Huy Phương
Post by Sơn râu 19 Jun 2026



Bạo lực chỉ có thể được che đậy với một lời nói dối và lời nói đối chỉ có thể được duy trì nhở bạo lực. Ai từng đem bạo lực ra làm cách thức rồi chắc chắn sẽ buộc phải lấy dối trá làm nguyên tắc.
(Aleksandr Solzhenitsyn)
Nhắc dến Võ Nguyên Giáp người ta không quên Điện Biên Phủ. Nhớ đến Điện Biên, người cộng sản Việt Nam thường ca tụng bốn anh hùng tiêu biểu của người lính “cụ Hồ,” đó là Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng, Tô Vĩnh Điện dùng thân chèn pháo, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Trần Can hiên ngang dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền đồn để xông vào sở chỉ huy của Pháp, cầm cờ lên cứ điểm Him Lam.
Bế Văn Đàn, liên lạc viên tiểu đội, ở Mường Pồn, khẩu trung liên của trung đội chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng, Trong tình thế hết sức căng thẳng, đang bị thương, Bế Văn Đàn không ngần ngại chạy lại cầm hai càng khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng đội bắn. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn bị hai vết thương nữa và hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình. Đây là một kịch bản khó tin dành cho những người điên, vì khi hai càng của khẩu trung liên đặt trên hai vai, nòng súng nằm sát trên đỉnh đầu, tiếng nổ sẽ làm cho vỡ màng nhĩ và chấn động não bộ, cũng như lữa từ nòng súng sẽ làm cháy tóc và da mặt!
Tộ Vĩnh Diện, tiếu đội trưởng pháo cao xạ, thì qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm, nừa chừng giây kéo pháo bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Điện hy sinh lấy thân mình chen vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại. Người ta nghĩ rằng đây là chuyện bịa, vì sau khi Điện dược truy tặng danh hiệu anh hùng, các tài liệu phia cộng sản mô tả, nơi thì nói là đơn vị ông là đơn vị pháo 105mm, nơi thi nói là pháo cao xạ 37mm. Ngay ngày tháng xảy ra vụ việc nhiều tải liệu ghi chép Tô Vĩnh Điện chết vào tháng 3 năm 1953, nhưng trên bia mộ lại khắc ngày chết là ngày 21 tháng 1 năm 1954. Nếu là pháo 105 mm, thì xương thịt của một người khoảng 50kg không thể nào giữ nỗi một dàn súng đang lao xuống vực.
Phạn Dình Giót, tiều đội phó, trong trận đánh đồi Him Lam, đã bị thương vào vai, máu chảy đầm đìa, nhưng bất ngờ từ hỏa lực ở lô cốt số 3 của lính Pháp bắn rất mạnh vào đội hình dang xung phong, Giót đã dùng hết sửe mình còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng thì hô to: “Quyết hy sinh … vì Đảng … vì dân!!.. ” rồi rướn người lấy đà, lao cả thân mình vào bịt kín lổ châu mai địch. Nhờ vậy hỏa lực của lô cốt này bị dập tắt, toàn đơn vị “ào ạt xông lên như vũ bão,” tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam.
Trần Can, đại đội phó, trong trận đánh đồi Him Lam mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội cắm cờ lên đồn Pháp. Mặc dầu hỏa lực quân Pháp bắn ra dữ dội, Can dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền đồn, qua được trận địa, nhảy lên lô cốt cắm cờ.
Trừ chuyện Trần Can hy sinh chịu chết để cố gắng cắm co là chuyện thuờng tình trong các trận chiến, còn các chuyện bịt lỗ mai, lấy thân chèn đại bác đang lao xuống vực hay lấy thân làm giá súng trong “huyền thoại” Điện Biên Phủ, đều là những chuyện phịa, mà những cấp chỉ huy ngoài mặt trận, từng tham gia chiến tranh đều thấy điều vô lý của nó.
Cảng phịa hơn nửa là sử sách cộng sản Việt Nam đều chép rõ, mà không thấy điều phi lý, vô nghĩa: “Hiện nay tại Điện Biên Phủ, có ba nghĩa trang liệt sỹ, là nghĩa trang phía gần đồi Độc Lập, nghĩa trang gần đồi Him Lam và nghĩa trang gần dồi A1, có tổng cộng là 3.976 ngôi mộ. Năm 1954, một trận lũ lớn vào cuốn trôi các bia mộ nên 3.972 mộ đều trở thành mộ vô danh, Chỉ có 4 ngỏi được đặt riêng biệt là mộ eác anh hùng Bế Văn Dân, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Điện, Trần Can là còn ghi nhận được.”
Có nghĩa là trận lụt lũ đã san bằng 3,968 ngôi mộ, đất đá vộ tri, không chừa một ai, nhưng sao bốn ngôi mộ liệt sĩ nói trên lại còn, để cho hậu thế noi gương … anh hùng. Mặt khác, trong trận chiến quyết liệt của Diện Biên Phủ, tử sĩ của cả hai bên, phải bỏ tại chổ hoặc vùi nộng, có đâu lại được bia mộ đàng hoàng, Bế Văn Đàn chết ở Mường Phồn, Phan Đinh Giót ở Him Lam, Tô Vĩnh Điện ở Mường Thanh, những cứ điểm này xa nhau hàng cây số, làm sao có thể phân biệt được anh hùng hay không anh hùng, để đem bốn xác chết này chôn gần nhau, mà dù cho thiên tai bão lụt cũng không thể nào xóa vết. Cứ dựng bia, khắc tên, ghi tuổi, nhưng dưới mộ để không, hay chôn xương trâu, xương bò thì cũng chẳng ai hay, gọi là “mộ giả.” Điều đáng buồn là ngay những ông tướng Tư Lệnh, ở xa trận địa hàng chục cây số cũng nghe báo cáo láo, đem những chuyện vớ vẫn, khó tin này viết vào hồi ký của mình. Phải chăng trong xã hội ấy người ta đã làm láo, báo cáo láo, lâu ngày hòa đồng, không tin cũng viết, không tin cũng nói, tạo nên một xã hội gian dối lừa lọc, kẻ khác dối mình, thì mình lại dối với người khác. Những chuyện khó tin, lâu ngày thêu dệt, loa phóng thanh ra rã từng ngày, báo chí chạy những hàng chữ lớn, đảng chỉ đường, đảng nói không thể nào sai.
Sau đây không phải là những chuyện thật như đùa, mà những chuyện đùa bắt dân ngu phải xem là thật. Những chuyện “dũng sĩ diệt Mỹ” trong sách vỡ cộng sản có đến hàng nghìn chuyện bịa đặt, vô lý, buồn cười nhưng vẫn được đem làm kinh nhật tụng cho thiếu nhi dưới chế độ XHCN. Chúng tôi chỉ sơ lược kể hầu quý độc giả hai câu chuyện điển hình, một của “dũng sĩ diệt Mỹ tí hon” bỏ cát vào nòng súng Mỹ và một của dãng sĩ “Hercule VC” dùng bàn tay sắt níu cảng trực thăng Mỹ, khiến máy bay không làm sao cất cánh được, bị bắn tan tành. Hồ Thị Thu ở Quảng Nam, năn 13 tuổi, một lần thấy địch phơi súng hàng loạt, chĩa nòng về dân quân du kích Việt Cộng như thách thức, bổng lóe lên ý tưởng; bò cát. sạn vào nòng súng để chúng bắn không được. “Dũng sĩ” này vờ chơi trò trẻ con đem rổ đựng cát sạn, trên phủ lớp lá chuối, giả vờ nô đùa rồi bỏ cát, sạn vào nòng súng của lính Mỹ. Đêm ấy du kích tấn công. Mỹ giương súng ra bắn nhưng đều bị toe nòng.
Một chuyện khác của “dũng sĩ” tí hon, là vào “nửa đêm. linh Mỹ gác đang ngáy khò khò. để súng lăn lóc”(nguyên văn), Hồ Thị Thu lên tới vác từng cây súng ra phia sau đồng, giấu đi. Rồi cứ thế vào … lấy tiếp. Đến khi nghe gá gáy, biết trời sấp sáng, Hồ Thị Thu chạy về báo cho bộ dội địa điểm giấu súng. Hồ Thị Thu là người con gái đầu tiền của miền Nam được phong Dũng sĩ diệt Mỹ, hai lần được gặp “bác Hồ,” năm 1970, được cử di dự trại hè Thiếu nhi Quốc tế tại Liên Xô và được vợ chồng bà Ri-ta Co thành phố Khác-cốp) nhận làm con nuôi. Bịp được cả “bác Hồ,” bịp được cả Liên Xô! Hay là Liên Xô cùng “bác Hồ” cũng cùng một giuộc!
“Xúi trẻ ăn cứt gả!” Tuyên truyền ấu trĩ như vậy mà dân cũng nghe. Mỹ ngu như vậy, thua là phải! “Dũng sĩ” Bùi Minh Kiếm, đặc công Quảng Nam “sau ba giờ cầm chân địch, bị thương ở tay và đầu, máu chảy ra nhiều nhưng vẫn kiện trì cầm súng bắn ngăn địch tiếp cận công sự. Giữa lúc cuộc giằng co đang diễn ra ác liệt thì địch huy động trực thăng bắn rốc kết, pháo kích lần hai. Giữa lúc “dầu sôi, lữa bỏng” ấy, đồng đội của ông Kiểm, tức ông cùng Nguyễn Phú Thao đã đưa ra một cách đánh táo bạo. Khi chiếc UH-1 rà tới chuẩn bị hạ thấp dề bắn róc kết thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống. Đôi bản tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH-1 xuống gần sát mặt dất. Viên phi công bất ngờ, chưa kịp gạt cần súng máy thì đã bị đồng đội của Bùi Minh Kiểm từ bên dưới bắn thốc lên, thẳng vào buồng lái, Chiếc máy bay mắt thăng bằng loạng choạng lao xuống, nổ tan xác.”
Vì sao dân Việt Nam lại có người tin vào những chuyện quái đản này, nói như ông Tản Đà, chẳng qua
“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn / Cho nên quân nó dễ làm quan!”
Không có gi hơn, để kết luận bài này, xin mượn thêm lời một người đã có kình nghiệm với quốc tế CS, cựu Tổng bí thư đáng CS Xô Viết, ông Mikhail Gorbachev: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết “tuyên truyền và dối trá.”
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.