This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi mang chiếc ghế nhựa ra ngồi ngoài cửa. Không một ai. Tôi hài lòng bởi nỗi vắng lặng đang chiếm ngự khoảng trống. Bình thường nó chẳng được vậy. Nhặng xị, ồn ào. Những thứ tiếng khiến người ta điên đầu đã trốn đi. Hôm nay mồng Một, mọi cánh cửa đều đóng kín nơi hành lang dãy nhà trọ, những đứa thuê ngụ trong đó đã về quê ăn Tết; chúng sẽ làm ồn, khuấy động khi gặp lại gia đình, sẽ tận hưởng sự ấm cúng, no đủ cho bỏ những ngày cơ cực.
Tôi đốt thắp một điếu thuốc và ngó thấy cái thau nhôm móp méo đặt ở giữa sân. Hôm qua bà chủ nhà trọ đứng cúng vái ở đó, có thể bà đã đốt vàng bạc áo xống điện thoại di động tư trang vật dụng cho ai kia khuất mặt và cái thau nhôm giờ này hứng đầy tro. Tôi bước lại gần, ném điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn vĩ đại. Tôi moi ví da đựng giấy tờ tùy thân sau túi quần ra. Mỏng manh, nó ít khi được chứa nhiều tiền. Một tờ giấy xanh gấp làm tám được mở rộng, tôi đọc chậm rãi, bình tĩnh, từ đầu tới cuối nội dung của bức thư không ghi ngày tháng. Tôi đặt để mắt nhìn có hơi lâu vào hai chữ cuối: Sương Sa. Cô ấy thực sự đã ở một chỗ quá xa, khuất lấp. Có thể do linh tính, cô đã gửi thêm cho tôi một tấm ảnh. Tôi xem lá thư cả ngàn lần, điều này cũng đồng nghĩa là tôi ngắm tấm ảnh này 1001 lần. Ảnh trầy trụa, ngắm hư hao. Tôi thuộc nằm lòng mọi hàng chữ mà Sương Sa đã viết xuống trang thư. Không cần nhìn bề trái tấm ảnh tôi cũng đọc ra hàng chữ: “Chụp hôm sinh nhật tuổi 17”. Màu mực xanh bị nhòe khi vẽ hình một trái tim bé xíu bên dưới. Một trái tim biến dạng, hoen mờ.
Tôi moi bọc áo ra chiếc bật quẹt, đốt cháy lá thư trước, bỏng tay mới đốt tấm ảnh sau. Chúng co quắp nhăn nhíu lại trước khi biến mất. Rồi gió sẽ thổi ngang, tàn tro bay có làm cho mắt ai cay? Tôi đứng cúi đầu, y như khi bà chủ nhà trọ hoàn tất mọi nghi thức cúng kiếng. Bà ấy có vẻ thành tâm, đứng trầm ngâm tựa đang mặc niệm, hoặc hồi tưởng vụn vặt những kỉ niệm từng có với kẻ vắn số.
Tôi bước vào phòng, rửa mặt, lựa bộ đồ màu đen để thay. Tôi tránh nhìn mặt mình trong gương soi, dắt xe gắn máy 50 phân khối ra sân, khởi động. Vặn tay ga, tiếng máy nổ như biết đập cùng nhịp với trái tim. Rầm rộ gào lên từng hồi, và chính nó, đã trấn an tôi. Đội mũ bảo vệ vào đầu bù xù rồi phóng xe ra khỏi lối đi hẹp, nhiểu rác rưởi. Tôi chạy qua, lần lượt những con đường quen thuộc. Chỗ này tôi từng có thời theo toán thợ lắp ráp dây điện, đặt để camera thu hình ở mỗi góc. Chỗ nọ tôi từng mặc đồng phục cứng ngắt, ưỡn ngực làm nhân viên bảo vệ, ca đêm… Nói chung tôi là một công nhân viên siêng năng và giỏi chịu đựng. Tôi thích hợp nhanh cho từng công việc, ngành nghề khác nhau. Và quan trọng nhất, tôi chưa hề lãng phí của công. Nói theo phương ngữ xa xưa, tôi là thằng người biết làm chủ tập thể. Do đó, lạ lùng thay, tôi chẳng bao giờ có được cơ hội thăng tiến. Tôi chậm lụt. Tôi không biết “văn hóa phong bì” là thứ gì. Đồng nghiệp có đứa từng chửi thẳng vào mặt tôi: “Đù má mày, muốn máy chạy đều an toàn xa lộ thì phải biết châm nhớt chớ. Có ngày mày sẽ phải chết khô đó con!” Những nhà tiên tri tóc xanh mái đầu ấy đã phán đúng. Tôi chết. Tôi chết. Và tôi chết. Tôi nói tôi giỏi chịu đựng và tôi cứ luôn thay đổi công việc là vì vậy.
Như một giã từ thầm lặng, sau rốt tôi đổi hướng, chạy về bãi trống của bến xe đò liên tỉnh. Một vòng, hai vòng, cuối cùng tôi lựa chọn được một cửa tiệm vắng khách. Tắt máy, dựng chống xe bên bờ lề loang màu ngũ sắc của dầu mỡ. Cởi nón kẹp bên hông, tôi nói với người đàn ông đen đúa đứng án trước cửa: Ông muốn mua chiếc xe này không?
Sau lưng ông thắp sáng ngọn néon xanh lét. Ông ta to lớn dềnh dàng một cách chẳng được bình thường. Áo quần ông mặc vào người không phải là thứ mà người ta ưa chưng diện trong ba ngày tết. Đó là hạng người lao động cần cù và lễ lạc là thứ xa xỉ ông chẳng màng quan tâm. Nhưng nghe câu hỏi của tôi ông tỏ ra có hứng thú. Từ bỏ thái độ lơ là, ông bước lại gần tôi, dáng vẻ linh hoạt. Cần tiền tiêu tết hả chú em? Cây tăm tre cắn giữa hai hàm răng không vì thế mà rơi rụng đi. Hai mươi bốn giờ qua tôi chưa ăn gì cả, ông ta thì tuồng như vừa điểm tâm xong. Cuộc mua bán diễn ra khá nhanh, bởi tôi chẳng phải kẹt tiền tiêu tết. Có lâu lắc chăng là tôi phải để cho ông ta chạy thử một vòng thăm dò tình trạng chiếc xe như lời ông nói. Xong, phải trình thẻ chứng minh nhân dân cho ông xem. Những ngón tay to, u nần ấy soạn viết tươm tất một tờ giấy sang nhượng chủ quyền “cho đúng thủ tục”- chữ ông dùng. Sau cùng, ông bảo, như phát mệnh lệnh: Chú em ký tên ở đây là xong. Ông mời tôi một điếu thuốc Craven A, tự ông bật lửa, đưa tới với hai tay khum. Khuôn mặt giãn nở khi ông thở khói thuốc, như nghệ sĩ vừa hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật đầy ưng ý. Rồi niềm nở bắt tay tôi, ân cần, ấm áp. Chưa bao giờ tôi đón nhận được từ kẻ lạ sự thân thiện gần mức thâm tình đến vậy. Nếu đôi tay không lấm len dầu mỡ hẳn ông sẽ ôm lấy tôi. Hệt như tôi về làng ăn tết và tôi đang mặc áo gấm. Ông quay đầu, hét vào cái hình khối xanh mét ánh điện để lát sau có người đàn bà xuất hiện ở ngạch cửa. Một bó tiền, tôi ngó ông đếm những tờ bạc mà chẳng nghi ngờ cái số thành khi ông hô to: Đủ. Chú em kiểm lại cho khỏi lôi thôi. Lôi thôi, tôi nhét bó tiền vào lưng quần mà không buồn kiểm. Tôi quay lưng sau khi nói, một cách khó nhọc: Năm mới phát tài. Ông cười toe, cả người đàn bà cũng thế: Ừ, năm mới thắng lợi mới. Được ba bước, giọng người đàn bà đuổi theo. Thế còn cái mũ bảo hiểm thì tính sao? Tôi dừng chân, biểu diễn thứ động tác của cầu thủ bóng rỗ, ném chuẩn xác chiếc nón giá gần nửa triệu vào đôi tay ông ta. Cám ơn chú em lì xì quà tết. Chúc sức khỏe và tai qua nạn khỏi nhé.
Tôi lẳng lặng cắm đầu đi tới quầy bán vé xe. Người ngợm sắp hàng rồng rắn nhộn nhạo. Tôi mua cái vé chợ đen, giá đắt gấp bốn lần mức quy định và tôi dỗ giấc ngủ khi đã yên chỗ trên chiếc xe cồng kềnh hôi chua có ai nôn mữa trước đó. Tôi nhẫm đọc bức thư của Sương Sa đã khắc ghi vào ký ức. Tôi mường tượng lại khuôn mặt ngây thơ nơi tấm ảnh co rúm biến dạng khi bị đốt cháy. Và rồi thì xe chạy, hục hặc về miền Trung.
Tôi ăn một bữa cơm thịnh soạn nhất đời. Làm buổi giỗ, cúng kỵ ông bà cha mẹ sơn hào hải vị bày sắp trước bàn thờ cũng không thể xôm tụ hơn. Cùng chung mâm với tôi là cô tiếp viên nhà hàng ăn vận rất thông thoáng. Cô luôn cười, cơ bắp từ khóe miệng ảnh hưởng xuống tới đôi vú. Áo rung động và hàng vải mỏng tuyệt chẳng có nội y. Cô rót bia, đưa tận miệng. Cô dùng thìa, tom góp thức ăn rồi đút vào mồm tôi, chật cứng. Cô muốn thế và nếu thực khách chẳng phải là kẻ tàn phế, đôi tay thừa thải của hắn sẽ dùng vào việc gì? Tôi không muốn bóp vú cô, tôi chẳng thích lùa sâu bàn tay vào cái váy ngắn cô đang ngồi với tư thế gợi mở bày hàng.
– Này anh giai, có thích chơi em không, hở?
– Không.
– Sao anh lại nỡ lòng nào nói thế? Em có gì không tốt chứ?
– Trời đánh còn phải tránh bữa ăn.
– Thế thì ăn xong anh tính sao? Nhà nghỉ chỉ nằm bên kia đường.
– Chúng ta tìm một trò chơi khác, được không?
Tôi gạt chén bát sang, đặt xuống khoảng trống mặt bàn một xấp tiền.
– Tìm hộ tôi một người, số tiền đó tôi dành trả công.
– Khó khăn nhỉ? Anh giai cần phải dài lời hơn. Ma cô, móc túi, gái bán dâm… Đại loại thế.
– Không, thuộc diện cán bộ. Ông ta tên X. làm ở ngân hàng…
– Hú hồn. Cứ ngỡ là ngăn sông cách núi, sóng lớn bể rộng. Ông ấy thi thoảng vẫn lui tới đây, nhẵn mặt.
– Tìm đúng nhà có dễ không?
– Em có thể biết lý do?
– Tết nhất, có người cậy việc nhờ chuyển giao một phong bì lì xì.
– Số một linh tám ở phố Sơn La. Tiền này dành riêng cho em đấy hở?
Tôi nốc hết chai bia cuối cùng vào lúc ba giờ sáng. Khi chạng vạng, tôi đã vẽ được một lối vào căn biệt thự ấy. Trèo cột điện, phóng mình qua một cành cây, nhảy xuống cỏ, đập vỡ cửa kính, thò tay vào xoay nắm cửa, ngồi yên cho mắt quen bóng tối. Bước lên lầu, tôi tìm ra nơi lão X. ngủ chẳng mấy khó. Tôi bật sáng ngọn đèn bắt trên đầu nằm. Lão ngủ cùng người đàn bà, có lẽ là vợ. Cả hai đều béo tốt, mập mạp. Và cả hai cùng tỉnh thức, giã biệt mộng lành. Tôi ngó vẻ mặt hốt hoảng của họ, nỗi sợ hãi làm người họ co quắp. Tôi đã nhập tâm khuôn mặt lão X, có biến dạng tôi vẫn nhận diện được. Tôi vung dao lên, chất xúc tác của bia đã không làm tay tôi run. Máu bắt đầu loang đỏ trên chăn nệm, vấy cả lên mặt người đàn bà. Thủy chung bà ta chẳng la lên được một tiếng cầu cứu. Bà chỉ ú ớ, răng cắn siết vào một góc chăn.
– Bà có đọc báo không? Một tháng trước ông này dùng uy lực cưỡng hiếp cô gái vị thành niên, phá trinh xong lại còn man khai nạn nhân chủ động bán dâm. Luật pháp đã để ông này thong dong tại ngoại trong lúc cô gái xấu số kia bị nhốt vào tù. Cô ta là một nửa của tôi.
Tôi gói con dao vào tờ nhật báo. Tôi bước ra đường nhựa rút thuốc châm lửa thở khói. Bình minh nhú lên vài cọng sáng mỏng manh cuối tầm nhìn. Sương sớm mai ẩm lạnh phả xuống nguời. Tôi đi bộ hết hai dãy phố đang cựa mình thức giấc, điếu thuốc cháy cụt thì gặp phải đồn công an. Tôi bước vào đầu thú với một cánh tay đầy máu đang khô. Có tiếng người la lên: Coi chừng, nó có hung khí. Tôi bị đạp từ sau lưng, hai gã công an vật tôi xuống, bẻ gập đôi tay nhừ mỏi. Mặt tôi va vào nền xi măng ẩm lạnh, mắt hoa lên. Hình ảnh cuối, tôi thấy con kiến tha hột cơm trên lưng, bò nhọc mệt vào sau những chấn song.
Như mọi lần, khi chiều tắt nắng, Gia vẫn ra ngồi ở chỗ ấy, bên sông. Như mọi lúc, tôi đi băng qua khoảng sân đất cất dấu nhiều bóng tối, để cuối cùng hình ảnh quen thuộc kia lại hiện ra. Chiếc ghế thấp như bất di bất dịch, sự dời đổi không hề xảy tới. Ngay cả dáng vẻ của Gia cũng thế, tựa hình khối một bức tượng. Cứng ngắt, vô hồn và cũ kỹ. Một sự chung thủy ngó nao lòng.
Dòng sông không bao giờ là một tấm gương óng ả. Nếu có, đó là một bề mặt luôn vỡ vụn. Nó không ngừng xao động và nó bẻ gãy cái thoi thóp của ráng chiều đang rãi đều xuống thân nó. Một hai con đò lặng lẽ trôi ngang, bếp lửa đỏ nhóm sau mui như con mắt vừa mở trừng, giây lát, rồi vội đóng kín, khuất lấp. Khói vướng viú trôi lui, một vệt xám cắt ngang tầm mắt, nơi mà đằng sau, phố thị bên sông đang lần lượt thắp sáng đèn. Nước mấp mé bờ, chỗ Gia ngồi, nó thì thầm mãi hoài một đơn điệu. Tẻ nhạt nhưng không nhàm chán. Như vỗ về, như nhắn nhủ. Gia từng kể, có khi thức giấc, sáng mai nhìn ra thấy nó hao mòn xuống thấp. Cũng có đôi khi nó âm thầm leo lên tới tuốt bậc thềm và nếu ta ngồi đây, ta phải chịu ngâm chân tới đầu gối. Gia có vẻ yêu dòng sông này. Cái dòng sông tuôn ra cửa biển và mang đi hết những người thân thuộc trong gia đình rong ruổi tới một bến bờ khác. Sao Gia còn ở lại? Đó là câu hỏi tôi từng nêu và chưa khi nào Gia đưa ra một câu trả lời hợp lý. Tôi thắc mắc bởi lẽ tôi nuôi hy vọng: Tôi chính là nguyên nhân khiến Gia khó giũ áo ra đi.
Chính quyền thì luôn có một bản án dành cho những kẻ trốn chạy kiểu ấy: “Phản bội tổ quốc”. Họ không hay biết đôi khi người ta ở lại chỉ vì những kẻ không may ấy lỡ bị cột trói bởi một thứ tình tầm thường nhỏ bé hơn. Tình yêu giữa tôi với Gia chẳng hạn. Và trong nhãn quang của hai kẻ yêu nhau, tổ quốc là thứ gì xa vời, trừu tượng; nằm ngoài những thao thức của hai kẻ đang bận lòng chia ngọt xẻ bùi. Tẳn mẳn, vụn vặt, nhưng khó có gì so sánh được.
– Bữa ni có chi lạ không?
Gia hỏi. Mỗi khi tôi tới Gia đều mở đầu bằng lời nói đó. Tựa tiếng sóng vỗ, nghe quen tai. Gia như luôn hoài nghi về cuộc sống này, về cái cách biến đổi không ngừng của nó. Dĩ nhiên quá trình của biến đổi sẽ sản sinh ra sau đó những chuyện lạ. Tôi thì không. Tôi thấy thời gian trôi chậm, trì trệ và mọi thứ tuồng như đứng yên. Hiểu ở một nghĩa nào đó thì tất cả đều đã tụt hậu, đã lùi về phiá sau. Nhưng mà cổ tích thì luôn ẩn chứa chuyện lạ. Thêu dệt, đặt điều cho nhiều vào, để lấp đầy khoảng trống.
– Thầy Huy đau nặng. Trong lớp phải sáng tạo ra một buổi lao động ngoài trời để điền thế tiết học.
Tôi nói, đồng thời ngó lên cái trang thờ bắt trên một thân cây. Cây nhiều lá và lá lan tràn như muốn bôi đen cái hộp gỗ vuông vắn kỳ dị ấy, vì thế trông nó tựa một cái chuồng bồ câu mà chim đã bỏ đi hoang. Cả Gia cũng không hay biết gia đình dựng nó lên để thờ phượng ai? Nhưng bao giờ, khi tôi tới, tôi cũng muốn thắp vào đó một vài cây hương. Một trang thờ không lạnh lẽo, điều đó cũng có nghĩa là kẻ ngồi bên dưới nó sẽ cảm nhận ít nhiều nỗi bình an trong tâm hồn. Tôi luôn bất an, tôi linh cảm một điều gì đó xấu xa đang chờ chực. Mơ hồ, không tượng hình, nhưng luôn ám ảnh. Tôi nghĩ tới khuôn mặt của thầy Huy, nét khắc khổ, sự cam chịu tỏa đầy trên con người thầy. Thầy ốm nặng và trong trường, mọi người thầm hiểu, đó là dấu hiệu khởi đầu về một cái chết. Thầy sẽ thực sự vắng mặt, sẽ bỏ đi. Không hôm nay thì hôm sau.
Hương không thơm, khói tỏa ra chẳng xua đuổi được đàn muỗi khát máu.
– Gia thì sao?
– Gia đan gần xong chiếc áo ấm. Chỉ có năm búp len, chắc phải chịu chật một tí.
Mùa hè vẫn còn dùng dằng nán lại. Chưa khi nào tôi mong là thời tiết sẽ chóng lạnh như bây giờ. Hãy bỏ băng qua mùa thu để đông trở về với gió mưa, với rét buốt. Tôi sẽ mặc chiếc áo Gia đan và giã từ nỗi cơ hàn luôn quấy phá hằng năm. Ôi, ấm áp biết chừng nào nếu người ta được mặc chiếc áo do tình nhân đan cho!
Tôi nắm đôi bàn tay Gia với ý nghĩ mười ngón mát lạnh ấy chẳng khác mấy đôi tay của những người nghệ sĩ tạo hình. Lá trong vườn giao động, như những giác quan trong người tôi đồng loạt tỉnh thức. Bồi hồi, xao xuyến. Chúng tôi hôn nhau và môi rời ra khi những con dơi đập cánh ngang qua làm rạn vỡ cái thời khắc cô đọng niềm hạnh phúc. Ba cây hương đã tắt. Trời không có trăng. Chiếc áo trắng Gia mặc cơ hồ như có tráng lân tinh, như cả triệu con đom đóm vừa quây quần tụ lại. Một thứ sắc màu rất hoang đường.
– Răng không thử đề nghị chở Gia đi chơi?
Gia nói. Nhỏ nhẹ, gió thoảng. Khuôn mặt nửa khuất lấp sau tóc phủ rối, nửa bày ra nét đẹp trắng xanh của một nhan sắc mà suốt ngày tôi vọng tưởng không nguôi.
– Đi những đâu?
– Chỗ mô cũng được, bị cấm cung cả ngày rồi!
Tôi tới lấy xe đạp dựng bên cây sầu đông, ý thức rõ rệt về nỗi buồn của một kẻ không tiền. Chưa bao giờ tôi mời Gia ăn một ly chè, uống được một cốc cà phê như bao cặp tình nhân khác thường bày tỏ cho nhau. Thầy Huy có lần mượn câu ngạn ngữ của Tây-ban-nha để nói với tôi: “Ngay cả khi trong túi hết tiền, cái mũ trên đầu anh cũng phải đội cho ngay ngắn”. Câu nói đơn sơ, chẳng rắc rối nhưng lắm lúc tôi không hiểu được. Nó nói tới nhân cách, có phải không? Và nhân cách, đó là điều mà tôi chưa từng thấy một ai có được ở thời điểm này. Người cha đi theo Cách mạng, ngày hòa bình trở về nhà hiếp dâm đứa con gái mười sáu tuổi của mình. Người mẹ vị thành niên chưa điên loạn ấy mang đứa con vừa lọt lòng đặt trước cổng chùa và cô không hề biết chùa chiền đã bị giải tỏa, lạnh vắng tiếng chuông…
Có tiếng chó sủa vu vơ trong bóng đêm. Tôi chở Gia thoát khỏi con đường kiệt hai bên trồng chè tàu như trường thành thẳng tắp. Gia nhẹ tựa một kẻ thiếu ăn, và đứa ăn không mấy no như tôi bao giờ cũng lấy gạo cơm để làm đơn vị so sánh. Thật thấp hèn, khốn khó và đáng nguyền rủa. Mối tình của chúng tôi sẽ thơ mộng biết chừng nào nếu được trưởng thành ở một nơi chốn khác. Tôi chia xẻ cùng Gia cái ý nghĩ ấy.
– Một nơi khác? Nơi đó biết có còn đủ đầy hai đứa không?
– Là sao?
– Là khi mình đạt được điều này cũng có nghĩa là mình sẽ chịu mất đi một điều khác.
– Anh sẽ đánh đổi hết mọi thứ để xin chỉ được có mỗi mình Gia.
– Anh nói như một kẻ tư bản chính hiệu. Anh hiện đang có những gì?
– Ừ, anh vô sản, anh trắng tay, anh tham sân si. Một tấm lòng vàng thì chẳng làm nên cơm cháo gì!
Tôi thở gấp khi đạp xe lên triền dốc. Mệt mỏi, già nua, cực lòng. Tuy vậy tôi muốn chở Gia đi tới một nơi xa xôi, quạnh quẽ. Tôi sẽ rã rời đôi chân, sẽ kiệt quệ sức lực tuổi xanh và rồi tôi sẽ ngã người xuống một bãi cỏ hoang liêu, ngữa mặt nhìn lên trời cao hấp hối ánh sao. Ba tôi kể, đêm Trường sơn bầu trời đẹp lạ lùng. Sao lấp lánh, sáng không đồng đều như số phận của mỗi một con người. “Bố mừng vì con còn đeo đuổi việc học mà không đi lính cầm súng cho Ngụy…” Và sau đó, sau đó là tiếng khóc tức tưởi không nguôi của em tôi. Tôi chẳng rõ bây giờ nó ở đâu? Hôm chia tay nó đóng bộ tịch cứng rắn: Em đi giang hồ, em xuôi Nam. Đừng lo cho em, con gái thời nào cũng lợi thế hơn bọn đàn ông con trai. Em bán bia ôm, em làm thợ mát-xa đấm bóp, em làm vũ nữ thoát y, em làm đĩ, em đi khách cho bọn Việt kiều hồi hộp…
Mặt nó lạnh căm, trân tráo; trong khi tôi không cầm được nước mắt. Chưa bao giờ trong tôi nổi cộm sự hận thù bằng lúc đó. Tôi muốn có được lòng can đảm, tôi muốn hóa thân thành một đứa vô học, nắm con dao trong tay run và chém vung vãi lên người bố tôi. Chiếc xe đò rời bến An cựu, mang em tôi đi trong thinh lặng nhạt nhòa. Tôi đứng chết sững với một niềm tủi hổ dâng lên, vô bờ. Tôi chửi tôi: Địt mẹ mày, thằng khốn nạn! Bố mẹ mày! Thằng không đủ tư cách làm anh…
Người ta gọi đây là đồi Từ hiếu, hay đồi Vọng cảnh? Tôi cũng không nhớ rõ. Hay là đồi Thiên an? Núi Ngự bình? Phương hướng, địa hình địa vật, tôi mù mờ khuấy quên. Sương muối ở đâu tới, dồn tụ trên hàng thông luôn đứng dáng mặc niệm, để phả xuống người chút gai lạnh, ẩm ướt. Chiếc áo Gia mặc lẫn vào dòng sữa đang trôi ấy và nó cho tôi cái ảo giác chúng tôi không hề là của nhau. Hoặc nó ngụy tạo ra, đây là một trò chơi trốn tìm, cố đào xới sự thật đang ẩn khuất. Tôi buông chiếc xe đạp và ngã cùng nó xuống bãi cỏ rậm. Những bụi mắc cở rùng mình đồng loạt khép lại tất cả mọi cánh lá. Nếu em tôi chết đi, kiếp sau em không thể hoá thân thành loài hoa trinh nữ bé dại này. Tội nghiệp em, mà cũng tội nghiệp cho cái ý tưởng của tôi. Tôi mở trừng mắt cố tìm kiếm một vì sao. Đất trời giao thoa liền lạc trong vũng mờ không biên giới, đậm đặc. Một bóng trắng hiện ra, án che, để sau cùng võng mô tôi đóng kín lại. Tôi ngửi mùi tóc Gia, hôn hít. Tôi ôm siết cơ thể Gia đang phủ lấp người tôi. Tôi lặng chìm trong thứ cảm xúc mình được chìu chuộng, được săn sóc, được vuốt ve, được thương yêu. Một dòng nước ấm, trơn nhờn vụt bắn ra khỏi cơ thể. Tôi rên lên, mường tượng tới tấm lưng trần của bố tôi, tới bàn tay thô bạo bịt kín miệng mồm em tôi và sau đó tinh dịch cũng như nước mắt đồng loạt chảy. Cả hai dòng cùng một cội nguồn tuôn lai láng…
Đám tang thầy Huy đơn sơ, lặng lẽ. Trước ngày thầy chết ít hôm, tôi có đến thăm, nhìn mặt lần cuối người đàn ông luôn đặt nặng vấn đề sĩ diện, nhân cách lên trên hết mọi thứ. Thầy hỏi: Bạn coi mình là con người hay thú vật? Tôi cúi đầu, nhìn cái bô mạ kền móp méo trốn dưới chân giường xiêu vẹo. Tôi là chiếc giường tre hay cái bô dơ bẩn kia? Tôi tự hỏi. Nếu tôi thú vật và thầy yếu lòng đánh mất sĩ diện, có thể tôi đã dìu thầy qua được cửa ải của thần chết. Chỉ cần tôi năn nỉ bố tôi, lạy lục cả tơi lẫn nón ông đảng viên thâm niên ấy, họa may ông sẽ khoan hồng giúp thầy Huy nhập viện, diện cán bộ. Mà cũng không chắc, đôi khi cái chết nó giúp người ta nhiều điều, nếu người ta quan niệm sự vắng mặt ở đời sống này là chuyện cần thiết chẳng hạn.
– Khám ở phường họ bảo suy dinh dưỡng, chẳng có gì phải bận tâm.
– Bạn như người trút hết sinh lực vào một chuyện bí ẩn nào đó. Hoặc không thì bạn là kẻ vướng tật thủ dâm… Trầm kha, nhợt nhạt…
Tôi cười:
– Được dạo chơi cùng lần với thầy thì thú biết mấy!
– Đừng đùa. Bạn tin tới thế giới siêu hình không? Bạn có bao giờ biết thắp hương cúi đầu khấn nguyện người khuất mặt? Hay bạn là đứa duy vật?
Buổi nói chuyện cuối cùng đó không diễn ra lâu. Gia đình thầy muốn tái lập sự lặng yên trong gian nhà nhỏ bé ngột ngạt ấy. Tôi đi về, suy nghĩ những điều thầy nói và nghiệm ra đôi khi người ta chẳng nên tạo cho mình cái sĩ diện hảo. Chẳng ích gì. Vì thế tôi làm mặt dày mày dạn, đội mũ không ngay trên đầu, mạnh bạo nện gót đến tìm bố tôi. Tôi đói khổ triền miên và tôi muốn có chút tiền lận lưng, bồi dưỡng cái thân thể nhợt nhạt túng thiếu trầm kha.
Bố không mấy vui khi thấy tôi. Ghẻ lạnh là đằng khác. Bên bờ sông, những đứa con riêng của ông đang câu cá, bọn nó tuồng như có một ngôn ngữ dị biệt để mang ra cợt đùa, những lời nghe lạ tai. Hai ba đứa thảy đều chửi thề không ngượng mồm và những mái đầu xanh ấy chẳng thể hình dung ra đứa ăn mặc rách rưới đứng ngó láo liên kia là anh cùng cha khác mẹ với chúng. Đây là lần đầu tôi đến tìm ông, nhưng sao cảnh vật ở nơi nầy trông quen thuộc quá. Lý ra chỗ kia có đặt để chiếc ghế thấp, lý ra nơi nọ phải có một lùm cây bao phủ cái trang thờ màu đỏ. Sao lại đốn chặt, khai quang tới độ trống trải lạ lùng?
– Mày không nên đến đây với một điệu bộ khẩn trương kiểu quái gỡ như vậy. Cầm chút tiền này và lần sau gặp chuyện hệ trọng nào thì hẳn tìm tao ở cơ quan.
Bố tôi nói. Ông bước sát vào người tôi như ngầm xua đuổi. Có thể ông đã thay tên đổi họ và thú thật tôi không tài nào nhớ nổi cái bí danh của ông ta. Chức tước ông khá lớn, ở ủy ban quân quản thành phố hay bí thư quái quỉ gì đấy tôi chẳng bận tâm. Cầm nắm tiền trong những ngón rịn đổ mồ hôi, tôi hiểu rõ buổi nhờ vã hôm nay là lần duy nhất và sau cùng.
Tôi cúi đầu bước vội khỏi vuông sân như đang mất dần sức hút, trọng lực. Vẫn là hàng rào hai dãy thẳng thớm chạy dài ra đường nhựa. Vẫn là quán bán chè nằm đầu ngõ với đám hoa dâm bụt đang đỏ thắm một cách riêng tư.
– Anh ăn chè hay uống nước chanh?
Đứa con gái chào đón. Nó khoảng tuổi mười hai. Nhỏ nhắn, dễ nhìn, nhanh miệng lẹ mồm. Nó biết phụ giúp gia đình để lao động kiếm ra đồng tiền. Nó hơn đứa lớn sầm đầu này mọi mặt. Tôi ngơ ngáo, bó tay quẫn trí không biết cách kiếm bạc và luôn dật dờ như một kẻ mộng du.
– Cho anh ly nước chanh.
Bóng nắng ghim xuống thân tôi lỗ chỗ những đốm tròn. Mái tôn che chắn phiá trên như từng mang thân ra hứng đạn. Tôi ngồi đếm những tờ giấy nhàu nát, chẳng mấy thơm tho. Có phải là đồng tiền nào cũng đều dơ bẩn? Tôi chẳng biết. Tôi đưa hết cho đứa con gái. Nó kẹp tóc đuôi ngựa, mặt có vẻ già so với vóc vạc nhỏ nhít.
– Mô có nhiều như ri. Chỉ là ly chanh đá thôi mà.
– Em hãy cầm hết đi, để rồi nói cho anh nghe một chuyện.
Đứa con gái ngập ngừng. Nó nhìn tôi như nhìn một cải tạo viên ngày đầu được phóng thích khỏi trại tù vĩ đại. Nửa thương hại, nửa nghi ngờ. Tọc mạch, khó hiểu.
– Anh muốn biết chuyện chi? Chị Hoa của em thì đi lấy chồng đã hơn ba tháng rồi.
Ly nước chanh hà tiện đường làm tôi nhăn mặt. Nó chua chát tới độ đáng ngờ vực vị giác mình.
– Em biết căn nhà mang số 33 ở trong xóm không?
– Có phải là cái nhà đã bị cách mạng chiếm đoạt tịch thu không?
– Đúng là em có biết. Em thử nhớ trước đây, trong căn nhà ấy có một người con gái tên là Công tằng Tôn nữ Hoàng Gia…
– Lạ lùng chi. Họ lần lượt kẻ trước người sau vượt biển hết rồi. Nghe đồn…
– Đồn đãi chuyện chi?
– Chuyến cuối, chiếc ghe chở họ bị đắm chìm…
– Em tin lời đồn nhảm ấy không?
– Tin. Có nhiều đêm mắc đái mà không dám ngồi dậy. Nghe có tiếng ai khóc thút thít thật gần, nghe bụi chè tàu ngoài nớ run lẩy bẩy như có ai lướt chạy ở trên.
Tôi nhìn những ngón tay đè lên tim của đứa con gái. Ngó nét mặt vừa biến đổi của nó để rồi cảm nhận rõ ràng ly chanh đá đã đông cứng trong buồng ngực tôi, như thanh đao lạnh lẽo vừa đâm thốc vào.
– Anh cũng sợ ma phải không?
– Đời nào. Tại vì em kể chuyện có duyên, hơi bất ngờ. Cám ơn em.
Tôi đi bơ vơ giữa trưa, trơ trụi dưới nắng. Không còn ai thân, tôi tìm tới ngôi mộ mới tinh màu sỏi đá ôm choàng lên thân xác thầy Huy. Tôi gục đầu trước tấm bia xi-măng đang rịn ứa mồ hôi. Tôi nhớ hai câu cổ thi Gia từng đọc lên để đố tôi, mà sau đó tôi đã phải cầu cứu tới thầy Huy, nhờ giảng giải:
“Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu”.
Hai câu này của Vương Bột, dịch thoáng ra: “Đế vương giờ ở nơi đâu? Ngoài hiên sông lớn vẫn sầu lặng trôi”.
Tôi chảy nước mắt. Tôi đau buồn cho Gia đã không có được một nấm mồ. Hoàng Gia ơi, Em đang ở đâu? Đời sống này vẫn sầu lặng cuốn chìm lấy anh.
Đôi dòng cảm niệm về tập Hồi ký Thép đen của tác giả Đặng Chí Bình.
Post by Sơn râu 213 Nov 2023
Cùng quý bạn đọc: bài đăng cuối cùng của Hồi ký Thép đen Quyển IV của tác giả Đặng Chí Bình vừa dứt, không ít thì nhiều chắc hẳn cũng có mang đến nhiều cảm nghĩ, suy tư về tập Hồi Ký này qua 4 quyển sách. Tác giả đã trãi lòng cho chúng ta thấy tâm tư, suy nghĩ, hành động và sự dấn thân của tác giả theo tiếng gọi của đất nước đi vào lòng đất địch mang theo trọng trách của người trai trong thời chiến. Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên để rồi tác giả mất đi 18 năm trong lao tù Cộng Sản tuổi thanh xuân của ông chỉ là gông tù kềm kẹp, tra tấn, nhục hình, đói khát nhưng với tấm lòng vẫn luôn quan hoài tới vận mệnh đất nước. Cũng may mắn là sau khi ra khỏi được nhà tù nhỏ ông đã vượt thoát được đến bến bờ tự do sau 3 lần vượt biển, nhờ đó chúng ta đã có được tập Hồi Ký này ngày hôm nay.
Nhưng mọi việc không đi ra ngoài nguyên lý của Tạo Hóa: Sinh Ký Tử Quy, ngày 2 tháng 1 năm nay 2023 ông qua đời tại Hoa Kỳ
Xin dâng nén hương lòng đến ông, thành kính tri ân ông cũng như tất cả những bậc đàn anh, huynh trưởng đã hy sinh cả đời trai trẻ, xương máu, gia đình, dấn thân cho đất nước để cho thế hệ đàn em, con cháu sau này có được ngày hôm nay.
Thoảng nghe “phôn” réo bên tai, Giật mình tưởng kẻng sớm mai nhà tù
Hình ảnh những bộ xương còn di động trên chốn lao trường, những nấm mồ hoang lạnh giữa rừng sâu, dư âm những tiếng thở dài lê thê xen lẫn những tiếng rên siết quằn quại trong đêm dài tăm tối… và những cặp mắt khát khao nhắn nhủ ngày tôi chia tay, vẫn lảng vảng vấn vít trong hồn; tất cả như đang khẩn nài, gào thét, đòi hỏi tôi phải thực hiện “Bản di chúc sống của họ”
Đó là mấy dòng trích đoạn LỜI TÂM SỰ khi tôi bắt đầu viết và in Thép Đen I. Bây giờ tôi đã viết xong tập IV, coi như kết thúc cuộc hành trình gian khổ, chiếm trọn giai đoạn thanh xuân nhất của đời tôi. Từ khi bắt đầu viết Thép Đen I, đến hết Thép Đen IV, thời gian là 20 năm. Có giai đoạn hàng chục năm, tôi cầm bút lên rồi lại hạ bút xuống, làm hết quyết tâm này đến quyết tâm khác, hết bạn bè thúc đẩy cho đến giao kèo với con cái…
Bây giờ tôi như cất được một gánh nặng cuộc đời, gánh nặng trách nhiệm đối với quê hương, với bạn bè mà phần lớn đã nằm xuống lòng đất lạnh, chìm dần trong quên lãng. Tôi cũng thấy trang trải được món nợ với các thế hệ con cháu, ghi lại cho chúng về một giai đoạn, một hệ quả thương đau đến tận cùng nhân tính và nhân phẩm do chủ nghĩa Cộng Sản gây ra.
Tuy vậy, giữa đống xương khô, sình lầy máu mủ đó, tôi đã nhặt ra một viên ngọc quý.
Trong cuộc sống, mỗi khi tôi gặp khó khăn trở ngại, buồn nản, tưởng không thể vượt qua, nghĩ lại 6 năm dài cơ cực, quằn quại đói rét, cùm khóa ở xà lim Hoả Lò Hà Nội, như có một nguồn sinh lực thần kỳ đã nâng cao ý chí chịu đựng của tôi, nỗ lực vượt lên. Tôi lại lạc quan yêu thương đời như mọi người.
Quả vậy, ngay trong sinh hoạt bình thường, tôi nằm, tôi muốn để chân ở đâu thì để, đâu có phải đút chân vào cái cùm hộp sắt, trở mình cũng đau buốt khó khăn. Đầu tôi, đâu có phải chui vào cái túi vải, khâu bằng giẻ chùi của các bà cán bộ trong nhà cầu, mỗi đêm để chống muỗi? Ngứa chỗ nào, tự do gãi chỗ ấy, muốn đi tiểu, đi tiêu, tôi bò nhổm dậy vào nhà xí, đâu phải vặn vẹo người, nghiến răng buốt nhói, ngồi trên cái “bô” rỉ, đưa lên sàn “ciment” mình nằm?
Hơn nữa, nỗi buồn, niềm đau cay chua nghiệt ngã lại là chất men, nước mầu rắc tưới cho cuộc sống, như cánh sen ngát hương thơm trong chiếc ao đời.
Sau hết, tập hồi ký Thép Đen đã quấn cuộn hết cuộc đời, ngấm thẩm cả hồn tôi, vào từng trang sách.
Đặng Chí Bình
TẤM HÌNH KỲ DIỆU CỦA ĐỜI
Một đêm 6/1972, tại K3 trại Trung Ương số 1 phố Lu, Lào Cai, bốn người này ngồi ủ rũ, tâm tư mỗi người trăn trở vơi đầy của những kiếp tù khác nhau. Nhưng có một cái chung là đều nghĩ chẳng bao giờ được về sống ngoài xã hội như mọi người. Lầu Chí Chăn (người nhái) đã phát biểu: Uớc gì khi chúng mình chết, được chết no!
Hình này chụp ngày 6/3/2005. Sau 33 năm, với bao nhiêu đổi thay, chìm nổi của quê hương, cuộc đời và thế giới, 4 người này lại ngồi với nhau tại Westminster, CA.
Xin vài phút lắng đọng, suy tư để thấy cái kỳ diệu của kiếp người (ngay ở xứ Hoa Kỳ, mỗi người ở mỗi nơi. TG ở mãi bên bờ Đại Tây Dương)
Tác giả ngồi đối diện với Nông Văn Hinh, Lầu Chí Chăn ngồi sau TG, đối diện với Lưu Nghĩa Hưng. Nhắc chuyện xưa, Chăn lại phát biểu: Bây giờ, chúng ta lại sợ chết no!
Anh Huy và tôi đã khoác tay nhau trở về khu trại. Khi nãy phải trả lời những điều mà tôi vẫn chưa quán triệt, nhưng vì lòng tự trọng một người Việt, nên tôi đã nhờ cụ Lưu Linh hỗ trợ hơi nhiều. Bây giờ chân tôi bước có lúc cảm tường người nhẹ bổng, bay được. Anh Huy đập vào vai, làm tôi lấy hồn lại. Anh chỉ lên trời, phóng giọng vào gió lộng:
– Anh Bình có nhìn thấy một cái tai bạc, to tướng kia không?
Đúng rồi, trăng nửa một tí thừa dựng đứng, như một cái tai người, dán lên mầu xám sậm của bầu trời Galang.
Sáng hôm sau tôi đã nhận được giấy báo 5 ngày nữa, cùng một số đồng bào rời Galang đi xứ Cờ Hoa, ngày 18-1 1-1983. Lộ trình “diện chùa” của tôi: Singapor – Tokyo – San Francisco – Denver- Boston. Ngày đi, một số bạn bè tiễn đưa, mấy giáo học Indo trong có anh Darko Sin. Đặc biệt, bác sĩ Huy đã tặng tôi tập nhạc VietNamese English, khổ công sưu tập của anh, qua trí nhớ của mọi người. Tôi rất qúy tập sách nhạc đơn sơ này, như gói ghém một chút hành trang văn hoá, của Mẹ Việt Nam.
Kính thưa quý vị, chí của ai cũng muốn đào sông lấp biển, nhưng khả năng thì có hạn. Cho nên, tôi chỉ làm những điều, tôi có thể làm được.
Tôi xin cảm tạ sự kỳ diệu, nhiệm mầu của đời đã hỗ trợ tôi, trả nết món nợ nhỏ của một người vô danh, với dân tộc, với Tổ Quốc.
Boston, ngày 9- 10- 2004
ĐCB
Tóm lược thêm vài sự kiện:
* Phạm Xuân Ẩn, tên thiếu tướng tình báo chiến lược của Việt Cộng đã từ trần ngày 4- 6- 2004. Không một tờ báo nào trong nước phúng điếu hay nhắc nhở đến.
* Đầu năm 1992, tôi đã đến ngôi nhà của Karl Marx ở thành Trier (Tây Đức). Do một sự may mắn, tôi đã được gặp và hầu chuyện một số đồng bào đầu tiên, chạy từ Đông sang Tây Đức trong một trại tị nạn, (có những chuyện sốt dẻo đặc biệt) khi bức tường Bá Linh bị phá đổ.
* Tháng 11- 2003 do tình cờ tôi đã gặp lại anh BS Huy ở nhà thờ Saint Williams, Dorchester tại Massachusetts, sau tròn 20 năm, không có tin gì về nhau. Anh không nhận ra tôi, nhưng tôi đã nhìn ra anh.
Lúc đầu, trong đám đông, tôi vờ xô vào anh. Quay lại anh vẫn chưa nhận ra, để tôi phải nói: “Bác sĩ Vũ Linh Huy, Tổng Thư Ký Ban đại diện Galang”, bấy giờ anh mới ôm lấy tôi. Hiện nay anh làm việc ở Carney Hospital, Dorchester.
Ngày vợ con anh đến nhà tôi chơi. Tôi đã đưa tập nhạc với lời tặng của anh từ tháng 11-1983. Ngay tại bàn ăn anh đã phóng bút 20 phút, một bài thơ anh ghi thêm, vào bìa trong tập nhạc:
Gặp lại anh Bình
Gặp nhau ngắn ngủi tại Ga- Lăng
Ít lời nhưng thanh khí lẽ hằng
Bởi mong đất nước mau thống nhất,
Suýt cho Hồ tặc, sớm vào lăng.
Biệt giam, cùm xích, tâm không nhụt,
Hát hò, tranh đấu, chí càng hăng.
Hai mươi năm chẵn, giờ gặp lại,
Mừng anh tiết tháo vẫn khăng khăng.
Vũ Linh Huy
Tôi không ngờ, anh Huy có khả năng xuất khẩu, thành thơ.
* Cũng do một sự may của đời, qua tài liệu Nhà Trắng, ông Tourison (viết Secret War, Secret Army) tên Phan hay François một người trực tiếp huấn luyện tôi. Tôi đã đề cập nhiều đến trong Thép Đen 1, lại là người CS đã mua chuộc, dụ dỗ được. Năm 1997, một người bạn Nhái (biệt hải) sang Mỹ sau, có gặp Fran ở Sài Gòn. Tên thực là Đỗ Văn Tiên, y cũng có nhiều công lao với Việt Cộng, nhưng bây giờ chúng cũng cho ngồi chơi, dậy tư Anh Văn kiếm sống. Đi Mỹ thì không dám, sợ phải trả những món nợ của anh em Biệt Kích, Gián Điệp. Riêng tôi từ quan điểm nhân bản tình người, chuyện gì thì cũng đã qua. Tôi có ý tưởng nếu có điều kiện, tôi muốn gặp lại hết những cán bộ Cộng Sản, tôi đã gặp trong trại giam. Nếu còn ai tất nhiên đều là những cụ già, gạt hết mọi chuyện đã qua, chỉ gặp lại để thăm hỏi sức khỏe của nhau.
Từ quan điểm này, tôi đã viết một lá thư ngắn mươi mười lăm dòng, cũng gạt chính trị ra ngoài lề, gửi cho Đỗ Văn Tiên. Để tôn trọng và tỏ lòng kính nhi, tôi đã mua 3 chiếc tem (Quốc Tế) để anh ta trả lời. Nhưng cho đến nay vẫn không có hồi âm, không biết Phan có còn trên dương thế?
* Cha Tông nhà thờ cửa Bắc Hà Nội, do một sự tình cờ năm 2000, tôi mới được giải đáp vì sao tôi bị phản gián Hà Nội phát hiện, ngay từ nhà thờ Cửa Bắc? Tôi mất nhiều đêm không ngủ vì đau đầu. Có ngờ đâu, tôi dùng mọi khả năng nghiệp vụ len lỏi về đến Hà Nội, và đã tự mang mỡ đến nộp cho mèo. Chính cha Tông đã nhận nhiệm vụ với tình báo của Cộng Sản. Bất cứ một người nào trong Nam ra, đến gặp cha thì phải báo cho phản gián Hà Nội.
Hiện nay 10 – 2004, Cha Đỗ Tông đã bị liệt (do tai biến), cấm khẩu nằm chờ chết ở một gian phòng vắng trong Nhà Chung, Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Do linh mục TTK, cũng bị liệt một chân, buồng bên cạnh, cho biết. Tôi muốn nói với Cha Tông vài lời, nhưng đành chịu (người không nói được).
* Hoàng Thanh tên hung thần ở phân trại E, trung ương số 1 Lào Cai 1968, tôi đã gặp.
Hoàng Đình Mỹ, một biệt kích duy nhất, là công nhân (đểu) ở trại Thanh Lâm (Thanh Hóa) được đi phép về Nam (12/1980). Anh vượt biên đến Thái Lan, rồi đã gia nhập phong trào Phục quốc của ông Lê Quốc Túy, trở về Việt Nam hoạt động. Xâm nhập Đá Bạt, Cà Mâu (2/9/1981) Việt cộng đã chờ sẵn để bắt lại. Anh bị chúng kết án chung thân. Do áp lực của Quốc Tế (20/7/1998) CS tha về. Ngày 12/8/2002 anh đã đến San José CA.
Anh cho biết Hoàng Thanh hiện là cục trưởng Cục Lao Cải, thay Lê Hữu Qua. Mới đây y lại kiêm thêm Cục An Ninh đặc biệt nữa.
Ngay từ cuộc di cư từ Bắc vào Nam, 1954 Việt Cộng đã cài người lẫn lộn theo đồng bào di cư để hoạt động cho chúng. Huống chi 30- 4- 1975, kỹ thuật của chúng càng cao, càng tinh vi: Di tản, vượt biên, HO, đoàn tụ gia đình, sinh viên du học v.v… Chúng toàn quyền nhào nặn (giấy tờ, huấn luyện. . .) trong những bàn tay phù thủy bịp bợm. Điều đương nhiên ở khắp nơi trên hải ngoại, nơi nào có cộng đồng người Việt đều có người của chúng, nhiều tầng, nhiều loại. Bất cứ một cá nhân hay một tổ chức đảng phái nào, muốn chống Việt Cộng phải tập họp, những người cùng tâm huyết, tinh thần.
Từ đấy, ngay trong những hạt nhân đầu tiên này, trong bộ tham mưu của tổ chức, đã có người của chúng. Lúc đầu, chúng ủng hộ tạo điều kiện, để phát triển. Mỗi lần là một mê lưới, bắt dần những con tôm lớn, nhỏ, chìm, nổi, chống chúng. Mục tiêu tối hậu, là duy trì chỗ ngồi của chúng vững chắc yên lành. Cho nên, Hoàng Đình Mỹ được chờ sẵn là tất yếu.
* Năm 1994, Lưu Nghĩa Lương đi HO sang Hoa Kỳ. Tôi và Lương đã gặp nhau nhiều lần. 10/03, tôi sang CA gặp một số anh BK, để thẩm định lại, một số sự kiện. Trong số anh em, tôi gặp có Lương. Một hôm, chợt như Lương nhớ ra một việc, quay lại tôi như khoe:
– Anh Bình còn nhớ Tằng toét không?
Ngạc nhiên, không hiểu sao Lương lại nói đến tên Tằng? Tuy vậy, tôi vẫn cười, trả lời:
– Nó có quên anh, chứ anh muốn quên nó, cũng không được!
Lương nói như phát kiến một ý lạ:
– Anh có biết không, đầu 1992, em gặp anh Mạc Lịch và Tuấn Nguyệt ở Bà Chiểu. Anh Lịch kể lại tuần trước, anh tình cờ gặp Tằng Toét, đeo hàm Thiếu Tá. Tằng cho biết y mới vào Sàigòn chơi, hơn một tháng. Y rất vồn vã cởi mở, y nói: “Tôi có vào Sàigòn, mới biết, tôi cũng bị lừa, tôi xin lỗi các anh!”.
Nghe Lương thuật lại, đầu tôi vẩn lên: Chẳng qua, chủ nghĩa CS mới bị phá sản ngay tại cái “nôi” sản sinh ra, tên Tằng chưa biết ra sao, nên y tỏ ra như vậy (nên không thể tin được). Vả lại, chúng ta đã thấy, ngay những tên Bộ chính trị, hay trung ương đảng, những loại bậc thầy của Tằng Toét, nếu còn duy trì cái chủ nghĩa lỗi thời cũng chỉ vì cái ghế, hay nồi cơm của họ mà thôi. Chẳng biết tên Tằng có nghe thấy ông Gorbachev (người thầy của những người thầy tên Tằng) tuyên bố chắc nịch: Chủ Nghĩa Cộng Sản, chỉ có thể thay thế, chứ không thể thay đổi.
* Cô Vân y tá Hỏa Lò.
Một vị linh mục trẻ ở CA. là một độc giả của Thép Đen. Vị linh mục này chạnh lòng muốn tìm gặp, để giúp đỡ ba nhân vật: Đào Thị Bắc, Phùng Văn Trí, và cô Vân y tá Hỏa Lò. Vị này đã tìm gặp tác giả. Do một sự kỳ diệu của đời, tôi đã liên lạc với cô Vân ở Hà Nội. Rồi năm 2003 do vợ chồng một anh bạn cùng khóa 11 Đồng Tiến ở CA. đi du lịch, đã đến tận nhà cô Vân ở Hà Nội để ghi hình ảnh. Cảnh sống của cô khá giả hơn tôi ở Mỹ, nên tôi cũng thoải mái lòng.
* Toán Biệt Kích Hector A.
Toán BK Hector A, gồm 14 người. Ra Bắc ngày 22/6/66.
Toán trường là Bùi Quang Cát, cố vấn của toán là Nguyễn Hữu Luyện. (Đặng Đình Thúy là cố vấn của toán Hector B, 12 người, tôi đã tường thuật). Từ ngày Hoàng Đình Mỹ sang CA, tôi trao đổi phone với Mỹ và Bùi Quang Cát cùng ở San José nhiều lần, mới nhất (9/2/05). Sau đây, tôi xin sơ lược về toán Hector A: Địa bàn hoạt động ở Cà-Roòng Quảng Bình (đường mòn HCM). Toán xuống đúng một tháng, một ngày thì bị bắt:
Bùi Quang Cát, toán trưởng hiện ở San José.
Nguyễn Hữu Luyện, cố vấn hiện ở MA
Nguyễn Văn Toán, truyền tin trưởng hiện ở Mỹ.
Trần Hữu Tuấn, vũ khí phá hoại hiện ở Mỹ.
Nguyễn Văn Thùy, truyền tin phụ hiện ở WA.
Đỗ Văn Tính, toán viên hiện ở Hoà Lan.
Đinh Văn Vượng, toán viên hiện ở Mỹ.
Trần Văn Tiếp, toán viên hiện ở TX.
Trần Hữu Thức, toán viên hiện ở Xóm Mới Gò Vấp VN.
Vũ Đình Giao, toán viên hiện ở Mỹ.
Hoàng Đình Mỹ, toán viên hiện ở San José.
Nguyễn Ngọc Lâm, toán viên hiện ở Santa Ana.
Nguyễn Mạnh Hải, liên lạc dẫn đường, vì ở Thái về. Biết tiếng Thái và dân tộc thiểu số. Vượt biên, bị chết ở Thái Lan.
Đỗ Văn Tư, toán viên. Tư có cái nhẫn, bị cướp vào nhà, lột. Tư chống cự, bị cướp giết 1992 tại đường Nguyễn Thế Hiển, Chợ Lớn.
Toán vì sao bị lộ, bị bắt? Tôi nghe nhiều tình huống, nhưng không phải chủ trương của người viết, nên tôi không tường thuật chi tiết. Toàn toán phải bị dong đường bộ từ Quảng Bình về đến Hoả Lò, Hà Nội hơn 1 tháng trời.
Hàng trăm chuyến bay đưa người tỵ nạn từ các đảo Guam và Wakee lên các trại tỵ nạn trên đất liền, đều phải ghé Hawaii để làm thủ tục nhạ cảnh. Sau khi Rob rời Honolulu, tôi ghi tên tình nguyện cho Hội Hồng Thập Tự để ra phi trường giúp đồng bào chạy giặc. Tôi đã ngồi ở phi trường từ sáng tới chiều. Có nhiều hôm, thiếu thông dịch viên buổi tối cho nhân viên Sở di trú, tôi sẵn sàng ở lại để giúp đỡ họ. Cứ như vậy cả mấy tuần liền, khiến tôi buồn ngủ rã rời cả người. Thỉnh thoảng, tôi phải vô văn phòng của nhân viên Hồng Thập Tự, ngồi xuống đất, dựa lưng vô vách chợp mắt độ 5, 10 phút, rồi lại phải trở ra làm việc. Tôi không muốn bỏ rơi những người tỵ nạn lạc lõng, bơ vơ. Vì không rành tiếng Mỹ, nhiều người như câm, như điếc. Trong khi đó, nhân viên sở ngoại kiều tưởng nói lớn thì đồng bào của tôi sẽ hiểu. Có bà tay bồng con, chẳng có hành lý gì, mà cũng không biết chồng ở đâu, kẹt lại hay đã thoát nạn rồi. Lại có những sĩ quan Không Quân hót ha hớt hải đi tìm vợ con. Một số trẻ em được các chiêu đãi viên hàng không dẫn xuống máy bay, ngơ ngác vì lạc mất cha mẹ, chị em. Có một thằng bé chừng bảy tuổi, ngẩn ngơ như người mất hồn; tôi dẫn em đi tắm, rồi cho em ăn. Khi đã hơi tỉnh táo, em hỏi tôi: “Rồi con đi đâu?”. Tim tôi đau nhói. Tôi cũng không biết dân tộc của tôi sẽ đi về đâu! Không biết trả lời em, tôi hỏi lại: “Cưng muốn đi đâu?”. Em đáp: “Con muốn tìm má con”. Tôi dẫn em lên máy bay để em vô đất liền với trăm ngàn người lạc mẹ, lạc cha, mất chồng, mất vợ, mất cả đất nước.
Có một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, cầm cặp Samsonite nặng trĩu. Khi ông mở cặp cho nhân viên hải quan xét, những người đứng gần đều trố mắt nhìn. Cái Samsonite đầy ắp Mỹ kim. Người chủ của đống tiền ngượng ngập nhờ tôi thông dịch: “Số tiền nầy của nhiều người bên đảo nhờ tôi giữ hộ, vì họ là đàn bà chân yếu tay mềm không dám giữ tiền trong người, sợ bị cướp giật”. Tôi thông dịch rồi nói thêm: “Chắc cha nầy tưởng tụi mình mới đẻ ngày hôm qua”. Ông bị giữ lại, không được vào đất liền ngày hôm đó. Còn biết bao nhiêu cảnh trái ngang trong hàng vạn người đi tỵ nạn. Tôi cắm đầu phục vụ, bỏ qua những điều trái tai gai mắt của những người Việt mà tôi cho là không đáng được đến bờ tự do.
Không phải chỉ một mình tôi giúp những người di tản, mà cả gia đình tôi xúm vào, mỗi người một tay. John đăng trên báo Honolulu Star Bulletin để xin quần áo cho người tỵ nạn. Lúc đầu chúng tôi tưởng là chuyện nhỏ, ai ngờ hưởng ứng nồng nhiệt khiến chúng tôi bận túi bụi. Chúng tôi không thể vừa trả lời điện thoại, vừa đến nhà những người hảo tâm để lấy quần áo, lại vừa phải chờ người ta mang đến tận nhà. Mấy hôm sau, vì đã có kinh nghiệm, chúng tôi đổi chiến lược. John sai mấy người lính đóng một cái thùng, để trước đài khí tượng ở Honolulu cho người ta bỏ quần áo, giầy dép vô đó. Mỗi ngày tan sở, John ghé lấy quần áo đem về nhà. Ở nhà, má và các em lựa quần áo xếp theo từng loại đàn bà, đàn ông, trẻ em… Giầy dép cũng được phân loại. Có điều rất cảm động, là có nhiều quần áo, giầy dép mới toanh, còn cả nhãn hiệu. John và nhiều người hàng xóm của chúng tôi sốt sắng chở lên phi trường hết ngày nầy qua ngày khác, cho đến khi hết người tỵ nạn ghé phi trường Honolulu và Hickam.
Tinh thần của những người tỵ nạn có lẽ giống nhau. Được thoát nạn cộng sản, tới được bờ tự do, khó mà đo lường được vui mừng đó. Nhưng khi nỗi vui mừng lắng đọng, niềm vui trở thành dĩ vãng, thì hiện tại là một mối lo lớn. Rồi sẽ đi đâu, làm gì gì trên đất lạ nầy? Mấy tuần qua, tôi ở phi trường với người tỵ nạn nhiều hơn ở nhà. Ngày ngày, tôi chia sẻ niềm đau với người tỵ nạn. Tôi khóc với người mất nước, chia sẻ với người bị lạc mất gia đình. Tôi thấm thía nỗi đắng cay với người bị đồng minh phản bội. Tôi thấy thân tôi chia ra thành nhiều mảnh, không mảnh nào trọn vẹn cho ai hết. Mảnh cho John thì nhỏ xíu, cho Lance còn nhỏ hơn nữa. Phần dành cho má cũng không nhiều, cho Minh Tâm thì chẳng được bao nhiêu. Hoà Bình tháo vát, tự lập, nên em rời Hawaii mà bay qua Atlanta định cư với chị Kim. Chị Cương cho tôi nhiều hơn là nhận của tôi. Chị cho tôi sự ân cần, sự cảm thông. Thỉnh thoảng chị hỏi:
“Cưng có OK không, Dung? Chị biết cưng đau lắm; chị chịu không nổi như cưng. Nên chị đành ở nhà xếp quần áo cho họ thôi. Thông cảm cho chị nhen!”.
Làm sao tôi có thể “OK” được, nhưng tôi phải gật đầu, cho chị biết tôi cần tình thương của chị.
Mấy tuần đó tôi cũng quên mất ông Robert Hall, người của CIA từ Washington, D.C. qua, tìm hiểu mọi chi tiết về gia đình tôi. Rồi bỏ đi biệt tăm.
Một buổi sáng, tôi vừa về tới nhà, sửa soạn đi ngủ sau 16 tiếng đồng hồ ở phi trường Hickam, làm đủ mọi thứ việc để giúp người tỵ nạn, thì Rob Hall gọi, cho hay ông vừa đi công tác vùng Á châu về. Ông ghé qua Hawaii, vì ông có một tin đáng chú ý mới chia sẻ với tôi. Thật ra, giờ phút đó đối với tôi, không có gì đáng chú ý bằng giấc ngủ, nên tôi hẹn Rob đến chiều mới gặp ông. Tôi bỏ điện thoại ra ngoài để được ngủ yên. Má tôi trông Lance giùm tôi.
Buổi chiều, Rob tới nhà tôi, đưa cho tôi tờ Japan Times xuất bản ngày hôm trước. Tôi chỉ liếc qua, rồi cảm ơn ông, và hứa sẽ đọc sau. Nhưng ông cười:
“Hãy coi trang bốn, vì tôi nghĩ bà sẽ phải đọc liền bây giờ”.
Bên tay mặt của trang bốn, tôi thấy có tựa đề: “Nhóm Hà Nội, Sài Gòn tham gia chống bom Nguyên Tử”. Tôi nhún vai, nói:
“Tôi là người yêu chuộng hoà bình, nên tôi tán thành những người biểu tình chống chiến tranh”.
Tôi vừa nói vừa xếp tờ báo lại. Rob ra dấu cho tôi tiếp tục đọc.
“Độ chừng 80 phái đoàn từ 21 quốc gia sẽ tham dự cuộc biểu tình chống bom nguyên tử, do ‘Hội Đồng Nhật Bản Chống Bom Nguyên Tử’ tổ chức hàng năm tại Hiroshima và các tỉnh lân cận vào ngày 5 tháng 8, 1975.
Trong đó có năm hội viên của phái đoàn Hà Nội và bốn người trong phái đoàn của chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. Đây là lần đầu tiên hai phái đoàn từ Hà Nội và Miền Nam Việt Nam cùng tham gia cuộc biểu tình chống bom nguyên tử. Trưởng phái đoàn Hà Nội, ông Phạm Xuân Oánh, sẽ tới Tokyo vào ngày 27 tháng 7 qua ngả Bắc Kinh. Trưởng phái đoàn miền Nam là ông Đặng Quang Minh, uỷ viên trung ương của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam…
Đọc tới đây tôi ngừng lại, hốt hoảng la lên:
“Ông nầy là ba tôi! Đúng là ba tôi rồi!!! Tôi phải bay qua Nhựt gặp ba tôi mới được!”.
Ước sức lúc ấy tôi có thể leo lên nóc nhà để reo mừng, tôi cũng dám leo ngay.
Tôi cố bình tĩnh lại để tiếp tục đọc bài báo, tim tôi đập mạnh, hai lòng bàn tay tôi đổ mồ hôi.
“… sẽ tới Tokyo vào ngày 26 tháng 7 qua ngả Moscow. Ngoài ra. còn có phái đoàn Mỹ gồm 10 người, trong đó có điêu khắc gia Ethel Taylor hội viên của tổ chức ‘Phụ Nữ Đấu Tranh Cho Hoà Bình’ và Sean McBride, người được giải thưởng Nobel năm 1974”.
Sau khi ông Hall ra về tôi vô phòng gặp má tôi để cho bà biết tin ba tôi sắp sang Nhựt. Tôi cũng ngỏ ý là tôi sẽ cùng Lance sang Nhựt gặp ba tôi. Tôi rất tiếc là má tôi không thể đi cùng, một phần vì giấy tờ của má cũng chưa ổn định. Bà chưa có thẻ xanh. Một phần tôi cũng không đủ tiền cho ba người cùng đi.
Ước gì tôi có cách giữ được nụ cười của má trong cái bình pha lê để qua Nhựt cho ba tôi. Đó là nụ cười sau khi bà thấy tên ba tôi trong tờ báo. Nhưng má tôi có vẻ lo lắng khi tôi bàn đến cuộc hành trình của mẹ con tôi. Má tôi nắm lấy hai bàn tay tôi, như muốn kéo tôi ra khỏi giấc mơ đoàn tụ, mà suốt hai mươi năm qua gia đình tôi chưa tỉnh. Bà ôn tồn nói:
“Con phải chờ John về để tính toán kỹ càng. Hai mẹ con mình không nên tự tung tự tác rồi hư chuyện. Con phải nhớ, nó là sĩ quan của Hải Quân Mỹ. Ba con là người của họ. Chánh phủ Mỹ mới cho má qua đây tỵ nạn, rồi bây giờ con lại đi gặp một ông kẹ của Việt cộng. Không có giản dị như gia đình người khác đâu, con”.
Nghe tới đây thì tôi ngỡ ngàng, vì má tôi không biết gì về Rob, tưởng ông ấy là bạn của John. Nhưng tôi như một đứa con nít đòi gặp ba, tôi nói:
“Ba của con, con muốn gặp thì gặp, đâu cần xin phép ai?”.
Má tôi bèn nắm chặt tay tôi hơn, rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, nghiêm giọng nói:
“Hồi đó tới giờ, má biết con thương ba con tới chừng nào rồi. Má nghĩ là không có cái gì ngăn cách tình cha con của con được. Nhưng con đừng có quên, ba con không phải là người cha bình thường như trăm ngàn người cha khác. Con phải chờ John đi công tác về rồi bàn tính với nó”.
Hai giờ sáng hôm sau, tôi vô căn cứ Hải Quân ở Barbers Point để rước John về. Thấy anh vừa bước ra khỏi máy bay P-3 Orion, tôi đã muốn báo tin mừng ngay, nhưng anh ngừng lại để nói chuyện với những người bảo trì máy bay. Mỗi lần John trở về sau những chuyến bay xa, khi thấy anh bước ra khỏi máy bay còn nguyên vẹn, dù lúc đó là 2, 3 giờ sáng, tôi vẫn thấy như có ánh hồng ló dạng nơi chân trời. Những năm John đóng ở căn cứ Hải Quân Barbers Point, Lance còn nhỏ xíu. Thỉnh thoảng đi học về, nó kể lại chuyện ở trường, đám con của mấy ông phi công nói với nhau rằng, ba thằng nầy bị rớt máy bay, ba thằng kia sẽ được về đất liền chôn cất. Tôi cố trấn an nó, nhung trong lòng cũng không khỏi lo âu mỗi lần thấy John bước lên máy bay. Còn Lance thì nhiều khi chơi một mình ngoài sân rồi oà lên khóc, tôi tưởng nó bi ong đánh hay kiến cắn, chạy ra hỏi tại sao thì thằng nhỏ vừa khóc vừa nói “Lance không muốn Daddy chết!”.
Tôi cho John biết vệ chuyện ba tôi sẽ sang Nhựt, và tôi muốn Lance sang gặp ba tôi. Anh tán thành ngay, vì anh muốn cho Lance được gặp ông ngoại.
Sáng đó, khi John còn ngủ, tôi đã mua vé máy bay, rồi gọi điện thoại cho lãnh sự quán của Nhựt để xin chiếu khán. Đến trưa, thì mọi việc xong xuôi, tôi đã có vé máy bay và có cả chiếu khán. Buổi chiều tôi hối hả xếp va-li. Tôi muốn tới Tokyo vài ngày trước khi khai mạc hội nghị để quen đường đi nước bước với cái thành phố mà tôi chưa bao giờ đặt chân tới. Thêm vào đó, tôi không biết một tiếng Nhựt nào ngoài tiếng chào tạm biệt ‘Sayonara’. Chị Cương viết thơ cho ba, kèm tấm hình của vợ chồng chị. Mấy đứa con chị, Tina, Ten và Kenneth gởi mấy món quà thủ công mà các cháu làm trong trường để tặng ông ngoại. Mỗi cháu viết tên, tuổi, ghi rõ ràng lớp các cháu đang học: Tina lớp Hai, Teri lớp Một và Kenneth lớp mẫu giáo; và viết thêm chữ “I love you, Ông Ngoại”. Các cháu cũng gửi kèm mỗi đứa một tấm hình mới nhất. Trước ngày tôi lên đường, má thức rất khuya để viết thơ cho ba. Trong thơ, má chỉ gửi kèm hình Minh Tâm, Hoà Bình và Hải Vân.
Vì Lance còn nhỏ, nên tôi và cháu được lên máy bay trước các hành khách khác. Nhưng mỗi bước đi, tôi thấy nặng nề như vương vấn người ở lại. Rob đi cùng một chuyến máy bay với chúng tôi, nhưng tôi và Rob đã dặn nhau là sẽ không nhận nhau trên máy bay. Sau khi máy bay cất cánh. Lance được tự do vì không còn phải đeo seat belt nữa. Nó đi một vòng rồi nói nhỏ với tôi:
“Momma, Lance thấy ông Rob ngồi đằng sau mình kia”.
Tôi vội dặn nó:
“Đừng làm phiền ổng, để ổng ngủ”.
Thỉnh thoảng Lance đứng lên ghế nhìn xuống phía sau, rồi yên lặng ngồi xuống. Khi máy bay đã bay được nửa đường, Lance nói nhỏ:
“Lance nghi ông Rob theo dõi mình”.
Tôi cười thầm, không nói gì, rồi giả bộ nhắm mắt ngủ. Lòng tôi lúc đó náo nức, rộn ràng nghĩ đến ngày được gặp lại ba tôi nếu mọi việc suông sẽ.
Ba tôi đã bỏ tôi và cả gia đình để đi theo một chủ nghĩa, mà khi tôi lớn lên với dân tộc và đất nước, thì hiểu rằng chủ nghĩa nầy trái lòng dân, nghịch ý trời. Suốt tuổi ấu thơ, tôi đã ngưỡng mộ ba tôi, coi ông như một thần tượng. Ngày nay, tôi là người đàn bà đã trưởng thành, hai người hai chiến tuyến, nhưng dù thế nào tôi cũng muốn gặp lại người cha, với ước mơng ba mình vẫn như xưa.
Tôi nhớ, má tôi hay lấy câu nói của nhà văn kiêm nhà giáo Nguyễn Bá Học ở đấu thế kỷ 20 mà khuyên chúng tôi như sau “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi, e sông”. Tôi đã đi tới Tokyo thì kể như từ đây không còn núi sông nào ngăn cách hai cha con tôi nữa, mà chỉ còn những chặng đường quanh co. Ý muốn gặp ba tôi mạnh hơn tất cả những gì nguy hiểm trong cái thế giới gián điệp mà Rob nhiều lần nhắc nhở phải cẩn thận. Ông sợ tôi bị KGB theo dõi, sợ phản gián Nhựt rình mò, rồi bắt tôi. Trong khi đó, tôi ngây thơ hỏi:
“Tại sao con đi tìm cha sau 20 năm xa cách, mà mọi người theo dõi, rình mò để bắt?”.
Rob trả lời ngay:
“Bởi vì người cha nầy là đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Moscow, và người con gái nầy cách đây gần hai tháng đã ký giấy hợp tác với một cơ quan tình báo không thua gì KGB”.
Sự thật nầy đắng cay quá, nhưng nó là sự thật. Từ đó, tôi bắt đầu cẩn thận, dè dặt hơn trong việc liên lạc với Rob.
Tại Tokyo, tôi không biết bao giờ phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sẽ tới Tokyo, và cũng không biết họ sẽ ở đâu. Rob cũng không hơn gì tôi, ông và CIA ở toà đại sứ Mỹ cũng không có tin tức gì.
Trước khi tôi lên đường, John đã dặn dò kỹ lưỡng: khi tới Tokyo, tôi phải ở Sanyo Hotel, vì khách sạn nầy là khách sạn của Hải Quân Mỹ. Ở đây đã an ninh, mà tiền phòng chỉ bằng nửa các khách sạn lớn như Sheraton hay Hyatt Regency. Ở đây lại có tính cách gia đình. Nếu phải ở Tokyo lâu, Lance cũng có con nít Mỹ để chơi. Nếu cần, khách sạn nầy lại có người trông trẻ em.
Mấy ngày đầu, hai mẹ con tôi còn lạ lẫm với thành phố Tokyo, ồn ào, phố phường người đông như kiến, đi xe điện như đi chạy đua mới lên xe được. Vì vậy, hai mẹ con tôi ít ra đường, chỉ ngồi trong khách sạn dò hết mấy trang báo để tìm tin ba tôi, cả báo sáng lẫn báo chiều. Ngày nào cũng dài vô tận. Thêm vào đó, tháng 7 trời Tokyo oi bức hơn Sài Gòn. Rạp chiếu bóng trong khách sạn chỉ có hai phim hoạt hoạ. Tôi đã coi The Pink Panther ba lần, và Ronald Duck hai lần. Khi Lance chán xi-nê thì đòi ra hồ tắm. Tôi vừa đọc báo để tìm tin ba tôi vừa trong chừng Lance dưới hồ chơi giỡn với con nít khác.
Trưa thứ hai, 28 tháng 7, CIA tìm được lộ trình của ba tôi. Rob cho tôi biết là phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sẽ tới Tokyo ngày 30 tháng 8, và có thể họ sẽ ở khách sạn Prince. Rob nói người của ông ở toà đại sứ Mỹ sẽ cho tôi biết ngày giờ nào tôi được liên lạc với ba tôi; lúc đó tôi mới được phép đi tìm. Tôi im lặng nghe, và cũng không tỏ vẻ bất bình. Nhưng trong bụng, tôi đã có một chương trình riêng. Khi tôi hành động, chỉ có ông trời mới cản được tôi lúc nầy.
Tôi thay quần áo cho Lance, rồi hai mẹ con tôi lên xe đi thẳng tới khách sạn Prince, không một chút do dự. Khi taxi ngừng, tôi nắm tay Lance khoan thai đi thẳng vô cửa, tới gặp cô Nhựt ngồi sau quầy tiếp khách. Tôi nói chậm rãi cho cô biết tôi muốn đặt 15 phòng cho nhóm của tôi ngày hôm đó, cho đến ngày 13 tháng 8. Người đàn bà Nhựt nhìn vào sổ, rồi lịch sự trả lời:
“Thưa bà, chúng tôi rất tiếc là không còn phòng trống đến ngày 15 tháng 8”.
Hồi còn đi học, tôi thường nói chơi với bạn bè rằng ông trời cho tôi giác quan thứ sáu, để biết chừng nào thầy cô kêu trả bài. Cái giác quan thứ sáu đó vẫn còn tốt, nên hôm nay tôi cứ tin đây là nơi hai cha con tôi sẽ gặp nhau.
Tôi cảm ơn người đàn bà Nhựt, rồi xin một tấm danh thiếp và hẹn sẽ gọi lại. Tôi đi về phía cửa mấy bước, chợt quay lại hỏi phòng vệ sinh ở chỗ nào. Tôi muốn làm quen với khung cảnh ở đây, để lần sau trở lại không bị bỡ ngỡ. Lúc đó, tôi có thể đi thẳng lên phòng của ba tôi như một người khách đang trọ nơi đây, để không bị ai chặn hỏi, nhứt là những người giữ an ninh cho các phái đoàn.
Khi đã biết sơ đường đi nước bước trong khách sạn, mẹ con tôi ra về. Tới đường chính, tôi chợt trông thấy một khách sạn lớn hơn ở gần đó, sang trọng hơn Prince. Tôi liền dắt Lance đi về phía khách sạn tên là Takanawa Prince Hotel. Ngay lúc đó, tôi nghĩ nếu tôi ở khách sạn nầy, tôi sẽ được gần ba tôi, lại rộng rãi sang trọng hơn khách sạn Sanyo. Mấy hôm nay, Lance tỏ vẻ khó chịu vì nóng bức và chật hẹp. Nếu chỉ có một mình tôi, ở đâu cũng được, vì tôi đã ở trong rừng U Minh một năm rồi, tất cả chỉ là tạm bợ mà thôi. Nhưng tôi đang nuôi thằng Mỹ con, sợ nó chán mà đòi về nhà với ba nó thì khổ cho tôi lắm. Thân phận con của một nhà cách mạng chống Pháp thua xa đứa bé con của một sĩ quan Mỹ.
Hai mẹ con tôi dọn đến ở khách sạn Takanawa Prince ngay chiều hôm đó. Phòng ngủ ở đây thật rộng, giường ngủ lớn, mặc sức cho Lance nhảy nhót trên giường. Nhảy chán rồi nằm lăn quay ra ngủ. Nhìn nó ngủ một cách vô tư, tôi nhớ lại hồi chúng tôi còn ở trong bưng biền. Tôi cũng năm tuổi như nó bây giờ. Tây bỏ bom xuống Ong Vèo tơi tả. Ba tôi hăng hái đánh Tây. Con tôi cũng năm tuổi, được nằm ngủ, mặt ngây thơ không một chút lo âu. Qua cửa sổ phòng, tôi có thể nhìn thấy khách sạn Prince, nơi tôi sẽ được gặp ba tôi, người đã góp công “giải phóng” quê hương tôi. Bỗng dưng tôi thấy công của ba tôi là công dã tràng, vì người miền Nam chúng tôi đang cần một cuộc cách mạng khác, để thoát khỏi nanh vuốt của cộng sản Hà Nội.
Trong những giờ phút chờ đợi để được gặp ba tôi, tình phụ tử, nỗi nhớ nhung hoà với kỷ niệm mà tôi đã từng ấp ủ trong đời với ba và gia đình bỗng dưng nhẹ hơn tình yêu tôi dành cho quê hương và cho dân tộc. Rồi tôi cảm thấy tội nghiệp ba tôi và đất nước vô cùng. Trong khoảnh khắc, tôi không thấy chuyện gặp ba tôi là cần thiết nữa.
Ngày 30 tháng 8, báo Japan Times đăng hình ba tôi tươi cười, hớn hở bước xuống máy bay. Cùng đi với phái đoàn, có bà Ngô Bá Thành, cầm cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tung bay trước gió. Tôi nhìn hình nầy một hồi lâu, rồi thấy mình xa lạ với người trong hình. Tuy vậy, tôi vẫn vui khi thấy ba tôi còn tráng kiện, mái tóc vẫn chải qua một bên như hồi tôi còn nhỏ. Nụ cười thân thiện, đưa hàm răng hô ra trước, như ngày xưa ông cười với người chèo ghe, với các đồng chí và với những người trong làng.
Sau khi ăn điểm tâm, tôi và Lance vừa về phòng thì ông sĩ quan CIA đã gõ cửa. Rob tươi cười khoe bài báo của Japan Times với tôi. Lance nhanh nhảu cam tờ báo của tôi, rồi nói:
“Look Rob, my ông ngoại is in the paper. We are going to see him, my Mom said”.
Như diều mất gió, mặt Rob bị xị, ông tưởng ông đem tin lành đến cho hai mẹ con tôi, nào ngờ chúng tôi đã biết trước. Ông nghiêm giọng nói với cháu Lance:
“I don’t think ít’s a good idea”.
“Why not?
“Because your ông ngoại may be tired”.
“Not too tired to see his grandson”. Lance trả lời một tự nhiên, vô tư.
Buổi trưa hôm đó tôi đứng ngồi không yên, chỉ sợ mình nóng nảy rầy oan con. Tôi dụ dỗ cho nó ngủ trưa để “mau lớn”, khi dậy sẽ được thưởng một chai nước ngọt trong tủ lạnh.
Cầm tấm thiệp có số điện thoại của Prince Hotel, tay tôi run, cổ khô, miệng đắng. Tôi nghe tim đập mạnh trong lòng ngực. Tôi chợt nghĩ tới má tôi. Bà đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn trong cuộc đời, đâu có nhiều thời gian hay hoàn cảnh do dự hay rụt rè. Đời của chúng tôi trôi nhanh như thác lũ, khôn thì sống, dại thì chết. Hồi ba tôi chuẩn bị đi tập kết, chỉ có một hai tháng để sửa soạn. Má tôi đã quyết định ở lại miền Nam. Nhờ vậy, chúng tôi đã được sống trong tự do. Hình ảnh của má tôi làm tôi thêm sức mạnh.
Tôi cầm điện thoại lên, gọi Prince hotel. Với một giọng nghiêm chỉnh và nhanh, tôi nói với nhân viên trực của khách sạn:
“Tên tôi là Trần, nhờ cô gọi phòng của ông Minh giùm”.
Bên kia đầu dây, một người đàn bà Nhựt lịch sự trả lời:
“Xin bà đánh vần tên của ông ấy”.
” M.I.N.H, còn họ là D.A.N.G”.
Trong hơn hai phút chờ đợi, kể cũng hơi lâu, tôi bỗng có nghi ngờ. Có thật người đàn bà Nhựt đang tìm phòng của ba tôi hay bà báo với sở phản gián Nhựt tới bắt mình? Hay đặt máy cài nghe lén cuộc nói chuyện của mình với ba? Hay là họ sẽ tìm cách ngăn cản mình, không cho vô khách sạn? Vừa hồi hộp vừa nóng lòng, tôi tự nhủ thầm:
“Trời ơi, nếu mỗi lần muốn nói chuyện với ba mà phải chờ như vậy, chỉ vài lần là mình hết bạc đầu luôn”.
Nhưng vừa lúc đó, nữ nhân viên khách sạn trả lời:
“Phòng của ông Minh là phòng 421, xin bà ghi nhớ. Tôi sẽ gọi cho bà ngay bây giờ”.
Điện thoại tiếp tục reo, nhưng không ai trả lời.
Tôi cũng hơi rnừng là ba tôi không trả lời điện thoại lúc đó vì trong bụng tôi chen lẫn những hồi hộp, lo âu, sợ hãi. Sợ không biết bức tường của không gian, thời gian, chính kiến nó cao bao nhiêu trong lòng người cha cộng sản của mình, tôi cũng không còn sức để bình tĩnh nữa. Tôi vừa hồi hộp vừa lo sợ, vì không biết phản ứng của ba tôi như thế nào. Lỡ ba không muốn gặp tôi thì sao?
Chiều hôm đó, hai mẹ con tôi không được vui vẻ. Tôi cau có, gắt gỏng với Lance. Hai mẹ con buồn hiu. Một lát sau, tắt TV, Lance hỏi tôi:
“Tại sao Daddy đi bay về Lance vui lắm, còn Mommy được gặp Ông Ngoại mà quạu với Lance nhiều quá vậy?”.
Hồi nhỏ, nói được được tiếng Việt, mà tiếng “quạu” của nó có nghĩa giận, ghét, không ưa, không thích, bị rầy, bực mình.
Tôi xin lỗi Lance. Thằng nhỏ trả lời y như chúng tôi trả lời nó: ‘I forgive you’. Rồi vui vẻ lại như thường. Tôi yêu cái tính vị tha của nó. Lớn lên cũng vậy, cũng vị tha, cũng gần gũi, yêu thương cha mẹ, binh người yếu đuối.
Chiều đó, tới phiên Lance chọn ăn trong phòng, vừa được ăn, vừa coi TV. Sau đó, tôi đọc sách dỗ cho Lance ngủ. Nhìn đồng hồ, tôi nghĩ nên chờ cho ba tôi về phòng nghỉ mệt một lát, sau một ngày hội họp, rồi mới gọi. 9 giờ 30, con tôi ngủ, tôi rón rén đóng cửa phòng, rồi đi ra ngoài phòng khác, nhắc điện thoại gọi khách sạn Prince. Kỳ nầy tôi gọi thẳng về phòng 421 không qua tổng đài.
Tôi không bao giờ có thể quên được cái ngày 23 tháng Tư 1975, là ngày tổng thống Ford tuyên bố người Mỹ chấm dứt cuộc tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Đó cũng là ngày tôi nhận được điện thoại của Hoà Bình, em tôi, báo tin má và hai em tôi đã ra khỏi Sài Gòn. Giọng nói của em buồn như em khóc. Mấy tuần lễ trước, tôi nóng lòng mong đợi cái tin nầy, và cứ nghĩ rằng tôi sẽ reo hò mừng rỡ. Vậy mà bây giờ tôi lại cảm thấy tê tái trong lòng. Hai chị em tôi im lặng một hồi lâu. Tôi đang ở Honolulu, em tôi ở bên kia bờ đại dương. Cả hai chúng tôi cùng có nỗi buồn mất nước. Cuối cùng, tôi hỏi để cho có hỏi:
” Má với tụi cưng mạnh hả?”.
Hoà Bình cho biết là tất cả đã tới nơi bình yên. Má mong sớm được gặp con cái của má ở Hawaii. Tôi cho Hoà Bình rất có thể tất cả phải ở Guam một thời gian ngắn để lo thủ tục nhập cảnh. Em cho biết đã ra khỏi Sài Gòn thì ở đâu cũng tốt, và chờ đợi bao lâu cũng không sao. Nhưng tôi nghe trong tiếng nói em chứa chất một điều gì mà em còn giấu kín trong lòng. Tôi hỏi thì em đáp:
“Em bỏ lại hết trơn chị Dung ơi!”.
Em tôi khóc. Tôi an ủi:
“Rồi mình sẽ có nhau”.
Tôi không biết nói gì khác. Hoà Bình bật khóc nức nở.
“Mình mất Việt Nam vĩnh viễn rồi!”.
Tôi nghe được niềm đau đó, vì tôi cũng như em, khóc cho đất nước lọt vào tay con cháu “bác Hồ”. Tôi cũng biết má tôi còn đau hơn chị em tôi nhiều. Vì trong một buổi sáng má tôi đã bỏ Sài Gòn hai mươi năm chờ đợi, ước mong ngày tái ngộ cùng chồng và người con trai đầu lòng của má. Không những thế, bà còn bỏ lỡ cơ hội gặp lại anh em ruột và các cháu của bà. Họ sẽ trở về trong chiến thắng, trong khi bà phải vội vã chạy trốn cộng sản. Rồi từ nay, hàng tuần má tôi sẽ không còn có thể đi thăm mộ Hải Vân ở nghĩa trang quân đội được nữa. Trái tim tôi nghẹn ngào, cổ họng tôi khô rát, xót thương cho má. Nhưng trong thâm tâm, tôi phải kính phục má là người can đảm ra đi.
Em tôi chết; chỉ trong một thời gian ngắn, má tôi già đến hai chục tuổi. Bây giờ bỏ lại mồ mả không thể viếng thăm được nữa, làm sao má tôi có thể sống vui được. Gia đình tôi ai cũng biết trước, rồi đây cộng sản sẽ làm gì mồ mả kẻ thù của họ.
Tin tức về Việt Nam đều là hung tin, nhưng chúng tôi vẫn thức khuya dậy sớm theo dõi từng giờ. Đêm đêm, vợ chồng tôi thường thức giấc nửa khuya, mở TV nghe tin một vài phút, rồi đi ngủ lại. Ai cũng biết rằng hôm nay, ngày mai hay một vài tuần nữa, Sài Gòn sẽ hoàn toàn thay đổi. Rồi Sài Gòn sẽ mất những tên đường cũ, mất cả những tượng đài ghi nhớ công ơn các bậc anh hùng dân tộc. Lá cờ chính nghĩa của dân tộc Việt cũng sẽ không còn nữa. Rồi từ đây, người Việt Nam của tôi sẽ phải dùng ngôn ngữ của kẻ thù, thay vào đó là lá cờ đỏ sao vàng.
Có khi nằm trên giường tới hai giờ sáng mà tôi vẫn chưa ngủ được, suy nghĩ lan man đủ mọi chuyện có thể xảy ra sau khi miền Nam sụp đổ.
Năm ngày sau khi má và hai em tôi tới Guam, chúng tôi nhận được điện thoại của Hoà Bình lúc nửa đêm, báo tin má và hai em đã tới phi trường Honolulu. Vợ chồng tôi vội vã thay quần áo, rồi gọi cho chị Cương, hẹn gặp nhau ở phi trường. Tội nghiệp Lance, nửa đêm bị dựng dậy, nhưng nó còn tỉnh táo hơn cả tôi. Nó reo lên:
“Sướng quá! Bà ngoại qua, con được ngủ với bà. Ngày mai con được nghỉ học, phải không mommy?”
Tôi cố nhịn cười hỏi:
“Bà ngoại qua có dính dáng gì tới việc đi học của con đâu mà đòi nghỉ học?”
Nó vừa cầm đôi giầy sandal vừa chạy nhanh ra garage như để trốn tôi, rồi đáp:
“Tại mommy bắt Lance thức dậy nửa đêm, sang mai Lance buồn ngủ lắm, sao đi học được!”.
Trong những ngày cuối cùng buồn thảm của Việt Nam, nếu không có thằng con kháu khỉnh và thông minh nầy, chắc vợ chồng tôi chới với lắm. Nhờ nó mà trong nhà vẫn có tiếng cười, nhất là những tiếng cười vô tư của tuổi thơ.
o O o
Khi đến phi trường, tôi thấy má và hai em tôi đang xếp hàng bên quầy của sở di trú. Má tôi trông già hẳn đi, già hơn hồi tháng 2 vừa qua tôi mới về ăn Tết. Hình như tất cả những đau thương, phiền muộn đã hiện lên mắt má. Tôi bỗng chột dạ, tự hỏi không biết tất cả những cố gắng của vợ chồng tôi từ mấy tuần nay để to cho má qua Mỹ có phải là một việc làm đúng không? Tôi muốn ôm má tôi, nhưng nhân viên sở di trú ngăn tôi lại. Chị Cương thì bật khóc khi vừa nhìn thấy má và hai đứa em. Trong khi đó, bọn con nít, như Lance, con chị Cương- Tina, Teri và Kenneth bất chấp nhân viên sở di trú, chui luồn xuống dưới để ôm bà ngoại và hai dì của chúng nó. Cả nhân viên sở di trú lẫn hải quan bất lực trước đám con nít, nên đã cho má và hai em đi ra một cách mau chóng, hành lý chỉ phải xét qua loa. Gọi là hành lý, chớ thật ra cũng chẳng có gì.
Ba cãi va-li nhỏ xíu chỉ vỏn vẹn có mấy thứ như: hai bộ quân phục Không Quân của Hải Vân, một kaki, một mầu xanh, một cái nón, một cuốn tập vở của Hải Vân hồi em học lớp Đệ thất. Lại có cả cuốn truyện “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, mấy cuốn dạy nấu ăn, hình của ông bà ngoại tôi mà má lấy vội trên bàn thờ, một cây đàn guitar cũ của Hải Vân… Nhìn những đồ vật đó, tôi nghẹn ngào, tim tôi rã rời. Tôi ôm mặt để giấu tiếng khóc, rồi vội bước ra khỏi đám đông. Chị Cương kêu tôi trở lại, nhưng John nói:
“Để cho Dung yên vài phút”.
Tuy nói vậy, những John lại dìu tôi trở lại với má và hai em Hoà Bình và Minh Tâm. Tôi chỉ đứng cách má có vài bước, mà sao tôi thấy chân tôi nặng nề không bước nổi. Tôi không muốn chứng kiến nét đau đớn trên gương mặt già nua của má. Thật ra, tôi cũng không biết nói gì với má, không lẽ hỏi thăm những câu tầm thường khách sáo. Mất nước, mất nhà, mất mồ mả cha mẹ. Tôi ôm lấy má, nhưng hai mẹ con không nói nên lời một hồi thật lâu… Rồi chúng tôi lên xe đi về nhà.
John và Wray, anh rể của chúng tôi, đi một xe. Còn tất cả chui vô ngồi chung một xe với má. Chỉ có Minh Tâm ngồi băng trước với tôi, mọi người còn ngồi chồng lên nhau ở băng sau, Kenneth và Lance mỗi đứa ngồi một bên bà ngoại. Kenneth, lúc đó mới bốn tuổi, ôm cánh tay bà ngoại rồi nói:
“Ken mừng bà ngoại sống”.
Hoà Bình khóc:
“Dì Bình cũng vậy nữa, Ken ơi!”.
Tôi nhìn má tôi qua kiếng chiếu hậu, rồi hỏi:
“Má à, mình có làm đúng không, má?”.
“Mình đâu con đường nào nữa, con. Má sẽ tự vận trước khi cộng sản hành hạ má. Ai cũng biết, không ai có thể lọt khỏi bàn tay của cái đám Hà Nội khi họ chiếm được miền Nam của mình!”.
“Con nghĩ tới ba”. Tôi nói.
“Ba con có đảng của ổng. Ổng sẽ bình yên với Cách mạng của ổng”. Má tôi trả lời, giọng buồn hiu.
Tôi nói:
“Mấy đêm con ngủ không được, cứ nghĩ tới ngày về của ba. Chắc ba đau khổ và thẹn thùng với họ lắm, vì khi về tới thì má đã đi rồi!”.
“Con dằn vặt lương tâm của con không trúng chỗ. Khốn nạn, là mình phải bỏ đi. Tụi con tin má đi. Đây là một quyết định khôn ngoan nhứt trong gia đình mình. Tốt cho má, cho tụi con; nhứt là cho ba của tụi con nữa. Nếu má ở lại, má sẽ tiếp tục chỉ trích, phê bình chánh phủ của ổng. Rồi có thể vì má, ba bị mất mặt, sẽ khó ăn khó nói với đảng, với đồng chí của ổng, vì vợ con toàn là một đám chống cộng”.
Từ hôm đó cho tới ngày Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, chúng tôi cùng ngồi dựa vào nhau trước cái TV mà ngậm đắng nuốt cay, cái đắng cay của người bị cướp nước. Mỗi chiếc trục tháng bị đẩy xuống biển từ các chiến hạm, là một lần tim chúng tôi tan nát. Trực thăng gợi cho chúng tôi nhớ đến Hải Vân. Em yêu nó và đã từng lái nó. Nó chính là biểu tượng lòng yêu nước của em với ý chí diệt quân thù.
Khi tướng Nguyễn Cao Kỳ dang tay cho người lính Mỹ xét thân thể của ông, lần đầu tiên tôi nếm cái đắng cay, nhục nhã của kẻ đưa hai tay đầu hàng. Tôi thầm tự hỏi: “Ở lại để chiến đấu đến cùng, hay ra đi rồi phải chịu nhục trước đồng minh của mình. Đàng nào hơn?”. Rồi tôi tự đáp: “Danh dự của một con người có liêm sỉ vẫn quan trọng”.
Tôi thao thức nhiều đêm, nghĩ hoài đến tương lai, đất nước sau khi cộng sản chiếm trọn miền Nam. Rồi tất cả mọi người sẽ phải sống dưới gọng kìm sắt máu của cộng sản. Tôi thầm hận “đồng minh” Mỹ. Lần đầu tiên, tôi cảm thấy nhục nhã đã làm công dân của một nước tháo chạy trước nguy cơ.
Bốn tuần sau ngày cuối cùng của Việt Nam, ông Bob Jantzen mời hai vợ chồng tôi đến sở của ông. Văn phòng của ông trong căn cứ Hải Quân ở Pearl Harbor. So với văn phòng của các sĩ quan cao cấp của John khác xa nhau, như một trời một vực. Sàn nhà trải thảm dầy mầu cam sáng rực. Bàn ghế toàn bằng gỗ quý, chớ không phải bàn ghế kiểu nhà binh bằng sắt mầu xám tro. Trên bàn trong phòng tiếp khách có một bình bông tươi, chân dung bà Từ Hi thái hậu chiếm khoảng một phần ba bức tường.
Đây là lần đầu tiên ông Jantzen bắt tay John. Ông khen John đã thành công trong việc cứu má tôi. Rồi quay về phía tôi, ông nói thêm:
“Vợ anh cũng là người can đảm”.
Tôi ngạc nhiên về lời khen nầy, vì có thấy mình can đảm đâu. Chẳng lẽ nói chuyện với một sĩ quan tình báo là hành động can đảm? Hay còn cái gì nguy hiểm chờ đợi tôi đây? Tôi đã nghe những chuyện đường rừng thú vị do các chị bà con Việt Cộng kể về tội ác của CIA. Tôi cũng đã đọc sách và tiểu thuyết về tình báo Mỹ, v.v…
Sau vài lời thăm hỏi xã giao, ông Jantzen hỏi tôi có lòng gặp “case officer” của CIA không? Kinh nghiệm của tôi lúc bấy giờ là sáu năm làm vợ một phi công đã từng vào sanh ra tử. Ngoài ra, tôi cũng có kinh nghiệm nuôi dưỡng thằng con chưa đầy sáu tuổi. Tôi hỏi ông về “case officer”, ông cho biết đó là một sĩ quan có trách nhiệm cộng tác với một người thường dân hoạt động cho CIA; là một người gián điệp của CIA. Nghe xong tôi gật đầu đồng ý.
Mấy hôm sau, vợ chồng tôi trở lại văn phòng ông Jantzen. Chúng tôi được giới thiệu với ông Robert Hall, gọi tắt là Rob. Sau đó ông Jantzen bỏ đi, để chúng tôi ở lại nói chuyện với nhau. Có điều tôi thắc mắc, là trước đây ông Jantzen cho biết ông Robert Hall là “case offfcer” của CIA, bây giờ ông Robert Hall lại tự giới thiệu là thiếu tá Không Quân? Tôi sẽ tìm cách để hiểu rõ ông hơn.
Sáng hôm sau, chúng tôi lại gặp nhau để tôi nói hết về gia đình tôi. Đến 12 giờ trưa thì ông đã rành về gia đình tôi hơn cả những người quen biết chúng tôi từ mấy chục năm nầy. Tôi cho ông biết về đời sống của ba tôi. Ông làm nghề dạy học, nhưng bí mật hoạt động chống Pháp, nên bị Tây đày ra Côn Đảo. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông đi thẳng vô bưng, rồi trở thành tỉnh uỷ Cần Thơ. Anh vợ, em vợ của ông đều là đồng chí của ông. Sau đó tất cả cùng đi tập kết ra Bắc. Mãi mới đây tôi mới biết ông làm đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Moscow. Tôi cũng cho ông Hall biết những ai là bạn chí thân, là đồng chí của ba tôi, gồm các “chú”, các “bác”: Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Lê Đức Mai… và nhiều người khác nữa. Tôi nói nhanh khiến ông viết không kịp, nhưng tôi cứ tiếp tục nói. Tôi tưởng chỉ nói qua một lần là đủ, không ngờ ngày kế tiếp ông hỏi tôi nhiều câu ông đã từng hỏi hôm trước. Trí nhớ của ông thua tôi hay ông là cái máy dò sự thật? Dù sao tôi cũng không ngại, vì những điều tôi kể đều là sự thật. Chuyện gì không muốn cho CIA biết, tôi không nói ra. Tôi không dại gì mà nói không thật với những người nầy.
Tôi không muốn má tôi biết có sự đổi chác với CIA để má và hai em tôi được thoát khỏi Sài Gòn, nên mấy ngày gặp ông Hall, tôi đưa má và hai em tôi sang nhà chị Cương ở Pearl City, để má và chị Cương tâm tình với nhau.
Sau nhiều ngày nói chuyện với ông Hall, tôi như cuốn sách để ông lật trang nào cũng tìm thấy sự thật thà của một người không có kinh nghiệm đương đầu với CIA. Tôi chỉ biết ông có vợ và hai con, một gái, một trai. Ông là một trong những nhân viên CIA từng hoạt động tại Lào, Việt Nam và Cao Miên. Chúng tôi không còn khách sáo nữa, mà gọi nhau là Rob và Dung.
Cuối cùng, tôi cho Rob biết một điều quan trọng, mà ông không hỏi tới trong những buổi phỏng vấn: tôi hãnh diện làm con của một nhà cách mạng chống Pháp, nhưng tôi là người Việt Nam yêu nước, chưa bao giờ nối giáo cho giặc cộng sản hay Việt cộng, và cũng sẽ không bao giờ phản bội dân tộc hay đất nước của tôi. Tôi cũng cho ông biết, tôi mang ơn CIA suốt đời, vì họ đã cứu má và em tôi. Nhưng cũng không vì vậy mà tôi sẽ làm một điều gì có hại đến ba tôi và anh tôi. Ngoài ra, nếu làm gì hại cho cộng sản để cứu người dân Việt Nam, tôi sẵn sàng phục vụ cho CIA, đến khi nào họ không cần tôi nữa. Rob hứa là ông sẽ giữ liên lạc; khi nào cần sẽ cho tôi biết. Ông cũng dặn tôi phải chuẩn bị sẵn sàng để có dịp thuận tiện bay tới Washington, D.C. dự một lớp “huấn luyện”. Nhưng, qua mấy ngày họp với Rob, tôi biết một điều: lời hứa vội vàng với trung tướng Gaylor trong những ngày hấp hối của Sài Gòn đã như một định mệnh; chỉ trời mới thay đổi được hướng đi nầy.
Chuyện tôi sắp kể có thể có bạn không tin. Viết truyện, tôi luôn hư cấu thêm mắm nêm muối nhưng lần này thì không, nói theo kiểu người còn ở trong nước rằng thì là “hơi bị vô tư”. Chuyện gì thế? Ô, chuyện về một con mèo. Động vật bốn chân hẳn hoi chớ không phải mèo hai chân có bí danh “bồ nhí”. Vì sao đàn ông ngoài chuyện thích ăn phở họ còn chùng vụng dại khờ việc mèo mả gà đồng? Lãnh vực này hôm khác sẽ viết riêng một bài dài sau khi đã tra cứu tài liệu do các nhà phân-tâm-lý-học bỏ công thăm dò soạn thảo (cũng nên hội ý với mấy ông bác sĩ thú y chuyên trị về mèo?). Bỏ qua đi nghen, bị đang nói tới mèo bốn chân, về con vật có lắm người chẳng thích nuôi, nghe meo meo tưởng nó trù yểm cho mình nghèo suốt kiếp.
Tôi nhớ lại thời tiểu học, giờ tập làm văn từng cắn bút trước cái đầu đề cô ra: “Em hãy tả về một con thú cưng đang nuôi và trình bày những cảm nhận về nó”. Nhà tôi dạo đó nuôi tới hai con, một chó một mèo. Tôi thấy con nào cũng đáng nói cả, về tính tốt cũng như thói hư tật xấu và vì vậy bài luận văn của tôi bị cô phê mực đỏ: “Luộm thuộm, dài dòng, lạc đề. Chọn một trong hai con thôi chớ!”. Tuy không ăn hột vịt nhưng điểm thấp, gần đội sổ. Tấm bé đã học được kinh nghiệm là chớ nên thương yêu bao đồng, mai sau có vợ bên lưng thì đừng mơ mòng tới bồ nhí nghe cưng! Thuở nhỏ tôi học rất dở, không cứ là luận văn, môn toán đố cũng chẳng mấy khi được chia tay giã từ zéro, thầy quen tên và quen tay cứ cho “hắn” số không miết. Một lần thầy dạy toán chỉ mặt tôi: Bây giờ tôi cho em hai con mèo, thêm hai con rồi cho tiếp hai con. Như vậy tổng cọng em có được mấy con mèo? Tôi đáp: Bảy. Thầy lắc đầu: Này, hãy nghe lại cho rõ nhé, lần đầu cho hai con lần sau thêm hai lần cuối cho tiếp hai, cả thảy được mấy con? Tôi nói: Bảy. Lại lắc đầu, mặt nhăn nhó. Thôi thì thế này, bây giờ tôi cho em hai viên bi cho thêm hai viên rồi thêm hai viên nữa. Em có mấy viên bi? Sáu. Giỏi. Vì sao bi lại đáp đúng mà mèo thì tính sai. Răng trò cứ đòi nhét thêm một con vô rứa ? Thưa thầy, tại em có sẵn một con ở nhà…
Con mèo, nhân vật chính trong chuyện kể sau đây mang tên Katy. Không phải là con mèo tam thể thời xa xưa đã chết mất đất. Bất đắc dĩ tôi nuôi nó, chẳng đặng đừng do bởi bạn dọn nhà đi xa, vợ chồng hắn có tới ba con mèo nheo nhóc bèn vất bớt cho tôi một con kèm mấy chữ “giữ làm kỷ niệm”. Ở đời bộ hết cái giữ làm kỷ niệm rồi sao tía má? Vợ chồng nhà ngươi thật là không biết chơi chữ! Thấy tôi chẳng phản ứng gì, bạn bồi tiếp: Vì mỗi lần mày ghé tao, trong ba con thì Katy luôn tìm cách lân la cọ quẹt vào người mày. Katy cũng từng dạn dĩ nhảy vào lòng mày, mắt lim dim, nhớ không? May mà chữ duyên số hắn không dùng tới trong trường hợp này. Hắn vốn rất đào hoa, có nhiều người tình, hắn kể với bộ mặt tự cao tự đại rồi kết luận: Cuối cùng lấy bà này làm vợ thì rõ là do duyên số sắp đặt.
Bạn có tin tôi nhận nuôi con Katy là do duyên số xúi không? Đi làm cả ngày, đóng cửa cài then nhốt giữ con vật nội bất xuất ngoại bất nhập nằm im re trong nhà, nghĩ cũng áy náy. Nhưng tình ngay mèo là con thú lười biếng không có tính năng động như chó nên lương tâm “ông chủ” tạm nguôi ngoai, thôi bị gặm nhắm vào hai chữ ác ôn. Có mặt hay vắng bóng mình thì nó đâu quan hoài tới. Ngoài chuyện “như mèo dấu cứt” giống nòi nó cũng thuộc hạng kín tiếng rất mực, chỉ kiệm lời meo meo chừng như muốn diễn đạt: Đói bụng rồi đây này, kíp bày thức ăn ra ngay.
Thiết nghĩ bài luận văn hôm nay đã khá dài phần nhập đề, sợ luộm thuộm lạc đề tôi xin được vào phần thân bài (kẻo bị cô la ngựa quen đường cũ). Hôm đó, chẳng phải một sớm sương thu đầy gió lạnh. Bữa nọ, trời chiều nhá nhem tôi vác xác nhừ tử từ hãng xưởng về nhà thấy có đôi ba ánh đèn chớp đỏ bắt trên trần xe đậu ngay trước chung cư nơi tôi thuê ngụ. Bà Yarek người Ba Lan mướn căn sát nách đang đứng ngoài sân hóng tin, thấy tôi liền thông báo cớ sự bằng thứ tiếng ấp úng khó hiểu thường lệ của bà, chưa vô thân bài thì một ông cảnh sát bất thần đứng chen vai: Phải ông Trần không? Ở căn số 12? Ông nói thêm một câu, có thể suy đoán diễn dịch: Còn ai trồng khoai đất này! Tôi hơi tái mặt, cố giữ bình thản: Chuyện gì đã xẩy ra? Vị cảnh sát sửa lại thắt lưng quần mang lắm “đồ nghề” bằng sắt thép dễ làm giảm thọ chúng sinh: Tôi có dọ hỏi những người sống quanh nhưng tôi muốn chính ông trả lời, bởi vì những kẻ độc thân không hẳn kẻ đó chỉ côi cút mình ên. Hiện tại ông đang sống với ai? Tôi thưa: Thông tin mà ông thâu nhặt quả chính xác. Bộ đồng phục khó ưa của ông ta làm tôi mất hứng, nếu không chắc tôi đã hát thể điệu boléro: Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không xong… Lạ nhỉ? Thế thì ông vắng nhà lúc mấy giờ? Dạ thưa tôi làm công nhân bảy giờ ra khỏi nhà năm giờ trở lại chốn phát xuất, bốn mươi hai tiếng một tuần từ thứ hai đến thứ sáu, mười năm nay chưa một ngày cáo ốm, quay như vụ. Người bạn dân cười toe. Hẳn là được trao bằng cấp Công Nhân Gương Mẫu có lộng kiếng? Lạ thật. Chắc tớ phải theo ông vào nhà thử xem sao? Tôi moi trong túi quần ra xâu chìa khoá: Nãy giờ quý vị vẫn chưa cho tôi hay chuyện gì đã xảy ra. Ồ, là thế này, khoảng tiếng trước có người gọi số 911 mà chẳng thông báo việc khẩn cấp, hỏi gì cũng mần thinh. Theo đường truyền chúng tôi dò ra địa chỉ ông là nơi phát xuất cuộc gọi. Sống đây mười năm ông từng gặp ma chưa, ông Trần?
Tôi mở hai ổ khoá gắn ở cửa phòng, bấy giờ có thêm ba người cảnh sát vũ khí tận răng e dè bước theo tôi. Điện thoại tôi đặt trên bàn viết nằm ngoài phòng khách nên mở cửa, đi dăm bước là tới nơi. Điện thoại tôi thuê ở công ty Bell, lựa thứ rẻ tiền nên kiểu dáng không mới chẳng cũ và hiện tại ống liên hợp đã rời ra khỏi vị trí ngơi nghỉ, nằm ngửa thân trên bàn, rõ là có kẻ đã mó tay, đã “nai oan oan” oan ôi ông địa. Theo phản ứng, có hai vị cảnh sát đã rút súng ra khỏi bao. Tôi nhìn quanh, đồ vật y nguyên không có dấu tích của đạo chích vào lục soạn. Mà giả như có trộm cướp vào, chúng đời nào buồn tay nghịch tới cái điện thoại rồi vất lăn vất lóc ra đó. Có là điên mới lạy ông tui ở bụi này!
Một vị cảnh sát đã lẻn lui sau bếp, nói vọng ra: Ủa, một con mèo! Nó vào từ lối nào nhỉ? Ồ, mèo tôi nuôi mà, nó tên Katy. Ố là la, sao hồi nãy lại bảo là sống côi cút mình ên. Ủa, tôi tưởng là chim cá mèo mình nuôi làm cảnh thì không cần phải khai báo. Theo đúng với nghiệp vụ, họ đi dòm ngó loanh quanh kiểu vạch lá tìm sâu. Ngoài con mèo này ra, ông còn nuôi con gì khác? Nuôi chỉ mình nó thôi ạ. Katy khoan thai đi tới cạ mặt vào ống quần, nó nhìn lên tôi bằng đôi mắt xanh vô cảm như thông lệ. Đuôi vất qua vất lại như phủi bụi từ vết giày mấy ngài bạn dân mang từ cõi bất an vào tới chốn yên hàn cô quạnh. Mất khoảng hai chục phút hội ý với nhau, ba ông cảnh sát đi tới kết luận: Katy là thủ phạm. Còn chuyện do đâu nó chọn ba số “chết người” kia để nghịch chân thì tạm bỏ qua, hạ hồi phân giải. Vị cảnh sát từng hỏi “mười năm đã gặp ma chưa?” nhìn tôi lần chót, nói thế lời chia tay: Vợ tôi có nuôi con két biết giả giọng tôi, ngày nào cũng anh yêu em, mình vui vẻ chút xíu… Toàn một lũ yêu tinh… Vặn cổ thì sợ xúc phạm tới hội bảo vệ thú vật. Đề nghị ông máng cái điện thoại vào vách tường, cẩn tắc vô lôi thôi.
Tối đó, người cũng như thú ăn uống xong, tôi làm màn phỏng vấn bỏ túi với Katy: Mày có bất mãn điều chi trong cuộc sống? Mày dùng tới điện thoại để trình bày nỗi oan ức? Chủ cũ của mày điện thoại dài tới mười số nên mày nhác bấm? Katy nằm trên sofa nghe tôi độc thoại. Ừ, tao hiểu niềm cô đơn mày đang gánh chịu, giá mà trong chung cư này có chuột nhỉ. Chẳng biết khi ấy mày có vui không? Tha hồ canh me rượt đuổi, vận động cho khỏi bị cholesterol. Người ta biểu tao bắt điện thoại chỗ cao để mày thôi nghịch phá nhưng tao cho đó là hạ sách. Tao cứ giữ nguyên trạng, như vậy nhỡ bất tử tao có bị nhồi máu cơ tim thì mày nhớ bấm số 911 giúp tao nha.
Đang tính bồng Katy tới bàn đặt nó xuống sát bên điện thoại thử xem nó biểu diễn trò thủ thuật thì có tiếng gõ cửa. Bà Yarek ở bên căn số 11 hiện ra, vẫn trang phục y như hồi chiều và hình như bà thích mặc bộ đồ ấy. Cái váy rộng chẳng lấy gì làm mới, có thể kỷ niệm đáng nhớ bà mang từ Ba Lan sang, trên là chiếc áo khoác bằng vải thô in nhiều bông hoa đã bạc màu. Ông Trần, đã dùng bữa tối chưa? Sẵn nấu nhiều nên mang cho ông món đậu hầm sườn heo đây, chứa rất lắm chất đạm bổ khoẻ. Tôi mời bà vào, đón nhận cái bát còn ấm trên tay bà, mang thẳng ra sau bếp. Bà uống trà nhé? Khỏi, tao sang để hỏi cho biết chuyện gì đã xảy tới. Bà Yarek, gần năm chục tuổi, ở với đứa con gái chưa chồng mặc dù cô ta đã ngoài ba mươi. Hình như người Ba Lan chẳng biết câu “tam thập nhi lập” và họ cũng bỏ ngoài tai thành ngữ “đợi nước đến chân mới nhảy”. Chẳng nghe họ than thở nói bóng nói gió về cuộc sống thiếu mặt mũi đàn ông con trai của họ. Hai mẹ con rất ham chuộng món chả giò cuốn nhân thịt bằm với cua tôm tôi tự làm lấy. Họ nhắc cho tôi hay là trước đây nước họ và Việt Nam sau 75 cùng nằm trong khối anh em vô sản với nhau, rất mực gắn bó. Tôi ngó người con của bà Yarek, bây giờ tất cả đều bỏ của chạy lấy người, lưu lạc chốn lạ khi không mà ở sát vách nhau, hoàn cảnh xem ra vẫn còn gắn bó nhỉ? Họ cười tít mắt rồi xơi thêm cuốn chả giò khác sau khi dùng xà-lách bọc quanh bên ngoài cho đỡ phỏng tay. Ngấu nghiến, tợp bia, đưa cay rồi như chạnh lòng hỏi tới gia cảnh tôi, bạn muốn thử thách điều gì mà cứ mãi lui cui ngoài hãng xưởng rồi loay hoay trong xó bếp. Hai mẹ con như này còn buồn chết đi được, chúa ngó xuống ông cũng mủi lòng chẳng biết nói năng, gạt lệ thua buồn. Tôi đùa với hai mẹ con: Hỡi những kẻ bị cô đơn áp bức hãy đoàn kết lại!
Ba Lan gắn bó với Việt Nam ra sao tôi chẳng màng quan tâm, toàn một lũ đói kém chật vật cả, nhưng tình ngay dạo xấc bấc xang bang xưa cũ đó phim ảnh của Ba Lan cũng như Tiệp Khắc là vượt trội hơn hẳn mấy chú bác cô dì trong họ hàng cộng sản nghèo khổ. Cũng tình yêu gái trai da diết chứ không gân cổ nguyện chết cho chế độ. Hy sinh kiểu lãng mạn tiểu tư sản còn biết cởi áo này quần nọ, có đâu đồng phục tinh tươm đậy đệm chỉnh chu ôm chân lãnh tụ mà đang sống chuyển qua từ trần, trăng treo trên đầu súng AK 47.
Bát súp bổ khoẻ mà bà Yarek biếu tôi đặt trên bàn ăn, chưa kịp thưởng thức mặn ngọt thì Katy đã tiên hạ thủ vi cường, thọc chân vào bới móc nhắm sườn non mà rỉa thịt. Ngày mai mang bát đi trả phải sáng tác ra bài luận văn phát biểu cảm tưởng: Ngon cách chi, ăn vào không mập bề dài cũng nở bề ngang. Cảm ơn Yarek, mong tình hữu nghị song phương đời đời bền vững, bà đừng hở môi để khiến cho răng tôi lạnh nhé. Tôi có thuật chuyện nàng mèo Katy biết nhấn số điện thoại mà mặn duy ba số 911 ác ôn. Mặt bà Yarek tỉnh khô, không thèm bảo rằng ở cuộc đời này điều gì cũng có thể xẩy ra sá gì chuyện mèo vờn điện thoại. Có gợn lòng chăng là sợ nó buồn tình lại tái diễn trò cũ thôi. Sẵn ngồi không, bà kể truyện ngày xửa ngày xưa: Vợ một tay bạo chúa nọ muốn tìm trò tiêu khiển, biểu người chồng hôn quân chất củi nổi lửa rậm rật đốt chơi. Mấy nước nhỏ lân cận thấy sáng một góc trời tưởng hoàng thành nguy biến liền mang quân đến cứu. Bé cái lầm, người ta đang bày trò giải trí mà mấy chú, thật là mất hứng. Tháng sau thì một nhóm quan võ khởi nghĩa vào thành đốt trụi kho lương thực, lửa hừng hực sáng tỏ suốt năm canh. Chòm xóm láng giềng ngó thấy, nhớ lại trò đùa cũ nên mặc tình án binh bất động, bình thân như vại. Lần trước đã quê một cục rồi, ai hơi đâu mắc cỡ tới hai cục… Yarek kết luận, ví dụ mà mèo gọi 911 lần nữa thì cảnh sát cứu thương cứu hoả chẳng chộn rộn hú còi chạy quàng xiên tới đây đâu. Đó là luận việc theo kiểu tình hình bên quê tao, xuất quân không chính đáng kiểu đó thậm tốn kém công sức tiền bạc.
Một buổi tối, tôi vừa tắm rửa tẩy trần xong, đợi tóc khô sẽ đi ngơi thì nghe tiếng gõ cửa. Phải thính tai mới đón nhận vì thật sự tiếng động ấy tựa như mèo cào. Nếu người đứng ngoài là bà Yarek thì âm thanh phát ra phải thô bạo hơn bởi bà quen ăn to nói lớn. Tôi nhìn đồng hồ rồi đảo mắt tới cái futon, Katy vừa ngóc đầu lên, dóng đôi tai và đuôi ve vẩy. Tôi mở cửa, cô Katherine, con gái bà Yarek lách thân vào còn nhanh hơn loài mèo. Ngoài mùi nước hoa vướng đâu đó trên thân, Katherine còn mang vào phòng chút nồng độ cồn thường hừng hực nằm trong trong dung dịch rượu bia. Cô làm ca đêm trong một xí nghiệp sản xuất đồ lót phụ nữ cao cấp không thua công ty Victoria Secret, phải 12 giờ nửa khuya về sáng mới tan ca. Katherine nói vừa đủ nghe: Tôi vừa bị chúng nó sa thải, tôi chẳng muốn làm mẹ tôi lo âu. Tôi ngồi đây tới 1 AM có được không? Như kiểu vừa xong công việc đồng thời để bay bớt mùi rượu. Đâu có phiền hà nhỉ? Làm ơn khuấy cho tôi ly nước chanh. Mắc đái quá. Cô cởi áo khoác, ném cùng lần với cái túi xách lên futon khiến Katy đang nằm phải giật thót người phản ứng: Meo… eo…eo.
Hình như tôi đã say rượu. Cô ta nói khi đón lấy ly nước chanh đường. Ôi, trên cả tuyệt vời, hình như ngoài món chả giò ra thứ gì anh làm cũng ngon lành cả. Say rượu? Tôi không có kinh nghiệm về nó vì tôi rất ghét những đứa ôm cột điện mà gục đầu nôn mửa, miệng luôn lải nhải, áo quần xộc xệch. Katherine không nôn mửa vì Vodka nhưng cô đang lải nhải, đang xiêm y chễnh mảng và đang ôm cứng người tôi. Cô điều khiển tôi như đôi tình nhân đang dìu nhau trong điệu khiêu vũ bấn loạn rồi bất thần ngã người xuống futon. Katy chắc bất mãn vì đột ngột bị lấn đất dành dân, nó gào lên thứ tiếng sắc lạnh chưa từng có. Hãy gắn bó, hãy vỗ về tôi hỡi đồng chí mến yêu. Katherine nói như trong cơn mê sảng, đầu tóc màu hung đỏ đặc thù của cô rối bung khiến tôi ngạt thở. Tôi nhớ lời ông bà mình thường nói: Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Đồng thời cũng nhớ về tác phẩm nổi tiếng ở một đất nước xa xôi: Ba Lan mùa tuyết tan.
Nếu tôi kết thúc bài luận văn ngang đây chắc rằng thầy cô sẽ cho tôi ăn hột vịt? Vậy thì xin dọn lòng thòng thêm cái đoạn cuối cho ra đầu Ngô mình Sở: Hai hôm sau tôi điện thoại vô chỗ làm xin nghỉ, thành khẩn báo cáo: Nóng sốt phải đi gặp bác sĩ. Ông ấy người đồng hương, luôn mở đầu bằng lời cảnh báo là hạn chế việc ăn phở, có lắm chất béo, phải tìm cách vận động cơ thể, biết chơi quần vợt bóng bàn gì không? Cởi áo ra để nghe nhịp tim đập và đo huyết áp… Ố là la, sao cái lưng của cậu… Tôi cúi đầu lặng câm, có cho tiền tôi cũng không kể chuyện làm tình gay cấn với cô bạn láng giềng ngàn năm một thuở… Lạ thật! Này, cậu có ngủ với mèo à?
Như đa số các cô gái khác, bàn tay Katherine cũng có để móng dài và tô sơn hồng. Cô ôm tôi, để biểu cảm niềm hạnh phúc cô cũng bấu víu cào cấu các thứ nhưng… Tôi nói thật đấy, nhà cậu nuôi bao nhiêu con mèo cả thảy? 2+2+2=7 là bài toán vỡ lòng… Dấu vết để lại trên lưng là do mèo cào, tấy sưng và đang nhiễm trùng. Tôi ghi cho cậu đơn thuốc trụ sinh đi kèm với loại kem thoa ngoài da. Cậu làm gì để khiến mèo nó ghét đến nhường ấy? Mèo cái phải không? Nát nhừ cả lưng. Cơ khổ!
Nem moi bọc áo lấy tờ 5000 trao tay Chả: Có đàn đúm cà phê cà pháo xong thì nhớ tạt ngang chợ mua tui bó rau. Chả gật đầu: Ô kê. Nem nhìn trời: Mưa nắng chi cũng đi cà phê, răng lạ quá! Ở nhà mua đủ hai ba hủ lớn bé có cả mà không chịu uống, rõ là ngứa cái chân cứ kiếm cớ chạy rong. Nem bình phẩm, lời chua như thông lệ. Chả dắt xe máy ra: Thằng Tư vắng mặt hai hôm bị chúng mắng đồ nhác gan sợ vợ. Tui thương bà, chẳng ưa bị chúng coi thường, có thông cảm không? Chả đội nón bảo hiểm, mưa lộp độp ngoài vành tai khoả lấp lời mà Nem đang nhóp nhép miệng. Có nghe rõ không? Ừ, đã nghe rõ.
Tụ điểm là quán “Tình Xa” nằm nhô thân cheo leo bên khúc sông mà con nước dật dờ bên dưới nông cạn tuỳ mùa. Quen biết cả, chủ quán vẫn chịu chơi đôi khi cho ký sổ, chẳng lấy đó làm điều; mà nói cho ngay đám khách này chưa từng chạy làng, không phải hạng mặt trân mày tráo giả điếc giả câm. Gì chớ bọn họ cũng vui thú sốt sắng khi nghe cậy nhờ, chạy u đi mua đường sữa nếu quán thiếu hụt đột xuất. Bà Sương từng thỏ thẻ: Rất tâm tư mấy anh, ấn tượng lắm tình bang giao đề huề giữa khách chủ.
Khi Chả đun xe vô sân xi măng có đôi ba chậu tường vi đang úng thuỷ thì đã đủ mặt các chiến hữu tụ bầy. Tới lâu chưa? Bọn này mới đến cả, ngồi chưa ấm đít. Cà phê sữa nóng và năm cái mồm cùng đốt thuốc, khói dày đặc loãng chậm khiến không khí chừng bớt lạnh. Có người tức cảnh sinh tình rung đùi trên ghế mang thơ Nguyễn Bính ra đọc thầm:
“Giời mưa ở Huế sao buồn thế Cứ kéo dài ra đến mấy ngày ……. Đò vắng khách chơi nằm bát úp Thu về lại giở gió heo may…”
Bà Sương mang thêm bình thuỷ nước sôi đặt giữa bàn, trao thông tin: Con Chanh hôm qua bị kêu ra uỷ ban làm việc, nó than bức vách có lỗ tai hay răng mà làm ăn vén khéo cách mấy cũng bị lộ hàng, chán mới gớm! Chanh mô? Chanh “mỏi một hang” chứ Chanh mô nữa. Còn ai trồng khoai đất này! Bà chủ quán ngó quanh: Vì cớ làm răng mà mấy anh lại áp đặt cho nó ba chữ ác ôn nớ? Ông vừa đọc thơ Nguyễn Bính đáp: Chị Sương ơi, bọn ni có cảm tình với Chanh mới cho cô ấy nép mình trong thơ Bùi Giáng chứ dễ dầu gì:
“Em đi bên ấy chân tròn khép Hai ống mơ hồ mỏi một hang.”
Có an toàn không? Chanh có nói thêm chi khác? Bà Sương hạ giọng: Chừ có “đi” thì em phải mang thân sang địa bàn khác. Cẩn tắc vô áy náy. Nó tâm sự như rứa. Cạy mặt chỗ ni, bụt nhà không thiêng. Có hai mươi tuổi đời mà đã mọc bốn năm sợi tóc bạc, lo âu suy nghĩ lao lung quá! Ấy là bởi Chanh nó có nhan sắc đâm rậm rật, chớ con Lan con Bưởi cứ bình chân như vại lai rai ba sợi có chết thằng Tây nào đâu.
Chả ngồi ôn nhớ từng bóng hình. Con Lan trắng da dài tóc chỉ phải cái tội mình hạc xương mai. Bưởi tuy đen đúa cốt cách nông dân nhưng vóc vạc ngồn ngộn vừa vặn một vòng tay ôm. Lan còn biết nhắm mắt ngậm miệng chứ Bưởi rèm mi chẳng đóng mà miệng thì sung chuyện hát cải lương. Lạ, xuống sáu câu cũng tuỳ thời điểm, tuỳ hoàn cảnh. Lu bu muốn tắt quạt dường như Bưởi chưa từng nếm trải qua. Chả chẳng biết em Chanh có ngon cơm không, tính cắc củm dè xẻn tiền tiêu pha để đi thực tế một phen thì giờ đây sự cố vụt hiện. Trong đám chiến hữu có người lưu số Chanh Lan Bưởi vào điện thoại di động nhưng Chả thì không, bởi Nem chúa tò mò buồn tay ưa kiểm soát những tin nhắn, những cuộc gọi. Ăn vụng phải biết chùi sạch mồm, chớ dại trưng chứng cớ. Số con nào đây? Cãi chày cãi cối hả? Tui phôn một cú là rõ trắng đen. Ôi, căng lắm lận! Cực bức xúc! Tam thập lục kế, lạy bà tui ở bụi này rõ là hạ sách, khó du di.
Mưa thưa hạt rồi ngưng hẳn. Tan hàng. Chả chạy xe ghé chợ ngắm hàng rau xanh ngồn ngộn hai hàng đâm thừ người. Móc điện thoại ra: A lô, bà biểu mua rau mà rau gì thì chẳng cho hay. Rau có năm bảy loại rau, gió đưa cây cải về trời rau răm ở lại a hèm bà hổng xơi. Đúng vậy, ông lựa cho tui bó rau muống ngó nõn nà xanh non. Đắt quá thì lựa mồng tơi hoặc hai bó tàng ô. Không ấy, kẹt quá thì mua đại trái bầu cũng đặng. Đầu tôm mà nấu canh bầu, vợ chan rồi húp chồng rầu bỏ cơm. Loay hoay một hồi Chả đến bên gánh hàng một bà cụ không trương tấm biển “Rau Sạch”. Thiệt vàng sợ chi lửa. Đàng sau những quảng cáo thường là nơi ẩn náu của dối gian. Chữ “Cấm Đái” luôn hiện ra giữa phạm vi nồng khai nước tiểu. Một bó cải hoa vàng giá 3K. Đựng trong túi ny-lông, đong đưa móc vào kính chiếu hậu thì bất thần Chả ngó ra Chanh. Rõ là ẻm có đi mần việc với uỷ ban, bình thường ẻm trông linh hoạt hơn nhiều. Í, giỏi ghê nơi! Biết đi chợ mua rau nữa à? Chanh nói. Tuy mang tên ấy mà giọng Chanh nghe ngọt hơn cam. Nếu không bị cơ quan bảo vệ khu phố dằn mặt, có thể thanh quản kia sẽ phun tới từng cục đường phèn. Hạt sen đem nấu đường phèn, chè này nhất định kẻ hèn bó tay. Thanh cao, ngon ngọt, người ít tiền mấy ai đụng tới. Chả tuôn lời chả chớt: Có tính sang địa bàn khác không, anh chở đi. Chi vậy? Để giúp em bớt mỏi một hang. Có ai mỏi hồi nào đâu? Đang muốn mỏi mà chưa kiếm ra thủ phạm đây. Hề hề, leo lên xe ôm này đi. Sao linh như cái miễu vậy không biết. Ngồi cà phê đằng “Tình Xa” vừa nhắc tới em hổm rày không thấy mặt thì bây chừ hiển hiện. Đi, mình sang sông, bên kia cầu có quán “Tình Vắng” chuyên trị Ca-ra-ô-kê. Chanh ngồi vào yên sau, nhích mông ôm sát Chả: Ô kê, tới luôn đi anh. Mình khôn mình tới chốn lao xao.
2. Lạnh như tiền
Cơm nói cùng Phở: Lóng rày con người em nó làm sao ấy, có điều phải quấy nào thì cứ nói thẳng ra cho sáng tỏ đôi đàng. Phở làm thinh, cũng chẳng buồn mặc lại áo quần. Chiều chưa về nhưng nắng thoi thóp ngoài màn cửa, ánh sáng tuy yếu nhưng Cơm nhìn nhận rõ là màu da Phở trắng quá, hơn cả trứng gà bóc. Mái tóc đen đổ dài uốn lượn bên vai trần làm tương phản, đẩy mạnh sắc độ như da biết phát quang. Cơm ngồi mép giường dùng một tay ve vuốt từ vai xuống ngực xuống bụng xuống tận vật cản là cánh tay Phở đang thu cất giữa bắp đùi, sít sao, ẩm thấp. Chị vẫn ao ước có được số đo ba vòng giống em, đừng nói là đàn ông bản thân chị cũng đâm mê mệt vì thể hình, vì làn da, vì những thứ em đang sở hữu. Chiều rồi, chị về nhé. Sao hôm nay em không mấy vui?
Phở nhìn vào khuôn mặt Cơm: Em đang rối lòng, chị tốt với em quá… đồng thời… anh ấy cũng quá sức chu đáo với em… Chị nên cho em một ý kiến. Nghe chị hỏi này, em có yêu anh ấy không? Em cũng muốn hỏi chị, chị có yêu chồng chị không? Chị đã từng biểu lộ sự ghen tuông? Cơm nuốt nước miếng: Ghen chớ, nhưng phải dằn bà hoả xuống, bởi suy đi tính lại chẳng giải quyết được gì, thêm rách việc. Đưa thơm miếng nào. Cơm gục mặt xuống vùng ngực đầy của Phở, nghe được nhịp tim đối tượng bình thản đập, thong dong lên xuống. Chồng chị thích hôn em ở những vùng nào? Phở thôi thu cất hai tay giữa đùi, Phở rướn thân: Ảnh nói, anh mê toàn bộ khu vực của em. Thôi, chị về, muộn rồi. Còn phải ghé chợ mua thức ăn.
Cơm ra khỏi căn hộ mà chồng lén thuê cho tình nhân. Hai tháng trước, Cơm tốn bốn triệu để chi trả cho thám tử tư và nghe lời ổng khuyên: Không có mưu kế nào cực sốc bằng cách tạo cho bọn chúng tin vào một sự yên ổn tuyệt đối. Chỉ có bọn trẻ người non dạ mới quýnh quáng la hoảng lên. Dậm chân dậm cẳng mà làm gì, bù lu bù loa mà làm chi; muốn làm trò cười cho bàng dân thiên hạ à…
Cơm ghé chợ, bỏ băng nhà hàng đặc sản hoành tráng đứng án phía trước để men theo con hẻm sánh đôi ngập đầy bóng tối. Một gã thanh niên mang tạp dề nhờ nhợ màu trắng đục bất thần hiện ra đón đường trao vào tay Cơm cái giỏ đan bằng chiếu lát. Hắn nói, hơi thở nồng mùi thuốc lá: Đủ hàng. Một lít cường toan a-xít đậm đặc nguyên chất và một con dao Thái Lan có thể chẻ sợi tóc làm hai. Trong gói giấy là ba viên thuốc gây mê hiệu quả. Chúc cô thành công. Cơm đưa hắn cái phong bì. Không cần đếm tiền, thoáng cái hắn biến mất tiêu.
Thấy đói bụng, Cơm ghé vào quán bình dân gọi xuất ăn giá 65K. Giờ này chồng Cơm đã tan việc cơ quan, ảnh sẽ ghé đùa nghịch với Phở, tầm 11 giờ thì về nhà. Việc ở cơ quan ngập cả mặt, chán thế! Luôn đầu bù tóc rối với ba cái hợp đồng, chả cho mình một phút giây trống để thư giãn… Thường, ảnh sẽ nói thế và rồi đi nhanh vào phòng tắm. Ảnh sẽ sai vợ mang nước tới khi ảnh ngồi xem ti-vi…
Cơm bắt xe ôm, trước khi đọc địa chỉ nhà, Cơm biểu xe dừng ở một hiệu sách. Cơm đi lại ngăn kệ có ghi dấu chuyên mục hình sự và mua cuốn truyện dịch của Nhật. Mỏng thôi vì Cơm không có đủ thời giờ để ngốn nó. Bìa trình bày rất máu, rất lôi cuốn, rất hợp nhãn.
Và Cơm mở cửa vào nhà quạnh quẽ lúc đồng hồ chỉ số 9.30 PM. Hồi hộp đợi chồng trong bóng tối.
3. Sắc như dao
Môn phái Ngũ Hành có thời hưng thịnh, môn sinh vào ra tấp nập. Có lúc người ta không ưa bọn trau dồi võ thuật, xem là thành phần nguy hiểm, vì thế tan hàng rã đám một sớm một chiều. Tấm bảng gỗ treo thế môn bài võ đường hạ xuống bán cho bọn chuyên mua phế phẩm. Huynh đệ thắt đai trắng cho chí huyền đai nhị đẳng thảy lưu lạc muôn phương, tìm kế sinh nhai, bặt vô âm tín. Thầy đi đường thầy, trò xuống núi theo đường trò, nhường đất dụng võ cho tổ hợp chăn nuôi gia súc. Heo bò gà vịt dồn tới chốn lạ tuồng nghe bất an, thảy róng riết quang quác kêu la suốt năm canh, rót vào tai bọn vô tri cũng gây được chút muộn phiền. Cỏ cây thêm xao xác.
Có năm người tự cao tự đại tự gọi là Ngũ Phong Trấn Sơn. Năm đứa suýt soát tuổi nhau thầm lén sư phụ bày hương đèn giữa sân mà thề nguyền anh em như thủ túc bạn bè như y phục, khắng khít như bóng hình, tâm nguyện sẽ gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ. Cắt máu ăn thề hôm trước, hôm sau vội vắt giò lên cổ tan đàn sẩy nghé trước ngọn thuỷ triều đỏ oan nghiệt không dưng đổ ập lên số phận, chẳng chừa một ai.
Như định luật của bể dâu luôn bày, Ngũ Phong Trấn Sơn vội xoá thứ danh hiệu nông nổi dại khờ kia đi kẻo bị rắc rối hung hiểm đón đầu. Xưa, năm đứa đầu đội trời chân đạp đất; nay thay đổi hình tướng sống cùn mằn làm phận bèo dạt theo sông hồ, bạc lòng xoá câu thề ngày nọ. Tưởng là lời sẽ như đinh đóng cột ai ngờ cột ấy đã rụi theo tro than.
Ngày kia trời chan nắng lửa, giữa thị tại môn tiền náo, có hai kẻ đi ngược chiều đụng mặt nhau, va vấp áo bụi: Hề, quả đất này vốn bé tẻo teo! Hành, Tỏi tay bắt mặt mừng rậm rật dậm chân. Họ là nhị vị trong ngũ huynh đệ keo sơn gắn bó dạo ấy. Hành xem ra sung túc, mặt mày chưa bị gió chướng hành hạ gây phong trần. Tỏi thì gầy đi đôi phần, luôn láo liên chao đảo, chứng thực hắn có tâm trạng bất an, là hạng người ưa lẫn vào đám đông hòng che dấu thân phận. Một thân phận bất chính. Hành nhìn quanh, chú mục về một hàng quán có lồng gương treo lộn đầu bốn năm con chó đằng sau. Từ đó vấn vương làn khói mỏng đẩy đưa dặt dìu mùi thơm xót ruột. Đi, ta nên mượn chỗ mà hàn huyên giải bày bao tâm sự. Hành nói. Và Tỏi chỉ chờ có vậy để giã từ vẻ ủ dột đang mang.
Kéo ghế là động thái của đứa lắm tiền. Xưa nay Tỏi chẳng mấy khi, hắn chỉ ngồi đòn hoặc ngồi trên cục gạch có ở mấy quán cơm bụi mà qua ngày đoạn tháng. Vào nhà hàng đặc sản như này khiến hắn trộm nhìn Hành, đầu óc hiện lên vô vàn dấu hỏi. Xem, tuy không bảnh bao nhưng thuộc dạng ăn trắng mặc trơn, da thịt tươi nhuận, thần sắc rạng ngời. Ngày xưa thì cá mè một lứa mà nay xem chừng đã chia chủng loại, bên lòng tong bên kình ngư thơm thịt. Hành gọi em phục vụ: Trước, hãy mang bia ngoại cùng đĩa thịt cầy cho bọn ta súc miệng, sau hẳn tính tới chuyện tới bến. Dạ thưa quý khách thông cảm, hôm nay bọn cung cấp thịt cầy chưa kịp giỏi chân mang tới ạ. Cả ba cái đầu cùng nhìn về tủ gương. Em phục vụ chợt hiểu: Dạ không ạ, đấy là hàng nhái ạ, toàn cả nhựa tô mầu cả, mượn đầu heo nấu cháo, phô trương thanh thế chứ đéo xơi được ạ!
Em ấy chỉ tay vào vách, màu vôi xanh bị chữ nghĩa sơn đỏ quằn quại bò cùng. Thực đơn từ a tới z đều nằm ở trên đấy cả, chữ to rõ là không làm khó thực khách. Xin mặc tình kén cá chọn canh rồi hẳn gọi. Bia hiệu gì nhỉ? Hành ngó Tỏi. Tỏi lên giọng: Corona thứ extra. Ướp lạnh hay dùng thêm đá ạ? Cả hai. Đợi phục vụ quay lưng, Hành hỏi Tỏi: Bấy lâu làm chi để sống? Tỏi đáp gọn: Lặt vặt, thợ đụng, nghề nghiệp chẳng nhất định, phụ thợ hồ, phụ thiến heo, đi buôn trầm và cũng có lúc làm lâm tặc, giang hồ một nắng hai sương, tiền nhà khó như gió vào nhà trống. Hành moi bọc ra bao thuốc lá thảy xuống bàn sau khi thắp đỏ đầu lửa, thở khói: Võ nghệ có năng luyện? Hay quá trình tu tập đã trôi sông đổ biển? Tỏi đặt tia nhìn vào bàn tay Hành, u nần, chai sạn tựa đôi tay của đứa quen sử dụng Karaté thuần cương đẳng cấp. Tỏi rút một điếu thuốc: Dụng võ phải có nguồn cơn, lực đẩy. Rối mắt với cơm áo gạo tiền khiến nhãng sao, bài quyền căn bản giờ này e chẳng thi triển xong 24 thế liên hoàn. Vả lại giờ đây giang hồ dậy sóng, chúng lập ngôn “nhất đẳng huyền đai không bằng dao phay chém lén”, võ học sơ sài như tôi nói ra thêm hổ thẹn!
Bia mang tới bàn, vàng lườm sủi bọt. Thứ màu dễ khiến người uống lên cơn: “Không say không về”. Và khi lỡ say, kẻ ấy luôn phạm lỗi lầm: Thiếu ngân lượng để chi trả. Gầm gừ, lửa bốc dễ sinh đột biến, vì vậy đa phần quán nhậu đều phải thuê bảo vệ. Hành nói: Tôi lấy làm tiếc cho ông, muốn giúp hiền hữu để ký cái hợp đồng mần ăn e phải rút lại. Anh em còn lại trong năm chúng ta ai còn ai mất? Tỏi ực một hơi bia, bọt trắng lấm lem hàm râu xám: Hôm nay tôi lang bạt tới phương này vì nghe đồn thằng Ớt có phô trương thanh thế chốn đây. Vậy có phải ông cũng hay tin muốn nhìn lại mặt huynh đệ cũ? Không, tôi đến chỉ để kiếm cơm, vừa ký xong hợp đồng thích hợp. Tỏi đăm chiêu: Làm việc gì mà phải tuyển kẻ biết võ công? Hành trạc ngực áo lộ hình xăm trổ rồng cọp giao tranh, trông da thịt nát nhừ ấy, kẻ đối mặt e phải kính nể đôi phần chả dám nhìn đểu. Giời nóng quá nhỉ, thứ khí hậu dễ kích hoả lòng người. Hành than. Than là than vậy thôi, chừng mượn cớ nọ để khoe khoang đẳng cấp. Tỏi cũng thuộc hạng “thiệt vàng chẳng sợ lửa” có điều Tỏi xăm ở bụng vỏn vẹn một hàng chữ: Hận Đời Đen Bạc. Bốn chữ nầy thì thời nào ngẫm ra cũng không lạc hậu, huống chi đang ở vào đời xã hội chủ nghĩa.
Cả hai đã lựa xong món ăn, thực đơn bình dân cốt lấy no bụng là chính. Sức vóc cỡ Hành Tỏi ngốn xong ngần ấy cũng tạm coi như chỉ dằn bụng thôi, dở ngon chưa bàn tới. Lai rai ba sợi, chén tạc chén thù cũng chưa phải lúc. Thực tâm, tôi đang muốn dò la một việc làm để mong ổn định. Tỏi nói, ông cứ cho hay về hợp đồng mà ông vừa ký, xem thằng Tỏi này liệu sức có kham nổi chăng? Hành lấy tăm xỉa răng, dùng bia mà súc miệng, xong nuốt ực: Khu vực này luôn là tụ điểm phát xuất của bọn người chuyên đi biểu tình, nhiệm vụ trên giao cho chúng tôi là đàn áp chúng không khoan nhượng, hỏi ông võ học còn giữ mấy phần hoả hầu là vậy. Cận chiến, xáp lá cà, vật ngã, gạt chân, khoá tay, trói ké, dụt vào thùng xe. Khó xơi chứ không đùa đâu nhé, nhắm chơi được chăng. Họ phát cho ông một bộ y phục khó đụng hàng kể cả còng số 8. Mẹ nó chớ, có khi mà hét ra lửa chứ không vừa!
Tỏi ngó Hành, giả bộ vô cảm chứ đa phần thất vọng. Ngày xưa sư phụ từng khuyên lơn, chúng ta học võ trước là để rèn luyện bản thân, sau là giúp kẻ chân yếu tay mềm bị áp bức. Hôm nay thằng Hành ngồi đó xem chừng đã phá bỏ bài học nhập môn, danh môn chính phái không theo lại mù quáng chạy theo bọn bàng môn tả đạo. Ta không đứng vào hàng ngũ kẻ đi đòi quyền sống thì thôi, cớ sao lại chúi đầu đi theo bọn cường hào ác bá? Tỏi tính mở miệng nói ra cảm nhận nhưng cố nén, dầu gì hắn cũng là người sẽ moi tiền lận lưng ra mà chi trả bữa ăn này. Hành ngoắc cô phục vụ lại bàn. Đứa con gái ăn vận có hơi thông thoáng mát mẻ nhanh chân bước tới, tay cầm tờ hoá đơn thanh toán trao tay Hành.
Hành la lớn: Địt mẹ tao nào đã say. Thanh Đồ Long đao của em dấu nơi nao mà tao chẳng thấy? Giỏi, em chặt đầu tao luôn đi! Cô phục vụ lui nửa bước chân chừng đang thủ thế dù người chẳng xuống trung bình tấn. Cô chưa yên thân đã hứng chịu bàn tay Hành đưa tới điểm trúng vú. Cô la oái, vội tẩu vi thượng sách. Vừa chạy vừa moi di động nhét chật sau quần bò ôm lấy mông tròn. Địt mẹ cứ hét giá trên trời thế có chó mới vào xơi. Tao giả một triệu rưỡi thôi nhé, bận sau tính nốt. Tiếng Hành rượt đuổi sau lưng em phục vụ chân dài.
Tấm màn nhựa từ nhà bếp thông với tiền sảnh lay động, thoắt cái có bóng người hiện tới sát bên Hành. Tỏi nhìn ra ngay chiêu thức quen thuộc mà kẻ ấy vừa thi triển, đồ chừng tên gọi nó là Cầm Ưng Soán Khuyển. Đường quyền ấy vung lên, chí ít phải huyền đai mới tựu thành, nhoáng cái đã thấy Hành nhăn nhó mặt mày, trán đẫm mồ hôi. Đâu phải dân ngoại đạo, nhanh không kém, tay Hành đã nắm được chiếc đũa tre thế món hoành đao đáp trả kẻ xuất thủ đường đột. Một tiếng la thảm vang lên, chiếc đũa thay vì ghim vào đối phương lại trở ngược cắm vào bên eo Hành. Đừng vội rút nó ra, máu sẽ đổ tràn ra đấy. Kẻ ấy nói, bốn năm làm bảo vệ ta chưa từng sơ xuất, ăn quỵt chạy làng thì buộc phải để lại chút gì thế hiện kim, ấy là nguyên tắc.
Giọng nói và khẩu khí nọ nghe quen, định thần ngó chăm, Tỏi reo lên: Ủa, Ớt đó ư? Ớt nhìn Tỏi xong lại chú mục tới Hành: Cớ sao giờ này ra nông nỗi thế này, đã từng theo thầy học võ ai lại đi làm việc bất chính. Ớt này ra tay như vậy e có nhẹ chăng? Ông có bao nhiêu tiền thì cứ moi ra, thiếu ta sẽ bù đắp, riêng việc dùng cầm nã thủ mà bóp vú người ta thì buộc ông phải xin lỗi. Lệ à, xong rồi em, ra đây mà nhận lấy một lời niệm tình thứ tha. Cô phục vụ tên Lệ sắc diện đã thôi xanh xao, cô nhìn nạn nhân nhăn nhó dù phút trước mãi hạnh hoẹ dở chiêu đồi truỵ. Lệ nhớ sực ra điều chi, đang đi cô đứng yên moi điện thoại di động ra. Màn hình thắp sáng một khuôn mặt, cô dí nó gần Ớt cho tỏ tường, không quên thuyết minh: Ông nội này chủ nhật tuần trước hăm hở đi phá mấy bà bán hàng rong quanh chợ, đây là tang chứng vật chứng.
Ớt hỏi Tỏi: Ông tính sao? Tỏi đáp: Tha cho nó đi, nên nghĩ lại chút tình xưa nghĩa cũ. Bản thân tôi đói mốc meo nhưng dù gì còn giữ chút đạo đức, bữa cơm này tôi lỡ ăn vào thì hãy để tôi lui sau nhặt rau rửa chén để xoá nợ. Phàm đã học võ thì nên khắc ghi câu ơn đền oán trả. Ớt vỗ vai: Nói vậy nghe hợp bụng ta, có mỏi chân giang hồ tìm nơi quy ẩn thì Ớt này rộng bụng mà chỉ bày chốn trú thân. Tỏi cúi đầu, chúng ta trước hội đủ năm thằng như bàn tay năm ngón. Bàn tay thì có ngón ngắn ngón dài, biết làm sao đặng. Hành à, sao không vội bắt xe ôm mà tìm nơi sơ cứu vết thương. Đổ máu hôm nay biết đâu giúp ông lai tỉnh. Cậy vũ lực ông đã khiến dân oan đổ máu bao lần?
Ớt quay đầu nói với Lệ: Em kíp mang ra cho bọn ta hai ly cà phê sữa đá. Mấy chục năm rồi giờ mới được ngồi gần hiền hữu đây. Lệ sửa lại xiêm y: Mấy anh thiệt kỳ khôi! Chuyện gì? Đời này thiếu gì tên nghe oách, nghe chảnh, sao cứ đè Hành Tỏi Ớt mà chơi, chớ sửa tên em là Nước Mắm nghe hôn!
Do những quen biết với một vài giáo viên Anh Văn người Indo, một ông 38 tuổi dậy văn hóa Mỹ lớp tôi là Darko Sin. Anh này rất thích nói chuyện với tôi, từ khi anh sát hạch, biết sơ qua CIA, đã đào tạo tôi ở Sài Gòn. Anh rất tò mò muốn biết nhiều chuyện tù đầy, trong chế độ CS miền Bắc VN. Vì thế, anh đã tổ chức một bữa cơm, có tôi và 5- 6 người bạn của anh. Mục đích, anh muốn tôi nói những nét chính yếu, tôi đã ra Hà Nội đầu 1962. Để hỗ trợ Anh ngữ ngập ngọng của tôi, tôi đã mời theo anh Vũ Linh Huy, tổng thư ký của ban đại diện trại.
Mở đầu bữa cơm, có nhiều chuyện đề cập, nhưng đều có chung một quan điểm: Trong sự quen biết giữa người với người, điều quan trọng bậc nhất là sự chân thành, dù có lúc gồ ghề, thô kệch, nhưng sẽ dài lâu.
Mấy người Indo, có anh là cảnh sát trưởng phòng hình sự Galang, và một ông trong ban Cao Ủy Tị Nạn. Các anh tỏ ra xề xoà thẳng thắn, đã nói thực: “Vì có các anh là Việt Nam, chứ chỉ riêng chúng tôi thường dùng 10 chiếc đũa trời, chẳng cần thìa, đũa, bát”. Các anh nói là thực, chính tôi đã nhìn thấy những nhà dân Indo, thường ăn bốc.
Cơm nước bia, rượu đã lưng chừng, anh Darko Sin đứng dậy yêu cầu tôi tường thuật sự việc v.v. . . Anh cũng khỏa tay với mấy người bạn anh, là cũng muốn biết diễn tiến, của sự việc. Để đáp lại tình giao hảo, với tiếng Anh phải dùng tay phụ họa, tôi đã lần lượt tường thuật lại sự việc tôi ra Bắc, và trả lời mọi câu hỏi của các anh. Cuối cùng các anh dồn hết vào một câu hỏi:
– Tại sao nước Việt Nam, tình huống thế nào để bây giờ, các anh phải bỏ nước ra đi?
Một câu hỏi đơn giản, nhưng thật nhiêu khê để trả lời. Tôi và bác sĩ Huy nhìn nhau, anh Huy đã định trả lời, nhưng không hiểu nghĩ sao, anh lại bảo tôi cứ nói, rồi anh phụ.
Tự biết mình có nhược điểm ăn nói, uống một hơi bia đầy, hỗ trợ, ngồi trầm lắng một phút, tôi thấy sự việc lổn nhổn như một đống xà bần. Tôi nghĩ không gì bằng, hãy theo lời dậy của đức Khổng Phu Tử: tìm một thí dụ để minh giải, chỉ cần cho các bạn, hiểu khái niệm diễn tiến chính. Nghĩ như thế, tôi giơ tay làm hiệu, xin nói. Cả bàn ngồi yên, tôi nói đại:
– Thưa các bạn, khả năng Anh ngữ của tôi yếu kém. Tôi đưa ra một thí dụ để minh giải, xin các bạn cố gắng để hiểu tôi:
“Có hai ông bà cụ kia tuy quê mùa, nhưng rất hiền hòa, đôn hậu. ông bà sống với một đàn con ngoan. Ông bà giữ nền nếp gia phong, thường dậy đàn con: Con trai thì phải tuân theo ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Con gái thì phải ứng dụng tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh”. Tâm linh với đất, với trời, với thượng đế, với tổ tiên.
Một tên giầu có ở phương Tây sang chiếm ngôi nhà, lấy lý do là khai phá dạy bảo, cho biết văn minh. Thực tế nó bắt cả nhà làm nô lệ, phải phục dịch nó, nhưng nó không hề động đến nền nếp gia phong, mà còn khuyến khích mọi người tôn thờ thần linh các tôn giáo. Tuy có lam lũ, khổ cực nhưng cuộc sống cũng tạm qua ngày.
Mấy nhà hàng xóm chung quanh, cũng bị những tên giầu có khác, cũng ở phương Tây đến chiếm nhà. Cảnh sống của những nhà hàng xóm đó, cũng khổ cực lầm than, như gia đình ông bà cụ
Một thằng con của ông bà cụ đi tha phương cầu thực trở về đã khích lệ, vận động ông bà cụ và các anh chị em, hãy đứng lên đuổi tên nhà giầu ác ôn đi. Ông bà cụ cũng như anh chị em, đều đồng ý góp tiền, góp công vất vả gian lao đã đuổi được tên nhà giầu chó chết đi.
Nhưng thằng con tha phương đã bắt anh chị em và cả ông bà cụ phải ăn, ở có tiêu chuẩn. Không được sang nhà hàng xóm chơi, và cũng cấm hàng xóm sang nhà mình. Nó còn cấm cả nhà không được thờ cúng ông bà tổ tiên, thần Phật hay Chúa nữa.
Thấy thằng con ngỗ ngược côn đồ, ông bà cụ và những người con khác định lấy tình cha con, anh em khuyên bảo cho êm ấm hoà thuận gia đình.
Nhưng tên con côn đồ ngỗ ngược đã không nghe, mà còn xúc xiểm, chia rẽ anh em cha con. Thậm chí, nó còn thủ tiêu anh chị em nào cứng cổ, đứng lên phản đối. Nó còn hành hạ bịt miệng cả bố mẹ và anh chị em, để rồi phải đánh nhau tơi bời.
Chín năm trường, đuổi được tên ác ôn nhà giầu trước đây là công lao của cả nhà, nhưng tên con ngỗ ngược này, nó dành hết là công của nó. Thực tế, đã đến giai đoạn, các tên nhà giầu phương Tây khác, cũng phải trả nhà dần hết lại cho hàng xóm, vì: Thế đã đến thời.
Cuối cùng căn nhà êm ấm của ông bà cụ phải chia đôi, thằng con ngỗ nghịch bịp bợm, rủ rê được một số anh chị em ngây thơ nhẹ dạ, ở nửa phần phía Bắc. Một số anh chị em đã biết mặt thằng đểu, đều về phía Nam căn nhà. Bố mẹ cũng biết dã tâm của thằng con ngỗ ngược, nên đã về phía Nam sống với đàn con hiền hòa, ngoan ngoãn, biết thờ cha kính mẹ, giữ truyền thống đạo lý của gia đình, tổ tiên.
Không ngờ dã tâm của thằng con ngỗ nghịch ở miền Bắc, dùng trăm mưu nghìn kế, làm sao để nó chiếm cả ngôi nhà. Bố mẹ cũng biết là thằng con mất dạy, nhưng vẫn không ngờ là nó đâm lén cả bố nó gần chết, nên nó đã chiếm được cả ngôi nhà. Ông bố bị nó dán băng kín cả miệng đang nằm dưỡng thương một chỗ. Chúng tôi đã biết cái máu rắn độc của nó, bố nó mà còn bị đâm lén, bịt miệng, bịt mồm, huống chi là anh chị em. Cụ thể anh em nào phản đối, nó giết hoặc cho vào nhà tù. Chúng tôi là những người chạy thoát sang đây. Cả 6 – 7 người đều đứng dậy vỗ tay, anh Darko Sin đã cười nói:
– Thằng con ngỗ nghịch là Hồ Chí Minh!
Rồi ông Cao Ủy cũng dõng dạc:
– Ông cụ bị đâm lén và các đứa con ngoan, là Việt Nam Cộng Hòa?
Tôi không định mà tay vỗ đồm độp, tự thưởng cho tôi đã sắp xếp tạm đống xà bần, đồng thời cùng mọi người nâng cốc, thêm rượu. Anh cảnh sát trưởng hình sự đã đứng lên mặt đỏ bừng, nhìn tôi mắt trợn trừng, tưởng như anh sừng sộ với tôi. Tay của anh chặt chặt, vào không khí:
– Ngày 30-9-1965 đến tháng 3-1966 chúng tôi đã chặt cổ hết tụi nó!
Tôi và BS Huy đều ngơ ngác, thì anh Darko Sin đã đứng lên từ tốn, rành mạch:
– Để đáp lại tôi cũng xin tường thuật vài nét sơ lược, về đất nước tôi:
“Khoảng cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60 ông Shokarno làm tổng thống, đứng đầu những nước trung lập, lãnh đạo khối thế giới thứ ba. Ông ta được các nước Cộng Sản nhiệt liệt hoan nghênh, nhất là Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh. Khi ấy HCM đã thổi Shokarno như một anh hùng sáng chói của thế giới, những bài ca ra rả trên đài như:
Shokarno… .Hồ Chí Minh.
Đất nước vạn dừa xanh.
Anh nhìn sang đây, tôi nhìn sang đây………..
Trong khi Mao tung cán bộ vào Indo, vì có nhiều người Hoa kiều ở khắp các đảo, chúng bí mật tuyên truyền lập nhiều tổ đảng Cộng Sản, ở khắp các cơ quan đầu não. Trong quân đội chúng có những đường dây chằng chịt, để rồi đêm ngày 30- 9- 1965, bất ngờ chúng bắt tất cả những tướng chủ chốt, của quân đội gồm 7 tướng và làm một cuộc đảo chính. Chúng đã giết và chặt cổ 6 vị tướng, một vị tướng đã trốn thoát là Shoharto.
Ông ta mau chóng, kịp thời củng cố quân đội, và những vệ binh cảnh sát Quốc Gia, quyết liệt phản công lại lũ Cộng Sản. Cho tới sáng ngày hôm sau, một phong trào rầm rộ của quần chúng nhân dân, đã cùng với quân đội lùng sục mọi tàn dư của đảng PKI (đảng Cộng Sản Indo). Lòng phẫn nộ của quân đội và nhân dân trong một năm đã giết, chém cổ gần một triệu (1,000.000) tên côn đồ, phản tổ quốc này. Giữa tháng 3-1967, toàn dân nhất trí bầu ông Shoharto lên làm tổng thống, theo chế độ Cộng Hòa. Nước Indonesia đã gia nhập trở lại Liên Hiệp Quốc và hiệp hội ASEAN.
Ông Shokarno đã ngả theo và dung túng Cộng Sản, nên bị quần chúng quản thúc, giam ở trong tù và đã chết ngày 21-6-1970. Hiện nay tổng thống của Indo là tướng Shoharto.
Anh Huy và tôi, cả những người Indo đều đứng dậy vỗ tay cảm ơn anh Darko Sin. Tôi tưởng bữa cơm họp mặt hôm ấy, đã tạm thời ổn thỏa.
Nhưng sau đó, cái ông trong Cao Ủy (rất tiếc tôi không thể nhớ được tên) đã nhìn tôi, rồi đưa ra một vấn đề băn khoăn khó hiểu, của ông. Ông đã đứng hẳn lên thong thả rõ ràng:
– Chế độ Cộng Sản đã đưa đến nghèo đói, lầm than cho mọi người dân, trong nước. Mọi quyền tự do, kể cả tôn giáo đều bị bóp nghẹt. Tại sao trên thế giới còn rất nhiều cá nhân, đoàn thế, nhất là giai cấp trí thức, vẫn nồng nhiệt, nếu không nói là say mê, ủng hộ làm lợi cho Cộng Sản?
Anh Huy và tôi lại nhìn nhau, anh Huy lắc lắc đầu nhìn tôi như muốn nói gì. Tôi hiểu ý của anh là: “Lại một vấn đề hắc búa, không phải chỉ trả lời một câu đơn giản”. Đã có hơi men, giữ nhịp độ ca-lo-ri trong người, thái độ của anh Huy như thế, làm nhịp độ trái tim “cuồng” của tôi phồng hơn. Như một đòn bẩy vào chỗ coi trời, bằng hòn đảo JAVA. Tôi đứng dậy nhìn thẳng vào ông Cao Ủy Tị Nạn:
– Xin cảm ơn ông đã hỏi một câu khá độc đáo. Một sự việc đang nóng bỏng trong thời đại, của chúng ta. Để làm sáng tỏ điều băn khoăn của ông, phải nói nhiều, nói dài, mà bữa cơm của chúng ta hôm nay đã tối muộn.
Vả lại điều thắc mắc của ông thực tế, đã được trả lời rồi. Qua nội dung thắc mắc, ông là người rất quan tâm đến xã hội và thời đại. Do thời gian và sự kiện, có rất nhiều bí ẩn lịch sử đã được bạch hóa.
Xin ông hãy lắng đọng, một mình nghĩ suy và tìm lại báo chí tài liệu: Những trí thức thiên tả, thiên Cộng Sản của Indo, cụ thể là một tổng thống Shokarno. Ở nước tôi: một số trí thức từ Pháp, từ Đức về nước theo Cộng Sản.
Ngoài thế giới, đầu tiên là Phong trào Caucaise vùng Tây Bá Lợi Á, mà Lênine đã lợi dụng như thế nào. Biết bao nhiêu cá nhân mà cụ thể là triết gia, bác học Bertrand Russell người Anh, giải thưởng Nobel văn chương 1950 (18-5-1872, chết 2-2-1970). Mới đây là cô đào Jane Fonda đã vẻ vang tự hào, ngồi trên mâm pháo của Việt Cộng. Ngay mới đây là những trí thức và mặt trận giải phóng, tức Chính Phủ Lâm Thời Cách Mạng Miền Nam. Những nhà trí thức khoa bảng như Nguyễn Hữu Thọ, Đào Sĩ Chu, Nguyễn thị Bình, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v. . . nhiều lắm.
Muốn nhìn rõ bản chất sự việc, phải đào sâu, xét kỹ hoàn cảnh cá nhân, gia đình điều kiện xã hội, chủ quan, khách quan, không gian, thời gian. Rất nhiều nguyên nhân, yếu tố nhưng có một cái chung: Mỗi người giỏi, xuất sắc về một lĩnh vực. Các ông, các bà tiến sĩ, thạc sĩ, bác học, họ đã đầu tư gần hết trí óc và thời gian, miệt mài để có những bằng cấp của họ.
Vì vậy, ở những lĩnh vực khác họ lơ mơ, phiến diện, nhất là lĩnh vực chính trị, nên hầu hết là ngây thơ nông cạn. Khi đã giỏi, xuất sắc một lĩnh vực, thì các lĩnh vực khác kém, nông cạn là một điều tất yếu, bình thường, của một người.
Nhưng một điều ngộ nhận của đa số quần chúng, và chính bản thân những vị trí thức này: Những người có bằng cấp cao như thế, thì lĩnh vực nào cũng giỏi, cũng quán thấu. Do đấy họ nghiên cứu về chủ nghĩa Cộng Sản chỉ trên lý thuyết, sách vở (Lý thuyết và sách vở thì chủ nghĩa CS đẹp và lý tưởng lắm), rồi họ hành xử, phát biểu đàng sau cái bằng cấp, của họ.
Tôi hiểu ông Cao Ủy, và mọi người chưa thỏa đáng lắm, sự trả lời của tôi, nên tôi nói tiếp:
– Thưa ông và các bạn, tôi vừa đưa ra chỉ có tính cách gợi ý, đề nghị các bạn tự suy ngẫm, tìm hiểu thêm trong thực tế. Một điều nữa xin các bạn lưu ý: Chủ nghĩa Cộng Sản do thời gian và thực tế đã có chiều hướng, không còn phù hợp với con người tự nhiên. Muốn duy trì, chúng phải bịp bợm, lôi kéo, gây mâu thuẫn, để chia rẽ, phía thế giới tự do của chúng ta. Chúng nghiên cứu mọi cá nhân, đoàn thể có uy tín với quần chúng. Một câu nói, một việc làm do vô tình của người này, đoàn thể kia, chúng chộp ngay, đề cao, thổi phồng. Nếu không tỉnh táo, chúng ta vội vàng phản đối, chê bai. Người ấy, đoàn thể đó đã tách ra và bị lôi dần về phía cảm tình với Cộng Sản.
Đột nhiên anh cảnh sát trưởng phòng hình sự đứng lên, điềm đạm đưa ra ý kiến:
– Tôi biết ngay trong đám người tị nạn ở đây, có nhiều người hoạt động bí mật cho Cộng Sản. Từ đấy suy ra trong các cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại, không thiếu những người vẫn bí mật, làm việc cho Cộng Sản. Anh có thấy như thế không?
Tôi không ngờ người Indonésia, hiểu biết nhiều về Cộng Sản, như vậy. Họ đưa ra toàn những vấn đề phải đàm đạo, mổ xẻ truy nguyên từng chi tiết. Tôi chỉ nói ngắn gọn, vì đã đến giờ mọi người ra về:
– Từ trước tới bây giờ, thế giới cũng như riêng Việt Nam, biết bao nhiêu tấm gương người thực, việc thực về những người nằm trong xã hội tư bản hoạt động bí mật cho Cộng Sản. Các người này có thấy hay ít ra cảm thấy: Cộng Sản kỵ nhất, nhưng vẫn phải dùng những người đã biết và nếm mùi của xã hội tự do tư bản!
Chúng biết những người này sớm hay muộn, sẽ lửng lơ không chịu ngoan ngoãn trong khuôn khổ sắt máu độc tài của chúng. Vì vậy, mỗi người chúng gửi đi nước ngoài, chúng phải nắm chắc được xương sống của người đó. Coi như chúng đã cấy “Sinh tử phù” người đó, phải hoàn toàn ngoan ngoãn, làm theo ý của chúng.
Rồi sẽ đến một ngày, như một lũ chó săn, đã hết mồi, không còn giá trị lợi dụng nữa, nuôi chúng trong tay chỉ có hại. Điển hình vừa đây nhất là: Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn. Những người nằm vùng, hoạt động cho Cộng Sản, ai đã có công lao to lớn bằng Nhạ và Ẩn? Bây giờ cuộc sống ra sao?
Chúng là loại chiến lược: Nhạ là Cố Vấn tin cẩn nằm trong phủ Đầu Rồng của Tổng Thống Thiệu. Còn Ẩn đã được thời cụ Diệm đưa đi học lớp báo chí nhiều năm ở Hoa Kỳ. Để rồi hầu hết những tờ báo lớn của Mỹ và phương Tây, thậm chí cả những cơ quan tình báo của CIA, đã là những vỏ bọc vững chắc cho Ẩn. Y đã dễ dàng lấy được hầu hết những tin tức chiến lược, hay tung hỏa mù làm lạc hướng, các cơ quan có trách nhiệm.
Đến khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, để làm mồi câu những con chó săn khác, sau này. Chúng phong cho Ẩn là Đại Tá, rồi mới đây (1980), chúng gán cho cái lon Thiếu Tướng, phụ trách những việc không thực quyền, ngồi chơi xơi nước. Người quen tôi ở Sàigòn cho biết: năm 1982 Ẩn sống một mình, âm thầm trong một cái villa với 6, 7 con chó, trên đường Kỳ Đồng, Dòng Chúa Cứu Thế.
Lý do những tên nằm vùng của Cộng Sản, về cuối đời thường cô đơn, sống lủi thủi bó chặt nỗi ẩn ức. Chủ không dùng nữa, để cho ngồi chơi xơi nước, chứ không có thực quyền. Tâm trạng tên nào cũng ôm ấp, ít nhiều lòng kiêu hãnh tự tôn, với chung quanh. Nhưng bạn bè, thậm chí họ hàng thân quyến, cho đến quần chúng, không ai ưa loại người sống lá mặt, lá trái, nên chẳng ai muốn quan hệ.
Nói tới đây, tôi và anh Huy nhìn nhau, đều đứng dậy, vì trời đã tối muộn quá rồi. Với những cái bắt tay nồng nhiệt, anh Darko Sin còn nói to:
– Chúng ta sẽ gặp lại, còn nhiều điều phải đàm đạo.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.