This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi hơi ngạc nhiên, tính hỏi nhưng giả bộ làm thinh để coi thử trung sĩ Thân muốn nói chuyện chi. Tôi là dân sinh ra và lớn lên rồi đi dạy ở thành phố, đi đánh giặc ở miệt ruộng, nhiều khi lớ ngớ có biết gì đâu!
Tư Ngọc thì tôi biết, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương của Việt Cộng. Vả lại, trong buổi họp vừa rồi, thiếu úy Ra mới báo cáo hoạt động của Tư Ngọc trong mấy ngày qua: Hôm trước thì chỗ nầy, hôm sau thì chỗ kia. Vạch một phóng đồ theo sự xuất hiện của y để phỏng đoán ý đồ thì rõ ràng y đang theo những cái máy cày đang cày trong vùng sâu để thu thuế. Còn về gia đình y, tôi không rõ.
Vậy là rõ. Vợ Tư Ngọc ở ngoài bờ kinh Rạch Giá – Hà Tiên, vùng quốc gia. Thằng chồng theo Việt Cộng ở trong rừng, thu thuế, lấy bớt đưa cho vợ. Con vợ giả bộ đi làm đồng, tiếp tế cho chồng, có tiền về mua vàng đeo chơi. Làm như thế khác chi “Lạy ông tôi ở bụi nầy.” Phe quốc gia, nhiều tay kinh nghiệm, muốn có tiền, cứ theo dấu bọn kinh tài mà phục kích, thế nào cũng có tiền tiêu.
Việc trung sĩ Thân nói làm tôi nhớ lại một lần tôi tới nhà Tư Ngọc mà tôi không hay. Hôm đó tôi đi họp ở Rạch Giá về, qua khỏi xóm Vàm Rầy chừng 100 thước thì gặp xe thiếu tá Phúc, quận trưởng Kiên Lương, trung tá Thảo, quận trưởng Hà Tiên, cũng đi họp ở Rạch Giá về, đang dừng lại trước nhà vợ Tư Ngọc, lúc đó tôi không biết nhà ai. Nhà vợ Tư Ngọc là chủ vựa tôm, cá đồng (đánh bắt trong đồng, để phân biệt với tôm, cá biển). Tài xế trung tá Thảo là anh vợ Tư Ngọc, ghé lại kiếm ít con cá lóc về nhậu chơi. Sau khi Tư Ngọc bị bắn chết, tôi mới rõ chuyện nầy.
Tình hình vùng nầy thường như vậy, theo Việt Cộng, theo quốc gia, đan chéo nhau, không phân biệt rõ Quốc Cộng như ở dinh điền Cái Sắn.
Sau khi nói với tôi, trung sĩ Thân lặng lẽ vạch kế hoạch với chi khu, không cho cơ quan khác biết.
Trời vừa tối, trung sĩ Thân dẫn trung đội thám báo chi khu xuống Vàm Rầy, ém trong đồn nghĩa quân ở đầu cầu. Hai giờ sáng, Thân dẫn trung đội lội tuốt vô rừng tràm. Tới bìa rừng, Trung sĩ Thân ra lệnh trung đội nằm im, chờ trời rạng một chút để dễ thấy mục tiêu.
Ban ngày, Tư Ngọc cùng vài ba tên du kích lội trong ruộng, tìm tới từng máy cày, thu thuế. Chiếc nào chưa kịp đóng thì bị cảnh cáo, dọa bắt tài xế hay dọa đặt mìn phá máy cày, hoặc ít ra cũng gở con heo dầu, v.v… Đố ai không đóng tiền mà được yên!
Tối lại, bọn chúng rút về rừng tràm. Chúng chủ quan đến độ không thèm rút sâu vô rừng, tới bìa rừng là treo võng, mắc mùng ngủ qua đêm, ngày mai, “công tác” tiếp.
Trung sĩ Thân thấy mờ mờ bốn cái mùng vải, ba cái màu xanh lá cây, một cái màu trắng. Thân nghĩ bụng: “Thằng nầy ỉ i dữ, dám treo mùng trắng mà nằm.”
Trung đội thám báo dàn thành vòng cung, vây bốn cái mùng vào giữa. Trời hừng sáng, thấy rõ mục tiêu, trung sĩ Thân ra lệnh nổ súng. Ba cái mùng, kể cả cái mùng trắng không thấy nhúc nhích. Cái thứ tư có một tên nhảy xuống võng, chạy tuốt vô rừng, không kịp mang theo cây súng AK. Vậy là ba tên của ba cái mùng kia chết ngay tại chỗ, không kịp phản ứng.
Trung sĩ Thân báo cáo thu 3 súng AK, một K -54, không thấy báo cáo thu được bao nhiêu tiền ở người Tư Ngọc. Anh ta không dại. Có cây K -54 đem về biếu thiếu tá Chi Khu Trưởng là ngon rồi. Hồi ấy, một cây K -54 có thể đổi cho Mỹ lấy cái tủ lạnh cỡ vừa xài chơi như không!
Sau đó, ai có thân nhân ở ngoài vùng quốc gia thì đem xác về chôn, mấy du kích không có gia đình vùng nầy thì dân làm đồng chôn ở những cái gò đất trong rừng, đắp một cái nấm nhỏ, chẳng có bia gì hết. Biết tên họ gì mà làm bia! Vả, dân lo chôn cho xong, để phơi giữa trời thì “tội nghiệp”. Không phải họ ưa chi Việt Cộng, nhưng ông bà ta nghĩ rằng “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Chôn cất người chết vô thừa nhận là làm việc phúc đức. Vậy là xong. Cơ quan huyện hay xã của Việt Cộng thấy dân chôn rồi thì khỏi lo, và cũng chẳng cần dựng bia “Tổ Quốc ghi công” làm gì!
Nếu là bộ đội Cộng Sản, khi đánh nhau xong, ai chết, Việt Cộng kéo xác đi mất tiêu. Còn bọn du kích địa phương, nếu chúng không chôn, dân phải tự lo lấy.
Sau đó ít lâu, có hai tên du kích mò ra đặt mìn trên lộ, chỗ quá ngã ba kinh Xà Tón và kinh Rạch Giá – Hà Tiên một chút để lấy lại “uy thế”, đồng bào phải sợ. Mìn là một trái đạn 105 bị tịt ngòi. Chúng đặt ngòi mới. Lớ ngớ thế nào, quả đạn nổ khi hai đứa còn chụm đầu bên trái đạn. Xác chúng nát bấy, văng tùm lum, dân chúng phải lấy tấm nylon (thường dùng làm áo mưa) lượm từng miếng thịt xương bỏ vào, hai đứa chung một bọc đem chôn.
Sau cái chết của Tư Ngọc, Bảy Mốc, bí thư xã, không dám ló mặt ra xa rừng tràm để thâu thuế nữa. Do đó mới xảy ra vụ Nam Tu-Hú “thâu thuế giúp cho cách mạng”, bỏ túi tiêu luôn, mới bị “cách mạng bắt đền tội.” Ấy là nói theo kiểu Cộng Sản.
Chồng chết rồi, vợ Tư Ngọc không còn được ưu tiên đánh bắt cá trong rừng sâu nữa, nên bỏ nghề làm chủ dựa (vựa) cá đồng. Mất chồng, mất quyền lợi, cô ta cặp với một anh lính ở tiểu khu Rạch Giá, dọn nhà đi mất!
Tới mùa khô năm sau (1974), cũng lính thám báo chi khu phục kích bắn chết Trần Chí Tài, Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Kinh tài huyện Hà Tiên. So theo chức vụ thì ông nầy là cấp chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Tấn Dũng, Truởng ban Quân y huyện đội Hà tiên.
Cũng lực lượng thám báo chi khu theo mùa mà đánh giặc nên tôi có nói là “giặc mùa”. Mùa hè năm 1974, Phó bí thư kiêm Kinh tài huyện Hà Tiên là Trần Chí Tài đi thu thuế máy cày, thuế đánh cá đồng trong những cái đìa trong rừng Trà Tiên. Lực lượng thám báo chi khu lại giả trang Việt Cộng, cũng mũ tai bèo, súng AK, áo quần bà ba đen vô rừng phục kích tụi kinh tài.
Hơn 10 anh thám báo chi khu lang thang trong rừng, tìm không ra Việt Cộng, bỗng thấy một cái đìa lớn, cá đặc “lền khên”. Mùa nầy nước rút, cá gom lại trong đìa, thấy mà ham. Vậy là mấy “thầy” thám báo chi khu bỏ súng trên bờ đìa, lội xuống bắt ít cá.
Đang khi lính thám báo quần thảo với đám cá lóc, cá rô thì bất đồ Trần Chí Tài đi trờ tới. Anh ta ỉ i, chỉ đi có một mình, không có bảo vệ. Vả lại, anh ta cũng tính kỹ. Đi thu thuế một mình, đâu ai biết là anh ta thu được bao nhiêu. Mặc sức khai gian, mặc sức bỏ túi riêng.
Đìa thì ở dưới thấp, lại sậy đế đã mọc cao, nên Trần Chí Tài không thấy đám lính chi khu đang bắt cá dưới đìa. Đi trờ tới thì Trần Chí Tài thấy họ, bèn quay ngang theo hướng khác. Xui cho Trần Chí Tài là khi anh ta quay ngoắt thì gió thổi lật ngược cái áo bà ba của y lên, để lộ cây súng y dấu dưới áo.
Đang bắt cá, lính chi khu thấy người đi tới có mang súng, biết là Việt Cộng, bèn la lớn: “Việt Cộng! Việt Cộng”. Thấy lính đông mà Trần Chí Tài chỉ có một mình, lại chỉ có cây súng nhỏ, biết khó chống cự, Trần Chí Tài bỏ chạy. Cả đám lính khoảng mười người mang súng đuổi theo, vừa đuổi vừa bắn. Một băng AK có 30 viên đạn. Mười cây súng, mười băng đạn. Vị chi là có 300 viên đạn bắn theo Trần Chí Tài. Vậy là Trần Chí Tài gục ngay trên đám sậy hoang. Lính chi khu tịch thu cây K-59 của Trần Chí Tài, còn tiền bạc thì không nghe nói.
Việt Cộng cho đó là nợ máu, nhưng sau 30 tháng Tư, điều tra không ra ai giết Trần Chí Tài. Những người dính líu trực tiếp trong vụ bắn Trần Chí Tài thì họ “tan hàng” hết rồi. Ai về nhà nấy. Nguyễn Tấn Dũng tuy ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương, nhưng anh là trưởng ban quân y huyện đội, không dính dáng nên chẳng hỏi han hay điều tra ai đã giết sư phụ của anh ta.
Đảo Lưu Huỳnh đi vào lịch sử thế chiến với tên gọi tàn khốc “Địa ngục của địa ngục”. Task Force 58 của Đô đốc Mitscher tập trung oanh kích Không đoàn của Sakai trên đảo Iwo Jima. Đại tá Miura quyết định khiển dụng tất cả máy bay còn lại cho trận tấn công quyết tử trước khi Iwo Jima thành bình địa. Mệnh lệnh rõ rệt: Không trở về. Lao xuống các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Bằng mọi giá chặn kẻ thù vào biển Nhật. Chưa phải một đơn vị Thần Phong nhưng Không đoàn lừng danh Yokosuka không còn chọn lựa chiến thuật nào khác. Chuẩn úy Sakai cất cánh tức khắc, với hình ảnh của Hatsuyo trên nền biển Thái Bình.
Trận không chiến diễn ra ác liệt, trên tổng số máy bay Nhật, chỉ có mỗi máy bay của Sakai và hai máy bay bên cánh trở về. Suốt phi trình gặp nghênh cản, chiến đấu thoát vòng vây, Sakai bị dằn vặt bởi ý nghĩ phản bội, không hoàn thành nhiệm vụ, vì muốn sống để quay trở về với Hatsuyo. Chương hồi ký ngập bi thảm. [Trần Vũ]
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Nhiều kỳ – Kỳ 30
Chương 27
Chúng tôi đã ở trong vòng bán kính tuần thám của phi cơ địch, và radar trên các chiến hạm Mỹ chắc chắn đã phát hiện ra chúng tôi.
Tám phóng pháo cơ “Kate” chúi mũi xuống, chiến đấu cơ chúng tôi theo sát phía sau. Ở 16,000 bộ, chúng tôi rớt vô một đám mây dày đặc, trở thành kẻ đui mù trong nhiều giây, rồi lướt xuyên qua và tiếp tục chúi xuống. Xuống đến cao độ 13,000 bộ, một vật gì nhá sáng trên bầu trời, xa về phía trước, và phía trên chúng tôi nhiều ngàn bộ. Hiện tượng này lặp đi lặp lại nhiều lần. Ðó có thể là do cánh của một chiếc phi cơ phản chiếu ánh sáng mặt trời.
Tôi nhìn thấy chiến đấu cơ địch đầu tiên. Một chiếc Hellcat, với thân và đôi cánh rộng không thể lầm lẫn, lướt xuống, xuyên qua những đám mây. Một chiếc khác, rồi nhiều chiếc nữa. Bao nhiêu chiếc? Ðể xem! Chúng vẫn lướt xuống xuyên qua những đám mây, chiếc này đến chiếc khác, một dọc dài các chiến đấu cơ vẽ ngôi sao trắng như vô tận. Tôi bắn một loạt để báo cho các phi công khác. Phi đội trưởng và Muto lắc cánh đáp nhận. Radar Hoa Kỳ đã xác định vị trí chúng tôi một cách chính xác. Nhóm phi cơ địch chúi ra khỏi các đám mây cách phía trước chúng tôi không đầy một dặm, và cách phía trên chúng tôi chỉ nửa dặm.
Tôi bắt đầu đếm, và chỉ đếm được đến con số mười bảy. Ðối phương đã nhìn thấy chúng tôi! Chiếc phi cơ thứ mười bảy, tức là chiếc mà tôi đang đếm, bất ngờ lăn tròn về phía trái và chúi xuống. Lập tức, những chiếc còn lại vung ra hai bên và lao xuống chúng tôi.
Mệnh lệnh của Ðại tá Miura văng vẳng bên tai tôi: “Không chấp nhận chiến đấu… giữ vững các phi cơ trong đội hình.”
Mệnh lệnh rõ ràng minh bạch. Nhưng làm sao đây? Hãy nhìn những máy bay đang lướt đến. Bóng dáng của những chiếc Hellcat thấp thoáng khắp mọi nơi, nhiều chiếc đã lấy thăng bằng sau khi chúi xuống để từ phía dưới đánh ngược lên phi cơ của chúng tôi. Một nhóm hai mươi chiếc Hellcat thứ nhìn hung hăng vồ ba chiếc Zéro của Muto. Còn nhóm khác nữa, hơn ba mươi chiếc, bổ nhào xuống rồi lấy thăng bằng và vượt lên nhanh chóng, tấn công các phóng ngư lôi “Kate” đang bay phía dưới.
Tôi nín thở khi nhóm Hellcat chĩa mũi vô các phóng pháo cơ. Hai tiếng nổ làm rung chuyển cả không gian phát ra, chiếc Kate thứ nhứt và thứ nhì biến mất. Thủy lôi mang dưới bụng đã xé nát hai chiếc phi cơ làm muôn ngàn mảnh nhỏ li ti.
Bấy giờ những chiếc Hellcat đang nằm trong tầm hoả lực của ba chiếc Zéro do Muto cầm đầu, nhưng cả ba đã tránh né bằng cách lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi đấm tay vô cửa kiếng một cách bất lực. Muto đã có trong tay một tử điểm. Hắn có thể lăn về bên phải và đẩy hai chiến đấu cơ địch rời khỏi không trung mà không cần một cố gắng nào, nhưng hắn không làm.
Một nhóm Hellcat khác lao đến ba chiếc Zéro của tôi. Tôi kéo cần điều khiển lại phía sau, vọt tới và xoáy trôn ốc thật ngặt với hai phi công bên cánh đeo dính sau đuôi tôi. Chúng tôi lấy thăng bằng để nhìn thấy nhiều chiếc Hellcat khác xông tới với các họng súng ở hai bên cánh rực lửa. Ðạn đại liên xé gió vạch từng lằn. Tôi lăn tròn. Thật nhanh. Thêm nhiều chiếc Hellcat xông tới nữa. Lăn tròn nữa. Hai lần. Lăn tròn qua trái. Lấy thăng bằng. Nhiều đối thủ lại xông tới, chúng có tất cả bao nhiêu? Tôi lăn tròn nữa.
“… Không chấp nhận chiến đấu…”
Có thể y lịnh mãi được không? Tôi không thể. Không, ngay bây giờ. Với bầu trời dầy đặc chiến đấu cơ địch, tôi tránh né như vậy đã đủ lắm rồi. Tôi xoay như chớp, chĩa mũi vô một chiếc Hellcat đang chúi xuống. Những viên đạn của tôi đẩy bật nó ra lập tức. Chiếc phi cơ lảo đảo dữ dội rồi đâm xuống biển, kéo theo một vệt khói càng lúc càng mau. Không có thời giờ để nhìn theo nạn nhân, tôi nhấn bàn đạp bẻ lái, kéo cần điều khiển thật mạnh. Ðúng lúc. Một chiếc Hellcat lướt vụt qua chiếc Zéro của tôi, tiếp theo là những chiếc khác và nhiều chiếc khác nữa.
Tôi không có thời giờ để nhả bình xăng phụ dưới bụng. Thế rồi chiếc phi cơ địch cuối cùng lướt qua, sà thấp xuống biển, và bắt đầu lấy thăng bằng để quày lại. Nhóm Hellcat đang quành lại. Chúng vung rộng đội hình tấn công, hai tốp hai bên mạn sườn, một tốp bên trên yểm hộ và một tốp trực chỉ thẳng vào chúng tôi.
Tôi nhả bình xăng phụ và đảo ngược. Hai phi cơ bên cánh vẫn còn dính chặt với tôi. Nhờ trời, họ ngoan ngoãn thi hành đúng các chỉ thị, bám sát hai bên, đua tài xoay trở với tôi. Làm theo bất cứ động tác nào mỗi khi tôi lật ngược, lăn nghiêng, hay dựng đứng, họ đều lập tức xoay chuyển. Ba chúng tôi như một tam giác lướt xoáy. Mình mẩy tôi ướt đẫm. Mồ hôi tôi vã ra như tháo, tôi định đưa tay lau mặt. Không kịp. Cả 16 chiếc Hellcat lại lướt lên cùng một lúc nhảy xổ vô ba chiếc Zéro của tôi. Một lần nữa, tôi lại chúi, lộn, đảo và lăn. Cần điều khiển lên, xuống, giữa, phải, trái. Ðá bàn đạp lái. Loé sáng, những lằn đạn. Trật, và trật nữa. Bọn phi công Mỹ nhắm yếu. Những vạch đạn vút vút nhưng không trúng chỉ tạo ra những vệt khói dài. Tôi liếc nhìn nhóm phóng pháo cơ Nhựt. Ðó là một lò sát sinh? Uể oải, chậm chạp, với những trái thủy lôi dưới bụng, trôi lờ đờ trong không khí, không được chiến đấu cơ Zéro bảo vệ vì chúng tôi đang mắc bận đánh trối chết với lũ Hellcat. Một trái cầu lửa biến mất trong một tia chớp hừng hực. Rồi một cầu lửa khác nổ đàng. Thêm một phóng pháo cơ nữa nổ tung… Không đầy một phút, cả bảy chiếc phóng ngư lôi đều đi đời. Ngay cả một thân máy bay hoặc một cái cánh nguyên vẹn cũng không nhìn thấy.
Tình trạng của mấy chiếc Zéro cũng không khá hơn. Tôi nhìn thấy hai chiếc bao trùm trong lửa đỏ, lăn lộn liên hồi. Không viên phi công nào cố nhảy ra khỏi phi cơ. Họ ở lại và chết cháy.
Tôi không nhìn thấy một chiếc Hellcat nào gặp rắc rối, ngoại trừ chiếc bị tôi bắn rơi. Chúng tôi hầu như không thể nào né tránh chiến đấu, bởi đối phương quá đông và bu lấy chúng tôi. Chiến đấu cơ Hellcat nhanh nhẹn hơn chiếc Zéro của chúng tôi, tốc lực cũng mau hơn nhiều. Chỉ nhờ sự thiếu kinh nghiệm của phi công địch đã cứu chúng tôi. Nếu họ kinh nghiệm hơn chút nữa, mỗi chiếc Zéro sẽ bị hạ không đầy một phút. Hiện thời chỉ nhóm của tôi còn hiện diện trên bầu trời. Những chiếc Hellcat đã quét sạch các phi cơ Nhựt khác, bấy giờ bâu đến kết hợp với 16 chiến đấu cơ đang tấn công nhóm của tôi. Những chiếc cánh màu xanh mang huy hiệu ngôi sao màu trắng chiếu lấp lánh với các họng súng đều rực lửa, ở trên và ở dưới, bên phải và bên trái, đâu đâu cũng có bóng dáng Hellcat.
Những chiếc Hellcat này nhắc nhở tôi nhớ hồi ở Lae, lúc 12 chiến đấu cơ của chúng tôi cố hạ một oanh tạc cơ B17 đơn độc. Chúng tôi đã xé nát đội hình để tấn công đối thủ một cách nôn nóng. Hiện thời mấy chiếc Hellcat cũng làm giống y vậy. Chúng trở nên hỗn loạn, cố tránh né hoả lực và đụng chạm với đồng đội hơn là với chúng tôi. Chúng tôi bay chính giữa một nhóm Hellcat đông đảo khủng khiếp, và mặc dù đối phương lâm vào tình cảnh hỗn tạp, chúng tôi cũng không thể nào tìm thấy lối thoát. Chúng tôi đã ở cách Iwo Jima 400 dặm, và vẫn còn cách các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ đâu khoảng 50 dặm. Hạm đội này chúng tôi vẫn chưa nhìn thấy và không thể nào đảo mắt tìm kiếm. Cho dù chúng tôi có nhìn thấy đi nữa, làm sao lướt qua khỏi 60 chiếc Hellcat, chiếc nào cũng bay mau hơn?
Một cơ may nhỏ xảy đến. Cuộc không chiến di động về phía một đám mây dày đặc treo lơ lững trên mặt biển. Một chiếc Hellcat bỗng tách khỏi vòng vây, bỏ lại một khoảng trống. Tôi lăn tròn và đẩy hết cần điều khiển về phía trước, chúi hết tốc lực vô đám mây. Tôi liếc lại phía sau. Hai phi cơ bên cánh vẫn đeo dính lấy. Trong nhiều phút, tôi không nhìn thấy gì hết. Vẫn luôn luôn là một tâm bão bên trong những đám mây, lùng bùng những tia chớp và bùng nhùng những co giật nhấn nhồi liên hồi. Thế rồi phi cơ chúng tôi lướt ra khỏi đám mây. Tôi nhìn hai chiếc Zéro, xa phía dưới phi cơ của tôi, đang xoay tít dữ dội, nhưng trong một vài giây, chúng tôi lấy lại thăng bằng, và vượt lên.
Bầu trời không còn bóng dáng một chiếc Hellcat nào. Chúng tôi bay trong đội hình chữ V và xoay trở về hướng Nam. Chúng tôi thở phào thoát nạn, nhưng tương lai đen tối đang chờ đợi.
Những đám mây dầy đặc hơn khi chúng tôi tiến gần đến hạm đội địch. Mây trở nên dầy đặc hơn nữa, trôi là là cách mặt biển không đầy 700 bộ.
Một cơn mưa mù mịt đổ xuống, mạnh đến nỗi nhiều lần ba chiếc Zéro lâm hiểm. Mưa quật vô cánh phi cơ như một giòng thác. Nghe được cả tiếng nước trút lên cánh như có những thau nước xối ào ào.
Chúng tôi vẫn phải lướt tới. Mây càng lúc càng sà thấp xuống mặt biển. Chúng tôi xuống thấp dần chỉ còn cách mặt nước 60 bộ, là chưa đầy 20 thước, quét sát cánh lên đầu những con sóng. Bão nổi lên dữ dội hơn. Tiếng gió át cả tiếng động cơ máy bay. Mưa quật mạnh khủng khiếp trên cánh và trên thân. Chúng tôi không thể bay thấp hơn. Hiện thời chúng tôi trở nên mù hẳn. Tôi chỉ nhìn thấy màn mưa bao quanh. Không nhìn thấy mặt nước, chỉ một đám sa mù xám, nhưng chúng tôi biết rằng chỉ cần xuống thêm chút nữa, tất cả chúng tôi sẽ biến mất trong biển cả. Ba mươi phút trôi qua. Bão vẫn không giảm. Theo bản đồ, tôi phỏng định phi cơ đang hướng thẳng đến lực lượng đặc nhiệm của đối phương. Ðệ Ngũ hạm đội của Ðô đốc Mitscher. Ngay cả một hạm đội đồ sộ như vậy mà chúng tôi cũng không thể nào tìm thấy. Bầu trời càng lúc càng u tối. Ðã bảy giờ chiều có hơn. Chân trời trở nên ám làm tôi lo lắng. Cho dù chúng tôi lướt khỏi giông bão, bầu trời đang tối nhanh chóng sẽ khiến chúng tôi không thể nhìn thấy hạm đội địch… Tôi liếc nhìn hai chiến đấu cơ bám sát một bên đuôi. Hai phi công trẻ này sẽ ra sao? Họ ngoan ngoãn theo tôi, sẵn sàng chấp nhận bất cứ những gì mà tôi đã chọn. Nếu tôi chúi xuống biển, họ cũng sẽ chúi theo tôi. Làm gì đây? Tôi soát lại la bàn và đảo một vòng thật rộng. Hai chiếc Zéro vẫn theo sát phía sau. Tôi không định vị chắc chắn được vị trí của mình, bởi lẽ chúng tôi đã quần thảo với địch quân, chúi vô mây, và sau đó bay thẳng xuyên qua mưa bão. Tôi có thể ở bất cứ một nơi nào đó trên mặt biển… ngay cả đánh vòng 180 độ vừa rồi có thể đưa chúng tôi về hướng Nam thay vì về Iwo Jima. Nhưng tôi phải quay lại mục tiêu, tôi phải cố gắng!
Lời nói cương quyết của đại tá Miura lại vang đến bên tai tôi “… cả nhóm phải chúi xuống các hàng không mẫu hạm địch!”
Tôi hầu như muốn quày phi cơ trở lại để tìm kiếm chiến hạm địch. Tôi vẫn là một sĩ quan Hải quân Hoàng gia, nơi mà mạng lịnh vẫn là cái gì tuyệt đối. Chưa từng nghe nói đến có sĩ quan đặt câu hỏi, đúng hoặc sai, trước những mạng lịnh được ban ra. Cho dù tôi trở về Iwo Jima được, làm sao tôi có thể đối diện với vị chỉ huy trưởng vừa giao nhiệm vụ cho mình?
Tất cả là một sự giằng co trong cùng cực tuyệt vọng. Cho đến nhiều năm sau này tôi mới hiểu hành động khi ấy của mình là một hành động có ý thức. Nhưng ngay lúc đó, qua nhiều năm chịu đựng thứ kỷ luật cứng rắn và tàn nhẫn, sự giằng co của tôi không thể nào tả xiết. Qua những giây phút khủng khiếp trong phòng lái của chiếc Zéro này, tôi đã chiến đấu và đã thành công trong việc phá vỡ hệ thống chỉ huy và truyền thống của Hải quân.
Cho dù cả ba chúng tôi có tìm thấy chiến hạm địch, cho dù chúng tôi vượt khỏi vòng vây nghênh chiến của chiến đấu cơ Hoa Kỳ, cho dù chúng tôi chúi xuống chính xác, chúng tôi sẽ đạt được kết quả gì với ba chiếc phi cơ nhỏ nhoi, không mang bom, chỉ có một số đạn đại bác và đại liên? Hai phi công trẻ tuổi bay theo tôi, đã giao phó tính mạng của họ trong tay tôi, họ đã chứng tỏ tài ba tránh né phi thường của họ trong cuộc đụng độ vừa qua. Họ đã không lùi bước khi bay xuyên qua một cơn mưa bão. Mạng sống của họ phải dành cho một nơi tốt hơn là đâm đầu xuống biển. Họ thuộc về xứ sở Nhựt, họ phải có dịp may để bay và chiến đấu trở lại. Do đó là quyết định của tôi. Phải quay về Iwo Jima. Ðại dương đã biến mất trong màn đêm. Tôi tuyệt đối không còn nhìn thấy một vật gì nữa phía dưới. Tôi chỉ nhìn thấy những vì sao chiếu lấp lánh trên bầu trời. Gần một giờ trôi qua, chúng tôi vẫn lướt tới. Giây phút của định mạng. Nếu tôi bay đúng hướng, bây giờ Iwo Jima sẽ ở phía dưới tôi. Nếu không… tôi chưa bao giờ cảm thấy nỗi lạnh lẽo nào như nỗi lạnh lẽo của đại dương ôm choàng lấy khi chiếc Zéro đâm đầu xuống. Và không chỉ lúc đâm xuống mà là cả một sự lạnh lẽo thê thiết trên đường về. Chúng tôi đơn độc. Sứ mạng thất bại. Mạng lịnh bất tuân và còn đang gian nan tìm sống…
Nhiều phút nữa trôi qua. Thời gian như nhích từng kim giây. Tôi hướng mắt về phía chân trời, hy vọng nhìn thấy một vật gì, một chấm màn đêm nổi bật lên bầu trời đầy sao. Vật gì đó đã thấy kia rồi. Nó đen và to lớn khác thường. Iwo Jima! Chúng tôi đã trở về!
Tôi chúi mũi xuống, Shiga và Shirai tiếp theo sau. Iwo bao trùm trong bóng tối khi chúng tôi đảo phía trên. Thế rồi bốn ánh sáng leo lét xuất hiện. Ðó là những ngọn lửa huyền diệu, kỳ bí khôn cùng đối với tôi. Những ánh đèn hiệu dọc theo hai bên phi đạo chánh. Chúng chớp tắt, báo hiệu cho phi cơ đáp xuống. Những người trên đảo đã nhận ra tiếng động cơ của chúng tôi. Một cảm giác nhẹ nhõm tràn ngập trong tôi. Tôi hầu như mềm lả, sự căng thẳng trong suốt ba giờ bay trở về đã bất thần chùng lại.
Bốn ngọn đèn không soi rõ phi đạo. Thường thường chúng tôi sử dụng 20 ngọn, nhưng 16 ngọn đã bị bom phá hủy. Bốn ngọn hay bốn mươi ngọn đèn, đối với tôi cũng vậy thôi. Sau những gì mà chúng tôi đã bỏ lại sau lưng, tôi cảm thấy có thể đáp xuống trong bóng tối. Thế rồi tôi đáp xuống, lướt trên sân bay với hai chiến đấu cơ liên tiếp theo sau. Ðèn tắt.
Một đám đông phi công và cơ khí viên chạy ùa ra phi cơ của chúng tôi. Khi họ tới, tôi nhìn họ một thoáng. Tôi cảm thấy không được tự nhiên khi đối diện với họ. Tôi nhảy xuống đất và bước đến Bộ Chỉ Huy. Ðám đông không ai cố giữ tôi lại. Mọi người đều biết cảm nghĩ của tôi, họ tránh sang một bên khi tôi bước ngang qua phi đạo với hai phi công bên cánh theo sau.
Trong bóng tối, tôi đụng phải một người. Tôi thụt lùi. “Ai đó?” Tôi hỏi lớn. Không có tiếng trả lời. Tôi bước lại người tôi vừa đụng, hắn ngồi bệt trên mặt đất. Tôi có thể nhận ra bộ đồng phục phi công. Tôi cúi xuống nhìn mặt hắn.
“Muto!”
Viên phi công ngồi cú rũ, đầu gục trên đôi tay.
“Muto, anh bị thương hả?”
Muto ngước nhìn tôi. “Không,” hắn thẫn thờ đáp. “Tôi không bị thương.”
Hắn đứng dậy và nhìn Shiga và Shirai một cách lạ lùng. “Anh … anh mang về cả hai phi công bên cánh của anh!” Hắn thở hổn hển.
Hắn nhìn xuống đất, bật khóc. “Sakai… Hãy chửi rủa vào mặt tôi đi. Hãy phỉ nhổ tôi đi!”
Nước mắt hắn đầm đìa trên mặt. “Tôi bắt buộc phải quay về”, hắn hét lên trong sự đau lòng. “Một mình!”. Tôi nắm vai hắn. “Tôi biết cảm nghĩ của anh, Muto. Nhưng bây giờ không thể làm gì hơn nữa. Quá muộn. Tất cả đã trôi qua. Ðã là quá khứ”.
Ghi chú quân sự:
Phóng pháo cơ Nakajima B5N1
Máy bay phóng ngư lôi làm nên chiến thắng Trân Châu Cảng 1941
Phi hành đoàn 3 người gồm phi công, hoa tiêu ngư lôi và xạ thủ đại liên.
Vận tốc tối đa: 367 km/h, Trần bay: 8,260 m
Động cơ 1,000 mã lực, Tầm xa: 1,935 km
1 trọng liên 7 ly 7 ở vị trí thân sau.
1 thủy lôi 800 kg hoặc 3 bom 250 kg.
Tôi lay vai hắn nhè nhẹ, và chỉ Bộ Chỉ Huy: “Muto, chúng ta cùng vô trong đó.”
Hắn gật đầu. Chúng tôi không nhìn nhau. Và rồi có một vật gì chận lấy tim tôi. Cơn thịnh nộ trước những gì xảy ra trong cái ngày khủng khiếp này đã nguội lạnh trong tôi bỗng nhiên nổi dậy. Tôi nghĩ những giọt nước mắt của viên phi công trẻ tuổi đầy hứa hẹn này là những giọt nước mắt lo sợ. Lo sợ sẽ là một tên hèn nhát trước một nhiệm vụ ngu xuẩn.
Tôi thề rằng, bất kể vấn đề gì xảy ra, nếu một tên sĩ quan nào trút giận lên mình viên phi công trẻ này, tôi sẽ hạ gục hắn. Tôi sẽ nhồi hắn thành bột. Tức khắc.
Ðại tá Miura ngồi trơ sau bàn làm việc. Ông lắng nghe chăm chú khi tôi báo cáo, trình bày những gì xảy ra. Ông nhìn tôi chăm chú rồi bình thản nói: “Cảm ơn anh, Sakai!”. Chỉ mấy tiếng vậy thôi.
Tới phiên Muto trình bày. Dĩ nhiên, những gì hắn trình bày đều xác nhận những lời tôi vừa nói, cũng chỉ có bốn tiếng. “Cảm ơn anh, Muto!”
Chúng tôi đập gót giày, chào cáo từ. Ðại tá Miura vẫn ngồi bất động, gương mặt u tối, đôi mắt bi thiết. Tôi cảm thấy buồn cho ông ta, người đã ra lịnh cho thuộc cấp thi hành một nhiệm vụ thất bại trước khi bắt đầu. Nhưng phải ra lịnh, bởi vì ông ta không còn cách nào khác để chọn, bởi vì đó là cách duy nhất cho xứ sở của ông.
Khi chúng tôi bước ra khỏi Bộ Chỉ Huy, một người chạy theo chúng tôi. Ðó là Trung tá Nakajima. Ông đưa hai tay nắm vồ lấy vai tôi, khuôn mặt rạng rỡ. “Sakai!” ông kêu lên. “Sakai! Tôi hết mong anh trở về!” Tôi muốn nói, nhưng Nakajima chận lời:
“Anh không cần biện hộ. Anh không có gì phải biện hộ. Tôi biết anh quá nhiều, bạn của tôi ơi… Ai ở trên hòn đảo này cũng biết những gì đã xảy ra hôm nay, do đó, việc duy nhứt của anh phải làm là trở về. Và anh đã trở về. Ðừng nhăn nhó nữa! Chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội, chúng ta vẫn còn có thể đánh nữa mà! Anh về được là hay lắm rồi!”.
Những lời của Trung tá Nakajima làm tan băng giá trong tim tôi. Tôi không còn cô độc. Nhưng những lời tử tế của ông cũng không thể nào đẩy lui hoàn toàn cơn phẫn nộ trong lòng tôi.
Các phi công khác chạy ùa đến với chúng tôi, tay mang lề mề thuốc hút, kẹo bánh và những thức ăn khác. Chúng tôi chỉ nói cám ơn và từ chối. Tôi không sao nuốt nổi một miếng nào vô họng. Một giờ sau, một liên lạc viên chạy vô phòng tôi: “Một công điện vừa nhận được từ phía Nam Iwo,” hắn la lớn. “Một trong những phóng pháo cơ vừa đáp xuống đó. Phi hành đoàn an toàn!”
Viên phi công tuông hết thủy lôi và quày phi cơ chạy về. Hắn biết rằng dẫu hắn có cố gắng một ngàn năm đi nữa cũng không thể nào chui lọt bức tường lửa do những chiếc Hellcat tạo ra.
Tin tức hầu như xoá hết sự căng thẳng. Nó cho thấy rằng không phải chỉ có tôi và Muto đã chặt đứt “sợi dây xích rắn chắc” của truyền thống và mạng lịnh.
Tôi bước vô lều của mình với một ý nghĩ duy nhất. Tôi đã trở về với Hatsuyo.
Bốn tháng sau phi vụ – không trở về – của Sakai, Phi Đội Tấn Công Đặc Biệt Thần Phong mới chính thức ra đời, do Phó Đô đốc Onishi thiết lập ở Phi Luật Tân. Trước khi tung ra các phi cơ tự sát, Onishi đã hội ý với các phi công dưới quyền để nhận một sự đảm bảo toàn phần rằng họ sẽ hy sinh mạng sống để bảo vệ xứ sở. Các cuộc tấn công cảm tử trước khi được tung ra phải trải qua nhiều sắp xếp phức tạp, như những phi cơ thi hành nhiệm vụ phải còn trong tình trạng khả dụng và chất đầy bom, cũng như được các chiến đấu cơ hộ tống đến tận mục tiêu. Các phi công hộ tống nhận chỉ thị đặc biệt phải quay về căn cứ để báo cáo kết quả cuộc tấn công do chính mắt họ trông thấy. Ở Iwo Jima, sự việc diễn ra khác hẳn. Các phi công hộ tống như Sakai nhận chỉ thị cùng chúi xuống hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ sau khi mở đường máu cho các oanh tạc cơ lao xuống. Các máy bay Zéro cất cánh từ Iwo Jima để thi hành nhiệm vụ thì hầu như đã đến kỳ phế thải. Phi vụ tháng 7-1944 của Sakai là phi vụ tự sát bắt buộc đầu tiên, tuy chưa chánh thức mang danh hiệu Kamikaze. Đại tá Miura, ban tử lịnh cho Sakai, sẽ chết ở Okinawa về sau; còn Phó Đô đốc Onishi sẽ cam tâm mổ bụng sau cuộc đầu hàng của Nhật Bản. Chương 26 trong hồi ký của Sakai, là một giằng co dữ dội giữa sống và chết. Giữa tình yêu và sứ mạng. [Trần Vũ]
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Nhiều kỳ – Kỳ 29
Chương 26
Một giờ sau, tất cả các phi công được chọn lựa thực hiện nhiệm vụ tấn công – không trở lại này – xếp hàng ngay ngắn trước Bộ Chỉ Huy. Phía sau căn lều, là một cây cột cao có treo một lá cờ đuôi nheo màu trắng rộng lớn. Trên nền trắng của lá cờ có kẻ một hàng chữ cổ: “Namu Hachiman Daibosatsu”. Có nghĩa là: “Chúng tôi tin tưởng vào vị thần chiến tranh quảng đại.”. Ðây là lá cờ phỏng theo hiệu kỳ của một chiến tướng Nhựt ở thế kỷ 16, trong thời kỳ xảy ra hàng loạt nội chiến liên tục khiến cho nước Nhựt rối loạn cùng cực.
Khi còn ở Lae, chúng tôi không bao giờ chống đỡ tinh thần bằng những “cây nạn” tâm lý như thế này. Ðối với tôi, sự phô trương có vẻ kinh tởm này là dấu hiệu của sự yếu đuối, không có ý nghĩa gì khác hơn. Nó chứng tỏ đầu óc thoái hoá của các sĩ quan cao cấp, những kẻ cố làm nổi bật họ lên bằng ánh lửa và sự dũng mãnh của những thời xa xưa, thời mà hầu hết các cuộc chiến đều được quyết định bởi tài ba và lòng dũng cảm cá nhân.
Nhưng đó chỉ là thời xa xưa. Tôi không phải là một sĩ quan tham mưu, tôi không tham dự vào bất kỳ việc soạn thảo kế hoạch mặt trận nào, tôi cũng không phải là một chiến lược gia tập sự, nhưng tôi biết chắc chắn những gì mà các sĩ quan của chúng tôi đang làm không còn phù hợp nữa. Các tướng tá của chúng tôi đang làm công việc của một loại phù thủy mới. Họ khua chiêng đánh trống để cổ võ lòng yêu nước, để cố thuyết phục không chỉ riêng thuộc cấp mà còn chính họ nữa. Ðiều này giống như chúng tôi bù đắp những thiệt hại khủng khiếp bằng cách phô trương và đe doạ “bọn Mỹ khốn nạn” bằng những lá cờ thiêng… Tại sao những sĩ quan cao cấp lại từ chối công nhận sự thật? Làm cách nào để họ ý thức rằng loại chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi, mà từ lâu họ đinh ninh là tốt nhứt thế giới, bây giờ lỗi thời về mọi phương diện so với loại chiến đấu cơ Hellcat, cũng như nhiều loại phi cơ mới khác của đối phương mà tôi chưa thấy qua.
Tôi nhìn lá cờ. Nó hiện diện ở đó biết bao ngày rồi, nhưng hôm nay, lần đầu tiên, tôi mới thực sự nhìn thấy nó. Có thể nào chúng tôi đặt niềm tin của mình vào một vật tượng trưng cho sức mạnh siêu phàm này? Nó sẽ giúp chúng tôi gặt hái chiến thắng? Nó sẽ chận đứng những tia đạn do cả trăm chiếc Hellcat bắn ra? Là một phi công chiến đấu, tôi nhận thấy tốt hơn hết là tin vào sức mạnh của động cơ và sự khéo léo của chính mình để thoát khỏi cái chết sẽ xảy ra trong gang tấc. Tôi chỉ có thể tin vào các phi công bên cánh và nhận sự bảo vệ hỗ tương của các đồng đội khác. Nếu tôi lâm trận bằng cách chỉ la lớn những câu chữ cổ lỗ ấy, tôi đã chết mục xương từ lâu rồi.
Nhưng tất cả đã biến đổi ở hiện tại. Sự khéo léo, tài ba đã từng cứu tôi nhiều lần cũng đang trở thành vô nghĩa… Không một người nào trong số 17 phi công đang đứng nghiêm trước Bộ Chỉ Huy có một mảy may hy vọng nào nhìn thấy lại người thân.
Tôi yêu xứ sở của tôi tha thiết, và tôi sẽ không bao giờ ngần ngại một phút giây nào khi phải đổi mạng sống để bảo vệ quê hương. Nhưng giữa việc bảo vệ quê hương đến hơi thở cuối cùng và việc hoang phí mạng sống khác nhau xa lắm.
“Namu Ami Dabutsu!”, “Nam Mô A Di Ðà Phật”… Là lời thì thầm của những người hấp hối để tìm sự khuây khoả và yên ổn tâm hồn khi sắp ra đi. Tôi tin vào nước Nhựt, tôi không tin cái gọi là vị thần chiến tranh khoan dung, quảng đại. Tôi muốn chết cho xứ sở của tôi nhưng chỉ chết với niềm tin của mình, với truyền thống Samurai, như là một con người, như là một chiến sĩ với tâm niệm Bushido.
Sự suy tư xoa dịu nỗi tức giận trong lòng tôi. Vào lúc Ðại tá Miura bước ra khỏi căn lều, tôi hoàn toàn vô cảm. Vị đại tá leo lên một cái bục xếp bằng những thùng đựng bia. Chầm chậm, ông nhìn khắp lượt, có vẻ buồn bã, như nhìn mặt chúng tôi lần cuối cùng.
“Các anh sẽ đánh trả đối phương,” ông cất tiếng, “Những trận đánh tự vệ chấm dứt từ đây trở về sau. Các anh là những phi công chọn lọc của Không đoàn Yokosuka, những phi công danh tiếng nhứt của Nhựt Bản. Tôi tin rằng hành động của các anh hôm nay sẽ gầy thêm tên tuổi và bồi đắp truyền thống vẻ vang của Không đoàn.”
Ông lưỡng lự một lúc. “Ðể cho danh dự vốn sẵn có của các anh trở nên bất diệt, các anh phải chấp nhận nhiệm vụ mà sĩ quan chỉ huy của các anh đã giao phó cho các anh. Các anh không thể, tôi lặp lại, các anh không thể hy vọng sống sót. Trong đầu của các anh chỉ có hai tiếng “Tấn công!” và “Tấn công!”. Hôm nay, các anh sẽ đâu mặt với một hạm đội địch được bảo vệ, dĩ nhiên bằng hàng nhiều trăm chiến đấu cơ. “Do đó, tấn công cá nhân phải được quên đi. Các anh không thể tấn công vô các mục tiêu từng người một. Các anh phải luôn luôn kết hợp thành một nhóm duy nhứt. Các anh phải đánh mở đường xuyên qua những phi cơ lên nghinh chiến của địch quân và…” Ðại tá Miura lấy tư thế đứng thật thẳng. “Các anh phải chúi xuống các hàng không mẫu hạm của địch cùng một lúc. Chúi xuống! Cùng với thủy lôi, đời sống và linh hồn của các anh!”
Tai tôi lùng bùng. Ông ta đang nói gì? Tôi có nghe đúng không? “…một cuộc tấn công thông thường sẽ là vô ích. Ngay cả nếu các anh thành công trong việc thoát khỏi màn lưới chiến đấu cơ của Hoa Kỳ, các anh cũng sẽ bị truy sát và bị bắn rơi trên đường trở về hòn đảo này. Cái chết của các anh sẽ không lợi ích gì cho xứ sở. Ðời sống của các anh sẽ bị hoang phí. Chúng ta không cho phép việc này xảy ra.”
Tiếng nói của ông làm chúng tôi chấn động. “Khi tiến đến mục tiêu, các phi công chiến đấu cơ sẽ né tránh đánh nhau với phi cơ địch. Không một phi công phóng pháo cơ nào sẽ phóng thủy lôi từ trên không xuống. Những gì xảy ra không cần biết, các anh cứ giữ phi cơ của các anh chung nhóm. Cánh sát cánh! Không một trở ngại nào có thể chận đứng các anh thi hành nhiệm vụ. Các anh phải làm sao bổ nhào xuống cùng lúc, để gặt hái sự hữu hiệu. Tôi biết những gì mà tôi nói với các anh không phải dễ làm, nếu không nói là khó thể làm được. Nhưng tôi tin các anh có thể làm được, và các anh sẽ phải làm. Ðó là, tất cả mọi người cùng chúi xuống một hàng không mẫu hạm địch cùng lúc và đánh chìm nó.”
Ông ta nhìn chúng tôi một lát rồi nói mau. “Các anh đã nhận lịnh xong.”
Tôi đứng như trời trồng! Trước đây, chúng tôi đã từng được giao phó những nhiệm vụ ít có cơ may sống sót để trở về. Nhưng ít ra chúng tôi có cơ hội tranh đấu cho chính sự sống còn của mình! Rõ ràng, đây là lần đầu tiên, một phi công Nhựt nhận được lịnh tạo ra một cuộc tấn công tự sát.
Trong hải quân chúng tôi có một quy luật bất thành văn. Theo đó, viên phi công có thể bổ nhào xuống một chiến hạm địch một khi chiếc phi cơ của hắn què quặt trên biển cả bao la, không thể nào trở về căn cứ nữa. Không chỉ có phi công Nhựt, những phi công Hoa Kỳ, Anh, Ðức … cũng làm như vậy …và sẽ luôn luôn làm như vậy bao lâu mà con người còn bay và còn chiến đấu. Nhưng chưa từng có một vị Chỉ Huy Trưởng Không quân Nhựt nào nói với các phi công của ông ta: “Hãy ra đi và tự sát!”.
Những lời nói của Miura đã gây sự xúc động dữ dội cho các phi công đứng tập họp. Trường hợp những người hy sinh đời sống của họ với sự cân nhắc, thì lời nói, dáng vẻ, sự dũng cảm phi thường cũng như kinh nghiệm chiến đấu của Ðại tá Miura sẽ gây phấn khởi tinh thần cho họ. Nhưng hiện tại lại khác hẳn. Hiện tại, họ biết rằng họ sẽ ra đi không bao giờ trở lại, những người lên không trung lần cuối. Tư tưởng tôi hỗn độn. Tôi không phẫn nộ mà cũng không tuyệt vọng. Tim tôi, trí óc tôi có thể nói là đã đông lạnh. Tôi nhớ lại câu: “Một Samurai đã sống một đời sống như vậy, hắn phải luôn luôn chuẩn bị để chết.” Tuy nhiên, giáo điều Samurai không bao giờ đòi hỏi một người chuẩn bị liên tục để tự hủy. Có sự khác biệt rất xa giữa sự tự hủy và việc bước vào cuộc chiến đấu với một ý chí chấp nhận tất cả mọi thách thức và gian nan. Trường hợp sau này, cái chết được chấp nhận và, có thể, không hối tiếc. Con người sống với chiếc đầu ngẩng cao, hắn có thể chết với dáng vẻ ấy. Hắn không chôn vùi danh dự của chính mình cũng như xứ sở, và hắn mãn nguyện khi trao cho xứ sở tất cả những gì tốt đẹp nhứt mà hắn có. Bất chấp dầu sôi lửa bỏng, bất chấp kẻ thù vượt trội, hắn vẫn chiến đấu khi cần thiết, hắn tấn công khi bị áp lực. Tất cả những điều này đã hình thành đời sống của một chiến sĩ.
Nhưng làm sao một người có thể giữ được trầm tĩnh và khách quan để ra đi tìm tự hủy trong vòng một đôi giờ?
Tuy nhiên, lịnh vừa ban ra nhắc nhở chúng tôi biết rằng chúng tôi vẫn còn ở trong hải quân, nơi mà lịnh vẫn là lịnh.
Một sự yên lặng trùm lấp khi đại tá Miura dứt lời.
Chúng tôi đưa tay chào. Ông ta quay lưng, và các phi công tụ tập thành nhiều nhóm nhỏ.
Tôi nói với hai phi công bên cánh của mình: “Các anh đã thấu hiểu lịnh của đại tá?” Họ gật đầu. “Tôi tin các anh đã sẵn sàng chuẩn bị cho những gì mà chúng ta phải làm. Ðây là chỉ thị của tôi: phải sát cánh với phi cơ của tôi cho đến khi chúng ta đến mục tiêu. Không bao giờ được phá vỡ đội hình. Những gì xảy ra chung quanh không cần biết, cứ đeo dính lấy phi cơ của tôi.”
Muto và hai phi công bên cánh đến nhập bọn với chúng tôi. Muto nhe răng cười và nói đùa: “Này, còn một vài giờ nữa chúng ta đi chết, chúng ta phải nhìn mặt nhau cái đã. Tôi muốn nhớ mấy khuôn mặt quen thuộc một cách chắc ăn.” Hắn phá vỡ sự căng thẳng, chúng tôi cười và ngồi bẹp trên mặt đất. Muto không ngớt cười đùa. Tuy nhiên, một vài phút sau, tiếng cười trở nên ngập ngừng và những lời nói đùa trở nên gượng gạo.
Nhiều phi công không có tên trong danh sách thi hành nhiệm vụ đến gặp chúng tôi. Họ mang cho chúng tôi thuốc hút, kẹo và nước ngọt. Dĩ nhiên, họ muốn làm cho chúng tôi vui vẻ, họ nói rằng họ rất tiếc đã không được chọn để ra đi với chúng tôi. Những đôi mắt mở rộng và buồn bã ấy nói thêm những lời mà họ không thể nói được. Muto thôi đùa giỡn. Hắn ngồi lặng lẽ, suy tư. Nỗi căng thẳng lại hiện ra. Ðã đến giờ cất cánh lần cuối cùng.
Ba phi công khác bước ra khỏi căn lều, và tất cả chúng tôi đi ra các chiến đấu cơ. Ðứng bên cạnh phi cơ, tôi nhìn túi dù của mình. Thế rồi, khi một người quăng túi dù của hắn xuống đất, chín phi công khác đều làm theo.
Phi cơ của tôi máy móc không được tốt vì đã bay chiến đấu ròng rã hai ngày, và năng lực thiết yếu đòi hỏi của các trận không chiến làm cho động cơ muốn rệu của nó gần cháy. Thông thường tôi không bao giờ gượng gạo cất cánh với một chiếc phi cơ trong tình trạng này. Nhưng hiện thời? Tôi lấy làm khó nghĩ. Tôi nhìn các chiến đấu cơ khác. Cơ khí viên đang sửa chữa ít nhứt 4 trong số 8 chiếc phi cơ sắp sửa thực hiện nhiệm vụ. Không phải một mình tôi gặp khó khăn.
Nhưng ai lại đi đòi hỏi một chiếc phi cơ hoàn hảo cho nhiệm vụ không-khứ-hồi này? Hãy nhớ, Sakai, đây là phi xuất một chiều. Anh chỉ cần nó lết được 450 dặm, không phải 900 dặm. Anh không trở về từ nhiệm vụ này đâu. Tám phóng pháo cơ Thiên Sơn Nakajima B6N phóng ngư lôi chạy ra phi đạo. Chiếc Zéro đầu tiên nằm trong vị thế cất cánh. Tôi chạy chầm chậm theo sau, tiếp đó là hai phi công bên cánh của tôi. Dọc theo hai bên phi đạo, các cơ khí viên và phi công khác đứng nghiêm chỉnh đầu trần, vẫy khăn vĩnh biệt khi chúng tôi lướt trên phi đạo và cất cánh. Chúng tôi bay dọc theo đội hình chữ V, và xoay hướng trực chỉ về phía hạm đội của địch quân.
Tôi quay đầu, Iwo Jima đã là một chấm nhỏ ở chân trời, càng lúc càng nhỏ hơn, cho đến khi chỉ còn là một mũi kim trên mặt đại dương bao la.
Tôi nhìn lại một lần nữa, khó thể thấy Iwo ở đâu. Chân trời lờ mờ và gợn sóng trước mắt tôi. Tôi cảm thấy váng vất.
Khuôn mặt của má tôi thấp thoáng khắp nơi trên bầu trời. Một ảo ảnh, nhưng rõ rệt quá đỗi. Bà mỉm cười với tôi. Bà không biết rằng tôi sắp chết bằng cách tự giết mình. Tôi nhìn mặt má tôi trừng trừng. Khuôn trang Hatsuyo lại hiện ra nhưng khác với má tôi vô tư, gương mặt Hatsuyo tư lự trên mỗi lượn sóng đang nhấp nhô và làm như mặt đại dương làm căng dãn nỗi lo lắng hốt hoảng ở chuôi mắt Hatsuyo, dưới vầng trán của nàng hai hàng mày nhăn nhíu cùng cực như đang phản đối tột cùng… Ảo ảnh tan dần và biến mất.
Một nỗi cô đơn vây phủ lấy tôi. Tôi như tan hẳn vào trong biển cả vô tận. Khắp nơi chỉ là trời nước mênh mông.
Tôi nhìn những chiến đấu cơ bay phía trước tôi, các phóng pháo cơ bay phía trước nữa và thấp hơn một chút. Chúng hình như không chuyển động, đứng một chỗ giữa không gian, lung lay nhè nhẹ, lên xuống rập rình trên một tấm đệm không khí căng phồng. Mọi thứ có thật không?
Tôi lắc đầu để xua đuổi sự mù mịt trước mắt. Nhạc! Hãy lắng nghe! Tiếng dương cầm. “Khúc nhạc dưới trăng”… Hatsuyo một lần đã đàn cho tôi nghe.
Hatsuyo! Khuôn mặt nàng lại hiện ra… một ảo ảnh? Tiếng nhạc lúc đầu phảng phất, rồi dần dần lớn hơn, phá vỡ hai lỗ tai tôi. Chính là bản đàn của đêm nàng đã nói: “Saburo, em muốn dạo một khúc nhạc khác, cho riêng anh. Hãy lắng nghe. Khúc nhạc ấy sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”
Tôi chưa bao giờ nói với nàng. “Hatsuyo, anh yêu em”. Tôi hét lớn. “Hatsuyo, anh yêu em!” Không ai hết. Chỉ một mình tôi. Tiếng hét của tôi thống thiết hãy còn dội trong buồng lái kín bưng. Tôi nghĩ về nàng… Tại sao tôi đã không nói với Hatsuyo? Tại sao? Tôi xoay lại nhìn Iwo Jima. Tôi chỉ thấy biển cả vô tận. Ðại dương bất tận không một đường ranh, không một ý niệm, trôi đều đặn.
Bầu trời trong xanh trở lại. Tiếng động cánh quạt quay vù vù đập mạnh vào tai tôi. Mấy chiếc Zéro giữ vững đội hình hoàn hảo, chuẩn xác, cùng nhau lướt về phía định mạng của máu và lửa. Niềm cô đơn đã tan hẳn. Chỉ còn những lời tự trách. Anh quá bi ai, Sakai! Anh là một phi công chiến đấu. Một Samurai! Nhiệm vụ… hãy làm những gì mà anh phải làm!
Tôi cố gắng sắp xếp kế hoạch cho những phút giây cuối cùng trong không gian, phương pháp nào để chúi xuống một hàng không mẫu hạm hữu hiệu nhứt. Chỗ nào yếu nhứt trên chiếc tàu? Ống khói! Chui xuống ống khói. Hay ba chiến Zéro hè nhau đâm vô lớp vỏ mỏng ở ngay mực nước? Hy vọng trên sàn tàu có nhiều dãy phi cơ, bình của chúng chứa đầy xăng, bên trong chứa đầy bom. Chúi xuống những chiếc phi cơ, bom sẽ nổ, xăng sẽ cháy, biến chiếc tàu thành một địa ngục với hàng ngàn người đẫm trong máu, vang dậy tiếng la hét và ngập tràn sự kinh khiếp.
Ðại dương trôi lướt phía dưới tôi. Chớp mắt, nhiều phút trôi qua và tôi nhìn thấy, xa về bên phải, một cột khói lả theo chiều gió, trôi chầm chậm trên mặt nước. Ðó là hòn đảo Pagan, nổi trên mặt biển khoảng 90 thước, với một nhóm núi lửa ngầm, toả hơi nghi ngút qua sức nóng lan rộng và luồn sâu dưới nước. Nó nhắc tôi, nhớ lại những hình ảnh a tỳ trong kinh Phật mà tôi từng coi qua lúc còn nhỏ. Mỉa mai thay, mảnh đất cuối cùng mà tôi được nhìn thấy là một mảnh đất lờ mờ, sôi sục, bốc lửa và gớm ghiếc.
Bốn mươi phút sau, nhiều đám mây đen xuất hiện ở chân trời, phía trước chúng tôi, cách mặt nước hàng ngàn bộ. Những đám mây ấy đang trút cuồng phong và mưa lũ xuống mặt biển phía dưới. Tôi nhìn bản đồ. Lực lượng đặc nhiệm Task Force của địch, do trinh sát cơ chỉ điểm, nằm ở một nơi nào đó dưới cơn mưa bão dữ dằn này.
Không đoàn Thủ đô Yokosuka của Sakai, từng là niềm kiêu hãnh của Không Hải đoàn Nhật Bản, với sứ mệnh cao cả bảo vệ Đông Kinh và các cung điện của Thiên hoàng. Trên đảo Lưu Huỳnh Iwo Jima, từ 90 chiến đấu cơ Zéro ban đầu chỉ còn đúng 18 chiếc sau vỏn vẹn 3 trận không chiến. Nói lên ưu thế tuyệt đối của US NAVY mà chỉ trong năm 1944 nhận 79,000 máy bay trên tổng số 110,000 phi cơ do Hoa Kỳ sản xuất. Tuyệt vọng, Đại tá Kanzo Miura quyết định tấn công không-khứ-hồi! Trung tá Nakajima, vị chỉ huy đã phát hiện ra tài năng của Sakai ngay từ những ngày đầu cuộc chiến ở Indonesia, đã trực tiếp ra lệnh cho Sakai mở đường máu lao vào các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Hơn một thượng cấp, một đồng đội thiết thân chung đơn vị, nhưng ngay cả với tấm lòng thiết tha lo lắng cho thuộc cấp, Trung tá Nakajima vẫn tiêu biểu cho tinh thần sắt đá Nhật Bản. Không thiên vị. Không tình cảm. Sứ mệnh trên hết. Chết như một Samurai. Theo tâm niệm Bushido! [Trần Vũ]
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Nhiều kỳ – Kỳ 28
Chương 25
Ngày hôm sau, tôi bị tháo dạ trầm trọng do uống nước chứa trong phuy sắt. Tất cả nguồn nước của Iwo Jima đều là nước mưa hứng rồi trữ trong đủ loại phuy, đôi khi không vệ sinh lắm. Tình trạng tinh thần của tôi cũng không khá hơn thể chất. Mất bốn mươi phi cơ vừa phi công chỉ trong một phi vụ khiến tôi choáng váng. Cuộc chiến đã xoay đủ một vòng.
Cơn bịnh tháo dạ tàn phá năng lực và đè bẹp gí tôi trên giường suốt một tuần lễ. Sức khoẻ của tôi phục hồi chậm chạp.
Buổi chiều ngày 2 tháng 7-1944, khắp doanh trại như bị giựt điện. Các liên lạc viên chạy thốc tháo từ Phòng Truyền tin đến Bộ Chỉ Huy. Tôi chận một người để hỏi và được biết các hiệu thính viên của chúng tôi vừa chặn bắt được một số công điện chuyển đi tới tấp của đối phương. Mặc dù đa số đều mã hoá, không thể nào đoán giải nổi, nhưng chúng tôi cũng biết những công điện ấy chuyển đi từ các đơn vị địch không xa hòn đảo mấy.
Một cuộc tấn công sắp xảy ra. Ðiều này rõ rệt, và sẽ xảy ra rất sớm. Tất cả phi công trình diện Bộ Chỉ Huy để nhận lịnh. Tôi không được phép bay. Vị chỉ huy trưởng cảm thấy tôi còn yếu sức, khó thể nắm vững cần lái chiến đấu cơ của mình.
Sáng hôm sau, tất cả phi công ra sân bay vào lúc bốn giờ. Nhiều trinh sát cơ cất cánh tức khắc để dò tìm tung tích địch trên đại dương. Không có việc gì xảy ra trong suốt giờ kế đó. Tôi trở về phòng để ngủ thêm. Vào lúc sáu giờ, tiếng tù và nổi lên, phá tan sự yên tĩnh của hòn đảo, báo động một cuộc tấn công của địch sắp xảy ra. Binh sĩ chạy thục mạng ngang qua sân bay đến các ụ súng, và bốn mươi chiến đấu cơ lướt ra các phi đạo để cất cánh nghinh chiến. Tôi bước ra sân bên ngoài doanh trại để coi diễn tiến.
Xa về phía Nam, có ít nhất 50 phi cơ xuất hiện, hướng thẳng về phía chúng tôi. Hellcat! Bốn mươi chiến đấu cơ Nhựt đang bay quần trên đầu, đã đổi hướng để mặt đâu mặt với các chiến đấu cơ địch. Tôi chỉ nhìn trận không chiến dữ dội được một vài phút, tai tôi bỗng ù đi vì một âm thanh khác… những chiếc phi cơ đang chúi xuống. Tôi quay đầu và nhìn thấy một phi đội phóng pháo cơ Avenger, chia làm bốn loạt, lao xuống phi đạo chánh. Cuộc tấn công của phi đội này đúng vào lúc bốn mươi chiến đấu cơ của chúng tôi đã bị nhóm Hellcat lôi vào trận đánh, nhường căn cứ hoàn toàn trống phòng vệ.
Khi tôi quay đầu chạy vô doanh trại, bom rớt nổ làm rung chuyển mặt đất dưới chân tôi. Tôi ngã chúi xuống, vùi mặt vô tro than của núi lửa. Tôi cố gắng trườn đi nhằm tránh xa những mảnh bom rít vang trong không khí. Tiếng nổ liên tục cả mấy phút. Các phóng pháo cơ lướt về phía Nam.
Tôi đứng dậy, nhìn những cột khói và bụi bốc trên sân bay. Một cuộc oanh tạc khác. Một phi đội Avenger thứ nhì lướt xuyên qua các cột khói dày đặc, chúi thẳng xuống sân bay. Các phóng pháo cơ hầu như ở ngay trên đầu tôi. Tôi quay mình và chạy bán sống bán chết, phi thân vô phía sau một hồ chứa nước mưa vĩ đại, nằm đằng sau doanh trại. Cùng lúc đó, tôi nhìn thấy những trái bom rớt ra từ bụng máy bay Mỹ. Tôi nhìn trừng trừng như bị thôi miên… Những trái bom lớn dần, to dần rồi phồng lên như chớp, thành những chiếc lu với cánh quạt ở đuôi xoay tít. Chúng chúi xuống mặt đất. Làm tôi bị hất nhào và miệng đầy bụi.
Những tiếng nổ vang dội đập vô đôi tai tôi như có cả một chuỗi pháo đại nổ sát mang tai. Tôi mở mắt, chỉ thấy đất cát và khói bốc cao khỏi mặt đất. Tôi không bị một thương tích nào, ngoại trừ mấy chỗ xây xát lúc ngã chúi xuống. Thính giác tôi phục hồi dần dần. Tôi nghe mùi lưu huỳnh, hơi xăng và cả tiếng răng rắc của dãy doanh trại đang sụp đổ, tôi thét lên “Chạy.. chạy..” vừa vội vã thoát thân khi hồ chứa nước nghiêng qua một bên.
Trận không chiến vẫn tiếp tục. Tôi lắng nghe tiếng động cơ máy bay, tiếng đại bác, tiếng đại liên vang rền. Tôi chạy đến Bộ Chỉ Huy, nhưng khựng lại và vọt vô một hầm trú ẩn khi nhìn thấy đợt oanh tạc thứ ba đang lao tới. Lần này đối phương nhắm hơi yếu. Bom rớt hết phía bên kia phi đạo. Tôi chạy đến Bộ Chỉ Huy, một căn lều vải, vẫn còn nguyên vẹn. Gặp Trung tá Nakajima, tôi nói với ông rằng tôi muốn bay. “Tất cả phi cơ khả dụng đều rời khỏi mặt đất hết rồi, Sakai”, ông đáp rầu rĩ.
Tôi chỉ một chiếc Zéro đang đậu ở cuối phi đạo. “Còn chiếc này?”, “Máy nó rệu rồi!”. Vị chỉ huy nói. “Nhưng bây giờ có lẽ sử dụng được. Bọn thợ máy đã sửa chữa mấy giờ trước đây.” Ông nhìn lên. “Ðược, bay đi!” Tôi vội vã chào và chạy ra khỏi lều vải. “Sakai!” Nakajima gọi với, tôi quay lại. “Hãy thận trọng, Sakai. Bây giờ không phải như ở Lae… hãy thận trọng! Tôi không muốn mất anh!..”
Nhưng, khi tôi cất cánh, trận chiến đã kết thúc. Những chiếc Hellcat buông nhóm Zéro để hộ tống các phi đội oanh tạc Avenger trở về. Tôi không thể làm gì hơn là quay về phi trường Iwo với những chiếc Zéro còn lại. Tổng số chiến đấu cơ Nhựt cất cánh nghinh chiến với chiến đấu cơ Hoa Kỳ đã bị bắn rơi một nửa. Hai mươi chiếc. Chỉ qua hai trận đánh, đối phương đã hạ tất cả 60 chiếc trong tổng số 80 chiếc Zéro của chúng tôi. Một con số không thể tin nổi.
Hải quân Mỹ chưa chán chúng tôi. Một lần nữa, vài ngày sau tất cả chiến đấu cơ còn lại trên đảo cất cánh. Kết quả tồi tệ hơn dự tính. Chỉ còn 9 chiếc Zéro trở về đáp xuống Iwo.
Lần này cuộc tấn công của đối phương cũng lặp lại y hệt lần trước. Các cơ sở tan nát, phi đạo đầy dấu bom. Chỉ còn lại 8 phóng pháo cơ phóng thủy lôi Jill được hầm trú ẩn bao che. Hầu hết các oanh tạc cơ hai máy Betty và chiến đấu cơ Zéro đang được sửa chữa hoặc giấu trong những hầm khác đều bị phá hủy.
Sau khi đáp xuống, chúng tôi bước nặng nhọc đến Bộ Chỉ Huy. Không ai còn nghị lực và tinh thần để bàn tán. Chúng tôi lê thân trên mặt đất, mệt mỏi và tuyệt vọng, đưa mắt nhìn binh sĩ chạy tới chạy lui trên phi đạo cố gắng lấp những hố bom, dập tắt lửa đang còn hoành hành trên mấy gian trại gần đó.
Mấy phút sau, Trung tá Nakajima chậm rãi bước vô Bộ Chỉ Huy. Chúng tôi đứng nghiêm. Nakajima khoát tay, biểu chúng tôi ngồi xuống. Ông có vẻ kích động, tuy giọng nói nhỏ và do dự. Ông nói với chúng tôi rằng các sĩ quan tham mưu đã thảo luận suốt đêm, và tất cả đều đồng ý với phương cách chống lại kẻ thù mà chúng tôi sẽ phải thực hiện trong tương lai. Một nhóm sĩ quan nhấn mạnh rằng nếu chúng tôi cứ tiếp tục ngăn chặn các cuộc tấn công của đối phương, một vài ngày nữa chúng tôi sẽ không còn một chiếc máy bay nào. Do đó, chỉ còn một hành động duy nhứt mà chúng tôi phải làm là dốc toàn lực đánh trả đối phương. Một trong những trinh sát cơ của chúng tôi đã phát hiện ra một lực lượng đặc nhiệm Mỹ cách phía Ðông Nam của Iwo Jima 450 dặm, và chúng tôi có thể tấn công Task Force này.
Nhóm sĩ quan tham mưu thứ nhì đồng ý kế hoạch tấn công trên nguyên tắc. “Nhưng”, họ lý luận, “chỉ với 9 chiến đấu cơ và 8 phóng pháo cơ Jill một máy, chúng ta có thể nào chống lại lực lượng đặc nhiệm của đối phương hay không? Các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ có thể tung hàng nhiều trăm phi cơ nghinh chiến cùng một lúc!” Nên biết lực lượng mà chúng tôi tấn công là lực lượng đã quét sạch tất cả các phi cơ thuộc các hàng không mẫu hạm Nhựt ở quần đảo Mariana vào ngày 20 tháng Sáu. Cũng chính Task Force này chiếm lại Guam.
Cuộc thảo luận, Nakajima nói, cuối cùng đã đưa ra kết luận khi chỉ huy căn cứ Iwo, Ðại tá Kanzo Miura, chấp nhận kế hoạch đánh trả hạm đội Hoa Kỳ. Miura định ngày phát xuất của chúng tôi là trưa ngày 4 tháng Bảy, đúng ngày lễ kỷ niệm Ðộc Lập của Hoa Kỳ.
Chúng tôi không bao giờ thực hiện được kế hoạch dự trù. Các phi công Hoa Kỳ đã hung hăng trở lại Iwo vào sáng ngày 4 và xé nát các cơ sở của hòn đảo thành manh mún. Chúng tôi không sao cất cánh nổi. Các phi đạo đều tê liệt. Sau cuộc không kích chúng tôi ngồi quanh Bộ Chỉ Huy, trong khi các sĩ quan tham mưu thảo luận bên trong. Ðại tá Miura (sau này chúng tôi biết được vẫn không thay đổi kế hoạch), “Chúng ta đang kiệt quệ dần,” ông nói với Bộ tham mưu của ông, “sự kết thúc đã nhìn thấy rõ rệt nếu chúng ta cứ tiếp tục nằm trong thế thủ. Chúng ta sẽ làm gì? Ngồi đây để nhìn chiếc phi cơ cuối cùng bị bắn rơi trong khi hạm đội của đối phương vẫn còn nguyên vẹn? Không! Chúng ta sẽ tấn công, ngay hôm nay! Ngay khi các phi đạo được sửa chữa, tôi muốn tất cả các phi cơ rời khỏi mặt đất.”
Trung tá Nakajima đã kể lại chi tiết của buổi họp cho chúng tôi nghe. Ông kết luận: “Tôi ý thức nhiệm vụ mà chúng ta sắp thực hiện. Không có cách nào khác hơn: các bạn sẽ bay để chết. Nhưng,” tới đây ông do dự, “quyết định đã được đưa ra. Các bạn sẽ phải đi.”
Ông nhìn đôi mắt của mỗi người. “Và có lẽ may mắn vẫn theo một bên các bạn.”
Vị trung tá rút ra một tờ giấy trong túi áo và đọc tên những phi công được chọn để thực hiện phi vụ này, một phi vụ không có lượt về.
Ghi chú quân sự:
Oanh tạc cơ 2 máy Mitsubishi G4M2A hỗn danh “Betty” (Người yêu bụ bẫm)
Phi hành đoàn: 7 nhân viên và hoa tiêu
Dài: 19.6 m, Cao: 6 m, Sải cánh: 24.9 m
Trọng lượng tối đa: 12,500 kg
2 động cơ 1,850 mã lực
Tốc độ tối đa: 437 km/h
Đường kính 4,725 km, trần: 8,950m
2 đại bác 20 ly, 4 đại liên 7 ly 7
800 kg bom hoặc ngư lôi
Cách mã hóa của Không quân Hoa Kỳ mang quy luật bất thành văn là đặt tên nữ cho các phóng pháo cơ, oanh tạc cơ, trong lúc dùng tên nam cho các khu trục cơ và thủy phi cơ. “Betty” mang nhiều nghĩa: Gốc sồi của thượng đế trong tiếng Do Thái cổ hoặc Bate hay Baty trong cổ ngữ Ái Nhĩ Lan, nhưng với phi công Mỹ, Betty là cô bé bụ bẫm vì là một oanh tạc cơ mập mạp chứa nhiều bom, mỏng manh do không bọc thép nên dễ bốc cháy. Ngoài “Betty”, oanh tạc cơ hai máy này còn nhiều tên khác: “the flying lighter”,”one-shot lighter”, “the flying Zippo” hoặc “the flying cigar”. Nhìn chung, cho đến đầu thế chiến thứ nhì, oanh tạc cơ Betty khá đa năng, bay tương đối nhanh, tầm hoạt động xa, có khả năng oanh kích bằng bom vừa phóng ngư lôi. Chiến tích lớn nhất của “Betty” là đã cất cánh từ Tân Sơn Nhất đánh chìm hai thiết giáp hạm Prince of Wales và Repulse của Hoàng gia Anh ngoài khơi Tân Gia Ba. Betty thành quan tài bay khi US Air Force xuất xưởng các phi cơ bay nhanh và võ trang mạnh.
Không hề có một sự phấn kích nào ở nhóm phi công. Mỗi người nghe đọc tên đã đứng dậy và đưa tay chào. Tên tôi đứng hàng thứ chín trong sanh sách. Tôi sẽ cầm đầu nhóm phi cơ thứ nhứt, gồm 9 chiến đấu cơ Zéro. Muto, phi công ưu tú của không đoàn, cầm đầu nhóm thứ hai. Nakajima chỉ định một vị đại úy cầm đầu cả phi đội.
Nakajima bước đến tôi, hiển nhiên là không mấy vui vẻ. Ông đặt tay lên vai tôi. “Tôi rất buồn phải để anh đi hôm nay, người bạn thân lâu năm của tôi.” Ông ấp úng nói. “Nhưng, tôi không thể nào làm khác hơn, Sakai … Tôi… …chúc anh gặp may mắn.” Tôi lặng thinh. Tôi đưa tay ra. Chúng tôi siết lấy tay nhau trong lặng yên, còn lời nào để nói nữa? Chính Nakajima đã đem tôi từ Bali đến Lae. Mang tôi từ Lae đến Rabaul. Chính ông đã dùng tay cào đất khi tôi bị bom chôn sống ở Lae. Chính ông đã hân hoan la lớn, cùng với Ðại úy Sasai hét vang tên tôi khi tôi quay về Rabaul dù thui chột một mắt. Tự tay ông viết thư cho bịnh viện nhãn khoa gửi gắm tôi cho bác sĩ giỏi nhất. Cũng chính ông tranh đấu cho tôi thăng cấp từ trung sĩ lên thượng sĩ rồi chuẩn úy. Ông đã làm tất cả. Giờ ông buột phải ra lệnh cho tôi lao vào một phi vụ không khứ hồi. Cảm ơn hay từ chối? Trong Hải quân Hoàng gia Nhựt không có từ chối nhiệm vụ. Bất khả. Cả hai chúng tôi cùng biết. Trung tá Nakajima chỉ định tôi cầm đầu toán thứ nhứt, vì ông còn hy vọng tôi mở được đường máu cho các phóng pháo cơ Jill lao vào tàu chiến Mỹ. Tuy ông biết rất ít khả năng quay về. Trung tá siết lấy vai tôi, lắc lắc, như ông muốn thêm gì nữa, nhưng rồi ông quay lưng và bước đi.
Chúng tôi giải tán, không ai nói tiếng nào. Các phi công được chọn thực hiện nhiệm vụ bỏ lại hết các vật dụng tùy thân. Tôi nhìn một vài thứ mà tôi mang theo đến Iwo. Bày chúng lên giường. Những vật dụng để lại này sẽ được gởi về cho gia đình, má tôi sẽ phản ứng ra sao khi người ta trao cho bà những thứ này và kể cho bà nghe câu chuyện đã xảy ra? Tôi không muốn nghĩ tới, thắt quanh lưng khăn lụa mà Hatsuyo và Fujiko đã đứng xin trong trời buốt giá một ngàn mũi kim thêu của một ngàn phụ nữ Nhựt băng qua đường, để làm chứng lòng thành cho tôi tránh được tên đạn. Tôi cầm lấy những lá thơ sau cùng của Hatsuyo. Nàng đã nhận bưu thiếp tôi gửi trước khi rời Yokosuka. Hatsuyo biết tôi đồn trú ở Iwo, nàng viết thơ cho tôi mỗi ngày. Với tất cả chăm sóc của một em gái. Tôi nhận thơ khi có chuyến tiếp tế, có khi nhiều lá thơ đến cùng lúc. Tôi cảm giác Hatsuyo sống bên cạnh mình, nàng ở đây trên đảo Iwo. Tôi sờ các lá thơ, như nắm các ngón tay nhỏ của Hatsuyo để nói lời vĩnh biệt. Rồi tôi bó hết những lá thơ và buộc chung với túi vật dụng cá nhân sẽ được trao cho má tôi. Tôi viết cho má tôi vài chữ, nói con sẽ phù hộ cho má và dặn má tôi trao các lá thơ lại cho Hatsuyo rồi tôi không biết viết gì nữa… Tôi muốn viết cho Hatsuyo là tôi đã quyết định đúng, vào đêm trước khi đánh đàn, nàng nói: “Saburo, em muốn dạo một khúc nhạc khác, cho anh. Khúc nhạc sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.” Ít nhất tôi không làm Hatsuyo thành một bà góa. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm là đã tránh cho nàng một thảm kịch. Nhưng tôi không viết được, ngón tay run run vì ngần ngại. Tôi đã chẳng cố làm ra vẻ không hiểu nàng muốn bày tỏ tâm sự gì qua khúc nhạc đó hay sao? Và hãy để nàng thanh thản không có nhiều quá khứ khi kết hôn với một tấm chồng xứng đáng. Tôi quẳng bút rồi tất bật vận áo phi hành vì thì giờ trôi qua quá mau. Thật mỉa mai, tôi nghĩ, là chỉ mới một đôi ngày trước đây, tôi còn giành giựt mạng sống với 15 chiếc Hellcat. Và giờ thì tôi không giành gì nữa…
Muto bước vô căn lều của tôi và hỏi tôi có ý kiến gì về nhiệm vụ này không? Tôi nhìn hắn hồi lâu. “Muto, tôi… tôi không biết. Ý kiến gì? Có ai hỏi ý kiến của chúng ta đâu! Khi chúng ta bay đến chiến hạm địch vào trưa nay, chiến đấu cơ địch sẽ bu lấy chúng ta. Tất cả những gì mà tôi có thể nói là… chúng ta đã nhận lịnh. Chúng ta sẽ đi. Và thi hành …thế thôi.”
Tôi cảm thấy buồn cho viên phi công trẻ tuổi này. Cá nhân tôi không còn lợi ích mấy cho xứ sở nữa. Những khó khăn mà tôi đã trải qua trong việc né tránh bọn phi công Mỹ thiếu kinh nghiệm, cho tôi sự xác tín rằng đời sống nửa đui nửa sáng của tôi có kéo dài cũng chỉ kéo dài một hai ngày một hai bữa. Nhưng Muto… hắn là sự phối hợp của Nishizawa, Ota và Sasai. Một phi công tài ba sáng chói. Hắn không thuộc thế hệ của chúng tôi. Quẳng hắn vô một nhiệm vụ vô vọng như thế này quả là ngu xuẩn. Hắn có thể làm hơn nữa trong việc bảo vệ xứ sở. Còn hiện thời… hoang phí biết bao.
Dĩ nhiên Muto không biết tôi đang suy nghĩ gì. Hắn cười sau lời nói của tôi. “Ðúng lắm, Sakai. Tôi biết. Nếu Thượng đế vui lòng…” hắn nhún vai. “Nói cách khác, xin Thượng đế hãy để cho chúng ta ít ra là được chết chung với nhau, như những người bạn.”
Muto bước ra, tôi theo hắn ra khỏi lều. Iwo vẫn nồng mùi lưu huỳnh và biển vẫn ngay sát, xanh trong trên cát đen. Những hàng dừa lả ngọn trong tiếng xì xào của gió. Các lao công Ðại Hàn vẫn đang đào đất xây công sự phòng thủ. Các toán lính vẫn đang đánh bắt cá làm thức ăn nhưng chúng tôi đã hoàn toàn thoát ra khỏi Iwo Jima, không còn trong cảnh vật đó nữa. Với những kẻ chỉ còn vài giờ để sinh sống, Iwo Jima đã biến mất.
Tui có may mắn đọc được một bài tựa là: “Chuyện cuối tuần” viết ngày 15-7-2022. Tác giả là một nhà văn Miền Bắc, sau 75 hiện sống ở Leipzig bên Ðức. Ổng là một nhà phê bình văn học nổi tiếng.
“Ông nói ở Ðức khổ nhất phải đi đám cưới, khi hai gia đình thông gia là kẻ Bắc, người Nam. Khổ hơn nữa, hai ông bố của cô dâu, chú rể trước đây, Hai Cảnh người là lính Nam (VNCH), Vinh (Cuội) người lính Bắc (bộ đội).”
(Nick name, tục danh, là Cuội? Chắc tay bộ đội tên Vinh nầy cứ mở mồm ra là bố láo. Vì Miền Bắc có cái thành ngữ là: “Nói dối như Cuội”. Sau nầy bà con mình ngoài Bắc hiệu đính câu nầy thành “Nói dối như Vẹm” cho nó chính xác hơn. Vì Vẹm là bọn CS đấy ạ.)
“Hai Cảnh tù cải tạo CS về vượt biên, vượt biển được tàu Cap Anamur của Ðức vớt, rồi định cư ở Rheinland-Pfalz.
Còn Vinh Cuội sau tháng 4-1975 giải ngũ, vật vờ, với cái đói triền miên, buộc gã phải bán mảnh đất ông bố vừa chia cho, chạy chọt, hối lộ mãi mới được sang Ðức, trở thành bạn cày thuê cuốc mướn cùng tôi.”
(Năm 1986, sau 10 năm dưới ách cai trị của CS, cả nước đói nhăn răng. Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng Bí Thư buộc phải đổi mới bằng cách xua đám bộ đội phục viên đang thất nghiệp (kẻo kiêu binh, nó quậy là bố mầy cũng chết) đi qua Ðông Ðức làm cu li cho Erich Honecker. Nguyễn Văn Linh làm cai đầu dài bán nô lệ lao động để ăn tiền đầu một mớ, mớ còn lại dùng trả nợ cho Ðông Ðức. Tiền nầy Lê Duẩn mượn để mua súng ống đi cướp Miền Nam.
Muốn được đi “xuất khẩu lao động” ở Ðông Ðức phải bán đất mới có tiền đút lót là không có căn.
Trước năm 1986, lúc Lê Duẩn đi chầu tiên tổ Mac Lenin, đất Miền Bắc còn thuộc Hợp tác xã. Ruộng 5% diện tích không bao nhiêu. Giá đất không mắc như bây giờ. Chỉ bọn quan chức không cần bỏ tiền ra mua, chúng cướp, cướp đất dài dài cho tới bây giờ.)
“Trời xui đất khiến thế nào đó, (khoảng đầu những năm 2000) con của Vinh Cuội và Hai Cảnh quen, rồi yêu nhau, khi cùng học ở Universitat Mannheim.” Nhưng đám con trẻ đã ăn cơm trước kẻng, gạo nấu nhão thành cơm. Do vậy, buộc hai gã phải ngồi lại, giải quyết một mầm sống sắp ra đời, bằng một đám cưới cũng ra trò, dù trong lòng rất ấm ức.”
(Chuyện nầy cũng không chánh xác 100%. Các nước phương Tây tụi nhỏ sanh đẻ ở đó nhứt là đã đại học, chúng lấy nhau vì yêu! Chớ không phải vì cái vụ cô dâu đội nón sắt trước bụng mới phải cưới nhau theo quan niệm cổ hủ của Việt Nam.
Ngay cả Ðệ nhứt phu nhân của Úc sống chung với Thủ tướng Anthony Albanese có cưới hỏi gì đâu?
Mần văn là mình được quyền hư cấu. Ðược quyền đặt dóc nhưng dóc phải có căn. Phải căn vào cái phong tục tập quán của nhân vật trong truyện chớ không phải của mình.
Rồi ông viết là: “Ðang chuyện trò với Tú Gái, chị Lan (vợ Hai Cảnh) chạy đến kéo tay tôi: “Hai lão đang diễn võ dương oai, em sang ngay, không bát đĩa bay khắp nhà bây giờ!”
Diễn võ dương oai là sai. Phải nói diệu (hay diễu) võ dương (giương) oai, có nghĩa là phô trương uy thế và sức mạnh.
Vợ Hai Cảnh là người Miền Nam thì không dùng chữ bát đĩa bay khắp nhà theo kiểu người Bắc đâu ông. Họ dùng chữ chén dĩa. Dân hát vọng cổ mà ông Ðỗ Trường gán vô miệng họ Chèo cổ Bắc Phần thì nghe sao được nè?
(Miền Nam không nói “văng tục” đâu thưa ông. Họ chửi thề. Nhưng cái nầy, theo ý tui, ông cư xử thiệt là tệ. Ông chơi đểu bằng cách gán vô mồm nhân vật Hai Cảnh để dè bỉu Nhà văn Bảo Ninh vốn thuộc phe ông: “Bảo Ninh viết xong Nỗi buồn chiến tranh thì tịt ngòi. Mấy chục năm nay có rặn được ra tác phẩm nào nữa đâu…”
Là nhà phê bình ta chỉ chú trọng tới tác phẩm của nhà văn. Ta không chê họ không viết nữa là vì bị tịt ngòi. Cái chuyện nhà văn viết nữa hay không là quyền tự do của họ.
Rồi ông lại gán vô miệng Vinh Cuội để chê bai Phan Nhật Nam: “Sau Dấu Binh Lửa…Dựa Lưng Nỗi Chết… vậy thì, thử hỏi từ 1975 đến nay, Phan Nhật Nam của ông có viết được tác phẩm nào cho ra tấm ra miếng không?”
“Nhất là gần đây Phan Nhật Nam ấn nhận xét của Phạm Tín An Ninh vào mồm của Ðỗ Trường, lầm lẫn một cách rất ngây ngô, khi viết bài: Về vũng lầy Văn học miền Nam sau 1975. Ông này lẫn, lẫn thật rồi…”
Thưa nhà phê bình văn học đáng kính! Nếu ông Phan Nhật Nam trích dẫn của ông nhưng lại nói là của Phạm Tín An Ninh làm ông không hài lòng thì theo tui có hai cách: Một là tự mình viết một bài cho nó rõ ngô khoai. Hai là yêu cầu ông Phan Nhật Nam đính chính. Chúng ta không nên kết luận là Phan Nhật Nam đã bước vào cái tuổi bát tuần nhầm lẫn, quên nhớ, nhớ quên là chuyện rất bình thường. Lẫn hay không là do Bác sĩ chẩn đoán rồi kết luận. Không chuyên môn thì mình đừng có xía vô. Vả lại đã làm văn nghệ, viết văn, làm thơ không có cái vụ tuổi tác đâu. Chỉ có cái đáng quan tâm là tác phẩm nó hay hoặc dở thôi thưa ông.
Rồi cái chuyện ông viết là: “Chẳng thế, mà ông Mỹ chỉ cho phép làm tổng thống đến 8 năm là kịch đường tầu đó sao!”
Nói vậy cũng sai! Tổng thống Mỹ 8 năm là ngồi lâu quá sẽ vây bè kết cánh lạm quyền như trong chế độ CS. Chớ tuổi tác không có liên quan gì tới chức Tổng thống Mỹ cả. Năm 2024, Joe Biden đã 82 tuổi, ông Donald Trump đã 78 tuổi mà cả hai vẫn tính làm Tổng thống Mỹ đó sao? Ông phê bình chê bai Bảo Ninh và Phan Nhật Nam theo kiểu gán vào mồm nhân vật của mình. Cho họ đánh rồi mình đóng vai hiệp sĩ nhào vô biện hộ. Cái chiêu đó gọi là: ‘ném đá giấu tay’. Còn gọi ‘vừa xoa; vừa đánh’. Còn gọi là ‘vừa đội; vừa đạp’. Ý tui muốn nói ông chơi vậy là chơi không có bảnh!
Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký khi đang xây dựng, sau chia một phần làm Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm – nguồn saigoneer.com
Trong bài báo có tựa là: ‘Những con đường học trò của Sài Gòn ngày xưa’ một bà nhà báo quốc doanh trong nước đề cập tới cái trường tui rành sáu câu, vì cách đây 60 năm, tui mài đũng quần thiếu điều muốn rách.
Xin chép một đoạn: “Có lẽ vì nó cõng trên lưng mình một cụm bốn ngôi trường liền kề nhau: Trung học Trương Vĩnh Ký, Ðại học Khoa học Sài Gòn, Ðại học Sư phạm Sài Gòn, Trung học Bác Ái (Cao đẳng Sư Phạm)…
Bà ấy viết Trương Vĩnh Ký, mà thiếu cái tên Thánh của ổng là vô lễ. Vì nhân dịp khánh thành tượng đồng của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse chính thức đặt tên trường là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký. Pétrus có dấu sắc vì viết theo người Pháp. Từ năm 1953, không còn dấu sắc nữa. Vì Petrus viết theo chữ Latin giống như tên trên bia mộ nhà mồ của ông ở Chợ Quán.
Hai là trường Bác Ái không thể nào nằm trên phần đất của trường Petrus Trương Vĩnh Ký cho được; vì Bác Ái học viện là trường Tàu. Trường Tàu là của xì thẩu Tàu, là khách trú, của bang Phúc Kiến thành lập vào năm 1908. Còn trường Petrus thành lập năm 1927, gần 20 năm sau. Trường Petrus Trương Vĩnh Ký là trường công lập, cất trên đất công. Bác Ái học viện là tư thục cất trên đất tư. Công tư rạch ròi! Chớ lẫn lộn tùm lum để dễ dàng bốc lủm như thời CS. Tư thục là của tư sản mại bản để lấy trường của người ta.
Qua Melbourne, đi làm ‘security officer’ (nhân viên an ninh tư nhân) ngoài ‘city’, tui có quen em Trang, xẩm lai, đẹp não nùng. Tên Úc của em là Alice. Chân Trân trong phim Mùa Thu Lá Bay phóng tác truyện của Quỳnh Dao đẹp cỡ Alice là cùng. Sau nầy tui mới biết Alice là tên nữ, gốc từ tiếng Ðức, có nghĩa là ‘cao quý’. Như Alice trong xứ sở thần tiên (Wonderland) vậy.
Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký khi đang xây dựng, sau chia một phần làm Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm – nguồn saigoneer.com
Hồi mới quen, hương chưa gây mùi nhớ, em hỏi tui hồi trước 75: “Nị học trường nào?”. Tui nói: “Ngộ học Petrus Ký ở đầu bùng binh Ngã sáu Cộng Hoà!”
Nghe vậy, em gục gặc cái đầu. “Anh nói rành rọt như vậy thì em tin anh nói thiệt. Còn sau 75, mấy tay VC mặt giống heo làm bí thơ quận uỷ quận Năm khoe là cựu học sinh Petrus, em không tin. Vì phải giỏi lắm mới đậu được vô Petrus Ký. Mặt ngu như heo vì ăn cám sú mà khoe xạo là cựu học sinh Petrus Ký, là đỉa đòi đeo chân hạc, em không tin!”
Nghe em khen trường tui, cùng lúc xài xể tụi nó, tui lấy làm hả dạ hết sức. Tui đắm đuối nhìn cái mái tóc ‘à la garçon’ kiểu Thanh Mai của em. Tui nhớ: “Mai! Anh đã yêu em một ngày. Một tình yêu quá không may!”
Tóc mai của em loà xoà ôm lấy cái cổ dài như cái cổ cò trắng muốt, điểm vài sợi lông măng. Nhìn là muốn hun một cái dài hơi cho tới hụt hơi! He he!
Alice nói: “Em nhớ dọc con đường Cộng Hòa (thời Tây là Rue de Nancy đó) trước cửa trường có trồng một loạt me tây mà em gọi là cây cồng. Em nhớ kỹ vì lúc đó em đi học trường Tàu Bác Ái học viện!” “Em mặc củn mà Tây kêu là cái ‘jupe soirée’; còn Úc kêu là cái ‘xì cớt’ (skirt) đó anh!” Trường em nằm gần trường anh. Tuy xa mà gần tuy gần mà xa.
Trời hỡi! Hai trường nằm gần nhau mà Alice và tui chẳng được gần nhau. Tui muốn lắm mà không dám liều mạng vì sợ chú ba chồng của em lấy dao chặt thịt heo quay chém tui đấy thôi. Ðành hẹn em kiếp sau ta tìm thấy nhau!
Thực vậy, Bác Ái Học Viện, tiếng Pháp: Collège Fraternité), dạy mẫu giáo, tiểu học và trung học. Nó nằm tại số 4 đường Nguyễn Trãi, Quận 5 là vương quốc của Ba Tàu.
Còn trường anh, trung học Petrus Trương Vĩnh Ký bao bọc bởi 4 con đường Cộng Hòa, Nguyễn Trãi, Trần Bình Trọng, Nguyễn Hoàng rộng hơn 8 mẫu tây.
Thập niên 1950, đất đai của trường Petrus Ký bị cắt xén, trưng dụng để cất trường Quốc gia Sư phạm, Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo Dục, trường Trung tiểu học Trung Thu cho con em Cảnh sát; vì Bộ Tư lịnh CSQG thời VNCH nó nằm trong thành Ô Ma, phía bên kia đường Cộng Hoà, để con em mấy thầy đội đi học cho nó gần.
Cơ ngơi cất hồi thời Tây dành cho học sinh nội trú; hết nội trú rồi là cắt, chia cho mỗi đứa một miếng. Ba dãy lầu lớn của trường Petrus Ký cho Ðại học Khoa học và Ðại học Sư phạm. Nhà thầy tổng giám thị làm Trung tâm Thính thị Anh ngữ. Một số khác làm nhà ở cho một số viên chức cao cấp của Bộ Giáo dục VNCH.
Rồi bả viết tiếp như vầy: “Con đường này thuở đó rộng và vắng, quanh năm phủ bóng những hàng me tây gốc to, tán rộng. Bên cạnh những hàng me tây chạy dọc phía trước, ngay cổng trường Trương Vĩnh Ký ngày đó còn có hai cây phượng, mỗi bận hè sang hoa nở đỏ rực cả một góc trời.” (Sic)
Là học trò Petrus Trương Vĩnh Ký từ năm 1963 tới năm 1966, đọc xong bài báo tui tức anh ách. Vì tui biết cái sân lót đá dăm từ cổng trước tới hành lang danh dự không có hai cây phượng mỗi bận hè sang, hoa phượng đỏ rực cả một góc trời?”
Viết như vậy là tán phét quá xá quà xa. Chỉ hai cây phượng thì làm sao mà trổ bông đỏ rực một góc trời cho được chớ?
Hai là có hai cây phượng thiệt nhưng nó không phải là phượng vĩ hoa màu đỏ; không phải màu hoa phượng thắm như máu con tim của ca sĩ Thanh Tuyền đâu! Hoa nó màu vàng nên gọi là Kim Phượng tức điệp tây. Trường Ðại học Khoa học sát bên, điệp tây rất nhiều. Không thơ mộng gì ráo! Mùa tựu trường tháng Chín, sáng sớm sâu đo thường nhả tơ trên cành xuống đất làm mấy em nữ sinh viên SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) vô giảng đường vừa đi vừa né. Vì mấy em vốn sợ sâu!
Viết biên khảo có tài liệu lại làm biếng suy nghĩ tận tường, không phân tích cho hợp tình hợp lẽ. Phang đại lan truyền những cái sai ngớ ngẩn. Viết biên khảo giống như viết sách giáo khoa. Xin tác giả đừng tưởng tượng như tưởng voi được không nè?
– Thời trước, trong chiến tranh, tôi từng làm giao liên.
Người đàn bà nói, quan sát gã trai trẻ đang ngồi thỏng tay trên ghế.
– Hiểu chữ giao liên không?Mặt đứa con trai vô cảm, như hắn là người Thái, người Căm-bốt. Giàn máy hi-fi ở góc phòng vẫn ồn ào phát tiếng, bản nhạc tình cảm của Hàn quốc lan chảy ra, xa lạ và lạc lõng.
– Tôi mang tiền hoặc thuốc tây lên núi cho mặt trận, có khi lại dẫn một vài tay ở trên đó xuống quấy phá thành phố. Công trạng không lớn gì nhưng cũng khiến một đôi kẻ lác mắt chẳng dám nhìn thẳng mặt tôi.
Sau chỗ ngồi của người đàn bà có lộng kiếng một vuông giấy vàng ố, lem luốt. Gã thanh niên không đọc ra những con chữ viết lên đó. Nó tựa mảnh bằng tốt nghiệp bổ túc văn hoá, giống bằng ban khen bám trụ kiên cường. Hoặc giả là tờ môn bài hành nghề? Mọi thứ giấy má đều giống nhau, ở cái chỗ nó chẳng có giá trị gì cả. Thậm chí khi dùng để trang trí, nó làm xấu lây những đồ vật đứng gần. Giấy có giá trị thường nhỏ hơn và chủ nhân thì chôn cất nó kỹ lưỡng chẳng dại phô trương. Nó liền với khúc ruột, mất mát thì đau đớn đến chảy nước mắt, giậm cẳng kêu than.
– Làm lon bia nữa nhé?
– Tôi uống đã nhiều rồi. Gã thanh niên xua tay từ chối.
– Anh xa quê hương bao lâu mà tiếng Việt nói ra nghe như đàn bà đang rặn đẻ?
– Tôi đi năm bảy lăm.
– Hèn gì! Bọn đàn bà con gái ở đây mà có được thứ da dẻ trắng trẻo không mụt nhọt kia thì phải biết. Người về từ đế quốc ra khác!
Người thanh niên đổi thế ngồi. Những đốm màu xanh đỏ vẫn luôn chớp nháy ở giàn máy, nhạc tình phập phồng ở hai loa, rậm rật chui vào lỗ tai. Chật cứng, bần thần. Họ bảo đấy là nhạc đương đại, họ nhắm mắt thả hồn dù chẳng ai hiểu lời nhạc ấy nói gì. Thằng Hàn quốc, con Thái lan, thảy đều có thứ ngôn ngữ rất quái đản. Và người Việt thì dường như rất hợp với những cái kỳ lạ. Nghĩ không ra!
– Bên xứ anh ở có sản sinh ra tầng lớp ma nữ không?
– Má nói chuyện gì cũng có đầu có đuôi. Đi từ A tới Z như cung cách làm ăn của tụi con… Mà ma nữ là ai vậy cà?
Ba đứa con gái vây quanh người đàn bà cùng cười. Đứa lùn mập đứa ốm cao, đứa khó coi đứa dễ nhìn. Mỗi đứa có riêng một thứ nhan sắc, chẳng trùng lẫn. Và tất cả, chúng đều gọi người đàn bà bằng má. Như thể bà ta đã có ba đời chồng và mỗi ông đều vất lại một hòn máu trước khi quất ngựa truy phong.
– Sao má không kể tiếp do đâu mà má lập nên kỳ tích để làm cán bộ?
Người đàn bà khom mình với lấy bao ba số. Vú đằng sau thấp thoáng, áo xống đằng trước che đậy hờ hững, hai thứ đều xộc xệch. Bà thắp thuốc, lim dim mắt. Mắt có kẻ đường viền màu xanh, hơi mạnh tay; như diễn viên cải lương vừa mãn tuồng ngồi thở cho lại sức.
– Ừ, thì chuyện gì cũng có nguồn cơn của nó. Phải có lực đẩy phút ban đầu. Tao vào rừng là bởi hận đời đen bạc. Thằng lính ngụy mà không hiếp dâm thì chưa chắc tao đã ra nông nổi.
– Ủa, sao có khi má lại kể là lên rừng cốt tìm cho ra cái ông đặc công đã phá nát đời con gái của má? Ổng đặt cốt mìn vô cửa tử để má phải mang bầu, chòm xóm láng giềng dị nghị chịu đời không thấu?
– Chà, mày làm như má mày chỉ có duy nhất một mối tình. Đồng chí hay ngụy tặc gì thì má mày cũng từng chung đụng qua. Mà đã là đàn ông thì thằng nào cũng giống nhau cả. Cái ấy chẳng nói ra bọn bây cũng thừa hiểu.
– Má cho con nói một câu.
– Nói đi.
– Má từng chấm điểm là con mát tay, xoa bóp có nghệ thuật. Sao không để con ra sức phục vụ anh này?
– Đi đâu mà vội, ngồi chưa nóng đít đã lo xí phần. Hãy thong thả đợi con Tiên về rồi tính.
Người đàn bà ngó lên đồng hồ treo tường. Sáu giờ chiều mà nắng còn hung hãn tợn. Nó làm màu vôi như vàng hơn, làm chiếc áo xanh của gã thanh niên như biết phát quang. Có lẽ phải hơn bảy giờ, hai ngọn đèn trong căn phòng này mới được thắp lên. Mà cũng chưa chắc, những người đàn bà ngồi đây tuồng như họ yêu chuộng bóng tối hơn.
– Anh thích ăn thức gì thì cứ bảo, để em nó đút cho.
– Tôi chưa đói. Khoảng bao lâu nữa thì Tiên về?
– Đừng sốt ruột. Nó đi “đờ-rim” chứ phải đằng vân giá vũ gì cho cam. Có ê càng mỏi lưng thì để mấy em đây xắn tay áo làm mát-xa cho.
Gã thanh niên làm thinh, cố tạo mặt lạnh. Xem chừng gã không quen làm chủ tập thể, hoặc giả do tính làm chủ cao nên rất ái ngại khi để cho con gái sờ nắn mình trước những cặp mắt suồng sả, trân tráo. Cửa nẻo đóng chặt, riêng mình với ta thì họa may.
– Kỳ cục, hôm nay là ngày gì mà tụi con thất nghiệp lâu thế này hả má? Rằm hay Mồng một?
– Mày đã hỏi thì má có bổn phận phải trả lời. Đắt địa hay ế chảy, mọi thứ ấy lệ thuộc vô tài sức của tụi bây. Hoa có thơm, có lả lơi cong cớn thì ong bướm mới tới đâm vòi hút nhụy.
– Trời ơi! Từ ngã ba đầu đường vô tới trong này mọc cả trăm chướng ngại. Bia ôm, cà phê giường, ka ra ô kê nằm, bún rờ, phở nắn, cơm mân mê… trên từng cây số. Mình là trạm chót thì không chừng phải xét lại vấn đề phong thủy địa lý thôi!
– Thúy Thanh nói vậy là sai. Hữu xạ tự nhiên hương, phải không má?
– Mèn ơi, con này xịn quá ta, biết cả xổ nho. Hán mày rộng dữ à nghen.
– Hổng dám đâu. Ở gần má tựa như ở gần đèn, đèn cháy suốt ngày thì người tự khắc phải sáng lên.
– Nói chí phải. Má còn nhiều độc chiêu, sau này ắt phải truyền thụ cho bây. Nhưng mà trước mắt mình nên tận tình phục vụ anh này chu đáo. Nói cho ngay Việt kiều cũng có nhiều hạng, đừng vơ đũa cả nắm. Má chưa từng thấy qua ai chơi bảnh như anh Tom đây. Bia thuốc khoản đãi thả giàn mà tà tâm dâm dục thì chưa hề ló mặt. Cái mới đáng nể!
Một đứa con gái đến sát bên người gã thanh niên, dựa ngực mềm sau vai Tom:
– Anh Tom. Tên nghe cũng ngộ như người. Cớ sao mà trơ như phổng đá vậy? Chị Tiên khuya khoắt mới về chẳng lẽ anh cũng bình tịnh mà ngồi thiền sao? Đã đến chốn này không lý anh khoanh tay mà chờ đắc đạo sao? Đi theo em lui nhà sau, hồi nào chị Tiên giáng trần thì anh hẳn ra gặp. Chuyện gì cũng còn có đó, nên vô tư.
Cô gái lay tay Tom. Mặt phụng phịu như đang dỗi hờn, như hoa đang cong cớn nở nhụy chờ vòi con ong châm chích. Người đàn bà góp ý:
– Em nó nói cũng có lý. Phòng sau yên tĩnh riêng tư, anh nên ngã cái lưng cho đỡ mệt.
Tom đứng lên theo tay kéo của cô gái. Lưng quần xệ ngang mông, áo thun ngắn chỉ cốt che ngực, khoảng cách ở giữa là vùng da thịt để trống dài có hơn gang tay. Lỗ rốn sâu, eo thon, những thứ ấy có thể phát điện nếu đưa tay chạm phải; trơn tuột, mời gọi những ngón tê tái ưa đi hoang. Cánh cửa gỗ chia cắt làm hai, bên ngoài thoáng nhưng lắm tiếng động, bên trong bóng tối vây kín những mùi vị ngai ngái chẳng thoát hơi. Chăn chiếu, gối mùng đều ủ hương kỳ lạ, mũi thính sẽ nhạy cảm hắt hơi như điềm báo của đứa bị nhức đầu cảm mạo. Một cái giường, độc chỉ có vậy giữa căn phòng, không có chỗ cho đồ vật khác chen chân.
– Anh ưa thắp một ngọn nến không?
– Ừ, nên lắm.
Một que diêm cháy bùng lên, trên thành giường đã có ai cắm sẵn cây đèn cầy. Đèn thổi tắt khi cháy xuống lưng chừng, hư hao phần còn lại tựa một trái chuối bị ăn phân nửa. Những giòng lệ sần sùi chảy xuống chân đứng, bám khô nơi lớp vẹc-ni nâu bóng. Biểu tượng một cuộc vui chóng nguội, không đi hết đường? Như chữ ai đó dùng: “Khóc ngoài biên ải”.
– Em là Thúy Thanh. Còn anh, Tom chắc là tên giả?
– Tại sao lại giả?
– Người Việt có ai tên Tom không ta? Đội thêm cho nó một cái mũ thành ra Tôm. Tên đó lại kỳ cục nữa. Tôm khô củ kiệu.
– Thúy Thanh. Ai đặt cho em tên nghe hay vậy?
– Má đặt chứ ai.
– Má nào? Em có mấy má?
– Hai má. Chúa dạy: Khi có ai hôn vào má này thì hãy chìa má bên kia ra.
Ngọn nến run rẩy cháy, ánh sáng nhập nhòa đập vào mặt đứa con gái. Cô ta không đẹp, hơi diêm dúa. Bẩn vì phấn son, vụng trang điểm. Toàn thể gương mặt chỉ được đôi mắt, sáng ướt, long lanh, và linh hoạt.
– Nằm xuống giường đi anh. Thư giãn, rồi anh sẽ thấy dễ chịu. Muốn hay không thì em cũng vừa cứu anh.
Mắt đứa con trai chuyển dịch xuống vùng bụng phơi trần. Gương mặt không nói rõ điều gì, thân thể cô cũng chẳng chứng thực được tuổi tác. Khó mà hiểu được khi thơ ngây trộn lẫn với già dặn. Hai mươi, hai mươi lăm, ba mươi? Nếu đã gọi là ma nữ thì xem như cô không có tuổi.
– Cứu tôi? Tom ngạc nhiên. Thúy Thanh cười, những chiếc răng không mấy trắng để lộ sau môi son bóng đỏ.
– Ở đây an toàn, ngồi ngoài kia anh sẽ điếc con ráy vì bả. Nếu cần em sẽ kể vanh vách tất cả cuộc đời má cho anh nghe. Nó đơn giản lắm, lại nữa bả chỉ có một điệp khúc mà cứ nói tới nói lui.
– Bả là Việt cọng, có đúng không? Ý anh muốn nói là ngày xưa kia.
– Đích thị. Mà đã là vi-xi thì khi nói thế này khi nói thế kia. Tiền hậu bất nhất. Cho tới giờ này không ai hiểu rõ ông nào đã phá trinh má, dồn bả vào đường cùng.
– Còn Thanh, ai phá trinh em?
– Một thằng việt kiều, như anh vậy đó. Miệng nó như thoa mỡ, có điều nó còn chút lương tâm, quẳng lại cho em năm chục đô. Nó về lại Mỹ thay vì nó trốn lên Trường sơn như trường hợp má. Còn chị Tiên? Kể em nghe đi, sao anh ưa gặp chỉ?
– Có người mách cho anh hay Tiên là người cùng quê, láng giềng xưa của anh. Anh đến đây không phải vì mục đích xấu.
Đứa con gái đè Tom nằm xuống giường, cô ngồi ngay trên bụng Tom.
– Thế nào là xấu? Bây giờ anh thích chơi trò gì cho đẹp?
– Anh không biết, cũng như chưa bao giờ anh bị người khác ngồi trên bụng mình.
– Rồi anh sẽ biết, cũng như nếu anh muốn em sẽ để cho anh ngồi trên bụng em. Không sao đâu. Người Mỹ gọi là “no star where”. Phải không anh Tom?
Tom cười. Hai tay khoanh để sau ót, gối đầu.
– Đã có bao nhiêu đứa từng ngồi trên bụng em?
– Không nhớ. Hết chuyện để đếm rồi hay sao?
– Năm, mười, mười lăm, hai mươi. Biết được cũng lợi chớ. Tự đề ra chỉ tiêu tới số 100 thì nghỉ hưu chẳng hạn.
– Nghỉ đâu sớm vậy anh, còn nước thì còn tát chớ. Không tát lấy gì ăn, tụi này đã bị đời gọi là lấy trôn nuôi miệng rồi. Chỉ “giã từ vũ khí” hồi nào gặp được một người thật xịn, cho vài trăm đô biểu làm lại cuộc đời đi cưng.
– Vài trăm là bao nhiêu?
– Hỏi chi vậy? Em cũng chưa biết, tùy thuộc vô kinh tế thị trường. Sắm một chiếc xe bán bánh mì thịt? Thuê một mái hiên ngồi bán bánh ướt? Bán nước miá hay nước rau má? Ôi, mới nghĩ thôi là đã choáng váng nhức đầu, chưa kể còn phải nai lưng dầm mưa dãi nắng, ôm hàng chạy khi bị công an rượt. Mẹ kiếp cuộc đời.
– Fuck! Tê chân rồi. Em đừng có lấy thịt đè người chớ.
Đứa con gái đặt mông xuống chiếu nhưng hai tay vẫn sờ soạn ve vuốt người thanh niên.
– Anh không giống những đứa từng nằm trên giường này. Trời sinh ra hai tay anh để làm chi?
– Em muốn nó phải làm gì nào?
– Trước hết, moi túi chi cho em ít tiền rồi em dìu anh đi từ a tới z. Từ lạnh tới nóng, từ chân tu đến ma vương, từ xìu xìu ển ển đến gió táp mưa sa bão bùng dồn dập.
– Em đợi tới tối có được không?
– Bây giờ một lần, tối một lần nữa. Tuy gọi là hai nhưng kỳ thực em chỉ lấy giá một lần. Anh tính sao?
– Anh tính gặp Tiên hỏi chuyện trước. Xong xuôi mới sáng lòng sáng dạ cùng em vui đùa tới canh khuya.
– Nếu chị Tiên xí phần trửng giỡn cùng anh thì con Thúy Thanh này sẽ làm gì? Vất nó cho chó gặm sao?
– Nhan sắc Tiên ra sao? Tài nghệ cao cường không mà em lo ngại?
– Lại còn giả ngộ. Khi mấy đứa đều gọi bả là chị thì anh phải hiểu là bả đẹp hơn bọn này rồi. Chức tước cao thấp lệ thuộc vô đẹp xấu chứ không phải vấn đề tuổi tác. Đẹp thì tuổi đảng cao mà trời bắt xấu thì đành làm cảm tình viên.
– Kỳ cục thế? Sao người em gọi là má bả có thứ dung nhan ma chê quỉ hờn vậy?
– Bả khác, trường hợp ngoại lệ. Quá date, bả đâu có đi khách nữa mà kể. Ê, đừng đánh trống lãng. Sao? Để em cởi đồ ra nhé. Em mới tậu cái xì-líp xịn lắm, giá đắt tới phỏng tay và anh là người thấy nó đầu tiên.
Tom nhìn ngọn nến. Nó cháy trong sự hao mòn. Nó run rẩy trong một đốm sáng gần kiệt quệ. Có lẽ nó sẽ tự phụt tắt khi người con gái bày hết da thịt ra.
– Chán mớ đời. Cái bà Tiên này, thật là về không phải lúc!
Đứa con gái than trong lúc quần xịn chưa kịp lộ diện. Đâu đó có tiếng máy nổ, tiếng động cơ rì rầm.
– Giữ lời nghe chưa. Em rút sợi giây nịt này để tối trói hai đứa mình lại.
Thắt lưng quần bằng da của Tom như con lươn trườn đi êm thắm. Đứa con gái quấn tròn nó trong tay và thoắt một cái cô đã lách người ra khỏi cánh cửa.
– Có một đồng nam cương quyết giữ mình đợi gặp Tiên cô cho bằng được.
Tom lò dò nối gót theo sau, hắn nhìn đứa con gái đang chống chiếc xe gắn máy giữa gian nhà. Máy xe nóng, có mùi khét và Tiên, người cô cũng xông đầy mùi dầu thơm. Cô ta có vẻ mệt, có vẻ xơ xác. Bụi đường, khoảng cách xa phải lòn lách hay vì chuyện làm ăn gặp phải một tay sừng sỏ? Cô ta ngó Tom như ngó cái máy cát-xét, như ngó những lon bia. Như Tom là một thứ đồ vật quen thuộc, chẳng bắt mắt, nhàm chán, vô cảm.
– Má cầm tạm năm chục ngàn, mai mốt con đưa thêm. Chiếc xe hôm nay trở chứng làm bay một mớ tiền lãng xẹt.
Tiên nói. Cô đặt đít xuống ghế, chỗ Tom ngồi hồi nãy. Cô khui lon bia và uống nó như một kẻ khát nước quá chừng quá đỗi.
– Bia anh mua phải không? Cô hỏi Tom.
– Trời, ở đó mà phát ngôn linh tinh. Người ta đợi mày như thể Lưu Bị mà đợi Khổng Minh. Tiếng tăm mày vang tận Mỹ quốc chứ không phải giỡn.
– Má nói cái gì cũng quá đáng. Ngồi xuống đây đi anh. Thúy Thanh đã phục vụ anh chưa?
Tom ngồi xuống theo tay chỉ của Tiên. Hắn nghe Thúy Thanh mau miệng:
– Phải đợi trời tối kia, giờ này ảnh chưa có hứng. Mèo vờn chuột cao điểm thường vào lúc canh khuya, anh Tom há?
Tom chẳng đổi sắc mặt cũng như tia nhìn, mắt hắn bám trên người Tiên, không nháy. Một gã đàn ông ở Mỹ về thăm quê hương, la cà ở những tụ điểm đồi trụy và tình cờ gặp Tiên. Ông ta mang Tiên đến khách sạn, chơi bời ngủ nghê đúng ba đêm. Khi trở lại Mỹ, ông kể cho Tom biết những điều về Tiên. Về “một con bé người cùng quê với mày, giá bèo, người còn thơm hương đồng cỏ nội”. Ông ta cho địa chỉ và giờ này hắn đã gặp mặt “con bé”. Nó không đẹp như cách diễn tả của ông ấy. Ông ta hơi quá lời, hoặc giả cái đẹp mà ông ấy thấy ở Tiên, chắc là lúc mà trên người Tiên không còn một mảnh vải. Ba ngày đêm cùng ăn nằm, cùng tâm sự, cùng phơi bày, hẳn cũng đủ để người ta đưa ra một nhận xét xác đáng? Phút giây này, sớm sủa quá, Tom chưa có ấn tượng gì, ngoại trừ một ý nghĩ: Con bé có vẻ đắt giá, xem chừng đi khách túi bụi lùng bùng. Một đứa ế ẩm, như Thúy Thanh chẳng hạn, nó sẽ không có thái độ lơ là kiểu ấy.
– Em không có thói quen tiếp khách ở đây. Nếu anh muốn, chúng ta tạt vào một cái khách sạn nào đó.
Tiên nói, cô đốt một điếu thuốc và thổi khói vào mặt Tom.
– Một cái khách sạn, ít ra thì người ta cần phải tắm rửa cho sạch sẽ, nệm giường êm ái. Chao ôi, sao ngày hôm nay tự dưng đau lưng, tay chân nhừ mỏi thế này?
Khi người ta mệt mỏi, có lẽ bia và thuốc lá sẽ làm người ta chóng hồi phục. Tiên là một bằng chứng. Cô than thở nhưng mặt mày thì tươi tỉnh. Bia và thuốc, bản thân chúng là hàng xịn nhập từ nước ngoài. Mấy khi mà được uống và hút, cứ vô tư phá mồi cho đã đời, lấy lại sức xong người ta sẽ tiếp tục ra đi.
Tom đứng lên, như một kẻ ý thức được thời giờ là vàng bạc. Như cái vật nằm giữa hai chân đang trở mình giở chứng, dùng dằng mãi sẽ nguội lạnh. Như có ngồi tàn đêm ở đây mọi thứ rồi cũng sẽ ùn tắc giao thông, chẳng ra cơm cháo gì. Tiên thả điếu thuốc vào lon bia, cô đá lông nheo với người đàn bà:
– Con đi nghe má.
– Ừa… Chao ôi người chi mà hiền lành ít ăn ít nói, như vậy thì ai mà nỡ mài dao cho bén lưỡi!
– Dao cùn thì đau cổ lắm má ơi. Thúy Thanh tiếp lời. Em chong đèn tới khuya ngồi đợi nghe anh Tom?
Tom khoát tay vẫy chào, chân bước ra khỏi cửa. Những ngọn đèn đường vừa cháy sáng trong từng chùm bóng cây yên gió. Con đường vàng vọt ôm giữ từng luồng người qua về bát nháo vô trật tự.
– Em chưa một lần thấy qua anh. Ai mách cho anh hay chốn này có một con Tiên để rồi cất công tìm tới ngồi đợi. Chúng ta có ân nghĩa nợ nần gì nhau không?
Tiên đi bên Tom. Cô dắt hắn bước sát vào, nép mình bên tường vôi chạy sánh đôi cùng con đường. Bóng tối phiá sau và trung tâm thành phố ở đàng trước đang sáng loà những đốm màu tạp nhạp.
– Một đứa tên John. Một thằng Việt kiều chính hiệu chứ không phải tây tà gì ráo. Em còn nhớ không? Nó từng thuê khách sạn và ngủ với em ba đêm…
– Nhớ. Năm ngoái. Chơi rất bảnh. Rồi sao nữa? Ảnh có bệnh hoạn gì không?
– Nó nói: Nếu mày muốn về dọ hỏi tin tức gia đình thất lạc thì cứ tìm tới cô Huỳnh thị Tiên quê ở Đồng tháp mười.
– Kỳ cục vậy? Chuyện lạ à nghen. “Tháp mười đẹp nhất bông sen, Việt nam đẹp nhất có tên… đồng tiền”.
– Bao nhiêu? Tôi không sợ tốn kém. Tôi không muốn mình là đứa vô gia đình, vô tổ quốc. Tiên giúp tôi nhé. Đêm nay tụi mình ngủ khách sạn, ngày mai ra bến xe đò mua vé về thăm quê xưa. Tôi muốn biết ai sinh ra tôi, anh chị em ai còn ai mất.
– Đề nghị chẳng hấp dẫn gì cả. Biết lý lịch để thêm tủi thân, ích gì? Thú thật hạng người như em đây không có vấn vương quê xưa làng cũ gì hết ráo. Anh áo gấm về làng, còn em? Một ra đi không trở lại. Chốn ao tù nước đọng ấy về làm đéo gì? Về cho má nó khinh. Về cho muỗi nó tha đi.
Hai người dừng chân ở một ngã tư. Tiên nhìn quanh, có vẻ toan tính.
– Tôi đưa cho Tiên hai trăm đô để làm người dẫn đường. OK?
– Gát vụ đó lại đi. Cái trước mắt là để xem mình nên mướn khách sạn nào đây? Bên này đường hay qua thêm hai ngã tư? Ngủ một đêm, tỉnh trí em mới có được ý kiến.
– Tiên cầm một trăm này đi. Cho có mà trang trải mọi thứ, tôi không biết giá, không biết mặc cả, không biết điền đơn ký giấy thuê mướn.
Tiên nhét tờ giấy bạc trong túi quần. Cô moi từ đó ra cái condom trao vào tay Tom.
– Anh thật là người cẩn tắc. Đi bên anh em rất vô ưu.
Cô lôi Tom đi lên ba bậc cấp. Có tấm bảng hiệu treo lưng chừng nhưng đèn bắt ở trên đã cháy bóng. Không đọc thấy nhưng Tom hiểu đó là một cái khách sạn bình dân. Người đàn bà ngồi sau quầy mở miệng cười với Tiên rồi ngó Tom như công an ngó tội phạm. Chẳng ai mở miệng nói năng, những động tác thật ăn khớp diễn ra trong câm lặng. Không đầy ba giây trong tay Tiên đã nắm bắt chiếc chìa khóa, Tom thấy con số 4 bằng nhựa đỏ đong đưa theo tay vung vẫy của Tiên. Hành lang chẳng sâu, phòng số 4 nằm phân nửa chiều dài. Cánh cửa gỗ màu xám được mở ra, đèn néon tám tất chào đón bằng tất cả cái vẻ xanh xao mà nó có.
– Rồi, mọi con đường đều kết thúc bằng một cách cửa mở rộng. Đêm sẽ kết thúc bằng một chăn nệm nhàu nát.
Tiên nói, như reo lên. Cô phóng mình nằm vật xuống giường. Tấm khăn phủ trên mặt nệm không có màu sắc. Không phải trắng, chẳng phải mỡ gà, lại càng không ra vàng. Đó là sắc thời gian, như về già tóc người ta sẽ bạc đi. Nó nằm ở đấy và hứng lấy cả ngàn tấm lưng trăn trở lên trên. Nó rút mồ hôi, nước miếng và cả tinh dịch. Nó hứng luôn cả nước mắt của những đứa lỡ dại một lần lầm lỡ. Và máu của vĩnh biệt thời con gái.
– Anh biết cách oánh tù tì không?
Tiên nằm dang tay dang chân ngó lên Tom.
– Là sao? Hắn nhìn xuống Tiên, mường tượng ra những gì ẩn nấp đàng sau y phục.
– Là đếm một hai ba, xong thì mình đồng loạt đưa tay ra trước. Một nắm đấm, hai ngón tay, hoặc xoè hết cả bàn tay…
– Để làm gì? Đánh cuộc hả? Nếu thua, em sẽ chịu dắt tôi đi tìm thân nhân?
– Nếu ai thắng người đó đi tắm trước.
Tiên đếm số. Tom ngồi xuống giường.
– Em tắm trước đi.
– Không thích trò chơi may rủi à? Hay cả hai đều tắm cùng lần.
Tiên ngồi dậy, cô vòng tay ra trước người Tom để cởi dần những hạt nút áo. Cằm cô tựa bên vai Tom, hơi thở nhột nhạt luồn vào gáy:
– Chuyện ngày mai hãy để mai tính. Đêm nay nên dốc lòng cho đêm nay, đồng ý không?
Chiếc áo của Tom vùng vằng thoát ra khỏi thân. Hắn ngồi yên, đón nhận cái độ nhún của tấm nệm đang chao đảo rồi bỗng ngừng bặt ở phiá sau. Hắn nghe tiếng cười khoái trá của gã đàn ông khuất mặt ở phòng bên cạnh vọng dội qua. Tiếng thét sắc ngọt của một giọng nữ. Xa hơn, thỉnh thoảng một chiếc xe gắn máy rầm rộ mang tiếng nổ hục hặc phóng ngang. Tom quay đầu, nhìn những sợi tóc rối vướng che trên mặt Tiên. Cô ta ngó tấm lưng trần của Tom:
– Có thể ngày mai anh khỏi cất công lặn lội đi đâu cho xa.
– Tiên nói sao?
Hắn hỏi, ngó xuống cái bao condom vuông vắn sắc cạnh vẫn còn nằm trong tay. Hắn ném xuống mặt nệm.
– Có thể tối nay anh sẽ sớm biết ngọn ngành về cái xuất xứ của mình.
Giọng Tiên ráo hoảnh.
– Về hỏi má thử xem. Bả từng kể chuyện bom lửa đốt cháy nguyên cả cánh rừng, thằng con trai bả bị cháy xém một mảng lưng. Vết sẹo này có thể là cái căn cước của anh, không thể nhầm lẫn với ai khác.
– Fuck…
– Anh về hỏi bả thử đi. Can đảm mà đón nghe sự thật. Nếu muốn trả thù đời, cứ đè con Thúy Thanh ra mà xả oá. Tôi hết hứng thú rồi, cả ngày đi khách cũng đã hết xí quách.
Tiên nói. Cô đi tới mở cửa. Trước khi đóng, thò đầu vào dặn:
– Anh chỉ cần quẳng cho mẹ chủ khách sạn mười đô là mọi việc ô kê.
Tom không có phản ứng. Hắn ngồi ôm đầu nghe tiếng rên từ phòng bên cạnh vọng qua. Tiếng chuyển động của thành giường va vào vách. Hắn ném chiếc gối vào khoảng trống:
Không cứ chỉ người mới biết đội nón. Đồ vật từng đội, muông thú gia cầm cũng lần lượt đội nón ra đi. Mấy bận tiếc nuối nhủ lòng thu cất nón lại, tiền nhà khó như gió vào nhà trống, rồi cả tơi lẫn nón biết chọn ngày lành lạnh lùng biến bay, như một định luật tất yếu.
Khi gặp hạn chạy trời không khỏi nắng, tai ương đón đầu bằng còng số 8, dẫn về đồn bao uẩn khúc phơi bày trong cuộc hỏi cung. Bố xoắn hai bàn tay thật thà khai báo, cán bộ bảo phải nghiêm túc trình bày mới mong tại ngoại thôi lao lung.
Kể từ ngoại bán trâu đi, con trôi phố thị thiên di phận nghèo, độc lập tự do đi vèo, bán luôn hạnh phúc kì kèo hơn thua. Không văn tự, bán trời cao, lòng như tư lự thấy sao bay mòng. Dẫu ăn hột gạo phượng hoàng, thân hôi như cú cũng xoàng nguồn cơn, diều hâu lượn sáng đến chiều, chim xao xác tổ người điều tra tông.
Nghe hỏi đây: Vì sao có được mỗi con chim lại đem đi bán? Thưa rằng tiếng là bán đi, nhưng chim khôn biết quành lại nhà. Cán bộ ho khan, nhấp hớp trà bặp điếu thuốc: Rồi lại tái diễn màn rêu rao? Cực chẳng đã chúng tôi bần cùng, nghèo đường binh chả toan tính ra mẹo kế gì, một liều ba bảy cũng liều, quặn lòng cán bộ hiểu điều ấy chăng? Thế vợ đâu, lo việc gì? Bả cũng lu bu cấp kỳ mình ên. Lao động phải nói trắng tên. Bán trôn nuôi miệng cũng nên nghề nàng.
Ối giời ôi làng nước ơi, ấn tượng thay cho đôi vợ chồng này! Chứ hai đứa bây ăn thức gì mà sung thế? Năng nổ cày bừa xuống cấp đạo đức đồi truỵ lung tung. Dạ nhờ trời đôi khi cũng biết động não làm bữa cơm có thịt, mặt xanh nanh vàng có chó mới kêu. Nói cán bộ xí xoá cho, bọn tôi xơi toàn thứ trời ơi đất hỡi ma chê quỉ hờn có nơi loài động vật, quan niệm rằng ăn gì bổ nấy phương thuốc dân gian tiền nhân có khi cũng bày tầm bậy, cán bộ đừng cười tôi từng bị một bà đại gia mắng mỏ: Lớn có bây nhiêu mà bày đặc chào hàng, chim với cò đồ cù lơ xít xụi! Hót cho gắt những vành khuyên chào mào, đây chả cần chim cảnh, cúc cù cu sáo sậu hoặc chí ít bồ câu mới ra ràng chút xíu lông chút xíu cánh ngó gợi mời, quen ai thì môi giới được tài nói thánh nói tướng lặn đi tía cho con nhờ thiệt bực cả (cửa) mình!
Bố tớ nói tôi giờ thấy cây cung căng dây là hoảng, xin cam đoan hoàn lương rửa tay gát kiếm. Vả sức khoẻ e rằng có vấn đề, lý nào cán bộ để tôi chôn thây ngục tối? Bố được tha sau suốt tuần thề thốt, giã từ vũ khí thôi bán chim. Ông dính chấu con bệnh thời đại, tây tà gì đó gọi là Xi-đa. Bố rán sức cùng lực kiệt lết vô được nhà thương thí, canh cô mồ quả cỏ trên mộ cũng chẳng thèm lún phún mọc lơ thơ cho chút gì để ra hình thể một ụn đất có chủ ngủ bên trong.
Mẹ tớ thì nhập kho trại phục hồi nhân phẩm, nhan sắc rớt nhanh như xã hội gì đó đứt thắng sắp xuống hố. Đã qua bốn mùa lá đổ người cứ xớn xác đợi dịp lễ lớn hy vọng được ân xá. Tâm sinh lý cũng ly kỳ, chớ ra được chốn hồng trần rồi bày chuyện gì để sống? Thời hoàng kim đã qua năm chục bó đang lừng lững tới, ngựa quen đường cũ thì chỉ có nước đóng vai tú bà.
Tớ mưu sinh bằng việc mòn bao đôi dép lê la đi bán vé số bởi nghe lãnh đạo rù quến lời ong ve: Nghề ấy có thu nhập cao. Da tớ đen vì tứ thời bát tiết mãi đi tận tuyệt những con đường, người tớ rắn rỏi vì siêng lội hết ngõ trần gian. Gái gú bỉu môi chẳng thèm ngó xuống dù nửa con mắt, điên sao cặp mày, trước sau đời mày cũng tàn trong hẻm hẹp. Có ông đạp xe ôm thương tình bày kế sách: Mày nên qua Trung quốc, bán thận lận được lắm tiền. Con tao nó chơi kiểu đó mới thôi ngửa tay réo tiền thằng cha già dịch này. Haiz! Thấy quan tài mà không đổ lệ rõ là đại trượng phu.
Tớ ra trước mộ bố tớ nói mình ên đôi lời từ giã, cúng con chim cút chiên dòn co quắp mặn mòi với chén cơm lưng. Chim cút cũng tựa như chim đa đa bố ạ, nó phổng phao khi đủ lông đủ cánh, giờ vặt trụi co rúm mình mẩy chỏng chơ trên chén cơm ngó não nề mới gớm. Sống vì chim thì chết cũng nên bày chim tưởng niệm. Đất không lành chim đành vỗ cánh, bay đi xa rơi rớt lại lòng thành. Đợi nhang tàn tớ đón xe ngược Bắc, đưa đầu trần qua cửa khẩu giang hồ, người xưa nói lỡ cùi thì đây chả sợ hủi. Trời sanh voi sanh cỏ, bây giờ giả như hai bà Trưng có sống lại, ngày một ngày hai e lật đật bán voi đi. Xã hội bây giờ chỉ ưu việt rặt chuyện bán, ai tai to mặt lớn thì bán rừng bán cây bán đất bán biển, gia đình tớ bần cùng chỉ loay hoay bán chim bán trôn bán thận. Người học vị cao nói: Đù mẹ mày bán toàn những thứ trời cho riêng mày thì hãy cứ ngẫng mặt lên, vô can, lành mạnh, chẳng ảnh hưởng an nguy kẻ khác, còn những phường trộm cướp rắp tâm đi hôi của bá tánh thứ ấy mới nên gầm mặt xuống đất không dung trời không tha. Cầu mong mày thượng lộ bình an thoả chí tang bồng, bố mẹ mày đã như thế há lẽ vận đen mãi cứ ám vào mày. Tin tao đi, đen tối đeo bám miết thì ai mà chịu đời cho thấu.
Tớ đi, băng rừng lội suối trầy vi tróc vảy. Mây tụ rồi tan nhanh trên đầu. Im ắng rồi nắng loang loáng vây thân. Cheo leo mọc sát cửa khẩu có quán cà phê của bọn người buôn trầm. Bố mẹ ơi, chúng chơi nhạc vàng mới choáng chứ. Lời lẽ phát ra từ cái loa khiến cây cỏ phải xốn xang cúi rạp cành lá: “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…” Đi đâu? Sao lại hỏi kiểu ngớ ngẩn ấy? Bây giờ đã lỡ giạt trôi, chim kêu vượn hú đành thôi quên nhà. Mất thận không xót tim đui, trách ai mù mắt đen thui tầm nhìn.
Má tôi nói: Hay đi đêm thế nào cũng có ngày gặp ma. Tôi thưa: Ma nó khác người má ạ, những kẻ yếu bóng vía như con, ma hổng hiện ra để doạ dẫm đâu. Con người thì ngược lại, cứ đè mấy đứa hiền lành nhát gan mà ức hiếp bắt nạt cố xá, chả dám đụng tới dân cứng cựa. Má tôi chép miệng, sợ người chứ ai lại đi sợ ma, nhưng mà có cử có kiêng vẫn hơn. Vậy thì má đổi lại lời răn: Năng đi đêm thế nào cũng đụng đầu bọn xấu bụng. Liệu cái thần hồn nghe con!
Thường khi ăn cơm chiều xong, chuyện trò với bà già năm điều ba chuyện, tắm táp cho sạch mồ hôi, thay áo đổi quần, khoảng chín giờ tôi mang xe ra khỏi nhà. Tới đầu hẻm, thằng Bảy đã chực sẵn, hắn thót lên yên sau theo kiểu một kỵ mã thuần thục chẳng cần nắm lấy dây cương mặc cho ngựa sắt đi cà tàng hay đang phi nước đại. Bảy quan niệm thời gian là vó câu bên ngoài song cửa, mày đi làm, ban ngày ban mặt bị nhốt trong cao ốc cách biệt chúng sinh mày phải siêng đi đêm để bù đắp, để thư giãn, để mở mắt để khôn lanh để hay biết sự tình luôn diễn ra trong dòng chảy bất tận kia. Và sau hết, đi đêm để hóng gió. Người mày không khi nào thấy nực nội sao?
Nực nội theo kiểu nói của Bảy nên hiểu là bị ức chế, và như thế đi đêm, vắn tắc là đi kiếm bò lạc. Bò lạc là sao? Tôi hỏi. Bảy chửi đù mẹ mày lộn xộn quá, thì đi dòm gái, con gái cũng biết đi hóng gió để trám nực nội vậy.
Bảy biểu tôi tới quán cà phê Chiều Tím. Tôi nói sao không ngồi quán Đèn Vàng? Hắn hét một bên tai đù mẹ phải linh động địa hình, hành quân phải dàn trải đội đình chớ nên co cụm. Bảy rất giàu kinh nghiệm và mỗi khi truyền đạt thường không quên hai chữ đù mẹ đi trước. Hai chữ ấy chứng tỏ rằng tôi thua hắn, chưa đủ bản lãnh. Không hiểu kiếm ra bò lạc thì Bảy còn đù mẹ đù cha nữa thôi. Ai sáng tạo ra hai chữ nọ? Ý tôi muốn nói tới chữ bò lạc. Lỡ nên duyên phận hoá ra mình làm chồng một con bò cái sổng chuồng đi lạc giữa canh thâu? Rồi phải cày bừa để dâng cỏ lên tận miệng bò, phải xây chuồng kiên cố và dùng mọi cách để bò khỏi buồn chân đi lang thang. Sách giáo khoa vạn vật cho hay bao tử bò có tới bốn túi lận, động vật nhai lại. Mẹ rượt, một túi đã nhét không đầy thì bốn túi lấy sức đâu kham nổi hòng nuôi “nàng” khỏi ốm o xo bại? Nuôi nàng phổng phao thì không khéo có ngày biến đổi thân phận làm dân cái bang leo chức năm túi, sáu túi. Chuyện lạ, nghèo mà ham! Nghe đồn thằng chả trưởng lão áo toe tua tới những chín túi. Vậy thì thành đại gia rồi chứ còn mắc cở gì mà đóng kịch rớt mồng tơi?
Dân ngồi trong quán Chiều Tím đa số mặt mày buồn xo tuồng mang nặng tâm sự. Tên dùng đăng ký môn bài có lẽ chôm ca từ, bỏ đoạn sau “chiều nhớ thương ai”. Những khuôn mặt thương nhớ trĩu nặng bên giọt cà phê chậm rơi rất oải. Hoá ra đi uống cà phê đêm không phải là sách lược của thư giãn. Tình hình nghiêm trọng quá thể, anh tương tư ai mà anh lạc hồn ngồi thu người góc tối? Anh bị ai lừa phỉnh mà anh ngồi đốt khói thuốc để mặt mày ám tối khói che? Trái ngược với đám khách thiếu sinh khí nọ, quán có tới ba cô tiếp viên lanh lợi dung mạo sáng choang và lùi sâu sau quầy tính tiền là cô thu ngân yểu điệu lụa là tựa một bóng đèn 100 watts khác. Cô ngồi, không hàm oan cô là thứ có khả năng hấp thụ ánh sáng. Một cục nam châm thì biết hút lấy chất kim loại, bu vào, gỡ không ra. Còn cô ngồi sau bục gỗ nọ thì sẽ có đàn thiêu thân luân phiên quần tụ. Bảy nói đù mẹ con nhà ai mà xinh đáo để. Tao cảnh báo đấy là thứ hàng có in hàng chữ răn đe “dễ vỡ, nâng đỡ cẩn thận”, cũng là loại hàng độc xem bằng mắt chớ bắt bàn tay.
Một trong ba cô tiếp viên khi mang cà phê ra đã vô ý cạ thân vào người tôi. Có lẽ khi biết nhan sắc mình kém chút đỉnh so với chúng bạn thì mình sẽ hơi bị vô tư. Chỉ cọ quẹt chút đỉnh mà người tôi nóng lên, cái nóng này khác xa cái nực nội khi xe bị cọ quẹt trong lúc trôi chảy trong dòng chảy lưu thông. Nói chung thì nhiệt độ nào cũng khiến con người dính chấn thương, không đao kiếm thì e phải tốn bộn tiền để trồng cây si. Tôi không thích bò lạc, tôi thích kẻ ổn định có công ăn việc làm trong quán cà phê. Và như thế tôi biết người mang tên Hoa, tôi quen Hoa tôi cảm tình Hoa để rồi tôi bớt đi hóng gió cùng thằng Bảy, mặc cho hắn nực nội mình ên. Tôi viện dẫn lý do dạo này căng quá, có khi cơ quan bắt làm thêm giờ, mà nếu tối nào rỗi thì má tôi chận ở cửa: Đi đêm làm chi cho gặp phải ma, hử? Bảy chửi đù mẹ đồ nhác chơi.
Hú hồn, không ngờ con người khi cắt bỏ được cái đuôi lại có khi êm thắm tựa thế. Hoa bảo ông bạn anh mặt ngầu dễ sợ, bộ tịch y như con kỳ đà cản mũi. Bộ ổng là người đồng tính hay sao mà đeo cứng anh như thể ruồi bu hũ mật? Tôi nói nếu anh là hũ mật em có chịu làm ruồi cái không? Hoa nói anh phát ngôn thật là linh tinh, gọi em là đào là bồ bịch là mèo là người iu có phải dễ nghe hơn không? Nào, chạy xe đi cho tớ ôm thật chặc đằng ấy tí xem. Theo sự chỉ định của Hoa chúng tôi tìm tới một quán ăn thật xa. Hoa bảo khung cảnh ở đó thơ mộng với môi trường khoáng đãng thiên nhiên chứ không choáng ngộp chán ốm như những tụ điểm nằm trong phố phường. Đó là những tối Hoa nghỉ việc theo thời khóa biểu phân chia ở quán cà phê Chiều Tím. Tôi tậu cho riêng Hoa một chiếc nón bảo vệ đầu đúng quy định của nhà nước và mỗi khi ngồi yên vị Hoa đều ôm siết thân tôi đúng theo quy trình Hoa tự đề ra. Chỗ em lao động thì anh đã rõ mười mươi, giờ anh phải chạy xe ngang chỗ anh làm việc để chỉ cái công ty ấy cho em tường. Khi đi ngang qua toà nhà cao tầng văn minh hiện đại thắp sáng đèn đuốc nọ tôi nói nó đấy ở lầu 5. Hoa chỉ wow lên một tiếng. Chữ ấy chẳng nói lên được điều gì cụ thể nhưng vòng tay Hoa ghì siết ấm áp hơn.
Đúng như Hoa tả, quán Đồng Quê này cố tình tạo dựng ra vẻ mặt hương đồng cỏ nội cách biệt thị thành. Họ đặt những chậu cây to chen chúc trong quán kể cả cây chuối đang ra quả, rơm rạ chất đống ở một góc và góc khác thì dàn dựng bao cơ man là những vật mà nhà nông quen sử dụng. Ngoài sân thì tù mù ánh đèn cốt để cho ánh trăng xâm thực từ đồng cỏ chảy lan tận bên thềm. Tình tứ chưa? Hoa hỏi. Rồi hối hả bồi tiếp, đó là chưa nói tới một chỗ ngồi đặc biệt có giăng màn cách ly. Hơi đắc tiền chút đỉnh nhưng buộc người ngoài phải nghiêm chỉnh tôn trọng phút riêng tư của thực khách đang tâm sự.
Hai đứa vén màn vào chỗ đặc biệt. Gọi thức ăn xong Hoa cho tôi khai vị bằng nụ hôn dài miên man, ngọt lịm, tê buốt trên đầu lưỡi như nhấp phải cốc rượu đào có tẩm độc dược. Tuy bần thần nhưng tôi còn tỉnh táo: Cớ sao Hoa biết tới quán ăn ác ôn này? Thì coi trên nét, thì nghe con Cúc làm chung chỗ nó báo cáo, thì những đứa có kép có đào đều từng đi trải nghiệm thực tế. Để tôi khỏi thắc mắc nhiễu sự Hoa bỏ vào mồm một trái nhãn, phun hạt ra rồi ghì đầu tôi vào mớm đút thứ dung dịch ngọt lừ rít rát.
Đồ ăn chưa thể nấu chín chưa mang ra nên Hoa biểu tỏ những động thái để chóng đói, đốt ca-lo-ri nhanh để ăn cho ngon miệng. Hoa hăm hở trèo qua người tôi và buổi dạ tiệc linh đình nhiều cao lương mỹ vị kia gieo cho tôi cái cảm nhận tôi nào khác một vị quân vương được chánh phi bày vẽ thủ thuật để mai này biết cách làm tình làm tội bầy cung tần mỹ nữ sỉ số đông đúc hơn tập đoàn gái trinh để mấy cha đạo Hồi khi leo tới được thiên đàng có mà vui thú.
Ăn quen bén mùi, càng lậm vào càng hao hụt tài chánh. Nhưng nói nào ngay dẫu sao ở đó còn có sự bù đắp, chứ tiền bỏ phong bì mừng mấy sếp mỗi dịp lễ trong cơ quan thì bụng dạ nghe đau thắt, nghe choáng, nghe đời buồn như râu mọc. Má tôi quở lóng rày sao thần khí mày coi mòi sa sút, việc cơ quan ngập đầu hay có sự tình ám muội vướng thân. Thằng Bảy tới kiếm mày đôi ba bận mặt khẩn trương chớ mày đã thăm hỏi nó chưa?
Tôi mang xe ra khỏi nhà tầm chín giờ thì Bảy chận đầu ngay đầu hẻm. Tay trái hắn bó bột và mặt trầy trụa như lỡ giao mạng cho thằng điều khiển xe ôm vụng tay lái. Đù mẹ tai nạn tao hứng là do lỗi ở mày tạo nên. Thằng đánh dằn mặt tao là dân con nhà võ, hắn khí khái tuyên bố con Hoa là ghệ của nó, tao liệu thần hồn mà cạy mặt ra, kiểm tra con Hoa mà rụng một sợi lông thì nó để lại một đường đao trên người tao. Đù mẹ thằng hiệp sĩ mù kia, thằng hái hoa là mày sao nhìn lộn qua tao, ngó bằng mắt thôi mà, đã đụng chạm cọ quẹt gì đâu sao nỡ thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Mày phải kíp trả tiền thuốc thang cho tao, chí ít phải chở tao đi quán bia ôm tìm cách xả xui.
Tôi nghe theo mọi lời đề nghị của Bảy. Nó nói, đù mẹ bạn bè phải chơi đẹp chứ. Mày Lê Lợi mà bắt tao thủ vai Lê Lai miết thì chịu đời chi thấu. Ở đường Hai Bà Trưng có quán bia ôm hoành tráng vì có ô dù chả ai dám đụng, tôi an tâm để mang Bảy lại thụ hưởng sau thương tật 37 phần trăm có giấy thẩm định của bác sĩ. Bảy nói đù mẹ một tay mà ôm em cũng phí mày nhỉ, mày cho tao vay thêm chút đỉnh để nằm dài mà tới bến cho khoẻ thân.
Trước cửa động hoa vàng tôi thấy Hoa ôm eo một thằng vai u thịt bắp bước sánh đôi bên kia đường. Có thể thằng đó là tác giả tạo chấn thương cho Bảy. Hoa đá lông nheo, gửi sang một tin nhắn khó cắt nghĩa. Tôi tự giải đáp lấy, vì yêu tôi nên Hoa chỉ tay sang một hướng khác đánh tráo mục tiêu cho kẻ kia tha hồ oanh kích tự do. Có nghĩa là mặt mày đẹp trai không bằng chai mặt của tôi sẽ có khi tái lập trò du kích vào rừng hoang hoà đàm cùng Hoa, nếu cần thì vật lộn nhau cho thoả những ngày tôn trọng việc ngưng bắn. Tôi nói với Bảy, có người nhận xét mặt mày tướng tá của ông rất ngầu, bộ ông không tính trả thù sao? Sợ mẹ gì, phải tranh thủ tẩn thằng đó một trận cho thoả chí nam nhi chi khí. Mặt Bảy ngệt ra, hắn ấp úng: Đù mẹ. Rồi thêm: Mày tính mượn đầu heo nấu cháo đấy hở. Cho bố khất đi con ạ. Độc thủ đại hiệp ôm gái còn oải huống hồ trần thân đi lo việc binh đao! Quân tử mười năm trả thù chưa muộn, giờ thì kíp ôm em để đả thông hai huyệt nhâm đốc để tăng công lực thêm phần hoả hầu, he he he.
Sau đợt bắt bớ, mặc dầu nhiều người được tha, chỉ có một mình Sáu Chơn bị giải giao cho Ủy Ban An Ninh Tỉnh, thái độ dân chúng đối với chính quyền Quốc Gia cũng đổi khác, hợp tác nhiều hơn vì không còn sợ Việt Cộng như trước. Bọn Cộng co cụm lại, không dám ngang nhiên hoạt động. Rút sâu vô rừng tràm, chúng không còn lập trạm sát gần ngoài kinh Rạch Giá – Hà Tiên mà tuốt ở trong xa để cấm hoặc thu thuế người vào đốn tràm.
Tình hình lắng dịu một thời gian.
Một hôm, thiếu tá Khánh, chi đoàn trưởng một chi đoàn thiết giáp thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh, gặp tôi ở Vàm Rầy, hỏi:
_ “Tôi muốn đi tắt về Châu Đốc, ông liệu tôi có thể đi dọc theo kinh Xà Tón mà về trên ấy được không?”
Tôi giải thích:
_ “Không nên! Trước hết, không chừng ông phải đụng tụi nó. Ít thì tụi nó chỉ có mấy tên du kích; có thể chúng nó chém vè! Lỡ khi có đơn vị từ Kampuchia qua, ban ngày dừng chân trên kinh Kháng Chiến, để tối lại di chuyển tiếp thì ông mệt với chúng nó. Bây giờ, ít khi chúng di chuyển ít người, phải cở tiểu đoàn trở lên. Bọn nầy phần đông là từ ngoài Bắc mới vô, trang bị đầy đủ.”
_ “Được rồi, tôi sẽ liên lạc với biệt khu để biết tình hình chúng nó. Tôi muốn biết địa hình?” Thiếu tá Khánh nói.
_ “Không cách chi đi được. Xe M113 của thiếu tá một là chạy trên đất cứng, hai là lội nước. Vùng nầy toàn sình lầy, không có nước để lội, cũng không có đất cứng để chạy, xe M113 bám vào đâu mà chuyển.”
Thiếu tá Khánh lại hỏi tôi:
_ “Ông có bị rồi?”
Tôi cười:
_ “Không. Tôi đoán chừng. Vã tôi học bài “lội nước” ở cầu Rạch Chiếc, khi lên bờ nhằm chỗ lầy, mắc kẹt luôn, phải gọi Wrecker đến kéo về. Lần ấy tụi tôi bị thiếu tá Thương chưởi một trận dữ nên lấy đó làm kinh nghiệm. Nếu muốn biết kinh nghiệm sình lầy vùng nầy, nên hỏi “Đường Sơn Đại Huynh”. Bây giờ mà gặp ông cũng khó lắm”. (1)
Sau khi liên lạc với Biệt khu, thiếu tá Khánh nói với tôi:
_ “Một đơn vị lớn của tụi nó đang di chuyển phía biên giới, chuẩn bị xâm nhập Hà Tiên. Thôi, tôi đi đường vòng cho xong.”
Đường vòng là ông phải cho chi đoàn đi qua ngã Rạch Giá, Long Xuyên rồi mới tới Châu Đốc, đường dài gấp 4 hoặc 5 lần.
Mấy ngày sau, thiếu úy Kiệt nói với tôi rằng có một đơn vị “Bắc Việt xâm nhập” đang dừng chân trong kinh Kháng Chiến, có lẽ chờ đêm tối di chuyển về Tà Keo, vượt cây Số 15 để về Chương Thiện.
Tôi hỏi:
_ “Dân họ mới báo?”
_ “Vâng!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Nón cối, không có nón tai bèo. (2) Nói toàn Bắc Kỳ. Dân họ báo vậy. Tui báo cáo cho chi khu và biệt khu rồi.”
Tôi đi gặp trung tá Hồ Đàn, (Khi còn ở BCH- Thiết Giáp, tôi từng làm việc với ông, khi ấy ông còn mang loon đại úy), thiết đoàn trưởng Thiết Đoàn 16, ông đang nhậu ở quán TL, Chợ Tròn. Nghe tôi nói chuyện Cộng Sản chuyển quân, ông nói:
_ “Tôi biết rồi. Chút nữa anh đi với tui xuống Vàm Rầy. Tôi chụp cho bọn nầy một trận.”
Chưa có kinh nghiệm việc nầy, nhưng tôi không hỏi, để thử coi ông ta làm gì.
Nửa tiếng sau, khi tôi cùng Trung tá Hồ Đàn tới Vàm Rầy thì pháo binh đã đặt hai cây súng 105 ly sẵn bên bờ kinh, kế một quán chạp phô của người Tàu. Trung tá Hồ Đàn và tôi vào quán càphê, trãi bản đồ ra, xem tọa độ chỗ đang đóng của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược. Tôi loay hoay, không nắm rõ chúng nó đóng ở đâu! Một lúc sau, tôi gọi Ngô Văn An, trung sĩ Cảnh Sát xã Đức Phương, con ông xã trưởng Ngô Văn Àn tới, hỏi:
_ “Anh có bết rõ chỗ tụi nó đang đóng quân không?”
An nói:
_ “Dạ không! Dân họ báo tụi nó đông lắm, treo võng nằm trong rừng tràm, balô với súng máng trên cây.”
Tôi biết bây giờ tới “mùa nước nổi” (nước đang lên), chẳng có chỗ nào đất liền nên chúng phải treo võng nằm. Tôi hỏi An:
_ “Ai rành trỏng?”
_ “Dạ! Chín Đực, để em đi tìm Chín Đực.”
Chín Đực vừa là truởng ấp Vàm Rầy, vừa là cựu hồi chánh viên, khi theo Việt Cộng, anh ta hoạt động trong ấy, nên rành đường.
Một lúc Chín Đức tới, tôi hỏi:
_ “Anh có biết dân họ báo tụi nó ở đâu không?”
Chín Đực cho biết chỗ của chúng ở quá ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến cỡ một cây số, trong rừng tràm. Tôi tìm rừng tràm trên bản đồ, thường có màu xanh lá cây, gần ngã tư hai con kinh nói trên. Tôi gọi Chín Đức tới, ngó sát bản đồ, chỉ cho anh thấy đường vẽ kinh Kháng Chiến, đường vẽ kinh Xà Tón, quá kinh Chủ Ry và kinh Thầy Ban một khoảng, phía bên tay phải là khu rừng tràm. Chỉ vào khu rừng tràm, tôi nói:
_ “Chỗ xanh xanh nầy là khu rừng tràm. Anh có nghĩ là chúng nó đóng ở đây không?”
_ “Dạ đúng! Chắc chắn chỗ nầy.” Chín Đực trả lời.
Nãy giờ Trung tá Hồ Đàn ngồi im, theo dõi tôi trao đổi với An và Chín Đực. Tới khi nghe Chín Đực trả lời chắc chắn, ông ta cúi xuống. Sát bên cái đầu của ông là cái đầu của tôi. Chúng tôi khoanh vùng rừng tràm, chấm tọa độ bốn phía. Xong, Trung tá Đàn gọi anh lính mang máy truyền tin tới.
Mười phút sau, hai cây đại bác 105 ly bắt đầu nhả đạn. Tôi và trung tá Hồ Đàn bước ra sân, ngó về hướng rừng tràm. Chưa được nửa phút sau, đạn nổ phía trên các ngọn cây tràm. Ban ngày, không thấy lửa, chỉ thấy khói tỏa ra từng chùm như đám mây cuộn, khá đẹp. Tôi nói với trung tá Đàn:
_ “Trông như pháo bông!”
Trung tá Đàn nói:
_ “Tôi cho nổ chụp, như người ta chụp nơm, từ trên chụp xuống, chạy ngã nào cho thoát.”
_ “Ban đêm có thấy pháo nổ trên trời như vậy không, Trung tá?” Tôi hỏi.
_ “Trông như đốt pháo bông. Đẹp lắm!” Trung tá Đàn giải thích.
Tôi nói đùa:
_ “Không chừng người ta bảo rằng mình đốt pháo bông chào lính cụ Hồ.”
Trung tá Đàn lại cười:
_ “Đốt pháo chào kiểu nầy chết cha tụi nó luôn!”
Chín Đực đứng phía sau tôi, nói:
_ “Ngay chóc rồi ông thầy. Đúng là chỗ tụi nó đang đóng quân.”
Trung tá Đàn nói:
_ “Đánh giặc kiểu Mỹ nên “lấy của che thân”. Anh cứ tìm tin tức, chỗ nào có tụi nó, mình cứ đốt pháo bông mà chơi. Bị trận nầy, chúng khó chuẩn bị kịp lực lượng để đánh mình, tối ngủ yên.”
Khoảng nửa tiếng sau, thôi bắn. Hai cây súng đại bác được kéo về Kiên Lương, Trung tá Đàn cũng về theo. Trời còn sáng, tôi nán lại một chút, về sau. Đang khi đứng gần chợ, ông già Tàu chủ tiệm chạp phô, mặt mày thảm não, có vẻ sợ sệt, nói với tôi:
_ “Ông “xầy” ơi! “Pể” kiếng của tui hết zồi!”
Chưa hiểu chuyện gì, thì xã trưởng Àn đi tới, giải thích:
_ Súng để trước tiệm ông, tiếng súng dội làm bể hết cả chục tấm kiếng cái tủ trong nhà, ông ta khiếu nại với tui, tui biểu đến gặp ông.”
Tôi nói:
_ “Pháo binh bắn chớ tui có bắn đâu! Hồi nãy sao không nói ngay với ông Trung tá?”
_ “Ông ta sợ, không dám nói, chỉ nói với tui.” Xã trưởng Àn nói.
_ “Nói vậy chớ có nói với ông Trung tá, ông cũng chẳng có tiền mà đền. Thôi! để tôi nói với ông phó Nghiêm. Ông làm tờ trình với ty Xã Hội, may ra được chút đỉnh.” Tôi an ủi.
Ông chủ tiệm nghe nói cũng an tâm. Vã ông có đi kiện cũng không biết kiện ai, ở đâu. Biết ông xã trưởng thì nắm áo ông xã trưởng. Ông xã trưởng đẩy qua cho quận, quận đẩy lên tỉnh, may ra được chút an ủi chớ biết bao giờ mới được đền, và đền bao nhiêu cho đủ.
Sau đó, ông phó Nghiêm nói với tôi theo nguyên tắc, ty Xã Hội không bồi thường cho những trường hợp lẻ tẻ như vậy. Chỗ nào có đánh nhau to mới có “bồi thường chiến tranh”. Thành ra ông già Tàu chủ tiệm chạp phô chẳng được chút tiền nào. Tuy nhiên, cũng nhân dịp Việt Cộng đánh vào xã Đức Phương, tuy không có nhà nào bị cháy, bị sập để được “bồi thường” bốn chục ngàn và hai chục tấm tôn lạnh (tôn của Úc Đại Lợi) như thường lệ, nhưng ai ai cũng được Ty Xã Hội cứu trợ, cho lãnh gạo và thức ăn đóng hộp. Nhân dịp đó, xã trưởng Àn có “chiếu cố” cho ông già Tàu chút ít. Gặp tôi, ông ta lại cám ơn rối rít. Tôi nghĩ thầm: Lãnh chưa tới hai giạ gạo, có gì mà ông ta mừng lắm vậy?!
Dân miền quê họ có một kinh nghiệm về bầu bán. Năm ngoái, bầu hội đồng tỉnh. Có ông giáo sư dạy ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá ra ứng cử, thầy trò đi vận động, thấy cảnh tượng rộn ràng, cũng vui, nên tôi nói chuyện với một gia đình người Miên ở ấp Xà Ngách, sao không bầu cho ông thầy giáo, ông có học, biết luật lệ, biết đấu tranh cho đồng bào. Bầu lại một kỳ nữa cho ông hội đồng Lâm Văn Chà, ông không có trình độ, biết lo gì cho dân!?
Bà vợ nói:
_ “Tui bầu cho người ở đây thôi! Có chi tui tới ông cho gần. Ông thầy giáo ở xa, đi gặp ông mệt lắm!”
Đó cũng là cái tâm lý ông chủ tiệm chạp phô gặp ông xã trưởng khi ông muốn khiếu nại về việc pháo binh bắn súng làm bể kiếng nhà ông.
Sáng hôm sau, tôi lại xuống Vàm Rầy coi thử tình hình hôm qua như thế nào!
Vào quán càphê xong, tôi biểu nhân viên gọi Chín Đực tới uống càphê với tôi, mục đích để nghe ngóng việc hôm qua như thế nào. Chưa kịp ngồi xuống, Chín Đực nói:
_ “Bữa nay dân đốn tràm thả giàn!”
_ “Sao vậy?” Tôi hỏi.
_ “Trận hôm qua, tụi nó chạy trối chết, trốn đâu mất tiêu.” Chín Đực giải thích. “Bữa nay, du kích canh gác cũng không. Tụi nón cối di chuyển hết, nhưng có lẽ bị thương và chết cũng nhiều. Có bao nhiêu chúng chở xuồng ngược lên Trà Tiên (3). Nhiều cái võng còn mắc trên cây, đạn xuyên như tổ ong. Balô, nón cối vất lung tung.”
Uống xong nửa cái “xí nại” (4), Chín Đực nói nhỏ với tôi: “Tui có cái nầy cho ông thầy!?
_ “Cái chi?” Tôi hỏi.
_ “K-59. Ngon lắm. Cấp cao mới có súng nầy.” Chín Đực nói.
_ “Đâu vậy?” Tôi hỏi.
_ “Tư Gà lượm trong đó chớ đâu!” Chín Đực giải thích.
Tôi nhớ ông Tư Gà nầy. Ổng bị què một chân, hai con nhỏ, vợ chết. Ông ta chuyên đi giăng lưới bắt cua trong đồng sâu, món hàng nầy bán được giá hơn. Và ông ta cũng bị bắt vì tội làm “giao liên.” Thấy ông ta thương tật, vợ chết, lại có con nhỏ nên bị giam hai hôm thì được tôi tha về, sau khi làm tờ cam kết không hoạt động cho Việt Cộng nữa. Về cái chân què, ông ta khai là bị trực thăng bắn lầm, nhưng tôi biết chắc là trong một lần đụng độ với quân đội VNCH, ông bị thương khi ông làm du kích trong kinh Kháng Chiến, vợ ông ta cũng chết trận đó. Dân Vàm Rầy thương tình nuôi giúp hai đứa con, còn Tư Gà, sau khi xuất viện ở Rạch Giá, bỏ không theo Việt Cộng nữa, lo đi làm nuôi con. Biết thì biết vậy nhưng cũng coi như ông ta “chiêu hồi”, để yên cho ông ta nuôi con. Khui quá khứ của ông ta ra, bỏ tù, ai nuôi hai đứa con của ổng, phiền lắm! Tránh đi một chuyện phiền cho nó khỏe bụng, tôi nghĩ vậy. Không ngờ nhờ vậy mà ông ta nhớ ơn, lượm được cây K-59 trong rừng tràm, lén giao Chín Đực đem biếu tôi. Nghĩ lại, ông ta cũng dại. Tại sao ông ta biết K-59 là loại quí, phải chỉ huy cao cấp mới có. Tại vì ông ta từng theo Việt Cộng nên ông ta biết vậy chớ gì! Vậy mà ông ta khai gian là bị trực thăng bắn lầm, không phải vì vì theo Việt Cộng mà bị thương. Cho tôi cây súng, khác chi “Lạy ông tui ở bụi nầy”. Ông ta khôn mà chẳng ngoan chút nào cả. Đúng là dân nhà quê thiệt thà!
Cây súng ông ta cho, tháng sau tôi đem đổi cho đại úy Vương của Trung Đoàn 16 lấy cây Titan nhỏ bằng bàn tay, lận vô túi quần ra Rạch Giá chơi, gặp Philip Đạt, anh ta tước mất. Đòi lại, anh ta bảo là đem biếu cho Tướng Nam rồi. Không biết việc Philip Đạt nói thiệt hay giả. Ông nầy cũng “ba trời” lắm!
Việc đốt pháo bông, sau nầy Trung tá Đàn và tôi “bổn cũ soạn lại” một lần nữa, khi nhận tin Việt Cộng đóng quân ở cuối kinh Lình Quỳnh, gần cửa sông. Khi đại tá Biếc về làm tư lệnh khu chiến thuật, ông cũng lại biểu tôi “lấy của che thân”. Ghi nhận tin tức Việt Cộng đóng ở đâu, gởi cho chúng nó “ít chục quả làm quà”, như lời ông ta nói. Đến hồi Trung tá Trần Xuân Hải thì gặp tai nạn. Thay vì đạn vô tới mục tiêu mới nổ thì một quả nổ ngay trên nhà dân ở ấp Ngã Ba, trên bờ kinh đi Hà Tiên, cả nhà bốn người bị thương lúc còn đang ngủ. Đang đêm, trung tá Hải phải xin trực thăng tải thương thật gấp. Mọi việc lặng lẽ êm xuôi, cố dấu không cho ai biết, chớ không thì ông ta bị kiện tụng lôi thôi lắm, nhất là lỡ khi mấy chả dân biểu đối lập hay hội đồng tỉnh muốn kiếm phiếu trên cái đau khổ của của những người khác!
Hú hồn.
(1) Tiếng lóng trong giới thiết giáp ở miền Tây thường dùng để gọi Trung tá Lý Tòng Bá, khi ông làm Thiết Đoàn Trưởng thiết đoàn 9 ở miền Tây. Khi xe bị lầy, đứt xích phải thay, ông cùng làm với lính, mặc dù xe đang ở giữa đồng lầy, nên các ông sĩ quan trẻ chẳng ai dám “chắp tay sau đít”. Qua tinh thần đó, binh lính, sĩ quan mới gọi ông một cách thân mến là “Đường Sơn Đại Huynh”. Trước 30 tháng Tư – 75, ông lên loon chuẩn tướng, làm tư lệnh sư đoàn 25. Trong một buổi học chính trị tại L3-T3 Trảng Lớn, một cán bộ Cộng Sản “lên lớp”, gọi ông là tên “ác ôn”, hoàn toàn ngược lại với quan điểm binh sĩ từng biết hay phục vụ dưới quyền ông.
(2) Quân đội Bắc Việt xâm lược từ miền bắc vào thường đội nón cối. Bộ đội địa phương như tỉnh đội, huyện đội thì đội mũ tai bèo. Dân chúng căn cứ vào đó để phân biệt.
(3) Trận nầy, có lẽ bệnh viện huyện đội Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng khẳm lắm, thương binh để đâu cho hết!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.