Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 5 August 2015

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Cơm Tù

Bài 24

Cây Cải trời

Ở “tù Việt Cộng” mà nói “Cơm Tù” là trật lất, bởi vì Việt Cộng có nuôi tù bằng cơm bao giờ đâu! Cũng không thể gọi Việt Cộng nuôi tù. Chính là tù nuôi tù. Tù trồng khoai mì (sắn) nuôi tù; tù trồng rau nuôi tù… và nuôi cả Việt Cộng nữa.

                Việt Cộng vô ơn và tham lam. Không những bọn chúng không nhớ ơn tù trồng tỉa nuôi chúng, mà chúng còn giành lấy cái ngon, cái tốt. Cái dở, cái siu thúi, hư mốc thì đem cho tù ăn.

                Trong trại tù, con chi ăn được là người tù ăn, rau trái chi ăn được là người tù ăn, dù cái ấy là người tù nuôi trồng hay thú hoang, cây lá mọc hoang.

                Có một thứ cải không ăn được, không ai dám ăn!

                Đó là cây chi?

                Khi tôi còn ở “Đội Mộc”, đội mộc gồm nhiều tù nhân gốc miền sông nước Cửu Long, nói nôm na là gốc “người nhà quê” nên so với dân thành phố như chúng tôi, lớn lên quanh quẩn trên những con phố, đại lộ, biết gì về rau trái mọc trong vườn, trong đồng, nên một hôm tôi ra khoảng sân trống giữa đội mộc và xưởng cưa, hái mấy cây cải, định đem về luộc ăn chơi. Nói thật lòng, không phải “ăn chơi”, mà “ăn no”, “độn” thêm rau vào bụng cho no, như mẹ tôi thường nói theo câu tục ngữ, “Đói ăn rau, đau uống thuốc”.

                Thấy tôi cầm mấy cây cải trong tay, cựu Đại úy Nguyễn Tấn Trí, ông nầy gốc là lính của ông Năm Lửa, nói:

                – “Cây “cải trời”, không ăn được đâu!

                Ông Trịnh Xuân Chính, đúng là “chuyên viên hạng hai” của Văn phòng Phụ Tá Ngoại Vụ Tổng Thống, chẳng biết mô tê gì cây lá miền quê, “cải” lại, đúng “lý thuyết”:

                – “Đã gọi là cải sao không ăn được?

                Ông Trí thực tế hơn:

                – “Không ai ăn được nên không ăn được.”

                Tôi cũng mù tịt về hoa lá “vùng nước nổi” bèn hỏi:

                – “Cây nầy là cây cải chi?”

                – “Cây cải trời.” Ông Trí nói lại.

                Ông Cựu Đại úy Lương Văn Lịch, nhìn vấn đề theo “lăng kính chính trị”, cười nói:

                – “Mấy cha nầy cãi nhau vô ích. Cây “cải trời” là “cây Cộng Sản”. Chỉ có Việt Cộng mới cãi lại Trời. Mấy ông ăn vô là thành Việt Cộng. Bộ ưng thành Việt Cộng lắm hả?”

                Tù mà thành Việt Cộng thì mau được tha. Ai cũng muốn được tha, nhưng không ai muốn thành Việt Cộng. “Đời là thế đấy!”

                Tôi đem mấy cây cải bỏ vô đống mạt cưa, vừa cười vừa nói:

                – “Cho nó vô mạt cưa. “Mạt cưa mướp đắng gặp nhau là xứng đôi.” Đấy là tôi nói theo ý một câu Kiều. (Tình cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Chung lưng mở một ngôi hàng. Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề)

Nấm Chỉ

                Tôi và anh Lã Trung Tâm đang ngồi ăn chiều. Trời cuối hè, cái nóng bớt đi, mấy hôm nay buổi tối có mưa lai rai. Trời âm u và có nhiều sương. Dù trời thế nào, cũng lo ăn cho mau xong, còn rửa chén bát và tập họp “vào chuồng”, tức là Công an điểm danh, cho vào phòng và đóng cửa lại.

                Bỗng anh Tâm nói:

                – “Tụi thằng Đông thiệt ghê! Không biết nấm chi mà nó dám ăn!

                Tôi nói đùa:

                – “Nấm chỉ đó anh!”

                Anh Lã Trung Tâm nôn nóng:

                – “Răng” mi biết nấm chỉ. Nấm đó ăn được?” (Ăn chung với tôi, anh thường bắt chước tôi dùng: mô tê, răng rứa để chọc quê tôi.).

                – “Tui nghe Ngọc Xùi nói. Không biết ai nói với nó là nấm chỉ.” Tôi trả lời.

                – “Tao chưa nghe ai nói cái thứ nấm chỉ nầy bao giờ. Nấm mối, nấm rơm, nấm Đông-Cô… Làm chi có cái thứ nấm chỉ mà ăn được.”

                Tôi cười:

                – “Anh đúng là “ông già ham vui” mà chẳng biết gì cả. Bọn nó nói, ăn xong, cả bọn thằng Đông kéo nhau lên Trạm Xá xin thuốc. Bác sĩ Đôn hỏi đau chi? Bọn nó chỉ vô họng. “Á khẩu” hết rồi, không nói được, nên đưa tay chỉ vào họng. Không gọi là “nấm chỉ” thì gọi là chi?

                – “Mày!… “đâm hông không?”

                – “Không phải tui. “Không phải tui mấy ông ơi! Người ta mới cho tiền để tui cưới vợ. Tụi nó nói, không phải tui nói ông Tâm ơi!”

                (“Không phải tui mấy ông ơi.” là câu chúng tôi thường nói nhại theo Nguyễn Văn Trỗi, hôm y bị đem xử bắn.)

Sự việc là, hôm ấy phá rừng về, Dương Tiến Đông và một đám khoảng bốn năm người, mỗi người ôm một cái mũ hay nón đựng đầy nấm. Bọn họ kéo nhau ra hồ nước rửa sạch nấm, nhóm lửa để luộc, lấy muối ớt làm nước chấm. Sau đó, mấy chả đem ra ăn, hì hà hì hụp khen ngon.

Có người hỏi:

– “Biết nấm có ăn được không, mấy ông ăn với nhau.”

– “Được chớ! Được chớ. Ngon lắm!” Đông nói.

– “Sao ông biết ăn được?” Có người hỏi.

– “Hễ nai ăn được là mình ăn được!” Đông trả lời.

– “Làm sao ông thấy nai đang ăn?”

– “Có dấu chân nai. Chỗ nấm có nhiều dấu chân nai.” Đông trả lời.

– “Thôi đi! Để chúng nó ăn. Ông hỏi khắc hoài, nổi sùng, nó cự cho bây giờ.”

Thế là họ bỏ đi.

Đêm hôm đó, không thấy ai rên la gì. Ai nấy ngủ ngon.

Đúng là trời không hại người ngay bao giờ!

Thuốc Suyễn

Nhiều người từng bị suyễn khi còn nhỏ, như ông Trịnh Xuân Chính chẳng hạn.

Tới năm mười tuổi, ông Chính hết bệnh suyễn. Người ta bảo là khi đã lớn hơn chút ít, nhờ ăn uống đầy đủ, nên người ta không còn bị suyễn.

Tới khi vô trại tù, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chất kháng sinh yếu đi, bệnh suyễn lại tái phát.

Mỗi lần Chính lên cơn suyễn, trông tôi nghiệp lắm. Ngồi tựa lưng vào tường, lót hai ba cái gối, người anh gục xuống, tóc rủ rượi, mắt nhắm nghiền, thở khò khè, như có ai lấy tay chận ở cổ họng anh, không cho anh ta thở.

Huỳnh Hà Đông ngồi trước mặt Chính, chờ Chính biểu gì làm nấy. Chính đưa tay chỉ phía trái, Đông không hiểu Chính muốn gì nên chưa kịp làm chi thì Chính đã nạt: “Bơm. Bơm!” Đông hiểu là lấy ống thuốc bơm để thở. Đông vội choài người tới phía đó, tay chụp ống bơm, mở nắp đưa ngay cho Chính. Chính trợn mắt nhìn Đông, tuồng như chê Đông chậm chạp.

Một lúc, cơn suyễn nhẹ bớt, Chính thở được, nhẹ nhàng. Đông đỡ Chính nằm xuống, lấy gối lót đầu, lấy cái quạt giấy quạt nhẹ cho Chính.

Chính dần dần đi vào giấc ngủ êm.

Bấy giờ Đông mới trụt xuống tầng dưới, lấy nước uống. Anh Chung Văn Nghiêm vội đưa cho Đông chén trà nóng. Anh Nghiêm nói:

– “Nước nhì đó! Ngon lắm.”

Trà Đỗ Hữu chính hiệu, nước thứ hai mới thật là ngon.

Hớp một hớp trà xong, Đông cười:

– “Ổng làm tui khiếp luôn. Không nói được, ông đưa tay chỉ. Tui biết cái gì mà lấy. Chưa kịp, ổng nạt cho một tiếng.” Nói xong, Đông cười hề hề.

Khi chúng tôi bị chuyển ra trại ngoài, trại mới xây bên chân “Đồi Phượng Vĩ” thì tình trạng thăm nuôi đã tệ lắm. Ở tù đã hơn năm năm rồi, lâu quá, gia đình cũng đuối sức. Thức ăn đã ít đi nhiều mà thuốc men lại thiếu lắm, có thứ thuốc không có. Gia đình dù có tiền cũng tìm mua chưa hẳn đã có, chưa nói là thuốc Tây thì “bán dưới đất mà giá thì trên Trời.”

Trong hoàn cảnh đó, cái ăn đã “tự biên tự diễn”, đào trộm củ khoai củ sắn, nắm lá nắm rau, mà thuốc thì tự tìm lấy nơi đồng hoang cỏ dại.

Sau Đồi Phượng Vĩ có con suối ngầm.

Có lẽ nước mưa thấm vào ngọn đồi, chảy ra thành một con suối phía sau đồi. Nước suối từ chân đồi chảy ra, khi nhiều khi ít, tùy theo “hai mùa mưa nắng”, nhưng dòng suối ngầm, nước không bao giờ dứt.

Nhờ có nước, hai bên bờ suối, rau sam mọc nhanh và rậm. Đó là món “cải thiện” trời cho của anh em tù chúng tôi. Ngày nào chúng tôi cũng xuống suối hái rau. Hôm trước mới cắt rau, hôm sau rau đã mọc xanh đầy. Món rau “cải thiện” của chúng tôi không bao giờ cạn kiệt.

Những ngày nắng hạn, suối nầy cũng là nơi tập trung của các loài ếch nhái, chồn cáo. Chồn cáo thì chúng tôi chưa bắt được, nhưng ếch nhái, cũng có người “vồ được”, chặt đầu, lột da, nướng ăn với muối hay chiên xào với rau, nếu anh nào có chút mỡ, tiêu, hành.

Cũng lắm khi có mấy chú rắn tìm về đây. Rắng cần nước hay vì nơi nầy có ếch nhái? Điều đó không quan trọng! Quan trọng là rắn độc hay không độc, hễ bị chúng tôi phát hiện thì “mày chạy đằng nào!” như lời Đông nói, mỗi khi anh ta bắt được rắn. Có lần anh ta bắt một lần được những hai con. Không hiểu căn cớ vì sao, Đông phát hiện hai con rắn, con nầy nuốt con kia, nửa chừng hai con rắn nằm lại đó, chờ Đông đến bắt lột vỏ, nướng ăn.

Mỗi khi bắt được một con rắn, như một thông lệ, sau khi đâp đầu rắn, lột da, người ta kêu:

– “Trắc đâu! Trắc đâu!”

Con rắn vừa bị lột vỏ, bộ lòng hiện ra, tái tim còn đập. Người ta moi ngay cái mật rắn, đưa cho Trắc. Trắc cầm cái mật rắn, ngữa cổ, bỏ vào miệng, nuốt đánh ực môt cái. Xong, Trắc đưa tay vuốt ngực, nói: “Khỏe quá! Khỏe quá!”

Khỏe gì đâu! Mật rắn đâu phải là thuốc tiên. Trắc bị suyễn, nghe ai nói đâu đó, bảo rằng nuốt mật rắn thì hết ngay. Vì vậy, một khi bắt được một con rắn, anh em thường lấy cái mật mà cho Trắc. Nhờ vậy, Trắc ít bị lên cơn suyễn như trước kia. Đó là món thuốc suyễn kỳ diệu!

Có lẽ ông Hoa Đà tái thế mà giúp Trắc đó chăng?!

Tên Trộm Bầu

                Đội Rau Xanh có một khoảnh đất phía sau trại, từ hàng rào dài tới bìa rừng – Chỗ nầy ông Cựu Thiếu Úy Châu Tử, Đội trưởng Đội Vệ Sinh, có cái hầm phân người. Đội Vệ Sinh đổ phân xuống đó hằng ngày, chờ khi phân đã “hoai”, có khi chưa kịp “hoai” cũng moi lên, đem bón vào ruộng rau, cho rau mau xanh, mà làm giàu “xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa.”

                Mấy chú Miên Đội Rau Xanh thường “phát huy sáng kiến”. Thường mỗi “đội viên” có một khoảnh đất nhỏ cho riêng mình. Sau khi hoàn tất công việc của đội, họ lo cho khoảnh đất riêng. Họ nhờ gia đình đem lên cho ít hột giống để họ tự trồng thuốc lá mà hút, xà lách, đậu bắp mà ăn. Gia đình khỏi “tiếp tế”. Họ làm giàn trồng một ít bí, bầu…

                Sau mùa xuân, cây trái ra hoa xong, bầu bí bắt đầu có trái, trông ngon mắt.

                Buổi tối, đội viên về trại. Sáng hôm sau trở ra, họ bị mất một ít trái bầu, trái bí. Có hai thành phần thủ phạm trộm bầu bí: Một là mấy cán bộ Công An có gia đình, hái đem về nhà. Hai là mấy chú “dộc” từ trong rừng ra.

                “Dộc” là một loài “hầu”, con cháu ông Tề. Ông Tề lông vàng, vì ông Tề sinh trưởng ở Châu Á, còn mấy chú “dộc”, có nguồn gốc “Châu Phi đen”.

                Một hôm, mấy chú Miên làm bẫy sập bắt được một chú “dộc” đem về trại. Nó bị trói vào cột nhà. Mặt mũi nó là khỉ, nhưng chân tay dài như một đứa con nít hai ba tuổi thiếu ăn. Thấy người tới, con “dộc” sợ hãi nhìn mọi người, nước mát chảy xuống hai dòng theo khóe mắt. Ai cũng thấy tội nghiệp cho nó.

                Trong hoàn cảnh ăn uống đầy đủ, chưa hẳn người ta tha mạng cho nó, huống chi trong cảnh tù. Thịt con “dộc” dù có dai, không thơm, dù thấy nó tội nghiêp. Giết nó rồi, lông đen cạo sạch, da trắng ra, nó nằm dài trên mặt đất như một đứa con nít. Thịt con “dộc” được xào nấu, luộc, kho để mấy chú Miên chén một bữa ngon lành.

Thịt là nhục

                Khi ở Trại Suối Máu, nhờ gia đình thăm nuôi, có người nuôi gà, nuôi vịt. Nhờ vậy nên người ta không còn ăn những con ốc trơi, ốc ma bắt được ngoài hàng rào.

                Khi chuyển trại đợt đầu, – sau nầy mới biết là đi Phước Long – tham gia cái gọi là “Bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế” là chương trình do Võ Nguyên Giáp đề ra – những tù cải tạo ra đi đều được đem theo gà vịt sống đang nuôi. Đợt hai, – sau nầy biết là bị đày ra Bắc – tù không được đem bất cứ cái gì theo, ngoài cái Bộ Đội ra lệnh là “bồng gọn nhẹ”. Thế mà anh bạn Huỳnh Văn Khánh của tôi cố đem theo con vịt anh đang nuôi. Khánh dấu con vịt sống vào cái bị bàng, nhét vô ba-lô. Có lẽ con vịt chết ngộp khi mới xuống tầu ở Tân Cảng.

                Trước khi chúng tôi chuyển trại về Xuân Lộc, Bùi Xuân Toàn với Đào Sơn Bá làm thịt một con mèo Toàn đang nuôi. Không biết do đâu Toàn có con mèo con để nuôi, nay mèo đã lớn, làm thịt được rồi.

                Có người nói:

                – “Đừng ăn thịt mèo. Mèo xui lắm.”

                – “Xui gì mà xui. Dị đoan. Thịt mèo ngon lắm.”

Giết mèo xong, Toàn và Bá đem mèo ra giếng cạo lông, mổ bụng, làm thịt. Sau đó, họ đốt lửa nấu thịt mèo.

Bá nói:

– “Thịt mèo ngon thiệt, còn hơn thịt bê.”

Có người nói mỉa:

– “Mèo mà cũng đem làm thịt ăn.”

Tôi nói:

– “Con chó có nghĩa với chủ. Chủ cũng làm thịt chó của mình mà ăn, nói chi mèo.”

Có người lại cười:

– “Thịt là nhục. Ăn miếng thịt thì không nhục!”

Ấy là người ta “chơi chữ” đấy.

Con Bơ

                Con kiến dương hình dạng như con bọ hung, chỉ khác là hai cái sừng nhọn hơn, hình dạng như sừng nai. Hôm đội tôi được lệnh dọn đất phía sau Đồi Phượng Vĩ, để lấy thêm đất trồng, phải bứng mấy cái gốc cây bị đốn đã lâu ngày. Gốc và rễ mục đi một phần.

                Khi chặt một cái rễ lớn, rễ toác ra, Đông phát hiện trong rễ có một con sùng, trắng và to hơn ngón tay cái một chút. Cầm con sùng trong tay, Đông nói:

                – “Con sùng. Mình có nhiều mỡ, trông như bơ.”

                Nói thế rồi Đông thổi cho bay một chút đất còn dính trên mình con sùng, bỏ vào miệng nhai, tấm tắt khen:

                – “Béo! Béo lắm. Mỡ nó như bơ.”

                Trắc nói:

                – “Sùng chớ bơ gì. Con sùng mà cũng ăn.”

                – “Mày ăn mật rắn trị bệnh. Tao ăn con bơ cần chất béo. Có gì đâu!”

                Tôi nói:

                – “Nó con trùng của con bọ hung đấy! Ai lại ăn bọ hung.”

                – “Đâu phải bọ hung. Anh “xuyên tạc” không. Nó là con sùng của con kiến dương.”

                Tôi nói đùa, qua câu đối của Cống Quỳnh ngày xưa:

                – “Trời sinh ông Tú Cát, Đất nứt con bọ hung.”

                Ngọc xùi nói:

                – “Mai mốt “mệ Hải” moi trong đống phân bò bắt con bọ hung cho thằng Đông coi.”

                Tôi cười:

                – “Ai hơi đâu mà làm, chọc Đông chơi!”

                Mấy ngày sau, trong khi bứng gốc cây, hễ gặp con sùng nào là người ta gọi to: “Đông ơi! Con bơ của ông đây.” Đông vội chạy tới, nắm con sùng, bỏ vào miệng ăn ngon lành, còn bảo: “Con bơ béo quá!”

“Con chó khóc đứng khóc ngồi,” (ca dao)

                Khi đội chúng tôi lãnh phần đất canh tác phía sau Đồi Phượng Vĩ, Dương Tiến Đông làm Đội trưởng. Cán bộ Hoành làm quản giáo.

                Đông là người lanh lợi, giỏi buôn bán. Nhờ cái tài ấy, anh ta “xỏ mũi” dắt quản giáo và Công An như chuyện đùa.

                Mỗi sáng, khi ra tới bãi, nhóm lửa, nấu nước. Nước trong thùng vừa sôi là anh Nghiêm bỏ một gói trà Đỗ Hữu vào “gô”. Đông bưng tới cái chòi cao cho vệ binh, móc trong túi ra một gói thuốc lá Phúc Khánh, cái hộp quẹt “gas”. Anh ta nói, “Mời cán bộ.” Xong, anh ta “đi buôn”. Trong khi đó toàn đội chúng tôi, kẻ đi mài cuốc, người cuốc đất, “lu lơ” cho hết giờ.

                Đông lận trong mình, khi thì một, khi thì hai bộ quần áo mới do trại cấp phát, đem ra mấy cái quán của xóm nhà dân, nằm bên cạnh con lộ từ Giá Rai đi Võ Đắt – Võ Xu để bán cho dân.

                Nhiều anh em tù không mặc đồ tù do trại phát, mỗi năm một hay hai lần. Đó là những bộ đồ màu xanh lam, may theo kiểu nông dân thường mặc, sợi vải to và xấu, chưa mặc sợi chỉ đã bung, đường may chưa mặc đã đứt. Họ nhờ Đông đem bán, mua một ít thực phẩm để ăn thêm. Họ vẫn mặc những bộ treilly cũ, sờn rách, vá chằng vá đụp.  Dù sao thì những bộ quần áo ấy cũng bền hơn thứ trại cấp phát nhiều.

                Bán quần áo xong, Đông mua “hàng” về bán lại cho anh em trong trại: Vài nãi chuối, vài trái đu đủ, gói thuốc lá, chai dầu gió trị bệnh, con cá lóc, v.v… Đông kiếm ít lời, lại mua trà và thuốc lá “chiêu đãi” cán bộ. Nhờ Đông biết xoay xở, nên anh em chúng tôi lao động tà tà qua ngày. Quản giáo cũng như cán bộ vệ binh, chẳng theo dõi, đốc thúc chúng tôi cuốc đất, làm cỏ gì nhiều!

                Cái tiếng “có trà và thuốc” của đội tôi làm cho nhiều vệ binh biết tới, nên có hôm, mới ra tới bãi chưa lâu, đã có tên vệ binh hạch hỏi, “Trà lá đâu?!”

                Điều đó làm cho anh em chúng tôi thấy một điều. Té ra Việt Cộng đánh đổ “giai cấp địa chủ bóc lột”, “cường hào ác bá” thì chúng lại có những cái tư tưởng, hành động như cường hào, bóc lột và hách dịch không khác chi giai cấp mà chúng đã đánh đổ. Lịch sử xã hội chỉ là con đường vòng.

                Thế rồi một hôm Đông phổ biến tin tức: “Ai muốn mua thịt chó thì đóng tiền!” Có người mua một ký, có người hai ký, có người nửa ký, v.v…

                Số là hôm rồi, Đông rủ quản giáo Hoành “đi nhậu chơi”. Hai người đi tuốt vô một xóm Thượng. Đông gạ một người Thượng bán cho Đông một con chó. Người Thượng ấy đồng ý. Vì vậy, khi về trại, Đông phổ biến việc mua thịt chó.

                Thu tiền đâu đó xong rồi, hôm sau, Đông rủ thêm một bạn tù nữa, tôi không nhớ là ai, cùng quản giáo Hoành đi mua chó, làm thịt, nấu một món nhậu cho cả mấy người nhậu chơi, trước khi về lại bãi lao động, rồi đem thịt chó về giao cho “bạn hàng.”

                Chiều hôm đó, Đông rủ tôi và anh Lã Trung Tâm cùng ăn thịt chó với Đông. Anh Tâm từ chối. Tôi cũng không ăn. Sợ mất lòng, tôi nói: “Tui ngại lắm! Nhà tôi có con chó, ai cũng thương. Hôm con chó bị người ta bắt, thằng Hùng (móm) em tôi nó khóc đó. Mẹ tôi phải đi chuộc về!”

                Đông nói:

                – “Con chó như có linh tính. Khi tôi ra bắt nó, tui thấy nước mắt nó chảy ra. Nó khóc. Tui không muốn bắt. Thằng Thượng bắt, trói chân lại, giao cho tui.”

                Đông còn làm một chuyện “động trời” nữa.

                Tuần sau, anh ta rủ một vệ binh đi chơi với anh, rồi hai người nhậu “ngoắt cần câu”. Tới giờ hết lao động, Đông và anh vệ binh cũng chưa về. Quản giáo Hoành nói:

                – “Thôi! Cứ về đi, tôi báo cáo hai người có công tác.”

                Mãi đến tối, Đông mới về, mặt mày đỏ gay, còn hơi rượu, rồi chui vào giường ngủ mất.

                Hôm sau, Đông nói với tôi:

                – “Thằng vệ binh say quá, tôi phải dìu nó. Nó gởi cây súng cho trưởng ấp, về tay không. Bữa nay nó mới đi lấy về.”

                Đội tôi, cứ cái đà cuốc đất tà tà như vậy mà kéo dài, đến khi mưa tới, lô đất cuốc chưa được một nửa, làm sao gieo hột bắp. Đông xúi quản giáo Hoành cho đốt hết cỏ dại, cây dại; xong, xoi lỗ gieo hột như người Thượng, chẳng cần phải cuốc. Được nửa tháng bắp đã mọc, nhưng èo uột. Kiểu nầy thì tới khi thu hoạch, chắc là mất mùa to, chẳng được hột bắp nào. Cũng may, sau đó, trời hạn hán, cả tháng không có giọt mưa nào. Không riêng gì đất của đội tôi mà toàn trại, bắp cháy hết! Tới đó thì coi như “huề cả làng.”

                Được ít lâu, quản giáo Hoành được chọn đi học y sĩ. Cán bộ Nhâm thay thế. Thằng nầy nổi tiếng ác. Hai cái môi bao giờ cũng tím dắt. Đó là tướng người ác.

                Nó cấm hết mọi chuyện buôn bán, “cải thiện linh tinh”, đến nỗi rau đắng bên bờ suối cũng không được hái. Anh Nghiêm hái trộm một nắm nhỏ, thấy được, y bắt anh Nghiêm phải đem đổ, không cho đem về.

                Tới thời kỳ gay go đó thì sau tết khoảng hai tháng, một mình tôi được lệnh chuyển vô Trại Cây. Có lẽ bọn Công An nghi tôi trốn trại, đưa vô Trại Cây cho chắc ăn.

                Tôi khỏi trốn trại. Vô Trại Cây được hai tháng thì tôi “được tha ra khỏi trại cải tạo”, xong một đời tù gian khổ kéo dài 7 năm 10 ngày.

                Những chuyện tôi kể trên chỉ là những chuyện “cải thiện linh tinh”, bởi vì bản năng sinh tồn là một ý chí kỳ diệu mà Tạo Hóa ban cho con người ta.

                Bất cứ trong hoàn cảnh nào, để sống còn, người ta, phần đông là người tù, tìm dủ cách để sống, kiếm thêm rau trái để ăn, tìm cây lá để trị bệnh… Thay thế “xuyên tâm liên” do trại phát, chúng tôi trồng “cây sống đời” để làm thuốc. Lá cây nầy có chất trụ sinh.

                Còn như “cơm tù”, khi tới mùa thì được ăn bắp, khi hết mùa thì ăn khoai mì lát. Khoai hay bắp thì được ăn với rau muống luộc chắm nước muối, tên thường gọi là “nước mắm đại dương”.

                Khi tù còn được Bộ Đội quản lý, từ giữa năm 1975 đến giữa năm 1977, dù không được ăn no, nhưng chúng tôi còn được ăn cơm, ít được thăm nuôi. Khoảng đầu năm 1977, không được phát gạo, chúng tôi được ăn bột mì, – thứ bột để làm bánh mì.

Không làm được bánh mì, chúng tôi làm bánh bao. Nguyễn Thụy Hiền nói đùa: “Tui là đàn ông, cũng được phát mỗi ngày một “cặp bánh bao”.

                Khi được chuyển qua cho Công An “quản lý”, bọn nầy có kinh nghiệm coi tù, tàn ác và thủ đoạn vô cùng.

Không được ăn cơm, có lúc chúng cho ăn bo bo. Thằng Trung úy Ngọc, trại phó Trại Cây (B), “lên lớp” chúng tôi: “Các anh đừng chê bo bo. Trung Quốc gọi bo bo là cao lương; các anh được ăn cao lương đấy”. Ý của y là muốn nói tới “Cao lương mỹ vị” là đồ ăn của vua chúa đấy. Miệng lưỡi Cộng Sản ghê gớm chưa!? Dĩ nhiên bọn chúng ăn cơm, không ăn bo bo bao giờ.

                Khi bị Công An quản lý, lệnh cho thăm nuôi hàng tháng. Người tù sống còn được, phần nhiều cũng là nhờ gia đình thăm nuôi. Gia đình đem cho gạo, cá khô, thịt khô, nước mắm… ăn dần dần chờ kỳ thăm nuôi sau.

                Đối với Công An, dù người tù nào có công, cũng không được “thưởng” gì thêm, dù chén cơm hoặc miếng thịt. Tuy nhiên, chúng dùng ngay cái thức ăn của gia đình đem cho người tù để khống chế người tù.

                Hễ ai “học tập tốt, lao động tốt” mới được thăm nuôi. Còn như ai “chống đối”, “ngoan cố” “âm mưu trốn trại” thì chúng cúp thăm nuôi. Gia đình lên tới trại, phải mang quà mà trở về, không được gặp người thân mà cũng không được gởi quà lại.

Dùng thực phẩm của gia đình người tù, để “trừng trị” người tù, đó không phải là một thủ đoạn đê hèn hay sao?!

                Hôm tôi ở trại mới bên cạnh Đồi Phượng Vĩ, có một đám tù từ Bắc được đưa về. Tôi gặp một số người quen: Cựu Trung Tá Trương Như Xin của Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng trước kia và anh Cao Văn Thanh, Cao học Hành Chánh, em một người bạn gái cùng lớp niên khóa 1954-55.

Anh Xin bị sưng phù hai chân, tôi nhờ “Bác sĩ Hảo” trưởng Trạm Xá chăm sóc giùm. Còn Cao Văn Thanh, một bữa tôi rủ anh ăn chung với tôi. Tôi và Thanh bày khoai mì ra. Thanh nói:

                – “Khoai mì nầy ngon quá, lát khoai còn trắng.”

– “Ngoài đó cũng ăn khoai mì?” Tôi hỏi.

– “Muôn năm!” Thanh nói. “Suốt cả mấy năm tui ở ngoài Bắc, chỉ ăn khoai mì đen, lát khoai mì đã thâm đen, mốc, có khi bị mục không ăn được.”

                Tôi nghĩ thầm: Khoai mì mà ngon gì. Và nghĩ tới những người bi đày ra Bắc như Thanh, bao nhiêu năm trời bị đày ra ngoài đó, họ chỉ có được một thứ khoai mì đen.

&

                Nói “Cơm Tù” chỉ là một cách nói thông thường. Người tù Cải Tạo không mấy khi được ăn cơm, ngoại trừ Tết hay khi có “Ba ngày nễ nớn” – cán bộ thường nói ngọng như thế – thì được lưng chén cơm, ăn chưa đủ tráng cái miệng thèm cơm.

                Có lần Phan Hải nói:

                – “Hồi trước, ăn uống đâu có như ri. Cơm gạo trắng mà ăn đủ, ăn no, không bao giờ đói!”

                – “Còn thức ăn?” Tôi hỏi.

                – “Mỗi tuần 7 ngày, ba ngày ăn thịt, bốn ngày ăn cá. Có khi đại diện tù chê cá ươn, không nhận, nhà thầu phải cung cấp ngay cá hộp, cho kịp bữa. Họ quậy đó, làm gì có cá ươn!”

                Phan Hải là Cựu Trung úy, làm việc ở Toà Đô Chánh, đặc trách coi sóc đời sống tù Chí Hòa.

                Nguyên năm 1954, anh ở lại miền Nam với ông Bác. Anh lớn lên, được đi học, rồi bị gọi Động viên, nhập học Trường Sĩ quan Thủ Đức.

                Cha mẹ anh “tập kết” ra Bắc. Ông thân là ông Phan Mạch, Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhứt của chính phủ Bắc Việt. Bác là Phan Mỹ, Chủ Nhiệm Văn Phòng của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Bác cả là nhà văn Phan Khôi. Đây là dòng họ “Phan Điện Bàn”, thường người ta gọi là “Phan Cộng Sản” để phân biệt với họ “Phan Quế Sơn”, như giáo sư Phan Khoang, nhà văn Phan Du, thường gọi là “Phan Việt Quốc”.

                Không biết khi Phan Hải được tha, kể chuyện “cơm tù” cho cha mẹ nghe, cha mẹ anh sẽ nghĩ như thế nào. Họ thấy “tội nghiệp” cho con họ. Còn những người cùng tù như Phan Hải thì sao, họ có thấy “tội nghiệp” không, hay nghĩ đơn giản như bọn cán bộ Cộng Sản thường nói: “Bây giờ thì lo ăn no mặc ấm, mai kia thì các anh được ăn ngon mặc đẹp.”

                Thực tế, bây giờ ăn “chưa no”, làm chi mai sau có “ăn ngon?”

                Đây chỉ là cái bánh vẽ.

                Cái “bánh vẽ” trông thiệt là ngon lành, nhưng không ai bao giờ rớ tới được. “Thiên đường Cộng Sản” là vậy đấy!!!

                Câu chuyện nầy làm tôi nhớ tới bài thơ của “ông Phán Hoan” (Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị, tức nhà thơ Cộng Sản Chế Lan Viên, trước 1945 làm thông phán cho Tây)

Bánh vẽ

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm…

(8-1991)

Mass, tháng 8 /2015

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 16 July 2015 

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Ngày Tết được tha

Bài 23

Những nấm mồ của người tù cải tạo (Suối Ô Mai)
Nguồn ảnh: On the Net

Trẻ Tạo hóa đành hanh quá ngán

Chết đuối người trên cạn mà chơi!

(Cung Oán Ngâm Khúc)

Mấy hôm nay, trong trại anh em tù nhân bàn tán xôn xao vì sắp tới tết ta. Tết đến, hoặc “Ba ngày nễ nớn”, thế nào cũng có một số người được “tha ra khỏi trại cải tạo”.

Thời gian cải tạo, nhìn chung toàn bộ số người trong trại, ai ai cũng tròm trèm 5 năm rồi. Có lẽ đó cũng là một cái mốc án tù nào đấy để hy vọng được về.

Người ta chỉ đoán vậy thôi chứ tù ở đây chẳng ai có án, chỉ là “tập trung cải tạo”, “lao động tốt, học tập tốt” thì được tha. “Cách mạng” nói như thế là cách nói lững lơ, chẳng ai biết thế nào là tốt; cứ không trốn trại, “an tâm học tập cải tạo”, còn lao động tốt là cuốc đất làm rẫy hết mình, không “chây lười lao động”, còn ngày về thì có “cách mạng lo”. Toàn là những mỹ từ, hay nói cho đúng hơn là bánh vẽ, cứ thế mà chờ.

Hễ tới các dịp lễ tết, “ba ngày nễ nớn” – tiếng thường nhại theo cán bộ Bắc kỳ – người ta lại hy vọng được tha. Cấp bậc càng nhỏ, trung sĩ, thượng sĩ, thiếu úy v.v… thì hy vọng nhiều hơn trung úy, đại úy.

Nghĩ tới ngày về, Tăng đâm lo. Về đâu hè?!

Tăng vào “rờ sẹc” (recherche) hồi 18 tuổi, hồi đó là làm mật thám cho Tây, hay còn gọi là “Công An Liên Bang” mà “xếp xòng” là Cò Xuân (Sau nầy là tướng Mai Hữu Xuân của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa).

Trình diện ông ta xong, nhận cây súng, Tăng lận vào lưng quần, phủ cái áo “sơ mi” cụt tay ra ngoài, cố làm sao cho nó hơi cộm một chút để “giựt le” chơi. Tăng cũng bắt chước “đàn anh”, vào quán vịt quay ở Chợ Cũ (đường Hàm Nghi), cố vói tay chỉ con vịt treo cao để lòi cây súng dắt bên hông, cho chú Ba thấy, chú sợ: “Cái lày ngộ piếu ông thày, ngộ không tình tiền).

Tăng nhởn nhơ sống, cưới vợ, bồ bịch, ly dị, rồi lại cưới, rồi ly dị, khi Tăng đã 40 tuổi, cưới vợ lần thứ ba, cô dâu chỉ mới 20. Đúng là “Khi anh hai mươi, em mới sinh ra đời…” Từ “rờ sẹc”, sau gọi là Công An, rồi Cảnh Sát Công An… Bao nhiêu lần đổi tên đổi họ như thế, cuối cùng, trước khi Cọng Sản chiếm miền Nam, Tăng mang “loon” thiếu úy, nhân viên Phòng Tư Pháp một quận Cảnh Sát ở Saigon và sau ngày 30 tháng tư, trình diện, đóng tiền đi ở tù theo lệnh của “cách mạng”.

Khi Tăng vào trại cải tạo rồi, cửa nhà tan nát. Vợ Tăng lấy một “ông cán bộ”, vai vế lắm, con gái Tăng cũng đi lấy chồng xa. Hai đứa con trai của hai bà vợ trước, nghe người ta nói là đã vượt biên cùng gia đình – tức là mẹ, bố ghẻ và con cái của họ. – Nói là nghe nói, bởi vì từ khi ly dị với các bà ấy, Tăng chẳng bao giờ thăm hỏi mẹ con họ, chẳng bao giờ gởi cho chút tiền bạc cấp dưỡng…

Đời Tăng, kể từ khi lớn lên, đi làm, chẳng bao giờ khổ. Vật giá Saigon hồi xưa rẻ lắm, đồng lương của Tăng dư xài. Khi vật giá lên, lương cũng lên. Khi mọi thứ leo thang quá, thì nhờ lâu năm, “sống lâu ra lão làng”, nhờ kinh nghiệm trong ngành, Tăng qua làm phòng Tư Pháp, làm nhân viên thôi, nhưng nhân viên mới thật là khỏe. “Đương đơn”, ở đất Saigon này, từ hồi dân di cư vào đông, kinh tế phát triển nhiều, thì bao giờ cũng rất quen việc, trên dưới đâu đó ơn nghĩa đàng hoàng.

Đùng một cái, Tăng đi ở tù, mọi sự sụp đổ hết. Bây giờ Tăng mới thấm thía câu nói của ông Thiệu: “Đất nước mất, mất tất cả”. Ngày trước, nghe câu đó, Tăng cho là “ổng” chỉ hù thiên hạ. Mấy chả nói chính trị, hơi đâu mà nghe, cái việc “mất đất nước”, dễ không, làm sao có được!

Dĩ nhiên Tăng đau khổ. Hai năm đầu trong trại cải tạo, Tăng ở chung với mấy ông “Đại úy Tuyên úy”. Từ lâu, Tăng chẳng gần gủi với tôn giáo nên chẳng ưa gì mấy ông tuyên úy. Tăng cho rằng “mấy chả đi tu còn ưa đeo loon”. Vậy thôi. Chùa, nhà thờ, Tăng có lai vãng, nhất là thời gian mấy năm “mấy ông tu hành làm chính trị” cũng chỉ vì công tác thượng cấp giao phó. Điều tra mấy ông tu hành này khi họ bị bắt, cũng như điều tra đám sinh viên biểu tình, Tăng thấy phiền, chẳng có “xơ múi” gì mà mấy chã thì ăn nói ngang phè, chướng tai. Thường thì Tăng tránh né, để thượng cấp giao cho người khác.

Bây giờ, sống chung với mấy ông tuyên úy, nghe mấy ông nói chuyện đạo, Tăng cũng thấy hay hay, nhất là sau khi “cửa nhà tan nát”. Dù Tăng chẳng hiểu sâu sắc gì về kinh kệ, Tăng cũng thấm nhuần đôi chút “sắc sắc không không”. Tăng thấy đời Tăng thôi thế cũng đủ rồi, chẳng mong gì thêm.

Thật ra, Tăng hiểu có muốn thêm cũng chẳng được. Thời của mình, thế là qua rồi, bây giờ là thời của người ta. Người ta từ ngoài kia vô đây, cầm súng mấy chục năm rồi, tốn hao biết bao nhiêu xương máu, hàng triệu người “hy sinh”, nay mới có được chừng ấy, sức mấy mà người ta chịu nhả miếng ăn ra mà hòng tranh giành với họ. Cộng Sản, quanh thế giới, từ ngày họ có mặt đến giờ, chỉ có tiến mà không có lùi. Chịu thua đi cho xong. Với lại, kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề, Tăng thấy rõ, ai có quyền là người đó hơn. Quyền là cây súng trong tay. Ngày hôm trước, chưa vô “rờ sẹc”, chẳng ai coi Tăng là cái gì. Vậy mà ngày hôm sau, nhận việc rồi, cây súng dắt vào lưng quần, thấy chỗ thắt lưng của Tăng cồm cộm, người ta đâm ra sợ Tăng. Đời là vậy đó. Tự do, Dân chủ là cái quái quỉ gì đâu, giả hiệu cả! Với lại, cuộc sống trong Nam dễ dãi quá, cuộc sống Saigon cũng dễ dãi quá, đời Tăng cũng không có gì sóng gió, tới tháng thì lãnh lương, tới năm thì người ta “đè cổ ra” mà móc “loon”, Tăng chẳng chạy chọt, xin xỏ. Thậm chí việc vợ con, ưng thì lấy, chán vợ thì có bồ, vợ rầy rà thì ly dị cho khỏe. Cuộc đời cứ thế mà trôi đi, chẳng có gì vướng bận cả.. .

Bây giờ vào tù, Tăng mới thấy cái trăm ngàn khó khăn hiện ra, nhưng mà đời, như ông tuyên úy nói “sắc sắc không không”. Cái có rồi sẽ mất, cái mất rồi sẽ có. Tăng, như mấy ông tuyên úy nhận xét khi Tăng tâm sự chuyện nhà với họ, đã có một đời nhởn nhơ sung sướng trong khi đất nước chịu cuộc chiến tranh người Bắc, người Nam, anh em tương tàn 30 năm, bao nhiêu người chết chóc khốn khổ. Nay Tăng có chết, cũng là thường tình. Không trả trước thì trả sau. Vay trả trả vay. Mấy ông tu hành nói vậy mà hay!

Mới tháng trước đây, Trần Hứa Sơ, chung đội với Tăng, sáng sớm xuống nhà bếp xin nước sôi, buồn tình đâm đầu vào lò củi đang cháy rần rần, may người ta thấy kịp, kéo ra, đưa xuống trạm xá, cấp cứu, thành ra chỉ cháy mấy mảng tóc, chỗ cháy thành sẹo, không có tóc. Cái đầu trông như con chó vá. Ngu thiệt! Vợ bỏ đi vượt biên với bồ – bồ cũng là bạn thân của Sơ – thì cho chúng nó đi một duộc với nhau – quân “lừa thầy phản bạn” – quân “trốn chúa lộn chồng” – có gì mà tiếc để đến nổi phải đâm đầu vào lửa, mang cái đầu chó vá. Ngu thiệt là ngu! Tăng rủa thầm. Năm ngoái, cũng thằng Luyện, nghe tín vợ bỏ, đang làm đội mộc, lấy đinh đóng vào đầu. Anh em người ta khiêng ngay vào trạm xá cứu chữa, cũng tai qua nạn khỏi.

Ngoài kia, ngoài hàng rào trại tù, là đời thường, là Tự do, Hạnh phúc… Người ta nghĩ thế. Và một điều gì đó xảy ra, bất như ý, có nghĩa là làm cho người ta cho rằng hạnh phúc đó không còn nữa, tự do đó không còn nữa, thì người ta đâm ra tuyệt vọng, rồi tự tử.

Tăng thì chẳng có ý niệm gì xa xôi hơn thế, nhưng Tăng cho rằng, ngoài kia, ngoài hàng rào trại tù kia, Tăng chẳng có gì cả. Hạnh phúc đã không mà tự do cũng không. Hạnh phúc, như Tăng thấy trong đời y, căn bản là tiền, cũng như “Mác” nói, kinh tế là hạ tầng cơ sở vậy thôi. Còn tự do, không có tiền thì chỉ có tự tử hay “tự do làm nô lệ” cho người ta. Tiền, Tăng nghĩ là y đã hết thời. Hết cây súng trong tay là hết tiền. Ngoài cái nghề y đã làm mấy chục năm, từ hồi còn trẻ, tháng tháng lãnh lương, lâu lâu có tư lợi, Tăng chẳng quen với bất cứ một nghề nào khác. Huống chi Tăng đã già, sức khỏe không còn. Thằng Chiêu, thằng Ngọ, thằng Nẫm… bao nhiêu thằng ở chung trại với Tăng, được tha hồi năm ngoái, năm kia, chỉ làm cho “đội ngũ dân biểu” (1) càng thêm đông mà thôi, chẳng anh nào làm nghề gì khác, có muốn làm cũng không làm được.

Gia đình tan nát, vợ không còn, con không còn, cha mẹ không còn, không còn ai hết, hạnh phúc, tự do cũng không còn. Vậy thì Tăng về làm gì?! Nghĩ tới ngày về, Tăng băn khoăn, lo lắng: Về? Về đâu? Về với ai? Ở nhà ai?

Nếu một ngày kia, “cách mạng khoan hồng”, cho Tăng thoát khỏi “tù trong” ra “tù ngoài” thì Tăng nhận cái lệnh tha để làm gì. Ra “tù ngoài”, có nghĩa là Tăng phải tự lo lấy cái ăn, cái mặc mà Tăng thì đã quen với cuộc sống chính phủ lo cho Tăng hết rồi. Chưa bao giờ Tăng tính toán, lời lỗ mà thành ra tiền. Tăng không quen buôn bán bao giờ. Tăng chỉ quen tháng tháng lãnh lương. Bây giờ, nếu ra ‘tù ngoài” mọi thứ phải tự lo cho mình, Tăng thấy nhiều khó khăn.

Hơn thế nữa, Tăng không nhà không cửa không vợ không con, không bà con bạn bè, nhất là bạn bè, Tăng thấy cô đơn. Dù sao ở đây cũng có bạn, người thân kẻ sơ, chuyện trò với nhau. Về Saigon, đông mấy triệu dân, cả tháng, chưa chắc gặp được ai quen để chuyện trò.

Về? Về đâu? Nhà đâu? Ở với ai? Không lý Tăng chui sống ở gầm cầu. Ở đó, toàn là ăn mày và đám tội phạm, những thứ trước kia mỗi khi Tăng gọi lên điều tra, thường run rẩy, sợ hãi trước mặt Tăng.

Tăng về ở chung với họ sao?! Vậy thì về làm gì?! Tăng lo, nhưng để bụng, không nói với ai. Nếu “cách mạng” cho về mà không về, thế nào tụi nó cũng cười cho thúi đầu.

Thế rồi Tăng có lệnh tha thiệt.

Chiều hôm qua, đi lao động về, anh em đã xôn xao lắm. Mấy người quen với cán bộ, được họ tiết lộ cho biết tên vài người đã có danh sách về. Tăng lại lo hơn. Chẳng ai để ý đến Tăng. Tăng không phải là “đối tượng” để anh em theo dõi kỳ này có tên Tăng hay không. Tăng cũng chẳng nhờ cậy ai hỏi thăm giùm có tên hay không. Tăng sợ chuyện đó xảy ra cho Tăng thì Tăng còn hỏi thăm hỏi lom làm gì.

Sáng nay, kẻng đánh tập trung ngoài sân trại để gọi đi lao động như thường lệ thì thượng sĩ Thắng, cán bộ giáo dục cầm xấp giấy vào, xăm xăm đi thẳng vào chỗ phía trước mặt các đội tập trung. Thấy thế, anh em ồ lên một tiếng, biết là có lệnh tha, rồi chuyện vãn, gọi nhau ơi ới, xôn xao. Tăng ngồi im.

Khi “cán bộ” Thắng gọi tới tên Tăng, y uể oải đứng lên, buồn rầu quay gót vào “láng”, treo “gô” (2) vào cột giường, lên chỗ nằm, nằm im, bất động.

Sau khi các đội đi hết rồi, cán bộ Lâm vào từng “láng” gọi các người được tha tập trung ngoài sân để được đưa lên văn phòng “ban” lập thủ tục ra về. Tăng vẫn nằm im.

Thấy Tăng, cán bộ Lâm gọi:

– “Anh Tăng, sao còn “lằm” đó, thay áo quần nhanh “nên” ra “nàm” việc với “ban.”

Tăng ngập ngừng:

– “Thưa… thưa cán bộ, tui… tui không muốn về, cán bộ cho tui ở lại đây.”

Cán bộ Lâm chưng hững:

– “Anh “lói” gì kỳ thế. “Cách mạng” khoan hồng, cho anh về, sum họp với gia đình. Thế “nà xung xướng nắm”, tại sao anh không về?!”

– “Thưa cán bộ, tui còn ai nữa mà về. Gia đình tui chẳng còn ai nữa hết. Vợ tui đi lấy chồng, con tui đi lấy chồng, chẳng còn ai, chẳng còn nhà cửa chi hết, biết về đâu mà về.” – Tăng cố gắng nói một hơi cho hết ý muốn nói.

“Cán bộ” Lâm xẳng giọng:

– “Đó “nà” chuyện của anh. Bây giờ “cách mạng khoan hồng” cho anh về “nà” anh phải về. Anh không thể cải “nệnh” cách mạng được.”

– “Tui không cải lệnh. Nhưng mà “cách mạng khoan hồng” cho tui về thì “cách mạng” cũng nên xét hoàn cảnh tui mà “khoan hồng” cho tui ở lại. Đó là tình thiệt. Tui còn ai đâu mà về.”

– “Thôi, không “lói” “nôi” thôi. Tôi bận việc, đưa mấy anh kia “nên ban”. Anh không về sẽ có biện pháp.” – “Cán bộ” Lâm giận dữ.

– “Biện pháp gì?” – Tăng cũng nổi sùng – “Ở tù thì tui cũng đang ở tù đây rồi, chỉ chờ có đem bắn mà thôi. Bắn tui, càng khỏe, tui ưng chết quách cho rồi, cho xong nợ đời. Ở tù đây cũng chỉ là “tha tội chết, bắt tội sống thôi.” (3)

Nghe Tăng nói liều, mấy ông già quét phòng cũng phì cười!

Mười phút sau, hai ba cán bộ cùng vào, đi ngay lại chỗ Tăng. Tăng ngồi dậy. Cán bộ Thắng vẻ quan trọng:

– “Thế “lào”? “Cách mạng khoan hồng” cho anh, anh từ chối hả? Anh không tuân “nệnh” “cách mạng” hả?”

– “Thưa cán bộ – Tăng từ tốn nói – “Tui không từ chối, tui không chống lệnh. Chẳng qua hoàn cảnh gia đình tui, sau khi tui đi cải tạo, đổi khác rồi, vợ tui lấy chồng rồi, con tui lấy chồng rồi, nhà cửa không còn, tui biết về đâu? Dzậy nên tui xin ở lại đây để… “phục vụ cách mạng”.

Cán bộ Thắng xẳng giọng:

– “Chẳng ai cần anh. Các anh “nà” người phản “cách mạng”, ở tù, “lay” được tha, thế “nà” khoan hồng “nắm” rồi đấy, không thì có mà “dũ tù”, biết không? Thế mà con ngoan cố, chống “nệnh”. Anh phải ra “ban” ngay, nhận giấy tờ mà về.”

Tăng cố nhịn. Một lúc lâu, y nói:

– “Tui có theo “cách mạng” hồi nào đâu mà nói tui “phản cách mạng”? Tui đã nói rồi, tui không về được, tui không có chỗ mà về, vợ tui lấy chồng rồi, chồng bả là cán bộ làm lớn. Tui về sao được? Tui về, ông “cán bộ” sợ tui giành vợ lui, ông bỏ tù tui. Vậy tui đừng về là hơn.” – Tăng cố lý luận.

– “Anh “lói” bậy. – Cán bộ Thắng nói – Ngày trước, anh có tiền, anh có quyền, anh ép buộc người ta “nấy” anh. Từ chối anh cũng không được. “Lay” nhờ “cách mạng”, phụ “lữ” được giải phóng, thế “nà” tốt. Còn “cán bộ” “lào” mà “nấy” vợ anh, bỏ tù anh được. Tù anh “nà” chỉ có “cách mạng” mà thôi.”

– “Cán bộ” là “cách mạng”, “cách mạng” là “cán bộ” chớ còn ai vô đây. Tui hỏi, cán bộ vô đây, nói chuyện với tui, nhắm bộ không phải “cán bộ là cách mạng” sao?”

Cán bộ Thắng thấy yếu thế, làm bộ giận dữ:

– “Tôi không muốn anh “lói” nhiều. Yêu cầu anh về. “Lếu” anh không tuân “nệnh”, chúng tôi có biện pháp.”

Xong, họ đi ra.

Trưa hôm đó, cả trại lại xôn xao về việc Tăng không chịu về. Thôi thì người ta bàn tán lung tung. Tăng ít khi chuyện trò với ai nên chẳng ai biết rõ hoàn cảnh của y để “tham mưu”. Có điều, chuyển về trại này thế là gần 4 năm, chẳng bao giờ Tăng được gọi thăm nuôi. Tăng an phận với cái y có: Khoai, sắn, bobo, chủ nhật được chén cơm, lâu lâu gặp “ba ngày lễ lớn”, “quốc khánh”, Tết ta, có thêm chút thịt “ruồi tha” – Tăng âm thầm “cải thiện”: Nắm rau muống mọc hoang bên hồ, nắm rau trai dưới suối, v.v… mỗi khi có dịp. Với Tăng, Tăng hy vọng ngày nào đó, Tăng xuống đội “cấp dưỡng”. “Giàu nhà kho, no nhà bếp”. Ở đó suốt đời cũng chẳng sao.

Chiều hôm đó, khi các đội lại đi lao động, cán bộ lại xuống làm việc với Tăng. Tử tế với Tăng thì Tăng tử tế, hung dữ với Tăng thì Tăng hung dữ lại. Mấy ông già quét phòng thấy vậy, cười với nhau:

– “Dân Nam bộ mà, dân Saigon mà. “Chơi” thì “chơi” với. Chọc thằng chả nổi nóng, chả chưởi thề tùm lum, làm gì được nhau! Không lý không về mà cho vô cát-xô?

Tình trạng kéo dài được ba hôm. Tới buổi sáng ngày thứ ba, cán bộ Thắng dẫn theo mấy cán bộ bảo vệ xuống, ban đầu, ôn tồn với Tăng:

– “Nguyện vọng anh, “ban” đã trình về bộ “Lội vụ 2”. Trên không bằng “nòng” cho anh ở “nại”. Yêu cầu anh chuẩn bị về. Các anh kia, người ta về hết rồi.”

– “Họ về kệ họ, ai có hoàn cảnh nấy, mắc mớ chi tui. Họ còn vợ còn con, họ không “hy sinh”, còn tui, tui không còn ai, tui “hy sinh” được. Tui ở lại đây ngày nào là tui “phục vụ cách mạng” ngày nấy. Tui lao động mà, tui có “ngồi mát ăn bát vàng” đâu?”

– “Nhưng “cách mạng” không cần anh. “Cách mạng” biểu anh về, anh phải về, tức “nà” “phục vụ cách mạng” đấy.” Thượng sĩ Thắng cố nén tức.

– Cán bộ nói mắc cười không. Tui về, tui “phục vụ” tui chưa xong, có đâu “phục vụ cách mạng” được?” – Tăng cố cải.

– “Anh không được ngoan cố. Thượng sĩ Thắng gằn giọng. Anh phải rời khỏi trại ngay.”

Nói xong, Thượng sĩ Thắng ra hiệu cho hai cán bộ bảo vệ. Hai người này đứng hai bên, xóc nách Tăng kéo đi. Ban đầu Tăng cố trì lại, nhưng hai cán bộ bảo vệ xiết cánh tay Tăng đau quá, Tăng nổi sùng, la to:

– “Đ. mẹ, làm gì dzữ dzậy?! Cứ thủng thẳng để tui đi, tay tui gần muốn lọi ra rồi nè!”

Một cán bộ bảo vệ nói gần như nạt Tăng:

– “Chửi thề hả? Vào “cát-xô” đấy.”

Tăng cũng chẳng sợ:

– “Vào thì vào, tui đâu có ngán. Giờ cán bộ muốn tui về hay muốn tui ở lại? Cán bộ muốn tống tui đi cho nhanh. Tui biết quá mà!”

Nói rồi, Tăng thờ thẩn đi giữa hai tên công an. Thượng sĩ Thắng gọi người giữ phòng lục đồ đạc của Tăng, xách theo.

&

Tăng ôm cái bị bàng đựng quần áo ra chợ Gia Rây, với 30 đồng được trại phát, Tăng lên xe lam ra ngã ba ông Đồn. Tăng đứng tần ngần ở đó, tay cầm hơn 20 đồng còn lại, không biết đi hướng nào. Còn mấy ngày nữa là Tết rồi. Ngày thường còn chưa biết sống đâu, nói chi Tết.

Y nhìn dọc theo quốc lộ, ra hướng Bắc, bỗng trong trí y hiện ra lờ mờ tấm ảnh mà y từng được coi nhiều lần trong trại cải tạo: Hình lăng “bác Hồ vĩ đại” có cờ đỏ cắm trên nóc cao. Tăng thở dài, nhìn về hướng Nam, y thấy xa xa, có trụ sở xã hay gì đó, cũng có cây cờ đỏ đang bay lất phất. Tăng sực nhớ “đất nước thống nhất” đã mấy năm nay rồi, cờ xanh đỏ “mặt trận” ngày y đi “cải tạo” bị vứt vào thùng rác rồi, chỉ còn cờ đỏ sao vàng thôi.

Tăng bỗng nghe sau lưng y, phía chân núi Chứa Chan, tiếng còi tàu xe lửa hú lên dằng dặc một hồi dài. “Hay mình nằm dài trên đường xe lửa, xe chạy qua cái ào, thế là xong”, Tăng nhủ thầm. “Nhưng biết đâu tới khi tàu sắp chạy qua thì mình lại hốt hoảng nhảy ra khỏi đường rầy”. Ý nghĩ đó làm Tăng buồn cười mà y cũng không thể cười được./

Cuối thu Đinh Sửu.

hoànglonghải

Ghi chú:

(1) Đội ngũ dân biểu: Tiếng gọi đùa những người đạp xe xích lô, người “dân biểu” đạp đi đâu thì đi đó.

(2) “Gô”: hộp đựng sữa Guigoz bằng nhôm, không sét, xài bền, “cải tạo” thường dùng để nấu, đựng thức ăn.

(3) Câu “cải tạo” mỉa mai mỗi khi nghe Cộng Sản nói “khoan hồng”.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 29 June 2015 

Post by7 Sơn râu 20 Nov 2023

Con heo đau tim

Bài 22

Giữa mùa hè năm 1980, “Trại Đá” gần đầy tù cải tạo. Ngoài số tù bên Trại B chuyển qua còn có một số ở trại “Vườn Đào” lên và một số ở Phước Long về.

Trong số Phước Long có danh hề “Khá Nặng”. Sở dĩ gọi là Khá Nặng vì câu nói đùa của anh ấy.

Hôm đó chủ nhật, được nghỉ lao động. Chúng tôi đang “vui chơi, tắm giặt, nghe đài” thì được lệnh ai nhà nào về nhà nấy, cổng mỗi nhà đều bị khóa lại. Tù chỉ được quanh quẩn trong sân hay ở trong nhà.

Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau thì có đám tù mới tới, hỏi ra thì họ từ Phước Long về.

Năm 1977, có một đám trung úy, thiếu úy, từ các trại Suối Máu, An Dưỡng, Hóc Môn, v.v… do quân đội Cộng Sản quản lý đưa đi lao động ở Phước Long, làm “nhiệm vụ kinh tế”. Sau đó, một số ít được tha. Số còn lại, giao cho Công An rồi họ được đưa về đây.

Khi đám tù rách rưới như ăn mày, lếch thếch mang vác đồ đạc đi qua cái sân lớn để vào các dãy nhà phía sau. Chúng tôi đứng sát cổng nhà để coi và tìm người quen.

Vài người nhận ra nhau, gọi kêu ơi ới. Bỗng Khả Năng xuất hiện. Sau năm năm tù, trông anh ốm đi nhiều, dù chưa bằng Phi Thoàn, cũng là danh hề thường đóng chung với anh. Thấy anh, chúng tôi mừng rỡ gọi to: “Khả Năng! Khả Năng!” Đang vác một cái xắc ma-re đựng “tư trang” khá nặng, anh cũng dừng lại, quay về phía chúng tôi, giướng mắt nhìn, nói đùa:

            – “Khá nặng rồi mấy anh ơi! Không còn Khả Năng nữa mà khá nặng!” (1)

            Ý anh muốn nói ở tù như vậy cũng đã lâu, là án tù “khá nặng”. Nghe anh nói đùa với giọng thảm, chúng tôi cùng cười!

            Miền Nam hồi trước có nhiều danh hề: Thanh Việt, Thanh Hoài, Phi Thoàn, Khả Năng, v.v…

            Khả Năng và Phi Thoàn “trong hạn tuổi quân dịch” nên phải nhập ngũ. Đến 30 tháng Tư, Phi Thoàn chỉ mới được “loon” thượng sĩ, thuộc hàng hạ sĩ quan, khỏi bị “tập trung cải tạo”. Khả Năng “loon” chuẩn úy nên “phải đóng tiền đi ở tù.”

            Ít lâu sau, Khả Năng bị “biên chế” qua trại Cây, gia nhập đội Văn Nghệ của bầu Trừ (Nguyễn Văn Trừ). Nhân dịp lễ lạc gì đó, đội Văn Nghệ tập tuồng cải lương để trình diễn. Trong khi tập, Lâm, tên Công An (thường gọi “cán bộ Lâm”), trực trại, tự dưng vào làm đạo diễn, buộc diễn viên phải làm như vầy, như kia. Người đóng vai chú bộ đội thì vênh mặt lên, hùng dũng, kiêu hùng. Người đóng vai “tên lính ngụy” thị hèn nhát, sợ hãi, run rẩy… Khả Năng bực mình cự lại tên cán bộ. Tên nầy hăm dọa nhốt anh vào cát-xô. Chỉ hăm dọa thôi, sau đó, không thấy chuyện gì xảy ra cho “anh hề”, anh được “bình an vô sự”..

Thanh Việt và Khả Năng

&

            Cũng mùa hè năm đó, chúng tôi được tin có phái đoàn Liên Hợp Quốc đến thăm.

Trước đó, khi chúng tôi mới qua trại A, đã có phái đoàn Cộng Sản ngoại quốc đến. Hôm đó cũng là ngày chủ nhật, đang nghỉ ở nhà thì chúng tôi được lệnh vào hết trong nhà, khóa cửa lại, không cho ai đứng ngoài sân. Cổng mỗi nhà cũng khóa lại.

Võ Phước Thọ nhanh trí, đoán biết là có phái đoàn ngoại quốc tới, trong khi cán bộ chưa kịp khóa cổng thì anh ta phóng ngay ra khỏi cổng, viết ngay trên đường đất mấy chữ “S.O.S”. Một lúc thì có khoảng năm hay sáu người đi chậm chậm ngang cổng từng nhà. Tới cổng nhà chúng tôi bị giam, – chúng tôi rình trong nhà – nhờ chúng tôi leo lên cao, nhìn ra ngoài theo mấy cái cửa thông gió.

Trong phái đoàn có hai ba bà đầm mắt xanh mũi lõ, có lẽ là người Nga hay Đông Âu và một anh chàng Nhật, còn trẻ, da vàng mũi tẹt, khá lùn, và nói xí xô xí xào tiếng Nhật, tiếng Anh với vài người khác trong đoàn. Anh chàng nầy thấy mấy chữ S.O.S do Võ Phước Thọ vẽ trên đất bèn gọi mấy người kia tới xem, đưa máy hình lên chụp, xong bọn họ đi ra cổng lớn. Sau đó, thì chúng tôi được “thả chuồng” – ra khỏi nhà, được ra sân, chuyện trò –

Khoảng nửa tiếng sau, trung tá Dziệt Cộng Trịnh Văn Thích, trại trưởng, vào đứng ngay cổng, nói chõ vào, giận dữ:

            – “Cái gì mà phải vẽ dấu hiệu cấp cứu! Anh nào vẽ? Anh nào vẽ?”

            Y không đi một mình, có một Công An khác đi theo, hông đeo súng nhỏ, có lẽ để bảo vệ y.

Trung tá Thích cũng chỉ đứng ngay cổng nói chõ vào chớ không dám vào trong sân. Y coi tù đã mấy chục năm, kinh nghiệm lắm. Vào sâu, lỡ tù trùm mền đánh cho thì sao?! Sau đó Công An quản giáo có điều tra tìm người viết mấy chữ S.O.S. nhưng công cốc.

&

            Bây giờ thì trại đông hơn trước nhiều. Lần nầy đến thăm là phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Mấy hôm trước thân nhân lên thăm, báo cho biết là phái đoàn Liên Hợp Quốc đang thăm mấy trại ngoài bắc, ngoài trung, nên chúng tôi đoán chừng vậy.

Sáng hôm đó bỗng kẻng gọi tập trung đi làm trễ.

            Quá bảy giờ mà chưa nghe đánh kẻng như thường lệ. Vậy là anh em tù xôn xao. Người ta nói to với nhau, có vẻ mừng: “Liên Hiệp Quốc tới! Liên Hiệp Quốc tới!” Trong tâm trạng tuyệt vọng, như đang bị trôi giữa dòng nước lũ, vớ nhằm cộng rều cũng tưởng như vớ được tấm ván. Không rõ phái đoàn của “ông già bất lực Liên Hợp Quốc” có làm nên trò trống gì không, mà người ta cũng hy vọng vậy.

Chín giờ kẻng đánh, các đội tập trung ở sân lớn chờ gọi đi. Bỗng có một đội trong đám Vườn Đào được gọi vào nhà, biểu chờ lệnh. Thế rồi các đội khác bị gọi đi, ra khỏi trại. Có điều lạ, cán bộ không gọi đội trưởng cho người đi nhận cuốc để cuốc đất như thường lệ.

Thông thường mỗi đội chỉ có hai – có khi chỉ một – vệ binh cầm súng đi theo – “Để bảo vệ các anh vì sợ đồng bào căm thù Mỹ Ngụy mà đánh các anh!” Cán bộ giải thích vậy! –

Bữa nay, mỗi đội có tới ba hoặc bốn vệ binh đi theo “bảo vệ cải tạo viên” – Việt Cộng bao giờ nói nghe cũng tình nghĩa dữ lắm! – Tất cả các đội đều được dẫn đi ngược vào phía sau trại, sát bìa rừng. Vào đó, chúng tôi được ngồi chơi, không lao động, lao cải gì hết! – Trưa, mỗi đội cử ba người – hai người về nhà bếp nhận bắp, một người gánh nước uống cho bữa trưa.

Khoảng ba giờ chiều, được về trại nghỉ! Đúng là một hôm “vui chơi” khỏe khoắn, khỏi cuốc đất, lại còn được về sớm – thông thường thì năm giờ chiều mới về.

Về tới trại thì được “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”! Bữa nay khỏi lao động vì Công An dẫn tù đi trốn phái đoàn Liên Hợp Quốc, sợ phái đoàn gặp tù, “mấy anh phát biểu linh tinh, không có lợi cho cách mạng.” Cán bộ lại giải thích vậy.

            Cuối cùng thì phái đoàn Liên Hợp Quốc chưa lên thăm trại được!

            Bấy giờ anh em mới rõ thêm nhiều điều vui. Đội “Vườn Đào” được ở nhà là để “làm cảnh”.

Những anh em đó được lệnh ở nhà thay áo quần sạch sẽ, lành lặn, tập họp đi lên “lớp học tập”. Lớp là căn phòng đầu hồi, có đặt hai dãy bàn, phủ khăn, chưng mỗi bàn hai bình bông. “Ăn khoai mì mà chưng bông!”

Mấy ông vườn đào chia nhau ngồi trên những cái băng gỗ hai bên bàn. Ngồi chờ lâu quá, chẳng ma nào tới, “học viên” buồn ngủ, ngáp vặt, nói tục, và kháo chuyện bậy: “Ăn khoai mì mà cũng bày đặt bình hoa!” hoặc “Học xong 10 bài từ đời nảo đời nào mà chưa mãn khóa.” v.v… Xong rồi, được về sớm, lại “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, một ngày khỏe re!

Nhà bếp, nằm bên cạnh cổng vào, hôm đó được lệnh nấu cơm trắng thay vì khoai mì hay bắp hột. Nhưng vì phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên nên cơm ấy được lệnh mang ra cho cán bộ “ăn giùm” để tỏ rõ lòng “cao thượng, không coi trọng” miếng ăn của Dziệt Cộng! Còn tù cải tạo thì vẫn bổn cũ hằng ngày, soạn đi soạn lại: Một bữa khoai mì lát, một bữa bắp hột!

            Cũng nhắm mục đích cho buổi trình diễn thêm phần hấp dẫn, một con heo được dắt từ khu chăn nuôi ra. Con heo được cột trước mái hiên nhà bếp, chờ tin phái đoàn Liên Hợp Quốc chắc chắn sẽ lên thì mới làm thịt heo!

Phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên, heo lại được dẫn về chuồng: “Cho (heo) sống lại một ngày” nữa, như tên một tác phẩm của Dương Hà. (Cho tôi sống lại một ngày)

            Tối đó, đám tù cải tạo tập trung từng nhóm, uống nước trà, bàn bạc lung tung, tham mưu đủ hạng. Có người cho rằng đám “Vườn Đào”, người Miền Nam, hiền hòa hơn, không phát biểu lung tung, bạt mạng như đám Saigon nên được ở lại “làm kiểng cho cách mạng”.

Con heo thì sau một ngày chờ chết mà chưa chết, sợ quá nên hiện đang đau… bệnh tim, phải đưa đi cấp cứu. Chỉ có một con heo mà đủ lời bàn của… Mao Tôn Cương. Tới 10 giờ tối, điện tắt, đi ngủ.

            Vậy mà nhiều người đoán đúng!

            Sáng hôm sau, bảy giờ sáng, chưa có kẻng tập trung, có nghĩa lại chờ phái đoàn Liên Hợp Quốc lên, lại được đem đi giấu, thêm một ngày nữa khỏi lao động, vào rừng “vui chơi”, tụ nhau lại mà nói đùa, chiều về sớm, “tắm giặt, nghe đài”. Ai nấy cười nói vui mừng xôn xao.

Hôm đó, cuối cùng phái đoàn Liên Hợp Quốc lại cũng chưa lên. Trên đường về, bữa nay vui hơn hôm qua vì tù cải tạo được nghỉ lao động, ngày mai lại cũng chuẩn bị đón phái đoàn Liên Hợp Quốc nữa, khỏi cuốc đất thêm một ngày nữa. Tổng cộng là được ba ngày.

Trên đường vào trại, khi đội của tôi đi ngang nhà bếp, lại nhằm lúc một anh tù cải tạo đội cấp dưỡng (nhà bếp) đang dắt heo trả về lại chuồng. Lê Văn Y nghịch, tiện chân, đá vào mông con heo một cái; heo kêu “éc”. Trần Nguyên Bình, đi bên cạnh, nói:

            – “Đá nó tội mày!”

            – “Tội chi nữa! Bữa nay không chết, mai cũng chết!”

            Lương văn Lịch cười, nói to:

            – “Hai ngày nay nó sợ quá, đau tim nặng lắm rồi! Không chừng đêm nay “qua đời”!

            – “Nó có qua đời mày cũng chẳng được gì đâu. Bất quá miếng thịt bằng ngón tay út.” Y nói.

            Bỗng Nguyễn Quang Ngọc la to lên:

            – “Con heo đau bệnh tim anh em ơi! “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ, không phải tui mấy ông ơi!”

            Cả đám cười ồ! Có người cười hô hố vì câu nhại đó!

Nguyên là hồi còn ở Trại Cây (trại B), một hôm cán bộ dẫn đi xem phim Nguyễn Văn Trỗi, ra về, có một anh “tù cải tạo” nguyên trước làm giám thị ở khám Chí Hòa, kể lại rằng hôm bắn Nguyễn Văn Trỗi, anh ta có đi theo:

            “Nó đâu có anh hùng như trong phim. Biết dẫn đi bắn, nó vừa đi vừa khóc: “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ. Người ta cho tui tiền để tui cưới vợ mấy ông ơi!”

Chuyện nầy anh em chuyền tai nhau trong trại, nhiều người biết. Từ đó có nhiều người thường nhại câu “Không phải tui mấy ông ơi!” để cười chơi mỗi khi bị cán bộ bắt vì ăn cắp củ khoai mì hay trái bắp dấu trong lưng quần.

            Ngày mai là ngày thứ ba, thế nào phái đoàn Liên Hợp Quốc cũng lên.

Chiều hôm đó, vài ba anh em trong Hội Nhân Quyền của luật sư Trần Danh San bí mật họp nhau bàn chuyện ngày mai làm thế nào có người ra gặp phái đoàn Liên Hợp Quốc, đưa thư khiếu nại. Nội dung thư chỉ nói mấy điều quan trọng:

Một là, đây không phải là trại học tập cải tạo. Học tập thì phải có ngày khai giảng, mãn khóa, còn ở đây học đã lâu, đã năm năm nhưng không biết bao giờ mãn khóa, cho về.

Thứ hai, xác nhận đây là trại tù khổ sai Cộng Sản. Tù thì cũng phải đưa ra tòa, phải có án, hết án phải được tha về.

Thứ ba, đây là những tù binh chiến tranh, binh lính, viên chức chế độ Saigon cũ. Tù binh thì phải được đối xử theo Công ước Genève.

            Tôi không nhớ ai là người viết tiếng Anh bức thư nầy, nhưng người chép ra giấy là họa sĩ Hải. Anh nầy được tha sau đó có mấy tháng và được đi Pháp cùng gia đình.

Dương Tiến Đông được anh em trong nhóm Nhân Quyền chọn ra gặp phái đoàn. Dương Tiến Đông cũng tình nguyện đảm nhận công việc nầy.

Đông tính nóng, hiếu động và gan lì.

Anh em họp nhau bàn với Đông là khi tới gần phái đoàn Liên Hợp Quốc, cứ tự động xông tới. Thằng cán bộ đi theo sẽ không dám bắn. “Tụi nó không dám bắn người ngay trước mặt phái đoàn Liên Hợp Quốc”. Anh em dặn Đông: “Rán mà chịu! Phái đoàn Liên Hợp Quốc về rồi thì chúng nhốt mày vào “cát-xô” và chơi một đòn hội chợ bầm mình.”

Bọn cán bộ ở đây có thói quen trả thù tù cải tạo, khi có anh em nào bị nhốt vào “cát xô” thì chiều hôm đó, khi “trật tự” đem cơm ra cho người bị nhốt, bọn nó ba bốn đứa đánh đòn hội chợ trong khi người tù cải tạo còn mang còng ở tay và chân còn bị cùm vào thanh sắt ngang trên sàn, không có cách gì chống đỡ được.

            Trưa hôm sau, khi còn đang ở trong bìa rừng thì Đông giả bộ đau bụng, xin về trại lấy thuốc uống. Cán bộ quản giáo không cho về. Đông giả bộ xin đi cầu nhiều lần. Anh ta nói với cán bộ: “Tui bị tiêu chảy đi re re! Kiểu nầy thì chẳng mấy lúc người khô nước mà chết! Tui mà chết là cán bộ mang tiếng ác. Anh em họ cũng khiếu nại cán bộ cho xem.”

Dọa cán bộ xong, anh ta giả bộ nằm rên hừ hừ, than vãn đau quá! Mãi tới quá trưa, thấy anh ta đau, không chịu ăn trưa, cán bộ quản giáo mới cho một vệ binh cầm súng đi theo, cho Đông về trại trước. Gần tới trại, anh ta đi thật nhanh. Đông người cao, chân dài, đi lẹ, anh vệ binh phải lết giò mới theo kịp.

Khi vừa tới góc bờ thành bên tay phải quặt ra phía trước, Đông vừa thấy phái đoàn Liên Hợp Quốc đang lên xe. Khoảng đường còn khá xa, Đông muốn chạy cho nhanh nhưng anh vệ binh chạy theo gọi lại, mở cơ bẩm cho đạn lên nòng kêu rắc rắc. Đông vẫn cứ đi nhanh.

Khi Đông vừa tới cổng trại thì đoàn xe phái đoàn Liên Hợp Quốc rời khỏi sân văn phòng trại. Đông tiếc hùi hụi, về nhà nằm, anh ta không ngớt chưởi thề: “Thằng quản giáo Chinh cho tao về trễ. Sớm hơn cỡ năm phút là tao đưa được lá thư cho Liên hiệp Quốc rồi. Đ. má! Mất một dịp bằng vàng!”

hoànglonghải

(1)-Nghe nói sau khi được tha, khoảng năm 1982, danh hề Khả Năng vượt biên bằng đường bộ, bị bắn chết. Không rõ phe nào giết ông!

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

July 9th, 2020

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 9

Sau đổ bộ lên Phi Luật Tân dồn Mac Arthur vào bán đảo Bataan, Hải quân Nhật xâm chiếm Nam-Dương (Indonesia). Thủy chiến Java là một thất trận phía Đồng Minh, với toàn bộ hạm đội Anh-Mỹ-Hòa Lan bị đánh đắm. Cánh cửa thông sang Úc mở toang. Các chiến thắng dồn dập từ Hương Cảng xuống Tân Gia Ba, Mã Lai rồi lan ra chuỗi đảo Guam, New Guina, Marshall, Solomon đều xây cất trên chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zéro và thế hệ phi công của Sakai. Chương 9 của hồi ký Samurai đậm đặc những cận ảnh không chiến như thể người đọc đang ngồi ở vị trí hoa tiêu. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 9

Chương 9

Nhiều năm sau chiến tranh, tôi có đọc quyển “Lịch Sử Những Cuộc Hành Quân của Hải quân Hoa Kỳ trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến” của Ðề đốc Samuel Eliot Morison. Ðề đốc chứng tỏ là một sử gia có tài và nghiên cứu của ông đã cung cấp một sử liệu đồ sộ. Tuy nhiên, đáng tiếc là có một đoạn lịch sử đặc biệt liên quan đến cuộc chiến trong sách này ít dựa vào căn bản của sự thật. Tôi muốn nói đến mặt trận quần đảo Ðông Nam Dương thuộc Hoà Lan, mặt trận đã mang đến chiến thắng cho chúng tôi, nhứt là việc đánh chiếm pháo đài quan trọng Java. Theo quan điểm của Morison, sự chiến thắng của chúng tôi ở mặt trận này là “do đánh lén với sức mạnh, hơn là do sự tinh tế”. Một điều đáng lưu ý trong cuộc chiến bại của các hạm đội Ðồng Minh và Hoà Lan vào tháng 2 năm 1942, là không chỉ một mình Morison mà còn nhiều sử gia tăm tiếng khác của Hoa Kỳ cũng đều bỏ qua, không đề cập tới các chi tiết của trận không chiến lớn nhất Nam-Dương trong tài liệu của họ.

Qua vai trò một hạ sĩ quan phi công, dù đã tham dự trực tiếp vào trận đánh đó, cái nhìn của tôi dĩ nhiên sẽ có nhiều giới hạn hơn cái nhìn của những sử gia “ôm đồm” cả một cuộc chiến rộng lớn trong tay. Tuy nhiên, sự góp phần cá nhân của tôi vào mặt trận tháng 2 này có thể giúp soi sáng sự tìm hiểu những chi tiết liên quan đến cuộc chiến Thái Bình Dương.

Mặt trận Java kết thúc hẳn vào ngày 25 tháng 2 với sự chiến bại của các lực lượng trên biển của Ðồng Minh trong khu vực. Yếu tố quan trọng gây ra cuộc chiến bại này là các chiến hạm của Ðồng Minh thiếu sự bao che trên không, vì trước đó, vào ngày 19 tháng 2, các đơn vị không quân của họ đều bị tiêu diệt trong một cuộc không chiến dữ dội và lớn nhất ở Surabaya, với tổng số gần 80 chiến đấu cơ của cả hai phía tham dự. Nhưng không có bài tường thuật nào của người Mỹ về cuộc chiến, mà tôi đã từng đọc qua, đề cập đến trận không chiến này. Chính chiến thắng của các khu trục cơ Zéro đã chiếm lĩnh bầu trời, chứ không phải các cuộc ném bom của các oanh tạc cơ Nhựt, mới là thành tố quyết định.

Vào ngày 4 tháng 2-1942, tôi bay đến phi trường Balikpapan với nhiều phi công khác. Ngày hôm đó, tôi thực hiện các phi vụ tuần tiễu trong khu vực. Nhiệm vụ khó khăn, vì hoạt động không quân địch đã gia tăng mạnh mẽ. Báo cáo chính thức phía Nhựt ghi nhận thêm một chiến công của tôi ngày hôm ấy.

Tuần lễ kế đó, các phi cơ thám thính của chúng tôi báo cáo rằng địch quân đã tập trung trong khu vực Surabaya một số lượng chiến đấu cơ từ 50 đến 60 chiếc, loại Curtiss P36 Mohawk, Curtiss P40 và Brewster F2A Buffalo, nhằm chống lại cuộc đổ bộ lên Java của chúng tôi.

Bộ tư lệnh tối cao Nhựt ra lệnh cho tất cả các chiến đấu cơ khả dụng, đóng tại các căn cứ trên đất liền nằm trong khu vực mặt trận, tập trung về Balikpapan vừa mới chiếm giữ. Vào buổi sáng ngày 19 tháng 2-1942, 23 chiến đấu cơ Zéro thuộc các đơn vị không quân ở Cao Hùng và Ðài Nam đều cất cánh quy tụ về Surabaya.

Ðây là cơ hội đầu tiên, theo chúng tôi đoán biết, chúng tôi sẽ đối đầu với các loại chiến đấu cơ tối tân của địch. Chúng tôi phải bay 800 cây số liền để đến căn cứ Hòa Lan, nơi kẻ thù đang chờ đợi với số phi cơ áp đảo. Không một ai trong chúng tôi trông đợi một chiến thắng dễ dàng, như đã hoàn thành ở Phi. Tất cả những dự phòng đều được chuẩn bị. Mỗi phi công có một danh sách các hải đảo có thể đáp khẩn cấp với cấp cứu của tàu Nhựt. Các phi cơ thăm dò khí tượng bay trước chúng tôi nhằm thông báo cho chúng tôi biết những thay đổi của thời tiết sẽ ảnh hưởng đến trần mây. Một máy bay thám thính dẫn đầu hợp đoàn tấn công.

Khi bay vô không phận Surabaya vào lúc 11 giờ 30, trên cao 16,000 bộ (4,900m), chúng tôi đụng đầu với khoảng 50 chiến đấu cơ Ðồng Minh, đang bay ở cao độ 10,000 bộ (3,000m) và xoay vòng trên thành phố, ngược chiều kim đồng hồ, theo đội hình hàng dọc. Như vậy, lực lượng đối phương nhiều hơn gấp đôi chúng tôi. Máy bay địch chia ra làm 3 nhóm với từng phi đội tam giác. Chúng tôi nhả bình xăng phụ và đâm xuống, ngang hàng với địch thủ. Các chiến đấu cơ Ðồng Minh phá vỡ đội hình vòng tròn và gia tăng hết tốc lực lao về phía chúng tôi. Họ sẵn sàng và nôn nóng đánh nhau, khác xa các chiến đấu cơ Hoa Kỳ mà chúng tôi đã đối đầu ở phi trường Clark vào ngày 8 tháng 12-1941.

Không đầy một phút, hai bên đã dàn xong đội hình quy củ và bước vào một trận đấu ác liệt.

Nhìn thấy một chiếc P36 đang gầm thét xông đến, tôi liền nhích cánh lộn thật mau về phía trái chờ phản ứng của đối thủ. Ngu dại thay, đối thủ vẫn duy trì hướng bay cũ. Tôi lập tức xoay sang phải thật ngặt, lấy thăng bằng, và lướt thẳng vào đuôi của chiếc P36 với tên phi công đang sửng sốt.

Liếc nhìn lại phía sau thấy trống không, tôi thâu ngắn khoảng cách giữa tôi với viên phi công địch. Hắn lộn về bên trái, nhưng với một cái nhích nhẹ ở cần điều khiển, tôi theo sát đuôi hắn. Còn cách 50 thước, tôi thổi vừa đạn đại liên vừa đạn đại bác ra. Tức khắc, cánh phải của đối thủ long ra, bay trong không khí, rồi tới cánh bên trái cũng bị xé đứt. Xoáy như chong chóng, chiếc P36 chúi xuống vỡ tan dưới mặt đất cùng với viên phi công.

Tôi đảo một vòng thật rộng để vượt lên, và trở về đội hình chính. Có ít nhất 6 phi cơ đang rơi xuống như những bó đuốc. Bóng màu ô liu của một chiếc P36 đang xoay tít hướng về phía tôi. Tôi quay lại để chặn đầu, nhưng một chiếc Zéro khác đã vượt thẳng từ dưới lên, chụp chiếc P36 bằng một tràng đại bác, rồi lách ra như chớp trong khi chiếc phi cơ Hoà Lan nổ tung. Phía bên trái một chiếc P40 theo sát đuôi một chiếc Zéro đang tháo chạy. Tôi cấp tốc xoay lại nhằm chận đứng chiến đấu cơ địch. Nhưng hành động của tôi thừa thãi, chiếc Zéro đã quất ngược mũi lên, lộn nhào về phía sau, ở trên chiếc P40 một chút, rồi đạn đại liên và đại bác nện cùng lúc. Chiếc P40 biến thành cây đuốc.

Cách đó không xa, một chiếc P40 khác loé sáng, kéo một vệt lửa dài gấp 3 lần thân phi cơ, và một chiếc P36 lảo đảo như một chiếc lá rụng trên không, viên phi công đã gục chết trên tay lái. Phía dưới tôi một phi cơ dẫn đường không võ trang của chúng tôi đang bị 3 chiến đấu cơ của Hoà Lan rượt đuổi. Viên phi công Nhựt đang cuống cuồng lẫn trốn.

Một lần nữa, tôi lại lướt đến quá chậm. Một chiếc Zéro hùng hổ bổ nhào xuống và đạn đại bác của nó phá tung bồn chứa xăng của chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan bay đầu tiên. Rồi vừa vượt lên chiếc Zéro vừa “đấm” vô bụng chiếc P36 thứ nhì, phi cơ địch đứt hẳn một bên cánh ngay khi chiếc thứ ba lộn vòng trở lại để chận đầu chiếc Zéro. Quá muộn, buồng lái của chiếc P36 này cũng ăn đạn và vỡ tan tức khắc. Chiếc Zéro lướt dọc theo phi cơ của tôi, viên phi công đưa tay vẫy vẫy và cười rạng rỡ rồi bay đi hộ tống chiếc phi cơ quan sát ra khỏi khu vực.

Một chiếc P36 tháo chạy, lướt ngang phía trên tôi. Tôi gia tăng tốc lực cấp tốc, vượt thẳng lên và ấn cò đại bác. Quá sớm! Áp lực của vòng xoáy để lấy lại thăng bằng của đối thủ đã làm lệch đường nhắm của tôi. Chiếc P36 lộn nhào nhiều vòng về phía trái và chúi thẳng xuống đất. Tôi cắt thẳng vào đường xuống của phi cơ địch và ấn cò súng. Một vệt khói màu đen kéo lê thật dài. Tôi bồi thêm hai viên đại bác 20 ly nữa, và lảng ra ngoài khi cuộn lửa đỏ bao trùm cả thân chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan này.

Một chiếc Zéro với hai sọc xanh kẻ trên thân phi cơ lướt ngang qua cách 200 thước trước mặt tôi. Không dấu hiệu nào báo trước, chiếc Zéro nổ tung, lửa loà sáng. Trung úy Masao Asai, phi đội trưởng của chúng tôi thiệt mạng. Lúc đó tôi không hiểu lý do gây ra sự nổ tung này.

Trở lên cao độ 8,000 bộ (2,400m), tôi nhận thấy khoảng 20 chiến đấu cơ Zéro đang lượn vòng quanh trong đội hình tập họp. Một vài chiến đấu cơ Hoà Lan sống sót chỉ còn là mấy chấm đen ở xa. Trận đánh đã kết thúc, sáu phút sau khi phát khởi.

Thật kỳ lạ, với bầu trời không còn một chiếc phi cơ địch nào, các khẩu cao xạ của Hoà Lan vẫn im tiếng khi chúng tôi lượn vòng trên thành phố của họ, chờ đợi xem còn chiếc chiến đấu cơ Zéro nào truy đuổi địch trở về hay không.

Trong khi những chiến đấu cơ khác lượn vòng, tôi bay về phía trước, trên eo biển ngăn đôi Surabaya và đảo Madura… Nơi đây có một phi trường được ngụy trang cẩn thận. Tôi bay thật chậm, ghi toạ độ phi trường trên bản đồ, nằm ở mũi phía Tây Madura. Chưa ai báo cáo về phi trường bí mật này, tin tức của tôi chắc chắn sẽ được cơ quan tình báo đón nhận một cách hài lòng.

Khi bắt đầu bay lên cao để quày lại kết hợp với những chiến đấu cơ khác, tôi nhìn thấy một chiếc P36 bay phía dưới sà thấp trên thành phố. Mục tiêu ngon lành. Viên phi công địch bay nhởn nhơ, không biết tôi đang đến gần. Sự nôn nóng của tôi làm mất cơ hội chiến thắng nhanh chóng. Cách tầm súng quá xa tôi đã vội vã bóp cò. Bị động, viên phi công Hoà Lan lập tức chúi mũi xuống, gia tăng hết tốc lực để tháo chạy. Chửi thề cho sự ngu dốt của mình, tôi cũng gia tăng tốc lực rượt theo.

Khả năng bay của chiến đấu cơ P36 kém hơn loại chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi. Zéro mau lẹ hơn, nắm ưu thế về võ trang, và nhanh nhẹn khi nhào lộn hoặc vượt lên, nhưng lại rất yếu khi chúi xuống với tốc độ cao. Hơn nữa, tôi khai hoả quá sớm, cho phép chiếc P36 kéo dài khoảng cách giữa hai phi cơ đến 200 thước. Tôi không thể tiến gần thêm được. Nếu ở một độ cao hơn nữa, chiếc P36 chạy thoát dễ dàng bằng cách cứ bay chúi xuống. Nhưng lúc ấy mặt đất phía dưới đang dâng cao, bắt buộc viên phi công địch phải vượt lên. Bây giờ tôi có thể sử dụng ưu thế của chiếc Zéro.

Viên phi công Hoà Lan bay sà sát mặt đất theo hình chữ chi rất ngặt. Tôi cắt thẳng vào mỗi nét của chữ chi (giống như chữ Z), thâu hẹp khoảng cách lại. Hắn bay càng lúc càng thấp hơn, lách vào khoảng trống của cây cối và nhà cửa, vừa trốn chạy vừa hy vọng tôi bỏ cuộc vì thiếu nhiên liệu. Tôi hiểu điều này. Ðánh ván cuối cùng, tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp ngay khi căn cứ Malang hiện ra trước tầm mắt. Cách 50 thước, tôi nhắm vào buồng lái của chiếc P36 và ấn cò súng. Ðại bác hết đạn nhưng hai tràng đại liên đã xé nát viên phi công. Chiếc chiến đấu cơ nhào xuống và vỡ tan trong một ruộng lúa. Tôi là phi công cuối cùng trở về kết hợp với những chiến đấu cơ khác đang bay quần trên cao độ 13,000 bộ (4,000m) cách phía Bắc Madura 20 dặm (30km).

Chúng tôi mất Trung úy Asai và 2 phi công khác. Trở về Balikpapan, theo báo cáo của các phi công Nhựt, có tất cả 40 chiến đấu cơ địch bị bắn hạ. Tôi luôn luôn trừ đi 30% báo cáo của bất kỳ nhóm phi công nào, sau một trận không chiến dữ dội, như trận không chiến vừa rồi chẳng hạn. Bởi lẽ, trong cảnh hỗn đấu, hai hoặc ba phi công có thể cùng xạ kích một chiếc phi cơ địch, và mỗi người đều cho rằng mình bắn hạ một chiếc. Tuy nhiên, lần này con số có vẻ ít sai sự thật, vì kể từ ngày đó chúng tôi hầu như không còn đụng độ với số lượng đông đảo các chiến đấu cơ Hoà Lan nữa. Ðồng thời, phi trường bí mật ở Madura bị oanh tạc, tiêu diệt hầu hết số phi cơ P40, Buffalo và Hurricane còn lại trên mặt đất của Ðồng Minh.

Ðêm nào chúng tôi cũng đều nghe đài phát thanh của địch quân cho biết 5 hay 6 chiến đấu cơ Nhựt bị bắn hạ trong ngày. Ðiều này sai sự thật, vì nhóm chúng tôi là nhóm duy nhất bay loại phi cơ Zéro trong khu vực, và con số thiệt hại lớn nhất của chúng tôi chỉ xảy ra vào hai ngày 19 và 20 tháng 2, với 6 phi cơ và phi công bị bắn hạ.

Và ngày 25, tám chiến đấu cơ Zéro được lịnh rời khỏi Balikpapan bay đến “dọn dẹp” căn cứ không quân Malang nơi mà cơ quan tình báo tin rằng có nhiều oanh tạc cơ của Ðồng Minh. Trên đường đến Malang, chúng tôi đụng đầu với một chiếc thủy phi cơ Hoà Lan, và tôi đã tách khỏi đội hình để nhận nó xuống đại dương.

Sau khi bay quần trên phi trường khoảng 6 phút, chúng tôi nhào xuống làm thịt ba chiếc B17 đang đậu trên mặt đất. Hoả lực phòng không của địch dữ dội, xoi thủng nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi nhưng không lôi được chiếc nào xuống đất.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

July 3rd, 2020

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 8

Boeing B17 Flying Fortress là oanh tạc cơ hạng nặng của Không lực Lục quân Hoa Kỳ USAAF từ cuối thập niên 30 với phi hành đoàn 10 người, gồm hoa tiêu, cơ khí viên và các xạ thủ. Bọc thép, 4 động cơ công suất 1,200 mã lực, mang 7,800 kg bom với trần bay 10,850 m cùng đường kính hoạt động 3,219 km và vận tốc tối đa 462 cây số giờ (so với 533 km/h của chiến đấu cơ Zéro), mỗi chiếc B17 là một pháo đài bay.

Trong đội hình hợp đoàn Defensive Box, mỗi chiếc B17 võ trang 13 đại liên Browning 12 ly 7 giăng ra một tấm lưới hỏa lực đan kết trở nên vô cùng khó tấn công cho đối phương. Sakai lập chiến tích khi bắn rơi pháo đài bay B17 đầu tiên trong chiến tranh Thái Bình Dương. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 8

Chương 8

Ngày thứ hai của cuộc chiến, ngày 9 tháng 12 năm 1941, chúng tôi phải đương đầu với những trận đánh tồi tệ nhứt, những trận mưa bão. Chúng xém gây thiệt hại trầm trọng cho các đơn vị không quân của chúng tôi. Rạng sáng chúng tôi quay lại Lữ Tống. Thời tiết xấu đến mức các oanh tạc cơ Betty phải nằm lại mặt đất. Giông bão cũng quần nát Phi Luật Tân như trên đảo Ðài Loan. Ðến chiều, chúng tôi chỉ phá hủy được vài chiếc phi cơ Mỹ trên phi đạo. Trên đường về một trận mưa lớn phá vỡ đội hình của hợp đoàn khu trục. Những cú đấm của thiên lôi mạnh không thể tưởng; chưa bao giờ tôi hứng chịu sấm sét khủng khiếp như thế và ngay cả sau này cũng vậy. Từng khối mây đen cuộn lấy chúng tôi và nhấn dìm xuống sát mặt đại dương. Sau cùng chúng tôi đành phân tán thành từng phi đội nhẹ ba chiếc một và tự túc bay về Ðài Nam riêng rẽ. May mắn thay, không một phi công mất tích.

Ngày thứ ba của cuộc chiến, một ngày tôi không bao giờ quên. Ðó là ngày tôi bắn rơi oanh tạc cơ B17 đầu tiên, và cũng là pháo đài bay đầu tiên của Mỹ rớt trong phi vụ chiến đấu. Sau chiến tranh, tôi biết được viên phi công của chiếc oanh tạc cơ này là Ðại úy Colin Purdie Kelly Jr, một anh hùng của Không quân Mỹ.

Vào ngày hôm đó, 10 tháng 12 năm 1941, chúng tôi bay che cho một đoàn công-voa Nhựt chuyển quân đổ bộ lên Vigan, phía Tây Bắc Manila 400 cây số, bao gồm tuần dương hạm nhẹ Nagara 4,000 tấn và 6 khu trục hạm hộ tống 4 dương vận hạm (Sau này chúng tôi được biết người Mỹ sai lầm khi cho rằng đoàn công-voa này bao gồm thiết giáp hạm Haruna 29,000 tấn, 6 tuần dương hạm, 10 khu trục hạm và 15 đến 20 vận tải hạm).

Trong khi bay bao che ở cao độ 18,000 bộ (5,500m), tôi nhận thấy có 3 tia nước bắn lên gần đoàn công-voa. Thật ra đây là 3 cột nước do 3 trái bom gây ra, nhưng vì bay quá cao nên chúng tôi không nhìn thấy rõ. (Không chiếc tàu nào trúng bom, nhưng theo phía Mỹ thì chiếc thiết giáp hạm “tưởng tượng” bị trúng bom trực tiếp, và chìm lĩm, chỉ còn thấy khói và dầu trên mặt nước).

Mặc dù được các chiến đấu cơ Nhựt bao che kỹ lưỡng như vậy, đối phương vẫn tấn công được. Ðiều này khiến tất cả chúng tôi đều bực tức. Ngay cả bóng dáng oanh tạc cơ địch, chúng tôi vẫn không nhìn thấy. Một vài giây sau khi nhìn ngang liếc dọc, tôi thấy một chiếc B17 lẻ loi, bay cách 6,000 bộ (1,800m) bên trên chúng tôi, trực chỉ về hướng Nam. Tôi báo động cho các phi công đồng đội và đảo mắt tìm kiếm phi cơ khác của địch, vì chúng tôi chưa từng nghe nói một oanh tạc cơ lâm trận mà không có chiến đấu cơ hộ tống bao giờ. Nhưng không ngờ việc này thật sự xảy ra. Chiếc B17 này đã thực hiện phi vụ tấn công đơn độc. Chắc chắn viên phi công có thừa can đảm.

Chiến đấu cơ dẫn đầu của chúng tôi báo hiệu truy đuổi, chỉ để lại ba chiếc phía sau bao che cho đoàn tàu chuyển vận. Chớp mắt, chúng tôi đuổi kịp chiếc B17 và còn cách phi trường Clark khoảng 50 dặm (80km), chúng tôi dàn đội hình khai hoả. Ngay lúc đó, 3 chiếc Zéro khác đột nhiên xuất hiện và lướt ngang đường bay của chiếc B17. Ðây là 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng (Kaohsiung) tham dự cuộc tấn công phi trường Nichols Field vào sáng sớm này. Cả 3 cùng khai hoả, nhưng chiếc oanh tạc cơ vẫn lướt đi an toàn.

Bảy chiến đấu cơ chúng tôi nhập với 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng. Mười chiến đấu cơ khó có thể tạo ra một cuộc tấn công nhịp nhàng. Ðể tránh né hoặc bắn lầm lẫn nhau, thay vì tấn công một lượt, chúng tôi bay thành hàng dọc chiếc này khai hoả rồi vung ra ngoài để nhường cho chiếc kế tiếp. Chúng tôi sửng sốt, vì không một viên đạn đại liên hoặc đại bác nào trúng chiếc oanh tạc cơ.

Ðây là lần đầu tiên chúng tôi chạm trán một chiếc B17, và kích thước bất thường cũng như tốc độ mau lẹ lạ lùng của nó làm cho chúng tôi ước lượng sai tầm súng. May mắn, xạ thủ địch cũng tệ không kém.

Sau đó, tôi nhận thấy chúng tôi đang ở trên phi trường Clark. Chắc chắn viên phi công B17 đã gọi chiến đấu cơ Mỹ giúp đỡ. Chúng tôi phải ra tay nhanh chóng. Tôi quyết định đánh cận tập từ phía sau. Tôi lướt đến trong khi các họng súng của chiếc oanh tạc cơ rực lửa nhưng không trúng tôi. Tôi lướt thêm nữa và khai hoả. Những mảnh kim khí bay tung ra từ cánh phải của chiếc B17. Tôi lạng ra và chiếc Zéro từ phía sau tôi xông tới, rót thêm một loạt đạn vô đối thủ. Tuy nhiên khi chiếc Zéro khác nối đuôi theo, thì phi cơ địch chúi mũi cố đáp xuống phi trường Clark với đôi cánh đã lệch hẳn. Tôi chúi theo sau chiếc pháo đài bay què quặt, giữ khoảng cách nhiều trăm thước, và chụp hình với chiếc máy ảnh Leica. Lúc cách mặt đất khoảng 7,000 bộ (2,000m), 3 người nhảy dù ra khỏi phi cơ, và chiếc B17 biến mất vào một đám mây. Về sau, chúng tôi nghe người Mỹ loan tin các phi công Nhựt đã bắn mấy người nhảy dù ra khỏi máy bay. Tin này chỉ có tánh cách tuyên truyền. Tôi là phi công duy nhứt bay gần chiếc oanh tạc cơ lúc đó và tôi không hề bắn ra một viên đạn nào cả. Vật duy nhứt mà tôi bấm là chiếc máy chụp hình Leica của mình. Không một phi công Nhựt nào khác nhìn thấy chiếc B17 rơi, vì vậy, “chiến công” bị phủ nhận vào thời gian đó.

Xế trưa hôm đó, trở về Ðài Loan, chúng tôi nhận thấy cánh của 2 chiến đấu cơ Zéro đầy vết đạn do các xạ thủ chiếc B17 gây ra. Và mười ba năm sau này, tôi có dịp gặp Ðại tá Frank Allen Kurtz chỉ huy Không đoàn 463 Hoa Kỳ ở Ðông Kinh, ông ta đã nói với tôi:

“Ngày Colin bị bắn rơi, tôi đang ở trên đài kiểm soát của phi trường Clark. Tôi nhìn thấy phi cơ của ông ta bay đến và anh đang bay bên phải, phía trên, trong lúc ông ta cố đáp xuống. Ba chiếc dù rơi xuyên qua mây mù, tôi thấy hình như ở cao độ 800 thước. Rồi năm cây dù nữa bung ra. Colin, dĩ nhiên, không kịp thoát khỏi phi cơ.”

Chiều tối hôm đó, tôi nhận nhiều lá thư gửi từ Nhựt Bản và một gói quà nhỏ của Fujiko. Nàng gửi cho tôi một dải lụa thêu một ngàn mũi chỉ đỏ và muốn tôi quấn quanh thắt lưng. Là tấm bùa hộ mệnh truyền thống của phụ nữ Nhựt Bản gửi cho chồng, cha, anh em ruột hay con trai, nhằm gìn giữ người thân của mình trước mũi tên hòn đạn. Lá thư của Fujiko viết: “Hôm nay, gia đình em biết tin xứ sở của chúng ta đã khai chiến với Hoa Kỳ và Anh. Gia đình em chỉ biết khẩn cầu cho chiến thắng sau cùng của tổ quốc và sinh mệnh của anh được bảo toàn. Hatsuyo-san, em họ của anh và cả em, chúng em cùng đứng ở góc phố nhiều giờ mỗi ngày, trong suốt một tuần lễ, để xin 998 phụ nữ qua đường mỗi người một mũi kim thêu cho anh, trên khăn lụa này. Chúng em hy vọng là anh sẽ chấp thuận thắt tấm lụa ấy quanh lưng anh, vì chúng em ước nguyện tấm lụa này che chắn cho anh trước lằn đạn của quân thù…”

Một cách thành thực, không nhiều phi công Nhựt tin vào phẩm hạnh của bùa hộ mệnh nhưng tôi ý thức công sức lớn lao của Fujiko và cô em họ Hatsuyo của mình đã kiên nhẫn đứng trong buốt giá nhiều tiếng đồng hồ mỗi ngày ở góc đường để xin cho tôi từng mũi thêu. Vì vậy tôi lập tức thực hiện ý nguyện của họ; quấn tấm lụa quanh thắt lưng mình. Cánh thư chân thành của Fujiko còn làm tôi suy nghĩ; lần đầu tiên tôi xem những phi công địch mà tôi đã bắn hạ là những con người giống mình. Cho đến khi ấy họ chỉ là những khách thể xa xôi mà tôi không màn đến. Cảm giác mình đã thờ ơ với đồng loại gây u sầu. Nhưng biết sao hơn, trong chiến tranh trên không trung cũng như trên mặt đất, phải giết để không bị giết.

Chúng tôi tiếp tục các phi xuất tấn kích từ Ðài Loan đến Phi Luật Tân trong mười ngày kế tiếp. Sau đó nhận lịnh thuyên chuyển đến căn cứ Jolo ở quần đảo Sulu, nằm giữa Mindanao và Bornéo, cách phi trường Ðài Nam 1,200 dặm (2,200km) đường chim bay. Ngày 30 tháng 12, tôi cất cánh vào lúc 9 giờ sáng với 26 chiến đấu cơ Zéro khác, bay không ngừng nghỉ đến nhiệm sở mới. Nơi đây mạng lịnh đang chờ sẵn, và chúng tôi thực hiện một phi vụ 270 dặm (500km) xa hơn về phía Nam đến Tarakan, nằm cuối bờ biển phía Ðông Bornéo. Phi vụ không xảy ra điều gì quan trọng, chúng tôi không gặp một phi cơ địch nào.

Phản công chính thức của đối phương đối với các đơn vị chúng tôi được tung ra lần đầu tiên là vào tháng Giêng. Gần nửa đêm, một oanh tạc cơ B17 đơn độc bất ngờ oanh tạc Tarakan. Một dây bom rơi xuống những doanh trại của công binh kiến tạo tại đây, sát hại hơn 100 người cùng gây bị thương cho nhiều người khác, và nhiều toà nhà sụp đổ.

Không một chiếc Zéro nào có thể cất cánh kịp thời, bởi vì phi trường Tarakan là một trong những phi trường xấu nhứt của quần đảo phía Ðông xứ Nam-Dương (Indonesia). Ngay cả trong những hoạt động ban ngày, chúng tôi phải cất cánh và đáp xuống trên phi đạo ngập bùn. Thời gian chúng tôi ở đây, hai chiếc Zéro hư hại do phi đạo gây ra.

Bị oanh tạc, chỉ huy trưởng căn cứ Tarakan phẫn nộ, ra lịnh cho tôi và trung sĩ Kuniyoshi Tanaka cất cánh để bay tuần tiễu bên trên phi trường. Tanaka từng bắn hạ 12 phi cơ địch ở Trung Hoa, và 8 chiếc khác trong cuộc chiến Thái Bình Dương.

Bay đêm rất nguy hiểm và khó khăn, vì trong thời gian đó chiến đấu cơ Zéro chưa được trang bị cơ phận bay đêm, cả tôi lẫn Tanaka không biết phải làm gì nếu bị tấn công trước. May cho chúng tôi, và cho căn cứ, chúng tôi không bị phá rầy trở lại.

Vào ngày 21 tháng 1-1942, một đoàn công-voa của chúng tôi rời cảng Tarakan mang quân đổ bộ lên Balikpapan ở phía Nam Bornéo cách 900 cây số. Bộ chỉ huy tối cao Hoàng gia ra lịnh cho phi đoàn chúng tôi cung cấp không yểm, nhưng chúng tôi chỉ có thể thực hiện một cuộc tuần thám trên đoàn công-voa mà thôi.

Thay vì được cung cấp một số lượng chiến đấu cơ to tát theo nhu cầu sử dụng của chúng tôi, vào những tháng đầu năm 1942, chúng tôi chỉ có trong tay không hơn 70 chiếc Zéro cho toàn thể khu vực Ðông Nam-Dương rộng lớn. Và các chiến đấu cơ còn cần phải bảo trì, sửa chữa sau mỗi 150 giờ bay, do đó chỉ còn trung bình 30 chiếc khả dụng.

Giữa tháng Giêng, oanh tạc cơ B17 bắt đầu được đưa đến căn cứ Malang của đối phương ở Java, và tung ra các cuộc tấn công sơ khởi nhắm vào lực lượng trên bộ của chúng tôi ở Phi Luật Tân và Ðông Nam-Dương. Các pháo đài bay này có đường kính hoạt động 3200 cây số làm bộ binh Nhựt điêu đứng, nhưng vì con số ít ỏi nên không thể ngăn nổi các cuộc hành quân của chúng tôi.

Vào mùa Xuân 1942 những oanh tạc cơ B17 loại mới, với các pháo tháp đại liên 12 ly 7 nòng đôi phía sau đuôi, xuất hiện trên chiến trường. Chúng tôi sớm tìm ra yếu điểm của loại phi cơ này để tấn công.

Chiều ngày 24 tháng Giêng, Tanaka trở về phi trường với hai đồng đội sau một cuộc tuần thám ở Kalikpapan. Cả ba phi công đều kiệt sức, tuy không ai bị thương. Tanaka báo cáo đã đụng độ với 8 pháo đài bay B17 vào buổi sáng và cuộc tấn công của hắn không có kết quả. Tanaka cho biết có nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của hắn trúng vào thân phi cơ địch rõ ràng, nhưng chiếc oanh tạc cơ không rơi. Hắn có vẻ chán nản: “Mấy chiếc oanh tạc cơ khốn nạn này thật khó ăn khi chúng bay theo đội hình phòng vệ.” Chúng tôi hiểu một hợp đoàn B17 mà mỗi chiếc trang bị 12 đại liên là cả một tấm lưới đạn khủng khiếp. Tanaka tiếp tục kể việc hắn đã tấn công khiến cho các oanh tạc cơ địch thả bom không chính xác xuống đoàn công-voa phía dưới. Chỉ có một chiếc tàu dầu khổng lồ trúng bom và, khi hắn rời Balikpapan để quay về, lửa vẫn còn bốc cháy dữ dội.

Ngày hôm sau, tôi lại thực hiện cuộc tuần thám ở Balikpapan với một phi cơ khác do trung sĩ Sadao Uehara lái. Cả 2 chiếc Zéro của chúng tôi là tất cả những gì còn khiển dụng mà căn cứ Tarakan có thể tung ra giúp đoàn công-voa, các chiến đấu cơ khác đều đã được cắt đặt nhiệm vụ riêng. Biết Tanaka chạm địch ở cao độ 20,000 bộ (6000m), chúng tôi bay cao hơn hắn 2,000 bộ (600m). Nhìn xuống dưới, chiếc tàu dầu trúng bom ngày hôm trước vẫn còn bốc cháy như một cây đuốc.

Khoảng 10 giờ, nhiều chấm đen nhỏ xuất hiện trên nền trời, tiến đến Java. Các chấm đen lớn mau dần cho đến khi hai nhóm phi cơ, mỗi nhóm 4 chiếc hiện ra rõ ràng. Các pháo đài bay, bay sát cánh nhau, giống như Tanaka đã mô tả ngày hôm qua. Nhóm phi cơ sau bay cao hơn nhóm dẫn đầu, và khi chúng tôi lướt đến, nhóm thứ hai bay sát vào nhau hơn, lập thành một Box phòng vệ.

Tám chiếc B17 bay ngang phía dưới tôi nửa dặm. Tôi lộn lại, với Uehara theo sát bên cánh, và chúi xuống tấn công. Ðịch vẫn còn nằm ngoài tầm súng nhưng tôi cũng quất một quả đại bác khi lướt qua. Tôi nhìn thấy những trái bom từ bụng oanh tạc cơ rơi xuống đoàn công-voa phía dưới. Tôi lộn nhào nhiều vòng, lướt thẳng lên, và nhìn thấy những cột nước tung cao. Không trái bom nào trúng mục tiêu. Bầu trời trong sáng. Tôi quày phi cơ lại, cách 500 thước bên trên nhóm oanh tạc cơ bay phía sau, và chúi xuống hết tốc lực với mọi loại súng đều khai hoả. Vô hiệu. Quanh tôi hầu như không nơi nào là không có bóng dáng phi cơ địch. Tôi chúi xuống trót lọt và bắt đầu vượt lên để chúi xuống tấn công nữa.

Chúi xuống, lộn nhiều vòng, tập trung hoả lực vào một oanh tạc cơ. Lần này tôi túm được đối thủ. Tôi thấy những viên đạn nổ bùng, những đốm đỏ và đen túa dọc theo thân phi cơ địch. Chắc chắn nó sẽ rớt ngay lập tức. Nhưng không có gì xảy ra. Không có lửa, không có khói… Chiếc B17 vẫn tiếp tục bay trong đội hình.

Tôi đảo vòng vượt lên và lộn lại tấn công hiệp thứ ba. Lần này tôi nhắm chiếc oanh tạc cơ trúng đạn của tôi khi nãy. Tôi nhìn thấy những viên đạn phát nổ và những mảnh kim khí túa ra từ cánh và thân phi cơ địch. Tôi lướt ngang qua, bung một vòng thật rộng, quày trở lại và vượt lên cao.

Chiếc B17 vẫn còn trong đội hình. Không lửa, không khói. Mỗi lần tôi chúi xuống tấn công, mọi khẩu súng của địch thủ đều khai hoả dữ dội, nhưng cũng may đội hình chặt chẽ đã giới hạn hoả lực địch rất nhiều. Chiếc Zéro của tôi nguyên vẹn. Tôi lại tấn công thêm hai lần nữa với sự hỗ trợ của Uehara, và mỗi lần chúng tôi đều nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của mình nện vào thân phi cơ địch, nhưng không thấm tháp gì hết. Vỏ chiếc B17 bọc thép!

Chúng tôi vừa hoàn tất đợt tấn công thứ sáu, tám oanh tạc cơ địch tẻ ra làm hai, một đảo qua trái, một đảo qua phải. Tôi gia tăng hết tốc lực đuổi theo nhóm có chiếc B17 bị hư hại và tụt hẳn lại phía sau ba chiếc kia. Với tốc lực tối đa, tôi lướt đến trong khoảng 50 thước, và bóp mạnh cò súng. Bao nhiêu đạn đại bác 20 ly và đại liên 7 ly 7 cuối cùng tôi đều rót hết vào đối thủ què quặt. Một bụm khói đen bốc lên, chiếc oanh tạc cơ chúi mũi xuống và biến mất trong đám mây phía dưới.

Trở về Tarakan, tôi báo cáo chi tiết phi vụ cho thượng cấp của tôi là Trung úy Singo. Các phi công khác bu quanh để nghe tôi kể lại quang cảnh của trận đụng độ và tất cả đều cho rằng tôi trở về được là một phép lạ, sau khi phải đối đầu với hoả lực tập trung của 8 pháo đài bay. Nhân viên dưới mặt đất chỉ tìm thấy ba lỗ đạn gần đầu cánh chiếc chiến đấu cơ của tôi. Hai ngày sau, một phi cơ thám thính Nhựt báo cáo có một chiếc B17 đã vỡ tan khi cố đáp xuống một hòn đảo nhỏ nằm gần Balikpapan và Surabaya.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

June 26th, 2020

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 7

Ngày 7 tháng 12-1941, Đệ Nhất Không Hạm đội Hỗn hợp của Đô đốc Nagumo tấn công Trân Châu Cảng. 5 giờ sau, Không đoàn Đài Nam của Sakai oanh kích US Clark Air Base tại Phi Luật Tân. Không đoàn Đài Nam khi ấy tăng phái cho Không Hạm đội XI của Phó Đô đốc Nishizo Tsukahara bao gồm Hải đoàn 34 Khu Trục hạm, Liên Phi đoàn Đông Dương với các Phi đoàn 21, 22, 23 trú đóng tại Tân Sơn Nhất, tăng cường 7 dương vận hạm vận chuyển 2 trung đoàn Thủy binh. Tuy nhiên Tsukahara, về sau lên đến chức Đô đốc Tư lệnh Hải vực Yokohama, đã không yêu cầu cung cấp hàng không mẫu hạm chính vì chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zéro đã có thể bay thẳng từ Đài Loan đến Phi Luật Tân. Một bất ngờ đối với US Far East Air Force. Riêng Sakai sẽ là phi công Nhật đầu tiên bắn rơi máy bay Hoa Kỳ trên đất Phi. Huyền thoại của một Sát tinh bắt đầu. 

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Ảnh Phó Đô đốc Nishio Tsukahara

Nhiều kỳ – Kỳ 7

Chương 7

Vào ngày 2 tháng 12-1941, Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara, Tư lịnh Không Hạm đội XI, lần đầu tiên gởi các phi công thám thính đến quần đảo Phi Luật Tân. Ngày 4 và 5, các phi cơ này trở lại một lần nữa để chụp hình 2 phi trường Clark Air Base và Iba Airfield cùng những nơi đồn trú quan trọng khác gần Manila, từ độ cao 20,000 bộ (6,000ma). Các không ảnh đã cho chúng tôi nhìn thấy rõ ràng tại phi trường Clark AB có 32 oanh tạc cơ B17, 3 phi cơ hạng trung và 71 phi cơ nhỏ. Theo xét đoán của Hải quân, địch có khoảng 300 máy bay quân sự đủ loại ở Lữ Tống (Luzon), là đảo chính. Sau này chúng tôi khám phá ra số phi cơ thiệt nhiều gấp đôi con số kể trên. Không phải chỉ chúng tôi độc quyền thực hiện các phi vụ do thám. Nhiều thám thính cơ Catalina PBY-5A của Hoa Kỳ cũng thỉnh thoảng được nhìn thấy trên không phận Ðài Loan. Loại thủy phi cơ hai máy này xuất hiện vào những ngày mây sà thấp, bay chậm ở độ cao 1,500 bộ (450m), nhởn nhơ chụp hình các nơi đồn trú và dãy phi cơ đậu trên mặt đất của chúng tôi. Các phi công Mỹ gây xiết bao kinh ngạc. Với những thân tàu chậm chạp và cũ kỹ, coi rất dễ ăn vậy mà chúng tôi không tóm được một chiếc Catalina nào. Mỗi lần có báo động, hàng chục phi công nhảy xổ lên không, nhưng mấy chiếc Catalina chui vô trong mây dày và biến mất tiêu. Với những không ảnh chụp ở một độ thấp như vầy, phải nói rằng người Mỹ có trong tay mọi thứ mà họ muốn biết về các đơn vị không quân Nhựt Bản.

Khi chúng tôi đến Ðài Nam để gia nhập vào Tân Hạm đội XI, chúng tôi phải trải qua một giai đoạn huấn luyện mới không ngưng nghỉ. Từ bình minh cho đến tối mù, 7 ngày một tuần, bất chấp mọi thời tiết, chúng tôi tham dự các chuyến bay huấn luyện để cải tiến các phi vụ hộ tống, phi vụ đột kích, phi vụ có đội hình đông đảo v.v.

Kế hoạch tấn công Phi Luật Tân nguyên thủy đòi hỏi phải sử dụng 3 hàng không mẫu hạm để mang chiến đấu cơ Zéro đến gần các hòn đảo của địch. Ðó là 3 hàng không mẫu hạm Ryujo (Long Phi) 11,700 tấn, Zuiho (Thụy Phụng) 13,950 tấn là một tàu tiếp tế cho tiềm thủy đĩnh được tân cải, và Taiho (Ðại Phụng) 20,000 tấn là tàu buôn cải tiến. Về mặt lý thuyết 3 hàng không mẫu hạm nhẹ này có khả năng chở đến 90 chiến đấu cơ, nhưng khả năng thực sự chỉ khoảng 50 phi cơ và con số này còn phải giảm xuống vào những ngày giông gió.

Phó Ðô đốc Tsukahara nhận thấy ba chiếc tàu này hầu như không đáp ứng các dự tính của ông. Tuy nhiên, nếu chiếc Zéro có thể bay thẳng một mạch từ Ðài Loan đến Phi và trở về không ngưng nghỉ, thì bấy giờ sẽ không cần đến hàng không mẫu hạm nữa. Nhưng các phụ tá của Tsukahara không tin một chiến đấu cơ một máy có thể thực hiện nổi nhiệm vụ có tầm xa như vậy. Clark Air Base cách căn cứ chúng tôi 450 hải lý (835km), và phi trường Nichols Field, một mục tiêu quan trọng khác gần Manila, cách 500 hải lý (930km). Ðiều đó có nghĩa là phải bay suốt từ 1,000 (1,850km) đến 1,200 dặm biển (2,200 km). Từ trước đến nay chưa có khu trục cơ nào thực hiện được những phi vụ xa như vậy bao giờ. Những cuộc thảo luận ồn ào xảy ra không dứt giữa Bộ Tham mưu Không quân… Chỉ có một cách duy nhứt để xác định vấn đề.

Từ đó về sau, chúng tôi bay ngày lẫn đêm để đo lường tầm hoạt động của chiến đấu cơ Zéro. Nếu là phi vụ đơn độc, loại khu trục Zéro có thể duy trì trên không tối đa 6 đến 7 giờ. Chúng tôi kéo dài thêm thời gian này ra từ 10 đến 12 giờ và thực hiện trong đội hình đông đúc. Riêng tôi lập thành tích trong việc hạ thấp mức tiêu thụ xăng xuống không quá 17 ga-lông (khoảng 68 lít) một giờ; trung bình các phi công giảm mức tiêu thụ xăng từ 35 ga-lông (140 lít) xuống còn 18 ga-lông (72 lít). Thông thường, một chiếc Zéro mang 182 ga-lông xăng. Ðể duy trì, ở cao độ 12,000 bộ (3,600m) chúng tôi chỉ bay với tốc lực khoảng 200 cây số giờ. Tốc lực đầy đủ bình thường của một chiếc Zéro là 500 km, và trong tình trạng khẩn cấp ngắn ngủi có thể lên đến tối đa 650 cây số giờ. Nhiều phương pháp tiết kiệm nhiên liệu có tánh cách kỹ thuật khác cũng được thực hiện.

Các phương pháp mới này đã nới rộng tầm hoạt động của chiếc Zéro một cách đáng kể. Các vị chỉ huy đã báo cáo những tin tức đầy lạc quan lên Phó Ðô đốc Tsukahara, và dẫn đến việc xoá bỏ 3 hàng không mẫu hạm nhỏ trong kế hoạch tấn công Phi Luật Tân của ông. Hai chiếc được điều về Nhựt Bản và một chiếc di chuyển đến yểm trợ cho các cuộc hành quân của chúng tôi ở Palau, phía Tây Thái Bình Dương gần quần đảo Carolina giáp ranh Nam-Dương. Do đó, Không Hạm đội XI trở thành một không hạm đội không có một tàu chiến nào cả.

Chúng tôi tò mò tìm hiểu sự chống trả sẽ gặp từ phía người Mỹ. Chúng tôi hiểu biết rất ít về các loại phi cơ và tài ba của phi công Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ phỏng đoán sẽ đối đầu với những phi công có nhiều khả năng hơn những phi công địch mà chúng tôi đã đối đầu ở Trung Hoa.

Không ai tỏ vẻ nghi ngờ về sự khôn ngoan trong việc phát động chiến tranh của Nhựt Bản. Chúng

Đệ Nhất Không Hạm đội Hỗn hợp của Đô đốc Chuichi Nagumo tấn công Trân Châu Cảng

tôi, tất cả hạ sĩ quan đã được huấn luyện để chỉ biết nhắm mắt tuân lịnh. Khi được lịnh bay và đánh, chúng tôi thi hành.

Lúc hai giờ sáng ngày 8 tháng 12 năm 1941, một liên lạc viên chạy vô chỗ trú ngụ của chúng tôi ở Ðài Nam, đánh thức nhóm phi công chúng tôi dậy. Ðã đến ngày N, là ngày khai chiến theo như chúng tôi biết. Các phi công ngồi dậy lặng lẽ mặc quần áo và từng tốp nhỏ bước ra sân. Ðêm trong lành, thanh vắng với những vì sao chiếu lấp lánh khắp không trung. Yên tĩnh của đêm bị phá vỡ bởi tiếng giày trận của chúng tôi khua vang trên nền đá và tiếng nói thì thào của các phi công lúc bước ra phi đạo. Ðại úy Masahisa Saito, chỉ huy trưởng phi đoàn cho biết chúng tôi sẽ cất cánh lúc 4 giờ và ông thuyết trình về những chi tiết liên quan đến phi vụ tấn công vào phi trường Mỹ ở Phi Luật Tân. Sau đó chúng tôi chờ đợi. Binh sĩ chạy việc mang điểm tâm đến tận chỗ chúng tôi ngồi bên cạnh phi cơ nằm sẵn trên phi đạo.

Khoảng 3 giờ sáng, sương mù bắt đầu sà thấp xuống, một hiện tượng hiếm thấy trong khu vực bán nhiệt đới. Vào lúc 4 giờ, sương mù trở nên dày đặc. Không thể nào nhìn thấy hơn năm thước. Chiếc loa trên đài kiểm soát không lưu vang vang: “Cất cánh hoãn vô hạn định!” Nỗi bồn chồn của chúng tôi càng lúc càng gia tăng khi màn đêm loãng dần. Trong không khí là một dải sương mù dày của những ý nghĩ. Chúng tôi nhìn đồng hồ luôn, chửi rủa sương mù thậm tệ. Ba tiếng đồng hồ trôi qua trong tình trạng này, và sương mù đã không tan mà còn dày hơn. Bỗng nhiên loa phóng thanh lại vang tiếng: “Chú ý! Chú ý! Ðây là công bố quan trọng..” Các phi công chăm chú lắng nghe. “Vào lúc 6 giờ sáng nay, một lực lượng đặc nhiệm Nhựt Bản đã thành công khi tung ra cuộc tấn công hủy diệt bất thần các lực lượng Mỹ trên quần đảo Hạ Uy Di.” (Do lệch múi giờ, là mùng 7 tại Pearl Harbor nhưng là sáng mùng 8 ở Ðài Loan).

Tiếng hò reo dữ dội trổi lên trong màn đêm. Các phi công nhảy múa vỗ đấm lưng nhau thùm thụp. Nỗi vui mừng không trọn vẹn. Ða số phi công chúng tôi đều chửi thề vì bị đóng đinh trên mặt đất trong khi đồng đội đang nghiền nát kẻ thù. Bay và bắn. Ðã là phương châm của phi công Nhựt.

Cuộc tấn công vừa công bố làm cho chúng tôi thêm suy nghĩ. Người Mỹ hiện thời đã báo động và cảnh giác, khó thể tin rằng họ không gom góp hết sức mạnh để chờ chúng tôi ở Phi Luật Tân. Căng thẳng gia tăng khi buổi sáng ló dạng. Sương mù đã phá hỏng kế hoạch của chúng tôi, sẽ cho phép người Mỹ tung phi cơ của họ từ Lữ Tống đến vồ số phi cơ hiện còn nằm trên mặt đất của chúng tôi ngay khi sương mù vừa tan. Chúng tôi chuẩn bị chống trả. Các xạ thủ phòng không ghìm súng, và mọi người vểnh tai ngóng tiếng oanh tạc cơ địch bay đến.

Lạ lùng thay, cuộc tấn công không xảy ra! Lúc 9 giờ sáng, sương mù bắt đầu tan và âm thanh vui mừng từ chiếc loa phóng thanh báo cho chúng tôi biết sẽ cất cánh trong vòng 1 giờ nữa. Tất cả các phi công chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đều leo lên phi cơ của mình mà không đợi nhận lịnh thêm.

Ðúng 10 giờ, đèn báo hiệu lấp loáng xuyên qua màn sương mù mong manh. Hết chiếc oanh tạc cơ này đến chiếc oanh tạc cơ khác lần lượt cất cánh. Một, hai, ba, rồi sáu chiếc đã ở trên không trung. Chiếc thứ bảy đang chạy trên phi đạo và khi cách điểm khởi hành khoảng 500 thước bỗng nhiên bộ phận hạ cánh bên phải sụm xuống. Với một tiếng rít kéo dài khủng khiếp, chiếc phi cơ trườn bụng trên đường băng, lửa bao phủ toàn thân. Trong ánh lửa chập chờn, chúng tôi nhìn thấy phi hành đoàn nhảy ra, chạy cuống cuồng khỏi chiếc phi cơ. Kế đó, một tiếng nổ dữ dội phát ra rung rinh cả phi trường. Bom chất trên phi cơ nổ tung. Không một người nào trong phi hành đoàn sống sót. Những mảnh vụn được dọn dẹp hối hả. Không đầy 15 phút sau, oanh tạc cơ kế đó được lịnh xuất phát. Ðến 10 giờ 45 phút, tất cả phi cơ đều ở trên không: 53 oanh tạc cơ Betty và 45 chiến đấu cơ Zéro. Chiến đấu cơ chia làm 2 nhóm, một nhóm hộ tống các oanh tạc cơ, một nhóm bay phía trước để nghinh chiến. Tôi chắc chắn, sau khi cuộc tấn công trì hoãn quá lâu, kẻ thù đang chờ đợi chúng tôi với tất cả sức lực của họ. Tôi bay trong đợt thứ năm và đội hình chúng tôi nâng cao lên 19,000 bộ (5,800m).

Ngay khi vượt qua mũi cực nam của đảo Ðài Loan, tôi nhìn thấy 9 oanh tạc cơ bay thẳng về phía hòn đảo. Hiển nhiên, chúng đang trên đường tấn công căn cứ của chúng tôi. Chín phi công, trong đó có tôi, trước khi cất cánh đã được lịnh chống trả bất kỳ phi cơ nào của địch phát hiện trên phi trình đến Lữ Tống, trong khi các phi công khác cứ tiếp tục bay như kế hoạch đã định.

Chúng tôi tách khỏi đội hình chính và bổ nhào xuống các oanh tạc cơ địch. Trong hai giây, tôi đã nằm trong vị trí khai hoả, và áp sát vào nhằm tỉa chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu. Sắp sửa ấn cò súng, tôi nhận ra đây là các oanh tạc cơ của Lục Quân Nhựt Bản! Tôi lắc cánh để báo hiệu cho các chiến đấu cơ khác. Tôi chửi thề. Văng tục! Không một vị nào ở Bộ Tư lệnh Lục Quân trong khu vực thèm để ý đến việc phối hợp với các phi vụ của Hải quân. Bọn ngu đần ngồi trong mấy chiếc máy bay này đang thực hiện một phi vụ huấn luyện thường lệ!

Chúng tôi kết hợp vào đội hình lúc bay qua nhóm đảo Batan, nằm giữa đường Ðài Loan và Lữ Tống. Các đảo này do quân nhảy dù Nhựt vừa chiếm đóng, nhằm để đón nhận một phi cơ nào đó của chúng tôi bắt buộc phải đáp xuống trên đường từ Phi trở về. Và rồi quần đảo Phi hiện ra trong tầm mắt, một màu xanh lá cây sậm nổi bật giữa màu xanh lơ của đại dương. Bờ biển trải dài phía dưới, ngoạn mục và hiền hoà. Không một chiếc phi cơ địch nào xuất hiện trên bầu trời. Bấy giờ chúng tôi đã bỏ đảo Hải Nam lại sau lưng, và vào lúc 1 giờ 35, chúng tôi trực chỉ US Clark Air Base.

Bạn thời thơ ấu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Bạn thời thơ ấu!

Đoàn Xuân Thu

Hồi xưa bên Tàu, và cả bên Việt Nam mình, nghề thuốc là một cái nghề cao quý, chỉ để cứu nhân độ thế. Bào chế cao đơn hoàn tán chẳng qua là phục vụ cho dân; nếu có tính tiền thì cũng chẳng là bao; chỉ đủ rau cháo qua ngày mà thôi. Như nhà thơ Nguyễn Ðình Chiểu của đất Ba Tri, Bến Tre vừa làm thơ, vừa bốc thuốc để chữa bịnh cho dân nghèo. Thực dân Pháp tính mưu chuộc, cấp tiền nhưng ông khẳng khái khước từ. Còn bây giờ là khác nhe! Làm nghề thuốc là để kiếm tiền, càng nhiều càng tốt ngay cả bất lương cũng được tuốt. Mới đây nè! Bên Trung Cộng, công ty Trường Xuân dám sản xuất ra 250 ngàn liều chích ngừa dỏm, bán cho thằng Tửng với con Muối, con của chú thiếm Ba, để bỏ túi tới 90 triệu đô Mỹ.

Cái ‘y đức’ bên Tàu như vậy; nên phim Tàu ngày nay mới dám định nghĩa cái nghề thầy thuốc bên Tàu hồi xưa như vầy: Sau khi thua xiểng niểng trận Xích Bích dưới tay của quân Tôn Quyền và Lưu Bị, Tào Tháo phán rằng, “Làm tướng như làm thầy thuốc. Có thất bại mới tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm nhờ đó cuối cùng mới đưa đến thành công. Tỷ như làm thầy thuốc, thất bại nhiều lần, chữa cho người nào người nấy lăn ra chết mới tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm để trở thành thầy thuốc của nhân dân sau nầy!”

Tào Tháo phán thiệt là bá láp. Làm tướng mà đánh đâu thua đó là tướng dỡ; làm thầy thuốc mà chửa bệnh ai người đó lăn ra chết là thầy thuốc dỡ. Mà dỡ là do mình không có giỏi, phải tự đấm ngực ‘lỗi tại tui muôn phần’ mà tụi bây chết hết ráo. Đừng ngụy biện là có dỡ mới có giỏi, (chết nhiều cũng có cái hay là không còn chết nữa) nghe hổng lọt lỗ tai tui nhe!

Nên có chuyện rằng vợ Diêm Vương bị ấm đầu, sổ mũi. Thương vợ, Diêm Vương cho đòi quỷ sứ vào truyền lịnh: “Hãy lên trần thế, rước về cho ta một thầy lang thiệt giỏi để chữa bịnh cho phu nhân của ta.” Quỷ sứ cầm đinh ba bước ra, sực nhớ điều gì đó bèn quay lại: “Tâu bệ hạ thầy lang trên trần thế nhiều vô số kể; chúng thần biết rước ai đây?” “Thì các ngươi bỏ tiền ra mua tờ báo, xem mục quảng cáo, thầy lang nào chữa bá bệnh, từ tiểu đường, ung thư, cao máu đều lành bịnh hết ráo thì rước xuống đây cho ta!”“Tâu bệ hạ! Tin vào quảng cáo không được đâu, vì đa số thầy lang đó là lang băm chuyên nói láo!”

Sau một hồi chống tay lên cằm suy nghĩ, Diêm Vương phán rằng: “Ðến phòng mạch nào mà có ít oan hồn uổng tử khóc lóc đòi đền mạng thì rước thầy lang đó xuống đây ngay cho ta!”

Bọn quỷ sứ đằng vân giá vũ bay lên trần thế rước ngay được một thầy lang đem vào triều bệ kiến. “Nè thầy lang kia! Quỷ sứ báo cho ta biết là trước phòng mạch của nhà ngươi chỉ có một oan hồn uổng tử khóc lóc đòi đền mạng; con số một nầy chứng tỏ tay nghề của thầy lang thiệt là cao diệu. Vậy chẳng hay xưa giờ thầy lang đã chữa hết có tất cả bao nhiêu bệnh nhân?” “Trình với Diêm Vương số bệnh nhân xưa giờ của thần có một người.”

Ðời mà! Mỗi người một phần số khác nhau, chuyện nghề nghiệp là do ông Trời ổng phân công đó thôi. Mình có muốn cũng không được.  Như khoái viết nhăng, viết cuội trên báo, coi đó là niềm vui. Nhưng ông Trời phán đó là nghề tay trái; còn nghề tay phải, phần số tui phải làm ‘cu li’ mới có cơm mà ăn có rượu mà nhậu, nên tui đành chịu. Nhưng cũng nhờ viết báo mà một thằng bạn học cũ hồi Tiểu học Bàn Cờ, rồi Trung học Petrus Ký, giờ làm bác sĩ bên Úc nầy đây, mới tìm được ra tui sau cuộc biển dâu, trời sập năm 75 đó chớ.

Nói nào ngay hồi còn nhỏ đi học tui cũng ngưỡng mộ ngành Y, muốn mình được làm bác sĩ chích ‘đít’ mấy em… mà còn được trả tiền. Phần trộm nghe mấy người đẹp cỡ “Thanh Nga, Thanh Lan, Thanh Thúy, Thanh Tuyền” kháo nhau rằng: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Phải cỡ bác sĩ trở lên mới rớ được cọng lông chưn của mấy em; chớ ‘phèn’ như tui, đỉa mà đòi đeo chân hạc, là mấy em sẽ nói: “Thanh Kiu”! Do đó đắt mèo nhứt, gái đeo phủi không hết, là mấy thằng học Y khoa. Chưa ra trường là Bố Mẹ em đã đặt cọc cái ống chích của nó cho con gái họ xài tới mãn đời rồi hè!

Tui rất muốn vậy, nhưng lực bất tòng tâm không cách chi mà đua cho lại tụi nó.

Muốn làm bác sĩ là phải học Y Khoa. Mà muốn vào được trường Y thì thời Trung học phải giỏi Toán, Lý, Hóa, Vạn vật và Sinh ngữ. Nghĩa là môn nào nó cũng giỏi hết. Chính vì vậy mà hai kỳ Tú tài nó đều đậu Ưu hết ráo.

Rồi phải đậu một kỳ thi tuyển 5000 đứa, vừa trai vừa gái, mà chỉ chọn được có 200. Một mình phải đá ‘đít’ được 25 đứa khác! Rồi phải học tới 6 năm dài lê thê, dài đăng đẳng; rồi nội trú một, hai năm trong bịnh viện mới dám khoe: “Tui là đốc tờ!’

Rồi qua đây, nghe con cái của người Việt mình ra bác sĩ ào ào hè! Thấy nhiều như vậy đừng tưởng là dễ. Phải tốt nghiệp VCE (Tú tài) với hạng Ưu 99.95 điểm. Rồi phải đậu vào trường Y, học ròng rã 5 năm, thêm một, hai năm nội trú, thực tập ở các khoa, phòng khác nhau tại bịnh viện rồi gia nhập vào Hội đồng Y Khoa của tiểu bang mới được giấy phép hành nghề. Còn có bằng Cử nhân, muốn làm bác sĩ cũng phải học ròng rã tới 4 năm. Bác sĩ chuyên khoa còn học lâu hơn. Học phờ râu luôn, nếu có râu!

o O o

Ðang hăng tiết vịt, sùi bọt mép gây lộn với em yêu thì cái ‘I phone’ 10  của tui nó run lẩy bẩy như đang bị sốt rét, kêu ò í e. “Hello! Phải thằng ‘Ca’ không?” (‘Ca’ là cái bí danh của tui, do mấy thằng bạn quỷ sứ thời đi học nó đặt cho, đem ráp thêm vào cái tên, nói lái lại, nhằm chọc cho tui quê xệ chơi vậy mà!)

À cái thằng nầy biết cả cái tên tục của tui, cái bí mật đời tư, mà ngay cả em yêu cũng không biết thì chắc chắn nó là một trong cái đám quỷ sứ phá nhà chay thuở đó rồi. “Ờ “Ca’ đây! Ðại ca của mầy đây! Ðứa nào ở đầu dây vậy!” “Tao! Ðốc tờ Thí-ô đây! Là bạn học thời thơ ấu của mầy!” (Hồi xưa, nó tên Tèo nhưng qua đây chuyển ngữ, thêm chữ ‘h’ vào, tiếng Việt mình đọc là Theo hay Thẹo, còn tiếng Úc đọc là Thí-ô). “Chiều nay thứ Sáu, cuối tuần, 6 giờ đóng cửa phòng mạch, mầy ra gặp tao.” “Chi vậy? Tao đâu có bịnh hoạn gì mà cần đi gặp bác sĩ?” “Tao chỉ muốn mầy ra Footscray nầy đi nhậu chơi với tao thôi!”

Hai đứa kéo nhau ra nhà hàng. Bác sĩ ‘Thí-ô’ chơi sộp, kêu chai rượu đỏ Penfolds Bin 95 Grange Shiraz, đời 2013, giá tới 700 đô. Giở menu gọi vài món nhắm, toàn là sơn hào hải vị như: tôm hùm xào mì, bào ngư sốt ban thoi tho au 02dầu hào, bò Kobe Nhựt Bản nướng vỉ. (Hèn chi bà con mình hay nói nghề bác sĩ bên Úc nầy đây được chánh phủ cấp cho cái máy in tiền, tên là Medicare).

“Mầy làm bác sĩ giàu thiệt.” “Giàu có gì? Chỉ đủ ăn thôi! Nhưng hôm nay để đãi bạn thời thơ ấu, tao chơi hơi sộp… để nhát mầy!”

Cầm cái ly rượu đỏ lên tui hỏi: “Sao tay tao run quá hè?” Thì nó hỏi lại: “Bộ mầy uống nhiều lắm hả?” “Có vô miệng được giọt nào đâu. Ðổ ra ngoài hết trơn rồi!”

Ðốc tờ ‘Thí-ô’ bèn rót rượu ra chén cho tui, rồi nói: “Hồi xưa Lưu Linh hay uống rượu bằng chén, gọi là chén thù chén tạc!”

“Như vậy tay tao run là bịnh gì?” “Thì bịnh ghiền rượu chớ gì! Bịnh nầy không có chết ngay đâu. Ðừng lo. Nhưng trước sau rồi cũng chết, chết chắc! Nhưng mầy còn trẻ, mới 70, thì chết sớm làm gì? Ðể tao vẽ cho mầy một cái ‘plan’ cai rượu.”

“Ờ, mà nghe nói chữa bệnh ghiền rượu rồi hay chết vì bệnh sơ gan lắm mà?!”

“Với bác sĩ nào, tao không biết; nhưng tao chữa bệnh ghiền rượu nếu có chết là chết vì rượu chớ không có chết vì gan đâu mà mầy lo!”

đoàn xuân thu

melbourne

‘Ăn theo!’

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

‘Ăn theo!’

Đoàn Xuân Thu

Nói nào ngày bà con mình chạy qua nước Úc nầy đây trước tui cả hằng chục năm, tui mới lò dò tới nhờ ‘ăn theo’.

Ăn theo là ké; là nhờ thằng em vọt trước nó lo; bằng không, còn kẹt lại trong nước tui đã chết mấy mươi đời vương vì buồn đời mà nhậu quá trời. Em yêu của tui phán như vậy đó!

Ngày đi, thằng Hải quan VC phi trường Tân Sơn Nhứt, còn kiếm chuyện biểu tui đi xin giấy nầy giấy nọ ngoài Bến Chương Dương; mà máy bay còn chừng tiếng nữa là bay. Biết cái tỏng láu cá, vòi tiền, xưa giờ cũng thế, tui bèn móc hết trong túi ra còn 100 ngàn đồng; thôi đành cúng cho thằng cô hồn các đảng nầy nó ăn, nó dộng.

Bị bóc lột rồi lủm tới tận xương tủy vào giờ phút chót, tui thề là một đi không trở lại… (Hổng thề thời thôi; thề là tui giữ hè vì sợ lỗi thề sẽ bị trời đánh… Đời còn đẹp nên tui sợ chết bất đắc kỳ tử lắm bà con ơi!).

Tui đi Úc vì trong bụng còn giận thằng đế quốc Mỹ vô thủy vô chung. Dẫu giận nhưng nói nào ngay Đế quốc Mỹ nó hay… chế ra cái ‘Facebook’ làm bà con mình ra đi mà mang theo được tiếng nói, hình ảnh quê hương bên nhà trong ngục tù bao la; còn kẹt vài thằng bạn học phía bên kia biển.

Tụi nó cứ kêu réo, níu kéo tui về hoài hà. “Thiên hạ về Việt Nam như đi chợ; còn chú mầy sợ vợ nên lặn mất tăm đã bao năm?”

“Thôi gặp nhau trên Facebook đỡ tốn tiền; chớ về gặp mấy cái mặt mẹt của mấy thằng đã từng đe nẹt, đày ải… là tao nổi điên lên, phải vô dưỡng trí viện Biên Hòa thì lại phiền mấy đứa bây lại phải thăm nuôi!”

Thuyết phục tui về thăm lại chốn quê không được, nó bèn chọc quê, hỏi xỏ làm tui cà lăm hỏng biết trả lời sao?

“Xứ người tới mới vài ba chục năm, có người mới chỉ năm hay bảy năm mà nay ai cũng là bác sĩ, kỹ sư, chủ hãng may, chủ siêu thị. Khèn khẹt tiếng Anh tiếng Mỹ  đến ‘khỉ’ còn kinh… Mà hình như không có ai làm thợ, làm cu li hết cả phải không mậy?”

“Ờ thì người Việt mình mà giỏi lắm. Đa phần là vậy hết; chỉ trừ tao với ông Cao Tần. Tao thì làm ‘gác dan’ bà con cô bác mình gọi là mấy chú ‘Bảo An’; Úc gọi là security; còn ổng: “Mai mốt anh về có thằng túm hỏi / Mầy qua bên Mỹ học được củ gì?/ Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi/ Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li…”

“À quên cũng có người làm nghề nông đó chớ. Giàu thôi hết biết. Giàu vì họ không trồng lúa ngoài ruộng mà họ trồng ‘cỏ’ trong nhà!”

Nghe tui nói vậy; nó gật gù là “Tuần tới vợ chồng tao sẽ bay qua thăm thằng con tao đang đi du học bên đó!” “Ủa thằng con mầy ở đâu mà tao không biết hè?”

“Nó đang ở trong hộp… vì nó trồng ‘cỏ’ như mầy nói đó! Nó chỉ làm tá điền chăm sóc ‘cỏ’ cho địa chủ đỏ đến từ thành phố Hoa Phượng đỏ, chuyên trồng cỏ từ Anh qua Úc sang tới Canada.

Nhưng thôi con dại cái mang. Núm ruột, mình bỏ đâu có được.

Tuần sau thấy nó vác cái mặt đưa đám, hãm tài tới nhà tui. “Ối đời ai cũng có cái số… Giày dép còn có… Mầy đừng buồn, thằng con mầy ở tù rồi cũng có ngày ra. Án ba năm, hạnh kiểm tốt là chừng hai năm Úc nó thả hè!”

“Con mầy ăn có người nấu; ngủ có người coi. Đi chơi có người theo bảo vệ; sợ con mầy bị ‘đầu gấu’ trong tù đánh bất tử!

Tốn một năm xỉu xỉu tới 5, 7 chục ngàn đô, nên chánh phủ Úc nó cho ra sớm thế thôi!”

Thôi chuyện đâu còn có đó nhậu trước cái đã… Tha hương ngộ cố tri mà! Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu. Làm xỉu xỉu vài ba lon là đời đã vui trở lại. Nó khen beer Úc ngon thiệt.

“Sao mầy đi quá lâu mà hổng về Việt Nam thăm lại quê hương mến yêu gì hết ráo vậy?”

“Về ăn chơi, gái gú chân dài đầu ngắn, thì tao hổng có tiền… Tao thuộc loại có đồng nào xào đồng nấy!”

“Phần năm chỉ 4 tuần phép thường niên thì thời gian đâu mà đi du hí ở nước ngoài chớ. Đâu cũng nhiêu đó, như đi Mỹ, ở thành phố thì cũng McDonald’s, KFC (Kentucky Fried Chicken) và Pizza Hut. Vô rừng, cũng suối, cũng sông, cũng biển. Úc có hết ráo thì đi Mỹ làm cái gì?”

“Còn về Việt Nam hả? Còn VC, tao về làm gì? Người ta vinh quy thì về bái tổ để khoe còn mình làm cu li thì có cái chi để khoe chớ?

Về hổng cho tiền thì sợ bà con nói: “Việt Kiều về quê mà Trùm Sò như thế thì về làm cái quái gì?!”.

Nếu tao giàu như tỉ phú ‘Barry Tèo’, bạn học cũ của mình bên Mỹ, thì cũng nên xênh xang áo gấm về làng để họ hàng… được thơm lây.”

“Ờ! Năm rồi vợ chồng Barry Tèo và thằng nhóc Tommy chừng 9, 10 tuổi từ Cali bay về có về ghé thăm tao. Vợ nó còn trẻ măng hè, mới lãnh từ Hốc Bà Tó qua được chừng 10 năm nay thôi! Tụi nó về thăm bà già vợ, nhỏ hơn nó một tuổi, bịnh dữ lắm; sắp đi bán muối!”

“Về quê vợ, Barry Tèo bị lối xóm đố kỵ: dè bỉu già mà khoái cỏ non, dân đẻ ở Trảng Bom, nên nổ.

Hồi xưa, nghèo không có đôi dép mà mang; giờ giày ‘Made in Italy’, đi đâu cũng đeo cái bao tử trước bụng, đựng giấy thông hành và tiền bạc; cứ nơm nớp sợ tụi hai ngón nó thó thì Việt Kiều sẽ thành móc bọc.

Bị cà nanh như vậy, nó chạy lên Sài Gòn ghé nhà tao ở đỡ, chờ con vợ nó trả hiếu xong xuôi, mồ yên mả đẹp cho bà già vợ nó, là cả nhà sẽ bay về Mỹ.”

“Ê nè! Thằng Barry Tèo coi đi Mỹ chỉ gần 40 năm mà nó thay đổi dữ lắm. Đi đâu cũng kè kè chai nước lọc, không dám uống nước trà; nước giếng, nước mưa, thấy con lăng quăng nó nói ghê quá hè!”

“Nó đâu còn nhớ năm 78 vượt biên với tao bị bể, hai đứa bị nhốt ở Trại giam Cây Gừa tại Ấp 5, xã Thạnh Bình, huyện Giá Rai, Bạc Liêu!

Đi lao động khát phải dọng một họng nước phèn vàng sậm như nước trà quạu mà có đau bụng gì đâu hè!”
“Bây giờ là phải đi nhà hàng máy lạnh vì Sài Gòn nóng quá để ăn uống không sợ bị Tào Tháo rượt; chớ nó có biết đâu đồ ăn tẩm toàn là hóa chất!”

“À mầy nhớ thằng Lù Coi, (biệt danh do mầy đặt), học cùng lớp với mình, ba nó chạy taxi làm giao liên cho VC đó. Sau nầy nó làm lớn lắm, bên Nhà đất. Nghe thằng Barry Tèo bên Mỹ về; nó có mời đi nhà hàng đặc sản, chắc cũng để nổ với nhau thôi… Coi VC với Việt Kiều thằng nào ngon? Vậy là tao được ‘ăn theo’ tức ăn chực.”

Con vợ của thằng Barry Tèo không chịu đi!

“Bạn học cũ của anh chớ đâu phải của em?! Em đâu có đi học mà có bạn học chớ. Anh dắt thằng Tommy đi đi!”

“Bậy nè! Nó mời hai vợ chồng mình mà chỉ anh đi coi sao phải? Phần giờ nó làm quan… lớn lắm; giàu lắm mà còn nghĩ tình bạn học cũ thì nó vẫn còn chơi được!”

“Ối cái bọn ăn cắp của dân không hè hay ho gì mà khoe…”Ai đông khe” (care)!”

Dẫu nài nỉ cách mấy vợ nó cũng đâu có ‘mu’ (move). Chạy vô phòng nằm thu lu một góc. (Nghe nó năn nỉ ỉ ôi hoài thấy ghét. Vợ tao, tao đặt đâu là nó ngồi đó làm gì dám cãi hè!”)

Barry Tèo đi phó hội bàn đào với Lù Coi, tiền chắc không lại rồi. Tiền đổ mồ hôi sôi nước mắt sao bằng tiền ăn cắp?

Nhưng con vợ trẻ hơn, ăn đứt bà già trầu, vợ của Lù Coi! Đọ tiền không lại đem vợ ra đọ chơi để đở mất mặt bầu cua…bèn sai thằng Tommy chạy vô phòng kêu: “Momy! Daddy muốn Mommy ngay bây giờ”.

Một lát Tommy chạy ra nói: “Daddy! Momy đang rửa ‘he’ (hair)”. (What? Cái gì vậy cà? Té ra vợ nó đang gội đầu!)

Ối! Cái chuyện người mình ở nước ngoài nói chuyện chêm thêm tiếng Mỹ là thường! Hồi xưa, thời Tây, dân mình cũng chêm tiếng Pháp hà rầm đó thôi!

Ngay cả ông Trần Tế Xương làm thơ còn chơi tiếng Pháp nữa kìa: “Tháo nhẫn ‘ma dê’ liệng xuống sông/ Thôi thôi tôi cũng ‘mét xì’ ông.”

(‘Ma dê’ là ‘marier’, là kết hôn thì nhẫn ‘ma dê’ là nhẫn cưới. Còn ‘mét xì’ là ‘merci’ là cám ơn)

Tóm lại tiện là phang tưới xượi hốt sen hè. Xin đừng xỏ xiên, chê là đồ mất gốc, chờ dịp là ‘suỵt’ tiếng Tây để nhát người ta?

***

Ờ bữa đi ăn nhà hàng đó, thằng Lù Coi giành đi chợ. Mới đầu nó kêu nghêu xào XO. Thằng nhóc con Tommy lấy tay bốc, thấy chỉ còn vỏ nghêu; thịt nghêu đã rớt ra chìm sâu trong nước xốt. Ngẩn ngơ nhìn một lát, nó nói: “Không có ai!”

(Thiệt mấy đứa nhóc sanh ở nước ngoài nói tiếng Việt như mình làm thơ vậy!)

Món kế là cua đinh xào lăn, rồi rùa rang muối, da rắn chiên dòn, vũ nữ chân dài tức khô nhái. Mấy món mà bên Mỹ đốt đuốc tìm cũng không có!

Thâm ý là thằng Lù Coi cũng muốn khoe khoang như Thạch Sùng khoe của đấy thôi! Thằng nhóc Tommy lè lưỡi ra khiếp đảm nhìn mấy con đó; xong chỉ con Thạch Sùng đeo trên vách tường hỏi: “Có ăn con đó hay không?”

Thấy cha con Barry Tèo không đụng tới cua đinh, rùa, rắn, Lù Coi đành gọi bò ‘bít tết’ cho bạn Việt Kiều mình và gà nướng, khoai tây chiên cho thằng nhóc. Ôi nó mừng hết biết… KFC mà món ruột của nó đây mà!

Riêng Barry Tèo than thở: “Chúng mầy cứ ép ông ăn thịt hoài hè! Bên Mỹ, ông ăn mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, suốt cả mấy chục năm nay. Giờ ông chỉ thèm rau muống xào tỏi. Đậu rồng chấm chao ăn với với cơm hơi nhão. Còn nhậu thì chơi xoài thanh ca bầm với khô cá sặt, rưới chút nước mắm đường là bắt…”

“Ôi mấy thứ đó, cứ ra sau vườn, rau muống cả đống, đậu rồng nó mọc lủng lẳng treo đầy trên giàn nè… Chao thì ra quán bà Tư tiệm mua về… Hổm ghé nhà tao sao mầy không nói, tao đâu có biết; vì hổng lẽ đem mấy cái thứ heo ăn đó mà đãi Việt Kiều sao mậy?”

Hôm sau tao bùi ngùi (nhưng được chút an ủi là tiền Việt Nam xài chưa hết nó cho tao) tiễn đưa vợ chồng Barry Tèo và thằng nhóc Tommy trở về với thế giới tự do.

Ra tới phi trường, chuẩn bị bay, thằng nhóc Tommy nhảy lên hò reo tở mở:

“Thoát khỏi Việt Nam rồi! Daddy! Mommy! Hi hi!”

đoàn xuân thu.

melbourne

Ân oán giang hồ

baotreonline.com

Posted on June 15th, 2023

Đoàn Xuân Thu

Ân oán giang hồ

Đoàn Xuân Thu

Chuyện rằng năm 1942, vượt ngục Ðắc Lây, Tố Hữu được dân Làng Rô ở vùng hẻo lánh trong lòng núi rừng huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam cho cơm ăn. Tố Hữu trốn được từ Kon Tum về tới Ðà Nẵng để tiếp tục theo CS.

Sau nầy, Tố Hữu ‘bốc phét’ là năm 1973, vượt dãy Trường Sơn về tới Quảng Nam muốn gặp lại những người Cơ Tu đã từng che chở, cho ‘y’ ăn uống, được cô con gái của già làng đưa qua rừng xuống núi về xuôi”.

Tố Hữu vẽ chuyện: “Khi còn sống, già làng săn voi được hai cái ngà để khi nào cán bộ trốn tù năm xưa tìm về lại làng Rô thì cho nó!”

Tố Hữu đã rinh cặp ngà voi về Hà Nội để trên giá gỗ với tượng Lenin chưng trong phòng khách của ngôi biệt thự trên phố Phan Ðình Phùng quận Ba Ðình.

(Bà con mình ai cũng biết trí tuệ tiếng Anh viết tắt là “IQ”. Intelligence không có; chỉ có Q (đọc theo Mít mình) thì mới tin dân Cà Tu giết voi lấy ngà để dành tới 3 đời: nội, cha, cháu để dâng cho Tố Hữu. Người ta tin rằng con voi nầy đã bị ai đó giết để lấy cặp ngà. Tố Hữu không trực tiếp giết voi nhưng Tố Hữu lấy cặp ngà về nhà chưng trong phòng khách. Tội đó, theo CS nó ấn định, là tội ‘tiêu thụ tài sản do phạm tội’ mà có).

Dân trong nước muốn biết bọn quan chức CS ăn cướp của dân sào huyệt của chúng ở đâu? Cứ ra quận Ba Ðình là gặp hằng hà sa số.

(Tuần rồi Thủ tướng Úc Anthony Albanese tới Hà Nội uống bia hơi cũng vì mục đích làm ăn với bọn cướp đó đa!)

Biệt thự của Tố Hữu, được đảng cấp, trước sân có ‘cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt’ như Tố Hữu từng khoe, là nơi kín cổng, cao tường được CA canh gác cẩn mật. Dân Hà Nội không ai dám lai vãng ngó nghiêng; chứ chưa nói gì tới đột nhập.

(Biệt thự nầy nghe nói mấy năm trước đám con của Tố Hữu bán cho tư bản “rẩy chết” (Chữ của nhà xuất bản Sự Thật) được tới 8 triệu đô Mỹ).

Nhưng cách đây gần 21 năm, năm 2002, ‘Vua đạo chích’ Nguyễn Tiến Công tự ‘Công ngủ’, mới 26 tuổi, đã dám cả gan đột nhập nhà ‘cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt’. “Công ngủ” chui tọt vô phòng khách trộm cặp ngà voi đã lên nước bóng hết biết. Giá trị tính bằng nhiều chục cây vàng làm cho Tố Hữu giận xanh râu, tắt đài hết đía.

Ðồng chí nhà thơ Tố Hữu chôm cặp ngà của voi rừng Làng Rô. 48 năm rồi, bà con mình trong nước thừa biết lũ quan chức CS lớn thì ăn cướp; vừa và nhỏ thì đi ăn cắp. Còn dân sống trong chế độ CS muốn có của ăn, của để thì chỉ còn đường đi ăn trộm bọn quan chức như Vua đạo chích Công (ngủ) làm phi vụ đấy thôi. Chớ dân ngu khu đen, trên răng dưới dế, có gì đâu mà trộm chớ?

‘Vua đạo chích, nhà thơ Nguyễn Tiến Công lúc bị Tố Hữu thưa lính bắt, cũng tức chuyện sinh tình, lòng thơ lai láng bồi hồi, phun ra một bài chọc quê Tố Hữu như vầy:

“Cụ xưa nổi tiếng nhờ thơ.
Tôi nay nổi tiếng là nhờ ngà voi.
Ngà voi cụ để khách coi.
Tôi đây mượn tạm, cụ nhờ đòi ngay.

Ðòi được bởi số cụ may.
Còn tôi ‘bóc lịch’ tính ngày xa quê.
Tù lâu rồi có ngày về.
Ngà còn để thế lại bê ra đường.

Lần này tù bởi coi thường.
Lần sau cẩn thận xóa đường vân tay.
Ðược ngà đắt, rẻ bán ngay.
Ðiều tra hỏi đến cãi ngay thì… huề!

Nói nào ngay không một ai tin một thằng đạo chích, ăn trộm ngà voi, lại làm được những câu lục bát gieo vần không ép vận như thế? Người ta tin văn nô CS căm ghét Tố Hữu ân oán giang hồ với bố nó thời Nhân Văn Giai Phẩm nên nó thêm thắt lâm li làm thơ chửi xéo Tố Hữu mà thôi.

Mất cặp ngà voi, việc tìm lại như mò kim đáy bể nhưng may quá tìm lại được. Tìm được của tưởng chừng như đã mất, Tố Hữu mừng quá; nên chỉ 3 tháng sau, ‘y’ hạc nội mây ngàn, ‘bờ lông rông’ vô vạc dầu đang sôi ùng ục dưới chín tầng địa ngục vào ngày mùng 9, tháng Chạp, năm 2002.

Nói cho nó công bằng: Không có nhà thơ nào được bồi bút nâng bi nhiều như Tố Hữu.

Hồi xưa, Tết đến tất cả các báo Xuân đều phải đăng thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh và thơ Tố Hữu. Báo nào cũng phải đăng một bài ấy.

Bài của Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên chỉ được đăng một báo. Giá bát phở ba hào (cắc). Nhuận bút từ 12 đến 15 đồng, bằng 4, 5 chục bát phở.

(Ðừng chê ít nhe! Ở hải ngoại bây giờ, thơ văn gì cũng đăng ‘chùa’ hết ráo.  Có tờ thơm thảo trả tới 50 đô. Một tô phở giá 15 đô. Như vậy tác giả ăn được hai tô phở rưỡi)

Nhuận bút của Tố Hữu thì gấp 40 lần. 500 đồng cộng một cành đào và một cặp gà trống thiến. Nói một cách ‘trần trắng trợn’: Ðây không phải là nhuận bút mà là tiền ‘cúng cụ’, tiền hối lộ, tiền đút lót.

Nên: “Bầm ơi có rét không bầm. Von ga con cưỡi; gà hầm con ăn”.

Sự thực thơ Tố Hữu bị nhiều người chê là dở như hạch. Hồi còn trên chiến khu Việt Bắc, một lần Tố Hữu định đọc thơ cho Văn Cao nghe, nhưng ông nhạc sĩ gạt đi: “Thơ cậu như ca dao, hò vè có gì mà đọc?”.

Rồi trong ‘Nhân văn Giai phẩm’ có một nhà thơ, ỷ mình có đi bộ đội, viết bài phê bình: “Thơ Tố Hữu như cốc siro pha loãng”.

Bị chê như tát nước vào mặt nên rất dễ hiểu khi nắm giữ được quyền lực, Tố Hữu là một hung thần, một đao phủ thủ về văn nghệ cho bọn dám dè bỉu thơ ta phải lên bờ xuống ruộng.

Rồi năm 1975, CSBV chiếm được Miền Nam, Tố Hữu nhảy qua điều hành kinh tế (kinh đến thế!). Tố Hữu khiến cả nước ăn độn thấy bà tiên tổ.

Tố Hữu mất chức. “Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát. Trông về Việt Bắc tít mù mây. Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt. Máu ở chiến trường, hoa ở đây”.

Gây quá nhiều ân oán giang hồ; dù chết đã hơn 20 năm, Tố Hữu vẫn còn bị thiên hạ chửi dài dài.

Con ma nhà họ Tây

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Con ma nhà họ Tây

Hồ Đình Nghiêm

Tôi dốt tiếng Trung, chả hiểu câu “Bất đáo trường thành phi hảo hán”. Tôi đi loanh quanh giữa phố Bắc kinh mù mờ sương bụi giăng, không mấy hứng thú. Sau đôi ba ngày nhác ở, quyết định phiêu lưu tới những vùng quê thấy có quảng cáo rằng Lý Bạch từng mần thơ ở đó, thành ấy ngày xưa Tào Tháo từng vào trấn an bá tánh, nọ là chốn Hồng Lâu Mộng, kia là đất sản sinh ra những kẻ muốn tu luyện võ học cốt chịu nhục hình để trau dồi bộ Tịch Tà Kiếm Phổ. Nghe đồn bọn thái giám “thằng” nào cũng võ nghệ đầy mình, âm dương thiệt khó phân minh, chiêu thức biến hoá khôn lường.

Lang thang giữa phố hẹp, nhìn ra một cửa hàng khua chiêng đánh trống rậm rật thu hút bà con: Chụp hình kỷ niệm giá bèo, bạn ưa ăn vận thứ y phục gì cũng có. Quan Công, Triệu Tử Long, Võ Tòng hoặc Lệnh Hồ Xung. Tuỳ nhân vật bạn sẽ được trao tay cân đai áo mão râu ria rậm rạp cùng thứ vũ khí mà các đấng đại hiệp ấy từng sử dụng, xong thì đứng tạo dáng theo chỉ bày mà hậu cảnh là tấm màn vải có vẽ cảnh rừng cây hoang dã chốn sơn cùng thuỷ tận. Làm nhớ có khi tôi từng cải trang nhập vai hoàng thượng anh minh ngay chính trên quê hương mình, vất trăm đô để mặc long bào, thuyền trôi trên dòng Hương mà thiếu cung tần mỹ nữ để mình rồng biểu dương sức mạnh sau khi uống qua thang thuốc Nhất dạ lục giao sanh ngũ tử. Hỏi người điều khiển chương trình, nghe em ấy thỏ thẻ: Cái ông vua ni thiệt ngẳng nghịch, hàng nhái thôi mà, răng sung chuyện đòi hỏi, ưa chơi ba cái trò bức xúc đồi truỵ ấy thì chết em, chịu đời chi thấu!

Làm hảo hán nào khó gì, hơi đâu nhọc sức mò lên được Vạn Lý trường thành, địa điểm mà bọn Tầu luôn vỗ ngực: Phi thuyền bay ra khỏi tầng khí quyển, dòm lui trái đất chỉ thấy mỗi cái bức tường hoành tráng cô quạnh đó thôi. Hảo hán, chữ ấy tuồng đã trôi mất sau bao dâu bể. Quân tử cũng một dạng mà bằng hữu cũng thế. Thời nay tình người xem chừng đã nhạt phai, biết tìm đâu ra người tri kỷ? Thật khó như lên thăm chị Hằng vậy! Tôi từng kinh qua vụ hàng nhái ở cố đô Huế nên giờ đây tôi khôn lanh chẳng ưa đóng vai Võ Tòng đả hổ. Một con cọp giấy nằm phủ phục dưới chân. Hình tượng cọp chừng cũng luôn thay đổi qua mắt người quyền lực. Mao Trạch Đông gọi đế quốc Mỹ là con cọp giấy và rồi khi nghe bề tôi nhắc nhở chuyện vệ sinh miệng lưỡi, Mao chủ tịch phán: Cọp đời nào biết đánh răng, khéo vẽ chuyện!

Tôi chẳng thích ngao du Trung Quốc, nhưng Juliet được người bà con làm ở công ty du lịch nào đó mua được hai vé khuyến mãi giá cực rẻ nên cô muốn tôi làm bạn đồng hành. Bản cô nương thích đi giang hồ, các hạ hãy vì ta mà xuống núi một phen. Vì lưu lạc sang xứ cắc chú ba Tầu nên tôi tạm thông ngôn ra vậy chứ Juliet nói tiếng Pháp. Cô bảo: Je t’aime, tôi nói đại bên tai Tiểu Long Nữ tóc vàng: Ngộ ái nị. Không rõ bà Quỳnh Dao ở Đài Loan có bắt lỗi tôi không?

Dung dăng dung dẻ tới một góc chợ khói dâng trên chảo món mì xào dòn, vịt kêu quang quát nhặng xị trong lồng tre, có bà ngồi bán chè lục tào xá thơm mùi dầu chuối và ở một khoảng đất trống có vị cô nương cỡ tuổi thập tam đang phô diễn bài Vịnh Xuân Quyền. Xuống trung bình tấn, chân rộng bằng vai, hít hơi sâu bụng teo ngực nở, tay thu nắm đấm ở bên eo, mắt nhìn thẳng chẳng màng chè cháo vịt mì vây khốn. Xoạc cẳng ra, chắc bước hình chữ chi rồi thi triển liên hoàn cước liền lạc. Tay hoa dạng vung vẫy, một duỗi một co, đánh vào khoảng không năm sáu quyền từ thấp lên cao. Nội lực nghe được qua gió thổi vào tay áo, phần phật. 36 chiêu thức linh hoạt hớp hồn trong một phút. Lác đác có tiếng vỗ tay đồng thời xuất hiện một đại trượng phu mình trần đi quanh nói nhăng cuội xi lô xi la kiểu sơn đông mãi võ. Vị cô nương tuổi trẻ tài cao cầm nón đi thu nhân dân tệ, tiền trao cháo múc. Hoá ra họ bán thuốc trị sán lãi cùng vài viên thuốc tể ngăn ngừa bệnh tiêu chảy. Khá đắt hàng, thập bát bang võ nghệ đi lại trên giang hồ thảy có ghé mua, chừng tâm đắc, chừng uy tín. Vị cô nương kia thấy hai đứa hắc bạch chúng tôi vòng tay đứng ngó vẻ bàng quan nên ra bộ phật lòng, mắt sắc như dao ném ra nghe lạnh giữa khoảng cách. Nếu tôi giỏi tiếng phổ thông tôi đã xuất chiêu: Mua làm gì thứ ấy, chẳng dấu cô nương bản thân tại hạ đã bị Tào Tháo rượt đêm qua, năm canh chầy đại tiện vừa đủ năm canh. Nôm na là ngộ độc thực phẩm. Cô nương chắc chưa từng hạ sơn, ngoài lãnh thổ này giang hồ đang đổ huyết lệ vì hàng xuất khẩu có đóng triện “made in china”. Tại hạ là duỵt-nàm dành, tiền nhân có vị dõng dạc: Ta với người không đội trời chung. Hôm nay ta lâm vào thế chẳng đặng đừng, hộ tống vị cô nương da trắng này đi xem như cỡi ngựa thưởng hoa, ta quyết thỏng tay vào chợ. Nếu đụng mặt ở cố hương, Hà Tĩnh hoặc Bình Dương ta quyết cùng cô nương tỉ thí một phen để làm rõ công đạo giữa chánh, tà. Bài quyền cô nương vừa thi triển tuy huê dạng nhưng tại hạ nhìn thấy lấm tấm giọt mồ hôi đổ ra trên dung mạo. Chừng nào giữ được hơi thở điều hoà, chừng ấy mới mong đánh ngã ta, lấy thịt đè người nằm trên thân ta. Cảnh báo cô nương lần cuối, ta không luyện kiếm pháp Tịch Tà bàng môn tả đạo, liệu thần hồn súng ống đạn dược ta còn nguyên si.

Juliet kéo lôi tôi đi chừng như không muốn tôi nghía gái vị thành niên có mắt phượng mày ngài như đa số môn đệ phái Nga My. Bọn này dễ nể thật, mỗi vùng đều có lập ra một bang phái dựng môn bài biểu dương uy lực, chưa kể 26 động 42 hải đảo xa xăm luôn ngứa tay ưa động thủ, hèn gì đứa nào đứa nấy đều mang mộng bành trướng. Trước khi đổ quân chính thức, chúng âm thầm đầu độc bằng phim ảnh, bằng tiểu thuyết, bằng hàng hoá tẩm độc, bằng lương thực đầy hoá chất. Bộ chính trị ở trung ương có không dưới 100 mưu sĩ thuộc dạng Từ Thứ, Khổng Minh. Chúng lập đàn thắp nhang vái lạy tứ phương, lâm râm đọc khẩu quyết đổi mây gọi gió và chúng tự đắc thế thiên hành đạo. Xưa không nói gì, nay chư hầu phương Nam cũng phải dâng lễ vật triều cống đảo này đất nọ. Trái vải Lệ Chi là thổ sản phương Nam nay mọc tràn đìa ở phương Bắc, xuất khẩu đại trà là một bằng chứng. Dân tộc Ý nổi tiếng món spaghetti, vừa ưỡn ngực đã bị anh Tầu mắng: Tiểu lị, ngày đó chúng mày qua xứ tao đã lén đánh cắp công thức chế biến mì sợi mà giờ đây bày đặt lên mặt làm đày làm láo. Cảo xồ a lị! Ở Việt Nam chưa sản sinh ra vị anh hùng nào dám lật tẩy sự giảo hoạt của “anh bạn” láng giềng trên cao quen trèo đầu cỡi cổ.

Đi thăm thú cả ngày đến rục cẳng, chiều về chúng tôi trình hộ chiếu để thuê một cái nhà nghỉ hoang sơ tạm trú qua đêm. Tiền nào của đó là câu nói rất thuyết phục, do bản tính cần kiệm dè xẻn ăn trông nồi ngồi xem hướng nên cả hai phải làm quen với mọi thiếu thốn tiện nghi. Thắt lưng buộc bụng nên nhà nghỉ không có máy sưởi, nước ấm tắm hạn chế và chăn nệm thảy mong manh. Chiếc giường gỗ có từ thời Từ Hy thái hậu nên long sàng có rệp, mùng vá không kỹ nên có đôi con muỗi đi hoang “mẵn cuối khíu chọ”. Trở mình thì đón nghe bản giao hưởng của chân mộng sườn tre chiếu lát cùng hoà tấu cung bậc như kẻ nghiến răng trong giấc ngủ. Tuy vậy trắng con mắt không lâu đã riu riu đi vào cơn mê thiếp.

Hình như Juliet vừa nói bonne nuit, ngủ đi anh mộng bình thường, Tuy nhắm mắt tôi lại thấy rõ Juliet ngồi dậy, thoát y. Da cô trắng màu sữa trong mùng tối, mái tóc dâng đầy hương hoa thêm khó định thần. Bàn tay Juliet đang tập món diệu thủ thư sinh, cởi hết áo quần nhàu nát tôi ra rồi năm ngón đổi món “cầm nã thủ”. Mân mê, vuốt ve, trững giỡn; đợi tôi vận đủ 12 thành công lực cô mới thôi nắm lấy chuôi Ỷ thiên kiếm kia. Lăng ba vi bộ thoắt cái đã vận khí đan điền leo nằm trên người thằng đồng tử đang bị cách không đả huyệt. Tôi nhớ hôm qua trở chứng tôi đòi hỏi cô ân cần trao thân nhưng cô khoá miệng tôi bằng một môi hôn và sau đó tuyên bố lý do đình chiến bằng bài hát “Máu nhuộm bãi Thượng Hải”. Vậy thì hôm nay tuyệt tình cốc nọ đã qua mùa hạn, thôi nghi kỵ để dốc lòng thi triển Uyên ương kiếm pháp. Giường có rên la cũng mặc, hồng vệ binh có dòm lén qua khe cũng thây kệ, đạo sĩ thúi phái Võ Đang có vây khốn ngoài sương lạnh cũng chấp nốt. Môi hở thì răng lạnh, tình huynh muội chúng ta quyết bền vững bồi đắp cho nhau suốt năm canh. Bọn mãi võ sơn đông không bán thuốc cường dương, tôi chẳng gặp Hoa Đà xin thỉnh viagra, nhưng chẳng hiểu ăn cái giải gì mà nội lực quả có thâm hậu khiến Juliet rên la quá chừng quá đổi. Juliet bào chữa, trên đường dẫn tới cực lạc cốc em buộc phải đọc khẩu quyết cuốn cửu âm chân kinh đó chớ. Ui, anh ơi, trái chuối vàng bé nhỏ của em ơi, đời có bao lăm mà hững hờ, có chịu chết bỏ bể bỏ cùng em không nè… Giường có gây đau lưng, gối có mỏi chân có mòn nhưng nhúc nhích thế này không sướng bề ngang cũng khoái bề dọc, anh nhỉ!

Vầng dương chớm mọc qua song, thức giấc vì tiếng gà gáy eo óc trong thôn xóm lục đục có đôi kẻ vác cuốc ra đồng. Ở xa gửi về nhát gừng từng tiếng xe máy chạy hục hặc trên đường hắc ín trải đi liên tỉnh. Lạ lùng thay áo quần chúng tôi vẫn còn nguyên trên người và rõ ràng là tuy chung giường nhưng mền ai nấy đắp. Bon jour! Juliet chào tiếng đầu ngày. Tôi ngó ra vẻ an nhiên của một người vừa qua giấc ngủ đầy đong đủ trên dung nhan Juliet. Nếu làm tình, cô thức giấc bằng động thái lười biếng của một con mèo ghét săn chuột. Và con chuột của tôi vẫn ấm êm trong quần chưa rụng một sợi lông. Tôi dấu không nói cho Juliet biết là đêm qua tôi bị ma đè, chân tay tôi đang rã rời và tôi như một cao thủ bị phế hết võ công.

Chúng tôi sắp cạn tiền, thôi đi hoang để đón xe chạy về Bắc Kinh. Gần bến xe có một lão trượng căng tấm bạt phai màu gió sương hành nghề coi bói. Ông đang uống nước trà nóng liền vội đặt tách xuống khi nhát thấy tôi. Ông vẫy tay, chỉ chiếc ghế thấp và với thứ tiếng Anh nửa nạc nửa mỡ ông thông báo là âm khí hiện đầy trên mặt tôi. Có thể cậu trọ qua đêm ở chốn có hồ ly tinh nằm tu luyện. Nửa khuya chúng hoá thân thành mỹ nữ để hút hết dương khí của cậu. Theo truyền thuyết chúng sẽ đắc đạo chừng nào ăn nằm với 1001 đứa thanh niên trai tráng. Ông ra giá là 20 đô la, chỉ nhận tiền Mỹ, khi trao cho tôi hai lá bùa vàng có viết ngoằng nghèo hàng cổ tự. Một dán sau lưng trước khi ngủ, một đắp trên trán và tạm thời quên vụ gối chăn với vị cô nương này trong vòng hai tuần. Tuân thủ đúng quy trình thì sẽ xua được tà ma ám chướng.

Juliet là người luôn tin dị đoan, hơn nữa cô phát hiện mặt tôi quả có xanh xao hốc hác thật nên vội chìa ra tờ 20 đô-la cho lão già chuyên trừ quỷ ám. Cô nói, em ngỡ là vì anh đi bụi không quen nên chóng ốm, ai mà ngờ. Con ma nó ra sao anh? Có đẹp không? Có điện nước đầy đủ giống em không? Tôi nói: Ma nào? Hôm qua chính em vặt anh tơi bời hoa lá, không nhớ sao? Juliet mở ví tìm chiếc gương soi: Mặt em có xanh xao vỏ vàng không anh? Eo ôi, nghe chết khiếp!

Vì chết khiếp nên cả hai đổi vé về xứ sớm hơn một tuần như dự liệu. Trước khi đợi lên máy bay tôi vào google xem lại địa phận nơi chúng tôi ngủ qua đêm. Chẳng có gì đặc biệt, chỉ hiện dòng chữ cuối: Nơi này là nơi tác giả Liêu Trai Chí Dị từng miệt mài chong đèn viết thành tác phẩm ấy. Mẹ rượt! Biết vậy leo lên Vạn Lý trường thành để tham quan cho biết núi rộng sông dài. Khi đã mang thân hảo hán thì ông xem yêu tinh ma quỷ chỉ là hàng cỏ rác. Chuyện nhỏ!

Về lại Canada hơn hai tuần, nghĩa là lúc tôi đã thôi dán bùa trừ yêu theo như lời đạo sĩ kia nói, Juliet bước từ phòng vệ sinh đem ra một cái que nhựa khoe tôi: Em mang thai rồi anh ạ, cái dấu hiện trong ô này đảm bảo về điều ấy. Cô hôn tôi, lòng có nghe xúc động không? Tôi nhìn vào mắt cô: Nói cho anh rõ, tối đó em có hiếp dâm anh không? Đừng đặt điều, em ngủ như chết nào có biết gì, nếu thức, con ma kia đâu dám hiện ra ăn nằm trắng trợn lộ liễu với người em thương. Nó phải biết nể nang em chứ, đúng không?

Rồi đây con chúng tôi sẽ chào đời, chưa biết mặt ngang mặt dọc ra sao. Dĩ nhiên nó là công dân Canada nhưng dù sao thì nó cũng thuộc dạng made in china. Nó hiện hữu do sự tác thành của bố mẹ trong chuyến đi bụi về nơi đầy rẫy cả bọn tà ma ngoại đạo. Và biết đâu chừng đêm đó đã có đứa đệ tử của Trư Bát Giới, một con yêu tinh đàn ông hiện hình thành nho sinh gieo máu lửa cho Juliet, “bành trướng” bắt cô ta phải bụng mang dạ chửa. Tôi mồi lửa đốt cháy hai lá bùa. Đêm nay tôi sẽ làm hảo hán, đàng hoàng yêu Juliet đường đường chính chính, để trắc nghiệm xem mình có sống lại nguyên cảm giác như cái tối không trăng sao rất đỗi u minh chốn nọ chăng?

Hồ Đình Nghiêm