Hồi ký tù cải tạo

Hoàng Long Hải

Posted on 4 Mar 2015 by quanvan.net 

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

 “Cũng những thằng nịnh hót”

Bài 11

Những mồm không tanh tưởi

Ngậm vòi đu đủ

Trợn mắt Phùng mang Thổi vào rốn cấp trên


“Dạ, dạ, thưa anh…
Dạ, dạ, em, em…”
Gãi cổ
Gãi tai:
… anh quên ngủ quên ăn nhiều quá!

(Cũng những thằng nịnh hót – Hữu Loan)

Tháng 6 năm 1976, tôi lại bị đưa đi, chưa biết đi đâu.

Lên xe Molotova lần nầy thì vẫn đông, nhưng những bạn bè cũ từ Trảng Lớn ra đi “rơi rụng” cũng nhiều, phần đông đều được đi “thăm lăng bác Hồ”. Nhiều khi tôi nhớ thương Phạm Ngọc Hiền, Phạm Quang Chiểu, Trần Hữu Bảo, Hoàng Hữu Chung! Họ bị đày đi “Si-bê-ria của Việt Cộng”, biết bao giờ về, có ngày về hay không hay bỏ thân nơi núi rừng Việt Bắc?

Tôi “biết” Việt Bắc theo sách Địa Lý Việt Nam mà tôi đã từng học rồi dạy học trò. Trước đó, tôi cũng “biết” Việt Bắc qua các tiểu thuyết mà tôi “ngốn” không ít, đến nỗi mẹ tôi cầm cuốn Tự Điển Pháp Việt của Đào Duy Anh ném vào tôi vì tội “ham đọc tiểu thuyết bỏ học.” Cuốn tự điển dày lắm, may tôi phóng kịp qua cửa sổ chạy mất tiêu.

Việt Bắc là “Mắt Thần” hay “Lệ Hằng Phục Thù” của Trường Xuân, “Ai hát giữa rừng khuya” của Lan Khai, “Vàng và Máu” của Thế Lữ hay “Thần Hổ” của TCHYA, “Trường Đời” của Lê Văn Trương. Nhớ lại những “tiểu thuyết đường rừng” ấy mà không biết bạn mình đang ở đâu, gian khổ như thế nào, “ma thiêng nước độc” như thế nào?! Hy vọng họ sẽ sống còn, bởi như Trần Phú Trắc thường “khẳng định” và cười với tôi: “Nhưng không chết người trai khói lửa”.

“Ăn theo” tôi kỳ nầy chỉ còn Đào Sơn Bá, đại úy cảnh sát đặc biệt; Trần Phú Trắc, đại úy, Huỳnh Văn Khánh, đại úy quân cảnh.

Kỳ chuyển trại nầy cũng khá kỹ, có nghĩa là mui xe đóng bít bùng, chẳng thấy được gì bên ngoài cả. Cuối xe, một vệ binh cầm Aka đạn đã lên nòng. Thấy anh đóng khóa an toàn nên tôi đoán chừng vậy. Người trong xe chật ních, lẫn lộn với hành trang, không nhúc nhích gì được.

Dù ở trong xe bít bùng nhưng vài anh em đoán hướng xe chạy, nói to: “Về Saigon! Mấy ông ơi!” Biết là về Saigon nhưng người nào ngu lắm mới hy vọng được đem về Saigon để tha.

Xe chạy khoảng gần nửa ngày thì ngừng, mở mui và có lệnh xuống. Nhìn quanh, có người nói to: “Trại Suối Máu”.

Lần đầu tiên tôi nghe hai tiếng Suối Máu.

Ghê thật!

Máu chảy thành suối! Trận đánh nào xảy ra ở đây mà ghê thế! Lịch sử hai tiếng Suối Máu như thế nào?! Té ra tên Suối Máu nầy có từ lâu. Trước 1975, đây là “Trại tù binh Cộng sản”.

Đường từ cổng đi vào phải đi qua ba khu trại giam 1, 2 và 3 bên tay trái. Một số “tù cải tạo” ra đứng sát hàng rào nhìn chúng tôi. Có người quen biết từ trước nhận ra nhau nhưng không dám gọi to cho nhau.

Bên tay phải là nhà thờ, chùa. Dĩ nhiên, “tù cải tạo” không ai được đi nhà thờ, đi chùa. Còn cán bộ Cộng sản thì vô thần, vô tôn giáo, đã được giáo dục rằng “tôn giáo phản động”. Có ai đi lễ bao giờ. Chùa, nhà thờ đều hoang phế. Phật, Chúa cũng không ở được với Dziệt cộng đâu, cũng đã “vượt biên” cả rồi, chẳng còn vị nào ngồi lại trên tòa sen hoặc trên thánh giá!

Khi mới vào trại tù cải tạo, thỉnh thoảng đọc báo “Quân Đội Nhân Dân”, thấy không ít bài đã kích đạo Thiên Chúa. Hồi có cuộc di cư năm 1954 thì họ nói rằng các linh mục bảo với con chiên: “Chúa đã vào Nam”. Giáo dân nên vào Nam với Chúa.

Tới 30 tháng Tư thì Cộng Sản gọi là “Chúa đã đi Guam”, nên “di tản” theo Ch úa.  Có câu thơ đùa:

Ngày xưa Chúa đã vào Nam,

Ngày nay Chúa lại đi Guam mất rồi. 

Trong trại, chúng tôi thường đọc báo “Quân Đội Nhân dân” do bộ đội đem xuống cho. Ngoài ra, “Saigon Nhật báo”, báo “Tin sáng” của Ngô Công Đức, khi thăm nuôi, gia đình có mang theo cho vài tờ, hoặc lấy từ trong các giấy gói quà. Người viết thường chỉ có một chiều, một bài bản, đọc “chán thấy mẹ”.

Tương đối những bài viết của Thành Tín (tức là ông Bùi Tín) đăng trên báo Quân đội Nhân dân là có một ít kiến thức, hiểu biết tình hình miền Nam ít nhiều, hơn các người khác, và ít “đường một chiều”. Báo Tin Sáng, phần nhiều chỉ là “nâng bi lập công” như anh em tù cải tạo nói vậy.

Nghĩ tới “anh chàng” báo Tin Sáng nầy, là người tôi từng có cảm tình, đã gặp một lần ở văn phòng của anh ta ở đường Nguyễn Huệ, khi tôi đến nhờ giúp cho một ông anh rể họ bị ông thị trưởng Đà Nẵng chiếm nhà, tôi thấy ái ngại cho anh ta. Một người như thế mà có đủ “sĩ diện” để làm cái nghề “nâng bi” thì cũng “buồn tình đời” thật đấy!

 Anh ta mong được cái gì ở chế độ mới?

            Không lý một “trí thức”, một “tiểu tư sản thành thị” như Ngô Công Đức, “con chủ điền”, lại là một người “theo đạo Thiên Chúa”, “cháu giám mục Nguyễn Văn Bình”, lại không biết Cộng Sản là cái gì hay sao?

            Những “lý do đặc biệt” như tôi vừa nói ở trên, là những điều Cộng Sản không bao giờ cho anh ta “nhập chung môt bọn” với Cộng Sản được!

Anh ta biết cả đấy, nhưng vì một miếng đỉnh chung đã làm lu mờ cái nhãn quan của anh ta hay sao: Một chức “dân biểu” là nhỏ quá, “Ơn Trên” phải cho anh ta một cái gì cao hơn, một cái ghế bộ trưởng Dương Văn Minh dành cho anh ta chẳng hạn. Tiếc một điều, trên đường từ Pháp về để nhận cái ghế bộ trưởng do Dương Văn Minh chia cho, vì máy bay của hãng Air France bay chậm quá, nên khi anh ta về tới Saigon thì Trần Văn Trà đã ngồi trong Dinh Độc Lập, thành ra cái ghế được dành cho anh ta trở thành cái ghế “Bộ trưởng không bộ nào”.

            Sau 1975, mặc dù Trần Bạch Đằng không mặc váy, anh ta vẫn “núp dưới cái váy của Trương Gia Triều”. Trương Gia Triều làm sao chống lại nỗi Lê Đức Thọ, nhất là khi “Công Đoàn Đoàn Kết” của Lech Walesa được “Giáo hoàng Giăng Pôn Hai” và Tổng Thống Reagan hỗ trợ tích cực (1) để đánh đổ chế độ Cộng Sản của Tướng Wojciech Jaruzelski thì Thọ thấy hãi trước sức mạnh của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam. Thế là Thọ vạch cái váy của Trần Bạch Đằng mà lôi đầu Ngô Công Đức ra, đóng cửa báo Tin Sáng, biểu Ngô Đức Đức về làm sơn mài.

Khả năng của Ngô Công Đức chỉ làm được ông chủ hãng sơn mài, không thể vói tới cái ghế bộ trưởng được.

Một “đồng chí của Ngô Công Đức” cũng “chui như chuột không kém gì anh ta.

Một hôm, người ta thấy có một mục nhắn tin trên báo Tin Sáng như sau, cho thấy có con chuột (cái) ló mặt ra khỏi hang. Nội dung: “Kiều Mộng Thu, tìm một người anh theo kháng chiến, tập kết năm 1954. Xin liên lạc về với gia đình theo địa chỉ… gì đó ở Long Xuyên”

Cô dân biểu “Nàng Kiều lá đổ” bây giờ không còn gọi “Anh Châu ơi” nữa, không biết có tìm được người anh tên Phong không? Phong là tên do tôi bày đặt cho gia đình “Nàng Kiều lá đổ”, đặt cho ông anh của “Nàng Kiều thời đại”. Tôi dựa theo cuốn tiểu thuyết trinh thám “Lê Phong Phóng Viên” của Thế Lữ. Thám tử Lê Phong trong tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ bị Phạm Cao Củng ghẹo, đề nghị nên đổi tên ra Lê Phong vì hay bắt hụt, bắt gió, bắt không trúng “địch thủ” như cầu thủ “đá gió” vậy.

“Người anh” của “Nàng Kiều lá đổ” chỉ là người “anh gió” mà thôi! “Nàng Kiều lá đổ” tưởng tượng ra một “người anh tập kết” để hù thiên hạ, nổ với thiên hạ rằng cô ta cũng “gia đình cách mạng”, bằng vài phát đại bác đạn rơm chơi. Có phải đó là trò hù thiên hạ của mấy “ông to bà lớn ưa nổ” chế độ cũ hay chăng?!

Trương Ngọc Thu là một cô học trò sắc đẹp trung bình, lãng mạn, đa tình, ưa làm thơ tình, và ưa đặt tên “cải lương”: Đã Kiều, còn Mộng, còn Thu?!

Cô Thu ưa lấy chồng làm quan, dù quan hơi “già”. Nhân vật đó là ông phó tỉnh trưởng Nguyễn Chánh Sắc, đảng Đại Việt. Thế rồi chán cảnh “Đêm đêm bên cạnh chồng già”, cô Thu Mộng Kiều đi làm chính trị, vừa làm chính trị vừa cặp kè kè với ông trung tá con ông Thượng Thư thời vua Khải Định mang “ngù vai, đội nón dấu có chóp vàng”. Khi ông trung tá ngồi tù vì vụ gián điệp Trần Ngọc Hiền, nàng Kiều mỗi ngày đổ không biết bao nhiêu nước mắt, “gọi thầm tên anh”: “Anh Châu ơi!” như báo chí hồi ấy hay đem ra làm trò vui!

            Người ta cũng bàn tán về việc nhờ ông Trí Quang mà nàng kiều lá đổ, – tác giả tập thơ “Lá đổ trên mười đầu ngón tay” – quê ở bên bờ sông Bassac phù sa đỏ lòm đắc cử dân biểu ở miền sông Hương núi Ngự.

Hồi ở trại Trảng Lớn, Phan Hải thường lên khu bộ đội chuyện trò, cho biết có một anh trung úy bộ đội theo đạo Thiên Chúa. Anh ta có cái thánh giá nhưng phải dấu tuốt dưới đáy ba-lô. Anh ta sợ bị đồng đội phát hiện! Dĩ nhiên. Anh ta dấu đồng đội nhưng không dấu với “tù cải tạo”.

&

Anh em chúng tôi được đưa vào một khu mới: Khu 4. Trước 1975, chỗ nầy là khu thể thao của trại tù binh. Bây giờ “trường cải tạo” phát triển nên khu thể thao biến thành khu “nhà trường” của “tù cải tạo”.

Khu 4 gồm một chục gian nhà “tôn” mới được nhà thầu dựng lên, cái nằm ngang, cái nằm dọc, trông giống khu lao động Saigon cũ, tuy nhà tôn ở đây có dài hơn. Gian nhà “tôn” đầu tiên, tách riêng với toàn bộ nhà Khu 4 bằng một hàng rào chăng giây kẽm khá kỹ.

Bên gian nhà ấy là nơi điều trị bệnh nhân. Một người nằm trên giường, bụng to như bụng trâu. Người ta thường nói là bệnh cổ trướng; có người gọi là viêm gan.

Cổ trướng và viêm gan có bà con gì với nhau?! Tôi mù tịt về y khoa!

Một người đứng sau tôi, có lẽ tới đây trước tôi mấy tháng, nói: “Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đó.” Nhiều người “à” lên vui mừng!

Người vừa nói tỏ ra rành chuyện: “Bác sĩ nói chắc không qua khỏi. Kim Cương có lên thăm ông ta!”

Nguyễn Uyên, họa sĩ, đứng bên tôi nói: “Bác sĩ Dziệt Cộng thì biết gì. Khám tầm bậy không!” Người lúc nãy cải chính: “Bác sĩ “của mình”, không phải “cách mạng”. Có anh chưởi thề: “Cách mạng cái con cặ…”

 Nói xong, anh ta cười hề hề. Mấy người khác cũng cười theo… Thấy vui vui, tôi bỗng hát hơi to một chút, cũng mong ông nhạc sĩ nghe được cho vui: “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…”

Nguyễn Thụy Hiền, đại úy giải ngũ, từ quân lao Gò Vấp được tha hai năm nay, người tôi mới quen, nói đùa: “Anh hát tầm bậy không! Sao lại “đi về đâu”. Anh phải hát “Chiều mưa biên giới anh đi về… đây!”  Đang nằm chình ình ở đó mà còn hỏi “đi về đâu” nữa. Không chừng về dưới đó.”

Họa sĩ Nguyễn Uyên, đại úy cục Tâm Lý Chiến, cự nự: “Người ta sắp chết mà mấy ông còn đem ra đùa. Bậy! Bậy quá.”

Mọi người tản đi.

Người miền Nam có nhiều cái buồn cười. Tình nguyện đi lính, chọn những binh chủng đánh giặc thật dữ: Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên, Sói biển, Nhảy Dù, v.v… nhưng lại phản chiến hay thích phản chiến, ưa hát bài ca của Nguyễn Văn Đông.

Ngay “Hùng móm” em tôi cũng vậy. Ra trường, cố chọn cho được Nhảy Dù, sợ bị người ta chê, không cho đi Dù. Mậu thân, “loon” thiếu úy mới toanh, đánh một trận nổi tiếng gan lì ở Vạn Kiếp rồi về giữ Bộ Tổng Tham Mưu ở trại Trần Hưng Đạo. Tôi cũng mới nhập ngũ, lính mới tò te ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, cuối tuần đi phép. Hai anh em đi dạo phố Lê Lợi, Hùng ghé quán nhạc mua một tập nhạc của Trịnh Công Sơn vì trong đó có bài “Cho Một Người Nằm Xuống”, một bài hát phản chiến: Trịnh Công Sơn khóc Lưu Kim Cương.

Trước khi nhập ngũ, Hùng rất thích hát những câu như “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng…” Hà Thanh hát những bài hát nầy của Nguyễn Văn Đông thì tuyệt, trước nay chưa ai bằng. Nhưng thằng em út của tôi cũng “mâu thuẫn không ai bằng”.

Té ra có một điều dễ hiểu. Họ không thích chiến tranh, nhưng hăng hái tham gia Quân Đội VNCH để bảo vệ tự do.

Nguyễn Thụy Hiền hỏi tôi:

– “Anh Hải, người ta nói Kim Cương hoạt động cho Cộng Sản có phải không?”

– “Hoạt động mẹ gì!” – Tôi nói. “Con mẹ ấy chính cống là Dziệt Cộng. Hồi Nguyễn Văn Đông làm chánh văn phòng hay bí thư gì đó cho tướng Nguyễn Văn Là, y thị bắt cặp với Nguyễn Văn Đông để vào ra Tổng Nha Cảnh Sát lấy cắp tài liệu chuyển ra bưng. Sau nầy nó cặp với Nguyễn M., cũng để tái diễn cái việc tình báo đó.”

Hiền hỏi:

– “Ông M. nầy làm gì?”

– “Trưởng khối Đặc Biệt ở Tổng Nha. Ông biết không, mấy thằng chả nầy bậy lắm.” Tôi nói.

– “Bậy sao?” Hiền hỏi.

– “Thằng cha M. khoe với nhân viên ông ta có con cu bự nên Kim Cương mê lắm. Té ra nó có cần cu đâu! Nó vào ngủ với thằng chả ngay trong Tổng Nha là để chôm tài liệu. Thằng chả cứ nghĩ vì cái củ cải mà nó mê. Mất nước là phải!” Tôi giải thích.

– “Anh làm cảnh sát ở dưới ruộng, sao mà biết rõ trên nầy vậy?” Hiền nói.

– “Hồi đó thì ai biết gì. Sau 30 tháng Tư mọi chuyện mới tá hỏa ra. Một đám ở Trảng Lớn với mình là sĩ quan khối Đặc Biệt. Mấy ngày sắp đứt phim, tụi nó lôi tài liệu ra đốt mà khóc. Coi như thế là xong! Tới đó, trong Tổng Nha nhiều ông mới lộ ra nhiều điều mà trước nay câm như hến. Người ta sợ mấy ông lớn ghét, trả thù.” Tôi giải thích.

– “Vậy chớ Kim Cương tình nghĩa gì mà lên thăm Nguyễn Văn Đông!” Hiền lại hỏi.

– “Lòng con người ta phức tạp lắm, không biết hết được. Yêu nhau mà coi thường nhau, lợi dụng nhau. “Trong khi chắp cánh liền cành, Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.” Đọc xong câu Kiều, tôi cười.

Tới đó, Hiền mới tin tôi. Thật ra, Hiền nhỏ hơn tôi ít ra cũng gần mười tuổi, thấy tôi hay làm “thầy bàn” nên tin tôi lắm. “Bàn trật hay trúng nghe cũng… vui.” Hiền nói với tôi vậy!

Tôi hỏi Hiền:

– “Bữa kia ông có xem tuồng “Lá sầu riêng” của Kim Cương không?”

– “Tối đó tôi bị bệnh, không coi TV. Tuồng nầy có hay không?” Hiền trả lời.

– “Hay hay không để nói sau, nhưng bây giờ Kim Cương “giác ngộ” rồi!” Tôi nói.

– “Giác ngộ đạo Phật?” Hiền hỏi.

– “Đạo Phật cái con khỉ! Cô ta “giác ngộ chủ nghĩa Mác”. Cái đó mới nhục cho Kim Cương.” Tôi nói.

– “Tôi chưa hiểu, anh giải thích rõ đi.” Hiền đề nghị.

– “Như thế nầy nè!” Tôi nói. “Tuồng nầy của Kim Cương viết trước năm 1975, nhưng đặt tên tác giả là Hoàng Dũng, con của cô ta. Hồi xưa, Kim Cương mê Anh Tứ dữ lắm, không rõ có đẻ đứa con nào không? Nội dung tuồng có hai người yêu nhau, một cô gái nhà quê miền Nam, yêu một thanh niên nhà quê miền Nam. Anh thanh niên giã từ người yêu lên Saigon học, để ít lâu về làm thầy giáo làng. Hứa hẹn hai người sẽ cưới nhau sau khi học xong.

Dzậy rồi dòng đời đưa đẩy, hai người không lấy được nhau. Người con gái làm lẻ một ông phú hộ thôn quê, sinh một đứa con gái; còn anh chàng kia ra làm thầy giáo, rồi cũng có vợ, sinh một cậu con trai. Cuối cùng, hai người đều góa bụa. Trời xui đất đẩy, họ lại gặp nhau, gã con cho nhau. Anh xui chị xui cũng bắt tay nhau, vui vẻ, âu yếm nhìn nhau nhưng “không trào máu họng”!.

Các tác phẩm cũ, tiểu thuyết hay tuồng tích, thường có kết quả nhân hậu như thế. Đó là truyền thống người Việt, ưa một kết cục có sum họp, có đầm ấm, có thương yêu, như truyện Kiều chẳng hạn, dù cô Kiều phải lưu lạc 15 năm.

Bây giờ theo Dziệt Cộng, Kim Cương bèn thay đổi cái kết cục đó khác đi. Bậy vô số.”

– “Bậy vô số là sao?” Hiền hỏi.

– “Bậy vô số” là chữ của ông Võ Phiến, là bậy lắm, bậy vô cùng. Kết quả vở tuồng bây giờ bị Kim Cương sửa lại, hai đứa con của hai người ấy không lấy được nhau, mà hai người ấy cũng không còn là “anh xui, chị xui” nắm tay nhau vui vẻ. Bậy vô số.”

– “Vì sao?” Hiền lại hỏi.

– “Kim Cương bị nhuộm đỏ lòm, viết tuồng theo cách “đấu tranh giai cấp”. Ông giáo làng bây giờ là một nhà tư sản, giàu có. Giàu có là thuộc giai cấp “bóc lột nhân dân lao động”, làm sao kết sui gia với chị nông dân nghèo khổ. Nông dân nghèo khổ là “giai cấp tiên tiến, là đội tiên phong của đảng”.

– “Vậy thì có chi thắc mắc?” Hiền nói.

– “Ngòi bút. Viết như thế là “bồi bút”. Tại sao lại phải sửa. Viết rồi là không sửa. Nó có “tính thời gian” của nó. Kim Cương có muốn phục vụ Dziệt Cộng thì viết tuồng khác. Sửa như thế, người ta gọi là “bẻ cong ngòi bút” để phục vụ “hệ tư tưởng Mác, đấu tranh giai cấp”. Đáng chê lắm.”

– “Hồi xưa, người ta cũng phải viết theo cách phục vụ cho vua chúa vậy. Tui học chương trình Pháp, không rành văn chương Việt Nam nên không cải lý với anh được.” Hiền bày tỏ.

– “Tui hiểu, tui hiểu. Ví dụ như “Chinh Phụ ngâm”, trong đó, ca tụng người lính phục vụ cho vua. “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.” Hình ảnh đẹp quá chớ gì? Nên người ta đi lính phục vụ cho vua. Nhưng đi đánh giặc, giữ gìn an ninh, chống ngoại xâm không là phục vụ cho đất nước hay sao? Ông nhớ rằng, “trung quân, ái quốc” hay “trung hiếu tiết nghĩa” là cái luân lý của người xưa, của dân tộc. Người ta có soạn tuồng hát trong đại nội, hay hát ở thôn quê, hát đình, hát miễu thì cũng viết như Đồ Chiểu “Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”. Đó là tiêu chuẩn văn hóa người Việt thời kỳ đó, đâu có phải đó là tiêu chuẩn do ông vua bày đặt ra. Có thể nó có lợi cho ngai vàng của vua, nhưng văn hóa đó là của dân tộc. Người viết truyện, soạn tuồng, chọn tiêu chuẩn cho tác phẩm của họ là tiêu chuẩn của văn hóa dân tộc, đâu có phải phục vụ cho ông vua nào, triều đại nào.

So việc làm đó của tổ tiên với việc làm của Kim Cương bây giờ hay Tố Hữu nó khác nhau lắm chớ. Tiêu chuẩn Dziệt Cộng đưa ra cho văn nghệ sĩ viết sách, soạn tuồng là “đấu tranh giai cấp”, là “cải cách ruộng đất” là “Giết! giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ, Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong.”

Văn hóa người Việt Nam không có chuyện “Giết! giết nữa.” Đúng không? Bà Bảy Nam là người mộ đạo Phật, khi bả biết con bà đi theo cái đám “Giết! giết nữa!” thì bà vui hay buồn? Kim Cương lo phục vụ cho đảng mà quên chữ hiếu đối với mẹ.”

– “Nghe anh nói, tui muốn gặp con mẹ Kim Cương để chưởi vào mặt nó cho bớt tức.” Hiền nói, đúng là dân Nam bộ nóng tính, bộc trực.

hoànglonghải

  • Liên minh Thần Thánh, tác giả dịch từ “Times”

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 27 Feb 2015 

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Thằng Bombata mất dạy

Bài 10

Rồi lại có lệnh “biên chế”. Anh em chúng tôi đi hết, nào Phạm Ngọc Hiền, Phạm Quang Chiểu, Phạm Xuân Lý, Trần Hữu Bảo, Nguyễn Văn Tiếp, Hoàng Hữu Chung, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Bê, Nguyễn Văn Quí, v.v…

Về sau, nghe tin mấy anh em nầy đi “Thăm lăng “bác” Hồ”, tức là tiếng gọi đùa những anh em bị đày ra Bắc. Một số còn lại gồm tôi, Trần Phú Trắc, Đào Sơn Bá, Lê Quang Dung, Nguyễn Đạo thì xuống “trại Bombata”.

Gọi là “xuống trại” vì trại chúng tôi đang ở là ở trên đồi, gần cửa vào trại Long Giao. Nay thì xuống một trại ở dưới thung lũng, cũng thuộc trại Long Giao. Đây là căn cứ của lính Mỹ hay Úc gì đó, tôi cũng chẳng tìm hiểu.

Xuống trại dưới nầy thì gặp ngay Bombata, một anh sĩ quan bộ đội Dziệt Cộng đểu và “mất dạy.”

Số anh em cũ của chúng tôi nay chỉ còn mấy ngoe như tôi kể tên ở trên, còn lại phần đông anh em lạ, ở đây đã mấy tháng rồi.

Căn phòng chúng tôi được đưa vào ở là một căn trại gia binh chế độ cũ. Nền nhà, vách, v.v… dơ dáy. Dơ dáy vì không phải nó là trại gia binh mà vì trước khi chúng tôi đến là nơi giam “tù hình sự”. Vẽ bậy, viết bậy và viết đứng đắn cũng có, đầy trên vách.

Bá nói với tôi: “Tui thấy đằng vách kia kìa, có tên Chế Linh. Chắc anh ta có bị giam ở đây.” Có thể ban đầu, tù hình sự do bộ đội bắt nên giam ở đây. Nay “ban quân quản” giao lại cho công an nên họ bị đem đi rồi.

Sự kiện chúng tôi để ý lúc nầy là “Hội nghị Hiệp thương Thống nhứt”. Có người nói: “Thống nhứt rồi, có lẽ mau được về!” Đâu có dễ vậy, phải không?

Tối tối, tôi nằm nói chuyện với Đào Sơn Bá (hiện đang ở Boston). Bá hỏi tôi: “Nhắm có về sớm như người ta nói không anh?”

Tôi nói:

– “Hồi đầu tháng 5/ 1975, bà Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng bộ ngoại giao (chính phủ Cộng hòa Lâm thời Miền Nam Việt Nam) đi Algerie. Bả xin thế giới giúp cho một triệu cái cuốc. Bả còn nói hai miền Nam Bắc còn nhiều khác biệt, phải năm năm nữa mới có thể thống nhứt đất nước được. Cái tui thắc mắc là bả thì nói 5 năm mà nay mới 1 năm đã thống nhứt rồi. Có chuyện chi đây?”

Bá hỏi:

– “Theo anh nghĩ thì có chuyện chi?”

– “Theo “moa” nghĩ thì bọn miền Nam như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hữu Thọ không phải là “Cộng Sản ròng” như Đỗ Mười, Lê Duẫn. Phần đông họ là dân trí thức tiểu tư sản, “theo kháng chiến” rồi theo Cộng Sản chớ không phải vì thích chủ nghĩa Cộng Sản. Bọn ngoài Bắc dựng bọn trong Nam lên để làm mặt trận là làm bình phong. Bây giờ không cần nữa thì phải loại ra, mà phải loại sớm. Để lâu, bọn trong Nam mọc chưn mọc rễ ra khó loại hơn. Đó là lý do thống nhứt cho lẹ lẹ.” Tôi giải thích.

– “Đám miền Nam về vườn hết sao?” Bá hỏi.

– “Đâu có! Để thưởng cái công “cầm cặ… chó đái”, họ được cho một chức gì đó, ngồi chơi xơi nước. Không thuộc giai cấp “ba đời đi ở, bốn đời làm thuê” mà.” Tôi giải thích.

– “Rồi mình có hy vọng chi về sớm không?” Bá lại hỏi.

– “Mình không biết. Theo kinh nghiệm của mình, mình lưu lạc từ Trung tới Nam rồi thì mình nghĩ quyền hành ở trong tay đám Nam Kỳ dễ sống hơn. Với Bắc kỳ khó sống lắm “ôông” ơi!”

&

Chúng tôi gánh hậu quả vụ “Út Bạch Lan trốn trại.” Út Bạch Lan, Biệt Kích Dù, cùng khóa Võ Bị với “Hùng móm”, em út tôi.

Truớc khi chúng tôi về trại nầy khoảng hai bữa, “Út Bạch Lan trốn trại”. Anh ta chui qua mấy lớp hàng rào kẽm gai, dầy đặc cả mìn chiếu sáng và mìn chống người, ngay dưới chân cái tháp canh ngày đêm có bộ đội ngồi gác trên ấy.

Hàng rào và tháp canh nầy, có từ hồi lính Úc tới đóng đồn ở đây, đặc công còn không vào được mà anh ta chui ra dễ như chơi.

Người ta còn kháo nhau, Út Bạch Lan còn chơi khăm “bộ đội”, bỏ lại cái áo trắng trên hàng rào, làm như báo cho tụi nó biết “Tao ra ở lối này nè!”

Út Bạch Lan thuộc một khối chúng tôi vừa tới, trưởng khối là ông Nguyễn Bảo Tụng, nhà chơi tem nổi tiếng miền Nam, trước 75 nhiều lần lên TV nói về chuyện chơi tem cho khán giả nghe chơi.

Quản giáo khối nầy là một trung úy “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, gọi như thế cho đúng với chữ nghĩa thời Việt Nam Cộng Hòa, để phân biệt với Dziệt Cộng là dân trong Nam nhảy núi hay vào bưng.

Mỗi ngày anh trung úy cộng sản tập trung điểm danh chúng tôi. Câu anh ta thường đe dọa khi điểm danh là “Không được trốn trại”. Buổi tối, sau giờ kẻng đánh là “Không được bước chân xuống khỏi thềm nhà. Ra khỏi thềm nhà là vệ binh của tôi chúng nó bắn ngay. Chúng nó được “nệnh” không được bắn vào đầu, chỉ bắn vào chân cho què thôi. Nhưng chúng nó bắn dở “nắm”. Nó nhắm vào chân nhưng “nại” trúng vào đầu đấy. Rõ chưa?”

Chúng tôi phải hô “rõ” thật to trước cách nói xỏ lá của nó; nó mới chịu.

Mỗi khi nó điểm danh, trưởng khối Nguyễn Bảo Tụng đứng bên cạnh nó, nhìn về phía chúng tôi. Khi nó nói cái câu xỏ lá như trên thì ông Tụng thường nhìn tôi, mĩm cười. Tôi cũng nhếch mép cười, không hướng về phía ông Tụng và dĩ nhiên không cho tên trung úy cộng sản thấy.

Thái độ hung hãn và bất thân thiện, nếu không muốn nói rất ghét chúng tôi, trông giống như một nhân vật trong một cuốn phim Bulgary, tên nhân vật đó là “Bombata”, nên anh em thay vì gọi tên, họ gọi là Bombata. Vì vậy, cho tới nay, tôi vẫn không biết tên thật y là gì!

Bombata biểu ông Tụng cắt tù canh đêm, hễ thấy ai trốn trại thì hô hoán lên báo động cho bộ đội biết. Mỗi phiên hai người tù canh chung. Một hôm, tôi chung phiên với “ông thầy chùa Phát”. Ông Phát nguyên là đại úy tuyên úy, nay không còn ăn chay và cũng chẳng thấy kinh kệ hay Phật pháp gì cả.

Hôm ông canh với tôi, tôi nói: “Hộp quẹt tôi bị hư rồi, làm sao hút thuốc?”

Thầy chùa Phát nói:

– “Anh cứ lấy thuốc ra hút. Hễ gần hết điếu, mình mồi qua điếu khác.”

Tôi nói:

– “Hút vậy hao quá! Thầy có hộp quẹt không?”

Ông ta trả lời không!

Thế là tối hôm đó, tôi đem ra 3 gói thuốc “Basto Xanh” do vợ gởi cho. Cứ hết điếu nầy, tôi và ông thầy chùa vì sợ khuya rồi, biết xin lửa ở ai, mà canh đêm, không có thuốc hút thì buồn lắm, hút liền tù tì điếu nầy qua điếu khác, miệng nóng và đắng nghét.

Hôm sau, tôi thấy Trắc hút thuốc lào. Tôi cự nự Trắc:

– “Có hộp quẹt mà tối qua không cho tôi mượn.”

Trắc giải thích:

–  “Đâu có, tui mới mượn của ông thầy chùa Phát.

Tôi nói:

– “Vậy mà ông ta nói với tôi ông không có hộp quẹt?”

– “Anh tin thằng chả?” Trắc hỏi. “Ông thầy chùa nầy ghê lắm. Cần tiền thì ông cũng bán cả Phật như không!”

Một hôm, Bombata dẫn năm sáu anh em chúng tôi đi đốn cây ở phía dưới Long Giao một chút, trong một khu rừng nằm bên cạnh trục lộ từ Long Khánh đi Phước Tuy, có mấy vệ binh vác súng đi theo.

Cứ hai người đốn và khiêng về một cây dài khoảng 5 thước, gốc bằng bắp chuối. Không nặng lắm nhưng đi đường xa cũng mệt.

Tới một cái quán bên đường, chúng tôi xin nghỉ chân, vào quán xin nước uống. Thằng Bombata chấp thuận.

Chủ quán là một bà cụ già, khoảng 60 tuổi, vui vẻ lấy nước cho chúng tôi uống. Cụ còn nói: “Anh nào muốn uống nước ngọt thì uống đi, tôi không tính tiền đâu!” Chẳng ai uống mà cũng không mua vì sợ bà cụ không tính tiền cũng kỳ. Quán chỉ bán vài chai nước ngọt, mấy nãi chuối, ổi, đu đủ, v.v…

Đang ngồi nghỉ mệt, bà cụ nói đùa một câu: “Bây giờ khỏi đi đánh giặc, chỉ đi học không thôi, khoẻ há?” Rồi cụ cười, cái cười phải là rất ý nghĩa.

Chúng tôi sợ thằng Bombata, chỉ nhìn cụ cười lại mà không nói gì.

Trước khi ra về, chúng tôi xin phép thằng Bombata mua ít nãi chuối đem về trại. Nó bằng lòng. Bà cụ tính mỗi nãi chuối có 1 đồng (tiền mói đổi của Cộng Sản).

Thấy rẻ, Bombata cũng vào mua ba nãi. Bà cụ tính ba nãi mười đồng. Bombata thắc mắc:

– “Tại sao chị bán cho những người kia một đồng mà bán cho tôi những hơn ba đồng?”

Bà cụ hỏi lại:

– “Anh là chủ quán hay tui? Tui là chủ, tui muốn bán sao tui bán.”

Bombata tức lắm, nó nói:

– “Chị chưa giác ngộ, còn phản động “nắm”! Tôi sẽ phản ảnh với địa phương.”

Bà cụ cười mỉa:

– “Tui chấp đó. Thuở đời nhà ai, tui chừng nầy tuổi mà gọi tui bằng chị. Tui đáng tuổi bà nội. Chắc tụi nầy dưới đất chui lên.”

Biết không làm gì được bà cụ, Bombata quăng mấy nãi chuối lại, hằm hằm bảo chúng tôi khiêng cây về.

Về tới “nhà”, Bá vẫn chưa quên câu chuyện bà cụ trả lời “Bombata”. Bá hỏi tôi:

-“Tại sao thằng Bombata gọi bà cụ bằng chị. Nghe kỳ quá.”

-“Tại vì người ta có “một cha cung trên trời”. Bọn chúng có một “bác chung” cho cả nước. Ai cũng là “cháu của bác” thì già trẻ, lớn bé, cha con, mẹ con đều là anh em cả thì gọi nhau anh, chị em. Vậy là đúng chính sách đấy.”

Bá nói:

-“Hèn chi tụi thấy tụi cán bộ gọi nhau là anh anh em em, không lịch sự chút nào cả. Phải là có máu mũ bà con hay bồ bịch gì đó mới gọi là anh em chứ!”

-“Văn hóa ông nói là “văn hóa tư sản”, “văn hóa tiểu tư sản.” Văn hóa mới của tụi Bắc Kỳ là “văn hóa vô sản”, “văn hóa Chí Phèo”, giống nhau thế chó nào được.” Tôi trả lời.

Thằng Bombata “hành hạ” ông Nguyễn Bảo Tụng đến tội nghiệp.

Vì Út Bạch Lan ở trong khối của ông nên sau khi Út Bạch Lan trốn trại, nó đặt ra nhiều biện pháp rất nghiêm nhặt: Không cho nói chuyện với người ngoài tổ. Vì vậy, tôi chỉ có thể nói chuyện với Đào Sơn Bá, cùng tổ. Tôi và Trắc, trong đời tù cải tạo, đi chung với nhau từ đêm đầu tiên ở Taberd, 24 tháng 6 năm 1975 cho tới bây giờ. Không biết bao nhiêu lần chúng tôi ở chung, ăn chung, chơi chung, đào giếng, trồng rau, trồng sắn (mì) chung, v.v…

Trắc thấy tôi, cười một cái rồi nói “Nhưng không chết người trai khói lửa” rồi đường ai nấy đi. Trong suốt thời gian tù cải tạo sống bên nhau, mỗi khi gặp khó khăn, Trắc thường nói đùa với tôi câu hát ấy. Sau nầy, qua tới Mỹ, lần đầu tiên gọi điện thoại cho tôi, Trắc hỏi: “Biết ai đây không? “Nhưng không chết người trai khói lửa…” Trắc nói chưa xong thì tôi đã la lên: “Trắc, tui tìm ông quá trời!..”

Chúng tôi đoán chừng tên quản giáo buộc ông Tụng theo dõi bọn tôi để báo cho nó hay những “biểu hiện xấu”.

Chúng tôi cũng đoán chắc ông Tụng không thể làm như vậy được. Vì vậy mà thằng Bombata làm khó làm dễ ông quá lắm!

Chỉ một việc Út Bạch Lan trốn trại mà nó hành hạ ông già Tụng đến thảm. Nó bắt ông Tụng viết báo cáo về việc Út Bạch Lan trốn trại đến cả chục lần, lần nào nó cũng bảo rằng chưa đạt. Đạt có nghĩa là ông Tụng cũng như anh em biết Út Bạch Lan âm mưu trốn trại mà không báo cáo cho “cách mạng” hay. Ối trời! Ai mà biết ai “âm mưu trốn trại”. Ai có khùng mới “phổ biến” việc mình muốn trốn trại cho người khác biết. Mà dù có biết, chẳng ai báo cáo. Việc ấy, ai làm được?!

Mỗi ngày một lần, ông Tụng phải cầm tờ báo cáo đọc cho nó nghe. Không hiểu tại sao nó không cầm tờ báo cáo tự đọc lấy mà bắt ông Tụng phải đọc. Có thể nó đọc chữ quốc ngữ không thông chứ chữ ông Tụng viết rất đẹp và khá rõ. Ông thuộc loại học trò trước 1945, thầy giáo dạy tập viết kỹ lắm.

Khi ông đọc báo cáo, nó bắt ông phải ngồi dưới đất, theo kiểu nước lụt, thông tục gọi là “ngồi chò hỏ”; còn nó ngồi trên sập, “vách đốc củ tỏi”, như mấy ông lý trưởng, chánh tổng ngày xưa.

Trong cái “tư thế” như vậy, ông Tụng khó chịu lắm, nhưng ông làm gì được nó. Nó từng hăm nhốt ông vào “cát-xô” vì tội tán trợ Út Bạch Lan trốn trại. “Anh biết trước nó trốn nhưng anh không báo cáo. Tôi sẽ “xử ní” anh.”

Chưa nhốt ông vào cát-xô là điều may cho ông, nói gì tới chuyện khác. Vả lại cách làm của Bombata như thế cũng là một hình thức khủng bố ông Tụng.

Cùng đơn vị trước đây với ông Tụng có ông cựu đại úy Lượm. Ông Lượm thường tự hào mình là con chủ điền. Có lần ông nói: “Cha mẹ tôi giàu, con khó nuôi, nên mới đặt tên tôi là Lượm. Lượm đâu đó về nuôi, chớ không phải do ông già bà già đẻ ra, sợ ma bắt.”

Không mấy khi tôi nói chuyện với ông Lượm. Tôi không thích những người gọi cha mẹ là “ông già, bà già.” Gọi như thế là thiếu tôn kính cha mẹ, là cách nói của giới bình dân.

&

Khi thằng Bombata điểm danh xong, về rồi, tôi thường ngồi nơi cửa sổ phòng tôi nhìn về phía bên kia đồi.

Tôi chờ mặt trời xuống. Bây giờ đang mùa hè!

Mặt trời như một khối lửa, khi chạm tới đỉnh đồi phía xa xa, nó tóe ra trăm ngàn tia lửa đỏ, rực cả một chân trời, phản chiếu vào mầu mây. Cao trên mây chút nữa là mầu đen của một cảnh trời chiều sắp tắt, trông buồn lắm. Cảnh ấy làm cho tôi nhớ thời niên thiếu khi tôi còn ở quê nhà, ngồi bên nầy bờ sông Thạch Hãn, nhìn mặt trời sắp lặn sau dẫy Trường Sơn. Chỉ khác một điều, những ngọn đồi ở đây không cao, không trùng điệp và hùng vĩ như những ngọn núi ở dãy Trường Sơn.

Trong những buổi chiều lặng lẽ và u buồn như thế, ông Tụng hay ra đứng bên cạnh tôi, nói bâng quơ vài câu chuyện.

Tò mò một chút ít về tem. Có lần tôi hỏi ông:

– “Bác Tụng nè! Câu sấm nói “Voi bò trên giấy” là ứng với tờ giấy hai giác (hai mươi xu, hai giác là gọi theo cách xưa của người Trung; người Bắc gọi là hai hào) thời Đông Dương. Hồi đó, tôi nhớ cũng có con tem vẽ hình mấy con voi. Vậy câu sấm có ứng với mấy con tem không?”

Ông Tụng giải thích:

– “Tờ giấy bạc hay con tem không quan trọng, cái ý chính của câu sấm là nói tới “thầy tăng” là “thằng Tây” sắp đi đời.” (1)

Tôi lại hỏi:

– “Bác có nghĩ thầy tăng là mấy ông thầy chùa không?”

– “Làm gì có!” Thầy tăng là thằng Tây. Câu sấm nói lái.” Ông Tụng giải thích.

– “Tui không nghĩ câu sấm nầy là của ông Trạng Trình đâu. Nếu là ông Trạng Trình, mắc chi ông phải nói lái. Nói lái như vậy là để đánh lạc hướng mật thám Tây. Như vậy là câu nầy mới đẻ ra hồi Tây.” Tôi nói.

– “Cũng có thể đấy!” Ông Tụng nói. “Tôi chơi tem mấy chục năm, chưa ai hỏi tôi rắc rối như anh!” Ông Tụng vừa cười vừa nói.

– “Bác có bực mình không? Bác nên nhớ tui là “dân trọ trẹ” mà!”

– “Bực mình thì tôi đã không ra đứng đây nói chuyện chơi với anh cho vui. Tôi khổ tâm vì cái thằng trung úy bộ đội nầy. Nó chưa bằng tuổi con tôi mà nó mất dậy quá!”

– “Thời thế mà! Hàn Tín còn luồn trôn giữa chợ!”

Rồi tôi đọc câu đối của Ngô Thời Nhiệm “Gặp thời thế thế thời phải thế!”

Bỗng ông Tụng hỏi tôi:

– “Anh ở Huế có biết Như Hà không?”

– “Như Hà nào? Hà-Lãng-Hổ à? Bà ấy là chị thằng bạn tui.”

– “Tôi lập hồ sơ vụ án Hà-Lãng-Hổ. Hồi đó cho tới 30 tháng Tư, tôi làm việc ở Biên Hòa.”

Ông Nguyễn Bảo Tụng, người gốc Bắc, không rõ tỉnh nào. Trước là Hiến Binh. Sau chế độ Ngô Đình Diệm, Hiến Binh giải tán, một số chuyển ngành Cảnh Sát, một số chuyển qua Quân Cảnh. Ông thuộc ngành Quân Cảnh Tư Pháp, chức vụ cuối cùng của ông trước 30 tháng Tư là Đại Đội Trưởng Đại Đội Quân Cảnh Tư Pháp Quân Khu 3, đóng tại Biên Hòa.

Khi vụ án Hà-Lãng-Hổ xẩy ra, ông làm việc ở Đại Đội Quân Cảnh Tư Pháp đó, nhưng không biết đã làm đại đội trưởng hay chưa. Ông là người lấy cung, điều tra vụ án nầy.

Tò mò, tôi muốn thêm chút ít về một vụ án, mà Ngô Thị Như Hà, nhân vật chính là chị của Trần Quang Quy, bạn học của tôi.

Năm 1954-55, tôi và Trần Quang Quy học chung một lớp, chuẩn bị thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Chúng tôi là bạn thân. Bà Hà chuẩn bị thi Tú Tài 1.

Hồi đó, nhà Quy tại “Villa Elizabeth” nằm trên đường Duy Tân, là đường nối liền từ đầu cầu Trường Tiền xuống An-Cựu. Ngôi nhà nầy sau thuộc phạm vi “Khách Sạn Duy Tân” của Cậu Cẩn.

Tôi ăn cơm tháng gần trong hồ Tịnh Tâm, khu vực không có điện, tối mù mù, phải dùng đèn dầu hỏa. Học bài khuya, hao dầu, nhắm bộ bà chủ không vui lòng nên cứ tối tối, tôi qua nhà Quy học chung.

Cũng không phải là học trong nhà. Bọn tôi ra ngồi ở gốc đèn điện đường. Ngồi cột đèn nầy một chút thì qua cột đèn kia. Thỉnh thoảng, thấy chó chạy hoang thì lấy đá vụt chơi. Gặp mấy o bán chè thì hát “Con mèo chạy quanh tấm ván” nhại theo câu rao hàng của mấy o là “Chè đậu xanh đậu ván.” Có một câu nhại tục hơn, nhưng mấy ông lính mới xài câu đó, chúng tôi là học trò, không dám (2).

Gặp cảnh sát đi tuần sau giới nghiêm, 12 giờ đêm, thì phải trốn cho lẹ vì đôi khi, mấy thầy cảnh sát bắt được, nếu không thông cảm thì “Bị bác bếp Bình bắt bỏ bót ba bốn bữa.” Không “ba bốn bữa” đâu! Sáng hôm sau đã thả ra, vừa mất học bài, vừa trễ một buổi học ở trường.

Nhà Quy ở là nhà Tây, có nhiều phòng.

Ông thân Quy, thiếu tá Trần Thành, dân Quảng Bình, cùng quê với Cậu nên sớm làm trung đoàn trưởng đóng gần Huế.

Thỉnh thoảng ông mới về nhà. Quy có phòng ngủ riêng. Bà Hà cũng có phòng riêng. Nó cười cười, dặn tôi không được vào phòng bà Hà: “Phòng con gái, dơ lắm.”

Nó nói vậy. Tôi hiểu mờ mờ về cái dơ đó. Tuy thường đến đây, tôi chưa bao giờ thấy bà Hà tại nhà. Chỉ có một lần, khi chúng tôi đang ngồi trong lớp, bà Hà đạp xe đạp tới, gọi Quy ra, nói chuyện gì đó. Cả lớp, nhất là Nguyễn Đình Thống, anh ca sĩ Hoàng Lan của Đài Phát thanh Huế, trầm trồ “Chị thằng Quy đẹp ghê!” Vậy thôi.

Năm tôi học ở Khải Định, sau nầy là Quốc Học, tôi không thấy bà Hà lần nào, mặc dù, mấy lớp trên tôi, con gái còn học chung với con trai bên Khải Định vì trường Đồng Khánh chưa mở những lớp Đệ Nhị Cấp.

Nghe nói bà Hà đã đi dạy Trung Học, sau khi đậu tú tài 1. Hình như có một năm bà ấy về học lại lớp đệ nhứt, chung với bà Tường Loan.

Trên “Tập văn Học sinh Quốc Học” năm ấy, hai bà nầy đăng thơ gởi qua gởi lại cho nhau, làm như đôi tình nhân.

Tôi chỉ nghe nói, không đọc thơ họ hay đọc rồi mà quên. Nói như thế là thật tình, thơ không hay lắm. Nếu thơ hay lắm, – tôi nói là hay lắm -, có lẽ tôi đã thuộc vài câu.

Khi tôi đã đi dạy rồi, một người bạn đồng nghiệp, rất thân, bạn học với Tường Loan kể cho tôi nghe một câu chuyện như sau:

Một hôm, anh bạn tôi tới tư thất viện trưởng, nhà số 1, ở đầu đường Trương Định, là nhà của cha Luận, để mượn sách.

Vào sân, anh bạn tôi thấy ngay cửa giữa, sau bức màn phía sau phòng khách, phía dưới màn còn hở là cái áo đen và hai chân cha Luận, bên cạnh là hai chân một người đàn bà. Chỉ thấy hai chân vì phần trên đã bị tấm màn che khuất.

Tò mò, người bạn tôi đạp xe ra phía cửa sau. Té ra lúc đó, bà Hà đang đứng khâu lại bức màn. Cha Luận đứng bên cạnh. Hai người đang nói chuyện với nhau, vui vẻ lắm!

Khu nhà phía sau, có nhiều phòng. Những người ở lại nhà cha Luận, như bà Hà thì ngủ ở những phòng sau đó, không ngủ lại trên gian nhà chính.

Bọn sinh viên Huế, không ít người biết bà Hà là con nuôi của cha Luận.

Có một điều vui nữa, theo người bạn kể, cha Luận thường cho những “học trò cưng” của ông mượn sách về đọc. Ông có một tủ sách lớn, sách mua từ bên Tây về.

Mượn sách về phải rọc sách mà đọc. Điều đó cho thấy cha Luận có nhiều sách nhưng lại ít đọc.

Chuyện nầy cũng khá buồn cười. Năm bà Hà họcĐệ Nhứt gì đó, một buổi sáng, bà Hà không đi học. Bà đau bụng! Mấy người bạn cả trai lẫn gái rủ nhau đạp xe lên ga xe lửa Huế, thăm bả vì bả thuê nhà ở trên ấy. Vô tới nhà, hỏi thì bà nói đã đỡ đau nhiều, nhờ hồi khuya có gọi điện thoại cho cha, cha đã lên thăm và có xức dầu cho bà rồi.

Cha xức dầu cho bà Hà đau bụng, xức ở đâu? “Nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, dĩ nhiên là chúng tôi có rất nhiều “lời bàn Mao Tôn Cương” và tiếng cười vì việc xức dầu ấy!

Giữa năm 1974, tôi đang ở Hà Tiên, nhân viên của tôi đi học ở Cần Thơ, không biết sao lại gặp Trần Quang Quy. Biết tôi ở Hà Tiên, Quy theo họ về tôi chơi, ở lại một đêm.

Sáng hôm sau, tôi xin máy may trực thăng bên biệt Khu 44 cho Quy quá giang về Cần Thơ. Khi ấy, Quy mang “loon” trung úy, đang phục vụ tại Cần Thơ.

Bữa đó, ăn cơm xong, tôi bảo lính xếp hai cái giường bố trong văn phòng của tôi để chúng tôi nằm bên nhau nói chuyện chơi.

Tôi lại tò mò hỏi Quy về vụ Hà-Lãng-Hổ mà báo chí đã đăng tùm lum, khi tôi còn ở Saigon. Lúc nầy, hình như bà Hà làm chủ thẩm mỹ viện Như Hà trên đường Phan Thanh Giản, Saigon.

Quy kể:

“Bà Hà có cái xe Fiat trắng, đẹp lắm; ngày ngày đưa đón con đi học ở Taberd. Thiếu tá Đinh Viết Lãng cũng có một chiếc Fiat giống y chang vậy, cũng đưa đón con đi học mỗi ngày như bà Hà.

Để ý xe ai giống xe mình, rồi để ý đến người lái xe, mối tình ngang trái bắt đầu, rồi làm thơ gởi qua gởi lại cho nhau. Chuyện lãng mạn của những người còn trẻ, giàu có, tư sản.

Khi câu chuyện tình bể ra, muốn giàn xếp cho yên, cha Luận can thiệp.

Cha yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu đổi Thiếu tá Lãng về Cần Thơ, để hai người xa nhau, không có cơ hội gặp gỡ.

“Vậy mà rồi hai người cũng cứ lén lút gặp nhau. Thiếu tá Hổ theo dõi, bắt gặp hai người đưa nhau đi chơi trên xa lộ Saigon – Biên Hòa.

Hổ chận xe bắn chết thiếu tá Lãng, đạn lạc, chết luôn cả cậu em Như Hà ngồi ở băng sau.”

Hỏi về chuyện bà Hà mở thẩm Mỹ viện, Quy cho biết bà Hà đi học thẩm mỹ ở Nhật, cũng do cha Luận giúp đỡ.

Ông Tụng lại kể chuyện vụ án Hà-Lãng-Hổ với tôi.

Tôi hỏi:

– “Giết chết hai mạng người, một cố sát, một ngộ sát mà chỉ bị án treo. Khó hiểu không?”

– “Nói chung thì tội cho bà Lãng và mấy đứa con. Thiệt thòi nhất.” Ông Tụng nói.

– “Bà không khiếu nại gì hết trơn?” Tôi hỏi.

– “Họ giàn xếp.” Ông Tụng giải thích. “Bà Như Hà cam kết chăm sóc nuôi nấng các con của bà Lãng cho đến khi khôn lớn.”

– “Tình trạng như bây giờ, ai ở ai đi! Bà Hà còn giữ lời cam kết không?” Tôi hỏi.

– “Tôi cũng không rõ!” Ông Tụng nói.

Nhớ cha Luận là cha nuôi bà Hà, tôi hỏi:

– “Có ai giàn xếp vụ nầy không? Cha Luận có can thiệp gì không?”

– “Như Hà không khai được một lời, chỉ ngồi khóc. Mọi việc cha lo liệu hết.” Ông Tụng giải thích.

– “Khai như thế nào mà chỉ bị tù treo. Tui không hiểu được.” Tôi nói.

Ông Tụng giải thích:

– “Trong lời khai ghi như thế nầy”. Ông Tụng kể lại: “Khi thiếu tá Hổ chận xe lại, chỉ rút súng ra là để hăm dọa và tự vệ vì thiếu tá Lãng cũng có mang súng. Thiếu tá Hổ hỏi thiếu tá Lãng: “Tại sao mày ngoại tình với vợ tao?” Lãng nói: “Tao ngoại tình với vợ mày. Mày không thấy xấu hổ sao mà còn hỏi…” Đó là câu nói khiêu khích của Lãng làm cho Hổ nóng lên, mất bình tỉnh, nên nổ súng bừa.”

– “Ai làm chứng? Bà Hà làm chứng, ông Hổ khai, cũng như không!” Tôi nói.

Nghe câu đó, ông Tụng chỉ cười. Một chốc, ông Tụng nói: “Tướng bà Hà là dâm lắm.” Tôi cũng làm thinh, nhớ hồi đi học, bọn học trò chúng tôi được ông Lê Hữu Mục cho chia phe cải nhau “Kiều đa tình hay đa dâm, hay cả đa dâm đa tình?” Chúng tôi cải nhau dữ dội, chẳng đâu ra đâu!

Một lúc sau, tôi nói với ông Tụng: “Xã hội nào cũng có hai giai cấp chính. Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị. Người Tây có nói: “giai cấp thống trị là giai cấp thượng lưu.” Họ cấu kết với nhau để bảo vệ quyền lợi của họ.”

Ông Tụng hỏi:

– “Theo anh nghĩ, “cách mạng” nói họ xây dựng một xã hội không có giai cấp. Họ có làm được không?”

Tôi nhìn ông Tụng, nói nhỏ: “Đừng nghe những gì…” rồi tôi cười, không nói tiếp nữa. Dĩ nhiên ông ta nhớ hết cả câu và biết rõ ai nói lên cái chân lý đó.

&

Từ đó về sau, mỗi chiều, nói chuyện với nhau, chúng tôi không nói chuyện Hà-Lãng-Hổ nữa. Hà-Lãng-Hổ là tên vụ án do bao chí hồi đó đặt ra.

Chúng tôi trở lại việc chơi tem. Tôi hỏi ông Tụng:

– “Bác Tụng! Bác có tin sấm không? Sấm Trạng Trình!”

– “Cũng có, nhưng không tin lắm.” Ông Tụng trả lời.

– “Tôi nói bác đừng phiền tôi. Bác có đạo, tin Chúa, tin Kinh Thánh. Tôi nghĩ, kinh Thánh, cũng như sấm, nhiều khi nói sai, hoặc tam sao thất bổn. Có khi các đệ tử của Chúa giảng kinh Thánh sao cho có lợi cho bản thân họ, chứ không cần có đúng kinh Thánh hay không! Hình như kinh Thánh nói năm hai ngàn tận thế. Ba mươi tháng Tư là coi như miền Nam tận thế trước thiên hạ.” Tôi nói.

Ông Tụng cười:

– “Anh nói buồn cười thật. Sấm truyền không thể so với kinh Thánh, thứ hai, Ba mươi tháng Tư mà tận thế sao?”

– “Kinh Thánh, sấm Trạng Trình, sấm giảng của ông Huỳnh Phú Sồ, ai tin cái nào thì cho cái đó đúng hơn, cao hơn, đó là thường tình. Còn với những người bị bắt đi cải tạo, gia đình ly tán, phiêu lạc, trời có sập, có tận thế cũng tới đó là cùng.”

Không trả lời tôi, ông Tụng chỉ cười.

Tôi lại hỏi:

– “Bác có con tem bà Nam Phương không?”

– “Tôi có những mấy con. Bà đội khăn vàng, khăn hoàng hậu.” Ông Tụng nói.

Tôi cười:

– “Hồi xưa chỉ có hoàng hậu, hoàng thái hậu mới đội khăn vàng. Bây giờ mấy cô dâu Huế cô nào cũng đội khăn vàng. Vợ tui, khi đám cưới cũng vậy. Bà nào cũng muốn làm hoàng hậu.” Rồi tôi nói đùa: “Vợ tui là hoàng hậu của tui.”

Tôi nhớ có đọc một bài viết của ông Đoàn Thêm, kể chuyện khi ông Bảo Đại bên Pháp về, ra thăm Hà Nội, kiều nữ Hà Thành nhiều người nhắm ngôi hoàng hậu, nhưng sau đó, ông cưới bà Nguyễn Hữu Thị Lan. Tôi thuật lại câu chuyện đó với ông Tụng.

Ông Tụng nói:

– “Con gái Hà Nội đẹp lắm, đẹp hơn bà Nam Phương nhiều, vậy mà chẳng cô nào lọt mắt hoàng đế.”

Tôi nói:

– “Tôi không nghĩ ông Bảo Đại yêu bà Nguyễn Hữu Thị Lan mà cưới. Ông ta háo sắc mà bà Nam Phương thì không đẹp. Bà có duyên nhưng hai mắt nhỏ quá, phá tướng. Người thương thì gọi lá “mắt phượng”; người ghét thì cho là “mắt ti hí” Bác nghĩ phải không?”

– “Vậy tại sao ông Bảo Đại cưới bà?”

– “Chính trị. Chính trị mà.” Tôi nói. “Đám cưới nầy là do ông Charles (3) dàn dựng. Ông ta có công dạy dỗ ông Bảo Đại, lo vợ, lo con. Dĩ nhiên, công việc của ông Charles là một công tác đặc biệt, được Thực dân Pháp giao phó, nhắm vào quyền lợi nước Đại Pháp (4), đâu phải vì quyền lợi của người Việt Nam.”

– “Bà Nam Phương lấy ông Bảo Đại thì nước Pháp được lợi gì?” Ông Tụng hỏi.

– “Trói ông Bảo Đại lại. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” (5) Người Huế có tinh thần yêu nước, ai không biết như thế! Sau khi ông Bảo Đại cưới vợ thì ông “nằm im”, chỉ chăm việc nhảy đầm, săn bắn, vui chơi. “Năm cụ khi không rớt cái ình” (6) xong rồi thì ông Bảo Đại rớt theo.” Tôi nói.

Ông Tụng hỏi:

– “Anh nói “năm cụ khi không rớt cái ình” là chuyện gì?”

– “Là năm ông thượng thư già bị ông Bảo Đại cho về hưu, lập một nội các mới, nhiều người trẻ. Trong số, trẻ nhứt là ông Ngô Đình Diệm, mới 32 tuổi.”

– “Thế rồi tại sao ông Diệm xin từ quan?”

– “Vì nội các mới đặt vấn đề với Tây, yêu cầu thi hành đứng đắn các hiệp ước đã ký với triều đình An-Nam. Ông Bảo Đại còn trẻ, tinh thần còn hăng, muốn đem cái sở học từ bên Tây về để canh tân nước nhà cho kịp đà tiến hóa với năm châu. Tụi thực dân Pháp ngửi thấy mùi “phản động” đó, triệt tiêu ngay bằng một “mụ” đàn bà.” Tôi giải thích.

Một lúc, tôi nói tiếp:

– “Tui nhớ hồi tui chưa đi học, đã nghe bài hát:

“Dậy, dậy, dậy mở mắt xem toàn châu

Đèn khai hóa rọi khắp toàn cầu

Ngọn đường thông thương ngàn dặm

Xe tàu điện, tàu nước, tàu bay…”

Lời ca thật ngô nghê…”

– “Chưa đi học mà nhớ tới giờ cũng hay đấy!” Ông Tụng vừa cười vừa nói.

Phấn chấn vì lời khen của ông Tụng, tôi nói tiếp:

– “Tôi còn nhớ một bài nữa “Kìa, núi vàng bể bạc, có sách trời, sách trời định phận. Một dòng ta gầy non sông vững chặt…” chỉ nhớ chừng đó, đoạn sau tôi quên mất. “Sách Trời Định” là “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của Lý Thường Kiệt đấy.”

Ông Tụng nói:

– “Bài anh hát là bài “Đăng Đàn Cung” là bài dùng để rước vua.”

– “Tôi không biết, nhưng hồi Tây, sau bài Marseillaise thì học trò hát bài nầy. Tôi cứ tưởng là bài quốc ca nhà Nguyễn.”

– “Cũng có thể đấy. Tôi học trường Tây nên khi chào cờ chỉ hát Marseillaise mà thôi. Sau đó hát bài “Maréchal! Nous voila! Devant toi, le sauver…” Ông Tụng nói.

Một lúc, tôi lại hỏi ông:

– “Bác có biết những bài kêu gọi Đông du, Duy tân như “Á tế Á”, “Hải ngoại huyết thư”, “Lưu cầu huyết lệ tân thư” của cụ Phan Bội Châu không?”

– “Tôi chỉ biết sơ thôi, tôi có đọc sử.” Ông Tụng trả lời.

Tôi đọc:

“Phen nầy cắt tóc đi tu,

Tụng kinh Độc lập ở chùa Duy Tân.

Đến ngày khấn vái ân cần,

Cầu cho ích quốc, lợi dân mới là,

Tu sao cho mở trí dân nhà,

Tu sao độ được nước ta phú cường.”

Hồi ấy, tôi cứ thắc mắc, không biết chùa Duy Tân nằm ở đâu?”

Cả ông ta với tôi đều cười.

Một lúc ông Tụng than:

– “Coi như ông Diệm là “đồng chí” với ông Bảo Đại. Vì vậy mà ông bị kẹt.”

– “Còn nữa bác. Ông Bảo Đại lập “Ủy ban Cải cách”, cử ông Diệm làm thư ký hay tổng lý gì đó, đại khái là một cái chức gì đó, tôi không nhớ, chỉ dưới quyền ông Bảo Đại mà thôi.

Ông Bảo Đại muốn cải cách cái gì? Tây nó coi đó như là sự chống đối. Vậy thì phải trói tay ông ta lại chớ. Ông Diệm không từ chức cũng không được. Đó chỉ là một cách nói. Ông Diệm đi rồi, còn lại toàn là một đám người dễ bảo. Cưới cho ông Bảo Đại một bà vợ, với một triệu đồng tiền Đông Dương làm hồi môn. Thế là xong. Có bài bản cả đấy. Thành ra, tôi cho rằng ai bôi lọ ông Diệm, cho rằng vì tranh chức thượng thư không lại với Phạm Quỳnh mà xin từ chức là xuyên tạc lịch sử.”

– “Lâu lâu nghe anh nói chuyện lịch sử triều đình Huế cũng hay. Theo anh thì bà Nam Phương là người như thế nào?” Ông Tụng hỏi tiếp.

– “Nầy, bác coi nhé. Học trường đạo nầy, du học bên Tây nầy, dòng dõi “Huyện Sĩ theo Tây Đại Việt Gian nầy”, “dân Tây” nầy, quê “Nam Kỳ thuộc địa” nầy. Bác biết quan trọng nhứt là điều gì không?” Tôi nói.

– “Điều gì?” Ông Tụng hỏi.

– “Đạo Thiên Chúa. Với một con người như bà ấy, bà đặt quyền lợi giáo hội La Mã lên trên quyền lợi dân tộc Việt Nam. Bà “dân Tây”, “Nam kỳ thuộc địa”, đâu có thuộc “nước An-Nam”. Đưa tôn giáo vào chính trị là vậy. Nước ta, đưa thần quyền vào thế quyền là chủ trương của giáo hội La Mã khi họ bắt tay với bọn thực dân xâm lăng, cai trị nước ta. Đến khi bà Nam Phương lên ngôi hoàng hậu, lúc ấy, từ trung ương đến địa phương, thế lực giáo hội đã quá rõ ràng. Vì vậy, ở nước ta, quyền lợi thực dân Pháp liên kết chặt chẽ với quyền lợi của giáo hội.” Tôi nói, một hơi.

Giọng ông Tụng vẫn từ tốn:

– “Theo tôi, anh nghĩ hơi xa rồi đấy!”

– “Có thể bác không đồng ý với tôi, cũng là điều thường tình. Nhưng kính mến bác nên tôi nói thẳng và nói thật những gì tôi suy nghĩ từ trước tới nay./

hoànglonghải

(1)-Câu sấm là:

Bao giờ cỏ mọc trên chì,

Voi bò trên giấy đi đời thầy tăng!

(2)-Câu tục mấy ông lính tráng thường chọc mấy “o” là “Đè đầu hôm tới sáng.”

(3)-“Jean Eugène Charles” nguyên khâm sứ Trung kỳ, Toàn quyền Đông dương tạm thời 1916-1917. “Bạn” của vua Khải Định, thay mặt nhà vua chăm sóc việc học hành cho Bảo Đại khi ông nầy du học ở Pháp. Sau khi ông Bảo Đại thôi học trở về Huế, ông Charles cũng qua Việt Nam, tiếp tục “chăm sóc” cho nhà vua, “sắp đặt” việc vợ con cho vua.

(4)-“Nước Đại Pháp”, ấy là cách nói “nịnh” nước Pháp, cũng giống như sau nầy, chế độ Cộng Sản Hà Nội gọi “Trung quốc Vĩ đại” hay “Liên xô Vĩ đại” vậy.

(5) Nguyễn Giản Thanh, thường được gọi là Trạng Me; 1482–?) là trạng nguyên khoa thi Đoan Khánh năm thứ tư (1508), đời vua Lê Uy Mục, người làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me) huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.

Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó, lại ra làm quan với nhà Mạc, được cử đi sứ sang Trung Hoa để cầu phong cho Mạc Đăng Dung. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, khi mất được tặng tước hầu.

Lúc Nguyễn Giản Thanh còn đi học, thầy học là Đàm Thuận Huy, thấy học trò sắp ra về thì trời đổ mưa to, học trò không về được, thầy bèn ra vế đối để thử tài học trò:

“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mưa không có then khóa mà có thể giữ được khách).

Nguyễn Giản Thanh liền đối lại là: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Sắc đẹp của người đàn bà, không phải là sóng, nhưng dễ nhận chìm người).

Thầy Đàm Thuận Huy nói:

Câu đối này thật hay và thật chỉnh, văn khí này có thể đậu Trạng nguyên, nhưng về sau coi chừng việc sắc dục làm hại sự nghiệp.

Tương truyền, Nguyễn Giản Thanh chỉ đậu bảng nhãn còn Hứa Tam Tỉnh (làng Ngọt) đậu trạng nguyên. Trong buổi lễ ra mắt vua, các tân khoa phải làm một bài phú dâng tặng vua và hoàng thái hậu (mẹ của vua). Hoàng thái hậu thấy Hứa Tam Tỉnh dung mạo xấu xí thì không ưng lắm, trong khi đó Nguyễn Giản Thanh khuôn mặt khôi ngô thanh tú nên bà muốn ông làm trạng nguyên. Vua vì muốn chiều lòng mẹ nên đánh giá bài phú của Nguyễn Giản Thanh cao hơn và trao danh hiệu trạng nguyên cho ông. Do đó dân gian có câu “Trạng Me đè trạng Ngọt”.

(6) Toàn bộ bài thơ nầy, theo một người bà con, chị là con gái cụ cử Hoàng Đức Cự, bạn đồng song với ông Tuần Chi (Nguyễn Đình Chi – chồng bà Tuần Chi, thường gọi là bà Tùng Chi, xưa là hiệu trường Đồng Khánh, mẹ vợ tướng Trần Văn Trung) đọc cho tôi chép lại như sau:

Năm cụ khi không rớt cái ình

Đất bằng sống dậy chốn thần kinh

Bài không đeo nữa xin dâng lại

Đàn chẳng ai nghe, khéo dở hình

Liệu thế không xong, binh chẳng được.

Liêm đành giữ tiếng, lễ đừng rinh

Công danh như rứa là hậu hỉ

Đại sự xin nhường kẻ hậu sinh.

Trong “Thuyền ai trước bến Văn Lâu” của giáo sư Nguyễn Lý Tưởng”, chép lại theo “Hương Bình Thi Tập” của cụ Hoàng Trọng Thược, có khác vài chữ như sau:

Câu 2: Đất bằng sóng dậy đất thần kinh

Câu 7: Công danh thôi thế là hưu hỉ

Câu 8: Đại sự xin nhường lũ hậu sinh

Cũng trong sách nói trên, tác giả chép lại theo “Giai

Thoại Làng Nho” của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc như sau:

Năm trụ khi không ngã cái ình

Đất bằng một tiếng thảy đều kinh

Bài không đeo nữa xin dâng lại

Đàn nọ ai nghe, khéo dở hình

Liệu thế không xong, binh chẳng được

Liêm đành giữ tiếng, lễ đừng rinh

Công danh như thế là hưu hỉ

Đại sự xin nhường lũ hậu sinh.

Năm cụ, tiếng Huế thường dùng để gọi các quan, những người lớn tuổi như cụ Ngô, cụ Hồ (năm 1945, 46), cụ Huỳnh, cụ Phan, v.v… là 5 ông thượng thư tại chức khi vua Bảo Đại còn ở bên Pháp.

Năm cụ rớt chức thượng thư gồn có:

Câu 3: Nguyễn Hữu Bài, rớt chức thượng thư bộ Lại

4: Tôn Thất Đàn, thượng thư bộ Hình

5: Phạm Liệu, thượng thư bộ Binh

6: Võ Liêm, thượng thư bộ Lễ

7: Vương Tứ Đại, thượng thư bộ Công.

Con cháu ông Nguyễn Hữu Bài, tước quận

công, bây giờ còn ai, tôi không biết, nhưng các ông như giáo sư Tôn Thất Thiện, Phạm Biểu Tâm, Võ Văn Hải, là con cháu các cụ thượng thư ở Huế, tôi không rõ có quan hệ giữa các ông nói trên với các cụ “rớt cái ình” như thế nào!

Năm trụ: là 5 cột trụ của triều đình.

Anh Mười Nhịn

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Anh Mười Nhịn

Anh Mười Nhịn râu quặp. Thiên hạ chê, cười. Ảnh chống chế rằng con sư tử Hà Ðông rất sợ anh. Anh nói gì là chị ấy làm ngay phăng phắc! Lãnh lương về, ảnh biểu chỉ: “Cất đi!”.  Là chỉ bèn riu ríu nghe lời ảnh đem cất tiền vô túi áo khỉ của chỉ!

Anh Mười Nhịn triết lý vụn như vầy: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng nhiều tiền hơn. Hạnh phúc gia đình, quan hệ vợ chồng cũng không là ngoại lệ.

Hãy nhìn qua nước Bắc Triều Tiên! Kim Chính Ân tự Ủn, mặt như con heo ‘nọc’ cũng ‘sắm’ được con vợ đẹp quá chừng?! Nếu, Ủn không có quyền và có tiền thì còn lâu chú mới rớ được cọng ‘lông’…chưn của em nhá!

Xưa giờ ai cũng biết: “Tiền là Tiên, là Phật. Là sức bật tuổi trẻ. Là sức khỏe tuổi già. Là cái đà danh vọng. Là cái lọng che thân. Là cái cân công lý. Có tiền là hết ý !!!”

Mấy anh Mít mình thường hay nói: “Tiền là Tiên, là Phật.  Là sức bật con người. Là nụ cười người ấy!” Mấy em Úc cũng nói y chang như vậy: “No money! No Honey!”

Vì: Em sẽ lấy một anh chàng nghèo kiết xác, nghèo mạt rệp, nghèo rớt mùng tơi hay em kết hôn với một người, ít nhứt đi cày phải có đủ tiền cho em sống sót để mà yêu chớ?  Tình yêu đâu có cầm bán được để có tiền mua thực phẩm?”

Anh Mười Nhịn nói: “Khi đã thành vợ thành chồng, nghĩa là ván đã đóng thuyền, khi người nữ chiếm được chính quyền làm chủ tình thế. Vợ chúa chồng tôi là thôi rồi Lượm ơi! Chớ hồi còn là tình nhân, em cũng dám ‘chi’ lắm!”

Giống Lan /Lệ Thủy căn dặn Ðiệp/Trọng Hữu rằng: “Ðây chút tiền mọn từ lâu em dành dụm, trao anh làm lộ phí đường xa. Mai mốt đây khi danh phận rỡ ràng, xin chớ phụ phàng tình xưa duyên cũ!”.

Lan đầu tư vô Ðiệp giống như giờ em Lan mua ‘Bitcoin’, tiền ảo vậy mà! Xui cái là Lan bỏ ống nhầm người vong phụ, em bị ‘bankrupt’ (khánh tận), buồn quá bỏ đi tu rồi chết ngắt!

Từ bài học táng mạng vì tình của Nguyễn Thị Lan, xác thân còn đó hồn tan lâu rồi, nên mấy em thời buổi nầy thực dụng như là Mỹ. Không tiền thì chẳng có anh yêu gì ráo trọi! Ai mà không ‘yêu’ tiền?  Vì yêu người là một chuyện; lấy người làm chồng là chuyện khác?!

Lúc mới đượm sơ sơ; chưa tới mức nồng nàn hương lửa ba sinh, em đã đem bàn tính ra, khỏ chữ tình ‘cóc cóc’ để xem binh đường nào có lợi? Thủ hay dương? Câu rê hay câu nhấp? Còn lập gia thất rồi, xuất giá tòng phu thì ngu sao không ‘thủ’ cẳng tiền riêng cho nó chắc ăn!

Như trong các gia đình người Nhựt, vợ cầm tiền. Tháng tháng, chồng đưa vợ tiền để trả tiền nhà, tiền bill, tiền chợ. Vợ đưa lại chồng tiền túi, chừng 30,000-yen khoảng 300 đô Mỹ gọi là ‘kozukai’ đề phòng ảnh ra đường đạp bánh tráng mà có tiền đền.

Sau khi chi dụng cho gia đình, còn dư chút đỉnh, thì em giấu vào một nơi bí mật, phòng những ngày mưa. Mà ngay cả ông chồng cũng không biết nó nằm ở đâu và được bao nhiêu rồi?! Tiếng Nhựt gọi cái hành động thủ cẳng đó là: ‘heso kuri’. (Cái vụ này giống chuyện con vợ tui đó nhe!)

Mà đâu phải vợ Nhựt hay vợ tui, vợ Mỹ cũng thế! Theo tạp chí Time, chuyện vợ giấu tiền để riêng không phải là chuyện mới mẻ gì. Nó có từ thời tạo thiên lập địa, thuở từ cái đám cưới đầu tiên của nhân loại.

Một cuộc khảo sát 1,000 phụ nữ có đi làm vào năm 1995, 13% các bà giấu tiền riêng. Mà bà nào trải qua hai ba đời chồng rồi thì còn thủ kỹ hơn nữa. Theo thống kê 71% quý bà ở với đời chồng thứ hai có giấu tiền riêng.

Em giấu; ngu gì anh không giấu?! Nên mấy ông Nhựt, dù là truyền thống võ sĩ đạo, danh dự là trọng, chuyện gì cũng quang minh chính đại, đường đường chính chính, cũng giấu như thường. Mấy thằng chả cũng bỏ một số tiền bí mật cho riêng mình trong tủ có khóa ở sở làm. Tiền đó dành để đi nhậu, bù khú với bạn cùng sở. Nhậu cho tới chiếc xe lửa cuối cùng trong đêm say, ‘quỷnh củ tỉ’ mới lết về nhà.

Tiền giấu vợ xài cho đã chớ không ‘quờ quạng’ giấu tiền như ông Úc ‘thòi lòi’ ở Sydney. Chẳng qua thằng chả bán chiếc xe ‘Toyota Supra sport’ được 15 ngàn đô Úc. Thay vì giấu dưới tấm nệm trong phòng ngủ hay chôn ở sân sau thì ông giấu vô lò nướng ít khi dùng. Xui cho ông là vợ ông lại xài cái lò để nướng gà cho hai đứa con ăn. Bà nướng gà và nướng luôn số tiền ông giấu. Khi khói bốc lên mù mịt nghe ông la trời. Tiền ổng nói để trả thêm vào tiền nhà cho nhà ‘bank’. Bà mới biết nên khóc ròng!

Nếu những gì ông nói là thật; thì giấu vợ làm quái gì? May phước là tiền Úc làm bằng giấy ‘polyme’ chứ không phải bằng ‘plastic’ như đồng Gia kim của Gia Nã Ðại. Chứ bằng ‘plastic’, gặp nóng, nó chảy tiêu hết; thì ông ‘húp cháo rùa’ rồi.

Ngân hàng Trữ kim Úc Châu kêu ông ra ngân hàng Westpac, nơi cho ông mượn tiền mua nhà, xin giúp đỡ. Nếu tiền cháy dưới 20% ông nhận lại đầy đủ. Cháy trên 20% còn bao nhiêu phần trăm thì nhận lại bấy nhiêu phần trăm còn lại của giá trị số tiền bị cháy. Thôi của đổ, hốt lại được đồng nào hay đồng nấy vậy ông ơi. Cho bỏ cái tật giấu tiền với vợ nha ông!

Còn ở Florida, USA, một bà cụ 90, góa chồng cũng khá lâu. Nhớ chồng yêu và những ngày mặn nồng năm cũ; bà đem cuồn ‘film’ đựng trong hộp, quay cảnh sum họp gia đình hồi năm nẳm, đến Walmart gần nhà để nó chuyển từ ‘film’ nhựa ra DVD cho bà giữ làm kỷ niệm. Walmart gởi cho ‘Yes Video’ ở Georgia làm. Ở đó người ta khám phá ra 3,100 đô Mỹ giấu ở trong hộp đựng ‘film’ và muốn trả lại cho bà cụ may mắn này.

Năm 1996, chồng bà, ông Mickey Weiner về hưu được hai tháng thì mất. Hồi sinh tiền, ông thường nói là muốn dành tiền để đi Do Thái. Ông mất đi mà ước vọng chưa thành. Thương người ‘cày tới chết’!

Còn anh Mười Nhịn là ‘cu li’, lương ba cọc ba đồng, có đồng nào là xào đồng nấy, chỉ đủ tiền đưa cho vợ trả tiền nhà, tiền bill, tiền chợ, có dư cắc nào đâu mà giấu vợ… để năm nay ba đau, năm sau má ốm mà có cớ ‘phịa’ với má thằng cu để bay về Việt Nam bia ôm, bia iếc.

Vả lại Mười Nhịn vốn là ông chồng ngoan ngoãn: “Nhớ người yêu trút ống cho anh ăn học, nguyện trọn một đời không vong phụ đổi thay?”

Không những không ‘vong phụ đổi thay’ mà Mười Nhịn còn cung kính với vợ mình. Ảnh nói: “Nhỏ má nuôi tui. Nấu cơm cho tui ăn; giặt áo cho tui mặc.  Má dạy dỗ tui. Lớn lên con vợ tui cũng làm y hịt như vậy. Vợ nuôi tui. Vợ dạy tui. Thì tui đối xử cung kính với Má bầy trẻ y hịt như đối xử với Má tui là hành động hợp lý phải không nè?

Rồi mới đây nè! Kỷ niệm 50 năm ngày cưới, hai vợ chồng Mười Nhịn tổ chức một bữa tiệc mà bàn ăn trang hoàng toàn bông hồng vàng để ăn mừng ‘đám cưới vàng’ của đôi trẻ.

Ăn uống no say, em yêu, tức con vợ tui, bạn từ thời thơ ấu của chị Nhẫn, vợ anh Mười Nhịn, và vài em khác đã gãy đổ tình ta đến đôi ba lần, muốn học hỏi kinh nghiệm của vợ Mười Nhịn. Sao con đường tình lận đận em đi lại bền lâu đến thế? Có phải nàng tên Nhẫn mà chàng tên Nhịn, vợ chồng nhẫn nhịn với nhau không?

Vợ Mười Nhịn cười khè khè: Nhẫn không phải là kiên trì, chịu khó gì đâu! Nhẫn đây là: tàn nhẫn. Tàn nhẫn đến mức thằng chả phải đầu hàng. Phải nhịn không chỉ một lần mà mười lần cũng phải nhịn hết ráo, cho trời yên, bể lặng, cửa nhà êm ấm.

Mình đối xử với chồng như một cục vàng. Vàng là kim loại mềm, dễ uốn! Dễ uốn nhưng mình đừng quá tay làm anh yêu bị gãy nhé! Hãy dịu dàng, kín đáo xét tài khoản ngân hàng, tìm biết mật mã ‘Facebook’ của anh yêu. Chớ tin ai kể cả chồng của ta. Nhưng cũng phải biết tha thứ cho chồng khi chính chúng ta đã làm sai!”

Anh Mười Ké!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Anh Mười Ké!

Đoàn Xuân Thu

Thú thiệt với bà con là trình độ học vấn của tui, nói theo kiểu trong nước bây giờ, rất là hạn chế. Chớ hồi xưa nói dễ hiểu hơn là tui học ít, là trình độ Bình dân học vụ. Mà tui học ít thiệt! Hết lớp 5, thi đậu bằng Tiểu học, biết đọc, biết viết là tui nghỉ. Vì Tía tui nói rằng: “Ðọc thông, viết thạo ở trường là đủ rồi. Con còn phải học hoài, học mãi, học đến rờ râu râu rụng, rờ rún rún rung rinh; con sẽ còn học ở trường đời. Ðó mới là cái học thực tế, mới là đáng kể. Còn bằng cử nhân, tiến sĩ chỉ là tờ giấy photocopy, chỉ cần điền tên vô là có ngay lập tức nên nước ta bây giờ có tới cả trăm ngàn Giáo sư Tiến sĩ.

Phần nhà mình có con trâu cày mà nó ốm o, gầy mòn quá! Vì không có đứa nào chăn dắt hay cắt cỏ đủ cho nó ăn. Thôi nghỉ học, về chăn trâu đi nhé! Sau nầy có cái gì không biết con cứ hỏi vợ con hoặc hỏi ‘Google’!

Thời đó chưa có máy vi tính, nhưng Tía tui thiệt là người thông tuệ, nhìn xuyên thấu cả tương lai nên đưa ra một lời khuyên rất chí lý cho tui.

Nhưng thân nam nhi chi chí; cái gì bí mà đi hỏi vợ hoài; tất có ngày sẽ bị nó khinh khi. “Ăn cái giống gì mà ngu như con bò tót thế hả anh?” Mất mặt bầu cua lắm đó! Vậy là ngộ biến phải tòng quyền, trước mặt em yêu tui giấu dốt bằng cách đi hỏi bạn nhậu của tui! Phần chữ cũng có câu rằng: “Học Thầy không tầy học bạn!”.  May mắn thay, tui có một anh bạn nhậu mà tui hằng ngả nón cúi đầu, tâm phục, khẩu phục, tôn xưng, kêu ảnh bằng sư phụ. Vì cái não của anh bự chà bá. ‘Memory’ của ảnh ít nhứt phải trên ‘64 bit’. Trên (tức cái đầu) ảnh thông Thiên văn. Dưới (tức cái mông) ảnh tường Ðịa lý. Chính giữa, (tức cái bụng) thì ảnh rành Sử ký.

Tên của ảnh là Tất Hữu Giang! Ðúng là cái tên tiền định như cái sông Tiền Ðường của Thúy Kiều vậy. Ảnh dịch Nôm, Tất Hữu Giang là ‘Tất Có Giang’. Gặp ai khét tiếng, có chức (xin đừng nói lái), có quyền, có danh, có phận là ảnh đòi có giang tất tần tật.

Cái chủ nghĩa ăn theo, cái thói dựa hơi, thấy sang bắt quàng làm họ nầy nó đang nở rộ như nấm gặp mưa rào trong và ngoài nước nên tụi tui đặt cho ảnh cái biệt danh là ‘Mười Ké’.

(Ké là ngồi chầu rìa ngoài sòng bài, thấy tụ nào đang lên, đang hên thì mình bỏ tiền theo tụ đó. Nó ăn bạc trăm thì mình ké theo ăn được bạc chục)

o O o

Tuần lễ rồi, đọc được cái tin nầy thấy cũng hay hay nhưng vẫn còn hồ nghi là thiên hạ nói dóc. Tui bèn mời Sư phụ Mười Ké đi nhậu để vấn ý, coi ảnh nghĩ thế nào?

“Nhà văn lừng danh Nguyễn Huy Thiệp hồi còn sinh tiền có rất nhiều bạn nối khố. Những người bạn thân thiết đó đã từng đèo ông trên xe đạp cà tàng. Ông Thiệp ngồi sau bọt-ba-ga, ôm eo ếch thiệt chặt cho khỏi té. Sau một khúc chạy ngoằn ngoèo hình chữ chi, hai người xuống xe, bá cổ quàng vai, anh một cốc, chú mầy một cốc ‘quốc lủi’ trên hè phố Hà Nội.

Nghe vậy, anh Mười Ké cười hé hé, phán rằng: “Tin tụi nó viết là chú ngây thơ. Ðó là những tên theo chủ nghĩa cơ hội ăn theo!” “Nghĩa là chúng thấy ông nào khét tiếng bỗng ngã lăn đùng ra chết; thì dù có quen biết hay không, cứ nhận đại là bạn nối khố của mình ngày xưa. Vì ổng đã chết nhăn răng, chết thẳng cẳng rồi thì đâu thể mở mồm ra mà đính chánh tới lui: “Nó là thằng nào? Tui có biết nó đâu! Ðừng cho nó mượn cắc nào nhe mấy cha! Coi chừng bị gạt!”

Cái sách thấy sang bắt quàng làm họ là sách của tui. Chính vì thế tui mới có cái tên Mười Ké đó chớ. Nhưng nói thiệt với chú em là cái đám lòng tong cá chốt, nhân cơ hội để ăn theo nầy không kể số gì so với thằng Tèo Ðía, người bạn chí cốt làm chung sở với Mười Ké nầy đâu.

“Tèo là một nhân viên siêng năng, giỏi giắn, hòa đồng và tốt bụng, nhưng Tèo luôn làm lơ tất cả các cuộc họp mặt ăn nhậu mừng công của công ty.

Cuối cùng, Sếp gọi Tèo đến yêu cầu giải thích lý do tại sao Tèo không thể chan hòa với những người cùng phận ‘cu-li’ như mình?

“Xin lỗi Sếp” Tèo nói: “Tại tui rất bận rộn với tất cả những người bạn nổi tiếng của tui. Rồi ở nhà, tui còn thay tã cho con, giặt đồ, rửa chén cho vợ thì tại sao tui lại phải bỏ thời giờ vàng ngọc còn ít ỏi của mình ra để gặp những người không nổi tiếng chớ?”

Nghe vậy, vẻ chế nhạo, Sếp hỏi: “Là cu-li làm sao chú mầy quen được với ai nổi tiếng?”

Tèo nhún vai: “Sếp không tin thì cứ kể đại một tên đi. Tui cá với Sếp là tui sẽ quen người đó”

Sếp của Tèo, một cách vô tội vạ, nêu ra một cái tên, “OK! Tèo! ‘Mít tơ’ Ðàm?”

Tèo Ðía nhếch mép. “Ồ vâng! Thưa Sếp, ‘Mít tơ’ Ðàm đã từng làm chung một tiệm hớt tóc với tui. Tui chuyên cạo mặt; còn nó chuyên lấy ráy tai cho khách. Tui có thể chứng minh với Sếp điều đó!”

Vì vậy, từ Hà Nội, cả hai bay vô Sài Gòn và gõ cửa biệt thự triệu đô của ‘Mít tơ’ Ðàm. “Tèo! Rồng đến nhà tôm! Rất vui được gặp lại bồ! Vô nhà, tụi mình lai rai vài chai bia Sài Gòn xanh đi!”

Dù rất ấn tượng nhưng Sếp của Tèo vẫn tỏ ra nghi ngờ, Sếp nghĩ rằng Tèo biết được ‘Mít tơ’ Ðàm chẳng qua là do ngẫu nhiên, may mắn.

“Không, không dám may mắn đâu! Sếp chỉ cần nêu thêm một tên của bất kỳ ai khác”

“Người đẹp nội y xóm rẫy Vĩnh Bình!”

“Nội y là quần lót. Tui biết chớ sao không? Tui đã từng với em đi gánh nước đêm trăng cạnh đình làng. Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài; dè đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây. Lâu rồi nhưng trái tim của tui vẫn còn rỉ máu đây nè!”

“Ðía vừa vừa thôi cha nội! Da em trắng như sữa tươi, còn chú mầy mặt nám da nhăn! Ðỉa mà đòi đeo chưn hạc!” “Sếp không tin hả thì mình ghé Quận Chín thăm em chút đi!”

Bấm chuông cái biệt thự bành ky nái. Chờ một hồi không thấy ai ra mở cửa nên Sếp cười khẩy: “Té ra chú mầy chỉ có cái ba đía là ăn trùm thiên hạ”. Nào ngờ ngay lúc đó một chiếc xe Huê Kỳ ngừng nghe cái kịt. Hoa hậu xóm rẫy run lẩy bẩy bước ra, khóc tấm tức: “Trời ơi! Tèo ơi! Bấy lâu nay anh phiêu dạt phương nào? Em đăng báo tìm trẻ lạc mà hổng có ăn thua! Em đang buồn vì bọn đạo chích mới nhập nha, khoắng của em bộ sưu tập đồng hồ 13 tỷ. Nào ngờ lúc tang gia bối rối như thế nầy người xưa lại hiện về như mộng mị. Thôi vô nhà đi, em nấu bún mắm Vĩnh Bình cho anh ăn để khuây khỏa bớt nỗi nhớ thương em? Còn đây là ông nào? Anh kêu ổng đi chỗ khác chơi đi. Em muốn chỉ hai đứa mình đêm nay thôi nhé?”

Tèo thoái thác bữa nay anh hơi bận! Phần đâu bỏ Sếp của anh cho được nè. Ðể tuần tới huỡn, anh sẽ ghé rồi đôi ta mặc tình mà tâm sự”.

Sếp bây giờ cũng hơi ngán ngán Tèo rồi. Nhưng nghĩ những nhân vật đình đám trong giới ‘showbiz’ nầy là đồ lô-can không đáng kể!

“Sếp còn chưa tin hả! Cho thêm tên một ai khác đi! Ðồ ngoại cũng được!” “Kim Chính Ân!” Tèo nói: “Tui biết Kim Chính Ân trong nhiều năm lúc còn ở Thụy Sĩ.”

Ðể chứng minh Tèo không bố lếu, bố láo, cả hai bay đến Bình Nhưỡng. Kim Chính Ân đang đứng trên lễ đài chứng kiến quân đội CS Bắc Hàn với hỏa tiễn tầm xa rầm rộ duyệt binh qua Quảng trường Kim Nhựt Thành.

Sếp nghĩ: Lần này Tèo sẽ không thành công. Nó không thể lọt vào mắt của lãnh tụ CS Bắc Hàn cho được!

Nhưng nửa giờ sau, Tèo xuất hiện với Kim Chính Ân trên lễ đài. Lúc Tèo quay lại mới hay rằng Sếp của mình lên cơn nhồi máu cơ tim đang được các nhân viên cấp cứu vây quanh.

“Chuyện gì đã xảy ra?” Sếp của Tèo nhìn lên và nói: “Khi chú mầy xuất hiện trên lễ đài thì một ông đứng bên cạnh tớ hỏi: “Thằng mập như con heo đó là thằng nào mà nó lại đứng bên cạnh ông Tèo vậy chú?!”

Anh Mười Hổ

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Anh Mười Hổ

Chiều cuối năm Tân Sửu, năm Trâu, tui nghỉ cày. Anh Mười Hổ, bút hiệu là Ông Ba Mươi, điện hỏi tui mùng 3 Tết có huỡn không? Tui hỏi: “Chi vậy?”. “Nhậu để mừng năm mới chớ chi?”.

Anh Mười còn “điều tra xét hỏi” thêm là coi tui đã chích ngừa đầy đủ hay chưa? Tui nói rồi. Em bác sĩ gia đình đẹp như tài tử Củng Lợi bên Tàu đã lụi tay (tui khoái lụi mông hơn, đã, mà hổng đau) của tui trước sau ba mũi”. “Vậy thì được! Chớ không chích không chơi!”.

Tui chọc quê anh Mười Hổ: “Là cọp, lại sợ con Omicron nhỏ xíu hay sao?”. “Ối voi nó vật còn chết, cọp mà nhằm nhè gì?”.

Sau đó, anh còn dặn thêm: “Chiều mùng 3 Tết, thằng Vằn, con tui, đi làm về, tui kêu nó tạt ngang qua, rước chú Ba luôn. Ðúng 5 giờ chiều nhớ nhe!”.

Ðầu năm được mời nhậu mở hàng nên tui khoái chí tử. Hên quá, năm nay có mối nhậu dài dài. Uống suốt năm mà không tốn đồng xu, cắc bạc nào, há không khoái lắm ru?

Cửa nhà anh Mười Hổ đã mở sẵn, rước khách quý vào nhà, tui khỏi cần bấm chuông lâu lắc. Thấy cái bản mặt của tui, anh Mười xá xá. Vì ăn nhậu thời ôn dịch không cho phép được bắt tay nhau.

Anh Mười nói vọng vô sau bếp: “Mun à! Có chú Ba Xạo đến chúc Tết”. Chị Mười Hổ, nhũ danh Trần Thị Mun, đon đả ra chào. Xong kêu con gái: “Vện à, con dọn cháo gà ra cúng lẹ lẹ lên để tía mầy với chú Ba nhậu chơi.”.

Tui hỏi anh Mười Hổ, nhà anh sao ngộ ghê? Chồng tên Hổ, vợ tên Mun. Con trai tên Vằn, Con gái tên Vện. Nhà anh Mười giống hịt một gánh xiệc hay cái chuồng cọp trong sở thú.

Anh Mười Hổ ngửa cổ nốc cạn một cái sec Jack Daniel’s rồi rỉ rả cắt nghĩa như vầy: “Chẳng qua, tui sanh giờ Dần, ngày Dần, tháng Dần, năm Dần, năm 1950, năm nay 72 tuổi, cũng là năm tuổi. Chính vì Dần hết ráo, từ đầu tới đít, từ trong ra ngoài; nên tía tui đặt tên tui là Hổ. Nguyễn Văn Hổ. Hổ là con cọp đó. Hồi xưa đi hỏi vợ, con Mùi, con Hợi đâu đứa nào chịu ưng tui. Tụi nó nói: “Em là dê, là heo về với anh Hổ, anh ăn thịt em sao? Cuối cùng, tía má tui phải trầu cau tới miệt U Minh Thượng mà cưới con Mun cho tui đó chớ. Em Mun chỗ nào cũng đen vì là con gái lớn lên ở rừng. Nơi U Minh, Rạch Giá thì quá sơn trường, Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Thấy cọp đua hoài nên em nói: “Mười Hổ nhằm nhè gì? Một trăm hổ em còn chưa sợ!”.

Chị Ba Mun nghe ông cố nội của chỉ kể lại: “Thưa thớt lắm. Sông Cái Lớn, Gò Quao này nhiều khi chèo ghe suốt ngày mà không gặp một nhà nào. Kỳ dư toàn là rừng. Trên bờ có cọp, dưới sông có sấu. Chèo ghe ban ngày, chừng vài trăm thước là thấy sấu nổi trước mũi ghe. Trời chạng vạng, ông Mun, ông Vằn, ông Vện rống, rung rinh mặt nước.

Rượu vô lời ra. Hổng lẽ để anh Mười chiếm đài phát thanh rồi còn chê tui dốt đặc cán mai, chỉ biết nhậu, không biết gì hết ráo về xứ sở quê mình, nên tui chen vô: “Nghe ông bà mình kể lại: Xem được lễ khai thị chợ Bến Thành mới, “Tân Vương Hội”, dài ba ngày đêm 28, 29 và 30/3/1914 một lần chết cũng sướng. Cả 100 ngàn người Sài Gòn và các tỉnh đổ về rầm rộ, đông hơn chợ Tết. Có múa lân, biểu diễn võ nghệ, nhạc bát âm và có cả ban nhạc của nhà binh Pháp. Tối có hát bội, pháo bông, xe hoa, đèn xanh đỏ giăng xung quanh chợ sáng trưng như ban ngày. Ðặc sắc nhứt là có màn cô Năm Vuông, con ông Hai Ất, thầy võ đất Tân Khánh, Bà Trà, Tân Uyên, ở Thủ Dầu Một đánh nhau với cọp dữ. Ðánh từ ban mai mãi đến giờ ngọ mới chấm dứt. Cuối cùng, con cọp bị cô Năm Vuông dùng ngọn lao đâm ngay yết hầu chết ngắc. Con đánh cọp ngay giữa cái đất Sài Gòn. Cha đánh cọp trong rừng vang danh cả nước. Bây giờ vùng đất rừng bên cạnh làng võ Tân Khánh, Bà Trà vẫn còn mang tên là “Truông Bà Năm Vuông”. Và địa phương cũng có thành ngữ: “Cọp Bàu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh”. Võ Tòng Tân Khánh là chỉ ông Hai Ất đó đa!”.

Anh Mười Hổ nghe xong, gục gặc cái đầu thán phục nói: “Cô Năm Vuông giỏi võ như Võ Tòng. Võ Tòng giết cọp tại đồi Cảnh Dương; còn cô Năm Vuông giết cọp ngay trước mặt bàn dân thiên hạ, ngay tại cái chợ Bến Thành. Ai ai cũng biết”.

Tui bèn nói: “Ðó đó đa! Cha con ông Hai Ất đánh cọp là có thiệt. Nhiều người chứng kiến. Chớ còn cái vụ Võ Tòng đánh cọp là do ông Thi Nại Am đặt dóc trong truyện Thủy Hử mà thôi. Ông Thi Nại Am viết rằng: “Gần đây, trên đồi Cảnh Dương này xuất hiện một con cọp rất lớn, nó đã ăn thịt nhiều người. Vậy hành khách ai qua đây cũng nên chờ tập hợp đông đảo và chỉ có thể qua đồi vào ba giờ Tị, Ngọ, Mùi. Xin chớ quên mà uổng mạng. Vậy mà Võ Tòng hơi xỉn xỉn, coi lời cảnh cáo như pha, cứ phăng phăng qua đồi Cảnh Dương. Cọp ra vồ bị Võ Tòng đánh chết ngắc”.

Sự thực là: Võ Tòng người Sơn Ðông đã xuất gia thụ giới, song chẳng tuân thủ giới luật nào cả. Từ tửu sắc tới tiền bạc, ngay cả việc giết người, Võ Tòng coi cũng như pha. Tóm lại Võ Tòng là một tay bán trời không mời thiên lôi! Võ Tòng sống nghề mãi võ, phiêu lãng giang hồ, rày đây mai đó. Tới Hàng Châu được quan tri phủ là Cao Quyền rất khâm phục. Võ Tòng được Cao Quyền phong cho chức đề hạt. Cao Quyền đắc tội với các nhà quyền quý ở Hàng Châu nên bị bãi quan. Võ Tòng cũng bị huyền chức làm một chức quan nhỏ trong nha môn nên đem lòng oán hận.

Quan phủ mới của Hàng Châu là Thái Cùng, con trai của Thái sư Thái Kinh ở kinh đô. Dựa vào thế lực cha mình, Thái Cùng làm đủ chuyện càn quấy, ức hiếp dân lành. Vốn người nghĩa hiệp, thấy Thái Cùng bức hiếp dân lành, Võ Tòng nấp ngoài cửa nhà họ Thái, đợi khi Thái Cùng vừa ra ngoài cửa thì lập tức xông ra giết chết. Võ Tòng cũng bị lính nha môn bao vây bắt sống. Trong nhà lao, Võ Tòng bị Thái Kinh sai người dùng cực hình giết chết. Dân Hàng Châu cảm kích mang xác Võ Tòng về chôn tại cầu Tây Lãnh rồi lập một bia đá bên trên “Mộ của nghĩa sĩ đời Tống, Võ Tòng”.

Thái Cùng còn có biệt hiệu là Thái Hổ nên khi Võ Tòng giết chết Thái Cùng để trừ hại cho dân, người ta mới ca ngợi Võ Tòng đã “đánh hổ”.

Sở dĩ dân Tàu gọi mấy tay tham quan ô lại, chuyên bức hiếp dân lành là hổ, là do truyện Hà chính mãnh ư hổ trong sách Lễ Ký mà ra.

Chuyện rằng: “Khổng Tử khi sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn thấy một người đàn bà khóc ở ngoài đồng, nghe thê thảm lắm. Người nói rằng: “Người đàn bà này xem như trong nhà có trùng tang”. Rồi sai thầy Tử Cống đến hỏi. Người đàn bà thưa rằng: “Ở đây lắm hổ, bố chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi đã chết vì hổ, bây giờ con tôi lại chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ạ!”. Thầy Tử Cống hỏi: “Thế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác?”. Người đàn bà nói: “Tuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc tàn bạo như các nơi khác”. Thầy Tử Cống đem câu chuyện thưa lại với Ðức Khổng Tử. Ðức Khổng Tử nói: “Các ngươi nhớ đây: Chính sách hà khắc khốc hại hơn là hổ!”

o O o

Như vậy để ôn cố tri tân: Bên Tàu, Võ Tòng giết Thái Hổ, một tay tham quan ô lại để cứu lương dân. Cô Năm Vuông và thầy võ Hai Ất, đầu thế kỷ 20, đã giết cọp cũng để bảo vệ lương dân.

Cọp trong rừng, người ta giết hoài cũng hết. Giờ phải đưa hổ vào danh sách động vật sắp tuyệt chủng để bảo vệ. Ai giết cọp để nấu cao hổ cốt là bị ở tù.

Nhưng bọn tham quan ô lại là hổ báo với lương dân, diệt con nầy thì lại lòi ra con khác. Vậy mà cứ đánh trống thổi kèn: “Ðất nước ta chưa bao giờ được như hôm nay?”, thiệt là giễu dở!

NÔN RA MÁU     

Truyện trên Net

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

NÔN RA MÁU     

Có anh nông dân hút nhiều thuốc lào viêm phổi. Một bữa nặng quá ho ra máu. Người nhà thấy thế đưa đến trạm xá.

Đến nơi ông bác sỹ già trực bảo:

– Nó làm sao.

– Dạ…nôn ra máu bác sỹ ạ.

Thế là ông hý hoáy ghi vào sổ khám bệnh:    

– Lôn ra máu…

Rồi ông nói ráo hoảnh:

– Lên Huyện, nặng lắm!

Đến huyện bác sỹ trực nhìn qua sổ y bạ càu nhàu:

– Mẹ, ngu quá, có dấu huyền cũng không đánh vào, “lôn” là cái khỉ gì mà ra máu.

Rồi quát, lên tỉnh ngay sau khi thêm cho một dấu huyền to đùng vào chữ “lôn”.

Đến tỉnh bác sỹ trực chửi tục:

– Cái bọn thất học, dùng từ bố láo, học mãi mà không biết gọi một từ “âm hộ” cho có văn hóa. 

Rồi quát:

– Y tá đâu, sắp đẻ rồi, băng huyết này…

Xe băng ca chạy rầm rầm quýnh quáng, không ai nhìn bệnh nhân, cô y tá đẩy xe vào phòng cấp cứu, thò tay khám giữa hai chân “sản phụ” rồi hét lên:

– Đẻ ngược rồi, em đã túm được một chân đứa bé…

Cạn lòng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Cạn lòng

Portrait of a Poet
Paolo Picasso

Chúng tôi đoán không lầm hình như thời gian gần đây sức sáng tác của ông có vơi đi?

Vơi nỗi gì? Ngắc ngoải gần chết đấy chứ lị.

Mắc phải bệnh gì mà ghê gớm thế?

Tháng trước, đang đi, chỗ có đặt tượng Lê-nin đấy, vô cớ một thằng dở hơi chạy xe điên nó đâm không khoan nhượng vào người tôi cô ạ. Nằm thẳng cẳng, thấy sao luôn. May phước chẳng theo ông bà, nếu không thì lắm đứa thối mồm lại rêu rao: Ôm chân tượng đài lãnh tụ mà chết.

Kết quả?

Tôi gọi xe ôm, nhìn mặt một đứa tử tế, bảo chở gấp vào bệnh viện. Nó tử tế thật, lấy giá mềm, không nỡ chặt chém. Đợi hơn tiếng, bác sĩ khám nghiệm linh tinh rồi chứng nhận tôi dính 35 phần trăm thương tật.

Có phải nằm viện không, mất bao lâu?

Mất hai hôm và bay biến gần ba triệu đồng.

Hai hôm. Thế nào cũng có bài thơ ghi lại cảm xúc khi va vấp hoạn nạn?

Thơ phú gì cho buổi ấy. Rêm mình và hận đời đen bạc quá lắm.

Vậy thì ông làm thơ trong trạng thái nào? Ông tự ngăn mình không được lạm dụng thơ văn để chuyển tải lời nguyền rủa?

Hỏi thế thì hoá ra cô ít đọc thơ tôi? Tôi từng chửi vung vít trong lắm bài thuộc dạng thất ngôn. Chửi cạnh chửi khoé thôi, chả dại nêu đích danh thằng nào cả. Con người cũng tựa mưa nắng cô nhỉ, vui thì ca ngợi vẻ đẹp mà buồn thì bêu rếu cái ác cái đểu.

“Em dong buồm trắng ra khơi, sóng xô đồng vọng cuộc chơi đầu hàng”. Trong tập thơ mới này ít thấy những bài lục bát của ông?

Lý do là tôi tính gom riêng những bài lục bát cho tập sau. Tính là tính vậy chứ chẳng biết có bận sau không. Mấy ngày trong nhà thương nó xúi tôi mang cái ý tưởng, rằng mọi thứ thảy đều tạm bợ. Tôi rất tâm đắc câu nói của ai đấy, một người ngoại quốc, nôm na như thế này: Mỗi tối lên giường, chúng ta không đảm bảo rằng mình còn sống tới bình minh, nhưng chúng ta vẫn để chuông báo thức cho ngày mai. Đó là sự hy vọng.

Ông có vẻ bi quan? Ông có nuôi niềm hy vọng nào không?

Nếu tôi lạc quan, cô có gọi tôi là kẻ ngoài hành tinh không? Tôi hy vọng là thọ được tới tuổi 58.

Có bước ngoặc quan trọng vào hạng tuổi đó?

Nói cô đừng cười, một lão thầy bói rất uy tín nắm lấy tay tôi và bảo thế này: Ông sẽ lấy vợ lần thứ hai, người ấy kém ông đúng thập niên, 48 tuổi.

Ông tin vào những thứ siêu nhiên vô hình?

Đâu phải riêng tôi, cả xã hội này đều vậy mà cô. Nếu không, sao bỗng dưng đẻ ra lắm nhà ngoại cảm thế? Chết mất đất, chết dấm chết dúi, chết trên ba chục năm, vậy mà nhà ngoại cảm đi xăm xăm vào rừng chỉ đích danh một nắm xương tàn cô quạnh nằm dưới ba tấc đất. Giời ơi, mấy sếp chúa duy vật nghe thế phải xiêu lạc thần trí ngay. Hơn cả máy dò mìn với lại radar các thứ.

Trước, tôi có nghe ông gặp chuyện buồn. Giờ, ông có đôi phần nguôi ngoai?

Tôi cố quên nhưng nguôi ngoai chẳng tìm tới tôi cô ạ. Đọc báo tôi thấy thằng cha đại gia gì đấy nó bỏ tiền đúc tượng ba bà vợ cũ từng phụ bạc nó đặt trong góc vườn. Sáng sáng nó ra đứng đái trước mặt ba bức tượng. Trời, sao nó chơi ngông và nó thù dai tới mức đó. Là thương gia thành đạt, nếu nó nổi hứng nhảy vào địa hạt thơ văn thì xem như chết một cửa tử. Bọn chúng mình có mà bốc đất!

Ông nói vậy có ý gì?

Ý tôi là ngày nay muốn làm nhà thơ đâu khó khăn gì. Bộ cô chưa nghe người ta từng bảo là con dân Việt ai cũng có máu thi sĩ sao?

Con đường dẫn ông vào thế giới thi ca có suông sẻ không? Hình như thoạt đầu ông từng gây nên xì-căng-đan.

Cô đã nhắc thì tôi cũng nên vui miệng kể ra. Đó là bài “Thân Thể”, tôi gửi cho một tập san văn chương nhưng bị ném vào thùng rác. Tôi gặp tay thư ký toà soạn bôi trơn cho lão một phong bì dày cộm. Thế là ổn, bài thơ moi ra từ thùng rác được chễm chệ nằm trong số báo chủ đề “Thơ Hậu hiện đại” của các nhà thơ đương đại. Ôi chao, sao tôi ghét thậm tệ cái chữ đương đại này quá, y như là đồ hàng nhái của Trung quốc.

Ông còn nhớ mặt ngang mặt dọc bài thơ ấy không?

Để tôi châm một điếu thuốc, thong thả đọc cô nghe. Phải mà có cốc rượu cầm tay nhỉ. Mẹ, mấy thằng bác sĩ làm hỏng chuyện cả. Chúng nạt nộ bố nó: Ông kiêng đi nhé, thích đi bắt tay với Các Mác Lê Nin đấy phỏng? Chừa đi, nhớ? Hút thuốc thì “tha hồ mây trắng bay” .Đây, bài thơ siêu thực đầu đời của tôi nó như thế này:

nói thân Em không phải chỉ là thân Em
nói thân Em không phải chỉ quan hệ xác thịt với anh
nói thân Em không phải toàn bộ vấn đề thân Em
nó chỉ có một cái chỗ
cửa mình với hai cái vú.

Khi họ ném vào thùng rác họ có thông báo lý do cho ông biết không? Đại loại như ngửi không vô, tỉ dụ như tối như hũ nút hoặc mang âm mưu hiểm độc bôi bẩn hội nhà văn…

Cô mà nói thêm thì không khéo mà mang tội phạm thượng đấy. Bài này tôi ăn cắp ý tưởng siêu việt trong đoạn diễn văn kinh điển của ngài Nguyễn Phú Trọng. “…nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa”.

A, thảo nào! Tờ báo văn học ấy đăng cũng phải phép thôi, đọc lên nghe rất… hậu hiện đại. Thế ông còn bài thơ nào ấn tượng như vậy không?

Chán khối. Gò đống. Hằng hà. Gạt đi không hết. Ngẫm ra chúng ta phải nên mang ơn các vị lãnh đạo cô ạ. Cứ bình tâm và kiên nhẫn nghe họ nói, thế nào cũng nhặt ra được đôi điều thú vị, những thứ mà người bình thường như chúng ta không tài nào nghĩ ra. Nhờ vào họ mà đám bình dân đẻ được từ mới: Biết chết liền! Những nhà thơ đương đại của chúng ta, nói tình ngay, cần phải trau dồi cái sự cố “biết chết liền” ấy. Anh làm thơ mà như phép giải một bài toán đố thì bỏ mẹ rồi. Phải sương khói, phải mù mờ, phải đánh đố dư luận, phải chơi trò bịt mắt bắt dê mới thống khoái.

Ông nghĩ sao về lần phát ngôn mới đây của Đại tướng Bộ trưởng bộ quốc phòng: “Không phong tướng, anh em tâm tư”?

Cá nhân tôi, tôi cho đó là câu nói chứa đầy sự nhạy cảm. Chữ “tâm tư” ấy hay chứ không đùa đâu. Chúng ta chẳng nên đòi hỏi một quan võ phải ăn nói có thoa mỡ ở mồm như bọn quan văn. Riêng trong giai đoạn nhiễu nhương này thì chữ “tâm tư” nó mang một nội hàm cực khủng. Ai muốn hiểu sao thì hiểu, chẳng phải đó là phương châm của bọn làm thơ siêu thực sao? Tôi ủng hộ ông ấy, ở cái tính thật thà không lấp liếm man khai trình độ học vấn như đại đa số đảng viên.

Nếu có người dí súng vào bụng ông buộc ứng khẩu ngay một bài thơ ngắn, trong nhất thời ông sẽ xổ ra bài gì?

Sao cô ác với tôi thế? May mà trời sinh tôi ra làm kẻ dại khờ luôn bị tập thể hiếp đáp. Giai cấp bị bóc lột xin có mấy câu ngẫu hứng:

Du là đi
Chẩn là đoán
vừa đi vừa đoán
nói trẹo quai hàm
là có dân chủ.

Tuyệt! Giả như có rượu ở đây tôi buộc ông phải cụng ly với tôi ngay.

Thôi nhé. Đừng phỏng vấn linh tinh nữa nhé. Nói thêm ra tôi sẽ bị quy chụp là chao đảo đánh mất lập trường rồi hệ quả bị cô lập, tứ cố vô thân.

Họ đồn đoán rằng vợ ông đã bỏ đi, thôi sống chung cùng ông? Thú thật là tôi không tin những gì họ thêu dệt…

Tôi rất “tâm tư” về chuyện đó cô ạ. Tôi hằng tin có lửa ắt phải có khói, đứa làm thơ như tôi suốt đời rớt mồng tơi bởi hắn cố giữ đôi tay không nhúng chàm. Thời bây giờ bắt bà ấy phải làm vợ ông Tú Xương nghĩ cũng xốn lòng. Bà ấy xuôi Nam mưu cầu một cuộc sống sáng lạng cho bản thân thì tôi không đủ tư cách để níu chân van nài bà ấy ở lại, làm thế là chà đạp vào sự tự do dân chủ của riêng cá nhân bà ấy. An ủi là phút lên đường bà ta không gửi lại tiếng chì tiếng bấc mắng nhiếc các thứ. Bà ấy chỉ đọc khẩu quyết, nhại lời ông Nguyễn văn Bình làm thống đốc ngân hàng: “Dân có vàng thì dân giàu, nhà nước giữ vàng của dân thì nước sẽ mạnh”. Ngày nào giàu mạnh tôi sẽ quy cố hương san sẻ cùng ông bổng lộc, tạm thời căn hộ này tôi giao khoáng cho ông tuỳ nghi hành sử. Chỉ có vậy thôi. Bà ấy tự tay ghi xuống cái dấu chấm vào bài trường thi chưa hoàn thành của tôi. Căn nhà lạnh không bằng hồn đầy gió, giấc ngủ neo triền dựng bóng cảm hàn.

Thơ ông đấy à? Khi về già, điều gì ám ảnh ông nhất?

Sự hối tiếc. Hối tiếc đủ điều, quả thực là tôi thiếu học thức, nhân cách, sự đối chọi với cuộc sống… Có nhà văn nổi tiếng ở Nam Mỹ nói thế này: Tôi chỉ có duy một niềm hối tiếc, là khi tôi chết tôi chẳng được chết cho tình yêu. Nói bỏ lỗi, nếu ngày nào bọn xâm lược phương Bắc tràn qua biên giới gây hấn, tôi sẽ xin được ôm súng ra án tuyến đầu, chết cho quê hương e phải nên xem đó là thứ “anh em họ tâm tư”.

Chúa ơi, tôi can ông đừng vẽ chuyện. Ông liệu mà giữ mình và giữ mồm, ra đường nhớ ngó trước trông sau. Bớt làm thơ thời cuộc kẻo xe điên lại thay phiên húc vào người.

Cô về đấy à? Có dư thời gian không, chúng ta ra ngồi cái quán đầu ngõ đánh chén.

Ông khao tôi hay sao? Tiền bạc rủng rỉnh thế cơ!

Ậy, chú bán thịt chó ấy luôn vui vẻ mỗi bận tôi ghi sổ, tình đồng chí vẫn bất diệt.

Ừ, thì bất diệt. Nhưng tôi chả dại xơi thịt chó, ông nghe có tâm tư không?

Hả. Tâm tư, tâm tư. Và dại khờ nữa chứ. Đi xe cẩn thận, nón bảo hiểm đâu? Mà này, chớ thông báo cho ai hay về cuộc trao đổi giữa chúng ta hôm nay, một chiều nhọ mặt người.

Vâng ạ. Chào ông. Hồi nào lấy vợ hai nhớ tống cho tôi cái hồng thiệp.

Hồng thiệp hay sổ đỏ?

Thôi đi bố!

Hồ Đình Nghiêm

Bảy ngàn chữ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Bảy ngàn chữ

Hồ Đình Nghiêm

Tôi từng có dịp thất thần lên núi, từng có khi về đứng choáng ngộp trước biển. Bầu trời ở hai chốn đó mang vẻ lạ lẫm khác nhau, nhưng tựu trung chúng váng vất chút hoang dã, mênh mang chút hăm doạ.

Vuông trời trong Đại nội thì khác hẳn, mây bay ngang tự dưng vấn vương sắc tím; trời đang lững lờ xanh trong không dưng phải chịu phủ dụ, tráng lên đó một tí vàng vua chúa một tí lục của rong rêu. Thứ sắc màu trông cũ kỹ, nửa ấm áp nửa kia là thoáng rợn da. Khái niệm sáng trưa chiều luôn bị đánh lừa, thời gian nhích qua đây làm người ta ngờ vực về một vó câu luôn hăm hở trôi bên ngoài cảnh giới. Trôi đi trôi đi, để lại sự hoài cổ lay động trên cây ngô đồng đứng trầm mặc giữa cổng Hiển Nhơn nối tới điện Thái Hoà.

Tôi chở o đi và vô trong nội là mệnh lệnh o ưa truyền đạt. Huế nhỏ, đồng ý, nhưng không vì thế mà người ta bức đầu vò tóc nghĩ chẳng ra một đích tới. Bộ hết chỗ chơi hay răng? Tôi có cảm tình với o và làm mất lòng kẻ khác là điều chẳng ai muốn. O mang tên một loài hoa và tôi hơi choáng khi nó trùng tên với mạ tôi. Chỉ khác họ, kỳ dư chữ lót cùng hương sắc của hoa thì y trang. Và nói có trời chứng giám, tôi là đứa con rất mực hiếu thảo chưa từng làm mạ phật lòng. Đồ con quỉ! Mạ tôi có khi ngầy ngà, nhưng tôi tin đó là lời mắng yêu. Quỉ sứ! Đôi khi o rủa xả và tôi nhăn răng cười nghe hạnh phúc lẫn khuất sát bên lưng. Thú thật, tôi đành làm đứa bất hiếu để giữ vững lập trường, ấy là nhan sắc của mạ tôi chẳng thể sánh cùng o được. Tôi mang cái ý nghĩ, chả biết đúng không, là càng sinh sau đẻ muộn chừng nào thì con người càng sáng lạng đẹp đẽ hơn tiền bối. Xem ảnh xưa, đọ ảnh mới thì phát hiện người trong ảnh hiện đại ngó mát con mắt hơn. Văn minh đã tác động, đã biến đổi thân phận chúng sinh. Nhưng ngược lại văn minh cũng tước đoạt đi phần nào đức hạnh có đầy trong lòng phụ nữ thế hệ mạ tôi. Nhiều khi thấy o làm đày làm láo, nói cạnh nói khoé thì e rằng o mà gặp phải mạ tôi thì sẽ bị bà cụ sửa lưng cho. Tôi mà sửa lưng thì o la lên: Quỉ sứ, làm người ta nhột bắt chết! Thiệt dị òm!

Đại nội buổi chiều luôn êm ả. Chim chóc hiếm quý về ẩn mặt trên cây cao hót vang rân lời tình ca thanh cao mát như chè đậu ngự thơm như chè hột sen. O sẽ làm chúng thôi hát hò khi dùng một vật nhọn để khắc tên vào thân cây mưng mủ. O ra đề và tôi không cách gì giải được bài toán đố dễ ợt ấy: Bao nhiêu cây khắc tên hai đứa và bao nhiêu cây có trái tim thành sẹo? Có khi vì muốn chôn dấu niềm bí mật, o đã cả gan leo lên một thân cây nhiều nhánh hí hoáy ghi tháng ngày lưu niệm. Tôi đứng bên dưới đám cỏ rạp mình với tư thế và nhiệm vụ của Thường Sơn Triệu Tử Long liều mình cứu ấu chúa. Tôi ngó mông đít của o và cầu trời cho o làm trái sầu riêng rụng sau hè để tôi ôm lấy, để tôi làm sáng tỏ vấn nạn rất mực hồi hộp: giữa hai đứa ai là kẻ bể đầu u trán, rách áo sút quần.

O mặc đồ bộ, áo quần tự cắt may không cần chuẩn không cần chỉnh. Vải chim cò mua ngoài chợ chẳng cần hỏi ý thằng quân sư theo hầu. Thứ y phục kia rõ là dùng để diện trong nhà, để mặc ngủ. Để ngầm thanh minh thanh nga: Bậy nà, mô có, đi chơi với bồ răng lại cẩu thả tới mức nớ. Đừng vu oan giá hoạ! Bộ đồ đó có khi o mặc để đi ra thị tại môn tiền náo cấp bách mua đường sữa diêm quẹt thuốc lá. Khôn, đến chốn lao xao; dại, tìm nơi vắng vẻ. Khôn hay dại đều phục sức tuềnh toàn nhất y độc quỡn, ngó quen con mắt. O ở với anh chị, nhà họ khá rộng, ngăn phân nửa mặt tiền dùng bán cà phê. Tiệm họ có khách, đông đảo buổi sáng, thưa thớt ban trưa, chộn rộn giấc tối. Khách đủ hạng bậc, đa phần là công chức, sinh viên học sinh, lèo tèo đôi ba ông lính xa nhà, vì công vụ phải mang thân ra trấn nhậm tuyến đầu, áo phong sương va vấp gió Lào bụi bặm Cổ thành bùn lầy sông Thạch Hãn. O và người chị đã có một con vô tình là đích nhắm của bọn khách lai tạp vui chân lân la kéo ghế. Quán có treo bức tranh xấu vụng thuở đầu đời của tôi, nhưng cái bảng hiệu tôi kẽ sơn sắc lẻm thì chín người hết chục đều trầm trồ tán dương. Mạnh miệng nhất là o: Suốt cả cuộc đời, tui dám cá, không có ai viết tên tui đẹp ác ôn như ri cả! Bắt buộc rồi, tôi nói thầm, bởi mấy khi mà được viết tên mạ mình ra, trịnh trọng, màu sắc, to đùng, dĩ nhiên tôi phải le lưỡi ra mà nắn nót. Làm môn bài dựng bảng hiệu cho người dưng hạ hồi phân giải, trước mắt thấy công việc có nhuốm mùi linh thiêng. Mạ ơi chớ đánh con đau, để con bắt ốc hái rau mạ nhờ, nghĩ lại quả là chuyện nhỏ, bì chi lại với chuyện phục vụ thẩm mỹ, treo lên, ngó sáng rỡ cả khúc đường luôn ủ ê bóng tối.

Tôi thường ngồi đồng ở quán ấy, ngồi thế thôi, tựa một kẻ nhác chơi chứ không mang tà ý được thủ vai vế một cây si đang hồn lìa khỏi xác. Người đàn ông chủ quán ngờ vực tôi mê mệt vợ anh ta, có lẽ. Ông ta đánh ra một hư chiêu bằng cách biểu cô em tới cà khịa. Hai bà Trưng, chị ngồi rung đùi xem em hí lộng dương oai điệu võ. Mi phải thắng vì chiến trường này thuộc đất ta, lại nữa sau lưng mi có cả một hậu phương hùng mạnh vững chắc. Ta sẽ đích thân mang đao ra trận tiền hồi nào mi thân bại danh liệt. Lộng ngôn cho oai phong lẫm liệt chứ bản mặt cái thằng uống ly cà phê đá nhỏ chút xíu mà phải mất ba giờ đồng hồ mới xong kia coi bộ cũng sáng láng, trầm ngâm như táo bón chứ đâu lộ vẻ nham hiểm thủ đoạn gì cho cam. Mình bán buôn, họ là khách quen, mi nhớ lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. O là gái Huế trời bắt đẹp, o không phải gái Bình Định cầm thương cỡi ngựa múa roi vung quyền nên phút đầu ra quân o xuội lơ ngồi xuống ghế bàn giao vũ khí tự nguyện ký kết hiệp ước hoà bình.

Sau này kể lại sự tình, o ta thán: Răng tui hiền khô rứa không biết! Rồi hoành đao: Nhưng tuyệt đối hắn không dễ bị ăn hiếp. Rất cứng rắn để phân định đâu là lý đâu là tình. O tâm sự, ba mạ tui vẽ đường cho hươu chạy: Thứ nhất bác sĩ thứ nhì kỹ sư thứ ba chuyên gia kinh tế. Tui định hướng về đường một chiều: Thứ nhất văn sĩ thứ nhì nhạc sĩ thứ ba hoạ sĩ. Nghe bồ học Mỹ thuật tướng tá nghệ sĩ nên… có nói năng chi cũng thừa. Tôi la lên trong lòng, hoan hô đồ bất hiếu, nhờ em mà thế giới này bớt chật chội bớt ngột ngạt bớt nhung nhúc những bác sĩ kỹ sư.

Chúng tôi đi trong không gian vua chúa cận thần ngày cũ lùng sục một chỗ ngồi xét thấy bình yên, thoáng đãng. Giữa những dãy tường thành kiên cố vây bọc luôn lai vãng một hương mùi có vẻ không thực, thoạt biến thoạt hiện. Không chính xác là mùi long não, nó gần với thứ mùi luôn ngự dưới đáy rương. Nó cất giữ những cổ vật để khi nhìn thấy nét tàn phai, điều khiến bạn mềm lòng chính là thứ mùi ẩm mốc, nó đi qua bao thời gian trong câm nín và nó đang tan rã vào hư không. Nó lưu trong khứu giác bạn lời hờn trách nhẹ, xa vắng về cái vô tâm mà bạn lỡ phải lựa chọn khi tiến bấp bênh tới trước.

Tôi ngắt cho o một cành hoa dại run lên giữa đám cỏ mọc đầy hoa mắc cỡ trong khi o trải khăn và bày thức ăn ra. Căn cước bọc nhựa, thẻ sinh viên trong túi quần là thứ vật bất ly thân, hầu như tôi luôn moi ra để trình cho nhân viên công lực khi họ làm nút chặn rà soát an ninh thành phố. Vậy mà tôi không nhìn thuộc ngày tháng năm sinh. O nói, hôm nay o dậy lúc năm giờ sáng để thong thả tự làm bánh nậm, rửa lá chuối, khuấy bột, làm nhân tôm thịt, gói rồi hấp trong nồi nước chưng cách thuỷ. Hơi phá lệ, hơi cầu kỳ bởi giản dị hôm nay là ngày sinh nhật của tôi. Tôi đứng yên một khoảnh khắc vì bất ngờ, vì cảm động rồi như do ma quỉ xúi dục tôi dang rộng vòng tay để ôm chặt lấy o. Tôi gọi thầm tên o cũng là tên mạ tôi nhiều lần trong tâm. Nếu là hoàng thượng tôi sẽ cởi long bào, ném xuống đất cho được thong dong, rồi bồng o mang đặt lên ngai vàng. O anh minh như thế thì những oan trái khuất lấp của dân sẽ được mắt xanh ngó ngàng tới, hỏi han, ân cần để gia ơn.

O mang theo đủ đầy bộ sậu để chu toàn buổi picnic đầy bất ngờ. Bánh o làm muôn năm sẽ không dở bởi ngoài những nhu liệu căn bản để làm nên bánh còn được o pha trộn lòng thương yêu vào, kín đáo, ý tứ, dịu dàng. Tôi hỏi, tại sao Huế có thành ngữ “con yêu bánh nậm”? Yêu tinh hay yêu thương? O nói o không biết, ngay cả đó là lời tuyên án hay mỹ từ dùng để tán dương. Khi nghe ai quở “đồ con yêu bánh nậm” thì chắc là ẩn chứa sự chê bai, ác ý. Tôi nói, trong các thứ bánh, tôi yêu bánh nậm nhất. Mỏng lét, ít nhân nhuỵ, rác ngập đầu mà bụng vẫn chưa no, có thể buồn miệng ăn luôn cả người dậy sớm để làm ra nó. Thay vì mắng quỉ sứ như thường nhật, o hát nhỏ bài Happy birthday. Đôi khi chim không về, chim thôi hót bởi vì dưới mặt đất kia vừa có ai ngân nga một cung bậc trong vắt, sóng sánh làm chao lòng người. Chim xa rừng thương cây nhớ cội, người xa người tội lắm người ơi. Chim thôi hót cũng do lẽ chim biết dự báo một hoạn nạn sắp đổ về qua tiếng vọng của bom đạn tự rừng sâu. Chim lặng lẽ bay, người lặng lẽ dấu kín những nỗi niềm.

Chiến tranh lan rộng làm thu hẹp vùng đất đặt chân, và ứng xử duy nhất buộc phải xảy đến là người ta mang mạng sống mỗi cá nhân vắt giò lên cổ làm cuộc Nam tiến. Ba chân bốn cẳng mà vượt đèo cao núi lớn. Tiệm cà phê chưa thực sự cửa khoá then cài nhưng tên quán, tên o, tên mạ tôi tuồng như có suy suyển chợt vẹt hư hao móp méo thôi phát hào quang. O giữ tôi lại, biến tôi làm một thành viên tham dự phiên họp kín. Anh chị o quyết định bồng con dại vào Đà Nẵng, trở ngại họ gặp phải là o không chịu đi. Lý do vững chải o đưa ra, đi cũng đồng nghĩa là chịu mất cái quán này. Cam tâm không? Đi, đành lòng qua cầu rút ván, hay đi còn mong ngóng một trở về? Không ai trả lời được câu hỏi sáng suốt kia. Và tôi, vô tình làm đứa để cho anh chị o đặt để niềm tin. Họ trao cho tôi một bao vải, thứ dùng đựng cát để che chắn đạn pháo, họ bảo số tiền chứa trong này không nhỏ, có thể cầm cự sống thở nguyên tháng, hãy chăm sóc bảo vệ lấy o, sống chết có nhau đồng kham cọng khổ. Người chị o nhìn tôi như muốn xác tín lại lần chót một hy vọng không trông nhầm người. Giao trứng cho ác là điều bất khả. Vào thắp nhang bàn thờ ôn mệ mà khấn cầu. Anh rể bắt tay tôi, người chị ôm siết o, đứa bé ngủ mê mệt trên tay bà giúp việc. Và tối đó một chiếc xe nhà binh ghé lại, mang họ xuôi Nam. Mái tóc rối bung của người chị bay ra ngoài ô cửa ngoái nhìn, đêm nội thành sương xuống pha màu sữa đục. Tất cả lặng câm, kể cả động cơ gắn ở chiếc xe màu cứt ngựa đang vụt biến kia.

O khoá chặt cửa nẻo, trước sau. O không tắt đèn, để minh định nhà vẫn còn người sống thở bên trong. O sợ bóng tối, trong muôn một, nó là đồng minh của cô đơn và ở một mặt nào đó, nó xúi dục người ta làm chuyện rồ dại, trao vào lòng ta sự can đảm đến mù quáng. Trai đơn thân gái lẻ bóng, khi có dịp kề cận trong gang tấc, muôn đời họ ưa lẫn vào bóng tối, ước ao bóng tối phủ chụp lên xác thân, nhưng bây giờ chưa phải là thời khắc đó. O biểu tôi giả làm người khách cuối cùng ngồi yên trên ghế để o đóng vai cô hàng nước pha cà phê mang ra. Chúng tôi là hai diễn viên tồi tệ chẳng biết cách nhập vai. Sau cùng, hết hoang mang o mang ra một gói thuốc, ngồi ghế đối diện và chúng tôi cùng thở khói chung một điếu chuyền tay. Mắt o đen láy, khói thuốc như biết làm cho nhãn tuyến kia ướt át, sâu thẳm. Đang chuột sa hủ nếp, đang rơi vào kho thực phẩm phồn thịnh nhưng chúng tôi thích san sẻ, uống chung tách cà phê đen, làm ngắn cụt mau bề dài điếu thuốc. Thảng hoặc o ho lên, tiếng khô, thảng hoặc o vén tóc nhét bên tai, thảng hoặc o ngắm lên bức tranh tôi vẽ, thảng hoặc o lắng nghe một tiếng động vụt qua bên ngoài cánh cửa ngăn chia. Nhưng trong ngần ấy thời khắc của canh khuya o tuyệt không nhìn vào mặt tôi. Xúc giác chúng tôi nhìn nhận ra chỉ là khoảnh ngắn khi chuyền tay điếu thuốc. Khói la đà váng vất trên vuông bàn như ý nghĩ tôi dật dờ sẽ làm gì đêm nay.

Tôi nói đến phiên tôi làm chủ o làm khách và tôi sẽ thực thi châm ngôn của người nước ngoài: Khách là thượng đế. O oải, hết hứng thú, nhác chơi. O bảo, đi theo o để chỉ bày một vài nơi chốn. Đây là chỗ tắm rửa, đằng sau tấm màn là chỗ tiêu tiểu. Đây là bếp. Đây là chỗ tui ngủ ngáy. Giường này của anh chị tui. Bồ sẽ ngủ ở đây.

Trên vách có treo tấm ảnh chụp lấy hai vợ chồng, có lẽ trước ngày cưới. Cạnh đó máng cái đồng hồ mặt tròn và kim chỉ giờ đang rơi tới số 4. Có thể nó đã chết, đã rối giây tóc. Hai cây kim thôi xê dịch, thời khắc sững yên. Nếu nó sống thì bốn giờ sáng không phải là lúc hối thúc người ta đi ngủ. Bình thường, đó là khoảnh khắc mà người ta đang chìm trong mộng đẹp, người ta hưởng thụ điều không thực đó, nướng thân trên chăn ấm nệm êm cho đến khi gà trống rướn cổ lên gáy sau vườn nhá nhem. Mặt trời lên, người ta bần thần ngồi dậy, ngác ngơ trong mùng tối để hiểu vỏn vẹn một điều, mình còn sống, mình chưa thầm lặng ra đi trong đêm. Một kiếp người, có được bao nhiêu đêm người ta an lòng sống trong giấc mộng? Tôi không ngủ, tôi đang tỉnh thức, có nghĩa là tôi biết tôi đang thực sự chìm vào một cơn mơ. Tôi ở gần o quá, dưới một mái nhà và chỉ có o và tôi. Tôi chưa bao giờ có điều kiện để tâm sự cùng o, ít ra là nói cho o nghe niềm bí bật: Tên o mang trùng hợp với tên mạ tôi, người tôi yêu quí suốt đời, thuỷ chung, bất biến. Hơn cả đường mía lau, hơn cả nước trong nguồn chảy ra, hơn cả trời biển.

O bảo, o đi tắm khi đến bên tủ lục soạn áo quần. Này quần lót, này áo nịt ngực lần lượt ló dạng trên tay. Tôi ngó thấy, cắc cớ nghĩ, sao con gái họ khổ thân đến thế? Ngay cả khi ngủ họ cũng phải trang bị bao nhiêu khê là vật cản trở, máu huyết làm sao lưu thông vận hành êm đẹp? Họ trần như nhộng có phải là da dẻ được mượt mà thông thoáng hơn không? Chưa kể là lỗ chân lông có điều kiện xả bớt những bức bối suốt ngày bị giam giữ. Cơ thể họ thơm tho hơn và họ có thể phát hiện những đổi thay trên da thịt mình. Và… và…

O đóng kín cửa phòng tắm. Nghe được cái móc sắt vừa gạt qua ngấc an toàn. Một khẩu súng e cũng tựa thế, bóp cò không được khi bị khoá chốt. Đạn sẽ vãi ra khỏi nòng hồi nào anh mở khoá, buồn tay anh gạt nó qua ngấc tự động, 15 viên bay ra trong tích tắc để hậu quả ghi nhận có biết bao kẻ từ chết tới bị thương… Tôi ngồi xuống chiếc giường được chỉ định, suốt đời tôi chưa bao giờ được ngả lưng xuống cái mênh mông tựa thế. Tôi quen ngủ giường cá nhân chật chội mình ên không thể xâm phạm. Giường này dành cho hai người, một đôi vợ chồng. Con nít thì ngủ nôi nên chắc chiếu chẳng ngấm mùi nước tiểu. Hai chiếc gối căng phồng và tôi lựa chiếc gối sát vách để kê đầu. Thường, nam nhi đại trượng phu vẫn nằm ngoài để che chắn bảo vệ. So ra tôi thích chỗ nằm của người nữ hơn, chưa kể người nữ ấy là chị ruột của o. Nếu o thơm như múi mít thì người chị phải sở hữu mùi sầu riêng. Nếu o là lê thì chí ít chị o phải là lựu bởi giản dị chị o từng là đèn mà o từng là trăng. Tôi úp mặt xuống gối ngửi lấy thứ hương mùi bồ kết vương vấn. Mái tóc dài kia đã bay tới ngang đâu? Đá Bạc? Đèo Phước Tượng? Cầu Hai? Xe leo lên Hải Vân với biển gào dưới núi?

Lơ mơ tôi nghe bước chân o rón rén vào chỗ nằm. Cách lắm vật cản trở nhưng với khoảng cách đó người nằm bên kia sẽ nghe rõ mồm một những gì thằng người nằm bên này ú ớ mê sảng. Tôi hỏi vọng qua, chương trình ngày mai của tụi mình sẽ như thế nào? Có vào Đại nội đè mấy cây trinh nguyên mà khắc ghi? Quỉ sứ. O pháo kích qua. Mình đâu có thể nhận biết tin tức của họ, hỉ? Chẳng rõ họ vào Đà Nẵng có bình an không?

Tôi đổi thế nằm, đâu mặt qua bên kia biên giới. Bây giờ giống như thể đường một chiều, tin nhắn chỉ phát ra từ đây thôi. Ai cũng tìm cách đi vào chứ có ai mà đi lộn lui. Khoảng yên lặng phủ chụp xuống, ngay cả ngọn đèn vàng sáng loá giữa phòng cũng đang thao thức. Ngủ nghê gì được, vấn đề là tôi không biết o đang nằm với tư thế nào? O nhắm mắt hay mở rộng hai hàng mi? Tôi chép miệng, không hiểu sao đâm nhớ và thèm ăn bánh nậm kinh khủng! Bên kia có tiếng vật mình, trăn trở. Có nhớ câu hỏi “con yêu bánh nậm” là gì không? Nói bá vơ, nói tầm bậy tầm bạ chứ có thể bánh nậm nhằm ám chỉ cái vật ấy đó. Cái vật gì? Quỉ sứ, đừng giả bộ ngây thơ cụ. Không biết thì tự tra khảo lấy một mình đi.

Và rồi Huế chết. Chúng tôi thoi thóp trong nhà nên nhà không bị hôi của phá cho tan hoang. Cảnh vật thay đổi hoàn toàn như thể chúng tôi bạc tình ngoảnh mặt húp xong chén cháo lú. Huế lạ mặt và Huế thù hận, điều ấy kéo chúng tôi lại gần hơn, ôm ấp nhau để vơi bớt tuyệt vọng. Phượng ra hoa nhưng hoa nhường sắc đỏ cho cờ xí giăng mắc, phủ ngộp. Màu đỏ tượng trưng cho sức mạnh của cách mạng và màu đỏ là màu có khả năng đốt cháy hết dưỡng khí. Người ta đâm kiệt quệ, người ta đâm nghi ngờ lẫn nhau và người ta bán đi những vật thiết thân quý giá kể cả đạo đức. Chúng tôi sống mỏi mòn từng ngày ngóng đợi tin tức vợ chồng anh chị của o gửi về nhưng bặt tăm.

Một đêm rằm, sau khi tắm gội xong, o bày trái cây hoa quả lên bàn thờ, pha trà rót nước lọc rồi đứng thành khẩn cúi đầu với tay khum ôm giữ ba cây nhang. O thì thầm o lâm râm o khấn nguyện rồi o vẫy tay biểu tôi đứng sát bên o. Tôi sẽ tái lập những động tác o đi tiên phuông, bắt chước đừng sai trật.

Biết hôm nay là ngày chi không? Ngày rằm. Ừ, chỉ đúng có phân nửa. Nửa kia là ngày sinh nhật tui. Tôi nuốt nước miếng, không có bánh nậm để ăn mừng hè? Thắp đuốc tìm không ra! O ngó sâu vào mắt tôi, mí mắt không máy động, như thể một kẻ đang theo học thuật thôi miên. Trước bàn thờ ông bà ấm áp hương đèn o nhón chân quàng tay vào cổ tôi để ghì giữ uỷ thác một nụ hôn. Mùi hoa sen thơm ngọt, thanh khiết thực ra phát xuất từ nụ hôn vĩnh cửu nọ. O ở gần đống bùn là tôi mà người o vẫn thanh cao, vẫn vẹn toàn một hương sắc.

Ưa ăn bánh nậm không? Một câu hỏi, chỉ vỏn vẹn năm chữ mà nó làm thay đổi được hai số phận. Chúng tôi làm tình trên chiếc giường có sẵn hai gối, dưới lưng trần chúng tôi là chiếc chiếu có nhuộm phẩm hình long phụng quấn quýt vây bọc chữ song hỷ. Chiếu cũ, đã nhạt màu nhưng chính o vừa bôi đỏ lại cái chữ trừu tượng đó. Đỏ, là màu cách mạng. Đỏ, cũng là màu máu trinh nguyên thoát ra từ một cửa mình chưa từng bị xâm phạm. Một đàng là dùng bạo lực để san bằng mọi rào cản hòng chiếm đoạt mục tiêu trong mù quáng. Một đàng là tự nguyện dâng hiến, sắt son một lòng tin yêu của tình nghĩa vợ chồng. Tôi dùng lưỡi liếm cạn những giọt nước mắt của o. Tôi không đủ tỉnh táo để truy nguyên nước mắt ứa ra do hoan lạc hay do một đớn đau chẳng thể bày tỏ. Vị mặn của giọt lệ kia gần tượng hình là hạt muối. Và chẳng phải vô cớ mà ông bà mình rêu rao: Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.

Tôi ôm o, hạnh phúc như đứa trắng tay ôm được rương bảo vật. Và cái ý nghĩ sẽ mọc lên trong đầu thằng người ấy là gì? Nếu không phải là nó sẽ dùng mọi biện pháp để bảo vệ thứ tài sản hiếm hoi kia. Chữ “tôi yêu em” sẽ chẳng có giá trị, bởi rơi vào trường hợp của tôi, bạn sẽ bất lực không biết dùng từ gì để diễn đạt. Ngày cũ, tôi có đọc báo Phổ Thông, trong mục tìm tòi thú vị, họ đăng tải: Theo sự bỏ công tra cứu của những nhà khoa học, cái kết quả đưa ra có thể gây mất lòng một số quý bà, đó là trung bình đàn ông họ sử dụng 7000 chữ trong một ngày, trong khi đàn bà thì lên tới 20.000 chữ.

Tôi thương o ở thêm cái khoản o rất mực ít nói. Hai đứa chúng tôi cọng lại, bình quân mỗi ngày nói khoảng 5000 chữ. Bạn phải nên chúc mừng chúng tôi, vô can không ưa ngồi lê đôi mách. Hay bạn lại mắng mỏ chúng tôi: Chế độ này chỉ có đảng viên hoặc bọn dư luận viên mới mang tật già mồm. Mẹ nó chứ, hai đứa bây biết đéo gì mà nói. Tập câm họng là hơn, con ạ! Cẩn tắc vô ưu.

Chúng tôi cẩn tắc. Chúng tôi rón rén. Chúng tôi dọ dẫm. Chúng tôi biết lễ độ. Chúng tôi tập ứng xử, tập thích nghi. Nhưng mà ưu phiền như mạng nhện bủa vây, không tha cho, không bỏ sót. Vợ chồng anh chị o do hồng phúc được định cư tại Mỹ. Họ có chụp ảnh gửi về nhưng tiếc là o bạc phận chẳng được ngắm lấy để xuýt xoa. Tôi viết thư hồi âm, dự định xả oá dùng hơn 7000 chữ để tả tình tả cảnh, để minh hoạ một tình huống, một cảnh sống, một trường hợp éo le. Tôi le lưỡi phong kín phong thư. Keo ngọt lơ lớ mà nhớ vị mặn giọt nước mắt ai. Thư mỏng tang đem ký gửi cho con rùa bưu điện. Tôi chỉ đủ sức mạnh để viết được 7 chữ ngay ngắn: Vợ tôi đã chết. Bị xe đụng.

Tôi lập trang thờ cho o, tươm tất. Phía sau, để trám bức vách rạn vỡ gạch vôi, tôi treo tấm bảng hiệu quán cà phê ngày cũ án che. Ngày ba bữa thắp nhang tôi đều thấy mạ mình đứng đó han hỏi chuyện trò tâm đắc cùng o. Hai người đàn bà tôi yêu thương nhất trần đời. Nhưng, họ sống ở cảnh giới khác, xa cách tôi. Đó là bi kịch. Dẫu càm ràm tới bảy triệu chữ, cũng còn thiếu khi khô hơi bể phổi đi than van, trần tình.

Hồ Đình Nghiêm

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 42

Ngày 9 tháng 12, 1977 Lance lên 7 tuổi. Sáng nay tôi dậy sớm, trét kem lên mấy cái bánh ngọt cho Lance đem đến trường chia với bạn trong lớp. Con tôi đâu có biết nó là vị cứu tinh của tôi trong những giờ phút rối beng nầy. Tôi còn dẫn Lance ra công viên Regent Park gần nhà liệng banh, thảy Frisbee, đi cầu tuột khi rỗi rảnh.

Tội nghiệp má tôi: bà không tìm được một thú tiêu khiển nào. Má tôi ngồi trong nhà may cái áo, cái khăn, nấu nồi cơm. Suốt ngày chỉ có bấy nhiêu việc làm, trong khi dệt tương lai với ba tôi ở một nơi nào tự do, không có bóng hình Cộng sản đe doạ. Chúng tôi chắc chắn 99% là ba tôi sẽ qua Luân Đôn, nhưng không biết chừng nào. Đó là câu hỏi mà Bộ Tư Pháp hỏi Bill ngày một, vì họ phải bắt Trương Đình Hùng và Ronald Humphrey càng sớm càng tốt, phòng khi động tĩnh, hai tên gián điệp nầy chuồn đi mất.

Đại sứ Võ Văn Sung gọi cho tôi biết là ba tôi đã rời Hà Nội tối hôm qua để bay qua Moscow. John và tôi gặp Rob và Bill, cho họ hay ngay để họ chuẩn bị. Điều nầy chứng tỏ toà đại sứ Hà Nội tại Luân Đôn chỉ là văn phòng đại diện cho Hà Nội chớ chưa có đại sứ. Mọi tin tức quan trọng về chuyến đi của ba tôi đều được thông qua đại sứ Võ Văn Sung. Đây cũng là một chi tiết quan trọng cho CIA. Toà đại sứ chưa có đại sứ, thì vấn đề canh gác an ninh cũng chưa được hoàn hảo, nhờ vậy CIA có thể cho chuyên viên của CIA “bảo trì” toà đại sứ với những máy móc tối tân của ngành gián điệp.

Một hôm, sau khi họp xong với FBI và CIA, trên đường về nhà, tôi đi ngang tiệm Selfridge’s, cửa tiệm đã chưng bày hàng hoá Giáng Sinh. Tôi sực nhớ, lễ lộc năm nào cũng là những dịp buồn im lặng trong đời tôi. Ngày chúng tôi theo ba tôi vô vùng kháng chiến, trong khu không có Tết, chỉ có mừng sinh nhật Hồ Chí Minh, mừng thắng trận, mừng đồng chí của ba tôi từ ngoài Bắc vô Nam mà thôi. Rồi năm 1954, ba tôi đi tập kết, hẹn “Tết ba sẽ về”. Mười chín năm sau, Tết đến rồi Tết đi, hứa hẹn rồi lỗi hẹn. Tóc của má tôi thay màu; bướm không bay trong bụng mỗi lần tôi nghe Tết đến nữa. Mai vẫn nở. Tôi lớn lên rồi, đám con trai vẫn rủ chúng tôi ra vườn hái mai đem về lấy hên cho năm mới. Nhưng gần hai mươi năm, không có cành mai nào đem may mắn tới. Tết Mậu Thân, tôi và má tôi mua hai chậu mai để trước cửa thềm nhà, thì đêm giao thừa súng nổ, đạn bay, Việt Cộng tấn công. Tôi nhớ hoài, đêm đó nắm dưới sàn mà má tôi nói: “Mình có trồng một vườn mai cũng không may mắn nổi với Việt Cộng đâu”. Lâu lắm rồi, với tôi, lễ Tết là biểu tượng của thất vọng và phản bội.

Giáng Sinh tới, thành phố tập nập người đi mua sắm; xe taxi không có, còn xe bus thì chật cứng, nên tôi đi bộ về nhà. Nhưng đúng hơn, tôi chưa muốn về nhà, hay là không dám về nhà gặp má tôi. Biết nói gì đây, khi tôi biết trong bụng má tôi vừa mừng vừa trách, tại sao tôi đồng ý hợp tác với FBI. Làm con, tôi đâu dám ngồi xuống nói cái câu “Tự do nó có cái giá của nó”. Má tôi đã sống nhiều, đã qua biết bao nhiêu thử thách, khỏi cần nhắc, má tôi cũng biết giá trị của tự do. Tôi đi bộ về phía nhà thờ Saint Marks. Đêm nào tôi cũng cầu trời, xin Chúa cho tôi sức mạnh, cho tôi trí tuệ để vượt qua những khó khăn. Vì vậy, tôi không gì tốt bằng vô ngay nhà của Chúa cầu nguyện; tôi là khách, chắc Chúa sẽ sẵn sàng giúp tôi. Bốn mươi lăm phút sau, tôi rời nhà thờ, đi thẳng về nhà, vừa đi vừa nhớ lại đôi mắt dịu hiền của đức mẹ Maria lúc nãy trong nhà thờ nhìn tôi.

Chiều hôm đó tôi gọi “đồng chí” Lại Xuân Chiều, cho ông biết là ba tôi sẽ rời Sài gòn sáng thứ Bảy. Ông sửng sốt vì tại sao tôi biết lịch trình của ba tôi trước ông. Lợi dụng lúc ông còn đang lúng túng, tôi cho ông biết là vợ chồng tôi sẽ ra phi trường đón ba tôi. Nhưng ông không đồng ý, nói liền:

“Không. Đó là bổn phận chúng tôi phải ra phi trường đón khách của toà đại sứ. Ngay bây giờ, chúng tôi không có phương tiện chuyên chở, nhưng chúng tôi sẽ đi mượn xe”.

“Sao làm rắc rối như vậy? Chúng tôi sẵn có xe nhà, anh để chúng tôi rước ông cụ!”. Tôi nói.

Tôi không muốn làm phiền anh đồng chí nầy, nhưng theo kinh nghiệm mấy tháng nay với cán bộ Cộng sản, chuyện gì tôi cũng phải tranh đấu dù nhỏ nhặt, chớ không thì sẽ bị nắm đầu nắm chóp khi có đại sự. Tôi không để Lại Xuân Chiều xỏ mũi bắt tôi theo họ “cho đúng lệ nhà nước”.

Bên kia đầu dây, không nghe “đồng chí” Chiều trả lời, nhưng tôi kiên nhẫn đợi.

“Như vậy không đúng luật của chúng tôi, nhưng tôi không biết tính sao cho ổn”. Chiều nói.

“Tôi xin hứa sẽ đưa ông đại sứ của anh về nhà an toàn. Tôi hứa khi rước ông đại sứ về tới nhà, tôi sẽ gọi cho anh hay. Nhờ anh cho tôi số điện thoại của toà đại sứ Việt Nam ở Mạc Tư Khoa đi?”.Tôi đổi sang chuyện khác thật nhanh, để ông không kèn cựa vấn đề ai rước ba tôi ở phi trường. Mắc mưu tôi, “đồng chí” Chiều hỏi:

“Chị không có số đó sao?”.

“Để không mất thì giờ đi tìm, anh cho tôi số điện thoại bên đó đi, để tôi hỏi cho chắc chắn giờ chuyến bay của ba tôi”.

o O o

Tối hôm sau, Rob và Bill lại tới nhà tôi nữa, mặc dầu hai bên đã thoả thuận trước, là kể từ ngày biết ba tôi rời Sài gòn, CIA và FBI tuyệt nhiên không được lui tới nhà tôi. Sở dĩ chúng tôi đi đến quyết định đó, là vì chúng tôi tin rằng nhân viên của toà đại sứ Hà Nội tại Luân Đôn sẽ cho người thăm dò khu nhà tôi ở và có thể luôn cả nhà tôi, để giữ an ninh, để bảo vệ ông đại sứ của họ. Tôi cũng nói với Rob và Bill rằng, theo kinh nghiệm của tôi, các nhân viên tình báo của Việt Nam có một đặc điểm khá hơn tình báo Mỹ, là họ không bị lệ thuộc vào phép tắc và khuôn khổ. Họ chơi theo luật rừng. Khi ba tôi đến ở với chúng tôi, họ sẽ có thể chợt đến nhà tôi bất cứ lúc nào. Vì vậy, hai ông không nên lảng vảng gần nhà tôi.

Mọi người đều đồng ý như vậy, nhưng bỗng một hôm có tiếng gõ cửa. Lance ra mở cửa, rồi kêu lớn:

“Daddy, Rob và Bill muốn gặp ba nè!”.

Tôi giận tái mặt, hỏi Rob:

“Nếu có người của Hà Nội đang ở đây thì chuyện gì sẽ xảy ra?”.

Hai người nhìn nhau mà không trả lời. Sau đó ông cho biết ông không bằng lòng khi bị “cấm cửa” không được gặp tôi hàng ngày trong thời gian có nhiều chuyện quan trọng đang xảy ra. Ông muốn, hàng ngày tôi phải trực tiếp báo cáo với ông, cho tới khi ba tôi rời khỏi Luân Đôn. Tôi cho đó là một đòi hỏi hầu như không thể thực hiện được, vì tôi sẽ còn phải tiếp đãi ba tôi, mấy người trong gia đình tôi, và có thể cả những nhân viên của toà đại sứ Việt Nam nữa. Làm sao tôi có thể lén mọi người để gặp Rob mà “trực tiếp báo cáo”. Như vậy, không những có hại cho công tác mà còn nguy hiểm cho gia đình tôi nữa. Tôi đề nghị một giải pháp, là hàng ngày chồng tôi đi làm sẽ gặp hai ông Rob và Bill để tường trình mọi chuyện.

Rob cực lực phản đối ý kiến đó, viện lẽ tôi là người làm việc với ông, không phải John. Tôi biết rằng ông tha thiết mong được cùng bay về Mỹ với người đào thoát quan trọng. Tôi cho ông biết, tôi cũng mong như vậy. Nhưng ông không thể chầu chực ở nhà tôi hàng ngày, như một đứa con nít ngồi chờ ngoài cửa, mong ông già Noel trong ngày lễ Giáng Sinh. Đó là điều phi lý và ngây thơ. Nhưng Rob không phải là người để thuyết phục, khăng khăng không chịu nghe, mà còn lớn tiếng với tôi.

“Rob, – tôi nói với một giọng bực mình – tôi nhường anh một yard thì anh lấn một dặm. Khi ba tôi ở đây, anh không thể tới tìm tôi hàng ngày được. Tôi sẽ ráng thu xếp để thông báo cho anh và Bill biết kịp thời những chuyện đang xảy ra. Anh không nên ra tối hậu thơ cho tôi. Từ giờ phút nầy, tôi lo hết mọi chuyện và sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.

Rob chửi thề, rồi lớn tiếng với tôi:

“Đây là lệnh của người chỉ huy công tác. Lệnh của tôi!”.

John mời Rob ra khỏi nhà.

Rồi hai người bỏ đi dù công việc chưa giải quyết xong.

Đêm hôm đó, sau cuộc tranh luận, tôi nghĩ rằng tôi đã làm việc suôn sẻ với hai người trong thời gian qua; đối với tôi không ai là cấp trên, mà ba người là đồng nghiệp. Tôi hiểu rõ địa vị của tôi và của họ. Sau khi họ bỏ đi, tôi hỏi chồng tôi:

“Sao hồi nãy anh không binh em?”.

“Anh kêu Rob và Bill ra khỏi nhà, suy nghĩ rồi mai nói chuyện với anh. Em đâu cần anh binh vực. Rob nó giận run, nó bị cà lăm. Em là “rồng Việt Nam”, ai ăn hiếp được mà đòi binh”.

“Nếu em muốn liên lạc thẳng với xếp của hai thằng khỉ đột nầy ở Washington thì phải làm sao?”.

John đáp:

“Em phải viết “thơ trần tình” cho họ”.

“Nhưng làm thế nào để gởi cho đúng người mình muốn gởi”.

“Em cứ viết đi, rồi kêu hai thằng đó chuyển”.

Tôi nghi ngại hỏi:

“Viết thơ méc họ mà kêu họ gởi là cái gì? Họ có giấu đi không?”.

John trấn an tôi:

“Họ không dám đâu”.

Vậy là tôi ngồi xuống, viết một “thơ trần tình”, ghi rõ là gởi hai ông Rob và Bill “để tường”, và nhờ hai ông chuyển cho đô đốc Stanfield Turnerr, giám đốc cơ quan CIA.

“Vì sắp tới là ngày ba tôi sang đây, sự căng thẳng mỗi lúc một tăng thêm đối với những người liên hệ, cả ở London lẫn Washington. Tôi hiểu rằng việc thông tin cấp thời và đầy đủ cho những nhân vật ở Washington là quan trọng. Chúng ta đều có cùng một mục đích và lợi ích chung nên cùng mong muốn chương trình của chúng ta thành công tốt đẹp. Cho tới lúc nầy, chúng ta có thể hãnh diện là kế hoạch và sự thực hiện đã sắp đạt tới mục đích mong muốn.

Chúng tôi đặc biệt cảm ơn Bộ Tư Pháp đã dành nhiều thời gian cho phép ba tôi, có thể cả anh tôi, có cơ may được xa nước Việt Nam Cộng sản. Chúng tôi cũng không quên cảm tạ Cơ quan Tình báo đã hết lòng giúp đỡ và quan tâm tới những lúc dễ dàng và khó khăn trong công tác.

Thơ nầy có hai mục đích. Thứ nhứt và cũng quan trọng hơn hết là cám ơn tất cả những người có trách nhiệm vì đã hết sức trong công tác mới đây, đó là việc ba tôi sắp tới London. Mục đích thứ hai, xin quý vị lưu ý tới sự ép buộc của hai đại diện của quý vị ở London đối với tôi và gia đình tôi, đó là hai ông Robert Hall và William Fleshman.

Trong buổi họp mặt tại nhà tôi ngày 10 tháng Chạp vừa qua, chúng tôi đã phải lớn tiếng với nhau khi hai ông ép tôi phải trực tiếp báo cáo hàng ngày trong thời gian ba tôi đang ở đây.

Sau khi tôi cho họ biết rằng tôi không thể bỏ ba tôi để đi báo cáo hàng ngày với họ được, thì họ nói rằng họ muốn nghe tất cả những gì ba tôi nói và phải chính tôi trình lại với họ mới được, chớ họ không muốn chồng tôi giúp tôi trong việc nầy. Ông Hall đã nặng lời với tôi. Ông cho biết ông không muốn nghe chồng tôi báo cáo vì có thể sai lầm do sự thông dịch. Lý do đó không xác đáng đối với tôi và cuộc tranh luận trở nên tồi tệ với những lời nói nặng nề. Xin hiểu cho rằng những ngày ba tôi mới tới rất quan trọng đối với tôi. Chồng tôi hoàn toàn có đủ khả năng thay thế tôi chuyển tin tức cho hai ông vì chúng tôi là một…”

Rồi tôi đề cập tới chuyện Rob và Bill đột ngột tới nhà tôi khi chúng tôi thoả thuận rằng hai ông sẽ không nên tới nữa. Tôi viết:

“Nếu ba má tôi và con tôi đang ở nhà mà hai ông tới bất ngờ thì sẽ có thể gây nên một biến cố tai hại. Con trai tôi sẽ chạy ra cửa và sẽ nói lớn: “Ông Rob má ơi!”. Điều nầy sẽ làm cho người trong nhà vừa bực mình vừa ngạc nhiên. Vậy xin quý vị hãy ra lệnh cho hai ông nên bình tĩnh và kiên nhẫn. Ông Hall hay dùng áp lực với tôi, bình thường thì tôi chịu được và chấp nhận. Nhưng bây giờ tôi nghĩ rằng áp lực đó sẽ có phản ứng ngược”.

Tôi xin các vị cao cấp cho tôi được “tự do hoạt động và đừng kiểm soát tôi nhiều quá!”. Cuối cùng, tôi khen hai ông Roll và Bill là “những người tốt và cho tới lúc nầy chúng tôi vẫn là bạn. Tôi nghĩ rằng áp lực của hai ông đối với tôi chính là áp lực mà quý vị ở Washington đòi hỏi. Vậy xin quý vị hãy kiên nhẫn và tôi đoán chắc rằng kết quả của việc làm của tôi vẫn tốt đẹp như hai năm rưỡi vừa qua. Sự tính toán sai lầm sẽ có thể làm tôi hối tiếc suốt đời. Xin quý vị hay tin tưởng ở tôi và chồng tôi như quý vị đã tin tưởng chúng tôi trong quá khứ. Câu chuyện thần tiên nầy có thể kết thúc tuyệt vời.”

o O o

Nhờ số điện thoại mà Lại Xuân Chiều đã cho, tôi kêu sang Moscow. Một phụ nữ Nga trả lời tại toà đại sứ Việt Nam. Khi tôi nói bằng tiếng Việt, ngỏ ý muốn nói chuyện với một nhân viên người Việt của toà đại sứ, thì bà ta nói bằng tiếng Nga một câu gì đó. Tôi nhắc lại lời yêu cầu bằng tiếng Anh, thì bà ta nói “Không”. Tôi hỏi thêm bà có biết tiếng Anh không, thì bà cúp điện thoại.

Tôi lập tức kêu lại số đó; vẫn tiếng bà ta trả lời. Tôi nói bằng tiếng Pháp:

“Xin bà cho tôi nói chuyện với một người Việt Nam”.

Bà hiểu, nên cho tôi số của “uỷ ban tiếp tân”. Lần nầy thì một người Việt Nam trả lời. Tôi cho biết tôi kêu từ Luân Đôn. Ông ta hỏi lại:

“Luân Đôn là ở đâu?”.

Khi biết tôi đang ở Anh Quốc, ông ta có vẻ thích thú lắm, không hỏi tôi là ai, mà hỏi kêu có chuyện chi. Tôi nói, tôi muốn biết Đại sứ Đặng Quang Minh hiện ở đâu. Ông liền trả lời:

“Đại sứ đang đi trượt băng với các bạn. Bà có thể nói chuyện với ông ở “nhà khách” chiều nay ạ”.

Sau đó ông cho tôi số điện thoại ở “nhà khách”.

Mới đầu ông không hỏi tôi là ai. Sau khi cho số điện thoại của “nhà khách”, ông mới thắc mắc. Tôi ngập ngừng không muốn trả lời, nhưng tôi thầm nghĩ, tại sao phải giấu? Cả hai chục năm nầy, tôi vẫn muốn cho mọi người biết tôi là con của ai, nhưng không dám nói, sợ bị bắt, sợ bị mất việc, sợ bị đủ thứ. Trong những năm học trung học, tủi cho thân phận không có cha, buồn buồn tôi hay ngó lên mái ngói đỏ của phòng hiệu trưởng, muốn leo lên đó để la lớn cho cả tỉnh Cần Thơ biết tôi con nhà ai. Muốn lắm, nhưng ai mà dám làm như vậy, vì năm phút sau đó Công an sẽ bắt giam tôi trong khám liền, và không còn ai nghe được tiếng tôi nữa. Nhưng bây giờ thì tôi đã có thể nói ngay với tổng thống Hoa Kỳ ba tôi là ai. Vì vậy, tôi mau mắn trả lời nhân viên toà đại sứ:

“Thưa ông, tôi là con gái của ông Minh”.

Nói xong, tôi sung sướng vô cùng tận!

Lát sau, tôi lại kêu cho Uỷ ban tiếp tân để hỏi coi bao giờ ba tôi tới Luân Đôn. Một người khác trả lời. Ông ta có vẻ thận trọng, lịch sự hơn:

“Thưa bà, bà có thể cho tôi biết tôi đang được nói chuyện với ai không?”.

Tôi lại phải hãnh điện giới thiệu:

“Thưa ông, tôi là con gái của ông Minh”.

Người ở đầu dây bên kia im lặng một hồi lâu, nhưng tôi biết ông ta vẫn còn đó. Một lát sau mới có tiếng hỏi:

“Bà nói bà là con gái của ông Minh? Và bà kêu từ Luân Đôn?”.

Tôi xác nhận là đúng như vậy, thì ông ta lại hỏi:

“Con thật của ông Minh à?”.

Tôi cười sung sướng, rồi đáp:

“Dạ, đúng là con thật. Không phải con giả”. Tôi cười như đã quen nhau rồi.

Bây giờ thì ông ta tin tôi, nên nói:

“Tôi là bạn học cùng lớp của anh Khôi ở Mạc Tư Khoa. Chúng tôi rất thân nhau. Tôi sắp về Việt Nam và sẽ gặp anh của chị”.

“Anh may mắn hơn tôi, vì anh sắp được gặp anh tôi, còn tôi thì không được!”.

Ông hỏi tên tôi, tôi cho biết ngay. Ông liền reo lên:

“A, chị là cô em nghịch như con trai”. Như tôi nghe được tiếng reo vui của anh ta bên kia đầu dây.

Đến đây thì anh chợt nhớ ra rằng hiện tôi đang ở xa, nên vội nói:

“Mình đang nói chuyện qua đường dây viễn liên, tôi không nên dài dòng. Ông cụ hiện đi chơi trượt băng với mấy người Nga. Lúc khác xin chị gọi lại cho bác”.

“Tôi muốn biết chừng nào ba tôi sang đây?”.

“Tôi không nhớ số chuyến bay của ông, chỉ biết trưa Thứ Hai ông sẽ rời Mạc Tư Khoa, chị ạ”.

Tôi biết bấy nhiêu cũng đủ rồi. Tôi cảm ơn anh ta và chúc anh được hạnh phúc khi về Việt Nam.

Nhân viên văn phòng của hãng máy bay Aeroflot ở Luân Đôn cho biết mỗi ngày chỉ có một chuyến bay từ Mạc Tư Khoa tới Luân Đôn vào xế trưa và hạ cánh ở phi trường Heathrow lúc 9 giờ tối. Tôi nghĩ rằng tôi đã kêu hai cú điện thoại, có thể làm cơ quan KGB lén nghe đã rồi, nên không muốn kêu thêm nữa. Vợ chồng tôi quyết định tối Thứ Hai sẽ ra phi trường để đón ba tôi. Nếu tối hôm đó ông chưa tới, thì chúng tôi sẽ tiếp tục đi đón ông tối hôm sau. Chừng nào gặp ông mới thôi.

Sáng thứ Hai, John vẫn đi làm như thường lệ. Rồi sau bữa cơm tối, tôi để Lance ở nhà với bà ngoại, vợ chồng tôi lấy taxi ra phi trường. Chúng tôi phải đợi rất lâu, vì máy bay từ Mạc Tư Khoa tới trễ hai giờ năm mươi phút. Rồi thêm nửa giờ nữa mới thấy hành khách đi ra. Nhưng không có ba tôi.

Tối thứ Ba, 13 tháng Chạp, chúng tôi lại ra phi trường nữa. Chuyến bay từ Mạc Tư Khoa lại tới trễ hai tiếng. John và tôi nhìn đám khách của hãng Aeroflot lẻ tẻ đi về phía các nhân viên quan thuế. Tôi bắt đầu thất vọng khi đám hành khách ra đã gần hết. Bỗng tôi nhận thấy một dáng người quen thuộc, một người mặc bộ đồ xanh, đội nón nỉ mà tôi đã từng thấy ở Paris năm rồi. Ba tôi là người cuối cùng ra khỏi máy bay.

Khi đã thấy ba tôi, những gì chung quanh tôi tan biến đi hết. Tôi chỉ chăm chú vô ba tôi và khả năng có thể thuyết phục ba tôi bỏ Cộng sản để sống hạnh phúc với má tôi.

Bỗng ba tôi đứng dừng lại, đưa mắt nhìn quanh phi trường đông nghẹt khách. Tôi nắm lấy tay John rồi kéo anh đi theo tôi. Vừa nhìn thấy tôi, ba tôi buông cái xách tay bằng da xuống đất, dang hai tay để đón tiếp tôi. Ông ôm tôi thật chặt, rồi quay sang ôm người con rể mà ông chưa từng gặp. Ông thốt kêu bằng tiếng Việt:

“Con!”.

Sau đó, ông quay sang tôi hỏi:

“Người của ba đâu con?”.

Tôi hiểu rõ ông muốn nói gì, liền chỉ John và tôi nói:

“Người của ba đây chứ còn ai nữa?”.

Ông nói rõ hơn:

“Anh tài xế và mấy nhân viên toà đại sứ đâu?”.

“Con biểu họ đừng tới đón ba, vì con đã nhận trách nhiệm lo cho ông đại sứ rồi”.

Tôi cũng hơi buồn, vì ba tôi chỉ quan tâm tới nhân viên toà đại sứ thôi.

Ông tỏ vẻ bực mình, nói:

“Đáng lẽ con không nên làm như vậy. Ba đã báo toà đại sứ ở Mạc Tư Khoa phải báo cho Luân Đôn biết. Họ phải ra phi trường đón ba, con à”.

“Ba ơi, ba đâu có đi công tác, ba đi thăm gia đình mà”.

Tôi ráng làm ba tôi vui, nên ôm ngang lưng ông, kéo ông về khu lấy hành lý, vui vẻ nói giỡn:

“Thưa đồng chí, bây giờ đồng chí là thượng khách của con!”.

Ba tôi nói với John bằng tiếng Việt, như một nhà ngoài giao thích nói tiếng mẹ đẻ với người ngoại quốc:

“Ba cám ơn con đã thương yêu con gái của ba và cháu ngoại của ba; và ba cũng xin đặc biệt cảm ơn con đã săn sóc má của Dung giùm ba”.

Ông nói chậm chạp và rành mạch.

John nói với tôi bằng tiếng Anh:

“Em thưa với ba rằng anh rất hãnh diện được làm một phần tử của gia đình em”.

Ba tôi lắng nghe từng tiếng John nói, rồi mỉm cười với anh. Nhưng hình như ông đang suy nghĩ việc gì khác.

Ông nhíu mày, hỏi tôi:

“Chắc má sẽ buồn khi không thấy anh Khôi con đi cùng với ba?”.

Tôi siết chặt tay ba tôi, rồi đáp:

“Má sẽ mừng lắm khi gặp ba, nhưng con hy vọng ba đã đặt sẵn câu trả lời về chuyện nầy với má”.

Ông gật đầu:

“Ba sẽ giải thích cho má biết tại sao anh Khôi không thể cùng đi với ba được”.

Tôi chọc ba tôi:

“Ba cần có đồng minh ba ơi. Ba có muốn con có mặt khi ba nói chuyện với má không?”.

“Không, con không cần phải giúp ba, vì má con là người hiểu ba nhứt trên đời nầy”.

Đôi mắt ba tôi dường như đang nhìn về một nơi xa xăm, có thể là ngôi làng mà ông đã sống cùng má tôi và hoạt động cách mạng. Cũng có thể là ba nhớ Việt Nam rồi. Tôi liền nói:

“Ba à, ba có thể thực hiện điều mong ước đó nếu ba từ bỏ đảng của ba”.

Tôi đã vi phạm lại hứa với John là chỉ đề cập tới vấn đề nầy khi nào đúng lúc. Nhưng quả thật, tôi bỗng cảm thấy lúc nầy là đúng lúc, vì tôi nghĩ rằng tôi sẽ có ít thời giờ riêng với ba tôi, chỉ có lúc nầy cũng là thuận tiện nhứt.

Có thể tôi tính sai. Đôi mắt của ba tôi tức thì trở nên nghiêm nghị. Ông tằng hắng, rồi gằn giọng nói:

“Con à, chuyện nầy không phải là chuyện để con nói giỡn”.

Tôi biết mình đi quá xa không còn chỗ nào trở lại, nên tôi lấy hết can đảm nói luôn:

“Con đâu có nói giỡn. Con nói thiệt mà ba! Con hết lòng mong muốn ba về hưu, để có thể sống với má cho tròn những năm tháng còn lại của cuộc đời. Con có ý định nầy ngày lần gặp ba lần đầu tiên ở bên Nhựt kia. Rồi khi gặp ba ở Paris, con cũng có ý định y như vậy. Nhưng lúc đó không thuận tiện, vì ba đang háo hức về thăm Việt Nam sau ngày giải phóng. Bây giờ ba đã hưởng niềm vui thắng lợi của ba, và ba đã vui mừng cho Việt Nam, cũng như đã thất vọng khi thấy cuộc giải phóng đi lạc đường, lạc lối”.

Ông nhìn tôi bằng đôi mắt đầy thất vọng, nói:

“Con à, sẽ không bao giờ thuận tiện để con nói tới chuyện nầy đâu. Ba yêu cầu con từ nay đừng nhắc tới nữa”.

Tôi buồn bã nói:

“Nghĩa là ba không bao giờ thương con, và cũng không muốn ở gần con, phải không?”.

Ba tôi hôn lên lên trán tôi, rồi dịu giọng:

“Như vậy là con không thương ba mới đúng. Con nên biết rằng chuyến đi của ba như thế này rất đặc biệt. Trong lịch sử của đảng, trước ba chưa có ai được phép đi như thế nầy. Ba đã được đảng tin cậy. Các đồng chí ở Hà Nội đã cho phép ba đi ngay cho kịp, vì con đã làm cho mọi người tin rằng có tình trạng cấp bách. Gia đình mình ở trong một hoàn cảnh không đơn giản. Vậy con không nên toan tính làm chuyện gì để người ta phải thất vọng vì gia đình mình. Ba rất cảm động và vui sướng khi biết con yêu thương ba, con muốn được sống bên cạnh ba. Nhưng ba yêu cầu con đừng bao giờ đòi ba từ bỏ đảng, điều đó khiến ba đau lòng, vì con đã coi ba tầm thường như những người khác”.

Tôi vẫn chưa chịu, nên nói thêm:

“Ba không thể chọn lựa cả hai được. Hoặc ba về ở với má, hoặc ba theo đảng, bỏ rơi má. Ba đã hy sinh cả cuộc đời ba cho đảng. Trong khi đó, má cũng đã hy sinh cả một thời xuân sắc để chờ đợi ba. Bây giờ đã đến lúc ba nghĩ tới má và gia đình thân yêu của ba. Bốn mươi sáu năm, nửa thế kỷ, ba sống với đảng, xây dựng đảng vững mạnh như ngày nay. Bây giờ gia đình nầy cần ba để chúng con được trọn vẹn có mẹ có cha, mấy đứa cháu có đủ ông bà. Chắc ba thất vọng về con, vì thấy con ích kỷ?”.

“Nói chung thì chúng ta đều ích kỷ. Chúng ta được quyền ích kỷ, con à”.

John vừa chạy đi kiếm va-li của ba tôi nhưng chưa có. Anh khuyên chúng tôi nên ngồi nghỉ, vì họ chậm trễ trong việc chuyển hành lý. Chúng tôi ngồi xuống mấy cái ghế trống. Tôi trở lại chuyện bỏ đảng về với gia đình, y như một người bán hàng rong vẫn lải nhải mời mọc dù chủ nhà đã đóng sập cửa lại rồi.

“Mấy năm sau khi ba đi rồi, con đã đủ trí khôn để nhận ra rằng lý thuyết Cộng sản hay như chuyện thần tiên, nhưng khi đưa vô thực tế thì lý thuyết đi một đàng, thực tế đi một nẻo. Con rất buồn khi hiểu được điều đó. Và, con cũng buồn cho ba lắm vì con biết ba của con. Trước khi ba là Cộng sản, ba là người Việt Nam, ba là Việt Minh. Con biết từ đáy lòng ba, ba thành thật mơ ước một nền hòa bình và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam. Bạn hữu của ba, bạn của má con, các cô, các dì, các chị con, đã cho con hiểu rất rõ về ba. Vì vậy, con biết ba đã dâng hiến cả cuộc đời ba cho dân tộc, không phải chỉ riêng cho đảng. Trong một bức thơ ba viết cho con sau ngày thống nhứt đất nước, có câu: “Một con én không thể đem mùa xuân trở lại được”. Chắc ba còn nhớ?”.

Hồi đó ba tôi tỏ vẻ thất vọng vì “Giải Phóng” đã làm cho người dân miền Nam buồn chán, nhưng ông quyết định cố gắng hết sức để thay đổi cho tốt đẹp hơn. Ông thừa nhận, ông không có đủ quyền hành trong tay; ông cần các đồng chí có cùng chung sự suy nghĩ mà hành động như ông.

Ba tôi ngồi im lặng nghe tôi say sưa nói.

Mắt ông lộ vẻ tức giận dù ông vẫn giữ im lặng. Rất may, lúc đó John trở lại, làm cho tình hình căng thẳng giữa ba tôi và tôi dịu xuống. Anh đã lấy được hành lý của ba tôi. Chúng tôi đi ra ngoài ngay, đón taxi về nhà.

Khi xe rời khỏi phi trường, ba tôi nhìn thẳng phía trước, rồi gỡ kiếng ra cầm tay mân mê. Đó là dấu hiệu ông đang tức giận vì lời đề nghị và chỉ trích thẳng thắn của tôi. Ông giữ im lặng một lúc, rồi hỏi tôi:

“Con nói hết chưa?”.

Tôi gật đầu. Ông nói bằng một giọng bình tĩnh và ôn tồn:

“Trước hết ba cảm ơn con đã rộng lượng đề nghị ba về ở với con. Thứ hai, ba muốn con ghi nhớ điều nầy suốt đời, là ba rất yêu anh Khôi và em Hoà Bình của con, nhưng con là niềm hãnh diện của ba. Ba rất vui khi được con lo lắng, săn sóc. Ba cũng rất hãnh diện khi biết con quan tâm nhiều đến dân tộc ta. Con cởi mở và cứng rắn, đồng thời con cũng dịu dàng. Con là một người đàn bà đặc biệt. Ba thương con vì con vẫn có nhiều tình thương cho đồng bào ta, dù con đã có quốc tịch Mỹ và là vợ của một sĩ quan Mỹ, mẹ của một đứa bé Mỹ. Nhưng ba biết được con vẫn yêu nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Ba sung sướng về con lắm. Ba không muốn thay đổi con dù theo phương hướng nào”.

Ngưng một chút, ba tôi nhìn tôi với một vẻ bằng lòng, rồi tiếp:

“Ba chỉ muốn con ghi nhớ tận đáy lòng con một điều, là con hãy vui mừng khi thấy ba của con vẫn có nghị lực và ý chí, quyết đem lại hòa bình vĩnh cửu cho đất nước của chúng ta”.

John ngồi cạnh tôi cũng lắng nghe cuộc nói chuyện, nhưng chắc chỉ hiểu được phân nửa thôi. Anh bỗng lên tiếng:

“Hãy từ tốn với ba, nghe Nhà (tên lóng chỉ có John gọi tôi). Nên nói chuyện về má, về anh Khôi. Hỏi ba coi mấy ngày ở Moscow có dễ chịu không. Hỏi ba cuối tuần rồi đi trượt băng với các bạn có vui không? Hỏi ba có mong gặp má không. Đừng nói về chuyện Việt Nam, cũng đừng nhắc chuyện chánh trị. Bây giờ không phải là lúc nói mấy cái chuyện đó”.

Tất nhiên là John nói đúng. Tôi hối hận đã không đủ kiên nhẫn chờ dịp khác để nói. Nhưng cũng chỉ vì tôi cảm thấy thời gian dành cho tôi có thể nói chuyện riêng với ba tôi ít quá. Lúc nào cũng có một ông già râu ria vô hình quay cho đồng hồ chạy lẹ hơn cả nhịp đập của tim tôi. Vì vậy, nếu tôi không nói ra những điều ấp ủ trong lòng, e sẽ chẳng bao giờ có dịp nói với ba tôi.

“Con đã cào, đã cấu, đã tìm mọi cách, đã vượt Thái Bình Dương, rồi vượt luôn Đại Tây Dương mà vẫn không được có ba. Có lẽ, cuối cùng con phải bắt cóc ba, ba ơi”.

Ba tôi sửng sốt vì câu nói đó. Ông xích ra xa tôi, rồi nhìn đường, ông hỏi:”Còn bao lâu nữa thì tới nhà?”.

“Dạ, chừng hai mươi phút nữa, thưa ba!”. Tôi đáp.

“Vậy thì muộn quá”.

“Má sẽ đợi suốt đêm để chờ mình ba à”.

Ba tôi giữ im lặng chứng năm phút, hai tay vẫn mân mê cái kiếng, tỏ vẻ suy nghĩ. Cuối cùng ông lại lên tiếng:

“Con à, ba hy vọng con hiểu vị thế của ba hiện nay. Tối nay, sau khi tới nhà, gặp má con, ôm hôn thằng cháu ngoại của ba một cái, rồi ba sẽ ra đi ngay”.

Tôi hốt hoảng kêu lên:

“Con không hiểu ba nói gì!”.

Tôi quay sang John, dịch lại lời ba tôi vừa nói cho anh biết. Anh xua tay cho biết anh vẫn theo dõi câu chuyện và khuyên tôi nên nghe lời ba tôi.

“Nếu con chịu nghe ba nói, con sẽ hiểu”. Ba tôi nói tiếp, “Ba là một nhà ngoại giao thâm niên, ba cũng là một trong những người đặt ra nguyên tắc nầy. Nếu ba không sống theo nguyên tắc thì ba không có quyền đòi hỏi nhân viên dưới quyền của ba theo đúng nguyên tắc. Rất giản dị là ba phải về ngủ ở nhà của toà đại sứ sau một ngày công tác. Theo nguyên tắc, ban ngày ba sẽ tới với má con và các con, rồi ban đêm ba phải về ngủ ở nhà của toà đại sứ”.

Ông nói một cách thản nhiên, coi đó như một luật thiên nhiên trong trái đất. Tôi hiểu rõ ràng những lời ông nói, những vẫn giận cành hông.

“Ba có biết tại sao các chánh phủ Cộng sản trên thế giới phải đặt ra nguyên tắc gắt gao cho đảng viên của họ không? Vì họ không tin tưởng ngay cả chế độ của họ, giống như một anh chồng có tánh ghen tương, nhốt vợ trong tủ áo, sợ thả lỏng thì con vợ sẽ trốn đi mất tiêu”.

Ba tôi chỉ cười. Ông hiểu ý tôi, nhưng tôi biết ông giữ vững lập trường của ông.

Chúng tôi về tới nhà khoảng mười một giờ rưỡi khuya. Chưa kịp gõ cửa thì má tôi đã mở ra và bật đèn của sáng choang. Với vẻ mặt rạng rỡ, bà bước ra ngoài đón chúng tôi. Bà mặc áo bà ba mới, trong bà trẻ hẳn ra và đầy sức sống.

Khi chúng tôi vô nhà. John và tôi đi thẳng vô bếp, nhường phòng khách cho ba má tôi. John nói nhỏ với tôi:

“Đáng lẽ má phải ra dáng bịnh hoạn, chớ không nên ra ngoài đón ba như vậy, rủi VC nó thấy thì sao!”.

Tôi nghe thấy mùi cháo thơm, nên mấy phút sau quay trở ra phòng khách để mời ba tôi vô bếp. Tôi yêu cầu ông nhắm mắt lại. Ông hít một hơi rồi reo lên vui vẻ:

“À, đây là món cháo anh rất thích. Có mùi gan gà và hành lá nữa”.

Tôi dọn cháo ra bàn ăn trong khi ba tôi lên lầu rửa mặt. Tôi bỗng nghe giọng ngái ngủ của Lance từ trên lầu vọng xuống:

“Ông ngoại. Sao ông tới trễ quá vậy?”.

“Ôm hôn ông ngoại, rồi đi ngủ đi, nghe. Mai ông sẽ tới!”. Ba tôi hôn túi bụi lên mặt lên tóc của Lance.

Sau khi ăn cháo gà, ba tôi mở va-li, nói:

“Ba đem cho con mấy thứ lặt vặt hương vị Cần Thơ mà con thích”.

Nói xong, ông mỉm cười. Tôi vồ ngay lấy mọi thứ: bánh tráng ngọt, bánh phồng, mứt me, kẹo dừa, kẹo chuối. Ba tôi khoe với má tôi mấy hộp trái cây; đó là sản phẩm của hãng làm đồ hộp mà chị Thúy Xinh người con nuôi của ba tôi làm giám đốc. Trong khi chúng tôi đang vui vẻ, tôi thấy đồng hồ đã chỉ một giờ ba mươi sáng. Tôi hơi bối rối cho má. Tôi biết ba tôi không thể ngủ đêm ở nhà chúng tôi được, mà phải về nhà riêng của toà đại sứ. Phản ứng của má tôi không như tôi lúc nãy. Bà bình tĩnh sắp xếp lại túi xách cho ba tôi, rồi đề nghị chúng tôi đưa ba tôi đi ngay kéo quá trễ. Bà chỉ muốn cho ba tôi có một đêm ngủ ngon sau cuộc hành trình mệt mỏi. Như vậy, có phải chứng tỏ vợ hiểu chồng hơn con hiểu cha không? Tôi tự hỏi mà bối rối.

Sau khi ba tôi kêu điện thoại cho nhân viên toà đại sứ để báo cho họ biết ba tôi sắp tới, John và tôi chuyển hết hành lý của ba tôi lên xe, rồi cùng nhau đi trong đêm tối. Đường đi không xa, chỉ chừng năm phút là tới. John ngồi đợi ngoài xe, tôi mang xách tay của ba tôi vô nhà. “Đồng chí” Chiều ngái ngủ ra mở cửa, mặc bộ pyjama.

Trong nhà nóng một cách ngột ngạt; có lẽ máy sưởi mở đến 80 độ. Sau khi dẫn chúng tôi tới phòng ngủ của khách, “đồng chí” Chiều chúc ba tôi ngủ ngon, rồi trở về phòng của ông. Ba tôi sai tôi mở cửa sổ cho thoáng và mát. Trên giường có hai tấm mền, ông cất đi một. Tôi liền nói giỡn:

“Ba thấy chưa? Nếu ba ngủ ở nhà con, không ai dám nướng ba nóng như ở đây”.

“Ba quen với khí hậu lạnh ở Mạc Tư Khoa rồi, dù mùa đông ở đó rất khắc nghiệt. Thôi, con về đi, đừng bắt chồng con đợi lâu quá. Sáng mai, sau khi ăn điểm tâm, đến đón ba nghe. Ba cần thảo luận một vài vấn đề với mấy anh em ở đây trong bữa điểm tâm”.

Khi tôi định đi ra của, ba tôi nói:

“Trước khi con về, ba muốn nói với con là ba mừng cho con, vì chồng con rất tốt”.

“Cám ơn ba”.

Nói xong, tôi ôm hôn ông rồi đi ra ngoài trời đêm giá lạnh, để ba tôi ở lại với những người bạn Cộng sản của ông.

Trên đường về, tôi nhìn lên bầu trời tối đen, cám ơn đấng thiêng liêng nào đó ẩn sau đám mây đen. Tôi thất vọng vì ba tôi không chịu ngủ trong nhà tôi, nhưng tôi cũng mừng vì ông đã được ra khỏi nước để gặp chúng tôi. Đó là diễm phúc trời cho rồi.

Tôi đã lớn lên trong một hoàn cảnh mà tôi không mong ước bất cứ người nào khác phải chịu đựng như mình. Nhưng qua biết bao khó khăn, tôi cũng hãnh diện vì đã vượt được hết, cho đến ngày hôm nay. Tôi đã thừa hưởng được ý chí mạnh từ ông ngoại, và tôi đã tranh đấu cho những nguyên tắc riêng của mình, cho quyền lợi và cho chính cuộc đời mình, trong một xã hội mà tôi tin rằng nó là của tôi. Đồng thời, ông ngoại tôi cũng dạy tôi phải chấp nhận nhu cầu và quyền lợi của người khác, nghèo cũng như giàu. Nhưng ông tôi không dạy tôi phải chấp nhận tình trạng của hai người yêu nhau tha thiết, mà phải sống xa nhau vì lý tưởng, như ba má tôi. Tôi không thể chấp nhận điều nầy được.

Đêm hôm đó, tôi muốn nói chuyện với má tôi về những khó khăn trong dĩ vãng, về những giấc mộng dở dang hiện tại và về tương lai bắt trắc. Nhưng khi chúng tôi về tới nhà thì bà đã đi ngủ. Tôi rón rén đi tới phòng ngủ của má tôi, thấy bà nằm quay lưng ra ngoài và ngủ ngon lành. Dù sao tôi cũng cảm thấy yên tâm, vì bà không muốn đợi tôi về để bàn tới chuyện mà bà không thích.

Tôi có cảm tưởng tôi như một con cá nhỏ lội ngược dòng. Những biến cố ào tới như thác lũ, khiến tôi không sao đối phó kịp. Ý nghĩ ba tôi sẽ trở về Việt Nam làm tôi hoảng sợ.

Mấy ngày sau, ba má tôi có nhiều thời gian sống bên nhau. Má tôi đi đâu ba tôi đi theo đó: lúc vô nhà bếp, lúc lên lầu, lúc xuống nhà. Hai ông bà nói chuyện với nhau không ngừng, hầu hết nói về bạn cũ trong vùng giải phóng. Có lúc hai ông bà cười vui vẻ với nhau. Lại có lúc ngồi im lặng, không biết hai người nghĩ gì? Nghĩ gì cũng được, miễn hai người ngồi nghĩ bên nhau là tôi sung sướng lắm rồi. Những ngày nầy, ba má tôi vui tươi, hạnh phúc lắm.

Tôi nghĩ rằng ba tôi đã rất tế nhị, không nhắc tới sự kiện má tôi chẳng có vẻ gì là đau ốm dù rằng tôi viết trong thơ gởi ông Lê Duẩn, là má tôi đau nặng có thể chết.

Hai ngày sau khi ba tôi tới, tôi để ba má tôi ở nhà một mình, dắt Lance “đi shopping”. Đúng hơn là tôi đi gặp Rob và Bill. Tôi biết hai ông rất nóng lòng, như ngồi trên đống lửa, muốn biết những chuyện gì đang xảy ra ở trong căn nhà nhỏ của chúng tôi. Tất nhiên là không có gì nhiều để báo cáo, vì cho tới lúc nầy chỉ có chuyện cá nhân, không có một dấu hiệu nào về việc ba tôi sẽ đào thoát.

Cũng như tôi, họ đều tỏ vẻ thất vọng, vì anh Khôi tôi không được đi. Bây giờ thì bầu không khí giữa họ và tôi không còn căng thẳng như trước nữa. Có thể lý do mà họ bớt gay gắt với tôi là vì họ sắp được gặp những người thân yêu của họ. Hai cơ quan FBI và CIA đều cho họ biết vợ con họ sẽ có thể sang Luân Đôn đón lễ Giáng Sinh với họ. Cám ơn Thượng đế đã cấu tạo ra người vợ ngay từ thuở khai thiên lập địa.

John cho Lance được nghỉ học để cháu ở nhà chơi với Ông Ngoại, dù ngày nghỉ lễ Giáng Sinh cũng sắp tới. Tôi cũng lấy làm lạ khi thấy Lance thích được ông ngoại ôm vào lòng. Thường thường Lance không thể ngồi yên được hai phút, vậy mà bây giờ Lance ngồi hàng giờ bên cạnh ông bà trong khi ông bà chuyện với nhau. Lúc thì Lance bầy đồ chơi ra, lúc thì vẽ hình cho ông ngoại xem. Thỉnh thoảng ba tôi kéo cháu lại gần để hôn. Lance hỏi tôi Thứ Năm cháu có thể dẫn ông ngoại tới trường để khoe với bạn không? Mỗi tuần, ngày thứ Năm nào Lance cũng đem đồ chơi vô khoe với lớp. Má tôi hỏi:

“Cháu sẽ nói về ông như thế nào?”.

Lance đáp:

“Cháu sẽ nói với mọi người ông làm việc cho chánh phủ Việt Nam, và ông là ba của má cháu”.

Ba tôi lại hỏi:

“Nếu ông không đi, cháu đem cái gì để khoe với các bạn?”.

“Cháu sẽ mang tôi trường cái máy bay trực thăng”.

Vừa nói Lance vừa khoe với mọi người máy bay trực thăng cháu tự làm lấy bằng những miếng cây trong hộp đồ chơi. Tôi nói:

“Con hãy đem máy bay trực thăng đi. Trời lạnh quá, ông không đi với con được”.

Sau đó tôi nói với ba tôi, khi được gặp ông ngoại ở Nhựt, cháu khoe với một bà ở toà đại sứ Mỹ, ông nó là “Cộng sản tốt ở Việt Nam”.

Ba tôi thích lắm.

Tôi không thể diễn tả được cảm giác kỳ diệu của tôi khi được cùng ba má tôi chuyện trò vui vẻ. Tôi nhìn tôi trên kiếng, sờ lên mặt, rồi thầm nói với mình: “Đây là thật, không phải chiêm bao”.

Ba má tôi nói đủ mọi thứ chuyện, rồi nhắc đến sự ra đi của những người thân yêu. Ba tôi nhắc đến ông nội, ba nội. Tôi đã thấy ba tôi chùi nước mắt cho má tôi, khi ông bà nhắc tới Hải Vân, em tôi. Nhưng hai người cũng có lúc cãi lộn. Đề tài tranh luận bao giờ cũng là chánh trị. Cả hai cùng giữ vững lập trường của mình, một thì tích cực bênh vực Cộng sản, một thì chống cộng kịch liệt. Đó là lý do đã khiến hai người phải xa cách bấy lâu nay. Tôi nghĩ rằng các cuộc tranh luận ấy đều có lợi cho cả hai. Má tôi thì cần nói ra nỗi niềm riêng bà đã ôm ấp hai chục năm nay. Còn ba tôi cũng nên biết nỗi lòng của một người đã bị mất nước và mất tất cả vì Cộng sản.

Má tôi hỏi ba tôi về số phận của miền Nam. Ông trả lời rằng: “Thời gian xây dựng lâu dài hơn là thời gian phá hoại. Nước Việt Nam cần có nhiều thời gian để hàn gắn”.

Má tôi không thoả mãn với những lời hứa hẹn như vậy. Bà nói:

“Làm sao anh có thể đem lại hoà bình, khi mà đảng Cộng sản của anh mở chiến dịch chống lại nhân dân? Dân của tôi no ấm, miền Nam của tôi phồn thịnh, rồi đảng của mấy ông cáng xã hội chủ nghĩa vô họng người ta, dân của tui mới đói, mới rách”.

Ba tôi đáp:

“Anh công nhận là miền Nam phong phú, nhưng chỉ một số nhỏ được đặc ân mà giàu có, còn đa số thì trắng tay”.

“Cả ngàn năm nay, thời nào cũng có người giầu, kẻ nghèo. Tôi bảo đảm đảng của anh sẽ làm nên lịch sử, bằng cách tước đoạt hết của cải của mọi người, san bằng mọi “bất công” trong xã hội, quay lại đảng viên ai nấy giầu có như nhau”.

Ba tôi nhẹ nhàng đưa tay lên che miệng má tôi, rồi ông lắc đầu nhìn bà bằng đôi mắt van xin bà hãy ngưng cuộc tranh luận, vì lập trường của hai người hoàn toàn khác biệt; hãy tận hưởng những giây phút quý báu bên nhau.

Bên nhau, ba má tôi cũng có những giờ phút êm đẹp. Ông ngồi yên lặng bên cạnh bà để xem bà vá áo sơ mi cho ông, may quần áo ngủ mới, và đơm lại mấy nút áo không giống nhau. Những lúc thấy mắt má tôi vui và nụ cười rạng rỡ trên mặt ba tôi, tôi thầm tự nhủ: “Nếu chẳng may hôm nay mình chết, chắc mình sẽ biến thành một thiên thần sung sướng nhứt”.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 41

Hải Quân và CIA đã hợp tác với nhau, với sự đồng ý của chồng tôi, đổi anh qua Luân Đôn làm việc, vì những hoạt động giữa tôi và CIA tại nước Mỹ trái nguyên tắc. Trong thời gian qua, cứ ba tháng CIA phải xin gia hạn với Bộ Tư Pháp, cho phép CIA và tôi hoạt động trong nước Mỹ. Gởi tôi ra nước ngoài để hoạt động là thượng sách.

Tháng 7 năm 1977, má tôi và Minh Tâm về Atlanta, Georgia với chị tôi. Xe truck tới dọn nhà, đóng thùng bàn ghế, 90% đồ trong nhà đem gởi trong kho; khi nào chúng tôi đổi về Mỹ sẽ lấy ra. Khi qua Luân Đôn, Hải Quân sẽ cho chúng tôi mướn bàn ghế xài trong thời gian ở đó. Con chó Moon Joe của Lance tạm thời gởi cho vợ chồng của một người bạn nuôi giùm trong thời gian chúng tôi đi vắng. Tội nghiệp con tôi, khóc một trận lúc chia tay con chó. Nhưng rồi Lance cũng tạm quên con chó, khi nó biết ở Luân Đôn có tiệm bán đồ chơi Hamleys lớn nhứt thế giới; vậy là từ ngày đó Lance cứ theo hỏi “chừng nào mình đi Luân Đôn?”.

Hải Quân đã đưa chúng tôi đi nhiều nơi, sống nhiều chỗ, nơi nào cũng là nhà, nơi nào cũng sống gần gũi với những gia đình Hải Quân, những người đặt tổ quốc trên hết, sống với nhau trong tinh thần phục vụ và bảo vệ đất nước. Nhưng chuyến công du ở Luân Đôn lần nầy để lại nhiều kỷ niệm cho gia đình tôi, mà tới chết cũng không quên được. Đây cũng là nơi một lần nữa thử thách lòng yêu nước, yêu tự do và chung thuỷ của gia đình tôi. Nơi đây, tôi đã trưởng thành qua những chông gai, thử thách, ngoài tưởng tượng của một người con gái lớn lên trong vùng giải phóng.

Một tuần sau khi chúng tôi dọn vào một căn nhà xinh đẹp ở số 8 Regal Lane vùng Regent Park, nhà của một sĩ quan Không Quân người Anh đang làm việc tại toà đại sứ Anh ở Washington, chồng tôi dẫn Lance ghi tên để Lance đi học lớp ba ở American School of London. Một đêm, tôi chiêm bao thấy Rob và Bill tới nhà hỏi tôi có chịu ra toà làm chứng khi Bộ Tư Pháp truy tố Trương Đình Hùng không? Sáng thức dậy, tôi kể cho John nghe; anh cười tôi, vì tôi làm gián điệp từ ban ngày cho đến trong giấc ngủ.

Một tuần sau. Bill Fleshman và Rob Hall đến gõ cửa nhà tôi. Vừa thấy Bill, tôi nói:

“Anh đừng có nói với tôi là người ta muốn bắt David Trương” (tên Mỹ của Trương Đình Hùng).

Tôi mở cửa, không chào hai người.

Cả hai cùng sửng sốt.

“Trời ơi, tôi thức hết nửa đêm để lựa lời tới đây nói chuyện với bà. Bà làm cho công việc của tôi dễ dàng quá! Tôi tới đây chính là với sứ mạng đó”.

Chúng tôi mời Rob và Bill vào nhà. Tôi chưa muốn nghe hung tin nầy, nên chần chờ làm cafe. Khi mọi người ai nấy đã có ly café của mình rồi, thì Bill tằng hắng, bắt đầu cho biết là Bộ Tư Pháp gởi hai anh cùng hai luật sư của CIA và Bộ Tư Pháp tới gặp tôi, nói rõ cho tôi biết họ cần tôi hợp tác trong việc truy tố Trương Đình Hùng và Ronald Louis Humphrey, nhân viên cơ quan USIA.

Cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài không hơn 20 phút. Rob và Hill hẹn sẽ gặp lại chiều đó ở một căn nhà bí mật của CIA; khi đó tôi sẽ gặp hai người luật sư của CIA và FBI. Tôi muốn có thì giờ để suy nghĩ và chuẩn bị tinh thần, nên tôi dời lại đến sáng hôm sau. Bill đồng ý.

Đêm đó tôi thao thức đến 2 giờ sáng. Sự lựa chọn nó lớn hơn tôi bằng nhiều hình thức. Nó không giản dị như đứng giữa thiện và ác, giữa tự do và Cộng sản, hay giữa thuỷ chung và phản bội. Tôi biết, nếu tôi hợp tác với Bộ Tư Pháp thì từ đây về sau bí mật về tôi sẽ bật mí. Nhưng điều tôi lo nhứt, là an ninh của bà con ruột thịt của tôi ở bên nhà. Ba tôi và anh Khôi ở trong tay của Cộng sản. Rồi chuyện gì sẽ xảy ra cho họ? Trằn trọc hoài, cái gối nóng hổi, tôi trở nó không biết bao nhiêu lần nhưng không ngủ được. Sợ ngày mai không đủ sức đi họp, tôi uống một viên thuốc ngủ, nằm chờ giấc ngủ, mà cũng không biết nên làm gì và làm được gì đây.

Sáng hôm sau, chúng tôi tới căn nhà bí mật của CIA có tên là Reeve House, như những villa xinh xắn có tên. Chúng tôi được giới thiệu với luật sư Tony Lapham, cố vấn luật pháp cho CIA, ông John Martin, luật sư của Bộ Tư Pháp. Tới giờ nầy tôi mới biết giới luật sư thường hay nhiều lời. Hai ông nói vòng vo, chung quy cho tôi biết là Bộ Tư Pháp cần sự hợp tác của tôi. Ông Tony Lapham nói câu thòng để tôi hiểu ý của CIA, là mọi quyết định ở trong tay tôi; họ không bắt buộc tôi. Nhưng ông John Martin của Bộ Tư Pháp lại cho tôi biết rằng, không có tôi làm chứng thì họ không thể đưa hai tên phạm tội nầy ra toà được.

Làm sao mà tôi quyết định tại chỗ được, dù tôi biết bốn người nầy nóng lòng chờ tôi quyết định. Hai người luật sư cho biết, họ chỉ ở Luân Đôn hai ngày nữa thôi. Tôi nghĩ đây là mánh lới của hai người, muốn dồn tôi vào ngõ bí, để vội trả lời mà không kịp suy nghĩ. Họ nóng như lửa, nhưng tôi nguội như tro tàn. Chuyện họ công tác ở Luân Đôn hai ngày nữa hay một tháng nữa, không phải là vấn đề của tôi. Tôi cáo từ và hẹn hôm sau gặp lại.

Hồi nhỏ, mỗi lần gặp khó khăn, tôi thường hỏi ý kiến của ông ngoại. Ông tôi hay trả lời:“Làm sao mà lương tâm cho phép thì làm”.

Sau khi rời Reeve House, John đưa tôi đi ăn trưa trong toà đại sứ Mỹ. Đó cũng là nơi anh làm việc. Tôi hỏi John tôi nên làm gì, nên hay không nên ra toà làm chứng cho Bộ Tư Pháp. John cố làm cho tôi vui với giọng nói nửa đùa nửa nghiêm nghị:

“Cô ơi, cô phải sống với sự quyết định của cô cho tới già. Vì vậy, nếu để anh quyết định giùm thì không công bằng. Những hãy nhớ, em đi đến quyết định nào thì chồng của em cũng ủng hộ em 100%”.

Tôi nhìn John mà không cười nổi.

Nhớ có một lần hồi còn ở Mỹ, Bill Heshman có hỏi, nếu phải đưa Trương Đình Hùng ra toà, tôi có dám đứng ra làm chứng không? Tôi trả lời gọn lỏn:“Không, nhất định là không”. Phải chi bây giờ tôi cũng có thể trả lời bốn người nầy như vậy thì dễ quá. Nếu tôi không hợp tác để đưa Trương Đình Hùng ra toà, tôi còn triển vọng gặp lại ba tôi sau nầy, và có thể một ngày không xa má tôi sẽ được gặp lại anh Khôi; hơn nữa, thằng Cộng sản gian ác cũng không biết gì đến việc tôi muốn tiêu diệt chế độ Cộng sản.

Lại một đêm trằn trọc, tôi trở cái gối không biết mấy chục lần. Sợ đánh thức John nên tôi lén qua nằm chung giường với Lance. Nếu ngày mai tôi trả lời với họ là “Không, nhứt định không”, thì hai người gián điệp nầy có thể tiếp tục làm nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Mỹ. Những người hoạt động cho CIA ở hải ngoại sẽ bị lộ diện. Riêng những điệp viên của CIA ở Việt Nam trong thời chiến còn bị kẹt lại Việt Nam sau 1975, họ sẽ bị bắt, bị tra khảo, đánh đập tàn nhẫn. Tôi rùng mình khi nghĩ đến điều nầy. Ronald Humphrey đã cung cấp cho Cộng sản Hà Nội danh sách của những người nầy qua tài liệu mà Trương Đình Hùng đã đưa cho tôi và đã được FBI chặn lại. Luật sư của Bộ Tư Pháp đã lặp đi lặp lại cho tôi biết, chỉ có tôi làm chứng, khai Trương Đình Hùng là người trao cho tôi những hồ sơ tối mật thì hai người gián điệp mới bị kết án; còn nếu tôi từ chối thì hai người không có tội vạ gì hết.

Biết được trách nhiệm của mình nặng nề như vậy, liệu tôi có thể trốn được bổn phận được không? Lớn lên trong một gia đình mà người lớn ai cũng biết làm người, ai cũng có trách nhiệm, ai cũng làm tròn bổn phận: bổn phận với đất nước, với dân tộc, với gia đình, với người chung quanh; tôi không biết hành động gì khác hơn những tâm gương sáng đó. Đến khi đi lấy chồng, lại gặp người đàn ông có trách nhiệm; anh làm tròn bổn phận công dân, bổn phận làm chồng, làm con, làm cha.

Tôi quyết định là sẽ hợp tác với Bộ Tư Pháp cho tới cùng, nhưng nhứt thời, tôi không cho chồng tôi, FBI, và CIA biết quyết định nầy. Tôi cần thêm thì giờ, chớ không thể nào trả lời dứt khoát với Bộ Tư Pháp bây giờ được. Không phải cần thì giờ để suy nghĩ, mà cần thì giờ để hoạt động. Tôi cần gặp ba tôi một lần nữa để hỏi ba tôi, có khi nào ông nghĩ tới việc hưu trí, rời Việt Nam, tìm một nơi dưỡng già với má tôi? Tôi muốn tranh luận lần nữa, tìm cách cho gia đình tôi đoàn tụ. Còn anh Khôi, tôi phải biết anh Khôi có được an toàn không, một khi cả thế giới biết em của anh là gián điệp của CIA. Nếu anh sẽ bị liên luỵ, thì tôi phải tìm cách đưa anh ra khỏi Việt Nam trước đó.

Tôi gặp ông John Martin hôm sau, tha thiết nói cho ông biết nguyện vọng của tôi là gặp ba tôi một lần nữa; hay ít nhất cho anh Khôi trốn qua Mỹ đã, sau đó tôi sẽ sẵn sàng ra làm chứng. Tôi nghĩ, dù sao ba tôi cũng sẽ không gặp khó khăn, vì ông được sự tin tưởng từ cấp trên xuống cấp dưới; ông còn là người hữu dụng của đảng: có thể ông không bị liên luỵ vì tôi. Phần anh Khôi, tôi phải bảo vệ anh tới cùng.

Cuối cùng, tôi quyết định cho FBI và CIA biết nguyện vọng của tôi: cứu ba tôi và anh tôi trước khi bắt Trương Đình Hùng và Ronald Humphrey. Họ gởi điện văn về Washington báo tin mừng nầy, nhưng họ cho đó là “điều kiện” chớ không phải là sự hợp tác. Riêng đối với tôi, họ muốn dùng danh từ gì cũng được; tôi không quan tâm và cũng không giận họ. Tôi là người đã đòi hỏi họ phải có bổn phận “quét dọn sạch sẽ sân sau nhà”. Bây giờ họ lại than phiền là tôi đặt điều kiện để gây khó khăn cho họ. Tôi nhớ câu danh ngôn ông ngoại bắt chúng tôi thuộc lòng: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Để giữ cho ba tôi và anh tôi an toàn, giờ phút nầy không có núi nào mà tôi không dám trèo, cũng không có một sông nào mà tôi không dám qua.

Tôi không ra điều kiện nào với FBI, nhưng tôi cần sự yểm trợ của họ, để ba và anh tôi được an toàn thôi. Tôi yêu cầu CIA hãy tìm cách gởi tiền về Việt Nam cho anh Khôi tìm đường vượt biên. Khi FBI đồng ý, thì CIA giành phần đó, bởi vì khi anh Khôi đào thoát được, họ sẽ khai thác anh Khôi. Một sĩ quan tên lửa, một người cựu sinh viên du học ở Liên Xô, khó khăn bao nhiêu để giúp anh đào thoát, CIA cũng hỗ trợ, để sau nầy khai thác nguồn tin đó. Bây giờ tới phiên tôi bối rối, vì không biết gởi tiền cho anh Khôi bằng cách nào đây? CIA cho biết, vì Sài gòn mới mất, đường dây liên lạc với Việt Nam bị gián đoạn hết, người của họ bị kẹt mà họ còn không tìm được, thì vấn đề nầy họ chỉ trông cậy vào tôi thôi.

FBI và CIA gởi điện văn cho Bộ trưởng Bộ Tư Pháp, ông Martin Bell, và ông giám đốc của CIA là ông Stanfield Turner về diễn tiến nầy.

Tuần trước, anh Huỳnh Trung Đồng có nói là anh sẽ đi công tác Sài gòn trong vòng một hai tuần. Vì thế, anh cứ gọi hối thúc tôi đem gói đồ của Trương Đình Hùng nhờ tôi đem qua chỗ anh, để lâu sẽ “mất thời gian tính”.

Gói tài liệu còn giữ lại tại Bộ Tư Pháp, sau khi họ được phép mở tất cả những bao thơ của Hùng đưa cho tôi. Tôi không biết và cũng không muốn biết trong đó có những tài liệu gì, chỉ biết đó là những tài liệu tối mật của chánh phủ Mỹ mà thôi.

FBI ở Washington chuyển gói tài liệu của Hùng đưa cho tôi, trừ những tài liệu có tên tuổi những gián điệp Việt Nam của CIA còn kẹt lại Việt Nam, và gián điệp của CIA hoạt động ở hải ngoại.

Rob yêu cầu chồng con tôi tháp tùng với tôi đi Paris kỳ nầy để che giấu hoạt động tình báo, làm như chúng tôi là một gia đình làm ăn bình thường, chồng con rảnh rang đi xem viện bảo tàng của Paris.

Sau khi John, tôi và Lance ăn điểm tâm, chúng tôi chia tay hẹn nhau trưa đó hai cha con đi xem Louvre, còn tôi thì tới toà đại sứ Hà Nội để gặp đại sứ Võ Văn Sung, nhờ ông thuyết phục chánh phủ của ông cho ba tôi qua Luân Đôn thăm má tôi, vì bà đau nặng. Đại sứ Võ Văn Sung hứa là sẽ chuyển tin về cho người cao nhứt trong chánh quyền Hà Nội. Tôi rời toà đại sứ với hy vọng tràn trề.

Trở về khách sạn, người concierge đưa cho tôi cái note. Thì ra Phan Thanh Nam cần gặp tôi gấp. Lên phòng thì John và Lance đi chơi chưa về, tôi vội viết giấy để lại cho hai cha con biết, tôi phải đi gặp Phan Thanh Nam.

Phan Thanh Nam cần gặp tôi gấp, là muốn nhờ tôi đưa thơ về cho Trương Đình Hùng. Ngoài bao thơ, Nam chỉ ghi một chữ “Tâm”, một tên giả khác, như những lần ông đi ghi trên bao thơ trao cho Hùng. Sau khi tôi cho Nam biết tôi sề về Luân Đôn trước khi về Mỹ, thì Nam lấy thơ lại, xé bỏ bao thơ, đề địa chỉ của một người đàn bà Mỹ ở đường S tại Washington. Tôi nhìn qua địa chỉ nầy, rồi cho Nam biết tôi rành vùng đó, tôi có thể đem thơ đưa cho người đàn bà đó, nhưng Nam giựt mình và nói rằng:

“Cháu dán con tem Mỹ rồi bỏ vô thùng thơ giùm chú là xong”.

“Bà ta có biết sẽ làm gì khi nhận được thơ nầy không?”.

Ông gật đầu. Tôi lại nói:

“Cháu đoán thơ nầy lá thơ quan trọng”.

“Thơ nào của chú cũng quan trọng hết”.

Tôi nói để dò xét ông:

“Nếu vậy để cháu trao tận tay bà cho chú”.

“Không, không! Đừng làm vậy!”. Ông nói mà nhìn tôi như muốn lấy lại cái bao thơ”

“Theo chú, cháu không cần trao tận tay bà, chỉ cần dán tem rồi bỏ vô thùng thơ là được rồi”.

Mấy giây sau như đã qua cơn khích động, Phan Thanh Nam giải thích:

“Cháu không nên gặp cô nầy. Cháu đừng hỏi tại sao, nhưng chú có lý do của chú”.

Vừa nói ông vừa nhìn cái bóp mà tôi vừa mới cất lá thơ vô, như có ý muốn lấy lại.

Một sự im lặng khó thở trong căn phòng rộng, trong đó chỉ tôi và Phan Thanh Nam. Trên vách tường, “Bác Hồ” nhìn tôi.

“Chiến tranh tới trên đất nước mình là chiến tranh gì hả chú Nam?”. Tôi hỏi.

“Chiến tranh đã chấm dứt rồi Mỹ Dung à. Bây giờ là đến giai đoạn xây dựng lại đất nước. Những người như cháu là tài sản của tổ quốc”.

“Cháu sẽ cố gắng hết lòng”. Tôi nói mà sợ con thằn lằn trên vách nó nghe, nó xấu hổ. Nam tiễn tôi ra cửa, chúng tôi bắt tay từ giã. Khi cánh cổng gỗ khép lại, tôi vội bước nhanh ra cửa.

o O o

Thời gian ở Paris, tôi luôn luôn nghĩ đến cách nào gởi tiền ở anh Khôi vượt biên. Lúc đầu, khi CIA hỏi cần chẳng bao nhiêu để vượt biên, tôi nói nhiều lắm là 3.000 dollars, đó là trường hợp có vai ba chuyến vượt biên bị bể. CIA thì nói họ nghĩ anh Khôi cần nhiều tiền hơn để hối lộ chánh quyền; họ ra lịnh gởi 10.000 dollars. Tôi cãi lại: nếu được nhiều tiền quá, anh Khôi mua hết công an rồi ở lại Việt Nam, chớ anh không đi nữa vì anh thương ba tôi lắm.

Nhưng CIA thắng, và họ cho biết họ sẽ đưa 10.000 dollars. Bổn phận của tôi là tìm cách gởi về cho anh. Vậy mà hồi còn ở Việt Nam, từ Việt Cộng tới Quốc gia, nhiều người cho rằng CIA đi trên nước, bước trên mây; từ trên máy bay phi công Air America của CIA nhìn xuống biết được con rắn đực hay rắn cái nữa mà! Mà thôi, Việt Nam của tôi có biết bao nhiêu chuyện hoang đường. Biết vậy cho nên khi lớn lên tôi không tin những gì qua “nghe nói”. Trong thực tế, đây là Paris, đây là vấn đề sanh tử của anh tôi, thì nó là bổn phận của tôi, chớ không phải của CIA.

Khi Rob tới khách sạn tối đó để gặp chúng tôi, tôi ngồi xuống về ra một khuôn hình 8×10, dầy 1 inch. Tôi trình bày với Rob và John là khuôn hình làm bằng gỗ dẹp, cưa làm đôi theo bề đọc; cưa xong khoét để vừa đúng 100 tờ giấy 100 dollars, gói trong giấy nylon, sau đó dán kín lại, mà không thấy đường hở nào trên bốn bề của khuôn hình. Sau đó dán một bên hình của ba, bên nọ hình của má. Xong đâu đó, phết lên chừng mười lớp vernis, vừa bóng, vừa chắc khuôn hình. Khi anh Khôi nhận được khuôn hình, thể nào anh cũng rủa con em vô duyên: tại sao khuôn hình như vậy, vì chưng lên, thấy hình ba thì không thấy hình má. Rồi lạy trời cho anh lanh trí như con em của anh, biết cái khuôn hình nầy ngụ ý gì. Tôi sẽ nói với anh Huỳnh Trung Đồng: đây cũng là ngụ ý sự ngăn cách của ba má.

Trước khi gởi hình đi đóng khung và giấu tiền bên trong, CIA yêu cầu tôi viết cho anh Khôi một câu ngắn: “Hãy trốn khỏi Việt Nam ngay”.

Trước khi vợ chồng tôi rời Paris về Luân Đôn, tôi ghé qua trụ sở Hội Việt Kiều Yêu Nước giao cho anh Đồng khuôn hình của má tôi gởi tặng anh Khôi, một bộ pyjama má tôi may và 4 chai thuốc bổ cho ba tôi.

Đó là lần cuối cùng CIA và tôi liên lạc với anh Khôi. Ba năm sau đó chúng tôi cũng không biết anh Khôi có lanh trí mà tìm ra số tiền trong cái khuôn hình đó không? Nhưng một hôm, má tôi được thơ từ Paris gởi qua, tên người gởi là Xuân Mai. Xuân Mai là người con gái yêu anh hỏi hai người trên dưới 16 tuổi. Anh Khôi giả dạng là chị Xuân Mai. Chị viết: “Cám ơn em đã gởì chị khuôn hình đẹp, nhưng lỡ tay, chị đã làm nó bể làm đôi”.

Tôi mừng không thể tả, nhưng tức mình là, tại sao có một số tiền khổng lồ trong thời buổi đó mà không trốn! Cho tới 11 năm sau, năm 1986, gia đình tôi mới được gặp lại anh Khôi sau 32 năm xa cách.

o O o

Mùa thu tới, nhưng chúng tôi vẫn chưa được tin tức gì vì việc ba tôi được phép qua Luân Đôn thăm má tôi. May mắn là tôi còn bận dẫn Lance ghi tên nhập học vào ngày 8 tháng 9. Chỉ hai ngày sau, thì FBI và CIA gọi tôi về Washington. D.C, để hội họp với Bộ Tư Pháp, chuẩn bị cho cuộc ra toà sau khi FBI bắt Trương Đình Hùng và Ronald Humphrey. John phải thay đổi giờ làm việc để đưa rước Lance từ nhà tới trường, tội nghiệp thằng con tôi, ngày tựu trường lo sợ, hồi hộp chưa dứt, thì mẹ vắng nhà; hai tuần lễ, hai cha con đi ăn nhà hàng đủ hai tuần. Nhưng cũng nhờ dịp nầy mà Lance học cách thức cầm nĩa, cầm dao cho lịch sự. Khi tôi về, Lance kể lại là Lance nợ ba nó 2 dollars, vì cứ mỗi lần làm rớt khăn ăn xuống đất thì bị phạt 10 cents. Cuối cùng thằng nhỏ biết khôn, nên ngồi trên nửa cái khăn suốt bữa ăn, thì khăn không rớt xuống đất nữa.

Trong những cuộc hội họp, bàn thảo với CIA và FBI, chúng tôi đi đến quyết định phải cho má tôi biết sự thật, là khi tôi làm cho FBI, tôi làm nhiều việc khác, ngoài việc thông dịch thơ từ cho họ. Tôi đã nghĩ đến vấn đề nầy từ lâu, bởi vì má tôi đẻ tôi ra, má tôi nuôi tôi, má tôi đùm bọc, che chở tôi, từ mới lọt lòng, làm sao mà má tôi không nghi ngờ việc làm của tôi. Nhưng bà không hỏi, thì tôi không nói.

Từ Washington. D.C, bay xuống Atlanta chỉ mất khoảng hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng cầm giấy đừng chờ lên máy bay mà ngao ngán không muốn đi, vì ngại núi e sông. Ngại núi, vì phải gan dạ lắm để nói hết sự thật với má tôi. E sông, vì e rằng sự việc làm cho má tôi buồn, má tôi lo sợ cho sự an toàn của ba tôi. Éo le thay, một bà già tỵ nạn Cộng sản lại lo lắng cho an ninh của người chồng là đảng viên cao cấp của Cộng sản. Nhưng chúng tôi biết, má tôi không có lo sợ vẩn vơ. Mối lo sợ của má tôi có tên, có tuổi, có lịch sử, có bằng chứng trong sách vở của đảng Cộng sản Việt Nam: một khi họ không tin tưởng người của họ, thì họ thủ tiêu.

o O o

Khi tôi và má tôi vừa tới nhà ở Luân Đôn, chưa kịp mở va-li, thì nhận được điện thoại của đại sứ Võ Văn Sung. Ông ân cần cho biết, Hà Nội đã trả lời là họ cho ba tôi tới Paris, rồi má bay qua thăm ba tôi, chớ họ không cho ba tôi sang Luân Đôn. Ông hỏi chúng tôi có khả năng đưa má qua Paris không? Ông chỉ là người đưa tin, nên tôi không có phép trách móc ông, nhưng ước sức tôi muốn nói: “Chỉ có Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới có việc người đau đi gặp người mạnh để được thăm hỏi”. Nhưng tôi cắn răng không dám nặng lời, chỉ nói cho biết là tôi phải hỏi bác sĩ của má tôi, xem bà có đủ sức đi xa vậy không? Trước khi dứt cuộc điện đàm, đại sứ Võ Văn Sung rất tử tế với tôi, khi ông nảy ra một ý kiến rất hay: ông khuyên tôi nên viết thơ cho Bộ Ngoại Giao Hà Nội, kèm theo một cái thơ của bác sĩ cho biết má tôi không thể bay qua Paris.

Tôi trân quý lời chỉ dẫn của đại sứ Võ Văn Sung, nhưng viết thơ cho Bộ Ngoại Giao Hà Nội là chuyện đại sự. Rồi đây, mười tám cái tai, 200 con mắt sẽ biết, sẽ nghe chuyện của đồng chí Đặng Văn Quang rồi đồng chí nầy phê bình, đồng chí kia soi mói, thì phiền cho ba tôi lắm. Lại tới phiên tôi bảo vệ ba tôi. Thay vì, viết cho Bộ Ngoại Giao, sao tôi không viết thơ cho bạn chí thân, cho đồng chí của ba tôi, lại là người lớn nhứt nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lúc bấy giờ.

Đêm đó, chờ cho mọi người an giấc, nhón gót trở xuống nhà dưới, tôi viết thơ. Thơ viết bằng viết mực trên giấy pelure.

“Kính gởi bác Lê Duẩn, bác Nguyễn Cơ Thạch và ba kính yêu,

Sức khoẻ của má cháu càng ngày càng tệ vì thận bị nhiễm trùng như cháu đã cho ba cháu hay trong thơ trước. Cháu đã thức nhiều đêm suy nghĩ và rất lo rằng rủi ba cháu qua gặp má cháu quá trễ thì làm sao đây?

Cháu mong rằng những ngày cuối trong đời của má cháu phải là những ngày đẹp nhứt trong đoạn đời nầy của bà, có nghĩa là má cháu được ở cạnh ba của cháu. Cháu mong hai bác tạo cơ hội cho ba cháu gặp má cháu càng sớm càng tốt.

Thưa ba, kể từ ngày ba cưới má con cho đến ngày ba tập kết ra Hà Nội năm 1954, chắc ba cũng nhớ là má con không bao giờ hỏi một điều gì ngoài khả năng của ba. Nhưng lần nầy, thay mặt má con, con xin cấp trên của ba một đặc ân. Trong thâm tâm, con tin tưởng rằng má con xứng đáng được gần ba và anh Khôi.

Ba với bác Ba Duẩn đã cùng nhau có những hy vọng lẫn thất vọng, cùng ước mơ cho đất nước thanh bình, cùng đau buồn vì những giấc mộng lớn cho dân tộc không thành: cũng như hai vị đã sát cánh nhau trong những tháng năm đen tối nhứt của đất nước, rồi cũng cùng nhau vui mừng trong thắng lợi vẻ vang. Từ đáy lòng cháu, cháu tin rằng bác Ba sẽ không từ chối người bạn chí thân và gia đình của một đồng chí, đồng tâm một khi bác biết được tình cảnh của gia đình nầy và vì vậy mà cháu viết thơ nầy cho bác.

Thưa ba,

Con gởi thơ nầy cho hai bác và cho ba mỗi người một bản. Con mong sẽ được gặp ba thật sớm. Chúng con đã chuẩn bị tiền vé máy bay khứ hồi cho ba. Xin cho con biết con gởi tiền mua vé máy bay về đâu.

Con gái của ba.

Đặng Mỹ Dung”

Tôi suy nghĩ rất kỹ, không nhờ anh Đồng chuyển thơ nầy về Hà Nội, vì anh Đồng không dám “làm phiền” các ông lớn. Tôi không nhờ đại sứ Võ Văn Sung, vì đại sứ đã khuyên tôi viết thơ cho Bộ Ngoại Giao; tôi không nghĩ đó là thượng sách. Tôi không dám nhờ ông chuyển thơ, vì tôi làm trái với nghi thức của Bộ Ngoại Giao. Mà nghĩ cho cùng, tôi đã làm trái nghi thức của cả cái đảng và cái nhóm Cộng hoà xã hội chủ nghĩa rồi.

Tôi quyết định gởi thơ đó qua New York, kèm theo một cái thơ ngắn má tôi viết cho đại sứ Thi, cám ơn ông và nhờ ông chuyển thơ về Hà Nội hộ chúng tôi, với nguyện vọng của má, là được thấy mặt anh Khôi.

Sau đó, ngày 13 tháng 11, tôi được thơ của anh Huỳnh Trung Đồng báo cho biết anh vừa công tác ở Sài gòn về. Anh có đến thăm ba tôi, nhưng ông không có tin tức gì từ Hà Nội về chuyến đi thăm má tôi ở Luân Đôn. Anh nhỏ nhẹ khuyên tôi nên nhớ là trong lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có ai đi ra ngoại quốc thăm vợ con. Anh viết:

“Thơ của má cô đã tới tay người tối cao trong đảng rồi. Dĩ nhiên, sự quyết định là do chủ tịch nhà nước và ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Theo tôi hiểu thì nhà nước cho phép má cô về Việt Nam và bác có thể ở đó bao lâu cũng được”.

Đọc xong thơ anh Đồng, má tôi hứ một cái rồi nói:

“Tao không có bước chân về Việt Nam, một khi Cộng sản còn. Đừng có nghĩ tới chuyện chôn tao bên bà mầy như tụi con tính, hồi đó tới giờ”. Má tôi giận hậm hực.

Thơ anh Đồng tiếp:

“… bây giờ thì những người có trách nhiệm đang bàn tính về chuyến đi của ba cô. Trong thơ, tôi chỉ được nói có bấy nhiêu thôi, mong cô hiểu cho tôi. Ba của cô lo lắng về bịnh tình của má cô lắm. Cô cũng nên biết rằng, nếu ba cô đi thăm má cô được, thì bác chỉ đi một mình mà không có anh Khôi cùng đi. Nhứt định là đảng và nhà nước không cho phép rồi đó. Tôi phải nói trước với cô, ba cô biết luật lệ của đảng, chỉ ngại là cô và má cô không hiểu luật, rồi buồn ba cô; bác lo ngại về vấn đề nầy lắm cô Dung à…”

o O o

Đời sống ở Luân Đôn của những gia đình người Mỹ làm trong toà đại sứ Mỹ như một cuộc du lịch nước Anh dài hạn. Gia đình tôi thì cứ bị hai cái bóng ma FBI và CIA đi tới đi lui hoài làm bất an. Giữa tháng 11 thì Rob và Bill trở lại Luân Đôn gặp chúng tôi. Kỳ nầy họ không có mục đích rõ ràng, nên khi hai người bất ngờ tới gõ cửa, mở cửa ra, không chào hỏi, tôi cười chua chát nói:

“Tôi không có chỗ nào trốn hết, bởi vì một là Liên Xô hai là Mỹ quốc”.

Bill cười gượng như anh bị tôi nói trúng tim đen.

Trong chuyến đi nầy, hai ông không có việc gì làm, vì tất cả đứng khựng lại để chờ tin từ Hà Nội. Họ đi chơi, đi ăn, đi nhậu, đi xem thắng cảnh, mua sắm quà Giáng Sinh cho vợ con, cho ngày giờ qua mau. Chúng tôi cùng nhau đi ăn vài lần, rồi hai người trở về Washington tay không.

Rồi việc gì tới phải tới. Một buổi sáng, tôi được cú điện thoại của đại sứ Võ Văn Sung, gọi tôi từ Paris, kêu tôi liên lạc với toà đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Luân Đôn.

Đã nhiều lần Rob dặn tôi, khi nào bắt liên lạc với một đảng viên mới của Cộng sản Hà Nội, tôi phải báo trước cho anh biết. Nhưng sáng đó, tôi chỉ có số điện thoại để gọi Rob khi khẩn cấp; mà gọi điện thoại cho toà đại sứ Cộng sản Việt Nam đâu phải là trường hợp khẩn cấp, nên tôi không báo tin cho Rob hay trước, tự tiện gọi thẳng tới toà đại sứ Việt Nam ở đường Victoria.

Chắc nhân viên trong toà đại sứ nầy nhàn nhã lắm. Vừa mới nghe tên Mỹ Dung thì người đàn ông trả lời điện thoại biết ngay tôi là ai và tôi gọi có việc gì. Ông mời tôi đến văn phòng của ông để nói đến “vấn đề khá quan trọng nầy”.

Tại toà đại sứ, người đàn ông tiếp tôi trong điện thoại cũng là người đón tôi tại cửa. Ông tên là Lại Xuân Chiểu, một “sĩ quan thông tin”. Bắt tay ông mà tôi không giữ được nụ cười, khi nhìn ông và so sánh ông với cái tên cải lương của ông.

Ông Lại Xuân Chiểu cho tôi biết là ông đã nhận được điện văn từ Hà Nội về việc ba tôi sẽ qua London thăm má tôi sau công vụ ở Moscow. Tôi không dám thổ lộ sự mừng rỡ vô hạn, cũng như thất vọng, vì ông không có nhắc đến tên anh Khôi.

“Cơ quan của chúng tôi rất hồ hởi được giúp đỡ gia đình chị theo khả năng của anh em chúng tôi”.

“Chị sẽ trả tiền vé máy bay cho chuyến đi của đồng chí Minh bao nhiêu? Có thể, chị cũng nên biết trước là chánh phủ sẽ không thể trả tiền vé máy bay”. Lại Xuân Chiểu hỏi.

“Có thể có một sự hiểu lầm lớn. Tôi chỉ yêu cầu ông chủ tịch nhà nước và ông bộ trưởng Bộ Ngoại Giao khuyến khích ba tôi đi, và cho phép ba tôi đi. Tôi không có xin nhà nước trả tiền cho chuyến đi của ba tôi. Đây là xin phép, chớ tôi không có xin lòng từ thiện của các ông”.

“Thế thì chúng ta không có vấn đề gì… vì chúng tôi không phải lo đến vấn đề tiền bạc”. Lại Xuân Chiểu nói.

“Tôi cũng nghĩ, chúng ta không có vấn đề gì lo lắng”. Tôi lặp lại câu nói của anh ta mà giận trong bụng.

“Tôi xin báo với chị là sứ quán của chúng tôi đây sẽ tiếp đón, phục vụ đồng chí Minh khi ông đến London”. Lại Xuân Chiểu trịnh trọng nói.

“Anh Chiểu, cảm ơn sự rộng rãi của anh, nhưng vợ chồng tôi sẽ tiếp đón, lo hết cho ba tôi. Chúng tôi muốn xử sự như đây là chuyện gia đình”. Tôi nói.

“Chị không hiểu, sự an ninh của đồng chí Minh tại Luân Đôn là trách nhiệm của chúng tôi. Chúng tôi đã được lệnh giúp đỡ gia đình chị mọi điều. Về tiền về máy bay của ba chị, thì tính thế nào đây?”.

Tôi muốn hỏi anh ta: “hỏi gì mà hỏi lãng xẹt vậy”, nhưng tôi uốn lưới bảy lần rồi trả lời:

“Tiền thì tôi có sẵn sàng”.

“Chúng tôi biết cách mua về máy bay rẻ nhứt!”. Vẻ mặt của đồng chí Lại Xuân Chiểu thay đổi từ một cán bộ Cộng sản nghiêm chỉnh thành một anh mua bán Dollar vụng về.

“Tôi không nên làm phiền anh trong việc nhỏ nhặt nầy. Tôi đã hỏi qua tiền vé máy bay với hãng Aeroflot. Chừng 900 pounds đi từ Moscow tới Luân Đôn. Tôi có thể mua vé ở đây, rồi ba tôi lấy vétừ Moscow, khi ba tôi tới đó”.

Chiểu không chịu thua:

“Chị đưa tiền cho tôi, tốt nhứt là Đô La Mỹ. Tôi sẽ báo cho Bộ Ngoại Giao, và bên ấy có người mua vé máy bay tại Hà Nội, trả bằng tiền Việt Nam. Làm như thế, chúng ta không mất một đồng ngoại tệ nào”.

Nghe anh nói, tôi mắc cỡ cho một đại diện của cái chánh phủ mà ba tôi phục vụ, đứng đây kèn cựa với tôi về lời lãi vài ba trăm dollar cho đảng của họ. Tôi muốn chấm dứt cuộc gặp gỡ nầy ngay đó, nên tôi đáp:”Sao cũng được, thưa anh”. Vậy mà trước khi ra khỏi cửa, cán bộ Lại Xuân Chiểu còn nói vói thêm: “Chị đem dollar Mỹ, chị nhé!”.

Tuần sau, tôi gọi cán bộ Lại Xuân Chiểu, cho hay tôi sẽ đem tiền đến cho ông. Tôi có đủ $2.000 dollars Mỹ, nhưng sáng đó tôi đi theo John ra toà đại sứ Mỹ đổi ra tiền Bảng Anh của Anh quốc. John hỏi tôi làm chi cho mất thì giờ vậy? Tôi làm cho bõ ghét, vì không muốn Việt Cộng bên nhà mua bán dollar một cách hạ tiện như vậy. Dĩ nhiên, cán bộ Lại Xuân Chiểu nhận số tiền đó với vẻ thất vọng, nhưng không nói lời nào.

Vào thời gian nầy thì Rob và Bill đã trở về Washington, nên tôi viết thơ báo tin cho họ biết mọi việc được sắp xếp theo chương trình; bây giờ chỉ chờ để biết ngày nào ba tôi tới Moscow thôi. Tôi cũng có viết thêm cho Rob và Bill, nhờ hai anh đến gặp tận mặt ông Griffin Bell, xin với ông làm mọi thủ tục dễ dàng để sẵn sàng rước ba tôi sang Mỹ cư ngụ, trong trường hợp má tôi và con cái thuyết phục được ba tôi hưu trí, ở lại dưỡng già với vợ con. CIA cho biết là họ sẽ có máy bay sẵn sàng đưa ba tôi qua Mỹ khi ba tôi bằng lòng.

Suốt đời, tôi muốn ba má tôi được sống trong một mái nhà, như ông ngoại bà ngoại của tôi ngày xưa ở với nhau đến đầu bạc, răng long, như cha mẹ của bạn bè tôi, như người bình thường. Mấy tuần nay, mọi sắp đặt được diễn tiến nhanh chóng và gần như việc gì cũng theo ý muốn của tôi, cho nên tôi yêu đời một cách lạ thường. Tôi lên giường nằm kế bên má, rồi hai mẹ con mơ ước căn nhà nhỏ, yên tịnh của ba má. Tôi không biết ba có chịu ở với con cái không, hay là ba chỉ muốn ở với má và Minh Tâm, đứa con mà ba chỉ biết mặt khi nó vừa mới ba tháng thì ba đi tập kết rồi. Chúng tôi nằm tính sắm sửa cái gì trong căn nhà đó, từ cái bàn cái ghế, cho tới cái bình trà với mấy cái chung nhỏ cho ba tôi uống trà quạu. Tôi còn nghĩ tới mùa đông phải mua cái mền điện cho ba.

Tình thương cho ba không phai đi với thời gian và không gian trong suốt hai mươi năm, chỉ sợ mỗi người thờ phượng một lý tưởng, đó mới là ngăn cách sâu hơn con sông Bến Hải. Ba tôi yêu thương hết bảy đứa con; thương mỗi đứa mỗi cách khác nhau. Anh Khôi là đứa con trai đầu lòng; anh là kết quả của những tháng năm trăng mật. Chị Kim giống tánh ba nhiều; như ba, chị dễ bị xúc động, chị tế nhị, chị giầu tình cảm. Chị Cương tánh cương quyết, nói là làm, trọng kỷ luật, trong sạch, ngay thẳng, Tôi giống ba từ gương mặt tới tánh tình. Tôi nghĩ đến người chung quanh và đất nước, nhưng ba cũng biết, tôi với ba thờ hai ông trời khác nhau. Ba tôi không những thương yêu Hải Vân mà còn thán phục nó; nhưng ba cũng chưa biết nghĩ thế nào về sự chọn lựa của em khi nó trở thành phi công của QLVNCH. Hoà Bình được ngự trị ở một chỗ đặc biệt trong trái tim của ba tôi, từ lúc nó còn bé. Khi tôi nhắc đến Hoà Bình, mặt ba tôi rạng rỡ; lắng nghe như để biết và thấy hết đứa con yêu của ông trước mặt. Ba tôi ví tình thương của ba cho Hoà Bình như “một giòng sông dài vô tận, có bầu trời xanh, có hoa nở tươi thắm triền miên”. Ba chỉ biết Minh Tâm có ba tháng, mà ba tháng đó ba bận rộn chuẩn bị đi tập kết, khi ra Hà Nội, ba đổi tên Đặng Văn Quang thành Đặng Quang Minh. Tôi nghĩ rằng ông đổi tên như vậy với ý tạ lỗi vì ông không ở bên cạnh để dạy dỗ Minh Tâm.