp chết đói và chết khát rồi! Chúng tôi cũng lỡ “cơ” như chim thôi!

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Đôi bạn ngày nay

Đặng Chí Bình

Bài 28

Thằng Lợi không có thời gian để trực tiếp điều hành, chuẩn bị cho chuyến đi, cũng như con thuyền, nên về tài chánh đều do phía thằng Lợi đảm nhận.

Riêng về phía tôi, vợ chồng Lợi đã căn dặn kỹ càng, chi tiết: “Nếu chuyến đi trót lọt thì không nói làm gì, trường hợp bị bể, bị bắt, tôi sẽ đóng vai của thằng Lợi. Tôi đã rõ về đời thằng Lợi, cả gia đình con cái, vợ của nó. Cho nên, nếu tàu bị bắt thì sẽ là thằng Lợi bằng xương, bằng thịt. Điều này đều đã được dặn dò sơ qua, cho những người quen biết Lợi, trong chuyến đi. Theo anh chị Lợi:

Tôi là một người nguy hiểm. Nếu, lại rơi vào tay Việt Cộng thì chắc chắn được về lòng đất sớm, là may. Nếu sống, về chậm bao lâu, thì bị hành hạ khổ cực bấy lâu, rồi cũng chết trong khổ đau. Cho nên, còn trong giai đoạn VC chưa nắm hoàn toàn ngóc ngách ở miền Nam, tôi đóng vai là thằng Lợi mới được. Còn về thằng Lợi, nó đã là thổ địa mảnh đất này, chỗ nào nó chui cũng được Nó còn đập tay vào vai tôi, nói đùa bỡn như, không có chuyện gì:

– Tao biết, mày thừa tài để đóng đạt vai trò!

Lòng tôi thì lịm đi, vì xúc động! Tôi hình dung, nếu tôi bị bắt ở trong trại giam, chị Lợi sẽ vào để tiếp tế thăm hỏi chồng mình. Để công an khỏi nghi ngờ, tôi và chị Lợi phải như thế nào, trước mặt CA? Thế nào với các con tôi: Mỹ Linh, Hữu Lực, Hữu Lượng và Hữu Luyện? v.v. . .Tôi nhìn đăm đăm vào mặt thằng Lợi, nó cũng chằm chằm nhìn tôi. Dưới ánh điện, tôi còn nhìn rõ con ngươi của nó hôm nay, dài ra như hình trái xoan.

Đôi con ngươi ấy có mầu xanh của nước biển, thỉnh thoảng lại lóe sáng. Cái mầu xanh biển khơi này, là cái mầu của thủy chung. Dù có giông tố, bão bùng thì vẫn trước sau như một, muôn đời vẫn là mầu xanh. Tôi nhìn qua cửa sổ, dù trời đã tối đen, nhưng tôi vẫn biết trong cái đen tối mênh mông vô cùng đó, có một đấng thượng đế tối cao uy quyền. Tôi như muốn quỳ xuống để cảm tạ Người, đã ban cho tôi một người bạn, đã cho tôi được hưởng những nghĩa tình bao la như đại dương của bạn bè. Óc tôi liên tướng đến đôi bạn ngày xưa: Lưu Bình, Dương Lễ, và một đôi bạn ngày nay, trong một môi trường: tình người hình như đã cạn khô. Tôi nhớ lại hai ba tháng trước, có lần thứ Bẩy, Chủ Nhật tôi đến nhà Lợi, chị Lợi đã ngần ngừ hỏi tôi, như sợ tôi từ chối:

– Anh Bình có thể giúp tôi, một việc được không?

Nhìn thằng Lợi, rồi vừa cười, tôi vừa nói:

– Chị làm cái gì mà quan trọng thế! Cái gì tôi làm được thì chị cứ nói.

Chị Lợi vào buồng xách ra hai cái túi xách, để trước mặt tôi:

– Tôi còn nhiều việc quá! Tiền họ đóng hụi cho tôi hàng tuần nay, hơn một chục bát “hụi”. Tôi còn để lung tung, nhờ anh sắp xếp lại, loại nào ra loại ấy, rồi anh cũng đếm dùm, anh ghi ra giấy rõ ràng, cho tôi nhé! Cám ơn anh trước!

Vợ chồng Lợi còn nhờ tôi trông luôn nhà, hai vợ chồng phải đi có việc. Giấy 50 đồng, 20 đồng, 10 đồng, 5 đồng, 1 đồng lộn tùng phèo, đầy hai cái túi xách bằng nhựa. Một mình tôi làm gần 3 giờ đồng hồ, trong khi đời sống của tôi khi ấy, 10 đồng đã là một vấn đề không nhỏ, tôi vừa sắp tiền, đầu óc tôi miên man. Trước hết tôi phải xin cám ơn tấm lòng biết người, của vợ chồng Lợi, đã tin tưởng một người bạn. Phần tôi tự hiểu, phải hành xử sao cho xứng đáng với vợ chồng nó. Tôi nghĩ một câu, không nhớ rõ của vị nào; Chỉ những người có tâm hồn, mới được hưởng những ân tình tâm hồn. Không có tâm hồn của Roméo, thì cũng không có tâm hồn của Juliette.

Cứ đi tìm thì chả bao giờ thấy, dù nó ở ngay chung quanh mình.

Xin trở lại những chuẩn bị của chuyến đi.

Tôi về đến khu Ông Tạ đã 9 giờ 30 tối. Khi vào đến cổng xứ Nam Hòa, dưới ánh đèn điện mập mờ sáng tối, một hình ảnh vẫn ghi vào tiềm thức dịu dàng, lâng lâng của tôi. Thầy tôi chống gậy đầu tóc bạc phơ, đang cầm tay dẫn mẹ tôi 72 tuổi mù lòa, đi phía sau. Hình ảnh một ông cụ đầu bạc, dẫn dắt một bà cụ mù lòa. Cả khu vực ấy: Nam Hòa, Nghĩa Hòa, Sơn Tây và khu Thánh Tâm, hình như nhiều người nhìn thấy hơn một lần.

Tôi đã đến thay thầy tôi dẫn mẹ tôi về nhà, tôi cũng băn khoăn hỏi mẹ tôi:

– Sao hôm nay, thầy mẹ về chầu muộn thế?

Mẹ tôi nói rất nhỏ, nhưng tôi vẫn nghe rõ:

– Cha Bình (giống tên tôi), hôm nay người giảng thêm về: “tình thương yêu, đùm bọc giữa người với người”.

Tôi cũng nói luôn với mẹ tôi là đêm 14-1 này tôi sẽ ra đi. Mẹ tôi, đem cả hai tay nắm chặt tay tôi như muốn giữ lại, nhưng miệng người lại nói:

– Mẹ vẫn hàng ngày, cầu khấn Chúa và Đức Mẹ Maria cho con!

Về nhà cơm nước xong là tôi lên gác ngủ, khoảng 11 giờ tôi đã ngủ được đâu, nghe tiếng mẹ tôi vọng lên:

– Thằng Bình đã ngủ chưa con?

Bật dậy, tôi vừa xuống gác vừa thưa khe khẽ, sợ phá giấc ngủ của thầy tôi. Tôi vào ngồi bên người, cũng thì thào:

– Sao mẹ chưa ngủ?

Người không nói gì, người sờ tìm tay tôi, rồi người giúi vào tay tôi, một cái khăn tay nhỏ, người cũng thì thào:

– Con hãy giữ kỹ để phòng thân!

Tôi khẽ bước xuống, ra mé cửa sổ có ánh sáng đèn đường chiếu vào, có 2 tờ giấy 50 đồng và hai chiếc nhẫn vàng, mỗi chiếc một chỉ đã móp méo. Tôi hiểu mẹ tôi lòa đã 16 năm rồi, người không có tiền, chắc rằng do các em tôi dấm dúi biếu mẹ, mẹ tôi đã dành dụm, chắt chiu để “thủ”. Bây giờ vì con, mẹ tôi có tiếc gì? Nước mất của tôi đã dàn ra, nhưng mẹ tôi làm sao mà nhìn thấy! Hai chỉ vàng, một trăm bạc với lúc có, thì không là gì, nhưng trong lúc này! Tôi gói cả lại, ngửa bàn tay của người, rồi đặt lên, tôi nói trong nước mắt:

– Xin mẹ tha tội cho con! Con bất tài, trở thành con bất hiếu!

Để cho mẹ già yên lòng, tôi bóp nhẹ tay người nói thêm:

– Thân con xoay xở được! Mẹ hãy giữ lấy phòng hờ cho thầy mẹ!

Chỉ còn bốn ngày nữa, ngày ra đi càng đến gần, nhiều việc càng dồn dập, tôi đã sang chú Tuất + Xuân. Tôi đã đi với cô Thu vào Chí Hòa thăm chú Hoàng, tôi đều đã nói với các cô chú ấy chuyến đi của tôi và nhắc nhở hãy thay tôi trông nom cha mẹ mù lòa già yếu. Những ước vọng của chuyến đi của tôi có ba tình huống:

Đẹp nhất. Đi đến nơi mình mong muốn, chuyến đi trót lọt.

Điều thứ nhì là sẽ chết ở biển khơi, tôi vui lòng từ giã cuộc đời này.

Điều thứ ba là điều xấu nhất, điều bất hạnh nhất là bị bắt.

Sáng nay thứ Bẩy là ngày tôi phải ra chợ Nam Hòa, lao động xã hội chủ nghĩa. Ngoài hai người đã có từ những tuần trước, là cậu Từ sĩ quan Hải quân và cậu Quý chuẩn úy Thủ Đức, hôm nay có thêm hai anh nữa. Hai anh này đầu cũng đã điểm sương. Mới sáng sớm, năm anh chàng của VNCH bị một cô CA áo vàng, chỉ huy sai bảo “tóe phở, móc lỗ cống này, quét con đường kia, dọn đống rác kia, khênh cái sạp này v.v. . . Bao nhiêu bà con qua lại chợ búa, họ đều nhìn với những nét mặt trầm tư, những đôi mắt cảm thông với những người đã chiến bại.

Riêng tôi, vừa làm vừa ngắm nhìn từng căn nhà góc phố, từng chiếc lều, từng gian hàng của ngôi chợ, tiếng chuông lanh lảnh, thánh thót của nhà thờ Nam Hòa. Tất cả là quê hương, là ruột thịt của tôi, tôi sắp phải lìa bỏ, từ giã để ra đi đến một phương trời chưa biết.

Cô Ngọc Anh nhìn tôi hôm nay, tôi cảm thấy có một chút lạ thường. Cũng khuôn mặt chiếc bánh “xèo” vừa lửa, vàng ươm ánh lên nét mời mọc, tôi nhìn cô như muốn nói “cảm ơn” tối hôm qua tôi trình diện xin chữ ký của cô. Được thỏa thuận của bốn anh kia, tôi đề nghị hôm nay lao động sớm hơn một giờ, từ 7 đến 11 giờ thay vì trước đây 8 – 12 giờ. Cô đã nhìn tôi đăm đăm và gật đầu. Ngoài ra như tôi muốn ghé vào tai cô thì thào: “Hôm nay lần cuối, xin giã biệt cô bánh “xèo” nhé!”

Vì đã hẹn trước với thằng Lợi, vừa dứt điểm LĐXHCN, tôi “nhót” lên yên chiếc xe đạp phóng về khu Thanh Đa, cầu Kinh. Trước ngày đi, gặp nhau để xác định mấy điều quy định.

Hôm nay thằng Lợi có việc phải sang cầu ông Lãnh, chiều mới về, nó bảo tôi phải chờ nó về! Tôi rủ cháu Lượng và cháu Luyện ra cầu Kinh chơi, mấy chú cháu vui đùa bên ven bờ dòng sông. Nhìn con sông nước chảy hiền hòa, với những khóm dừa nằm ngả bóng hai bên bờ. Xa xa mãi sâu phía trái tôi nhìn rõ, những trái chôm chôm và mãng cầu, dòng liên tường của tôi một thoáng giật lùi lại hơn hai mươi năm trước ở Lái Thiêu Bình Dương, với những ngày cuối tuần đầy hoa mộng thời niên thiếu cắp sách đến trường. Tôi quay lại hỏi hai cháu, tay chỉ về phía những chòm cây xanh um:

– Các cháu có thích đến xem vườn chôm chôm đó không?

Cả hai đứa đều hớn hở ra mặt, thằng Lượng dõng dạc:

– Chúng cháu thích lắm chứ! Bố cháu không chịu dẫn chúng cháu đi!

Vừa đi tôi vừa nói, như vui đùa:

– Bố các cháu là người ham việc, còn chú lại ham chơi, nên mới không có tiền!

Đến gần vườn trái cây, nhìn rõ toàn bộ có một vẻ không có người chăm bón, một vài cành cây gẫy, thậm chí có một cây mận (roi) đã đổ nằm ngang lối đi. Đây đó cỏ đã trườn ra nhiều khoảnh, một ông già quấn khăn rằn, nằm hút thuốc rê phì phèo trên một chiếc võng đang đu đưa. Một căn nhà hai gian, vách gỗ lợp ngói úp, ở sâu mãi giữa vườn. Chú cháu dõi theo tiếng con chim chèo bẻo đang chuyền cành, thỉnh thoảng lại kêu lên hai tiếng: u. . .tí. . . .u. . ..tí. . . .Càng gần đến chiếc võng của ông già chừng ngoài sáu mươi, tôi hơi nghiêng mình nhã nhặn chào, khi thấy ông già quay ra:

– Thưa bác nằm nghỉ trưa?

Mặt ông già đang tươi tỉnh, nghiêm hẳn lại rồi tỏ ra lạnh lùng:

– Ừa……..ừa……..?

Hơi ngạc nhiên, nên tôi hỏi tiếp:

– Vườn trái cây của bác, hình như không có người chăm sóc?

Ông già nhỏm hẳn người, ngồi dậy. Nói như phì ra từ một niềm ẩn ức ở trong lòng:

– Vườn cây của người ta như ni, lại bắt gộp vào làm hợp tác xã Hai năm nay, tôi không mần nữa!

Để xem lòng dân miền Nam, tôi nói mà như hỏi:

– Các bác nông gia không đồng ý, sao không biểu tình phản đối?

Ông già bỏ cả hai chân xuống dép, đứng hẳn lên:

– Chế độ cũ thì mới biểu tình được, chứ chế độ này có cho biểu tình đâu! Xã này đã bẩy người bị bắt rồi!

Thấy hay hay, tôi chân thành nói thực về tôi:

– Cháu mới ở tù ngoài Bắc về, nên nhiều điều không biết, hôm nay chỉ vì theo tiếng hót của một con chim nên lạc vào vườn, để gặp bác.

Ông già đổi thái độ ngay, ông nói lẹ mà như rống lên:

– Chèng đéc ơi! Tôi tưởng cậu là cán bộ cỡ của miền Bắc chứ! Cậu nói tiếng Bắc “rặt”!

Ông già kẻo tay tôi, rồi nhìn hai cháu Lượng, Luyện:

– Con của cậu đấy hả?

– Dạ, con của người bạn! Cháu chưa có gia đình!

Thế là ông già lại thắc mắc: “Trông đã bốn mươi mấy rồi, sao lại chưa có vợ? “. Cứ chuyện này lại ra chuyện kia, để rồi ông già tên là Huỳnh Đức kéo tay tôi vào nhà giới thiệu bà vợ, cũng hiền hậu, ông Huỳnh Đức cũng nói thực:

– Trước 1975, năm ông đã che giấu nhiều cán bộ cộng sản, ông có hai đứa con trai đã theo vào bưng vừa bị hạ tầng công tác do bản thân chúng nó, và của nông gia chúng tôi. Bây giờ chúng tôi chẳng cần trồng cấy, cây trái nào ra bao nhiêu, hái mà hưởng, chúng tôi đã hiểu rồi!

Ông bước vào buồng loay hoay một lúc, xách ra một cái túi bao tải con, đặt trước mặt tôi:

– Cậu mang về cho lũ nhỏ ăn chơi!

Tôi không thể từ chối, cuối cùng tôi đã phải mang về một túi lớn ổi, chôm chôm, mãng cầu. Tôi thăm hỏi bác già Huỳnh Đức để hiểu thêm tâm trạng của người dân Nam bộ. Tôi đã hiểu ở miền Bắc, mấy chục năm dưới sự kìm kẹp hà khắc của VC, hầu hết người dân đều căm phẫn, phản đối. Nhưng với cái tài lắt léo, chuyển đổi, hóa giải có một không hai của tụi lãnh đạo VC, kết hợp với khẩu súng và trại tù, nhân dân cũng đành chịu đói khát lầm than.

Cái tài mà ngay mới đây – đầu 2004 trên intemet- bà Dương Thu Hương, một văn sĩ trong lòng của chế độ, do chính chế độ VC đào tạo đã viết và phát biểu: “Tháng ….1989, cả thế giới loài người đã xôn xao, ngạc nhiên ghê tởm lên án nhà cầm quyền của Trung Quốc, đã đàn áp đẫm máu dã man ở Thiên An Môn. Đã dùng xe tăng, súng lớn bắn xả vào đám biểu tình của sinh viên và người dân tay không, của Trung Quốc.

Thằng Lợi đã về, điều nó căn dặn chính là khi xuống thuyền, tuyệt đối không để ai biết sự quen biết giữa tôi và nó. Ngoài ra, chị Lợi đưa cho tôi một cái nhẫn vàng hai chỉ với lời dặn dò thân tình:

– Anh hãy cất dấu kỹ, trong cái thế chạy trốn, hay bị bắt, hãy đút cho công an mà chạy.

Một điều nữa, chị Lợi sẽ tùy theo, cách vài tháng sẽ đưa gạo xuống cho ông bà cụ. Tôi từ chối là tôi đã giả dối với bạn, nhận thì lòng tôi cũng không nín được tiếng thở dài, cho cái hèn, kém của mình. Theo sự nhắc nhở cuối cùng của thằng Lợi, đúng 5: 00 chiều ngày 14 – 1 – 1981, tôi sẽ đón một chiếc xe hàng QH trên cầu Trương Minh Giảng. Khi lên xe, có người hỏi thì đưa miếng bìa con mầu vàng có chữ Huế+ Qui Nhơn (nét chữ của Lợi) cho họ, khi đi qua đồn Cỏ May, xe sẽ đậu ở chỗ qui định. Lúc ấy sẽ có người đón đưa, như vậy, mỗi người đi đều có sự dặn dò, qui định đón, đưa riêng.

Sáng ngày 14 trước khi tôi đi làm tổ mành trúc, tôi đã căn dặn mẹ tôi những điều cần thiết. Buổi trưa, sau khi cơm nước xong, tôi vào ôm cổ mẹ tôi, rồi thầy tôi, không hiểu ở nhà mẹ tôi có nói gì với thầy tôi không? Khi tôi ôm cổ thầy tôi, thầy tôi cứ ôm tôi mãi, người không chịu bỏ tay ra, miệng thì cứ run rẩy thều thào:

– Con đi…..Chúa phù hộ……..cho con!…….

Trong khi nằm trong buồng, mẹ tôi bắt đầu khóc lóc, gào lên:

– Mày là thằng con bất hiếu! Mày không giúp đỡ tao thì thôi chứ, mày còn ăn bám mà không biết nhục à?

Ba giờ, tôi xách xe đạp và chiếc túi có bộ quần áo cũ ra khỏi nhà, trước những con mắt của một số người hàng xóm chung quanh. Các khâu, đoạn đều như dự trù, chỉ lúc qua đồn Cỏ May, trình giấy tờ sao đó, lằng nhằng đến 20 phút. Tôi không hiểu móc ngoặc, hay đàn xếp giữa CA và bến bãi ra sao? Khoảng 10 giờ, họ dẫn nhóm chúng tôi 7- 8 người theo họ ra thuyền.

Việt Nam cũng có Thiên An Môn, nhưng những nhà lãnh đạo của CS Việt Nam đã chặt, đã băm Thiên An Môn Việt Nam ra hàng nghìn mảnh, rồi họ ngâm dầm vào thuốc mê và thuốc độc, sau đó họ rắc vào khắp người dân, nên đã tan biến. Không một ai hay, thế giới lại càng mù tịt. Riêng về lãnh vực này, những nhà lãnh đạo của Trung Quốc phải cắp cặp sang, để những nhà lãnh đạo Việt Nam dạy cho “.

Bệnh Hoa Liễu

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 11 13, 2018

Post by Sơn râu 4 Nov 2023

Bệnh Hoa Liễu

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 11 13, 2018

ĐỌC CHO VUI

Một ông Tây đi du lịch Trung quốc.
Ở đâu không biết chứ ở xứ Tàu thì gái ê hề, cô nào cũng xinh, em nào cũng đẹp mà giá lại rẻ bèo. Ông Tây khoái da vàng ngăm ngăm, mắt xếch, tóc lông đen rậm, nên ngày nào cũng đi thăm các nàng.

Trở về Pháp, ông phát hiện mình bị bệnh hoa liễu. Cái ấy của ông sưng vủ, xanh lét. Ông dấu vợ, đi khám bác sĩ chuyên khoa.

Ông bác sĩ vừa nhìn thấy của quý của ông, liền nói ngay:
” Ông vừa đi Trung quốc về phải không? Lại dính chưởng của mấy cô nương xinh đẹp rồi.
” Dạ đúng thế. Tui xui gì đâu.”
” Bệnh này thuốc men không ăn thua, chỉ còn một cách là cắt bỏ”
Ông Tây nghe thế toát mồ hôi:
” Có cách nào khác không bác sĩ”
” Chịu chết. Cắt thôi”
Ông bàng hoàng chạy ra khỏi cửa, mặt xanh lè cắt không ra hột máu.

Chưa tin, ông tìm bác sĩ thứ hai, nghe đồn ông này cũng rất giỏi về mấy vụ này.
Ông này cũng vậy, vừa thấy cái đó đang xanh lè sưng vù của ông đã phán ngay:
” Thua! Cái này chỉ còn cách cắt thôi”
Ông cũng ù té chạy

Ông hãi quá, tìm tới ông giáo sư nổi tiếng khoa niệu, dù giá khám bệnh của lão này rất đắt. Cũng như những bác sĩ trước, vị giáo sư này sau khi xem xét rất kỹ lưỡng cũng tuyên bố: “Cắt!”

Ông bế tắc quá đành thú thật với vợ. Vừa nghe chuyện, bà chửi ông một trận tơi bời hoa lá hẹ. Nhưng rồi, thương chồng mà cũng vì tương lai hai đứa chúng ta, bà mới bảo ông:
” Anh hãy trở lại Trung quốc kiếm thầy mà chữa. Chúng gây bệnh thì làm gì cũng có cách chữa bệnh”

Ông Tây nghe có lý, mua vé bay qua Trung quốc ngay với niềm hi vọng đã vươn lên.
Ông nhờ người giới thiệu cho một lương y nổi tiếng nhất Bắc Kinh.

Ông thầy Tàu già khám, lấy cây lật qua lật lại cái của quý của ông rồi bảo:
“Cái lị qua chơi ở lây, bị mấy cô nương truyền pệnh cho lị rồi.
Cái lị ti khám Pác sĩ …Pác sĩ Tây lói phải cắt cũng có cái lí của họ. Pây giờ thì ngộ đã khám dzồi. Ngộ pảo lị là không phải CẮT!!!”

Ông Tây nghe mừng chảy nước mắt, run giọng bảo. “Tạ ơn Thầy…Thầy cứu dùm tôi!

Ông thầy Tàu tủm tỉm cười và bảo:
“Không phải cắt ..vì tự ló sẽ RỤNG!!!!

A ha…ha!!!!!
(Chuyện bên Tây, tui chỉ kể lại he..he)
DODUYNGOC