Có răng rồi mới rứa

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 3 Dec 2023

Sau buổi họp đột xuất, sau nhiều tiếng ong ve, ông nói gà bà nói vịt, cuối cùng cuộc mổ bò chấm dứt lúc 5 giờ chiều. Nắng chưa tắt ngoài cửa nhưng tiếc cái là bia đã hết, đậu phộng rang sạch nhẵn và bốn vỏ bao thuốc lá đã vo viên phơi xác trên bàn nguội lạnh. Cơ quan thống nhất chỉ định ra ba nhân mạng đại diện đi miền Trung để góp chất xám vào cái dự án đình đám nâng cấp chỉnh trang phù hợp với tư duy thời đại.

Ông A trưởng phòng nhân lực và kế toán đến tìm tôi. Cậu chở tớ đi nhậu là vừa, mẹ, nói rát cả cổ. À mà này, không ấy cậu đến đằng Ngọc Nữ ngồi trước bảo nó làm mồi, cái gì cho thật bắt, bia ngoại các thứ, như vậy tiện hơn là chúng ta xuất quân cùng lần. Mẹ, bọn thối mồm thì rất sung chuyện làm rách việc. Tớ đi đái cái đã, lý do mà cậu phải khao tớ thì chốc nữa hẳn biết sau. Mẹ, họp hành đấu tranh rất căng chứ không vừa đâu nhé!

Thủ trưởng nói như sấm, nhân viên như tôi thì làm con vịt đã nhiều lần. Muốn chạy việc thì thi hành trước khiếu nại sau. Mà nói nào ngay hình như trước sau tôi chưa hề khiếu nại điều gì với sếp cả, chỉ tự nhủ lòng: Đừng nghe những gì sếp nói, đừng nhìn những gì sếp làm. Chưa tới giờ tan việc, dù ý thức làm chủ tập thể rất cao, nhưng sếp đã bật đèn xanh thì tôi nên tranh thủ ăn cắp giờ của nhà nước để tìm quán nhậu sương sương lai rai ba sợi.

Tôi chẳng mấy ưa quán Ngọc Nữ bởi thực đơn chốn ấy rất nghèo, “vô ra cũng thằng cha khi nãy”. Không rắn thì ếch, không chim cút thì cánh gà, không lẫu thập cẩm thì canh chua cá lóc. Thằng Út làm bảo vệ nói: Anh Hai biết hôn, có khi em nhậu đẳng, nhai gần hết mới phát hiện đó là con chuột vượt biên dính chấu vô nồi lẫu. Em tính cự nự nhưng nhìn vô hai trái bưởi lộ hàng của em Nữ thì giận hờn tiêu tan, hoá ra thịt chuột cũng lành anh Hai ạ!

Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau, tôi vừa chống chân chiếc xe tay ga sản xuất ở Trung Quốc lên thì sếp cũng vừa thắng đứng chiếc xe cồng kềnh nhiều phân khối của chính hãng Nhật Bản. Lạ, hình như từ cơ quan tới chốn này đã có một con đường mòn nào đó mà tôi chưa biết. Chim bay hẳn phải tránh dây điện như mạng nhện bủa vây, phải chao đảo khi bay qua biết bao cơ man là băng rôn biểu ngữ cờ quạt bảng hiệu mắc cửi, phải lòn lách cột đèn nhà cao tầng khách sạn bê tông các thứ, có nghĩa là chim phải bay hình chữ chi mất thời gian tính. Đường mòn thì không, chướng ngại nào cũng thông qua, hố tử thần nào cũng đánh thắng và hệ quả, nó nhanh gấp hai kẻ đi trên lộ nhiều ùn tắc giao thông như tôi. Thiệt là thủ trưởng, có nhiều thứ đàn em cần phải học hỏi đả thông tư tưởng.

Mẹ, cả cơ quan chỉ nhặt ra được ba mống mà cậu là một trong cái kiềng ba chân vững chải ấy. Tớ bảo rằng thì là đồng chí ấy dẫu sao cũng từng là hoạ sĩ có tranh treo ở viện bảo tàng mỹ thuật tận Hà Nội, dự án đầu tư xây cất một vẻ đẹp văn hoá lại cắm dùi trên quê cũ của đồng chí ấy. Một người am hiểu vấn đề nghệ thuật, am tường thổ ngơi văn hoá cảm tính của dân địa phương, thì rõ là đồng chí ấy có nhiều lợi thế hơn ta. Có nghĩa là sao ạ? Có nghĩa là cậu được suất đi dã ngoại, về thăm nhà suốt tuần mà chả tốn tiền vé xe, tiền ăn ở nhà nghỉ các thứ. Một tuần được giải toả ẩn ức tâm sinh lý, được đi mây về gió, mẹ, chơi cha thiên hạ cũng tới cỡ ấy thôi chứ đòi gì hơn?

Nữ đi ra, vẫn bộ dạng chính chuyên con nhà nghèo bị bóc lột, áo quần thiếu vải và đôi chỗ như bị rách bươm. Thời trang kiểu gì ngó cực hai con mắt quá. Thằng bảo vệ nói Nữ gốc Biên Hoà, hèn gì hai trái bưởi làm đứng tròng ông sếp. Một thứ giọng Nam ngọt ngào rất phù hợp với tân cổ giao duyên, Nữ xuống sáu câu đời thường ra khỏi bài bản có trên sân khấu: Xời, nhiêu rồi em mới được thấy lại bóng hình đại ca? Sếp cười tít mắt: Dễ giận không, tuần trước mới ôm eo đó, mới véo mông đó mà nỡ bội bạc quên đi. Ừ, lâu thật đó, lại đây cho thơm cái coi. Tôi chen vô: Bảng hiệu nắn nót hai chữ Ngọc Nữ, Nữ đứng đây vậy Ngọc trốn đâu? Dạ, má em đang bận động dao động thớt ở sau bếp. Chết mẹ mày chưa. Thủ trưởng phán. Rồi cười lớn: Má em chim sa cá lặn cỡ em không? Cái này em hổng biết, nhưng em biết những người trọng tuổi thì ưa nghịch em trong khi những anh ít tuổi lại mết má em hơn. Từ ngữ đương đại gọi là phi công trẻ ưa lái máy bay bà già. Tôi ho khan: Hổng dám đâu! Kính lão đắc thọ. Sếp chửi: Đồ dở hơi, ăn nói cứ linh tinh, mày chả nghe lời các cụ dạy: Gừng càng già càng cay, buộc phải hít hà xuýt xoa thôi con ạ!

Buổi nhậu gọi là trả công sếp làm bay của tôi gần 5 triệu. Tôi nói cám ơn sếp đã lưu tình đề cử tôi đi mần chuyện đại sự mà trong bụng hiện mọc những bất bình không tiện thổ lộ. Thôi thì thiên lôi chỉ đâu đánh đó, cứ vô tư tới bến bởi cách biệt đã bộn tháng ngày nay mới có cơ hội về ngó lại miền đất từng nuôi dưỡng mình lớn lên, dù trước khi bái biệt song thân lòng hoài nghi chuyện một đi không trở lại. Kinh Kha còn biết lận truỷ thủ khi sang sông trong khi tôi lên đàng mà lòng sôi bao phẫn hận chẳng biết giải bày. Con đi xa mần ăn chỉ nhằm cho ba má đỡ chật vật lo toan miếng ăn, lưng dài vai rộng này sợ nói chẳng thành câu có ngày báo đáp ơn sinh thành dưỡng dục. Bao nhiêu tiền cắc củm dành dụm mãi bị người ta tìm cách moi họng moi hầu. 5 triệu mỗi bữa nhậu thế dầu nhớt bôi trơn chốn đây liệu chốn đó ba má ăn tiêu được bao ngày?

Đoàn chúng tôi lên xe đò chạy suốt ra miền Trung đất cày lên sỏi đá. Theo thông tin của hai đồng chí luôn mang vẻ mặt buồn nhiều hơn vui đi cùng, tôi biết được cơ quan chúng tôi có phần hùn với tập đoàn người nước ngoài vừa đệ trình một dự án làm thay đổi cảnh quang nhằm thu hút khách du lịch. Mọi thứ đã duyệt, trên đà thuận lợi, người nước ngoài họ bảo: Các anh cứ mãi tự hào về quá khứ để bảo tồn di tích chiến tranh, điều đó làm khung cảnh chốn ấy mang vẻ sầu thảm chẳng mỏi mệt. Cái mà du khách cần là họ ưa nhìn ra vẻ tươi mát, một sự thư giãn, một chút đổi thay, quét qua một lớp sơn màu xanh thay vì ngạt thở một màu đỏ. Bản vẽ rất hợp tình hợp lý được thông qua, nhưng muốn thành phố thay da đổi thịt cần có sự đồng thuận cuối cùng của lãnh đạo các ban ngành ngoài đó. Đúc kết mới khởi công xây dựng. Thành phố thuở niên thiếu của tôi luôn bị quở: Quá buồn lặng, hơi bị ảm đạm rêu phong mấy lớp. Tôi về quê cũ với chút bất an, chẳng biết mai này nó có vui thú hân hoan khi được giải phóng dù chỉ một mảng nhỏ diện tích. Những kẻ ưa bảo tồn bảo tàng rất dị ứng với bê tông cốt sắt nằm trong kiến trúc hiện đại, họ bảo làm thế là phá hỏng thứ “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Con sông hiền hoà với cỏ dại mọc lan đôi bờ mà bây chừ nỡ lòng nào đào xới hiện đại hoá một lối đi bộ uốn lượn tuyệt mỹ e làm động long mạch chăng, dù biết việc “phá hoại” kia sẽ giúp thành phố có khối công ăn việc làm, tương lai sẽ hốt bạc nhờ vào tụ điểm văn hoá tân cổ giao duyên, đông tây kết hợp hài hoà.

Trời nóng phỏng da khi xe dừng ở nhà nghỉ được đặt phòng trước bằng máy vi tính ở cơ quan. Có gắn máy lạnh nhưng khi cửa mở để chui vào phòng khách thì ta sẽ được hoán đổi từ lò nướng bánh mì sang canh củi lửa ở nồi nấu bánh tét bánh chưng. Nóng bám đít, mát chút đỉnh và mồ hôi vẫn mãi hồ hởi tuôn ra. Cô nhân viên ngồi sau quầy, sau chậu bông bằng nhựa sum suê có gắn hàng chữ “Nhiệt liệt chào mừng quý khách”, sau chùm dây nhợ, sau cái màn hình Samsung khá lớn. Cô nhiệt liệt chào mừng bằng năm sáu ngón gõ thăm dò trên bàn phím một đỗi và cô nói với quý khách: Mấy chú nói sao a chứ, có thay đổi phương án hoặc trở ngại sự cố gì không chứ máy cho ra kết quả là cơ quan các chú chỉ mướn có một phòng với hai giường. Các chú đi ba người, chà, cái này hơi nghiệt à nghe!

Quen đối đầu với những tình huống nan giải, hai đồng chí chung đoàn tìm ngay ra một đáp án. Họ xây mặt ngó tôi: Quê cậu ở đây mà, giời, tranh thủ về thăm bố mẹ chứ chần chờ gì nữa. Bọn tớ đành khắc phục chịu ở chung một phòng vậy. Cậu nắm vững thông tin giờ giấc sinh hoạt rồi chứ gì. Ngày mai có phiên họp sơ khởi ở nhà hàng Hoa Sen lúc 10 giờ, cố gắng tìm đâu ra bộ đồ lớn để diện thì oách hơn, nhớ?

Trời đổ lửa như muốn lột da, vậy chứ tôi không nề hà để đứng yên bên thềm thắp thuốc hút. Phượng ra hoa nhức nhối, màu hoa chừng như góp phần tăng nhiệt; may phước là ve chưa kêu, cất giọng râm ran thì người nghe thêm bần thần rã rượi. Tôi đứng ngây người, nếu bắt xe ôm, không quá nửa giờ tôi sẽ đặt chân bên hiên nhà cũ. Sao tôi chẳng nghe ra bồn chồn háo hức, liệu ba má có mừng tủi khi “nhiệt liệt đón chào” ngày trở về của đứa con hư. Hút xong điếu thuốc cho lại thần hồn, tôi nghĩ cách hay hơn cả là tìm tới quán Hương Xưa nốc cạn một ly cà phê sữa đá. Hương Xưa chẳng biết có như xưa? Hương đẻ đái ra được mấy đứa con rồi? Hương có lối lập luận chắc nịch: Nghèo, rõ ràng là một cái tội. Ngu cũng là thứ tội danh khác. Hương sẽ không ngu ngốc để ngó lơ đứa có tiền của luôn bỏ công săn đón. Tôi chẳng có sức lực để đối kháng và tôi nghĩ thứ chân lý kia không hẳn là điều đáng nguyền rủa. Tôi thưa với ba má, nhà mình nghèo quá, con thử xuôi Nam xem hậu vận có khả quan và tôi lầm lũi đi bụi từ dạo ấy. Đi như một đứa ưa làm cách mạng tự hành hạ bản thân.

Hương Xưa vũ như cẩn ở bề mặt. Cà phê nhà vườn và ngần ấy cây cối tuồng như chẳng chịu phát triển thêm ra, nhưng dẫu sao cũng chớ nên bóc lột nó quá, nó vẫn chung tình để tạo ra bóng dâm mát và nó biết chế ngự phần nào thứ nhiệt lượng tự cao xanh đổ ập xuống. Mát mẻ, chả cần bắt máy lạnh nhưng hiện tại có bốn cái quạt máy đặt ở bốn góc rù rì chuyên cần tráo trở qua về. Tóc Hương bay chút đỉnh mà tóc tôi cũng làm rối mắt ít nhiều, khó chịu khi ngó trông cái nhân dáng đẫy đà kia. Gái một con trông mòn con mắt, vậy gái ba con thì sao? Chưa nghe ai quỡn để lập ngôn về vấn nạn ấy. Ủa, sao khi không lại hiện tới vậy, cứ tưởng rằng đương sự đã vượt biển đi mất đất rồi chứ! Tôi nghe Hương nói mà chẳng phản ứng, trí óc tôi bận bịu với bao kỷ niệm vây bủa: “Người chi mô là lạ rứa hí, giờ ra chơi cứ ngó miết người ta, và reo lên khi thoáng thấy đi qua, tụi bạn tưởng có răng rồi mới rứa”.

Có răng không? Có, thằng chồng bạc tình dắt bồ nhí lặn một lèo qua sống tận bên Thái Lan. Mặt Hương tỉnh rụi khi báo cáo những tổn thất. Tôi tính hỏi: Lấy chồng giàu có phải là một tội danh? Nhưng kịp thời Hương mang tới ly cà phê sữa đá khuấy tới tan nát bọt bèo. “Bướm vàng đậu ngọn mù u, lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn”. Nói nghe coi, bấy chầy đi tu tập ở hang động nào mà chẳng nghe vọng động, vợ con chi chưa? Tôi cầm ly cà phê lên nốc một hơi làm hụt đi phân nửa. Đã khát quá chừng quá đỗi. Mình chưa có vợ, vì một người con gái có tiền của hẳn sẽ không thèm dòm mình. Hương nói đúng, nghèo là một cái tội. Nay mang thân đi mần ăn xa cũng có chút đồng ra đồng vào nhưng thoát khỏi thứ tội trạng kia không phải là điều dễ. Hai bác ra sao? Mình chưa tạt qua nhà cũ, mình ưa nhìn mặt Hương hơn, chuyện gì cũng còn có đó. Ừ, chuyện gì cũng còn có đó, khi nào thấy chán cảnh cơm hàng cháo chợ một mình thui thủi chốn xa thì về đây liệu cơm gắp mắm cùng Hương. Tôi tính ôm Hương vào lòng nhưng ở nhà sau có tiếng trẻ con khóc thét như ngủ trưa bị ma đè. Tôi làm sạch ly cà phê sữa đá. Đừng trả tiền, thế lời đón mừng ngày gặp gỡ. Cà phê uống đặng không? Hương đích thân pha chế thì buộc phải ngon thôi. Cà phê thì Trung Nguyên nhưng sữa thì của Hương. Đứa bé vẫn gào thét, chắc đang tới giờ để ngậm lấy vú mẹ. Mẹ có dư sữa không mà hào hiệp nặn ra cho chú ấy uống?

Như tợp xong cốc rượu nồng, tôi dật dờ gọi xe ôm về nhà. Mưu sinh chốn lạ nước lạ cái, thằng tôi thường bị điểm mặt có nhiệm vụ đãi đằng sếp đi giao lưu tình cảm với các quan chức tai to mặt lớn ở những ban ngành khác và thằng tôi thỉnh thoảng vẫn nghe các quan lớn bàn chuyện về những món hàng độc, trong đó có cà phê sữa người. Lạc hậu cũng chừng mực nào đó thôi, có ai dè hôm nay trời xui đất khiến rộng lòng đãi kẻ khù khờ. Bây-bi ạ, hiểu ở một nghĩa nào đó chú đây cũng được mẹ con mớm cho đôi chút dinh dưỡng đặng nuôi cái thây trôi sông lạc chợ này.

Ba má tôi già đi trông thấy, nhà cửa tối tăm nhìn rõ, mái tôn vách vôi xác xơ hiện ra mòn một. Họ ngạc nhiên hơn Hương thập phần khi nhìn ra tôi tần ngần đứng ở bậc cửa. Tôi mang gói trà Hương biếu bày ra trên bàn cùng những tờ bạc nhét liền khúc ruột tôi để dành tằn tiện tiêu pha trong suốt những ngày đi công tác. Má tôi kho cá, thứ ngày xưa tôi thích ăn, những con cá cong queo nức nẻ thấm đậm lòng bao dung mà không hẳn ai rành chuyện củi lửa cũng làm được. Căn nhà quạnh quẽ bỗng chốc chộn rộn bao sinh khí. Không thành thân cũng thành nhân, tôi ngồi thu bé người lại trả lời cặn kẽ bao chất vấn từ đấng sinh thành và tôi thú thật, lần này con về e chỉ mong cầu sớm tối vui vầy cùng mẹ cha phòng khi tối lửa tắc đèn gió máy độc hại, giúp được chút chi hay chút đó. Ba tôi nói: Tuỳ ở mi cả, thế việc ở công ty, mi nhắm bỏ ngang có đặng chăng. Mi đã già đầu, ba nói cái gì hợp bụng thì nên lưu tâm, ráng làm người tử tế.

Tôi ngó lên ba tôi, người đàn ông suốt đời cam phận sống trong thanh bần. Lời ông khuyên nhủ làm tôi nhớ tới Nguyễn Tấn Dũng đang gây ì xèo, bao mỉa mai từ phía quần chúng: “Ráng giữ sức khoẻ và làm đảng viên tốt, ráng làm người tử tế.” Tôi tự ý mình thanh thản về hưu. Tôi không là đảng viên và vì vậy tôi tử tế từ hồi bé cắp sách tới trường trau dồi môn công dân giáo dục. Tôi bỏ nhiệm sở, thôi làm công nhân viên sớm tối làm những việc “không phải”. Tôi về đầu quân cho quán bán cà phê Hương Xưa làm đứa phục vụ viên tử tế dâng cà phê rót nước cho khách dừng chân. Hương biết rồi đó, có răng rồi mới rứa cho thứ quyết định kia.

Hồ Đình Nghiêm

Cá không ăn muối cá ươn

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 3 Dec 2023

Cá chết rồi, để giúp đẹp mặt, người ta ướp cho nó chút muối lên mình mẫy vốn sẵn tanh hôi. Carol không bao giờ ăn cá cho dù là thứ “vô địch ngư” mỗi lát khi bán ra giá không dưới 40 đô. Nó săng chắc như thịt cua và ngọt ngào như thịt của tất cả mọi sinh vật trú dưới đại dương hợp lại. Carol có lối luận chuyện khác lạ: Cá đẹp khi nó vẫy vùng bơi lội trong nước, mang nó đặt vào lòng đĩa… no fucking way. Cá và muối, đó chỉ mới ngắt khúc đầu của một câu thành ngữ, phần sau nguyên dạng là “con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Dĩ nhiên là hoàn toàn được viết bằng tiếng Việt, chỉ riêng người Việt mới thủ đắc lấy nó. Tây tà hả, con cãi cha mẹ hà rầm và có khi cha mẹ nghệch mặt ra: Chúng đúng quá, ta hư hỏng quá, sao ta mãi can thiệp quấy rối tới đời sống riêng tư của nó thế. Khác với Carol, Neil rất thích ăn cá, nó bảo cá chứa nhiều hàm lượng omega-3, rất có lợi cho cơ thể con người, và Neil là thằng con luôn cự cãi đấu võ mồm với nhị vị song thân.

Cuộc chiến nào cũng dẫn tới hồi buông màn với hoạt cảnh một kẻ khóc một người cười. Đang ở năm thứ hai đại học, Neil bỏ ngang để xuôi Nam ghi danh vào trường đào tạo Cảnh sát đặc nhiệm. Bỏ lại đằng sau giấc mộng vụn vỡ của thân sinh, câm nín. Tuy chưa học tập việc tác xạ Neil đã bắn gục hình ảnh một tên bác sĩ kỹ sư ngay bên thềm nhà và mọi người sống trong địa hạt yên bình này không hiểu ra cớ sự do đâu Neil đi nuôi mộng trừ gian diệt bạo. Hắn lặng lẽ xa tôi từ dạo ấy, điều này kéo theo chuyện tôi dần thưa gặp mặt Carol. Tôi cũng chẳng đào đâu ra lý do để đến thăm hỏi hai ông bà hiền lành nọ. Họ nấu ăn rất tệ nhưng khi họ mời tới dùng bữa, họ sẽ lấy làm vui vẻ mang thân ra hầu hạ cái đứa “thực bất tri kỳ vị” kia. Cả ông bà rất khoái khẩu món phở gà và chả giò trong khi Neil thích xơi đồ Nhật và Carol khoái nhai thực đơn Pháp. Không cứ là vấn đề ẩm thực, ngay chuyện giải trí xem phim đọc sách mỗi người đều có riêng một trình độ, gu thưởng ngoạn cá biệt và sẵn lòng phun nước miếng vào mặt nhau để bảo vệ thứ chủ quan mình vừa trình bày. Neil bảo tại sao chúng ta phải mất nhiều calories chỉ vì một bên ưa ăn cá bên khoái ăn gà? Carol thì thầm, tranh cãi với kẻ ngốc sẽ chứng minh có hai đứa ngốc.

Mùa hè năm đó, như mỗi năm, như đa số bọn sinh viên nghèo, tôi đi làm bán thời gian cho một cửa hiệu phục vụ mọi thứ liên hệ tới sports. Nhân viên sẽ diện đồng phục do “bổn tiệm tự vẽ kiểu” và thú thật tôi chưa bao giờ thấy có bộ đồ thể thao nào xấu xí tới mức ấy. Cũng may khi mặc vào nó không khiến tôi độn thổ, nó gây sự chú ý cho ai đó và rồi tôi gặp lại Carol. Lâu quá, bao nhiêu năm rồi? Có hơn hai năm rồi còn gì. Làm ở đây à, giỏi nhỉ! Trông tôi có gì đổi thay? Carol mập hơn trước nhưng tôi biết cách đánh trống lãng. Tôi giúp được gì cho quý khách đây? Làm như thể là một nhân viên đam mê nghề nghiệp, tôi kéo Carol đi gần hết chu vi rộng rãi của tiệm. Thực sự thì tôi đang chây lười lao động, bắt được con bò lạc và khi sánh vai bên nhau tôi tha hồ hít thở hương hoa của Carol, một mùi vị ấp ủ nhiều kỷ niệm. Thực sự thì con bé vừa tốt nghiệp trung học này đã thay đổi nhiều thứ quá, nó già trông thấy và xem chừng bất cần đời hơn xưa. Cái nó chẳng thay đổi có lẽ là chuyện: Suốt đời không ăn cá. Tôi đồ vậy mặc dù nó mang vẻ đẹp hoang dại của một mỹ nhân ngư, không vướng mùi rong rêu, thơm nồng nàn kiểu những loài hoa nở rộ ở xứ nhiệt đới, sau cơn mưa. Giày chạy bộ thứ nào tốt? Nó hỏi.Tôi mang tới cho Carol hai hiệu: New Balance và Nike. Tôi không hiểu chữ tốt, tôi chỉ nhắm tới giá tiền cao nhất đồng thời mẫu mã ngó bắt mắt. Carol giống tôi, ghét màu mè thích đen xám. Ngay cả bộ đồ bó người chạy jogging cũng vậy. Đen đúa và giá thì trời ơi đất hỡi. Chẳng sao cả, chả nhiều nhặng gì đâu, chưa kể với tư cách là nhân viên trong cửa hiệu, trình mã số cho máy tính tiền quét, một cách tự động, chúng sẽ giảm đi 15% số thành. Dầu gì thì tôi cũng thiết tha có ngày nhìn thấy Carol chạy bá thở ở khúc đường vắng, mặt đỏ ké và cơ thể coi mòi thon thẻo hơn hiện tại. Mấy giờ thì xong? Ờ, tiệm đóng cửa vào 6 PM. Ông bà bô vẫn khoẻ? Chết tiệt, tui quên nói má tui mất rồi. Chia buồn khi nghe .Thế Neil, có tin gì về nó không? Một tay cảnh sát, một đứa sắp lấy vợ, hai thứ ấy khiến hành tung anh chàng đâm bí mật hơn. Bà già tôi hấp hối, tao có chết, nhắn nó hẳn thằng cớm đó cũng hổng thèm về đâu nhỉ! Bố tôi chửi vào khoảng không: Khốn nạn!

Carol hỏi có thích đi kéo ghế không? Đợi trước cửa hiệu, sáu rưỡi tui tới, nếu muốn. Dĩ nhiên là tôi muốn, có cơ hội hồi tưởng chuyện cũ cùng Carol và khi chộn rộn đi bên nhau, những nhân viên làm việc trong cửa hàng lắm chuyện này sẽ thay đổi một cách nhìn khác về cái “thằng người Tàu bí ẩn biết kung-fu” ấy. Tôi không buồn cải chính về những ngộ nhận chúng luôn áp đặt sai, kể cả nếu bọn họ quả quyết Carol là vợ tôi. Cả ngàn lẻ một lần tôi phân trần, không cứ đã là ba Tàu thì buộc phải biết kung-fu và không hẳn da vàng mắt một mí đều là made in China. Chúng ậm ừ làm như thông hiểu đạo lý rồi mọi chuyện lại đi về lối mòn cũ. Hình ảnh một bọn người lam lũ rách rưới đi dựng xây con đường sắt xuyên quốc gia, làm nghề đóng quan tài rồi chủ các quán ăn men theo liên tỉnh lộ có trong những thước phim xưa cổ đã ám mãi vào trí nhớ họ. Không phải sao, ngay cả món mì ống nổi tiếng của dân Ý người ta cũng từng ngờ vực tới sự vi phạm trắng trợn bản quyền do Từ Hy thái hậu thủ đắc. Nữ hoàng anh minh ấy mà buồn đời ra sắc lệnh cho con dân cùng đi đái một lần thì e rằng sông Dương Tử sẽ gây sóng thần để cuốn trôi một bộ phận không nhỏ các châu lục người anh em sống quanh quẩn gần biên giới. Nếu một ngày kia trong các cửa hàng đều có dựng tấm bảng cảnh báo viết bằng tiếng Việt: “Ăn cắp là hành động xấu xa và chúng tôi buộc lòng phải nhờ cảnh sát can thiệp bla bla bla…” hẳn đến lúc đó tôi sẽ vênh váo: Ngộ là người Tàu a tài lũ, chí ùm chí a? Ngộ piết kung-fu nè, ngộ từng đứng chụp ảnh ở Vạn lý trường thành nè, cái nơi mà nị chưa đặt chân lên thì muôn đời nị chưa thể làm hảo hán.

Sáu giờ chiều, cánh cửa sắt kéo lại rít róng. Jimmy khoá nó sau khi đã mở nút hệ thống báo động bắt sau ô cửa gương. Hắn là thủ lĩnh của tiểu đội “lính đánh thuê” trong đó có tôi và khi đã mang “lon lá” cỡ đó cách ăn nói của hắn cũng có chút khan khác: Ê, có thuốc lá không, đưa tớ một điếu coi. Hôm nay mày ăn cái giống gì mà chẳng nhanh chân như những lần trước? Ờ, bị moa có cái hẹn. Ngay trước bổn tiệm? Ờ, đã lỡ định vị rồi. Thuốc đây, hút cho thông cần cổ. Jimmy thở ra một đám mây xám. Hẹn với gái à? Ờ, với gái, bắt buộc rồi, tiếc là không phải gái Tàu. Mẹ nó chứ, vậy là mày ngon cơm hơn tao rồi, tan việc là chóng về nhà kẻo má thằng cu nó chửi vang rân. Thằng người ưa hống hách với thuộc hạ ấy rụt cổ lại, hắn ném điếu thuốc: Tao lặn đây, chúc một cuối ngày an lành. Tôi nói bye và mồi lửa điếu thuốc khác.

Carol không thích ăn cá nhưng có thể ưa ăn mực hoặc một thứ thịt dai nhách như cao su. Chờ tới bảy giờ, nản lòng tôi bỏ đi, nhường vuông xi-măng trông khô ráo sạch sẽ ấy cho một gã thanh niên bụi bặm vừa sà tới; hắn dắt theo một con chó, quấn một đống chăn mền và tấm bìa lớn viết sẵn hàng chữ: “Quý vị có thể không cho tôi tiền bạc nhưng thú thật con chó của tôi đã nhịn ăn trong ba hôm rồi. Chúa chứng giám và độ trì cho những tấm lòng thành”. Những gì hắn thổ lộ bằng giấy viết cũng đủ minh bạch một điều: Chó mới gặt hái cảm tình từ tha nhân, con người thì không sánh được. Một gã vô gia cư ngồi mình ên bên đường sẽ nghèo kiết xác nếu so với “đại gia” có dắt chó theo đóng tuồng. Bao giờ cũng vậy, có vây cánh ắt hẳn phải hơn kẻ thế cô.

Tôi vẫn chăm chỉ cày bừa, tôi đi làm và nghĩ bụng thế nào Carol cũng sẽ tạt qua, phân trần, xin lỗi về chuyện thất hứa bữa nọ. Hôm ấy một trung niên dáng vẻ khắc khổ với gương mặt có nhiều nếp nhăn tiến lại gần tôi, ngó chăm vào miếng nhựa trắng có ghi khắc tên tôi luôn cài trên bộ đồng phục xấu xí. Xin chào bác, tôi có thể giúp gì cho bác đây? Tôi nói như cái máy. Người trung niên moi trong túi áo ra cuốn sổ nhỏ, ông rút tấm ảnh kẹp giữa những trang oằn cong: Bạn nhìn ra ai đây không? Ông dí tấm hình đen trắng cỡ 5×7 ngay trước mũi tôi và tôi đánh hơi được thằng cha này là một thám tử. Biết chứ, cô ta tên là Carol. Gặp gỡ có thường xuyên? Nghĩa của chữ thường xuyên là sao ạ? Hơn hai năm mới nhìn thấy nhau thì đâu thể gọi là thường xuyên nhỉ? OK, lần gặp mặt mới nhất xảy ra lâu mau rồi? Khoảng mười hôm trước, cô ta lại đây mua một bộ đồ thể thao và đôi giày dùng để chạy bộ. Tốt, tôi có xem qua một đoạn ghi hình ngắn từ camera đặt trong cửa hàng. Sau đó thì sao? Thì chia tay, Carol nói sẽ mời tôi đi ăn tối, tôi đợi nhưng cô ta hứa cuội. Tôi có thể biết chuyện gì đã xảy tới cho Carol không? Người trung niên có bộ mặt khắc khổ ấy nhét cuốn sổ nhỏ vào túi áo. Ông đưa cho tôi tấm giấy nhỏ ghi rõ tên tuổi nghề nghiệp và số điện thoại của ông: Có thu nhận điều gì mới lạ, gọi điện báo cho tôi biết. Tạm thời thì Carol cùng đồng bọn bốn đứa đã bị cảnh sát khu vực 21 phía bên kia sông bắt giữ. Chúng nằm trong một tổ chức buôn bán và tiêu thụ cần sa ma tuý. Những thông tin mà bạn vừa trao có thể chẳng man khai, tôi mong bạn không có gì cần phải dấu diếm. Bạn người Tàu phải không?

Ông đại uý Albert sếp khu vực 19 vỗ vai tôi. Chuyện cũng chả quan trọng lắm đâu, tôi vào mua cây vợt đánh bóng bàn rồi nhân tiện hỏi bạn đôi ba câu vậy thôi. Ông đi ra cửa và ném cái nhìn đầy ác cảm xuống thằng người ôm chó ngủ gà gật bên lề đường. Toàn một bọn chây lười, sao bao nhiêu công việc lại để cho bọn di dân nó nhanh tay xí phần cả, lương lậu thấp cũng hổng ke. Cảnh sát mặc thường phục đến thăm hỏi nhân viên cửa hàng hôm trước, hôm sau thằng chủ tiệm đã vò đầu bức tai làm bộ nhăn nhó: Chuyện chẳng đặng đừng, mày là một nhân viên tốt, nhưng do tình trạng kinh tế đang hồi khó khăn, chúng tao rất lấy làm đắn đo hối tiếc để nói rằng bla bla bla… Tôi vào góc kẹt thay đổi xiêm y, ném bộ đồ thể thao xấu xí trong ngăn kệ đựng dụng cụ cá nhân trống trải. Tôi bước ra đường không thèm nghĩ tới chuyện ngày mai. Tôi ném hai đồng vô cái nón của thằng người ăn mày và tôi nói bye bye với con chó có đôi tai rất thính. Lâu lắm mới có được một ngày chủ nhật đúng nghĩa, tôi ngồi vỉa hè quán cà phê tha hồ thắp thuốc thở khói vào cao xanh. Bên kia đường có người đàn ông dáng lạc hồn, lưng còng với cái túi vải móc chéo vai. Ông ta thích ăn phở gà và khoái xơi những cuốn chả giò tôm cua chiên vàng thơm ngọt. Và có lẽ ông là người duy nhất biết tôi không phải bọn Tàu thích bành trướng.

Tôi chạy băng qua đường, đón đầu người đàn ông mà nếu có duyên phận, chúng tôi sẽ đổi cách xưng hô: Bố con. Tôi đã ngủ với Carol một đêm chùng vụng và con bé tóc vàng ấy không phải là dân Tàu để xem “trinh tiết sự cực đại”. Có hề gì, chuyện nhỏ, vấn đề là bạn phải mang tôi tới được cuối đường. Vết răng mà Carol cắn vào vai tôi đã lặn mất dấu vết. Hai năm rồi còn gì. Hai năm để vừa nghe đủ những tàn phai. Nhưng trong mắt đã nhuốm bụi trần của ông già 60 vẫn tinh tường khi ngó ra dáng hình một thằng người tử tế, có nghĩa là hắn biết cách cư xử lễ độ với những người lớn tuổi cỡ bố mẹ mà không hề tỏ vẻ mất dạy như hai đứa con mình. Ông chứng minh sự sáng suốt bằng cách reo tên tôi, phát âm một cách chính xác như một kẻ biết ăn nước mắm từ thuở nằm nôi. Ông bắt tay tôi, chặt, như lưu lạc phương xa tình cờ nhìn ra người bạn cũ. Tôi biết ông cô đơn. Hơn ai cả tôi từng nếm trải nỗi khó chịu đó. Tôi chỉ tay sang bên kia đường, mời ông cùng uống với tôi cốc cà phê đen để khơi mào bao đổi thay nằm ở thì quá khứ.

Carol bị hai năm tù và điều bất ngờ nhất là Neil, hắn bị án 6 năm vì lạm dụng công việc của một cảnh sát chìm đã tiết lộ thông tin những cuộc bố ráp giúp bọn tội phạm, có em gái mình tham gia, thoát qua nhiều cuộc săn đuổi. Người cha bất hạnh cố giữ sự điềm tĩnh: Tôi đã có lần đi thăm con bé, nhà tù đặc biệt nằm xa chốn đây những 7 tiếng đi xe đò. Nó giống mẹ nó, ở cái chỗ cương cường biết thu cất những bí mật. Điều đó làm mình thương nó không nhiều bằng sự ghét bỏ. Bạn dễ chao lòng vì những thứ yếu đuối hơn, có đúng không? Tôi mời ông đi ăn phở. Ông nói, bạn thật tử tế, đúng như mẹ chúng nó ngày nào đã nhận xét, như vậy thật tiện lợi khi từ quán phở về nơi trú ngụ. Sao cơ ạ? Căn nhà ấy đã bán sau khi mẹ chúng nó mất, thân già này giờ thuê một cái 2 phòng rưỡi đặng tránh gió mưa.

Nếu Carol có thai với tôi, không chắc nó lấy đó làm điều để bắt tôi thề thốt gọi ba nó là bố vợ. Tôi biết Carol ưa nếm trải phong vị đời sống chứ nào vướng bận chuyện thương yêu. Quen biết hơn hai năm, tình trong một đêm, ba cái lẻ tẻ ấy không khiến người ta phải vẽ lên một dự án nhằm dựng xây một con đường tiến tới hôn nhân vợ chồng. Nhưng tôi, thú thật là tôi luôn bị dằn vặt bởi những gì Carol đã trao cho. Tôi yêu thứ tình chẳng toan tính bất vụ lợi của Carol.

Tôi ra bến xe đò mua vé khứ hồi đi về trong ngày để lặn lội tới nhà tù Ngàn Đảo thăm Carol. Tôi đã điền vào một lá đơn xin thăm viếng và được chấp thuận trước cả tuần lễ. Ký tên sau khi tuân theo những điều ngăn cấm, đồ đoàn có thể bị lục soát trước khi vào cánh cửa mở đóng bằng hiệu lệnh. Carol ngạc nhiên khi trông thấy tôi để khuôn mặt em trông giãn nở tươi vui trong mỗi bước chân thu ngắn dần khoảng cách. Mặc trên người bộ đồng phục màu xanh có in mã số trước ngực, Carol cho hay em nằm trong toán thợ may chuyên vá sửa chăn nệm áo quần bảo hộ lao động theo hợp đồng giữa nhà tù với một công ty phân phối đồ cho bệnh viện nằm ngoài thành phố. Dáng vẻ nhanh nhẹn trông chẳng từng liên hệ tới cần sa, thứ làm người lần khần như thiếu ngủ. Điều đó rất cần thiết, giúp Carol khỏi bị chuyển tới một nơi tựa như trung tâm cai nghiện phục hồi nhân phẩm. Em thật có lỗi với anh, đã nhiều lần gây thất vọng mà nếu là kẻ khác họ sẽ xa lánh em. Hư đốn dường ấy mà anh còn thương em sao? Chúng tôi ngồi đối diện giữa một mặt bàn khá rộng, có người giám thị đứng gần và cái nhân vật hộ pháp đó sẽ nhảy tới can thiệp nếu chúng tôi đưa tay ra sờ soạn nhau. Ôm hôn Carol chỉ là hình ảnh nằm trong mơ mộng, và mông muội.

Việc học của anh thế nào rồi? Anh tốt nghiệp vào hè này, trở thành kỹ sư và đi tìm việc làm liên quan tới thảo chương điện toán. Và sau đó? Carol hỏi, mắt em xanh như đang nhìn lên một khung trời rộng. Sau đó… Tôi ngó xuống mặt bàn, ngó tới những ngón tay xoắn xít của Carol. Sau đó anh sẽ mướn một căn hộ rộng rãi, sạch sẽ và nếu thích, em có thể mang vật dụng tới ở chung. Anh sẽ không ăn cá và… Những giọt nước mắt ứa ra trên mặt dù Carol cố kềm giữ. Người giám thị nói lớn tiếng: Đã hết giờ. Em yêu anh. Em sẽ xăm trổ cái tên anh lên bụng mình, phía dưới lỗ rốn. Em cố sức đẻ cho anh một đứa con…

Tôi ra lại bến xe đò heo hút. Ngọn đèn vàng treo dưới mái hiên mãi chao đi bởi gió từ ngoài biển đen thổi vào nồng mùi muối mặn. Tôi là một con cá đã lỡ không ăn muối. Trăm đường tôi hư cả trăm bởi ba má bên nhà nói hồi nào con tốt nghiệp đại học, người ta sẽ mua vé máy bay cho con về quê lấy vợ. Con dâu tương lai của ba má ngó cũng mặn mà có duyên. Số con có quới nhơn phò hộ, vừa ẳm được vợ mang qua xứ người vừa có số tiền hoành tráng lận lưng. Tóm gọn bên sui gia họ lo từ a tới z, nghe đã sướng chưa? Y như chuyện khoa học viễn tưởng ấy nhỉ!

Như vậy thì lấy một đứa từng là tội phạm vào tù ra khám vì liên hệ tới xì ke ma tuý, nhân thân xấu vãi, ba má nghe thế có bức xúc lắm không. Có nằm mộng cũng chẳng ngờ? Có than van: Biết vậy hồi đó tao thà đẻ ra cái hột vịt lộn, nước ngọt lừ, nhai rau ráu có phải là tiện việc sổ sách không! Tổ cha mi. Hèn gì bữa nay bày đặt thay tên đổi họ mang những Rắc những Răng, bạc tình không cách gì tả xiết!

Hồ Đình Nghiêm

Khói trì nhang nghẹn

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 18 Apr 2022

Post by Sơn râu 3 Dec 2023

Họ dùng những con số thế ám danh để gọi nhau, như kiểu họ không thích lôi tên thật ra. Cũng có thể họ xem đó là sự thân tình, trao đổi mộc mạc. Họ mới quen nhau chỉ non ba tháng. Họ đứng sắp hàng chờ trả tiền trong siêu thị thực phẩm Á châu, họ có dáng vẻ của người chừng chẳng mấy thích hợp với chốn dung thân mới. Họ đã bỏ đi sự ngại ngùng, họ đang cố thích ứng, hoà trộn. Chị Tư hôm nay mua lắm thứ thế? Ừa, bị có thằng con ở xa về thăm. Chị Năm thì sao, lâu nay có gì vui không? Vẫn vậy, đi chợ là cách duy nhất để chạy ra ngoài tìm chút thư giãn, đỡ cuồng chân. Gặp chị, người đồng hương duy nhất ở đây thực bụng tui vui lắm.

Hai người đàn bà tuổi chừng trên 50, tri thiên mệnh hoặc nhi nhĩ thuận thì cũng chưa rõ ràng. Người Tàu họ bày đặc ra lắm thứ, tuy lớn tuổi chị Tư chị Năm coi bộ cũng chả am hiểu gì nhiều về cuộc trôi sông lạc chợ này, ít ra thì họ vẫn còn dại khờ, vụng giao tiếp theo cách luận chuyện của chính con cái họ. Ai nấy đều gầy ốm, tóc có lắm sợi bạc. Họ không cho số điện thoại ở nhà để lỡ buồn miệng, rãnh rang thì gọi hỏi thăm nhau. Bà Năm đưa lý do, sợ đứa con dâu chẳng hài lòng, hở cái là nghe nó cự nự. Từng nghe bao tâm sự đắng lòng, dĩ nhiên chỉ mươi mười lăm phút thì thầm trong chợ, bà Tư tự thấy, so ra hoàn cảnh mình chưa đến nỗi bi đát tựa thế. Cha mẹ sanh con trời sanh tánh, nên tin ấy là lẽ phải tựa chân lý. Bà Năm được vợ chồng thằng con đầu bảo lãnh sang, chúng sắm áo quần mới cho má: Nhà có khách, má mang nước ra mà bận bộ bà ba quê mùa ngó hổng đặng, quần jeans áo thun con vừa mua quăng đi đâu? Bà Năm ngó xuống chiếc xe đẩy chất thịt thà rau rác, nói thêm: Tui giống như tù cải tạo, chúng nhốt ở nhà suốt, thuê phim bộ Hàn quốc cho má giải trí đỡ suy nghĩ lao lung. Qua đây rồi thì nên trang bị tư duy mới, nhập gia tuỳ tục… Bà Tư nghe, chẳng biết nói gì. Bụng nhẫm thầm A di đà Phật. Tù đi học tập cũng chưa đủ, vì chúng xem tui như người ăn kẻ làm cơm nước hầu hạ chợ búa dọn dẹp nấu ăn chùi rửa. Dâu đang có chửa, mai này đẻ ra cục thịt thì khi đó chẳng chừng mà thưa đi việc gặp gỡ chị Tư. Bà Tư nói trống không: Giày dép cũng còn có số. Bà Năm hưởng ứng: Sang đây tui như đứa đi lộn đường. Ôi, hột vịt còn lộn nữa là! Bà Tư cầm lòng không đậu, buột miệng đưa lời quàng xiên: Biết cớ sự thế này thà hồi đó tao đẻ ra cái hột vịt mà nhai với rau răm cho sướng miệng! Gió đưa bông cải về trời, rau răm ở lại chịu đời đắng cay!

Về nhà, bà Tư không dại kể lể hoàn cảnh “chị Năm” cho đứa con gái nghe. Biết mà ích chi, nhỡ có bề gì thì nó lên mặt kể công: Má thấy đó, con gái cưng của má đâu phải như bọn lòng lang dạ sói kia. Đứa con gái tên Thu của bà phụ má chất đồ ra, nó nghe bà biểu bắt nồi lên hầm xương thịt để nấu bún riêu. Bà Tư từng nói: Con nên lăn vào bếp học hỏi dần, như thế mai sau thì thằng chồng được nhờ, êm ấm gia đạo, bỏ nặng nhẹ, thôi bóng gió chê bai. Đầu tôm đem nấu canh bầu, chồng chan vợ húp đang rầu phải vui.

Cuối cùng rồi hắn cũng về tới. Ban đầu là tiếng động cơ lần khân trì hoãn, rù rì ngoài đường để dội tới cánh cửa lùng bùng một xác quyết. Tiếng máy nổ dây dưa chừng như đang cố tìm một chỗ đậu thích hợp, tới lui. Bà Tư chùi đôi bàn tay vào chiếc khăn máng bên khay đựng chén bát, quay lưng đi tới hướng cửa. Cái đồng hồ treo trên vách đã đi qua con số 5, mới đó mà trời chóng tối. Bà mó tay vào công tắc, thắp đỏ ngọn đèn vừa toả vũng sáng dội vàng những bậc cấp. Sau cửa kính bà nhìn nhận ra ngay dáng cậu con trai vừa bước xuống xe. Vẫn là chiếc xe màu xám như xưa nhưng giờ này trông dơ bẩn lấm lem những bùn tuyết bám quanh thân. Cũng phải thôi, hắn đã vừa băng qua khoảng cách những năm trăm cây số lấm bụi đường.

Bà ngửi ra mùi khói xăng trì nặng trong khí lạnh khi mở cửa. Chào má, ôi, mùi gì thơm quá! Cánh cửa đóng vội sau lưng thằng trai trưởng. Khoẻ không má? Ờ, má vẫn vậy. Để coi, má đợi con vậy là gần hai tiếng. Bị kẹt xe ngoài xa lộ má à. Con Thu đâu rồi má? Ờ, em con chạy ra siêu thị, nó nói đi mua cho anh nó một chai rượu chát.

Người mẹ đứng vòng tay nhìn xuống thằng con đang cởi giày. Hắn có vẻ thích đánh lừa trí nhớ của bà Tư, hắn cao hơn trước, hắn thay đổi hơn trước và chừng như hắn mang vào thân chút phong trần nào đó, thứ mà người mẹ vẫn chưa khẳng định được rằng con mình đã thực sự trưởng thành? Hắn như thằng đàn ông chuẩn bị chia tay, lầm lỡ đi vun quén lấy cuộc sống riêng tư, biền biệt. Con có cần tắm rửa chi không? Thu nó đã sửa soạn tươm tất căn phòng cho con từ hôm qua. Xin nghỉ được bao lâu? Chỉ ba ngày thôi má à, năm mới biết cơ man nào việc vàng, ngập tới cổ. Má nấu món gì thế? Thì vẫn là thứ con thích ăn.

Đứa con cởi áo khoác móc vào lưng ghế. Khi mẹ cả tin biết rõ khẩu vị của con thì chừng như dưới mắt mẹ, con vẫn ngây thơ như tự buổi nào. Hắn ngó quanh, lùi sâu vào góc phòng, chỗ đọng nhiều bóng tối có đặt chiếc bàn nhỏ, hai dĩa đựng trái cây, hai cốc nước lạnh, một tách trà, một bát nhang và đằng sau dựng đứng một khung ảnh. Ai cũng đều có chung một nhận xét, khi về già mặt mày hắn chẳng mấy sai trật so với tấm chân dung buồn bã câm nín kia. Bà Tư lặng lẽ quan sát, hắn đã không đến thắp cho ba hắn một cây nhang.

Cửa mở, người con gái bước vào với hai túi ny-lông căng phồng ở hai tay. Anh Đông đến hồi nào? Mua gì lắm thứ vậy Thu? Em có gì lạ không? Anh thì sao? Chỉ tới một mình? Thu nói vậy là có ý gì? Em tưởng anh dẫn theo một người khác, má vẫn thường mong có được đứa cháu nội để bồng. Đông bước lại xách hộ cô em gái một túi nặng, theo sau lưng em đi vào nhà bếp. Tối nay anh ngủ ở đây chứ? Không, lỡ hứa phải ghé thăm thằng bạn cũ rồi.

Yên lặng. Cả má lẫn cô em gái đều làm thinh. Hơi bất ngờ, sự mần thinh là phản ứng nhất thời khi bị tình phụ. Thu soạn những thứ vừa mua về, cái bày trên bàn cái chất vào tủ lạnh. Bà Tư đứng nhìn: Con mua nhiều thức thế? Tại con tưởng nhà có thêm khách. Người đàn bà quay đầu: Hẹn người ta mấy giờ? Liệu ăn hối một tô bún có kịp không? Dạ, má và Thu cùng ăn với con luôn chứ? Anh cứ việc, em với má thì lúc nào ăn mà chẳng được, còn sớm quá mà.

Người mẹ dành lấy công việc, bà thích chính tay mình được phục vụ thằng con trai do công việc phải tạm xa nhà. Ở đây, bốn ngày sau Valentine’s Day là Family Day. Khi lịch in rõ hàng chữ đỏ ấy cũng là một nhắc nhở cho những ai chẳng mấy nặng lòng tới gia đình. Mái ấm kia đôi lúc chỉ là một trạm trung chuyển, một cây xăng cắm giữa con đường dài hun hút, ghé châm chút nhiên liệu để khỏi cạn bình, việc bất khả kháng.

Má nấu nhiều lắm, thấy đói thì má múc thêm tô thứ hai. Người mẹ mang tô bún nghi ngút khói tới đặt trước mặt con, muỗng đũa đi cùng xấp giấy dùng lau miệng. Bà chờ giây phút này đã hơn một năm. Mặt mũi nó giống y như ba nó, có điều tính tình thì bà chưa thể kiểm chứng được. Một đàng là người đàn ông luôn kề cận chăm sóc bà, một đàng là cậu con trai mỗi lúc một cách xa má. Ôm trong vòng tay lắm khi còn không thấu hiểu huống hồ một vạn dặm chỉ nghe ra tiếng ấp úng trong điện thoại viễn liên, mỗi năm chỉ vọng về sáu bảy bận. Giờ đây thì nghe hắn nói: Bún má nấu ngon quá, ngày mai con sẽ ăn tiếp. Hắn nhìn đồng hồ: Chừ thì con xin phép má, con đi. Hắn bưng tô vào đặt trong bồn rửa chén. Hắn mở vòi nước nhưng chỉ để rửa mặt, vuốt tóc.

Người mẹ và cô em gái không tiễn hắn ra cửa. Chút giá lạnh tràn vào, trước khi cánh cửa đóng sập, giọng người mẹ vụt gửi ra: Đông, lái xe cẩn thận nghe con. Một lát, ở ngoài vọng vào tiếng máy nổ, hai luồng sáng trước mũi xe đâm vào bóng đêm, chìm dần trong tăm tối.

Dối gạt. Thu nói khi bước tới khoá cửa. Má biết không, trước khi vào siêu thị con thấy ảnh đứng trước hotel bên kia đường với một người con gái. Con mua lắm thứ vì ngỡ ảnh mang bạn tới ra mắt má. Người đàn bà xắn tay áo để rửa những thứ thằng con vừa vất vào đó. Vậy thì tại sao hắn không dắt về chào mình? Thu cầm khăn lau đứng một bên. Một là cô ta không hứng thú, không tìm được cái danh chính ngôn thuận, hai là cô ta muốn đến những nơi thích hợp với cô ta, thích quậy chứ chả dại ngồi yên một cục Cách đến rồi đi hối hả của anh Đông chừng như chứng minh là ảnh nghe lời cô ấy một phép, sợ người đẹp giận dỗi. Nhưng con sẽ thứ tha nếu anh Đông cứ trình bày rõ sự thật, con ghét những kẻ dối gian, thà ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói láo. Vậy con thì sao? Không có mặt thằng Đông, con nên gọi cho cậu ấy một tiếng, nói má mời tới ăn chung bữa. Hai đứa đã có tính toan gì chưa? Tính gì má, người đó đâu có bác sĩ kỹ sư gì đâu má, ổng biết thân biết phận sợ má chẳng được nở mặt nở mày. Mày lấy chồng chứ mắc mớ gì tới má. Cái khổ cái sướng của mày thì do mày quyết định lấy, má vô can. Riêng hình dong với tính tình của cậu ấy má thấy chẳng có khuyết điểm gì. Điện thoại đi, nói với cậu ta là má thích nhà cửa chộn rộn.

Thu nghe lời, cô nhấc chiếc điện thoại để bàn lên nhưng chưa bấm số. Thu hỏi: Khi má mang thai con, người má thấy ra sao? Có phản ứng? Có buồn vui bất chợt? Có nôn nao? Có lo âu? Có khó chịu? Bà Tư ngó vào bụng Thu: Khi không cái mày đè chuyện xưa tích cũ ra mà hỏi, má đâu nhớ rõ. Ừ, thì có biến đổi tâm sinh lý chứ, xáo trộn đó là chuyện hiển nhiên, đang bình thường tự dưng đi đâu phải lặt lè vác thêm sức nặng mày mang, đôi khi không ưa thích chuyện gì thì mày co chân đạp một phát. Mà này, cậu ấy cuối tuần vẫn còn đến chùa để dạy tiếng Việt cho bọn nhỏ chớ? Lúc trước kìa má, giờ này chẳng còn ai mang con đến học, lớp Việt ngữ đã đóng cửa, đâu ai làm việc thiện nguyện ở chùa bà Đanh! Khi nào má muốn đi chùa, con biểu ổng mang xe tới rước. Ừ, mươi bữa nữa là đúng bốn năm ngày ba mày qua đời, hai đứa cũng nên đứng bên nhau mà cúi đầu thưa trình xin xỏ với ổng một tiếng.

Tình nhân con Thu mang tên Trác, thấy xâu chìa khoá của Thu có móc miếng gỗ khắc hai chữ T xoắn lấy nhau. May mà chỉ hai thôi chứ khắc thành bốn lại hoá ra Tình, Tiền, Tù, Tội. Cậu ta sống một mình, canh cô mồ quả, chẳng có thân bằng quyến thuộc bà con họ hàng chốn giá lạnh này. Cũng sáng đi chiều về cày bừa như thiên hạ, dành ra hai ngày cuối tuần lăng xăng chuyện này chuyện nọ cùng Thu hoặc vác ngà voi đi làm công quả trên chùa. Không rõ khù khờ ông trời có độ, nhưng bà Tư thì cảm thương cho tâm lành mà bạc số mãi ám vào người Trác. Bà hứa thầm, hồi nào cảm thấy nhác chơi, linh cảm là sẽ lên chùa ký gửi nhúm tro tàn bên cạnh chỗ chồng từng định vị, bà sẽ trao con Thu cho Trác chăm sóc tới cuối đời, chẳng làm khó việc cưới hỏi rùm beng gì sất, cầm tay mà cho không biếu không. Thằng Đông có điện thoại về hỏi thăm, xa mặt cách lòng thì dễ cho hắn đón nghe bà cật vấn: Hổm mày về thăm má có dắt theo đứa con gái thuê ngụ ở hotel, cớ gì mà mày thầm thà thậm thụt y như mèo dấu cứt chẳng thành tâm khai báo ngọn ngành cho má được vui lây? Tiếng thằng Đông truyền đi trong điện thoại viễn liên nghe như nấc cục hoặc ngứa cổ ho khan: Ôi, đừng nhắc nữa má ơi, mấy đứa con gái vừa ở Việt Nam sang coi mòi quen tráo trở, thủ đoạn, khôn lanh vặt, ghê gớm quá. Nó bye con rồi, nó bỏ đi rồi. Lợi dụng cũng chừng mực nào đấy thôi, ai mà chịu đời cho thấu. Má đừng kể cho Thu nghe, mất mặt thằng con trai của má quá. Đông chửi, đồ khốn nạn! Bà Tư than, tội lỗi! Cuối tuần này con liệu sắp xếp chạy về được không, trưa thứ bảy má lên chùa nhờ người ta làm mâm cơm chay đạm bạc cúng ba mày mất tròn bốn năm. Con xin lỗi má là không thể về được, để con gửi cho má cái ngân phiếu đề tên em Thu, xem như chút lòng của đứa con vì công việc phải ở xa. Má vẫn khoẻ? Ờ, chừng nào má đổ bệnh thì sẽ réo con, dòm mặt lần cuối.

Trác lái chiếc xe cũ của cậu ấy, con Thu ngồi ghế trước, bà Tư ngồi ở băng sau. Hôm nay bà Tư chọn mặc chiếc áo dài màu nâu, may từ thuở xưa, hồi còn ở bển, ngàn năm một thuở mới được chưng diện đến chốn vắng tẻ. Xe rời nhà lúc tám rưỡi mà tới chùa thì đúng mười giờ. Mọi người bỏ giày dép ngoài bậc thềm. Bà Tư nhờ Trác đi cùng Thu xuống hậu liêu hỏi xem có chi trở ngại việc cúng kiến mà họ đã cậy nhờ từ ba bữa trước, riêng bà Tư bước qua chánh điện để lui sang phòng sau, nơi đặt để di ảnh của người chồng, chen vai thích cánh cùng các hương hồn thân cận. Có cái bàn thờ đang nghi ngút khói nhang đặc biệt dành riêng cho người vắn số vừa đủ bốn mươi chín ngày. Bà Tư nghe tim đập hụt một nhịp khi trông thấy khung ảnh của chị Năm đặt gần bên chậu bông, bên mâm trái cây… hoa cả mắt. Hèn gì lóng rày siêng chạy ra chợ, lần khân dáo dác mà hổng thấy bóng dáng thầm lặng, đầy cam chịu ấy. Gian phòng vắng, chỉ có một người đàn bà mặc áo lam đứng chắp hai tay trước ngực, yên như pho tượng. Bà Tư nói nhỏ, rụt rè: Cho tôi thắp ba cây nhang có được không cô? Dạ, xin bác cứ tự nhiên. Cho dù không thân sơ, việc bày tỏ ấy cũng khiến cho người khiếm diện đón nhận chút ấm lòng.

Bà Tư nhắm đôi mắt cay. Bà đứng cúi đầu trước khuôn mặt buồn rầu của chị Năm. Bà vái lạy, bà cắm nhang vào lư hương. Bà lùi lại, quỳ gối, đập đầu xuống tấm thảm. Lâm râm điều gì chẳng ai nghe thấu, lát sau đi lại gần vị mặc áo lam: Dạ xin hỏi cô có hay biết vì sao mà người hưởng dương này đường đột khuất núi? Dạ, nghe loáng thoáng vì mang bệnh ung thư, ung thư gì thì họ chẳng nói. Bà Tư than: Tội nghiệp, bả mất vì chứng ung thư buồn, thứ ung thư không đáng có.

Chị Năm ơi, tui với chị chẳng qua là hai người đàn bà xa lạ chỉ gặp mặt nhau ở trong chợ, do duyên số bày, có vậy thôi. Con dại cái mang, con nó đối đãi không phải thì mình chỉ biết ngậm đắng nuốt cay. Tui cầu xin sang cảnh giới khác chị sẽ phun hết cay đắng để ngậm lấy trái cây hương hoa thơm thảo ngọt bùi. Hãy tha thứ cho chúng, nước mắt vốn chảy xuôi chớ không nên chảy ngược. Từ rày tui siêng đi chùa, thăm chồng và thăm chị…

Má. Ai chết vậy má? Mấy người ngồi dưới nhà bếp muốn gặp má để thanh toán tiền mâm cơm cúng ba kìa.

Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 30 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 3 Dec 2023

Bài 30

Cây Số 15

Cây Số 15 thuộc ấp Hòa Bình, xã Mông Thọ, là một đoạn đường trên LTL 8A, cách Rạch Giá 15Km, thuộc xã Mông Thọ, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang. Từ hướng Long Xuyên đi về Rạch Giá, bên phải Cây Số 15 là ấp Tà Keo, xã Mỹ Lâm, quận Kiên Thành, bên trái là Kinh Nước Mặn, kế xã Giục Tượng, cũng thuộc quận Kiên Tân. Việt Cộng sau khi vượt qua Cây Số 15, theo Kinh Nước Mặn, đi về hướng Kiên Bình, xuống Miệt Thứ (Xin xem lại trong bài Chị Sứ – Hòn Đất), về hướng quận Hiếu Lễ, về U-Minh, mật khu Việt Cộng.

            Như tôi đã nói trong bài trước, quân Cộng Sản Bắc Việt từ Kampuchia qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng Chiến, tới Tà Keo thì dừng lại, chờ tình hình thuận tiện sẽ vượt qua Cây Số 15. Tiến trình chuyển quân nầy chỉ có đi mà không về, có nghĩa là quân từ Kampuchia qua, bắt buộc phải vượt Cây Số 15 để tiến về U-Minh. Chúng không thể dừng lại ở Tà Keo lâu vì rất nguy hiểm, có thể bị quân đội Cộng Hòa tấn công, bị pháo kích và nhất là thiếu tiếp tế, không đủ cơm gạo để trú ẩn lâu dài.

Khi quân Việt Cộng về đông, những gia đình có liên hệ với Việt Cộng ở xã Mỹ Lâm, ở Nam Thái Sơn được vận động nấu bánh tét để tiếp tế cho bộ đội. Nhà nào nấu bánh tét nhiều mà không có kỵ giỗ gì cả, có nghĩa là nấu bánh tét tiếp tế cho Việt Cộng. Việc nầy, chỉ có thể nhờ đồng bào (Tình báo nhân dân) báo cho biết. Những gia đình nấu bánh tét, họ không cất dấu trong nhà. Họ buộc bánh tét lại với nhau rồi dòng xuống kinh, vừa che mắt Quốc Gia, vừa giữ bánh tét cho được lâu vì dưới đáy kinh, nhiệt độ thấp, lạnh, bánh khỏi bị hư. Tập kết ở Tà Keo ít hôm, rồi Việt Cộng cố sống cố chết vượt qua Cây Số 15, hướng về U-Minh.

Trước khi quân Mỹ tham chiến (Cũng như sau nầy khi Mỹ đã rút quân), Hải quân VNCH chưa phát triển (Sau hiệp định Genève 1973, có phát triển cũng bằng không vì bị hạn chế dầu, tàu bè nằm ụ một chỗ), Cộng Sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí, đạn dược cho U-Minh bằng đường biển.

Ghe Bắc Việt giả dạng như ghe đánh cá miền Trung (Cũng thường vào đánh cá ở vịnh Thái Lan), từ ngoài bắc vào quanh quẩn ở hải phận quốc tế. Khi tình hình ở U-Minh yên ổn, không có quân đội Cộng Hòa hành quân, không có tàu Hải quân tuần tiểu, Việt Cộng ở đây, bằng phương tiện của họ, “báo cáo lên trên”. Vậy là đài phát thanh Hà Nội cho phát ra một bản nhạc đã qui định trước. Ghe Bắc Việt khi nghe bản nhạc đó liền từ từ tiến vào bờ. Trên bờ biển U-Minh có cả chục cửa sông. Theo dấu hiệu, ghe vào bờ và cho chuyển hàng hóa xuống. Đây chỉ là con đường vận chuyển hàng hóa quân sự, còn vận chuyển người, phải theo đường giây 1-C.

Đường giây 1-C có từ cuộc chiến tranh trước (1945-54). Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1960-75) con đường nầy thay vì đi xuyên qua Dinh Điền Cái Sắn thì phải bẻ ngoặt xuống hướng xã Mông Thọ, vượt qua LTL 8A ở Cây Số 15. Chỗ nầy, Cây Số 15 là chỗ thắt họng quân Việt Cộng.

Khi tôi về phục vụ ở Cái Sắn, cứ vài đêm lại nghe báo cáo Việt Cộng vượt qua Cây Số 15, từ hướng Tà Keo, về xã Giục Tượng. Trách nhiệm là trách nhiệm chung: Tiểu khu, Chi khu, Cảnh Sát Đặc Biệt, Võ Trang Tuyên Truyền, Thám Sát Tỉnh… hơi đâu mà lo!

Thế rồi có lệnh khiển trách của Tướng Nam ít lâu sau khi Tướng Nam thay Tướng Nghi: Tại sao để cho Việt Cộng vượt lộ ở Cây số 15?

Việt Cộng muốn vượt qua lộ, phải có giao liên. Vậy trước hết, phải quét cho sạch giao liên, Việt Cộng sẽ gặp khó khăn. Vậy là các cơ quan an ninh có trách nhiệm họp bàn, lật hồ sơ nghiên cứu: Hồi chánh viên, Cựu can phạm, gia đình có thân nhân thoát ly ở trên đoạn Cây Số 15, ai bị hồ nghi là “vớt” về, điều tra, khai thác. Nhất là trong chiến dịch F-6, sau khi ký hiệp định Ba-Lê 1973, “vớt” không ít người vì chỉ cần có một bản tin là đủ, không cần phải có đủ ba bản tin như thường lệ.

Vậy mà Việt Cộng cứ qua sông. Bên nầy sông, phía lộ, không nhà nào treo đèn, ra dấu hiệu có hay không có Quốc Gia phục kích thì bên kia kinh, Việt Cộng đâu dám qua. Vậy mà nó vẫn qua. Lạ nhỉ?! Thế rồi một đêm Việt Cộng vượt qua ngay nhà anh Hiển, tài xế của tôi. Vậy là tài xế nầy Việt Cộng nằm vùng, hoặc gia đình nó làm giao liên cho Việt Cộng. Xem đi xét lại, không thể, không thể có chuyện đó. Không phải vì nó là tài xế của tôi mà tôi bênh nhưng các bên có trách nhiệm cũng suy nghĩ như tôi. Chỉ có thể có một kết luận: Tụi nó liều mình vượt qua Cây Số 15.

            Một bữa lính tôi đi phục kích. Thay vì phục ngay Cây số 15 thì trung đội trưởng cho dịch lên phía trên một chút. Ấy là đã đi phục kích mà còn sợ đụng địch. Tránh xa một chút để “Quân ta rút lui hoàn toàn vô sự”. Nhằm bữa đó, Việt Cộng cũng vượt lộ dịch lên phía trên một chút, tránh ngay Cây Số 15 để khỏi đụng với Quốc Gia. Ấy là “Thiên bất dung gian”, hai bên “Tao Ngộ Chiến”. Nửa khuya, một anh lính tôi đang nằm trên võng, mơ mơ màng màng, bỗng có một bóng đen đầu đội nón cối tới sát bên, cúi xuống hỏi: “Sao đồng chí…” Chưa dứt câu thì lính tôi nổ súng vì anh ta đã mở khóa an toàn sẵn và đang kẹp súng bên hông. Tên Việt Cộng ngã xuống và rồi súng hai bên nổ như bắp rang. Việt Cộng vừa bắn hoảng vừa chạy qua lộ. Lính tôi thì rải đạn như mưa, bất phân trúng trật, miễn sao thời gian qua cho lẹ rồi rút quân về. Tên Việt Cộng bị giết, ngã xuống tại chỗ, để lại cây AK báng xếp. Súng bị quân ta tịch thu. Trung đội trưởng yêu cầu tôi đề nghị thượng cấp ban khen cho anh lính lấy được súng. Thấy câu chuyện có vẻ khôi hài, tôi bèn nói: “Chuyện nầy như chó ngáp phải ruồi, phải chi gan lì mới hay! Không lý tôi ghi trong phiếu trình rằng anh ta “chiến đấu anh dũng, kiên cường dũng mãnh” nên lập được chiến công.” Tuy nói vậy, tôi cũng nói với ban nhân viên lập phiếu đề nghị khen thưởng cho anh ta.

            Trước khi tướng Nam làm tư lệnh quân khu, việc ngăn chận quân Việt Cộng qua lộ 15 chỉ thực hiện tà tà. Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát, Võ Trang Tuyên Truyền thỉnh thoảng phục kích kiếm công tác. Hễ lực lượng Việt Cộng ít hơn, ngang bằng, “ăn” được thì nổ súng. Hễ tụi nó đông quá, cấp tiểu đoàn hay hơn thì nằm im, chém vè, v.v… Tôi cũng có lần “nằm im” chịu trận như vậy.

Trong các lực lượng phục kích ở đây, trung đội Võ Trang Tuyên Truyền của Ty Chiêu Hồi hoạt động tương đối có kết quả vì phần đông họ là “dân chiêu hồi” nên rất rành rẽ phương hướng, cách thức di chuyển, hoạt động của Việt Cộng. Do kinh nghiệm đó, họ có những chiến thuật, cách phục kích rất hữu hiệu. Tuy nhiên, so với lực lượng Thám Sát Tỉnh (Prou), họ còn thua.

Một hôm tôi gặp Ba Hà ở Dàm Rầy, ông ta đang ngồi uống caphê, chờ ai đó… Ba Hà là đại úy đồng hóa, chỉ huy Thám Sát Tỉnh. Thám Sát Tỉnh là một lực lượng ăn lương Mỹ, được Mỹ trang bị vũ khí và khí cụ quân sự khá hiện đại, nhưng thuộc hệ thống Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát tỉnh.

Kể về kinh nghiệm chống Cộng thì Ba Hà khó đứng sau thiên hạ. Thời tổng thống Ngô Đình Diệm, ông ta là xã trưởng xã Đức Phương (Vàm Rầy), quê hương ông chủ Ry và chị Tư Nết. Từ đó, ông ta đi dần lên, chỉ huy đơn vị Thám Sát Tỉnh, đồng hóa “loon” đại úy nhưng không bao giờ ông ta đeo “loon” hay mặc quân phục. Thám Sát Tỉnh là lực lượng hầu hết là Việt Cộng hồi chánh, còn trẻ, gan dạ, kinh nghiệm như binh lính bên Trung Đội Võ Trang Tuyên Truyền nhưng đánh giặc chì hơn, ngon hơn.

Biết nhau từ những lần họp hành, gặp Ba Hà, tôi hỏi:

_ “Anh tính lang thang vô đây mần tụi nó hay sao?”

Ba Hà cười:

_ “Chỗ nầy không ngon. Tui cho lính tui vô tuốt trỏng.”

Vừa nói, Ba Hà vừa đưa tay chỉ về hướng đông bắc, hướng Tà Keo.

Ba Hà cho lính vào Tà Keo thật. Không cần đông, chỉ năm bảy lính. Họ giả trang Việt Cộng, mặc bà ba, mũ tai bèo, mang hồng ngoại tuyến, mìn claymore, v.v… Nhờ hồng ngoại tuyến, họ thấy và tránh xa những điểm gác của Việt Cộng, rồi lẻn vào tận bên trong.

Cả đám nón cối, nón tai bèo đang mắc võng nằm ngủ (Dưới đất toàn là nước và sình). Thám Sát Tỉnh gài mìn claymore, gài giờ nổ, rồi rút ra xa ngồi chờ. Thế rồi bên trong mìn nổ ì xèo, bọn Việt Cộng canh gác phía ngoài thấy bên trong bị tấn công cũng chém vè, chạy luôn. Ngày hôm sau, Thám Sát tỉnh ngồi chờ dân đi làm đồng về báo cáo cho hay: Áo quần, mũ nón, balô bay tung lên ngọn tràm, võng không kịp tháo, máu me tùm lùm. Việt Cộng phải rút ngược về kinh Kháng Chiến, chờ ở đó vì Tà Keo, điểm tập trung đã bị động ổ. Có lẽ trận nầy, Ba Dũng (Nguyễn Tấn Dũng) cũng hoảng hồn, chạy trối chết.

Sau nầy tôi còn gặp Ba Hà một lần nữa, tại Đức Phương. Ba Hà và tôi đọc bản đồ, chấm toạ độ chỗ Việt Cộng đang dừng quân trong rừng tràm để cho đơn vị Thám Sát vào quấy rối hoặc báo cho Biệt Khu 42 Chiến Thuật cho pháo chụp.

Ba mươi tháng Tư /75 Ba Hà kéo vô rừng, thế chỗ Việt Cộng, không chịu đầu hàng theo lệnh Dương Văn Minh. Ông ta cùng lính tráng, hợp với lực lượng của trung tá Thảo Hà Tiên, quần nhau với Việt Cộng mấy trận nữa. Có người nói với tôi khi bọn Khmer Đỏ tấn công nhà máy Ximăng Hà Tiên, có mặt Ba Hà trong lực lượng chúng. Điều nầy không chắc lắm, nhưng kể từ khi Cộng Sản Việt Nam tấn công qua Phnom Pênh năm 1979 thì ở Kiên Giang không ai còn nghe tin tức gì về Ba Hà và cả trung tá Thảo nữa.

Trở lại chuyện Cây Số 15, khi không còn hạ tầng cơ sở, không còn giao liên, Việt Cộng liều mạng vượt qua lộ. Bấy giờ bọn chúng không di chuyển ít người, dễ bị Quốc Gia phục kích. Hễ mỗi lần vượt lộ là chúng vượt hàng trăm, ít thì vài ba trăm, nhiều thì năm bảy trăm. Nhìn dấu ghe in trên mặt lộ khi chúng kéo ghe qua lộ có thể đoán lực lượng địch hôm qua di chuyển qua đây là bao nhiêu bởi vì vùng nầy là vùng nước và sình, Việt Cộng phải di chuyển bằng ghe. Tụi nó cũng khôn, trước khi vượt lộ, chúng trải một tấm nylon lớn từ bên nầy qua bên kia mặt lộ. Qua xong, cuốn tấm nylon đem cất, không để dấu vết làm sao biết chúng đông ít. Dễ thôi, không nhìn trên mặt lộ thì nhìn hai bên bờ lộ, chúng cũng để  lại dấu tích vậy. Không phải Việt Cộng để dấu ghe lại một chỗ mà nhiều chỗ, trên một đoạn đường dài. Cứ nhìn dấu một chỗ mà đoán bao nhiêu ghe, mỗi ghe khoảng năm bảy tên. Cứ thế mà nhân lên.

Khi đơn vị Cộng Sản Bắc Việt tới Tà Keo và chuẩn bị vượt lộ, chúng phải theo sự hướng dẫn của du kích, hạ tầng cơ sở xã Mỹ Lâm, dĩ nhiên trong số có Ba Dũng. Khi tới bờ kinh Cái Sắn, phía bên kia, du kích chia làm hai toán, mỗi toán khoảng ba bốn tên. Chúng cởi quần bà ba, nhúng ướt làm phao để bơi qua kinh, rộng khoảng 30 mét. Một toán bơi lên phía trên làm nút chặn phía trên, toán thứ hai ở phía dưới. Nếu thấy êm, chúng ra dấu hiệu cho “đại quân” vượt qua lộ ào ào, phải nhanh chớ không thì nguy hiểm.

“Quân ta” phục kích, thấy Việt Cộng đông quá thì nằm im. Nhưng chờ khi chúng qua xong thì gọi máy báo về chi khu Kiên Tân. Chi Khu đoán chừng Việt Cộng đang di chuyển ngang qua đâu thì cho pháo chụp. Không ít lần chụp trúng ngay đầu chúng. Một lần hoảng quá, Việt Cộng chạy tán loạn, một toán chạy vào trốn ở nhà thờ Kinh 7, thuộc xã  Thạnh Đông, gần xã Giục Tượng. Buổi sáng sớm, trời chưa rạng, giáo dân đi nhà thờ, đang cầu kinh thì Việt Cộng vô chiếm nhà thờ. Bọn chúng không bắt ai hết, chỉ kiếm… cơm ăn. Thế rồi quân ta kéo tới, bao vây phía ngoài lộ LTL 8A, để hở phía Thạnh Tây cho Việt Cộng rút lui. Vây kín quá, “ngựa tới đường cùng, đá ngược”, hao quân! Đồng thời cho pháo binh bắn cầm chừng, khủng bố tinh thần chúng. Linh mục kinh 7, ông nầy còn trẻ lắm, từ nhà thờ kinh 7 lội ra, than phiền rằng nhà thờ bị pháo, “hư hết!” Hư hết là nói thêm vào để nhà thờ đừng bị pháo chứ hai cây súng 105 ly đặt ở kinh 8 đã được lệnh chỉ pháo vòng ngoài nhà thờ, phía ruộng mà thôi.

Tôi nói với ông linh mục trẻ: “Ông tỉnh trưởng đang ở ngoài lộ. Cha ra khiếu nại với ông đi! Ty Xã Hội sẽ “bồi thường chiến tranh” cho.”

Hồi đó, Mỹ có cho Ty Xã Hội quỹ “bồi thường chiến tranh”, ngon lành lắm. Hễ nhà nào bị pháo kích hư hại, không cần biết bên ta hay bên địch bắn, Ty Xã Hội sẽ bồi thường 40 ngàn và 20 tấm “tôn” lạnh, loại của Úc. Nhà dân còn thế, huống chi nhà thờ, chắc sẽ bù cao hơn. Ông linh mục chỉ có lời, không có lỗ.

Cũng vì việc “bồi thường chiến tranh” kiểu nầy mà ghế trưởng ty Xã hội bị người ta tranh nhau dữ và vài ba ông trưởng ty bị mất chức. Ở Hòn Chông (Chùa Hang) thuộc xã Bình Trị, chẳng hạn. Ty Xã Hội và xã trưởng Bình Trị (Hòn Chông) Nguyễn Vĩnh Xương phát tiền bồi thường chiến tranh cho dân. Thay vì 40 ngàn thì người dân chỉ nhận có 35 ngàn, trừ 5 ngàn để phái đoàn “ăn trưa và giải khát.” Dĩ nhiên người dân ký nhận 40 ngàn và cũng OK vì tiền nầy coi như tiền trên trời rớt xuống. Thay vì 20 tấm “tôn” lạnh thì dân chỉ nhận 16, hoặc 17 tấm vì “tôn chưa về kịp”, để “dịp sau” phát tiếp. “Dịp sau” cũng tương tự chuyện “Mai Ăn Khỏi Trả Tiền” trong sách 100 bài tập đọc lớp Nhì lớp Nhất hồi học ở Tiểu Học.

Dĩ nhiên, hôm đó, nửa khuya, Việt Cộng rút đi. Thế mà cũng chưa xong. Vài tháng sau, họp “lượng giá ấp” ở tỉnh. Ấp Kinh 7 thuộc xã Thạnh Đông, quận Kiên Tân đang từ loại A (không có Việt Cộng, không có chiến trận), bỗng tụt xuống loại D, hạng bét, xã Thạnh Đông bị mất điểm.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 30 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 3 Dec 2023

Bài 29 

Chuyện Cờ Bạc xã Mông Thọ

Chuyện cờ bạc xã Mông Thọ còn “quái kiệt” hơn xã Tân Hội khá xa. Từ năm 1956, tại Mông Thọ đã có một sòng me khá lớn, mặc dù thời Đệ Nhất Cộng Hòa, “tứ đổ tường” bị cấm ngặt. Sòng me nầy không chỉ có dân Mông Thọ, Kiên Tân tham gia mà còn có dân Rạch Giá, Long Xuyên và cả Cần Thơ, Sadec đi xe hơi về “chung vui”.

Có điều buồn cười, năm 1972, khi tôi về đây thì có dư luận nói rằng tôi là người của Saigon đưa về, không thể để cho sòng me nầy tồn tại nên ông trung tá Nguyễn Kim A., chỉ huy trưởng Cảnh Sát tỉnh Kiên Giang ra lệnh cho đại úy N., đại đội trưởng Cảnh Sát Dã Chiến 415 đem nguyên đại đội vây bắt sòng me nầy, không chừa một mống. Nhiều người bị đưa ra tòa, kể cả xã trưởng, chủ tịch Hội Đồng xã, vài ông thành viên hội đồng, hai ba ông gì đó từ Long Xuyên vào chơi, còn dân Mông Thọ, đàn ông, đàn bà, lóc nhóc một đống bồng con dại ra hầu tòa. Tòa phạt tiền rồi tha, chẳng có ai ở tù.

Có lần tôi bất thình lình ghé lại một cái chòi lá bên đường, kế trường sơ học. Cái chòi trống không, còn sót lại một chiếc đệm bàng, mấy hột nút nhựa để làm “me”. Có một chị đàn bà đang bồng con đứng xớ rớ gần đó. Có lẽ chị nầy cũng là một con bạc vừa mới tan hàng khi thấy tôi xuống xe. Chị giả bồng con đứng hóng mát, chắc để theo dõi tôi có động tĩnh gì không. Sau đó, tôi qua gặp mấy cô giáo đang đứng lớp, than phiền về việc sòng bài mở ngay bên trường học, ảnh hưởng xấu tới học sinh. Gặp ông xã trưởng, tôi lại than phiền việc đó, cũng nói rằng sòng bài gần trường học. Có lẽ chẳng ai quan tâm đến lời than phiền của tôi. Biết đâu họ còn cho tôi nói như thế là lạ. Thượng sĩ Lê Đức V., trưởng ban Hành Quân có lần nói với tôi: “Trẻ con ở đây biết đánh bài khi còn trong bụng mẹ.” Ối trời! Xứ đâu có cái xứ lạ lùng như thế nầy!

Thế rồi ông xã trưởng Tám Đáo, ông hộ, ông biện là chức sắc trong ủy ban xã, cùng ông chủ tịch hội đồng xã đi vận động mở sòng me trở lại. Họ gợi ý với ông biện lý, ông biện lý bảo qua Cảnh Sát tỉnh. Biện lý cho mà Cảnh Sát bắt thì biện lý không thể không truy tố được. Qua xin ông cảnh sát tỉnh, ông tỉnh chỉ về ông cảnh sát quận. Xin ông quận, ông quận chỉ ra lại ông biện lý bởi vì ông biện lý có thể bỏ tù ông quận nếu ông quận bao che sòng bài. Họ đi lòng vòng mấy lần mà không kết quả. Bực mình, thất vọng, họ tìm ra một cách, cứ mở sòng bài bằng cách “khóa miệng” ông cảnh sát xã. Trưởng cuộc cảnh sát xã là thiếu úy Chế Văn Ng. mới học khóa sĩ quan đặc biệt ở học viện ra, còn trẻ, ham chơi, ham vui, ham nhậu. Tất cả những cái ham ấy đưa anh ta vào tròng của mấy ông trùm cờ bạc tại xã một cách dễ dàng. Trước hết, mấy ông đưa tiền cho thiếu úy Ng. tiêu xài. Muốn bao nhiêu có bấy nhiêu! Chi cho em út, cho gái chơi, bao trả hầu hết các buổi nhậu thâu đêm của sĩ quan tiểu khu, chi khu về xã nầy hoạt động trong chiến dịch “hướng về nông thôn”. Thiếu úy Ng. trở thành môt nhân vật nổi tiếng chịu chơi. Ông quận trưởng Huỳnh Đầm S. báo cho trung tá chỉ huy trưởng cảnh sát tỉnh rằng thiếu úy Chế Văn Ng. là người “phi xì-ke”. Ông trung tá chỉ huy trưởng tỉnh hốt hoảng lên, la rầy om sòm: “Trưởng cuộc cảnh sát mà phi xì ke thì còn nói chuyện luật pháp gì nữa!” An Ninh Cảnh Lực gọi thiếu úy Chế Văn Ng. về điều tra. Bấy giờ thiên hạ mới tá hỏa ra rằng mấy tay trùm cờ bạc ở Mông Thọ chơi một đòn độc. Dẫn thiếu úy Ng. vào con đường trụy lạc, khống chế ông ta để mở sòng me trở lại. Nguồn lợi sòng me nầy lớn quá, họ không thể dứt bỏ được. Thiếu úy Chế Văn Ng. khăn gói quả mướp về trình diện quận Hiếu Lễ, nhận chức trưởng cuộc một xã “hữu danh vô thực” vì ngay chính quận lỵ đang bị Việt Cộng bao vây, mười đêm như chục, đêm nào quận cũng bị Việt Cộng pháo kích, đâu còn tính chuyện đi về xã nào làm sao được!

Thế rồi tới kỳ bầu cử lại hội đồng xã.

Vì xã trưởng Tám Đáo cũng như phó xã trưởng đều bị cách chức về tội tổ chức cờ bạc nên ông đại úy D. được tỉnh trưởng chỉ định về làm quyền xã trưởng trong khi chờ bầu cử.

Đại úy D. đang là quyền xã trưởng, tưởng ngon ăn bèn ra ứng cử vào dịp bầu hội đồng xã kỳ nầy. Để kéo thêm phe cánh, ông không tìm được người địa phương – ở địa phương ai là người có thể ra ứng cử được thì một là vì biết mình không phải là dân cờ bạc, làm sao đắc cử được; còn ai là dân cờ bạc, sao có thể theo phe cánh ông Đại Úy D.. Vì vậy, Đại úy D. lôi kéo thêm mấy người ở thị xã Rạch Giá, gốc gác ở Mông Thọ cùng ra ứng cử với ông ta. Trong số những người ở Rạch Giá ra ứng cử chung phe với đại úy D. một người tình cờ tôi gặp là bà nghiệp chủ hãng nước mắm, có lẽ nhà cũng giàu có và bà ta cũng “văn minh”. Gặp tôi bà ta đưa tay ra bắt như người Tây Phương vậy. Hỏi ra, bà ấy trước kia là dân Tây, học trường “đầm”, con một ông chủ điền lớn ở Cái Sắn. Thời Việt Minh nổi lên, gia đình bà phải chạy ra trốn về Rạch Giá.

Vậy rồi đại úy D. cũng như phe của ông đều thất cử, thất cử với số phiếu rất thấp. Ai đắc cử? Dĩ nhiên là phe cờ bạc! Tám Đáo, ba Khánh là hai tay đầu bầy, đắc cử với số phiếu khá cao, lại ra làm chủ tịch xã, chủ tịch hội đồng xã, lại mở sòng bài. Lúc ấy thì tôi đã rời Cái Sắn rồi.

            Ở đây tôi thấy một việc mà tôi chưa từng gặp hay nghe nói trước kia. Có lẽ vì tôi là dân thành phố, không rành việc nầy. Đó là “Bán lúa non.”  Người làm ruộng bán lúa theo từng giai đoạn: Lúa mới lên, lúa thì con gái, lúa chín, sắp gặt. Bán càng sớm thì giá càng rẻ. Gần tới khi lúa chín mà bán thì giá cao hơn vì ít có cơ gặp xui xẻo. Mua khi lúa mới mọc, người mua dễ thua, trắng tay vì mất mùa, hạn hán, v.v… Người làm ruộng bán lúa non vì nhiều lý do: Cần tiền để lo ma chay, đám hỏi, đám cưới, v.v… và nhất là bán lúa non đẻ đánh bạc. Làm ruộng năm ba chục mẫu, một vài trăm mẫu, túng tiền đánh bạc, bán bớt vài ba hoặc năm bảy chục công. Càng thua, nóng gỡ gạc, bán càng nhiều, có khi tới mùa, chỉ còn đưa mắt nhìn người ta gặt lúa của mình. Bán hết rồi, còn đâu! Mùa tới lại đi vay, “làm lại cuộc đời”, như câu tôi thường nói đùa về họ.

Người có tiền, có thể vừa để cho vay, vừa mua lúa non. Ai có lúa đem bán non, họ mua; tới mùa họ kêu người gặt, đúng là “nhất bản vạn lợi”.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 27 Sep 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Bài 28

Trở lại Dinh Điền Cái Sắn

Chuyện Dinh Điền Cái Sắn cũng là chuyện dài “Nhân Dân Tự Vệ”, dài dòng lắm. Tuy vậy, trước khi vào Cái Sắn, xin mời độc giả đi lòng vòng, trước hết là qua xã Tân Hội, rồi sau về xã Mông Thọ, nói chuyện cờ bạc trong Nam.

Dân Nam Bộ mê cờ bạc “hết ý”. Cách chi cũng đánh, chẳng ngán cò bót, quận tỉnh, lính làng, lính lệ…

Ở xã Tân Hội, cờ bạc là “truyền thống” của xã, đánh bài từ ông xã trưởng cho tới đứa con gái nhỏ mười một, mười hai tuổi, con nhà nghèo tay làm hàm nhai.

Buổi sáng, ông Bảy Quẹo (Nguyễn Văn Quẹo), Xã Trưởng xã Tân Hội, thức dậy không sớm cũng không muộn. Sau khi đánh răng, súc miệng xong, ông bỏ cái mộc (Gọi là mộc nhưng con dấu xã trưởng làm bằng đồng. Gọi mộc là theo thói quen vì hồi xưa nó được làm bằng mộc) vào túi áo pijama, ra quán caphê làm một cốc “xây chừng” (Càphê đen nhỏ – tiếng Tàu) hay “xây nại” (càphê sữa nhỏ). (“Tài chừng”, “tài nại” (tài là vừa, không lớn không nhỏ. Vùng nầy người Tàu đông, thường nói pha tiếng Việt với tiếng Tàu, hia là anh (thay vì huynh, chế là chị, thay vì tỉ).

Đàn ông vùng nầy, thường mặc áo bà ba, quần xà-lỏn. Khá giả thì mặc Pijama, có hai túi trên. Túi ngoài thì để một ít tiền. Túi trong (phải mở hột nút ở ngực mới lấy ra được) là một túi bạc lớn, hàng chục ngàn.

Uống caphê xong, ông Bảy Quẹo đi dọc theo con đường xã (Con đường nầy chạy dọc theo kinh Núi Sập). Xã Tân Hội có bốn ấp nằm dọc con lộ nhỏ nầy. Cứ cách khoảng vài trăm thước thì có một sòng “bầu cua cá cọp” nằm bên đường. Chủ sòng là người trong ấp, đàn ông, đàn bà, con gái, v.v… có ít đất ruộng.

Khách chơi bài gồm đủ hạng, phần đông là đàn bà con nít. Người có máu mê thì ngồi mãi không về, người ít máu mê hơn thì ngồi một lúc rồi về làm việc nhà. Thậm chí có cả những chị, tay bồng con, tay đánh bài. Con nhỏ có khóc thì phát vào đít nó một cái bẹp mắng: “Mẹ mày lên! Tao đang thua.” (Có thể là tao đang “hên” – hên tức là hưng – phát âm theo Nam Bộ). Bất cứ sòng nào, Bảy Quẹo cũng xệ vào một chút, đánh vài chục, năm chục, vài trăm, tùy theo sòng ăn thua lớn nhỏ. Xong một vòng các ấp, Bảy Quẹo về tới trụ sở xã tọa lạc ở khoảng giữa bốn ấp. Lúc ấy cũng đã trưa.

Trụ sở xã cũng chẳng có ai. Phó xã, Thư ký, Hội đồng xã, đều ở nhà, chỉ có một mình Bảy Quẹo tới xã mà thôi. Nếu ai có việc gì tới xã mà không gặp xã trưởng, ra đường hỏi thăm coi ông ở hướng nào, hướng trên (Phía Long Xuyên) hay hướng dưới (Phía Tà Keo) thì tìm tới. Chìa cái giấy ra nói “năm điều ba chuyện” với xã trưởng chơi trong khi Bảy Quẹo đặt tờ giấy lên bắp đùi ký tên rồi đóng dấu, chẳng đọc tới tờ giấy nội dung nói gì. Người đưa giấy đã nói nội dung cho ông ta nghe rồi, cứ thế ông ta ký tên, không thắc mắc!

Nếu cứ để cho xã đánh giặc thả dàn, không cấm, không bắt thì dân xã sẽ bầu ông Bảy Quẹo làm “Xã Trưởng muôn năm”, còn hơn cả “Hồ chủ tịch muôn năm” hay “Ngô tổng thống muôn năm”. Thật đấy, người dân địa phương chưa từng thấy “Hồ chủ tịch” hay “Ngô tổng thống”. Họ thấy xã trưởng Bảy Quẹo mỗi ngày. Ông ta vui vẻ, ai cần gì ông giúp nấy thì “muôn năm” ai chi cho xa. Bầu ông ta làm xã trưởng muôn năm là điều người ta thấy rất khỏe. Có lẽ chưa có một chính quyền nào trên thế giới “khỏe” như cái chính quyền nầy!

            Bảy Quẹo không ăn tiền dân, thậm chí cả tiền “Phát Triển Cộng Đồng” là tiền chính phủ cấp cho để thực hiện những công tác nhỏ như đắp đường, đắp đập, đào kinh, v.v… Bảy Quẹo không bị mang tiếng. Giữa nhà thầu và ông Phó Quận Lê-Văn Gieo muốn làm sao thì làm, Bảy Quẹo không quan tâm bởi vì Bảy Quẹo có một nguồn lợi lớn hơn nhiều lắm. Năm ba chục ngàn ăn cắp từ các công trình trên để chia nhau, Bảy Quẹo không liên quan tới. Suốt mấy năm làm xã trưởng, Bảy Quẹo không bị điều tra hay mang tiếng về tham nhũng.

Nguồn lợi lớn của Bảy Quẹo tôi nói ở trên là gì?

Làm ruộng.

Phía tây xã Tân Hội của Bảy Quẹo là đồng Huệ Đức (Quận Huệ Đức – Long Xuyên). “Đồng Chó Ngáp” so ra cũng chẳng nhằm nhò gì với đồng Huệ Đức. Đồng nầy bị hoang hóa trong chiến tranh. Cũng có nhiều khu vực chưa khai thác. Ai đủ sức thì cứ cày lên mà trồng lúa. Nông dân có máu mặt ở thị xã Rạch Giá cùng dân xã Tân Hội hè nhau làm ruộng ở đây. Ít thì cũng vài trăm mẫu, nhiều thì cả ngàn mẫu. Người nghèo chẳng thèm làm ruộng bởi vì đi làm công cho chủ ruộng cũng đủ ăn chơi bốn mùa.

Tôi nhớ trong “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang”, Sơn Nam có kể chuyện một anh chàng ở Rạch Giá trồng một mùa dưa hấu đủ ăn chơi cờ bạc suốt một năm. Ở đây cũng vậy. Làm vài trăm mẫu, dư sức chơi đùa cờ bạc cả năm. Thấy món lợi lớn, tỉnh trưởng Kiên Giang hồi cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, chỉ “hùn miệng” với chủ ruộng, cũng có tiền tiêu. Tới mùa cày, xe máy cày ở xã hoặc từ Long Xuyên về đây cày ì-xèo suốt mùa. Ông thượng sĩ Nguyễn Văn Sâm, Trưởng Cuộc Cảnh Sát xã Tân Hội hồi ấy, nói với tôi: “Tôi chỉ cần cung cấp dầu cặn cho máy cày, cũng dư tiền tiêu, khỏi ăn tiền tụi quân dịt quân gà.” (1)

Máy cày chạy suốt ngày đêm, 24 trên 24. Tài xế lái máy cày thay nhau cầm lái mới chịu nỗi. Xe máy cày chạy một ngày một đêm hết một “phuy” dầu di-e-zel. Ông ta chỉ cần ưu tiên cung cấp dầu cho vài chục xe máy cày là có tiền tiêu.”

Tôi hỏi:

_ “Bên đó cở mấy chục xe máy cày?”

Ông ta cười:

_ “Vài trăm.”

Dầu cặn nầy mua đâu ra?

_ Ở cây xăng kế Chợ Kiên Tân.

Bà chủ cây xăng ngay tại chợ Kiên Tân đưa cho tôi xem tấm “cạc” to bằng nửa trang giấy tập học trò. Trên góc trái ghi như sau, bằng chữ in:

Linh Mục Antôn Nguyễn Bá Lộc

Chánh xứ Kinh 1 Hà Nội.

Hiệu Trưởng trường Trung Học Kinh 1 Hà Nội.

Phần còn lại, Linh mục L. viết tay:

“Thưa quý vị. Tôi có chở một số xăng cho nhà chung. Xin quí vị giúp đỡ.”

Ký tên và không đề ngày.

Tấm “cạc” xếp đôi. Chỗ đường xếp gần rách. Điều đó chứng tỏ bà chủ cây xăng xử dụng nó rất nhiều lần để đi đường. Đường bà ta đi là từ đâu đến đâu? Xin thưa: Chở bằng xà-lan, từ kho xăng dầu của Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận Quân Khu 4 về tới cây xăng của bà ấy ở kế chợ Kiên Tân. Từ đó, qua Tân Hội xăng dầu phải chở bằng ghe, trẹt.

Đó là việc của nhiều người, trong đó có thượng sĩ Sâm như tôi nói ở trên. Không ai dám bắt những xà lan chở hàng trăm “phuy” xăng dầu như thế nầy.

Phần nhiều xăng thì cho máy đuôi tôm và dầu cho máy cày. Bắt là đụng đến “Le Roi et trois seigneurs” ở Cần Thơ, là đụng đến bà cô của “Chị Tư Nết” nhà bên kia kinh Cái Sắn, ngang chợ Kiên Tân, là đụng đến “Cha Lộc”, người mà Nguyễn Tấn Đời, ông Thiệu ông Kỳ khi ra ứng cử đều đáp trực thăng đến thăm ông và chụp hình kỷ niệm.

Ai ba đầu sáu tay, ai đội nón sắt, mặc áo giáp, muốn vô thì cứ vô cho biết mùi đời. Trong số những người liên hệ đến vụ xăng dầu nầy, tôi nghĩ thượng sĩ Sâm là người lương thiện nhất. Ông ta chỉ có cái tội: Chủ ruộng mua dầu của ông vì nể tình ông ta là trưởng cuộc cảnh sát ở xã đó.

Ngoài nguồn lợi làm ruộng, dân Tân Hội cũng như Bảy Quẹo có một nguồn lợi khác cũng khá lớn: Làm cá. Có hai đánh bắt cá: Đặt lợp, giăng câu, cất vó… và đặt chà. Dọc theo kinh Núi Sập (Từ Núi Sập Long Xuyên ra biển, chảy dọc xã Tân Hội), người tặt hàng chục đống chà. Chà là những cành cây chất thành đống bên bờ kinh để cá làm chỗ ngủ, nghỉ, núp nắng… Muốn đặt chà, người ta phải làm nền, tức là chỗ đáy kinh nền chà phải san phẳng, rồi để chà lên. Tới mùa cá, nhất là khi nước bắt đầu rút, cá từ trên Miên đổ về, chủ nhà vây lưới vớt chà, bắt cá. Vùng Tân Hội là vùng nước lợ (chỗ nước ngọt đụng với nước mặn từ vịnh Rạch Giá lấn vào), cá từ trên Miên theo sông Hậu về, từ nước ngọt đụng nước mặn nên dội ngược lại, tập trung ở đây rất nhiều, nguồn lợi rất lớn. Đây là loại cá đồng: lóc, rô… còn lươn thì thường bắt ở trong ruộng. Lươn ở đây có con to bằng cổ tay người lớn.

Có lần tôi hỏi Bảy Quẹo:

_ Giá mỗi đống chà là bao nhiêu?

Bảy Quẹo trả lời:

_ “Hai chục ngàn.”

Theo thời giá, hai chục ngàn là bằng lương một sĩ quan đông con. Mấy ông chủ ruộng nầy “chịu chơi” lắm. Nghe tôi về Cái Sắn, được hơn tuần, Bảy Quẹo tới thăm, trước mặt mọi người, rút đưa cho tôi hai chục ngàn, nói là “Để ông uống càphê chơi”.

 Tôi đùa:

_ “Uống caphê gì nhiều dzậy ông? Uống sao hết!” Ông ta cười, tính bỏ đi.

Tôi hỏi:

_ “Có cần tui giúp đỡ chi không?”

Ông ta trả lời ngay:

 _ “Không!”

Ông ta có nhờ đấy. Tới mùa gặt, trưởng ban hành quân nói với tôi: “Đang mùa gặt, mấy ông chủ ruộng xin mình đừng hành quân bên Tân Hội!”

“Sao vậy?”

Tôi hỏi.

Trưởng ban hành quân trả lời:

_ “Tụi nó sợ, bỏ trốn hết, ai gặt lúa cho mấy ổng. Gặt không kịp, lúa rụng hết, mấy chã lỗ to.” Té ra bọn thợ gặt phần đông là bọn trốn “quân dịt quân gà”.

Tám Dè (Vè – Huỳnh Văn Vè), chủ ruộng ở Tân Hội, nhà ở thị xã Rạch Giá, thường hay kéo rê về Kiên Tân và Tân Hội chơi. Nhà ông ta ở Tân Hội là cái nhà tôn nhỏ, còn nhà ông ta ở Rạch Giá là nhà lầu ba tầng. Bên cạnh cái nhà tôn ở Tân Hội, có cái nhà tôn lớn. Đó là nhà chứa máy cày của ông. Ở Tân Hội, khoảng vài chục chủ ruộng có máy cày như ông Tám Vè, chưa kể nhiều người như Võ Văn Minh tự Út Giàu có cả xe GMC để chở lúa. Xe nầy chỉ chạy trong ruộng, không cần bảng số công chánh.

Một hôm tôi gặp nạn!

Một phái đoàn gần chục người đến thanh tra tôi, lại gợi ý ăn nem chả Kiên Tân nổi tiếng ngon, nhất là tiệm nem chả Kinh B. Thanh tra xong, – cũng chỉ thanh tra chiếu lệ -, tôi mời ra tiệm Tầm Hương Quán là tiệm nổi tiếng ngon ở chợ Kiên Tân. Đãi phái đoàn ăn mà bụng tôi đánh lô tô. Bữa tiệc cũng phải từ 15 đến 20 ngàn, gần nửa lương tháng của tôi. Kiếm đâu ra? Tôi là dân đánh giặc dưới ruộng, ở nhà quê, có gì mà phải sợ ai? Nhưng lâu lâu người ta đường xa về, “yêu cầu” bữa cơm, không lý từ chối, không lý cho ăn cơm muối, bèn bấm bụng chịu trận.

Sau khi tôi tiễn phái đoàn đi rồi, trở lại quán hỏi bà chủ bao nhiêu để kiếm tiền trả thì bà chủ nói: “Ông khỏi no (lo – Bà ta người Bắc, còn nói ngọng), có người chả dzồi đấy!” Tôi chưa kịp hỏi ai thì thấy bà ta nhìn ra sân cười. Tôi nhìn theo hướng đó thì thấy ông Tư Dè (Vè) nhìn tôi cười. Lúc nãy, khi tôi vừa đi ra thì ông ta vào trả tiền ngay cho tôi. Ông ta chờ phía ngoài tiệm đã lâu.

Người Bắc và người Nam ở Cái Sắn khác nhau. Hôm tôi nhận sự vụ lệnh về Cái Sắn, anh bạn cùng khóa, gốc Kinh 5, đang cư trú gần Nhà Thờ Hầm ở Saigon, nói với tôi, nói thiệt tình, không phải để hù: “Mày về Cái Sắn phải cẩn thận, dân trong kinh ra bán 10 đồng cá, cất 9 đồng mua vàng, năm chục xu ăn bún riêu, năm chục xu mua tờ giấy trắng chờ viết đơn thưa!” Tôi chỉ cười, tôi không tính tới việc “Cơm cha, áo mẹ, công thầy” để đi kiếm ăn bẩn nên tôi không ngại gì. Việc thưa kiện ở Cái Sắn, cũng có nhiều điều khá vui, tôi sẽ kể sau.

Trong việc cờ bạc, dân xã Tân Hội khá thông minh. Vì chiến dịch, cơ quan công quyền ở đây ra sức dẹp cờ bạc. Các sòng bầu cua cá cọp, lớn cũng như nhỏ, bị dẹp hết. Đó là trò đánh chơi, không quan trọng. Những sòng me của dân “cờ bạc gạo”, cờ bạc chuyên nghiệp, mới là vấn đề. Những sòng bài nầy bị theo dõi rất gắt và không ít người bị đưa ra tòa. Không đánh được trên đất, dân cờ bạc đánh trên ghe. Chiếc ghe thả trôi trên kinh, ai biết đó là ghe đánh bạc mà bắt. Nhưng rồi cũng nhờ dân chúng – Có cái gì mà dấu được dân chúng – lực lượng an ninh giả dân đánh cá, kề sát ghe đánh bạc, tóm gọn. Bấy giờ họ nghĩ ra cách khác: Đám ma, đám cưới, đám giỗ, nhà trước thì trang hoàng, bắt loa, ca nhạc ầm ĩ, v.v…. như mọi người, phía sau là sòng bài. Không lý người ta đang có đám cưới, đám ma và xông vào bắt cờ bạc! Dân không theo thì chính quyền cũng thua.

Ông Út Giàu tôi nói ở trên, có cô con gái đẹp, lại đi học may trên Saigon về, ăn mặc đúng mốt, nhiều người dòm ngó. Cô ta đang mở lớp dạy may tại nhà.

Anh trung đội trưởng nghĩa quân ở xã, có vợ rồi, ngấp nghé nhưng không được người đẹp để mắt tới, bèn quậy chơi. Ngày nào anh ta cũng tới bắt Út Giàu tổ chức nhậu. Phiền quá! Bỏ việc làm ăn, Út Giàu cự nự. Anh ta bèn báo cáo về quận Út Giàu tiếp tế cho Việt Cộng.

Thực ra, người nào có ruộng trong đồng xa mà không có quan hệ với Việt Cộng. Không đóng thuế – thuế máy cày, thuế nông nghiệp – làm sao “tụi nó” cho làm ăn?! Ở miền Đông Nam Bộ cũng vậy. Vô rừng lấy gỗ, ai cũng phải có quan hệ với Việt Cộng trong rừng. Đó là nói dân chúng bình thường, còn những người làm gỗ cho Đức Cha, bà Cố Vấn thời Đệ Nhứt Cộng Hòa thì sao, tôi không rõ, nói ra mà không có sở cứ dễ bị chụp mũ là bôi lọ.

Trở lại chuyện Út Giàu, ông ta có quan hệ gì với Việt Cộng cũng là đương nhiên, miễn là ông ta có báo cáo với chính quyền Quốc Gia những gì Việt Cộng bắt ông ta làm. Chính quyền Quốc Gia không bảo vệ được dân, khiến Việt Cộng có bắt họ làm gì thì đó chính là lỗi của chính quyền, không phải là cái “tội” của người dân. Tuy nhiên, ở hạ tầng cơ sở, mấy ai biết điều đó.

Thế rồi Út Giàu bị bắt. Tới cơ quan, ông ta chìa ra một cái giấy chứng nhận rằng ông ta là đảng viên Việt Nam Hưng Quốc Đảng của ông Hoàng Cơ Bình. Cô con gái lanh trí, biết cha mình ở vùng xôi đậu nên khi còn ở Saigon đã chạy cho cha cái bùa hộ mạng, lỡ khi chính quyền Quốc Gia có với tay tới cha mình thì cũng đỡ kẹt.

Ở Tân Hội, ngoài việc đánh bài, còn có việc “đánh giặc giả” khá buồn cười. Xã Tân Hội có 4 ấp, ấp cuối cùng phía nam là ấp Phú Hội, giáp ranh với ấp Tà Keo thuộc xã Mỹ Lâm quận Kiên Thành. Tà Keo là nơi Việt Cộng tập kết như tôi nói trong bài trước. Từ xứ Miên qua, quân Cộng Sản, thường là quân Cộng Sản Bắc Việt tập kết ở Tà Keo chờ vượt LTL 8A ở Cây Số 15. Có khi đánh nhau các nơi xong, Việt Cộng cũng rút về đây như tôi có kể trong bài “Chị Sứ – Hòn Đất”. Người chết, bị thương cũng kéo (Cột giây mà kéo trên sình) về đây. Ai chết thì chôn, ai bị thương thì đưa về bệnh viện ở mật khu Trà Tiên. Trước kia thì đưa về núi Mo-So gần nhà máy Ximăng Hà Tiên. Súng ống của người chết, bị thương vất bỏ lung tung, có khi không chuyển kịp, cất dấu bừa bãi, không kỹ. Dân làm ruộng, làm đồng tìm thấy đem về bán cho Quốc Gia, giá rẻ lắm, chỉ có vài trăm, có khi cho không. Để làm gì? Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Cán bộ Xã Ấp, Nhân Dân Tự Vệ, v,v… thỉnh thoảng, để lập công, xin lệnh trên đi phục kích, tấn công vào mật khu, v.v…

Gần tới Tà Keo, họ nổ súng, làm như đụng trận thiệt, rồi báo cáo đụng địch, giết được mấy tên, bị thương mấy tên, địch kéo đi mất tích, tịch thu được một, hai vũ khí địch, – tức là mấy cây súng mua của dân nói trên. Thượng cấp đánh điện khen, cấp bằng khen. Đó chính là “Đánh trận giả”. Mấy ông lớn ở xa, kín cổng cao tường, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng, biết gì! Hồi tôi mới về, qua công tác ở xã Tân Hội, bị mấy chả xỏ mũi một lần, một lần thôi, đủ rồi! Sau đó, tôi cảnh cáo thuộc cấp, đừng bày trò với tôi. Tôi không chịu đâu!

Bây giờ xin kể qua chuyện “Đánh giặc thuê”. Khoảng gần cuối năm 1974, xã Tân Hội bị Cộng Sản chiếm mất sau khi chúng đã chiếm Đặc Khu Hòn Sóc. Lính được điều tới, chuẩn bị chiếm lại xã. Cấp chỉ huy hỏi Bảy Quẹo: “Chiếm lại xã xong, ông chi cho lính tôi bao nhiêu!” Bảy Quẹo lắc đầu! Ông ta không đủ tiền chi. Bảy Quẹo khóc! Vả lại cũng chưa thấy bao giờ có cái chuyện chi tiền lạ lùng như vậy, đành chịu mất nhà, mất ruộng, mất xã cho tới 30 tháng Tư, không biết ông Bảy Quẹo lưu lạc về đâu!

Tôi đem chuyện nầy kể với một người là bậc đành anh, cùng quê, đang làm việc ở Cần Thơ, ông Đại tá Lê Cảnh Vệ. Ông ta kêu trời: “Thua Việt Cộng là chắc! Thua Việt Cộng là chắc.” Biết là chắc nên 30 tháng Tư, ông ta cùng gia đình lên tàu “dọt” khỏi Cần Thơ trước khi ông Dương Văn Minh đầu hàng. Còn tôi, người trong cuộc, lại chẳng biết mô tê gì để đến nỗi phải đóng tiền đi tù cải tạo. Có phải như vậy là tôi ngu?!

Nghĩ lại, miền Tây có nhiều cái thật lạ! Đi xa rồi cũng khó quên!

(1) Sở dĩ thượng sĩ Sâm nói câu đó vì khi tôi đề cử ông qua Tân Hội để thay trung sĩ Nguyễn Văn Hoàng, tôi có dặn: “Tránh làm những việc như ông Hoàng, dù tôi có muốn bao che cũng không được, nhất là những gì liên hệ tới Việt Cộng.” Khi làm trưởng cuộc ở Tân Hội, ông Hoàng bắt tên Quang, trốn quân dịch. Ông ta lột của tên nầy cái đồng hồ đeo tay hiệu Movado – hồi ấy rất có giá – rồi thả y ra. Ức tình, tên Quang trốn vô bưng theo Việt Cộng, sau khi làm đơn tố cáo với chính quyền. Vì lý do đó mà ông Hoàng bị mất chức.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn, tác giả ‘Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên’, qua đời ở tuổi 87

30/11/2023


Nguyễn Đình Toàn. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)

Nguyễn Đình Toàn làm thơ, viết văn, viết kịch, sáng tác nhạc với bút hiệu Nguyễn Đình Toàn. Thời mới lớn ở Hà Nội, ông dùng bút hiệu Tô Hà Vân, và sau 1975, để tránh rắc rối với nhà nước cộng sản, khi đưa “chui” những sáng tác của ông ra phổ biến ở nước ngoài, ông dùng bút hiệu Hồng Ngọc.

Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, người nổi tiếng một thời với chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn trước năm 1975, qua đời tối Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, tại California, hưởng thọ 87 tuổi.

Khuôn mặt nổi bật của Văn học Nghệ thuật Miền Nam trước 1975

Sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đình Toàn làm thơ, viết văn từ rất sớm, thời còn học trung học.

Di cư vào Nam năm 1954, ông trở thành biên tập viên của đài phát thanh quốc gia – Đài phát thanh Sài Gòn. Ông gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1968, giải ngũ vì lý do sức khỏe, và trở lại làm việc với đài phát thanh Sài gòn.

Nguyễn Đình Toàn làm thơ, viết văn, viết kịch, sáng tác nhạc với bút hiệu Nguyễn Đình Toàn, tên thật của ông. Thời mới lớn ở Hà Nội, ông dùng bút hiệu Tô Hà Vân, và sau 1975, để tránh rắc rối với nhà nước cộng sản, khi đưa “chui” những sáng tác của ông ra phổ biến ở nước ngoài, ông dùng bút hiệu Hồng Ngọc.

Sau 1975, như các văn nghệ sĩ cùng thời bị kẹt lại Việt Nam, ông bị đưa đi ‘học tập cải tạo’, tổng cộng 6 năm.

Sang Mỹ trễ, cuối năm 1998 theo diện gia đình bão lãnh, không lâu sau, Nguyễn Đình Toàn cộng tác với Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ – VOA, trong chương trình “Đọc Sách” do Nguyễn Đình Toàn và vợ, Nguyễn Thị Thu Hồng, nghệ danh Hồng Ngọc, phụ trách. Trong chương trình này, Nguyễn Đình Toàn thường giới thiệu một tác giả hay một tác phẩm, hoặc một khía cạnh văn hóa nghệ thuật, Việt Nam hay Tây phương. Bà Thu Hồng từng là xướng ngôn viên của một chương trình phát thanh Sài Gòn trước 1975. “Đọc Sách” được phát đi đều đặn trên làn sóng VOA trong vài năm, cho tới khi Nguyễn Đình Toàn nghỉ hưu.

Văn

Tác phẩm đầu tay, “Chị em Hải”, viết ở miền Bắc thời Nguyễn Đình Toàn còn rất trẻ với bút hiệu Tô Hà Vân, được đăng từng kỳ trong báo Tự Do trước khi xuất bản năm 1961 ở miền Nam.

Sự thành công của tác phẩm này đưa ông vào nghiệp văn. Trước năm 1975, Nguyễn Đình Toàn đã xuất bản 20 tác phẩm, gồm văn và thi ca.

Được nhắc đến nhiều là “Áo Mơ Phai”, truyện, xuất bản năm 1972, đoạt giải văn học toàn quốc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa năm 1973, và “Đồng Cỏ” xuất bản lần thứ nhất tại Úc năm 1994.

Viết về hai tác phẩm dấu ấn này của Nguyễn Đình Toàn, nhà văn Ngô Thế Vinh nói: “Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri.”

Trong một chương trình trên Jimmy Show, Nguyễn Đình Toàn cho biết ông đã dự tính viết thêm một quyển thứ 3 cho đủ bộ ba – trilogy, nhưng tuổi già, sức yếu, khiến ông không thể hoàn thành ý định.

Trong lĩnh vực báo chí, Nguyễn Đình Toàn từng cộng tác với các tạp chí Văn, Văn học… và viết “feuilleton” – truyện dài đăng nhiều kỳ – cho các tờ báo lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ: Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến… Phần lớn các sáng tác in từng kỳ trên các báo ấy sau này được in thành tiểu thuyết, truyện ngắn, tập truyện. Nhưng không chỉ viết bài, tiểu thuyết feuilleton, Nguyễn Đình Toàn còn đóng góp nhiều cho sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975, trong vai trò thành viên của ban tuyển chọn sáng tác thơ, văn cho tạp chí Văn.

Nhà thơ Du Tử Lê lúc sinh thời từng nhận xét, trong văn, thơ, cũng như trong âm nhạc, Nguyễn Đình Toàn luôn tìm một ‘cách nói khác/cách viết khác’.

Thơ

Nguyễn Đình Toàn làm thơ rất sớm khi mới 16, 17 tuổi. Bài thơ đầu đời của ông, Khúc Ca Phạm Thái, để lại ấn tượng sâu đậm nơi người nghe.

Nói với VOA trước đây, nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một người rất gần gũi với Nguyễn Đình Toàn, cho đây là bài thơ tâm đắc nhất của ông:

“Bài thơ tâm đắc nhất đối với cá nhân tôi thời còn trẻ… bởi vì cậu bé nào lớn lên cũng – nói theo nhà văn Duyên Anh, ‘mơ thành người Quang Trung’, có một tính chất gọi là… gắn liền với quê hương đất nước, thì tôi thích bài Khúc Ca Phạm Thái của Nguyễn Đình Toàn. Ví dụ như câu mở đầu:

“Ta tráng sĩ hề… lòng không mềm bằng kiếm/Ta anh hùng hề… chí khí không chứa đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như…”

Sau này quen và thân anh Nguyễn Đình Toàn thì mới biết bài thơ này là bài thơ đầu đời của anh ấy, viết ra lúc mới 16, 17 tuổi.”

“Cái thuở của những đêm lửa trại của thanh niên Sài Gòn ngày xưa, mà được nghe Thanh Hùng ngâm Khúc ca Phạm Thái thì tuyệt lắm!”

Khúc Ca Phạm Thái là bài thơ phổ thành kịch thơ, nằm trong tập thơ “Mật Đắng” của Nguyễn Đình Toàn xuất bản năm 1962. Nhà văn Ngô Thế Vinh cho biết “Mật Đắng” được sáng tác trong “một giai đoạn đen tối, gần như tuyệt vọng” trong cuộc đời nhà thơ, lúc Nguyễn Đình Toàn mắc bệnh lao, tưởng như khó qua khỏi.

Nguyễn Đình Toàn, “người tình không chân dung”

Nhưng thơ không chỉ có trong những tập thơ, mà thơ Nguyễn Đình Toàn còn bàng bạc, phảng phất trong lời văn, trong ca từ, trong cả những lời bạt giới thiệu những ca khúc trong Chương Trình Nhạc Chủ Đề của đài phát thanh Sài Gòn trước 1975.

Chương Trình Nhạc Chủ Đề do Nguyễn Đình Toàn và Vũ Thành An phụ trách là một hiện tượng ở Sài Gòn thời bấy giờ. Lời dẫn nhập cho mỗi bản tình ca qua giọng đọc truyền cảm của Nguyễn Đình Toàn, như “thủ thỉ” vào tai người nghe, đã giúp đài phát thanh quốc gia lôi cuốn đông đảo thính giả yêu nhạc. Mỗi lời giới thiệu, theo Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ở Úc, là một “tiểu tác phẩm”, lời văn mượt mà, ý tưởng sâu lắng, mà qua giọng đọc trầm ấm, ngọt ngào của Nguyễn Đình Toàn, như rót mật vào hồn người nghe, đi thẳng vào trái tim thính giả ngay từ lời mở đầu “Em yêu dấu”…

Viết về Nguyễn Đình Toàn, nhà thơ Du Tử Lê từng nhận định:

“Với những giới thiệu hay dẫn nhập bằng cách viết (cách nói) riêng của mình; nhất là qua giọng nói, như một thủ thỉ tư riêng giữa hai người, qua làn sóng điện, họ Nguyễn trở thành một thứ “người tình không chân dung” của rất nhiều nữ thính giả. Đồng thời, ông cũng là “người bạn thiết” của rất nhiều thính giả thuộc nam giới. Với lớp thính giả này, ông như người đã nói thay họ những điều họ muốn nói về tình yêu, âm nhạc, thời thế.”

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, thuở mới lớn cũng từng say mê chờ đón Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn vào mỗi tối thứ Năm:

“Không gì hạnh phúc cho bằng mỗi tối thứ Năm, bận mấy thì bận cũng phải chạy vù về nhà ngồi bên cạnh cái radio nghe giọng Nguyễn Đình Toàn. Ngồi nghe cái giọng ấm của người đàn ông Hà Nội nói về nhạc chủ đề… Đó là cảm nhận đầu tiên của tôi về Nguyễn Đình Toàn, rồi sau đó mới đọc sách của ông, nghe nhạc của ông, và nhất là đọc thơ của ông.”

Tình khúc thứ nhất- Nhạc Vũ Thành An, thơ Nguyễn Đình Toàn

Vũ Thành An, lúc 21 tuổi, vào làm đài phát thanh Sài Gòn và kết thân với Nguyễn Đình Toàn. Tình bạn và có lẽ sự đồng điệu giữa hai tâm hồn nghệ sĩ đã cho ra đời hai nhạc phẩm bất hủ: “Tình Khúc thứ Nhất” và “Em đến thăm anh đêm ba mươi,” nhạc Vũ Thành An, thơ Nguyễn Đình Toàn.

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

“Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai”… ý tưởng lạ, ca từ đẹp, nhạc hay, đã giúp cho hai ca khúc này trở thành ‘bất tử’, ra đời hơn 50 năm về trước mà cho tới giờ vẫn làm xúc động người nghe, những ‘fan’ mới thuộc các thế hệ đến sau.

Trong một cuộc trao đổi với VOA trước đây, nhạc sĩ Vũ Thành An nói nhà thơ Nguyễn Đình Toàn đã “thổi hồn” vào bản nhạc, đặt tựa và lời cho “Tình khúc thứ Nhất”, mà ông đã sáng tác để tặng một người bạn.

“Hồi đó tôi có người bạn gái thân muốn tôi viết bài nhạc tặng cô ấy, tôi viết xong, cũng có cả lời, rồi đưa cho anh Toàn nghe thì anh Toàn chê lời tôi viết không hay. Anh bảo để anh đặt lời cho. Hồi đó anh cũng có một người bạn cho nên cũng muốn viết một tình khúc để tặng bạn của anh. Phải nói là khi viết nhạc, tôi cũng chưa thấy được cái nét đặc biệt của tình khúc ấy, sau khi anh Toàn viết lời vào thì thấy là quả thật, nó là một bài hát rất là… có hồn. Chính anh ấy là người đặt tên cho bài này là bài Tình khúc thứ nhất, và đồng thời anh ấy cũng bảo tôi nên lấy tên thật là Vũ Thành An chứ không cần lấy tên hiệu gì cả.”

Với Tình khúc thứ nhất, nhạc sĩ Vũ Thành An xuất hiện trên bầu trời âm nhạc, mở màn cho loạt bài Không Tên, đưa tên tuổi Vũ Thành An vào lịch sử âm nhạc miền Nam.

Nguyễn Đình Toàn và Vũ Thành An còn hợp tác để thực hiện Chương Trình Nhạc Chủ Đề. Theo lời Vũ Thành An thì linh hồn của chương trình này cũng là Nguyễn Đình Toàn, chính ông nảy ra ý tưởng thành lập chương trình, kêu gọi Vũ Thành An đệ đơn xin lập chương trình, viết lời giới thiệu và đọc những đoạn dẫn nhập đó cho các ca khúc chọn lọc với những giọng ca nổi bật nhất thời đó.

Tù cải tạo

Mất Sài gòn, do dự mãi không biết nên đi hay ở, cuối cùng Nguyễn Đình Toàn bị bỏ lại, và như các văn nghệ sĩ ở lại, bị tập trung đi ‘học tập cải tạo.’

Ra tù, Nguyễn Đình Toàn sáng tác hơn 50 ca khúc với bút danh Hồng Ngọc. Có lẽ được nhiều người Việt tị nạn đồng cảm nhất là bài “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, viết lúc Nguyễn Đình Toàn còn ở trong tù, ca khúc được tuồng ra nước ngoài qua trung gian Hồ Trường An, tới tay tạp chí Quê Mẹ của Võ Văn Ái ở Paris, được Jeannie Mai trình bày đầu tiên, nhưng bản nhạc cất cánh với giọng ca Khánh Ly dưới tên “Sài Gòn, Niềm Nhớ Không Tên”, ghi tên tác giả là “Người ở lại”. Băng nhạc ‘Người Di Tản Buồn’ phát hành năm 1979 có cả “Sài Gòn, Niềm Nhớ Không Tên” và “Người Di Tản Buồn” của nghệ sĩ Nam Lộc gây tiếng vang lớn trong các cộng đồng người Việt tị nạn khắp nơi.

Tới cuối năm 1999, sau khi định cư ở Mỹ gần 1 năm, Nguyễn Đình Toàn mới chính thức ra mắt một số ca khúc sáng tác sau năm 1975 trong 3 tập nhạc: Hiên Cúc Vàng (1999), Tôi Muốn Nói Với Em (2001) và Mưa Trên Cây Hoàng Lan (2002).

Nguyễn Đình Toàn: liệu thơ có như người?

Đối với một tâm hồn nghệ sĩ mẫn cảm, những trải nghiệm cay đắng do biến đổi của thời cuộc và các trải nghiệm trong tù cải tạo, chắc hẳn phải có ảnh hưởng sâu đâm tới tác giả và tác phẩm. Đời thực của người nghệ sĩ thì sao?

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:

“Thỉnh thoảng những người hay đến chơi với anh, ngồi hút thuốc lá, uống một tí rượu hay nghe anh nói chuyện, uống trà, cà phê… thì có lúc thấy được cái khoảnh khắc mà Nguyễn Đình Toàn cảm thấy cuộc sống này nó đáng chán, nhưng mà bình thường thì Nguyễn Đình Toàn hóm hỉnh lắm.”

Đinh Quang Anh Thái nhắc đến một bài thơ khác của Nguyễn Đình Toàn ít người biết đến mà ông và tác giả khá tâm đắc. Đó là bài “Tro Tàn”, viết năm 1984.

Ta yêu nhau trong nghèo khó
Khi quê hương tàn phá
Được mấy ngày vui trong đời
Tóc biếc ngoảnh đi đã đỏ màu phai
Ta xa nhau vào lúc xa đời
Bóng bỏ theo người
Đổ một lần cho hết cuộc rủi may
Cứ coi là mất coi là hết
Lật ngửa bàn tay mà cắt dây

“Tôi tâm đắc cái câu: ‘Bóng bỏ theo người/ Đổ một lần cho hết cuộc rủi may’. Đó là tâm tư của một Nguyễn Đình Toàn mà thảng hoặc, thấy anh như hốt hoảng trong cái cuộc sống trên cái cõi tạm này.”

Giờ bóng đã “bỏ theo người”. Người nghệ sĩ đa năng, tài hoa đã ra đi ‘vào sương đen’, những lời ông viết trong bài “Mai Tôi Đi” khi rời Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, giờ diễn tả tâm trạng của những người ở lại.

“Mai tôi đi, tôi đi vào sương đen
Sương rất độc, tẩm vào người nỗi chết
Quê hương ta sống chia giòng vĩnh biệt
Chảy về đâu những nước mắt đưa tin

Phu nhân Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thu Hồng, trong chương trình Đọc Sách của VOA, qua đời ngày 24/2/2021, hưởng thọ 78 tuổi. Với sự ra đi của người vợ hiền mà ông đã đền đáp ân tình bằng cách tận tình chăm sóc trong nhiều năm, có lẽ không còn gì trên cõi tạm này để níu kéo ông.

Chiều cuối năm hên quá!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 2 Dec 2023

Nhớ ngày xưa ‘phu xướng phụ tùy’, chồng vui thì vợ cũng vui, anh vui thì em cũng vui luôn! Còn bây giờ tình nghĩa phu thê… thôi… nói nữa mà chi! Nhưng nhớ đừng méc con vợ tui nhá! Nó biết được chắc là tui chết!
Do đó mỗi lần bực bội con vợ, người viết lại vớ lấy chai beer; vì beer là nguyên nhân và cũng là giải pháp cho tất cả rắc rối của cuộc đời!
Người viết hoàn toàn tán đồng và tán thưởng việc Trường đại học quốc gia Úc Châu nghiên cứu 7000 người và kết quả cho thấy uống beer vừa phải, người ta nói năng lưu loát hơn, trí nhớ và tốc độ suy nghĩ cao hơn hẳn những người uống quá nhiều hay những ai không uống một giọt nào !
Theo luật sinh tồn thì một bầy kangaroo bị săn đuổi, con yếu nhứt, chạy chậm nhứt bị chết trước. Giống y như vậy, tế bào não nào chậm lụt sẽ bị beer giết trước. Còn lại là những tế bào não nhanh nhẹn, nhạy bén, sống sót. Và người uống beer sẽ thông minh hơn người khác là cái chắc!

*** Nhìn lại lịch sử, thì beer rất quan trọng trong cuộc sống của người dân Úc kể từ Hạm đội thứ nhất cập bến vào những năm 1700’s.
Nhưng tại sao người Úc lại khoái uống beer đến thế?
Có lẽ Úc Châu là đại lục khô hạn nhứt trên địa cầu nên nước rất quý! Vì vậy người Úc thay vì uống nước họ uống beer. Và phần cũng vì nước là chất lỏng rất nguy hiểm, làm xe bạn rỉ sét, làm mất giá chỉ bằng giá đống sắt vụn. Nước tràn vào nhà, làm mục ruỗng sườn nhà, không ngăn chận thì bạn thành dân ‘homeless’. Nước làm hư hại tivi, lò bếp, mà bạn chạm vào, nó sẽ giựt bạn nhẩy tưng tưng! Bạn cắm đầu vào nước trong vòng 4 phút là bạn đi luôn! Rơi vào nước băng giá chỉ trong vòng vài giờ là ‘ngỏm’ vì hạ thân nhiệt! Vô ý là phỏng nước sôi; cực kỳ đau đớn! Nhiều nước quá thì thì thành mưa lũ, cuốn trôi nhà cửa, đường xá, xe cộ và giết hại rất nhiều người như trận bão Sandy đổ bộ vào New York gần đây, gây thiệt hại nhà cửa, cơ sở hạ tầng hàng chục tỉ đô mỗi năm! Ở Melbourne, nước gặp lạnh trên trời, tạo thành mưa đá, hủy hoại hàng ngàn xe cộ, làm hư hỏng mái nhà. Hậu quả là mất hàng năm trời để sửa chữa, không đủ ngói và thợ lợp nhà cho cái xứ này. Và Liên hiệp Quốc ước đoán rằng nhiều người chết vì nước nhiễm bẩn trên hành tinh này còn hơn cả số nạn nhân của những cuộc chiến tranh! Do đó làm sao khoái nước cho được? Mà không khoái nước lúc khát thì uống cái gì bây giờ? Thì uống beer vậy!
Beer được ưa thích nhứt hiện thời là Victoria Bitter mà người Việt mình gọi là Vi Bi, là Vợ Bỏ! chiếm 30% thị phần beer trong nước. Nếu ở Úc, ai uống beer Foster thì bạn biết ngay họ là du khách.

Beer tốt hơn phụ nữ nhiều! Vì beer chả ghen tuông, chửi bới gì, khi bạn có thêm một beer nữa. Bạn cũng biết chắc như đinh đóng cột rằng bạn là người đầu tiên đến với lon beer. Còn với người phụ nữ ư? Điều này không chắc lắm đâu?! You always know that you are the first one to pop a beer.
Khi leo vô giường, bạn tìm thấy chai beer lạnh ngắt. Hạnh phúc biết bao! Leo vô giường bạn tìm thấy một ‘em’ lạnh ngắt! Ôi bất hạnh chừng nào!
Tuy nhiên beer cũng có ‘side effect’, phản ứng phụ. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng beer là chất dẩn truyền ‘hormones’ nữ tính. Để chứng minh, các nhà khoa học cung cấp cho 100 người, mỗi người một thùng beer.

Kết quả cho thấy là: những ông này sau khi uống hết một thùng thì trở nên béo phì, nói chuyện huyên thuyên mà chẳng có ý nghĩa gì ráo trọi, hay khóc lóc vô cớ và cũng chẳng biết lái xe!
Ngoài phản ứng phụ không đáng kể nói trên, thì beer chỉ toàn là ưu điểm như: làm cho quý ông lịch sự, quảng đại hơn với bạn và kể cả với kẻ thù.
Chuyện rằng: hai bikies uống beer ở quầy rượu. Một người đang chửi bới người kia. Hắn hét to: Tao đã từng ‘ngủ’ với má mầy! Cả ‘pub’ im lặng như tờ, chờ đợi cơn bão đang ập tới. Vì ở Úc, đó là một câu cực kỳ xúc phạm. Mà lại dám xúc phạm một thằng đầu trâu mặt ngựa bikie nữa chớ. Nào ngờ thằng trẻ hơn nói: ‘Thôi mình đi về đi Bố! Bố say quá rồi!’ Beer đã làm cho thằng bikie, là thằng trời đánh, thánh đâm, cớm còn chạy mặt, lại trở nên hiếu thảo vô cùng!
Đó chỉ là một trong trăm, ngàn lý do tại sao người Úc uống beer thay vì uống nước!
Nên chắc bạn không ngạc nhiên khi biết rằng: Darwin, thủ phủ lãnh thổ Bắc Úc, nhiều năm liền đoạt giải quán quân là thành phố uống nhiều beer nhứt thế giới tính trên đầu người. Chai beer Darwin đựng tới 2 lít và du khách rất khoái mua về làm quà lưu niệm.
Chiều cuối năm, nghỉ, người viết làm vài lon rồi đi ngủ vì nhà hết beer rồi! Không dám xách xe chạy đi mua vì mùa này, festival season, cớm Úc hay chặn lại ‘thổi’ rượu lắm. Nó bắt được là coi như mất bằng, cụt cẳng, sao đi làm? Mà không đi làm, ăn trợ cấp an sinh xã hội là đời ‘chua’ hơn dấm! Nên đi ngủ. Và beer có cái hay là uống một mình dễ ngủ dù mình chưa buồn ngủ chút nào!
Trong mơ, người viết thấy anh bạn văn, ra báo được rất nhiều quảng cáo, gởi cho một thùng VB, ‘lì xì’ dịp Tết. Người viết bèn bỏ beer vào ngăn lạnh, điều chỉnh nhiệt độ từ 10 đến 15 độ.
Nhựt có trà đạo, uống rất cầu kỳ. Úc có beer đạo cũng cầu kỳ không kém. Như không bao giờ uống beer với nước đá vì nó làm loãng nồng độ và mất hương vị beer đi . Để ly uống trong tủ beer luôn cho cùng nhiệt độ bắt buộc với beer. Chọn đúng kiểu ly. Dùng ly sạch, chỉ cần rửa ly với chút xà bông rửa chén. Đừng lau phía trong thành ly. Rót beer vào ly cho đúng cách, để chai hay lon hơi cao một tí để có bọt tối đa. Để bọt beer lắng lại. Ngửi rồi hãy uống! Mè ơi! Đã! Quá đã!
Thực hành beer đạo, người viết lấy beer từ tủ lạnh ra, lui cui gắp tôm khô củ kiệu, rắc thêm chút đường, rót thêm chút dấm, vài lát ớt. Gắp một miếng củ kiệu tôm khô, nhai rốp rốp, uống một ngụm beer, lim dim mắt, nhâm nhi cái tình văn nghệ…sĩ của người bạn văn chương. Sao ông biết được nhà mình vừa hết rượu mà gởi tặng thùng beer vậy ta? Thiệt là nắng hạn gặp mưa rào!
Đang vui, bỗng có tiếng nổ lụp bụp của pháo bông bắn lên nền trời thành phố Melbourne. Mở mắt, tàn một cơn mơ! Giao thừa rồi! Qua khung cửa sổ phòng ngủ, pháo bông nở từng chùm trên trời, rồi lan tỏa và lịm đi. Lại thêm một tràng pháo bông nữa!
Đất khách quê người, họ vui mừng năm mới, họ đâu biết rằng tiếng pháo nổ làm người viết giựt mình, tỉnh giấc mơ hoa! Thiệt tiếc!
Nhưng buồn mà chi hỡi người lữ khách. Hãy nghe câu chuyện này để thấy đời vẫn còn vui.
Có một anh chàng, dáng người nhỏ thó, ngồi trong quán rượu, bất động cả nửa tiếng đồng hồ, mắt chỉ dán vào ly beer trước mặt. Thình lình có một tay bikie, ba trợn giang hồ, mặt mày bặm trợn, hai tay chi chít những hình xâm, bước lại gần, cầm ly beer của anh chàng khốn khổ đưa lên miệng mình, nốc cạn.
Anh chàng khốn khổ đó thổn thức khóc. Tay bikie nói: ‘Thôi nín đi! Tao chỉ giỡn chơi! Tao sẽ mua cho ‘mi’ ly khác. Nín đi! Tao không chịu được cảnh người đàn ông mà mếu máo khóc như ‘mi!’
Anh chàng khốn khổ này trả lời: ‘Không phải vậy! Hôm nay là ngày tệ hại nhất đời tôi. Sáng dậy trễ, không kịp dự buổi họp quan trọng của công ty; nên ông boss nổi quạu, đuổi tôi luôn. Khi ra bãi đậu xe, thì chiếc xe tôi ai đã ăn cắp mất rồi. Cảnh sát nói là không giúp được gì! Tôi đành đón taxi về nhà. Lại luýnh quýnh, bỏ quên bóp đựng tiền và chiếc xe chạy mất. Vô nhà, thì thấy trong phòng ngủ của mình, con vợ yêu dấu của tôi đang âu yếm cái thằng làm vườn. Tôi, cõi lòng tan nát, rời khỏi nhà, đến quán này, định chấm dứt đời mình bằng ly beer có hòa thêm thuốc chuột. Thì từ đâu bất ngờ ông hiện đến và uống sạch hết của tôi rồi! Hu hu!
Do đó bạn ơi! Dù gì chăng đi nữa thì năm cũ đã qua, lỡ có làm ăn thất bát, ‘mông tại, mậu lúi’ hay bị vợ bỏ gì đi chăng nữa thì cũng xin là: ‘Tôi ơi đừng tuyệt vọng!’ Năm mới biết đâu chừng hên, trúng số độc đắc thì sao.
Cho nên: I wish you a Happy New Year! with your pockets full of money, and your cellar full of beer.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Chiếc lá Trường Xuân

Đoàn Xuân Thu

P:ost by Sơn râu 2 Dec 2023

Nhớ xưa, những năm 70s, thầy và cô Beidler là giáo sư dạy Anh Văn tại trường Ðại Học Văn Khoa Cần Thơ. Nhà thầy cô, cất theo kiểu California, ở Khu Văn Hóa đầu đường Tự Ðức. Ở đó có một thư viện nhỏ, sách đa phần là tiếng Anh để sinh viên đến đọc hoặc dùng tài liệu tham khảo.

Và người viết lần đầu tiên biết đến O. Henry, Mark Twain… qua những tuyển tập truyện ngắn gọi là ‘Ladder books’ (Ladder nghĩa là thang). Những truyện nầy được viết với số từ vựng giới hạn theo bậc thang từ thấp lên cao! Bậc thang thấp nhứt một ngàn chữ, rồi lên bậc thang thứ hai, hai ngàn và cao nhứt là bậc thang thứ ba, ba ngàn chữ.)

Khi vốn từ đã được ba ngàn, tương đối đầy đủ, thì sinh viên  sẽ tìm đọc nguyên tác ở Thư viện Hội Việt Mỹ Cần Thơ nằm trên đường Phan Ðình Phùng để cảm thụ được hết cái hay, cái đẹp của một tác phẩm nổi tiếng thuộc nền văn chương của đất nước Hoa Kỳ.

o O o

Sau nầy biết thêm chút đỉnh về sự tự do của đất nước Hoa Kỳ, tôi mới nghiệm ra rằng tự do không chỉ bó hẹp về chánh trị. Mà tự do có nghĩa rộng hơn rất nhiều.

Tự do sống, tự do yêu, tự do chọn nghề theo sở thích. Chính vì thích nên dành hết công sức của mình vô, làm rất nhiệt tâm, nhiệt tình nên nghề mới tinh diệu. Chọn nghề không hẳn vì Ba Má mình muốn thế cho nở mặt nở mày với lối xóm bà con. Chọn nghề không hẳn phải là Bác sĩ, Kỹ sư cho nó có danh, có lợi. Chọn nghề không hẳn vì: ‘Phi Cao đẳng bất thành phu phụ’. Chọn nghề không hẳn vì ‘Nhứt sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rông nhứt nông nhì sĩ’. Chọn nghề không hẳn vì chén cơm manh áo như thường thấy ở đất nước đầy biến loạn của chúng ta.

Ðã thân nầy kể bỏ, quyết tâm theo đuổi nghề viết văn chừng một thế kỷ trước, nhà văn Hoa Kỳ ắt cũng nghèo đói thế thôi! Nhà văn của mình, trong và ngoài nước, ngay từ xưa rồi đến cả bây giờ cũng vậy, ngoại trừ một số rất ít sống được bằng ngòi bút của mình.

Nhưng là nhà văn, là nghệ sĩ, là dân chơi thì sợ gì mưa rơi. Chọn nghề văn là thân nầy kể bỏ. Nên việc nhà văn nghèo, không cưới được vợ như Tản Ðà hoặc như Arthur Miller bị Marilyn Monroe bỏ thì cũng chẳng có nhằm nhò gì hết ráo!

o O o

Mùa Giáng Sinh về, tôi lại nhớ O. Henry, một nhà văn sống một đời bất hạnh, một bi kịch! Vợ chết, mình phải đi tù chỉ vì một số tiền biển thủ không đáng là bao nhiêu, con phải vào Trại Mồ Côi.

Tháng Chạp lại về, đang ở tù thì làm gì có tiền mua cho đứa con gái còn bé bỏng của mình một món quà Giáng Sinh đơn sơ cho con mình khỏi tủi, O. Henry bèn cầm viết!

Tình phụ tử cao quý đó đã sản sinh cho chúng ta, những người đọc trên toàn thế giới, suốt cả trăm năm nay, những truyện ngắn về Mùa Giáng Sinh tuyệt tác của O. Henry!

O. Henry, tên thật là William Sydney Porter, sanh ngày 11, tháng Chín, năm 1862 tại Greensboro, North Carolina, Hoa Kỳ.

Mẹ mất vì bịnh lao nên ông mồ côi khi mới lên 3 tuổi. Về với Nội, ông chỉ học ở trường trung học Lindsey tới năm 15 tuổi rồi phải bước xuống cuộc đời mà kiếm sống.

Tháng Ba, năm 1882, khi bắt đầu có những cơn ho dai dẳng, sợ bị lao như Mẹ, ông chuyển về Texas, sống trong một trại chăn nuôi với hy vọng khí hậu ấm áp nơi đồng nội miền Nam Hoa Kỳ sẽ giúp ông vượt qua cơn bệnh.

Khi còn bé, rất ham đọc; đọc bất cứ cái gì mà ông có trong tay. Ðến Houston năm 1895, ông bắt đầu viết cho tờ Post (Bưu Ðiện). Tiền nhuận bút được một tháng 25 đô, một ngày kiếm chưa tới một đô la, lương trung bình lúc đó là 300 đô một năm!)

O. Henry yêu Athol Estes, 17 tuổi, con của một gia đình giàu có nhưng gia đình cô không chịu gả. Tháng Bảy, năm 1887, O. Henry và Athol trốn đi; trở thành vợ chồng. (Tháng Chín, năm 1889, họ có con gái đầu lòng, tên là Margaret Worth Porter.)

Năm 1896, làm nhân viên cho First National Bank ở thành phố Austin, Texas. bị tình nghi biển thủ 1,150 USD, ông bỏ trốn đến Honduras. Sáu tháng sau, nghe tin vợ mình đau nặng, hấp hối, ông quày quả trở về. Nhà cầm quyền đợi đến khi vợ ông qua đời mới đem ông ra xử tội biển thủ với bản án 5 năm tù giam.

Trong nhà tù ở thành phố Columbus, tiểu bang Ohio, O. Henry muốn mua quà Giáng Sinh cho con gái 9 tuổi Margaret đang ở trong Trại Mồ Côi, nhưng không có tiền nên gửi một truyện ngắn tới một tạp chí và được ông Chủ bút cho đăng ngay mà tác phẩm không bị sửa chữa bất cứ điều gì.

Mùa Hè năm 1901, ở tù đã hơn ba năm, O. Henry được trả tự do sớm nhờ hạnh kiểm tốt! Năm 1902, hàng tuần, O. Henry, theo hợp đồng, phải gửi cho tờ ‘The New York World Sunday Magazine’ một truyện ngắn. Tiền nhuận bút mỗi truyện là 100 đô la Mỹ, niềm mơ ước của bất cứ nhà văn Mỹ nào lúc bấy giờ.

Cả tòa soạn háo hức chờ đợi; ai cũng muốn được là người đầu tiên đọc tác phẩm mới của O. Henry!

o O o

Những tháng năm cùng quẫn O. Henry đã bỏ lại sau song sắt nhà giam. O. Henry danh tiếng giờ đây đã nổi như cồn. Tiền nhuận bút khá khẳm, nhưng vẫn không đủ xài vì tánh ông rất là hào phóng.

Cuộc hôn nhân thứ hai không hạnh phúc, O. Henry chìm trong men rượu! Ðến năm 1908, sức khỏe của ông sút giảm nhanh chóng. O.Henry lìa đời vào ngày mùng 5, tháng Sáu, năm 1910 tại New York trong sự cô độc, ở tuổi 48, vì xơ gan, vì tiểu đường và bị phì tim. O.Henry được chôn cất ở quê nhà North Carolina.

o O o

O. Henry mất cách đây hơn một thế kỷ mà ngày nay, mỗi mùa Ðông Bắc Mỹ, mùa Cúm, mùa sưng phổi lại về, chúng ta lại nhớ đến ông. Truyện ngắn của O. Henry thấm đẫm tình người. Mỗi truyện là một tuyên ngôn ‘nghệ thuật vị nhân sinh’.

Trong những truyện ngắn lừng danh đó phải kể đến tác phẩm: ‘The Last leaf’ ( Chiếc lá cuối cùng) xuất bản lần đầu vào năm 1907.

Chuyện rằng: “Sue và Johnsy là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong Greenwich Village, Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ. Behrman là một ông họa sĩ già sống cùng chúng cư. Suốt cả cuộc đời, Behrman khao khát tạo nên một kiệt tác nhưng chưa làm được.

Mùa Ðông năm ấy, Johnsy bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô bị trầm cảm. Johnsy tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá cuối cùng trên cây Trường Xuân dưới sân nhà rụng xuống, cũng là lúc Johnsy lìa đời.

Sue, người bạn thân thiết cùng phòng hết lòng chạy chữa cho Johnsy. Nhưng vô ích, Johnsy vẫn âm thầm đếm từng chiếc lá Trường Xuân rụng xuống, chờ cho đến ngày tận tuyệt.

Biết được ý nghĩ bi quan đó của Johnsy, ông họa sĩ già Behrman cô đơn thức suốt canh thâu để vẽ một chiếc lá Trường Xuân ở trên tường. Chiếc lá giống y như thật. Chiếc lá cuối cùng đó như đang cố bám vào cây Trường Xuân để chống chọi lại mùa Ðông giông bão. Nó đã kiên cường chiến đấu mà không chịu bỏ cuộc, không rụng dù trong đêm qua Trời nổi cơn bão lớn. Ðiều đó làm Johnsy suy nghĩ lại, cô muốn được sống, muốn được sáng tạo.

Johnsy trở về từ cõi chết nhưng Behrman lại chết vì sưng phổi sau một đêm tạo ra kiệt tác chiếc lá để cứu sống Johnsy.

o O o

Chiều cuối năm quê người, năm tận tháng cùng ngày sắp hết, tôi lại nhớ O. Henry sống một cuộc đời bi kịch. Bi kịch đó như chiếc lá Trường Xuân, kiệt tác của người Họa sĩ già vẽ trên bức tường trong một tối đêm Ðông trời New York.

Chiếc lá Trường Xuân đó không thể nào rơi vào quên lãng của đời người. Cho dù mải mê mần văn đến nỗi tiền nhuận bút không đủ mua rượu uống. Ðôi khi bánh mì cũng không đủ  để mà ăn. (Ðói bao giờ cũng viết văn hay hơn lúc no! Mần văn nghệ nó tréo cẳng ngỗng vậy đó.)

Xin cúi đầu ngưỡng mộ, xin lạy quý nhà văn ba lạy. Mỗi tác phẩm của các ông là một chiếc lá Trường Xuân dâng hiến mãi cho đời!

Đoàn Xuân Thu

Bờ cát ẩm

quanvan.net
Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022
Post by Sơn râu 2 Dec 2023

Tiến sĩ Rupert Neudeck (1939-2016)

Trong ca dao có những câu đặc tả chân chất ngây ngô. “Con mèo con chó có lông, bụi tre có mắt nồi đồng có quai”. Dùng nó để ngâm nga, làm điệu hò ru em lại đâm hiệu nghiệm. Đứa bé sẽ ríu mắt chìm dần vào giấc ngủ, ngủ như một baby. “Em” chưa đủ tuổi để sớm đón đầu mộng mị, em chẳng hình dung được con mèo con chó bụi tre nồi đồng là… cái quái gì. Em đích thị chỉ là trang giấy trắng.

Nhờ sữa mẹ dần dà em tăng trưởng, tháng ngày vực em lên và thời gian xúi em khởi động những bước chân vụng dại. Trang giấy trắng trong em bắt đầu hoen ố những vết mực đen. Em dỗi hờn bất chợt và nín ngay tiếng khóc nhè khi nghe mẹ bảo: Đừng chướng, ông Kẹ đang rình ngoài cửa a kìa! Lại rất đỗi hiệu nghiệm, em thôi chướng dù “ông Kẹ” là cái quái gì em không tài nào hình dung ra. Nói ngay tình, ngay cả bố mẹ em, những kẻ già đầu, bản thân họ suốt đời cũng chưa đụng mặt với ông Kẹ! Họ doạ dẫm người khác mà họ chưa từng nếm trải nỗi sợ hãi kia. Ông kẹ có lông có mắt có quai không? Họ có “tư cách” gì để hay biết.

Một ngày kia em nghe ra câu “chuồn chuồn có cánh thì bay”. Í, ngộ hén, con gì có cánh thì đều bay được cả mà! Con muỗi nè, con ruồi nè, con bướm nè, con chim nè… thiếu giống! Rồi em nghe bạn bè xúi dại và em hằng tin điều đó là cả một sự thật: Cho con chuồn chuồn cắn vào lỗ rốn thì tự khắc sẽ biết bơi. Tại sao là lỗ rốn mà chẳng là khu vực hoặc bộ phận khác? Không một ai thắc mắc, bạn em thảy đều thực hành nghiêm chỉnh. Cả em cũng rứa. Vén áo lên, cúi đầu xuống dòm, dùng cằm để giữ chặt lấy áo, hai ngón tay kẹp đôi cánh xếp và con chuồn chuồn đỏ như một trái ớt hiểm đang cong đuôi hả miệng gây nhột nhạt nơi vùng miền nhạy cảm của em. Nó đã cắn chưa? Em không rõ. Em thả nó bay đi và trang giấy trắng trong em hiện lên một dấu hỏi: Tại sao nó chịu mang tên kép: Chuồn chuồn? Nó khác biệt với con Đom thêm dấu sắc thành Đom đóm, bươm bướm. Không nghe ai gọi Chim chím, chỉ nghe chim kêu chiêm chiếp…

Em bắt đầu nhiều chuyện, để tâm quan sát, lựa chọn, chê bai, góp ý, bình phẩm. Em bắt đầu mềm lòng để cho thơ văn thẩm thấu , em xúc động vì một trận mưa thảng thốt rơi xuống phố đêm nhoà ánh đèn màu. Và một trưa xám ngoét trần mây nặng của tháng Tư em chính thức nhìn thấy “ông Kẹ” xuất hiện. Ổng chẳng hơi sức đâu đứng rình ngoài cửa như lời mẹ doạ năm xưa, ông đi khơi khơi giữa xóm làng ban ngày ban mặt. Ông Kẹ hổng ke.

Giờ đây em đã lớn, biết mắc cỡ, em không thể vạch áo cho người ta xem rốn. Em hồ nghi tới vết cắn đầu đời và em liều mạng đi “tập bơi”. Trong tất cả những chữ mới lạ vừa lộ hình trong ngữ vựng tiếng Việt, em yêu thiết tha hai chữ Thuyền Nhân. Chỉ hai chữ, tự thân nó trao gửi biết bao điều hệ trọng. Một mặt nó bôi đen trang sử rách nát của đất nước Việt và mặt khác, nó tô hồng tới lòng nhân đạo của loài người bên kia biển rộng. Bi kịch ở đó mà hài kịch cũng tựu thành từ cuộc bỏ phiếu bằng chân không nghi ngại. Hoang mang bỏ lại bên bờ, nhưng ngờ vực còn nặng ở chân bước thấp cao lên đất mới. Ngờ vực duy một điểm: Sao đời sống này còn đó những tấm lòng độ lượng tới mức khó tin? Rộng lòng cưu mang chẳng từ nan, vô điều kiện.

Em là một thành viên trong đám người tả tơi có danh hiệu boat people. Em ở đảo tạm trú bảy tháng để kịp gọi ba hồn chín vía lộn lui, bớt xác xơ, môi đã tròn được nụ cười rồi theo một thoả thuận trời xui đất khiến, em phủi chân cát để tròng vào đôi hia bảy dặm lên đường tới định cư ở một đệ tam quốc gia. Con mèo con chó có lông, máy bay có cánh mang người đi xa. Em tập viết nhật ký từ dạo đó, từ những buổi chiều tím ngắt một chân mây với câu ca dao nghe xốn lòng: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Nỗi nhớ nhà em gói trong từng tản văn, em gửi đăng báo và vì vậy tôi đã quen em. Tình bạn của chúng tôi có được tiên khởi nương nhờ vào sự cảm thông do chữ viết mang lại. Tôi cũng sống ngập cảm xúc rung động tựa em bởi tôi cũng là một thuyền nhân. Em ra đi hướng Nam tàu tấp vào Mã Lai năm 78, tôi ra đi từ miềm Trung ghe nhỏ trôi đến Hong Kong năm 79; để cả hai gặp gỡ nhau trên những trang giấy báo tình cờ. Em chia sẻ hạnh phúc khi ngày đầu trên xứ lạ nhận được 50 đô số tiền nhuận bút, còn tôi, tôi vui vì tên hai đứa nằm chồng lên nhau nếu gấp lại hai trang báo ấy.

Ơn trời, cả hai đứa đều được Canada đón tiếp khá nồng hậu. Một thổ ngơi mênh mông chi xứ nhưng may phước tôi ở bên rìa phía Đông trong khi em cư ngụ miền trung tâm. Nếu tính bề rộng của lãnh địa này, theo cơ thể học tôi làm bàn chân và em chịu làm cuống rốn, nơi mà nếu tôi hoá thân thành con chuồn chuồn hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ được cắn vào. Sách giáo khoa vạn vật không chỉ rõ cho học trò biết về tốc độ của chuồn chuồn khi bay, cũng như sức nghỉn tối đa nó bay được bao xa. Em biết khả năng hạn hẹp của nó không, hay em luôn coi trọng mức quân bình? Em đề ra một địa điểm cân phân dùng làm nơi gặp mặt, rồi nói thêm: Em chưa từng có dịp du ngoạn tới Toronto. Và như vậy tôi sẽ đến thành phố đó đúng theo lịch nghỉ hè của em. Nghĩ tới cảnh đứng bên em ngó về thác nước rầm rộ đổ của Niagara cũng đủ khiến tôi mất ngủ. Em đề nghị: Cả hai sẽ cùng viết về một đề tài sau chuyến đi ấy. Bài nào xuất sắc thì kẻ thua cuộc sẽ trả nhuận bút 100 đô cho người thắng. Tôi nghe, háo hức, và chưa gì trong đầu tôi đã dựng được một cái sườn.

Tôi nhận lãnh phần việc thuê một chiếc xe nhỏ để làm chân cẳng đi thăm thú. Từ trung tâm thành phố đi tới thác nước khá xa, điều này càng chứng minh sự thông minh, cách xem bản đồ và định vị tài cán của em. Em không cho hay ngày xưa em có là một hướng đạo sinh hay tham dự vào những trò chơi lớn mạo hiểm đường rừng, đại loại thế. Xe chạy song hành cùng một đoạn của Ngũ đại hồ, gió phía đó luôn làm tóc em bay, ngọt ngào. Không mấy lâu em biểu tôi tìm lối thuận tiện để rẽ vào. Chỉ là hồ mà sao trông giống biển quá! Em phát biểu cảm tưởng. Mặt em thoáng thay đổi khi tôi thắng đứng xe lại. Em mở cửa, tháo giày để đi chân trần trên bờ đất mịn ẩm. Mênh mông đến ngộp thở, gió lùa làm nước cau mặt và từng cơn sóng nhỏ không ngớt chạy vào ve vuốt đôi bàn chân em.

Em lấy từ túi xách ra những thức ăn dự trù làm lương thực trên đường dài. Chiếc khăn quàng cổ trải rộng xuống vuông đất trắng xoá được kềm giữ ở mỗi góc bằng bốn hòn đá nhỏ để gió khỏi phá rối. Bày ra có thứ lớp những xôi, chè, bánh, trái, chai nước suối; xong em đi bức từng cọng hoa dại màu vàng đang lả lơi trên sườn cỏ mịn cho đủ đầy một tay ôm. Tôi ngó em, chăm chú, từng động tác rồi tự hỏi: Sao lại cất công đến thế. Muốn tạo ra một bữa ăn trưa thật lãng mạn giữa nơi heo hút tựa chốn sơn cùng thuỷ tận này?

Em ra dấu biểu tôi đến ngồi sát bên em, mặt xây ra con nước vô bờ mãi gửi tiếng rì rào chen lẫn vi vu gió lùa bên tai. Em cất tiếng, giọng nói có đôi phần hụt hơi: Anh có biết một người Đức sinh ở Ba Lan, tiến sĩ Rupert Neudeck? Ông ấy đã từng cầm cố nhà cửa mình đang sống để vận động mọi người chung tay cứu giúp những thuyền nhân, những người tị nạn với khẩu hiệu “Một con thuyền cho Việt Nam” còn được gọi là Cap Anamur. Từ năm 1979 đến 1986, ông cùng những người có lòng hảo tâm đã cứu sống hơn 10.000 thuyền nhân Việt Nam. Vị ân nhân tuyệt vời đó vừa trút hơi thở cuối vào ngày 5 tháng 6, hai ngàn mười sáu…

Tóc em rối che nhưng tôi nhìn ra được một giọt nước đang đọng dưới cằm, trong vắt. Tôi khum tay khó khăn, sau cùng thì đốt cháy được một điếu thuốc, tôi cắm xuống nhô đất ẩm thế một cây nhang. Sóng nước mãi miết từ xa thẳm gợn nhăn vào vỗ về. Tôi quàng tay qua vai em, bấu víu cái thổn thức đang làm em chao thân. Em nói nhỏ: Vĩnh biệt!

Hồ Đình Nghiêm