Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Trần Vũ

September 10th, 2020

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 18

Ký ức dân Việt ghi lại hình ảnh dã man nhưng vô cùng kỷ luật của lính Nhật. Trên đường phố Sàigòn năm 1944-1945 là những người lính của Sư đoàn 2 Bộ chiến Sendai. Sư đoàn mang danh hiệu “Anh Dũng”, Isamu-Heidan 勇兵団. Sư đoàn thâm niên nhất của Lục quân Đế quốc Nhật, từ 1871 vang danh trên các chiến trường Cao Ly, Mãn Châu, Cáp-Nhĩ-Tân (Harbin), Phụng Thiên (Mukden) trước khi làm tổng trừ bị cho đạo quân Quan-Đông (Kwangtung Army). Vì sao những người lính thiện chiến nhất, có khả năng nhịn đói nhiều ngày mà vẫn điền kinh nhiều mươi cây số không mệt mỏi, mang hỗn danh Daini-shidan 爱你实弹, “Ưa đạn thật”, lại đứng gác ở ngã ba Hai Bà Trưng-Trần Quang Khải-Yên Đỗ, ở góc đường Hàm Nghi, công trường Quách Thị Trang hay Ngã Sáu Phù Đổng Thiên Vương? Ngay cả khi tên đường khi ấy là tên Tây, vẫn là một bí mật. Division Sendai! Kiêu Dũng! Phụng sự Thiên Hoàng! …ra gác chợ Phú Nhuận.

Vì đã xảy ra Guadalcanal. Tháng 8-1942 Thủy sư Đô đốc Chester Nimitz tổng phản công. Giành lại quần đảo Solomon rồi từ đây với các sân bay tân tạo tái chiếm Santa Isabel, Boungainville Island, New Ireland, New Britain với thủ phủ Rabaul là trung tâm hành quân Nam Thái Bình Dương của Nhật Bản, trước khi vươn lên Saipan, Iwojima, Okinawa, là chiến lược “Nhảy Cóc”, Leapfrogging hay còn gọi “Nhảy đảo”, Island hopping, từ đảo này sang đảo khác mà không nhất thiết phải hành quân đất liền từ Miến Điện sang Đông Dương sang Trung Hoa… Guadalcanal là đảo lớn nhất của chuỗi đảo Solomon. Chiếm Guadalcanal là cắt đường tiến xuống cực Nam cùng lúc uy hiếp cạnh sườn của quân Nhật trên bán đảo Papua New Guinea, nơi Sakai đồn trú, đang muốn xuống Úc châu. Một lưỡi dao đâm ba sườn!

Thay thế Phó Đô đốc Tsukahara chỉ huy Không Hạm đội 11, Phó Đô đốc Kusaka phản ứng tức khắc. Tung Phi đoàn Lae của Sakai oanh kích hạm đội đổ bộ Hoa Kỳ của Đề đốc Kelly Turner. Kusaka quân viện Sư đoàn Sendai lên Guadalcanal với tiêu lệnh: “Dìm lính Mỹ xuống biển!” Trung đoàn 4 của Trung tá Kiyonao Ichiki quyết chiếm phi trường Henderson. Trận đánh mũi Tenaru đi vào lịch sử: Các sĩ quan Nhật tuốt trần kiếm với bộ binh tuốt sáng lưỡi lê xung phong bất chấp hoả lực của Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Tenaru! Banzai! Là chiến tích của The first US Marine Division. Trung tá Ichiki để lại 800 xác và bắn vào miệng tự sát. Guadalcanal là trận chiến kéo dài 5 tháng với riêng Sư đoàn Sendai thiệt hại 7,000 tử thương mà không hất được lính Mỹ xuống biển, khiến bị Bộ Tổng Tham mưu Nhật khinh miệt và phải sang Đông Dương gác cầu Thị Nghè, Sàigòn.

Là dưới đất. Còn trên mây, Guadalcanal sẽ là không chiến nguy hiểm nhất binh nghiệp Sakai. Lần đầu tiên đối mặt các phi công Hải quân Hoa Kỳ trên các máy bay F4F Wildcat, SBD Dauntless và Grumman TBF Avenger, Sakai vẫn lập chiến công nhưng lần đầu tiên anh bị bắn trọng thương với cockpit vỡ nát, ghim hai mảnh đạn đại liên trong đầu và một mắt thui chột. Là chương XVIII và các tuần sắp đến. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 18

Chương 18

Ngày 3 tháng 8-1942, Rabaul gọi về hầu hết những phi công được chỉ định đến Lae trước đây. Việc thuyên chuyển này khiến chúng tôi hân hoan, vì nó hứa hẹn thoát khỏi các phi vụ tuần tiễu ở Buna và thoát khỏi cảnh bị oanh tạc hàng đêm. Chúng tôi không mang theo vật dụng gì, vì tin rằng sẽ sớm trở về. Chúng tôi sai lầm, bốn ngày đầu tiên ở Rabaul, chúng tôi phải thực hiện những phi vụ càn quét ở Rabi, phía Bắc Fiji. Màn lưới chiến đấu cơ đã được đối phương thiết lập nhanh chóng trên hòn đảo này, có thể so sánh với căn cứ Moresby.

Ngày 8 tháng 8, sau khi nhận lịnh tuần thám của Bộ Chỉ Huy, chúng tôi bước ngang qua phi đạo để tiến đến các chiến đấu cơ của chúng tôi. Lúc hầu hết 18 phi công đều ngồi trong phòng lái, nhiều liên lạc viên chạy ra la lớn rằng phi vụ bị bãi bỏ. Chúng tôi lập tức trở lại Bộ Chỉ Huy. Nơi đây đang lên cơn sốt. Liên lạc viên đưa tin chạy tới chạy lui. Các sĩ quan lướt qua chúng tôi với vẻ mặt đầy khẩn cấp. Trung tá Nakajima, cầm đầu phi vụ hôm nay, bước ra khỏi văn phòng của Phó Ðô đốc Kusaka, nói lớn với chúng tôi với vẻ tức tối: “Phi vụ bị bãi bỏ. Chúng ta sẽ đi nơi khác.” Ông chỉ một nhân viên đưa tin: “Anh, lấy cho tôi một bản đồ coi, mau lên!”.

Ông trải bản đồ lên một cái bàn rộng và bắt đầu vạch một đường thẳng với một chiếc compas. Ông cúi gằm trên bản đồ, không mảy may lưu ý đến bọn phi công chúng tôi. Tôi hỏi Ðại úy Sasai xem ông có biết việc gì xảy ra không. Sasai hỏi Nakajima và chỉ nhận mấy câu càu nhàu, rồi vị chỉ huy trưởng phi đoàn ba chân bốn cẳng vô văn phòng của Ðô đốc. Vài phút sau ông trở ra, và ra dấu cho các phi công tụ họp quanh ông. Những tiếng nói của ông không khác nào một trái bom: “Vào lúc 5 giờ 20 phút sáng nay, một lực lượng địch vô cùng mạnh mẽ bắt đầu đổ bộ lên Lunga, ở cuối bãi phía Nam của đảo Guadalcanal. Theo các báo cáo sơ khởi của chúng ta, quân Mỹ đã ném lên hòn đảo này một khối lượng người và trang bị khủng khiếp. Cùng lúc, họ cũng mở ra các cuộc tấn công ở Tulagi, trên đảo Florida. Tất cả thủy phi cơ của chúng ta tiêu hết không còn một chiếc. Khi Ðô đốc tư lịnh thảo xong kế hoạch, chúng ta sẽ cất cánh lập tức hướng đến Guadalcanal để tấn công các lực lượng địch trên bãi biển.”

Liên lạc viên phát bản đồ cho mỗi phi công. Chúng tôi xem xét và nghiên cứu hòn đảo còn xa lạ đó, nhưng bỗng nhiên trở nên quan trọng này. Nhiều người bàn tán: “Ở đâu lại hiện ra hòn đảo trời đánh này?” Một phi công nổi nóng la lên: “Ai đã từng nghe đến tên của một nơi chó chết như vậy chưa?”

Chúng tôi tính khoảng cách từ Rabaul đến Guadalcanal. Không tin nổi. Xa đến 1,040 cây số! Chúng tôi sẽ phải bay đi tấn công các đầu cầu đổ bộ của địch quân và trở về với khoảng cách đó. Khoảng cách chưa từng nghe nói đến. Ðiều này nghĩa là đường bay khứ hồi dài hơn 2,000 km, đó là không kể trường hợp gặp bão hoặc đụng độ giữa đường.

Như vậy cũng đủ để mọi suy luận ngưng lại. Chúng tôi lặng yên để nghe vị chỉ huy trưởng đưa ra lịnh mới. Vừa lúc ấy một liên lạc viên chạy ùa vô văn phòng Phó Ðô đốc Kusaka rồi trở ra với những báo cáo mới đưa về từ mặt trận. Chúng tôi nghe một binh sĩ đưa tin nói với Nakajima rằng tất cả liên lạc với Tulagi đều bị cắt đứt, và quân phòng ngự ở đó đã hy sinh đến người cuối cùng.

Nghe tin, mặt Sasai tái đi. Tôi phải hỏi năm lần bảy lượt xem có phải ông đau ốm hay không. Cuối cùng nhìn đăm đăm về phía trước, Sasai thì thầm: “Anh rể tôi chiến đấu ở Tulagi.” Nếu Tulagi bị địch quân chiếm đóng, anh rể của Ðại úy Sasai, Thiếu tá Yoshiro Tashiro không thể nào sống sót được. Ông ta sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. (Cái chết của Thiếu tá Tashiro được xác nhận sau đó).

Trung tá Nakajima ban lịnh: “Các anh sắp thực hiện một phi vụ chiến đấu dài nhất trong lịch sử.”, ông thông báo cho chúng tôi. “Ðừng trông chờ may mắn nào ngày hôm nay. Hãy hành động đúng theo lịnh đưa ra và quan trọng nhứt, đừng bay một cách liều mạng và phí phạm xăng nhớt của các anh. Phi công nào hết xăng trên đường từ Guadalcanal quay về, phải đáp xuống đảo Buka. Lực lượng Nhựt trên đảo này đã được chỉ thị phải theo dõi các phi cơ của chúng ta. Hiện tại, để bay đến Guadalcanal và trở về Buka có nghĩa là chúng ta sẽ thực hiện một không trình khứ hồi dài bằng không trình từ Ðài Loan đến phi trường Clark ở Phi Luật Tân trước đây. Tôi chắc chắn chúng ta có thể bay suốt khoảng cách này mà không gặp rắc rối. Nhưng sẽ có những chuyện bất ngờ, do đó tôi lặp lại lời cảnh cáo: Ðừng phí phạm nhiên liệu!”

Tại Ðông-Kinh sau chiến tranh, Trung tá Nakajima có nói với tôi rằng Phó Ðô đốc Jinichi Kusaka thay thế
Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara chỉ huy Không Hạm đội 11, muốn ông đưa hết chiến đấu cơ khả dụng ở Rabaul đến Guadalcanal vào ngày 7 tháng Tám. Nakajima phản đối, ông cho rằng chỉ nên mang theo mười hai phi công tài ba nhứt bên cánh của ông mà thôi. Bởi lẽ ông phỏng đoán phải mất ít nhứt phân nửa số phi công trong nhiệm vụ quá xa như vậy. Hai người thảo luận giằng   co cho đến khi đạt được sự đồng ý với con số 18 chiến đấu cơ.

Ngay khi nhận lịnh, các phi công chia ra thành từng tổ ba người. Tôi nói với Yonekawa và Hatori, hai phi công bên cánh của tôi: “Các anh sẽ đụng phi công Hải quân Hoa Kỳ lần đầu tiên trong ngày hôm nay. Họ nắm hẳn ưu thế do khoảng cách mà chúng ta phải bay. Hai anh phải luôn luôn cẩn trọng trong mọi chuyển động của mình. Tốt hơn hết là các anh đừng bao giờ rời xa khỏi tôi. Mặc kệ những gì xảy ra, bất kể diễn biến xung quanh chúng ta như thế nào, cứ bám chặt lấy phi cơ của tôi được chừng nào hay chừng nấy. Hãy nhớ, đừng có bay ra xa.”

Chúng tôi chạy ra phi cơ và chờ phi đạo trống. 27 oanh tạc cơ Betty cất cánh trước chúng tôi. Trung tá Nakajima đứng trên phòng lái của ông ngoắc tay. Lúc 8 giờ 30 sáng, tất cả chiến đấu cơ đều ở trên không. Nhân viên bảo trì và các phi công ở lại xếp hàng hai bên phi đạo vẫy nón chào và chúc chúng tôi may mắn.

Thời tiết đẹp, nhứt là ở Rabaul. Ngay cả núi lửa cũng im tiếng. Nó ngưng phun phún thạch từ tháng Bảy, và chỉ còn nhả ra một giòng khói mỏng lả ngọn về phía Tây.

Chúng tôi giữ vị trí hộ tống phía sau nhóm oanh tạc cơ. Tôi đã ngạc nhiên khi biết mấy chiếc Betty này mang bom thay vì thủy lôi, vũ khí thông thường để tấn công tàu chiến. Ðiều này khiến tôi lo lắng. Tôi biết rõ là vô cùng khó khăn khi phải tấn công các mục tiêu di chuyển trên mặt biển từ trên cao độ. Hồi ở Buna, mặc dù các oanh tạc cơ B17 địch có tiếng là oanh tạc chính xác, nhưng chúng đã phí hầu hết số lượng bom thả xuống các tàu chiến Nhựt.


Ghi chú Quân sự

Khu trục cơ Grumman F4F Wildcat

hỗn danh “Mèo Hoang”

Dài: 8.8 m, Cao: 2.8 m, Cánh: 11.6 m

Trọng lượng võ trang: 3,610 kg

Động cơ 1,200 mã lực

Tốc độ tối đa: 515 km/g

Đường kính: 1,240 km

Trần bay: 12,000 m

4 đại liên 12 ly 7, 2 bom 45 kg

Tuy bay chậm hơn chiếc Zéro và gia tốc vượt lên thấp hơn (9.9m/s so với 15.7 m/s), F4F Wildcat bọc thép dầy với thùng xăng hàn kín có khả năng chịu đạn gây kinh ngạc cho phi công Nhật.


Chúng tôi gia tăng cao độ lên 3,900 thước rồi bay về phía Ðông đến đảo Buka. Ðây là hòn đảo xinh đẹp đặc biệt, cách Rabaul khoảng 60 dặm. Màu xanh tươi sáng, và giống như hình móng ngựa, hòn đảo san hô này có cái tên ghi trên bản đồ là Ðảo Xanh. Tôi không bao giờ nghĩ rằng quang cảnh đầy màu sắc và hấp dẫn phía dưới sẽ cứu mạng tôi sau này.

Trên không phận Buka, đội hình hợp đoàn xoay về hướng Nam, dọc theo bờ biển phía Tây đảo Bougainville. Mặt trời chiếu xuyên qua mây. Sự oi bức khiến tôi khát nước, và đây cũng là hiện tượng mà chúng tôi thỉnh thoảng cảm thấy khi tiến vô đất địch. Tôi lấy một chai sô-đa trong hộp thức ăn và, không suy nghĩ, tôi mở nút. Tôi quên khuấy độ cao. Ngay khi nút chai vừa bật, nước sô-đa vọt lên dữ dội, áp lực thoát ra trong không khí hiếm hoi. Trong nhiều giây, nước sô-đa bao phủ hết mọi thứ trước mắt tôi. Chất đường trong nước có ga khô lại trên kiếng đeo mắt khiến tôi không nhìn thấy gì nữa. Tôi chửi toang cho sự ngu đần của mình. Mất hết 40 phút tôi mới lau sạch hết mọi thứ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lố bịch hơn. May thay các huấn luyện viên của trường phi hành Tsuchiura không nhìn thấy! Cũng may là các đồng ngũ và cả Ðại úy Sasai không nhìn thấy… nếu không họ sẽ cười nhạo đến tối. Tôi tự hứa sẽ không kể với ai chuyện này, trừ ra với Hatsuyo. Chắc là Hatsuyo sẽ cười khúc khích. Cô em họ của tôi đã lớn, đã trở thành một thiếu nữ khả ái và kỳ lạ là tôi hay nhớ đến Hatsuyo tuy vẫn nhận thư của Fujiko đều đặn. Tôi sẽ không kể chuyện sô-đa với Fujiko vì cần giữ thể diện, nhưng với Hatsuyo, chung huyết thống, tôi thấy gần gũi. Tôi lau kiếng như một bà nội trợ lau bếp, cho đến lúc tôi có thể nhìn thấy mọi hướng, chúng tôi đã bên trên đảo Vella Lavella, nằm giữa đường Rabaul và Guadalcanal.

Bay ngang New Georgia, chúng tôi gia tăng độ cao và lướt qua Russell trên 6,000 thước. Cách năm mươi dặm trước mặt chúng tôi, Guadalcanal hiện ra lờ mờ trên mặt nước. Ngay cả ở khoảng cách xa này, chúng tôi cũng nhìn thấy ánh lửa vàng hực nổi bật lên nền trời xanh bên trên hòn đảo đang tranh chấp. Hiển nhiên các trận đụng độ đã xảy ra giữa những chiến đấu cơ Nhựt đến từ các căn cứ khác Rabaul với phi cơ bao che của địch quân. Tôi nhìn xuống bờ biển phía Bắc Guadalcanal. Trong eo biển nằm giữa Guadalcanal và

Florida, hàng mấy trăm vệt trắng chạy ngang dọc trên mặt nước, là tàu chiến của địch. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều chiến hạm và dương vận hạm cùng một lúc như vầy.

Ðây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một cuộc hành quân không-thủy-bộ hỗn hợp của Hoa Kỳ. Một cuộc hành quân to tát không thể nào tin nổi. Có ít nhứt 70 chiến hạm đang tiến vào các bãi biển, hàng chục khu trục hạm bao quanh, và nhiều chiến hạm ẩn hiện phía chân trời, khoảng cách quá xa khó có thể phân biệt hoặc đếm được.

Lúc ấy các oanh tạc cơ Betty chầm chậm vung rộng ra để thả bom. Ngay phía trên các phi cơ này là những đám mây nhỏ treo lơ lửng ở cao độ 4,000 m. Phía bên phải và ở trên cao, mặt trời chói loà xoá nhoà mọi thứ trước mắt. Tôi cảm thấy bất an, vì chúng tôi không thể nào nhìn thấy được chiến đấu cơ Mỹ nhào xuống từ góc đó. Ðiều lo sợ của tôi đã sớm thành sự thật. Không một dấu hiệu nào báo trước, 6 máy bay địch thình lình nhô ra khỏi ánh sáng loé mắt. Chỉ cần liếc qua, tôi thấy ngay những phi cơ này to lớn hơn mọi loại chiến đấu cơ Mỹ mà chúng tôi thường chạm trán. Tất cả đều sơn màu ô liu, chỉ phía dưới cánh là sơn màu trắng. Ðó là loại chiến đấu cơ Wildcat, Grumman F4F lần đầu tiên tôi đụng độ.

Mấy chiếc Wildcat, không biết có sự hiện diện của các chiến đấu cơ Zéro, chúi xuống tấn công các oanh tạc cơ Nhựt. Nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi xông tới, và một số khai hoả ngoài tầm, hy vọng xua đuổi phi cơ địch. 6 chiếc Wildcat cùng lộn nhào tức thì và chúi xuống biến mất. Phía trên mặt nước cạnh đảo Savo, các oanh tạc cơ bắt đầu thả bom xuống nhóm chuyển vận hạm to lớn của địch quân. Tôi nhìn theo hướng bom rớt. Những cột nước dâng cao khỏi mặt biển, nhưng chiến hạm địch vẫn lướt tới, không hề rối loạn.

Hiển nhiên, cố gắng thả bom cho trúng các chiến hạm đang chạy từ độ cao 6,000 thước là một việc làm ngu dại. Tôi không thể nào hiểu được tại sao không sử dụng thủy lôi đã từng chứng tỏ sự hữu hiệu trong quá khứ. (Ngày hôm sau các oanh tạc cơ này quày lại, lần này mang theo thủy lôi để tấn công ở cao độ thấp. Nhưng bấy giờ thì đã trễ. Chiến đấu cơ địch đông như kiến bu quanh và nhiều chiếc Betty bị nhận đầu xuống biển trước khi tiến đến gần mục tiêu…) Sau khi trút hết bom, các oanh tạc cơ hai máy lạng qua trái và gia tăng tốc lực để trở về Rabaul. Chúng tôi hộ tống các oanh tạc cơ qua khỏi đảo Russell, ra ngoài tầm hoạt động của máy bay địch, và quày lại Guadalcanal. Lúc ấy khoảng 1 giờ 30 chiều. Chúng tôi lướt qua Lunga, tất cả 18 chiếc Zéro đều chuẩn bị lâm trận. Một lần nữa, trong ánh mặt trời chói chang gây mù loà, mấy chiếc Wildcat nhào xuống nhóm phi cơ của chúng tôi. Tôi là phi công duy nhứt phát hiện cuộc tấn công và lập tức, tôi chĩa mũi chiếc phi cơ của tôi thẳng đứng lên với những chiếc Zéro khác tiếp sau. Mấy chiếc Wildcat lại phân tán và chúi xuống theo nhiều hướng khác nhau. Chiến thuật lẩn tránh của đối phương không có vẻ rối loạn, và lối lẩn tránh này khá lạ. Có vẻ như phi công Mỹ không có ý định quyết chiến hoặc đang muốn dụ chúng tôi vào bẫy.

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Trần Vũ

3rd September 2020

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 17

Tháng 7-1942 Sư đoàn 55 Biên Trấn Nhật Bản của Thiếu tướng Tomitaro Horii đổ bộ lên Buna, bên này bán đảo Papua New Guinea, với sứ mạng vượt 160 cây số rừng già để tiến xuống phía nam đánh chiếm pháo đài Moresby, phá cửa ngõ cuối cùng vào Úc châu.

Một nhiệm vụ bất khả, ngay cả đối với Sư đoàn 55 danh hiệu So-heidan, chuyên tác chiến ngoại biên, là đơn vị đã chiếm Guam, bắt sống Thống đốc George Johnson McMillin và đánh bại Lục quân Anh tại Miến Điện trong năm 1941.

Bất khả, vì Đồng Minh dàn Sư đoàn 32 Bộ binh Mũi Tên Đỏ, “The US Red Arrow Division” với các Lữ đoàn Thép, The Iron Brigades và Sư đoàn 7 Dã chiến Úc-Đại-Lợi là sư đoàn đã tử thủ tại Tobruk, đẩy lui Quân đoàn Châu phi của Rommel. Các cựu quân nhân VNCH tham dự Hạ Lào 1971 đều biết: chiến tranh miền núi bất lợi cho phía tấn công. Các sĩ quan VNCH từng kiểm chứng quân đội Úc tác chiến rất giỏi trong rừng rậm. Không ngẫu nhiên, vì bắt nguồn từ truyền thống trận Buna. Phía Úc tăng cường thêm 3,000 binh sĩ thổ dân của các Chiến đoàn Dân Sự Vụ Chiến đấu và chi đoàn chiến xa nhẹ M3 Stuart. Thống tướng McArthur có ưu thế đánh trên đất nhà với hải cảng Darwin làm trạm trung chuyển tiếp tế, và hậu phương Queensland ngay phía sau Port Moresby.

Ít hơn 1/2 quân số, tiếp vận yếu kém, không pháo binh nặng, không cơ giới, không hải pháo vì đã tiến sâu vào rừng rậm, lính Nhật kiệt sức khi còn cách Moresby 32 cây số. Không phải cách 1 dặm như Sakai viết, đây chỉ là những toán viễn thám mà thôi, các Trung đoàn 112 và 144 Bộ binh của Sư đoàn 55 Biên Trấn hãy còn cách Moresby bằng khoảng cách từ Biên Hòa vào Sàigòn. Đuối sức, Thiếu tướng Tomitaro Horii tháo lui rồi tử trận. Vinh thăng Trung tướng. Vẫn là một thất bại.

Quận lỵ Buna chỉ cách căn cứ Lae 268 cây số đường chim bay và cách Port Moresby 304 cây số, nên phi đoàn của Sakai nhận lệnh không yểm cho Thiếu tướng Tomitaro. Lần đầu tiên các phi công Samurai chạm trán với phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless là máy bay oanh kích đâm bổ đánh chìm nhiều chiến hạm Nhật nhất trong Thế chiến. Cũng lần đầu tiên xuất hiện chiến đấu cơ Grumman F4F Wildcat của US Navy. Cả hai kiểu máy bay trên, tuy bay chậm hơn Mitsubishi Zéro, khiến Sakai và các đồng đội anh khinh dễ, nhưng vỏ thép dầy với thùng xăng hàn kín giúp tăng sức chịu đạn, sẽ thành đối thủ lỳ lợm. 

Chương kế tiếp, Đô đốc Nimitz tư lệnh Pacific Fleet tổng phản công tái chiếm quần đảo Solomon. Những trang sử oanh liệt của Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, hậu cứ Camp Pendleton, viết trên bãi cát Guadacanal. Những trang sử tiếp theo, ra ngoài hồi ký Samurai, của The First US Marine Division sẽ viết trên đất Chu Lai -Trung phần Việt-Nam- vào tháng 3-1966.

 [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 17

Chương 17

Chúng tôi bước qua giai đoạn mới của cuộc chiến vào ngày 21 tháng Bảy, khi một sư đoàn bộ binh Nhựt đổ bộ lên Buna, cách phía nam Lae 268 cây số. Bộ binh lập tức mở đường xuyên qua rừng già dầy bịt trên đảo để tiến đến hải cảng Moresby. Nhìn trên bản đồ, cuộc điều binh không mấy gì khó khăn. Buna giống như một hòn đá được quăng ra từ Moresby để nối liền eo biển giữa nó và bán đảo Papua. Nhưng tình trạng các hòn đảo rừng rậm trên bản đồ hoàn toàn khác biệt với tình trạng nghiệt ngã phía dưới những tàn cây kín như bưng. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã sai lầm khủng khiếp và chết người. Trước khi cuộc hành quân này chấm dứt, Nhựt Bản phải chịu đựng một trong những tai họa bi đát và nhục nhã nhất.

Rặng núi Owen Stanley có lẽ còn cao hơn rặng núi đáng sợ Alpes. Nếu chỉ mô tả rừng rậm dầy bịt trên sườn núi không thôi thì e quá dễ dãi. Dưới đời sống của cây cối còn nhiều sự tàn bạo không thể tưởng tượng nổi. Nếu không có những ao đầm, những bãi lầy dưới chân thì cũng phải là những tảng đá bén như dao cạo, những cái dốc thẳng đứng. Ðó là không nói đến các loại sên vắt, khí hậu nóng bức đến nghẹt thở, và những chứng bệnh chết người không thể tìm ra nguyên nhân.

Vượt qua băng tuyết trên rặng Alpes có lẽ còn dễ dàng hơn vượt qua rừng rậm của dãy núi Owen-Stanley. Ðơn vị nào lọt ngay vô một bãi lầy thì kể như tiêu luôn. Khí hậu vừa nóng bức vừa ẩm thấp khiến cho các sây sát hoặc vết thương lở loét thêm. Từ mọi lỗ chân lông mồ hôi tươm ra cho đến khi nước trong người khô cạn. Ðồ trang bị hư hại, quần áo rách tả tơi, đôi chân bị cắt nát bấy bởi đá, gai góc và lá cây sắc nhọn như dao.

Trong nhiều tháng ròng rã, lực lượng bộ binh của chúng tôi đã xung đột với một kẻ thù tồi tệ nhứt mà họ chưa từng đối diện bao giờ. Một kẻ thù không có súng ống, không đặt mìn bẫy, nhưng đã lần lượt nuốt trọn hàng ngàn binh sĩ Nhựt. Nhiều đơn vị cũng lập được chiến công siêu phàm, tìm đường lần mò đến gần mục tiêu chỉ định, pháo đài Moresby, trong vòng một dặm. Nhưng các đơn vị này đều bị tiêu diệt, đa số chết đói vì loay hoay trong rừng rậm không tìm được lối thoát.

(*) Thất trận Buna của Nhật Bản thêm dễ hiểu nếu nhìn vào phóng đồ hành quân Lam Sơn 719: Từ Khe Sanh đến Tchéphone chỉ cách 65 cây số đường rừng mà 3 sư đoàn thiện chiến nhất của VNCH, với không yểm hùng hậu của Hoa Kỳ, chạm đích là bị đánh bật. 160 cây số rừng già từ Buna xuống Moresby là Đường đi không đến.   

Cuộc tấn công trên bộ là một cựa quậy tuyệt vọng. Trước kia Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã sắp xếp một cuộc tấn công Moresby quy mô, cả hai mặt đường biển và đường bộ. Nhưng kế hoạch này đã bị bãi bỏ vào ngày 7 tháng 5, khi hai hàng không mẫu hạm Nhựt đụng độ với hai hàng không mẫu hạm của địch trên biển San Hô. Ðây là trận hải chiến đầu tiên mà tàu cả hai phía không bắn một phát súng nào. Mỗi lực lượng chỉ sử dụng phi cơ oanh tạc lẫn nhau. Chúng tôi thắng trận này, nhưng địch quân đạt được mục đích của họ: cuộc tấn công thủy bộ như dự tính đã bị bãi bỏ.

Với cuộc đổ bộ của bộ binh ở Buna, Tổng Hành Dinh Rabaul ra lịnh cho chúng tôi đình chỉ các cuộc tấn công Moresby, và tất cả các phi cơ quay sang không yểm cho cuộc đổ bộ. Cuộc đổ bộ Buna, mà sự thất bại đã nhìn thấy ngay khi nó được phát động, chỉ là một phần trong một cuộc hành quân rộng lớn hơn. Sự thất bại này không chỉ do rừng rậm gây ra, nhưng còn do sự thiếu hiểu biết về các vấn đề tiếp vận của giới chức chỉ huy. Sự yếu kém này, phối hợp với những chuyển động vượt trội của đối phương, một thảm họa đã cầm chắc trong tay.

Cùng lúc với cuộc đổ bộ ở Buna, một đơn vị xung kích đã nhảy lên mũi cực Ðông của đảo New Guinea. Làm việc ngày đêm, đơn vị này thiết lập được một phi trường mới bên ngoài rừng rậm ở Rabi, với ý định đổ tiếp liệu cho binh sĩ di chuyển từ đầu cầu Buna xuyên qua New Guinea. Thật lạ lùng, địch quân không dội bom lúc công việc thiết lập phi trường này còn dở dang, nhưng họ ghi nhận đầy đủ bằng không ảnh do phi cơ thám thính chụp. Tuy nhiên, khi binh sĩ của chúng tôi vừa hoàn tất nhiệm vụ, lực lượng địch đánh úp bất ngờ, và vét trọn đơn vị phòng giữ của chúng tôi. Ðó là một cú đánh đẹp mắt, Nhựt Bản thiết lập phi trường để cho phi cơ của Hoa Kỳ và Úc Ðại Lợi sử dụng.

Nhưng đối phương không hài lòng với phi trường của Nhựt khá đơn sơ này. Công binh của họ thiết lập những phi đạo mới trong khu rừng với một tốc độ tiến hành đáng kinh ngạc. Oanh tạc cơ hạng trung và chiến đấu cơ của họ đáp trên các phi đạo mới này, ngay khi còn đang dở dang. Và các cuộc không tập càng lúc càng gia tăng khối lượng phi cơ và bom. Không đêm nào mà không có những chiếc B25 Mitchell và B26 Marauder xuất hiện.

Trong ngày, Phi đoàn Lae phải cắt đặt thế nào để luôn luôn có 6 đến 9 chiến đấu cơ Zéro hoạt động trên không phận Buna, đồng thời phải duy trì một lực lượng bảo vệ phi trường. Nhiệm vụ bao che Buna quá sức chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn tìm cách ngăn chặn các cuộc không kích quy mô của đối phương nhằm tiêu diệt các đầu cầu đã thiết lập.

Ngày 22 tháng 7, trong một phi vụ bao che gồm 6 chiến đấu cơ Zéro, tôi bắn hạ thêm hai phi cơ địch, nâng tổng số nạn nhân của tôi lên 49.

Một vài tuần kế đó, chúng tôi vẫn giữ nhiệm vụ bao che khu vực bãi biển Buna, nhưng vào hạ tuần tháng Bảy chúng tôi phải đương đầu với một giai đoạn mới đầy xa lạ của cuộc chiến. Lịnh đưa xuống từ Bộ Tư Lịnh Tối Cao. Ðại tá Saito chỉ thị mọi phi công phải mang dù trong khi chiến đấu. Tôi có một cảm giác kỳ lạ với cây dù phía sau lưng và những sợi dây buộc quanh thân. Tôi chưa bao giờ bay với tình trạng gò bó như vậy trước đây.

Một lịnh khác đã làm chúng tôi ngơ ngác không khác gì lịnh mang dù. Ðại tá Saito ban xuống, từ nay trở về sau không có chiến đấu cơ nào được vượt qua rặng núi Owen-Stanley, và lịnh này không giải thích lý do.

Chỉ có một dịp duy nhứt, vào ngày 26 tháng 7, đã khiến tôi thấy lại hải cảng Moresby. Chúng tôi nghinh chiến 5 oanh tạc cơ Marauder trên không phận Buna, tôi bắn hạ hai chiếc rồi cùng với Sasai và Endo truy đuổi những chiếc còn lại. Chúng tôi vượt quá bên kia rặng núi, trái với lịnh đưa ra. Ðó là lần cuối cùng chúng tôi bay trên căn cứ của địch quân. Tình thế chúng tôi thay đổi nhanh chóng. Vào cuối tuần lễ đầu tiên của tháng Tám, chúng tôi bắt đầu đối diện với những tình trạng mà chúng tôi chưa bao giờ biết đến trước đây. Người Mỹ đã phát động một cuộc đổ bộ quy mô lên đảo Guadalcanal.

Ngày 29 tháng Bảy, Ðại úy Joji Yamashita quay về Lae, sau một phi vụ tuần thám ở Buna, với một tin tức gây xôn xao cả căn cứ. Lần đầu tiên các phi cơ của ông bị phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ tấn công. Trước giờ chúng tôi chỉ đụng với Không quân của Lục quân Hoa Kỳ là USAAF. Lần này là US NAVY.

Ðại úy Yamashita đã báo cáo với Ðại tá Saito và Trung tá Nakajima rằng 9 chiếc Zéro của ông đã chạm trán với một lực lượng hỗn hợp bao gồm các loại chiến đấu cơ Grumman F4F Wildcat và oanh tạc cơ Douglas SBD Dauntless của Hoa Kỳ, được hướng dẫn đến Buna bởi các chiến đấu cơ P-39 Airacobra. Theo xét đoán của ông lực lượng này phát xuất từ Rabi. Ðây là lần đầu tiên các phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ xuất hiện trong khu vực chiến đấu của chúng tôi.

Tin tức về một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đã di chuyển vô hải phận New Guinea là một điềm dữ, và các sĩ quan tham mưu của chúng tôi có vẻ xao xuyến. Nếu người Mỹ đưa được hàng không mẫu hạm vô hải phận này để phóng ra các cuộc tấn công vào Lae, Buna và Rabaul thì chiến thắng của họ ở Midway kể như có thật và đồng thời phủ nhận những mất mát quan trọng của họ trong trận đánh ở biển San Hô. Trước đó, Ðông-Kinh đã công bố rằng hạm đội của chúng tôi đã tiêu diệt hết hàng không mẫu hạm địch trong các cuộc đụng độ ở biển San Hô và Midway, nếu sự thật đúng như vậy, tại sao lại có một hàng không mẫu hạm trong vùng lân cận của chúng tôi? Chúng tôi bắt đầu nghi ngờ những công bố chiến thắng mà Ðông-Kinh luôn luôn lặp đi lặp lại.

Tuy nhiên, đa số phi công chiến đấu ở Lae đã ghi nhận tin tức với một thái độ khác biệt hoàn toàn. Ðêm đó, chúng tôi đã đặt nhiều câu hỏi với các phi công của Ðại úy Yamashita. Có bao nhiêu phi cơ của Hải quân Mỹ? Loại chiến đấu cơ F4F Wildcat có tốt hơn loại chiến đấu cơ P-39 Airacobra và Curtiss P40 Warhawk không? Các phi công US Navy tài giỏi bậc nào?

Những câu giải đáp của họ đã làm chúng tôi bền chí. Phi đội của Yamashita đã hạ 3 phóng pháo cơ Dauntless, 5 chiến đấu cơ Wildcat và 1 chiếc P-39 mà không mất một chiếc Zéro nào. Do đó những gì có thể xảy ra ở Midway, ở biển San Hô hoặc bất cứ nơi nào khác không còn quan trọng đối với chúng tôi nữa.

Chúng tôi chỉ cần biết trong bốn tháng liên tiếp vừa qua chúng tôi luôn luôn chiến thắng, và các phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ xuất hiện chẳng qua là giúp cơ hội cho chúng tôi chiến thắng nữa.

Ba ngày liền các phi cơ mới của địch không thấy xuất hiện ở Buna. Vào ngày 30 tháng Bảy, chín pháo đài bay B17 tấn công khu vực đầu cầu đổ bộ, và cuộc tấn công xem như đã đạt hiệu quả. Chín chiến đấu cơ của chúng tôi chỉ bắn rơi được 1 pháo đài bay địch. Tôi đã gặt hái được chiến thắng này khi tôi đụng đầu với chiếc B17 trên mũi Nelson, với tất cả hoả lực tập trung vào mũi của nó. Chắc chắn viên phi công chính và phụ đều thiệt mạng, vì chiếc phi cơ khổng lồ đâm chúi xuống biển. Ðó là một trong những trận đánh khó khăn nhứt của tôi, vì tôi trở về Lae với nhiều vết thương ở cánh tay phải do đạn địch gây ra. Tôi chỉ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, và các chuyên viên cơ khí phải làm việc suốt đêm để vá lại hàng chục lỗ đạn ở thân và cánh chiếc phi cơ của tôi.

Vào ngày 2 tháng Tám, hình ảnh của những chiếc phi cơ mới của Hải quân Hoa Kỳ biến mất trong đầu óc tôi. Khi ngày sắp hết, lúc bay quần trên Buna ở cao độ 12,000 bộ, chúng tôi phát hiện 5 chấm nhỏ li ti nổi bật trong mây, cách đầu cầu đổ bộ nhiều dặm. Hình như là những chiếc pháo đài bay và ở cùng một cao độ với chúng tôi. Tôi bay dọc theo phi cơ của Sasai và ra dấu những oanh tạc cơ đang đến. Ông gật đầu và chúng tôi cùng báo hiệu cho các phi công khác. Chúng tôi vẫn giữ đội hình, bay vòng quanh chầm chậm cho đến khi tiếng máy của năm oanh tạc cơ nghe thấy rõ ràng. Sasai giơ tay lên, lắc cánh phi cơ ra lệnh phá vỡ đội hình chữ V của chúng tôi và tấn công trực diện theo hàng dọc. Chúng tôi quăng các bình xăng phụ. 9 Zéro chống với 5 B17 và hầu hết chín chúng tôi đều là những phi công hàng đầu của Nhựt về số điểm chiến thắng. Sasai cầm đầu cuộc tấn công. Ota bay cách 500 thước phía sau ông, tiếp theo là Endo. Tôi ở vị trí thứ tư, cũng cách 500 thước, với hai phi công bên cánh là Yonekawa và Hatori ở phía sau đuôi, tức ở vị trí thứ năm và sáu. Nishizawa ở vị trí thứ bảy, kế đó là Takatsuka và cuối cùng là trung sĩ Yashio Sueyoshi. Chín chiến đấu cơ trải dài ra 400 thước và trên đó là những phi công tài giỏi nhứt Nhựt Bản.

Các pháo đài bay khép chặt đội hình khi chúng tôi áp sát. Phi cơ Sasai hạ xuống phía dưới chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu rồi vượt lên và từ từ lăn tròn để nhắm “dưới cằm” của phi cơ địch. Giây thứ hai sau khi ông khai hoả và vượt lên, vừa vượt vừa bắn, từ các oanh tạc cơ, những dòng khói ria ra, nhưng đó là khói của các khẩu đại liên 50. Ðội hình của địch vẫn không thay đổi.

Thế rồi Ota lướt đến hành động giống như Sasai. Tôi nhìn thấy những tia đạn từ phi cơ của hắn trúng vào chiếc B17 dẫn đầu, và hắn lướt thẳng lên. Một tiếng nổ dữ dội rung chuyển mọi phi cơ xung quanh và bầu trời như bao phủ trong làn khói. Chiếc oanh tạc cơ không còn nhìn thấy nữa. Nó biến mất, tan ra thành muôn ngàn mảnh vụn do bom chất đầy trong phi cơ phát nổ. Ðó là một đòn sát thủ ngoạn mục nhứt trên không mà tôi được nhìn thấy từ trước đến nay. Tôi vui mừng khi nhìn thấy phi cơ của Ota vọt lên khỏi màn khói.

Lúc đó Endo cũng nhập cuộc, nhưng vô hiệu vì bị hoả lực chéo dữ dội của các oanh tạc cơ ngăn chặn. Bây giờ tới phiên tôi. Tôi kéo cần điều khiển nhè nhẹ về phía sau, chiếc pháo đài bay thứ ba lướt tới phía tôi chầm chậm. Gần hơn nữa và gần hơn nữa, tôi ấn cò súng. Không có tiếng nổ. Ðồ ngu. Tôi quên mở khoá an toàn, một sai lầm mà ngay cả những phi công mới biết bay chập choạng cũng không để mắc phải…! Tôi lộn nhào thật dữ dội để tránh chiếc B17 đang lướt đến chỉ còn cách tôi có 20 thước.

Tôi bị hoả lực bắn chéo của các xạ thủ địch. Chiếc Zéro lảo đảo khi những viên đại liên chọc vô thân, và tôi cảm thấy bị xốc khi nghe tiếng đạn xoi vô chất kim khí. Hiện thời tôi bối rối hẳn, và chiếc phi cơ phơi bụng lên trên. Tôi gạt cần điều khiển thật mạnh sang trái, chiếc Zéro lộn nhào thật dữ dội.

Ðại liên địch vẫn xẹt ngang tứ phía. Tôi lướt qua, nhưng không phải là không bị hư hại. Tôi chửi thề sự ngu dốt của mình, nhưng có chửi thì cũng đã quá muộn. Tôi hạ xuống phía dưới đội hình của đối phương, và vọt cấp tốc về phía các oanh tạc cơ để đánh nữa.

Nishizawa đang quất một cú đẹp mắt, hắn vừa xoay tròn chầm chậm vừa vượt lên, lăn tròn một vòng như chớp khi khoảng cách giữa hắn và phi cơ địch thâu hẹp lại, rồi rót một loạt đại bác vô thùng xăng bên cánh của đối phương. Tức khắc, lửa túa ra, lan thật mau, và trong một vài giây chiếc pháo đài bay biến thành một cuộn lửa khổng lồ.

Lửa hực theo chiều gió dọc theo thân chiếc B17 đang trôi đi tuồn tuột, rồi mũi cắm xuống đất. Lúc ấy Sasai đã quay trở lại chụp hoả lực lên một chiếc oanh tạc cơ  khác từ mũi đến đàng đuôi ở khoảng cách chỉ khoảng 150 thước. Thân chiếc phi cơ lãnh đạn lộn nhào về phải, mất kiểm soát. Tôi thấy lửa thò ra từ trong thân chiếc phi cơ, lan tới phòng lái và tháp súng thứ hai. Lửa dữ dội hơn trong vòng hai phút và một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên, đánh dấu sự hủy diệt của chiếc B17 thứ ba.

Tôi vượt lên theo hình thắt nút dây, căng mắt dõi theo hai chiếc oanh tạc cơ còn lại, chúng đang rẽ về hai hướng khác nhau. Một chiếc đang hướng đến một mỏm núi chởn chơ, một chiếc quay ra biển. Tôi đang theo hướng chiếc đang bay ra biển gần nhứt. Chiếc B17 chao đảo liên hồi khi tôi cố chụp lên buồng lái và bên cánh của nó bằng những loạt đạn tầm dài. Ðại bác 20 ly của tôi hộc lên từng loạt.

Có điều lạ là chiếc phi cơ không chịu buông sức nặng trong mình ra. Nó vẫn trốn chạy với những trái bom mang theo. Tôi chúi xuống để lấy đà rồi lại vượt lên từ phía dưới chiếc oanh tạc cơ và khép khoảng cách vào phía cánh trái của nó. Chiếc B17 lớn hơn, lớn hơn nữa trong mắt tôi. To dần cho đến khi gần sát. Tôi vồ ngược lên, và đưa mắt nhìn những viên đạn chọc thủng cánh trái của nó. Thế giới như đổ sụp. Một màn ánh sáng gay gắt hừng hực tràn ngập bầu trời khiến tôi thấy tối tăm mặt mũi. Có một bàn tay khổng lồ tóm lấy chiếc Zéro và lắc qua lắc lại thật dữ tợn. Tai tôi điếc câm và tôi nghe mùi máu ứa ra từ trong mũi. Pháo đài bay thứ tư đã ra đi vĩnh viễn. Mỗi chiếc đều bị hủy diệt với chính những trái bom mang bên trong. Hiện thời chỉ còn lại một chiếc đang chạy về phía dãy núi. Tám chiếc Zéro ùa theo, giương nanh múa vuốt như lũ chó săn bu quanh một con heo rừng. Tuy nhiên mấy chiếc Zéro khó bắt kịp chiếc B17, vì lẽ nó đã thả hết bom để gia tăng tốc lực. Hướng bay của nó cắt ngang qua mũi của tôi, tôi nhận thấy đó là một dịp may để ngăn chặn trước khi nó tiến sâu vô đất liền.

Ngay khi gia tốc lên hết tối đa, lướt về phía trước, tôi phát hiện ba chiếc Airacobra ào xuống từ phía Ðông và tiến sát vào tám chiến đấu cơ Zéro đang truy địch. Ba chiếc P-39 bắt đầu vượt lên, định chụp mấy chiếc Zéro lơ đãng. Tôi xoay một vòng thật rộng, cũng với ý định chụp trước ba chiếc P-39 “lơ đãng” này.

Ngay khi chiếc P-39 đầu tiên vừa đặt chiếc Zéro bay cuối vào vòng ngắm thì tôi chúi xuống thật nhẹ nhàng. Chắc viên phi công địch sẽ không bao giờ biết được những gì đã xảy ra, vì ngay lập tức một loạt đạn đại bác và đại liên của tôi đã nghiền nát thân phi cơ địch ra từng mảnh, một cái cánh bay ngang qua thân chiếc Zéro của tôi. Tiếng súng tôi đã báo động cho tám chiến đấu cơ Zéro và lập tức hai chiếc Zéro xoay thân và chúi xuống theo hình trôn ốc và rớt ngay xuống hai chiếc P-39 kia, diễn tiến chỉ trong vòng một giây. Tôi ghi nhận đó là hai phi công vô địch Nishizawa và Ota. Mỗi người chỉ thổi một quả đại bác, và hai chiếc Airacobra biến thành hai cây đuốc rớt xuống.

Nhưng nhiệm vụ trên không vẫn chưa chấm dứt, chiếc oanh tạc cơ còn sống sót đã bỏ đất liền để quay ra biển. Tốc lực của nó có vẻ sút giảm, và với máy móc đã hư hỏng, việc chiếc oanh tạc cơ này bị chúng tôi kéo xuống đất chỉ là vấn đề thời gian.

Trở về Lae, khi chúng tôi cho các chuyên viên cơ khí biết đã tiêu diệt được 5 pháo đài bay, họ nhảy nhót vui mừng. Năm pháo đài bay B17 và ba Airacobra, một ngày làm ăn khá khiển!

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 26th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 16

Ngay từ 1940 The British Royal Air Force (RAF) và The German Air Force (Luftwaffe) đã sáng chế ra Radar nhằm phát hiện máy bay đối phương. Phía Hoa Kỳ thử nghiệm thành công radar CXAM trên Thiết giáp hạm USS New York vào cuối 1938. Ngược lại Nhật Bản hoàn toàn tụt hậu trong lĩnh vực này. Cho đến lúc bại trận, radar Nhật vẫn thô sơ. Chính vì thiếu hệ thống Mắt Thần mà căn cứ Lae của Sakai thường xuyên bị tập kích bất ngờ.

 [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 16

Chương 16

Trong suốt tháng Sáu, chúng tôi chạm trán với một số lượng chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đối phương đông đảo chưa từng thấy. Chúng tôi được thông báo rằng đối phương đang gầy dựng lại một sức mạnh không lực quan trọng trong khu vực, và rằng từ đây chúng tôi phải dốc toàn lực cho những nhát chổi quét sạch bầu trời của chúng tôi. Ðiều này có nghĩa là chúng tôi phải tận dụng tất cả chiến đấu cơ Zéro hiện có trong tay. Ðối phương đã thiết lập thêm nhiều phi trường bên ngoài những cánh rừng trùng điệp trên khắp khu vực Port Moresby.

Các cuộc oanh tạc của chúng tôi cũng gia tăng đều đặn về số lượng, và các chiến đấu cơ địch đối đầu với chúng tôi cũng quyết tâm hơn. Vào ngày 17 tháng 6-1942, 12 chiến đấu cơ Zéro hộ tống 18 oanh tạc cơ Betty, bay đến dội bom hải cảng Moresby, đã đánh bật bảy chiến đấu cơ nghinh chiến của địch quân. Cuộc oanh tạc này đã gây cho khu vực bến tàu Moresby hư hại nặng và đánh chìm một chiếc tàu chở hàng 8,000 tấn đang buông neo trong cảng. Khu trục cơ Mỹ tấn công máy bay chúng tôi trong suốt phi trình từ Moresby về mũi Ward Hunt, nhưng không gây thiệt hại. Ngày hôm sau, 9 oanh tạc cơ Betty và 9 chiến đấu cơ Zéro khác không tập Kido, nằm gần vịnh Rescar, một căn cứ mới của địch quân ở phía Bắc Moresby. 10 chiến đấu cơ địch đụng độ với 18 phi cơ Nhật, chúng tôi hạ hai chiếc mà không bị tổn thất nào.

Vào ngày 24 tháng Sáu, tôi trở về Lae sau khi nghỉ phép ở Rabaul, và cất cánh sáng hôm sau, nằm trong một lực lượng gồm 21 chiến đấu cơ tấn công Moresby. Tôi hạ được một trong số 11 chiến đấu cơ địch nghinh chiến. Sáng kế đó, Rabaul gởi 17 oanh tạc cơ trở lại Moresby với 11 chiến đấu cơ hộ tống. 12 chiến đấu cơ địch lên nghinh chiến và chúng tôi hạ thêm hai chiếc. Những thiệt hại liên tiếp của Ðồng Minh không ngăn họ tái võ trang Moresby.

Ðó là cuộc tấn công cuối cùng của tháng Sáu. Ngày hôm sau, mưa trút ồ ạt xuống khu vực Papua New Guinea. Mưa không chỉ trói chân chúng tôi mà còn trói chân cả Ðồng Minh. Mây che kín bầu trời hầu như suốt mỗi buổi trưa, và ban đêm cuồng phong quét ngang khu vực thật dữ dội. Chúng tôi yên lòng nhắm mắt tới sáng.

Tháng Bảy thời tiết bỗng thay đổi bất ngờ. Ngày thì mưa gió nhưng ban đêm bầu trời lại sáng dạ quang. Oanh tạc cơ địch bay đến hàng đàn hầu như mỗi đêm và trút bom xuống không ngừng nghỉ. Chúng tôi bó tay. Ngay cho dù phi đạo đủ rộng, thích hợp cho các hoạt động đêm, khả năng dạ chiến của chiến đấu cơ Zéro rất đáng nghi ngờ. Do đó, chúng tôi vẫn ở trên mặt đất, chui vô hầm trú ẩn và chửi rủa bọn Mỹ.

Bình minh ngày 2 tháng Bảy, chúng tôi đối đầu với một cuộc oanh tạc quy mô. Tiếng còi báo động rú lên, đánh thức giấc ngủ về sáng của chúng tôi. Chúng tôi gấp gáp mặc đồ bay và chạy túa ra phi đạo. Nhưng không ai chạy tới phi cơ được vì tiếng động cơ máy bay địch đã gầm thét trên đầu. Các phi công hối hả chạy vô hầm trú ẩn gần nhất.
Chúng tôi có thể nhìn thấy các oanh tạc cơ địch nổi bật trên nền trời đầy sao. Ðó là loại B25 Mitchell và B26 Marauder bay không cao hơn 600 bộ. Là chưa đến 200 thước

Sau khi thả hết bom, các oanh tạc cơ sà thấp trên ngọn cây bắn phá phi đạo và tất cả các cơ sở nằm trong tầm mắt. Ðạn địch rải lên phi đạo giống như mưa đá. Lúc lộp bộp cuốc đất lúc rôm rốp như ném liệng một chùm gạch đá. Cày xới tứ tung. Chỗ tôi nấp không an toàn, tôi bỏ chạy vào vị trí đặt súng. Tôi đẩy một xạ thủ ra khỏi súng máy và nói với hắn để tôi thay thế. Hắn đeo dính khẩu súng, và từ chối bỏ vị trí. Tôi không để mất thì giờ, đạp hắn một đạp ra khỏi chỗ ngồi. Hắn đứng dậy chửi rủa om sòm, nhưng một phi công khác đã chạy vô phía sau tôi nắm cổ xô hắn ra ngoài và lượm các băng đạn lên. Trọng liên Shiki kiểu 92 không tiếp đạn bằng dây mà từng thanh sắt nhồi 30 viên. Tôi nạp đạn. Ðợt xạ kích thứ hai của 6 chiếc Marauder đang lướt đến, tôi kéo cơ bẩm và ghìm súng chờ đợi. Một chiếc Marauder bay ngang trên đầu, tôi ria một tràng đạn từ mũi đến đuôi, nhưng không trúng. Chiếc oanh tạc cơ B26 quành lại, chúi ngay xuống vị trí đặt súng cao xạ, xạ thủ trước mũi của nó đáp trả hoả lực của tôi. Ðạn đại liên từ mũi chiếc B26 cày vạch tung tóe mặt đất. Ðây là kinh nghiệm đầu tiên của tôi trên mặt đất với một chiếc phi cơ tiến thẳng đến trước mặt. Hình ảnh những trái bom xoáy xuống và nổ bùng trên vị trí đặt súng khiến tôi kinh hoảng. Tôi vụt bỏ chạy như giông như gió đến hầm trú ẩn xây bằng bao cát phía sau. Một vài giây ngồi trong đó, tôi cảm thấy như một tên hèn nhát ngù ngờ và vô lý. Chiếc oanh tạc cơ gầm thét trên đầu, lướt qua nhưng không thả bom. Tôi tự rủa thầm và quay lại khẩu súng mà tôi vừa bỏ chạy. Dần dần tôi lấy lại bình tĩnh và quyết không làm thỏ đế nữa.
Mấy chiếc oanh tạc cơ quày lại, tiếng cánh quạt vang vang như sấm động, cách mặt đất chỉ 150 bộ, tròm trèm 45 thước, các họng súng rực lửa. Tôi rót lên một tràng trọng liên nhắm chiếc phi cơ bay sau. Tôi rót liên thanh cho đến hết đạn. Một giòng khói túa ra, nhưng chiếc phi cơ này vẫn bay như thường và rồi biến mất vào chân trời

Ngày lên hẳn, sau một giờ dội bom và bắn phá, các oanh tạc cơ địch ra đi an toàn. Không một chiếc nào bị hạ cho dù các khẩu cao xạ của chúng tôi bắn hết đạn. Bọn phi công chúng tôi mất tinh thần đến nỗi loạt bom cuối cùng vừa dứt mà không ai dám chạy ra phi cơ cất cánh truy đuổi, như chúng tôi thường làm trước đây.

Hầu hết cơ sở của căn cứ đều bốc cháy. Phi đạo đầy dẫy mảnh sắt vụn, phi cơ không thể cất cánh được dù có cố gắng cách mấy đi nữa. Một việc khó thể tin, nhưng có thật, là 20 chiến đấu cơ Zéro đang đậu cạnh phi đạo hầu như an toàn, chỉ bị đạn và mảnh bom khoét lỗ. Chúng tôi tập trung vô bộ chỉ huy để nhận lịnh, trong lúc 200 binh sĩ công binh dọn dẹp khẩn cấp phi đạo. Hải quân Thiếu úy Mitsuo Sonitsu, vừa mới thuyên chuyển về Lae, giận dữ la hét, thề sẽ đâm thẳng vào oanh tạc cơ B26 bằng máy bay của hắn, ngay chuyến sau. Chúng tôi không chú ý lắm đến cơn thịnh nộ của hắn. Thình lình nhiều liên lạc viên chạy vô Bộ Chỉ Huy cho biết một cuộc tấn công nữa sắp xảy ra. “Hơn 100 phi cơ địch đang bay tới căn cứ!” Một trăm phi cơ! Một con số khó thể tin nổi! Cả trăm phi cơ, một con số khổng lồ. Chúng tôi chưa từng nghe nói đến một cuộc tấn công nào dữ dội như vậy. Các sĩ quan tham mưu có vẻ xao xuyến và ra lịnh cho mọi phi cơ cất cánh tức khắc. Chúng tôi chạy túa ra các chiến đấu cơ Zéro, rồ máy chạy ra phi đạo lúc ấy vừa mới dọn dẹp xong, rồi chờ đợi trong vị thế sẵn sàng. Sau đó, chúng tôi được báo cáo: “Một trăm chiến đấu cơ địch biến thành một trăm con cào cào”… Mọi người đều cười ồ.

Chúng tôi ăn trưa quanh Bộ Chỉ Huy, vẫn trong tư thế sẵn sàng cất cánh. Lúc chúng tôi còn đang nhai, các liên lạc viên chạy vô cho biết Salamaua báo cáo có 6 pháo đài bay B17 trên đường hướng đến căn cứ chúng tôi. Không ai phí một giây nào. Chúng tôi bỏ ăn, chạy như bay ra phi cơ. Căn cứ Salamaua chỉ cách Lae mấy phút bay. Các phi công khác đã cho phi cơ rồ máy ra phi đạo trong khi tôi vẫn nguyền rủa và loay hoay bên chiếc Zéro bất động của mình. Cố gắng cách mấy động cơ cũng không chạy. Tôi rồ máy đủ cách, cánh quạt vẫn không quay. Tôi leo xuống phi cơ, thiểu não, vì các chiến đấu cơ khác đã ở trên không rồi.

Tôi chạy băng ngang qua phi đạo hướng đến các hầm trú ẩn. Trung tá Nakajima từ một miệng hầm đưa tay vẫy gọi tôi rối rít và tiếng rít của một trái bom, hú ran giống như một lưỡi dao khổng lồ bửa xuống. Chém phạt với hết sức mạnh. Gió hất tôi bổ chúi vô hầm, đè trên lưng nhiều người nằm sẵn trong đó. Tức khắc, thế giới nổ tung. Tôi cảm thấy một áp lực cực mạnh chụp từ mọi phía đè thúc lên thân thể mình; một áp lực khủng khiếp đè gí lấy cơ thể và ghị tôi xuống sát đất, rồi tất cả biến thành màu đen. Tôi không thấy, không nghe gì nữa, như tôi đã rời xa hẳn thế giới quanh mình. Tôi cố cử động chân tay nhưng vô ích, tôi đã đông cứng. Có thể nhiều giây hoặc nhiều phút, tôi nghe tiếng gọi văng vẳng của Trung tá Nakajima. “Sakai! Sakai!”… Tôi cố gào lên để la “Tôi đây..” Tôi nghĩ rằng tôi la lớn lắm, nhưng lạ thay tôi không nghe thấy tiếng kêu của chính mình. Mũi miệng tôi cứng đờ. Có một cái gì chèn nặng lên trên ngực, lên thực quản và chặn ngang cằm. Tôi vùng mà chân tay không nhúc nhích. Giống tôi không có tay, không có chân. Không có cả thân mình. Tiếng nói của Trung tá Nakajima lại văng vẳng: “Hắn bị chôn vùi rồi! Tìm kiếm đi! Ðào lên mau!” Trung tá Nakajima có giọng nói bình thường sang sảng mà lúc này nghe xa xôi.

Bị chôn? Dĩ nhiên! Tôi nằm dưới đá và cát. Tôi cố gắng mở mắt. Tối đen. Cơn sợ hãi ùa đến. Tiếng nói của Trung tá Nakajima lần này lớn hơn: “Gặp cái gì đào cái nấy! Mau lên! Dùng cây khượi lên! Cả tay và móng nếu các anh không có vật gì để đào! Mau lên!”.

Ghi chú quân sự:

Trọng liên Shiki 92 Heavy Machine Gun

Nặng 55 kg chưa tính chân.

Đạn 7 ly 7, vận tốc 732m/s.

Nhịp bắn 450 viên/phút.

Tầm xa tối đa 4500 m.

Tầm xa hiệu quả 800 m.

Trong hình là phiên bản bộ binh.

Oanh tạc cơ hạng trung North American B25 Mitchell

Phi hành đoàn 6 nhân viên và hoa tiêu.

Chiều dài 16 m. Chiều cao 4.8 m. Sải cánh 20.6 m.

Trọng lượng tối đa 19,000 kg.

2 X động cơ 1,850 mã lực (2 x 1380 kw).

Vận tốc tối đa 442 km/h.

Bán kính khứ hồi 2,170 km (tầm xa 4,300 km).

Võ trang 12 đại liên 12 ly 7 và 2,700 kg bom.

Oanh tạc cơ hạng trung Martin B26 Marauder

Xem chi tiết kỹ thuật trong chương X đã đăng.


Rồi những âm thanh lao xao vang lên, tiếng xẻng đào trong cát. Tiếng xúc, tôi chờ, cố gắng không cựa quậy. Cuối cùng một bàn tay phẩy phẩy đất trên mặt tôi, rồi cát trên mũi tôi vẹt ra. Ánh sáng bỗng nhiên tràn ngập. Ùa đến như có cả chục chiếc đèn pha rinh tới trước mắt. Tôi khạc nhổ trong lúc chói mắt. Nhiều bàn tay nhấc tôi lên. Không phải một mình tôi mà ít ra cũng hàng chục người nữa bị chôn vùi lúc trái bom nổ. Nhưng không có một ai bị thương. Bộ Chỉ Huy tan nát. Mái sập và hầu hết số phi cơ còn đậu trên phi đạo trở thành những đống sắt vụn, thùng chứa xăng của nhiều chiếc đang bốc cháy. Khói đen bốc phừng phừng. Một hố bom toang hoác sát cạnh như chứng tích của một may mắn là Bộ Chỉ Huy không bị đánh trúng bằng một cú “direct”.

Gần một giờ sau, các chiến đấu cơ đã cất cánh trở về căn cứ. Bọn phi công tiu nghỉu. Sáu pháo đài bay Hoa Kỳ đều bay thoát.

Chúng tôi phải bỏ ra hai ngày để sửa sang căn cứ Lae sau cuộc tấn công ngày 2 tháng 7. Và ngày 4, chúng tôi sẵn sàng mở trận phục thù trên phi trường Moresby. Hãy còn là ngày 3 do lệch múi giờ phía Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi tin rất phù hợp cho chúng tôi tham dự Lễ Ðộc lập Hoa Kỳ với pháo bông bắn thẳng từ họng đại bác của chúng tôi.

21 chiến đấu cơ Zéro gặp một ủy ban chào đón bao gồm 20 chiến đấu cơ địch trên không phận Moresby. Chúng tôi ra tay trong lúc chủ nhân vẫn còn tiếp khách bằng cách chúi xuống. Chín chiến đấu cơ địch chánh thức bị hạ, và còn thêm ba chiếc nữa què quặt.

Trên đường quay về, còn cách Lae nhiều dặm tôi đã nghe mùi khói phảng phất trong gió. Khi nhìn thấy căn cứ, chúng tôi mới biết khói đó bốc lên từ các cơ sở nằm cạnh phi đạo đang bốc cháy. Những cột lửa dâng cao, toả khói đen nghịt trên khắp khu rừng và bãi biển. Trong lúc chúng tôi vắng mặt, nhiều oanh tạc cơ địch bâu đến oanh tạc những kho chứa dầu.

Khi chúng tôi còn đang lượn vòng để đáp xuống, bảy chiếc B26 Marauder gầm thét trên cánh rừng phía dưới. Khi chúng tôi phát hiện, các oanh tạc cơ địch đã đến phi trường và những trái bom được thả xuống làm tung đất cát lên không. Lúc chúng tôi chúi xuống để truy đuổi địch, nhiều chiếc Zéro khác đã rời khỏi phi đạo, và chúng tôi bắt đầu một cuộc rượt đuổi 7 oanh tạc cơ địch như điên cuồng. Nhiều lần chúng tôi suýt đụng nhau trên không, chỉ tránh khỏi trong vòng gang tấc.

Một chiếc Zéro khác vừa cất cánh từ Lae bay bứt ra khỏi nhóm chánh, vượt qua mặt các oanh tạc cơ địch và vung trở trong một vòng xoay 180 độ rồi đâm thẳng góc vào chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu, có vẻ như muốn tự sát. Viên phi công không bắn một phát súng nào, chiếc phi cơ lướt đến như một cái bóng, với một tốc độ gần 600 cây số giờ, rồi lách phía dưới chong chóng bên phải của chiếc Marauder, bay dọc theo thân và hơi nghiêng cánh một chút. Chiếc cánh như lưỡi dao cạo của chiếc Zéro tiện đứt lìa bánh lái của chiếc Marauder. Chiếc Zéro vẫn tiếp tục bay thẳng và lướt lên cao, có vẻ như không bị tổn hại, nhưng sau đó chiếc phi cơ bắt đầu một loạt lộn nhào chầm chậm, dần dần mất cao độ và chúi xuống biển hết tốc lực. Chính là Thiếu úy Mitsuo Sonitsu. Vài giây sau đó, chiếc B26 mất đuôi xiên vẹo và lộn nhào liên hồi, phơi bụng lên trên và chúi xuống nước với một tiếng nổ đinh tai nhức óc. Lập tức, sáu chiến đấu cơ Zéro xông tới rót đạn đại bác và đại liên như mưa rào vào thân cánh các oanh tạc cơ Hoa Kỳ còn lại, chôn ngay một chiếc nữa xuống biển. Năm oanh tạc cơ khác chạy thoát.

Chúng tôi lại đánh Moresby vào ngày 6 tháng Bảy, với 15 chiến đấu cơ Zéro hộ tống 21 oanh tạc cơ Betty. Chúng tôi dứt điểm 3 chiến đấu cơ địch nữa.

Từ ngày 7 đến ngày 10 tháng Bảy, tới phiên đối phương đánh chúng tôi. Ba đêm liên tiếp, chúng tôi co rút như lũ chuột trong các hầm trú ẩn. Lae trở thành một cơn ác mộng của tiếng bom rền rền hàng loạt từ đầu sân bay đến cuối sân bay, những bựng khói và lửa, của những căn nhà đổ vỡ, của hàng ngàn mảnh bom bay tua tủa. Chắc chắn, đối phương dự định nghiền nát Lae ra như cám. Tuy nhiên họ không bao giờ đạt được mục đích này, chúng tôi vẫn còn chiến đấu cơ khả dụng để bay.

Ngày 11 tháng Bảy, chúng tôi vét hết lực lượng oanh tạc cơ để đánh Moresby một lần nữa. Mười hai chiến đấu cơ Zéro hộ tống 21 oanh tạc cơ Betty cất cánh từ Rabaul. Trên đường đi, Ðại úy Sasai phát hiện sáu chiếc B17 trực chỉ đến phi trường của chúng tôi. Ông tách ra khỏi nhóm hộ tống cùng với năm chiến đấu cơ khác, trong đó có tôi, Nishizawa và Ota. Chúng tôi gây hư hại cho ba pháo đài bay B17, nhưng không hạ được chiếc nào. Trái lại, một chiếc Zéro bị bắn cháy và các chiến đấu cơ khác kể cả tôi lãnh nhiều vết đạn.

Với chỉ sáu chiến đấu cơ hộ tống, đội hình của các oanh tạc cơ của chúng tôi bị chiến đấu cơ địch phá rối lúc đến mục tiêu, vì vậy bom thả không chính xác, gây thiệt hại cho địch không bao nhiêu. Việc này khiến cho Sasai bị khiển trách nặng nề. Thật sự Ðại úy Sasai đã vi phạm quy luật căn bản của chiến đấu cơ khi hộ tống: không bao giờ rời bỏ việc phòng vệ các oanh tạc cơ.

Bắt đầu tạ ơn nước Úc

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Bắt đầu tạ ơn nước Úc

Có người nói: dân Việt mình có cái ngộ: Khi có giặc ngoại xâm là đoàn kết một lòng, như Hội Nghị Diên Hồng! “Toàn dân nghe chăng sơn hà nguy biến. Hận thù đằng đằng nên hòa hay chiến? Quyết chiến. Quyết chiến!”

Còn đất nước không có họa xâm lăng, không có thù ngoài thì giờ tới giặc trong.

Chắc mấy ông nầy ‘huỡn’, buồn chán quá, bèn chiêu binh mãi mã, quay qua đánh lẫn nhau. Trước là đỡ cái buồn rầu; sau là để giành quyền lực làm vua một cõi.

Dân ngu khu đen có người vốn hiếu hòa, ai khoái tối ngày kiếm chuyện đánh nhau lỗ đầu sứt trán thì cứ đánh; còn tui dắt vợ tui đi lánh vô vùng đất phương Nam để ta làm lại từ đầu.

Vậy là “Tía em hừng đông đi cày bừa, má em hừng đông đi cày bừa. Tía em là một người nông dân má em cũng là người nông dân. Cùng sống trên đồng bao la”

Xin đừng cho rằng ngày xưa đó: “Ðến đây gặp vịt cũng lùa; gặp gái cũng ghẹo gặp chùa cũng tu”, là lưu dân không biết nghĩa nhơn. Mà trái lại, no ấm là nhờ Trời, Phật, Thánh, Thần phò hộ. Nên ông bà mình biểu lộ cái lòng biết ơn trời đất đó bằng cách trước sân nhà nào cũng có một bàn ông Thiên, tức là bàn thờ ông Trời.

Bàn ông Thiên cao khoảng một thước tây, trên có đặt một tấm ván hình vuông, tượng trưng cho đất, mỗi cạnh khoảng 4 tấc, đủ để một bình cắm nhang hình tròn, tượng trưng cho Trời, và ba cái chung nhỏ; vẫn còn đủ chỗ cho một dĩa trái cây.

Chập tối, ngày bàn giao cho đêm, là thời khắc linh thiêng để bà con mình thắp một cây nhang, khấn vái cầu Trời khẩn Phật cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình ai nấy đều mạnh giỏi… Ðó là một hình thức tạ ơn quanh năm suốt tháng của bà con vùng châu thổ sông Cửu Long chúng ta.

***

Bà con mình ai cũng biết: Nước Mỹ, lễ Tạ Ơn vào cuối tháng 11 và Giáng sinh vào cuối tháng Chạp là hai dịp lễ lớn.

Rồi có người cũng nói: “Christmas thì ở Việt Nam còn biết, còn Thanksgiving ở Việt Nam không biết. Việt Nam mình không có ngày này, không có ngày tạ ơn trời đất như thế này.”

Có chớ! Chẳng phải cái bàn thiên là hình thức ông bà mình tạ ơn vùng đất mới đó sao?

Người Mỹ, người Canada, khi xưa cũng là thuyền nhân, là người tỵ nạn vì bị bức hại về tôn giáo đến nỗi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún để lưu vong.

Sử chép rằng: Tháng Chín, năm 1620, tàu Mayflower gồm 121 người rời Âu Châu! Sau hai tháng vượt biển, ngày 9, tháng Mười Một, tàu Mayflower cập bến Mỹ Châu.

Sau mùa Ðông đầu tiên đó, lạnh giá đã quật ngã nhiều di dân. Trong số 102 người đến nơi bình an giờ đây chỉ còn 55 người sống sót.

Mùa Thu năm 1621, vụ mùa đầu tiên thật sung túc, đủ lương thực sống suốt mùa Ðông cho đến vụ mùa năm sau. Nên một bữa tiệc linh đình kéo dài trong ba ngày, ba đêm được tổ chức để tạ ơn Thượng Ðế (Trời) và vùng đất mới. Hơn 90 thổ dân bản địa mang đến 5 con nai để xẻ thịt làm món nhậu chung vui.

Lễ Tạ Ơn hằng năm, rơi vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ tư tháng Mười Một.

Kỳ lễ kéo dài từ thứ Năm đến hết cuối tuần, tới 4 ngày, nên cả nước Mỹ lên xe, tàu, xe lửa hoặc máy bay, dọc ngang như mắc cửi để mọi người trong gia đình gặp lại nhau, dù ở xa cả ngàn cây số cũng về. Về để cùng nhau đi Nhà Thờ tạ ơn Thiên Chúa!

Rồi cả gia đình về nhà cùng nhau ăn bữa tối. Trên bàn tiệc lễ Tạ Ơn, luôn luôn có bắp, khoai tây nghiền, các loại bánh ‘pie’, rau, thịt heo muối, ngỗng hoặc vịt quay và dĩ nhiên không thể thiếu món gà tây đút lò để nhắc lại bốn chú gà tây rừng đã có mặt trong buổi lễ Tạ Ơn đầu tiên tại nước Mỹ.

Gà tây được hân hạnh được hy sinh vì bao tử của người Mỹ; vì nó bự, mập thù lù như Mỹ, nhứt là cái bụng, nên chỉ cần một con là đủ cho cả nhà ăn cành hông, ăn tràn họng.

Tuy nhiên mấy em mình, người Việt ở Mỹ, việc nấu nướng là nghề của nàng, cực khổ mấy em cũng chịu được, nếu anh yêu ăn ngon, nhậu vui là em cũng vui hè. Nên không làm biếng như Mỹ chỉ ra siêu thị mua một con gà tây béo mập, nhét tùm lum tùm la đủ thứ vào rồi đút lò cho nó gọn …Thì mấy em ‘Mít’ mình chọn gà hay vịt thay thế gà tây. Có em, (làm chủ năm, ba cái tiệm neo tiền bạc rổn rảng), chơi luôn cả tôm hùm cho nó ‘oách’!

Mấy em quan niệm rằng cái hồn của lễ Tạ Ơn mới chánh. Còn ăn con gì, nấu món gì thì tùy khẩu vị của từng dân tộc, thấy ngon thì quất láng; chớ đâu nhứt thiết phải bo bo giữ truyền thống tiệc Tạ Ơn đầu tiên, Mỹ ăn gì thì mình phải ăn y hịt mới đặng (?!)

Chính vì quan niệm phóng khoáng như vậy mà mấy con gà tây Mỹ nó thích mấy em ‘Mít’ mình lắm đó. Gặp mấy em là nó kêu ‘cà lót, cà lót’ rượt theo, rỉa mấy cọng lông chưn… để hàm ý biết ơn.

Năm 2014, nước Mỹ nuôi tới 242 triệu con gà tây để ăn thịt trong lễ Tạ Ơn. Một cuộc thảm sát gà tây kinh hoàng cũng vì truyền thống. Nên ngày nầy còn gọi là ‘Turkey Day’!

Ôi tui thấy con gà tây nằm trần truồng, chết trên bàn tiệc lễ Tạ Ơn mà cảm thấy quá mủi lòng! Chẳng qua cái tâm cảm sướt mướt của tui chịu ảnh hưởng của Tổng thống Abraham Lincoln. Người vốn từ tâm, san sẻ bớt tội lỗi của dân Mỹ mình vì giết gà tây nhiều quá xá, năm 1864, đã dùng quyền ân xá của Tổng thống để tha chết cho một con gà Tây.

(Con gà nầy được ‘Tad’, con trai ông, nuôi làm thú cưng; để buồn buồn nghe nó kêu ‘cà lót, cà lót’ cho vui).

Rồi từ đấy, năm nào Tổng thống Mỹ cũng phóng sinh, tha chết cho một con trong buổi lễ tại Tòa Bạch Ốc.

Con gà nào may mắn sống sót, hên như trúng số Power Ball, được đưa tới vườn Bách Thú để sống tới già, rồi chết một cách tự nhiên, không phải bị cởi truồng, nằm tô hô trên bàn tiệc.

***

Lễ gì Úc cũng có nhưng lễ Tạ Ơn thì tại sao không? Thì thằng bạn Úc cắt nghĩa (đâm xuồng bể) như vầy: “Ông bà cố của tao là ‘convict’ (tội phạm) ăn cắp chỉ có chai rượu và khúc xúc xích nhậu cho vui thôi; mà bị bắt đi đày hàng ngàn dặm tới đây”.

Rồi leo lên bờ thì bị thổ dân vác boomerang rượt, phang thiếu điều lỗ đầu. Ðà điểu cả bầy rượt theo mổ lia mổ lịa; kangaroo rượt theo đá đau muốn tức thở; cá sấu chờ sẵn dưới sông, mới lui cui xuống rửa cẳng, là nó táp nghe cái ‘phập’, hổng lẹ chưn nhảy ngược lên bờ là tiêu hết cả bộ đồ lòng.

Thân phận tù đày, nước non ngàn dặm phải ra đi, đâu có ai ‘welcome’ mình đâu, (hổng thấy người tầm trú nào bén mảng tới đây là bị điệu ra đảo Nauru, giữa Thái Bình Dương mà nhốt mút chỉ cà tha đó, thì tại sao phải tạ ơn chớ?)

***

Bà con người Việt mình làm ơn không thèm nhớ nhưng chịu ơn chẳng hề quên. Là thân phận một người tỵ nạn đến nước người, giờ cũng sống được phẻ re như con bò kéo xe, (chớ còn mắc kẹt lại trong nước là tui đã chết ngắc lâu rồi).

Ai giúp tui, dù ít dù nhiều, là tui phải tạ ơn chớ! Thế nên tui mạo muội đề nghị vầy nhe: Bà con mình trên toàn thế giới từ Âu qua Mỹ rồi xề xuống Miệt dưới, Úc Châu, cũng nên bắt đầu một truyền thống tạ ơn đất nuớc cho mình và con cháu mình tạm dung, nương náu, trùng với ngày lễ Tạ Ơn của Mỹ cho nó tiện.

‘Long weekend’ nghỉ nhiều ngày, đoàn tụ gia đình, năm một lần, ăn nhậu cho tới bến, cho nó đã. Sau là gợi cho con cháu mình nhớ tại sao mình tới đây? Ðể giữ hoài cái hồn dân tộc, cái tình yêu nước, thương nòi; kẻo sắp nhỏ sau nầy lớn lên nó lạc, nó quên ráo thì thêm báo.

Bà con nào ở Footscray, gần nhà tui, đồng ý xúm làm lễ Tạ Ơn nước Úc bắt đầu từ năm nay nhe! Nếu có ăn nhậu gì xôm tụ, vui vui, nhớ hú tui một tiếng! Tui vác cái miệng tới liền!

đoàn xuân thu.

melbourne.

“Ngã Hả Cu?”

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 23rd, 2023

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Đỗ Hữu Ca và biệt phủ lấn sông – nguồn authentic.vn 

Theo báo quốc doanh trong nước, tối 18 tháng Hai, năm 2023, Bộ Công an, tỉnh Quảng Ninh đã khám xét hai biệt phủ của Ðỗ Hữu Ca, thiếu tướng,  nguyên giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng.

Một tại phường Ðằng Lâm, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng. Hai tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng.

Còn nhớ năm 2019, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam có đi một bài viết: đây là một biệt phủ ‘lấn sông rộng hàng nghìn mét vuông, uy nghi, đồ sộ và tráng lệ”.

Tạp chí nầy đã bị mấy quan phạt 50 triệu đồng, tước giấy phép hoạt động 2 tháng vì thông tin ‘sai sự thật’, ‘fake news’.

Lúc đó, Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca dù đã về hưu, nhưng vẫn còn có nanh, có vuốt. Chúng mầy dám đụng tới ông là ông cắn.

Nhưng lần nầy, chúng cắn lại ông. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh tạm giữ đối với Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca, cựu giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

(Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản? Theo bà con trong nước xầm xì là Hữu Ca nhận tiền chạy án, Chạy không xong, quỵt luôn không chịu trả tiền lại cho người ta.

Y như trong tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến: “Tiền vô túi quan là của quan”.

Ngoài ra Hữu Ca còn dính vô cái vụ trốn thuế, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ…”

Còn quyết định “khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh tạm giữ?” Diễn Nôm là còng Thiếu tướng Hữu Ca lại, bắt đi chăn kiến.

Bà con kháo với nhau tay dám sờ dái ngựa mà không sợ nó đá hậu một cái cho giập mật là Ðại tá Ðinh Văn Nơi, mới từ An Giang, căn cứ địa của Q (Cu, lại cu nữa!) Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân mới tháng trước lên thay cho Phúc Niểng về Quế Sơn, Quảng Nam để làm người tử tế.

Như vậy dù chỉ là lon đại tá, tớ chơi cậu luôn. Thiên lôi mà! Ai sai đâu là tao búa đó!

Nguyễn Hữu Ca tức ‘Hả Cu’ là ai vậy? Y 65 tuổi, quê tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hoa Phượng đỏ Hải Phòng. “Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Ðất, Lạc Viên” Những cái tên nghe chẳng thơ đâu. Nhưng với ta vô cùng oanh liệt. Ôi thân thiết tự hào quê hương vì có một lãnh chúa đầu gấu với bốn bằng đại học, An ninh, Luật, Báo chí và Ngoại thương.

Bà con trong nước xôn xao như vỡ chợ trên Facebook. Rồi ngay cả đài ‘Bi-Bi-Xi’ tuốt bên Anh cũng chạy “breaking news’. Lúc Ủy viên Bộ Chánh Trị, “Bí thư thành quỷ HCM” Ðinh La Thăng la làng lúc bị nhốt cũng không to hơn thế. Chẳng qua, lúc Ðỗ Hữu Ca đang làm giám đốc Công an Hải Phòng là lúc xảy ra vụ án Ðoàn Văn Vươn gây chấn động cả nước.

Bài Bình ‘Vươn’ Ðại cáo của nhà hoạt động xã hội Trương Quốc Tuấn cho biết:

“…Anh em họ Ðoàn, ngăn biển lấp đất. Mồ hôi chan mặt, máu đổ xuống đầm

Trải mười mấy năm đội đá vá trời. Nơi Cống Rộc mới tạo thành cơ nghiệp. Than ôi! Cũng do thấy tiền tài hoa mắt. Bởi nghe điều lợi lộc ù tai. Bọn cường hào ác bá phủ huyện bàn nhau. Ðem điều lợi nhử quan đầu tỉnh

…Tức nước vỡ bờ, già néo đứt dây. Bom tự tạo nổ tung, khiếp hồn quân hung bạo

Ðạn hoa cải bay vèo, bạt vía lũ cường quyền. Mất hồn hết vía, kéo nhau lui. Ðộng phách kinh tâm, tìm chỗ nấp…

Hải Phòng huy động quân đội và công an can thiệp trong vụ cưỡng chế đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn (huyện Tiên Lãng), 05/01/2012. Trong ảnh, đại tá Đỗ Hữu Ca (X) Giám đốc Công an Hải Phòng – nguồn RFI

Thấy đã yên yên, tràn quân tới. Kéo ập vào nhà, chỗ bỏ không. Giận đã cành hông, mất mày mất mặt. Bắt chó, đuổi gà, phá nhà thành bình địa mới đã nư. Vợ dại, con thơ chúng cũng chẳng từ. Bụng mang dạ chửa, dùi cui thúc vào bụng…

Trong một phút đất bằng dậy sóng. Cửa nhà cơ nghiệp bỗng tiêu tan. Gia đình, vợ con xẻ nghé tan đàn. Nỗi oan ấy vì ai mà nên nỗi? Thượng bất chánh, hạ tắc loạn mới lắm dân oan. Chính sách bậy, lãnh đạo sai mới sinh phản kháng…Tội âm mưu chống người thi hành công vụ đã quá rõ ràng. Tội cố ý giết người, đả thương sai nha khó lòng chối cãi. Khẩn trương xét xử, tức khắc thi hành. Xử một răn trăm, để dân oan từ nay hết hòng nhúc nhích!”

Viết văn xuôi là: “Năm 2009, anh em Ðoàn Văn Vươn, xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng bị bọn cường hào ác bá cấu kết với tham quan, ô lại dồn họ vào đường cùng để cướp đất. Anh em Vươn quá uất ức đã vác mìn, súng chống lại cả trăm công an, bộ đội. Sau hơn 4 tiếng đụng độ, kết quả 4 thằng Công an và 2 tên bộ đội khuyển ưng CS đi nằm nhà thương.

Ông Ðoàn Văn Vươn và em trai Ðoàn Văn Quý bị tuyên phạt y án 5 năm tù ngày 31/7/2013 về tội Giết người và Chống người thi hành công vụ.

Chính Giám đốc Công an Ðỗ Hữu Ca là người ra lệnh, chỉ huy đàn áp và bắt nhốt dân oan Ðoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Sau đó ông ta còn ca ngợi chiến công này là một trận đánh đẹp, nên ghi vào sách. Thủ tướng ‘Ba Ếch’ thăng chức Thiếu tướng cho Ðại tá Ðỗ Hữu Ca.

Giờ thì Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca, cựu Giám đốc Công an Hải Phòng bị tạm giữ, khám xét nhà riêng, rồi bị nhốt chờ hầu Tòa. Mà mấy quan Tòa nầy trước cũng từng là bạn nhậu với tớ. Ðời đểu thế!

Dẫu làm cho tới tướng Công An cũng bị ủ tờ. Nhưng cũng có nhiều an ủi! Ðâu phải mình Ðỗ Hũu Ca? Mà còn Thiếu tướng Tiến sĩ Nguyễn Ðức Chung, tự Chung con, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thủ đô Hà Nội cũng đội chuối khô và một số tướng sao băng còn nhiều sao hơn Tướng Hữu Ca, Hả Cu nữa kìa!

Là đảng viên CS cao cấp, Thiếu tướng Hữu Ca, với bốn bằng đại học, ắt phải rành câu nói khét tiếng của Mao Chủ Tịch, người không thích đánh răng: “Cách mạng vô sản là sự trấn lột những kẻ bóc lột”

Dân nghe cái tin ruồi bu nầy, người thì nói hơi trễ; người thì nói đáng đời. Nhưng có người chiết tự cái tên Ðỗ Hữu Ca: “Ðỗ là Ngã. Hữu Ca là Hả Cu? Ngã Hả Cu? Xui thấy mẹ!

ĐXT

Chó cán xe

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 29 Apr 2022

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Chó cán xe

Thằng Bảy lấy con Năm, dân lối xóm kêu tóm gọn: Vợ chồng Bảy Lăm. Người ngoài phương Bắc tràn vào an cư lập nghiệp đông, phong tục tập quán dần dà bị hoán đổi. Đất đai vườn tược theo đó cũng tráo trở lẳng lặng vào tay chủ mới. Vợ chồng Bẩy Nhăm chịu đời hổng thấu, theo bà con tay xách nách mang khăn gói đi vùng kinh tế mới rắn rít cọp beo khai hoang khẩn đất chó ăn đá gà ăn muối người thì chưa biết ăn chi.

Không cứ mang thân vào rừng ở là được tự do phát huy quyền làm người. Tập thể nào cũng có kẻ quyền thế đứng ra lãnh đạo, sếp sòng là anh bộ đội cụt một giò làm tài lanh khai sinh cho uyên ương thằng Bảy con Năm danh xưng mới: Giải Phóng. Con Năm nói chùng nói vụng với chồng: Mẹ rượt, tui hổng mặn tên này đâu nha tía sấp nhỏ. Thằng Bảy đầu tắt mặt tối ngó vợ mồ hôi mồ kê thỏ thẻ: Anh cũng dậy, đụng phải đứa xấu bụng ưa nói lái thành ra phỏng dái thì nghe kì thấy mẹ. Đâu còn nước nôi gì để mang lợi hạnh phúc cho em.

Vợ chồng thằng Bảy con Năm có hai mụn con. Do chịu cảnh sống bần hàn nên mãi đơm mộng ước “hy sinh đời bố củng cố đời con”, cụ thể bằng cách đặt tên thằng đầu là Sang thằng kế là Trọng. Bốn bàn tay lấm lem, bốn bàn chân bùn lầy, vợ chồng lao động tắt quạt vẫn không cải thiện được cuộc sống, nghèo lại hoàn nghèo, đói giáp vòng đói. Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, ai có ngờ đâu một tối hoang vu trăng thanh gió mát giữa núi rừng cô quạnh, Bảy cày bừa kiểu gì thiệt ngộ khiến cho Năm phải lặt lè mang bầu tâm sự. Tuy vào chốn sơn cùng thuỷ tận nhưng lãnh đạo cũng mang theo bên mình kế sách của miền phồn hoa đô hội, ấy là bà con nên thể hiện nếp sống văn minh, cho phép mỗi hộ được quyền đẻ ra hai nhi đồng cứu quốc thôi. Lỡ cháy kế hoạnh, nhà nước sẽ hoan hỉ giáo dục cho một hồi, hồi sau thì mang đi trục cái cục nợ đời lầm lạc nọ, vén khéo mà mất chỉ có ba mươi giây. Đồ sát sanh! Sao lại hoan hỉ mừng vui? Ấy là bởi có đường dây chuyên đi săn lùng thu mua ba cái vật máu me nọ. Bỏ nó nằm thỏm lỏm trong lu hũ, dội rượu vào ngâm ngập thân. Dùng một bộ phận không nhỏ nơi cơ thể tím tái kia mà chiên xào mặn mòi củi lửa, a hèm, nói đáng tội, đã là đại gia thì ôn nào cũng khoái nhậu thứ hàng độc ấy. Sẽ đỏ da thắm thịt, sẽ cải lão hoàn đồng, sẽ thành công trong mọi thương vụ mần ăn, trong hoặc ngoài luồng. Bất đáo trường thành phi hảo hán, bất xực nhau thai nhi phi đại gia. Khí thế vãi!

Vợ chồng Bảy Lăm chủ trương trời sanh voi sanh cỏ, bất biết thể hiện nếp sống văn minh, đi trái với qui định lề luật ác đức bất nhơn kia, khư khư ôm ấp bảo vệ giọt máu chuyên chính vô sản. Thằng Bảy ngôn: Cùi hổng sợ hủi. Đù mẹ bất quá thì viết tờ kiểm điểm nhận sai trái lần sau con xin chừa chứ có gì đâu mà phải bức xúc cho ốm người thêm. Con Năm nói dặm vô: Tui làm tui chịu, mấy người vô can xin chớ chất thêm củi lửa làm chìm xuồng. Trời đãi kẻ khù khờ hay trời hành hai đứa điếc không sợ súng? Lần lót ổ trở dạ này con Năm tái mặt máu rặn ì ạch ra cùng lần những hai thằng cu mặt mày rất đỗi bặm trợn, ré khóc vang rân xao xác bầu trời kinh tế mới. Thằng Bảy lóng cóng xoè ngón tay làm phép toán cọng, vị chi là tui có được bốn quý tử. Bốn con cu mà thuỷ chung chẳng thèm lòi ra một con bướm. Bà con lối xóm ai cũng khen con Năm can trường lẫm liệt, sinh đôi mà phẻ re như đi ra suối ỉa vất, tuyệt không hao tổn nguyên khí. Hai cái vú căng mọng sữa chảy lai láng cùng lần, đứa trái đứa phải gục mặt vào nhắm trít con mắt đề huề lim dim thụ hưởng chút chít liên hồi kỳ trận. Bảy ngó vợ, ngó con, trong đầu tự động hiện lên hai cái danh xưng: Hùng, Dũng.

Công an dân phố, tổ trưởng khu vực khi ngó vào sổ hộ khẩu của tiểu gia đình Bẩy Nhăm đều há hốc miệng: Đéo mẹ nghèo rớt mồng tơi cơm không có ăn áo không có mặc mà đòi chơi cha thiên hạ. Tên bốn thằng cu này đọc lên nghe thậm hoành tráng. Sang Trọng Hùng Dũng. Mẹ kiếp, mày chảnh quá e bà con đâm ra tâm tư!

Ngày nọ có phái đoàn y tế dưới huyện đi xe ô tô con lên chích thuốc chủng ngừa tiêu chảy sốt rét cho bà con thân thương, tới phiên con Năm bồng ẳm cả Hùng cả Dũng vạch đít cho họ phóng ống tiêm thì cô y tá hưỡn đãi tay nghề vẻ mặt bán tín bán nghi: Phải mày không Bẹn? Lạ, bao năm rồi chính Năm cũng khuấy quên cái tên gọi âu yếm nọ, sao dạt trôi chốn này có kẻ lạ hoắc lạ hươ lại nắm được thứ sơ yếu lý lịch chết người kia? Nói quanh nói co vòng vo xà bần ba chừng bảy đỗi thì cả hai nhìn nhận là bà con với nhau. Bẹn kêu Le bằng chị. Má đẻ Le là chị của má ruột Bẹn. Đầu đuôi cớ sự có bấy nhiêu, đơn giản như một với một là hai, vậy mà cuộc đời đầy tao loạn đã khiến bài toán vỡ lòng ấy rối tung lên, hơn cả một phương trình đầy ẩn số. Tay bắt mặt mừng, hàn huyên rôm rả xong tới màn sụt sịt lệ đổ đầy vơi. Người tía chết kẻ má tiêu diêu miền cực lạc, gia đình thảy tan tác thất lạc núi này sông nọ. Thì vậy, giày dép còn có số huống chi… Le là tên gọi ở nhà hồi còn con nít ranh, giờ làm y tá bước ra xã hội lao động buộc phải mang tên Tiên cho xứng tầm thời đại. Tiên choáng khi nghe mười tám xuân thì của Bẹn đã sở hữu tới bốn mặt con. Tiên bức xúc nhìn quanh, vậy chứ thằng chồng mày có đó không, sao mày lại bó thân chịu sống cảnh đời tàn trong ngõ hẹp? Bốn con, nói ra chẳng ai tin bởi người mày còn ngon cơm chán. Đời dưới kia giờ đã đổi, rậm rật bao phương án mưu sinh, chịu khó ngủ một giấc đầy ác mộng, khi tỉnh thức đã thấy nhung lụa bên gối nằm. Dù gì thì tụi mình cũng bà con cật ruột, thấy mày hệt như cái quần rách lai tao đây cũng xót dạ, nói láo cho bà vật.

Quyến luyến cho tới chiều thì phải dùng dằng chia tay. Tỉ tê tâm sự thì cũng tới hồi cạn, Tiên đành thăng theo xe cơ quan xuôi về thị thành gọi là làm xong công tác. Cô y tá thôi đeo khẩu trang, dúi vào tay Năm vuông giấy nhỏ: Hãy cùng thằng chồng đấu tranh tư tưởng, muốn đổi đời thì chẳng thể ở chốn ao tù nước đọng này, ưa đi thực tế trước để nắm tình hình thì đây là địa chỉ của tao. Về dưới, chỉnh trang bộ vó rồi tao dắt mày đi kiếm việc mần. Đã là bông hoa thì chớ để nó phải tàn héo đi, mày ngộ ra điều tao nói hôn?

Năm canh chầy thức đủ vừa năm, Năm ngủ hổng xuống với bao ảnh hình chị Tiên tiêm nhiễm. Lòng lợn cợn bao mưu toan, dập dềnh những ý tưởng phải quấy. Chưa kiếm ra hoàn cảnh thuận tiện để trút đi tâm sự nặng tợ ngàn cân đeo bám trong dạ cùng chồng, sáng nắng chiều mưa đâu dăm bữa thì tin dữ ập tới sau tiếng nổ điếng hồn, Bảy cuốc đất đụng phải trái mìn ngủ quên trong cuộc chiến thần thánh, tứ chi rụng rời máu đổ tàn canh gió lạnh, nóng sốt chuyển xuống bệnh viện cấp cứu thì giữa đàng sớm đụng mặt Các-mác mí lị Lê-nin. Bảy ơi là Bảy, chớ tội tình chi mà anh phải sớm lìa bỏ thiên đường? Anh phủi chân leo lên ngồi trên bàn thờ bắt tui một mình nuôi nấng giáo dục cả bốn đứa Sang Trọng Hùng Dũng? Điệu này không giang hồ xuống miệt dưới sầm uất chơi canh bạc đỏ đen e không xong với đời thường hằng là bể khổ.

Lãnh đạo có cử người tới túp lều tranh uỷ lạo tinh thần, cho chút đỉnh tiền động viên làm ma chay cần kiệm. Mắt Năm ráo hoảnh khi khóc than vật vã: Mẹ rượt! Mất Bảy còn Năm, bây giờ thôi phỏng dái mà phỏng toàn bộ cơ thể người ơi! Ngày xưa ông bà tổ tiên chia con ra đề huề mà định vị kẻ ở rừng người ở biển, bi chừ tui đành ký gửi thân anh cho núi rừng bao che, chịu thiệt thòi mang nguyên con cái về đồng bằng thử làm cách mệnh đời mình một phen. Mả cha đời, thiệt vô hậu, anh có linh thiêng thì phù hộ cho Năm này được lao động vinh quang. Nó không hái ra tiền quyết không về chốn hiu hắt này thăm mộ bày hương hoa cúng kiến anh.

Giống những đứa âm mưu vượt biên phản bội tổ quốc, Năm lặng lẽ ngậm tăm trốn chạy bà con láng giềng đổ thân đi chui xuống đường nhựa liên tỉnh lộ một chiều tà quạnh quẽ. Đi mạng không chỉ bận bịu tay bồng tay bế bốn con cu chưa chịu mọc đủ lông cánh đón xe đò về chốn rậm rật đèn màu phồn vinh giả tạo. Con ơi là con, nếu có ai ì xèo mặc cả mua lấy thì tao bán mẹ mày đi cho nhẹ gánh hành trang. Đồ báo đời gì đâu không á!

Dặm dài rách cả tơi lẫn nón thì ơn Đảng, Năm tìm gặp được Tiên. Mày khùng hả Bẹn? Phải biết cưa đôi chứ té giếng hay sao mà đi lo chuyện bao đồng ôm giữ cả bốn đứa? Sức vóc đâu, tài chánh đâu mà mang ra trang trải? Nước mắt lại có cớ trào ra, sụt sùi cho trôi bụi đường xứ lạ: Chị à, thằng Bảy tía sấp nhỏ ngủm củ tỉ rồi, anh hùng lao động chết không toàn thây không ghi lại di chúc. Em đành ngậm đắng nuốt cay làm ba đầu sáu tay chứ biết cách nào hơn. Phận gái mười hai bến nước trong nhờ đục chịu, tàu còn lênh đênh thì mong nhờ chị đoái lòng ngó xuống mở lượng hải hà cho em tấp vào lánh phong ba thời gian đầu lạ nước lạ cái. Ơn vĩ đại của chị Tiên em suốt đời khắc ghi. Thôi, đừng nói nhiều mà xa nhau, đến nước này rồi phải kíp tìm phương án mà hành động. Tao là cán bộ nhà nước phải giữ phẩm giá đạo đức cách mạng, chẳng thể một sớm một chiều đi bôi bẩn lý lịch bằng cách dung nạp oa trữ mày trong căn hộ này. Tao sẽ giới thiệu mày cho bà Tám bóng, nhà bả rộng rãi lại thêm đông đảo chị em bạn gái, tha hồ cho chúng nó nựng nịu bồng bế phụ đỡ mấy thằng cu lem luốt này. Đi, đi ngay, tao dẫn mày tới trình diện Tám bóng.

Tám bóng tuổi khoảng năm bó. Chữ bóng ăn liền với tên do bởi bà có tật mạnh tay khi trét phấn bôi son lên mặt mày tứ thời bát tiết. Ấn tượng bắt mắt hơn cả phường tuồng. Bả được mấy đứa con gái đồng thanh kêu bằng má. Má Tám bóng làm chủ tập đoàn kinh doanh nghề hớt tóc thư giãn, lại nắm giữ chức lãnh đạo quán cà phê đèn mờ. Khi Tiên mang Năm tới chào hàng, Tám bóng làm bình luận viên: Nhỏ này thân thể săn chắc cứng cáp chỉ tội cái hơi đen đúa hơi nhà quê một cục, nhưng theo kinh nghiệm của má, chỉ cần chút đỉnh thời gian người nó sẽ trôi hết phèn chua đất đỏ bấy chầy ám thân. Cái đít nó, cái vú nó, cái mông nó, cũng có thể cái cửa mình nó rồi đây sẽ làm khuynh đảo bá tánh. Tắm rửa kỳ cọ cho gắt gao, má sẵn lòng cho son phấn phụ kiện đặng nâng cấp nó. Thằng Tường lé sếp đồn công an mà không phiêu diêu tới bến cùng nó thì tao đi đầu xuống đất.

Tiên được thưởng nóng nửa triệu gọi là chút đỉnh tiền trà nước cho cò và Năm được Tám bóng khai sinh cho tên mới: Hoa Nhài. Nghe lời má đi cưng, hãy lau khô nước mắt, hãy chặt lìa cái đuôi quá khứ bị kềm kẹp, quên mẹ nó đi những Bẹn những Năm những ngày xưa thân ái, giờ cưng soi gương tập cười với cuộc đời rối beng này và đời sẽ bồi thường xứng đáng cho cưng khi bọn đàn ông xiêu lòng trước một cành hoa mới khoe sắc.

Đúng như tiên liệu của bà Tám bóng, y bon với con mắt biết nhìn thời cuộc, lượng định ra một khúc quành khuất tất, tiệm mát-xa thư giãn trở nên chộn rộn từ ngày có Hoa Nhài hoá thân về đầu quân dưới trướng. Hồn thiêng thằng Bảy có chu du ngang qua, được đối diện vợ cũ nó cũng chẳng có tài thánh để minh định ấy là người từng tay ôm tay ấp một thời xa vắng. Năm giờ đã thoát xác, lộng lẫy và chảnh của vẻ đẹp đĩ thoả mang hương sắc hoa nhài. Ở với Bảy, áo quần kín bưng bó thân nghiêm túc lễ giáo, nhưng goá phụ Năm tháng ngày này y phục luôn chểnh mãng luôn kiếm cớ bày hàng. Có hàm oan không nếu bảo rằng nhờ ơn cách mạng đày Năm lên vùng kinh tế mới lao động đầu tắt mặt tối tạo điều kiện cho Năm sở hữu được một cơ thể rắn chắc, khiến những đứa ưa hái hoa đã phải trố mắt ra: Mẹ kiếp con Nhài nó văm nó múp đáo để, ông chơi bở hơi tai gần cháy bu-di mà nghe nó ngôn kiểu khinh miệt: gãi chưa đã ngứa. Mẹ, nó có bí kíp gì không mà khiến tớ đường đường một nam tử hán lại chịu cảnh sớm khóc ngoài biên ải!

Năm lu bu với cảnh sống mới nên nhạt phai dần tình mẫu tử. Nói nào ngay Năm cũng ít khi đụng mặt bốn đứa, chúng dắt díu nhau đi từ sáng sớm, đứa bán vé số đứa đi bới móc đống rác ruồi nhặng phế thải kiếm ve chai, đứa kiên trì bám trụ trước cửa mấy quán ăn xin bạc lẻ hoặc nhanh tay húp sạch chút cơm thừa canh cặn của đám thực khách, đứa lòn lách vào chợ móc túi hoặc giật ví hoặc tư trang dây chuyền đồng hồ các thứ. Chúng ăn bờ ngủ bụi và sinh hoạt của thứ xã hội ấy khiến chúng chai lỳ ra, một thứ bản năng phù hợp với quy luật cuộc sống. Chúng trổ giò và thằng Sang hiện cầm đầu một đám anh chị trấn nhậm đi bảo kê quanh địa bàn không nhỏ ở vòng đai thành phố. Cái tên Sang máu lạnh có thể khiến một đứa ngày đầu hăm he bước chân vào giang hồ phải xanh mặt máu khi nghe tiếng ong ve. Danh bất hư truyền, tiếng đồn rậm rật lọt tới tai bà Tám bóng, má cho người bắt xe ôm truy tầm đúng anh đại ca nhí đưa lời đường mật phủ dụ. Đã là người của giang hồ thì mày phải biết tôn trọng đạo nghĩa, lẽ nào mày quên công ơn của má ngày nào sao Sang? Tao không hối mày buông đao để thành Phật, tao chỉ khuyên mày nên về làm bảo vệ cho quán cà phê đèn mờ của tao. Má ruột mày, con Hoa Nhài lỡ có thằng dở hơi phá phách quá đáng thì khi trông thấy mặt mày e nó phải nhũn như con chi chi. Đôi lời tâm huyết, mày nghe có hợp lý hợp tình chăng? Sang nhổ nước dãi trước mới nhếch môi phán: Đéo mẹ bà chẳng nghe câu bụt nhà không thiêng sao? Sang này đời nào lại hạ mình đi chăm sóc đám hạ lưu đĩ điếm. Nôm na rằng thì là đờn ông này quyết không dây dưa với bọn đờn bà kia cho rách việc. Nếu đã là đờn bà thì bà nên xéo đi.

Suốt cả cuộc đời trường tồn bám trụ ở chốn này, lần đầu má mì Tám bóng nghe được một câu chẳng lọt vào lỗ tai như vậy. Xấc láo, mất dạy, du côn, đồ đầu đường xó chợ, đồ du thủ du thực, đồ ăn cháo đá bát. Bụng bà Tám bóng sôi lên, nhất là khi khổng khi không bị nó dội nước lạnh vào người làm trôi đi son phấn làm mất thể diện, làm mất mặt bầu cua. Thù này phải trả, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt. Mẹ mày chớ, dám cạnh khoé với Tám bóng thì con ắt sẽ học được phép xử thế, bài lễ độ của công dân giáo dục. Sách bà Tám bóng soạn ra: Bỏ hai triệu trong bao thơ, giao vào tay sát thủ biểu triệt cho được thằng Sang chưa ráo máu đầu nọ. Sát thủ cầm tiền đi sắm hung khí, đồ hàng ngoại, nhãn Trung quốc in tuồng ở Hoa Sơn luận kiếm. Người ta rêu rao ở trang mạng, bạn thổi một sợi tóc ngang qua lưỡi bén, tóc sẽ êm thắm đoạn lìa làm hai. Nếu muốn, có thể chẻ sợi tóc làm bốn. Cháy túi, sát thủ phải xin thêm tiền ở má Tám bóng để làm cuộc nhậu cùng chiến hữu cho thêm hưng phấn trước cuộc binh đao. Rề rà đợi giao hàng nóng, lại hú gọi nhau tợp rượu lấy dũng khí sơ sịa cũng mất ngoẻn non tuần, đến khi đèo nhau đi hành quân sang địa bàn bên kia thì hú hồn: Công an đã vừa vây bắt được Sang cùng đàn em với tội danh trấn lột tài sản và có nguy cơ cướp đi sanh mạng kẻ khác.

Bà Tám nghe báo cáo lộ vẻ không vui. Hai triệu là hợp đồng hồi nào mầy chém nó. Mày không xung trận thì tiền đâu, hoàn trả lại tao. Sát thủ nghe tỉnh rượu, nực cười thay, hai triệu hả, đó bà giữ cây bảo kiếm ấy đi đặng lần khác có mà xài. Con mẹ mày, tao lấy kiếm mà đào mả ông già mày à. Thiệt nực gà, sao lóng rày cứ gặp phải chuyện gì đâu không, ngó chẳng êm bụng một mảy may. Chộn rộn chui lọt vào màn nhĩ Năm, đi điều tra mới hay ra bà Tám tính xin thằng Sang tí huyết. Tình mẫu tử ngỡ vùi quên khi không lại chạy xô về làm thót tim. Năm thay đổi xiêm y lận chút bổi cụ Hồ vào thắt lưng quần lật đật đi tới khám bên quận Tư thăm Sang. Mày đi đâu đó Hoa Nhài? Vui Xuân không được quên nhiệm vụ nghe cưng. Con Bạch Tuyết án ngay cửa chêm cục gạch cản đường. Bả có hỏi nói hôm nay tao có tháng, tao không đi khách được. Tao chạy u ra nhà thuốc mua thuốc trị đau bụng rồi sẽ giỏi chân về.

Năm rất ngán đặt chân vào trụ sở công an, nói chung là bất cứ cơ quan nào khác. Đã là đầy tớ của nhân dân thì thằng nào con nào cũng hoạnh hoẹ ưa làm đày làm láo cả. Mặt mày chúng giống nhau đã đành, ngôn ngữ chúng dùng cũng một dạng không đổi, rất thuộc bài. Có một thứ chúng chẳng chịu sáng mắt sáng lòng, ấy là hiện kim, là tiền bạc, là giấy cứng. Chúng giả đui giả mù để tạo điều kiện thuận lợi cho mình mua chuộc tình cảm. Năm chìa tiền ra và xấp giấy thông hành kia giúp Năm giáp mặt được đứa con đầu. Thằng Sang với tuồng chữ gà bới vừa viết xong bản tự khai dài tới ba trang giấy vở học trò. Mồ tổ mày, coi bộ giỏi môn luận văn hén? Thằng tội phạm mặt trơ lỳ chẳng lộ buồn vui khi gặp má nó, hèn gì mà dân anh chị kêu nó bằng hỗn danh Sang máu lạnh. Đẻ ra nó lành lặn là thế, không tì vết, mà giờ đây da thịt nát nhừ cả hình xăm trổ rồng phượng cọp rắn đi kèm với bao đòn roi đánh dằn mặt vằn vện tươm máu. “Nếu biết rằng tôi đã ngồi tù, trời ơi người ấy có buồn không?”. Con xăm làm gì hai câu than thở nghe mềm lòng ấy? Nghe như cạo sửa thơ ai. Con cần chi thì nói má, má liệu cơm gắp mắm chạy đôn chạy đáo đặng cứu chuộc con. Sang này đéo cần gì cả. Nó nói nhát gừng, nó giả nhời cộc lốc. Nó ngồi sau chấn song mà chảnh như chuột sa hủ nếp. Ba mày có sống lại, ổng cũng chào thua tính cương cường mày có. Ổng bị người ta liệt vào thành phần cứng đầu khó cải tạo nhưng xem ra ổng phải gọi mày là đại ca. Hổng anh hai thì kêu bằng chú, chú hổng ưa thì đành lạy bác ạ. Bác khoẻ không? Đau khổ chi bằng mất tự do. Sao, con không có lời gì để nhắn nhe cùng má sao Sang? Bà dìa đi, giữ thân mà lo cho thằng Trọng thằng Hùng thằng Dũng. Tui biết có nhiều bà mẹ anh hùng đẻ con trong nghèo khó nhưng sau này con chăn trâu con ở đợ vẫn làm nên đại sự. Tui ưa nổi loạn làm anh hùng mà thời cơ chưa tới, nay chịu thúc thủ thì ý trời đã định. Tui làm tui chịu, bà đừng dại má con um sùm trời đất để can tội đồng loã bao che.

Mặt Năm khờ câm. Đời thuở, mình gian khổ đi thăm nuôi nó lại bị nó khi rẻ đuổi khéo đi. Con với cái, thiệt đắng cuống họng, biết vậy tao đẻ ra cái hột vịt lộn mà nhai với rau răm cho mát cái lỗ miệng! Ngọt lừ!

Chị Năm. Ai đó gọi giật giọng. Tôi đã xem lý lịch với bản tự khai của nó, toàn bộ lời lẽ tuy có biểu hiện thành khẩn nhưng lắm chỗ vấp phải đôi ba sạn sỏi làm lấn cấn, ấy là cách chị đặt tên cho bốn anh em chúng, như ngầm dự mưu phỉ báng và mang tội chống đối nhà nước. Có đúng thế không? Í qui thần tía má ơi, sao chưa gì cán bộ lại đánh phủ đầu tui kiểu đó. Tui hạng dân dã quê mùa, xin cán bộ cứ thẳng ruột ngựa nói ra hoạ may tui mới được tường tận. Này, chị giả vờ ma mãnh hay tình thật một chữ không biết cắn cho vỡ đôi? Nghe đây, đặt tên con như vậy là huý kị là phạm thượng, bởi bốn vị lãnh đạo rường cột nước nhà thảy đều mang tên y như bọn tội phạm móc bọc xì ke ma tuý giống con chị cả. Í, quỉ thần thiên địa ơi, đây đúng là chuyện giả tưởng, nếu có trùng hợp thì ngoài ý muốn của tác giả. Sao, ưa vòng vo lấp liếm chạy tội à? Dạ đâu có, tui nghe người ta lạm bàn là học sinh thời nay đều dốt đặc môn sử, huống hồ phận tui nghèo hèn đâu được vinh dự cắp sách đến trường để biết mặt ngang mặt dọc của các ngài đỉnh cao. Giá mà tui biết tên của các vị ấy thì đời nào dám xúc phạm, thà đặt tên chúng là Cầu Dừa Đủ Xoài chắc đã êm ả cuộc đời, im re đứng ngoài vòng tử sinh. Chớ dông dài nữa, vắn tắc là sẵn đây chị nên tranh thủ đi làm lại giấy khai sinh cho chúng, thằng Sang thì cho nó cái dấu hỏi, giả dụ thế, thằng Trọng thì tẩy mẹ nó đi cái dấu nặng, thằng Hùng thì đoạt cái dấu huyền, thằng Dũng thì chôm của nó cái dấu ngã. Thử đọc lên xem nào, Sảng Trong Hung Dung, nghe có phải dịu dàng hơn trước không? Nghe như tên của mấy người nước lạ. Đòi gì khác?

Năm cúi mặt dùng tay khều đất đen bám trong móng, ra tuồng bận vận dụng chất xám. Cha mẹ sanh con trời sanh tánh, sanh xong thì giao mạng cho nhà nước giáo dục chỉ đạo. Cán bộ đã nói thế thì tui nghe thế, quyết chẳng lấy đó làm điều, ngượng miệng kêu ban đầu nhưng riết rồi phải quen tai thích nghi. Quê tui thiếu khối gì bọn người phụ rẫy ơn sinh thành, đi mần cách mạng rồi tròng vào thân cái bí danh do lãnh đạo đặt để, khai tử Cu Đen Cu Vàng ngày còn thơ ngây để ưỡn ngực ra bằng tên gọi lão làng đầy thành tích anh Chín Hầm anh Sáu Tám Mậu Thân anh Tư Bãi Dâu anh Hai Khe Đá Mài… Ôi biết kể sao cho xiết!

Năm le te đi ra khỏi trụ sở có chấn song nhốt gọn thằng con tên Sang nay vướng vào lao lý tên gọi là Sảng. Ông sếp ngôi nhà đường bệ ấy nói với đám thuộc hạ: Đéo mẹ thật là con nào mẹ nấy, con Năm này mà hành nghề trong khu vực ta thì ngày một ngày hai tao còng đầu nó cho khỏi chướng tai gai mắt. Đồ thành phần ăn bám xã hội. Dạ anh Ba nói vậy là thiếu cơ sở, nó đâu có ăn bám xã hội, đồng chí Tường sếp công an quận nọ sẵn lòng làm ô dù cho nó bởi ổng lậm bùa Năm, bí danh Hoa Nhài. Xem vậy chứ nó có giá lắm, cỡ mình e không đủ sở hụi nếu muốn đi tàu nhanh cùng nó đâu. Mẹ, đời luôn là bài toán tréo cẳng ngỗng. Ông thầy thắp thuốc có cán thở khói vào mặt thằng đệ tử: Đù mẹ sao mày chẳng nói sớm, bận sau đi họp lỡ gặp anh Tường cũng khó nhìn mặt nhau. Mày nghĩ là nó có tâu lại cớ sự hôm nay với anh Tường không? Bắt buộc rồi, em để ý thấy nó bức xúc khi nghe mấy thằng con Sang Trọng Hùng Dũng bị đề nghị đổi tên. Kệ mẹ nó đi mà, chiếc áo đâu làm nên thầy tu, tên gọi muôn đời không ảnh hưởng tới số phận đứa lỡ mang, chăn trâu vẫn hoàn chăn trâu, móc túi vẫn hoàn móc túi, thất học vẫn hoàn thất học… Sang trọng mà làm gì cho má nó khinh…

Vách có mọc lỗ tai. Mày câm mồm đi. Mày đừng nói nữa, có được không? Sếp nạt thằng đàn em, nó đứng nín khe, tay mân mê chiếc nón có đính ngôi sao vàng cực hoang mang nhìn xuống đôi dép râu nhuộm đen những ngón.

Hồ Đình Nghiêm

Bang Bang

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Bang Bang

Tôi vẫn đứng chỗ ấy, không dời đổi. Đan Minh muốn tôi chờ cô ở đó và tôi nghe theo. Khá xa cánh cổng Đan Minh sẽ xuất hiện vào lúc mười giờ rưỡi tối. Kín đáo, hơi khuất lấp. Tôi tự hỏi, có phải Đan Minh muốn thế không? Bản thân, tôi cũng chẳng ưa chường mặt ngoài vũng sáng. Bóng tối giam cứng tôi lại bằng sự độ lượng của tàn lá xum xuê trên đầu, buông rủ xuống và như mọi khi nó phả cho tôi chút hơi thở mát lạnh của thứ cây bề thế có tuổi thọ già bằng những trang cổ tích.

Đan Minh làm việc trong một quán bán cà phê luôn đông khách, nếu có đứa rộng lòng đòi đưa cô về, hẳn cô không khó để tìm cách từ chối: Tôi lỡ ký hợp đồng với một gã xe ôm rồi và hầu như chưa bao giờ hắn sai hẹn cả. Hắn là cái đồng hồ chạy pile chẳng hao hụt năng lượng, hắn tựa một đại diện cho thứ công ty trách nhiệm hữu hạn phục vụ đối tượng bằng phương châm “đinh đóng cột”. Rất uy tín.

Người hành nghề chạy xe ôm và tôi, có riêng một điểm khác biệt. Tôi dấu che thân phận trong bóng tối trong khi bọn người kia thường lựa chỗ sáng mà quần tụ, mà chào đón, mà rước khách, mà chèo kéo. Họ am tường hầu hết những con đường nằm chằng chéo đè lên nhau vô tội vạ có trong thành phố bị cắt manh múm. Còn tôi, chỉ rành đường đi lối về với khu vực được khoanh vùng dài cỡ 7 km: Lộ trình từ quán cà phê đâm đầu tới nhà trọ. Thỉnh thoảng phá lệ được chạy xa hơn, Đan Minh vẽ đường và đó là những tối cô cao hứng đãi tôi đi ăn khuya. Một tô cháo gà hoặc một tô cháo cá. Đôi khi mưa đêm thầm lặng nghiêng hạt nhỏ chẳng làm kinh động một ai, chúng tôi tấp vào lề đường để ngồi bên gánh bún bò “tối lửa tắt đèn”. Mùi khói than vừa vùi vào đống tro tàn và chủ nhân, một mệ già cỡ 100 tuổi đã rộng lòng dùng vá cạo đáy nồi bán tới giọt nước cuối.

Mười giờ bốn lăm, người sau chót bước ra khỏi quán, tôi nghĩ vậy. Và tôi đã chạy tới sát bên lưng. Hơi diêm dúa, không trẻ nhỏ, người đàn bà ngó tôi với tất cả vẻ dè chừng, phòng thủ. Xin lỗi chị, tôi chờ Đan Minh đã lâu mà chẳng thấy… Nó kêu đau bụng, nó nói chắc em ngộ độc thực phẩm, nó kêu xe ôm chở qua nhà thương lúc tám rưỡi chín giờ gì đó, lâu rồi. Người đàn bà không còn điều gì để nói thêm, bước đi như cơn gió vừa thổi ngang đã lùa sạch những gợn lòng. Để lại một lượng thông tin hơi bất ngờ khiến tôi chẳng kịp trông rõ màu áo. Hình như bà mặc một chiếc váy ngắn, trên đầu gối cả gang tay và là thứ mà Đan Minh diện khi tới quán. Tôi ngồi trên yên xe, máy vẫn nổ, xăng vừa châm đổ tới nửa bình trước đây cả tiếng. Đầu óc tôi như được chạy bằng dầu cặn, cà rịch cà tang khởi động tới năm bảy phút mới đưa tới quyết định: Phóng qua nhà thương.

Thành phố chỉ có duy một bệnh viện và họ gọi là bệnh viện trung ương. Nếu đã là trung ương thì những bệnh viện “địa phương” kia nằm ở đâu? Tôi đã ba chục tuổi đầu, tôi chẳng biết cách để giữ mình nhưng nhờ trời, bệnh hoạn là thứ tôi chưa hề đối diện. Tôi sống phây phây, như cách mà Đan Minh nhận xét và hồn nhiên tới độ chẳng nhớ chính xác địa chỉ của nhà thương lớn nằm ở nơi nao. Nhà chen lấn, mọc tuỳ tiện chắp vá hai bên đường, những cánh cửa đóng kín kia, bản thân nó giữ khu biệt từng nhà thương nhỏ. Không đúng sao? Mỗi đơn vị gia cư đều tích tụ ở bên trong địa phận, lẻ tẻ những niềm đau cá biệt mà muốn sống họ phải tự băng bó lấy vết thương. Tình yêu có khi là con dao hai lưỡi, vin vào đó để tìm lạc thú, đôi khi chính nó tước đoạt hết nhựa sống của đời người. Chật vật để hiểu ra, đi tu là cách thế anh buông con dao kia xuống khỏi tay cầm. Khi xa vật làm chấn thương gây đổ máu kia anh mới mạnh miệng hô hoán: Buông đao có thể thành Phật.

Tôi là ác quỉ, rồ dại chạy giữa đêm đen, gần sang ngày mới thì chạm trán với dãy cao ốc có cắm chữ bệnh viện trung ương bằng xi-măng nhô ra trước mặt tiền lầu một. Đèn ở đó thắp sáng, phơi bày sự ghẻ lạnh như một thứ bệnh viện tâm thần. Hoặc không, nó có khả năng xua đuổi những kẻ “tâm thần” như tôi. Tôi mang xe đi gửi. Gửi xong tôi nhắm cái bảng sáng đèn nổi rõ một dấu cọng màu đỏ chót quờ quạng bước tới. Tại sao là dấu cọng mà không là dấu trừ, hoặc chia? Tôi nghĩ chỉ riêng khu hộ sinh mới có quyền treo tấm bảng kia, bởi hai vợ chồng dìu đỡ nhau tới đó, phút giây sau họ sẽ được cọng thêm một nhân mạng, em bé ra đời khóc oe oe: đời là bể khổ. Những khu vực khác đều lảng vãng bóng dáng tử thần, sẽ chia chác, sẽ khấu trừ, sẽ chiếm đoạt từ bạn những giây mơ rễ má về cái gọi là niềm vui thân thương. Làm sao cộng hưởng được với nó?

Giống như đa phần kẻ vô ra dưới chữ thập đỏ, tôi cũng mang một bộ mặt khó đăm đăm. Bơ phờ, xanh xao, hoang mang, bức bối, chẳng còn lòng dạ nào thì cũng chung một nghĩa. Tôi bước lại gần tấm bảng “Phòng cấp cứu” để hỏi một ông mặc đồng phục bệnh viện. Bằng tất cả những diễn đạt rất mạch lạc mà tôi có, tôi trình bày nguồn cơn và ước ao được nhìn thấy kẻ ngộ độc thực phẩm kia. Những thứ nghe nao lòng nọ như không chạm phải màng nhĩ của ông ta, dửng dưng, mắt không dời đổi, vẫn đặt để trên một vuông giấy kẹp trên tấm bìa cứng. Nếu tôi là Thiên Lôi đang nắm ở tay cây búa, tôi sẽ cãi lệnh trời mà giáng cho thằng chả một búa, để xem hoạt cảnh khi người ta hốt hoảng mang nạn nhân bất lịch sự kia đi sơ cứu nó như thế nào. Một ông Thiên Lôi từ ngoài đường bước vào, xô tôi sang bên, móc túi đếm tiền rồi bỏ vào phong bì đặt nó trước mặt kẻ lãnh cảm kia. Ba mươi giây sau quyền uy của Thiên Lôi mất búa được người đời nể sợ, ưu tiên giải quyết, trả lời minh bạch những gì sứ giả của Trời muốn biết. Và vị sứ giả kia luôn mồm đù mẹ, nóng nảy như anh ruột của Trương Phi.

Tôi đứng quan sát hiện trường rõ lâu, sau rốt tôi nhìn mặt một cô y tá để đặt cược sự rủi may. Tôi cuốn lại những tờ giấy bạc sau khi móc sạch túi quần, nắm lấy tay cô dáng điệu thành khẩn: Chị làm ơn giúp em, tha lỗi em, lòng em như tơ vò. Được, về điều gì hẳn thủng thẳng nói, chuyện gì vẫn còn ở đó, hổng trốn khỏi đâu. Y tá đút tay vào túi áo. Túi may to như thể tất cả những dụng cụ y khoa có thể nhét được vào đó, không cứ là xấp tiền hèn mọn, không cứ là ống nghe thăm bệnh, không cứ là cả nạm viết xanh đỏ gắn nắp ở đó, không cứ là vật đo nhiệt kế, không cứ là cây đèn pile nhỏ chút xíu, không cứ là cặp găng cao su đã qua sử dụng, không cứ là khẩu trang bèo nhèo.

Đan Minh, nữ, ba mươi lăm tuổi, đau bụng, nghi là ngộ độc thực phẩm, bắt xe ôm tới bệnh viện khoảng chín rưỡi mười giờ. Để cẩn thận tôi moi ra được từ bót đựng giấy tờ tấm ảnh chụp khuôn mặt một thiếu nữ ngó sầu mộng chỉ trỏ cho người ta nhận diện. Anh đứng yên ở đây, chớ bước qua lằn vạch đỏ kia. Tôi sẽ đi dọ hỏi, chậm lắm là nửa giờ sẽ trở lại. Đan Minh à? Cái mặt sao trông quen quá. Người y tá biến mất sau tấm màn nhựa bị cắt thành từng vạch buông rủ. Không chắc là sau nửa giờ tôi đếm được có bao nhiêu đường xẻ trên tấm màn tan nát kia. Thay vì lấn sâu qua đường sơn đỏ vạch trên nền xi-măng lầy lội sẽ bị la ó việt vị này nọ, tôi bước ra khỏi vùng cấm địa để nhập chung bầy đàn với bọn người “tang gia bối rối” để đứng hút thuốc. Trong hoàn cảnh này, trong phút giây hoang mang cùng cực này, chẳng có bằng hữu nào sẵn lòng xoa dịu hồn mình bằng khói thuốc cả. Bia rượu và thuốc lá, trời sinh chúng ra là để cứu lấy bọn người bất hạnh đấy thôi. Giống như vai trò một người mẹ, thượng đế đã phán: Tôi chẳng thể có mặt ở khắp nơi, vì thế tôi đã tạo ra hình ảnh một mẹ hiền. Đan Minh sẽ là người mẹ dịu dàng nếu cô đồng ý thuận lòng lấy tôi làm chồng, có nghĩa là một ngày nào trong tương lai, cô nói sau bao đắn đo, hãy cấy vào trong tôi một hạt giống của bạn.

Tôi ném điếu thuốc xuống đất, bệnh viện bề thế không sắm được một cái gạt tàn mặc dù họ có gắn tấm bảng: Khu vực được phép hút thuốc. Chỗ này cũng không trồng cây để chúng làm điều hoà lượng môi sinh. Nếu có cây, người ta dễ nhìn nhận cả đống thuốc lá cụt ngắn kia là hoa lá của cây rụng xuống vương vãi cho cuộc tuần hoàn hoa nở lại tàn. Tôi đi vô sát lằn sơn đỏ chờ đợi người hảo tâm. Cô y tá đẹp người đẹp nết kia đã xuất hiện. Anh có nhầm lẫn không? Trong sổ nhập viện ở phòng cấp cứu hôm nay không lưu tên Đan Minh. Không luôn cả trường hợp ngộ độc thực phẩm. Có năm trường hợp, hai tai nạn giao thông, một uống thuốc độc quyên sinh và hai do hỗn chiến đâm chém. Nạn nhân là hai nữ và ba nam.

Cô y tá có vẻ tận tuỵ khi được cậy nhờ giúp đỡ, hẳn cô rất mát tay nếu đưa mông cho cô chích thuốc. Tôi chân thành cám ơn và tôi ước ao nếu bị xe đụng, chở vào đây cô sẽ là người đè tôi ra vạch áo xem lưng. Ở đây, thời buổi này, nếu không vào ra bệnh viện, cứ phây phây như tôi thì rõ là đồ lạc hậu. Không nhập viện thế thì Đan Minh đi đâu? Từ bao giờ, cô đã mang hạ sách ra lừa dối nhau? Đi tới chỗ gửi xe thì có đứa nhận diện, gọi giật tên tôi. Tôi không may mắn để còn mẹ hiền tới lui han hỏi, tôi trơ trọi thực sự ở thành phố này, chí thú mơ mòng để tâm duy tới Đan Minh, vậy mà ngờ đâu tôi còn một ai khác nhìn nhận ra tôi để lạc giọng thét gọi. Đèn trên đầu tôi bạc nhược soi rõ một khuôn mặt khô héo, gầy ốm, tóc rối bụi đường. Hắn làm khó bộ nhớ của tôi, như thể ổ cứng một giàn computer vừa bị vi trùng thâm nhập. Thời gian làm “tin tặc” hay con người ưa sắm riêng những mặt nạ. Đù má bao lâu rồi thằng cà chớn? Mày làm gì ở đây?
Chữ cà chớn hắn nói giúp tôi nhớ lại phần nào. Chỉ có hắn mới gọi tôi là thằng cà chớn. Ủa, Chơn cà chớn, ừ, quả là lâu thật. Hắn nắm bàn tay tôi, bắt lấy và lay lay như xua đuổi mộng mị. Mồ hôi đổ trong lòng bàn tay hắn, tuy vậy da thịt kia quá đỗi lạnh tanh. Một thây người, một tử thi đều thủ đắc lấy thứ hàn khí ấy. Bàn tay của mẹ khi tôi nắm lấy phút sau cùng trước khi để cho người ta tẩm liệm cũng lạnh lẽo như vậy. Hắn đã chứng minh cho tôi thấy, lạnh cẳng hoặc lạnh tay thì không riêng người chết mới có quyền cưu mang. Người ta rất không ăn hô nói thừa khi ta thán: Sống đây mà xem như chết rồi.

Má tao vừa gánh hàng trong chợ đi ra thì bị xe điên leo lề cán phải. Họ đã chuyển bà cụ lên phòng hồi sức. Còn mày, thằng cà chớn? Tôi đang tìm cách nguỵ tạo một tình huống để đặt điều dối gạt. Tìm chưa ra nên đánh trống lãng. Tao không biết cà chớn nhằm minh hoạ ra thành phần nào, tuy vậy tao vẫn vui khi nghe mày luôn kêu tao là thằng cà chớn. Tại sao? Vì thân thiết mới gọi nhau thế, đúng không? Hắn đặt dấu hỏi. Tôi rút tay về: Tại vì hơn mười năm nay chẳng còn ai kêu tao là đồ cà chớn. Đôi khi người ta cần sống lại những ngày tháng cũ, dù đó là kỷ niệm xấu. Đù má không cà chớn thì còn chữ gì khác? Mày yêu con Thuỷ mà làm gì trong khi nó đang cảm tình sâu đậm với tao. Xôi hỏng bỏng không, mày đẩy nó ra đứng ở ngã ba đường và nó lựa chọn bước đi ở lối thong dong nhất, không ngó ngàng tới mày cũng như tuyệt tình với riêng tao. Tụi mình có ăn học chứ vào thời buổi này e mang đao kiếm ra mà nói chuyện đạo lý. Mày vào thăm ai hay mày đã thôi nhiệm vụ? Đã thôi nhiệm vụ. Vậy được, tụi mình đi kiếm chỗ ngồi nói chuyện. Mười năm rồi sao? Ừ, tao độ chừng vậy, có khi hơn. Không tới đâu, mới quá mà, đâu như tháng trước, bữa nhiếp bữa kia.

Chỗ ngồi nói chuyện không khó kiếm, đó là quán cà phê nằm sau lưng bệnh viện. Đoạn đường chẳng mấy xa, đủ để tôi biết hắn làm công nhân viên trong nhà máy cung cấp điện lực cho thành phố và những vùng phụ cận. Nơi này mất điện nơi kia sáng đèn, sự cố nọ núp bóng dưới hai chữ “bôi trơn” và thứ dầu mỡ kia cầm chân hắn lại, chẳng muốn dời đổi. Nói cách khác, người ngợm hắn trông như kẻ chết đói thiếu cơm nhưng trong túi hắn, ra đường thủ không dưới hai chục triệu. Hắn giàu có tới độ muốn rách túi quần. Thằng cà chớn như tôi chỉ cần một phần tư tiền bạc của hắn cũng đủ ấm đời muôn niên.

Hắn gọi bia cho cả hai. Hắn nói má hắn đã già, không biết có qua khỏi vụ này không. Hắn nói thằng tài xế xe điên đã bị bắt giữ, đù má phải mà tao có mặt ở hiện trường, tao nhảy vào đánh hôi thằng cà chớn kia một trận cho hả giận. Hết nửa chai bia hắn mang chuyện cô bạn học ngày cũ ra nhắc. Tao hỏi thật, thời đó mày mần ăn với con Thuỷ chưa? Tầm bậy, chỉ cầm tay chứ không được nắm chân. Người ta con nhà lành, cầm chưa đổ mồ hôi tay thì vùng vằng quay bước. Chữ yêu là chữ thậm khó nói trong khi chữ mần ăn kia thì vĩ đại cỡ như làm một cuộc cách mạng. Vậy sao? Hắn cười. Tao hôn con Thuỷ rồi, mày tin không? Hôn cho mềm môi, hôn cho tới lúc phát hiện ra mày thầm thà thậm thụt đứng góc đường, đù má thằng cà chớn, uống hết cái này coi. Đã lâu, tôi mới được uống bia. Hắn nói sức mày bao nhiêu thì cứ dung nạp, đừng lo, tao chi trả. Thật kỳ cục, thành phố lớn lao gì cho cam mà sao ra đường không đụng mặt? Tao tưởng mày chết mất đất từ khuya rồi chứ. Mày sẽ thấy thêm một điều kỳ cục khác, là mày có ưa đi thăm con Thuỷ không, tao dẫn đi.

Tôi uống qua chai bia thứ hai, người tôi bắt đầu nóng. Tôi mạng mộc, bình địa mộc, nghe nhắc tới thuỷ mường tượng ra bao điều liên hệ tới ướt át, tới sự thẩm thấu làm người giải hạn, thôi khô khan, thôi cùn mằn, thôi sỏi đá, khiến tôi bức rức. Kỳ cục. Tôi nói nhỏ mà hắn nghe được. Thuỷ sẽ ngạc nhiên vô hạn khi thấy tao dẫn xác mày tới. Than ôi, cuộc đời này là cả một sắp đặt tréo cẳng ngỗng! Nhà triết học đặt chai bia xuống bàn. Thở than là thở than vậy chứ mặt mày vẫn tỉnh khô. Dạo đó tao có mang Thuỷ lại nhà chào má tao. Mày biết sao không thằng cà chớn? Má tao gặp mặt nó phút ban đầu là đã chịu đèn con Thuỷ ngay. Bả ra chợ sắm sửa cho nó bao nhiêu là thứ nội y, bả đơn giản nghĩ một cọng một là hai, cứ đoan chắc Thuỷ sẽ là con dâu. Coi, cái lưng ong, cái eo thon cái ngực nở cái xương chậu cái dáng đi, rồi mai này nó đẻ cho má biết bao nhiêu là cháu ngoan của nội. Giờ này má tao đơn thân nằm trong bệnh viện, giờ này con Thuỷ…

Đi. Hắn quyết định. Hắn trả tiền bia. Đời vô thường. Cơ quan tao đang phát động bài trừ tham nhũng, mai hậu có thanh tra ngoài trung ương vào xem xét tình hình, đù má tao chủ trương cứ chơi cho bỏ những ngày cơ cực. Con y tá đằng chỗ bệnh viện nói nghe thấm thía, nóng ruột mà ích gì, chuyện gì cũng còn có đó. Đù má, có nhiều chuyện rất dễ bốc hơi đấy, em ạ! Đừng đóng khung bất cứ điều gì vào chân lý này nọ mà hố to. Mày theo tao, nghe thằng cà chớn.

Những ngọn đèn đường vẫn thoi thóp, tuy đã sang ngày mới nhưng bình minh còn dùng dằng ở chốn xa chưa kịp về. Mặt trời hẳn ngủ nướng, nếu mặt trời bị tai nạn giao thông, ngày ấy hẳn tận thế. Thôi biết tới má, tới cà chớn, tới đù má, tới Thuỷ, tới người tình không chân dung: Đan Minh. Tôi không dại khai cho hắn biết, so ra làm con mèo biết dấu cứt bao giờ cũng đáng hoan nghênh. Cái bi thảm của đời này là người ta biết rõ lý lịch nhau quá. Dẫm đạp vào đời tư của từng cá nhân như bước chân vào vườn hoang để tuỳ tiện bức hái hoa, dày xéo nó với thứ luận điệu của đứa thất học. Nếu có một thứ đảng cà chớn hiện hữu e sẽ dễ thở hơn, nhỉ?

Ở bãi gửi xe có tên ăn mặc rất đỗi lịch sự. Đứa thanh niên tóc chải tém mướt rượt như vừa tắm táp xong, đôi mắt có vẻ tinh tường quan sát thằng cà chớn rồi quay qua hỏi hắn, nhân viên nhà đèn: Ngày mai chắc hẳn trời đổ mưa? Chú thợ điện đáp, chẳng đắn đo: Không, ngay giông cũng chẳng có. Đứa thanh niên vung tay giữa khoảng không, tức thì dưới tàn lá rậm chôn dấu nhiều bóng tối, cánh cửa chìm lẫn trong bức tường phía sau được mở ra. Có lẽ chất xúc tác của hai chai bia đã mang tôi nhập vào cảnh giới của xứ ngàn lẻ một đêm và tôi đồ rằng hắn vừa làm Ali-baba để đọc khẩu lệnh cho hang động thức giấc mở lối. Phải tích luỹ uy lực mới đọc đúng câu chú. Phải giang hồ lắm bận mới tường ngõ đi lối về. Công nhân viên nhà đèn, chú thợ điện dắt tôi vào nơi cố tình bị mất điện. Chú quen với sự cố tối tăm nên chú xăm xăm. Mày đừng ngờ vực chuyện gì cả, cứ xuôi tay tự nhiên như nhiên thôi cà chớn ạ. Sống mà chống đỡ với bao hoang mang toan tính phòng thủ thì còn xơ múi gì cái cuộc trần ai phù du chóng sang trang này!

Song hành với một kỹ sư về ngành điện lực có lý lịch tốt, còn ẩn nấp bên hông một ông nội ưa triết lý vụn vặt. Lý ra hắn phải là đứa béo tốt đỏ da thắm thịt, cái khô quắt gầy còm hắn có do bởi cố tật mông muội ưa bàn luận chuyện đời phải quấy sáng nắng chiều mưa. Hắn ôm cả núi tiền và hắn sợ có khi đồng bạc tan chảy thành nước, trôi sông đổ biển. Hành lang không mấy dài, thắp từng ngọn bạch lạp cách khoảng, cháy với thứ đốm sáng lung linh như biết thổn thức khi bề dài thân thể bị cạn ngắn dần với lệ trắng tuôn dòng chảy xiết xuống cái chén nhỏ làm bệ cắm.

Hắn rỉ tai nhỏ to trao đổi mật khẩu một hồi với cô gái phục sức như thời tiền sử. Ăn lông ở lỗ cũng có nét đẹp ngời sáng của nó chứ không cứ ngó ra cái đe doạ bị xẻ thịt phanh thây ăn tươi nuốt sống. Này thằng cà chớn, con Thuỷ đang ở trong phòng số 5, tao để cho mày mình ên đi gặp nó đột ngột mà thú vị hơn. Ngày trước chỉ được nắm tay thôi, nghe thảm, bây giờ thì tha hồ dày xéo nhé. Đù má mày chơi sao cho ngon lành đừng để người xưa mắng mỏ: Đồ cà chớn! Hắn trao vào tay tôi chiếc chìa khoá. Rồi vỗ vai: Vô tư tới bến.

Tôi tìm cánh cửa có gắn số 5 để đút chìa khoá vào. Đút trơn tru, đút sít sao nhưng chưa vội vặn mở. Tôi tập hít thở, tôi tập điều hoà kinh mạch và tôi cố nhớ lại gương mặt xinh đẹp của Thuỷ. Cửa mở, cửa đóng trong nhẹ nhàng cẩn trọng, như sợ tiếng động dấy lên sẽ phương hại tới nỗi đau của kẻ mang bệnh yếu tim. Đèn trong phòng thắp sáng nhưng là bóng nhỏ yếu watt, tường vôi hồng và chiếc giường trải khăn trắng có mùng buông lơi một góc giường. Không một vết nhàu trên bề mặt tấm nệm dày. Tấm nệm chẳng dấy cơn chấn động khi Thuỷ rời đít đứng lên. Thuỷ chẳng có mảnh vải che thân nên ngó Thuỷ lạ, không trùng với Thuỷ phục sẵn trong trí tôi.
Tôi xê dịch chân bước, lê lại gần, đứng yên cho Thuỷ dễ bề quan sát. Một thằng cà chớn thì có bị thời gian tẩy rửa chút gì không? Nó phong trần hay nó vẫn thuần là đứa bạn học dại khờ được cầm tay mà xém chút là xuất tinh sướng ngất.

Sao đứng như phổng đá thế? Thuỷ đã lột truồng, người Thuỷ không đáng để khuấy động chút lửa lòng trong anh? Do đâu anh tìm ra Thuỷ? Cớ gì anh lựa Thuỷ mà không là mười cô kia? Họ lấy của anh bao nhiêu tiền? Sau một loạt câu hỏi Thuỷ ngồi lại xuống giường. Cúi đầu, tóc che mặt với bờ vai run. Tôi bước lại, tìm bàn tay Thuỷ ủ vào tay tôi vụng dại. Tôi cảm nhận cái giá lạnh từ đó lan nhanh vào xúc giác mình. Lạ quá, chỉ có đôi tay của Đan Minh là ấm áp, cô lớn hơn tôi 5 tuổi và có đôi lúc tôi mang ảo giác mình được bao che, hỏi han, bảo vệ, chăm sóc ân cần tựa một người có chung liên hệ huyết thống. Bây giờ sống ở đâu, đang làm việc gì và hẳn là trốn vợ đi tìm cảm giác lạ? Tôi nói, Thuỷ cứ hỏi thêm đi. Thuỷ có quyền hỏi. Đổi lại tôi chỉ xin hỏi một câu thôi. Thuỷ rút tay lại, dùng nó để bịt miệng tôi. Thuỷ hôn anh, có được không? Tôi nhắm mắt. Ban đầu là một hương mùi thoảng qua, một vị ngọt tan nhanh trên đầu lưỡi và sau cùng, hoán đổi là vị mặn của giọt nước mắt vừa len lỏi chảy xuống trên môi.

Chúng ta nhập cuộc thôi. Đừng phí uổng tiền bạc. Nếu anh ngại Thuỷ có sẵn áo mưa đề phòng. Đừng nói năng, chớ cật vấn. Không phải là tình bạn của chúng ta đã chết từ lâu rồi sao? Tôi ôm Thuỷ vào lòng. Tôi không muốn làm người dưng, tôi không ngủ với Thuỷ và như thế giữa đôi ta, tình bạn vẫn còn đó, trước sau vẫn thế. Chiếc áo tôi đẫm ướt. Tôi mạng mộc, bình địa mộc và có cần thiết không, khi để mình bị úng thuỷ? Hãy đứng yên hứng chịu bao oan trái người ta bày tỏ trong câm lặng, đó là cách thế mà một thằng cà chớn sẽ không đủ sức với tới, làm được. Tôi chẳng hiểu hết nghĩa xấu của chữ cà chớn nhưng tôi tuyệt không thích ai gọi mình bằng chữ ấy. Thuỷ có gọi tôi là cà chớn không nếu tôi chẳng đi sâu vào người cô khi có cơ hội như hôm nay?

Anh chẳng mọc lên một ham muốn nào sao? Tôi nói có, đồng thời là sự tiếc nuối. Phải mà tôi có được chiếc điện thoại thông minh tôi sẽ xin lưu giữ hình ảnh của Thuỷ vào trong máy. Thuỷ vẫn cúi mặt, cô lắc đầu. Thường thì kẻ chụp ảnh họ luôn tìm thấy cái đẹp để nắm bắt, hiện thân của Thuỷ là cả một sự xấu xa. Anh tính đi bêu rếu Thuỷ sao? Ác đến mức khó tin. Chúng tôi nói toàn cả chuyện không đầu không đuôi, vô thưởng vô phạt mất gần tiếng đồng hồ cho khớp với thời gian mà kẻ mua hoa thôi kỳ kèo chuyện hương phấn. Tôi chào Thuỷ và nghĩ là sẽ không bao giờ gặp lại cô, ngoại trừ Thuỷ cho tôi địa chỉ nơi cô ngụ. Thuỷ im re, không phản ứng cho tới lúc tôi rời phòng. Cửa đóng lại, chia lìa hai thế giới như đã từng, như vừa thoát khỏi một cơn mộng.

Khi tôi trả lại chìa khoá cho cô gái ăn lông ở lỗ hồi nãy, cô thông báo là người bạn anh vừa rời đi vì có tin nhắn má anh ấy mất trong bệnh viện, nói thế để anh khỏi mất công đợi chờ. Cô không quên chúc tôi một ngày an lành. Tôi đón nhận lời chúc như tin rằng thành ý của người ta sẽ khiến mình nguôi ngoai muộn phiền. Tôi chạy xe về lại nhà thương trong bải hoải, má hắn mới mất và trước sau tôi không phải là thằng cà chớn. Tôi muốn sự có mặt của tôi sẽ an ủi hắn ít nhiều, để hỏi xem tôi có thể giúp được gì trong lúc tang gia bối rối.

Đù má thủ tục bệnh viện này không tài nào hiểu thấu, chúng bảo tao đợi họ xét nghiệm lần cuối, ghi biên bản rồi mới vào được. Để ký nhận, để thuận lòng, để không kiện tụng, để nhận xác. Đù má tao là thằng con bất hiếu, má ngắc ngoải ở đây mà con ham ra ngoải kiếm gái. Nhưng mà tình ngay, lính mới này chơi rất đạt, rất dễ lậm để ăn quen bén mùi. Hắn bật sáng cái điện thoại di động. Tao có lén chụp ảnh em, mùi đéo chịu được. Đan Minh hiện trong màn hình, rõ mồm một. Quen nhau như lia thia quen chậu, giờ này tôi mới lần đầu ngó thấy đôi vú đẹp não nề của cô. Còn mày? Thấy Thuỷ ra sao? Người nó tuy phai nhạt hương mùi nhưng dẫu sao còn nấn ná chút tình bạn. Ngủ với con bạn học cũ, mày có hưởng được cái cảm giác lạ lùng khó ăn khó nói không?

Tôi bắt chước thằng kỹ sư điện. Đù má, tao bắn nó hai phát. Bang, bang. Em sướng em la và em khóc. Em chửi, địt mẹ anh, đồ cà chớn! Sao lừa dối nhau? Sao đành dang tay xé nát tim đau!

Hồ Đình Nghiêm

31 Tháng 4

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 31 Apr 2022

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

31 Tháng 4

Hướng Tây Bắc mây mù quần tụ trên những ngọn đồi trọc. Âm u đè nặng một vùng không nắng, cô lại cái im sững điếng người. Tĩnh lặng bị xé toạt ba chừng bảy đỗi bằng chuỗi tiếng nổ lục bục bên kia núi vọng về, cơ hồ đó là sấm sét ấm ức ho sau trần mây đục, báo hiệu một cơn giông, gần kề. Nháng lửa.

Hướng Đông gió yếu hơi chẳng tải về mùi muối mặn biển. Sóng tuồng cũng hấp hối thôi hăm hở vào bờ vỗ về. Tuy xa, nhưng muôn năm đụn cát trắng chập chùng làm biên giới kia vẫn làm đau mắt khi nhìn ra, nó tựa một tấm gương nằm ngửa mình để thu cất ánh mặt trời rồi phản quang, cay nghiệt giữa những trưa hè có gió Lào sạm mặt thổi qua. Đôi khi bất bình điều gì, dù trời yên biển lặng, cát trắng ngoài đó vẫn luôn tuồng vào rãi cái bạc màu của nó lấm lem con lộ hắc ín mỏi mòn trong hoang vu.

Hướng Nam lùi sâu hai mươi cây số là thành phố đang hoảng loạn đếm không xong bao thất thoát thiệt thòi. Bài toán trừ đơn giản nhưng kết quả vẫn là đổ vỡ chẳng tài nào nắm bắt. Thành phố đó tự hào là nơi có nhiều trường học nhất và tính đổ đồng, cứ mười cư dân thì trong đó có tới bảy người liên hệ tới chuyện sách đèn. Thống kê kia đã đổi thay khi mà phương Bắc chẳng khi nao im tiếng súng. Phương trình toán học vẽ ra chữ cung và cầu mà văn chương gọi là xếp bút nghiêng theo việc binh đao. Hiện tại tất cả trường học trong kia đều đã đóng cửa, những chiếc xe đò chạy suốt đã nêm cứng người lần lượt Nam tiến chẳng mong ngày trở lại. Quốc lộ 1 oằn thân hứng chịu cơn địa chấn bất thường, đèo cao núi cả hoảng loạn chim muông, cây cối run thân và người chạy qua mặt cắt không ra giọt máu.

Ở giai đoạn này, đường sống chỉ duy một lối: Xuôi Nam. Toàn cả đi vô mà không có đi ra. Luật lệ giao thông thôi hiện hữu, tuy vậy đoạn đường một chiều kia vẫn còn lắm kẻ điếc không sợ súng phá lệ. Họ đi ngược chiều trong đơn lẻ và đón nhận những cánh tay vẫy, những trông lui với môi cười thầm lặng, những mắt nhìn đong đầy lời tiễn biệt vô ngôn. Khăn ai đang chặm nước mắt cay bụi đường vụt dong lên, vung vẫy tựa lá cờ trắng nhỏ nhoi, yếu đuối trước cuộc chơi sớm nhìn nhận một cháy túi.

GMC được lệnh dừng lại bên ruộng lúa nức nẻ màu hoàng thổ. Đoàn xe nằm ụ để lính tráng đổ quân. Tiểu đoàn vừa làm bài toán cộng và kết quả thắt lòng tất yếu là chẳng đủ số quân. Xin hãy đừng làm bảng báo cáo tổn thất, chúng tôi đã nhặt nhạnh đã tom góp đã thu vén đã hốt bạc lẻ để chơi cho tới ván bài cuối. Chơi hết rác, chơi tapis. Hãy hiểu thế. Nhiệm vụ của chúng tôi là thế. Bởi chúng tôi sống với thứ định nghĩa chẳng giống ai: Súng là vợ, đạn là con.

Sau khi kiểm tra lại vợ con, chúng tôi ôm vợ con vào lòng để dàn trải đội hình ra. Tiểu đoàn có hơi ô hợp nhưng do quen với áo trận giày saut chúng tôi thích ứng nhanh với hoàn cảnh. Xập xám chướng thì bạn được chia 13 lá bài nhưng chúng tôi có cách “binh” với 10 lá. Trung đội trưởng nói: Liệu cơm mà gắp mắm nghe em út. Em út thưa: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi! Và em út khom lưng đi hàng dọc bên hai vệ đường. Đường trống trải, đường không gió, đường nắng nôi, đường im vắng. Chó không chạy rong, gà thôi tục tác, heo chẳng ụt ịt, trâu bò cũng hoà lẫn trong dòng người tìm về đất sống phương Nam.

Những viên đạn thảy đều lên nằm chờ một kích hoả để thoát khỏi những đường kinh tuyến xoắn trong nòng. Nấc an toàn đã thôi khoá, từ vạch bán tự động được chuyển qua ngấc tự động. Con vợ M16 chưa một lần ngoại tình nhưng giờ đây em đã nhan sắc tàn tạ. Đâu lạ gì khi chính anh cũng đang đầu bù tóc rối. Tới bao giờ thì đôi ta ly dị nhau? Một đôi khi tình yêu mà sắc son thuỷ chung quá cũng đáng phàn nàn. Em ơi, có ai ăn đời ở kiếp với súng đạn đâu? Máu lửa thế có nước phá hại hạnh phúc của kẻ khác. Nhưng em ạ, trong giờ phút này đây chúng ta mong cầu một gắn bó không dời đổi. Đi qua độc đạo trước mắt chúng ta sẽ phải như hình với bóng, anh sẽ nâng niu em cho tới lúc sức tàn lực kiệt. Một trong hai, kẻ phản bội chính là anh chứ em vô can. Hãy tha thứ nếu anh sớm bỏ cuộc. Buông em ra mà lòng anh vô vàn đớn đau, xin em hiểu thấu.

Đến chiều tiểu đoàn dừng lại, trú quân vào những vị trí xét thấy vững chãi. “Ông thầy” nói: Bọn mình nằm đợi bắt tay với Thuỷ quân lục chiến ngoài kia rút vào mới nắm được tình hình. Trước mắt phải bảo đảm là trong vòng chu vi 5 cây số vuông luôn “sạch sẽ”. PRC-25 nấc lên từng hồi, rè rè tần số liên lạc kêu nhát gừng sau lưng thằng truyền tin. Thằng Một ra ngoài kia nằm trông chừng, thằng Hai ém phía này… Giọng ông thầy đục, mất vẻ quả quyết. Một tấm bạt dùng che nắng mưa và chủ nhân hiểu thấu cái tạm bợ vá víu nọ chẳng đủ ấm đầu. Mưa sẽ tạt, nắng sẽ rọi chiếu, xuyên thâu. Đành vậy, kẻ nghèo khó vẫn biết cách cầm cự với bao nỗi cơ hàn.

Chỗ thằng Một nằm là con đường đất thẳng góc quốc lộ, nó sẽ dõi mắt dòm ngó động tĩnh những gì có thể hiện ra sau luỹ tre làng bởi tiểu đoàn không muốn bị chọc nhột ở mạn sườn. Mùi đất thì ở đâu cũng giống nhau, ở cái độ ấm nó mơn man trao gởi đi kèm với mùi nồng cố hữu. Đất ở đây khác, lạnh tanh, khô nhám và thỉnh thoảng nó dấy lên cơn động kinh, run bần bật.

Tôi nhập ngũ như vậy là đúng một năm. Một thằng lính lầm bầm. Tôi chưa từng đụng trận, chưa đánh đấm cho thật đàng hoàng. Điều nó phân trần được chứng thực qua quân phục sạch nước cản tựa mới lấy ra từ kho quân nhu. Mày vợ con gì chưa? Đứa nằm bên cà khịa. Thời giờ đâu ra, eo hẹp mọi thứ. Con vợ tao vẫn rủa xả: Đồ ăn không trông nồi, ngồi không trông hướng. Đù mẹ, chả biết giờ này em ẳm con thơ trôi giạt tới đâu rồi!

Thằng thứ ba ngứa miệng: Khi lòng mình vướng bận nhiều điều e súng cũng trở ngại tác xạ. Mày nói vậy là có ý gì? Ý của tao là Bắc quân chúng luôn hơn mình ở chỗ máu lạnh. Một đứa hiếu thảo gia đình đông vui liệu có thắng được thằng bụi đời cù bơ cù bấc chăng? Câu hỏi ném ra thu về được một khoảng lặng. Họ không nói có lẽ vì bận moi thuốc lá ra mời nhau. Súng là vợ đạn là con, vậy thì rượu và thuốc lá? Chưa nghe ai định nghĩa nó, bởi bảo đó là thần dược thì chắc vấp phải sai lạc. Thôi, cứ khoanh vùng và yên trí điều này: Thuốc lá là người bạn đồng minh không bao giờ tháo chạy. Nó giúp ta lắm thứ mà đơn giản nhất, ta đỡ nhạt mồm khi hoá thân làm một con ma.

Ông như kiểu người Bắc di cư? Ừ, bố mẹ tôi vào Nam năm 54 và giấy thế vì khai sinh của tôi ghi chú sanh ở Sài Gòn. Sẵn, tôi cũng nói ra cái ý nghĩ vẫn đến trong tôi, nếu tôi bắn chết người anh ruột của mình có mặt trong toán quân đối phương, điều đó có bình thường không? Địt mẹ có gì bất bình thường ở đây đâu? Chia phe ra đánh nhau, cái kết quả duy nhất là một trong hai phải chết, nguyên tắc là vậy, diễn tiến là thế, chuyện đời nào có éo le! Ừ, nói cho ngay chúng tôi tuy là anh em cật ruột mà đâu có biết mặt mũi nhau. Thấy nón cối thấy tai bèo ắt phải nổ súng. M-16 mà ngu ngơ thì bị thằng AK-47 nó lia cho. Chết, làm sao hiểu ra “đời là gì”?

Đời không là gì cả khi tôi nằm đây. Đầu óc tôi từng gấp nếp rối nùi nhưng giờ này nó bị ủi thẳng ra, sạch lau ly như trang giấy trắng. Thảng hoặc ảnh hình một người con gái thoáng vụt qua trong trí, có vẻ diễu cợt khiến tôi hoài nghi, mình còn tơ tưởng tới cô ta sao? Người con gái đó đã phụ bạc quay lưng, tôi thi hỏng tú tài một, tôi vào quân trường và giờ này tôi làm tiểu đội trưởng. Tôi nghe ba thằng lính thuộc cấp trò chuyện, nghĩ tới một định luật mà thượng đế đã bày ra, rằng chúng ta mỗi người phải khác biệt kẻ khác, từ vóc dáng mặt mày tính tình lý trí cho tới hoàn cảnh sống, những rủi may mà chúng hứng chịu, chẳng trùng lẫn. Ngay cả khi về đích cuối, cái chết đón chào cũng đơn lẻ cá biệt, không ai giống ai. Chỉ một viên đạn bắn sẻ khi cắm vào đích, có đứa vật mình nằm úp mặt, có đứa dang tay ngửa mặt lên trời, có đứa chết ngồi, có đứa vắt thân qua giao thông hào, có đứa tự chôn mình dưới bụi cây, có đứa gào lên hai tiếng vĩnh biệt “Má ơi”. Có đứa chưa chết hẳn, nó van xin: Ông thầy có thương em thì xin bắn một phát vào tim em. Đại bàng run tay, đại bàng phẫn uất: Đù mẹ mày, rán chút xíu đi con, thằng cứu thương đang tới, mày nghe tiếng phần phật của cánh quạt trực thăng không?

Chỉ là liều thuốc an thần, giúp nhau có khi phải tìm cách dối gạt nhau. Muôn đời trực thăng không bay về phương ấy. Nhận lệnh phi trình đổi hướng, bỏ rơi những đồng đội đang kêu trời không thấu ở vùng địa đầu. Thuỷ quân lục chiến rút lui, mặt trận phía Bắc bỏ ngõ. Tiểu đoàn xớn xác. Tôi hỏi anh em, bọn bây tính sao? Đứa nào bỏ chạy xin hãy để lại súng đạn cho tao. Chẳng những đi mạng không, có đứa cẩn tắc tự trút bỏ quân phục trên đường, lộ bày cái hình nhân lành lặn từ thuở mẹ sinh ra làm người. Nhưng dưới con mắt đồng đội, thằng người đang chạy chẳng dám quay đầu kia nào khác gì một con thú tật nguyền. Nhân danh một tiểu đội trưởng, giờ đây tôi chẳng có quyền trách cứ anh em, tôi chỉ hy vọng anh em nên hành sử như cách thế của một người lính, dù cho người lính ấy đã buông súng. Anh em còn điều gì chưa hoàn thành thì cứ việc quay lưng đi lo cho xong chuyện.

Nắng nôi lẩn trốn trong mây dày nhưng bầu trời lúc ấy nóng bức. Màu xám của nó thường hằng chứa đựng những bất toàn khô kiệt. Đổ xuống tử lộ luồng gió lạ từ hướng Tây Bắc tràn về chen cài tiếng hò reo tuồng bất tận. Có ba người lính chịu ở lại bên tôi, ngạc nhiên thay một trong ba là thằng đã có vợ con.

Tao nghĩ mày nên đi vào trỏng tìm vợ con thất lạc thì đúng đắn hơn. Không, tôi quyết định ở lại. Tôi muốn chứng minh cho vợ con tôi hiểu, tôi là đứa biết ăn xem nồi ngồi xem hướng. Còn mày? Tôi hỏi đứa trẻ nhất. Nó hất mặt lên: Quân trường dạy tôi chữ huynh đệ chi binh. Đã xem nhau là anh em, em không thể bỏ anh cô đơn ở đây được. Mày có đọc truyện Tàu không? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ? Nhưng truyện Tàu cũng ghi câu, có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh.

Tôi ôm ba thằng đệ tử lạc loài. Tôi nói, đây mới đúng nghĩa của chữ huynh đệ, anh em trong nhà có khi còn muối mặt chơi nhau, bôi xoá ân tình. Bắc quân lộ diện hăm hở đi trên quốc lộ thênh thang chẳng rào cản. Chúng tôi ngồi xuống quây quần tạo thành một vòng tròn liền lạc. Một thằng chửi đù má mày. Một thằng kêu Amen. Một thằng niệm A di đà Phật. Và một thằng tôi thì thầm Vĩnh biệt. Trái lựu đạn rút chốt, mỏ vịt bung ra. Bốn đứa nhắm mắt đợi tử thần kêu tiếng trời long đất lở.

Hồ Đình Nghiêm

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 10 Nov 2016

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

“Mút mùa Lệ Thủy”

Bài 30

Miếng thịt gà!

Trước tết năm Tân Dậu (1981), Đại úy “giặc lái” Đỗ Kim Bảng hỏi tôi:

            _ “Anh Hải có thích xem bóng đá không?”

            Tôi trả lời vừa bông đùa, vừa thiệt tình:

            _ “Tui đi coi đá banh trước khi đi học.”

            Tôi gọi “đại úy phi công” Đỗ Kim Bảng là “giặc lái” là gọi mỉa theo “danh từ Việt Cọng”. Việt Cọng gọi tất cả các phi công Mỹ hay VNCH là “giặc lái”. Thậm chí người lái xe tăng cũng là “giặc lái tàu bò”, lái tàu thủy cũng là “giặc lái”. Còn anh Đỗ Kim Bảng phi công thì trùng tên với ông Đỗ Kim Bảng, nhạc sĩ, tác giả những bài hát “Mùa Thi”, “Mưa Đêm Ngọại Ô”…

Bọn học trò Huế, ít ai không biết bài “Mùa Thi”, “Thi ơi là thi, sinh mi làm chi!” Huế là xứ “học hành thi cử” nên người ta biết tên tác giả “Mùa Thi”. Với lại, ông nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng là cậu cô bạn học của tôi, cô Nguyễn Khoa Diệu Trâm. Cô ấy là khoa khôi của Huế, đẹp “lừng lựng”.

            Thời ký có Phong Trào Thể Thao De Couroix, các đội bóng tròn, -gọi bóng tròn để phân biệt với bóng bầu dục? – sau nầy Việt Cộng gọi là bóng đá, thành lập ở nhiều nơi, ít nhất mỗi tỉnh môt đội; tỉnh lớn có tới hai ba đội, tranh giải khá sôi nổi. Hai ông anh tôi rất mê coi bóng tròn, dĩ nhiên tôi được “coi theo”, mặc dù khi ấy, tôi còn nhỏ, chưa vô học Lớp Đồng Ấu của cô Hồ, cô giáo đầu đời của tôi, tại “École Primaire de Quangtri”.

&

            Đỗ Kim Bảng nói với tôi:

            _ “Tôi là huấn luyện viên bóng đá cho tụi Công An, muốn đi chơi, anh theo tui làm “phụ tá.”

            Bỗng nhiên, tôi trở thành “Phụ tá Huấn luyện viên.” Buồn cười chưa?!

            Cứ chiều chủ nhật, Bảng và tôi ra cổng: “Báo cáo cán bộ, chúng tôi đi tập huấn.” Thế là tên Công An gác cổng cho đi, chẳng cần ai đón đưa gì cả. Việc nầy, Bảng làm đã quen mấy tuần nay, tụi nó không nghi ngờ trốn trại gì!

            Phía ngoài cái sân lớn của trại là sân bóng đá. Sân nầy cũng do tù cải tạo san bằng, đổ đất, dựng “gôn”… Sân hơi nhỏ. Tết nầy, bốn đội bóng của ba trại Z-30A, Z-30B, Z30-C và Z30-Đ tranh giải với nhau. Đội Z-30A tập dượt kịch liệt, cố đoạt cúp bóng đá năm nầy, là năm tranh giải lần thứ nhất.

            Trong khi Bảng tập dượt cho mười mấy tên Công An, cũng phân loại tiền đạo, tiền vệ, hậu vệ, chiến thuật… thì tôi ngồi chơi, nhìn trời nhìn đất. Thoát ra khỏi bốn bức tường đá nhà tù, được ngồi “nghe trời nổi gió nhớ quanh quanh”, thật ra là nhớ nhà, cũng sướng thật.

            Phía sau lưng tôi là một dãy nhà ngang, nhà của cán bộ ở với gia đình. Gian đầu tiên là của một trung úy Công An người miền Nam, trước 1975 có ra Bắc, sau đó về Nam, làm giám thị trại giam ở đây. Nhà nầy chúng tôi “quen” bởi vì mấy tuần nay, chúng tôi làm cỏ bắp phía “Nhà Thăm Nuôi”; mỗi chiều, trước khi ra về, quản giáo Bộ, ngày nào cũng biểu anh bạn tù Trần Tử Có, đốn một cây chuối, trồng chung quanh nhà thăm nuôi, khiêng về nhà cho anh trung úy cán bộ nầy. Vợ anh ta, cũng người Nam, có nuôi heo. Chuối cây, trộn với rau, cám… làm thực phẩm cho heo. Heo ăn mau lớn và mập.

            Nhân dịp đó, anh em tù chúng tôi cũng xin “quản giáo” đốn một cây cuối, lột vỏ, xắt lát nhỏ, trộn ăn thêm trong bữa ăn chiều. Được ít hôm, có người bị cảm sốt. Nguyễn Tấn Trí nói:

            _ “Mấy ông ăn chuối nên bị sốt đấy. Chuối nầy độc”.

            Bữa đó, Trần Tử Có cũng bị cảm sốt nên Huỳnh Hà Đông nói đùa:

            _ “Ăn chuối cây bị cảm sốt là đúng rồi. Trần Tử Có không ăn, chỉ vác chuối, cũng bị sốt nữa, huống chi ăn.”

            Câu nói đùa của ông Đông làm ai nấy đều cười.

            Có lần Trần Tử Có vác chuối về, đứng nói chuyện, bèn hỏi người vợ anh Công An:

            _ “Sao chị không nuôi gà mà ăn, nuôi heo để bán chớ ăn sao hết?”

            Chị ấy trả lời:

            _ “Ăn cái con mẹ gì. Tui chặt dao hơi mạnh, tụi nó xoi mói, dòm qua vách, coi thử mình có ăn gà vịt gì không? Cái bọn gì kỳ cục.”

            _ “Xử dụng “Tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa” chớ gì?” Có nói.

            Ấy đấy! Ở với Cộng Sản, làm thịt con gà cũng bị dòm ngó, phê bình phí phạm “Tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa.

            Mồng hai Tết, hôm tranh giải, tôi cũng đi theo Đỗ kim Bảng, ra xem bọn chúng đá với nhau.

            Bây giờ hai đội Z30-A tranh với đội Z30-Đ30-Đ để vào vòng trong, cũng là vòng chung kết giữa đội thắng trận nầy, sau đó sẽ đấu với đội thắng Z30-B với Z30-C. Trận nầy, coi như bán kết, nên hai bên đấu với nhau cũng căng, không thiếu trò chơi xấu và ma mảnh. Cầu thủ hai đội phần nhiều là người Bắc.

Người Nam vô Công An khá hạn chế, toàn trại tôi chỉ có vài ba ngoe gì đó, người mới vô thì mang loon trung sĩ, những người Nam khác, là sĩ quan, phần đông gốc từ du kích hay Bộ Đội Địa Phương chuyển qua. Xử dụng những thành phần này, gốc địa phương, mục đúch của chính quyền là “nắm dân cho dễ”, theo dõi và phát hiện thành phần chế độ cũ, dễ bị tình nghi “phản cách mạng”.

            Trọng tài là người Nam, dân Biên Hòa, có thể do “Sở Thể Dục Thể Thao Đồng Nai” cắt cử đến. Trọng tài đến từ hôm qua, được trại Z30-A tiếp đãi chu đáo.

Trận đấu đang diễn ra, phần thắng đang nghiêng về đội Z30-A. Trọng tài vừa thổi phạt vài cầu thủ đội Z30-Đ chơi xấu. Theo tâm lý thì bên thua thường “nóng mặt chơi xấu” nên bị trọng tài bắt phạt là việc thường tình. Tuy nhiên, phía sau tôi, một đám đàn ông có, đàn bà, con nít cũng có có tiếng phê bình, bằng giọng Bắc:

            _ “Trọng tài tối qua ăn thịt gà rồi!”

            Nhìn lui, tôi đoán chừng họ từ Xuyên Mộc tới, đi theo để “cổ vũ cho đội nhà”. Họ ở xa mới tới sáng nay, sao có thể biết tối qua trọng tài được khoản đải món thịt gà? Có lẽ họ nghi ngờ vì trọng tài được trại Z30-A đón tiếp tối qua, và trong bữa cơm tiếp đải có món thịt gà. Đó chỉ là phỏng đoán, phỏng đoán có ăn thịt gà.

Tôi nhớ lại câu chuyện anh bạn Trần Tử Có khiêng chuối cho nhà cán bộ nuôi heo. Gà vịt quí đến vậy sao? Miếng thịt gà có thể làm cho trọng tài không còn công tâm nữa sao, làm cho trọng tài bênh vực đội cho ăn thịt gà hay sao, Xã Hội Chủ Nghĩa là vậy đó sao, “miếng ăn là miếng tồi tàn” như ông bà chúng ta nói hay sao? Hèn chi cán bộ Đạt có lần kể lại cho anh em chúng tôi nghe: “Mỗi năm xã làm heo hai lần: Ngày hai tháng chín và ngày Tết, thịt làm xong chia theo hộ khẩu, mỗi nhà được một miếng nhỏ bằng nắm tay, kể cả xương.

            Còn suốt năm thì sao?

Không hy vọng gì thấy miếng thịt heo, nói chi thịt bò hay thịt trâu. Trâu bò là “sức kéo” của hợp tác xã, dùng để kéo cày, kéo xe. Không có trâu bò thì xã viên kéo bò thay trâu. Lỡ tay để trâu bò chết, xã viên phải kéo cày thay trâu giống như thời Thực Dân, “địa chủ bóc lột”, tá điền kéo cày thay trâu cho chủ như trong tiểu thuyết viết về nông dân Việt Nam như trong “Nhà Quê” của Ngọc Giao hay “Nhà Nghèo” của Tô Hoài, “Con Trâu” của Trần Tiêu.

            Những ý tưởng chợt đến, từ lời “bình phẩm” của khán giả làm cho tôi không muốn xem cuộc tranh tài nữa. Tôi bỏ đi ra phía ngoài, ngồi xuống một thân cây ngang đường, nhìn ra phía “Nhà Thăm Nuôi” để nhớ vợ nhớ con. Tết nầy, không biết vợ tôi, các con tôi có “bánh chưng xanh” để ăn không; không hy vọng có thịt mỡ, dưa hành. Hơn năm năm “giải phóng” rồi có cái gì lớn hơn không, “xây dựng bằng năm bằng mười” như Hồ Chí Minh nói, hay hí hửng, vui mừng nghe tin Hợp Tắc Xã hạ một con heo, chia nhau mỗi người một miếng thịt heo “to bằng nắm tay, kể cả xương”.

&

Ca sĩ Thu Nở, Thu Cúc… của nhạc sĩ Chuột!

            Hôm trước Tết, bọn tù chúng tôi, gom chung cả mấy trại trong cũng như ngoài, đi nghe ca nhạc tại hội trường mới xây xong. Hôm ấy, có nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí đến nói chuyện về “âm nhạc cách mạng” và các nữ ca sĩ của ông trình bày những sang tác mới của ông.

            Cô Thu Nở hát bài “Em đi nhà trẻ”: “Mùa xuân ai đi hái hoa, còn em, em đi nhà trẻ.” Bài hát hay đấy, cô giáo đầy tình thương trẻ em. Và “Ra vườn hoa em chơi, Em muốn hái một bông hoa đẹp, Nhưng cô bảo em đừng có hái, Bông hoa nầy là của chung.” Ngay từ bé, trẻ em đã được dạy cho cái ý thức “bảo vệ của công”. Xa hơn cái “ý thức bảo vệ của công”, chính là cái ý thức tài sản “Cộng Sản”, là dạy cho trẻ em cái ý thức Cộng Sản khi chúng còn trẻ thơ.

            Sau đêm xem văn nghệ hôm ấy, anh bạn tù Trần Phú Trắc nói với tôi: “Cái tục của người Việt mình ngày xuân là đi hái lộc, làm hại cây cối. Cộng Sản thì theo lời Hồ Chí Minh “ngày tết trồng cây”. Phải nhận rằng cái ý đó hay chớ anh.”

Tôi không nói gì, có nghĩa là “đồng ý với bạn”, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ tới cái tính cách “tuyên truyền” trong mỗi lời nói hay hành động của người Cọng Sản. Sự tuyên truyền làm sai lạc cái ý nghĩa đứng đắn của sự việc, che dấu cái xấu xa thủ đoạn trong mỗi lời nói hay công việc của họ.

            Hôm văn nghệ, Nguyễn Văn Tí cũng “lên án” những sáng tác của ông trước 1945, nhất là bài “Dư Âm”.

Ngay khi còn trẻ, tôi đã không thích bài “”Dư Âm”. Đó là một bài hát “sặc mùi tư sản”, cái hình ảnh “dáng em đang ôm đàn” cũng như câu thơ “Những nàng thiếu nữ buồn không nói, tựa cửa nhìn xa…” làm cho tôi chẳng ưa thích chút nào. Trong xã hội nông nghiệp như Việt Nam chúng ta, những hình ảnh nói trên, mang tính chất cô Kiều “trướng rủ màn che” xa lạ với hình ảnh “Người con gái Việt Nam da vàng, đi trong đêm ầm tiếng súng”. Tôi yêu mến những người dân gian lao đau khổ đó hơn, họ… “Việt Nam” hơn.

            (Sau nầy, thời kỳ đổi mới, Nguyễn Văn Tí lại quay 180 độ, ca ngợi bài “Dư Âm”. Ngưòi Cộng Sản bây giờ giàu có, cơm ngon áo ấm, “thừa cơm rửng mỡ” nên họ học đòi những cái thói “rởm đời” của giai cấp tiểu tư sản đó chăng?)

&

Ngộ cố tri

            Khi cô đào cải lương Hồng Nga vừa nhảy “tuýt” vừa hát nhạc rock trên sân khấu thì đám tù cải tạo gần ngàn người ngồi ở dưới la hét om sòm, vỗ tay hoan hô. Sự náo động bắt đầu.

            Thấy “khan giả tù” “nhiệt liệt hoan nghinh” (Việt Cộng hay lạm dụng mấy chữ nầy đấy), cô đào Hồng Nga lắc đít càng dữ, múa tay đá chân càng tợn, không kém gì cô Mai Lệ Huyền ngày trước. Vài anh tù cải tạo ngồi ở hàng đầu, bước ra chỗ trống trước khán đài nhảy, nhót lung tung khiến ai nấy cùng vui. Ngay cả mấy “chú Công An” có nhiệm vụ cầm súng canh gác đám tù phía ngoài  rìa “sân đá banh” (danh từ Việt Cộng là “bóng đá”) cũng “chỏng mõ” nhìn lên sân khấu, toét miệng mà cười.

            Quả thật đây là trường hợp “ngộ cố tri”. Dĩ nhiên, “tù cải tạo” thuộc chế độ cũ, mà cô đào cải lương Hồng Nga cũng là một nghệ sĩ nổi tiếng từ trước tháng Tư/ 75. Thành ra hai bên cùng là “cũ” hết. Kẻ thì “tù trong”, người “tù ngoài”, khác gì nhau! Ba mươi tháng Tư là “Cuộc đời gian lao từ đây” như câu hát bọn tù L3-T-3 chúng tôi đổi lời từ bài hát “Nguồn Tin Vui” của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Duy Trác vậy.

            Tuy nhiên, Việt Cộng không hời hợt trong công việc “cách mạng triệt để” của chúng. Qua hiện tượng vừa nói, chúng hiểu ngay rằng giữa cô đào hát và đám “tù cải tạo” cùng là “cá mè” với nhau cả đấy, cùng có tình cảm và tư tưởng “chống phá cách mạng”. Nếu có một dịp nào đó, có cơ hội thì đám nầy “không tha cho cách mạng” đâu!

            Coi cải lương xong, về tới phòng, trong khi đang sửa soạn chỗ ngủ, anh Lã Trung Tâm hỏi tôi:

            _ “Mày thấy bữa nay vui không?”

            _ “Không phải vui mà hay!” Tôi trả lời. Rồi tôi đọc tiếp câu Kiều: “Rằng hay thì thật là hay, Nghe ra ngạm đắng nuốt cay thế nào!” Tôi nói tiếp, “cũng như Giang Châu Tư Mã trên bến Tầm Dương vậy. Cái hay là ở đây không có nước mắt, không có “Lệ ai chan chứa hơn người, Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.”

            Sau khi yên chỗ nằm, anh Tâm nói:

            _ “Tao tưởng “con” Lệ Thủy hát tuồng Dương Vân Nga chớ! Chắc nó sợ tụi Tầu cho lảnh đạn như Thanh Nga chớ gì?”

            _ “Chống Tầu là qua rồi anh. Trong khi bọn lính tráng “xung phong tiến lên”, thì bọn chính trị “nhẩm xà” với nhau rồi. Tui nhớ có lần đài BBC loan tin hồi đầu mùa hè năm 1972, ở phía Tây phi trường Đông-Hà, trong khi Tăng 54 của Liên Xô, lần đầu tiên đụng độ với Tăng M-49 của Mỹ giao lại cho Quân Đội VNCH, thì thằng Kissinger nâng rượu Vodka chúc sức khỏe thằng Gromyko ở Mốt-Cu. Chính phủ Cộng Sản Hà Nội đâu cần “tuyên vận” dân chúng chống Tầu nữa. Dù có muốn đóng vai Thái Hậu Dương Vân Nga, Lệ Thủy vẫn phải hát cuồng khác cho “đúng đường lối chính sách của đảng”.

            _ “Mấy năm trước, khi thấy hát tuồng Dương Vân Nga, tụi nó chưởi “con mẹ thái hậu” nầy dữ, cho là lăng loàn trắc nết, lấy ngai vàng của con mà “giao cho trai.” Mày thấy sao? Mày dạy lịch sử Việt Nam phải không?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Tui dạy từ “Hậu Lê” trở về sau. Tui không dạy “Tiền Lê”. Tui không rành lắm, nhưng nếu như nói về trước nạn Tầu xâm lăng, binh quyền ở trong tay thằng con nít không hay bằng giao binh quyền cho một tướng tài, “Thập đạo Tướng quân”. Có thể nhờ việc trao quyền đó mà bọn Tầu xin hòa, khỏi ôm đầu máu chạy về Tầu. Tù bọn mình nhìn vấn đề theo “cảm tính”, hễ cái gì không đỏ mà hơi hườm hườm thì ghét luôn.” Tôi trả lời.

            Ngọc “xùi” nằm phía bên kia, nảy giờ lắng tai nghe mà tôi không hay, bèn hỏi:

            _ “Mệ” Hải! Tụi nó nói thằng cha trung tá Thích mê Lệ Thủy. “Mệ” biết không?”

            _ “Tao nghe lâu rồi. Tụi Công An nó cũng nói chớ riêng gì bọn mình. Dễ hiểu lắm! Năm kia, khi còn trên đồi Phượng Vĩ, y cũng mời đoàn Lệ Thủy về hát, năm nay lại mời nữa. Còn như chuyện làm heo gà đãi nghệ sĩ với Lệ Thủy thì chắc tụi Công An trông thấy, rồi “phát triển” câu chuyện “tai vách mạch rừng”.

            _ “Hơi đâu mà nghe thiên hạ đồn, với lại bọn Việt Cộng chúng nó “đấu tranh” dữ lắm. Tranh ăn mà!”Anh Tâm kết luận.

            Ngọc “xùi” tiết lộ:

            _ “Nghe nói thằng chồng Lệ Thủy là thiếu úy, cải tạo về sớm. Vợ đi hát đâu, nó cũng tò tò đi theo. Bộ muốn giữ con vợ chắc?”

            _ “Giữ gì nỗi mày. Con ngựa mà đã “ngựa phi đường xa” thì chịu thôi.” Tôi quay qua anh Tâm: “Này anh Tâm, anh có nghĩ như tui không? Người đàn ông ngoại tình thì mười ông chỉ làm tan nát gia đình có vài ông,  “anh mê vợ bé bỏ bè con thơ”. Bồ bịch, chơi bời gì thì gì rồi cũng về lo cho vợ con. Đàn bà khi đã ngoại tình, thì mười nhà tan nát cả mười. Đàn bà mê trai hay lang chạ là ghê lắm, tán tậm lương tâm, con đẻ ra còn không thương, nói chi thằng chồng.”

            _ “Do đâu mày nghĩ vậy?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Lịch sử chớ đâu! Cleopâtre tranh ngôi với em, tình nghĩa chị em cũng không còn. Cézar chết rồi cặp với Antoine. Từ Hy Thái Hậu cũng vậy. Cả bà Nhu cũng chẳng thua chi. Tham vọng quyền lực của người đàn bà ghê gớm lắm. Đàn ông “Qui khứ lai từ” còn dễ chớ đàn bà thì không!”

            _ “Mày nói có lý!” Anh Tâm đồng ý với tôi.

            _ “Dương Vân Nga cũng vậy?” Ngọc “xùi” hỏi.

            _ “Dương Vân Nga khác chớ! Chết chồng thì lấy chồng khác, bả đâu có ngoại tình. Những người khắt khe phê phán bà cái việc lấy ngai vàng của con mà giao cho tình nhân, chấm dứt triều đại nhà Đinh, khởi nghiệp nhà Tiền Lê. Với tình hình “giặc ngoài xâm lăng”, “toàn dân (không) hớn hở” mà lo sợ thì cũng khó phê phán bà.”

            _ “Vậy bà không có tội?” Ngọc “xùi” lại hỏi. Anh ta lại nói tiếp: “Mệ” mà nói không có tội, tụi nó chưởi “mệ” cho coi. Coi chừng tụi nó cho rằng “mệ theo đuôi Việt Cộng.”

            _ “Kệ cha tụi nó.” Tôi lại nói chuyện với anh Tâm: “Hồi anh em tui khôn lớn, bắt đầu có bồ bịch, mạ tui thường dặn: “Trai tân gái góa thì chơi, Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng.” Thất đức lắm.

            _ “Mày có nhớ mày kể hồi mày ở Trảng Lớn, Kim Cương gởi thư lên cho chồng, bảo rằng thằng chồng nó sắp về, vì “Anh Trường Chinh” đã hứa rồi. Mày nghĩ gì về cái chuyện “Anh Trường Chinh”?

            _ “Sự hưởng thụ của giai cấp thống trị anh à! Xưa mấy ông Tướng hay có bồ nhí, bồ trẻ, ca sĩ… Bây giờ cũng rứa thôi. Cái “mốt” (mode) nó vậy mà!”

            _ “Mấy ông tướng xông pha trận mạc mà mầy. Biết sống chết lúc nào mà không hưởng chút cháo.” Anh Tâm nói.

            _ “Anh nói làm tui nhớ một chuyện trong “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Tolstoy.” Tôi nói: “ Napoleon thua chạy, rút về Pháp. Bọn tướng trẻ quân Nga, đòi đuổi theo giết cho sạch quân Pháp. Ông Kutuzốp (Kutusov) thì cứ thoang thả: “Được rồi! Được rồi, để cho bọn nó chạy.” Xong, ông lại hú hí với con bồ trẻ.

            _ “Khác chớ mày! Chuyện mầy kể là chuyện mấy ông tướng. Còn như Trường Chinh, hay tướng tá bây giờ, đánh chác gì mà đòi hưởng thụ?”

            _ “Đúng rồi!” Tôi nói, rồi đọc:

“Giai nhân tự cổ như danh tướng,

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.”

            Bỗng tôi nghe ai đó phía giữa phòng nói với tới:

            _ “Thơ với thẩn, ngủ đi, mai còn đi “lao động là vinh quang. Cuốc đất, ăn khoai mì là văn hóa vô sản. Thơ văn là văn hóa tư sản. Bỏ đi Tám.”

            Quả thật là đời bấy giờ: “Sách vở ích gì cho buổi ấy!” như Nguyễn Khuyến nói vậy. Xã hội nước ta đã bao lần đổi thay đến tận gốc rễ./

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted 18 Dec 2015

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

 Tết tù – “Chào mừng Mẹ Việt Nam”

Bài 29

Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây… Mang giòng họ của Lê Lý Nguyễn Trần Mẹ dưỡng nuôi con giòng sữa Bắc Trung Nam Con của Mẹ đều một giống da vàng Quyết một lòng diệt hết lũ tham tàn

(Nguyễn Ánh 9)

Tết năm Canh thân, năm1980, đội văn nghệ Trại A ở trên đồi Phượng Vĩ, “chơi” một đòn ngoạn mục.

Để chuẩn bị “vui chơi ba ngày Xuân”, trại cải tạo Z-30A thành lập một “Đội Văn Nghệ” để đi trình diễn ở các phân trại, giúp vui cho “tù cải tạo.” Lúc nầy tài tử hề Khả Năng chưa về Trại Đá. Sau khi về Trại Đá được một thời gian ngắn, anh được chuyển qua “Trại Cây” để tham gia Đội Văn Nghệ.

Trước đó, soạn giả Yên Lang đang ở “Trại A” (đồi Phượng vĩ). Đội trưởng văn nghệ, nôm na gọi là ông bầu, là “Bầu Trừ”, tên thực là Nguyễn Văn Trừ. Ông nầy là con trai ông Nguyễn Phú Hải, đốc phủ sứ, từng làm Đô Trưởng Saigon Chợ Lớn thời “Ngô Tổng Thống muôn năm.”

Trước tết mấy hôm, “Đội Văn Nghệ diễn ở hai nơi: Trại A cũ  (trên đồi Phượng Vĩ) và Trại B (Trại Cây) xong về đón giao thừa, “ăn tết”.

Việt Cộng làm nhiều trò mâu thuẫn, kỳ cục. Lao động mỗi ngày 8 tiếng. Ít khi được đi làm khổ sai mỗi tuần 5 ngày mà thường là 6 ngày, – đi lao động luôn cả ngày thứ bảy là thường -. Tệ hơn nữa, năm 1980, Phạm Tuân “lên” không gian, để “mừng thắng lợi” việc nầy, chủ nhựt chúng tôi cũng đi lao động luôn. Như vậy, lao động mỗi tuần “chỉ có” 7 ngày mà thôi.

Xin kể lại một chút:

Tôi không nhớ rõ thời gian nào, nhưng suốt mấy tuần liền, chúng tôi phải đi lao động một tuần 7 ngày thay vì 6 ngày như thời gian trước, để “Mừng đồng chí Phạm Tuân lên không gian thắng lợi”, đem “bèo hoa dâu” lên nghiên cứu về sự phát triển của nó trong vũ trụ! Nghe “quê” dữ!!!

“Lao đông là vinh quang” suốt 7 ngày một tuần, không có ngày nào được ở nhà để giặt quần áo, nên anh em chúng tôi than cũng dữ và chưởi Phạm Tuân cũng không ít. Do thân nhân lên thăm nuôi, chúng tôi biết thêm một số chuyện tiếu lâm của đồng bào miền Nam về chuyến bay của Phạm Tuân. (1)

Thế rồi bỗng một hôm, bên hông tường lớn, vách hội trường đang xây, có môt bức tranh bằng than đen, vẽ một anh chàng khổng lồ cưỡi xe đạp, ngồi phía sau là một thằng bé con. Thằng bé con được ghi chú là Phạm Tuân, còn anh chàng khổng lồ ngồi phía trước đạp xe, được ghi chú là “Go-Rơ-Bát-Xì-Cô”, (theo cách viết của báo chí “cách mạng”, tên thực của y là Viktor Gorbatco), tức là người lái phi thuyền Soyuz 37.

Hai ông trật tự Phạm Văn Tài và Dương Tấn Hải được lệnh chùi sạch bức hình đó và lấy vôi quét lại, xóa mất hình vẽ.

Lao động trong trại tù cải tạo gian khổ như thế nào, ai ai cũng biết, xin khỏi nói thêm để khỏi dông dài, nhưng ăn thì ngày nào cũng giống ngày nào: Sáng, một củ khoai lang, trưa một khúc khoai mì, chiều một chén khoai mì lát.

Xin nói thêm về việc ăn khoai mì lát một chút. Khoai mì chúng tôi ăn là khoai mì do chúng tôi trồng, nhổ về, ăn không kịp thì xắt lát, phơi khô, cho vào kho ăn dần. Khoai mì chấm với “nước mắm đại dương”, đảng và nhà nước chỉ tốn có chút muối mà thôi. Nếu tính chuyện lời lỗ, thì Việt Cộng chẳng lỗ bao giờ mà lời “quá cha bọn địa chủ bóc lột”!

Cũng vì ăn khoai mì nhiều quá, Bùi Xuân Tiếm, quê ở Bình Định, khác đội nhưng ở chung nhà với đội tôi, mỗi tối, ngồi ở tầng trên, anh ta nhại câu hát “Tổ quốc ơi ta yêu người mãi mãi” thành:

“Tổ quốc ơi! ăn khoai mì mãi mãi.

Từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn dài dài.” (2)

Bùi Xuân Tiếm có lần bị cán bộ gọi “làm việc” vì những câu anh hay nói nhại, nói đùa, khi anh đọc báo Tin Sáng của Ngô Công Đức, mà lại đọc rất to:

“Bây giờ là thời kỳ “hiện đại hóa” (anh đọc là quá – theo giọng Nam, mặc dù anh là dân Bình Định). Nhà nước ta chủ trương “Cơ giới quá” (hóa), “Điện khí quá (hoá)”. Rồi anh nói một hơi “Đói quá (hóa), khổ hóa (quá), chán hóa (quá), nản hóa (quá).

Cả phòng, nghe nói nhại, cười rần rần. Công An đi tuần bên ngoài chú ý, ghi tên anh ta.

Ăn uống như vậy nhưng ở cổng trại, trước hội trường, Công An bắt trồng hoa. Thế nên ai cũng than: “Đói thấy mẹ còn xem hoa nỗi gì?”

Bây giờ tới tết, mỗi người một “miếng thịt heo ruồi tha”, cơm lưng chén (không phải lưng bát. Bát to hơn chén) mà còn xem văn nghệ. Người ta lại nói cái câu như cũ: “Đói thấy mẹ còn xem văn nghệ nỗi gì.”

Đêm giao thừa, ở Trại A, từ một gian rồi hai gian, ba gian… tù cải tạo đồng loạt hát, mà hát rất to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…”

Công An đi tuần ngoài hè, không nói một lời.

Sáng mồng một, sau khi “mở chuồng”, tù cải tạo rửa mặt ăn sáng xong thì từ “Đội Văn Nghệ”, một toán hơn mười người đi ra, có biểu ngữ giương cao: “hoan nghênh Mẹ Việt Nam thăm tù cải tạo”, có một “anh chàng”, tên Chương, ăn mặc giả trang một bà mẹ già quê mùa, nghèo khổ, áo tứ thân đi thăm tù. Mẹ đi có kèn, có “Nhạc Sĩ Tù Ca “Dục què” (3) cầm đàn đi theo Mẹ tấu nhạc, có Võ Phước Thọ đi đầu dẫn đường, có Nguyễn Văn Huề (4) đi kèm hộ tống. Vậy là Mẹ đi từ lán (longhouse) nầy qua lán khác.

Mẹ đứng trên cao, chúc tết các con mạnh khỏe, khỏi ốm đau, hãy mạnh dạn tin tưởng vào lý tưởng của mình, chúc “các con” mau trở về với gia đình, v.v…

Vậy là “các con” (tù cải tạo) hoan hô Mẹ, và giống như tối qua, lúc giao thừa, tất cả cùng hát to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…” Hết bài hát đó thì tới “Việt Nam quê hương ngạo nghễ…” của Nguyễn Đức Quang.

Cảnh tượng rất cảm động, thậm chí có anh em vừa hát vừa khóc.

Công An chỉ đóng cổng lớn. Quản giáo, vệ binh không ai vào trại. Biết rằng chúng nó đang nằm im để chực “vồ” lại, nhưng xem ra “tù cải tạo” chẳng ai sợ. Có người, khi biết như thế, lên gân: “Chơi rồi! Chơi luôn!”

Hai ngày sau, bọn cai tù, đứng đầu là tên cáo già trung tá Công An Việt Cộng Trịnh Văn Thích, 25 năm kinh nghiệm coi tù, bắt đầu phản công.

Trước tiên, chúng gọi “Bầu Trừ” lên điều tra, giữ lại luôn, không cho về. Thứ đến là Chương, người đóng vai Mẹ Việt Nam, rồi tới phiên Thọ, người dẫn đường, nhạc sĩ “Dục què”, Người thổi kèn, anh đánh trống, người chơi Guitar, lần lượt vô cát-xô.

Sau 3 ngày Tết, đi lao động trở lại.

Buổi sáng, như thường lệ, sau khi nghe kẻng, mấy chục đội tơi nón ra ngồi sắp hàng ở cái sân lớn, chờ gọi tên từng đội.

Công An gọi tên đội thứ nhứt. Đội rục rịch đứng dậy, thì Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Nhảy Dù, “can tội Phục Quốc” đứng lên hô hào:

– “Anh em không nên đi lao động hôm nay. Yêu cầu ban giám thị trại giải quyết trường hợp các anh em trong “Đội Văn Nghệ”, hiện bị giam ở cát-xô. Cho họ về, chúng ta mới đi lao động.”

Mọi người vỗ tay hoan hô!

Nhưng Trịnh Văn Thích quỷ quyệt hơn. Một mặt y cho vệ binh dàn ra ở cổng trại, đạn lên nòng, khủng bố tinh thần. Mặt khác, y ra lệnh cho quản giáo tới từng đội để đe dọa, khuyến khích, đi lao động.

Quản giáo đội nào làm việc với đội trưởng đội đó. Mặt khác, Trịnh Văn Thích xuất hiện ngay cổng, hứa (cuội) to lên rằng:

“Những anh em đang bị giam ở cát-xô không có tội gì hết. Chẳng qua, vì mấy ngày tết, việc điều tra chưa kết thúc nên tạm giữ ở cát-xô vậy thôi. Nội sáng nay, trong khi “anh em đi lao động, ở nhà, chúng tôi sẽ xét lại từng cá nhân và sẽ cho về.”

Xong xuôi, y cho lệnh cán bộ trực trại gọi từng đội đi lao động. Thêm sự đôn đốc của quản giáo, từng đội đứng lên đi ra cổng.

Cuối cùng, chỉ còn một mình Huề đứng chơ vơ giữa sân.

Bấy giờ Trịnh Văn Thích cho một toán Công An vào vây quanh Huề, vật anh ta xuống, còng tay dẫn đi.

Một người, dù cao lớn như Huề, đói ăn đã mấy năm, làm sao chống lại mấy tên Công An lực lưỡng.

Những đứa con yêu của Mẹ Việt Nam nằm dài trong cát-xô, vừa tối, vừa lạnh, vừa đói, không biết bao giờ mới được thả ra…

Sau đó ít lâu, đội Văn Nghệ bị chuyển vào “Trại Đá” ở chung cùng phòng với đội chúng tôi.

hoànglonghải

(1) Phạm Tuân là phi công, phi hành gia của Việt Cộng. Ông là người Việt Nam đầu tiên bay lên vũ trụ vào năm 1980, trong chương trình có tên là Intercosmos của Liên Xô. Phạm Tuân được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Theo trung úy Việt Cộng Trần Đức Ước, (trại L3-T3 Long Giao) thì Phạm Tuân là người bắn hạ B-52 “rụng như sung”, nhờ Phạm Tuân biết cách phục kích, cho máy bay “đậu trên mây” chờ B-52 của Mỹ bay tới thì xông ra phục kích.

(2) Tù cải tạo chúng tôi trồng khoai mì, một ít được phát ăn liền, củ khoai còn tươi. Phần còn lại, xắt lát, ăn dần. Vì cất giữ chưa lâu, lát khoai mì còn trắng.

(3) Nhạc sĩ Nguyễn Tăng Dục, (Dục què) trước 1975 thuộc ban quân nhạc Hải quân VNCH, bị bắt về “tội Phục Quốc”, vào cát-xô bị đánh què một chân vì đã vào tù còn sáng tác nhiều bài “Tù Ca”. Bị què, Dục phải một tay cầm đàn, một tay cần gậy, trông rất tội nghiệp.

Sau khi đi tù cải tạo về, anh đến thăm tôi khi tôi trốn ở đường Trương Minh Giảng. Nhà anh ở Thủ Thiêm, rất khó tìm nên sau lần gặp đó, chúng tôi mất liên lạc. Anh thuộc “thành phần Phục Quốc” không được định cư ở Mỹ theo cái gọi là HO dù anh ở tù gần 5 năm.

(4) Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Sư Đoàn Dù, bị bắt vì “can tội Phục Quốc”, cũng không được định cư Mỹ như Dục. Cách đây mấy năm, anh Trần Phú Trắc ở Nam Cali đứng ra quyên góp “bạn tù” cũ, kẻ ít người nhiều để giúp Huề. Sau khi được tha ra khỏi tù, Huề bị bệnh bại liệt toàn thân. Không rõ bây giờ anh còn sống hay đã qua đời.