Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long hải

Posted on 14 Aug 2015 

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Tiên “rái cá”

Bài 26

Sau khì bị bắt, giải về trại cũ, TRịnh X. Ch. vào cát-xô ngay.

Phía sau “Trại Đá”, trại mới xây bằng gạch “lốc” rất kiên cố, là bốn “biệt thự” ngói đỏ. Chúng tôi gọi đùa là “biệt thự”, thực ra đó là bốn ngôi nhà lợp ngói đỏ. Mỗi nhà chia làm bốn phòng có bốn cửa riêng. Mỗi phòng là mỗi cát-xô để giam tù “bị kỷ luật”, như ai trốn trại, có hành động, tư tưởng hay tuyên truyền “chống phá cách mạng”, v.v… và, v.v…

Mỗi phòng có một sạp gỗ để nằm, một cây sắt dài và to gần bằng cán cuốc, một đầu ở phía ngoài vách nhà, thọc qua bức tường đi tuốt vào một phòng nhỏ ở phía trong. Đầu trong có ổ khóa to, ở trong cái phòng ấy.

Chân người bị “cát xô” bao giờ cũng bị cùm, bằng một cái cùm chữ U, lòn qua thanh sắt ấy.  Bọn Công An đi tuần, đứng phía ngoài cửa, cầm đầu thanh sắt, thọc tới, kéo lui vài cái, làm cho thanh sắt chuyển động và xiết vào chân người tù, đau lắm. Người tù la lên. Thế là chúng yên tâm. Tù còn trong phòng, chưa trốn đi đâu. Mỗi phiên đi tuần cách nhau khoảng một giờ đồng hồ. Cứ đầu phiên, đi qua mỗi phòng, chúng cầm thanh sắt kéo lui kéo tới như vậy để canh chừng người tù.

Dù người tù muốn ngủ cũng không ngủ được, coi như bị đánh thức từng giờ một. Có người nói đùa: “Đi tù cải tạo, phải vô “cát-xô” một lần cho thấm “mùi tù”. Tố Hữu, Lê Duẫn dù có bị Tây bỏ tù, cũng chưa bao giờ thấm cái “mùi tù” như thế nầy.”

Có người sợ cái “mùi tù” ấy, nhưng cũng có người coi như pha, vào ra “cát-xô” như cơm bữa, như Võ Phước Thọ chẳng hạn (Võ Phước Thọ ra tù cùng một lần với tôi, năm 1982, được ít tháng thì bị hậu bệnh mà qua đời. Hậu bệnh là vì trong tù anh ấy bị Công An đánh nhiều lần, rất tàn bạo!)

Hỏi Thọ về chuyện “Khách không mời mà đến cát-xô”, anh ta chỉ cười, nói nhỏ: “Nhằm nhò gì. Riết rồi người ta cũng lì đòn!”

Ngày đầu tiên vào “cát-xô”, đến chiều mới được “trật tự” (1XXXXX) đem “cơm” chiều tới. Gọi là cơm nhưng thật ra đó là chén bắp nguyên hột (nguyên vỏ), hay chén khoai mì, thêm một chút nước muối. Vậy thôi!

Khi trật tự đem “cơm” vào, tên Công An giữ chìa khóa phải vào mở cửa cát-xô, chờ khi giao “cơm” xong thì đóng cửa lại.

Tuy nhiên, đối với những người vào cát-xô ngày đầu tiên, dù có vào ra nhiều lần như Thọ, thì bao giờ cũng bị đánh một trận tơi bời!

Sau khi anh chàng trật tự giao cơm xong ra về, tên Công An giữ chìa khóa còn đứng lại đó, cửa cát-xô còn mở thì ba bốn tên Công An cùng vào, “chơi hội đồng”.

Chúng bắt người tù đứng thẳng lên, tay bị còng, chân bị cùm. Thế là bốn tên đứng bốn góc, thi nhau đấm thật mạnh vào mặt, vào bụng người tù một cách “anh hùng” và “vinh quang” như đảng hô hào.

Tên Công An bên phía nầy đánh cho người tù té qua phía bên kia. Tên Công An phía bên kia đánh người tù té qua phía nọ. Người tù gượng đứng lên thì bị chúng đánh cho gục xuống. Bị gục xuống thì tụi Công An đá vào người tù bắt đứng lên để tụi nó đánh tiếp.

Người tù không có cách gì để chống đỡ hay né tránh được. Cuối cùng, không còn sức chịu đựng được nữa, người tù té gục xuống sàn, nằm im, ngất xỉu, bất động. Bấy giờ mấy tên Công An mới kéo nhau ra về, nói cười hớn hở, hả hê như vừa thắng một trận lớn, “đem vinh quang về cho đảng”.

Người tù thì nằm lại đó, tay chân mình mẩy người tù đau đớn, ê ẩm, không nhúc nhích gì được, rên rỉ suốt đêm.

Chén thức ăn để lại đó, không đậy che gì cả, mặc cho dán, ruồi bu, đậu đen thui.

Ở trại Z-30A những tên ưa đánh tù nhứt là “cán bộ” Lở, Chinh, Tuyên, Lâm (trực trại), Viễn (trực trại), Nhâm (mắt trắng môi thâm), Khoái (dáng người giống “đại tướng anh hùng thước mốt”. Trong các tên nầy, Lở là tên tàn bạo nhứt, ít khi vắng mặt trong những lần đánh tù như thế.

Cấp trên của chúng có biết việc đánh tù của chúng không?

Biết chứ!

Nhưng những cấp trên của bọn chúng như thượng sĩ Thắng, “cán bộ giáo dục”, trung úy Lê Ngọc (2), đại úy Mai Văn Lớn, đại úy Hoàng Nhân, và cả trung tá Trịnh Văn Thích, trại trưởng nữa đều làm ngơ. Chúng muốn “dằn mặt” người tù đấy. Đó là “chính sách” của bọn chúng!

Sau trận “đòn hội chợ”, Trịnh X. Ch. nằm liệt ba ngày không nhúc nhích, tưởng như đã chết. Anh ta nhỏ con, dáng bộ thư sinh, yếu ốm, lại bị suyễn, “trói gà không chặt”, cả đời chỉ biết có sách vở thì làm sao chịu nỗi trận đòn hôm đầu tiên vào cát-xô.

Cũng may, ngày thứ ba, thêm một người được giam chung với anh. Ban đầu, Trịnh X. Ch. hơi nghi, hỏi thẳng:

– “Chúng nó đưa anh vào đây để theo dõi tôi phải không?”

Người ấy, còn trẻ lắm, mới trên 20 tuổi, nói với anh, giọng cũng gay gắt:

– “Lạy Chúa tôi! Anh nghĩ tôi là cái gì mà hỏi như thế? Tôi chẳng thèm nói chuyện với anh đâu. Ở đời, chuyện gì rồi ai cũng biết. Tôi có làm tay sai cho chúng nó, cũng có ngày anh sẽ biết!”

Thế là hai người găng nhau, chẳng ai nói với ai lời gì nữa. Đêm, Trịnh X. Ch. đau khắp mình mẫy, hễ trở mình là rên.

Người tù trẻ, tên Tiên, hỏi Trịnh X. Ch., giọng ân cần:

-“Anh đau ở đâu, để em xoa nhẹ nhẹ lên, không có dầu

nhưng cũng đỡ lắm.”

Trịnh X. Ch. nằm im, để cho người tù trẻ giúp mình.

Qua ngày hôm sau, hai người tù cát-xô bắt đầu chuyện trò.

Tiên nói:

– “Đời tù mà anh. Mình phải tìm cái gì để quên đi, an ủi nhau.”

Trịnh X. Ch. trả lời:

– “Anh nói được câu ấy cũng là hay lắm đấy. Không tự mình làm cho mình nguôi ngoai thì đời tù hay đời thường chỉ thêm buồn mà thôi.”

Bỗng Tiên hát nho nhỏ “Tìm quên đi! Thôi còn cay đắng làm gì?” Rồi Tiên nói tiếp: “Đâu có chỉ quên chuyện tình yêu mà thôi. Đời lính, đời tù, có nhiều cái không những chỉ tha thứ mà còn phải quên.”

Trịnh X. Ch. hỏi, giọng nhẹ nhàng hơn:

– “Anh có ở lính?”

– “Có chứ anh. Em tình nguyện vào lính khi chưa đủ mười tám tuổi.”

&

Mấy năm đầu khi mới lập trại Z-30A, doanh trại quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũ trên “đồi Phượng Vĩ”, – cái tên nghe thơ văn thật, đúng là dân tiểu tư sản đi đánh giặc vô sản -, được dùng làm nơi giam tù, gọi là Trại A.

Trại nằm trên đồi cao, thiếu nước. Vì vậy, mỗi chiều, khi các đội đi lao động, trên đường về thì quản giáo và bọn cán bộ Công An bảo vệ cho toàn đội ghé lại một cái ao nước hay vũng nước nào đó, bên cạnh đường về, để tắm rửa.

Thường ngày, đội của Tiên được phép ghé lại một cái ao nhỏ, bằng nửa cái sân bóng chuyền, tắm táp, rửa ráy.

Quản giáo và tên Công An bảo vệ ngồi trên khúc cây gần đó, chuyện trò với nhau, chờ tù tắm xong thì về.

Việc ấy xảy ra đều đặn như thế hằng ngày, thành thói quen.

Cựu đại úy Hùng, Biệt Động Quân cùng với Tiên lặng lẽ đi lại phía sau hai tên Công An, – như đã nghiên cứu và bàn định từ trước -, Hùng cầm một cục đá lớn đánh vào đầu quản giáo. Tên nầy gục xuống. Hùng cướp ngay cây súng ru-lô đeo bên hông quản giáo. Tiên thì cướp súng tên Công An bảo vệ. Hai bên đang giằng co thì Hùng cầm cây súng ru-lô trong tay, bắn vào tên Công An. Tên nầy chết liền tại chỗ.

Việc xảy ra nhanh như cắt, không thua gì trong ciné. Ngoại trừ Tiên và Hùng bàn bạc với nhau, cả đội không ai biết trước, chưng hửng, có người chưa kịp biết chuyện gì xảy ra thì Hùng đã hô to:

-“Anh em! Ai muốn trốn trại theo tôi.”

Nói xong, anh chạy về hướng núi Chứa Chan. Tiên và một số tù nữa chạy theo, tất cả 19 người. Những người khác, cũng khoảng hơn 2 chục ở lại, cam chịu tiếp tục số phận người tù.

Lúc ấy, có một đội tù khác cũng trên đường về, cách đó không xa, chưa biết chuyện gì nhưng thấy một số người chạy về hướng núi, bọn Công An đội ấy biết có “sự biến” xảy ra, bèn bắn súng báo động.

Bọn Công An trên đồi Phượng Vĩ, nghe súng báo động bèn cầm súng chạy xuống đồi, đuổi theo đám người đang chạy lúp xúp về hướng núi Chứa Chan.

Công An vừa chạy vừa la to “Đứng lại! Đứng lại!” và bắn thẳng vào đám tù đang chạy trốn phía trước. May mắn, đạn chẳng trúng ai! Đám tù trốn vẫn cứ chạy.

Tiên nghĩ: Tới được chân núi là an toàn. Tới đó, cây rừng rậm rạp, chúng nó không dám đuổi theo.

Bỗng có một người không chạy nữa. Anh ta đứng lại, hai tay đưa lên trời, la to “Tôi đầu hang! Tôi đầu hang!”

Nghe tiếng, Tiên quay lại. Thì ra đó là một chú ba Chợ Lớn. Anh nầy bị tù vì tội vượt biên. Tiên chưởi thầm “Thằng mập. Ăn cho nhiều vào, động sự mới biết mấy thằng mập chẳng làm được gì!”

Đoán biết bọn Công An sẽ loay hoay với “thằng mập”, Tiên la to, khuyến khích anh em: “Gắng lên! Gắng lên, sắp tới núi rồi.”

Trong khi đang chạy, cựu đại úy Hùng đổi cây súng cho Tiên. Nắm cây CKC trong tay, Hùng nói: “Chạy tiếp đi.” Rồi anh ta đứng lại, nằm sát mặt đất, sau một thân cây gãy. Hùng mở cơ bẫm, lên đạn, kê súng lên thân cây, nhắm.

Tên Công an chạy đầu trong nhóm có lẽ là một cán bộ chỉ huy. Nó không mang súng dài, trong tay chỉ có cây ru-lô. Vừa chạy nó vừa la “Đứng lại”, cây súng vung vẫy. Đúng lúc ấy thì Hùng bóp cò.

Sau tiếng nổ, Hùng không còn thấy tên Công An đang chạy trên đường mòn ở đâu nữa. Nó đã lăn xuống bên cạnh, nằm im. Bọn chạy sau, đứa nằm xuống tránh đạn, đứa xúm quanh tên bị bắn.

Hùng vùng dậy thật nhanh, chạy theo đám trốn tù.

Mười tám người còn lại chạy tới núi, cố leo lên sườn núi cao và dốc. Đúng như Tiên nghĩ, bọn Công An dừng lại phía dưới, không dám đuổi theo. Chúng nó sợ bọn Tiên phục kích. Bọn Tiên có hai cây súng.

Đó là lần thứ nhất Tiên trốn trại!

&

Cha của Tiên tử trận khi anh ta mới 6 tuổi. Mẹ Tiên một thân một mình nuôi bốn đứa con. Tiên thứ Tư, đứa út là con gái.

Quê Tiên ở Cà Mau. Nếu không có chiến tranh, mẹ Tiên với các con cũng có thể sống ở quê được. Vì là một xóm đạo, chống Cộng rất căng nên ấp của Tiên bị tấn công những mấy bận, hết nhà nầy tới nhà khác bị đốt, bị quăng lựu đạn phá nát. Không ở được, mẹ Tiên đem các con lên sống ở Nhà Bè. Tiên bỏ học.

Sinh ra ở vùng sông nước, về Nhà Bè, cũng là vùng sông nước; nhà nghèo, Tiên không đi học nữa. Mười lăm tuổi, Tiên theo các đàn anh “hành hiệp” trên sông Lòng Tào.

Nhờ bơi giỏi, lặn sâu và xa, như một con rái cá, lần hồi Tiên được đàn anh giao nhiều công việc quan trọng.

Không một chiếc tầu buôn nào đi vào sông Lòng Tào mà Tiên không quăng giây leo lên được. Không có một ổ khóa nào trên Tầu, dù khóa ngoại mà Tiên không mở được. Đám của Tiên chỉ ăn cắp hàng trên tàu, không làm ăn cướp.

Sự tài tình của Tiên và các “đồng nghiệp” không dễ khiến cả đám bị bắt khi đang ăn hàng. Nếu xui, có bị phát giác ngay tại trận, cách thoát thân hay nhất là nhảy xuống sông, lặn một mạch. Thủy thủ tầu hàng ngoại quốc chẳng đưa súng bắn theo bao giờ, cũng không đuổi theo bao giờ.

Thế rồi năm 17 tuổi, chán cảnh sông nước nầy, Tiên đi lính. Cha của Tiên đã vì nước hy sinh nên Tiên không thấy e ngại hay sợ hãi trong việc nhập ngũ.

Tiên vào Thủy Quân Lục Chiến, đơn vị ở miền Trung, chưa đánh trận nào đã “di tản”. Về tới Saigon, đơn vị tan rã, Tiên về Nhà Bè tìm mẹ, kiếm sống.

Sau 30 tháng Tư, Tiên gặp giới giang hồ cũ, lại tụ tập nhau, tiếp tục cuộc sống cũ như trước khi đăng lính, tuy tầu hàng bây giờ số lượng ít hơn, Tiên vẫn sống được. Rồi Tiên cặp với một cô gái sống như vợ chồng.

Một hôm, Tiên gặp một cô nữ quân nhân chế độ cũ, sau khi “tan hàng” về sống cùng xóm. Cô ta nói với Tiên:

– “Người ta đang tập trung trong Rừng Sát, sao không vô đó góp sức với anh em?”

Thế là Tiên tìm vô Rừng Sát. Gặp một số anh em đang ẩn núp trong đó. Ban đầu, họ tuyên truyền nghe ngon lắm, nói là tướng Kỳ từ Mỹ về chỉ huy, đem theo vũ khí, quân trang, quân dụng và lương thực, tái lập quân đội.

Sống với họ cả tháng trời, Tiên chẳng thấy gì hết. Súng thì lượm súng cũ mà xài. Ai kiếm được súng gì xài súng đó. Đạn dược không có, lương thực không có. Lội sình lội suối, áo quần càng ngày càng rách nát.

Bọn Bộ Đội thì lùng sục. Nhóm của Tiên, chưa tới 10 người không dám chống lại, một là vì quân số ít, hai là không dám bắn, sợ hết đạn. Lần hồi, không thấy gì, trong cảnh tuyệt vọng, anh em bỏ ra về. Ai vô trước, về trước; ai vô sau về sau. Tiên cũng về.

Sau khi bỏ nhà đi hơn một tháng, Tiên trở về thì vợ Tiên đã cặp với một tên cán bộ. Biết Tiên vô Rừng Sát, tên cán bộ báo cáo với Công An ngay chiều hôm Tiên mới về.

Chưa làm được gì mà ở tù, lãng xẹt, Tiên tự giận mình.

Sau khi Công An điều tra, giam mấy tháng ở khám Chí Hòa, Tiên được chuyển về trại Z-30A trên đồi Phượng Vĩ, chung đội với đại úy Hùng. Hai người nghiên cứu thực hiện chuyến trốn trại làm chấn động tất cả anh em ở khu trại nầy, gồm cả ba phân trại A, B, C.

&

– “Em muốn khùng lên khi lên tới đỉnh núi Chứa Chan.”

– “Sao vậy?” Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Anh thấy ngọn núi nhỏ vậy mà suốt ba ngày quanh quẩn trên đỉnh núi, tìm không được lối ra. Ngày thứ ba, chui ra khỏi rừng, tưởng là xuống phía sườn bên kia thì lại là phía sườn bên nầy. Khu trại tù hiện ngay trước mặt. Lại leo ngược lên, vòng qua đồi bên kia, xác định bằng con đường xe lửa đi sát chân núi rồi theo phía đó mà xuống núi.

– “Ông có biết người ta gọi núi Chứa Chan là cái gì không? Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Không!” Tiên trả lời.

– “Nó giống như tình cảnh của ông vậy. “Chứa chan! Chán chưa?” Hoặc là “Chứa Chan, Chan Chứa”. “Chan chứa, Chưa Chán.”

“Tiên cười:

– “Chưa Chán cái mẹ gì! Ba ngày chưa ra khỏi núi. Núi không có cây ăn trái, tre thì nhiều, nhưng măng tre có ăn sống được đâu. Ăn măng sống, xót ruột lắm.”

“Một lúc, Tiên kể tiếp:

-“Tới chân núi rồi, cả bọn bàn nhau tìm đường về. Anh em chia làm hai nhóm nhỏ. Một nhóm băng rừng đi về hướng Đông Nam, ngã Bình Giả. Nghe nói ở đó có một nhóm Phục Quốc đang hoạt động. Nhóm ít hơn, cặp theo đường xe lửa tìm về Saigon. Em đi theo nhóm nầy.”

“Đại úy Hùng không theo ai hết, ông ở lại một mình, không rõ ông có ý định gì. Ít lâu sau, ông bị bắt lại và đã bị xử bắn rồi.

“Đi được ba hôm thì tới một cái rẫy. Ba bốn ngày nay, không có lương thực, đói lắm rồi, bèn vào rẫy, đào củ mì, đốt lửa nướng, ăn đỡ đói.

“Đang ngồi ăn thì có ông chủ rẫy đi tới. Ông ta dựng xe Honda phía ngoài, đi vào rẫy. Tụi em cũng bị bất thình lình, không trốn kịp. Ban đầu, ông ta tưởng lầm là dân chúng đói quá đi trộm mì mà thôi. Tuy nhiên, khi thấy đông người, ông ta sinh nghi. Ông ta tính chạy ra xe Honda lấy súng thì em đã phóng ra trước, chụp cây AK của ông ta rồi. Em nói to:

– “Đưa tay lên, tôi bắn.”

“Ông ta quỳ xuống, lạy lục, xin tha mạng. Có lẽ ông ta đoán chừng bọn em là một nhóm Phục Quốc. Ông ta khai là cán bộ, vô bưng mấy năm, nay về địa phương, phá đất làm rẫy, không hoạt động gì cho “cách mạng” nữa cả. Vì là cán bộ cũ nên được cấp súng để tối tối chỉ huy bọn dân phòng.

“Em không giết ông ta nhưng xả xì cả hai vỏ xe, đề phòng ông ta chạy xe đi báo với đồng bọn.

“Xong, cả đám tiếp tục đi về phía Nam. Trên đường đi, đứa nào tách riêng ra được thì tách, tìm đường về nhà. Sau ba ngày nữa, về tới Biên Hòa, chỉ còn mình em. Em lại tìm về nhà.

&

“Nhóm về Bình Giả, gặp Phục Quốc, hợp chung lại thành một. Vừa lúc tụi Việt Cộng huy động một hay hai đơn vị gì đó vây bắt, tấn công, đánh một trận lớn. Nghe nói chẳng người nào sống sót.

Vừa là vụ Bình Giả, vừa là vụ trốn trại có giết người, tụi Công An lùng bắt dữ lắm. Không dám về Nhà Bè, ở Saigon em nhắn tin về nhà, mẹ em biểu đừng về. Nhà đang bị Công An theo dõi. Em bèn vô Bình Đông, tạm làm phu khuân vác gạo, chưa được mấy hôm thì tụi Công An vào tận kho, còng tay em dẫn đi.

&

Sau mấy hôm giam chung với Trịnh X. Ch., Tiên bị chuyển qua phòng bên cạnh sau khi phòng nầy đã hoàn chỉnh các “trang bị” dành cho cát-xô. Các “biệt thự” nầy được xử dụng hơi sớm, xây đã xong nhưng phía trong, “nội thất” chưa hoàn tất thì đã có “khách” đến rồi. Tuy nhiên, với Tiên, bọn Công An không “chủ quan” được. Chúng chờ phòng bên cạnh có đủ cùm, khóa, v.v… thì Tiên mới được chuyển qua.

Mặc dù việc chuyển phòng thường đột ngột, không biết trước, nhưng trước hôm chuyển đi, Tiên nói với Trịnh X. Ch.:

– “Thế nào em cũng trốn trại.”

– “Cùm như thế nầy, làm sao trốn được.”

– “Ầy! dễ ợt!” Tiên nói. “Em thủ được cọng kẽm rồi. Khóa nầy em mở như không.”

– “Khóa nầy là khóa Chợ Lớn, phải không?” Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Nhìn qua, biết ngay. Khóa ngoại trên tầu chở hàng, em còn mở được.” Tiên nói.

– “Chỉ với một cọng thép?” Trịnh X. Ch. hỏi, hồ nghi.

– “Hình như trời cho cái năng khiếu anh à. Tụi em hồi đó cũng ngạc nhiên tài mở khóa của em. Em thọc cọng kẽm vào, chút xíu là xong.” Tiên giải thích, tự nhiên, không có vẻ tự hào chút nào.

– “Tiên có cọng kẽm rồi?” Nghĩa hỏi. “Ổ khóa nằm phía trong buồng nhỏ, làm sao mở?”

– “Để em nói cho nghe. Em lần vào sát vách trong, chồm người ra cửa phòng nhỏ, ngoái người vào, vói tay vào trong. Vói tay vào tới ổ khóa là được.” Tiên giải thích.

– “Lỡ khi Công an khóa cửa phòng nhỏ?” Nghĩa hỏi.

– “Thì mình mở phòng đó trước, mở khóa phòng trong sau.” Tiên nói.

– “Chỉ với một cọng kẻm?

– “Có rồi, dấu kỹ lắm. Chuẩn bị xong, anh với em cùng dông?”

Trịnh X. Ch. nín thinh, không trả lời Tiên.

Tiên bị chuyển phòng được ba hôm thì một đêm quá khuya, Tiên mở cùm cho anh ta xong, để thanh sắt nằm đúng vị trí cũ, leo lên trần nhà. – Trần nhà lúc nầy chưa đóng ván xong. Sau vụ Tiên trốn, chúng đóng ván kỹ và đổ mạt cưa lên trên thật dày. – Theo trần nhà, Tiên leo xuống phòng Trịnh X. Ch., rủ anh trốn.

Trịnh X. Ch. không đi. Anh không có nơi ẩn náu tại Saigon.

Nói hoài không được, Tiên lại leo lên mái, dở ngói chui ra ngoài rồi leo hàng rào đi mất.

Sáng, cán bộ Chinh đến mở cửa cho tù đi đổ cầu.

Khi cửa phòng Tiên mở ra, Chinh chưng hửng. Cát-xô trống hốc, không có ai cả. Chinh nhìn lên mái ngói: Một lỗ hổng vừa một người chui lọt. Chinh thổi còi báo động. Công An tập trung truy kích nhưng không biết truy kích hướng nào.

Từ cát-xô mà trốn đi được, ai cũng phục Tiên tài tình.  Đó là sự việc xảy ra đầu tiên ở trại Z-30A khiến Công

An cũng ngạc nhiên, phục tài người tù trốn trại.

Nhưng rồi Tiên lại bị bắt lần nữa. Lần nầy không ai được gần Tiên để nghe anh kể chuyện trốn trại và bị bắt như thế nào.

Và bọn Công An xúm nhau đánh đập Tiên không chỉ một lần như trước kia mà nhiều lần, đánh nhiều ngày, đánh một cách tàn bạo, dữ dằn, “vinh quang”, lại bỏ đói anh nhiều ngày.

Mãi đến mấy hôm sau, khi “trật tự” đem cơm vào cho Tiên, thấy Tiên nằm bất động. Gọi tên, anh không ừ hử gì cả. “Trật tự” cầm tay Tiên lay thử. Tay lạnh ngắt.

Tiên đã chết từ hồi nào!

hoànglonghải

(1) “Trật tự”, cũng là tù nhưng bọn Công An cho đứng ra làm tay sai, như tiếng “cặp rằn” ngày truớc vậy. Làm trật tự được Việt Cộng cho vài “ưu đãi” nhưng bị anh em tù chưởi cũng không ít.

(2) Người Bắc, vào Nam hoạt động khoảng thập niên 1960, nằm vùng ở Saigon, chạy xe ba gác chợ Cầu Muối, có đủ giấy căn cước và giấy tờ hợp lệ quân dịch. Sau 30 tháng Tư 1975, y mang loon trung úy Công An.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 14 August 2015 

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

 “Sắc bất ba đào…”

Bài 25

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

(Nguyễn Giản Thanh)

Trịnh X. Ch., sau 3 tháng nằm “cát-xô” (cachot) (1), được tha ra, “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy) về đội của tôi, tức là đội cũ của anh.

Vì anh về đội tôi chưa lâu thì trốn trại, nên anh em trong đội, ít người biết anh, ngay cả tôi cũng vậy! Tuy vậy, nghe mới ra khỏi cát-xô, anh em ai cũng mừng. Mừng, vì “bạn tù” được ra khỏi “cát-xô”, mừng vì anh là người “nổi tiếng” trong việc trốn trại vừa qua.

Trốn trại như anh, thật là “quái kiệt”. “Quái kiệt” là biệt danh, Trần Phú Trắc tặng cho anh, sau khi anh trốn trại.

Trịnh X. Ch. cùng ở trại Suối Máu với chúng tôi. Trại nầy do “bộ đội quản lý”. Anh được đưa đi lao động ở Trảng Táo. Đi Trảng Táo là được coi như thành phần nhẹ “nợ máu với nhân dân”. Chúng tôi, “nặng tội” hơn, thay vì đi Trảng Táo thì bị bàn giao cho Công An, đưa về trại Xuân Lộc, Z-30A của bộ Nội Vụ.

Được hơn một năm, trại Trảng Táo giải tán. Tù ở đây, một số được tha. Số còn lại như Trịnh X. Ch, chưa “tha ra khỏi trại cải tạo” được thì đưa về trại Xuân Lộc. Anh em cũ lại gặp nhau.

Về được vài tuần lễ, Trịnh X.Ch. trốn trại.

Anh ta “điều nghiên” (cũng danh từ VC đấy) kỹ lắm. Đêm nào anh cũng cố thức thật khuya để canh giờ bọn Công An đi tuần bên ngoài. Cứ khoảng một tiếng, chúng đi rảo một vòng, rất đều đặn.

Muốn trốn, anh phải ra khỏi nhà giam ngay sau vòng đi rảo của tụi nó. Một giờ sau, khi đi rảo vòng kế tiếp, nếu chúng có phát hiện nơi anh mở vách chui ra, thì anh cũng đã đi xa rồi.

Anh cạy tấm ván ngay chỗ ngồi đi cầu, chỗ không ngờ nhất, đề phòng, hễ bất thường có ai đi vào nhà cầu vào lúc khuya, họ cũng tưởng anh đi cầu như họ.

Thứ hai, là việc leo qua hàng rào cây. Anh đã chuẩn bị một sợi giây thừng. Anh lén giấu sợi giây thừng trọng túi xách của anh. Khi chui ra khỏi nhà, anh mang sợi giây theo, tới sát hàng rào, Trịnh X. Ch. làm “tặc giăng” đu giây” – như chúng tôi gọi đùa. Anh quăng sợi giây thừng lên đầu hàng rào cây, rồi nắm giây leo lên, leo qua đầu hàng rào cao, nhảy xuống phía ngoài, lủi vào ruộng bắp, mất dạng.

Toán Công an đi phục kích ở ngoài, theo anh biết, chỉ phục kích phía bìa rừng xa. Anh không đi vào phía đó. Anh đi thẳng ra Ngã Ba Ông Đồn, ở đó, có bà Lệ Khanh, người quen của anh, giúp anh về Saigon trót lọt.

Buổi sáng, cán bộ trực trại vào mở cửa từng nhà giam, gọi tù ra sân kiểm tra nhân số. Đếm đi đếm lại, cứ thấy thiếu một người. Cán bộ sai đội trưởng vào xét lại trong nhà giam, không còn ai cả. Cán bộ đích thân vào xét, cũng chẳng thấy ai. Lại sắp hàng, lại đếm, lại thiếu mất một người. Cán bộ ra lệnh cho đội trưởng kiểm tra đội mình. Bấy giờ Trương Đình Gòn, đội trưởng đội 19 là đội của tôi, mới phát hiện thiếu mất Trịnh X. Ch. Vào nhà giam xét chỗ nằm của Nghĩa, chăn màn chưa xếp. Kiểm soát nhà cầu mới thấy một tấm ván bị cạy ra, một người chui lọt.

Trương Đình Gòn đi ra sân, tới bên chỗ đội đang sắp hàng, cười cười: “Dông rồi! Dông đâu hồi khuya rồi.”

Nghe Gòn nói, anh em ai cũng thấy vui. Thế là chấm dứt một đời tù.

Vốn tính hay đùa, Gòn nói to: “Anh em có ai biết Trịnh X. Ch. trốn hồi hôm không?”

“Hỏi bù trớt không!” Có người nói. Ai mà biết. Ai biết mà nói. Trần Phú Trắc đứng sau tôi nói đùa, nhỏ, sợ cán bộ nghe: “Có anh nào dân nước “Đại Ngu” thì báo cáo đi!”

Sở dĩ trong trại có danh từ “nước Đại Ngu” là tự tôi. Hôm họp đội, Trần Văn D. tố cáo “ông già Minh” khai bệnh giả để khỏi đi lao động, tôi gọi đùa D, là dân “nước Đại Ngu”.

Sau khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, ông đặt tên nước là “Đại Ngu” vì gốc Hồ Quý Ly là người nước Ngu bên Tầu. Tôi dùng chữ Ngu là để ám chỉ mấy người dại dột cứ nghe cán bộ xúi mà “đấu tranh để học tập tiến bộ”.

Hôm ấy, đội trưởng và hai người nằm hai bên Nghĩa được lệnh ở nhà để làm kiểm điểm. Ba người đó đều vui vì khỏi đi cuốc đất. Có người nói đùa với Gòn: “Ông biết nó trốn trại, còn giả bộ.” Gòn cười: “Biết thì tao theo nó rồi, giờ nầy đâu còn đây!” Rồi Gòn cười hề hề!

&

Khi Trịnh X.Ch. còn ở trại Trảng Táo, việc đi lại tương đối dễ, bộ đội không cấm ngặt, anh thường ra Ngã Ba Ông Đồn, ghé quán bà Lệ Khanh uống cà phê chơi. Hoặc anh có đi Biên Hòa hay Saigon, trên đường đi về, anh cũng ghé lại quán đó.

Trịnh X, Ch. là người Bắc, dân Hà Thành, con nhà dòng giống, cháu ông Trịnh Xuân Ngạn, Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Anh hơi nhỏ con, kiến thức sâu rộng, tài hoa, ăn nói hay, đậu cử nhân văn chương Pháp, tốt nghiệp Đại học Sư phạm ban Pháp văn, nhưng bỏ dạy, làm việc ở nhiều cơ quan thông tấn ở Saigon, ở Việt Tấn Xã, làm chuyên viên ở bộ Giáo Dục. Công việc cuối cùng của anh là chuyên viên bậc 2 ở “Văn Phòng Phụ Tá Ngoại Vụ” của “Tông tông”, (tông tông là tiếng lóng chúng tôi thường gọi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, bọn cán bộ không phát hiện được, mà cũng là tiếng thân mật, yêu kính của chúng tôi đối với ổng). Anh hơi kiêu ngạo.

Trước 30 tháng Tư ít hôm, khi “xếp” của anh, Ông Nguyễn Phú Đức, chuẩn bị di tản, Trịnh X. Ch. hỏi “xếp”:

– “Ông phụ tá đi rồi, còn anh em chúng tôi thì sao?”

Ông ta trả lời:

– “Những người như các anh, còn trẻ, nên ở lại để giúp nước.”

Nghe lời ông “phụ tá tông tông”, anh cho vợ con đi Pháp. Vợ anh là đầm Tây chính cống, quốc tịch Pháp. Vợ con anh lên Air France đi Paris, còn anh “ở lại giúp nước”, như lời ông phụ tá dặn dò.

Anh lầm, mà ông phụ tá tông tông, “xếp” của anh cũng lầm nốt. Anh thuộc “dạng chuyên”, không phải “dạng hồng”. Cộng Sản không cần “chuyên”, chỉ cần “hồng”. Vì vậy, có “chuyên” mà không có “hồng” thì vô tù.

Có lẽ bà Lệ Khanh biết và khâm phục cuộc đời anh như thế, nên sẵn sàng giúp anh trốn trại. Đêm trốn trại đó, anh ra tới nhà bà. Đã chuẩn bị sẵn, bà trao cho anh một số giấy tờ giả, khác tên, khác họ, và đón một chuyến xe đò quen, gởi anh về Saigon.

Trịnh X. Ch. không dám về nhà mình, tuy mẹ anh còn sống. Anh rất muốn về thăm mẹ. Anh cũng chẳng nương nhờ sinh sống ở nhà ai, sợ họ bị liên lụy. Hàng ngày anh lang thang ở Chợ Lớn, tránh Saigon là nơi anh nghĩ có người biết mặt, biết tên anh. Tối tối, anh thường chui vào nhà ga Saigon, kiếm một góc kẹt nào đó, ngủ qua đêm.

Saigon bấy giờ người ta ngủ đường ngủ chợ không thiếu gì, phần nhiều là những gia đình bị “đánh tư sản”: bị lấy mất nhà, hoặc đã đi Kinh Tế Mới nhưng không thể ở đó được nữa, liều về Saigon. Nhà cũ không còn, họ ăn đường ở chợ, sống lây lất được này nào hay ngày đó. Họ từng là những người giàu có, nệm ấm chăn êm, có người ở, có kẻ hầu. Họ từng là người lao động chân tay, buôn bưng bán gánh, một đời đã từng khổ cực, nay lại càng khổ cực hơn nữa. Trịnh X. Ch. có một cảm tưởng chung về họ: Những người ở cuối tầng địa ngục. Trong đó, có Trịnh X. Ch. sống lẫn lộn với họ.

Anh sống lang thang ở Saigon được một thời gian, bà Lệ Khanh cho một nguời liên lạc với anh, người ấy dẫn anh xuống Ngọc Hà, một làng nhỏ bên bờ sông Đồng Tranh, chờ chuyến vượt biên.

Nhà anh ở tạm tại Ngọc Hà là nhà một người Tầu. Hôm trước, có đám vượt biên bị bể, “khách hàng” chạy tán loạn cả. Ngày sau đó, Công an lục soát từng nhà, Trịnh X. Ch. bị giữ. Chúng nghi ngờ giấy chứng minh của anh là giấy giả.

Xui cho Trịnh X. Ch. là, Xuân Lộc, nơi anh trốn trại thuộc tỉnh Đồng Nai, đã có lệnh tầm nã anh. Nơi Trịnh X. Ch. bị bắt, ấp Ngọc Hà, cũng thuộc Đồng Nai. Công An đối chiếu giấy tờ, nghi ngờ nhưng không khai thác được gì vì anh một mực không khai tên thật, dù bị Công An điều tra gắt gao, thậm chí đánh đập, giam riêng, bỏ đói. Trịnh X. Ch. không nhận tên mình, trốn trại Xuân Lộc, và cứ theo tên giả mà khai, khai về Ngọc Hà kiếm đất trồng màu. Cuộc điều tra kéo dài hơn một tháng, “bất phân thắng bại”.

Một hôm, chúng dẫn anh lên văn phòng, cởi còng, cho ngồi chờ thì tên H. xuất hiện ngoài cửa. H. chỉ đi ngang, nhìn Trịnh X. Ch. rất lâu rồi đi luôn.

Sau đó, tên trung sĩ Công An thường điều tra Trịnh X. Ch., gọi anh vào, hỏi:

– “Thế “lào”! Anh chịu khai thật chưa?”

Trịnh X. Ch. nói, giọng bình tĩnh:

– “Vâng! Tôi là Trịnh X. Ch.!”

Chỉ cần nghe chừng đó, tên Công An ngữa người ra lưng ghế, cười ha hả, chiến thắng!

&

Hôm đó chủ nhật, khỏi đi lao động, chúng tôi ngồi vây quanh Trịnh X. Ch. Nghe anh kể chuyện. Nghe đến đó, hai ba người cùng hỏi:

– “H. là thằng nào?”

– “H. là thằng nào?”

Trịnh X. Ch. nói:

– “Bọn Bắc kỳ 75 nầy ghê lắm, khôn ngoan, mưu mẹo, xảo quyệt, thủ đoạn… Tên điều tra tôi là một thằng trung sĩ, nhưng so với một thiếu úy Cảnh Sát miền Nam trước đây, nó khôn hơn, gian manh hơn, thủ đoạn hơn nhiều lắm. Dân Nam Bộ khó chơi lại dân Bắc Kỳ!”

Nghe nói thế, chúng tôi cười: Trịnh X. Ch. cũng là dân Bắc Kỳ, hay nói đúng hơn là “Dân Hà Nội thanh lịch”.

&

Bà Khanh, tên gọi thường là Lệ Khanh, đẹp, sắc sảo, dân Saigon, cựu học sinh Gia Long, “Em gái hậu phương” của một ông thiếu tá Biệt Động Quân đã có vợ. Bà có với ông nầy một con gái.

Khi ông thiếu tá tử trận, bà Lệ Khanh trôi giạt về Long Giao, làm chủ một bar Mỹ ở đó. Khi quân Mỹ rút về nước, bà về mở tiệm ăn ở Long Khánh. Sau 30 tháng Tư, bà lại trôi về Ngã Ba Ông Đồn.

Tên Năm Thái, phó trưởng trại cải tạo Xuân Lộc, nguyên là “Bộ đội Quân Giải phóng Miền Nam”, thường vào ra tán tỉnh. Bà lợi dụng tên nầy, thầu cung cấp muối, nước mắm và bột ngọt cho trại cải tạo khi tên nầy chưa bị Trịnh Văn Thích, trại trưởng, “đá” văng ra khỏi trại, lột lon, đuổi về quê.

Dân Nam Kỳ làm sao chơi lại dân Bắc Kỳ, mặc dù cả hai đều là Việt Cộng.

Tham vọng của Trịnh Văn Thích là chỗ ngồi của Mười Vân, giám đốc Công An Đồng Nai. Tại Biên Hòa, bấy giờ, phe Nam Kỳ hay gốc Nam Kỳ tập kết còn mạnh, còn đông. Thích, dân Bắc Kỳ, biết chưa làm gì được. Nhưng để Năm Thái bên cạnh, khác gì “nuôi ong tay áo”. Việc để Năm Thái cho bà Lệ Khanh thầu vài thứ vặt vảnh ở trại, chỉ là cái bẫy của tên cáo già Trịnh Văn Thích, có quá trình 25 năm kinh nghiệm làm “quản lý trại giam”.

Trong quá trình đó, Trịnh Văn Thích, dùng người chồng hờ của bà Lệ Khanh, tên H., làm mật báo viên cho trại của y, theo dõi sinh hoạt của Năm Thái với bà Lệ Khanh, theo dõi những người tới lui quan hệ với bà Lệ Khanh và cả việc theo dõi thân nhân những người đi thăm tù cải tạo. Để câu tên H., Trịnh Văn Thích cho y độc quyền chạy xe lam, đón khách từ chợ Gia Rây vào Nhà Thăm Nuôi của trại.

Chừng đó sự việc, đủ cho Trịnh X. Ch. biết mặt và canh chừng H. như bà Lệ Khanh dặn dò và dĩ nhiên, tên H. không lạ gì mặt Trịnh X. Ch..

Khi ngồi trong văn phòng, thấy tên H. đi ngang phía ngoài, nhìn mặt Trịnh X. Ch., anh biết Công An nghi ngờ anh là ai và cho H. tới nhìn mặt.

  1. Ch. vừa nói vừa cười:

– “Moa” biết cái trò cút bắt giữa “moa” và Công An tới đó phải chấm dứt. Nếu không thì tụi nó đánh… bỏ mẹ.”

Nghe câu ấy, ai nấy đều cười.

Có người nói:

– “Tài giỏi như ông, khôn ngoan, mưu lược như ông, dại gái thì cũng bằng không.”

Trịnh X. Ch. bèn đứng dậy, bỏ đi. Có lẽ anh ta giận người nói câu nói đó nhưng anh ta nhịn.

Dĩ nhiên, sau khi Trịnh X. Ch. nhận tội trốn trại, bà Lệ Khanh cũng bị bắt, bỏ lại hai đứa con còn nhỏ, không cha không mẹ.

hoànglonghải

(1) Cachot: nhà tối, ngục tối. Tiếng Pháp.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 30th, 2020

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 30th, 2020

Kỳ 12

Sau 4 tháng chinh phục Châu Á, Hải quân hoàng gia Nhật áp sát Châu Úc. Chính từ lúc này, mũi tấn công cực Nam của Nhật Bản yếu dần. Nguyên nhân: quá ít máy bay và phi công. Trong khu tam giác rộng lớn Rabaul-Lae-Port Moresby, phía Nhật chỉ có 3 phi đoàn Rabaul, Lae và Salamaua, bao gộp tối đa 250 chiến đấu cơ Zéro với một cấp số oanh tạc cơ tương đương. Phía Đồng Minh khác hẳn. The Royal Australian Air Force (RAAF) và The Fifth Air Force (USAAF) đã huy động 11 Liên đoàn (Group) bao gồm 12 phi đoàn khu trục săn giặc và 21 phi đoàn oanh tạc cơ, tổng số trên 2000 máy bay, không tính các phi đoàn vận tải, quan sát và không ảnh… Danh sách tham chiến tại mặt trận Darwin-Port Moresby-Queensland từ tháng 3 đến tháng 11-1942 nói lên ưu thế số đông của Úc và Hoa Kỳ:     

Liên đoàn 7 Khu Trục [7th Fighter Group]

Liên đoàn 8 Săn Giặc [8th Pursuit Group]

Liên đoàn 35 Săn Giặc [35th Pursuit Group]

Liên đoàn 49 Khu Trục [49th Fighter Group]

Liên đoàn 3 Oanh tạc [3rd Bombardment Group B25]

Liên đoàn 7 Oanh tạc [7th Bombardment Group B17]

Liên đoàn 19 Oanh tạc [19th Bombardment Group B17]

Liên đoàn 22 Oanh tạc [19th Bombardment Group B26]

Liên đoàn 27 Oanh tạc [27th Bombardment Group A24]

Liên đoàn 38 Oanh tạc [38th Bombardment Group B25]

Liên đoàn 43 Oanh tạc [43rd Bombardment Group B17]

Tuy đông hơn nhưng Không lực Đồng Minh đã chưa thể áp đảo Phi đoàn Lae của Sakai là đơn vị lập nhiều chiến tích nhất trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương. Nhờ vào khả năng thiện nghệ của các phi công Samurai và sự tinh hảo của chiến đấu cơ Zéro vượt trội so với các phi cơ P39 Airacobra và P40 Warhawk của Hoa Kỳ thời kỳ này. Tuy vậy, người đọc vẫn nhìn thấy qua hồi ký của Sakai, là chiến thắng đang dần ra khỏi tầm tay Nhật Bản một khi Đồng Minh có thể trả đũa bằng các cường kích liên tục. Phi vụ không kích Port Moresby của Sakai cũng làm người đọc liên tưởng đến một cảnh trong phim Australia với nữ tài tử Nicole Kidman khi máy bay Nhật ném bom hải cảng Darwin. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 12

Chương 12

Ðồng Minh rót người và vật liệu vào pháo đài của họ ở hải cảng Moresby không ngừng nghỉ. Và Bộ Tư Lệnh Tối Cao Nhựt thúc giục chúng tôi đánh mạnh hơn, đánh nhiều hơn vào các phi trường, các chỗ trú quân, và các cơ sở trên hải cảng càng lúc càng mọc lên như nấm của địch quân.

Vào ngày 17 tháng 4-1942, tôi thực hiện một phi vụ hộ tống đầu tiên của mình trên đất địch. 13 chiến đấu cơ Zéro, thay vì 6 hoặc 7 chiếc như trước đây, bao che cho các oanh tạc cơ Betty. Chính vì các báo cáo thám thính cho biết địch đang tăng cường ngày một nhiều, nên chúng tôi chờ đợi một chống trả quyết liệt.

Một phi công trong bán phi đội của tôi gây lo lắng. Yoshio Miyazaki tiêu chảy nhiều ngày liền và gầy đi nhiều. Tôi thấy hắn không đủ sức phi hành nhưng mặc tôi can ngăn, hắn nhất quyết rời mặt đất. Tôi lo lắng là với cơn sốt, Miyazaki sẽ không thể giữ đội hình mà nhiệm vụ hộ tống bắt buộc bay zích-zắc hình chữ chi chung quanh hợp đoàn Betty. Lúc đến gần Moresby, những e ngại của tôi biến mất. Miyazaki giữ vị trí hoàn hảo.

Với 7 chiến đấu cơ được cắt đặt bay sát cánh các oanh tạc cơ ở cao độ 16,000 bộ (4,900m), và với nhóm 6 chiến đấu cơ của tôi bay thấp hơn 1,500 bộ (450m), chúng tôi vượt qua dãy núi Owen-Stanley. Moresby hiện ra trong tầm mắt. Thình lình 7 chiến đấu cơ bay chung nhóm các oanh tạc cơ phía trên túa ra, lập thành màn lưới bao che, xoay tròn phía trên các oanh tạc cơ Betty. Nhiều chiến đấu cơ P40 của địch chúi xuống từ một độ cao hơn để tấn công các oanh tạc cơ của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng bị phát hiện quá sớm, và vòng xoay của 7 chiếc Zéro nứt ra, đánh bật cú đấm của địch quân đang giáng xuống. 7 chiếc Zéro trở về vị trí cũ.

Ngay lập tức, súng cao xạ từ mặt đất bắn lên, tạo ra những đốm đỏ và đen như nở hoa. May mắn là quá thấp. Bán phi đội của tôi lập tức phân tán và lộn nhào thật mau để tránh né một vòng rào hoả lực cao xạ thứ hai nổ phía trên. Ngay khi chúng tôi trở lại đội hình, các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ hộ tống gia tăng tốc lực tối đa để vượt lên cao nữa. Nếu vẫn duy trì đường bay cũ thì loạt cao xạ thứ ba sẽ bắn trúng.

Các oanh tạc cơ của chúng tôi đang bên trên phi trường Moresby và đảo chầm chậm để thả bom. Bây giờ mặt trời chiếu từ phía sau chúng tôi, và các chiến đấu cơ địch lại đang lướt đến. Tôi đảo lại, kéo cần lái gần như thẳng đứng, chĩa thẳng vào mũi dùi tấn công của đối phương. Năm đồng đội thuộc nhóm của tôi cũng đeo dính một bên. Nhưng chúng tôi không có cơ hội để khai hoả, các chiến đấu cơ địch lảng ra và phân tán. Chúng tôi quay trở lại vị trí hộ tống, nhưng chỉ có 2 chiếc Zéro theo tôi. Chiếc của Miyazaki và hai chiếc khác đã chui xuống phía dưới các oanh tạc cơ.

Tôi không có thời giờ để lo lắng cho 3 chiếc phi cơ đó. Cao xạ địch đang cố gắng điều chỉnh tầm bắn, và một loạt đạn nữa đã nổ cách phía dưới các oanh tạc cơ đang dội bom 1,500 bộ. Tuy nhiên, tất cả đều đã vượt qua, bụng đã trống rỗng, các oanh tạc cơ gia tăng tốc lực, giữa những tiếng nổ rền vang liên tục của súng cao xạ, và đảo về phía trái. Miyazaki đang bay cách phía dưới các oanh tạc cơ 1,500 bộ. Không có vô tuyến, tôi không thể nào gọi hắn trở lại vị trí, và chúng tôi không dám rời các oanh tạc cơ.

Chúng tôi bỏ Moresby và súng phòng không địch lại phía sau. Tôi thở ra nhẹ nhõm. Quá sớm! Khoảng một dặm phía trên chúng tôi, một chiếc P40 chúi xuống với tốc lực khủng khiếp. Nó xuống nhanh đến nỗi tôi không kịp nháy mắt. Giống như một tia chớp soi thẳng vào các oanh tạc cơ, cách tôi sáu trăm thước.

Tôi không hiểu làm cách nào mà chiếc P40 này lọt qua khỏi khoảng trống chỉ một vài thước giữa hai oanh tạc cơ thứ ba và thứ tư. Chuyện khó thể tin nổi, nhưng đã xảy ra. Với những họng súng rực lửa, sau khi lọt qua nhóm oanh tạc cơ xong, chiếc P40 rót tất cả đạn vào chiếc phi cơ của Miyazaki. Tức khắc, chiếc Zéro biến thành ngọn đuốc. Và vẫn với tốc lực khủng khiếp, chiếc P40 biến mất phía dưới chúng tôi. Phi cơ của Miyazaki rơi xuống chầm chậm, rồi lửa loé sáng và một tiếng nổ xé nát ra. Chúng tôi không nhìn thấy một mảnh kim khí nào rơi xuống. Mọi việc xảy ra trong vòng ba bốn giây. Chúng tôi vẫn tiếp tục bay. Ðến Buna, các chiến đấu cơ chúng tôi tách ra, chấm dứt vai trò hộ tống và quay về Lae.

Cái chết của Miyazaki là một bài học đau đớn cho tất cả chúng tôi. Trong những ngày đầu của cuộc chiến tôi vẫn khăng khăng cho rằng sự khéo léo cá nhân của các phi công Nhựt là ưu thế có tánh cách quyết định trước phi công đối phương. Công cuộc huấn luyện của chúng tôi, dĩ nhiên là trước chiến tranh, tỉ mỉ hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Ðối với chúng tôi, bay có nghĩa là mọi thứ, chúng tôi không tiếc bất kỳ nỗ lực nào nhằm học hỏi thấu đáo mọi phương diện về không chiến. Tuy nhiên, qua nhiều cuộc không chiến của Ðệ Nhị Thế Chiến, khéo léo cá nhân chưa đủ bảo đảm sự tồn tại mãi mãi, ngoại trừ các cuộc không chiến tay đôi. Thất bại to tát nhứt trong các cuộc không chiến của chúng tôi là do chúng tôi thiếu tinh thần đồng đội. Một tinh thần mà người Mỹ đã phát triển không ngừng trong suốt cuộc chiến.

Sau cái chết của Miyazaki, bảy oanh tạc cơ B26 Marauder tấn công Lae. May mắn thay, chúng tôi được báo trước và 9 chiến đấu cơ Zéro được tung lên không, đón các oanh tạc cơ địch chỉ ở cao độ 1,500 bộ. Trận quần thảo giữa phi công chúng tôi với bảy chiếc Marauder kéo dài một tiếng đồng hồ đầy gian nan vất vả. Cuối cùng chỉ một oanh tạc cơ địch bị bắn rơi và một chiếc bỏ chạy với thương tích. Ðó là trận không chiến vụng về nhứt, chưa từng thấy trong đời tôi. Chín chiếc Zéro thiếu tổ chức. Thay vì liền tay tấn công một hoặc hai phi cơ địch, và sử dụng hoả lực của số đông để cắt bảy chiếc B26 ra từng phần, các phi công của chúng tôi áp hết vào để đánh. Không có chiếc phi cơ nào của chúng tôi đụng chạm hoặc bắn hạ lẫn nhau cũng là một điều đáng lấy làm lạ.

Khi đáp xuống, cơn giận của tôi bùng nổ. Tôi nhảy ra khỏi phòng lái, hấp tấp bước đến các phi công đã tụ hợp trên mặt đất. Tôi chửi sự ngu ngốc của họ, vạch ra từng điểm sai lầm của mọi người và nhấn mạnh rằng chỉ có phép lạ mới khiến họ sống sót được. Từ đó trở về sau, mỗi đêm chúng tôi đều hội họp để chỉnh đốn lại tinh thần đồng đội của chúng tôi. Vào ngày 23 tháng 4, Nishizawa, Ota và tôi thực hiện một phi vụ thám sát Kairuku, một căn cứ mới của đối phương ở phía Bắc Moresby. Mặc dù chỉ được lịnh thám thính, chúng tôi cũng đã bắn cháy nhiều vận tải cơ địch trên phi đạo.

Báo cáo của chúng tôi đưa đến một cuộc tấn công với 15 phi cơ vào ngày hôm sau. Chúng tôi sà xuống 6 chiếc oanh tạc cơ B26, 15 chiến đấu cơ P40 và 1 chiếc P39. Con số hủy diệt chính xác của chúng tôi là hai oanh tạc cơ và sáu chiếc P40. Sau trận không chiến đơn phương, chúng tôi thẳng đường đến Moresby, bắn phá và đốt cháy một thủy phi cơ Catalina đang buông neo. Ngày hôm sau, chúng tôi trở lại Moresby. Mặc dù thiệt hại nặng nề vào ngày hôm trước, địch quân vẫn đề kháng dữ dội. 7 chiến đấu cơ P40 thách thức 15 chiến đấu cơ của chúng tôi. Trước khi cuộc không chiến dữ dội thực sự kết thúc, 6 chiến đấu cơ địch đã chúi về phía Ðông trong lửa đỏ. Chúng tôi bảo toàn lực lượng, và sau khi bầu trời được dọn sạch, chúng tôi bắt đầu xạ kích Moresby và Kairuku, đốt cháy 5 chiếc B26 và 2 chiếc P40 nữa.

Hiển nhiên cố gắng của tôi trong việc cải thiện tinh thần đồng đội khi chiến đấu đã đạt được hiệu quả. Tuy nhiên, tôi phải chịu thiệt thòi, vì sau hai trận đánh liên tiếp, các phi công khác đều ghi nhiều điểm trong khi tôi trở về với hai tay trắng. Và trận không chiến kế tiếp vào ngày 26 cũng vậy, tôi không hạ được một phi cơ nào, mặc dù có ba trong số bảy chiếc P40 bị bắn rơi. Ngày 29 tháng 4 là sinh nhật của Thiên hoàng Hirohito. Vị chỉ huy trưởng của chúng tôi tổ chức một buổi lễ khiêm tốn để mừng ngày đặc biệt này. Mấy anh lính biết nấu nướng đều tiếp tay làm bếp và tận dụng tất cả đồ tiếp tế để chuẩn bị một bữa ăn sáng ngon lành. Vài ngày trước đó, Ðồng Minh không hề đưa ra bất kỳ nỗ lực nào nhằm tấn công Lae. Sự yên tĩnh này, cộng thêm với cảm giác thoải mái của chúng tôi hiện tại, làm chúng tôi lơ là nhiệm vụ.

Khi chúng tôi chấm dứt ăn sáng vào lúc 7 giờ sáng, tiếng thét của lính canh gác vang lên: “Phi cơ địch!” Lập tức, một âm thanh hỗn loạn bùng vỡ, phá tan sự yên tĩnh của buổi sáng. Thùng, trống, mõ và tù và nổi lên inh ỏi, hệ thống báo hiệu không kích của chúng tôi.

Chúng tôi chạy ra phi đạo quá muộn. Những trái bom đã rơi xuống và đang nổ. Chúng tôi ngước mắt lên nhìn thấy mấy ông bạn cũ của chúng tôi, những chiếc oanh tạc cơ B17. Ba chiếc tất cả, bay ở độ cao 20,000 bộ (6,000m). Chỉ một vài trái bom được thả xuống, nhưng với sự chính xác tôi chưa từng mục kích bao giờ. Năm chiến đấu cơ Zéro nằm trên sân bay đang bao trùm trong lửa đỏ. Bốn chiếc khác hư hại nặng nề do mảnh bom gây ra. Riêng sáu chiếc ứng chiến chỉ còn năm chiếc bay được.

Ota và một phi công khác là hai người đầu tiên chạy ra phi cơ. Trong hai giây, họ cho phi cơ hoạt động và chạy ra phi đạo. Nhóm còn lại của chúng tôi bây giờ mới băng ra phi cơ, nhưng có cất cánh cũng đã trễ. Ba pháo đài bay B17 và hai chiến đấu cơ Zéro đã biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi. Thời gian trôi qua chậm chạp, chúng tôi chửi rủa mấy chiếc oanh tạc cơ không tiếc lời và nôn nóng chờ đợi Ota trở về. Một giờ sau, một chiếc Zéro đáp xuống. Ðó là Endo. Hắn giải thích: “Chúng tôi đánh ngay khi vượt lên. Tôi quần thảo dữ dội với một chiếc oanh tạc cơ. Ota vồ một chiếc và vẫn còn khai hoả khi tôi hết đạn. Do đó, tôi phải trở về.”

Một giờ nữa trôi qua, Ota vẫn chưa thấy về. Chúng tôi lo âu. Ota, bạn của tất cả chúng tôi, hiện thời đơn độc quần thảo với ít nhất hai chiếc oanh tạc cơ có võ trang mạnh mẽ. Endo trở nên bồn chồn, và càu nhàu về việc phải rời bỏ Ota vì hết đạn.Mười lăm phút nữa trôi qua, thế rồi Ðại tá Saito thò đầu vô bộ chỉ huy và vui vẻ nói lớn: “Ê! Hắn an toàn! Ota vừa gọi từ Salamaua. Hắn hạ được một pháo đài bay. Hắn phải đáp xuống để lấy xăng và sẽ trở về ngay.”

Tin tức phấn chấn! Nhưng công việc vẫn chưa xong. Sáu phi công, bao gồm Nishizawa và tôi, được chọn để trở lại Moresby “mừng ngày sinh nhật của Thiên Hoàng”. Chúng tôi cảm thấy phi vụ với 16 chiếc Zéro có lẽ tốt hơn, nhưng hiện thời chỉ có 6 chiếc của chúng tôi còn trong tình trạng khiển dụng. Chắc chắn đối phương đã đoán được một trận phục thù cuộc oanh tạc vừa qua của chúng tôi. Ðể tránh chui đầu vô hoả lực phòng không đang chờ đợi, chúng tôi vượt qua đỉnh rặng núi Owen-Stanley ở cao độ 16,000 bộ (4,900m). Và rồi thay vì tiếp tục hướng đến Moresby ở cao độ này, chúng tôi chúi xuống thật thấp, bay theo đội hình tam giác căng rộng. Sau đó chúng tôi vượt lên thật cao rồi chúi thẳng xuống căn cứ địch. Không một ai đoán nổi chúng tôi tấn công theo lối mới này.

Hàng chục nhân viên bảo trì địch đang quay quần bên những chiếc oanh tạc cơ và khu trục cơ, hình như đều sẵn sàng cất cánh. Chúng giống như những con vịt nằm phơi lưng. Chúng tôi quét đại liên và nện đại bác xuống sân bay. Tôi có thể nhìn thấy nhiều người ngước nhìn lên với dáng vẻ đầy kinh ngạc, như không tin nổi vào đôi mắt của họ.
Nhát chổi đầu tiên có hiệu quả. Không một họng súng nào kịp khai hoả. Ở cuối đường bay, với các pháo đội phòng không vẫn im lặng trong sự sửng sốt, chúng tôi quay lại thật gấp và tức khắc bổ nhào xuống làm ăn nữa. Quang cảnh dưới mắt thật tuyệt diệu. Ba chiến đấu cơ và một oanh tạc cơ đang bốc cháy dữ dội. Lần này chúng tôi quét đạn lên một dãy phi cơ khác, xếp thành một hàng dài gọn ghẽ ngay ngắn. Bốn oanh tạc cơ và chiến đấu cơ địch trúng đạn, tuy nhiên không cháy. Người trên sân bay bây giờ chạy hỗn loạn, và có hơn một chục xác nằm bất động vì lãnh đạn của chúng tôi. Chúng tôi “làm ăn” ba lần tất cả và sau đó dông tuốt. Khi đã bay xa rồi, chúng tôi mới nghe khẩu cao xạ đầu tiên lên tiếng.

Nhưng vào lúc 5 giờ 30 sáng hôm sau, đối phương trả lễ chúng tôi bằng một cuộc viếng thăm của ba chiếc B26 Marauder, bay đến mau và thấp, không cao hơn 600 bộ. Mặt đất như vỡ tung khi ba oanh tạc cơ B26 trút bom xuống ngay phi đạo. Lúc khói đã tan, chúng tôi nhìn thấy năm trong số các chiến đấu cơ ứng chiến của chúng tôi lướt lên không trung. Tuy nhiên, khi năm chiến đấu cơ này vừa cất cánh được, các oanh tạc cơ đã quay lại và trút bom một lần nữa. Tiếng nổ vang dội trước khi các chiến đấu cơ Nhựt có thể tiến sát đến các oanh tạc cơ. Nhưng đối phương đã kịp thời kiếu từ, biến mất vào ánh bình minh đang lên. Chuyến kiếm ăn khá khiển: một chiếc Zéro bốc cháy và một chiếc khác vỡ tan. Bốn chiến đấu cơ Zéro và một oanh tạc cơ Betty khác lỗ chỗ dấu đạn và miểng bom.
Trong nhiều ngày kế tiếp, nhịp độ của trận chiến trên không gia tăng dữ dội. Mười hai chiếc P39 Airacobra thực hiện một cuộc viếng thăm Lae thật đẹp mắt, với chín oanh tạc cơ Betty của chúng tôi hư hại nặng nề. Chúng tôi nhảy lên vồ khi đối thủ rút lui, và kéo 2 chiếc P39 xuống đất mà không thiệt mất một chiếc Zéro nào. Nhưng một lần nữa cả tôi lẫn Nishizawa đều đáp xuống với hai tay không. Nỗi rầu rĩ của tôi được khuây khoả vào ngày hôm sau, khi chín phi công chúng tôi trở lại Moresby. Chín chiếc P39 chờ sẵn chúng tôi trên không phận phi trường địch. Một mình tôi hạ cả ba chiếc trong vòng 15 giây. Sáu chiếc khác bỏ chạy mau đến nỗi các chiến đấu cơ khác của chúng tôi không sao chụp kịp.

Trở về phi trường Lae, các chuyên viên cơ khí của tôi đã kinh ngạc khi nhận thấy tôi chỉ bắn có 610 viên đạn trong trận không chiến ngày hôm đó. Trung bình mỗi phi cơ địch nhận hơn hai trăm viên.

Ngày hôm sau, 2 tháng 5, chúng tôi quày trở lại Moresby nữa, với một lực lượng gồm tám chiếc Zéro. Lần này, mười ba chiến đấu cơ P39 và P40 bay chầm chậm ở cao độ 18,000 bộ (5,500m) chờ đón chúng tôi. Nishizawa phát hiện địch đầu tiên và khai hoả. Trước khi phi cơ địch nhìn thấy chúng tôi và lộn nhào để tránh né, bảy chiếc đã rơi xuống như cây đuốc. Trong ngày này, chúng tôi “bỏ túi” đến tám chiếc P39 và P40. Riêng tôi hạ được hai chiếc và Nishizawa được ba chiếc.

Vào ngày 7 tháng 5, sau nhiều ngày ngơi nghỉ, bốn phi công được lịnh thực hiện phi vụ thám thính ở Moresby. Mỗi người chúng tôi đều la lớn một cách vui vẻ khi nhận ra đồng đội của mình trong phi vụ này. Cả bốn chúng tôi đều là các phi công có cơ điểm cao nhứt phi đoàn. Tôi đã hạ được 22 phi cơ địch, Nishizawa 13, Ota 11 và Takatsuka 9. Tôi hy vọng hôm nay làm ăn lớn. Khi chúng tôi lượn vòng trên không phận Moresby, Nishizawa lắc cánh báo hiệu và chỉ hướng mười chiến đấu cơ địch trong đội hình hàng dọc, từ ngoài biển đang lướt đến chúng tôi, cao hơn nhóm phi cơ chúng tôi khoảng 2,000 bộ (600m). Nishizawa và Ota lập thành mũi dùi, với Takatsuka và tôi bay ngay phía sau, thấp hơn chút ít. Bốn chiếc P40 địch liền tách rời khỏi đội hình và bổ nhào xuống.

Tức khắc, bốn chiến đấu cơ Zéro bật mũi lên gần như thẳng góc thay vì lộn nhào để né tránh và phân tán như phi công địch hy vọng. Chiếc P40 đầu tiên vội vã vượt lên trong một vòng xoáy trôn ốc, cố thoát khỏi cái bẫy do chính nó giăng ra. Bụng phi cơ địch sáng loáng trước mắt tôi. Nhanh như chớp, tôi thảy ngay một dây đại bác. Cánh chiếc P40 đứt lìa. Tôi lấy lại thăng bằng và nhìn thấy mỗi chiếc Zéro đánh bật một chiếc P40 ra. Tất cả đều biến thành cây đuốc. Sáu chiến đấu cơ địch còn lại đang ở trên chúng tôi. Chúng tôi phân tán qua phải và trái, vượt lên bằng những vòng xoáy trôn ốc, và lấy thăng bằng theo hình vòng cung, đồng thời các khẩu đại bác đều hoạt động.

Thân ba chiếc P40 tan rã bốc cháy. Ba chiếc còn lại cắm mũi chạy luôn.

Vào ngày 8 và 9 tháng 5-1942, tôi tiêu diệt thêm hai chiến đấu cơ địch nữa, một chiếc P39 và một chiếc P40 qua những nhát chổi liên tiếp trên không phận Moresby. Vào ngày 10, tôi lại bắn rơi một chiếc P39 với thành tích tiêu thụ đạn ít nhất, chỉ bốn quả đại bác 20 ly, trong một phi vụ trên biển San Hô với Honda và Yonekawa.

Hôm ấy, sau 15 phút tuần thám, chúng tôi bắt gặp một chiếc Airacobra độc hành, bay chậm, cách 1,000 thước phía trên chúng tôi. Viên phi công có vẻ như đang ngủ mơ; cứ tiếp tục phi trình thẳng tắp không đếm xỉa gì đến chúng tôi đang tiến đến gần. Tôi vượt lên từ bên dưới bụng hắn, ở vị trí không cho phép hắn nhìn thấy. Honda và Yonekawa bọc thấp hơn nữa, phía bên dưới tôi 200 thước.

Khó tin vô cùng là chiếc P39 cứ tà tà cho chúng tôi áp gần. Viên phi công địch không chút nghi hoặc chung quanh. Tôi chỉ còn cách 20 thước, cơ hội quá tuyệt, tôi chụp lấy chiếc máy ảnh Leica mua trong kỳ nghỉ phép và bấm nhiều tấm. Rồi tôi nhìn đồng hồ: 242 cây số giờ. Tôi ghi nhanh con số như vận tốc phi hành của chiếc P39. Ðội hình kỳ quặc của ba chiếc Zéro với một chiếc Airacobra kéo dài một lúc. Honda và Yonekawa sẵn sàng khai hỏa ngay khi viên phi công Mỹ nhận ra sự có mặt của tôi và tìm cách thoát thân bằng cách đâm bổ. Vươn lên khẽ khàng, tôi lạng nhẹ sang phải. Tôi có thể trông thấy rõ ràng gương mặt viên phi công Mỹ. Không bao giờ tôi hiểu vì sao hắn đã không quan sát chung quanh. Tôi ngắm nghía gã to con đội mũ lưỡi trai trắng nhiều giây, rồi định vị mình phía sau hắn, hơi cao hơn chút ít. Tôi nhắm kỹ lưỡng và ấn nhẹ lên cò súng. Hai khẩu đại bác ho khan, hộc ra bốn viên 20 ly. Hai viên phá nát cánh phải của chiếc P39 và hai viên trúng chính giữa thân. Chiếc Airacobra gẫy đôi, rơi tòm như chong chóng xoay trong một điệu múa điên trước khi rã ra từng mảnh. Không thấy viên phi công nhảy dù.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 24th, 2020

post by Sơn râu 20 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 11

Hiroyoshi Nishizawa là sát thủ kỳ vỹ nhất của Không quân Nhật, đã bắn rơi 103 máy bay Úc-Hoa Kỳ và đi vào lịch sử với hỗn danh “The Demon of Rabaul”. Binh nghiệp ngắn ngủi của Nishizawa mang sự phi lý của chiến tranh: Nishizawa không tử nạn ở vị trí phi công khu trục mà ở vị trí hành khách trong một vận tải cơ cũ kỹ và chậm chạp. Trong chương 11, Sakai phác họa căn cứ Lae và khắc họa chân dung của Nishizawa, cùng với Toshio Ota, là thành viên của “Bộ 3 Quét sạch” lừng danh. The famed “Cleanup Trio”…  [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 11

Chương 11

Ðầu tháng Tư, 30 phi công trong nhóm chúng tôi, thuộc Không đoàn Ðài Nam, được thuyên chuyển đến một căn cứ mới vừa đánh chiếm ở Lae, nằm trên bờ biển phía Ðông New Guinea, chỉ cách quân cảng Úc Port Moresby 300 cây số. Ðại tá Masahisa Saito trách nhiệm căn cứ mới này.

Vào ngày 8 tháng 4-1942, với 8 phi công khác, tôi bay đến Lae. Khi bay quần trên phi trường, tôi không nhìn thấy đâu là nhà chứa phi cơ, cơ xưởng bảo trì, đài kiểm soát. Tất cả chỉ là một đường băng nhỏ bé, dơ bẩn, và giống như sàn đáp trên một chiếc hàng không mẫu hạm. Ba mặt của phi đạo bao quanh bởi dãy núi chớn chở của bán đảo Papua. Mặt thứ tư, tức mặt tôi đang tiến đến, là đại dương bao la. Hai mươi mốt phi công khác đã đến đây trước, đứng chờ chúng tôi ở cuối phi đạo. Honda và Yonekawa, hai đồng đội bên cánh của tôi ở mặt trận Java, đón tiếp nồng hậu: “Chào mừng anh đến Lae! Sakai! Căn cứ lộng lẫy nhất thế giới vui sướng tiếp nhận các anh!” Tôi nhìn cả hai, hồ nghi. Theo thói quen, họ bỡn cợt thích thú. Tôi thán phục óc hài hước của họ trong ổ chuột đầy bùn ở chốn tận cùng thế giới này. Phi đạo dài chưa đến 900 thước, chạy từ góc phải của sườn núi xuống tận mé biển. Ngay cạnh bãi biển là một phân xưởng sửa chữa nhỏ, lỗ chỗ đạn và đầy mảnh bom. Ba vận tải cơ Úc nằm bừa bãi bên trong, và dụng cụ bị phá hủy rải rác khắp nơi. Ðây là vết tích do phi cơ chúng tôi gây ra trong cuộc đổ bộ một tháng trước đây. Phi trường Lae được Úc thiết lập sát núi để không vận đồ tiếp tế và quặng vàng lấy được ở mỏ Kokoda, nằm sâu bên trong dãy Owen-Stanley. Vì không cách chi vào đến mỏ bằng đường bộ, do phải băng qua rừng núi ẩm thấp với nhiều vực sâu. Máy bay là phương tiện duy nhứt giúp tải vàng ra.

Hải cảng ở đây cũng hoang tàn không kém sân bay. Một chiếc tàu buôn 500 tấn của Úc nằm gí trong bùn, gần cầu tàu, chỉ có cột buồm ló lên khỏi mặt nước đặc sệt đục lờ lợ. Tôi nhận thấy phi trường Lae còn tồi tệ hơn phi trường Rabaul hoặc ngay cả những phi trường tiền phương ở Trung Hoa.

Tuy nhiên không có gì có thể cầm nỗi vui sướng của Trung sĩ Honda. “Tin đi, Saburo! Anh đang ở vùng đất săn tuyệt vời nhất trên trái đất! Ðừng chú ý đến rừng rậm và dáng dấp sơ sài của căn cứ. Tôi nói thực, không nơi nào bằng chốn này, giúp chúng ta ghi thêm bàn thắng vì máy bay địch ở đây rất đông!” Honda cười tươi rói. Hắn nói với giọng nghiêm trang không đùa bỡn. Honda hài lòng thực sự, hắn kể lại các hoạt động của những ngày trước khi chúng tôi đến. Vào ngày 5 tháng 4-1942, 4 chiếc Zéro cất cánh từ Lae, hộ tống 7 oanh tạc cơ Betty tấn công quân cảng Moresby và bắn rơi 2 chiến đấu cơ địch. Ðổi lại, một chiếc Zéro bị mất. Vào ngày kế đó, cùng một số Zéro đó cất cánh, nhưng lần này bắn rơi đến 5 phi cơ địch. Ngày hôm sau, 7 tháng 4, hai chiếc Zéro nghinh chiến 3 oanh tạc cơ địch trên không phận Salamaua và rượt theo bắn rơi hai chiếc. Các xạ thủ địch hạ một chiếc Zéro của chúng tôi. Quả là hào hứng!

Ðối với Honda, phi vụ là quan trọng nhứt trong cuộc sống. Kể cả phải sống trong hang chuột, miễn sao có thể bay và bắn. Chiều hôm đó, chúng tôi tập họp trong Bộ chỉ huy Phi đoàn để nghe thuyết trình. Tôi sử dụng mấy tiếng “Bộ chỉ huy” có vẻ hơi lớn lối để chỉ một căn nhà không có vách tường. Vách, màn che và mấy cánh cửa đều bằng chiếu. Căn phòng chỉ vừa đủ để nhét 30 phi công, chính giữa là chiếc bàn to lớn, đơn sơ, làm bằng cây thông. Vài cây đèn cầy và một cây đèn dầu soi sáng căn phòng. Ðiện thoại chạy bằng pin.

Sau khi nghe Ðại tá Saito thuyết trình, chúng tôi về chỗ ở. Trên đường đi, Trung sĩ Yonekawa chỉ cho tôi những cơ sở của căn cứ. Có tổng cộng 3 chiếc xe hơi, 1 chiếc Ford rỉ sét, 1 xe vận tải cũ nát và 1 xe bồn chứa xăng… Ba món đồ cổ ấy là tất cả phương tiện “nặng” của Lae. Không có lấy một nhà chứa máy bay. Cũng không có đài kiểm soát không lưu. Nỗi thất vọng sâu xa của tôi không hề làm giảm nét mặt rạng rỡ của Honda và Yonekawa. Honda vác túi ba-lô cho tôi, vừa đi vừa hát, trong lúc Yonekawa tiếp tục giảng giải: Có hai trăm thủy binh đảm trách các vị trí phòng không tọa lạc phía bên kia phi đạo. Ðó là lực lượng trú phòng cho cả nơi này, cộng thêm 200 cơ khí viên với nhân viên bảo trì và 30 phi công.

Trong suốt thời gian chúng tôi ở đây và cho đến khi Lae bị Ðồng Minh tái chiếm vào năm 1943, không một dự tính nào nhằm cải thiện tiện nghi cho chúng tôi, và cũng không có lực lượng tăng viện nào khác được đưa đến. Chỗ ở của chúng tôi và sĩ quan không khác gì nhau. Chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và một phụ tá ở chung trong một căn nhà nhỏ nối liền với cư xá sĩ quan. Trong khi căn cứ Rabaul mướn một số dân địa phương làm tạp dịch, ở căn cứ Lae không có chuyện này. Làng gần nhứt cách đây hai dặm. Không thể bắt dân làng phơi lưng dưới họng súng của phi cơ địch đến tấn công hầu như mỗi ngày.

23 hạ sĩ quan phi công cư trú trong một doanh trại rộng 6 thước và dài 10 thước. Chính giữa là một mặt phản lớn dùng làm bàn tiện ích cho mọi chuyện, từ cơm nước cho đến đọc sách và viết thơ. Chung quanh là những dãy giường từng chồng chất. Vài ngọn bạch lạp cho ánh sáng leo lét vào ban đêm. Tòa nhà xây cất theo kiểu nhà sàn nhiệt đới với sàn gỗ cao 1 thước rưỡi trên mặt đất ẩm ướt. Một cầu thang lung lay để leo lên. Phía sau là bồn trữ nước. Chúng tôi cấp tốc cưa một phuy xăng rỗng để làm buồng tắm. Như thế, ít nhất chúng tôi cũng cần kiệm theo đúng cung cách tiết chế truyền thống của quốc gia. Các hộp sắt đựng xăng trong cánh máy bay cũng giúp chúng tôi tân tạo thành tô chén và nồi niêu dã chiến. Chúng tôi hoàn toàn thiếu mọi vật dụng.

Một tà lọt phụ trách hỏa đầu quân. Một nhiệm vụ khó khăn vì phải chuẩn bị 70 suất ăn cho ba buổi sáng, trưa, chiều vào mỗi ngày. Chuyện giặt giũ thì mỗi người tự lo lấy. Cho đến những tuần lễ chót cùng khi chúng tôi ở Lae, ngay cả với cường độ không chiến khốc liệt, tất cả các phi công đều tâm niệm giặt quần áo và đồ lót của mình hàng ngày. Chúng tôi chấp nhận sinh sống dưới đáy phuy hèn mọn nhưng không ai muốn mình trở nên cáu bẩn.

Cạnh dãy phụ tùng tái chế, chúng tôi đào một hầm trú bom. Mỗi khi máy bay địch xuất hiện bất thình lình, căn hầm khiêm nhường ấy vụt chen chúc đủ hạng người chạy vội vàng từ khắp nơi, từ nhà ngủ, nhà tắm, thậm chí nhà xí để chui xuống trú ẩn!

Doanh trại chúng tôi nằm cách phi đạo 500 thước về phía Ðông và để ra sân bay, chúng tôi phải cuốc bộ hoặc chạy khi khẩn cấp. Chỉ có các phi công được chỉ định trực chiến, phải cất cánh tức thời khi có báo động là có xe đưa rước. Là chiếc Ford cũ mèm có ống pô bể kêu inh ỏi!

Cư xá sĩ quan nằm phía Ðông Bắc sân bay, cùng khoảng cách và cùng một kiểu nhà sàn không khác mấy với doanh trại chúng tôi. Tiện nghi duy nhất, so với phía hạ sĩ quan, là cấp số sĩ quan không quá mười người nên rộng rãi hơn. Riêng chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và trưởng ban quân thư thì trú trong một căn nhỏ sát bên cư xá sĩ quan.

Ðó là căn cứ Lae, tiền đồn của Hải quân Hoàng gia Nhựt. Ðiều kiện sống không có gì mỹ mãn. Thức ăn tồi tệ, công việc hàng ngày nặng nhọc và đơn điệu. Chúng tôi không có câu lạc bộ quân đội, không có bất cứ một giải trí nào khác. Ðàn bà? Ở Lae, mọi người đều hỏi: “Ðàn bà là sinh vật ra sao?”

Tuy nhiên, tinh thần của chúng tôi rất cao. Chắc chắn chúng tôi thiếu tiện nghi và vật chất, ngay cả một số tiện nghi thiết yếu nhứt, trong đời sống hàng ngày, nhưng chúng tôi không lấy đó làm phàn nàn. Chúng tôi không có một đòi hỏi riêng tư nào ngoài đòi hỏi được chiến đấu. Phi công ở Lae không giống như phi công ở những căn cứ khác. Mỗi chúng tôi đều là thành phần chọn lọc của Không lực Hải quân. Các sĩ quan của chúng tôi cũng được chọn trong số những người “chỉ thích ấn tay vào cò súng” trên một chiếc Zéro.

Vào ngày 11 tháng 4, tôi va chạm trở lại với thực tế chiến trường. Một ngày may mắn, vì tôi hạ 2 máy bay địch trong cùng một ngày. Sau gần hai tháng bắt buộc nằm lì trên mặt đất, được bay trở lại làm tôi phấn kích. Ngày hôm trước, 10 tháng 4, tôi không được sắp xếp ứng chiến nên phải ở lại mặt đất trong khi những phi công khác vui hưởng một ngày chiến đấu. Sáu chiếc Zéro hộ tống bảy oanh tạc cơ Betty bay đến Moresby, đã bắn rơi hai oanh tạc cơ địch đang cố cất cánh để rời phi trường ở đó. Cùng ngày, ba chiếc Zéro khác cũng trực chỉ Salamaua và bắn rơi một oanh tạc cơ địch, cùng gây hư hại cho nhiều chiếc khác.

Phi vụ của tôi vào ngày 11 là một phi vụ thám thính. Cùng với 8 chiến đấu cơ Zéro khác mới vừa đến Lae, chúng tôi cất cánh và bay thành nhóm theo đội hình chữ V hướng về Port Moresby. Sau đó, dãy núi Owen-Stanley sừng sững trước mặt chúng tôi, cao hơn mặt biển 4,000 thước. Mặc dù dãy núi cao chớn chở như vậy, trên đỉnh không có một đám mây nào vướng vất, và dốc thẳng đứng giống như những bức tường vĩ đại mọc đầy cây cối. Không một vết tuyết. Bay cao độ 5,000 thước, chúng tôi vượt ngang qua đỉnh núi và lập tức bước vào một thế giới mới: thế giới của địch quân. Không một chiếc tàu nào neo trên mặt đại dương xanh sẫm của biển San Hô. Nước biển nhìn như một mặt bàn đá cẩm thạch dài ra đến tận chân trời. Sườn núi ít thẳng đứng hơn phía chúng tôi đến. Ngoại trừ khác biệt ấy, thiên nhiên không khác lắm.

Bay cao độ 5,000 thước, chúng tôi vượt ngang qua đỉnh núi và lập tức bước vào một thế giới mới: thế giới của địch quân. Không một chiếc tàu nào neo trên mặt đại dương xanh sẫm của biển San Hô. Nước biển nhìn như một mặt bàn đá cẩm thạch dài ra đến tận chân trời. Sườn núi ít thẳng đứng hơn phía chúng tôi đến. Ngoại trừ khác biệt ấy, thiên nhiên không khác lắm.

Bốn mươi phút sau khi cất cánh từ Lae, căn cứ Moresby đã nằm phía dưới chúng tôi. Tôi có thể nhìn thấy nhiều phi cơ đủ loại trên mặt đất. Nhân viên địch chạy tán loạn vào các hầm trú ẩn. Súng phòng không im tiếng vì dĩ nhiên chúng tôi bay quá tầm hoả lực cao xạ của đối phương. Chúng tôi có thể đạt được kết quả nếu tấn công ngay vào các phi cơ đậu trên mặt đất. Nhưng theo chỉ thị, đây chỉ là một phi vụ thám thính, ngoại trừ không chiến chúng tôi không được phép tấn kích.

Chúng tôi lướt qua Moresby và vòng ra biển San Hô sau đó quay lại lối cũ một lần nữa, lướt ngang qua căn cứ địch. Chúng tôi ngạc nhiên khi nhận thấy hình như các xạ thủ cao xạ và phi công địch không hay biết có sự hiện diện của chúng tôi, nên họ không đưa ra một kháng cự nào.

Chúng tôi lướt qua phi trường. Lần này mặt trời ập đến từ phía sau lưng. Lúc bay thật chậm, chúng tôi phát hiện bốn chiến đấu cơ P39, loại Airacobra mà tôi gặp lần đầu tiên. Bốn phi cơ này hầu như bay cách ngay phía trước chúng tôi 3 dặm, và đang tiến thẳng đến, nhưng chúng tôi không hiểu có bị phát hiện hay chưa. Tôi quăng bình xăng phụ và tăng gia tốc, với hai đồng đội bay sát cánh. Tôi lướt dọc theo phi cơ chỉ huy, báo hiệu cho Ðại úy Sasai biết sự phát hiện địch của mình và yêu cầu che cho chúng tôi tấn công. Ông nắm tay đưa về phía trước. “Tiến! Chúng tôi sẽ che cho anh.” Tuy nhiên chưa thấy động tĩnh của mấy chiếc Airacobra. May mắn cho chúng tôi, lúc ấy mặt trời chiếu thẳng vô phi cơ địch nên các phi công Mỹ không nhìn thấy chúng tôi bay đến. Phi cơ địch chia làm hai cặp, bay trước và bay sau, cách khoảng 300 thước.

Tôi để Honda bay phía sau và trên tôi, trong khi Yonekawa ít kinh nghiệm hơn bay ngay phía dưới tôi. Bây giờ, chúng tôi chỉ còn cách phi cơ địch 500 thước, chếch về bên trái một chút. Chúng tôi sẵn sàng đánh trong vài giây nữa. Nếu phi công địch vẫn bị mặt trời làm cho mù loà, chúng tôi có thể hạ gục họ trước khi họ kịp nhận ra chúng tôi. Thay vì tiến sát lại và chúi xuống để tấn công, chúng tôi hạ thấp rồi xoay trở lại thật ngặt. Honda và Yonekawa theo sát tôi bên cánh.

Hai chiến đấu cơ địch bay sau chót bây giờ ở ngay trên đầu tôi, vẫn không biết có sự hiện diện của chúng tôi. Tôi nâng khoảng cách gần lại, rồi còn chừng 50 thước, tôi nghiêng thân và bấm cò đại bác, quy tất cả hoả lực vào thân phi cơ địch. Những mảnh kim khí vỡ ra, bể tan và bay túa trên không, một dòng khói và lửa kéo thành vệt dài về phía sau.

Tôi quay các họng súng về phía chiếc P39 thứ nhì. Một lần nữa, những viên đạn soi thủng thân phi cơ, nổ bên trong và xé chiếc phi cơ thành từng mảnh. Cả hai chiếc P39 cùng rớt thẳng đứng, ngay tràng đạn đầu.

Tôi lướt ra ngoài và xoay ngay lại, chuẩn bị khai hoả trực tiếp vào hai chiếc P39 dẫn đầu. Nhưng trận đánh đã kết thúc! Cả hai chiếc P39 còn lại lảo đảo chúi xuống mặt đất, kéo dài hai vệt lửa với khói dày đặc. Phi tuần Zéro theo sau tôi đã mau tay hơn tôi tưởng. Tôi nhìn thấy chiếc Zéro của Hiroyoshi Nishizawa đang lấy đà vượt lên. Chiếc Zéro  thứ hai hạ đối thủ với chỉ một viên đại bác, do Toshio Ota lái, vừa lấy lại thăng bằng sau khi lướt thẳng lên để trở lại đội hình như cũ. Nhanh nhẹn và khéo léo.

Không ngờ trận đánh chấm dứt chỉ trong vòng năm giây, với bốn chiếc Airacobra trở thành bốn mảnh vụn trên mặt đất phía dưới kia. Ðiều đáng ghi nhận là cả hai đồng đội vừa ghi điểm của tôi: Nishizawa, 23 tuổi và Ota chỉ mới 20 tuổi. Như đã nói trước đây, các phi công ở Lae đều là thành phần chọn lọc. Ðể được lựa chọn, tài năng phi hành của họ phải vượt bực. Ða số chúng tôi đều là phi công kỳ cựu. Nishizawa và Ota chỉ là những người chân ướt chân ráo, cần phải học hỏi thêm nhiều, tuy nhiên họ sớm trở thành những phi công hàng đầu của phi đoàn Lae, hạ trên nhiều mươi phi cơ địch. Chúng tôi thường bay chung với nhau, và được các phi công khác gọi là “Bộ ba quét sạch”.

Ghi chú Quân sự: 

Khu trục cơ Bell P39 Airacobra trang bị động cơ 1,200 mã lực, vận tốc tối đa 539 km/h, hỏa lực: 1 đại bác 37 ly và 4 đại liên 12 ly 7. Cao độ tối đa 9,784 m. Đường kính hoạt động: 1,111 km. 230 kg bom dưới cánh.

P39 và phiên bản cải tiến P63 Airacobra về sau trang bị cho Không đoàn Chiến thuật Bắc phần GATAC-Nord của Không quân Pháp tại Việt Nam và được sử dụng như phóng pháo cơ yểm trợ bộ binh. Tuy nhiên trọng lượng bom quá ít đã không thể ngăn các tấn công biển người của Việt Minh.

Không nên nhầm lẫn P39 Airacobra với khu trục cơ Curtiss P40 Warhawk đầu cá mập. P40 có vận tốc 585 km/h bay nhanh hơn P39 nhưng hỏa lực yếu hơn.

Ðối với tôi, Nishizawa và Ota có năng khiếu thiên bẩm. Cả hai không lái máy bay mà sống với phi cơ của họ, giống như chính thân thể của họ đã nhập một với khối kim loại, làm thành một tập hợp cơ khí vừa biết suy nghĩ. Cả hai sẽ thành những phi công tài ba lập nhiều chiến công của Nhựt Bản. Với họ, đời sống chỉ có ý nghĩa một khi có những phi vụ và mọi thứ phải phục vụ cho không chiến. Tài năng của cả hai sẽ giúp cho họ trở nên dũng mãnh ngay cả sau này khi phải đối đầu với những khu trục cơ tối tân hơn của kẻ thù, như chúng tôi sẽ chạm trán, họ vẫn đủ sức chiến thắng cho dù địch thủ đông hơn.

Hiroyoshi Nishizawa nhanh chóng trở nên Sát tinh tài giỏi nhứt, tuy hắn không có dáng vẻ anh hùng. Nhìn hắn, cảm giác đầu tiên là chừng như hắn vừa rời khỏi giường bịnh. So với dân Nhựt, chiều cao của hắn là quá khổ, 1 thước 75, nhưng hắn lại gầy đét vì chỉ cân nặng 64 ký. Ba sườn hắn lòi ra ngoài và rất thường xuyên hắn hay bị các chứng biểu bì nhiệt đới với sốt rét hành. Hầu như lúc nào gương mặt hắn cũng xanh tái. Mặc dầu được các đồng đội tôn sùng nhưng Nishizawa lại ít bạn thân. Hắn ẩn núp sau lớp vỏ kín đáo lạnh lùng gần như không cho ai xâm nhập. Hắn có thể không nói một câu nào trong nhiều ngày liền và cũng không màng đối đáp với những ai mở lời thăm hỏi, cho dù là những người sống ngay cạnh cùng bay với hắn. Chúng tôi đành chấp nhận nhìn hắn đi lững thững đơn độc, im lặng xa xăm như một kẻ chịu ruồng rẫy đang mất hút vào trong khoảng sâu tối riêng rẽ của mình, tuy ngoài đời hắn được tôn thờ như một thần tượng. Nishizawa là một phi công toàn phần, hắn chỉ sống và thở để bay bổng và cất cánh vì hai lý do: chiếm hữu lấy cảm giác vui sướng kỳ lạ khi du hành lên vương quốc của những vì sao và thỏa mãn đam mê không chiến. Ngay khi bay lên khỏi mặt đất, cá tánh lãnh đạm kỳ quặc của hắn biến đổi tức thì. Sự im lặng khép kín, xem thường đồng loại của hắn biến hóa như đêm vụt trở thành ngày. Với các phi công bay chung phi tuần, hắn trở thành “Ác quỷ”.  Trên không, những quyết định của hắn khó dự báo. Hắn trở nên một thi sĩ tài hoa, một thiên tài biết khởi động cỗ máy như một món đồ chơi; chỉ cần hắn vuốt nhẹ cần lái. Tôi chưa từng thấy một phi công nào bay lượn như Nishizawa. Nhịp điệu đáng kinh ngạc của hắn, vừa chính xác, hoàn toàn bất ngờ và vừa gây sợ hãi cho ai chiêm ngưỡng. Ðôi khi hắn thực hiện những pha lộn nhào không thể tin vào mắt. Một loài chim ưng thật sự mà không bất kỳ loài chim trời nào có thể bắt chước. Thị giác của hắn cũng thực phi thường. Trong lúc mọi chúng tôi chỉ thấy bầu trời trống rỗng, Nishizawa, với trực quan siêu phàm nhận ra những chấm đen xa tít là phi cơ địch. Trong suốt binh nghiệp Nishizawa chưa từng để bị tấn công bất ngờ lần nào. Hắn xứng với danh “Ác quỷ”. Một Satan vạn năng giữa trời mây xanh ngắt, làm cho những phi công khác, kể cả tôi, phải ao ước thèm muốn thiên bẩm của hắn.

Toshio Ota ngược lại, là phản đề sống động của Nishizawa. Trẻ trung, sáng láng và vui nhộn, hắn luôn sẵn sàng tham gia các trò chơi của nhóm; bỡn cợt phá bĩnh nhưng vẫn chu đáo trợ giúp những ai cần đến hắn, trên không cũng như dưới đất. Cao to và cân nặng hơn tôi, Ota chưa nhiều kinh nghiệm trận mạc khi mới đến Lae và mặc dù sự phấn chấn với dáng dấp tương phản hẳn với Nishizawa, tài năng phi hành của Ota nhanh chóng được trọng dụng. Mỗi khi phi đoàn trưởng xuất kích, hắn luôn được chọn làm phi công bảo vệ bên cánh.

Ota không giống hình ảnh những anh hùng cổ điển. Cười đùa dễ dãi, kết bạn nhanh chóng… Hào quang của một vị thần sớm được sùng bái không đi với hắn. Tôi chắc mẩm chốn thích hợp cho hắn phải là những tửu lầu sang cả về đêm thay vì căn cứ Lae khốn khổ! Tuy nhiên, sự thân mật với các đồng đội không ngăn Ota được toàn phi đoàn nể phục, nhờ vào tài không chiến ngoại hạng của hắn. Ngay cả những phi công thô ráp như Trung sĩ Honda cũng kính trọng Ota, trong lúc Honda và Yonekawa đều cùng e dè và hay tìm cách né “Ác quỷ”.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 16th, 2020

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 10

“Flying Ace” trong tiếng Anh hay “As” trong tiếng Pháp là một thuật ngữ ám chỉ những phi công lập chiến tích bắn hạ nhiều máy bay đối phương. Tiếng Việt XHCN dịch là “phi công Ách chủ bài”. Trước 75 trong Nam, Nguyễn Nhược Nghiễm dịch là “Sát tinh”, một lối dịch uyên bác và không thô thiển.

Oanh tạc cơ Martin B26 Marauder

Làm cách nào xác định việc một phi công bắn rơi một máy bay địch? Vào thời kỳ chưa có camera, radar và satelite, chiến tích phải được chứng nhận bởi ít nhất hai phi công khác với điều kiện máy bay đối phương phải phát nổ hoặc đâm xuống biển. Trường hợp máy bay địch trúng đạn, bốc khói nhưng không rơi, không tính.

Saburo Sakai được công nhận bắn hạ chính thức 64 phi cơ Đồng Minh, đứng thứ 5 ở vị trí sát tinh oanh liệt và là phi công nhiều chiến thắng thứ nhì còn sống sót của Nhật Bản. So với Không quân Đức, thành tích của Sakai có vẻ khiêm tốn bên cạnh Erich Hartmann đã bắn hạ 352 máy bay Nga… Tuy nhiên Sakai vẫn được xem là phi công lỗi lạc, chính vì ngoại trừ 3 phi cơ Nga đầu tiên bắn hạ trên đất Trung Hoa, tất cả những chiến công còn lại của Sakai đều là những chiến đấu cơ tối tân của Anh và Hoa Kỳ. Trên bảng trận liệt, phi công Mỹ tài ba nhất là Thiếu tá Richard Bong chỉ ghi được 40 chiến thắng. Không phải vì phi công Mỹ kém tài nhưng vì tần suất phi vụ ít hơn rất nhiều so với phi công khối Trục, do Không quân Hoa Kỳ nhiều phi công và nhiều máy bay, cũng như lịch công tác luôn được cách quãng với các hoa tiêu liên tục luân chuyển nhằm giữ thể chất, sức khỏe và sự minh mẫn.

Vào thời điểm tháng 3-1942 khi nhận lệnh ra căn cứ Rabaul, Sakai đã dần trở thành một Sát tinh. Chỉ riêng trong các trận Java và Bornéo trên không trung Nam-Dương (Indonesia), Sakai đã hạ 13 máy bay Anh, Úc và Hòa Lan, thêm vào 6 máy bay Mỹ bắn rơi ở Phi Luật Tân. Thành tích này khiến anh bắt đầu được thượng cấp chú ý.

Ở vị trí tiền tuyến cực Nam của Nhật Bản, Rabaul là thủ phủ của New Britain, một đảo nằm sát New Ireland, thuộc cai quản của Úc trong khuôn khổ Khối Thịnh Vượng Chung. Chiếm Rabaul, kế hoạch của Nhật là dùng Rabaul làm trạm xuất phát đánh chiếm Lae trên đảo New Guinea, rồi từ Lae không kích Port Moresby là pháo đài cuối cùng chống giữ Úc châu.

The Royal Australian Air Force (RAAF) và The Fifth Air Force (USAAF) sẽ tung các Fighter Squadrons, Pursuit Squadrons và Bombardment Squadrons tấn công phi đoàn (*) của Sakai để bảo vệ Queensland. Những chương sắp đến, là thời gian hiển hách nhất của Sakai.. [Trần Vũ]

(*) Đơn vị gốc của Sakai là Không đoàn Đài Nam bao gồm Liên Phi đoàn Hán Khẩu, Liên Phi đoàn Đài Nam và Liên Phi đoàn Đông Dương. USAAF phân biệt Fighter Squadron là Phi đoàn Khu trục nhằm tấn công chiến đấu cơ đối phương và Pursuit Squadron là Phi đoàn Săn giặc (Interceptor) đánh chặn oanh tạc cơ địch.

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Ðầu tháng 3 năm 1942, 150 phi công của Không đoàn Ðài Nam trú đóng rải rác trong một khu vực rộng lớn ở Phi Luật Tân và Nam-Dương được tập trung về Bali, phía Ðông Java. Việc chiếm giữ toàn thể xứ Nam-Dương hình như không còn xa nữa. Một đại đội bộ binh Nhựt là lực lượng trấn đóng cả hòn đảo Bali. Nói “chiếm đóng” không mấy thích hợp vì dân bản xứ tỏ ra thân thiện với chúng tôi. Bali giống như một thiên đường với khí hậu tuyệt diệu cùng cảnh sắc tươi đẹp. Tôi chưa từng thấy một nơi nào như vậy ở Thái Bình Dương. Cây cối xanh ngắt vây lấy sân bay và chúng tôi thích thú tìm ra nhiều nguồn suối nước nóng. Thời gian này ít phi vụ nên mỗi chúng tôi tận hưởng những thú vui cá nhân cho riêng mình.

Một buổi trưa, đang trong câu lạc bộ chúng tôi bỗng nghe vang lên tiếng cánh quạt của một phi cơ lớn, có vẻ như đang đến gần phi đạo. Một phi công đang đứng sát cửa sổ, quay lại, trợn mắt la lớn: “Báo động! Oanh tạc cơ B17!” Chúng tôi liền nhào ra ngoài và bàng hoàng. Không sai chút nào. Ðúng là một pháo đài bay B17 khổng lồ đã thả bánh xe, bật liếp thắng, giảm tốc độ và bắt đầu hạ cánh. Tôi dụi mắt vì quang cảnh thực khó tin. Chiếc B17 đến từ đâu? Một khoảnh khắc sau, chiếc máy bay 4 động cơ to đùng đã chạm đất. Các bánh xe tung xốc lên với tiếng phanh rít chói tai. Cả nhóm chúng tôi đồng loạt nhảy xổ đến, cực kích động vì sắp có thể khảo sát tường tận mọi chi tiết của chiếc máy bay bất ngờ rơi vào tay.

Một tràng đại liên nổ vang khi đó, khiến chúng tôi phải nằm bẹp gí xuống đất. Ðơn vị phòng không Nhựt đang khai hỏa! Chiếc B17 chưa hoàn toàn bị bắt sống. Phi công địch đáp nhầm căn cứ và một tên đần đã cho cao xạ bắn liên thanh trước khi máy bay địch dừng hẳn. Khẩu trọng liên chưa kịp nhả hết băng đạn thì 4 động cơ đã rú lên như sấm. Phi công địch xả hết tốc lực, chiếc máy bay tăng gia tốc làm tung mù bụi rồi bất thình lình nhấc bổng lên không và biến mất trong mây.

Chúng tôi đứng như trời trồng, chua chát và choáng váng như vừa bị đấm. Ông trời vừa ban tặng cho chúng tôi một pháo đài bay mới tinh, vậy mà một tay xạ thủ đại xuẩn ngốc đã quá nóng nảy cướp đi may mắn kỳ diệu này! Nhiều kẻ nóng tính trong chúng tôi, không còn kềm chế được nữa, hét vang: “Ð.M, mấy thằng chó đẻ bắn cái gì vậy?” Sự giận dữ này là do lúc ấy tất cả các phi công chúng tôi đều xem loại pháo đài bay này là con mồi quý giá nhứt.

“Ai chó đẻ?” Một trung sĩ của cánh cao xạ bất bình, tiến ra. Viên trung sĩ gầm lên: “Chuyện gì? Ðây là phi cơ địch. Mệnh lệnh là bắn hạ máy bay địch chứ không tiếp đón bằng nghi lễ!”

Chúng tôi đã phải ngăn những đồng đội quá phẫn uất, đã muốn chém đứt đôi viên trung sĩ ngay tại chỗ. Một trung úy đội trưởng Phân đội Phòng không chạy đến. Sau khi nghe chuyện, viên trung úy cúi gập lưng xin lỗi với đầy lúng túng… Tuần lễ trôi qua, sự căng thẳng giữa phi công hải quân và binh sĩ phòng thủ gia tăng mạnh mẽ. Chúng tôi không có phi vụ chiến đấu nào trong giai đoạn này, do đó chúng tôi dễ sanh ra bực bội.

Tình trạng này bùng vỡ vào một đêm khi Trung sĩ Honda đánh nhau với hai binh sĩ bộ binh. Tôi can Honda, nhưng vô ích. Thêm nhiều binh sĩ khác ùa vào, Honda bất chấp. Vừa lúc ấy viên trung úy bộ binh hôm trước bước ra can thiệp, đuổi lính của ông ta về doanh trại. Không nói một lời nào với chúng tôi, nhưng tôi nghe ông ta chửi rủa: “Ðồ ngu, các anh ở đây là để đánh với địch quân, không phải với người cùng quê hương xứ sở. Những phi công này, mỗi người đều là một Samurai, họ không thích làm gì khác hơn là đánh nhau.”

Sáng hôm sau viên trung úy bước vô câu lạc bộ. Trái với dự đoán của chúng tôi, ông ta mỉm cười nói: “Thưa quý vị, tôi hân hạnh báo tin cho quý vị biết quân phòng ngự ở Bandung đã túm được một chiếc B17 còn nguyên vẹn, có thể bay được.” Chúng tôi ồ lên vui vẻ: Một chiếc B17 có thể bay được! Viên trung úy khoát tay: “Không may, Ðông-Kinh đã ra lịnh gởi chiếc oanh tạc cơ này về Nhựt lập tức. Tin tức này tôi chỉ nhận được ngay khi chiếc B17 cất cánh bay về quê nhà vào sáng nay.”

Tiếng càu nhàu thất vọng trổi lên khi mọi người nghe tin cuối cùng này. Viên trung úy vội vã nói: “Tuy nhiên tôi bảo đảm với quý vị là tôi sẽ cung cấp cho quý vị tin tức càng nhiều càng tốt về chiếc phi cơ bị bắt giữ này.”

Chúng tôi không chút ảo tưởng nào; sẽ không bao giờ chúng tôi còn biết tin về chiếc B17 bị bắt sống; giữa Hải quân và Lục quân, bàn tay trái không khi nào biết bàn tay mặt làm gì!

Một tuần lễ trôi qua, chúng tôi vẫn ở trên mặt đất. Ngay cả không khí yên bình ở Bali cũng đè nặng lên chúng tôi. Nếu ở hoàn cảnh khác, có lẽ chúng tôi sẽ vui sướng hưởng sự nhàn rỗi này nhưng chúng tôi đến đây là để chiến đấu. Nhiều năm nay chúng tôi đâu làm gì khác hơn là học hỏi chiến tranh, tất cả những gì chúng tôi muốn là được trả về không trung.

Thế rồi một buổi sáng, một phi công chạy ùa vô chỗ ở của chúng tôi với tin giựt gân. Thật là choáng! Ðó là tin đồn, hình như chúng tôi sắp được gởi trở về Nhựt! Mọi người bắt đầu tính sổ thời gian ở hải ngoại của mình. Tôi tin, cũng như những người khác, một khi về đến quê hương thế nào tôi cũng sẽ được nghỉ phép. Tôi rời Nhựt Bản tháng 5 năm 1938, và ngoài một năm nằm điều trị các vết thương, tính ra tôi đã ở nước ngoài được 35 tháng. Khi nghĩ sẽ được gặp lại gia đình, nỗi nhớ nhà trong tôi bỗng nhiên thống thiết. Tôi dành hết thì giờ vào mỗi buổi chiều để đọc thơ của má tôi và của Fujiko. Họ viết dài dòng về buổi lễ tưng bừng ở quê hương khi Tân Gia Ba rơi vào tay Nhựt, và những buổi lễ chào mừng các chiến thắng liên tục khác của chúng tôi. Cả nước phấn khích với những cuộc chinh phục vũ bão của các lực lượng Nhựt Bản, nhứt là những thắng trận trên không. Tôi mơ ước được gặp lại Fujiko, một cô gái đẹp nhứt trong đời tôi. Với mơ tưởng, nghĩ rằng nàng sẽ trở thành vợ của mình, và tôi cảm thấy chan hòa hạnh phúc. Tin đồn biến thành sự thật. Vào ngày 12 tháng 3, Thiếu tá phi công hải quân Tadashi Nakajima từ Nhựt đến, và cho biết ông sẽ thay thế Ðại úy Eijo Shingo trong chức vụ chỉ huy trưởng phi đoàn. “Ðại úy Shingo được hoán chuyển cùng với một số phi công.” Nakajima nói, “…bây giờ tôi sẽ đọc danh sách những phi công được lịnh trở về Nhựt.”

Mọi người im phăng phắc khi ông bắt đầu đọc. Người đầu tiên không phải là tôi, như tôi đã hy vọng. Người thứ hai cũng không phải. Người thứ ba cũng không. Tôi mất hết tin tưởng khi vị thiếu tá đọc qua hơn 70 tên. Tên tôi không có. Xúc động. Tôi không biết tại sao tên tôi lại bị loại ra khỏi danh sách, trong khi tôi ở nước ngoài lâu hơn mọi người khác.

Sau đó, tôi bước đến vị chỉ huy trưởng và hỏi: “Thưa thiếu tá, tôi biết tên tôi không nằm trong số những phi công về quê hương. Xin phép thiếu tá, thiếu tá có thể cho tôi biết lý do tại sao không? Tôi không tin rằng tôi…”

Thiếu tá Nakajima khoát tay chận lời tôi, mỉm cười: “Không, anh không về xứ với những người khác. Tôi cần anh đi với tôi, Sakai. Chúng ta sẽ đến một căn cứ không quân mới, nơi tốt nhất để đương đầu với đối phương. Ðó là Rabaul, ở New Britain. Từ lâu tôi đã để ý, anh là phi công tài ba nhứt của phi đoàn này, và anh sẽ bay chung với tôi. Hãy để cho mấy người khác đi bảo vệ quê hương, còn chúng ta tấn công Úc châu.”

Câu chuyện kết thúc. Dưới hệ thống chỉ huy của hải quân, tôi không dám hó hé gì nhiều hơn với vị chỉ huy trưởng. Tôi trở về doanh trại, buồn bã, vô vọng gặp lại gia đình và Fujiko. Phải rất lâu sau này tôi mới biết chính nhờ sự ưu ái mà Thiếu tá Nakajima dành cho mình, tôi mới còn sống sót. Tất cả những người về xứ đều được thuyên chuyển đến Hạm đội Hỗn hợp Ðặc nhiệm tham gia trận Midway ba tháng sau đó. Hạm đội này đã bị đối phương đánh tan vào ngày 5 tháng 6-1942. Cả 4 hàng không mẫu hạm Akagi, Kaga, Soryu, Hiryu của chúng tôi đều bị đánh đắm. Nhựt Bản mất 248 máy bay, hầu hết những phi công rời khỏi Bali khi ấy đều thiệt mạng.

Nhiều tuần lễ kế tiếp, tôi sống trong tình trạng tinh thần tồi tệ chưa từng thấy. Tôi cảm thấy đau yếu, chán nản và tuyệt vọng. Nhiệm sở kế đó của chúng tôi, Rabaul, cách phía Ðông Bali 2,500 dặm là trên 4,000 km. Khoảng cách quá xa đối với sức bay của loại chiến đấu cơ Zéro mà tầm bay không thể quá 3,150 cây số. Thay vì di chuyển nhóm phi công chúng tôi bằng vận tải cơ hoặc thủy phi cơ, hay là bằng chiến hạm có tốc lực mau, chúng tôi đã khủng khiếp khi nhận thấy bị lùa như bầy súc vật xuống một chiếc tàu buôn nhỏ bé, cũ kỹ và suy nhược. Hơn 80 đứa chúng tôi được nhét vô chiếc tàu hôi hám, chạy khập khiễng trên mặt nước với tốc độ 12 hải lý một giờ này. “Lực lượng” bảo vệ chúng tôi chỉ đơn độc một chiếc tàu săn tiềm thủy đĩnh nhỏ bé 1,000 tấn.

Chưa bao giờ tôi cảm thấy phơi lưng trước kẻ thù bằng lúc tôi ngồi trên chiếc tàu đáng sợ đó. Chúng tôi không thể hiểu nổi ý nghĩ của giới chỉ huy cao cấp trong việc này như thế nào. Chỉ cần một trái thủy lôi phóng đi từ một chiếc tiềm thủy đĩnh núp lén hoặc 1 trái bom 500 cân thả xuống từ một chiếc oanh tạc cơ, chiếc tàu mỏng manh này sẽ tan thành hàng ngàn mảnh. Một việc không thể tin, nhưng mà có vẻ thật, rằng các vị chỉ huy của chúng tôi muốn thí mạng phân nửa số phi công chiến đấu của phi đoàn Java, đặc biệt là những phi công kinh nghiệm nhứt, bằng một cuộc hải hành khủng khiếp như thế. Bất mãn và rầu rĩ, tôi đâm ra xuống tinh thần và nhuốm bịnh. Tôi nằm mẹp trên giường nhỏ dưới gầm tàu trong suốt hầu hết chuyến đi hai tuần lễ từ Bali đến Rabaul.


Ghi chú quân sự:

Oanh tạc cơ 2 máy Martin B26 hỗn danh Marauder (Kẻ Cướp).

Tránh nhầm lẫn với oanh tạc cơ Douglas B26 Invader bàn giao cho Không lực VNCH.

Phi hành đoàn 7 người

Trọng lượng 17,000 kg

2 x động cơ  1,900 mã lực 

Vận tốc tối đa: 460 km/h

Đường kính: 4,590 km

Trần bay:  6,400 m

12 đại liên 12 ly 7  *  1,800 kg bom


Cuộc hải hành đầy gian nan vất vả. Trời oi bức không thể chịu đựng nổi. Suốt cả tuần không ai khô ráo. Mồ hôi cứ đổ ra như tắm. Mọi phi công đều lâm bịnh. Sau khi vượt qua đảo Timor từng thuộc Bồ Ðào Nha, do lực lượng của chúng tôi chiếm giữ, chiếc tàu hộ tống quay trở về. Bấy giờ bịnh của tôi trở nên trầm trọng. Nhiều khi tôi cảm thấy đang hấp hối. Nhưng ngay cả sự khốn khổ tồi tệ nhứt, cũng có phần thưởng của nó. Ở bên cạnh tôi suốt chuyến đi là một đại úy trẻ tuổi, vừa được bổ nhiệm chỉ huy phi đội của tôi. Ðại úy Junichi Sasai là một trong những người nổi bật nhất mà tôi đã gặp từ trước tới nay. Xuất thân từ Hàn Lâm viện Hải quân Nhựt Bản, giữa ông ta và hạ sĩ quan hiển nhiên là có một sự ngăn cách. Theo hệ thống quân giai nghiêm ngặt của Hải quân, ngay cả khi chúng tôi hấp hối đi nữa, ông ta cũng không cần phải bước vô hầm tàu hôi hám này. Tuy nhiên Sasai lại khác hẳn. Ông không chú ý đến “lề luật bất thành văn” của Hải quân, theo đó, sĩ quan không được thân mật với thuộc cấp. Trong lúc mê sảng tôi la hét, mình mẩy ướt đẫm mồ hôi, hầm tàu chật hẹp xông lên mùi hôi hám khó chịu, Sasai vẫn ngồi bên cạnh giường, tận tâm chăm sóc tôi. Sự ưu ái của ông đã khiến bịnh tôi dần dần bình phục.

Cuối cùng, chiếc tàu lướt vô hải cảng Rabaul, hải cảng chánh của quần đảo New Britain. Tôi nặng nhọc lê thân xuống cầu thang, bước lên bến tàu. Tôi không tin những gì đã nhìn thấy. Nếu Bali là một thiên đường, Rabaul là một địa ngục thực sự. Chúng tôi có một phi đạo nhỏ hẹp và lấm bụi để sử dụng. Ðó là một phi đạo tồi nhứt mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào. Ngay phía sau phi đạo khốn khổ này là một ngọn núi lửa đầy doạ nạt, vươn cao 700 bộ (200m) trên bầu trời. Cứ một vài phút mặt đất lại rung chuyển và núi lửa gầm lên hồi lâu rồi phun khói dày đặc, lẫn lộn hợp chất phún thạch. Xa hơn nữa là một dãy núi màu xanh mét, trần trụi bóng cây.

Ngay khi xuống tàu, nhóm phi công di chuyển ngay đến sân bay. Trên con đường lấm bụi, chân chúng tôi ngập sâu trong đá bọt và tro than do núi lửa phun ra. Sân bay hoang phế. Bụi và tro dâng cao trong không khí. Hơi thở ngột ngạt vì khí quyển đặc quánh. Những tiếng càu nhàu đầy thất vọng khi các phi công nhận thấy nhiều chiến đấu cơ Claude, bộ phận hạ cánh cố định và buồng lái lộ thiên cổ lỗ nằm giữa bãi đậu.

Tất cả những thứ đó quá nhiều đối với tôi. Tôi phát đau trở lại và ngã quỵ xuống. Ðại úy Sasai đưa tôi vô một bịnh xá chưa hoàn tất, nằm trên một ngọn đồi, cạnh sân bay.

Tôi khám phá sáng hôm sau là Rabaul không phải là một căn cứ tiền tiêu xa xăm hoang vu như tôi đã nghĩ. Mà ngược lại, chính là một trạm trung chuyển quan trọng sẽ ở ngay trung tâm điểm của cuộc chiến phía Nam Thái Bình Dương. Rabaul cách những vị trí tiền phương của Liên quân Úc-Hoa Kỳ không xa. Chúng tôi sẽ nhanh chóng lao vào một trận chiến mới.

Sáng hôm sau nữa, tiếng còi báo động không tập lôi tôi ra khỏi giấc ngủ thiêm thiếp. Qua cửa sổ tôi nhìn thấy 12 chiếc Marauder, oanh tạc cơ hai máy B26, sà thấp trên hải cảng thả nhiều trái bom ngay xuống chiếc Komaki Maru, là chiếc tàu buôn chở chúng tôi từ Bali đến đây. Thủy thủ đoàn chạy tán loạn lên bến tàu và nhảy xuống nước. Trong một vài phút chiếc tàu bốc cháy và chìm dần. Các oanh tạc cơ mang huy hiệu của Úc Ðại Lợi, bấy giờ quay sang tấn công sân bay và các phi cơ đậu trên đó. Các oanh tạc cơ Marauder quay lại ba ngày liên tiếp, xạ kích tất cả những gì di động trên mặt đất. Các cuộc tấn công là những liều thuốc tốt nhất đối với tôi. Tôi xin bác sĩ cho tôi xuất viện ngay lập tức. Tôi muốn đặt đôi tay ngứa ngáy của mình lên cần kiểm soát của một chiếc Zéro trở lại. Vị bác sĩ cười: “Ở đây thêm vài bữa nữa, Sakai. Anh xuất viện để làm gì bây giờ? Không có một chiếc phi cơ nào còn khiển dụng cho anh bay đâu. Khi nào nhận thêm máy bay mới, tôi sẽ cho anh xuất viện.”

Bốn ngày sau, gần bình phục hẳn, tôi rời bệnh viện. Với 19 phi công khác, tôi leo lên một thủy phi cơ 4 máy vừa bay đến vào buổi sáng hôm đó. Chúng tôi sẽ sớm được bay trở lại vì chiếc thủy phi cơ này cất cánh từ hàng không mẫu hạm Kasuga (Ðại Ưng), chiếc tàu có nhiệm vụ chở 25 chiến đấu cơ Zéro mới cho phi đoàn của chúng tôi. Nhưng các cuộc không thám và oanh tạc liên tục của đối phương đã ngăn trở Kasuga chạy vô Rabaul. Chiếc tàu phải đậu ở gần đảo Buka, cách xa đây 200 dặm (370km), và cho thủy phi cơ chở chúng tôi đến đó nhận máy bay.

Hai giờ sau chúng tôi trở về Rabaul, cười đùa như bọn học trò với 25 chiến đấu cơ mới tinh, tất cả đều được võ trang và sẵn sàng lâm trận. Tuy nhiên, một phi cơ thám thính của địch quân đã nhìn thấy các chiến đấu cơ mới của chúng tôi, và nó biến mất trước khi chúng tôi kịp cất cánh.

Rabaul trở nên yên tĩnh, ngoại trừ những cơn mưa tro phún thạch không lúc nào giảm bớt của ngọn núi lửa. Nhiều tuần lễ kế đó, các chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Nhựt không ngớt được đưa đến Rabaul. Chúng tôi gom góp năng lực mới cho cuộc tấn công đang xúc tiến, nhằm chống lại Úc Ðại Lợi và hải cảng Moresby. Các kế hoạch của Nhựt Bản, như chúng tôi được nói cho biết, là đánh chiếm toàn khắp vùng Papua New Guinea. Nhưng trước tiên phải khống chế bầu trời bên trên biển Bismarck và biển Solomon.

Bánh vá Gò Công!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 7 July 2023

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Bánh vá Gò Công!

Giữa đồng bằng có một khoảng đất nổi cao lên gọi là gò. Sài Gòn có Gò Vấp, trồng cây Vấp. Cách Mỹ Tho 35 cây số, Gò Công là vùng gò đất có nhiều chim công. Tui không tin kiểu cắt nghĩa tưng lên cho đẹp: gò có ‘công về ngủ’ đâu. Thế đất cao hơi cong nên gọi Gò Cong (Công) đấy thôi.

Tui nhớ chiến hữu La Quốc Tiến (1949-2004),  cùng khóa 4/72 SQTB, với bài thơ: “Tôi về Gò Công. Ngày vừa xiêu xiêu khu phố cổ / Chiều đã mốc meo mái ngói âm dương / Dây leo nở hoa ngó xuống sân đình / Tôi soi bóng thấy mặt mình oan khuất / Chợt nghi ngờ cả hồ nước trong xanh / Có phải tôi mang niềm lưu tán / Về đây cũng không giáp mặt mình! / Gò Công ơi! Chuyện cũ tích xưa ngậm mồm con hổ đá / Vẫn phục trước đền chờ ngoạm phiến trăng non.”

Tui nhớ câu ca dao ngày cũ bão lụt năm Thìn, năm 1904. “Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc / Gió nào độc bằng gió Gò Công / Thổi trận gió Ðông lạc vợ xa chồng / Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi”. Người muôn năm cũ khóc đến chảy máu tuyến lệ, nước mắt có màu hồng. Vì xưa nay Miền Nam mưa thuận gió hòa mà giờ: “Gò Công xiết mấy hư hao / Trời sanh trời dưỡng biết sao mà phòng”. “Rương xe, thùng bộng, mái lơn / Thuyền chài, cối giã, chạy bôn trên đồng / Xác người, xác thú chập chồng / Sóng dồi rều dập, vun giồng lấp khe”, “Vừa đi vừa ngó các đồng / Trâu heo bò ngựa tràn đồng sình trương / Tử thi xem thấy thảm thương / Thây trôi như củi đào mương tấp vào”.

Vì người chết nhiều quá! “Rủ nhau dập xác cho liền / Gặp đâu chôn đó, chớ hề ai khiêng / Thân chết chôn rồi đã yên / Còn người sống sót gạo tiền đâu ăn?”. Rồi cơn bão làm người thương thất tán: “Gặp đây mới biết em còn. / Hồi năm bão lụt anh khóc mòn con ngươi”. Rồi ông bà mình ráng cùng nhau: “Năm Thìn rủi mắc cơn giông bão. / Dựng lại bằng xưa cũng phước trời”.

Năm 1969, tui có quen em Năm, xuất sắc trong vai tì nữ, dân xóm Cao Ðài, Gò Công. Từ Mỹ Tho tui giang hồ vặt xuống thăm. Gò Công có nhiều địa danh tên nghe hay lắm như: Ao Trường Ðua, Cầu Tây Ban Nha. Năm dắt tui vô vườn ‘sơ ri’ (cherry). Trái chín đỏ chét, thấy đẹp nhưng chua lè. Em nói chua có nhiều Vitamin C. Về nhà, Năm trổ tài làm bánh vá đãi tui ăn.Có người nói cho thêm vài nhúm giá vô bánh, nên tên bánh giá (?!). Bậy nè. Giá đâu phải là cái chánh trong nhưn bánh đâu mà gọi là bánh giá? Vai phụ mà tên nguyên bảng hiệu nghe sao lọt cái lỗ tai? Phải gọi là bánh vá vì nó chiên bằng cái vá (Bắc Kỳ gọi nó là cái muôi) dùng để múc canh, múc cháo.

“Từ khi em đi lấy chồng / Anh ăn bánh vá Chợ Giồng với ai?” Chợ Giồng gần ngã tư Hòa Ðồng, thị trấn Vĩnh Bình trên quốc lộ 50 thuộc Gò Công Tây. Quê ngoại em đó, Năm nói.

Bánh vá Chợ Giồng làm bằng bột gạo, bột năng, bột đậu nành, trứng gà và nước đánh cho mịn để không bị óc trâu (vón cục). Nhưn bánh là gan heo được xắt hột lựu, thịt nạc được bằm nhuyễn, tôm bạc đất phải cắt bỏ râu và rửa sạch, ướp gia vị vừa ăn, thêm giá sống làm bằng đậu xanh. Năm múc một muỗng bột tráng phần đáy của chiếc vá, sau đó cho thịt bằm, gan heo, giá sống vào giữa vá bột, rồi múc thêm một lớp bột phủ lên trên, cuối cùng cho tôm bạc đất và đậu phộng rang lên trên cùng. Nhúng chiếc vá vào chảo dầu đang sôi. Chờ cho bột tách khỏi vá, em từ từ rút chiếc vá ra khỏi chảo dầu. Chỉ còn chiếc bánh nổi lềnh bềnh trong chảo dầu sôi. Em phải để lửa nhỏ, liên tục trở bánh cho chín vàng đều hai mặt mà không bị khét. Khi bánh chín vớt ra, để lên một chiếc vỉ tre trên miệng chảo cho bánh ráo dầu.

Tui nói: “Như vậy bánh vá là chị em bạn dì với bánh cống. Em nào cũng ngon bá chấy! Miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, bánh cống ăn mình chỉ cuốn với cải xà lách, rau thơm, chấm nước mắm ớt. Miệt Mỹ Tho, bánh vá cắt ra ăn với bún như ăn bún bì vậy.

Tui hứng lên ‘dê’ sảng: “Nữa về với nhau, lỡ anh thất nghiệp, em ra Chợ Gò Công chiên bánh vá bán nuôi anh nhe. Em ‘ừa’ nghe thương hết sức!

Mới đây có một bạn văn nữ tuốt bên Houston, Texas, Huê Kỳ hít hà nói với tui là: “Dạ ngày xưa ở Ngã Tư Quốc Tế, giấc chừng ba, bốn giờ chiều có bán bánh vá ăn với rau sống, rau thơm chan nước mắm chua ngọt. Chu choa ngon lắm!

Ngã tư Quốc Tế (Đề Thám – Bùi Viện) năm 1968.

Em nói: “Trước năm 1975, ngã tư Bùi Viện và Ðề Thám là Ngã Tư Quốc Tế. Tên đặt vậy vì nơi đây có nhiều ký giả ‘lô can’ (local) và ngoại quốc tụ tập tại các quán café và nhà hàng xung quanh để tán gẫu cũng như bàn về tình hình thế sự trong nước và quốc tế.

Bùi Viện, Phố Tây, là mãi tận sau nầy khi CS vô, lúc em đã bỏ nước ra đi. Ngày ấy, Ngã Tư Quốc Tế Bùi Viện bán đồ ăn không chê được món nào. Quả em bạn văn nầy có tràn đầy tâm hồn ăn uống giống tui.

Một người em sầu mộng khác ở Sydney rầy tui: “Ở nước ngoài mà anh cứ kể món ăn Việt Nam hoài, thèm nhỏ dãi. (Dân Cần Thơ, em xài chữ lai Bắc Kỳ hai nút hơi nhiều nhe. Chớ tui nói thèm chảy nước miếng, vén lên không kịp he!). Em nói: “Tui, dân đèn Ba ngọn, bến Ninh Kiều chỉ biết lấy cải xà lách, cải bẹ xanh, (hậu hơi đăng đắng, ăn mới đã), rau thơm cuốn bánh cống rồi chấm nước mắm.

Tui nói: Hồi xưa đi học ở Sài Gòn, trưa đói bụng, một cái bánh cống cắt làm bốn ăn với bánh ướt! Còn bánh vá bán ngoài chợ Hai Mươi cuối đường Cao Thắng, Sài Gòn thì cắt ra ăn với bún.

Bánh cống, bánh vá là bánh của con nhà nghèo, dân buôn gánh, bán bưng. Bánh xèo mới trèo vô tiệm đường Ðinh Công Tráng Tân Ðịnh.

Quê người, Footscray không có tiệm nào bán hết ráo. Muốn ăn là phải nói với em yêu. Gần 30 năm biền biệt tha hương, khẩu vị đã đổi thay nhưng tình quê bánh vá Năm ơi vẫn ứa nước miếng như xưa!

Bánh cống!

Baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted 26 May 2023

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Bánh cống!

Nhớ Mother’s Day hồi năm ngoái! Tội nghiệp con vợ tui quanh năm suốt tháng, đầu tắt, mặt tối. Hết nấu cơm, rửa chén, giặt đồ; nên tui kêu em nghỉ một ngày để tui vào bếp. Hậu quả là tối hôm đó, em yêu phải gấp gấp xách quần chạy vào nhà thương cấp cứu.

Tui dùng chữ ‘ngộ độc’ thực phẩm. Nhưng em yêu cứ khăng khăng là em bị tui ‘hạ độc’. Tui thuốc em chết phứt cho rồi để rước về một con ngựa bà khác!

Tui nghi là tại em coi phim bộ của Tàu nhiều quá chăng? Nên em nhìn đâu cũng thấy kẻ thù? Nhìn chồng, tức là tui, đầu ấp tay gối biết bao năm cũng là thích khách muốn ám toán em truất ngôi Võ hậu. Thiệt là oan ơi ông Ðịa! Thế nên Mother’s Day năm nay, em cách chức ‘tổng khậu’ một ngày của tui. Mới lò dò xuống bếp, coi em bữa nay cho ăn cái giống gì thì em đuổi tui như đuổi tà lên nhà trên để em đổ bánh cống.

Tui hỏi em yêu có biết tại sao người ta gọi là bánh cống không? Thì em đáp lại, chỉ một câu hỏi của tui, bằng một bài diễn văn.  Em nói cống hình trụ có quai cầm, dùng để đong rượu. Có một tên tướng VC, dân Giồng Trôm, ở ngoài đồng, không có ly hột mít, phải uống rượu bằng cống; nên y có tên là Ðồng Văn Cống đó! Tui cãi: cống dùng để thoát nước qua hương lộ. Tây bố, ổng chém vè dưới cống ngoài đồng, trốn lính Lê Dương ruồng; nên ổng mới có tên là Ðồng Văn Cống.

“Hỏi anh có nhớ Bãi Xàu. Bánh xầy chiên mỡ, bánh bao thịt bằm”. Hai bàn nạo, bạn em, dân xứ dừa Bến Tre nói: miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau gọi bánh cống là bánh Xầy, bánh của người Tiều. Kêu là bánh cống vì nó đúc trong cái cống đong rượu, nước mắm, giấm sửu (xin đừng nói lái).

Ông Vương Hồng Sển có viết: “Bánh nhưn đậu xanh, chiên mỡ heo, trên mặt có kèm một con tép vàng cháy ngọt bùi, tép nhỏ thì mỗi bánh có hai con tép, bánh ấy, ở Sốc Trăng gọi “bánh xầy”, qua Châu Ðốc, Tri Tôn, gọi “bánh xà cón”: khi lên Chợ Lớn, Sài Gòn thì gọi bánh “giá” (?) (nhân giá đậu xanh) hoặc “bánh tôm khô chiên” (Ông Sển viết Sóc Trăng thành Sốc Trăng).

Theo ông Sển, Sốc Trăng là xứ tôm tép tươi còn nhảy xoi xói. Tôm tép nhiều nên giá nó rẻ. Pha một mớ cơm nguội trong lúc xay bột, thì bánh chiên mềm nhưng giòn.

Khi cắn, chiếc bánh trong miệng, nhai vừa giòn khướu vừa thơm thơm mùi tép và thơm mùi mỡ mới, khi nuốt vào khỏi cổ, bánh còn để lại một dư vị mặn mặn cay cay của chén nước mắm ớt rẻ tiền, khi bánh đã nuốt vô tới bụng tới bao tử mà chưa thấy no và còn muốn ăn nữa nhưng bánh đã thôi chiên, thì khi ấy dư vị kia thật là thần sầu quỷ khốc .

Bánh xầy không đâu ngon bằng làm tại chợ Sốc Trăng và tại chợ làng Ðại Tâm (Xoài-Cả-Nả cũ)”.

Phần tui, lúc còn đi học ở Sài Gòn, năm 1970, ở trọ nhà người ta trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản. Xế trưa bụng đói cồn cào; xe bánh ướt của chú Ba đẩy qua trước cửa, tui kêu một dĩa bánh ướt ăn để trừ cơm. Trên dĩa bánh có giá luộc, rau… cái bánh cống cắt bằng kéo, chan nước mắm ớt. Mồ hôi tươm ướt từng chưn tóc.

Nhưng miệt Mỹ Tho, Gò Công không có bánh cống đâu. Miệt đó có bánh vá. Có người nói cho thêm vài nhúm giá vô bánh, thế là có tên bánh giá (?!) Tui cho rằng nói vậy là nói tầm bậy nè. Giá đâu phải là cái chánh trong nhưn bánh đâu mà gọi là bánh giá? Ðóng vai phụ mà tên nguyên bảng hiệu nghe sao lọt cái lỗ tai? Phải gọi là bánh vá vì nó chiên bằng cái vá để múc canh, múc cháo. “Từ khi em gái lấy chồng, Anh ăn bánh vá Chợ Giồng với ai ?” Câu hỏi đặt ra là: Chợ Giồng nó ở đâu? Và bánh vá là bánh gì?

Chợ Giồng gần ngã tư Hòa Ðồng, thị trấn Vĩnh Bình trên quốc lộ 50, thời CS thuộc huyện Gò Công Tây.

Xứ Việt Nam mình thuộc nền Văn Minh lúa nước. Tây Úc, Mỹ nền văn minh lúa mì. Mình ăn cơm nấu bằng gạo. Ăn bánh làm bằng bột gạo. Tây, Úc, Mỹ không ăn cơm  nó ăn bánh mì. Ăn bánh làm bằng bột mì.

Chợ Giồng thị trấn Vĩnh Bình – nguồn timkiemduongdi.com

Bánh vá Chợ Giồng làm bằng bột gạo, bột năng, bột đậu nành, trứng gà và nước. Ðánh cho mịn để không bị óc trâu (vón cục). Nhân bánh vá có gan heo xắt hột lựu, thịt nạc bằm nhuyễn, tôm bạc đất cắt bỏ râu. Tất cả ướp gia vị.

“Múc một muỗng bột tráng phần đáy của chiếc vá, sau đó cho thịt bằm, gan heo, giá sống vào giữa vá bột, rồi múc thêm một lớp bột phủ lên trên; cuối cùng cho tôm bạc đất và đậu phộng rang lên trên cùng. Nhúng vài chiếc vá vào chảo dầu hoặc mỡ đang sôi, chờ cho bột tách ra khỏi vá thì từ từ rút chiếc vá ra khỏi chảo dầu. Chỉ còn mấy chiếc bánh nổi lềnh bềnh trong dầu nóng. Người chiên bánh phải để lửa nhỏ, liên tục trở bánh cho chín vàng đều hai mặt để không bị khét. Khi bánh chín, vớt để lên một chiếc vỉ tre vắt ngang miệng chảo cho bánh ráo dầu. Bánh vá chợ Giồng gói trong lá chuối khô, rau thơm các loại và bịch nước mắm chua ngọt.

Kết luận: Em yêu dân Cần Thơ, bến Ninh Kiều, bánh cống. Người xưa dân Hòa Ðồng bánh vá. Em nào, tui cũng nhểu nước miếng hết trơn hè!

Quê người, tui nhớ bánh cống cuốn với cải xà lách, rau thơm chấm nước mắm nửa đêm về sáng tại đèn Ba Ngọn, bến Ninh Kiều, Cần Thơ sau năm 1975.  Nhớ những ngày đói cơm, rách áo, ăn cái gì cũng ngon.

Không đọ được với bánh xèo; vì bánh cống, bánh vá quê nghèo, buôn gánh bán bưng. Bánh xèo có tiệm đàng hoàng. Như bánh xèo Ðinh Công Tráng, Tân Ðịnh gần hẻm Cảnh sát, nhà ông Tùng Lâm.

Má tui đổ bánh xèo ngon bá chấy bù chét. Mỗi Chủ Nhựt khoảng năm 1968, Má bán bánh xèo đắt lắm (đắt là nhiều khách chớ không phải bán mắc đâu nhe) bên hông rạp hát Ðịnh Tường cuối đường Lý Thường Kiệt gặp đường Trưng Trắc Mỹ Tho để nuôi tui ăn học. Con nhớ bánh xèo! Con nhớ Má! Má ơi!

Bần và Mận

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 8 Apr 2022

post by Sơn râu 20 Nov 2023

Bần và Mận

Bần là một loại cây ngập mặn, có thể cao đến 20 thước và đường kính đến 5 tấc. Bần mọc trên các bãi bùn, thủy triều lên xuống, nước lớn nước ròng. Cây bần làm củi bán cho lò đường. Trái bần hái về cho má nấu canh chua. Rễ dùng làm nút chai, gọi là “cặc bần”.

Hồi nhỏ, tui thấy ở hai đầu cù lao Rồng, ngang thị xã Mỹ Tho bần nhiều lắm. Mấy lần đi chơi với em yêu, lúc còn mèo chuột, tui kêu em ghé xuồng vô, hái bần chín, chấm muối ớt ăn chơi. Em lè lưỡi. Cắm đầu vô, ong bần nó quánh hai đứa mình thấy mẹ.

Còn mận Trung Lương có mận hồng đào sọc, hồng đào đá (Bắc gọi là roi).

Mận Hồng Ðào trồng nhiều nhất ở miệt Ðạo Thạnh, Trung An, gần bến đò Nhà Thiếc, ngã ba Trung Lương, cách chợ Mỹ Tho chừng 5 cây số.

Mận hồng đào sọc thì trái tròn, có sọc trắng hồng chạy dài từ cuống đến đít trái mận. Rỗng ruột. Mận hồng đào đá cứng nên gọi là đá, da hồng. Cả hai loại mận này ăn đều giòn, ngọt, không chua. Lấy tay tách trái mận ra làm hai, chấm nước mắm đường có vài lát ớt sừng trâu cay cay nhai rốp rốp thì ngon bá chấy bù chét.

o O o

Tại sao ngang xương mà tui lại nhắc tới cây bần và trái mận quê mình chi vậy? Chẳng qua tui vốn thiệt tên Bần và em yêu của tui tên Mận. Tên hai vợ chồng tui dẫu có vẻ quê mùa như vậy nhưng cũng ướt đẫm dầm dề văn học lắm đó nhe.

Nhớ mùa Hè đỏ lửa, năm 1972, đi lính ra trường, tui chọn về Mỹ Tho để gần nguyên quán. Tiểu khu Ðịnh Tường kêu tui về đại đội 402 ông Ðịa (Phương Quân) biệt lập, thuộc Chi khu Sầm Giang, đóng tại xã Vĩnh Kim.

Ðại đội tui hay lội qua Hốc Ðùn, từ ngã ba Trung Lương nhìn qua sông Bảo Ðịnh để bảo vệ Quốc lộ 4.

Mà nói tới Trung Lương có thể bà con cả miền Nam mình ai cũng đều biết mận Trung Lương. Dà, em yêu của tui được tía em đặt tên là Mận là vậy đó.

Sau nầy, em thường hay càm ràm sao tía em đặt tên em là Mận? Nó quê mùa quá đỗi. Mận Hồng Ðào thì bỏ chữ mận đi, lấy Hồng Ðào đặt tên cho em. Biết đâu chừng em nổi tiếng không thua gì diễn viên Hồng Ðào bên Mỹ đâu nhe.

Tên Mận, quê mình, mà chê cái gì chớ! Như anh, nhà ở đầu cù lao Rồng, nên tía anh đặt tên Bần. Anh rất thích em tên Mận. Tại vì Mận nó ngon. Cắn nó đã chớ sao!

Mận Hồng Ðào có màu da hồng nhạt, có sọc dưa giống da em nè. Mận hình tròn, có nhiều trái bề ngang lại lớn hơn cả bề dài. Giống tướng em nè!

Ôi nhớ tình xưa, một thời dắt lính lội ngang nhà em. Sao nghe đứa nào hát ru con thiệt là mùi, như nhắn gởi với tay chuẩn úy sữa mới ra trường vầy cà?

“Ầu ơ… bánh canh trắng, cọng vắn cọng dài.

Bánh tằm xe, cọng dài cọng vắn

Xứ Mỹ Tho gạo trắng nước trong

Gái Mỹ Tho tuy dang nắng.

(Mà) má vẫn hồng như điểm phấn tô son.

Anh ơi, muốn chơi hoa thì kiếm gái Sài Gòn.

Còn (như) muốn tìm người vợ hiền dâu thảo

Thì anh hãy xuống miệt vườn Trung Lương…”

Ngó vô nhà thấy có một đứa còn kẹp tóc, ngồi đưa võng ru con. Thằng “tà lọt” bỏ nhỏ: “Ông Thầy, con Mận ru em nó đó. Không phải ru con đâu. Nó chưa chồng. Em tính xáp vô mà nó chê em dốt. Tía Mận làm hương sư, là thầy giáo làng đó. Con gái khoái quan chê lính. Chắc nó chịu đèn ông Thầy rồi. Ủi tới đi ông Thầy. Chắc ăn như ăn Mận. Em de ra nhường cho ông Thầy ủi vô. Hu hu! Ðể em dắt ông Thầy đi mua mận. Xong, ông Thầy kiếm cớ ngồi đàm đạo, tụi em rút ra ngoài canh chừng Việt Cộng”.

Nghe xúi bậy, tui cũng khoái; bèn y như kế mà làm.

Em Mận hái cho thằng đệ tử của tui một giỏ mận đầy nhóc; nó vác ra vườn ngồi chung với mấy đứa khác, ăn mận chấm nước mắm đường có giằm ớt hiểm. Miệng nhai nghe rốp rốp.

Còn trong nhà, tui và em Mận đàm luận chuyện văn chương. Hi hi! Mới quen, tình lính tính liền… đâu có tiện hè.

Tui mới ướm em vầy:

“Chim buồn tình, chim bay về núi.

Cá buồn tình, cá lủi xuống sông.

Anh buồn tình, anh dạo chốn non bồng.

Dạo miền sơn cước, xuống chốn ruộng đồng mới gặp em”

Thưa bà con, con trai yêu bằng con mắt. Con gái yêu bằng cái lỗ tai. Em Mận cũng không là ngoại lệ. Nghe tui tán có kinh có kệ… nên em có vẻ chịu đèn.

Nên Mận “nổ” lại rằng:

“Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng.

Người thương em vô số, nhưng chỉ một lòng với anh”

Tình đang nồng thắm được vài tháng thì sập tiệm. Lúc đó tui đang đóng đồn ở xã Hữu Ðạo, quận Long Ðịnh. Ðại đội tui hổng chịu đầu hàng (vì hồi đó tới giờ chưa làm bao giờ nên hổng biết). Cho dù Dương Văn Minh đã lên Ðài phát thanh Sài Gòn kêu buông súng để bàn giao. Buông súng nó bắn mình sao? Tụi du kích địa phương nói đại đội của tui ngoan cố. Nên lính thì nó thả hết cho về; còn có hai thằng sĩ quan là tui với một tay chuẩn úy đàn anh làm đại đội trưởng, tụi nó dắt tuốt vô trong bưng nhốt để cải tạo. Ba tháng sau mới thả tui về lại Mỹ Tho.

Tui buồn như dế kêu vì thua tụi nó. Tủi thân phận mình, tui hổng muốn gặp lại người nào nữa kể cả Mận. Xưa mình là quan. Giờ là tù mới về.

Thì nhận được thơ Mận viết vầy:

“Cúc mọc dưới sông sông kêu rằng cúc thủy.

Sài Gòn xa, chợ Mỹ không xa.

Gởi thơ thăm hết mọi nhà.

Trước thăm phụ mẫu sau là thăm anh”

Tui vẫn còn biết Mận tưởng tới tình tui; nhưng nghĩ phận mình giờ trụi lủi, tương lai không còn gì nữa; nên tui tính gài số de. Vì ủi tới người ta, nhứt là tía má em không chịu gả thì tội nghiệp cho mặt mũi tía má tui!

Giờ thời thế đã đổi thay, ông xuống làm thằng; thằng lại lên ông. Nên tui thoái thác là:

“Sông kia bên lở bên bồi.

Một con cá lội mấy người buông câu”

Nhưng em vẫn ngoan cố tình ta:

“Phượng hoàng đậu nhánh vông nem

Phải dè năm ngoái (anh) cưới em cho rồi”

Nhưng giờ cũng chưa có muộn nếu Bần muốn. Cứ dắt tía má Bần xuống nói một tiếng cho phải lễ. Phần còn lại để Mận lo. Thôi thì Mận không tham phú phụ bần… thì Bần sẽ lấn tới vậy.

Ngày coi mắt, bà con chòm xóm của Mận đông như ruồi. Trong đó có một thằng Hai Mít (hồi trước trốn lính) giờ được làm chủ tịch Hội nông dân Xã, ra vẻ hương chức, hội tề của cách mạng.

Chắc thằng Hai Mít nầy cũng thèm ăn Mận của tui, nên nó cà khịa với tui rằng: “Nghe nói chuẩn úy Bần là người có ăn học. Tui là nông dân, làm ruộng nên ít học (làm ruộng, đâu phải ai cũng ít học đâu. Tại thằng Hai Mít nầy nó làm biếng học). Tui, tức thằng Hai Mít xin ra câu đối như vầy:

“Sóng vỗ c… bần run bây bẩy”

Ý thằng Hai Mít muốn cười cái tên Bần của tui, lúc phải tuân lịnh Dương Văn Minh đầu hàng mà sợ đến run bây bẩy.

Hai Mít cố tình làm nhục tui, làm nhục sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước mặt Mận và bà con quyến thuộc của em đó mà.

Tui giận xanh râu luôn, bèn đối chan chát lại rằng:

“Sóng vỗ c… bần run bây bẩy

Gió đưa d… mít giẫy tê tê”

Bà con cô bác ai nấy cũng tấm tắc khen hay. Làm thằng Hai Mít quê quá, mặt xám lại rồi chuyển sang xanh chành như đít nhái vì sợ chữ của tui.

Chưa kịp làm đám cưới thì tía má tui kiếm được đường dây vượt biên. Tui hẹn Mận ra bến nước rồi cả hai xuống “taxi” ra thuyền lớn, dông luôn.

Bốn mươi lăm năm tình lận đận cùng Mận (Trung Lương)! Tháng Tư đen lại về. “Lạc loài cách bến xa sông. Gió Thu hiu hắt chạnh lòng cố hương”. Tui nhớ tới câu đối ngày xưa, ngồi phè, nhâm nhi ly rượu whiskey, tui cười khè khè! Ai bảo là những chữ dùng nghe không được thanh tao là không có tánh văn chương đâu nè?

Đoàn Xuân Thu

Con mèo rụng lông

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Con mèo rụng lông

Hồ Đình Nghiêm

Anh Tị bé người, da ngăm đen dáng linh hoạt. Hói tóc, mặt xương xẩu. Anh luôn khạc nhổ, dù chỉ tí nước dãi, như thể mang tật ngứa cổ, phun tùy tiện. Anh Tị người Huế, dùng nhiều từ lạ. Khi nói chuyện mắt anh thường láo liên. Một đôi mắt lớn, tuồng như thu nhận được lắm điều, nhìn xa trông rộng; bởi có vẻ chuyện gì anh cũng tường, đừng hòng che dấu. Anh hay dọa tôi: Mi chớ lấy vải sưa mà che mắt thánh. Tôi luôn thành thật, đối với riêng anh. Anh vẫn thường trả tiền cà phê cho tôi. Và quán nước tăm tối ấy là nơi chúng tôi phung phí thời gian cho những chuyện không đâu. Một ngày nào đó tôi sẽ khoản đãi anh một chầu xôm tụ. Trạng cóc! Anh chận lời. Và anh nhổ xuống đất chút nước miếng. Tôi gãi đầu: Lúc nào anh cũng bao, thấy nhột. Con mèo rụng sợi lông. Anh nói thêm cho rõ nghĩa: Chuyện nhỏ! Anh đưa tay sờ nắn túi quần tôi: Học trò như mi tiền bạc mô có mấy hột. Một lát, anh thu cất những ngón tay đi lạc rồi đưa ra câu hỏi, mặt nghiêm trọng, hai mắt như lồi ra: Mi biết mùi vị đàn bà chưa? Tôi moi bọc áo, lôi ra được điếu thuốc cong queo. Chưa. Tôi thổi khói xuống mặt bàn. Tao sẽ dắt mi đi phá trinh. Cái gì? Ngủ với gái đó, chưa nghe qua hả mi?

Ở tuổi mười bảy (không cách gì bẻ gãy sừng trâu), tôi thành đàn ông với sự trợ giúp của Sen. Nó ở dưới quê lên phụ việc nấu nướng chợ búa cho gia đình anh Tị. Anh biểu, hai đứa bây “mần ăn” sau bếp để tao canh chừng cửa nẻo cho. Sen, mi đừng sợ, ẻ ba bại. Đau trước sướng sau. Sen hơn tôi hai tuổi nhưng cũng khờ khạo chuyện ấy, chẳng biết gì. Đáy quần sút chỉ một đoạn, nó moi thành lổ thủng tối om, chỉ thế thôi; không lột áo cởi quần. Người kín bưng, đâu là vú đâu là lông, tôi chẳng thấy gì sất. Sen nhắm mắt, nói: Bỏ vô đi. Phút đầu đời của tôi thiệt vất vả, ì ạch, chả ra làm sao cả. Thằng nhỏ khóc, giường tre kêu cót két và Sen thì nghiến chặt hai hàm răng. Không rên la, chẳng vui thú, mọi biểu tỏ bị trói chặt, chỉ có đôi lông mày thì luôn nhăn nhíu. Anh Tị nhổ nước miếng. Tụi bây làm ăn như cứt, giây phút qúy giá nhứt mà không biết cách thụ hưởng. Thiệt là tức!

Tôi mắc nợ anh Tị nhiều thứ. Có hôm, anh tới quán cà phê với chiếc xe đạp, anh nói nhỏ: Tao cho mi đó, thích không? Tôi ngó chiếc xe, đắm đuối hơn khi ngó vô mặt anh. Và có lẽ ngay cả lúc Sen trần như nhộng, vẻ đẹp ướt át kia trông chẳng sướng con mắt bằng chiếc xe bụi bặm đang dựng chống ngoài sân. Anh khạc nhổ: Tụi mình phải nên thay đổi địa điểm, tau mới tìm ra một quán cà phê khác, hơi xa, vì rứa cho nên mi lấy chiếc xe ni mà đạp tới. Có ưa không? Răng cứ ngồi làm thinh làm tịnh rứa mi? Tôi đang phân vân, nợ anh nhiều quá làm sao trả đủ? Ẻ ba bại! Anh nói. Lạ! Hào phóng cũng chừng mực nào đó thôi. Anh giàu sang gì cho cam mà luôn xẳng xái: Con mèo rụng sợi lông! Mèo thì bí mật dấu cứt, riêng anh lại luôn bép xép công khai chuyện ỉa, mà phải tới ba đống mới chịu. Nghĩ không ra! Thôi được, để mi bớt nặng bụng, ngày mai tao nhờ mi chở con Sen đi chợ giúp tao. Có vui vẻ không?

Tôi vui vẻ chở Sen đi. Sen không đẹp, nhưng biết đâu nếu đổi đời, khi người ta trút bỏ chất quê mùa ám trên thân đi có thể nhan sắc sẽ lộ diện khi ấy. Sẽ trắng trẻo hơn, sẽ thơm tho hơn. Chúng tôi đã “mần ăn”, chẳng biết Sen nghĩ gì nhưng cá nhân tôi thì luôn rạo rực thèm muốn Sen. Hiểu ở một nghĩa hạn hẹp nhất, chúng tôi cũng tựa như vợ chồng. Chồng thắng xe trước lối vào chợ đợi vợ xách giỏ nhựa lòn lách giữa lối đi chen chúc bạn hàng. Trong giỏ có đựng gói giấy báo cột ràng vuông vức như thể Sen đi giao hàng, vì thế đợi không lâu Sen đã trở lui, hơi lấn cấn hơi không được tự nhiên. Sen giống như sơ ý đã bị bọn móc túi lấy sạch tiền bạc, mặt căng thẳng và đôi tay run. Sen leo lên yên sau, nói gấp gáp: Chạy. Kỳ cục, tôi chưa thấy có ai đi chợ kiểu như Sen, tay xách giỏ khi đến, đến chớp nhoáng rồi trở lại mạng không. Anh Tị sẽ quở: Chợ búa kiểu chi lạ rứa bây! Chớ nghêu sò ốc hên trốn đi mô?

Về nhà? Tôi hỏi. Sen nói không, một tay đưa ra ôm bụng tôi. Anh Tị có thuê một chỗ kín đáo, tụi mình về đó mần ăn, anh Tị nói rứa. Và Sen đưa địa chỉ. Chỗ ấy khá xa, ngoại ô vắng tẻ, hình như điện nước cũng chưa kịp lai vãng tới. Nhà tranh và đèn dầu, sắn khoai và ruộng nước. Đường đất và bụi đỏ. Nói chung là hiện hữu một nỗi quạnh vắng, lặng như tờ. Yên ả đến nỗi tôi nghe được một tiếng nổ từ thành phố vừa gửi về. Tôi hỏi Sen có nghe chi không? Sen nói chả nghe. Thắp đèn lên không? Đừng thắp. Và Sen thoát y. Rõ ràng cơ thể ấy là căn nhà ngói, chẳng chối cãi được. Mà dẫu là nhà tranh thì đã sao? Việc chi phải dè bỉu “đêm hôm nhà ngói cũng như nhà tranh”? Sen hối tôi phủi chân leo lên giường. Vú Sen vun đầy nhưng nghe được tiếng đập trái tim vọng dội qua bao chướng ngại sung mãn. Cởi đồ ra. Sen phát mệnh lệnh. Ngủ nghê xong, thức giấc lúc sáu giờ chiều sẽ có người mang cơm nước tới, sướng chưa?

Khi tôi thức giấc, trên bàn đã có sẵn nồi niêu ngự trị với cơm canh còn tỏa khói. Sướng chi lạ! Tôi nói mà Sen không nghe. Sen đang gầm đầu đọc một vuông giấy nhỏ bên ánh đèn dầu mù mờ, cô vội thu đi khi tôi bước lại bàn. Ăn kẻo nguội. Sen nói, xới cơm gắp cá so đũa cho tôi. Sen nhai uể oải, chẳng thiết tha miếng ăn, nhai nuốt cho có. Như cả mần cả ăn đều chẳng thỏa thuê, mất sướng. Mắt nhìn mông lung rồi gát đũa ngó vào mặt tôi. Thương tui không? Sen hỏi. Tôi muốn ho cho văng cái xương cá vướng ngang cuống họng. Nếu thực bụng thì tổ chức sẽ đứng ra tác hợp cho chúng ta. Tôi nuốt cục cơm, húp muỗng canh, cái xương mới chịu trôi xuống. Tổ chức? Là cái quỉ gì? Lần đầu tôi nghe tới. Sao không là anh Tị? Sao không là chạy u về hỏi ý kiến Mẹ tôi, người suốt đời buôn thúng bán bưng cặm cụi nuôi thằng Cu ăn học như người ta. Mười bảy tuổi hắn đủ tư cách làm chồng không? Nhà nghèo, khi không rước về đứa con dâu chuyên trị ở đợ thì lối xóm có dị nghị? Tổ chức, nó là cái gì mà quyền hành tự tung tự tác thế? Thôi ăn đi, ăn cho xong rồi chở Sen về lại thành phố.

Thu dưới góc giường là cái bao bố. Sen mò tay lôi nó ra, trong đó như sẵn chứa đống giấy tờ quen thuộc mà Sen chẳng cần mở ra kiểm chứng. Sen ôm nó vào lòng và cô sẽ rãi những tờ giấy chứa trong đó xuống khi tôi chở cô đi qua những đoạn đường chôn ngập bóng tối. Giống như Sen bị cưỡng bức về làm dâu chốn lạ và suốt lộ trình băng qua cô đã ngầm để lại những tín hiệu. Làm gì vậy? Ồ, chỉ là giấy vàng bạc để tưởng nhớ những người vừa mới mất. Lạ quá, tôi có hơi hồ nghi. Ai chết thế? Sao không đốt nó như người ta vẫn làm? Cho đứa bạc phước kia có chút bổi lận lưng xuống dưới mà trang trải mua sắm. Anh Tị vắng mặt ba bữa. Sen nói. Ba bữa đó chớ lại đằng nhà, nghe chưa?

Mẹ tôi ốm đột ngột, kêu xích lô chở qua nhà thương, bên đó xét nghiệm rồi đề nghị: Hãy mang bà cụ vào bệnh viện trung ương, trong ấy đủ đầy dụng cụ y khoa hơn. Tai ương bất ngờ, tôi xa anh Tị và Sen chẳng thể nói lời tạm biệt. Mẹ tôi moi sạch gia tài hai lượng vàng nhiều năm chắt mót để mang ra chống đỡ bệnh hoạn. Tôi theo “nước trong nguồn chảy ra” ngày một ngày hai thì hồng thủy ập tới. Con ơi, điệu ni biết ngày nào trở lại chốn xưa! Chộn rộn, lo âu, mặt cắt không ra giọt máu và đời sống phát minh ra từ mới: Tháng Tư đen. Bác sĩ chạy, y tá trốn, người dân vào hôi của băng bông thuốc thang kim chỉ dao kéo. Rồi người dân cũng tìm đường vượt biển, rồi từ ngữ tiếng Anh phát sanh hai chữ: Boat people. Hai mẹ con bơ vơ, chuyên chính vô sản thứ thiệt. Người sao bóc lột người quá lắm! Chết vào thời điểm ni thì cực quá con hè! Mẹ tôi than và vì thương con, bà gượng chống chọi, không đành để thằng Cu vất vưỡng giữa cõi trần oan nghiệt. Bà dì thương hại, níu kéo một thời gian nhưng sau rốt mẹ tôi quyết định lộn lui. Bà đưa lý do kỳ cục: Chết ngoài đó gần bà con thân sơ cho được mồ yên mả đẹp.

Anh Tị gặng hỏi rứa mi đi mô lâu ni? Mất tiêu làm tao tưởng bị ôn mệ bắt. Tôi thành thật khai báo mọi chuyện, tôi muôn đời là tấm vải sưa mặc dầu anh Tị đã chẳng còn mắt thánh. Mắt anh đục, lờ đờ như mắt cá ương. Chừ đã khác xưa, anh nói. Tao hỏi thật, thuở nớ mi có biết chút chi về tao và con Sen không? Tôi trố mắt ra, hình như anh đã bỏ được tật khạc nhổ, làm đúng chủ trương con người mới xã hội mới mình vì mọi người. Mi không biết, dĩ nhiên, bởi nếu mi am tường thì cơ sở đã bị bứng đi.

Lâu lắc chi cho cam, giờ ni anh Tị như rắn đang lột vỏ thay da. Anh đội nón cối anh mang dép râu, mắt lồi thêm ra bụng lớn hơn trước. Rứa chừ mi lao động việc chi? Tôi đi bưng cà phê chùi quét dọn dẹp cho quán cà phê Sao Vàng. Ừ, chớ xao lãng, lao động là cái quý nhất, nên lên án khắt khe bọn chây lười. Tao làm bên thành ủy, việc cơ quan bộn bề như núi, có chi gặp nhau sau, tao giúp mi phấn đấu vượt qua bao gian khó buổi đầu, động viên tinh thần khỏi chao đảo giữa bao tàn dư chúng còn cài lại. Anh cho tôi điếu thuốc có cán rồi rồ ga chiếc gắn máy chạy vụt đi. Ở quán cà phê kia tôi nghe bao điều khó tin về một cán bộ Tị có bí danh anh Ba Tỉ. Gặp anh tôi á khẩu chẳng dám hó hé căn nguyên tai vách mạch rừng. Chuyện tàn dư mà địch còn cài lại thì vô số kể, mấy hôm trước họ đã trói ké một thằng làm ở Ty thông tin văn hóa vì tội đi kẻ khẩu hiệu chẳng chịu tính toán bề dài bức tường để hụt mất chữ cuối. Thiếu một chữ và tù thì không rõ phải gỡ bao nhiêu cuốn lịch. “Hồ chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng”. Chấm hết. Tường vôi chẳng dài để viết nốt chữ sau cùng, một chữ “ta” oan nghiệt!

Tuy mang tên Sao Vàng le lói, quán cà phê nọ cũng chịu cảnh thu môn bài đóng cửa dẹp tiệm. Tội danh quy kết: Lén lút mở nhạc vàng đồi trụy. Tịch thu toàn bộ loa máy băng hệ thống âm thanh nổi các thứ linh tinh. Mất việc, đời xô tôi về làm công nhân hãng chế biến mì sợi. Tôi không duy tâm nhưng luôn bị dấu hỏi số phần dằn vặt. Tìm chẳng ra đáp án cho một phận người bầm dập, bù trất câu hỏi quen nghe: Trứng có trước hay con gà có trước? Nhức đầu chớ chẳng chơi, cái ấy thuộc về phạm trù duy vật biện chứng; không đơn giản như phép tính 5 cọng 5 bằng 11 hồi nhỏ cô bắt thu cất hai bàn tay vào túi quần. Ăn hột vịt mà cô không giải thích do đâu cái kết quả kia là chẳng đúng! Công ty chế biến mì sợi liên doanh nọ chứa chấp công nhân đa phần là đàn bà con gái. Con gái đàn bà thì giàu có vô vàn những chuyện lạ, lại thêm nữ giới thường rộng lòng chia sớt hơn cánh mày râu mặt mày luôn kháu ó rầu máu như khỉ ăn ớt. Chẳng rôm rả nhưng miên man lê thê hết chương tới hồi, hết hồi lại… kẻng đã báo giờ ngày mai kể tiếp. Thịt không kịp liền da, miệng mồm hơi bị vô tư chẳng tự kiểm duyệt: Trứng rụng, có tháng, tắt kinh, ngứa cửa mình, thằng chả khóc ngoài biên ải, huyết trắng, chất nhờn âm đạo, xuyên tâm liên, đéo mẹ bị nó không chịu mang bao cao su, tiểu đường, lá đu đủ phơi khô đem đun nước uống, nghệ đập dập bôi vô, mụn trứng cá, dạ lần đầu dạ nôn ọe chuyện nhỏ dạ được bốn tháng rồi dạ ai cũng nói con trai cái bụng ngó nhọn hoắc… Chuyện xôm tụ đi được cả cây số thì vấp vào khúc quanh. Trước, nghe cho vui tai, chẳng để tâm. Nay, nghe háo hức, dậy tò mò. Họ đang nhắc tới nhân vật hiện giữ chức phó chủ tịch hội phụ nữ: Trần thị Sen. Người kẻ mày người thêm râu người dè bỉu người đằng hắng người ho khan, nhưng thảy những đường ngang nét dọc ấy đã minh họa ra chân dung một Sen chẳng nhầm lẫn. Và… Và cuối cùng tôi lại gặp Sen.

Sen nói giống anh Ba Tỉ: Tháng ngày qua lặn đi mô? Họ chết sông ba ngày thì trồi đầu lên bên này biệt tích một lèo như thể vượt biển! Dễ làm bảng kiểm điểm quá. Sen hỏi nghề nghiệp. Tôi khai: Công nhân chế biến mì sợi. Sen khen giỏi giỏi, lao động cho thật tốt rồi Sen giúp kiếm cho việc làm đỡ cơ cực hơn. Lý lịch trong sạch thế kia, chế độ ta ưu việt luôn biết nhìn người. Tôi nói phải phải, anh Tị cũng đã nói đúng đúng, mi khéo mần ăn. Chữ mần ăn tôi lên giọng có hơi to. Và Sen đi guốc trong bụng tôi, và Sen truyền đạt: Giờ này khác trước, nhớ ngó trước trông sau, nhớ dán băng nơi miệng kẻo môi hở răng lạnh. Mần ăn… Chao ôi! May mà hồi trước chẳng bị mang thai, nếu không đã cản trở con đường kách mệnh! Sen kể chi ly: Bao nhiêu lần đặt chất nổ giết hại dân lành trong chợ, rãi truyền đơn, mang thuốc Tây cho cơ sở chuyển lên Trường-sơn, xử kín một vài tên có nợ máu phản bội mặt trận… rồi kết luận công sức ấy thành tựu do bởi sự hợp tác “liên doanh” cùng tôi đến thắng lợi cuối cùng.

Anh Tị chán lắm, Sen nói, không chừng mà ảnh bị khai trừ khỏi đảng. Người yếu đuối, không giữ vững lập trường, gia đình bên vợ khinh miệt, ai đời mà giờ này có khi họ rống to: Việt cọng đâu ra ăn cơm! Vợ chồng sai quan điểm uốn nắn nhau rồi vợ nổi doá úp nguyên tô canh lên đầu chồng. Hội phụ nữ chỉ bênh vực và đứng về phe phái yếu bị bắt nạt. Đằng này khác, mình muốn nhảy ra giúp anh Tị mà biết vin vào lý do chi? Chuyện nội bộ, chồng không cải tạo được vợ mà chồng nhẫn nhục chịu đựng như thế ắt anh Tị có dụng tâm. Gặp Sen, mặt anh tái xanh: Ẻ ba bại. Cục cứt họ. Đồ ba de, chơi không được. Không biết anh chửi vợ con hay giận lẫy cuộc đời.

Đợi trời nhá nhem Sen dắt tôi về căn hộ hẹp té do cơ quan bố trí phân chia. Sen hối tôi phủi chân leo lên giường. Để coi, cách mạng đã thành công xem mần ăn có khấm khá hơn xưa, cái hồi mà cứ lấm lét thầm thà thậm thụt mất sướng. Tôi ngó giang sơn màu mỡ gấm vóc rừng vàng biển bạc đang ngửa thân đợi chờ để dốc lòng làm thằng giặc xâm lược tiền pháo hậu xung. Vị phó chủ tịch hội phụ nữ như hoa thiếu nước lâu ngày, ướt chút nào tươi mươi chút ấy. Cánh mở ra, hưng phấn nhụy đài run rẩy thân cành. Tưới cho tới giọt cuối mà hoa cũng vùng vằng đòi ơn mưa móc. Chịu thôi, cơm độn khoai, bột mì làm chuẩn thì chẳng thể đánh kiểu chính quy. Làm thằng du kích thò mặt bắn tiả một phát phải lo thu súng mà trốn vào địa đạo, ấy là chiến thuật vậy. Binh pháp gọi đấy là lùi một bước mà tiến hai bước, trường kỳ kháng chiến thắng lợi ắt về ta.

Sen ngồi dậy lau mình lau mẩy lau nách lau tay rồi trườn thân vói lấy con dao gọt táo cắt cam bồi dưỡng cho đồng chí đang nằm thở lại sức. Quan hệ tụi mình hơi bất chính, chắc phải rán đợi thời gian chín mùi mới công khai sự việc. Sen phát biểu. Nhìn qua động thái cắt bổ trái cam, tôi biết con dao Sen cầm hẳn cực bén. Dao hoa lên, vung vẫy theo từng lời ăn tiếng nói. Từ giờ trở đi, tuy bất chính nhưng chúng ta cũng tợ vợ chồng, chớ có lén phén đi ăn phở chùng vụng. Liệu thần hồn có ngày tui cắt chim.

Tôi nằm co quắp trên giường làm bộ sợ hãi. Tôi nhớ anh Tị, định phán: Con mèo rụng sợi lông, nhưng nghĩ lại tối nghĩa. Tôi vuốt xoa tấm lưng trần của Sen: Ê ba bại! Vất dao đi, đút cho tui thêm chén cơm, đây chả thèm phở. Trời, làm chồng vị phó chủ tịch hội phụ nữ ngu sao còn dòm hoa thưởng nguyệt, được voi đòi… hai bà Trưng. Tui là mèo mà Sen là cục mỡ của kẻ hèn này. Tôi ôm Sen, Sen cười thích thú. Tôi sờ soạn thăm dò, Sen hít hà điệu bộ thành khẩn. Sen nhắm mắt tôi mó tìm công tắc đèn. Trong bóng tối tôi đọc thầm khẩu quyết: Ẻ ba bại, ban đêm nhà ngói cũng như nhà tranh!

Hồ Đình Nghiêm

Con ma nhà họ Thích

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Con ma nhà họ Thích

Hồ Đình Nghiêm

Đạm Hạnh gửi thân vào chùa đã hơn mười mùa lũ lụt. Thập niên quét lá ngoài sân, lau chùi vệ sinh ở chánh điện, rót nước dâng hương và canh giữ thùng phước sương nghiêm ngặt, nói chung là làm việc lặt vặt, linh tinh, nhàn nhã. Đêm về, lui hậu liêu gõ mõ tụng kinh qua loa rồi lăn đùng ra chiếu ngủ say. Mười năm trời vô tư vô số tội chưa thông ngộ ra một điều gì cả, lòng hoài nghi và không hiểu cớ sao kinh sách lại có câu “Ta không vào địa ngục thì ai vào?” Thiên đường, địa ngục, ngoài kia bá tánh vẫn kêu trời. Hai cảnh giới đối cực kia sao mãi nhập nhằng, kẻ nói này người nói nọ. Ông nói “đất nước này đáng sống nhất hành tinh”. Bà la “địa ngục đấy, chết đi mày”!

Ngang trang lứa với Đạm Hạnh có ba chú tiểu khác. Ba chú này tiếng là xuất gia nhưng lòng luôn mang sự ganh tị, về cách chia việc bất công, không đồng đều của sư trụ trì. Bao việc khó đều chỉ định ba đứa ta đổ mồ hôi ra, riêng “thằng” Đạm Hạnh dường như được ưu đãi, nuông chìu, bảo ban giao toàn cả việc nhẹ. Ăn cũng nhiều, ngủ cũng nhiều mà hắn coi mòi “chây lười lao động”. Chùa chưa từng bày cảnh phê bình kiểm thảo, mang thói hư tật xấu của hắn để phản ảnh lên trên thì sợ sư thầy quát “ác khẩu, ngậm máu phun người, khẩu nghiệp”. Ba chú đồng lòng đi tới kết luận: Kệ mẹ nó!

Thế nhưng, một ngày kia sư trụ trì Thích Thương Thiện đã gọi Đạm Hạnh tới giao việc, mà không chừng là việc khó. Ba chú tiểu thấy thế, đang gánh nước, đang nhặt rau, đang chổng mông thổi lửa bèn dừng công việc, ngửa mặt lên vuông trời đầy bụi ô nhiễm mà cất giọng thống khoái: Có vậy chứ, sai nó “xuống núi” một lần cho biết thế nào là lễ độ.

Đạm Hạnh rót nước trà sen đặc sản Huế dâng lên sư thầy, xong lui ngồi xếp bằng trên vuông gối nhỏ đợi nghe chỉ thị:

– Nhìn con, tâm ta xao động đâm nhớ tới một người. Mô Phật!

Nhập đề mông lung, sai lạc xong mới vào tới thân bài. Bàn tay thôi lần tràng hạt, mắt đảo quanh không gian vắng lặng chẳng bóng người:

– Con xuống phố thị tìm người trao hai lá thư. Ta có ghi tên ở ngoài và có đánh số 1, 2. Tìm số một trước, xong đâu đó rồi mới lần tới số hai. Đời vô thường, sự vật đổi thay, nhưng trời sinh mình có lỗ miệng để hỏi han, rồi con sẽ hoàn thành trọng trách ta giao phó. Trong chùa này, chỉ có mình con là ta còn tin cậy thôi. Thư đây, thu cất chỗ kín đáo, coi chừng bị đánh rơi. Mình là người tu hành, ra đường con đừng mang dép, cứ thế mà chân cứng đá mềm. Đi sớm về sớm.

Đạm Hạnh bước qua cổng chùa để hoà nhập vào chốn bụi trần. Thiện tai! Người đâu mà đông quá thể? Dương gian này người chết sao chóng đầu thai. Cứ một chôn xuống đất thì hai, ba lại mở mắt khóc oe oe trong “xưởng đẻ”. Thiện tai! Luật bù trừ coi bộ mất linh nghiệm ở cõi đời này. Đạm Hạnh ngang qua một quán nhậu thịt chó, khói mờ dồn ra mùi thơm nghe quặn ruột. Có đứa ngồi rung đùi trên ghế quen ăn tục nói phét: Ngó vậy đó chớ đừng khi dễ nha, nó đâu có đi khất thực hồi nào, bây giờ chúng toàn ở trong mát mà ăn bát vàng, hổng chừng mà tay thu trong áo nâu sòng lại đang nắm cái di động siêu mỏng chớ đâu xài thứ điện thoại cùi bắp như bọn mình.

Tìm đúng ông số 1, Đạm Hạnh trao ra lá thư. Vợ ông ấy dòm chừng chú em gia đình Phật tử, ngửi ra chuyện không hay. Thư ai vậy anh? Có chuyện gì không anh? Thì đó, lần trước bà đi xin bùa xin xăm xin sao giải hạn lung tung beng thứ, giờ bị người ta đòi nợ. Chú em có mang theo túi xách gì không? Trời ơi, tám chục triệu đâu phải nhỏ chú em. Ôm giữ vén khéo không thì an nguy tới tánh mạng, nó phóng xe tới giựt rồi kéo lê chú em cho đến lúc tìm về cực lạc luôn đó. Ngán hăm? Đạm Hạnh chắp tay: Xin cám ơn từ tâm ạ. Xin bái biệt ạ! Bà nữ thí chủ từng quỳ lạy cho mòn gối ở chùa la lên: Ủa, ngài trụ trì không viết sẵn cái biên nhận hả? Vậy mai này lỡ có gì… Ông số một vịn vai bà vợ: Em khéo lo, người ta tu hành ăn chay niệm Phật, người ta sếp sòng một ngôi chùa đình đám khách thập phương lai vãng, chẳng có lý gì lại… Đã nhớ mặt tui chưa? Tui nhớ mặt chú rồi đó. Về thưa bẩm thầy là mọi thứ đều ô kê. Coi chừng xe đụng.

Đạm Hạnh lại tiếp tục cuộc hành hương tìm về chủ nhân phong thư số 2. Hỏi người này người nọ, ai cũng nói “xa mút chỉ cà tha” đó cưng. Đành phải leo lên xe ôm. Ông già ốm dơ xương hỏi: Về chùa nào? Trong chu vi ba chục cây số vuông chùa chi tui cũng rành đường đi nước bước để lèo lái tới, chùa nào khuất xa thì tui hổng thồ chú đâu nha. Đạm Hạnh nói: Đi với Phật mặc áo cà sa, nhưng chẳng lẽ tui mặc áo lam là chỉ vô chùa thôi sao? Bác xe ôm cười hề hề: Tóc chú cạo láng bóng như thế thì chẳng lẽ tìm tới tiệm hớt tóc thư giãn nó lo cho từ a tới z. Mẹ, nói mới nhớ, nghèo khó luôn bó cái khôn, bó luôn cả cái sướng. Hổng chừng mò ra Đà Nẵng, thành phố đáng sống nhất nước mà đăng ký cái hộ khẩu. Chú người tu hành vậy có tin tới chuyện luân hồi? Kiếp sau tui sẽ làm đờn bà ba vòng đủ tiêu chuẩn, chỉ có thế mới thôi ca bài “đời là bể khổ”.

Chừng cháy rụi một cây nhang, xe đã tấp vô “mái tranh nghèo không người sửa sang” khu vườn thiếu đủ thứ. Bác xe ôm nói: Tui đâu có rành chuyện chặt chém, hô giá đó vì tui là người tử tế, mặc dù tui biết bây giờ người của chùa ai nấy đều giàu sụ.

Người đón nhận lá thư số hai là phụ nữ. Bà mở lá thư ra đọc, khuôn mặt luôn thay đổi. Cảm xúc biểu lộ qua cau mày, nhíu vầng trán, mũi nở to. Bà đọc như kiểu người ta đang niệm kinh, lớn tiếng khi đến đoạn: Em tạm cầm lấy tám chục triệu này nhằm trả công em đã không lên chùa làm tình làm tội. Lần tới anh sẽ biểu thằng cu Đạm mang thêm, dùng tiền đô của Mỹ cho gọn nhẹ. Nước mắt bà chảy ra, bà ấp lá thư vào ngực, mắt ngó không nháy tới “con chim xanh” vừa trao thư, vừa làm cánh nhạn là đà, tung cánh chim về nhìn sơ qua tổ ấm. Con. Bà chỉ thốt được một tiếng, cổ nghẹn nói chẳng ra lời. Đạm Hạnh nhìn người đàn bà bất hạnh, linh cảm có điềm bất lành. Con muốn ở với má hay tiếp tục lui lại chùa với ổng? Má là má ruột của con đây Đạm à. Trước, má cũng đi tu, ni cô này bị ác tăng cưỡng hiếp nên sức mọn cô thế đành hoàn tục tìm nơi vắng để sửa mình. Má sanh ra con, nuôi tới ba năm chịu đời không thấu liền cho con uống thuốc ngủ, viết lá thư nhét trong túi áo, đêm hôm thanh vắng mang con đặt trước cổng chùa, ơn đền oán trả…

Đạm Hạnh ném gói tiền xuống đất, quay đầu ù té chạy như bị ma đuổi. Chú không nhẫm thầm A di đà Phật mà chú nghiến răng trèo trẹo: Địt mẹ, tao về cạy thùng phước sương, tao vơ vét sạch tiền mấy đứa nhẹ dạ cúng dường cho vào ba lô, tao đi giang hồ xuyên Việt trả thù đời. Tao ăn cắp cái đồng hồ giá trăm cây vàng của “ông già dê”, tao trộm luôn cái di động iPone X của ổng. Đừng trách tui nha, hoà thượng Thích Thương Thiện.

Ngôi chùa bề thế đó rồi. Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa vàng liềm vàng treo một hàng phất phơ cùng gió chướng. Mẹ rượt, hổng biết tía tôi lên chức trụ trì thì cần bao nhiêu tuổi đảng? Ma giáo thật!

Hồ Đình Nghiêm
Halloween, 2019