Anh Khui

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 2 Dec 2023

Ngày… tháng…

Trước tiên, Thuỷ có tin tới chữ định mệnh? Tôi không định ca cẩm về thứ gì to tát, chỉ nói tới những chuyện cỏn con.

Thuỷ tin chứ anh, không tin không được, khẳng định thế, đóng đinh chẳng rút ra được ý nghĩ kia. Gia đình Thuỷ nhiều lần vượt biển đều thất bại, từ bãi bờ trong Nam đi dần ra và lần cuối vùng biển của địa phận Huế đã chế ngự tai ương, êm đẹp cho cuộc viễn du tạm gọi xuôi chèo mát mái.

Hèn gì giọng nói Thuỷ mang nặng âm hưởng người Sài Gòn, trong khi ở Hồng Kông đa phần chúng sinh đều gốc gác là dân miền Trung, tách riêng với đám người đến từ phương Bắc. Nghe Thuỷ nói và có khi tôi để cảm tình chạy xiêu lạc thất thoát vào trong ngữ điệu đó. Đừng cười, tôi thực lòng mà!

Thuỷ cười vì nhớ lại, ngay từ đầu, linh tính mình đã không sai trật về một dự cảm. Sự tử tế của anh khi đó làm người khác phải gợn lòng.

Tôi thực sự là đứa tử tế à?

Thì cứ tạm coi như vậy đi, không tử tế thì đã có sự thiên vị chen vào. Hoặc ga-lăng, hoặc nịnh đầm, giả dụ thế. Anh hẳn còn nhớ cái khui mở lon đồ hộp?

Nhớ như in. Vin vào chuyện ấy để nghi ngờ tới định mệnh. Để kể cho Thuỷ nghe đầu đuôi, tôi đi tay không khi vượt biển, nhẹ nhàng quá, tôi nghĩ nên mang một thứ gì theo để kỷ niệm. Anh tôi đã bị cải tạo ở rừng sâu, tôi tìm thấy sợi dây có tấm thẻ bài của anh xâu cùng với cái khui nhỏ bé của lính Mỹ. Buồn tay tôi đeo nó vào cổ và có ngờ đâu tháng ngày sau đó tôi sáng giá được bà con bu quanh thân thương gọi là Anh Khui.

Rất dễ tìm ra anh, người ngồi làm việc thiện nguyện giữa đám đông. Thuỷ nghĩ bọn người cứu trợ tị nạn cũng vụng tính, phát thực phẩm đồ hộp cho người ta mà quên không đưa vật khui mở. Lý ra anh đáng được bọn họ tuyên dương công trạng.

Ban đầu tôi tính cho bà con mượn nhưng người đàn ông đi chung ghe cùng tôi cảnh báo: Mất như chơi, họ chuyền tay nhau rồi cuối cùng vật đi không trở lại với người. Lạ lùng gì bản chất cái đám đông bát nháo ấy. Ăn quả mà chẳng nhớ kẻ trồng cây. Nghĩ có lý, tôi đành bỏ công ra khui mở lần lượt cho họ lon paté hộp cá mòi. Giải quyết xong xuôi khư khư đeo lại vào cổ thứ vật bất ly thân nọ.

Và anh thường ưu tiên khui mở cho Thuỷ. Kỷ niệm đó e quý hơn tất thảy những kỷ niệm khác? Nó còn lành lặn, nó có theo anh sang tới bên đây không?

Sau một tuần nằm phơi nắng gió trên xà-lan, tôi được gọi tên cho vào đất liền làm thủ tục với phái đoàn đặc trách người tị nạn. Có một bà nhanh miệng lại gần: Xem như em là hoa hậu năm rồi, hãy trao lại vương miện ấy cho chị, hồi nào chị theo em sang ngang chị sẽ bàn giao nó cho kẻ đến sau. Đã là dân tị nạn gửi thân đất lạ nên mở lòng chơi đẹp với nhau em nhớ. Bà ấy chị em ngọt xớt còn ôm siết thân tôi chúc lành trước khi bước xuống ca-nô. Tôi thực sự cảm động, chẳng ngại ngần đưa bà kỉ vật của người anh. Khi đó hẳn Thuỷ cũng đã rời xà-lan trước tôi, vì số thuyền Thuỷ nhỏ hơn.

Anh còn nhớ cả số thuyền nữa à?

Nhớ chứ Thuỷ. Họ không hơi đâu biết tên tuổi của đám người xa lạ, họ chỉ cần đọc lên một con số thì rõ trắng đen. Hình như tù nhân cũng vậy, mỗi mạng phải ăn nằm cùng số má ấy cho đến lúc hoàn lương.

Thuỷ “ở tù” được một năm thì bay sang Đức. Mình khai có thân nhân ở bên đó nên phái đoàn Đức vui vẻ tiếp kiến thu nhận. Hôm ra đi trời Hồng Kông xám xịt những mưa tuôn, Thuỷ nghĩ bên Đức e cũng chẳng sáng lạng gì. Tâm lý chung của người sống trong trại cứ mơ tưởng tới Hoa Kỳ, nghe nước Đức họ ngại đủ điều, nhất là vấn đề ngôn ngữ. Nói chung Thuỷ lên đường chỉ vì sợ điều kiện hỗn tạp, chung đụng ở trong trại ấy quá lâu.

Bữa đó tôi đi làm về muộn, vào trại mình xong tôi leo rào, vi phạm điều lệ để đột nhập lén lút, chạy tới dãy hut A2. Thuỷ đã chẳng để lại thứ ám hiệu nào cả. Một tờ giấy nhỏ cũng không, bà nằm cạnh giường Thuỷ nhìn tôi ái ngại: Cô ấy đi rồi, đi vào ban trưa. Ừ, tới chiều tối mịt mà mưa vẫn làm nhoè cảnh vật. Sân đất đọng vũng và tôi đã thầm gọi Thuỷ ơi.

Đến Dortmund Thuỷ có viết cho anh lá thư, anh nhận được không?

Thư chẳng đến tay, trong suốt cả tháng trời ám buồn nọ tôi không nhận bất kỳ một thứ gì cả và may phước Canada gọi tên tôi biểu ký giấy nợ tiền vé máy bay. Tôi đi cũng không một người đưa tiễn. Khi đã bình phi, ngó xuống Cảng Thơm tôi cám ơn vùng đất đã cho mình tạm trú, cám ơn cái khui đồ hộp và cám ơn câu thơ Kiều chợt nhớ: “Trời đông vừa rạng ngàn dâu, bơ vơ nào đã biết đâu là nhà”.

Anh vẫn thế, vẫn cái lối nói chuyện như xưa. Anh thấy Thuỷ ra sao, chúng ta ai nấy đã mòn hao già cỗi. Sau 4 năm tạm gọi là ổn định, người anh giới thiệu và Thuỷ đã lấy chồng hiện có hai con… Hình như sắp rớt mạng hay sao anh nhỉ? Anh nghe rõ Thuỷ nói không?

Màn ảnh máy vi tính chập choạng hình ảnh, đường nét mù mờ. Sóng ngưng tải những tâm sự vu vơ, thứ mà Thuỷ bảo bằng hai chữ: Rớt mạng. Hong Kong và đâu đó bên nước Đức được kéo về gần rồi thoáng chốc chạy dạt ra xa, mù tăm. Ngoài rớt mạng chúng ta bị rớt thêm điều gì? Mưa gió bão bùng rơi xuống triền hạn, khiến đột ngột cắt đứt một đầu mối vừa lần ra, vừa chạm được. Thuỷ đã lấy chồng hiện có hai con. Thôi, vậy cũng xong. Biết nhiêu đó đã vẹn toàn một cuộc trao đổi.

Ngày… tháng…

Bên đó, lịch nghỉ hè của Thuỷ rơi vào tháng mấy?

Anh biết để làm gì?

Cuối tháng bảy này anh lên xe bông, anh đổi đời, Thuỷ sang để làm người đại diện cho đàng trai thì sẽ khiến anh hạnh phúc hết biết. Dắt theo chồng con thăm thú chốn này luôn thể.

Lu bu quá mạng là hình ảnh của kẻ sắp làm chồng, thì giờ đâu mà đoái hoài tới khách phương xa. Thuỷ sợ nhất là chữ “mang con bỏ chợ”.

Chúng ta sẽ gần nhau suốt ngoại trừ đêm tân hôn, tin anh không? Nói láo hộc máu.

Vợ tương lai của anh như nào? Tả Thuỷ nghe.

Tên Nguyệt, nhỏ thua Thuỷ sáu tuổi. Đẹp xấu tuỳ người đối diện, cao một mét sáu bảy, nặng năm mươi mốt ký, tóc đen, mắt nâu và đã qua một đời chồng. Thuỷ muốn biết gì thêm?

Sao anh không nhắc tới chữ định mệnh?

Anh gặp Nguyệt trong “đêm nhớ Huế”. Có lẽ do sự mai mối ngầm của mấy người bạn vốn đã yên bề gia thất. Hai đứa ngồi gần nhau và anh có cảm tình với cái thật lòng của Nguyệt, cô ta không che đậy làm dáng vẻ như đa số các cô gái khác. Thêm điều nữa, Nguyệt nói giọng Nam, âm hao gần trùng như khi nghe Thuỷ nói. Thuỷ sang với anh rồi Thuỷ sẽ chứng thực là hoàn toàn anh chẳng đặt điều vẽ chuyện. Sang chia vui và giúp anh lần này, nhé. Nói theo kiểu người ta ưa sử dụng trong thiệp mời: Sự có mặt của quý vị là niềm vinh dự của chúng tôi.

Lần này không rớt mạng, thời tiết tốt nhưng Thuỷ phải dắt hai đứa con đi mua sắm. Tạm ngưng ở đây, Thuỷ không hứa, để thuyết phục ông xã trước mới tính được. Canada… để xem nơi anh ở có đúng là xứ lạnh tình nồng không!

Ngày… tháng…

Nguyệt cám ơn anh chị đã vượt bao gian khó để sang dự ngày vui của chúng em, đã thế còn mang theo quà tặng. Em luôn có cảm tình với những sản phẩm đặc thù của Germany.

Chúng tôi cũng mến chuộng xứ sở này, nơi được thế giới luôn ngợi ca về mặt an sinh xã hội. Luôn nuôi ý định sẽ đi thăm một lần và đây đúng là cái cớ nhất cử lưỡng tiện, hai đứa con chúng nó cũng thích thú vô cùng.

Trong quán ăn, cái bàn tròn kê sáu ghế. Tôi ngồi gần thằng con trai bảy tuổi, tới chị nó, tới Thuỷ, tới Lợi chồng Thuỷ và tới Nguyệt. Thuỷ vẫn còn mặn mà, những hư hao ngày cũ thời tạm trú trong trại tỵ nạn đã được bồi đắp khi thụ hưởng với cuộc sống văn minh no đủ. Ngồi đó, vẻ đẹp của Thuỷ khiến “hoa nhường Nguyệt thẹn”. Vợ tương lai của tôi chưa đủ hoả hầu để so bì cùng Thuỷ, y như bóng đá, ra sân Đức bao giờ cũng thắng đậm Canada. Chán thế! Được cái, Nguyệt biết cách ăn nói, lời phi lộ của cô làm mát bụng tôi. Lợi, chồng Thuỷ cũng thuộc dạng miệng mồm. Hai người ấy lời qua tiếng lại chừng tâm đắc. Chỉ có Thuỷ và tôi, hai đứa ngậm miệng hến vì chúng bận loay hoay tìm cách xua tan bao bồi hồi ở phút giây tương phùng hội ngộ.

Nguyệt lên chương trình, sẽ dắt gia đình anh Lợi đi vườn hoa nổi tiếng chốn này để thưởng lãm. Cô thêm thắt, có lắm cô dâu chú rể vào vườn hoa nọ để quây video có viết sẵn kịch bản rất mực tình tứ. Thuỷ hỏi, vậy cô dâu chú rể này thì sao? Tụi em đâu còn son trẻ mà đi đùa nghịch kiểu lạ thường ấy, thậm chí chiếc áo cưới của em cũng rất giản dị, đơn giản. Đi vào vườn hoa thuần chỉ để ngắm hoa chứ chẳng đủ sức để cỡi ngựa xem hoa.

Lợi tán thưởng, Nguyệt nói đúng quá và tui rất chịu chữ cỡi ngựa mà Nguyệt dùng. Tôi trộm ngó Thuỷ, cô vừa đá lông nheo sau câu nói của Lợi. Trước lạ sau quen, đứa con trai bảy tuổi của Thuỷ chừng như tỏ vẻ thân thiện với tôi. Nó chỉ biết nói tiếng Đức và như thế tôi với nó như đứa điếc tỏ bày tình cảm với kẻ câm. Tôi ý thức một chuyện, là có đôi khi lòng mình nổi sóng ba đào mà không cách gì để trút bỏ ra qua miệng lưỡi. Tôi nhìn Thuỷ, em có biết hồ nước ấy đang chứa ngập một tình yêu?

Như đã hứa trước với Thuỷ, hoạt cảnh đem con bỏ chợ chẳng hề xẩy tới. Bọn chúng tôi luôn kề cận bên nhau, vợ chồng Thuỷ do từng có kinh nghiệm đi trước, giờ này họ mang vốn kiến thức ra chỉ bày và giúp đỡ lắm việc trong ngày “trọng đại”. Hai đứa con họ thì rất vui thú khi ngồi ở bàn có đặt thùng “phước sương” thu nhận phong bao lì xì của khách khứa được trông chừng bởi quý bà quen biết với Nguyệt.

Lợi thì ngồi ở góc khuất cố viết và cố thuộc đoạn diễn văn sẽ đọc trước giờ nhập tiệc nâng ly rượu mừng. Thuỷ luôn di động vào ra căn phòng dùng trang điểm cô dâu và nhờ trời người ta tạm ngó lơ thằng tôi, thằng chú rể bơ vơ ngác ngơ khi chung đụng với thứ hoàn cảnh nằm mộng cũng chẳng ngờ.

Xớ rớ một đỗi thì Thuỷ đến sát bên lưng, cô như bà Trưng bà Triệu giỏi việc điều binh khiển tướng, sắc bén tầm nhìn khi nhận định thời cuộc. Vào đây. Thống soái ra lệnh. Thuỷ kéo lôi tôi đi vào một góc phòng tối mờ có tấm bình phong che chắn. Có lẽ đây là nơi mà nhà hàng dùng để chứa những thứ đổ vỡ sứt cọng gãy càng. Chúng tôi ôm siết thân, vòng tay như vòi bạch tuộc cuốn chặt từ dặm ngãi Hong Kong kéo về hiện tiền sắp có pháo đỏ rượu hồng. Thuỷ vén áo đầm lên, Thuỷ tụt nội y xuống và nói hụt hơi: Anh khui ơi, cho anh khui Thuỷ đó. Tôi hôn màu son môi đỏ, tôi liếm vị ngọt từ đó ứa ra. Chú rể ơi, cho chú làm nháp trước đó, cho chú ăn cơm trước kẻng, cho chú nhúc nhích trước buổi động phòng. Tôi đi vào người Thuỷ, êm thắm ngọt ngào, sau đó là chấn động của ngọn núi lửa dấu lòng bao phún xuất thạch, ẩm ướt và nóng bức. Thuỷ nhìn xuống “cái khui” vừa được tắm gội và cô giả giọng như ngày còn bên phương trời xao xác ấy: “Tố chề”. Tiếng Quảng Đông nghĩa là cám ơn. Tôi lập lại chữ đó sau khi Thuỷ vuốt lại tóc tôi, chùi môi tôi dính son hồng và sửa lại ngay ngắn cái cụm hoa giả gắn trên túi áo vest của tôi.

Thuỷ đọc hiệu lệnh: Anh đứng đây khoảng năm bảy phút sau khi Thuỷ rời bước. Cô quay lưng, hát nhỏ một khúc nhạc cũ có ca từ: Hôm nay ngày cưới em, vì sao nàng mời tôi đến… Không một ai hay biết ngày xưa chúng tôi có với nhau chút kỷ niệm dẫn dắt bởi một cái vật kim loại nhỏ dùng để khui mở bao nhiêu lon đồ hộp. Chẳng một ai hay sau chất chồng mùa thu lá bay, Thuỷ hiện ra để lấp đầy một ước nguyện không thành dạo ấy: Khui mở con người Thuỷ dù trái tim dấu trong đó đã thôi nguyên vẹn hình hài. Tôi chẳng chùi rửa cái khui ấy. Tôi cất nó trong quần. Tôi nhắm mắt hôn Nguyệt theo sự xúi dục của đám đông, của bao tiếng ly tách muỗng nĩa va chạm. Đám đông chúc chúng tôi hạnh phúc, kể cả Lợi, rất thực lòng có trong bài diễn văn cảm động. Tôi hạnh phúc, vì tôi vừa ăn mắm ăn muối giữa xác thân người tình cũ và đêm nay được cọ xát ăn nằm, hoặc chong đèn thức khuya đếm bạc lời nhiều hơn lỗ với cô vợ mới.

Một quốc gia có tới hai giếng dầu, quốc gia ấy buộc phải giàu mạnh hạnh phúc. Tôi tên Gia, bí danh là anh Khui. Gia này sẽ tìm cách khui giếng dầu của Thuỷ thêm lần nữa trước khi nàng về lại Germany khô cạn nguồn cơn. Thuỷ ơi, em có hạnh phúc không?

Hồ Đình Nghiêm

(C)hết tháng tư

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 2 Dec 2023

Hết tháng Tư. Hú hồn. Mọi chuyện sẽ ổn.
Hết tháng 4 vì tờ lịch 30 ai đã xé.
Hú hồn, bạn tôi nói khi thồ được tôi vào nhà thương.
Mọi chuyện sẽ ổn, bác sĩ bảo thế khi vỗ vai má tôi.

Hiền hữu. Bác sĩ. Má. Ba khuôn mặt nhập nhằng trông chẳng rõ nét. Má lặng câm mà tôi vêu mỏ không nói được gì. Gọi bạn là hiền hữu vì chỉ mình hắn tả xung hữu đột ứng xử với bao vấn nạn: Khai báo, điền đơn, ký tên, lo hết mọi thủ tục khi nhập viện.

Má nói, cám ơn cậu Quý nhe. Hắn nói, đâu có sao, bác. Giọng má tôi nhỏ, chừng hụt hơi, đầu đuôi cớ sự ra sao? Dạ thì hai đứa ngồi uống cà phê bình thường, khi không có một thằng từ ngoài đường chạy vào uýnh nguội nó.

Y tá khiêng tôi vào căn phòng cách ly. Đèn đóm, băng bông, thuốc khử trùng, kim chỉ. Mắt trái cậu có thể bị hỏng, trật xương quai hàm và mất đi ba cái răng. Uống hai viên thuốc trụ sinh chống đau. Hôm sau sẽ biết cụ thể, giám định là dính bao nhiêu phần trăm thương tật. Cậu đang hành nghề gì? Quý trả lời thế: Lặt vặt.

Băng bông trắng bồi đắp che choáng gần nửa mặt, một con mắt lành lặn lại trông thấy má. Má ngồi bên giường, co thân. Hình như trời sinh ra má để chịu đựng những cuộc hành xác như vậy, chẳng thể làm khác được. Nhỏ nhít không nói gì, già đầu cũng nương nhờ vào tấm lòng bền bỉ của từ mẫu. Thằng Quý nó đi hỏi han quanh quất đâu đó, má hỏi chứ hai đứa bây có gây oán thù với một ai không?

Tôi nắm bàn tay da nhăn lạnh lẽo của má. Bất ngờ quá, hối hả quá khiến má đi mà không kịp thay chiếc áo dài. Trên người má vẫn là bộ đồ chỉ mặc ở trong nhà. Áo có may hai túi lớn, túi bên phải ghim chặt cái kim băng. Hẳn cái “kho bạc” ấy đã vơi nhiều khi xuất trả tiền viện phí.

Quý đi vào, vòng tay ngó xuống tôi: Mày chỉ được phép ngủ qua đêm thôi, vào dịp lễ bệnh viện quá tải những đứa đui què mẻ sứt trầm trọng cần chỗ nằm. Mày thấy sao? Tôi ú ớ, ngầm cho hắn biết là chưa mở miệng được. Khi bạn đi nha sĩ để cho họ chích thuốc tê và nhổ đi ba cái răng hẳn bạn sẽ thua con nít đang tập nói. Chỉ việc đưa cái mặt trân tráo cứng nhắc ra trước. Mặt dày mày dạn. Áo Quý mặc vấy đầy máu từ khuôn mặt “nhừ tử” của tôi cạ vào, hoen ố, bẩn thỉu. Nếu có giấy viết trong tay tôi sẽ viết: Mày có nhớ mặt thằng ấy không, đứa đánh lén làm tao đổ máu? Và lật phía sau tờ giấy: Làm ơn chở má tao về nghỉ ngơi. Bác sĩ nói mọi chuyện sẽ ổn!

Má tôi về lúc ba giờ, tới sáu giờ bà bắt xe ôm vô thăm tôi. Từ 3 tới 6 má đủ thời gian để nấu cho tôi tô cháo trắng. Một cái lon nhôm có nắp đậy kín “made in france” đang chứa cái món ăn hẩm hiu hay nóng sốt kia. Hẩm hiu vì nó mình ên, không được đi chung cùng một khoanh cá để già lửa cho rục rã. Lóng rày chả ai dại xơi cá và tôi buồn đứt ruột khi sực nhớ câu “cơm với cá như mạ với con”. Biểu tượng của con (hay mạ) đã chết đầy trên mặt biển, bức xúc trôi dạt lềnh bềnh. Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình. Thế còn cá? Cá hao hụt thất thoát có nhẹ đi phân nao lòng biển bạc? Cháo trắng có phải là cháo đang chịu tang giùm? Cháo chay. Sạch ruột, lỏng bỏng tựa khuấy hồ, trôi tham sân si.

Cái túi may phía bên tay trái có đựng một cục đường phèn, má nói má đem phòng hờ bởi sợ con lạt miệng, đợi cháo nguội chút hẳn húp vì răng rụng lỗ hổng ấy chịu chi thấu với thức nóng. Má có mua thêm cho con ly nước mía xay với đá vụn… Không biết con mắt kia ra sao chứ con mắt “lộ thiên” của tôi đang ứa nước. Tôi chẳng biết mắc cỡ, trong đời má đã bao phen nhìn ra cảnh tôi khóc? Hối lỗi, ăn năn, vụng về, dại dột gây tội vạ. Gom lại, dằn vặt tựa niềm đau: Quýt làm cam chịu!

Quýt nhìn cam chẳng nói nên lời. Muôn đời, chôn cùng một mảnh đất mà cam ngọt trong khi quýt vẫn chua lét le. Giả dụ má nằm trên giường bệnh, tôi vào thăm sẽ biết đút cho má ăn thức gì? Mọi thứ đều có ngâm tẩm hoá chất e tôi phải tự xẻo thịt mình bồi dưỡng cho má có chút chất đạm như thằng người trong điển tích Nhị thập tứ hiếu xa xưa sống ở nước lạ. Hàng độc đó má. Chữ độc này má nên hiểu là độc nhất vô nhị, chả bày bán ngoài cuộc đời đầy gió tanh mưa máu kia.

Gần hết giờ thăm nuôi Quý mới vác mặt vô, một khuôn mặt nhàu như chiếc áo bẩn chưa kịp thay. Tao mới đi làm việc với an ninh, họ bảo cậu nên lấy xuống hết những gì rao rêu trên facebook làm tổn hại đến đất nước, khi chạy xe ra thì đụng mặt thằng đánh nguội mày. May mà ngồi trong chỗ khuất tất kia chúng chưa uýnh nóng tao. Vậy đó, hết thắc mắc, mọi chuyện đã rõ như ban ngày.

Tôi nhớ lại bài thơ “Con cá đối nằm trong cối đá” đưa lên facebook đã ba hôm. Hạnh phúc thay cho Đối được ở trong Cối. Tôm cá giờ này trối trăn cùng sắt thép, chẳng được chọn đá để nát thây. Đá nát vàng phai và biển hết mặn. Biển giờ lạ như cây ngã trống phố phường hết bóng dim.

Má hỏi chớ phây bút là cái giống chi? Thực sự thì tụi bây làm trò gì mờ ám? Không CIA thì cũng thuộc dạng CIB. A bê xê dắt dê đi ỉa, a á ớ dắt vợ đi đê. Thằng Quý nói, tụi con có bày trò gì đâu bác, chỉ minh bạch làm thơ. Người đàn bà bạc tóc lệch lạc đường ngôi ngó tôi với đôi mắt hoài nghi: Vậy mà lâu nay má tưởng con chong đèn thức khuya học làm người tử tế, mồ tổ mày ai dè lại dở trò bán trời không văn tự! Không cơm với cá gì nữa. Bạc phước cũng chừng mực nào đó thôi. Má với con!

Tôi nắm lấy bàn tay má, bàn tay tần tảo bán buôn ngoài chợ đầy bọn tráo trở. Bà thực tế và coi thường những thứ vô bổ lừa phỉnh dối gạt văn hoa khác. Dạ, từ rày con làm thơ tả nhật nguyệt nắng mưa, con đưa lên phây bút hình gái gú hở hang và ngợi ca xác thịt. Món ăn tinh thần kia không chừng lại được nhà nước cổ xuý động viên. Làm cho hay vào để chúng thôi nghĩ tới chuyện dầu sôi lửa bỏng, nhé! Như thế má mày đâu phải chịu cực thân vào bệnh viện ngó cái cối đá đang chứa con cá đối.

Tôi lại chảy nước mắt ở phía lành lặn. Chỉ một mắt mà tôi ngó thấu suốt vào mông lung bụi trần. Tôi thương những nhà thơ chẳng nói được điều cần nói, sợ đụng chạm sự thật. Và tôi thương má mình, người đàn bà kém cỏi vốn học thức chỉ mưu sinh với một lòng thành. Mấy vạn tiến sĩ tật nguyền kia có khi chẳng bằng một con cá tươi vẫy vùng trong biển cả không bị nhiễm độc.

Ngày mai tôi xuất viện mặt sưng mày sỉa tôi sẽ bắt xe ôm đi tìm kẻ uýnh lén tôi. Cám ơn anh đã xử đẹp, bàn tay anh đã cho tôi biết nỗi sợ hãi anh đang mang. Tháng năm rồi đó má, con về nhà với má tịnh khẩu như bình cho má khỏi phải rụng tóc thêm. Giờ này mà nói cơm với cá như mạ với con thì e rằng thứ ấy chỉ là ngoa ngôn. Tôi nốc cạn ly nước mía. Uống hết giọt ngọt ngào riêng tình má trao tôi.

Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 27 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 2 Dec 2023

Bài 27

Dinh Điền Cái Sắn

Bắc Nam Một Nhà

Khi thành lập dinh điền Cái Sắn, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chứng tỏ ông là người khôn ngoan và tế nhị, giữ gìn được hòa khí, giúp đỡ lẫn nhau giữa người miền Nam địa phương và người Bắc di cư.

            Dọc theo trục LTL 8-A, chính quyền VNCH bấy giờ cho xây nhiều chợ ở các đầu kinh A, B, kinh Tân Hiệp, kinh 8, kinh 9, v.v… Chung quanh chợ và hai bên trục lộ là phố xá và nhà ở dân chúng. Những khu vực nầy, người Nam, người Bắc sống chung, kề nhau, buôn bán với nhau, không mấy khi có việc gì mâu thuẫn xảy ra. Nhìn chung, ngoại trừ khu vực chợ có nhiều người Bắc, còn các khu phố và khu nhà ở thì người Nam đông hơn. Người Bắc có nhiều người giỏi và ưa buôn bán nên họ từ trong kinh ra hoặc là người Bắc di cư từ Saigon hay các tỉnh về mở tiệm ăn, buôn bán.

Về khu dinh điền, việc chia đất cho dân di cư thì như tôi đã trình bày trên, mỗi gia đình được cấp một khu đất bề ngang 30mét, bề sâu 1km, tính ra là ba mẫu Tây. Tuy nhiên, kể từ kinh Cái Sắn, kinh chạy dọc theo trục LTL 8-A vào sâu khoảng vài trăm mét thì đặc biệt dành cho người miền Nam, những ai muốn làm ruộng. Thành thử, cứ mỗi kinh ngang, (kinh 1 kinh 2, kinh A, kinh B, v.v…), phía ngoài là khu đất của dân Nam, phía trong mới là dân di cư. Do đó mới có thành ngữ “Người từ trong kinh ra…” tức là người Bắc di cư.

Dần dần, một số người Nam bỏ làm ruộng. Họ bán lại cho những người Bắc giàu có lên, muốn mua thêm đất ruộng. Người Nam bán ruộng dời qua sống bên cạnh trục lộ hay tìm những vùng bị hoang hóa mở đất. Kể ra, tại những vùng nầy họ làm ruộng thoải mái hơn, có bao nhiêu sức làm bấy nhiêu, có thể hàng trăm mẫu, không bị hạn chế ba mẫu như ở dinh điền.

Trong sinh hoạt hằng ngày, gặp người dân ở vùng Nam Bắc lẫn lộn, cũng khó phân biệt ai là người Bắc, người Nam, nếu không nghe giọng nói, ngoại trừ mấy ông chủ điền, thường mặc pijama, áo hai túi, túi trong và túi ngoài như tôi mô tả ông Bảy Quẹo, xã trưởng xã Tân Hội. Thậm chí, nhiều khi, tôi còn thấy một số người Bắc giả giọng Nam cho tiện việc giao tiếp hằng ngày. Họ nói tiếng Nam chưa rành, còn ngọng. Người Nam thì chẳng giả giọng Bắc bao giờ.

Không phải người Nam không khôn khéo đâu! Biết các linh mục là những người có thế lực, nhiều người Nam quan hệ chặt chẽ với các linh mục, mặc dù họ không phải là người theo đạo Thiên Chúa, để khỏi bị chính quyền làm khó dễ, hoặc để dễ làm ăn, buôn bán. Chẳng hạn, tại Tân Hiệp, ông Vạn Lợi. Ông ta nguyên là gốc ở quận Lấp Vò, tỉnh Sadec, qua làm ăn ở đây từ khi dinh điền mới thành lập, mở tiệm bán đồ sắt cũ, từ cái đinh, cái ốc, cái búa, cái kềm cũ, cuộn kẽm gai phế liệu. Người dân di cư tiết kiệm, mua đồ cũ về sửa lại dùng, rẻ hơn mua đồ mới. Nhờ vậy mà ông ta giàu lên. Con cái, sau khi đậu tú tài, đều cho lên học đại học ở Saigon.

            Biết linh mục Nguyễn Bá Lộc (lm NBL) là người có thế lực bậc nhất ở dinh điền cái Sắn, ông ta bắt giò linh mục nầy. Cứ mỗi lần linh mục NBL từ trong kinh 1 ra, bao giờ cũng ghé lại nhà ông, nghỉ chân, uống nước trà, chuyện vãn với vợ chồng ông rất vui vẻ. Vì vậy, mặc dù Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Sadec có chuyển công văn đến Ủy Ban Phụng Hoàng quận Kiên Tân, cho biết ông Vạn Lợi, nguyên hồi kháng chiến chống Pháp, là cán bộ Việt Minh. Tuy nhiên, ngại động chạm đến Lm NBL, thiếu tá Huỳnh Đầm Sắn, quận trưởng quận Kiên Tân, Chủ Tịch UB Phụng Hoàng Quận Kiên Tân, yêu cầu bỏ qua bản tin nầy. Về Lm NBL, tôi sẽ nói thêm vài việc nữa ở phần sau.

Tại các cơ quan chính quyền địa phương, người Bắc người Nam làm việc chung với nhau. Họ cũng không phân biệt người có đạo Thiên Chúa hay không. Xã Trưởng, Trưởng Cuộc Cảnh Sát, Trưởng Ấp, người Nam hay người Bắc không phân biệt. Tuy nhiên, dù là người miền nào việc được lòng các linh mục địa phương là cần thiết. Viên chức xã ấp, Cảnh Sát, cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, phần đông là người Bắc. Ngại đi lính, người ta xin vào làm ở các cơ quan nầy cho gần nhà và đỡ nguy hiểm. Người Bắc vốn lo xa và tính toán kỹ hơn.

            Do những quan hệ trong công việc cũng như làm ăn, buôn bán, v.v… những bữa nhậu chung là cần thiết và thường xảy ra. Gout rượu của dân nhậu ở đây cũng như ở Rạch Giá là Hennessy. Giàu thì uống Hennesssy cổ đen, ít tiền chút đỉnh thì uống Hennessy cổ vàng, bia 33. Ít khi họ uống rượu trắng của ta (rượu đế).  Rất nhiều khi họ uống rượu lễ (Rượu vang của các nhà thờ), rượu nếp than và rượu chuối (Chuối lên men). Món nhậu thì người dân trong kinh (Dân Bắc chính cống) thường dùng thịt chó. Vùng xôi đậu Nam Bắc thì nhậu thịt rắn, thịt gà và nhiều nhất là vịt ta hay vịt Xiêm, vịt Xiêm lai, chuột đồng. Họ không ăn thịt cóc như người Miên hay một số dân Gò Công.

Theo phong tục chung thì người Bắc ít ưa thịt rắn, người Nam ít dùng tiết canh. Về Cái Sắn, người ta thấy một sự pha trộn khôi hài. Bây giờ, người Bắc nấu cháo rắn thì “hết sẩy”, và người Nam làm tiết canh, thường là tiết canh vịt không ai bằng. Có nghĩa là vì những bữa nhậu chung, họ họp nhau lại nấu nướng, học hỏi nghề của nhau, và “cướp” nghề của nhau một cách tài tình.

            Tôi từng thấy vài bà già người Nam bán rắn còn sống ở chợ. Dĩ nhiên đó là loài rắn độc. Trong cái lồng sắt, mấy con rắn nằm khoanh tròn, lim dim ngủ. Có người đến mua rắn, đưa tay chỉ chỏ, chọn con nầy, con kia. Xong, bà già mở nắp lồng sắt. Mấy con rắn ngóc đầu lên. Bà già đưa tay nắm lấy cổ con rắn khách chọn, lôi cổ nó ra. Tay kia, bà cầm một cây kim may loại lớn, có sẵn sợi chỉ dài. Bà già xỏ xim ngang qua mỏ con rắn, may lại, làm cho con rắn không mở miệng ra được, không thể cắn ai. Con rắn bị may quăn mình lại, quấn quanh tay bà già. Xong, bà ta bỏ con rắn vào một cái giỏ tre nhỏ, đậy nắp lại, đưa cho người mua và tính tiền. Nếu là người không quen, sẽ thấy khiếp! Cả một bầy rắn ngóc đầu lên khi bà già thọc tay vào. Vậy mà không con nào cắn bà ta? Tôi cũng chưa từng nghe ai đi bán rắn mà bị rắn cắn chết. Người ta nói họ có bùa?!

            Việc người bắt rắn hay bán rắn có bùa chỉ là điều nghe nói. Họ là người Nam hay người Việt lai Miên, người Tàu lai Miên, (Đầu gà đít vịt). Những người tôi quen biết, chưa ai thấy cái bùa đó bao giờ nhưng người ta cũng tin có bùa. Miền Tây là vùng được gọi là Khmer Krom, các chúa Nguyễn cho dân vỡ hoang, khai thác rồng lúa, v.v…. Ở đây có người Miên, xứ Miên là xứ sở của bùa phép, nổi tiếng nhứt là bùa cà-tha.

Thật ra, miền Tây là vùng đồng lầy nên có rất nhiều loại bò sát: Rắn, rùa, cần đước, trăn, lươn, v.v… Tới “mùa nước nổi”, rắn không ở hang được. Chúng bò lên cây, nhất là loại rắn ri-ta, bò lên những cây cao. Người ta đi bắt rắn không bằng bùa mà bằng khoèo. Cây khoèo là cây sào dài, đầu có móc sắt. Móc sắt kẹp vào cổ rắn, khiến con rắn không thoát được. Khoèo được con rắn, người ta bỏ vào giỏ sắt hay giỏ tre. Định cư lâu ở miền Nam, người Bắc di cư bắt rắn bằng khoèo cũng rất tài tình.

Ở dinh điền Cái Sắn tìm không ra Việt Cộng. Như tôi đã trình bày, bí thư huyện Châu Thành B là Ba Kiếm. Y chỉ có tên trong hồ sơ trận liệt, còn y thì chết mất đất từ hồi nào, không tin tức, không ai hay biết gì về y; hồ sơ không cập nhật được.

Người Nam không theo Việt Cộng, cũng không ưa Việt Cộng. Người ta chỉ muốn yên ổn làm ăn nên ngán Việt Cộng vì Việt Cộng chỉ là bọn… quấy rối!

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 24 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 2 Dec 2023

Bài 26

Phát triển một chiều

So với các vùng quê khác ở Miền Tây Nam Bộ, đời sống dân vùng Cái Sắn cao hơn thấy rõ, từ cách sinh hoạt, ngôn ngữ, tôn giáo v.v… tuy bên cạnh đó, có những sự việc, những nhân vật có những hành vi khá đặc biệt, làm cho người dân bất mãn không ít.

 Sở dĩ họ có đời sống cao là nhờ ba yếu tố: Xã hội, tôn giáo, giáo dục.

 Về miền Tây, ở những làng mới hình thành trong vài ba trăm năm trở lại đây, vì dân làng là dân lưu tán mới tụ lại, phong tục tập quán chưa định hình, hoàn chỉnh, đó là chưa nói tới cách sinh hoạt và tư tưởng còn hủ lậu, mê tín dị đoan nên có nhiều điều xấu xảy ra.

Cái Sắn thì khác. Dân Nam địa phương, có tính ưa cờ bạc là điều đáng chê trách. Tuy nhiên, vùng Cái Sắn trước kia cũng không phải là vùng hoang dã, dân cư thưa thớt, mà lại là vùng làng xã từng hình thành, từng tiếp xúc với hoàn cảnh sống văn hóa cao hơn, nhất là đạo Phật của dân chúng vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá. Dân chúng thờ phượng ông bà, tổ tiên, phật thánh và biết “tu hiền” (Tiếng thường dùng ở địa phương) nên không có gì gọi là hủ lậu. Bên cạnh đó, người di cư từ Bắc vào Nam, trong cuộc hành trình trốn chạy Cộng Sản, họ mang theo cả phong tục, tập quán, lề thói, do tổ tiên xây dựng lâu đời, nên trong đời sống tinh thần, họ có nhiều điểm đáng ca ngợi.

Điều đáng lưu ý ở đây là người Bắc biết trọng sự học hơn nên về mặt học vấn, nhìn chung con cái họ có nhiều người thành đạt.

Khi thành lập khu dinh điền chính quyền đã không quên mở trường để cho trẻ em được cắp sách đi học. Ban đầu, trường tiểu học được mở ra ở quận, ở xã. Trong mỗi kinh, tương đương với mỗi ấp chỉ có trường sơ cấp.

Nhờ dân chúng trong khu dinh điền biết trọng sự học, số lượng học sinh càng ngày càng đông, trường ốc không đủ, các linh mục ở mỗi kinh mở thêm trường tư dạy học. Công việc tiện lợi cả hai mặt. Học sinh không phải đi xa, thường bằng ghe xuồng nguy hiểm, nhà chung thâu học phí. Trẻ em học tiểu học ngay tại kinh, lên trung học mới học ở trường quận hay trường tư ở ngoài trục lộ.

Đến đầu thập niên 1970, trường trung học quận đã mở đến cấp ba (Đệ nhị cấp), nhưng chưa có lớp 12, và trong mỗi kinh, như đã nói, mỗi kinh tương đương với mỗi ấp, đã có trường trung học.

Trường trung học lâu đời nhất có lẽ là “trường của cha Uyển”, – Linh mục Nguyễn Thượng Uyển ở kinh 6 Rọc Bà Ke, bên cạnh trục lộ Long Xuyên – Rạch Giá. Những học sinh cũ của trường nầy, trước 1975, đã có người tốt nghiệp đại học, hoặc vào quân đội, lon lá lên tới cấp tá, một số là phi công. Sân bay ở quận, nhiều khi bỗng nhiên có máy bay trực thăng đáp xuống: Phi công về thăm nhà. Trước khi đáp xuống, họ cho máy bay lượn quanh nhà. Có nghĩa là họ sắp về thăm. Người nhà đem xuồng ra quận lỵ đón họ về nhà ở trong kinh.

Về giáo dục, việc tranh chấp tôi phải phân xử là giữa một người bạn học cũ của tôi, anh Khôi. Tôi biết anh ấy khi anh vào Đại Học Sư Phạm Huế, ban Cấp Tốc (1 năm học) năm 1958. Không rõ do đâu, anh ta được bổ nhiệm về làm hiệu trưởng trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Kiên Tân. Một số giáo sư ở đây, nguyên là học sinh cũ của trường, nay tốt nghiệp đại học sư phạm, về dạy trường cũ, không chịu để cho một giáo sư trung học đệ nhất cấp (Sư phạm một năm) làm hiệu trưởng một trường cấp ba. Đó chỉ là lý do họ đưa ra, mục đích là tranh giành chức hiệu trưởng. Mặc dù ngạch trật là điều thiết yếu, nhưng trong ngành giáo dục, nhiều khi người ta trọng những vị lớn tuổi, tuy ngạch trật nhỏ hơn nhưng tuổi tác ngang hàng với thầy dạy của những người trẻ. Có lẽ đó là lý do người bạn tôi được cử giữ chức vụ hiệu trưởng trường nầy. Tuy nhiên, người bạn tôi tốt nghiệp ở Huế, mấy năm trước dạy học ở miền Trung, không phải là thầy dạy trực tiếp của họ nên họ muốn “đảo chánh” ông.

Người Nam, đất rộng dân thưa, đời sống dễ dàng, ít chăm lo tới việc học của con cái. Đến khi người Nam người Bắc ở chung, chịu ảnh hưởng lẫn nhau, xã hội càng ngày càng phát triển, học vấn trở thành nhu cầu cần thiết, lần lần ai ai cũng thấy không thể lơ là việc học, phải lo chăm sóc việc học của chúng. Do đó, nhìn chung, việc học ở vùng nầy phát triển nhanh, học sinh các cấp ngày càng đông, trường học ngày càng nhiều, nhất là trường tư, vì chính phủ không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu giáo dục của dân địa phương.

Một điều không hay là các trường học của các cha ở trong kinh là các “ổ trốn quân dịch”. Nhiều thanh niên, không thấy cái trách nhiệm của mình đối với đồng bào, tổ quốc, lại hèn nhát nên thường không thi hành lệnh động viên. Không có công ăn việc làm, họ xin dạy ở các trường của các cha với giá lương rẻ mạt. Các cha thì ham rẻ, vả lại họ là con chiên trong họ đạo của các cha, các cha khó từ chối khi họ xin việc. Thứ nữa, trả lương cho thầy giáo rẻ thì thu học phí rẻ, học trò dễ theo học, chưa kể nhờ rẻ thì sĩ số càng thêm đông.

Một hôm, cuộc cảnh sát xã Tân Hiệp bắt một thanh niên tội trốn quân dịch. Anh chàng nầy gặp xui. Thông thường, thanh niên khi trốn quân dịch, họ chỉ quanh quẩn ở trong kinh. Các cơ quan chính quyền, kể cả Cảnh Sát, sợ đụng chạm với các cha nên ít khi “hành quân cảnh sát” trong đó. Từ đầu tới cuối kinh, hầu hết là người Bắc di cư cư ngụ, làm gì có Việt Cộng mà hành quân bắt giữ. Lợi dụng tình trạng đó, mấy ông trốn quân dịch cứ ở riết trong kinh, không ló mặt ra khỏi xã, khỏi ấp là an toàn. Anh chàng bị bắt nói trên vì ham chơi, đi theo một con nhỏ nào đó ra chợ Tân Hiệp uống cà phê.

Cha Toàn, chánh xứ họ đạo kinh 3, kiêm hiệu trưởng trường trung học kinh 3 của cha, ra gặp tôi xin trả tự do cho người bị bắt. Anh ta cũng là thầy giáo dạy ở trường của cha Toàn. Để tránh phiền phức, tôi đã cho giải giao anh ta về tiểu khu Kiên Giang. Cha Toàn giận tôi, ông ta bảo: “Thầy giáo của tôi đấy, ông làm sao thì làm.” Tôi thấy bực mình. Tôi chưa truy tố cha về tội “tán trợ bất phục tòng”. Anh ta trốn quân dịch, sao cha dám cho anh ta dạy học ở trường của cha. Vậy mà ông ta còn dọa tôi!?

Có điều đáng buồn, ra khỏi khu vực Dinh Điền Cái Sắn, tới xã Mông Thọ sát bên cạnh, việc giáo dục không được phát triển và chăm sóc như vậy.

Về tôn giáo, tình hình ở đây khá phức tạp. Đối với đạo Hòa Hảo, việc tu tập của quần chúng tín hữu không có gì đáng nói nhưng với hàng “chức sắc” là cả một vấn đề rắc rối. Tại quận lỵ, tín đồ Hòa Hảo có một ngôi chùa, dân chúng sinh hoạt bình thường, lui tới đông đảo. Những ngày vía lễ, chùa khói hương nghi ngút.

Nhưng chức sắc thì chia làm ba phe, phe nào cũng muốn giành ngôi chùa cho mình. Ba phe đó là: Phe ông Lương Trọng Tường, phe ông Lê Quang Liêm, phe ông Lê Trường Sanh. Mấy ông này lập phe ở trung ương của họ, – ở Long Xuyên – Ở Kiên Tân là những người theo phe của ba ông ấy, nổi tiếng nhất là ông Lê Minh Châu, người theo phe ông Lương Trọng Tường.

Lê Minh Châu có lần tụ tập phe nhóm của ông đông đảo, rồi “chiếm chùa.” Sợ các phe kia tới chiếm lại, ông cho đem lựu đạn vào chùa “phòng thủ”. Cũng may, việc quăng lựu đạn, giết nhau chưa xảy ra. Các phe kia bị lấy mất chùa, bèn thưa kiện lung tung. Nhờ thiếu tá quận trưởng Huỳnh Đầm Sắn cũng là người theo đạo Hòa Hảo nên ông mời mọi người vào quận đường để dàn xếp. Ba phe thỏa thuận thành lập một “Ban Tế tự”, coi việc thờ phượng trong chùa. Quyền lợi ba phe ngang nhau, không phe nào được chiếm chùa.

Tuy vậy, phe Lê Minh Châu thỉnh thoảng lại chiếm chùa để cho bọn trốn quân dịch vào ở trong đó. Dĩ nhiên, tấn công hay lục soát chùa là một vấn đề hết sức phức tạp và dễ bị thưa gởi, cấp trên khiển trách, nên không ai tính tới việc đem lực lượng an ninh kiểm soát chùa.

Trong chùa không có giếng nước nên các thanh niên trốn trong chùa phải ra khỏi chùa, băng qua đường cái để xuống kinh lấy nước hoặc tắm rửa. Các Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi mặc đồ dân sự, núp ngoài chùa. Tên trốn quân dịch nào ra khỏi chùa đều bị tóm cổ. Bọn trẻ sợ hãi bèn bỏ đi. Việc chiếm chùa của Lê Minh Châu giải quyết xong.

Khoảng đầu năm 1974, Hai Ngoán, cánh tay mặt của Lương Trọng Tường thành lập cái gọi là “Tổng Đoàn Bảo An”, là một lực lượng quân sự và chính trị để chống Cộng Sản nhưng không dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của chính phủ trung ương. Người ta đồn phía sau việc thành lập lực lượng nầy có “bàn tay lông lá” – Cũng chỉ là lời đồn đãi.

Vài đơn vị Địa Phương Quân gốc giáo phái Hòa Hảo thuộc tiểu khu Long Xuyên, tăng cường hoạt động ở các tỉnh bên cạnh, có lần “đụng trận” báo cáo tổn thất 100%. Thực ra, vũ khí và máy móc truyền tin của các đại đội nầy lén đưa về Long Xuyên để trang bị cho các lực lượng thuộc Tổng Đoàn Bảo An.

Tại Kiên Tân, Lê Minh Châu tự ý dựng ngay một tấm bảng trước cổng chùa viết là “Quận Đoàn Bảo An Kiên Tân”. Chính quyền phải khuyến khích các phe phái khác, căn cứ vào bản cam kết việc thành lập ban tế tự để dẹp tấm bảng nầy.

Mặc dù có sự chia phe phái như vậy, tín đồ Hòa Hảo họ không theo hẳn phe phái nào.

Những người trước kia từng tham gia lực lượng quân đội Hòa Hảo của Ba Cụt, Năm Lửa… mỗi năm họ gặp nhau nhiều lần tại trụ sở Dân Xã Đảng, một ngôi nhà lá nhỏ, đơn sơ, nằm sâu trong một con hẽm kế quận lỵ, để làm lễ giỗ kỵ các vị tướng tá cũ của họ, nay đã qua đời như tướng Ba Cụt, Năm Lửa, Trương Lương Thiện, v.v….

Họ dựng tại trụ sở một tấm bảng lớn bằng cở tấm bảng đen ở lớp học, trên đó họ chưng đủ hình các vị chỉ huy cũ của họ trước kia. Bây giờ, hàng năm, họ họp mặt tưởng niệm cấp chỉ huy chứ chẳng có hoạt động quân sự, chính trị nào, không gây phiền nhiễu cho chính quyền. Nhìn họ, những người một thời cầm súng chiến đấu trong lực lượng giáo phái, người ta thấy họ chẳng khác gì những người dân chất phác bình thường của đất Nam Bộ, không một chút gì gọi là “dữ dằn” như báo chí thời Ngô Đình Diệm tuyên truyền về họ. Nói về lý tưởng và công trạng chiến đấu chống thực dân Pháp, chống Việt Minh, họ là những người đáng kính, đáng yêu.

Tôi không rõ việc bầu bán dân biểu thời Đệ Nhứt Cộng Hòa ra sao, nhưng thời Đệ Nhị Cộng Hòa, trước cũng như sau khi trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống thì có vẽ tự do đến … lung tung.

Trước hết xin nói tới sự ngưỡng mộ của dân chúng trong khu dinh điền đối với cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong số họ, không ít người tin “Ngô Tổng Thống còn sống”, cho rằng nhứt định “Ngài không chết” như dân chúng ở Tam Tòa (Đà Nẵng) đã tin chắc như thế hồi mới đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tuy nhiên, lòng tôn kính cua họ đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì còn sâu sắc lắm. Điều đó rất dễ hiểu. Dân chúng trong khu dinh điền bây giờ sung túc, khá giả, con cái được học hành đàng hoàng, .v.v… Công lao đó là của ai, nếu không phải là Tổng thống Ngô Đình Diệm? Ông đề ra chương trình Dinh Điền, Khu Trù Mật, đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng nó, giúp đỡ và giải quyết những khó khăn cho Dinh Điền, lại thường đích thân tới thăm viếng, khuyến khích dân chúng trong Dinh Điền.

Người ta có thể thấy việc “Nhớ ơn Ngô Tổng Thống” trong việc trồng hoa vạn thọ. Không hiểu do đâu, bỗng người ta đồn với nhau rằng Ngô Tổng Thống rất thích hoa vạn thọ. Có phải tổng thống thích câu biểu ngữ “Ngô Tổng Thống Muôn Năm”. Vạn thọ cũng có nghĩa là muôn năm. Thời ông Bảo Đại còn làm vua, – làm vua chớ không phải làm quốc trưởng – nhân một dịp “tứ tuần đại khánh” vua hay thái hậu gì đó, bọn học trò lớp đồng ấu chúng tôi được phát quà và tập nói câu “Vạn thọ Vô Cương”. Nghe câu đó, cậu (cha) tôi nói đùa là “Vạn Thọ Vô Cương: Trong xương ngoài nạc”. Vì câu chuyện cũ đó nên tôi bỗng chú ý thấy dân chúng trong kinh, trong sân nhà thờ, nhứt là nhà thờ linh mục Nguyễn Bá Lộc, kinh 1 Cái Sắn, trồng nhiều hoa vạn thọ. Có phải người ta trồng loài hoa nầy để “tưởng nhớ Ngô Tổng thống”? Tổng thống đã qua đời, nhưng hoa vạn thọ thì vẫn còn đó!

Không những hoa vạn thọ còn ngoài sân mà ngay trong phòng khách của cha Lộc. Ở đó, còn có một bức hình rất lớn, lồng kính, treo ngay chính giữa phòng. Hình màu, vẽ lại từ một bức hình chụp, chân dung Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tấm hình vẽ đẹp mà tổng thống, khi chụp bức hình nầy cũng còn trẻ và đẹp trai.

Lần đầu tiên thấy bức hình nầy, tôi nhớ lại một vài ngày sau khi đảo chánh lật đổ và giết anh em Tổng thống Diệm, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng của tướng Dương Văn Minh ra lệnh hạ hết hình ảnh, tượng đài tổng thống Ngô Đình Diệm ở công viên, trong công sở và ngay cả tại tư gia.

Hình như lệnh cấm đó không “phê” (effet) gì tới cứ địa của cha Lộc. Không những thế, tôi còn thấy cha chưng mấy bức hình ông chụp chung với hai ông Tướng Thiệu, Kỳ khi mấy ông nầy “bay” xuống Cái Sắn vận động tranh cử. Hình chụp cha Lộc đứng giữa. Hai ông tướng, một ông là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, một ông thì Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, ông nào cũng mặc đồ lính, lon lá đầy mình đeo sao tùm lum, (ông Kỳ mặc đồ bay), cười toe toét khi đứng bên cạnh cha Lộc. Đó là “Những nụ cười kiếm phiếu.”

Xin nhớ rằng đối với đồng bào trong kinh, và cả những đồng bào gốc miền Nam, không phải dân di cư, sống ở đầu kinh (1) hay dọc theo trục lộ, không phải tín đồ đạo Thiên Chúa, họ cũng kính trọng các cha, nói chung, và bỏ phiếu cho ai nếu cha yêu cầu, vận động cho người ấy, giống như con chiên các cha trong kinh vậy, nhứt là cha Lộc, người có uy tín lớn ở Kiên Tân, và thường hay giảng ở nhà thờ, có kèm thêm phần “phụ diễn” nên bỏ phiếu cho ai khi có bầu bán.

Thông thường, người đắc cử thường là con chiên của cha.

Khi chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa mới hình thành, bầu cử tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, v.v… Hồi đó tôi chưa về Cái Sắn nên không biết trong các buổi lễ vào thứ bảy, chủ nhựt, mấy ông cha, sau khi giảng kinh, có “phụ diễn” phần bỏ phiếu cho ai hay không: Liên danh 9 (Thiệu Kỳ), hay Phan Khắc Sửu, Nguyễn Đình Quát… Về thượng viện thì bầu cho liên danh Sư Tử Cầm Bút, Bông Sen hay Bông Huệ… Nhưng ngay từ đó thì người đắc cử dân biểu ở đây là ông Mại, con chiên của cha Lộc nhà ở đầu kinh 2.

Thế rồi tới cuộc bầu cử năm 1971, ông Nguyễn Tấn Đời, ông chủ Thần Tài Tín Nghĩa Ngân Hàng thay chỗ ông Mại.

Sao kỳ vậy?

Có gì kỳ đâu!

Ông Nguyễn Tấn Đời đâu phải là tín đồ đạo Thiên Chúa như thông thường những người đắc cử ở đây. Ông Đời cũng không phải là dân địa phương. Hỏi thêm nữa, cha Lộc vận động cho ông Đời ghê lắm, bỏ nhiều công sức cho ông Đời đắc cử.

Nếu không có cha Lộc, dân chúng, nhất là đồng bào trong kinh biết ông Đời là ai! Họ làm ăn khá giả, có tiền thì… mua vàng đem cất, chẳng thèm biết ngân hàng là cái gì thì làm sao biết Tín Nghĩa Ngân Hàng hay ông Thần Tài Tín Nghĩa. Trong chiều hướng đó, chắc chắn đồng bào không biết ông Đời là cha căng chú kiết nào để mà bầu ông ta làm đại biểu cho họ ở quốc hội.

Tình cờ, một hôm đi công tác ngang nhà ông Mại, tôi vào thăm ông ta. Lúc ấy tôi vẫn không biết tại sao ông Mại, cựu dân biểu, tranh cử lại thua ông Đời, người không phải là dân địa phương.

Ông Mại không có một lời than phiền cha Lộc, chỉ nói với tôi một câu: “Thôi đừng nói tới cha Lộc nữa.” Tôi nghĩ ông ta oán cha Lộc lắm. Có gì đâu: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” như tuc ngữ thường nói vậy thôi! Nhưng tôi biết một việc khá quan trọng: Lúc ấy cha Lộc đang xây lại nhà thờ kinh 1 của cha. Nhà thờ rất lớn. Dĩ nhiên, cha cần phải có tiền!

(1) Cách phân chia đất ở dinh điền như sau: Phía đầu mỗi kinh, chỗ “dàm” (ngã ba) nối liền với kinh Long Xuyên – Rạch Giá, đi sâu vào khoảng nửa Km thì ưu tiên dành cho người địa phương, người Miền Nam. Sau phần đất ưu tiên dành cho người miền Nam, đi sâu vào giữa tới cuối kinh là khu dành cho người di cư. Dọc theo trục lộ xe hơi, đất của ai nấy xử dụng, việc mua bán đất ở khu vực nầy được tự do.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 24 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 2 Dec 2023

Bài 25

 Những tư tưởng lớn…

(Dinh Điền, Khu Trù Mật của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Minh Đạo của Hồ Hữu Tường và Trại Ruộng của ông Đoàn Minh Huyên)

            Từ Côn Đảo về, được tha sau vụ đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, ông Hồ Hữu Tường viết một loạt bài đăng trên báo Bách Khoa của ông Huỳnh Văn Lang, nhan đề là “Trầm Tư Của Một Người Tội Tử hình”. Loạt bài nầy sau được in thành sách, lại nhan đề là “Minh Đạo”.

May mắn tôi đã đọc loạt bài ấy khi đang đăng nhiều kỳ trên Bách Khoa. Khi nó được in thành sách, tôi lại mua và đọc một lần nữa. Tôi nghĩ rằng điều ông Hồ Hữu Tường gọi là “trầm tư” quả thật là những tư tưởng mới mẻ, sáng suốt, và là con đường phát triển Nông – Công nghiệp nước ta, làm cho đất nước phát triển và giàu mạnh. Những nước nông nghiệp ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, muốn cho đất phát triển thì con đường “Minh Đạo” còn con đường hữu hiệu và đạt kết quả nhanh chóng.

Hồi bấy giờ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa mới sụp đổ, trong cái nhìn chung và hời hợt của nhiều người không thiếu định kiến xấu về chế độ đó, nên những chương trình như “Ấp Chiến Lược”, “Dinh Điền”, “Khu Trù Mật”, khu Kỹ Nghệ Biên Hòa…, bất cứ cái gì Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng đều không… tốt; trong khi những chính phủ mới, không có chính phủ nào tồn tại được lâu vì những cuộc đảo chính, “biểu dương lực lượng” liên tiếp xảy ra.

Chính phủ tồn tại không lâu thì không có chương trình, kế hoạch nào lớn, lâu dài được đem ra áp dụng. Hơn thế nữa, các nhà lãnh đạo đất nước hồi ấy cũng chẳng có chương trình gì cả. Ngay cả ông Nguyễn Ngọc Thơ, khi được Dương Văn Minh mời làm thủ tướng Chính Phủ Cách Mạng. Trong một cuộc họp báo, báo chí hỏi chương trình cách mạng của chính phủ ông là gì, ông Nguyễn Ngọc Thơ chỉ vào bụng ông, nói: “Chương trình cách mạng ở đây.” Có lẽ ông muốn nói tới câu của người xưa: “Binh giáp tàng hung trung”.

            Thế rồi tôi cũng lăn lóc theo dòng đời, mãi đến năm 1972, khi tôi về Cái Sắn, nhìn quang cảnh dinh điền nầy, thấy đời sống dân chúng sung túc, giàu có, ngoài mặt thì tôi hỏi đùa bà con nông dân “Sao? Còn muốn lấp sông Bến Hải, trở về đất Bắc nữa không?” Dĩ nhiên ai cũng cười và lắc đầu. Nhưng điều tôi lấy làm ngạc nhiên là tại sao Dinh Điền Cái Sắn nầy được thực hiện y như trong “Trầm Tư Của Một Người Tội Tử Hình” của Hồ Hữu Tường?

Cái ý niệm về việc thiết lập những khu dinh điền, khu trù mật như thế nầy, ông Ngô Đình Diệm (và kể cả ông Nhu) được gợi ý từ đâu, trong sách vở nào? Có phải khi nằm ở Côn Đảo, ông Hồ Hữu Tường mới có cái “trầm tư” nầy hay ông đã có từ trước khi ông bị tù. Có thể nào anh em ông Diệm đã biết được cái tư tưởng của Hồ Hữu Tường từ trước, hay hai anh em ông tìm tòi trong những sách vở khác và “Những tư tưởng lớn gặp nhau”? Tại sao việc hình thành dinh điền, khu trù mật lại giống như việc thực hiện tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường? Cho đến giờ, tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời cho sự trùng hợp nầy!

Tuy nhiên, trong tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường, việc hình thành các khu kinh tế chỉ nhắm vào mục đích phát triển kinh tế Công-Nông nghiệp là chính, trong chương trình dinh điền của anh em ông Diệm, nó còn có vai trò chiến lược quân sự. Do đó, khi Cộng Sản miền Nam càng lúc càng mạnh thì dinh điền, khu trù mật là những mục tiêu đánh phá của chúng. Việc đánh phá đó có mục tiêu chiến lược hơn là chiến thuật.

Cứ nhìn những vị trí Dinh Điền, khu Trù Mật, hay khu định cư của người Miền Bắc di cư, người ta có thể thấy vị trí chiến lược của những khu ấy.

Ví dụ 1:

Khu định cư Xóm Mới là nút chặn quân Cộng Sản từ An Phú Đông vào Saigon. Hồi chiến tranh chống Pháp (1945-54), từ An Phú Đông, qua ngã Xóm Mới, du kích Việt Minh xâm nhập tới Phú Nhuận. Anh rể tôi, dân Saigon chính cống, trước 1954 còn đi học và… đá banh, kể lại có lần Việt Minh ám sát người quốc gia ngay tại một sân đá bóng nhỏ ở Phú Nhuận. Giết người xong, bọn chúng rút lui theo ngã Xóm Mới về An Phú Đông.

Ví dụ 2:

Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, La Ngà, Định Quán là nơi Việt Minh thường phục kích binh lính Pháp và Quân Đội Quốc Gia. Nhờ khu định cư Giốc Mơ, Gia Kiệm, Định Quán, La Ngà,… trong cuộc chiến tranh chống Cộng Sản Bắc Việt xâm luợc, quân Cộng Sản không thực hiện những việc chúng đã làm như trong cuộc chiến tranh trước.

Như trong quá trình lịch sử chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã cho thấy, vùng nầy có tính cách chiến lược quân sự nên sau 1975, để ngăn ngừa hoạt động quân sự của các tổ chức “Phục Quốc”, mặt khác Việt Cộng lại còn sợ đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở đây giúp đỡ, tiếp tế… cho “Phục Quốc”, bọn chúng lập các trại cải tạo Xuân Lộc, Xuyên Mộc, “khai thác trắng” (tức là phá hết rừng) từ Trị An, đến Sóc Lu, Gia Kiệm, Định Quán qua tới Xuân Lộc, Chứa Chan, Long Khánh để “Phục Quốc” không thể lập căn cứ, hoạt động được. Do đó, về mặt quân sự thì có lợi cho Cộng Sản nhưng về kinh tế và môi sinh, thì cả một vùng rộng lớn như thế, bị đốn hết cây rừng, sự di hại không thể nói hết được.

Trên chỉ là một vài ví dụ. Quí độc giả có thể tìm hiểu thêm qua vị trí những khu Trù Mật, khu định cư khác như khu Bắc Đậu ở Gia Nghĩa, (Đắc-Nông), Bảo Lộc, Bình Giả ở Phước Tuy, ở Hậu Nghĩa, ở Tây Ninh, v.v…

Trở lại việc tìm hiểu vị trí của Dinh Điền Cái Sắn, như tôi đã trình bày trước, trong chiến tranh chống Pháp, quân đội Việt Minh di chuyển một cách dễ dàng từ Kampuchia qua mật khu Trà Tiên, theo kinh Kháng Chiến về Cái Sắn, rồi vượt LTL 8A mà đi về U-Minh hoặc di chuyển ngược lại.

            Việc thành lập khu Dinh Điền Cái Sắn như một cái rào cản vững chắc, kín, một “con muỗi Cộng Sản” cũng không lọt qua, nói chi tới những toán quân đông đảo, vũ khí kềnh càng. Toàn bộ điểm vượt tuyến dài hơn 70 Km trên LTL 8A chỉ còn một nút thắt họng tại ấp Hòa Bình, xã Mông Thọ, quận Kiên Tân, thường gọi là Cây Số 15. Quân Cộng Sản cố sống cố chết vượt qua cái nút thắt họng nầy như tôi đã trình bày ở các bài trước.

Trước 1958, năm khu Đinh Điền được thành lập, vùng nầy được người dân địa phương gọi là “Vùng Nước Nổi”, có nghĩa là khi tới mùa nước sông Hậu lên cao thì toàn bộ đất đai bị ngập nước, mênh mông những nước là nước. Chỉ những nhà cửa dân cư dọc theo hai bên LTL 8A mới không bị ngập vì người dân đắp nền cao. Ngay cả LTL 8A nhiều năm nước lên cao hơn bình thường, vẫn bị ngập, xe cộ không lưu thông được.

            Trước khi thành lập khu dinh điền, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hồi ấy đã cho đào những “kinh ngang” (như bậc ngang của một cái thang, nối liền hai kinh lớn, nằm dọc là kinh Cái Sắn (Từ Hậu Giang vào tới thị xã Rạch Giá) và Kinh Núi Sập, nối từ Hậu Giang với kinh Rạch Giá Hà Tiên rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Những kinh ngang nầy cách nhau 2Km, được đặt tên theo vần chữ cái A, B, C…. và theo số 1, 2, 3, 4… Từ kinh B, – ranh giới hai tỉnh Long Xuyên và Kiên Giang, trở về hướng Rạch Giá (thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang) có kinh A, kinh 1, 2, 3, 4… Từ kinh B trở ra hướng Long Xuyên thì có kinh C, D, E, F, G, H. Nói chung, khu dinh Điền Cái Sắn kéo dài từ xã Vĩnh Trinh, quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, gần “Ngã Ba Lộ Tẻ”, tức là chỗ bắt đầu LTL 8A, LTL 9 (đi Châu Đốc), LTL 27 (đi Cần Thơ), kéo dài tới xã Mông Thọ ở phía bắc thị xã Rạch Giá. Chiều dài dinh điền Cái Sắn, kể dọc theo LTL 8A là khoảng 70Km. Bề ngang từ kinh Núi Sập tới kinh Cái Sắn là 12Km. Kinh Núi Sập và kinh Cái Sắn được đào từ thời kỳ Pháp đô hộ. Khoảng cách giữa hai kinh nầy là 12Km. Khi thành lập khu dinh điền nầy, chính quyền Ngô Đình Diệm cho đào thêm một kinh ở giữa hai kinh ấy, cách mỗi bên là 6Km, thường gọi là kinh Đòn Dông để việc tháo nước xã phèn cho vùng Cái Sắn được nhanh hơn. Trên hướng Long Xuyên – Rạch Giá, vùng tôi vừa nói là ở phía tay mặt. Phía trái, cũng là khu dinh điền, nhưng dân chúng ở thưa thớt hơn, không phồn vinh như phía phải, lẫn lộn những kinh do chủ điền đào trước 1945 như kinh Rọc Bà Ke, kinh Thạnh Tây, kinh Đông Bình và những kinh mới đào khi thành lập dinh điền như kinh Tân Hiệp, kinh 10, kinh 8, v.v… Việc đặt tên lộn xộn, không thứ tự như phía tay phải. Vùng nầy cũng có kinh Giữa (Thay vì gọi là kinh Đòn Dông). Những kinh nầy dẫn nước ra kinh Cái Bé, có khi còn gọi là kinh Thốt Nốt, thuộc địa phận Long Xuyên, ngang qua địa phận dinh điền Thới Lai, Cờ Đỏ của Tây hồi thuộc địa.

Trước 1945, vùng nầy rất phát triển, vừa trồng lúa vừa giao thông bằng ghe thuyền vì hồi đó xe cộ không nhiều, thường người dân di chuyển, vận tải hàng hóa bằng ghe. Điểm hội tụ của 6 con kinh là ở Thuận Trung, thuộc tỉnh Phong Dinh cũ là nơi buôn bán, trên quán, dưới thuyền ghe, rất tấp nập.

            Dân di cư từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, v.v… được đưa về dịnh cư ở khu dinh điền nầy. Thật ra, từ Bắc vô Nam, thấy đời sống miền Nam dễ dàng, no đủ, không ai muốn về vùng “đồng chua nước nổi”, “nắng bụi mưa bùn” nầy làm gì. Tuy nhiên, hầu hết họ là người theo đạo Thiên Chúa, các linh mục khuyến khích họ về nên họ nghe theo. Phần đông, khi ở miền Bắc, họ là nông dân nên cũng muốn về đây làm ruộng. Nhiều gia đình sống “hai chân”. Phần đông gia đình trụ lại Saigon, vợ buôn bán sống qua ngày, tiện cho con cái đi học. Chồng và con trai lớn về dinh điền, nhận đất, nhận ruộng và … lảnh đồ “Mỹ quốc Viện trợ”.

            Tình hình lúc ban đầu rất chán nản. Tới mùa nước nổi, nước tràn lan khắp cả, ngoại trừ cái giường, cái bếp trong gian nhà tôn nhỏ bé mà vật liệu làm nhà là do chính phủ cấp phát. Mùa nầy kéo dài bốn, năm tháng, người nông dân không làm ăn gì được.

Tới mùa khô, nông dân ra đồng đốt rẩy, bắt rùa, rắn, cá, tôm ê hề, làm thịt phơi khô đem về cho vợ con ở Saigon. Tuy nhiên, mùa khô cũng là mùa nóng dữ dội. Không ít người làm biếng, khi ra đồng tìm bóng cây ẩn núp và … đánh bài. Hồi ấy chưa có máy cày, chính quyền Ngô Đình Diệm nhập trâu Murat ở Ấn Độ đem về phát không cho nông dân. Lại cũng có người đập cho trâu què chân để xin mổ thịt. Nông dân miền Bắc khoái ăn thịt trâu hơn thịt bò.

            Chính quyền Ngô Đình Diệm đặc biệt chú trọng các chương trình dinh điền, khu trù mật để ổn định gần một triệu người miền Bắc di cư, coi đó như là một quốc sách nên sau khi giải tán Phủ Tổng Ủy Di Cư thì thành lập Phủ Tổng Ủy Dinh Điền, đặc trách về chương trình khu dinh điền, khu trù mật.

Khi người nông dân đến vùng đất mới, chính quyền không “đem con bỏ chợ”. Họ được giúp đỡ nhiều mặt: “tôn”, ximăng, sắt để làm nhà, làm đường, làm cầu, xây trường học, trạm y tế… và gạo, tiền. Khu dinh điền Cái Sắn hồi mới thành lập đã có nhà máy điện, có dựng cột đèn dọc theo trục lộ.

            Mỗi nông dân được cấp 3 mẫu ruộng: Bề ngang (dọc theo bờ kinh rộng 30mét, kéo dài tới khoảng giữa của hai kinh là 1Km. Hồi 1972, giá mỗi mẫu ruộng ở đây là khoảng trên 500 ngàn đồng Việt Nam Cộng Hòa. Nhìn chung, mỗi gia đình có một tài sản ít nhất là 1 triệụ 500 ngàn, chưa kể trị giá căn nhà, vườn cây quanh nhà và gia súc, v.v…

            Vai trò của các linh mục ở mỗi kinh (tương đương với 1 ấp) là rất quan trọng. Khi người dân dinh điền thiếu thốn cái gì chính đáng, nhất là xi măng, tôn, gạo… thì các linh mục đi xin (nói theo địa phương). Có khi họ lên ngay phủ Tổng Ủy Dinh Điền hay phủ Tổng Thống xin giúp đỡ. Có người nói với tôi: “Không có các cha thì người dân đã bỏ đi hết rồi”. Suy nghiệm với vai trò các tu sĩ mà ông Hồ Hữu Tường nói trong Minh Đạo, tôi lại càng khâm phục viễn kiến của tác giả.

Trại Ruộng là gì?

Tôi cứ nghĩ tôi viết như trên là xong, ai ngờ có điều lý thú hơn:

Mấy lâu nay, đọc mấy tờ báo của Phật giáo Hòa Hảo Hải ngoại, kể cả trên các web site, tôi thắc mắc không hiểu tại sao một số bài viết về lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, họ chỉ kể từ khi Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo mà thôi. Vậy thì thời gian trước nữa để chi, và vai trò ông Đoàn Minh Huyên trong công việc củng cố và truyền bá đạo Phật ở miền Tây Nam Bộ hồi giữa thế kỷ 18, cũng như việc ông thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Huơng, tiền thân của đạo Phật Hòa Hảo, bỏ qua sao được?!

            Khoảng năm 1969, sau khi thuyên chuyển về phục vụ cho bộ chỉ huy binh chủng Thiết Giáp ở Saigon, một lần tôi tới liên lạc công việc với Cục Quân Huấn ở trong khu doanh trại Lê Văn Duyệt, tình cờ tôi thấy có một cuốn sách nhan đề hình như là “Lịch Sử các tôn giáo Việt Nam” để trong kệ sách, dành cho những người phục vụ trong đơn vị đọc hay nhiên cứu. Cuốn sách có lẽ được in sau thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng trước năm 1968, năm tôi nhập ngũ, ít ra cũng vài năm. Sách của Cục Quân Huấn in và phát hành. Nếu sách mới in thì thế nào tôi cũng kiếm được một cuốn vì sách cơ quan nầy in ra, thường được phát không cho các đơn vị, nhất là các đơn vị trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu. Thấy cuốn sách lịch sử, tôi thích lắm. Nhưng trên kệ chỉ còn một cuốn độc nhứt, xin thì chắc không được, mà mượn có lẽ cũng không xong. Nhìn tới nhìn lui, tôi thấy cô nữ quân nhân phụ trách ở đây đang nói cười vui vẻ khi anh bạn đi cùng tôi đang tán cô ta, tôi liền nhân cơ hội, “chôm” cuốn sách bỏ vào túi quần treillis, đem về. Nếu bị bắt tại trận đang ăn cắp sách, có lẽ ông đại tá Cao Đăng Tường, cục trưởng cũng không nỡ nặng tay với một người mê sách như tôi. Tôi hy vọng như thế.

            Đem cuốn sách về đọc, tới phần lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, tôi biết thêm về sự tích ông Đoàn Minh Huyên, mà trước đó, tôi chỉ thấy xuất hiện đâu đó tên ông với vài ba dòng, không rõ ràng gì cả.

Thật ra, công trạng của ông Đoàn Minh Huyên đối với dân chúng miền Tây Nam Bộ lớn lắm, ơn nghĩa của ông ta cũng lớn lắm, nên dân chúng nhắc tới ông không ít, và cũng từ đó mà nảy sinh nhiều huyền thoại về ông.

Ông Đoàn Minh Huyên là một nhà truyền giáo, một nhà đạo đức, một nhà khai sáng tôn giáo, một ông thầy thuốc cứu nhân độ thế, cứu giúp hàng ngàn người khỏi chết, và một nhà kinh tế chiến lược về nông nghiệp, mà “Trầm Tư của một người tội tử hình” của ông hồ Hữu Tường hay chương trình dinh điền khu trù mật của tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ là kẻ đi sau. Chương trình của ông Ngô Đình Diệm có thành công, thì vai trò “Viện Trợ Mỹ” không phải là nhỏ.

Chương trình “Trại Ruộng” của ông Đoàn Minh Huyên chỉ là “tự lực cánh sinh”. Trong khi đó, sáng kiến của ông Đoàn Minh Huyên đi trước thời đại ông Hồ Hữu Tường, ông Ngô Đình Diệm khoảng một trăm năm.

Để rõ ràng hơn, tôi xin trình bày về lai lịch ông Đoàn Minh Huyên.

Đoàn Minh Huyên sinh ngày 14 tháng 11 năm 1807 – mất ngày 10 tháng 9 năm 1856, là người sáng lập ra giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, thường được các tín đồ và dân chúng miền Tây Nam Bộ, gọi tôn ông là “Đức Phật Thầy Tây An”.

Ông tên thật là Đoàn Văn Huyên (Minh Huyên là pháp danh), đạo hiệu: Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng, tỉnh Sa Đéc.

Những năm đầu đời Tự Đức, vùng Cái Tàu Thượng (Một nhánh kinh bên tả ngạn sông Hậu, thuộc Sadec sau nầy, bị mất mùa, và bị bệnh dịch tả lớn, hàng ngàn người chết, không kịp chôn. Đêm tối dân chúng không dám ra khỏi nhà, gà không gáy, chó không sủa. Đúng là một vùng lặng thinh, đất chết.

Ông Đoàn Minh Huyên đi thăm bệnh, cho thuốc. Theo dư luận thì ông có bùa phép vì thuốc của ông cho chỉ là than tro và nước lã. Vậy mà ông đẩy lui được bệnh dịch, trong khi quan quân chỉ ngồi khoanh tay mà coi dịch tả hoành hành.

Từ chỗ có công chữa bệnh cứu người, được uy tín, dân chúng ngưỡng mộ, ông bèn bắt đầu đi thuyết giảng đạo Phật, chính yếu là nhắm vào thực tế, điều nhân nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ anh em, kính thờ Trời Phật.

Người theo ông càng ngày càng đông, ông bèn thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông dựng chùa thờ Phật, tập trung dân chúng thành nhiều vùng, giúp nhau khai phá đất đai, làm ruộng, gọi nôm na là Trại Ruộng.

Các Trại Ruộng nổi tiếng gồm có:

Trại Ruộng vùng Cần Lố (Đồng Tháp Mười) vùng Láng Linh, vùng núi Két (thuộc Thất Sơn), sau thành ra hai làng Hưng Thới, Xuân Sơn; vùng Cái Dầu.

Vì có công chữa bệnh cho dân và hướng dẫn dân chúng trong việc hợp tác giúp nhau khai khẩn đất hoang làm ruộng, lại truyền bá đạo Phật nên uy tín của ông ngày càng lớn, khiến quan quân triều đình lo ngại. Ông bị bắt giam nhưng không xử tội ông được vì việc làm của ông không trái với luật pháp triều đình nên ông lại được thả ra. Tuy nhiên, chính quyền cũng buộc ông vào tu ở chùa, không được lang thang qua nhiều vùng như trước. Ông về sống ở chùa Tây An, sau nầy gọi là Tây An Cổ Tự ở An Giang. (1)

            Sau khi Pháp chiếm Nam Bộ, trại ruộng Láng Linh trở thành nơi kháng chiến chống Pháp rất quyết liệt.

Đạo Phật Hòa Hảo do Huỳnh Phú Sổ khai đạo, là đời thứ tư do ông Đoàn Minh Huyên chuyển kiếp cho Phật Trùm, Ngô Lợi, Sư Vãi Bán Khoai và Đức Thầy (HPS) để giáo hóa chúng sanh nên chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của tông phái Bửu Hương Kỳ Sơn, lấy đạo Phật làm căn bản, tu hiền, và gìn giữ bảo trọng Tứ Ân, thường gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Tứ Ân gồm có:

1.Ân tổ tiên cha mẹ;

2.Ân đất nước;

3.Ân Tam Bảo;

4.Ân đồng bào và nhân loại (với kẻ xuất gia thì ân đàn na thí chủ).

Phụ lục:

            Một vài nhân vật đặc biệt, tiền thân của Phật Giáo Hòa Hảo (Trích từ Wikipedia):

Phật Trùm (? – 1875) tên thật: Tà – Pênh, người Việt gốc Khmer, ở ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ông được tín đồ các giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hòa Hảo gọi tôn là Phật Trùm.

Từ nhỏ đến lớn, Phật Trùm có cuộc sống như một người bình thường, có vợ và 4 người con gái. Là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An tức Đoàn Minh Huyên, là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm).

Từ đấy, Phật Trùm bắt đầu giảng giáo lý toàn bằng tiếng Việt. Bà Néang-Suông xưng là cháu chắt Phật Trùm cho biết ông có để lại một cuốn Kinh bằng tiếng Việt, nhưng Tà-Sao là cháu của Phật Trùm đã đem nạp cho Pháp.

Và cũng tương tự lối hành đạo của Đoàn Minh Huyên, Phật Trùm cho phân phát “lòng phái”, trổ tài trị bệnh thật lạ thường.

Nhà Phật Trùm sinh sống khi xưa tại ấp Sàlon, nay trở thành nơi thờ cúng ông.

Khoảng năm 1870, lúc này tín đồ người Việt theo ông đã khá đông. Thấy vậy, một số người Việt gốc Khmer trong xóm vu cáo là ông mượn chuyện đạo, chuyện trị bệnh để quy tụ, để cổ xúy nhân dân nổi loạn, nên nhà cầm quyền Pháp cho bắt giam ông rồi kết án tù đày. Trong tù, ông chăn heo. Sau vài năm, Pháp thấy ông hiền lành, không có biểu hiện gì chống đối, nên ông được trả tự do.

Về lại quê nhà, Phật Trùm tiếp tục hành đạo, có khi rao giảng đạo sang tận Campuchia.

Ngày 13 tháng 3 âm lịch năm Ất Hợi (1875), Phật Trùm viên tịch.

Hiện mộ Phật Trùm nằm lưng chừng núi Salon, một núi nhỏ, thấp thuộc ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Mộ không đấp nấm, theo chủ trương của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Ngô Lợi người Mỏ Cày, Bến Tre. Cha tên Ngô Nhàn (? – 1937), làm nghề thợ mộc, mẹ tên Phạm Thị Xuyến, người Bình An, tỉnh Định Tường.Tương truyền từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngô Lợi cũng không có biểu hiện gì khác lạ. Cho đến năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni Kinh dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của đạo Hiếu Nghĩa.

Năm 37 tuổi, vào ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867), bỗng nhiên ông bất tỉnh. Sau 7 ngày 7 đêm, ông hồi tỉnh lại, trở thành người giải thoát, rũ sạch lòng trần, dạy người theo đạo.

Bởi đi “thiếp” vào ngày trên và thỉnh thoảng ông lại có những cuộc đi thiếp như thế, nên người đời còn gọi ông là Năm Thiếp. Mỗi lần đi thiếp xong, ông thường nói những việc quá khứ và đoán định việc tương lai, nên được nhiều người tin nghe.

Sau khi liễu đạo, Ngô Lợi đi nhiều nơi vừa trị bệnh (nhất là trận dịch hoành hành dữ dội vào năm 1876), vừa thu nhận và dạy tín đồ thuyết học Phật tu nhân, báo đáp tứ ân, hành xử theo thập nhị giáo điều. Năm 1876, ông cho một tín đồ tên Trần Tịnh đi khảo sát vùng Núi Tượng. Năm 1870, ông đưa một số đệ tử vào theo để khai hoang, lập chùa miếu và mở thôn ấp mới.

Những năm 1877 – 1879, ông tổ chức hai cuộc làm chay để che mắt Pháp, lần đầu vào ngày 16 tháng 2 năm 1878 qui tựu hơn 200 người, rao giảng thuyết Hội Long Hoa và tuyên bố “đời Minh Hoàng được thành lập, ai không theo thì bị thú dữ, cọp beo trong rừng ăn thịt”

Lần thứ nhì vào ngày 30 tháng 4 năm 1878, ông phong cùng Võ Văn Khả làm chánh tướng, Lê Văn Ong làm phó tướng để nổi dậy kháng Pháp ở Cai Lậy (Mỹ Tho) vào ngày 2 tháng 5 năm 1878 nhưng đã bị dẹp tan nhanh chóng. Hai ông Lê Văn Ong và Võ Văn Khả bị xử chém tại Thuộc Nhiêu năm 1879. Còn Ngô Lợi cùng nhiều nghĩa quân trốn thoát về làng An Ðịnh. Căn cứ của đạo Hiếu Nghĩa, do ông cùng tín đồ khai hoang, lập ấp thuở trước.

Bọn mật thám của Pháp liền được lệnh truy lùng Ngô Lợi ráo riết, nhưng rốt cuộc không thu được kết quả nào, bởi ông được tin đồ và đồng bào mến mộ che giấu. Ngay cả thuộc hạ đắc lực của đốc phủ Trần Bá Lộc là Hai Phép lãnh trách nhiệm theo dõi ông, cũng bị ông cảm hóa rồi theo phe kháng Pháp luôn. Đốc phủ Đỗ Hữu Phương cho tên Bửu, người Minh Hương, mua ba ngàn xâu chuỗi bồ đề từ Chợ Lớn xuống Núi Tượng, cúng cho bổn đạo vẫn không dò hỏi được tin tức gì.

Pháp nhiều lần tổ chức ruồng bố. Chỉ tính trong 12 năm (1876 – 1888), Pháp đã đến đốt phá, bắt bớ, tra tấn, tù dày những tín đồ ở làng An Ðịnh cả thảy bảy lần, tín đồ Hiếu Nghĩa gọi là “đạo nạn”, đơn cử như vào năm 1885, Ngô Lợi cùng với tín đồ đạo Hiếu Nghĩa kết hợp với nghĩa quân của Hoàng Thân Sivôtha (Campuchia) nổi dậy, đánh chiếm hai bờ kênh Vĩnh Tế và làm chủ Tịnh Biên. Nhưng ngay đó, quân Pháp do đại úy Ferussac đem quân chiếm lại và còn tấn công vào An Định, khiến Ngô Lợi phải cùng với nhiều tín đồ phải chạy sang Vườn Dầu, thuộc Campuchia để lánh nạn. Ngày 2 tháng 6 năm 1886, quân Pháp mở cuộc hành quân sang Campuchia, đánh vào căn cứ Vườn Dầu nhưng thất bại. Mặc dù cản ngăn được đối phương, nhưng khi Ngô Lợi trở về núi Tượng, nhà cửa, chùa chiền ở An Định chỉ còn là những đống tro tàn.

Bi thảm nhất là vào năm 1887, quân Pháp do thiếu tá Peiqnaux ở Châu Đốc chỉ huy, cùng hai cộng sự là Trần Bá Lộc và cai tổng Trương Văn Keo kéo quân vào An Định. Bị kháng cự ở núi Trà Sư. Khi Pháp tràn được vào làng, họ đã đốt sạch nhà cửa, chùa chiền, bắt nhiều người tra tấn để tìm Ngô Lợi.

Kết cuộc, Pháp xử bắn 8 người, đày ra Côn Đảo 13 người, cưỡng bức 407 gia đình gồm gần hai ngàn người già trẻ xuống tàu về quê quán và giải tán làng An Định (sáp nhập vào làng Vĩnh Lạc).

Ngày 13 tháng 10 âm lịch năm Canh Dần 1890, ông Ngô Lợi mất vì bệnh tại thôn An Hòa, gần Núi Tượng, lúc 59 tuổi.

Sau khi ông mất, phong trào kháng Pháp tan rã, chỉ còn lại đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Ngoài bản kinh Bà La Ni Kinh, từ năm 1879 đến năm 1884, Ngô Lợi còn truyền dạy cho tín đồ nhiều bài cung văn sớ điệp, nhiều nghi tiết cúng lễ. Các vị đại đệ tử của ông đã ghi chép lại thành tập sách Ngọc Lịch Đồ Thơ Tập Chú.

(1) Một phần vì tài chữa bệnh, đẩy lui được bệnh dịch tả, cứu sống hàng ngàn người, một phần vì ông là người đạo đức, sáng lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương nên ông được nhiều người tôn sùng, kính mến, và đồn đãi nhiều huyền thoại về ông.

Người ta thuật lại rằng vì hành tung của ông, thực dân Pháp sợ ông gây loạn, khởi nghĩa chống Pháp nên chúng theo dõi, bắt giam ông. Có chuyện kể rằng tên Tây thực dân, cảnh sát trưởng thị xã Long Xuyên bắt ông giam vào ngục, trước khi y ra về. Trên đường về nhà, y lại thấy ông đang đi bộ bên đường. Y nghi ngại bèn cố đạp xem chạy nhanh lên, xem thử có phải người đang đi bên đường là ông Đoàn Minh Huyên hay không. Mặc dầu y đi xe đạp, ông Đoàn Minh Huyên đi bộ, nhưng y đạp mãi vẫn không theo kịp ông ta. Y bèn quay trở lại bót cảnh sát cua y, mở cửa ngục xem, thì lại thấy ông đang ngồi trong ngục.

Thực ra, khi Tây đặt được nên cai trị ở ba tỉnh miền Tây, sau khi ông Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử (1867) thì ông Đoàn Minh Huyên đã qua đời từ năm 1856 rồi. Những người bị Pháp bắt có thể là những đệ tử của ông Đoàn Minh Huyên trong tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương mà thôi. Dù sao, huyền thoại nói trên, dù đúng hay sai, cũng nói lên lòng sùng kính của dân chúng miền Tây đối với Đức Phật Thầy Tây An vậy.

            Viết thêm vài điều:

Không thể phủ nhận vai trò của các linh mục ở các khu Dinh Điền và khu Trù Mật, cũng như trong chủ trương Minh Đạo của ông Hồ Hữu Tường. Tuy nhiên, việc đưa các tu sĩ vào lãnh đạo ở mỗi địa phương sẽ tạo ra một không khí thời Trung Cổ bên Âu Tây: Đưa “Thần quyền” vào “Thế quyền” là đi ngược dòng lịch sử, là điều dân chúng ngày nay vẫn thường chống đối.

Chí Phèo mắc dịch

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

Như một người bán thuốc Sơn Ðông mãi võ, giới truyền thông thế giới suốt hai tháng nay cứ bên nầy chết, bên kia chết vì con coronavirus Wuhan nên em yêu cũng lo sốt vó vì sợ, bèn lên cái ‘phác đồ’ phòng dịch như vầy:

“Ngủ ít nhất bảy giờ một đêm. Sáng thức dậy, vươn vai, tập thể dục 30 phút.

Trước khi ngồi vô bàn ăn sáng thì rửa tay bằng xà bông.

Ăn xong dọn bàn thì dùng thuốc xịt khử trùng, đừng dùng khăn lau; lau cái nầy, lau cái nọ, lau tùm lum vi khuẩn sẽ lây lan từ bề mặt này sang bề mặt khác…”

Xách ‘đít’ leo lên xe ‘bus’ đi làm, em yêu còn dặn vói theo:

“Nhớ ngồi gần cửa sổ nhe, vì gió thổi vô mang không khí trong lành cho cái lỗ mũi của anh. Ðừng có xán lại ngồi gần em nào dù nó có đẹp cỡ người đẹp ưa cởi truồng Ngọc Trinh đi chăng nữa!”

“Em đừng lo! Mấy em Úc thấy anh da vàng mũi tẹt cứ nghĩ anh là Chú Ba, người về từ Vũ Hán, là ẻm đã ngồi cách anh chừng ba dãy ghế lận.”

“Xong vô Sở, đừng ôm hun con nhỏ nào hết ráo. Cũng đừng bắt tay ‘bông rua’ hay cụng tay nhau như hai võ sĩ đánh bốc lúc thượng đài. Vì bắt tay có nguy cơ lan truyền vi khuẩn gấp 10 lần so với cụng tay nhau. Bắt chưn thì được!”

Chiều về gặp lại em yêu, tui bèn cúi chào con vợ mình theo kiểu Nhựt Hoàng vừa lịch sự; vừa giữ vệ sinh cho em.

Bữa tối, em dọn ra toàn là rau rác, may mà còn được một dĩa thịt bò ‘beefsteak’ để ăn bằng dao nĩa. Em yêu hùng hồn tuyên bố:

“Cho tới hết mùa dịch (vật) nầy, nhà mình sẽ ăn theo kiểu Tây, không dùng đũa muỗng thọc tùm lum vô tô canh rồi húp rột rột như trước nữa!”

Em yêu còn dặn thêm lúc đi làm về anh đừng có vác cái mặt buồn xo, buồn nào hơn hôm nay, trong mùa ôn dịch nầy vì cái mặt hãm tài nầy gây lo lắng cho em nhiều hơn con ‘coronavirus’ thực sự.

Thứ Bảy rồi, em kêu tui đi chích ngừa để tránh nhầm lẫn cúm theo mùa với con COVID-19.

Ông bác sĩ gia đình mang khẩu trang như người dơi, tui than phiền với ổng là:

“Tối em yêu kêu tui ngủ trên lầu đi, em có bật cái máy tạo độ ẩm rồi vì vi khuẩn không thích không khí ẩm.

Em sẽ ngủ trong phòng khách dưới nhà trên ghế ‘sofa’.

Chu cha cái nầy găng nhe! Mất cái gối ôm hằng đêm thì làm sao tui ngủ cho được đây hỡi Trời?”

Thì ông bác sĩ lại binh em, nói:

“Bà cụ nói đúng quá xá đó! Mấy người bị tiểu đường, bị cao huyết áp, lại cao tuổi, sức đề kháng yếu xìu như cụ đây lỡ dính con coronavirus chưa có thuốc chữa thì dễ đi chầu ông bà ông vải lắm đó!”

Chủ Nhựt, em đi siêu thị mua kìn kìn nhu yếu phẩm đủ cho vợ chồng già ‘nhơi’ ít nhứt hai tuần lễ trong trường hợp cơn dịch bùng phát ngoài tầm kiểm soát. Tui cũng chất đầy một xe đẩy toàn là rượu đỏ.

Em yêu hỏi:

“Anh mua rượu chi mà dữ thần ôn vậy?”

“Cái nầy đâu chỉ là rượu thôi đâu mà nó còn là cồn sát trùng cái cổ họng và bao tử của anh.

Em thừa biết con vi khuẩn nầy nó tấn công vào hai buồng phổi của mình. Mà trước khi nó theo không khí đi vô thì nó phải qua cái miệng, cái lỗ mũi của anh, nó gặp chất cồn sát trùng nầy thì cha nó cũng chết!”

Ði ‘shopping’ về, chưa kịp soạn đồ ra là em yêu leo lên ‘facebook’ đọc được cái bài: ‘Dịch Thiếu Văn Hoá’. Em phùng mang trợn mắt trắng dã thấy ghê, gầm lên như Chúa Sơn lâm:

“Thằng nầy dám chửi em, chửi luôn cả người Việt mình ở hải ngoại nè anh”:

“Cha! Sao đứa nào xăm mình dữ vậy nè? Ðâu để anh đọc coi!”

Chí Phèo làng Vũ Ðại viết dại, viết dột như vầy:

“Cả ngày hôm nay tôi nhìn những hình ảnh người Việt hải ngoại đi mua đồ trữ dịch corona mà tôi thấy thật hổ thẹn.

Chen nhau, xô đẩy vì mấy két nước, mấy bao gạo cho bản thân mà quý vị để lại hình ảnh ích kỷ, xấu xa trong mắt người khác.

Quý vị ở Mỹ mà tư cách quý vị thể hiện trên miếng ăn thật tồi tàn, không thể chấp nhận.

Quý vị may mắn sống ở đất nước có tự do nhưng quý vị đã không tự ý thức được việc mình làm ảnh hưởng như thế nào cho cộng đồng người Việt và cả văn hoá gốc Á.

Quý vị đang tự phản ứng quá mức về dịch bịnh. Ðiều này chứng tỏ quý vị chỉ lo sợ mất quyền lợi của riêng mình mà thôi.

Quý vị quá ích kỷ!

Dịch corona không lan tỏa nhanh bằng hành động quý vị ngày hôm nay.

“Ê! Viết như vậy là hỗn hào quá đáng; do nhìn không quá cái lỗ mũi của mình, mà đòi làm cha để phê phán, rồi chửi bới lung tung hè!

Bộ chú mầy không thấy nhiều ông tai to mặt lớn lãnh đạo quốc gia trên thế giới nầy lo sốt vó chạy đôn, chạy đáo, chạy tới, chạy lui hay sao? Ngay cả Thủ tướng Úc Scott Morrison cũng phải xính vính, mặt rầu rầu như vừa bị em yêu xét túi.”

Thị trường chứng khoán trên toàn thế giới từ New York tới Hong Kong, London, Sydney gì gì đó đua nhau lao dốc. Nền kinh tế sẽ rơi vào suy trầm là cái chắc, làm ảnh hưởng tới túi tiền còm cõi của mọi người, trong đó có ta!

Nhà hàng Tàu bán nhẫm-xà đua nhau khánh tận! Cái nào còn ngáp ngáp cứ than dài thở vắn hổng biết chừng nào ‘ngộ’ sẽ đi đây!?

Hãng máy bay có cái đã sập tiệm rồi, du thuyền hổng còn ai dám đi, hòa nhạc, trình diễn thời trang đều dẹp hết.

Ngược lại gạo, đường, mắm, muối, xà-bông, giấy ‘toilet’  mấy người mẹ, người vợ ào ào đi mua về vì lo sợ như hồi Tết Mậu Thân năm 68 Việt Cộng vô tới tận Sài Gòn vậy. Giờ thì sợ cơn đại dịch nó có thể vượt ngoài vòng kiểm soát, thành phố sẽ giới nghiêm 24/7 cả nước như bên nước Ý.

Vậy mà chú mầy dám chửi vợ của ta sao?

Ở đất nước tự do, người ta được quyền làm cái gì mà pháp luật không cấm. Ði mua nhiều chừng nào thì nhà sản xuất và các siêu thị mừng chừng ấy. Dĩ nhiên sản xuất sẽ nhiều hơn, buôn bán ì xèo hơn. Tiền vô ào ào ngu sao mà không mừng?

Trong chế độ tư bản thị trường tự do, việc mua bán là hàng đầu, là ưu tiên số một qua cầu Bến Lức. Mua nhiều bán nhiều là kinh tế khởi sắc; nó mà tăng lên thì sẽ tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm, tốt cho người dân chớ?

Ðâu phải là cái thời lúc CS Bắc Việt mới chiếm được Sài Gòn:

“Con cắn cơm cắn cỏ, con lạy bà mậu dịch viên bán cho con 100 ‘cà gram’ thịt ‘nợn’ vì con của con đang bị ốm!”

Chắc chú mầy đã quên câu khẩu hiệu:

“Ðả đảo Thiệu Kỳ mua gì có nấy!

Hoan hô Hồ Chí Minh mua cây đinh phải xin giấy!” 

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Y tế CS Việt Nam Vũ Ðức Ðam, tai to mặt bự, tuyên bố Việt Nam sẽ hết dịch (vật) vào tuần tới.

Nghe vậy, vợ chồng, cha con dân Hà Nội ùn ùn bỏ chạy vô Sài Gòn trốn (dịch). Còn ai có gan ở lại chịu trận thì cũng đổ xô đi mua gạo, đường, mắm, muối, giấy toilet ùn ùn ra đó.

Còn trên thế giới từ Âu sang Mỹ, các sắc dân trắng, vàng, đen, đỏ, cũng làm y hịt như bà con mình, cũng ùn ùn đi siêu thị mua nhu yếu phẩm đó thấy hông?

Chú mầy chửi những người quá tham lam vét sạch hàng, không cần biết người khác cũng cần mà không có mua thì còn được. Chứ chửi lung tung thì ta e rằng chú mầy không còn một cái răng mà ăn cháo trắng!

ĐXT

Melbourne

Câu chuyện thịt cầy!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

Hổm rày mấy quan lớn CS Việt Nam kêu Facebook cộng tác với mình: Đừng cho dân lên Facebook chửi rủa, rồi rủ ren nhau đi biểu tình tưng bừng làm mấy đồng chí ăn nhậu hổng có yên hè.

Nhưng tụi Facebook ngoan cố không thèm cộng tác gì ráo; viện lẽ quyền tự do ngôn luận dẫu muốn cấm cũng đâu có cấm được. Làm bậy làm bạ, bịt miệng dân Việt Nam rồi công luận thế giới nó nhào vô chống đối cái kiểm duyệt nầy, tẩy chay, hậu quả là mất khách hàng quảng cáo thì cha tui cũng chết chớ đừng nói tới tui. “Thôi hổng dám dâu! Thông cảm chút đi nhe!”

Thua keo nầy thì bày keo khác… Đám tuyên huấn bèn bày ra cái chiêu láu cá,  đánh trống lảng, lâu lâu tung ra một cái đề tài bá đạo, bá láp, bá xàm nào đó như cấm ăn thịt chó ở nội thành Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn vật; vì bọn Tây tư bản nó chửi rủa um sùm kìa.

Không những chửi mà còn đe dọa cóc thèm tới Việt Nam du lịch nữa là mình hổng có ‘xí’ được tiền ‘đô’ để bù vào cái ngân sách đang bị bọn tham quan ô lại tùng xẻo làm cạn quéo hết rồi.

Nghe vậy thì đám khoái ăn thịt chó viện lẽ đàn anh Trung quốc đã ăn thịt chó từ khoảng 500 năm về trước.

Rồi thời Mao Trạch Đông, chiến dịch đại nhẩy vọt bị thọt cẳng, què giò, hơn 70 triệu dân Tàu chết đói, phải ăn cả thịt người! Hổng nhờ thịt cầy nầy thì dân Tàu chắc chết hết ráo. Chó có công cứu CS; thì mình phải ghi công bằng cách tiếp tục ăn thịt chúng nữa vậy thôi.

Ăn rồi còn rủ rê người khác đến cùng ăn cho xôm, hằng năm phèng la quảng cáo ôm xồm: Lễ hội thịt chó! Thịt chó nguyên con, thui vàng rượm, được móc lủng lẳng móc trên các sạp hàng ở chợ Động Khẩu lớn nhất thành phố Ngọc Lâm, tỉnh Quảng Tây.

Mấy chú Ba cho rằng mùa hè nóng, ăn thịt chó mát, tăng cường sinh lý, chữa được bịnh trên bảo dưới hổng nghe thì ngu sao mà hổng hẩu xực ‘cẩu nhục’ chớ? Mấy người ăn heo, bò, gà thì tui ăn chó thì có khác gì nhau?
Rồi Đại Hàn, Việt Nam đó họ cũng ăn tới vài triệu con một năm đó thấy hông?

Nói như vậy là vơ đũa cả nắm. Miền Nam mình sau 75 đói rã họng gần chết mà đa số bà con mình cũng hổng ai ăn thịt người bạn thân nhứt, thông minh nhứt, tình nghĩa nhứt, trung thành nhứt và nhiều cái nhứt nhứt… là con chó bao giờ! Bà con mình trong Nam cho rằng thịt chó không có quốc hồn quốc túy gì ráo. Ăn thịt chó, mèo là ác. Mà làm ác, xui lắm… Trời sẽ trả báo. Nếu có ăn là heo giả cầy tức thịt heo giả làm thịt chó vậy thôi.

***

Nhớ hồi mất nước, tui đang dạy học ở một cái quận lỵ heo hút, miền đồng bằng. Rán nấn ná vì thiệt ra tui hổng biết đi đâu, làm gì mà sống khi một cục đất chọi chim cũng không có.

Trường tui dạy là một trường tỉnh hạt ở quận, mỗi cấp chỉ có hai lớp, từ lớp 6 cho tới lớp 12. Học trò chừng 5, 6 trăm đứa; thầy cô được khoảng 20 là cùng.

CS Bắc Việt bèn gởi một đứa ở Hà Tây, một đứa ở Ninh Bình, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh vào; gọi là A chi viện cho tỉnh Hậu Giang.

Hai đứa nầy vô làm ban giám hiệu để theo dõi, gạn lọc xem thầy cô có ai là phản động, do ‘CIA’ gài lại hay không?

Một hôm có tay Thanh tra từ Ty Giáo dục về trường. Ba đứa nó hùn được 18 đồng (Lương tháng giáo chức, dứt cháo, chỉ 5, 6 chục đồng thôi) vô cái Sóc Miên mua con chó chừng chục ký về, định giết thịt, làm dồi chó, rựa mận, chả chìa xúm nhau nhậu cho đỡ nhớ cái ‘hĩm’ còn ở ngoài miền Bắc.

Nắm cổ con chó về, nhốt vào cái bội bằng tre đan, (bội hay dùng để nhốt mấy con gà nòi đá độ). Trên nóc bội, có dằn cục đá. Bố con nhà nó, đứa mài dao xèn xoẹt định cắt tiết, đứa đi kiếm rơm về thui; tay còn lại qua chùa Tịnh Độ (chuyên bốc thuốc Nam) xin lá mơ; nhưng sư cụ biết tụi nó ăn thịt chó nên nhứt định không cho.

Thấy CS mài dao, con chó nó rét quá rán sức bình sinh, tung cái bội văng cục đá xuống nó lên đường bôn tẩu… chạy mất về nhà chủ cũ. Ai nói ‘ngu như chó’ là nói trật lất rồi!

***

Ở Úc cũng khá là lâu, tui thấy cách đối xử của dân Úc với chó, với mèo chắc học từ cái phong tục tập quán tốt đẹp của người dân miền Nam mình đó thôi?!

Ăn thịt chó là man rợ, cổ hủ, không văn minh gì ráo trọi hè. Vì chó cũng biết, buồn vui, đau đớn như người!

Đài Loan rồi Nam Hàn mới đây cũng đồng ý với Tây là sẽ không ăn thịt chó nữa. Đứa nào giết chó để ăn sẽ bị phạt tiền, hoặc đi ở tù.

Tây không những không ăn thịt chó mà còn thương yêu chó không thua kém gì những người thân thuộc. Cho chó lên truyền hình, đóng phim 101 con chó đốm, cho chó đi thi hoa hậu. Cơn bão mới đây đổ bộ vào miền Đông nước Mỹ gây ngập lụt thì lại thấy cảnh nhân viên cứu nạn bế chó lội bì bỏm trong dòng nước lũ để quay phim.

Xã hội Tây Phương nầy tôn thờ vật chất, chỉ vì đồng tiền mà người ta bội phản nhau lắm lắm; nên nhiều anh mình chọn sống cô đơn. Bị vợ bỏ ư? Ắt phải có ngay một con chó để bầu bạn, kẻo không, mình sẽ bị khủng hoảng tâm thần vì chìm ngập trong nỗi cô đơn.

Thằng bạn Úc của tui cũng vậy! Vợ bỏ ngày trước, ngay hôm sau nó rước về một em chó để điền khuyết chỗ của em yêu!

Nó nói: Với chó, mình cứ ra lịnh thoải mái không bao giờ bị cự cãi. Chó không bao giờ đem mình ra ‘phê bình kiểm điểm’ (cái nầy nghe quen quen)! “Sao chưa giặt quần áo, chưa cạo râu, tại sao nách lại hôi?”  “Sao trên người lại có mùi lạ, vừa đi với con chó nào khác về phải không?”

Chó đơn giản, dễ hiểu! Không rắc rối như tánh của em yêu. Vui là vẫy đuôi, buồn là cụp tai lại. Mình lỡ quên mất sinh nhật của chó và… chẳng sao cả vì nó có biết đâu?

Chó thấy mình nhậu xỉn nó càng mừng vì nó sẽ có chè mà ăn. Chó giúp mình hạ huyết áp, trong khi chơi với mèo hai chân, coi chừng tối ngủ với vợ nhà, mớ xì bậy bạ ra là chết!

Thế nên chó được cưng chiều cũng là phải phải. Tuy nhiên cái gì cũng có cái mặt trái.

Chuyện rằng: Thằng nhóc Johnny lên 8 tuổi có nuôi một con chó tên là Buddy (nghĩa là Bồ Tèo). Johnny cưng Buddy lắm. Coi Buddy như là một người bạn tri kỷ, tri âm.

Một hôm bố Johnny đưa Buddy đi bác sĩ thú y. Khi về, bố báo hung tin: “Bác sĩ nói Buddy chỉ còn có 3 tuần lễ nữa để sống.”

Johnny nghe hung tin òa lên khóc nức nở. Bố Johnny ôm lấy con mình an ủi.

“Thôi phần số của Buddy như vậy là bố con mình phải chịu vậy thôi. Đâu cãi lại được ông Trời!”

Johnny gạt nước mắt nói: “Rồi bố có làm đám ma cho Buddy không?” “Dĩ nhiên là có rồi!” “Con có mời bạn cùng lớp đến được không?” “Dĩ nhiên là được rồi!” “Rồi tụi nó có bánh kẹo và cà rem không?” “Dĩ nhiên con và bạn sẽ có tất cả những gì tụi con muốn!”

Nghe vậy, Johnny gạt nước mắt, đề nghị là: “Buddy trước sau gì cũng chết! Thôi bố cho Buddy chết ngay bữa nay đi nhe!”

Bài học rút ra là: Tây thấy vậy… chớ hổng phải vậy!

***

Tây có cái ngộ là ca tụng chó hết lời. Nhưng ghét ai, lại giống như Mít mình, nó đem kẻ thù ra mà so sánh với con chó!

Chuyện rằng: Thời mồ ma đảng Cộng sản Liên Xô, McDonald, một tay tư bản Mỹ, có tính tò mò không biết cái giống gì xảy ra sau bức màn sắt của CS Liên Xô nên chạy vạy mãi mới xin được cái chiếu khán đến Nga mà du lịch.

Một hôm, McDonald chạy chiếc xe Lada Niva của Nga qua một căn nhà ở vùng quê thấy cái bảng: “Bán một con chó biết nói!!”

Là tư bản, thấy cơ hội mần ăn nào có lời là chộp liền, McDonald dừng xe lại bấm chuông xin xem qua con chó Nga nầy nó ra sao?

Chủ nhà “Ba-Lép- Xép” nói: “Đồng chí (ai nó cũng kêu đồng chí hết ráo hè) ra sân sau thấy một con chó Labrador đang ngồi chồm hổm tắm nắng là nó đó!”

“Ê Labrador! Chú mầy biết nói hả?” “Ừ biết!” “Kể tao nghe một câu chuyện gì hấp dẫn nghe chơi?”

“Tui phát hiện ra chuyện tui biết nghe, biết nói khi mới vừa lên hai tuổi chó, tức bằng 10 tuổi người. Thời nông trường tập thể làm ăn thất bại, đói quá, nên tui nộp đơn vô Phòng Bảo vệ Chính trị của Công an thành phố!

Đồng chí Giám đốc Công an bèn gởi tui đi thủ đô Moscow để làm việc cho Cơ quan Tình báo Liên Xô KGB. Nhiệm vụ của tui là chuyên ngồi nghe lén các lãnh tụ các nước phương Tây thù địch, lãnh tụ các nước CS anh em như Ba Lan, Đông Đức, Hungary, CS Bắc Việt, CS Bắc Hàn kể cả CS Cu Ba của Fidel Castro đang bàn mưu tính kế gì với nhau. Xong về báo cáo lại cho đồng chí Tổng Bí Thư đảng CS Liên Xô Leonid Brezhnev.

Làm ‘chó’ gián điệp cả 10 năm đó chớ. Được cả đống huân chương, kể cả huân chương Lenin nữa đó… Rồi ‘tổ chức’ tưởng thưởng cho tui một con chó cái. Nàng đẻ cho tui một đàn chó con. Nhưng tui cũng chán cái bọn KGB nầy ác quá, đàn áp đánh đập, giết người bất đồng chánh kiến như ngóe nên tui xin nghỉ hưu.

Chuyện nầy giữa tui và ông thôi! Đừng nói tới nói lui với ai nghe nha! Vì nhà có mạch, vách có tai; đề phòng tụi nó sẽ tước lương hưu, cách hết các chức của tui từng nắm giữ đó nhe!”

Nghe xong rất lấy làm ấn tượng, McDoanld bèn hỏi giá để mua về bán lại cho CIA để kiếm lời.

Tay chủ chó “Ba-Lép- Xép ra giá “Mười đô la Mỹ!“Mười đô la! Nè ông có điên không? Con chó tài nghệ như thế mà ông bán cho tui chỉ có giá mười đô thôi sao?”

“À tui bán nó chỉ có mười đô la thôi vì con chó nầy dóc tổ hè. Nó đâu có làm việc cho Cơ quan Tình báo KGB. Cơ quan KGB nầy trên cũng chó, dưới cũng chó nên nó đâu cần chó nữa. Con chó nầy nó ‘nổ’, vì nó biết ông là người Mỹ lờ khờ; chớ nó đâu có xí gạt được tui nè.”

đoàn xuân thu.

melbourne

Hiền hữu

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

Má tôi mất ở quê nhà. Đường quá xa xôi, công việc bù đầu, tôi tính không về chịu tang nhưng bị Hữu mắng: Mày làm con kiểu gì kì vậy? Tại sao tao lại có thứ bạn cà chớn như vậy! Hắn vọc laptop một hồi, xong nói cho tôi biết hãng hàng không, lộ trình chuyến bay và số tiền phải trả cho cái vé khứ hồi. Liệu mà sắp xếp ra đi cho phải đạo. Hắn nói. Nhanh lẹ và sốt sắng tới độ ngờ vực.

Mười giờ, tôi đi đón Hiền. Giờ ấy cô thôi việc ở quán ăn “Hương Xưa” luôn đông khách. Chẳng ưa thích công việc thu ngân hoặc chạy bàn nhưng Hiền chưa có ý định đổi việc. Cô cho hay cô ngại một đổi thay, đã thành nếp mất rồi, hơn nữa lợi tức thu nhập cũng chả có gì phải kêu ca. Đó là nơi chốn mà Hiền biểu tôi hứa với cô là đừng vác mặt tới, nếu muốn chung đũa cùng nhau cô sẽ dắt tôi đến một hàng quán khác, vắng tẻ, tình tứ, thức ăn đậm đà hơn.

Tôi đợi ở góc đường, trước một sạp bán báo đã đóng cửa. Tôi đọc không bỏ sót những tờ giấy xanh đỏ dán trên một tấm gỗ. Bán TV còn mới với giá rẻ. Chó thất lạc, ai tìm thấy hứa hậu tạ 100 đô. Vì phải thay đổi nơi cư trú đột ngột, nhượng lại căn apt ở địa điểm thuận lợi với giá thuê rẻ, gọi điện thoại số… Đọc tới mẩu tin cần người giữ trẻ thì Hiền xuất hiện. Ngọn đèn trên đầu như thắp sáng thêm sự ngạc nhiên của Hiền. Ngạc nhiên làm dìm mất một nụ cười xét thấy nên mọc trên môi. Tôi thông báo tin buồn mới nhận được từ bên nhà chuyển sang. Câm lặng một đỗi, gió thổi và Hiền chẳng màng vén lại những sợi tóc rối. Hiền nắm lấy tay tôi, cô dắt tôi băng qua hai góc đường rồi dừng chân ở quán cà phê có bày nhiều bàn ghế lấn lòng đường. Mùi cà phê quyện trong không gian làm giết đi hương nồng chôn kín đáo ở người Hiền.

Mười giờ đêm, có lắm kẻ không ngại mất ngủ. Hiền mua hai cốc cà phê đậm đặc và chúng tôi thường mất ngủ hoàn toàn chẳng do chất xúc tác của cà phê. Đôi khi uống nó vào canh khuya để vỗ về giấc mộng là đằng khác. Phố rậm rật với dãy đèn màu, lá cây xao xác run thân. Đêm rất đỗi huyền hoặc đang lấy đi dần những âm thanh, nuốt từ tốn. Má tôi không uống cà phê, bà chỉ ghiền nước trà. Má tôi luôn ngủ đầy giấc, chẳng ác mộng. Và giờ này bà đã nhẹ nhàng nhắm nghiền đôi mắt đi vào giấc ngủ sâu. Tôi như con đường về khuya đang bị lấy dần đi những chộn rộn. Má tôi mất phương nọ nhưng phương này đã bày rõ sự hao hụt dồn về trong thinh lặng. Phố sẽ yên giấc khi đám lá cây thì thào giữa màn đêm, những giọt nước ứa muộn như sương khuya sẽ làm mặt nhựa đường đen thẩm.

Hiền siết tay tôi như thế một san sẻ và cô hoàn toàn đồng ý việc tôi nên đi về chịu tang, xúi giục là đằng khác. Anh Hữu nói thế là đúng quá chứ gì nữa. Hiền phát biểu, nhát gừng. Như vậy là chúng ta không nhìn thấy nhau trong vòng một tháng. Tôi nói thêm. Đêm nay tôi tới ngủ trọ nhà Hiền, có được không? Không. Hiền trả lời. Đang gánh đại tang, nên kiêng cử. Tôi ngó vào mắt Hiền, chẳng thấy gì, xa vắng, u tối. Sự ghẻ lạnh như vừa ghé qua, trú ẩn bên trong. Có lẽ tôi đòi hỏi nhiều thứ ở Hiền, nhưng trong tình yêu bạn cần đón nhận những sẻ chia. Đây không phải là một cơ hội sao?

Tôi đưa Hiền về tận cửa, Hiền chẳng đổi ý, cô nói trong khi cúi mặt vào cái xách tay, lôi ra chùm chìa khoá: Hiền vào tắm rồi lên giường sớm, chẳng hiểu sao hôm nay cơ thể nghe rã rời. Tôi cắm chân vào lòng đường cô quạnh, hình dung ra một phi trình hun hút dài lâu, ngồi cứng thân trong lòng ghế hẹp và cuối đường đã chực sẵn những hao hụt mà người ta tóm gọn tình huống ấy trong bốn chữ “tang gia bối rối”. Tôi ngó dáng đi của Hiền lùi sâu vào hành lang vàng đục ánh đèn thắp, như đường hầm nuốt trôi, và đó là con lộ một chiều. Má tôi sẽ hạ huyệt, đất sẽ lấp đầy và cuối cùng là một mộ bia được dựng đứng bên trên.

Một tháng. Ba mươi ngày người ta sẽ thanh toán được những gì gọi là hệ trọng? Một tháng, khi mất đi, người giã từ cõi thế đã để lại cho thân bằng quyến thuộc ở dương gian một khoảng trống khó kiếm cách lấp đầy. Một tháng, tôi chẳng biết làm gì trong căn nhà vắng lặng tiếng nói cười. Tôi loay hoay với những hoài cổ, mệt mề với những kỷ niệm hoen ố trầy trụa. Một người bạn học cũ đến phân ưu, nhìn nhận ra tôi và đã có nhã ý chở tôi đi nhìn bao thay đổi của cảnh quang, của một sang trang tuỳ tiện. Thành phố làm mặt lạ với tôi. Khi nghe tôi than van, hắn đã cười vào sự khờ dại của tôi, rồi triết lý, tựu trung đó là cốt lõi của cuộc sống. Nếu không bạc ác thì còn gì là cuộc đời! Sẵn, hắn nói cho tôi nghe về gia cảnh, hiện hắn sống với một con chó. Vợ bỏ đã ba năm. Để nguôi ngoai hắn tốn công sức rước về một chú chó. Vì sao chó? Vì hắn xem báo, đọc phải những thứ tin làm chảy nước mắt, nhằm ca ngợi lòng thành có một không hai mà chỉ có chó mới đủ sức chuyển tải, mang tới cho người nuôi nó niềm thương yêu sắc son. Tôi nói, sao ông có được thứ ý tưởng kỳ quái như một kẻ có lắm kinh nghiệm về tình người. Hắn bảo, có lẽ mình chẳng có lắm tiền của, bầu bạn với chó , mọi thứ trở nên giản dị và khoẻ trí rất mực. Trước ngày tôi lên đường, hắn ghé lại nhà rồi đòi mang tôi đi nhậu một trận cho lại thần hồn. Ông về lại bên kia thì xem như vĩnh biệt chứ tạm biệt con mẹ gì? Ông chớ nói âm dương chẳng cách biệt đôi đàng nhé. Hắn cười nhăn nhở. Tôi nhớ Hiền để lập lại câu nói của cô ấy: Đang có đại tang phải biết kiêng cử sắc dục rượu chè cờ bạc các thứ. Hắn gãi đầu, ông lạc hậu quá, thưa với má là cho con say để nỗi buồn chìm xuồng. Uống cạn những ly chứa đầy nước mắt quê hương lần cuối trong đời. Thấy tôi chẳng mặn mòi, mặt đực ra, điệu bộ cà rịch cà tang làm hắn oải. Thế thì thôi, rượu bất khả ép. Cà phê thì sao?

Hắn đèo tôi đi trong thành phố đã lạc mất dấu tích những người bạn cũ. Hắn loan tin, ba phần hai đều trốn chạy sang nước ngoài, số còn lại sống rải rác trên chiều dài quê hương giàu mạnh, hai đứa chết bệnh, bốn đứa chết vì tai nạn giao thông, con Hoa Lài hoa khôi dạo nọ thì đã mặc áo nâu sòng đi tu ở ngôi chùa khuất lấp, đoạn lìa mọi nguồn cơn. Em xuống tóc buông bỏ để khiến cả tiểu đội đàn ông con trai hận đời đen bạc hỉ nộ ái ố chửi thề như bọng. Hết, còn lại ông bên đó tôi bên đây, vô duyên đối diện bất tương phùng. Hắn “ăn nói linh tinh” một lát thì xe tấp vào quán cà phê.

Rất hiện đại, nội thất trình bày đẹp mắt chẳng khác gì xứ Tây phương cực lạc. Người Việt đa phần bị nhuốm bệnh màu mè và rườm rà, chốn đây khác, bỏ được sự diêm dúa cầu kỳ ưa chơi cha thiên hạ. Đơn giản tới mức mà nghệ thuật sắp đặt cho phép, muốn có được thứ không gian ấy kẻ trình bày phải mang một nhãn quang về mỹ thuật thật tinh tế. Nhưng cà phê chẳng ngon. Miệng mồm tôi lỡ bị cà phê Pháp, Ý làm hỏng rồi. Ở quê nhà, lê lết mỏi mòn trên từng cây số tôi chưa nhấp phải giọt cà phê nào đúng gu. Người ta có chữ để chửi vào mặt tôi: Chảnh! Thì đành vậy. Dĩ hoà vi quý. Mặc dù thất vọng, tôi chẳng thể phát ngôn: Cà phê nhái! Ngâm tẩm, pha phách nhiều hương liệu quá. Muốn nước trong, anh chớ mạnh tay khuấy bùn lên chứ. Nồi nào úp vung nấy. Anh sáng tạo vượt quá mức quy định thì công trình ấy sẽ hỏng. Tỉ như phở, nó sánh duyên và đẹp đôi với thịt bò. Một hôm anh phát huy ra Phở đồ biển, phở hải sản… cũng là một cách chơi cha thiên hạ! Anh bá đạo dẫm chân lên quy luật giang hồ mất rồi. Có đúng không? Ưa làm cách mạng thì cũng chừng mực nào đấy thôi! Máu cách mạng tràn trề thì chết cha thiên hạ mất. Có chó mới vào quán anh.

Chúng tôi ngồi ở cái bàn kê hai ghế, trên vách máng bức tranh sơn dầu với đề tài thiếu nữ quen thuộc, có mặt trong hầu hết sáng tác của các hoạ sĩ Việt. Thủ pháp tầm thường, nửa cổ điển nửa hậu hiện đại. Thấy tôi ngắm tranh, đứa bạn nói, tay hoạ sĩ này cũng tượng trưng cho trường phái “kính nhi viễn chi”. Là sao? Tôi thắc mắc, mình chỉ nghe qua trường phái ấn tượng, dã thú, siêu thực… Ông ta chơi thân với hai người bạn thiết, như y phục như thủ túc, bỗng một hôm trái gió trở trời, chả hiểu nguồn cơn nào xúi giục, ông viết báo đặt điều vu khống bạn mình. Tình huống ông dựng nên đã có lắm kẻ ngoại cuộc chứng minh rằng nó hoàn toàn sai sự thật. Họ đặt câu hỏi: Thực ra thì ông mang thứ dã tâm gì? Để nỡ lòng bán đứng bạn bè. Đó, cho tôi đi vòng lại cái thắc mắc của ông: Tại sao lại đi nuôi chó? Ông đã xem phim của Hollywood thực hiên về “nhân vật” Hachiko chưa? Một chú khuyển mà người Nhật đã đúc tượng đặt để ở công viên Shibuya. Tôi ngó đứa bạn còn sót duy nhất của tôi. Có khi hắn nóng nảy như Trương Phi, có khi hắn thiền tính y như đệ tử của Bồ Đề Đạt Ma. Hắn là một Việt Nam thu nhỏ để khi tiếp cận, chỉ duy một chữ để mô tả: Bất khả tư nghì.

Tôi có viết e-mail cho Hiền. Và ngay cả Hữu, hai người bạn hiền chẳng có ai hồi âm. Tôi có ghi ngày giờ chuyến bay sẽ mang tôi về kề cận họ. Họ biết điều ấy và câm lặng đôi khi là cách họ muốn dành cho tôi một sự ngạc nhiên. Tôi có mua quà đặc thù quê Việt cho cả hai và xem chừng họ không mặn mà gì với thứ nhu yếu phẩm nọ. Chẳng cầm lòng, tôi lựa giờ mà quán ăn “Hương Xưa” đông thực khách nhất để vào kéo ghế. Tôi xâm phạm hiệp ước mà Hiền đề ra, nhưng nghĩ cho cạn, thì đó nào phải lỗi tại tôi. Gọi món ăn chẳng tính toan, tôi xuống giọng hỏi cô tiếp viên có Hiền đó không? Dạ, chị ấy nghỉ làm đã hai tuần nay rồi. Đau ốm hay vì một nguyên cớ khác? Hình như lấy chồng thì phải. Anh ấy thường đến ăn đây, nghe chị Hiền gọi tên Hữu.

Tôi đổ tương ớt nhiều vào tô bún thịt nướng. Tôi bị đau bụng từ khi về cố hương, nghe người ta nói do thực phẩm không an toàn, thiếu vệ sinh, nhiễm vi khuẩn bậy bạ gì đó. Nói chung tôi mất sức rất nhiều sau chuyến đi vất vả. Chim bay về lại đất lành, buộc chim phải bồi dưỡng, ăn giả bữa, ăn tứ tung bát giác cho lại sức.

Liệu tôi có đỏ da thắm thịt trở lại? Hiền Hữu ơi, lòng dạ nào hai người đã mang ra chơi tôi như thế. Giết người không gươm đao! Tôi muốn uống rượu nhưng tìm không ra bằng hữu. Tôi thức sáng đêm cho phù hợp với giờ cố quận để ỉ ôi với thằng bạn cũ âm dương cách biệt đôi đàng. Hắn nói, suy ra ông cũng có uy, chúng ngán sợ ông nên chẳng dám công khai. Tôi hả, con vợ nói thẳng vào mặt: Chán ốm, anh đếch đóng tròn vai một thằng chồng. Tôi ôm đồ đoàn ra đi đây, từ nay đừng nhìn mặt nhau nữa. Vợ chồng mà sao ăn nói linh tinh đến thế được? Phút đó, ông biết tôi mơ ước điều gì không? Phải mà nó đi êm re, nó viết thư tạ từ đặt trên bàn có dằn cục đá để khỏi gió thổi bay. Mặt mũi nào trân tráo đứng ngó nhau lần cuối? Trời, phải mà có tôi ở gần ông. Hai đứa chở nhau đi nhậu một trận thật tới bến. Đù mẹ, cho tôi chửi thề một tiếng. Con chó của tôi bị bọn khuyển tặc bắt làm thịt mất rồi. Chó má thật!

Nản quá, tôi đành phải cắt sóng, thôi nghe chuyện buồn. Không biết làm gì, tôi mở sáng tất cả những ngọn đèn, ngồi cong lưng lục soạn từng ngăn tủ cố tìm cho ra một tấm ảnh chụp chân dung má tôi. Sẽ lộng kiếng, sẽ đặt trang trọng ở chỗ nào đó mà thờ phượng. Cái muốn tìm thì mãi trốn ở đâu, cái không muốn thấy lại nằm chình ình ra đó. Ảnh hoa khôi Hoa Lài thời trung học, phía sau là nét chữ mềm mại rất đỗi học trò: Tặng anh để làm “kỷ nghệ”. Thương.

Ngày mai trời sáng tôi sẽ đi tiệm chuyên môn chỉnh hình nâng cấp để bức ảnh Hoa Lài khi lộng kiếng trông thật hoành tráng. Tôi quên hỏi thằng bạn sư nữ Hoa Lài pháp danh gọi là gì? Tôi treo hình bóng một ni cô lên để vọng tưởng thì liệu bên ấy con đường tu tập của Hoa Lài có bị ảnh hưởng không?

Bạn tôi bầu bạn với chó thì chó cũng đường đột nhảy lên bàn nhậu. Đớn đau quá! Tôi thành tâm xin sư cô Hoa Lài năng tụng kinh gõ mõ trì chú cho tôi tai qua nạn khỏi kiếp này. Kiếp có người yêu ngoại tình, người bạn phản bội. Na mu A mi da butsu!

Hồ Đình Nghiêm

Hậu cứ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

Tặng Thiếu Úy Lê Ngọc Châu, khóa 24 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức

Ra khỏi đồn Mang Cá, người đàn ông có hơi tần ngần trước con đường ngập nắng. Màu hoa phượng đỏ thắm, rực rỡ đến nhức nhối và mặt nhựa đường như biết co giãn để cảnh vật cuối tầm nhìn mãi luôn xao động.

Trưa yên tĩnh, trưa đứng gió. Mọi thứ như thiêm thiếp giấc ngủ say. Có tiếng máy nổ nghe mỗi lúc một gần và rồi thì kề cận sát bên hông: Thiếu úy đi mô đó? Leo lên em cho quá giang.

Chiếc Honda 50 màu đen mới nước sơn. Nó sạch sẽ bóng loáng tới độ có thể phản chiếu trung thực những gì đang đọng vào đấy. Người đàn ông nhìn ra bộ quân phục mình mặc trên người. Màu cứt ngựa trộn lẫn với màu bụi vàng. Màu sương gió và màu trận mạc. Một thứ màu xác xơ chẳng giống ai. Anh kéo chiếc nón vải xuống thấp trước trán và anh lắc đầu. Người lính trẻ phóng xe đi với tiếng máy gầm gừ hung hãn. Mọi thứ ở hắn thảy đều lạ lẫm trong mắt anh, mặc dầu cả hai đều có cái phù hiệu số 1 giống nhau may chặt bên tay áo. Hắn quá trẻ và hắn có tác phong của một cậu học sinh sau giờ bãi học. Người đàn ông đi dọc theo hồ Tĩnh Tâm. Anh nhớ tới thằng em trai đang học lớp 10. Hắn cũng có một chiếc xe gắn máy. Hắn vừa có bồ và anh cầu mong hắn đừng phải chịu cảnh bị bồ đá. Trong đám lính của anh, cái lý do để tụi nó sớm nằm gai nếm mật đa số đều quy vào mẫu số chung: Thất tình. Và: “Em học không nổi Thiếu úy ơi, nhà em nghèo quá mạng!..” Duy chỉ mình thằng Phúc là ngoại lệ: “Em vừa ra khỏi chợ Đông Ba, có hai ông nội xáp vô kẹp tay em lôi đi. Cái mặt em như ri đây mà họ đổ hô là Việt cọng. Tụi nó còng em về bót cảnh sát tẩn cho một trận nhừ tử: Mụ cô mi, hôm nọ mi đi rãi truyền đơn tau đã chụp hụt một lần rồi. Chứ cơ sở mi đặt ở chỗ mô? Khai mau… Nói Thiếu úy đừng cười, lúc nớ em khóc như cha chết mạ chết. Khóc như rươi. Em đi lính với cái đầu óc đặc sệt một chữ: Trả thù. Ba em chửi: Đồ báo đời. Mạ em khóc: Con chi mà bất hiếu rứa bây! Vì mấy cái lời lẻ tẻ đó nên em không đành lòng chọn thứ dữ, em chui vô Sư đoàn 1 Bộ binh đặng gần gũi có chi mà phụ đỡ gia đình”.

Người đàn ông nhìn xuống hồ. Tĩnh Tâm, ai đặt cho mày cái tên nghe hay ho đến vậy? Mặt nước đục, cạn. Những cành sen khô nhàu và mùi bùn thì luôn hôi tanh. Anh tháo gỡ cái bông mai trên cổ áo, cất vào túi quần. Năm ngón vọc giỡn những tờ giấy bạc nhăn nhúm bên trong. Quang Trung, Lê văn Duyệt. Những vị tướng lỗi lạc được hậu thế ghi công và cái mãi lực khiêm nhường đáng phàn nàn mà nó có. Tiền lính là tính liền. Anh không đủ tĩnh tâm để tính toan được chuyện gì. Anh cũng là đứa báo đời. Đôi khi anh nhìn ra sự có mặt của anh giữa đời sống này là điều không nên.

Ve kêu râm ran một góc vườn nhà ai cây lá rậm rạp. Vô tình, người đàn ông để cho bước chân dẫm vào một lối đi quen thuộc. Anh hơi lưỡng lự, bần thần. Bụi chè tàu, cái bể cạn, vuông sân nhỏ, cây vú sữa, một cái giếng, một cái am… Nó vẫn thế hay nó đã biến dạng sau cái chia lià của chủ nhân. Ba Mạ anh đã quyết định bán căn nhà ấy để dọn vào Nha Trang sau thảm họa Mậu thân. Biến cố đau buồn kia đã xô đẩy người sống mỗi lúc một xa nhau, xa kỉ niệm, xa nơi chôn nhau cắt rốn, đoạn lìa rũ bỏ những gì cần ôm giữ đồng thời chính nó, sự bạc ác kia đã khoát vào thân anh bộ quân phục và Nha Trang cũng là địa danh quá xa so với người lính mãi đứng án ở tuyến đầu.

Anh dừng chân, anh sững sờ. Tất cả còn y nguyên, chẳng hư hao, như sức mẻ là thứ đã tới lằn mức cuối, không thể đổ vỡ hơn. Và cảnh vật nọ như đang mếu máo được gặp lại anh dù cậu bé con ngày nào giờ đã biến đổi ra thân phận khác. Một hình nhân có thể làm con nít nín bặt tiếng khóc nhè. Dạ xin lỗi chớ anh muốn hỏi ai? Đứa con gái nằm ru em nhổm người dậy trên võng. Võng chòng chành, hoa nắng lỗ chỗ đâm nát người anh. Phúc… Dạ không có ai tên Phúc ở chỗ ni. Người con gái trả lời, đứng ôm đứa nhỏ trên đôi tay gầy. Đứa nhỏ ngủ say không nghe ra đối thoại và khoảng cách giữa ba người luôn cách chia bằng một vuông sân vàng nắng. Tôi nói lộn, trước đây tôi ở nhà này, bây giờ tôi tạt ngang chỉ để ngó qua một lần, rứa thôi. Chiếc võng tạo thành những đường hằn đỏ lên da thịt đứa con gái, mắt nhìn tới người lính bằng thứ nhãn tuyến đọng chiếu hơn cả một ngờ vực. Ánh mắt thường gặp nơi những tù binh đợi chờ anh lấy khẩu cung. Xin em vài ba cây hương, anh đốt thắp cắm trên am rồi anh đi ngay.

Đứa con gái biến mất sau cánh cửa đóng vội và anh nghiêm chỉnh đứng ở tư thế đợi chờ ngoài sân nắng. Anh tự đánh cuộc, rồi thì thất vọng không mấy lâu. Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh. Anh đùa cợt thầm thì. Đứa con gái đã trốn biệt, ngay cả một con chó dữ bất thần nhảy ra sân gầm gừ tru tréo cũng chẳng có. Người đàn ông bỏ đi, anh ngạc nhiên khi tự nhận ra mình chẳng mang một ham muốn nào cả. Người anh trống trải, tựa một cao điểm mà cả hai phiá đều không tìm thấy cái vị trí chiến lược có nơi đó. Phúc, chẳng rõ tao có đủ can đảm để bước chân vào nhà mày không? Tao thích đánh một trận cho thật đường hoàng. Chường mặt ra, trực diện nhau, phân minh giữa trắng và đen, vàng và đỏ.

Mồ hôi ràn rụa đổ khi người đàn ông ra tới phố. Anh dừng chân ở nhà sách và lựa mua một cuốn tiểu thuyết. Truyện in chữ to dễ đọc, dày 200 trang vừa phải, đủ để tìm tới giấc ngủ. Nhét nó vào túi quần, đôi giày từng lội qua hai vùng chiến thuật dẫm lên nền gạch hoa sức mẻ trước thềm. Thằng con trai nhai cây tăm tre bật người khỏi chỗ ngồi, hắn quơ tay như xua đuổi ruồi chờn vờn. Anh đi một mình thôi à? Người lính nhìn lui, anh cởi nón và dùng nó lau lên trán. Trán anh cau lại những nếp nhăn. Muốn có tiết mục đặc biệt thì nhớ nói sớm nghe ông thầy. Là sao? Phòng có gắn máy lạnh à? Dạ không, khách sạn bình dân mà, tiền nào của đó. Anh ưa có bò lạc không?

Người đàn ông đón lấy chiếc chìa khóa phòng. Anh ngó thấy cái hình xăm nơi bắp tay thằng “quản lý khách sạn”. Một đứa con gái cởi truồng, xấu xí và vụng về nét mực xanh. Tao không có hứng. Anh nói khi quay lưng. Đàn bà sao lại gọi là bò lạc? Lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi. Nói thế thì dễ hiểu, biết ngay đó là đường nhắm có trên một khẩu súng. Căn phòng nóng như một lò lửa. Người đàn ông mở toang cánh cửa sổ và tức thì những thứ tiếng động tạp nhạp dưới đường phố tràn ngập vào ngay. Tiếng động làm anh choáng váng, anh đợi một cơn gió hiếm nhẹ thoảng nhưng chẳng thấy. Anh vác mặt ngó xuống cái thế giới mà anh có bổn phận phải giữ gìn cho nó luôn an vui yên thắm. Anh ra tuyến đầu, làm cái hàng rào làm cái bờ đê làm cái vật cản, nhưng anh ý thức được có khi kẻ thù không hẳn là những bóng đen đang di động trước mũi súng. Mệnh lệnh. Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Ừ, thì cứ nên tin như vậy, nhưng thi hành trước khiếu nại sau thì quả là thái độ ngược ngạo dễ dắt người ta đi vào tuyệt lộ. Anh tự nghiệm ra một bọn người lúc nhúc ngồi trong giao thông hào như trung đội anh chẳng có đứa nào nuôi dưỡng được một sứ mạng gì gọi là ghê gớm, thậm chí có đứa không lý giải được công việc giết người chẳng gớm tay của nó. Gia đình nó phật tử thuần thành, ròng rã ăn chay trường và nó tin rằng: “Buông đao xuống có thể thành Phật”.

Người đàn ông nằm vật xuống giường. Tấm khăn trải hoen ố, tuồng như đánh cắp từ bệnh viện. Xanh cái màu xanh đặc thù. Anh rút cuốn truyện từ túi quần ra, sửa thế nằm thoải mái, kê gối cao và dọn lòng cất bước. Một chuyện tình không êm xuôi. Chàng và nàng đầu hàng trước nghịch cảnh. Chàng vào Thủ đức và nàng lên xe hoa. Chàng luôn gọi nàng là cô bé. Chàng, Nàng, Cô bé. Cô bé, Nàng, Chàng… Người đàn ông gấp cuốn truyện đọc chẳng nổi ném xuống giường, anh thấy xa lạ với những con chữ ấy, không thể hòa nhập để cho hai nhân vật chính lôi kéo mình đi hết “đoạn đường chiến binh” của họ. Anh tiếc tiền, tiếc nuối một giấc ngủ sâu đã chẳng tìm gặp. Vùng dậy, anh lôi bọc ny-lông đựng giấy tờ ra, bắt gặp một bức ảnh đen trắng. Khuôn mặt gượng cười trước ống kính, sự miễn cưỡng đó như làm tăng lên vẻ ngây ngô có trên mặt đứa con trai tóc húi cua. Mặt sau ghi: “T.N. Phúc, kỷ niệm ngày quyết định khoát chiến y”. Trong bao ny-lông gạo sấy chứa cất những tờ giấy ẩm, đó là giấy tờ tùy thân mà Phúc chỉ trình ra nếu đứng trước mặt một thằng Quân cảnh có bộ mặt kháu ó. Sao tóc mày dài vậy? Sao giày mày chẳng được bóng láng? Mụ cô mi, mi thử dãi dầu ở đường 9 nam Lào. Mi thử ăn dầm ở dề bên sông Thạch Hãn, mi thử đóng chốt gần cổ thành Quảng Trị… coi thử mi có còn giữ được cái dáng dấp một thằng lính sạch nước cản mà mi luôn trau chuốt không? Bày đặt tra với khảo!

Người đàn ông xếp ngay ngắn những nếp gấp có sẵn ở túi ny-lông, cất lại vào túi áo trên. Anh rửa mặt nơi cái lavabo cáu vàng, anh cúi đầu cho vòi nước mát chảy thấm đẫm vào đầu tóc xác xơ khô cháy những sợi phai màu. Anh ra tựa cửa nhìn xuống dòng sông giờ này xanh mát bóng mây. Anh đóng cửa phòng, bước xuống những bậc thang hẹp tối. Anh bước về phiá chợ, lạc lõng giữa chốn luôn phô diễn cảnh lọc lừa để sinh tồn. Rậm rật, tất tả, xô bồ. To tiếng, thì thào. Chửi bới, van xin. Khóc, cười. Tất tần tật. Tứng lừng lựng. Len lỏi, lạc lối, ngóc ngách, lòn cúi, lộn hồn lạc viá, sau cùng người đàn ông đi băng qua hàng bán nón lá, sạp bán ly tách chén đọi và rồi dừng chân nơi cửa hàng chuyên trị hương đèn vàng bạc xe hơi nhà lầu nam thanh nữ tú. Tất cả đều bằng giấy, èo ọp chiếc xe đạp dựng ở góc. Trời đất! Anh Cư. Ngó lạ chưa tề! Chứ lon lá thu mô mà chẳng đeo? Người đàn ông vày vò chiếc nón trong đôi tay, anh hối hận đã không mang cuốn-truyện-tình-diễm-lệ ấy để tặng cô gái, người vừa bật lên tiếng hô hoán. Anh mới về? Ừ, ông già đâu? Ba em về làng chia tiền lúa, mai mới trở lại. Anh ngồi chơi.

Người đàn ông ngồi xuống chiếc ghế đẩu. Anh ngó tới thằng con trai lùn tịt, mặt tươi rói diện bộ đồ lớn. Tại sao không vẽ râu mà lại bôi son trét phấn vào mặt hắn? Nếu buồn tay cắt cho nó bộ đồ trận bên ngoài, xong rồi hí hoáy vô cổ áo hai ba bông mai bạc thì ai cấm? Một hai sao cũng chả sợ. Thế giới ấy yên hàn vô sự quá! Anh uống nước. Người con gái mời khi mang tới một cái ly, nước màu vàng đậm, mùi đậu ván nướng cháy thơm át hẳn mùi hương đèn giấy vàng mã keo hồ. Cô bận bộ đồ màu ruốc, túi áo gài kín cây kim băng. Buôn bán ra răng? Cô gái ngồi ké né nơi cái giường tre. Dạ đắp đổi qua ngày. Tết nhất không nói, ngày thường vắng như chùa bà Đanh! Anh ngó cô thiếu nữ treo lủng lẳng trên cao, hình như chưa hoàn tất, bởi trần truồng chưa có xiêm y, lòi cả nan tre. Anh chẳng rõ, sau cái chết người ta có còn tìm nhau để trả thù xưa, để đày đọa, dày xéo nhau. Tui chết oan ức quá mà, làm sao nhắm mắt mấy ôn ơi! Người đàn ông bật ra câu hỏi: Sao chẳng thấy súng ống? Anh thiệt méo mó nghề nghiệp! Súng bằng giấy có dễ làm không? Dễ, mấy tháng trước có bà khách đặt làm một khẩu. Ba em loay hoay chi nửa ngày là xong. Bà ấy nói con bà chết trận, chừ đốt cho hắn khẩu súng để khỏi buồn tay. Lúc sống, con bà lúc nào cũng nói: Súng là vợ, đạn là con! Bữa mô rãnh làm cho anh một khẩu, loại M-16. Tầm bậy nà, anh là lính tráng mà chẳng biết kiêng cử, cái miệng ưa ăn mắm ăn muối! Nếu kiêng cử thì còn chi để gọi là lính. Mấy người tu hành kiêng cử thịt cá sắc dục thì cái đó đáng hoan nghênh lắm. Ba biết người đặt hàng là anh thì sức mấy ông làm cho. Nói là anh cúng cho một người đã chết, còn sống ai lại khơi khơi đi ôm một khẩu súng giấy? Em nghe trong chợ họ đồn là sắp hòa bình rồi, đúng không anh? Anh đâu biết. Mới ban hành lệnh ngưng bắn, mà cái đó thì chẳng liên hệ gì tới hòa bình cả. Không liên quan à? Cô gái đổi thế ngồi, hơi chồm người ra trước. Người đàn ông moi bao thuốc Bastos xanh, thắp lửa. Khói xanh bay lên hình nộm khỏa thân. Để nói cho em nghe về chữ liên quan, nó giống như chuyện đốt pháo vậy. Năm hết Tết tới người ta mới đốt nó đì đùng, ba trăm sáu mươi ngày còn lại ai rãnh mà nghịch với pháo? Anh nói chi mà tối nghĩa, dạo ni ra đường em thấy lính tráng mô mà chật phố chật phường, nếu chiến tranh leo thang thì họ đã nằm ngoài mặt trận cả rồi, có đúng không? Nội chuyện nớ thôi là đủ để mình tin sắp có hòa bình rồi. Ừ, cũng đáng tin lắm. Hòa bình thì có trở ngại chi trong việc bán buôn này không? Chà, câu anh hỏi mới trúng tủ ba em, ít người chết thì hàng đồ mã phải chôn luôn môn bài! Mấy giờ em dẹp hàng? Anh hỏi có chuyện chi không? Rứa thì tối ni anh ngủ ở mô? Có rảnh rang em tạt qua dưới cầu Gia hội đưa giùm anh cái gói ni. Địa chỉ ghi đầy đủ ngoài bao ny-lông. Cái chi rứa? Thằng lính của anh bị ăn đạn, anh nhờ em vô nhà ông già nó mà loan tin giùm. Í, không được mô, bậy nà. Tìm cô nào mà trao thư xanh thì họa may. Em nhát gan lắm, anh vô nhà họ thì hợp lẽ hơn. Giúp anh một lần đi mà. Em hứa bỏ công ngồi làm cho anh một khẩu súng thiệt đẹp, thiệt giống, cái đó hợp với em hơn. Tưởng tượng mấy người trong nhà đó họ bu quanh em, họ tra khảo em, họ nằm vạ, họ khóc lóc, họ tắt tiếng… em ngán lắm. Trời, cho em sống với chớ!

Người đàn ông cúi đầu xuống, anh ôm trán, anh vò đầu và anh đứng lên. Đừng giận em nghe anh Cư. Không, anh nói câu đó với em mới phải. Và em cũng quên chuyện làm khẩu súng ấy đi. Mong hòa bình sớm tới em thử làm một con bồ câu rồi đốt cháy nó coi thử có chuyện lạ xảy ra không. Tối nay anh tá túc không, em đợi cửa? Tưởng có ba thì anh ghé, ông về làng thì thôi, để khi khác. Nhắn với ba là anh có ghé thăm.

Người đàn ông bước ra khỏi chợ chiều, tay nắm chặt cái túi ny-lông. Tay anh nhớp nháp mồ hôi. Anh đi lên cầu Trường Tiền, vịn vài cầu mà hóng gió. Từ xa, bóng chiều đã nhuộm thẫm hình dáng núi. Gần hơn, cầu Bạch Hổ vàng vọt thứ sắc màu của một chân mây sắp đi ngủ. Cái chateau d’eau thọc lên như cột trụ muốn chống đỡ, ngăn ngừa màn đêm. Tối đó có tiếng súng nổ lạch tạch, lát sau thằng Nhị xuất hiện với một hình hài sũng nước. Hắn mếu máo: Thằng Phúc… ông thầy ơi… Phúc… Chuyện gì đó? Đứa nào cả gan nổ súng đó? Tụi bây không biết là lệnh ngưng bắn đã có hiệu lực… Dạ thằng Phúc, hắn biểu em bơi qua sông, tụi mình chộp cổ con gà về nấu cháo cho ông thầy tẩm bổ… không biết tình hình có xấu lắm không, cầu trời hắn chỉ bị thương sơ sài…

Phúc, những gì tao có thể làm cho mày tao đã rán sức. Tao đợi chờ mày suốt ba ngày bên sông, đi lùng sục tới giới hạn cuối nhưng chẳng thấy xác mày nổi lên. Tao biết mày đã bị đạn găm, những kẻ bắn mày là những đứa trẻ nhỏ mới ngày nào còn lạ mặt nhìn nhau, đứng e dè trao đổi cùng nhau những điếu thuốc Nam Bắc trên một hàng rào ngăn chia tưởng tượng. Mày đi lính vì một ngộ nhận và khi chết đi, cái đó có phải là sự hiểu lầm? Chết vì một con gà, có đáng không Phúc, dẫu gà chưa tìm gặp được! Có đáng không, nếu hành động đó nhằm chứng minh thứ chân tình mộc mạc có giữa thầy trò mình. Huynh đệ chi binh, chữ ấy ngày càng nhạt nhòa và mày muốn làm đứa cất công tô đậm nét?

Tiếng đò máy chạy giữa sông xẻ sóng vang dội nghe phành phạch như cánh quạt trực thăng đang cố xuống bãi đáp nhiều hòn tên mũi đạn. Người đàn ông cúi đầu nhìn theo đường rách giữa con nước đen, anh ném xuống dưới cái thẻ bài có khắc số quân và loại máu của anh. Vĩnh biệt Phúc. Nước mắt anh ứa ra. Gần bốn năm trong quân ngũ, tham dự bảy trận đánh lớn nhỏ khác nhau, lần đầu tiên Thiếu úy Cư biết khóc!

Hồ Đình Nghiêm

Hạt giống

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 1 Dec 2023

Tôi là út chính thức trong một gia đình đông con. Ba mạ tôi “trời cho” đẻ được mười đứa vuông tròn, có một chị bị “thần linh” bắt đi khi còn bé, nếu còn sống, sĩ số đông đúc thịnh vượng ấy có thể lập nên một đội bóng đá: Mười một niềm hy vọng.

Bảo tôi là út chính thức, út chính hiệu, bởi vì trên tôi có hai út khác: Út anh và út em. Đừng ngạc nhiên, tựa như nhà hàng xóm có anh Thôi, chị Nữa, anh Thêm, anh Chót, chị Cuối (chứ không phải Cuội). Nói chung, chuyện vợ chồng, người ta không mấy quyết tâm, đêm hôm khuya khoắt, nguồn cơn nào xúi dục khiến họ dễ “cháy giáo án” để lao động vượt chỉ tiêu? Nói theo kiểu thời nay, đọc báo thấy dự trù cho việc đầu tư công trình ban đầu là chín mươi triệu, sau thâm thủng quá độ và nhà nước tái xanh mặt máu tổng kết số nợ lên đến một trăm tỉ đồng! (Chuyện nhỏ).

Thời đó, xa lắc xưa lơ, ba tôi không hề biết trên cõi đời ô trược có một thứ gọi là condom (bưng bít thông tin?). Mạ tôi chẳng hay cách tính chu kỳ vận hành kinh nguyệt khi nào thì trứng rớt rơi, tìm ra khe hở của thời gian an toàn. Thuốc ngừa thai thì làm gì có trong khi răng mạ tôi nhuộm đen và ngoài chợ chỉ có bán nhu yếu phẩm: Trầu, cau, thuốc Cẩm-lệ. Khi đủ trí khôn, những lúc làm “ông cụ non”, ngồi cô đơn sau góc vườn, tôi tự hỏi, con cái mỗi lúc một nhiều, căn nhà thì bé tẻo teo, khoảng trống thuận tiện nào dành cho ông bà âu yếm làm tình? Mặc xác chúng nó, con nít thì biết cóc gì, chúng ta cứ yêu đương vun bồi hạnh phúc cái đã, mọi chuyện khác hậu tính. Tôi hình dung ra câu nói của ba tôi, và mạ: Chắc cũng giống như trăm ngàn người đàn bà thuở ấy, đành cam phận nằm dưới trong thinh lặng. Chủ quyền của phụ nữ thì họ mới hô hào cổ xúy gần đây thôi. Họ tranh đấu dành sức mạnh gì được khi trong sổ gia đình, mục nghề nghiệp luôn nguệch ngoạc hai chữ: Nội trợ. Kỳ cục! Nghề ngỗng kiểu ấy thì muốn đấu tranh cũng khó. Đi chợ (chồng đếm bạc, giao tiền) nấu nướng, khâu vá, giặt giũ, phơi phóng, tắm rửa con thơ, xi ỉa con dại, chùi đít con ngoan, hò khoan nhặt ru ngủ con chướng và …nhan sắc mòn hao theo bổn phận. Vú móp méo cạn kiệt nhìn bầy con đủ lông đủ cánh để bay xa, và đa phần chúng ôm đít vợ hiền có mấy khi đoái hoài ngó lại “ngày xưa thân ái”. Tội nghiệp! Vậy chứ cũng có đứa bày đặt xâm lên cánh tay hàng chữ thời thượng “Xa quê hương nhớ mẹ hiền”!

Ba tôi làm công chức, mẫu mực. Lương chẳng nhiều nhặng gì và ông có vẻ bằng lòng với đời sống đạm bạc ấy. Thứ đạm bạc theo sách vở thánh hiền, nhưng lý giải kiểu hiện thực thì chẳng có chữ nào thích hợp hơn: Rớt mồng tơi! Đi tiệm may một cái quần, có lẽ cái thước đo là thứ thằng thợ may chẳng nên sử dụng tới, bởi vì: Chúng lớn rất mau, cứ cắt dài rộng thoải mái vào… Thằng anh mặc chật bàn giao lại đứa kế vị, theo hệ thống “quân giai”, tới út anh quần bắt đầu biểu hiện “thái độ” chịu đời không thấu. Lai lên cao, lại xả xuống, lại lên cao, lại buông thả theo chiều cao của khổ chủ. Hai ống quần, trông tựa như cái thước đo mực nước thủy triều, úng thủy từng vệt mòn của thời gian khắc dấu ấn. Nếu thương tình giữ lại, lộng kiếng nó, treo nó lên, nó là vật chứng giúp người ta nhớ lại một thời cổ sơ; như chính quyền vẫn ưa lượm lặt rác rưởi để dựng nên phòng triển lãm trưng bày tội ác Mỹ Ngụy vậy!

Ba tôi không rượu bia, chẳng mèo mỡ gà đồng, không thuốc lá, chẳng cờ bạc (kể cả những dịp vui mà người ta thường phá lệ để nhấm nháp- ba ngày Tết chẳng hạn). Có thể nghèo là chính danh thủ phạm, hay nó là đồng minh khiến người ta sống đạo đức hơn kẻ khác… Ông thức dậy sớm, hối thúc đám con ra sân tập thể dục hoặc đánh cầu lông. Buổi trưa, thay vì nằm kể chuyện cổ tích, ông biểu đem giấy bút ra và ông sẽ trầm bổng đọc một đoản văn để cho “mấy sấp nhỏ”viết chính tả. Ông ưa sưu tầm, cóp nhặt những nguồn tin lạ để “tuyên truyền”, dằn mặt đám hậu thế: Con ông trợ Bảng nhà nghèo, đêm hôm ôm sách vở ra học dưới cột điện đường, vậy mà nó đã vinh hiển tốt nghiệp y khoa. Có khi ông lại kể cách khác, lôi một nhân vật hoang tưởng nào đó tận dưới quê, phải bắt đom đóm nhốt cứng một lọ thủy tinh để gạo bài dưới thứ ánh sáng “khiêm tốn cần kiệm” ấy. Và cuối cùng là gì? Nó đổ kỹ sư, xuất dương tận Paris kinh thành ánh sáng, giờ làm việc bên Ty Công chánh, có xe đưa rước chỉ thiếu còi hụ. Xóm tôi có bà Tôn lò (con nít gọi thế- chả hiểu sao?) đi làm sở Mỹ, tằn tiện nuôi con ăn học thành tài thì ba tôi lờ đi, chẳng nghe nói năng chi. Có lẽ vì nghèo nên câu châm ngôn mà ông tâm đắc nhất: Đói cho sạch rách cho thơm. Dĩ nhiên là những đứa con của ông hầu như thảy đều bị điếc. Bọn chúng là thứ gì đó mà ai kia tốn công dội nước từng thùng cũng chẳng hề thẩm thấu. Lạ. Tôi chưa thấy qua một đứa đói khổ nào ngó sạch sẽ. Tôi chưa nhìn ra một tên khố rách áo ôm nào mà thơm tho. Hình như dơ bẩn, hôi hám là thứ luôn hiện diện với thành phần bất hạnh ấy. Nhớp nhúa, mặt xanh nanh vàng là thứ đồng minh không hề tháo chạy, bám cứng phường mạt lộ kia. Thi thoảng, để thay đổi không khí, ông mang những tấm gương hiếu thảo từ bên Tàu xa xôi cách trở ra, để kể. Nhị thập tứ hiếu. Hai mươi bốn đứa, có đứa trời lạnh leo lên giường nằm trước, hồi nào chiếu chăn ấm áp mới tụt xuống hối thúc dìu đỡ má nó lên điền vào chỗ trống những mong bà cụ ngủ ngon trong giấc cơ hàn. Lại có thằng lập nên công trạng gì đấy, được cửa quan thưởng công cho ăn trái cây đặc sản, thương nhớ mẹ, nhịn ăn, thu cất hết thảy mang về lột quýt cho maman xơi. Lời ông kể, chui từ lỗ tai thằng lớn, xuyên qua, lan truyền xuống thằng bé và mất hút dấu tích ngoài đồng không mông quạnh. Chẳng đứa nào nhớ. Hoặc đầu óc chúng luôn chật chội những toan tính thậm quan trọng. Làm sao có tiền để dắt đào đi ciné? Câu hỏi nọ tầm cỡ như một thứ công án. Có cách gì không, để mang chở người tình đến quán nước vắng, nói ra một lời nguyền: Cha mẹ sinh tôi thằng con bất hiếu, thề thốt thương người hơn cả song thân (Nguyễn Tất Nhiên). Lớn thì mê mệt tán gái, nhỏ thì rình rập nín thở dòm đàn bà đêm khuya thanh vắng ra tắm giếng, tùng tam tụ tứ đi trộm hương hoa quả phật dâng cúng trên mỗi am thờ phượng kẻ khuất mặt. Dĩ nhiên là ba tôi có nằm mộng cũng chẳng ngờ được. Chủ quan, ông tin vô thành quả giáo huấn của ông. Vạn bất đắc dĩ, có đứa bị lộ hành tích, đay nghiếng một hồi, roi vọt một mẻ, cuối cùng ông đành thở dài đánh sượt: Con hư tại mạ!

Mạ tôi là người đàn bà bất hạnh, trong mắt tôi. Bởi thông thường, đến một số tuổi nào đó, người ta phải tự đề ra một giải pháp: Nghỉ hưu. Mạ tôi đã già, những đứa con ở tứ tán quận huyện xa xôi luôn thay phiên réo gọi; Vào giúp con một tay, vợ con sắp đẻ tới nơi. Bà đi, đi trong câm lặng, bởi bà hiểu cái đích tới kia đang đón đợi bà những điều phiền muộn, luôn luôn là vậy. Những cô con dâu của bà chẳng mấy ai được nghe kể chuyện Nhị Thập Tứ Hiếu. Họ sẵn sàng làm khó bà bằng thái độ của một kẻ quen nuôi kẻ hầu người hạ. Trong mắt họ, những thằng con trai của bà chả có kí-lô nào ráo trọi. Kết quả: Bà khóc. Khóc cho sự cô thế. Khóc bởi sự yếu hèn bạc nhược của một thằng đàn ông. Thằng đàn ông lấm lét: Vì sao mạ lại khóc? Tao khóc, bởi tao nhớ thằng út. Không có tao, chẳng rõ có ai ức hiếp nó không? Tội nghiệp! Mua cho tao cái vé xe đò, vé máy bay, để về ngoài đó… Đâu được, chí ít mạ phải đợi cúng đầy tháng đứa cháu nội đã chớ. Giờ này đã có ai khỏe mạnh đâu? Mạ tôi mê đánh tứ sắc, chiếu bạc là nơi bà bốc lên, bỏ xuống, xóa dấu vết, chồng trả, thanh toán, đánh hết rác… những niềm đau do con cháu mang lại. Đó là nơi chốn trú ẩn an toàn nhất của bà, là không gian giúp bà tìm lại chút quân bình giữa bao hụt hẫng mà ai kia nhẫn tâm tạo ra.

Tuổi thơ, tôi cũng khóc nhiều. Vì người tôi yêu thương nhất thường vắng nhà dài lâu. Mạ đi, như mang hết dưỡng khí, tôi luôn bị ngộp mỗi khi trời chạng vạng. Thật khó thở, vì tôi ý thức thêm một đêm dài, chỗ nằm trống lạnh, chẳng có da thịt ấm áp cho tôi dụi mặt mình vào, êm ả thứ hạnh phúc khó cắt nghĩa, là thứ bến đỗ an toàn tuyệt đối, có một không hai. Những khi rỗi việc, chẳng kiếm ra niềm vui, mấy ông anh bà chị luôn mang tôi ra để làm vật giễu, làm trò cười cho họ hả hê. Họ là những nhà đạo diễn phim rất tai quái, một trong nhiều trò mà họ cho có khả năng gây ấn tượng nhất, rất bức xúc, là mãi kể một đoạn “cổ tích”: “Một đêm mưa gió, ba mạ đi kỵ giỗ từ làng về, ngang qua một cái am miếu lớn nghe tiếng khóc ai oán của một hài nhi, bỏ đi không đành và là phật tử thuần thành ba mạ quyết định mang đứa con hoang ai vất bụi bờ kia về nuôi. Mi biết đó, nhà đông con, ông bà đâu còn lòng dạ nào để sinh đẻ nữa. Nuôi thêm một miệng ăn, cái này là do từ tâm, do nghiệp chướng phải trả. Đứa nhỏ kia là ai, đố mi đó? Là mi chứ còn ai vô đây. Dòm đi, bọn tau mặt mũi giống nhau, riêng mi thì có khác biệt, mi ngoại lệ. Ông già bà già mi thiệt đoản hậu, cục thịt đỏ hỏn như rứa mà cũng đem đi vất ngoài am, chẳng do dự, lại vào một đêm mưa to gió lớn lạnh căm nữa chứ. Thử nghĩ coi, không có ba mạ mình đi ngang thì chuyện xảy ra sẽ như thế nào? Tôi khóc to tiếng, chẳng dấu diếm. Tôi chạy ra sau hè, góc vườn quen thuộc cũ, nằm co quắp giữa đất cát mà tưởng như mình đang giẫy chết. Mọi thứ đều tan hoang. Tôi khóc. Tôi mong có bà tiên hiện lên để vỗ về an ủi tôi, ban phép màu như trong những truyện thần thoại hoang đường, nhưng nào có. Một bà tiên? Trời ạ, sao người ta ngây thơ đến dường ấy! Người viết truyện cổ tích là kẻ rất mực bất tài, tôi nghĩ thế. Dẫn người đọc đến chỗ bí, chẳng biết xoay xở, liền vẽ ra hình ảnh một tiên cô. Con ưa chi, nói đi, rồi ta sẽ cho con toại nguyện. Nói cứng vậy thôi chứ lòng tôi cũng hoang mang, tôi đem ngờ vực ấy đi hỏi thằng Cu đen. Cu đen là thằng bạn thân nhất mà tôi có, dĩ nhiên nhà nó cũng là thành phần “chuyên chính vô sản”, gió luôn tuồn vô ra giữa bốn bức vách trống lạnh. Cu đen lớn hơn tôi hai tuổi, học hành hơi bị chậm lụt, hơi bị dốt. Để biện minh, hắn đưa ra câu nói dễ nể: Chỉ có thầy cô yếu kém trong phương thức giảng dạy chứ học trò không bao giờ dốt! Mi nên dớ. Cu đen đặc biệt chẳng tài nào phát âm đúng những chữ có NH đi đầu. Đại loại: Dớ dà thì ta nên hiểu nhớ nhà. Duận trường, chùm do, cơm dão, dan đèn, mi đi danh lên, có dững khi…coi dư là bị nói chớt. Nghe hỏi, Cu đen làm trạng: Làm chi có tiên, nếu thực sự dư rứa thì tau đã ngon cơm hơn mi từ khuya. Tau từng khóc đến mù con mắt mà có thấy chi mô. Đừng nói chuyện bá láp. Cu đen dậy rất sớm, hắn phụ giúp mạ hắn để kịp chuyến đò mang gánh bún sang sông khi bình minh, vì thế vô tình hắn làm đứa có nhiệm vụ réo gọi lũ bạn quanh xóm cùng đi học một lượt. Cách hắn ới cũng lạ thường, đứng ngoài hàng rào đưa tay khum ngang miệng như thế cái loa, và rồi hắn kêu đích danh tên ông già thằng bạn ra. May mà ba tôi tên Nhàn. Hắn chỏ mỏ vô sân: Dàn ơi Dàn, ngủ dậy chưa mi? Ra đi học kẻo trễ. Mạ tôi đang uống trà, bà chép miệng: Đã nghịch tặc chưa? Con cái nhà ai mất dạy rứa bây! Anh tôi nói: Mạ lạ chi, rồi thằng út của mạ cũng tới nhà đứa khác chơi kiểu mất dạy như rứa. Trò đó bọn con chơi từ lâu, mới mẻ chi nơi a.

Có một chuyện lạ là qua biết bao thăng trầm của thời cuộc, bạn bè cũ hư hao biệt tăm dần dà, riêng Cu đen vẫn quẩn quanh cùng tôi trong cái thành phố hứng chịu nhiều bất hạnh ấy. Quẩn quanh không lâu thì bắt gặp ngõ cụt. Cu đen thi hỏng tú tài một, Cu đen bị động viên, vô Đồng-đế “quân trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu”. Cu đen sẽ có cái cánh gà may bên tay áo trận. Chưa sống đời quân ngũ nhưng hắn đã sớm lộ nét phong trần bụi bặm. Hắn đăm chiêu. Hắn ngồi đồng quán cà phê suốt buổi. Hắn ưa đặt để đôi mắt vào chốn xa xăm, sông phía thượng nguồn hoặc dáng núi mờ đục dưới chân mây. Tháng ngày ấy hoàng hôn sẫm màu kì lạ, vàng không vàng, tím chẳng ra tím; như thể bộ mặt chiến tranh đã góp phần làm hư hao ngay cả dung nhan đất trời. Tôi cúp cua trốn học một ngày để làm kẻ tiễn đưa. Hắn hỏi: Mi có thù ghét đứa mô không? Mi có bị ai ỉ mạnh hiếp yếu không? Chỉ mặt nó để tau trả thù giùm cho. Tau xin nó tí huyết trước khi giã từ đời hồn diên sách vở, tau vào lính thì nó làm chó gì tau? Tôi nói không. Bây chừ cũng như mai hậu tao quyết không nuôi thù hận. Cu đen chửi tôi: Đồ cà chớn. Tôi mua cho hắn bao thuốc lá, nhét vô xách và rồi bụi mù của chiếc xe xóa mờ dáng ngồi câm lặng cái đứa bạc phước ấy đi. Ở chốn lao lung xa cách, hắn siêng viết thư cho tôi kể bao chuyện lạ về những địa danh tôi chưa hề nghe qua. Giọng văn luôn hằn học, thi thoảng chen cài chút triết lý. Thứ triết lý nhuốm đầy sắc màu của bi phẫn, ta không phụ người nhưng người vẫn cố tình phụ ta. Chỉ hơn hai tuổi, nhưng so ra hắn trưởng thành trước tôi cả chục năm. Cho hay kẻ luôn ẩn náu an toàn dưới mái nhà, học hỏi dưới mái trường êm ấm chẳng thể so bì được với đứa bị cuộc đời giáo huấn. Sự khắc nghiệt của thứ trường đời kia đã mang Cu đen mỗi lúc một xa tôi, vừa nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Tôi vượt biển làm người tị nạn được mười hai năm thì có dịp phải trở về cố quận. Ba Mạ tôi đi gặp ôn mệ từ khuya, chôn ở chỗ quạnh vắng vậy mà vùng đất ấy cũng bị nhà nước ra lệnh giải tỏa. Cái chết, tự nó đã là một sự giải thoát, vậy mà chính quyền cũng nhúng tay vào giải phóng thêm một lần nữa. Làm người Việt-nam e cái chết cũng khác bạn bè năm châu. Đành vậy. Tôi đứng trước hai ụ đất mới tinh khôi của đấng sinh thành, cúi đầu nhìn bao kỉ niệm cũ lướt thướt trôi giạt qua. Tôi chẳng giàu có gì, giờ này, nhưng tôi đủ sức để phụng dưỡng mẹ cha. Tiếc thay hai người đã buông xuôi sau khi đi dọc cuộc đời với bao niềm đau. Tiếc thay khi tôi có điều kiện để trả hiếu thì song thân đã khuất. Lúc nhỏ, Mạ hỏi: Con út trút gia tài, rứa thì con ưa cái chi? Tôi ngó quanh quất gian nhà luôn bày biện nỗi nghèo khó. Mạ đừng nói có được không. Con chẳng ưa cái chi cả! Mạ ơi, hôm nay con đứng cách biệt trên mặt đất này, con chỉ ưa nghe Mạ hỏi: Con út của mạ sống tha phương cầu thực có cực không con? Tôi thắp nhang, tôi nhổ cỏ, tôi nấn ná đưa đầu trần ngồi yên lặng dưới nắng rồi tự nhiên tôi khóc.

Tôi bơ vơ giữa nơi chôn nhau cắt rún, tôi đã làm chuyện bao đồng bỏ công sức đi dọ hỏi tin tức thằng cháu nhưng không cách gì lần ra manh mối. Có người nói, không chừng mẹ nó dắt đi vùng kinh tế mới. Có kẻ bảo, in tuồng mẹ nó mới kiếm ra ông chồng hào hiệp, họ nắm tay cùng nhau xuôi nam tận Long Khánh Cần Thơ cũng không biết chừng. Thằng con trai mười tuổi ấy mang cùng một họ với tôi, bị anh tôi ruồng bỏ cả chục năm trước. Nôm na là anh dụ khị con gái, hứa hẹn, thề nguyền, lợi dụng, bẻ hoa, và ném cái vỏ chanh co quắp vào thùng rác. Nôm na cha mẹ sinh con trời sinh tính, tính thằng chả là quen quất ngựa truy phong, suốt đời người trong nhà chẳng ai nhờ được chuyện gì. Nếu gặp giọt máu rơi của anh ấy tôi sẽ cù rũ nó lên cao nguyên xuống biển rộng ăn chơi bù khú cho bỏ những ngày cơ cực. Tôi sẽ nói với nó bản chất cuộc đời vốn hằng cửu chuyện bạc, anh em ruột đôi khi cũng chỉ là chén nước lã chẳng đong đầy. Một ngày nào đó cháu sẽ đổi họ, sự thù hận hoặc lòng khinh miệt hy vọng sẽ giảm bớt khi cháu mang một dòng họ khác. Tôi tưởng tượng ra lắm điều nhưng kết quả là số không. Vậy mà hơn, biết đâu chừng lỡ gặp mặt, nó sẽ nói ra những điều nghe đắng lòng. Đắng hơn cả tiếng chửi “Đù má, mày là thằng cha căn chú kiết nào? Từ đâu mày hiện hồn tới?”.

Tôi chưa quyết sẽ đi đâu trên chiều dài đất nước để vơi nhẹ nỗi buồn thì bất ngờ thay tôi gặp lại Cu đen. Đúng ra là hắn nhận diện tôi trước. Hắn có chiếc xe gắn máy, hắn hành nghề lái xe ôm. “Tau thấy một thằng Việt kiều đi ngơ ngáo, con mồi béo bở nên tau rà xe tới sát một bên hông. Đời thuở, ai mà dè… Mụ cô mi, có thay đổi cách mấy tau cũng còn dìn ra mi. Mi nên dớ”. Tôi leo lên chỗ ngồi phía sau, ôm cứng lấy cái hình nhân tiều tụy của thằng bạn cũ. Cảm động làm tôi vụng về, chỉ biết trả lời, chỉ biết để hắn chủ động việc tra hỏi, toàn quyền muốn chở tới đâu thì tới. Vợ con chưa mi? Tau đã yên bề gia thất rồi. Vợ tau có gian hàng bán chén đọi ngoài chợ, nàng tên Dư. Tôi phải động não ghê gớm để biết là vợ hắn tên Như. Mà cũng không chắc, có thể lần này hắn nói đúng, đàn bà con gái thiếu gì người mang tên Dư. Tau chở mi ra chợ liền chừ cho mi chộ mặt, tiện thể để chính miệng mụ vợ tau nói ra một bí mật.

Phố phường xô bồ, nhà cửa mọc chen lấn với kiến trúc chắp vá tùy tiện, những đổi thay ấy dường như không làm suy giảm tình bạn bộc trực mà Cu đen luôn dành cho tôi. Vợ hắn có nhan sắc, hèn chi cu cậu nôn nóng giới thiệu. Gian hàng vắng, ế. Vợ Cu đen ngồi trên tấm ván với lu hủ chén bát đứng chỏng chơ một bên. Người đàn bà thòng chân xuống đất rà tìm đôi dép để xỏ vô. Và rồi cô ngó chăm tôi. Có thể khi cầm trên tay một chục chén kiểu, cô cũng mang ánh mắt đó. Săm soi, tọc mạch, vạch lá tìm sâu, chỗ này bị vết rạn, chỗ nọ đường dụ vàng của hoa văn in quanh miệng chén không giáp vòng… Dư ơi, đây là cái đứa bạn mà anh hay nói tới đó. Anh bắt cóc được hắn mang về trình diện cho Dư đây. Ủa thiệt linh như cái miễu… Em có linh tính lạ lùng, em biết thế nào cũng có ngày này diễn ra. Nói láo xe cán. Chồng làm nhập đề, vợ làm thân bài, buộc tôi phải chu toàn phần kết luận. Chúc mừng hai người nghe. Ngạc nhiên ghê. Tôi dằn lòng để khỏi thốt: Nói láo hộc máu! Hai vợ chồng tha hồ tra khảo đủ thứ chuyện thượng vàng hạ cám, xôn xao huyên náo quên chuyện bán buôn. Tôi nhắc khéo. Cu đen nạt nộ: Ẻ ba bại, mấy khi mà chúng mình được đứng kề bên dau. Mi yên vị tại đó, tau chạy u đi mua cà phê. Tôi đứng yên, vợ Cu đen không chịu: Anh ngồi chỗ ni nè, cho khỏi mỏi chân. Tôi nghe mệnh lệnh, ngồi ngó những bạn hàng qua về luôn quan sát tôi, tựa hồ tôi là cái độc bình hiếm có chưa sức mẻ trôi nổi từ đời nhà Lý, Lê, Trần tới hôm nay. Em nói cái ni anh bỏ lỗi, tụi em có hạ sinh được một cháu trai, năm nay cháu đã sáu tuổi. Và… và… chúng em hội ý, đồng lòng mượn đỡ tên anh để đặt cho cháu. Anh hiểu cho, đó là một cách để nhớ, để thương, để… Chào, em vụng ăn nói lắm… Biết dùng từ gì để anh thông hiểu? Cu đen trở lại, thay vì tay cầm ly cà phê thì đằng này hắn dắt theo một đứa bé. Vòng tay chào bác đi con. Giỏi hè giỏi hè. Tổ cha mi, cái mặt giống ai mà đẹp trai phát khiếp! Hắn hun chùn chụt đứa bé mang tên tôi. Chẳng biết ở nhà thì gọi là Cu trắng hay Cu vàng? Tôi đề nghị Dư dọn dẹp thu vén đồ đoàn cùng kéo nhau tới một quán ăn chung vui. Cu đen chở vợ, mặt hớn hở ngó tôi ôm thằng bé ngồi xích-lô. Dư, vợ hắn cũng ngoái đầu, mắt long lanh. Ôi cái sóng mắt của người đàn bà một con trông đẹp lạ thường. Hấp lực của nó làm tôi sợ hãi.

Tôi trao cho Cu đen hơn năm trăm đô, dù chưa tới ngày lên đường. Tôi chẳng có nhu cầu gì cả, vả lại giúp bạn cũng xem như việc cần làm. Hắn nói với thằng con: Ôn ni giống tiên ông chưa, mi ước nguyện chi ôn cũng cho. Pha trò xong, hắn ngó tôi: Tau sẽ thường xuyên bỏ công lên chăm sóc mộ phần hai bác. Dư muốn tự mình nấu cơm đãi đằng “khúc ruột ngàn dặm” nhưng tôi từ chối. Cô đứng sát tôi, thỏ thẻ, nói trong tiếng thở vội: Chồng em rất qúi anh và chồng em bị tai nạn cách đây hai năm, anh không còn khả năng làm chuyện ấy nữa. Em cũng qúi mến anh, em bạo miệng xin anh một điều, hãy cho tụi em thêm một đứa con.

Tôi hy vọng đó không phải là chuyện bí mật mà Cu đen muốn vợ nói ra. Tự dưng tôi nghĩ tới hình ảnh một đêm mưa, người đàn bà lấm lét ôm một bọc vải đặt trước cổng chùa rồi ù chạy như bị ma đuổi. Một hạt giống nẩy mầm trên cánh đồng xa lạ. Không, tôi chẳng đành tâm. Tôi sợ đón gió bẻ măng. Tôi sợ một hậu họa. Tôi sợ đón nghe những tiếng khóc. Tôi quyết định trốn chạy mọi người, thầm lặng, chẳng từ biệt, cũng vào một đêm mưa.

Hồ Đình Nghiêm