Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

December 24th, 2020

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Ảnh chụp Trung úy Yukio Seki khi chết 23 tuổi

Kỳ 33

Ngày 17 tháng 10-1944 Phó Đô đốc Takijiro Onishi đến Phi Luật Tân, chính thức thành lập các phi đoàn Thần Phong. Nhật Bản rơi trầm vào cuộc chiến tuyệt vọng. Mc Arthur đã áp sát vịnh Leyte, Halsey phong tỏa hải đảo Iwo Jima, biển Nhật đã bị khống chế. Với binh sĩ Nhật không còn lối thoát nào khác ngoài lưỡi gươm danh dự Seppuku: Rạch bụng hay chết cùng kẻ thù! Đ?t t?n cho c?c phi ?o?n Kamikaze, ặt tên cho các phi đoàn Kamikaze, Onishi đọc lời thơ cổ của tiếng thơ Motoori Norinaga: ‘‘Nếu ai hỏi tôi đâu là trái tim Nhật Bản, tôi sẽ trả lời chính hương dâu tằm hoang dại trước mặt trời mọc.’’ Shikishima Đảo Thiêng, Yamato Vương quốc Đại Hòa, Yamazakura Dâu Tằm, và Asahi Mặt Trời Mọc sẽ là danh xưng của các toán cảm tử đâm bổ tự sát đầu tiên.

Thật vậy không Kamikaze là những kẻ cuồng tín? Ngày 25 tháng 10-1944 Trung úy Yukio Seki đâm chúi xuống hàng không mẫu hạm USS St. Lo; trước lúc xuất phát Seki tuyên bố thi hành sứ mệnh vì lệnh. Thiếu úy Saburo Sakai khi đồn trú tại Iwo Jima cũng đã từ chối đâm bổ để trở về với người yêu; tuy sau đó chính Sakai thừa nhận Nhật Bản không còn cách nào khác. Có phải khi tuyệt vọng, ý chí tự hủy lấn át bản năng sống còn? Câu trả lời là con người bình thường với con người tự sát đã cùng tồn tại trong lòng mỗi Kamikaze cho đến phút mà trời và biển nhập làm một. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 33

Chương 30

Vào ngày 27 tháng 10, mười ngày sau các binh sĩ đầu tiên của Hoa Kỳ tràn lên bãi biển Phi Luật Tân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đưa ra thông cáo lịch sử này:

“Ðơn vị Shikishima, thuộc Phi đoàn Tấn Công Ðặc Biệt, vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 25 tháng 10 năm 1944 đã thành công trong một cuộc tập kích bất ngờ chống lại hải lực đối phương, bao gồm 4 hàng không mẫu hạm, cách Ðông Bắc đảo Suluan thuộc quần đảo Phi Luật Tân, ba mươi hải lý. Hai phi cơ tấn công đặc biệt đã đâm nhào xuống một hàng không mẫu hạm địch, gây nhiều đám cháy và tiếng nổ lớn, và có lẽ chiếc tàu đã chìm. Một phi cơ thứ ba đã chúi xuống một hàng không mẫu hạm khác, gây một đám cháy khổng lồ. Một phi cơ thứ tư khác cũng chúi xuống một hàng không mẫu hạm, gây ra một tiếng nổ dữ dội và chiếc tàu đã chìm ngay sau đó.”

Tiếng sấm của những ngọn Thần Phong đã bắt đầu! Nhiệm vụ tự sát đầu tiên do Trung úy Yukio Seki thực hiện. Yukio cầm đầu 5 chiến đấu cơ Zéro, mỗi chiếc mang một trái bom 550 cân. Seki là một phi công oanh tạc cơ có chưa đến 300 giờ bay, bốn phi công khác cũng không hơn hắn mấy. Tuy nhiên, chỉ có một trong năm chiếc không chúi trúng mục tiêu.

Bốn chiếc Zéro bay theo hộ tống năm chiếc Zéro tự sát. Sau đó tôi được biết chỉ huy nhóm hộ tống chính là người bạn thiết Hiroyoshi Nishizawa của mình, hiện thời là một chuẩn úy. Nishizawa đã khéo léo né tránh sự ngăn chặn của hơn hai mươi chiếc Hellcat, đưa năm phi cơ Thần Phong xuyên qua những trận cuồng phong để áp sát hạm đội địch quân.

Sau khi năm phi cơ Thần Phong đã chúi xuống, Nishizawa trở về sân bay Mabalacat ở Cebu, và báo cáo kết quả phi thường của nhiệm vụ.

Khắp nơi các phi công Nhựt đều bàn về cuộc tấn công chưa từng có trước đây. Và cuộc tấn công đã đạt một kết quả ngoạn mục, trái ngược hẳn những mất mát đầy bi thảm như cuộc tấn công của chúng tôi ở Iwo Jima. Ở vị trí phi công chiến đấu, tôi không tán thành nhiệm vụ tự sát, nhưng hiện tại không thể phủ nhận hiệu quả của cú đấm kinh khiếp đã giáng xuống hạm đội Mỹ ở Phi Luật Tân. Tôi ý thức là vào lúc này, việc bổ nhào xuống tự sát có vẻ là phương pháp duy nhứt của chúng tôi để đánh trả lại tàu chiến Hoa Kỳ.

Từ ngày đó trở về sau, danh từ Kamikaze nằm trên đầu môi của chúng tôi. Chúng tôi biết mỗi lần Kamikaze cất cánh là mỗi lần đi vào cõi chết. Nhiều Kamikaze không thể nào tiến đến các mục tiêu, vì bị phi cơ nghinh chiến của đối phương bắn hạ hoặc bị những bức tường hoả lực phòng không kiên cố do các chiến hạm địch tạo ra ngăn chận.

Nhưng luôn có những Kamikaze vượt thoát để rồi nhào xuống chiến hạm địch giống như những hồn ma phục thù, có nhiều chiếc tiến đến mục tiêu với đôi cánh rách nát hoặc bao trùm trong lửa đỏ. Thỉnh thoảng từng chiếc một, hai chiếc, hoặc cả nhóm từ sáu đến mười sáu chiếc Kamikaze lướt lên không trung cho lần đi cuối cùng.

Thần Phong đã cho chúng tôi một sức mạnh mới đầy kinh khiếp. Hiệu quả được nhìn thấy qua một số chiến hạm và quân vận hạm địch, từng là những mục tiêu khó xâm nhập vì được hoả lực bao che mạnh mẽ, rơi vào cảnh hỗn loạn xăng cháy, bom nổ và tiếng người la hét.

Những Kamikaze đã cào các hàng không mẫu hạm Mỹ từ mũi đến lái, đánh chìm nhiều hơn bất kỳ loại vũ khí nào mà chúng tôi đã từng sử dụng để tấn công loại tàu này. Còn loại tuần dương hạm và khu trục hạm, mỗi lần một Kamikaze chúi trúng thì đó là hồi chuông báo tử đã gióng lên.

Ðối với địch quân, họ coi sự tự sát của phi công Nhựt là bị ép buộc. Dĩ nhiên dân Mỹ hoặc bất kỳ sắc dân Tây phương nào cũng không thể hiểu biết đầy đủ vấn đề này.

Họ cho rằng mạng sống của binh sĩ Nhựt bị quăng ra một cách rẻ rúng. Trái ngược hẳn, các phi công đã tình nguyện hàng loạt để thực hiện các nhiệm vụ một chiều của họ. Nhiệm vụ này không thể gọi là tự sát! Những phi công, trẻ có già có, họ đã không chết một cách vô ích. Mỗi phi cơ chúi trúng mỗi chiến hạm địch là một cú đấm mà phi công dâng tặng cho quê hương của họ. Mỗi trái bom Kamikaze rơi trúng các bồn chứa xăng của một hàng không mẫu hạm khổng lồ, sẽ có nhiều kẻ thù bị giết, triệt hạ nhiều phi cơ bay đến thả bom và bắn phá trên mảnh đất quê hương của họ. Những phi công này mang niềm tin. Họ tin vào nước Nhựt, họ đánh kẻ thù bằng chính mạng sống của họ, cho nước Nhựt. Ðó là một giá rẻ, một người đánh đổi lấy mạng sống của hàng mấy trăm người đôi khi cả hàng mấy ngàn người. Xứ sở của chúng tôi không thể nào dựa vào sức mạnh của những chiến thuật thông thường hiện tại. Tuy nhiên, một lần nữa, Thần Phong là một trường hợp quá ít ỏi, quá muộn màng. Ngay cả những thành quả vĩ đại được gặt hái bởi các phi vụ Kamikaze cũng không thể nào chận đứng cú đấm tập trung khủng khiếp của Hoa Kỳ. Họ quá mạnh, quá nhiều, quá tiến bộ. Họ có quá nhiều chiến hạm, quá nhiều phi cơ, súng ống và nhân lực.

Dĩ nhiên, những phi công Nhựt thực hiện phi vụ của họ đều ý thức được việc này. Chắc chắn có nhiều phi công Thần Phong ra đi với thừa nhận tình thế tuyệt vọng của Nhựt Bản trong cuộc chiến. Nhưng họ không co đầu rụt cổ, không do dự. Họ bay và chết cho xứ sở của họ.

Có những điềm xấu báo trước cho dân tộc chúng tôi. Một chiếc B29 vĩ đại bay ù ù trên không phận Ðông Kinh lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 11 năm 1944, xuất phát từ các căn cứ mới trên đảo Saipan. Giờ phút hãi hùng của dân chúng ở kinh đô hầu như đã nằm trong tầm tay, vì điều hiển nhiên là chiếc oanh tạc cơ đáng sợ đó chỉ là một phi cơ do thám lót đường cho những chiếc khác nối bước trong tương lai gần. Chiếc Siêu pháo đài bay đã lướt một cách nhởn nhơ, xa tít cao trên không phận Ðông Kinh, và các chiến đấu cơ của Lục Quân và của Hải Quân cuống cuồng nhảy lên để chận bắt kẻ xâm nhập. Nhưng tất cả đều không thể nào tiến sát để bắn ra một phát đạn.

Vào ngày 5 tháng 11, và một lần nữa vào ngày 7, một chiếc B29 đơn thân độc mã từ Saipan đến viếng thăm thủ đô Ðông Kinh. Lần thứ hai và thứ ba này, các chiến đấu cơ Nhựt đều ùa lên không, và cố đạt đến độ cao cho bằng phi cơ địch một cách vô ích. Bộ Tư Lịnh Tối Cao nổi nóng, chửi bọn phi công vụng về và ngu xuẩn. “Chỉ có một chiếc phi cơ địch mà không làm nên trò trống gì cả.” Họ thét.

Họ không hiểu sự khó khăn trong việc ngăn chặn các Siêu pháo đài bay ở độ cao đó. Một việc nữa, chỉ trong vòng một vài phút giữa thời gian nhận báo động và cất cánh không kịp cho chiến đấu cơ lên đến nơi thì oanh tạc cơ địch đã bay mất. Cho dù có bay lên kịp đi nữa, phi công Nhựt cũng không chắc có thể đuổi kịp tốc lực kinh hồn của chiếc B29.

Vào tháng 12, những cú đấm chờ đợi từ lâu đã đến. Ðông Kinh, Osaka, Nagoya, Yokohama và nhiều thành phố lớn khác của xứ sở chúng tôi nằm khoanh dưới những đợt tấn công khủng khiếp của các oanh tạc cơ Hoa Kỳ. Chúng san bằng các cơ xưởng chế tạo máy bay, và hủy diệt lần lượt mọi phân xưởng khác.
Những cuộc không tập khủng khiếp trên các thành phố lớn của Nhựt Bản đã được lịch sử dành cho những chương kinh hoàng nhứt. Ðó là một câu chuyện mà cả thế giới đều biết rõ.

Các siêu pháo đài bay B29 đều xuất hiện ban đêm, và hầu hết phi công Nhựt chỉ biết ngồi bó gối trên mặt đất, miệng không ngớt nguyền rủa sự yếu kém khả năng hoạt động đêm của chiến đấu cơ Nhựt và sự khiếm khuyết huấn luyện dạ chiến của họ. Phi cơ địch chỉ bị hoả lực phòng không phá rầy mà thôi.
Khắp nơi, chúng tôi đang thua. Mọi nơi, chúng tôi bị đối phương bắt buộc phải thối lui, phải triệt thoái. Các đơn vị không quân của chúng tôi bị cắt ra từng mảnh, phi cơ của chúng tôi rơi như lá rụng, phi công của chúng tôi không chết một người, hai người hoặc ba người lẻ tẻ, họ chết chùm hàng chục trở lên.

Vào giữa tháng 2, năng lực phòng thủ Phi Luật Tân của chúng tôi hấp hối. Mọi phi cơ Nhựt trên quần đảo đều biến mất, nếu không bị chiến đấu cơ Mỹ đẩy rớt xuống đất, thì cũng bị các phi vụ Kamikaze một chiều thiêu rụi hết. Các cuộc tấn công Thần Phong tiếp diễn đến khi không còn chiếc phi cơ nào để tiếp tục.

Vào ngày 20 tháng Giêng năm 1945, Hải quân Hoàng gia thành lập một không đoàn khu trục mới, không đoàn chót cùng trong cuộc chiến, ở Matsuyama, trên đảo Shikoku. Khi thuyên chuyển đến căn cứ mới, tôi gặp lại Trung tá Nakajima, ông được chỉ định vào chức vụ chỉ huy phó không đoàn. Ông rút khỏi Phi Luật Tân với mười lăm phi công khác để lập nền tảng cho không đoàn mới này. Ðây là không đoàn bao gộp những tay chiến đấu tài ba. Chỉ huy trưởng không đoàn là Ðại tá Minoru Genda, được xem là một trong những chiến lược gia hải quân sáng chói nhứt của Nhựt Bản, là người đã thiết kế trận tấn công Trân Châu Cảng.

Trung tá Nakajima là người duy nhứt mà tôi quen biết nhiều. Một hôm có dịp vô văn phòng của ông với ý định nhắc nhở lại những người đã từng sát cánh chiến đấu với chúng tôi trong quá khứ, tôi đã lặng người khi ông cho tôi biết tin tức về cái chết của Nishizawa.

“Hắn đã mất”, Nakajima nói, “trong một trường hợp đáng tiếc xảy ra vào ngày 26 tháng 10, ngay sau cuộc tấn công Thần Phong đầu tiên.”

“Nishizawa đã tình nguyện tham dự phi vụ Thần Phong vào ngày kế đó, sau khi hộ tống năm chiến đấu cơ Zéro chúi xuống chiến hạm địch trở về. Hắn nói với tôi rằng hắn sẽ chết sớm. Việc này thật lạ lùng,” Nakajima nghĩ ngợi, “nhưng Nishizawa nhấn mạnh rằng hắn có một linh cảm. Hắn cảm thấy đời sống của mình chỉ còn một đôi ngày nữa mà thôi.”

“Tôi không cho hắn đi. Một phi công tài ba như vậy, để hắn chiến đấu sẽ có ích cho xứ sở hơn là để hắn chúi xuống một hàng không mẫu hạm. Nhưng hắn cứ nằng nặc xin đi cho được.

“Nhưng, vào ngày chiếc chiến đấu cơ của Nishizawa chuẩn bị sẵn sàng thì hắn được lịnh lái một chiếc vận tải cơ Showa cũ kỹ và không võ trang, trên đó có một số phi công khác, đến phi trường Clark để nhận một số chiến đấu cơ Zéro. Chiếc vận tải cơ cất cánh vào sáng sớm ngày 26 tháng 10 từ Mabalacat và mất tích luôn.

“Phi cơ của hắn có lẽ bị chiến đấu cơ Hellcat hoạt động trong khu vực đó bắn hạ. Hình như hắn rớt ở một nơi nào đó ở Cebu. Tôi vẫn không thể nào tin nổi, Saburo, một phi công vĩ đại như vậy lại chết như vậy, bất lực, không thể bắn một phát súng tự vệ…”

Không còn gì để nói. Như vậy là Nishizawa cũng ra đi. Vị thần sát tinh của các phi cơ địch ở Lae và Rabaul đã đi chung đường với Sasai, Ota và những người khác.

“Ngay cả trong tình trạng chiến đấu ở Phi Luật Tân gian nan hơn trước đây cũng không thể làm giảm những chiến thắng trên không của hắn.” Nakajima nói, và ông tin rằng Nishizawa đã hạ hơn 100 phi cơ địch trong các trận không chiến. Ðiều này không thể nghi ngờ, cả tôi lẫn Nakajima hay bất kỳ người nào đã từng biết và chiến đấu với Nishizawa đều phải công nhận hắn là một “Ace” vĩ đại nhứt của Nhựt Bản, một phi công có khả năng và tài ba vô tiền khoáng hậu. Vậy mà hắn đã thiệt mạng trong một vận tải cơ không võ trang!

“Ít nhất Nishizawa cũng thỏa dạ là máy bay của hắn, chiếc Zéro gắn bom 250 kg giao cho phi công Tomisaku Katsumata đã đâm thủng sàn phi đạo của một hàng không mẫu hạm Mỹ ở Surigao làm nổ tung nhiều bình xăng máy bay và gây một đám cháy lớn.” Trung tá Nakajima kết thúc với giọng buồn bã, “Dù sao hắn cũng được toại nguyện là chiếc phi cơ của hắn đã hoàn thành nhiệm vụ.” Nakajima không còn gì để nói nữa. Một im lặng phủ trùm.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

December 18th, 2020

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Kỳ 32

Yêu ai, ai hiểu được lòng
Thầm kín những đớn đau với riêng lòng ta
Ấp ủ lạnh lùng tình yêu kia mà người nào hay.

Yêu ai, yêu cả một đời
Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta
Đau tủi cả lòng vì yêu ai mà lòng hằng nhớ
Năm tháng trôi lạnh lùng hoài
Tình đó nhắc nhở luôn đến ta tình ai
Nhớ cả một trời
Tình yêu kia mà lòng nào quên.

Chương 29 của tập hồi ký làm nghĩ đến nhạc phẩm Nỗi Lòng của Nguyễn Văn Khánh! 

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 32

Chương 29

Nhiệm vụ thí nghiệm phi cơ đã cho tôi cơ hội thăm viếng gia đình người chú ruột một lần nữa. Tôi rời Yokosuka vào một sáng sớm Chủ Nhựt để đến nhà chú tôi, lộ trình đi ngang qua Ðông Kinh.

Trong thời gian tôi vắng mặt, thủ đô sa sút hơn. Mặc dù từ năm 1942 không có trận oanh tạc nào xảy ra, nhưng phố xá có vẻ buồn tẻ và mất sinh khí. Hầu hết các tiệm buôn đều đóng cửa. Việc này có ý nghĩa rõ rệt. Không có hàng để bán và các chủ nhân vắng mặt, họ vô làm việc trong các cơ xưởng chiến tranh. Một vài tiệm buôn gượng gạo mở cửa, nhưng không còn sắc thái rộn rịp như tôi đã từng thấy trước đây, chỉ lèo tèo vài món hàng meo mốc. Sự phong toả của Ðồng Minh đã làm cho bao tử của Nhựt Bản thắt lại.

Tôi không ngớt đi qua những đám đông công nhân đang phá hủy nhà cửa dọc theo hai bên đường. Hàng mấy trăm người làm công việc này, nhằm dọn những khoảng trống để lửa không bắt qua, phòng ngừa trước các cuộc oanh tạc. Nhiều gia đình bắt buộc ra khỏi nhà, đứng thành từng nhóm nhỏ trên đường, đưa mắt buồn bã nhìn người ta xé nát căn nhà của mình ra mảnh vụn.

Tôi đã từng chứng kiến các trận oanh tạc. Ðối với tôi công tác phá hủy này là một cố gắng đáng thương hại, một nỗ lực hoang phí, ít có hiệu quả trong việc chống lại loại bom cháy.

Hầu hết dân chúng đi trên đường đều mặc đồng phục làm việc, hoặc loại quần áo căn bản của thời chiến, na ná như quân phục. Ðàn ông đã bị động viên hết chỉ còn toàn phụ nữ nhưng tôi không nhìn thấy một người đàn bà nào mặc y phục “Ngày Chủ Nhựt”, những chiếc Kimono màu sặc sỡ thời tiền chiến. Thay vào đó, họ mặc áo thô màu nâu sậm, và quần vải trơn rộng thùng thình.

Mỗi góc phố đều có đàn bà và trẻ con nối đuôi dài ngoằng, kiên nhẫn chờ đợi mua thức ăn. Mặt mày họ gầy tóp và lạnh lùng, chứng minh hùng hồn tình trạng thiếu thực phẩm đang đè nặng lên đời sống dân chúng.

Không phải mọi thứ đều đổi thay. Mấy chiếc loa phóng thanh đặt ở mỗi góc phố vẫn còn xỉa xói vô tai những lời hò hét, ca ngợi các chiến thắng tưởng tượng. Bích chương tràn ngập thành phố, kêu gọi dân chúng sản xuất mạnh mẽ hơn, chịu đựng thiếu thốn nhiều hơn, cho đến khi Nhựt Bản hạ gục đối phương.

Tôi cảm thấy bịnh hoạn. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng mình sẽ được nhìn thấy nỗi khổ tận cùng hằn sâu trên gương mặt của dân chúng Nhựt đến mức ấy.

Tôi chờ nhiều phút trước cửa nhà chú tôi. Có người đang dạo dương cầm… người đó là Hatsuyo chớ không ai khác. Tôi lắng nghe trong giây lát, khúc nhạc đầu tiên của nhiều tháng trước đây. Tiếng nhạc ngưng lại khi tôi gõ cửa. Tôi nghe tiếng chân của Hatsuyo chạy hấp tấp. Và nụ cười của nàng rạng rỡ như tia nắng ban mai. “Saburo! Trời ơi, gặp lại anh thật tuyệt diệu!” Nàng kêu lên. Nàng nhìn tôi chăm chú hồi lâu. “Tất cả gia đình đều cầu nguyện cho anh trở về, Saburo,” giọng nàng êm ái. “Em đã khấn nguyện hàng đêm cho anh lành lặn…”, nàng nhìn tôi mãn nguyện. “Anh trở về rồi đây, và đã trở thành một sĩ quan.” Hai má Hatsuyo hồng thắm sung sướng, sực nhớ đã quên chào, nàng vội khom lưng rồi mở rộng cửa.

Ngôi nhà quen thuộc không có gì đổi khác. Ðối với tôi, vẫn là ngôi nhà đẹp hơn bất kỳ ngôi nhà nào khác, bởi ngôi nhà này là của Hatsuyo. “Em càng ngày càng đẹp,” tôi nói. Tôi không thể ngăn mình ngợi khen Hatsuyo vì nàng thật đẹp. Tôi nói thêm “Em là vật mỹ lệ nhứt mà anh được thấy trong nhiều tháng nay. Nhưng tại sao em ăn mặc như vầy? Em làm anh choá cả mắt,” tôi tỏ vẻ lạ lùng. Nàng mặc một chiếc áo Kimono trang nhã, thẳng nếp và gọn ghẽ trên thân hình mảnh khảnh của nàng. Vải áo sẫm tôn thêm vẻ thùy mị ở Hatsuyo.

Nàng cười ròn tan. “Saburo, thỉnh thoảng em thấy anh giống như một gã ngù ngờ! Anh không biết đây là một trường hợp đặc biệt lắm hay sao? Em mặc áo này là mặc cho anh. Em kiên nhẫn chờ đợi để được mặc nó khi tiếp đón một tân sĩ quan!” Nàng tươi như hoa. “Ðây, anh hãy nhìn hai cái tay áo này!”, “hai tay áo bị cắt cụt phân nửa!”

“Chính phủ ra lịnh cho chúng em cắt ngắn tay áo,” nàng cười thích thú, xoay vòng quanh, hai cánh tay đưa về phía trước. “Anh không biết hả,” nàng thì thầm với dáng vẻ nghiêm trọng, “tay áo dài không thích hợp với tình trạng nguy cấp hiện thời.”, “ống tay ngắn mới làm lụng nhanh chóng!”

Tôi mỉm cười. “Hatsuyo, mọi người đi đâu hết rồi?” tôi hỏi. “Chú thím không có ở nhà hả?”

Nàng lắc đầu. “Chỉ một mình em ở nhà để đón anh, Saburo. Ba em không có ngày nghỉ. Ông tình nguyện tham gia vào công việc bảo vệ quê hương. Ông gia nhập vào Quân đoàn Trừ bị Lục quân và hiện đang thao dược ở một ngôi trường trung học gần đây. Ðêm nay Michio phải làm việc phụ trội trong cơ xưởng.”
Mặt nàng trở nên u ám. “Má em cũng đi khỏi, Saburo. Bà định mua một cái gì đặc biệt để tiếp đãi anh ở… …ở chợ đen.”

Tôi nhìn Hatsuyo. Nếu thím tôi làm như vậy, bà sẽ gặp rắc rối với cảnh sát. “Tại sao thím lại làm như vậy? Tôi lo lắng. “Thím không biết việc gì có thể xảy ra cho thím hay sao?”

“Em biết, em biết, Saburo”. “Nhưng má em cứ muốn được tiếp đón anh một cách chu đáo.”

Tôi lắc đầu. “Hy vọng mọi việc đều êm xuôi. Khi gọi dây nói cho thím, anh có cho thím biết hiện thời không một quân nhân nào đến thăm một gia đình dân sự lại không mang theo phần ăn của mình bao giờ”. Tôi chỉ cho Hatsuyo thấy cái hộp thức ăn tôi mang theo, cũng như nhiều nhu yếu phẩm khác mà tôi đã mua ở Quân Tiếp Vụ.

Hatsuyo bối rối. “Cám ơn anh, Saburo… Em … cám ơn anh.”

Hatsuyo lúng túng, chưa khi nào tôi thấy nàng lúng túng như vậy, điều này có nghĩa là gia cảnh chú thím tôi cũng đã khó khăn nhưng nàng lảng nhanh sang vấn đề khác. “Anh về rồi, em mừng lắm. Hãy đến ngồi đây, Saburo. Ngồi với em đi. Rồi, bây giờ kể cho em nghe mọi chuyện từ ngày anh ra đi. Những gì đã xảy ra ở Iwo Jima? Gia đình không nghe đài phát thanh đề cập đến, chỉ toàn là tin tức về cuộc chiến đấu khủng khiếp ở Saipan.”

Tôi bối rối. Chúng tôi có nhận nghiêm lịnh không được tiết lộ những gì đã xảy ra ở Iwo Jima. Thảm họa mà lực lượng chúng tôi hứng chịu ở đó được xếp vào hàng tối mật, không cho ai bên ngoài quân đội biết đến sự thật xảy ra.

Tôi xoay vấn đề, kể về chuyện những chiến đấu cơ mới mà tôi đã bay thử. “Nếu chúng ta có đủ những chiến đấu cơ mới này, chúng ta có thể lật ngược tình thế,” tôi nói “Với tốc độ phi thường, võ trang hùng hậu, loại phi cơ mới đủ sức tiêu diệt bất kỳ loại phi cơ nào của địch quân.” Tôi nói dối, tôi ý thức được điều đó. Nếu cuộc huấn luyện cứ giữ một mức, với các khoá sinh đâm đầu xuống đất hàng ngày, chúng tôi chỉ có một vài phi cơ may mắn lên được trên không cho tới lúc ra trận.

Sau nửa giờ nói chuyện quanh quẩn mọi thứ, có một vấn đề tối thiết nhứt mà tôi chưa nói. Tôi liếc nhìn dáng ngồi nghiêng của nàng, nhìn điệu bộ khi nàng nói, đôi mắt ngời sáng khi nàng thích thú, đôi má lúm đồng tiền khi nàng cười. Gương mặt ấy, vóc dáng ấy sống trong đầu tôi. Tôi muốn nói với Hatsuyo, nói một mạch không cần suy nghĩ. Tôi yêu nàng. Tôi muốn nàng biết tất cả mọi suy nghĩ của tôi. Hai tháng qua, nhưng đối với tôi hình như chỉ mới một đôi phút đây thôi, khi tôi quay đầu lại và nhìn thấy Iwo Jima tan biến dần ở chân trời thì hình ảnh của nàng hiện đến. Lúc ấy tôi nguyện với lòng rằng, nếu có một phép lạ nào đó mà tôi còn sống sót, tôi sẽ kể cho nàng nghe hết những cảm nghĩ của mình. Tôi yêu nàng. Tôi nghĩ đến nàng hàng ngày dưới chân núi lửa Suribachi, lúc uống nước mưa đầy tro nham thạch, lúc sắp xếp vật dụng tùy thân cho người ta gửi về cho má tôi, lúc bay giữa mưa bão trong mù mịt sa mù… nàng luôn hiện ra, với ánh mắt lúc này, với đôi môi này, sóng mũi này. Tôi đã bất tuân trong phi vụ chót, đã quay trở về vì nàng. Bây giờ… tôi không thể nói!

Không có gì thay đổi cả! Tôi vẫn là một phi công khu trục, cho dù tôi đã bước lên hàng ngũ sĩ quan. Tôi biết, tôi sẽ bay chiến đấu trở lại, và những chiếc Zéro bùng cháy mà tôi đã nhìn thấy rơi xuống trước họng súng của những chiếc Hellcat vẫn còn in đậm trong tâm trí của tôi. Tôi biết, chúng tôi phải đương đầu với những đối thủ vượt trội. Nếu chiến đấu trở lại, tôi sẽ đâm đầu xuống đất và chết cháy. Không biết giây phút nào. Không có gì thay đổi cả! Tôi vẫn là một phi công thương phế binh và phải biết tránh cho Hatsuyo hai chữ góa bụa.

Chỉ mới hai tháng đây thôi, mạng lịnh của của Ðại tá Miura còn vang vang bên tai tôi: “Các anh phải chúi xuống các hàng không mẫu hạm của địch cùng một lúc. Chúi xuống! Cùng với thủy lôi, đời sống và linh hồn của các anh!”, “Các anh không trở về. Các anh đã nhận lịnh xong!” Làm sao tôi có thể kể cho nàng nghe về tử lịnh này, chỉ làm cho nàng thêm hốt hoảng vô ích. Làm sao tôi có thể cãi lịnh thêm lần nữa mà không bị kỷ luật, đưa ra tòa án binh hay tệ nữa, bị đuổi ra khỏi Hải quân với tủi hổ và nhục nhã? Tôi biết tôi sẽ còn nhận tử lịnh khác nay mai khi hoàn cảnh bắt buộc Nhựt dốc hết sinh mạng vào cuộc chiến. Phải tránh cho nàng thành góa bụa, ít nhất là điều tôi còn có thể làm được.

Bỗng nhiên Hatsuyo làm tôi bừng tỉnh. “Saburo,” nàng dịu dàng nói, “Anh có biết Fujiko đã lấy chồng rồi không?”

Tôi không biết. “Sau khi mọi chuyện êm lắng,” nàng nói tiếp, “Fujiko kết hôn với một phi công. Một phi công. Giống như anh.” Nàng thêm, giọng châm chọc.

Tôi muốn nói, nhưng nàng tiếp. “Saburo, tại sao anh chưa chịu lập gia đình? Anh không còn trẻ nữa, anh biết rồi. Anh đã hai mươi bảy tuổi đầu. Anh đã nên người. Anh đã là một sĩ quan. Anh nên lo việc hôn nhân.”

“Nhưng anh đã nói với em, Hatsuyo, anh không quen biết một cô gái nào hợp với anh cả.”

“Anh không yêu Fujiko?”

Tôi không biết nói sao. Một nỗi im lặng nặng nề vây lấy chúng tôi. Hatsuyo bước đến vặn nút chiếc máy phát thanh, bắt giờ nhạc êm dịu buổi trưa. Âm nhạc phá tan không khí nặng nề.

Nàng quay lại và ngồi xuống bên tôi. “Ðược rồi, Saburo” nàng nói, “dĩ nhiên, Saburo, anh cần phải tìm một người vợ thích hợp với anh mọi mặt. Anh cần một người vợ biết chăm sóc cho anh, có đạo đức, lễ phép.”

Hatsuyo đang làm tôi bối rối. Nàng không chịu nhìn đi nơi khác, mắt của nàng cứ nhìn tôi đăm đăm. Nàng nhìn thẳng tôi chờ đợi một lời đáp. Tôi trở nên luống cuống, định nói nhưng miệng cứ ấp úng mãi.

Tôi đứng ngay dậy và bước đến cửa sổ, đưa mắt nhìn ra ngoài. Vườn hoa xinh xắn đã biến mất, thay vào đó là những luống rau.

“Còn nhiều người đẹp hơn Fujiko nữa, Saburo,” Hatsuyo nói. Nàng đã bước đến phía sau tôi, và hiện tại hầu như thân thể nàng chạm vào tôi. “và đoan trang nhu mì như anh muốn.”

“Hatsuyo!” Tôi la lớn. “Anh không muốn nói đến chuyện này nữa!” Cơn thịnh nộ của tôi khiến nàng bất ngờ. “Chúng ta đã nói đi nói lại bao nhiêu lần rồi. Nhưng thực tế không hề thay đổi. Không có gì thay đổi hết. Anh vẫn là một phi công, em biết chớ? Mỗi lần anh cất cánh là có thể anh không bao giờ trở về. Mỗi lần! Mỗi lần! Ðiều đó chắc chắn xảy ra, không chóng thì chầy. Không chóng thì chầy!”

Tôi bực bội và phiền não. Tại sao nàng cứ nói đi nói lại về chuyện hôn nhân? Tôi thấy tôi đáng ghét, do những lời lẽ mà tôi đã thốt ra. Tôi thấy tôi đáng ghét, vì không dám nói ra cảm nghĩ của mình cho nàng nghe.
“Hiện tại không có một phi công nào mà không chuẩn bị để chết, Hatsuyo,” tôi giải thích. “May mắn của chúng anh đặt ra ngoài. Vì không còn may mắn nào nữa. Tài ba vô dụng. Việc này…”

“Anh nói giống như trẻ con. Saburo!” Ðôi mắt nàng bừng lên nỗi giận dỗi. Tiếng nàng trầm xuống đến nỗi tôi phải cố lắng nghe. “Anh cứ nói vòng quanh, và anh không biết những gì anh đang nói. Anh không biết trái tim của một cô gái.”

Nàng giơ tay lên trong một dáng điệu giận dữ. “Anh nói về chuyện bay bổng, anh nói về chuyện chết chóc, Saburo. Anh không biết nói gì khác hơn. Anh không biết nói về sự sống còn. Anh không bao giờ nghĩ đến đời sống.”

Nàng bước đến tắt chiếc máy thâu thanh với một cử động giận dữ. Không thèm để ý đến tôi, nàng ngồi xuống trước chiếc dương cầm, mấy ngón tay uể oải trên phím đàn. Tiếng nhạc thiểu não.

Tôi câm miệng. Nhiều phút trôi qua, tôi đứng chôn chân một chỗ, không nói một lời. Cuối cùng, tôi lên tiếng. “Hatsuyo, anh… anh không biết. Có lẽ, nếu… Ðó là lỗi của anh. Anh có thể làm gì được một khi chúng ta đang ở vào thời chiến?” Tôi nói lớn. “Tại sao em cứ nói mãi vấn đề này?”.

“Gặp em trong ngôi nhà này, như vầy đã là quá đủ đối với anh rồi.” Tôi tiếp. “Anh muốn… anh không biết,” tôi ấp úng. “Tất cả những gì anh muốn biết, tất cả những gì mà anh ao ước là được thấy em vẫn còn sống sót và hạnh phúc.”

Nàng đập mạnh đôi tay lên phím đàn và quay lại. “Em không muốn sống nữa! Sống để làm gì và… và…” Nàng đặt tay lên ngực: “Trống rỗng ở đây? Không một ai trong chúng ta, ngay cả một phi công, ngay cả những người trong ngôi nhà này có thể nhìn thấy trước sự sống còn. Anh không hiểu như vậy sao, Saburo? Anh không hiểu sao?”

Cơn giận của nàng khiến tôi giật mình. “Một người đàn bà chỉ hạnh phúc,” nàng nói thẳng, “một khi được sống với người đàn ông mà mình yêu thương. Cho dù, cho dù chỉ một đôi ngày cũng được.”, “Một đôi ngày cũng đủ, Saburo.”

Nàng quay khuôn mặt bi thiết đi, dồn hết giận dữ lên chiếc dương cầm. Tiếng nhạc oán trách, dữ dội, mạnh mẽ. Tôi đứng như trời trồng, không biết nói hoặc làm gì.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

December 11th, 2020

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Kỳ 31

Nhật Bản rơi vào biển lửa của hàng vạn pháo đài bay liên tục trải thảm mà các chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zéro không còn đủ sức nghênh cản khi các đoàn oanh tạc cơ này được hàng đoàn khu trục Grumman F6F Hellcat tối tân, bay nhanh hơn, đông đảo hộ tống. Nhật Bản không còn chọn lựa nào khác ngoài tử chiến đến cùng. Riêng Sakai, sau 11 năm quân ngũ và sau sống sót trở về từ Iwo Jima thăng chức Kaigun Shoi là Hải quân Thiếu úy. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 31

Chương 28

Lực lượng đặc nhiệm của Hoa Kỳ không cho chúng tôi nghiền ngẫm vận xấu của mình. Từ nhiệm vụ không may trở về vào ngày hôm trước, ngay hôm sau chúng tôi được 16 chiến hạm địch tiến sát vô hòn đảo và nổi đại pháo chào mừng.

Tách khỏi thành phần chánh của hạm đội, tám tuần dương hạm và tám khu trục hạm nhàn nhã hướng đến Iwo jima. Sau một vài quả đạn thăm dò, mười sáu chiến hạm di chuyển vào tầm trực xạ.

Suốt hai ngày, chúng tôi sống chui rúc như chuột, cố vùi mình xuống bụi cát của núi lửa càng sâu càng tốt. Suốt 48 tiếng đồng hồ, mười sáu chiến hạm chậm rãi chạy lui chạy tới, hai bên hông ánh lửa loà sáng, tuôn ra những khối thép kêu gào, làm rung chuyển từ đầu đến cuối hòn đảo.

Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình bất lực và nhỏ nhoi như tôi đã sống trong hai ngày này. Chúng tôi bó tay, không biết cách nào để chống trả. Mọi thứ trên đảo đều bị xé nát thành những mảnh nhỏ. Không một ngôi nhà nào còn đứng vững. Không một căn lều nào thoát khỏi. Cả bốn chiến đấu cơ vừa trở về từ phi xuất cuối cùng cũng bị đại bác địch nghiền nát.

Nhiều trăm binh sĩ bộ binh và hải quân thiệt mạng. Con số bị thương gấp đôi. Iwo nằm bất tỉnh. Mọi người đều ù tai nhức óc dưới hàng nhiều ngàn quả đạn pháo rớt không ngưng nghỉ lên hải đảo nhỏ bé. Binh sĩ phòng thủ trở nên đần độn, ngù ngờ bởi cuộc pháo kích khủng khiếp phải chịu đựng. Ðầu óc họ rối loạn, ăn nói không đâu vô đâu.

Riêng nhóm phi công nhỏ nhoi còn tồn tại đã gây sửng sốt không kém gì trận mưa pháo. Một nhúm, nhưng nhóm phi công không có phi cơ chúng tôi quyết tâm bảo vệ hòn đảo, chống lại cuộc đổ bộ mà mọi người đều tin sắp xảy ra không chóng thì chầy. Chúng tôi tổ chức thành “Ðại đội Thủy quân Iwo Jima” thề nguyền đâu lưng với những binh sĩ bộ binh chiến đấu cho đến người cuối cùng. Chúng tôi nhận võ khí và đạn dược. Chắc chắn chúng tôi sẽ bị tiêu diệt cấp kỳ. Nếu Mỹ chiếm Saipan (việc này hình như đã xảy ra rồi), nếu họ nắm ưu thế tuyệt đối trên không, nếu các tàu chiến của họ khinh thường hạm đội của chúng tôi, chạy qua chạy lại sát Iwo Jima một cách ngạo mạn, thì thử hỏi làm sao họ không nuốt trôi hệ thống phòng thủ le ngoe của chúng tôi?

Truyền tin Iwo Jima kêu gọi Yokosuka gởi viện binh liên hồi. Chúng tôi xin thêm chiến đấu cơ. Chúng tôi xin bất cứ thứ gì giúp chúng tôi bay được! Không đoàn Yokosuka không còn gì hết. Ba mươi chiếc Zéro theo chúng tôi đến Iwo là những chiếc khả dụng cuối cùng. Không hơn nữa! Rối loạn ngự trị ngay tại Bộ Tư Lịnh Tối Cao ở Ðông Kinh.

Tiếng la hân hoan, tiếng thét vui mừng đánh thức chúng tôi vào một buổi sáng, không lâu sau cuộc pháo kích tàn khốc. Hải quân không quên chúng tôi. Nhiều quân vận hạm xuất hiện ở chân trời, hướng về hòn đảo. Chúng tôi chạy xuống bờ biển vừa la hét vừa cười đùa vừa nhìn các dương vận hạm phụt lên những tia lửa và nước, chìm ngay trước mắt chúng tôi! Tàu ngầm Mỹ đã tiên đoán một cuộc tiếp vận như vậy và chờ đợi để ra tay!

Thảm hoạ cuối cùng này đem đến tuyệt vọng. Nói lên điều hiển nhiên là chúng tôi đang hấp hối, hoi hóp, rằng trong vòng một hoặc hai giờ sau đổ bộ, Hoa Kỳ sẽ kiểm soát Iwo dễ dàng. Chúng tôi tin chỉ còn sống sót một đôi ngày.

Không có tấn công! Hết giờ này sang giờ khác, các quan sát viên trên những vọng canh từ đầu đảo đến cuối đảo chăm chăm nhìn ra biển, tìm kiếm hạm đội đổ bộ. Hết lần này đến lần khác, một quan sát viên vì quá căng thẳng tưởng như nhìn thấy một vật gì đó trên mặt biển nên vội vã báo động. Chuông, tù và, trống, phèng la hay bất cứ thứ gì có thể gây ra tiếng động phá tan sự yên tĩnh với một âm thanh khiếp hãi. Chúng tôi lăn ra khỏi giường, mặt mày đanh lại, ghìm võ khí, tra đạn, xếp sẵn lựu đạn chung quanh vị trí, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng không có gì xảy ra.

Dĩ nhiên, chúng tôi không biết Mc Arthur đã quay hướng sang Phi Luật Tân, và cho mãi đến tám tháng sau  mới quày lại Iwo Jima. Trong suốt tám tháng này, Trung tướng Tadamichi Kuribayashi đã đặt chân lên hòn đảo, mang theo 17,500 binh sĩ bộ binh và gần 6,000 thủy binh. Ông biến Iwo Jima thành một pháo đài kiên cố, với những công sự nổi và hệ thống hầm ngầm mạnh mẽ. Ông đổ vũ khí cho đến khi hòn đảo không còn chỗ để chứa.

(Sau này, nhiều tư lịnh Nhựt cho rằng cuộc chiến sẽ kết thúc sớm hơn nếu Mc Arthur tấn công Iwo Jima vào tháng 7-1944, thay vì chần chờ cho đến tám tháng sau. Theo những tướng lĩnh này, cuộc đổ bộ lên Phi là một cuộc đổ bộ đắt giá, rất thành công đối với Mc Arthur, nhưng lại là một mặt trận vô nghĩa, gây trì trệ sự chiến bại đã nhìn thấy trước mắt của Nhựt.

Cuối cùng, cuộc đổ bộ được phỏng đoán từ lâu đã đến vào ngày 19 tháng 2 năm 1945, quy tụ một sức mạnh quân sự vĩ đại. Theo hải quân Hoa Kỳ, lực lượng đổ bộ gồm 495 chiến hạm, trong đó có 17 hàng không mẫu hạm. Tin tức chánh thức của chính phủ Hoa Kỳ cho biết thêm về con số phi cơ không thể tưởng tượng đã yểm trợ cho cuộc đổ quân: 1,170 máy bay.

Tổng số 75,144 binh sĩ Hoa Kỳ đã tham dự vào mặt trận gay go nhứt của toàn thể cuộc chiến này. Khi các trận đánh trên hòn đảo chấm dứt: 5,324 Thủy quân Lục chiến Mỹ thiệt mạng và 16,000 bị thương. Cho mãi đến ngày 16 tháng 3, Hoa Kỳ mới công bố đã kiểm soát được hòn đảo hoàn toàn, khi lính Nhựt cuối cùng bị giết.

Sau nhiều lần báo động đổ bộ hụt, một công điện từ Yokosuka đã gây kinh ngạc cho chúng tôi. Bộ Tư Lịnh Không đoàn Thủ đô thông báo cho chúng tôi biết tất cả sĩ quan tham mưu và phi công được rút về Nhựt bằng phi cơ. Những vận tải cơ này đang trên đường đến Iwo Jima.

Việc bất ngờ này gây hưng phấn cho bọn phi công chúng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trên mặt đất… và bây giờ … mạng sống của chúng tôi được phục hồi! Chúng tôi buông súng và chạy ùa ra phi đạo chánh tiếp tay với các cơ khí viên và bộ binh để lấp hàng nhiều trăm lỗ hủng do đại pháo địch gây ra.

Chúng tôi không hy vọng một phép lạ nào xảy ra do đó không ai nghĩ đến việc sửa chữa phi đạo sau cuộc pháo kích ngày 4 tháng 7. Tôi nằm trong số những phi công biến thành cu li, làm việc sốt sắng và hăng say. Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi người đều vui vẻ. Còn những người phải ở lại. Chẳng hạn như các nhân viên bảo trì cũng như đơn vị bộ binh phòng ngự. Những người này, không ai thốt một lời phản kháng quyết định bỏ họ lại, nhưng có thể nhìn thấy sự đố kỵ và phẫn uất trên nét mặt của họ.

Quá trưa ngày hôm đó, những phi cơ đầu tiên đáp xuống. Ðó là những oanh tạc cơ phế thải, lần lượt sà sát mặt nước để tránh radar trên các chiến hạm địch quanh quẩn trong khu vực, phát giác. Thật may cho chúng tôi, trong suốt thời gian phi cơ đáp xuống và cất cánh, không có một chiến đấu cơ nào của Hoa Kỳ xuất hiện. Có tất cả 7 oanh tạc cơ hai máy đến chở những người được chọn trở về Nhựt. Ngay cả hệ thống quân giai chặt chẽ đã từng áp dụng cũng trở thành vô hiệu trong tình cảnh tuyệt vọng của chúng tôi ở đây.

Mỗi người được di tản lần lượt lên phi cơ theo thứ tự xếp hàng mà không theo cấp bực…

Nhóm của tôi gồm 11 hạ sĩ quan và binh sĩ phải ở lại vì không đủ chỗ. Chúng tôi nhìn đăm đăm theo chiếc phi cơ cuối cùng lướt trên không trung trực chỉ về Nhựt. Máy bay đã biến mất nhưng chúng tôi vẫn cứ nhìn theo.

Ngày hôm sau, một máy bay duy nhứt quày lại Iwo để đón chúng tôi. Tôi mất tin tưởng khi nhìn thấy chiếc phi cơ lảo đảo trên phi đạo. Không chỉ là một chiếc phi cơ phế thải, nhưng còn tồi tệ hơn đến nỗi khó thể tưởng nó có thể bay được. Với 11 người chúng tôi chất lên, chiếc phi cơ xiên xẹo ì ạch ra phi đạo. Nó không thể nào đạt đủ tốc lực để cất cánh, và vì rú hết ga, một động cơ bốc khói cuồn cuộn. Viên phi công buộc phải quay lại, và các cơ khí viên bắt tay sửa chữa ròng rã hai tiếng đồng hồ. Hai giờ bằng hai tuần đối với chúng tôi. Chúng tôi cứ dõi mắt lên trời, lo ngại chiến đấu cơ Hellcat xuất hiện rót đạn vô chiếc oanh tạc cơ già nua này. Chỉ cần một chiếc Hellcat cũng đủ chôn chân chúng tôi trên đảo.

Cuối cùng công việc sửa chữa hoàn tất. Khi chúng tôi bước lên phi cơ, nhân viên dưới mặt đất nhìn theo với đầy tuyệt vọng thảm thiết,  đến nỗi tôi phải quay lại nói với họ: “Chúng tôi sẽ sớm trở lại. Và sẽ trở lại với những chiến đấu cơ mới!”

Không ai trong số những người ở lại dám mơ tưởng rằng Iwo Jima sẽ được địch quân bỏ quên gần tám tháng ròng rã.

Khi chúng tôi bay được mười phút, chiếc phi cơ lắc lư mạnh mẽ. Tôi nhìn ra cửa sổ. Ðộng cơ bên phải của máy bay càng lúc càng lung lay dữ dội. Thân máy bay chòng chành run bần bật. Ðống sắt vụn này làm sao nuốt trôi 650 dặm để đưa chúng tôi về Nhựt?

Phi công phụ, một thanh niên khoảng hai mươi tuổi, bước vô phòng lái, lắp bắp: “Chuẩn úy Sakai? Thưa chuẩn úy, chuẩn úy có thể bước vô phòng lái để giúp chúng tôi không?” Mặt hắn tái xanh và run còn hơn chiếc phi cơ.

Ðoán biết hắn muốn gì, tôi đáp trước khi hắn dứt lời. “Quày lại! Với động cơ như vầy chúng ta không thể về tới Nhựt đâu. Các anh phải quày phi cơ lại để sửa chữa nữa.”

Phi hành đoàn vâng lời lập tức. Trở lại Iwo, lui cui sửa chữa, và phi cơ lại cất cánh. Một giờ sau, chúng tôi chui vô một trận mưa bão cuồng nộ. Mưa đập liên hồi và quật phừn phựt lên hai cánh máy bay. Từ nóc máy bay dột nát, nước chảy xuống giống như một cái rây. Viên phi công phụ lại quày ra, van xin tôi vô phòng lái.

Viên phi công trưởng khoảng hai mươi hai tuổi, hỏi tôi:

“Thưa chuẩn úy, chúng ta nên bay phía trên hay phía dưới lớp mây?”

“Phía dưới!” Tôi ra lịnh.

Mưa bão vẫn tiếp tục, mù mịt đến nỗi nhiều lần mắt chúng tôi như bị bịt kín. Cơn bão này dữ dội hơn cơn bão mà tôi đã gặp mấy ngày trước, lúc tôi còn cố tìm kiếm lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ ở gần Saipan. Chiếc oanh tạc cơ trồi lên hụp xuống, và rơi thấp dần cho đến khi bay hớt trên đầu ngọn sóng. Trong cơn tuyệt vọng, phi công trưởng quay khuôn mặt tái mét sang tôi và hỏi một câu thật bi ai. “Bây giờ, chúng ta đương ở đâu? Phải bay theo hướng nào, thưa chuẩn úy?”

Ðó là một câu hỏi đần độn nhứt trong đời mà tôi được nghe từ miệng một viên phi công. Tôi sửng sốt mất vài giây, không thốt nên lời. Làm sao một phi công có thể đặt một câu hỏi xuẩn ngốc đến như thế?

“Xuống đi! Tôi lái cho!”. Tôi hét.

Hắn không phí thời giờ, rời khỏi ghế ngồi trao ngay tay lái cho tôi.

Gần chín mươi phút tôi bay như kẻ đui mù, cố đưa chiếc phi cơ què quặt ra khỏi cơn mưa bão. Cuối cùng, bán đảo quen thuộc phía Nam vịnh Ðông Kinh hiện ra trong tầm mắt.

Tiếng kêu mừng rỡ của phi hành đoàn và hành khách làm rung chuyển chiếc oanh tạc cơ. Chúng tôi đáp xuống căn cứ Kisarazu, nằm phía bên kia vịnh, đối diện Yokosuka. Tôi đảo mắt quanh phi trường rộng lớn. Nhựt Bổn! Tôi lại đặt chân lên quê hương! Ðã bao lần tôi tưởng không bao giờ nhìn thấy lại xứ sở. Chỉ một đôi giờ bay mà giữa nơi đây và Iwo Jima khác biệt xiết bao! Ðối với tôi, và mười người khác vừa rời bỏ đỉnh núi diêm sinh Suribachi, nước trong lành ngọt ngào ở Nhựt là vật quý nhứt trên thế gian này. Nước ở đây không có mùi tro than dễ sợ như mưa hứng ở Iwo Jima. Tất cả chúng tôi chạy băng qua sân để đến một tháp chứa nước. Chúng tôi mở vòi cho nước mát lạnh bắn phun ra. Tôi uống lấy uống để, thưởng thức cảm giác và mùi vị cùng tận của nước chảy ngọt lịm xuống cổ họng mình.

Nhưng Iwo Jima quá gần phía sau tôi. Muto và tôi đã cùng chung ý nghĩ, nên bỗng nhiên chúng tôi không thể nào uống thêm được nữa. Cả hai cùng nghĩ đến những đồng đội, những người đã chết chỉ một đôi ngày trước đây do thương tích của đạn pháo gây ra, kêu gào trong cơn hấp hối: “Nước! Nước!” Họ xin nước, nhưng không ai còn một giọt nào cả. Chỉ còn cặn nước đục ngầu nồng nặc mùi lưu huỳnh vàng quánh dưới đáy phuy sắt rỉ sét.

Một tháng sau khi tôi trở về Yokosuka, tôi được thăng cấp Thiếu úy. Sau mười một năm, tôi tiến lên địa vị của một sĩ quan thực thụ. Ðó là một thành tích vượt bực trong binh chủng hải quân.

Có nhiều quân nhân tham dự trận tấn công bằng tiềm thủy đĩnh vô Trân Châu Cảng đã được thăng đến hai cấp, và trong số đó có người bước ngay lên hàng ngũ sĩ quan, mười năm sau khi họ nhập ngũ. Tuy nhiên, việc thăng thưởng của họ giữ đúng truyền thống là thăng cấp sau khi qua đời. Tôi là binh sĩ đầu tiên, từ bậc thấp nhứt là Binh Tứ  lên cấp bậc sĩ quan chánh thức trong vòng 11 năm mà vẫn còn sống sót.

Muto và tôi được tái bổ nhiệm phục vụ ở Không đoàn Yokosuka. Chúng tôi không bị gởi trở lại Iwo Jima. Bộ Tư Lịnh Tối Cao bắt buộc phải bỏ trống không phận hòn đảo trong nhiều tháng vì lý do thiếu phi công và phi cơ.

Hiện thời cuộc đổ bộ của địch quân ở Phi Luật Tân đã nhìn thấy rõ rệt, do đó bao nhiêu phi công và phi cơ đều đổ sang để bao che cho lực lượng Nhựt trên quần đảo này. Chúng tôi gặp lại Trung tá Nakajima trước khi ông lên đường sang Cebu bên Phi.

So với những cú đấm bi thảm mà chúng tôi chịu đựng ở Iwo Jima, nhiệm vụ mới của tôi là một sự thay đổi lớn. Công tác mới bao gồm việc huấn luyện tân phi công và thí nghiệm phi cơ. Bộ Tư Lịnh Tối Cao ra lịnh sản xuất hàng loạt khu trục cơ mới để thay thế loại Zéro. Ngay cả những sĩ quan cố chấp nhứt cũng không thể nào phủ nhận loại Zéro, có lần được xem là mạnh nhứt, hiện thời đã mất khả năng không chiến. Họ cũng phải công nhận các loại máy bay mới của đối phương trên chân các loại phi cơ cũ của chúng tôi nhiều. Ở quần đảo Mariana và ở các cuộc đụng độ khác, chiến đấu cơ Hellcat đã chứng tỏ ưu thế đáng nể về mọi mặt. Nhiều báo cáo từ Nam Thái Bình Dương cho biết loại Lockheed P38 Lightning có những cải tiến lớn, vượt hẳn loại P38 cùng loại đã lâm trận hồi cuối năm 1942. Loại P38 mới nầy có tốc lực nhanh, bay cao hơn chiếc Zéro rất xa, nhứt là khả năng chúi xuống và vượt lên cũng mau lẹ hơn. Phi công P38 bay ở cao độ cao có thể chọn lựa thời gian và không gian để đánh… với kết quả đầy bi thảm cho phi công của chúng tôi.

Cũng không thể hồ nghi khả năng của loại chiến đấu cơ F4U Corsair của Hải quân Hoa Kỳ, hầu hết đều hoạt động từ các căn cứ trên đất liền. Nhanh nhẹn không bằng loại Hellcat, tuy nhiên loại Corsair có tốc lực nhanh hơn chiếc Zéro nhiều, và có tốc độ bổ nhào khủng khiếp.

Các phi công Lục quân của chúng tôi ở Miến Ðiện đã báo cáo đụng độ với loại North American P51 Mustang, vượt trội chiếc Zéro về tầm hoạt động xa. P51 Mustang ra mắt lần đầu tiên khi hộ tống các oanh tạc cơ B24 Liberator bốn máy dội bom lãnh thổ Nhựt hồi tháng 11 -1943. Và điều hiển nhiên là Nhựt hoàn toàn không chuẩn bị để ứng phó với siêu pháo đài bay B29 xuất phát từ các phi trường ở Trung Hoa tấn công Cửu Châu. Những chiến đấu cơ Ki-43 Hayabusa của Lục quân Nhựt đã bó tay trước loại oanh tạc cơ bay mau, trang bị hùng hậu và bọc giáp này. Nếu pháo đài bay B17 đã từng là một đối thủ phi thường thì siêu pháo đài bay B29 này là một đối thủ không thể nào thắng nổi.

Các ý niệm phòng thủ thích nghi của Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt được đưa ra quá muộn, và cũng quá khiếm khuyết. Ða số chiến đấu cơ của chúng tôi là loại Zéro, tỏ ra hữu hiệu trong thế công vào những ngày đầu của cuộc chiến, nhưng tỏ ra vô dụng khi chống lại B29. Hầu hết phi công oanh tạc cơ Nhựt vẫn còn bay loại Mitsubishi Betty, hiện thời quá cũ kỹ, quá chậm chạp, và chỉ còn lại đặc điểm duy nhứt là biến thành ngọn đuốc trước hoả lực của đối phương.

Sự thất thủ của Saipan đã thúc đẩy việc phá vỡ bất ngờ những mạng nhện nằm trong kế hoạch của Nhựt, Bộ Tư Lịnh Tối Cao kêu gào chiến đấu cơ mới, vượt trội hơn loại Zéro.

Vào tháng 11, tôi bắt đầu bay thử hai loại máy bay mới. Ðầu tiên là loại Shiden (Cường Phong), phía Mỹ gọi là George, nặng nề và tầm hoạt động kém hơn loại Zéro, nhưng tốc lực mau hơn và được trang bị đến bốn khẩu đại bác 20 ly. Shiden kiến trúc vững chắc, võ bọc sắt an toàn cho phi công. Tôi đã phải kinh ngạc về sự nhanh nhẹn trong thân thể nặng nề của loại phi cơ này.

Không may, đặc tính của chiếc Shiden là hay giở chứng đòi hỏi phải có một phi công dầy kinh nghiệm. Nhiều người đã có dịp bay thử với Shiden, nhưng không có dịp sống sót để lâm trận với nó. Loại tiêm kích mới thứ hai là Raiden (Lôi Ðiện), phía Mỹ gọi là Jack, trù tính chống lại oanh tạc cơ hạng nặng như B29 chẳng hạn. Vì mục đích này, Raiden được chế tạo rất hoàn hảo, và nhiều phi công Nhựt so sánh nó với loại chiến đấu cơ to khỏe Focke Wulf 190 của Ðức. Bốn đại bác 20 ly đem tới cho Raiden một quả đấm hiệu quả trong việc chống lại các pháo đài bay, và với tốc lực hơn 640 cây số giờ được coi là phi thường lúc đó, nó vượt xa loại Zéro. Ngay với trang bị và thân bọc thép dày của Raiden, chiếc Zéro đã không bì kịp rồi.

Raiden rất thích hợp để tấn công B29, nhưng giống như loại Shiden, nó đòi hỏi tài ba của người lái. Bởi lẽ chỉ chú trọng đến tốc lực và trang bị, nên sự xoay trở lanh lẹ của Raiden rất yếu; trên phương diện này so với chiếc Zéro, Raiden giống như một chiếc xe hơi.

Chúng tôi chịu đựng sự mất mát đáng sợ trong khi huấn luyện vì tai nạn xảy ra hàng ngày. Sau này, khi những chiếc Hellcat và Mustang gầm thét trên không phận Nhựt, những phi công lái Raiden đụng độ với đối phương mới nhận thấy sự xoay trở yếu kém của nó, nhưng tất cả đều quá muộn.

Lan man một khúc ca dao!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

March 16th, 2023

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Có một độc giả gởi vô tòa báo quốc doanh một câu hỏi: “Một mai ai đứng bên kinh? Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài? Bên kinh đã có con trai. Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu.” Bài này vẫn nghe hát ru em như vậy, có đúng nguyên văn của người xưa hay không? “Kinh” có nghĩa gì khác hơn con sông đào? Sao lại rinh quan tài? Cả bài có ý nghĩa gì?

Thì An Chi, một học giả VC tập kết (1935-2022) trả lời: “Nguyên văn hai câu đầu là: Một mai ai đứng minh tinh (?). Ai phò giá triệu, ai nghinh quan tài?”(Tui không biết ông học giả An Chi lấy hai câu nầy ở đâu ra?)

  1. Minh tinh, trong Nam còn gọi là tấm triệu, là dải lụa dài ghi tên họ, tuổi tác, chức tước, ngày từ trần v.v. của người chết, treo trên một cái giàn nhỏ có đòn khiêng, thường gọi là cái giá triệu, để khiêng đi trước quan tài khi đưa đám tang. Vậy đứng ‘minh tinh’ là có tên trên tấm minh tinh, nghĩa là đã chết.
  2. Nghinh (nghênh) là đón rước. Nghinh quan tài là bưng cái bát hương đi thụt lùi phía trước quan tài để dẫn đường. (Tui tự hỏi: Ði thụt lùi, đưa đít về phía trước, mắt nhìn về phía sau thì thấy đường đâu mà dẫn?)
  3. Còn phò giá triệu là chống gậy tang đi bên cái giá triệu để hộ tống. Nghinh quan tài và phò giá triệu là bổn phận của con trai trưởng (hoặc con trai) và của cháu đích tôn (hoặc cháu nội trai). Vậy “đứng bên kinh” và “rinh quan tài” chỉ là do tam sao thất bản mà ra. (?!)

Rồi ông An Chi ‘tán’ thêm: “Theo chúng tôi, bài này vốn chỉ có hai câu đầu và đây là lời của người vợ không sanh nở nói với chồng: “Thiếp đã không có con, nếu chàng không nghe lời khuyên của thiếp mà cưới vợ lẽ (để kiếm một vài mụn con) thì mai kia, khi chàng về với ông bà, ai sẽ là người nghinh quan tài, ai sẽ là người phò giá triệu cho chàng đây?”

(Tui nghĩ ông An Chi đi quá xa rồi đi lạc luôn. Lý luận ông không dẫn chứng thuyết phục, chỉ do chủ quan suy đoán. Theo ý tui, câu ca dao nầy giải nghĩa cái phong tục tập quán của một lễ di quan theo sách ‘Thọ mai gia lễ’ của Tiến sĩ Hồ Sỹ Tân (1690-1760) quan Hàn lâm Thị chế.

“Một mai ai đứng bên kinh?” Nghĩa là mai kia, mốt nọ xui rủi, lúc chết. Chúng ta có lời bài hát: “Nếu một mai em sẽ qua đời. Hoa phủ đầy người. Xe nhịp đằm khơi… xa xôi.” Theo từ điển Hán Việt thì “Kinh” là mồ mả. Ai đứng bên mồ? Người con trai. Ai phò giá triệu? Tấm triệu là tấm liễn đề tên họ, tuổi tác, quê-quán người chết, được treo trên giá cao khiêng đi trước quan tài: Vai trò cầm giá triệu là của con gái. Ai rinh quan tài? Dĩ nhiên rinh là nặng, nhiệm vụ của đạo tì. Còn nàng dâu chỉ chạm tay vào cho có.

Thực ra câu ca dao nầy còn có hai câu chót nữa là: “Hỏi nào (rằng) chàng rể ở đâu? Chàng rể uống rượu đi sau nói xàm.” Hai câu nầy cho thấy vai trò của chàng rể trong lúc đưa tang. So với con dâu, chàng rể đóng một vai trò không quan trọng bằng. Vì chữ cũng có câu: “dâu con, rể khách”.

Chàng rể chỉ có nhiệm vụ chầu rìa, lo tiếp bà con láng giềng đến chia buồn trong 3 ngày cử hành tang lễ. Tiếp khách đến chia buồn không thể thiếu nhạo rượu. Rồi suốt ba ngày đêm thiếu ngủ nữa nên lúc đưa tang chàng rể đi sau đã xỉn, lảm nhảm nói xàm là một hình ảnh bi hài của một lễ di quan.

Rồi cũng có một tác giả khác đặt vấn đề là: “Cuối cáo phó, nhiều gia đình ghi: “Tang gia đồng khấp báo”. Có người cho rằng dùng chữ “khấp” là sai, phải dùng “khóc” mới đúng. Tác giả nầy phản bác lại có hai ý. Theo tui nghĩ hai ý đó có một trúng; một trật.

  1. Ý trúng là ‘khấp báo’ chớ không phải ‘khóc báo’. Tại sao khấp báo lại trúng? Khấp báo trúng là vì ‘khấp’ là từ Hán Việt đi với ‘báo’ cũng là từ Hán Việt. Trong khi khóc là tiếng Nôm gán với báo từ Hán Việt là đầu Ngô mình Sở, lỏi chỏi nên không trúng.
  2. Ý trật khi tác giả nói nguyên văn như vầy: “Trong tiếng Hán, “khấp” có nghĩa là khóc không ra tiếng (khóc trong lòng), còn “khốc” mới là khóc thành tiếng.” Theo thiển ý của tui: ‘khấp’ khóc trong lòng là không hợp lý. Khấp là khóc không còn ra tiếng là vì khóc nhiều quá; tiếng đã khan, nghe chỉ còn khào khào. Khấp báo là báo một cái tin buồn bã vô cùng tận.

Cũng nên ghi nhớ từ Hán Việt chữ chánh đi sau chữ phụ đi trước. Ví dụ: “Giai nhân: “giai là đẹp, ‘nhân’ là người. Như: tuyệt sắc giai nhân; tuyệt thế giai nhân. (Cũng như nhân vật quan trọng nhứt trong buổi lễ bao giờ cũng xuất hiện sau rốt. Trong bàn cờ tướng của Tàu con tướng chết sau cùng. Khi tướng chết là ván cờ chấm dứt!)

Tiếng Việt thì ngược lại. Chữ quan trọng đi trước.

Thế nên nói chồng vợ là bên đàng trai. Nói vợ chồng là bên đàng gái. Nói chồng vợ là phu xướng phụ tuỳ. Là chàng đi cho thiếp theo cùng; đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam. Còn nói vợ chồng đặt vợ trước chồng sau; là trái thứ tự trong tiếng Việt; vì lịnh ông không bằng còng bà! Vì ông chồng nầy sợ vợ thay vì theo đạo ‘thờ ông bà’ lại bỏ mất chữ ‘ông’ chỉ còn theo đạo “thờ bà”.

Kể từ sau 75, báo chí quốc doanh hay viết nhanh lớn, nhanh già? Nghe sao nghịch kỳ thiên quá xá? Ông bà mình nói mau lớn, mau già. Bắc Kỳ hai nút 75 nói ‘đi nhanh lên’ trong khi dân Miền Tây nói đi mau lên.

Mất Miền Nam giờ mình sắp mất luôn tiếng Việt dấu yêu của người Miền Nam. Không thấy lớp trẻ sau nầy gìn giữ cái đặc sắc, cái độc đáo của phương ngữ thâm trầm sâu sắc của vùng miền! Có người cho đó là chuyện nhỏ như con thỏ, chuyện không quan trọng, nên tui xin lẩy Kiều là: “Lời quê góp nhặt dông dài. Mua vui cũng được một vài trống canh!”

Vui không nổi rồi! Mà buồn biết bao trong tấc dạ khi thấy CSBV nó cố tình hủy diệt tiếng Việt của người Miền Nam.

DXT

Kỷ vật

baotreonline.com

March 23rd, 2023

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Chiếc poncho khi vượt sông  

Năm 1971 tại Sài Gòn, từ bài thơ “Ðể trả lời một câu hỏi” của nhà thơ Linh Phương, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ thành ca khúc: ‘Kỷ vật cho em’.

  1. “Kỷ vật đây viên đạn màu đồng. Cho em làm kỷ niệm sang sông”. Em đi lấy chồng mang theo viên đạn đồng của người yêu cũ mang về từ chiến trường vào quân y viện lấy nó ra đưa cho em làm kỷ niệm ngày xuất giá vu quy.

Trước năm 1975, hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, đến 18 tuổi, kẻ trước người sau, lần lượt rời ghế nhà trường để khoác lên mình áo lính.

  1. Trong những quân trang, quân dụng còn sót lại sau cuộc chiến tàn khốc nầy không thể không kể tới tấm ‘poncho’ màu ô-liu, dùng để đi mưa. Khi vượt sông, người lính dùng tấm ‘poncho’ gói tất cả ba lô, quân trang, quân dụng, cột túm lại để trở thành cái phao mà vượt qua dòng nước. Tấm ‘poncho’ còn thay thế chiếc mền đắp trong đêm khuya lạnh lẽo giữa núi non trùng điệp hay vùng đồng không mông quạnh. Cần hứng nước để uống, người lính đào một cái hố, phủ poncho lên trên cho lõm xuống, tạo thành một cái giếng cạn để hứng những giọt sương đêm, nếu gặp may, một cơn mưa bất ngờ nào chợt đến.

Nhưng ‘poncho’ còn là di vật đau buồn nhứt của đời lính, khi nó được dùng làm tấm vải liệm, gói thân người chiến sĩ bỏ mình trên bãi chiến trường ác liệt vừa tan khói súng.

  1. Lon ‘Gô”: di vật thời tù cải tạo!

Sữa Guigoz của Hòa Lan được nhập vào Việt Nam những năm 60. Có hai loại sữa Guigoz, loại trắng cho trẻ sơ sinh, và loại màu vàng cho một tuổi trở đi. Loại sữa bột nầy đựng trong chiếc lon nhôm, dung tích 0.75 lít, đường kính 8cm, cao 15cm, thân hộp có nổi sọc ngang để cầm không bị tuột. Vì lon làm bằng nhôm nên rất nhẹ, không bị rỉ sét, nắp lon Guigoz đậy rất kín, bền chắc, khó móp méo, hư hỏng nên được các bà nội trợ giữ lon không lại để đựng đường, muối, tiêu, hành, tỏi, ớt hay các thức ăn khô. Khi chồng, con hay người yêu đi lính, chiếc lon Guigoz nầy được vợ, má hay em yêu dùng để đựng cá, thịt chà bông, tép rang, mắm ruốc sả xào thịt ba rọi cho những người thân yêu của mình ăn giặm thêm, ngoài cá mối hay thịt heo nái dai như giẻ rách ở nhà bàn của quân trường.

Tàn cuộc chiến, những người lính sa cơ bị bắt đi tù cải tạo suốt từ Nam ra Bắc thì chiếc lon Guigoz nầy cũng bị ở tù theo. Cái tên Guigoz của một thời thanh bình cũ cũng tàn, phai mất chữ ‘Gui’ chỉ còn lại lon goz (‘gô’), là vật bất ly thân của những phận tù không biết được ngày ra.

Lon gô xưa

Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng lon ‘gô’ làm gàu. Sáng thức dậy dùng lon ‘gô’ làm ca đựng nước súc miệng. Dùng lon ‘gô’ làm ấm đun nước sôi lên bỏ vào mấy hạt bo bo hay bắp đã rang cháy khét để thay thế nước trà. Lon gô nầy ngoài nấu nước, nấu cơm, luộc măng rừng, luộc rau, luộc khoai mì, còn dùng để đựng một nắm rau tàu bay, một con cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt, hay bất cứ con gì động đậy, để chiều về còn có cái ăn thêm cho đỡ đói.

Ngày ra trại, người lính thất trận ngày xưa, chung thủy mang theo hành trang của mình cũng là lon ‘gô’ dù bây giờ đã sau bao năm tù rạc, lon ‘gô’ đã móp méo như  cuộc đời của chính chúng ta.

  1. Khi CSBV chiếm được Miền Nam cả nước chìm trong xích xiềng nô lệ. Trong những năm tháng đó, vô số người Việt Nam chỉ còn cách đi vào chỗ chết để tìm ra chỗ sống.

Một trong cả trăm ngàn người tìm cách vượt thoát, Tháng Chín, 1984, từ Bà Rịa có chín thanh niên chỉ với hai mái chèo dùng thuyền vượt thoát khỏi thiên đường Cộng Sản. Sau bảy ngày chống chọi với phong ba bão táp và đói khát, khi thấy những tàu buôn qua lại, chín người Việt Nam biết là đã đến được hải phận quốc tế. Trong đêm đen, họ dùng chiếc đèn pin cũ kỹ để gửi tín hiệu SOS đến những con tàu đó. Biết bao lần như thế, nhưng không mảy may thấy một tia sáng nào hồi đáp, niềm hy vọng từ từ tắt lịm. Trong khoảnh khắc đó, họ gần như tuyệt vọng. Rồi bất chợt họ thấy được một tín hiệu đáp lại: Con tàu Centra Corona mỗi lúc một lớn dần…

Ông Didier Raux (trái), giám đốc Viện Bảo Tàng Hàng Hải Le Harve của Pháp, và ông Châu Thụy, chủ tịch sáng lập VHM, đứng trước Chiếc Ghe Viễn Xứ. (Hình: VHM)

Chín thuyền nhân này được cứu thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. May mắn hơn nữa, thủy thủ đoàn của con tàu ấy không đánh chìm chiếc ghe nhỏ nhoi này, họ còn đồng lòng vớt nó.

Rồi 38 năm sau, ông Didier Raux Giám đốc Viện Bảo Tàng Hàng Hải Le Harve của Pháp đã trao lại chiếc thuyền kỷ vật nầy cho bà con mình ở Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum – VHM).

Ðó là di vật một thời bị đày ải, bị lăng nhục, bị trả thù cho đến chết, mà người lính chúng ta may mắn vẫn còn sống sót qua cuộc biển dâu nầy không thể nào quên.

Vâng, viên đạn đồng đen, cái poncho thời chinh chiến, cái lon ‘gô’ thời tù cải tạo, chiếc thuyền chèo vượt biển. Những di vật đó dù bây giờ không ai trong chúng ta cần tới nữa. Nhưng di vật không phải là vật vô tri, vô giác, vô hồn… mà nó vô giá! Nó nhắc nhớ chúng ta đã một thời làm lính trận, một thời nô lệ và một thời bi tráng tìm cho được tự do!

Trở về với chiến tranh Việt Nam, chúng ta, những người lính VNCH thất trận rồi chịu một phần số bi thảm. Ngày 21, tháng Hai, năm 1972, ngày VNCH bị đồng minh đâm sau lưng. Tại chân cầu thang chiếc Air Force One, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon bắt tay Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai, Bắc Kinh, Trung Quốc.  VNCH đã bị Hoa Kỳ bán đứng. Theo từ điển, bán đứng là bán cái quý giá về tinh thần, một cách không ngại ngần thương tiếc, để mưu lợi riêng”.

Nhìn lại cuộc chiến tranh vệ quốc đẫm máu để bảo vệ VNCH, nếu CSBV (rêu rao là yêu nước) và quan thầy Nga Hoa ngừng xua quân từ Bắc vào Nam để giết người; sẽ không còn chiến tranh. Và khi quân đội VNCH tuân lịnh Dương Văn Minh ngưng chiến sẽ không còn VNCH; không còn tự do nữa!

DXT

Đưa con vô Nội

  Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Cửa Hiển Nhơn   Bốn chữ trên nhằm nói tới một sự mất mát. Trao tiền cho đứa bất lương để hắn lặn sâu quỵt nợ, khi rõ chuyện khổ chủ chỉ biết dậm cẳng kêu trời: Rứa thì coi như tao lỡ đưa con vô nội rồi!
Nội đây có thể là Đại Nội. Đưa con vô có thể là để tiến cử cho con có được cái job an nhàn khi hầu hạ đấng bề trên, vua chúa hoàng tộc. Con có thể là gái, cung tần mỹ nữ. Con có thể là trai, cắt của quý đặng làm thái giám. Có thể, vì mình chẳng rành rẽ, chỉ đoán chừng khi có bạn ở phương xa mang bốn chữ ấy ra cật vấn: Vì sao lại đưa con vô nội? Nó có trở ra lại không?
Dạo đó, hình như trên báo Phổ Thông của Nguyễn Vỹ có người đưa ra một câu đầu, thách bá tánh đối lại cho hoàn chỉnh, mình nhớ hầu như không một ai làm nguôi ngoai vấn nạn. “Không vô trong nội nhớ hoài”. Đề bài toán chỉ sáu chữ, hóc búa nằm ở chỗ tuy là sáu nhưng kỳ thực nó cô lại chỉ còn ba. Bởi lẽ không là vô, trong là nội, nhớ là hoài. Rắc rối ở khoảng ấy, hừ Hán với Nôm!
Vô trong nội, mình thường dùng cổng Hiển Nhơn. Tương truyền, ở cung cấm lâu năm, kẻ nào bước ra khỏi cổng ấy thì xem như đã thành người. Hiển Nhơn là vinh hiển thành người, có đúng chăng? Không thành danh cũng thành nhân. Xuân Mậu Thân năm 1968, thành quách triều Nguyễn hứng chịu sự trải nghiệm của sức công phá mọi thứ vũ khí siêu khủng mang nhãn US hoặc Nga, hoặc Tàu. Hiển Nhơn là một thằng người cụt đầu rơi rụng gạch đá, hoang phế chứng thực và tiếp nhận thêm vô số những hồn oan, mới tinh khôi. Huế không mưa cả tháng, nhưng những khuôn mặt đẫm lệ thì mãi ướt với lạc thần, với niềm đau dài lâu hơn ba mươi ngày nặng mùi tử khí.

Ở Huế, đang đi có khi bất chợt bạn cảm thấy một cái gì đó, mong manh tựa hơi gió thoáng qua, mát lạnh trên da thịt để trần, bạn đừng ngạc nhiên, ấy là do bởi nhãn tuyến đời thường khiến bạn không tránh được những bộ hành ở cõi âm. Va vấp vào họ, đụng phải họ để tùy nhân duyên mỗi số phần, có người về chong đèn làm thơ quên ăn quên ngủ, có người đứng yên trước ngõ nhà tình nhân thầm lặng trồng cây si dưới vũ lượng rầm rộ ăn chơi không sợ mưa rơi, có người lên chùa xuống tóc, có người cứ khóc nấc rồi lại rộ ra tràng cười, có người đi giữa chợ miệng mãi lầm bầm câu kinh sai lạc, có người vô trong nội tìm lùm cây bụi cỏ ẩn mình rồi tu nguyên chai thuốc trừ sâu mắt trợn môi trề giã từ cõi thế. (Tình cảnh này có vô mà không trở ra, hoặc vô với trái tim đập vội mà ra thì lạnh ngắt tứ chi chẳng hay mây vẫn dạt bay thường hằng trên cõi đời bạc bẽo).

Mình vô ra cổng Hiển Nhơn ngày một vì trường Mỹ Thuật mình theo học nằm trong khuôn viên Đại Nội, láng giềng nó là trường Quốc Gia Âm Nhạc không mấy đông học viên. Cây cao bóng cả, tường rêu trầm mặc làm biên giới, nhưng thỉnh thoảng ngôi trường kín cổng kia vẫn độ lượng gửi sang tiếng piano thánh thót những cung bậc quý phái. Tiếng kèn đồng saxo sắc buốt những tâm sự, trôi trên hàng cây sầu đông với những nụ hoa tím nở câm trong chiều vàng. Lạ kỳ một điều là giữa hai ngôi trường chưa hề nảy sinh ra một mối tình nào cả. Mình nói kỳ lạ bởi lẽ hơn ai hết chúng có đủ những yếu tố để tác thành một “tác phẩm”. Kề cận nhau, địa lợi. Cùng theo đuổi nghệ thuật, nhân hòa. Vậy thì thiên thời? Nó là điều khuất mặt nào? Một anh họa sĩ mà kết hôn với một chị nhạc sĩ. Họ hạnh phúc không? Mình không rõ, nhưng tiên quyết, dễ thấy nhất là họ sẽ phải uống nước lạnh để thoi thóp mơ về một cái gì xa tầm tay với. Đâu cũng vậy, không riêng Huế cổ kính, giai cấp nghệ sĩ là thứ khó bề thu phục nhân tâm của quý vị “phụ huynh học sinh”. Mình tới nhà cô bạn học trường Đồng Khánh, trăm khi như một phải chịu cực hình đón nhận những cái nhìn “nửa con mắt”. Tóc để dài, tướng tá bụi bặm ba gai, rứa hắn là con nhà ai rứa bây? Mình rất oải với vụ việc xem mặt mà bắt hình dong kia nên buộc phải chia tay tình đầu với lá thư cụt ngắn: Em nhớ cho, anh là đứa bất tài và trong tình yêu, điều khiến hắn hãi nhất là đóng tròn vai trò khổ nhục kế.

Có lẽ chính mình sẽ phải làm một cuộc cách mạng. Mình tiên phuông đi thử nghiệm để đánh tan nghi vấn: Sao giữa hai ngôi trường kề cận lại không chớm nở được một cuộc tình gái trai? Khi cất công dọn lòng theo đuổi chùng vụng với Dung mình có hơi thất vọng bởi Dung đang trau dồi ở bộ môn cổ nhạc. Đàn tranh đàn bầu đàn kìm đàn cò cho tới thập loại các nhạc cụ mỗi một cất tiếng là mỗi khơi lên một cung bậc thương tâm. Mình hơi vọng ngoại, giá mà Dung học guitar hoặc dương cầm để mường tượng ra những kỳ ảo do mười ngón tay nuột nà kia tạo nên những lượn sóng réo rắt e sướng cái lỗ tai hơn. Mà ngay cả ngoại hình Dung, ở cô là nơi tập trung tất cả nét cổ kính. À la mode chẳng thể hiện diện nơi vẻ đi khép nép kia. Chiếc áo dài ấy, mái tóc mượt mà tựa dòng sông thậm thượt chảy trôi và nón lá quai lụa là một tổng thể phù hợp nếu đặt để vào trong bức tranh lụa đầy sương khói. Dung như đại diện cho sự ẩn mật, bước xuống đời từ một cấm cung lầu son gác tía hoang đường xa khuất. Rất tiếc mình chẳng theo ban lụa và tình ngay, Dung sẽ chối từ nếu nghe lời đề nghị của mình. Tin là Dung dứt khoát chẳng chịu ngồi làm mẫu cho mắt mình chăm bẳm ngắm nghía.

Bạn mình có nhiều đứa nhà ở xa nên buổi trưa thường ở lại trường. Chương trình học thường sắp xếp thế này: Tất cả những buổi sáng đều là giờ hình họa, vẽ người mẫu, từ chì, than, màu nước, bột màu đến tận cùng là được vọc sơn dầu. Buổi chiều học trang trí, định luật viễn cận, kết hợp những bản vẽ gần như của ban kiến trúc. Học thêm anatomie, lịch sử Mỹ thuật, Anh hoặc Pháp ngữ để có căn bản tra cứu sách ngoại ngữ. Hoặc đi xa vẽ phong cảnh. Những đứa ở lại ban trưa tất thảy thường la toáng về những hiện tượng lạ xảy ra. Ngồi ngoài hành lang nghe tiếng lục đục của những giá vẽ thay đổi vị trí ở trong căn phòng đã khóa cửa. Bày bài trang trí ra mong hoàn tất sớm thì phát hiện có những vệt màu còn ướt lấm lem. Mất một hai tuýp màu, mất cây thước hình chữ T. Hộp đựng thức ăn bị vơi phân nửa… Có cô học ban lụa thì mãi rấm rức, han hỏi miết mới ái ngại tiết lộ, ngực mình đau như thể có ai đưa tay… bóp. Ngồi mình ên, ngó lui ngó tới tịnh không ai, chỉ thấy lạnh cẳng. Mặt xanh như tàu lá.

Nói chung là trường có ma. Kỳ lạ là chẳng một ai hoảng, xem như chuyện chẳng có gì để làm rùm beng, chỉ bợn lòng, răng mà lộng rứa hè, ban ngày ban mặt mà, có phải tối tăm khuya khoắt gì cho cam! Và tối trời, từ ngoài đường Đinh Bộ Lĩnh xanh mướt ánh điện néon để vào tới cổng Hiển Nhơn là khúc đường Đinh Công Tráng luôn thu giữ bóng tối quánh đặc. Con lộ ngắn khoảng năm trăm thước ban ngày nhưng dài miên man giữa canh khuya. Phải băng qua một công viên nằm sánh đôi luôn xào xạc thứ ngôn ngữ riêng của lá chờn vờn máy động, những con đom đóm chợt sáng chợt tối thắp vào đêm chút hư ảo, lãng vãng lời cảnh báo đi đêm hoài sẽ có ngày gặp ma. Bình mực xạ từ công viên sẽ trút đậm đặc sang bên khu láng giềng Nguyễn Phước Tộc. Nơi ban ngày có cà phê Tôn luôn đông khách, nhưng đêm về cảnh sắc có sức mạnh xua đuổi những kẻ bạo gan tẩu vi thượng sách. Có đứa sinh viên gốc Quảng Nam thuê căn phòng nhỏ khuất sau từ đường làm nơi thường trú mặt luôn thành khẩn khi khai báo, thi thoảng vẫn thấy một o dáng dấp nhỏ bé kiểu chớm dậy thì vẫn ưa ngồi thu lu tận trên đọt cây bàng án một bên cổng. O chỉ ngồi vắt vẻo thế thôi tịnh không nói không hát không hò không khóc không kể lể, có điều o mặc áo dài trắng và khuôn mặt o… Ngang đó thì ôn người Quảng Nam á khẩu, chẳng cạy miệng được. Tuồng như đương sự thiếu chữ để diễn đạt, hoặc nếu nói ra điều bí mật kia thì đương sự hết đường vô lại xứ Quảng ngăn sông cách núi. Sống để bụng chết mang theo. Học trò trong Quảng ra chơi, thấy cô gái Huế ruột gan tơi bời!

Năm nọ, trường có mời được điêu khắc gia Lê Thành Nhơn từ Sài-gòn ra dạy. Dáng người cao to, tóc uốn cong từng lọn dài, da ngăm đen, mặt mày phong trần như thể vừa hạ sơn từ Lương Sơn Bạc. Nói chung, tuy chẳng học ban điêu khắc nhưng mình bị nét giang hồ lãng tử của thầy lôi cuốn, cảm tình. Khi ấy, thầy Lê Thành Nhơn bắt tay vào làm tượng cụ Phan Bội Châu, (tác phẩm đồ sộ mà thợ đúc đồng từ Phường đúc vào lượng định đã phải mang hương đèn theo để nghiêm cẩn cúng vái, sợ bị quở phạt khiến công trình chịu hư hỏng nửa chừng). Khi thao tác trước núi đất sét cao quá đầu, Lê Thành Nhơn đã sử dụng cây đao dài của lính Mỹ khi đi phạt cây khai thông đường rừng. Thầy xẻ ngang chém dọc để tạo hình y như một chưởng môn nhân đang thi triển bí kíp võ công. Xuống tấn, xoạc chân, đao hoa lên, mồ hôi ràn rụa chảy, tất thảy đều phát ra thứ ma lực làm say đắm bọn sinh viên đứng yên như phổng đá.

Buổi tối, Lê Thành Nhơn bắt ghế ngồi thỏng tay trầm mặc trước ụn đất sét vô tri bắt đầu hiển lộ hình khối. Trước khi đi ngủ, thầy sẽ dội nước rồi ủ tấm ny-lông lớn, phủ trùm ngọn núi đất sét kia để khỏi bị khô nứt. Thường thì rất đông anh em các lớp tụ họp mỗi tối trên bãi cỏ quanh phạm vi tác phẩm chưa hoàn thành kia. Một sum vầy không hẹn ước, như muốn bầu bạn cùng nỗi cô đơn của người thầy xa nhà. Như muốn sẻ chia những gian khó mà thầy đang gặp phải khi ra công dựng tượng. Những bóng điện vàng nối dây thắp lửng lơ xua tan vũng đêm luôn thường trú giữa thứ không gian quạnh vắng. Gió ru ơ hờ từng mảng lá cây kết nối chao nghiêng. Một đôi kẻ mang guitar ra hát những bài đồng dao chắp vá: tay có bằng lòng cho tay nắm lấy, môi có bằng lòng trao một nụ hôn, tim có bằng lòng cho tim ngồi lại… Ca từ hình như của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn? Không khí sắp biến thành một cuộc cắm trại có đốt lửa. Trong khả năng của mỗi thành viên, ai có gì cứ bày ra chung lưng đấu cật vui vầy. Cà-phê, trà nóng, bánh ngọt, trái cây, rượu, thuốc lá, và miên man những tâm sự. Đêm sẽ trôi nhanh qua tiếng cười mãi rót, Đại nội sẽ thức giấc, mộng du bởi huyên náo của bọn người hám vui.

Có tối, mình được ủy thác làm đứa mang nhiệm vụ đi tiếp tế lương thực. Sau khi tom góp một nạm tiền của bằng hữu ngồi quanh, mình phóc lên chiếc PC vọt ra cửa Hiển Nhơn. Khoảng 9 giờ, đâu đó, hy vọng những cửa hàng còn mở cửa bán buôn. Chín giờ mà lối đi đánh lừa canh khuya bằng thứ hun hút thẳm sâu, ánh đèn xe quét vội vào tường thâm rêu và bóng người chợt hiện ở đó khiến mình hối hả bóp thắng tay. Vỡ ra tiếng kêu lạc giọng: Dung. Lẫn trốn ánh đèn, thoắt cái Dung đứng sát bên lưng. Hương hoa sứ từ người Dung dồn đẩy vào khứu giác và lập tức thính giác đón nhận một tiếng khóc, rấm rức, tức tưởi. Không hiểu do đâu động cơ máy nổ ngừng đập, tắt tiếng. Đèn thôi cháy để mê muội ập xuống với môi hôn Dung đánh cắp dưỡng khí buồng phổi mình quờ quạng đập. Trời đất đen kịt, lạnh lẽo rơi giữa mùa hè đang độ chín tới.

Nhiệm vụ bất khả thi. Có đứa nói đùa. Mình ngửi ra mùi dầu khuynh diệp váng vất. Những bóng điện nhòe, biết luân vũ. Anh em đợi bạn lâu không trở lại nên có đứa lên đàng, chính nó là kẻ phát hiện và hô hoán. Mặt xanh quá, bị trúng gió, đúng không? Thái dương co giật, trán mình nóng, nhưng do bởi những cú véo ngắt và thấm chất dầu chống cảm mạo. Dầu gì thì mình đã lai tỉnh nhưng miệng mình thì có ai đã khóa cứng. Mình ngó những chân nhang đã lụn tàn có người cắm bên ụn đất sét, nhìn cây dao to bản của thầy Lê Thành Nhơn găm lên trông như một biểu hiện thế mộ bia. Đầu óc mình nhăn nhàu hệt tấm ny-lông ám nhiều bùn đất. Đêm ấy bầu trời chẳng sáng nổi một vì sao thắp lẻ loi.

Ai đã đưa Dung vô nội? Trong câm lặng, mình tự hứa lòng sẽ bỏ công đi tìm ra mộ phần Dung. Không vô trong nội nhớ hoài, mình cố nặn óc đào bới một đáp án, nhưng bất khả. Tha thứ cho mình, mình đã lỡ xa Huế từ bấy đến nay. Một con ma vất vưởng, mình nói vậy thì có bị quở mắng không?

Đồng khí tương cầu đồng chí tương lân

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 29 Apr 2022

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Muốn tới chỗ em phải đi qua cầu Khe Bướm. Độc đáo và độc đạo, chẳng có đường mòn hoặc lòn lách lối khác, duy chỉ một mình nó rướn thân. Trước, qua Khe Bướm khoảng chục mét thì y như rằng cả hai bánh, trước sau thảy bầm dập xìu xìu ển ển, có nước dậm cẳng khóc ngoài xa lộ đìu hiu. Lóng rày hình như bọn đinh tặc đã di dời chuyển đổi địa bàn, thôi gieo rắc bàng hoàng trên từng cây số. Hữu xạ tự nhiên hương, muốn nuốt xong đoạn đường tân thanh nọ, kẻ trần thân xớn xác kinh qua phải lo chêm cục tiền sau đít đặng nén chặt thương đau móc hầu bao trang trải hậu sự. Ui, biết nó tung ám khí phá hỏng lốp xe mình, vậy chứ phải nhoẻn miệng cười nhờ “anh Hai” vá chữa giùm “em”. Tiền hậu tạ thì nhờ anh Hai định giá hộ! Tuỳ nghi chặt chém con cá lỡ nằm trên thớt.

Không có bản đồ định vị, em chỉ dấu vết dị hình trên đường bằng kinh nghiệm riêng em cho khỏi lạc lối. Rồi uỷ lạo tinh thần, trấn an chớ thắc thỏm. Giọng em sang sảng trong điện thoại di động: Hôm qua, y như công binh đi rà mìn, em đã đánh hai vòng rà soát trước. Thông xe, an toàn, nói chung là êm ru bà rù. Vườn ổi đang sai trái, chín mọng, cho anh tha hồ leo trèo hái bức đó, nghe hấp dẫn không?

Đi thăm một người con gái, chẳng ai mang lòng dạ chui vào vườn ổi cốt để ăn cành hông cho bỏ những ngày đói rã họng. Ngoài ổi ra, bộ hết thứ quyến dụ gợi cảm hơn sao cà? Vú sữa hoặc múi mít chẳng hạn? Ui, một người con gái đứng đợi trong vườn hoang lắm hương hoa thì ta chắp cả một tiểu đội đinh tặc vừa bày binh bố trận, ta sẽ huýt sáo mồm mà phóng xe bạt mạng qua cầu Khe Bướm, phải không em?

Vòng vo như thể rơi vào bát quái trận đồ, máy xe bỏng khét đành phải tấp lề đường nhờ một “anh Hai” khai nhãn giùm. Sau khi mang mớ kiến thức tích luỹ được trong đầu đổ ra cho đối tượng nghe, bị anh Hai mắng: Dài dòng văn tự mà lại chẳng gây ấn tượng, đi lạc là phải. Ở đây người ta chỉ nói gọn lỏn bốn chữ: Cô chủ mồ côi. Và người mù cũng biết dẫm chân vào, cán đích. Anh Hai dong tay: Đi lộn lui khoảng năm chục mét, dòm thấy có cục đá xịt sơn trắng hình một quả tim méo mó thì quẹo phải. Hang ổ cô chủ mồ côi nằm trỏng. Cám ơn anh Hai. Hổng có chi, bị mới tới lần đầu, phải hôn? Dòm biết người trên phố lạc loài.

Em đón thằng mù bằng bộ vó của người nghèo chính chuyên vô sản, có nghĩa là ai bóc lột em khiến em phải ăn vận y phục thiếu vải nhường ấy. Cô chủ mồ côi tuồng cũng không lột truồng được thân phận. Mồ côi mà sao chẳng nhìn ra chút âu sầu? Tươi mươi như hoa hé nụ chực ngậm hạt sương. Năng động như loài thú rơi vào chu kỳ động tình rậm rật. Mèo gào trên mái nhà canh khuya dấu mặt so chẳng bì được em phong phanh đứng dưới chùm lá ổi xôn xao ngọn gió chướng thổi lạc. Tóc rối đường ngôi và hạt nút chực rời khuy. Ngực em phồn thịnh vun đầy gò nổi và vũng thịt tròn trịa kia đang thổn thức một tỏ bày. Đã chỉ cho đường đi nước bước mà mãi tới giờ này mới lại, người sao cứ luôn thả hồn đi những đâu đâu!

Em kinh doanh bằng nghề bán cà phê nước ngọt, cho nó lành, em bảo thế. Quán nhậu la de tôm khô củ kiệu thì dễ gặp rắc rối với mấy ông nội khi say xỉn thường gặp hội chứng ngứa tay, bốc cái này hốt cái kia. Trước, trên phố, em lao động tiệm hớt tóc thanh nữ, bị càn quét vì hành nghề không trong sạch, mang nhân thân xấu về chốn héo lánh này dựng môn bài cô chủ mồ côi. Tóc anh dài quá, có cần thư giãn để em hớt ngắn cho được đôi phần phong độ? Cách biệt đã ba tháng, anh còn nhớ em chút chi không? Em mang tới ly cà phê đá bảo đảm chẳng đụng hàng, anh uống đi rồi nói cho em nghe cảm nhận. Em gọi anh tới ban trưa vì giờ này quán vắng, đông đúc chộn rộn làm trở ngại phút tâm sự của riêng hai. Sao ngay từ đầu em không nói trắng ra môn bài nhãn hiệu, bởi người ta phán danh xưng cô chủ mồ côi thì tầm cỡ y như con voi đứa mù cũng sờ được. Anh tới trễ vì hổng ngó ra voi. He he, vậy mới linh chớ, nói sớm thì còn gì lãng mạn, em thường thấy sảng khoái mỗi khi gây bất ngờ cho anh.

Cà phê hơi đắng, hơi có chút phong vị khác thường như đồ hàng nhái, thiệt là không hạp khẩu vị anh. Mắt em long lanh khi ngó nhìn quan sát lượng định, rồi em đưa bàn tay ra đan ngón. Sau vườn ổi em có mắc võng, hai đứa mình ra nằm đong đưa nhớ lại những kỷ niệm cũ. Chân bước sồi trụt mất tự nhiên nhưng em lấy thân mình quàng vai bá cổ dìu đỡ. Ngực em mềm mại và mặt đất chòng chành như ngấm rút nhiều độ cồn. Võng lắc lư cùng mùi hương từ thân em toả ra làm mê muội. Trên giang hồ nhiều lăn lộn chưa ai uống cà phê mà phải say lăn quay đổ đèn chỉ thiếu đường cho chó ăn chè, cớ sự này nên đổ thừa là trúng gió chăng? May mà chưa kịp diễn trò thoát y đánh xáp lá cà, chớ nếu không lại phải đổ lỗi thượng mã phong. Gió thổi trên lưng ngựa hay gió hiu hiu trên võng đong đưa thân phận cũng một nghĩa như nhau, từ chết tới bị thương đếm không xuể. Nằm cứng đờ xuội lơ cẳng cò, thần hồn sớm biến thành quả trứng giao cho ác. Ác nhoẻn miệng cười hô khẩu quyết: Hồ hởi. Sau bụi rậm góc vườn có đứa du kích đáp trả mật khẩu: Phấn khởi.

Không cần là địa đạo Củ chi, từ lùm cây bụi cỏ củ xoài củ khóm củ ổi củ dừa củ chuối lộ hình một ông nội mặt mày bặm trợn trông như thứ hung khí còn nằm ở lò rèn chưa kịp hoá thân. Hắn là thanh thép nguội sẵn lòng gây lệ đổ cho bá tánh mà không cần phải thấy quan tài. Hắn hỏi: Bao nhiêu liều lượng mà chóng đạt hiệu quả thế? Cô chủ mồ côi phán: Một gói, theo đúng sự chỉ bày ngoài bao bì. Thằng cô hồn bảo: Mẹ, đồ của bọn Trung quốc ghê gớm thật. Một gói mà làm người ta mê thiếp trong nửa ngày trời thì quả là độc cô cầu bại. China nó có cái lợi hại của china chớ chẳng đùa! Khi nói, nó đặt để tia mắt vào hai hòn đảo trôi lờ đờ trên người em. Nó nói một câu vô thưởng vô phạt: Không cứ phải là giặc bành trướng, bản thân tớ cũng ưa được làm chủ quyền thứ bộ phận không nhỏ ấy.

Thôi đi ông thánh, ngoài điện thoại di động, thử lục soát tư trang đối tượng xem sao. Chạng vạng, dùng xế nổ của thằng chả chở nó đi quẳng thây dưới sình lầy chân cầu Khe Bướm rồi mang tất thảy đi bán một lượt. Tui sáu ông bốn theo hợp đồng. Thằng này đã ăn nằm với bà lần nào chưa? Hổng có đâu, ngày đó nó chỉ bốc hốt bậy bạ vậy mà, tui biết cách câu chớ bộ, nói nó muốn mần ăn thì bữa nay xuống đây tui dắt cho tới bến.

Thằng cô hồn y lệnh ma nữ, đợi tối trời dùng dây thừng ràng quanh nạn nhân cột chặt vào bụng mình có sự tiếp tay của “em”. Nó chở “ảnh” tới cầu ấn tượng kia thì tắt máy xe, cởi giây trói, chống xe cho vững chãi rồi dìu đỡ kẻ mất hết cảm giác xuống vệ cỏ, ém thân dưới Khe Bướm. Hắn không biết có bao nhiêu kẻ lỡ chết dưới tay đàn bà, nhưng cầu Khe Bướm này từng là nơi ngã lưng của ba thằng đàn ông từ phố thị lạc loài về vùng ngoại ô không đèn. Trong vài canh giờ, mấy đấng trượng phu kia sẽ tỉnh thức, lồm cồm ngồi dậy ngác ngơ giữa khe bướm rịn nước sền sệt bùn lầy. Và họ thất thần đón xe về lại chốn xuất phát, chưa thấy kẻ nào mang tâm phẫn hận một hai trở lại thù này phải trả. Hắn đợi cuộc binh đao sẽ dấy lên nhưng hoài công, có thể là mười năm sau bởi tuồng như bọn ấy đều là quân tử cả.

Hắn chạy xe vào phố sáng đèn như phương án đã vạch sẵn. Hắn bán tuốt, được một nạm tiền khẳm, gói vuông vức trong giấy báo lớn bằng bốn cục gạch tiền ông Hồ vừa nhìn thẳng vừa liếc xéo nhìn nghiêng. Hắn tìm một em chân dài kéo nhau đi đớp nhà hàng đặc sản.

Anh chơi em thì em sẽ hét giá là bao nhiêu? Hét gì cho mệt, đang tới chu kỳ nghỉ dưỡng sức. Cưng nói sao? Chơi chi được, em đang có tháng mà anh, máu nhuộm bãi Thượng Hải. Mẹ kiếp, sao xui thế! Hắn than, ba phần thành thật. Lóng rày em sống có dễ thở không? Không, người mình thì keo kiệt mà Tây ba lô cũng bắt đầu láu cá khôn vặt, mấy nhỏ bạn bị chúng lừa cho trắng máu. Em tin anh không? Về chuyện gì? Em di dời tới một nơi vắng vẻ, dựng bảng hiệu cà phê cô chủ mồ côi. Nhan sắc em có, chân dài em mang nếu không hốt bạc thì chặt đầu anh đi. Chốn vắng là nơi nào? Ngoại vi thành phố hay qua địa bàn tỉnh khác? Cách đây hai mươi nhăm cây số, qua khỏi cầu Rạch Chim sẽ gặp chốn hữu tình mơ mộng không khí trong lành… Ừa, từ từ tính sau, để chêm đồ ăn cho đầy bụng đã. Có thực mới vực được đạo, nhớ? Mẹ nó chứ, quán này phục vụ cho khách yếu kém chậm lụt quá. Tại anh đó, sao cứ ưa diện áo thun ba lỗ khoe hình xăm “Hận đời đen bạc, thiên hạ đáng chết”. Đù má em.

Hồ Đình Nghiêm

Đồng chí

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Trước hôm chính thức giã từ Québec để xuôi đổ về phương Nam, chúng tôi bày ra cuộc chia tay khá rậm rật, khá ồn ào, khá cuồng say. Thú thật là tôi không cưỡng chống lời đề nghị của Jessica khi cô muốn vào một discothèque nhốt chặt thứ âm thanh kích động lớn hết cỡ cùng thứ ánh sáng vằn vện luôn thay phiên liếm vào châu thân ngập sắc màu đọng nhiều ảo giác. Bia đổ vào người và những giọt mồ hôi tẩm đầy độ cồn chóng bốc hơi giữa khe ngực ướt át đàn hồi. Nếu bạn chưa từng một lần thử xàng xê khiêu vũ, bạn sẽ an lòng khi chôn chân vào giữa những kẻ đang bị động kinh, chúng luôn phát ra những điệu bộ chẳng giống ai và như có một hấp lực giây chuyền, một sự nhiễm xạ đang lây lan, bạn cũng sẽ hoa tay múa chân lắc lư đầu mình, sống động hơn lũ zombie bị cướp mất thần hồn.

Tôi làm công việc rửa chén và đôi lần đứng ra phụ bếp, nấu những thứ đơn giản nhất theo cách chỉ bày của sếp. Bố Carlo người Tây Ban Nha lấy vợ Ý, hắn ra đời thay vì thừa hưởng huyết thống là giỏi đá banh thì trời lại phú cho hắn đôi bàn tay thích vọc môn gia chánh. Nấu ăn đủ vị cay nồng trên thế giới, ngon miệng, đẹp mắt, trình bày nghệ thuật trên cái đĩa sành bắt mắt có đường kính 25 phân. Jess làm tiếp viên, cô sẽ xô cửa bước vào vuông bếp luôn nóng như một cái chảo rang để mang hai ba đĩa bốc khói ấy đi trên cánh tay có vắt sẵn một chiếc khăn trắng được gấp làm tư. Và mười lần hết tám, mông cô phải chịu bàn tay lão Carlo phát yêu vào, hoặc nhéo một cái, hoặc xoa theo cái độ cong gợi mời. Nếu Carlo không tác nghiệp kiểu sàm sỡ “linh tinh” thế e rằng khi nấu ăn sẽ thiếu đi hương vị, mất ngon? Jess câm lặng, tôi vụng nghĩ cô sẽ ném cái đĩa xuống chừng nào bàn tay lông lá kia lấn lên thăm dò vòng số một của cô phục vụ viên đẹp người đẹp nết.

Tôi làm chủ chiếc xe Toyota Tercel giá 450 đô la mà người rao bán bảo đảm một chuyện: Nó còn ngon, mày không việc gì phải tu bổ, nếu có ra nghĩa địa sắt thép nằm thì chí ít nó phải thọ thêm một mùa đông nữa. Chiếc xe màu lá mạ ấy chỉ thồ duy nhất một kẻ chừng như luôn lỡ đường: Jessica. Có khi cô biểu tài xế chạy ra ngoại ô, đun vào một cánh đồng trống để khi sương giăng đầy chúng tôi ngó lên tấm màn ảnh rộng đang chiếu phim thần thoại hoang đường, kiểu thời đại hang động ăn lông ở lỗ. Thông thường, có thể vin vô không gian khoáng đạt của đồng không mông quạnh nên Ciné-parc thường trình chiếu những thước phim trên 16 tuổi. Tôi từng đi hớt tóc và từng đọc báo nhảm nhí trong khi chờ tới phiên: Thống kê là 58% thanh thiếu niên ở Québec thử làm chuyện người lớn ở vào độ tuổi 13. Môi trường thuận lợi: 69% trong xe, 28 % ở mọi nơi trong nhà khi bố mẹ vắng mặt và 3% diễn ra trong nhà vệ sinh ở trường trung học. Vì vậy tôi chẳng lạ gì khi chứng kiến một vài chiếc xe tự nhiên run rẩy dưới màn hình đang phát ra tiếng thở vội của diễn viên. Tôi quay sang ngó Jess, cô cũng nhìn tôi. Hai đứa hôn nhau. Lát sau Jess nói, chẳng dấu nỗi bực bội: Thật khờ khạo. Sao anh lại chẳng bao giờ biết thủ sẵn trong ví một cái áo mưa?

Jessica luôn thích đón nghe tôi thuật lại quãng đời niên thiếu ở bên nhà, đúng hơn, cô thích nghe kể về những trận đánh, những bom rơi đạn lạc, vì sao giống người cùng họ mang trùng tên lại say máu giết nhau như thể không đội chung một khoảng trời bé bỏng. Hỏi tôi có từng đầu quân vào lính chưa? Cô có theo dõi để biết rằng trong cuộc chiến ấy phe đồng minh đã góp tay nhằm giúp miền Nam làm lá chắn ngăn chận bọn Cộng sản xâm lược. Ngoài Mỹ, Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan… có luôn cả một đội ngũ Canada, những quốc gia ghê sợ khối cộng sản tàn ác. Tôi chỉ kể đại khái vì khả năng hạn chế của thứ tiếng Pháp tôi vừa học xong trong 3 tháng khi đến định cư cọng với thứ sinh ngữ mài đít mấy năm trung học giờ đây lợn cợn muốn đóng phèn. Tuy lạc đề tôi vẫn đọc ra lời của thi nhân Rilke: “Là où croit le danger, croit aussi ce qui sauve”. Ở đâu có hiểm nguy, ở đấy có sự cứu rỗi. Tôi được cứu rỗi lắm lần vin nhờ tới những mối tình hồn nhiên tuổi học trò và chuyện nam nữ hồi đó, ở xứ sở ấy, cách trao gửi đằm thắm tuyệt đối không giống như sinh hoạt bên này, đó là lý do trong túi tôi chả bao giờ có condom phòng khi đối mặt với một tình huống dầu sôi lửa bỏng. Tôi cũng chẳng hiểu do đâu tôi như có duyên với những gì liên quan tới quân đội. Tôi cho Jessica biết ngày đầu đến xứ lá phong hoà bình và nhân đạo này tôi được chính phủ sắp xếp chỗ tạm trú ba ngày trong một trại lính vừa tân trang. Cách một hàng rào giăng lưới cao mỗi sáng tôi đón nghe những binh sĩ vừa ôm súng chạy bộ vừa ca hát khúc quân hành. Chúng tôi giống như tân binh chờ sắp xếp được học lý thuyết về cơ bản quân sự và ngày ba bữa được ăn thứ thực đơn chẳng khác các quân nhân. Họ gieo cho tôi thứ ý nghĩ, rằng quân đội Canada hiền hoà và dễ thân cận. Họ bảo họ ghét thứ chiến tranh du kích, sự ám muội đáng nguyền rủa từng xẩy ra trên đất nước Việt Nam.

Giữa một góc phố đông người qua lại thuần để chỉ mua sắm hàng thời trang đang giảm tới 75% tôi để ý tới một khẩu đại bác cỡ 132 ly không dưng có mặt thật lạc loài, nó được phủ tấm lưới nguỵ trang, những chiếc xe quân sự có thể chạy êm trên bất cứ địa hình nào, một căn lều chứa đựng bên trong giàn máy móc điện tử, những ống liên hợp gắn bên chiếc máy truyền tin… và như đã nói, tôi có duyên với army, tôi đứng khựng lại khi nhìn ra một nhân dáng quen thuộc. Nói là bóng hồng thì có hơi hàm oan, Jessica đã thay da đổi thịt để biến tướng thành một nữ quân nhân. Mặc vào người bộ quân phục rằn ri, tóc bối gọn dấu vén khéo trong chiếc nón béret màu lục và có lẽ cô mang lon hạ sĩ nhất. Tôi nhớ lại là khi bỏ Québec để xuống tới thành phố này chúng tôi có viết thư trao đổi cho nhau, kể về nỗi nhớ khó lấp đầy, đâu chừng hai ba tờ thư mỏng và rồi chấm dứt một trò chơi xét thấy vô bổ, tự hiểu bao hứa hẹn chất ngất chắc gì mai hậu có lúc sẽ ngó ra. Bao nhiêu năm rồi? Tôi ít khi hồi tưởng, để nhớ. Kỷ niệm không nhiều và chừng nào nó gây ra giông bão mới khiến bạn lao đao, để lại trên da thịt một vết cứa gần là một ám ảnh khó gột rửa.

Jessica được cử đi làm nhiệm vụ tuyển quân, cô cho hay, sẽ trao thông tin và giải đáp mọi thắc mắc nếu bạn muốn vào sống đời quân ngũ. Bạn nên tự hào khi đóng góp tuổi trẻ cho quân đội Canada. Jessica ôm tôi, siết cứng trong vòng tay nữ quân nhân từng nếm trải bao gian khó, ngực mềm vì đã là lính bạn không có quyền được mặc áo nịt vú? Và phần khác cô đã chẳng còn là Jessica ngày xưa từng ngồi trong lòng tôi đơm đặt những ước muốn bình thường tới tầm thường. Tại sao đang sống trong một xứ sở an bình Jess lại thích lân cận với vũ lực, súng đạn và kỷ luật nghiêm khắc gần là một hành xác? Tôi hỏi về cuộc sống? Cũng ô kê. Jess trả lời, lương 32 ngàn 1 năm, buổi tối ghi danh ở đại học nghiên cứu về quân sử thế giới. Không nghĩ đến chuyện lập gia đình, thấy chả cần thiết. Anh còn viết văn như dạo đó? Cô hỏi. Tôi đáp: Vẫn. Tôi như một quân nhân đánh mất thẻ bài, lạc mất đồng đội, không la bàn để biết tìm về nơi đơn vị đóng quân. Cô đơn, hoang mang và dĩ nhiên rất đỗi buồn lòng. Hiện anh đang viết những gì? Tôi có người bạn đồng hương, thằng con ông là sĩ quan cảnh sát chuyên điều tra những vụ hình sự. Tôi từng theo gạ hắn, hồi nào có xảy ra án mạng, sát nhân cấp độ một đầy lắc léo thì nhớ mang tôi tới ngó qua hiện trường để có một khái niệm, tôi muốn viết một truyện liên quan tới “tình tiền tù tội” mà không thể chỉ vin vào sự tưởng tượng. Hắn hứa, hắn rút cuốn sổ nhỏ ra khỏi túi áo, chú ghi cho cháu số phone, có gì dẫn chú đi thực tế một phen nhìn cảnh máu đổ thịt rơi. Và đã lâu, vẫn im thin thít tiếng reo sảng hồn của hồi chuông điện thoại truyền về.

Tôi mua cho Jessica một chai nước suối vì phát hiện môi cô khô. Đứng dưới nắng để huyên thuyên giới thiệu những ưu điểm mà quân đội Canada sở hữu cho khách nhàn du thích sống trong tiện nghi do hoà bình mang lại, chuyện ấy dễ khiến người bạn hao hụt lượng nước tích tụ trong cơ thể. Cảm ơn anh. Nào có gì đâu, cỡ như anh muốn đầu quân, đóng đồn sát bên em thì có khó khăn không? Giờ đây anh già quá rồi, không thể gian dối, ngay cả “đại bàng” của em cũng trẻ thua anh cả chục niên. Anh thích viết về em không?

Môi Jessica đã thấm ướt. Cũng lạ, nước chảy vào miệng không lâu đôi mắt liền sớm long lanh. Như thể khi đất ngấm nước thì cành hoa mới chịu phô bày chút rạng ngời. Trong tiểu đoàn của em có một vị sĩ quan người Việt, ông ấy tốt nghiệp ưu hạng với ước muốn gia nhập binh đoàn tác chiến, sang giúp các mặt trận bên Trung Đông. Vị chuẩn tướng có thẩm quyền cai quản đại bản doanh đã gọi ông người Việt lên: Tôi rất quý anh, thay mặt các quân nhân tôi xin tri ân sự dũng cảm của anh, nhưng với kinh nghiệm cá nhân, tôi thành thật khuyên anh nên chọn một công việc nhàn hạ ở hậu cứ, bởi tôi đồ rằng khi anh nắm chức đại đội trưởng, sợ bọn lính dưới trướng nó không chịu nghe mệnh lệnh anh ban ra. Anh hiểu điều tôi nói không? Ý tôi chẳng khơi đến vấn đề kỳ thị chủng tộc…

Ông sĩ quan người Việt đó có liên quan gì tới em? Không, nó như một phần nhập đề vậy thôi. Giờ thì vào thân bài nhé. Lý ra giờ này em đang đóng quân ở Alaska, vào lính em những mong được rộng cẳng đi đây đi đó nhưng vận xui đã xảy tới. Em bị sách nhiễu tình dục, một tên Thiếu Uý ỉ có thế lực đã bức hại em. Em rất muốn kiện ra toà án quân sự, nhưng ông già tên râu xanh kia làm chỉ huy căn cứ tiếp vận. Ông bảo chuyện không hay này chớ làm lớn ra, thiệt hại cho song phương và là vết nhơ sẽ ám vào danh dự của trung đoàn. Chúng tôi sẽ âm thầm bồi thường cho những yêu sách cô đòi hỏi ở một mức độ khả thi, đồng thời cất nhắc cô về trông coi một công việc dễ thở quanh các thành phố. Cô sẽ có thời gian theo đại học toàn phần và biết đâu nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cô khi muốn dựng xây một tiểu gia đình. Trước, em mặc bộ quân phục khác với giờ này. Em trải qua một cuộc xét nghiệm y khoa nhằm bảo đảm những lần xâm hại kia không gây ra dị ứng lâu dài, tránh để lại hậu hoạ…

Anh cho em số điện thoại đi. Chẳng có vụ án nào nên nữ quân nhân sẽ gọi thay vì ông cảnh sát mãi ngậm câm. Bọn em công tác ở đây ba hôm, được rảnh một đêm để đi thăm gia đình. Hiện tại, anh là “gia đình” duy nhất, gần nhất mà em có… Sao anh đứng ngây người ra thế? Ồ, tự dưng anh sực nhớ bài hát của Barbelivien, em còn nhớ giai điệu không? “À toutes les filles que j’ai aimées avant qui sont devenues femmes maintenant… A nos nuit de plaisir, je suis resté adolescent”. Jessica nắm bàn tay tôi, sờ soạn những ngón. Tối mai em sẽ tìm cách đến bên anh, tuy biến dạng thành đàn bà, đứa con gái anh thầm yêu ngày cũ vẫn còn giữ được cái đáng thương. Thôi anh đi đi kẻo bạn đồng đội em ghen tuông.

Tôi gập chân lại, đưa tay ngang trán nghiêm chỉnh chào người “đồng chí” hạ sĩ nhất Jessica. Cô chào lại, cất tiếng đùa: Chào Đại Uý dễ thương của em. Cũng nên thưa với đại uý là đừng thắc mắc điều gì hết, ngay cả một chiếc áo mưa em cũng sẵn có bên mình, đồ của quân đội, ăn chắc mặc bền. Em sẽ cho anh những gì em có thể, thế một kỷ niệm êm đẹp trên đoạn đường dừng quân đầy duyên may.

Tôi vẫy tay chào tất cả các quân nhân đang dàn trải đội hình tiếp xúc với con dân hiếu kỳ đến han hỏi. Lãnh thổ Canada không thể mọc được một đồi tím hoa sim nhưng oan trái thì chốn nào cũng tựa nhau, tôi hát thầm lời nhạc cải biên: Nhưng không chết người em gái khói lửa mà chết anh trai khờ dại hậu phương… Và như vậy, tôi sẽ dọn lòng đón đợi Jessica đến gõ cửa phòng, nơi một cái motel nằm chỗ khuất lấp. Chưa gì tôi đã hình dung ra một khung cảnh, nghe rợp những âm thanh quá đỗi bồi hồi, chật chội bao tình huống, khó sắp xếp chúng nằm thuận hoà vào một chương truyện kỳ tình giả tưởng. Giết người có tính toán: Tội sát nhân cấp độ 1. Yêu người mù quáng: Cuộc tình ấy liệu có mang cấp độ nào không?Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 7 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Bài 15

Trốn tù

Một hôm, mới sáng sớm, thiếu úy Mai Quang Đước, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Tín Đạo, gọi điện cho tôi, báo cáo: “Bên pháo binh gọi qua, biểu tui nhận bốn người mới trốn Việt Cộng ra trình diện”.

Sau khi tìm hiểu mọi việc, tôi liên lạc với trung tá Nhan Trừng Lâm, tiểu đoàn trưởng pháo binh của Sư Đoàn 21, có một pháo đội đang đóng gần cầu Lỳnh Quỳnh, xin cho thiếu úy Đước qua đó nhận mấy người trốn tù Việt Cộng về.

Sau hiệp định Paris 1973, một số dân Long Xuyên, dân Xóm Mới (Gò Vấp), tới vùng Kinh Hãng Tà Keo kiếm đất làm ruộng. Dân Long Xuyên thì tự động, rủ nhau mà đi, dân Xóm Mới thì theo lời kêu gọi của Linh Mục Nguyễn Thượng Uyển ở kinh Sáu Rọc Bà Ke ở Kiên Tân kêu gọi về làm ruộng ở vùng nói trên. Việc nầy xin nói thêm ở bài sau.

Vùng “Kinh Hãng”, “Tà Keo”, đất tốt, bỏ hoang nên họ kéo nhau vô đó kiếm ruộng. Họ mới kiếm đất, chưa khởi công làm gì!

Kinh Hãng là một vùng ruộng bị hoang hóa. Trước 1945, Tây thực dân lập hãng sản xuất lúa, mộ dân Bắc Kỳ đưa vô đây làm ruộng, cũng tương tự như vùng Nam – Thái – Sơn vậy. (Xin Xem lại bài Chị Sứ, Hòn Đất). Tây thành lập một “công ty” làm ruộng, dân chúng gọi nôm na là “Hãng”, kinh mới đào xong, cái ngang cái dọc, làm được ít mùa thì bỏ hoang vì chiến tranh Thế giới xảy ra, Pháp đầu hàng Đức, nên Tây thực dân bỏ dở công trình. Do tình trạng đó, dân chúng gọi vùng hoang hóa nầy là “Kinh Hãng”.

Còn Tà Keo?

Tà Keo là tên Miên, là một ấp, chỗ căn cứ địa của Việt Cộng, nơi đầu tiên Nguyễn Tấn Dũng làm du kích, khi mới “thoát ly theo Việt Cộng” (Danh từ Phụng Hoàng).

Có bốn người đàn ông dân Long Xuyên, lực lưỡng, khỏe mạnh, vào Tà Keo kiếm đất, bị Việt Cộng bắt. Họ đang bị điều tra coi thử có phải là “Ngụy” đưa vô dò xét tình hình, làm tình báo hay không. Thấy không phải, Việt Cộng cũng chưa tha họ về, buộc phải đóng tiền chuộc. Chuộc tội gì? Tội đi vô vùng “Cách Mạng”. Buồn cười không?!

Nếu như ngày nay, bọn bin Layden, al Qaeda hay Taliban có bắt người đòi tiền chuộc. Việc ấy, so với việc Việt Cộng làm trước đây, bọn nầy mới chỉ là học trò của Việt Cộng. Biết đâu, chính quyền Hà Nội cũng đã từng đưa người qua làm thầy bên Afghanistan. Việt Cộng chính là “sư phụ” trong cái nghề “bắt cóc đòi tiền chuộc” như vầy.

Bốn ông nông dân không đóng tiền chuộc, nói với Việt Cộng là nhờ chúng liên lạc với gia đình, đem tiền qua. Thư họ viết, đưa cho giao liên, giao liên sợ bị tội, đưa cho Quốc Gia. Thế là xong, Việt Cộng cứ rán sức mà chờ…

Ngày ngày, có hai tên du kích coi giữ tù cho tù ăn. Tù bị xích tay, bốn người một giây, nằm trên sàn cái chòi nhỏ, dưới là nước. Hai tên du kích ở chòi đằng kia. Hai chòi nối nhau một đường đi cũng bằng sàn, làm bằng cây tràm. Dĩ nhiên, hai tên du kích nầy chỉ là “khóa đàn em” của Nguyễn Tấn Dũng vì hồi nầy, đời Dũng đã lên hương, làm trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên rồi, không còn là du kích ấp Tà Keo như khi mới thoát ly nữa.

Ở chòi bên kia, hai tên du kích nấu cơm, ngày hai bữa, một tên đem cơm qua cho tù ăn. Tù ngũ trên sàn, không có mùng màn, không được tắm giặt chi cả. Tới bữa, được tháo xích, bốn người ngồi quanh cái rá cơm, một tô cá do Việt Cộng tự đánh bắt lấy, có chén đũa cho mỗi người.

Thấy cảnh cứ diễn ra như vậy hoài, theo thói quen; vả du kích cũng ỷ y, nên bốn người bàn cách thoát thân.

Một người, giỏi võ nhất, lãnh nhiệm vụ ngồi ngay chỗ tên du kích đi vào, ba người kia ngồi quanh. Chờ khi tên du kích từ phía sau cúi xuống đặt rá cơm, thì ông nầy chụp cổ, vật cho y lộn nhào, giựt cây súng y đang mang trên vai.

Việc xảy ra như dự tính, nhanh như chớp, y như trong ciné. Tên du kích ở chòi bên kia, nghe tiếng động, phản ứng bằng cách chạy tới chỗ y treo cây AK, chưa kịp nắm cây súng thì lãnh ngay một băng đạn do anh nông dân bắn tới, sau khi ông ta giựt được súng do tên du kích mang trên vai. Lãnh đủ băng đạn, tên du kích ấy rơi ngay xuống nước cái bủm. Xong, người mang súng quay lại tên du kích bị vật cổ xuống. Tên nầy đã phóng xuống nước, nước ngang lưng, đang cố lội ra xa, chạy trốn. Anh nông dân chẳng cần nhắm, bắn một tràng vào y. Tên nầy gục xuống nước, tìm đường theo… “bác Hồ”.

Thế là bốn ông nông dân, hai cây súng, tìm đường về.

Họ cũng tính kỹ lắm. Phải thực hiện kế hoạch vào buổi chiều, thoát thân lúc ban đêm, Việt Cộng có báo động cũng không dám đuổi theo, một khi ở trong rừng tràm, trời tối, không thấy rõ được. Ra khỏi rừng tràm thì cũng gần tới vùng Quốc Gia, chưa chắc Việt Cộng dám ra theo.

Không bản đồ, không la bàn, hết rừng tràm thì tới lau sậy mịt mù, họ biết đường nào mà đi. Dễ lắm! Họ theo hướng “ô-bi” bắn mà đi.

Súng canon, người dân thôn quê gọi là “ô-bi”. Đêm đêm, cứ khoảng chốc, đại bác bắn một phát cầm chừng, quấy rối mật khu Việt Cộng. Ở thôn quê, không yên ổn như thành phố mà “Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.”  Trịnh Công Sơn đừng đổ tội cho Quốc Gia, bộ ông ta không biết rằng ở thành phố có nghe đại bác thì đó là đạn Việt Cộng pháo kích bửa bãi vào thành phố hay sao!? Ở thôn quê thì khổ hơn, khi nghe đại bác nổ là không chừng đánh nhau ngay chỗ mình đang sống.

Bốn người tù trốn Việt Cộng lội nước đi suốt đêm, cứ hướng có tiếng súng ô-bi bắn đi (départ) mà đi tới. Phải rán đi cho thật nhanh vì sợ Việt Cộng đuổi theo. Sau khi phát hiện tù sổng rồi, lại có hai đồng chí của chúng “tổ quốc ghi công”, có thể chúng sẽ liều đuổi theo. Trên đường đi, họ cũng phải tránh những trạm gác ngoài bìa rừng của Việt Cộng.

Mấy chục năm nay, tình hình Long Xuyên rất êm, Việt Cộng không dám léo hoánh tới, nên bốn ông nông dân, nhờ có vào Nhân Dân Tự Vệ, biết xử dụng súng ống chút ít. Họ không có kinh nghiệm về việc lội rừng đánh nhau với Việt Cộng. May mắn, gần tới sáng thì họ tới địa điểm đặt súng đại bác. Sợ lính Quốc Gia bắn lầm, họ chờ tới sáng bạch mới cho một người tới gần bót la lớn, xin giúp đỡ.

Sau khi đơn vị pháo binh hỏi sơ qua, họ báo lên cấp trên. Ông pháo đội trưởng cho người qua xã Tri Tôn, biểu cho người qua đón mấy người trốn tù Việt Cộng về.

Tôi cho chiếc xe Dodge đón bốn người tù từ xã Tri Tôn (Rạch Giá) về. Bên Cảnh Sát thì lấy cung, bên chiêu hồi lo giấy tờ, bên Thông Tin lo tổ chức lễ tưởng thưởng. Mỗi người được một bằng tưởng lệ với một ngàn đồng, rồi được cấp giấy tờ, tiền xe để về Long Xuyên.

Đây không phải là bốn người đầu tiên bị Việt Cộng bắt. Trước đó cũng có hai người dân Xóm Mới (Gò Vấp) xuống Tà Keo kiếm ruộng làm ăn, đã bị Việt Cộng giết. Thêm hai người bị bắt rồi Việt Cộng dẫn đi mất tiêu, không có tin tức gì cả. Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của LM Nguyễn Thượng Uyển, thân nhân không báo cáo gì với Quốc Gia cả. Sau nầy mới nghe người ta nói lại.

Một hôm, tôi lái xe về ngang kinh Xà Tón, xã Đức Phương thì thấy bên phía rừng cấm, dân chúng từ Long Xuyên về, dựng mấy chục căn nhà, cắm cọc giăng giây giành đất, giành ruộng. Tôi hoảng kinh! Họ tới đây hồi nào mà tôi không biết gì cả. Hỏi ra thì xã trưởng Ngô Văn Àn cho biết họ mới tới có hai bữa nay. Họ làm như du kích. Mấy chục người, đi xe đò, tới nơi hè nhau giành đất, cắm cọc, dựng chòi, treo cờ. Hầu hết là cờ đà, cờ Phật Giáo Hòa Hảo của dân Long Xuyên.

Tôi than với ông quận, vùng đất nầy là nơi ông phó thủ tướng Phan Quang Đán, đặc trách “Chương Trình Khần Hoang Lập Ấp”, đã khoanh vùng cho dân Quảng Trị, sau 1972, chạy loạn vào định cư. Dân Long Xuyên vào giành đất như vậy thì hai phe dân chúng sẽ đụng đầu nhau, chí ít thì phó thủ tướng Phan Quang Đán cũng “cạo” cho môt trận tơi bời chớ không! Ông quận bèn lái xe xuống tận nơi gặp đồng bào… năn nỉ.

Thấy gặp khó khăn, đồng bào Long Xuyên mới dở chòi, bỏ đi. Họ chờ ông quận cấp đất cho họ như ông ta hứa, nhưng phải chờ ông ta xin chỉ thị của tỉnh. Cũng may, sau đó, họ được cấp một vùng phía trên một chút, cách chỗ cũ khoảng vài cây số. Họ lại dựng chòi, chuẩn bị làm ruộng thì… “đứt phim.”

Nhắn tin:

Anh Đinh Nam Triệu ở Arizona

Tôi có nhận được thư anh nói thêm cho tôi biết nhiều điều, và thời gian anh cùng gia đình ở ấp Xà Ngách, xã Dương Hòa (Ba Hòn), v.v… Tôi rất vui khi đọc thư anh. Anh quê ở đó, còn tôi thì quê ở vĩ tuyến 17 lưu lạc vô tới đây. Nhắc lại chuyện cũ mà có người góp chuyện, viết đầy đặc hai trang giấy không vui sao đươc! Anh cho tôi số điện thoại, nói chuyện thuận tiện hơn. Thân ái -hlh

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 5 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 28 Nov 2023

Bài 14

Ông Thầy Thuốc Bắc phủ Cây Tùng

Kinh Rạch Giá – Hà Tiên được coi như một con đường thẳng từ xã Mỹ Lâm tới xã Ba Hòn. Chỉ ở đoạn quá kinh Xà Tón (Còn gọi là Kinh 1) khoảng một cây số thì kinh nầy cong về bên trái một chút, cỡ 30 độ. Tỉnh lộ chạy theo con kinh nầy cũng uốn cong như vậy.

Tại chỗ cong nầy, đi theo hướng về Hà Tiên, bên trái khách bộ hành là khu “rừng cấm”, bên phải, bên kia kinh là xóm Đạo.

“Rừng cấm” là tên trong địa bộ. Hồi Tây còn cai trị, chúng nó khoanh vùng nầy để làm ruộng như ở Nam Thái Sơn, Tà Keo vậy. Tuy nhiên, sau khi đào được vài con kinh nhỏ, thì Tây mẫu quốc đầu hàng Đức nên chương trình làm ruộng nầy thất bại. Gọi là rừng nhưng chỉ toàn sậy, đế, ô-rô, cóc kèn… kinh đào chưa nhiều, chưa thông với kinh lớn nên còn nhiều phèn, chưa thể làm ruộng được. Sau trận đánh năm 1972, dân Quảng Trị bỏ xứ chạy loạn, trốn Việt Cộng, ông bác sĩ Phan Quang Đán, phó thủ tướng đặc trách chương trình “Khẩn hoang lập ấp”, dự tính đưa đám dân chạy loạn nầy về đây. Công việc không còn bị nhóm “Nam Kỳ Quốc” phản đối như hồi 1965. Công việc mới chuẩn bị, chưa kịp làm gì thì bỗng “đứt phim”.

Hồi trước, khoảng năm 1965, khi hàng rào điện tử McNamara được dựng dọc theo bờ Nam vĩ tuyến 17, vùng nầy bị bạch hóa, dân chúng bị đuổi đi. Hồi ấy, phủ Quốc Vụ Khanh Vũ Quốc Thúc, đặc trách phát triển kinh tế hậu chiến, dự trù đưa dân vùng bị bạch hóa gồm các quận Trung Lương và Gio Linh vào định cư ở Miền Tây Nam Phần nhưng bị nhóm “Nam Kỳ Quốc” phản đối. Họ chủ trương “đất miền Nam của người miền Nam”, bây giờ còn bỏ hoang nhưng sau có đất cho con cháu cấy cày. Vì không đưa vào miền Tây Nam phần được, số dân nầy một phần định cư ở Cam Lộ, ở Bình Giả và một ít ở Suối Dầu (Nha Trang).

Sau hiệp định Paris 1973, dân chúng, phần đông là người ở Long Xuyên hoặc dân di cư Xóm Mới (Gò Vấp) cũng về đây làm ruộng, cũng chỉ mới chuẩn bị thì họ đành phải bỏ mà về, cũng như việc trồng chuối xuất cảng sang Nhựt, được Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp tài trợ. Việc nầy, trong bài tới sẽ kể cho độc giả nghe, còn bây giờ là chuyện “Ông Thầy Thuốc Bắc ở phủ Cây Tùng” tức là phủ Phó Tổng Thống của cụ Trần Văn Hương.

Ở đoạn đường cong, bên kia kinh, là “xóm Đạo”. Đây không phải là nơi “Giặc về qua xóm đạo” của nhà thơ Hà Huy Hà, phổ thành bài hát “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Đây cũng không phải là các xóm đạo Thiên Chúa trong một làng nhiều người lương như ở ngoài Trung, ngoài Bắc. Ngoài đó, người theo đạo Thiên Chúa thường ở chung với nhau thành xóm, thành làng nên những nơi ấy thường được gọi là “Làng đạo” hay “Xóm đạo”.

Ở Gò Công, trước khi vào thị xã, cũng có một “Xóm Đạo” nhưng đó là xóm đạo Cao Đài. Thời chiến tranh Việt Pháp, Việt Cộng thường đem mã tấu, súng đạn tới “giải phóng” những người theo đạo Cao Đài, mà chúng nó gọi là Việt Gian, nên dân Cao Đài cũng chạy loạn, tập trung về đó ở với nhau, bảo vệ nhau chống Việt Cộng, nên mới có tên là “xóm Đạo”.

Còn như “xóm Đạo” bên kia kinh Rạch Giá – Hà Tiên tôi nói ở đây thì lại khác xa, dân nầy không đỏ thì cũng hồng hồng, hoặc trốn quân dịch, không chịu đi lính Quốc Gia.

Xóm nầy nhà ở chi chít, sát vách nhau giống như xóm lao động ở Saigon, nhà tranh, vách lá, vài nhà lợp tôn. Hầu hết là nhà nhỏ như ở miền quê Nam bộ. Nhà nầy qua nhà kia thì cứ len theo vách mà đi, còn như xa hơn thì dùng xuồng. Mùa nước nổi, mỗi nhà là một ốc đảo. Họ có một cái chùa, thờ Phật và thánh thần gì đó, hơi lung tung. Theo tôi hỏi dân chúng thì gốc gác của họ là từ bên Châu Đốc, theo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đó là một đạo mới ở miền Tây, nên người ta mới gọi là “xóm Đạo”.

Xóm nầy mất an ninh trăm phần trăm. Người của chính quyền Quốc Gia, lính tráng không tới nơi nầy, nhứt là sau vụ một nghĩa quân bị đâm chết trước sân chùa. Nói cho văn hoa một chút thì “Máu đổ trước Thiền môn”.

Tôi nói với ông quận trưởng Sầm Long, khi ông mới về nhậm chức, tình hình như thế nầy là không được, không thể kéo dài, phải tìm cách chấm dứt. Dân chúng trong địa phương mình mà mình không kiểm soát được là thiếu trách nhiệm. Ở đây, nếu dân chúng muốn tiếp tế cho Việt Cộng trong bưng thì quá dễ. Ngày ngày, họ đi giăng câu, bắt cá, làm ruộng, tự do thoải mái mang đồ tiếp tế mà đi, đâu có ai ngăn chận, bắt giữ.

Sau vụ anh nghĩa quân bị giết, một hôm họp Phụng Hoàng xong, tôi lại nói với ông quận trưởng: “Mình phải dời xóm đạo nầy qua bên nầy lộ mới kiểm soát họ được.” Quận trưởng hỏi: “Làm sao mà dời?” Tôi nói: “Đốt cái xóm nầy đi!” Quận trưởng trợn mắt hỏi tôi: “Làm sao đốt xóm người ta được?” Tôi cười: “Cứ giả dạng Việt Cộng, Quốc Gia đụng trận trong xóm, rồi cho đốt luôn. Xong, không cho họ làm nhà lại, buộc qua ở bên nầy lộ. Ai qua thì mới được bồi thường chiến tranh!” Quận trưởng nói: “Thôi! Ghê quá ông ơi! Ông với tôi vác chiếu ra hầu toà án quân sự mặt trận như không! Việc thì hay nhưng tới đó, chắc không ai bênh vực mình đâu. Ở tù lãng nhách. Ngán nhứt là mấy thằng cha đi kiếm phiếu.” Ý ông quận muốn nói mấy ông dân biểu đối lập, thân Cộng, mấy ông nghị viên, nghị hòn, thấy những việc như thế nầy, sẽ quậy tùm lum lên để kiếm phiếu. Sau đó, quận trưởng nói với thiếu úy Kiệt: “Sư phụ ông là tay bá đạo! Mấy tay trọ trẹ nầy ghê lắm!”

Ông quận trưởng xuất thân khóa 12 Thủ Đức. Tôi, so với ông thì ông không những “khóa đàn anh”, mà là “khóa ông nội, cố nội”. Tôi nói đùa với thiếu úy Kiệt như thế. Nhưng ông cũng là người biết mình biết ta. Hôm ông ta với ông quận Phúc bàn giao xong, hai người qua thăm tôi. Ông quận Long nói một câu tiếng Tây với tôi, hình như để ngầm chứng tỏ ông là người có trình độ học vấn. Có lẽ ông ta nghe ông quận Phúc giới thiệu trước, gốc tôi là người miền trung, giáo sư trung học đệ nhị cấp, vì đời lính mà lưu lạc vô tới đây. Do đó, giữa ông và tôi bao giờ cũng có sự tương kính, hợp tác với nhau. Khổ một nỗi cho ông, ông thường bị tỉnh trưởng vòi tiền, đóng hụi chết, không ít lần ông than với tôi như vậy!

Một hôm, tôi cầm một bản tin Phụng Hoàng qua gặp ông quận Long. Số là tôi hay ngồi lật “Hồ sơ trận liệt” cũ để xem lại tình hình. Tôi chợt tìm ra một bản tin của Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc, gởi cho Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo cho Ủy Ban Phụng Hoàng quận của tôi, cho biết rằng… tôi nhớ đại khái:

“Bí thư huyện ủy Tri tôn – tỉnh Châu Đốc – bí danh là ông “Đạo Sáu”, trước khi có chương trình Ấp Chiến Lược, là người đứng đầu “xóm Đạo” – lúc ấy đã có tên xóm Đạo – ở tại một cái “kinh cùng” – có nghĩa là một cái kinh “dead end” – như tiếng Mỹ vậy, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Châu Đốc và Kiên Giang. Khi chương trình Ấp Chiến Lược thi hành hồi Đệ Nhứt Cộng Hòa, “xóm Đạo” nầy ở vào vùng khó kiểm soát nên buộc dân chúng phải dời về gần quận lỵ Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc.

Thay vì làm theo lệnh chính quyền, ông Đạo Sáu kéo dân dời xuôi về tỉnh Kiên Giang, dựng lại “xóm Đạo” ở bên kia kinh.

Vậy mà mấy năm nay, nhận được bản tin nầy xong, Ủy Ban Phụng Hoàng quận tôi đem bỏ hộc tủ, chẳng khai thác, theo dõi gì cả. Tôi than phiền với ông quận Long như vậy. Quận Long nói: “Ông rán lên mà xem lại cho xong. Cần thì mình bàn lại.”  Trước khi bắt tay ra về, tôi lại nói với quận Long: “Đốt mẹ nó đi là xong!” Quận Long chỉ cười, không nói gì. Trên đường về, tôi lái xe, thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh, tôi nói: “Cha nội quận trưởng nầy đánh giặc thì gan lì, nổi tiếng một cây. Tới việc nầy (Việc đốt xóm Đạo như tôi chủ trương) thì chả nhát gan hơn mình.”

Bất đồ, mấy hôm sau, ông Chủ Chùa Phạm Bình An đến văn phòng tôi xin thành lập Hợp Tác Xã Nộng Nghiệp cho “xóm Đạo” nầy.

Bấy giờ, ông Đạo Sáu không còn ở “xóm Đạo” nữa. Ông ta đi đâu? Không ai biết. Ông giao “xóm Đạo” lại cho ông Chủ Chùa – có nghĩa là người coi sóc ngôi chùa của “xóm Đạo” tên là Phạm Bình An.

Đọc xong đơn xin thành lập hợp tác xã nông nghiệp của ông Chủ Chùa Phạm Bình An, tôi nói với thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp, mời ông Phạm Bình An lên cho tôi gặp.

Hôm sau, mới tới văn phòng một chốc, thì thượng sĩ Hai Râu gặp tôi nói cho biết ông Chủ Chùa đang chờ. Tôi mời ông ta vào văn phòng. Thay vì để ông ngồi vào cái ghế trước bàn làm việc, tôi mời ông ta ra salon ngồi nói chuyện. Tôi sai lính pha trà, rồi ra tiệm gọi vô hai ly “xí nại” – Ông ta là người tu hành, không uống rượu như dân miền Tây – Tôi nói chuyện với ông rất lâu, ngoài chuyện tôi khuyến khích ông nên mở rộng hợp tác xã để giúp ích cho dân chúng, hỏi thăm việc làm ruộng trước nay như thế nào, và cuối cùng… hỏi thăm ông “Đạo Sáu”.

Tất cả những chuyện tôi nói ở phần trước, chỉ là đưa đẩy, chuyện chính là điều tra xem ông Đạo Sáu hiện đang ở đâu?

Người nhà quê Việt Nam rất thiệt thà. Thấy tôi là người có chức quyền, tiếp đón ông rất nhiệt tình, hòa nhã, vui vẻ nên ông rất thành thật khi tôi hỏi thăm mọi chuyện.

Theo lời ông thì mấy năm nay ông Đạo Sáu đã lên ở hẳn trên Saigon, không đi về như trước kia. Hiện giờ (lúc ấy – 1973), ông Đạo Sáu hiện đang ở tại dinh Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, phủ Cây Tùng, để chữa bệnh cho một người cháu gái của phó tổng thống, tên là Phan Lan Hương, gọi bằng cậu. Sợ ông ta từ chối, tôi vui vẻ khuyến khích ông ký tên vào tờ khai vì trong khi tôi nói chuyện thì thượng sĩ Hai Râu ghi và đánh máy ngay tờ khai như tôi dặn trước. Ông Chủ Chùa thật thà, bị tôi “gài” mà không hay, ký ngay vào tờ khai rằng hiện ông Đạo Sáu đang ở Saigon. Cũng qua đó, tôi đoán rằng tay Đạo Sáu nầy cũng “bí mật” ghê lắm. Vì vậy, ông Chủ Chùa không biết ông Đạo Sáu là Việt Cộng nằm vùng.

Ngoài việc trả lời những gì tôi hỏi, ông Chủ Chùa Phạm Bình An còn tặng tôi một cái máy Kolher 2 piston, máy tuy cũ nhưng gắn vào ghe “tắc ráng” thì chạy nhanh không ai bằng.

Ngay hôm đó, tôi làm một bản tin điện, gởi cho Uy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc về tình trạng ông Đạo Sáu hiện giờ.

Mười ngày sau, tôi có công điện gọi về Rạch Giá trình diện, đem theo hồ sơ vụ ông Đạo Sáu.

Nhiệt tâm của tôi chỉ đem lại cho tôi những chuyện bực mình và… tốn tiền.

Sau khi được bản tin của tôi, Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang liền sao gởi lên Ủy Ban Phụng Hoàng Trung Ương. Trung ương liền sai một trung tá làm trưởng đoàn, đi Kiên Giang điều tra vụ nầy. Thay vì về tới địa phương để điều tra, tìm hiểu thì mấy chả chỉ về tới Rạch Giá rồi ở lại đó, đi về miệt ruộng mấy chả lạnh giò, đánh điện gọi tôi ra “trình diện”, có nghĩa là tôi đem cái mặt tôi ra mà trình cho mấy chả xem. Không những thế, thái độ của mấy chả là hạch sách, làm như mấy chả ở trung ương, loon to chức lớn mới tài giỏi, còn như bọn tôi là dân ở ruộng, dốt nát, quê mùa, không biết gì, sao dám làm một bản tin đụng tới phó tổng thống.

Sau khi tôi trình bày sự việc, từ đầu chí cuối, rõ ràng, có chứng minh bằng giấy tờ, mấy chả làm thinh. Thế rồi bèn yêu cầu tôi dẫn… đi ăn trưa. Không lý cho mấy chả vào quán ăn bình dân, nên phải dẫn ra nhà hàng, tốn hai chục ngàn, gần nửa tháng lương. Tháng nầy vợ con lấy gì ăn? Việc nầy, bên Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, chính yếu là bên phía Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát, sợ tốn kém, bèn đẩy “cục nợ” sang cho tôi gánh bớt.

Từ Rạch Giá về, đi uống cà phê với quận Long và thiếu úy Kiệt, tôi chưởi thề không ngớt cái phái đoàn trung ương mắc dịch nầy về việc làm biếng, nhát gan, hách dịch, coi rẻ bọn làm việc miệt ruộng như chúng tôi. Thiếu úy Kiệt thì không nói gì, quận Long chỉ ngồi cười. Cuối cùng, ông ta nói: “Ở lính lâu, tôi biết cái trò nầy hơn ông. Bọn nó quen biết lớn, về trung ương ngồi để giữ chữ thọ chớ tài cán chi. Thấy ông nhỏ loon hơn chúng nó, chúng nó “lấy loon đè người” chớ học hành như tụi nó cũng chỉ đáng học trò ông.” Nghe quận Long xoa dịu tự ái, tôi cũng bớt bực mình.

Vậy mà tôi cũng không quên được cái mục tiêu “Xóm Đạo”. Tôi vạch kế hoạch hành quân, đích thân chỉ huy. Ba giờ sáng, tôi cho bốn chiếc ghe rải một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến, Cảnh Sát Tư Pháp và một trung đội nghĩa quân hỗ trợ bao vây “Xóm Đạo”, lục soát. Thấy động, bọn đào binh và trốn quân dịch trong xóm ra ghe, chống một cái rét là ghe đã khuất sau xóm, sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn um tùm. Chúng tôi không dám bắn theo!

Thế là vừa công cốc, lại vừa hối hận vì sự tử tế của ông Chủ Chùa. Mới vui vẻ chuyện trò với ông ta, nay lại cho lính xuống “quậy” xóm ông. Sai thì tôi không sai, nhưng nghĩ cho cùng, mình cũng muối mặt thật. Chơi vậy mà chơi với ai, tôi nghĩ vậy.

Vì bực mình với đám trung ương, tôi chẳng thèm theo dõi vụ ông Đạo Sáu.

Khoảng năm 1981, khi ở trại tù cải tạo Xuân Lộc Z-30A, tôi và đại úy Bỉnh, nguyên là trưởng ban 2 Chi Khu Tri Tôn tỉnh Châu Đốc, chung một đội thợ mộc, tình cờ ngồi nói chuyện cũ, tôi nhắc lại chuyện ông Đạo Sáu, bí thư huyện Tri Tôn vô tới phủ Cây Tùng. Bỉnh hỏi tôi: “Anh cũng biết thằng cha nầy à?” Tôi mới nhắc lại vụ bản tin của ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc tôi lục trong Hồ Sơ Trận Liệt ra. Bỉnh làm trưởng ban 2 ở địa phương ấy, dĩ nhiên anh ấy biết rõ ông Đạo Sáu là ai.

Bỉnh nói: “Đang ở phủ Cây Tùng, không biết do đâu ông Đạo Sáu biết bị động, bỏ trốn. Khi “sập tiệm” (1), ông ta vào tiếp thu tỉnh Châu Đốc.”

Mấy người bạn tù ngồi chơi bên cạnh, nghe xong câu chuyện, có anh bực mình chưởi đổng: “Mất nước là phải. Đ. m. làm ăn chẳng ra con mẹ gì cả!” Tôi hy vọng rằng người bạn nóng tính chưởi câu đó là chưởi ai khác, không phải chưởi tôi.”

hoànglonghải

            (1) Tiếng lóng, tù cải tạo thường dùng trong trại, để nói tới việc sụp đổ ngày 30 tháng Tư- 1975. Nó như một cuốn phim bị đứt vào ngày ấy, nên gọi là ngày “đứt phim”. Có khi gọi ngày ấy là “sập tiệm”. Nó như một tiệm chạp phô mà tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là ông chủ tiệm.