This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mỗi người Việt Nam mình là một nhà thơ! Nhưng không phải chỉ mấy anh mới biết làm thơ thôi đâu nhe. Mấy em cũng biết làm thơ và làm thơ rất tới!
“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No. Anh có thương em thì mua một chiếc đò. Ðể em đi lại mua cò gởi thơ” là của mấy em đó thôi!
Ðêm cuối năm sầu lưu lạc! Nhớ quê nhà quá đỗi, tui bèn tẩn mẩn đem câu hát ru nầy ra chẻ nhỏ gặm chơi. Tui săm soi từng chữ coi có bớt được chút nào nỗi buồn xa xứ hay không?
Trường Ðại học Văn Khoa, môn ‘Ca dao Giảng luận’ Thầy tui, ngày cũ, cho rằng: Thơ truyền khẩu của ông bà mình là Ca dao, (từ Hán Việt). Ca có chương khúc, có vần, có điệu để hát và tấu (đàn hòa theo). Dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
Nhưng tui hổng có chịu cách cắt nghĩa tréo ngoe như vậy! Vì tui cho đây là lời hát ru của ông bà mình vốn làm ruộng mà đâu có học chữ Hán, chữ Tàu; nên không cần viết theo thể phú, thể tỉ, thể hứng gì ráo của mấy ông Tàu.
Lời hát ru đa phần là buồn quá mạng, tất phải có vần có điệu cho nó mùi, cho nó dễ nhớ, dễ thuộc. Câu lúc dài, lúc ngắn. Gieo vần có lúc ở giữa (yêu vận) có lúc ở cuối câu (cước vận); rồi vần với chữ tiếp theo sau là liên vận lên trầm, xuống bổng.
Nhưng tui hổng dám cãi; vì sợ thầy ‘quạu’ đeo cho bài thi của tui hai cái hột vịt!
o O o
Cái Răng
‘Chợ Cái Răng xứ hào hoa. Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh. Có trường hát cất rộng thinh. Ðể khi hứng cảnh thích tình xướng ca!”
Cái Răng là cái Cà ràng. Người Thổ (Khmer) ở miệt Xà Tón (Tri Tôn, Châu Ðốc) nơi có đất sét tốt, làm cà ràng, nồi, ơ, trách, chất đầy một ghe, chở xuống vùng đất nầy bỏ sỉ cho vựa nó bán. Năm dài chày tháng, cái vùng đất chuyên bán mấy cái ‘cà ràng’ nầy được gọi là Chợ Cái Răng.
Cà ràng hình số 8. Một đầu vách lú lên cao, chắn gió, để lửa không tạt ra ngoài để cơm mau chín, canh mau sôi. Tới cái eo thắt lại đủ chỗ đút vô vài ba cây củi. Xong lại phình ra chang bang, đối xứng với cái đầu trên. Trước khi lấy lá dừa khô nhúm lửa, mình cào tro còn sót lại ở trên đầu cà ràng xuống; không cho tro rớt ra ngoài.
Nhớ hồi Má tui đi coi vợ cho tui, vô nhà người ta mà Má cứ xăm xăm xuống bếp làm như ở nhà mình vậy. Tui hỏi: “Chi vậy Má?”“Thì tao coi cái bếp có sạch hông mới cưới nó cho mầy. Chớ cái bếp mà bung thùa cắt cái, mầy cưới về thì con vợ mầy chỉ biết nấu nước sôi”.
Má tui thiệt là bà già Trầu mà. Nếu em yêu hổng biết nấu cơm canh gì ráo thì tui đi ăn tiệm còn ngon hơn nữa, có sao đâu nè?
Ba Láng
Láng là vùng đất thấp. Mùa khô láng đầy bùn nhão nhẹt khó đi. Mùa nước nổi, láng nước tràn linh láng; xuồng ghe phải vẹt bèo mà đi. Dân cư thưa thớt; chỉ muỗi, đỉa, vắt thì nhiều. Một Láng đã khổ như vậy thì Ba Láng ắt phải khổ gấp ba.
Vàm Xáng
Còn cái Vàm Xáng là ngã ba sông, nơi thằng Tây nó đem xáng vào để đào kinh: Một là dẫn nước ngọt từ sông Hậu vô để rửa phèn cho dân làm ruộng, lập vườn. Hai là đem phù sa sông Hậu bồi đắp cho những vùng đất trũng. Ba là tiện bề đi lại bằng đường thủy. Bốn là chợ búa sẽ mọc lên, buôn bán ì xèo, kinh tế phát triển.
Kinh Xáng mới đào, Tàu Tây mới chạy. Thương thì thương đại, Bớ điệu chung tình! Con nhạn bay cao khó bắn, Con cá lội dưới ao quỳnh khó câu!’
Xáng chạy bằng hơi nước thoát ra từ nồi ‘súp de’, chụm bằng củi tràm, củi đước sắp sẵn dọc trên bờ nơi xáng đào sắp tới.
Xáng là con quái vật khổng lồ, máy nổ ầm ầm vang xa năm ba cây số. Xáng mạnh tới 350 mã lực với gàu bằng sắt, múc sâu tới 9 thước, được 375 lít, thổi bùn ra xa đến 60 mét.
Mấy thằng Tây làm cai, đứng cao trên xáng, hò hét chỉ huy đám ‘cu li’ người Việt. Trong số ‘cu li’ đó cũng có nhà thơ đã đặt ra câu hát ru truyền khẩu buồn nẫu ruột gan là: “Ðèn treo dưới Xáng tỏ rạng bờ kinh. Em có thương anh thì nói cho thiệt tình. Ðừng để anh lên xuống một mình bơ vơ”
Xà No
Vùng đất tên Xà No (Srok Snor) vì có nhiều cây điên điển. Ðất rộng người thưa, hoang vu chưa có chủ, nên hai thằng Tây Duval và Guéry xin chánh quyền thực dân Pháp cho đào con kinh Xà No. Toàn quyền Lanessan (1891 1894) cho đấu thầu ở Paris năm 1893.
Năm 1901 bắt đầu đào kinh Xà No tới tháng 7, năm 1903 là xong. Quân nhạc từ Sài Gòn xuống thổi kèn đồng tò le, tí le. Cả bọn gồm Toàn quyền Paul Beau (1902 1918), đám quan chức địa phương, thân hào nhân sĩ có máu mặt xúm nhau ăn nhậu, khui sâm banh lốp bốp; lại có cả nhảy đầm.
Con kinh mới cắm “bông tiêu”, xáng chưa nổ máy… chưa đào mà Toàn quyền Paul Doumer (1897 1902) đã ký nghị định số 338 ngày 14, tháng Hai, năm 1901 cho không hai thằng Tây Duval và Guéry 2,500 mẫu đất tốt hạng nhất (tọa lạc tại làng Nhơn Nghĩa, tổng Ðịnh Bảo, tỉnh Cần Thơ)
Ðiền Tây mướn bọn cựu lính Pháp có súng ống hẳn hòi làm cai điền. Tá điền nào bê trễ việc đong lúa ruộng, hoặc lén lút bắt trộm cá, tôm; ít thì bị bạt tai, đá đít. Nhiều thì giải lên Nhà việc đóng trăn rồi ra hầu Tòa.
Những người nông dân đó đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mà vẫn bị mạt hạng cùng đinh có câu hát ru buồn rười rượi:
“Phải chi tôi ở nhà gạch nhà lầu? Mỗi năm xâu thuế hai đầu cũng cam! Phải chi tôi làm chú lái, ông bang? Mỗi đêm ra dỏ canh làng cũng ưng! Tôi nghèo cháy nóp chai lưng…Úy trời đất ơi! Sao không để tôi đi làm thuê làm mướn? Ðặng sống cầm chừng với vợ con!”
Rồi những người Việt theo bợ đít Tây như Tổng đốc Phương được 2,223 mẫu, thuộc các làng Hỏa Lựu, Hòa Hưng, Vĩnh Hòa Hưng.
Còn bọn hương chức hội tề chạy chọt, đút lót cho Tây thì giành đất mặt tiền, “đất mứt”, (sát bờ kinh) lấn bà con dân ngu khu đen vào tuốt bưng biền.
o O o
Xưa giờ nơi nào có hơi tiền là có Chú Ba tới hè. Nhiều nhà máy xay lúa, chành lúa mọc lên. Ghe chài từ Chợ Lớn kéo xuống ăn lúa, đậu đầy nghẹt cả một khúc sông. Chợ được chánh quyền sở tại cất lên để thâu huê chi, buôn bán ì xèo.
Lỡ một cục đất chọi chim cũng không có… thì đành: “Ngồi trên mui ghe chài lớn. Cầm lái về kinh xáng Thới Lai. Nhìn thấy khói đốt đồng mù mịt lên khơi. Bây giờ anh mới biết chán đời đi ghe”.
Mà sao ông anh chán đời đi ghe đến vậy? Chẳng qua là trên ghe rày đây mai đó. Nếu có vợ rồi cũng đâu được đem theo, trừ con vợ của thằng Chủ ghe chài cho theo để nấu ăn cho cả bọn.
Nếu còn cu ki, chưa có em nào, là thôi rồi Lượm ơi! Ðành: “U Minh, Rạch Giá thị (thiệt) quá sơn trường! Gió rung bông sậy dạ buồn nhớ em”. Hu hu!
Làm ruộng thì không có đất. Ði ghe thì buồn thiệt! Nhưng thôi đừng có dại dột mà nghe lời soạn giả Ðiêu Huyền xúi bậy đi theo VC như nhân vật Thừa trong tuồng ‘Tiếng Hò Sông Hậu’ nhe mấy cha!
Sau hơn cả năm tính toán, mẹ tôi quyết định làm mới ngôi nhà. Không hẳn toàn bộ, chỉ chú trọng thay đổi mặt tiền. Dự trù sẽ hoàn tất sớm và căn nhà lưu giữ nhiều kỷ niệm của chúng tôi sẽ thay da đổi thịt biến dạng thành quán cà phê. Mẹ trao cho tôi quyền hạn của một ông chủ, từ trang trí nội thất đến chuyện hệ trọng: Làm thế nào bạn kinh doanh nghề ấy mà không bị thất thu, hao hụt thâm thủng nợ nần. Tôi liên tục truy cập vào internet để rút tỉa kinh nghiệm, bỏ công đi uống tất cả những hàng quán đông khách mọc vương vãi trên từng cây số. Dò xét, thu thập hay dở và tự mường tượng ra một khung cảnh có mình lao đầu vào thử thách. Gia đình tôi không ai có năng khiếu bán buôn, mẹ chẳng tin tưởng gì, chỉ cốt tạo công ăn việc làm cho tôi, trước mắt là vậy, đắp đổi qua ngày.
Khi sửa sang, những người thợ xây cất đã ngạc nhiên khi đụng phải ý kiến của mẹ tôi, bà cương quyết giữ nguyên một khung cửa sổ, không thay đổi, không tháo gỡ, không bịt kín. Theo họ, ô cửa kia trông chẳng có mỹ thuật, không phù hợp với diện mạo một quán cà phê hiện đại. Những chấn song cũ kỹ, như máng treo mòn mỏi nơi một nhà tù thời thuộc địa… Người thợ già tuổi trong bọn họ bình phẩm, để chính ông tự tìm lấy lời giải: Chắc bà cụ tin vào chuyện phong thủy! Sợ húy kỵ một điều gì chăng?
Mọi người thắc mắc, tôi cũng vậy, nhưng sau rốt tôi đã hiểu ra. Đó là khung cửa mà ngày xưa, đứa em út của tôi luôn bấu víu ngóng trông mỗi lúc mẹ tôi vắng nhà dài lâu. Em ngước mặt ra con đường, lộ vẻ hoang mang như thể thiếu mẹ, em chẳng nhìn thấy một niềm vui nào cả. Mẹ thương em là chuyện hiển nhiên, nhất là em đã chết hôm nào tìm đường vượt biển. Căn nhà sẽ lột xác nhưng mẹ muốn giữ chặt một hình ảnh, thứ hoài vọng dẫu buồn đau. Tôi đặt tên quán là “Dấu Lặng” như một biểu đồng tình, đồng thời tôi vẫn tin khách vào quán uống cà phê đa phần là muốn tìm lại âm hao một nỗi niềm vừa rời khỏi tay, chiêm nghiệm thêm về nỗi sầu khổ dịu dàng, như thất tình chẳng hạn, như một thề nguyền đã phôi pha, ví dụ thế. Cà phê đắng, làm mất ngủ, chừng đó chưa đủ phù hợp cho thứ tâm cảm kia sao?
Đêm trước ngày khai trương mở hàng mẹ đã vận áo dài bày đồ ra cúng sát bên khung cửa. Tấm ảnh đen trắng độc nhất của em đã úa vàng theo thời gian và bất hạnh thay, chúng tôi chẳng hề biết đích xác ngày em từ trần. Đã trùng khơi hay vẫn còn nằm trong hải phận nước nhà. Thủy táng hay thây phơi trên đụn cát ẩm muôn đời vô thừa nhận? Tôi cũng đứng vái với một chân nhang đang tự hủy diệt chiều dài oằn thân, nó vắn số hơn cả lời thầm thì tôi muốn nhắn gửi tới em.
Mẹ hỏi tôi đã kiếm đủ người phục vụ chưa? Rồi góp ý, có nên gọi Trâm tới ngồi ở quầy tính tiền không? Có lẽ Trâm vẫn chưa kiếm được việc làm. Cô không thể leo lên đại học vì vấn nạn lý lịch có cha anh là ngụy quân ngụy quyền, và sau cùng Trâm là bạn cũ của em tôi. Vì không đủ điều kiện, em tôi ra đi gần như trốn chạy Trâm và người bị phụ rẫy có khi họ khóc than do bởi một nguyên cớ khác. Tôi chưa thấy có ai khóc nhiều như Trâm, cơ hồ em tôi chết đi là chôn luôn bao hy vọng mà Trâm mãi kỳ vọng ký thác.
Nghe lời mẹ, tôi thử gọi Trâm. Cô đến với sự hân hoan chẳng dấu diếm. Cô chào mẹ tôi, lễ phép hệt như những kẻ sinh trước hạn kỳ 75 và cô nói với tôi: Anh trả lương cho em tùy hỉ, em thích công việc này, em thích nhìn ngó sinh hoạt một cuộc đời thu nhỏ trước mắt mình. Mai em sẽ đi chợ xi-đa, lùng sục đồ hàng bành để mua một bộ áo quần hàng ngoại tự làm mới mình, tự cách mạng bản thân. Khi quan sát một vòng quán, cô nói: Em thích ô cửa già nua kia, nó giúp mình ngoái nhìn những ngày cũ. Không phải là kẻ hoài cổ nhưng cái hiện tiền này nó đã ló mặt với tất cả vẻ trân tráo và sa đọa. Đôi khi, có lúc người ta phải hụp lặn vào ngày cũ để tìm bình an, anh tin không? Tôi tin và tôi an lòng khi có Trâm đến phụ việc. Mẹ bảo, nếu thằng út chẳng vắn số, biết đâu mẹ có được đứa con dâu lanh lợi tựa Trâm. Điều ấy ngầm nói hãy xem Trâm là một thành viên trong gia đình.
Trâm chẳng mấy đẹp, khuôn mặt sầu muộn ấy như chứng tích của nhọc nhằn mà đời sống mới đã tác động vào, gây tác hại. Cô là hoa hậu của những bông hoa thiếu nước và thiếu ánh sáng. Cô có hỏi qua ý tôi trước khi mang tới quán bức chân dung được em tôi vẽ tặng để máng treo vào một mảng vách trống mà cô bảo cần có thứ gì điền vào cho hợp lý. Tôi xúc động khi ngó ra chữ ký em tôi dưới góc khung bố. Có lẽ đây là tác phẩm tạo hình duy nhất của em và dù không hiểu về lĩnh vực hội họa, tôi vẫn nhìn thấy sự hiển lộng toát ra từ bức tranh. Trâm đẹp quá, trong sáng quá dưới nét cọ, hay đúng hơn dưới nhãn quang giàu cảm xúc của em tôi. Tôi đề nghị Trâm hãy treo nó phía sau quầy, nơi cô ngồi thu tiền, để cho khách thập phương tự tra cứu sự khác biệt về một cảnh giới hoang tưởng và sự thật đầy thương tích này. Để chứng minh lòng trân qúy cái đẹp tôi đi mua một cái khung gỗ có chạm trổ để lồng bên ngoài và bắt ngọn đèn nhỏ chiếu xuống thứ ánh sáng chừng mực vào một khuôn mặt như có học qua thuật thôi miên.
Quán khá đông khách, có thể do khung cảnh, âm nhạc chọn lọc, giá các thức uống vừa túi tiền, và cũng có thể do bởi sự hiện hữu của Trâm. Buổi tối về muộn, bao giờ cũng có đôi ba cậu thanh niên sẵn lòng hộ tống Trâm với lý do chúng biện minh: Bảo đảm an toàn cho người đẹp. Dĩ nhiên là Trâm tìm đủ mọi cách từ chối và tôi nghĩ tình trạng ấy nên chấm dứt, cho khỏi nhọc lòng đôi ba bên. Chuyện tới tai mẹ tôi, bà nói đi đêm cũng có ngày gặp ma. Những đứa trồng cây si ấy biết đâu chúng sẽ đổi thái độ nếu bị xua đuổi, thời buổi này hở một tí là động tới đao kiếm cường toan rạch mặt trấn lột hung bạo, thôi đã xem như người nhà thì con có thể ngủ lại đây. Chớ ái ngại.
Quán bán cà phê chiếm hai phần ba diện tích căn nhà, phía sau còn một phòng trống và Trâm đồng ý trú ngụ ở đó. Những đêm mưa gió, những tối mùa đông buốt giá sẽ chẳng còn đe dọa cô như trước. Trâm tiết kiệm được nhiều thứ, kể cả thời gian, cô tắm sớm và được ngủ đầy giấc hơn.
Một buổi sáng, khi dùng bữa điểm tâm, Trâm nhác ăn, biểu lộ sự ngầy ngật khó hiểu. May mà mẹ tôi đi chùa sớm và tôi có quyền lên giọng tra khảo khi chỉ còn hai đứa. Vặn hỏi mãi cô mới tiết lộ, đêm rồi em mộng thấy anh ấy, anh băng qua cánh cửa sổ ngoài kia, thoắt cái anh chui vào mùng và tụi em đã làm tình với nhau. Trâm gục đầu xuống bàn, được nâng đỡ bằng hai vòng tay khoanh tròn. Phía trước là dĩa xôi bắp chưa suy suyễn có những sợi tóc rối vung vãi. Em vào tắm rửa, em sẽ lên chùa, hôm nay cho phép em làm việc trễ một hai tiếng.
Tôi ngó theo khi Trâm rời bàn ăn. Có hoang đường không, bộ đồ ngủ kia chính tay tôi cẩn trọng cởi nó ra hồi hôm. Trâm chìu lòng, dịu dàng hứng đỡ sự đòi hỏi thịnh nộ của tôi để đến lúc đi cuối đường tôi đã gục mặt vào mái tóc kia đang xõa bung trên gối. Giấc mơ chỉ chừng đó, không được rõ nét những vùng da thịt lồ lộ phơi bày của Trâm. Tôi đã nằm mộng nhiều đêm và bao giờ cũng ngần ấy hình ảnh. Chỉ riêng sáng lạ thường này, Trâm cũng trải qua một giấc liêu trai, trùng hợp. Khác biệt duy nhất: không rõ Trâm ôm người em hay ông anh?
*
Trâm đứng cúi đầu với đôi mắt mọng nước. Sương khói hay nhang đèn làm buổi sáng mù mờ vẩn đục. Tôi đã nói nhiều lần nhưng Trâm không nghe, bắt tôi chở cô tới nghĩa trang quạnh vắng này. Mộ bia đề tên em tôi nhưng kỳ thực đó là ý tưởng của mẹ. Bà định liệu mua sẵn một chỗ nằm, để khỏi phải bị xí phần bà ngụy tạo ra một tên tuổi. Em tôi chết không có được một nấm mồ, bà làm vậy, một công hai chuyện, để tưởng nhớ em tôi trong lúc bà chưa thực sự xuôi tay, đi gặp mặt nó bên kia thế giới ngăn cách. Rồi bà sẽ điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa, và Trâm nên hiểu phía dưới mặt đất vẫn tuyệt đối chưa ôm lấy một bộ xương. Đất vẫn lạnh thường hằng, đất vẫn câm nín vĩnh cửu, đất trinh nguyên chưa bị đào xới phủ lấp qua bằng cuốc xẻn một lần.
Có thể Trâm cần một thứ bối cảnh, Trâm cần nhìn tấm bia có khắc đủ đầy tên họ em tôi, Trâm ngó tận mặt nó để biết chính xác rằng em tôi đã chết. Như vậy cô sẽ an tâm khi dốc lòng tâm sự. Người ta tin vào điều kỳ lạ, lâm râm nói không thành tiếng, chỉ máy môi vậy mà người nằm dưới ba tấc đất sẽ nghe hiểu tường tận thông suốt, cái mới dễ nể! Trong lúc đó, hai kẻ trên dương thế có khi nói sùi bọt mép, khô hơi rát cổ đả thông tư tưởng cho nhau mà rốt cuộc ông nói gà bà nói vịt, dễ đi đến chia rẽ gây hận thù. Cái mới nghiệt! Chơi với ma e dễ chịu hơn giỡn mặt người. Trâm thành kính với em tôi mà với tôi thì sức mấy cô niệm tình tha thứ nếu tôi mù quáng phạm tội.
Đôi lúc những thầm thì kia chợt phát tiếng, từ nhỏ tới lớn như muốn công khai niềm u ẩn riêng tư. Trâm khấn nguyện mà như đọc thơ, vần điệu ê a lên xuống trầm bổng kiểu kinh kệ. Nó chui vào tai tôi và thứ thất ngôn chen cài tứ tuyệt lục bát kia đã như mưa móc rơi vãi lên linh hồn tôi gây gợn sóng lao xao mát ngọt một cảm nhận. Đại ý Trâm nói số của cô tuồng như phải gắn chặt vào dòng họ nhà tôi, đã không như nguyện keo sơn với em tôi thì giờ đây xin được gắn liền sắt son với tôi. Mẹ đã vui vẻ thuận lòng và em cần danh chính ngôn thuận loan tin cho anh hay. Hãy chứng nghiệm tấm lòng này và độ trì cho em có được thứ niềm vui nhỏ bé.
Mẹ tôi cầm hai lá số tử vi của bọn tôi đi gặp thầy bói để định ra thứ ngày lành tháng tốt mong phụng đoàn tụ cùng long vui vầy mây mưa vờn trăng giỡn gió. Mở quán bán cà phê chả thèm để ý ngày kiêng cử, chuyện nhỏ; nhưng việc lập gia đình e kíp gọi là điều hệ trọng của đời người, không dòm tháng ngó ngày mai sau chớ đổ thừa con hư tại mạ. Trâm cũng siêng đi, như con ong cái kiến tẳn mẳn lo mua thứ này sắm thứ nọ tha về chất dưới giường chuẩn bị cuộc đổi đời từ con gái thành ma-đam. Cô lăng xăng, túi bụi lùng bùng như kiểu người có ba đầu sáu tay ngồi không yên chỗ. Cô sẵn lòng, chuẩn bị đi hết con đường mà mẹ tôi luôn mong chờ: Cho mẹ một đứa cháu nội. Chưa bao giờ, ngôi nhà này cần có tiếng khóc cười của trẻ thơ như hôm nay.
Sáng ấy, Trâm dậy sớm. Cô cho hay sẽ đi bệnh viện khám tổng quát, xét nghiệm máu, thử nước tiểu các thứ. Trâm biểu tôi chở cô đi, khi về sẽ gọi xe ôm, bởi chẳng biết mất bao lâu mà chờ đợi. Tôi nói, ừ thì anh về lo bán buôn, hồi nào xong, gọi anh một tiếng để tới đón. Tôi đưa cho Trâm cái điện thoại di động. Tôi thích tự mình chở Trâm hơn là để cô giao mạng cho những tên hành nghề xe ôm lòn lách bạt vía.
Vừa làm việc tôi vừa để tâm ngóng đợi tiếng chuông điện thoại réo gọi. Tĩnh lặng cho tới quá trưa thì chuông kêu hối thúc đổ dồn. Không phải Trâm, giọng kẻ lạ, một người đàn bà hảo tâm. Bà loan tin Trâm bị xe đụng phải trước cổng bệnh viện, điện thoại di động văng tuốt tới chân bà đứng và suy tính, bà nghĩ nên thông tin cho tôi hay. Anh nên bình tĩnh. Bà nói thế. Tôi hộc tốc chạy tới hiện trường oan nghiệt. Tôi cố giữ bình tĩnh dù đôi tay mãi run, ngực tức khó thở. Lắm kẻ hiếu kỳ mọc chân hai bên lộ không ngớt bàn tán. Người ta đã mang Trâm vào lại bệnh viện, giờ thì ở khu vực cấp cứu khẩn trương. Mặt đường trầy trụa dấu hắc ín và vũng máu chưa kịp khô, vung vãi như nói với tôi về một tình huống xấu, rất mực tồi tệ.
Bác sĩ chào thua thần chết, hay đúng hơn Trâm chạm trán với tên ác nhân. Chúng tôi đang sống trong thời điểm mà những tay lái xe đều thủ đắc một cẩm nang: Nếu lỡ tông phải bộ hành, bạn nên biết chắc kẻ ấy không bị thương tật. Dứt khoát cầm chắc cái chết, bởi nó sống, không cách gì bạn trang trải xong tiền bồi hoàn thuốc thang đền bù linh tinh các thứ phiền toái. Trâm chết, vợ tương lai của tôi đã tử vong. Mọi thứ nghe sao giản dị đến thế, như thể bạn đi ngủ để chỉ gặp phải cơn ác mộng, nó đến tình cờ và ra đi dễ dãi. Như sóng rầm rộ đánh vào bờ rồi lặng lẽ rút khỏi triền cát ẩm. Tôi muốn khóc nhưng đôi mắt mãi khô. Nỗi buồn không kịp đến, thế chân là sự chịu đựng trân tráo, lì lợm. Cuộc đời này bạc ác quá, cho đứa em út, cho Trâm và cho cá nhân tôi.
Đám tang cử hành với tất cả những giản đơn, cơ hồ một nhà thương thí khi tẩm liệm chôn cất một tử thi không thân sơ thân bằng quyến thuộc, mồ côi, lạ mặt dưới bầu trời này. Mẹ tôi đã cho Trâm vuông đất hậu sự để dành riêng bà sở hữu. Tự tay tôi làm mộ bia cho Trâm, trồng lên sau khi nhổ bứng cái tấm bảng có đăng ký thường trú tên tuổi em tôi. Lạ không? Phải chăng đời sống chỉ là một cuộc hoán đổi? Hôm nay tôi làm chủ, mai mốt sẽ bàng giao lại cho anh. Hãy để cuộc chuyển nhượng ấy xẩy ra trong hòa bình mà đừng lớn chuyện đôi co hận thù. Mà tại sao lại thù hận khi tất thảy chúng tôi đều là người một nhà?
Tôi tạm đóng quán một tuần lễ, có niêm yết lời kính cáo đi kèm hàng chữ “tang gia đồng khấp báo”. Tôi mang bức tranh em tôi vẽ chân dung Trâm tới bên mộ, loay hoay mồi lửa để hỏa thiêu. Trâm ngó tôi, nhăn nhó, co rúm, tóp teo cho đến hồi lụn tàn đốm lửa thoi thóp, ngúm tắt. Tôi quan sát trình tự sự hủy diệt kia, tôi muốn nói cho Trâm biết lòng tôi không hề diễn biến theo đúng với thứ phản ứng ấy, có nghĩa là tình yêu tôi dành cho Trâm, trước sau vẫn run rẩy một đốm sáng, nó leo lét nhưng tuyệt đối nó sẽ không chịu phụt tắt.
Mẹ tôi siêng đi chùa hơn, ít nói hơn. Tôi chăm chỉ làm lụng hơn, tiền thu nhập ít hơn. Trong quán luôn xao động một thứ gì đó, vô hình, làm mát lạnh. Tôi có ý nghĩ kỳ khôi, như tôi đang kinh doanh nghề bán cháo lú. Mùi hương trầm thường phảng phất trong không gian.
Tôi sống không định hình ra được ngày mai, những gì khuất mặt thường mang theo bao huyền nhiệm, đừng mất công hoạch định dự trù. Nói trước bước không rời, đó là thứ phương ngữ mà mẹ tôi hay nói. Chẳng vướng bệnh hoạn nhưng trong cơ thể tôi nghe chừng mọi tế bào đã mòn hao, đánh mất dần những cảm xúc. Tôi có thể dửng dưng ngó thằng côn đồ vô cớ chém sạt bờ vai một bà già. Tôi chẳng gợn lòng khi ngó cảnh lột truồng tựa thú vật của hai người đàn bà đang đánh ghen… Tôi như một động cơ máy nổ mà bình chứa nhiên liệu đã bị bít kín. Một ngày rất gần, tôi sẽ giã biệt sự bần thần này. Đứng máy, im tiếng, cạn hết xăng.
Tôi đốt thắp nguyên một bao hương, cắm bó nhang trong ly thủy tinh, đặt ngay trên bệ cửa sổ. Một ngày mới lại bắt đầu, tỏa khói.
Hồ Đình Nghiêm Sau hơn cả năm tính toán, mẹ tôi quyết định làm mới ngôi nhà. Không hẳn toàn bộ, chỉ chú trọng thay đổi mặt tiền. Dự trù sẽ hoàn tất sớm và căn nhà lưu giữ nhiều kỷ niệm của chúng tôi sẽ thay da đổi thịt biến dạng thành quán cà phê. Mẹ trao cho tôi quyền hạn của một ông chủ, từ trang trí nội thất đến chuyện hệ trọng: Làm thế nào bạn kinh doanh nghề ấy mà không bị thất thu, hao hụt thâm thủng nợ nần. Tôi liên tục truy cập vào internet để rút tỉa kinh nghiệm, bỏ công đi uống tất cả những hàng quán đông khách mọc vương vãi trên từng cây số. Dò xét, thu thập hay dở và tự mường tượng ra một khung cảnh có mình lao đầu vào thử thách. Gia đình tôi không ai có năng khiếu bán buôn, mẹ chẳng tin tưởng gì, chỉ cốt tạo công ăn việc làm cho tôi, trước mắt là vậy, đắp đổi qua ngày.
Khi sửa sang, những người thợ xây cất đã ngạc nhiên khi đụng phải ý kiến của mẹ tôi, bà cương quyết giữ nguyên một khung cửa sổ, không thay đổi, không tháo gỡ, không bịt kín. Theo họ, ô cửa kia trông chẳng có mỹ thuật, không phù hợp với diện mạo một quán cà phê hiện đại. Những chấn song cũ kỹ, như máng treo mòn mỏi nơi một nhà tù thời thuộc địa… Người thợ già tuổi trong bọn họ bình phẩm, để chính ông tự tìm lấy lời giải: Chắc bà cụ tin vào chuyện phong thủy! Sợ húy kỵ một điều gì chăng?
Mọi người thắc mắc, tôi cũng vậy, nhưng sau rốt tôi đã hiểu ra. Đó là khung cửa mà ngày xưa, đứa em út của tôi luôn bấu víu ngóng trông mỗi lúc mẹ tôi vắng nhà dài lâu. Em ngước mặt ra con đường, lộ vẻ hoang mang như thể thiếu mẹ, em chẳng nhìn thấy một niềm vui nào cả. Mẹ thương em là chuyện hiển nhiên, nhất là em đã chết hôm nào tìm đường vượt biển. Căn nhà sẽ lột xác nhưng mẹ muốn giữ chặt một hình ảnh, thứ hoài vọng dẫu buồn đau. Tôi đặt tên quán là “Dấu Lặng” như một biểu đồng tình, đồng thời tôi vẫn tin khách vào quán uống cà phê đa phần là muốn tìm lại âm hao một nỗi niềm vừa rời khỏi tay, chiêm nghiệm thêm về nỗi sầu khổ dịu dàng, như thất tình chẳng hạn, như một thề nguyền đã phôi pha, ví dụ thế. Cà phê đắng, làm mất ngủ, chừng đó chưa đủ phù hợp cho thứ tâm cảm kia sao?
Đêm trước ngày khai trương mở hàng mẹ đã vận áo dài bày đồ ra cúng sát bên khung cửa. Tấm ảnh đen trắng độc nhất của em đã úa vàng theo thời gian và bất hạnh thay, chúng tôi chẳng hề biết đích xác ngày em từ trần. Đã trùng khơi hay vẫn còn nằm trong hải phận nước nhà. Thủy táng hay thây phơi trên đụn cát ẩm muôn đời vô thừa nhận? Tôi cũng đứng vái với một chân nhang đang tự hủy diệt chiều dài oằn thân, nó vắn số hơn cả lời thầm thì tôi muốn nhắn gửi tới em.
Mẹ hỏi tôi đã kiếm đủ người phục vụ chưa? Rồi góp ý, có nên gọi Trâm tới ngồi ở quầy tính tiền không? Có lẽ Trâm vẫn chưa kiếm được việc làm. Cô không thể leo lên đại học vì vấn nạn lý lịch có cha anh là ngụy quân ngụy quyền, và sau cùng Trâm là bạn cũ của em tôi. Vì không đủ điều kiện, em tôi ra đi gần như trốn chạy Trâm và người bị phụ rẫy có khi họ khóc than do bởi một nguyên cớ khác. Tôi chưa thấy có ai khóc nhiều như Trâm, cơ hồ em tôi chết đi là chôn luôn bao hy vọng mà Trâm mãi kỳ vọng ký thác.
Nghe lời mẹ, tôi thử gọi Trâm. Cô đến với sự hân hoan chẳng dấu diếm. Cô chào mẹ tôi, lễ phép hệt như những kẻ sinh trước hạn kỳ 75 và cô nói với tôi: Anh trả lương cho em tùy hỉ, em thích công việc này, em thích nhìn ngó sinh hoạt một cuộc đời thu nhỏ trước mắt mình. Mai em sẽ đi chợ xi-đa, lùng sục đồ hàng bành để mua một bộ áo quần hàng ngoại tự làm mới mình, tự cách mạng bản thân. Khi quan sát một vòng quán, cô nói: Em thích ô cửa già nua kia, nó giúp mình ngoái nhìn những ngày cũ. Không phải là kẻ hoài cổ nhưng cái hiện tiền này nó đã ló mặt với tất cả vẻ trân tráo và sa đọa. Đôi khi, có lúc người ta phải hụp lặn vào ngày cũ để tìm bình an, anh tin không? Tôi tin và tôi an lòng khi có Trâm đến phụ việc. Mẹ bảo, nếu thằng út chẳng vắn số, biết đâu mẹ có được đứa con dâu lanh lợi tựa Trâm. Điều ấy ngầm nói hãy xem Trâm là một thành viên trong gia đình.
Trâm chẳng mấy đẹp, khuôn mặt sầu muộn ấy như chứng tích của nhọc nhằn mà đời sống mới đã tác động vào, gây tác hại. Cô là hoa hậu của những bông hoa thiếu nước và thiếu ánh sáng. Cô có hỏi qua ý tôi trước khi mang tới quán bức chân dung được em tôi vẽ tặng để máng treo vào một mảng vách trống mà cô bảo cần có thứ gì điền vào cho hợp lý. Tôi xúc động khi ngó ra chữ ký em tôi dưới góc khung bố. Có lẽ đây là tác phẩm tạo hình duy nhất của em và dù không hiểu về lĩnh vực hội họa, tôi vẫn nhìn thấy sự hiển lộng toát ra từ bức tranh. Trâm đẹp quá, trong sáng quá dưới nét cọ, hay đúng hơn dưới nhãn quang giàu cảm xúc của em tôi. Tôi đề nghị Trâm hãy treo nó phía sau quầy, nơi cô ngồi thu tiền, để cho khách thập phương tự tra cứu sự khác biệt về một cảnh giới hoang tưởng và sự thật đầy thương tích này. Để chứng minh lòng trân qúy cái đẹp tôi đi mua một cái khung gỗ có chạm trổ để lồng bên ngoài và bắt ngọn đèn nhỏ chiếu xuống thứ ánh sáng chừng mực vào một khuôn mặt như có học qua thuật thôi miên.
Quán khá đông khách, có thể do khung cảnh, âm nhạc chọn lọc, giá các thức uống vừa túi tiền, và cũng có thể do bởi sự hiện hữu của Trâm. Buổi tối về muộn, bao giờ cũng có đôi ba cậu thanh niên sẵn lòng hộ tống Trâm với lý do chúng biện minh: Bảo đảm an toàn cho người đẹp. Dĩ nhiên là Trâm tìm đủ mọi cách từ chối và tôi nghĩ tình trạng ấy nên chấm dứt, cho khỏi nhọc lòng đôi ba bên. Chuyện tới tai mẹ tôi, bà nói đi đêm cũng có ngày gặp ma. Những đứa trồng cây si ấy biết đâu chúng sẽ đổi thái độ nếu bị xua đuổi, thời buổi này hở một tí là động tới đao kiếm cường toan rạch mặt trấn lột hung bạo, thôi đã xem như người nhà thì con có thể ngủ lại đây. Chớ ái ngại.
Quán bán cà phê chiếm hai phần ba diện tích căn nhà, phía sau còn một phòng trống và Trâm đồng ý trú ngụ ở đó. Những đêm mưa gió, những tối mùa đông buốt giá sẽ chẳng còn đe dọa cô như trước. Trâm tiết kiệm được nhiều thứ, kể cả thời gian, cô tắm sớm và được ngủ đầy giấc hơn.
Một buổi sáng, khi dùng bữa điểm tâm, Trâm nhác ăn, biểu lộ sự ngầy ngật khó hiểu. May mà mẹ tôi đi chùa sớm và tôi có quyền lên giọng tra khảo khi chỉ còn hai đứa. Vặn hỏi mãi cô mới tiết lộ, đêm rồi em mộng thấy anh ấy, anh băng qua cánh cửa sổ ngoài kia, thoắt cái anh chui vào mùng và tụi em đã làm tình với nhau. Trâm gục đầu xuống bàn, được nâng đỡ bằng hai vòng tay khoanh tròn. Phía trước là dĩa xôi bắp chưa suy suyễn có những sợi tóc rối vung vãi. Em vào tắm rửa, em sẽ lên chùa, hôm nay cho phép em làm việc trễ một hai tiếng.
Tôi ngó theo khi Trâm rời bàn ăn. Có hoang đường không, bộ đồ ngủ kia chính tay tôi cẩn trọng cởi nó ra hồi hôm. Trâm chìu lòng, dịu dàng hứng đỡ sự đòi hỏi thịnh nộ của tôi để đến lúc đi cuối đường tôi đã gục mặt vào mái tóc kia đang xõa bung trên gối. Giấc mơ chỉ chừng đó, không được rõ nét những vùng da thịt lồ lộ phơi bày của Trâm. Tôi đã nằm mộng nhiều đêm và bao giờ cũng ngần ấy hình ảnh. Chỉ riêng sáng lạ thường này, Trâm cũng trải qua một giấc liêu trai, trùng hợp. Khác biệt duy nhất: không rõ Trâm ôm người em hay ông anh?
*
Trâm đứng cúi đầu với đôi mắt mọng nước. Sương khói hay nhang đèn làm buổi sáng mù mờ vẩn đục. Tôi đã nói nhiều lần nhưng Trâm không nghe, bắt tôi chở cô tới nghĩa trang quạnh vắng này. Mộ bia đề tên em tôi nhưng kỳ thực đó là ý tưởng của mẹ. Bà định liệu mua sẵn một chỗ nằm, để khỏi phải bị xí phần bà ngụy tạo ra một tên tuổi. Em tôi chết không có được một nấm mồ, bà làm vậy, một công hai chuyện, để tưởng nhớ em tôi trong lúc bà chưa thực sự xuôi tay, đi gặp mặt nó bên kia thế giới ngăn cách. Rồi bà sẽ điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa, và Trâm nên hiểu phía dưới mặt đất vẫn tuyệt đối chưa ôm lấy một bộ xương. Đất vẫn lạnh thường hằng, đất vẫn câm nín vĩnh cửu, đất trinh nguyên chưa bị đào xới phủ lấp qua bằng cuốc xẻn một lần.
Có thể Trâm cần một thứ bối cảnh, Trâm cần nhìn tấm bia có khắc đủ đầy tên họ em tôi, Trâm ngó tận mặt nó để biết chính xác rằng em tôi đã chết. Như vậy cô sẽ an tâm khi dốc lòng tâm sự. Người ta tin vào điều kỳ lạ, lâm râm nói không thành tiếng, chỉ máy môi vậy mà người nằm dưới ba tấc đất sẽ nghe hiểu tường tận thông suốt, cái mới dễ nể! Trong lúc đó, hai kẻ trên dương thế có khi nói sùi bọt mép, khô hơi rát cổ đả thông tư tưởng cho nhau mà rốt cuộc ông nói gà bà nói vịt, dễ đi đến chia rẽ gây hận thù. Cái mới nghiệt! Chơi với ma e dễ chịu hơn giỡn mặt người. Trâm thành kính với em tôi mà với tôi thì sức mấy cô niệm tình tha thứ nếu tôi mù quáng phạm tội.
Đôi lúc những thầm thì kia chợt phát tiếng, từ nhỏ tới lớn như muốn công khai niềm u ẩn riêng tư. Trâm khấn nguyện mà như đọc thơ, vần điệu ê a lên xuống trầm bổng kiểu kinh kệ. Nó chui vào tai tôi và thứ thất ngôn chen cài tứ tuyệt lục bát kia đã như mưa móc rơi vãi lên linh hồn tôi gây gợn sóng lao xao mát ngọt một cảm nhận. Đại ý Trâm nói số của cô tuồng như phải gắn chặt vào dòng họ nhà tôi, đã không như nguyện keo sơn với em tôi thì giờ đây xin được gắn liền sắt son với tôi. Mẹ đã vui vẻ thuận lòng và em cần danh chính ngôn thuận loan tin cho anh hay. Hãy chứng nghiệm tấm lòng này và độ trì cho em có được thứ niềm vui nhỏ bé.
Mẹ tôi cầm hai lá số tử vi của bọn tôi đi gặp thầy bói để định ra thứ ngày lành tháng tốt mong phụng đoàn tụ cùng long vui vầy mây mưa vờn trăng giỡn gió. Mở quán bán cà phê chả thèm để ý ngày kiêng cử, chuyện nhỏ; nhưng việc lập gia đình e kíp gọi là điều hệ trọng của đời người, không dòm tháng ngó ngày mai sau chớ đổ thừa con hư tại mạ. Trâm cũng siêng đi, như con ong cái kiến tẳn mẳn lo mua thứ này sắm thứ nọ tha về chất dưới giường chuẩn bị cuộc đổi đời từ con gái thành ma-đam. Cô lăng xăng, túi bụi lùng bùng như kiểu người có ba đầu sáu tay ngồi không yên chỗ. Cô sẵn lòng, chuẩn bị đi hết con đường mà mẹ tôi luôn mong chờ: Cho mẹ một đứa cháu nội. Chưa bao giờ, ngôi nhà này cần có tiếng khóc cười của trẻ thơ như hôm nay.
Sáng ấy, Trâm dậy sớm. Cô cho hay sẽ đi bệnh viện khám tổng quát, xét nghiệm máu, thử nước tiểu các thứ. Trâm biểu tôi chở cô đi, khi về sẽ gọi xe ôm, bởi chẳng biết mất bao lâu mà chờ đợi. Tôi nói, ừ thì anh về lo bán buôn, hồi nào xong, gọi anh một tiếng để tới đón. Tôi đưa cho Trâm cái điện thoại di động. Tôi thích tự mình chở Trâm hơn là để cô giao mạng cho những tên hành nghề xe ôm lòn lách bạt vía.
Vừa làm việc tôi vừa để tâm ngóng đợi tiếng chuông điện thoại réo gọi. Tĩnh lặng cho tới quá trưa thì chuông kêu hối thúc đổ dồn. Không phải Trâm, giọng kẻ lạ, một người đàn bà hảo tâm. Bà loan tin Trâm bị xe đụng phải trước cổng bệnh viện, điện thoại di động văng tuốt tới chân bà đứng và suy tính, bà nghĩ nên thông tin cho tôi hay. Anh nên bình tĩnh. Bà nói thế. Tôi hộc tốc chạy tới hiện trường oan nghiệt. Tôi cố giữ bình tĩnh dù đôi tay mãi run, ngực tức khó thở. Lắm kẻ hiếu kỳ mọc chân hai bên lộ không ngớt bàn tán. Người ta đã mang Trâm vào lại bệnh viện, giờ thì ở khu vực cấp cứu khẩn trương. Mặt đường trầy trụa dấu hắc ín và vũng máu chưa kịp khô, vung vãi như nói với tôi về một tình huống xấu, rất mực tồi tệ.
Bác sĩ chào thua thần chết, hay đúng hơn Trâm chạm trán với tên ác nhân. Chúng tôi đang sống trong thời điểm mà những tay lái xe đều thủ đắc một cẩm nang: Nếu lỡ tông phải bộ hành, bạn nên biết chắc kẻ ấy không bị thương tật. Dứt khoát cầm chắc cái chết, bởi nó sống, không cách gì bạn trang trải xong tiền bồi hoàn thuốc thang đền bù linh tinh các thứ phiền toái. Trâm chết, vợ tương lai của tôi đã tử vong. Mọi thứ nghe sao giản dị đến thế, như thể bạn đi ngủ để chỉ gặp phải cơn ác mộng, nó đến tình cờ và ra đi dễ dãi. Như sóng rầm rộ đánh vào bờ rồi lặng lẽ rút khỏi triền cát ẩm. Tôi muốn khóc nhưng đôi mắt mãi khô. Nỗi buồn không kịp đến, thế chân là sự chịu đựng trân tráo, lì lợm. Cuộc đời này bạc ác quá, cho đứa em út, cho Trâm và cho cá nhân tôi.
Đám tang cử hành với tất cả những giản đơn, cơ hồ một nhà thương thí khi tẩm liệm chôn cất một tử thi không thân sơ thân bằng quyến thuộc, mồ côi, lạ mặt dưới bầu trời này. Mẹ tôi đã cho Trâm vuông đất hậu sự để dành riêng bà sở hữu. Tự tay tôi làm mộ bia cho Trâm, trồng lên sau khi nhổ bứng cái tấm bảng có đăng ký thường trú tên tuổi em tôi. Lạ không? Phải chăng đời sống chỉ là một cuộc hoán đổi? Hôm nay tôi làm chủ, mai mốt sẽ bàng giao lại cho anh. Hãy để cuộc chuyển nhượng ấy xẩy ra trong hòa bình mà đừng lớn chuyện đôi co hận thù. Mà tại sao lại thù hận khi tất thảy chúng tôi đều là người một nhà?
Tôi tạm đóng quán một tuần lễ, có niêm yết lời kính cáo đi kèm hàng chữ “tang gia đồng khấp báo”. Tôi mang bức tranh em tôi vẽ chân dung Trâm tới bên mộ, loay hoay mồi lửa để hỏa thiêu. Trâm ngó tôi, nhăn nhó, co rúm, tóp teo cho đến hồi lụn tàn đốm lửa thoi thóp, ngúm tắt. Tôi quan sát trình tự sự hủy diệt kia, tôi muốn nói cho Trâm biết lòng tôi không hề diễn biến theo đúng với thứ phản ứng ấy, có nghĩa là tình yêu tôi dành cho Trâm, trước sau vẫn run rẩy một đốm sáng, nó leo lét nhưng tuyệt đối nó sẽ không chịu phụt tắt.
Mẹ tôi siêng đi chùa hơn, ít nói hơn. Tôi chăm chỉ làm lụng hơn, tiền thu nhập ít hơn. Trong quán luôn xao động một thứ gì đó, vô hình, làm mát lạnh. Tôi có ý nghĩ kỳ khôi, như tôi đang kinh doanh nghề bán cháo lú. Mùi hương trầm thường phảng phất trong không gian.
Tôi sống không định hình ra được ngày mai, những gì khuất mặt thường mang theo bao huyền nhiệm, đừng mất công hoạch định dự trù. Nói trước bước không rời, đó là thứ phương ngữ mà mẹ tôi hay nói. Chẳng vướng bệnh hoạn nhưng trong cơ thể tôi nghe chừng mọi tế bào đã mòn hao, đánh mất dần những cảm xúc. Tôi có thể dửng dưng ngó thằng côn đồ vô cớ chém sạt bờ vai một bà già. Tôi chẳng gợn lòng khi ngó cảnh lột truồng tựa thú vật của hai người đàn bà đang đánh ghen… Tôi như một động cơ máy nổ mà bình chứa nhiên liệu đã bị bít kín. Một ngày rất gần, tôi sẽ giã biệt sự bần thần này. Đứng máy, im tiếng, cạn hết xăng.
Tôi đốt thắp nguyên một bao hương, cắm bó nhang trong ly thủy tinh, đặt ngay trên bệ cửa sổ. Một ngày mới lại bắt đầu, tỏa khói.
Một ngàn chín trăm hay đã qua cột mốc hai ngàn? Còn xài máy đánh chữ hay đã cách mạng còm-píu-tờ? Phải cụ thể hoá, phải đưa ra một con số ấn tượng.
Ấn tượng ư? Cụ thể nhé. Cái lúc mà sắp được xem phim “Quỷ Ám”. Cái năm Bẩy Nhăm đấy. Cái tháng mà mọi người đồng lòng, thống nhất tên gọi: Tháng Tư Đen.
Ối, xa xăm quá mức, trí nhớ không chừng đã suy dù da thịt thì vẫn hằn vết cắt thành thẹo. Bạn biết tên gọi ở nhà của tôi không?
Tên gì?
Thằng Cu đen.
Do đâu vậy? Tôi thấy màu sắc nó cũng bình thường mà! Chắc không có anh em trai?
Sao biết?
Nếu có thì bố mẹ sẽ nói khác đi, sẽ căn dặn: Thằng Cu to chớ ỉ thế ăn hiếp thằng Cu nhỏ.
Tôi yêu bạn. Chúng ta tuồng như có lối nói chuyện hợp khẩu vị. Thời đó tôi cũng có cảm tình với tướng Lê Minh Đảo khi ông phát ngôn.
Bạn cũng từng cầm súng?
Không, lúc ấy tôi còn mài đít ở ghế nhà trường. Hoãn dịch vì lý do học vấn. Tôi còn nhớ vị tướng nọ trả lời báo chí sau trận phản công đầy kỳ tích: “Địch đánh lớn, thua lớn. Đánh nhỏ, thua nhỏ. Đánh vừa vừa, thua vừa vừa”. Rất mộc mạc. Bình dị. Dễ hiểu quá, rõ ràng quá, chân thật quá. Tôi không là đệ tử của ông thầy mà sao thấy nể đại bàng quá. Bạn biết đó, nhiều người nói, bộ binh có hai sư đoàn ngon lành, bảnh nhất, ấy là sư đoàn 1 và sư đoàn 18.
Vậy mà cuối cùng cũng… 13. Đen đủi! Xui xẻo!
Ừ, não nề, cơm không ra cơm cháo không ra cháo. Nghĩ không ra! Ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế cắp nách.
Ngày tháng đó bạn cắp nách những gì? Đã có một mối tình lận lưng?
Tôi chạy mạng không. Cũng có yêu thầm lặng đôi ba người nhưng bạc phước yểu mệnh. Tôi tính bỏ công đi dọ hỏi: Có thằng nào mang tên Cu đen mà đào hoa rất mực, thậm tốt số?
Bạn chẳng hay tin là giờ này ở trong nước mấy bà vợ của cán bộ, mấy mụ xồn xồn giàu sang đều vung tiền ra để thử của lạ. Chơi toàn Tây ba lô từ Phi châu đi bụi. Mấy thằng cu đen ấy nói: “Thiệt phẻ, lao động nhẹ nhàng, làm vừa lòng “thượng đế” và nhận được hai ba trăm đô chưa tính tiền boa”. Nè, hình như mấy con ngựa đen đều ngon cơm hơn ngựa nâu hoặc bạch mă? Ngựa của Quan Vân Trường màu gì? Con Xích Thố ấy?
Này, sao mọi người căm giận bọn Trung quốc mà cứ phải ăn thức ăn, mua vật dụng của họ sản xuất. Đọc truyện, xem phim thì thuộc vanh vách từng chi tiết, ám từng nhân vật. Những Mao Tôn Cương, những Thánh Thán, những Lý Bạch, những Kim Dung những Quỳnh Dao, những Thuỷ Hử, những Tam quốc, những Tiếu ngạo giang hồ, Thành Long Lý Lương Kiệt Củng Lợi Lý Tiểu Long Triệu Minh Tiểu Long Nữ linh tinh các thứ cho chí Đường Tăng đi thỉnh kinh phải bôi trơn. Trong truyện võ hiệp kêu bằng bá chủ võ lâm, thì đời thường la toáng lên bọn bành trướng xâm lược. Đấy là chữ dùng của tụi bàng môn tả đạo tựa Ma giáo, chứ danh môn chính phái thì nghiêm cẩn gọi là người anh em, người bạn tốt môi hở răng lạnh tình đồng chí đời đời bất diệt. Cu to đời nào đi ăn hiếp cu nhỏ! Đã thế cu nhỏ từng chịu ơn mưa móc của cu to trong thời chiến tranh trường kỳ đánh bọn tư bản dẫy chết.
Cái vật ấy cũng lạ nhỉ. Mới hăm he hùng hổ ngóc đầu đi xâm lược hang động chủ quyền của người ta, khạc ra một bãi đờm rồi rút vội y như du kích. Giờ đây thì mặt xanh nanh vàng lặt lè thở hổng ra hơi cù lơ xít xụi như cọng bún thiu. Cho hay tuỳ vào tâm trạng mà nó nhập vai, khi diễn thằng đại gia hoành tráng khi làm đứa phận hèn dân ngu khu đen thu bé người bằng cái hột mít. Ngộ hén!
Đàn bà có thể làm nghiêng nước nghiêng thành thì bản thân cái vật cà chớn ấy cũng có thể gieo máu lửa vậy. Dùng chữ ngộ là đúng y bon.
Nhích qua chút, rút tay về, cho tôi mặc lại áo quần. Kỳ cục, cuối tháng Ba mà tuyết còn rơi bạc cả lòng, lạnh điếng!
Lúc xưa tôi có cái áo thun giống như cái bạn đang tròng vào. Tôi mua ở chợ trời, đồ viện trợ. Gì cũng có ở đó, áo chống đạn, mặt nạ chống hơi độc, jeans Levi’s 501, giày thể thao Adidas cho tới giày trận của quân đội. Thậm chí có khi nhìn thấy một bộ phận của khẩu súng Colt 45 bị tháo rời.
Bạn quên kể là bạn chạy tới đâu, theo vết dầu loang. Tất cả đều đồng loạt vất bỏ lại hết những gia sản quý báu, những cơ ngơi vững bền cha truyền con nối. Chạy. Biết là tử lộ mà nhắm mắt đặt chân không toan tính ngại ngần. Sao người phương Bắc không hề đặt ra một nghi vấn: Chúng tớ là hạng người gì mà khi xuất hiện thì anh em trong Nam thảy vắt giò lên cổ tái xanh mặt máu thế hở!
Tôi vượt Hải Vân, xuống Nam Ô, vào Đà Nẵng. Đã bắt đầu nghe tiếng khóc không nguôi của chia ly, của sống chết, của đoạn lìa. Trong gió đã cuốn bay mùi tử khí. Rất nhiều đồn đoán, vĩ tuyến 17 di dời lấn chiếm tới đèo Hải Vân thì sẽ ngưng tiếng súng. Huế đổi chủ và Đà Nẵng sẽ biến thành vùng địa đầu giới tuyến. Đường bộ mất an ninh, tôi leo lên xà-lan làm “thuyền nhân” vào tới Cam Ranh, lại nghe tin vịt rỉ tai: Bản đồ được vẽ lại, miền Nam sang nhượng thu bé từ Nha Trang trở vô, giao khoáng hết những gấm vóc kia cho Cộng sản tiếp thu. Lại trôi nổi mệt nghỉ vào Vũng Tàu, lúc ấy muốn lên Sài Gòn chẳng hề là chuyện giản đơn, vì người ta phát hiện bọn điềm chỉ viên, bọn giao liên, bọn Vi Xi trà trộn trong dòng người di tản trên xa lộ. Tôi thử làm một phép tính, từ Huế vào tới Sài Gòn, cuộc hành hương về phía Nam vườn địa đàng kia đã đánh đổi bằng mười ngày bầm dập. Tôi đứng trên mặt đất với đôi chân run, tôi đã bước qua biết bao nhiêu thị trấn tiêu điều bỏ ngõ trong hoảng loạn nhưng Sài Gòn thì không. Muôn đời cái hòn ngọc ấy vẫn toả sáng bằng chính cái an nhiên tự tại nó mang. Hơi ồn ào, hơi tất bật, hơi đông dân số nhưng hỗn loạn là điều bạn không nhìn thấy, vào thời điểm đó. Nghe ai đó loan tin, tôi tới đại học Luật khoa với một cơ thể còn lưu giữ bao dằn xóc của cuộc lữ. Sóng gió, bụi bặm, khói xăng, mưa nắng phủ trên người tôi và ngoại hình kia có thể gieo vào lòng bạn bè niềm quan ngại. Tôi đứng dưới cái băng-rôn có hàng chữ: “Lá lành đùm lá rách”, lạc hồn không lâu thì một cô sinh viên hiện ra sau cái bệ chắn ngăn chia trong ngoài, sáng tối. Suối tóc đen mượt, da trắng ngần không tì vết, môi mọng đỏ, xiêm y lụa là thơm mát. Và đại biểu cho vườn cây đầy lá lành, cô trao cho tôi những tờ giấy bạc in hình Lê Văn Duyệt, Quang Trung, Dinh Độc Lập. Những xanh những tím những màu gạch nung chứa đầy mãi lực. Cô nói, chỉ có tính tượng trưng thôi, anh hiểu không? Tôi nắm lấy 3000 đồng và xúc giác của bàn tay run còn cảm nhận chút bồi hồi từ làn da mịn với ngón thon ấy truyền qua. Cô trả lại thẻ sinh viên của tôi sau khi đã săm soi nó. Cô gọi tên tôi để chào tạm biệt: Hy vọng tình hình tồi tệ này sớm chấm dứt.
Thời gian đó tôi ở Đà Lạt xuống, sao tôi không biết được tổng hội sinh viên Sài Gòn đã có những nghĩa cử như vậy?
Họ có một cuốn vở hai trăm trang trong đó ghi đầy những thông tin. Bạn muốn dọ tìm ai thất lạc, họ sẽ bỏ công tra cứu thử trong cuốn vở học trò kia. Xô bồ, mênh mông, bóng chim tăm cá, ngậm ngải tìm trầm, vậy mà nó từng giúp một đôi kẻ đoàn viên, siết ôm nhau, chảy nước mắt dưới nắng trưa Sài Gòn chưa từng đổ lửa. Duy Tân, hồ con rùa, bưu điện, nhà thờ, Lê Thánh Tôn, lòng vòng để ra ngồi trước thư viện quốc gia. Cà phê rậm rật suốt ngày ở đó, trên những chiếc ghế thấp bé chòng chành. Thuốc lá liên tục được đốt thắp với bao tin tức loan tải chẳng hề gián đoạn. Vậy là chúng ta đã mất Đà Nẵng rồi ông ơi! Nha Trang của tôi bị nhuộm đỏ rồi em ơi! Ba má tôi cứ tiếc ruộng vườn nhà cửa một hai không chịu đi, giờ thì chết sống ra sao tôi như đứa ngồi trên lửa! Mày biết con Mỹ Duyên không? Hoa khôi trường trung học bán công Bồ Đề? Chạy được vào tới Phan Thiết thì bị kẹt cứng, tiến thối lưỡng nan, ăn nguyên cả băng đạn AK-47. Người đẹp áo lam chết không nhắm mắt, không kịp than Nam Mô A Di Đà Phật!
Không lẽ bạn cứ suốt ngày vất vưởng ngoài đường trong tháng Tư ấy? Đêm hôm thì sao? Tá túc chốn nào?
Ngồi phơi mặt ngoài đường ở mấy quán cóc cũng có cái lợi. Lâu lâu có thằng thắng xe Honda 49 phân khối lại, máy bỏng khét: Ủa mày vô đây hồi nào? Đi mình ên, tứ cố vô thân hay sao? Ủa thế này, ủa thế khác. Ngạc nhiên và mừng vui chen lấn. Có đứa chạy xe Honda dame, phía sau gắn bảng số Thừa Thiên Huế. Xe mới tinh không trầy trụa, chẳng biết xe “di tản” bằng cách gì mà an toàn xa lộ đến thế, hơn cả phận người. Chúng nó xách đầu lôi đi, muốn tới đâu thì tới, tha phương ngộ cố tri mà lị. Chúng nó lập luận: Đèo mẹ, điệu ni coi mòi không êm! Thôi, vui vớt vát được thời khắc nào tốt thời khắc đó! Đứa quận ba, đứa quận năm, đứa Gia Định đứa Thủ Đức. Đi lung tung mà ly kỳ nhất là bữa gặp được bạn cũ chở về nhà tận miệt Phú Lâm cầu Cây Gõ. Chạy hết đường Trần Quốc Toản, quẹo trái là đụng đầu. Nó theo gia đình vào Sài Gòn sau vụ Mậu Thân đẫm máu. Đang học ở Kiến Trúc, nhà khá giả nên xin tiền bố mẹ thuê phòng trọ ở riêng. Cái vụ làm bộ “đủ lông đủ cánh” này dính dáng tới một âm mưu đòi tự do dân chủ. Nó bao ăn bao ở một cô bạn gái, nhân tình mà hơn cả vợ chồng. Chỗ ở lớn hơn cái lỗ mũi chút xíu nhưng do méo mó nghề nghiệp, nó học kiến trúc nên bày biện tươm tất gọn gàng sáng sủa, đồ vật được xếp đặt nơi chốn rất chí lý, ngăn nắp. Bàn làm việc cũng dùng làm bàn ăn, hai cái ghế, hai ngọn đèn. Một quạt máy, một radio nhỏ, một ti vi đen trắng, ba vật đó đều đứng sượng trân trên cái tủ gỗ chứa áo quần sách vở. Và cuối cùng, một cái giường trải chăn chiếu ngó sạch sẽ. Một cô gái có da thịt tươi mát được giới thiệu tên ở nhà: Sa Đéc. Dợ sắp cưới. Nó chỉ tay vào bụng tôi: Thằng này bạn nối khố của tui, chạy trốn diệt cọng từ ngoải mới dô. Dòm cái biết, người ngợm xấc bấc xang bang may mà chưa hồn du địa phủ. Mèn đét ơi, sao đứng không cục cựa dậy tía! Ngồi xuống đi, cứ tự nhiên như ở nhà. Sa Đéc tánh tình hào phóng lắm, đừng mắc cỡ nhen. Nó xây mặt qua ngó tình nhân:Tối nay mình khao nó cái gì hả bồ tèo? Hỏi ảnh xem, hoặc không ấy mình ra đầu đường chơi đại tô hủ tíu. Theo lời con gái sáng dạ, cả ba ra đầu đường chơi bậy món đặc sản của người miền Nam. Sa Đéc nói: Em rất chuộng phong cảnh hữu tình xứ Thần kinh có in hình trên mấy tờ đặc san. Định bụng mai này quẳng con heo đất xuống nền gạch bông, thu quén bạc cắc mua vé máy bay ra ngoải dựa vài cầu Trường Tiền chơi một phen mà cớ sự gay cấn này đã khiến xui cho giấc mộng không thành, dự tính trở nên đột tử. Sa Đéc giả giọng Ghuế: Rứa lỡ như sông Hương núi Ngự đã biền biệt nơi mô thì chừ anh tính mần răng? Thằng bạn tôi cười ngất, nhăn răng tán thưởng tài ăn nói của cô bồ. Tôi cũng vui lây, dại mồm: Huế tiêu tùng thì chắc xin nhận Lục tỉnh làm quê hương thứ hai, Sa Đéc quen ai thì mát tay làm môi giới một phen. Bạn tôi la: Ấy, chớ vẽ đường cho hươu chạy! Mà nói nào ngay, tình hình này e cũng rơi vào tuyệt lộ mất rồi, biết chạy đi đâu? Ăn uống xong thì thủng thẳng nối gót nhau về nhà. Thay vì dắt xe ra, thằng bạn tôi lại đi đóng khoá cửa nẻo. Tối nay mày ngủ lại đây, mai hẵn tính chuyện của ngày mai, chớ quan hoài. Chỉ có một chiếc giường, lại chẳng to lớn, tự nó bày binh bố trận: Tao nằm sát vách, phía trong. Sa Đéc nằm giữa. Mày nằm ngoài. Có thể vận quần đùi, mình trần cho mát. Trước khi buông mùng xuống hắn mở quạt máy. Tôi ngó Sa Đéc, chẳng phát hiện nét đổi thay nào, ngoại trừ những sợi tóc bị gió thổi vướng víu cả nửa khuôn mặt. Cô lấy tấm chăn cuốn phía dưới chân lên khi trao chiếc gối của cô cho tôi. Như cách di chuyển của mèo, tôi duỗi thân xuống mặt chiếu với tất cả vẻ cẩn trọng, êm thắm. Mặt gối có thêu chữ “Mộng Đẹp” bằng chỉ hồng, kê đầu lên, tôi nhắm mắt lại để biết mười mươi là mình sẽ trắng dã hai con mắt. Trong đêm chỉ có tiếng rù rù qua lại của cái quạt máy. Nó vật vạ gửi qua mũi một hương mùi, rất đàn bà. Như một trái dừa xiêm vừa chiết nước ngọt bùi ra ly, ly mát lạnh và tôi, kẻ băng qua sa mạc phải gầm đầu vì trong túi sạch nhẵn tiền.
Ngồi trên giếng mà khát nước! Ông bạn nào bày trò quái ác thế? Sao thằng chả không chịu nằm giữa? Ưa chơi trò trắc nghiệm lòng người sao? Chả nhẽ hai đối tượng kia lại an giấc đêm trường?
An giấc thật đấy. Họ tốt với mình quá làm mình áy náy. Tôi mất ngủ là do bởi tấm thạnh tình kia chứ chẳng phải một nguyên cớ nào khác. Tin không?
Tôi không tin. Chả có gì đáng để gọi là thạnh tình cả.
San cơm sẻ áo, cho mượn một hương mùi ấp ủ giữa chốn lạ, ngần ấy không gọi là tấm thạnh tình thì kêu bằng gì? Mà có lẽ tại tôi chưa nói tới hồi sau, để đúc kết tròn đầy chữ hiền hữu đáng quý. Sớm bảnh mắt, nhiệm vụ của Sa Đéc là cầm ly tách đi mua cà phê quán các chú ba Tàu gầy nhom đầu ngõ. Khi về cô trao cho tôi một cái bàn chải đánh răng cùng đôi dép Nhật mua ở tiệm tạp hoá. Tôi rất cảm động vì Sa Đéc đã thầm phát hiện đôi dép chạy giặc của tôi đã đứt quai, đã vá víu bằng những sợi dây tạm bợ. Cô nói, bọn tôi đã bàn thảo hoạch định, chương trình ngày hôm nay là tôi phải đi chợ, nấu ăn để khoản đãi anh bữa cuối. Anh sẽ phải giao mạng cho anh ấy chở đi thăm thú một nơi đặc biệt để kỷ niệm chốn thành đô.
Đi những đâu? Nơi chốn nào gọi là đặc biệt?
Nó chở tôi tạt ngang nhà, mày nên vào chào thăm ông bà bô tao một tiếng. Tôi đứng khép nép để trả lời một loạt câu hỏi tình hình “ngoài nớ” do đích thân ông cụ lấy khẩu cung, trong khi nó kéo tay bà già vào sâu trong buồng ngủ tra khảo ma-măng được mười ngàn tiền tươi. Chở nhau chạy vài vòng phố phường quan sát diện mạo bắt đầu thay đổi, bắt đầu chộn rộn. Tạt về trường Kiến trúc quạnh vắng “Sách vở ích gì cho buổi ấy”. Tới ăn phở gà Hiền Vương đông đúc chật chội người lại người, lên cà phê lộ thiên, nơi hội tụ của dân lưu lạc tứ xứ để nghe ngóng tin tức và sau cùng hắn đèo tôi về hướng Trương Minh Giảng, qua cổng xe lửa số 6 thì chui vô đường hẹp quanh co. Đi đâu đây? Đi tìm đĩ. Hình như cả đời mày chưa từng nếm trải cái chất liệu đầy phong vị ấy. Mày chết sẽ lên thiên đàng, nhưng hiện tại chúng sinh đang mỗi lúc một gần địa ngục, thánh thiện là thứ hành trang cần phải đánh rơi trước nhất trên đường xuôi đổ, lún sâu, ngập thân. Hình như là ngày chủ nhật, thằng bạn đã rao giảng một đoạn kinh quái gỡ cùng lúc tai tôi nghe được tiếng chuông nhà thờ Ba Chuông gần đó mãi kinh cong thúc hối một điềm chẳng lành. Một cánh cửa im đóng chắn lối. Tắt máy xe. Gõ đi, cửa sẽ mở. Cửa mở xong thì ma nữ hiện hình trêu ngươi. Số mạng của ngươi đã được định đoạt, cách tốt nhất hãy chọn lựa mấy tiêu chí: Càng trẻ nhỏ càng tốt. Càng sạch sẽ càng quý. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, đừng nên để nhan sắc rù quến, vì bạn nhớ cho, một chiếc áo đẹp thì sẽ có lắm đứa ưa mặc thử. Và hôm đó là ngày tôi chính thức giã từ sự lạc hậu, tự làm cuộc cách mạng giải phóng bản thân. Đĩ và giai cấp bị bóc lột ơi, hãy đoàn kết lại!. Việt cộng chưa vô. Chưa nghe Lê-nin phát ngôn linh tinh, nhưng tôi đã nhìn ra được kiếp sống buồn bã của một người bán trôn nuôi miệng. Buồn bã không đúng bằng chữ đoạ đày. Xác thân luôn bị vùi dập. Vui là vui gượng đó mà! Người con gái nắm tay tôi lôi đi vào “lãnh thổ” của riêng cô. Mạt hoa da phấn, có dày không đủ để che đậy những tàn phai? Cô nói một câu khiến tôi có cảm tình với cô ngay, một thứ “cú-đờ-phút”, ra đòn sấm sét: Giặc tới sát bên lưng mà còn lòng dạ trửng giỡn trăng hoa sao cưng?! Cô cởi bỏ áo quần, chậm lụt như một con bệnh chẳng thiết tha món cháo hồi sức. Tôi ngửi ra từ người cô một thứ mùi lạ lẫm, chẳng cắt nghĩa được, hoàn toàn đối nghịch so với hương thơm Sa Đéc mang. Tôi đứng sát vào da thịt bắt đầu trống trải của người nữ, tôi ngó sâu vào cái bộ phận mà đã là người ai cũng buộc phải che dấu, bảo vệ nó cho thật vẹn toàn kẻo… chúng bạn cười. Bạn tôi đã rũ ra cười khi biết tôi chưa hề trưởng thành, chưa biết trên cơ thể giống cái có một cái lỗ tựa một cái giếng ước, cực linh thiêng. Nó tự tiết ra chất nhờn để bảo quản cơ phận, tựa châm dầu nhớt để máy móc vận hành êm ru bà rù. Nó sẽ chảy máu làm quặn thắt hàng tháng nếu những đồng xu ném vào chẳng gặt gái được lới thỉnh cầu cho âm dương sum vầy tượng hình cơn hoan lạc giống nòi. Tôi đứng ngu ngơ cho tới khi chính bàn tay của đối phương nhập cuộc làm việc thiện nguyện. Tôi lấp liếm bào chữa: Ai biểu khi không lại nói giặc đến bên lưng, làm mất hứng. He he he, lần đầu phải không, thịt anh hai thơm như Đường Tam Tạng. Ôm anh ngủ thì giặc đến cả sư đoàn cũng hổng ngán. Người gì hiền khô như cục bột vậy đó, dễ ghét quá hà! Táy máy tay chân, cô lột truồng tôi ra, sạch sành sanh, tất tần tật. Từ thời kỳ đồ đồng cô bắt tôi về sống thời kỳ đồ đá, ăn lông ở lỗ ngác ngơ giữa trần gian lạnh canh cô mồ quả.
Rồi sao nữa, đồ hư thân mất nết? Có dính giang mai hoa liễu gì không?
Rồi trận đánh xáp lá cà vật nhau trên chiếu chẳng được lâu. Bầu trời bên ngoài xám ngoét thứ sắc màu kỳ lạ. Thằng bạn trả tiền, khởi động máy nổ. Tôi mong có cơn mưa thịnh nộ trút xuống để bôi xoá, để tắm gội mọi vật cũng như cảnh quang đang thắt thỏm đón đợi một hung tin. Tôi dặn bạn, chớ nên để Sa Đéc biết chuyện bậy bạ này. Thằng bạn cười rộng miệng: Nghe đây này, Sa Đéc nói, nguyên văn: Anh dắt ổng, tìm chỗ nào sạch sẽ, mắc mỏ một chút cũng được, để cho ổng thôi làm trai tân, cho ổng biết qua mùi vị đàn bà. Tội nghiệp, giả như Việt cọng vào tới thì ba cái vụ tệ nạn ấy họ làm sạch cỏ hết lại đâm kẹt cho ổng. Đêm rồi, em quan sát, em đánh hơi, em linh tính, em nghi hoặc rằng thì là ổng còn trinh. Tôi thấy chút khó chịu hiện tới. Điều gì đó làm dằn vặt, làm ám tối che bít hết những nhận định của tôi. Tôi trở thành phổng đá cho đến khi có tên giặc lái ném bom quờ quạng xuống dinh Độc Lập. Một tên phi công rất đáng hổ thẹn cho việc làm khó tha thứ ấy, xét ở mọi góc cạnh. Riêng ở phần nghiệp vụ, bom rơi cách mục tiêu cả cây số, đào một hố nhỏ giũa bãi cỏ quạnh vắng. Để được gì? Một lời khen thưởng? Một tiếng vang? Một xoá bỏ nợ nần vào giờ thứ 25? Một vết nhơ không tài nào rửa sạch? Buổi cơm chiều do chính tay Sa Đéc nấu tươm tất những ba món, tôi gầm đầu ăn vì xấu hổ, vì nghĩ tôi mang nợ cô ấy nhiều thứ quá. Nếu vắng mặt thằng bạn, tôi sẽ ôm thiết thân Sa Đéc vào lòng mình, nếu cần tôi sẽ thề nguyền, nói tới những điều bất khả thực thi nhằm minh chứng về một lòng thành. Tâm lý học gọi đó là phản ứng của sự mù quáng. Văn học gọi là bán trời không văn tự. Và trời sa sầm sắc diện, ui ui không nắng chẳng mưa, và súng nổ lẻ tẻ ngoài Hàng Xanh. Và có lắm kẻ đeo băng đỏ vào bên tay áo đi nghênh ngang giũa con lộ bắt đầu chuyển tải đồ hôi của. Và Sài Gòn dãy chết. Những bộ quân phục từng khét mùi trận mạc đã cởi bỏ, lăn lóc bờ cây bụi cỏ. Những quây quần tùng tam tụ tứ ngồi bên trời tịch liêu với cái mỏ vịt vùa bung mở của trái lựu đạn. Một tiếng nổ lạc lỏng. Một giã từ vũ khí thật khí phách. Những tờ lịch sang tháng 5 chẳng ai buồn tay bóc đi. Thời gian ghim chặt, sững sờ ở con số 30 của một quá khứ nằm mộng cũng không ngờ.
Rồi bạn về lại chốn xưa? Và khép đóng, chôn chặt những khuôn mặt bạn bè cũ. Đời đã sang trang?
Ừ, tất cả chỉ còn là kỷ niệm, mỗi một hồi ức là mỗi tiếc nuối khôn cùng. Đớn đau nữa. Sa Đéc tên thật là Nguyễn Thị Chu Sa, thành hôn cùng thằng bạn tên cúng cơm là Trần Minh Liệt. Hai vợ chồng vượt biển ở Phan Thiết năm 1978, đến 1979 thì hung tin chuyển về cố quận tiêu điều: Chu Sa bị bọn hải tặc Thái Lan làm nhục, chồng uất ức lao vào can thiệp thì bị mỗ bụng, thả xác xuống biển. Có tàu buôn của Đan Mạch chạy ngang và dĩ nhiên Chu Sa được sang Đan Mạch định cư. Và dĩ nhiên, không một ai còn biết tới người đàn bà bất hạnh ấy. Tôi đồ rằng Chu Sa đă thay tên đổi họ…
Thôi, tôi không nên hỏi gì thêm. Càng lúc càng sa vào nỗi buồn, tuy cũ nhưng vẫn nguyên trạng nỗi xót xa. Xem thử đã bật máy sưởi lên chưa? Sao nghe lạnh lẽo len vào tận chăn nệm. Kỳ quá, tháng tư đang về mà đất trời co ro tuyết rơi ủ dột! Trước khi đi ngủ, bạn nhớ ra bàn thờ thắp cho lắm người thân quen một cây nhang. Tội lỗi! Đành lòng phải đốt chỉ một mà thôi. Khói nhang buồn có vực dậy điều gì không, ở mặt tâm linh? Thắp nhiều cây thì nó khơi dậy, đánh thức cái hệ thống phòng cháy chũa cháy. Vong linh có thể tha thứ, nhưng máy móc tuyệt đối lãnh cảm. Nó sẽ gào thét, nó sẽ than van. Nó phá tan tất thảy những tịch lặng mà người ta đang thành tâm cúi đầu vọng tưởng. Thôi các bạn nhé, xin hãy ngủ ngon.
Tôi nhớ hàng chữ Mộng Đẹp thêu thùa trên mặt gối của Sa Đéc ngày cũ, nhớ vô hạn đêm nằm quây lưng dìm bao mộng tưởng. Tấm lưng như một triền đá ẩm ướt mà bên kia bờ vực là những con sóng cao mãi xô bờ lấn chiếm, đòi úng thuỷ ngập mặn. Chẳng có bên lở bên bồi, chỉ toàn cả sự hao hụt dẫn tới mòn khuyết trong câm nín, chẳng vọng động. Sa Đéc ơi, nếu cuộc đời có một thứ gọi là định mệnh, thì chưa khi nào bằng lúc này, tôi mong nó tìm đến với chúng ta. Thử tưởng tượng Sa Đéc mở máy, tìm vào trang Sáng Tạo và đọc phải bài viết này. Tên tôi vẫn thuỷ chung như vốn nó là tác phẩm của mẹ cha, tôi tôn trọng chẳng dùng bút hiệu và điều này làm tôi nhớ bài thơ của Pushkin: “Tên tôi có gợi lại gì cho em?”. Tôi hy vọng Sa Đéc còn nhìn nhận ra tôi. Thứ tha cho tôi khi thuật chuyện có mang dáng dấp bạn vào. Hãy mắng chửi tôi nếu bạn giận dữ. Nhưng sau hết, xin rộng lòng viết cho tôi đôi dòng thông tin. Tôi vẫn mãi yêu bạn. Tôi xin cóp nhặt câu nói nổi tiếng của Charlie Chaplin để chia sẻ tới bạn:
“My pain may be the reason for somebody’s laugh.
But my laugh must never be the reason for somebody’s pain”.
Mộng đẹp nhé, Sa Đéc, người mang tên địa danh tôi chưa từng may mắn bước ngang qua.
Giống chúng ta, những người nằm không ngay ngắn dưới này hầu như đã trải qua bao phiêu dạt mới tìm ra chỗ an nghỉ sau cùng. Khác với thây ma, chúng ta vẫn còn dật dờ chân bước, dời đổi truân chuyên. Họ có địa chỉ thường trú, tôi thì không, sống tạm bợ vất vưởng đó đây, ăn nhờ ở đậu.
Trước, hẳn chú chẳng phải là người coi ngó mộ phần trong nghĩa địa?
Không, tôi là lính chế độ cũ. Tôi bị lãnh đạn vào giờ thứ hai mươi lăm. Không ai xem tôi là thương phế binh, đời tôi tàn phế tự mùa xuân u ám ấy.
Trời nắng, mới sáng sớm đã chóng oi ả, bức bối. May mà quanh đây hiện diện thưa thớt bóng lá xanh. Không biết cây tên gì, thân trắng mốc, ốm o xo bại chẳng tỏa rộng vũng im râm. Chùm lá run từng hồi, đôi ba con chim sẻ kêu chiêm chiếp chuyền cành, sửa soạn bay. Tiếng chim nghe sắc nhọn giữa những ụ đất thấp cao, kêu là kêu vậy chứ chẳng mang gửi niềm vui nỗi buồn nào cả, chỉ khuấy động chút âm thanh cho đất đai đỡ trầm mặc. Người đi trước dẫn đường chân hơi cà thọt, vành mũ rách xơ vải bạc, vai gầy, thấy xương bả vai nhô ra sau áo thun bẩn màu.
Đừng trách tôi tò mò, tuồng như cô là Việt kiều?
Dạ, có đi kèm với chữ hồi hộp không chú?
Là sao? Tôi không hiểu. Tâm cảm của người đi thăm mộ? Cô xa xứ e đã bộn tháng năm?
Dạ, mười ba tuổi lúc đi, giờ về đã gần bốn chục rồi.
Thiệt sao, trông cô đâu khoảng chỉ ba mươi.
Ba mươi tuổi tôi đã tay bồng tay bế rồi, chú tin không?
Có mang các cháu về theo?
Chúng ở lại, đường quá xa xôi và cha chúng không ưa về thăm quê. Chẳng có nhu cầu.
Gió thảng hoặc tạt ngang, hiếm muộn, mang theo mùi hoa héo tàn rữa nát. Chút khói hương lẩn khuất trộn với mùi đất vỡ. Chúng góp lại, tỏa lan chất đặc thù. Kẻ khiếm thị đui mù nếu sử dụng khứu giác sẽ hít thở rồi nhìn nhận được bàn chân đang dẫm vào lãnh địa của người chết. Và đứa sáng mắt dẫu không ngó ra xương cốt bày biện vẫn cảm nhận cái gai gai như chạm phải những oan hồn đang cút bắt giữa lối đi hẹp trồng sánh đôi những mộ phần.
Tươm tất quá, xem chừng ở đây luôn có người chăm sóc hộ.
Thì những kẻ đi viếng thăm, họ nhờ vã tôi nhổ cỏ hốt rác quét dọn. Sẵn, tôi cũng xắn tay áo cho những chỗ hương đèn tàn lạnh chẳng có ai ngó ngàng. Cô sẽ khó chịu nếu nhìn thấy nơi thì thừa mứa lễ vật nơi thì xiêu vẹo hoang vu.
Cám ơn lòng tốt của chú. Nơi xiêu vẹo hoang vu nói rõ được một điều: Những đứa liên hệ còn sống kia là những kẻ bạc lòng, bất hiếu…
Người đàn ông quay đầu. Mắt thiếu phụ đỏ, ứa ra một giọt nước , lặng lẽ, long lanh.
Hoàn cảnh. Cô nghĩ vậy sẽ thấy nguôi đi. Cũng do hoàn cảnh, tôi mới chôn đời mình chốn này. Dầu sao thì đây là thế giới an lành nhất.
Tôi nói điều không phải thì chú bỏ qua cho. Chú không sợ ma?
Cô nhìn con người tàn tạ của tôi đi. Tôi như thế này thì còn gì để sợ hãi một điều vớ vẩn nào khác! Điều khiến tôi ngán ngao là đôi khi phải chống chọi xua đuổi một bọn người, và có khi tôi đã thua cuộc.
Sợ người chứ ai lại đi sợ ma, phải không chú?
Bọn ấy là ma quỉ, yêu tinh thời đại đấy chứ. Chúng còn rất trẻ, đêm hôm tùng tam tụ tứ vào đây, đứa thì chích xì-ke, cặp thì cởi áo xống làm chuyện vợ chồng; chưa nói tới hạng người kinh khiếp hơn, mang cuốc xẻn đi đào xới những ngôi mộ mà chúng tin là có dấu chôn tư trang đồ vật qúy giá. Thời buổi này xẩy ra lắm chuyện khó tin, so ra ma hiện hồn lên, mếu máo khóc, thì ngó dễ chịu hơn.
Người đàn ông đứng lại, cong lưng để dùng tay xoa bóp ở một bắp đùi, chỗ tóp teo thương tật. Khuôn mặt cố dấu những biểu cảm.
Phạm vi này là nơi có số tuổi già nhất, có nghĩa là họ qua đời đã lâu. Hy vọng cô tìm ra người muốn tìm.
Người đàn ông cởi mũ vải vày vò trong đôi tay để mặc cho cô Việt kiều ngần ngại đi dòm mặt từng tấm bia khắc vết nông tên tuổi của những căn phần rêu bám. Cô đi loanh quanh, cô đi lòng vòng. Tóc rối trước trán, mồ hôi đổ khiến khuôn mặt ấy trông mệt mỏi. Vành môi khô, da mặt tái xanh, và thoáng chốc chỉ còn trông rõ mái tóc đen lẩn lút sau một tảng xi-măng. Im lặng, bờ vai run, dáng xiêu đổ. Nắng như xô cô xuống, làm thành bóng đen gãy gập trên ngôi mộ. Người đàn ông đọc tên chủ nhân: Nguyễn thị Nghĩa Ân. Một chủ nhân cô quạnh chẳng bà con thân sơ hôm nay đỡ tủi có người ở xa về nhìn nhận. Mạ… Cô Việt kiều chỉ thốt có một chữ. Một chữ thôi mà cây lá xao xác cựa mình. Gió ngoài đường lộ khoắn bụi thổi vô, mắt cay để rồi mắt ướt chảy trôi bụi đường.
Cô rời quê hương năm cô mười ba. Mười ba tuổi mà thuận thảo với những ảnh hình xưa cũ. Khư khư giữ lấy để sau này có điều kiện thì trải lòng chứng minh. Mấy đứa già đầu e chẳng sánh bằng. Người đàn ông nói khi trao bó hương. Như quen việc, ông thắp cháy nó đều đặn, thoáng chốc. Mạ ơi… Khói vật vã trên đầu nhang, như lòng ai đầy trắc ẩn. Người trông coi mộ phần quay lưng, bỏ người đàn bà ngồi lại với những tâm sự mà cô sẽ giải bày với kẻ khuất mặt. Âm dương luôn cách biệt, vọng ngôn sẽ trôi trên những thước đất lạnh, nhưng kỳ cục thay, người sống mãi tin tấm lòng mình sẽ được xương cốt cát bụi chứng giám. Họ an lòng với điều diệu kỳ nọ và như vậy, quanh ta vẫn còn đó những con người tử tế. Đôi lúc người ta phạm tội với tha nhân nhưng họ sẽ hoàn lương khi gục đầu thổn thức trước một mộ phần thân thuộc mong nhìn nhận chút lòng thành.
Ở chốn này thời gian hầu như ít lai vãng tới, ngày tháng năm chỉ là con số của quá khứ khắc ghi trên bia đá. Người ta chẳng quan ngại sao mới sáng đã trưa, chưa chiều đã tối mịt. Người đàn ông đôi khi cũng chẳng nhớ rõ số tuổi của mình. Điều ấy nào có gì hệ trọng? Ông chết bụi chết bờ chết dấm chết dúi thì cần quái gì một tấm bia ghi đủ ngày sinh ngày tử cầu chứng một thây ma vô danh bạc phận. Khi ông hút xong điếu thuốc thì cô Việt kiều trở ra. Áo quần bảnh bao đã nhăn nhàu, mặt hoa da phấn đã đôi phần hư hao. Cô ngó mông ra phía đường lớn, nắng gắt gao phía đó ùn đẩy với khói xe bụi mờ. Những tấm bia đứng án đã phần nào ngăn chận được thứ âm thanh vỡ bờ ngoài kia xô giạt vào. Thế giới an lành không chỉ nói riêng tới vùng đất của người chết hết múa may quay cuồng đâm thọc chém giết lẫn nhau, nó còn tượng trưng rõ là nó cách ly với thứ cảnh giới điên đầu chộn rộn bên ngoài đường ranh mong manh của cỏ dại với nhựa đường. Kẻ cắm cúi chạy xe máy có đội nón an toàn kia có thể sẽ lọt hố tử thần và đôi ba hôm sau khi hoàn tất xong mọi thủ tục kẻ ấy sẽ vào đây an nghỉ thực thụ. Gã đàn ông ngồi nhậu trong quán bia nọ đặt mắt nhìn đểu ai đó rồi ánh đao của đứa nực gà vung lên. Mang gã từ đời thường say xỉn qua bên này đường ăn nằm với dế giun xong một kiếp người vô vị.
Trước khi bước qua biên giới chia hai thế giới đối cực, cô Việt kiều dúi vào tay người đàn ông hai tờ giấy bạc 50. Tôi đi tay không vì chẳng hy vọng được nhìn ra chỗ mạ tôi nằm, xin chú mua giúp giùm tôi chút hoa quả bày ra cho đỡ lạnh lẽo. Mai mốt rồi tôi cũng trở lại viếng thăm. Người đàn ông không nói, nhìn lưng áo rịn ướt mồ hôi bước đi. Mang mỗi lúc một xa chút hương thơm kỳ lạ. Cũng là Việt kiều, nhưng cách trở về của họ đa phần chẳng giống bọn đàn ông. Họ “tử tế” vạn lần cánh mày râu và người đàn ông chợt hiểu do đâu mà cô hỏi: Việt kiều có đi kèm với hồi hộp? Hồi hộp có phải là trạng thái bất an khi ta đối mặt với một con ma?
Có được một trăm đô, thứ hiện kim lớn lao mà suốt đời dẫu mộng mị ông chẳng tài nào nắm bắt, sở hữu được. Nó làm ông rối trí, trong đầu tự dưng phân liệt ra những danh mục cần thanh thoả cần tiêu pha. Dù sao, việc trước mắt là ông gọi một chiếc xe ôm biểu chở tới chợ và ôm về những thứ hoa quả tuyển chọn. Thấy lỏng lẻo, ông ghé hàng cơm bụi mua chén cơm trắng, đĩa thịt heo quay, muỗng đũa đủ bộ sậu tinh tươm.
Ông làm sạch một chu vi quanh mộ phần mà cô Việt kiều gọi là mạ. Ông bày hết những thứ ông vừa mua sắm rồi tự mình đứng nghiêm cẩn cúi đầu trước “căn nhà xiêu vẹo”. Ông ngồi yên cho tới lúc nhang tàn. Cho tới lúc mây loãng tan về phía trời chiều. Ngày mai cô ấy sẽ trở lại, sẽ nhìn ngó để rồi nhìn nhận tiền cô trao chẳng phải rơi vào tay ác quỷ. Người ta không thể sống trong thế giới hồi hộp được, ít ra họ còn phát hiện một vài cá nhân hiền lương ẩn mặt quanh đây.
Hai ngày, ông cố lắng lòng chờ đợi cô Việt kiều xuất hiện. Ông dõi mắt ra cánh cổng sắt hoen rỉ không tài nào khép kín cổng nghĩa trang. Và nghĩa trang, tự thân nó, bất biến cái hoang vu cô quạnh ngàn đời. Những bông hoa đặt trước mồ bắt đầu tàn úa, chim chuột đã thay phiên tới dự phần đánh chén, thức ăn rơi vung vãi. Ông thu dọn vén quét. Và ông lại thắp nhang, thay chén nước mới.
Sang ngày thứ ba, cô Việt kiều xuất hiện, nhưng đớn đau thay, ảnh hình cô nằm khiêm nhường trên cột báo, trên đôi tay mãi run của người đàn ông tàn phế. Chỉ đôi ba dòng, chẳng có gì rườm lời như hầu hết những tin loan trong chuyên mục hình sự. Tóm tắc, nạn nhân Trần thị Như N. 40 tuổi. Việt kiều từ Mỹ về. Bị hiếp và giết trong khách sạn ở quận 3. Hành lý, vật dụng cá nhân bị lục lọi rơi vương vãi. Công an đang chính thức điều tra, giả định ban đầu do bị bọn tội phạm thuê ngụ phòng bên đã theo dõi và đi tới tình trạng cướp của giết người…
Người đàn ông đi khập khiểng ra trước nấm mồ của “Mạ”. Ông xé vuông báo, phần có in gương mặt kẻ xấu số rồi đốt cháy nó. Ông muốn nói một vài lời cho “Mạ” nghe nhưng bất lực. Chỉ có đôi mắt, ngỡ đã khô cạn bỗng ứa từ tốn ra đôi hàng lệ. Từ 1975 đến giờ, lần đầu những giọt nước mắt lại tìm tới ông, nhoè nhoẹt. Ông gọi thầm tên N. Giọng sũng. N ơi N ơi…
Việc Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng, ngoài lý do chung của một số thanh niên ở vùng nầy, y có nhiều lý do riêng. Nhìn chung thì trước hết là vì sợ bị bắt “quân dịt, quân gà”. “Quân dịt quân gà” là cách nói đùa của dân địa phương. Đúng ra là sợ đi lính Quốc Gia.
Người dân ở đây chẳng “Cộng sản Cộng siếc, Quốc da, Quốc xương” gì cả. Họ là dân “tu hiền” (Theo đạo Hòa Hảo, cờ Đà) tuy không tích cực và nhuộm nhiều màu sắc chính trị như dân Long Xuyên chính hiệu, nhưng bên nào cũng được, miễn được ở yên, lo làm ăn.
Đi lính Quốc Gia khổ lắm, nhất là khi bị bắt đi quân dịch. Lính quân dịch gốc miền Nam, Vùng 4 thì đưa ra Trị Thiên, Nam, Ngãi ở Vùng 1 để khỏi trốn về. Lên đường ra miền Trung thì lâu lắm, vài ba năm sau, mới được về phép; nhiều khi có đi không về, có khi về trong… quan tài. Thật ra, thường thì khi tử trận, bị chôn luôn ở “ngoải”, gia đình chỉ nhận có cái giấy báo tử và “tiền tử”.
Dù vậy, nếu có được cái bằng tú tài nhờ gia đình khá giả cho con ra học ở Rạch Giá hay Cần Thơ, Saigon… khi đi lính cũng đi sĩ quan Cộng Hòa. Sau 1975, không ít người “được cách mạng” cho đi “học tập” mút mùa Lệ Thủy.
Có người tới tuổi cũng đăng vào nghĩa quân hay địa phương quân, phục vụ gần nhà, nhưng việc nầy hơi “rắc rối”, một là phải có “trà nước”, cũng không nhiều nhặn gì, nhưng ngặt nỗi dân quê nghèo lắm, “tay làm hàm nhai” nên “chịu thua”; hoặc có bà con làm việc ở quận, tỉnh, v.v… giúp đõ cho. Vô Nghĩa Quân thì chỉ quanh quẩn ở quận, xã. Đêm tới đồn ngủ, canh gác. Ngày thì chia vài người ở lại giữ đồn, phần đông về nhà làm ruộng, tới chiều tối lại vô đồn.
Làm lính cỡ nầy khoẻ lắm. Sáng về nhà, chiều vô, xách theo ít đồ nhậu, chai rượu, họp nhau nhậu cho tới khuya. Đồn Vàm Rầy (Xã Đức Phương, xã của “chị” Tư Nết – Xin xem lại bài trước để biết chị Tư Nết là ai!), có nhiệm vụ giữ cầu Vàm Rầy. Chiều lại, nghĩa quân vô đồn, kéo concertina chận hai đầu cầu, không cho ai qua lại vì đã tới giờ giới nghiêm. Xong, kéo nhau ra giữa cầu cho được trăng thanh gió mát, nhậu đã đời sương gió. Riết rồi thành thói quen. Việt Cộng điều nghiên, chờ khi mấy chú nhậu đã, chúng lặn vô chân cầu, cột mìn, cho nổ. Vậy là nghĩa quân lớp chết, lớp bị thương, lớp mất tích. Có người mất tích, bị nghi là theo Việt Cộng. Mấy ngày sau, có mùi hôi thúi từ trong đám lau gần chân cầu bay ra. Người ta tìm tới xem, té ra có một chú “mất tích” chết nằm trong ấy. Sức mạnh của mìn hất anh ta từ cầu văng vào bụi lau mà không ai hay! Việc nầy xảy ra hồi mùa hè 1974.
Ai không đăng được Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân mà không muốn đi quân dịch để bị đưa ra tới “ngoải” thì lủi “vô bưng”. Ban đầu chỉ mới lủi vô nửa chừng, giữa ruộng, chưa tới bưng, chưa theo Việt Cộng. Theo Việt Cộng cũng dễ chết không thua gì đi lính Quốc Gia.
Năm ba anh trốn quân dịch dựng một cái chòi trong đám lõi rừng chồi, rừng tràm trong ruộng. Lõi là một cái rừng nhỏ, chung quanh là lau sậy, đế, ô-rô, cóc-kèn, v.v… không quá gần ngoài kinh, ngoài lộ, vùng Quốc Gia, không quá sát rừng tràm, gần Việt Cộng. Họ sinh sống bằng nghề giăng câu, đạt lợp, bắt cá. Gia đình tiếp tế gạo muối, thuốc rê, áo quần vào, rồi lấy cá tươi hay cá khô đem về bán kiếm tiền. Hễ có Việt Cộng từ trong rừng ra tuyên truyền theo “cách mạng” thì cũng ừ hử cho qua chuyện hay hẹn lần hẹn lữa. Còn lính Quốc Gia có vô thì chúng lội tuốt vô rừng tràm.
Trong rừng nhiều Việt Cộng, lính tráng ít vô. Có lần lính thám báo chi khu đi rình Việt Cộng, bắn lầm. Hai người chết, còn lại bị thương, cho ghe chở ra bệnh viện Rạch Giá, còn người chết đem xác về chôn, chẳng thưa kiện ai được! Có ông hội đồng tỉnh tính làm lớn chuyện nầy để kiếm phiếu cho kỳ bầu cử tới nhưng gặp ông quận trưởng cao tay ấn, vừa đánh vừa thoa nên mọi việc êm xuôi.
Ngoài lý do chung như tôi vừa nói ở trên, Nguyễn Tấn Dũng (NTD) có những lý do riêng.
Trong bài “Chị Sứ – Hòn Đất”, tôi có nói là dân địa phương đồn đãi (Sau 1975 người ta đồn càng dữ, chẳng ai cải chính). NTD cũng không dại gì cải chính rằng ông ta là cháu ngoại ông Nguyễn Sinh Sắc, tức gọi Hồ Chí Minh bằng cậu.
Hồi đầu thế kỷ 20, ông Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức tri huyện Bình Khê, ông lưu lạc vào Nam làm thầy thuốc Bắc, hết Saigon rồi tới miền Tây, và qua đời ở Cao Lãnh. Ngôi mộ hiện còn ở Cao Lãnh, do một ông quận trưởng Quốc Gia thời Ngô Đình Diệm xây cho, cũng khang trang đẹp đẽ. Khi ở Cao Lãnh, ông Sắt có léng phéng với một người đàn bà, đáng tuổi con, đẻ ra một đứa con rơi, con gái. (Dòng họ Hồ nầy sao nhiều con rơi vậy, kể từ đời ông Hồ Sĩ Tạo là ông nội “thiệt” của ông Hồ Chí Minh?). Người con gái rơi đó là mẹ ông NTD. Cũng có người đồn NTD là con rơi của Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh?!
Thân phụ NTD là ai?
Có thể là một ông cán bộ người Bắc vô Nam hoạt động hồi 9 năm (1945-54). Người ta cũng đồn sau khi hiệp định Gevève ký kết, ông nầy không tập kết ra Bắc mà nằm vùng trong Nam, cũng ở Rạch Giá, bí danh là Ba Kiếm.
Hồi tôi về Cái Sắn, lật “hồ sơ trận liệt” ra xem thì thấy Ba Kiếm là bí thư huyện Châu Thành B. Huyện Châu Thành B. của Việt Cộng là kể từ kinh Cái Sắn về hướng tây, giáp với huyện Hà Tiên. Chỗ ranh giới hai huyện nầy của Việt Cộng thì tôi không rõ, nhưng trên trục lộ 8A từ Rạch Giá – Hà Tiên thì xã Tín Đạo thuộc huyện Hà Tiên, còn gần Rạch Giá hơn như xã Sóc Soài, Sóc Sơn, xã Mỹ Lâm của Nguyễn Tấn Dũng thì thuộc huyện Châu Thành B. của Việt Cộng.
Hồ sơ trận liệt cho biết Ba Kiếm là người gốc Bắc. Ban đầu tôi hơi ngờ, không lý Ba Kiếm là “dân di cư”. Hỏi ra thì không phải, ông nầy vào Nam hồi 9 năm. Tuy nhiên, hồ sơ trận liệt cũng không nói vợ con của Ba Kiếm là những ai.
Dân Kiên Lương, những người từng theo Việt Minh thời chống Pháp 1945-54, ít nhiều biết tới Mười Minh.
Mười Minh là ai?
Mười Minh là bí danh, tên thật là là Nguyễn Tấn Thử. Thử là chuột, có lẽ ông tuổi tý, sinh năm 1924, đồng chí thân cận của Võ Văn Kiệt khi cả hai hoạt động ở miền Tây Nam bộ, từng làm chính trị viên cho bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá (tên gọi của Việt Minh) hồi trước 1954.
Mười Minh bị Tây bắn chết trước hiệp định Genève năm 1954, sau khi vợ ông ta sinh một gái rồi tới một trai. Trai đặt tên là Nguyễn Tấn Dũng.
Khi cha chết rồi, Nguyễn Tấn Dũng còn nhỏ lắm, theo mẹ về cư ngụ ở xã Mỹ Lâm.
Có người bạn thân, về quê ở Rạch Giá thăm bà con, mới qua lại Mỹ gọi điện thoại nói với tôi, biểu tôi viết lại cho rõ: Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cọng khi mới 12 hoặc 13 tuổi, nghĩa là khoảng năm 1961, 62, có ra Rạch Giá học lớp nhì, nhưng chỉ được ít lâu thì bỏ học.
Ngày 1 tháng 5, 1975, sau khi từ trong rừng ra, tiếp thu thị trấn Hà Tiên, Kiên Lương là “huyện đội”, thành lập chế độ quân quản. Vì vậy mà “Năm Dũng”, trưởng ban Quân y huyện đội Hà Tiên mới tiếp thu bệnh viện Quân Dân y quận Kiên Lương (của ta). Nguyễn Tấn Dũng là con thứ ba, nhưng không hiểu sao hồi đó, bọn họ gọi y là “Năm Dũng” (thứ năm).
Sau khi chế độ quân quản giải tán, Ba Dũng “biên chế” về Cà Mau, chuyển qua ngành Công An. Sau khi “hòa bình”, Ba Dũng liên lạc với sáu Dân, sư phụ của thân phụ y ngày xưa. Muốn mau “thăng tiến”, Ba Dũng chuyển qua Công An, dễ cho y hơn. Nếu cứ ở ngành y, muốn thăng chức, Ba Dũng phải học thêm: từ y tá, lên y sĩ, bác sĩ… Con đường nầy, đối với Ba Dũng hơi khó đấy bởi Ba Dũng thuộc hạng học trò “đút vở bụi tre”, chơi thì giỏi, học thì dốt. Cũng nhờ chuyển ngành, học “trường đảng”, Ba Dũng mới dễ dậu bằng tiến sĩ chính trị, kinh tế, giao thông, giỏi nhất là luật, lại là “luật đi đường”.
Khi mới ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương, “Năm Dũng” có mang theo một nữ y tá, cũng trong rừng ra. Hai người sống chung với nhau trong bệnh viện Quân Dân y Kiên Lương, phía ngôi nhà ngang, sát bờ kinh. Họ lấy nhau không cưới hỏi gì cả. Cô nữ y tá ấy là vợ Nguyễn Tấn Dũng bây giờ.
Người làm phó cho “Năm Dũng” hồi đó là Sáu Khởi. Khi “Năm Dũng” chuyển qua ngành Công An, Sáu Khởi cũng đi theo. Cách đây mấy năm, Sáu Khởi mang “loon” trung tá Công An, làm việc ở Kiên Giang.
Khi chế độ quân quản giải tán, “Năm Dũng” bàn giao y tế lại cho Ba Trực, người Châu Đốc, trưởng phòng y tế huyện Hà Tiên.
XX
Bà Thử, mẹ Ba Dũng là “cơ sở Việt Cộng”, có nghĩa là nơi thường lui tới của mấy tay tổ Việt Cộng nên mới có chuyện Nguyễn Tấn Dũng là con ông nầy, ông kia. Đám “ruộng chéo hợp tác xã xã hội chủ nghĩa” nầy có nhiều xã viên cày chung. Thế rồi bà ấy chán cảnh cày chung, bèn lấy chồng khác, đẻ thêm mấy đứa con nữa, là em khác cha của Nguyễn Tấn Dũng. Mấy đứa nầy hiện ở thị xã Rạch Giá, nhờ có cái dù của ông anh làm thủ tướng nên chúng nó giàu có, làm chủ mấy công ty xuất khẩu hải sản.
Mẹ là con gái rơi của Nguyễn Sinh Sắc, không chắc rõ chồng là ai mà đẻ ra NTD, là con của Mười Minh, hay con rơi của Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh hay con ông bí thư huyện Châu Thành B? Không ai biết đâu mà mò cho ra tung tích, trong khi Cộng Sản cái gì cũng bí mật nên lý lịch mấy tay Cộng Sản tối thui, không đâu ra đầu mối. Đúng là một đám hỗn độn, lộn xôn, toàn là con hoang, con nôm, con lạc dòng, con lạc vất lạc vơ. Nhìn chung, từ đám chóp bu cho tới đám hạ tầng xã ấp, như người ta thấy trong truyện “Ba Người Khác” của Tô Hoài thì rõ rồi.
Ngay chóp bu thứ nhứt, cũng là con lạc dòng của ông Hồ Sĩ Tạo. Nguyễn Sinh Nhậm, bố ông Nguyễn Sinh Sắc, lúc Nhậm đã 70 tuổi, được người ta gọi tới mà gã con gái cho, là một người đang có bầu – Có lẽ bụng cũng chưa lớn lắm khiến thiên hạ dễ hồ nghi. Tưởng vậy là che được mắt thiên hạ, nhưng rồi cả làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, làng ông Hồ Chí Minh, ai cũng biết ông bố ông Hồ Chí Minh là con lộn sòng. Cộng Sản chủ trương dấu kín, cái gì cũng dấu, dấu sự thực và công bố sự giả. Họ quên mất một điều, có cái sự thật nào ở đời nầy mà che dấu được thiên hạ. Một năm, hai năm, không biết; năm mười năm, người ta cũng biết, có dấu ai được đâu! (Độc giả muốn biết rõ hơn, xin xem “Quan hệ Ngô gia, Hồ gia” trong “Theo Dòng”, cùng tác giả do Văan Mới xuất bản)
Đám đệ tử của Hồ, không ít người cũng là thứ lạc vất lạc vơ đâu đó: Trần Quốc Hoàn là thằng Cảnh du thủ du thực. Điều nầy ông Vũ Thư Hiên rõ lắm. Phùng Thế Tài cũng là một hạng như thế, điều nầy ông Việt Thường cũng rất rành. Từ một thằng du thủ du thực, dựng nó thành ông nầy, ông kia, cho nó địa vị, cho nó quyền lợi, cho nó hưởng thụ, sung sướng… thì có điều gì sai nó mà nó không làm được để bảo vệ quyền lợi của nó, phe đảng của nó. Đó chính là cách dùng người của Hồ Chí Minh, nói riêng hay Cộng Sản, nói chung vậy. Cách dùng người như vậy đều có bài bản cả.
Đám nầy, từ Hồ Chí Minh trở xuống, người ta gọi bằng nhiều tên: Con lộn sòng, con lạc dòng, con hoang, con nôm. Có lẽ tiếng con nôm hơi lạ, tôi xin giải thích: Nôm ở đây không phải là văn chương chữ Nôm, biến dạng của chữ Nam như tôi có giải thích trong hai bài nói về “Văn Chương Chữ Nôm” và “Những Bài Thơ Nôm Đầu tiên…” mà nôm, theo thông tục, là hành động của một người đàn ông trèo lên bụng của một người đàn bà. Việc nầy phải vụng lén, không hợp lệ, không hợp pháp… của hai người không phải là vợ chồng. Vợ chồng ăn nằm với nhau như thế không thể gọi là nôm. Ở xứ tôi, tại miền quê, chữ nôm còn một nghĩa khác nữa. Ví dụ: “Bác qua nôm cho mạ tui một mụi, mai cha tui qua nôm lại.” Tiếng nôm như thế có nghĩa là qua cày giúp, bừa giúp cho một bữa (một mụi). Theo nghĩa trước thì ông Hồ Sĩ Tạo nhân lúc khuya khoắt, ai cũng ngủ say cả, cặp bậy nhau, hoặc lợi dụng chỗ vắng người, ngoài bụi tre, bờ ruộng mà nôm bậy một chị nông dân nào đó. Chị nầy có bầu, sợ mang tiếng, sợ làng bắt vạ (Hồi xưa không chồng mà chữa thì bị làng bắt vạ vì tội làm thương luân bại lý) đem gã cho ông Nguyễn Sinh Nhậm, mà sinh ra ông Nguyễn Sinh Sắc. Do đó, cái gốc chính của ông Hồ Chí Minh, là dòng dõi ông Hồ Sĩ Tạo, không dính dáng gì tới dòng họ Nguyễn Sinh cả, nên sau khi lên ngôi hoàng đế, anh học trò lớp ba trường Pháp Nam ngày xưa ở Huế nay trở lại với cái họ gốc của mình, là họ Hồ, bèn tự đặt tên cho mình là Hồ Chí Minh. Họ Hồ là họ gốc, còn tên Chí Minh là tên mượn ông Vương Chí Minh, một cán bộ Cộng Sản Tàu. (xem sách đã dẫn).
Vậy Nguyễn Tấn Dũng con ai?
Con ai thì không biết, nhưng rõ ràng là con nôm của Việt Cộng theo cái nghĩa ở trên. Hồi nhỏ, NTD không được ngó ngàng tới, nên phải ở với “ngụy”, học trường “ngụy”. Dưới con mắt Cộng Sản, cái “ngụy” nầy ảnh hưởng tới NTD nhiều lắm, nhưng mọi việc cho qua vì có lẽ hiện giờ ông ta có gốc lớn nào đó. Cứ “bảo lưu” cái chất “ngụy” đó trong con người NTD, mai mốt, cần thì đem ra xài chơi, kiểu như Lê Đức Thọ, nắm trong tay cái đơn “hồi chánh” với Thực Dân Pháp của Võ Nguyên Giáp, chờ khi Giáp rấp ranh ra làm tổng bí thư thì chìa cái đơn “hồi chánh” đó ra cho các “đại biểu” xem. Kết quả là Bùi Tín kẹt cứng bên Pháp, “ra đi không có ngày về”… vinh quang.
Những khi tạm yên, huyện ủy Châu Thành B. đóng tại Tà Keo, thuộc xã Mỹ Lâm, xã của Nguyễn Tấn Dũng. Hễ tình hình căng thẳng, đánh nhau dữ thì huyện ủy Châu Thành B chém vè, rút về kinh Kháng Chiến.
Nhân đây cũng xin nói thêm, Tà-Keo thuộc ranh giới ba quận của Việt Nam Cộng Hòa: Tận cùng phía nam quận Huệ Đức, thuộc Long Xuyên, chi khu nầy ít khi vói tới đây; phía cực tây quận Kiên Tân (tức phía cực nam xã Tân Hội – cũng thuộc quận Kiên Tân) và phía tây-bắc quận Kiên Thành. Chi khu Kiên Tân có cho đóng một cái đồn nghĩa quân cuối xã Tân Hội, lính tráng chỉ ngồi ngáp ruồi, chờ khi có lính làng lính lệ hay cảnh sát đi bắt quân dịt, quân gà thì bắn ba phát báo động để đào binh hay quân dịt quân gà biết mà dông tuốt vô đồng chó ngáp, chẳng ai nắm trúng giò chúng. Chỉ có quận và chi khu Kiên Thành, đóng ở quê hương của ca sĩ La Thạch Tuyền mới cho thám báo hoạt động ở đây.
Tôi có hành quân vùng ruộng ấp Tân Lập, phía nam xã Tân Hội một lần, đi lạc qua Kiên Thành, bị thám báo bên đó đánh cho một trận, may leo lên được xe cày mà chạy về kịp. Dịp đó, tôi tưởng là Việt Cộng, tụi nó dàn ra một trung đội, phía tôi chưa tới 5 ngoe, lo rút lui cho lẹ. Hóa ra, về tới nơi, mở máy PRC 25 liên lạc mới biết là thám báo chi khu Kiên Thành. Đám nầy giả cách ăn mặc và mang súng AK nên tôi tưởng lầm Việt Cộng. Trước khi chạy, chúng tôi bắn lại cũng gắt, cản đường chúng đuổi theo. May mắn chẳng ai chết, chẳng ai bị thương chớ không thì tôi đã mang hia đội mão ra chầu tòa án Quân Sự vùng 4 rồi. “Ham” đi đánh nhau với Việt Cộng, nghĩ lại thiệt là dại. Cái ham làm cho mình chết dễ như không!
Đó là kỷ niệm thứ nhứt về quê hương Nguyễn Tấn Dũng. Còn một kỷ niệm nữa, xin kể cho vui.
Khoảng đầu năm 1975, tình hình quân sự bấy giờ không yên như khi hiệp định Paris mới ký. Một hôm tôi đi Rạch Giá với tài xế và một anh tà lọt ngồi phía sau. Tôi thì lái xe, tài xế ngồi bên cạnh, lăm lăm khẩu AR 16, hễ thấy Việt Cộng là nổ súng ngay. Anh tà lọt thì mang một cây M-79. Mới tháng trước, tôi cũng đi Rạch Giá, về gần tới Đồn Giữa (Ranh giới xã Tín Đạo và Đức Phương) thì bị Việt Cộng từ bên kia kinh bắn B-40 qua. Bên tôi chỉ có 4 người: Tôi, tài xế và hai anh tà lọt ngồi phía sau. Biết B-40 bắn không tới, vả tụi nó cũng chỉ vài ba ngoe từ trong rừng ra khuấy rối chơi, nên tôi cho xe dừng lại, núp phía sau cabin xe, chỉa “Đại bác cầm tay 40 ly” gởi cho chúng nó ít quả làm quà. Trên ruộng nước, tụi nó chân thấp chân cao chạy trối chết. Bọn tôi thấy vậy càng vui, gởi tặng thêm ít quả nữa. Cũng may, chúng tôi chẳng ai có bằng thiện xạ nên tụi nó thoát chết lần đó.
Trở lại hồi đầu, khi chạy xe ngang qua xã Mỹ Lâm tôi thấy một chiếc xe Jeep A-2 chạy ngược chiều. Xe qua rồi, tôi thoáng thấy trưởng xa mang hai sao! Tôi nói thầm: “Trời! Ông tướng nào mà gan dàn trời vậy cà? Dám đi một mình, một tài xế và một tà lọt như tôi vậy.” Vùng nầy tôi đi quen nên tôi không sợ Việt Cộng, còn ông tướng ở xa, biết xứ nầy như thế nào sao mà dám đi lang bang. Tôi hỏi tài xế: “Ông tướng nào vậy mầy?” Tài xế trả lời: “Chắc là ông Tướng Quân Khu”. Tôi giật mình. Tướng Quân Khu là ông Nguyễn Khoa Nam. Trời! Thấy ông tướng Quân Khu mà chẳng chào kính gì cả, lái xe tỉnh bơ, coi như hai bên “ngang nhau.” Ở vùng 4, trước kia là tướng Trưởng, bây giờ là tướng Nam, hai ông gan như nhau, chẳng ông nào sợ… Việt Cộng cả. Cũng hôm đó, trên đường về, ngang Mỹ Lâm, xe Jeep tôi lại hỏng máy: Dinamo không charge nên hết bình (điện). Mặt trời đã gần ngọn cây, trời tối dần, đường về còn xa, bụng tôi hơi lo! Hồi đó tôi chưa biết Nguyễn Tấn Dũng, nhưng nếu biết, lỡ Nguyễn Tấn Dũng có mò ra tới lộ, tôi cũng chỉa súng “nghinh đón” chớ không lý để Việt Cộng bắt sống sao! May có chiếc xe Dodge Thiết Giáp chạy ngang, thấy tôi là người quen, bạn đồng khóa, dòng dây kéo về, tới chỗ đóng quân còn sửa xe giùm cho.
Sau khi có bằng tiểu học, lúc tuổi khoảng 14, 15 tuổi, Nguyễn Tấn Dũng thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng, sau khi Bến Tre Đồng Khởi năm 1960. Theo như Tố Hữu nói thì “Hỡi người chị của Bến Tre, Cửu Long Đồng Khởi bốn bề đó chăng!?” (Nước Non Ngàn Dặm – thơ Tố Hữu)
Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54), lần thứ hai (1960-75) và lần thứ ba (1979-89), bao giờ xứ chùa Tháp cũng đóng một vai trò quan trọng. Chiến trường thì xảy ra bên phía Việt Nam, còn hậu cần thì nằm ở Kampuchia. Không tấn công vào hậu cần, chiến tranh khó chấm dứt. Đó cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa âm mưu đảo chánh Sihanouk hay quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công qua Miên hồi tháng 3 năm 1970.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, người và vũ khí từ Kampuchia chuyển qua tiếp tế cho quân Cộng Sản ở miền Tây Nam Bộ. Con đường tiếp vận của Việt Minh (danh xưng hồi đó) từ Miên xuyên qua mật khu Trà Tiên, vượt qua đoạn đường phía bắc thị xã Rạch Giá và thẳng về U-Minh.
Vì vùng nầy đất thấp, tới mùa nước nổi, nước tràn lên khắp mọi chỗ, ngoại trừ vùng Thất Sơn (Việt Cộng gọi là Bảy Núi). Ai đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam trong quyển “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” thì biết hiện tượng nầy. Người ta chỉ có thể dùng thuyền, ghe di chuyển. Tới khi nước rút, di chuyển theo kinh rạch là tiện lợi nhứt. Vì vậy, hồi đó, Việt Minh cho đào một con kinh nhỏ dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên – Rạch Giá. Kinh nầy được đặt tên là kinh Kháng Chiến vì nó được đào trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Sau nầy, trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, con đường di chuyển nầy của Việt Cộng được gọi là đường giây 1C. Đường giây 1C từ Miên, qua mật khu Trà Tiên, vượt qua LTL 8A ở cây số 15 bắc thị xã Rạch Giá, thuộc xã Mông Thọ, (Cách thị xã Rạch Giá 15Km) và đi thẳng về Chương Thiện -U Minh.
Tại sao vượt qua ở Cây Số 15 mà không qua chỗ Dinh Điền Cái Sắn như trong cuộc chiến tranh trước. Dễ hiểu thôi. Dân Dinh Điền Cái Sắn là dân Bắc di cư 1954. Việt Cộng đút đầu vào đó là coi như đút đầu vào rọ.
Hồi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, vì vùng Dinh Điền Cái Sắn chưa có nên việc vượt qua LTL 8A rất dễ dàng. Đại tướng Trần Thiện Khiêm khi đó còn mang “loon” trung úy, chỉ huy một đơn vị Quân Đội Quốc Gia đóng ở Mông Thọ, có thể đêm đêm nghe tiếng bộ đội Việt Minh vượt qua LTL 8A ở đoạn Cái Sắn mà không dám động tỉnh (1). Đoạn nầy, có cụ già Nam Bộ kể cho tôi nghe: “Tụi nó di chuyển qua lại như đi chợ.”
Vùng Cái Sắn ngày xưa là vùng ruộng của mấy ông chủ điền, ruộng cò bay thẳng cánh hay còn gọi là “Đồng Chó Ngáp”, cũng là chỗ nầy. Kể từ kinh Núi Sập tới kinh Cái Sắn (Còn gọi là Thạnh Đông) dài 12Km. Từ kinh Thạnh Đông tới kinh Thạnh Tây cũng dài 12Km. Có con chó nào chạy một mạch từ kinh Núi Sập tới kinh Thạnh Tây dài 24Km mà không ngáp mới thật là chó hay?!
Vùng nầy đất thấp, chỉ làm lúa sạ. Mỗi năm, mùa hè, sau khi gặt xong, đồng bỏ hoang. Khi chuẩn bị làm ruộng mùa tới thì người ta đốt đồng. Dân địa phương cũng gọi là “Mùa đốt đồng”. Cứ sau trưa một chút, chờ có gió mạnh, người ta giăng một cái lưới phía dưới gió, rồi đi ngược lên phía trên gió, cầm một cây đuốc mà đốt những gốc rạ, bụi cây khô. Buổi chiều, gió thổi mạnh, lửa cháy rần rần. Vậy là thỏ, rùa, rắn, chồn, cáo, cần đước, ba ba, tranh nhau chạy trốn. Chúng chạy về hướng cuối gió, chui vào lưới mà nằm, chờ người ta tới nắm cổ lôi đi bán hay làm thịt nhậu chơi.
Vùng nầy dân ưa nhậu thịt rắn. Nếu độc giả tới thăm họ, gặp người quí khách, họ sẽ mời quí độc giả nhậu thịt rắn. Con rắn – thường là loại rắn độc mới bổ -, được làm thịt, móc ruột, luộc chín, chặt khúc, sắp từng khúc quanh cái dĩa bàn to, tưởng như con rắn đang nằm ngủ. Ai có gan thì cầm đũa gắp ra ăn. Tôi thì chịu vì tôi là chúa sợ rắn. Ngoài thịt rắn, còn có một nồi cháo rắn, “ăn dằn bụng” trước khi tan hàng. Phải được người dân quí lắm, họ mới mời mình nhậu thịt rắn. Khoảng thập niên cuối 60 đầu 70, một con gà giò giá chỉ vài trăm bạc, còn một con rắn giá 2 ngàn. Mời nhậu thịt gà, có phải rẻ hơn không!
Đốt đồng xong, người ta bắt đầu cày. Lần đầu thì gọi là cày lật, nghĩa là cày sao cho đất lật úp, cỏ xuống dưới, đất lên trên. Cỏ sẽ bị thúi mà chết, thành ra phân hữu cơ. Lần sau thì cày cho đất nhỏ ra, chờ nước lên – khoảng tháng 8 tháng 9 âm lịch – đem lúa ra sạ. Lúa lên, nước lên. Gần tết, nước rút xuống, lúa cũng bắt đầu chín. Khi nước rút hết thì người ta lo gặt. Lúa gặt xong đem sắp vòng tròn cho xe máy cày chạy quanh cán lên cho hột rời ra. Lúa chất thành đống cao như ngọn đồi, dân địa phương gọi là “cà tang” lúa. Có lẽ “cà tang” là tiếng Miên. Hôm qua đi ngang, thấy đồng trống không, nay thấy có ngọn đồi hiện ra xa xa. Đó là “cà-tang” lúa.
Bên phía Dinh Điền Cái Sắn thì Việt Cộng không dám, còn bên phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, bọn kinh tài đêm khuya thường mò ra thu thuế nông nghiệp. Bọn nó thâu thuế “ác lắm”, nghĩa là thuế cao lắm nên dân chúng ghét. Nhờ đó mà phe Quốc Gia biết chúng xuất hiện ở đâu để “phục kích lấy tiền nhậu chơi”. Hễ tới mùa lúa thì bọn nó thu thuế nông nghiệp, mùa cày thì chúng nó thu thuế máy cày, cũng “ác” như thu thuế nông nghiệp. Tới mùa chúng nó đi thu thuế, “phe ta” đi săn giặc nên tôi gọi giặc ở đây là “Giặc Mùa.” Chuyện nầy cũng sẽ nói thêm về sau.
Hồi xưa, người ta cày bằng trâu, chủ điền nuôi hàng trăm con trâu mới đủ cày. Như ông chủ Ry, bố vợ ông Trần Thiện Khiêm nuôi những hai trăm con trâu. Đó cũng là đề tài truyện “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam nay đã được quay thành phim. Thời Ngô Đình Diệm phải nhập trâu Murat bên Ấn Độ về cho dân cày. Sau nầy thì cày bằng máy. Máy cày John Deer, Somecar, v.v… rất được dân chúng ưa chuộng.
Tôi không rành cách tính diện tích ruộng ở đây. Người ta tính theo công: Công tầm cắt và công tầm điền khác nhau. Năm nào trúng, mỗi công được khoảng trên dưới 35 giạ là cao. Có năm trên 40 chục giạ là trúng lắm.
Việt Minh nổi lên bắt giết, bỏ tù (rồi cũng chết trong tù luôn) các ông chủ điền. Hầu hết chủ điền chạy trốn lên Rạch Giá, Cần Thơ hay Saigon. Việt Minh gọi là “theo Tây”. Không theo Tây cũng không được, bị Việt Minh giết sao?! Ruộng của họ sau nầy, thời Đệ Nhứt Cộng Hòa bị truất hữu để lập Dinh Điền Cái Sắn. Tôi cũng có gặp vài người là con cháu của mấy ông chủ điền ngày trước. Nói chung, họ đã sa cơ và nghèo túng, tuy vẫn còn mang cái tên Tây như Bôn, gốc là Paul; Răng, gốc là Jean. Bố vợ ông Trần Thiện Khiêm, dân chúng gọi là ông chủ Ri, vì tên Tây là Henry, con trai lớn ông nầy, tên là Hai Re vì tên Tây là André hay Robert? Và chị Tư Nết, chính hiệu con nai vàng là Annette, đích thị là bà Trần Thiệm Khiêm. Chuyện gia đình nầy sẽ kể thêm ở phần sau, cũng là chuyện vui mà thôi! Cũng có người tên họ cũng hay, nửa Nôm nửa Hán như anh bạn Trần Thông Đến của tôi, con một ông chủ điền lớn ở Cái Sắn trước 1945. Anh nầy thường hay trốn làm việc để “đi mây về gió” nên ai hỏi tới thì tôi nói đùa là Trần Không Đến.
Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai nổ ra thì Dinh Điền Cái Sắn đã thành lập xong, kéo dài từ ngã Ba Lộ Tẻ Long Xuyên tới Kinh Tư gần xã Mông Thọ. Việt Cộng không thể vượt qua LTL 8A dễ dàng. Cây số 15 là điểm duy nhất, Việt Cộng cố sống cố chết để vượt qua LTL ở đây.
Cách Cây Số 15 cở 10 Km, về phía tây là ấp Tà Keo. Gọi là ấp nhưng thật ra đó là một vùng rừng tràm nước mênh mông. Ấp Tà Keo là cứ điểm quan trọng để Việt Cộng xuất phát vượt qua LTL 8A ở cây số 15. Khi quân Cộng Sản từ Miên vượt qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng Chiến, đi về phía đông để về U-Minh, tới ấp Tà Keo thì chúng phải dừng quân, chờ trời tối, tình hình thuận tiện mới vượt qua LTL 8A ở cây số 15.
Hạ tầng cơ sở Việt Cộng ở Tà Keo giữ nhiệm vụ giao liên, an ninh để bộ đội vượt lộ. Bên cạnh LTL là kinh Cái Sắn. Họ phải vượt qua kinh rồi mới vượt qua lộ, cố tránh khỏi bị quốc gia phục kích. Thường phe Quốc Gia phục kích bên bờ kinh hay bên lộ, chờ Việt Cộng vượt qua là nổ súng. Tình hình chỗ nầy rất căng. Phía Quốc Gia hoạt động rất ráo riết để cố ngăn chận không cho Việt Cộng đi qua. Phía Việt Cộng thì cố sống cố chết vượt qua cho được.
Cuối năm 1974, đầu 1975, khi tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, ông rất chú trọng nơi nầy, ra lệnh cho các lực lượng địa phương như Quận, Tỉnh và cả Khu phải hết sức ngăn chận Việt Cộng qua lộ. Trước khi có lệnh tướng Nam, tôi từng dẫn vài chục lính phục kích Việt Cộng ở đây nhưng lại đụng nhằm cở một trung đoàn quân Việt Cộng qua lộ, đành phải ôm súng nằm im mà run. Bọn chúng đông như thế, nổ súng, bọn chúng tới đạp lên đầu mình cũng đủ chết, nói chi tới chuyện đánh nhau. Chuyện nầy hồi sau xin kể tiếp.
Trở lại chuyện ấp Tà Keo. Ấp Tà Keo thuộc xã Mỹ Lâm. Việt Cộng cố giữ Tà Keo. Muốn giữ Tà Keo phải mở rộng hoạt động toàn xã Mỹ Lâm. Đó là lý do tại sao xã Mỹ Lâm có nhiều Việt Cộng và NTD thoát ly theo Việt Cộng sau khi học xong bậc tiểu học.
(1) Xã Mông Thọ thuộc tiểu khu Rạch Giá (Secteur de Rachgia là nói theo Tây). Trung úy Trần Thiện Khiêm vào ra tiểu khu nầy và quen chị Tư Nết, con ông chủ Ry, trước 1945 là điền chủ nay là chủ câu lạc bộ. Dân Rạch Giá nói rằng đó là giây nhợ để sau nầy ông trung úy Quân Đội Quốc Gia cưới chị Tư Nết. Phần sau sẽ xin nói thêm về ông chủ Ry.
Nói thiệt tình, về cá nhân, lúc ban đầu, tôi không ghét mà cũng không có cảm tình chút gì với ông Nguyễn Tấn Dũng (NTD) nhưng bởi vì từ khi ông ta mới lên làm thủ tướng, lại được một số nhà báo, chính trị gia ở Mỹ có tiếng khen ông ta nên nhân dịp nầy tôi lại muốn viết đôi điều về xứ sở của ông, nơi ông ta sinh ra, lớn lên rồi làm… Việt Cộng.
Chuyện tôi viết, nói cho cùng, cũng là chuyện tầm phào Miền Tây Nam Bộ, chuyện “Hương Rừng Cà Mau” thời chiến tranh. Nhiều người biết “Hương Rừng Cà Mau” hay “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” của Sơn Nam, là chuyện miền Tây Nam Bộ hồi xưa, khi người Việt mới tới vùng nầy lập xóm lập làng, cho tới “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” là chuyện thời Tây thuộc.
Chuyện tôi viết hôm nay là chuyện thời chiến tranh, chuyện xảy ra từ thời Nam Bộ Kháng Chiến, chuyện đánh Tây giành độc lập hồi 9 năm (1945-54), hay là chuyện “Chống Mỹ Cứu Nước” mà thực ra chỉ là chuyện “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, “nồi da xáo thịt” giữa người Việt hai miền Nam-Bắc mà thôi.
Trong truyện “phong thần Hòn Đất” của “nhà văn Cộng Sản Anh Đức”, tôi có nói qua về lý lịch thuở nhỏ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nay xin nói lại đôi điều, sau khi hỏi thăm hỏi vài người bạn thân từng sinh trưởng hay phục vụ cho chính quyền Quốc Gia ở Rạch Giá, Kiên Giang trước 1975.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi “tổng thống Lê Lai cứu chúa” Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Việt Cộng, ở Hà Tiên, lực lượng quân sự và chính trị Cộng Sản ở địa phương cũng chưa dám xuất đầu lộ diện ra tiếp thu chính quyền Quốc Gia.
Từ trong rừng tràm “mật khu Trà Tiên”, họ chỉ tiến ra mấy chỗ vắng vẻ, trên Liên Tỉnh Lộ 8A Rạch Giá – Hà Tiên. (Liên Tỉnh Lộ 8A (LTL 8A) bắt đầu từ “Ngã Ba Lộ Tẻ” trên LTL 9 và LTL 27, đường Cần Thơ – Châu Đốc, tới mãi tận Hà Tiên). Họ đóng quân chờ trên trục lộ, không chặn xe đò bắt lính đem bắn tại chỗ như trước kia, không nổ một tiếng súng. Mãi tới sáng hôm sau, ngày 1 tháng năm, trung tá Thảo, quận trưởng Hà Tiên thì rút vô rừng, thế chỗ Việt Cộng ẩn núp trước kia, còn thiếu tá Sầm Long, Quận trưởng Kiên Lương, nhờ “thân hào nhân sĩ” vào núi Hòn Chông, “mời” Việt Cộng ra bàn giao chính quyền theo lệnh tổng thống Dương Văn Minh. Khi ấy họ mới ra tới quân lỵ Kiên Lương. Địa điểm nầy, Việt Cộng gọi là “Thị Trấn Kiên Lương” là một thị trấn quan trọng vì là nơi tọa lạc của “Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương”, có hai lò đốt đá vôi thành clinker trước khi xà lan chở về Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên Thủ Đức, trên xa lộ Saigon – Biên Hòa, xay thành bột và vô bao.
Bấy giờ ông Nguyễn Tấn Dũng ở trong rừng mới mò ra với các đồng chí, đồng đội của ông ta. Chức vụ NTD lúc đó là “Truởng Ban Quân Y Huyện Đội Hà Tiên”, cấp bậc “Thiếu tướng một sao một gạch đít”. Đó là nói đùa theo cách của mấy anh bộ đội chớ “Một sao một gạch đít” thì chỉ mới thiếu úy mà thôi.
Khi ở trong rừng mới ra, Dũng mặc một bộ đồ xanh bộ đội, mũ tai bèo. Mũ tai bèo là “Bộ đội địa phương” hoặc du kích, “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược” mới đội nón cối. Nói như thế là theo nhận xét của dân chúng địa phương. Hễ khi nào dân chúng vô rừng đốn tràm mà thấy Việt Cộng đội mũ tai bèo thì biết đó là “Xã Đội”, “Huyện Đội”, cao hơn là “Tỉnh Đội”; còn thấy “Đội nón cối” thì về báo cáo với chính quyền Quốc Gia rằng Việt Cộng ngoài Bắc mới vô, từ Cămpuchia mới qua – Việc nầy sẽ kể sau, để quí độc giả biết thêm.
Ngoài bộ đồ xanh và mũ tai bèo, NTD không mang “loon lá” gì cả. Năm sau, 1976, “thống nhứt” lực lượng võ trang, Việt Cộng trong Nam mới đội nón cối và mang “loon lá” giống như bộ đội miền Bắc xâm nhập. Bấy giờ NTD mang “quân hàm” là “Một sao gạch đít”, tức thiếu úy như nói ở trên.
Mấy người bạn tôi nhận xét rằng ở “Ban Quân Y Huyện Đội Hà Tiên”, ông NTD lúc đó cũng chưa hẵn là “nhân vật quan trọng”. Huyện Đội Hà Tiên từ trong rừng ra tiếp thu hai địa điểm: Thị xã Hà Tiên và thị trấn Kiên Lương.
Huyện Hà Tiên của Việt Cộng thuộc tỉnh Long Châu Hà. Việt Cộng lúc đó trốn trong “mật khu Trà Tiên” của rừng Trà Tiên, thuộc Quận Hà Tiên của VNCH, có “lãnh thổ” gì đâu. Mật Khu nầy gần ba tỉnh của ta là Châu Đốc, Long Xuyên và quận Hà Tiên nên chúng nó gom 3 tỉnh ủy các tỉnh vừa nói trên làm một cho dễ hoạt động, nên mới dựng nên “tỉnh” Long Châu Hà.
Huyện Ủy Hà Tiên từ trong rừng ra không dám đóng ở Hà Tiên vì huyện lỵ nầy sát biên giới Việt Miên, sợ quân Khmer Đỏ bên kia biên giới bất thần tấn công qua, có vắt giò lên cổ chạy cũng không kịp, nên “huyện ủy Hà Tiên” đóng ở Kiên Lương, xa biên giới gần 20km, đêm ngủ đỡ lạnh lưng. Ở thị xã Hà Tiên chỉ có ủy ban nhân dân và chi ủy xã Mỹ Đức mà thôi.
Ở thị trấn Kiên Lương có Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, dân chúng thường gọi là Hai Tiếu, gốc gác là trưởng ấp (Quốc Gia) Ngã Ba, xã An Bình, quận Kiên Lương, thoát ly theo Việt Cộng hồi trước tết Mậu Thân, nay là bí thư xã An Bình, ra tiếp thu xã. Nay có thêm “Huyện ủy Hà Tiên” về đóng chung. Nguyễn Văn Ngộ, tự Hai Ngộ, xã đội trưởng Ba Hòn thì ra tiếp thu xã Dương Hòa (Ba Hòn), xã nầy ở phía biển của thị trấn Kiên Lương. Hai Ngộ trước kia là trung đội trưởng nghĩa quân, thoát ly theo Việt Cộng vì chống lại ông quận trưởng Kiên Lương hồi đó, thiếu tá N. bắt trung đội trưởng “đóng hụi chết”. Hai Ngộ bị thương ở chân trái. Nhìn dấu chân in trên ruộng, người ta có thể biết tối hôm qua y có về hoạt động nơi đó hay không!
Nguyễn Tấn Dũng, “trưởng ban Quân y huyện đội Hà Tiên”, cùng huyện ủy, từ trong rừng Trà Tiên, ra đóng ở thị trấn Kiên Lương.
“Công trạng” của Nguyễn Tấn Dũng khi vừa mới ra tiếp thu bệnh viện Quân Dân Y và Chi y tế Kiên Lương là như thế nầy: Thời VNCH, khi dân chúng tới Bệnh viện khám bệnh và nhận thuốc, tất cả đều “free”, nghĩa là chẳng phải trả đồng xu teng nào cả, dù thuốc mắc hay rẻ, “hiếm quí” (danh từ Việt Cọng đấy -tg) hay không. Xin nói thêm, cán sự y tế, y tá chế độ cũ còn được “lưu dung”, tiếp tục làm việc dưới sự kiểm soát của Trưởng ban Dũng.
Được mấy tháng, Dũng ra lệnh khám bệnh thì miễn phí, nhưng thuốc thì phải trả tiền. Dũng xem xét từng loại thuốc và định giá cho bệnh nhân phải trả. Nhân viên cũ ở bệnh viện, ai ai “cũng có tội với cách mạng” cả nên im thin thít, chẳng ai dám lên tiếng, “sợ được đưa đi học tập”. Học tập cải tạo là đi tù đấy, dân chúng biết rõ quá. Bấy giờ chỉ có dân chúng ấp Lung Lớn, có người từng tiếp tế cho Việt Cộng, như thuốc rê, bột ngọt, càphê. Ngay cả NTDũng cũng được họ tiếp tế cho đấy – có tiếp tế mới được đốn tràm, tát cá đìa – xem phần sau sẽ rõ hơn – ỷ mình “có công với cách mạng”, nên năm bảy người rủ nhau đến bệnh viện “phản ứng”. Trong số nầy có ông già bố cô Nguyễn Thị Vinh, “cựu can phạm” – từng bị đi tù Côn Đảo vì tội làm giao liên cho Việt Cộng – Tất cả đều bị Nguyễn Tấn Dũng gọi Công An huyện tới, cho đi cải tạo cả. Bố cô Nguyễn Thị Vinh đi cải tạo, không về. Ông chết trong trại.
Như vậy, gốc gác ông NTD là bên ngành Y, học Y ở Cục Rờ (R) hay có ra Hà Nội? Ai biết? Chưa được một năm, NTD thuyên chuyển về tỉnh ủy Cà Mau, chuyển qua ngành Công An và đời NTD lên hương từ đó.
Nguyễn Tấn Dũng quê ở xã Mỹ Lâm. Xã Mỹ Lâm nằm kế cận phía tây thị xã Rạch Giá, trên Liên Tỉnh Lộ (LTL) 8A Rạch Giá – Hà Tiên, thuộc quận Kiên Thành. Quận lỵ Kiên Thành đóng ở Rạch Sỏi, cũng trên LTL 8A nhưng ở phía bắc thị xã. Từ Rạch Sỏi muốn đi Mỹ Lâm, theo trục lộ thì phải đi qua thị xã. Có thể tuởng tượng như Rạch Sỏi ở góc vuông mà cạnh kia là thị xã Rạch Giá vậy.
Cũng xin nói thêm một chút về ông Tư La và ca sĩ nổi danh La Thạch Tuyền ở Saigon một chút. Mấy năm nay ở Saigon thiên hạ bỗng bàn tán xôn xao về ca sĩ La Thạch Tuyền, không phải vì hát hay mà vì cái tên La Thạch Tuyền khá hay. Anh ca sĩ nầy chẳng có bà con gì với La Thoại Tân cả. Anh ta quê ở Rạch Sỏi. Nói theo danh từ Hán – Việt thì Rạch là con suối, là Tuyền (Như nữ danh ca Thanh Tuyền vậy); Sỏi là một loại Đá, tức là Thạch. Còn La là bởi anh ta con ông Tư La. Ông nầy có cái tật xấu, “rượu vào lời ra” nên khi uống ruộng xong, ông ta hay la lối om sòm. Vì cái tật say rượu hay la nên chòm xóm gọi là ông Tư La (Ông thứ Tư). Nói tóm lại, ca sĩ La Thạch Tuyền là con ông Tư La ở Rạch Sỏi. Nếu giới thiệu anh ta là con ông Tư La ở Rạch Sỏi, chắc người ta cười bể bụng. Nhưng nếu giới thiệu đây là ca sĩ La Thạch Tuyền, thính giả sẽ vổ tay hoan hô.
Ai nói tiếng Việt không hay?! Từ con ông Tư La ở Rạch Sỏi mà biến thành La Thạch Tuyền là hay lắm! Cũng ý đó nên ông tổng thống Ngô Đình Diệm bảo rằng một nước có bốn ngàn năm văn hiến như nước ta không thể có những cái tên nôm na như Rạch Giá mà phải đổi lại là Kiên Giang; không thể Giồng Riềng mà phải là Kiên Bình; không thể là Bù-Đốp mà phải là Bố Đức! Cũng từ đó mà quận Rạch Sỏi được có cái tên văn vẽ là Kiên Thành.
Trở lại chuyên quê hương ông Nguyễn Tấn Dũng thì cái tên Mỹ Lâm, thuộc quận Kiên Thành cũng là văn vẻ lắm, giàu có và xã nầy cũng nổi tiếng có nhiều… Việt Cộng.
Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh năm 1949, tuổi Kỷ Sửu, – cùng tuổi âm lịch với Hitler, Napoléon. Ông ta sinh ra trong vùng kháng chiến ở Thới Bình Cà Mau.
Độc giả có biết không? Thới Bình là “đất thiêng” trên vùng ranh giới tỉnh Kiên giang và tỉnh Chương Thiện (tên cũ, nay không còn) đấy. Khi “Gia Long tẩu quốc”, cấp bách quá vì quân của Nguyễn Huệ đuổi rát tới nơi, tính mạng của Nguyễn Ánh cũng khó an toàn, nói chi tới bầu đoàn thê tử, mỹ nữ của ông ta. “Đám người đẹp” của Nguyễn Ánh bị bỏ lại ở Thới Bình. Hai mươi năm sau, Nguyễn Ánh trở về Việt Nam rồi lên làm vua, ông cho tuyển cung phi mỹ nữ mới, ít ra thì cũng trẻ hơn đám “gái già” mà nhà vua bỏ lại ở Thới bình hồi ấy, nay cũng đã già, còn gì “ngon lành” mà rước về Huế xài lại.
“Đám gái già” ở lại Thới Bình, có người lấy chồng, có lẽ cũng là những người phá đất làm ruộng, đặt lợp, đặt trúm bắt cua bát còng ở đó. Cũng có thể là binh lính cũ của Nguyễn Ánh, phần đông là dân Quảng Nam (tên cũ xứ Đằng Trong), không kịp theo vua mà chạy sang Xiêm La hồi ấy, hay đám dân Bình Định từng theo vua Quang Trung, nay sợ “vua Gia Long trả thù” nên trốn vào đây. Họ ở chung với nhau, dân quảng Nam, Bình Định cùng đám gái già của Nguyễn Ánh mà “hòa hợp hòa giải dân tộc”.
Có điều lạ!
Đám gái già nầy, và con cháu của họ về sau, con gái người nào cũng đẹp, nhưng lại bị bịnh cùi. Họ thường kéo tay áo dài xuống để che hai bàn tay cùi. Người ta đồn Nguyễn Ánh, trước khi “tẩu quốc” đã kịp cho “yểm bùa” để không ai có thể đụng tới các người đẹp của ông. Có điều tàn nhẫn hơn, sau khi lên làm vua, Gia Long đã “quên” họ và cũng “quên” giải bùa cho đám gái già nầy luôn.
Thới Bình là xã hẻo lánh, Việt Cọng thường ẩn núp ở đây. Mấy ông bạn tôi, có người phục vụ ở Thiết Đoàn 9/ Kỵ Binh, có người ở trong các đơn vị quân đội thuộc tiểu khu An Xuyên (tên Cà Mâu cũ), đơn vị thám báo sư đoàn, nếu có hành quân ngang qua Thới bình, thấy gái đẹp cũng “kính nhi viễn chi”. Họ sợ cái bịnh cùi của mấy cô gái ở đây.
Nguyễn Tấn Dũng sinh ra ở vùng nầy. May sao, y không bị lây bịnh phung.
Khoảng năm 1950, 51, gia đình ông về cư ngụ ở xã Mỹ Lâm. Ông ở với mẹ và cha, có người bảo rằng không phải cha đẻ của ông mà là “bố dượng” – nói theo người Bắc; hay cha ghẻ, nói theo người Nam. Ông cắp sách đi học ở trường Sơ Cấp xã thời ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Mặc dù dưới thời ông Ngô Đình Diệm, nền giáo dục đã phát triển, nhưng ở cấp xã cũng chỉ mở tới trường Sơ Cấp mà thôi. Trường Sơ Cấp chỉ có ba năm đầu của bậc tiểu học, tức chỉ có lớp Một, lớp Hai, lớp Ba. Trước kia thì gọi là lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba. Kể ngược kể xuôi bằng cách nào thì cũng chỉ tới lớp Ba là hết. Vậy thì ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ mới học có lớp Ba?
Không!
Một trong mấy người bạn của tôi ở Kiên Lương, từng làm việc với ông Nguyễn Tấn Dũng khi ông ta từ trong rừng tràm Trà Tiên ra tiếp thu bệnh xá Dân Quân Y Kiên Lương, nói với tôi rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã học hết bậc tiểu học Việt Nam Cộng Hòa. Người bạn tôi nhấn mạnh chữ Việt Nam Cộng Hòa vì việc học của Việt Nam Cộng Hòa và của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) khác nhau xa lắm. Khác như thế nào thì không thể nói ở đây, không có thì giờ! Xin để có dịp tôi sẽ nói lại.
Xã Mỹ Lâm ở sát cạnh thị xã Rạch Giá, nhà nào khá giả, muốn cho con cái học tiếp thì cứ ghi tên học lên lớp Nhì, lớp Nhứt ở trường tiểu học thị xã. Thị xã Rạch Giá có rất nhiều trường, nhất là ở bậc tiểu học, trường công, trường tư và có cả trường Tàu. Ông Nguyễn Tấn Dũng được gia đình cho ra học hết bậc tiểu học ở Rạch Giá. Nếu vậy thì nhà ông Nguyễn Tấn Dũng không có nghèo đâu, không phải bần nông, cố nông là “thành phần cơ bản” của chế độ!
Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.
Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối, xin phân giải từ từ.
Trong chương quay về quê hương với đầy thương tích, Sakai hé lộ tình cảm của mình đối với Hatsuyo, là cô em họ cùng huyết thống. Cha của Hatsuyo là chú ruột của Sakai.
[Trần Vũ]
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Nhiều kỳ – Kỳ 21
Chương 19
Sakai đáp xuống Rabaul sau khi bị thương, tháng 8-1942
Tôi hồi tỉnh, ngước nhìn bầu trời. Thân thể tôi hình như đong đưa. Tôi xoay lại, nhận ra Sasai và Nakajima. Hai sĩ quan đã leo lên cánh phi cơ và đang khiêng tôi xuống. Tiếng nói lớn của Nishizawa vang lên giữa những thì thầm của đám đông tụ họp. “Mau, kêu một chiếc xe!”, hắn nạt nộ mấy tên chạy việc. “Mau lên! Chạy đến phòng hành quân, gọi điện cho y sĩ trưởng. Mau lên, mấy thằng chó đẻ này!”. Tôi chưa thể vô bịnh viện ngay được. Tôi phải phúc trình với đại tá Saito trước khi làm bất cứ cái gì khác. Chúng tôi phải luôn luôn trình diện Bộ Chỉ Huy sau công tác. Những chi tiết báo cáo hoạt động trong ngày xoay chuyển trong đầu óc của tôi.
Tôi giơ tay mặt lên, ra dấu cho Sasai và Nakajima đặt tôi xuống. Tôi thì thào: “Tôi phải báo cáo. Ðể tôi đi đến Bộ Chỉ Huy.” Nakajima nạt tôi: “Cần mẹ gì, việc đó thủng thẳng cũng được. Chúng tôi sẽ nói là đưa anh vô bịnh viện.”
Tôi khăng khăng và la lớn rằng tôi phải viết báo cáo. Nishizawa bước đến, và với Ota một bên, cả hai dìu tôi vô Bộ Chỉ Huy. Nishizawa càu nhàu luôn miệng: “Nát ngướu như xác chết mà còn báo cáo!”. Tôi nhớ lại, tôi đã đứng một cách khó khăn trước mặt Ðại tá Saito, với đôi mắt của ông đang nhìn tôi bán tín bán nghi. Tôi suy nghĩ để nói, nhưng mọi vật bắt đầu nhuộm đen trở lại. Bỗng nhiên tôi muốn đi ngủ. Phải ngủ! Tôi đang làm gì ở đây? Rồi tất cả là một màu đen thẫm.
Nishizawa và Ota lôi tôi ra xe (họ kể lại sau đó) đang đậu ở bên ngoài Bộ Chỉ Huy. Nishizawa nhảy lên xe lái như giông như gió đến bịnh viện. Sasai và Ota ngồi vịn tôi ở băng sau. Vị y sĩ trưởng đang chờ tôi trong phòng cấp cứu. Ông cắt bộ quân phục đã te tua của tôi ra và bắt đầu may ngay các vết thương cho tôi. Qua giấc ngủ, tôi cảm thấy đau đớn từng chập mỗi khi vết dao cắt vào da đầu của tôi. (Ông đã cất hai miểng đạn đại liên 50 để đưa cho tôi coi sau đó). Tôi cảm giác có một con dao sắc bén nạo trên xương sọ của mình.
Tôi tỉnh hẳn hầu như ngay khi cuộc giải phẫu vừa xong. Tôi nhìn lên khi viên bác sĩ cúi xuống. Ðôi mắt của tôi! Tôi nhớ lại đôi mắt của tôi. Thình lình những nỗi sợ hãi phủ chụp lấy tôi. “Mắt của tôi!” Tôi la lớn, “Mắt của tôi ra sao, bác sĩ ?”
“Anh bị thương trầm trọng”, ông ta đáp. “Ở đây tôi không thể nào chữa trị được.” Ông nhìn ngay tôi và tiếp. “Phải gởi anh về Nhựt Bản để một chuyên viên nhãn khoa chữa trị cho anh.” Một cảm giác bi thương tràn ngập hồn tôi. Tôi lo sợ con mắt phải của tôi. Phía phải này tôi không thể nhìn thấy gì cả. Ý nghĩ đui mù làm tôi khủng khiếp. Ðời một phi công chiến đấu kể như tàn rồi. Tôi phải bay; tôi phải lái chiến đấu cơ trở lại!
Bốn ngày trôi qua trì trệ trong bịnh viện với những lần vải băng quấn khắp thân thể tôi. Bác sĩ lấy ra bốn mảnh kim khí ghim trong thịt cũng như nhiều miếng sắt trên đôi má của tôi. Ðến ngày thứ tư tôi cảm thấy chân và tay trái cử động được chút ít. Vết thương ở cánh tay mặt và ở đầu thối rữa, do khí hậu quá ẩm thấp của miền nhiệt đới, và mắt phải tôi vẫn còn mù.
Trong lúc đó, những nhát chổi chiến đấu cơ và các cuộc không tập của oanh tạc cơ dập xuống Guadalcanal không ngừng nghỉ. Mỗi ngày tôi đều nghe tiếng gầm thét của phi cơ cất cánh và hạ cánh xuống phi đạo. Rabaul có nhiều khách viếng thăm mỗi ngày, những chiếc pháo đài bay. Chúng bay đến tấn công hai phi trường ở đây từ trên cao độ. Mỗi lần oanh tạc cơ địch xuất hiện, tôi và các bịnh nhân khác đều được mang xuống hầm trú ẩn.
Mỗi đêm Ðại úy Sasai và Trung tá Nakajima đều đến thăm tôi. Họ đồng ý rằng tôi nên trở về Nhựt. Theo họ, chỉ có khí hậu điều hoà ở quê hương và một chuyên viên nhãn khoa tài ba mới có thể chữa lành mắt của tôi. Tôi từ chối trở về xứ. Tôi nhấn mạnh rằng bệnh tình của tôi có thể chữa trị ngay ở Rabaul, và tôi có thể bay trở lại trong vòng một vài tuần. Tôi cáu kỉnh vô lý và trở nên hung dữ.
Khó có thể giải thích sự ngần ngừ của tôi không muốn rời khỏi địa ngục Rabaul. Tôi chỉ ý thức rằng vào lúc này, tôi đang bị bao vây bởi viễn ảnh bi thảm: cuộc đời phi công của tôi chấm dứt. Cũng có vấn đề thể diện. Tôi cảm thấy bao lâu tôi còn ở Rabaul, tôi vẫn còn thể diện. Ngay cả nếu tôi không bay lại được, tôi cũng có thể giúp đỡ những phi công mới vô nghề. Tôi có thể khuyên họ tránh những sai lầm có thể đưa đến cái chết của họ. Tất cả những lý do đó trộn lẫn thành một. Chuyến trở về Nhựt Bản của tôi có nghĩa là tôi sẽ nhận lãnh sự phán xét cuối cùng bởi một chuyên viên nhãn khoa, và tôi sợ phát điên lên khi phải nghe sự thật.
Vấn đề này kết thúc vào sáng ngày 11 tháng 8, khi Ðại tá Saito, chỉ huy trưởng căn cứ Lae, bước đến cạnh giường tôi. Sự tử tế mà ông dành cho tôi đã hết mức, và cũng ngang bằng với sự cứng rắn của ông bây giờ. “Tôi thông cảm với anh, Sakai”, ông nói, “nhưng tôi đã đắn đo suy xét. Anh sẽ được gởi về Nhựt, và vô bịnh viện hải quân Yokosuka. Ðây là lịnh của tôi. Anh sẽ đáp vận tải cơ đi vào ngày mai. Vị bác sĩ ở đây đã cho tôi biết bịnh tình của anh chỉ hy vọng vào các bác sĩ ở Yokosuka mà thôi.”
Ông mỉm cười với tôi. “Chuyến trở về quê hương của anh sẽ khiến cho chúng tôi yên lòng nhiều hơn anh nữa. Tất cả chúng tôi đều biết anh sẽ được săn sóc thuốc men cẩn thận ở Nhựt.” Ông ta đứng dậy nhìn tôi giây lát rồi nghiêng mình xuống, đặt tay lên vai tôi. “Ðối với tất cả chúng tôi, anh đã làm được một việc phi thường, Saburo,” ông dịu dàng nói. “Tất cả những ai đã từng biết anh, từng được bay chung và chiến đấu với anh, đều hãnh diện vì anh. Khi các vết thương của anh lành lặn, hãy trở lại đây với chúng tôi.” Thế rồi ông bước ra ngoài.
Ðêm đó Sasai đến thăm tôi. Ông có vẻ mệt mỏi sau phi vụ trong ngày ở Guadalcanal. Tôi cho ông biết tôi được lệnh về xứ ngày mai. Giây lát sau, tất cả các bạn thân của tôi đều tụ họp trong phòng, bày ra một buổi tiệc chia tay nhỏ. Không ai ca hát, không ai nói chuyện ồn ào hoặc đùa giỡn. Chúng tôi chuyện trò to nhỏ, hầu hết nhắc về quê hương.
Nhưng người Mỹ có ý định khác hơn đối với buổi tụ họp nho nhỏ của chúng tôi. Sự yên tĩnh của một đôi giờ chấm dứt đột ngột với những bước chân dồn dập chạy vô các hầm trú ẩn. Tôi được một số phi công khiêng ra khỏi bịnh viện. Tôi nghiến răng xấu hổ và đắng cay với sự bất lực của mình. Ðây chính là những phi công mà tôi từng cầm đầu khi chiến đấu, và bây giờ họ khiêng tôi đi, giống như một đứa trẻ mù loà, què quặt! Tôi muốn la hét và giựt hết những lần băng quấn quanh thân thể mình. Nhưng tất cả những gì mà tôi có thể làm là nằm bất động với đôi mắt nhắm nghiền.
Sáng sớm hôm sau, tôi lê thân chầm chậm ra cầu tàu, một chiếc ca-nô đang chờ để đưa tôi ra một chiếc thuỷ phi cơ bỏ neo trên mặt nước.
Sasai siết chặt tay tôi. “Tôi sẽ nhớ anh, Saburo. Anh không bao giờ biết được lòng tôi đối với anh.” Hai giòng lệ chảy dài xuống đôi má tôi, tôi không thể nào cầm được. Tôi xúc động và chỉ có thể nắm chặt lấy tay Sasai.
Sasai rút tay lại, tháo vội dây nịt đang đeo và trao nó cho tôi. Tôi nhìn “Con Cọp Gầm” khắc sắc sảo trên cái khoá. “Saburo, sợi dây nịt này của ba tôi tặng. Một sợi cho tôi, một sợi cho anh rể tôi. Anh rể tôi đã chết. Tôi không mấy tin vào sự linh ứng của con cọp bằng bạc này, nhưng tôi muốn anh giữ và mang nó. Tôi hy vọng nó sẽ giúp anh trở lại đây với chúng tôi.”
Tôi từ chối, nhưng vô ích. Sasai bỏ sợi dây nịt vô túi của tôi, rồi nắm lấy tay tôi. “Tôi sẽ gặp anh trở lại, Saburo. Ðừng nói lời từ biệt! chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau, tôi hy vọng.”
Saburo Sakai và Đại úy Sasai tại căn cứ Rabaul tháng 8-1942
Ông dìu tôi xuống ca-nô. Một phút sau nó lướt sóng hướng đến chiếc thuỷ phi cơ đang chờ đợi. Nishizawa, Ota, Yonekawa, Hatori, Trung tá Nakajima và tất cả đồng đội khác của tôi vẫy tay trên cầu tàu. Họ la lớn dặn tôi sớm trở lại để bay với họ. Cầu tàu vang vang những tiếng gọi tên tôi “Saburo”, “Saburo”… Giây lát sau, hình ảnh họ mờ mờ. Tôi chỉ có thể nhìn thấy một vài thước với con mắt trái. Tôi cố gắng đứng thật thẳng trên ca-nô, giơ tay mặt lên, lúc bóng hình của mọi người mờ nhòa. Thế rồi tôi la thật lớn, và khóc như một đứa trẻ.
Trong chiếc thủy phi cơ có một vài hành khách khác. Một binh sĩ phục dịch được cắt đặt để săn sóc tôi trong chuyến đi, và nhiều thông tín viên chiến tranh. Chúng tôi ngừng lại ở Truk và Saipan để tái tiếp nhận nhiên liệu. Tôi rời xa mảnh đất quê hương đã lâu. Tình trạng hiện thời của nước Nhựt như thế nào, tôi không mảy may lưu tâm đến. Nhưng, tôi đã xúc động khi đặt chân lên Yokohama, một xúc động bất ngờ. Chiều ngày thứ Bảy, chúng tôi đáp xuống hải phận Yokohama. Không muốn trình diện bịnh viện vào đêm đó, tôi đi bộ vô thành phố để đón xe taxi đến nhà chú tôi ở phía Tây Tokyo.
Dân chúng ở đây tuyệt đối không biết đến những gì thực sự xảy ra trong cuộc chiến. Tôi như từ cung trăng rớt xuống giữa đám đông rộn rịp, giữa ánh đèn sáng trưng. Tôi không thể nào tin được những âm thanh lọt vô tai tôi, âm thanh của muôn ngàn tiếng cười, tiếng nói vô tư lự. Có phải thật là họ không biết những gì xảy ra ở Tây Nam Thái Bình Dương không?
Trên khắp đường phố, mỗi bản tin tức của đài phát thanh đều kèm theo nhạc khúc vang vang “Bước tiến của chiến hạm”, loan đi chi tiết các chiến thắng lừng lẫy của những trận hải chiến quanh quần đảo Solomon. Tôi không nghe gì khác hơn là danh sách những tàu chiến Mỹ bị tiêu diệt, hàng nhiều trăm phi cơ địch bị bắn rơi.
Những đám người mặc quần áo mùa Hè màu sặc sỡ dừng lại bên ngoài mấy cửa tiệm, hoặc đứng ở các góc phố để lắng nghe đài phát thanh huênh hoang. Mỗi lần xướng ngôn viên đề cập đến một chiến bại quan trọng của địch quân, tiếng reo hò nổi lên vang dội khắp phố. Quốc gia say sưa trên những chiến thắng lừa dối. Khó thể tin rằng có một cuộc chiến tranh hủy diệt đang diễn ra. Trong các cửa tiệm, tôi thấy có một số hàng hoá được phân chia theo khẩu phần, nhưng các nhu yếu phẩm có thể nói là phong phú.
Tôi muốn rời xa thành phố này tức khắc. Mọi thứ ở Lae và Rabaul hình như không thật. Có thể nào hai thế giới cách biệt này hiện hữu cùng một lúc không? Máu lửa, chết chóc và nỗi hoan hỉ dành cho những chiến thắng tưởng tượng chỉ cách nhau mấy giờ bay ngắn ngủi?
Tôi kêu một chiếc taxi và cho địa chỉ của chú tôi. Xe chạy ngang qua Yokohama và vô thành phố Ðông Kinh. Vài phút sau, một cảnh sát viên chận xe lại và cúi nhìn xuyên qua kiếng. Bộ quân phục của tôi lỗ chỗ vết máu và vết thương vẫn còn quấn băng. Hắn hỏi: “Anh làm sao vậy?”
“Tôi vừa ở mặt trận về,” tôi đáp một cách chua chát.
Hắn kêu lên: “Anh bị thương ở mặt trận! Mặt trận nào? Sao lại bị thương?”
“Tôi là phi công,” Tôi hắng giọng. “Ở Guadalcanal. Tôi bị đạn trong lúc chiến đấu.”
“Guadalcanal!” Ðôi mắt của viên cảnh sát trẻ bừng sáng. “Hôm nay tôi có nghe một số tin ở đó. Tôi biết rằng chỉ ngày hôm qua đây, chúng ta đã nghiền nát hết bọn Mỹ. Ðài phát thanh cho biết hải quân của chúng ta đánh chìm 5 tuần dương hạm, 10 quân vận hạm và mười khu trục hạm. Chắc chắn cảnh đó ngoạn mục lắm!”
Bao nhiêu đó quá lắm rồi! “Tôi rất tiếc, thưa Trung sĩ,” tôi nói mau. “Tôi phải đi gấp.” Tôi thét tên tài xế.
“Chạy đi! Tức khắc!”.
Nhiều năm rồi, tôi lại mới bước vô nhà của chú tôi. Ngôi nhà vẫn không có gì thay đổi. Tôi đứng bên lề đường nhiều phút, nhìn ngôi nhà, ánh đèn vàng và nghe những âm thanh quen thuộc. Một cảm giác yên bình kỳ lạ bao trùm lấy tôi. Quá khứ thức dậy trong tôi, và tôi đã mở cánh cửa giống như tôi đã mở lúc còn nhỏ. Tôi cũng sử dụng những tiếng nói tôi thường la lên khi bước vô nhà, “Cháu đây! Cháu về nhà rồi đây!”, “Hatsuyo, em đâu rồi?”
“Ai đó?” tiếng hỏi có vẻ giựt mình vọng lên từ nhà bếp. Tôi mỉm cười. Tiếng hỏi của thím tôi.
“Cháu đây!” Tôi đáp.
Yên lặng giây lát. “Cháu đây! Saburo đây!”. Tôi nói lớn một cách vui vẻ.
Tiếng hỏi đầy sửng sốt của chú tôi vang dội khắp nhà:
“Cái gì đó?” Rồi cả nhà chạy ùa ra hành lang.
Họ nhìn tôi trừng trừng cả một phút. Chú thím tôi, hai cô em họ Hatsuyo và Michio của tôi, không ai thốt nên lời, đứng im sững, miệng mở tròn trong nỗi kinh ngạc. Ðôi mắt Hatsuyo ngập thảng thốt. Tôi bình thản nhìn những người trước mặt khi đôi mắt của họ di chuyển xuống bộ quân phục và những lần vải băng hoen máu của tôi.
Chú tôi thì thào: “Có phải cháu thật không, Saburo? Ðây là Saburo, đây không phải là một hồn ma?” Ông chồm về phía trước, như sợ tôi tan biến.
“Không! Không phải là hồn ma”. Tôi đáp “Cháu thật đây mà. Cháu về nhà đây!”.
Thật giống như chết đi sống lại. Những trận đánh, chết chóc, thương tích, ấn tay vào cò súng, lộn nhào liên hồi để tránh né chiến đấu cơ địch truy đuổi, chui rúc vô những hầm trú ẩn ngập bùn… tất cả không còn nữa, tất cả đã trở thành không thật, xa lắm rồi. Một thế giới âm u, giống như hồn ma mà chú tôi đã tưởng, không còn treo lơ lửng trên đầu tôi nữa. Ðể tôi được ngồi trong căn nhà này một lần nữa, để lại trò chuyện với chú thím tôi, để lại nhìn thấy Hatsuyo và Michio, để thoải mái. Ðể biết nơi đây sẽ không có những trái bom đêm nay, không còn âm thanh gầm thét của oanh tạc cơ Marauder và Mitchell, không còn những tiếng nổ, những mảnh kim khí, những viên đạn chọc thủng vô tận phòng ngủ… mà chỉ có đường nét dịu dàng của Hatsuyo, với cử chỉ mềm mại lễ phép. Hatsuyo hết còn là cô nữ sinh như trong ký ức của tôi mà đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành cực xinh đẹp. Tôi nhìn Hatsuyo với đầy ngạc nhiên. Michio cũng vậy, đã bắt đầu dậy thì. Nhưng tôi không ngớt ngắm Hatsuyo. Tôi cứ lắc lắc đầu trong hạnh phúc đầy kinh ngạc. Hầu như đã ba năm rồi, tôi mới trải qua một đêm yên ấm với gia đình này. Ðó là đêm đầu tiên trong nhiều năm, tôi mới được ngủ thẳng một giấc. Ngay cả mấy vết thương cũng không quấy rầy tôi.
Sáng hôm sau trước gương mặt âu lo của Hatsuyo, tôi đáp xe lửa đến Yokosuka. Ðời sống hàng ngày của dân chúng trong thành phố này hình như còn rộn rịp hơn cả thành phố Yokohama vào ban đêm. Những người qua đường, nhứt là các thiếu phụ và thiếu nữ, liếc mắt nhìn tôi, khẽ nhăn mặt và nhìn đi nơi khác. Tôi là một tên dơ bẩn, bê bết máu mủ, và phải, đó là sự thật, tôi là một hình ảnh đầy ghê tởm với đồng bào của tôi. Tôi bị ghét bỏ.
Mang thương tích thui chột và liệt một bên vì trúng đạn vào đầu nhưng Sakai vẫn cắn răng vượt 1,040 cây số đem máy bay về căn cứ. Hơn một chiến công, một phi thường. 40 năm sau, Sakai sang California và gặp xạ thủ súng máy Harold L. Jones trên pháo tháp chiếc Avenger đã bắn mình trọng thương. Jones cho Sakai biết chiếc máy bay của Thiếu úy Robert C. Shaw mà Jones là xạ thủ, đã bị Sakai bắn thủng 232 lỗ nhưng đáp được xuống mẫu hạm USS Enterprise. Jones kể lại: “Khi chiếc Zéro lao đến, cả 8 xạ thủ trên 8 chiếc Avenger cùng khai hỏa ở khoảng cách 150m. Sakai cũng bắn vào chúng tôi cùng lúc. Khi còn cách 30m buồng lái của chiếc Zéro nổ tung, tôi nhìn thấy rõ gương mặt đẫm máu của Sakai trước khi chiếc Zéro lao thẳng xuống biển.” [Trần Vũ]
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Nhiều kỳ – Kỳ 20
Chương 18 (tiếp theo)
Dần dần tôi cảm biết những gì đang xảy ra. Chiếc Zéro lao về phía Ðông giống như một hòn đá. Tôi cố mở mắt ra và nhìn quanh, thấy màu sáng chói hực của lửa. Tôi nghĩ rằng chiếc phi cơ đang bốc cháy. Nhưng tôi không nghe một mùi khói. Tôi vẫn choáng váng.
Tôi nháy mắt nhiều lần. Sao lại như vậy? Mọi vật đều màu đỏ hết! Tôi đưa tay sờ soạng. Cần lái! Tôi nắm lấy nó. Vẫn không thấy gì hết. Tôi kéo cần lái về phía sau. Nhẹ nhàng. Chiếc phi cơ bắt đầu gượng lại sức chúi xuống, lấy lại thăng bằng và vượt lên. Áp lực của gió giảm bớt, không còn quật mạnh vô mặt tôi nữa. Một ý nghĩ đầy kinh hãi bao trùm lấy tôi. Là tôi có thể bị mù! Tôi hết còn cơ hội trở về Rabaul!
Tôi hành động theo quán tính. Ðưa tay trái về phía trước để nắm lấy cần gia tốc. Nhưng tay tôi bất động. Tôi cố co mấy ngón tay lại. Không có một cảm giác nào cả. Ðúng là nó đã liệt hẳn. Tôi nhấn hai chân lên bàn đạp bẻ lái. Chỉ có chân mặt của tôi còn cử động và chiếc Zéro lạng qua một bên khi bàn đạp bị ấn xuống. Chân trái của tôi tê liệt. Tôi nghiến răng cố gắng cử động lại một lần nữa. Vô ích.
Nguyên thân bên trái của tôi hình như đã bị liệt. Trong nhiều phút tôi cố nhúc nhích chân và tay trái, nhưng không thể nào cử động. Tôi không nghe đau đớn. Thật khó hiểu.
Ðôi má tôi ướt đẫm. Tôi đang khóc. Hai hàng lệ chảy xuống. Khối nặng trĩu trong tròng mắt tôi bắt đầu trôi đi. Nước mắt đã lau sạch máu đọng trong mắt tôi. Tai vẫn còn điếc câm, nhưng mắt có thể nhìn thấy tuy chỉ một chút ít, nhưng màu đỏ đã loãng dần. Ánh sáng mặt trời chiếu rọi vô phòng lái cho phép tôi nhìn thấy lờ mờ những dụng cụ bằng kim khí. Dần dần tôi nhìn thấy những đồng hồ hình tròn, nhưng không thể nhìn thấy chi tiết. Tôi xoay đầu và nhìn ra ngoài buồng lái. Những khối màu đen vĩ đại lướt qua dưới cánh phi cơ với tốc độ khủng khiếp.
Những khối màu đen chắc chắn là chiến hạm địch. Ðiều này có nghĩa là tôi chỉ cách mặt nước khoảng 300 bộ, dưới 100 thước. Thế rồi tai tôi vang lên những âm thanh lùng bùng. Thoạt đầu là tiếng máy phi cơ kế đến là tiếng súng. Các chiến hạm đang khai hoả vào tôi! Chiếc Zéro chao lắc lư giữa những lằn chớp loé của đạn cao xạ phát nổ. Lạ lùng thay, tôi không hề có một phản ứng nào. Tôi bất động, không tìm cách né tránh. Tiếng súng rơi lại phía sau. Tôi không còn nhìn thấy những khối màu đen trên mặt nước nữa. Tôi đã ra khỏi tầm súng. Nhiều phút trôi qua, tôi vẫn ngồi bất động trong phòng lái với muôn ngàn ý nghĩ lẫn lộn. Tôi lại muốn thiếp ngủ. Trong cơn ngầy ngật, tôi cũng biết rằng tôi không thể nào bay trở về Rabaul, và ngay cả Buka gần hơn Rabaul. Một thoáng, ý nghĩ đâm thẳng xuống biển với hết tốc lực đã lôi cuốn tôi, như một cách giải quyết nỗi tuyệt vọng của mình. Tôi trở nên ngu muội. Tôi cố mở mắt ra. Tôi nguyền rủa mình: Chết như vầy không phải! Nếu phải chết, tôi nghĩ, tôi phải chết cho ra hồn. Tôi đâu phải là một tay mơ chưa từng biết chiến đấu là gì? Tư tưởng của tôi chợt ẩn chợt hiện, tôi biết rằng bao lâu mà tôi còn kiểm soát chiếc phi cơ, bao lâu mà tôi còn có thể bay, tôi sẽ làm mọi cách lôi theo một hai kẻ thù trước khi chết. Chiến đấu cơ địch ở đâu? Tôi chửi rủa và la hét: Ðến đây? Tôi đây! Ðến đánh với tôi!…
Trải qua nhiều phút, tôi thịnh nộ như một tên điên trong phòng lái. Dần dần tôi bình tĩnh trở lại và ý thức hành động đáng buồn cười của mình… Tôi bắt đầu nghĩ đến những may mắn vô song đã khiến tôi sống sót cho đến bây giờ. Tôi đã gặp nhiều hiểm nguy trước đây, nhưng chưa lần nào hiểm nguy hơn lần này. Những viên đạn chỉ cách đầu tôi mấy phân, và gây cho tôi nhiều vết sướt, nhưng không trầm trọng mấy. Tôi có may mắn, tại sao tôi quăng nó đi? Và bỗng nhiên tôi muốn sống, tôi muốn quay trở về Rabaul. Việc có ý thức đầu tiên của tôi là xem xét các thương tích. Tay trái tôi vẫn tê liệt, tôi đưa tay mặt lên rờ đầu một cách e dè như sợ những gì sẽ tìm thấy. Mấy ngón tay rờ nón phi công, cảm thấy nhớp nháp. Tôi biết đó là máu. Rồi tôi gặp một lỗ thủng trên nón, tôi thọc nhè nhẹ một ngón tay vô. Ðể coi bao sâu? Có vật cưng cứng chạm vô ngón tay tôi. Tôi sợ hãi chấp nhận sự thật. Ngón tay tôi lọt hẳn vô bên trong chiếc nón! Vật cứng đó không gì khác hơn là xương sọ của tôi do đạn phá ra. Có lẽ là hộp sọ bể. Ý nghĩ này làm tôi lặng người. Viên đạn có thể chui vô trong óc, nhưng chắc chắn không sâu. Tôi nhớ lại những gì đã từng học hỏi về thương tích trong lúc chiến đấu. Tôi không cảm thấy đau đớn, nhưng có lẽ vết thương đã làm tê liệt phần thân thể bên trái của tôi. Những ý nghĩ này đến chầm chậm. Làm sao có thể ngồi trong phòng lái chiếc phi cơ hư hại, nửa phần đui mù, nửa phần tê liệt, thọc mấy ngón tay qua lỗ hủng trên đầu của mình và tìm hiểu sự việc xảy ra một cách sáng suốt? Tôi ý thức những gì đã xảy ra, tôi cảm được chất máu nhớp nháp và lỗ hủng trên đầu của tôi, nhưng không ý thức sự nghiêm trọng thật sự của vết thương. Tôi biết tôi bị thương, chỉ có vậy thôi.
Tôi lại di chuyển mấy ngón tay trên mặt tôi. Nó sưng phù lên, nhiều vết sướt, và cũng có máu. Chiếc Zéro tiếp tục bay đều. Ðầu óc tôi dần dần sáng suốt thêm. Cử động của tôi chính xác hơn. Tôi hít một hơi thở thật mạnh. Không có mùi dầu khét, như vậy là cả máy lẫn thùng xăng không bị trúng đạn. Sự nhận biết này là nỗi vui mừng lớn nhất trong đời tôi. Với thùng xăng còn nguyên vẹn và máy móc không hư hại, chiếc phi cơ có thể nuốt hết khoảng không trình còn lại. Gió luồng vô chỗ thủng trên sọ vẫn còn rỉ máu. Tôi có thể bất tỉnh trở lại vì mất máu.
Bỗng nhiên đau đớn bao trùm lấy tôi. Mắt phải của tôi bắt đầu mờ dần khi cơn đau gia tăng kịch liệt. Tôi đưa tay dụi mắt. Cơn đau đến không chịu đựng nổi. Tôi lại dụi mắt. Tôi mù rồi!
Tất cả phi công Nhựt đều mang theo trong túi bốn mảnh băng vải hình tam giác. Tôi lôi ra một mảnh và phun nước miếng lên đó. Miệng tôi khô khốc và cảm thấy khát nước kinh khủng. Tôi đưa mảnh băng lên miệng để nhai cho đến khi một góc của nó trở thành ẩm ướt. Chồm về phía trước để tránh gió, tôi lau mắt với góc băng ướt. Có hiệu quả, tôi nhìn thấy chút ít. Một vài giây sau, khi tôi ngồi ngay ngắn trở lại, đầu tôi lại đau dữ dội, như có một chiếc búa gõ lên sọ. Tôi đắp ngay mảnh băng vô lỗ hủng trên đầu, nhưng khi tôi vừa lấy tay ra, gió thổi mảnh băng bay mất ra ngoài cửa kiếng bể.
Thất vọng tột cùng! Làm cách nào tôi có thể cột mảnh băng quanh đầu? Tôi phải cầm máu lại. Tay trái tôi tê liệt, tôi chỉ có thể sử dụng tay mặt để giữ mảnh băng, nhưng tay này phải giữ cần điều khiển. Tôi kéo mảnh băng thứ hai để đắp, nó lại bay mất khi tôi vừa lấy tay ra. Mảnh thứ ba và bốn cũng vậy. Tôi phải làm gì đây? Tôi hầu như rối loạn. Cơn đau gia tăng dữ dội hơn.
Tôi còn một chiếc khăn quàng bằng lụa quấn quanh cổ. Tôi tháo ra và đè một chéo dưới đùi bên mặt để gió khỏi cuốn đi. Sau đó tôi rút con dao bỏ túi dùng răng kéo lưỡi dao ra. Tôi cắn chặt một chéo của khăn quàng và cắt một đoạn, nhưng bị gió cuốn bay mất lập tức. Tôi không biết làm sao. Tuyệt vọng. Tôi cuống cuồng tìm giải pháp. Chỉ còn một đoạn khăn quàng.
Tôi khom người về phía trước để tránh gió, và bắt đầu nhét đoạn khăn vô bên trong chiếc nón phi hành ngay chỗ vết thương. Thành công. Tôi ngồi thẳng dậy và đưa chiếc phi cơ vượt lên. Cơn đau dịu xuống nhanh chóng. Máu ngưng chảy. Nhưng cơn buồn ngủ lại ập đến, tôi xô đuổi cách mấy cũng không được. Hơn một lần tôi chợp mắt, cằm gục xuống ngực. Tôi lắc lắc đầu, hy vọng cơn đau sẽ làm tôi tỉnh táo. Chiếc phi cơ đâm đầu xuống mấy lần. Cơn buồn ngủ vẫn không xua đuổi được khiến tôi nổi giận. Tôi đưa tay tát vào má thật mạnh nhiều lần. Tôi không thể tiếp tục lối này mãi được. Tôi sớm cảm chất máu mằn mặn. Má tôi sưng phù thêm, không khác nào ngậm một trái banh trong miệng. Nhưng không có cách nào khác hơn, tôi tiếp tục tát vào má nữa. Có lẽ thức ăn sẽ thắng cơn buồn ngủ. Tôi lôi hộp thức ăn ra và nhét bánh mặn đầy miệng. Tôi lại cảm thấy buồn ngủ hơn bao giờ hết. Tôi nhét thêm thức ăn vô miệng nữa, nhai thật kỹ trước khi nuốt.
Lát sau, tôi nôn mửa dữ dội làm chiếc phi cơ mất kiểm soát khi tôi vặn vẹo thân thể trong cơn nôn. Thức ăn tung toé đầy trên chân tôi và trên tấm bửng dụng cụ. Ngay cả sự khổ sở mới này vẫn không xua đuổi nổi cơn buồn ngủ ùa đến. Tôi lại tát má liên hồi cho đến khi không còn cảm giác nào nữa. Trong lúc tuyệt vọng, tôi đưa tay đập lên đầu, nhưng cũng vô ích. Tôi muốn ngủ! Ồ! Hãy cứ ngủ đi, quên mọi chuyện… Chiếc phi cơ chao qua chao lại, bay xiên xẹo. Tôi cố giữ cần lái một mực, không biết rằng nhiều khi tay tôi rớt xuống bên trái hoặc bên phải khiến cho phi cơ xoay vòng dữ dội. Tôi sẵn sàng bỏ cuộc. Tôi biết không thể giữ mãi tình trạng này mãi mãi. Nhưng tôi nguyện với lòng sẽ không chết như một tên hèn nhát, bằng cách chúi xuống biển, ít ra tôi phải chết như một Samurai. Cái chết của tôi phải lôi theo nhiều kẻ thù.
Một chiến hạm. Tôi cần một chiến hạm địch để lao xuống. Thoát ra khỏi cơn tuyệt vọng tràn ngập, tôi quay chiếc Zéro hướng về Guadalcanal. Nhiều phút sau đó tôi tỉnh táo trở lại. Không còn buồn ngủ nữa. Không còn đau đớn nữa. Tôi hiểu hành động của mình. Nhưng tại sao lại chết bây giờ, nếu tôi có thể bay đến Buka hoặc ngay cả Rabaul? Tôi lại quay hướng chiếc Zéro và bay về phía Bắc. Một vài phút sau đó tôi lại muốn thiếp ngủ. Trí óc tôi u mê. Thế giới quanh tôi mù mịt. Tôi lại quày phi cơ, hướng về Guadalcanal. Quày đi quày lại năm lần như vậy. Tôi bắt đầu la khan nhiều lần. “Hãy thức tỉnh!”. Dần dần cơn buồn ngủ biến mất. Tôi nhắm hướng Rabaul. Hiển nhiên là nếu cứ bay về phía Bắc thì không gì bảo đảm tôi sẽ về tới căn cứ. Nhưng tôi không định nổi vị trí. Tôi chỉ biết nhắm hướng Rabaul một cách tổng quát. Tôi biết tôi ở phía Bắc Guadalcanal, nhưng không biết khoảng cách bao xa. Tôi nhìn xuống biển, nhưng không tìm ra một hòn đảo nào trong chuỗi đảo trải dài đến Rabaul. Chỉ chân mặt của tôi còn đạp bàn đạp điều khiển bánh lái được, như vậy chiếc phi cơ có thể đã xoay về phía Ðông của quần đảo Solomon.
Tôi rút tấm hải đồ dưới ghế ngồi. Nó vấy đầy máu. Tôi nhìn hồi lâu, chà tấm hải đồ lên quần để tẩy mấy vết máu, nhưng vô ích. Tôi cố định vị trí bằng cách nhìn mặt trời nhưng vô ích. Cả ba mươi phút trôi qua vẫn không có một hòn đảo nào xuất hiện. Có cái gì không ổn? Tôi hiện ở đâu? Bầu trời trong sáng hoàn toàn và đại dương trải dài vô tận.
Một hòn đảo! Cuối cùng, một hòn đảo, ngay trước mặt tôi. Nó ở mãi phía chân trời, nổi lờ mờ trên mặt nước. Phấn kích, tôi cười khan. Bây giờ, mọi việc yên rồi, tôi có thể định vị trí và chắc chắn tôi đang hướng về Rabaul. Tôi bay và tiếp tục bay, bồn chồn dõi mắt tìm kiếm bờ biển.
Hòn đảo biến mất. Nó đâu rồi? Tôi không nằm mơ chớ? “Hòn đảo” đang trôi qua bên phải tôi, đó là một đám mây sà thấp!
Tôi cố gắng xem lại la bàn. Tôi không thể nào đọc được những con số. Tôi cúi mọp về phía trước, mũi hầu như chạm vô mặt kiếng la bàn. Cuối cùng tôi đọc được. Tôi đang bay ở hướng 330 độ. Gần hai tiếng đồng hồ tôi không nhìn thấy hòn đảo nào cũng phải. Chiếc Zéro đang tiến ra trung tâm Thái Bình Dương! Soát lại hải đồ, tôi biết vị trí của tôi cách phía Ðông Bắc quần đảo Solomon 60 dặm. Chỉ phỏng đoán, nhưng đó là điều tốt nhất mà tôi có thể làm. Tôi xoay chiếc phi cơ về phía trái 90 độ và hướng đến một nơi mà tôi hy vọng là đảo New Ireland, nằm phía Ðông Bắc New Britain và Rabaul.
Những lượn sóng buồn ngủ lại phủ chụp lấy tôi. Nhiều lần làm tôi hoảng hốt giữ thăng bằng khi chiếc phi cơ đảo cánh hoặc lộn ngược. Tôi bay chập choạng xuyên qua bầu trời, lâu lâu cúi về phía trước xem la bàn, điều chỉnh hướng bay cho đến khi tôi chắc chắn phi cơ đang tiến đến New Ireland.
Nhưng bỗng nhiên cơn đau trên đầu gia tăng khiến tôi không còn buồn ngủ nữa. Rồi thình lình tôi tỉnh táo hẳn. Không một dấu hiệu báo trước, chiếc phi cơ tắt máy. Tôi biết bình xăng chánh đã cạn. Tôi còn một bình xăng phụ, nhưng phải mất một thời gian ngắn để chuyển qua. Khi mở nút chuyển tiếp xăng phải làm nhanh chóng và chính xác. Thông thường, công việc này tôi sử dụng tay trái và không có gì khó khăn. Nhưng hiện thời tay trái tôi đã liệt hẳn. Tôi phải sử dụng tay mặt, nhưng với qua phía bên kia phòng lái không tới.
Chiếc Zéro tắt máy rớt xuống biển chầm chậm và êm ái. Tôi cố gắng hết sức cuối cùng mở được.
Xăng không chảy qua ống, vì ống quá lâu nên đã thoát hết không khí. Tôi vội vã sử dụng bơm tay, dự trù cho trường hợp bất ngờ. Hiệu quả tức khắc. Với một tiếng rồ nhẹ, máy chạy trở lại và chiếc Zéro lướt êm về phía trước. Không phí một giây nào, tôi trở lên cao độ 500 thước.
Phi cơ bay chầm chậm. Tôi chỉ còn trong tay không đầy hai giờ nhiên liệu để đáp xuống hòn đảo do Nhựt chiếm đóng. Không đầy hai giờ, tôi sẽ sống hoặc chết.
Một giờ trôi qua… Trước mắt tôi vẫn chỉ là biển cả bao la và bầu trời xanh thăm thẳm. Thình lình tôi thấy một vật gì nổi trên mặt nước. Một hòn đảo! Lần này không lầm nữa, không phải là một đám mây trước mắt. Nhứt định là một hòn đảo. Hòn đảo Xanh, hòn đảo san hô có hình móng ngựa mà tôi đã để ý trên đường bay đến Guadalcanal sáng nay. Tôi soát lại bản đồ. Hy vọng tràn trề… Tôi chỉ cách Rabaul 110 km!
Sáu chục hải lý. Thông thường chỉ là một cái nhảy ngắn. Nhưng tình trạng hiện thời đầy bất thường và đang tồi tệ thêm. Tôi chỉ còn đủ xăng để bay trong vòng 40 phút. Chiếc Zéro lại bị hư hại trầm trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến tốc lực. Tôi bị thương nặng, tê liệt một nửa thân, mắt bên mặt mù hẳn và mắt trái nhìn thấy không rõ lắm. Tôi đã kiệt sức, và tôi phải tận dụng hết năng lực để giữ chiếc phi cơ thăng bằng.
Một hòn đảo khác, ngay trước mắt tôi. Ðây là đảo New Ireland, và phía xa xa là rặng núi cao 2,400 bộ. Vượt qua phía bên kia rặng núi đó, tôi có thể về tới Rabaul.
Tôi đã đâu mặt với hàng loạt chướng ngại vật phía trước khi tiến vô căn cứ nhà. Những đám mây dầy đặc tụ quanh các đỉnh núi, và đột ngột một cơn mưa bão thật dữ dội trút xuống. Dường như khó có thể vượt qua nổi. Kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể xác, nửa đui nửa sáng, và trong một chiến đấu cơ hư hại trầm trọng, làm sao tôi có thể vượt qua một cơn mưa bão, nguy hiểm tột cùng ngay cả dưới những tình trạng bình thường?
Tôi đành bay vòng. Kim đồng hồ chỉ mực xăng của tôi càng lúc càng hạ thấp. Tôi chỉ còn vài mươi phút trên không. Tôi bặm môi và quay về hướng Nam. Chiếc phi cơ bay chầm chậm xuống eo biển George nằm giữa Rabaul và New Ireland. Hai vệt trắng xoá lướt trên mặt nước phía dưới cánh tôi. Tôi thấy hai chiến hạm Nhựt, có vẻ là hai tuần dương hạm hạng nặng, đang xả hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Guadalcanal. Tôi hầu như ứa nước mắt khi nhìn thấy hai chiến hạm. Tôi muốn chúi phi cơ xuống biển, một trong hai tuần dương hạm có thể cứu tôi. Hy vọng tràn ngập trong tôi. Rabaul lúc ấy hình như cách xa hàng triệu cây số. Tôi quần mấy lần trên hai chiến hạm, sẵn sàng đáp xuống mặt nước.
Tôi không thể thực hiện ý định của mình. Hai tuần dương hạm đang trên đường đến Guadalcanal để chiến đấu. Nếu chúng ngừng lại để vớt tôi lên, việc này không chắc lắm, nhiệm vụ thúc bách của chúng sẽ trì trệ. Không thể đáp xuống biển. (Nhiều tuần lễ sau này tôi mới biết đó là hai tuần dương hạm Aoba và Kinugasa, mỗi chiếc 9,000 tấn đang hướng đến Guadalcanal với tốc lực hơn 33 hải lý một giờ. Cùng với nhiều chiến hạm khác, Aoba và Kinugasa tấn công đoàn công-voa của Ðồng Minh ở Luga, đánh chìm bốn tuần dương hạm cùng gây hư hại cho một tuần dương hạm và hai khu trục hạm khác của địch quân).
Một lần nữa, tôi quay về hướng Rabaul. Ðồng hồ chỉ mực độ xăng cho thấy chỉ còn hai mươi phút bay nữa mà thôi. Tuy nhiên nếu không tiến về Rabaul được, tôi có thể đáp trên bãi biển. Thế rồi hòn núi lửa quen thuộc hiện ra ở chân trời. Ðã đến nơi rồi, Rabaul đã nằm trong tầm mắt.
Tôi phải đáp xuống. Việc này thật khó khăn vô cùng, với một nửa thân thể hoàn toàn tê liệt của tôi. Tôi cố đảo quanh phi trường, do dự, không biết làm gì. Tôi không biết rằng tôi đã bị báo cáo mất tích, tôi cũng không biết rằng tất cả các phi cơ khác đã đáp xuống hai giờ trước đó, ngoại trừ hai chiếc bị hạ ở Guadalcanal. Sau này Ðại úy Sasai nói với tôi ông không tin hai mắt của mình khi nhận ra chiếc Zéro của tôi xuyên qua ống dòm. Ông la tên tôi thật lớn, và tất cả các phi công khác túa ra khắp nơi trên phi đạo.
Lúc này tất cả những gì tôi nhìn thấy được là phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Tôi quyết định đáp xuống mặt nước cạnh bờ biển. Chiếc Zéro xuống chầm chậm. Tám trăm bộ, bảy, bốn rồi một trăm bộ, tôi chỉ còn cách mặt nước năm mươi bộ. Là 15 thước. Tôi lại thay đổi ý kiến. Cảnh máy bay vỡ tan trên biển và cái đầu bị thương của tôi đập về phía trước, là hình ảnh đáng sợ. Tôi khó mà sống sót được.
Tôi vượt lên và quày lại phi đạo ở cao độ 500 m. Lần này hoặc là tôi đáp xuống hoặc là không bao giờ nữa. Chiếc Zéro hạ chầm chậm khi tôi đẩy cần điều khiển về phía trước. Tôi thả bánh xe. Tốc lực chiếc phi cơ giảm xuống. Tôi nhìn những dãy chiến đấu cơ xếp dài hai bên phi đạo đang xô chạy về phía tôi. Tôi phải tránh đụng các phi cơ đó. Tôi vượt trở lên, vì nhận thấy tôi đã xuống lệch quá xa về phía trái. Sau khi quần đến lần thứ tư, tôi cố đáp xuống một lần nữa. Dù cho xăng còn rất ít trong bình, chiếc phi cơ vẫn có thể nổ nếu nó va chạm. Hàng dừa trồng ở đầu phi trường lờ mờ trước mắt tôi. Tôi lướt phía trên và cố điều chỉnh độ cao của tôi bằng những ngọn dừa này. Bây giờ… tôi đã ở trên phi đạo. Một cái xóc thật mạnh khi bánh xe chạm mặt đất. Tôi kéo ngược cần điều khiển và ghì chặt với tất cả sức mạnh để giữ cho chiếc phi cơ khỏi chạy xiên vẹo. Chiếc Zéro lao bánh và ngừng lại gần Bộ Chỉ Huy. Tôi cố mỉm cười, một làn sóng đen thẫm phủ chụp lên tôi.
Tôi cảm thấy như bị rớt chìm xuống đáy một hố sâu vô tận. Mọi vật hình như đều xoay tít dữ dội. Tôi nghe những tiếng thét gọi tên tôi vang lên xa xa. “Sakai! Sakai!” Tôi rủa thầm. Tại sao họ không giữ im lặng? Tôi muốn thiếp ngủ.
Màu đen biến mất. Tôi mở mắt ra nhìn thấy nhiều khuôn mặt bao quanh. Tôi đang nằm mơ, hay tôi đã thật sự trở về Rabaul? Tôi không biết. Mọi thứ đều không thật. Tất cả đều là mộng mị. Tôi chắc vậy. Những gì tôi đang thấy không thể là sự thật. Mọi thứ lại tan thành những lượn sóng màu đen sẫm trộn với những tiếng la lớn.
Tôi cố gượng dậy. Tôi bám vào buồng lái và cố đứng lên. Ðây là “Rabaul”. Cuối cùng, không phải là mộng mị. Thế rồi tôi ngã quỵ xuống hẳn. Không còn sức lực. Những cánh tay mạnh mẽ nhấc bổng tôi ra khỏi phi cơ.
Tôi quay lại để kiểm soát các phi cơ bên cánh của mình. Nhưng, nhìn khắp nơi, tôi vẫn không thấy Yonekawa và Hatori ở đâu. Phi cơ của Ðại úy Sasai, với hai sọc xanh kẻ dọc theo thân, trở lại đội hình với nhiều chiến đấu cơ khác bay thành hàng phía sau ông. Nhưng vẫn không có hai phi cơ bên cánh của tôi. Cuối cùng, tôi nhìn thấy họ bay khoảng 500 m phía dưới mình. Tôi há hốc miệng. Một chiếc Wildcat đơn độc truy đuổi ba chiếc Zéro đang cuống cuồng lẩn trốn. Chiếc Wildcat nhả từng tràng đạn. Tôi lắc cánh để báo hiệu cho Sasai và chúi xuống. Chiếc Wildcat đang bám sát, rót đạn vô cánh và đuôi của một chiếc Zéro. Trong lúc khẩn cấp, tôi bắn vội một viên đại bác. Lập tức chiếc Wildcat lảng ra bằng cách lộn nhào một vòng về phía phải, quành thật ngặt rồi vượt lên đâm thẳng vào phi cơ của tôi. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ địch nào bay mau lẹ và đẹp mắt như vậy. Mỗi giây các họng súng của nó mỗi chĩa vô sát bụng tôi hơn. Tôi lăn thật nhanh để tránh né. Chiếc Zéro rùng mình khi tôi hạ mạnh tốc độ xuống. Vồ trật, viên phi công địch lộn ngược trở lại. Tôi tăng gia tốc, lộn ngay về bên trái. Ba lần lộn nhào, tôi cho chiếc Zéro xoay tít để rớt xuống theo hình trôn ốc. Cả hai chúng tôi cùng giữ hai chiếc phi cơ xoáy hình trôn ốc này. Tim tôi đập liên hồi và đầu tôi như có sức mạnh ngàn cân đè lên. Mắt tôi nổ đom đóm. Tôi cắn chặt răng chịu đựng lực ly tâm. Nếu kẻ nào bỏ cuộc đầu tiên, lảng ra một hướng để giải toả áp lực, kẻ ấy sẽ đi đời. Ðến vòng xoáy thứ năm, chiếc Wildcat hơi lơi ra. Tôi sẵn sàng khai hỏa, nhưng đối thủ chúc mũi xuống, tăng gia tốc và, một lần nữa, viên phi công địch nắm vững cần lái. Ðáng nể!
Tuy nhiên, hắn sai lầm ngay phút kế đó. Thay vì tiếp tục vung trở lại vòng xoáy thứ sáu, hắn nhấn thêm ga, phá vỡ một góc vòng xoay và lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi chĩa mũi ngay phía sau, cắt ngang đường bay của hắn. Và tôi cứ cắt như vậy nhiều lần, khiến cho hình thắt nút dây của hắn càng lúc càng thâu hẹp lại. Khi hai phi cơ còn cách nhau 50 thước, chiếc Wildcat bỏ lối bay cũ để vượt thẳng lên. Một lối tránh né mạo hiểm! Ở khoảng cách hiện thời, tôi không cần sử dụng đại bác 20 ly. Tôi rót 200 viên đạn đại liên vô phòng lái, nhìn thấy đạn soi thủng lớp kim khí mỏng và phá tan kiếng chắn gió của chiếc Wildcat. Mảnh sắt văng lên không trung. Tôi không thể tin nổi vào đôi mắt của mình. Chiếc Wildcat vẫn tiếp tục bay như không có việc gì xảy ra. Nếu phòng lái lãnh đạn như vậy, một chiếc Zéro sẽ bốc cháy lập tức. Tôi không sao hiểu nổi. Tôi gia tăng tốc lực, tiếp tục áp sát đối thủ, vừa đúng lúc chiến đấu cơ địch mất tốc độ. Làm trong một thoáng, tôi đã trượt ra phía trước chiếc Wildcat mươi thước. Tôi đưa lưng, chuẩn bị ăn đạn của đối phương.
Không một viên đạn nào bay đến! Các khẩu súng của chiếc Wildcat vẫn im lặng. Tôi hạ tốc độ cho đến khi hai phi cơ bay song song. Tôi mở cửa buồng lái để nhìn. Tôi có thể nhìn thấy viên phi công địch rõ ràng. Một người khổng lồ với gương mặt bầu bĩnh, mặc quân phục ka ki nhạt, có vẻ đứng tuổi.
Chúng tôi bay song song nhiều giây trong đội hình kỳ quái. Ðôi mắt chúng tôi gặp nhau qua khoảng không gian nhỏ hẹp giữa hai chiếc phi cơ. Chiếc Wildcat như một đống sắt vụn. Nhiều lỗ đạn soi thủng ở thân và cánh từ bên này xuyên suốt qua bên kia. Bánh lái sau đuôi phi cơ te tua, những miếng kim khí chĩa ra giống như một bộ xương. Tôi có thể hiểu tại sao viên phi công không khai hoả: máu ướt đẫm vai và chảy thành nhiều vệt xuống ngực hắn. Vậy mà phi cơ của hắn vẫn còn bay, không thể tin nổi. Nhưng tôi không thể hạ sát một người bất động, mang đầy thương tích, trong một chiếc phi cơ chỉ còn là một đống sắt nát. Tôi giơ nắm tay trái lên lắc lắc la lớn, biểu hắn hãy đánh nhau thay vì bay giống như một con bồ câu đất, mặc dù tôi biết chuyện đó khó xảy ra. Viên phi công Mỹ nhìn tôi có vẻ hoảng sợ, hắn giơ tay phải lên vẫy vẫy một cách yếu ớt. Như hắn muốn phân bua.
Tôi chưa bao giờ có cảm giác kỳ dị như thế này. Tôi đã giết nhiều người Mỹ trên không, nhưng đây là lần đầu tiên, trước một đối thủ kiệt lực mang đầy thương tích, tôi lại ngần ngừ. Tôi không biết có nên dứt điểm hắn hay không. Nhưng ý nghĩ của tôi rõ ràng là ngù ngờ. Bị thương hay không, hắn cũng là kẻ thù, một kẻ thù vừa hạ ba đồng bạn của tôi vài phút trước đây. Tuy nhiên, thật sự tôi muốn hạ chiếc phi cơ hơn là hạ viên phi công.
Tôi lùi lại và lướt đến sau đuôi chiếc Wildcat. Viên phi công cố thu hết năng lực cuối cùng để đưa chiếc phi cơ của hắn lướt lên. Tôi nhắm đầu máy và ấn cò đại bác. Một tiếng nổ bùng với lửa và khói túa ra. Chiếc phi cơ lật nhào và viên phi công nhảy dù ra ngoài. Phía dưới tôi, gần đúng trên bãi cát Guadalcanal, chiếc dù bung ra. Cuối cùng, tôi thấy viên phi công đáp xuống bãi biển.
Ba chiến đấu cơ Zéro khác đã trở về kết hợp bên cánh của tôi. Chúng tôi cùng vượt lên và quay trở lại Guadalcanal để kiếm phi cơ địch nữa.
Ðạn cao xạ bắt đầu nổ quanh chúng tôi. Những đốm đen khắp nơi. Chỉ vài giờ sau khi đổ bộ, các giàn cao xạ hạng nặng của địch quân đã được thiết lập trên bãi biển. Tôi biết rằng các lực lượng Nhật phải mất ít nhất ba ngày sau khi đổ bộ mới thiết dựng được các vị trí phòng không. Tốc độ di chuyển chiến cụ lên bờ của quân Mỹ nhanh chóng đến mức kinh ngạc.
Tôi trở lại cao độ 7,000 bộ với ba chiến đấu cơ phía sau. Chúng tôi bay xuyên qua những đám mây, và lần đầu tiên trong suốt mấy năm chiến đấu, tôi bị một phi cơ địch vồ mà không hay biết. Bất thình lình tôi sực nghe một tiếng phụp thật mạnh và một lỗ hổng nửa phân xuất hiện trên kiếng chắn gió bên trái của tôi. Lỗ hổng chỉ cách tôi vài phân. Tôi vẫn không nhìn thấy chiếc phi cơ nào khác trên không. Có lẽ viên đạn từ mặt đất bắn lên. Sau đó, tôi mới nhìn thấy loáng thoáng một oanh tạc cơ địch, không phải một chiến đấu cơ, đang lủi vô mây. Sự liều lĩnh của viên phi công địch đáng sợ. Với một chiếc oanh tạc cơ chậm chạp, hắn dám giỡn mặt với ba chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi.
Chớp mắt, tôi đã ở phía sau đuôi hắn. Không phải oanh tạc cơ mà là phóng pháo cơ đâm bổ. Chiếc Douglas SBD Dauntless nhô lên hụp xuống nhiều lần rồi thình lình chui vô một đám mây. Ðâu thể để mất con mồi dễ dàng như vậy, tôi đeo dính hắn. Khoảng một vài giây, tôi chỉ thấy một màu trắng xoá khi chúng tôi lướt xuyên qua một tảng mây dày đặc. Ðám mây giống một ổ bánh kem mà chúng tôi đâm sầm vào đó. Nhiều phút trắng ngợp mờ mịt. Kế đó, chúng tôi thoát ra khoảng trống, tôi tiến sát như chớp và khai hoả. Tên xạ thủ phía sau đuôi chiếc phóng pháo cơ ngã chúi trên khẩu súng của hắn. Một loạt đại bác nữa rót vô đầu máy. Chiếc Dauntless lộn về phía trái mấy vòng, rồi chúi xuống dữ dội. Yonekawa thấy viên phi công nhảy dù ra. Ðó là sát thủ thứ sáu mươi của tôi. Trở lên 13,000 bộ, tôi tìm kiếm những phi cơ khác của chúng tôi nhưng không thấy. Một vài phút sau, bay trên bờ biển Guadalcanal, tôi phát hiện một nhóm phi cơ bay cách phía trước mặt nhiều dặm. Tôi báo hiệu cho hai phi cơ bên cánh và lướt đến. Không lâu, tôi đếm rõ tám phi cơ địch tất cả, bay làm hai nhóm. Tôi ra dấu đánh nhóm bên phải nhường nhóm bên trái cho ba chiếc Zéro theo sau tôi. Ðối thủ bay trong một đội hình phòng vệ rất chặt chẽ, hình như là chiến đấu cơ Wildcat. Tôi có thể lướt từ dưới lên đánh tập hậu, và có thể hạ hai chiếc trong loạt khai hoả đầu tiên. Tôi tiến sát được chừng nào hay chừng nấy. Khoảng cách còn 200 thước, rồi 100 – 70 – 60 thước…
Ghi chú Quân sự
Phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless
Phi hành đoàn: 2
Dài: 10.08 m, Cao: 4.14 m
Trọng tải: 4,853 kg
1 động cơ 1,200 mã lực
Vận tốc tối đa: 410.38 km/h
Đường kính: 1,243 km
Trần bay: 7,780 m
2 đại liên 12 ly 7
2 đại liên 7 ly 62
1,020 kg bom
Phóng pháo cơ Grumman TBF Avenger
Phi hành đoàn: 3 (phi công, hoa tiêu phóng ngư lôi kiêm xạ thủ súng máy bụng và xạ thủ pháo tháp đại liên)
Dài: 12.48 m, Cao: 4.7 m
Trọng tải: 8,115 kg
1 động cơ 1,900 mã lực
Tốc độ tối đa: 444 km/h
Đường kính: 1,610 km
Trần bay: 9,170 m
1 đại liên 7 ly 62 trước mũi
2 đại liên 12 ly 7 trên cánh
1 pháo tháp nòng đôi 12 ly 7
1 đại liên 7 ly 62 dưới bụng
1 thủy lôi hoặc 900 kg bom
Tôi đã lọt vô bẫy! Phi cơ địch không phải chiến đấu cơ F4F Wildcat mà là phóng pháo cơ hạng nặng. Loại Grumman TBF Avenger trang bị thủy lôi! Loại phóng pháo cơ kiên cố bọc thép dầy và võ trang tận răng mà tôi chưa từng thấy trước đây. Từ phía sau, Avenger trông giống như chiếc Wildcat, nhưng khi lại gần mới thấy kích thước bề thế đồ sộ của nó với tháp súng đôi trên lưng và dưới bụng đều trang bị đại liên 50. Giống những chiếc xe tăng trên không. Hèn chi chúng bay theo một đội hình chiến lũy như vậy. Mấy chiếc Avenger đang đợi tôi, và bây giờ tôi bị chụp ở cả hai phía bên phải và trái với 16 khẩu đại liên một lúc. Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp. Tôi không thể giảm tốc lực để quay lưng. Nếu tôi bỏ chạy hoặc lộn nhào tôi sẽ lãnh đạn vô bụng phơi trần tức khắc. Chỉ còn một cách, cứ lao đến và khai hoả tất cả vũ khí trong tay. Tôi ấn nút hoả lực, gần như cùng một lúc với tất cả súng của địch quân. Tiếng đại bác nện và đại liên dội lên lấn át mọi tiếng động khác. Khi hai phóng pháo cơ Avenger phựt bốc cháy, đối phương chỉ còn cách trước mặt tôi đúng hai mươi thước. Ðó là tất cả những gì sau cùng tôi nhìn thấy. Một tiếng nổ dữ dội long trời chà nát thân thể tôi. Tôi cảm thấy hai lỗ tai như bị muôn ngàn lưỡi dao chọc thủng. Vũ trụ bừng lên trong lửa đỏ. Cảnh vật rực lên, sáng lóa và rồi đôi mắt tôi như mù hẳn. (Ba phi công bay theo tôi về báo cáo với Trung tá Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, rằng họ đã nhìn thấy hai chiếc Avenger rớt xuống cùng một lúc với phi cơ của tôi. Họ còn cho biết thêm, hai chiếc Avenger địch kéo hai vệt lửa khói dài. Ðó là nạn nhân chánh thức thứ 61 và 62 của tôi. Nhưng một báo cáo khác của người Mỹ sau chiến tranh phủ nhận sự mất mát các phóng pháo cơ Avenger cất cánh từ ba hàng không mẫu hạm hoạt động ở phía Tây Nam Guadalcanal. Có lẽ hai phi cơ này đã trở về tàu được. Khi chiếc Zéro của tôi chúi xuống, với tôi hôn mê bất tỉnh trong buồng lái, cả ba chiếc Zéro cùng chúi xuống với tôi. Họ phải bỏ dở cuộc săn tìm khi tôi biến mất trong một đám mây sà thấp.)
Sau nhiều giây trôi qua tôi mới hồi tỉnh. Một luồng gió mạnh mát lạnh quất vào tôi, xuyên qua tấm kính chắn gió đã vỡ nát. Nhưng tôi vẫn còn mất cảm giác. Tôi không nhìn thấy và khó khăn suy nghĩ. Mọi vật đều mờ mờ ảo ảo. Cần điều khiển ngả nghiêng như một bánh lái trước sóng. Ðầu tôi ngoẹo hẳn về phía sau, ngoẻo trên miếng tựa đầu. Tôi cố nhìn, nhưng mọi vật lờ mờ chập chờn nhảy múa trước mắt. Phòng lái hình như đã vỡ tung, kiếng bể nát hết, gió ru tôi vào cơn mê nửa mơ nửa tỉnh. Tôi không cảm thấy gì khác hơn là một sự chìm đắm êm ả dịu dàng. Tôi muốn ngủ. Tôi cố gắng thức vì biết rằng tôi đã bị bắn trúng, rằng tôi đang hấp hối, nhưng tôi không hề cảm thấy sợ hãi. Nếu chết là như thế này, không đau đớn, thì có gì đáng lo… Tôi đang ở trong một thế giới đầy mộng mị. Một sự ngây ngất tràn đầy trong trí não. Ảo ảnh bơi lội phía trước tôi. Thấp thoáng nhiều hình ảnh từ từ sáng dần… Với sự ngạc nhiên, tôi nhìn thấy ánh mắt âu lo của Hatsuyo rồi khuôn mặt má tôi hiện ra rõ rệt. Bà kêu lên: “Xấu hổ chưa! Xấu hổ chưa! Thức dậy đi, Saburo, thức dậy đi! Con làm như đàn bà con gái không bằng. Con đâu phải là một tên hèn nhát! Thức dậy đi! Thức dậy!”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.