Hạ nồng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

– Mang cho chú mấy trái ớt.

– Chưa đủ cay sao?

– Luôn tiện nhón thêm một hai múi chanh.

– Đòi hỏi nhiều thế!

– Nhớ nhé, ăn gần lưng bát rồi đây này.

Người xưng chú nói với đứa ngồi ghế bên cạnh:

– Đắc địa thành ra làm đày làm láo, trước vắng như chùa bà Đanh thì lễ độ khiêm cung. Bây giờ họ là thượng đế chứ không phải đứa vào gọi thức ăn. May mà cơm chửi phở quát ngoài đó chưa được trớn mang văn minh vào đây.

– Con nhỏ đó là gì của bà Ba? Sao nó xem thực khách chả ra kí lô nào cả.

– Nó là con của bả, con ngoài luồng. Bà Ba bán bún bò bị bạn bà bề bể bụng, buồn bã bệnh bốn bữa bèn bướm bay bên bụi bờ…

Tình ngay thì con bà Ba đâu có đứng không, nó tả xung hữu đột túi bụi lùng bùng. Bưng cái này dọn cái kia, lau chỗ này chùi chỗ nọ, ném đôi đũa vất cái muỗng, lòn lối kia chui ngả nọ. Xem ra mệt bá thở chớ không giỡn chơi. Hột nút áo bung hổng có thời giờ gài lại, tóc loạn rối chẳng rảnh tay cột tém. Chừng đâu ra đó rồi nó mới nhớ sực tới “hai thằng chả” ngồi trên ghế nhựa thấp kê sát trong vách.

– Chú người Huế à? Cay chi cay vô hậu, có hơn con nhồng, bảnh mắt đã xơi chục ớt hiểm mà chưa thấm béo!

– Ủa, bộ người vùng miền khác không ăn được ớt sao? Thà mà vào ăn phở cho cam, ăn bún bò bà Ba nấu thì buộc phải đi kèm chanh ớt. Không tin thử vô hỏi Mạ cho xem.

– Nhiều chuyện quá!

Đứa con gái chưa quay lưng được, bị thằng thanh niên ngồi bên “chú” nắm lấy cổ tay:

– Hai cà phê đen đá luôn nghen, em nhớ rộng bụng cho nhiều đường. Quán đông đúc vậy thì có cần người làm không em?

– Chi vậy? Đông là đông vậy chứ ở đây chưa thấy thiếu nhân lực.

– Chí ít cũng nên tìm người bảo vệ chớ.

– Buông tay ra cho tui chạy việc. Anh Bảy ơi, hai cà phê đen đá.

– Í, có anh chàng tên Bảy nữa sao cà? Thằng chả đứng đâu hổng thấy.

Theo trình tự xưa nay nó vốn thế. Ăn xong mới tới uống. Và vừa nhâm nhi chất đắng cà phê vừa thắp lửa điếu thuốc, thở khói gọi là cho bớt tanh miệng. Mọi công đoạn chiếm mất nửa ngày trời. Đúng ngọ, sau khi thanh toán tiền nong cho bà Ba xong, thằng thanh niên mới ra sân khởi động xe máy để thồ “chú” đi. Hắn không quên nói thật lòng: Em tên chi? Để nhận hồi âm từ con nhỏ chạy bàn, chẳng rõ có bao phần man khai: Tui tên Buôn Mê. Trời tên nghe hay lạ! Nếu có đụng hàng thì đụng duy với thành phố cao nguyên dấu đi chữ Thuộc. Buôn hay Ban? Bà Ba đẻ ra Buôn Mê ở chốn buồn muôn thuở đó sao? Rồi bà vác nó xuống núi dựng môn bài chuyên trị món đặc sản Bún Bò Giò Heo ngon nhức nách, thơm điếc lỗ mũi, cay xé cuống họng, giá rẻ gần bèo và e rằng Buôn Mê đang có chục mối thăm dò dạm hỏi. Ai rinh được nó về dinh hẵng sẽ ấm đời phu thê, bởi thế nào nó cũng được truyền thụ bí kíp võ công Bún Bò Chân Kinh. Cắc củm để dành tiền, kiếm tìm một mặt bằng thuận lợi để chính thức khai tử thương hiệu “Bà Ba bán bún bò bị bạn bè bề bể bụng”. Thằng thanh niên đơm mộng ước cùng “chú”. Sức vóc nhà ngươi đâu tá ngoại trừ đi tìm bọn bàng môn tả đạo, nghe giang hồ kháo gần cầu Nhị Thiên Đường có đứa chuyên bán bùa mê thuốc lú. Chỉ có thế hoạ may mày mới làm nó điên đảo thần hồn.

Danh xưng Nhị Thiên Đường cũng hay chi hay lạ! Thiên đường rậm rật lắm tai ương này luôn mộng cuồng tới thiên đường thứ hai. Mẹ nó chứ, mai nầy thế nào cũng xuất hiện hiệu dầu nóng Tam Thiên Đường. Nhị coi mòi sẽ quá tải, chúng sinh nương nhờ vào lối thoát khác cho khớp với lời bình: Quá tam ba bận. Nói chi xa xôi, thằng Việt kiều tên Bình đã gia hạn lần này là lần thứ ba, “chú” gọi thằng thanh niên mặt mày bặm trợn thồ đi để xem thử có trộ được nó không. Nó ở nhà nghỉ Đồng Khởi và chốn ấy nào xa lạ gì với kẻ quyết tâm đi đòi nợ.

Khứa Việt kiều quen ăn trắng mặt trơn, bơ thừa sữa cặn phương ấy tẩm bổ hình hài làm đỏ da thắm thịt, người Bình thơm hơn cả Đường Tăng dưới mũi của ma nữ chực xẻ thịt moi gan. Đường Tăng vượt ngàn gian khó để đi thỉnh kinh, xưa rồi diễm, bây chừ hổng biết Bình ấy bay ngàn trùng về đây để mần tích sự gì? Chưa ra cơm cháo ngô khoai gì sất nhưng ma đưa lối quỉ dẫn đường để sớm đụng mặt oan gia. Khi lôi thằng thanh niên đi, “chú” đã thông tin cho nó chuẩn bị tinh thần: Hơn chục năm trước thằng Bình này đã lừa tao 5 cây vàng đặt cọc. Nó vượt biển mình ên mà lọc lừa dấu nhẹm không ới gọi tao. Đời có vay có trả ân oán phân minh, mày nghĩ tao luận vậy có đúng không? Thằng thanh niên chẳng góp lời, chỉ vén áo cho “chú” thấy thịt da nát nhàu xăm trổ hàng chữ mực đen: Hận đời đen bạc. Thù này phải trả. “Chú” thêm: Thời buổi đó 5 lượng vàng rất chi là lớn, có thể mua được toàn bộ những thứ mà bà Ba bán bún bò đang sở hữu.

Nhà nghỉ Đồng Khởi luôn có mặt thằng bảo vệ ngồi ở gần cửa, cẩn tắc vô ưu “chú” gọi di động kêu Bình xuống đường “kiếm cái gì uống coi”, chẳng lẽ ông cứ mãi cố thủ trong phòng nội bất xuất ngoại bất nhập? Về thăm lại cố hương nhiều hạng mục ăn chơi sao lại đành lòng ru rú tự trói thân ngồi diện bích? Cách Đồng Khởi chừng trăm thước có quán nhậu Cho Em Xin nức tiếng món cháo lòng, bảo đảm không làm chột bụng đứa Việt kiều luôn sợ bị tiêu chảy. Bình đi ra nhăn nhó bởi nắng trưa. An tâm khỏi sợ xe đụng vì có hai thổ địa sánh đôi kềm kẹp đứa lỡ xa nhà “trông vật gì cũng lạ hoắc lạ hươ”. Đứa thanh niên than: Trời nực thấy mẹ! Mặt hắn tỉnh như ruồi khi than thở, chỉ là cái cớ để vén áo cho đứa bị dẫn đi trông ra con dao chặt thịt to chẳng kém Đồ Long đao đang dắt lưng. Ồ, hung khí nọ sao quen mắt quá. Thằng này đúng là diệu thủ thư sinh, chặt đầu tao đi nếu đoán sai, có phải mày vừa chôm nó ở quán bà Ba bán bún bò?

– Ăn cháo lòng không mậy?

– Chú ăn gì tui ăn nấy. Kêu cho tui chai bia, khát nước thấy mồ tổ.

– Cứ vô tư thư giãn đi, bị đứa trả tiền là thằng Bình này đó mà. Còn ai trồng khoai đất này!

– Thì năm xưa kẻ hèn này đã trồng khoai mà ông nhẫn tâm bứng nhổ nó đi, làm sạch cả giây mơ rễ má. Tôi đã thất điên bát đảo tìm ông như thể tìm chim, ông bay qua đế quốc mà tôi tìm ở Mỹ Tho.

– Tui có đi dọ giá, nếu coi đó là món nợ thì tui lỡ vay ông 850 đô. Thằng thanh niên chen vô:

– Thiệt là biết nói chơi. Việt kiều kiểu gì kỳ khôi thế. Trong đầu thằng dốt tính toán như tui cũng hiện lên con số 2000, chí ít.

– Không dám đâu.

– Có nghĩa là sao?

– Là hiện tại trong ruột tượng tui tom góp chỉ còn đúng 850. Nói láo cho bà vật.

– Cũng được thôi. Đưa đây, luôn cả cái iPhone 5 nằm trong túi áo.

– Đù mẹ. Việt kiều không quên chêm thêm chữ fuck. Chơi kiểu bức gân quá.

Thằng thanh niên cười gằn: Đẹp mơ màng rồi, đao kiếm nào đã bức xúc lộ hình đâu. Nó rời khỏi lưng quần thì nó bức cái đáng bức chứ bức gân mà nhằm nhò gì. Ngân hàng nhà nước quy định việc tính tiền lời cho người cả tin ký gửi, bọn này chưa nghĩ ra khoản đó thì nên mở cờ trong bụng.

Cháo chẳng thèm húp, chỉ nhai bộ lòng, khoắn cục huyết bầm, xơi khúc dồi trường, khới cái giò chảo quẩy rồi tợp hết chai bia. Ông Việt kiều ngồi so vai lệch ôm cái hoá đơn ghi 1 triệu 8 đổ mồ hôi dòm “chủ nợ” thong dong rút đi. Ta về ta tắm ao ta, chèn đét ơi nước đục bùn làm ngứa mình ngứa mẩy quá mạng! May mà hổm rày trúng cá độ bóng đá, chêm ấm đít một cục tiền xã hội chủ nghĩa chứ không thì chẳng biết đào đâu ra giấy bổi mà mua phương tiện khứ hồi lại chốn bồng lai. Nhưng nghĩ cho cùng thì quá giận. Chuyện xẩy ra từ đời tám hoánh nào mà sao có đứa còn nhớ chi ly từng tiểu tiết. Đã thế còn nghe đứa bần cùng nọ rao giảng về thứ triết lý chạy trời không khỏi nắng, lại xổ cả nho những hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Rõ là người ơi gặp gỡ làm chi, dân số ở địa phận này chứa tới 8 triệu mống, chưa ngó thấy ngực khủng với chân dài miên man đâu cả đã sớm đụng độ bọn đầu trâu mặt ngựa. Thật là oan ôi ông địa!

***

Bà Ba bán bún bò bày biện bình bông tươi đứng bên dĩa đựng nải chuối xanh lè. Không phải ba lùn, không phải chuối sứ, không luôn là chuối cau, hình dáng ngộ lắm kìa, e là chuối tiêu mọc trên cuộc đất hoang dã. Bà Ba biểu con bà thắp ba cây nhang cho ông Thổ địa. Buôn đông bán đắc vin nhờ vào thủ tục mỗi sớm mai mở hàng. Buôn Mê châm nước nếu ba cái ly nằm đó cạn khô. Hợp lẽ thì chắp tay trước ngực, mắt nhắm làm bộ tịch thành khẩn. Đến khi đồng tử mở ra thì thấy đứng sát bên mình là cậu thanh niên hôm nọ quyết hỏi tên mình cho bằng được. Trời đất, hú hồn, quá hơn con ông thổ địa. Làm gì mà hiện ra êm re vậy cha? Ừa, anh lợi trả em con dao hôm nọ vui tay nhét lưng quần. Anh lấy như kiểu muốn có một thứ kỷ niệm cùng em, nhưng nghĩ là nó “ấn tượng” quá nên đem hoàn lại chủ cũ. Cũng cần nên thưa với em là anh đã bỏ công mài nó thật bén, con ruồi bay ngang có thể chặt đứt làm hai.

Thay vì coi khinh dân chôm chỉa, đứa con gái cười: Đâu, thử biểu diễn coi, quán này nhiều ruồi quá chừng. Ủa, ông chú không lợi hả? Tìm gặp em thì nên ra đi trong cô đơn lẻ bóng, ấy là tâm trạng của đứa nhiều cảm xúc. Ủa, biết ca cải lương nữa sao? Ăn gì thì kêu, đòi ớt thì nói, cà phê thì nên gọi liền kẻo lát nữa chộn rộn khách khứa vô ra thét quên mất tiêu. Vũ như cẩn hay sao? Thì vô ra cũng thằng cha khi nãy, độc món bún bò chứ nào có bánh bèo bánh nậm mà kén cá chọn canh? Em biết đổ bánh bèo không Buôn Mê? Xời tưởng gì, dễ như ăn ớt. Quán xem ra đang có mòi thuận lợi sao không thử mần thêm đôi ba món khác cho giàu một thực đơn? Anh biết đổ bánh khoái bánh xèo nè, không ấy anh nguyện đổ mồ hôi ra phụ giúp em. Mạ em nói “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, trau dồi riêng một món mà tay nghề đạt tới tám phần hoả hầu thì lúc đó có muốn đuổi khách đi cũng không hết. Anh thấy bún bò chỗ này chưa đạt đạo sao? Bà Ba bán bánh bèo nghe cũng sướng cái lỗ tai vậy. Ăn riết có mỗi một thứ bún bò cũng dễ ngấy lắm. Vậy sao anh cứ giỏi chân tới ngồi chan lùa húp ngốn xì xụp suốt cả nửa ngày trời? Í, anh tới vì em chớ đâu màng cái nồi bốc khói kia. Ngó em cười thì ba ngày bụng đói meo cũng cam lòng. Thôi đi ông thánh, tránh chỗ cho con an tâm chu toàn việc sinh nhai. Mà cũng ngộ hén, chưa từng khai ra tên tuổi, mãi đứng ngoài sân mà mang âm mưu đi lần vô trong bếp! Em hỏi thì anh xin khai, anh tên Long, chỗ thân tình vẫn gọi là rồng đất.

Long chưa kéo ghế nhựa ngồi an vị, bún bò giò heo chưa mang ra, thinh không cái ngoài ngạch cửa có hai bạn dân hùng hổ đi vô, chẳng nói chẳng rằng xấn tới lấy thịt đè người quật ngã Long chúi nhủi xuống đất. Họ có sợi dây nhựa, đem ra cột hai cổ tay Long lại. Chặc cứng, thúc thủ. Bà con cô bác cứ vô tư ăn uống xem như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Một trong hai người biết môn kung fu uýnh lén nói, tên này can tội hăm doạ trấn lột tài sản vật dụng cá nhân của Việt kiều John Bình. Theo đơn khai báo, chúng tôi đã bỏ công theo dõi hắn đã hai hôm. Bà Ba bán bún bò có thể cung cấp thêm thông tin cho chúng tôi, vì không riêng Long tội phạm còn thêm đồng bọn khác.

Đồn công an nằm cách quán bún bình dân không thương hiệu của bà Ba đúng một ngã tư, đối diện tấm pa-nô hoành tráng: Quyết tâm theo đuổi kế hoạch 10 năm nhằm phấn đấu trở thành khu phố vệ sinh an toàn nhất tỉnh.

Đúng là thằng nầy không? Việt kiều John Bình gật đầu, rồi hỏi: Tên kia đâu? Đừng nóng. Tận tình tẩm quất thằng này thì lòi ra thằng kia thôi. Đã viết lá đơn cụ thể chưa? Chúng nó dùng thủ đoạn để cưỡng đoạt của anh bao nhiêu tiền? Hai ngàn đô. Được, anh vẫn đăng ký ở nhà nghỉ Đồng Khởi? Dạ, vẫn chỗ ấy. Được, chúng tôi sẽ liên hệ lại anh sau, chừng nào tóm được đối tượng kia. An tâm đi nhé. Thế mấy anh bắt tên này ở đâu? Đằng chỗ bà Ba bán bún bò. Tôi về được rồi ạ? Trước mắt là vậy, chúng tôi luôn ưu tiên giải quyết, đảm bảo sự an toàn cho Việt kiều về thăm quê hương.

Việt kiều Bình hỏi gã gát cổng. Không xa đâu, bác đi bộ non năm trăm thước là đến, phía lề phải đấy. Đi mới hai trăm đã nghe dậy mùi bún bò lẩn trốn trong gió. Không phô trương biển hiệu cũng đúng thôi, bởi ngay cả đứa mù lạc bước giữa bể trầm luân cũng ngửi ra mùi ấy để sáng mắt sáng lòng nhận biết đấy đích thị là món ăn nức tiếng cố đô phải chịu cảnh lang bạt bầm dập trôi nổi vào chốn lạ nước lạ cái này. Đầu tiên, Bình ngó ra thể hình “ngon cơm” năng động của đứa con gái phục vụ mời chào. Bình sửa giọng: Chuyện ăn uống tính sau nhé, tôi công tác đằng chỗ công an, vừa rồi họ có bắt đi một tên tội phạm. Hãy hợp tác với tôi nhé, chiếc xe máy của nó dựng ở đâu? Buôn Mê quan sát “chú công an”. Ngộ hén, chú này không Việt kiều thì chí ít phải làm cho bọn CIA chứ công an xứ ta đâu có khéo tu ba đời để được mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao đến vậy. Sếp cơ quan trực thuộc trung ương quen ngồi mát mà ăn bát vàng thì dễ nghe hơn, nhỉ? Vậy thì Long, tự rồng đất, chẳng lẽ đang mang âm mưu lật đổ chế độ siêu khủng? Chứ bắt một thằng ăn cắp vặt thì hà cớ gì lại nhờ tới “chiên da” hình sự tận đỉnh cao chế độ ra tay. Lợn cợn, chao đảo tâm tư chỉ trong sát na, bình thường người dân không ưa dây tới bọn chúng, Buôn Mê cũng thế, mình chưa cùi nên đành phải sợ hủi. Cô dong tay chỉ tới chiếc xe chính chủ, gia tài riêng của Long đất sở hữu. Tốt. May mà “chú” ấy chẳng ngứa miệng “thanh kiu ve ri mớt”. Dù gì chú cũng là “ma-dzê-in Vietnam”.

Người Mỹ gốc Việt dắt xe đi không khoan nhượng. Đi một thôi, dẫn một lèo sang biên giới quận khác, rồi dắt chiếc xế không người lái êm ru bà rù vào lọt cửa “Tiệm hớt tóc không tông-đơ”. Ma nữ hiện ra trong cảnh tranh tối tranh sáng, mắng yêu: Tuy mới đầu quân nhưng em có thể khẳng định rằng: Cả cuộc đời này thắp đuốc tìm không ra một Việt kiều lạ lùng như anh. Người ta ban lộc cho bá tánh không hết, có ai như anh lại soán đoạt tư trang hiện vật của bá tánh. Vào đây đi anh, có ưa soán đoạt cái ngàn vàng của em thì em nguyện nín khe mà mang anh đi từ a tới z. Việt kiều Bình lắp bắp: Anh muốn em kêu người luộc chiếc xế trước, xem thử được bao nhiêu rồi mình bày cuộc mây mưa sau, có ô kê không nè? Ba mươi giây, để em gọi vào di động xem sao. Theo em lượng định thì con xế này được khoảng hai triệu. Chuyện gì cũng còn có đó, nghe lời em, cứ vô tư thư giãn đi mà.

Bình nghe lời, vô tư thư giãn những mong tới bến. Nhưng bên quận sát nách nạn nhân Long đất vô tư khai báo thì bị ngay màn đánh phủ đầu thiếu đường giãn đứt giây thần kinh. Cường độ màn tẩm quất vui buồn nặng nhẹ tuỳ theo cách ăn nói của đứa đang hộc máu mồm: Thằng Việt kiều ấy man khai lếu láo coi thường lề luật nhà nước, nó dựng chuyện bị cưỡng đoạt tới hai ngàn đô la. Nó bôi trơn mấy trăm mỹ kim để các anh ra tay hành động bắt oan dân lành? Đù mẹ mày, ông uýnh cho bỏ mẹ. Cứ ăn nói linh tinh thì ông nhổ cho hết răng. Cơm không ưa xơi lại thích húp cháo.

Màn lấy khẩu cung chưa ra đầu ra đũa, nạn nhân mới bị rụng mất hai cái răng cửa, có nghĩa là dư sức xơi cơm thì hai ông thần đứng trong hoả lò buộc phải ngừng tay khi có một chú công an ló đầu vào: Báo cáo các anh là em mới đi tác nghiệp ở hiện trường về, theo lời khai của con bà Ba bán bún bò thì “có một chú đẹp giai nhất ngành công an”, mặc thường phục đã dẫn độ chiếc xe máy giá hơn 5 triệu đi mất. Long đất nghe thế liền chửi đổng: Đù mẹ thằng ác đức bất nhơn mưu mẹo khôn ranh dàn trời!

Song sắt đóng lại. Gạch đá đổ mồ hôi. Báo đài loan tin, do áp thấp nhiệt đới dồn dập, mưa lũ đe doạ Bắc bộ và Trung bộ, từ Thanh Hoá đến Quảng Trị có nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất. Hề, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, ở miền Nam này vẫn vô hại, vẫn xảy ra những cái chết do tự té, vẫn khởi thuỷ là nhất nhật mà hậu vận là thiên thu. Bức bối không riêng cho mỗi mùa hè mang lại trên xứ sở đang hiện mọc đặc khu.

Hồ Đình Nghiêm

Giải phóng, phỏng chuyện nóng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Tiêu Ban Lộ hùng cứ một phương, uy vũ lẫy lừng, thế thiên hành đạo chưa gây điều tiếng. Thủ pháp cao đến độ có thể chém được gió, đánh đuổi bọn bành trướng mang âm mưu trộn hoá chất hòng làm ngộ độc thực phẩm. Nóng, lạnh, nhức đầu sổ mũi, nôn oẹ hoặc ba mươi sáu chiêu gây phiền não đều được Tiêu Ban Lộ dẹp yên. Bá tánh an vui, dân tình êm ấm, tiếng lành vì thế toả rộng lây lan sang địa phương khác. Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ thảy là ngoa ngôn. Những kẻ sinh nhằm ngay long mạch ưa hoá mộng làm mình rồng minh quân cũng một dạ tâm đắc môn bài Tiêu Ban Lộ, thủ đắc lấy nó xem như bửu bối chẳng đoạn lìa khi muốn mưu cầu việc lớn. Dắt nó trong ruột tượng thì ngay cả vó ngựa cũng phi nhanh khi rong ruổi đường dài vượt suối leo non, chân cứng đá mềm.

Ngày kia, thuở trời đất nổi cơn gió bụi, heo may khí độc chẳng biết từ đâu tràn về làm lung lay nhuệ khí, làm chao đảo danh trấn giang hồ của bang phái Tiêu Ban Lộ. Cho hay trong hoàn hảo ngàn thứ vẫn có một khe hở bất toàn. Tự cổ chí kim giờ mới nhìn ra cảnh di tản, dân tình nhốn nháo bồng bế nhau đi, trang bị tâm thức của loài lông vũ: Đất lành chim đậu. Có đứa rỉ tai chốn kia mưa thuận gió hoà vì nơi trấn nhậm an ổn đã ba đời của minh chúa Nhị Thiên Đường. Đang thập tử nhất sanh, sắp về với hư vô, sắp dạo chơi vô minh xứ thiên đàng mà khẩn cầu Nhị Thiên Đường để trong uống ngoài thoa thì có thể cãi lời thần chết hòng cầm cự cuộc lữ đi cho hết chốn hồng trần. Ngàn lẻ một kế, chơi Nhị Thiên Đường là thượng sách!

Một rừng chẳng thể dung hai cọp, Tiêu Ban Lộ dậm chân tại chỗ mà ngửa mặt trách cao xanh, oán cuộc hý trường. Không ngẫm ra mình bất lực, tài hèn sức mọn mà một mực trách tha nhân: Ta không phụ người sao người nỡ phụ ta! Mang kinh tế thị trường để bàn luận thì nhìn ra luật cung và cầu. Nhị Thiên Đường làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm cọng thêm giờ nghỉ là thứ khoa học biện chứng. Ngôn ngữ đời thường kêu bằng “cháy hàng”, nhà nhà đều có cái lọ bé tẻo teo đựng dung dịch màu cánh gián cay nồng ấy, người người đều trước chê hôi nay khen thơm hít lấy hít để và trong thoáng mắt ngôi vị số một vũ lâm rơi vào tay Nhị Thiên Đường. Con trẻ muốn bơi như nhái thì đưa rốn cho chuồn chuồn cắn, người lớn đang bị Tào Tháo rượt đuổi thì cũng đè chỗ nhạy cảm ấy mà thoa chút Nhị Thiên Đường, cầm bằng như êm re tha hồ xơi của ngon vật lạ. Khi ngủ quên đóng cửa cài then thì ắt sẽ bị gió máy lọt vào, nào có hề gì: Em lột truồng ra đi, anh sẽ mang Nhị Thiên Đường mà xoa nắn ba vòng, ngửa một hồi thì em nằm sấp, anh nắm cái thìa để cạo gió cho em. Thấy chưa, đỏ rần rần rồi đây nè, độc tố trốn trong châu thân em sẽ bị dược thuỷ đánh thắng, khó khăn nào anh cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn tất. Có sướng không em? Sao nơi nào em cũng chảy nước? Hỏi vô duyên, miễn sao con người em chẳng khô hạn là tốt rồi, ông thánh ạ! Ông lang băm yêu dấu của em, người có đôi bàn tay cực nóng!

Ba cái bệnh lắc nhắc lan tràn cùng khắp, nó như theo gió cũng mon men ảnh hưởng thổi vào Sinh Địa Tự. Cao tăng trụ trì có buổi thuyết giảng cho đệ tử nghe: Nắng mưa là lẽ thường hằng của đất trời, như chúng sinh phải gặp bốn mùa sinh lão bệnh tử. Tiêu Ban Lộ hay Nhị Thiên Đường bất quá là phương thức nhằm gia giảm, biến phong ba thành gió nhẹ. Ta nghĩ người dùng đa phần nương nhờ vào niềm tin, vào tâm lý. Tâm mình ổn định thì tự khắc sẽ chế ngự được những vấn nạn giăng bủa. Đỉnh núi là đích tới, từ bình nguyên muốn kinh qua bao chướng ngại để đặt chân lên thì Chúa có lối đi khác Phật. Những người tu hành như chúng ta là phải dầm thân trong khốn khó, chẳng đánh rơi niềm tin hòng mưu cầu tìm ra lối đi bình an cho chúng sinh, hứng lấy đớn đau để nghiệm ra đâu là hạnh phúc. Trì chí trong sạn đạo để có khi bàn chân được đặt lên lối êm cỏ mượt. Ta từng đi hành hương khất thực ra miền trung, ngoài đó dân tình cũng mê đắm vào dầu tràm hoặc dầu khuynh diệp và họ cũng mặc nhiên xem đó là thứ dầu nóng, xức vào nhằm can qua lối đoạn trường. Suy ra, cùng một thứ tinh dầu nóng mà nơi này xem là lợi hại trong khi chốn kia lại chê bai không hợp tạng thì rõ là do tâm lý của người dùng. Ta nói vậy các người có thấu chăng? Hãy làm việc thiện, hãy tu tập giữ mình, hãy suy tưởng trong khi ăn lấy thực phẩm tự mình làm ra, hãy quán chiếu về mầm bệnh và thử chống cự lấy mà không cần đến Tiêu Ban Lộ hoặc Nhị Thiên Đường. Rồi một ngày kia khi ngồi diện bích trước mặt chúng ta chỉ còn duy một chữ “Ngộ”.

Chữ ngộ mà vị sư trụ trì chùa ấy luôn đề cao muôn đời chúng sinh không tài nào hiểu thấu. Phong ba lại nổi lên, hồng thuỷ lại ập tới, bể khổ chừng như chẳng còn biên giới, tiếng than van có thể xuyên thấu cao xanh, thế mới bày ra ca từ “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người”. Loài người, sinh vật hèn mọn đó lại thất điên bát đảo tìm đủ mọi cách để “phản bội tổ quốc”, thà “một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con” còn hơn mãi lần khân neo thân chốn vùng lầy nước đọng. Khẩu quyết của bọn thuyền nhân làm mềm lòng tứ hải giai huynh đệ. Từ tâm hiện hình, dang rộng tay, tấp vào đây đi người anh em, hãy cho tôi được làm chiếc lá lành để đùm bọc lấy phận lá rách.

Những chiếc lá rách ở chốn xưa mịt mù khổ luỵ đã được giải phóng khỏi những kềm kẹp bóc lột. Đầu óc họ bị tiêm nhiễm tàn dư chế độ độc hại, cứ mãi tương tư những Tiêu Ban Lộ, những Nhị Thiên Đường. Giang sơn thu về một mối và chúng sinh thôi lầm than nhờ vào một loại thần y độc cô cầu bại: Xuyên Tâm Liên. Nghe nhắc tới ba chữ ấy con nít lên ba cũng phải khóc thét. Con nít lên mười đi bán vé số thì hát hỏng: Nhị Thiên Đường là con đường xưa em đi, giờ đây đổi tên rồi, ngõ hồn dâng tái tê… Con nít lên mười lăm nhiễm phải vi-rút thi sĩ của cha ông, cà lăm ra thi phú hậu hiện đại:

“Xuyên Tâm đâm thấu Ban Lộ Thiên Đường,
Thư đi hải ngoại tỏ tường tâm huyết: gửi về trụ sinh.
Một là giúp má sống,
hai là tôm tươi siêu khủng hàng nóng,
ba ắt toàn gia xôm tụ chảnh một hạn kỳ.
Xuyên Tâm ơi hỡi Tâm Liên
mang xe thồ chị thôi điên chuột rầy”.

Có đứa hải ngoại vui chân về thăm lại cố hương, lòng vẫn nhớ lời thuyết giảng của cao tăng độ nào nên xiêu thân định vị tạt ngang ngôi chùa cũ. Xe ôm chạy lòng vòng ba chừng bảy đổi sau cùng “ngộ” ra: Chùa xưa đã bị đập phá, giải phóng mặt bằng dùng đất bán cho một tập đoàn kinh doanh người Trung quốc. Vị sư buồn đau vì sự cố nằm ngoài tầm đón ngộ nên trừng mắt mà quy thiên, ổng chết do một phần từ chối không chịu uống Xuyên Tâm Liên, khổ thế!

Vuông đất đã bặt tiếng “chuông gọi hồn ai” có bọn người mê muội đang hồ hởi gia công cố nới rộng phạm vi, bụi đỏ bay tán loạn cùng gió máy khoắn lấy chữ mạt pháp. Ông xe ôm cởi nón bảo vệ moi trong bọc áo ra lọ dầu Nhị Thiên Đường, có lẽ là hàng nhái, chấm ít giọt để thoa lên hai bên thái dương, ngứt lấy trán và xức luôn sau ót. Dầu cay tới độ sinh nổi nóng: Đù mẹ, thời buổi gì gió loạn muôn hướng chịu đời không thấu! Anh còn muốn đi những đâu để tui chở đi tham quan quyết không chặt chém. Việt kiều ưa chơi bảnh: Đau hả? Ghé tới quán cà phê Cô Chủ Mồ Côi tôi cho một viên Acetaminophene uống cho lại thần hồn. Máy xe hai bánh phun khói theo mồm miệng: Không đau cũng uống, nghe cái tên tiếng tây tiếng u cất lên đã thấy an tâm. Bà con với Aspirin hả anh? Aspirin là đồ cắc ké, thằng này là sư phụ đó cha, nó xuyên suốt châu thân. Đã bức xúc chưa?

Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 14 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Bài 21

Chuyện tình con gái Tư Sang

Ông Tư Sang nhà ở ấp Lung Lớn, xã An Bình, quận Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Ấp Lung Lớn, nghe cái tên, người ta có thể nghĩ tới cảnh hoang vu của nó. Lung là một vùng đất trũng, cây hoang, cỏ dại, lau, sậy, đế, ô-rô, cóc kèn mọc um tùm… Nhờ lung nầy ở bên cạnh con đường Rạch Giá – Hà Tiên, là liên tỉnh lộ 8-A, mặt sau là kinh cùng tên, vừa có nước ngọt, vừa tiện việc đi lại, nên dần dần, hết gia đình nầy tới gia đình khác dựng nhà ở đây, lập thành một xóm: Xóm Lung Lớn, rồi thành một ấp của xã An Bình. Tuy cùng một xã, nhưng so với các ấp khác như ấp Lò Bom, ấp Ngã Ba thì ấp nầy nằm cách xa ra về phía đông, cách trụ sở xã đóng ở ấp Lò Bom bằng một khu rừng hoang dài khoảng một cây số, trở thành một nơi khó kiểm soát. Do đó, dân tứ chiếng tụ về đây nhiều hơn: đào binh, trốn quân dịch, hồi chánh viên, cựu can phạm…

Ông Tư Sang là cựu can phạm.

Hạnh, 17 tuổi là con gái đầu, thứ hai – theo cách gọi trong Nam -, con của Tư Sang.

Một hôm, chợ Kiên Lương bỗng náo động lên vì một vụ đánh ghen. Hạnh bị vợ Năm Tho, từ Hà Tiên xuống đánh ghen. Vợ Năm Tho thủ sẵn một cái kéo, cắt hơn phân nửa mái tóc của Hạnh. Gây ra chuyện ồn ào, mất trật tự ở chợ, cả hai người đều bị bắt đem về cuộc Cảnh Sát xã An Bình phân xử, phạt vi cảnh rồi cho về.

Năm Hùng nói với tôi:

 _ “Việc nầy kỳ lắm! Ông biết không!? Thằng Năm Tho là du kích trong mật khu Trà Tiên. Ngoài nầy, con vợ Năm Tho đánh ghen con Hạnh. Việc nầy mình đừng xử, giao cho tụi nó kéo nhau vô trong bưng mà xử.”

Tôi nói:

_ “Dân của mình, mình xử. Sao lại giao cho Việt Cộng xử? Giao cho chúng nó xử là “mất mặt anh hùng” lắm, sao mình chịu được!”

Thấy việc kỳ cục, tôi gọi thiếu úy Kiệt xem lại đầu đuôi ra làm sao. Việc nầy có dính líu tới chính trị, đâu có phải chỉ là việc vi cảnh mà thôi.

Điều tra xong, Thiếu úy Kiệt nói với tôi:

_ “Thằng Năm Tho ở trong rừng. Con Hạnh vô ra quan hệ với Năm Tho nên con vợ Năm Tho ghen.”

_ “Vợ Năm Tho ở Hà Tiên, còn con Hạnh ở Kiên Lương, hai nơi khác nhau mà.” Tôi nói.

_ “Với tụi Việt Cộng đều cùng một huyện Hà Tiên hết. Vợ Năm Tho ở Hà Tiên, con Hạnh ở đây cũng vô ra quan hệ với Năm Tho cả. Tui ở đây phải thường liên lạc trao đổi tin tức với Hà Tiên thường xuyên là vì vậy.” Thiếu úy Kiệt giải thích.

Một lúc, ông ấy nói tiếp: “Đại úy nhớ vụ thằng Ba Xỉn không?”

_ “Nhớ”. Tôi trả lời.

Tôi không nhớ thằng Ba Xỉn tên thật là gì nhưng vì nó xỉn tối ngày nên dân người ta gọi nó là thằng Xỉn. Nó thứ ba, dân ấp Lò Bom.

Một hôm, có người báo cáo với Năm Hùng thằng Ba Xỉn theo Việt Cộng bấy lâu nay, cầm AK đứng gác không cho đồng bào đốn tràm. Nay, bỗng dưng thấy nó ngồi nhậu ở Chợ Tròn. Một mặt, Năm Hùng báo cho thiếu úy Kiệt biết, mặt khác tự mình anh chạy xe vô Chợ Tròn, dí súng bắt thằng Ba Xỉn đem về văn phòng.

Trung sĩ Thân, Ban 2 Chi khu, nghe bắt được tên du kích, bèn qua cảnh sát cùng lấy cung.

Té ra, có gì đâu!

Thằng Ba Xỉn ra hồi chánh ở Hà Tiên. Hà Tiên cho đi học ở Trung Tâm Chiêu Hồi Rạch Giá mà chẳng thông báo gì cho Kiên Lương, nơi gốc gác của thằng Ba Xỉn biết, nên Cảnh Sát Kiên Lương cứ đinh ninh thằng nầy còn làm du kích trong bưng. Ba Xỉn học xong, mãn khóa, trước khi nhập ngũ vì trong hạn tuổi “quân dịt quân gà”, xin giấy phép về thăm nhà. Nó chìa cái giấy phép về thăm nhà ra, ai nấy chưng hửng, coi như chụp được con ếch to.=

Nghe thiếu úy Kiệt nói con Hạnh con Tư Sang quan hệ với Năm Tho nên bị đánh ghen, tôi hỏi thiếu úy Kiệt:

_ “Cảnhh sát An Bình có hồ sơ gì con nhỏ nầy không?”

_ “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời.

_ “Bên anh có hồ sơ con nhỏ nầy không?” Tôi lại hỏi.

_ “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời.

_ “Bù trớt!” Tôi nói. Bắt con nhỏ đó, điều tra, xem nó làm gì ở trỏng.”

Thiếu úy Nguyễn Công Bạch, Trưởng Cuộc Cảnh Sát xã An Bình được lệnh xuống ấp Lung Lớn bắt con nhỏ, đem về giao cho thiếu úy Kiệt.

Khi con nhỏ Hạnh được đưa vào văn phòng thiếu úy Kiệt, tôi thấy buồn cười. Vì bị bắt bất thình lình, mái tóc chưa kẹp, bên dài, bên ngắn, đúng là vì bị vợ Năm Tho cắt mất một nửa. Con nhỏ khóc ròng, mặt mày xanh mét vì sợ.

Năm Hưng lấy lời khai Hạnh trong vòng hai tiếng là xong, đưa cho tôi xem, nói:

 _ “Việc gì ở ngoài nghe cũng dữ. Đi sâu vào trong, không những chỉ thấy mắc cười mà còn tội nghiệp!”

Tôi không nói gì vì chưa biết đầu đuôi. Thấy tập ghi lời khai con nhỏ Hạnh có kèm hồ sơ Tư Sang, tôi đọc hồ sơ Tư Sang trước.

Tư Sang nguyên sống ở xã Vàm Rầy (Đức Phương). “Trào” – tiếng y khai trong bản cung – Ngô Đình Diệm, y đi lính Bảo An, mấy năm, vì bệnh phổi, được giải ngũ.

Thấy vùng Lung Lớn dễ sinh sống, y dọn nhà về đó hồi nhà máy ximăng Hà Tiên khởi công xây dựng được ít lâu. Y kiếm miếng đất dựng cái nhà nhỏ ở cùng vợ con. Phía sau nhà, bờ kinh, y đặt một cái rớ nhỏ, lâu lâu, đạp rớ cất lên, kiếm ít cá, đủ loại: Cá chốt, cá linh, sặc rằng, cá lóc, v.v… Vừa để ăn, còn thừa làm mắm. Phía trước nhà, bên kia đường, y khẩn một đám đất hoang trồng rẫy, tùy theo mùa: cà, rau, bầu bí… Tuần vài lần, y đốn tràm, giao cho chủ vựa, lấy tiền mua gạo, sống qua ngày. Công việc của y có vợ và con gái lớn phụ trợ.

Năm nhà máy ximăng dự tính đào kinh lấy nước từ sông Hậu xuống, mới cắm cờ, cắm cọc thì ban đêm Việt Cộng ra phá bỏ, lại cấm dân vô đốn tràm. Tư Sang phải làm giao liên cho chúng: tiếp tế thuốc rê, bột ngọt, trà, gạo mới được chúng cho đốn tràm. Vì là đàn ông, lại từng đi lính Quốc gia, chúng bắt Tư Sang phải báo cáo tình hình lính tráng tới lui, hỗ trợ cho công trình xây dựng nhà máy ximăng.

Vậy rồi Tư Sang bị Quốc Gia tình nghi, bắt. Có gì Tư Sang khai nấy, không hỏi cũng khai. Người ta nói: Y thiệt thà quá.

“Thiệt thà là cha dại”, tục ngữ nói vậy. Sáu Lượng, trưởng chi Công an Quốc gia hồi ấy, muốn giúp cho Tư Sang bỏ bớt lời khai, nhất là phần y khai về việc báo cáo lính tráng tới lui di chuyển, cho được nhẹ tội, tha về. Nhưng Sáu Lượng chẳng thấy gia đình Tư Sang quà cáp chi. Nên, Sáu Lượng nói với Hai Ngộ, thẩm vấn viên: “Hơi đâu mà rước của nợ vào mình.” Tư Sang bị giải về tỉnh, lãnh án hai năm tù, đưa đi “trung tâm Cải Huấn Cần Thơ.”

Hai năm sau, Tư Sang về, trình diện Công An, lập hồ sơ là “cựu can phạm, cần theo dõi”. Có gì đâu mà “theo dõi”. Tư Sang chỉ muốn trở lại cuộc sống cũ nhưng không được. Hai năm ở tù, tuy không làm khổ sai, nhưng ăn uống thiếu thốn, cũng như không khí độc hại, bệnh cũ tái phát: Lại bệnh lao. Tưởng đã hết rồi, ai ngờ ngày càng nặng. Ở vùng quê xa xôi, mỗi lần muốn khám bệnh phải ra Rạch Giá, đi lại khó khăn: Ngày đi, ngày khám, ngày về. Lẹ nhứt cũng mất ba ngày, chưa kể đường đi có khi bị Việt Cộng cấm, bị đắp mô, chôn mìn. Vã, thuốc trụ sinh chữa bệnh lao giá mắt. Nhà nghèo như Tư Sang làm sao mua nỗi. Bệnh cứ để vậy, dần dà, ngày càng nặng.

Ba năm nay, khi con nhỏ Hạnh ngày càng lớn thì bệnh Tư Sang lại nặng hơn. Vợ Tư Sang không khéo xoay xở, con nhỏ Hạnh phải xông xáo giúp cha mẹ, nuôi em.

Nó dựng một cái chái nhỏ bên hông nhà, buổi sáng dậy sớm, nấu cà phê bán cho chòm xóm.

Các ông già, bà già người Nam ở thôn quê có cái thú uống cà phê buổi sáng, khi mặt trời chưa lên, mùa đông cũng như mùa hè. Họ tới quán, ngồi kiểu nước lụt, vừa uống càphê vừa chuyện trò trên trời dưới đất, chờ trời sáng hẵn thì cánh đàn ông lội vô ruộng, làm đồng, bắt cá. Đi sớm, họ sợ bị trực thăng bắn lầm. Còn mấy bà thì về nhà lo việc nhà.

Sau khi khách ra về, con Hạnh đem dao, rựa xuống xuồng chèo vô rừng đốn tràm. Tràm bán có tiền hơn hết nên ngày nào nó cũng đi đốn tràm. Gặp may, việc xong sớm, cỡ hai ba giờ chiều nó vế tới nhà.

Được một thời gian, con nhỏ Hạnh hốt hụi mở một tiệm chạp phô nhỏ, giao mẹ trông coi, còn nó cứ công việc cũ mà làm. Nhờ có con gái giỏi giang, Tư Sang phá cái nhà lá cũ, dựng cái nhà mới, vách gạch, lợp “tôn”. Ai cũng khen con gái Tư Sang.

Thế rồi việc đánh ghen xảy ra. Bấy giờ người ta mới biết kể từ năm trước, nó có quan hệ với Năm Tho, du kích trong rừng. Theo lời khai của nó, ban đầu, Năm Tho cho nó nhiều ưu tiên. Trong khi dân chúng bị đuổi về, không ai được đốn tràm thì nó được đốn tự do. Tới mùa nước ròng, cá gom lại trong các đìa, không ai được bắt thì nó chỉ cần giao thùng thiếc cho Năm Tho. Năm Tho bắt cá, bỏ vào thùng, giao cho nó đem về bán. Năm Tho không bắt nó tiếp tế gì cho Năm Tho cả. Thuốc hút, thuốc thơm, càphê, xàbông, kem đánh răng, vợ Năm Tho ở Hà Tiên tiếp tế đủ.

Vậy Năm Tho cần gì nơi con Hạnh?

Nó cần con Hạnh ngủ với nó.

Hạnh khai:

_ “Cháu không chịu. Năm Tho có vợ rồi. Với lại, ai đi lấy du kích Việt Cộng làm chồng. Lính tráng Quốc Gia thiếu chi, ông nào cũng đẹp, ông nào cũng oai. Tại sao lấy thằng du kích. Hễ Quốc Gia hành quân vô, nó lủi như trạch.”

Năm Hưng cười, cười:

_ “Cháu nói Quốc Gia oai hơn, như ai chẳng hạn?”

Con Hạnh ngập ngừng một lúc, bẽn lẽn nói:

_ “Như thiếu úy Sơn chẳng hạn.”

Năm Hưng cười ha hả:

_ “Té ra cháu mê ông thiếu úy Sơn. Liệu có địch nổi với cả chục con gái Kiên Lương không? Ở đây cả chục con mê ông Sơn, ông ấy vừa trẻ, vừa đẹp trai. Con gái nào mà không mê?”

Chuyện Năm Hưng nói là chuyện thực. Thiếu úy Sơn có số đào hoa.

Cuối cùng, Năm Tho dùng sức mạnh hiếp nó. Giữa chốn rừng tràm hoang vu, con Hạnh kêu cứu ai được?! Thế rồi ăn quen bén màu, Năm Tho cứ làm tới hoài, con Hạnh cũng thúc thủ hoài.

Khi tôi đọc xong hồ sơ thì thiếu úy Kiệt với Năm Hưng vừa vào phòng tôi. Tôi hỏi:

_ “Anh Năm, anh có tin con Hạnh bị hiếp không?”

_ “Tin chớ ông. Tui viết cung không hay nhưng khi kể tới đoạn đó, nó khóc dữ lắm.”

_ “Bộ nước mắt cá sấu?” Tôi nói.

 Năm Hưng vẫn khăng khăng:

_ “Tui nghĩ không phải đâu. Con gái như nó sao chịu thằng Năm Tho được. Cỡ như nó phải kiếm một ông nào cho ngon lành hơn chớ. Tuổi đó, đứa nào cũng mơ uớc một thần tượng nào đó chớ!”

_ “Theo đây thì thần tượng nó là thiếu úy Sơn chớ gì!” Tôi nói. “Nó không nghĩ rằng nó trèo cao hay sao?”

_ “Mấy con nhỏ cặp bồ với ông Sơn thua nó nhiều. Nó đẹp hơn đó chớ!”

_ “Nó đẹp thiệt.” Thiếu úy Kiệt tán đồng. “Nó có yêu ông Sơn cũng không có chi lạ.”

_ “Đẹp mà tàn đời với thằng Nam Tho. Uổng thiệt! Vậy là xong đời một đóa tràm Trà Tiên.” Thiếu úy Kiệt vừa cười vừa nói.

Tôi sực nhớ chuyện hồi còn học ở Quốc Học, vì câu chuyện cô Trà Mi, học cùng lớp lấy chồng nên có anh bạn lên bảng đen viết hai câu Kiều. Tôi đọc hai câu Kiều đó cho hai người kia nghe:

Tiếc thay một đóa trà mi

Con ong đã tỏ đường đi lối về!

Khi viết hai câu đó lên bảng đen, người bạn mở đóng ngoặc kép hai chữ “con ong”, khiến các cô bạn cùng lớp ai cũng đỏ mặt. Nghe kể chuyện đó, Năm Hưng nói đùa: “Không biết con ong Việt Cộng với con ong Quốc Gia, con nào con Hạnh chịu hơn!

Sáng hôm sau, tôi thức dậy, đang ngồi uống trà thì thượng sĩ Năm Huê tới. Năm Huê làm phó cho thiếu úy Sơn. Ông ta mời tôi đi ăn sáng.

Tôi lái xe, Năm Huê ngồi bên cạnh, nói:

_ “Thiếu úy Sơn đang chờ tui với ông ở chợ Tròn.”

_ “Sao nó không tới tui?” Tôi hỏi.

_ “Ông ta sợ!” Năm Huê nói.

_ “Sợ gì?” Tôi hỏi.

_ “Bữa nay, ông ta muốn xin tha cho con Hạnh nhưng sợ, không dám nói với ông. Nhờ tôi mời ông đi ăn sáng, nói giùm.” Năm Huê giải thích.

Vừa ngồi xuống bên cạnh cái bàn tròn, tôi cự nự ngay thiếu úy Sơn:

_ “Hôm ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá, chú mầy đã dắt một lô con gái ra ngoài đó. Bữa nay lại léng phéng với con Việt Cộng nầy. Bộ muốn đi Hiếu Lễ hả?” (1)

Thiếu úy Sơn than vãn:

_ “Tại vì ông Tư Sang năn nỉ quá, em không cầm lòng được, chớ có phải em có gì với con Hạnh đâu. Tư Sang bệnh phổi tới thời kỳ thứ ba. Vợ Tư Sang thì vụng lắm, không có con Hạnh, bả không giữ được cái quán chạp phô. Con Hạnh ở tù thì coi như nhà đó đói.”

_ “Còn việc ông dắt mấy con nhỏ đi Rạch Giá thì sao?” Tôi vừa hỏi vừa cười.

_ “Một con cũng đã chết em, những mấy con thì làm gì nỗi! Hôm ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá, xã trưởng kêu gọi đảng viên Dân Chủ đi cho đông để lấy điểm, can chi tới em đâu!”

_ “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”. (2) Ông có biết câu thơ đó không? Châu U Vương cũng vì Bao Tự mà chết, Ngô Phù Sai cũng vì Tây Thi mà tiêu đời. Ông liệu cặp bồ cho lắm, không bị Việt Cộng giết thì có ngày bị Quốc gia cho vô tù lãng nhách.” Tôi cảnh cáo thiếu úy Sơn. Kể cho anh ta nghe câu chuyện cũ:

Hồi ở Gò Công tôi nghe kể có anh Cảnh Sát Dã Chiến theo một con nhỏ rủ về ấp của nó. Anh ta đi ba ngày không về. Thiếu úy trung đội trưởng dẫn lính đi tìm. Tới nhà con nhỏ thì thấy anh Cảnh Sát Dã Chiến bị trói vào gốc so đũa, bị bắn chết đã ba ngày, kiến bò lên cắn hư cả mắt mũi. Tìm con nhỏ thì nó đã vượt sông cửa Tiểu qua Thượng Đức rồi.

Ăn sáng xong, tôi họp nội bộ: Trưởng ban Tư Pháp, trưởng ban U-1 (Kế hoạch), U-2 (sưu tầm tin tức Việt Cộng), U-3 điều tra, để giải quyết việc con Hạnh.

Thiếu úy Kiệt nói:

_ “Nó còn vị thành niên, giải về Rạch Giá, ngoài đó khó giải quyết, tui lại bị rầy!”

_ “Gọi Tư Sang lên làm giấy bảo lãnh cho nó về. Thiếu úy Kiệt báo cho quận Long biết kẻo bên đó họ nghi ngờ mình tự ý giải quyết là có ý đồ bậy bạ.”

Buổi chiều, khi Tư Sang lên tới, tôi đang ngồi nói chuyện chơi với quận Long trong văn phòng. Thấy y vào, tôi mời ngồi, nói:

_ “Tôi báo cáo với ông quận rồi, ổng đồng ý. Để Bảy Hùng làm giấy tờ xong, ông ký tên rồi đem con gái ông về.”

Một lúc, tôi nói:

_ “Hết cha làm Việt Cộng tới con làm Việt Cộng. Bộ cha con ông không muốn ở yên hay sao vậy? Quốc Gia muốn dân được yên ổn làm ăn mà.”

Tư Sang than:

_ “Khổ lắm ông, họ bắt ép hay lắm, không làm cũng không được.”

_ “Ông nói vậy chớ mấy người không làm giao liên cho Việt Cộng thì chết đói cả hay sao? Tự cha con ông muốn, tự mình tham mà ra chớ!” Giọng tôi hơi giận dữ.

Tư Sang nói:

_ “Dạ thưa, ông nói vậy thì tui hay vậy, chớ ai mà không đốn được tràm, không bắt được cá thì đói lắm. Với lại họ tuyên truyền nghe hay lắm, làm như mình tưởng là thiệt vậy.”

_ “Họ tuyên truyền cái gì mà hay, ông Tư nói thử coi.” Tôi hỏi.

_ “Dạ, họ nói giúp “cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Nước mình rừng vàng biển bạc nên Mỹ đem quân qua cướp lấy.” Tư Sang giải thích.

_ “Rừng vàng biển bạc” là cái gì? Là mấy con cá phân (3) ở ngoài hòn Ngang, hòn Heo. Rừng vàng là rừng Trà Tiên nầy chắc? Phải không?” Tôi hỏi.

_ “Dạ, họ nói vậy đó. Trà Tiên gỗ to nhiều lắm, lại vô số tổ ong, lấy mật.”  Tư Sang xác nhận.

Tôi cười to:

_ “Tui nói thiệt với ông Tư, tụi Mỹ nó chẳng thèm gì cái rừng tràm nầy đâu. Ngay cả vùng châu thổ sông Cửu Long nầy nó cũng chẳng thèm. Ông có biết lưu vực sông Mississippi của nó rộng lớn như thế nào không? Tụi Mỹ gieo hạt bằng máy, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay, gặt có máy kéo. Tụi nó thèm gì cái rẫy của ông Tư ở Lung Lớn mà tụi nó đem quân qua đây, để ông gọi nó là “đế quốc Mỹ xâm lược”. “Ếch ngồi đáy giếng”. Cả cái đám chóp bu Việt Cộng cũng chỉ là đám ếch ngồi đáy giếng. Nói Mỹ xâm lược nước ta vì mấy đám ruộng phèn ở Kiên Giang nầy thì buồn cười quá! Ông Tư nói ra, người ta cười cho thúi đầu!”

Bực mình, tôi “chưởi” Tư Sang một hơi như vậy cho đã!

Chuyện về sau, nghe kể lại:

            Ngày 30 tháng Tư năm 1975, Đại tướng Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng, Việt Cộng ra tiếp thu. Năm Tho nhân cơ hội nầy, bắn chết thiếu úy Sơn ở đầu cầu Lung Lớn. Mấy năm sau, con Hạnh đưa người đi vượt biên rồi đi luôn qua Mỹ. Năm nó làm Việt kiều hồi hương, mặc dù đã có chồng, có con, nó vẫn còn ra đầu cầu Lung Lớn, chỗ thiếu úy Sơn bị bắn, thắp nhang cho anh ta và khóc. Có lẽ ngoài việc nó yêu thầm anh ấy, nó còn mang ơn thiếu úy Sơn đã xin cho nó ra khỏi tù hồi năm ấy.

            (1) Quận Hiếu Lễ, tỉnh Kiên Giang, giáp với tỉnh Chương Thiện. Hiếu Lễ là cửa ngõ ngăn chận Việt Cộng xuất nhập mật khu U-Minh, mất an ninh. Nhân viên chính quyền, ai có lỗi, thường bị “đày” đi Hiếu Lễ, cũng có khi đi không về.

            (2) Lúc Nguyễn Giản Thanh còn đi học, thầy học là Đàm Thuận Huy, thấy học trò sắp ra về thì trời đổ mưa to, học trò không về được, thầy bèn ra vế đối để thử tài học trò:

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách

(Mưa không có then khóa mà có thể giữ được khách).

Nguyễn Giản Thanh liền đối lại là:

Sắc bất ba đào dị nịch nhân (Sắc đẹp của phụ nữ, không phải là làn sóng nổi, nhưng dễ nhận chìm người).

Thầy Đàm Thuận Huy nói:

Câu đối này thật hay và thật chỉnh, văn khí này có thể đậu Trạng nguyên, nhưng về sau coi chừng việc sắc dục làm hại sự nghiệp.

Tương truyền, Nguyễn Giản Thanh, người làng Me, chỉ đậu bảng nhãn còn Hứa Tam Tỉnh, làng Ngọt, đậu trạng nguyên. Trong buổi lễ ra mắt vua, các tân khoa phải làm một bài phú dâng tặng vua và hoàng thái hậu. Hoàng thái hậu thấy Hứa Tam Tỉnh dung mạo xấu xí thì không ưng lắm, trong khi đó Nguyễn Giản Thanh khuôn mặt khôi ngô thanh tú nên bà muốn cân nhắc ông lên làm trạng nguyên. Vua vì muốn chiều lòng mẹ nên đánh giá bài phú của Nguyễn Giản Thanh cao hơn và trao danh hiệu trạng nguyên cho ông. Do đó dân gian có câu Trạng Me đè trạng Ngọt. (Theo WikiVN)

            (3) Loại cá nhỏ, thường dùng làm phân, nên gọi là cá phân.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 13Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Bài 20

Tổ hợp Lò Vôi

Kể chuyện ông chín Vĩnh tôi phải nói luôn về Tổ Hợp Lò Vôi, hay văn vẽ hơn Tổ Hợp Sản Xuất Vôi của quận Kiên Lương. Công việc làm ăn chính của ông là sản xuất vôi nên nó có liên hệ đến tổ hợp nầy. Ngoài ra, ông Chín còn là chủ cây xăng, thầu cung cấp đất cát cho nhà máy ximăng Hà Tiên với số lượng lớn. Trúng thầu các vụ nầy, ông kiếm tiền khá bộn. Không biết ông ta gốc gác ở đâu, về làm ăn ở Kiên Lương từ 1962. Mười năm sau, ông trở thành triệu phú.

Vùng Kiên Lương có nhiều núi đá vôi. Bên kia kinh (Ngã Ba – Ba Hòn) là núi Còm, bên nầy là thị trấn Kiên Lương. Thị trấn Kiên Lương tức quận lỵ Kiên Lương mới thành lập, sau khi quận Kiên Lương lập ra dưới thời Ngô Đình Diệm. Chính quyền Ngô Đình Diệm cho thành lập quận nầy vì đây là nơi dựng nhà máy ximăng Hà Tiên. Cơ quan hành chánh trung ương thì ở Saigon, trên đường Võ Di Nguy, nhà máy ximăng Hà Tiên ở Thủ Đức thì xay và vô bao. Nhà máy Kiên Lương có nhiệm vụ lấy đá ở núi Còm, đưa vào lò vôi đốt, trộn với đất sét, xay thành clinker, một dạng ximăng nhưng hột còn to – lớn nhứt là bằng hột bắp. Clinker được chở lên Thủ Đức bằng xà-lan. Nhà máy trên đó tiếp tục công trình sản xuất.

Ngoài núi Còm là núi lớn nhứt, xã An Hòa có núi Trầu, lớn thứ hai, đang được nhà máy ximăng Hà Tiên nghiên cứu và sẽ khai thác trong thời gian tới. Ngoài ra, quanh vùng nầy, xa một chút hay gần thị trấn Kiên Lương hơn, có núi Nai, núi Mo-So, v.v… đều là núi đá vôi cả.

Về nhà máy Kiên Lương, về núi Trầu, núi Nai, tôi sẽ kể thêm về sau.

Từ trước 1945, người dân ở đây, nhứt là ở xã An-Hòa, xã nằm quanh khu vực núi Trầu, người dân đã biết khai thác đá vôi, lấy về đốt thành vôi. Vôi ở đây có loại màu hơi đỏ, dùng để ăn trầu được người ăn trầu khen ngon. Phần nhiều dùng để làm vôi quét tường. Dĩ nhiên, thị trường tiêu thụ vôi là ở Saigon hay Cần Thơ, các thành phố lớn.

Số người làm chủ lò vôi ngày càng đông, số lượng sản xuất ngày càng nhiều, nhất là sau khi giá dầu ma-zút (mazout) rẻ hơn, các chủ lò bây giờ đốt vôi bằng dầu, không đốt bằng củi như trước Nhờ đốt bằng dầu, sức nóng lớn hơn, hiệu quả hơn nên sản lượng mỗi lò đốt cũng nhiều hơn. Đốt một lò vôi, chủ lò kiếm lời một triệu bạc là thường. Do đó, xảy ra cạnh tranh giữa các chủ lò, thưa kiện, tranh giành, v.v…

Để giải quyết tình trạng đó, thiếu tá Nguyễn Đình Phúc, quận trưởng, cùng với ông Nguyễn Đức Nghiêm, phó quận trưởng họp các chủ lòi vôi lại, thành lập “Tổ hợp lò vôi”, mục đích là để họ chia phiên nhau đốt lò, tránh sự tranh giành như trước kia. Khi tôi làm việc ở đây, chủ tịch tổ hợp là ông Ba Để, tên thật là Lý Văn Gia.

Sau khi về làm việc ở đây chưa lâu, tôi mời ông Ba Để lên nói:

“Phòng giam tội ở đây tối tăm và thiếu phương tiện, mất vệ sinh. Tôi muốn xây hai phòng giam ở phía ngoài, một cho nam, một cho nữ, có chỗ nằm và phương tiện đi tiêu, đi tiểu. Tuy nhiên, tôi không có ngân khoản để thực hiện việc ấy. Bác là chủ tịch tổ hợp, nhiều người khá giả. Bác hãy vận động các tổ viên thực hiện việc xây các phòng giam nầy. Bác giúp tôi nhưng thực ra là giúp dân chúng ở đây vậy.”

Thực ra, việc xây phòng giam có lý do quan trọng hơn. Mấy năm trước, có một nhân viên, đệ tử của ông xếp cũ, đã lợi dụng tình trạng phòng giam tối, hiếp dâm một nữ tù nhân. Dân nhà quê thiệt thà, không biết luật lệ, lại hay sợ hãi nên không dám thưa. Anh nhân viên nói trên cùng xếp của ông cố giàn xếp, nên việc thông qua. Tôi không muốn chuyện ấy xảy ra một lần nữa.

Sau khi tôi nói chuyện với ông Ba Để cỡ một tuần lễ, ông cho người chở gạch, cát, ximăng tới xây phòng giam mới. Tôi làm văn thư cảm ơn.

Cửa phòng giam mới mở ra sân sau, có song sắt để được thoáng. Trong sân sau lại có một ngôi mộ xây, sơn trắng. Một hôm, có một thanh niên bị giam vì tội giao liên, thấy tôi, nói như muốn khóc:

_ “Ông trưởng ơi! Ông cho tui về đi, tui không dám làm gì cho Việt Cộng nữa đâu. Ở đây, tui sợ quá!”

Giựt e vì chuyện xảy ra trước kia, nghi có chuyện gì vi phạm luật lệ, tôi hỏi:

_ “Có ai làm gì anh?”

_ “Dạ không! Không ai làm gì hết, nhưng đêm nào tui cũng thấy một cô gái mặc áo quần trắng hiện lên ngồi trên mộ. Tui sợ lắm!”

Đó là ngôi mộ một cô gái mới 16 tuổi, em một anh Cảnh Sát Dã Chiến, bị pháo kích chết năm Mậu Thân. Cha mẹ chết hết, hai anh em đùm bọc nuôi nhau. Lúc ấy trận chiến hai bên đang hồi dữ dội, không đem chôn ở nghĩa địa kế bên chùa ông Bổn được, chôn tạm ở đó. Nay anh Cảnh Sát Dã Chiến đã đổi đi xa, chẳng ai nghĩ tới chuyện dời mộ làm gì!

Hôm đó, tôi vội họp ủy ban an ninh, để tha cho anh giao liên về. Hú vía cho anh ta, khỏi còn thấy ma hiện ra mỗi đêm nữa.

Ông Chín Vĩnh, ngoài ba lò vôi bên kia kinh như tôi đã nói trong bài trước, kẹt phải nằm trong tổ hợp, không bung ra làm ăn được nên ông xây một lò vôi thật lớn ở Mỹ Tho. Đá vôi ở đây chở lên đó nung, một mình một cõi, chẳng sợ ai cạnh tranh.

Giữa năm 1974, linh mục Lương Công Đại, cha xứ họ đạo Kiên Lương, (1) đang xây nhà thờ thì hết tiền. Cha bèn “ngoại giao” với tổ hợp để cha đốt một lò ngoại lệ – vì cha không phải là chủ lò vôi, không phải là thành viên tổ hợp – để lấy tiền xây tháp chuông nhà thờ. Xây xong tháp chuông là coi như phần chính đã hoàn thành. Phần đông các ông chủ lò vôi là con chiên họ đạo Kiên Lương của cha Đại hay họ đạo An Hòa của linh mục Nguyễn Thượng Hiền, nên để giúp đỡ cha mà cũng góp phần xây dựng họ đạo, tất cả thành viên tổ hợp đều đồng ý.

Linh mục Lương Công Đại mượn lò vôi kế chân núi Ba Hòn của một tổ viên để đốt lò. Mọi việc đều có con chiên của cha lo liệu hết. Chỉ có hai đêm lò cháy, cha phải có mặt ở đó để canh lửa cùng với nhân viên. Cả hai đêm đó, tôi đem trà, càphê, phin lọc đến uống với cha, chuyện trò cho vui.

Năm đó, nhờ sau hiệp định Paris 73, tình hình yên ổn đôi chút, thương mại phát đạt, nên việc xây dựng cũng nhiều, nhờ đó, vôi bán chạy lắm. Đốt lò xong, vôi của cha Đại chở lên Saigon giao cho vựa bán mấy hôm là hết. Có tiền xây nhà thờ, cha rất vui. Để góp phần với cha, tôi yêu cầu mấy ông chủ xe đò cho tôi hai chục cái ghế sắt Thái Lan – (Hồi đó ghế Thái Lan nổi tiếng đẹp). Tôi biếu cha để trong phòng ăn nhà thờ.

Vì cạnh tranh, các ông chủ lò vôi “chơi” nhau nhiều trận cũng căng lắm.

Đầu kinh 1, (kinh từ nhà máy Kiên Lương vô ấp Rạch Đùng, kế chân núi Hòn Chông), là cái lò vôi lớn của ông Ba Nhân, chủ tịch hội đồng giáo xứ của cha Đại, bị ông Chín Vĩnh “chơi” mấy đòn thất điên bát đảo.

Đòn thứ nhất là ông Chín Vĩnh cho ông mượn một cái giấy phép mua dầu ma-dzút. Có giấy đó, ông Ba Nhân mua dầu chở về chuẩn bị đốt lò. Bỗng cảnh sát tỉnh Kiên Giang ở Rạch Giá gọi ông Ba Nhân điều tra vì xử dụng giấy phép mua dầu bất hợp pháp. Té ra, ông Chín Vĩnh, sau khi cho ông Ba Nhân mượn giấy phép, bèn làm đơn trình với Cảnh Sát Kiên Giang rằng ông ấy đi xích-lô làm rớt mất giấy phép, nay ông Ba Nhân bắt được, nhờ Cảnh Sát can thiệp. Kết quả, ông Ba Nhân trả lại giấy phép cho ông Chín Vĩnh, giao luôn cả số dầu ông Ba Nhân chở về. Rốt lại, ông Ba Nhân mua dầu cho ông Chín Vĩnh đốt lò!

Lần thứ hai, vì Việt Cộng pháo kích vào Nhà Bè, kho dầu ở đó của hang Shell bị cháy, dầu chảy ra các đường mương. Công ty xăng nhà bè bèn cho không bộ chỉ huy Cảnh Sát Nhà Bè số dầu đó. Đây là một món hàng đặc biệt, phế thải vì chiến cuộc. Ông Ba Nhân mua lại số dầu đó, vét lên xà lan, chở về Kiên Lương, có giấy chứng nhận của đại úy Trần Phú Trắc, chỉ huy trưởng. Về tới nơi thì thượng sĩ Trần Phạm Sĩ thuộc bộ Chỉ Huy Kiên Giang từ Rạch Giá vào lập biên bản dầu bất hợp pháp.

Đúng ra, hôm xà-lan dầu của ông Ba Nhân về tới Kiên Lương, ông Chín muốn “chơi” ông ba Nhân, bèn gặp thiếu úy Kiệt để nhờ lập biên bản điều tra về việc mua dầu bất hợp pháp. Thiếu úy Kiệt không thể tự ý làm việc đó vì phần hành của ông Kiệt không thuộc tư pháp nên đề nghị với tôi. Tôi cười, nói:

_ “Đừng có dại. Họ “chơi” nhau, mình đút đầu vô đó làm chi? Trước hết là mình phải tự trọng. Không lý vì chút tiền mà mình biến thành phương tiện để họ chơi nhau?! Mình còn “kẹt” với cha Đại. Ông Nhân là chủ tịch hội đồng giáo xứ. “Ăn” của ông Chín bao nhiêu mà mình kẹt đủ thứ.”

Nghe lời tôi, thiếu úy Kiệt biểu ông Chín ra tỉnh. Ngoài đó mới sai Trần Phạm Sĩ vào.

Quả thiệt vụ xà-lan dầu kẹt lung tung. Ông Ba Nhân phải chạy, nhờ cây xăng Nhà Bè xác nhận một lần nữa là dầu phế thải, đại úy Trần Phú Trắc xác nhận có ký giấy bán cho ông Ba Nhân số dầu ấy. Giấy tờ đi đi lại lại cả năm trời. Chủ xà-lan là bà bác sĩ Phạm Văn Hải ở Saigon cho người thuê xà lan chở dầu cả năm mà không thấy trả, rồi cho người đi tìm, thưa gởi lung tung. Tội nghiệp ông Ba Nhân, xây một cái lò vôi mới, thiệt lớn, nhưng chỉ đốt được một lần rồi thôi. Tới khi Việt Cộng ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương thì xà-lan dầu của ông Ba Nhân bị Việt Cộng tịch thu. “Trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi.” Hay tục tỉu hơn thì rõ ràng “Cầm c. chó đái” như tục ngữ nói vậy.

Khi giá dầu rẻ, đốt lò vôi bằng dầu, các ông chủ lò vôi lén nới rộng lò vôi ra, để sản lượng được nhiều mà vẫn đóng thuế thấp cho quận. Khi giá dầu mắc, họ thu hẹp lò vôi lại, lại làm đơn xin quận giảm thuế. Thật là “mệt” với mấy ông chủ lò vôi nầy. Mệt nhứt là với ông chủ lò Đức Thắng.

Ông chủ lò vôi Đức Thắng, thường gọi là “Thắng cụt” có đòn chơi rất độc. Gọi là Thắng cụt vì khoảng chục năm trước, ông mua chất nổ về bắn đá ở núi Trầu, bị tai nạn cụt mất một bàn tay.

Mỗi khi đốt lò xong, ông trả tiền công cho công nhân. Rồi tối đó ông tổ chức nhậu và đánh bạc ngay tại nhà. Ai ăn ai thua ông không cần biết, nhưng chủ sòng thì thâu tiền xâu suốt đêm khá bộn. Nhiều người ngày đêm đập đá, chất đá, đốt lò, cuối cùng thua bạc hết chỉ còn hay tay trắng, lấy gì nuôi vợ con. Tiền Thắng cụt chi ra, lại chui vào túi ông, chẳng mất gì hết. Tật xấu nầy của chủ lò Đức Thắng xảy ra đều đều, năm nầy qua năm nọ mà chẳng ai nói chi.

Khi biết chuyện, tôi gặp linh mục Nguyễn Thượng Hiền, chánh xứ An-Hòa để nói với cha về việc làm bất lương của chủ lò vôi Đức Thắng. Tôi rút kinh nghiệm làm việc với mấy ông cha đạo từ hồi ở Cái Sắn. Mấy ông cha hay nghe lời con chiên xúi dục thưa bậy, nếu không nói trước thì mấy ông lại cho rằng chính quyền làm khó dân để kiếm tiền.

Tôi cũng có nói chuyện ấy với cha Đại. Cha bảo: – “Làm sao cha có thể để con chiên sát phạt nhau như thế được! Nhắc nhở hoài mà chăng ai thèm nghe!”

_ “Cha có chịu đưa mấy ông nầy ra tòa không?” Tôi hỏi.

_ “Ông cứ làm thẳng tay. Trước nay chính quyền không cứng rắn với họ nên tệ trạng xảy ra hoài.”

Vậy rồi tôi họp riêng với thượng sĩ Hai Râu, giao cho anh theo dõi việc Đức Thắng đốt lò.

Một hôm, thượng sĩ hai Râu nói với tôi:

_ “Ngày mai thằng cha Đức Thắng cho cân vôi.” (Có nghĩa là giao hàng và nhận tiền).

_ “Anh rình y. Hễ y tổ chức đánh bài, anh thộp cổ nó cho tôi.”

Hôm sau, nhà Đức Thắng tổ chức cờ bạc thật sự. Nhà gạch, cửa gỗ, đóng thật chặt. Nếu hai Râu kêu cửa, chúng nó phi tang thì công cốc. Do đó, hai Râu cùng mấy đệ tử của anh, chờ phía bờ kinh gần suốt đêm. (Nhà Đức Thắng quay lưng ra phía kinh.) Gần sáng, khi sắp tan sòng, hai Râu cùng nhân viên chèo ghe đến vách nhà sau, bắc thang leo lên cửa sổ, chỉ súng bắt mọi người ngồi im, rồi mới biểu chủ nhà cho người ra mở cửa trước. Trên một chục tay cờ bạc bị tôi nhốt vào khám hết. Hai linh mục, cha Hiền và cha Đại, ông nào cũng vui lòng, chẳng ông nào đến can thiệp, xin tha. Chỉ có ông đại úy Kiệm, chi khu phó, vì có một đệ tử là ông trung sĩ nào đó, em ông chủ tịch hội đồng xã An Hòa, đến xin tôi tha cho ông chủ tịch nầy.

Tôi gọi ông chủ tịch lên bảo: “Vì ông là chủ tịch, nễ tình dân xã An Hòa nên tôi cho ông về. Ông có hợp đồng gì với Thắng cụt mà bóc lột công nhân không?”

Ông ta chối bai bải, thú thật chỉ vì tính ham cờ bạc nên tới đánh chơi, chớ ông ta không dính gì tới âm mưu xỏ lá của Thắng cụt hết.

Tôi đưa cả đám ra tòa, trình với biện lý rằng Thắng cụt là tên đầu bầy. Ra tới nơi, vì đã có người ra gặp biện lý xin xỏ trước rồi, nên cả đám được tha ngay.

Sau đó ít lâu, tôi lái xe chở đệ tử đi ăn sáng ở Chợ Tròn, khi ngang nhà Đức Thắng, thượng sĩ “Năm Hùng đầu bạc” nói với tôi: “Đức Thắng bỏ nhà đi đâu ông ơi!”

Tôi cười, nói đùa:

_ “Đi luôn là phải. Ở đây, tui cho thằng chả “đứt thắng” luôn. Xe đổ đèo Hải Vân mà “đứt thắng” là coi như về âm phủ.”

Từ đó cho tới 30 tháng Tư, tôi không gặp Thắng cụt. Có phải câu nói chơi của tôi tới tai y nên y sợ? Người ta sợ mình đến nỗi phải bỏ xứ mà đi? Đó không phải là “Hà chánh mãnh ư hổ” hay sao? Tôi đem chuyện ấy nói ra trong buổi họp với nhân viên, nói để cười mà chẳng thấy ai cười?!

Điều đáng nói nữa là năm 1984, con gái tôi vượt biên tới Bidong. Khi nó đang còn ở đảo, tôi đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Dĩ nhiên là tôi không về Kiên Lương. Tôi đi dọc bến Chương Dương, qua bến Hàm Tử, tới các vựa bán vôi để hỏi thăm có ai dưới Kiên Lương lên bán vôi không.

Tổ hợp Lò Vôi tan hàng rồi. Ế quá! Dân chúng nghèo quá, có ai làm nhà, sửa nhà gì đâu mà đốt lò bán vôi. Mấy ông chủ lò vôi giải nghệ, đi đốn tràm, bắt cá đồng sống qua ngày. Chỉ còn ông Ba Để, trước kia là chủ tịch tổ hợp, nay già lắm, không đi làm đồng được, lâu lâu ông đốt một lò nhỏ, lấy công làm lời. Ba tháng rồi, ông không chở vôi lên Saigon.

Cuối cùng, tôi tới vựa vôi Đức Thắng ở bến Hàm Tử. Gặp tôi, ông mời uống nước trà và biểu tôi tìm ông Ba Nhân. Ông Ba Nhân mới có địa chỉ cha Đại ở Mỹ. Ông Ba đang ở Kiên Lương, lâu lắm không thấy lên Saigon.

Tôi chào ông Đức Thắng ra về, lấy làm lạ là tại sao không thấy Thắng cụt nhắc lại chuyện “ân oán giang hồ” ngày trước. Ông ta quên chuyện cũ rồi hay ông không nhớ mặt tôi, không biết tôi là ai.

Tôi buồn phiền vì việc không tìm được địa chỉ cha Đại để nhờ cha lo giùm cho con gái tôi.

Thế rồi một hôm tôi đi bộ trên đường Trương Minh Giảng, trước rạp ciné cũ, và thấy ông Ba Nhân đang ngơ ngơ ngác ngác như đang đi tìm ai. Thấy ông, mừng lắm, tôi gọi: “Ông Ba, đi đâu đây?”

Ông Ba nhìn tôi, nhận ra người cũ, cười, trả lời:

_ “Chẳng biết đi đâu nữa. Đang chạy xe ngang đây bỗng bị xẹp vỏ, đang vá ở đàng kia. Bỗng nhớ hình như tôi có nhà ai quen quen ở đây, bèn đi tìm thì gặp ông.”

Tôi hỏi:

_ “Có địa chỉ cha Đại không? Tôi cần lắm.”

Ông nói:

_ “Có đây, có đây.” Vừa nói ông ta vừa đưa tay đập mấy cái vào cái bị rết đeo bên hông. “Nhưng vô đây uống càphê đã, gặp ông mừng ghê! Về hồi nào? Trông già lắm, không như hồi xưa. Tù chắc cực lắm?”

Về là đi tù cải tạo về. Tôi nói:

_ “Về được hai năm. Có đứa con vượt biên, đang ở đảo, tính nhờ cha bảo lãnh cho nó qua Mỹ.”

Tôi không nói chuyện đi ở tù cực. Chuyện đó ai chẳng biết, than vản làm gì!

_ “Dễ thôi! Cha viết thư về có dặn ai vượt biên, đi Mỹ, cần thì báo cha biết để cha lo.”

_ “Ông dưới đó mới lên?” Tôi hỏi.

_ “Lâu lắm tôi mới lên. Có công việc gì đâu! Lâu lâu lên Saigon chơi vậy thôi! Tình cờ gặp ông.”

Tôi kể cho ông Ba Nhân nghe chuyện đã hai tháng nay đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Hỏi Đức Thắng thì Đức Thắng không có. Nay tình cờ gặp ông ta.

Ba Nhân nói:

_ “Chuyện tình cờ mà cũng kỳ. Ở dưới đó, không có việc gì mà tôi lên đây làm chi. Rồi đi ngang chỗ nầy, tự nhiên xe bị xẹp vỏ mà gặp ông. Ông cũng chẳng có chuyện gì, đi lang thang qua đây mà gặp tôi. Không phải tình cờ đâu. Chúa sắp đặt cả đấy.”

Tôi chỉ cười, không phủ nhận mà cũng không xác nhận. Quả thật, ở đời có những chuyện tình cờ hết sức lạ lùng, như có đấng thiêng liêng sắp đặt vậy. Ai không tin rồi cũng phải tin!

(1)-Giữa linh mục Lương Công Đại và tôi, thiệt là ơn tri ngộ. Năm 1974, khi mấy ông giám mục, linh mục họp ở Long Xuyên để lên “bảng phong thần” trong phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đại cương quyết không chịu để tên tôi trong bảng phong thần đó, như mấy chục ông chỉ huy trưởng vùng IV.

Trước cử tọa, cha Đại bênh vực, khen ngợi tôi hết lời, nhờ vậy mà tôi thoát nạn. Vậy mà chẳng bao giờ cha kể công với tôi. Linh mục Đại rời Việt Nam trưa ngày 30 tháng Tư-1975, định cư ở Mỹ. Năm 1984, khi con gái tôi vượt biên, tới Bidong, tôi báo cho linh mục biết. Linh mục Đại đón con gái tôi về đây, – thành phố tôi đang cư ngụ – giới thiệu lên Đức Ông. Đức ông cho con tôi quà giáng sinh năm đó – người độc nhứt được quà giáng sinh của Đức Ông – Đức Ông giao cho gia đình ông Dr. Blute nhận làm con nuôi. Hai ông bà nầy có 11 người con (Gia đình Mỹ có 11 người con là một hiện tượng đặc biệt). Con gái tôi cùng tuổi con gái út hai ông bà. Họ lo cho con gái tôi đi học trở lại vì ở Việt Nam nó phải bỏ học vì lý lịch số 13. Con gái tôi tốt nghiệp kỹ sư hóa học, làm việc cho cơ quan khoa học của MIT, chuyên nghiên cứu về hỏa tiễn phóng từ tiềm thủy đĩnh.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 13 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Bài 19

Bắt cóc đòi tiền chuộc

Bây giờ, bọn alQeda hay bọn cướp biển ở eo biển Malacca hay bọn cướp biển Somali có bắt cóc đòi tiền chuộc thì việc làm của chúng cũng chỉ là “đàn em” của Việt Cộng. Việt Cộng thuộc “bậc sư” trong việc nầy.

Điều buồn cười là việc làm thì “bá đạo” nhưng bao giờ cũng vẽ vời, tự cho là “vương đạo”.

Trong bài 15, tôi có kể chuyện mấy người dân Long Xuyên qua Tà Keo (Rạch Giá, quê hương Nguyễn Tấn Dũng) làm ruộng, bị Việt Cộng bắt cóc đòi tiền chuộc. Chuyến ấy Việt Cộng lỗ to. Bốn người dân Long Xuyên được sổng tù còn phía Nguyễn Tấn Dũng có hai “đồng chí tổ quốc ghi công”. (Tổ quốc Việt Cộng chớ không phải tổ quốc Việt Nam).

Lần nầy, như tôi sẽ kể sau đây, Trần Chí Tài, phó bí thư kiêm trưởng ban kinh tài huyện Hà Tiên, “xếp” của Dũng, làm ăn khá hơn và trúng “mánh”. Tuy nhiên, sau đó không bao lâu, Nguyễn Tấn Dũng lại khóc cho “xếp” của y, lại bị “tổ quốc ghi công”, sau khi ôm được một mớ tiền “cờ bạc”, bỏ túi xài riêng.

Nói cho cùng, bắt cóc đòi tiền chuộc cũng giống như đánh bạc. Trót thì ăn gọn, không xong thì “của thiên trả địa” như tục ngữ nói. Ông bà chúng ta nói đâu có sai: “Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ.” Nói chung, Việt Cộng khó chấp nhận quan điểm đạo đức ông bà để lại. Họ có “Đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Đạo đức nầy bây giờ phát triển tùm lum ở Việt Nam, rõ ràng là đi tới đâu cũng có “thủ tục đầu tiên.”

&

Ông Chín Vĩnh là người nổi tiếng giàu có ở thị trấn Kiên Lương. Ở đây, ông ta làm chủ một cây xăng, có mấy lò vôi, thêm một lò vôi nữa ở Mỹ Tho. Lò vôi của ông ở Mỹ Tho sản xuất ximăng trắng, “hiện đại” hơn, vận chuyển đá vào lò bằng giây chuyền chứ không bằng tay như ở Kiên Lương. Có lần ông khoe với tôi: Đường Cần Thơ Chương Thiện dài 27km. Muốn khỏi bị lún, mỗi cây số công chánh đổ lót một tấn vôi, giá một triệu. Ông ta trúng thầu 27km đường đó, coi như ông trúng thầu 27 triệu đồng, lời đợc bao nhiêu, không nghe ông Chín Vĩnh nói.

Có thể coi ông Chín Vĩnh là nhân vật đặc biệt, tài năng. Năm 1962 ông tới Kiên Lương với hai bàn tay trắng. Mười năm sau, ông ta trở thành triệu phú vì biết cách làm ăn và không thiếu… thủ đoạn. Tôi sẽ nói thêm về ông chín Vĩnh phần sau. Bây giờ xin nói tới việc Việt Cộng bắt ông Năm Thanh, Hồ Văn Thanh, anh ông Chín Vĩnh, đòi tiền chuộc.

Tuy là anh, nhưng ông Năm Thanh không tài giỏi như ông Chín Vĩnh. Ông sống nhờ vào em ông, nên được ông Chín Vĩnh giao cho việc coi sóc ba cái lò nung vôi – vôi quét tường, được chở lên Saigon bán – Ba lò vôi nầy ở sâu trong vùng núi Trầu, có thể Việt Cộng lợi dụng đêm tối bất thần xuất hiện.

Sáng hôm ấy, tôi không nhớ rõ thời gian, thiếu úy Kiệt báo cho tôi hay: “Ông Năm Thanh bị Việt Cộng bắt tối hôm qua.” Không biết ông năm Thanh là ai, tôi phải hỏi thêm thúy úy Kiệt.

Thiếu úy Kiệt lại nói thêm:

_ “Việt Cộng có để lại một bức thư cho ông chín Vĩnh, không rõ nội dung nói gì.”

Tôi nói:

_ “Không rõ cũng phải tìm biết cho rõ. Nhiệm vụ của mình mà!”

_ “Chút nữa ông chín Vĩnh sẽ lên gặp chỉ huy trưởng. Tôi có dặn rồi.” Thiếu úy Kiệt nói.

Thiếu úy Kiệt là người lanh lợi, rành công việc. Có lẽ ông ta đã gặp ông chín Vĩnh từ sáng sớm, sau khi nghe tin ông Năm Thanh bị bắt. Chờ tới giờ làm việc, thiếu úy Kiệt mới báo cho tôi hay.

Sau đó khoảng một giờ đồng hồ, ông Chín Vĩnh xin gặp tôi thật. Mời ông Chín vô phòng khách ngồi, tôi nói trước:

_ “Chia buồn với ông Chín về việc bác Năm. Ông Chín biết họ bắt bác Năm về việc gì?”

_ “Có gì đâu, họ đòi tiền thuế những mấy năm, nặng lắm!” Ông Chín trả lời.

Tôi cười:

_ “Thuế má gì đâu! Bao giờ họ cầm quyền ở ngoài nầy (khu vực kinh Rạch Giá – Hà Tiên – tg) mới thu thuế chớ. Trốn tuốt trong rừng sâu mà đòi thuế ngoài nầy, ngộ không?! Vậy là bắt cóc đòi tiền chuộc chớ thuế má gì. Thuế thì cứ gởi thư đòi thuế, sao lại bắt ông Năm làm chi?”

_ “Ông chỉ huy trưởng thông cảm. Bắt ông Năm là họ gài tôi, không đóng tiền cho họ là coi như anh tôi có đi mà không có về, mất mạng luôn.” Ông Chín than thở.

Tôi giải thích:

_ “Dân ở trong vùng Quốc Gia mà bị Việt Cộng bắt cóc, là trách nhiệm của Quốc Gia, không bảo vệ được dân của mình. Ngay cả việc ông Chín đóng thuế cũng vậy. Không đóng thuế thì ông Năm mất mạng. Đó cũng là trách nhiệm Quốc Gia không bảo vệ dân chúng được. Trên nguyên tắc thì ông Chín không có tội gì cả. Tuy nhiên, khi người nào đóng thuế hay bị Việt Cộng ép buộc làm gì thì sau đó phải báo cáo cho quận, xã biết để ghi nhận hồ sơ. Lỡ khi cấp trên có bắt được tài liệu Việt Cộng ghi nhận ông Chín đóng thuế mà không khai báo cho chính quyền thì ông Chín bị tội đó. Nhớ đóng thuế xong thì báo ngay cho tôi biết. Còn thư thì họ nói gì?”

Ông Chín đưa bức thư của Việt Cộng đòi tiền chuộc cho tôi coi.

Thư viết trên giấy tập học trò, chưa đầy một trang, chữ viết nắn nót, bằng bút nguyên tử, nhưng nét chữ còn non lắm, chứng tỏ người viết thư nầy của huyện ủy Việt Cộng Hà Tiên học chưa quá bậc tiểu học. Thư để trong phong bì nhưng bì thư cũng như giấy đã bị nhầu. Có thể người đưa thư đã lận vào lưng khi di chuyển. Nội dung thư có mấy ý chính:

Một là khen ngợi ông Chín đã có công đóng góp cho “cách mạng” nhưng không nói rõ đóng góp cái gì. Đây chỉ là lời giáo đầu giả bộ khen ngợi để phần sau đòi đóng tiền mà thôi. Phía Quốc Gia cũng cũng có thể căn cứ vào lời khen, làm khó ông Chín để kiếm chút tiền còm. Tuy nhiên, nói cho cùng thì Quốc Gia muốn kết ông Chín tội gì cũng được khi người ta có quyền trong tay, tuy thư nói mơ hồ, không đủ chứng cớ để buộc tội ông Chín ủng hộ Việt Cộng. Màn giáo đầu nầy, tôi cho là không quan trọng, nhưng tôi ngạc nhiên về hai chữ “cách mạng” dùng trong thư.

Tôi nói với ông Chín: “Bọn họ tự xưng là “cách mạng” nhưng “cách mạng” gì tụi nầy. Chúng nó không khác chi tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên. Chận đường bắt đóng tiền mãi lộ hay bắt người đòi tiền chuộc thì cũng dzậy thôi.”

Ông Chín làm thinh không nói gì. Có lẽ ông ta sợ Việt Cộng trong khi ông ta đang làm việc với Quốc Gia. Quốc Gia cũng có thể làm khó ông ta được vậy. Rõ ràng là người dân một cổ hai tròng. Tôi hỏi:

_ “Ông Chín có biết cụ Ngô gọi Việt Cộng là cái gì không?”

Ông ta trả lời, rụt rè: “Dạ không!”

_ “Cộng phỉ”. Tôi nói. “Cụ Ngô gọi chúng là Cộng phỉ, loài cộng phỉ. Phỉ là thổ phỉ đó. Tụi nó chỉ giỏi đi ăn cướp.”

Thứ hai, huyện ủy Hà Tiên đòi ông phải đóng 3 năm thuế lợi tức lò vôi và cây xăng. Họ không nói rõ ba năm thuế là bao nhiêu tiền nhưng theo tôi hiểu, không dưới một trăm ngàn đồng. Sao chúng nó không đòi thuế mấy năm trước đó nữa. Họ không đòi vì thời gian ấy ông ta đã đóng rồi hay sao? Trong hồ sơ trận liệt thiết lập từ cả chục năm trước, tôi không thấy tài liệu nào nói ai có đóng thuế cho Việt Cộng. Nhiều người làm việc cho Quốc Gia cũng “dễ tính”. Ai đóng thuế cho Việt Cộng xong rồi, biếu họ chút ít “tiền càphê” là mọi chuyện coi như xong.

Điều thứ ba là hăm dọa. “Nếu ông Chín không đóng thuế cho “cách mạng”, coi như họ sẽ xử lý ông Năm. Xử lý, theo cách hiểu của dân chúng là đem bắn bỏ.

Tôi giữ bức thư lại giao cho thiếu úy Kiệt lưu hồ sơ, rồi hỏi ông Chín:

_ “Họ có nói đóng thuế lúc nào, chỗ nào không?”

_ “Không!” Ông Chín trả lời. “Theo tôi hiểu thì tôi cứ để tiền sẵn ở bên lò vôi anh Năm. Một đêm nào đó, họ sẽ mò ra nhận tiền. Nếu thỏa mãn, không đòi tiền thêm thì họ sẽ cho anh Năm tôi về.”

Tại sao thư đòi thuế không nói bao nhiêu tiền? Điều nầy thuộc “mánh mung.” Họ chỉ nói bằng miệng bao nhiêu đó, ông Chín đóng đủ thì họ bỏ túi một phần; chớ còn nói rõ trong thư bao nhiêu tiền thì chúng nó còn bỏ túi riêng làm sao được, “xơ múi” gì được nữa. “Cách mạng” khôn lắm!

Sau khi ông Chín về, tôi cùng thiếu úy Kiệt và mấy đệ tử đi uống càphê. Tôi thuật lại câu chuyện ông Chín bị đòi thuế cho họ nghe. Thượng sĩ Hùng nói:

_ “Dễ giận thiệt. Mình cứ phục kích ở nhà ông Năm, chờ chúng nó ra, ria một băng là xong.”

Tôi cười:

_ “Chuyện thì dễ, nhưng khi mình ria tụi nó rồi thì ông Năm mất mạng. Thư dặn ông Chín không được trình báo gì cho Quốc Gia cả. Tại sao quốc gia biết để phục kích? Làm như thượng sĩ Hùng nói, khác chi tố cáo ông Chín đi báo cho Quốc Gia! Khi đó mình ăn nói với ông Chín, với dân chúng ra làm sao? Đã không bảo vệ được dân lại còn vô tình xúi tụi nó giết dân, đâu có được.”

Khoảng một tuần sau ông Năm được tha. Ông ta trình diện bên ngành “Cảnh Sát Đặc Biệt” để họ lấy lời khai. Cũng tương tự như lời khai con nhỏ Hoàng Thị Vân bỏ nhà theo thằng Hùng, như tôi đã kể trong bài 6 – “Giang Thành Dạ Cổ”, chúng nó đưa ông Năm đi xa lắm, có vượt qua kinh Vĩnh Tế, có nghĩa là huyện ủy Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng đóng bên kia biên giới, thuộc phần đất Kampuchia. Đóng bên nầy bờ kinh, vùng Quốc Gia, huyện ủy Hà Tiên lạnh giò, ngủ không yên.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

January 14th, 2021

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Kỳ 36

Vào năm 1921, cựu Tư lệnh không quân Ý, tướng Giulio Douhet thiết lập chiến lược oanh kích trải thảm qua lý thuyết Khống chế Không Trung (IL Dominio dell’Aria). Cho mục đích phá hủy sản xuất của đối phương và triệt hạ tinh thần dân chúng của kẻ địch. Douhet nhấn mạnh: Không thể phân biệt quân nhân với thường dân dưới thảm bom.

Lý thuyết trên được Hoa Kỳ xem là kim chỉ nam và áp dụng trong suốt thế chiến.

Không tập hải cảng Hamburg Đức của 8th Air Force (US Air Forces Strategic) vào tháng 7-1943 giết chết 43,000 thường dân, 80,000 bị thương và 350,000 nhà cửa bị phá hủy. Không tập Dresde vào tháng 2-1945 gây thêm 56,000 thương vong. Đến không tập Đông Kinh vào tháng 3-1945 là cuộc tàn sát: 130,000 dân Nhật tử vong trong đường kính 16 square miles. Nếu mục đích hủy diệt kỹ nghệ sản xuất của kẻ thù đạt được, thì mục đích triệt tiêu ý chí đối phương mà Douhet đề ra là một thất bại. Tại Đức, cũng như tại Nhật, binh sĩ cùng dân chúng của cả hai dân tộc Đức-Nhật chống cự đến cùng.

Hoa Kỳ không áp dụng phương thức “trải thảm bom” tại Cao Ly, Bắc Việt, Ba Tư và A Phú Hãn.  [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 36

Chương 32

Trở về Yokosuka, chúng tôi trải qua bốn mươi giờ mệt mỏi và mất ngủ trên xe lửa.  Chúng tôi phải ngừng lại hơn hai mươi lần để đổi hỏa xa. Bên ngoài, các đô thị lúc ấy đang nhận sự trừng phạt nặng nề của oanh tạc cơ địch. Chúng tôi lướt qua những khung cảnh hoang tàn, đổ nát, dọc theo thiết lộ. Hai mươi chuyến hỏa xa dằn xóc trên những băng ghế gỗ làm Hatsuyo mệt lả. Ưu tiên chiến tranh khiến các toa hành khách không còn chút tiện nghi nào và chúng tôi bị nhồi nhét như nêm thuốc đạn. Hatsuyo xanh mướt vì mệt nhưng không một lần than van, nàng luôn mỉm cười trìu mến mỗi một khi tôi đăm chiêu nhìn nàng với đầy âu lo. Bằng giọng nói nhỏ vì kiệt sức, Hatsuyo vẫn giữ sự âu yếm, cố gắng nói với tôi là nàng vẫn khỏe cho tôi an tâm. Nhưng tôi biết nàng mệt lắm. Chúng tôi, những phi công đã trải qua khóa huấn nhục khắc nghiệt ở Tsuchiura, đã trải qua gian khổ ở Lae, Rabaul và Iwo Jima thì đoạn đường thiết lộ dài 820 cây số từ đảo Shikoku, từ Matsuyama-shi, Tùng Sơn Thị về đến Yokosuka xuyên qua Kobé, Osaka, đế đô Kyoto, Nagoya rồi Shizouka thì có thấm gì. Tôi có thể chịu đựng hơn thế nữa như đã chịu đựng cuộc mổ mắt không thuốc tê ở bệnh viện hải quân. Nhưng với Hatsuyo thì khác, nàng được chú thím tôi cưng chiều và đã sống cuộc sống đầy đủ trong yên ấm ít ra ngoài cho đến khi lấy tôi. Hatsuyo ít biết gì khác ngoài những buổi tập dương cầm, đến trường học hay cùng phụ thím tôi nấu ăn và tập luyện cho em Michio may áo. Ngay cả công việc của nàng trong phân xưởng trong nỗ lực chiến tranh của nước Nhựt cũng không quá nặng nhọc, chỉ là may quân phục cho quân nhân. 40 tiếng đồng hồ đối với một thân thể mảnh mai như Hatsuyo, trên một băng gỗ không nệm, cứng còng và thậm chí rất ít không gian để nhúc nhích vì trước mặt, hai bên cạnh chúng tôi là hàng núi người khác, là một thử thách. Sự nhọc nhằn đó hiện lên trên khuôn mặt của nàng, cho dù nàng hết sức che giấu cho tôi không lo lắng. Cũng trên đoạn đường này tôi tự hỏi có phải mình đã làm đúng khi cưới nàng, tôi đem đến cho nàng được gì, ngoài góa bụa? Thần chết vẫn hãy còn trước mặt.

Xe hỏa dừng ở Shiga, rồi Toyota-Aichi. Xuyên qua các đô thị là cảnh tượng hãi hùng của từng dãy chung cư cháy đen. Các khu phố còn những vách tường mang màu úa nếu chưa là những đống gạch vụn phủ ngập tro trong không khí. Nhiều hành khách phải lấy khăn che mũi vì khí quyển trở nên nồng rát. Tôi tự nhủ mùi diêm sinh của Iwo Jima…

Toa tàu lại rục rịch chuyển bánh. Mỗi khi xe lửa rời một ga là như cất đi một sự nặng trĩu nhưng những cảnh quan điêu tàn vừa nãy sẽ lại tái xuất hiện ở ga tiếp theo. Xứ sở chúng tôi bị tàn phá không một chút thương tiếc. Tôi ý thức rất rõ là không cách gì, không một cách chi có thể ngăn sự hủy diệt mỗi ngày một thêm trầm trọng. Nhưng chúng tôi đã kinh ngạc xiết bao khi nhìn hải cảng to lớn Yokosuka vẫn còn nguyên vẹn. Thật lạ lùng, người Mỹ đã tránh né Yokosuka, trong khi hơn 140 thành phố khác bị họ thiêu rụi sạch và san bằng;  nhiều nơi không có giá trị chiến lược nếu đem so với phố cảng được xem là pháo đài hải quân này.

Có lẽ do Yokosuka không còn một chiến hạm hoặc hàng không mẫu hạm nào để làm mục tiêu cho phi cơ địch dội bom. Tôi chỉ thấy loại thuyền máy nhỏ chạy ngang chạy dọc đang thao dược trong hải cảng vĩ đại. Ðây là những chiếc ca-nô giống như loại phi cơ Kamikaze. Mỗi chiếc đều chất đầy chất nổ với nhiệm vụ đâm đầu vô chiến hạm địch để cùng hủy diệt. Một lần nữa Nhựt Bản phải trả giá đắt về sinh mạng. Nhưng sẽ có bao nhiêu kẻ thù chết vì loại ca-nô nhỏ bé này?

Hải quân cấp cho chúng tôi một căn nhà ba phòng gần phi trường Oppama, ở phía Bắc Yokosuka. Ðời sống của chúng tôi thiếu thốn mọi bề. Hatsuyo đã xoay sở hết cách trên số thực phẩm quân tiếp vụ ít ỏi của chúng tôi. Thức ăn dành cho sĩ quan và binh sĩ không còn khác nhau. Ðã hết tiêu chuẩn. Các kho tồn trữ của Yokosuka trống rỗng vì thiếu cung cấp và vì hàng hóa đã trưng thu cho chiến trường. Tất cả các hợp tác xã và câu lạc bộ cũng đã cạn nhu yếu phẩm từ lâu. Hầu hết các tiệm buôn trong thành phố đều đóng cửa. Mặc dù thoát khỏi các cuộc không tập nghiền nát như đã xảy ra ở các thành phố khác, Yokosuka cũng ảm đạm và thê lương. Lác đác dân chúng suy nhược vì đói ăn, bước nặng nhọc trên đường phố.

Oanh tạc cơ B29 vẫn tiếp tục tấn công với số lượng đông đảo hơn, thả bom nhiều hơn. Những cuộc không tập mà chúng tôi nghĩ khủng khiếp nhứt, ngay hôm sau bị vượt quá mức độ kinh hoàng. Bom lửa, rớt xuống từ không trung hàng triệu quả, gây ra những đám cháy khổng lồ vượt trên thảm kịch của Dresde và Hamburg.

Vào đêm 10 tháng 3-1945 khắp nước Nhựt rúng động bởi cuộc không tập Ðông Kinh. 334 siêu pháo đài bay B29 san phẳng 30 cây số vuông thủ đô. Theo tin tức, có hơn 130,000 người thiệt mạng.

Nguyên thủy, Lục quân lãnh trách nhiệm ngăn chặn các oanh tạc cơ địch trên lĩnh thổ Nhựt, còn Hải quân phụ trách vành đai, nhưng trong thực tế Lục quân không bao giờ hoàn tất nhiệm vụ. Hiện tại, trách nhiệm bảo vệ quê hương nằm hoàn toàn trong tay Hải quân. Mỗi ngày chiến đấu cơ của chúng tôi đều đụng độ với oanh tạc cơ B29, và mỗi ngày hiệu năng mỗi giảm đi. Phi công chúng tôi đã tận lực, nhưng tận lực chưa đủ để chống các siêu pháo đài bay.

Từ Atsugi gần Yokosuka, các chiến đấu cơ Lôi điện Raiden cất cánh thực hiện nhiều phi vụ nghinh chiến pháo đài bay B29 với vài kết quả khả quan trong một giai đoạn ngắn. Sau đó, địch quân tung chiến đấu cơ P-51 Mustang hộ tống đông đảo B29 trong các cuộc không kích vào ban ngày. Chiến đấu cơ Raiden bó tay trước những chiếc Mustang vượt trội nhiều mặt. Hầu như mỗi ngày đều có chiến đấu cơ mới của chúng tôi bị cháy, cánh đứt lìa, phi công thiệt mạng.

Trong cuộc tàn sát khủng khiếp này, một phi công sáng chói xuất hiện, một người có khả năng bay siêu quần. Trung úy Teimei Akamatsu, một phi công khác biệt hẳn với các đồng đội, khác biệt có thể nói như đêm với ngày. Một phi công chiến đấu không cần sách vở, một loại anh hùng rơm, ồn ào và luôn luôn vui vẻ. Akamatsu gia nhập hải quân trước tôi gần mười năm, nhưng thăng cấp chậm chạp nếu so với những phi công khác có cùng một thời gian phục vụ. Thật ra, hắn bị giáng cấp nhiều lần, và bị đe doạ cho giải ngũ vì lý do hạnh kiểm. Hắn vẫn không cải hoá, nhưng phải công nhận đó là một thiên tài trên không, và do đó, hải quân phải miễn cưỡng sử dụng hắn.

Ghi chú quân sự:

Khu Trục cơ Mitsubishi A7M Reppu “Liệt Phong”

Chiều dài: 10.99 m, Sải cánh: 14 m

Tốc độ tối đa: 630 km/g 

Trọng lượng: 4,700 kg

1 động cơ công suất 2000 mã lực

Trần bay: 10,900 m, 12,000 m theo Sakai

Tốc độ lên cao: 1,600 m/phút

Tầm xa: chưa kịp kiểm định

2 đại liên 13 ly, 2 đại bác 20 ly

Số máy bay chế tạo: 10 chiếc, 7 theo Sakai

Khu Trục cơ tầm xa North American P-51 Mustang

Chiều dài: 9.83 m, Sải cánh: 11.28 m, Tốc độ tối đa: 703 km/g, 

Trọng lượng: 4,175 kg, 1 động cơ công suất 1695 mã lực

Trần bay: 12,770 m, tầm xa: 2656 km 

Tốc độ lên cao: 975 m/phút

6 đại liên 12 ly 7, 2 bom 450 kg, 6 rocket 127 ly

Số máy bay chế tạo: 15,875 chiếc


Hạnh kiểm của Akamatsu đã làm cho các sĩ quan thượng cấp của hắn muốn chết giấc. Trong các phi vụ, thay vì chờ đợi và nghe thuyết trình như những người khác, hắn nằm lì trong nhà điếm với một hệ thống thông báo riêng, và thường chạy như giông như gió ra sân bay trong một chiếc xe hơi cũ kỹ, một tay cầm lái, một tay cầm chai rượu. Trên không trung, hắn cũng làm loạn như ở dưới mặt đất, và đó là phi công duy nhứt đạt chiến thắng khi đụng độ với cả hai loại chiến đấu cơ Mustang và Hellcat. Với chiến đấu cơ Raiden trong tay, Akamatsu đã bắn rơi có hơn 10 chiếc cả hai loại phi cơ địch được coi là tuyệt hảo này, một hiển hách ít ai khác có thể với tới.

Akamatsu chiến đấu liên tục hơn sáu năm ở Trung Hoa, rồi sau đó chiến đấu khắp nơi trong khu vực Thái Bình Dương, và thường thường trở về căn cứ với chiếc phi cơ bị bắn tả tơi, vừa cười vừa la hét vang dội.

Chính Akamatsu cũng không biết hắn đã bắn hạ được bao nhiêu phi cơ tất cả. Khi nhậu say, hắn đấm tay lên bàn và rống lớn rằng mình đã thổi bay xuống đất ít nhứt 350 phi cơ Ðồng Minh. Hắn không bao giờ khoe khoang như thế khi còn tỉnh táo. Nhiều phi công khác từng chiến đấu với hắn và còn sống sót sau cuộc chiến đã điều chỉnh con số này xuống khoảng 50.

Tôi thường thấy Akamatsu đáp xuống Oppama vì thiếu xăng, không bay về tới căn cứ Atsugi. Mọi người trên mặt đất lấy làm phấn khích khi nhìn thấy hắn bước xuống phi cơ, gí mũi của hắn vô mấy lỗ đạn, và luôn luôn nhe răng cười. Thấy tôi hắn thét lên và chĩa nhiều ngón tay lên trời, cho biết con số phi cơ mà hắn đã hạ trong ngày hôm đó.

Ðã hơn một lần Akamatsu cất cánh thực hiện một phi vụ gồm từ năm đến tám chiếc Raiden, và hắn là phi công duy nhứt còn sống sót sau các trận đánh. Các chiến đấu cơ P-51 Mustang là những con mồi mà hắn khoái nhứt, và hắn tỏ ra kính nể các chiếc Mustang thật lòng.

Akamatsu sống sót sau chiến tranh, hiện thời hắn làm chủ một quán ăn nhỏ ở Kochi, thành phố sinh quán của hắn trên đảo Shikoku (lúc này là năm 1956, vài năm sau Akamatsu chết vì bệnh ung thư gan).

Căn cứ không quân Oppama là một phi trường thử phi cơ chánh. Tôi không có cơ hội để chiến đấu trở lại, vì vị chỉ huy trưởng căn cứ cho rằng kinh nghiệm lâu năm của tôi có ích lợi trong việc thử nghiệm các loại phi cơ mới hơn. Tuy nhiên, tôi biết rằng ra tác chiến lại chỉ là vấn đề của thời gian. Bất kỳ ai có thể bay được, bất kỳ phi cơ nào cất cánh được đều sẽ được quăng ra để chống lại hạm đội đổ bộ của địch quân.

Vào tháng Sáu, tôi được thăng chức Hải quân Trung úy và nhận lịnh trình diện căn cứ Nagoya để bay thử một loại chiến đấu cơ mới. Ðó là chiến đấu cơ Mitsubishi A7M Reppu “Liệt Phong”, có tốc lực mau hơn bất kỳ loại phi cơ nào mà tôi đã từng bay thử trước đây. Với một động cơ cực mạnh và nhiều phương diện khác, có thể nói Reppu vượt xa mọi loại phi cơ của Nhựt Bản lẫn Hoa Kỳ, và theo các kỹ sư chế tạo, nó sẽ chiến đấu hữu hiệu dầu ở cao độ 40,000 bộ, tức là 12,000 thước, là cao độ thích hợp để tấn công siêu pháo đài bay B29 vì trần bay của B29 là 10,000 thước.

Tuy nhiên, các cơ xưởng Mitsubishi, sản xuất chiến đấu cơ Reppu, biến thành đống gạch vụn trước khi công việc sản xuất xúc tiến mạnh. Chỉ hoàn tất được đúng 7 chiếc. Sau chiến tranh, còn lại một chiếc, phi công Hoa Kỳ bay thử loại phi cơ Reppu này đã tỏ vẻ kinh ngạc với sự nhanh nhẹn của nó.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

January 8th, 2021

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Kỳ 35

Ngày 31 tháng 5-1933, vào lứa tuổi 16, Sakai gia nhập Hải quân Đế quốc Nhật Bản với cấp bậc Thủy binh hạng IV và đóng tại căn cứ hải quân Sasebo. Rời trường hải quân, Sakai thăng Thủy binh hạng III, làm thủy thủ tập sự trên thiết giáp hạm Kirishima. Năm 1935, Sakai đậu kỳ thi tuyển vô trường huấn luyện Xạ thủ Hải quân. Sáu tháng sau, Sakai lên cấp Thủy binh hạng II và được chỉ định phụ trách một trong những pháo tháp 356 ly trên thiết giáp hạm Haruna. Nhiều tháng sau, Sakai lên bậc Thủy binh hạng I rồi trở thành Hạ sĩ quan với cấp bậc Binh tào hạng III, tương đương Hạ sĩ.

Đầu năm 1937, Sakai nộp đơn dự thi vào trường phi hành Tsuchiura, cách Đông Kinh 50 dặm. Sakai nằm trong số 70 khóa sinh được nhận trên tổng số 1,500 người dự thi. Trước khi giai đoạn huấn luyện hoàn tất, 45 trong số 70 khóa sinh bị loại khỏi trường và Sakai nằm trong số vỏn vẹn 25 người tốt nghiệp khóa này vào cuối năm 1937. Sakai ra trường với cấp bậc Binh tào hạng II, tương đương Trung sĩ và được chọn làm khóa sinh ưu tú nhất trong năm với tặng phẩm của Thiên hoàng là một chiếc đồng hồ bằng bạc.

Sakai lên Thượng sĩ rồi Chuẩn úy rồi Thiếu úy trong ba năm chiến tranh và đến tháng 6 năm 1945 thăng Kaigun Chui, là Hải quân Trung úy Thực thụ sau 12 năm quân ngũ. Hơn một đặc cách, một trường hợp duy nhất trong Hải quân Nhật.  [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 35

Chương 31

Vào tháng Ba năm 1945, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhứt trong lịch sử của hải quân Nhựt, hai phi công được tuyên dương công trạng đặc biệt. Bộ Tổng Tham Mưu Hoàng Gia đưa ra hành động này có lẽ là do ảnh hưởng từ tình hình quân sự bi đát. Tuyên dương công trạng cho tôi và Trung sĩ Shoichi Sugita, cả hai đều thuộc Không đoàn Matsuyama, với ý định thúc đẩy tinh thần đang suy nhược của đa số phi công lúc bấy giờ.

Sugita, hai mươi bốn tuổi, phi công sáng chói. Hầu hết các hoạt động chiến đấu của hắn đều ở Truk và Phi Luật Tân, Sugita đã hạ tất cả 120 phi cơ địch.

Tuy nhiên, con số đó có tánh cách phỏng định. Riêng tôi, tôi tin rằng tổng số phi cơ mà Sugita đã bắn hạ khoảng 80 chiếc. Sugita công nhận có nhiều chiến thắng đáng ngờ vực và không được xác định, bởi lẽ có những hoàn cảnh khó thể đưa ra kiểm chứng đúng mức. Hầu hết các cuộc không chiến xảy ra gần đây, Sugita đều không có thời giờ để nhìn một chiếc phi cơ bốc cháy, tan vỡ hoặc phi công có nhảy dù ra ngoài hay không. Thật sự, chiến đấu cơ của chúng tôi không được trang bị máy chụp hình nên khó thể lấy đó làm căn cứ để xác nhận mục tiêu bị hủy diệt.

Khi một quốc gia đang thắng thế, mọi chiến công đều được rà soát lại một cách cẩn thận, như chúng tôi đã từng làm trong các cuộc không chiến dễ dàng của chúng tôi ở Moresby. Khi ấy máy bay Mỹ chưa đông như kiến giúp chúng tôi đủ thời giờ quan sát kỹ lưỡng nhưng khi tình hình trở nên tồi tệ, qua một loạt chiến trận trong thế thủ chống lại một đối phương vượt trội, sự chính xác không còn kịp lưu ý nữa. Tuy nhiên, không ai hồ nghi tài ba trên không của Sugita. Sau khi quan sát lúc Sugita chiến đấu, tôi cảm thấy hắn không thua gì Nishizawa.

Sugita đã chứng tỏ tài ba siêu việt của hắn vào ngày 19 tháng Ba khi Không đoàn Matsuyama nghênh chiến những phi cơ Mỹ xuất phát từ các hàng không mẫu hạm tấn công vào căn cứ hải quân Kure. Trước đó đất Nhựt đã nhiều lần bị oanh tạc mà không có một phản ứng nào từ không đoàn chúng tôi, do thiếu máy bay. Ngày hôm đó diễn ra khác hẳn. Các hiệu thính viên Nhựt bắt được điện đàm của các phi công Mỹ tiến đến từ hướng Nam. Các hoa tiêu đối phương sắp xếp kế hoạch không ngụy thoại như thể họ đang cách xa chúng tôi nhiều ngàn cây số.

Tất cả các chiến đấu cơ khả dụng – trên bốn chục chiếc – cất cánh lập tức. Mặc dù rất muốn tham gia, tôi được chỉ định hướng dẫn 4 phi đội đến mục tiêu từ đài kiểm soát của căn cứ, theo đội hình đánh chặn ở bốn cao độ khác nhau. Ðối với các chiếc Shiden Tử Ðiện, là lần so gươm thật thụ đầu tiên. Ðiểm khác biệt với chiếc Zéro, là các chiếc Shiden có trang bị vô tuyến cho các phi đội trưởng điều hợp và liên lạc với căn cứ. Bấy giờ các chiếc Shiden đã tập hợp xong và dàn thành hình bốn chiếc dĩa rộng bay trên cao độ cao hơn đối phương. Ðội hình vòng cung khép này giảm thiểu khả năng bị tấn công bất ngờ. Hai phi đội hàng dọc và hai phi đội hàng ngang như một chữ thập làm bằng bốn vòng tròn cùng bao che cho nhau. Sáu mươi phi công khác, trong đó có tôi, đành ở dưới mặt đất vì thiếu máy bay. Tôi nhìn thấy toàn cảnh qua ống nhòm.

Trận chiến diễn ra ngay khi các toán Hellcat lao vào tầm bắn. Từ lợi thế cao hơn 500 thước, hai phi đội Shiden bổ nhào xuống lũ “mèo hỏa ngục”. Sugita thả rơi hắn như một viên gạch, rớt thẳng xuống rồi dựng ngược lên dưới bụng một chiếc Grumman. Bốn họng đại bác của hắn nhả một tràng ngắn. Ðối thủ của hắn rớt tức thì, đầu máy túa lửa. Sugita vung sang bên và nện từ phía sau chiếc Hellcat thứ hai, bốn họng súng của hắn đỏ rực, chiếc Grumman F6F lăn lộn bốc khói dữ dội trước khi đâm nhào xuống biển. Chiếc Hellcat thứ ba lao lến Sugita, hắn dựng đứng mũi chiếc Shiden 90 độ, lật ngược một bên cánh đảo vòng thật nhanh và trong nháy mắt đã ở sau lưng kẻ địch. Lần này hắn nện trúng phòng lái và chỗ chứa xăng bằng bốn quả đạn, chiếc Grumman vỡ tung.

Mọi người trên mặt đất đã la hét vang dội khi nhìn Sugita hạ hết chiếc Hellcat này đến chiếc Hellcat khác. Lúc ấy tôi đứng trên đài kiểm soát không lưu để theo dõi trận không chiến ngoạn mục này. Ðó là lần đầu tiên chiến đấu cơ mới toanh Shiden xuất trận. Hiển nhiên loại phi cơ này trên chân Hellcat về tốc độ vượt lên, cũng như về hoả lực. Với 4 đại bác 20 ly tự động, nạp 200 viên mỗi khẩu, chiếc Shiden thực sự là thần chết. Một giờ sau Sugita đáp xuống. Hắn không ngớt lời ca ngợi chiếc phi cơ của hắn. Hắn ghi thêm bốn điểm được chứng nhận bởi các phi công khác và có lẽ thêm ba điểm nữa, nhưng không được xác nhận. Sugita cho biết chỉ vì hết đạn nên phải quay về.

Cả ngày hôm đó chỉ có Không đoàn Matsuyama nhóm lên được một tia lửa hy vọng. Khắp nơi trên lãnh thổ Nhựt Bản, các phi công của chúng tôi không đạt được một chiến thắng nào. Thật vậy, các chiếc Hellcat đã dập tắt tất cả những nơi chống đối khác, và chiến thắng của chúng tôi có vẻ như là sự thiệt hại duy nhứt của đối phương. Sau này chúng tôi đọc được các báo cáo không chiến của người Mỹ, trong đó cho thấy họ đã tỏ ra kinh ngạc về khả năng cao độ của chiến đấu cơ Shiden. Phi công Hoa Kỳ đã xao xuyến trước khả năng chịu đựng đạn đại liên của loại chiến đấu cơ mới này.

Tuy nhiên, trong vòng một tháng, thảm hoạ giáng xuống không đoàn của chúng tôi. Phi công vĩ đại nhứt vẫn còn sống sót ở Nhựt Bản, Soichi Sugita, bị thiệt mạng. Không đoàn Matsuyama được chuyển đến Kanoya, ở miền Nam Kyushu là đảo Cửu Châu, để chống lại phi công Hoa Kỳ đang không yểm cho cuộc đổ bộ lên Okinawa.

Vào ngày 7 tháng Tư, không có dấu hiệu nào báo trước, một khối lượng máy bay đông đảo của địch ào xuống phi trường của chúng tôi. Tôi chỉ kịp liếc thấy phi cơ địch ở cao độ 12,000 bộ là khoảng 3,700 thước khi chúng gầm thét bổ nhào xuống. Chúng tôi bị chôn chân trên mặt đất. Nhóm phi cơ địch chắc chắn xuất phát từ các hàng không mẫu hạm hoạt động ở trong hải phận Okinawa. Chúng tôi không có radar ở Kanoya, và khi còi báo động hụ thì chiến đấu cơ địch đã xuống tới nơi rồi. Sự yếu kém chết tiệt trong việc sản xuất radar hiệu quả đã làm chúng tôi bị bất ngờ. Trên phi trường, lá cờ chỉ huy mặt trời mọc phất lên với tiêu lệnh chiến đấu: “Ði và Ðánh!”. Cùng với nhiều phi công, chúng tôi chạy ra phi cơ của mình. Nhưng Ðại tá Genda thét chúng tôi dừng lại và bắt chạy vô các hầm trú ẩn. Hiển nhiên là đã quá muộn, không thể nào cất cánh được nữa.

Nhưng Sugita, Shoji Matsumara và một phi công khác nữa không nghe tiếng Genda. Cả ba người này đã nhìn thấy phi cơ Mỹ trước khi có còi hụ báo động nên đã chạy ra phi cơ của họ rồi. Ngay lúc các chiếc Corsair F4U và Hellcat F6F sà thấp trên phi trường, Sugita và phi công bên cánh của hắn, với Matsumara phía sau, đang chạy đến vị trí cất cánh. Hai chiến đấu cơ địch chúi xuống từ bên phải và từ phía sau.

Viên phi công bên cánh của Sugita cất cánh đầu tiên. Khi các bánh xe của chiếc Shiden vừa rời khỏi mặt đất, một chiếc Corsair thổi ngay một loạt đạn. Dưới hoả lực của sáu khẩu đại liên, chiếc Shiden lảo đảo dữ dội, lộn nhào liên hồi, và đâm đầu xuống đất với một tiếng nổ khủng khiếp.

Mấy phút sau, một phi công địch khác lướt xuống với các họng súng tóe lửa. Tôi khủng khiếp nhìn những viên đạn tung bụi dọc phi đạo và rót vô chiếc chiến đấu cơ còn đang di chuyển của Sugita. Sugita không thể nào tránh né nổi vì phi cơ của hắn vẫn còn lăn trên mặt đất.

Ðạn trúng vào các bình chứa xăng của chiếc Shiden khiến nó phát nổ và biến thành một trái cầu lửa. Lửa và khói cuồn cuộn tuôn về phía sau chiếc phi cơ vẫn còn đang chạy trên phi đạo. Lửa kéo dài như một vệt thảm. Không có chuyển động nào bên trong phòng lái. Lửa cháy bùng phủ kín chiếc Shiden. Tôi không thể tin vào mắt của mình. Viên phi công vĩ đại nhứt của Nhựt Bản đã chết trước mắt tôi.

Sự hủy diệt chiếc phi cơ của Sugita đã cứu mạng sống của Matsumara. Những cuộn khói dày đặc của chiếc phi cơ bốc cháy đã che khuất phi cơ của Matsumara, khiến chiến đấu cơ địch không nhìn thấy.

(Sau chiến tranh Shoji Matsumara sẽ là phi công phản lực cơ Lưỡi Gươm F86 Sabre trong Tân Không lực Nhựt Bản. Hắn chấm dứt các phi vụ thời chiến với việc bắn hạ 6 chiếc Hellcat và Corsair trong những ngày tham chiến cuối cùng.)

Ðây là những ngày khủng khiếp. Các phi công đại tài nhứt của Nhựt Bản lần lượt ra đi dưới hoả lực của đối phương. Hai tháng sau cái chết của Sugita, đến phiên Kaneyoshi Muto, người đã chiến đấu cùng với tôi ở Iwo Jima khi cả hai chúng tôi cùng bay chung phi trình quyết tử đầu tiên của Hải quân Hoàng gia. Chúng tôi đã trở về lần ấy, nhưng lần này, Muto đã thiệt mạng sau khi ghi 35 điểm chiến thắng. Tiếng tăm của Muto vang lừng từ sau khi hắn hạ 4 Siêu pháo đài bay B29. Muto trở nên sáng chói vào đầu mùa Xuân 1945, khi hắn trực thuộc Không đoàn Yokosuka. Ngày 26 tháng Hai, trong phòng lái một chiếc Zéro đã lỗi thời, hắn tấn công 12 chiếc F4U Corsair đang không kích Ðông Kinh. Tấn công liên tiếp, lao vào sát gần đến gần chạm cánh, Muto vượt thoát tất cả những chiếc bẫy và bắn hạ 4 chiếc Corsair. Bốn tháng sau hắn tử trận. Là vào tháng Sáu 1945, thuyên chuyển đến Okinawa đang là thùng thuốc súng, và vẫn trên chiếc Zéro đã lạc hậu. Các đồng ngũ nhìn thấy hắn lần cuối cùng khi hắn tấn công một oanh tạc cơ B24 Liberator. Theo báo cáo của họ, Muto bắn nát chiếc B24 ở cự ly gần nhưng hắn không nhìn thấy một chiếc P51 Mustang là khu trục cơ tối tân nhất của Hoa Kỳ trong thế chiến đang lao đến nhanh như chớp từ phía bên trên hắn, và tưới sáu tràng đạn dài của sáu họng đại liên 12 ly 7. Cánh máy bay của Muto đứt rời khỏi thân.

Chúng tôi chưa kịp vực dậy từ sự xúc động dữ dội trước cái chết của Sugita và Muto, thì xảy ra liên tiếp những cái chết của những “Sát tinh” vĩ đại khác của chúng tôi, những cái chết khiến tất cả các phi công Nhựt sững sờ. Ðại úy Naoshi Kanno, thuộc Không đoàn Kanoya, đối diện định mạng gần Yakushima trong một chiếc Shiden cuộn tròn lửa. Kanno nổi danh nhờ vào các thành quả chưa từng thấy trong việc chống lại loại oanh tạc cơ B17 ở Nam Thái Bình Dương, với ít nhất 12 chiếc loại này bị bắn hạ trong tổng số 52 chiến thắng được xác nhận của ông. Kanno là phi công đầu tiên tấn công trực diện bằng cách vừa lăn tròn vừa chúi xuống các pháo đài bay và khai hỏa khi gần sát. Sau đó không lực Ðức mới khám phá lối tấn công này của Kanno và mang ra áp dụng.

Do đó, hiện thời bảng danh sách bao gồm các tên: Sasai, Ota, Honda, Nishizawa và những người khác được ghi thêm những tên tuổi lớn, Kanno, Muto và Sugita.

Bấy giờ tôi không được phép thực hiện các phi vụ chiến đấu trong thời gian ở Matsuyama, vì là một “Ace” còn sống sót dẫn đầu bảng tất cả các phi công khác. Những lời thỉnh cầu được lâm chiến với chiến đấu cơ Shiden của tôi luôn luôn bị Ðại tá Minoru Genda từ chối để rồi, cuối cùng ông ra lịnh cho tôi và Hatsuyo trở về Yokosuka. Vào cuối tháng Tư, với sự chán nản vì mạng lịnh đặt tôi ra ngoài không trung, tôi trở về căn cứ mà tôi đã từng phục vụ trước đây.

Hatsuyo rạng rỡ khi tôi báo tin. Ánh mắt nàng hoan hỉ niềm vui khi nàng nhẩm tính: “Ðường về mất hai ngày, thêm một ngày anh đáo nhậm nhiệm sở và cấp trên sắp xếp công tác, là em có được thêm đôi ngày bên cạnh anh, Saburo. Ở đây em thấp thỏm mỗi sáng, trông tin chiến trận và mong anh về. Em không ngăn anh bảo vệ quê hương ngay cả khi em biết anh sẽ phải hy sinh tuy em đã chuẩn bị và biết phải làm gì… Nhưng về Yokosuka là về gần thủ đô và em có thêm đôi ngày cạnh anh không âu lo, Saburo. Em mừng lắm.”

Tôi nhìn Hatsuyo chan chứa, nàng chưa biết thủ đô cũng đã là tuyến đầu và không có gì ngăn chặn các pháo đài bay B29 tiếp tục lướt đến. Toàn nước Nhựt sắp bốc cháy. Chỉ còn là thời gian của vài ngày. Chúng tôi bất lực phòng thủ các đô thị của mình, một cuộc đổ bộ lên Ðông Kinh sẽ xảy ra như đang diễn ra ở Okinawa ngay lúc này. Nhưng Hatsuyo có lý, một đôi ngày cũng đủ cho một may mắn.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

January 1st, 2021

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Kỳ 34

Hồi ký của Saburo Sakai từng làm biết bao nam sinh của tư thục Lasan Taberd si mê Hatsuyo Hirokawa, thiếu nữ đã đứng suốt nhiều tuần lễ dưới trời Đông buốt giá để xin một ngàn mũi kim thêu trên khăn lụa gửi cho Sakai thắt quanh mình, chứng tỏ lòng thành của cô trước Trời Phật, xin độ trì cho Sakai. Cũng Hatsuyo đã nhẫn nại khẩn cầu hằng đêm cho Sakai an lành và chấp nhận định mệnh: Vào tháng 2-1945 mạng sống của một phi công Nhật gần như là cái chết trước mắt. Nếu không phải trên không trung khi đối mặt với một không lực Hoa Kỳ áp đảo và tối tân hơn, thì cũng là cái chết khi đâm sầm xuống tàu sắt. Kamikaze là lấy cái chết đền nợ nước mà Sakai khó tránh thoát. Dù vậy Hatsuyo vẫn cương quyết khi bước chân vào phòng khánh tiết của Không đoàn Matsuyama và cất tiếng: “Saburo, em đến đây để làm vợ anh. Em được giáo dục để chết theo một Samurai.”

Hôn lễ cử hành dưới chuỗi bom của các siêu pháo đài bay B29 gầm thét. Sáu tháng sau, là bom nguyên tử. “Hạnh phúc một đôi ngày thôi cũng đủ, Saburo.” Là ước nguyện của Hatsuyo.

Tôi trong số nam sinh Lasan từng ước mơ sau này lớn sẽ có một người yêu như Hatsuyo.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 34

Chương 30 (tiếp theo)

Tin tức về cái chết của Nishizawa đã gây cho tôi một dao động kỳ dị. Tôi cảm thấy toàn thân mình run bần bật và những giòng nước mắt không ngừng dâng trào lên từ đáy lòng nhưng chúng khô cạn ngay ở khóe mắt bởi cơn thịnh nộ lớn lao khác. Chấn động khắp châu thân vì phẫn uất làm tôi muốn gào la cho cái chết tức tưởi của Nishizawa trong buồng lái của một vận tải cơ cổ lỗ sĩ bay chậm chạp không quá 350 cây số giờ trước họng súng của những chiếc Hellcat nhanh như cắt. Tôi đã chiến đấu với những chiếc Hellcat có thể lên đến 610 cây số ở Iwo Jima để biết chúng lợi hại vô cùng, làm sao Nishizawa với 21 phi công khác trong một khoang tàu bay nặng nề có cơ may thoát hiểm? Tôi nhớ đến chuyến hải hành đưa chúng tôi, tám mươi phi công từ Bali đến căn cứ Lae trên một thương thuyền cũ nát ọp ẹp không hộ tống có thể bị đối phương đánh chìm bất cứ lúc nào. Tôi nhớ đến chiếc vận tải cơ cũ rích hỏng máy hai bận và lảo đảo cất cánh đưa tôi rời Iwo Jima trong mưa bão về Ðông Kinh. Chúng tôi, những phi công ưu tú của Hải quân đã có thể mất mạng như chơi trong những cỗ quan tài bay này mà không thể tự vệ. Ðến bao giờ các cấp chỉ huy của chúng tôi mới ý thức rằng họ đang tiêu phí sinh mạng của những phi công tài ba nhứt? Ai đã ra lệnh cho Nishizawa lái chiếc Showa đó? Trung tá Nakajima? Trung tá là thượng cấp trực tiếp của Nishizawa nhưng vì sao ông không dám nhận mà nói “Ai đó đã ra lệnh…”. Vì sao? Vì Nishizawa và các đồng ngũ của hắn phải bay đến căn cứ Clark để nhận các khu trục cơ mới nên họ không thể tự lái lấy máy bay của chính họ? Nhưng vì sao không để Nishizawa cầm đầu một toán chiến đấu cơ Zéro hộ tống những phi công khác trong vận tải cơ Showa? Với tài nghệ lanh lợi phi thường của hắn, Nishizawa dư sức bảo vệ chiếc Showa đến đích. Tôi muốn gào la vì giận dữ nhưng ích gì nữa, hắn đã chết.

Tôi chập gót giày chào Trung tá Nakajima và hấp tấp rời văn phòng của ông để tránh sự thái quá vỡ òa. Cơn xúc động theo tôi về chỗ trú khu tiếp tục sôi sục cho đến khi hóa thành một bó đuốc. Như thế, Sasai, Ota, Honda, Nishizawa… các đồng đội chí thiết nhứt của tôi đều đã ra đi. Tôi cũng sẽ ra đi nay mai vì tất cả các phi công phải tự thiêu rụi bản thân mình để cứu quốc. Không còn nhiều thời giờ nữa và mỗi một khắc trôi qua làm cơn tuyệt vọng thêm cùng cực.

Tôi lấy giấy và viết ra. Tôi không thể tự ngăn các động tác của mình tuy tôi rất tỉnh táo. Lý trí ngăn tôi viết nhưng nỗi ưu quốc làm tôi muốn viết, muốn cất tiếng, muốn bộc bạch. Ít nhứt, tôi nghĩ, trước khi chết tôi phải bày tỏ với Hatsuyo những gì mà tôi muốn nói, những gì mà tôi cảm thấy nàng muốn biết. Tôi nhìn trang giấy, bấy lâu nay tôi đã bắt trang giấy trắng tinh không cho Hatsuyo biết đến, lúc này không còn cần thiết nữa. Tôi viết những gì thống thiết nhứt trong lòng mình.

“Hatsuyo,

“Anh đã được chỉ định vào nhiệm vụ chiến đấu trở lại,” tôi viết. “Từ đây trở về sau, Nhựt Bản sẽ phải chống chọi lại với một kẻ thù vượt trội mọi mặt. Hôm nay, anh vừa nghe tin người bạn thân nhứt của anh, Hiroyoshi Nishizawa, đã thiệt mạng ở Phi Luật Tân. Nishizawa là phi công vĩ đại nhứt của xứ sở chúng ta. Anh cảm thấy nếu một người như vầy mà không thể sống sót được thì đối với anh, bất lợi vì mất một mắt, chắc chắn anh sẽ nối bước theo hắn không lâu.

“Có lẽ đây là bức thơ cuối cùng anh viết cho em. Thật là ngại ngùng, Hatsuyo, nhưng mà anh không thể nào chờ đợi lâu hơn nữa để bày tỏ những gì mà anh muốn nói từ lâu.

“Lần nói chuyện cuối cùng vừa rồi, em đã nói rằng anh không hiểu trái tim của một người đàn bà. Em đã sai lầm, Hatsuyo. Sai lầm quá đỗi.

“Em có nhớ lại những ngày thơ ấu của chúng ta không? Những ngày huyền diệu, tràn ngập tiếng cười đùa ấy? Anh và em đã sống như tình ruột thịt, và ngay cả thời gian sau này chúng ta vẫn còn cảm thấy như vậy.

“Những gì mà anh muốn nói với em từ lâu, Hatsuyo, là trong tim anh, em chính là người anh yêu mến nhứt trên quả đất này. Bây giờ, anh biết, anh đã coi em như một người mà anh đặt tình yêu duy nhứt vào đó. Có lẽ nói như vậy thật bậy, có lẽ điều này anh nói ra không phải lối nhưng anh tin rằng hình ảnh của em không lúc nào vắng bóng trong tim anh. Trước đây anh chưa ý thức, nhưng anh đã biết rõ điều đó trong những tháng cuối cùng này.

“Anh đã yêu em từ rất lâu, Hatsuyo, và yêu em sâu đậm. Lúc ấy anh đã chôn giấu tình cảm thật sự của anh. Anh yêu em! Anh đã chờ đợi để thốt ra những lời này từ lâu lắm rồi. Chiến tranh đã dựng lên một hàng rào vĩ đại ngăn cách chúng ta. Anh ý thức rằng tình cảm của anh không bao giờ bày tỏ được, rằng tình yêu này sẽ chôn kín mãi mãi trong lòng.

“Hơn tất cả, chúng ta là anh em họ gần. Có lẽ đó là điều tốt nhứt để đặt cuộc hôn nhân nằm phía bên kia tầm tay của chúng ta. Nhưng bây giờ, anh đã nói ra những gì cần nói. Và bây giờ, tình yêu của anh, Hatsuyo, em là tình yêu duy nhứt mà anh dành cho sự cầu nguyện. Mong em sống dài lâu, mong hạnh phúc thuộc về em mãi mãi.”

Saburo Sakai.”

Sáng hôm sau công việc huấn luyện chiến đấu của chúng tôi vụt sôi động. Các phi công la hét ồn ào, khi họ nhìn thấy hàng mấy chục chiến đấu cơ tân kỳ, loại mới toanh bóng mượt đáp xuống phi trường. Kawanishi N1K-J “Shiden” (Tử Ðiện) là loại chiến đấu cơ mà tôi đã từng bay thử không lâu trước đây. Bọn phi công mừng quýnh khi đưa các chiến đấu cơ mới này rời khỏi mặt đất. Tốc lực cao! Bốn đại bác! Bọc thép! Lướt lên dữ dội! Chúi xuống như chớp!

Chiếc Shiden là phiên bản thứ nhì của khu trục cơ thử nghiệm Kawanishi “Kyofu” (Cường Phong) nhưng trang bị động cơ mạnh hơn, nó như con chiến mã chờ đợi kỵ sĩ. Các kỵ sĩ la ó vì kích động, đã chấm dứt thời kỳ của những chiếc Zéro thua sút những chiếc Hellcat mọi mặt! Ai ai cũng nóng lòng cất cánh tức khắc để kiểm tra những tính năng tinh diệu của chiếc Tử Ðiện này. “Bọn Hellcat cứ đến đây! Chúng sẽ biết chúng ta bay như thế nào!” Các phi công la oang oang, tinh thần của mọi người lên cao trở lại. Không đoàn Matsuyama khí thế bừng bừng. Ða số các phi công trong tân không đoàn này đã từng tham dự nhiều trận đánh và nhiều người đã hạ trên mười phi cơ địch. Chúng tôi là thành phần kiệt xuất của toàn thể các đơn vị không quân thuộc Hải quân Hoàng gia, điều này giải thích tại sao chúng tôi được cung cấp những phi cơ mới. Cùng với chúng tôi là các tân khóa sinh xuất sắc nhứt tuyển lọc từ các khóa thi tuyển, nên mặc dù rất cần những người tình nguyện sang các đơn vị Thần Phong, các phi công của không đoàn mới này, tập hợp lại, được xem là vũ khí trên không mạnh mẽ nhứt của Nhựt Bản từ trước đến nay, và Trung tá Nakajima đã bác bỏ tất cả những lời thỉnh cầu thuyên chuyển qua các đơn vị Kamikaze.

Hơn mười ngày trôi qua, thời gian thăm thẳm nhưng bức thơ tôi gởi cho Hatsuyo không thấy hồi âm. Tôi không hiểu tại sao nàng không trả lời tôi.

Lo lắng vì nghĩ đã vô tình xúc phạm gia đình chú thím mình do lời lẽ trong thơ quá đường đột, nhưng tôi không thể để cho tình cảm chi phối nhiệm vụ, nhứt là ở hiện tại. Tôi lao vào công tác khái quát đội hình chiến thuật cơ bản nhằm đánh chặn oanh tạc cơ B29.

Ngày hôm sau nữa, Hatsuyo vẫn lặng im. Tim tôi bồn chồn như lửa đốt. Không một người anh họ nào viết thơ cho em họ như thế. Tôi đã phạm lỗi quá lớn!

Vào ngày thứ mười hai sau khi tôi gởi lá thơ, lúc tôi rời khỏi lớp giảng huấn mà tôi vừa dạy về kỹ thuật không chiến, một liên lạc viên hấp tấp chạy đến báo cho tôi biết có hai người khách đang đợi tôi ở phòng khách. Tôi ra khu Tiếp tân ngay lập tức.

Tôi nhìn thấy Hatsuyo và thím tôi đang chờ. Ngay khi tôi bước vô phòng, Hatsuyo đứng bật dậy.

“Saburo, em đến đây để làm vợ anh.”

Tôi kêu lên:

“Hatsuyo!”

Nàng dịu dàng lặp lại, chậm rãi:

“Em đến đây, Saburo, để bàn về cuộc hôn nhân của chúng ta.”

Tôi đứng bất động, không thốt nên lời.

“Nếu anh chuẩn bị để chết, Saburo, em cũng sẽ chuẩn bị như anh. Nếu chúng ta chỉ được một đôi ngày hoặc một đôi tuần bên nhau, ít ra chúng ta cũng sẽ có khoảng thời gian ấy trong tay khi chết. Ðó là ý muốn của Thượng đế dành cho chúng ta…”

Nàng nhìn tôi đăm đăm rồi nói với tất cả quả quyết, điềm tĩnh:

“Chúng ta thuộc dòng dõi Samurai, nếu anh phải chết, Saburo, em được giáo dục để chết theo một samurai. Thì không vì cớ gì mà em không được làm vợ anh. Em đến đây để làm vợ anh, Saburo.”

“Hatsuyo!” Tôi kêu lên lần nữa. Chuyện này khó thể tin là sự thật. Tất cả hoàn toàn kỳ diệu đối với tôi.

Thím tôi góp lời để tác hợp chúng tôi.

“Saburo, không có gì ngăn trở hôn nhân của các con. Chung huyết thống không là vấn đề. Cả hai con đều có thể chất lành mạnh. Tác hợp giữa con với Hatsuyo cũng là ước muốn của chú thím.”

Tôi sung sướng đến phát điên lên. Tất cả như một giấc mộng vụt hiện thực nhưng trước khi bàn xa hơn về hôn lễ, tôi cần phải viết thơ cho má tôi để yêu cầu người ưng thuận. Trong thơ hồi đáp, má tôi cho biết bà rất tán thành nhưng không thể tham dự hôn lễ. Ðường hoả xa hoàn toàn gián đoạn. Trận bom sau cùng đã phá hủy nhà ga Kyushu. Ngay cả thuyền bè cũng tạm ngưng vì không một tàu nào của Nhựt không bị máy bay Ðồng Minh oanh tạc. Má tôi yêu cầu chú thím tôi lo liệu mọi chi tiết cần thiết.

Hatsuyo và tôi kết hôn vào buổi chiều ngày 11 tháng Hai năm 1945, là ngày Quốc Khánh của Nhựt Bản. Hôn lễ cử hành đơn giản. Không một phi công nào tham dự, vì xế trưa hôm đó có báo động không tập. Thay cho ban nhạc là tiếng kèn báo động của hàng trăm loa phóng thanh. Sau lễ lạy tạ chú thím, tôi với Hatsuyo đi bộ trong một phố tối đen vì cúp điện đến một đền Shinto là quốc giáo của Nhựt, để xin ơn trên chứng giám tâm nguyện thành thân của tôi với Hatsuyo.

Tuần trăng mật dĩ nhiên bị gạt ra ngoài vì hoàn cảnh hiện tại. Chủ Nhựt kế đó, chúng tôi mời 50 phi công của Không đoàn Matsuyama tham dự một bữa tiệc để đền bù sự vắng mặt của họ vào đêm hôn lễ của chúng tôi. Các phi công cười rũ vì chi tiết “dàn nhạc giao hưởng” còi hụ ngân vang và siêu pháo đài bay B29 đến chung vui cùng chúng tôi. (Là không tập “thử nghiệm” đầu tiên của B29 dội bom xuống thủ đô, mười ba ngày sau đó 174 siêu pháo đài bay này sẽ thiêu hủy chu vi 2.5 km vuông phố xá Ðông Kinh). Các đồng đội tôi đem đến nhiều rượu saké và thức ăn để bù thêm vào các món ăn mà Hatsuyo cùng với em Michio đã cố gắng hết sức. Họ đem theo cả đàn Bầu, đàn Tây ban cầm và Phong cầm cùng hát bè nhạc vu quy. Họ đồng ca hết bản này đến bản khác để chúc tụng chúng tôi. Các phi công không ngớt ca ngợi nhan sắc của Hatsuyo làm tôi phỉnh mũi vì kiêu hãnh. Rồi Hatsuyo cùng đệm dương cầm chung làm thành ban nhạc sống của đêm thâu. Thím tôi dành cho chúng tôi một bất ngờ, thím lặn lội xuống các miền quê xa tìm mua cho bằng được thịt bê và tôm tươi mà ở Ðông Kinh không còn trông thấy nữa, tôi không biết thím làm cách nào nhưng các đồng đội của tôi đã hưởng ứng nhiệt tình đến bóng láng các mâm đồng trong niềm vui tột cùng của chú thím và ánh mắt long lanh của Hatsuyo. Buổi tiệc kéo dài quá nửa đêm. Thỉnh thoảng Hatsuyo ngó tôi đẵm trìu mến. Ðó là những giờ phút sung sướng nhứt mà tôi chưa từng biết trước đây. Tất cả những hạnh phúc của quá khứ như bị hạnh phúc của hiện tại che mờ hết.

Mắt tôi không lúc nào rời khỏi Hatsuyo. Nàng thật huyền diệu. Nàng là một giấc mơ có thật, một công chúa trong những câu chuyện thần tiên, xinh đẹp tuyệt trần và rực rỡ. Nàng là vợ tôi.

Ngấn lệ chiều áp lễ Giáng Sinh

Đoàn Xuân Thu

1.

Melbourne mùa Giáng Sinh tuyết chỉ rơi trên màn ảnh truyền hình. Thay vì tiếng nhạc tuần lộc kéo xe trượt tuyết, Jingle Bells, Jingle Bells, là tiếng hú còi inh ỏi “Cháy đâu? Cháy đâu?” của xe chữa lửa. Thay vì gió tuyết tràn qua khung cửa sổ, qua những dãy đồi thông, tùng, bách, là gió sa mạc từ phương bắc thổi về thành phố, mang theo tàn lửa, khói, bụi của hàng chục, trăm ngàn mẫu rừng bạch đàn đang phừng phừng bốc cháy.

Lúc ấy, tôi đang làm Santa Claus ở một shopping centre. Công việc làm theo mùa, bắt đầu vào đầu tháng chạp, chấm dứt vào chiều áp lễ Giáng Sinh. Khách hàng đa số là trẻ con. Việc làm nhiều giờ, nóng kinh khủng; áo ướt đẫm, mồ hôi chảy thành dòng trên má. Cực hình. Hỏa ngục. Ấy là chưa kể đến những đứa trẻ nghịch ngợm, quậy phá, hò hét: “Á! Santa Claus da màu!” Nếu mình không giỏi nhịn, phát cáu, phản ứng lại quá đáng là hư bột, hư đường, hư việc… “Khách hàng là thượng đế.”

Tuy đối với một số người việc làm này là cực hình, là hỏa ngục nhưng đối với một số người khác thì lại thích. Chín người mười ý. Riêng tôi, thích hay không gì cũng phải làm. Mới từ đảo, chân ướt chân ráo đến Melbourne, trợ cấp an sinh xã hội chỉ đủ cho tiền ăn, tiền share phòng, trong khi vợ con tôi bỏ lại quê nhà đang đói, tôi chụp lấy bất cứ cơ hội nào để kiếm tiền. Không có việc lương thiện nào xấu, chỉ có người xấu mà thôi. Nước Úc này nhận di dân, tị nạn vào là để làm việc, đóng thuế, góp phần xây dựng chứ không phải để nuôi làm kiểng. Nuôi hoài, nó đâu có chịu.

Vậy thì “muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn chết phải lết vô hòm”, tôi viết đơn xin việc gởi đi khắp nơi, bất cứ việc gì cũng chẳng từ nan, từ bảo vệ, gác-dan, thâu tiền car park, thậm chí đến nhân viên vệ sinh, lau chùi, quét dọn.

Thư xin việc gởi đi nhiều, mới đầu còn hy vọng được kêu đi phỏng vấn, chờ hoài, chờ hủy, dần dần thành tuyệt vọng. Suy nghĩ hoài mà tôi chẳng thể tìm được lý do nào khả dĩ cắt nghĩa được tại sao họ chẳng kêu mình. Mình có đòi làm thầy chú, luật sư, bác sĩ gì đâu, mà có đòi cũng không được, mình biết thân mình, chỉ xin làm cu li thôi; hay là khi thấy cái tên họ chần vần, đẫm đầy mùi nước mắm của mình thì họ đã thản nhiên vứt cái đơn xin việc vào sọt rác rồi cũng nên. Chính sách một thời Úc trắng, the White Australia, chỉ mới khai tử gần đây, dám cũng còn sót lại cả đống tay kỳ thị.

Vậy là tôi quyết định phiên âm tên mình ra tiếng Anh, Tony Dawn, cái tên phảng phất mùi bơ sữa.

Biết chuyện, anh bạn cùng share phòng với tôi, trong một bữa nhậu cuối tuần, đã vội quở:

“Anh chân ướt, chân ráo qua Úc mới mấy tháng, tiếng Anh nghe còn điếc, nói còn cà lăm, mà đã vội quên mồ mả ông bà. Mình mất nước, mình chạy; nhưng hình ảnh quê hương, ông bà, cha mẹ, mình mang theo, mình giữ chứ. Vậy mà ngay cái tên cúng cơm của cha mẹ đặt, anh cũng bỏ luôn.”

“Anh trách tôi, tội nghiệp, tôi không phải hạng người tham đó bỏ đăng, thấy trăng quên đèn, hay trưởng giả học làm sang. Cuống nhau rún của tôi, ba má tôi đã chôn đâu đó ở một làng quê ven thị xã Mỹ Tho thì làm sao tôi quên được. Má tôi từng nói: “Cuống nhau rún của con chôn ở quê hương, bản thổ, lỡ sau này thời thế đổi thay, làm thân lưu lạc, đất khách quê người, tha phương cầu thực, vẫn còn cái nhớ để trở về.”

“Tôi đổi tên chẳng qua để dễ xin việc. Tôi cần tiền. Vợ con tôi đang ăn độn bo bo ở quê nhà mà anh.”

2.

Trong lúc không còn hy vọng gì nữa thì tôi được gọi đi phỏng vấn. Phỏng vấn tôi, Maria Paterson, trẻ, tóc vàng sợi nhỏ, mỏ đỏ, mắt xanh, là nhân viên điều hợp của công ty Southern Cross có một đội ngũ hơn 600 Santa Claus trên toàn quốc.

Khi tôi đến, da vàng, mũi tẹt, tóc đen, dưới một cái tên rặt Úc thì Maria trố đôi mắt xanh lơ ngạc nhiên nhìn tôi, làm tôi hơi bực bội. Tôi hít một hơi thở thật sâu: “Nhịn nó đi! Nhịn nó đi! Mình đến đây để xin việc chứ không phải để cãi lộn. Vợ con mình đang đói, đang ăn độn bo bo ở quê nhà kìa.” Dù thầm nhủ lòng như vậy, nhưng khi Maria hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao ông lại muốn làm Santa Claus không?”, tôi tức quá, không nhịn được nữa, nổ luôn: “Tôi muốn làm Santa Claus vì hai lẽ. Thứ nhứt là tôi cần tiền, cần việc làm.” Tôi lên giọng, hơi gay gắt: “Thứ nhì là làm Santa Claus, tại sao không? Chúa là của muôn người, không phân biệt chủng tộc, màu da: trắng, vàng, đen, đỏ. Santa Claus cũng vậy thôi! Da trắng làm Santa Claus được; tôi, da vàng, thì cũng được; có sao đâu?” Tôi muốn cho cô ta biết tôi đang bực bội. “Nè! Đừng có lên giọng kỳ thị nghe cô nương!” Ai dè, Maria Patterson có vẻ chịu câu trả lời của tôi, đáp lại bằng cái tiếng Anh hơi ngọng, giọng Úc: “Fair enough!” Có lý!

Vậy là tôi được được nhận vào lớp huấn luyện Santa Claus bắt đầu vào trung tuần tháng chín; sau khi qua sự thẩm tra lý lịch tư pháp của cảnh sát.

Mặc dù dưới tay Maria Paterson có hàng trăm Santa Claus, đồng phục đỏ, viền trắng, mỗi năm cô vẫn phải kiếm thêm người. Việc làm đòi hỏi nhiều thể lực nên khi Santa Claus tuổi già chồng chất, yếu quá không thể nào kham nổi nữa. Có lần Maria điện thoại cho một Santa Claus trong danh sách để xem ông có rảnh để làm việc cho mùa Giáng Sinh này không thì mới hay ông đã qua đời. Thật là một cái tin tang chế buồn bã.

Nhiều người đã làm Santa Claus suốt 18 năm ròng rã, nên muốn mình mới là chính hiệu cầu chứng Santa Claus. Có lần Maria nhận điện thoại, bên kia đầu dây nói: “Chào Maria Paterson! Santa Claus”. “Nhưng Santa nào đây? Khi trong tay tôi có hơn 600 Santa Claus trên toàn quốc.” – Maria kể lại.

Lớp huấn luyện Santa là phòng hội của chi hội cựu chiến binh Úc, RSL, ở khu lao động miền tây Melbourne, Footscray. Hơn 70 người đến dự hai ngày huấn luyện trước khi được phân về các shopping centre để làm việc: chụp hình kỷ niệm Giáng Sinh với trẻ con, dĩ nhiên có tính tiền, sau là đáp ứng lời ước Giáng Sinh của trẻ con về một món quà nào đó và biến giấc mơ đó thành hiện thực… bằng tiền của ba má chúng.

Trong căn phòng nhộn nhịp, một ông già tóc bạc, râu dài, chận tôi ở cửa, quắc mắt nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi gầm gừ đe dọa: “Này, tôi cho anh bạn biết, không được tiết lộ bất cứ bí mật nào của căn phòng này ra ngoài nhé!” Tôi lúng túng chưa biết trả lời sao thì ông già đã nháy mắt, cười rung cả bụng: “Chỉ đùa thôi!” Rồi dùng tay mình vỗ vào gan bàn tay tôi một cách thân thiện.

Đó là quang cảnh lần đầu tiên tôi thấy rồi suốt đời chẳng thể nào quên. Cả một biển người tóc bạc, có người mang kiếng lão, râu trắng như cước, với những chiếc bụng bự đầy mỡ, Việt Nam mình hay gọi là thùng nước lèo, mà từ nhỏ tới lớn đây là lần đầu tiên tôi mới thấy cái thùng nước lèo bự đến thế.

Santa trẻ nhất 25 tuổi, già nhất 92 tuổi. Đủ nghề: tài xế xe buýt, nhân viên ngân hàng, kỹ sư hay những người đã về hưu. Nhiều người kỳ cựu, đã làm Santa Claus chuyên nghiệp rất nhiều năm. Tái huấn luyện chỉ là dịp để họ cập nhật hóa những luật lệ và phương thức làm việc mới nhất. Nó cũng là dịp gặp lại những người bạn Santa cũ để trao đổi kinh nghiệm và tiện thể đấu láo cho vui. Cuộc sống ở đây, xứ Úc, già, cô đơn, buồn chán lắm.

Họ ngồi trên những chiếc ghế bằng nhựa, làm chưn ghế muốn oằn luôn, tay cầm quyển cẩm nang huấn luyện, nhưng không thèm để mắt tới một chữ, chỉ lo nói cười ầm ĩ và có vẻ chẳng để ý gì đến Maria Paterson, người điều hợp chương trình, đang rát cổ hò hét để cố át tiếng ồn ào như ong vỡ tổ…

3.

Lớp huấn luyện kéo dài hai ngày. Nhiều người nghĩ đóng vai Santa Claus dễ như ăn cơm sườn nhưng thực sự không phải vậy. Nhiều học viên bỏ cuộc vì khó quá!

Ngày đầu học lịch sử Santa Claus, nhớ tên các con tuần lộc, nghiên cứu cách sử dụng các loại đồ chơi mới nhất ở thị trường, Santa Claus phải học cách mặc quần áo rất phức tạp, mất nhiều thì giờ để hóa trang cho đúng. Giày bốt phải màu đen và được đánh cirage cho bóng. Santa không bao giờ mang đồng hồ. Bút nịt không được xệ khỏi rún quá xa. Râu, tóc giả thẳng thớm, phất phới, bay bay. Ông già Santa có người mập, có người ốm. Ốm phải độn thêm miếng vải lót. Joe Jolley, người giỡn mặt tôi khi lần đầu tôi bước vào lớp, là ông già Santa mập, nên miếng lót được trao cho tôi, vốn ốm nhom ốm nhách. Joe cười, vỗ vào bụng đầy mỡ của mình rồi nói: “Nhìn nè! Tôi tự đem theo miếng vải lót đây rồi.” Sau khi hóa trang, Santa Claus phải tập cách cười rung cả bụng, biết lúc nào thích hợp để nói “ho, ho, ho”. La “ho, ho, ho” không đúng lúc có thể làm cho trẻ con giựt mình, sợ hãi.

Ngày thứ hai học tâm lý, cách giao tiếp với trẻ con kể cả với những bé không may bị tàn tật. Santa Claus được xem video, trong đó đạo diễn cuốn phim dàn dựng những tình huống đời thường, có thể xảy ra, khi giao tiếp với trẻ con trong mùa lễ Giáng Sinh. Làm Santa là làm kịch sĩ. Mà không có kịch bản nào giống kịch bản nào vì mỗi cháu mỗi khác.

Ra vậy, kiếm đồng tiền quê người cũng “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” chứ chẳng phải chuyện giỡn chơi.

Joe Jolley, 66 tuổi, bụng bự, chân mày chổi xể lốm đốm bạc, là cựu binh, huynh trưởng. Tôi là lính mới, đàn em. Joe có nhiệm vụ kèm cặp, hướng dẫn tôi, đầy óc hài hước, nói đùa: “Tôi được nhận làm Santa Claus vì họ của tôi là Jolley.” Jolley nghĩa là vui. Joe Jolley, Joe Vui Vẻ, tài xế xe buýt. Ông quyết định về hưu non để trở thành Santa Claus chuyên nghiệp.

“Dù đã thực tập làm Santa Claus trong những bữa tiệc Giáng Sinh gia đình rất nhiều lần tôi cũng không tránh khỏi hồi hộp khi lần đầu làm việc với tính cách chuyên nghiệp. Khi bước ra khỏi phòng thay đồ, tôi cúm giò luôn, tôi thấy mình có vẻ ngố làm sao ấy.” – Joe kể lại.

Kinh nghiệm làm Santa Claus hơn mười năm của Joe đã giúp ích tôi rất nhiều.

Chẳng hạn Joe chỉ tôi trước khi đội tóc râu giả nên đội phía trong một cái kết đã cắt mất phần chóp để giữ cho đầu tóc giả được thẳng đứng.

Joe cũng chỉ tôi cách giữ gìn sức khỏe. Joe dặn tôi: “Khi chụp hình kỷ niệm, đặt trẻ con trên đùi, hãy nhớ thay đổi chân này chân kia.” Có Santa Claus quên bẵng việc này, để đến cuối ngày làm việc mới thấy một bên bắp đùi mình bầm tím vì trẻ con vừa ngồi vừa đánh đòng đưa cả hai chân.

Nhưng kinh khủng nhứt là cái nóng, vì hầu hết các Santa Claus phải làm việc ít nhất 6 đến 8 tiếng một ngày trong thời tiết nóng bức, dưới ánh sáng chói chang của đèn chụp hình, mặc bộ áo Santa Claus dày cộm, đội râu tóc giả bùm xùm có thể làm thân nhiệt của Santa Claus tăng cao, gây chảy máu cam, đôi khi bị choáng đưa đến bất tỉnh nhân sự; nếu không cấp cứu kịp thời có thể đưa đến tử vong.

Santa cần quạt máy cho bớt nóng, shopping centre ở vùng nghèo làm gì có máy điều hòa không khí. Nóng nực làm cho Santa khát nước, phải uống nước liên tục; uống nước nhiều khiến họ phải đi toilet nhiều hơn. “Nhưng nên nhớ rằng Santa Claus không bao giờ đi toilet, ông ấy đi cho mấy con tuần lộc ăn” – Joe dặn tôi.

Joe nói chân thành: “Tôi thích nghe những điều ngộ nghĩnh trẻ con nói.” Có lần Joe hỏi một bé gái 5 tuổi: “Con có cho baby bú không?”. “Bởi vì tôi nghĩ baby bú bình”, Joe nói. “Nó chăm bẳm nhìn tôi rồi lớn tiếng: “Làm sao được? Con không có sữa. Chính vú mẹ con mới có sữa; cho baby bú tí được.” Joe cười ngặt nghẽo: “Tôi bị quê quá là quê.”

Trẻ con lớn nhỏ khác nhau, tính tình, ước muốn cũng khác nhau. Đáp ứng đủ loại lời ước khác nhau của trẻ con là điều rất gay go.

Có cháu đòi một chiếc xe đạp. Santa Claus phải xem ba má cháu chịu hay không, vì không phải ai cũng đủ tiền mua cho con mình chiếc xe đạp giá cả vài chục đô để làm quà Giáng Sinh đâu, nhất là đối với những gia đình di dân lao động nghèo mới đến ở miền tây Melbourne; chứ còn đối với những gia đình thượng lưu ở Toorak đó là chuyện nhỏ. Nếu ba má cháu lắc đầu, Santa có thể nói cháu còn nhỏ quá chưa cỡi xe đạp được. Tuy nhiên Santa Claus sẽ có một món quà Giáng sinh rất thú vị cho cháu.

Có cháu nằng nặc đòi một cây súng mà phải là cây súng thật mới được, (thế giới này đầy dẫy bạo lực rồi, cháu còn đòi súng nữa mà chi?), thì Santa Claus trả lời là bà Santa không thích bạo lực nên không có làm súng cho trẻ con.

Có cháu sún răng, rụng mất hai cái răng sữa mà răng vĩnh viễn chưa kịp mọc, cháu ước Santa Claus cho cháu hai cái răng cửa vào đêm Giáng Sinh để còn kịp đón mừng năm mới. Joe, Santa Claus, trả lời “Cháu ngoan thì hai cái răng cửa sẽ từ từ mọc ra, nhanh chậm là tùy theo cháu ngoan nhiều hay ít.”

4.

Sau hai ngày huấn luyện vào trung tuần tháng chín, đầu tháng chạp tôi được gởi về một trung tâm mua sắm miền Tây Melbourne, nơi đang có nhiều di dân Á Châu lục tục đến định cư, nhất là người Việt tị nạn, để làm việc.

Một mình một thân, mùa Giáng Sinh đầu tiên xa vợ, xa con, tôi cố vui với công việc để mong giết chết nỗi buồn xa xứ. Mùa Giáng Sinh làm việc bù đầu rồi cũng trôi qua. Tôi đã đóng tròn vai Santa Claus. Tôi không dám nói mình là một kịch sĩ tài ba, tôi chỉ muốn san sẻ niềm vui với khách hàng, những thượng đế ngây thơ, được cha mẹ dắt đi shopping, cho chụp hình kỷ niệm với Santa Claus, được quà tặng Giáng Sinh.

Tôi nhớ vợ, tôi nhớ con tôi – còn kẹt lại ở quê nhà thì làm gì có việc chụp hình kỷ niệm với Santa Claus, làm gì có quà Giáng Sinh, cơm trắng còn không đủ ăn, phải độn – mà lòng đau như cắt.

Buổi chiều áp lễ Giáng Sinh đã gần 5 giờ, shopping centre sắp đóng cửa cho nhân viên về đoàn tụ với gia đình. Mấy cô thu ngân đang hối hả đếm tiền, kết sổ. Nhân viên lần lượt vào gặp viên quản đốc để nhận cheque tiền lương, một hộp chocolate làm quà Giáng Sinh và câu chúc “Merry Christmas!” Riêng tôi và ông thợ chụp hình được thêm lời chúc “Happy New Year!” với lời hẹn gặp lại vào mùa Giáng Sinh năm sau.

Áo tôi hầm hập nóng, mồ hôi chảy thành dòng trên mặt, ướt cả hàm râu giả. Chiếc quạt máy xả hết tốc lực, quay điên cuồng, cũng không xua đi được cơn nóng mùa hè xứ Úc. Ông thợ chụp hình đang dẹp đèn chớp, xếp chân chống máy chụp hình để chuẩn bị ra về thì họ xuất hiện. Đó là hai cha con người Việt. (Họ nói với nhau bằng tiếng Việt, vốn đơn âm, trầm bổng, ríu rít như chim hót.)

5.

Người cha là một thanh niên áng chừng hơn 30 tuổi, cỡ tuổi tôi, mặc chiếc áo trắng tay dài, dù đang mùa hè nóng bức, bỏ vào chiếc quần tây màu tro xám. Da ngăm ngăm đen như chưa nhả hết nắng của ông làm tôi nhớ những ngày nắng cháy đi lao động, đào kinh thủy lợi. Có lẽ ông này mới đặt chân đến đây chưa được bao lâu, giống như tôi, để có thể ăn nhiều bơ sữa Úc, thân hình mới tạo ra một lớp mỡ cần thiết để chống lại cơn lạnh khắc nghiệt mùa đông xứ Úc. Đôi giày ông mang, ngay cả giống giày Sạc-Lô, quần áo thì rộng thùng thình so với thân hình còm cõi của người dân Việt Nam nhiệt đới mình vốn dĩ đã nhỏ con.

Riêng cháu gái chừng sáu, bảy tuổi, mặc chiếc đầm trắng tương đối đắt tiền, vừa chiến, tôi chắc hàng hiệu của Myer. Tôi nghĩ thầm trong bụng ông này thương con dữ. Cha mặc đồ lình xình. Con mặc đồ xịn.

Tóc cháu đen, dày, thẳng đuột, dài chấm tới bả vai. Trên đầu là miếng mousse màu xanh lá, cắt tua tủa, giả làm những nhánh sừng của con tuần lộc. Mắt cháu mí lót như những người Á Châu khác, tròng mắt đen, tròn như hạt nhãn, lấp lánh dưới ánh đèn điện trông như có sao sa.

Tôi nhìn cháu gái, bùi ngùi nhớ đến hai đứa con trai tôi mà đứa lớn trạc tuổi cháu, còn kẹt lại ở quê nhà. Cái Tết đầu tiên này ở Melbourne, nếu tôi không kiếm được tiền để đóng một thùng quà gởi về cứu đói, thì chắc vợ con tôi ở nơi ruộng lúa cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi, cũng phải tiếp tục ăn độn bo bo là thứ mà trước năm 1975 người ta dùng nuôi gia súc.

Khi thấy tôi, Santa Claus, và ông thợ chụp hình, mắt cháu ánh lên một nét mừng vui.

“Ba ơi! Ông già Noel kìa!”

Ông ngước mắt nhìn tôi, hơi ngạc nhiên, khi nghe tôi chào ông bằng tiếng Việt:

“Chào ông. Merry Christmas! Ông có muốn cho cháu chụp hình kỷ niệm Giáng Sinh không?”

Ông, vẻ lưỡng lự, bối rối nhìn con, rồi móc bóp ra, kiểm lại tiền. Chỉ lèo tèo vài tờ 5 đô và những đô tiền cắc.

Tôi thầm nghĩ cha con ông này còn may mắn hơn cha con tôi nhiều. Nhưng khi nhìn nét mặt ngây thơ, thánh thiện, đáng yêu của cháu nhỏ tôi đâm ra tội nghiệp. “Nó cũng trạc tuổi con mình.” Cầm lòng không đậu, tôi nói với ông khách: “Xin ông đừng từ chối; có lẽ ông và cháu đây là người khách cuối cùng của chúng tôi mùa Giáng Sinh năm nay nên tôi sẽ nói với ông thợ chụp hình người Úc chụp cho cháu một tấm hình với ông già Noel miễn phí. Ông chỉ cần cho biết địa chỉ để khi rửa hình ra chúng tôi sẽ gởi đến cho cháu để làm kỷ niệm, vài năm nữa cháu lớn khôn có dịp nhìn lại chắc cũng thấy vui vui.” (Năm ấy chưa có máy chụp hình kỹ thuật số, chụp và in ra liền như bây giờ).

6.

Khi cháu gái đứng cạnh tôi để chụp hình, tôi thấy trong mắt cháu một vì sao sáng lung linh niềm hy vọng.

Vì sao đó hình như một lần tôi đã thấy trong hang đá Bethlehem của mùa Giáng Sinh đoàn tụ ở quê nhà trước năm 1975.

Vì sao đó một lần tôi đã thấy khi đang tuyệt vọng nhìn lên bầu trời đen tối, không biết đâu là bờ là bến, tìm một ánh sao, chỉ một hướng đi, cầu cho một phép lạ nhiệm mầu hiện ra trong đêm lênh đênh, trên con thuyền ọp ẹp, vượt biển Đông. Hành trình biển Đông. Tôi đã đi vào chỗ chết để tìm ra cái sống dù hy vọng rất mỏng manh còn hơn ở lại quê hương tù ngục; bị những người chiến thắng o ép, đày đọa lần mòn cho đến chết.

Đêm biển Đông. Đêm mênh mông. Có vì sao lung linh dẫn đường cho đám người vượt biên khốn khổ tới bờ bến tự do được bình an. Nhưng cũng có người đi mà không bao giờ tới. Vợ chồng, mẹ con, chết chóc, chia lìa, phân tán. Họ bỏ mình vì đắm thuyền, vì khát, vì đói, vì cướp biển Thái Lan. Hành trình biển Đông đầy nước mắt.

Tôi, Santa Claus, nhìn cháu nhỏ, hỏi một câu theo thông lệ mà tôi đã từng hỏi hàng trăm đứa trẻ con khác trong mùa Giáng Sinh năm nay:

“Cháu có ước gì không?”

“Ông ơi! Con không ước đồ chơi gì hết. Ba con nói: mẹ con lạc trên biển Đông đã bao năm mà chưa tìm được đường về. Ông có thể tìm ra mẹ, rồi dắt mẹ về với con được không? Con muốn mẹ.”

Tôi hoàn toàn bất ngờ, bối rối không biết phải trả lời sao bèn ngước mắt nhìn ba cháu, cầu cứu.

Tôi thấy mắt ông rưng rưng đầy ngấn lệ.

Melbourne – Australia.

Đoàn Xuân Thu

Luận anh hùng!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

May 4th, 2023

Post by Sơn râu 29 Nov 2023

Diễn hành kỷ niệm ngày Anzac Day – nguồn newshub

Hôm nay, lúc tôi viết bài nầy bên Melbourne, Úc Châu là ngày Thứ Ba, 25, Tháng Tư, năm 2021, là Anzac Day. ANZAC là tên viết tắt của Australian and New Zealand Army Corps (Quân đoàn Úc và New Zealand).  Ngày ANZAC là một ngày toàn quốc Úc và New Zealand tôn vinh những người lính dẫu thất trận nhưng đã chiến đấu và hy sinh trong chiến dịch Gallipoli trong Thế chiến I.

Rạng sáng nay, toàn nước Úc và New Zealand cử hành Dawn Service (Lễ tưởng niệm trước bình minh) cho những người đã bỏ mình vì tổ quốc.

Trận chiến Gallipoli là một thất bại lớn của quân Úc và các đồng minh trong Thế chiến thứ nhất. Mục tiêu ban đầu của chiến dịch là tiếp cận vùng eo biển bán đảo Gallipoli tính mở đường đến hỗ trợ quân Nga chống lại Ðức và Áo-Hung.

Sau gần 9 tháng chiến đấu ác liệt, bị quân Thổ Nhĩ Kỳ đánh bại, quân Úc và đồng minh buộc phải rút khỏi Gallipoli vào tháng 1 năm 1916. Úc đã mất hơn 8,000 người và gần 20,000 người bị thương.

Rồi mới mấy bữa nay, xác tàu SS Montevideo Maru chìm vào ngày mùng 1, Tháng Bảy, năm 1942 ngoài khơi bờ biển Philippines vì bị trúng ngư lôi của một tàu ngầm Mỹ với khoảng 979 tù binh chiến tranh và thường dân Úc bị bắt ở Rabaul được Úc phát hiện.

Ronald Freeman, một xạ thủ của khẩu đội chống tăng thứ 17 ở Rabaul, đã viết một lá thư gửi cho người vợ đang mang thai Dorothy và đứa gái hai tuổi Vicki: “Anh yêu em. Hãy hôn Vicki giùm anh”.

“Chúng tôi đã mất gần gấp đôi số người Úc trong toàn bộ Chiến tranh Việt Nam. Nó không phải là một xác tàu mà là một ngôi mộ. Ðó là nơi hơn 1,100 linh hồn đang yên nghỉ.”

Trận chiến Gallipoli và vụ tàu SS Montevideo Maru bị Mỹ đánh chìm là một trong những trận chiến đau đớn nhất trong lịch sử của Úc. Nó đã trở thành một biểu tượng của sự dũng cảm và sự hy sinh cho người Úc

Vì “Bất đắc dĩ thành bại luận anh hùng là một anh hùng không nên được đánh giá chỉ dựa trên việc họ thành công hay thất bại.”

Lại nhớ, năm 1972, tui vào trường Bộ Binh Thủ Ðức! Khóa 4/72 (khăn tím), thuộc trung đội 242. Số 2 đầu là tiểu đoàn 2, số 4 kế là đại đội 4, còn số 2 chót là trung đội 2.

Thiếu úy Bùi Thanh Tân, (giờ ở bên Pháp) Trung đội trưởng cán bộ, gốc Chà và, Ấn Ðộ, đen thùi lùi, biệt danh là ‘dế than’ trên nắp túi áo có gắn huy hiệu của Fort Benning với lưỡi gươm, phía trên có dòng chữ Follow Me, trường Lục Quân, tiểu bang Georgia bên Mỹ đó nha!

Hồi là tân khóa sinh, ra Vũ đình trường làm vài vòng sân cho dãn gân dãn cốt, còn ‘thơ sinh bạch diện’ thấy Fort Benning về, sải như ngựa, mình cũng hơi khớp! Nhưng hết thời tân khóa sinh, gắn ‘alpha’, vai u, thịt bắp, chân đã cứng như thép rồi thì cán bộ đua không lại tụi tui đâu!

Mỗi tối đúng 9 giờ, tùng sự đại đội trưởng khóa sinh, đội nón sắt màu đỏ, thổi tu huýt hoét hoét, cho tập họp điểm danh rồi đi ngủ. Mấy đứa ra hàng quân mà còn chộn rộn, um sùm như cái chợ Cầu Muối, nên tui cảnh cáo tụi nó rằng: “Ê! Nói chuyện um sùm coi chừng con ‘dế than’ nó tới là cha tụi bây cũng thác!” (Hồi xưa đi lính cữ chữ chết, nghe ghê quá hè!) Ai dè tui nghe tiếng: “Có mặt!”  Úy trời đất ơi! Quay lại, thấy cái mặt đen thui như lọ nồi của ổng, thiếu điều tui chết giấc!

Vậy là 12 giờ đêm, vác súng có gắn ‘bayonet’(lưỡi lê), dây ba chạc 7 băng đạn đầy đủ chớ hổng có vụ tháo vụt bớt đạn cho nhẹ đâu nha, vai đeo ba lô lên trình diện dã chiến với một thằng nữa. Thằng nầy, tối hôm qua, nửa khuya làm biếng, nó ‘tè’ đại ở giao thông hào, đâu biết ông Thiếu úy trực ban đại đội, bị suyễn, tối ngủ không được, nên đi rỏn bắt ngay tại trận! Cán bộ ra lịnh cho nó chạy vòng vòng đại đội vừa chạy vừa la: “Các bạn ơi! Tui không bao giờ đái bậy nữa!”  Cứ các bạn ơi hoài! Cả đại đội 4 tiểu đoàn 2, gần 200 thằng, đang say sưa chìm trong giấc điệp, bỗng thức dậy ôm bụng cười “khặc khặc!” Phạt dã chiến, cán bộ chơi ác: “Cho hai anh 30 mươi giây, cởi cái quần ra còn đôi giày.”  (He he! Cái thằng cha cán bộ Ðại đội 24 nầy chơi ác quá!)

Lễ Mãn khóa Sinh viên Sĩ quan Thủ Đức – nguồn Mạnh Hải Flickr.com

Quân trường phát quân phục sao tui mặc vậy nên khi thi hành lịnh phạt là chạy vô ‘chambre’ ngồi trên giường sắt, chỏng cẳng ra, lấy hai tay kéo cái quần ra cái rẹt chưa tới 30 giây! Trên vẫn còn là áo lính mà dưới lại là… cái quần xà lỏn! Thiếu Úy, cán bộ trực ban, thấy mắc cười sao đó nên cho tui đi nghỉ sớm!

Rồi học bài trung đội phòng thủ là phải đào hố cá nhân! Mấy đứa ‘ma le’ chọn hố mấy huynh trưởng khóa trước đã đào, rồi lấp lại, nên cát mềm, mình chỉ xúc lên thôi cho đỡ cực. Ðào xong, cũng cái thằng ‘tè’ bậy ở giao thông hào chỏng cẳng nằm dưới hố quánh một giấc. Tối về, điểm danh sao thiếu mất một thằng. Cán bộ phải chạy Honda ra bãi kiếm, lôi chú lên chở về!

Cái trung đội 242 đó với cấp số đầy đủ 48 thằng. Sau cuộc biển dâu đó, có những đứa đã rửa cẳng leo lên bàn thờ ngồi ngắm gà khỏa thân. Có đứa trôi về Bắc Mỹ theo chương trình HO (sau khi đi cải tạo 3 năm).

Phiêu dạt tận phương trời nầy, tui chỉ gặp lại được 2 thằng cùng trung đội 242. Trương Ngọc Ðông về Ông Ðịa Tiểu khu Châu Ðốc. Nhạc sĩ Ðặng Hữu Hiếu (Sydney) về Tiểu khu Vĩnh Long, em ruột ca sĩ Ðăng Lan nổi tiếng với bài: ‘Thương quá Việt Nam’ của Phạm Thế Mỹ những năm đầu thập niên 70s. Hồi xưa nhà của Ðặng Hữu Hiếu (dân học Trung học Mạc Ðĩnh Chi), ở cổng xe lửa gần chợ An Ðông và quán bán bánh bao của Bà Cả Cần. Và hai đứa cùng tiểu đoàn 2 nhưng khác đại đội là Nguyễn Văn Rạng Dù và Nguyễn Văn Luyến Thiết Giáp.

Tháng Tư đen, 48 năm lại về, lại nhớ tới một thời giày ‘saut’ áo trận ngắn ngủi. Nhớ tới thơ Thanh Nam: “Ơi hỡi quê hương bè bạn cũ. Những ai còn mất giữa sa mù?”

DXT