Gà đen

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Tôi quen anh trong một tiệc cưới. Trước đó, người bạn “rắn mắt” chơi trò “bắt cóc bỏ dĩa” mà không sợ bể dĩa ê mặt quan viên hai họ, biểu tôi đại diện nhà gái lên nói đôi lời về hạnh phúc trăm năm mà đôi trẻ sẽ chung vai gánh vác. Người bạn là bố cô dâu và anh là cha chú rể. Hai ông cứng thân trong bộ đồ lớn cả đời chẳng mấy khi được diện, còn tôi vì “nhân vật quan trọng” theo cách đánh giá của người bạn, cũng đã khổ sở đi vay mượn vét-tông cà-vạt ngó sao cho được tử tế trước mắt hơn hai trăm thực khách đình đám được mời chung vui. Dù trang phục xộc xệch vì không vừa kích nhưng tôi hy vọng lời ăn tiếng nói của mình chẳng đến nỗi luộm thuộm vô duyên. Khi toát mồ hôi hột, xong nhiệm vụ với bài diễn văn dài tám phút, bước xuống khỏi ánh đèn màu, chính anh là người đứng lên bắt tay tôi, ca tụng và cảm ơn.

Đích thân anh mang lại cho tôi một chai bia, đôi mắt biết cười. “Nụ cười” tươi hơn khi nhìn về, trao gửi tới thằng con vừa đủ lông đủ cánh. Tôi vô can, không rảnh để đọc những hàng chữ in trên thiệp cưới, vì vậy tôi chẳng biết tên anh, nghe mấy kẻ ngồi chung bàn tròn nói: Coi kìa, thằng Gà Đen hôm nay đã bỏ được tật bị dội nước mưa như thông lệ, nó trẻ lại chừng hai chục niên thì đẹp giai hơn nhân vật chính. Nói lạ! Ngày vui của con ảnh mà, phải quay cuồng phải năng nổ phải diễn sâu là hợp lẽ quá rồi, biểu ảnh ngồi một cục như con cù lần ngó sao đặng mấy cha! Gà Đen, anh mang tên kỳ khôi quá, chắc có điển tích nào đó để chúng bạn đặt ra danh xưng chẳng sợ đụng hàng. Hình như anh tuổi Dậu và vì sở hữu nước da ưa bắt nắng, ăn nắng tới rám cả mặt? Luận vậy cũng không ổn, bởi màu da tôi đâu có kém anh về độ thấm phong sương, mặt dày mày dạn. Nghĩ cho cùng, ai trong chúng ta mà không đen? Chẳng đen mặt này thì đen ở mặt khác. Tâm đen, lòng đen, dạ đen, đen ở những mặt chìm chưa có điều kiện để lộ hình tướng.

So với bạn tôi, đứa đóng vai sui gia với anh, anh có vẻ thân cận với tôi hơn. Anh thường ngồi uống cà phê một nơi quen thuộc. Biết chỗ rồi đó, hồi nào chẳng có chi làm thì ra ngồi với tui cho vui. Anh hỏi: Có ô-kê không? Tôi nào phải thành phần bị cuộc đời làm lu bu đầu bù tóc rối tối mắt tắt đèn, vì vậy tôi thường gặp anh, đánh bạn cùng anh, ngồi chờ trôi qua một cơn hạn. Không biết anh Gà Đen thế nào, chứ tôi tin rằng sông có khúc người có lúc, cà phê từng giọt chậm rãi rơi khỏi phin lọc rồi cũng phải dâng đầy trong ly, bỏ đường vào cho khỏi đắng, nhấp môi chất nước đen cho lại thần hồn, hy vọng về cái sáng lạng đang đợi mình ở đâu đó. Dẫu héo người cũng thoi thóp nuôi mộng mị. Dần dà tôi biết được do đâu “bọn chúng” áp đặt chữ gà đen, vì anh quen miệng thốt ô- kê, trăm dâu đổ đầu tằm cũng ô kê, ngàn việc nan giải khó gỡ rối cũng ô kê. Tiếng Anh duy có chữ này là đắt nhất. Dịch sang tiếng nôm thì giản dị chỉ nên hiểu: Ô là đen mà kê là gà. Gà đen là ô kê chứ còn gì nữa? Tôi hỏi: Vợ chồng thằng con anh ra sao rồi? Ờ, cũng ô-kê. Chúng nó ra riêng hay còn ở chung với anh chị? Ra riêng chứ, cho được rộng cẳng, được tự do chứ. Tiền thuê nhà đâu có đắt đỏ gì, rồi cũng ô-kê thôi.

Vợ anh gà đen có cái sạp nhỏ bán vải trong chợ, là nơi tôi từng ghé để nhờ chị ấy bán giúp mấy món đồ tôi vừa nhận bưu phẩm từ nước ngoài gửi về cứu trợ. Chị vui vẻ bằng lòng mà hổng nói ô kê. Tôi trông hàng chừng nửa giờ thì chị ấy trở lại khi đã hoàn thành việc uỷ thác. Tôi mời chị ăn bún ăn cháo để trả công, cứ ngồi trên sạp mà lùa mà húp “cơm bụi”. Anh chị chỉ có một cháu vừa lấy vợ thôi? Đúng vậy, có muốn đẻ thêm cũng trần ai khoai củ, thêm nản lòng chiến sĩ. Bị ổng như gà, mau nóng chóng nguội, chẳng ra ngô ra khoai, chưa đến chợ đã hết tiền. Thử nhiều phen, bồi bổ lắm thứ rồi cứ chứng nào tật ấy, cà rịch cà tang một chặp thì tuột xích giữa đường. Sao hai người không đi bệnh viện xét nghiệm? Ổng ngại tốn kém tiền nong không mặn nồng với y khoa nước nhà, thế là tui dóng tai nghe ở trong chợ đồn đãi có phương thuốc đông y hiệu nghiệm cũng xiêu lòng thử bốc cho ổng một thang. Có đột biến gì không? Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận có vấn đề hay sao á, ổng nóng sốt rồi bị tiêu chảy mất ba ngày xuội lơ cẳng cò xìu xìu ển ển. Lại chui vào chợ chửi cho hả giận thằng lang băm lừa phỉnh. Biết thằng chả nói sao không? Ý, điệu này chắc bị tui bốc lộn. Bà chị thấy đó, hột vịt còn lộn huống chi tui! Bạn hàng nói số tui đen, nhưng tình ngay thì nuôi một đứa con như ăn mòn cục cức. Khổ trăm điều anh ơi!

Bạn hàng trong chợ liếc ngang nhìn dọc nói này nói nọ dị nghị sanh nghi, tôi sợ thành ngữ “không có lửa làm sao có khói” thành ra sau này có muốn bán thứ gì tôi tránh gặp chị, ra quán cà phê nhờ anh gà đen mang vào giùm. Ô kê, có sao đâu, được mà, chỗ quen biết cả, bả rành ba cái chuyện này lắm, mình khù khờ thấy mẹ đâu biết hét giá. Thùng quà có vĩ thuốc Viagra dấu trong túi quần Jeans, bán quần bò nhưng thuốc tiên thì thủ kỹ. Gà đen hỏi thuốc trụ sinh hả? Tôi gật đầu, loại này ngày xưa Trụ vương thích dùng lắm đây. Này, chỗ đàn ông với nhau tôi hỏi cái này có gì đừng để bụng, chuyện ấy anh còn ngon lành không? Chuyện gì cơ? Trả bài hả? Ơ, cũng chẳng rõ lắm, cứ bị bả cự nự hoài, người gì tối dạ có bấy nhiêu mà học cũng hổng thuộc. Thế có chán không? Có ô kê không? Ôi, hơi đâu, mặc xác bả, vợ chồng thì phải khi thịnh khi suy. Hiểu ra điều cơ bản đó thì mọi việc sẽ ô kê ngay.  Tôi chẳng muốn đào sâu chuyện phòng the của gà đen, nên buông dấu chấm: Tôi ngồi đây đợi anh, việc đâu ra đó xong thì tụi mình đi kiếm cái quán nhậu lai rai ba sợi. Gà đen nói ô kê.

Tôi ngồi, chờ hoài đợi huỷ, một canh cho chí năm canh mới hay tin gà đen vừa thắng xe trước cửa chợ liền bị một thằng có số má xin đểu. Anh cự tuyệt vụ trấn lột giữa ban ngày ban mặt, giữa thị tại môn tiền náo nên bị nó lụi một dao. Đứa vừa bước vào quán cà phê thuật chuyện với bộ mặt tỉnh như ruồi. Rồi sao nữa? Thì bà vợ chạy ra giữ xế, nhờ gã xe ôm thồ ảnh vào nhà thương sơ cứu ruột để ngoài da. Chết mẹ không! Tôi than thầm. Tiền tôi mất mà tật anh mang. Cả hai ra đường không đúng vào giờ hoàng đạo! Cực sốc.

Bệnh viện xem chừng lúc nào cũng quá tải, thời nay chúng sinh nếm trải đau thương vượt mức quy định nằm ngồi la liệt nhăn nhó mặt mày ngoài úa trong héo trầy da ngoại thương chảy máu nội thương. Nói đâu xa, có ngờ đâu riêng chỉ một ngày mà bố chồng đoàn tụ cùng con dâu vừa vào nhập viện. Bố bị dao đâm vào bụng mà đứa kia thì bị sẩy thai, máu ràn rụa ở cửa mình, cháu nó thành hôn chỉ mới có mấy tháng. Vợ gà đen ưu tiên chạy tới hỏi han sự tình đứa con dâu bất cẩn, còn tôi giỏi chân đi ngó mặt người chồng dại khờ. Bác sĩ phán chưa đến nỗi nào, cho dù thằng có nhân thân xấu kia đâm cật lực thì dao ấy vốn dùng để gọt tỉa trái cây, lưỡi cực ngắn, tạm kết luận là chỉ gãi ngứa thôi, sát trùng bông băng khâu sợi chỉ là có quyền ra về, chuyện nhỏ! Tôi hỏi gà đen để nghe chính miệng nạn nhân than chuyện lớn tới cỡ nào. Anh nói, ờ cũng ô kê, muốn đi gặp ông bà cha mẹ đâu phải dễ. Lạ, chứng nào tật ấy, lành lặn không nói gì, đến cả máu đổ mà cũng ô kê. Thật chẳng hổ danh là gà đen.

Anh nhìn tôi, như tôi là bệnh nhân mà anh là kẻ viếng thăm: Xin lỗi nghe, đi trên đường thì phòng thủ ngó trước trông sau, khi tới nơi rồi lại đâm ra chủ quan mất cảnh giác. Khi không mà mang nợ nhau, tui thật áy náy quá chừng. Tôi nhìn gà đen lóng cóng mặc lại chiếc áo trầy trụa bụi đường, an ủi: Bị cái số nó vậy thì đành chịu thôi, vật đi thay người biết nói chi hơn. Mang vết thương ấy biết có ngồi thẳng lưng mà nhậu được không? Để tôi thồ ông về nhà rồi hẳn tính. Ô kê, cho tui tới thăm đứa con dâu bạc phước một chút, mẹ nó chứ, vậy mà hôm bữa lí lắc xí xọn tuyên bố ba sắp có cháu đích tôn rồi nha, nếu là con trai thì ba phải cúng nguyên con heo sữa quay, nhớ?

Ông sao rồi? Vợ gà đen quan hoài. Gà đen không trả lời, lại ngó vô người đứa con dâu nằm đắp chăn mỏng, mặt xanh tái: Con thấy sao? Họ nói mai xuất viện, còn rêm người. Có ai thông tin cho anh chị sui hay chưa? Dạ má con mới ra ngoài mua tô cháo. Vợ gà đen tới đứng bên tôi: Sao khi không trở chứng đi giao hàng cho ổng, người mà làm việc gì cũng xôi hỏng bỏng không. Mình muốn sống thì phải nên coi thường dư luận, toàn cả phường nhiễm bệnh ghen tuông cả đây thôi. Mất hàng rồi giờ biết lấy chi bồi hoàn cho anh! Thôi má dìa nghe cưng, còn bán buôn mờ người chớ đâu được phép rảnh rang. Anh chở tui về chợ, có được không? Tôi nói chị ra kêu thằng xe ôm, bị tôi thồ chị thì vất ảnh lại cho ai. Chở người bị thương còn hơn xây am, ảnh đã ô kê rồi.

Ba bữa sau, đang ngồi mình ên nhâm nhi chất nước đắng như thông lệ thì vợ gà đen nhảy xuống khỏi chiếc xe thồ vừa tấp vô lề. Sao chị biết tôi ngồi đây? Ờ, bị từng nghe ổng báo cáo địa điểm. Ảnh đi đâu mà tôi chờ cả giờ không thấy? Cà phê đây uống được không? Thì phải chính chị thử mới biết, miệng lưỡi mỗi người mỗi khác. Ừa, anh gọi giúp ly cà phê sữa đá. Để tui bao bữa nay nghe hôn? Chị bắt ảnh ra chợ thế vai để tập bán buôn hay sao? Không dám đâu, vết thương bị nhiễm trùng, ổng vào trỏng cho họ xét nghiệm rồi. Người con dâu chị thì sao? Tạm ổn, nó được cơ quan cho nghỉ dưỡng sức nguyên tuần lận, nó kêu nằm nhà oải quá, má có đi công chuyện thì để con ngồi coi hàng giúp cho. Chị lo công chuyện xong chưa? Đang sớm mà, còn phải dọ ý với đối tác nữa chớ. Í, cà phê chỗ này uống được quá đi chớ, hèn gì mà hai người ngày nào cũng tùng tam tụ tứ lập băng lập đảng. Nè, tui thắc mắc không biết quý vị chuyện đâu mà lắm thế, ngày nào cũng cà kê to nhỏ, ổng có nói xấu về vợ con không?  Trời, ảnh ca ngợi chị hết mực, không có chị chắc ảnh tiêu đời trai. Xạo! Vợ chồng như áo quần, sờn rách chỗ nào đều hiểu nhau quá, anh ưa làm vui lòng tui hả? Thôi, nói xa nói gần không bằng nói thiệt, có chồng như ổng khiến tui thét muốn lãnh cảm luôn. Tui có cảm tình với anh từ cái buổi đầu hôm đám cưới sấp nhỏ anh lên ngỏ lời duyên dáng cùng quan khách. Rồi khi không mà ổng làm bể nồi cơm của anh… Nhà đang vắng, anh chở tui về có được không?

Lô hàng bị xã hội đen trấn lột đâm người chuyển giao mối lái, may mà tôi còn giữ được trong lưng vỉ thuốc Viagra. Tôi nghe chúng sinh đồn đãi rằng đó là dược liệu mà Hoa Đà nằm mộng cũng chẳng ngờ, những ai mỏi gối chồn chân cũng sẽ đứng vững cương cường mà quyết đấu cho tới hồi vãn tuồng. Nôm na là ông uống bà khen hay. Khoảng cách từ đây về nhà vợ chồng gà đen cư trú mất nửa giờ đi xe máy, vậy thì còn chút cà phê trong ly cũng đủ cho tôi chiêu cùng viên thuốc nhỏ màu xanh đúng theo quy định. Cả đời tôi chưa bao giờ được uống nhân sâm ngàn năm nên lòng dạ những luống tò mò háo hức đi thực tế một phen xem công hiệu. Tôi sẽ thế vai gà đen hầu giúp đỡ vợ anh ta thoát cảnh ngồi trên giếng mà khát nước. Ôi, nghe vợ ảnh than đi nửa chừng thì xe ảnh bị tuột xích mà lòng hoài cảm ngậm ngùi lên giọng kiểu quân tử Tàu, gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ.

Là người sinh hoạt giữa chợ đời nên vợ gà đen thấy tôi moi thuốc ra uống thì “nàng” hiểu ngay thức ấy là hàng hiệu độc bá võ lâm. Không biết trong bụng có mở cờ chăng, nhưng mặt mày xem chừng rạng rỡ tỏ tường đường đi ong bướm quay về một khi. “Nàng” xẳng xái lại trả tiền, nói với cô phục vụ: Toa lét nằm chỗ nào cưng, chị mắc đái quá chừng quá đỗi.

Tôi ra khởi động chiếc xe gắn máy. Không rõ sáng nay đổ xăng loại gì mà động cơ rầm gú nghe dũng mãnh, nghe bốc. Gà đen, chịu khó nằm trong đó hơi lâu tí nha. Nếu êm, tối nay tôi rước anh đi đánh chén kỷ niệm một năm hảo hữu. Tình đồng chí đời đời bất diệt! Có ô kê không nè. Cái tên gọi đùa mà có lý nào lại vận vào người sự ám muội, số ổng quá đen. Nếu có một thứ gọi là toà án lương tâm thì hãy cứ để yên đó, hạ hồi phân giải, nhưng mang nội vụ đổ bể ra toà án nhân dân xét xử thì không thể buộc tôi tội xâm phạm chủ quyền trong khi đối tượng thuận lòng hiến dâng đồi núi khe rạch lóng rày hạn hán triều cường nước dâng. Lỗi nào do tôi, cũng không nên trách cứ vợ gà đen, vì nghĩ cho tận thì cuộc đời này đã khô hạn một niềm vui. Bồi đắp cho nhau chút lạc thú há không phải là việc đáng làm sao? Ông bạn làm gà nuốt dây thun có ô kê cho đôi gian phu dâm phụ mãi chủ trương còn nước còn tát? Với sức người vợ bạn cũng ngon cơm. Đời vốn ngắn mà đời thì luôn hoạn nạn, không kiểu này thì kiểu khác. Chọn mặt gửi vàng, xưa nay hiếm. Anh em ruột rà mãi giết nhau đó thôi, huống chi gà đen khác mẹ!

Vợ gà đen chạy ra, coi bộ đã nhẹ người sau khi giải thuỷ, nàng ôm eo tôi, miệng hô: Tới luôn bác tài. Cung kính không bằng phụng mạng. Chơi tới bến luôn hén? Đừng quay đầu vào bờ hén? Lẹ lên kẻo chiều tà cô quạnh rượt đuổi sát bên lưng.

Hồ Đình Nghiêm

11. 11. 17

Đường đèo

Hồ Đình Nghiêm

Đường đèo

Tranh Võ Đình

Khi rời khỏi căn nhà, con đường đã sáng đèn giữa hai hàng cây đứng gió. Những đốm lá đen đọng vũng dưới chân và ánh điện trên cao gửi xuống thứ sắc màu đục, nóng. – Cho tôi xin điếu thuốc. Hiệp bật lửa nhiều lần. Chiếc hộp quẹt còn mới. Tay hắn có hơi run.- Ông không thấy khó chịu sao?

Lưu lấy từ túi quần ra chùm chìa khóa, vọc giỡn như một kẻ tập quay súng bằng ngón trỏ.

– Trước khi tới đây tôi đã nói là nó không còn như ngày xưa nữa.

– Bạn cũ… Có nhiều điều tôi thật không hình dung ra được.

– Bao nhiêu năm rồi? Lý ra ông phải là người giàu kinh nghiệm ở trong những chuyện đó.

– Tại sao?

– Tại tôi nghĩ ông ở bên nhà lâu, cảnh bất trắc nó bày ra trước mắt mỗi một phút giây và điều này nó dạy cho người ta hiểu được nhiều thứ.

Hiệp ném điếu thuốc, tàn lửa như con đom đóm kiệt sức, rớt xuống hấp hối ở trong cỏ.

– Nó nói tiếng Tây như gió. Thằng thật khéo đùa!

– Để tâm làm gì. Còn hậm hực à?

– Tôi đã kể ông nghe chưa, nó vẫn còn thiếu chị tôi một số tiền.

– Có chuyện đó sao?

– Bả hùn tiền mua giúp nó một chỗ trên ghe. Chuyện đã lâu rồi, và tôi đến tìm nó hôm nay chỉ thuần để thăm hỏi.

Lưu mở cửa xe. Hơi nóng chờn vờn trong khối sắt bít bùng. Tiếng máy nổ hục hặc, con ngựa già tuổi run lên.

– Chừng nào ông trở về?

– Ngày mai.

– Gấp gáp thế?

– Đành vậy. Còn lo đăng ký và tranh thủ theo học một khóa Pháp văn.

– Sao không nói thêm là khẩn trương với lại hồ hởi phấn khởi các thứ?

Hiệp ngồi không được thoải mái, cứng ngắt trên ghế: – Nghe Việt-cộng quá hả? Lưu đẩy dĩa CD vào máy. Rock and roll will never die. Phẫn nộ và gào thét. – Nếu chiếc xe không tồi tệ có thể tôi sẽ chở ông về. Lâu lắm rồi tôi ít có dịp đi xa, vả lại tôi cũng muốn nhìn gặp người chị của ông. – Bả chuyển lời hỏi thăm, lấy làm ngạc nhiên bởi tới giờ ông vẫn còn ở không.

Xe chạy lên hướng phố. Sau lưng lem luốc chiều tà vấy mực xuống những con lộ chồng chéo dần khuất mặt. – Khi ông cắm cúi đi làm thì đồng tiền là cái thành quả duy nhất mà ông nhận được. Ông sẽ chịu đánh đổi những thiệt thòi và ông chẳng thể làm khác hơn. Tôi rất ngại viết thư về thăm nhà, sự ngộ nhận có khi sẽ tăng lên mà không chịu giảm đi. Ông hiểu không? Hoặc là sống qua một thời gian tự khắc ông sẽ thấy. Ở không? Làm sao tôi có điều kiện để xáo trộn nó, hao tâm khổ trí hòng kiếm ra một người bạn đời?

– Đồng tiền, tự nó đã là thứ sức mạnh siêu khủng. Tôi vẫn từng chứng kiến cảnh mấy thằng Việt kiều về tổ chức đám cưới rầm rộ. Những cô vợ vừa đủ tuổi lớn khôn có khi phải chịu đón nghe câu hỏi: Em thực sự còn trinh không?

– Vẽ đường cho hươu chạy đó à?

– Đó là sự thật. Là lý do khiến chị tôi ngạc nhiên.

Hiệp nói. Miệng há rộng trong cái ngáp dài, những sợi tóc rối lệch lạc đường ngôi. Lưu nhận xét:

– Ông như bị thiếu ngủ đã lâu?

– Không lâu gì. Đúng một tuần thôi.

– Chưa quen được với những hoán đổi bất ngờ?

– Tôi không biết. Có lẽ tại chỗ nằm mới. Tấm nệm dầy, ra trải giường trắng muốt, trần nhà ngạt mùi sơn. Tênh hênh, trần trụi. Lạnh lẽo và trống vắng. Khi ông chui vào nằm trong mùng, cái thói quen ấy như mang tới cho ông nỗi an tâm giữa giấc ngủ, ít ra thì ông ý thức là mình đang được bao che, bảo bọc.

– Ở đây có cửa hiệu Surplus chuyên bán quân trang quân dụng hoặc những thứ lỉnh kỉnh dành cho thợ săn, cắm trại, câu cá. Ngày mai tôi sẽ tạt ngang ghé mua tặng ông một cái mùng.

– Thôi, tôi chẳng nên nhận thêm. Mấy cuốn từ điển, những chiếc áo ấm… Ông cho nhiều quá làm tôi ngỡ mình là người phương Bắc ngày đầu vào Nam vội vàng tiếp thu.

– Những kẻ tội nghiệp đó mãi luôn là thành phần lạc hậu. Điều đó đúng hay sai?

– Đúng.

– Vậy thì tôi chở ông tới chỗ này xem qua một lần cho biết sự tình. Có thể nói là cho sáng con mắt.

– Có tốn kém lắm không?

– Chẳng nhiều nhặng gì. Vào uống một hai chai bia cho dễ ngủ.

– Đi “đít-cô” hả?

– Cũng có thể gọi như vậy. Toàn cả đít mấy bà mấy cô.

Khó khăn lắm Lưu mới đậu xe được trước dãy phố giăng kín những bóng điện nhỏ luân phiên chớp nháy. Có lẽ Hiệp sẽ không hiểu được hàng chữ viết lớn trên tấm bảng gỗ: “Chúng tôi có hơn ba mươi cô vũ công khỏa thân xinh đẹp với nhiều tiết mục hấp dẫn kéo dài tới 3 giờ sáng”. Lưu hỏi:

– Ông ưa vào chỗ 5 đô hay 10 đồng?

– Là sao?

– Năm đồng thì yêu nữ đứng sát trước mũi ông mình trần như nhộng ỏng ẹo vịn vai ông cho tới hết một bản nhạc. Còn mười tiền thì đôi tay ông khỏi bị ngứa, nó cho mười ngón phàm phu tục tử kia đi hoang, miễn đừng đụng vào hang Pắc-pó. Một bên ngó một bên sờ mó.

– Đồi trụy quá nhỉ?

– Đồi trụy cái đếch gì. Lao động là vinh quang chứ lị!

Cả hai vén tấm màn nhung lách người vào một địa đạo thẳm tối. Nhạc mở lớn, đì đùng rung chuyển trên chục cái loa có công suất cực đại. Pháo kích? Phía trên hầm luôn có pháo 130 ly luôn tuồng dội xuống? Dẫu là thứ gì, cái sự thịnh nộ kia cũng gây ra một tác động hệt nhau: Làm người ta tức ngực trong liên hồi kỳ trận và hồi hộp khó tả.

Bonsoir. Một thằng Tây dềnh dàng như gấu từ vũng tối bất ngờ hiện ra nhe răng trắng hếu. Hắn cầm ở tay cái vật thể trông như dùi cui và trong nhất thời hắn là tên cảnh sát không mặc sắc phục bạn dân. Hắn biểu hai đứa dong tay đầu hàng để hắn rà soát nhột nhạt bằng cái que dị hình đó. Chẳng lận theo vũ khí. Ô kê, mời vào trong. Chúc tận hưởng đêm nhiệt náo.

– Khiếp thật. Hang động này là năm hay mười tiền? Hiệp hét bên tai Lưu.

– Năm. Tôi vẫn ngại là khi ông về sẽ thành thật khai báo mọi chuyện rồi bà chị coi tôi như một đứa có lý lịch chẳng mấy trong sạch. Nói cho ngay, ở thành phố này khó tìm ra nơi thú vị để hướng dẫn khách phương xa. Thêm thay, giờ này cũng tối lửa tắt đèn rồi.

Lưu nhét vào tay người chạy bàn tờ năm đồng sau khi cô dẫn hai thằng ngoại quốc đi cứng đờ tới chiếc bàn trống. Người cô tròn trịa, lông măng vàng óng dưới ánh đèn, thơm hơn cả múi mít sầu riêng sầu chung. Mặt trái soan, mũi dọc dừa, môi trái tim; ba thứ lỉnh kỉnh bậy bạ ấy nào thấm chi với nhan sắc kia.

– Uống bia nhé?

Cô hỏi. đồng thời cong lưng lau sạch cái mặt bàn. Da dẻ mát mẻ tựa hồ mới từ tủ lạnh chui ra, ngon hơn bất kỳ một cây kem nào, đấy là chỉ nói riêng cái khoản ăn bằng mắt.

– Bắt buộc rồi. Cho hai chai, bất kể hiệu gì.

Ánh sáng lân tinh quay cuồng như sấm sét vằn vện trước khi mưa. Nó làm cho mấy vị cô nương mình trần trùng trục nhún nhảy qua về thoắt biến thoắt hiện tựa hồ ly tinh. Ở trên bục lớn, nơi quy tụ nhiều luồng sáng nhất, có đứa con gái đang cởi manh vải cuối cùng bằng thứ động tác lạ mắt, chẳng mấy ai làm được. Da trắng như tuyết, mềm mại đổ xuống sàn gỗ để bò như một con thằn lằn đứt đuôi. “Like a virgin”, giọng Madonna chả chớt, tiếng nhạc xúi dục làm cái thân xác nõn nà kia thêm quằn quại, dang tay dạng chân. Tóc tai lông lá cắt tỉa vén khéo công phu. Cô vật vã trong mọi tư thế, tựa hồ mới trúng đạn, có điều chẳng thấy máu chảy.

– Sao, đã bớt buồn ngủ chưa?

Hiệp không trả lời. Hắn dán người sau lưng ghế. Đen đúa, xác xơ, thẫn thờ như một tên Miên vừa thoát qua cuộc tàn sát kinh hoàng của bọn Khờ-me đỏ.

– Tôi gọi cho ông một em nhé? Nó sẽ dí cho ông xem tận mặt “cánh đồng hồi sinh”. Bí mật được vén lên và cuộc đời này đầy chật những hương mùi.

– Thôi khỏi. Giọng nói nghẽn, gần như cố nuốt xuống. Đi giải trí mà hắn chả biểu lộ chút thoải mái, hắn là đứa bày đặt ngồi tu tập dưới gốc cây bồ đề và nhấp nha nhấp nhổm vì tiểu đội ma nữ đang động cỡn tác yêu tác quái chung quanh. Chóng mặt dù mắt nhắm trít, không cách chi giữ thân tâm yên tịnh.

– Gọi cho tôi một chai bia nữa đi. Có đắt tiền không?

– Hề chi. Ông có quyền say, nếu muốn.

– Tôi say rồi. Uống hết chai thứ ba thì tan hàng nhé?

– Đồng chí nại khẩn trương đột xuất!

– Đừng đùa nữa. Có thể tôi làm ông mất vui, nhưng… có những điều ông chẳng thể mường tượng ra được đâu. Hiệp lắp bắp, khổ sở nói lớn cố át tiếng nhạc.

– Sao, sức khỏe ông có vấn đề à?

– Ông có muốn tôi gọi ông là kẻ lạc hậu không? Ở bên nhà giờ đây người ta còn bày ra lắm trò tinh ranh quái quỷ hơn thế này nữa.

– Tiến bộ đến thế cơ à?

– Không. Đó là cả một sự băng hoại. Sa đọa và đáng nguyền rủa.

– Ông như một nhà xã hội học hoặc một nhà đạo đức.

– Ông ăn cơm có kẻ âu yếm đút cho từng muỗng, hai tay ông rãnh rang tha hồ đi thăm thú lùng sục trên thân kẻ phục vụ. Ngậm tăm vào mồm, ông đếm tiền đô và mặc cả một chuyến mua bán. Một mặt nệm hiện tới, đứa con gái có thể học ngang lớp 10 trung học phổ thông buông thân xác xuống. Ông đè lên người nó chẳng chút xót thương. Vì sao? Vì đồng tiền làm ra bên này vốn phải chịu đổ mồ hôi sôi nước mắt. Đúng vậy không?

– Trời ạ! Ông bao nhiêu tuổi? Lẩm cẩm! Mặc xác bọn chúng chứ hơi sức đâu.

– Tôi chưa nói hết. Mấy ngày qua ông han hỏi tôi và trong khi trả lời tôi có man khai ít nhiều. Bây giờ ông có ưa đón nghe lời thành tâm không?

Hiệp cúi mặt, mặt thất thần chìm ngập vào góc tối đen đúa. Chiếc áo trắng hắn mặc thì thu hút ánh điện tím phả đầy ảo ảnh lân tinh xuống thân trông quái gỡ như hình nhân đi trong đêm lễ hội Halloween.

– Thực sự thì tôi cũng có vợ như ai. Nếu khác biệt thì do phần số của mỗi người. Vợ tôi từng ngủ với đám Việt kiều, ông tin không? Tôi nói đồng tiền nó có sức mạnh là vì vậy. Tất cả đều thui chột đi, hạ cấp và nhơ nhuốc.

Lưu ngửa cổ uống hết chai bia: Thôi, đi về. Bản “Welcome to the jungle” của bọn Guns’n’ Roses đang làm biến đổi hiện trường, như thể có một thác nước rầm rộ đổ ngàn con sóng xuống một bên hông. Trên bục chính có cô thiếu nữ tóc bạch kim đang kẹp giữa háng một con trăn vằn vện trơn láng. Con trăn ngây thơ không thấy sướng, thẫn thờ bò chậm rãi lên đường rãnh chia lìa cặp vú lớn, uể oải tuồng như nhức đầu nghẹt mũi cảm mạo nhác chơi. Lưu đứng dậy: Tôi thấy thật khó khăn cho ông khi thổ lộ những chuyện buồn mà phải hét toáng lên.

Hai kẻ nhác ăn nhác chơi định thần dọ dẫm tìm lối ra cửa. Ngoài đường nóng hầm thứ không khí ẩm rít của hè luôn giữ lửa. Nếu đông về, tuyết ngập lối, khi ấy con người phải trân mình chống cự bằng hòn than mọn, ủ sâu đáy lòng. Và đầu óc người ta mọc lên lời ta thán vô âm: Thiệt vô hậu! Xứ gì kỳ, nóng Việt-nam khủng mà lạnh Liên-xô khiếp.

– Ông đói bụng không? Tôi chở đến phố Tàu kiếm cái gì ăn.

– Đừng bày vẽ. Về nhà trụng gói mì ăn liền cho giản tiện. Mai tôi về rồi, chẳng biết khi nào thì gặp mặt lại. Giọng Hiệp khàn đục.

Lưu vật lộn tay lái, lui tới nhiều bận mới mang được xe ra khỏi chỗ đậu.

– Khoảng cách giữa hai nơi chỉ dài bằng ba tiếng ngồi trên xe chứ mấy. Ông có bao giờ tự hỏi tại sao mình lại vượt cả ngàn dặm để tới đây không?

– Trong đầu tôi có nhiều dấu hỏi. Cái mà tôi nghi hoặc nhất là nơi nầy, có đúng như thứ bến bờ mà người ta hằng ao ước được tá túc? Thôi bỏ đi. Nói toàn cả chuyện nghiêm trọng. Bình thường nhất, tôi muốn hỏi ông điều này: Ông có người yêu chưa?

– Nếu tôi nói chưa thì chuyện đó có biến thành nghiêm trọng không?

– Đâu đã khuya, về nhà giờ này cũng phí. Có nơi nào yên tĩnh để ngồi hóng gió không ông? Tụi mình còn biết bao điều để nói. Mười mấy năm rồi, phải tìm cách bù trừ.

– Ông thực không cảm thấy đói?

– Tôi thèm nói hơn thèm ăn. Lạ thật, ở bên nhà mỗi ngày cứ bị miếng cơm ám ảnh, đến khi rơi đúng vào kho thực phẩm như thế này rồi, cái miệng dở chứng đâm nhạt mồm. Còn ông, sống côi cút thì giải quyết chuyện cơm nước ra sao?

– Bạ đâu ăn đó. Tây Ý Tàu Nhật Mễ đều thử hết ráo. Ăn để sống mà cũng có thể ăn để chết dần mòn.

– Không tơ tưởng tới hình ảnh một người đàn bà buổi chiều ngóng đợi mình về chung đũa?

Lưu bẻ tay lái có hơi gắt khi thoáng thấy chữ Mont-Royal nằm trên mũi tên uốn cong.

– Tôi chở ông lên núi để nhìn Montréal nhỏ bé dưới chân.

– Trước khi lên đường, bà chị tôi có gói cho ông ít khô cá thiều, hạt sen và gói cà phê Buôn-mê-thuộc. Tôi đã gạt đi vì tôi nghĩ món quà ấy khiêm nhường và chẳng thiết thực. Tôi hỏi, tại sao không là một lá thư?

– Về đó, khi đã học xong khóa Pháp văn, tôi hứa sẽ tìm ra cho ông một công việc ở thành phố này.

– Một lá thư… Ngày rời Việt-nam, chị tôi mang ra đốt hết những chồng thư cũ. Bà ngồi trước cái thau nhôm, trước ngọn lửa với gương mặt của người đang đốt vàng bạc cho kẻ khuất mặt. Trong đống giấy co rúm tàn lụi kia tôi đọc được nét chữ của ông.

Lưu yên lặng, những ngón bấu chặt vào tay lái, mặt nhìn thẳng như mãi chú tâm điều khiển xe. Đường quanh co, độ cao tăng dần và màn đêm rách toạt bằng những ngọn đèn xe lên xuống, quét lia.

– Ông có gửi về cho bọn này một thùng hàng. Còn nhớ không?

– Lâu lắm rồi. Nghèo nàn và chẳng đáng lưu tâm.

– Đừng nói vậy. Bọn tôi bán cũng khá bộn tiền, nuôi sống hơn tháng trời. Riêng chiếc quần jeans thì chị tôi giữ lại. Nó bạc thếch, đã xơ lai, nhưng chị tôi vẫn mặc nó trong ngày xuất ngoại.

Lên tới đỉnh núi mới gặp gió đi lang thang, gửi theo chút dịu mát. Những ngọn đèn vàng treo chơ vơ, sáng từng vũng cô độc, và dưới nó từng hàng xe đậu chật cứng khoảng sân lớn. Lưu nhìn dáo dác, cuối cùng đun xe vào một ô trống dành riêng cho những người tàn phế, tấm bảng vẽ hình chiếc xe lăn và Hiệp kịp hiểu ra tại sao một bến đỗ thuận tiện như thế lại bị người ta ngó lơ.

– Ông đừng ngại, giờ này chắc không có ma nào cắc cớ lên núi để kiếm bạc lẻ. Còn những kẻ khuyết tật…

Lưu nói chẳng hết câu, thế vào đó là tiếng động khá lớn của cánh cửa xe đóng có hơi mạnh tay. Hiệp ngó xớn xác, đầu luôn quay đảo:

– Trời ạ! Sao mà tôi có cảm tưởng như mình đang đứng trên đèo Hải-vân. Lưu, ông thấy giống không?

Lưu nhìn xuống vực tối. Giả như phía dưới là biển cả, tiếng sóng không tài nào vọng lên được cái điệp khúc than van muôn thuở của nó.

– Khéo tưởng tượng!

– Chỉ thiếu chút mây mỏng, chút sương từ núi phả ra, thiếu hàng quán, thiếu cái lô-cốt chôn trong đá; thiếu xe đò hiệu Renault của hãng Phi-long nằm kề xe đen của hãng An-lợi nối đuôi chờ đổ đèo… Lần sau cùng ông đi qua Hải-vân là khi nào?

– Tháng 3 năm 75.

– Vậy thì lâu quá rồi.

– Nhạt phai? Không. Tôi nhớ như in cảnh tượng ở trên đèo năm ấy. Sẽ không có một nơi chốn nào mang đủ sự kinh hoàng và cái hỗn loạn chết chóc tựa nó. Vậy chớ khi đó ông trôi nổi ở đâu?

– Tôi ở trong Thủ-đức. Tôi vừa xuống tóc và đang làm quen với chữ “Quân trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu”. Nhưng mà sau đó thì tôi hay tin chính ông đã kéo được chị tôi ra khỏi chiếc xe bị lật bên triền vực. Tôi vẫn xem chuyện đó như một sự xếp đặt, tuy có hơi hà khắc. Tại sao lại là chị tôi mà không một ai khác? Nói như kiểu mấy ông bà già là duyên nợ. Phải vậy không?

– Tôi không biết. Tôi đang ngồi trên chiếc xe jeep của người anh, một lực đẩy vô hình khiến tôi phải nhảy xuống, tôi chạy lại chiếc xe đò lâm nạn và thực sự hoảng hốt khi nhìn thấy chị ông.

– Hy vọng với sự tiến bộ của y khoa bên xứ này có thể giúp chị tôi đi đứng như một người bình thường.

– Tôi không nghĩ vậy. Đã muộn màng rồi, mọi thứ đều thành sẹo.

– Thì đã sao? Tôi từng nói với chị tôi, việc gì mà phải khóc, chân đi hơi khập khiển thì bất quá lấy thằng chột mắt làm chồng. Sứt mẻ chút xíu bên ngoài thôi, hề hấn gì, cái tấm lòng người ta dành cho nhau có nguyên vẹn hay không mới đáng nói.

Lưu nhìn Hiệp đang lớn tiếng:

– Có hút thuốc không?

– Ừ, kiếm cái gì ngậm kẻo buồn miệng. Giá mà có chị tôi đi cùng thì giờ này đỡ phải lo vụ đậu xe bậy bạ.

– Sao chị ấy không đi?

– Mặc cảm. Có thể. Tôi chẳng hiểu. Nhìn cái bóng bà loay hoay thầm lặng trong nhà miết ngó buồn lòng. Thôi, bỏ đi. Hút hết điếu thuốc thì trở về.

– Hết chuyện nói rồi phải không?

– Hết. Toàn cả những chuyện không mấy vui. Leo lên giường nằm cuộn mình dỗ giấc ngủ e là thượng sách.

Sương bắt đầu xuống. Ở xa, dưới thấp nhà cửa phố xá chia đều từng ô trông như một bàn cờ không có người chơi. Im lìm, chẳng sang sông, không tiến quân, xe pháo mã đều bất động trong tịch lặng của thứ hòa bình vĩnh cửu. Hiệp ném điếu thuốc xuống vực sâu rồi chống tay ở thắt lưng vặn vẹo tấm lưng. Hắn đi lơ ngơ ra đường hút trống nhìn chăm về một hướng. Đèo Hải-vân đang cựa mình hóa thân lại thành núi Mont-Royal? Lưu vặn chìa khóa và chiếc xe khạc tiếng hậm hực. Lưu nhớ hình ảnh những ông tài xế cầm ở tay thanh sắt dài, tới đằng mũi xe, đút nó vào một lỗ trống nằm khuất lấp đâu đó rồi bặm môi dùng sức quay một vòng, chiếc xe tức thì kêu rú lên và hộc khói đen. Thỉnh thoảng nghe người ta nói tới con heo dầu, xe bò chậm qua đèo Rù-rì, đèo Cù-mông khi nửa khuya. Xe dừng bên lộ cho người ta giải quyết chuyện đại sự, những người đàn bà ngồi đâu lưng đưa cái mông trắng mốc ra và nhấp nhổm giải thủy trên đám cỏ tranh thưa chẳng che đậy được thứ gì. Thằng lơ xe mặt ám khói đốt cả bó hương chắp tay trước ngực như cô dâu cầm hoa trong ngày cưới, hắn cúi đầu trước mênh mông màn đêm rồi chia hương cắm đều trên từng ụn đất. Những con mắt đỏ sáng lập lòe nhìn theo chiếc xe quá tải chất người nhớn nhác như gà vịt. Chịu khó buổi đầu, xe lắc một hồi thì chỗ ngồi rộng rinh. Những chuyến đi thường có thắp nhang dọc đường, khói xám bay trì trệ tỏa thứ hương mùi thường hít phải ở am miếu thờ phượng. Quốc lộ một là canh bạc chứa nhiều may rủi. Và Thanh, chiếc áo dài trắng lấm tấm từng giọt máu loang, mặt xanh tái và sự tuyệt vọng ấy đã hồi sinh khi trông ra một cánh tay cố níu kéo. Mắt Thanh long lanh khi nhìn lên kẻ đang ẳm mình, đứa con trai ấy hiền ngoan một tiếng chị hai tiếng chị. Đi kèm với lòng tin cậy còn có thứ nỗi niểm khó cắt nghĩa, Thanh bấu chặt lấy, áp mặt vào ngực để nghe tiếng thở cấp bách, bấn loạn của Lưu. Thanh nén cơn đau, nước mắt cũng phải chảy ra. Khóc, có khi không thuần là biểu lộ một đớn đau…

– Chừng nào thì ông đổi xe mới?

– Tôi chưa từng nghĩ qua. Nó còn xài được và không chừng ngày mai nó sẽ mang ông về trong yên ổn.

– Chắc không? Chị Thanh hẳn phải mừng tủi khi được nhìn lại ông.

Xe chậm rãi đổ dốc. Loáng thoáng sau từng lùm cây trôi giạt có nóc giáo đường nào ẩn thân, đâm lên màn đêm cái thánh giá sáng đèn tím thẫm. Huyền hoặc, có vẻ không thực.

– Có lẽ người ta khó mà quên đi cái cảm giác khi được kẻ khác bồng bế mình trong gần cả tiếng. Đặt trường hợp tôi cũng vậy. Một sự ám ảnh. Chị thường hỏi mẹ tôi: Câu nói gái hơn hai trai hơn một có đáng tin không?

Lưu thắng xe đột ngột. Một con sóc vừa chạy vụt qua, thảng thốt, tất bật và sợ hãi. Bốn cái vỏ xe đồng loạt cắn nghiến xuống mặt nhựa đường, tiếng rít tuồng như còn vang vọng trong khe núi. Có chiếc xe phía sau lăn chậm tới một bên, người con gái thò đầu ra hỏi: Bạn ra sao rồi? Mọi chuyện đều ô-kê?

Lưu nhìn người hỏi. Ánh đèn nhập nhòa. Chiếc áo thun trắng loang lổ từng vệt màu đỏ. Ngực nhấp nhô lên xuống. Miệng cắn chặt và đôi môi thoáng máy, run, bấn loạn. Từ đây đổ xuống Đà-nẵng còn xa không? Mất bao lâu? Trời ơi, tình cảnh như thế này làm sao mà di chuyển! Lưu, nhớ đừng bỏ rơi Thanh nghe. Lỡ có điều chi không may… Trong lưng quần Thanh có thu cất mấy lượng vàng. Hãy thò tay vào, moi ra và giữ hộ kẻo Thanh sợ đánh rơi dọc đường. Lưu thở hào hển, cố giữ chân bước thôi loạng quạng, chiếc xe jeep quân đội kia rồi. Lưu, mày nên nhường chỗ cho cô ấy, kiếm phương tiện về sau nhé. Cứu người quan trọng hơn xây am. Người anh mặc quân phục rằn ri nói, giọng đứt quảng. Mọi khuôn mặt biểu lộ sự lúng túng. Chiếc xe bám đầy bùn đất bóp còi liên tục và bổ nhào bạt mạng tới phía trước. Cần ăn-ten run rẫy như thế cho bàn tay yếu đuối vẫy, mang đi mất một đôi mắt nhòa lệ mãi gượng ngó lui. Lưu nắm chặt những lượng vàng hình chữ nhật ở trong tay như đang cầm giữ một phần số, có thật, cụ thể. Và cái phần số ấy phải chịu giạt trôi theo Lưu, theo cơn biến động mà chẳng thể lui chân để hoàn trả, châu về hiệp phố.

Người con gái nhún vai, mái tóc vàng lay động rồi chiếc xe giàu lòng hảo tâm nhấn ga chạy vụt đi. Lưu ôm tay lái, lạnh cứng và tê dại những ngón. Đôi mắt chứa đựng nước lại hiện về. Da bụng chị Thanh ấm, mềm mại trơn tuột dễ khiến bàn tay trôi hoang xuống bên dưới. Không, chẳng ai dấu vàng ở đó cả… Có phải tự bản thân, nó chứa đựng sẵn cái ngàn vàng?

Xe đổ đèo. Lưu nói:

– Hay là thế này. Chúng ta tạt ngang nhà lấy ít đồ, ghé đổ đầy xăng và rồi chạy suốt đêm về chốn ấy.

Hồ Đình Nghiêm

Đứng hình

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Đứng hình

Hồ Đình Nghiêm

Một

Mây về dồn cục trên núi đã lâu, chẳng loãng tan, không tản mác trôi ra hướng biển. Trời sa sầm tối hù, nóng quá chừng quá đỗi. Gió đi đâu chẳng biết, đường nhựa cùng đất cát mặc sức mà dồn nhiệt lượng lên. Chó gục đầu xuống hai chân duỗi thẳng, lè lưỡi biếng nhác thở. Thanh niên ngồi trong quán nhậu mặt đỏ ké phanh áo chẳng buồn đuổi ruồi. Hai cô gái suýt soát tuổi nhau có vẻ là chị em thì chơi quần bò cắt ngắn tới háng xơ lai, không cứ là giò cẳng ngay cả áo thun bó thân cũng tươm đổ mồ hôi. Một cô tay cầm cục nước đá cứ rà quanh nơi cần cổ, mòn hao nước tuôn thành dòng. Vải áo cứ thế mà nới rộng phạm vi úng thuỷ, ướt át nhiều nhất ở vùng ngực thoi thóp đàn hồi, phập phồng lên xuống. Cô kia thì búi tóc lên cao, toàn thân vẹn toàn một chữ khô. Khi họ đứng gần nhau anh em chiến hữu đang tợp bia sương sương chẳng cần nhìn đểu cũng nhận thấy là ướt đẹp hơn khô.

Khô thở dài, giọng ráo hoảnh: Tức giông đã ba ngày rồi, có mưa thì trút mẹ cái đi cho bà con nhờ. Chỉ có con chó vẫy đuôi kỳ dư chẳng ai thèm hưởng ứng. Theo nhân diện, theo bộ tịch, đồ chừng cô là chị của người em ướt át. Cô ngó chừng về cái bàn gỗ đặt gần cửa, chỉ có bốn mạng mà xem chừng chai lọ đã ngổn ngang bừa bộn cái đứng cái nằm. Cô đã viết sẵn cái biên lai, cọng thứ này thức nọ đã lên tới hai triệu tư. Cô lại thở dài: Trời sắp mưa to, những người nhậu nhẹt đa phần là cử kiêng gió máy với lại mắc mưa. Ướt như chuột lột thì thậm nguy nan… Một gã nghe lọt lỗ tai, đổi thế ngồi: Cô ba tính đuổi khéo bọn nầy đấy nhỉ? Nắng với mưa, chuyện nhỏ! Chớ quan hoài. Gã quay mặt lại nói với đứa đang ngồi rụt cổ: Mầy xách xe lượn một vòng xem sao, lôi cổ nó về để cứu bồ chứ. Con bà nó, bận sau đéo giao việc cho nó nữa, dễ rách quá! Đứa được chỉ định đứng lên: Lượn một vòng là lượn ở đâu? Theo mầy đứa ôm hàng đi bán thì nó đến những nơi nào? Chạy ra chợ hay sao? Địt mẹ mầy, có thế mà cũng thắc mắc lắm lời!

Bốn đứa đi hai xe gắn máy, chiếc màu đen dựng chống ở lại khoảnh sân, chiếc màu đỏ rú ga rầm rộ rồi chạy vọt ra đường cái. Sau trần mây dầy nặng vừa nháng những tia sáng vằn vện, đì đùng tạo chuỗi âm thanh cách khoảng, lúc gần lúc xa. Con chó đi vô, chờn vờn bên chân chủ, hít hít mông chủ đôi lượt rồi chui xuống nằm dưới cái bàn kê gần quầy. Ngó bộ dạng uể oải thế đó nhưng nếu cần, thoắt cái nó lộ nguyên hình một con chó hung dữ rất mực. Không phải vô cớ mà hai cô chủ chân yếu tay mềm kia lại bỏ công ra nuôi nấng nó. Thuỷ chung, ở cái quán “Tình Đời” nầy chưa hề diễn ra cảnh ăn nhậu chạy làng. Chẳng cung kính với nhị vị cô nương thì ắt phải phụng mạng với linh cẩu. Môn võ học “Cẩu Bổng Đả Pháp” tuồng đã thất truyền mai một mất rồi. Bọn cẩu tặc chuyên trộm chó có đi bốn phương e cũng biết lễ độ mà chừa phương này. Nôm na không có vị thần bốn chân Anh lai giống với Đức hiện hữu thì quán Tình Đời sớm muộn cũng cáo chung, chịu đời chi thấu với phường trộm đạo mọc nhiều hơn nấm sau cơn mưa. Tương truyền có bận một thằng giả say tiền nong không thanh toán lại còn bức xúc đưa tay ra bốc hốt sờ soạn người đang liễu nhíu mày nhăn, chủ quán ré lên tiếng lạ tức thì chẳng hiểu từ góc kẹt nào chú chó thân thương đã phóng lên ngoạm lấy hai tay thằng phàm phu tục tử mà can ngăn. Máu đổ là chuyện ắt có và đủ, máu đi vào miệng lưỡi thế gian, dặm thêm chút mắm chút muối để rồi thương hiệu Tình Đời vây lấy một địa phận đáng nể. Thuý Kiều Thuý Vân chỉ nằm trong truyện Kiều, cơ bản là thế, không cứ hoa nhường nguyệt thẹn là phải chào thua số phận. Ngó vậy mà hổng phải dậy đâu nha! Vì thế, thực đơn quán nhậu Tình Đời lên tới tám món bắt miệng nhưng tuyệt chẳng có món thịt chó. Ôi, ta phải nên tri ân cái món tình nghĩa rất chi là hoành tráng ấy. Không có chó, người sao sống đặng? Người luôn bậy bạ mà chó thì trường kỳ quan ngại đến an nguy của hai cô chủ thịt thơm.

Mưa rơi ào ạt. Ban đầu là mùi đất nồng xông lên kế đến dồn đẩy xuống mái tồn lượng nước đổ thịnh nộ. Có mưa thăm dò, chủ Tình Đời mới phát hiện ra đôi chỗ bị dột. Cô em cầm cái thau nhựa, người chị cầm cái xô sắt cấp kỳ chêm hứng cho khỏi thấm ướt tình đời. Dữ thần hôn! Một cô nói. Có tên đệ tử lưu linh góp lời: Ậy, tức khí lâu ngày thì khi bắn ra phải khác đi, không thấy sướng hay sao cà? Chí ít cũng nghe nhẹ người, phẻ phắn, mát mẻ. Hắn vừa lè nhè xong thì có tiếng chuông réo trong bọc áo đại ca. Đứa có dáng vẻ thủ lĩnh móc cái iPhone ra. Chuyện gì? Thằng Sáu bị tó rồi, món hàng ấy cũng bị tịch thu… Mày đang ở đâu? Tui đụt mưa ở gian hàng bán nồi niêu trong chợ, đã bị lộ hàng anh em cũng nên tìm cách tản mác, chớ ngồi co cụm ở đó nữa.

Đại ca vừa áp cái điện thoại di động bên tai vừa lần ra ngạch cửa dòm chừng. Đù mẹ sao xui vậy không biết! Tính dài lời nguyền rủa số mạng thì sấm chớp đì đùng, từ tầng không xẹt xuống một tia chớp, thiên địa mênh mang là thế mà sao cái búa của Thiên Lôi lại đè anh ấy để chỉ mặt. Ảnh đen thui cháy xém một nửa người, đầu tóc còn vấn vương một cụm khói chưa vội tan. Chết mẹ! Đàn em của ảnh la toáng. Nhìn kìa, cái di động kia mới giật được có ba bữa chứ mấy, phải hôm nọ bán giá hai triệu thì giờ này đâu đã hồn lìa khỏi xác. Người ta đã dạy rồi, trời đang giông thì chớ mang ba cái vật dễ bắt sóng kia ra mà vọc, mà trêu ngươi cho điện xẹt. Ấy chà! Khổ thân. Lợi dụng sự cố hoảng loạn thì nên bỏ chạy đi mày, hắn nói với chiến hữu đang tỉnh rượu tái xanh mặt máu. Con chó đủng đỉnh đi lại đứng bên và ở ngoài đường ngớt mưa mấy chú công an nhắm Tình Đời trực chỉ, đùi cui gậy gộc, súng ngắn, súng điện trang sức cùng còng số 8 kêu loảng xoảng, trang bị tận răng, nghe ê răng.

Hai

Ban đầu Giáng Tiên làm ca đêm, sau vì có con mọn nên họ quyết định đổi lịch, biểu “em” mần từ 12 giờ trưa tới 7 giờ chiều. Mọi thứ đều là tai nạn, đều phải đánh đổi trong cuộc chơi. Ham năm triệu, Tiên nhắm mắt ô kê và hệ quả là nàng tiên khờ khạo làm mẹ một sớm một chiều. Lắm người lịch lãm giang hồ khuyên đàn em tuổi chỉ 17: Phá bỏ nó đi em ạ, trục cái cục nợ ấy đi cho chân bước được thong dong. Đời còn dài mà em và đã là đời thì thương đau cứ luôn sắp hàng trên từng cây số. Nói tội trời, ở dưới quê gia đình Giáng Tiên đều một lòng ăn chay niệm Phật. Thấy người ta đứt tay lòng cũng thoáng xót huống chi đích thân vác mạng giao trứng cho ác. Sát nhân không nói, Tiên còn tiếc tiền phải trả cho hành động moi từ cửa mình ra một giọt máu đã tượng hình. Không dám đâu!

Cực khổ dồn dập, nhờ trời Tiên còn giữ được dáng dấp gợi cảm và khuôn mặt lôi cuốn. Ăn uống đạm bạc tiêu pha chừng mực để dốc lòng nuôi con và mô Phật, đứa nhỏ càng ngày càng xinh đẹp đáng yêu. Trời đãi kẻ khù khờ, cuộc đời này đã ban tặng Tiên “một cục vàng”, không hơn không kém. Cách mặt ba bốn tiếng đã vội nhớ thương, đi cày bừa chỉ mong hết hạn để về ôm siết lấy nó, hôn hít cho tới độ mòn da cũng không lấy đó làm điều.

Giáng Tiên đã chọn mặt gửi vàng. Bà Bảy là người cực tín nhiệm và Tiên an tâm nghĩ mình có mắt nhìn người. Tiên thổ lộ, con xem cô Bảy như má con vậy, tiền bạc không thành vấn đề chỉ mong “má” lòng rộng hải hà trông đỡ giúp con một tay đặng kinh qua bao gian khó. Bà Bảy cười, hiện ra bốn phần thông cảm sáu phần thiệt thà: Chớ nói lời khách sáo, bản thân tui cũng từng đi qua chốn đoạn trường; từ quê lạc trôi lên xứ này nên cám cảnh mà đùm bọc lẫn nhau được ngày nào hay ngày đó. Mình đàn bà với nhau…chớ hồi sanh nó ra có trần ai khoai củ không? Tiên đáp: Con không hiểu trần ai khoai củ là giống gì nhưng rõ là chết đi sống lại. Đau bụng đẻ tới nửa ngày mà cửa mình chỉ mở rộng có bốn phân, bác sĩ quyết định phải mượn dao kéo để phẫu thuật. May mà gặp người mát tay, giờ này mỗi khi tắm táp con nhìn bụng mình chỉ lưu lại một đường may vén khéo, một vết sẹo tạm cho là mỹ thuật. Đêm, Tiên tự mình bóp vú cho đầy bình sữa cất vào tủ lạnh. Ngày, cứ vậy mà cô Bảy hâm nóng cho trẻ măm núm cao su. Vạn bất đắc dĩ mới đụng tới sữa bò đóng hộp. Sữa mẹ tốt như thế nào, cứ nhìn đứa bé rạng ngời hơn cả thiên thần thì tự khắc đả thông. Tiên nghĩ thầm trong dạ, thời buổi này kiếm cho ra một người như cô Bảy thiệt khó chứ không giỡn chơi đâu nghen. Tình ngay, đến cả chú Chín chạy xe ôm mà cô Bảy chí tình giới thiệu cũng thuộc dạng “đặc sản”. Chú không biết chém chặt hét giá, chú ân cần đưa đi đón về đúng giờ lấy giá rất mềm. Trời, tao xem mày như đứa thất cơ lỡ vận, như nàng tiên phạm lỗi bị trời đày. Giúp mày không hết ai lại đành tâm chọn lấy hạ sách muối mặt đi bóc lột nhau.

Chỗ Tiên lao động là quán cà phê thư giãn. Thư giãn cũng chưa rõ nghĩa, tới bến cũng là chữ trừu tượng. Đến đó Tiên ăn mặc thứ y phục kiệm vải, mát mẻ mà thuật ngữ đương đại gọi là thông thoáng vượt khỏi mức quy định. Bắt lộ hàng phải mình trần, cho da thịt mới được phần ngon cơm. Sau quán có cánh cửa nhỏ, mở nó ra thì đường đời muôn vạn nẻo, tứ tung bát giác hơn cả bàn cờ. Rắc rối chi vậy? Để cửa trước có động thì cửa sau rút về chốn tĩnh lặng. Chủ quán động não đẻ ra cao kiến và bôi trơn lối xóm ở hậu phương, vì thế khách vào thư giãn thì đúng là chẳng mấy khi bị phân tâm ba chuyện lẻ tẻ. Không ai nói chán như con gián bởi vì tất cả đều nhỏ như con thỏ.

Hữu xạ tự nhiên hương, lóng gần đây Tây ba lô cũng vui chân đi thực tế. Và đôi chàng tóc vàng mắt xanh có thằng thực dân một mực đòi ăn thịt Tiên cho bằng được. Tiếng tây tiếng u bỏ quên ngoài cửa, vào chốn này vô tư xổ ra ngôn ngữ quốc tế là tiện việc sổ sách. Tiên bị điểm danh, cháy hàng. May mà chốn đèn mờ không trương khẩu hiệu “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm cộng thêm giờ nghỉ”. Đâu phải súc vật mấy cha! Bộ muốn em lột dên hư xú báp hỏng con heo dầu sao? Thêm thay giao lưu với con rồng cháu tiên thì không hề gì, nay phát hiện vũ khí của bọn đế quốc sừng sỏ mà phát ớn. Lớn quá cỡ thợ mộc và dài miên man. Thì thôi nhắm mắt đánh liều, cầu mong ai đó chút chiều chuộng em. Có dốt toán học cũng biết tính ra một đáp án: Đời Tiên đang phất, tiếng Anh kêu là fuck, tiền vô nặng túi, bạc ông Hồ nhìn thẳng cũng như tiền đô Mỹ luôn căng bọc. Ban đầu may túi ba gang, thấy quạ kêu liên hồi kỳ trận trên cây khế ngọt “ẻm” bèn may túi chín gang. Kệ đi mà, ngàn năm một thuở. Đi ngang công viên thấy lá rụng đầy cũng vui chân mùa thu.

Về nhà đếm tiền của bá tánh, ngay cả cô Bảy cũng thót tim. Tính làm gì với chừng ấy ngập mặt? Chắc con nhờ chú Chín chở ra ngân hàng bỏ quỹ tiết kiệm mai sau sanh lợi cho đứa nhỏ đủ tiền đóng học phí, hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Người đàn bà tên Bảy ngồi làm thinh, mặt mày tuồng tư lự đăm chiêu. Tao thấy đời này, phàm những đứa vô học đều miệng hét ra lửa, nội hàm và đẳng cấp hơn học vị tiến sĩ. Ông bà mình từng nói “học cho lắm tắm cũng ở lỗ”. Tỉ như mày là cô giáo trường Mầm Non đầu ngõ, như cái xơ mướp gầm đầu sánh sao đặng con Tiên thư giãn cất cao đèn mờ!

Có bữa cháy lịch trình, thay vì tan tầm lúc 7 giờ phố vừa lên đèn, Tiên yếu lòng nghe lời rù quến van lơn của một thằng da trắng mũi lõ dáng điệu thành khẩn. Hắn mời Tiên đi ăn nhà hàng hải sản, xong lại kéo nhau chui vào một cái hộp đêm đèn quay mòng nhạc điếc con ráy. Hắn học lóm đâu được ba chữ: Ành yếu èm. Nói xong lại hôn môi ra điều thắm thiết tình hữu nghị. 12 giờ đêm vô nhà nghỉ móc hết túi còn đúng 120 đô nhét vào cái xách tay hàng nhái Trung quốc của Tiên. Mẹ một con nằm ngửa trên tấm nệm dơ bẩn lòng thoáng hiện nỗi nhớ về cục vàng đang được cô Bảy hò ru em.

Phải đợi đêm dài lắm mộng mới dứt được con nợ mãi bu như sam, đâu chừng 5 giờ sáng Tiên mới mỏi gối chồn chân về nơi tạm trú. Người dơ dáy, tóc rối ổ quạ, mặt lem luốt bao đường viền kẻ mắt nhưng thần giao vẫn nhạy bén để cách cảm một điều bất thường đang đợi sau bốn bức vách. Như chùa bà Đanh, hộc tủ chăn màn đều xáo tung như bị nhà nước vui tay kiểm kê đánh tư sản mại bản. Gói tiền chôn trong gối kê đầu không cánh mà bay, cục vàng mất biệt chẳng nghe tiếng mè nheo dỗi hờn trông chờ ngậm vú mẹ. Tim đập thình thịch, máu nhồi cơ tim, cũng chẳng tranh thủ đi đái một trộ cho nhẹ người, tam thập lục kế ra đồn công an khai báo là thượng sách. Tiên cứ để cửa nẻo thông thống y như vậy mà đi như chạy rất dễ vi phạm luật lệ giao thông. Mọi vật đã quay mòng thì sá chi đèn xanh ngọn đỏ ngọn cam đang nhoè nhoẹt trêu ngươi.

Cô kia có việc gì nào? Mới bảnh mắt đã ưa tới quậy. Anh ơi, í dạ thưa chú, nhà con vừa bị trộm cướp ghé thăm. Đăng ký ở nơi nao? Dạ số nhà 327 A/ 48/ 56 ngõ Hoàn Lương ạ. Chuyện lạ! Khu vực ấy đang nằm trong thí điểm đẩy mạnh nếp sống văn minh lành mạnh… Dạ đã đành, ngay cả nhà quan huyện đường bệ cũng bị trộm nó vào khuân đi cả mấy chục lượng vàng cơ mà. Đã là trộm thì sợ chi lửa! Xem nào, tôi sắp mãn ca trực, không ấy ngồi đây đợi chúng nó đi mua cà phê mang về rồi hẵn tính. Cô ở một mình hay chung sống với ai khác? Chồng con gì chưa? Dạ có con mà hổng có chồng. Tui ở với một người đàn bà kêu bằng cô Bảy, trả tiền nhờ cô chợ búa và trông coi giúp đứa con thơ. Bà Bảy đâu? Đứa nhỏ đâu? Tiên ngó lên cái đồng hồ chậm rãi xê dịch cây kim giây. Làm sao biết được là họ trốn đi đâu. Nếu thấy mặt con tui đã không hốt hoảng lao đầu vào đây. Ngoài đối tượng Bảy ra cô còn quen biết những ai? Quen chú Chín chạy xe ôm. Biết nhà lão ấy ở đâu không? Không biết ạ.

Hai chú công an mặt còn non dại đi ăn điểm tâm đúng hẹn lại lên. Họ đi vô, bốn mắt ngó chăm vào người Tiên. Người sắp bàn giao công việc cho hai chú ấy biểu Tiên viết ra giấy tờ khai càng cụ thể càng tốt. Ông nói, tới phiên tao. Tụi mày ăn hủ tiếu chỗ ấy nhắm có được không? Ngon anh ạ, tiếc cái là thái độ chúng nó trông chẳng có mấy thiện cảm. Mẹ nó chứ, không có tao đố mầy làm nên! Người kia đội nón lên đầu, dắt xe máy ra. Dĩ nhiên là nón ấy không phải là nón bảo vệ đầu như quy định. Tao đi nhé, chiều gặp, nhớ giải quyết cho êm chuyện cô này nhờ.

Theo lời khai của cô, với tính toan nhiều nghiệp vụ như chúng tôi, ta không loại trừ tình huống xấu mà khả năng bắt cóc trẻ nít đòi tiền chuộc đang xem như một tệ nạn đang bùng phát cao. Dự kiến là có sự móc ngoặc giữa bà Bảy cùng đồng phạm là chú Chín. Chúng tôi sẽ chóng phá án chừng nào cô nhận được một cuộc gọi hoặc tờ rơi nói rõ mục đích của bọn thủ ác, số tiền phải trả hoặc địa điểm ngày giờ trao đổi. Tiện đây cũng nên nói rõ để cô chuẩn bị tinh thần, rằng tháng vừa qua trên địa bàn lớn rộng chúng tôi đã phát hiện ra sáu trường hợp bán trẻ em tuồn qua biên giới, năm vụ xẻ người để đánh cắp nội tạng…

Tiên đón lấy xấp hình chụp tử thi những đứa bé bị rạch nát cơ thể chẳng còn nhận rõ hình hài. Tiên hét lên rồi bưng mặt khóc thành tiếng, hu hu, con ơi là con ơi! Bụng Tiên nhói đau như có ai đang khâu vá từng đường kim mũi chỉ. Đầu gục xuống bàn, miệng nhai tràng chữ: Đồ chó má. Đồ chó đẻ. Đồ sát nhân. Đồ vô hậu. Đồ ó đâm, Đồ dịch vật.… Bao nhiêu thứ dính dáng tới đồ, cứ thế mà tuôn ra. Một chú công an nạt, thôi chứ, vừa phải thôi chứ, lảm nhảm riết rồi cũng có khi đụng chạm tới người ta. Đồ lắm mồm!

Tiên nghe ở cửa mình co thắt, bỏng rát.

Ba

Ông Tư về tới nhà, cánh cửa gỗ đen đúa vẫn đóng kín. Như vậy thì thằng Đại từ công trường hẳn chưa xong việc. Ông mở chìa khoá bước vào vũng tối, dắt xe đạp dựng sát bên giường. Giường nằm bên phải, bên kia là chiếc giường của thằng con ông, cách nhau bằng cái bàn thờ kê sát vào vách. Ông Tư không mở đèn, ông quá quen thuộc với vị trí từng đồ vật khiêm nhường, sơ sài dựng đặt giữa gian nhà còn nhiều khoảng trống. Tuy vậy ông vẫn đứng yên một lát cho con ngươi điều tiết thích hợp với không gian tù mù vây bọc. Ông đến gần bàn thờ, lôi trong túi quần ra một cọc tiền có hình thể lớn hơn cục gạch. Tháo dây nhợ cột ngang dọc, ông dấu những tờ giấy bạc dưới chân hai cái lư đồng, dưới cái bệ gỗ nâng đỡ bát nhang, dưới này dưới nọ bàn thờ mỗi nơi một ít. Phân tán ra, ẩn mình ở những chỗ mà ông nghĩ là kín đáo, khó phát hiện. Còn thừa một số, ông cuốn tròn chúng lại rồi nhét vào lỗ hổng trong ống tre làm chân giường. Việc chẳng khó khăn vậy chứ khi làm xong người ông Tư cũng đổ mồ hôi khá bộn. Ông đi lui sau giếng ở góc sân, quẳng gàu múc nước lên xối từ đầu xuống. Ngạt thở, nước mát, dịu ngọt, lại thần hồn, xua đuổi bao mệt mề tồn đọng trong ngày. Từ cây trứng cá đến thân cây ổi có sợi dây ni lông căng ngang, phơi ở đó cái khăn màu mỡ gà khô quắt. Ông lôi khăn xuống, cầm trong tay như cầm một cái bánh tráng hình vuông, đứng bần thần trông ra ngõ gửi tia mắt ngờ vực.

Thằng Đại vẫn chưa về, trở vô nhà ông Tư mở sáng ngọn đèn. Thay bộ đồ sạch rồi đứng trước bàn thờ thắp ba cây nhang. Bình thường, ông chỉ đốt một cây trước khi ăn cơm tối, một cây trước khi đi ngủ và một cây khi thức dậy vươn vai chào ngày mới. Ông ngó lên mấy tấm ảnh dựng đứng đang nhìn tới ông bằng ánh mắt xa xăm, vô hồn. Trước sau họ vẫn vậy, chỉ hơi vàng vọt chút đỉnh nhưng cá nhân ông, sự tàn phai đang dần xâm lấn, nhìn vào cây đèn thấy rõ mức dầu hoả hao hụt, thấp cạn xuống. Ông quan sát bức ảnh vuông vắn đóng khung gương mặt hiền hậu của một người đàn bà, vợ ông. Ông bà cha mẹ thì lướt vội qua, chứ ảnh người vợ luôn trì kéo tia nhìn của ông rõ lâu. Ông chắp tay vái, ngày mai tui sẽ lên thăm mộ mình để xem chỗ nào cần tu sửa chỉnh sang. Và tuần tới nhằm ngày giỗ mình, tui sẽ đi chợ rồi tự mình loay hoay với củi lửa nấu ra ba món ngó cho xôm trò. Năm nay có hơi đặc biệt, tui nghĩ e do mình đã thầm lặng phù hộ cho hai cha con tui. Lạ, thằng Đại cho đến giờ này vẫn trốn biệt chưa thấy về không rõ chuyện cơm nước sẽ ra sao, hắn vẫn làm phụ thợ nề đúc xi-măng ngoài công trường từ dạo tui bị đau cột sống kêu nó vào bàn giao cho công việc tạm gọi là cha truyền con nối. Hắn giờ tốt tướng lắm mình ơi, vai u thịt bắp và cao hơn tui cả cái đầu. Có điều tiếng là cha con ruột thịt sống chung dưới một mái nhà mà hắn xem tui như người dưng xa lạ, ngày mỗi xa cách. Nói chuyện phải trái thì bị hắn nạt nộ coi ông già là thành phần lạc hậu không am tường lẽ sống. Nay đòi xeo phôn mốt đòi nâng cấp xe đời mới. Tháng trước đòi bán nửa căn nhà tháng sau đòi bán mảnh vườn để mở tiệm cà phê. Tính khí cộc cằn chuyên ngậm máu phun người, bà già chết sớm là vì chịu đời không thấu với con người keo kiệt bủn xỉn như ông…

Ông Tư cứ mình ên lầm bầm tâm sự cho tới hồi cây nhang quẹo đầu thôi xông khói. Tai ông vễnh lên đón nhận tiếng máy nổ quen thuộc đang vừa thắng đứng ngoài thềm tối. Cánh cửa gỗ mở toang hoác. Thằng Đại bước vô tay cầm bịch ny-lông. Ông Tư nói: Đã dữ thần chưa? Tao đợi mày về đặng chạy u ra quán cơm bụi tha đại cái gì về chêm bụng đói. Không nghe nóng lòng sôi ruột sao mày? Khỏi, tui đã mua sẵn hộp cơm đây, cưa đại chai bia để ăn mừng luôn thể. Ủa, thằng này trở chứng chơi bảnh vậy ta. Mày được lên lương hay đổi qua công ty xây dựng? Đại bày đồ ăn ra mặt bàn, lỉnh kỉnh hai chai bia Heineken đi cùng. Bia đổ mồ hôi quanh chai màu xanh lục ngó mát mắt. Đừng nói tui bày vẽ, ăn mừng kiểu này thật không đẳng cấp. Con Tình cho hay nó vừa cấn thai, leo lên chức Nội ông có sướng không? Ông Tư kéo ghế: Chết mẹ, con Tình có bây lớn mà sao hoang sớm thế! Có chắc là con mày không? Chuyện nhỏ, cứ quen thói phát ngôn linh tinh. Mặt ông sao tỉnh queo vậy? Đại sự là tui nghe bà Tài mới vừa rỉ tai, tía mày khéo tu nằm dưới gốc cây được sung rụng vào mồm, chàng ta ẳm nguyên cả lô độc đắc. Sao, được cả thảy bao nhiêu? Gian nhà do đâu mà vẫn lạnh tanh, vẫn êm ru bà rù. Chộn rộn làm gì cho lối xóm họ dị nghị mày? Cứ thong thả chừng nào con Tình đi sanh tao hẳn cho ít nhiều đặng nuôi con.

Thằng Đại tu gần hết chai bia, ngửa cổ vừa dòm chừng mọi động thái của ông Tư. Mày không ăn sao? Tui xơi no kè ngoài quán rồi, phần đó là mua riêng cho ông. Chan cái lọ nước tương ấy vào thịt cho được mặn mà. Ông Tư nghe lời, gục mặt vào hộp cơm, ngồm ngoàm. Sắp thành nhân, thành thân, thành chồng, thành cha rồi đó mày, liệu mà tu tâm dưỡng tánh ăn hiền ở lành là vừa. Phúc ấy đời sau con mày sẽ hưởng chứ nào ai khác. Chuyện lạ, bữa nay còn biết mua cơm về đãi đằng cho tao! Trước khi đi ngủ tao sẽ thắp nhang khấn vái cho má mày nghe, dưới suối vàng cũng mát ruột mát gan!

Khó nuốt à? Tợp chút bia cho trôi xuống cần cổ… Đâu còn bao lăm mà gát đũa, thừa mứa như thế có mà mang tội với trời. Ông Tư thều thào, giọng chừng đổi thay: Chiều nay dang nắng về đói bụng rồi vội đứng tắm giếng, không chừng mà tao bị trúng gió hay sao ấy. Đại dịch ghế ra xa bàn, hắn ngồi để ý từng biểu hiện nhăn nhó trên gương mặt ông Tư. Thái dương co giật, mắt trợn môi trề, lát sau thì sủi bọt trắng đầy miệng. Như mít rụng, ông Tư đổ nhào cả thân xuống nền nhà, chiếc ghế nghiêng đổ theo, đè lên tứ chi đang run như vừa bị điện giật. Giẫy dụa, đồng tử có thứ màn trắng đục phủ lên, chừng như ông Tư thu hết tàn lực để cố nìn rõ mặt thằng con trai duy nhất. Đại dùng một bàn chân thử đá vào đít ông Tư, không nhúc nhích. Hắn bước tới đóng cửa lại và bắt đầu làm cuộc lục soát, chẳng một vật thể nào bỏ sót, lật tung lên. Ảnh những người thờ phượng trên bàn thờ ngã lăn chiêng đổ đèn. Mất hơn tiếng, thành quả ôm về đếm từng tờ ra được con số 10 triệu. Chẳng rõ ông Tư có tranh thủ vào ngân hàng gửi một ít vào sổ tiết kiệm?

Trước khi tắt đèn, Đại quơ lấy cái khăn khô như bánh tráng hình vuông đắp che khuôn mặt khó nhìn đang đổ chàm của ông Tư. Hắn khép chặt cửa, không khoá, dắt xe đi một đỗi xa rồi mới khởi động máy, rồ ga chạy. Mười triệu, quá êm thắm, quá nhẹ nhàng. Bỏ túi gọn bân. Xe vun vút qua cầu, xuống tới quốc lộ. Rạng sáng ngày mai Đại đã ở một thành phố khác, thành phố mang tên người có chòm râu lưa thưa in đầy trên những tờ giấy bạc tanh tưởi, tội lỗi và… độc lập tự do hạnh phúc.

Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 9 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Bài 18

“Đốn tràm khô, đâm mồ chiến sĩ…”

Trong các bài trước, tôi có nói việc thu thuế của Việt Cộng. Thu thuế xài riêng mà bao giờ cũng nhân danh “cách mạng”, nhân danh “nhân dân”. Vợ Tư Ngọc “đeo vàng đầy mình” hay việc Năm Tu Hú thu thuế lấy tiền xài chơi như tôi có kể trước kia, có “chính nghĩa” gì đâu?!

Bài vừa rồi, tôi có nhắc tới “Con Sáu Lánh” theo Việt Cộng. Cha nó, ông Phan Văn Lơi, tên thường gọi là Bảy Lơi, cũng bỏ nhà vô bưng với con gái. Không phải ông ta thương con mà đi theo! Vô trong ấy, có ăn, có tiền, mà khỏi phải làm gì cả; lại có súng AK, có quyền, ai ai cũng sợ! Chỉ một bước, từ nhà vô bưng, chưa tới 10 cây số, từ thằng dân ngu cu đen, trở thành “quan cách mạng”, ai chẳng muốn làm quan, chẳng ham!

Tính người Việt vốn ưa làm quan. May mắn như Nguyễn Tấn Dũng, mới là du kích xã Mỹ Lâm đó, vô bưng làm “quan cách mạng”, nay làm thủ tướng, bắt tay Bush chơi! Vậy thì ai chẳng muốn “làm cách mạng” nhỉ?

Tư Trạng, nhà ở gần cầu Vàm Rầy, nguyên là lính Bảo An thời cụ Ngô, bị thương què tay được giải ngũ. Trước 1945, Tư Trạng có nói là học cùng một lớp với chị Tư Nết. Khi gia đình ông Chủ Ry sợ Việt Minh nên chạy trốn về Rạch Giá, làm chủ Câu Lạc Bộ ở Secteur de Rachgia. Thỉnh thoảng Tư Trạng ra tỉnh, có ghé thăm. Tư Trạng nói với tôi: “Hồi đó có ông “quan hai” hay tới lui câu lạc bộ nầy, sau đó cưới chị Tư làm vợ.

À! Chuyện nầy cũng dễ đoán ra. Người dân xã Mông Thọ nói rằng, khi ông Trần Thiện Khiêm còn mang lon trung úy – hai gạch trên vai, – thì chỉ huy đơn vị đóng ở xã Mông Thọ. Vậy thì ông quan hai nầy, vô ra secteur mà dính với chị Tư Nết chớ gì. Ai chẳng nghĩ vậy!

Ở Vàm Rầy, Tư Trạng sống dưới nhiều chế độ: Thời “chín năm” (1945-54 – Việt Minh), thời Tây tái chiếm Rạch Giá – Hà Tiên, thời Cộng Hòa cụ Ngô, cũng như thời ông Thiệu… Bây giờ thì Tư Trạng ở với “chế độ thống nhất đất nước” thì không biết Tư Trạng sống làm sao, chớ hồi ấy, sống với Việt Cộng, Tư Trạng bất mãn nhất. Tư Trạng than:

_ “Què như tôi, làm chi để sống?! Có chút tiền, tôi làm chủ vựa tràm. Dân đốn tràm ở trong kinh đem về, bán cho tôi. Khi có tiền, tôi trả đủ cho họ; khi kẹt tiền, tôi mắc chịu lại ít nhiều. Vì quen biết, vả không bán cho tôi cũng không bán cho ai được, nên người ta cũng rán chịu. Tôi gom tràm, chờ người từ Rạch Giá hay trên Saigon về mua, bán lại ăn tiền đầu. Tiền đầu ăn ít ít. Ăn cao quá, người ta không chịu mua tràm của mình mà dân đốn tràm cũng than van vì trả rẻ thì sao?! Họ cũng khổ lắm!”

_ “Khổ vì Việt Cộng?” tôi hỏi.

_ “Chớ chi!” Tư Trạng trả lời.

_ “Tôi nhớ câu cảnh cáo của Việt Cộng “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ, đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà!” Có ai bị bắt tù chưa?” Tôi hỏi.

_ “Không chừng ông à! Thường dân chúng chỉ gặp du kích, tử tế thì nó tha, không ưa thì nó bày đủ thứ chuyện để làm khổ dân! Có khi bắt đi mất tiêu, không thấy về.” Tư Trạng nói.

_ “Thông thường thì dân bị gì?” Tôi hỏi.

_ “Thông thường thì đuổi về, không cho đốn tràm, ngoại trừ ai có bà con thân nhân với du kích thì được làm lơ. Người ta còn bị tịch thu dao rựa, tịch thu cưa. Có khi họ cưa xuồng. Chiếc xuồng bị cưa làm đôi coi như bỏ. Trong khi người ta khóc lóc, than vãn thì tụi nó tỉnh khô. Chúng nó nói là vì “lợi ích cách mạng”, nên việc chi cũng làm, việc chi cũng làm được, không ngần ngại chi cả.” Tư Trạng nói.

_ “Khổ dữ!” Tôi nói. “Họ không lo chi cho dân hay sao! “cách mạng” mà?”

_ “Cách mạng” con khỉ khô.” Tư Trạng nói. “Họ chẳng lo gì cho dân đâu!”

_ “Thiệt không ông?” Tôi nói. “Không lý nói mà không làm.”

_ “Không có đâu. Họ “nói vậy mà không phải vậy”, có lo chi cho dân đâu! Mấy chục năm tôi ở đây, chỉ thấy có thu thuế. Thuế tràm, thuế cá đìa, thuế máy cày, thuế nông nghiệp. Thuế nông nghiệp thu ác lắm!” Tư Trạng nói.

_ “Ác là sao?” Tôi hỏi.

_ “Tôi có kể cho ông nghe chuyện Bảy Lơi, cha con Sáu Lánh, thu thuế nông nghiệp rồi đó. Thu như vậy thì tôi còn hột lúa nào đâu! Vậy mà nó bắt đóng đủ, xin xỏ mấy cũng không cho, thiếu đường tôi muốn khóc vì cha con Sáu Lánh đó! Nó giữ ghe tôi suốt đêm, phải đóng đủ nó mới cho về. Vậy mà quốc gia lo cho nó chu đáo mới tức cười.” Tư Tạng than thở.

Tôi hỏi:

_ “Phải chuyện Bảy Lơi bị thương nằm ở bệnh viện Châu Đốc?”

Theo hồ sơ trận liệt, Bảy Lơi là cán bộ thu thuế của Việt Cộng xã Đức Phương, huyện Hà Tiên. Vậy mà đến khi bị máy bay trực thăng bắn bị thương, thì thay vì điều trị ở bệnh viện huyện đội của Nguyễn Tấn Dũng thì lại vô nằm bệnh viện Quân Dân Y tỉnh Châu Đốc của chính quyền Quốc Gia. Cũng dễ hiểu thôi! Vùng hoạt động của chi ủy Cộng Sản Đức Phương là khu rừng tràm trên đường giây 1-C, trên ranh giới hai tỉnh Châu Đốc và Kiên Giang. Gốc tích Bảy Lơi thì ở Kiên Giang, còn khi bị thương đưa vô bệnh viện Châu Đốc. Bên đó đâu từ chối. Các cơ quan Phụng Hoàng thiếu cập nhật hồ sơ trận liệt, thiếu thông báo cho nhau nên Cộng Sản mới ngang nhiên như thế, giống như trường hợp ông Đạo Sáu lên cư trú tại phủ Cây Tùng tôi đã kể trước đây vậy thôi!

Nghe tin đó, tôi chỉ thị cho thiếu úy Kiệt qua bệnh viện  Châu Đốc tìm Bảy Lơi. May cho y, khi ông Kiệt qua tới bên đó thì Bảy Lơi đã được con gái là Sáu Lánh tới đón xuất viện rồi. Nghĩ cũng buồn cười: Bên phía tỉnh Kiên Giang thì hai cha con Bảy Lơi trốn biệt Quốc Gia, không dám xuất hiện; bên phía Châu Đốc, hai cha con nhà nó có dắt nhau ra chợ ăn hủ tiếu cũng chẳng ai đụng tới cái lông chân.

Mai mốt, nếu có dịp may, tôi sẽ hỏi Nguyễn Tấn Dũng chuyện nầy chơi! Cán bộ của y, y không lo, lại giao cho chính quyền Quốc Gia lo. Vậy thì Việt Cộng chơi khôn, còn Quốc Gia thì dại hay sao?!

Quả thật Quốc Gia dại, bởi chữa chạy cho cán bộ Bảy Lơi xong, nó lại đi “thu thuế cho cách mạng”, lại chơi cha thiên hạ.

Quốc Gia thua rồi?

Cũng không hẵn vậy đâu. Dại một chút mà được cái tiếng nhân ái. Kết thúc rồi, bây giờ dân chúng ngồi đó nghĩ lại mà thương Quốc Gia, lại càng oán Việt Cộng dữ!

Tôi nói với Tư Trạng:

_ “Kỳ nầy tôi bắt gần bốn chục người ở xã nầy đó, toàn là giao liên!”

_ “Tội nghiệp họ ông ơi! Nói giao liên nghe cho dữ dằn chớ giao liên cái khỉ khô gì! Không làm thì lấy gạo đâu mà đổ vô nồi, như tôi vậy thôi!”

Đọc hồ sơ, thấy Tư Trạng khai có tiếp tế cho Việt Cộng, tôi giận lắm. Tư Trạng từng đi lính Quốc Gia, từng quen biết với “Chị Tư Nết!” Bắt anh ta, tôi đã thấy phiền, nay thấy Tư Trạng khai như vậy, lại giận hơn.

Thực ra thì sự việc có gì đâu. Dân thì ở ngoài bờ kinh, dọc theo trục lộ, vùng Quốc Gia mà “cái cần câu cơm” thì ở trong rừng. Việt Cộng biết vậy nên thắt hầu bao người dân, biểu chi mà họ không làm.

Bảy Móc, bí thư chi ủy xã Đức Phương nhắn ra với Tư Trạng gởi vô cho y thuốc rê, thuốc lá, thậm chí cả thuốc lá ngoại, thuốc lá Thái Lan, thuốc lá Ara, thuốc lá Cheval con ngựa trắng của Miên, càphê, đường miếng… để chiêu đãi ông huyện. Tư Trạng đâu dám không thi hành. Không thi hành là nó không cho dân đốn tràm, hoặc đốn về không được bán cho Tư Trạng, coi như Tư Trạng “bể nồi cơm”.

Mỗi lần “ông huyện” xuống công tác, bí thư chi ủy xã phải chiêu đãi trọng hậu, không thì có vấn đề. Hôm Tư Trạng vô sát rừng làm ruộng thì Bảy Móc tới hỏi chuyện. Được một lúc, có người đi ra, Bảy Móc nói: “Ông huyện tới!” Rồi Bảy Móc khum na khúm núm, lăng xăng cho cơm trưa, lo đồ nhậu cho ông huyện, thấy mà tức cười. Tư Trạng nói “Hồi trước hắn với tôi cùng đi lính Bảo An, đâu có phải khúm núm với cấp chỉ huy như vậy đâu!”

_ “Quyền lợi! Vì quyền lợi hết, nên con người ta nó hèn đi. Tâm lý con người như vậy.” Tôi giải thích.

_ “Tui không biết cái tâm lý ông nói, nhưng quyền lợi thì có, nội việc thu thuế mà thôi cũng khẳm túi mấy ông.” Tư Trạng xác nhận.

Xin nhắc lại: “Ông huyện” tức là bí thư huyện Hà Tiên, cấp trên của Nguyễn Tấn Dũng. Hồi ấy, chức lớn nhất của Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ mới trưởng ban quân y huyện đội mà thôi!

Cũng vì chuyện ưu tiên cho đốn tràm và đóng thuế mà cô Hoa ở ấp Lung Lớn, xã An Bình bị đánh ghen, khiến cô ta tự tử hụt. Nhưng việc cô Hoa, tôi sẽ kể ở bài sau.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 9 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Bài 17

 Nông trường chuối của Đại tá Tỉnh Trưởng

Tôi không biết rõ tình hình ở trung ương, nhưng ở các tỉnh, các quận, khoảng năm 1973, 74 việc thành lập các Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp được dựng lên nhiều nơi; nhất là những quận lớn như quận Thốt Nốt tỉnh Long Xuyên, quận Kiên Tân (Cái Sắn) của Kiên Giang. Mỗi tỉnh đều có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp hoặc chương trình nông nghiệp của Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín (?).

Theo tôi biết, chương trình thiết lập ngân hàng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam là cái đuôi của cuộc “Cách Mạng Xanh” ở bên Mỹ. Tôi nhớ không lầm thì trước việc các nước Cộng Sản phát động “Cách Mạng Đỏ” với đầy máu và nước mắt của lương dân thì để chống lại Cộng Sản, Hoa Kỳ phát động “Cách Mạng Xanh”, tức là việc phát triển nông nghiệp, đem lại no cơm ấm áo cho người dân.

Chính phủ Hoa Kỳ ban hành đạo luật 480, đầu tư tiền bạc giúp nông dân khai hoang, phát triển canh tác, trồng lúa, trồng bông, v.v… Truớc sự thành công của Mỹ, và cũng do Mỹ tài trợ, hệ thống ngân hàng loại nầy được dựng lên nhiều nơi, các nước chậm tiến và dĩ nhiên, cũng ở Việt Nam. Người ta có thể coi như nó là cái “đuôi” của Nông Tín Cuộc thời Ngô Đình Diệm vậy.

Hôm khánh thành Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn, có phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo về chủ tọa, tôi đuợc mời tham gia, qua đó, làm quen với một vài người chỉ huy, người bỏ vốn đầu tư ở ngân hàng.

Nông dân, phần nhiều là người Nam thường thiếu tiền làm mùa. Người Bắc trong dinh điền Cái Sắn, phần đông làm ăn chín chắn hơn. Từ lâu, họ có thói quen chuẩn bị sẵn lúa giống và tiền bạc cho mùa sau, sau khi thu hoạch mùa trước. Vì vậy, họ có thừa tiền.

Người Nam, phần nhiều ở các xã Tân Hội, Mông Thọ thì ngược lại, gọi là đánh bạc “vui chơi ba ngày xuân” nhưng “ba ngày xuân” của họ dài tới 365 ngày, coi như suốt năm. (Tôi nói về việc đánh bạc nầy ở một bài khác). Vậy nên đến khi làm mùa thì thiếu tiền: Tiền mua lúa giống, tiền thuê máy cày, tiền nhân công cấy, sạ, đắp bờ, be đất, v.v…

Trước kia thì họ đi vay hoặc “bán lúa non”. Tiền lời cắt cổ, xanh xít đít đui. (1) Nay nhờ có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp, nông dân khỏi bị các bà nhà giàu, các bà “mua lúa non” (2) bóc lột.

Nhờ hệ thống ngân hàng nầy, nông dân có lợi, mà ngân hàng cũng có lời.

Tuy nhiên, tình hình ở Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn thì ngược lại. Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn ở quận lỵ Kiên Tân, cho vay và nhận tiền đầu tư của nông dân của bốn xã: Thạnh Đông, Tân Hiệp, Mông Thọ, Tân Hội, tổng cộng khoảng trên 95 ngàn dân, đông gấp ba dân số tỉnh Kiến Phong. Xã Tân Hội và Mông Thọ phần đông là người miền Nam, dân số ít hơn. Xã Tân Hiệp và Thạnh Đông là đông dân nhất, mỗi xã trên dưới ba chục ngàn, phần nhiều là người Bắc di cư.

Tình hình chung thì người Nam vay nhiều, việc bỏ vốn đầu tư coi như không có. Dân di cư vay thì rất ít mà bỏ tiền vô ngân hàng đầu tư thì nhiều. Kết quả, ngân hàng ôm một số tiền lớn mà không cho vay được. Tiền nhận vào là phải trả tiền lời cho nông dân. Ấy là chưa kể vốn ngân hàng là 20 triệu, chính phủ ứng vốn thêm bằng số tiền đó là 20 triệu nữa. Tiền chính phủ ứng vốn khỏi trả tiền lời. Trước tình đó, ngân hàng phải cầu cứu với trung ương. Trung ương phải cho chuyển tiền qua những ngân hàng khác. Phần nhiều các ngân hàng khác thường thiếu vốn, không đủ cho nông dân vay, không giống ngân hàng Cái Sắn. Đến 30 tháng Tư – 1975, nhiều nông dân bỏ vốn đầu tư rút về không kịp, coi như mất trắng mồ hôi nước mắt.

Có tiền ngân hàng, một số người cấu kết với tỉnh trưởng, mở nông trường trồng chuối để xuất khẩu sang Nhựt Bản.

Nghe thì hay lắm vậy!

Một hôm, từ Rạch Giá về Hà Tiên, quá chỗ Vàm Rầy một chút, tôi thấy người ta đang đào một vùng kinh vuông, nghĩa là bốn cái kinh, chung quanh một khoảnh đất vuông. Mỗi kinh dài khoảng 300 thước tây. Bên trong các kinh đào ấy, người ta trồng chuối, loại cây cũng đã khá cao. Chỗ nầy có dựng bảng đề là nông trường chuối. Bảng đề là Nông Trường mà chu vi thì chỉ mới bằng cái vườn nhà quê. Dĩ nhiên, nhiều người biết nông trường nầy tới khi thu hoạch được, sẽ xuất khẩu sang Nhựt Bổn, giống như nhà máy Sumaco ở ngoài Hòn Heo vậy. (Tôi sẽ nói tới công ty nầy sau).

Vậy rồi ít lâu sau, tin của Cảnh Sát Xã Đức Phương báo cáo lên cho biết, Việt Cộng về hoạt động ở nông trường chuối, quân ta pháo kích vào nông trường của ông tỉnh trưởng. Nông trường bị tanh banh ra cả, thiệt hại coi như 100%. Sau đó nông trường bị bỏ hoang.

Tôi xuống quan sát tại chỗ vì nông trường nầy là của ông lớn cấp tỉnh. Lỡ thượng cấp hỏi tới thì báo cáo cho rành rọt.

Ai ngờ!

Ông xã trưởng Ngô văn Àn nói với tôi, khi tôi hỏi chuyện ông ấy: “Phen nầy ông tỉnh trưởng trúng to!”

Hỏi tới thì ông xã trưởng giải thích như sau:

 _ “Ông tỉnh hợp tác với một số người, cho mở nông trường. Làm chừng đó tốn chưa tới 100 ngàn, mà khai với chánh phủ bỏ vốn ra 20 triệu. Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp xin chính phủ đối vốn 20 triệu nữa là 40 triệu. Đùng một cái, nông trường tanh banh, bỏ dở công việc. 20 triệu vốn của ai về nấy, còn 20 triệu của chính phủ cũng coi như xong.

_ “Sao gọi là xong?” Tôi hỏi.

_ “Việt Cộng pháo kích vô, coi như xong. Chính phủ mất tiền.”

Tò mò, tôi hỏi bên chi khu, chi khu cho biết:

 _ “Tiểu khu có công điện thông báo Việt Cộng về ẩn núp ở nông trường chuối. Trung đội vũ khí nặng của ông thiếu tá Thành, tiểu đoàn 530 Thần Hổ (Địa phương quân – tg), được lệnh tiểu khu trưởng pháo tối đa vào nông trường.”

Tôi nói với ông thiếu tá quận trưởng:

_ “Tôi có tin gì ghi nhận hay báo cáo về việc Việt Cộng kéo vô nông trường chuối đâu. Chỗ đó một bên là đường lộ, một bên là biển, mình tấn công, tụi nó rút đường nào?”

Quận trưởng cười:

 _ “Ông sao chẳng biết chi hết! Không pháo vô vườn chuối, làm sao có 20 triệu.”

Đấy! “Cách Mạng Xanh” của nước ta đấy. Hai trăm năm nữa, chưa nắm kịp cái đuôi của Mỹ.”

(1)-Xanh xít đít đui là vay năm (cinq) trả thành sáu (six) vay 10 (dix) trả thành 12 (douze). Trước 1975, ở miền Nam, thường cho vay với phân lời như thế, bị lên án là cho vay “cắt cổ”. Việt Cộng gọi là “bóc lột”, nghề cho vay là nghề “Ngồi mát ăn bát vàng”. Hiện giờ, trưởng công an các quận ở Saigon, đặc biệt quận Bình Thạnh, quận Gò Vấp đều “làm thêm” nghề cho vay, và thường cho “vay nóng”. Nghĩa là vay “khẩn cấp” (để chạy án, hối lộ, v.v…) với phân lời rất cao, vay một trả một tiền lời. Vay một triệu thì tiền lời mỗi tháng (mỗi tháng chớ không phải mỗi năm, nhớ cho vậy) là một triệu. Có người thuật lại rằng một cô gái làm điếm bị bắt, phải “vay nóng” để có tiền mà ra khỏi nhà giam công an. Tiền vay phân lời cao đến nỗi vay một triệu, trả tiền lời mỗi tháng một triệu. Mỗi tháng cô ta chỉ đủ khả năng trả tiền lời cho trưởng công an quận Bình Thạnh. Như vậy, cô ta phải làm điếm suốt đời mà không bao giờ trả hết nợ, trong khi đó tên trưởng công an quận Bình Thạnh vẫn rêu rao rằng, nhờ y cho vay nên cô gái mới ra khỏi tù được. Vì vậy, việc cho vay của y là rất nhân đạo!

(2)-“Mua lúa non” là hình thức cho vay có cầm thế lúa rất phổ biến ở Kiên Giang. Từ khi sạ đến trước khi thu hoạch, nông dân có thể bán lúa non cho nhà giàu để vay tiền. Càng gần ngày thu hoạch thì tiền vay được cao hơn. Nhiều tay ham cờ bạc, đến khi lúa chín thì các bà “mua lúa non” cho người gặt hết, nông dân coi như trắng tay. Làm một mùa chẳng thu được hột lúa nào!

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 7 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Bài 16

Giành đất ruộng ở rừng cấm

Trên đường Rạch Giá – Hà Tiên, đoạn giữa hai cây cầu Lỳnh Quỳnh và Vàm Rầy, là ranh giới hai xã Tín Đạo và Đức Phương, cùng thuộc quận Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Ngay đây có một cái đồn, gọi là Đồn Giữa. Phía biển con đường nầy, theo địa bộ, ghi là rừng cấm.

Thực ra, vùng nầy có rừng núi gì đâu! Đây là một vùng đất thấp, do phù sa sông Cửu Long bồi lên mà thành, thiếu nước ngọt, chỉ có mấy cái rạch cạn toàn là phèn nên không canh tác gì được. Có lẽ hồi xưa, có người Miên ở, nay họ cũng đã đi hết rồi, chỉ để lại những cái tên, như Lỳnh Quỳnh, tên nghe thì hay nhưng đó là tên Miên, không phải tiếng Hán Việt.

Thời kỳ thực dân còn cai trị, sau khi khai thác vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn, vùng kinh Hãng ở Tà Keo, Rạch Giá, Tây cũng có dự tính làm ruộng ở vùng nầy, nên chúng khoanh vùng lại, gọi là rừng cấm, thuộc công thổ, không cho ai khai thác. Nói cho ngay, nếu không có thế giới chiến tranh thứ hai, Tây không đầu hàng Đức thì vùng nầy cũng có thể là vùng ruộng nương trù phú rồi.

Sau hiệp định Paris 73, dân Xóm Mới (Gò Vấp) theo lời khuyên và đóng tiền cho Linh mục Nguyễn Thượng Uyển, vô làm ruộng ở Tà Keo, bị Việt Cộng giết hai người, bắt dẫn đi mất tích hai người. Nay họ cũng nghe lời cha Uyển, dựng chòi, cắm cọc giăng giây tính làm ruộng ở đây, nằm theo trục lộ Rạch Giá – Hà Tiên, vì vùng nầy an ninh hơn. Tất cả khoảng vài chục dân, phần nhiều là đàn ông.

Tôi lái xe đi ngang qua, thấy quang cảnh, cũng đâm lo. Đây là đất “công thổ’, tự nhiên có người đến chiếm đất lập ruộng vườn. Ai chịu trách nhiệm? Hôm sau, tôi cùng ông Phó Đốc sự Nguyễn Đức Nghiêm”, phó quận trưởng, cùng xuống xem tình hình ra sao! Ông Phó Nghiêm nói rằng đồng bào chẳng được phép tắc gì cả, tự dưng nghe lời cha Uyển, đến đây “giành đất”, là không được. Ít ra, họ phải xin phép quận, cho làm ruộng tạm thời một hai mùa, sau đó, sẽ trả lại đất cho chính phủ hay xin hợp thức hóa.

Từ Vàm Rầy, ngó lên phía Bắc, phía núi Cô Tô bên Châu Đốc, xa khoảng năm sáu chục cây số, là vùng hoang hóa. Hồi trước 1945, đất phần nhiều là ruộng ông Chủ Ri, ông Thầy Ban, nay bỏ hoang. Ai muốn vô đó xin làm ruộng một hai mùa, thì xin phép quận. Quận chấm tọa độ, cho ông X, ông Y nào đó tạm làm một hai mùa. Công việc rất dễ dàng, có thể mời ông quận, ông phó quận ly càphê là xong. Nếu trúng mùa, biếu hai ông mỗi ông một chai Henessy cổ đen (loại nầy ngon hơn cổ vàng, đúng “gout” dân nhậu Rạch Giá). Ấy là tôi nghe ông Phó Quận Nguyễn Đức Nhiêm kể lại như vậy. Đằng nầy, chẳng cần giấy tờ phép tắc chi hết, tới giăng giây giành đất, cất chòi, coi như đất ruộng của mình, là xong.

Đang khi tôi và ông phó Nghiêm ngồi nghỉ mệt bên đường thì có một người đàn bà, trạc 30 tuổi đến hỏi tôi và ông phó quận là ai, xong, bà chìa ra một cái “bằng khoán”, cho biết rằng đất nầy của em bà, một ông đại úy hải quân, đang bị đồng bào chiếm. Bà ta nhờ can thiệp.

Ngạc nhiên về chuyện ấy, tôi hỏi ông phó Nghiêm:

_ “Rừng cấm là thuộc quyền trung ương, bằng khoán thì bộ hay phủ thủ tướng cấp. Ông tỉnh trưởng địa phương đâu có quyền cấp bằng khoán nầy? Ông Phó học Quốc Gia Hành Chánh ra, chắc biết rõ hơn tui!”

Phó Nghiêm cười, trả lời tôi:

_ “Ông hơi đâu mà lo! Cờ tới tay ai nấy phất. Mấy ông nhà binh biết hay không, cứ làm đại. Cái dù che cái cán là xong. Bọn tôi xuất thân trường hành chánh, nhưng chỉ làm phó, quyền hành gì đâu. Trình lên mà ông tỉnh trưởng, ông không nghe thì làm gì ổng?”

Tôi nói:

_ “Biết vậy, nhưng không làm cũng không xong. Mấy ông xếp bên tôi cũng là quân đội biệt phái như tôi vậy. Nhiều ông ẩu lắm. Cơ quan thi hành luật pháp mà vi phạm luật pháp mới buồn cười.”

Phó Nghiêm nói:

_ “Luật pháp là của giai cấp thống trị, của người có quyền. May ra, hết chiến tranh, quyền cai trị trả lại cho dân sự, cho hành chánh, có dân chủ thật sự, quyền hành thuộc về dân thì tình hình mới ổn định được.”

Nhớ chuyện ông Chủ Ri, tôi hỏi:

_ “Việc bồi thường truất hữu cho ông già bà thủ tướng xong chưa?”

_ “Xong rồi!” Phó Nghiêm nói. “Tôi chỉ xác nhận trước 1945, đất của ông ta theo địa bộ thì chừng đó. Còn bồi thường là do bộ Cải Cách Điền Địa.”

_ “Tiền chắc khẳm. Ruộng ông ta nhiều lắm!” Tôi nói.

Cách mấy tháng trước, tôi đến văn phòng quận thì gặp ông Chủ Ri từ Saigon về, đang ngồi với quận trưởng. Tôi hơi ngạc nhiên về cách phục sức của ông. Theo người ta nói thì ông là người gốc Tây Ban Nha lai Miên, trước làm ruộng ở kinh Xà Tón, còn gọi là Kinh 1. Kinh nầy nối dài từ Châu Đốc về tới kinh Rạch Giá – Hà Tiên. Nhờ con kinh nầy đem nước ngọt về, nên vùng đất của ông Chủ Ri ở Vàm Rầy thuộc xã Đức Phương làm ruộng được, đất rất tốt. Ông cho đào thêm một con kinh nữa, nối từ kinh 1 vô ruộng của ông, trong bản đồ ghi là Kinh Chủ Ri. Phía bên kia Kinh Xà Tón là đất của ông Thầy Ban, cũng có Kinh Thầy Ban, đối xứng với Kinh Chủ Ri. Tôi không rõ gốc gác ông Thầy Ban nầy.

Ông Chủ Ri phải nuôi tới 200 con trâu để cầy ruộng cho ổng và cày thuê cho người ta. Tới “mùa nước nổi”, là nước lên khắp cả ruộng đồng, không có cỏ cho trâu ăn. Cũng như người ta, ông phải cho lùa trâu lên vùng Thất Sơn (Bảy Núi – nói theo Việt Cộng) để có cỏ cho trâu ăn. Tới khi nước rút, cỏ lại mọc, người ta lại lùa trâu về. Công việc nầy gọi là “len” trâu. Mùa nước nổi nầy gọi là “Mùa len trâu”. Len là tiếng Miên. Đây cũng là một truyện (Mùa len trâu) trong “Tìm hiểu đất Hậu giang” của Sơn Nam, truyện đã được quay thành phim.

Hôm đó, ông Chủ Ri ăn mặc như một nông dân giàu có ở miền Tây, mặc dù ông đi xe Toyota Crown, có tài xế riêng. Nghe nói trước 1945, nhà ông cũng đã có xe hơi riêng và có tài xế rồi (1). Ông Chủ Ri mặc một bộ đồ bà ba trắng tinh, mang dép da, tóc hớt cao, chớ chẳng veston, cà-vạt, giày da gì cả như tôi nghĩ. Giữa chỗ ngồi ông Chủ Ri và ông quận trưởng là một cái bản đồ vùng Vàm Rầy, đặt trên một cái giá gỗ. Ông Chủ Ri đưa bàn tay khá to của ông chụp lên vùng kinh Chủ Ri mà nói với ông quận trưởng: “Ruộng của tôi là chỗ nầy. Ông quận xác nhận cho tôi.”

Bàn tay hộ pháp của ông chụp lên vùng đó thì coi như ông có cả ngàn mẫu ruộng. Một ngàn mẫu ruộng bị truất hữu, lại có ông con rể là “Đại tướng thủ tướng”, tôi nói ông ta lảnh khẳm tiền là do suy đoán như thế.

Mấy ông chủ điền, năm 1945, sợ Việt Minh, bỏ chạy lên thành phố, ruộng giao cho tá điền muốn làm gì thì làm, có đóng tô cho ông chủ điền hay không, ông chủ điền cũng đành chịu, đâu dám về mà đòi tô, hoặc ruộng bỏ hoang hết rồi.  Vợ đại úy Nguyễn Van Dưỡng, thường được gọi là “Dưỡng lèng èng” vì tính anh ta hay than phiền nầy nọ; bạn cùng “khóa tù cải tạo” với tôi, bà nầy là em gái bác sĩ Nhan Trừng Sơn ở Saigon, và ông Trung tá Pháo binh Nhan Trừng Lâm của Sư Đoàn 21, kể rằng, trước 1975, đến mùa, bà về thu tô của tá điền, có người đóng chút ít, có người không. Đóng là vì thương tình ông hội đồng ngày trước biết thương nông dân, ai quên thì bà con gái ông chủ điền rán chịu. Nay bỗng có chương trình “Người Cày Có Ruộng”. Chủ điền thì được bồi thường bạc triệu. Nông dân thì được cái bằng khoán làm chủ mẫu ruộng mình đang canh tác, chẳng còn ngại ngùng gì tới ông chủ điền cả, thấy khỏe bụng nhiều.

Nhưng đó là “đòn độc” của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Nông Dân đang làm chủ miếng ruộng của mình, có bằng khoán hẳn hoi. Sau 1975, Việt Cộng bắt vô “Hợp Tác Xã” hết. Nông dân mất ruộng, bằng khoán trở thành miếng giấy lộn mà cày cấy được bao nhiêu, chủ tịch xã, bí thư xã, chủ nhiệm hợp tác xã chia nhau ăn hết; “quá cha” ông chủ điền ngày xưa. Nông dân chỉ còn cái cọng lúa. Thành ra, người dân không muốn chống Cộng cũng phải chống, muốn yên thân cũng không yên được. Tôi nói đòn độc của ông Thiệu là nghĩa như vậy.

Về điều nầy, tôi phải tự hào một chút mới được bởi vì mấy thầy, mấy quan lớn ngồi ở tỉnh, ở Saigon, đâu có lặn lội từng ấp, từng xã, từng quận như tôi mà biết dân tình như thế nào.

Lại nữa, điều nầy cũng là nguồn gốc của phong trào dân oan đòi đất bây giờ đấy.

Đất là nguồn sống bức thiết của nông dân. Có đất thì sống, có nơi để làm nhà che mưa che nắng. Hồi xưa, chủ điền có đất giao cho nông dân tá canh thì chủ điền có cơm mà ăn, nông dân có cháo mà húp, nôm na thì gọi là “Kẻ ăn cơm, người ăn cháo”. Nay đất thuộc về nhân dân, đất là của nhân dân, không ai có quyền có đất. Đó là nói theo luận điệu Việt Cộng. Khổ nỗi, đất của nhân dân nhưng “nhà nước quản lý” mà thực tế, nhà nước là cán bộ đang nắm quyền làm chủ đất, có nghĩa là cán bộ trở thành chủ đất, chủ điền. Cán bộ phần đông thuộc hàng “ba đời đi ở, bốn đời làm thuê”, hay còn gọi là “tam đại bần nông, tứ đại khố rách”. Nay cán bộ nắm quyền giữ đất trong tay thì xài cái quyền đó thả xăng cho thỏa mối hận ba đời không có miếng đất cắm dùi. Cán bộ muốn làm gì thì làm, làm cho dân oan điêu đứng cũng là cách “trả thù đời” của cán bộ vậy, đâu cần nhân đạo, từ bi, phúc đức gì như ông bà xưa cho rắc rối.

Sự việc như thế, tâm lý cán bộ như thế, lòng tham như thế thì nếu như – tôi nói nếu như – Nguyễn Tấn Dũng có muốn đem công lý tới cho nông dân cũng không thể làm được. Nguyễn Tấn Dũng có mọc ba đầu sáu tay thì cũng thúc thủ trước những vụ dân oan khiếu kiện bây giờ.

Như tôi có nói, Chủ Ry là tên gọi tắt ông chủ điền Henry. Thân sinh ông là người gốc Tây Ban Nha, lai Miên, mẹ là người Việt Nam. Cách sinh hoạt của ông y như một người Việt Nam, nhưng dân chúng địa phương nhiều người biết gốc gác ông như tôi vừa nói ở trên.

Ông về làm ruộng ở đây từ lâu lắm, có thể từ đời thân phụ ông. Không ai biết rõ ông làm chủ điền từ lúc nào vì khi tôi về làm việc vùng nầy thì gia đình ông đã chạy trốn Việt Minh, lên ở ngay thị xã Rạch Giá từ 1945 hay 46 gì đó.

Ruộng ông Chủ Ry nhiều lắm. Từ ngã ba kinh Tám Ngàn, còn gọi là Kinh 1 hay Kinh Xà Tón, ngó ngược lên phía Bắc, bên tay trái là ruộng của ông Chủ Ri, bên phải là ruộng của ông Thầy Ban. Hai ông nầy ruộng ngang ngữa bằng nhau. Bên phía ruộng Chủ Ri, thì có kinh Chủ Ri, lấy nước ngọt từ Kinh 1 vào để rửa phèn làm ruộng. Đối xứng bên kia Kinh 1 thì có kinh Thầy Ban. Giữa hai khu ruộng nầy là Kinh 1, kinh nầy lấy nước từ sông Bassac, tức là sông Hậu, ở ngang Châu Đốc dẫn về tới kinh Rạch Giá – Hà Tiên. Những năm chiến tranh, ruộng nầy bỏ hoang, kinh nầy cũng bị bỏ hoang, không nạo vét gì cả, nhiều chỗ đất bồi nên cạn xợt, Mùa nước cạn, ghe thuyền không qua được, chỉ chờ khi nước nổi, mực nước sông Hậu dâng cao, đổ về ghe mới qua được chỗ nông. Dĩ nhiên, mùa cạn, ghe tàu không còn theo đường nầy lên Châu Đốc, tình trạng cũng giống như kinh Vĩnh Tế, – kinh nối liền Hà Tiên, qua Giang Thành, tới Châu Đốc vậy.

Kinh 1 cũng đụng với kinh Kháng Chiến, là đường giây di chuyển 1-C của Việt Cộng. Dân chúng sợ gặp Việt Cộng nên không dám đi. Việt Cộng cũng cấm dân chúng đi ngang, sợ bị lộ, nhất là những khi chúng chuyển quân đông hay vận chuyển quân dụng, vũ khí, v, v…

Ruộng thì ở trong kinh, nhưng ông Chủ Ry làm nhà ở kế bên lộ 8-A,  con lộ nối liền Rạch Giá  – Hà Tiên, chỗ gần ngã ba Kinh 1 và kinh Rạch Giá – Hà Tiên gặp nhau. Khi gia đình ông Chủ Ry sợ Việt Minh chạy trốn lên thị xã Rạch Giá thì nhà cửa ông Chủ Ry hư hại, bị Việt Minh phá hay đốt cháy hết, chỉ còn lại những cái nền gạch, và những ngôi mộ chôn cất ông bà tổ tiên ở trong một cái nghĩa trang nhỏ nằm kế đường đi. Mộ nầy xây gạch, sơn trắng, có người chăm sóc. Đi ngang đoạn đường nầy, hướng đi Hà Tiên, người ta dễ thấy nghĩa trang nầy nằm bên trái, cạnh đường đi.

Trước 1945, gia đình ông Chủ Ry ở đây, các con ông cũng học hành lớp 1, lớp 2 ở tại đây. Tôi đoán chừng vậy vì không biết hồi ấy, ở đây có trường tiểu học nào không. Có tên Tư Trạng, bị tôi bắt sau vụ Việt Cộng tấn công vào trụ sở xã và cảnh sát, phân chi khu xã Đức Phương nầy vào dịp sinh nhựt Hồ Chí Minh (19-5), khai rằng hồi nhỏ, (trước 1945) anh ta là bạn học với chị Tư Nết ở Vàm Rầy. Chị Tư Nết là tên gọi tắt cô Annette, con thứ Tư ông Chủ Ry. Sau nầy cô Tư Nết là vợ ông đại tướng Trần Thiện Khiêm.

Tôi không rõ khu nhà tá điền của ông Chủ Ry ở đâu. Dọc hai bên trục lộ nầy, nếu nhà tá điền ở gần nhà ông, thì sau 1945, chắc chẳng còn gì nếu như là nhà tranh. Thực ra, vùng nầy không có nhà ngói, chỉ có vài cái nhà gạch lợp tôn, nhưng có lẽ mới dựng sau nầy, những năm hòa bình (sau 1954). Bây giờ, khu vực gần cầu Vàm Rầy và dọc theo trục lộ, gần ngã ba các kinh nói trên, chỉ toàn là nhà tranh của dân mới tới định cư. Ngay cả Xóm Biển cũng vậy. Xóm Biển là xóm nhà dân, nằm dọc kinh Vàm Rầy, là kinh nối liền kinh Rạch Gia – Hà Tiên với biển. Nhờ làm nghề biển, xóm nầy tương đối khá giả, nhiều nhà có TV chạy bằng bình điện, có ăng-ten TV chĩa lên trời. Có lần, tôi đến nhà ông Tư Sậm, chủ ghe biển ở đây, xin con cá chẽm khô cho ông anh bà con ở Saigon, nói đùa với ông ấy: “Hồi Tết Mậu Thân, ngoài Huế, nhà nào có ăng-ten TV đều bị Việt Cộng bắt. Họ nói nhà đó có điện đài liên lạc với địch. Ông và dân xóm ông nhiều “điện đài” như vậy, có sợ Việt Cộng không?” Ông ta cười, trả lời: “Việt Cộng ở đây khác với Việt Cộng ngoài đó. Ở đây là con Sáu Lánh chớ ai đâu!”

Xin nói qua chuyện “Con Sáu Lánh” một chút.

Con Sáu Lánh nhà ở ngã ba kinh Xà Tón, tức là gần nhà ông Chủ Ry cũ. Con nhỏ ham coi cải lương, tối thứ bảy nào cũng vào Xóm Biển coi cải lương trên TV nhà Tư Sậm. Chương trình cải lương chấm dứt khuya lắm. Trên đường về, Sáu Lánh đi một mình. Khi ngang qua trường học, nó bị con trai Tư Sậm dụ vào trường học rồi hiếp dâm. Việc thưa ra tòa. Con trai Tư Sậm khai là con nhỏ đồng ý; con Sáu Lánh thì khai rằng có chống cự nhưng chống không lại vì con trai Tư Sậm mạnh quá! Cả hai đứa đều tuổi vị thành niên. Con Tư Sậm mà vị thành niên gì nữa. Nó đã trên 20, nhưng khai nhỏ tuổi, dùng giấy khai sinh giả để trốn quân dịch. Tư Sậm bỏ tiền lo cho con vì nó còn trẻ, mạnh khỏe, lái ghe và đánh cá cho cha mỗi ngày. Mất nó thì Tư Sậm như mất một cánh tay. Không biết tòa xử như thế nào mà con Sáu Lánh thua kiện. Ức tình, con nhỏ bỏ nhà thoát ly, theo Việt Cộng. Còn con trai Tư Sậm thì bỏ nhà trốn ra sinh sống ngoài Hòn Nghệ cho dễ trốn quân dịch.

            Hôm Việt Cộng đánh vào xã, con Tư Lánh có mặt trong đám du kích. Đại úy Danh Lon, trưởng ban 2 Chi Khu, hôm đó, chỉ huy trung đội nghĩa quân đóng ở đầu cầu Vàm Rầy, thấy rõ con Sáu Lánh đặt cây súng trung liên bar bên hông chợ bắn vào đồn của Danh Lon. Cây súng nầy nó lấy được của phân chi khu Đức Phương. Bắn xong, con nhỏ còn cười, nói lớn, nhiều người trong chợ cũng nghe: “Súng của ngụy bắn đã quá!” Kể lại chuyện đó cho tôi, đại úy Danh Lon còn nói đùa: “Súng của thằng con trai Tư Sậm bắn không đã nên con nhỏ mới theo Việt Cộng đó!” Nói xong, Danh Lon cười. Tôi hiểu ý đen trong câu nói của ông ấy, nên cũng cười theo.

Cầu Vàm Rầy bắt ngang qua con kinh Vàm Rầy nầy.

Những năm Việt Minh mới cướp chính quyền, gia dình ông

Chủ Ry chưa chạy lên Rạch Giá, mỗi khi “Thổ dậy”; từ xóm Miên (người ta không gọi là Xóm Thổ, sợ lầm với nhà thổ chăng?), dân Miên cầm chà gạc xuống tấn công, giết chóc và đốt nhà người Việt Nam ở gần cầu Vàm Rầy, thì ông Chủ Ry đứng ra can thiệp. Nghe tin “Thổ dậy”, ông cầm cây súng dài – Ông là dân Tây, có quyền mua súng – ra đứng trước nhà ông, chờ người Miên tới gần, ông nói tiếng Miên, biểu họ lui.

Xong, ông đưa súng lên trời bắn đùng một phát. Thế là dân Miên sợ, bỏ chạy lui hết. Xóm làng yên ổn trở lại.

Người ta nói ông Chủ Ry, tuy gốc Miên lai Tây Ban Nha, nhưng ông cũng có máu lai Việt và bênh vực người Việt Nam. Cũng có thể ông thấy chuyện “Thổ dậy” là sai nên đứng ra can thiệp.

“Thổ dậy” là hiện tượng xáo trộn ở thôn quê miền Tây Nam Bộ thời Việt Minh, khi quân Pháp chưa tái chiếm vùng nầy. Bấy giờ Việt Minh yếu thế lắm, không giữ được an ninh trật tự cho xóm làng. “Thổ dậy” cũng là hiện tượng trả thù của người Miên vì người Miên cho rằng người Việt, từ các đời chúa Nguyễn, đã cướp đất đai của họ. Trong dân chúng Miên, người ta đồn đãi nhiều về những việc ác của quan An Nam đã làm khi họ chiếm đất của Miên, tạo thành những mối thù dân tộc truyền kiếp đã có từ lâu lắm. Khi bọn Khmer Đỏ cai trị Kampuchia, để chống Việt Nam, mối hận thù dân tộc nầy cũng được khơi dậy, thêm thắt cho ly kỳ gay cấn. Những chuyện tàn ác như chuyện đào kinh Vĩnh Tế hồi ông Thoại Ngọc Hầu làm quan ở đây, được thêm thắt tô vẽ nhiều lắm. Khi tôi làm việc ở vùng nầy, tôi cũng cảm nhận được điều đó khi tiếp xúc với người Miên, mặc dù người Miên ở đây không ròng, có nghĩa họ là người Miên lai Tàu, địa phương thường gọi họ là “đầu gà đít vịt”.

Khi Việt Minh tổ chức vận động “Toàn dân kháng chiến” chống Pháp, thì người em út ông Chủ Ry, thường gọi là chú Út, tham gia Việt Minh và bị Tây giết.

Giữa năm 1974, khi tôi đang trên đường từ Hà Tiên đi Rạch Giá, thì thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, báo cho tôi biết có “Anh Hai Re” về thăm. Hỏi thêm mới biết “Anh Hai Re” là con trai trưởng ông Chủ Ry, tức anh bà đại tướng, thủ tướng. “Re” có phải tên tắt của Robert (hay André)? Tôi ghé lại Đức Phương, gặp anh ta đang ngồi uống càphê trong một tiệm hủ tiếu ở chợ xã. Anh nhờ tôi tìm giùm mộ chú Út. Anh ta cần đi gấp, ra Phú Quốc, bàn chuyện khai thác gỗ ngoài đó nên không có thì giờ. Tuy nhiên, thấy ông ta đã hơn 40 mà trên xe Jeep của ông có một cô gái đẹp lắm, mới khoảng 20 tuổi, thì tôi đoán chừng được tại sao ông ta không có… thì giờ. Cô ấy là “bạn gái” của ông, như ông giới thiệu.

Sau đó, tôi hỏi mấy cụ già địa phương để tìm mộ chú Út giùm, theo lời “Anh Hai Re” nhờ. Ông Út bị Tây bắn năm ông khoảng ngoài 20 tuổi, hồi đầu kháng chiến chống Pháp. Lúc nầy gia đình ông Chủ Ry đã chạy trốn Việt Minh lên Rạch Giá rồi, nên khi “chú Út” chết thì dân địa phương lo việc chôn cất. Thay vì đem về chôn ở nghĩa địa chung của gia đình, dân chúng chôn ở bên kia kinh, ngay chỗ ông ấy bị Tây bắn, sát bờ đất, gần ngã ba Kinh 1 với kinh Rạch Giá – Hà Tiên. Ngôi mộ nầy bị mất dấu tích, không tìm lại được vì M-113 lên xuống ở bờ kinh nầy nhiều lần, bánh xích càn mất mộ. Mộ lại chẳng có bia hay làm dấu tích gì cả. Các cụ già chỉ cho tôi chỗ ngôi mộ ấy, đoán chừng ở một khoảnh đất trống bên bờ kinh, không chắc ở chỗ nào. Khi mất, ông Út chưa có vợ con gì.

Những người như chú Út rất đáng thương tâm. Việt Minh thì cho rằng ông là em ông chủ điền đã trốn Việt Minh, theo Tây lên Rạch Giá, nên không ngó ngàng gì tới. Vả lại, ông ta chết sớm, còn nếu như không chết thì cũng không chắc ông ở với Việt Minh được. Ông đâu phải là gốc “tam đại bần nông, tứ đại khố rách”. Còn phía Quốc Gia thì cho rằng ông ấy theo Việt Minh, làm sao lập mộ, lập bia “Tổ Quốc Ghi Ơn” cho ông ta. Đó là cái oái oăm của lịch sử, cái trớ trêu của số phận, mà những người yêu nước, theo Việt Minh chống Pháp, hy sinh. Rồi dân tộc Việt Nam, hoặc vì bị bên nầy khống chế, bị bên kia cai trị, chẳng ai có chút công tâm để ghi ơn những người thực sự đã vì tổ quốc, dân tộc mà bỏ mình, không vì đảng phái hay phe nhóm nào cả, mồ mả không ai ngó ngàng, chăm sóc, đến nỗi không biết thân xác nằm ở chỗ nào, xiêu lạc nơi đâu. Đúng là “mồ xiêu mả lạc” như tục ngữ nói.

Sao người ta vô ơn quá vậy!

Công tâm mà xét, ông Chủ Ry và em ông, chú Út, là người Việt Nam chân chính. Rõ ràng lắm, khi Thổ dậy, ông Chủ Ry can thiệp để người Miên không giết chóc trả thù người Việt Nam được, giữ gìn an ninh cho họ. Khi Nam Bộ Kháng Chiến nổ ra thì em ông Chủ Ry đi theo Việt Minh đánh Pháp giành độc lập. Việc ông Chủ Ry đem gia đình chạy lên Rạch Giá, vùng Tây chiếm đóng cũng là việc bình thường. Ở lại, Việt Minh giết ông và vợ con ông ta sao!? Việt Minh đẩy ông ta vào cái thế theo Tây, chứ nếu ông ta muốn theo Tây từ đầu thì chú Út theo Việt Minh làm chi?

Trên đường Rạch Giá – Hà Tiên, ngoại trừ xã Mỹ Lâm, quê hương Nguyễn Tấn Dũng có rất ít người Miên, còn những xã còn lại, hoặc người Miên đông hơn người Việt hoặc ngược lại. Những xã ấp có tên từ gốc Miên như Sóc Soài, Sóc Sơn, Lỳnh Quỳnh người Miên hoặc Miên lai Tàu chiếm tám chín mươi phần trăm, một ít người Việt làm nghề buôn bán. Người Miên không rành buôn bán, mặc dù có người Miên lai Tàu. Có máu lai Tàu mà chẳng có khiếu buôn bán như người Tàu chút nào cả.

 Trên con đường nầy, những ấp như Sóc Soài, Sóc Sơn, Lỳnh Quỳnh, Vàm (Dàm) Rầy, Xà Ngách, Bãi Chà Và, Ba Hòn, Hòn Chông, Cần Thăng, v.v… phần đông là người Miên, người Việt rất ít. Người Miên thật thà, chất phác, làm ruộng, làm rẫy, đánh cá, nuôi heo… Người Miên ở ấp Xà Ngách có thêm một nghề: Đập đá. Đá vôi, chủ lò vôi dùng thuốc nổ lấy từ trong núi, dùng ghe chở về lò vôi. Để đốt cho chín đều, vôi phải đập nhỏ, mỗi cục bằng nửa cái trứng gà. Một người đàn bà, còn đủ sức, mỗi ngày đập được hơn một khối đá, được chủ lò vôi trả cho mỗi khối 20 chục đồng tiền hồi đó, tính ra bằng giá hai tô hủ tiếu bán ở chợ. Vì nghèo nên rán mà làm thêm kiếm chút đỉnh tiền bạc, chớ chẳng giàu có gì được!

Người Miên nuôi heo thả, không nuôi chuồng như người Việt. Con heo nái, khi sắp đẻ, nó vào rừng (rừng lau, sậy, cóc kèn, ô rô, v.v…) sinh con trong đó. Khi đàn heo con đã lớn, chạy quanh kiếm ăn được, heo mẹ đem heo con về.

Trước chiến tranh (1945-75), vùng nầy rất nhiều cá, hầu hết là cá đồng, – người Miên ít ai làm cá biển – không ăn hết thì họ xây lò sấy cá cho khô. Lò sấy cá gọi là “lò bôm”. (Nay còn tên ấp Lò Bôm ở thị trấn Kiên Lương) để dành được lâu.

Con trai lớn lên thì vào chùa tu, học kinh và học chữ Miên. Những người tu lâu, lớn tuổi được gọi là “ông lục”.  Lên tới ông lục thì có thể ở tu luôn thành đại đức. Phần đông, khi tới 17 hoặc 18 tuổi thì về, không còn tu ở chùa nữa, trở lại đời sống bình thường, lấy vợ, lập gia đình, có con cái. Thời chiến tranh, khi tới tuổi đi lính thì họ trình diện vào quân đội hoặc xin vô cảnh sát, xây dựng nông thôn, v.v… ít ai trốn quân dịch hay đào ngũ. Những vùng xôi đậu, cũng có một số ít người “thoát ly”. Theo Việt Cộng, ít ai được làm ông lớn vì bản tính thật thà, không được Việt Cộng tin tưởng. Dương Nganh, tự Xà Rum, trước theo Việt Minh, sau theo Việt Cộng, nghĩa là theo Cộng Sản từ lâu, cũng chỉ làm tới bí thư xã Dương Hòa, được ít lâu cũng bị ra rìa. Hai Ngộ, tên đầy đủ là Nguyễn Văn Ngộ, người Việt lên thay.

Người Miên xứ nầy cũng “làm biếng” như người Miên bên xứ Kampuchia, có nghĩa là khi có việc gì nặng nhọc, người đàn ông mới làm, như làm ruộng, đào mương, đào kinh, đắp đê, đánh cá… Còn thường ngày, không có việc gì nặng nhọc thì họ cứ tà tà, buổi sáng ngồi hút cần sa, chiều ra quán hay mua rượu đế về nhà uống. Mọi việc trong nhà, nuôi heo, nuôi gà, làm đường thốt nốt, nấu ăn, chăm sóc con cái thì người vợ cáng đáng cả.

Người Miên hút thuốc lá, thường do họ tự trồng lấy, hút được rẻ. Họ không đủ sức mua thuốc làm sẵn cho vào bao, dù đó là thuốc Basto xanh hay đỏ.

Hầu hết họ sùng tín đạo Phật, phái tiểu thừa. Họ không đi chùa thường ngày rằm và mồng một như người Việt. Nhưng mỗi năm vài ba lần đi chùa thì chăm lắm, bận việc mấy các cô các bà cũng đi. Họ gọi là đi “làm phước”. Không làm phước thì không được phước. Họ tin như vậy. Các tu sĩ ở chùa Miên thường không giàu có gì, như chùa ở các nơi khác hay ở Mỹ nầy vậy!

Một năm, ông lục ở chùa Ba Hòn mời tôi tới ăn đồ cúng, nhân một dịp lễ nào đó, tôi không nhớ. Họ quí mình lắm mới mời ăn chứ thường ra, cuộc sống họ khép kín, ít quan hệ với người ngoài xứ sở của họ. Biết vậy nên tôi buộc lòng phải đi. Người Miên không ăn chay, cũng cúng mặn, cũng heo gà là món ăn thường, do họ tự nuôi lấy. Đang ngồi ăn, thấy ông lục ngồi tiếp tôi ở trước mặt, tay ông đầy ghẻ, khiến tôi nghẹn lại. Họ cũng như người Việt ở thôn quê, cuộc sống còn lạc hậu, thường ở dơ.

Vùng nầy ít nghe nói bùa phép, nhứt là bùa cà-tha mà người ta nói rất thiêng. Tuy nhiên, cũng có vài nhà – phần đông là người Miên lai Tàu – dùng “thuốc”, nghĩa là bùa có chất độc, đụng nhằm thì chỉ có chết, không cứu cấp gì được vì không biết bệnh gì. Lính tráng đi hành quân, thấy có ớt ngon, hái một ít bỏ túi về ăn cơm. Có người Miên ở ấp Hòn Chông chơi độc, thuốc vào cây ớt, ai ăn nhằm “trúng thuốc” mà chết. Tôi hỏi một người Miên, lính của tôi, “thuốc” như thế nào thì anh ta giải thích: “Chặt đầu một con rắn độc chôn vào gốc ớt. Ai ăn nhằm, bị độc mà chết.” Việc “bỏ thuốc” như thế nầy, thường xảy ra ở vùng người Miên. Những chữ tôi viết trong ngoặc kép nói trên là tiếng địa phương nói về việc “thuốc” ấy.

Cũng tại vùng nầy, người Miên lai Tàu thường có khuynh hướng theo Việt Cộng hoặc ghét Quốc Gia hơn là người Miên chính gốc. Tên Lâm Hải, trưởng ấp Rạch Đùng, xã Bình Trị (tên cũ là Hòn Chông), dẫn hầu hết đám Nhân Dân Tự Vệ ấp kéo vô rừng theo Việt Cộng. Hoặc ở ấp Cần Thăng, (xã Ba Hòn tức Dương Hòa), có tên Miên lai Tàu, phó trưởng ấp an ninh, làm địch vận, dẫn Việt Cộng vô tước hết súng của toán Nhân Dân Tự Vệ lúc người Miên đang ngủ.

Ngược lại, ở xã Sóc Sơn, Nhân Dân Tự Vệ chống trả mãnh liệt khi Việt Cộng tấn công vào xã. Việt Cộng không những không chiếm được xã mà còn chạy trối chết, không kịp đem xác đồng bọn theo, bỏ lại không ít ngoài hàng rào trụ sở xã.

(1) Nhân đây cũng xin kể một chuyện tình 50 năm về rước để độc giả thấy phong cách sống của dân chủ điền Nam bộ ngày xưa.

Khi vào trại tù cải tạo, tình cờ tôi ở chung đội với ông Năm Nho, Nguyễn Văn Nho. Ông già Nho đáng bậc tuổi cha chú tôi. Cũng vì tò mò, tôi hay tìm ông hỏi chuyện, những chuyện mà tôi có đọc trong các tiểu thuyết viết về Nam Bộ của ông Hồ Biểu Chánh như “Cha Con Nghĩa Nặng”, “Ngọn Cỏ Gió Đùa”, v.v… Ông già Nho, gốc là đại úy Cảnh Sát, biệt phái làm Trưởng phòng Công xa Hạ Nghị Viện, quê ở Sóc Trăng, cháu ngoại một ông chủ điền giàu lắm. Ông bà ngoại ông, mỗi năm được mùa, biểu ông lên Saigon hay Cần Thơ thuê gánh hát về hát cho tá điền coi chơi, khỏi mua vé.

Ông Năm Nho ở với ông bà ngoại từ nhỏ, mẹ đi lấy chồng. Hình như ông ta tránh, không nói về cha ông hay bên nội ông là ai.

Khi ông đã lớn, ông bà ngoại ông tính chuyện cưới vợ cho ông, bèn đánh tiếng với ông chủ điền ở Vàm Rầy. Bên đó bằng lòng. Mỗi năm vài lần, nhân dịp lễ tết xuân thu nhị kỳ, ông Năm lái xe hơi nhà – xe ông bà ngoại – từ Sóc Trăng qua Rạch Giá biếu quà cho ông bà già vợ tương lai. Ông Năm kể, giọng bùi ngùi: “Sau khi tìm hiểu gốc gác tôi, bên ông chủ điền xứ Vàm Rầy muốn từ chối, tỏ vẻ lạnh nhạt mỗi khi tôi mang quà qua thăm. Ông bà ngoại tôi biết họ chê gốc gác tôi không rõ ràng nên bèn thôi. Buồn tình, tôi đăng lính thủy, làm thủy thủ ngang dọc trên biển xa cho quên tình đời. Lâu lâu, tôi mới xin phép về thăm ông bà ngoại tôi. Thấy tôi bỏ quê, bỏ sự sản ra đi, ông bà ngoại tôi buồn lắm. Vì chiến tranh xảy ra, ông bà ngoại tôi lên Saigon, bỏ ruộng cho tá điền, chớ không thì không biết giao cho ai. Rồi tôi bỏ lính thủy, đi cảnh sát. Thấy người ta lấy chồng sĩ quan, rồi lên làm tướng, tôi cũng vui, cho rằng người ta có số cao, còn mình thì long đong. May lúc đó, ông bà ngoại tôi đã qua đời chớ không thấy tôi như vầy thì ông bà ngoại tôi buồn biết bao nhiêu!”

Viết thêm, nói lại cho đúng

Sau khi cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” được nhà Văn Mới xuất bản, (1054 West. Gadena Blvd Gardena CA 90248 tel: (310) 366-6867), tôi nhận được một cú điện thoại của cựu thiếu tá Đinh Văn Tuyền, ông là con trai của ông Chủ Ry, em “Chị Tư Nết”, tức bà cựu Đai tướng, Thủ tướng Trần Thiệm Khiêm. Ông Tuyền nói là ông được một người bạn đã đọc cuốn sách “Hương Tràm Trà Tiên” của tôi, rồi giới thiệu cho ông đọc cuốn đó. Ông ngõ lời cám ơn tôi đã viết về gia đình ông, và ông cho tôi biết thêm vài điều, nay tôi xin cải chính:

Thân phụ ông Chủ Ry là một người Tây (Pháp), gốc ở đảo Corse, qua VN khi còn trẻ, điều khiển mấy chiếc xáng. Xáng là loại tàu có dụng cụ (gọi là xáng) để đào kinh. Chính ông là người đào kinh Long Xuyên – Rạch Giá (kinh nầy từ “Ngã ba lộ tẻ”, nối với sông Hậu (Bassac) với thị xã Rạch Giá, ra tới biển. Kinh dài gần 100km, rộng 30m. Nhờ kinh nầy mà việc giao thông từ Rạch Giá lên Cần Thơ, Saigon, v.v… được dễ dàng.

Ông Tây nầy có vợ VN, là mẹ ông Chủ Ry. Khi về Tây, ông không đem vợ con theo.

Còn một điều đang suy nghĩ nữa. Khi tôi hỏi cựu Thiếu tá Đinh Văn Tuyền về việc bồi thường cho chủ điền, trong “Chương trình Người Cày Có Ruộng” của Tổng thống Thiệu. Như tôi đã nói, ruộng ông Chủ Ry nhiều lắm, tiền bồi thường truất hữu chắc “khẳm”. Ông Tuyền cười (trong máy) rồi trả lời, “Không được đồng nào hết.” Tôi hơi ngạc nhiên nhưng chuyện dễ hiểu lắm. Ông Tuyền giải thích: Mấy thầy chú ở Bộ Canh Nông VNCH khi lập thủ tục bồi thường cho điền chủ, thường được các ông cựu điền chủ “lót tay” chút đỉnh. Chút đỉnh nhưng đủ mua nhà lầu xe hơi, có khi được ông cựu điền chủ gã con gái cho như ông bạn Bửu T. của tôi vậy.

Ai dám nhận tiền “lót tay” của ông bố vợ Đại tướng Thủ tướng? Thế là hồ sơ “bồi thường truất hữu” của ông Chủ Ry bị “để đó”, cho tới 30 tháng Tư thì coi như “xong luôn”.

Cổ Tích Không Quân – Bài học nhớ đời

Posted bienxua on August 5 2019

Raptor

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Lời người viết: Tại sao lại là “Cổ Tích Không Quân?” Xin thưa đây là những chuyện tôi đã được nghe kể từ rất lâu rồi, nay cố gắng nhớ và viết lại nên nhiều đoạn có thể không còn chính xác, nhất là những yếu tố thời gian, chức vụ, cấp bậc ..v..v.. Xin quý vị độc giả hãy rộng lượng tha thứ. Xin hãy lấy cái nội dung câu chuyện làm chính chứ đừng coi trọng chi tiết. Nếu có những thiếu sót không thể tránh khỏi thì xin quý vị hãy thầm nhủ rằng… có sao đâu vì đây chỉ là một chuyện… Cổ Tích. Tuổi nhỏ, chúng ta thường đọc hay được nghe chuyện cổ tích; khi đã lớn khôn chúng ta biết rằng những chuyện đó khó thể xảy ra trong thực tế! “Khó” có thật nhưng không ai dám khẳng định là không có! Ví dụ như ai có dám nói chuyện “Con Rồng Cháu Tiên” là không có thật? 18 đời Vua Hùng nhưng lại trải dài tời 2000 năm, vị chi tuổi thọ trung bình hơn… 110 tuổi! Hay là những chuyện cây nỏ thần Kim Quy cho Vua An Dương Vương để bảo vệ thành Cổ Loa mà sức sát thương thì… minigun ngày nay còn thua xa lắc? .v.v.. Vậy với những chuyện “Cổ Tích Không Quân” mà tôi sắp kể ra đây, có thật hay cổ tích thì quý vị muốn xếp vào “file” nào xin tùy nghi quyết định.

Ông Cố Vấn
Đầu năm 1970, Ông Jonh Paul Vann từ QĐIV chuyển lên Pleiku làm cố vấn cho Trung Tướng Ngô Dzu, tư lệnh Quân Đoàn II/Vùng 2 Chiến Thuật.
Xin nói vô chi tiết một chút về nhân vật này để quý độc giả biết thêm một người đã từng có một vị trí rất quan trọng trong “Việt Nam War”. John Paul Vann sinh ra và lớn lên tại vùng phụ cận Norfork, Virginia. Năm 1943, Vann gia nhập Không Quân và trở thành một pilot của US Army Air Corps. Khi Thế Chiến Thứ 2 chấm dứt vào năm 1945, Vann mang cấp bậc Thiếu Uý nhưng chưa kịp tham chiến. Năm 1947, US Army Corps tách ra thêm US Air Force, Vann đã chọn ở lại Lục quân và chuyển qua làm sĩ quan tiếp vận. Năm 1950, khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Vann phụ trách quân vận cho SĐ25 và đã lập được chiến công lớn do đã chỉ huy đơn vị tử thủ gần thành phố Pusan cho mãi đến khi được TQLC đổ bộ từ Ichon đến giải vây. Cuối năm 1950, khi Trung Cộng xua quân tràn xuống hiệp cùng quân CS Bắc Hàn xâm chiếm miền Nam thì lúc này Vann đã là Đại Uý đại đội trưởng biệt kích. Ông đã chỉ huy đơn vị này hoạt động thám báo suốt ba tháng trời ngay trong phòng tuyến của địch quân. Sau đó, vì có một đứa con lâm trọng bệnh Vann được rút về Mỹ. Năm 1954, Vann chuyển sang Schweifurt – Tây Đức làm đại đội trưởng súng cối hạng nặng của Trung Đoàn 16/SĐ25BB. Năm 1955, Vann lên Thiếu Tá và trở lại Âu Châu làm sĩ quan tiếp vận cho Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Âu Châu đóng quân ở Heidelgerg. Năm 1957, Vann trở về Mỹ học khoá Chỉ Huy Tham Mưu Trung Cấp và đến năm 1961 được thăng cấp Trung Tá.Qua Việt Nam
Vào năm 1962, Vann đến VN và làm cố vấn cho Đại Tá Huỳnh Văn Cao, Tư Lệnh SĐ7BB/QLVNCH. Trong trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963, Vann đã bay trên L-19 chỉ huy các đơn vị diện địa phản công lại với VC và cũng chính từ trận đánh này, Vann đã thấy rõ sự cồng kềnh, hỏa lực phi pháo hùng hậu của Mỹ nhưng lại kém hiệu quả khi chống với du kích chiến của VC. Ông ta nhờ ký giả David Halberstam của tờ New York Times cảnh báo đến dư luận và đổ dồn cơn thịnh nộ của ông ta lên người chịu trách nhiệm cao nhất: Tư Lệnh Quân Đội Mỹ tại VN, Tướng Paul D. Harkins. Vann bị buộc rời khỏi chức vụ cố vấn vào tháng 3/1963 và được giải ngũ vài tháng sau đó. Công việc của một viên chức dân sự

Vann trở qua VN vào năm 1965 và là một quan chức đại diện cho Viện Trợ Quốc Tế của Mỹ (AID). Sau một thời gian làm cố vấn cho cấp Tỉnh trưởng, Vann được giao trọng trách điều hành cơ quan CORDS vùng 3 CT. CORDS (Civil Operation and Revolutionary Development Support), Cơ quan hổ trợ phát triển và cải cách dân sự vụ, một tổ chức phức tạp bao gồm: USAID (viện trợ Mỹ) + USIS (Thông tin Hoa Kỳ) + CIA (Tình báo) + Chính phủ, hoạt động hổ trợ cho quân đội nhưng có quyền thay thế nhân sự bên quân đội nếu xét thấy cần thiết. Chính cơ quan CORDS đã vạch ra kế hoạch và hổ trợ cho Cảnh Sát Quốc Gia VNCH tiến hành chiến dịch “Phượng Hoàng”, tảo trừ các phần tử và tổ chức nằm vùng tại miền Nam VN. Đến năm 1968, Vann chuyển về làm xếp xòng CORDS vùng 4CT.J.P. Vann là một chiến lược gia có tầm nhìn sâu sắc và chính xác đối với chiến trường VN. Chính ông đã vạch ra chiến lược chống Cộng tại VN “Giao tranh cường độ thấp & nhỏ trong thời gian lâu dài” ngược lại với “Chiến tranh quy ước & cường độ cao trong thời gian ngắn” mà chính phủ và quân đội Mỹ đang theo đuổi lúc đó.
Trong một lần công tác trở về Mỹ năm 1968, cố vấn chính trị cho TT Johnson là Eugene Rostow đã hỏi Vann là liệu có thể chấm dứt chiến cuộc VN trong vòng sáu tháng không? … “No”… Vann trả lời: “Tôi thấy chúng ta cần nhiều lần lâu hơn con số đó”.
Chính sự thông minh nhưng hay đả kích người khác của Vann đã khiến cho nhiều tướng lãnh và quan chức “diều hâu” không ưa ông ta. Nhưng đối với các sĩ quan và nhân viên dưới trướng thì ông là một vị anh hùng của họ, bởi họ quá thấu hiểu sự giới hạn của chiến tranh quy ước đối với một chiến trường “quái đản” như “Việt Nam War” cho tới thời điểm đó.
J.P. Vann là một quan chức dân sự đầu tiên nắm quyền chỉ huy các đơn vị quân đội tác chiến trên một vùng trách nhiệm rộng lớn ở cấp quân khu. Một quyền lực tương đương với một tướng 2 sao Mỹ hay 3 sao QLVNCH.
Có thể vì có tài nhưng không gặp thời nên bất cứ nơi nào Vann đã đến, ông ta cũng để lại tai tiếng là một ông VIP hách dịch, kiêu căng đến mức ngạo mạn. “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, tuy Vann chưa đến nhậm chức nhưng cả quân đoàn II đã râm ran chuyện “ngài cố vấn” sắp đến.

Nghi lễ chào đón!

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II cho phi hành đoàn UH-1 (phi cơ riêng của Tư Lệnh QĐII/Vùng 2 CT) bay xuống phi trường Nha Trang đón ông cố vấn J.P. Vann lên Pleiku. Nhưng trong phi vụ này có một thay đổi khác với thường lệ, ngồi ghế Pilot không phải là Đại Uý X….(?) mà lại là… Trung Tá Lê Bá Định, Phi đoàn Trưởng Phi Đoàn 530, danh hiệu Thái Dương 01, Liên đoàn Trưởng Liên Đoàn 72 Tác Chiến KQ – Căn Cứ 92CT/KQ Pleiku.
Trong KQVN ngày trước có nhiều vị mà như lời NT Mệ đã gọi là những “KQ Dị Nhân”; dị nhân không mang một hàm ý xấu các vị đó đã dám làm, dám hành xử những chuyện không ai dám. Không phải vì cái “Tốt” đã khiến cho các vị đó thành “Dị Nhân”, nhưng chính là cái lòng yêu nước nhiệt thành, tất cả vì màu cờ sắc áo đã khiến các vị bất chấp mọi quy luật, lề lối thông thường để làm những chuyện kinh thiên, động địa!
Nếu quý NT nào trước đây đã phục vụ trong CC92CT/KQ/Pleiku thì hẳn vẫn sẽ mãi mãi nhớ đến Ông Trung Tá “Lê Bá Đạo” (Đinh Bá Lệ cũng chính là ổng). Với các NT cựu chiến sĩ Không Đoàn Biên Trấn Pleiku thì tôi xin phép miễn giới thiệu lại vị NT Thái Dương 01 làm chi cho thêm mất thì giờ của quý vị… Nhưng với quý vị độc giả chưa được “may mắn” biết đến Ông Bá Đạo thì xin các vị tìm đọc truyện ngắn “Tin đồn chết người” của NT Bắc Đẩu 01 Võ Ý sẽ biết được một phần nào – tại sao ông lại được bạn bè, anh em yêu mến đặt cho ông nick name đó. Xin dẫn sau đây 2 câu thơ mà chính ông là tác giả để các bạn trẻ biết thêm về một vị tiền bối văn võ song toàn của KQVN:

“Trung kiên một lòng vì Tổ Quốc
Sắc son một dạ với Không Gian”

Ngày trước, dù là anh em rất thân tình nhưng tôi thật lòng không dám hỏi ông vì sao ông lại có thêm một biệt danh nữa là “Định Mát”. Tôi bạo gan hỏi ngay tác giả đã đặt ra cái nickname này là Anh Ba Bụng (Lý Thành Ba – Ba Lý, một người bạn đồng khóa với ông) thì được Anh Ba Lý cho biết: “Cái thằng đó dễ thương lắm nhưng đừng có chọc nó. Nó mà điên lên thì họa may có trời mới cản nó được”. Còn với ông, tôi chỉ dám hỏi vì sao ông lại là ông Bá Đạo? Thì ông bật cười ha hả rồi nói: “Anh chỉ bá đạo với những thằng vô đạo thôi, mấy thằng như vậy mình chơi bá đạo nó mới tởn tới già”.

Khi biết đích thân Trung Tá Liên đoàn Trưởng LĐ72TC/KQ bay đi đón vị tân cố vấn của mình, Tướng Dzu rất vui lòng vì nghĩ rằng với tài bay bổng của ông Định, chắc ông cố vấn mới của ông sẽ rất hài lòng khi có một chuyến bay êm ả và ra lệnh cho BTL/QĐII chuẩn bị làm lễ tiếp đón trọng thể ngay bãi đáp trực thăng của quân đoàn. Nhưng Tướng Dzu không thể nào ngờ rằng trong phi vụ này, ông cố vấn sẽ gặp…. bão, bão lớn cấp 12!!!
Bay trực thăng không phải là nghề của ông Định, nhưng những ai đã từng biết ông thì phải công nhận: Trời sinh ra ông để ông bay. Chẳng những thế ông có thể bay được hầu hết các loại phi cơ mà KQVN có mà còn bay vào hàng cao thủ võ lâm nữa kia!
Khi đã cho tàu bình phi về hướng Pleiku, ông Định rất lịch sự tự giới thiệu và ngỏ lời chào đón ông tân cố vấn (Vann có mang headset) và mong rằng trong tương lai sẽ có dịp cùng ông cố vấn làm việc thật hiệu quả cho công tác chống Cộng. Hình như chỉ chờ có vậy, Vann lập tức xổ “bom chùm” nào là QLVNCH đánh giặc dở ẹt, SQ thì tham nhũng, ăn chơi; lính thì chết nhát, đụng trận chút xíu thôi đã la làng, cầu phi pháo yểm trợ í ới.v.v… Ông Định ôn tồn trả lời chuyện đó không thể như những gì ông Vann nhận xét, bởi nếu đúng như vậy thì chắc VC đã chiếm miền Nam lâu rồi! Vann xoay qua chỉa mũi dùi công kích KQVN, nào là bay dở, lạnh cẳng, chỉ giỏi chở hàng lậu và săn bắn trái phép. Những phi vụ nào bị phòng không bắn là cho tàu leo tuốt lên cao nên oánh bom trật lất, đánh nhầm luôn đơn vị bạn. Các tiền đồn xa xôi bị bê trễ hay thậm chí không bay tiếp tế.v.v.. Bị “chạm nọc” nhưng ông Định vẫn nhẹ nhàng lịch sự mời ông cố vấn hôm nào rảnh rỗi ghé qua căn cứ Pleiku chơi, rồi mời ông cùng tháp tùng các phi vụ hành quân của KQVN, thử coi pilot VN có như những gì Vann nói hay không? Bị ông Định dùng tài hùng biện gài vô thế bí, Vann tức tối chuyển qua đề tài dân VN. Nào là…. rồi thì là…….
Lần này, ông Định không đợi Vann dứt lời, ông chận ngang: “Ông không được nói như vậy, tôi xin nhắc cho ông nhớ, chính ông tổng thống của các ông đã nói dân tôi Việt Nam là bạn của nhân dân Hoa Kỳ”. Lúc đó tàu đã bay vào không phận Pleiku và chuẩn bị hạ cánh xuống bãi đáp trong BTL/QĐII. Từ trên cao nhìn xuống có thể thấy hai hàng nhân viên, quan chức Việt & Mỹ đang đứng làm thành hàng rào danh dự chờ đón ông cố vấn. Trước khi cởi bỏ headset và seat-belt ra, Vann buông một câu độc địa: “Tôi rất tiếc vì TT của chúng tôi đã tuyên bố như vậy”.
Ông Định nhìn qua anh copil (anh cũng quay nhìn ông, mặt anh tái mét, mắt đỏ ngầu vì từ nãy giờ anh đều nghe được hết các mẩu đối thoại của hai người), ông nói nhanh: “Toa đáp dùm, để moi trị thằng này mới được”. Nói xong, ông chui qua khe giữa 2 ghế bay, lòn ra đứng sau lưng ông cố vấn lúc này đang lom khom chuẩn bị bước xuống tàu vì chỉ còn cách mặt đất chừng 2 mét.
Ông Định co chân, tống một đạp thật mạnh vào mông ông cố vấn làm ông cố vấn bay từ trên trực thăng xuống, chúi mũi bò càng ngay trước mắt của các quan chức Việt & Mỹ. Không thèm nhìn xuống xem sự thể ra sao, ông Định chồm tới vỗ vai người copil, chỉ hướng ra hiệu cho anh bốc tàu lên, bay về đáp bên căn cứ KQ/Pleiku. Tàu vừa chạm đất, anh copil nhìn qua thấy ông Định lấy tay gỡ hai cái lon Trung Tá cất vô túi, gương mặt ông lạnh như đồng. Ông biết rằng cái đạp đó của ông có thể làm sụp đổ luôn cả công danh sự nghiệp của ông, nhưng ông vẫn đạp.
Không biết sau đó những hậu quả gì xảy ra cho ông Bá Đạo, chỉ biết rằng khi LĐ72TC trở thành Không Đoàn 72 CT thì vị Không Đoàn Trưởng là Trung Tá Lê Bá Định.

Mùa Hè đỏ lửa vùng biên trấn.

Năm 1971, để dành lại ảnh hưởng của Liên Xô đối với chính quyền CSVN đang bị Trung Cộng lăm le hất cẳng; Moscou đã rất hào phóng viện trợ “không hoàn lại” cho CSVN một số quân viện khổng lồ, cực kỳ tối tân cho chính quyền Hà Nội.
Một ngàn xe tăng T-54, PT-76 và cả loại xe tăng phòng không lần đầu tiên được xử dụng là ZSU-57-2 (xin xem trong web: http//en.wikipedia.org/wiki/ZSU-57-2), hàng ngàn hỏa tiễn phòng không SAM-2, SA-7, chống xe tăng AT-3; hàng ngàn khẩu đại bác hạng nặng 130 ly, hàng núi vũ khí cộng đồng, cá nhân + quân trang, quân dụng..v.v.. lại còn gởi cả chuyên gia Nga & Đông Âu sang huấn luyện cho quân CSBV xử dụng thành thạo các loại vũ khí và chiến cụ mới này. Với núi đồ chơi giết người được quan thầy Liên Xô dúi vào tay, CSVN hí hửng vạch ra một kế hoạch tổng tấn công miền Nam với mưu đồ dành dân, chiếm đất tạo áp lực trong bàn đàm phán Paris. Từ ngày 30-03-1972 là ngày bọn chúng bắt đầu phát động chiến dịch Nguyễn Huệ (cuộc tẩn tấn công miền Nam mùa Hè 1972 do CSVN đặt tên), cho đến ngày chấm dứt 22-10-1972, CSVN đã đạt được những “chiến thắng” mà cho đến ngày hôm nay vẫn được nhắc tới là đã tạo ra được một “Đại lộ kinh hoàng”, một “An Lộc”, một “KomTum” với hàng ngàn người dân vô tội đã tan xương nát thịt dưới những trận mưa pháo điên cuồng.

Mùa Hè đỏ lửa phủ chụp lên miền Nam vào lúc 11 giờ 30, ngày 30-03-1972 khi 50.000 ngàn quân VC với 200 chiến xa + ba trung đoàn pháo yểm trợ, tràn qua vĩ tuyến 17 tấn công QLVNCH&Mỹ tại ải địa đầu Quảng Trị thuộc QĐI. Đến ngày 5-4-1972, 50.000 ngàn quân VC với một lực lượng pháo binh, xe tăng hổ trợ giống như tại Quảng Trị đã xuất phát từ căn cứ trên đất Cao Miên tràn qua tấn công tỉnh Bình Long và bao vây thị xã An Lộc thuộc QĐIII. Tại QĐII, Tướng VC Hoàng Minh
Thảo chỉ huy mặt trận B3 cũng với 50.000 ngàn quân, âm mưu cắt đứt miền Nam ra làm hai nên ra lệnh tấn công Tỉnh Bình Định trước vào ngày 5-4-72, cô lập quốc lộ 1, con đường huyết mạch tiếp tế cho QĐI, và cho đến ngày 12-4-72, vùng biên trấn cao nguyên bắt đầu vang tiếng súng khi Cộng quân tấn công Dakto&Tân Cảnh của Tỉnh Kontum.

Không Đoàn 72 Chiến Thuật Pleiku

Trước áp lực đè nặng lên căn cứ KQ Pleiku với những trận mưa pháo ồ ạt của VC bằng hoả tiễn 122ly và pháo 130ly, cũng như Pleiku có thể bị bao vây, tấn công bất cứ lúc nào. Chỉ huy Trưởng Căn Cứ, kiêm Không Đoàn Trưởng 72 Chiến Thuật, Đại tá Nguyễn Văn Bá (cấp bậc khi đó là Trung Tá) cùng các sĩ quan tham mưu của ông đã có một quyết định vô cùng sáng suốt là di tản chiến thuật 50% quân số của KĐ về Nha Trang, luân phiên thay đổi, 1 tuần đi tắm biển, 1 tuần trở lên Pleiku tắm mưa pháo!!!. Chính vì vậy nên các quân nhân KQ “lên ca trực” phải làm tăng gấp đôi công việc, làm bù cho các anh em đồng đội đang đi “tắm biển”. Các phi hành đoàn phải bay mỗi ngày ít nhất hai phi vụ, thiệt hại cũng rất cao. Trong hai tháng 4 và 5-1972, chỉ tính riêng Phi đoàn 530 Thái Dương đã có 4 pilot tử nạn, 3 nhảy dù được trực thăng cứu thoát và 1 bị VC bắt, chuyện tàu bị đạn 12ly8, AK chỉ là “chuyện nhỏ”. Các phi đoàn khác như Bắc Đẩu 118, Sơn Dương 235, Lạc Long 229, Biệt đội Tản Thương 259 cũng bị nhiều thiệt hại.

Tri Ơn Ông Cố Vấn
Trong khoảng thời gian J.P. Vann là cố vấn cho QĐII, ông ta đã làm được nhiều việc, vừa làm công việc của một vị chỉ huy (một người dân sự với chức vụ chỉ huy ngang hàng với Tướng 2 sao), tham mưu cho QĐII, vừa làm nhiệm vụ của một cấp chỉ huy trực tiếp tại chiến trường, đôi khi ông ta lại trực tiếp chiến đấu với VC trên chiếc trực thăng OH-58A Kiowa, đây là chiếc trực thăng riêng do quân đội Mỹ dành riêng cho ông, trực thăng này được trang bị các phi cụ bay đêm tối tân nhất thời đó: Starlight scope (Dạ tinh viễn kính) và Infra Red (Hồng ngoại tuyến) và vũ khí là một khẩu đại liên M-60, một cây súng phóng lựu M-79. Ông Vann đã xông xáo bay khắp QĐII ngày đêm để chỉ huy các đơn vị quân đội Mỹ hổ trợ tích cực cho quân VNCH chống trả lại các cuộc tấn công điên cuồng của VC.
Chính ông cố vấn Vann đã trực tiếp đề nghị với TT Thiệu thay thế Tướng Dzu vì đã để mất 4 quận và một số đơn vị đồn bót của QLVNCH trực thuộc QĐII vào tay VC, lời đề nghị của ông đã được chấp thuận ngay trong buổi họp của BTL/QĐII. Ngày 15-5-72 Tướng Dzu ra đi và người thay thế ông là Tướng Nguyễn Văn Toàn (Quế tướng công).

Khi quân tử trả mối thâm thù
Người xưa có nói: “Kẻ tiểu nhân trả thù trong 3 ngày, nhưng người quân tử trả thù trong 3 năm”.
Và cái ngày ông Vann chờ đợi để gởi trả lại cho ông Bá Đạo cái đạp nhớ đời đã tới!

Hai Ngày sau khi Tướng Dzu ra đi, nửa đêm ngày 12-5-72, tiền đồn BenHet (Kontum) của Tiểu Đoàn 95, Liên Đoàn 22 BĐQ Biên Phòng bị Công quân bao vây, tấn công ác liệt. Tình hình rất nguy khốn vì VC tập trung một lực lượng bộ binh cấp trung đoàn+pháo binh hạng nặng yểm trợ hỏa tập cho từng đợt tấn công. Nếu không nhờ sự tiên liệu và sáng suốt của ông tiểu đoàn trưởng, khi về nhậm chức ông đã cho củng cố công sự phòng thủ rất kiên cố để chống pháo kích và tấn công thì chắc đơn vị của ông đã bị VC tràn ngập trong đêm rồi. Từ sáng sớm đã có máy bay 0-2 FAC của Mỹ từ Camp Holloway bay lên quần bao vùng hổ trợ cho tiểu đoàn BĐQ, nhưng do trần mây quá thấp, không thể dùng hỏa lực không yểm, O-2 FAC này chỉ có thể đề lô cho các FSB (Fire Support Base) bắn yểm trợ chặn bớt những đợt tấn công của VC mà thôi. Đến 1giờ trưa thì có O-2 Bắc Đẩu của PĐ118/KĐ72CT đến thay thế cho O-2 FAC của Mỹ. Tình hình thời thiết đã tốt hơn nên O-2 của PĐ118 đã gọi về Pleiku xin 1 phi tuần A-1 đánh bom theo đúng tọa độ mà O-2 FAC đã bàn giao lại, phi vụ này do Đại Uý N.H.M và Thiếu Uý N.N.H thuộc Phi Đoàn 530 thực hiện.

Nói là thời tiết tốt nhưng vì đang là mùa mưa trên cao nguyên nên các NT đã từng phục vụ ở vùng biên trấn hiểu rõ hơn ba tiếng “thời tiết tốt” này. Phi tuần A-1 này đã phải đánh bom xuyên mây, tôi còn nhớ trong một bài thơ tiếu lâm của một NT đăng trong Lý Tưởng trước 75 là mô tả: “Phòng không anh hổng thèm tránh; anh chỉ ngán đánh bom xuyên mây”, như vậy phi tác này rất nguy hiểm cho tính mạng của người phi công. Hai NT Thái Dương hôm đó, chẳng những không ngán mà còn đánh bom xuyên mây quá đẹp, quá chính xác ngay chóc mục tiêu do Bắc Đẩu 1118 đã chỉ điểm.
Đến chiều, từ bên BTL/QĐII điện sang KĐ72CT gọi hai ông Bá Chủ và Bá Đạo qua trình diện Tư Lệnh QĐII lập tức. Khi hai ông vô tới văn phòng của Tự Lệnh thì thấy có thêm ông cố vấn Vann đang chờ với bộ mặt vênh váo. Không đợi cho ông tư lệnh nói trước mà ông cố vấn tuyên bố ngay vô vấn đề là sẽ đưa hai ông Bá Chủ và Bá Đạo, hai anh pilot 530, hai anh pilot và quan sát viên 118 ra tòa án Quân Sự Mặt Trận QĐII vì tội: “Thiếu tinh thần trách nhiệm và tắc trách khi thi hành nhiệm vụ”; thay vì yểm trợ, hai máy bay khu trục A-1 của PĐ530 ban sáng đã đánh bom ngay vào đơn vị bạn, xoá sổ gần hết quân số của TĐ95 BĐQ Biên Phòng. Như để tăng thêm phần trầm trọng của những lời kết án này, ông cố vấn thảy lên bàn làm việc của Tư Lệnh QĐ một xấp hình chụp “hiện trường vụ án” do các biệt kích Delta nhảy xuống chiến trường chụp lại. Sau đó là những lời lẽ lên án Ông Bá Chủ và Bá Đạo của ông cố vấn Vann.
Nhưng khi trở về phòng HQCC của KĐ72CT phối kiểm lại, hai ông Bá Chủ và Bá Đạo thấy rõ ràng là FAC của KQVN đã nhận bàn giao mục tiêu địch và bạn từ 0-2 của FAC Mỹ, căn cứ theo đó cộng thêm sự chỉ điểm của đích thân ông TĐT/TĐ95BĐQ đã liên lạc trên tần số của máy PRC-25, nên các anh FAC KQVN đã chấm điểm cho khu trục oanh tạc, tại sao lại có chuyện đánh bom nhầm vào đơn vị bạn?
Gần cả tuần lễ, hai ông Bá Chủ và Bá Đạo, cùng các anh pilot PĐ530 và PĐ118 của phi vụ ngày hôm đó phải liên tục làm việc với An Ninh Quân Đội và Quân Pháp QĐII vì cú đánh nhầm chết người này. Nếu kết quả điều tra đúng là các anh đã “Thiếu tinh thần trách nhiệm và tắc trách khi thi hành ..v..v..” thì phen này các anh sẽ lãnh đòn trả thù của ông cố vấn Vann.

Sau đó, một cuộc họp được triệu tập tại QĐII dưới quyền chủ tọa của Tư Lệnh QĐ, sĩ quan Việt & Mỹ của BTL/QĐ, khi ông Vann bước vào phòng họp thì chưa có sự hiện diện của các sĩ quan KQ/KĐ72, ông Đại Tá, phó của Vann, thì thầm mấy câu vắn tắt cho Vann biết nội dung buổi họp, nghe xong ông cố vấn biến sắc và vội vã rời khỏi phòng họp, leo lên chiếc trực thăng riêng OH-58 và cất cánh mất dạng.
Khi hai ông Bá Chủ và Bá Đạo đến phòng họp, vừa an tọa thì Tướng tư lệnh QĐII vô đề: Vụ đánh bom nhầm, xóa sổ TĐ95BĐQ là hoàn toàn không đúng với sự thật; chính FAC của Mỹ đã tắc trách, bao vùng cả một buổi sáng mà không hề hay biết là Tiểu Đoàn 95 đã tự động tan hàng. Tiểu đoàn này có đến 95% quân số là người Thượng, họ thấy tình thế quá nguy hiểm nên đã cởi bỏ quân phục, đóng khố và chạy mất về buôn làng. Bọn chỉ huy VC thấy vậy liền cho quân của họ mặc quân phục này để giả dạng BĐQ âm mưu đánh úp các đơn vị khác của QLVNCH. Nhưng nhờ sự khôn khéo và kinh nghiệm chiến trường của vị TĐT/TĐ95BĐQ, ông đã dẫn trọn bộ chỉ huy của ông chạy thoát vô núi, và sau đó dùng máy truyền tin liên lạc với Bắc Đẩu 118, chỉ rõ mục tiêu cho Thái Dương 530 và kết quả là cả trăm tên VC đã bỏ mạng nhưng trên người mặc quân phục BĐQ. Gần một tuần sau đó, ông TĐT/TĐ95BĐQ đã về đến bộ chỉ huy Liên Đoàn 22BĐQ ở Pleiku và báo cáo trắng đen của sự việc.
Sau khi Tướng Tư Lệnh QĐII dứt lời, ông Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 72 CT Lê Bá Định xin phép cho ông được phát biểu bằng tiếng Mỹ với các cố vấn Mỹ, ông đã dùng tài hùng biện của mình, xỉ vả các cố vấn có liên quan đến việc đổ lỗi cho FAC của KQVN, cũng với mục đích là ông muốn nhắn gởi các lời xỉ vả này đến ông cố vấn Vann. Chấm dứt buổi họp, các cố vấn Mỹ chưa hề biết Trung Tá Lê Bá Định nên dò hỏi ông này là ai mà ổng dữ dằn qua vậy!

Chi tiết viết thêm: J.P. Vann đã bị tử nạn trong chuyến bay từ Pleiku đi Kontum trên chiếc máy bay OH-58 Kiowa của ông ta vào 9 giờ 20 đêm, ngày 9/6/1972. Theo kết quả điều tra thì viên phi công đã bị ảo giác (vertigo) vì bay thấp theo đường 14 và đã đụng phải ngọn cây gần đèo Chu Pao trong thời tiết rất xấu, trên phi cơ có ba người: Vann, pilot Lt. Ronald Doughtie và một Đại úy Bộ Binh tháp tùng đi Kontum, đúng ra người pilot kinh nghiệm và đắc dụng của Vann là Bob Richard nhưng ông này đã đi phép ở Bangkok và sau đó bị báo cáo vắng mặt không lý do, vì thế mà Vann đã chọn viên phi công mới Ronald Doughtie, mà chắc là chưa có nhiều kinh nghiệm cho kiểu bay bổng với Vann. Cuộc điều tra đã không hiểu vì sao Vann lại chọn lộ trình bay thấp và rất nguy hiểm khi bay ngay qua đèo Chu Pao, khu vực mà đang bị Cộng quân tạm chiếm trong thời tiết rất xấu mà đúng ra họ có thể liên lạc với USAF Ground Control Approach ở Kontum để được hướng dẫn bằng radar đến Kontum, vì sau phi cơ của Vann cũng có một chiếc trực thăng đã bay đáp an toàn tại Kontum bằng cách này. Còn phía VC thì họ rêu rao là đã bắn hạ được Vann, một kẻ thù nguy hiểm của họ.
Thi hài của J.P. Vann đã được bốc ngay sau đó và đã được đưa về Hoa Kỳ an táng tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington.

Ảnh của findagrave.

Raptor

Chuyện Hai Người Phi công VNCH và Bắc Việt

Posted by SVSQKQ  November 28, 2018

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Bài viết ghi lại theo lời kể của một SVSQ/KQ để nói lên sự tuyên truyền láo khoét và che lấp của người cộng sản Việt Nam. SVSQKQ • Ngày 11 tháng 4 năm 1975: Khóa chúng tôi gồm 15 người, là khóa phản lực đàn em cuối cùng của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa mãn khóa tại trường bay Webb AFB, Big Spring, TX
• Ngày 20 tháng 4-1975: Chuyến phi cơ hành khách PANAM 747 cuối cùng chở chúng tôi hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất trong khung cảnh nhốn nháo và lo âu hỗn độn của những người di tản rời Việt Nam.
• Ngày 21/4/1975: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc bài diễn văn từ chức tại Thượng Viện và tố cáo Mỹ đã bỏ và cúp viện trợ cho Việt Nam một cách vô trách nhiệm.
• Ngày 30/4/1975: Tân Tổng Thống Dương văn Minh lên đài phát thanh kêu gọi anh em quân nhân các cấp buông súng đầu hàng vô điều kiện.Cuộc đổi đời
Tháng 5/1975: Cộng sản kêu gọi các sĩ quan quân đội VNCH, từ cấp thiếu úy tới cấp tướng đi trình diện để học tập chỉ có 3 ngày rồi sau đó trở về lại với gia đình (sau này mới biết là đi học tập cải tạo mút chỉ, có khi tới 17..20 năm, có khi bị chết trong tù, hoặc bị tàn tật hay bị bệnh hậu, khi trở về thành phế nhân hoặc chết sớm), anh em Sĩ Quan VNCH bị gạt một cách dễ dàng. Đúng là câu“ Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm“.
Sau khi về nước, vì còn mang cấp bậc Sinh Viên Sĩ Quan nên tôi không bị đi cải tạo, chỉ đi trình diện ở địa phương và bị theo dõi chặt chẽ bởi lũ công an phường khóm.
Cuối năm 1975, tôi lập gia đình và vợ tôi quê ở Vĩnh Long, lên Sài Gòn ở với tôi nhưng vì mẹ chồng nàng dâu không thuận, nên bà xã tôi ở với tôi được vài tháng rồi trở về ở lại Vĩnh Long quê nàng ta, còn tôi thì ở lại Sài Gòn, cuối tuần thứ sáu thì về Vĩnh Long, rồi chiều chủ nhật thì đón xe đò lên Sài Gòn, y như lính đi nghỉ phép vậy.

Một ngày cuối tuần sau khi đi thăm bà xã ở Vĩnh Long, tôi mua vé xe đò để trở lên Sài Gòn (vì tôi hộ khẩu ở thành phố), tôi ngồi ở chặng giữa, ghế bìa sát cửa sổ, người ngồi kế bên tôi là một người đàn ông người Bắc, trông mập mạp và cao ráo, tuổi chừng khoảng 35-40. Xe đang chạy khoảng hơn nửa tiếng, tôi đang ngủ gà ngủ gục, lúc đó đang đeo chiếc nhẫn của Không Quân Mỹ (USAF) bên ngón tay phải (nhưng khi công an hay lính cộng sản xét giấy tờ thì tôi sẽ lật mặt chiếc nhẫn vô lòng bàn tay để giấu, giống như đeo nhẫn bình thường) thì người đàn ông ngồi kế tôi dùng cùi chỏ thúc vào hông tôi nhè nhẹ hỏi:
– Ê, có phải chú mày là “giặc lái“?
Tôi tỉnh dậy: 
– Sao chú biết?
– Tao nghe nói bọn giặc lái ngụy nó thường đeo chiếc nhẫn không quân Mỹ, vậy chắc chú mày là giặc lái phải không?
Tôi hỏi:
– Ủa vậy chú là…?
– Tao là “người lái” của Không Quân Nhân Dân.
– Ủa vậy chắc chú còn bay?
– Không, tao làm phó thường dân rồi, đâu còn bay bổng chi nữa.
– Ủa sao vậy chú? Trông chú còn trẻ, khỏe mạnh lắm mà?
– Tao bị đuổi ra khỏi đảng và bây giờ làm dân bình thường thôi.
– Thật vậy hả, tại sao vậy chú?
– Số là như vầy: 
Tao là người lái máy bay Mig-19, là máy bay phản lực 2 máy, giống máy bay A-37 hay F-5 của chú mày, nhưng nó không có khả năng không chiến mạnh như Mig-17 hay Mig -21 để đương đầu với phi cơ F-4 con ma của Mỹ, nhưng tao thích lên đấu với chiếc F một lẽ năm (F-105) của Mỹ, vì chiếc này nó to và bay nhanh. Chủ đích là mang bom nhiều ở dưới cánh và bụng, nhưng khả năng không chiến hoặc tự vệ rất yếu.
Một ngày kia khoảng trung tuần tháng sáu năm 1972, tao đang ngồi ở phòng trực tác chiến, thì nghe loa phóng thanh báo động: Có phi cơ F-105 của Mỹ ở hướng Đông Nam Hà Nội, có phi cơ địch, có phi cơ địch…! ! ! Tụi tao mừng lắm, vì nếu gặp F-105 thì hên lắm, còn thọ được. Chớ nếu gặp F-4 thì phiền lắm, thì coi như chết chắc, tới số! Mig-19 tụi tao không đủ sức độ với F-4 của Mỹ. Tao bay về hướng Đông Nam, hướng dẫn thẳng ra biển, trên cao độ khoảng 5000 mét, thì tao thấy nhiều đốm đen theo hướng hai giờ (hướng tay phải), nhìn rõ tao thấy toàn F-4, chớ đâu phải F-105. Tao lẩm bẩm chửi thề mẹ kiếp cái đài không lưu báo cáo loét, chết cha tao rồi… Tao chửi thề trong miệng, liền đẩy tay ga lên tối đa, bay thẳng lên trên cao thêm khoảng 7000-8000 mét, hy vọng trốn vào trong mây cho nó chắc ăn, nhưng tao đã lầm to: ít nhất có 30 chiếc F-4 bay giăng hàng ngang ở trên từng mây cao này, tao bay gần sát bọn nó, thậm chí còn thấy tụi Mỹ đội nón an toàn (helmet) thật rõ, tao liền kéo cần để nhảy dù ngay (eject/ bailout) liền tức tốc….
– Chú nhảy dù ??? Trời đất ???
– Chớ còn gì nữa, nếu chần chờ thì sẽ bị ăn cái hỏa tiển (sidewider) của nó là chết banh xác. Tao nhẩy dù ra bay lơ lửng trên trời xanh rồi từ từ hạ xuống, tao còn thấy chiếc Mig-19 của tao nó rớt xuống đất nổ tan tành với một cục lửa màu đỏ cam rất to, có vài chiếc F-4 của Mỹ nó bay vào vèo vèo bên tao, nó thấy tao nhưng nó không bắn, thật là tao rất có phúc…đại phước… Tao cũng nghe nói là bọn Mỹ rất anh hùng, nó không bao giờ bắn người ngã ngựa, kinh nghiệm trong thế chiến thứ hai. Tao rớt xuống một cánh rừng, bị vướng tòn ten trên một cây thật cao, nhưng may phước là thân hình tao còn nguyên, lành lặn không có gì bị thương cả, nhưng tao thấy ở dưới gốc cây có chừng khoảng 10 thằng du kích xã, hầu hết là mang súng trường SKZ và đứa nào cũng đang nhắm vào tao để muốn bắn chết tao, đứa đứng đứa ngồi.
Tao hét lên: Này đừng bắn, Không Quân Nhân Dân…Không Quân Nhân Dân !và đồng thời tao vỗ vào cánh vai trái bình bịch vào cụm tay tao có may lá cờ đỏ sao vàng to tổ bố để phân biệt là người lái phe ta với giặc Mỹ. Tao tiếp tục la thất thanh: “Ông là Không Quân Nhân Dân, Không Quân Nhân Dân đừng bắn !!! Đ. má đừng bắn!!! Tiếp theo tao nghe một tiếng súng nổ …Đoành! 
Tao mở mắt ra thì thấy đang nằm trên giường nhà thương, áo choàng màu trắng, chân phải tao đang bị băng bột treo lên cao và đang bị vô nước biển, cô y tá đứng bên giường nói:  Thưa đồng chí Thượng Úy, đồng chí đang nằm điều trị tại nhà thương Bạch Mai, Hà Nội.
Chừng khoảng nửa tiếng thì có phái đoàn vô thăm tao, dẫn đầu là một thượng tá là người lái xếp của tao và kế tiếp theo sau là các người lái Mig-17, Mig-21 vô để chúc mừng tao, nói là hôm ấy tao bắn hạ 3 chiếc F-4 và sau đó máy bay tao bị hết xăng, tao phải nhẩy dù ra và phi cơ địch đã bắn trúng chân phải của tao, họ cấp cho tao giấy khen là chiến sĩ anh hùng diệt máy bay Mỹ và truy thăng tao lên Đại Úy và nói là kể từ phút này vì bị thương tích nơi chân, nên tao không thể bay được nữa và họ đã dành cho tao một nhiệm sở mới đó là làm việc tại phòng huấn luyện, để giảng dạy dưới đất cho các học viên người lái. Tao rất buồn vì thú thật tao rất thích đi bay lắm, nhưng tao phải thầm cám ơn mấy thằng du kích xã vì nó bắn tao bị thương chân, nên bị loại ra khỏi đi bay, chớ nếu còn bay thì có ngày nát thây với bọn F-4….
Tôi hỏi tiếp: 
– Rồi sao hả chú?
– Tao làm việc tại phòng huấn luyện được vài năm, thì đến ngày 30-4-1975. Miền Bắc tấn công và chiếm miền Nam, tụi tao thì nói với nhau: Miền Nam thua vì bị thằng Mỹ bỏ rơi nửa chừng, tụi mình có đánh đâu mà thắng, còn miền Nam có đánh đâu mà thua.
Sau 30-4-1975, tao nhận được một lá thư từ trong Nam gởi tới nhà tao tại Hà Nội, trong thư nói là tao có một thằng em trai, nó đi vô Nam hồi năm 1955, sau này nó lớn lên tốt nghiệp ở trường Võ Bị Đà Lạt, rồi giữ chức Đại Úy nhảy dù, bây giờ nó đi cải tạo ở suối Máu, nhờ anh đó bảo lãnh ra dùm, dẫu sao cũng là anh em ruột thịt. Tao động lòng máu mủ, tao mới đứng ra điền đơn xin bảo lãnh cho thằng em ra trại.
Kết quả là thằng em không ra tù, mà tao lại bị chúng nó điều tra lại lý lịch, tụi nó nói là tao khai gian và che dấu có thằng em Mỹ ngụy ác ôn, rồi kể từ đó tao bị trục xuất ra khỏi đảng. Cho tao ra làm phó thường dân, tao xin về miền Nam ở nhà gia đình thằng em tại tỉnh Vĩnh Long này. Thứ nhất là tại vì tao thích ở trong Nam thoải mái hơn, thứ hai là thấy có cán bộ trong nhà tụi công an phường xã nó đỡ ăn hiếp gia đình em tao.
Sau khi ở miền Nam được vài tháng tao mới phát hiện được là trong Nam, thằng cha nông dân, thằng tài xế xe đò …còn có hai bà vợ lẽ, con gái miền Nam rất đẹp, khêu gợi, ăn mặc đều đẹp cả, ngay cả đi ngủ cũng mặc đồ ngủ riêng. Cái khổ miền Bắc là đàn bà chỉ được cấp một năm có hai bộ đồ, nó mặc hoài hôi rình, nhìn thấy mắc ói, chán lắm mày ơi! Thành thử giải phóng miền Nam đâu chưa thấy, chớ tao thấy là giải phóng tao trước.
Tuy nói vậy, cũng phải làm gì để kiếm ăn, tao thì đi đi về về Hà Nội – Sài Gòn bằng đường xe hỏa Bắc Nam, tao thấy trên tàu hỏa, người ta đi hầu hết là đi buôn, vậy mà họ sống rất khuây khỏa, đâu cần đi làm công nhân cho nhà nước suốt đời nghèo mạt, tao bèn nghĩ ra cái nghề đi buôn, mua đi bán lại. Miền Nam gọi nôm na là nghề chợ trời, ở trong Nam, tao đi mua xe đạp mini, xe đạp Pháp Peugeot 5 lip, xe gắn máy Honda, đồng hồ Seiko không người lái, có hai cửa sổ, mền nĩ US, mền dù lính, mùng ngủ lính Mỹ, máy may Singer, hộp quẹt Zippo, bột ngọt… đem ra ngoài Bắc bán, còn từ Bắc vô Nam thì tao chỉ mua đồ của Liên Sô, thuốc Tetra lon nhôm vàng Bulgary chống sốt rét, đại khái là mua một lời năm, sau một năm tao chỉ cần đi hai ba chuyến là đủ sống trong năm, đời sống rất thoải mái sung sướng, không còn giặc giã chết chóc, ăn cơm thì toàn độn thịt, chớ không độn bo bo, sướng thật vì sống bằng nghề đi buôn… Nói xong anh ta kéo hai tay áo lên, trên hai cánh tay đeo ít nhất là mười mấy cái đồng hồ Seiko và chiếc áo khoác bên ngoài thì có nhiều túi kéo chứa toàn là hộp quẹt Zippo, mặc giống như chiếc áo giáp.
– À quên nữa, thế chiếc nhẫn Không Quân mày đang đeo có định bán không, tao mua nó thật đấy!
Tôi trả lời:
– Chiếc nhẫn này của tôi quí lắm, là kỷ vật của tôi để kỷ niệm hồi học bay bên Mỹ, tôi không bán đâu.
Ông ta hỏi tiếp:
– À nghe nói bọn mày đi Mỹ học bay nó có cấp cho mỗi đứa một cái áo khoác màu xanh lá cây, bên trong có vải satin màu cam đẹp lắm, mày còn giữ không? Nếu có bán cho tao đi.
Tôi trả lời:
– Trong lúc loạn lạc, hồi miền Bắc mới chiếm miền Nam, tôi vất đi hết rồi đâu dám giữ, vì mình là dân „Mỹ ngụy. À chú đi buôn lên xuống như vậy có bị công an hay trạm xét làm khó dễ không?

Chú ta hể hả cười nói:
– Có gì đâu, hễ tụi nó xét, là tao rút túi ra tờ giấy chứng nhận liệt sĩ, anh hùng diệt máy bay Mỹ, là tụi nó cho qua tuốt, vả lại tao là cựu Đại Úy có giấy tờ chứng minh mà mày, tụi nó thấy là run rồi. Coi vậy có tờ giấy tùy thân mắc dịch này cũng có lúc được nhờ cậy, chưa kể buồn buồn tao đeo cái huy chương bác Hồ phi công anh hùng ở ngực áo là tụi nó phát khiếp…ha ha.


À tao thấy trong hình bọn giặc lái chú mày mặc đồ bay đẹp và trông oai quá, đồ bay gì mà toàn là giây kéo (zipper), ăn mặc khít khao, có khăn quàng cổ màu tím, màu cam, hông đeo súng cá nhân, dây nịt súng có đầy đạn tùm lum, mang dao, máy truyền tin, súng bắn cứu nguy (flare gun) áo lưới mưu sinh (survival vest), coi chằng quá, đội mũ vải xanh dương (calo) trong oai ghê, tao thấy còn mê, chắc mấy em trong Nam khoái mấy chú mày lắm phải không? Tao thấy thằng nào trông cũng bảnh trai hết?
Tôi trả lời:
– Thì đồ bay của chú cũng đẹp lắm mà?
Chú ta trả lời:
– Đẹp cái con khỉ khô, đồ bay mà của tụi tao mặc còn cài nút, mặc hai mảnh trên dưới, trông giống mấy thằng công nhân xí nghiệp chết mẹ, nhìn muốn mửa, còn lái Mig 17 giờ này còn mang nón bay bằng da (leather helmet), giống lính lái xe tăng vào đệ nhất thế chiến, trừ cái đám lái Mig 21 thì còn đội nón bay hao hao giống Mỹ, nhưng vẫn không đẹp bằng của Mỹ, còn mặt mày thì thằng nào trông cũng thấy ngố ngố, miệng hô hốc, vì tối ngày lo luyện bài chính trị Bác và Đảng, thì làm sao ga lăng được.

Nói ba hoa chích chòe, mà xe đã chạy tới Phú Lâm, xe đò chạy vô bến xe Xa Cảng miền Tây, có cả ngàn người đang lô nhô, bụi bặm, khói xe ngộp trời, xe ngừng tại bến, thấy chú ấy đang đợi các lơ xe thả xe đạp, máy may xuống. Tôi tình nguyện đứng giữ đồ cho chú ấy, bên cạnh chiếc cyclo máy đang nổ máy nghe xình xịch. Sau khi chất được hai chiếc xe đạp mini, một máy may, vài bịt hàng lỉnh kỉnh lên xe, chú ta đã ngồi gọn hẳn trong cyclo máy.
Chú ấy nói lần cuối:
– Bây giờ tao lên thành phố, đón tàu hỏa về Bắc, thôi tạm biệt chú em, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé, cám ơn đã giữ đồ cho tôi lúc nẫy, thôi mình đi nhe.
Tôi giơ tay lên chào theo kiểu nhà binh, chú ấy cũng chào lại y chang.
Tôi đón xe lam về Sài Gòn cư xá Nguyễn Thiện Thuật, trong lòng không bao giờ quên lại câu chuyện gặp lại anh phi công Mig Hà Nội này, trông cũng thật tội nghiệp. Đúng là đất nước mất, mất tất cả, cộng sản thà bắt giết lầm, chứ không tha lầm, đa nghi như Tào Tháo. Vậy mà cũng có người nhẹ dạ nghe theo, rồi chết ân hận.
Tôi rất hối hận không có dịp hỏi tên của anh ta. 

Chợ trời
Vào năm 1976, sau nước mất, tôi sống bằng nghề chợ trời (nghề chánh là làm việc cho hãng in (printing shop) trong thành phố nên không bị đi vùng kinh tế mới, nhưng đó là cái nghề để qua mắt công an phường khóm, chớ thật ra phải sống bằng nghề mua đi bán lại còn là gọi nghề chợ trời, khi thì buôn thuốc tây ở khu Huỳnh Thúc Kháng, Hàm Nghi. Khi thì đi mua bán vàng và đô la Mỹ ở khu Lê Thánh Tôn, thấy vậy mà sống rất phây phả, ung dung.
Một bữa kia vào đầu năm 1979. Tình cờ tôi gặp lại anh phi công Mig-19 Hà Nội (hồi gặp trên xe đò Sài Gòn-Vĩnh Long). Lúc này trông anh ta thấy khác ra, không khác người Sài Gòn, tuy hơi ốm nhưng trông rất khỏe. Anh ta đang lái chiếc xe gắn máy Honda 50cc kiểu đàn ông màu đen, ngồi sau xe là một cô cũng khá trẻ đẹp ngồi ôm eo ếch (thoạt tiên tôi tưởng là anh ta chạy xe ôm).
Tôi hỏi:
– Giời ơi trái đất tròn, bây giờ gặp lại chú, trông chú đẹp trai quá, chú còn nhớ tôi không?
– A thì ra anh…anh là phi công tôi gặp trên xe đò năm 1975 phải không?
– Đúng rồi đó, a còn cô ngồi ở phía sau là…?
– Bà xã mình đó.“ Anh ta dựng xe và nói tiếp:
– Bà ấy nguyên là vợ một Thiếu Tá phi công của chế độ Sài Gòn, đi học tập và chết trong trại cải tạo năm 1977. Sau đó bà ấy phải lam lũ khổ sở buôn bán chợ trời để nuôi hai đứa con nhỏ, có vài lần bị công an nó bắt, mình là bạn bè bán hàng với bà ấy. Tôi lên đồn công an xin nó thả bà ra và mình nói là bà con của mình và xin đặc biệt thả ra, chứ không nó bắt đầy đi vùng kinh tế mới, nhận bừa là bà con nó vừa nể mình là cựu cán bộ. Sau đó mình thấy tình cảnh đắng lòng mẹ góa con côi, còn tôi thì còn độc thân, vả lại làm ăn qua lại riết có cảm tình. Lấy nhau rồi tôi về nhà bà ấy ở khu đường Trương Minh Giảng, gần nhà thờ Ba Chuông (Sài Gòn) cho tiện. Buôn bán thì cũng tạm được, có điều lúc nào cũng cảm thấy bị rình rập bởi công an cộng sản, đất nước mang tiếng là Độc Lập – Tự Do, nhưng lúc nào cũng phập phòng lo sợ không biết bị bắt bất cứ lúc nào, vả lại thằng em Đại Úy Nhảy Dù đi học tập mới chết năm ngoái, còn ông chồng cũ của bà xã mình thì cũng chết trong trại tù ở Hoàng Liên Sơn (Bắc Việt), nên tôi buồn khổ lắm. Tôi không còn luyến tiếc ra miền Bắc nữa, chỉ ở trong Nam thôi.
– À chú mày có đường dây nào đi ra nước ngoài không? Chúng tôi không muốn sống sống ở đất nước này nữa!
Tôi nói:
– Nếu chú thím đi chui thì lỡ bị bắt thì rất là nguy hiểm, vì chú là chính gốc cán bộ, còn nếu đi theo kiểu bán chính thức, tức là theo kiểu người Hoa thì đường này thì nó tính mỗi đầu người là 7 cây vàng, nhưng nó chắc và an toàn hơn, nhưng nó sẽ đặt tên chú là tên Hoa kiều chớ không lấy tên Việt Nam
– Số tiền đó tụi này lo được, nhưng chú em biết tổ chức đó ở đâu không?
– Tôi cũng đang đi tìm, nếu có sẽ cho chú thím hay
– Nếu muốn gặp, thì vợ chồng tụi này hằng ngày ở đây. Chỗ quán nước mía cạnh cây cột đèn và sẽ thấy có chiếc Honda màu đen này, thì tụi này có mặt ở đó.
– Thôi tạm biệt chú và chúc chú thím may mắn.

Vượt Biên
Vào tháng 6/1979, vợ chồng chúng tôi đi vượt biển đường Vĩnh Long, ghe chở khoảng 300 người và sau một tuần lênh đênh trên biển thì đến đảo Tanjung Pinang, Indonesia. Cũng may là tàu đi vào tháng này biển rất êm và may mắn không gặp hải tặcThái Lan hoặc Mã Lai lộng hành, ở được hai tháng thì một ngày kia, tôi đang ở trại A đi qua khu trại B để thăm coi có ai quen không. Tình cờ tôi thấy một người đàn ông trông rất quen, anh ta đang sửa lại cái lều của mình.
Tôi hỏi đại:
– Chú còn nhớ tôi không, có phải chú lái Mig-19?
Chú đưa lên miệng một ngón tay:
– Này nói khẽ chứ, mình đây, sao chú em đến đảo này hồi nào. Tôi đi đường Bến Đáy ở Trà Vinh, tới đây vợ chồng chúng tôi ở trong lều này.
Tôi hỏi:
– Chú sắp được phỏng vấn bởi phái đoàn Mỹ chưa? à có điều này mình cần nói với chú là phải khai thành thật, không dấu diếm, phải khai báo sự thật về lý lịch cũ của chú nhé, đừng khai gian. Mỹ họ rất ghét ai nói láo, khai gian và nhớ khai đúng sự thật thì không bị trở ngại xin tỵ nạn theo diện chính trị (political asylum) nhé. Thôi chào chú thím và chúc may mắn.

Tuần lễ sau là ngày tôi được phái đoàn Mỹ kêu lên phỏng vấn, mình mừng hết cỡ, vì ở trại tỵ nạn tuy không có làm gì, nhưng ngày nó kéo dài đăng đẳng. Chỉ trông lên đường định cư qua Mỹ, rồi có đi làm cơ cực cũng chịu.
Phái đoàn Mỹ gồm có một ông Mỹ trắng già khoảng 50-60 tuổi, một cô Việt Nam (ở bên Mỹ qua) làm thông dịch viên và một người Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, râu rậm. Trông giống điệp viên Gestapo hay CIA với khuôn mặt rất lạnh lùng như pho tượng.
Nghe tôi học bay bên Mỹ mới về nước, ông Mỹ mang kiếng đen hỏi tôi bằng tiếng Mỹ:
–  What is your name and your serial number?
Tôi nói:
– Yes sir, my name is … and my serial number is…
Ông ta hỏi tiếp:
– Do you know how to fly T-37 and can you let me know how to start the engine?
Tôi bình tỉnh trả lời:
– Carburator switch on, throttle on, mixture to cold, prime switch to on, navigator light to on, ignition switch on and hold.
Ông ta hỏi tiếp:
– “What is the name of your jet engine and thrust?
Tôi trả lời:
– Each engine has 1025 lbs thrust, has two J-69-T engines
Tôi trả lời rành rẽ không lúng túng, không nói vấp vì đó là nghề củ của tôi mà (trong cuốn Dash 1 trước khi pre flight hay bị IP hỏi.)
Ông ta nói:
– Very good, now you can go and let us interview the next one
Tôi đứng dậy chào tay kiểu nhà binh rồi đi ra
Buổi chiều hôm đó, tôi gặp lại anh ta (Mig-19) ở khu giếng lấy nước, thấy anh ta đang khom lưng khệ nệ khiêng hai thùng nước về cho gia đình xài.
Tôi chận lại hỏi nhỏ:
– Sao bữa nay chú có được phái đoàn Mỹ phỏng vấn không?
– Có chứ, hú hồn hú vía
Tôi hỏi:
– Chú khai thật hết phải không?
– Vâng theo lời chú em tôi khai thật hết
– Họ hỏi gì?
– Có ông Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, có râu rậm, ông hỏi tôi bằng tiếng Việt. Trời đất ơi! ổng ta nói tiếng Việt theo giọng Bắc mới khiếp chứ
– Thế họ hỏi chú cái gì?
– Ổng Mỹ hỏi:“Nghe nói ông là người lái phi cơ Mig-19, xin ông cho biết, ông thuộc phi đoàn nào và căn cứ nào?”
Tôi trả lời:“Phi đoàn 925 tại Yên Bái, Bắc Việt”
Ông ta nói tiếp:“Anh học lái Mig-19 ở đâu?”
Tôi trả lời:“Tân Cương, Trung Quốc”
Ông ta hỏi tiếp:“ông có thể nói cho tôi biết cách đề (start) của phi cơ Mig-19?”
Tôi trả lời:“Đề máy như vầy…như vầy”
Ông ta hỏi tiếp:“Lý do nào mà ông muốn xin qua Mỹ?“
Tôi trả lời:“Tôi muốn ở thế giới Tự Do, tôi không thế nào sống dưới chế độ cộng sản. Tôi không thích cộng sản và tôi xin phép được tỵ nạn chính trị tại nước Mỹ”
Ông ta chỉ tay qua vợ con tôi hỏi: “Còn người đàn bà này là ai và hai đứa nhỏ này?”
Vợ tôi trả lời: “Tôi tên… và …tuổi, nghề nghiệp nội trợ. Chồng cũ tôi tên là…cấp bực Thiếu tá, lái phi cơ khu trục A1H, phi đoàn 518 đóng ở Biên Hòa. Lúc trước chồng tôi học bay T-28 ở tại Keesler, thành phố Biloxi, tiểu bang Mississippi, và đã chết trong tù cải tạo trại Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt năm 1977. Tôi có hai đứa con với ảnh, đứa con gái được 11 tuổi và đứa con trai 8 tuổi. Vào năm 1978, tôi lấy anh này và anh ấy là người rất tốt, đến năm 1979 chúng tôi vượt biển đến trại tỵ nạn này.
Ông Mỹ trả lời: “Cám ơn ông bà, hồ sơ phỏng vấn của ông bà đã xong, xin ông bà ra về. Chúng tôi sẽ điều tra và sẽ thông báo cho ông bà biết sau”
Chú ta trả lời:
– Chỉ vậy thôi, bây giờ mình như cá nằm trên thớt, không biết ra sao nữa. Có điều là vái trời là họ cho đi định cư bên Mỹ, đợi bao lâu cũng được, chớ đừng gởi trả về Việt Nam là chết bỏ mẹ.

Huyền diệu thay, một tháng sau gia đình tôi và gia đình anh ta được đi khám sức khỏe tại bệnh viện Tanjung Pinang và tuần sau thì lên thuyền đi Singapore để định cư bên Mỹ.
Gặp lại anh trên thuyền tôi hỏi:
-Chúc mừng chú và gia đình được đi Mỹ, à chú biết định cư ở tiểu bang nào không?
Anh ta trả lời:
– Mình được gia đình Mỹ bảo lãnh, sang định cư ở Newyork, còn anh đi tiểu bang nào vậy?
Tôi trả lời:
– Tôi được bảo lãnh về tiểu bang Cali, thôi xin gặp lại chú thím nhé
Anh ta trả lời:
– Cám ơn anh đã chỉ bảo cặn kẽ lúc phỏng vấn, thôi tụi mình đi nha, hẹn sớm gặp lại

20 Năm Sau: Little Saigon – California
20 năm sau tình cờ tôi gặp lại chị ở Little Saigon, con cái đều thành công và công ăn việc làm ổn định. Nhưng đổi lại với nét buồn trên khuôn mắt chị và tôi nhìn thấy trên bàn thờ hình ảnh hai vị phi công đã cất cánh bay cao, ở một nơi mãi mãi Tự Do, không có bóng dáng cộng sản đang từng ngày dày xéo trên quê hương Việt Nam bé nhỏ thân thương. 
Sau khi định cư ở Mỹ, tôi đi làm cho một hãng đóng máy bay F-16 ở tại San Diego được 20 năm. Một ngày cuối tuần năm 2000, vào trung tuần tháng 5, vợ chồng tôi rủ nhau đi lên Santa Ana để đi chợ Việt Nam mua thức ăn và nhân tiện ghé một nhà hàng bán phở tại khu Westminster. Chúng tôi vào nhà hàng ăn, vừa ngồi ghế xong, là có một người đàn bà, cầm menu đưa chúng tôi và hỏi:
– Thưa ông bà dùng chi và đây là thực đơn, xin ông bà lựa chọn món ăn
Tôi ngẩng lên nhìn và trông thấy bà này quen quen ở đâu nè, tuy nét mặt khoảng trên 50 tuổi nhưng nét đẹp vẫn còn đó. Tôi hỏi đại:
– Hình như bà chủ tên…lúc trước ở Sài Gòn, khu nhà thờ Ba Chuông thì phải?
Bà ta trả lời và mừng rỡ:
– A hình như đây là chú…mình hồi đó có làm ăn trên đường Lê Thánh Tôn
Tôi mừng quá nói:
– Đúng rồi! chính mình đây, ủa anh đâu rồi chị? anh khỏe không?
Bà ta sầm nét mặt và buồn rười rượi nói:
– Anh mất hơn hai năm rồi, anh bị đột quỵ (Stroke) khi đang ở trong bếp. Anh ấy đi làm technician trên 15 năm ở một hãng điện tử, thì xin về hồi hưu rồi để dành chút tiền để mở tiệm phở này. Tính ra hai vợ chồng già sống qua ngày, không phải đi làm vì hai đứa con đã lớn hết rồi. Con bé thì học ở UCI xong ra làm bác sĩ ở bệnh viện Fountain Valley, còn thằng con trai học xong ở UC Davis ra làm kỹ sư cho hãng Boeing ở Long Beach, tụi nó có gia đình hết rồi. Bây giờ anh ấy mất rồi, tôi buồn quá, cũng nhờ có công việc ở nhà hàng bề bộn nên thời giờ qua mau và bớt lo buồn. Bây giờ tôi có thờ linh cốt (Tro) anh ấy trong chùa Điều Ngự và thờ linh vị thì ở nhà và trong văn phòng nhỏ trong tiệm này. Chị dẫn chúng tôi vô văn phòng nhỏ của chị, trên tường có thờ hai linh vị của: Thiếu Tá Phi Công thuộc PĐ 518 và anh phi công Mig-19. Tôi đốt nén nhang lên khấn vái và kính chúc hai anh chóng siêu thoát lên cõi niết bàn. Hai anh đã cất cánh bay về miền viễn cực lạc, ở một nơi mãi mãi tự do, không còn khổ đau như trần thế. 
Chị nói: “Khi không anh em đánh giết lẫn nhau cũng vì ngoại bang, anh em cũng một nhà, cùng một nước, nói cùng ngôn ngữ vả lại có chiến tranh cũng vì ngoại bang gây ra, chị cầu mong cho đất nước mình, một ngày không còn cộng sản, có thể chế tự do dân chủ và không bao giờ có chiến tranh nữa.”

■ Cánh Thép Channel