Hương tràm Trà Tiên

Posted on 20 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

Bài 24

Chân lý “tương đối” 

Một hôm, tôi và thiếu úy Kiệt cùng đi thanh tra xã Tín Đạo, tên thường gọi là Tri Tôn (Rạch Giá). Trên đường về, ngang khúc Đồn Giữa (Ranh giới xã Tín Đạo và xã Đức Phương), chúng tôi thấy hơi ngại vì hai bên đường lau sậy mọc cao, rậm rạp. Việt Cộng dễ núp trong đó phục kích, bắn sẻ. Bây giờ đã cuối hè.

Khu vực nầy chỉ trống vào mùa đông, cây cối hầu hết là loại cây thảo, chết cả. Tới mùa xuân, lau sậy lại lên xanh. Quá hè thì chúng mọc um tùm. Hơn thế nữa, kể từ năm 1974, Việt Cộng gia tăng hoạt động, giành dân lấn đất. Ở cửa kinh Lình Quỳnh, bỗng mọc lên một xóm mới, dân tứ chiếng tụ tập về đây, chẳng cần xin xỏ phép tắc ai cả. Ở cái xóm mới đó không thiếu đào binh, trốn quân dịch, bất hợp pháp. Vì ham lời cao, dân có ghe đi Rạch Giá mua hàng, đem về xóm rồi tiếp tế cho Việt Cộng ở đường giây 1-C. Thành ra, một đoạn gần Đồn Giữa, ngang chỗ cây ô-môi bên kia kinh Rạch Giá – Hà Tiên là con đường giao liên từ xóm cửa kinh Lỳnh Quỳnh lên đường giây 1-C. Dân xóm vừa nói, chính quyền quốc gia không kiểm soát được, con đường giao liên nầy cũng không có đơn vị nào hành quân, phục kích ngăn chận.

Sau hiệp định Paris 1973, tinh thần chiến đấu ở địa phương bỗng khựng lại, hoạt động quân sự cũng cầm chừng. Cái gì, điều gì không đừng được thì mới làm, còn như làm ngơ được thì cứ làm ngơ, cho qua. Nghĩ vậy mà tội nghiệp cho Tướng Nam. Ông mới lên làm Tư lệnh Quân Khu 4, đơn thương độc mã xông xáo chỗ nầy, chỗ kia, kiểm tra, chỉnh đốn. Ông đi nhiều, trên chiếc xe Jeep một tài xế, một tà-lọt với ông mà thôi, khiến tôi tình cờ gặp ông trên đường mà không ngờ ông Tướng Vùng dám lang thang một mình như thế, như tôi có lần kể trước đây vậy.

            Vừa lái xe, thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh, tôi dặn chừng hai anh chàng tà-lọt ngồi phía sau, rán căng mắt canh chừng Việt Cộng, hễ thấy bóng chúng là nổ súng ngay, như trong phim cao bồi, “bắn chậm thì chết”. Thiếu úy Kiệt cũng thủ sẵn cây M-16, nòng chỉa ra ngoài, chực nhả đạn. Hai anh tà lọt phía sau, một anh thì xài carbin báng cụt tự chế, một anh thì “đại bác 40 ly cầm tay”, mắt lăm lăm nhìn hai bên đường.

            Qua khỏi Đồn Giữa một đỗi, tới xóm nhà dân, thấy trẻ con chạy chơi, có bóng người đi lại bình thường, tôi mới ra lệnh “xả trại”. Với thiếu úy Kiệt, tôi nói:

_ “Nhiều khi nghĩ lại, mình thiệt dại. Chấp hành mệnh lệnh thượng cấp một cách nghiêm chỉnh là dại.”

Thiếu úy Kiệt nói:

_ “Vậy tui với chỉ huy trưởng thì sao? Bộ ông ra lệnh mà tui thi hành không nghiêm chỉnh thì ông bằng lòng sao?”

_ “Ậy! Ông với tui thì khác.”

Tôi nói:

_ “Ông với tui cùng một đơn vị, cùng một nơi, một chỗ. Thắng cùng thắng, bại cùng bại, chịu chung với nhau. Ý tôi là muốn nói tới mấy ông cấp trên ở tỉnh, ở khu, ở trung ương. Ngồi trong cao ốc, trong dinh thự, tường cao, cổng kín, cứ nhắm mắt ký tên ra lệnh mà họ chẳng biết mẹ gì tình hình thực tế ở địa phương cả. Hồi còn đi dạy, khi giảng về Chinh Phụ Ngâm, tôi nói với học trò rằng, vua chúa ở trong cung điện chẳng biết gì trơn, hễ cứ nghe có giặc thì ra lệnh bắt lính, đâu có biết cái khổ của dân ra làm sao: Vợ chồng chia ly, cha mẹ xa con, khốn khổ biết bao nhiêu! Ai đọc “Thạch Hào Lại” của Đỗ Phủ không thấy hay, nhưng quyền lợi thì mờ mắt, không thấy cái khổ của dân. Ông Đặng Trần Côn làm tri huyện, là người trực tiếp thi hành lệnh vua, tận mắt thấy cảnh khốn khổ của người dân. Việc ấy làm ông cảm kích mà viết thành “Chinh Phụ Ngâm”. Đời bao giờ cũng vậy. Hai giai cấp, bị trị và cai trị, thằng cai trị ngồi trên đầu trên cổ dân, thằng bị trị bỏ luôn cả mạng sống mới yên. Mình bây giờ đi bắt lính cũng vậy thôi.

Thiếu úy Kiệt nói:

_ “Bộ mình muốn đi lính à? Không đi thì sống sao yên?! Vậy thì mình là người bị trị hay cai trị?”

_ “Mình là tay sai của bọn cai trị.” Tôi trả lời. “Vả lại, nếu Cộng Sản Bắc Việt không xâm lược miền Nam thì miền Nam đâu có tăng quân làm chi! “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Thất phu còn hữu trách. Mình lỡ ôm sách đi học, nhắm mắt làm ngơ được hay sao! Anh em tui, chẳng ai không đi lính. Có người tử trận.”

Một lúc, tôi lại nói:

_ “Nói chi xa, mới mấy hôm trước, nói chuyện với tôi, Phó Nghiêm bảo: “Luật pháp là do bọn thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi của chúng”. Tui ngạc nhiên đó. Ông ta học Quốc Gia Hành Chánh ra, công chức ngạch hạng A của chính quyền mà nói vậy thì thôi, hết ý kiến.”

Lại một lúc nữa, tôi nói:

_ “Chẳng hạn như chuyện mình đuổi dân làm ruộng của cha Uyển hồi năm ngoái ở vùng nầy vậy. Vâng lệnh trên, mình đuổi dân thật dữ, dùng cả thủ đoạn, khiến người ta đi hết. Bây giờ, đi ngang qua đây, lại sợ Việt Cộng. Nếu dân còn ở đây làm nhà, làm ruộng, có phải mình yên tâm hơn không?” Tôi nói.

_ “Cái đó thì đúng. Tui cũng kinh nghiệm vậy. Để dân chúng làm nhà hai bên đường, Việt Cộng về núp lén, mình biết ngay. Còn như lau sậy um sùm như vầy, biết Việt Cộng núp ở bụi nào mà đề phòng.” Thiếu úy Kiệt góp ý.

            Vùng đất nầy, trong bản đồ ghi là “rừng cấm”. Có thấy rừng rú gì đâu?! Toàn là đất hoang, mầu mỡ. Nếu khai kinh, lấy nước ngọt vào thì đất nầy thành ruộng “nhất đẳng điền”.  Thời Pháp thuộc, Tây thực dân dự trù lấy đất vùng nầy làm ruộng như ở Nam Thái Sơn hay bên Cờ Đỏ của quận Thốt Nốt. Vì vậy, Tây mới khoanh khu vực nầy lại, gọi là “rừng cấm”. Từ xửa giờ, chẳng ai dám đụng tới “Rừng cấm”. Mùa hè năm 1973, linh mục Nguyễn Thượng Uyển ở kinh Sáu Rọc Bà Ke thuộc Cái Sắn, đưa dân Xóm Mới Saigon về đây làm ruộng. Tôi được lệnh ra ngăn cản đồng bào “chiếm đất” làm ruộng.

            Đồng bào Xóm Mới về dựng mấy chục căn nhà – chòi thì đúng hơn – phát hoang, dự tính trồng cây, lập vườn, làm ruộng. Bấy giờ mới lòi ra việc ông tỉnh trưởng tự ý ký giấy cấp đất “rừng cấm” cho bà con. Đã là “rừng cấm” thì quyền hạn thuộc về trung ương, về bộ. Tỉnh trưởng ký là ký ẩu.

Từ hồi ngưng bắn theo hiệp đinh Paris 73 tới giờ, mấy ông bà lớn ở Saigon về vùng chùa Hang, bãi Hòn Trẹm, hang Tiền giành đất riêng cho mình. Cuộc đất đẹp nhất là ở bãi Hòn Trẹm, bên sườn đồi, ngó xuống bãi biển hình vòng cung được bà thủ tướng chiếu cố. Phó Nghiêm – phó quận trưởng – làm giấy tờ, vẽ họa đồ đất đai cho bà thủ tướng xong, bảo tôi: “Ông lấy một chỗ đi. Tôi làm giấy tờ cho.” Tôi lắc đầu: “Tui ở xứ ngoài kia, lấy đất ở đây làm chi. Mai mốt yên lành, tôi hát “đường về quê” là xong.”

Vậy là tôi mất chỗ đất. Mất trước khỏi mất sau. Tới 75, ông to bà lớn nào dám ở lại Việt Nam mà giành đất với Việt Cộng!

Để dọa dân cho họ bỏ đi, tôi nói với mấy người dân Xóm Mới đang đứng quanh tôi:

_ “Mấy bác thấy không. Xóm biển ngoài nầy (Tôi chỉ phía cuối kinh Lỳnh Quỳnh) với cây ô môi bên kia, (Tôi quay lại chỉ cái cây cao bên kia kinh Rạch Giá – Hà Tiên) là đường giao liên của Việt Cộng. Mấy bác dựng xóm ở đây, cản ngay con đường giao liên của chúng nó. Bộ chúng nó để mấy bác yên sao? Đêm khuya tụi nó mò ra hốt hết. Mấy ông bị bắt ở Tà Keo đi không thấy về. Dân Bắc kỳ Di cư, bộ Việt Cộng nó thương lắm sao! Quốc Gia bảo vệ cái gì được!”

Nghe vậy, dân Xóm Mới sợ Việt Cộng thiệt, mấy ngày sau bỏ đi hết. Đọc báo cáo của xã gởi lên, cho biết dân giành đất đã đi, lại còn kéo nhau về kinh Sáu Rọc Bà Ke đòi cha Uyển trả tiền lại, tôi gọi thiếu úy Kiệt báo cho biết và cười khoái chí. Bây giờ mới biết mình ngu.

Mỗi người dân Xóm Mới về kiếm đất làm ruộng ở Tà Keo hay Đồn Giữa, đều phải đóng cho cha Uyển mỗi người ba chục ngàn. Tôi không rõ là tiền gì. Tôi cũng không rõ cha đã nhận được bao nhiêu tiền như thế, nhưng khi biết cha bị dân đòi tiền lại, tôi cũng khoái, không phải vì cha thu tiền bất hợp pháp, nhưng bởi giữa cha với tôi có “ân oán giang hồ”, khi tôi còn làm việc ở Kiên Tân.

            Hôm nhận sự vụ lệnh về làm việc ở Kiên Tân, đại tá LCV, “sư phụ” của tôi – (Nói cho thật thì ông cùng quê Quảng Trị với tôi, vả khi nghị sĩ HXT gọi điện thoại cho ông, gởi gắm tôi, ông lưu ý tới trường hợp tôi rất tận tâm). – dặn tôi:

_ “Kiên Tân hơi khó khăn! 27 ông cha, không có ông nào chịu ông nào. Ba giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, chống nhau cũng dữ. Chú đừng ham tiền, rán liệu mà làm việc cho khéo.”

Bàn giao xong, tôi đi thăm những ông cha nổi tiếng ở đó. Nói chung, ông nào cũng tốt bụng, niềm nở khi tôi tới thăm. Người ta đồn thổi thì nhiều, nhưng thật ra, không đến nỗi như thế. Điều đáng nói là mấy ông cha, tuy không nói ra, nhưng vài ông không chịu nhau. Những người tới ăn tiệc ở nhà thờ cha Lộc, sẽ không được niềm nở đón tiếp ở nhà thờ cha Uyển. Ngược lại, cũng vậy thôi.

            Sau khi tôi đến thăm cha Lộc ở kinh 1, hôm sau cha ra thăm. Thấy tôi mới về, nhà chưa có bàn ghế gì, cha bảo đệ tử đem ra cho tôi một cái bàn tròn, tám cái ghế (Hai vợ chồng và 6 đứa con) lại cho mấy chai rượu lễ. Hôm tôi đến thăm cha Uyển, cha cũng cho hai chai rượu lễ cầm về. Tôi thấy cha Lộc chân thật hơn, dễ mến hơn nên thường vào ra thăm, thậm chí, chủ nhật, tôi đem cả vợ con vào thăm cha và cho các con chơi đùa trong khu vườn của nhà thờ, khá rộng và đẹp.  Mục đích của tôi là để cho các con gần gủi với không khí tôn giáo. Phật, Chúa gì cũng được, miễn là phải có tôn giáo, đừng lông bông, không có tôn giáo làm sao có đạo đức? Còn tôn giáo thì “dao nào cũng là dao cả” (1)

Dĩ nhiên, cha Uyển không bằng lòng với cách giao thiệp của tôi với cha Lộc như thế. Đến thăm ông, ông bắt ngồi chờ lâu mới tiếp, có khi tránh không tiếp, có tiếp thì cũng chuyện trò một cách lạt lẽo, lơ là, khiến tôi bị chạm tự ái!

Thế rồi tôi lại được lệnh điều tra vụ cha Uyển bị giáo dân của cha thưa ra tỉnh vì cha chiếm ruộng của họ.

Sự việc đầu đuôi như thế nầy:

Ở kinh 6, cha cho xây dựng một “Đền Đức Mẹ” bên bờ kinh, ngay thuở ruộng của một giáo dân. Người nầy đồng ý với một điều kiện. Cha cấp cho ông ta một chỗ ruộng khác, bù vào chỗ đất ông bị cắt bớt để xây đền.

            Ruộng ở đây được dinh điền chia theo kinh, mỗi thửa bề ngang 30 mét, ngó ra kinh, bề dài tính sâu vào 1Km, tính chung là 3 mẫu. Lấy cớ xây đền Đức Mẹ, cha bắt mỗi thửa cắt sâu vào 30 mét. Ba chục mét kéo dài tới 6 Km, sau khi chia mấy chục mét vuông trả cho người nhượng đất xây đền, còn lại bao nhiêu cha ôm cả, tính ra là mấy chục mẫu.

Chủ ruộng, phần đông là con chiên của cha, không ai chịu. Vậy là họ hè nhau vác đơn đi thưa cha. Tôi được lệnh điều tra việc nầy, lấy lời khai tất cả những ai liên hệ, rồi trình ra tỉnh. Ai khai sao tôi ghi vậy. Căn cứ vào phúc trình của tôi, tỉnh trưởng, dù có muốn bênh vực cha, cũng không bênh được vì nếu bênh, nông dân sẽ tiếp tục thưa lên trên nữa. Kết quả, cha thua kiện, và tôi trở thành kẻ không được cha ưa, chưa rõ có ghét hay không!

            Thật ra, tôi thấy cha Uyển là người có công lớn với dân dinh điền. Cha là người mở trường trung học đầu tiên ở đây, trước khi có trường công lập, trước cả trường trung học Thái Hòa là trường lớn nhứt, của giáo xứ dinh điền. Cha đã đào tạo nhiều thế hệ thanh niên, sau nầy cũng có người đổ đạt cao trong các ngành y tế, giáo dục, hành chánh…  Trong quân đội, học trò cũ của cha đã lên tới sĩ quan cấp tá. Mặc dù cha mở trường tư, thâu học phí, nhưng tôi thấy điều đó là bình thường. Không lý vì đóng học phí mà không thấy công lao trong sự nghiệp giáo dục của cha ở địa phương. Có phải vì cha thấy mình có công lớn, nên trong nhiều trường hợp, cha đã đi quá xa. Cha lại nổi tiếng là người buôn cọc sắt – cọc sắt để giăng giây kẽm gai ở các đồn bót hay ấp chiến lược.

Sau nhiều năm làm ruộng cần cù, chăm chỉ, dân dinh điền lần hồi khá giả, bèn phá căn nhà tôn chính phủ cấp cho hồi dinh điền mới thành hình, xây nhà ngói, vách gạch. Nhà nào cũng đúc cột cho chắc chắn. Cột đúc bằng ximăng cọc sắt ấp chiến lược. Cha buôn cọc sắt đó bán lại cho dân chúng. Cọc sắt nầy từ bộ Chỉ huy 4 Tiếp vận tuồng ra, chở bằng xà lan, với “giấy đi đường” của cha Uyển như giấy đi đường chở xăng của cha Lộc vậy. Ai uống thuốc liều thì cứ vô!

Tôi còn đụng với cha Uyển một vụ nữa, vụ nầy căng hơn.

Chợ Kinh 8 chỉ là một cái chợ ấp (Ấp Kinh 8) nhưng khá đông. Riêng về thịt heo, chợ có những ba sạp. Dân ở đây, phần đông ưa ăn thịt heo hơn thịt bò. Họ cũng khoái thịt trâu, nhưng bây giờ không có trâu để làm thịt. Năm 1957, 58, khi dinh điền mới thành lập, tổng thống Ngô Đình Diệm nhập trâu Murat bên Ấn Độ về cho dân làm sức kéo: kéo cày, kéo bừa, v.v… Khoái ăn thịt trâu, dân dinh điền có người lén đập cho trâu què chân để xin xẻ thịt.

Cha Uyển bảo xã Sa, xã trưởng Thạnh Đông, với trưởng ấp Kinh 8, – tôi không nhớ tên -, khi đấu thầu sạp thịt heo, dành cho một “con chiên đệ tử” của cha một sạp. Không hiểu mấy chả làm ăn lớ ngớ thế nào, “đệ tử ruột” của cha không trúng thầu. Người khác trúng, cũng là con chiên của cha, nhưng không phải là “đệ tử ruột”.

Cha giận lắm, nhưng không làm gì được. Xã trưởng Sa là người địa phương, kính trọng cha nhưng khi cha hỏi việc thầu sạp thịt heo, y đổ tội cho trưởng ấp Kinh 8.  Trưởng ấp Kinh 8 cũng là người địa phương, không có đạo, không phải tín đồ của cha, lại bướng. Cha gọi anh ta vào nhà thờ hỏi chuyện, từ chối, y bảo: “Bận dziệc, không có thì giờ.”

Bà “đệ tử ruột mất thầu” của cha mất ăn, nóng mặt, sáng chiều đi lễ nhà thờ ngang qua nhà anh Tống, – người trúng thầu, cứ chưởi đổng: “Quân phản Chúa, chống cha”. Dần dà, anh Tống tức khí, chưởi lại. Bà “mất thầu” vào tỉ tê với cha, “tam sao thất bổn”, lại thêm thắt, khiến cha tức giận, gọi anh ta vào rầy. Anh nầy cũng thuộc loại bướng, “gần chùa gọi bụt bằng anh”, cãi lại cha rồi bỏ về.

Thế rồi “bà mất phần” càng chưởi tợn. Mỗi khi đi lễ ngang qua nhà, sáng chiều chưởi hai bận, chẳng lần nào quên “Chương trình phát thanh qua sông Bến Hải của Việt Cộng”. Một hôm, vợ anh Tống chưởi lại, bà “mất phần” lại vào “tâu” với cha, cha bèn cấm hai vợ chồng nầy đi lễ nhà thờ cha. Cấm thì hai vợ chồng anh chàng Tống nầy đi nhà thờ khác. Mỗi kinh một nhà thờ, thiếu gì nhà thờ để đi. Hai vợ chồng nầy cũng thuộc loại chơi thâm, thay vì đi nhà thờ cha Uyển, “anh chị” lại đi nhà thờ cha Lộc, “đối thủ” cha Uyển, khiến cha Uyển càng thêm “lộn ruột”.

            Môt hôm, vợ anh Tống và bà “mất phần” chưởi tay đôi. Dân Bắc Kỳ chưởi lộn hay không kém bất cứ người Việt Nam nào ở xứ nào khác, có khi lại còn xuất sắc hơn. Ban đầu lời chưởi còn thanh tao, sau thanh thành tục. Bao nhiêu cái dơ dáy trong cơ thể con người đều được đem ra đổ lên đầu đối thủ. Sơ bộ thì chỉ hai đối thủ trao qua đổi lại, sau đó đem “biếu” cho cha. Chị vợ anh Tống chưởi thẳng vào mặt “bà mất phần”: “Mày vào bảo cha Uyển ra đây mà ăn cái “n” tao.” – Chị Tống nầy nói ngọng giữa vần L và N.

            Ban đầu cha Uyển đứng ngoài cuộc “khẩu chiến”. Tới đây, dù muốn dù không, cha phải nhập cuộc. Cuộc “khẩu chiến ăn cái n. tao” xảy ra sáng chủ nhật, cha Uyển được báo cáo cấp kỳ nội dung trận địa. Thế là, chiều hôm đó cha ra lệnh cho đám trẻ “Hùng Tâm Dũng Chí” của cha, mỗi đứa hãy hùng dũng lấy năm bảy cục gạch, cục đá kéo nhau phố chợ, ném vào nhà anh chàng Tống. Trước sức tấn công dữ dội của đám trẻ ham vui, nghịch ngợm, ưa chuyện đánh đấm, vợ chồng anh chàng Tống trốn lui sau bếp.

            Tôi cùng vợ và các con đang ăn cháo lòng ở Kinh B thì được truyền tin gọi, báo cáo sự việc, cùng với lệnh ông quận trưởng Huỳnh Đầm Sắn bảo tôi xuống giữ gìn an ninh trật tự. Tôi vội vàng về nhà thay áo quần, kêu tài xế, đệ tử, cùng thượng sĩ Phạm Văn Thanh, trưởng ban tư pháp, xuống Kinh 8.

            Tôi bảo thượng sĩ Thanh ra ngay nhà anh chàng Tống, tìm cách bảo vệ cho vợ chồng anh ta. Tôi vào nhà thờ gặp cha Uyển. Bình thường cha Uyển đã lạt lẽo với tôi, huống chi bây giờ cha đang trên đà chiến thắng. Hỏi chuyện cha, cha chối, nói không biết gì về việc mấy đứa trẻ Hùng Tâm Dũng Chí của cha ném đá nhà anh Tống. Cha bảo: “Vợ chồng chúng nó là đứa “Phản Chúa chống cha” nên chúng nó trừng trị vợ chồng thằng Tống là đúng lắm. Cha đâu sai khiến gì chúng nó.”

Tôi nói:

_ “Nếu cha bảo cha không liên hệ gì việc ném đá, tui sẽ bắt thằng nào cầm đầu để đưa ra tòa. Chúng nó không được phép làm như vậy.”

Nói xong, tôi chào cha đi ra chỗ nhà anh Tống. Tôi nói với thượng sĩ Thanh, nửa thật nửa đùa:

_ Bây giờ phải đưa vợ chồng “Người ruồi gây máu lửa” nầy ra khỏi Kinh 8 đã. Gọi thiếu úy Vây, – Thiếu úy Phạm Văn Vây, trưởng cuộc Cảnh Sát Thạnh Đông – cho người xuống canh chừng xóm nầy, giữ nhà cho vợ chồng thằng cha nầy.”

Thượng sĩ Thanh hỏi:

_ “Mình bắt hai vợ chồng nầy?”

_ “Ậy! Để chúng nó thưa cho hay sao? Vợ chồng nó tội gì? Đã không có tội, lại nạn nhân của cha Uyển, mình giam chúng, không chừng biện lý lại bắt giam mình vì làm bậy.”

Thượng sĩ Thanh lại hỏi:

_ “Đem về bộ chỉ huy, để họ ở đâu?”

_ “Chỉ cần đem ra khỏi đây! Mai biểu họ ra ban tư pháp của anh. Nếu họ muốn thưa cha Uyển thì họ cứ thưa.”

Xong, tôi dặn riêng thượng sĩ Thanh: “Anh biểu hai vợ chồng nó làm đơn thưa. Dựa vào đó, mình đánh tỉa dần dần, trước là lập biên bản đưa ra tòa bọn đứng đầu ném đá; sau căn cứ lời chúng nó khai, đưa cha ra tòa luôn.”

Thượng sĩ Thanh cười:

_ “Làm vậy, coi chừng nổ lớn. Trước giờ ở đây, bất mãn mấy ông cha thì nhiều lắm, nhưng chưa ai đưa ông cha nào ra tòa cả.”

_ “Tùy cơ ứng biến. Nguyên tắc là mình phải bảo vệ luật pháp. Không ai được làm điều gì ngoài luật pháp.”

Không ngờ cha Uyển “cao tay” hơn tôi. Vì câu tôi nói “bắt thằng nào cầm đầu đưa ra tòa” nên khi thượng sĩ Thanh chưa kịp đưa “vợ chồng anh chàng nhiễu sự” ra khỏi nhà thì đám Hùng Tâm Dũng Chí kéo nhau ra bao vây xe tôi lại. Lúc đó xe tôi đang đậu ngay trước nhà vợ chồng anh Tống.

Trẻ con thì bao vây xe, cười nói. Người lớn thì xúm lại xem, la lối, bàn tán, còn hơn cái chợ. Lúc đó, tôi thì chỉ có một mình, tài xế, một anh chàng tà lọt, và thượng sĩ Thanh. Tôi còn nhớ một bà già nói:

_ “Cảnh sát ăn tiền thằng Tống nên bây giờ tới bênh nó.”

Tôi giận lắm nhưng dặn bụng: “Nhu thắng cương. Đ.m. Để đó rồi biết.”

Tôi bỏ xe đi bộ ra phía lộ, chỗ đó vắng. Trưởng ấp Kinh 8 lúc đó chuẩn bị đưa Nhân Dân Tự Vệ đi gác đêm, tới nói với tôi:

_ “Ông thầy để tui dộng cho tụi nó một quả lựu đạn cho thấy mẹ chúng nó luôn!”

Tôi vội cản:

_ “Đừng, đừng. Ông làm vậy không nên. Có người chết, có máu chảy là to chuyện lắm. Để đó, từ từ tôi giải quyết.”

Nửa giờ đồng hồ trôi qua, đám đông trẻ con vẫn bao vây xe tôi. Người càng lúc càng đông, nhất là khi giờ đi lễ tan. Không rõ trong khi giảng ở nhà thờ, cha Uyển có xúi giáo dân ra hợp lực với đám Hùng Tâm Dũng Chí bao vây xe tôi hay không!

Thượng sĩ Thanh tìm tôi, hỏi:

_ “Bây giờ làm sao ông?”

Tôi nói:

_ “Kệ họ, riết rồi họ cũng phải về ngủ chớ. Ai lì thì hơn!”

_ “Không được đâu! Có đứa thừa thắng, xông vào nhà tìm anh Tống. Sợ chúng nó xuống bếp, gặp vợ chồng anh ta, chúng nó hành hung.”

_ “Được rồi.” Tôi nói. “Anh dặn chừng thằng Khoái – (tài xế), coi đứa nào phá xe, mai tôi bắt về đòi bồi thường. (Tôi mới được cấp một chiếc Inter. Mark 2, mới toanh). Anh vô gặp cha Uyển, nhờ cha ra gọi bọn Hùng Tam Dũng Chí về.”

Một chốc, cha Uyển ra chỗ xe tôi đang bị vây. Tôi biểu tài xế lấy một cái két bia bằng gỗ, để cha Uyển đứng lên đó, biểu con chiên của cha giải tán. Mọi người giản ra. Lợi dụng tình hình đó, tôi biểu thượng sĩ Thanh đưa vợ chồng anh chàng Tống lên xe, chạy ra quốc lộ, trong khi đó, tôi vẫn còn đứng nói chuyện với cha Uyển để cầm chân ông. Trước mắt tôi, cha Uyển không thể ra lệnh đám Hùng Tâm Dũng Chí bao vây xe tôi lại được, nên xe mới thoát đi.

            Khi xe ra tới lộ rồi, tôi gọi máy truyền tin ra lệnh cho tài xế Khoái lái xe về thẳng bộ chỉ huy. Tôi lội bộ về sau. Tôi vội vàng chào cha Uyển, ra về. Đây là điều bất ngờ đối với ông. Cha cứ tưởng xe phải chờ tôi để đưa tôi về, không ngờ tôi cho xe thoát đi trước, cha mất “con mồi”. Không lý cha dám biểu giáo dân và Hùng Tâm Dũng Chí bao vây tôi lại? Ra tới lộ, tôi với trung sĩ Tâm, tà-lọt, cuốc bộ về nhà. Được một lúc thì tài xế Khoái lái xe đến đón, sau khi đã đưa thượng sĩ Thanh và hai vợ chồng anh chàng Tống về tới nơi.

Sáng hôm sau, tôi phản công.

Sau khi đọc đơn thưa của anh chàng Tống và lời khai của anh ta. (Theo nguyên tắc phải chấp cung nguyên đơn trước), tôi căn cứ vào đó để làm “giấy mời”. Trước hết là hai tay “đầu sỏ” Hùng Tâm Dũng Chí, chỉ huy đám ném đá nhà anh chàng Tống. Khoảng trưa, thiếu úy Vây đến gặp tôi báo cáo:

– “Hai thằng chỉ huy trưởng biểu mời là hai thằng trốn quân dịch, làm sao chúng nó dám đến?”

– “Hai thằng nầy làm nghề gì?” Tôi hỏi.

– “Dạy ở trường cha Uyển.” Thiếu úy Vây trả lời.

Tôi cười nói:

– “Sao anh biết rõ tình trạng chúng nó mà anh không bắt?”

– “Đụng mấy ông cha, phiền lắm!” Thiếu úy Vây trả lời.

Một lúc thiếu úy Vây nói tiếp: “Nhiều cha mở trường dạy học trong kinh, giáo viên, giáo sư phần đông trốn quân dịch, mỗi trường mỗi ổ.”

Tôi nói với thiếu úy Vây, nghiêm trang:

– “Bây giờ tôi ra lệnh cho anh hành quân cảnh sát, tìm bắt hai thằng nầy, ở nhà nó, ở nhà bà con nó hay ngay cả tại trường cha Uyển. Phải lấy rõ lời khai là chúng nó đang dạy học tại trường cha Uyển để tôi truy tố cha về tội “Tán trợ bất phục tòng”. Nếu cần, anh biểu thượng sĩ Vũ – (Trưởng ban hành quân) làm lệnh, tôi ký. Tôi chịu trách nhiệm, anh chỉ là người thi hành.”

Sau đó, tôi nói với thượng sĩ Khiết, phó ban tư pháp:

– “Thiếu úy Vây mới ra trường, chưa có kinh nghiệm, anh phụ với thiếu úy Vây, làm sao lấy lời khai hai thằng dạy học bất hợp pháp ở trường cha Uyển.” Một lúc, tôi giải thích thêm:

– “Không có lời khai của nó, không truy tố cha Uyển được.”

Thượng sĩ Khiết – Hoàng Văn Khiết có bà con với vợ anh chàng Tống, nên tích cực đứng về phía phản công cha Uyển.

Hai anh huyh trưởng Hùng Tâm Dũng Chí bị thiếu úy Vây tóm cổ, dẫn về. Xem lời khai xong, chắc bụng, tôi vội cho giải ra tiểu khu ngay. Rút kinh nghiệm, đề phòng. Những người bị bắt, bất cứ tội gì, kể cả đào binh, trốn quân dịch hay tội hình sự, đều được một số các cha “xin giúp đỡ”. Có khi các cha ở trong kinh chỉ viết giấy cho người cầm ra, có khi các cha đích thân ra gặp tôi. Giải tội nhân đi rồi, vuột khỏi tầm tay, các cha có can thiệp, xin xỏ, thì tôi có cớ tránh né được.

Về việc hai anh chàng huynh trưởng Hùng Tâm Dũng Chí nầy, tôi không thấy cha Uyển can thiệp! Cha biết tôi phản công, trả thù vụ tôi bị bao vây tối qua hay cha chột dạ vì cha cho hai tên trốn quân dịch dạy học, cha biết như thế là phạm luật.

Sau đó là phiên các bà bị mời. Các ông không ai dính líu vô vụ nầy cả. Trước hết là “bà mất phần” rồi tới các bà đệ tử ruột cha Uyển. Mấy “bà già Bắc kỳ” nầy không ngán chuyện ra cò bót, nhưng vốn “thông minh nhiều chuyện” nên bà nọ khai ra bà kia, cả chục bà bị gọi lấy lời khai. Vốn nhà quê và thật thà, các bà khai hết những gì các bà nghe, biết, đám Hùng Tâm Dũng Chí nhận lệnh từ cha Uyển như thế nào. Có bà có con ném đá nhà anh chàng Tống, sợ con bị tội, mấy bà khai ra “Cha Uyển bảo chúng nó đấy, chúng nó phải vâng “nời”.

Ban tư pháp tập trung lấy lời khai mấy bà cho xong, để đúc kết đưa nội vụ ra tòa. Trong cung cách của mấy ông cảnh sát nhà ta, thường tỏ ra nghiêm khắc, khó dễ với những đối tượng mà họ không ưa. Tôi nghe thượng sĩ Khiết nạt to một bà:

_ “Bà không được phép ngồi như thế. Bỏ chân xuống!”

Bà ta ngồi kiểu mấy bà già nhà quê: Ngồi ghế đẩu một chân thòng xuống đất, một chân lên ghế. Bà ta bỏ chân xuống nhưng nguýt dài thượng sĩ Khiết một cái, thiếu đường đứt con mắt. Thật ra, theo thượng sĩ Khiết, bà nầy là “đối tượng xấu”. Từ khi lấy cung tới giờ, anh ta “nghiêm khắc” với bà ta nhiều lần. Có lẽ bà ta cũng không chịu thua.

Hôm sau, tôi nhân một tấm card của cha Uyển. Tấm card to bằng nửa trang giấy tập, viết như sau:

Bên góc trái (chữ in):

            Linh mục Nguyễn Thượng Uyển,

            Chánh xứ Kinh Tám.

            Hiệu trưởng trường Trung Học Kinh Sáu.

            Ở giữa, cha viết tay:

                                                            Gởi ông chỉ huy trưởng,

                                     Yêu cầu ông đổi cảnh sát Khiết đi nơi khác.

                                                Ký tên: Nguyễn Thượng Uyển

Cầm tấm card, đưa cho thiếu úy Rớt, chỉ huy phó, tôi nói:

_ “Thiệt mấy ông cha nầy tưởng họ là ông gì đây. Tự nhiên ra lệnh cho cơ quan chính quyền thuyên chuyển nhân viên. Kỳ không?”

Đọc xong tấm card, thiếu úy Rớt nói:

_ “Tui dân Rạch Giá, kinh nghiệm việc nầy hơn ông. Họ yêu cầu mà mình không làm là mệt đó!”

Tôi cải:

_ “Làm sao được! Thuyên chuyển nhân viên phải có lý do chính đang chớ! Đưa người ta đi bậy, người ta thưa ngược lại được đấy. Trước hết là mình phải bênh vực nhân viên mình đã.”

Thiếu úy Rớt góp ý:

_ “Ông không thuyên chuyển đi, mấy ông cha nầy thưa lên trên nữa, thưa tới cả bộ tư lệnh. Ở trên đó, nghe thưa là thuyên chuyển mình đi trước để trấn an dư luận cái đã. Điều tra sau. Tới đó thì “Chờ má, má đã sưng.”  Không ai dám bênh vực mình, mình thua trăm phần trăm.”

_ “Tôi làm như vầy.” Tôi nói với thiếu úy Rớt: “Tôi giao tấm card nầy cho ban An Ninh Cảnh Lực, ra lệnh cho thượng sĩ Chi trưởng ban, điều tra xem thử thượng sĩ Khiết có lỗi gì. Nếu có lỗi, tôi thuyên chuyển. Nếu ông Chi trình là không có lỗi chi hết, tôi cất hồ sơ. Mai mốt trung ương hay giám sát viện có điều tra, tôi lôi hồ sơ đó ra cho họ xem. Thế là xong.”

Thiếu úy Rớt đồng ý.

Tuy nhiên, tôi dặn thượng sĩ Chi:

_ “Điều tra vụ nầy, ông đừng mời cha Uyển tới đây làm gì!  Tôi đang chặt tay chặt chân của ổng. Anh xuống gặp ông, hỏi ông khiếu nại thượng sĩ Khiết việc gì, ghi cho rõ, để làm bằng chứng về sau.”

Hôm đó, thượng sĩ Chi đi gặp cha Uyển về, cười cười nói với tôi:

_ “Ông hơi ngán rồi. Hỏi thưa chuyện gì, ông nói không thưa gì nữa cả. Bảo tôi cho qua đi.”

_ “Ba hồi thưa, ba hồi không. Này, ông có lấy lời khai của cha không? Không có lờì bãi nại, mai mốt lại thưa tại sao không giải quyết việc ông ta thưa. Mệt lắm.”

_ “Xong rồi, tôi “thủ” hồ sơ xong rồi. Ông đọc xong, tôi cất để đề phòng như ông dặn.”

Người cuối cùng được mời là cha Uyển. Tôi đích thân ra tận cổng đón ông vào khi nghe báo cáo ông đến. Tôi mời vào văn phòng tôi. Tôi hỏi chuyện, cha Uyển trả lời. Thượng sĩ Thanh ngồi ghi bên cạnh, được trang nào cho đánh máy trang đó. Kết thúc buổi nói chuyện, thượng sĩ Thanh chìa bàn đánh máy xin cha ký tên. Ông hơi ngần ngại nhưng rồi cũng ký. Cha ra về là tôi đúc kết hồ sơ nội vụ trình tòa.

Tuần sau, nhận lệnh tòa, cha Uyển đến tôi yêu cầu hủy bỏ vụ nầy đi. Tôi nói: “Thật ra, tôi muốn giàn xếp ngay từ đầu. Cha gọi vợ chồng ông Tống tới, phân giải hơn thiệt, phải trái là xong. Nhưng tôi không thấy cha nói gì. Có lẽ cha đang giận họ. Tôi không để nội vụ lâu được, đành phải trình tòa. Việc bây giờ là của tòa án, tôi không làm gì được.”

Cha Uyển nói gần như trách: “Tôi không có gì sai, nhưng một linh mục bị đưa ra tòa là có hại cho uy tín của một ông cha. Cha bề trên cũng không muốn. Anh có biết vậy không?”

Tôi nghĩ thầm trong lòng: Biết chớ. Biết quá, nhưng tôi cũng có tự ái khi bị cha cho Hùng Tâm Dũng Chí ra bao vây xe, làm nhục tôi vậy.

Chuyện tưởng vậy là đã qua, không ngờ lại gặp cha Uyển một lần nữa, tại chỗ giành đất gần Đồn Giữa. Cha lại thua tôi một keo nữa.

Thật ra, nghĩ cho kỹ, tôi là kẻ dại, mới là người thua. Nếu tôi giúp cha cho dân Xóm Mới lập ấp, lập vườn, làm ruộng ở đây, có phải là tôi sẽ bớt sợ khi lái xe qua đoạn đường nầy với thiếu úy Kiệt và tà lọt như tôi kể ở đầu bài hay không?! Trần Tế Xương bảo: “Khôn nơi cờ bạc là khôn dại”. Đời nầy, nói cho đúng là một cuộc cờ. Tôi là kẻ khôn mà chính thật là kẻ dại.

Nói như thế là tôi nói thật. Câu chuyện về mối sợ Việt Cộng phục kích từ đó đến giờ vẫn ám ảnh tôi, nhất là mấy năm trong trại tù cải tạo. Ở đời, đúng hay sai, phải hay trái chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong trại tù cải tạo, khi cán bộ Việt Cộng giảng giải rằng chủ nghĩa Mác là tuyệt đối đúng, là chân lý, tôi thường nhớ câu Pascal nói: “Bên nầy Pyrénée là chân lý, bên kia thì ngược lại.” Tôi thường nói câu nầy với bạn tù để phản bác luận điệu Việt Cộng. Việt Cộng rất cực đoan, tin tưởng, theo đuổi, trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản.

Tôi không nghĩ rằng những việc cha Uyển làm là đúng, việc tôi làm là sai. Nhưng suy cho cùng, trong thâm tâm, ngoài cái chân lý, lẽ phải mà mình bênh vực, không có một chút nào đố kỵ, ghét bỏ và định kiến hay sao? Nếu thế thì cái đúng, cái sai trở thành tương đối mất rồi, là hai bên dãy núi Pyréneé như Pascal nói mất rồi.

Ít lâu sau vụ cha Uyển xảy ra, tôi đi họp ở tỉnh và được cho biết vùng “rừng cấm” ở xã Tín Đạo, xã Đức Phương sẽ làm nơi cho đồng bào Quảng Trị – quê hương tôi – chạy nạn từ 1972 vào định cư, lập nghiệp. Chính quyền đang qui hoạch. Được tin đó, tôi vui lắm! Tôi bàn với vợ tôi hãy chuẩn bị tham gia những công việc xã hội để giúp đỡ đồng hương mới vào.

Việc đưa đồng bào Quảng Trị vào định cư ở Miền Tây Nam Bộ từng là đề nghị của Quốc Vụ Khanh Phát Triển Kinh Tế Hậu Chiến sau khi vùng quận Trung Lương (dọc theo bờ nam vĩ tuyến 17) bị bạch hóa để thiết lập hàng rào điện tử Mc Namara hồi năm 1965.

Đề nghị hồi ấy của phủ quốc Vụ Khanh bị mấy ông Nam Kỳ Quốc chống đối kịch liệt. Họ không đồng ý cho đồng bào Quảng Trị vào lập nghiệp ở đây với lý do “Đất miền Nam của người miền Nam.” Khi phủ QVK phản bác, đất ấy còn trống thì được mấy ông Nam Kỳ Quốc trả lời rằng bây giờ còn trống nhưng sau nầy con cháu người miền Nam lớn lên mới có đất cày. Do đó, đồng bào quận Trung Lương, thay vì được định cư ở miền Tây thì lại được định cư ở Cam Lộ, Cam Ranh và Bình Giã.

            Tôi không về Saigon nên không được biết rõ tại sao mấy ông Nam Kỳ Quốc bây giờ không chống đối như trước kia nữa. Có phải vì chính sách “Người Cày Có Ruông” của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hay chương trình định cư mới nầy được thiết lập do phó thủ tướng Phan Quang Đán, đặc trách chương trình “Khẩn hoang Lập Ấp.” Người ta ngán ai mà không chống đối nữa? Không chắc họ ngán tổng thống hay phó thủ tướng mà ngán vì các chương trình nầy được Mỹ hỗ trợ tích cực chăng?

Dù gì, nếu đồng bào quê hương tôi vào đây, tôi vui hơn, yên tâm hơn, không còn sợ Việt Cọng khi đi ngang những vùng lau sậy um tùm như thế nầy.

            Công việc định cư mới ấy, chưa hình thành thì miền Nam “sâp tiệm” – “Sập tiệm” là tiếng lóng, anh em tù cải tạo chúng tôi thường gọi đùa mỗi khi nói tới việc miền Nam sụp đổ ngày 30 tháng Tư 1975.

Có câu chuyện đùa. Một hôm ông quận trưởng chuẩn bị bài diễn văn đọc trước hội nghị bàn về tôn giáo ở địa phương. Nửa chừng thì ông đi ăn cơm, bỏ dở bài viết trên máy đánh chữ. Máy không có dấu tiếng Việt. Đứa con gái, mới lớn, tò mò đọc trong máy đánh chữ, bài viết của ông bố: “Nước ta có nhiều dao lam, như dao cao dai, dao phát, dao thiến chua, dao cũ sì… Dao nào cũng là dao, đừng vì dao nọ mà chống dao kia…”

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 19 Sep 2014 by quanvan.net 

 Hoàng Long Hải       

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

                                                                                     

Bài 23

 Người Cày (mất) Ruộng

Về miền Tây, người ta dễ thấy sự trù phú của đất đai Nam Bộ. Nếu không có chiến tranh, nếu cải cách hoặc làm cách mạng nông nghiệp, làm “Cách Mạng Xanh” như ở Mỹ, người Việt làm sao đói được. Trước năm 1945, diện tích làm ruộng chưa lớn lắm mà đã có gạo xuất cảng.

Trước 1975, chỉ có những vùng tạm yên mới làm ruộng được. Đó là khu vực dinh điền Cái Sắn, kể cả ruộng hai bên Liên Tỉnh lộ 8-A, từ Ngã Ba Lộ Tẻ tới Rạch Giá. Đi theo Liên Tỉnh lộ nầy, bên tay trái, là khu Thạnh Đông. Khu nầy chỉ có thể làm ruộng kể từ lộ đi vào chưa tới 10Km mà thôi. Vô sâu hơn nữa, vùng Việt Cộng, chúng nó cấm dân lui tới, không làm gì được cả. Cũng phía nầy, hết Thạnh Đông là Thạnh Tây, giáp ranh với vùng Cờ Đỏ của quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, ruộng bị hoang hóa, chẳng canh tác gì.

Tôi nói hoang hóa là vì Cờ Đỏ, trước 1945 là “dinh điền” của chủ Tây. Tây mộ nông dân, phần đông là người Bắc vào làm ruộng. Vì chiến tranh, Tây bỏ đi, nông dân cũng tứ tán vì thiếu an ninh, ruộng bị bỏ hoang. Cảnh cũ còn lại là mấy ngôi nhà dài, lợp ngói, trước là kho lúa.

 Khi ông Ngô Đình Diệm cầm quyền, chăm lo cho dinh điền Cái Sắn, chưa kịp với tay qua phía đó thì ông đã bị giết mất rồi.

            Phía bên phải con lộ nầy là dinh điền Cái Sắn. Dinh điền nằm dọc theo Liên tỉnh Lộ 8-A, kể từ xã Vĩnh Trinh thuộc quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên là dân địa phương, còn dinh điền, phần đông là người Bắc di cư, thì kể từ kinh H nguợc lại kinh A, rồi tiếp là kinh 1 tới kinh 5, khoảng gần một trăm cây số là ruộng và kinh ngang. Kinh ngang là kinh nối từ kinh Long Xuyên – Rạch Giá với kinh Núi Sập, hai kinh chạy song song với nhau ra hướng biển. Kinh ngang dài 12Km, có nghĩa là dinh điền Cái Sắn bề ngang 12Km, toàn là ruộng. Dân chúng ở đây giàu có, tôi sẽ kể về sau.

Bên kia kinh Núi Sập là đồng Huệ Đức, thuộc quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên. Đồng Huệ Đức là “đồng chó ngáp”, nhưng toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long nầy, so ra cũng chưa ăn thua gì với những cánh đồng thuộc lưu vực sông Mississippi của Mỹ. (1)

Nói tới việc so sánh chuyện nầy, tôi thấy buồn cười khi nhớ lại câu chuyện giữa tôi với Tư Sang, tôi đã kể trong một bài trước: “Chuyện tình con gái Tư Sang.” (2)

            Tuy vậy, đồng Huệ Đức tuy rộng như thế nhưng cũng chưa canh tác hết vì tình hình an ninh không có. Ở xã Tân Hội, thuộc quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang, nhiều người nhờ làm ruộng ở đồng Huệ Đức mà giàu có như Bảy Quẹo, xã trưởng, tôi đã kể trong bài trước, Huỳnh Văn Vè (tự Mười Vè, nhà ở Rạch Giá), làm ruộng có tỉnh trưởng Kiên Giang hồi đó góp vốn (góp miệng mà thôi), đều có máy cày. Còn Võ Văn Minh, tự Út Giàu thì phải sắm GMC (loại của quân đội) để chở lúa từ trong đồng ra. Nếu hòa bình, yên ổn cho dân chúng làm ăn, việc làm ruộng ở đây sẽ phát triển lắm!

            Dọc theo Liên Tỉnh Lộ 8-A, đoạn từ Rạch Giá đi Hà Tiên, kể từ xã Mỹ Lâm là xã của Nguyễn Tấn Dũng, vô tới khu vực núi Trầu, Đông Hồ, thì một là vùng bị hoang hóa, nghĩa là trước 1945 đã làm ruộng nhưng vì chiến tranh, bị bỏ hoang, hoặc hai, là vùng chưa khai thác tới. Vùng ruộng của ông chủ Ri, thầy Ban cả ngàn mẫu, bị bỏ hoang đã mấy chục năm. Kể từ bờ biển tính ngược lên phía Bắc, tới sông Hậu, tôi ngồi trên máy bay Cessna của nhà máy ximăng Hà Tiên, bay ngang qua vùng nầy, nửa tiếng đồng hồ chưa hết vùng đất hoang. Nếu tính tốc độ Cessna, cũng tương tự như L-19, là 120Km/ giờ thì bề ngang vùng nầy không dưới 60Km. So ra cũng đúng với thực địa: Đoạn đường từ Ngã Ba Lộ Tẻ vô tới Rạch Giá, thẳng đuột, cũng dài 70km.

Như tôi có kể trong một bài trước, ông chủ Ri đưa bàn tay tuy gầy nhưng to lớn của ông, chụp lên bản đồ, chỗ kinh Chủ Ri của ông ngày trước, nói: “Ruộng của tui là chỗ nầy nè!” Mấy tiếng “chỗ nầy nè” tính ra là cả ngàn mẫu. Tiền truất hữu của ông như thế là “khẳm lắm”.

            Chủ ruộng thì được tiền bồi thường truất hữu, còn nông dân thì được cấp cho cái bằng khoán, được chính quyền Quốc Gia xác nhận là ruộng “của mình.” Có ông chủ ruộng nào nhận tiền mà không vui. Có ông nông dân nào lãnh bằng khoán mà không sướng?!

Tuy nhiên, tôi phải kể lại đầu đuôi việc điền địa ở phía Nam.

Thời Ngô Đình Diệm tuy có chương trình “Cải Cách Điền Địa” nhưng không chú trọng lắm vào việc truất hữu. Một phần, Tổng thống Diệm chú tâm và bỏ tiền đầu tư cho các dinh điền và khu trù mật được thành lập nhiều nơi.

Công việc nầy có ba tác dụng lớn: Một là ổn định việc định cư cho gần một triệu dân di cư từ ngoài vĩ tuyến 17 vào Nam. Thứ hai là phát triển nông nghiệp. Thứ ba, những địa điểm dinh điền hay khu trù mật đều có tính cách chiến lược, ngăn chận hoạt động, di chuyển và thành lập mật khu của Việt Cộng.

            Vả lại, việc truất hữu, phải bồi thường cho điền chủ. Số tiền bồi thường đó lớn lắm. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa chưa vững mạnh, làm sao có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền. Phải có Mỹ viện trợ mới được. Tuy nhiên hồi đó, tôi không nghe có chương trình viện trợ Mỹ nầy, ngoại trừ Mỹ hỗ trợ cho việc thành lập các khu trù mật, dinh điền và Nông Tín Cuộc (Cho nông dân vay tiền làm ruộng). Ở Long Xuyên, tôi nghe nói thời ông Ngô Đình Diệm, ông Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ bị truất hữu nhiều ruộng lắm mà không được bồi thường. Ông “hy sinh” cho dân, chẳng khiếu nại chi cả.

Từ đâu mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền để thực thi chương trình “Nguời Cày Có Ruộng” của ông.

            Năm 1945, khi chiến tranh xảy ra, không ít chủ điền bị Việt Minh giết, thủ tiêu, nên họ hè nhau chạy lên Saigon hay thành phố lớn lánh nạn. Ngay như ông Chủ Ri ở Vàm Rầy (xã Đức Phương) cũng vậy. Ông là người được dân địa phương kính trọng và mang ơn. Mấy năm “Thổ dậy”, tức là phong trào người Miên cầm chà gạc, gươm, dao tấn công vô các xóm người Việt “Cáp Duôn”. (Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt – tiếng Miên). Ông Chủ Ri, người vừa có máu Miên, máu Việt lại lai Tây, nhà ở Vàm Rầy, có cây súng săn. Hễ thấy người Miên ùn ùn kéo tới xóm người Việt, ông cầm cây súng săn, ra đứng giữa đường, chặn người Miên lại. Ai không nghe, ông chỉ cây súng lên trời, bắn một phát, người Miên sợ bỏ chạy cả. Nhờ vậy, tình hình địa phương yên ổn, ai nấy làm ăn bình thường. Năm “Nam Bộ Kháng Chiến”, người em út của ông, cũng có máu lai như ông, cầm súng đi theo Việt Minh chống Pháp. Vậy mà Việt Minh không để cho ông Chủ Ri ở yên. Ông phải đem vợ con chạy về Rạch Giá, theo Tây để khỏi bị Việt Minh giết. Cả ngàn mẫu ruộng của ông bỏ hoang từ hồi đó.

            Khi mấy ông chủ điền bỏ chạy về thành phố, ruộng để lại, ai đem theo được?! Nông dân cứ tiếp tục trồng lúa, ai có sức làm được bao nhiêu thì làm. Những vùng hơi yên, hoặc những năm tình hình hơi yên ổn, các ông chủ điền về thâu tô. Ai nghĩ tới tình nghĩa chủ cũ thì đóng, ai không đóng cũng thôi, làm gì được nông dân! Có người, như ông Chủ Ri, thầy Ban ở Vàm Rầy, coi như mất trắng. Ruộng bỏ hoang, chẳng ai làm.

            Vậy rồi bây giờ bộ Canh Nông của Tổng thống Thiệu gọi chủ điền tới, hỏi có bao nhiêu ruộng khai ra, tính bao nhiêu mẫu để “bồi thường”. Mấy ông chủ điền coi như trúng số: Một ít trả bằng chi phiếu, một ít trả bằng công khố phiếu. Trả bằng gì cũng được, có còn hơn không. Mỗi ông chủ điền, có ông lảnh vài triệu, có ông lảnh vài chục triệu, hí ha hí hững, không quên “trà nước chút đỉnh” cho mấy thầy làm giúp giấy tờ truất hữu cho. Trong số đó, có anh Bửu T. kỹ sư canh nông là bạn với “Hùng móm”, em út tôi, kể lại cho tôi nghe. Anh ta chỉ làm giúp giấy tờ chớ không làm khó dễ ai cả, cũng được trà nước “chút đỉnh”. “Chút đỉnh” nầy đủ cho anh ta mua căn nhà ở gần khu Bàn Cờ. Còn công khố phiếu, đâu có thành tiền được, dù tới 30 tháng Tư – 75 cũng vậy, coi như mất luôn.

            Còn nông dân, ngày 10 tháng 3 năm 1970, Tổng thống Thiệu về tận Cần Thơ làm lễ cấp phát bằng khoán cho nông dân. Một số nông dân, trình diện trước tổng thống, vừa mừng vừa hồi hộp, vừa run, nhận cái bằng khoán từ tay ông tổng thống đưa cho, lại còn được tổng thống bắt tay, chúc mừng, sướng lên tới trời xanh.

Sau đó, ông tổng thống còn đi một vòng xe đạp trong sân, biểu diễn một ông “tổng thống bình dân” cho nông dân xem, có tướng Nguyễn Vĩnh N. chạy theo vịn yên xe, sợ tổng thống bị té. Hoạt cảnh trông thật buồn cười!

            Có bằng khoán, nông dân chẳng được cấp thêm ruộng đất gì cả. Nó chỉ là một tấm giấy in khá đẹp, vẽ rồng rắn, có tên ông nông dân trên đó, xác nhận miếng ruộng ông ta đang canh tác trên ấy là ruộng của ông ta, không ai được tranh giành gì cả, không phải đóng tô cho ai, dù trước đó, ông ta có đóng tô hay không đóng tô, chủ điền cũng đành chịu thua mà thôi.

Thế rồi sau 30 tháng Tư, “chính quyền Cách Mạng” bắt đem ruộng vô hợp tác xã hết. Ai không vô thì coi như “phản động”. Sợ đi “học tập cải tạo”, nông dân “hăng hái tham gia”, coi như mất tiêu đám ruộng đã từng được Quốc Gia trao cho.

Từ ông nông dân không có ruộng cày, khố rách áo ôm, nhờ ông chủ điền cho tá canh, có được cơm ăn áo mặc; lại nhờ Quốc Gia trao cho cái bằng khoán, trở thành tiểu nông, có ít ruộng làm của. Bây giờ “Cách Mạng” vô rồi, cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ. Vậy cũng chưa ức lòng.

Lại đến khi khoán sản phẩm, đổi mới, v.v… ruộng trả lại cho nông dân thì chính quyền đem ruộng tốt của ông A trả cho ông B vì ông B là người bà con, là người chịu “thủ tục đầu tiên,”. Ông A không có bà con gì với ông chủ tịch, ông bí thư, lại không trà nước chi cả thì được trả cho một đám ruộng xấu, ruộng phèn, cấy xuống cây lúa nào, cây lúa đó chết queo.

Ức lòng thì ức lắm nhưng biết kêu ai bây giờ. Kêu Phật thì phật đã vô quốc doanh, kêu Chúa thì Việt Cộng bảo rằng “chúa đã đi Guam” hồi tháng tư – 1975(3); kêu Trời thì Việt Cộng nói xã hội chủ nghĩa vô thần, không có trời, chỉ có đảng mà thôi. Kêu tới đảng thì cũng… bằng không. Nông dân mất ruộng, biết kêu ai bây giờ./

hoànglonghải

(1) Mississippi với các phụ lưu là sông  Missouri, sông  Arkansas, sông Ohio, v.v… tạo thành bình nguyên Mississippi, rộng 3.225.000 Km2, trải qua 31 tiểu bang (trong số 48 tiểu bang của lục địa Mỹ). So ra, diện tích toàn cõi Việt Nam chỉ mới 312.000 Km2 với 25% đất đai trồng trọt được.

(2) Tư Sang nói:

_ “Dạ thưa, ông nói vậy thì tui hay vậy, chớ ai mà không đốn được tràm, không bắt được cá thì đói lắm. Với lại họ tuyên truyền nghe hay lắm, làm như mình tưởng là thiệt vậy.”

_ “Họ tuyên truyền cái gì mà hay, ông Tư nói thử coi.” Tôi hỏi.

_ “Dạ, họ nói giúp “cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Nước mình rừng vàng biển bạc nên Mỹ đem quân qua cướp lấy.” Tư Sang giải thích.

_ “Rừng vàng biển bạc” là cái gì? Là mấy con cá phân ở ngoài hòn Ngang, hòn Heo. Rừng vàng là rừng Trà Tiên nầy chắc? Phải không?” Tôi hỏi.

_ “Dạ, họ nói vậy đó. Trà Tiên gỗ to nhiều lắm, lại vô số tổ ong, lấy mật.”  Tư Sang xác nhận.

Tôi cười to:

_ “Tui nói thiệt với ông Tư, tụi Mỹ nó chẳng cần gì cái rừng tràm nầy đâu. Ngay cả vùng châu thổ sông Cửu Long nầy nó cũng chẳng thèm. Ông có biết lưu vực sông Mississippi của nó rộng lớn như thế nào không? Tụi Mỹ gieo hạt bằng máy, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay, gặt có máy kéo. Tụi nó thèm gì cái rẫy của ông Tư ở Lung Lớn mà tụi nó đem quân qua đây, để ông gọi nó là “đế quốc Mỹ xâm lược”. “Ếch ngồi đáy giếng”. Cả cái đám chóp bu Việt Cộng cũng chỉ là đám ếch ngồi đáy giếng. Nói Mỹ xâm lược nước ta vì mấy đám ruộng phèn ở Kiên Giang nầy thì buồn cười quá! Ông Tư nói ra, người ta cười cho thúi đầu!”

 (3) Trong thời gian vô tù gọi là “học tập cải tạo”, cán bộ giảng rằng năm 1954, mấy ông linh mục miền Bắc nói với tín đồ rằng” Chúa đã vào Nam.” Con chiên hãy đi Nam theo Chúa. Cũng thời gian đi tù đó, người miền Nam di tản qua Guam đông lắm, cả trăm ngàn người. Như vậy có phải người ta đi Guam theo Chúa. Vì vậy, trong trại tù có câu ca dao chọc quê mấy anh bạn theo đạo Thiên Chúa nhưng không di tản hồi 75:

 “Ngày xưa Chúa đã vào Nam,

 Bây giờ Chúa lại đi Guam mất rồi.”

Thật ra, dù Chúa có ở lại, mấy ông bạn Thiên Chúa giáo của tôi trong trại tù cũng không được Việt Cộng cho phép đọc kinh cầu nguyện Chúa!

Hương tràm Trà Tiên

Hoàng Long Hải

Posted on 15 Sep 2014 by quanvan.net 

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

Bài 22

Nhà máy Xi măng Hà Tiên

Trước khi nói tới việc xây dựng nhà máy ximăng Hà Tiên, phải nói tới công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông Ngô Đình Diệm “chấp chánh” ngày 7 tháng 7 năm 1954 (Hồi ấy gọi là ngày Song Thất). Hai tuần lễ sau (chính là ngày 21 tháng 7 năm 1954), các nước đầu sỏ hè nhau lấy con dao bén cát đôi nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17, mà nhà thơ Trần Dần gọi là:

                         Bỗng nhói ngang lưng

                                                            máu rỏ xuống bùn

                        Lưng tôi có tên nào chém trộm?

                        …

                        Lưng Tổ quốc hôm nay rớm máu

                        …

                        Bắc Nam ơi đứt ruột chia đôi

            Tổng thống Ngô Đ ình Diệm chỉ còn cai trị có một nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào. Với một nửa nước đó, ông lo chỉnh đốn và xây dựng (1) các công trình giáo dục, hành chánh, quân sự, kỹ nghệ …

            Nhà máy ximăng Hà Tiên hình thành trong bối cảnh đó và bắt đầu hoạt động năm 1962.

            Vùng Kiên Lương – Rạch Đùng – Chùa Hang – Ba Hòn – Hòn Phụ Tử là vùng núi đá vôi tốt, tương đương với đá vôi Portland của tiểu bang Oregon, với hàng trăm ngọn núi lớn nhỏ khác nhau, trên đất liền hoặc sát bờ biển. Những ngọn núi sát bờ biển có hình ngọn viết lá tre, có nghĩa là chỗ gần giáp với mặt nước, ngọn núi bị thắt lại vì nước xoi mòn. Đó là lý do tại sao Hòn Phụ Tử năm kia bị đổ. Khi phần dưới bị thắt lại, phần trên nặng, và nếu như bị một tác động mạnh nào đó, thường là do địa chấn, phần trên sẽ đổ xuống. Người ta thường cho rằng đó là điềm báo trước chuyện chẳng lành. Núi đổ, đá đổ là báo hiệu sự sụp đổ. Năm 1953, núi Bãng Lãng ở thượng nguồn sông Hương bị đổ, năm sau “23 tháng mười Bảo Đại dân truất ngôi”(Câu hát tuyên truyền cho ông Ngô Đình Diệm). Năm 1974, Núi Đá Dao ở Tri Thủy, quê tổng thống Nguyễn VănThiệu bị đổ, năm sau là “Tháng Tư đen”. Bây giờ Hòn Phụ Tử đổ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra…

            Tuy nhiên, dân chúng Kiên Giang bỗng có câu hò ru em:

                        Than ôi hòn Phụ đổ rồi,

                 Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than!

            Cuối năm 1973, đại tá Huỳnh Thanh Sơn cùng trung tá Ngô Tấn Đức đến thanh tra cơ quan của tôi. Đại tá Huỳnh Thanh Sơn hỏi tôi tại sao những núi đá bị khuyết đi như vây. Tôi giải thích rằng chỗ khuyết là do qua hàng triệu năm, sóng biển đánh vào bào mòn. Rồi bỗng có một trận địa chấn lớn làm nâng đáy biển lên hay làm nước biển giựt xuống, nên chỗ khuyết đó bỗng lộ cao lên, cao hơn mặt nước. Điều tôi nói là căn cứ vào sách địa lý tôi dùng dạy học trò lớp đệ Tam của Sư Huynh Jérôme Lê Văn Ba, có thời làm hiệu trưởng trường Pellerin Huế, sau vô làm hiệu trưởng trường Taberd Saigon và cours tôi học với linh mục Nguyễn Hòa Nhã, giáo sư địa lý đại học Huế, chớ tôi không nói tầm bậy. Vậy mà ông đại tá Huỳnh Thanh Sơn cười mỉa tôi, cho rằng tôi nói dốc. Cái cười của ông đại tá được kèm theo cái cười mỉa thứ hai của ông trung tá Đức, ông cũng là người có bằng cử nhân luật của đại học Saigon đấy!

            Nhà máy ximăng Hà Tiên được xây dựng bên chân núi Còm, là ngọn núi lớn nhứt. Đồng thời quận hành chánh Kiên Lương cũng được thành lập để giúp đỡ về hành chánh cho nhà máy.

            Thời Tây đô hộ, qua khỏi xã Đức Phương (Vàm Rầy), – quê hương của vợ thủ tướng Khiêm – một đỗi là ranh giới hai tỉnh Rạch Giá – Hà Tiên. Nay (1972), cái mốc ranh giới vẫn còn. Từ Vàm Rầy trở ra Rạch Giá, xuống tới U-Minh là thuộc tỉnh Rạch Giá – tên cũ- , diện tích rộng lớn. Còn từ quá Vàm Rầy trở lên Hà Tiên là thuộc tỉnh Hà Tiên. Tỉnh Hà Tiên nhỏ hẹp, chỉ có ba quận: Phú Quốc, Giang Thành và Hòn Chông (sau nầy là Kiên Lương).

Thời nhà Nguyễn, tỉnh Hà Tiên rộng hơn bây giờ, xuống tới tận cầu Lình Quỳnh, gần tới Sóc Soài, Sóc Sơn của tỉnh Rạch Giá.

Khi Tây chiếm xong ba tỉnh miền Tây Nam bộ, tuy ông Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự vẫn, giao thành cho địch để tránh tai họa cho sinh linh, thì trong giới sĩ phu, nhiều người vẫn tiếp tục chiến đấu. Kiệt hiệt nhứt trong số đó có ông Nguyễn Trung Trực. Ông khởi binh đánh Tây, thắng nhiều trận lớn, như trận đốt tàu Tây mà sử gọi là “Hỏa Hồng Nhựt Tảo” trên song Lòng Tào. Nhưng về sau, sức yếu thế cùng, ông lui về “Đám Lá Tối Trời” ở Gò Công, rồi rút về lập căn cứ ở núi Hòn Chông, kế Chùa Hang, Hòn Phụ Tử.

Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung  Trực, Tây thu nhỏ tỉnh Hà Tiên lại cho dễ kiểm soát. Riêng vùng Kiên Lương và núi Hòn Chông được lập thành một quận, gọi là quận Hòn Chông, diện tích nhỏ hẹp, dễ kiểm soát, dân chúng ít, dân khó nổi lên chống Tây như trước. Khi tôi đi thăm Chùa Hang năm 1973, ở đầu núi Hòn Chông còn thấy cảnh đổ nát của quận đường cũ. Cơ sở nầy bị tàn phá, một phần vì Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến”, một phần vì nơi đây không ít lần là trận địa. Quận Kiên Lương là thoái thân của quận Hòn Chông, diện tích có mấy xã: Hai xã Tín Đạo (Tri Tôn, thuộc Rạch Giá), Đức Phương (Vàm Rầy) là đất cũ của tỉnh Rạch Giá, và các xã thuộc quận Hòn Chông cũ như An Bình (quận lỵ), Dương Hòa (Ba Hòn), An Hòa (Núi Trầu), Bình Trị (Hòn Chông). Lãnh thổ xã Bình Trị gồm những ấp quanh núi Hòn Chông là ấp Hòn Chông, ấp Rạch Đùng và các hòn cù lao trong vịnh Thái Lan, lớn nhứt là Hòn Nghệ, thứ đến là Hòn Ngang (Hòn Đội Trương), Hòn Heo, Hòn Đầm và vài đảo khác, vì thiếu nước ngọt nên chỉ có vài ba nhà dân.

            Nhà máy ximăng ở kế quận lỵ, thuộc xã An Bình.

            Nhà máy ximăng được xây dựng thành hai khu: Khu cư xá thuộc xã An Bình, ngay quận lỵ gồm có một dãy biệt thự dành cho các kỹ sư và viên chức hành chánh. Khu nhà dài là nhà ở của công nhân. Khu trường học (tiểu học và trung học). Khu thể thao, và khu thị tứ gồm Chợ Tròn (nhà lồng chợ hình tròn), các dãy phố quanh chợ, với đường xá rộng rải và khu nhà máy, ở bên kia kinh An Bình – Ba Hòn, sát chân núi Còm.  Đường từ bên nầy (quận lỵ) qua bên kia (nhà máy) nối bằng nột cây cầu đúc ximăng khá đẹp. Nhìn qua, các công trình xây dựng nầy hiện đại, tiện nghi, quang cảnh giống như bên Tây. Công trình nầy là của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

            Cũng không thể không nói thêm về hồ nước Kiên Lương. Theo kế hoạch ban đầu, chính phủ dự tính cho đào một con kinh lớn, nối liền từ sông Bassac, – sông Hậu -, chỗ gần tỉnh lỵ Châu Đốc kéo thẳng một đường về tới kinh Rạch Giá – Hà Tiên, gần An Bình – , để lấy nước cho nhà máy. Tuy nhiên, khi chương trình đào kinh mới bắt đầu, cho cắm cọc, làm dấu thì Việt Cộng rình bắt hết công nhân làm công việc đào kinh nầy. Những người bị bắt, có người được tha sau khi bị Việt Cộng giam giữ ít lâu, có người không về. Con kinh sắp đào nầy cắt ngang đường giây 1-C là con đường huyết mạch của Việt Cộng từ Kampuchia qua, làm sao chúng có thể để yên được. Vì vậy, việc đào kinh phải bỏ. Chính phủ bèn cho đào một cái hồ rộng, phía sau cơ sở quận Kiên Lương. Hồ nầy mỗi bề dài 1 cây số, tha hồ cho nhà máy xử dụng. Mỗi năm, khi nước sông đổ về, – thường gọi là “mùa nước nổi” – độ phèn trong nước giảm bớt thì nhà máy cho bơm nước từ kinh An Bình – Ba Hòn vào hồ cho tới khi đầy hồ mới thôi. Nhà máy lại cho bơm nước vào một cái château d’eau ở gần cư xá cho công nhân dùng, và một château d’eau khác phía bên kia cho nhà máy. Vì việc canh gác, tuần phòng có khi lơi lỏng, Việt Cộng mấy lần về đặt chất nổ cố phá cái château d’eau ở cư xá nhưng không thành công.

Hồ nước có nhiều cá và vịt le, dân chúng tha hồ đánh bắt, không ai cấm cản gì cả.

            Nhà máy ximăng Kiên Lương chỉ mới khai thác đá ở núi Còm.

            Tại sao có tên núi Còm?

            Trong hồi ký “40 năm, nhớ lại tết Mậu Thân – bài thứ 9 “Chiều Đi Qua Bãi Dâu…” ở phần chú thích, tôi có viết:

            “Về mặt tôn giáo, khi triều đình nhà Nguyễn đang còn, người ta thấy xã hội miền Bắc thiên về đạo Nho, nhất là Tống Nho, hơn về Phật; miền Nam thiên về đạo Phật, khuynh hướng dân giả, pha tạp tà ma bùa chú hơn đạo Nho. Huế ở giữa, là điểm tiếp nối của hai miền, vừa “thâm” Nho trong triều chính, và “đậm” Phật trong đời sống xã hội.”

            Trước khi “lưu lạc” về miền Tây Nam Bộ, xuống tới chỗ tận cùng đất nước: Hà Tiên, tôi có đọc một số truyện của Hồ Biểu Chánh, Lê Xuyên hay tin tức báo chí, tôi thấy đạo Phật Đại Thừa, là hành trang tinh thần của người Việt trong cuộc Nam tiến, từ miền Trung, miền Bắc vào miền Tây Nam Bộ. Những lưu dân nầy, khi định cư nơi vùng đất mới, tính Đại Thừa pha hợp với tính Tiểu Thừa trong đạo Phật của người Miên vùng Khmer Krom. Rõ nhất là trong tính cách tu cho riêng mình được giải thoát. Do đó, bên cạnh chùa, như ở miền Bắc thì lại xuất hiện những cái cốc của các ông đạo. Đạo của các ông đạo lại pha hợp với tu tiên của đạo Lão và bùa phép của người Miên. Bên cạnh những ông đạo Liếm, đạo Sờ bậy bạ, không ít người tu hành một cách chân chính nhưng có vài nét khác lạ. Ông “bác vật” Lang quê ở Sadec đi xuống cái hang sâu (dân chúng gọi là đường xuống âm phủ) ở Thạch Động thuộc Hà Tiên (Thạch Động là nơi Thạch Sanh cứu công chúa trong truyện Thạch Sanh – Lý Thông), có thạch nhũ hình dáng như Phật Bà Quan Âm, ông ta thấy “cái gì đó” mà khi về, ông tịnh khẩu cho đến khi qua đời vì Phật thánh cấm ông nói lại. Ông “bác vật” Lang là đệ tử của Phật Bà Quan Âm, người ta nghĩ vậy, nhưng cách tu tịnh khẩu cho đến chết như ông không phải là việc tu hành thông thường. Tôi không rành lịch sử Phật Giáo Việt Nam, nên không biết hai ngàn năm Phật giáo truyền vào Việt Nam, ở miền Bắc có ai tu tịnh khẩu trọn đời như ông “bác vật” Lang hay không?

            Ông đạo Dừa ở Kiến Hòa cũng là một “dạng” của mấy ông đạo miền Nam.

Thông thường các ông đạo nầy là người Việt Nam, không phải người Miên hay người Tàu lai Miên (Thường gọi là “đầu gà đít vịt”), lại là người có học hành. Ông “bác vật” Lang đậu cử nhân sinh học ở Pháp về, biết hết các loài động vật thực vật nên người ta gọi ông “bác vật” là vì vậy. “Bác” là uyên bác đấy, không phải “bác Hồ” “bác(t) cháo gì đâu! Ông đạo Dừa nguyên là kỹ sư canh nông. Người Miên tu ở chùa, dùng bùa Cà Tha và không lập cốc. Bùa Cà Tha, là bùa “truyền thống” của người Miên. Nhiều ông đạo tu luyện bày thêm bùa phép lung tung.

            Đặc biệt nhứt là trường hợp ông Đoàn Minh Huyên, tín đồ gọi là Đức Phật Thầy Tây An (2).

            Núi non vùng Kiên Lương, Hà Tiên, và Thất Sơn bên Châu Đốc không thiếu hang động. Do đó, nhiều ông đạo không dựng cốc. Mấy ông tu trong những hang động đó, mỗi người một hang. Ông Còm, hay ông đạo Còm cũng là người tu trong hang theo cách đó.

            Trong bản đồ quân sự, ngọn núi nhà máy ximăng Hà Tiên khai thác đá, được gọi là núi Còm, là nơi ông đạo Còm tu hành. Người ta không biết tên thật ông ta là gì nhưng ông thọ lắm, lưng ông còm, – cong như cái cung -, nên người ta gọi là ông đạo Còm, tu trên ngọn núi đó là ngọn núi người ta đặt tên theo cái tên người ta đã đặt cho ông. Không ai biết quê quán ông ở đâu, tu luyện ở đây từ bao giờ, thời gian nào, lâu lâu ông ta mới xuống núi khất thực. Xong, ông ta lại về núi. Khi công nhân đến khai thác đá ở núi Còm, người ta tìm thấy trong một cái hang có một bộ xương người, – bộ xương ông đạo Còm? -, da thịt đã rữa mục hết, thành đất bụi, không rõ ông đạo chết tự bao giờ.

            Tôi lấy làm tiếc đã không tìm hiểu thêm về ông đạo Còm. Không biết bộ xương ông đạo chôn cất ở đâu. Vã lại, dân chúng quanh vùng nầy, không ai là cố cựu, phần nhiều là người mới tới định cư  sau khi quận được thành lập. Xóm Xà Ngách của ông Đinh Nam Triều – người viết bài 20: Tiểu Đoàn 66 Biệt Động Quân Biên Phòng – cư ngụ ở xóm nầy cũng chỉ từ sau hiệp định Genève 1954. Có lẽ dân núi Trầu (xã An Hòa), vài người biết đôi chút về ông dạo Còm nhưng tôi đã không tìm gặp để hỏi chuyện.

            Núi Còm, bắt đầu lấy đá từ 1962. Khi tôi về đó, hơn 10 năm sau, nhà máy ximăng chỉ mới khai thác được một phần mười ngọn núi đá. Một mặt thì nhà máy khai thác chậm, mặt khác thì núi lớn quá. Theo ông giám đốc Lê Hữu Phước nói cho tôi nghe, thì đó chỉ là phần nổi trên mặt đất, phần nầy chỉ có một phần ba. Phần chìm dưới mặt đất là hai phần ba. Nếu khai thác hết đá ở núi nầy, với tiến độ như thế, phải mất một trăm năm nữa mới lấy hết đá.

            Giữa năm 1974, kỹ sư Nguyễn Văn Thành, đứng ra chỉ huy việc tính toán, đặt chất nổ, để bắn chỏm núi, cao khoảng một phần ba ngọn núi (Phần nổi trên mặt đất). Một hôm, ngồi uống càphê buổi sáng với tôi, trước khi đi làm, kỹ sư Thành báo cho tôi biết việc chuẩn bị ấy và hẹn hôm nào cho bắn đá thì sẽ báo cho tôi biết để xem chơi. (Kỹ sư Thành, tốt nghiệp kỹ sư công chánh, nguyên là học sinh trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, học sinh môn Anh Văn với Phan Văn Hộ, một người bạn học cũ của tôi dạy ở đấy.)

            Quả thật anh ta tính toán rất hay. Hôm đó, trời tốt, khoảng mười giờ sáng, tôi qua nhà máy chờ xem bắn đá. Tới 10 giờ, sau khi lệnh lạc đâu đó, giữ khoảng cách an toàn cách chân núi 2 Km, thì kỹ sư Thành cho lệnh bắn. Trong tích tắc, tiếng nổ dữ dội vang lên, bụi đá mù mịt, tiếng đá rơi xuống ào ào như mưa, kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Khi bụi tan thì phần chỏm núi không còn.            Bắn một lần mà thành công như thế là kỹ sư giỏi.

            Thời gian tôi làm việc ở đây, gần 2 năm có ba tai nạn chết người. Trước hết là tai nạn bà Huỳnh thị Chè. Trước kia bà làm cho hãng RMK-BRJ của Mỹ, từng lái xe xúc. Hôm ấy, bà cũng lái xe xúc đưa đá lên cối thì xe tuột thắng, rơi khỏi cầu, xe lật úp, bà bị xe đè chết tại chỗ. Tai nạn thứ hai là một thanh sắt lớn rơi trúng đầu ông Thanh, cán sự cao cấp, tương đương kỹ sư, du học ở Pháp về. Tai nạn thứ ba là sau khi bắn chỏm núi đá, thì một ông tài xế nhà máy, lái xe ủi để ủi một đường quanh núi thì bị đá rơi trúng đầu, chết tại chỗ.

            Cũng trong thời gian đó, Việt Cộng tấn công vào nhà máy ximăng hai lần, không kể lần trước đó, 1972 mà anh Đinh Nam Triều đã kể trong bài 20.

            Lần đầu, Việt Cộng chưa vào tới nhà máy, chỉ có đặc công chui hàng rào kẽm gai vào đốt kho dầu. Nửa đêm, tôi bị nhân viên đánh thức, báo cho biết nhà máy ximăng đang cháy. Tôi lo lắng chạy qua hầm truyền tin, biểu nhân viên báo cáo về Rạch Giá, rồi đi bộ sang chi khu theo dõi tình hình. Thiếu tá Sầm Long, chi khu trưởng, đang ngồi sẵn ở đó, nét mặt hơi có vẽ lo lắng. Tôi nói:

            – “Nếu nhà máy bị nội tuyến là tui lãnh đủ. Còn như tụi nó ở ngoài chui vào là phần ông đấy.”

            Thiếu tá Long cười mà không vui:

            – “Địa Phương Quân (ĐPQ) báo cáo rồi, tụi nó cắt hàng rào chui vô.”

            Tôi cười, thấy khỏe. Nhà máy có hơn bốn trăm nhân viên, lý lịch khá phức tạp, Việt Cộng dễ trà rộn vào để phá hoại.

            Nhà máy cũng có một kho chất nổ lớn, dùng để bắn đá. Chất nổ để trong một cái hang núi, cửa sắt chắc chắn. Mỗi khi mở cửa lấy chất nổ ra, phải có một ủy ban với nhiều thành viên thuộc các cơ quan, bộ phận an ninh ở địa phương để ngăn ngừa việc mất cắp có thể xẩy ra: Việt Cộng hay bán cho các chủ lò vôi để họ bắn đá. Việc nầy tôi rất e ngại, theo dõi khá kỹ, giao cho thượng sĩ Lâm Tấn Tài, cảnh sát đặc biệt, đảm nhận. Anh ta là người cẩn thận, chăm chỉ và, như tôi gọi đùa “Thổ công nhà máy.” Anh biết hầu hết, tên tuổi, gia cảnh, gốc gác… từng công nhân làm việc cho nhà máy.

            Sau đó, tôi cùng thiếu tá Long qua nhà máy. Nhà máy có bốn bồn dầu lớn dùng để đốt lò, một đang bị cháy. Các bồn kia an toàn. Tôi nói với thiếu úy Kiệt:

            – “Ông lấy máy hình chụp “lỗ chó chui” nầy. Mai mốt thượng cấp có khiển trách thì mình có cớ để chạy tội.”

            “Lỗ chó chui” là chỗ đặc công cắt kẽm gai chui vào.

            Lần thứ hai, Việt Cộng tấn công, tình hình căng hơn.

            Thời gian cuối năm 1974, tình hình toàn quốc khá căng nên tôi ít khi ngủ ở nhà, thường ngủ chung với binh lính của tôi trên các sân thượng của vài cao ốc trong quận lỵ. Quá nửa đêm súng nổ dữ dội ở phía nhà máy, tiếng súng nhỏ và cả mìn hay lựu đạn nữa. Tôi dùng máy truyền tin liên lạc với chi khu thì được biết đại tá Nguyễn Hữu Kiểm, tư lệnh phó sư đoàn 21 và thiếu tá Sầm Long đang ở trong hầm chỉ huy.

Việt Cộng đột nhập vào trong nhà máy nhưng chưa làm chủ tình hình được. Hai bên đang đánh nhau. Một bên là đặc công và một số Việt Cộng đã lọt vào sân sau nhà máy rồi; sân nầy ở hướng núi Còm. Bên phía kia, – phe phòng ngự, không phải là binh sĩ tiểu đoàn 530 Địa Phương Quân (ĐPQ), đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ nhà máy mà lại Nhân Dân Tự Vệ (NDTV) nhà máy, chỉ khoảng 4 hay 5 người gì đó, đang núp trên cối xay đá, phản công bằng súng Carbine.

            Tôi vào hầm hành quân gặp đại tá Kiểm và thiếu tá Long. Đại tá Kiểm đang liên lạc với tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Địa Phương Quân nói trên. Liên lạc xong, ông ta bỏ ống nói xuống, mặt không vui, nói với thiếu tá Long và tôi:

            – “Không biết tụi nó chém vè hay ngủ quên. Mấy “thằng cùi” (ám danh truyền tin thường chỉ Việt Cộng) lọt vô nhà máy rồi, súng nổ ầm ầm, tụi nó mới hay.”

            Đơn vị ĐPQ canh gác, tuần tiểu, phục kích phía ngoài hàng rào phòng thủ. Vậy mà khi Việt Cộng tiến vào, họ chẳng biết gì cả.

            Khi mấy tên đặc công lọt vào được sân sau, NDTV gác trên cối xay đá phát hiện ra, bắn xuống. Bọn chúng quăng lựu đạn beta lên cối đá nhưng không tới. NDTV có lợi thế hơn, từ trên cao bắn xuống nên chẳng tên đặc công nào sống sót. Vừa khi đó, khoảng một tiểu đội Việt Cộng từ ngoài lọt qua được hàng rào, nhưng các toán NDTV quanh đấy đã cảnh giác vì súng nổ rồi. Vì vậy, toàn bộ toán Việt Cộng bị mắc kẹt ở hàng rào. Vào thì không được, lệnh rút lui chưa có.

            Tiểu đoàn trưởng cùng với ban chỉ huy tiểu đoàn phối hợp với NDTV bảo vệ nhà máy, không cho chúng tiến sâu vào nữa. Tuy nhiên, toán đặc công thứ hai, có nhiệm vụ đốt bồn dầu thì đã đốt cháy 2 trong 4 bồn dầu, nhưng toàn thể toán của chúng gồm bốn tên đều bị hạ sát. Hai bồn dầu đang cháy, rực sáng, lửa cao ngất, khói um tùm.

            Bấy giờ đại tá Kiểm đã liên lạc được với Sư Đoàn 21. Sư đoàn liền cho trực thăng vận đổ xuống một đại đội. Trực thăng đổ quân dọc theo trục lộ, ngang ấp Xà Ngách, bên kia nhà máy. Tôi núp trong hầm hành quân, nhìn ra ngoài, quan sát đơn vị tiếp viện vượt cầu sang bên kia kinh. Trong ánh lửa chập chùng của các bồn dầu đang cháy, hình ảnh những người lính vượt cầu hiện lên khá rõ, vừa đẹp vừa hùng tráng. Tôi nói với thiếu tá Long:

            – “Đẹp ghê! Y như trong ciné.”

            Sau đó, chưa được nửa giờ, súng êm. Việt Cộng rút ra xa, nhưng cuộc tấn công chưa chấm dứt.

            Trời đã sáng, tôi còn ngồi trong hầm hành quân. Đại tá Kiểm nói:

            – “Việt Cộng tấn công mà tình báo chẳng biết trước gì cả. May nhờ NDTV phát hiện chớ với mấy trăm kí lô chất nổ như vậy, nhà máy chẳng còn viên gạch nào nguyên.”

            Hồi gần sáng, trung úy đại đội trưởng tiếp viện, sau khi vào lục soát trong nhà máy, báo cáo tịch thu được khoảng bốn trăm kg chất nổ TNT. Việt Cộng muốn triệt hạ hoàn toàn nhà máy ximăng Hà Tiên.

            Câu nói của đại tá Kiểm làm tôi chột dạ, mặc dù ông không khiển trách hay trách cứ gì tôi.

            Sau 7 giờ sáng, tôi về cơ quan. Lúc đó Việt Cộng chưa rút đi hẳn, còn bám các vị trí chung quanh nhà máy. Có thể chúng nó chờ trời tối lại tấn công nữa. Đại tá Kiểm tiên đoán như vậy.

Tôi họp đám Cảnh Sát Đặc Biệt của thiếu úy Kiệt, nhắc lại nhận xét của đại tá Kiểm. Năm Hùng nói:

            – “Bên quân đội có tình báo chiến thuật, chiến lược, phạm vị hoạt động rộng khắp, còn chưa biết gì. Mình chỉ nhờ có mấy người dân đốn tràm, giăng câu, làm sao biết tới việc đó.”

            Tôi nói:

            – “Chỗ dựa của chiến tranh du kích là nhân dân. Mình cũng phải dựa vào nhân dân mà chống Việt Cộng. Tình báo nhân đân chỉ góp được phần trong việc giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản mà thôi. Thôi! Kệ họ, họ có trách cứ gì mình đâu mà suy nghĩ cho mệt. Bữa nay thiếu úy Kiệt nên cho rải nhân viên rộng ra, xem tình hình như thế nào.”(3)

            Tôi gọi riêng Năm Hùng, “thổ công Kiên Lương”(4) với thiếu úy Kiệt lại, gọi càphê và dặn dò công việc. Tôi nói:

            – “Hồi “Hùng móm”, em tôi đánh trận Dambe, đọc tờ Diều Hâu, tôi thấy họ bình luận, sở dĩ Việt Cộng thua là vì tướng Dư Quốc Đống tìm ra được vị trí bộ tư lệnh chiến trường của Việt Cộng. Thay vì tấn công vào phòng tuyến chúng đang giàn sẵn, ông cho rút tiểu đoàn 11 Dù tấn công ngay vào cái đầu rắn. Bọn nầy bị bất ngờ, chạy trối chết. Bên phía mặt trận kia, không đánh Việt Cộng cũng rút lui.”

            Thiếu úy Kiệt góp ý:

            – “Tui cũng nghe nhiều người nói vậy.”

            Tôi nói:

            – “Thật ra, Thủ Đức ra như tôi, chỉ làm trung đội trưởng, chỉ học tuần tiểu, di hành, hành quân đêm, lội sông. Biết mẹ gì chuyện nầy. Chuyện nầy cao cấp hơn. Biết cũng vì tò mò mà thôi.”

            Thượng sĩ Hùng nói:

            – “Ông quận Long đánh giặc cũng hay lắm.”

            Tôi cười:

            – “Ông không biết à? Việt Cộng nghe tới đại úy Long Sư Đoàn 9 là ngán lắm. Ổng nổi tiếng từ cấp úy kia.”

            Thiếu úy Kiệt hỏi:

            – “Ông vô mục tiêu kinh lắm. Mười lần cả chục, Việt Cộng chạy dài.”

            Tôi giải thích:

            – “Ông ta có sự phỏng đoán tài tình lắm. Khi trực thăng đổ lính xuống rồi, dàn hàng ngang, vô mục tiêu. Việt Cộng nổ súng. Ông ta gan lắm, đứng quan sát. Nhìn hỏa lực, ổng biết cấp chỉ huy bên kia ở đâu, rồi tập trung mấy tay gan cùng mình, đánh ngay vào chỗ ấy. Thằng nào mà dám trụ lại. Rút chạy là chắc.”

            Một lúc, tôi hỏi Năm Hùng:

            – Ông là “thổ công” ở đây. Theo ông dự đoán, bọn chỉ huy mặt trận nằm ở đâu?”

            – “Thiếu gì chỗ. Núi Nai, phía sau núi Còm, khu đó còn nhiều ngọn núi nhỏ nữa, có hang. Tụi nó núp trong đó an toàn lắm.” Năm Hùng giải thích.

            – “Mấy núi đó, ông vào chưa?” Tôi hỏi.

            – “Tui lội khắp. Mấy năm tình hình yên yên, chẳng nơi nào tui chẳng tới.” Năm Hùng trả lời.

            – “Còn vùng Mo-So?” Tôi hỏi.

            Thiếu úy Kiệt nói ngay:

            – “Phía đó là phía biển, mình tấn công, tụi nó rút đi đâu? Phía núi Nai tụi nó dễ rút về Trà Tiên.”

            Tôi thấy thiếu úy Kiêt nói có lý. Một lúc, tôi nói:

            – Nếu chắc ở núi Nai, tui nghĩ bên Biệt Khu họ dám chơi kiểu “diều hâu” (5), cho nhảy trực thăng.”

            Đến trưa, tôi đang ăn cơm, Năm Hùng vào gặp tôi, nói:

            – “Có chỗ nầy tôi hơi nghi nghi!”

            – “Chỗ nào?” Tôi ngừng ăn, hỏi.

            – “Chỗ cái lung, phía đông bắc núi Trầu. Tui đứng ở cầu Cống Tre, nhìn vô thấy cái lung đó.”

            Tôi bỏ ngang bữa ăn, nói với Năm Hùng: “Anh đi xuống đó với tui. Biểu tụi nó gọi thiếu úy Kiệt xuống đó luôn.”

            Ngang đầu núi Trầu, xã An Hòa, có một con kinh đào nhỏ, thẳng, chạy từ đó về hướng đông bắc, có thể nối với kinh Kháng Chiến (Tôi không rõ vì bản đồ không vẽ gì cả mà tôi cũng chưa từng lội vào đó bao giờ). Cách xã An Hòa khoảng hai cây số, ngay trên kinh nầy, có một vùng đất hơi cao, khô, cây tràm rậm rạp. Vì vậy, người ta gọi là lung, tiếng địa phương. Nếu Việt Cộng núp trong đám rừng tràm nầy, máy bay cũng khó phát hiện.

            Tôi hỏi:

            – “Năm Hùng đoán tụi nó làm gì chỗ nầy?”

            – “Mấy lần trước, bộ chỉ huy đóng ở núi Nai. Nay tụi nó phải đổi vùng, đánh lạc hướng. Đóng một chỗ hoài, dễ bị lộ, nguy hiểm.” Năm Hùng giải thích.

            – “Nhưng có cái gì nữa, anh mới nghi chớ?

            – “Kinh nầy là đường dân An Hòa đi đốn tràm. Bữa nay, gần tới chỗ lung, họ bị chận lại, đuổi lui. Dân chúng cũng thấy mấy cái cần câu chỉa lên trời. Tui đoán có lẽ là ăngten truyền tin.” Năm Hùng nói rõ hơn.

            Khi đó, thiếu úy Kiệt vừa tới. Tôi nói với Năm Hùng:

            – “Anh ở đây canh chừng coi có thêm tin gì không. Cần thì gọi thêm người phụ với anh. Tui qua Biệt Khu với thiếu úy Kiệt.

            Gặp đại tá Kiểm, tôi trình bày những gì Năm Hùng đã nói với tôi. Đại tá Kiểm và tôi, thiếu úy Kiệt, khoanh chỗ cái lung trên bản đồ, chấm tọa độ. Xong xuôi, đại tá Kiểm nói:

            – “Tôi có hai phi tuần, nay chỉ lại mục tiêu nầy cho phi công oanh tạc.”

            Thế rồi đại tá Kiểm đổi tần số truyền tin, liên lạc với bộ tư lệnh Sư Đoàn 21.

            Nửa giờ sau, trên đường tôi trở lại cầu Tre thì gặp Năm Hùng đang hớt hãi chạy về. Gặp tôi, Năm Hùng nói:

            “Chết rồi, máy bay bỏ bom lầm, ngay xã An Hòa, cháy mấy cái nhà. Dân vừa chạy ra báo cáo. Tui cũng thấy máy bay chúc xuống oanh tạc ngay đó.”

            Vậy là tôi quay trở lại Biệt Khu báo cáo với đại tá Kiểm. Chúng tôi xác minh lại tọa độ mục tiêu, đại tá Kiểm lại gọi về bộ tư lệnh. Mười lăm phút sau, hai chiếc A-37 đổi hướng, oanh tạc ngay mục tiêu chúng tôi báo cáo.

            Khoảng một giờ đồng hồ sau, Năm Hùng vào An Hòa, tìm gặp các mật báo viên của anh ta. Đến chiều, tôi còn ngồi trong văn phòng, tính chuyện đêm nay canh gác như thế nào đề phòng Việt Cọng tấn công lần nữa thì Năm Hùng vào, nói:

            – “Rút rồi.”

            Tôi hỏi:

            – “Ai? Việt Cộng hả?”

            Năm Hùng cười:

            – “Tui cho người vô chỗ hồi sáng. Không còn Việt Cộng canh gác gì cả, dân không bị đuổi lui. Họ chèo vô tuốt một khúc nữa, qua gần hết cái lung, không thấy gì hết.”

            Lúc đó, thiếu úy Kiệt cũng đã vào, đứng nghe Năm Hùng nói chuyện với tôi, bèn nói:

            – “Đêm nay yên. Bộ chỉ huy mà rút rồi thì đánh chác gì nữa. Bị máy bay oanh tạc, chúng nó biết là lộ rồi. Lo chém vè cho xong.”

            Tôi lại qua Biệt Khu, báo cáo tình hình với đại tá Kiểm. Ông ấy nói:

            – “Đêm nay ngủ ngon. Tuy vậy, anh cũng cho lính canh gác, không nên ỷ y.”

            Tôi ra về, lòng vui lắm, biểu tài xế của tôi: “Mai mầy ra hòn Heo đón cô và mấy đứa về.”

Hồi sáng, đề phòng Việt Cộng tấn công tối nay, nên tôi đã mượn chiếc ghe đánh cá cho vợ và các con tôi ra ngoài đảo. Vợ con mấy người lính của tôi, như tài xế Thành, tài xế Trang, tài xế Nuôi cùng mấy đứa tà lọt tôi, cho vợ con chúng đi theo vợ con tôi ra ngoài ấy cả.

            Đêm đó ngủ yên thật. Việt Cộng chờ trời tối rút đi chớ đánh chác gì nữa nên suốt đêm không nghe một tiếng súng. Sáng ra, mới sáng sớm, khi tôi đang ngồi trong văn phòng thì Năm Hùng đưa cho tôi xem một cây súng M-79 do một người đánh cá dọc theo con kinh vào núi Nai bắt được đem cho.

Tôi lấy ít tiền đem cho người ấy để thưởng công, đồng thời gọi thiếu úy Ký, trung đội trưởng Cảnh Sát Dã Chiến, đi “bắt hôi”, đem trung đội lục soát dọc theo con đường vào núi Nai là con đường Việt Cộng rút, sau khi chúng tấn công nhà máy ximăng mà không vào được. Trên đường rút lui, bọn chúng bỏ lại vương vải mấy cây súng AK, balô, nhiều nhứt là những bánh thuốc nổ TNT. Chúng muốn dùng số chất nổ nầy để phá sập nhà máy. Tôi báo cáo việc ấy với thiếu tá Long. Ông ta cười, nói:

            – “Ông già – ý nói đại tá Kiểm – đánh giặc hay lắm. Sau khi đơn vị tiếp viện tăng cường phòng thủ nhà máy, ông già đoán chừng chúng sẽ rút lui; đoán ngay con đường rút là đường vào núi Nai. Ổng cho nổ chụp từ đầu tới cuối, chụp đi chụp lại mấy lần. Chúng nó hốt hoảng bỏ chạy, bỏ lại súng đạn như vậy là chết, bị thương không ít đâu. Một lần cho tởn. Đừng tưởng bở, đâu có ngon ăn!”

            Nhà máy ximăng Hà Tiên hoạt động kém hữu hiệu!

            Tại sao tôi nói thế?

            Nhân dịp tết đầu năm 1974, ông Mai, phó giám đốc nhà máy, (xin lỗi, tôi quên mất họ, hình như là Lương Ngọc Mai), sang gặp tôi, tại văn phòng, nói:

            – “Không như các năm trước, năm nay có lệnh chính phủ cấm biếu tiền, nên chúng tôi không có tiền để tặng Bộ Chỉ Huy ăn tết. Tuy nhiên, chúng tôi dự trù biếu các anh năm chục bao ximăng, có thể bán lấy tiền vui xuân được. Mỗi năm, nhà máy nhờ Bộ Chỉ Huy giúp đỡ nhiều việc, nhất là về an ninh. Nay tới tết mà không biết ơn, kỳ quá!”

            “Xuân, thu nhị kỳ” là cái tục hối lộ của người Tàu, người Việt noi theo khá kỹ. Tuy nhiên, ở đây khác chút ít vì là của một cơ quan tặng một cơ quan, chứ không phải của một ông “kinh doanh” tặng ông quan… cách mạng như hiện nay ở “quê hương… ta”.

            Cũng như thường năm, tết và rằm tháng Bảy, tôi thường mua quay heo cúng tổ, – mặc dù không tôi không rõ ông tổ Cảnh Sát là ông nào, mặt mũi ra làm sao, tròn hay méo, đen hay trắng, chắc là không gầy mà mập ú? Tuy nhiên, tôi cũng phải cúng tổ “xuân thu nhị kỳ” cho đúng ý của tổ, không phải để mua may bán đắt, mà trước hết, là để tránh tai họa, khỏi bị Việt Cộng đặt chất nổ ngay ghế mình ngồi, sau là để nhậu một bữa cho đúng với phong tục dân Nam bộ. Tết nhứt mà không có nhậu thì… buồn lắm!

            Tôi nhận cái bông 50 chục bao ximăng, giao cho năm Hùng, bán lại cho ông Hồng Ràng, chủ tiệm vật liệu xây dựng, lấy tiền, đặt cho ông Tư Để quay một con heo và năm Hùng giao cho ai đó, tôi không nhớ, lo mấy mâm xôi, đồ nhắm và bia. Cũng không thiếu mấy chai Hennessy “cổ vàng” – giấy bịt cổ chai màu vàng -. “Cổ vàng” rẻ hơn “cổ đen” – giấy bịt cổ chai màu đen- . Nhậu tập thể, đâu đủ tiền mua cổ đen. Kinh nghiệm nhậu cho tôi thấy dân Biên Hòa thì khoái Martel, dân Rạch Gia thì khoái Hennessy, cổ đen cổ vàng tùy túi tiền. Dân nhậu hai nơi khác nhau một chỗ nhưng giống nhau một chỗ khác. Ấy là nói theo tục ngữ “Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá.” Phá sơn lâm là nghề làm rừng, hàng đầu là ông Đỗ Cao Lụa ở Biên Hòa. Ông nầy là bố của Đại tướng Đỗ Cao Trí. Đứng đầu đâm Hà Bá là công ty Tuhuco, chủ công ty cũng là một ông tướng họ Đỗ, từng làm đô trưởng Saigon. Ông nầy dân quận Bình Phước tỉnh Long An nhưng vợ lại cùng quê với “chị Tư Nết” – tiếng gọi của dân Vàm Rầy. Bố “chị Tư Nết” là ông chủ Ri. Ông nầy quen nghề làm ruộng, không quen nghề “hạ bạc”. Hạ bạc là làm nghề đánh cá. Không rõ đây là tiếng Hải Nàm, tiếng Tiều hay Phúc Kiến. Người Việt gọi nghề đánh cá là đánh cá, – hay danh ca, chữ không bỏ dấu, – là ca sĩ nổi tiếng – chớ không gọi là nghề hạ bạc. Tiếng nầy cũng chỉ ở địa phương nầy mới dùng mà thôi.

            Hôm nhận cái “bông” ximăng “xuân thu nhị kỳ”, tôi nói chuyện với ông phó giám đốc Mai: “Đúng ra ximăng nội phải rẻ hơn ximăng ngoại nhiều lắm. Sao nhà máy bán mắt quá vậy? Ximăng ngoại khoảng 110 đồng một bao, ximăng Hà tiên giá 92 đồng, có rẻ gì đâu. Dân chúng không có lợi mà ximăng Hà Tiên cũng khó bán. Hay vì phẩm chất kém xa?”

            Ông phó giám đốc Mai giải thích:

            – “Không kém thua bao nhiêu đâu! Cứ đem đúc móng cầu, xây building, cũng không thua gì ximăng ngoại. Tuy nhiên, muốn bán rẻ cũng không được vì các phụ gia của ximăng phải nhập, giá cao quá!

            Rồi ông ấy lấy ví dụ dầu đốt lò. Dầu đốt lò phải nhập, qua ngân sách viện trợ Mỹ, giá cao quá, nên giá thành phải cao. Đó là một.

            Thật tình là vậy. Một hôm, tôi gặp anh Đoàn Phục, nguyên là một học sinh của tôi cả chục năm trước. Nay anh làm ở phòng thí nghiệm (nghiên cứu và kiểm soát phẩm chất – tên phòng nầy tôi nhớ không chính xác) của nhà máy ximăng. Hỏi thăm công việc của anh ta xong, tôi hẹn tới chơi. Vì tò mò, tôi tới thiệt.

            Dụng cụ trong phòng tuy không đơn giản nhưng dễ hiểu. Ximăng anh ta nhận từ lò về, – hay anh ta lấy đá đốt trong một cái lò nhỏ của phòng thí nghiệm -, trộn với nước (theo đúng công thức) để đúng 21 ngày đưa lên máy thử sức chịu đựng, độ bền, v.v… và làm báo cáo. Theo anh ta giải thích, phẩm chất không thua ximăng nhập cảng.

            Thành ra, nhà máy ximăng Hà Tiên trở thành một “vật trang trí” cho chế độ miền Nam. Miền Nam xây dựng đủ thứ: Vải (Sicovina), giấy (Cogido), ximăng Hà Tiên. Bộ mặt đẹp thế mà kém hữu ích. Đó là điều đáng buồn.

            Thời ông Thiệu, không hiểu ông ta mần cách chi mà nước Mỹ chịu cho nước Đức bỏ vốn xây thêm lò. Từ khởi thủy đến giờ, nhà máy ximăng chỉ có 2 lò nung. Nay chính phủ Đức viện trợ xây thêm 2 lò nữa. Hôm chuyên viên Đức làm việc ở Saigon xong, đi máy bay của hãng xuống Hà tiên, ông Lê Hữu Phước, giám đốc, tốt nghiệp ở Ý về, rủ tôi cùng đi đón… cho vui. Tôi đi theo. Chuyên viên Đức đi thăm thú các nơi và chê hai cái lò nung cũ quá. Thăm núi Còm, chỗ đang lấy đá, và núi Trầu bên cạnh, chỗ dự tính phát triển sang đó, chuyên viên Đức chỉ vào cái ống khói nhà máy đang thờ thẩn nhả khói ra, nói: “Ở Âu Mỹ, với khối lượng núi đá như ở đây, phải có cả trăm ông khói như thế nầy mới đúng với khả năng của nó.”

            Cũng may, ông chuyên viên nầy nói tiếng Pháp nên tôi cũng hiểu ít nhiều, khỏi phải nhờ thông dịch viên.

            Ít lâu sau đó, nhà máy ximăng cho di chuyển một cái xà lan lớn qua núi Trầu với máy phát điện, xe xích khoan đá, lấy đá về giao cho phòng thí nghiệm của Đoàn Phục nung thử, kiểm soát phẩm chất như thế nào!

            Nếu phát triển ra, nhà máy ximăng sẽ dựng thêm một nhà máy xay và vô bao (như ở Thủ Đức lúc đó vậy) tại Cần Thơ. Việc chuyển vận clinker gần hơn và phân phối thành phẩm cho miền Tây cũng gần hơn, giá rẻ hơn ít nhiều, v.v…

            Tuy nhiên, đối với việc phát triển đó, những người vui mừng nhất không phải là công nhân nhà máy, hay dân chúng mà chính là xã An Hòa. Dân núi Trầu chẳng vui gì vì họ sẽ bị đuổi đi xa chân núi hơn để được an toàn, mất nhà, mất ruộng, mất vườn. Nhất là vườn. Đất ở chân núi Trầu là đất đen, – gọi là than bùn – trồng rau, nhất là rau muống thì “hết sẩy”. Dân ở đây hơn 90 phần trăm là Bắc kỳ (rau muống! như cô Thái Thanh có lần xác nhận với thính giả ở Queenbee năm 1973 vậy). Họ theo Tây mộ phu đi làm ruộng dinh điền ở miền Nam khoảng các năm 1939, 40. Khi chiến tranh Việt Pháp xảy ra, (1945-54), Tây bỏ chạy về Tây, bỏ luôn cả dân mộ phu. Dân đi phu bây giờ tự lo kiếm sống lấy. Họ cũng theo kháng chiến. Núi Trầu có nhiều hang động, trở thành công binh xưởng của Việt Cộng hồi đó. May mắn, phần đông khi đã vào Nam, họ theo đạo Thiên Chúa nên theo kháng chiến mà không theo Việt Minh. Họ theo kháng chiến một thời gian, theo bộ đội đi đánh Tây, qua tận Kampuchia đánh Tây như ông Hồng Ràng, ông Năm Vịnh có lần kể cho tôi nghe, nhưng không ai theo Cộng Sản và cũng không ai tập kết năm 1954.

            Tuy nhiên, xã An Hòa sẽ giàu lên.

            Núi Còm là thổ địa của xã An Bình. Khi thác đá ở núi Còm, nhà máy ximăng phải trả tiền “thổ địa” cho xã An Bình. Cả chục năm nay nhà máy chẳng trả xu nào, bỗng năm 1974, xã An Bình ôm được vài triệu, do nhà máy trả cho, mặc sức xã tiêu xài, xây dựng xã, v.v…. Vì vậy nên xã An Hòa hí hững chờ tiền. Xã Dương Hòa có núi Xà Ngách kế cận nhà máy, cũng hy vọng nhà máy mó tới đá núi Xà Ngách, kiếm mớ tiền tiêu chơi, v.v…

            Hồi họp nhứt là ông linh mục Nguyễn Thượng Hiền ở núi Trầu. Mới nghe phong thanh nhà máy ximăng sẽ khai thác núi Trầu, ông cho đệ tử dựng ngay một cái thánh giá trắng bóc, cao ngất, ở xa ai ai cũng thấy rõ. Muốn lấy đá, nhà máy sẽ phải dời bỏ cái thánh giá đi, phải bồi thường cho ông hai triệu, như lời ông yêu cầu.

            Tự nhiên chi ra hai triệu cho một cái thánh giá dựng lên với giấy phép của ông xã Long, xã trưởng An Hòa, con chiên của cha Hiền, nhà máy ximăng không có ý kiến. Đâu có phải là tiền túi của ông giám đốc hay ông phó giám đốc mà lo, nhưng họ phải trình về trung ương, ở đường Võ Di Nguy, Saigon.

            Công việc thăm dò phải ngưng lại cho tới khi… Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, bí thư xã An Bình ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương.

            Không rõ Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu giải quyết yêu cầu của cha Hiền như thế nào vì lúc ấy, tôi đã “đóng tiền xin đi ở tù” rồi.

            Riêng linh mục Nguyễn Thượng Hiền, mặc dù ông khéo léo không tỏ ra là người chống Cộng hay thiên Cộng, nhưng chỉ mấy ngày sau khi bọn Nguyễn Văn Tiếu, Nguyễn Tấn Dũng tiếp thu quận Kiên Lương thì chúng vào bắt cha Hiền ở nhà thờ An Hòa. Chúng nó trói tay cha ngược ra đằng sau, dẫn cha xuống ghe. Không hiểu vì cha Hiền quá sợ hãi hay vì tuổi già sức yếu, lụm cụm khi bước lên ghe, bị một tên du kích đạp cha một đạp. Cha té sấp mặt xuống sàn ghe, máu me chảy đầy miệng, đầy cằm. Giáo dân có người nhìn theo cha, nước mắt đầm đìa, thầm gọi Chúa Mẹ, thương tình mà cứu cha qua cơn khổ nạn.

Hơn năm năm ở trong tù, cha mới được tha, bèn trở về họ đạo cũ, nơi vẫn chưa có linh mục nào đến thế chỗ cha.

hoànglonghải

(1)-Công việc chỉnh đốn gồm có: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt thành Trường Võ bị Quốc Gia, ngang tầm với các trường võ bị nổi tiếng trên thế giới, đào tạo sĩ quan hiện dịch; trường Hải Quân, Không Quân, trường Bộ Binh Thủ Đức để đào tạo sĩ quan trừ bị. Trường hành chánh thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, thành lập viện Đại Học Huế, Đà Lạt với phân khoa đại học sư phạm tương đương cấp cử nhân, các trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp tiểu học,… Về kinh tế, thành lập khu kỹ nghệ Biên Hòa, đặc biệt có các hãng dệt Sicovina (Biên Hòa và Đà Nẵng), nâng cấp nhà máy vôi Long Thọ, khu mõ than Nông Sơn, nhà máy Ximăng Kiên Lương (Hà Tiên)… Khi xây dựng xa lộ Saigon – Biên Hòa, chính quyền Cộng Sản Hà Nội tổ chức biểu tình phản đối dữ dội, vu cáo là xây dựng phi trường quân sự trá hình.

(2)-Ông sinh trưởng vào đầu thế kỷ thứ 19, và qua đời sau khi Tây đã đô hộ đất Nam Kỳ. Theo truyền thuyết, ông là người có nhiều phép tắc thần thông, nhưng chính ông lại là người bài trừ mê tín dị đoan. Sau khi Tây chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Bộ, một trận dịch tả xảy ra ở vùng Cái Tàu Thượng, (ngang với Long Xuyên, nhưng ở phía tả ngạn), khiến hàng ngàn người chết. Ông Đoàn Minh Huyên đến phát thuốc cứu dân ở đây, đẩy lùi trận dịch. Do đó, người dân tôn sùng ông như một vị Phật Sống (sau đó, họ gọi ông là Phật Thầy Tây An). Ông ổn định được cuộc sống dân chúng, phát triển nông nghiệp. Thấy ông được dân chúng tôn sùng, Tây lo ngại, bắt ông đem giam ở thị xã Long Xuyên. Trên đường đi làm về, tên cò Tây thấy ông đang đi bộ bên đường. Tên nầy lấy làm lạ, vừa giam ông vào ngục sao bây giờ thấy ông ở đây. Nó cố đi nhanh để xem mặt nhưng không theo kịp. Tên cò Tây nghi ngờ bèn quay trở lại bót, xem lại phòng giam, lại thấy ông còn trong đó.

            Ông là người sáng lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, lo tu học và đền đáp Tứ Ân nên có khi người ta còn gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Bửu Sơn Kỳ Hương là nguồn gốc trực tiếp của đạo Phật Hòa Hảo. Tuy nhiên, trong lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, người ta thường tính từ khi Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ sáng lập đạo nầy mà thôi, ít thấy bàn tới vai trò của ông Đoàn Minh Huyên. Độc giả có thể tìm hiểu thêm ở bài viết của sử gia Trần Gia Phụng, trên Việt Báo Online.

            (3) Tôi quan niệm cuộc chiến vừa 1960-75 là chiến tranh nhân dân. Do đó, vai trò nhân dân là rất quan trọng. “Tình báo nhân dân” là yếu tố căn bản để triệt tiêu hạ tầng cơ sở Cộng Sản. Không có hạ tầng cơ sở, Việt Cộng không xây dựng lực lượng địa phương được. Tôi tới trại tỵ nạn Bidong sau ngày “đóng cửa đảo” nên phải qua “thanh lọc” mới được đi định cư. Người phỏng vấn thanh lọc tôi là một luật sư Cao Ủy Tỵ Nạn, người Hòa Lan và một viên thiếu tá tình báo Mã Lai. Khi tôi trình bày về “Chiến Tranh Nhân Dân, Tình Báo Nhân Dân”, – Cuốn sách tôi đang viết khi ở trại tỵ nạn -, viên thiếu tá tình báo Mã Lai ngồi nghe ba tiếng đồng hồ. Sau đó, khi chấm dứt, ông ta bắt tay tôi, nói: “Chúc mừng ông và hy vọng cuốn sách của ông sẽ được phổ biến, giúp ích cho các cơ quan tình báo.”

            (4) Năm Hùng làm việc ở đây khá lâu, ban đầu làm trưởng ấp Ngã Ba, sau lên “Hội viên Cảnh Sát xã”. Khi làm việc với tôi, ông mang loon thượng sĩ. Ông biết hầu hết người, địa hình, địa vật ở đây, nên tôi gọi đùa là “thổ công”. Ông giúp tôi rất nhiều, việc gì không rõ thì hỏi ngay ông.

            (5) Xin xem bài sau, cũng nói về nhà máy ximăng Kiên Lương.

Samurai! – Saburo Sakai – Kỳ cuối

Trần Vũ

January 29th, 2021

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Kỳ 38-Kỳ cuối

Saburo Sakai sinh ngày 25 tháng 8 năm 1916 và mất ngày 22 tháng 9 năm 2000, thọ 84 tuổi. Sau đầu hàng Sakai và Hatsuyo sống trong khổ cực bằng lao động tay chân vì Sakai không được nhận bất kỳ hưu bổng hay trợ cấp thương phế binh nào từ chính quyền

Saburo Sakai tại Liên hội Không quân Hoa Kỳ trước chiếc đấu cơ Zéro    

chiếm đóng của McArthur; Sakai cũng bị từ chối tất cả mọi công việc thuộc phạm vi công chức. Hai năm sau đầu hàng, Hatsuyo, mối tình đầu của Sakai chết năm 1947 vì bệnh lao, chứng bệnh của suy dinh dưỡng hãy còn là một trong tứ chứng nan y. Mười năm sau Sakai tục huyền với Haru và sinh hai con nhưng cho đến khi chết, Sakai chỉ nhắc đến Hatsuyo là người đã chiếm trọn trái tim Sakai. Từ 1952 Sakai trở thành khách mời danh dự của US NAVY và thường xuyên tham gia các Liên hội của Không quân Hoa Kỳ. Nhiều lần được mời tham gia Tân Không lực Nhật Bản, Sakai đều từ chối vì như ông viết: “Tôi không muốn tái ngũ với nhiều quá khứ. Không, tôi chưa bao giờ quên những động tác phi hành. Nếu nước Nhật còn cần đến tôi, nếu một ngày nào đó tổ quốc này bị Cộng Sản đe dọa, thì tôi sẽ đáp lại lời động viên.”

Martin Cadin là một tác giả chuyên về lĩnh vực không quân, từng nổi tiếng với tác phẩm viết về hàng không mẫu hạm Nimitz (The Final Countdown) quay thành phim năm 1980. Vào năm 1956 Martin Caidin đến Đông Kinh, cùng với Fred Saito tra cứu tập tư liệu đồ sộ của Sakai ghi chép trong suốt cuộc chiến, và sau rất nhiều các buổi phỏng vấn mỗi chiều, hoàn tất tập Samurai trong phiên bản Anh văn, sau kiểm tra văn khố của Tổng Hành dinh Nhật Bản cùng hồi ký của nhiều sĩ quan Nhật khác rồi đối chiếu với tài liệu của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ. Là những điều Caidin trình bày trong Lời Bạt.

Với riêng cá nhân tôi, mỗi khi đọc lại Samurai vẫn là một câu hỏi: Nếu nước Việt Nam ở vào đầu thập niên 40 đã hùng mạnh như đế quốc Nhật Bản và Hoàng đế Bảo Đại là một Thiên hoàng xuống chiếu khai trận, chúng ta sẽ lên đường hay không? Ngàn lần đặt câu hỏi, ngàn lần phân vân. Lý trí phát vang: That’s the wrong way! Nhưng lòng ái quốc kêu gào: Nếu không có tham vọng thì một tiểu quốc không bao giờ trở thành đế quốc. Cho đến tiền bán thế kỷ 20 các đế quốc xâm chiếm thuộc địa và đánh lẫn nhau không có một biên cương đạo đức nào. Ngàn lần tự đặt câu hỏi, ngàn lần vang lời giảng dạy của các sư huynh trường Lasan: “Các em ráng học sau này giúp nước hùng cường mở mang bờ cõi.” [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 38

Final Version

Lời Bạt của Martin Caidin

Saburo Sakai đã trở thành một huyền thoại “sống” ở Nhật Bản trong suốt thời Ðệ Nhị Thế Chiến. Khắp nơi, các phi công Nhật Bản đã nói đến những chiến công không thể tưởng tượng được của Sakai với tất cả sự nể phục.

Sakai đã hưởng một tăm tiếng khác thường mà tất cả những phi công chiến đấu hằng ôm ấp trong lòng. Giữa các phi công Nhật Bản bắn rơi trên mười phi cơ địch, Saburo Sakai là phi công duy nhất chưa bao giờ để mất một đồng đội nào bay bên cánh với anh trong khi chiến đấu. Ðó là điều đáng kinh ngạc đối với một người đã từng tham dự hơn 200 trận không chiến, và việc này đã giải thích tại sao sự ganh đua ráo riết nhiều khi xảy ra xung đột giữa những phi công khác để giành bay cho được ở vị trí kề cận bên anh.

Nhân viên bảo trì cho phi cơ Sakai tâng bốc anh không tiếc lời. Một chuyên viên cơ khí sẽ lấy làm hãnh diện khi được chỉ định săn sóc cho chiếc chiến đấu cơ Zéro của Sakai. Theo lời những nhân viên dưới đất, trong suốt hơn 200 phi vụ chiến đấu, Sakai khéo léo đến nỗi chưa bao giờ phải thực hiện 2 lần đáp, chưa bao giờ để cho phi cơ lật nhào hoặc va chạm cho dù phải đáp xuống trong đêm, người mang đầy thương tích và phi cơ bị hư hại nặng nề.

Saburo Sakai nhận lãnh những vết thương trầm trọng trong trận không chiến ở Guadalcanal vào tháng 8 năm 1942. Anh đã cố gắng hết sức để đưa chiếc chiến đấu cơ què quặt trở về Rabaul, với các vết thương gây tê liệt cho cánh tay trái và chân trái, với con mắt bên mặt mù hẳn và con mắt trái chỉ thấy lờ mờ, với những mảnh kim loại ghim vào ngực và lưng, và với 2 mảnh đạn đại liên 12.7 mm chui vào nằm trong hộp sọ của anh. Hai vết thương sau cùng này là một trong những thiên anh hùng ca trên không vĩ đại nhất, một biến cố mà tôi tin rằng sẽ trở thành một huyền thoại giữa các phi công khu trục.

Saburo Sakai khi còn là thủy binh

Hai vết thương này đã quá đầy đủ để chấm dứt những ngày chiến đấu của bất cứ ai. Hãy hỏi bất kỳ một cựu phi công khu trục nào đã từng gặp những khó khăn kinh khiếp, xem họ có bao giờ lâm trận chỉ với một con mắt hay không? Nhứt là khi viên phi công một mắt đó phải quay lại chiến đấu trong một chiến đấu cơ Zéro cổ lỗ để chống lại những chiếc Hellcat tối tân và siêu đẳng của Hoa Kỳ vừa đưa vào sử dụng.

Sau những tháng dài dằng dặc oằn oại đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần, giữa lúc hy vọng trở lại với tình yêu đầu, tức không gian bao la kia, đã tắt hẳn. Một lần nữa Sakai lại bước vào trận chiến. Không chỉ lấy lại phong độ khéo léo của ngày trước, nhưng anh còn hạ thêm bốn chiến đấu cơ địch nữa nâng tổng số lên 64 phi cơ Ðồng Minh bị anh hạ (28 chiến thắng khác của Sakai không được ghi nhận vì thiếu nhân chứng).

Hatsuyo vào lúc tấm bé

và khi thành hôn với Sakai.

Người đọc chắc hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết được rằng cho đến cuối năm 1944, Saburo Sakai chưa bao giờ nhận bất kỳ một loại huy chương hoặc tuyên dương công trạng nào do chính phủ của anh ban tặng. Những loại ban tặng nầy, người Nhật chưa hề biết đến. Công trạng chỉ được thừa nhận sau khi một người đã nằm xuống. Trong khi những phi công giỏi hạ trên 10 phi cơ địch của các quốc gia khác, bao gồm cả Hoa Kỳ, trên ngực họ sẽ lòe loẹt hết dãy huy chương nầy đến dãy huy chương khác và kèn trống rình rang mỗi khi được ban tặng. Sakai và những phi công đồng đội thực hiện các phi vụ chiến đấu không biết bao nhiêu lần mà họ vẫn chưa từng được nếm mùi sự thừa nhận công khai như vậy. Phải đến khi Nhật Bản kiệt quệ và cần chống nạng cho những trận chiến cuối, để nâng cao tinh thần binh sĩ, Hải quân mới thừa nhận chiến tích của Sakai. Một tuyên dương ở phút cuối cùng cuộc chiến. Sakai không lấy đó làm hãnh diện mà giận dữ cho những đồng đội của anh đã gục ngã không một ân hưởng.

Lần đầu tiên, mười hai năm sau cuộc chiến, cuộc đời của Saburo Sakai cung cấp cho người đọc một sự hiểu biết cặn kẽ về phía “đối phương”. Sakai tiêu biểu cho một lớp người Nhật mà chúng ta ít biết hoặc chưa từng biết đến. Ðây là những Samurai võ sĩ đạo lừng lẫy, những chiến sĩ thiện nghệ, bỏ cả một đời để phục vụ cho xứ sở họ. Lấy cái chết làm bản mệnh. Thế giới của họ cách biệt hẳn với thế giới của chính dân tộc họ. Các Samurai xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, không phải là lời nói ngoa. Bây giờ, lần đầu tiên, chúng ta sẽ có thể nghe được suy tư, cảm xúc và xúc động của những người đã từng chĩa “mũi dùi Nhật Bản” vào không trung ấy.

Trong lúc thực hiện quyển sách này, tôi có được sự may mắn đàm luận với nhiều người bạn Hoa Kỳ trong số những người đã từng lái chiến đấu cơ tham dự mặt trận Thái Bình Dương trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến. Những người này đã nhìn các phi công chiến đấu Nhật Bản, địch thủ của họ, như là một thực thể khó hiểu. Họ không bao giờ nghĩ các phi công chiến đấu Nhật là một con người đúng nghĩa của nó, mà là một cái gì xa lạ và khác biệt đối với họ. Chẳng hạn như Saburo Sakai! Những kẻ đã đem trận chiến trên không ở Thái Bình Dương vào một phối cảnh mới. Các nỗ lực tuyên truyền thời chiến của Hoa Kỳ đã bóp méo hình ảnh người phi công Nhật, biến họ thành một bức hoạt kê khó chấp nhận được. Nội dung của bức hoạt kê này là mô tả một kẻ sẩy chân từ trên không trung xuống với đôi mắt kèm nhèm, và hắn ta sở dĩ còn lơ lửng được là nhờ ơn trời.

Thái độ khinh thường này là một thái độ nguy hiểm. Saburo Sakai là một thiên tài bậc nhất trên không, không thua gì các phi công tài ba nào của bất kỳ quốc gia nào. Anh luôn luôn phải được xếp vào hàng những phi công vĩ đại nhứt mọi thời đại. 64 phi cơ đã rơi trước họng súng của Sakai. Tiếng chuông báo tử sẽ gõ nhiều hơn nữa, nếu Sakai không nhận lãnh những vết thương trầm trọng. Hành vi và lòng can đảm của các phi công Hoa Kỳ được mang ra thử thách trong suốt Ðệ Nhị Thế Chiến không cần đòi hỏi sự biện giải. Chúng ta, người Mỹ, cũng có sự vĩ đại và tầm thường của chúng ta. Tuy nhiên, rất nhiều trong số những chiến thắng trên không của chúng ta được ghi vào tài liệu cũng chỉ dựa trên giấy tờ.

Chẳng hạn như câu chuyện phi thường của Ðại úy Colin P. Kelly Jr., người đọc sẽ không tìm thấy một mảy may hứng thú nào trong câu chuyện kể của Sakai về cái chết của Kelly vào ngày 10 tháng 12 năm 1941 trong quyển sách này. Chính Sakai là người đã bắn hạ Colin Kelly.

Theo câu chuyện về cái chết của Kelly trước đó: ông đã tấn công và đánh chìm thiết giáp hạm Haruna, ông đã tả xung hữu đột mở lối xuyên qua một nhóm chiến đấu cơ đối phương, ông đã tự sát bằng cách bổ nhào xuống một chiến hạm địch, ông đã được truy tặng Huân chương Danh dự của Quốc Hội Hoa Kỳ. Nhưng tất cả chỉ là một câu chuyện sai lầm. Tại vì sự quan sát chiến trường không chính xác hoặc tại vì nôn nóng muốn tìm cho ra một vị “anh hùng” sau trận Trân Châu Cảng của dân chúng Hoa Kỳ?

Sakai và con cháu

Vào lúc mà Thiết giáp hạm Haruna được báo cáo bị đánh chìm, nó đang ở phía khác của biển Nam Hải, đảm trách nhiệm vụ yểm trợ cho mặt trận Mã Lai Á. Không có một thiết giáp hạm nào của Nhật ở quần đảo Phi Luật Tân. Chiến hạm mà Kelly đã tấn công nhưng không đánh chìm, theo Sakai và các phi công Nhật bay bao che trên chiến hạm này là một tuần dương hạm hạng nhẹ 4000 tấn. Sau khi tấn công, Kelly rời khu vực trước khi các phi cơ Nhật phát hiện và truy đuổi. Ông không cho phi cơ bổ nhào xuống nhưng vừa trốn chạy vừa thả bom từ cao độ 22,000 bộ và sau đó bị Saburo Sakai bắn rơi gần phi trường Clark ở Phi Luật Tân. Kelly được truy tặng, không phải là Huân chương Danh dự của Quốc Hội Hoa Kỳ mà là huy chương Chiến Công Bội Tinh.

Ðể bổ túc đầy đủ thành tích và câu chuyện của Saburo Sakai, trong vòng một năm Fred Saito đã gặp Sakai mỗi cuối tuần, để khai quật quá khứ chiến đấu của một phi công đại tài Nhật Bản, hiện nay vẫn còn sống ngay sau chiến tranh, Sakai đã sắp xếp lại tập ghi chép đồ sộ của mình về những kinh nghiệm mà anh đã trải qua. Tập ghi chép này, cộng thêm hàng ngàn câu hỏi được đặt ra bởi Saito, một thông tín viên tài ba và kinh nghiệm của Associated Press đã làm sống lại câu chuyện riêng của Sakai.

Sau đó, Saito đã tìm tòi lục lọi qua hàng ngàn trang hồ sơ của Hải quân Hoàng gia Nhật Bản. Ông đã đi khắp nước Nhật, phỏng vấn nhiều sĩ quan và phi công còn sống sót, để thâu thập những câu chuyện do họ kể lại. Nhằm tạo ra tập tài liệu xác thực này, quân nhân mọi cấp, từ anh binh nhì thuộc nhóm cơ khí viên bảo trì cho đến hàng tướng lãnh và đô đốc đều được hỏi dò. Thật ra, nhiều câu chuyện kể về các trận đánh của Sakai vẫn vấp nhiều thiếu sót, bởi lẽ những hồ sơ chánh thức của Nhật Bản hoặc Hoa Kỳ không thể dùng làm tài liệu được. Do khiếm khuyết ghi nhận tường tận phía Nhật, vì đã không có ban báo chí trong các phi đoàn và không có ban quân sử ở các không đoàn. Phía Hoa Kỳ vì mục đích khoa trương, càng không muốn chứng nhận tài năng của các phi công Nhật vào đầu cuộc chiến.

Martin Caidin

Tài liệu có giá trị đặc biệt là nhật ký chiến đấu của cựu Ðại tá phi công hải quân Masahisa Saito. Ðại tá Saito, Không đoàn trưởng Không đoàn Ðài Nam rồi Chỉ huy trưởng căn cứ tiền tiêu Lae, là cấp chỉ huy của Sakai ở Lae, đã ghi chép tỉ mỉ các biến cố xảy ra trong suốt thời gian ông tham chiến tại khu vực này. Vì đây là một quyển nhật ký cá nhân nên không phải đệ trình lên Tổng Hành Dinh Hoàng Gia, nên các ghi nhận về mất mát, thiệt hại cùng khó khăn khôn lường không bị kiểm duyệt. Fred Saito và tôi xem nó như là một tài liệu đơn độc có giá trị nhất của các cuộc không chiến Thái Bình Dương.

Có một khuyết điểm vào lúc đó, là các sĩ quan Nhật hầu như không báo cáo những khó khăn vấp phải trong khu vực chỉ huy tiền tuyến của họ về Tổng hành dinh hậu phương. Sự kiện đặc biệt thường xảy ra trong hệ thống chỉ huy của Hải quân Hoàng gia. Nhật ký cá nhân của Ðại tá Saito ngược hẳn, đã ghi lại đầy đủ chi tiết con số phi cơ trở về hoặc không trở về từ các phi xuất thực hiện hầu như hàng ngày ở mặt trận New Guinea. Ông cũng ghi lại nhiều cuộc chiến thắng của phi công Hoa Kỳ với sự chứng kiến trực tiếp của ông. Ðại tá Saito vẫn còn sống, và những cuộc phỏng vấn kéo dài với ông đã chứng tỏ sự giá trị của hồi ký của Sakai. Một trùng khớp các con số, sự kiện và hoàn cảnh.

Bản dịch hồi ký Samurai của Nguyễn Nhược Nghiễm

Trung tá phi công hải quân Tadashi Nakajima, nhân vật xuất hiện hầu như trong suốt quyển sách này, hiện thời là một đại tá trong Tân Không lực Nhật Bản. Qua nhiều cuộc tiếp xúc với Ðại tá Nakajima, ông đã cung cấp cho chúng tôi nhiều dữ kiện cần thiết nhất. Ðồng thời giúp chúng tôi nhận được sự giúp đỡ lớn lao của Trung tướng Minoru Genda, nguyên là một đại tá phi công hải quân và là người đã chỉ huy Sakai trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến. Chúng tôi cũng mang ơn Ðại tá Masatake Okumiya hiện thời là giám đốc cơ quan tình báo kiêm tham mưu trưởng hỗn hợp Nhật Bản. Ðại tá Okumiya, một trong những người cộng tác với tôi để viết 2 quyển “Zéro” và “Chiến đấu cơ Zéro”, đã tham dự nhiều trận không chiến hơn bất kỳ sĩ quan Nhật Bản nào khác, và vào năm cuối của cuộc chiến, ông đã chỉ huy cao xạ phòng không nội địa của Nhật Bản. Qua các cố gắng của ông, chúng tôi mới được xem qua những hồ sơ cần thiết trong các văn khố của Bộ Hải quân Hoàng gia trước kia.

Tôi thấy cũng cần phải nói qua thái độ của Sakai đối với đời sống hiện tại của anh, trong tư cách một phi công đại tài nhất của Nhật Bản còn sống sót. Sakai cảm thấy rằng sở dĩ anh còn sống sót trong cuộc bại trận và trong những trận không chiến từ năm 1943 trở về sau đó, chỉ là may mắn. Có nhiều phi công Nhật Bản đại tài khác như: Nishizawa, Ota, Takatsuka, Sasai  v.v. những người đã chiến đấu cho đến khi các trận không chiến quá chênh lệch đã hạ gục họ.

Lá thư của Sakai vào đầu quyển sách, nói lên tinh thần và cá nhân anh.

Martin Caidin

New York, 1956

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

January 22nd, 2021

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Kỳ 37

Saikai là phi công bắn rơi pháo đài bay B17 đầu tiên trên biển Thái Bình. Sakai cũng là phi công Nhật bắn hạ pháo đài bay B29 cuối cùng rơi trên biển Nhật. Hai dấu mốc nói lên tài năng không chiến của Sakai. Năm 1974 lên đệ lục, tôi say mê hồi ký của Sakai. Lên 12 tuổi, tôi thấy câu nói của Hatsuyo thật hay: “Nhật Bản đã bại trận nhưng anh đã chiến thắng tất cả các trận đánh của anh.”  Bốn mươi sáu năm sau hiệu đính và bổ khuyết những phần thiếu trong bản Việt ngữ so với bản dịch Pháp văn của Robert de Marolles, thêm vào cho đủ 32 chương thay vì 23 chương trong ấn bản tiếng Việt, đến chương cuối đọc lại câu nói cũ của Hatsuyo, tôi không thể không liên tưởng đến Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân mà các trang hồi ký oanh liệt cũng đã đăng trên tuần san Trẻ. Tôi cũng muốn nói với Thiếu tá Long, đã chiến thắng các trận Dak-Séang, Chư-Pa, Pleime, Quảng Đức, Xuân Lộc là dù Việt Nam Cộng Hòa bại trận nhưng thiếu tá đã chiến thắng tất cả các trận đánh của ông. Khác biệt nào giữa Thiếu tá Vương Mộng Long và Saburo Sakai? Khác biệt là Sakai không một ngày tù sau đầu hàng bi thảm, còn Thiếu tá Long phải trải qua 13 năm lao cải trong các trại giam Bắc-Việt.

Tuần sau, Lời Bạt của Martin Caidin sẽ đóng lại hồi ký Samurai đã trở nên bestseller trên toàn thế giới.

[Trần Vũ]

Nhiều kỳ – Kỳ 37

Chương 32 (Kết)

Trước khi đi Nagoya, Hatsuyo khăng khăng bắt tôi phải hứa mua cho nàng một lưỡi dao găm nhỏ. Thành phố này nổi tiếng là nhờ có dao găm và kiếm tốt. Chợ Nagoya mài những lưỡi dao nhọn hoắc với bản thép cắt đứt đôi khăn lụa. Vợ tôi muốn tôi mua cho nàng một thanh lam ngắn của những thợ rèn nổi tiếng nhứt. Khi tôi trở về, Hatsuyo lặng lẽ ngắm nghía lưỡi dao mà tôi vừa trao, rờ rẫm bề lưỡi một cách cẩn thận. “Saburo, nó không bén.” Nàng nhìn tôi. “Ngày mai, anh có thể đem con dao đi Oppama mài cho bén hơn không?”

Thái độ trang nghiêm của nàng khiến tôi giựt mình. Tôi hỏi: “Em muốn dùng con dao này để làm gì?”

Nàng nắm lấy tay tôi và nhìn thẳng vô mắt tôi. “Anh là đời sống của em, Saburo”, nàng dịu dàng nói. “Ðối với em, anh là mọi thứ trên quả đất này. Chỉ một việc duy nhứt mà em sẽ làm một khi anh chết…” Nàng không nói thêm nữa, và tôi đã hiểu nàng muốn nói gì.

Giáo điều Samurai cũng như giới luật Bushido không bắt buộc nhưng không hiếm những trường hợp các hiền thê tự đâm cổ sau khi khâm liệm cho chồng đã rạch bụng. Tôi phản đối, nhưng Hatsuyo ngó tôi đăm đăm: “Thất trận đối với em không quan trọng, Saburo, quan trọng là anh lành lặn, nếu…”

Tôi cắt ngang, trách nhiệm là ở những đàn ông Nhựt chúng tôi, không ở những người vợ, người mẹ hoặc em gái. Tôi nói với Hatsuyo điều đó, là không phải bổn phận của nàng nhưng nàng lắc đầu, chưa bao giờ tôi thấy nàng quả quyết bằng, “bại trận sẽ tàn khốc, Saburo. Em chấp nhận miễn sao anh trở về nhưng nếu anh không về nữa, em sẽ cầm lấy nó. Ðừng ngăn em.”

Lần đầu tiên Hatsuyo nói đến thất trận, chúng tôi đều cùng nhìn thấy mỗi ngày nhưng không dám nghĩ đến. Làm sao có thể khi hơi thở còn cuồn cuộn trong lồng phổi mỗi người Nhựt, trái tim chúng tôi còn đập? Khắp nước Nhựt đang chịu đựng nỗi thống khổ còn hơn sự đau đớn của các trận oanh tạc. Toàn quốc đã sơ tán, các đô thị nằm suy nhược, thoi thóp như bị một bàn chân khổng lồ giẫm lên. Ngày cuối cùng sắp xảy ra, không ai hồ nghi điều này, và cuộc chiến đấu sắp di chuyển lên đất nước của chúng tôi. Không thể nào có chuyện đầu hàng. Chúng tôi sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Các quân nhân sẽ hy sanh tánh mạng để bảo vệ Thiên hoàng. Hatsuyo nắm chặt tay tôi, giọng nàng dịu êm và quyết chí, “Em muốn hai vợ chồng mình chung ý nguyện, Saburo.”

Ngày hôm sau tôi mài lưỡi dao trên một cục đá bùn cho đến khi nó sắc như một lưỡi dao cạo. Ðêm đó, Hatsuyo thử lưỡi dao bằng cách cắt nhè nhẹ trên giấy lụa. “Tốt lắm rồi,” nàng phê bình, rồi giắt dưới dây lưng kimono của nàng. Chúng tôi không bao giờ bàn lại vấn đề này.

Vào ngày 6 tháng Tám, các tin tức về một trái bom vĩ đại và khủng khiếp được thả xuống Hiroshima, sau này chúng tôi mới biết đó là một trái bom nguyên tử, đã khiến cho tất cả các phi công ở Oppama sững sờ. Ý tưởng chỉ một chiếc máy bay với một quả bom có thể san bằng một thành phố quá khó tin để chúng tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra. Chúng tôi chưa kịp phán đoán thì xảy đến quả đấm thứ nhì: Nga-Sô xé hiệp ước bất tương xâm ký kết với Nhựt và tấn công bất ngờ ở Mãn Châu, hầu như liền tiếp ngay sau trái bom nguyên tử. Kế nữa là trái bom nguyên tử thứ hai được thả xuống Nagasaki. Ðầu óc của tôi mờ mịt trước sức tàn phá không tưởng tượng được do người Mỹ gây ra. Tất cả đã vượt quá giới hạn của niềm tin. Tất cả không thể là sự thật, nhưng đó là sự thật.

Lúc 3 giờ trưa ngày 13 tháng Tám, tất cả sĩ quan ở căn cứ Oppama được triệu tập vội vã đến tham dự một buổi họp mật trong văn phòng của Chỉ Huy Trưởng. Vị tư lịnh của chúng tôi có vẻ xanh xao và gần như mất hết sức lực. Ông hầu như không thể đứng được nên phải dựa vào bàn giấy. Ông cất tiếng một cách khó nhọc, giọng nói ngập ngừng.

“Những gì tôi muốn nói với các anh có tầm mức quan trọng tột cùng,” ông bắt đầu, “và tuyệt đối giữ bí mật. Tôi tin cậy vào sự ngay thẳng của các anh, với tư cách là những sĩ quan của Hải quân Hoàng gia, trong việc giữ kín tin tức này một cách nghiêm ngặt.”

“Nhựt Bản,” tới đây giọng ông đầy xúc động, “đã quyết định chấp nhận các điều kiện của kẻ thù. Chúng ta sẽ tuân theo Tuyên ngôn Potsdam.”

Ông nhìn chúng tôi với đôi mắt trống rỗng. “Lịnh đầu hàng có thể được công bố bất cứ lúc nào. Tôi muốn tất cả sĩ quan tận lực hợp tác với tôi. Trật tự phải được duy trì tại căn cứ này. Có thể, những người nóng tánh sẽ từ chối chấp nhận quyết định đầu hàng. Chúng ta không thể nào để cho binh sĩ của chúng ta vi phạm bất cứ tình trạng nào mà quốc gia chúng ta đã chấp nhận. Hãy nhớ, và không bao giờ được quên, rằng mạng lịnh của Thiên hoàng là tối thượng.”

Giống như một trái bom nổ giữa chúng tôi, và không một người nào động đậy. Chúng tôi đứng như trời trồng, không thể tin nổi. Chúng tôi biết ngày cuối cùng sẽ đến, nhưng chúng tôi không ngờ nó sẽ đến như thế này. Nhiều người bước chậm chạp ra khỏi căn phòng, sửng sốt, nhiều người nhìn phía trước hoặc nhìn xuống sàn nhà, ngờ nghệch. Một số la hét, một số khác nguyền rủa. Nhiều người âm thầm khóc.

Tôi không đủ sức suy nghĩ hoặc thốt nên lời. Tôi bước ra ngoài, như đi trong sương mù, băng ngang qua sân bay mà không nhìn thấy chung quanh. Tôi muốn được gần chiếc phi cơ của tôi, chiếc Zéro đã luôn là chỗ tựa của tôi trong suốt cuộc chiến. Tôi đứng dựa vô thân chiếc Zéro với tâm trạng nhòe nát.

Một người bạn thân của tôi, Thiếu úy Jiro Kawachi, bước đến bên tôi. Trong nhiều phút, chúng tôi đứng lặng yên. Tôi nhìn xuống đất.

Thế là hết.

Chúng tôi đã thua.

Nhựt Bản sắp đầu hàng.

“Saburo”. Tôi ngước lên. “Saburo, việc này… việc này đúng là kết thúc rồi,” Kawachi nói. “Chúng ta còn ít thời giờ. Chúng ta nên chiến đấu với nhau một lần nữa. Một cuộc chiến đấu cuối cùng.”

Hắn đưa chân đá phớt lên mặt xi-măng. “Chúng ta không thể nào buông tay như vậy. Chúng ta phải gắng sức, một lần nữa.”

Tôi gật đầu. Hắn nói đúng. Chúng tôi ra lịnh cho nhân viên bảo trì chuyển hai chiếc Reisen (Là phiên bản sau cùng của chiếc Zéro) ra ngoài phi đạo, chuẩn bị cất cánh. Chúng tôi biết các pháo đài bay B29 sẽ đến oanh tạc đêm nay. Thời tiết có vẻ đầy hứa hẹn. Kawachi và tôi giữ kín kế hoạch, không nói cho phi công nào khác biết. Sau khi thanh tra hai chiến đấu cơ, chúng tôi đi vô đài kiểm soát và ngồi chờ. Nhiều giờ trôi qua, chúng tôi không nói một tiếng nào. Chúng tôi cùng nghĩ ngợi, hình ảnh những năm dài dằng dặc ở Trung Hoa lần lượt hiện đến, và giờ là đoạn kết.

Buổi chiều trôi qua, và chúng tôi vẫn ngồi chờ, hầu như xoá nhoà trong bóng tối. Gần nửa đêm, chiếc loa trên đài kiểm soát phát vang: “Báo động! Báo động! Một chiếc B29 hiện đang bay về phía khu vực Yokosuka – Ðông Kinh.”

Chúng tôi nhảy bổ ra, và chạy băng qua phi đạo đến phi cơ. Căn cứ bao trùm trong bóng đêm, không một ánh đèn. Những vì sao lấp lánh trên bầu trời đủ soi đường cho chúng tôi. Chúng tôi bước đến hai chiếc Reisen, nhận thấy không phải chúng tôi là hai phi công duy nhứt thực hiện phi vụ chót cùng. Ít nhứt cũng có tám chiến đấu cơ khác được xếp thành hàng bên cạnh phi đạo, xăng nhớt và võ trang đầy đủ. Ngại với một mắt thui chột sẽ không nhìn rõ trong đêm, tôi yêu cầu Kawachi hướng dẫn tôi rời khỏi mặt đất. Chúng tôi cất cánh lập tức, không nói với nhau một tiếng nào nữa. Chúng tôi biết nếu chần chờ, vị chỉ huy trưởng có thể cản trở chúng tôi. Ngay khi đã lên không, tôi bay sát phi cơ của Kawachi. Tám chiến đấu cơ Reisen khác cũng đã cất cánh, bay thành hai hàng phía sau chúng tôi. Chúng tôi vượt thẳng lên, rồi lượn vòng ở cao độ 10,000 bộ là 3,000 thước trên vịnh Ðông Kinh.

Trong nhiều phút, chúng tôi không nhìn thấy phi cơ nào khác trên bầu trời. Bỗng nhiên, súng đại bác của Kawachi nổ từng hồi, và tôi nhìn ra chiếc oanh tạc cơ to lớn đang bay ở phía Bắc. Tôi vượt lên song song với Kawachi và khai hoả. Mỗi chúng tôi hiện thời có bốn khẩu đại bác nạp 125 viên mỗi khẩu và chúng tôi cần tập trung hỏa lực để chống lại chiếc phi cơ kinh khiếp này. Tôi chưa từng thấy chiếc oanh tạc cơ nào khổng lồ như vậy. Khi vừa xoay vừa bắn đủ một vòng, tôi thấy tám chiếc Reisen khác ồ ạt xông tới chiếc siêu pháo đài bay. Chúng tôi giống như mấy con muỗi bu quanh một con bò mộng. Làm sao chúng tôi có thể hy vọng hạ được một chiếc phi cơ có kích thước quá sức tưởng tượng như vậy?

Tôi lại lướt đến, rồi vừa vượt lên vừa rưới đạn từ dưới hông của chiếc B29. Hoả lực đáp trả thật khủng khiếp. 12 đại liên của chiếc B29 quạt xối xả. Những tia đạn vạch chéo liên tục từ các pháo tháp to lớn trên thân chiếc B29 và tôi cảm thấy chiếc Reisen rùng mình nhiều lần khi các xạ thủ địch nhắm trúng. Bỗng nhiên chiếc siêu pháo đài bay quay đầu bay về phía Nam. Hiển nhiên, chúng tôi đã gây thương tích cho đối thủ. Hai chúng tôi gia tăng tốc độ khẩn cấp, mở cuộc truy đuổi, bỏ hẳn tám chiếc Reisen khác lại phía sau.

Kawachi hơi chúi xuống, cắt thẳng vào vòng xoay rộng lớn của chiếc B29, với tôi bay phía sau. Lần này mục tiêu đã rõ rệt, cả tôi lẫn Kawachi đều ấn cò súng và nhìn theo những vệt đạn soi thủng vô cửa kiếng dọc theo mũi của chiếc oanh tạc cơ. Kawachi vừa phá hủy một pháo tháp đại liên của địch, giúp tôi có thể áp sát hơn. Trong lúc Kawachi lật nghiêng để tránh va chạm, tôi trút đạn 20 ly vào mục tiêu.

Bỗng nhiên tốc độ của phi cơ địch khựng lại và chúi xuống. Chúng tôi xoay lại và tiếp tục rót đạn đại bác lên chiếc phi cơ què quặt.

Chiếc oanh tạc cơ khổng lồ chúi xuống thật mau nhưng không nhìn thấy khói và lửa bốc ra. Nó không có vẻ gì bị hư hại, giống một võ sĩ quyền Anh hạng nặng không suy suyển trước cú đấm của võ sĩ hạng lông. Nhưng chiếc B29 mất dần cao độ một cách nhanh chóng, mũi hướng xuống mặt biển.

Tôi cứ bay chúi theo sau đối thủ, khai hỏa từng loạt. Ðảo Oshima thình lình xuất hiện trong đêm tối. Chúng tôi đang ở cách phía Nam Yokosuka 50 dặm.

Chúng tôi lấy thăng bằng và vượt lên cao độ 1,500 bộ. Là 450 thước. Một ngọn núi lửa trên hòn đảo nhô khỏi mặt nước, đỉnh núi cao 1,000 bộ. Là 300 thước. Chúng tôi không dám liều lĩnh thêm vì ngại đụng vào núi trong đêm tối, nhưng tôi có thể nhìn thấy chiếc oanh tạc cơ sáng bạc rơi xuống khá rõ ràng. Một cột nước trắng xoá nổi bật trên mặt biển, cách bờ phía Bắc Oshima vài dặm. Không đầy một phút, chiếc B29 chìm xuống và biến mất.

Trở về phi trường, chúng tôi đối diện với cơn thịnh nộ của vị chỉ huy trưởng, ông quát tháo mắng thét: “Các anh là thứ vô kỷ luật, tôi không cho phép bất kỳ phi vụ nào, nếu các anh bất tuân tôi cho Hiến binh tống giam các anh.” nhưng sau đó ông đã dằn xuống. “Tôi không trách các anh được,” ông nói, “nhưng chúng ta không thể để cho những gì xảy ra đêm nay tái diễn nữa. Từ bây giờ về sau, tất cả phi cơ đều phải ở trên mặt đất.”  Ông cho chúng tôi biết ở phi trường Atsugi đang xảy ra những vụ bạo động dữ dội, gần như là một cuộc nổi loạn. Ðó là căn cứ của Phi đoàn Cường kích Raiden, đơn vị của Trung úy Akamatsu. Nhóm phi công ở đây không chấp nhận ý định đầu hàng, và họ muốn đưa tất cả phi cơ của họ lên không. Họ mất trí, bất chấp các sĩ quan, nhứt quyết không đầu hàng và sẽ tử chiến cho đến hơi thở cuối cùng. Lực lượng tăng viện được đưa đến để dập tắt cuộc nổi loạn, và trật tự chỉ được vãn hồi sau khi cuộc đầu hàng được công bố nhiều ngày. Vị chỉ huy của chúng tôi gằn từng tiếng: “Tôi nhắc lại, mạng lịnh của Thiên hoàng là tối thượng.” Chúng tôi chập gót giày, chào và bước ra. Trên sân những chiến đấu cơ của chúng tôi đậu san sát nhưng đã trở nên vật vô dụng.

Sự triệt hạ oanh tạc cơ địch đêm đó được giữ bí mật nhiều năm, và không có hồ sơ nào ghi lại chuyến bay đêm ấy của chúng tôi. Và dĩ nhiên, không có phi công nào tự nhận đã hạ chiếc B29. Ðây là tiết lộ đầu tiên của tôi liên quan đến trận không chiến cuối cùng này. Chúng tôi không mảy may cảm thấy vui mừng lúc hạ được chiếc máy bay ghê gớm đó. Lúc ấy không có việc gì đáng lưu tâm ngoại trừ việc chúng tôi sắp sửa giao nộp xứ sở, dân chúng của chúng tôi cho kẻ thù.

Trong câu lạc bộ nhiều phi công say khướt la hét ồn ào trong tuyệt vọng. Tôi nằm vật ra trên một mặt bàn ăn tìm giấc ngủ sau một đêm thức trắng. Tôi trôi vào vô thức của mộng mị xáo động.

Hai hôm sau tất cả binh sĩ đã lộ vẻ sửng sốt, nếu không nói là bàng hoàng khi buổi bình minh lịch sử của ngày 15 tháng Tám năm 1945 ập đến. Chiến tranh đã kết thúc. Trong mọi văn phòng, các sĩ quan cao cấp thiêu hủy hồ sơ và tài liệu. Binh sĩ đi vòng quanh, thẫn thờ ngồi trên nền nhà hoặc ngồi bệt trên mặt đất phía bên ngoài, ngây dại.

Ðúng trưa hôm đó, chúng tôi nghe Thiên hoàng đích thân ban lịnh đầu hàng xuống các lực lượng võ trang Nhựt Bản. Hai ngàn quân nhân các cấp ở căn cứ Oppama đứng nghiêm chỉnh trên phi đạo lắng nghe chiếu chỉ. Hầu hết chúng tôi chưa bao giờ được nghe tiếng nói của Thiên hoàng. Nhiều người đã òa khóc. Những người khác ràn rụa, nước mắt lăn dài trên gò má.

Bỗng nhiên tôi nhớ tới Hatsuyo! Nàng sẽ nghĩ gì? Nếu nàng nghe được tiếng nói đang truyền thanh của Thiên hoàng, nàng sẽ nghĩ rằng tôi đã chết và…

Tôi không nghe thêm nữa. Tôi hốt hoảng chạy khỏi chỗ đứng. Không có một chiếc xe hơi nào. Tôi cuống cuồng chạy ra khỏi căn cứ. Ðường phố xác xơ, những truyền đơn in Tuyên ngôn Potsdam và lời kêu gọi bình tĩnh giữ kỷ luật bay vương vãi qua những mặt tiền nhà cũ kỹ. Nhiều người chạy thất thần, kêu gào và hoảng loạn, nhiều người quỳ gối vái lạy giữa lòng đường, mặt hướng về biệt phủ của Thiên hoàng tự tát vào mặt và tự đấm vào ngực. Nhiều phụ nữ và trẻ nít khóc nức nở, cả những hiến binh giữ an ninh cũng quỳ gập và gục xuống. Tôi đi ngược chiều với một tốp lính la ó bất mãn, nhiều kẻ đòi đảo chánh, tin rằng Thiên hoàng bị ép buộc đầu hàng. Tôi tránh đám đông, cố đi thực nhanh ra ngã tư, vẫn không có một chiếc xe hơi nào. Khu phố hỗn độn. Tôi ân hận đã đi mua lưỡi dao cho vợ tôi, lúc này nàng đang làm gì? Tại sao tôi lại mài dao cho Hatsuyo? Tôi hối hận đã làm một việc thiếu suy nghĩ. Hatsuyo không thể chết, nàng phải sống. Nàng là tình yêu của tôi, đời sống của tôi. Cạnh cột đèn ai đó vất một chiếc xe đạp. Tôi chụp ngay lấy và đạp như giông như gió về ngôi nhà nhỏ bé của mình. Tôi đạp hết sức lực, vừa đạp vừa gọi tên Hatsuyo. Mỗi vòng bánh xe ngập tràn lo lắng.

Sau nhiều ngôi phố quanh co, tôi về đến nơi.

Tôi nhảy bổ khỏi xe đạp ngay trước khi bánh xe ngừng lại. Tôi bật tung cửa la gọi Hatsuyo. Nàng chạy ra khỏi phòng và nhào vô đôi tay tôi. Chúng tôi ghì chặt nhau trong nhiều phút, không thể thốt nên lời.

Hai vai Hatsuyo run run. Tôi nghe được tiếng nấc nghẹn ngào của nàng. Cuối cùng, nàng ngước đầu lên. “Có phải đúng là anh không, Saburo?” Nàng thì thầm. Tôi gật đầu.

“Saburo!,” nàng kêu lên. “Khi em nghe tin, em đã khóc như một đứa trẻ. Có thật chấm dứt rồi không? Ðánh nhau… những trận bom, tất cả không còn nữa?”

Tôi gật đầu nhè nhẹ.

“Em không biết gì đã xảy ra, Saburo. Em không cần biết! Tất cả không quan trọng nữa, cho dù Nhựt Bản đã bại trận, anh đã thắng tất cả các trận đánh của anh”.

Một ánh sáng bừng lên trong đôi mắt của nàng khi nàng nhìn tôi. “Anh, anh sẽ không bao giờ còn phải chiến đấu nữa!” nàng thì thào. “Hiện thời hiểm nguy đã vượt qua hết rồi. Không bao giờ, không bao giờ nữa!”

Bỗng nhiên nàng lùi lại và rút con dao găm dưới dây lưng.

“Em không còn cần tới thứ này!” Nàng vừa kêu lên vừa liệng con dao xuống nền nhà.

Con dao găm lăn long lóc ngang qua nền phòng và ngừng lại trong một góc.

Cao Minh Tự Đại!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Facebook, một trang mạng xã hội có hơn 2.5 tỉ người xài, nghĩa là hơn 1/3 dân số thế giới, từ con nít 13 tuổi trở lên tới ông già sắp đi bán muối! Trẻ già bé lớn gì khi đắm chìm trong một ‘mê cung’, một vũng lầy của chúng ta khi đã vào thì không còn biết lối ra, càng ngày càng lún vì bị nghiện (tức ghiền)!

Trên Facebook, người ta tâm sự bất cứ chuyện gì, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu qua cái iPhone. Từ chuyện anh yêu về Việt Nam đi uống beer ôm đến chuyện bà già chồng đến chơi mà không báo trước. Bất cứ lúc nào, sáng còn chưa ra khỏi giường, trưa lúc trời bỗng đổ cơn mưa, tối ngồi một mình độc ẩm với ly rượu đỏ!

Nếu sử dụng đúng đắn, Facebook là nơi để học hỏi. Ðôi khi một bức ảnh ý nghĩa trên Facebook có thể làm thay đổi suy nghĩ hơn cả ngàn lời giáo huấn. Ðôi khi một câu chuyện cảm động trên Facebook có thể làm thay đổi cả một đời người.

Mục tiêu của Facebook là kết nối mọi người với nhau; nhưng sự thực là nó làm người ta xa nhau hơn. Chẳng cần mỏi cẳng (nếu đi bộ) hoặc tốn tiền Uber để gặp nhau; chỉ cần qua Facebook là thấy mặt nhau (không phải chỉ hai đứa mà một bầy cũng được). Rồi bên ni một ly, bên tê một ly mà bụng không phải phập phồng nhậu xong hổng biết tới phiên thằng nào sẽ trả?

Facebook cũng làm tui và em yêu ngày một cách xa hơn! Em ôm cái ‘laptop’ trong phòng em; tui ôm cái ‘laptop’ trong phòng tui nên có khi một tuần không thấy mặt nhau. Em chỉ cần gởi một cái ‘message’ là: “Tới giờ anh giặt đồ, rửa chén!” Là tui lui cui làm bổn phận người chồng mà không cần giơ cái bản mặt khó thương của tui ra cho em thấy mà chi.

Còn ở các nước Phương Tây, Facebook làm nhiều đứa bị bể nồi cơm. Một đứa làm cho hãng ‘Pepsi Cola’ bắn hình lên Facebook đang cầm một lon ‘Coca-Cola’ là ngày mai khỏi vô bấm thẻ; vì con nhỏ Trưởng phòng Nhân viên, cũng qua facebook,  nó đuổi mình rồi!

Facebook làm nhiều chánh trị gia Úc về nhà đuổi gà cho vợ nếu là nam; còn nữ thì về te te rẹt rẹt mua beer nhậu để đỡ cái buồn rầu chỉ vì lỡ ‘post’ lên những lời lẽ kỳ thị sắc tộc, phân biệt giới tính, coi thường quý chị em mình hay bài Do Thái (những nhà tài phiệt rất thế lực) chẳng hạn.

Dân ngu khu đen giải sầu nỗi cô đơn, lên Facebook để người người làm báo, ‘post’ chuyện tào lao với hằng trăm lỗi chính tả lên để nghe chúng chửi. He he!

Ðám học trò lên Facebook thì lợi dụng quyền tự do ngôn luận ‘post’ bài nói xấu cha mẹ, thầy cô, bức hiếp, sỉ nhục bạn bè dẫn đến việc có bạn trẻ tự tử vì bị ghép ảnh ở truồng!

***

Nói nào ngay trên Facebook tui cũng học được nhiều điều hay, điều mới và lạ.

Tui mới vừa học sơ sơ được cái bịnh vĩ cuồng do một bác sĩ tâm lý có cầu chứng tại Tòa chỉ dạy rằng: Người bị bệnh vĩ cuồng chỉ quan tâm đến mình, luôn thổi phồng tầm quan trọng của mình, ảo tưởng về thành công của bản thân; muốn người khác ngưỡng mộ và tôn sùng mình nhưng lại thiếu niềm cảm thông với người khác.

Bất cứ chỗ tụ tập đông người nào mà ai đó thì thích tìm mỗi cơ hội để cầm được cái ‘mi-cà- rô’, lên giọng thầy đời qua những lời triết lý người nói đã không hiểu mà người nghe cũng ù ù cạc cạc luôn. Nói từ giờ Thìn tới giờ Dậu, nói đến đèn sắp lụi tim vì hết dầu, để chỉ nói về mình; cóc cần cử tọa có lắng nghe hay ngáp dài ngáp vắn.

Người bị bệnh vĩ cuồng không bao giờ nhận lỗi, thậm chí nổi cộc khi nhận được những lời nhận xét không đúng ý mình hoặc cảm thấy tức giận, phát cuồng khi bị chỉ trích.

Tuần rồi, trên Facebook có một bài viết ký tên là Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ phán rằng: “Ðiều quan trọng là sống lâu hơn, là có nhiều của cải. Vì vậy chúng ta phải cố gắng để sống khỏe mạnh. Nên uống nhiều nước, ngay cả khi không khát.”

(Úy Trời đất ơi! Ông bà mình xưa giờ dạy: “Ðói ăn khát uống”. Hổng khát thì uống làm gì chớ? Bắt cái thận nó làm việc không ngừng nghỉ chắc hổng chóng thì chày cái thận nó đình công là ông cũng chết!

(Hay là xưa giận vợ coi mình hổng ra ‘cà ram’ nào hết nên Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ lỡ dại quất một hơi, chục vỉ ‘Panadol’, nhưng sợ chết bèn uống chừng chục lít nước để rửa ruột đó chăng? Rồi từ kinh nghiệm nhèm đi chầu ông bà ông vải nầy mà Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ đã phát kiến ra liệu pháp nước lạnh nầy chăng?)

Rồi khuyên: “Ði kiểm tra sức khỏe thường xuyên, cho dù không ốm đau” (?!) Bà con mình xưa giờ không xài chữ ‘kiểm tra’, xét giấy sức khỏe đâu.  Thầy đời Cao Minh Tự Đại mà xài chữ đi ‘khám bệnh’. Có bệnh thì đi khám (bất thường hoặc định kỳ). Hổng có thời thôi! Ðừng giành bác sĩ với những người đang bị bệnh thiệt chớ.

Còn về tiền bạc, Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ kể một câu chuyện là: “Một ông Trùm người Trung Quốc qua đời, để lại cho vợ 1.9 tỉ đô trong ngân hàng. Bà vợ ông sau đó đã lấy người lái xe của chính ông. Người lái xe nói: Tôi đã nghĩ tôi phải làm việc cho ông chủ mình. Nhưng giờ đây tôi mới nhận ra rằng cả đời ông chủ làm việc cho tôi!”

Tui e rằng Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ đặt dóc hổng có căn. Vì tay tài xế đào mỏ nầy làm cách chi mà rớ được cái 1.9 tỉ đô của ông chủ mình để lại chớ. Rớ được bà chủ là may lắm rồi,  là chó táp phải ruồi. Còn tiền bạc của vợ công chồng chỉ tính từ ngày đôi ta xáp lại với nhau thôi nhe! Ðừng có nằm mơ giữa ban ngày.

“Rồi khi chúng ta chết đi, tiền của chúng ta vẫn còn ở trong ngân hàng! Cả cuộc đời làm việc thì đến 70% số tiền kiếm được là dành cho người khác tiêu. Nên có đồng nào là xào đồng nấy hổng cho ai hết ráo. Học cách bằng lòng ngay cả khi bạn không giàu. Cuộc sống này rất ngắn ngủi, vì vậy hãy hưởng thụ nó một cách trọn vẹn nhất!”

“Học cách thỏa hiệp ngay cả khi bạn là người đúng”. Ðúng là cái lời khuyên tầm sàm bá láp: dân ngu khu đen hãy thỏa hiệp, hãy đầu hàng trước cái sai quấy; mặc ai đè đầu cỡi cổ cũng được; vì ‘tranh đấu’ rồi ‘tránh đâu’ để khỏi bị ‘trâu đánh’.

Mấy lãnh tụ các nước CS độc tài nó khoái  Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại nầy lắm đó nhe. Nếu ngài xin qua nước Venezuela là được Maduro nó nhận làm đệ tử liền hè. He he!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

“Buồn viễn xứ khôn khuây”

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Lần đầu đọc bài thơ thấy hay vì chúng ta cảm bằng trái tim. Lần thứ hai đọc lại vẫn thấy hay vì chúng ta hiểu bằng cái đầu (do biết về lịch sử, địa lý của bài thơ).

Bài “Ðôi Bờ” và “Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng theo thời gian phủ mờ năm tháng, tứ thơ đã cũ, nên đọc không còn cảm thấy hay, xúc động như mới đọc lần đầu. Ngược lại bản nhạc “Ðôi mắt người Sơn Tây” do Phạm Ðình Chương phỏng từ hai bài thơ nói trên lại không cũ theo năm tháng, nhứt là đối với những người mất nước, luôn “u uẩn chiều luân lạc, buồn viễn xứ khôn khuây” như chúng ta.

o O o

Pháp thất trận Ðiện Biên Phủ năm 1954, đất nước bị chia đôi. Miền Nam thuộc tự do, miền Bắc lại rơi vào tay độc tài cộng sản.

Khi nắm được quyền lực, nội bộ giành ăn, Cộng sản bắt đầu ăn thịt ngay chính những đứa con của mình. Hội Văn nghệ miền Bắc tương kế tựu kế, bắt chước chiến dịch “Trăm hoa đua nở” của quan thầy Mao Trạch Ðông bên Tàu. Chúng phát động việc phê bình lãnh đạo văn nghệ, nói là để chuẩn bị cho Ðại hội văn nghệ toàn quốc năm 1956. Thực chất hành vi đen tối đó là phỉnh gạt những người có tư tưởng chống độc tài trong lãnh vực văn hóa, văn nghệ xuất đầu lộ diện.

Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên (nổi tiếng từ thời tiền chiến) muối mặt, quỳ gối nuốt nhục để kiếm miếng ăn, thề hứa tuân thủ đường lối văn nghệ một chiều, cúc cung ca tụng đảng.

Nhưng Phan Khôi, Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Ðang, Lê Ðạt… là các văn nghệ sĩ đã từng đi kháng chiến 9 năm, ngây thơ nghĩ mình có công với kháng chiến nên được quyền lên tiếng trong Nhân Văn Giai Phẩm. Quang Dũng viết “Mấy ý nghĩ về thơ”, đăng 3 kỳ trên tạp chí Văn nghệ vào tháng Chín, năm 1956.

Dưới trướng của Trường Chinh, đao thủ phủ về văn hóa, văn nghệ Tố Hữu, đố kỵ, nhỏ mọn. Ganh ghét tài năng đã hờm sẵn, đập cho mấy ông một trận thừa sống thiếu chết. Ðúng như Nguyễn Du từng nói: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Bọn bồi bút, bọn khuyển ưng, hùa với nhau, tố thơ Quang Dũng còn rơi rớt chất tiểu tư sản (tạch-tạch-sè) thời đầu kháng chiến!

Trong tuyển tập thơ Việt Nam (1945-1960), Xuân Diệu chủ trì và viết lời nói đầu đã không dám đưa bất cứ một bài thơ nào của Quang Dũng vào.

Tại sao Xuân Diệu lại hèn đến thế? Chẳng qua Tố Hữu đã đấu tố dữ dội các ông như thế nầy: “Lật bộ áo Nhân Văn – Giai Phẩm thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm…”.

Tất cả những cây bút tài hoa đã trót tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đều bị chụp cho cái nón cối bự tổ bố là: phản động, chống đảng, phải đi chỉnh huấn (thực chất là đi ở tù).

Sau 1975, nghe một nhà phê bình văn học Marxist từ xứ Bắc mò vô Sài Gòn trở ra, báo: “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây”, “Ðôi bờ” được truyền bá rất rộng rãi trong Nam, Quang Dũng đã van là: “Thôi xin ông, đừng nói với ai nhé!”.

Tại sao Quang Dũng lo sợ đến bủn rủn chân tay như thế? Chẳng qua là Trường Chinh và Tố Hữu vẫn đang còn hét ra lửa, mửa ra khói.

o O o

Nhớ năm 1975, cộng sản điều giáo viên vào miền Nam làm Ban Giám hiệu (xưa mình gọi là Hiệu trưởng). Những tay nầy không dạy dỗ gì ráo, (biết gì mà dạy?), nhiệm vụ chánh của chúng là theo dõi những thầy, cô giáo được “lưu dung”. Với đầu óc hoang tưởng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, chúng bận rộn, đánh hơi dò xét coi CIA có còn gài lại ai hay không? (He he, bộ tưởng làm CIA dễ lắm hay sao chớ!).

Tay thầy giáo “chi viện” nầy lè phè thấy ớn chè đậu! Hắn đầu đội nón cối của bộ đội cộng sản, mặc áo trắng cụt tay bỏ ngoài quần vải ka ki Nam Ðịnh, mang dép làm bằng mũ trắng. Chiều chiều xơi cơm canh rau muống luộc nặn chanh xong, vì nghiện rượu, hắn phải nốc sạch hết một cút (một xị) rượu trắng mới ngủ được.

Có lần hắn kêu tôi đến chén chú, chén anh. Rượu vô ắt lời ra, nhưng tôi đâu có ngu ngơ bàn chuyện “nhột nhột” khác. Khù khờ làm vậy coi chừng nó mật báo cho bọn công an huyện “tó” mình đưa đi cải tạo là bỏ bu.

Tôi hỏi nó có biết nhà thơ Quang Dũng cùng quê Sơn Tây với nó không? Nó đực mặt ngớ ra, rồi hỏi lại: “Nó là đồng chí nào?” Ha ha! Ngu thấy ớn hè mà cũng đòi dạy Văn! Vậy là tôi phải lên lớp cho hắn một bài địa lý về các địa danh trong bài “Mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng.

Sơn Tây còn gọi là Trấn Tây, Trấn Ðoài, Xứ Ðoài. (Ðoài nghĩa là Tây), cách Hà Nội khoảng 42 km về phía Tây Bắc, là cái nôi của nền văn minh lúa nước đồng bằng Trung du Bắc bộ. Sơn Tây có núi Ba Vì phía Tây Nam, có sông Ðáy, hữu ngạn hạ lưu sông Hồng, dài khoảng 240 km chảy suốt qua Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Ðịnh. Còn thành Sơn (Tây), do Vua Minh Mạng cho xây vào năm 1822. Phủ Quốc (Oai), không phải là Phú Quốc đâu nha) thuộc tỉnh Sơn Tây (xã, huyện, phủ rồi mới tới tỉnh). Sài Sơn là xã thuộc phủ Quốc Oai. Dưới chân núi Sài Sơn là đồng Bương, Cấn.

Nó hỏi: “Cậu có tham gia vào cuộc tập kích giải cứu tù binh Mỹ ở Sơn Tây vào tháng Mười Một, năm 1970 không? Sao lại rành sáu câu vọng cổ về quê tớ đến thế?”

Tôi ốm nhom ốm nhách, trói gà không chặt thì cách chi đế quốc Mỹ tuyển tôi làm biệt kích cho nó được chớ? Tôi biết được Quang Dũng là do tạp chí Văn học năm 1971, tự do in lại những bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng thời kháng chiến. Còn những người yêu nhạc thì biết được Quang Dũng là do nhạc của Phạm Ðình Chương.

Phạm Ðình Chương (1929-1991) từng đi kháng chiến (nhưng “khiến chán”) nên năm 1951, ông “dinh tê” (dinh tê là do hai chữ “renter,” có nghĩa là “trở về”, từ vùng do Việt Minh kiểm soát, khi biết phong trào kháng chiến đang trở thành công cụ của cộng sản).

Năm 1953, Phạm Ðình Chương bỏ vào miền Nam tự do, lập Ban Hợp ca Thăng Long. Nghệ danh của Phạm Ðình Chương khi đi trình diễn là Hoài Bắc vì niềm thương nhớ quê mẹ Sơn Tây vẫn còn đeo đẳng hoài trong tâm khảm.

Phạm Đình Chương

Bà con mình ai cũng biết nhạc sĩ đọc một bài thơ thấy trúng ý mình quá, bèn dùng lời thơ làm ca từ; ý thơ thì y chang như thế gọi là phổ thơ. Phạm Ðình Chương không phổ thơ mà là phỏng thơ. Tức là mượn vài đoạn thơ làm ca từ. Về ý, dù có nương theo chút đỉnh; nhưng cái ý chánh rất là khác.

Trong “Ðôi Bờ”, Quang Dũng viết:

“Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?

Sông xa từng lớp lớp mưa dài

Mắt kia em có sầu cô quạnh

Khi chớm thu về một sớm mai?”

Trong “Mắt Người Sơn Tây” là:

“Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca!”

Ðó là tâm sự cùa một người lính chỉ mong hòa bình để về quê cũ gặp lại người xưa. Qua tay người nhạc sĩ tài hoa Phạm Ðình Chương thì muốn “Ðường hoa khô ráo lệ” để mình được trở về đất Sơn Tây.

“Tôi từ chinh chiến đã ra đi

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc

Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay…”.

Buồn thay, ước mơ đó suốt bao năm ly hương đã không trở thành hiện thực. Sau năm 1975, cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam, Phạm Ðình Chương lại xuống thuyền vượt biển. Lần nầy, lại xa hơn, tới nửa địa cầu, làm lòng thương nhớ Sơn Tây quê nhà càng thêm tha thiết.

Phạm Ðình Chương đã ra đi vào ngày 22, tháng Tám, năm 1991, lúc còn rất trẻ, mới 62 tuổi, tại California Hoa Kỳ. Phạm Ðình Chương vẫn “u uẩn chiều luân lạc; buồn viễn xứ khôn khuây” cho tới chết.

Hai chuyện siêu mỏng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 30 Nov 2023

Hắn nhai bánh mì đúng hai ngày trong phòng tạm giam thì được phóng thích. Hôm qua hắn đã viết tờ kiểm điểm, hôm nay đúng chú an ninh ấy chẳng bắt hắn đụng tới giấy bút cũng không nạt nộ quát tháo, chú trả lại cái điện thoại di động bị thu giữ rồi xua tay: Mày biến khỏi mắt ông ngay, bận sau chớ nông nổi dại khờ nữa nhớ, chẳng có ngày về đâu con ạ!

Ra khỏi cổng, hắn bật mở chiếc điện thoại thông minh, người ta đã xoá sạch đoạn phim hắn thu hình hai bác cảnh sát giao thông đang nhận tiền hối lộ. Có không ít ba bốn người đứng lố nhố cùng quây phim nhưng chẳng hiểu sao chỉ mình hắn bị còng tay lôi đi. Một bác phun nước bọt vào mặt hắn: Đéo mẹ mày không giỏi chân theo thì ông đấm cho vỡ mặt. Chán thế, hôm nay rằm ông chưa tẩm quất ai!

Không riêng hắn được thiên thu tại ngoại, có đứa con gái mặt xanh như tàu lá chuối cũng lã người đổ thân ra cổng trụ sở công an. Bị nhiêu? Cô hỏi. Hắn nói chỉ mới giở hai tờ lịch chứ bi nhiêu. Ủa, nhập kho cùng ngày sao tui hổng thấy cà? Điệu này hai đứa nên tạt ngang chùa thắp cháy ba cây nhang. Chi vậy? Vừa hỏi hắn vừa sải bước, càng xa bức tường có lắm cuộn kẽm gai càng tốt. Hổng hay chuyện sao? Có thằng thanh niên nhốt gần chỗ tui bị chết vì tự té. Nhờ sự cố nọ mà mình được họ xí xoá tha mạng chín bỏ làm mười. Tiếc chi mà không thắp cho ảnh vừa khuất mặt một cọng nhang, hỉ?

Chẳng rõ chùa nằm ở khu vực nào, qua khỏi ngã tư có quán cà phê chận lối. Hay đúng hơn, cô gái đi sát vào người hắn: Vào đó nghỉ chân, bao tui ly cà phê có đặng không? Thèm muốn chết luôn vậy đó. Cà phê, ngày uống hai cử vẫn còn thèm huống hồ đã hai hôm mồm miệng đắng chát. Hắn ngó cô gái liễu yếu đào tơ, mặt ngây thơ mà sao vô số tội. Quán này giá mềm, ly cà phê đá giá chỉ có 35 K. Sao mặt nhăn mày nhíu dậy? Anh giai muốn biết vì sao con này bị tó chứ gì? Haizz, thời này đi làm việc từ thiện hơi bị khó, đưa dú cho chúng sinh bóp mỗi lần chỉ lấy có 50 K. Trái, phải, trái, phải mới có bốn bận đã bị chộp. Chúng nó bảo, mày nhân thân xấu, trước làm nghề bia ôm quán Cô Chủ Mồ Côi nên ngựa quen đường cũ chứ tướng tá mày mà sung chuyện lá lành đùm lá rách, nói ai tin. Chả đúng quy trình! Bản thân mày rách bỏ mẹ, lấy tư cách gì mà đùm bọc ai? Vải sưa mà che mắt thánh! Có đứa nói, để bố thử nắn xem, có sướng tay không mà mày hét giá cực choáng. Thượng tầng kiến trúc bị kẹt nên có bàn tay tranh thủ bóp lấy hạ tầng cơ sở. Nói thiệt nghe, cho tới giờ này mà cả vú lẫn mông đều còn ê ẩm bởi bọn đầy tớ của nhân dân.

Cà phê cạn sạch, cô gái liếm môi. Đưa tui 15 K từ thiện, vô toa-lét tui cho đằng ấy bóp thoả thuê. 35 K tiền cà phê, 15 K là tiền thối lại. Xem như hai đứa chẳng có nợ nần chi nhau. Có hồ hỡi phấn khởi không nào? Im lặng là vàng, không có gì nản cho bằng đi rêu rao: Dú đây bây, đứa nào ưa bóp không?

CHẴN, LẺ

Hắn ở cách nhà cái Xoan hai con hẻm. Gần, nhưng khác phường không chung khu vực. Hai đứa có cảm tình với nhau tuy vậy muốn gặp mặt cho thoả thì chỉ biết nhắn tin, xong hẹn hò ở một quán nước bên quận khác. Lý do: Xoan ghét đun xe vào lối đi tối tăm nồng hôi mùi rác thải nơi phố hắn ở, đang phấn đấu phát huy đời sống có văn hoá cao. Và hắn đôi lần lạn lách sang ngõ người yêu cũng từng bị một đám anh chị giang hồ có số má hăm doạ đòi cướp xe. Định hướng xã hội chủ nghĩa đơn giản và an toàn nhất: Hẹn nhau ở quán cà phê mang tên Thiên Đường.

Hắn ghét cái tên quán, ghét cách trang trí nội thất rườm rà, màu mè và rất cải lương nơi quán ấy, tuy nhiên để chìu lòng Xoan hắn tự nhủ, mày chớ được voi đòi hai bà Trưng. Xoan bình phẩm, rằng ở Thiên Đường chúng có khiếu về âm nhạc, tinh tuyển ròng nhạc vàng của miền Nam trước đây, nghe dễ nửa hồn thương đau.

Sau một thời gian, hai đứa thôi ngồi ở Thiên Đường nữa, vì quán ấy mở cửa khá muộn. Hắn và Xoan hẹn hò ở cà phê bụi, tầm 7 giờ sáng, thứ hai đến thứ bẩy. Chuyện này nên đổ thừa cho ông bí thư thành uỷ khi ông ký sắc lệnh là xe nào có biển số lẻ thì được phép lưu thông trong những ngày thứ ba, năm và bẩy. Xe nào số chẵn thì cho chạy xuống phố những bữa thứ hai, tư, sáu như thế e sẽ giải quyết êm đẹp nạn ùn tắc giao thông, đường sá thông thoáng và ít gây ô nhiễm môi sinh.

May phước cho hắn và Xoan. Hắn đăng ký biển số chẵn trong khi bảng số xe Xoan là lẻ. Hắn nói đùa: Tụi mình rõ là cặp đôi hoàn hảo. Cứ linh động theo ngày quy định mà đèo chở nhau đi mần. Nhờ trời là đến quán cà phê bụi kia có một con đường mòn vạch sẵn, lối ấy cảnh sát chẳng dại hy sinh ẩn náu phục kích thổi còi. Xong công đoạn đó, thì gửi một xe biển cấm để xe còn lại thồ nhau đi hợp pháp đến cơ quan làm việc theo đúng quy trình.

Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, hai đứa âm thầm tính chuyện tổ chức đăng ký kết hôn. Làm vợ chồng sống chung dưới một mái nhà thì cả hai sẽ loại bỏ được những phiền toái trong cuộc sống cứ hăm hở nhào ra phá quấy. Hắn không đa nghi, nhưng hắn muốn nắm con dao sau cán nên hôm nọ tan việc, hắn đón Xoan đi vào một quán nhậu đánh chén. Có chút bia lâng lâng, Xoan ngồi sau ôm siết lấy thân mặc cho hắn chở vào nhà nghỉ. Tình yêu chẳng thơ mộng và không nên ngợi ca nếu thiếu chuyện xác thịt, hắn đồ thế. Hắn hôn Xoan, cẩn trọng tháo gỡ từng hạt nút nơi y phục người tình. Cởi từ hang cùng cho tới ngõ hẹp, từ trường sơn đông sang trường sơn tây, tới cứ điểm cuối cùng cũng dứt điểm được cái sịp bé tẻo teo.

Hắn tỉnh rượu, như bị dội một gáo nước lạnh. Và nghe tiếng Xoan: Xin lỗi nha, em làm thinh vì muốn cho anh thấy, không thì đổ thừa người ta đặt điều. Chịu khó đôi ba hôm nữa nhé. Hắn ngó đám lông đen xoắn xít, ngó cái băng vệ sinh đỏ hơn tấm bảng stop, ngó lên đôi vú suýt chút nữa đã ngoạm lấy trong bấn loạn. Và hắn ho: Đề nghị em hãy viết rõ ra trên lịch ngày trứng rụng ngày có kinh cho đúng quy trình. Máu tháng kia trông cực đoan quá. Nhà nước đã buộc con dân đi theo ngày chẵn, lẻ; chẳng lẽ em không ra văn bản ghi lịch trình yêu nhau trong an toàn.

Chẳng lẽ em… Làng nước ơi, hết chẵn thì đến lẻ… Còn tui, thằng hèn này biết tính sổ sách cách gì đây? Nhìn máu rơi chỉ có nước khóc ngoài biên ải thôi giời ạ!

Hồ Đình Nghiêm