Dây thun lỏng

 Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

         Bắt đầu là tiếng “Huế mềnh” đặc sệt của một gã lưu vong đã ở xứ lạ quá nửa đời người- gợi nhớ một lần nghe ông Cao Xuân Hạo giải thích về khuynh hướng “càng ly tâm càng hướng tâm” khi tôi thắc mắc vì răng người Nam bộ vốn nổi tiếng ăn nói mộc mạc, giản dị mà trong ca dao tục ngữ lại giữ một lượng lớn thành ngữ Hán Việt cổ điển- rồi đến giọng “u-mua” lẫn tí mùi tán gái cợt nhã, bụi bờ, mà pha được điệu ngậm ngùi thế sự mới tài! Tôi cho nó phải là một trong những đặc trưng lối văn Hồ Đình Nghiêm.

“Khúc đưới” (phần dưới) của o Ngà được chính đương sự nhận là xấu- tiếc là người kể không nói rõ thêm “đưới” nớ ra răng mà chịu xấu rứa!- nhưng khúc đưới (kết) của truyện ngắn thì “couldn’t be better”.

Cảm ơn Nghiêm: Cái đau của đời có khi hơn… hoạn thiệt, nhưng cái đau văn chương đem lại đâu chỉ thuần thương đau.

Nguyễn Thanh Văn
Sài Gòn

Long người Nam, từ Sài-gòn ra trọ học, ở gần nhà và học cùng lớp nên chúng tôi làm bạn với nhau. Lối ăn mặc, cách tiêu pha có vẻ như con nhà khá giả. Hắn lỡ phạm một lỗi lầm nào đó, nên ra Huế, với hắn là bản án lưu đày mà gia đình đã tuyên xử, nỡ xuống tay. Thức ăn cay, mưa gió rả rích, phố xá nhỏ chật… hắn có thể tìm ra cả vạn lý do để minh định lập trường: Không cảm tình với Huế.

Một bữa, Long ghé nhà, hậm hực. Hình như đương sự có chửi thề. Tôi đang nằm đọc cuốn “Uyên ương gãy cánh” và những hình ảnh thơ mộng trong cuốn sách đã bị tước đoạt trong nháy mắt. Tôi hỏi, để được biết là hắn đi may một cái quần tây khá đắt tiền nhưng khi mang về thì phát hiện rất nhiều lầm lỗi. Thất bại! Hắn nói. Đó là chữ hắn thường dùng để chấm câu. Uống một cốc cà phê hơi nhạt. Thất bại! Mua một quả cam chua. Thất bại! Tất cả đều thất bại. Tựu thành một việc hằng mong mỏi, chưa bao giờ nghe hắn nói: Thành công.

Tôi trấn an, chuyện gì cũng còn có đó, ông may quần ở đâu?

Hắn có chiếc xe gắn máy, Honda 65 phân khối chở từ “trỏng” ra, gắn bảng số quận 3 Sài-gòn. Hắn từng giựt le với đám bạn học về cái sự bốc của chiếc xe và cả đám đều xuýt xoa, y như rằng cái con “hắc mã” đó là độc nhất vô nhị ở cái xứ hiếm của lạ luôn trầm mặc này. Chạy mau lắm thê, không phải nói trạng mô nợ. Một vài đứa trong lớp gốc gác ngoại thành phát biểu cảm tưởng. Tôi leo lên yên sau, ôm bọc giấy gói kín chiếc quần không như ý để hắn bốc tới nơi gây phiền hà. Tiệm nằm ngoài phố, bảng hiệu có người ra công vẽ sơn hình tháp Eiffel đồ sộ như thể cầu chứng, mang tay nghề về từ kinh đô ánh sáng.

Tiệm vắng, đứng bên chiếc bàn dài là người đàn ông tóc tém lui sau, chải mượt bóng dầu mỡ thấy rõ sự chuyên cần mà răng lược đã cày qua. Áo bỏ vào quần tươm tất, điệu đàng, đỏm dáng. Tiếc một điều chân mang dép cao su mòn vẹt và ông xứng đáng để đại diện cho những người thiếu thước tấc. Ông cao ngang vai tôi, cổ ông có sợi thước dây vắt tròng, vật trang sức như ta thường thấy nơi mấy vị chuyên nghề đo đạc.

Ông tính nói điều gì đó nhưng thoáng cau mày khi nhìn ra thằng bạn tôi. Hẳn ông đã đánh hơi ra chuyện thất thường. Hai đứa ni tới để kiện tụng chớ không phải mua sắm may mặc. Chúng tôi đã lựa thời điểm là sau buổi trưa, tránh giờ mở hàng “mất mì xưa” của chủ tiệm, mình chưa nói năng họ đã càm ràm nghe cũng ngán.

Rồi cái quần được trải thẳng trên mặt bàn dài. Tôi như đứa thông ngôn vì có khi mặt bạn tôi nghệch ra, ú ớ không hiểu lời phân trần. Tui đồng ý là khúc trữa có hơi bị nhăn nhíu, nhưng khúc đưới và khúc côi ni, anh xem đi, phải nói là khéo tay. Hàng vải ni rất khó may, anh thông cảm để tui chỉnh sửa lại. Côi, trữa, đưới. Thất bại, phải không? Tuy thương hiệu có vẽ cái tháp biểu tượng của Paris, nhưng ổng hổng nói tiếng Tây tiếng u đâu. Đậm đà bản sắc địa phương đó nợ, chớ mô lai tạp đầu Ngô mình Sở: Chín giờ kèn thổi “cu-sê”, thôi em ở lại anh về “áp-bên”. Coucher là ngủ ngáy mà appel là điểm danh, nôm na là tục tác gọi gà về chuồng, trời túi hung rồi.

75 là cú thổi “áp-bên” đầy xao xác khiến giấc “cu-sê” mãi không tròn giấc, hoặc có người làm cú “cu-sê” dài dằng dặc, dài miên man. Tất cả ngác ngơ lạc hồn như gà con mất mẹ.

Bữa nọ tôi ngác ngơ đi vào chợ trời để bán bộ áo quần còn lành lặn thì có người con gái gọi đúng tên tôi. Chiếc nón lá, quai lụa tím, tóc ngang vai. Tôi ngó và tôi tưởng tai mình nghe lầm. Tôi chẳng thể nhìn ra chút gì quen thuộc nơi khuôn mặt lạ lẫm kia. Anh Long bữa ni trốn ở chỗ mô hả anh? Long hả, thì nó vào lại Sài-gòn từ khuya, từ độ xấc bấc xang bang ai cũng giỏi chân tháo chạy. Có còn mô đây mà hỏi. Cô là chi của hắn? Chuyện dài lắm, lôi thôi lắm, làm răng nói năng? Chứ anh đi mô đây? Ôm kè kè cái bọc chi rứa?

Cô tên Ngà, đang hành nghề mánh mung. Cô thật thà khai báo. Cứ đi lòng vòng, gặp con nai vàng cỡ như tôi thì nhảy ra chận đầu, mua đi bán lại thứ “chà đồ nhôm” chôm đồ nhà. Thượng vàng hạ cám đều có thể tiêu thụ giữa thời buổi lắm phong ba mãi làm sấp ngửa.

Anh kẹt tiền hung? Ngà hỏi. Ai mà không kẹt. Tôi trả lời. Cần tiền để trang trải chuyện chi? Ậy, cà phê thuốc lá cũng xúi mình tằn tiện việc ăn việc mặc vậy. Cứ nhất y độc quỡn cho giống với người ta. Lạnh thân chứ không thể buồn miệng.

Nhờ Ngà, bộ áo quần lành lặn của tôi bay biến rất mau. Ngà đưa tôi nạm tiền rít rát như biết ứa mồ hôi, chất giấy xấu như thứ dành để cúng cô hồn. Em không lấy tiền công, anh có thể bao em một chầu cà phê cà pháo không?

Tôi chở Ngà ra tới đầu đường, chun vô ngồi dưới một mái tồn che nắng của cái quán nước tả tơi ghế bàn. Nền đất nện không phẳng, ly tách không đồng dạng, cà phê bít tất nằm trong cái ấm đen thui bắt trên kiềng ba chân có ngọn lửa mãi táp. Mấy thanh củi ẩm làm cay mắt. Hai đứa ngồi xuống ghế nhựa, phải xê dịch đôi chút mới tìm được sự quân bình. Một cà phê đá một chè đậu đỏ. Thằng nhỏ ở trần nói vọng lui sau, nơi có sợi dây thép chùng mãi rung động ba cái khăn nhàu rách đang phơi. Ngà ngồi gần, tôi ngó vô áo bà ba và thấy một đường khe rám nắng. Hình như vì trời oi bức, chẳng thấy bóng dáng chiếc xu-chiêng. Vóc vạc, mặt mày, tay chân, hình thể, tôi đoán tuổi Ngà khoảng hai chục, hoặc nhỏ hơn.

Em luôn loanh quanh khu chợ trời này, lần sau kẹt tiền nhớ chạy vô hú em một tiếng. Ngà nói khi nhìn chiếc xe đạp tôi dựng bên một gốc cây. Cây thưa lá nên nắng chang chang trên vuông đất khô. Tôi cũng thấy mình kiệt cạn dần, rụng từng ngày nghèo đủ thứ, nghèo tới độ có muốn đăng ký làm dân vô sản cũng bị họ chê bai, không đủ tư cách. Một ngày chẳng xa, tôi sẽ bán chiếc xe đạp ấy, tài sản giá trị cuối cùng để thoi thóp đón đợi tin vui. Người tôi yêu đã vượt biên, chả thèm ư hử. Tuy đau lòng nhưng tôi mãi mong cho người đến được bến bờ trong an lành. Cả tháng dài lâu chưa nghe vọng động. Ở ngoài chợ có bà bán cá thấy trong ruột nó lấp lánh chiếc nhẫn đính hột kim cương. Nghe lạ không? Chẳng lạ, nhưng nên tránh ăn cá biển. Ăn cá sông hồ và con nào càng nhỏ càng tốt. Hừ, tiền đâu mà mua cá to?

Cà phê cạn dần, hột đậu đỏ cuối cũng đã mắc vào kẽ răng Ngà, chuyện vãn nhạt thua cả nước đá; cuối cùng tôi bới móc về dấu hỏi vĩ đại: Vì răng em quen Long để rồi biết tới tên anh? Ngà đổi thế ngồi, tay cầm nón quạt lia quạt lịa, tóc Ngà phất phơ mà mặt tôi cũng đón được chút gió thơm mùi mồ hôi dầu của đương sự. Chừng mỏi tay, Ngà đưa mấy ngón mân mê sờ soạn chiếc quai lụa, mặt cúi xuống. Anh còn nhớ cái bữa mà hai người chạy tới tiệm may để ca cẩm kiện tụng chiếc quần tây không? Có thể là anh không biết chuyện ni, sau bữa nọ, chẳng biết răng mà anh Long siêng trở lui để may áo quần. Em ở dưới quê lên học nghề, hay đúng ra là lo cơm nước cho chú Quý, chủ tiệm. Ngồi khuất sau màn chờ nghe sai việc, nay đơm bộ khuy, mốt thì chạy u đi vắt sổ, giặt khúc vải, ủi cái áo… Chú Quý nói, tao chịu đèn cái thằng Sè-gòn đó rồi. Hắn nhiều tiền, không ưa mặc cả, dễ tính, là hạng người mà mình có chặt đẹp hắn cũng mần thinh. Hắn ưa ngủ đò cho biết sự tình mà tao can ngăn, vui thú chi nơi mà ham, chưa kể dây dưa tới bịnh tình. Chú đưa em tám ngàn, nói mi ngủ với hắn chút xíu có chết đi mô mà sợ. Em nhắm mắt đánh liều cho anh Long ưa làm chi đó thì mặc sức làm. Em thì ốt dột mà anh Long thì gà mờ, loay hoay chi chút mà cũng bở hơi tai. Anh nói: Thất bại! Lần khác anh lợi sẽ uýnh một trận ngó đường hoàng hơn. Giờ thì anh phải dìa.

Tôi có kinh nghiệm đau thương, là khi mà bạn đã lỡ bán đi một thứ gì đó, thì việc làm kia nó tạo trớn để bạn thấy dễ dãi tiếp tục lần hai, lần ba, lần bốn. Cũng có thể mang thành ngữ ra để giải thích, tựa như: Ngựa quen đường cũ, ăn quen bén mùi.

Chừng một tháng, sau khi gặp Ngà, tôi lại đạp xe vào “thị tại môn tiền náo”. Chỉ một tháng mà lắm đổi thay, chợ nhộn nhịp, người mua kẻ bán đông chật hơn, phạm vi được nới rộng ra. Duy có thứ vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn một mực giữ nguyên, đó là thần sắc người ngợm vô ra thảy đều lạc hồn xanh mướt chân đi xiêu lạc áo quần tả tơi. Sáng ra đứng phố ngồi hè, phồn hoa đô hội đâu dè thế ru.*

Ngà rất mừng khi ngó thấy tôi, cái tở mở thành thực nằm đọng trong đôi mắt long lanh. Ngà đủ thông minh để hiểu thấu cớ sao tôi dẫn xác vào chốn này. Ngà phủ bàn tay lên những ngón tôi bấu vào gi-đông xe. Anh tìm em phải không? Chơ cớ làm răng mà mặt anh xanh ngắt ra rứa? Tôi thiếu chất dinh dưỡng, bên bệnh viện họ phán thế. Cậu thiếu vitamin, thiếu đủ thứ, A, B, C, D, E. Đừng có đi bán máu nữa nhé. Tôi viết cho cậu tờ giấy chứng nhận để khỏi phải đi lao động xã hội chủ nghĩa vào chủ nhật tới. Nên bồi dưỡng, nên tranh thủ ăn nhiều chất đạm vào. Nhớ chưa?

Tôi không nhớ gì cả. Tôi chỉ nhớ Ngà. Tôi thiếu vitamin N. Khủng hoảng thiếu. Trầm trọng vắng. Tôi hỏi Ngà ở đâu? Ngà nói ở chung với đứa bạn buôn bán ve chai và đồ đồng nát, gần chỗ ni, có điều tồi tàn lắm, cốt để tránh gió mưa. Chỉ chỗ đi, anh chở em về. Anh đang nói chơi à? Nói chơi làm chi cho tốn hơi. Anh nói thiệt, anh bán chiếc xe đạp ni cho Ngà, mua không? Ôn mệ ơi, tiền bạc mô đủ mà mua anh. Đời em như tấm mền rách thì anh cũng đã chộ rồi. Bậy nà, anh chưa hề thấy qua. Nói thiệt nghe, khúc đưới của em có hơi xấu, ở côi thì ngó tàm tạm, còn khúc trữa? Chắc Ngà phải cho anh thấy mới nói năng linh tinh như ông Quý tiệm may.

Ngà cười một tràng trong vắt. Nếu tôi là bạo chúa sẽ bắt Ngà về cười suốt, thay vì nghe tiếng xé lụa hoặc tiếng lửa reo bên doanh trại đối phương. Một tiếng cười hưng phấn. Ngà nhảy phóc lên yên sau, mang nguyên cả cánh tay ra ôm choàng lấy tấm thân gầy xé gió của tôi. Tôi cảm nhận được cái mềm mại của trái vú sữa nằm gần khúc côi của Ngà. Thứ trái cây rám nắng tự nẩy nở lấy mà chẳng nhiêu khê chín giú trong xú-chiêng.

Cửa đóng then cài không lâu, tôi và Ngà lần lượt mở khóa cho nhau. Ngà mặc quần vải mỏng có tròng giây thun ở lưng, thắt thỏm. Đói ăn bụng lép rồi giây thun đang tới hồi lỏng, mất tính đàn hồi co giãn nên chi thoắt một cái là khúc trữa lộ hình. Nó sẽ tiết ra một giòng sữa mật mà riêng viện bào chế chẳng chịu gọi là vitamin. Nó sẽ bồi dưỡng cho tôi thứ mà văn học gọi trái cấm ở thiên đường nhiều cám dỗ.

Tôi ôm giữ lấy khuôn mặt Ngà. Tôi hôn vào môi khô đang bấn loạn thở. Tôi đồng ý với anh là khúc đưới hơi thô thiển, nhưng phần côi và khúc trữa xoắn tít những cụm chỉ rối vụng về tay gỡ, thì phải mạnh dạn để nói, đó là tặng vật của đời.

Tôi vật Ngà xuống tấm chiếu có vẽ hình long phụng đưa móng bám giữ chữ Phúc. Hôm qua, tôi nghe hung tin, người yêu tôi (người tôi yêu) đã bị rơi vào tay bọn hải tặc Thái. Tôi đã chết, hôm qua. Và hôm nay, hồn ma tôi chợt hiện. Nó yêu Ngà để nước mắt quỷ sứ tự dưng chảy hoen ra chiếu lạnh.

Tiếng rao “Có ai bán nồi niêu chén bát sứt cọng gãy càng không” chẳng làm cho hai con thú tật nguyền phân tâm. Chúng mãi chia ngọt sẻ bùi dưới căn hộ hoang sơ tựa một cổ mộ mà thời buổi đương đại này chưa đủ chất xám để định hình, giải mã, rêu rao.

Dấu che suối nguồn

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 1 May 2022
Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Chuyện thật, từng xảy ra ở thành phố Montréal. Năm mươi phần trăm là hoang tưởng của đứa thuật lại, nhân ngày Phụ Nữ VN 20 tháng 10.

Câu chuyện bắt đầu chỉ xảy tới riêng cho cá nhân Linda. 29 tuổi, mẹ của đứa con nhỏ vừa tròn bốn tháng tuổi. Linda đẩy xe có thằng cu đang say ngủ vào thương xá, nóng bức tháng bảy bị chận ngay sau cánh cửa gương vừa khép đóng. Những cái máy lạnh có thể đang chạy hết công suất, và diệu kỳ thay, nó lột thật mau những màu da đỏ ké, mồ hôi chóng khô, để sự tươi tỉnh dội ngay xuống thần sắc con người.

Đang mùa sale, những cửa hàng đều dựng bảng giảm giá, tới 75 phần trăm. Linda sẽ tới gian hàng My Angel để lựa mua áo quần cho thằng cu. Nó đã thức giấc, như đa số các thiên thần nhỏ, nó bắt đầu mếu máo và làm trì hoãn chân đi của mẹ nó bằng tiếng khóc. Con đói bụng rồi đó hả? Linda cúi mặt xuống âu yếm hỏi, cô tìm tới băng ghế trống, ở góc khuất và ẳm nó lên. Linda cởi ba hạt nút áo, dùng một tay khai mở một bên ngực, bày biện cái bầu sữa mà thằng cu đang tơ tưởng tới. Dĩ nhiên là nó nín khóc ngay, lim dim mắt thụ hưởng. Môi ướt với dòng sữa mẹ ngọt ngào tuôn chảy, chút chít, mút, nuốt. Không quá năm phút, một gã đàn ông lù lù dẫn xác tới sát hiện trường. Madame, xin lỗi, bà không được phép vạch áo (cho người xem ngực) ở chốn này. Trời đánh tránh bữa ăn, hẳn thằng người không ưa nhìn vú ấy chẳng biết mô tê gì về tầm mức quan trọng nọ. Ngay cả thiên lôi cũng lo mà thu búa sau lưng chờ kẻ xấu số xơi xong tiệc cuối mới hậu tính. Tại sao? Tôi làm điều gì không phải? Linda ngước mặt lên hỏi. Nếu bà cho cháu bú bình thì ok, bằng không xin bà chịu khó ra khỏi chu vi cửa tiệm, nó nằm trong những điều lệ ngăn cấm của bổn hiệu. Xin lỗi nếu tôi nói điều không phải…

Đó là tất cả câu chuyện mà Linda đã đưa lên Facebook, chỉ sau một ngày có tới 46 người đưa ý kiến. Tuyệt đại đa số đều tỏ rõ bất bình, có người trách cứ là Linda hiền quá, phải làm lớn chuyện, nó tệ hại hơn cả nạn kỳ thị chủng tộc. Ngày thứ hai, số người truy cập là 52 và tất thảy đi đến quyết định: Hãy vận động rũ rê quý vị phụ nữ đang có con thơ, chúng ta hẹn gặp trước cửa hiệu đó vào lúc 12 giờ 30 ngày Chủ nhật tới và đồng loạt vén áo cho con bú. Phải cho bọn đàn ông làm việc trong cửa hàng đó hiểu, lúc bé má mày cho mày măm bằng cách gì? U mê bú sữa bò sao mậy?

Rồi sao nữa?

Rồi thì sự việc diễn tiến đúng như hẹn ước. Y như một cuộc biểu tình bất bạo động. Khu thương xá ấy có hơi chộn rộn phút đầu, những người đàn bà đi thơ thẩn mua sắm quanh đó khi nghe chuyện cũng sà tới ủng hộ. Mẹ rượt, cho con bú thôi mà, có ai ưa chơi trò lộ hàng công xúc tu sĩ đâu mà la làng. Cho tớ nói thiệt nghe, bản thân tớ từng vén áo cho con bú, ngay cả thằng chồng tớ đứng xớ rớ ra đó cũng bù trất, chẳng thấy khuôn trăng đầy đặn nuột nà nơi ngực tớ.

Em thuật chuyện cứ y như rằng em cũng có mặt tham gia.

Ủa, anh nói hay. Em đẩy con em tới lúc 1 giờ, em ngồi sau lưng Linda.

Em cũng bày hàng?

Nực gà. Sao lại dùng chữ bày hàng? Cái đầu baby nó án che toàn diện…

Thế kết quả ra sao?

Kết quả là đích thân thằng quản lý phải chạy ra xin lỗi toàn thể quý bà mẹ. Chúng tôi sẽ có biện pháp thích đáng nhằm giáo dục những nhân viên ăn nói thiếu lễ độ và trên hết, chúng tôi sẽ hủy bỏ những điều lệ cứng nhắt không phù hợp kia. Mẹ tôi biết chuyện cũng la tôi quá chừng chừng. Ông ta pha trò trong khi đi bắt tay từng người. Và ông sai một nữ nhân viên trong cửa hàng đi trao tặng mỗi đấng nhi đồng một cái yếm cột ở cổ để kỷ niệm về câu chuyện không hay lỡ xảy ra dễ làm sức mẻ uy tín của thương hiệu.

Đã tới giờ em cho con bú chưa?

Hỏi chi vậy? Nó đang say ngủ mà. Đừng nói với em là lúc bé anh cũng chỉ biết tu bình.

Đâu có. Mẹ anh nói cho con ngậm vú rất lợi hại. Khỏi uống thuốc ngừa thai nè, tránh ung thư vú nè, con thông minh cực giỏi nè… tiếc một điều là vú mẹ anh nhỏ, sữa không có mấy, nên…

Nên anh trường kỳ chơi sữa ông Thọ chứ gì.

Đâu có, mẹ anh tha qua nhà hàng xóm, người đàn bà láng giềng kia luôn than đau ngực vì căng sữa quá mạng. Bả thấy mặt anh là xởi lởi vén áo lên ngay, cho con hết đó, bú đi để chóng lớn, mà lớn rồi thì đừng quên hai bầu sữa này nha.

Và dĩ nhiên là anh quất ngựa truy phong.

Sao em dùng chữ nghe kỳ khôi thế!

Chứ không phải à? Cũng ăn nằm với người ta, được người ta cho bú mớm. Nói cho anh biết khu vực đó của phụ nữ chỉ dành riêng cho đối tượng đáng yêu mà thôi.

Giặc giã, anh bỏ làng bỏ nước đi xa, làm sao hơn. Bây giờ anh chẳng được thông minh như ông này bà nọ thì không khéo là do bởi nguồn sữa bà kia dường như thiếu vitamin X. Bú riết nên hơi bị chậm lụt.

Cái gì gọi là vitamin X cha nội?

Ý anh muốn nói là anh thiếu chất xám. Xám là x chứ còn gì nữa. Em làm như X chỉ dành độc quyền cho chuyện đó không thôi. Chồng em ngon lành không?

Chữ ngon lành đó trừu tượng quá. Ảnh rất ngon cơm.

Ngon cơm cũng rất mơ hồ. Chồng em thích ăn phở không?

Hổng có đâu. Điện nước em đầy đủ mờ, với lại em có cách để miệng lưỡi ảnh không khi nao thấy nhạt mồm ưa ăn chùng ăn vụng.

Giỏi hén! Ngẫm lại anh quả vụng tu, quen được em mà chưa một lần cầm tay nắm chân thì em vội sang ngang mất đất.

Hỏi thiệt nghen, anh ở không vậy chẳng thấy sốt ruột sao?

Em có nghĩ tình xưa không? Nếu có thì giúp anh một phen.

Ý, chết cha, thằng cu dậy rồi, tới giờ cho con măm rồi.

Em làm anh thấy đói bụng muốn sôi ruột.

Anh ngó lơ chỗ khác cho mẹ con em được tự nhiên.

Cũng dễ thôi, em cho nó bú đi. Có ưa nghe chuyện tiếu lâm không?

Anh kể đi, vừa kể vừa ngó ra ngoài đường.

“Trên tàu hỏa, một bà mẹ trẻ cho con bú nhưng đứa bé cứ khóc nằng nặc, không chịu ngậm vú. Bực mình, bà mẹ mắng: Bú đi nào, không thì mẹ cho chú kia bú bây giờ. Mắng tới ba lần mà đứa con vẫn không chịu bú. Đến lúc đó, cậu thanh niên ngồi đối diện mới lên tiếng: Chị nói cháu quyết định nhanh lên, tàu đã chạy qua những 5 ga rồi đấy!”

Thôi đi cha, coi chừng thằng con em bị sặc bây giờ. Lấy từ đâu hay chính anh sáng tác đó. Tức cảnh sinh tình.

Anh từng thử sữa mẹ rồi, em tin không? Mới đây thôi.

Có bà hàng xóm nào tốt bụng với anh thế?

Anh có dịp sang London, trước khi Kate vợ của Prince William hạ sinh cơ. Anh vào một quán cà phê ở khu thị tứ Piccadilly. Ở đó họ quảng cáo, cà phê sữa người 15-pound một cốc.

Và anh đã thử? Ngon dàng trời?

Không. Cực kỳ thất vọng. Lơ lớ, ngọt, nhạt, mặn, hơi tanh. Anh nói thật, sao con nít nó ghiền vú mẹ đến thế được nhỉ!

Xì, ai biểu dộng nó vào cà phê làm chi. Uống không xem thử ra sao mà bày đặt chê bai. Nè, sao cái đầu anh tự động đi hoang thế.

Có thấy gì đâu mà nạt nộ. Tình xưa nghĩa cũ sao đối xử với nhau khắt khe dường ấy!

Em còn đứa em ở bển. Đẹp hơn em, dễ thương hơn em, thông thoáng hơn em, trẻ hơn em, bắt buộc rồi. Anh ưng ý thì gọi em bằng chị hai, có ô kê không nè?

Vậy à. Có nghĩa là anh sẽ lặn lội “vinh quy bái tổ” áo gấm về làng ẵm cô nàng dìa dinh Canada.

Ậy, không lẽ vô cớ mà nó xuất dương đi tìm chồng. Sao ngược ngạo khó nghe quá! Nó vẫn còn ở Sa Đéc, mình mẩy trù phú đồi núi uốn lượn cò bay thẳng cánh. Anh biết Sa Đéc ngon lành hào sảng ở chỗ nào không?

Nói nghe ham. Thằng nhỏ chê vú em rồi kìa.

Sao bú lẹ vậy cưng? Bị có người lạ dòm lén mắc cỡ quá cưng hén!

Anh mà lấy em của em làm vợ thì ra nghiêm lệnh dứt khoát cho con bú bình.

Sao vậy?

Lỡ má nó tiếp khách đúng lúc nó đói thì khách cũng như má nó khỏi phải cắn rức lương tâm, căng thẳng hồi hộp các thứ.

Đồ quỷ nà! Để hát tiếp bài ca ngợi Sa Đéc. Anh về Sài-gòn há, ra chợ mua trái cây một chục: Mười trái. Anh xuôi Mỹ Tho hoặc Bến Tre, một chục: mười hai. Cái Bè, Vĩnh Long hoặc Cần Thơ bảnh hơn, một chục: Mười bốn trái. Tới Sa Đéc? Khà khà. Chục, mười tám. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Sướng chưa. Nghĩ mà xem. Chị bán cho tôi chục vú sữa. Dạ, để em lựa cho anh 18 trái căng mọng mịn màng. Xời, những mười tám trái vú sữa, tha hồ măm!

Điệu này không về không xong. Nhưng mà tự dưng khi khổng khi không kêu em bằng chị nghe ngượng ngùng quá xá quà xa.

Mắc cỡ nữa à tía? Xưa nay tình chị duyên em thì cứ xảy ra hà rầm, hơi đâu lo bò trắng răng. Dị đi nghen, có ưa hôn?

Ưa không hay ưa hôn? Ưa, hôn ở đâu?

Già dịch gì đâu không á. Trước, may mà tui hổng lấy anh làm chồng. Trời ngó xuống mà coi, làm vợ ảnh thì làm sao chịu đời cho thấu.

Làm bộ hoài. Biết vậy sao còn đem tui đi cặp đôi với cô em. Nè, bảo lãnh xong, đợi vợ chồng đoàn tụ, bọn mình góp tiền mua cái nhà lơn lớn để ở chung cho đề huề nhá?

Xí, nghèo mà ham. Thôi, đến giờ trở vào hậu cung rồi. Chồng tui đi mần về mà ngó ra cảnh này bụng ảnh hổng vui. Cơm không lành canh không ngọt thì buộc lão phải đi đớp phở thôi, trách chi ai?

Thì bất quá nói lớn tiếng với ảnh: Thằng cha này tới xin địa chỉ ở Sa Đéc, không chừng mai mốt tụi mình có thằng em đẹp giai không bằng chai mặt. Anh ẳm thằng cu cho em được rảnh tay chút xíu nào. Bậy thật, cứ lu bu miết, khách tới nhà chẳng cho hắn miếng nước nào cả, nghĩ cũng tội.

Chiếc áo chủ nhà chưa kéo xuống vì không được rảnh tay. Trước khi bước ra hướng cửa, khách còn nuốt nước bọt vì trời sinh ra quả vú sữa nhiệm màu. Trời ạ! Chục mười tám nghe ham. Không cách chi khô cạn nguồn cơn được. Sữa chảy lai láng. Mút mùa lệ thủy!

Hồ Đình Nghiêm

Đất thần kinh

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 12 May 2022

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

“Thưa Em xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
”
(Bùi Giáng)

Tôi bỏ Nha Trang mà đi sau chuyến vượt biển không thành. Ý trời. Cả bọn mười mấy mạng bị sa lưới. Tôi và Vân vận hên lọt sổ, thất thần gặp nhau ở bến xe đò nửa mừng nửa lo và chẳng đứa nào nói được nên lời. Tôi dắt Vân về nhà ông cậu ngủ tạm một đêm. Đêm hầm hập nóng, mái tôn chuyển mình giãn nở kêu ca và bóng tối ngoài sân cát như biết dồn ép tới căn nhà nỗi bất an khiến đứng ngồi không yên.

Vân moi trong lưng quần ra một “cây” cuối cùng dành để “hộ thân hộ thổ”: Nhờ cậu tìm cách mua giúp con cái giấy đi đường… Tao vào Sài Gòn. Còn mày? Tôi ngó chăm vào cây đèn dầu. Ngọn lửa của nó thấp thỏm cháy, khiến sau lưng chúng tôi là mảng bóng đen, dính vào vách liên kết những hình thù quái dị, tựa hồ ai đó đang lặng lẽ dán sát mình để lén nghe. Tôi thử quan sát phản ứng ở người cậu râu tóc bạc trắng. Đèn thì đỏ quạch, câm nín vũng sáng. Mặt ông cậu thì đen đúa một nỗi chịu đựng quen thuộc, gần như lãnh cảm. Có vẻ ông ngầm ưng thuận lời yêu cầu của Vân. Quay sang tôi: Mi cũng nên trốn đi cho yên thân. Ông ho khan: Về Huế chẳng hạn.

Tôi nghe lời, chẳng gợn lòng tính toan. Hai hôm sau chính thức vượt biên dật dờ vào địa phận tỉnh Bình Trị Thiên. Vân rất tình nghĩa, giấy đi đường giả làm công nhân viên cung ứng vật tư tỉnh Phú Khánh, vé xe đò mua giá chợ đen và chút tiền dắt túi của tôi có được đều do bởi lượng vàng ròng chia hai hiếm qúy kia. Hôm chia tay, Vân ôm tôi, siết chặt như thứ hành động dành riêng cho tình nhân bạc phước. Hắn nói trong cúi mặt: Chúc mày tai qua nạn khỏi khi về chốn chó ăn đá gà ăn muối. Tôi không thấy bịn rịn. Tôi chẳng nghe ra chút bồi hồi thổn thức. Tôi đứng cứng đờ. Cảm xúc trong người tôi đã trút đi đâu? Là những thùng dầu chôn sâu dưới cát. Chôn mất dấu và bới tìm nhọc công. Tôi xô nhẹ Vân ra nhưng mấy ngón tay Vân vẫn cố bấu vào hai vai, mắt thì nhìn sâu vào mặt tôi. Hắn muốn thu giữ vào trí nhớ lần cuối? Hắn sẽ hôn vào môi nếu tôi là… con gái. Tôi nghĩ vậy. Và tôi xua đuổi: Thôi, mày đi lẹ kẻo trễ tàu. Không một lời chúc lành. Chẳng một tiếng cám ơn. Rồi Vân sẽ tự tìm lấy lý do: Chắc tại nó bị hứng cái “sốc” quá nặng? Chắc là khi cảm động, người ta thường để lộ sự vụng về? Vân gầm đầu đi, tôi ngó theo. Thằng bạn sót lại của tôi, cuối cùng đã biến mất theo kiểu ấy. Tựa những bàn chân người hằn xuống hỗn độn trên bãi bốc đã được sóng tràn vào liếm cho sạch dấu tích, trơ lại là bờ cát ẩm nằm trân tráo. Tôi chôn chân trên mặt đất Nha Trang rạn nứt những kỷ niệm, cô đơn vô bờ. Ông cậu nói như trấn an: Mi về ngoài nớ có gì thì con Cúc nó bao che cho một thời gian…

Xe đò rệu rã chạy dần vào thành phố. Huế có cơn mưa giông rãi xuống trắng xóa đón lấy tôi, mù mịt. Tứ bề là mưa, chẳng nhìn ra phương hướng. Tôi lẩm bẩm cái tên xa lạ của người chị. Cúc, Cúc, Cúc…

Đó là người đàn bà chẳng có gì để khiến người khác phải chú ý. Lần hồi, sau khi hai miền đã thông thương, hình như ai cũng tập làm cho con mắt quen dần với thứ hình ảnh gần như đồng dạng rập khuôn ấy. Cái áo cụt may có hơi chật làm khổ đôi vú, quần đen bèo nhèo hà tiện vải ngắn lên mắt cá và chân mang đôi dép có gót mà quai nhựa không ôm giữ nổi những ngón, làm chúng có vẻ luôn muốn “giải phóng” ra khỏi bàn chân đi bước nặng nề cục mịch. Tình máu mủ là cái gì thật trừu tượng, buổi gặp mặt lần đầu tôi ngồi lặng thinh đốt khói. Quà của chị Cúc mang vào cho là mấy gói thuốc Tam Đảo và ít phong lương khô sản xuất từ Trung Quốc. Chúng nó gợi lên sự háo hức tò mò nhiều hơn là đón nhận sự xuất hiện bất ngờ của chị ở cảnh đoàn tụ rất đỗi ngỡ ngàng mà thực tâm người ta không ai đủ tỉnh trí dọn lòng đón tiếp. Chị hỏi han tôi đủ chuyện, những dấu hỏi mang chở sự ngây ngô như một người lỡ ngủ quên ở giấc mộng dài mười năm không ngờ dòng đời vẫn thúc bước đi xa. Ban đầu chị gọi tôi bằng cậu, một lát thì kêu tên và sau cùng, như “tiếp thu” được cởi mở, chị mới dùng chữ em.

– Em đừng lo sợ và đừng che đậy. Trường hợp mấy người anh đó nếu họ thành tâm thì cách mạng sẽ khoan hồng thôi. Chị sẽ tìm gặp họ để động viên tinh thần…

Chị nói ra ở cửa miệng những chữ lạ, nghe rổn rảng. Tôi chẳng có gì để lo sợ, để gạn lọc tìm cách che đậy. Nếu có cảm nhận nỗi bất an nào, thì chị phải hiểu đó là do bởi ngôn ngữ chị dùng, chị nói thứ phương ngữ lạ lẫm khiến tôi lo âu. Tôi kể tên mấy ông anh cùng chức vụ họ có được sau bảy tám năm phục vụ mệt mề trong quân ngũ. Người anh hơn chị hai tuổi quân hàm đã là Đại úy và giờ này thì chẳng rõ anh ra sao? Tự tử? Dắt một ít tàn quân đóng chốt đâu đó và đánh hết rác ở ván bài cuối? Thoát ra được tàu Mỹ neo ngoài vịnh Cam Ranh? Hoặc như số đông, vượt vĩ tuyến 17 trong đêm bít bùng, ra ở tù tận ngoài Hoàng Liên Sơn?

Chị Cúc luôn thay đổi sắc diện, ngồi thu một chân trên ghế, mặt lộ ngao ngán, khi thì đăm chiêu lạc hồn. Miệng chị rộng, hai hàng lông mày thưa nhưng tóc thì quá rậm quá dày quá nhiều quá rối. Chẳng biết chị giống ai trong nhà, chị khác thường đủ mọi phương diện. Tôi hỏi chị làm gì ở ngoài đó? Chị không nói. Tôi rụt rè hỏi chị lập gia đình chưa? Chị thở dài. Tôi nghĩ, chị là một trong số đông những người chiến thắng. Ngày hôm nay, chị thong dong ngồi đây với thứ diện mạo ủ dột, váng vất niềm thất vọng thì kể cũng lỗ lã cho chị quá. Chị hy sinh nhiều thứ để cuối cùng cá nhân chị được bù đắp điều gì? Gia đình chẳng còn ai ngoài tôi, thằng em út chưa bị chiến tranh lôi kéo nhập cuộc, lí lịch sạch như một cuốn vở trắng. Nó không có tiền của vật chất, nó chỉ giàu sụ nỗi ngờ vực hoang mang. Nhen nhóm trong lòng tôi niềm trắc ẩn, gần như thương hại chị. Nỗi niềm đó đánh giạt phần nào sự ác cảm luôn mọc trong tiềm thức mỗi khi tôi nghĩ tới kẻ đến từ phương Bắc. Có đêm ngủ sâu giấc mộng mị tôi thấy Hà Nội được giải phóng, nhìn rõ cuộc đời chị Cúc đang rẽ sang bước ngoặt mới. Chị thơ thẩn bên hồ Hoàn Kiếm, dừng chân ở cầu Thê Húc mà mùa thu đang vờn gió nhẹ trên vạt áo dài may tay raglan thêu thùa hoa lá công phu. Chị uốn tóc, tô son kẻ mày và lấy được ông chồng… tư sản mại bản.

Tôi đứng lạnh run trước cánh cửa đóng chặt. Tôi đã thử gõ lên đó, từ tốn, cấp bách, dồn dập nhưng chẳng có kết quả. Tần ngần, tôi thu hai tay vào túi quần, đi nép sát mái hiên tránh mưa để tới bên một cái tủ bán thuốc lá có che bao ny-lông nằm nhô ra cách đó hai căn.

– Lấy cho anh mấy điếu thuốc.

Đứa nhỏ bán hàng ngó tôi như ngó thằng chuyên môn đi cướp giật. Nó ngồi thu lu, hai đầu gối cao tới mang tai.

– Đưa tiền đây. Thuốc gì? Bao nhiêu mới đủ mấy điếu?

Tôi nói tên một loại thuốc đen và trao vào tay nó tờ bạc nhàu nát.

– Em biết chủ nhà bên đó không?

– Con mẹ Cúc bộ đội hả? Ai mà không biết?

– Ừ. Con mẹ bộ đội tên Cúc. Tôi lập lại chậm rãi từng chữ. Miệng tôi đắng và Huế chưa hề cho tôi niềm vui nhỏ từ hôm tôi xuống tới bến xe. Thành phố ghẻ lạnh, dù tôi xa nó chưa bao lâu. Tôi thực sự là đứa con hoang, với tất cả những thành phố, không cứ là Huế thiết thân. Đứa nhỏ trao thuốc và vui vẻ loan tin:

– Giờ ni thì mụ ta có mặt dưới rạp chiếu bóng Khải Hoàn chứ mô có ở nhà. Bộ muốn tìm mụ Cúc hả? Dưới đó đang chiếu phim thần thoại của Liên-xô, tha hồ mà nghe mụ ấy thuyết minh kể lể chuyện hoang đường.

Tôi thắp một điếu thuốc. Buồn miệng chỉ biết hút, bởi chẳng thể kiếm được thứ gì để đút vào mồm. Lạ một điều là khói thuốc có thể giúp người ta cưỡng chống cơn đói, hoặc khi ngậm điếu thuốc, môi bận bịu, người ta sẽ bớt phát ngôn linh tinh. Con bé này có ngày tai ương sẽ đón đầu nó bởi nó có vẻ luôn ngứa miệng, ăn quàng nói xiên. Tôi thu cất những điếu thuốc vào chỗ khô ráo nhất trong người rồi cắm đầu chạy dưới mưa. Rạp Khải Hoàn kia rồi. Nó không thay đổi gì ngoài bề mặt ngoại trừ bất ngờ dung nạp thêm chị Cúc vào làm việc bên trong. Chuyện gì đã xẩy tới với chị để khiến giờ này chị phải thuyên chuyển công tác về làm cho cái rạp chiếu bóng cũ kỹ này. Tôi không tin là nhà nước thanh lọc lại cán bộ để phát hiện ra cái lý lịch “đen tối” do gia đình ở trong Nam ảnh hưởng đè nặng tới chị. Hai chị em đã có lần bất đồng ý kiến khi tôi điền bản tự khai trong tờ đơn đi xin việc với sự hướng dẫn của chị. Lần đó, chị hỏi:

– Kể chị nghe, vì sao mẹ chết?

– Bị bệnh ngặt nghèo. Năm 72 tụi này đưa mẹ đi nằm hai ba bệnh viện điều trị, xoay xở mãi vẫn không qua khỏi.

– Chắc không?

– Việc gì phải dấu chị điều đó?

– Thôi, như thế này nhé, ngang đây em cứ ghi bị chết vì bom đạn của Mỹ Ngụy trên đường sơ tán từ Quảng Trị vào Huế.

– Sự thật thì bao giờ cũng hơn. Vả lại có những điều không đáng để mình ngụy tạo.

– Sao là không đáng? Nghe lời chị đi. Em sẽ phải tìm ra một công việc thích hợp. Chế độ này ai cũng lao động cần cù…

Sau đó câu chuyện dẫn dắt tới một cuộc cãi vã nặng nề mà tôi là kẻ thua cuộc. Tôi dong hai tay đầu hàng cho chị khỏi mắng tôi bị “chúng nó” tiêm nhiễm tư tưởng phản động. Tôi buồn chán cuộc sống mới, tôi vơ một đống đồ kỷ niệm trong gia đình mang vào chợ trời bán đổ bán tháo. Tôi bỏ Huế, tôi đi bụi đời và tôi đi một mạch vào tuốt Nha Trang.

Lòng thù hận của con người thật khó hiểu, đã đành, sợi giây nối kết tình ruột thịt của chúng tôi thì sao? Gặp lại nhau lần thứ hai này, chị Cúc sẽ có thái độ nào? Tôi không biết. Xui cho tôi quá, lý ra giờ này tôi ngồi trên ghe và xa xăm ngoài trùng khơi là vùng đất của tự do, con người ở đó sẽ nhân đạo đưa tay cứu vớt chúng tôi, họ chẳng mấy thiện cảm nhưng họ ái ngại, thương hại cho lũ người bị chủ nghĩa cộng sản bức hại tận đường cùng.

Tôi đứng xếp hàng và mua một cái vé với giá rẻ nhất. Bán vé là gã đàn ông có vẻ kháu ó. Nhìn quanh, công nhân viên toàn là phái nam, họ làm việc chẳng mấy hứng thú, tuồng như bị bắt buộc, miễn cưỡng. Không riêng tôi, trông họ cũng đang đói rét. Cái ưu việt của giai cấp vô sản là chúng tôi không có hố sâu cách biệt: Xanh mét. Thèm ăn. Thèm ngủ. Tự mình đánh thắng những thèm muốn viễn vông khác. Thúc thủ!

Hơi ấm trong rạp mơn trớn vào da thịt khiến dễ chịu. Ngược lại, nhiều ngọn đèn không chịu “cần kiệm” đồng loạt thi đua mức độ ánh sáng chiếu vào những khẩu hiệu giăng đầy tường làm tôi choáng váng. Mọi thứ dùng để trang hoàng trong rạp chiếu bóng khiến nó biến đổi gần thành một tòa án, chỉ thiếu quan tòa, chỉ thiếu vành móng ngựa. Con người ngồi không yên chỗ kia thảy đều là tội đồ. Không phải sao? Đã là người thì ai mà chẳng tạo nên lỗi lầm!

Chỗ ngồi có ghi số trên tấm vé nằm sát lối đi vào phòng vệ sinh. Mùi hôi khai luôn xô đẩy ra từ sau tấm màn vải lem luốc treo thế cánh cửa, và ở vị trí này người ta thường giễu bằng cụm từ: Bắt tay với tài tử. Con bé bán thuốc lá quảng cáo có thể đúng, phim hấp dẫn không mà người đi xem cũng khá đông. Và khán giả thích thú với loại thần thoại hoang đường thì xem chừng cũng hơi khác thường. Họ dễ tính và cởi mở ra mặt, hơi bị vô tư. Một tên thanh niên cỡ tuổi tôi ngồi ghế bên lân la gợi chuyện:

– Phim ngộ lắm nghe. Tui coi lần này là lần thứ hai… Thiệt tức cười…

Giọng nói khan. Thứ giọng của người thường đến cửa quan kêu gào nỗi oan ức, hoặc của tên chuyên bán thuốc xổ sán mãi-võ-Sơn-đông mà ta thường bắt gặp ở những bến xe. Khản tiếng giống ông mù biết xuống sáu câu quanh quẩn những tụ điểm ăn nhậu. Khàn đục tựa tiếng rao của thằng bé bán bánh mì nóng mới ra lò. Có thể ca sĩ chuyên nghiệp cũng có thứ giọng đó, bởi người ta bảo: Tiếng hát át tiếng bom.

– Tui để ý rồi đó, trong phim của Tiệp, Hung, Ba Lan, Liên-xô không bao giờ mình trông ra bóng dáng một thằng “Tây đen”. Họ kỳ thị dữ lắm chứ không giỡn chơi đâu nghe.

Tôi ngó hắn bằng nửa con mắt, có nghĩa là nhìn mà không cần phải quay đầu. Tóc hắn lởm chởm, ướt nước mưa. Đã có tên thợ hớt tóc nào cố tình chơi khăm vọc dao vọc kéo lên đó để tiả thành lông lá một con nhím đang tới hồi bệnh hoạn. Ở khuôn mặt coi rất tếu đó luôn nở sẵn nụ cười ngây dại. Nụ cười của một người già trước tuổi, bao dung với những nghịch cảnh luôn tìm đến.

– Bỏ ra về nửa chừng là mang tội đó nghe. Tức cười thiệt. Phim hay ai lại dại dột chẳng muốn coi?

Như ngồi trên lửa, hắn ta luôn loay hoay trong phạm vi cái ghế gỗ chật hẹp. Khi ngả đầu vòng tay trước ngực, khi chồm người tới lấy móng tay khảy lên đường nứt trên lưng ghế trước.

– Tụi nó phá cho hư hỏng ra cả. Ba tui mà thấy được chắc ổng buồn lắm…

Tôi ngoái đầu lui dáo dác nhìn lên lầu, may ra bắt gặp bóng dáng chị Cúc đứng đâu đó gần buồng chiếu phim.

– Sốt ruột hả?

Tôi mỏi mệt tới độ không gióng lên được một tiếng: Ừ. Phải chi hắn ngồi yên, hắn bớt phát thanh, và rồi tôi có thể chợp mắt một khoảnh khắc.

– Thời đó ba tui luôn tôn trọng giờ giấc. Nói năm giờ là năm giờ chiếu, nói bảy giờ là đúng bảy giờ, không chơi trò linh động co giãn kiểu giây thun. Ba tui mà còn làm chủ, ổng chửi mấy thằng ni cho nát nước… Anh biết ba tui không?

Tôi buồn miệng muốn hút một điếu thuốc nhưng bảng nội quy “làm chủ tập thể” đã ngăn cấm. Thằng cha cà chớn này nhiều chuyện tới độ mình phải ngứa miệng:

– Ba của tôi thì làm tới giám đốc hãng xuất nhập cảng phim ảnh mà giờ này tôi thèm hút thuốc cũng phải ngồi bó tay ngáp ruồi thôi. Ở đó mà nói hoài!

Hắn sững mặt nhìn tôi giây lát, xong lại gầm đầu xuống như suy nghĩ việc gì đang rối bung. Tôi muốn bỏ hắn mà đi vào nhà vệ sinh hút chùng lén một điếu thuốc nhưng đèn trong rạp đã tắt ngúm. Giọng ai đó nói trong máy phóng thanh nhắc nhở bà con thể hiện nếp sống văn minh, giảng giải một hồi công lao thần thánh của Đảng và nhà nước đã mang lại sự quang vinh ngày hôm nay, người thôi bóc lột người, quê hương sạch bóng quân xâm lược…

Tôi rất sợ hãi, mà cái thằng ưa nói “tức cười thiệt” ngồi bên cũng đang thu nhỏ người lại, co quắp như bị trúng gió. Tôi cố tập trung đầu óc nghĩ tới một chuyện thật “đồi trụy”.

Tôi nhớ lại căn nhà dùng làm chốn ẩn náu trước khi ra “taxi”. Khi vượt biển, người ta phải dòm lịch để biết chắc đó là một đêm không trăng sao. Càng tăm tối càng tốt, càng ra đi trong khuya khoắt càng an toàn. Khuya khoắt, “taxi” chưa tới, tôi dóng tai nghe có tiếng động sau vườn cây đặc quánh mực xạ. Cửa sổ mở hé và một đôi nhân tình đang cho tôi xem xuất phim “hiện thực hoang đường” mà họ diễn rất đạt. Cặp ấy là hành khách đi chung chuyến ghe với tôi, họ từng bày tỏ cử chỉ âu yếm với nhau khi trời sáng và tối tăm thì họ làm chuyện đáng làm. Da thịt cô gái là điều gì đáng phàn nàn, bởi lẽ nó trắng quá, trắng tới độ phát quang. Đôi vú cô ta là cái đáng lên án bởi nó tròn trịa quá, nó phồn thịnh và căng cứng là chuyện hiển nhiên. Khi ngắm nhìn, kẻ ngoại cuộc buộc phải ganh tức với thằng con trai đang ra sức làm “taxi” mang cô gái tới bến bờ hoang lạc. Hắn hôn cô gái cùng khắp, gục đầu tóc rối xuống cụm lông mọc giữa hai chân người tình. Họ sướng, tôi biết chắc về điều đó, nhưng họ cố nén tiếng rên la. Và kiến, và muỗi trong vườn khuya sẽ có một buổi liên hoan phủ phê bữa tiệc máu. Tôi cũng có người yêu, nhưng cô ta đã vất tôi lại giữa đời sống cô quanh này để đi tìm ánh sáng cuối đường hầm. Giới hạn cuối mà người yêu dành cho là tôi chỉ được phép cầm tay và hôn vào môi thôi. Cấm “lấn đất dành dân” đi hoang tới vùng cấm địa. Tuy vậy tôi cũng biết tới mùi vị đàn bà, Vân đã dắt tôi đi chơi đĩ gọi là xả xui trước khi vượt biển. Người đàn bà đáng tuổi chị đã không thẹn thùng cho tôi ngắm “đầu mình và tứ chi”, cho tôi sờ mó và sau cùng dắt tôi đi lâng lâng tới tuốt vườn địa đàng. Thằng nhỏ khóc, tôi khóc. Người đàn bà mặc lại áo quần: Chớ nói là tôi phá nát đời trai của cậu nhé!

Tên có đội con nhím trên đầu thúc tay vào một bên hông làm tôi hoàn hồn:

– Thằng phi ngựa kia sẽ mang tên Du-ri-lốp-cốp. Để xem có đúng không?

Màn ảnh đang trình bày một bầu trời đỏ quạch như màu gạch nung, bóng một kỵ sĩ cưỡi ngựa trắng chạy vụt qua, vó câu rầm rộ cuốn theo cát bụi mù mịt. Giọng chi Cúc trỗi lên, trôi mơ hồ như từ rừng sâu vọng ra. Tôi không nhầm lẫn. Nó đặc biệt vì nó pha trộn ô hợp khi thì Huế, khi thì Hà Nội, lúc khác lại Nghệ An. Ông thủ trưởng nào cũng sáng suốt khi thu nhận chị về làm người thuyết minh phim. Một con vẹt tài giỏi ở trong gánh xiếc chắc phải bay tới chị để… ”đi thực tế”. Tôi mường tượng chị đang ngồi trên cái ghế đẩu thô cứng, ly nước lạnh đặt cạnh, một ngọn đèn mờ chiếu xuống đỉnh đầu; tay chị nắm chặt xấp giấy có ai viết sẵn và mở miệng ê a: “Ở vào cái thuở mà bầu trời thấp xuống và con người có thể đưa tay lên sờ mó được, mọi sinh vật tranh sống dưới ánh sáng khắc nghiệt của mặt trời, văn minh của loài người chỉ sản sinh ra chế độ sống bộ lạc… Chàng Yu ri Sê cốp luôn hoàn thiện những sứ mạng bằng chính sức mạnh…”

Thằng cha cà chớn ngồi cạnh há miệng cười hô hố. Hắn hay nói chữ “tức cười thiệt” và hắn sẵn lòng thực hiện cụ thể bằng hành động. Tôi chẳng thấy có gì đáng cười cả. Tủi hổ và thương hại thì có. Theo quy luật tự nhiên, thời đại đồ đá sẽ dẫn tới thời kỳ đồ đồng. Cớ sao những người chiến thắng lôi kéo chúng tôi từ thế kỳ này trở về sống lại thế kỷ trước. Từ bỏ phố phường sáng điện về thắp đuốc trong hang động để rồi lại mơ mộng phấn đấu cho bằng được: Không phải chỉ ăn no mà còn mặc đẹp. Mọi nhà tất yếu phải có Ti-vi, tủ lạnh…

Thằng “tức cười thiệt” bị xô đẩy vào góc tường. Mặt hắn tái mét, hai bờ môi run run. Có tiếng người nạt nộ:

– Mày muốn chạy trốn đấy phỏng?

– Chạy chớ. Độc lập tự do muôn năm mà…

Hắn nói không hết câu. Má hắn hằn đỏ năm ngón tay, miệng rỉ máu. Tôi thấy mắt hắn ứa ra những giọt nước.

– Đéo mẹ cái phường phản động này. Ngoan cố cứng đầu hả?

Hắn ôm mặt khóc hu hu:

– Ba ơi ba, cứu con với!

Một ông mặc sắc phục công an đến phụ hai người ăn vận đồ thường dân.

– Trói dẫn thằng này về đồn cho tôi. Thành phần phá rối nguy hiểm.

Kẻ mặc thường phục nói, quai hàm bạnh ra, vẻ đanh đá. Nạn nhân trì kéo, vùng vẫy cố thoát sáu cánh tay vươn dài như vòi bạch tuộc. Những sợi tóc hắn gần như mọc lên thẳng đứng. Con nhím cũng còn biết giận dữ tự bảo vệ, huống chi…

– Cái gì là nguy hiểm với phá rối. Oan cho tui quá… Ê, ê, anh kia. Cứu em với. Anh làm chứng giùm em có ăn nói chi bậy bạ không… Trời ơi là trời! Đừng là đồng minh tháo chạy chớ, xin hãy làm phước giúp em. Ba của anh làm tới chức giám đốc lận mà, sợ chi chớ!

Tôi đi như chạy xuống khỏi những bậc thềm trơn ướt. Người tôi nhẹ hẫng và nóng râm ran. Chỉ có sau ót tụ lại một điểm ớn lạnh. Nếu bị vây bủa tôi sẽ không bao giờ được như thằng Yu-ri sê-cốp, bởi giản dị tôi chẳng có một thanh kiếm nắm chặt ở tay. Và bầu trời, lạy Chúa, nó muôn đời là cao xanh, làm sao tay người có thể đưa tay ra sờ mó được.

– Đứng lại.

Bờ vai bên phải đau điếng. Tôi từng đi gánh nước, mỗi đầu là cái thùng nhôm chứa đựng bốn mươi lít, cái đòn gánh bằng tre cứng đờ không làm đau vai bằng năm ngón tay của ông bạn dân đang bấu víu kềm kẹp. Tôi co rúm người lại không hẳn vì trời mưa chăm chỉ nhỏ nước, tôi nghĩ tới tờ giấy đi đường mỏng manh gấp làm tư ẩn trong túi quần với con mộc đóng dấu hình ngôi sao le lói: “Yêu cầu các cơ quan liên hệ dành dễ dàng cho đương sự sớm hoàn thành công tác”.

Tôi không có tay để vuốt mặt. Mưa ràn rụa rơi, xuống tóc, trên hàng mi. Cảnh vật nhòe đi dưới mắt tôi, nó mông lung thoạt gần thoạt xa như hình ảnh cuối cùng được thu vô đồng tử của một kẻ bị sẩy chân chết đuối. Tôi thử vùng vẫy “bơi” loạng quạng.

– Mưa như thế này mà bỏ đi xăm xăm, kêu chả hề đứng lại. Mày là đồng bọn với nó chứ còn gì nữa?

Tay tôi bị khóa cứng lui sau. Phải chi đêm đó mình bị tóm ở Nha Trang. Không gì dễ chịu bằng khi bạn bị mang bản án “Phản bội tổ quốc”. Nó nhẹ nhất so với những tội danh khác của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật sư sẽ biện hộ: Tha cho nó đi, thưa qúy tòa, thân chủ tôi bị chứng liệt dương, tìm đường trốn qua Mỹ chỉ mong chạy đúng thuốc để sớm được phổng phao.

Mưa bôi xóa hết. Tự cổ chí kim, mưa Huế vẫn vô địch cái khoản làm thúi đất. Nhưng trong phút giây, mưa đã nhượng bộ, giữa xóa nhòa mọi hình tướng của vật thể, nó không bôi được dáng đứng một người: Chị Cúc. Chị đứng ở bực thềm, biên giới giữa ướt át và ráo khô. Chị đứng với lẻ loi ngọn đèn vàng treo từ tấm panneau rọi hắt xuống một vũng màu. Chưa bao giờ chị Cúc mang được cái nhan sắc đẹp lạ lùng đến vậy. Sự khả ái dường như biết phát hào quang.

Tôi bắt chước thằng “phá rối trật tự” kia:

– Chị Cúc, cứu em với. Chị Cúc… là em đây… Chị Cúc… em bị bắt oan.

Nước mưa có khi rất mặn, người ta có biết điều đó không?

– Nó là em tôi. Đã có chuyện gì xẩy ra vậy?

– Cô là ai?

– Công nhân viên của liên doanh chiếu bóng tỉnh Bình Trị Thiên. Đảng viên… Có bằng nghiệp vụ từ Liên-xô… Biên chế năm…

Có thể do thói quen nghề nghiệp, chị Cúc thuyết minh một hơi dài. Chữ chị dùng thì lúc nào cũng gồ ghề, gây ấn tượng, nhưng chị “dọa” lộn người rồi. Thằng công an nếu biết được ba chữ “tức cười thiệt” thì hẳn nó đã nói.

– Rảnh thì về đồn công an làm tờ khai. Hãy để cho tôi thi hành công tác bảo vệ trị an.

Tôi bị lôi đi cùng thằng con ông chủ rạp chiếu bóng bị nhà nước tước đoạt. Chúng xâu hai đứa tôi lại bằng một đoạn dây thừng. Nếu là trâu, có lẽ người ta đang dắt hai đứa ra đồng, mặc dù đang chiều, cho kịp vụ mùa. Liên tưởng là trâu, bởi lẽ tôi đang có rất ít chất xám, tôi ngu si, đần độn và tôi chẳng thắc mắc về điều thiệt thòi đó. Trong tôi mọc lên chỉ một ý nghĩ: Chị Cúc có thông minh không? Nếu thông minh, chị sẽ bảo: Anh xem tôi là thành phần nào mà đi liên hệ với phường phản động kia?

– Em yên tâm. Hãy bình tĩnh đi theo họ. Chị sẽ nghỉ việc ở xuất chiếu tới để đến với em. Chị không tin là bao nhiêu năm phục vụ Đảng và nhà nước như chị đây lại không giải được tội oan cho em. Hãy tin chị, cũng như chị đã tin em.

Chị nói, qua màn mưa nghe như tấm tức, như nhão mềm úng thủy. Tôi ngó lui, chị đã bước ra tới lề đường, đội mưa dõi trông theo. Tay chị không bị ai trói nhưng trông chị bứt rứt vụng về như chỉ chực vứt bỏ nó đi. Đầu tóc chị xổ tung ra mặc mưa gội tắm. Phút giây đó, mặt chị có nét giống mẹ tôi. Xanh xao, hoảng hốt, muôn đời chân yếu tay mềm. Bột màu vẽ trên khung vải quảng cáo phim “Thiên đường hạ giới” bị trôi, hoen ố, rồi chảy xuống nhuộm đỏ khoảng xi-măng đang chôn chân chị Cúc.

Sau tất cả những đổ vỡ, tôi rất tin vào cái còn lại: Tình người. Nhất là thứ tình ruột thịt. Tôi hy vọng, một ngày rất gần, chị Cúc sẽ đọc dịu dàng giọng Huế đoạn thuyết minh cảm động: “Ở vào thế kỷ hôm nay, thời điểm này, tình cảm con người bộc lộ cho nhau nó tràn ra quanh mình và ta có thề đưa tay sờ mó cất dấu làm của riêng được”.

Tôi bước vào đồn công an. Cánh cửa đóng lại. Mưa tự do rơi bên ngoài, ướt nghe ngói một Huế điêu linh.

Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 25 Aug 2014 by quanvan.net 

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Bài 6

Giang Thành Dạ Cổ

Hà Tiên thập cảnh gồm có:

1)-Kim dự lan đào

2)-Bình san điệp thúy

3)-Tiêu tự thần chung

4)-Giang Thành dạ cổ

5)-Thạch Động thôn vân

6)-Châu nam lạc lộ

7)-Đông hồ ẩn nguyệt

8)-Nam phố trừng ba

9)-Lộc trĩ thôn cư

10)-Lư khê nhàn điếu

            Trước khi kể chuyện mật khu Trà Tiên, xin nói qua một chút về đất Hà Tiên. Chỉ một chữ Tiên thôi, người ta cũng đoán rằng có gì liên hệ giữa Hà Tiên và Trà Tiên?

            Hà Tiên là nơi mấy bà tiên xuống tắm ở bến sông? Có lẽ ông Mạc Cửu hay đệ tử của ông bày chuyện ra để đặt một cái tên nghe cho hay, chớ đi khắp Hà Tiên, đố ai tìm được một con sông! Đó là vùng đất cao, không hẳn có nhiều núi như ở xã Thuận Yên, bên nầy Đông Hồ, trên đường Rạch Giá đi Hà Tiên. Mấy năm quân đội Việt Nam Cộng Hòa hành quân tấn công Việt Cộng bên Miên, công binh có bắt một cây cầu nổi từ Thuận Yên sang thị trấn Hà Tiên để việc chuyển quân và tiếp tế được mau lẹ, dễ dàng.

            Nói sơ về lịch sử (độc giả thông cảm, tôi là người dạy môn lịch sử ở bậc trung học, không phải là nhà nghiên cứu gì cả, và tôi cũng không dạy gì có liên quan tới ông Mặc Cửu cả) thì xứ Hà Tiên, trước thế kỷ 18 là vùng đất thuộc Miên. Trước nữa, lâu lắm là đất của nước Lâm Ấp, nước nầy có một nền văn minh khá cao, sử gọi là văn minh Ốc-Eo, (Một khu vực thuộc Long Xuyên ngày nay). Người Khmer cướp đất của Lâm Ấp khi nước nầy rụi tàn. Cướp đất của người ta nhưng người Miên cũng chẳng làm gì để cho vùng nầy khá lên.

            Trước khi có tên Hà Tiên, có lẽ nó có vài ba cái tên gì đó, tên Lâm Ấp hay tên Miên, tôi không biết và cũng chưa đọc sách sử nào nói tới. Tên Miên, ở vùng nầy, nếu còn lại thì cũng chỉ một vài nơi, vài người mà thôi. Ví dụ sát biên giới Việt Miên, có một ngôi chùa Miên lớn lắm, tên là chùa Xà Xía (tên Miên). Chùa của ông đại đức Công-Xa-Phan (cũng tên Miên). Ông nầy quản lý về đạo Phật của người Miên kể từ bên phía Miên, phía Kampot tới Sóc Trăng.

Ông đại đức Công-Xa-Phan tuy còn trẻ nhưng có nhiều cái hay, sống đơn giản, có xe hơi nhưng đi đâu cũng nhờ người ta chở đi bằng xe Honda cho tiện, ai tới nhờ cậy gì ông cũng ừ, lại cất công đi xin giùm. Sau 1970, chiến tranh bên Miên càng ngày càng dữ, dân Miên chạy loạn tới dựng lều tạm trú quanh chùa ông, ông cấp phát quần áo, gạo mền rất đàng hoàng. Dân Miên qua Việt Nam, không giấy tờ, đi lớ ngớ, bị bắt, ông đi xin cho họ được tha. Người có của (thường là vàng, đồ trang sức, và hồng ngọc, – một sản phẩm của Miên), sợ bị mất, gởi cho ông cất giùm, ông cất giữ rất cẩn thận. Biết ông là người có uy tín với dân chúng, chính quyền miền Nam tôn trọng ông, giải quyết những gì ông xin xỏ hay can thiệp. Trong chiến tranh, Việt Cộng cũng không đụng gì tới ông vì đụng tới ông, không có lợi. Tới 30 tháng Tư, Việt Cộng thấy sự có mặt của ông ta thêm “phiền”, bèn cho ông ta đi … “học tập cải tạo”. Ông cũng tưởng là “học tập” thiệt nên vui vẻ ra đi, “học” 5 năm mới được “tha ra khỏi trại cải tạo.” Ông cũng ngây thơ, nói với một người quen của tôi nhà ở gần cổng Tam Quan, cửa ngõ thị xã Rạch Giá: “Học tập mãn khóa thì về, sao lại có câu “tha ra khỏi trại cảo tạo?” Ông không hiểu được… Việt Cộng, có phải vì ông là người Miên. Không chỉ ông, cũng lắm người Việt không thể hiểu được Việt Cộng, nếu chưa từng “…ai có qua cầu”. Không ở được ở Việt Nam, ông vượt biên qua Thái Lan.

            Khi ông được cho đi “học tập”, tài sản tín đồ gởi ông cất giữ, Việt Cộng “giữ giùm” hết. Vậy cũng còn “khoan hồng nhân đạo” hơn so với bọn Pol Pot. Dân Miên ở chùa Xà Xía cũng hú hồn.

            Thấy ông là người hiền từ, hay đi đây đó, lại đệ tử đông nên tôi thường đến thăm ông để kiếm… tin tức. Đúng ông là người thật thà, thấy sao nói vậy, biết sao nói vậy, nhưng vì ông là người tu hành nên chẳng biết gì về… tình hình địch. Tôi có cái lợi khác, người Miên biết tôi với ông hay chuyện trò với nhau, nên không ngần ngại gì khi tôi nói chuyện với họ, qua đó tôi cũng biết vài điều hữu ích cho công việc của tôi.

            Có hai lần tôi lên chùa Xà Xía ăn với ông trong dịp vía Phật hay lễ tết gì đó của Miên. Chùa Miên không ăn chay, họ ăn mặn và người nấu ăn cho đại đức là cô chủ một hiệu ăn ở Rạch Giá. Vậy thì món ăn nấu theo kiểu Việt Nam, không phải kiểu Miên, không có mắm Bò-hóc. May phước!

Có lần ông ta đến thăm tôi, cho tôi một cái nanh heo gởi. Ông kể là hồi còn trẻ, ông qua tu ở bên Lào và được cái nanh heo gởi. Con heo rừng khi già, cái nanh heo mọc dài ra, đâm lên hàm trên, làm cho con heo đau lắm. Nó tìm một gốc cây, cắn mạnh vào thân cây, vặn đầu cho cái nanh heo gãy ra, không còn đâm vào hàm được nữa. Cái nanh heo mắc vào thân cây, gọi là “nanh gởi”, linh lắm. Ai đeo vào tránh được súng đạn.

Được cái nanh, tôi khoái chí kể cho một người bạn thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh nghe. Anh bạn nói: “Năm ngoái, tôi yểm trợ cho một đại đội của Lon Nol vào mục tiêu ở Kompong Trach. Trước khi tấn công, thằng đại đội trưởng cũng lấy cái nanh heo, đọc kinh, rồi ngậm cái nanh heo vào mồm mà chỉ huy. Chỉ một lúc, tôi thấy thằng đại đội trưởng bị bắn toác họng mà chết. Ông cứ tin là tôi nói thiệt đi!”

Câu chuyện của người bạn làm tôi mất hứng về chuyện cái nanh heo của ông đại đức Công-Xa-Phan cho. Nhưng rồi vợ tôi cũng đem cho thợ tạc thành tượng một ông Phật, cùng làm sợi giây chuyền để tôi đeo vào cổ. Ngày “trình diện đi học tập cải tạo”, tôi để tượng Phật ở nhà. Bị đánh tư sản, vợ tôi hoảng hồn không biết để cái nanh heo thất lạc về đâu? Đến khi tôi đi “tù học tập” xong, cũng được “tha ra khỏi trại cải tạo” như ông Công Xa Phan, thì ông đại đức hiền hậu của tôi đi một đường, cái nanh heo ông cho lại đi một nẽo. Đó cũng là một chuyện buồn trong cuộc đời nhiều buồn hơn vui.

            Trở lại chuyện ông Mạc Cửu; ông là người Tàu Quảng Đông, theo phái “Diệt Thanh Phò Minh” nhưng thất bại nên chạy qua Việt Nam như người Tàu Minh Hương hoặc Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài vậy. Mạc Cửu không ghé đất Sài-Côn (Saigon năm xưa) như hai ông vừa nói mà xuống tuốt Hà Tiên. Có lẽ trước đó, ông cũng ghé lại chầu chúa Nguyễn ở miền Trung. Bấy giờ chúa cũng cần người khai phá vùng đất hoang ở Nam Bộ, vả cũng không muốn một ông Tàu có đủ binh tướng ở sát bên mình, kinh lắm, tai họa đến dễ như không nên cho ông vào Nam.

            Mạc Cửu đến Hà Tiên và mở sòng bài, trở nên giàu có. Có tiền và có binh lính, ông bình định cả vùng Hà Tiên, tới gần Rạch Giá (Vùng Lình Quỳnh). Xong, ông đem vùng đất nơi ông cai trị và mở mang mà dâng cho chúa Nguyễn. Chúa mừng lắm và đãi ông vào hạng “Khai Quốc Công Thần.”

            Những năm Việt Nam và Xiêm La giành nhau cai trị Kampuchia, vua Campuchia qua lánh nạn ở Hà Tiên. Để tránh hậu họa, Xiêm La bèn đem quân đánh phá Hà Tiên. Bấy giờ Mạc Cửu đã qua đời, con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, đánh bại quân Xiêm, đuổi chúng ra khỏi nước. Thành ra cả hai cha con ông đều có công lớn với chúa Nguyễn nói riêng hay với nước ta nói chung. Trước 1975, lăng mộ hai cha con vẫn còn, nằm bên sườn đồi, ngó xuống biển, rất đẹp và hùng vĩ. Ngày nay, dòng họ Mạc ở Hà tiên không còn ai, coi như tuyệt tự, lăng mộ không biết còn mất như thế nào?!

            Biết chuyện ông Mạc Cửu mở sòng bài làm giàu, tôi cứ suy nghĩ hoài. Vùng đất Hà Tiên trở nên giàu có là về sau nầy, kể từ khi Tây qua cai trị nước ta, chứ trước đó, xứ nầy có tài nguyên gì đặc biệt đâu, ngoài nghề đánh cá biển, nuôi đồi mồi. Ruộng rẫy thì ít, không có đồng chó ngáp hay ruộng cò bay thẳng cánh. Nhờ ở vào địa thế biên giới Việt Miên, nên việc buôn lậu phát triển, chẳng hạn như sau Hiệp Định Paris 1973, việc giao thông trên Liên Tỉnh Lộ 80 Hà Tiên – Rạch Giá trở nên tiện lợi, nên hàng lậu từ Thái Lan tới Hà Tiên rồi chuyển lên Saigon ì xèo, việc buôn bán ở Hà Tiên rất phát đạt, nhiều người giàu có và cũng không ít người trở thành nạn nhân của bọn buôn lậu, kể cả mạng người.

Mua hàng trả bằng vàng. Vàng và máu lộn vào nhau giống như trong tiểu thuyết trinh thám Vàng và Máu của Thế Lữ. Người đáng thương nhứt chính là đại úy Thành, cựu đại úy Nhảy Dù, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Hà Tiên, vì cần mẫn với nhiệm vụ nên bị bọn buôn lậu + Việt Cộng + Khmer Đỏ + Khmer Lon Nol phục kích bắn chết ở ấp Việt Nam 1, Hà Tiên. Chuyện nầy không nói không được nhưng xin kể lại sau.

            Xứ sở không giàu, vậy tại sao ông Mạc Cửu, như người ta nói, mà sách sử cũng ghi vậy, ông ta mở sòng bạc mà giàu.

            Dễ hiểu thôi, cứ đi với dân, vào với dân, nghe dân nói, dân kể chuyện, hiểu ngay.

            Vùng vịnh Thái Lan là vùng nổi tiếng cướp biển mấy trăm năm nay, trước cả thời kỳ người Bồ, người Hà sang buôn bán ở Châu Á, Đông Nam Á nầy. Bây giờ cũng là vùng cướp biển nổi tiếng nhứt thế giới, hung bạo nhứt thế giới.

            Người dân Hà Tiên cố cựu, – không riêng gì ở thị trấn Hà Tiên mà nguyên cả vùng chùa Hang,  Hòn Chông, Vàm Rầy, Lình Quỳnh thuộc tỉnh Hà Tiên cũ, thời Pháp thuộc, cũng có người kể cho tôi nghe chuyện cướp biển ngày xưa. Bọn cướp biển khi giàu có, không đem của về xứ được – Phần đông là người Tàu gốc đảo Hải Nàm, nổi tiếng đi biển giỏi – bèn chôn dấu tài sản ở các hòn đảo hoang trong vịnh Thái Lan như hòn Lại Sơn, hòn Tre, hòn Đầm, hòn Nghệ (hòn Minh Hoa), hòn Heo, hòn Ngang, v.v… Khi giải nghệ, vì già hay vì chán cảnh đâm chém, dân hải tặc nầy không dám về xứ, tụ tập ở vùng Hà Tiên, lấy vợ, sinh con và cũng có sẵn của tiền để đi đánh… bạc. Chỉ có đám hải tặc giải nghệ nầy mới có nhiều tiền để cờ bạc, và cũng nhờ đó mà ông Mạc Cửu mau giàu.

Chuyện gì chớ nói tới việc buôn bán thì tất cả nhân loại nầy đều thua người Tàu, như ông Lã Bất Vi, còn buôn cả vua, huống chi với đám hải tặc nầy, Mạc Cửu lấy tiền của chúng dễ như không! Nói chuyện nầy với mấy cụ già đất Hà Tiên, họ cho rằng tôi nói có lý đấy. Đây cũng là vấn đề lịch sử, xã hội; hy vọng ngày sau các nhà nghiên cứu lịch lịch sử sẽ không bỏ qua.

            Ở Hà Tiên còn có dòng họ Lâm (Họ Lâm và họ Mạc là hai họ lớn nhứt hồi xưa ở đây) nay cũng chẳng còn ai. Họ Mạc thuộc võ tướng, họ Lâm thuộc văn học, ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác là một nhà thơ nổi tiếng hồi đầu thế kỷ 20. Năm 1945, ông sợ Việt Minh, chạy lên Saigon, ở miết trên ấy, dòng tộc nay chẳng còn ai!

            Ông Đông Hồ có tập “Hà Tiên Thập Cảnh”, xuất bản khoảng đầu thập niên 60, tôi không nhớ chắc, có mười bài thơ tả 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên. Mười cảnh đẹp đó là hòn Phụ Tử (Nay Phụ chết rồi, chỉ còn có Tử mà thôi). Có người bạn, khi nghe tin hòn Phụ bị đổ, nói với tôi: Phụ của bọn chúng đổ rồi thì chúng chỉ có tử mà thôi – Tử đây không phải là con mà là chết, Chùa Hang (chùa thờ Phật), bãi Hòn Trẹm, (trước 1975, nhiều bà lớn ở Saigon như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, v.v…  về đây giành đất để xây biệt thự, việc chưa thành thì miền Nam bị mất về tay Cộng Sản. Bây giờ muốn có đất ở bãi Hòn Trẹm thì mấy bà phải mua lại của Việt Cộng, Hang Tiền, Đông Hồ (là cái vũng biển lớn, ăn sâu vào trong đất liền), Giang Thành… Giang Thành là cái đuôi của Đông hồ, nằm trên đường Hà Tiên đi Châu Đốc, qua kinh Vĩnh Tế, có ngôi chùa, có cái trống lớn lắm. Đêm nằm ở Hà Tiên, thi sĩ Đông Hồ nghe tiếng trống chùa mà cảm tác bài thơ “Giang Thành Dạ Cổ” – Đêm nghe tiếng trống ở chùa Giang Thành – (Dạ là đêm, cổ là cái trống, tương tự như trong câu thơ của Đặng Trần Côn: “Cổ bề thanh động Tràng An nguyệt” – Bà Đoàn Thị Điểm dịch là: “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt.”

            Sau khi chiếm được đất Miên, vua Nguyễn muốn ngăn chận người Miên nổi lên quấy rối, bèn định rõ ranh giới hai nước. Đất đai hai bên liền nhau, dân nổi loạn chạy qua chạy về dễ dàng nên khi ông Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc Hầu trấn thủ vùng nầy, bèn cho đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Châu Đốc với Hà Tiên, đi ngang Giang Thành. Kinh đó là con đường phân chia hai nước Việt Miên ở vùng nầy.

            Kinh đào năm 1819, cuối đời Gia Long. Dĩ nhiên muốn đào kinh phải huy động dân chúng đi làm. Kinh khá rộng, 30 mét bề ngang, sâu chừng 5 mét, dài gần 100 cây số, ghe thuyền đi lại dễ dàng. Có lẽ hồi đó, người Việt định cư vùng nầy chưa đông; cả hai bên bờ kinh, phần nhiều là người Miên nên họ bị bắt đi “dân công” đào kinh. Người Miên chống lại việc đào kinh, dĩ nhiên. Bên nầy kinh là người Miên, bên kia kinh cũng là người Miên, có khi là bà con họ hàng, nay bỗng phân ly thành dân hai nước, ai chịu được! Vả lại, việc đào kinh không phải là việc đi du lịch mà gian khổ vô cùng, vậy nên nhiều người Miên chống đối, bằng nhiều cách khác nhau. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến người Miên ưa “Cáp Duôn” để trả thù. Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt. Từ lâu lắm, có lẽ sau khi bị mất vùng đất Khmer Krom, người Duôn trở thành cơn ác mộng của người Khmer (Miên). Trẻ em Miên khóc đêm, mẹ nó dọa “Nín đi! Coi chừng Duôn đứng rình ngoài vách.”

            Đó cũng là động lực của việc “Thổ dậy” năm 1945 mà nhà văn Lê Xuyên có thuật lại trong “Chú Tư Cầu”, “Kinh Cầu Muống”, v.v… (Tôi sẽ thuật lại việc nầy khi nói nói tới ấp Xà Ngách ở Ba Hòn và xóm Vàm Rầy của ông Chủ Ry (Henry), thân phụ “Chị” Tư Nết (tên Tây là Annette).

            Khi Khmer Đỏ nắm quyền cai trị xứ Chùa Tháp, để chống lại Cộng Sản Hà Nội, bọn chúng thường khơi dậy lòng hận thù dân tộc (Cộng Sản và Hận Thù là song sinh) giữa hai dân tộc Việt Miên. Trong cuốn sách “Brother Enemy”, ông Nayan Chanda có thuật lại việc Khmer Đỏ tuyên truyền về cái ác của “quan Việt Nam” trong việc đào kinh Vĩnh Tế. Quan Duôn bắt mấy người Miên chống việc đào kinh lại, đem chôn sống, chỉ chừa ba cái đầu làm ba ông táo, làm bếp nấu nước sôi. Lửa nóng là cho người bị chôn sống nhúc nhích cái đầu, quan Việt Nam la mắng: “Không được nhúc nhích làm đổ nước của quan.” Chuyện thật hay bịa? Cộng Sản, kể cả Khmer Đỏ, có cái gì mà không bịa (Cộng Sản và Dối Trá cũng là song sinh). Chuyện tàn ác, nếu có chăng thì cũng chỉ là “Ít xít cho nhiều” mà thôi.

            “Hồi chánh Viên Hoàng Thị Vân” kể:

            – “Từ mật khu cháu phải chèo xuống ba ngày mới về tới núi Trầu.”

            Xem qua bản đồ, tôi biết mật khu nầy, tức cục R nằm bên Miên, không thể nằm bên phía Việt Nam.

Kể từ ngày tướng Trưởng về làm Tư lệnh Quân Khu 4, ông đưa ra một chiến thuật mới để săn lùng Việt Cộng, gọi là “Chiến Thuật Diều Hâu.” Chiến Thuật Diều Hâu chỉ là việc vào tận hang hùm bắt cọp, kiểu như ngày xưa có nói trong Chinh Phụ Ngâm: “Quày ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Tàu thì gọi là “Bất nhập hổ huyệt, an đắc hổ tử”. Dịch nôm là không vào hang cọp sao bắt được cọp con.” Cách của tướng Trưởng là hễ biết chỗ nào có Việt Cộng thì cho lính từ trực thăng nhảy xuống đó. Ban đầu thả xuống một, hai toán. Hễ đụng với địch thì tăng cường thêm lính. Đụng trận lớn nữa thì đổ thêm quân. Việc nầy sẽ nói thêm về sau.

Kỷ sư Lê Hữu Phước, giám đốc nhà máy xi măng Hà Tiên, bê nguyên một két Hennessy cổ đen mà cho tôi cũng là nhờ chiến thuật nầy, do công của anh em chúng tôi mà suốt một năm Việt Cộng không dám tới đánh phá nhà máy xi măng Hà Tiên ở Kiên Lương.

            Sau nầy, khi tướng Nam làm Tư Lệnh vùng 4, ông áp dụng trở lại chiến thuật nầy. Việt Cộng sợ muốn chết, bưng nguyên mật khu qua Miên xin tạm trú, đâu dám ở bên phía Việt Nam. Vì vậy Hồi Chánh Viên Hoàng thị Vân phải chèo xuống ba ngày, bất kể ngày đêm, mới về tới quê của con nhỏ ở núi Trầu.

            Tôi hỏi:

            – “Cháu có biết cháu qua kinh Vĩnh Tế lúc nào không?”

            – “Không! Cháu không biết. Nhưng cháu có chèo xuồng qua đoạn phía trên Giang Thành. Trong mật khu có phổ biến, lưu ý khi qua chỗ nầy phải cẩn thận, dễ bị mắc cạn. Bị mắc cạn lại nhằm lúc máy bay trực thăng quốc gia tới thì chỉ có chết. Trực thăng bắn róc-két dữ lắm.”

            – “Vậy cháu đi theo đường giây 1-C.” Tôi hỏi.

            – “Cái chi? Cái chi mà Một Xê. Cháu không biết.” Nó trả lời.

            Biết là hớ, làm sao nó biết Một Xê với Hai Xê. Tôi điều chỉnh:

            – “Đường bộ đội di chuyển đó!”

            – “Không! Cháu không đi ngay đường đó, sợ gặp du kích gác đường. Cháu đi hơi xa xa một chút để tránh du kích.” Nó trả lời.

            – “Cháu không sợ lạc?

– “Sau một ngày đi theo hướng đông, cháu theo hướng khói nhà may ximăng Hà Tiên mà tới. Tới chỗ trống, cháu tìm khói của nhà máy rồi nhắm theo, chắc ăn.” Con nhỏ giải thích.

            Tôi lại hỏi:

– “Cháu không sợ máy bay?”

– “Trên máy bay, họ biết cháu chỉ có một mình, cho là dân làm đồng, họ không bắn. Vã lại cháu đi ban ngày. Họ chỉ đi ban đêm, vì đi ban ngày, qua chỗ trống, họ sợ máy bay lắm.”

Ngày nay, nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn thường nghĩ rằng, Nguyễn Tấn Dũng chắc cũng sợ xanh máu mặt mỗi khi y đi từ mật khu về Tà Keo, xứ sở của y, vào ban ngày. Cũng may cho y chớ không thì trực thăng đã cho y về chầu “già râu” từ khuya rồi!

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 25 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Bài 5                                                                                   

Tiếng gọi của tình yêu trong rừng tràm Trà Tiên

Thượng sĩ Huỳnh Phước Hưng, trưởng ban thẩm vấn, cầm tập bìa đựng bản cung của Hoàng Thị Vân, đưa cho tôi, nói:

– “Con nhỏ mới nứt mắt mà đã trốn nhà theo trai!”

Ngạc nhiên, tôi hỏi:

– “Nó hồi chánh mà?”

– “Hồi chánh mẹ gì đâu. Ông đọc bản cung thì biết, mắc cười lắm! Ông nói phải, đúng là bọn Cộng Phỉ?”

Bọn Cộng Sản vùng nầy, kể cả Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên, đúng là bọn Cộng Phỉ. Cộng phỉ là chữ của cố tổng thống Ngô Đình Diệm gọi bọn Cộng Sản miền Nam, khi ông còn làm tổng thống.

Tò mò, tôi đọc một mạch hết bản cung dài khoảng bốn năm trang đánh máy. Tôi lại còn cho gọi con nhỏ đó lên văn phòng tôi hỏi chuyện tiếp cho rõ ràng hơn. Con nhỏ 17 tuổi, không đẹp lắm nhưng có duyên, nước da đen, má căng tròn thời con gái, tóc đen, cằm hơi nhọn, môi tươi.

Tôi hỏi:

– “Cháu và Hùng yêu nhau như thế nào? Tại sao nó theo Việt Cộng?”

Con nhỏ trả lời:

– “Cháu và anh Hùng yêu nhau cả năm nay. Cha Hiền cũng biết, không ngăn cản, biểu lo đám cưới. Không cưới được vì anh ấy sắp bị gọi đi lính, tới tuổi rồi. Vì chi khu bắn chết mấy người trốn lính trong rừng tràm, anh Hùng cháu sợ, không dám trốn vào rừng tràm nữa. Ăn tết xong, anh dông tuốt vô trỏng ở với họ. Vào đó còn có ngày về, đi lính quốc gia là đi mất tiêu luôn. Với lại, vào trỏng theo anh hai Tiếu, còn đánh bắt cá giúp gia đình, còn được cho đốn tràm đem về bán. Anh Hùng theo Việt Cộng cũng chỉ vì chừng đó, không phải ưa chống Quốc Gia.”

– “Tụi bây có đạo tại sao theo Cộng Sản vô thần?” Tôi hỏi.

– “Tụi cháu không biết gì chuyện đó hết. Sống tới đâu, hay tới đó.”

– “Hùng vô trỏng, cháu vô làm chi?” Tôi hỏi, nhắc lại lời nó đã khai trong bản cung.

– “Trước khi Hùng đi, hai đứa cháu có gặp nhau. Hùng biểu ở lại nhà, lâu lâu Hùng sẽ hẹn gặp nhau trong rừng tràm. Nhưng nhớ Hùng quá, cháu liều đi theo!” Con nhỏ trả lời.

Tôi hỏi:

 – “Vô trỏng, có thằng cán bộ yêu cháu. Nó là thằng nào?”

_ “Mới vô, cháu không rõ tên, nghe gọi là anh Năm, trưởng ban quân y huyện đội. Anh nầy quyền lắm. Anh ta yêu cháu nhưng cháu không yêu. Cháu chỉ yêu Hùng?”

– “Tại sao?” Tôi hỏi, “Hùng chỉ là du kích. Anh nầy quyền chức cao hơn, sao cháu không yêu?”

– “Hùng đẹp trai hơn. Hùng cao ráo, dáng dấp như thiếu úy Sơn. Còn anh nầy lùn.” Cô ta cười. “Vã cháu chỉ yêu một người thôi chớ!”

– “Vậy rồi Hùng ra chiêu hồi?” Tôi hỏi.

– “Dạ, Hùng buồn. Hùng nghĩ là cháu bỏ Hùng theo anh cán bộ trưởng ban kia, nên buồn tình bỏ ra, chiêu hồi. Cháu nghe Hùng chiêu hồi, cháu cũng ra luôn.” Vân giải thích.

– “Không ở lại với anh chàng lùn?” Tôi cười, hỏi.

– “Ai mà thèm!” Cô ta trả lời.

– “Hùng làm gì trỏng? Được họ phát súng ống gì chưa?

– “Hùng chỉ là du kích, thường ngày gác phía ngoài mật khu. Khi cháu vô trỏng, anh ấy mới được phát súng M-16.” Vân trả lời.

Tôi hỏi tiếp, ý nầy cũng đã được thượng sĩ Hưng hỏi rồi:

– “Vậy cháu có súng chưa?”

– “Có, cháu có súng AK.” Vân trả lời.

– “Tại sao hai đứa khác nhau?” Tôi hỏi. Ý nầy thượng sĩ Hưng chưa hỏi.

– “Mới vô, sau khi xác minh xong, họ phát M-16. Thử thách một thời gian, mới có AK.”

– “Cháu mới vô lại được phát AK ngay. Vì sao?” Tôi hỏi.

Vân giải thích:

– “Cháu vô được hai ngày thì chuyển qua ban quân y huyện đội, được phát súng AK ngay, lại có anh trưởng ban theo sát cháu. Chừng đó cũng đủ làm cho Hùng khó chịu. Hùng hỏi cháu về quan hệ giữa cháu và anh trưởng ban. Cháu nói có gì đâu nhưng Hùng hiểu mọi chuyện, không tin điều cháu nói. Hùng buồn, rồi bỏ ra ngoài nầy.”

Tôi chỉ cái mũ tai bèo màu xanh biển, còn rất mới, hỏi:

– “Họ mới phát?

– “Dạ. Cháu cũng được phát quần áo nữa. Hùng thì chưa có gì hết.” Vân nói.

Rất tiếc là tôi không nhớ hỏi con nhỏ, trưởng ban quân y huyện đội tên là gì, chỉ nhớ nó gọi là anh Năm. Có phải là Năm Dũng, sau nầy đổi tên là Ba Dũng, thủ tướng Việt Cộng.

Điều quan trọng khi hỏi cung là hỏi về các cán bộ lớn như bí thư, phó bí thư, kinh tài, hoặc huyện đội trưởng, xã đội trưởng để theo dõi hoạt động của nó hầu tìm phương cách giải hóa. Giải hóa là danh từ “Phụng Hoàng”, bắt hoặc giết, chớ còn như trưởng ban quân y thì có gì quan trọng đâu. Thứ nầy chỉ ở phía sau, đâu có ở tuyến đầu, đâu có chức chưởng gì quan trọng, không khác mấy với “Bà Già Trầu” mà tôi đã có nói tới trong bài “Bác Sĩ Việt Cộng”.

Cỡ như Ba Dũng thì học hành ở đâu, sức học đâu có bao lăm. Theo Việt Cộng, khi còn nhỏ, thì đủ để cho bọn lớn đầu sai vặt, nấu cơm, pha trà, càphê. Anh nào có thế lực thì được cho về U-Minh học trong rừng, trong những cái lán tranh, cũng đặt tên là trường nầy trường kia, học lấy có, thầy trò trình độ cũng như nhau.

Về quân y thì có hai trường, một trường ở U-Minh và một trường ở Cục R. Ban đầu ra y tá, ít lâu sau lên y sĩ, học thêm vài tháng ra bác sĩ. Phục vụ trong ngành quân y nên chỉ ở mặt sau, một “ân sũng” dành cho con em cán bộ có chức quyền.

Đấy. Tụi nó theo Việt Cộng là như vậy đấy, đâu phải là có lý tưởng gì đâu. Hai Tiếu, Trần Chí Tài, Lâm Hải, Bảy Mốc, Hai Ngộ, Tư Ngọc, v.v… mỗi người một lý do khác nhau, nhưng tựu chung, toàn là lý do tầm bậy, hổ lốn, thổ phỉ, chẳng ai có lý tưởng cao siêu gì cả như Cộng Sản hô hào, tán dương. Tôi sẽ nói rõ từng trường hợp về sau.

            Trước khi trở lại chuyện con nhỏ Hoàng Thị Vân và tên Hùng, nguyên quán ấp kinh 1, xã An Hòa, tôi muốn nói qua về người dân xóm Núi Trầu là dân xã An Hòa nầy.

Xã An Hòa nằm chung quanh núi Trầu, phần đông tập trung ở chân núi phía bắc vì gần kinh Rạch Giá – Hà Tiên để có nước ngọt. Ba phía kia, dân thưa hơn vì nước phèn. Hầu hết dân xã An Hòa theo đạo Thiên Chúa, linh mục chánh xứ tên là Nguyễn Thượng Hiền, chưa già lắm, còn nhanh nhẹn, chống Cộng một cách kín đáo vì xã ông gần mật khu Trà Tiên. Ổng sợ; nửa đêm tụi nó mò ra “thịt” ông dễ như không! Dân ở đây gốc Bắc, không phải di cư năm 1954 mà trước đó khá lâu. Khoảng năm 1939, 40, Tây đồn điền dụ dỗ họ vào Nam, không vào miền Đông Nam bộ làm phu cạo mũ cao su mà về vùng Rạch Giá làm ruộng. Vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn ở Rạch Giá như tôi đã trình bày trong bài Hòn Đất – Chị Sứ, và vùng núi Trầu nầy là dân Bắc di dân vào hồi ấy.

Thế rồi Tây thất trận bên nước họ, nước Pháp bị Đức Hitler chiếm đóng, Tây thực dân bên nầy sa cơ lỡ vận, để cho các đám di dân nầy vất vưỡng. Vậy là các ông cha đạo tìm tới, truyền giảng, giúp đỡ. Dân vùng núi Trầu theo đạo gần hết. Dân Nam Thái Sơn và Cờ Đỏ thì không. Dù theo hay không, năm 1945, 46 hầu hết đều theo Việt Minh chống Pháp, ai ai cũng yêu nước, nhiệt tình, hăng hái.

Hồi 9 năm (Tiếng dân địa phương gọi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt: 1945-54), núi Trầu là cơ xưởng công binh của Việt Minh, chế tạo mìn, tạc đạn, lựu đạn nội hóa… Năm 1953, vào dịp Tết, lính nhảy dù Tây nhảy xuống núi Trầu, gặp thanh niên, đàn ông, ông già đều bắn hết như tôi có kể trong bài nói về Tết Mậu Thân ở Huế 1968. Việt Cộng tàn ác hơn cả Tây Marốc hồi đó. Ở Huế, chúng nó giết cả đàn bà, con gái, trẻ em… Cho nên, người dân An Hòa, giống dân Huế một điểm, tới ngày Tết, nhà nào cũng có giỗ để cúng người bị giết, bị Tây giết như ở An Hòa hay bị Việt Cộng giết như ở Huế.

Hồi tập kết năm 1954, dân Cờ Đỏ, Nam Thái Sơn nhiều người tập kết ra Bắc theo Cộng Sản, như Nguyễn Quang Quýnh, dân Nam-Thái-Sơn, làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang sau 30 tháng Tư- 1975, sau đó bị mất chức.

Dân An Hòa, không ai tập kết. Hầu hết rời Việt Minh, theo Quốc Gia và chống Cộng. Ngoài trừ một mình Ba Nhân, theo Việt Cộng làm kinh tài để kiếm tiền bỏ túi. Tên nầy bị phe ta phục kích giết ở Tà Keo. Tôi có đọc hết giấy tờ hồ sơ riêng của tên nầy trôi trên kinh, do dân chúng vớt được. Không biết lực lượng nào phe ta bắn chết y, hình như họ để cho xác y trôi ra biển sau khi lấy số tiền trong người y vì y là cán bộ kinh tài.

            Dân An Hòa làm nhiều nghề để sinh sống, trước hết là nghề đốt lò vôi. Vôi trắng để sơn nhà. Độc giả thấy ở Bến Hàm Tử trên Chợ Lớn có mấy “dựa” (vựa) bán vôi, ấy là vôi của dân An Hòa như ông Ba Để, ông Ba Nhân, ông Chín Vĩnh… chở lên cho chủ vựa, hay chính họ cũng lên mở vựa bán vôi trên ấy như ông Đức Thắng, tự Thắng Cụt.

Hai là nghề làm ruộng, không nhiều, chỉ đủ gạo ăn.

Ba là nghề trồng rau xanh – thường gọi là làm rẩy -, vì thị trường tiêu thụ không có nên trồng cũng không nhiều. Gốc Bắc Kỳ, không ít nhà trồng rau muống. Ở đây người ta trồng rau muống khác với Huế, (Rau muống nước) hay Dốc Mơ, Gia Kiệm (Rau muống khô). Đất quanh núi Trầu rất tốt, là đất than bùn, đen như bùn. Tới mùa khô, người dân cuốc đất lên, phơi đất cho khô, cào đất cho tơi, rồi rải hột xuống như người ta gieo mạ, tưới hơi ẩm thôi. Hột rau muống chen nhau mà mọc, kín quá, thiếu nắng nên cọng rau trắng như cọng giá. Khi ăn, người ta nhổ như nhổ mạ, cắt ngang gộc, đem nấu với vịt, chao, gọi là vịt nấu chao, là món thường dùng đãi khách quí.

Thứ tư là nghề làm cá. Có hai loại: Cá biển và cá đồng. Xã An Hòa có vài chủ ghe đánh cá biển bằng loại ghe xịp, đánh cá bằng cách xúc. Chiếc ghe có hai cái càng dài. Khi ra tới biển, chỗ nào có cá thì gắn lưới vào hai cái càng, đẩy hai cái càng tới trước. Ghe vừa chạy vừa xúc cá. Thỉnh thoảng, kéo hai cái càng lên mà xúc cá, tôm mắc vào lưới. Cá biển không nhiều, phần nhiều là cá phân (Cá để làm phân), bán cho hãng Somaco của ông Đặng Văn Lân (em bác sĩ Đặng Văn Sung) ở Hòn Heo. Một ít loại cá lớn hơn, ăn được thì đem bán ở chợ quận hay phơi khô. Họ cũng đánh bắt được nhiều tôm, chỉ đủ bán cho dân địa phương. Cứ khoảng chiều, họ cho ghe nổ máy chạy ra đánh cá ở vịnh Thái Lan, gần biển, không đi xa quá. Đánh bắt suốt đêm, đến sáng thì về. Dĩ nhiên, muốn có huê lợi chút ít, trong nhà cần có con trai. Người già không làm nỗi. Khổ nỗi con trai tới tuổi “quân dịt quân gà” thì phải tìm cách trốn tránh như hoãn dịch vì lý do tu sĩ (tôn giáo) mà có tu hành gì đâu, con trai độc nhứt vì có cha mẹ già trên 60 tuổi (phần nhiều làm hồ sơ giả), làm giấy căn cước quá tuổi đi lính, hoặc làm lính kiểng. Cách nào cũng phải tốn tiền trà nước mới xong. Nhờ có ghe đánh cá, có huê lợi nên cũng đỡ hơn các gia đình nhà nghèo khác. Được cái, làm nghề cá biển không dính dáng gì tới Việt Cộng như làm cá đồng.

Làm cá đồng “quan hệ” với Việt Cộng như thế nào?

Mùa nước nổi, đồng hoang hay đồng lúa, nước lên ngập cả. Cá từ trên nguồn sông Bassac, tức sông Hậu, theo nước tràn vô đồng, sinh sôi nẩy nở vô số kể. Khi nước rút, cá tụ lại trong những cái vũng sâu ở trong đồng, thường gọi là đìa. Nước càng ngày càng khô, cá càng ngày càng rặc. Người dân chỉ cần lội xuống, lấy thùng mà múc, chẳng cần lưới, câu gì cả. Bắt cá phải đúng lúc, nước còn nhiều khó hốt, nước rặc quá, cá sẽ hôi bùn, khó ăn. Một vũng nước như vậy, “thu hoạch” ba bốn chục thùng (loại 20 lít) là thường, kiếm cả trăm ngàn. Mối lợi thiên nhiên nầy có từ ngàn xưa.

Hai Tiếu, tên là Nguyễn Văn Thôn, tự Tiếu, nguyên là nghĩa quân, trưởng  ấp Ngã Ba, xã An Bình. Anh ta trốn vô rừng theo Việt Cộng, làm du kích. Vì thiếu cán bộ hạ tầng cơ sở, theo Việt Cộng chưa được ba năm, Tiếu đã lên tới chức bí thư xã. Tới chức nầy thì quyền hạn lắm, gia đình y, còn ở ngoài bờ kinh, vùng Quốc Gia, nhưng có nhiều quyền lợi ở trỏng. Ví dụ như chỉ gia đình y mới được đốn tràm đem ra bán cho chủ vựa, (Việc nầy tôi sẽ nói rõ hơn khi nói về mấy tay “trời thần đất lỡ” như Tư Trạng, và Năm Tu Hú) hoặc về mùa khô, chỉ gia đình y mới được bắt cá trong các đìa, hoặc giao cho người khác bắt đìa, chia chác cho gia đình y, v.v…

Bọn Việt Cộng thì ở trong mật khu, giữ các nguồn lợi trong rừng, đặc biệt dành riêng cho gia đình hoặc ban phát cho ai có lợi cho chúng hoặc làm giao liên cho Việt Cộng. Gia đình Hai Tiếu, gồm mẹ, vợ và hai con của y cũng như người dân, nhà thì ở ngoài bờ kinh Rạch Giá – Hà Tiên, vùng Quốc Gia. Khi đi làm đồng, đi bắt cá hoặc đốn tràm, họ mới vào rừng tràm; sáng đi chiều về. Chỉ có vợ Hai Tiếu nhiều khi mới ở lại trong mật khu với chồng, khi có bầu thì vào bệnh viện Hà Tiên hay Rạch Giá để chính quyền Quốc Gia lo việc sinh nở.

Quyền lợi ở trong rừng tràm, Quốc Gia không đủ sức giữ an ninh được, nên mặc sức chúng ban phát cho ai thì ban. Người dân có tranh tụng nhau quyền lợi trong đó thì Việt Cộng đứng ra phân xử. Dân thì ở với mình, có gì tranh chấp, Việt Cộng xử, thế mới tức, nhưng mình chẳng làm gì được. Có làm được gì chúng, sẽ nói ở phần sau: Phần nói về Giặc Mùa. Tuy nhiên, tiếp sau bài nầy tôi sẽ nói về mật khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ, theo lời khai của “Hồi chánh viên Hoàng Thị Vân.”

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 25 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Bài 4

Đường Giây 1-C

Để xâm lược miền Nam, Cộng Sản Hà Nội mở ra nhiều con đường bí mật để vận chuyển khí cụ chiến tranh và chuyển quân. Lớn nhứt là con đường được gọi là “Đường Mòn Hồ Chí Minh”. Gọi là đường mòn, nhưng đường nầy lớn lắm, xe cộ chạy nghênh ngang trong rừng Trường Sơn. Thứ hai là con đường biển, cũng gọi là “Đường Hồ Chí Minh trên biển.”

            Xưa hơn, đường giây 1-C tôi nói ở đây cũng là đường mòn, nhưng có từ thời Việt Minh đánh nhau với Tây.

            Trong Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhứt, (1945-54), cũng như Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Hai (1959-75) (1), chiến trường Kampuchia và chiến trường miền Nam giống như môi với răng. “Hồi 9 năm”, (1945-54), bộ đội Việt Minh ở miền Tây thường qua đánh nhau với Tây bên Kampuchia. Quí độc giả nếu ai đã đọc “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên chắc biết điều nầy có nói tới trong đó, nhất là khi Tư Cầu chỉ huy một đơn vị bộ đội ở Châu Đốc.

Bộ đội Việt Minh qua lại biên giới rất thường xuyên. Vài người dân Rạch Giá như ông Hồng Ràng, ông Năm Vịnh, mấy ông nầy theo đạo Thiên Chúa từ mấy đời trước nhưng cũng theo Việt Minh đánh Tây, sau nầy bỏ Việt Minh, không tập kết ra Bắc, có kể cho tôi nghe hồi đó họ từng đi đánh Tây ở Kompong-Trach bên Kampuchia, huống chi sau nầy, khi Sihanouk cho Cộng Sản Bắc Việt mượn đất Kampuchia làm hành lang xâm nhập thì những con đường giao liên từ Kampuchia qua Việt Nam và ngược lại là rất quan trọng.

            Do tình hình đó, từ hồi mới có chiến tranh lần trước, Việt Minh đã mở một con đường liên lạc, chuyển quân, chuyển vận vũ khí từ Kampuchia qua Việt Nam. Con đường đi từ Kampuchia qua khu rừng tràm Trà Tiên, vượt qua liên tỉnh lộ 8-A để đi về U-Minh là con đường huyết mạch của Cộng Sản.

Trong hồ sơ trận liệt, con đường nầy được gọi là đường 1-C. Tôi không rõ ai đặt tên là 1-C, phía Quốc Gia hay Cộng Sản, và tên đó có từ lúc nào. Con đường nầy đi qua ấp Tà Keo, ấp phía bắc của xã Mỹ Lâm, bản quán của Nguyễn Tấn Dũng. Việt Cộng cố sống cố chết giữ Tà Keo, và cũng có thể đó cũng là lý do khiến Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng rất sớm, khi còn trẻ con, cùng bọn du kích giữ Tà-Keo, giữ con đường huyết mạch của Việt Cộng.

            Đường giây 1-C bắt đầu từ bên Kampuchia, địa phận tỉnh Kompong-Trach của xứ Miên, băng qua khu rừng tràm Trà Tiên, đi theo một con kinh được đào hồi kháng chiến chống Pháp nên gọi là “kinh Kháng Chiến”, xuống tới vùng Kinh Hãng, tức vùng Nam Thái Sơn, tới Tà Keo, vượt qua cây số 15 trên LTL 8-A, đi ngang xã Giục Tượng mà về “miệt Thứ”, (miệt là vùng, có nhiều kinh: kinh thứ nhất, thứ nhì, thứ ba… nên dân chúng gọi là “miệt thứ”), quận Hiếu Lễ, U-minh. Tôi xin kể từng đoạn một.

            “R” (đọc là Rờ), bí danh của Trung Ương Cục Miền Nam, không khi nào nằm một chỗ ở phía bên Việt Nam hay bên Kampuchia. “R” nó đung đưa qua lại là do tình hình khi dịu khi căng. Khi dịu, hay khi Việt Cộng mạnh lên, Quốc Gia co lại thì “R” mò về đóng ở mật khu Trà Tiên. Khi tướng Trưởng làm tư lệnh vùng 4, ông dùng “chiến thuật Diều Hâu”, thường cho trực thăng đổ quân bất tử lên đầu Việt Cộng nên Việt Cộng sợ bị tấn công bất ngờ, trở tay không kịp, bị nắm đầu cả đám. Khi tướng Nam làm tư lệnh vùng 4, ông cũng cho hành quân bất tử nên “R” cũng chém vè qua bên kia biên giới. Mấy năm Saigon lo chuyện đảo chánh hơn lo đánh nhau với Việt Cộng thì chúng mò về bên nầy hoạt động.

            Bên cạnh cục “R” khi ở khi chạy, là tỉnh ủy Long Châu Hà cũng đóng ở mật khu Trà Tiên. Gọi là Long Châu Hà vì đó là tên gọi tắt ba tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên. Ở các tỉnh nầy, hồi chiến tranh, Việt Cộng không có đất cũng không có dân, chỉ loanh quanh trong khu rừng tràm. Khu rừng tràm nầy tiếp giáp với cả ba tỉnh nói trên, nên chúng đặt ra một tỉnh ủy chung, chỉ đạo hoạt động cả ba phía: Phía đông bắc cho hai tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, phía nam cho (tỉnh) Hà Tiên. Tôi gọi là tỉnh Hà Tiên là gọi theo thời Tây cai trị.

Hồi ấy Hà Tiên là một tỉnh, không thuộc tỉnh Rạch Giá (Rạch Giá cũng là tên thời Tây). Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, cố tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Rạch Giá thành Kiên Giang (tỉnh nầy có con sông tên là Kiên Giang), Hà Tiên trở thành một quận, thuộc Kiên Giang. Hồi đó, lúc ban đầu, Việt Cộng không gọi theo cách phân chia địa giới của tổng thống Ngô Đình Diệm, mà gọi theo Tây nên mới có Long-Châu-Hà.

            Rừng tràm Trà Tiên là rừng cổ lắm, không biết các nhà địa lý có gọi nó là rừng nguyên thủy hay không. Quí độc giả nếu có thấy cây tràm người ta chở lên bán ở Saigon để đóng móng nhà,       đừng tưởng rằng cây tràm chỉ to có như thế. Tràm Trà tiên lớn lắm, có thân cây hai người ôm không xuể. Rừng trải dài từ phía Kampuchia cho tới địa giới Châu Đốc, Long Xuyên, Kiên Giang. Tôi từng đi máy bay qua khu rừng tràm nầy, từ Long Xuyên về nhà máy ximăng Hà Tiên ở quận Kiên Lương. Máy bay bay hơn nửa tiếng đồng hồ, nhìn xuống dưới, chỉ thấy rừng xanh bát ngát.

            Thân tràm cao trên 10 thước, tàng cây xòe rộng, đi dưới rừng tràm lâu lâu mới thấy mặt trời nếu như hôm đó trời nắng, còn không thì âm u suốt ngày như ở U-Minh vậy. Trên thì tàng cây, dưới là nước, lâu lâu mới gặp chỗ cao, không có nước, di chuyển thì phải dùng xuồng, tiện nhứt là xuồng ba lá. Ấy là nói mùa khô, còn tới mùa nước nổi thì chỗ nào cũng toàn là nước. Đi hành quân vô tới rừng tràm Trà Tiên, người ta không khỏi than thầm: Rừng nước mênh mông vậy, làm sao mà tìm cho ra Việt Cộng. Bọn Việt Cộng ở trong rừng, tụi nó rành đường lắm. Mới thấy tụi nó lấp ló xa xa, chưa kịp đưa súng lên nhắm thì nó chống xuồng một cái “réch”, mất dạng sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn hoặc rừng bàng. Bàng là loại cây thảo, dùng để đan đệm hay làm bị bàng, v.v… Vướng vô đám rừng bàng, cây bàng níu mình lại, rứt không ra được.

            Hồi ấy, cũng có vài lần “tui” mò vô rừng tràm Trà Tiên, hỏi thăm sức khỏe tỉnh ủy Long Châu Hà. Chắc chắn khi đó Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên, lo trốn biệt, làm sao mà thấy mặt tui.

Một khu rừng tràm cổ xưa như vậy, dĩ nhiên có nhiều chuyện “phong thần”, ai tin hay không tin thì tùy, nhưng tôi cũng xin kể ra đây. Ông Hồng Ràng kể cho tôi nghe, hồi 9 năm, ông ta theo bộ đội Việt Minh từ Kampuchia về lại Việt Nam. Đơn vị của ông cho hai anh bộ đội đi đầu dò đường, rồi về báo cáo lại. Hai anh nầy đi biệt tích, cấp chỉ huy đoán rằng có lẽ hai anh nầy bỏ theo Tây rồi. Nửa tháng sau, đám bộ đội của ông Hồng Ràng được lệnh phải về gấp, không cần cho người đi mở đường. Về tới giữa rừng tràm thì gặp con thuồng luồng dài hơn hai chục thước. Cả đám xúm lại nổ súng, bắn chết con vật. Khi mổ bụng nó, thấy xác hai anh bộ đội “còn y nằm trong bụng” nó, mấy trái lựu đạn cũng chưa nổ.

            Tôi tin có thể có chuyện con thuồng luồng, nhưng tôi không tin chuyện xác hai anh bộ đội còn y. Thuồng luồng cũng là loài bò sát như con trăn. Khi con trăn, – phải là trăn rừng -, ăn con heo hay con bò, nó phải treo mình trên cây, hả họng xuống đất, chuyển thân mình cho xương heo hay xương bò rớt ra ngoài. Con vật chỉ tiêu hóa được thịt da mà không tiêu hóa được xương. Do đó, xác hai anh bộ đội không thể còn y được.

Phía nam rừng Trà Tiên, gần biển, có mấy ngọn núi đá, có hang đá. Vùng này là vùng đá vôi, nên nhà máy ximăng Hà Tiên mới được xây dựng ở đây để lấy vôi. Vì vậy nên có con kỳ đà –Vùng nầy có khá nhiều kỳ đà – cứ ở suốt ngày đêm trong hang. Khi nước thủy triều lên (Vùng nầy thủy triều lên mỗi ngày hai lần), nước biển tràn vào ngập hang, mang theo cá vào để làm thức ăn cho con kỳ đà. Nay con kỳ đà đã già, thân mình đã to lắm, không thể ra khỏi hang được. Bộ đội Việt Minh bắn được con kỳ đà, khó khăn lắm mới bò vào được trong hang, xẻo thịt đem con kỳ đà ra.

            Còn ngoài biển?

Hồi xưa ngoài biển có nhiều thuồng luồng và nhiều ghe cướp biển. Nhiều khi thuồng luồng ngóc đầu đuổi theo ghe biển để ăn thịt người. Chuyện thật hay bịa, xin hãy xét sau, nhưng ít ra những câu chuyện như thế, cho chúng ta thấy tính chất hoang sơ của vùng nầy vẫn chưa hết, bằng chứng là những cây tràm to, thường thường bằng cái cột nhà lớn, Việt Cộng đốn xuống, sắp lại cây ngang gác cây dọc, cây dọc gác cây ngang mà làm hầm. Bom nào, đạn cà-nông nào mà phá được những cái hầm như thế. Còn nữa, cái hoang sơ đó ở trong một vài cái tên như tên Giục Tượng (xã). Chữ tượng nầy được dùng theo tiếng Hán Việt. Tượng là voi. Vùng nầy, xuống cho tới U Minh, Cà Mau, xưa cũng có nhiều voi.

            Chuyện thuồng luồng đã qua rồi. Có lẽ nay loài thuồng luồng đã tuyệt chủng, nhưng trăn thì còn nhiều. Đây là loại trăn đồng, lớn lắm cũng chỉ bằng bắp chuối, bắt chúng cũng khá dễ. Tới mùa “trăn hội” – Trăn hội là tiếng dùng của dân địa phương – tức là mùa con trăn cái động đực, cả chục con trăn đực tìm tới, nên người ta gọi là “hội”. Người đi bắt trăn chỉ mang cái khăn rằn và cái giỏ đựng trăn. Khi thấy con trăn, người ta dùng cái khăn phất ngang mặt nó. Nó mở miệng đớp cái khăn và kẹt cứng ở đó. Người bắt trăn đè cổ con trăn xuống, bỏ vào giỏ. Đơn giản chỉ có vậy, nhưng người bắt trăn phải có nghề. Họ tìm theo dấu con trăn bò trên đất, thường là đất bùn, nước rút nhưng đất chưa khô, để biết con trăn lớn nhỏ như thế nào, thậm chí người ta còn biết thương tật của con trăn. Nhiều con bị gãy ngang sống lưng nhưng vẫn sống. Con trăn bị lột da, phơi khô đem bán lên Saigon để người ta làm giày dép xách tay cho mấy bà, mấy cô, còn thịt trăn thì ăn nhậu. Có người cho tôi một khúc thịt trăn, con trăn đã chết mà khúc thịt còn động đậy, khiếp lắm, ăn gì được, phải đem cho người khác.

            Lâu lâu tôi cũng ăn thịt heo rừng của các ông phi công trực thăng đem bán. Té ra mấy chả bay trong rừng, thấy heo, bắn rồi đem bán kiếm tiền. Qua bắc Mỹ Thuận, người ta thấy có bán nhiều loại chim sống, chim thịt. Phần nhiều không ngon. Về Rạch Giá ăn món cu xanh thì tuyệt. Cu xanh rô-ti ăn với bánh mì rất khó quên. Tới mùa lúa, cu xanh bay từng đàn “ngợp trời”. Chúng sà xuống đám lúa mới chín và làm hại lúa không ít. Nhờ có lúa chín, mùa nầy cu xanh mập lắm. Người ta dùng lưới bẫy đàn chim, mỗi lần bắt được năm, bảy chục con là chuyện thường. Có điều “tàn bạo”. Con cu xanh đang sống; trước khi nhổ lông, người ta bẻ cổ con chim cu cho chết!

            Chuyện ăn ở đây thì nhiều lắm, nói không hết, phần nhiều là cá, loài bò sát và không ít những chú rắn độc. Ra khỏi rừng Trà Tiên là tới kinh Kháng Chiến, cũng còn rừng tràm nhưng thưa hơn…

Báo chí Tây phương thường tính rằng chiến tranh Đông Dương lần thứ hai là từ 1965 đến 1975. Năm 1965 là năm Mỹ đổ quân vào Việt Nam. Tôi cho rằng tính như vậy là không thực tế. Từ 1959, Cộng Sản Bắc Việt đã lo làm đường Trường Sơn để xâm lược miền Nam rồi. Tháng 5 năm 1959, bộ đội của Đồng Sĩ Nguyên đã thực hiện công việc nầy, nên đám nầy thường được gọi là bộ đội 559.

Nhắn tin:

Anh Trần Văn Thông. Anh có e-mail cho tôi hỏi tôi có phải là dân Rạch Giá hay không, hoặc ở Rạch Giá lâu nên biết nhiều chuyện như vậy. Thật ra, tôi về Cái Sắn trước hiệp định Paris có mấy tháng rồi hoạt động từ Cái Sắn cho tới Hà Tiên tới ngày “đứt phim”. Vì tôi là người đánh giặc ở miền quê, miệt vườn, miệt ruộng, lại có liên quan đến ngành tình báo, nên tiếp xúc với dân chúng, với chú Ba, chú Bảy, v.v… là chuyện thường ngày. Qua chuyện trò với họ, tôi nghe và thấy nhiều chuyện “Hương Tràm Trà Tiên.”  Và tôi yêu xứ nầy như quê hương thứ hai của tôi, ngoài Quảng Trị là nơi tôi sinh đẻ và học hành thời thơ ấu, học hành và dạy học ở Huế cọng chung là 15 năm (tôi có 2 cuốn Viết Về Huế đã xuất bản).

Sau khi “đứt phim”, về Saigon nhớ miệt nầy, tôi gần như muốn khóc. Trừ mấy năm trong trại tù Cộng Sản, khổ quá, tôi ít nhớ hơn. Nay qua Mỹ, nghỉ hưu, lại nhớ dữ, nên tôi viết một cuốn sách đề là “Hương Tràm Trà Tiên” kể chuyện cũ cho ai quê vùng nầy, đọc để mà nhớ nhà chơi!

Có gì sơ xuất, xin thông cảm.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

October 2nd, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

Kỳ 21

Trong chương quay về quê hương với đầy thương tích, Sakai hé lộ tình cảm của mình đối với Hatsuyo, là cô em họ cùng huyết thống. Cha của Hatsuyo là chú ruột của Sakai.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 21

Chương 19

Sakai đáp xuống Rabaul sau khi bị thương, tháng 8-1942  

Tôi hồi tỉnh, ngước nhìn bầu trời. Thân thể tôi hình như đong đưa. Tôi xoay lại, nhận ra Sasai và Nakajima. Hai sĩ quan đã leo lên cánh phi cơ và đang khiêng tôi xuống. Tiếng nói lớn của Nishizawa vang lên giữa những thì thầm của đám đông tụ họp. “Mau, kêu một chiếc xe!”, hắn nạt nộ mấy tên chạy việc. “Mau lên! Chạy đến phòng hành quân, gọi điện cho y sĩ trưởng. Mau lên, mấy thằng chó đẻ này!”.
Tôi chưa thể vô bịnh viện ngay được. Tôi phải phúc trình với đại tá Saito trước khi làm bất cứ cái gì khác. Chúng tôi phải luôn luôn trình diện Bộ Chỉ Huy sau công tác. Những chi tiết báo cáo hoạt động trong ngày xoay chuyển trong đầu óc của tôi.

Tôi giơ tay mặt lên, ra dấu cho Sasai và Nakajima đặt tôi xuống. Tôi thì thào: “Tôi phải báo cáo. Ðể tôi đi đến Bộ Chỉ Huy.” Nakajima nạt tôi: “Cần mẹ gì, việc đó thủng thẳng cũng được. Chúng tôi sẽ nói là đưa anh vô bịnh viện.”

Tôi khăng khăng và la lớn rằng tôi phải viết báo cáo. Nishizawa bước đến, và với Ota một bên, cả hai dìu tôi vô Bộ Chỉ Huy. Nishizawa càu nhàu luôn miệng: “Nát ngướu như xác chết mà còn báo cáo!”. Tôi nhớ lại, tôi đã đứng một cách khó khăn trước mặt Ðại tá Saito, với đôi mắt của ông đang nhìn tôi bán tín bán nghi. Tôi suy nghĩ để nói, nhưng mọi vật bắt đầu nhuộm đen trở lại. Bỗng nhiên tôi muốn đi ngủ. Phải ngủ! Tôi đang làm gì ở đây? Rồi tất cả là một màu đen thẫm.

Nishizawa và Ota lôi tôi ra xe (họ kể lại sau đó) đang đậu ở bên ngoài Bộ Chỉ Huy. Nishizawa nhảy lên xe lái như giông như gió đến bịnh viện. Sasai và Ota ngồi vịn tôi ở băng sau. Vị y sĩ trưởng đang chờ tôi trong phòng cấp cứu. Ông cắt bộ quân phục đã te tua của tôi ra và bắt đầu may ngay các vết thương cho tôi. Qua giấc ngủ, tôi cảm thấy đau đớn từng chập mỗi khi vết dao cắt vào da đầu của tôi. (Ông đã cất hai miểng đạn đại liên 50 để đưa cho tôi coi sau đó). Tôi cảm giác có một con dao sắc bén nạo trên xương sọ của mình.

Tôi tỉnh hẳn hầu như ngay khi cuộc giải phẫu vừa xong. Tôi nhìn lên khi viên bác sĩ cúi xuống. Ðôi mắt của tôi! Tôi nhớ lại đôi mắt của tôi. Thình lình những nỗi sợ hãi phủ chụp lấy tôi. “Mắt của tôi!” Tôi la lớn, “Mắt của tôi ra sao, bác sĩ ?”

“Anh bị thương trầm trọng”, ông ta đáp. “Ở đây tôi không thể nào chữa trị được.” Ông nhìn ngay tôi và tiếp. “Phải gởi anh về Nhựt Bản để một chuyên viên nhãn khoa chữa trị cho anh.” Một cảm giác bi thương tràn ngập hồn tôi. Tôi lo sợ con mắt phải của tôi. Phía phải này tôi không thể nhìn thấy gì cả. Ý nghĩ đui mù làm tôi khủng khiếp. Ðời một phi công chiến đấu kể như tàn rồi. Tôi phải bay; tôi phải lái chiến đấu cơ trở lại!

Bốn ngày trôi qua trì trệ trong bịnh viện với những lần vải băng quấn khắp thân thể tôi. Bác sĩ lấy ra bốn mảnh kim khí ghim trong thịt cũng như nhiều miếng sắt trên đôi má của tôi. Ðến ngày thứ tư tôi cảm thấy chân và tay trái cử động được chút ít. Vết thương ở cánh tay mặt và ở đầu thối rữa, do khí hậu quá ẩm thấp của miền nhiệt đới, và mắt phải tôi vẫn còn mù.

Trong lúc đó, những nhát chổi chiến đấu cơ và các cuộc không tập của oanh tạc cơ dập xuống Guadalcanal không ngừng nghỉ. Mỗi ngày tôi đều nghe tiếng gầm thét của phi cơ cất cánh và hạ cánh xuống phi đạo. Rabaul có nhiều khách viếng thăm mỗi ngày, những chiếc pháo đài bay. Chúng bay đến tấn công hai phi trường ở đây từ trên cao độ. Mỗi lần oanh tạc cơ địch xuất hiện, tôi và các bịnh nhân khác đều được mang xuống hầm trú ẩn.

Mỗi đêm Ðại úy Sasai và Trung tá Nakajima đều đến thăm tôi. Họ đồng ý rằng tôi nên trở về Nhựt. Theo họ, chỉ có khí hậu điều hoà ở quê hương và một chuyên viên nhãn khoa tài ba mới có thể chữa lành mắt của tôi. Tôi từ chối trở về xứ. Tôi nhấn mạnh rằng bệnh tình của tôi có thể chữa trị ngay ở Rabaul, và tôi có thể bay trở lại trong vòng một vài tuần. Tôi cáu kỉnh vô lý và trở nên hung dữ.

Khó có thể giải thích sự ngần ngừ của tôi không muốn rời khỏi địa ngục Rabaul. Tôi chỉ ý thức rằng vào lúc này, tôi đang bị bao vây bởi viễn ảnh bi thảm: cuộc đời phi công của tôi chấm dứt. Cũng có vấn đề thể diện. Tôi cảm thấy bao lâu tôi còn ở Rabaul, tôi vẫn còn thể diện. Ngay cả nếu tôi không bay lại được, tôi cũng có thể giúp đỡ những phi công mới vô nghề. Tôi có thể khuyên họ tránh những sai lầm có thể đưa đến cái chết của họ. Tất cả những lý do đó trộn lẫn thành một. Chuyến trở về Nhựt Bản của tôi có nghĩa là tôi sẽ nhận lãnh sự phán xét cuối cùng bởi một chuyên viên nhãn khoa, và tôi sợ phát điên lên khi phải nghe sự thật.

Vấn đề này kết thúc vào sáng ngày 11 tháng 8, khi Ðại tá Saito, chỉ huy trưởng căn cứ Lae, bước đến cạnh giường tôi. Sự tử tế mà ông dành cho tôi đã hết mức, và cũng ngang bằng với sự cứng rắn của ông bây giờ. “Tôi thông cảm với anh, Sakai”, ông nói, “nhưng tôi đã đắn đo suy xét. Anh sẽ được gởi về Nhựt, và vô bịnh viện hải quân Yokosuka. Ðây là lịnh của tôi. Anh sẽ đáp vận tải cơ đi vào ngày mai. Vị bác sĩ ở đây đã cho tôi biết bịnh tình của anh chỉ hy vọng vào các bác sĩ ở Yokosuka mà thôi.”

Ông mỉm cười với tôi. “Chuyến trở về quê hương của anh sẽ khiến cho chúng tôi yên lòng nhiều hơn anh nữa. Tất cả chúng tôi đều biết anh sẽ được săn sóc thuốc men cẩn thận ở Nhựt.” Ông ta đứng dậy nhìn tôi giây lát rồi nghiêng mình xuống, đặt tay lên vai tôi. “Ðối với tất cả chúng tôi, anh đã làm được một việc phi thường, Saburo,” ông dịu dàng nói. “Tất cả những ai đã từng biết anh, từng được bay chung và chiến đấu với anh, đều hãnh diện vì anh. Khi các vết thương của anh lành lặn, hãy trở lại đây với chúng tôi.” Thế rồi ông bước ra ngoài.

Ðêm đó  Sasai đến thăm tôi. Ông có vẻ mệt mỏi sau phi vụ trong ngày ở Guadalcanal. Tôi cho ông biết tôi được lệnh về xứ ngày mai. Giây lát sau, tất cả các bạn thân của tôi đều tụ họp trong phòng, bày ra một buổi tiệc chia tay nhỏ. Không ai ca hát, không ai nói chuyện ồn ào hoặc đùa giỡn. Chúng tôi chuyện trò to nhỏ, hầu hết nhắc về quê hương.

Nhưng người Mỹ có ý định khác hơn đối với buổi tụ họp nho nhỏ của chúng tôi. Sự yên tĩnh của một đôi giờ chấm dứt đột ngột với những bước chân dồn dập chạy vô các hầm trú ẩn. Tôi được một số phi công khiêng ra khỏi bịnh viện. Tôi nghiến răng xấu hổ và đắng cay với sự bất lực của mình. Ðây chính là những phi công mà tôi từng cầm đầu khi chiến đấu, và bây giờ họ khiêng tôi đi, giống như một đứa trẻ mù loà, què quặt! Tôi muốn la hét và giựt hết những lần băng quấn quanh thân thể mình. Nhưng tất cả những gì mà tôi có thể làm là nằm bất động với đôi mắt nhắm nghiền.

Sáng sớm hôm sau, tôi lê thân chầm chậm ra cầu tàu, một chiếc ca-nô đang chờ để đưa tôi ra một chiếc thuỷ phi cơ bỏ neo trên mặt nước.

Sasai siết chặt tay tôi. “Tôi sẽ nhớ anh, Saburo. Anh không bao giờ biết được lòng tôi đối với anh.”
Hai giòng lệ chảy dài xuống đôi má tôi, tôi không thể nào cầm được. Tôi xúc động và chỉ có thể nắm chặt lấy tay Sasai.

Sasai rút tay lại, tháo vội dây nịt đang đeo và trao nó cho tôi. Tôi nhìn “Con Cọp Gầm” khắc sắc sảo trên cái khoá. “Saburo, sợi dây nịt này của ba tôi tặng. Một sợi cho tôi, một sợi cho anh rể tôi. Anh rể tôi đã chết. Tôi không mấy tin vào sự linh ứng của con cọp bằng bạc này, nhưng tôi muốn anh giữ và mang nó. Tôi hy vọng nó sẽ giúp anh trở lại đây với chúng tôi.”

Tôi từ chối, nhưng vô ích. Sasai bỏ sợi dây nịt vô túi của tôi, rồi nắm lấy tay tôi. “Tôi sẽ gặp anh trở lại, Saburo. Ðừng nói lời từ biệt! chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau, tôi hy vọng.”

Saburo Sakai và Đại úy Sasai tại căn cứ Rabaul tháng 8-1942

Ông dìu tôi xuống ca-nô. Một phút sau nó lướt sóng hướng đến chiếc thuỷ phi cơ đang chờ đợi. Nishizawa, Ota, Yonekawa, Hatori, Trung tá Nakajima và tất cả đồng đội khác của tôi vẫy tay trên cầu tàu. Họ la lớn dặn tôi sớm trở lại để bay với họ. Cầu tàu vang vang những tiếng gọi tên tôi “Saburo”, “Saburo”… Giây lát sau, hình ảnh họ mờ mờ. Tôi chỉ có thể nhìn thấy một vài thước với con mắt trái. Tôi cố gắng đứng thật thẳng trên ca-nô, giơ tay mặt lên, lúc bóng hình của mọi người mờ nhòa. Thế rồi tôi la thật lớn, và khóc như một đứa trẻ.

Trong chiếc thủy phi cơ có một vài hành khách khác. Một binh sĩ phục dịch được cắt đặt để săn sóc tôi trong chuyến đi, và nhiều thông tín viên chiến tranh. Chúng tôi ngừng lại ở Truk và Saipan để tái tiếp nhận nhiên liệu. Tôi rời xa mảnh đất quê hương đã lâu. Tình trạng hiện thời của nước Nhựt như thế nào, tôi không mảy may lưu tâm đến. Nhưng, tôi đã xúc động khi đặt chân lên Yokohama, một xúc động bất ngờ. Chiều ngày thứ Bảy, chúng tôi đáp xuống hải phận Yokohama. Không muốn trình diện bịnh viện vào đêm đó, tôi đi bộ vô thành phố để đón xe taxi đến nhà chú tôi ở phía Tây Tokyo.

Dân chúng ở đây tuyệt đối không biết đến những gì thực sự xảy ra trong cuộc chiến. Tôi như từ cung trăng rớt xuống giữa đám đông rộn rịp, giữa ánh đèn sáng trưng. Tôi không thể nào tin được những âm thanh lọt vô tai tôi, âm thanh của muôn ngàn tiếng cười, tiếng nói vô tư lự. Có phải thật là họ không biết những gì xảy ra ở Tây Nam Thái Bình Dương không?

Trên khắp đường phố, mỗi bản tin tức của đài phát thanh đều kèm theo nhạc khúc vang vang “Bước tiến của chiến hạm”, loan đi chi tiết các chiến thắng lừng lẫy của những trận hải chiến quanh quần đảo Solomon. Tôi không nghe gì khác hơn là danh sách những tàu chiến Mỹ bị tiêu diệt, hàng nhiều trăm phi cơ địch bị bắn rơi.

Những đám người mặc quần áo mùa Hè màu sặc sỡ dừng lại bên ngoài mấy cửa tiệm, hoặc đứng ở các góc phố để lắng nghe đài phát thanh huênh hoang. Mỗi lần xướng ngôn viên đề cập đến một chiến bại quan trọng của địch quân, tiếng reo hò nổi lên vang dội khắp phố. Quốc gia say sưa trên những chiến thắng lừa dối. Khó thể tin rằng có một cuộc chiến tranh hủy diệt đang diễn ra. Trong các cửa tiệm, tôi thấy có một số hàng hoá được phân chia theo khẩu phần, nhưng các nhu yếu phẩm có thể nói là phong phú.

Tôi muốn rời xa thành phố này tức khắc. Mọi thứ ở Lae và Rabaul hình như không thật. Có thể nào hai thế giới cách biệt này hiện hữu cùng một lúc không? Máu lửa, chết chóc và nỗi hoan hỉ dành cho những chiến thắng tưởng tượng chỉ cách nhau mấy giờ bay ngắn ngủi?

Tôi kêu một chiếc taxi và cho địa chỉ của chú tôi. Xe chạy ngang qua Yokohama và vô thành phố Ðông Kinh. Vài phút sau, một cảnh sát viên chận xe lại và cúi nhìn xuyên qua kiếng. Bộ quân phục của tôi lỗ chỗ vết máu và vết thương vẫn còn quấn băng. Hắn hỏi: “Anh làm sao vậy?”

“Tôi vừa ở mặt trận về,” tôi đáp một cách chua chát.

Hắn kêu lên: “Anh bị thương ở mặt trận! Mặt trận nào? Sao lại bị thương?”

“Tôi là phi công,” Tôi hắng giọng. “Ở Guadalcanal. Tôi bị đạn trong lúc chiến đấu.”

“Guadalcanal!” Ðôi mắt của viên cảnh sát trẻ bừng sáng. “Hôm nay tôi có nghe một số tin ở đó. Tôi biết rằng chỉ ngày hôm qua đây, chúng ta đã nghiền nát hết bọn Mỹ. Ðài phát thanh cho biết hải quân của chúng ta đánh chìm 5 tuần dương hạm, 10 quân vận hạm và mười khu trục hạm. Chắc chắn cảnh đó ngoạn mục lắm!”

Bao nhiêu đó quá lắm rồi! “Tôi rất tiếc, thưa Trung sĩ,” tôi nói mau. “Tôi phải đi gấp.” Tôi thét tên tài xế.

“Chạy đi! Tức khắc!”.

Nhiều năm rồi, tôi lại mới bước vô nhà của chú tôi. Ngôi nhà vẫn không có gì thay đổi. Tôi đứng bên lề đường nhiều phút, nhìn ngôi nhà, ánh đèn vàng và nghe những âm thanh quen thuộc. Một cảm giác yên bình kỳ lạ bao trùm lấy tôi. Quá khứ thức dậy trong tôi, và tôi đã mở cánh cửa giống như tôi đã mở lúc còn nhỏ. Tôi cũng sử dụng những tiếng nói tôi thường la lên khi bước vô nhà, “Cháu đây! Cháu về nhà rồi đây!”, “Hatsuyo, em đâu rồi?”

“Ai đó?” tiếng hỏi có vẻ giựt mình vọng lên từ nhà bếp. Tôi mỉm cười. Tiếng hỏi của thím tôi.

“Cháu đây!” Tôi đáp.

Yên lặng giây lát. “Cháu đây! Saburo đây!”. Tôi nói lớn một cách vui vẻ.

Tiếng hỏi đầy sửng sốt của chú tôi vang dội khắp nhà:

“Cái gì đó?” Rồi cả nhà chạy ùa ra hành lang.

Họ nhìn tôi trừng trừng cả một phút. Chú thím tôi, hai cô em họ Hatsuyo và Michio của tôi, không ai thốt nên lời, đứng im sững, miệng mở tròn trong nỗi kinh ngạc. Ðôi mắt Hatsuyo ngập thảng thốt. Tôi bình thản nhìn những người trước mặt khi đôi mắt của họ di chuyển xuống bộ quân phục và những lần vải băng hoen máu của tôi.

Chú tôi thì thào: “Có phải cháu thật không, Saburo? Ðây là Saburo, đây không phải là một hồn ma?” Ông chồm về phía trước, như sợ tôi tan biến.

“Không! Không phải là hồn ma”. Tôi đáp “Cháu thật đây mà. Cháu về nhà đây!”.

Thật giống như chết đi sống lại. Những trận đánh, chết chóc, thương tích, ấn tay vào cò súng, lộn nhào liên hồi để tránh né chiến đấu cơ địch truy đuổi, chui rúc vô những hầm trú ẩn ngập bùn… tất cả không còn nữa, tất cả đã trở thành không thật, xa lắm rồi. Một thế giới âm u, giống như hồn ma mà chú tôi đã tưởng, không còn treo lơ lửng trên đầu tôi nữa. Ðể tôi được ngồi trong căn nhà này một lần nữa, để lại trò chuyện với chú thím tôi, để lại nhìn thấy Hatsuyo và Michio, để thoải mái. Ðể biết nơi đây sẽ không có những trái bom đêm nay, không còn âm thanh gầm thét của oanh tạc cơ Marauder và Mitchell, không còn những tiếng nổ, những mảnh kim khí, những viên đạn chọc thủng vô tận phòng ngủ… mà chỉ có đường nét dịu dàng của Hatsuyo, với cử chỉ mềm mại lễ phép. Hatsuyo hết còn là cô nữ sinh như trong ký ức của tôi mà đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành cực xinh đẹp. Tôi nhìn Hatsuyo với đầy ngạc nhiên. Michio cũng vậy, đã bắt đầu dậy thì. Nhưng tôi không ngớt ngắm Hatsuyo. Tôi cứ lắc lắc đầu trong hạnh phúc đầy kinh ngạc. Hầu như đã ba năm rồi, tôi mới trải qua một đêm yên ấm với gia đình này. Ðó là đêm đầu tiên trong nhiều năm, tôi mới được ngủ thẳng một giấc. Ngay cả mấy vết thương cũng không quấy rầy tôi.

Sáng hôm sau trước gương mặt âu lo của Hatsuyo, tôi đáp xe lửa đến Yokosuka. Ðời sống hàng ngày của dân chúng trong thành phố này hình như còn rộn rịp hơn cả thành phố Yokohama vào ban đêm. Những người qua đường, nhứt là các thiếu phụ và thiếu nữ, liếc mắt nhìn tôi, khẽ nhăn mặt và nhìn đi nơi khác. Tôi là một tên dơ bẩn, bê bết máu mủ, và phải, đó là sự thật, tôi là một hình ảnh đầy ghê tởm với đồng bào của tôi. Tôi bị ghét bỏ.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

September 25th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Kỳ 20

Mang thương tích thui chột và liệt một bên vì trúng đạn vào đầu nhưng Sakai vẫn cắn răng vượt 1,040 cây số đem máy bay về căn cứ. Hơn một chiến công, một phi thường. 40 năm sau, Sakai sang California và gặp xạ thủ súng máy Harold L. Jones trên pháo tháp chiếc Avenger đã bắn mình trọng thương. Jones cho Sakai biết chiếc máy bay của Thiếu úy Robert C. Shaw mà Jones là xạ thủ, đã bị Sakai bắn thủng 232 lỗ nhưng đáp được xuống mẫu hạm USS Enterprise. Jones kể lại: “Khi chiếc Zéro lao đến, cả 8 xạ thủ trên 8 chiếc Avenger cùng khai hỏa ở khoảng cách 150m. Sakai cũng bắn vào chúng tôi cùng lúc. Khi còn cách 30m buồng lái của chiếc Zéro nổ tung, tôi nhìn thấy rõ gương mặt đẫm máu của Sakai trước khi chiếc Zéro lao thẳng xuống biển.” [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 20

Chương 18 (tiếp theo)

Dần dần tôi cảm biết những gì đang xảy ra. Chiếc Zéro lao về phía Ðông giống như một hòn đá. Tôi cố mở mắt ra và nhìn quanh, thấy màu sáng chói hực của lửa. Tôi nghĩ rằng chiếc phi cơ đang bốc cháy. Nhưng tôi không nghe một mùi khói. Tôi vẫn choáng váng.

Tôi nháy mắt nhiều lần. Sao lại như vậy? Mọi vật đều màu đỏ hết! Tôi đưa tay sờ soạng. Cần lái! Tôi nắm lấy nó. Vẫn không thấy gì hết. Tôi kéo cần lái về phía sau. Nhẹ nhàng. Chiếc phi cơ bắt đầu gượng lại sức chúi xuống, lấy lại thăng bằng và vượt lên. Áp lực của gió giảm bớt, không còn quật mạnh vô mặt tôi nữa. Một ý nghĩ đầy kinh hãi bao trùm lấy tôi. Là tôi có thể bị mù! Tôi hết còn cơ hội trở về Rabaul!

Tôi hành động theo quán tính. Ðưa tay trái về phía trước để nắm lấy cần gia tốc. Nhưng tay tôi bất động. Tôi cố co mấy ngón tay lại. Không có một cảm giác nào cả. Ðúng là nó đã liệt hẳn. Tôi nhấn hai chân lên bàn đạp bẻ lái. Chỉ có chân mặt của tôi còn cử động và chiếc Zéro lạng qua một bên khi bàn đạp bị ấn xuống. Chân trái của tôi tê liệt. Tôi nghiến răng cố gắng cử động lại một lần nữa. Vô ích.

Nguyên thân bên trái của tôi hình như đã bị liệt. Trong nhiều phút tôi cố nhúc nhích chân và tay trái, nhưng không thể nào cử động. Tôi không nghe đau đớn. Thật khó hiểu.

Ðôi má tôi ướt đẫm. Tôi đang khóc. Hai hàng lệ chảy xuống. Khối nặng trĩu trong tròng mắt tôi bắt đầu trôi đi. Nước mắt đã lau sạch máu đọng trong mắt tôi. Tai vẫn còn điếc câm, nhưng mắt có thể nhìn thấy tuy chỉ một chút ít, nhưng màu đỏ đã loãng dần. Ánh sáng mặt trời chiếu rọi vô phòng lái cho phép tôi nhìn thấy lờ mờ những dụng cụ bằng kim khí. Dần dần tôi nhìn thấy những đồng hồ hình tròn, nhưng không thể nhìn thấy chi tiết. Tôi xoay đầu và nhìn ra ngoài buồng lái. Những khối màu đen vĩ đại lướt qua dưới cánh phi cơ với tốc độ khủng khiếp.

Những khối màu đen chắc chắn là chiến hạm địch. Ðiều này có nghĩa là tôi chỉ cách mặt nước khoảng 300 bộ, dưới 100 thước. Thế rồi tai tôi vang lên những âm thanh lùng bùng. Thoạt đầu là tiếng máy phi cơ kế đến là tiếng súng. Các chiến hạm đang khai hoả vào tôi! Chiếc Zéro chao lắc lư giữa những lằn chớp loé của đạn cao xạ phát nổ. Lạ lùng thay, tôi không hề có một phản ứng nào. Tôi bất động, không tìm cách né tránh. Tiếng súng rơi lại phía sau. Tôi không còn nhìn thấy những khối màu đen trên mặt nước nữa. Tôi đã ra khỏi tầm súng. Nhiều phút trôi qua, tôi vẫn ngồi bất động trong phòng lái với muôn ngàn ý nghĩ lẫn lộn. Tôi lại muốn thiếp ngủ. Trong cơn ngầy ngật, tôi cũng biết rằng tôi không thể nào bay trở về Rabaul, và ngay cả Buka gần hơn Rabaul. Một thoáng, ý nghĩ đâm thẳng xuống biển với hết tốc lực đã lôi cuốn tôi, như một cách giải quyết nỗi tuyệt vọng của mình. Tôi trở nên ngu muội. Tôi cố mở mắt ra. Tôi nguyền rủa mình: Chết như vầy không phải! Nếu phải chết, tôi nghĩ, tôi phải chết cho ra hồn. Tôi đâu phải là một tay mơ chưa từng biết chiến đấu là gì? Tư tưởng của tôi chợt ẩn chợt hiện, tôi biết rằng bao lâu mà tôi còn kiểm soát chiếc phi cơ, bao lâu mà tôi còn có thể bay, tôi sẽ làm mọi cách lôi theo một hai kẻ thù trước khi chết. Chiến đấu cơ địch ở đâu? Tôi chửi rủa và la hét: Ðến đây? Tôi đây! Ðến đánh với tôi!…

Trải qua nhiều phút, tôi thịnh nộ như một tên điên trong phòng lái. Dần dần tôi bình tĩnh trở lại và ý thức hành động đáng buồn cười của mình… Tôi bắt đầu nghĩ đến những may mắn vô song đã khiến tôi sống sót cho đến bây giờ. Tôi đã gặp nhiều hiểm nguy trước đây, nhưng chưa lần nào hiểm nguy hơn lần này. Những viên đạn chỉ cách đầu tôi mấy phân, và gây cho tôi nhiều vết sướt, nhưng không trầm trọng mấy. Tôi có may mắn, tại sao tôi quăng nó đi? Và bỗng nhiên tôi muốn sống, tôi muốn quay trở về Rabaul.
Việc có ý thức đầu tiên của tôi là xem xét các thương tích. Tay trái tôi vẫn tê liệt, tôi đưa tay mặt lên rờ đầu một cách e dè như sợ những gì sẽ tìm thấy. Mấy ngón tay rờ nón phi công, cảm thấy nhớp nháp. Tôi biết đó là máu. Rồi tôi gặp một lỗ thủng trên nón, tôi thọc nhè nhẹ một ngón tay vô. Ðể coi bao sâu? Có vật cưng cứng chạm vô ngón tay tôi. Tôi sợ hãi chấp nhận sự thật. Ngón tay tôi lọt hẳn vô bên trong chiếc nón! Vật cứng đó không gì khác hơn là xương sọ của tôi do đạn phá ra. Có lẽ là hộp sọ bể. Ý nghĩ này làm tôi lặng người. Viên đạn có thể chui vô trong óc, nhưng chắc chắn không sâu. Tôi nhớ lại những gì đã từng học hỏi về thương tích trong lúc chiến đấu. Tôi không cảm thấy đau đớn, nhưng có lẽ vết thương đã làm tê liệt phần thân thể bên trái của tôi. Những ý nghĩ này đến chầm chậm. Làm sao có thể ngồi trong phòng lái chiếc phi cơ hư hại, nửa phần đui mù, nửa phần tê liệt, thọc mấy ngón tay qua lỗ hủng trên đầu của mình và tìm hiểu sự việc xảy ra một cách sáng suốt? Tôi ý thức những gì đã xảy ra, tôi cảm được chất máu nhớp nháp và lỗ hủng trên đầu của tôi, nhưng không ý thức sự nghiêm trọng thật sự của vết thương. Tôi biết tôi bị thương, chỉ có vậy thôi.

Tôi lại di chuyển mấy ngón tay trên mặt tôi. Nó sưng phù lên, nhiều vết sướt, và cũng có máu. Chiếc Zéro tiếp tục bay đều. Ðầu óc tôi dần dần sáng suốt thêm. Cử động của tôi chính xác hơn. Tôi hít một hơi thở thật mạnh. Không có mùi dầu khét, như vậy là cả máy lẫn thùng xăng không bị trúng đạn. Sự nhận biết này là nỗi vui mừng lớn nhất trong đời tôi. Với thùng xăng còn nguyên vẹn và máy móc không hư hại, chiếc phi cơ có thể nuốt hết khoảng không trình còn lại. Gió luồng vô chỗ thủng trên sọ vẫn còn rỉ máu. Tôi có thể bất tỉnh trở lại vì mất máu.

Bỗng nhiên đau đớn bao trùm lấy tôi. Mắt phải của tôi bắt đầu mờ dần khi cơn đau gia tăng kịch liệt. Tôi đưa tay dụi mắt. Cơn đau đến không chịu đựng nổi. Tôi lại dụi mắt. Tôi mù rồi!

Tất cả phi công Nhựt đều mang theo trong túi bốn mảnh băng vải hình tam giác. Tôi lôi ra một mảnh và phun nước miếng lên đó. Miệng tôi khô khốc và cảm thấy khát nước kinh khủng. Tôi đưa mảnh băng lên miệng để nhai cho đến khi một góc của nó trở thành ẩm ướt. Chồm về phía trước để tránh gió, tôi lau mắt với góc băng ướt. Có hiệu quả, tôi nhìn thấy chút ít. Một vài giây sau, khi tôi ngồi ngay ngắn trở lại, đầu tôi lại đau dữ dội, như có một chiếc búa gõ lên sọ. Tôi đắp ngay mảnh băng vô lỗ hủng trên đầu, nhưng khi tôi vừa lấy tay ra, gió thổi mảnh băng bay mất ra ngoài cửa kiếng bể.

Thất vọng tột cùng! Làm cách nào tôi có thể cột mảnh băng quanh đầu? Tôi phải cầm máu lại. Tay trái tôi tê liệt, tôi chỉ có thể sử dụng tay mặt để giữ mảnh băng, nhưng tay này phải giữ cần điều khiển. Tôi kéo mảnh băng thứ hai để đắp, nó lại bay mất khi tôi vừa lấy tay ra. Mảnh thứ ba và bốn cũng vậy. Tôi phải làm gì đây? Tôi hầu như rối loạn. Cơn đau gia tăng dữ dội hơn.

Tôi còn một chiếc khăn quàng bằng lụa quấn quanh cổ. Tôi tháo ra và đè một chéo dưới đùi bên mặt để gió khỏi cuốn đi. Sau đó tôi rút con dao bỏ túi dùng răng kéo lưỡi dao ra. Tôi cắn chặt một chéo của khăn quàng và cắt một đoạn, nhưng bị gió cuốn bay mất lập tức. Tôi không biết làm sao. Tuyệt vọng. Tôi cuống cuồng tìm giải pháp. Chỉ còn một đoạn khăn quàng.

Tôi khom người về phía trước để tránh gió, và bắt đầu nhét đoạn khăn vô bên trong chiếc nón phi hành ngay chỗ vết thương. Thành công. Tôi ngồi thẳng dậy và đưa chiếc phi cơ vượt lên. Cơn đau dịu xuống nhanh chóng. Máu ngưng chảy. Nhưng cơn buồn ngủ lại ập đến, tôi xô đuổi cách mấy cũng không được. Hơn một lần tôi chợp mắt, cằm gục xuống ngực. Tôi lắc lắc đầu, hy vọng cơn đau sẽ làm tôi tỉnh táo. Chiếc phi cơ đâm đầu xuống mấy lần. Cơn buồn ngủ vẫn không xua đuổi được khiến tôi nổi giận. Tôi đưa tay tát vào má thật mạnh nhiều lần. Tôi không thể tiếp tục lối này mãi được. Tôi sớm cảm chất máu mằn mặn. Má tôi sưng phù thêm, không khác nào ngậm một trái banh trong miệng. Nhưng không có cách nào khác hơn, tôi tiếp tục tát vào má nữa. Có lẽ thức ăn sẽ thắng cơn buồn ngủ. Tôi lôi hộp thức ăn ra và nhét bánh mặn đầy miệng. Tôi lại cảm thấy buồn ngủ hơn bao giờ hết. Tôi nhét thêm thức ăn vô miệng nữa, nhai thật kỹ trước khi nuốt.

Lát sau, tôi nôn mửa dữ dội làm chiếc phi cơ mất kiểm soát khi tôi vặn vẹo thân thể trong cơn nôn. Thức ăn tung toé đầy trên chân tôi và trên tấm bửng dụng cụ. Ngay cả sự khổ sở mới này vẫn không xua đuổi nổi cơn buồn ngủ ùa đến. Tôi lại tát má liên hồi cho đến khi không còn cảm giác nào nữa. Trong lúc tuyệt vọng, tôi đưa tay đập lên đầu, nhưng cũng vô ích. Tôi muốn ngủ! Ồ! Hãy cứ ngủ đi, quên mọi chuyện…
Chiếc phi cơ chao qua chao lại, bay xiên xẹo. Tôi cố giữ cần lái một mực, không biết rằng nhiều khi tay tôi rớt xuống bên trái hoặc bên phải khiến cho phi cơ xoay vòng dữ dội. Tôi sẵn sàng bỏ cuộc. Tôi biết không thể giữ mãi tình trạng này mãi mãi. Nhưng tôi nguyện với lòng sẽ không chết như một tên hèn nhát, bằng cách chúi xuống biển, ít ra tôi phải chết như một Samurai. Cái chết của tôi phải lôi theo nhiều kẻ thù.

Một chiến hạm. Tôi cần một chiến hạm địch để lao xuống. Thoát ra khỏi cơn tuyệt vọng tràn ngập, tôi quay chiếc Zéro hướng về Guadalcanal. Nhiều phút sau đó tôi tỉnh táo trở lại. Không còn buồn ngủ nữa. Không còn đau đớn nữa. Tôi hiểu hành động của mình. Nhưng tại sao lại chết bây giờ, nếu tôi có thể bay đến Buka hoặc ngay cả Rabaul? Tôi lại quay hướng chiếc Zéro và bay về phía Bắc. Một vài phút sau đó tôi lại muốn thiếp ngủ. Trí óc tôi u mê. Thế giới quanh tôi mù mịt. Tôi lại quày phi cơ, hướng về Guadalcanal. Quày đi quày lại năm lần như vậy. Tôi bắt đầu la khan nhiều lần. “Hãy thức tỉnh!”. Dần dần cơn buồn ngủ biến mất. Tôi nhắm hướng Rabaul. Hiển nhiên là nếu cứ bay về phía Bắc thì không gì bảo đảm tôi sẽ về tới căn cứ. Nhưng tôi không định nổi vị trí. Tôi chỉ biết nhắm hướng Rabaul một cách tổng quát. Tôi biết tôi ở phía Bắc Guadalcanal, nhưng không biết khoảng cách bao xa. Tôi nhìn xuống biển, nhưng không tìm ra một hòn đảo nào trong chuỗi đảo trải dài đến Rabaul. Chỉ chân mặt của tôi còn đạp bàn đạp điều khiển bánh lái được, như vậy chiếc phi cơ có thể đã xoay về phía Ðông của quần đảo Solomon.

Tôi rút tấm hải đồ dưới ghế ngồi. Nó vấy đầy máu. Tôi nhìn hồi lâu, chà tấm hải đồ lên quần để tẩy mấy vết máu, nhưng vô ích. Tôi cố định vị trí bằng cách nhìn mặt trời nhưng vô ích. Cả ba mươi phút trôi qua vẫn không có một hòn đảo nào xuất hiện. Có cái gì không ổn? Tôi hiện ở đâu? Bầu trời trong sáng hoàn toàn và đại dương trải dài vô tận.

Một hòn đảo! Cuối cùng, một hòn đảo, ngay trước mặt tôi. Nó ở mãi phía chân trời, nổi lờ mờ trên mặt nước. Phấn kích, tôi cười khan. Bây giờ, mọi việc yên rồi, tôi có thể định vị trí và chắc chắn tôi đang hướng về Rabaul. Tôi bay và tiếp tục bay, bồn chồn dõi mắt tìm kiếm bờ biển.

Hòn đảo biến mất. Nó đâu rồi? Tôi không nằm mơ chớ? “Hòn đảo” đang trôi qua bên phải tôi, đó là một đám mây sà thấp!

Tôi cố gắng xem lại la bàn. Tôi không thể nào đọc được những con số. Tôi cúi mọp về phía trước, mũi hầu như chạm vô mặt kiếng la bàn. Cuối cùng tôi đọc được. Tôi đang bay ở hướng 330 độ. Gần hai tiếng đồng hồ tôi không nhìn thấy hòn đảo nào cũng phải. Chiếc Zéro đang tiến ra trung tâm Thái Bình Dương! Soát lại hải đồ, tôi biết vị trí của tôi cách phía Ðông Bắc quần đảo Solomon 60 dặm. Chỉ phỏng đoán, nhưng đó là điều tốt nhất mà tôi có thể làm. Tôi xoay chiếc phi cơ về phía trái 90 độ và hướng đến một nơi mà tôi hy vọng là đảo New Ireland, nằm phía Ðông Bắc New Britain và Rabaul.

Những lượn sóng buồn ngủ lại phủ chụp lấy tôi. Nhiều lần làm tôi hoảng hốt giữ thăng bằng khi chiếc phi cơ đảo cánh hoặc lộn ngược. Tôi bay chập choạng xuyên qua bầu trời, lâu lâu cúi về phía trước xem la bàn, điều chỉnh hướng bay cho đến khi tôi chắc chắn phi cơ đang tiến đến New Ireland.

Nhưng bỗng nhiên cơn đau trên đầu gia tăng khiến tôi không còn buồn ngủ nữa. Rồi thình lình tôi tỉnh táo hẳn. Không một dấu hiệu báo trước, chiếc phi cơ tắt máy. Tôi biết bình xăng chánh đã cạn. Tôi còn một bình xăng phụ, nhưng phải mất một thời gian ngắn để chuyển qua. Khi mở nút chuyển tiếp xăng phải làm nhanh chóng và chính xác. Thông thường, công việc này tôi sử dụng tay trái và không có gì khó khăn. Nhưng hiện thời tay trái tôi đã liệt hẳn. Tôi phải sử dụng tay mặt, nhưng với qua phía bên kia phòng lái không tới.

Chiếc Zéro tắt máy rớt xuống biển chầm chậm và êm ái. Tôi cố gắng hết sức cuối cùng mở được.

Xăng không chảy qua ống, vì ống quá lâu nên đã thoát hết không khí. Tôi vội vã sử dụng bơm tay, dự trù cho trường hợp bất ngờ. Hiệu quả tức khắc. Với một tiếng rồ nhẹ, máy chạy trở lại và chiếc Zéro lướt êm về phía trước. Không phí một giây nào, tôi trở lên cao độ 500 thước.

Phi cơ bay chầm chậm. Tôi chỉ còn trong tay không đầy hai giờ nhiên liệu để đáp xuống hòn đảo do Nhựt chiếm đóng. Không đầy hai giờ, tôi sẽ sống hoặc chết.

Một giờ trôi qua… Trước mắt tôi vẫn chỉ là biển cả bao la và bầu trời xanh thăm thẳm. Thình lình tôi thấy một vật gì nổi trên mặt nước. Một hòn đảo! Lần này không lầm nữa, không phải là một đám mây trước mắt. Nhứt định là một hòn đảo. Hòn đảo Xanh, hòn đảo san hô có hình móng ngựa mà tôi đã để ý trên đường bay đến Guadalcanal sáng nay. Tôi soát lại bản đồ. Hy vọng tràn trề… Tôi chỉ cách Rabaul 110 km!

Sáu chục hải lý. Thông thường chỉ là một cái nhảy ngắn. Nhưng tình trạng hiện thời đầy bất thường và đang tồi tệ thêm. Tôi chỉ còn đủ xăng để bay trong vòng 40 phút. Chiếc Zéro lại bị hư hại trầm trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến tốc lực. Tôi bị thương nặng, tê liệt một nửa thân, mắt bên mặt mù hẳn và mắt trái nhìn thấy không rõ lắm. Tôi đã kiệt sức, và tôi phải tận dụng hết năng lực để giữ chiếc phi cơ thăng bằng.

Một hòn đảo khác, ngay trước mắt tôi. Ðây là đảo New Ireland, và phía xa xa là rặng núi cao 2,400 bộ. Vượt qua phía bên kia rặng núi đó, tôi có thể về tới Rabaul. Tôi đã đâu mặt với hàng loạt chướng ngại vật phía trước khi tiến vô căn cứ nhà. Những đám mây dầy đặc tụ quanh các đỉnh núi, và đột ngột một cơn mưa bão thật dữ dội trút xuống. Dường như khó có thể vượt qua nổi. Kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể xác, nửa đui nửa sáng, và trong một chiến đấu cơ hư hại trầm trọng, làm sao tôi có thể vượt qua một cơn mưa bão, nguy hiểm tột cùng ngay cả dưới những tình trạng bình thường?

Tôi đành bay vòng. Kim đồng hồ chỉ mực xăng của tôi càng lúc càng hạ thấp. Tôi chỉ còn vài mươi phút trên không. Tôi bặm môi và quay về hướng Nam. Chiếc phi cơ bay chầm chậm xuống eo biển George nằm giữa Rabaul và New Ireland. Hai vệt trắng xoá lướt trên mặt nước phía dưới cánh tôi. Tôi thấy hai chiến hạm Nhựt, có vẻ là hai tuần dương hạm hạng nặng, đang xả hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Guadalcanal.
Tôi hầu như ứa nước mắt khi nhìn thấy hai chiến hạm. Tôi muốn chúi phi cơ xuống biển, một trong hai tuần dương hạm có thể cứu tôi. Hy vọng tràn ngập trong tôi. Rabaul lúc ấy hình như cách xa hàng triệu cây số. Tôi quần mấy lần trên hai chiến hạm, sẵn sàng đáp xuống mặt nước.

Tôi không thể thực hiện ý định của mình. Hai tuần dương hạm đang trên đường đến Guadalcanal để chiến đấu. Nếu chúng ngừng lại để vớt tôi lên, việc này không chắc lắm, nhiệm vụ thúc bách của chúng sẽ trì trệ. Không thể đáp xuống biển. (Nhiều tuần lễ sau này tôi mới biết đó là hai tuần dương hạm Aoba và Kinugasa, mỗi chiếc 9,000 tấn đang hướng đến Guadalcanal với tốc lực hơn 33 hải lý một giờ. Cùng với nhiều chiến hạm khác, Aoba và Kinugasa tấn công đoàn công-voa của Ðồng Minh ở Luga, đánh chìm bốn tuần dương hạm cùng gây hư hại cho một tuần dương hạm và hai khu trục hạm khác của địch quân).

Một lần nữa, tôi quay về hướng Rabaul. Ðồng hồ chỉ mực độ xăng cho thấy chỉ còn hai mươi phút bay nữa mà thôi. Tuy nhiên nếu không tiến về Rabaul được, tôi có thể đáp trên bãi biển. Thế rồi hòn núi lửa quen thuộc hiện ra ở chân trời. Ðã đến nơi rồi, Rabaul đã nằm trong tầm mắt.

Tôi phải đáp xuống. Việc này thật khó khăn vô cùng, với một nửa thân thể hoàn toàn tê liệt của tôi. Tôi cố đảo quanh phi trường, do dự, không biết làm gì. Tôi không biết rằng tôi đã bị báo cáo mất tích, tôi cũng không biết rằng tất cả các phi cơ khác đã đáp xuống hai giờ trước đó, ngoại trừ hai chiếc bị hạ ở Guadalcanal. Sau này Ðại úy Sasai nói với tôi ông không tin hai mắt của mình khi nhận ra chiếc Zéro của tôi xuyên qua ống dòm. Ông la tên tôi thật lớn, và tất cả các phi công khác túa ra khắp nơi trên phi đạo.

Lúc này tất cả những gì tôi nhìn thấy được là phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Tôi quyết định đáp xuống mặt nước cạnh bờ biển. Chiếc Zéro xuống chầm chậm. Tám trăm bộ, bảy, bốn rồi một trăm bộ, tôi chỉ còn cách mặt nước năm mươi bộ. Là 15 thước. Tôi lại thay đổi ý kiến. Cảnh máy bay vỡ tan trên biển và cái đầu bị thương của tôi đập về phía trước, là hình ảnh đáng sợ. Tôi khó mà sống sót được.

Tôi vượt lên và quày lại phi đạo ở cao độ 500 m. Lần này hoặc là tôi đáp xuống hoặc là không bao giờ nữa.  Chiếc Zéro hạ chầm chậm khi tôi đẩy cần điều khiển về phía trước. Tôi thả bánh xe. Tốc lực chiếc phi cơ giảm xuống. Tôi nhìn những dãy chiến đấu cơ xếp dài hai bên phi đạo đang xô chạy về phía tôi. Tôi phải tránh đụng các phi cơ đó. Tôi vượt trở lên, vì nhận thấy tôi đã xuống lệch quá xa về phía trái.
Sau khi quần đến lần thứ tư, tôi cố đáp xuống một lần nữa. Dù cho xăng còn rất ít trong bình, chiếc phi cơ vẫn có thể nổ nếu nó va chạm. Hàng dừa trồng ở đầu phi trường lờ mờ trước mắt tôi. Tôi lướt phía trên và cố điều chỉnh độ cao của tôi bằng những ngọn dừa này. Bây giờ… tôi đã ở trên phi đạo. Một cái xóc thật mạnh khi bánh xe chạm mặt đất. Tôi kéo ngược cần điều khiển và ghì chặt với tất cả sức mạnh để giữ cho chiếc phi cơ khỏi chạy xiên vẹo. Chiếc Zéro lao bánh và ngừng lại gần Bộ Chỉ Huy. Tôi cố mỉm cười, một làn sóng đen thẫm phủ chụp lên tôi.

Tôi cảm thấy như bị rớt chìm xuống đáy một hố sâu vô tận. Mọi vật hình như đều xoay tít dữ dội. Tôi nghe những tiếng thét gọi tên tôi vang lên xa xa. “Sakai! Sakai!” Tôi rủa thầm. Tại sao họ không giữ im lặng? Tôi muốn thiếp ngủ.

Màu đen biến mất. Tôi mở mắt ra nhìn thấy nhiều khuôn mặt bao quanh. Tôi đang nằm mơ, hay tôi đã thật sự trở về Rabaul? Tôi không biết. Mọi thứ đều không thật. Tất cả đều là mộng mị. Tôi chắc vậy. Những gì tôi đang thấy không thể là sự thật. Mọi thứ lại tan thành những lượn sóng màu đen sẫm trộn với những tiếng la lớn.

Tôi cố gượng dậy. Tôi bám vào buồng lái và cố đứng lên. Ðây là “Rabaul”. Cuối cùng, không phải là mộng mị. Thế rồi tôi ngã quỵ xuống hẳn. Không còn sức lực. Những cánh tay mạnh mẽ nhấc bổng tôi ra khỏi phi cơ.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

June 26th, 2020

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

Kỳ 19

Chương “Tử chiến Guadalcanal” trong hồi ký Sakai toát lên một thực tế: Khả năng sáng chế liên tục các kiểu máy bay tân kỳ của kỹ nghệ Hoa Kỳ. Khác oanh tạc cơ thuần thả bom từ cao độ, phóng pháo cơ sà thấp phóng thủy lôi, đâm bổ ném bom hoặc “strafing” quét đại liên sát mặt đất. Lần đầu tiên Sakai chạm trán các phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless hỗn danh “Lá Gan”, hiểu ngầm là “Gan dạ” và Grumman TBF Avenger, “Kẻ báo thù”. Chính cấu trúc cứng, bọc thép toàn phần, cùng tính cơ động mạnh lên đến 1,900 mã lực của chiếc Avenger trang bị 6 trọng liên trong đội hình Defensive Box, so với động cơ 840 mã lực và thân không bọc thép của chiếc Zéro, làm nên ưu thế của các phi công US NAVY. Cũng lần đầu tiên Sát tinh Sakai trúng đạn! Riêng hậu thân của chiếc Dauntless và Avenger sẽ là máy bay Douglas A1-Skyraider “Kẻ Cướp Trời” rất quen thuộc với Không quân VNCH.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 19

Tôi quay lại để kiểm soát các phi cơ bên cánh của mình. Nhưng, nhìn khắp nơi, tôi vẫn không thấy Yonekawa và Hatori ở đâu. Phi cơ của Ðại úy Sasai, với hai sọc xanh kẻ dọc theo thân, trở lại đội hình với nhiều chiến đấu cơ khác bay thành hàng phía sau ông. Nhưng vẫn không có hai phi cơ bên cánh của tôi.
Cuối cùng, tôi nhìn thấy họ bay khoảng 500 m phía dưới mình. Tôi há hốc miệng. Một chiếc Wildcat đơn độc truy đuổi ba chiếc Zéro đang cuống cuồng lẩn trốn. Chiếc Wildcat nhả từng tràng đạn. Tôi lắc cánh để báo hiệu cho Sasai và chúi xuống. Chiếc Wildcat đang bám sát, rót đạn vô cánh và đuôi của một chiếc Zéro. Trong lúc khẩn cấp, tôi bắn vội một viên đại bác. Lập tức chiếc Wildcat lảng ra bằng cách lộn nhào một vòng về phía phải, quành thật ngặt rồi vượt lên đâm thẳng vào phi cơ của tôi. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ địch nào bay mau lẹ và đẹp mắt như vậy. Mỗi giây các họng súng của nó mỗi chĩa vô sát bụng tôi hơn. Tôi lăn thật nhanh để tránh né. Chiếc Zéro rùng mình khi tôi hạ mạnh tốc độ xuống. Vồ trật, viên phi công địch lộn ngược trở lại. Tôi tăng gia tốc, lộn ngay về bên trái. Ba lần lộn nhào, tôi cho chiếc Zéro xoay tít để rớt xuống theo hình trôn ốc. Cả hai chúng tôi cùng giữ hai chiếc phi cơ xoáy hình trôn ốc này. Tim tôi đập liên hồi và đầu tôi như có sức mạnh ngàn cân đè lên. Mắt tôi nổ đom đóm. Tôi cắn chặt răng chịu đựng lực ly tâm. Nếu kẻ nào bỏ cuộc đầu tiên, lảng ra một hướng để giải toả áp lực, kẻ ấy sẽ đi đời. Ðến vòng xoáy thứ năm, chiếc Wildcat hơi lơi ra. Tôi sẵn sàng khai hỏa, nhưng đối thủ chúc mũi xuống, tăng gia tốc và, một lần nữa, viên phi công địch nắm vững cần lái. Ðáng nể!

Tuy nhiên, hắn sai lầm ngay phút kế đó. Thay vì tiếp tục vung trở lại vòng xoáy thứ sáu, hắn nhấn thêm ga, phá vỡ một góc vòng xoay và lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi chĩa mũi ngay phía sau, cắt ngang đường bay của hắn. Và tôi cứ cắt như vậy nhiều lần, khiến cho hình thắt nút dây của hắn càng lúc càng thâu hẹp lại. Khi hai phi cơ còn cách nhau 50 thước, chiếc Wildcat bỏ lối bay cũ để vượt thẳng lên. Một lối tránh né mạo hiểm! Ở khoảng cách hiện thời, tôi không cần sử dụng đại bác 20 ly. Tôi rót 200 viên đạn đại liên vô phòng lái, nhìn thấy đạn soi thủng lớp kim khí mỏng và phá tan kiếng chắn gió của chiếc Wildcat. Mảnh sắt văng lên không trung. Tôi không thể tin nổi vào đôi mắt của mình. Chiếc Wildcat vẫn tiếp tục bay như không có việc gì xảy ra. Nếu phòng lái lãnh đạn như vậy, một chiếc Zéro sẽ bốc cháy lập tức. Tôi không sao hiểu nổi. Tôi gia tăng tốc lực, tiếp tục áp sát đối thủ, vừa đúng lúc chiến đấu cơ địch mất tốc độ. Làm trong một thoáng, tôi đã trượt ra phía trước chiếc Wildcat mươi thước. Tôi đưa lưng, chuẩn bị ăn đạn của đối phương.

Không một viên đạn nào bay đến! Các khẩu súng của chiếc Wildcat vẫn im lặng. Tôi hạ tốc độ cho đến khi hai phi cơ bay song song. Tôi mở cửa buồng lái để nhìn. Tôi có thể nhìn thấy viên phi công địch rõ ràng. Một người khổng lồ với gương mặt bầu bĩnh, mặc quân phục ka ki nhạt, có vẻ đứng tuổi.

Chúng tôi bay song song nhiều giây trong đội hình kỳ quái. Ðôi mắt chúng tôi gặp nhau qua khoảng không gian nhỏ hẹp giữa hai chiếc phi cơ. Chiếc Wildcat như một đống sắt vụn. Nhiều lỗ đạn soi thủng ở thân và cánh từ bên này xuyên suốt qua bên kia. Bánh lái sau đuôi phi cơ te tua, những miếng kim khí chĩa ra giống như một bộ xương. Tôi có thể hiểu tại sao viên phi công không khai hoả: máu ướt đẫm vai và chảy thành nhiều vệt xuống ngực hắn. Vậy mà phi cơ của hắn vẫn còn bay, không thể tin nổi. Nhưng tôi không thể hạ sát một người bất động, mang đầy thương tích, trong một chiếc phi cơ chỉ còn là một đống sắt nát. Tôi giơ nắm tay trái lên lắc lắc la lớn, biểu hắn hãy đánh nhau thay vì bay giống như một con bồ câu đất, mặc dù tôi biết chuyện đó khó xảy ra. Viên phi công Mỹ nhìn tôi có vẻ hoảng sợ, hắn giơ tay phải lên vẫy vẫy một cách yếu ớt. Như hắn muốn phân bua.

Tôi chưa bao giờ có cảm giác kỳ dị như thế này. Tôi đã giết nhiều người Mỹ trên không, nhưng đây là lần đầu tiên, trước một đối thủ kiệt lực mang đầy thương tích, tôi lại ngần ngừ. Tôi không biết có nên dứt điểm hắn hay không. Nhưng ý nghĩ của tôi rõ ràng là ngù ngờ. Bị thương hay không, hắn cũng là kẻ thù, một kẻ thù vừa hạ ba đồng bạn của tôi vài phút trước đây. Tuy nhiên, thật sự tôi muốn hạ chiếc phi cơ hơn là hạ viên phi công.

Tôi lùi lại và lướt đến sau đuôi chiếc Wildcat. Viên phi công cố thu hết năng lực cuối cùng để đưa chiếc phi cơ của hắn lướt lên. Tôi nhắm đầu máy và ấn cò đại bác. Một tiếng nổ bùng với lửa và khói túa ra. Chiếc phi cơ lật nhào và viên phi công nhảy dù ra ngoài. Phía dưới tôi, gần đúng trên bãi cát Guadalcanal, chiếc dù bung ra. Cuối cùng, tôi thấy viên phi công đáp xuống bãi biển.

Ba chiến đấu cơ Zéro khác đã trở về kết hợp bên cánh của tôi. Chúng tôi cùng vượt lên và quay trở lại Guadalcanal để kiếm phi cơ địch nữa.

Ðạn cao xạ bắt đầu nổ quanh chúng tôi. Những đốm đen khắp nơi. Chỉ vài giờ sau khi đổ bộ, các giàn cao xạ hạng nặng của địch quân đã được thiết lập trên bãi biển. Tôi biết rằng các lực lượng Nhật phải mất ít nhất ba ngày sau khi đổ bộ mới thiết dựng được các vị trí phòng không. Tốc độ di chuyển chiến cụ lên bờ của quân Mỹ nhanh chóng đến mức kinh ngạc.

Tôi trở lại cao độ 7,000 bộ với ba chiến đấu cơ phía sau. Chúng tôi bay xuyên qua những đám mây, và lần đầu tiên trong suốt mấy năm chiến đấu, tôi bị một phi cơ địch vồ mà không hay biết. Bất thình lình tôi sực nghe một tiếng phụp thật mạnh và một lỗ hổng nửa phân xuất hiện trên kiếng chắn gió bên trái của tôi. Lỗ hổng chỉ cách tôi vài phân. Tôi vẫn không nhìn thấy chiếc phi cơ nào khác trên không. Có lẽ viên đạn từ mặt đất bắn lên. Sau đó, tôi mới nhìn thấy loáng thoáng một oanh tạc cơ địch, không phải một chiến đấu cơ, đang lủi vô mây. Sự liều lĩnh của viên phi công địch đáng sợ. Với một chiếc oanh tạc cơ chậm chạp, hắn dám giỡn mặt với ba chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi.

Chớp mắt, tôi đã ở phía sau đuôi hắn. Không phải oanh tạc cơ mà là phóng pháo cơ đâm bổ. Chiếc Douglas SBD Dauntless nhô lên hụp xuống nhiều lần rồi thình lình chui vô một đám mây. Ðâu thể để mất con mồi dễ dàng như vậy, tôi đeo dính hắn. Khoảng một vài giây, tôi chỉ thấy một màu trắng xoá khi chúng tôi lướt xuyên qua một tảng mây dày đặc. Ðám mây giống một ổ bánh kem mà chúng tôi đâm sầm vào đó. Nhiều phút trắng ngợp mờ mịt. Kế đó, chúng tôi thoát ra khoảng trống, tôi tiến sát như chớp và khai hoả. Tên xạ thủ phía sau đuôi chiếc phóng pháo cơ ngã chúi trên khẩu súng của hắn. Một loạt đại bác nữa rót vô đầu máy. Chiếc Dauntless lộn về phía trái mấy vòng, rồi chúi xuống dữ dội. Yonekawa thấy viên phi công nhảy dù ra. Ðó là sát thủ thứ sáu mươi của tôi.

Trở lên 13,000 bộ, tôi tìm kiếm những phi cơ khác của chúng tôi nhưng không thấy. Một vài phút sau, bay trên bờ biển Guadalcanal, tôi phát hiện một nhóm phi cơ bay cách phía trước mặt nhiều dặm. Tôi báo hiệu cho hai phi cơ bên cánh và lướt đến. Không lâu, tôi đếm rõ tám phi cơ địch tất cả, bay làm hai nhóm. Tôi ra dấu đánh nhóm bên phải nhường nhóm bên trái cho ba chiếc Zéro theo sau tôi. Ðối thủ bay trong một đội hình phòng vệ rất chặt chẽ, hình như là chiến đấu cơ Wildcat. Tôi có thể lướt từ dưới lên đánh tập hậu, và có thể hạ hai chiếc trong loạt khai hoả đầu tiên. Tôi tiến sát được chừng nào hay chừng nấy. Khoảng cách còn 200 thước, rồi 100 – 70 – 60 thước…

Ghi chú Quân sự

Phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless

Phi hành đoàn: 2

Dài: 10.08 m, Cao: 4.14 m

Trọng tải: 4,853 kg

1 động cơ 1,200 mã lực

Vận tốc tối đa: 410.38 km/h

Đường kính: 1,243 km

Trần bay: 7,780 m

2 đại liên 12 ly 7

2 đại liên 7 ly 62

1,020 kg bom

Phóng pháo cơ Grumman TBF Avenger  

Phi hành đoàn: 3 (phi công, hoa tiêu phóng ngư lôi kiêm xạ thủ súng máy bụng và xạ thủ pháo tháp đại liên)

Dài: 12.48 m, Cao: 4.7 m

Trọng tải: 8,115 kg

1 động cơ 1,900 mã lực

Tốc độ tối đa: 444 km/h

Đường kính: 1,610 km

Trần bay: 9,170 m

1 đại liên 7 ly 62 trước mũi

2 đại liên 12 ly 7 trên cánh

1 pháo tháp nòng đôi 12 ly 7

1 đại liên 7 ly 62 dưới bụng

1 thủy lôi hoặc 900 kg bom

Tôi đã lọt vô bẫy! Phi cơ địch không phải chiến đấu cơ F4F Wildcat mà là phóng pháo cơ hạng nặng. Loại Grumman TBF Avenger trang bị thủy lôi! Loại phóng pháo cơ kiên cố bọc thép dầy và võ trang tận răng mà tôi chưa từng thấy trước đây. Từ phía sau, Avenger trông giống như chiếc Wildcat, nhưng khi lại gần mới thấy kích thước bề thế đồ sộ của nó với tháp súng đôi trên lưng và dưới bụng đều trang bị đại liên 50. Giống những chiếc xe tăng trên không. Hèn chi chúng bay theo một đội hình chiến lũy như vậy. Mấy chiếc Avenger đang đợi tôi, và bây giờ tôi bị chụp ở cả hai phía bên phải và trái với 16 khẩu đại liên một lúc. Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp. Tôi không thể giảm tốc lực để quay lưng. Nếu tôi bỏ chạy hoặc lộn nhào tôi sẽ lãnh đạn vô bụng phơi trần tức khắc. Chỉ còn một cách, cứ lao đến và khai hoả tất cả vũ khí trong tay. Tôi ấn nút hoả lực, gần như cùng một lúc với tất cả súng của địch quân. Tiếng đại bác nện và đại liên dội lên lấn át mọi tiếng động khác. Khi hai phóng pháo cơ Avenger phựt bốc cháy, đối phương chỉ còn cách trước mặt tôi đúng hai mươi thước. Ðó là tất cả những gì sau cùng tôi nhìn thấy. Một tiếng nổ dữ dội long trời chà nát thân thể tôi. Tôi cảm thấy hai lỗ tai như bị muôn ngàn lưỡi dao chọc thủng. Vũ trụ bừng lên trong lửa đỏ. Cảnh vật rực lên, sáng lóa và rồi đôi mắt tôi như mù hẳn. (Ba phi công bay theo tôi về báo cáo với Trung tá Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, rằng họ đã nhìn thấy hai chiếc Avenger rớt xuống cùng một lúc với phi cơ của tôi. Họ còn cho biết thêm, hai chiếc Avenger địch kéo hai vệt lửa khói dài. Ðó là nạn nhân chánh thức thứ 61 và 62 của tôi. Nhưng một báo cáo khác của người Mỹ sau chiến tranh phủ nhận sự mất mát các phóng pháo cơ Avenger cất cánh từ ba hàng không mẫu hạm hoạt động ở phía Tây Nam Guadalcanal. Có lẽ hai phi cơ này đã trở về tàu được. Khi chiếc Zéro của tôi chúi xuống, với tôi hôn mê bất tỉnh trong buồng lái, cả ba chiếc Zéro cùng chúi xuống với tôi. Họ phải bỏ dở cuộc săn tìm khi tôi biến mất trong một đám mây sà thấp.)

Sau nhiều giây trôi qua tôi mới hồi tỉnh. Một luồng gió mạnh mát lạnh quất vào tôi, xuyên qua tấm kính chắn gió đã vỡ nát. Nhưng tôi vẫn còn mất cảm giác. Tôi không nhìn thấy và khó khăn suy nghĩ. Mọi vật đều mờ mờ ảo ảo. Cần điều khiển ngả nghiêng như một bánh lái trước sóng. Ðầu tôi ngoẹo hẳn về phía sau, ngoẻo trên miếng tựa đầu. Tôi cố nhìn, nhưng mọi vật lờ mờ chập chờn nhảy múa trước mắt. Phòng lái hình như đã vỡ tung, kiếng bể nát hết, gió ru tôi vào cơn mê nửa mơ nửa tỉnh. Tôi không cảm thấy gì khác hơn là một sự chìm đắm êm ả dịu dàng. Tôi muốn ngủ. Tôi cố gắng thức vì biết rằng tôi đã bị bắn trúng, rằng tôi đang hấp hối, nhưng tôi không hề cảm thấy sợ hãi. Nếu chết là như thế này, không đau đớn, thì có gì đáng lo… Tôi đang ở trong một thế giới đầy mộng mị. Một sự ngây ngất tràn đầy trong trí não. Ảo ảnh bơi lội phía trước tôi. Thấp thoáng nhiều hình ảnh từ từ sáng dần… Với sự ngạc nhiên, tôi nhìn thấy ánh mắt âu lo của Hatsuyo rồi khuôn mặt má tôi hiện ra rõ rệt. Bà kêu lên: “Xấu hổ chưa! Xấu hổ chưa! Thức dậy đi, Saburo, thức dậy đi! Con làm như đàn bà con gái không bằng. Con đâu phải là một tên hèn nhát! Thức dậy đi! Thức dậy!”.

Cày trên xứ Úc!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

Rai lai báo chí có chạy tin là: nhân viên hãng xưởng của Nhựt Bổn nhảy lầu tự tử vì áp lực của công việc đã quá sức chịu đựng. Quốc hội Nam Hàn nghe vậy chắc cũng sốt vó, lo cho con dân của mình nên vừa thông qua một dự luật cắt giờ làm việc từ 68 tiếng một tuần xuống còn 52 tiếng.

Vì theo thống kê, tính sa cạ, cho biết mấy Củ sâm Cao Ly nầy cày tối tăm mặt mũi, cực đứng hàng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Mexico và Costa Rica.

Chính vì làm chết bỏ, làm bất cần thân thể như vậy nên sau Thế Chiến Thứ Hai, Nam Hàn tăng trưởng về kinh tế rất đáng kể và đáng nể.

Đánh đổi cái tăng trưởng thần kỳ nầy, Nam Hàn đã trả một cái giá không hề nhỏ.

Làm việc nhiều mà chưa chắc chết ngay bây giờ; nhưng cũng sẽ chết chắc vì đủ thứ loại bịnh như tim mạch, cao máu vì căng thẳng thần kinh.

Phụ nữ Nam Hàn từ bỏ cái truyền thống khuê môn bất xuất để lăn xả vào đời, chịu chết vì chi phiếu trả lương “Dying for a Paycheck”.

Phụ nữ Đại Hàn giờ đây lập gia đình trễ. Lấy chồng không chịu đẻ nhiều như gà nữa. Bình quân chỉ có 1.2 con. Sinh suất thuộc hàng thấp nhứt trên thế giới. Hậu quả là dân số sẽ già nua hơn, trong tương lai số người trong tuổi lao động sẽ ít đi hậu quả tất nhiên đưa tới những bất ổn về xã hội.

***

Mấy thằng Úc đọc tin nầy, nó cười khè khè nói: “Sống là lè phè. Làm để sống; chớ sống đâu phải để đi làm! Sống vừa làm vừa chơi! Làm vừa đủ xài. trả ‘biu bộng’ là được. Cày là phải để dành thời giờ đi ăn nhậu với bạn bè. Rồi ‘trả bài’ cho con vợ nữa chớ.

Cày hoài, bỏ nhà riết, thì một hôm đi làm về sẽ nhận được bức tuyệt tình ca của em gài trên cánh cửa trong khi bếp lửa chiều hôm đã tắt rồi vì em đã bỏ nhà, tiếu ngạo giang hồ theo thằng khác. Lúc đó có hối cũng không còn kịp nữa. Vì đời đâu phải em lúc nào cũng cần ăn mà còn cần cái ‘khác’ nữa! Mà ‘cái khác’ cần cũng không thua kém gì ‘ăn’. Thiếu là bức rức lắm, ngủ không có được hè!”

Nhân sinh quan của Úc như vậy là đúng ngay chóc với bà con mình!

Nhớ lại Miền Tây quê mình được thiên nhiên ưu đãi, mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu nhờ nước phù sa sông Cửu Long bồi lấp nên bà con mình xưa sống rất lè phè! Làm ruộng, lúa mùa 6 tháng mưa; sáu tháng nắng nghỉ nhậu cho nó phẻ! Không có vụ ăn bữa sáng chạy lo bữa chiều bao giờ cho đến khi trời sập vào tháng Tư năm 1975. CS chiếm được chánh quyền, bọn quan lại ăn không chừa một thứ gì làm bà con mình mới bị lâm vào vòng đói khổ đến mức phải bỏ nước ra đi.

Người kẹt lại phải bán vợ, đợ con cho cái bọn Chệt Đài Loan hay bọn Củ Sâm Cao Ly. Làm quan cai trị để dân đến nông nỗi nầy thì thiệt là nhục! Còn bà con mình may mắn hơn, chạy thoát được chế độ CS, tới đảo, mười người là hết chín đều muốn đi Mỹ định cư; vì nước Úc ngày ấy có ai biết mặt mũi nó tròn méo ra làm sao? Rồi một số bà con ở đảo lâu nhưng không thấy Mỹ kêu réo gì hết ráo, sợ mục đảo, nên liều mạng đến Úc thử xem sao?

Đúng là hay không bằng hên! Đến đây thì ở lại đây; bao giờ bén rễ xanh cây cũng hổng thèm về nếu còn ‘Vi Xi’! Vì đến đây như cá gặp nước, (mặc sức lội); rồng gặp mây (mặc sức bay).

Mới tới, vô nhà tạm trú ‘hostel’ tạm 1, 2 tháng, chờ mướn nhà bên ngoài dọn ra, là ‘Social Security’, Sở An sinh Xã hội, ứng trước cho một mớ xài chơi… rồi từ từ mình tính.

Hồi nhỏ tới lớn, chưa thấy ai cho cắc bạc nào, trên răng dưới dép, lẹp bẹp tới đây, được móc xỉa cho xài, hỏi sao hỏng khoái nè Trời!

Bèn thư qua đảo nói: “Đi Úc đi sướng lắm!”. Và bà con mình ùn ùn kéo tới!

Bây giờ con số người Úc gốc ‘Mít’ đã tăng lên tới hơn 200 ngàn rồi đó! Ra đường, dạo tới dạo lui, đi lên đi xuống, may mà có em đời còn dễ thương, cứ 1000 người Úc mình gặp được tới 10 người Việt!

Úc đủ loại chủng tộc trắng, đen, vàng, đỏ sống chung  đụng với nhau. Đôi khi cũng có cự nự qua lại, do cái bọn chánh trị gia ‘láu cá’ đem vấn đề chủng tộc ra mà câu phiếu… Nhưng không có đến nỗi hở ra là kêu lính bắt vì da chú mầy đen quá như em nhân viên quán cà phê Starbucks bên Hoa Kỳ.

Vì người Úc nói chung vốn là dân ‘Outlaw’, coi pháp luật không ra ‘cà ram’ nào, khoái nghĩa khí giang hồ, coi ai cũng vậy, tụi mình bị áp bức, khổ quá mới giạt đến đây thì ăn hiếp nhau chi?

Phần lãnh thổ mênh mông gần 8 triệu cây số vuông, trải tới 3 múi giờ, tài nguyên quặng mỏ nằm ngủ yên dưới đất nhiều vô thiên lủng bấy nay, dân chỉ hơn 23 triệu một chút, hết tiền, đào đất lên bán cho Tàu cộng lấy tiền, chia đứa một mớ sống cầm hơi để chờ kinh tế qua cơn suy trầm cũng được mà; có chết đói đâu; nên giành ăn làm chi cho chúng nó khi.

***

Chính vì sướng lè phè như vậy nên Úc chế ra câu chuyện là: “Ông Trời đã tao ra nước Úc như thế nào?

Ngày đầu tiên, tạo thiên lập địa, Ộng Trời lấy đất sét nặn một đứa con thân yêu của người tên là ‘Aussie’ (Úc).

Ngày thứ hai, Người tạo ra ngày và đêm. Đêm để đi câu tôm về nhậu! Ngày có mặt trời, để Aussie chơi bóng bầu dục kiểu Úc gọi là: ‘Footy’. Chơi đồ mồ hôi, đi trượt sóng cho mát, đói bụng, leo lên ăn thịt nướng.

Rồi Người tạo ra đất để ‘Aussie’ trồng cây thuốc lá, vấn hút chơi, rừng cho củi để nướng thịt, men để làm ra beer.

Sau bảy ngày, mấy chú ‘Aussie’ nầy chỉ biết ăn rồi nhậu mà không ai dọn dẹp rửa chén, chùi lò gì hết ráo nên Ông Trời bèn tạo ra em Sheilas để dọn dẹp rửa chén, chùi lò, ẵm con, dỗ ngủ xong… bèn chiều chồng một tí!”

(Ông thần nào vẽ ra cái chuyện nầy thiệt là phi thực tế. Nói cho sướng miệng thôi chớ sự thực là mấy chú em ‘Aussie’ nầy phải sống một đời nô lệ, rửa chén, giặt đồ, bồng con mệt nghỉ trong khi con vợ nằm chình ình ở ghế sa lông, xem ti vi…

Bởi vì cũng theo thống kê, số đàn ông Úc nhiều hơn đàn bà. Mà theo quy luật cung cầu cái gì thiếu, ít là nó lên giá hè. Do đó làm đàn ông xứ Úc nầy đây so với đàn bà Úc không có ‘cà ram’ nào hết. Mấy thằng bạn nhậu của tui bị vợ bỏ hà rầm hè… Chắc mai mốt chắc sẽ tới phiên tui!)

***

Còn mấy em gái Úc đi cày cũng được đối xử ưu tiên hơn mấy anh ‘Aussie’. Đứa nào làm ‘boss’, ‘dê sảng’ nên mấy em không chịu, lại ỷ vào thế lực làm ẩu, bốc hốt bậy bạ như những quan lại CS trong nước, thì chịu khó vô hộp!

Thừa thắng xông lên, mấy em lợi dụng cái nữ quyền, cái thân liễu yếu đào tơ của mình một cách rất thông mình! Và anh ‘Aussie’ (láu cá vặt) rình rình ‘ăn theo’ em như vậy nè:

Một em công nhân nói “Em có thể khiến thằng cha quản lý cho em nghỉ làm bữa nay?” “Bằng cách nào vậy cưng?” “Coi nè!” Xong em chổng ngược chân lên trần nhà!

Boss bước vào hỏi: “Nè em gái đang làm gì vậy?” “Em làm cái bóng đèn!”

Boss nói: “Em làm việc nhiều quá nên đâm khùng rồi. Thôi ‘qua’ cho em nghỉ làm một ngày!” Nghe vậy anh ‘Aussie’ đồng nghiệp dợm bước theo em. Boss chặn lại: “Nè anh kia đi đâu đó?” “Tui đi về nhà; vì tui đâu có thể làm việc trong bóng tối!”.

***

Úc cu li, cà chớn bị đuổi việc bữa nay là mai có công ty khác nhận cho nó vô làm liền hè. Chỉ cần thấy cái đơn xin việc ‘John Smith’ là nó thích. Còn ‘Teo Nguyen’ tức Nguyễn văn Tèo chắc còn hơi lâu lâu; đối đế quá hỏng kiếm được ai mới tới phiên mình.

Tuy nhiên thấy Úc cà chớn làm vậy, mình đừng có xớn xác bắt chước theo nhe! Lợi bất cập hại! Bởi có chuyện vầy: “Trưởng phòng Kinh doanh, Trưởng phòng Nhân viên và Tổng Giám đốc điều hành công ty cùng đi ăn trưa. Quẹo qua con hẻm, tình cờ cả ba thấy một cái đèn có vẻ cổ xưa.

Trưởng phòng Kinh doanh nhặt lên, chùi xem nó có phải bằng vàng hay bạc? Thì bất ngờ có ông thần đèn từ trong đám khói hiện ra.

“Ta bị lời nguyền, nhốt trong chiếc đèn nầy gần 3000 năm. Bữa nay được các người giải thoát. Để tạ ơn, ta cho mỗi đứa một điều ước.”

Em Trưởng phòng Kinh doanh ước: “Trên bãi biển tuyệt đẹp Jamaica, một chiếc thuyền buồm, có kép đẹp như Alain Delon hồi còn trẻ. Tài khoản ngân hàng đủ để sống suốt cả đời mà không phải làm gì hết ráo!”

“Được!” Sau câu nói của Thần đèn, em Trưởng phòng Kinh doanh biến mất.

Anh Trưởng phòng Nhân viên: “Tôi muốn có một con vợ đẹp cỡ Nicole Kidman, thuở chưa có chồng. Tôi muốn sở hữu 3 tòa lâu đài ở ba nơi: New York, Paris và Hong Kong.” “Được” Sau câu nói của Thần đèn, anh Trưởng phòng Nhân viên biến mất.

“Còn ông Tổng Giám đốc công ty thì ước cái gì hè?” Thần đèn hỏi.

“Tui muốn hai đứa ‘ngu’ đó trở lại văn phòng làm việc lúc 2 giờ chiều nay!”

Bài học rút ra là bất cứ chuyện gì cũng phải nhường cho thằng ‘boss’ nói trước.

Nó nói gì cũng được… hơi sức đâu mình nghe!

Úc cu li, cày chừng 5 năm là nó lên đốc công, chỉ tay năm ngón, sai mình làm;

nhưng xạo sự là: “Mấy bồ đừng coi tui là ‘boss’ mà là bạn nhưng một người bạn có quyền ‘đá đít’ bồ!”

Chớ quý anh mình hồi xưa ở trong nước cũng bằng cấp đầy mình đó chớ nhưng qua Úc nầy xin làm cu li cày chừng hai, ba chục năm vẫn cứ cu li… thì chọc cho thằng boss, nó quạu mà chi?

Nên tâm niệm là: “The boss is always right!” Nghĩa là thằng ‘boss’ luôn luôn đúng; cho dù nó ngu đến nỗi ‘con bò’ còn thấy sợ!

Muốn trả thù nó, mười năm chưa muộn mà. Rán làm nuôi con cho nó lớn lên làm bác sĩ đi.

Một ngày nào đó, vợ thằng ‘boss’ đến khám bịnh, con mình kêu nó cởi truồng ra, sau đó gởi cái ‘bill’ về tính tiền thằng chồng của bả, tức thằng ‘boss’ của mình!

Trong khi chờ ngày tới con mình phục mối hận thù âm ỉ cháy trong lòng, thì mình cứ giả dại qua ải, nhẫn nhục đi cày, lè phè ít hơn Úc một chút… để nó nghĩ mình siêng!

đoàn xuân thu.

melbourne