Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 6 Dec 2015

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Một ngày Chủ Nhật “Vui chơi, tắm giặt, nghe đài”

Bài 28

Tuy khỏi lao động, cuốc đất, trồng bắp, trồng mì, ở nhà “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, nhưng chúng tôi chỉ “vui chơi” vào buổi sáng mà thôi.

            Buổi chiều… dù khi trời mây âm u hay bóng chiều êm ả, nắng phai dần, có khi tưởng như những ánh nắng vàng trong “Hai buổi chiều vàng” của Nhất Linh, cũng làm cho lòng kẻ tha phương buồn nhớ cố hương. Huống chi bọn chúng tôi, xa nhà đã năm, bảy năm; tù tội cũng đã năm, bảy năm; xa vắng cha mẹ, vợ con cũng đã năm, bảy năm.

Ai không nhớ con đường làng, hàng phố cũ, những con hẽm quanh co tưởng như bất tận của Saigon, hay “con đường quê” nơi làng cũ, nhớ bến đò đìu hiu, nhớ con đò máy xành xạch chạy qua con kinh vắng lặng, hay bóng chiếc thuyền lênh đênh ngoài cửa biển. Tất cả là những nỗi nhớ khôn cùng, đè nặng lên tâm hồn người tù cải tạo. Nỗi buồn nhớ cha mẹ, vợ con, người thân… không phải là những bâng khuâng nhẹ nhàng của tuổi thanh xuân khi mới biết yêu.

            Có khi người tù nhìn lên ngọn núi Chứa Chan. Núi đụng tới mây, mây đụng tới trời mà nỗi buồn, nỗi nhớ của người tù lên cao vun vút, cao hơn cả những ngọn mây, hơn cả khung trời xanh thẳm trên đầu núi, và ai cũng như ai, cũng ngậm ngùi, chua xót nghĩ tới ngày về.

Biết bao giờ mới được tha về?!

            Tôi nằm bên nầy võng, anh Tâm nằm bên kia. Hai đầu võng nối vào nhau ở cái cột xi măng ngoài hàng hiên. Hai cái võng hơi chéo nhau, tôi có thể thấy mặt anh Tâm. Anh Tâm nằm bên kia cũng thấy tôi được, nhưng suốt một thời gian lâu, anh và tôi không ai nói với nhau một lời nào cả. Có lẽ anh em chúng tôi cùng một tâm trạng:

Nhớ nhà.

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đây không phải khói của Thôi Hiệu, không có “Hoàng Hạc Lâu”, đây không có Huy Cận, chỉ có những bức tường cao, làm sao nhìn “giang thượng” để thấy “yên ba”; dù không thấy “khói hoàng hôn”, không thấy gì, chúng tôi cũng thấy nhớ nhà.

            Nỗi nhớ nhà như một viên đá tảng, đè nặng lên tâm hồn mỗi người, khiến tôi nhớ một câu trong “Pensée d’ Automne” của Anatole France: “Tôi không muốn nói gì cả! Tôi chỉ có một ý nghĩ. Thế nào cũng phải lên đường.” Không phải lên đường để ra đi mà lên đường để trở về. Trở về với gia đình.

            Tôi nhìn qua anh Tâm. Mắt anh vẫn mở, nhìn hững hờ đâu đó lên trời cao, và anh cũng chẳng nói với tôi một lời. Khuôn mặt buồn, thờ thẫn và im lặng của anh làm tôi nhớ tới bài thơ của ông Bùi Khánh Đản.

            Trong một số báo “Bách Khoa” nào đó, xuất bản sau khi chế độ Nhà Ngô bị lật nhào, ông Bùi Khánh Đản kể lại câu chuyện, rằng trước khi bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa ra tòa, xử về tội chống chế độ vì ông có “dính líu” trong vụ đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960 của ông Đại Tá (cấp bậc lúc đó) Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù thất bại.

            Khi đến thăm ông Bùi Khánh Đản, ngoài câu chào xã giao thông thường, ông Nguyễn Tường Tam không nói với chủ nhà một lời. Hai người ngồi đối diện, trầm ngâm. Được một lúc, Nhất Linh đứng dậy, chào người bạn rồi ra về.

            Nhất Linh đi đã lâu, ông Bùi Khánh Đản vẫn không dứt dòng suy nghĩ về người bạn thơ, về hoàn cảnh chính trị khó khăn bấy giờ Nhất Linh đang gánh chịu.

            Buồn và thương bạn, ông Bùi Khánh Đản làm bài thơ “Thiếu Một Lời” nói về lần thăm viếng hôm ấy:

                        “Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi,

                        Anh đã quên không nói một lời.

                        Tám hướng dần buông vào tịch mịch,

                        Hai lòng vẫn nghĩ chốn xa xôi.

                        Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện,

                        Tai lắng thời gian thánh thót rơi.

                        Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi

                        Vì anh chỉ thiếu một lời thôi.

&

            Một lúc sau, anh Trần Phú Trắc đến, ngồi xuống thềm, kế bên võng tôi. Anh nói:

            _ “Bọn trẻ nó làm vầy là vô tình giết ông Điệp đó anh à!”

            Tôi hỏi:

            _ “Ông Điệp mới ra “cát-xô” tối qua?”

            _ “Ông ta đấy!” Trắc trả lời.

            Ông Điệp là người nổi tiếng của trại tôi. Nếu Việt Cộng hay ca ngợi “kiên cường”, “bất khuất” thì đó chính là ông Điệp, một người chống Cộng “kiên cường, bất khuất” chớ không phải đó là người Cộng Sản.

            Trước 1975, ông chưa nhập ngũ. Tôi không rõ lý do. Sau tháng Tư năm đó, ông dính líu vào một tổ chức “Phục Quốc” hay “Công giáo chống Cộng”, tôi không rõ lắm, bị bắt. Sau thời gian giam ở Biên Hòa, ông bị đưa về đây, để “sản xuất, lao động”, để giác ngộ chủ nghĩa Cộng Sản, để thấy “lao động là vinh quang.”

            Vậy nhưng không mấy khi ông đi lao động, bởi vì thời gian ông “nằm ở cát-xô” chiếm gần hết thời gian ông ở tù. Đầu tiên, ông có tín ngưỡng rất mạnh. Hình như, tôi nói là hình như vì tôi không rõ và cũng không tò mò chuyện nầy, gia đình ông thuộc một họ đạo ở Hố Nai, có nghề “điêu khắc truyền thống” thường khắc hay nặn tượng Chúa, Mẹ cho nhà thờ, cho các gia đình theo đạo Thiên Chúa trong giáo xứ. Do đó, mới vào tù, ông kiếm một ít gốc củi tốt, cứng, sắm một con dao nhỏ, khắc tượng để đeo hoặc biếu tặng anh em chung trại. Phần đông họ là những thanh niên còn trẻ: “Phục Quốc”.

            Việc làm đó, có hai kết quả. Nhiều người khen ngợi anh, không chỉ vì cái tài khắc tượng đẹp, nhanh, và vì anh có tín ngưỡng mạnh mẽ.

            Thứ hai, bọn Công An theo dõi anh chặt chẽ hơn, tịch thu tượng, dụng cụ anh dùng khắc tượng, giam anh vào “cát-xô”, buộc anh làm cam đoan không tái phạm. Nhưng không bao giờ anh chịu làm theo mệnh lệnh  của chúng, nên anh “nằm cát-xô” dài dài. Được thả ra khỏi “cát-xô”, anh lại “tái phạm”, lại vô “cát xô”. Cứ cái vòng luẩn quẩn ấy diễn ra, kéo lại hoài, làm anh trở thành “khách không mời mà đến” thường xuyên các gian nhà ngói đỏ ở phía sau “Trại Đá”.

            Tối qua, anh mới được tha ra khỏi “cát-xô”. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” tôn vinh anh như một thần tượng sống. Vừa thấy anh vào cổng, bọn họ ùa ra “Hoan hô anh Điệp”, chạy đến ông, bắt tay, nắm áo. Ông vừa về phòng, đã có người mời ông đi tắm, nước đã múc sẳn trong thùng, người lo nấu mì, người lo pha trà ông uống. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” xúm lại quanh ông, chúc, mừng hỏi thăm, ca ngợi ông là người dũng cảm, kiên trì, bất khuất, coi bọn Công An chẳng ra cái thá gì, v.v… và v.v…

            Trắc nói:

            _ “Làm như thế là chúng đẩy ông đi tới, mà ông không lùi lại được, đưa ông cao lên mà ông không xuống được. Với bọn Cộng Sản nầy, làm như thế là nguy cho ông ta lắm.

            _ “Leo lưng cọp khó mà xuống”. Tôi góp ý.

            _ “Xuống làm sao?! Xuống là mất đi cái tiếng dũng cảm, người hùng, người số một…” Trắc nói.

            _ “Vậy là bọn Công An lại cho vô “cát-xô” như rước kia.” Tôi nói.

            _ “Vô hoài cũng có ngày không còn ra được nữa.” Trắc kết luận.

            _ “Có ai khuyên đám trẻ nầy được không?” Tôi hỏi.

            Anh Tâm nói:

            -Bộ người ta muốn bị chụp mũ là “ăng-ten”, muốn bị chưởi là thằng hèn? Mày không nhớ vụ ông Huy sao?”

            Ông Đào Quang Huy là giáo sư nổi tiếng giỏi ở trường Luật Saigon. Khi Đại Tướng Dương Văn Minh chọn Giáo Sư Vũ Văn Mậu làm “thủ tướng ba ngày”, ông Huy được ông Mẫu mời làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Ông Huy nhận lời nhưng chưa nhậm chức thì… “đứt phim”.

Ông không bị Cộng Sản bắt đi “học tập cải tạo”, nhưng chúng có âm mưu bỏ tù ông. Chúng cho người giả danh Phục Quốc, đến mời ông tham gia. Ban đầu, ông nghi, ngờ từ chối. Tên cò mồi lui tới nhà ông nhiều lần, năn nỉ, khích tướng ông hèn nhát, nên ông bèn “nổi máu anh hùng”, tình nguyện tham gia. Chúng mời ông đi họp và đưa ông thẳng vô… Chí Hòa.

Sau khi “điều tra”, bọn Công An đưa ông trại Giá Rây “học tập lao động”, cuốc đất, trồng khoai “làm giàu đất nước”. “Lao động thực tế” ích lợi hơn mớ sách vở kinh tế mà ông đã học bên Tây nhiều.

            Về trại Gia Rây, vì “tội Phục Quốc”, ông được “biên chế” chung với đám Phục Quốc, phần nhiều là những thanh niên trên dưới hai mươi tuổi, còn đầy nhiệt huyết với Dân Tộc, Đất Nước.

            Tuy nhiên, họ không hiểu ông. Một hôm họp đội, kiểm điểm lao động, ông bị quản giáo phê phán là “chây lười”. Ông phản bác một cách mai mỉa: “Tôi không may mắn nên được sinh ra trong một gia đình giàu có và trí thức ở Hà Nội trước năm 1954, thành ra cha mẹ tôi không cho tôi làm việc gì nặng nhọc, để có thể hiểu giá trị “lao động là vinh quang”.

            Nghe ông phát biểu như thế, đám thanh niên bồng bột chê ông là người nói xấu cha mẹ, bất hiếu, v.v… và v.v…

            Từng nghe tiếng ông, nghe câu chuyện đó do Trắc kể lại, một hôm, chủ nhật, tôi nhờ anh Nguyễn Đình Niệm, quê ở Quảng Bình, cùng quê với Ngô Văn Vinh là học trò của một người bạn tôi. Qua Vinh, tôi quen anh Niệm, anh Niệm lại thân thiết với Giáo Sư Đào Quang Huy. Anh Niệm gọi tôi tới chơi, cùng uống cà-phê với giáo sư Đào Quang Huy. Hai người nầy, cùng là trí thức với nhau cả. Anh Niệm hoc khóa 2 Võ Khoa Thủ Đức, giải ngũ khi còn là trung úy, qua Nhựt làm gì anh không nói rõ, nhưng có vợ Nhựt, sau làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon, không di tản hồi tháng Tư / 75 và đi ở tù. Tôi là người thường học thêm Anh Văn ở anh vì anh giỏi cả hai sinh ngữ, anh và Pháp. Qua cuộc thăm viếng ấy, tôi tin là tôi hiểu Giáo Sư Đào Quang Huy hơn đám trẻ.

            (Ghi chú: Trở lại chuyện ông Điệp, vì cái vòng quay như tôi nói trên kia, sau khi tôi ra tù được vài năm thì nghe tin ông qua đời. Một buổi sáng, trật tự mở “cát-xô” đem thức ăn và nước uống vào cho ông thì xác ông đã lạnh tanh, không biết ông qua đời vào lúc nào.)

&

            Một lát sau, Ngọc “thiến” tới. Trắc hỏi Ngọc:

            _ “Ông ở Huế, “ông” có biết nhiều chuyện Huế như “mệ” Hải không?”

            _ “Tui thì chịu,” Ngọc nói. “Chuyện đâu trên trời dưới đất, ông kể từ ngày nầy qua ngày khác không hết. Nghe cũng vui!”

            _ “Vui gì? Tao đang muốn nghe nó kể tiếp chuyện ông cha Luận cho tao nghe. Ông đi tu, không biết có bồ không? Có không mầy! Hải?”

            Tôi nói trống lãnh sang chuyện khác:

            _ “Huế nhiều chuyện lắm. Chuyện mấy ông vua trong cung. Chịu chơi, đa tình nhất là ông Thành Thái. Ông Phan Văn Giáo cũng bắt chước, chơi bời không thua gì vua. Chuyện ông Nguyễn Cao Thăng là một quái kiệt không những Huế mà cả Saigon cũng giật mình. Một mình ông xoay chuyển việc chính trị như trở bàn tay. Ông nầy chết sớm chớ không nếu còn thì Saigon chắc có thêm nhiều chuyện vui! Ông Thăng là “dân Quảng Trị tui”. Cha Luận là dân Hà Tịnh. Cậu Cẩn là gốc Quảng Bình. Thủ Hiến Phan Văn Giáo gốc Khánh Hòa. Mấy ông nầy đến Huế “quậy” dữ lắm, chuyện kể sao cho hết.

            _ “Mày kể chuyện cha Luận trước đi.” Anh Tâm bảo.

            _ “Cha Luận là cha nuôi của Như Hà, rất có thế lực vì một, ông là linh mục, hai là giáo sư, ba là viện trưởng Viện Đại Học Huế, bốn là thân cận với gia đình họ Ngô, dài dài lắm chuyện…”

            “Ông có công lớn với việc thành lập Viện Đại Học Huế, khó nhứt là việc mời giáo sư. Hồi đó, người Việt Nam tốt nghiệp đại học bằng cấp cao đâu có nhiều, mỗi năm, ông phải đi một vòng Âu – Mỹ để mời giáo sư, xin các viện đại học Âu – Mỹ giúp đỡ. Khi mở Y Khoa, một số bác sĩ Đức qua dạy ở Viện Đại Học là nhờ ông. Ông “Gun” (Wulff) là bác sĩ đầu tiên đến dạy ở Y Khoa Huế. Ông nầy cùng một số giáo sư, sinh viên là cái “kẹt” của Cha Luận đấy. Mặc dù có sự cam kết giúp đỡ giữa hai nước Đức và VNCH, nhưng về tình riêng, giữa Cha Luận với những người nầy khá sâu đậm. Sau vụ Đài Phát Thanh, ông bác sĩ cùng một số giáo sư, sinh viên đứng về phía Phật Giáo, chống lại chính quyền, Cha Luận kẹt cứng. Ông bác sĩ bị đuổi về Đức, một số giáo sư và sinh viên bị bắt bỏ tù. Cha Luận đứng giữa, một bên là những người đầy tình nghĩa với Cha, họ đến với Viện Đại Học, một phần cũng vì Cha; bên phía kia là ông Ngô Đình Thục, – một người không “thuận thảo” gì với Cha -, đã “hạ quyết tâm” triệt hạ đám Phật Giáo “phản loạn” Huế, dám chống lại Ngô Triều…”

            Có kẻng gọi lảnh cơm…

            Tôi cười nói:

            _ “Thôi đi lấy cơm mà “vô chuồng”, “chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ”

để lại tuần sau…”

            Anh Tâm nói:

            _ “Tao đang muốn nghe chuyện Huế của mày.”

            Tôi cười nói giả lả với anh bằng hai câu thơ đầu trong bài “Uống Rượu Tiêu Sầu” của Cao Bá Quát:

                        “Thế sự thăng tram quân mạc vấn,

                        Yên Ba thâm xứ hữu ngư châu…”

            Anh Tâm bèn hỏi:

            _ “Nguyễn Công Trứ phải không?”

            _ “Cao Bá Quát đó.” Ngọc “thiến” trả lời.

            Anh Tâm nói thật tình:

            _ “Tao đi lính mới học thêm thi tú tài, tụi bây sướng hơn, học sinh nên học được kỹ.”

            _ “Tui không được như “rứa” đâu ông ơi! Tui “dân Quảng Trị”, mồ côi cha, con nhà nghèo, lang bạt ở Huế mấy năm trời, vừa kiếm cơm ăn vừa học, khi làm “rề-xếp-tơ” (précepteur), khi ăn cơm tháng rẻ tiền, không như anh nghĩ đâu!”

            Trắc cười:

            _ “Chương trình chiếu phim hôm nay đến đây chấm dứt, hẹn khán thính giả tuần sau.”

            _ “Tuần sau không bao giờ tới, lỡ mai “mệ” Hải được tha về thì sao? Thôi lo lãnh bắp đi. Chiều nầy ăn bắp.” Ngọc “sùi” cười nói.

            Tôi nghe anh Tâm chưởi thề “đ. m.” một tiếng như hồi sáng, khi chúng tôi mới họp mặt nhau.

            Tôi nghĩ chắc không phải anh Tâm chưởi tôi!”

Phụ lục

TRỞ LẠI VIỆT NAM
Hồi ký BS. ERICH WULFF – Minh Nguyện (Việt dịch)

Lời người dịch : Đây là bài thứ tư được trích dịch từ quyển hồi ký tiếng Đức Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp Verlag, Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany, 1972, từ trang 211 đến 214, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu của Erich Wulff. Ông này là một bác sĩ người Đức dạy tại trường Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967, trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và đã được mời trình bày sự kiện này trước Uỷ ban điều tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963.

Bài thứ tư này nói về chuyến trở lại Việt Nam vào tháng 4/1964 của tác giả sau khi chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ và được tiếp đón trọng thể tại Sài gòn và Huế. 

Trong suốt chuyến bay từ Paris về Sài gòn tôi chỉ biết nằm ngủ. Hai chỗ ngồi bên cạnh tôi bị bỏ trống. Khi máy bay dừng lại tại New Delhi tôi thấy bước vào một hành khách là một vị tăng sĩ tròn trịa, khoảng 50 tuổi vận áo vàng ; khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe hình như vị ấy thì thầm vài chữ tiếng Việt. Lúc ăn sáng tại một quán ăn ở phi trường Bangkok tôi đến ngồi bên vị ấy và gợi chuyện. Vị ấy đúng là một người Việt và đã sống 12 năm vừa qua tại Ấn độ. ‘Nếu vậy, chắc Thầy là Thượng tọa Thích Minh Châu’. Vị ấy cười. ‘Còn ông, chắc ông là Bác sĩ Wulff phải không?’. Vị ấy đã nhìn thấy sổ Thông hành Đức của tôi khi tôi trình giấy tờ cho cảnh sát phi trường, do dó đã suy luận ra như thế.

Bức thư của tôi viết vào tháng 5/ 1963 đã đến tay Thầy (1) và Thầy đã báo động liền đến Tổ chức Phật giáo Thế giới. Sau đó Thầy cũng đã đọc được một vài bài báo khác của tôi. Thời gian còn lại trên chuyến bay về lại Sài gòn quá ngắn ngủi để tôi có thể kể lại cho Thầy nghe hết những gì tôi đã chứng kiến tại Việt Nam trong những năm vừa qua. Vì đã xa quê hương hơn 12 năm nên Thầy cũng khó hình dung được tình hình hiện nay như thế nào. Thầy đã hỏi tôi về tình hình, về dư luận, về những tàn phá của cuộc chiến tranh, về sức khoẻ của người anh ruột đang làm Chủ sự tại Tòa Viện trưởng Viện Đại học Huế. Thầy tỏ vẻ thông cảm với những câu trả lời chưa được hoàn hảo lắm của tôi. Thầy Minh Châu là một con người trầm tĩnh, sâu sắc ; phong cách thoải mái và đượm nhiều hóm hĩnh của Thầy rõ ràng chứng tỏ Thầy không phải là một nhà tu khổ hạnh hay là một người xách động chính trị. Nhưng Thầy là một người quan sát tinh tường, đã đi thăm nhiều nơi tại Đông Nam Á cũng như đã ghé qua Trung hoa lục địa. Với những kinh nghiệm giao thiệp quốc tế như thế của Thầy, điều rất còn thiếu sót nơi các vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, hẳn sẽ giúp Thầy làm nhịp cầu đối với bên ngoài. Thầy nói cho tôi biết rằng trước hết Thầy muốn xem tình hình tại quê nhà như thế nào. Thầy cũng không biết sẽ ở lại hay lại ra đi. Nhưng khi về lại Sài gòn, Thầy đã nhận lãnh nhiều vinh dự và công tác đến nỗi không còn nghĩ đến chuyện rời xa khỏi nước. Thầy đã được bổ nhiệm vào chức vụ Viện trưởng của Đại học Phật giáo Vạn Hạnh vừa mới được thành lập.

Khi máy bay hạ cánh tại Sài gòn, tôi thấy sân bay đông nghịt cả người. Một ban quân nhạc đứng dàn chào; phía dưới cầu thang máy bay tôi thấy đã có mặt các người bạn Hoàn, Tuân (2) và thầy Trí Quang cùng các vị lãnh đạo Phật giáo khác. Thời tiết nóng bức dữ dội, tôi lại mặc bộ đồ veston và cầm áo choàng vì không còn chỗ để trong vali và để tránh quá kí. Khi bước ra máy bay, tôi lại cầm tay hộ thùng đồ to tướng của thầy Minh Châu, nên trông tôi có vẻ nực cười. Một viên đại tá giơ tay chào và xin tôi giao giấy phiếu lãnh hành lý và giành lấy thùng đồ to tướng ra khỏi tay tôi, trước khi tôi giải thích được rằng thùng đó không thuộc về của tôi. Sau đó tôi mới có thể chào hỏi bạn bè. Tôi phải bắt tay lia lịa bên phải và bên trái của tôi. Các bạn Fritz và Miên (3) không ra đến được sân bay. Khi chúng tôi được đưa ra khỏi Phòng khách đặc biệt, tôi chợt thấy họ đứng bên cạnh xe Con Cóc 2 CV lọc cọc của Miên. Tôi muốn đi về nhà cùng với xe của họ, nhưng thầy Trí Quang nhất định mời tôi vào ngồi trong một chiếc xe Mercedes được mướn để đưa về nhà Lý, người anh của Tuân để dự một bửa tiệc tại đó.

Những ngày tiếp theo là những buổi tiếp tân và chiêu đãi liên miên. Các chùa mời những bửa ăn chay thịnh soạn, còn các người bạn Hoàn và Oánh, Miên và Quát (4) thì mời những bửa cơm tối thân mật. Những lúc rổi rãnh tôi đều qua biệt thự của Tuân, nhỏ hơn ngôi nhà của họ ở Huế nhưng lúc nào cũng đầy ập cả người giống như một chỗ cắm trại camping vào lúc cao điểm. Bà con và bạn bè từ Huế vào đều tá túc tại đây, Tuân và người vợ Phương nhiều lúc cũng không có một căn phòng dành riêng cho mình. Quát vẫn ở tại ngôi nhà cũ đẹp đẽ, vì không muốn dọn vào một tòa nhà của chính phủ với nhiều điều phiền toái. Riêng Oánh và Hoàn thì dọn vào những toà lâu đài với vườn hoa rộng lớn như công viên, có những bức tường cao bao bọc chung quanh. Đó nguyên là các tòa nhà của những nhân viên cao cấp của thực dân Pháp trước đây để lại. Bà vợ của Hoàn, trước đây làm nghề y tá tại Paris, nay đeo đầy hột xoàng, đang tìm cách vô vọng thế vào vai trò của một Đệ Nhất Phu nhân của bà Nhu trước đây. Người chồng không lấy làm gì vui vẻ cho lắm, nhưng không dám nói gì.

Trong những ngày đầu tiên sau khi trở lại Việt Nam tôi không có thì giờ cho những buổi đàm luận nghiêm chỉnh. Tôi vừa mới hoàn tất những buổi gặp mặt cần thiết thì quý Thầy Trí Quang và Minh Châu muốn đi cùng tôi ra Huế. Tuân cho rằng một chuyến đi chung như vậy có lợi về mặt chính trị. Tại phi trường Phú Bài các sinh viên và các đồng nghiệp người Đức đã chờ đón tôi. Nhưng mà họ không có cơ hội để chào đón tôi một cách đàng hoàng. Hàng ngàn Phật tử đã chiếm lấy sân bay, hoan nghênh nhiệt liệt quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi, và vẫy lá cờ năm màu của Phật giáo quốc tế trên tay. Chúng tôi tiến vào thành phố trên những chiếc xe mui trần, đoạn đường dài 13 cây số đi qua những phong cảnh quen thuộc đang sang xuân vào lúc hoàng hôn đã làm biến mất đi dần những biên giới không gian như trong một bức tranh Tàu. Tại mỗi thôn xóm đi qua đều có các đoàn thanh niên phật tử hân hoan đứng chào trước những căn nhà trang hoàng đầy hoa và cờ. Đoàn xe đi vào Huế, chạy dọc dòng sông Hương, đi ngang qua cư xá của chúng tôi và dừng lại tại chùa Từ Đàm, trung tâm tranh đấu chống chế độ Diệm và là nơi khỏi đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo 30 năm trước đây. Các em thiếu nhi phật tử đứng tập hợp bên cạnh các thiếu nữ áo dài tím nhạt và các thanh niên trong đồng phục của Gia đình phật tử. Đứng trên tầng cấp của chùa, quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi nói những lời phát biểu ngắn (5).

Trong lúc đứng trên khán đài tôi cảm nhận được niềm hân hoan phấn khởi của quần chúng. Ở nơi đây tôi có cảm giác rất mạnh mẻ nhiều hơn so với Sài gòn về nồng độ biểu dương bề ngoài, vì thực tại chợt đến như một giấc mơ. Đó là một sự hoà nhịp giữa những tình cảm nồng cháy trộn lẫn với tâm trạng hãnh diện của những người chiến thắng trở về lại nơi chốn mà trước đây người ta đã gieo sợ hãi và đã trục xuất tôi đi. Nhưng trên đường trở về lại căn phòng, tôi đâm ra suy nghĩ về sự say men chiến thắng của các giới Phật tử. Điều này làm cho tôi liên tưởng đến những gì đã xẩy ra trước đây do người Thiên chúa giáo gây ra, những điều mà tôi không đồng tình và chống đối. Tuy nhiên sau khi chịu nạn kỳ thị trong 10 năm vừa qua, nay có lẻ đám đông quần chúng cần một biểu thị tự chứng tỏ sức mạnh. Một sự biểu dương lực lượng hẳn nên được chấp nhận. Nhưng điều này sẽ kéo dài bao lâu ? Tôi mong mỏi rằng sự say men chiến thắng và biểu dương quyền lực mới giành được này của các Phật tử không làm mờ đi những nhiệm vụ quan trọng hơn đang đợi chờ họ.

BS WULFF 
Minh Nguyện (dịch Việt, tháng 5/2004)

Ghi chú của người dịch : 

(1) Bác sĩ Wulff đã biên thư cho Thầy Minh Châu kèm theo lá thư của Thầy Trí Quang báo động về vụ đàn áp tại đài Phát Thanh Huế đêm 8/5/63. Xin xem bài thứ nhất phổ biến trên các trang nhà : http://www.quangduc.net/phatdan/86bsiwulff.html  http://thuvienhoasen.org/qd-tuongniem-12.htm 

(2) Lúc này các người bạn của tác giả đang tham gia chính quyền : Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn, bộ trưởng giáo dục Bùi Tường Huân (Xin xem ghi chú 1 của bài thứ nhất ghi lại trên đây).

(3) tức Đại sứ Bùi Diễm, Fritz là Tuỳ viên văn hóa toà Đại sứ Hoa kỳ.

(4) tức Thủ tướng Phan huy Quát, và Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh sau này.

(5) Xin xem hình ảnh và bài viết của BS Wulff nhân kỷ niệm 40 năm nhìn lại Pháp nạn 1963 : http://khuongviet.com/PD63/Kyuc_Wulff.htm

  Chúng tôi đem về anh em mỗi người một phần cơm. Thấy chén cơm lưng lẻo, anh Tâm nói:

            _ “Có chút xíu vầy mà ăn cái chi! Làm sao cho no đây trời!”

            Ngọc “xùi” nói:

            _ “Nấu thêm một ít mà ăn!”

            Chiếu nhanh nhẩu:

            _ “Chờ tui nấu thêm. Lâu lâu nên “bồi dưỡng” cái xác phàm một chút cho có lòng nhân đạo.”

            Anh Tâm hỏi:

            _ “Mày có gạo không?”

            _ “Đừng lo! Tui mới thăm nuôi. Gạo dưới tui bây giờ ăn không hết. Công An không cho đem ra khỏi tỉnh. Tui nấu bốn “loon” nghe! Đủ không!”

            Ngọc “xùi” cười:

            _ “Bốn “loon”! Quá đã! Quá đã!”

            Quê Chiếu ở Cần Đước. Cần Đước, Cần Giuộc là hai nơi sản xuất gạo của Long An. “Ngăn sông cấm chợ” thì Saigon không có gạo, mặc dù Long An kế cận Saigon.

            Anh Tâm hỏi Chiếu:

            _ “Gạo không lên được Saigon à? Qua khỏi cầu ông Thìn là tới bót Ký Thu Ôn rồi mà gạo không đi được?”

            _ “Vợ tui nói, tụi Công An Kinh Tế xét dữ lắm. Đem cho tui ba chục lon gạo, có giấy đi thăm nuôi mà cũng bị tụi nó bắt, năn nỉ thiếu đường lọi lưỡi.” Chiếu kể.

            Bỗng anh Tâm hỏi tôi:

            _ “Hải! Mầy có học kinh tế không?”

            _ “Có chớ. Tui học với bà Trai ở Huế.”

            _ “Tao thấy có một nguyên tắc, mà Cộng Sản làm chuyện lạ đời. Mậu dịch càng lớn càng rộng, kinh tế mới phát triển. Nước nầy nước kia còn phải vậy, huống chi trong một nước.” Anh Tâm nói. Anh đang học luật thì “đứt phim” (tức ngày 30 tháng Tư)

            _ “Anh không nhớ Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng tuyên bố à?” Tôi nói. Trong “Hội nghị các nước không liên kết” họp ở Ấn Độ sau 1975, ông Đồng tuyên bố hách một câu: “Phát triển đất nước, phải dựa vào sức mình là chính”. Hội nghị vỗ tay hoan hô. Hoan hô thiệt hay hoan hô giả, ai mà biết, nhưng phát triển kinh tế mà “dựa vào sức mình” thì nước người ta đi hia bảy dặm, còn mình đi bộ phía sau. Lê Duẫn thì bảo: “Tỉnh nào có người chết đói là tỉnh ủy ấy phải chịu trách nhiệm” nên nơi nào sản xuất thực phẩm thì giữ lấy mà ăn. Tỉnh nào lo tỉnh đó thì kinh tế phát triển sao được!? Không có cái “học huyết kinh tế” nào mà u mê kỳ lạ đến như vậy. Vậy mà y còn nói, chỉ sau một vài “kế hoạch năm năm” thì nhà nào cũng có TV, tủ lạnh. Có bằng cách nào, tui không hiểu được. Lúa làm ra không bán được thì nông dân trồng lúa làm chi, ruộng bỏ hoang. Hàng công nghiệp làm ra không bán được thì sản xuất làm chi, hãng xưởng đóng cửa. Cái chết rõ ràng như dzậy mà tụi nó không thấy được là sao?”

            Chiếu đi nấu cơm rồi. Ngọc “xùi” lo luộc rau. Y hỏi anh Tâm:

            _ “Tui luộc hết mớ rau lặt hồi sáng nghe không, anh Tâm.”

            Anh Tâm bảo:

            _ “Mày luộc hết đi.”

            Rồi anh đi vô nhà. Một lúc sau, anh cầm ra ba con khô nục, nói với Ngọc “xùi”:

            _ “Luộc rau xong mầy nướng luôn, chút nữa ăn với nước mắm!” Xong anh dặn:

            _ “Mày nhớ luộc rau bỏ vào chút muối. Đừng đậy nắp.”

            Tôi nói:

            _ “Thằng đó “xuất sắc trong vi tỳ nữ”. Anh đừng lo.”

            Một lát sau chúng tôi bày cơm rau ra giữa thềm nhà, quay quần ngồi ăn. Tôi nói:

            _ “Bữa nay mình ngon dữ. Một bữa thịnh soạn.”

            Bỗng anh Tâm nói to:

            _ “Ngọc “xùi” cho muối nhiều quá, nước canh mất ngon.”

            Tôi nói đùa: “Nó học nghề “Chú Ba-Tô” mà anh!”

            “Chú Ba Tô” là tên gọi đùa ông cựu đại úy Cảnh Sát Trần Thanh Tuấn, nguyên Chủ Sự Phòng Công Xa Bộ Tư Lệnh CSQG. Hồi còn học ở Cao Thắng, đóng kịch, chú thường đóng vai hề Charlo, nên bạn bè gọi đùa là “chú Ba Tô”. Cái tên ấy đi theo anh ta mấy chục năm nay.

            Một hôm, thấy tôi nấu chè, chú bảo:

            _ “Này Hải! Mầy nấu chè nhớ bỏ vô ít muối, cho “lại đường”, mới ngọt.”

            Xong, tôi mời chú một chén.

Mấy hôm sau chú nấu chè mời lại tôi. Tôi đùa:

            _ “Chú bỏ ba muỗng muối một muỗng đường phải không? Mặn quá! Chú ướp muối chớ nấu chè chi?”

            Mấy anh em chung quanh nghe tôi nói đùa đều cười. Từ đó mới có câu chuyện Chú Ba Tô nấu chè bỏ muối nhiều vì muối rẻ hơn đường.

            Chưa hết màn “đãi ngộ” cái xác phàm ngày chủ nhật. Sau khi cơm nước xong, chúng tôi còn bày trò uống “Cà-phê Ban Ma Thuột”.

            Nói “Càphê Ban Ma Thuột” là nói thật, chính hiệu.

            Khi còn ở “trại trong” – tức Trại B rồi Trại A, tôi thường ăn chung với Ngô Văn Tăng, cụ Trần Văn Niệm và Phan Thành Long. Long lo việc nấu nướng vì tôi thì lớn tuổi, ông Tăng và cụ Niệm đã già. Long tận tình lo cho “cụ Niệm già” hơn ai hết.

            Cụ Niệm vui tánh! Những bữa ăn với “Cụ Niệm”, nhất là vào những ngày nghỉ, tôi được nghe không ít những chuyện vui do cụ kể. Nhìn mặt cụ đã thấy vui, nói chi chuyện cụ kể. Cụ để râu như Hồ Chí Minh. Mắt cụ to, nhưng trông hiền, không sắc và dữ như mắt ông Hồ. Bình thường mắt cụ đã to, như mắt “Con nai vàng ngơ ngác” xứ Ban Ma Thuột. Khi vui, cụ cười, mắt híp lại, trông thật hay! Ngồi chơi ngoài hiên nhà, gió thổi mơn man, râu cụ bay trông rất hay.

            Có lần, tôi nói đùa:

            _ “Cụ chừa râu như “già Rô” – tiếng lóng anh em chúng tôi gọi đùa Hồ Chí Minh – “tụi nó ghét, chờ cụ ngủ say, chúng nó cắt râu cụ có ngày.”

            Cụ nói:

            _ “Tao đâu muốn bắt chước ai. Đây là cái tục của ông bà, tao làm theo. Chừa râu như vầy, tao là người Việt Nam, “già Rô” thì chưa hẳn là người Việt Nam. Ổng là “Quốc tế Vô Sản” rồi, “ngụy trang” đấy, Việt Nam gì nữa!”

            Rồi cụ kể:

            _ “Hồi trẻ, tao ghét chừa râu lắm. Già, tao lại bày đặt. Đàn ông chừa râu, làm đàn bà có người ưa, người ghét.”

Ông Ngô Văn Tăng góp ý:

_ “Ông Diệm không râu, không có ông tướng nào dám chừa râu. Ông Diệm chết rồi, mấy ông tướng đua nhau chừa râu! Báo chí hỏi, mấy ông trả lời không ra!”

_ “Tự vì báo chí hỏi mấy ông tướng.” Tôi nói. “Tui thì tui hỏi ngay mấy bà tướng, bà Khánh, bà Kỳ… Mấy bả cho biết lý do ngay, lý do rất rõ ràng!”

Cụ Niệm cười:

_ “Mày nói móc. Ai không biết mấy bà ưa “Nhứt lưỡi, nhì râu, tam đầu, tứ củ”. Bài bản nầy có từ Đường Minh Hoàng với Dương Quí Phi bên Tầu. Đường Minh Hoàng thì già. Dương Quí Phi vừa trẻ vừa sexy.”

Nghe cụ Niệm nói, tôi hỏi:

_ “Hồi trẻ, chắc cụ cũng bay bướm lắm?”

_ “Còn hỏi! Tao bây giờ già, người ta còn ưa nhìn, huống gì còn trẻ. Hồi đó tao làm Cảnh Sát ở Hải Phòng, người làng ở Thái Bình lên, muốn ở lại hay trễ xe, cứ tới nhà tao ở lại, khỏi ở khách sạn, tốn tiền.”

_ “Hồi đó cụ chưa có vợ?” Tôi hỏi.

_ “Vợ con đâu! Tao thuê nhà ở một mình, cũng để người làng lên Hải Phòng có nơi trú chân!” Cụ Niệm nói.

Tôi vừa nói vừa cười:

_ “Cụ mà không léng phéng với cô nào, tui không làm người!”

Cụ Niệm cười:

_ “Được cái là tao không léng phéng cô bà nào có chồng rồi. “Trai tân, gái góa thì chơi. Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng.” Tội lỗi lắm, thất đức.”

_ “Cụ chộp được mấy cô?” Tôi hỏi.

Bỗng cụ nói khác đi:

_ “Này, “ông” biết không? Tụi nó còn con gái mà nhiều đứa mất trinh. Hồi xưa mà vậy, làm sao có chồng!”

_ “Thời Việt Minh cụ ơi! “Giải phóng phụ nữ” mà. Đi họp hành, vô đoàn thể, vô du kích, canh ngày, gác đêm, tụi nó chơi “tét mẹ cái ong bầu”, con nào mà còn trinh!” Tôi nói.

_ “Tao sợ hai điều. Một là con gái còn trinh. Mình thì chơi bời, làm nó mất trinh mà không cưới nó thì tội cho nó. Còn con nào mất trinh rồi, lỡ nó có bầu, phải cưới thì “chết cha tao!” Nói xong, cụ Niệm cười hề hề.

_ “Có vợ rồi, cụ còn léng phéng với cô nào nữa không?” Tôi hỏi.

_ “Cái tánh “dê” cũng không chừa, chỉ ít lại thôi.” Cụ nói, thật thà.

Cụ Niệm kể rất nhiều chuyện bay bướm của cụ như thế cho bọn tôi nghe. Bao giờ cụ cũng kết luận bằng câu:

_ “Tôi nghiệp. Tao làm khổ bà ấy nhiều lắm!”

Bà ấy, tức là vợ của cụ chớ ai!

Cụ cũng hay kể chuyện về đứa con trai út của cụ, Thằng ấy tên Bảo.

_ “Nó thương tao lắm! Tao đi làm về trễ, bao giờ nó cũng chờ tao về, “Ăn với ba!” Khi nào không “ăn với ba” được thì nó cũng ngồi trước mặt tao, khi tao ăn. Nó vừa nhìn tao, vừa lượm những hột cơm rơi trên bàn, bỏ mồm nhai. Vừa nhai vừa hát câu: “Giết người đi…”, “Giết người đi…” Bực mình, tao nói: “Ăn gì dơ! Bộ chết đói hả?”

_ “Me có để đói bao giờ! Ăn cho vui mồm.” Nó trả lời!

Tao lại hỏi:

_ “Cái gì mà “Giết người đi…” Giết người là sướng lắm hả? Không nên giết ai hết, giết người là có tội.”

_ “Giết là giết người trong mộng. Chỉ là trong mộng thôi bố à! Phạm Duy còn bảo: “Giết người đi thì ta ở với ai?!”

_ “Câu ấy hay đấy!” Tao bảo nó.

Kể xong, cụ Niệm nói:

_ “Tao thương thằng út lắm.”

Bỗng cụ hỏi:

_ “Mày biết ông anh tao không?”

_ “Ông nào?” Tôi hỏi.

_ “Trần Văn Ứng.” Cụ trả lời.

_ “Tui có nghe tên một ông Trần Văn Ứng, danh thủ bóng tròn đất Bắc Hà. Phải ông nầy không?” Tôi hỏi.

_ “Chính hiệu con nai vàng.” Cụ Niệm cười.

Một lúc, cụ kể:

_ “Hôm tranh giải vô địch ở sân Hàng Đẫy, Nha Công An Bắc Việt cho xe về Hải Phòng đón tao lên xem đấy. Mấy chã thật là điệu đời.” Cụ khen.

_ “Dân Hà Nội mà ông! Có vậy mới là đất văn vật, ở với nhau chí tình.” Tôi tán thán.

&

Ba bốn tháng Cụ Niệm mới được thăm nuôi một lần. Gia đình cụ ở tận Ba Ma Thuột. Cậu con trai út của cụ bao giờ cũng đi theo mẹ. Và thường thì cụ được một gói “Càphê Ban Ma Thuột” chính hiệu. Thế nào, ngày chủ nhật kế đó, bọn tôi cũng được cụ đải cho một chầu càphê. Dĩ nhiên, lời đồn thiên hạ không sai. Thứ càphê nầy là càphê số một trần gian.

Một lần đang uống càphê với nhau, tôi hỏi cụ:

_ “Thứ nầy có phải là “càphê cứt chồn” không?”

_ “Đâu phải!” Cụ trả lời. “Càphê cứt chồn” ngon hơn nhiều.” Cụ trả lời.

_ “Nó có giống như “trảm mã trà” không?” Tôi lại hỏi.

_ “Khác chứ. “Trảm mã trà” là lá trà non tẩm với dịch vị trong bao tử con ngựa. “Càphê cứt chồn” không phải vì cứt chồn ngấm vào càphê mà ngon. Cứt thấm vào thì hôi chứ ngon mẹ gì!” Cụ Niệm nói.

_ “Vậy nó ngon vì sao?” Tôi lại hỏi.

_ “Cứt chồn khô hay tươi đều hôi. Người ta đi lượm hột cà phê lẫn trong cứt chồn, đem về rửa thật sạch, phơi khô để hết mùi hôi. Còn như hột càphê nó kén lắm. Hột phải chín đủ, càphê mới ngon. Con chồn nó ăn hột càphê, hột chín. Nó chỉ tiêu thụ cái vỏ lụa. Còn hột cà phê cứng, nó ỉa ra ngoài. Khi ăn, chồn chỉ ăn những hột đã chín đỏ, là lúc hột càphê đạt tới cái độ chín nhất, ngon nhất. Càphê mình thường uống, là cà phê hột già, xanh đậm chứ chưa chín hẳn. Tới đó người ta phải hái rồi, không chờ cho nó chín đỏ được, càphê rụng mất.”

_ “Cụ uống càphê cứt chồn” lần nào chưa?” Tôi hỏi.

_ “Thiếu gì lần. Khi tao làm “xếp pô-lít”, tới mùa, thằng Tây chủ đồn điền biếu nửa kí-lô “càphê cứt chồn”. Nửa ký thôi nhé, không có nhiều đâu. Mỗi người được biếu nửa ký, phải là người đang cầm quyền mới được chủ nó biếu cho. Tới mùa, mỗi sáng, mấy đứa con gái Thượng được lệnh chủ đi tìm hột càphê trong cứt chồn. Ngoài số biếu, còn lại thằng chủ đem về Tây.” Cụ Niệm giải thích.

_ “Đem về cho ai bển?” Tôi tò mò hỏi.

_ “Gia đình bạn bè nó. Vợ con nó ở bên đó, đâu có qua bên nầy. Mỗi năm nó về thăm nhà một lần, với lại đem tiền về.”

_ “Tiền gì?” Tôi lại hỏi.

_ “Tiền nó kinh doanh làm ăn. Phải qua hối đoái nó mới đem tiền về được.” Cụ Niệm nói.

_ “Nhiều không?” Tôi lại tò mò.

_ “Bạc triệu. Đổi ra đô-la hoặc Franc. Đem tiền Việt Nam về bên đó không xài được.” Cụ Niệm nói.

_ “Cụ nghĩ có cách nào mà đem tiền về Tây được! Khó lắm. Ông bạn tui, có con du học bên Đức, được đổi tiền, cũng đủ giàu.” Tôi nêu ý kiến.

_ “Tao biết! Có cách hay lắm. Hỏi được thì mày hỏi ông Ngô Đình Thục với ông Huỳnh Văn Lang, đệ tử ông Thục nên được làm Viện trưởng Viện Hối Đoái đấy.”

Tới đó thì tôi chịu thua, đành làm thinh, nói lãng sang chuyện khác:

_ “Càphê vợ tui bới cho không ngon. Đông nó có bảo càphê Saigon bây giờ phần nhiều là càphê Long Khánh, hơi chua. Tụi nó pha với cơm dừa rang cháy xay nhỏ với hột cau, đắng, khó uống, có khi pha với bột bắp nữa.” Tôi nói, một hơi.

Cụ Niệm cười cười:

_ “Mày biết pha hột cau để làm gì không?”

_ “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!” Nói xong, tôi và cụ Niệm cùng cười.

Một lúc, cụ nói:

_ “Mày biết không?”

_ “Có chuyện gì hay?” Tôi hỏi.

_ “Không hay thì tao không nói với một đứa tò mò như mày. Nghề trồng càphê nầy giàu lắm. Có đứa chết đấy. Ghê lắm.” Cụ Niệm nói.

_ “Vàng và Máu” của Thế Lữ hay “Càphê và Máu” đây?” Tôi cười hỏi.

_ “Tao điều tra môt vụ cướp càphê, rợn người luôn.” Cụ Niệm nói.

Tôi lại đùa:

_ “Cướp tiền cướp bạc, ai lại cướp càphê.”

_ “Để tao kể cho nghe. Tới mùa, càphê hái rồi, mấy thằng chủ Tây chất đầy trong kho. Đám lính chi khu, tổ chức đem một chiếc xe Dodge vô cướp càphê. Bọn nó phá cửa kho, chất đầy xe, rồi dọt lẹ. Ban đêm chủ Tây không dám đuổi theo. Bữa đó, phe ta gặp ngay tụi Cộng. Hai bên nổ súng. Việt Cộng rút chạy. Phe ta chết một trung sĩ. Tụi nó lén chôn trong rừng, không dám báo cáo. Vậy rồi việc cũng vở lở ra. Quân Cảnh Tư Pháp với tao điều tra, bắt giam mấy thằng. Tụi nó khai thiệt. Hôm đi lấy xác thằng trung sĩ, mới đào lên, trúng đôi giày “bốt-đờ-xô”. Đứa con gái hơn mười tuổi biết ngay là bố nó. Nó khóc nức nở: “Bố ới! Bố ơi!” Nghe con bé khóc, tao xúc động muốn vở tim ra luôn, tao tưởng như có ai bóp tim tao lại. Tao chảy nước mắt. Làm ăn cái gì mà tội nghiệp vậy hả trời. Bây giờ kể lại, tao còn lạnh mình.”

_ “Việt Cộng cũng đi cướp càphê!” Tôi hỏi.

_ “Tụi nó đi thu thuế, chớ không phải cướp càphê. “Tao ngộ chiến” mà.”

_ “Tự thằng chủ nó không đóng đủ hay chưa kịp đóng. Bọn kinh tài Việt Cộng là kinh lắm. “Tiền và Máu” là tụi nó đấy.” Tôi nói.

_ “Mày cũng rành dữ.” Cụ Niệm nói.

_ “Cụ biết không?” Tôi nói. “Tui ở Rạch Giá, ai làm ruộng trong vùng sâu mà không đóng thuế cho Việt Cộng là tui cùi luôn. Làm rừng, làm gỗ cũng vậy thôi.”

_ “Mày biết TrungTá Thứ quận trưởng Ph. A. không? Chả đi cải tạo mới hơn một năm mà được tha về rồi.” Cụ Niệm nói.

_ “Tui có gặp ông ta với vợ ông ở Saigon một lần, ở nhà ông xếp tui. Giàu lắm, vừa làm quận trưởng, vừa có đồn điền càphê. Cái ghế quận trưởng của ổng bắt vít kỹ lắm.” Tôi nói.

_ “Mày nghĩ tại sao chả về sớm vậy?” Cụ Niệm hỏi.

_ “Sĩ quan Cảnh Sát mà không biết chuyện đó sao được! Đóng thuế, kinh tài Việt Cộng, tiếp tế thuốc men, vợ chạy chọt khi vô tù… Biết bao nhiêu lý do! Cháy nhà ra mặt chuột. Trung tá Thứ mặt chuột, không phải mặt người.”

_ “Mày thì thôi!” Cụ Niệm vừa mắng tôi vừa cười.

Có lần, cụ Niệm hỏi tôi:

_ “Mày biết “Vương Quốc Sedang không?”

_ “Biết chút chút.” Tôi nói. “Lâu lắm, khi còn nhỏ, tui đọc một bài trên báo Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ, nói về một ông Tây làm vua ở xứ mọi nào đó trên Cao Nguyên. Ông Tây nầy sao lại có tên là Marie? Marie là tên đàn bà chớ!”

_ “Mấy thằng Tây chủ đồn điền càphê cũng là vua một xứ đấy. Nó không xưng vua mà thôi, chứ sống như vua.” Cụ Niệm nói.

_ “Cụ nói sao? Tui không hiểu.”

_ “Việc điều hành thu hoạch, buôn bán có người của nó lo hết. Nó chỉ việc hưởng thụ, hú hí với con vợ mọi, có thêm mấy con hầu, như vua vậy!” Cụ Niệm giải thích.

_ “Tây qua làm vua ở xứ ta, sướng nhỉ. Nhưng nó có vợ bên Tây mà?” Tôi nói.

_ “Bên Tây là vợ chính thức. Vợ bên nầy nó cưới theo tục lệ xứ Thượng, hạ trâu heo ra ăn nhậu là xong, không cần giấy tờ. Con vợ nó sexy lắm. Thỉnh thoảng, con nầy nó bỏ tiền ra, mua một vài con nhỏ Thượng còn con gái đem về cho chồng nó chơi. Xong, nó cho về hay ở lại hầu hạ.” Cụ Niệm kể.

_ “Có tiền mua tiên cũng được, huống gì mấy con nhỏ mọi.” Tôi tiếp lời.

_ “Trong đồn điền của nó, chính quyền ít khi đụng vô. Có chuyện gì, chúng nó giàn xếp với nhau hết, không có thưa kiện, không làm phiền mình.”

_ “Vậy chớ nó làm chi cũng được hay sao? Tụi nó có buôn bán ma túy thuốc phiện như ở Quảng Đức, Phước Long hay không?” Tôi lại hỏi.

(Sở dĩ tôi hỏi câu đó là vì có mấy sĩ quan trong số “Vườn Đào” chuyển lên, kể cho tôi nghe, khi họ phục vụ ở Phước Long, cứ vài tuần một lần, có một chiếc máy bay loại Cessna từ Lào qua, bay thấp xuống, thả một vài kiện hàng trong rừng cao su. Tỉnh trưởng cho xe Dodge ra nhặt lấy, đem về dinh tỉnh trưởng, bỏ vô tủ lạnh hư, cột kỹ cho trực thăng chở về trụ sở Quốc Tế Quân Viện ở đường Trần Quốc Toản, Quận 10, nói là đem tủ lạnh đi sửa. Hàng từ đó, chuyển đi đâu, họ không biết. Người ta nghi là đó là bạch phiến từ Tam Giác Vàng. Việc buôn lậu nầy có liên hệ với Tây ở bên Lào, và cả chính quyền Miền Nam nữa đấy, kể cả đường dây của ông Tuyến, ông Nhu và tướng Quang sau nầy. Tôi có kể lại cho cụ Niệm nghe).

_ “Không biết được đâu. Nếu có thì ở cấp trên với nhau, mình là tép riu, đoán chừng vậy thôi. Nhưng về tình báo, làm Cảnh Sát, tao cũng có nghi!” Cụ Niệm nói.

_ “Nghi sao?” Tôi hỏi.

_ “Mày nghĩ xem. Xịa với “đơ-dèm buy-rô” có quan hệ gì với nhau không mà các đồn điền càphê của Tây, mình thường “đứng ngoài ngó vô”.

Trước khi mất Ban Ma Thuột, Sư Đoàn 10 của Việt Cộng biến mất tăm. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn tìm không ra. Tao cũng có đọc công điện hỏi việc mất dấu Sư Đoàn 10 nầy. Thế rồi đêm 10 tháng 3, Việt Cộng tấn công vào thị xã Ban Ma Thuột mà mình không biết trước, không phòng bị gì cả. Nếu tụi nó ém quân trong rừng, trong các buôn Thuợng, mình biết chứ. Nó ém quân ở đâu mà mình không biết. Đùng một cái, nó tấn công ào ào vô thị xã.”

            _ “Cụ nghi nó ém quân trong các đồn điền càphê?” Tôi hỏi.

            _ “Trước kia thì tao không thấy, nhưng trận mất Ban Ma Thuột thì tao nghi lắm. Hốt cú chót mà, chơi đòn bất ngờ, mình nghi gì được?” Cụ Niệm nói, vẻ cay đắng.”

            _ “Cụ nói tui mới nhớ. Nguyễn Quảng Thành cùng đội với tui đây nè. Anh chàng nầy khóa 22 Võ Bị với “Hùng móm”, em út anh em tui. Thành “thuộc một lẻ một”, phụ trách tình báo ở phía Tây Ban Ma Thuột. Y kể không phát hiện ra Việt Cộng ém quân ở đó trước khi tụi nó đánh vô thị xã. Thành có tình báo ở đó sang tuốt bên Lào luôn mà, không lý anh ta không biết gì. Anh ta cũng nghi như cụ mà không dám chắc thì “đứt phim”. Tôi nói lại ý của Thành gù. (Thành gù là tiếng lóng chúng tôi gọi Nguyễn Quảng Thành, anh bị gù lưng như Quasimodo).

            _ “Không sai đâu mày!” Cụ Niệm xác định.

            _ “Tui không biết khi cụ Diệm đuổi Tây về nước năm 1955, có giao ước chi về cơ sở kinh tế của Tây không mà nhiều nơi mình không dám “rớ” tới. Tức thiệt.” Tôi nói.

            _ “Mình là nước nhược tiểu, kẹt nhiều thứ mày à.” Cụ Niệm góp ý.

            _ “Đâu có phải chỉ có tụi Mỹ mới “đâm sau lưng chiến sĩ”. Tụi Pháp thương chi miền Nam…” Tôi góp ý.

            Hôm chuyển trại, cụ Niệm, ông Tăng và tôi thì ra “trại ngoài”, Long thì qua “Trại Cây”. Thành ra, khi ra ngoài nầy, không ai lo việc nấu nướng cho ông già. Ông vừa già, vừa yếu, lụm cụm, lò bệ, củi lửa không có, thành ra, tuy có được tiếp tế nhưng ông không tự nấu ăn được. Trong khi đó, ông Âu Văn Minh, cũng già yếu, lại không được ai thăm nuôi cả. Hai ông già, một người có lương thực, một người không, đành chịu chết đói cả, kéo nhau ra nằm ngoài Vườn Xoài, nghĩa địa tù.

            Trước khi cụ qua đời, tôi có đến thăm. Cụ lục trong bao đựng đồ ăn gói “càphê Ban Ma Thuột.” Cụ bảo: “Tao không còn uống được nữa. Mày lấy mà dùng.”

            Nhờ đó mà bữa nay tôi có “càphê Ban Ma Thuột” uống với bạn bè.

&

            Uống càphê gần xong thì Ngọc “xùi” đi đâu đó về, dẫn theo Nghiêu và Lịch. Ngọc pha càphê cho hai người. Lịch thì uống một ly nhỏ, còn Nghiêu thì không uống.

            Anh Tâm, nói giọng Nam, thay vì gọi là Nghiêu thì anh gọi tên Nghêu. Nghêu nói: “Tui là Nghiêu, không phả Nghiêu.”

Tôi giải thích: “Nghiêu là vua Nghiêu, vua Thuấn. Còn Nghêu là Nghêu Sò Óc Hến (tên vở kịch Việt Cộng đang diễn ở trên TV). Nghiêu là thời thiên hạ thái bình, no ấm. Còn Nghêu Sò Ốc Hến chỉ ăn được thôi.” Rồi tôi đọc câu ca dao:

                        Ở đời Nghiêu Thuấn khổ thay!

                        Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn.

                        Ở đời Kiệt Trụ sướng sao,

                        Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.

            Nghe xong, anh Tâm cười:

            _ “Mày lại nói móc lò.”

            Tôi cải chính:

            _ “Không phải tui. Không phải tui mấy ông ơi!” Ca dao đó.”

            Anh Tâm hỏi đùa:

            _ “Vậy thì thằng nầy tên là Nghiêu hay Nghêu?”

            _ “Nó mà Nghiêu gì? “Chính danh thủ phạm” là Nghêu!” Tôi cười.

            Lịch nói:

            _ “Anh nói móc thằng nầy coi chừng. Anh không thấy tui sao?”

            _ “Nó mà Nghiêu, thì nó không cuốc vào đầu ông như vậy. Mà lạ. Gia đình nó đạo dòng, sao không đặt tên Phao Lồ, hay Mác Tin, Phan xi cô mà lại Nghiêu Thuấn.” Tôi thắc mắc.

            _ “Ba tôi giỏi chữ Nho lắm đó. Rành Nho nên ông mới đặt tên tui là Nghiêu, theo gương Nghiêu Thuấn.” Nghiêu giải thích.

            Tôi nói đùa:

            _ “Vậy là “Con gà Tây Ba Lê” thành “Vịt Bắc Kinh” rồi.

            Thấy không khí không vui, hai ngưòi đỏ đi.

            Anh Tâm nói:

            _ “Mày thấy không? Choảng nhau một trận mà bây giờ cũng đi chơi với nhau được! Hay thật.”

            Cách nay khoảng hai tháng, một hôm đội tôi đi cuốc đất sau đồi Phượng Vĩ. Chúng tôi đang dàn hàng ngang, để cuốc đất tới dần phía trước thì bỗng Nghiêu đang đứng bên cạnh Lịch, quay ngang cây cuốc, cuốc vào đầu Lịch một cái thật mạnh. Nhờ Lịch đội cái mũ vải rộng vành do anh tự may bằng vải mui xe GMC, nên lưỡi cuốc chỉ làm Lịch rách da, chảy máu. Anh không bị bất tỉnh. Đội Trưởng Đông xin quản giáo Hoành cho Lịch về trạm xá. Tôi không nhớ bữa đó ai dìu Lịch về.

            Về tới sân, chúng tôi thấy Lịch đang cầm nồi và củi “nấu nướng linh tinh”, (như lời cán bộ thường mắng chúng tôi). Thấy vậy, Đỗ Trọng Khiêm nói đùa:

            _ “Tao cứ dòm trên mái nhà, bị thằng Nghiêu cuốc cho một lát, tao nghi mầy leo lên mái nhà ngồi chơi!”

&

            Sau khi Nghiêu và Lịch đi rồi, anh Tâm nói:

            _ “Thằng Nghiêu to như voi, thằng Lịch như con chuột. Nó kẹp cổ thằng Lịch cũng chết, cần chi dùng cây cuốc?”

            _ “Thằng “đô” con ít khi tự tin. Thằng nhỏ con tự ty nên khi nào cũng muốn gồ ghề lên cho người ta sợ. Anh không thấy thằng Lịch miệng lưỡi nó ghê lắm. Nhiều thằng “ngán” nó. Thằng Nghiêu phải “cầu viện” tới cái cuốc cho có tự tin.” Tôi giải thích.

            Anh Tâm hỏi:

            _ “Chuyện chi mà hai đứa đụng độ dữ vậy?”

            _ “Việc tôn giáo gì đó. Hai đứa ý kiến mâu thuẫn rồi đã kích nhau. Thằng Nghiêu thua cái miệng thằng Lịch, tức quá, phang cho một cuốc.”

Tôi giải thích.

            _ “Gì mà ghê vậy!” Anh Tâm nói.

            _ “Anh không thấy trường hợp nhà Ngô a?” Tôi nói. “Người Huế đón “Ngô Chí Sĩ” đông như vậy mà đến khi xảy ra “đàn áp tôn giáo”, người ta lại hoan hô Quân Đội lật đổ ông Diệm. Gì chứ về tôn giáo phải cẩn thận.” Tôi nói.

            _ “Việt Cộng tụi nó cẩn thận gì đâu! Nó triệt hạ luôn, “làm gì được nhau?” Anh Tâm nhận xét.

            _ “Cộng Sản cũng là một tôn giáo. Nó phải triệt tiêu các tôn giáo khác. “Cách mạng triệt để” mà! Anh thấy cái nhà thờ phía con đường đi Võ Đắt Võ Xu không? Từ hồi chuyển ra trại nầy, tôi không nghe tiếng chuông nhà thờ. Nhiều bữa cuốc đất trên ngọn đồi nhỏ phía sau “Đồi Phượng Vĩ”, không khi nào tôi thấy bóng người ở đó. Nhà thờ vắng hoe.” Tôi bày tỏ ý kiến.

            _ “Buồn há?” Anh Tâm nói.

            Tôi nói nho nhỏ, theo câu hát “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Văn Bình:

                        Cỏ hoang chân giáo đường,

                        Chúa buồn trên thánh giá…

            _ “Còn chùa thì sao?” anh Tâm hỏi.

            _ “Chùa cũng vậy thôi!” Tôi nói. “Nhưng chùa bỏ hoang lâu hơn, từ khi Tây đô hộ nước ta. Anh biết không?”

            _ “Chuyện gì?” anh Tâm hỏi.

            Tôi đọc:

Chùa không sư tụng cảnh buồn teo
Cốt Phật còn đây chuỗi Phật đâu?
Réo rắt cành thông thay kệ đọc
Lập loè bóng đóm thế đèn treo
Hương sầu khói lạnh nằm ngơ ngác
Vách chán đêm suông đứng dãi dầu
Rứa cũng trơ gan cùng tuế nguyệt
Bên thềm khắc khoải tiếng quyên kêu.

            “Bàn thơ nầy của Hàn Mặc Tử. Hồi tôi còn đi dạy, dạy về Hàn Mặc Tử cho học sinh, tôi dạy nhiều bài thơ của ông nầy. Trước đó thì không sao? Sau khi ông Ngô Đình Thục về Huế, ông hiệu trưởng trường tôi nhắc khéo tôi đừng dạy bài nầy nữa. Chắc ông bị bọn Công An nắn huyệt. Thời Diệm Nhu bọn ấy cũng nhạy bén đấy!”

            Một lúc sau, tôi nói:

            _ “Thằng Nghiêu nầy có tướng giết người!”

            _ “Mày biết coi tướng?” Anh Tâm hỏi tôi. Tôi trả lời:

            _ “Biết đâu! Trịnh Xuân Chính nói đấy.”

            _ “Nói sao?”

            _ “Thằng nầy,” tôi ngập ngừng, “có hai bàn tay to quá khổ. Tướng giết người đấy.” Rồi tôi nói tiếp:

            _ “Việc ông Chính nói làm tôi nhớ một câu chuyện. Năm 1974, khi tôi còn ở Hà Tiên, có hai cô con gái Tàu lai, nhà ở Hòn Chông, khi hai chị em nó lăn tay làm căn cước, thấy hai bàn tay, tôi hết sức kinh ngạc. Hai bàn tay to quá chừng. Tôi nói với thiếu úy trưởng cuộc Cảnh Sát: “Mặt đẹp như dzầy, thấy hai bàn tay mà khiếp.” Nay nghe ông Chính nói vậy, tôi tìm ra một điều.”

            _ “Điều gì?” Anh Tâm tò mò hỏi tôi.

            _ “Anh biết”, tôi nói, “Biển Đông với Vịnh Thái Lan là “đất thánh” của bọn cướp biển hồi các thế kỷ trước, phần nhiều là dân Hải Nàm. Về già, giải nghệ, bọn nó đâu có về quê mà theo Mạc Cửu kêu gọi, lập nghiệp ở vùng Hà Tiên – Rạch Giá. Hai cô con gái tôi nói là “hậu duệ” đám cướp biển ấy đấy. Cướp biển nào mà không giết người.”

            _ “Mày nói có gì làm chứng?” Anh Tâm hỏi khắc tôi.

            _ “Làm chứng? Anh làm như tôi là nhà nhân chủng học. Nếu anh có đọc Sơn Nam, “Kho vàng hòn Tre”, anh đồng ý với tui đấy. Cài gene trong cơ thể, chắc truyền lâu được nhiều đời chớ.”

            Ngồi chơi một lúc, Ngọc “thiến” hỏi tôi:

            _ “Tui cũng lớn lên ở Huế, sao tôi không thấy người Huế đi đón ông Ngô Đình Thục?”

            _ “Có chớ! Dân Phú Cam đón ông, cũng không đông lắm, chỉ ngoại trừ bọn “theo gió phất cờ”. Trả lời xong cho Ngọc, tôi nói:

            _ “Anh Tâm nầy!”

            _ “Gì?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Có một người, người Huế ngưỡng mộ lắm, muốn hoan hô lắm, nhưng ông ấy tui không thấy đến Huế bao giờ!”

            _ “Ai dzậy?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Ông Nguyễn Tường Tam.” Tôi nói.

            _ “Năm ông ở trên Đà-Lạt về, dân Saigon không ai đi đón ông, nói chi tới Huế.” Anh Tâm trả lời tôi.

            _ “Huế khác Saigon chớ!” Tôi phản bác.

            _ “Khác làm sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

            _ “Từ trước 45 trở về sau, có bao nhiêu thế hệ ngưỡng mộ ông Nhất Linh. Người Huế, phần đông, biết đọc biết viết, biết đọc tiểu thuyết là người ta đọc Nhất Linh, Khái Hưng, ngưỡng mộ hai ông nầy. Thế hệ tôi thì khỏi nói, vừa học Nhất Linh, vừa ngưỡng mộ “nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam”. Áo blouson da, ngậm ông dzố, trông sao mà ngon lành vậy không biết. “Thần tượng cách mạng” của bọn tui đấy. Thằng Nguyễn Tường Thiết, ra học ở Huế, được người ta thương, cũng là nhờ cái hào quang của bố nó đấy. Còn như thế hệ sau tôi, vì cái chương trình 12 tháng 8 của Bộ Giáo Dục, học sinh phải học kỹ Nhất Linh với Tự Lực Văn Đoàn, thì tụi học sinh chịu ảnh hưởng văn chương nhóm nầy là không thể tránh được. Thi tú tài 1 dễ dính đề thi Tự Lực Văn Đoàn.” Tôi giải thích.

            _ “Mày nói chương trình 12 tháng 8 là chương trình gì?” Anh Tâm hỏi tôi.

            _ “Là chương trình cải cách, đưa các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị. Có mục đích chính trị đó.” Tôi nói.

            _ “Mục đích gì?” Anh Tâm lại hỏi.

            _ “Lấy “văn hóa tư sản chống văn hóa vô sản”. Ngoài Bắc tụi đó dạy văn hóa vô sản thì trong Nam phải làm ngược lại. Đó là một trong những guyên tắc căn bản chống Cộng. Nhưng cái đó thì “gậy ông đập lưng ông.”

            _ “Mày nói ông Diệm chớ gì?” Anh Tâm nói.

            _ “Phải rồi. Cho học trò học Nhất Linh mà lại đưa Nguyễn Tường Tam ra tòa vì tội phản loạn. Ông Nhu, ông Diệm không tiên liệu được tương lai. Vậy mà ông Diệm còn nói một câu rất bậy.

            _ “Nói sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

            _ “Nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự vẫn, ông Diệm nói: “Ra tòa rồi cũng tha, có gì mà phải tự tử.” Vậy là ông Diệm nghĩ ông Tam sợ chết. Nghe câu nói của ông Diệm, cụ Lâm Toại, một ông giáo sư có tiếng ở Huế, nói với các giáo sư dạy cùng trường, một câu, giống như câu Tào Tháo nói với quan huyện Trần Cung vậy: “con chim sẻ không thể nào hiểu được con chim đại bàng.”

            Một lúc sau, tôi lại nói:

            _ “Ông Diệm còn nói bậy một câu nữa.”

            _ “Câu gì nữa?” Anh Tâm lại hỏi.

            –“Nếu tôi chết hãy trả thù cho tôi.” Tôi nói.

            _ “Câu ấy thì bậy quá. Tao cũng không ưa.” Anh Tâm góp ý.

            _ “Người Huế lại không hơn. Anh không thấy Huế chùa chiền tùm lum sao! Dù gì thì người Huế cũng từng nghe “Lấy oán báo oán, oán chồng chất; Lấy ân báo oán, oán tiêu tan.” Nghĩ lại thì ông ta cũng là người theo đạo Thiên Chúa.

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

 Post by Trần Vũ

August 20th, 2020

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 15

Trong Summer of 42, Jennifer O’Neill say đắm mối tình cấm với thiếu niên Gary Grimes trên đảo Nantucket êm đềm nắng…

The summer smiles the summer knows

And un-ashamed, she sheds her clothes

The summer smoothes the restless sky

And lovingly she warms the sand on which you lie

The summer knows the summer’s wise

She sees the doubts within your eyes

And so, she takes here summertime

Tell the moon to wait and the sun to linger…

Mùa Hè 42 đến với Sakai khác hẳn, vẫn là những trận không chiến ác liệt bên trên New Guinea. Đời sống của Sakai thâu vào việc nhào lộn trên không, bay và bắn. Chương hồi ký cho thấy thêm khía cạnh khác: Nhật Bản cứng rắn trong việc tưởng thưởng binh sĩ; và các phi công Samurai không mang dù vì khinh thường cái chết. “The Death is lighter than a feather” …

Mặt tổ chức, Không lực Nhật phân chia làm Không Hạm đội (Air Fleet), Không đoàn (Wing), Liên Phi đoàn (Group), Phi đoàn (Squadron), Phi đội (Flight), Phi tuần (Section) và Phi vụ (Mission)…

Song, xuyên qua hồi ký của Sakai, tuy 1 phi đoàn Nhật lên đến 80 máy bay, người đọc hiếm khi thấy Phi đoàn Lae thực hiện các phi vụ đông hơn 20 chiếc Zéro. Lý do: ¼ phải bảo trì, ¼ sửa chữa vì hư hại sau đụng độ, ¼ huấn luyện và phòng vệ căn cứ, chỉ còn lại ¼ tham gia tấn công. Quá ít máy bay là nguyên nhân bầu trời chuyển dần sang tay Đồng Minh.

Vào cuối tháng 5, mùa Hè 42 hãy còn rực rỡ xanh lơ với Sakai vừa bắn rơi 4 chiến đấu cơ Hoa Kỳ trong cùng một ngày. Thời khắc huy hoàng sớm ngắn ngủi, vì tin thất trận Midway ập xuống như một trừng phạt.

Lúc này Sakai đã thăng từ Nito-heiso là Trung sĩ Nhất lên Itto-heiso là Thượng sĩ. Chỉ sau 6 tháng tham gia Thế chiến. Một kỷ lục trong Không Hải đoàn Nhật Bản (Naval Aviation) cứng nhắc và ngạch trật. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 15

Chương 15 

Trước đó, vào ngày 20 tháng 5-1942, chúng tôi đối đầu với đối phương trong một trận không chiến cao nhứt lịch sử khi chỉ huy trưởng phi đoàn hướng dẫn 15 chiến đấu cơ từ Lae bay đến Moresby ở cao độ 30,000 bộ (9,200m) trong suốt một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng tôi duy trì cao độ này để lấy yếu tố bất ngờ, và chúng tôi cũng đã bất ngờ khi đụng đầu với một đội hình địch quân cũng bay cùng một cao độ như chúng tôi.

Tôi đã hồ nghi khả năng chiến đấu của phi cơ Zéro ở cao độ này. Riêng tôi có thể đạt đến cao độ 37,720 bộ (11,500m) với chiếc Zéro, nhưng phải mang mặt nạ dưỡng khí và áo ấm. Ở cao độ đó, cần điều khiển của phi cơ rất nặng nề và không thể nhích độ cao lên một tấc nào được nữa. Bởi vậy chiến đấu với một chiếc Zéro ở độ cao 30,000 bộ hình như không được khôn ngoan cho lắm.

Có 10 chiến đấu cơ địch, loại P39 kiểu mới. Tôi dẫn đầu cuộc tấn công và xáp chiến tức khắc. 14 chiếc Zéro khác đối đầu với nhóm phi cơ còn lại. Cần kiểm soát nặng nề và chậm chạp trong không khí loãng, hình như mọi cử động của tôi đều trì trệ. Lồng ngực của tôi như muốn rạn nứt và mặt nạ dưỡng khí tuột ra khỏi càm tôi. Dường như khi một người đã tập trung tất cả sức mạnh vào một hành động quyết định, ngay cả khi ngộp thở vì thiếu dưỡng khí cũng không thể nào ngăn nổi hành động của hắn. Giữa lúc tôi như bất tỉnh, tôi cảm thấy tay tôi vẫn nắm chặt cần lái và giữ cho phi cơ chúi xuống trong vòng xoáy trôn ốc. Khi đầu óc tôi đã tỉnh táo và nhìn rõ trở lại, phi cơ đã xuống dưới 20,000 bộ (6,000m). Tôi xoay mình tức khắc, vì phi cơ địch vẫn bám sát theo sau và đang chuẩn bị hoả lực.

Nhưng phi công địch cũng gặp rắc rối. Có lẽ hắn xoay theo tôi quá ngặt hay có thể hắn cũng mất dưỡng khí như tôi, cho nên ở cùng cao độ 20,000 bộ nhưng phi cơ của hắn xoáy theo hình trôn ốc chầm chậm. Không bỏ lỡ dịp may, tôi xông tới ngay khi chiếc P39 có vẻ lấy lại thăng bằng, cánh hơi ngước lên với các họng súng rực lửa hướng về phía tôi. Tôi lảng ra nhanh như chớp, bấy giờ chiếc P39 đang ở bên trên về phía bên phải, tôi ấn cò đại bác. Một viên 20 ly cắt đứt phi cơ địch ra làm hai. Ngoài tôi ra, chỉ có Ota bắn hạ được một chiếc P39 khác vào ngày hôm đó.

Hôm sau, đầu tiên tôi hạ một chiến đấu cơ địch mà không cần bắn một phát súng nào, trong một trận không chiến căng thẳng cực độ. Khác hơn lần trước, lần này ngày 26 tháng 5, chúng tôi đụng nhau ở một cao độ rất thấp, là sát trên ngọn cây. Một nhóm 16 chiếc Zéro chạm trán một đội hình đối phương kỳ lạ. 4 oanh tạc cơ B17 bay trong đội hình hàng dọc với khoảng 20 chiến đấu cơ P39 chia thành từng nhóm nhỏ hai hoặc ba chiếc bao xung quanh các pháo đài bay này. Chúng tôi ở phía dưới đối phương và tấn công bằng cách vượt thẳng đứng lên mà họ không hay biết. Tôi đốt ngay một chiếc P39, và bầu trời như nổ tung trong một trận hỗn chiến.

Hầu hết chiến đấu cơ địch đều thối lui và lảng xa các chiến đấu cơ của chúng tôi. Tôi bám sát đuôi của một chiếc P39 đang chúi xuống khu rừng. Viên phi công tỏ ra sợ hãi, hắn bay có vẻ như quét trên ngọn cây và giống như cắt cỏ khi hắn xoay thân, vượt lên, chúi xuống với tôi đeo dính sau đuôi. Mỗi lần hắn vượt lên, xoay ngang hoặc lăn tròn, tôi cắt thẳng vào thân phi cơ của hắn. Tôi thụt ngay một viên đại bác khi chiếc Airacobra lảng ra bằng cách lăn tròn về phía trái. Phi công Mỹ chúi xuống ngay và lao về phía đầy cây cối, xung quanh toàn là dốc đá cao chớn chở.

Trước khi tôi nhận biết sự nguy hiểm, tôi đã lọt vô một hẻm núi, đeo dính một bên đuôi của chiếc P39. Không có thời giờ để tập trung hoả lực, tất cả những gì mà tôi có thể làm là tránh né các mỏm đá gie ra, san sát và khít khao trong đường tơ kẽ tóc. Hiểm nguy chết người khiến tôi quên hẳn mục đích chánh của mình. Mồ hôi đổ ra như tắm. Tiếng động cơ máy bay vang vang từ hai vách núi như sấm động.

Bỗng nhiên phía trước, một gộp đá treo lơ lửng án mất lối đi của chúng tôi. Lập tức viên phi công địch dựng đứng mũi phi cơ để vượt lên, nhưng quá muộn. Cánh chạm vào đá, chiếc phi cơ lộn nhào, và một tiếng nổ khủng khiếp vang lên phía dưới hố sâu. Tôi kéo hết cần điều khiển về phía sau với tất cả sức lực của đôi tay và giữ thật chặt. Cần kiểm soát rung rần rật. Chiếc Zéro quất ngược đầu lên thật dữ đội, và chỉ trong vòng một cái nháy mắt nhưng dài dằng dặc, chiếc phi cơ lướt lên khỏi gộp đá, có thể nói là chỉ trong gang tấc.

Tôi mất vài phút mới lấy lại bình tĩnh. Mệt lả vừa đưa tay vuốt mồ hôi đổ tháo như tắm trên mặt, tôi gia tăng tốc lực và vượt lên cao từ từ. Ðó là chiến thắng thứ 37 của tôi, mặc dù tôi không đích thân tiêu diệt chiếc phi cơ này, nhưng trận không chiến vừa qua là một trong những trận không chiến tổn sức nhất trong đời tôi.

Sau đó, tôi được biết Nishizawa và Ota cũng lâm vào tình trạng chiến đấu không khác gì tôi. Họ rượt đuổi 2 chiếc P39 xuống một triền núi và hầu như lâm hiểm trong lúc vượt lên khi hai đối thủ phía trước của họ vỡ tan. Ðêm đó, doanh trại của chúng tôi ồn ào nỗi vui qua những biến cố trong ngày.

Suốt tuần lễ cuối cùng của tháng 5, Phi đoàn Lae tung hết sức mạnh càn quét khu vực Moresby, và trong vòng ba ngày của cuộc không chiến dữ dội, chúng tôi đã thâu đạt được những thành quả không thể tưởng tượng được. Qua chiều hướng này, Moresby được xét đoán đã đến lúc nhận lãnh một cú đấm dứt khoát. Vào ngày 1 tháng 6, 18 oanh tạc cơ Betty cất cánh từ Rabaul, hộ tống bởi 30 chiếc Zéro của Lae và 11 chiếc khác của Rabaul, cố gắng san bằng pháo đài huyết mạch của địch quân lần cuối. Chúng tôi đã tin tưởng một cách chắc chắn rằng Ðồng Minh không thể đưa ra một sự chống đối mạnh mẽ sau các trận đánh liên tục. Chúng tôi đã sai lầm! 20 chiến đấu cơ địch đã gầm thét xông vào lực lượng to lớn của Nhựt. Một lần nữa, một trận đánh “xáp lá cà” xảy ra. 7 phi cơ địch rớt trong lửa đỏ, một chiếc do súng của tôi gây ra. Nhưng đối phương đã đạt mục đích: phân tán lực lượng oanh tạc cơ của chúng tôi và bẻ gãy sự chính xác của cuộc không tập.

Trên đường trở về Lae, một oanh tạc cơ của chúng tôi rớt khỏi đội hình, bay lạng quạng trong không khí. Tôi và năm chiến đấu cơ khác phải bay tụt lại để bao che. Chiếc oanh tạc cơ lê thân chậm chạp. Những lỗ đạn đại bác lỗ chỗ trên cánh và thân phi cơ, coi không khác nào một cái rây. Chiếc phi cơ vẫn còn bay được, là một phép lạ.
Phi công trưởng và phụ nằm dài trên ghế trong những vũng máu. Tôi không thể nhìn thấy bốn người khác thuộc phi hành đoàn. Chỉ có chuyên viên cơ khí vật lộn với cần điều khiển, cố giữ cho phi cơ thăng bằng. Hiển nhiên hắn không bị thương, còn những người khác có thể đã chết hoặc bị thương nặng.

Bằng mọi cách, chuyên viên cơ khí đã đưa được chiếc phi cơ lảo đảo như người say rượu về tới phi trường Lae. Hắn đã làm được một việc đáng nể phục. Rõ ràng hắn bay với kiến thức học lóm. Việc này đã đành là khó khăn đối với những người chưa được huấn luyện lái phi cơ, nhưng còn khó khăn hơn nữa khi lái một chiếc phi cơ bị hư hại trầm trọng. Lúc ấy chiếc oanh tạc cơ đã tiến vào không phận Lae và anh cơ khí viên không còn biết phải làm gì thêm nữa. Hắn có thể giữ cho phi cơ bay, nhưng đáp xuống là cả một vấn đề.

Chiếc phi cơ què quặt đảo chầm chậm trên phi trường hết vòng này đến vòng khác, và anh cơ khí viên ngắm nghía phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Không có cách nào khác để giúp đỡ con người bồn chồn này. Chúng tôi bay sát hơn và cố chỉ cách cho hắn đáp xuống, nhưng một khi hắn rời tay khỏi cần điều khiển, chiếc phi cơ chao đi chao lại một cách nguy hiểm. Dần dần hắn giảm được tốc độ và bắt đầu hạ thấp xuống. Chiếc phi cơ bay vòng ra ngoài biển, và hạ thấp quá mau khi xoay lại để hướng đến phi đạo. Tôi nín thở. Chiếc phi cơ xốc dữ dội và bắt đầu rơi tuồn tuột. Nó sẽ tan tành trong nháy mắt.

Một phép lạ xảy ra! Viên phi công gượng ngồi dậy, gương mặt trắng bệch lốm đốm máu. Hắn tựa một cách nặng nhọc vào vai của anh cơ khí viên. Chỉ một giây sinh tử, hắn ấn nút bộ phận đáp bật ra, phi cơ lấy lại tốc lực và bánh xe chạm trên mặt phi đạo. Trong nháy mắt, nó va vào hai chiếc Zéro đang đậu vỡ tan, rồi bật nhào nửa vòng và đứt làm hai đoạn.

Chúng tôi đáp lập tức sau đó, cán trên các mảnh vụn nhưng lạ lùng là không có chiếc phi cơ nào bốc cháy. Phi công chánh của chiếc oanh tạc cơ chỉ gượng đứng dậy được một phút rồi ngã ra bất tỉnh. Phi công phụ tử thương. Cơ khí viên bị thương trầm trọng ở giò, phải khiêng ra bằng cáng. Tất cả nhân viên khác thuộc phi hành đoàn đều mang thương tích nặng.

Nhát chổi chiến đấu cơ vẫn tiếp tục quét, và suốt hai ngày kế tiếp chúng tôi bắn rơi thêm ba chiến đấu cơ địch. Nhưng không một người nào ở Lae biết được các chiến thắng liên tục của chúng tôi trái ngược một trời một vực với cuộc chiến bại đầy bi thảm của một lực lượng đặc nhiệm Nhựt Bản to lớn ở Midway vào ngày 5 tháng 6. Ðông-Kinh tuyên bố Hạm đội Hỗn hợp Ðặc nhiệm của chúng tôi đạt được chiến thắng quan trọng. Bộ Tư Lịnh Hoàng Gia đã giảm thiểu sự mất mát của chúng tôi xuống một mức độ vô nghĩa. Tuy nhiên, lần đầu tiên chúng tôi hồ nghi sự chính xác của các tin tức. Lý do dễ hiểu là chúng tôi biết Midway bị địch quân đổ bộ và chiếm đóng. Nếu hạm đội của chúng tôi rút lui mà không đẩy bật được cuộc chiếm đóng đó, không cần nhìn thấy cũng biết những gì đã xảy ra.
Sau này chúng tôi mới được biết bốn trong số các hàng không mẫu hạm mạnh nhứt và lớn nhứt của chúng tôi, đã làm nên chiến thắng Trân Châu Cảng, cùng với 248 phi cơ và hầu hết phi công cũng như hàng mấy ngàn thủy thủ, đã bị chôn vùi xuống đáy biển.

Từ ngày 5 đến 15 tháng 5, một sự yên tĩnh kỳ lạ trên mặt trận New Guinea. Sự yên tĩnh này chỉ bị phá vỡ bởi một cuộc không kích duy nhất ở Lae vào ngày 9. Ðiểm thắng của tôi ghi thêm hai oanh tạc cơ B26 Marauder.
Vào ngày 16 tháng 5, cuộc chiến trên không bùng nổ dữ dội trở lại. Ðó là một ngày chiến đấu cơ của chúng tôi làm chủ chiến trường, khi 21 chiếc Zéro vồ ba nhóm phi cơ lơ đãng của địch quân. Chúng tôi đụng với nhóm 12 chiến đấu cơ đầu tiên của địch bằng cách bổ nhào xuống một lượt, phá tan đội ngũ của địch quân. Tôi bắn rơi một chiếc, và năm phi công khác mỗi người ghi một điểm. Sáu chiến đấu cơ địch còn lại chúi mũi chạy thoát.

Trở lên cao độ cũ, chúng tôi nhào ra khỏi ánh mặt trời đâm thẳng vô nhóm 12 chiến đấu cơ thứ hai. Với cách đánh bất thần được lặp lại này, chúng tôi hạ thêm ba chiến đấu cơ địch. Tôi lại ghi thêm một điểm. Ðợt phi cơ thứ ba, gồm khoảng 10 chiếc lướt đến ngay khi chúng tôi vừa dọn dẹp xong nhóm thứ hai. Chúng tôi chia ra làm hai nhóm, một nhóm 11 chiếc Zero vượt lên cao để đánh xuống, một nhóm gồm 10 chiếc vẫn giữ độ cao như cũ. Các đội hình toả rộng trên khắp bầu trời Moresby. Phi cơ địch là loại P39 mới, bay mau lẹ hơn loại cũ nhiều. Tôi nhảy vô một đối thủ, và hắn đã làm cho tôi ngạc nhiên qua lối vung thật lẹ ra khỏi hướng bay mỗi lần tôi khai hoả. Chúng tôi rượt đuổi nhau vòng quanh. Viên phi công của chiếc Airacobra này vừa chạy vừa xoay tít, lộn nhào, vượt lên, chúi xuống, xoắn vòng, rớt theo hình trôn ốc, và nhiều cách khác. Tài nghệ của hắn tuyệt luân. Với một chiếc phi cơ tốt hơn, đáng lẽ hắn đã lấy mạng tôi từ lâu, nhưng tôi không để hắn hở tay. Tôi cứ đeo dính cách phía sau đuôi hắn không đầy 20 thước. Cuối cùng tôi lăn về phía trái một vòng, tung ra hai viên đại bác tầm ngắn, và chiếc P39 biến thành cây đuốc.

Ðó là chiến thắng thứ ba trong ngày. Chiến thắng thứ tư hầu như tiếp ngay sau đó và dễ dàng một cách đáng buồn cười. Một chiếc P39 xẹt đến trước mặt tôi và chỉ lo chú ý đến một chiếc Zéro khác đang truy đuổi ráo riết phía sau. Chờ cho chiếc phi cơ đến đúng tầm súng, tôi rót ngay 200 viên đại liên vô mũi. Nó lộn nhào như chớp để tránh né. Tôi bồi thêm loạt đại liên thứ hai vô bụng. Nó vẫn chưa chịu rớt. Một loạt đại liên thứ ba chụp trúng buồng lái của chiếc phi cơ đang còn lộn nhào. Kiếng che gió vỡ tan, và tôi thấy viên phi công gục về phía trước. Chiếc P39 xoay tít như chong chóng, và nổ tan trong khu rừng phía dưới.

Hạ bốn chiến đấu cơ địch trong một ngày. Ðó là thành tích của riêng tôi, đóng góp vào thành tích chiến thắng vĩ đại nhứt chỉ trong vòng một ngày hoạt động của Phi đoàn Lae, với tổng số 19 chiến đấu cơ địch bị tiêu diệt thực sự.
Chiến thắng như vậy vẫn chưa đủ. 10 oanh tạc cơ B26 lại mò đến căn cứ của chúng tôi. Ðịch đã chọn giờ xấu, vì 19 chiếc Zéro đã rời khỏi mặt đất trước khi chúng đến. Chúng tôi không hạ được chiếc nào, nhưng gây hư hại hầu hết và phá hỏng kế hoạch oanh tạc của địch quân. Trên đường truy đuổi, chúng tôi đụng đầu với 10 chiếc P39. Hiển nhiên 10 phi cơ này đáp lại lời kêu cứu của các oanh tạc cơ. Chúng tôi đốt một chiếc.

Căn cứ Lae tưng bừng với chiến thắng đêm đó. Tất cả các phi công được phát thuốc hút thả giàn. Chuyên viên cơ khí bu quanh chúng tôi để chia sẻ niềm vui. Chúng tôi còn được tin sẽ có 5 ngày phép ở Rabaul. Tin này khiến tôi khoan khoái hơn hết.

Không những tôi quá mệt mỏi sau những ngày chiến đấu liên miên, nhưng các chuyên viên cơ khí muốn có thời giờ để sửa chữa chiếc Zéro của tôi. Họ gọi tôi ra để chỉ cho coi nhiều lỗ đạn trên cánh và trên thân phi cơ, và tôi đã thót ruột khi nhìn thấy những lỗ đạn chạm thành một hàng phía sau phòng lái, cách đầu tôi không đầy hai phân.

Hồi năm 1942, không có một phi công nào của Nhựt bận áo giáp, và phi cơ cũng không được chế tạo với những chỗ bọc thép để chống đạn như phi cơ của Hoa Kỳ. Nếu đối phương sớm khám phá điều này, chỉ cần một viên đại liên 50 bắn vô thùng chứa xăng, chiếc Zéro làm bằng hợp kim nhôm sẽ biến thành ngọn đuốc lập tức. Tuy biết như vậy, trong thời gian này không có một phi công nào của chúng tôi mang dù khi bay. Vấn đề này Tây Phương đã diễn dịch sai lầm khi cho rằng cấp lãnh đạo Nhựt đã coi rẻ mạng sống của chúng tôi, rằng tất cả các phi công Nhựt bị vắt chanh bỏ vỏ và bị coi như những món đồ vật hơn là con người. Diễn dịch quá nhiều tưởng tượng. Tất cả các phi công chúng tôi đều được phát một cây dù khi bay, còn dùng hay không là quyết định riêng của chúng tôi, không có bộ chỉ huy nào ra lịnh không xài dù. Thực ra, chúng tôi được giới chỉ huy cao cấp thúc giục, tuy nhiên không ra lịnh hẳn hoi là phải mang dù khi chiến đấu, tuy cũng có những vị chỉ huy bắt buộc. Gặp trường hợp sau, phi công đem theo dù nhưng chỉ để trong phòng lái hoặc dùng làm nệm lót để ngồi.

Mục đích khiến chúng tôi không mang dù là nhằm tránh vướng víu tay chân. Vả lại đa số các trận không chiến của chúng tôi đều xảy ra trên đất địch, nếu có nhảy dù xuống an toàn thì cũng sẽ bị bắt giữ. Trong các điều luật của quân đội và trong các điều tâm niệm của võ sĩ đạo, không có giòng nào ghi hai chữ “Tù binh” hết. “Không làm tù binh”. Một kẻ ra trận hoặc là chết hoặc là trở về. Không có phi công chiến đấu nào gọi là can đảm mà lại để cho địch quân bắt giữ bao giờ. Việc này hoàn toàn không được nghĩ đến. Tuy nhiên, quả thật là khó chịu vô cùng khi nhìn thấy một hàng lỗ đạn chỉ cách đầu mình có mấy phân.

Ðêm đó tôi được Bộ Tư Lịnh Hải quân xác nhận con số bốn nạn nhân trong ngày của tôi. Ðây không phải là trường hợp duy nhất của Hải quân Hoàng gia. Tôi biết có nhiều phi công hải quân khác đã lập được thành tích này hoặc nhiều hơn nữa. Tính đến hiện tại, tổng số phi cơ bị tôi hạ là 43 chiếc.

Nishizawa sẽ trở thành phi công đại tài nhất với tổng số 103 phi cơ địch bị bắn rơi, và thành tích tột cùng của hắn lập được vào ngày 5 tháng 8 ở Guadalcanal là khi hắn hạ một lúc sáu chiến đấu cơ của Hải quân Hoa Kỳ, còn Trung sĩ Kenji Okabe hạ một lúc bốn chiếc F4F Wildcat, TBF Avenger và SBD Dauntless qua một loạt trận không chiến trong cùng ngày ở Rabaul. Okabe đã đáp xuống ba lần để lấy nhiên liệu và đạn dược trong suốt cuộc chiến đấu của ngày hôm đó, lập được thành tích vô song này.

Tuy nhiên, hầu như tất cả những phi công đạt được chiến công trên đều bị thiệt mạng không lâu sau đó trong lúc chiến đấu. Có hai trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp của chính tôi và Nishizawa. Nhưng mỉa mai thay, Nishizawa lại bị thiệt mạng vào tháng 9 năm 1944 trên không phận Cebu ở Phi Luật Tân, mà không bắn được phát súng tự vệ nào. Nhiều chiến đấu cơ H6F Hellcat đã túm được hắn trong một vận tải cơ không hộ tống và không võ trang. Chiếc vận tải cơ bị bắn cháy và chấm dứt cuộc đời của viên phi công vĩ đại nhất của Nhựt Bản một cách tăm tối.

Ðêm đó tôi được lịnh trình diện Chỉ huy trưởng căn cứ, một việc hiếm xảy ra. Trong văn phòng của Ðại tá Saito, tôi thấy có mặt Ðại úy Sasai và Chỉ huy trưởng Phi đoàn, Trung tá Nakajima. Cả hai vị sĩ quan cấp tá đều có vẻ buồn bã.

Ðại tá Saito nói: “Tôi muốn báo cho anh biết tin này và tôi làm như vậy là lời yêu cầu của Trung tá Nakajima. Ðây là một việc không mấy gì vui vẻ đối với tôi. Hồi đầu tháng này, tôi có yêu cầu Tổng Hành Dinh Ðông-Kinh ân thưởng cho Ðại úy Sasai về tài ba chỉ huy phi đội trong chiến đấu. Ðồng thời tôi cũng yêu cầu Ðông-Kinh công khai thừa nhận các thành quả phi thường mà anh, Sakai, đã đạt được trên mặt trận. Những thành quả này, theo chúng tôi biết, đã khiến anh trở thành phi công hàng đầu của toàn thể phi công Hải quân Hoàng gia. Tuy nhiên, những lời yêu cầu này đã bị bác bỏ. Ðông-Kinh nhận thấy không thích hợp cho việc phá bỏ tiền lệ. Lịch sử chúng ta chưa bao giờ có một vị anh hùng nào còn sống bao giờ,” Saito gằn giọng, “và hiển nhiên Ðông-Kinh không muốn có sự thay đổi nào trong thời gian này. Họ đã từ chối,” ông nói thêm với giọng buồn bã “ngay cả ân thưởng một huy chương hoặc thăng cấp cho các anh cũng không.”

Ông kết luận: “Tôi không muốn tiết lộ các chi tiết này cho các anh, e rằng các anh sẽ bàn tán này nọ về hành động của Bộ Tư Lịnh Tối Cao. Nhưng có điều quan trọng không kém đối với tôi là tôi muốn cả hai anh biết rằng tôi, trong tư cách thượng cấp của các anh, tôi hoàn toàn công nhận lòng nhiệt thành và sự cố gắng không lúc nào ngưng nghỉ của các anh.”

Trung tá Nakajima lên tiếng: “Truyền thống của Hải quân là chỉ ân thưởng huân chương hoặc thăng cấp tại mặt trận cho người đã chết, chúng tôi không biết là đúng hoặc sai. Dĩ nhiên truyền thống này thật là bất lợi cho các anh trong hoàn cảnh này. Tôi cảm thấy cần phải nói cho các anh biết rằng Ðại tá Saito cũng đã yêu cầu thăng một cấp cho Ðại úy Sasai, và thăng cấp Thiếu úy cho Thượng sĩ Sakai.”

Sasai đáp rằng: “Tôi không biết cách nào để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với sự ưu ái của cấp trên. Tuy nhiên, tôi cần phải nói thêm rằng cả tôi lẫn Sakai không ai bất mãn trước sự quyết định của Ðông-Kinh. Tôi không thấy có lý do nào để chúng tôi bất mãn. Theo thiển ý của tôi, và tôi chắc Sakai cũng vậy, những thành quả và những chiến thắng trên không của chúng tôi không phải là một mình chúng tôi có thể đạt được. Nếu không có những phi công bên cánh đã bao che cho chúng tôi, nếu không có sự tận tâm của các nhân viên dưới mặt đất, chúng tôi sẽ không thể làm gì được cả. Tôi hài lòng về công tác có tính cách đồng đội của chúng tôi, và tôi không cảm thấy sự ân thưởng hoặc thăng cấp cá nhân là cần thiết, mặc dù những gì mà nhị vị đã làm khiến cho chúng tôi rất lấy làm vinh dự.”

Sasai đã nói lên tất cả những gì tôi muốn nói, và tôi chỉ biết gật đầu đồng ý.

Chính sách không tuyên dương công trạng cá nhân của Hải quân vẫn được giữ triệt để cho đến cuối cuộc chiến. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1945 có một sự phá lệ đặc biệt trong chính sách này khi Ðô đốc Soemu Toyoda, Tư Lịnh Hạm Ðội Hỗn Hợp, thốt lên lời khen ngợi các chiến công phi thường của Trung sĩ Shoichi Sugita và tôi, bấy giờ là một thiếu úy. Nhưng lúc ấy sự khen ngợi này đã trở thành vô nghĩa. Những phi công vĩ đại của Hải quân như Nishizawa, Ota, Sasai và nhiều người khác, đã không còn nữa.

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 14th, 2020

 Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 14

Danh tướng Jean de Lattre de Tassigny khi sang Việt Nam, tuyên bố: “Je tiens à appliquer ici ma devise: NE PAS SUBIR! (Tôi nhất quyết áp dụng ở đây phương châm của chính mình: KHÔNG CHỊU ĐỰNG!)” Hiểu ngầm, không chấp nhận cho Võ Nguyên Giáp thao túng chiến trường, kể từ đây, phản đòn quyết liệt, mắt đổi mắt, răng đổi răng. Chiến thắng Vĩnh Yên của Jean de Lattre là phương châm ấy.

Thủ tướng Winston Churchill cũng lừng danh với tuyên ngôn: “We Shall Never Surrender! Never and never!”. Chúng ta không bao giờ đầu hàng! Không bao giờ! Một ý chí đanh thép ở vào thời điểm tàn quân Anh vừa bị đánh bật ra khỏi Dunkerque. Còn Hoa Kỳ? Ngày 18 tháng 4-1942 đi vào lịch sử Hoa Kỳ như niềm hãnh diện tuyệt đối của ý chí chống cự. Kháng cự và trả đũa! Ngay cả khi Thái Bình Dương đã trở thành biển hồ của Nhật Bản. Ngay cả khi các tân binh Yankee phải đối đầu với dàn võ sĩ đạo tinh tuyền Samurai. 5 tháng sau Trân Châu Cảng, Trung tá James Harold Doolittle cùng với 16 oanh tạc cơ B25 Mitchell cất cánh từ hàng không mẫu hạm Hornet thi hành sứ mạng đấm trả Đông-Kinh. Doolittle đi vào huyền thoại với thành ngữ “Do Little but Does Too Much!”

Mục đích của sứ mạng Doolittle là gây chấn động tinh thần dân chúng Nhật: Thiên hoàng không thể hộ mạng thường dân. Không Hải đoàn kiêu hãnh của Thủy sư Đô đốc Yamamoto không đủ sức bảo vệ Bản-Châu. America is back! Thần chết đã đến!

Những điều trên, thể hiện bộc bạch đầy thổn thức trong các lá thư của hôn thê Fujiko và cô em họ khả ái Hatsuyo viết cho Sakai đồn trú tại căn cứ Lae. Trong tâm khảm, các phi công Nhật hiểu: Gió đã đổi chiều. Có phải chính vì vậy mà các sát tinh Hiroyoshi Nishizawa, Toshio Ota, những đồng ngũ của Sakai và cả chính Sakai quyết định trình diễn điệu múa của tử thần ngay bên trên pháo đài Port Moresby của Úc châu? Với tất cả khinh mạn cùng lẫm liệt của đường kiếm Samurai sáng quắc trên không trung? Có thể trách cứ vô ý thức, nhưng Lae cách Đông-Kinh 4,500 cây số là một thế giới tách biệt, chỉ có sắt thép và bom đạn; trong bối cảnh ấy điệu vũ tử thần của “Bộ ba quét sạch”, The famed Cleanup Trio, là biểu hiện nghệ thuật của chiến binh. Nhìn từ khía cạnh này, màn vũ bằng chiến đấu cơ Mitsubishi Zéro là một nét độc đáo. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 14

Chương 14

Thời gian từ ngày 1 đến ngày 12 tháng 5-1942, Phi đoàn Lae của chúng tôi không thiệt mất một chiếc Zéro nào trong những lần đụng độ với địch quân. Nhờ biết người biết ta, và nhờ vào đội hình chiến thuật hữu hiệu nhứt, chúng tôi đã tìm được lợi thế và thâu hoạch một loạt chiến thắng đơn phương.

Vào ngày 13 tháng 5, phi cơ của tôi bị hư hỏng máy móc nên bắt buộc phải ở lại. Việc này đã cho tôi dịp may nhận được mấy lá thơ vào buổi sáng, do tiềm thủy đĩnh mang đến mỗi tháng một lần. Má tôi viết rằng các anh tôi đã nhập ngũ. Một người tình nguyện vô trường phi công hải quân nhưng không được nhận, vì gặp phải những đòi hỏi quá nghiệt ngã. Thay vào đó, anh tôi đầu quân vào căn cứ hải quân Sasebo làm thủy thủ. Người anh khác của tôi xin vô Lục quân và đã lên đường sang Trung Hoa. Anh sẽ không bao giờ trở về nhà. Mãi lâu sau chúng tôi mới biết, là anh được thuyên chuyển sang Miến Ðiện và thiệt mạng ở đó trong lúc thi hành nhiệm vụ.

Nhưng dĩ nhiên, bức thơ mà tôi chờ đợi nôn nóng hơn hết là lá thơ của Fujiko. Nàng viết nhiều về sự đổi thay to tát ở quê hương, và tôi đã ngạc nhiên với cái tin hiện nàng đang làm việc trong một cơ sở biến cải thành cơ xưởng quân cụ của người chú. Nàng viết:

“Hiện tại, không ai được ăn không ngồi rồi cả. Thủ tướng đã tuyên bố như vậy. Ông ta nói rằng ngay cả phụ nữ nếu họ ở nhà mà không đóng góp vào nỗ lực chiến tranh, họ sẽ bị gọi nhập ngũ và gởi vô bất kỳ phân xưởng nào xét thấy cần thiết. Do đó, để giữ em gần với gia đình, chú em đã mướn em làm việc cho ông.”

Cô em họ Hatsuyo xinh xắn của tôi có những tin tức còn đáng lo âu hơn nữa. Nàng viết rằng thân phụ của nàng đã được thuyên chuyển từ Shikoku về Ðông Kinh. Trở về thủ đô được vài ngày, nàng đã chứng kiến tận mắt các oanh tạc cơ B25 của Hoa Kỳ dội bom. Ðó là ngày 18 tháng 4.

“Em biết rằng anh đang đứng trước đầu sóng gió,” Hatsuyo viết, “và những thành quả mà anh đạt được trong việc chống quân thù khiến cho tất cả chúng em, những người sống ở hậu phương, cảm thấy vô cùng yên lòng. Nhưng Ðông Kinh và nhiều thành phố khác bị oanh tạc đã làm thay đổi thái độ của dân chúng hướng về cuộc chiến. Bây giờ mọi việc đã đều đổi khác, những trái bom đã rơi xuống đây, trên quê hương chúng ta. Bây giờ em phải cố gắng làm việc nhiều hơn để yểm trợ cho anh và những phi công khác, những người cách xa Nhựt Bản ngàn trùng.”

Hatsuyo vẫn đi học, nhưng trọn buổi chiều và vài giờ vào buổi tối nàng phải làm việc trong các phân xưởng sản xuất quân trang với các cô gái cùng trang lứa. Hai anh tôi đi lính, Fujiko và Hatsuyo làm việc trong các cơ xưởng chế thuốc đạn… tất cả đều lạ lùng.

Hatsuyo không mô tả chi tiết cuộc oanh tạc của đối phương, tuy nhiên cùng ngày đó chúng tôi đã nhận được tin tức. Ðương nhiên chính phủ đã phủ nhận những thiệt hại nặng nề. Nhưng tất cả các phi công ở Lae đều biết mức độ tàn phá của oanh tạc cơ địch. Họ đủ sức nghiền nát quê hương chúng tôi, cho dù có thể bị trả đũa sau đó. Lúc tôi đang còn đọc thơ, Chuẩn úy Wataru Handa bước vô yêu cầu tôi cho mượn Trung sĩ Honda, phi công bên cánh của tôi để thực hiện một phi vụ ở hải cảng Moresby. Chuẩn úy Handa mới đến Lae, mặc dù chưa chiến đấu ở Thái Bình Dương, nhưng là một trong những phi công nổi tiếng của Nhựt Bản ở chiến trường Trung Hoa, với 15 phi cơ địch bị hạ. Sau khi trở về từ Hoa Lục, hắn trở thành huấn luyện viên phi hành ở trường phi công Tsuchiura. Tôi không hề có một thắc mắc nào trong việc để cho Honda bay với hắn.

Tuy nhiên, Honda từ chối. Anh ta ấp úng: “Tôi không đi thì tốt hơn, Saburo. Từ trước đến nay tôi chỉ bay chung với anh, và bây giờ tôi không muốn thay đổi.”

Tôi chận ngay: “Ồ! Anh đừng có nói điên! Handa là một phi công tài giỏi hơn tôi nhiều, và cũng bay lâu hơn tôi, anh cứ đi!”

Trưa hôm đó, Honda cất cánh với 5 chiến đấu cơ Zéro khác cho một phi vụ quan sát trên không phận Moresby.

Sự miễn cưỡng của Honda khiến tôi lo lắng và tôi đã tháo mồ hôi hột trong lúc chờ đợi anh ta trở về. Hai giờ sau, năm chiếc Zéro đáp xuống: phi cơ dẫn đầu của Chuẩn úy Handa và bốn người khác. Phi cơ của Honda không thấy!

Tôi chạy ùa ra phi đạo và leo lên cánh chiếc Zéro của Handa ngay trước khi cánh quạt ngừng quay. “Honda đâu?” Tôi hỏi lớn, “Anh ta đâu? Việc gì đã xảy ra cho anh ta?” Handa nhìn tôi, mặt mày khổ não. “Anh ta đâu?” tôi hét. “Việc gì xảy ra?”

Handa leo ra khỏi phòng lái. Ðứng trên mặt đất, hắn nắm lấy tay tôi, khom mình xuống, và cố gắng lắm mới nói được. Tiếng nói của hắn run run. “Tôi… tôi rất ân hận Saburo. Honda, anh ta… anh ta đã thiệt mạng. Việc này lỗi tại tôi.”

Tôi ngơ ngẩn! Tôi không tin được! Honda không thể chết! Anh ta là một phi công bên cánh tài ba hơn bất kỳ một phi công nào mà tôi đã từng bay chung.

Chuẩn úy Handa vừa đi vừa nhìn xuống mặt đất, rồi bước vô Bộ chỉ huy. Tôi đi theo hắn không thốt được lời nào.

“Chúng tôi ở trên phi trường Moresby” vừa đi Handa vừa nói, giọng nhỏ. “Chúng tôi bắt đầu lượn vòng ở cao độ 7,000 bộ. Không thấy phi cơ địch nào trên bầu trời, nên tôi nhìn những phi cơ đậu trên mặt đất. Ðó là lỗi của tôi, tất cả đều là lỗi của tôi. Chiến đấu cơ địch xuất hiện mà tôi không thấy. Ðó là những chiếc P39 Airacobra. Tôi không biết bao nhiêu. Chúng chúi xuống mau đến nỗi tôi không kịp trở tay. Chúng tôi chỉ biết sự hiện diện của phi cơ địch khi súng đã nổ. Tôi lộn ngay một vòng, phi công bên cánh khác của tôi cũng làm như tôi. Khi tôi đảo quành lại, tôi thấy phi cơ của Honda bao trùm trong lửa đỏ. Hắn bị hoả lực chéo của mấy chiếc P39 cùng một lúc.”

Tôi đứng lại nhìn hắn trừng trừng. Handa bước đi luôn. Hắn sẽ không bao giờ phục hồi sau cú đấm vừa nhận lãnh. Mặc dù hắn là một “Sát tinh” ở Trung Hoa nhưng hiển nhiên hiện thời hắn đã mất hẳn sự nhạy bén trên không trung.

Hắn chưa từng đối đầu với chiến đấu cơ Hoa Kỳ bao giờ. Dù sao đi nữa, Handa cũng cảm thấy hổ thẹn khi hắn để cho phi công bay bên cánh bị thiệt mạng. Những ngày ở Lae hắn xanh xao vàng vọt. Cuối cùng, hắn mắc bệnh lao và được gởi trả về xứ. Nhiều năm sau, tôi nhận được một bức thơ của bà vợ Handa. Bà ta viết: “Nhà tôi qua đời ngày hôm qua sau chứng bệnh dai dẳng. Tôi viết thơ này thể theo lời yêu cầu của nhà tôi, nói lên lời tạ tội thay cho anh ấy. Nhà tôi không bao giờ hồi phục phong độ sau sự mất mát ở Lae. Lời cuối cùng nhà tôi thốt lên khi chết: “Suốt đời tôi, tôi đã chiến đấu dũng cảm, nhưng không thể nào quên được khi tôi để mất người của Sakai.”

Khi chết, Trung sĩ Honda chỉ mới 20 tuổi. Anh ta là một con người dũng mãnh trên mặt đất cũng như trên không trung. Honda được thương mến nhứt trong phi đội của Sasai. Tôi rất hãnh diện có một phi công bên cánh kiêu hùng như anh ta. Suốt hôm Honda chết, tôi giống như sống trong sương mù. Tôi đi lang thang quanh căn cứ. Tôi không lưu tâm đến đòi hỏi phải phục thù cho phi công thiệt mạng của phi đoàn, theo như những người còn lại đề nghị. Nhưng đến ngày 17 tôi thay đổi ý kiến. Ðối với tôi, thành công lớn nhứt trong khi chiến đấu của tôi là không bao giờ để mất đồng ngũ bên cánh. Tôi đã làm trái ý muốn của Honda, để hắn bay với người khác, và hắn đã chết. Ngày hôm sau, 14 tháng 5, tôi nhận Hạ sĩ Hatori thay thế cho Honda. Vào ngày 15 tháng 5, mưa đổ như thác lũ, có nghĩa là một ngày nghỉ của tất cả các phi công. Nhưng trước bình minh ngày 16, nhiều oanh tạc cơ B25 Mitchell bay sà thấp trên ngọn cây lướt đến đào nát phi đạo và thổi bay nhiều cơ xưởng bảo trì.

Bước sang ngày thứ hai chúng tôi vẫn chôn chân trên mặt đất, bỏ cả một ngày để chỉ làm công việc dọn dẹp và lấp hố bom trên phi đạo. Sau đó, chúng tôi vô ngồi trong doanh trại, nhiều phi công ngủ gà ngủ gật, một số khác thảo luận về nhịp độ tấn công gia tăng của địch quân.

Ngày trôi qua chậm chạp, và đêm đó Nishizawa, Ota và tôi đi đến phòng truyền tin để nghe giờ âm nhạc do đài phát thanh Úc Ðại Lợi phát ra hàng đêm.

Nishizawa thình lình lên tiếng: “Hãy nghe điệu nhạc này. Nó có phải là Ðiệu Vũ của Tử Thần không?”

Chúng tôi gật đầu. Nishizawa bỗng nhiên lộ vẻ hào hứng. “Ðiệu nhạc này làm tôi nảy ra một ý kiến. Các bạn biết phi vụ không kích Moresby vào ngày mai? Tại sao chúng ta không biểu diễn “Ðiệu Vũ của Tử Thần” của chúng ta để đối phương xem chơi?”

Ota hỏi: “Anh nói cái quái gì vậy? Tôi thấy anh giống như thằng khùng!”

Nishizawa cãi: “Tôi nói thật. Sau khi không kích xong, trên đường bay về hãy quay lại Moresby, chỉ ba chúng ta thôi, để biểu diễn một màn nhào lộn ngay trên đường băng của đối phương để chọc giận họ chơi.”

“Có vẻ thú vị đó,” Ota nói, “nhưng còn chỉ huy trưởng? Ông thầy có cho chúng ta chơi suôn sẻ không?”

Nishizawa cười: “Ai dại đi xin phép? Khi đề nghị trò chơi này tôi phải biết cách chớ.”

Chúng tôi trở lại doanh trại, và cả ba to nhỏ bàn tán kế hoạch hành động ngày mai. Dù cho chỉ có ba chúng tôi xuất hiện trên không phận Moresby nhưng chúng tôi không sợ. Cả ba chúng tôi đã bắn rơi tổng cộng gần 70 phi cơ địch rồi: tôi 27 chiếc, Nishizawa 20 chiếc và Ota 18 chiếc.

Ngày hôm sau, chúng tôi quét Moresby với sức mạnh tối đa: 18 chiến đấu cơ Zéro, với Thiếu tá Tadashi Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, đích thân hướng dẫn. Nishizawa và tôi bay hai bên cánh của ông. Cuộc không kích là một thất bại. Trên phi trường địch không có bóng một phi cơ nào. Nhưng câu chuyện trên trời cao thì khác. Nhiều chiến đấu cơ địch, trong đội hình ba chiếc, ùa đến tấn công chúng tôi. Chúng tôi xoay lại và đánh dàn mặt với nhóm đầu tiên. Cuộc hỗn đấu xảy ra, sáu chiếc P39 trong đó có hai chiếc là nạn nhân của tôi rớt cháy rực như cây đuốc. Nhiều chiến đấu cơ Zéro tách rời khỏi trận không chiến chúi xuống bắn phá phi trường. Hai chiếc bị đạn phòng không, què quặt và đâm vô sườn núi Owen-Stanley trên đường trở về.

Ngay sau trận không chiến, chúng tôi trở lại đội hình, và trên đường về tôi ra dấu cho Thiếu tá Nakajima biết tôi phải truy đuổi một phi cơ địch. Ông vẫy tay, và tôi bổ nhào ngay xuống với hai phi công bên cánh: Ota và Nishizawa.

Sau một vài phút chúng tôi trở lại Moresby, bay vòng trên phi trường ở độ cao 12,000 bộ, khoảng 3,600 m. Súng phòng không im tiếng và không có chiến đấu cơ nào xuất hiện. Cả ba chúng tôi bay trong đội hình chỉ cách nhau vài thước. Chúng tôi lộn nhào ba vòng. Nhìn quanh để tìm kiếm phi cơ địch lần cuối cùng, tôi chúi mũi xuống để lấy tốc độ với Nishizawa và Ota đeo dính hai bên. Tôi kéo ngược cần điều khiển theo hình vòng cung và lộn ngược lại phía sau. Hai chiếc Zéro kia cũng làm y như tôi, rồi lấy thăng bằng và vừa lăn tròn vừa bay vòng quanh.

Hơn hai lần, chúng tôi vượt lên, bay vòng quanh, chúi xuống và lại lộn ngược trở lên bằng cách lăn tròn. Không một khẩu cao xạ nào bắn lên từ mặt đất, và bầu trời không có bóng dáng bất kỳ chiến đấu cơ nào của địch.

Sau khi biểu diễn lần thứ ba, Nishizawa khoái chí và muốn biểu diễn lại một lần nữa. Tôi xoay sang trái, thấy Ota cười và gật đầu đồng ý. Tôi không thể từ chối. Chúng tôi chúi xuống chỉ cách phi trường địch 6,000 bộ là chỉ còn 1,800 thước là chạm mặt đất và lăn tròn ba vòng xoáy ốc lên không trung rồi đảo quanh thật nhịp nhàng trong đội hình hẹp trước khi buông thả chơi vơi cho rơi xoắn xuống gần chạm đất rồi đột ngột dựng thẳng đứng lên trở lại. Cánh sát cánh. Vẫn không có tiếng súng nào bắn lên. Giống như chúng tôi đang bay bên trên chính phi trường của mình. Bên dưới, đông đúc khán giả đang ngó lên chiêm ngưỡng chúng tôi chăm chú.

Chúng tôi trở về Lae hai mươi phút sau khi các chiến đấu cơ khác đã đáp xuống. Chúng tôi im thin thít. Ngay sau đó chúng tôi ngồi chụm đầu lại bàn tán thì thầm, cười đùa thỏa thích. Tuy nhiên, sự bí mật của chúng tôi sớm bị khám phá. Quá chín giờ đêm đó, một liên lạc viên chạy vô phòng ngủ cho biết Ðại úy Sasai muốn được “diện kiến” các “vũ công” chúng tôi tức khắc. Chúng tôi nhìn nhau lo lắng. Hành vi của chúng tôi có thể nhận lãnh hình phạt nặng nề.

Ngay sau khi chúng tôi bước vô văn phòng, Ðại úy Sasai nói lớn: “Hãy coi đây, các anh là bọn hoang đàng!” Mặt ông đỏ gay, trong khi tay phất qua phất lại trước mắt chúng tôi một lá thơ viết bằng tiếng Anh… “Các anh có biết tôi nhận được cái này từ đâu không?” Ông hét lớn, “Không biết? Ðể tôi nói cho nghe, vì các anh là mấy tên ngu ngốc. Bức thơ này vừa được một chiếc phi cơ địch thả xuống sân bay cách đây vài phút!”

Ðại úy Sasai vốn trầm tĩnh nhưng mà lúc đó gương mặt ông đầy cáu bực. “Các anh là phi công hay phường tuồng sân khấu? Tôi chỉ huy phi công hay đào hát?”, rồi ông cất cao giọng, “để tôi đọc cho các anh nghe”.

“Thơ viết:

“Gởi Chỉ Huy trưởng Căn cứ Lae: chúng tôi sẽ nhớ mãi ba tên phi công đã thăm viếng chúng tôi ngày hôm nay. Tất cả chúng tôi đều khoái mấy cú lộn nhào của họ trên phi trường của chúng tôi. Ðó là một màn trình diễn rất tới. Chúng tôi sẽ lấy làm hân hạnh nếu ba tên phi công này trở lại thăm viếng chúng tôi một lần nữa, mỗi tên nên quấn một khăn quàng màu xanh quanh cổ để làm hiệu. Chúng tôi rất buồn đã không đón tiếp họ chu đáo, nhưng hy vọng lần sau họ sẽ được tất cả chúng tôi tiếp đón nồng nhiệt hơn.”

Cả ba chúng tôi cố giữ lắm mới khỏi cười nôn sặc sụa. Bức thơ được ký bởi một nhóm phi công chiến đấu cơ Úc. Sau đó Ðại úy Sasai bắt chúng tôi đứng như trời trồng để phạt hành vi ngu ngốc của chúng tôi. Ðặc biệt, chúng tôi được lịnh không bao giờ thực hiện màn trình diễn nhảy múa nào thêm nữa trên các phi trường địch.

Ðó là một sự đối đãi tốt của thượng cấp, vì Ðại úy Sasai đã bao che cho chúng tôi bằng cách giấu nhẹm lá thơ không trình lên Thiếu tá Nakajima và Ðại tá Saito. Riêng chúng tôi hả dạ với “Ðiệu vũ của tử thần” ở Moresby của mình.

Tuy nhiên, đêm hôm đó không ai trong bọn chúng tôi biết rằng ngày hôm sau chúng tôi sẽ được xem một “Ðiệu vũ của Tử thần” thực sự diễn ra, chưa từng thấy trong các vở kịch từng diễn trên không. Bảy chiến đấu cơ Zéro thuộc phi đoàn của chúng tôi hộ tống tám oanh tạc cơ Betty không tập Moresby. Chúng tôi chưa tiến đến phi trường địch thì đã bị 18 chiến đấu cơ địch nhào xuống từ mọi hướng. Ðây là một trận đánh phòng vệ mà tôi chưa gặp bao giờ. Chúng tôi bị áp lực đến nỗi khó xoay trở trong việc bảo vệ cho 8 oanh tạc cơ. Mặc dù tôi đã đẩy bật nhiều chiến đấu cơ địch ra khỏi các oanh tạc cơ, nhưng không thể bắn rơi một chiếc nào. Ba chiến đấu cơ địch bị đồng bạn tôi bắn hạ. Trong khi đó, các oanh tạc cơ thả bom không mấy chính xác rồi bay lảng nhanh ra để quay về.

Tôi nhìn thấy một chiếc P39 lướt thẳng đến nhóm oanh tạc cơ với một tốc độ khủng khiếp, nhưng tôi đành bó tay. Chiếc P39 nhả một loạt đạn vào chiếc oanh tạc cơ bay cuối cùng, rồi lộn nhào và chúi xuống, vượt hẳn tầm súng của chúng tôi. Chiếc oanh tạc cơ tuôn một vệt lửa, sau đó bốc cháy dữ dội, chúi mũi xuống thật mau. Nó mất độ cao nhanh chóng và hình như mất hẳn sự kiểm soát.

Thình lình, vẫn bốc cháy dữ dội, mũi chiếc oanh tạc cơ khẽ ngước lên và bắt đầu vượt lên cao. Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc phi cơ bắt đầu lăn tròn, cách “biểu diễn” này khó thực hiện đối với một chiếc Betty. Nó vẫn tiếp tục lướt lên và vẫn lăn tròn cho đến khi biến thành một trái cầu lửa.

Lửa rớt từng bựng. Ngay cả khi chiếc phi cơ sắp sửa chúi mũi xuống thì một tiếng nổ dữ dội làm rung rinh cả phi cơ của tôi, chiếc oanh tạc cơ biến thành những mảnh vụn rơi lả tả. Trong ba tháng Năm, Sáu và Bảy, hầu như các trận không chiến xảy ra liên miên. Cho đến sau chiến tranh, tôi mới biết Phi đoàn Lae của chúng tôi đã đạt được nhiều thành quả nhứt so với những hoạt động của các đơn vị không quân chiến đấu Nhựt Bản khác. Ngay cả Rabaul là một căn cứ lớn, cũng không sánh bằng Lae.

Vào ngày 23 tháng 5, bảy chiến đấu cơ Zéro chận đánh năm oanh tạc cơ B25 Mitchell trên không phận Lae và chôn một chiếc xuống biển, cách phía Nam Salamaua 30 dặm. Ngày hôm sau, 6 oanh tạc cơ địch quay trở lại Lae. Không may cho các oanh tạc cơ này, mạng lưới báo động từ xa của Lae phát hiện ra chúng, và 11 chiếc Zéro cất cánh đốt cháy và bắn rơi 5 chiếc, đồng thời gây què quặt cho chiếc thứ sáu. Tôi bay cả hai phi vụ nghinh chiến này và trong hồ sơ của Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đã ghi vô điểm thắng của tôi thêm ba oanh tạc cơ nữa vào hai ngày này.

Nhịp độ của các cuộc tấn công gia tăng vào những ngày cuối tháng Năm. Lần đầu tiên, vào ngày 25 tháng 5, bốn pháo đài bay B17 bay tới tấn công Lae với 20 chiến đấu cơ hộ tống. 16 chiếc Zéro nhào ra chận đầu lực lượng này trên đỉnh dãy núi Owen-Stanley. Năm chiến đấu cơ địch bị hạ, nhưng các pháo đài bay thoát thân an toàn. Ba ngày sau, năm oanh tạc cơ B26 Marauder quay trở lại Lae. Tôi ghi một điểm nữa. Và vào ngày 9 tháng 6-1942, tôi gởi thêm hai chiếc B26 xuống đại dương.

Ngày giờ hình như không còn phân chia rõ rệt nữa. Ðời sống trở thành một chuỗi bất tuyệt của những cuộc càn quét trên không, của những phi vụ hộ tống oanh tạc cơ đến Moresby, của những cuộc chạy đua cất cánh để tiếp đón kịp thời các đối thủ đến viếng thăm. Ðồng Minh hình như có một nguồn tiếp tế phi cơ với một nguồn nhân lực vô tận. Tuần nào họ cũng chịu đựng sự thiệt hại nặng nề hơn chúng tôi, tuy vậy phi cơ của họ vẫn đến ném bom đều đều.

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 6th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Poist by Sơn râu 21 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 6th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Kỳ 13

Đại úy Junichi Sasai là cháu ruột của quả phụ Onishi, vị đô đốc đã thiết lập các phi đoàn Thần phong cảm tử Kamikaze. Ngày Nhật Bản đầu hàng, Onishi mổ bụng tự sát. Cháu dượng của Onishi là Sasai, một phi đội trưởng đầy nhân tính dưới ngòi bút của Sakai. Tháng 5-1942 tại căn cứ Lae, “bộ ba quét sạch”, The famed “Cleanup Trio” của Sakai hun đúc kinh nghiệm không chiến cho chính thượng cấp của mình là “Đại úy Phi hổ” Sasai; nói lên tinh thần đồng đội sáng ngời của Phi đoàn Lae và giải thích vì sao họ đạt nhiều chiến thắng.

Khoảng tối trong hồi ký là vào khi ấy, Sakai hoàn toàn không biết đến thảm bại của thủy chiến biển San Hô mà mục đích nhằm đánh chiếm pháo đài Port Moresby, cửa ngõ vào Úc châu, mà Sakai oanh kích hàng ngày. Do tin tức bị giấu nhẹm. Kiểm soát thông tin phía Nhật không ngăn thủy chiến biển San Hô là một thất bại chiến lược. Hàng không mẫu hạm nhẹ Shoho (Triền Phụng) bị đánh chìm, 2 hàng không mẫu hạm nặng Shokaku (Tường Hạc) và Zuikaku (Thụy Hạc) bị hư hại và phải tháo lui. Ngay cả khi hàng không mẫu hạm USS Lexington của Hoa Kỳ bị đánh đắm thì giấc mộng Úc châu của Thiên hoàng vẫn tan ra mây khói. Từ đây, việc Đồng Minh phản công tái chiếm Lae chỉ còn là thời gian. Mũi kiếm Samurai đã không thể đâm thủng Moresby. Duy nhất tài năng của các Samurai kéo dài trận chiến.

Yếu kém của Nhật Bản là không có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa Hạm đội viễn dương với các đơn vị đóng trên mặt đất, vì một tấn công phụ lực hay hộ tống của Phi đoàn Lae đã có thể đổi khác tình thế.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 13

Chương 13

Những tuần lễ sống ở Lae giúp tôi biết tôn kính giấc ngủ. Cuộc sống của chúng tôi trong căn cứ đơn điệu như một cuốn kinh: Ban ngày chúng tôi bay hay trực chiến bên cạnh phi cơ. Ban đêm, ước ao duy nhất là được chợp mắt. Khốn khổ làm sao là kẻ địch lại nghĩ khác. Vì gần như hàng đêm, máy bay địch lợi dụng bóng tối để thả từng chuỗi bom miểng và rưới từng tràn đạn lửa lên nóc doanh trại của chúng tôi.

Chúng tôi có thể nhịn ăn những món khoái khẩu hay sống chen chúc trong những túp lều ọp ẹp và ngay cả chấp nhận một phi đạo thô sơ, nhưng sẽ vượt quá sức chịu đựng nếu không cho chúng tôi ngủ. Các phi công Úc và Mỹ làm mọi thứ để bắt chúng tôi thức trắng đêm.

Tình trạng trở nên tệ hại đến mức nhiều phi công bỏ ra ngủ ngoài sân bay, trong những hố bom. Các cuộc không kích không ngừng nghỉ, những phi vụ liên tiếp và tiện nghi sa sút làm chúng tôi cáu kỉnh. Các sĩ quan đã phải làm gương sáng và khôn khéo tránh xảy ra va chạm giữa các phi công. Tôi tin rằng chính lề lối chỉ huy phi đoàn là yếu tố đáng phục nhất ở tiền đồn Lae, một ải địa đầu giữa rừng già.

Chỉ huy trưởng căn cứ, Ðại tá Masahisa Saito là một samurai đầy nhân phẩm và tiết chế. Một tư cách khác hẳn với những sĩ quan lục quân vây quanh Thủ tướng Hideki Tojo ở Ðông-Kinh. Ở bọn họ, niềm tự hào về đẳng cấp và sự tự phụ thể hiện với đầy tự mãn. Vừa trầm tĩnh, vừa có uy, Ðại tá Saito khiến cho tất cả các thuộc cấp đều muốn phụng sự. Mỗi khi máy bay địch không tập, đại tá luôn là người sau cùng vào hầm, sau khi các đồng đội của ông đã có nơi trú ẩn. Không cần nhấn mạnh là cung cách này đem đến cho ông một uy tín đáng kể! Với một phép màu khó giải thích, Ðại tá Saito đi qua hết chiến tranh không một vết trầy.

Nhưng vị sĩ quan nổi bật nhứt trong suốt binh nghiệp tôi đã gặp, chính là Ðại úy Junichi Sasai, là thượng cấp trực tiếp của tôi. Thời gian này Sasai chỉ huy phi đội khu trục sáng chói nhứt của Nhựt Bản. Dưới quyền Sasai là 4 cao thủ sát tinh lập chiến công nhiều nhứt: Nishizawa, Ota, Takatsuka và tôi. Tôi sẽ không nói quá khi quả quyết là tất cả những phi công thuộc quyền Sasai, đều sẵn sàng hy sinh để thế mạng cho phi đội trưởng trẻ tuổi của mình.

27 tuổi đời và còn độc thân, Sasai treo trên vách phòng của ông tấm chân dung vị anh hùng Yoshitsune, người chiến binh huyền thoại của tổ quốc. Không tuân thủ sự phân chia đẳng cấp bên trong Hải quân Hoàng gia, Sasai cũng không xem quân phục sĩ quan của mình là quan trọng hơn bất kỳ quần áo của binh sĩ nào. Chỉ là một tiểu tiết, nhưng nói lên rất nhiều đức tính của Sasai, đặc biệt trong khung cảnh của một truyền thống quân đội cứng rắn. Ngay khi vừa thuyên chuyển đến Lae, tôi đã vô cùng kinh ngạc chứng kiến những chăm sóc tận tâm và tỉ mỉ của Sasai cho sức khỏe và tình trạng của các phi công. Những quan tâm và hành động đó được ông thực hiện bất chấp giới luật của Bộ luật Ðẳng cấp Quân sự mà có lẽ là nghiêm ngặt nhứt trên thế giới. Theo giới luật này, mọi vi phạm, nếu thượng cấp cho rằng đã phạm lỗi, cấp dưới sẽ bị trừng trị thẳng tay, bằng đánh đập, thậm chí đánh chết. Ngay cả tại Lae, một căn cứ tiền tiêu giữa rừng rậm, quy định phân cấp vẫn còn hiệu lực. Không ai dám hình dung một chút vô lễ nào với sĩ quan.

Sasai, hiển nhiên nếu ông muốn, đã có thể tận dụng các đặc quyền của mình vì ông tốt nghiệp Hàn Lâm viện Hải quân danh tiếng Eta Jima, thánh đường của các học viện. Có thể các sĩ quan khác thầm trách thái độ khinh bạc của Sasai; tôi không bao giờ biết họ nghĩ gì, nhưng điều tôi kiểm chứng là Sasai thường xuyên khước từ tiện nghi của cư xá sĩ quan với vật dụng và giường chiếu tốt hơn, cũng không chật nêm cối, để xuống doanh trại của chúng tôi và chia sẻ thời gian của ông với chúng tôi trong nhiều giờ liền. Những hỏi han ân cần và chăm lo đó làm ấm lòng chúng tôi.

Từng tháng trôi qua, cường độ không chiến càng lúc càng gia tăng ác liệt trên không phận Lae. Cùng lúc việc tiếp tế sút giảm thảm hại. Và mặc dầu phi đoàn khu trục Zéro lập hết chiến tích này sang chiến tích khác, chúng tôi vẫn không thể chiếm lấy bầu trời của Ðồng Minh. Phi cơ đối phương càng lúc càng đông, phi công địch càng lúc càng xác quyết sự hung hăng của họ bằng cách nhào thẳng vào máy bay của chúng tôi, họ đang xây dựng một không lực tuyệt hảo. Khu trục cơ và oanh tạc cơ địch bay ngày đêm trên không trung, tấn kích không ngơi nghỉ các đoàn tàu của chúng tôi. Các tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ cũng đánh đắm nhiều thuyền Nhựt.

Kết quả của sự gia tăng hoạt động dồn dập của phía Ðồng Minh đã bắt buộc Bộ Chỉ Huy Nhựt Bản phải che giấu thuyền bè của mình vào ban ngày. Dĩ nhiên là các hải hành ban đêm không đủ cung ứng nhu vật liệu cùng phụ tùng cần thiết cho căn cứ Lae. Chúng tôi nhận tiếp tế càng lúc càng ít đi. Trong tình trạng bế tắc, Hải quân đành sử dụng tàu ngầm như một thứ dương vận hạm để tiếp vận. Chỉ là một phương cách tạm bợ, vì trọng tải của các tàu ngầm quá ít ỏi do chúng không được sáng chế cho công vụ chuyển vận quân lương này. Nhưng khi đói, đầu gối phải bò.

Sau cùng, chúng tôi nhận những gì tối cần thiết nhứt, đủ không chết đói và chiến đấu. Chút dư thừa được đong đếm kỹ càng cho đến hôm qua, cũng không còn nữa. Bia, Sakê và thuốc lá trở nên hiếm quý và rồi chỉ còn được ban phát như phần thưởng xứng đáng dành riêng cho những phi đội nào chiến thắng mà không hao hụt quân số!

Chúng tôi đặt cho Sasai biệt danh Ðại úy “Phi hổ”, chính vì ông luôn mang thắt lưng có khóa bạc mang hình một con hổ đang gầm. Cha của Sasai, một đại tá hải quân đã về hưu, đã cho đóng 3 dây thắt lưng với 3 mặt khóa giống nhau, một cho Sasai là con trai độc nhứt, và hai cho hai con rể là hai thiếu tá hải quân. Theo truyền thuyết xa xưa, hổ có thể rượt đuổi con mồi trên 1,800 cây số và luôn luôn trở về hang cũ. Là ý nghĩa mặt khóa bạc trên dây lưng của Sasai. Là phi công khu trục nhưng do thiếu kinh nghiệm trận mạc nên Sasai ghi ít bàn thắng trong suốt tháng 4 và đầu tháng 5. Vì vậy Nishizawa, Ota, Takatsuka và tôi quyết định giúp Sasai trở nên một sát tinh. Chúng tôi bỏ ra nhiều công khó truyền đạt cho Sasai những tinh diệu của chiến thuật không chiến. Trong doanh trại hạ sĩ quan, chúng tôi dành nhiều thời giờ giải thích cho Sasai những sai lầm nào nên tránh và cách thức khống chế đối phương. Sasai gặp khó khăn tự định vị qua đồng hồ trắc-viễn-kế mỗi khi cho máy bay xoáy trôn ốc lúc không chiến. Nhiều bận chúng tôi cùng thực tập chung trên không để giúp Sasai khắc phục khuyết điểm này.

Ngày 12 tháng 5-1942, Sasai có cơ hội áp dụng những lời khuyên của chúng tôi trong giao chiến.

Chúng tôi bay gần pháo đài Moresby, trong một phi vụ tuần thám thông thường. Phi đội 15 chiếc Zéro, chia làm 5 toán hình tam giác, sáp đến gần 3 chiếc Airacobra đang cách chúng tôi 1 cây số rưỡi phía tay mặt và thấp hơn chúng tôi chừng 450 thước. Ðội hình hàng dọc cách nhau 200 thước của địch khá bất thường. Tôi lướt đến gần Sasai, ra dấu cho ông tấn công. Sasai gật đầu với nụ cười. Chúng tôi theo dõi máy bay của Sasai khi ông ngoặt gắt và đâm chúi. Cú đấm đầu của Sasai hoàn hảo. Ông lao xuống chiếc Airacobra sau chót vẫn không hay biết chi hết và bắn cháy nó với vài viên đại bác nhắm kỹ; chiếc P39 gẫy làm đôi. Sasai dựng thẳng chiếc Zéro sau cú đâm bổ ngoạn mục rồi lộn vòng vượt lên trên chiếc P39 thứ nhì từ bên trái. Khó tin là phi công địch vẫn cứ tiếp tục lối bay hàng dọc không thay đổi. Từ bên trên đối thủ 500 thước, Sasai nhào xuống lần nữa, lượn sang phải và tưới đại liên lên chiếc Airacobra từ đuôi đến đàng mũi. Chiếc P39 lắc lư dao động trước khi rơi vào một vòng xoáy rối loạn và nổ tung trên mặt đất. Viên phi công hẳn trúng đạn nên không thấy nhảy dù.

Sasai lập lại chiêu thức, nhưng lần này chiếc Airacobra thứ ba đã đề phòng cẩn mật. Ngay khi phi đội trưởng của chúng tôi đảo sang phải, mũi của chiếc P39 nhấc lên cấp thời, nhưng phi công địch đã chần chừ quá lâu. Hắn chỉ vừa khởi động là Sasai đã ghim ngập thân và cánh trái của chiếc P39 hàng tràng đạn. Cánh trái đứt lìa làm máy bay địch quay như bông vụ trong lúc rơi. Tôi khá ấn tượng với chiến thắng chớp nhoáng ấy. Bay bên cạnh, Nishizawa ném cho tôi một nụ cười thích thú rách đến mang tai. Ba chiến thắng liên tiếp trong vài phút xác định Sasai là một sát tinh. Nhưng chưa là bài học duy nhứt trong ngày. Bài học tiếp theo mang tính chất khó khăn và dữ dội hơn rất nhiều. Trên đường về Lae, phi tuần của Sasai bay trước hợp đoàn của chúng tôi đến gần 3 cây số. Còn đang phấn kích với chiến tích huy hoàng vừa nãy của “Ðại úy Phi hổ” nên tôi không chú ý mấy đến khoảng cách này. Một sơ sót xém gây ra bi kịch khôn lường.

Trong lúc chúng tôi băng qua rặng núi Owen-Stanley thì một chiếc Airacobra đơn độc, từ trong một tảng mây dầy trên cao, bỗng vút ra như tên bắn và đâm thẳng xuống phi tuần dẫn đường của Sasai. Chưa bao giờ tôi thấy hối tiếc như hôm đó, là các máy bay của chúng tôi không được trang bị vô tuyến. Tôi không có cách nào báo động cho Sasai, và cho dù có xả hết tốc lực 550 cây số giờ, tôi cũng không bắt kịp chiếc P39. May mắn thay cho “Ðại úy Phi hổ”, thay vì tấn công trong lúc đâm bổ xuống trên đầu Sasai, viên phi công Mỹ lại lao xuống thấp hơn rồi mới quay ngược trở lên để bắn từ dưới bụng Sasai. Tôi chỉ còn cách 800 thước khi chiếc Airacobra hoàn tất thao tác cuối cùng. Tuyệt vọng vì bất lực, tôi nhấn cò đại bác, hy vọng tiếng nổ sẽ đánh động Sasai hoặc khiến phi công Mỹ nhận ra chúng tôi đông hơn mà bỏ cuộc. Phi công địch không đếm xỉa đến chúng tôi, nhưng Sasai nghe thấy tiếng súng của tôi, liền đảo vòng xoáy tức khắc với hai phi công bên cánh. Ðối phương hiểu ra tức thì chiếc bẫy đang ụp xuống. Ðến phiên hắn đánh vòng xoáy tìm cách bay lên cao. Nhưng tôi nắm thế thượng phong lúc này. Tôi đoán ngay khi chấm dứt vòng xoáy, kẻ địch sẽ phải chúi xuống vì tôi đã chặn đường lên của hắn. Tôi đánh vòng cung thật ngặt và lao dốc để vồ lấy khi hắn thoát ra. Nhưng hắn đã nhìn ra, hắn nhảy xổ ngay sang trái và đâm bổ hết tốc lực để tháo chạy. Nhưng rặng núi chắn ngang trước mặt làm hắn phải nhanh chóng vượt lên cao trở lại.

Một phi công thao lược tài tình, vì hắn bay sát rạt vách núi, không ngớt đảo lượn liên tục để tránh những mỏm đá vào phút cuối cùng. Tôi đuổi theo sát, thâu ngắn khoảng cách bằng cách cắt thẳng góc vào đường bay của hắn mỗi bận hắn đổi hướng. Hắn xoay chuyển liên tiếp tìm cách thoát, nhưng mỗi lần đều chạm trán một chiếc Zéro. Các đồng đội của tôi sắm vai phi công bên cánh tuyệt hảo. Chiếc Airacobra đã sập bẫy. Viên phi công Hoa Kỳ không còn cách nào khác hơn là tử chiến. Không chạy trốn, hắn nhắm bắn chúng tôi từng lúc. Tôi thu ngắn thêm khoảng cách, cho đến lúc chỉ còn cách 150 thước, tôi khai hỏa từng loạt đại liên ngắn nhưng chính xác. Cách 50 thước thì khói đen túa ra từ đầu máy và chiếc Airacobra đâm xuống vực. Ðám cháy đen nghịt.

Sau khi đáp xuống căn cứ Lae, Sasai tiến đến phi cơ của tôi, gương mặt ông biểu hiện ăn năn. Ông biết ông đã thiếu cẩn thận. Tôi giữ im lặng trong lúc các cơ khí viên trố mắt nhìn lỗ chỗ dấu đạn trên cánh máy bay của tôi. Thượng cấp của tôi ngập ngừng cám ơn. Bất thình lình ông chú ý đến các lỗ thủng chi chít như một bầy sao. Ngay lập tức, ông xem xét chúng, ông ngó đăm đăm rồi quay đi không thêm một lời.

Bất chiến tự nhiên thành!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Bất chiến tự nhiên thành!

đoàn xuân thu

Hổm rày, Kim Jong-un của Bắc Hàn và Donald Trump của Hoa Kỳ khẩu chiến (còn gọi là đấu võ mồm) với nhau một cách ác liệt. Đe dọa lẫn nhau: “Chịu chơi chơi tới cùng!”

Nên tin tức về cuộc khủng hoảng hỏa tiễn có khả năng mang đầu đạn hạt nhân của Bắc Hàn tràn lan trên báo chí!

Kim Jong-un hù là giữa tháng 8 nầy sẽ hoàn thành kế hoạch phóng 4 quả hỏa tiễn tầm trung vượt qua không phận ba tỉnh của Nhật Bản, đáp xuống vùng biển cách Guam khoảng 30 – 40 km trong thời gian 17 phút 14 giây.

Kế hoạch thôi! Hỏng biết lúc nào phóng hết trơn á! Cho Mỹ phập phồng chơi hè!

Nhưng không phải bắn hỏa tiển vào đất đảo, mà là vùng biển gần đảo; giống như thằng du côn mất dạy vác đá ném xuống ao bèo trước cửa nhà mình vậy mà!

Vậy mà Tổng thống Donald Trump nhẩy đong đỏng lên: Guam mà có mệnh hệ nào là chú em mầy sẽ biến mất khỏi bản đồ thế giới.

Nghe thấy ghê quá hà! Làm bà con mình phải tìm hiểu Guam ở đâu vậy cà? Xưa giờ hỏng nghe nói há?

Thì tầm chương trích cú thấy: nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Ferdinand Magellan phụng lệnh vua Tây Ban Nha, dong thuyền vòng quanh thế giới đã phát hiện ra đảo Guam năm 1521, mà thổ dân ở đó đã sống từ 6000 năm trước; nhưng Tây Ban Nha vẫn ngang nhiên tuyên bố chủ quyền năm 1565.

Rồi Tây Ban Nha và Hoa Kỳ đánh nhau cuối thế kỷ 19. Tân Ban Nha thua phải nhượng đứt Philippines và Guam cho Hoa Kỳ năm 1898.

Từ đấy, Hoa Kỳ dùng đảo Guam làm trạm tiếp tế cho tàu chiến khi vượt đại dương sang Philippines vì đường đi từ mẫu quốc qua xa quá, lính vừa mệt vừa không có chỗ xả ”xu páp”; đêm mơ thấy nàng tiên cá, nó nhẩy xuống ôm… thì thậm chí nguy!

Thế chiến thứ hai bùng nổ, quân phiệt Nhật chiếm đóng Guam từ ngày 8 tháng Chạp năm 1941 cho tới ngày 21 tháng Bảy năm 1944, suốt 31 tháng trời.

Dân Guam bị quân Nhật hành hạ, đàn ông thì bắt lao dịch, giết hại khoảng 1000 người. Phụ nữ thì phục vụ sinh lý cho lính Nhật. Tội ác chiến tranh nầy làm nhiều gia đình người Guam ly tán.

Nên ngày 21, tháng Bảy hàng năm, là Liberation Day (Ngày Giải phóng), một trong những ngày lễ lạc lớn nhứt của đảo Guam!

Hiện nay, Guam, lãnh thổ hải ngoại của Mỹ, là hải đảo nằm ở miền tây Thái Bình Dương, diện tích là 544 km², chỉ rộng bằng thành phố Chicago, cách Hawaii hơn 5.000 km về phía tây, cách Philippines và Nhật Bản hơn 2.000 km về phía đông và về phía nam.

Trong khi chỉ cách thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Hàn khoảng 3.410 km,

khoảng 4 giờ bay, nghĩa là Guam là lãnh thổ thuộc Mỹ lại xa nhất, gần 12.000 km, cách thành phố New York tới 19 tiếng bay. Nhưng lại gần với Bắc Hàn nhất!

Chính vì vậy Guam mới bị Bắc Hàn hù… cho ăn hỏa tiễn có gắn đầu đạn hạt nhân.

Guam cũng không xa lạ với hàng trăm ngàn người Việt Nam tỵ nạn CS.

Tháng Tư, năm 1975, sau khi Sài Gòn lọt vào tay quân CS Bắc Việt thì Hoa Kỳ bằng đường hàng không và hàng hải đã di tản 111.919 người Việt tỵ nạn CS tới Guam trước khi bà con mình được đi định cư ở Hoa Kỳ.

Guam cũng là nơi con tàu Việt Nam Thương Tín cập bến vào tháng Chín năm 1975 sau khi thoát khỏi Việt Nam từ tháng Tư.

Ngày 16 tháng Mười, chính con tàu này đã trở về Việt Nam, chở theo 1.546 người Việt. Sau đó họ bị VC bắt đưa đi cải tạo hết ráo. Bà con còn kẹt lại, tiếc hùi hụi. Chạy được rồi sao lại quay đầu về chi cho nó nhốt vậy hè?!

Ngày nay, đảo Guam có khoảng 200 người Mỹ gốc Việt làm ăn sinh sống, trong đó có hai bác sĩ. Có người từ California hay từ những tiểu bang khác qua Guam mở quán Karaoke hay hộp đêm để phục vụ du khách.

Có tới bảy, tám tiệm ăn do người Việt Nam làm chủ, tiệm nào cũng có phở nhưng dân địa phương khoái hẩu xực hủ tiếu, nấu theo kiểu miền Nam, mà họ gọi là “combination soup”.

Kinh tế của Guam chính yếu dựa vào du khách từ Nhật Bản, Đại Hàn và Đài Loan vì chỉ cần khoảng 4 giờ bay là du khách nườm nượp xuống sân bay quốc tế Antonio B.Won Pat. Khách sạn từ bình dân đến loại xịn đều đầy nhóc khách.

Du khách đến Guam để tắm vì bãi biển đẹp, cát trắng dài mút mắt, khí hậu nhiệt đới ấm, tắm đã lắm nha!

Để mua sắm tại nhiều trung tâm thương mại trên đảo Guam mở cửa suốt ngày đêm 24/7, bán thời trang cao cấp cho du khách với giá thấp hơn 20% so với quê nhà. Tốn tiền đi chơi, mua về bán gỡ vốn chớ!

Guam còn là một đầu não chiến lược quan trọng của quân đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, là một hàng không mẫu hạm không bao giờ bị chìm.

Guam có nhiều căn cứ quân sự quan trọng chiến 1/4 diện tích đảo, nơi hơn 6.000 binh sĩ Mỹ trú đóng.

Từ căn cứ không quân Andersen ở Guam, mỗi lần Bắc Hàn thử hỏa tiễn tầm gần, tầm xa là Mỹ cho oanh tạc cơ chiến lược B-1B, B-2 và B-52 bay qua vùng trời Bắc Hàn để thị uy. Mà đâu thấy Bắc Hàn dám làm gì?

Từ căn cứ hải quân đóng tại Guam, Mỹ gởi tàu ngầm nguyên tử, với hàng chục hỏa tiễn Tomahawk, tầm bắn 3.100 km, đến tập trận với Nam Hàn và Nhật Bản hàng năm.

Hành động nầy làm Kim Jong-un phát ghét và đàn anh Trung Cộng phát tức!

Bắc Hàn chọn Guam là mục tiêu hàng đầu để tấn công bằng Hwasong-12, hỏa tiễn đạn đạo chiến lược tầm trung. Vì bắn tới đất Mỹ xa quá, Bắc Hàn chưa làm được.

Tình báo Mỹ nói rằng Bắc Hàn đã thu nhỏ đầu đạn hạt nhân, gắn lên hỏa tiễn đạn đạo làm dân Guam hơi bị… rét.

Một chú pha cà phê “latte”, óc tiếu lâm, dùng bột chocolate vẽ hình cột nấm bom nguyên tử lên lớp sữa của ly cà phê để hù du khách!

Chúa đảo, Thống đốc Eddie Calvo, cho biết Bình Nhưỡng từng đe dọa tấn công đảo Guam năm 2013. Nên chính phủ Mỹ đã lắp đặt hệ thống phòng thủ THAAD trên đảo để dàn chào đề phòng trường hợp hệ thống THAAD ở Nam Hàn bắn hụt! Thủ kỹ, tới hai lớp, nên bà con đừng có lo!

Rồi hỏa tiễn của Bắc Hàn dở ẹt, chỉ có 0,00001% cơ hội đánh trúng Guam.

Tuy nhiên tiên hạ thủ vi cường: “Nếu Bắc Hàn buộc Mỹ phải tiến hành đáp trả hạt nhân toàn diện, chỉ vài phút sau đợt tấn công đầu tiên của Bình Nhưỡng vào Seoul, Nhật Bản, những đồng minh của Mỹ, chớ không cần tới Guam thì Bắc Hàn sẽ thành bình địa, bị hoàn toàn xóa sổ trong vòng 15 phút!”

Thế nên nhân viên thuế quan tại phi trường quốc tế của Guam bông đùa: “Chào mừng quý khách đến Vùng đất số không.”

(Ground Zero là vùng đất không còn gì sau khi bị dội bom nguyên tử).

Dân đảo Guam cũng tỉnh bơ. Đứa lớn đi câu cá mỗi ngày thì vẫn đi câu. Đứa nhỏ vọc cát tên bãi biển thì vẫn vọc!

Dân Guam cho rằng: Tổng thống Trump đang phóng đại mọi việc, đóng vai hiệp sĩ trừ gian để dụ khị con nít! Vì những vụ đe dọa kiểu này đã xảy ra nhiều lần rồi. Rung cây nhát khỉ! Khỉ không sợ thì làm gì nhau?

Nhân loại nầy do Thượng đế quyết định, chuyện gì xảy ra thì sẽ xảy ra thôi. Chớ không phải Kim Jong-un hay Donald Trump.

“Chúng tôi chỉ muốn hòa bình, muốn cuộc sống trên hòn đảo này tiếp tục diễn ra nhẹ nhàng như nó vốn có”.

Chín người mười ý, cũng có một em sợ quá: “Người ta bảo dân cứ bình tĩnh đi nào vì Guam đã được phòng thủ rất tốt. Nhưng thực tế là biết đâu bữa nay còn đó ngày mai mất rồi! Hu hu!”

Du khách thì cóc ngán Kim Jong-un: Chàng và nàng đi hưởng tuần trăng mật ở Guam nói “Nếu hai đứa tui chỉ có 10 phút để chạy trốn cuộc tấn công, tụi tui sẽ dành 10 phút đó xuống quán uống vài ly vĩnh biệt với mọi người”.

Dân Mỹ cười hì hì cho rằng Kim Jong-un chém gió: “Hoa Kỳ vừa lên kế hoạch tấn công vào nhu liệu điều khiển hỏa tiễn của Bắc Hàn và kết quả là hai cái computer bị ngưng chạy!”

Bắc Hàn lên kế hoạch bắn 4 hỏa tiễn tầm xa vào vùng biển gần đảo Guam. Nên nhớ gần chớ không có vào đảo Guam. Cái nầy cũng giống như thằng anh nói với em mình: “Tao đâu có đụng vô mầy. Nên mầy không được méc má! Tao đâu có dọng vô bản mặt của mầy! Sao mầy lại khóc bù lu bù loa thế kia?”

Mấy nhà hài hước Mỹ chê Trump nhát, chọc quê là: “Căng thẳng với Bắc Hàn tiếp tục leo thang; Trump đang rất lo lắng bởi vì ông ấy đang đội một cái nón an toàn trên đó có in hàng chữ: “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại!”

Còn ý tui là chiến tranh Mỹ và Bắc Hàn rất khó xảy ra trừ trường họp Kim Jong-un muốn tự sát.

Nhưng tự sát làm sao được khi Kim Jong-un muốn gì được nấy. Muốn nhậu là có sẵn rượu vài ngàn đô một chai. Muốn ăn sơn hào hải vị đều có cả. Muốn chơi biết bao nhiêu là em đẹp Bắc Hàn.

Ngu sao mà chết! Nên cái chắc là hù cho vui, cho tên mình lên báo kẻo thiên hạ quên Kim Jong-un!

Tui cho rằng Tập Cận Bình gởi cho Kim Jong-un một cuốn thiên thư dặn phải làm như vầy; như vầy. Nhưng lại đưa lộn cuốn Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Làm Kim Jong-un tưởng mình là Tề Thiên đại thánh, bứt một cọng lông ra hô biến thành con khỉ… để làm trò khỉ!

Nhưng để chắc ăn, sợ Kim Jong-un nổi cơn làm sảng, tui xin hiến kế cho Tổng thống Mỹ Donald Trump giải quyết một cách êm thắm cuộc khủng hoảng hỏa tiễn liên lục địa có mang đầu đạn hạt nhân của Bắc Hàn là gọi điện, đích thân mời Kim Jong-un tới Disneyland ở số 1313 Disneyland Dr, Anaheim, CA 92802, USA chơi miễn phí. Tay nầy còn con nít nên ham vui lắm!

Sau đó đãi quốc yến tại Tòa Bạch Ốc vì lãnh tụ tối cao Bắc Hàn rất khoái ăn nhậu. Hỏng thấy y mập ú như con heo đó sao?

Xong xuôi, tiễn Kim Jong-un ra tận chân cầu thang máy bay, nhớ ôm hun thắm thiết nhe!

Bảo đảm là về tới Bình Nhưởng, chỉ tối đa một tuần, là Kim Jong-un sẽ ngã lăn ra chết vì bị Trung Cộng hạ độc vì cái tội vong tình bỏ Chú Ba mà đi hú hí với Chú Sam.

Chiêu thức nầy gọi theo kiểu ông Đạo Dừa, kỹ sư hóa học Nguyễn Thành Nam, trụ trì ở cồn Phụng nằm giữa Mỹ Tho và Bến Tre năm xưa là bất chiến tự nhiên thành.

đoàn xuân thu

melbourne

Báo nói!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 15 July 2022

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Báo nói!

Theo từ điển Hán Việt cắt nghĩa: báo, động từ, là: báo cáo, báo tin, thông báo. Còn báo, danh từ, là tờ nhựt trình, nhựt báo, báo ra hằng ngày. Còn ‘vãn báo’, báo ra buổi tối.

Ngoài báo chí chuyên đăng tin xe cán chó, còn có báo ảnh. Không phải đăng hình con chó mà đăng hình mấy con đầm ở truồng. Như tạp chí Playboy. Ông nào ông nấy nhìn nước miếng nhểu tới rún, vén lên không kịp. Nên Playboy bán đắt hết biết luôn.

Ðó là hồi xưa, hồi thời báo chí Việt Nam Cộng Hòa cực thịnh kìa. Nhưng thời hoa mộng nay còn đâu? Sau 75, nhựt báo của người Việt tị nạn CS trên toàn thế giới đếm chưa hết một bàn tay. Ða phần là tuần báo.

Ðể sống sót với nghề, báo viết nó đẻ ra báo nói. Báo nói nhiều như nấm mối gặp mưa, trên mạng xã hội như: Facebook, Youtube, Twitter…

Trăm hoa đua nở như vậy nhưng tựu trung gom lại chỉ là hai loại: Báo viết và báo nói. Báo viết thì có ký giả. Báo nói thì có phát thanh viên.

Mấy em phát thanh viên trên truyền hình thanh sắc vẹn toàn, không thua gì hoa hậu. Thanh là tiếng nói dịu dàng như mật rót vào tai. Mật thì ngọt; rót vào tai cho kiến bu bắn chết Tía mình luôn. Nghe riết rồi ghiền. Khoái tiếng em hơn là tiếng the thé của bà chằn lửa ở nhà mình.

Còn sắc của em là nghiêng thùng đổ nước. Ðẹp như phát thanh viên Trà My của đài VOA vậy đó!

Nói hổng phải khoe gì với bà con, hôm Father’s Day nè có một em ‘Em Xi’ ở Little Saigon, đẹp nức nở, đẹp ná thở xin phép đọc bài về từ phụ của tui. Bụng tui tính hỏi coi em có cho tui cắc nào để bù tiền bút mực, để tui  rủng rỉnh xu hào mua rượu uống chơi hông? Thấy em đẹp quá, lại ăn nói gió đưa ngọt ngào; nên tui quên phứt!

Hổng phải tới già rồi, tui mới dại gái đâu! Mà tui dại gái từ thuở dậy thì, thuở mới lún phún râu măng hai bên mép.

o O o

Lại nhớ năm 1975, chuyện cách đây đã 47 năm. Tối 28 tháng Tư, rầu cho vận nước. Tui bắt chước người xưa ‘dục phá sầu thành tu dụng tửu’ lai rai vài xị đế với ông Thượng sĩ Trưởng ban 4 truyền tin, Chi khu Kế Sách tỉnh Ba Xuyên.

Thì đài BBC Luân Ðôn loan báo xe tăng CSBV đã bò tới chân cầu Tân Cảng trên xa lộ Biên Hòa. Và quân Dù của chúng ta đang chống trả quyết liệt. Vậy là thôi rồi Lượm ơi!

Rồi sau nầy thoát khỏi ngục tù CS bao la, vọt qua được tới Melbourne, theo thói quen xưa, tối tối từ 7 giờ tới 9 giờ đêm, tui không ôm em yêu mà tui ôm lấy cái ‘ra dô’.

Tui nghe người đẹp Ngọc Hân, Trưởng ban Việt ngữ của Ðài SBS (Special Broadcasting Service) Úc Châu Sydney thỏ thẻ.

Nhớ cái giọng lên bổng, xuống trầm, ngắt hơi đúng nhịp đàng hoàng. Nhớ cái giọng rõ ràng và khúc chiết.

Nhớ câu cú đúng văn phạm. Nhớ cách dùng chữ sáng trong. Nên nội dung bài viết nghe em đọc, nó cực kỳ dễ hiểu.

Ða số thính giả mình ở Úc là người tị nạn CS phát xuất từ Miền Nam. Nên giọng Sài Gòn của Ngọc Hân, Phượng Hoàng hay Quỳnh Liên của Ðài ABC (Australian Broadcasting Corporation) tiếng Việt nghe nó đã ơi là đã!

Mỗi lần nghe tiếng thỏ thẻ trên làn sóng phát thanh thì mấy người đẹp nầy lại dắt tui về quê cũ.

Giờ thì Ðài SBS không còn được hay như xưa nữa! Giọng Bắc Hà Nội sau 75, tiếng nầy dính với tiếng kia, õng ẹo như con lăng quăng, (ý quên con bọ gậy).

Chữ dùng thì bậy bạ. Ðôi khi quá đà thành tục tĩu. Như chữ ‘tự sướng’ chẳng hạn!

Nhớ hồi chiến tranh Việt Nam, lúc CSBV xâm lăng VNCH, bà con mình hay nghe Ðài VOA hay BBC.

Tại sao vậy? Vì bà con mình cho rằng hai cái đài nầy làm báo nói đàng hoàng, đưa tin khách quan và trung thực.

Như ông Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời năm rồi ở Mỹ, tuổi 84, đã để lại trong lòng thính giả nhiều thương tiếc các bài nói của ông.

o O o

Người ta nói ‘gừng càng già càng cay’.  Nghề báo viết, báo nói càng lâu càng hay. Người ta cũng nói ‘tre tàn măng mọc’. Nhưng tại sao gừng già không dạy cho gừng non. Tre già sao không kèm cặp mục măng cho nó thẳng? Mấy ông cứ từ từ biến đi để lớp trẻ  bơ vơ chữ nghĩa giữa chợ trời?

o O o

Mới đây nè, tui đọc được một bài  của Ðài VOA; nhưng lòng tui lại thất vọng vô cùng. VOA ngày xưa hay đến thế giờ sao lại đến nông nỗi nầy?

Bài báo viết về “Bà Phan Thị Kim Phúc, tức ‘cô bé Napalm’ trong bức ảnh nổi tiếng về vụ tấn công bom napalm ở Việt Nam vào năm 1972, hôm 4/7 đã hộ tống 236 người tị nạn cuộc chiến của Nga ở Ukraine trên chuyến bay từ Warsaw, Ba Lan, đến Canada, hãng thông tấn AP đưa tin.”

Nội động từ ‘hộ tống’ cũng đã gây ra nhiều lấn cấn về ngữ nghĩa. Theo từ điển, ‘hộ tống’ là bảo vệ và đưa một người khách ra khỏi một địa hạt. Như: “Luôn luôn có xe thiết giáp hộ tống” (Nguyễn Công Hoan). Chữ “hộ tống” thường dùng cho cho những nhân vật quan trọng cần ‘tiền hô hậu ủng’.

Còn đằng nầy họ là người Ukrainian tị nạn. Họ đang chạy trốn sự  tàn ác của quân xâm lược Putin để tìm đến Canada, một vùng đất bình yên, mà làm lại cuộc đời.

Thay vì dùng từ Hán Việt ‘hộ tống’ nghĩa tối tăm, thì mình dùng: “Bà Phan Thị Kim Phúc đến Warsaw, Ba Lan đón người tị nạn Ukraine để đưa họ tới Canada?!”

Ông hoặc bà ký giả VOA viết như vầy thì hết nói luôn:

“Tấm ảnh mang tính biểu tượng chụp do nhiếp ảnh gia Nick Út của AP cô bé Phúc lúc 9 tuổi vừa chạy vừa khóc trên đường với cơ thể trần truồng đầy thương tích vì trúng những mảnh bom đã được khắc trên chiếc máy bay của tổ chức tư nhân, phi chính phủ chở những người tị nạn đến thành phố Regina, thủ phủ của tỉnh Saskatchewan của Canada.”

Tấm ảnh được ‘khắc’ trên máy bay? Tấm ảnh được dán trên thân máy bay nghe còn có lý! Làm sao mà khắc cho được trời ạ?

Vì bà con mình ai cũng biết ‘khắc’ là dùng một vật rất cứng và bén để tạo hình, tạo chữ trên một mặt phẳng. Như khắc con dấu; khắc bài thơ vào đá.

Ai đem tấm hình mà khắc lên thân máy bay bao giờ?

Thưa bà con mình! Hồi chiến tranh Việt Nam ai cũng biết bom Napalm là bom xăng đặc. Bom xăng đặc do nhà hóa học Louis Fieser làm việc cho Cục Chiến tranh Hóa học Hoa Kỳ chế ra vào năm 1942 trong một phòng thí nghiệm bí mật tại Ðại học Harvard.

Napalm là một hỗn hợp của chất tạo keo và hóa dầu dễ bay hơi (thường là xăng hoặc nhiên liệu diesel). Xăng đặc dễ bám vào mục tiêu, cháy nhiệt độ từ 800 đến 1,200° C (1,470 đến 2,190° F).

Vậy mà ông hay bà ký ‘giả’ dám viết ‘thiệt’ là: “Cô bé Phúc lúc 9 tuổi vừa chạy vừa khóc trên đường với cơ thể trần truồng đầy thương tích vì trúng những mảnh bom ?!!”

Bom Napalm, bom xăng đặc, bom hoá học gây cháy thì có mảnh bom cái giống gì?

Viết lôm côm như thế Ðài VOA muốn ăn gì thì nói cho tui cúng.

Thưa các nhà báo nói thời lôm côm! Hãy khiêm tốn học hỏi bậc đàn anh đi trước. Viết và nói tiếng Việt khó lắm chớ hổng phải là chuyện giỡn chơi đâu!

“Cow Hug Day!”

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 16th, 2023

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Con bò đang được làm lễ quy y – nguồn thuvienhoasen.org 

“Cow Hug Day!”

Tui nhớ đâu hồi tháng Sáu năm 2015, báo chí quốc doanh CS có chạy một cái tin nghe rất tếu. Lái dắt con bò đi lò mổ. Qua một ngôi chùa ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, con bò mỏi cẳng không thèm đi nữa. Sư quốc doanh trụ trì thấy vậy nghĩ kiếp trước con bò nầy có thể là người. Sư ông bèn dắt con bò vào sân chùa cho nó ăn lá so đũa rồi làm lễ để nó quy y!

Tui cứ tưởng tin chó cán xe, chuyện tiếu lâm thời CS, đọc chơi rồi bỏ. Ai dè mới đây tại Tân Ðề Li bên Ấn Ðộ cũng có câu chuyện về bò na ná như vậy. Nó làm tui phải ‘cười bò’

Bà con mình ai cũng biết đạo Hindu xuất phát từ Ấn Ðộ từ hàng ngàn năm trước. Tín đồ Hindu tin tưởng vào việc đầu thai và sự hoàn thiện phải qua nhiều đời. Có tới 80% dân Ấn Ðộ tức hơn 1.1 tỉ người theo đạo Hindu. Chính vì vậy, có người gọi Hindu là Ấn Ðộ giáo. Trong đạo Hindu, con bò cho sữa, cung cấp phân bón và chất đốt. Con bò là biểu tượng của sự giàu có, sức mạnh và tình mẫu tử. Con bò là hiện thân những phẩm chất thiêng liêng của lòng trắc ẩn, vị tha. Con bò được coi là linh thiêng, được tôn kính. Những ai tôn trọng, chăm sóc bò sẽ được may mắn và thịnh vượng.

May mắn thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Ấn Ðộ Hindu! Xấu hổ thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Việt Nam; vì thường bị chúng chửi là đồ ngu như bò. Ðau đớn thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Úc; vì bị làm món ‘beef steak’ ăn với ‘tomatoes, salad’ chấm muối tiêu.

Ở một xã hội văn minh, người dân muốn theo đạo nào thì theo; chánh quyền không được cấm. Tuy nhiên, tã xài cho con nít và chánh trị gia luôn có cùng một điểm chung là phải thay hoài. Vì các chánh trị gia theo chủ nghĩa dân túy mị dân hay lợi dụng sự cuồng tín để thủ lợi cho cá nhân mình.

Mấy chánh trị gia Cà ri chà láu cá nầy la làng ỏm tỏi: “Trước sự xâm lấn của văn hóa phương Tây, truyền thống của Ấn Ðộ theo thời gian gần như đang trên bờ tuyệt chủng. Thế nên, Bộ Thủy sản, Chăn nuôi và Sản xuất sữa của Ấn Ðộ đã kêu gọi người dân Ấn thay vì kỷ niệm Valentine’s Day hằng năm của Phương Tây thì nên thay bằng: “Cow Hug Day!”, ‘Ngày Ôm bò” của Ấn Ðộ.

‘Cow’ là con bò cái. ‘Bull’ là con bò mộng, bò đực. Mấy Chú Bảy Cà ri nầy chỉ dám xúi dân Ấn ôm con bò cái, con ‘cow’, thôi nhe! Không dám xúi mấy em ôm con bò đực, con ‘bull’. Vì sợ mới xáng lại tính ôm ôm coi chừng con ‘bull’ nầy nó gắn cho em mầy đôi cánh bay tuốt lên trời xanh. Bộ hổng thấy phần số của đấu sĩ bò tót Tây Ban Nha chuyên nghiệp hay sao? Họ không dám ôm bò âu yếm. Chỉ dứ dứ tấm vải đỏ. Giỡn chút chơi mà nó quạu, nó húc một phát lòi ruột; phải đi chầu ông bà, ông vải.

Có người nghĩ dân Ấn tới hơn 1 tỉ 4. Nhiều quá tất nhiên có người thông minh như: Kamala Harris, Phó Tổng thống Hoa Kỳ, Rishi Sunak, Thủ tướng Vương quốc Anh, Sundar Pichai, sếp sòng Google cũng mặc sarong, ăn cà ri. Chớ đâu phải tưng tửng như chánh phủ Ấn Ðộ đâu nè?

Dẫu vậy, thính mũi hơi tiền, một công ty sữa của Ấn Ðộ đã giới thiệu ‘liệu pháp ôm ấp bò’ tại trang trại ở ngoại ô thành phố Hyderabad cách Tân Ðề Li (New Delhi) khoảng (1,538.3 km) về hướng Nam

“Theo nhu cầu của công chúng, chúng tôi đã có khoảng 100 khách hàng và hiện chúng tôi đang mong đợi nhu cầu sẽ tăng lên.” Xong, công ty nầy dụ dân Ấn bằng cách nói: “Chú Sam cũng chơi ‘ngu’ như vậy” (?!) . “Ở Mỹ, ‘liệu pháp ôm ấp bò’ đã trở thành một mốt thời thượng. Người ta phải trả tới 200 đô la để được ôm ấp và âu yếm một con bò. Ðó là một biện pháp chăm sóc sức khỏe”. Nhưng mấy chú Kangaroo của Úc lên tiếng “I can you”. Ðừng có nghe lời xúi dại đi vô ruộng ôm con bò cái vào Valentine’s Day. Vì những con bò bị ôm bất tử sẽ sợ hãi rồi trở nên hung dữ ai biết đường đâu mà rờ? Chó là thú cưng quen với việc người ta vuốt ve. Nhưng bò không phải là chó. Ôm bò coi chừng nó húc vào mông.

nguồn mithilatoday.com

Còn nhứt định muốn ôm con bò cái vào lòng nhân Ngày lễ tình nhân, các chuyên gia có bằng cấp đầy mình về hành vi của động vật khuyên: “Nên tiếp cận những con vật một cách dịu dàng từ từ, tránh đột ngột. Vì làm bất ngờ, con bò tưởng bị sách nhiễu về tình dục nó đá một cái là không còn một cái răng mà ăn cà ri bánh mì!”

Rồi một chú Bảy cà ri dê chê chánh phủ Ấn Ðộ huỡn quá nên đi làm chuyện ruồi bu, chuyện trời ơi đất hỡi. “Vài tháng trước, hàng ngàn con bò bị bịnh lở mồm long móng, xác chết nằm la liệt ngoài đường mà không có ai chăm sóc cho chúng? Giờ thì mấy ông nội con nít lại xúi đi ôm bò vào Ngày lễ Tình nhân?

Tui cũng thấy làm lạ thiệt! Nằm gác chưn lên trán, tui ráng mà tìm hiểu tại sao ngày 14 tháng 2 không ôm con vợ hoặc con bồ mà lại đi ôm con bò cái? Chắc ẩn ý của Thủ tướng Narendra Modi là muốn cho Ấn Ðộ không bị bùng nổ về dân số tạo thành nạn nhân mãn hay chăng? Ðẻ nhiều quá nuôi sao xuể?

Phản ứng lại với đề nghị vừa lạ, vừa vui nầy người xài mạng xã hội trên toàn thế giới đăng những lời chọc quê cũng vui không kém! Họ chế giễu Bộ Thủy sản, Chăn nuôi và Sản xuất sữa của Ấn Ðộ. Thiên hạ nói hành động ‘tưng tửng’ nầy là một cái quái thai của một nền chính trị dân tộc chủ nghĩa của người Hindu.

Thiết nghĩ, trước khi xúi dân, mấy chánh trị gia cà ri nị nên làm gương, ôm con bò cái trước đi. Ôm xong mà còn hàm răng để ăn bốc cà ri bánh mì thì dân Ấn mới tin. Thủ tướng Narendra Modi bị thiên hạ thọc lét nhột quá nên đã hủy bỏ “Cow Hug Day”. Thiệt là tiếc quá!

ĐXT

Dã Tượng lãnh phong

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 7 May 2022

Dã Tượng lãnh phong

Kiệu gánh đi trong chiều hôm, gần tới Hải Vân quan thì tốc độ dường như có trì trệ lại. Trời xuống sắc nhanh, do địa hình chật chội lối mòn rậm cỏ nên sớm làm nhọ mặt người. Gió vi vu thổi ngang tai, chập chờn bầy đom đóm đâm quờ quạng vào ngàn lau lách, từ đó rỉ rả gửi ra tiếng dế nỉ non nghe bất tận một than van sầu tủi. Âm thanh có khi chứng thực được đôi điều mà bài hát chúng cất lên, không mỏi mệt đó, minh giải cho người nghe hay: chốn này rất đỗi quạnh vắng. Hoang vu là điều ắt có giữa chốn thâm sơn cùng cốc.

Màn che bên hông kiệu được vén mở, giọng một thiếu phụ cất lên, không dấu che chút rối lòng: Chuyện gì đã xẩy ra, sao không dưng ngừng kiệu? Treo cao là vầng trăng lưỡi liềm, mông lung đất trời làm trăng hiện hữu mà chẳng chiếu xuống cái vằng vặc thường hằng. Trăng rằm thì vành vạnh một nét đẹp hiển lộng, mà trăng khuyết tật như thế kia, trông lên, thấy người bất an. Một trong bốn kẻ khiêng kiệu nói: có người bị đá sắc cạnh làm đứt gang bàn chân. Băng bó xong sẽ chóng lên đường. Người giải thích dáng to cao, bụng thắt băng vải điều và dấu cây đao to bảng phía sau lưng. Xem chừng ngoài chức năng là phu kiệu, trung niên nuôi râu rậm rạp nọ còn quán xuyến việc giữ gìn cái an bình cho thiếu phụ ngồi kiệu kia. Nôm na là một hộ vệ, ai rắp tâm chòng ghẹo làm khó dễ người ngọc thì y sẽ án che ngay lập tức, thong thả rút đao ra rồi nói chậm rãi: trước tiên, hãy bước chân qua xác ta. Dĩ nhiên, chưa một ai có thể thực hiện được, bằng chứng là y vẫn sống còn, vẫn ồm ồm giọng nói như lệnh vỡ.

Vì trọng trách nên y gánh kiệu ở đằng trước, phía tay phải. Quan sát động tĩnh, tìm lối đi thích hợp thì chẳng thể đi sau lưng kiệu. Khi tuyển chọn phu khuân vác kiệu, trước tiên họ ngắm tới thể hình, tối thiểu cả bốn đứa phải có thứ vóc vạc tương xứng nhau. Khổ nỗi, tìm cho ra ba kẻ to cao giống y thì giang hồ đã không mọc lên được cái biệt danh Thừa Thiên Độc Báo. Thương hiệu đó cả gầm trời này chỉ mình y thủ đắc. Người ta xưng tụng y và y cũng chả thèm cải chính, rộng lòng mà khoác vào, tròng ngoài cái tên cúng cơm cha sinh mẹ đẻ đã mỗi ngày một phai nhạt đi. Một con báo cô đơn, ngoài sức vóc uy dũng e báo nọ cũng sầu muộn với cái lẻ loi. Y cô độc. Một kẻ đơn thân ắt luôn sống chung với lủi thủi, lâu ngày biến chứng thành lầm lì, ghẻ lạnh với mọi hoạt náo vây bọc. Y với thanh đao dắt lưng thảy giống nhau, ở cái im tiếng đáng gờm. Để yên vậy, đừng làm cho nó phải phát tiếng, nó xé gió rít lên thì hậu quả thật khó lường.

Đào Dung sơn trang đã mời y, trao nhiều ngân lượng để đảm bảo chuyến đi suông sẻ. Thừa Thiên Độc Báo ưng thuận khi ngó ra khuôn mặt thiếu phụ. Một rương báu vật nhờ chuyển tải thì nên tính toan, chứ gánh thứ mình hạc xương mai kia qua bao đèo cao suối cả thì chối từ là điều thấp trí của bọn phàm phu tục tử. Người xuất thân từ Đào Dung sơn trang nên mỗi di động đều chờn vờn quanh quẩn một hương mùi dễ làm mê hoặc. Không đợi mùa xuân, hoa anh đào vẫn nở rộ cả khoảng sân, sáng ngời một góc trời khi thiếu phụ di hài bước chân vào kiệu. Phần việc của y chẳng thể nhiễu sự đâm lời gạn hỏi, thành ra y không hề biết xuất xứ “món hàng” mà y chịu trách nhiệm phải thồ đi. Phu nhân của trang chủ? Ngọc nữ của nhị vị gầy dựng sơn trang? Tịnh khẩu như bình là cái mà người nhờ cậy luôn yên bụng. Khi người ta tìm đối tượng để trao việc, một trong những điều tâm đắc là kẻ nọ chẳng phải phường lắm chuyện, tra cái này khảo cái nọ, gặng hỏi lý do, bép xép mồm miệng ăn nói linh tinh dễ gây rách việc. Tóm tắc, Thừa Thiên Độc Báo chính là kẻ độc nhất vô nhị gây được cho Đào Dung trang chủ cái sự cố ăn ngon ngủ yên, khoanh tay ngồi đợi tin vui từ chốn xa gửi về.

Kiệu nhấc lên, chuẩn bị đi hết dặm trường giữa khuya lạnh. Ba canh giờ nữa sẽ tới trấn Dã Tượng, rượu thịt ê hề ở tửu điếm đang đón đợi, các bằng hữu hãy cố sức. Thừa Thiên Độc Báo tuyên bố, y muốn gieo chút sức mạnh cho ba gã kia. Đi đường xa, có người vẽ ra một đích tới sung túc ấm lòng dường ấy há chẳng phải là điều đáng tuyên dương sao? Tiếc thay y là đứa quen ngậm miệng, phát ngôn những lúc cần, chỉ có thế.

Qua khỏi một rẻo núi, đường hẹp đang đi đụng ngay con lộ lớn vắt thân xẻ ngang. Lớn, do bởi cây cối đều bị đốn phạt, khai quang, khoảng khoát tầm nhìn. Có vẻ là đường huyết mạch nối liền liên tỉnh lộ nên đất đá bằng phẳng, giã từ cái mấp mô chông chênh của mọi lối mòn thưa dấu chân người. Ở đây gió lộng, chập chờn những ánh đuốc soi tỏ khi gần khi xa. Các người có thể tạm nghỉ chân nếu bắt gặp hàng quán, ta quả áy náy khi ngồi êm mà nghe hơi thở nặng nhọc của các vị. Thiếu phụ nói vọng ra. Dẫu sao người bị thương ở bàn chân cũng nên tìm nơi băng bó lại.

Hàng quán chưa thấy đâu, từ đàng xa đã có một toán người chạy vội lại. Kẻ dẫn đầu đứng án lối, dường như muốn cản đường. Xin hỏi có đúng là kiệu phát xuất từ Đào Dung sơn trang? Thừa Thiên Độc Báo quét tia nhìn chẳng mấy thiện cảm, xem chừng y là người đủ tư cách để lên giọng: Phải thì sao mà không phải thì sao? Y ra dấu để cùng lúc bốn đứa nghiêng vai hạ chiếc kiệu xuống. Y muốn rãnh tay để có thể đối phó với bất trắc. Nếu đúng thì bọn tại hạ có lời thỉnh cầu. Vùng đất này cũng tựa như bản địa, bọn tại hạ sẽ thay huynh đảm nhiệm việc đưa người ở đoạn cuối. Kẻ ấy nói, vừa ngó Thừa Thiên Độc Báo vừa đảo mắt tới kiệu. Màn vẫn buông che nhưng tấm vải kia không đậy được xuất xứ, ấy là một cánh hoa đào thêu chỉ trắng trên nền vải đen trông rất sống động. Phù hiệu kia trong chu vi trăm dặm ai cũng tường, chỉ có mù mới không nhìn ra nhãn hiệu cầu chứng của Đào Dung sơn trang. Thừa Thiên Độc Báo nhẩm đếm đám người án lối, bộ dạng chúng xớn xác như quen làm chuyện vụng trộm, bất chính. Y dõng dạc: Lời đề nghị của các hạ nghe ra chẳng thuận nhĩ. Tại hạ có trách nhiệm phải mang người tới đích mới được quyền quay gót, đón đường cách này thì e là lối hành xử của thảo khấu?

Người kia phát ra tràng cười: Thế nào là thảo khấu? Giang hồ giờ này còn ai là hạng chính nhân quân tử? Muốn thành sự phải mang hạ sách ra thôi. Quan đầu tỉnh đã giao việc cho bọn ta, ấy là mang vị cô nương kia kíp về chốn công đường, mọi cản trở sẽ bị san bằng. Những hung khí đều lộ diện sau câu nói, lăm le đe dọa siết vòng, nhắm duy đối tượng to cao mà thu ngắn cự ly. Thừa Thiên Độc Báo ngắm trùng vây cất tiếng hồ đồ: Đã là người của quan phủ sao lại ăn vận tựa phường hắc bạch. Giấy má đâu, lệnh lạc đâu, minh bạch trình ra thì ta sẽ xuôi tay cho êm vấn nạn. Làm căng quá thì tình hình sẽ chẳng được cải thiện mảy may.

Đánh. Kẻ kia chỉ hô một tiếng, tựa hồ chỉ có động thủ mới giải quyết thôi, nói năng vừa dài dòng vừa lôi thôi vừa không hợp nhẽ. Cả vú mà lấp miệng em, xưa nay là cách làm của kẻ thế lực. Thừa Thiên Độc Báo rút đao ra, tạo lập được một nhãn hiệu dán vào thân điều ấy chẳng phải một sớm một chiều mà có được. Đao pháp của y, bản tính của y chứng thực chuyện đó không hề là lời đồn thổi. Muốn y phải buông đao e phải huy động thêm người. Cuộc thảm sát đi ngoài dự liệu do bởi người ta đã hiểu sai về Thừa Thiên Độc Báo. Hoặc chỉ mình Đào Dung trang chủ là có biệt nhãn nhìn người. Binh khí loảng xoảng rơi rụng dần, bọn người kia đành ôm thương tật mà tìm đường chạy lui, chạy trong hoảng loạn như vùng tỉnh thức từ một mê muội chiêm bao.

Cánh hoa thêu lay động, màn kiệu vén mở, những ngón tay nuột nà trắng muốt nắm giữ vải đen. Sao rồi, các hạ có bị thương tích không? Giọng nói xem ra chẳng dấu đi chút quan hoài lo âu. Người Thừa Thiên Độc Báo có vây máu, nhưng máu nọ chẳng phải của y. Và nếu bị đao kiếm vô tình làm cho trầy vi tróc vảy, y cũng an lòng khi nghe được câu hỏi ân cần kia. Suốt đời bôn ba, y chưa hề tiếp cận một nữ nhân. Lại nữa người ngọc có vai vế kia tỏ ra dịu dàng quá làm y đón nhận một cảm giác mới lạ. Rung động. Tình hình này tựa như lỡ bứt dây làm động rừng, bọn chúng không dễ buông tha, sẽ tìm thêm vây cánh. Ta thật ái ngại cho mệnh hệ của các hạ. Hay là chúng ta phá hủy kiệu đi, chúng ta cải trang biến đổi thân phận để mong thoát khỏi mắt cú vọ. Tạm thời chỉ còn có phương cách ấy thôi. Tiếng nói nhẹ trỗi, hương hoa lây lất rời thoát chỗ ngồi.

Cung kính không bằng phụng mạng, đứa ít nói như Thừa Thiên Độc Báo cũng phải thốt ra đôi câu. Y ôm vai những phu kiệu nói lời từ giã, hãy gánh kiệu không trở về tìm vực thẳm mà thủ tiêu, các vị không nên dấn sâu vào hiểm nguy, để ta đóng vai nông dân đi cùng cô nương này tới nơi tới chốn. Xin bảo trọng. Nghe như cởi tấc lòng, ba gã phu đoản trí không hẹn mà cùng hộc tốc quay gót như thể nhớ nhà quắt quay. Áp tải một xe đầy ắp ngân lượng hóa ra còn an toàn hơn thồ tải một bóng dáng nữ nhân. Nhi nữ thường tình, ai đã thốt nên câu ấy? Một cô con gái đẹp, thủy chung luôn còn đó cái gieo rắc bao nhiễu sự, gây tai ương chết người. Mang hạnh phúc tới cho tha nhân và cũng có khi chính họ cướp đi mạng sống của đứa ưa lân la kề cận.

Với thuật hóa trang có đẳng cấp của Đào Dung ngọc nữ, hai người nhìn nhau không dấu che được nụ cười. Cái dữ tợn của một con báo trở thành ngây ngô hiền lành như cừu thuần thục bầy đàn, trong khi vẻ diễm lệ đài các làm nức lòng kia lại biến dạng nên đứa mục đồng ngơ ngáo lạc chân giữa phố thị. Cả hai tìm được một quán ăn dựng bên triền lộ kiếm thức dằn bụng. Họ ngồi vào chỗ sáng đèn nhất bởi họ hiểu tâm lý kẻ trốn chạy thường lẫn trốn vào bóng tối và họ có thể đánh lừa bọn chuyên đi lùng sục “tội phạm”. Có tật thì giật mình. Tìm nơi lộ liễu mà an tọa thì cũng là cách thấu cáy, đánh cuộc với rủi may. Y gọi một món ăn cay nồng ướp tẩm thật nhiều hương liệu bởi y mong mùi vị kia sẽ ngát tỏa, che chắn bớt cái hương hoa đằm thắm từ người vị cô nương mãi dịu dàng tỏa lan. Không thể dằn lòng y đưa ra nghi vấn: Đào Dung sơn trang có gây sức mẻ tị hiềm cho một thế lực nào không? Sao đêm hôm chúng đón đường rắp tâm vây bắt người? Ta cũng tự hỏi thầm như thế mà chưa được rõ rệt một đáp án. Thú thật chuyến xuất ngoại này ta muốn đến dự tang lễ thân phụ của một người bạn. Đan Kinh tiên sinh chuyên viết sách đạo đức, trước dạy chữ ở Quốc tử giám, nghỉ hưu chẳng lâu thì bị đột tử, cái chết ám muội ấy làm giang hồ dấy lên lời đồn do cương trực khí khái nên triều đình buộc phải khử trừ đi. Cây ngay chẳng sợ gió mà gió lúc này thì đang hung bạo thổi gây thiên tai. Ta nghe phong thanh người quyền lực ra chỉ thị, rằng đám tang phải cử hành trong kín tiếng, ít kẻ phúng điếu. Lại nữa bạn ta cũng đang gặp rắc rối, bị quy chụp có liên hệ linh tinh với thành phần bất hảo ở ngoại biên. Quy ra, chúng cũng xem ta là đồng bọn, bạn của kẻ thù thì chẳng khác gì phường cứng đầu nguy hiểm cần tập trung giáo dục cải tạo. Chẳng biết ta luận việc có đúng không?

Đang ăn, có kẻ bộ tịch như quá chén đi quàng xiên lại gần, tay cầm cốc rượu mà tự động kéo ghế ngồi xuống chung bàn. Đường đột này xin bỏ qua cho, trước tiên ta xin được ngỏ lời khen thủ thuật biến đổi dung mạo của Đào Dung ngọc nữ, ta cũng ngợi ca sự can trường của Thừa Thiên Độc Báo. Ấy, chớ hoảng hốt, ngoại hiệu của tại hạ là Tam Nhãn hiệu đính, suốt cuộc lữ vẫn khinh khoái mong kết giao bằng hữu với kẻ hiền tài. Tại hạ có nhấp rượu qua chút đỉnh nhưng luôn sáng suốt khi phát ngôn. Nào, tại hạ có luồng thông tin này chẳng hay nhị vị có hứng thú để nghe? Trung niên tóc dài dáng vẻ bụi bặm kia tợp hết cốc rượu rồi úp miệng cốc xuống mặt bàn. Nguồn tin mật có thể đánh đổi được nhiều ngân lượng nhưng tại hạ trời sanh vốn là kẻ chẳng hám tiền. Một vò rượu mang ra trao đổi, có đặng chăng? Trung niên ngửa mặt lên: “Em ơi lửa tắt bình khô rượu, đời vắng em rồi say với ai?”* Than van, mặt ra chiều u ẩn giam nhiều tâm sự. Thần sắc nọ luôn đi cùng với kẻ rượu uống mềm môi nhưng say khước là điều bất khả.

Khi hành tích đã bị lộ, đứa phát hiện chẳng những không la toáng tiếng tri hô mà còn chậm rãi bán mua một lượng thông tin với giá cực rẻ. Khi chân tướng đã phơi bày mà còn được gạ nghe một mật báo thì nguồn tin kia hẳn phải thuộc loại chí tử, liên hệ tới nỗi an nguy. Một vò rượu, so ra chỉ cốt làm người ta tạm rời xa sự ưu phiền, lúy túy quên thực tại nhiều ung nhọt; trong mọi tình huống, rượu chẳng bao giờ đắt đỏ cả. Dĩ nhiên Thừa Thiên Độc Báo thay mặt Đào Dung ngọc nữ mà thò tay vào túi áo moi ra bốn đỉnh bạc, nhẹ nhàng đặt xuống bàn. Chỉ cử động, y muôn đời là đứa tịnh khẩu như bình. Làm thinh là bí quyết của sự trường tồn, sắp cao vị thế hơn hạng người quen uốn cong lưng chìu lòn nhẫn nhục. Xưa nay Thừa Thiên Độc Báo chưa hề biết cong lưng. Y không nói, y dành thời gian để suy gẫm cân nhắc trước mỗi một khai đao. Hiện tại, y ngậm miệng vòng tay chờ đón hung tin. Điềm xấu chẳng gõ cửa số mạng, y đoán vậy, và quả có đúng. Tam Nhãn hiệu đính nhặt bốn đỉnh bạc, mặt chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Táng Địa là tên gọi của một đại gia có thế lực, hắn vừa gióng tiếng là nuôi mộng được ngủ với Đào Dung ngọc nữ một đêm, ai mang sắc nước thuyền quyên tới trao vào tay hắn kẻ ấy tức khắc làm chủ được mươi lạng vàng. Tam Nhãn hiệu đính đứng lên: Rượu, e lúc này cô nương nên say cùng tại hạ, để hiểu rõ về lang sói và cái bất hạnh trớ trêu của người mang vẻ đẹp khó lường nơi tấm thân lụa là trời đã độ trì gia ơn.

Vì có hóa trang nên thần sắc Đào Dung ngọc nữ không thể hiển lộ, tuy vậy Thừa Thiên Độc Báo nhìn ra đôi bàn tay nọ cứ mãi run lên. Ngọc nữ khan tiếng: Đã đến nước này thì rõ là họa vô đơn chí, chắc các hạ nên rời đi mau, chẳng việc gì vô cớ gông ngoài đường lại tròng vào cổ. Thấy nguy nan mà lẫn trốn, đưa người chưa tới cuối đường mà đào tẩu thì chẳng phải cách làm của tại hạ. Xem ra cô nương đã xem thường Độc Báo này rồi! Ngọc Nữ đổi thế ngồi, cố giữ bình tĩnh. Chúng ta đên đổi cách xưng hô để che mắt thiên hạ, lại nữa con người của huynh khiến muội phải thật lòng mang ơn. Nếu đường đi thông suốt, chúng ta thắp nhang lạy tạ trời đất một phen, tắm giũ sạch bụi đường mà kết giao huynh muội, hoặc thứ tình nào đó vượt ngoài sự hiểu thông tục. Huynh bằng lòng nhé, bởi số phần đã khiến muội gặp được huynh, không có Độc Báo đi cùng, an nguy của Ngọc nữ này khác gì cá nằm trên thớt.

Họ trả tiền rời quán. Đi suốt đêm là chuyện không nên, lành ít dữ nhiều, ta tìm lữ điếm mướn phòng trú ngụ qua đêm, có thuận không? Dĩ nhiên là y nghe theo vì đấy cũng là ý nghĩ vừa thoáng hiện trong trí y nhưng y chưa tìm được lời đề nghị nghe thỏa đáng. Sương xuống nhiều và gió đi hoang đàng giữa con lộ trống. Trong gió cuốn, vẳng từ xa lại gần tiếng vó câu hối thúc phi nhanh. Bốn kỵ mã ghì cương kềm giữ tốc độ khi nhát thấy bóng người. Họ cho ngựa thủng thẳng đi quanh, tuồng muốn nhận diện lão nông dân ôm bọc hành trang đứng cúi đầu. Một kẻ thì chú mục quang tới người thấp bé còn lại, tia nhìn như muốn lột trần bóc vỏ. Cả bốn cùng xuống ngựa, soi mói.
Hừ, xét thể hình thì khó ai có được dáng dấp giống như Thừa Thiên Độc Báo. Và nếu ta có thốt lời không phải thì nhị vị bỏ qua cho, ấy là ta vắng đàn bà con gái đã lâu nên mũi ta rất bén nhạy ghiền nhớ. Đào Dung ngọc nữ, cô giỏi hóa trang nhưng cô quên dầm thân trong bùn đất để triệt tiêu hương mùi. Thừa Thiên Độc Báo, lý ra ngươi nên dùng đao chặt ngắn bớt đôi chân. Ngoại hình nhà ngươi đã tố cáo rõ, vứt bỏ dáng điệu nhà quê vụng về kia đi. Không ngờ đại trượng phu một sớm một chiều phải nghe theo xúi dục để đóng vai kẻ thấp hèn, ngươi há chẳng đau lòng sao?

Bốn tên sau khi đã xác định được mục tiêu, dàn ngay thế trận đông tây nam bắc vây hai con mồi lại. Tên nắm trường kiếm nói: Việc này không liên quan đến Thừa Thiên Độc Báo, ngươi chớ nên phí sức nấn ná hiện trường, bọn ta có lệnh chỉ riêng thỉnh Đào Dung ngọc nữ thôi, quyết không làm cành vàng lá ngọc rụng đi một cọng tóc.

Lầm lì là bản chất của con người mang hỗn danh Thừa Thiên Độc Báo, y lẳng lặng vứt bỏ bọc vải thu dấu con đao làm nên thân phận y. Mười năm nay y sống còn, tạo dựng riêng một tiếng tăm cũng thảy nhờ vào cây đao. Cũng có thể bảo, nếu đao đoạn lìa khỏi tay, giang hồ sẽ chôn luôn một tên tuổi, có không ít phường ám muội xem đó là một tin vui, một ăn ngon ngủ yên khi kẻ chuyên hành sử theo công đạo một hôm nào nhắm mắt xuôi tay. Ngày ấy ắt hẳn chưa phải là hôm nay, ngoại trừ… ngoại trừ bốn sát thủ kia võ công thuộc loại thượng thừa. Y từ tốn cởi hết những thứ dùng để hóa trang, y chậm rãi bước, mang vóc vạc lực lưỡng án che cho người đồng hành. Xin an tâm, huynh còn thở thì trái tim ấy còn thắt thỏm đập cho nỗi an nguy của muội. Y nói, riêng cho Ngọc nữ nghe. Người nghe ra, mềm lòng chìm đắm trong ý thức, quả người ấy đã vì ta mà xả thân. Than ôi, sinh ra ta là cha mẹ ta mà người nguyện chết cho ta chính là huynh vậy!

Đao chĩa mũi xuống đất, thân người và tứ chi thảy đều buông thả như tĩnh tâm xem thường mọi hung hiểm. Bản chất của người nắm vũ khí, quan trọng trước tiên là phải biết kềm giữ mình, thắng được những tạp niệm dồn lên tự bản thân mới mong khắc chế được những loạn đả từ đối phương. Biết người biết ta trăm trận trăm thắng cũng đồng dạng một phương án. Thừa Thiên Độc Báo đứng chôn chân, trầm mặc tựa một cây tùng bình lặng trước gió chướng. Một họa sĩ khởi nghiệp bao giờ cũng ham hố nhúng cọ vào lắm màu, tham lam bày biện nhiều vật thể đến chật cứng tấm tranh; sự thành danh đến khi họ đã nghiệm ra vẻ đẹp thường chỉ cô đọng vào cái đơn giản, những nét không liền lạc và dung dị nằm trong chiều kích bát ngát buông rời của một thứ gì thoạt nhìn như chưa hoàn tất. Tương truyền một người vẽ cọp sợ chẳng dám điểm nhãn khi hoàn tất vì ngại cọp sẽ phóng ra khỏi bức tranh e cũng nằm trong cái đạo lý ấy. Thừa Thiên Độc Báo sử dụng đao pháp của y cũng thuần nghiêng về sự giản đơn, điều hòa hơi thở và tiết kiệm một hoành đao, chẳng phí sức. Y không muốn giết người, do vậy đường đao đi thường nằm ngoài dự tưởng của đối phương. Chiến thắng, nếu tạm gọi vậy, thì y luôn thu đao trước sự ngỡ ngàng gần như bàng hoàng chết điếng của địch thủ.

Nhưng tất thảy chỉ là giáo điều, lâm trận thì thực thể lại bày ra nhiều khúc mắc mà xét đơn sơ chính là nguyên tắc của cán cân sai lệch. Một chọi bốn mà cả bốn mang nặng tà tâm, hiểm độc trùng vây mỗi một vung tay là sát khí ràn rụa những mong kết liễu mạng người. Cả bốn quen vui với máu đổ, cả bốn xem cái nhăn nhó của nạn nhân luôn mang đến niềm vui cho chính mình. Đời khi đó là bể máu, chứ chưa thuần khiết đời là bể khổ. Chủ nhân trao ngân lượng cho ta mà sứ mạng không thành thì chữ khổ chính là phút cúi đầu hối hận ấy.

Hơi thở bắt đầu rối loạn, Thừa Thiên Độc Báo biết cuộc diện hôm nay không trùng lẫn với những giao tranh có từ trước, bởi ngoài chống đỡ cái liên thủ tấn công của bốn kẻ khát máu, y còn để mắt đèo bồng tới mệnh hệ một nữ nhân tay yếu chân mềm đứng với nỗi xiêu lạc hồn phách. Có thể xem, một mình mà y phải gánh đỡ, chống chọi những năm nhân mạng. Năm chứ không phải bốn. Đường đao đi hơi sai lạc và sát na kia ập tới chóng vánh. Máu đã đổ, đường kiếm ngọt tới độ y không nhận ra nỗi đau phát xuất từ vùng da thịt nào. Bên kia, ba kẻ cũng chống gươm mà thắt thỏm chuẩn bị hồn về chín suối. Tai y đón nghe một âm thanh vừa bùng vỡ, tiếng kêu than trầm thống của đứa em gái chưa kịp kết nghĩa. Ngọc nữ chạy tới ôm vai y mà lay liên hồi kỳ trận. Đừng nhắm mắt, hãy mở to mắt ra… Đừng ngừng nhịp tim, chớ thoi thóp… Y đón nhận một giọt lệ nóng vừa vỡ ra trên mặt y. Liếm láp, y còn nhận biết cái vị mặn muôn đời của nước mắt người thân. Sức cùng lực kiệt, y muốn nhấc tay để vén mái tóc dài rối kia nhưng tấm thân nghe lạnh tựa đóng băng. Ngọc nữ tìm tay y, chẳng phải muốn siết chặt lần cuối mà dụng ý chỉ mong cầm lên được thanh đao dầy nặng. Thanh đao nọ chỉ chuyên tìm kẻ giảo hoạt mà xử nếu nó còn nằm trong tay y, tiếc thay có khi, vào lúc cuối đời, y ngó ra đao ấy đã xuyên vào bụng Ngọc nữ. Bằng cái gượng sức cực kỳ khó khăn Ngọc nữ bặm môi dùng hai tay ngoáy sâu khơi rộng cho máu mình dễ thoát trào. Hoàn toàn, Đào Dung ngọc nữ chẳng muốn thân thể lành lặn để rơi nhục vào tay đại gia háo sắc cưỡng đoạt.

Ngọc nữ đổ mình xuống thi thể Thừa Thiên Độc Báo, máu hòa máu âm dương hòa quyện trôi xuống suối vàng. Trấn Dã Tượng khuya ấy trời nổi gió, sao giăng mờ mịt. Người đời sau truyền tụng, vào tiết lập xuân, đêm hôm thanh vắng, cửa nẻo khóa chặt, dân cư trong vùng mãi nghe tiếng cười của hai giọng nam nữ đuổi bắt nhau trên những chùm lá cây luôn rung động.
Tiếng cười nghe không rợn da nổi hột ám chướng ma quái, người dân an nhiên vùi sâu giấc mộng vì họ tin, tiếng cười nọ biểu tượng cho cái hân hoan của một chiến thắng. Dân tùy hỉ quyên góp tiền nong để lập dựng miễu thờ. Họ thuật chuyện: Ngày xưa có vị anh hùng chuyên trừ khử bọn cường hào ác bá do chính quyền mông muội nuôi dưỡng. Yêu muộn một người nữ quyên sinh cốt giữ sự thanh bạch và muôn đời, tiếng cười là chứng tích của một đấu tranh đã thành đạt.

Họ thêm thắt: Đời xưa là tấm gương mà con cháu đời nay luôn phải soi mặt để hổ thẹn tự gẫm, cớ sao mỗi lúc chúng ta lại càng tụt hậu, thua kém, oan khiên?

Hồ Đình Nghiêm
8.3. Lạc điệu ngày Phụ nữ quốc tế.

Dạ hành

Hồ Đình Nghiêm

Dạ hành

Hồ Đình Nghiêm

Qua khỏi ruộng bắp xác xơ chen lấn cùng lau sậy run rẩy là khoảng trống mở rộng, thoáng ngợp mặt sông. Nước mấp mé bờ, đen thẩm, hứng đọng những nguồn sáng từ thôn ổ bên kia bờ hắt lại, mặt xao động, để những tia lửa kia dật dờ lướt trôi, vụn vỡ. Trong gió hiếm, ngắt rời từng lúc mùi tanh của rong rêu lá mục thoảng qua. Trong thinh không có tiếng ai hát nhát gừng, vọng khuất bên miếu hoang gần cây đa già tuổi. Rã rời, ai oán, như tâm sự chỉ ký gửi riêng cho trời nước gió mây. Thê thiết! Chiều đã chết, đêm đã tới, nhưng hấp hối chút tịch dương để trông ra hình thù một con đò chòng chành mái đẩy. Từ xa lại gần. Kẻ chèo đò ốm, bóng đen còm cỏi cong lưng khắc họa hình dáng một lão trượng. Tuyệt không một âm thanh, như tịch lặng là thứ thường chiếm ngự cõi miền này.

Đò cập bến, đầu mũi có vẽ hai con mắt mở trừng tả hữu. Mắt người, thú vật hay thần thánh? Chỉ biết đó là mắt, một con mắt lớn với nét vẽ vụng. Con mắt chẳng bao giờ nhắm lại kia thoáng rung lên khi đò ủi ngọt vào lùm cây bụi cỏ. Sột soạt những vết cứa vào gỗ và dập dồn tràn dâng tiếng nước chao sóng khuấy động, mũi đò đã phơi lên bờ.

Tôi muốn sang sông. Ông có phải là kẻ đưa người quá giang? Hãy bước lên đò, chính là lão đây. Đò không mui, bắt hai thanh gỗ dài như thể cho khách ngồi. Phía sau có đặt bếp lửa, củi cháy gần tàn đốm lửa mọn và bên trên đặt để một cái ấm đen đủi lọ nồi. Mùi củi lửa bao giờ cũng làm ấm lòng, ít ra nó chứng thực được một sự sống. Kẻ đói sẽ sắp được húp tí cháo, đứa khát sẽ được ngụm nước nóng, nước chè nước vối nước trà hoặc cà phê bít tất. Củi lửa nguội lạnh luôn tượng trưng điều bất thường. Biết thế, nhưng nỗi cô quạnh đang phủ chụp quanh đây trông chẳng bình thường chút nào. Người quá giang buột phải mở miệng: Sao tiêu điều thế này? Sao chúng sinh chẳng có một ai? Lão lái đò vấn điếu thuốc to một cách kỳ cục, lè lưỡi liếm, cắm vào môi rồi thò tay nhặt lên một que củi vấn vương khói xanh. Bặp, bặp, má hóp cho tới hồi nhìn ra một hòn than đỏ trước mũi. Lão nhổ nước giãi xuống mặt sông: In tuồng anh từ chốn xa về? Bên làng kia đang có một đám cưới lớn, loan báo rậm rật sửa soạn cả tuần nay, bá tánh lần lượt quần tụ chung vui, vậy thì tịch liêu chốn này là điều ắt phải có.

Bao giờ thì chúng ta qua sông? Lão già hắng giọng khi nghe người khách đi đò hỏi. Hút thuốc là cách ngồi trông chờ khách, chỉ hai ta thì có lãng phí không? Đêm hôm, tui thực không muốn ai kia chậm chân phải chịu thúc thủ bên bờ để than vãn qua sông lụy đò. Có thêm bạn đồng hành không khiến anh vui sao?

Người thanh niên ôm chặt cái túi vải vào lòng như dấu che sự bồn chồn, đưa mắt dọ tìm vào khoảng tối bưng mong nhìn ra một nhân dạng. Hai ba càng tốt, điều ấy khiến lão già nầy sớm quày quả quay mũi đò trực chỉ cái miễu hoang giữa lằn ranh đang gần trở thành ảo giác hư thực. Mặt sông dật dờ hứng nhiều khói tỏa, cũng có thể chính nó sản sinh ra thứ sương mù trì trệ kia. Thuốc mà ông lái đò hút rất hôi, như thể ông đã bức hái kỳ hoa dị thảo để vấn đốt. Ém khói vào lồng ngực chẳng phải cái độc tố của sợi thuốc vàng như con người hằng cảnh tỉnh đe nẹt. Ông ném thứ hôi hám kia đi khi nhát thấy một đôi nam nữ lần lượt dạng chân leo lên đò. Họ ăn mặc lụa là, điệu đàng dù tay xách dép tay túm ống quần. Rõ ràng ra đường họ có chăm chút chỉnh chu y phục, dù về quê, dù tăm tối vùng miền chưa có ánh điện thắp. Bắp chân trần người thiếu nữ trắng toát giữa bóng đêm, dễ khêu gợi lũ muỗi khát máu, cũng có thể làm chúng phải hoảng lên vì nó quá trắng, trắng đến hoa mắt rối bời mục tiêu. Khi yên vị trên băng gỗ cô mới buông hai ống quần sợ lấm lem xuống. Dưới lườn đò đọng vũng chút nước, sóng sánh phản chiếu một phần dáng vẻ đài cát của vị khách ái ngại chuyện nước nôi. Cô nói với cậu thanh niên đồng hành: Mạng anh là trường lưu thủy phải không? Em thì thiên thượng hỏa. Em thực không thích thú chuyện quá giang. Đứa con trai cười hền hệch, đưa tay nắm lấy những ngón suông có chuốc sơn đỏ, điệu bộ cưng chìu tình nhân: Ậy, em nói sao a chứ. Em sợ nước à? Vậy tại sao đôi ta mãi như loài sam xoắn xít. Nước hiền lắm em à. Anh thì rất ngán lửa em ạ. Chọc cho lửa bốc lên thì có làm Thủy tinh cũng chẳng đủ nước mà tưới, hạ hỏa.

Hai đứa cười, ôm eo bẹo má xem thường kẻ bàng quan. Đò rục rịch chao đảo rời bến. Lỏm bỏm tiếng nước bị khoắng, nghe được mũi đò xẻ rách dòng sông và tiếng thở nặng nhọc của ông già lèo lái. Vợ đâu con đâu em đâu cháu đâu, sao không ai phụ đỡ thân già một tay? Sao thời buổi này lại mọc lên một chân dung hệt như trong truyện cổ tích. Một thứ bóng thầm lặng trút đổ xuống sông bao điều khuất tất. Để cam chịu lắng nghe bao nỗi niềm của những kẻ do hoàn cảnh phải nương nhờ đò mà quá giang, nối lại bến bờ cách trở. Nhỡ như có đứa kề dao vào cổ hối thúc phải nhanh tay chèo thì sức cùng lực cạn kia e chẳng thực thi đúng với yêu sách bất nhân. Mẹ kiếp thân già mà chả chịu lượng sức, dục tốc bất đạt thì chẳng phải là thứ phương ngữ đúng đắn để mang ra lên giọng phân bua. Chết! Uy hiếp một ông cụ hom hem để mau lẹ mang người về chốn cũ e là một hạ sách. Dúi vào tay một nạm tiền đút lót thì cải thiện chút đỉnh tình hình, nhưng thủy chung vận tốc con đò cổ lỗ cũng chỉ đi nhanh ngần ấy giới hạn bởi đơn độc một mái đẩy.

Anh coi chừng đánh rơi phong bì. Cô thiếu nữ ngó tình nhân. Mặt sông thoáng rộng không làm vơi thứ hương mùi mãi ám vào thân cô Thứ hương chắt lọc từ ngàn loài hoa biến thành tinh dầu cô đọng. Cô xức làm đêm tối mang thêm chút mộng mị, làm sững im một khoảng không và như khiến con đò nặng nề trôi chậm lại. Em an tâm, mà ngộ nhỡ phải đi mạng không, cái đứa làm chú rể kia cũng rạng rỡ chẳng lấy làm điều khi ngó thấy mặt anh. Quan trọng vậy á? À há, mai sau chúng ta thành hôn nó cũng có quyền đi tay không để đáp lễ. Liên hệ của bọn anh không thể lung lay do cớ sự đồng tiền can dự, gây rối. Nhưng mà… Anh hiểu, ý em muốn nói tới thủ tục? Ừ, mình chẳng phải hạng khố rách áo ôm, phải tỏ ra chút gì ngó cho đặng, khác phường túi áo giá cơm. Đường bệ, sòng phẳng là thứ em luôn coi trọng. Em nói cũng hạp bụng anh! Làm việc thì chớ nên đẻ ra tiếng ong ve. Mà này, bạn em nói cuộc tình họ có điều gì không phải, lấn cấn. Tại sao họ không trình làng ngày trọng đại ở chốn phồn hoa đô hội mà kín tiếng tổ chức nơi sơn cùng thủy tận này? Thứ nhất, vì hạnh phúc dài lâu họ thành tâm lắng nghe lời thầy bói, thứ hai làng quê bên sông có nội ngoại ông bà tổ tiên của thằng rể, nó chơi vậy thì ai nở lòng trách cứ. Chưa kể hội hè đình đám tiêu pha siêu khủng ở thôn xóm thì so ra chẳng thấm vào đâu nếu mần rình rang ở thành thị. Nó đầu tư chất xám luận chuyện hơn thua so bì dữ lắm đó em.

Cô thiếu nữ hướng mặt về đích tới mông lung, tứ bề vắng tẻ dợn sóng, cô gióng tiếng: Ông à, được nửa đường chưa? Người lái đò chậm lụt đáp trả: Cơ khổ, qua sông mới được một phần ba, nước có khi cũng tráo trở chảy ngược, biết làm sao hơn! Chỉ có mình ông lao động chuyện này thôi? Chúng cháu chả thấy một con đò nào khác lai vãng! Cô ạ, cả thảy chúng tôi có được sáu chiếc, người ta đã bỏ tiền thuê bao năm con đò kia rồi, nếu tôi còn sung, nếu đò tôi có mui tử tế thì không khéo thằng già này cũng xung công vào chuyện rước dâu đưa khách tiệc tùng đình đám kia từ khuya! Nói cô bỏ lỗi, tôi cũng chẳng ham muốn hợp đồng béo bở kia, tôi quan ngại tới những kẻ sớm tối đầu bù tóc rối có công chuyện phải giao lưu bên kia sông. Trưng dụng hết thứ phương tiện này thì cũng tội cho họ quá. Cũng tựa như ai kia nỡ lạnh lùng giật sập cây cầu cắt đứt giao thông. Ông có biết gia đình phía đàng trai không? Chút chút, họ thuộc thành phần mới phất sau này, từ nghèo chuyển đổi sang giàu tợ như ngủ qua một giấc chiêm bao nên họ mạnh bạo vung tiền ăn chơi không sợ mưa rơi. Tui chẳng thích chữ đại gia, chẳng qua bôn ba không bằng thời vận, thế thôi. Ôi! Số kiếp…

Cụ nói đúng đấy, ngay cả chó cũng có số phần định đoạt. Sao có con tắt thở nằm trên bàn nhậu, sao có con ghẻ lỡ đầy mình chạy rong bạ đâu sủa đấy, sao lại có con được ăn sung mặc sướng nhà cao cửa rộng luôn được chủ nhân ôm ấp vào lòng, lại khai sinh tên Tây mà gọi cho chúng lé mắt. Heo cũng thế, sao có con ủn ỉn rúc đầu vào cám dơ dáy bẩn thỉu mang bệnh lở mồm long móng, sao có con sạch sẽ uy dũng tối ngày được dắt đi cứ đè heo cái mà lắc lia lắc lịa?

Thằng tình nhân ho khan: Em liên hệ hơi bị linh tinh rồi đấy, hơi bị duy tâm.
Anh nói sao? Hãy chỉ cho em xem một thằng người duy vật còn tại thế xem nào. Muốn tìm xác con em chết trong chiến tranh người ta phải đi chầu chực sự giúp đỡ của những nhà ngoại cảm. Công an muốn phá án phải mua hương đèn nhờ mấy cô mụ lên đồng. Xây dựng cơ quan nhà nước phải đi tìm thầy phong thủy định hướng. Hừ, duy vật với vô thần? Nhờ anh tí! Cho em xin!

Thằng bồ ngồi rụt cổ, moi điếu thuốc thơm của đế quốc châm lửa thở khói, bộ mặt ra chiều tư lự tính toan. Thấp thoáng, chòng chành, hiện rõ dần hình thù cái miếu đứng xiêu đổ giam chặt bóng tối. Miễu ấy thờ gì hả cụ? Ồ, thời tui còn bé nghe bô lão trong làng họ truyền miệng một sự tích. Hằng năm dân trong làng xã sẽ bị chịu cảnh lụt lội đọa đày nếu chẳng kíp mang ra bờ một trinh nữ nằm trần truồng vào đêm ba mươi để hiến dâng cho thần thánh. Miễu ấy lập ra để thờ phượng mười hai vị trinh nữ mất tích, xem như anh hùng dùng thiện hóa giải điều ác, mang thanh bình lại cho thôn ấp. Sao giờ này hoang lạnh bỏ trống chẳng thờ phượng? Dân làng lỏng lẻo thường không có gì bỏ vào bụng, đâu dư thừa gì cho cam mà đem dâng cúng? Xem chừng cô cũng tin dị đoan thần thánh ma quỷ? Cụ nói lạ, cháu không tin thần linh thì biết trông mong vào ai? Sống đời bạc ác vô cảm trấn lột ta phải biết nương nhờ vào thứ gì đó, dẫu vô hình, dẫu hoang tưởng cụ ạ!

Ông lái đò cười tiếng mệt, sau rốt thì thở hắt ra. Đò đã tới bến hoang vu. Ông gát mái chèo, ông ngữa bàn tay: Tui thì chỉ biết tin vào có mỗi thứ này thôi, xin các anh chị mỗi người hai mươi lăm ngàn. Tiền bạc có mang lại hạnh phúc không? Thú thật tui chưa thấy có câu ranh ngôn nào dở hơn. Mẹ kiếp bọn có học chuyên rửng mỡ ngoa ngôn phách tấu!

Khách sang sông kẻ trước người sau lần lượt đặt chân lên bờ cát ẩm. Ông già cúi mặt đếm tiền nhét đống giấy bề thế vào ruột tượng cột thắt lưng quần, nói với: Hầu như thảy đều đi dự tiệc cưới, vậy có thông đường tới nơi chung vui? Cứ theo độc đạo ấy mà giỏi chân, sẽ gặp ngã ba, quẹo trái, từ đấy người ta đã trang hoàng đèn lồng màu đỏ có chữ song hỷ thắp nến cắm cách khoảng dưới bóng cây dẫn tới cái rạp lộ thiên. Mù thì nghe chộn rộn tiếng cười nói hòa quyện nhạc nhiếc cũng tường tụ điểm. Nhác chơi thì nhàn du mất hơn nửa tiếng, khẩn trương thì hai chục phút là ngốn xong đoạn đường sắp có hoa rơi vung vãi dọn lối. Thì thế, độc nhất vô nhị, chơi cho làng trên xóm dưới biết mặt, nhớ đời. Đời đã thay, mấy khi mà nắm bắt được, thụ hưởng.

Đôi nam nữ thuộc loại nhác chơi nên cùng nắm tay thủng thẳng từ từ chả có gì phải gấp rút. Đứa thanh niên ít tâm sự khi ngồi đò thì ôm bọc vải khẩn trương đi như chạy, như thực thi phương châm “ăn cỗ đi trước lội nước thì theo sau”. Đi như bị mười hai trinh nữ từ miếu hoang hiện hồn rượt đuổi đánh cắp chút thơ ngây của một đứa đồng nam chưa bể tiếng. Hắn tới hiện trường với khuôn mặt tái mét. Tái do bởi máu phải rút về bồi dưỡng con tim đang đập mệt. Tái như sắc diện của đứa bất lương rối trí tìm cho ra một giải pháp tốt để xoay trở trước vấn nạn luôn căng. Trời đãi kẻ khù khờ, loay hoay sao hắn lọt vào được một mái nhà tranh, tìm gặp đúng người muốn nhìn mặt.
Mồ hôi chảy thành dòng, đôi chân bắt đầu tạo phản ứng: run rẩy. Người ấy bình thường đẹp dịu dàng, giờ này trát phấn kẻ mày bôi môi làm mặt hoa phải biến dạng. Đôi lông mày lá liễu thoáng cau lại, vầng trán hiện lên những nếp nhăn và đôi mắt loáng ướt tròn xoe hình viên đạn. Một thoáng liếc ngang nhìn dọc, ánh mắt sắc như dao, rồi đường đi của thanh kiếm bén vụt đứng kề sát cổ. Hắn sững ngó người ngọc vận xiêm y toàn cả màu đỏ. Đỏ thắm tựa son bôi môi. Môi trái tim bắt đầu rạn nứt: Sao anh tìm được tới chốn này? Anh đến để làm gì? Anh có đọc lá thư tuyệt mệnh tôi gửi không? Anh lọt vào đây có nghĩa là anh đang gieo một hậu vận khó lường, một tai ương sắp bùng vỡ. Cho cá nhân tôi, cho riêng anh. Anh mãi hoài là kẻ chẳng tự lượng sức, anh muôn đời là đứa u mê…

Thằng thanh niên đứng chẳng vọng động, trong lúc này hắn muốn biến thân thành một đích cắm để hứng chịu muôn vàn lời trách cứ đang thành tên bay đạn lạc. Mắt hắn không nháy khi đối diện, nhìn cô dâu. Gần, với tay là sờ mó được cái ụ đất nhô ra từ bộ ngực đang thổn thức. Ngó vậy mà hổng phải vậy. Xa, xa quá em ạ. Nhấp nhô như hai hoang đảo nằm kín đáo ngoài trùng khơi. Con sóng nào đã đánh vào mạng bình địa mộc của anh để xô giạt mỗi lúc một xa em. Mồ hôi có giọt ứa chảy quẩn quanh trên rèm mi cay rồi chính nó làm cảnh vật có phần nhòe đi. Thời gian có khi như đứng lại, nhưng những bước chân xào xạc sau bức phên tre chứng thực một cách biện chứng: Thời giờ như tên bay! Thằng thanh niên mở bọc vải ra, nắm ở tay bộ bà ba màu đen. Hãy chạy trốn cùng anh, mặc nó vào người và chúng ta đi tìm vùng đất khác tái tạo từ buổi ban sơ. Đừng có nằm mộng, tôi đã suy tính hơn thiệt, ở chung với thằng nghệ sĩ như anh thì chỉ có nước từ chết tới bị thương… Tôi sẵn lòng đón nghe từ anh tiếng chửi rủa đồ tham phú phụ bần và ngược lại, sẵn gương soi đây tôi cho anh nhìn chăm vào mặt mình lần cuối, anh có gì ngoài thứ lòng rung cảm không đáng trước những thứ đau thương tràn bờ. Anh yếu đuối và anh tự xây ngục tù cho mình bằng những xúc cảm vu vơ. Anh nên trốn chạy đi trước khi câu chuyện bị đổ bể. Công an đang nhậu say, bản thân nó đã kinh khiếp thì khi có rượu vào anh cũng hình dung được sự tàn độc của loài cọp beo rắn rít.

Dưới đáy bọc vải là cái hộp gỗ vuông, thằng thanh niên lấy ra trao cho kẻ “đối diện bất tương phùng”. Quà cưới, chúc em thành toại đi êm trên sạn đạo mà em đã vạch lối. Cô dâu cầm lấy, không nhìn ngó, đặt xuống bàn trang điểm. Tôi thầm hứa, nếu sinh con trai tôi sẽ mang tên anh ra để đặt cho nó, điều đó có nghĩa là tôi còn nhớ tới anh. Nếu là con gái tôi sẽ tra cứu từ điển, tìm ra chữ gì tựa như sinh bất phùng thời. Chúng ta bắt đầu yêu nhau từ đêm rằm ngày tháng cũ, vậy thì cứ cách ba tháng, vào đêm tròn trăng, chúng ta tự tìm cách để nhìn lại nhau. Anh bằng lòng không?

Có một mụ già bước vào hai tay cầm khay phủ chụp lụa đỏ. Mụ há miệng chực thốt tiếng la. Trai đơn gái chiếc, gian phu dâm phụ, ăn cơm trước kẻng hoặc chữ nghĩa rắc rối nào khác sẽ tuôn nghe bất lợi, lùng bùng lỗ tai. Thằng thanh niên bối rối, nhưng hắn biết cách ém nhẹm tiếng hô hoán mặc dù trời sinh hắn luôn bất lực trước tình huống khó xử. Thưa bác, tôi là em cô dâu, bác cũng có thể xem tôi như đứa làm tóc, như đứa nắm danh sách người được mời phía đàng gái. Nếu bán tín bán nghi, bác hãy coi tôi như thằng phụ bếp tới hỏi cô dâu có bao nhiêu người ăn mặn kẻ ăn chay. Mà không chừng tôi phụ trách hệ thống âm thanh, chuyên chọn nhạc thích hợp cho đám cưới. Mình nên chơi nhạc rock, hay rap hay chỉ tinh ròng bolero mùi mẫn tình tự quê hương… Anh là ai tui đéo biết, anh xéo cho ngay kẻo tui hát bài chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Mẹ rượt, đi dự đám cưới mà người hôi như cú.

Bằng động thái của kẻ ám muội, thằng thanh niên lặng lẽ cúi mặt di dời khỏi mái nhà tranh (không có hai trái tim vàng, nghe phản động). Hắn ngó mặt đất sủi bụi dưới chân lết trì nặng. Đất chòng chành, đất mất sức hút. Miệng đắng, hắn chưa từng hớp được một giọt rượu vu quy, một giọt trà, một giọt nước lã. Trong bọc vải hắn cưu mang còn chứa cất một con dao. Khi cụ bị hành trang, hắn đã ngần ngừ giây lát để sau cùng buồn tay thảy con dao bén chưa hề sử dụng vào túi. Hắn thực sự không phải là hạng người ưa mân mê kim loại, hắn muôn đời vẫn sợ cảnh máu rơi. Hắn sợ cái chết, kể cả cảnh người phụ hắn bắt tay tử thần, kể cả chính hắn phủi chân về miền cực lạc. Chẳng có gì rồ dại bằng đâm người ta, rồi tự kết liễu đời mình. Tiếc thay sự cố nọ thì luôn diễn ra thường hằng trên mảnh đất hắn chôn chân, dưới bầu trời ngột ngạt hắn hít thở.

Hắn lần ra được con đường cô quạnh dẫn tới bến đò. Hắn vẫn là kẻ dạ hành lẻ bóng đêm thâu. Bên miếu hoang, hắn thầm thì chắp tay khấn nguyện, khi đã đau đầu gối, hắn thôi quỳ, gục mặt vào dòng sông nước đen. Gia đình hắn, tất thảy người thân yêu đều nương nhờ con nước để trôi thân ra biển rộng. Họ đến bờ tự do an lành, tái lập cuộc sống mới đúng như tiêu đề viết cẩn trọng trên đơn từ nhà nước chốn đây “Độc lập- Tự do- Hạnh phúc”. Trong tình thâm máu thịt ruột rà, họ có hình dung ra cảnh sống tuột trôi vất vưởng của hắn không? Hắn ném cái bọc vải ra dòng sông luôn cựa mình luân lưu, bộ bà ba đen luôn ủ kín mùi da thịt thơm ngọt của tình nhân chìm trôi từ tốn. Và con dao trủy thủ. Hề, Kinh Kha thời nay đã thay đổi tư duy, qua sông vượt biên quá cảnh như đi chợ. Hề, bạo chúa thì nhiều mà mình ên Kinh Kha thì nghe rất oải. Hề, Kinh Kha buông đao xuống có thành Phật chăng?

Lão lái đò trờ tới trong lặng lẽ. Chứ anh vừa vung tay thủy táng vật gì đó?
Hắn leo lên đò làm khó ông già: Có phải tất cả rồi cũng sẽ nguôi ngoai lui về vùng kỷ niệm? Anh nói sao? Khuya rồi, chắc tui không chèo qua bến bờ kia đâu. Muốn ngủ nhờ trên đò, tui lấy anh mười ngàn tượng trưng. Hắn moi tiền ra đếm. Uống một cốc nước đang đun trên bếp thì cả thảy là bao nhiêu?
Ấy chết, chẳng phải là anh đi dự tiệc cưới sao? Chóng tàn thế?

Hắn vật mình xuống sàn đò. Trên cao là trời đêm, không một vì sao lẻ loi hiện hữu. Tất thảy tối đen, thăm thẳm, mê muội, u minh, mực xạ, hủ nút, địa ngục. Hắn nằm, đợi chén cháo lú trao từ tay kẻ chèo sang vùng địa táng.

Hồ Đình Nghiêm

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 13 Sep 2015 

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Rối loạn đường tiêu hóa!

Bài 27

(hồi ức về một người bạn tù vong niên)

Ông già Minh tuy còn khỏe mạnh nhưng vì ông là người lớn tuổi nhất đội nên được quản giáo phân công ở nhà lo dọn dẹp phòng ốc, quét nhà, hốt rác…

Ông khỏi đi phá rừng, cuốc đất ngoài bãi. Lợi dụng ở nhà có chút thì giờ rộng rãi, già Bình may giúp cái áo lá, cái quần xà lỏn cho người nầy, người khác, để được anh em trả công bằng cái kẹo, cái bánh mà “bồi dưỡng”.

Về khoản may vá thì ai ai cũng công nhận ông là người  khéo tay, mũi chỉ ông ta may đã nhỏ lại đều, áo quần ông cắt vừa vặn, sít sao. Với ba cái túi vải đạn M-16, ông cắt may thành cái áo “may ô”. Bốn cái túi loại đó thì ông may được cái quần xà lỏn. Áo quần ông ta mặc, dù “tự biên tự diễn” bao giờ trông cũng đẹp mắt, sạch sẽ…

Dù được ở nhà, lâu lâu ông cũng phải lên bệnh xá khai đau bệnh nầy, bệnh khác. Mục đích của ông là ngoài cái già, ông còn thêm lý do bệnh để khỏi đi lao động ở ngoài, lỡ có ai moi móc, khiếu nại, v.v… Có thể đó là cái “tẩy” của người khôn nhưng nói như ông thánh Khổng thì “khôn chết, dại chết, biết sống”.

Ở đây thì khôn cũng bị người ta ghét, dại bị người ta chê mà dù có “biết”, không làm gì ai, không đụng tới ai thì vẫn cứ ngắc ngoải như thường…

Tối thứ bảy, họp đội kiểm điểm, Trần Văn Diệm  tố già Minh có thuốc thừa đem cho Diệm khi anh ta bệnh. Điều đó chứng tỏ già Minh có thuốc mà không uống, tức là không bệnh; không bệnh mà khai bệnh, tức là trốn tránh lao động, chưa thấy được “Lao động là vinh quang”, chưa “giác ngộ”, “học tập cải tạo chưa tiến bộ” như thế thì còn lâu “cách mạng” mới cứu xét cho trở về sum họp với gia đình…

Khiếp thật!

Chỉ một việc khai bệnh giả thôi mà có cả chục cái mũ chụp lên đầu. Phen nầy chắc già Minh “mục trại” luôn.

Người miền Nam “phù suy không phù thịnh”; có thể có người ít ưa già Minh nhưng không ai bất nhẫn như Diệm.

Mình đau, người ta cho mình thuốc, nhưng kèm một lời cám ơn là một lời tố cáo. Người ta chê Diệm ngu hơn là cho Diệm xấu tính; ngu ở cái chỗ “quá tin cách mạng”. Có người mỉa Diệm: “Tự giác là tự sát nghe em!”

            Có hôm, người ta hỏi đùa già Minh: “Anh tuổi giáp tý, ông Thiệu cũng tuổi giáp tý. Tại sao ông Thiệu làm ổng thống, còn anh thì đi ở tù?” Tội nghiệp, già Minh lúng túng trả lời không ra. Ông ta cho rằng tại khác giờ sinh, khác ngày sinh, tại ông ta không có chân mạng đế vương, v.v…

            Về lý lịch, ông ta dấu khá kĩ. Với Long, người có tuổi kém ông ta một giáp và Long cũng lớn hơn số đông anh em khác khoảng chừng đó tuổi, thường chuyện trò với ông mà thôi. Hai người cũng từng là giáo sư chế độ cũ trước khi họ nhập ngũ.

Có lần Long nói với anh em: “Trước 1945, ông ta là sinh viên trường luật Hà Nội đấy!” Có người tin Long nhưng cũng có người vì không ưa già Minh nên xuyên tạc lời Long: “Luật gì? Luật đi đường.” Có đứa nói tục: “Đường lụ đấy.” Có đứa lại nói: “Ông ta luật sư thật đấy. Không thấy khi phát biểu, ông ta nói dốc dữ lắm.”

            Già Minh nói với Long hồi kháng chiến chống Pháp, ông cùng với bố ông, cả hai cùng tham gia.

Hồi đó, ông ta phục vụ ở Liên Khu 3, trong ban phát thanh của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến. Long rất thích nghe ông ta kể lại những kỷ niệm thời kháng chiến đó. Ông từng có dịp gặp Trần Chánh Thành khi ông Thành làm Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Liên Việt, một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản, nhằm “thu gom”, kiểm soát những sinh viên Hà Nội theo Việt Minh mà không theo Việt Cộng. Già Minh có cảm tình với ông Thành, khen ông Thành giỏi hơn nhiều cán bộ Cộng Sản cao cấp khác. Chỉ vì hai chữ Cộng Sản mà ông Thành bị họ gạt ra ngoài.

            Hỏi già Minh về ông việc phát thanh, già Minh cười: “Có gì đâu mà phát thanh! Bên quân sự cho biết có đánh nhau ở đâu đó thì bên phát thanh cứ thế mà tán dốc lên. Tây bị cháy một xe thì tán lên thành chín, mười xe. Tây chết một thì nói một trăm. Còn phe ta thì bao giờ cũng chỉ có một câu “Quân ta rút lui hoàn toàn vô sự.”

Long cười: “có khi khỏi rút.” Già Minh thật thà hỏi: “Sao lại khỏi rút?” Có người cười: “Chết mẹ hết, còn ai nữa mà rút.” Già Minh cười: “Các cậu đùa thâm thật!”

            Theo kháng chiến được vài năm, già Minh về thành. Hỏi lý do, già Minh nói: “Về để đi làm, kiếm tiền giúp mẹ, nuôi em!” Thế sao bố già Minh lại không về? Đúng ra, việc nuôi con là việc của bố ông ấy, đâu phải bổn phận già Minh.

Có điều bí ẩn gì chăng?

Té ra, bố già Minh trước 1945 là thợ in giỏi, nay ông ấy đang làm ở chỗ in bạc cho Cộng Sản. Bọn chúng canh kĩ lắm, ông ấy không về được.

            Sau khi về thành theo Pháp, già Minh vẫn còn liên lạc với cha. Có lần ông kể cho Long nghe: “Mình nói thật với Long một điều. Năm 1954, sau khi hiệp định Genève ký rồi, bố mình nhắn mình lên chiến khu để ông thăm. Ông ấy đang ở Việt Bắc, kế cận chỗ làm việc của Hồ Chí Minh. Ông bố dặn già Minh một điều: “Phải tìm mọi cách đưa gia đình vào Nam. Cha con từ đó bỏ nhau. Bố mình không bỏ kháng chiến được, cũng giống như mình không thể sống chung với Cộng Sản được. Cha con còn như thế, làm gì có hòa hợp hòa giải mà mong.”

            Bỏ kháng chiến về thành, già Minh dạy học ở một trường trung học tư, làm thêm “giáo tại gia” tại nhà một thương gia giàu có. Cũng nhờ nghề dạy tư nầy mà già Minh cưới vợ.

Mỗi lần ông tới dạy cho mấy đứa em thì cô chị ra mở cửa. Cô ta vòng tay, cúi đầu chào: “Lạy bác ạ!” Vậy mà ông ta xin cưới con nhỏ “Lạy bác ạ” ấy và được ông thương gia thuận cho. Có lẽ thời kỳ ấy cái “mác” giáo sư cũng có giá lắm. Đây là thời kỳ đầu chiến tranh, “sao” chưa lên, “mai” chưa nở thì dân khoa bảng còn chút giá trị. Thần tượng thầy giáo lúc bấy giờ chưa sụp đổ.

            Với cái “hào quang” đó, già Minh di cư vào Nam và thất nghiệp. Ông ta phải chạy đôn chạy đáo mới xin được một chân dạy tư ở Saigon, sống tạm đủ. Đến đầu năm 1960, khi có lệnh tổng động viên, già Minh vào Cảnh Sát.

            Từ đó, cuộc đời ông lên voi xuống chó những mấy lần, không còn những bình thản trước cuộc thế như khi ông làm giáo sư.

Năm 1965, tình hình miền Trung hết sức rối loạn sau khi ông Ngô Đình Diệm bị giết. Già Minh được bổ nhậm làm trưởng ty cảnh sát ở một tỉnh ngoài đó.

Ông không chạy chọt, ông không xin xỏ. Chuyện đi làm trưởng ty, với ông, tưởng như chuyện “trên trời rơi xuống” vậy. Mới vào ngành được 5 năm, từ một nhân viên, cấp trên bằng vào tư cách và khả năng, chọn ông ra ngoài ấy.

Cầm sự vụ lệnh, già Minh đâm lo. Trách nhiệm với chính phủ, với đồng bào, với ngành ông phục vụ, lại ở một tỉnh miền Trung vào một thời kỳ hết sức xáo trộn, già Minh lo nhiều hơn vui.

Từ cổng Tổng nha Cảnh sát đi ra, gặp hai người bạn từng làm trưởng ty ngoài ấy, thời ông Ngô Đình Diệm, già Minh mời họ đi uống càphê và hỏi han kinh nghiệm.

Hai người bạn ấy nói với già Minh, Tổng nha chỉ là nơi ký giấy tờ, còn đằng sau nó là ai, già Minh phải biết chứ!

Đây là cơ quan an ninh cấp quốc gia mà. Ông Diệm làm tổng thống mà không cần biết cái bóng sau lưng ông là ai nên ông phải chết.

Từ nhận xét đó, khi ra miền Trung, già Minh tránh né các “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” mọc lên ở nhiều tỉnh ngoài ấy. Nhờ vậy, ông không bị họ bắt nhốt vào khám lớn như  ông tỉnh trưởng của ông. Nhưng cũng vì sự xáo trộn ấy mà ông rớt chức trưởng ty. Ông lên cao nguyên làm trưởng ty một thời gian ngắn nữa, rồi ông về Tổng nha giữ một chức vụ bình thường.

Làm trưởng ty thì ông có xe hơi, có tài xế, có “tà-lọt”, có bồi bếp, và tùy theo lương tâm mỗi người, người ta có chút ít “tư lợi”. Vợ ông đi chợ, đi phố, con ông đi học, có xe đưa rước. Bữa ăn ngon hơn, tuy không cao lương mỹ vị. Mọi người trong gia đình ai ai cũng ăn mặc đẹp hơn, sang hơn.

Với ông, những cái đó không quan trọng. Không có xe hơi đi làm thì ông đi xe Honda. Ông muốn sống bằng đồng lương của ông để ông khỏi phải lo bị điều tra, bị hạch hỏi. Đi xe Honda, không có tài xế, khỏi phải lưu tâm tài xế chờ đợi. Để ai chờ đợi, ông thấy phiền.

Ông muốn “Qui khứ lai từ” cho nó nhẹ.

Việc ông sống âm thầm nhiều năm trong trại cải tạo chứng minh tấm lòng đó của ông. Mỗi năm, vài lần, cô em gái ông nhà ở gần cầu Chà Và lên thăm. Gói quà nhỏ teo, ông cầm ở tay lặng lẽ vào trại, mở xem rồi gói cất, mặt không buồn không vui. Hình như ông quí cái tình gởi kèm theo gói quà, nó làm ông cảm động. Có ai hỏi thăm, ông nói nhỏ: “Em gái mình nghèo, con đông, tội nghiệp nó.”

Ông không than vãn đói rách như bao nhiêu người khác. Những lần thăm nuôi như thế, có thể làm cho ông nhớ vợ, nhớ con nhiều hơn. Bây giờ thì họ xa lắm, bên kia nửa vòng địa cầu, cách một đại dương mênh mông và không chắc chi ông còn gặp họ nữa. Biết bao nhiêu nhớ thương xoáy động trong tâm hồn một người tù già như già Minh.

            Tôi nghiệp già Minh!

Ông cũng là người như mọi người, cũng xương da. Cái thân xác nó cũng đòi hỏi được ăn no, được bồi bổ theo lẽ tự nhiên của tạo hóa. Nó đòi hỏi chất thịt, chất cá, cục muối, cục đường vậy chứ! Nhưng những thứ “bồi dưỡng” ấy, ít khi ông được có, được ăn. Ngay cả những thức ăn thường ngày như bắp, khoai mì do trại phát cũng thiếu, cũng ít, nên ông cũng không mấy khi được no.

Anh em trong đội, khi được thăm nuôi, phần thực phẩm trại phát, hôm đó, họ không ăn, họ bỏ đi. Ông xin cái đó để ăn thêm cho no. Ông xin cái người ta bỏ đi, không xin cái người ta cất giữ.

Rồi càng ngày cuộc sống bên ngoài càng khó khăn, thân nhân thăm nuôi ít đi, thì cái anh em bỏ ra cũng ít đi, ông đành ăn đói.

Cái đói của ông đâu phải vài ba bữa, đôi ba ngày. Nó kéo dài lê thê từ ngày nầy sang ngày khác, từ tuần nầy sang tuần nọ, từ tháng nầy qua tháng kia, tiếp nối năm hằng năm. Già Minh ở trại năm sáu năm nay, cái đói cứ triền miên như thế.

            Vậy mà cũng hay; ông âm thầm chịu đựng, không vì đói mà ông sinh ra tật nầy tật khác, không nịnh hót, không xin xỏ, không chạy chọt để xin làm nhà bếp, giữ nhà kho, hay một công việc nào đó khỏe hơn, no hơn. Ông vẫn cứ cái công việc giúp anh em như cũ: Vá giùm cho người nầy cái áo, cái quần, lên lai quần, đơm hột nút để được anh em trả công chút ít, bằng cục đường, củ khoai…

            Vậy mà tội nghiệp!

Chẳng ai chơi với ông, chẳng ai chuyện trò với ông. Chỉ có Long được ông ta tâm sự, chuyện trò một đôi lần. Điều đó cũng dễ hiểu. So với tuổi tác giữa ông và anh em trong đội, ông hơn họ những hai mươi năm. Hai thế hệ, xa nhau quá. So với tuổi, Long thuộc thế hệ ở giữa, không kém tuổi ông nhiều quá, và cũng không hơn tuổi số đông anh em nhiều quá. Thành ra Long như là người đứng giữa, là nhịp cầu giữa hai thế hệ xa nhau. Long có thể hiểu ông nhưng số đông anh em không thể thông cảm được.

Tuy nhiên, chuyện trò với Long thì có mà ăn uống với Long thì ông tránh mặt. Ông sợ, nhận của ai mà không thể trả lại thì ông tránh. Điều đó giữ cho ông được sự kính trọng.

            Trong trại cải tạo có nhiều cái phức tạp, mâu thuẫn. Người ta ganh ghét đố kỵ nhau không kém gì ở ngoài đời, có khi còn tệ hơn nữa.

Ở ngoài đời, có ghét ai, thương ai thì lâu lâu mới gặp. Ở trong trại, sáng ra, mới mở mắt đã thấy “đối tượng” rồi. Thương nhiều khi trở thành ghét, và nhiều khi đã ghét lại càng ghét hơn.

Vì đói nên người ta ghét nhau vì ăn. Người được thăm nuôi ít ghét người được thăm nuôi nhiều. Người ở đội cuốc đất ghét người ở đội trồng rau, vì người trồng rau có rau “cải thiện”. Người đội trồng rau thì ghét người đội cấp dưỡng vì cấp dưỡng nhiều khi ăn cắp được đồ ăn, mỉa nhau bằng câu “Giàu nhà kho, no nhà bếp”.

Già Minh ở ngoài đám “trần tục” đó, tránh không ghét ai, đố kỵ ai. Ông thuộc hạng nhất theo đúng nghĩa của nó: Ít được thăm nuôi nhất, sống âm thầm, cô đơn nhất; so với anh em, ông có chức vụ cao nhất và có vợ đẹp nhất.

            Một dịp nào đó, em gái ông lên thăm, mang cho ông mấy tấm ảnh con ông chụp ở Mỹ, mới gởi về. Đứa nào cũng mập mạnh béo tốt. Có lẽ chúng học hành đàng hoàng vì đứa nào cũng mặc áo thụng, đội mũ vuông, thứ trang phục mặc khi tốt nghiệp cấp ba hay đại học. Con trai thì giống già Minh, quắc thước. Con gái thì đẹp, giống mẹ! Già Minh cầm mấy bức hình đi khoe với anh em: “Con mình đây! Hình con mình ở Mỹ mới gởi về đây!” Tiếng nói của già Minh thường thì nhẹ, hơi nhỏ, bây giờ lại đượm vẻ thân yêu, trìu mến khi nói về các con.

Chỉ có hình con, không có hình vợ ông. Chẳng ai hỏi. Người ta tế nhị, ai chẳng biết ông bị vợ bỏ đã lâu! Bà ấy đã có chồng khác thì gởi hình cho ông làm gì. Vậy mà có điều lạ! Chẳng ai tỏ ý thương già Minh bị vợ bỏ trước ngày “sập tiệm” những mấy năm.

Bà ấy bỏ ông đi lấy một kẻ quyền cao chức trọng hơn ông. Nặng định kiến, người ta trở thành bất công với ông. Ông ta bị cướp vợ, nói trắng ra là một kẻ quyền thế chế độ cũ cướp vợ ông.

Ngày nay, bọn cán bộ ngoài Bắc vào cướp vợ của người miền Nam. Cũng nói trắng ra, dựa vào quyền lực chính trị hoặc quyền lực của đồng tiền cũng vậy thôi. Anh em chung đội chưởi rủa bọn ngày nay cướp vợ người, vợ bạn bè của họ. Thế tại sao họ không nguyền rủa kẻ cướp vợ già Minh. Có gì khác nhau giữa những người cướp vợ người khác, dù bọn đó thuộc chế độ cũ hay chế độ mới. Dù ở chế độ nào, cướp vợ người khác là hành động man rợ của loài dã thú đội lốt người, dù người đó là Tào Tháo trong truyện Tam Quốc.

            Bây giờ không ít bà bỏ chồng đi lấy chồng khác, lại lấy cán bộ mới đau lòng. Trước kia, người ta lấy chồng là lấy ông sĩ quan, ông giám đốc, ông trưởng ty… lương cao, bỗng hậu, có kẻ hầu người hạ, có lính tráng, có xe Jeep gắn hai ba cần câu.

Bây giờ là “thằng tù”. Có ai gọi là “ông tù” không nhỉ? Bỏ cái loon ra rồi, vô tù là coi như hai bàn tay trắng. May mắn, có người vợ chung thủy thì người đàn bà lặn lội nuôi chồng trong tù, còn khổ hơn cả “Con cò lặn lội bờ sông…”

Cũng có người “Anh đường anh, tôi đường tôi”. Người ta trách móc phê phán người đàn bà bạc bẽo ngày nay, thế vợ già Minh bỏ chồng đi lấy một ông lớn thì sao? Ghét Việt Cộng nên người ta phê phán người đàn bà ngày nay. Nhưng có thể nào vì “bênh phe ta” mà không phê phán ông quan, ông tướng… chế độ cũ. Than ôi: “Giặc giã triền miên, nhân tâm ly tán…” Có phải đó là chân lý muôn đời của loài người còn mang tâm dã thú?

            Người đời nay mất vợ vì bọn có quyền, có tiền; người ngày trước mất vợ cũng vì những lý do tương tự.

Tội nghiệp cho già Minh, nỗi đau của ông lớn lắm! Ông đau khổ cho ông mà cũng đau khổ cho con ông nữa. Sáu đứa con về với mẹ, rồi lên đường ra xứ người. Bỗng dưng, chúng trở thành những đứa bé không cha.

Với cõi lòng buồn bã, ông thường lang thang, chân ông bước đi mà ông không biết chân mình nằm ở đâu, tưởng như người ông lướt trên mặt đất vậy. Ông tưởng như ông không còn là người nữa. Ông biết ông không làm gì được nữa rồi. Những thứ vợ ông cần, ông không có, không thể nào có được.

Tiền bạc, may ra ông có thể trúng số. Nhưng quyền cao chức trọng, cái đó phải có thời gian gầy dựng, phải trúng bè trúng đảng, trúng phe trúng nhóm. Giả tỉ như bây giờ ông có “lon lá” này nọ, chưa chắc ông có thể đứng về phe nầy nhóm kia. Cái đó không thể có ông. Ông không thể lập bè lập nhóm với ai được. Như việc ông đi trưởng ty vậy. Người ta thấy ông có khả năng mà cho ông đi chứ ông không xum xoe che dù, cho lọng cho ai để có thể có một chỗ ngồi ngon.

Sau khi ông mất chức trưởng ty, mấy lần bà vào sở ông làm, khi năn nỉ, khi đay nghiến, khi hậm hực, buộc ông phải ký giấy ly dị. Ban đầu thì ông còn năn nỉ, ông chần chừ, rồi ông hẹn lần hẹn lữa. Cuối cùng thì ông phải chìu bà. Suốt đời ông ta chìu bà, cái gì cũng nghe bà, chìu bà, kể cả việc chìu bà mà ký giấy ly dị cho bà đi lấy chồng khác.

Chiếc xe đã chuẩn bị sẵn sàng, hành lý đã chất lên xe, cột buộc đâu đó rồi, tài xế, chủ xe đã ngồi trên xe, chỉ chờ ông đưa chìa khóa “công tắc” là xe nổ máy lên đường.

Ông không còn ngăn cản được nữa, không năn nỉ gì được nữa, không thể nhắc nhở một chút tình cảm nào, kỷ niệm nào để mong cho người ta hồi tâm suy nghĩ. Ông vẫn cứ trì hoãn, cho đến một ngày ông thúc thủ đầu hàng. Và lúc đó thì ông chỉ còn đứng lại một bên đường, nhìn theo bánh xe lạnh lùng quay tít. Và đám bụi đường cuộn lên mù mịt. Đứng đó, ông chỉ còn ngửi bụi mà thôi. Đám bụi đó đâu phải là “hồng trần”. Xe đó, đâu có gập ghềnh như xe Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Chuy. Chiếc xe hơi bóng loáng, đẹp đẽ, chạy trên đường êm như ru; nhưng lòng ông thì sóng gió tơi bời, bão táp ầm ĩ, sấm chớp long trời lỡ đất.

Già Minh, đúng là con người hèn nhát. Ông không có bản lĩnh, mạo hiểm, liều mạng chấp nhận cuộc đời này như một trường đấu tranh ưu thắng liệt bại. Ông đã phủ phục, đã cam chịu, đã đầu hàng. Ông là một võ sĩ hạng bét, thấy đối thủ của mình to con quá, vai u thịt bắp quá mà sợ. Chưa lên võ đài, trọng tài chưa thổi còi, người ta chẳng thấy ông đâu nữa. Ngay cả đối với vợ, ông cũng vậy. Bao giờ ông cũng dành cho bà cái thế chủ động, quyết định mọi việc trong nhà. Sự thụ động đó đã đưa lại kết quả ngày hôm nay.

            Ngày đám cưới – tổ chức tại nhà hàng lớn nhứt Saigon – Bao nhiêu tai to mặt lớn đều có hết, kể cả những nhân vật số 1, số 2 của miền Nam máu lửa nầy. –  Người ta tới chứng kiến việc một người đàn ông giàu có, quyền thế, “cưới” bà vợ của một người đàn ông nghèo hèn.

Ông cho thế là không tình không nghĩa, là cuộc sống của bầy thú hoang theo luật rừng xanh. Con “vật đực” mạnh nhất giành lấy những gì nó muốn; và con “vật cái” ngoan ngoãn phục tùng con “vật đực” mạnh nhất ấy để được sự thụ hưởng, che chở.  Đó là xã hội của bản năng, không phải là xã hội của lý trí, chưa đạt tới tính chất “Người”.

Cô ca sĩ hát bài “Em chỉ yêu anh binh nhì” nhưng chỉ chịu làm đám cưới với ông sĩ quan. Đằng sau cái mà người ta gọi là danh giá, là quyền thế, là giàu có, hiện ra trần truồng một sự thật đáng buồn, đáng ghê sợ: Giống cái tìm sự hưởng thụ và che chở ở giống đực. Đó là bản năng sinh tồn, sự bảo toàn nòi giống, như con ngựa cái đến lúc động cởn, nó sẽ bỏ chạy thật nhanh, chỉ có anh ngựa đực nào chạy nhanh nhất mới  được chọn làm “người hôn phối”.

Đó không phải tình yêu. Người ta chọn một ông chồng giàu, một người có thế lực quyền hành, một người trong tay có binh hùng tướng mạnh, dù cho “làm bé ông lớn còn hơn làm lớn ông bé” thì đó là tình yêu chăng? Già Minh không tin điều ấy. Không có tình yêu thì không có bình đẳng. Đó chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau. Người “mạnh” thì muốn có kẻ “nô lệ” để nó phục vụ mình, người “yếu” thì chịu làm nô lệ để được đền bù lại bằng cái mình ham muốn.

            Với già Minh, ông ta yêu vợ thật sự, yêu ghê gớm. Vì vậy, ông vô cùng đau khổ khi mất vợ. Ông gởi xe ở nhà hàng Eden rồi ra ngồi nơi bậc thềm Hạ Viện cũ, để nhìn qua nhà hàng lớn, nơi vợ ông ta và người khác đang làm đám cưới. Phải chi ông còn trẻ một chút, để tâm hồn còn nóng bỏng một chút mà huởng cái “thú dau thương”, để nhìn “em” lên xe hoa về nhà chồng, nhìn xác pháo hồng mà nhớ kỷ niệm xưa.

Trớ trêu hơn, ông đã gần năm chục, tuổi “tri thiên mệnh” rồi. Ông đau khổ, ông nhớ thương, ông tiếc nuối, oán hờn. Nói chung, ruột gan, phèo phổi ông rối oạn lung tung. Chỉ có một điều ông tự hào; ông cúi sát mặt, nói với người bạn trẻ: “Long biết không, bà ấy mặc áo cưới bằng nhung đỏ, không dám mặc nhung trắng.” Rồi ông cười, nói tiếp: “Sáu con rồi, còn gì mà mặc áo trắng!” Giọng nói ông đượm vẻ buồn và tự hào rằng ông là người đến trước.

            Ông còn thương vợ ông lắm. Ông chỉ trách vợ một điều, buộc ông ký giấy ly dị. Nói xấu vợ thì không, không bao giờ ông nói xấu vợ. Tuy nhiên, đối với gia đình nhà vợ, ông chẳng có chút lòng kính trọng, những người ông gọi họ là bọn con buôn.

&

            Kể từ khi chuyển ra trại C, gần đồi Phượng Vĩ cũ – già Minh không cần khai bệnh nữa rồi, bởi vì lúc nầy ông bệnh thật, bệnh dữ lắm! Hình như ba năm nay, người em gái của ông không lên thăm ông nữa. Ban đầu, ông còn trông ngóng. Cứ mỗi lần người coi thăm nuôi bươn bả đi vào trại để gọi tên những người được thăm thì ông còn hướng mắt nhìn người ấy, có khi ông còn bước tới gần người ấy để nghe cho rõ có tên ông hay không.

Rồi dần dần, vẻ trông chờ đó không còn nơi ông nữa. Ông thất vọng, rồi ông tuyệt vọng, tuyệt vọng thật sự.

Tội nghiệp, đời ông nhiều nỗi tuyệt vọng quá! Ba năm nay ông không được thăm nuôi mà đời tù của ông thì dài những gấp đội: Sáu năm. Sáu năm đói khát. Sức thanh niên còn chưa chịu nỗi huống gì một người đã được anh em gọi là già.

Ban đầu, ông chỉ bệnh lai rai, đi muốn té, ngồi không vững. Những người ở chung phòng với ông thì thầm với nhau: “Ông ta không bệnh gì đâu! Ông ta đói quá đấy! Đói quá là yếu đi. Vậy rồi ông nằm liệt giường, liệt chiếu.

“Bác sĩ” Hảo xuống tận nơi xem bệnh cho ông, quyết định đưa ông vào bệnh xá và ông qua đời ở đó vì bệnh “Rối loạn đường tiêu hóa.” Phải chi lúc đó có kẻ từ tâm, đến thăm nuôi hay chia sẻ đồ ăn cho ông mỗi ngày thì ông có thể qua được.

            Già Minh chết rồi, qua lời anh em bàn tán, Long lại thường nhắc tới câu ca dao “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”

Ai đang xây chùa, ai đang xây nhà thờ, có ai nghĩ tới những người như già Minh, lúc nầy đây, ngay giờ phút nầy đây đang đói ăn, đang thèm chén cơm, con cá, miếng rau trong trại tù Cộng Sản.

Anh Minh thân mến,

            Mấy tháng trước khi anh qua đời, một sáng chủ nhựt, tôi, anh và anh Phí Ích Bành treo võng nằm chơi ở hội trường. Phí Ích Bành và tôi khẳng định với anh rằng Cộng Sản sẽ sụp đổ.

Anh hỏi bao lâu?

Tôi nói rằng cứ những cái mốc trong lịch sử Việt Nam và thế giới hiện đại, người ta phải tính bằng chục năm: 1945, Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chấm dứt; 1955, người Mỹ thay chân người Pháp ở Việt Nam; 1965, Mỹ đổ quân trực tiếp tham chiến; 1975, người Mỹ cuốn cờ ra đi. Như vậy, ít ra, năm 1985, Cộng Sản mới chuyển mình, mười năm sau mới thay đổi, và sau năm hai ngàn mới thấy những biến chuyển trọng đại. Anh lên tiếng than: “Dài quá! Sức mình không chờ nỗi.” Rồi anh thở dài. Tội nghiệp cho anh. Anh biết cái chết không còn xa với anh nữa. Con ngựa ký đã gối mỏi chân chồn trên con đường thiên lý.

Anh Minh thân mến,

Thế hệ chúng ta gánh chịu quá nhiều đau khổ, phải không anh? Lịch sử đất nước chúng ta chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến tương tàn dai dẳng như cuộc chiến vừa qua: Những ba mươi năm!

Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, chỉ mấy năm là giành được độc lập. Lê Lợi chỉ có “Mười năm bình định giặc Minh”. Lâu dài như “Nam Bắc phân tranh” giữa Trịnh Nguyễn thì đánh nhau cũng chỉ có 7 trận hai bên bờ sông Gianh. Cũng chưa đầy hai mươi năm, Nguyễn Ánh dẹp nhà Tây Sơn, “thống nhất sơn hà.”

Cuộc chiến tranh của thời đại chúng ta là ngu muội nhất. Với sự hỗ trợ từ bên ngoài, vũ khí từ bên ngoài, chúng ta đánh nhau trối chết, giết nhau rất tận tình mà dân tộc chúng ta thì chẳng có lợi gì trong đó cả.

Chúng ta có lý tưởng đấy chứ, sao lại không?

Chúng ta chiến đấu cho Tự Do, nhưng khi cần thì cái gọi là “Thế giới Tự Do” bán đứng chúng ta cho Cộng Sản.

Chúng ta, dân tộc chúng ta gánh chịu nhiều gian lao, nhiều hy sinh để nhân loại thắng Cộng Sản. Đớn đau chính là chỗ đó vậy. Anh đã chết! Nhưng tôi vẫn cứ hỏi anh một điều, từ 1945 đến giờ, gia đình Việt Nam nào không có người chết, nghĩa là người “hy sinh” trong chiến tranh, hoặc sau chiến tranh như anh. Gia đình nào cũng có bàn thờ, thờ một “người lính” đã được “Tổ Quốc Ghi Ơn”.

Gia đình tôi cũng vậy đó anh. Mẹ tôi sinh bốn người con trai. Anh cả tôi bị giết vì chống Pháp, em út tôi, hy sinh trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” khi nó dẫn lính về đánh đuổi Cộng Sản ra khỏi cổ thành Quảng Trị, giành lại quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún của anh em chúng tôi.

Chúng ta đã hy sinh cho đời, cho dân tộc quá nhiều. Mồ hôi, nước mắt, xương máu và cả tính mạng. Đời cho ta cái gì? Tù tội như tôi hay nằm xuống lòng đất như anh?

Một hôm đi cuốc đất ngang vườn xoài – Nghĩa địa tù, nơi anh nằm lại đó! Tôi ngoái cổ vào cố tìm mộ anh mà không thấy.

Thật ra, thì có nghĩa lý gì đâu một nấm mồ hoang, một nắm xương tàn. Nhưng khi nhìn vào nghĩa trang ấy, tôi thấy lòng tôi thương anh lắm! Mà khóc cho anh thì tôi không còn khóc được nữa. Ngay cả những người bạn tù, khi liệm anh vào hòm, khi khiêng anh đem đi chôn, họ cũng thương anh lắm. Nhưng họ cũng như tôi, khóc cho anh thì họ cũng không thể khóc được. Biết đâu trong số họ, trong số những người tù Cộng Sản, họ cũng mong ước được như anh.

Nằm im trong mấy tấm ván gỗ tạp, thế là khỏe! Khỏe thật sự! Thế là không còn nhớ, không còn thương; cả oán trách, thù hận cũng không!

Anh biết quá rõ cuộc đời nầy là hư ảo, bởi vì đời anh, anh đã qua biết bao nhiêu rối loạn. Thời kháng chiến chống Pháp, không chịu nỗi Việt Minh, bỏ mà về. Đó không phải là sự rối loạn đầu tiên trong đời anh sao?! Năm 1954, di cư vào miền Nam hàng triệu người, đó là sự rối loạn của dân tộc nhưng cũng có anh trong đó. Lại vì sự “Rối loạn miền Trung” như báo chí hồi ấy gọi, anh mất chức trưởng ty. Sự mất chức nầy, anh tiến mà thoái cũng được, nhưng vợ anh thì không. Vợ anh không lùi được. Ngày vợ anh lấy chồng khác, lòng anh “rối loạn” tơi bời. Ba mươi tháng Tư, “rối loạn” cả miền Nam.

Đời anh quá nhiều rối loạn, và anh chết vì sự rối loạn đó, mỗi lúc chết một ít, chứ anh đâu có phải chỉ vì một sự “Rối loạn đường tiêu hóa” để ra người thiên cổ như “bác sĩ” Hảo nói đâu!

Anh Minh thân mến,

Chung trại tù với anh sáu năm, tôi buồn cho anh, thương anh và phục anh nhiều lắm. Thành ra cái chết của anh cứ ám ảnh tôi hoài. Tôi định viết về cuộc đời của anh, ít ra, cũng thời gian chúng ta gặp nhau trong trại tù Cộng Sản. Để làm chi vậy? Tôi có bổn phận hay hứa hẹn gì với anh đâu! Nhưng tôi cứ nghĩ rằng nếu tôi viết được những gì về anh, lòng tôi sẽ nhẹ nhõm lắm, bớt đi những nỗi nhớ, nỗi thương, nỗi tiếc…

Với lại, may ra các con anh ở đâu đấy, chúng nó sẽ đọc bài tôi viết về anh. Chúng sẽ tự hào chứ anh! Có một người cha giữ được tiết tháo của mình, sự trong sạch và đứng đắn của mình, lòng tự trọng và không quì xuống trước mặt kẻ thù cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay trong trại tù Cộng Sản, là điều đáng quí và tự hào lắm.

Hồi còn ở Việt nam, có những buổi chiều buồn, tôi ra ngồi ở  bờ sông Thanh Đa, nhìn ra sông Saigon lững lờ chảy xuôi mà tiếc rằng cuộc đời chúng ta đã không được êm đềm như vậy.

Cuộc đời những thanh niên thuộc thế hệ chúng ta bao giờ cũng cuồn cuộn như thác lũ. Tiếng bom, tiếng đại bác, tiếng súng trường, súng liên thanh, tiếng máy bay, xe tăng gầm thét, bao giờ cũng đánh thức chúng ta dậy, gọi ta đi…

Và chúng ta đã trải qua những đoạn đường binh lửa, thật dài.

Dù tôi không trở lại chiến trường cũ, dù tôi không còn đi ngang nghĩa địa Vườn Xoài, nơi anh còn nằm đó, nhưng trí tôi không bao giờ nguôi được những hình ảnh của cuộc chiến đấu ngày trước với những nỗi băn khoăn, nhớ thương như trong mấy câu thơ Chinh Phụ Ngâm:

                        “Dấu binh lửa nước non như cũ,

                        Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.

                        Phận trai già ruỗi chiến trường,

                        Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về”    

Ôi! Ban Siêu! Nhà ngươi sung sướng hơn ta nhiều lắm!

Bảy mươi tuổi, nhà ngươi đi đánh giặc trở về, và từ đó, ngươi được sống một đời êm ấm. Còn ta? Ta giã từ vũ khí khi ta mới bốn mươi tuổi đầu, bước vào vòng tù tội tính bằng con số “chục” năm và bạn ta thì không bao giờ về, không bao giờ về nữa.

Anh Minh thân mến,

Từ nơi bờ sông Saigon đó, tôi viết được một ít về anh. Tiếc thay, bọn Cộng Sản đã đến nhà kiếm tôi, khiến tôi phải bỏ bản thảo mà chạy lấy thân.

Nay ở trên bờ biển đảo Bidong nầy, vẫn một nỗi ray rứt như ngày trước, không một chút nguôi ngoai, không bớt đi một chút nào, tôi lại viết về anh. Tôi biết chắc chẳng có đứa nào dám đến tịch thu bản thảo của tôi một lần thứ hai nữa./